Phật Học Tổng Thuyết

Phật Học Tổng Thuyết
Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. Thời gian: NA Quyển số: 675 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam
Mục lục
Lời mở đầu
Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người! Hôm nay là lần giảng dạy thứ hai ở Cầu Vồng Sơn Trang, chủ đề giảng dạy là Phật Học Tổng Thuyết. Phạm vi của chủ đề này cực kì rộng, có thể nói là rất dễ giảng, bởi vì phạm vi rộng cho nên giảng thế nào cũng đều đúng cả. Nhưng mà cũng có thể nói là rất khó giảng, bởi vì phải từ trong biển Phật học rộng mênh mông lấy ra mọi điều tinh yếu, chắt lọc ra những trọng điểm để thuyết pháp một cách rất có hệ thống, rất có thứ tự, cũng là điều vô cùng khó. Vừa rất dễ giảng, lại vừa rất khó giảng, bất kể là như thế nào thì cũng vẫn phải giảng thôi. (Sư Tôn cười)
Mọi người biết rằng Phật học giống như biển rộng, giống như đại dương, bản thân tôi học Phật tuy đã nhiều năm như vậy, cũng đã bái rất nhiều sư phụ, đồng thời cũng có thể nói là đã thâm nhập kinh tạng, nhưng trong khoảng thời gian rất ngắn mà phải giảng một cách vô cùng viên mãn thì trên thực tế cũng phải suy ngẫm rất kĩ càng, đòi hỏi định lực rất sâu. Rồi phải dùng một cách nói rất tinh túy vi diệu mới có thể giảng một cách trọn vẹn.
Hy vọng trong lần thuyết pháp này, mọi người có thể thấm nhuần mọi ý, hơn nữa còn đạt được những điều bổ ích, tương lai mọi người chăm chỉ tu hành, mọi người đều đắc được thành tựu, như vậy thì việc thuyết pháp lần này sẽ vô cùng có ý nghĩa.
01. Đại thừa, Tiểu thừa, Kim Cương thừa
Hôm nay bắt đầu ngày đầu tiên của Phật Học Tổng Thuyết tại Cầu Vồng Sơn Trang. Trước tiên chúng ta nói về "thừa" của Phật giáo. Trong Phật pháp có cái gọi là Đại thừa, cũng có cái gọi là Tiểu thừa, còn có cả Kim Cương thừa, chính là Mật giáo. Thật ra khi Phật Đà tại thế, ngài không nói Đại thừa gì cả, cũng không nói Tiểu thừa gì cả, cũng không nói Kim Cương thừa, đây đều là người đời sau phân ra. Phật không nói về thừa nào cả, ngài chính là Chân Phật — vị Phật chân chính, cho nên chỉ có hai chữ Chân Phật mới là thừa chân chính, không có thừa gì khác, thừa này là do người đời sau nói.
Hôm nay chúng ta thuyết pháp cũng cần nói về thừa, vì sao? Bởi vì đây là các bậc tiền nhân, các vị cổ đức đã truyền xuống, thật ra Chân Phật chân chính là một thừa, đã bao gồm cả Đại thừa, Tiểu thừa, Kim Cương thừa, tất cả đều bao gồm hết. Bạn chỉ nói một thừa thì không đúng, giống như một con người, nói về con người mà chỉ nói về cái đầu thì không thành một con người đâu! Nói về thân thể của họ cũng thì là một bộ phận, cũng không đúng. Thế còn nói về tứ chi, trên thực tế cũng không đúng. Cần phải nói về tất cả các bộ phận gồm đầu, thân và tứ chi mới xem là Phật pháp chân chính. Vì thế, Chân Phật là bao gồm Đại thừa, Tiểu thừa và Kim Cương thừa, toàn bộ đều bao gồm hết. Trên thực tế là nói về một thừa.
Trong Phật pháp, Đại thừa nói về cái gì? Có thể nói thế này, Đại thừa chính là nói về độ chúng sinh, nói về việc quảng độ chúng sinh chính là Đại thừa. Phát bồ đề tâm muốn cứu độ tất cả chúng sinh, đây là phát tâm Đại thừa.
Vậy thế nào là Tiểu thừa? Tiểu thừa chính là chỉ độ chính mình, chủ yếu nhất là nói về tu chính mình, tức là chú trọng vào tu chính mình, đó là Tiểu thừa.
Thế còn Kim Cương thừa? Chính là Mật thừa, là dùng phương pháp tu hành bí mật để tu trì chính mình, rất nhanh chóng sau khi bản thân mình đắc được khai ngộ, thì sau đó sẽ giống như Đại thừa là đi quảng độ chúng sinh. Pháp Kim Cương thừa gọi là phương pháp tức thân thành Phật, bởi vì nó dùng phương pháp nội chứng, đi từ tu hành thực tế, khiến cho thân khẩu ý của chính mình và thân khẩu ý của Như Lai hoàn toàn hợp nhất, phương pháp nội chứng này chính là Kim Cương thừa.
Phật pháp đã bao hàm nghĩa lớn của ba thừa ở trong đó. Nhưng trên thực tế, Đại thừa, Tiểu thừa, Kim cương thừa cũng có hiện tượng không thể dung hợp lẫn nhau. Tiểu thừa thích phê bình Đại thừa là không có công phu tu hành thực tế mà đã muốn đi ra ngoài độ chúng sinh, hoàn toàn là không hoa thủy nguyệt, không thực tế. Hơn nữa Tiểu thừa thích nói Đại thừa là tinh thần Đại thừa của Phật giáo không phải là điều Như Lai nói. Đại thừa cũng phê bình Tiểu thừa là chỉ mỗi tu hành cho chính mình, không độ chúng sinh, không phát bồ đề tâm, chỉ có tu riêng mình, hoàn toàn chính là một A La Hán, chỉ là A La Hán Tiểu thừa cứu độ thân tâm chính mình mà thôi, cho nên không thể thành Phật. Có cách nói như vậy.
Thế còn Mật giáo thì sao? Lại phân thành Tạng mật, Đông mật, lại có cả Trung mật, có cả Đài mật. Trong Mật giáo cũng có rất nhiều thuyết, đơn cử Vô thượng mật bộ của Tạng mật đã thường xuyên bị người ta phê bình rồi. Trong Đông mật cũng có phê bình, nói rằng Mật pháp của ba bộ sau không có pháp Vô thượng mật chân chính. Thế còn trong Trung mật, Đài mật thì sao? Cũng bị chỉ trích, cho rằng thuộc về chú trọng nghi thức, không có nội chứng chân chính.
Cho nên trong Mật giáo mà nói, cần phải dung hợp với tất cả Hiển giáo, cũng cần phải trải qua thời gian rất dài mới có thể thật sự làm được. Vì thế, Đại thừa, Tiểu thừa và Kim cương thừa, trên thực tế, trong ba bộ pháp này, đều không thể nào hoàn toàn dung hợp lại với nhau.
02. Tin
Vì sao chúng ta bắt đầu học Phật? Khi mới bắt đầu đều có một cơ duyên mới có thể bắt đầu học Phật.
Kiến chứng chân thực của Liên Sinh Hoạt Phật
Nhân duyên khiến các vị bắt đầu học Phật có rất nhiều, còn bản thân tôi bắt đầu học Phật chính là vì một nhân duyên rất kỳ diệu, vì thế tôi mới bắt đầu học Phật.
Mọi người đều biết rồi, bởi vì tôi ở tại thế giới Ta Bà được đưa đến Ma Ha Song Liên Trì, khi đến được cảnh giới đó, tôi nhìn thấy tiền kiếp của chính mình, là một vị Liên Hoa Đồng Tử màu trắng rất quang minh, đây là tôi tận mắt nhìn thấy tận tai nghe thấy. Tận tai nghe thấy tức là nghe thấy nói rằng tôi là Liên Hoa Đồng Tử, còn tận mắt nhìn thấy là nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử màu trắng tỏa sáng rực rỡ. Đều hết sức chân thực! Nói cách khác là, trải nghiệm này của tôi là việc nhìn thấy và nghe thấy vô cùng chân thực, và chính bản thân tôi cũng đã đến nơi đó.
Trải nghiệm này chính là cơ duyên đầu tiên trong quá trình học Phật của tôi. Các vị đang ngồi đây, đương nhiên đều đã đọc trong sách tôi miêu tả như vậy, và các vị cũng đã sản sinh ra lòng tin, cũng đã đi theo bước chân mà tôi đã đi qua.
Trên thực tế Liên Hoa Đồng Tử này, bản thân ngài là từ Đại Nhật Như Lai, đến Phật Nhãn Phật Mẫu, thế rồi ở trong hai hồ sen của Phật Nhãn Phật Mẫu mà hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, tức là Báo thân Phật đang ở tại Ma Ha Song Liên Trì thuyết pháp chính là Liên Hoa Đồng Tử. Thế còn hôm nay tôi đang ở đây thuyết pháp chính là Ứng thân Phật thuyết pháp, ở tại Ma Ha Song Liên Trì là Báo thân Phật thuyết pháp, ở chỗ của Đại Nhật Như Lai là Pháp thân Phật đang thuyết pháp. Pháp thân chính là Đại Nhật Như Lai, Báo thân chính là Liên Hoa Đồng Tử, Ứng thân chính là tôi hiện tại.
Liên Hoa Đồng Tử ở trong thành Hỷ Kiến diễn pháp yếu
Tối hôm qua có một đệ tử ở trong giấc mơ đã được đưa đến thiên thượng giới. Anh ấy đã đến một nơi, nơi đó gọi là thành Hỷ Kiến, nghe thấy ở trong thành có rất nhiều rất nhiều thiên nhân nói phải đi nghe pháp. Anh ấy rất hiếu kỳ liền hỏi: "Mọi người đi nghe ai thuyết pháp thế?" Họ nói: "Đi nghe Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp." Anh ấy nói: "Ủa, Liên Hoa Đồng Tử chẳng phải là Lư Thắng Ngạn sao? Lư Thắng Ngạn chẳng phải ngày mai sẽ thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang sao? Từ khi nào đã đến thành Hỷ Kiến thuyết pháp thế?" Họ nói: "Liên Hoa Đồng Tử ở thành Hỷ Kiến đã thuyết pháp ở thành Hỷ Kiến gần hai tháng rồi." Anh ấy nói: "Không đúng đâu! Bởi vì Sư Tôn Lư Thắng Ngạn của chúng tôi hôm nay mới khai giảng ngày đầu tiên, mới bắt đầu thuyết pháp ngày đầu tiên, sao mà ngài ấy đã ở thành Hỷ Kiến thuyết pháp hai tháng được chứ?"
Sau đó anh ấy đi nghe pháp, anh ấy vào trong phòng giảng pháp, ở bên dưới pháp tọa ngẩng đầu lên nhìn, vị Liên Hoa Đồng Tử đó chính là Sư Tôn. Nhưng anh ấy nghĩ: "Sao có thể chứ? Rõ ràng Sư Tôn Lư Thắng Ngạn hiện tại đang ở Seattle, chẳng hề ở thành Hỷ Kiến, làm sao có thể ở thành Hỷ Kiến chứ? Tất cả thiên nhân đang ở đó, thuyết pháp ở trước mặt nhiều người như vậy, hơn nữa còn đã thuyết pháp hai tháng rồi?" Sáng hôm nay anh ấy đến kể với tôi, anh ấy nói ở thành Hỷ Kiến đã nghe thấy Liên Hoa Đồng Tử Lư Thắng Ngạn đang thuyết pháp, chủ đề giảng là "Nhập Trung Luận".
Liên Hoa Đồng Tử hóa thân vô cùng tận
Thế là sáng hôm nay anh ấy hỏi tôi: "Sao lại có hai Lư Thắng Ngạn chứ? Sao mà ở thành Hỷ Kiến có một Lư Thắng Ngạn, ở Seattle lại có một Lư Thắng Ngạn chứ?" Tôi nói với anh ấy: "Nơi nào cũng đều có Lư Thắng Ngạn, không chỉ Seattle có Lư Thắng Ngạn, hiện tại cũng thế, tại rất nhiều thiên quốc ở thiên thượng giới, ở rất nhiều cõi Phật, đều có Liên Hoa Đồng Tử đang thuyết pháp." Cái này chính là phân thân, phân thân trăm nghìn vạn triệu, đủ loại phân thân, đủ loại hình tượng, điều này bất khả tư nghì không thể nào tưởng tượng, không có cách nào nói ra được.
Chúng ta biết rằng Pháp thân Phật phân bố khắp thế giới khắp vũ trụ; Báo thân Phật ở tại Phật quốc, bất kì Phật quốc nào cũng đều có thể biến hóa, diễn hóa; Ứng thân Phật giống như là từng vị Phật ở trên trong mỗi lỗ chân lông phân ra. Sự vĩ đại của Phật pháp chính là chỗ này, ba thân Pháp - Báo - Ứng vô cùng vô tận, vì thế thiên thượng giới vẫn có Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp, thế giới Ta Bà cũng có Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp. Cho nên mọi người không được có tâm nghi hoặc, nghe hiểu Phật pháp, Phật pháp bất khả tư nghì khó tưởng tượng, những thứ bạn không nhìn thấy, không nghe thấy là vô cùng vô cùng nhiều.
Phật pháp là bắt đầu từ tin, không phải bắt đầu từ nghi, vì thế trong kinh Phật có nói một câu: "Biển lớn Phật pháp, chỉ có tin mới có thể đi vào." Chỉ có tin mới có thể đi vào cánh cửa này.
Quý trọng pháp bảo
Giống như tôi giảng "Nghi quỹ tu trì Mật giáo hoàn chỉnh" (tức cuốn "Mật Giáo Đại Quang Hoa - Chi tiết về nghi quỹ tu pháp Mật giáo hoàn chỉnh"), đây là tôi đem toàn bộ tâm huyết tu trì của mình đều nói ra hết, các bạn rất dễ dàng có được. Máy ghi hình ở đây đang ghi lại, các bạn mua băng về, nghe nói có băng là 1500 tệ, có băng là 2000 tệ. Bạn nói cái băng hơn 2000 tệ kia: "Đắt quá, tôi muốn mua loại 1500 thôi." Bạn không biết là tâm huyết cả cuộc đời tôi mà chỉ đáng giá 2000 Đài tệ sao? Băng 1500 Đài tệ, rẻ hơn mấy trăm tệ.
Xưa nay tôi đều công khai băng ghi hình, các bạn muốn mua băng ghi hình của ai cũng là công khai. Các bạn mua được băng tốt nhất lại rẻ nhất thì đương nhiên các bạn sẽ thích rồi. Nhưng ý nghĩa mà tôi nói không nằm ở đây. Ý nghĩa mà hôm nay tôi thuyết pháp không phải là bảo bạn mua của ai, đi mua băng nào rẻ hơn, mua băng nào không tốt bằng. Không phải! Các bạn mua băng ghi hình là ý muốn tự do, ý thích của các bạn là tự do, các bạn thích mua cái nào thì mua cái đó, thích mua của ai thì mua của người đó.
Ý tôi muốn nói rằng, "Chi tiết về nghi quỹ tu pháp Mật giáo hoàn chỉnh" ("Mật giáo đại quang hoa") là tâm huyết của tôi hai mươi mấy năm nay. Ngày xưa khi tôi cầu pháp từ sư phụ là trăm cay nghìn đắng, cúng dường mà tôi cúng là tiền lương hàng tháng của bộ đội. Thế nhưng ở đây tôi thuyết pháp cả một tuần đều ghi băng lại hết. Tôi đã phải nghiên cứu rất lâu, cuối cùng đã tập trung hết những thứ này lại, có thể nói hết trong một tuần lễ. Thật ra những thứ này là vô giá!
Các bạn xem xong thì sao? Có rất nhiều người có thể tin điều Sư Tôn nói, những chi tiết trong này rất có đạo lý, rất có thể hợp với tâm của bạn, bạn có thể thật sự dùng ý niệm đi tu hành, điều này rất có giá trị, điều này là vô giá. Tín tâm này của các bạn, sự phát tâm này chính là tôi có được báu vật vô giá.
Thế còn các bạn xem xong băng ghi hình, thậm chí là đến đây nghe pháp xong, trở về nhà, giả sử các bạn nói với tôi một câu là: "Tôi không thích Chân Phật Tông, tôi muốn rời khỏi Chân Phật Tông." Bạn nói xem tôi có đau lòng không? Tôi đã đem toàn bộ tâm và huyết của tôi vẩy lên mặt đất rồi, để mặc cho chúng sinh giẫm lên.
Nhưng tôi đã dốc hết tâm huyết rồi, bạn theo đó mà chăm chỉ tu hành, bạn sẽ có thể thành Phật. Trong đó, giả sử có đệ tử nói với tôi: "Tôi không thích Chân Phật Tông, tôi muốn rời khỏi Chân Phật Tông, tôi muốn thoát ly khỏi Chân Phật Tông." Như thế là chân bạn đã giẫm đạp lên trái tim tôi, nghiền nát nó rồi! Bạn nói xem tôi có đau lòng đến chảy nước mắt không?
Tôi đã đem những thứ tốt nhất trên thế giới cho mọi người rồi, đã móc cả tim và gan của mình ra cho chúng sinh rồi. Vì thế, có hành giả nói, khi chưa khai ngộ, họ sống qua ngày một cách bi thảm. Khi khai ngộ rồi, vẫn sống qua ngày một cách bi thảm.
Cái bi thảm đầu tiên là vì vẫn chưa đạt được chân lý của vũ trụ. Cái bi thảm thứ hai là vì sau khi đạt được rồi, đem những thứ quý giá này cho người ta, người ta vẫn không muốn, đó là hai tầng bi thảm.
Vì thế, giả sử có đệ tử sau này muốn rời khỏi Chân Phật Tông, có thể nói với Sư Tôn, đến trước mặt tôi, tôi sẽ đảnh lễ người đó. Vì sao? Vì sao tôi lại đảnh lễ người đó? Nguyên nhân đầu tiên mà tôi đảnh lễ người đó là vì tôi tôn trọng họ. Nguyên nhân thứ hai mà tôi đảnh lễ người đó là tôi đã xả bỏ tất cả mọi thứ của tôi rồi. Chân Phật Tông không bỏ rơi một chúng sinh nào, vì bạn muốn bỏ đi, tôi nhất định phải đảnh lễ bạn, biểu thị tôi tôn trọng bạn, thứ hai là biểu thị tôi đã xả bỏ tất cả rồi. Không biết mọi người có hiểu ý nghĩa việc tôi đảnh lễ này không?
Rèn luyện lòng tin
Học Phật chỉ có tin mới có thể vào, Phật pháp chỉ có tin mới có thể vào. Vì sao tôi có lòng tin kiên định như vậy? Thật ra bất kể là bạn ở trong Chân Phật Tông hay là rời khỏi Chân Phật Tông, thì bạn vẫn ở trong Chân Phật Tông. Bạn cần hiểu được câu nói này, tuy rằng rời khỏi Chân Phật Tông, bạn vẫn tin Phật, đúng không? Bạn vẫn tin Phật mà! Vì còn tin Phật thì vẫn là còn ở trong Chân Phật Tông, trừ phi bạn không tin Phật nữa. Bởi vì Chân Phật của chúng ta chính là Phật chân chính mà! Ở trong đây có công lực thiền định rất sâu đó! Có Phật pháp rất sâu xa, có trí huệ vô thượng, bạn có đi thế nào thì vẫn ở trong trí huệ vô thượng này mà! Làm gì có chuyện rời khỏi Chân Phật Tông chứ?
Năm xưa khi Phật Đà dạy chúng ta, ngài chẳng hề dạy nhiều như vậy. Bạn gia nhập, ngài dạy bạn phát bồ đề tâm, phải phát bồ đề tâm đó! Phải giữ giới, mọi người phải giữ giới, giữ phép tắc ở đây. Khi đến giờ, mọi người đi ra ngoài hóa duyên. Khi trở về, trong thời gian này các bạn phải chăm chỉ tĩnh tọa, đi tu định, đi tu định lực của bạn, Phật đã dạy chúng ta như vậy.
Ở đây dạy bạn ăn là đi hóa duyên, mặc là mặc quần áo, ở là nhập định tu hành, đi là dạy bạn đi theo mọi người, một tăng đoàn, mọi người thành một đoàn thể cùng đi, cùng trở về. Giữ giới chính là thực hành, phát bồ đề tâm chính là thực hành. Như Lai đã dạy chúng ta điều này, Phật Đà đã dạy chúng ta điều này. Làm cái gì? Hãy tu định đi! Bạn cần có định. Vì sao cần có định? Trong định sẽ sản sinh ra tín, nhất định sẽ sinh ra sức mạnh của niềm tin, một dạng tín tâm, một dạng sức mạnh.
Hôm nay mọi người đang cùng nhau tu định, tu được định lực, chắc chắn có lòng tin, tâm bạn sẽ không điên đảo. Bạn nói muốn thoát ly Chân Phật Tông, thế thì bạn không còn định nữa! Căn bản là hoàn toàn không có định lực! Như thế làm sao được? Cho nên ngày xưa Phật Đà muốn chúng ta có một chữ quan trọng nhất, chính là phải định.
Phật pháp, tóm lại, nói về một chữ, cũng là chữ định này, rất quan trọng, bởi vì định sẽ sinh ra tín tâm. Ngay từ đầu có được cơ duyên, sinh ra lòng tin rồi vẫn chưa đủ. Đó chỉ là một dạng lòng tin khi cơ duyên mới bắt đầu, phải trải qua muôn vàn thử thách trong thời gian rất dài cơ!
Mê tín, chính tín và trí tín
Chúng ta biết rằng chữ tín này phân ra rất nhiều loại, có cái gọi là mê tín, không có được chính kiến, là một dạng tín ngưỡng mù quáng, đây chính là mê tín. Bất kể thế nào, Phật học luôn bắt đầu từ chữ tín, và trong chữ tín này có phân thành mê tín.
Chúng ta học Phật thì không mê tín, học Phật chân chính là chính tín, là trí tín. Chính tín tức là chính tri, bạn đã nghĩ rằng việc học Phật là một dạng lý niệm đúng đắn, một dạng kiến giải chính xác, nhìn thấy được chân diện mục của Phật học rồi, tín ngưỡng này mới gọi là chính tín. Thế còn trí tín? Dùng trí tuệ để huấn luyện trí tuệ của bạn, đạt đến một dạng tín ngưỡng của trí huệ vô thượng, tín ngưỡng này gọi là trí tín. Là chính tín và trí tín, chứ không phải là mê tín.
Hôm nay mọi người ở đây nghe tôi thuyết Phật pháp này, có rất nhiều người nói đừng quá mê tín, người bên ngoài nói đừng quá mê tín, cũng đừng mê tín thần thông, cũng đừng mê tín những thứ hư vô như có như không, phải nhìn thấy mới tin, phải nghe thấy mới tin, phải thật sự có thể đạt đến chính kiến mới tin, vậy thì dạng tín này rất hiếm.
Người có thể thật sự đạt đến chính tín đối với Phật học có lẽ chẳng có được mấy người, người có thể đạt đến trí huệ vô thượng - trí tín, cũng chẳng có được mấy người. Tỉ lệ trong tâm bạn, bạn mê tín bao nhiêu? Chính tín bao nhiêu? Tín ngưỡng trí huệ được bao nhiêu? Các bạn có thể từ từ suy tính.
Bạn có cầu Phật Bồ Tát không? Hay là cầu phúc? Cầu thọ? Cầu con cái? Cầu hôn nhân? Có phải hy vọng Phật Bồ Tát có thể cho bạn phúc phần không? Có phải đang cầu thành Phật không? Hay là bạn không cầu thành Phật, mà muốn tự mình tu hành thành Phật, bạn không hề cầu nhưng bạn tu chính mình.
Học Phật là vì cái gì? Một mục tiêu lớn nhất chính là muốn giải thoát phiền não, phiền não giải thoát, sinh tử tự chủ. Có phải là bạn đang theo đuổi giải thoát phiền não và tự chủ sinh tử không? Có mấy người đang thật sự theo đuổi điều này? Giả sử bạn không theo đuổi điều này, không rèn luyện chính mình hướng về con đường giải thoát phiền não, tự chủ sinh tử này, vậy thì bạn có phải là thuộc về mê tín không, là người tin mù quáng vào một phía không? Vì thế, mọi người hãy suy nghĩ một chút, con đường mà bạn đi có đúng đắn không? Hay là không đúng?
Phật học và học Phật chính là muốn tự chủ sinh tử, muốn minh tâm kiến tính, muốn giải thoát phiền não. Hôm nay giả sử các bạn lệch hướng rồi, vậy thì sẽ có khả năng mê tín, có khả năng mù quáng, bản thân có chỗ không đúng. Vì thế có người như thế này, họ muốn học Phật, thế là nói hôm nay muốn đi quy y, họ muốn đến quy y, thế rồi có lẽ vừa nghe nói muốn quy y thì quá vui mừng, đi cầu thang ba bậc thành một bậc, thế là ngã cầu thang, ngã gãy chân, họ liền nói: "A! Điều này không may mắn, không đi quy y nữa."
Ngoài ra có rất nhiều đệ tử học Phật pháp rồi, cũng tu pháp rồi, muốn cầu Long Vương ban cho tiền, chuột nhả báu vật của Hoàng Tài Thần, miệng há ra, cho họ money [tiền].* *Còn có Hồng Tài Thần, vị Hồng Tài Thần này đúc nhiều tượng nhất, vì nhiều người thỉnh nhất, bởi vì ngài từng hiển hiện, cho nên mọi người ra sức cầu ngài, bởi vì ngài từng nói: "Có cầu tất ứng!" Mọi người không biết, "có cầu tất ứng" này là ngài nói với Sư Tôn, ngài nói với Sư Tôn: "Ngài cầu tôi, có cầu tất ứng!" Thế rồi tôi nói với mọi người, Hồng Tài Thần nói với tôi là có cầu tất ứng. Oa! Mọi người bán mạng đi cầu ngài, thế là thành ra cầu đến mức này.
Mọi người không nghĩ kĩ một chút đi! Ngài nói với tôi, chứ không nói với bạn! Vì thế tôi cầu thì sẽ có cầu tất ứng, các bạn cầu thì không chắc sẽ có cầu tất ứng đâu. Nhưng tôi nghĩ chắc hẳn ngài cũng sẽ có một chút đồng cảm, bạn cầu ngài đến mức như vậy cơ mà! Ngài hẳn là sẽ có cầu tất ứng. Có người cầu thì không ứng, thế là trả lại chứng thư quy y, vậy tôi không biết phải nói gì nữa.
Vì thế, chúng ta học Phật có một thứ rất lớn, rất cao quý, rất lý tưởng, cũng là thứ mà trong cuộc đời bạn rất khó có được, chính là phải tự mình giải thoát phiền não, phải tự chủ sinh tử, phải minh tâm kiến tính, đây mới là chính tín.
Một miếng ăn miếng uống đều là định trước
Bây giờ tôi rất sợ! Tôi thường xuyên cầu mà! Hy vọng các bạn làm kinh doanh tốt, đừng sập tiệm, bởi vì nếu bạn sập tiệm hoặc thế nào đó, chịu tai ương thì chắc chắn là đổ lỗi do Phật Bồ Tát.
Trên thực tế, phúc phần của mỗi người, theo như tôi biết, một miếng ăn miếng uống đều có định số. Bạn ăn bao nhiêu gạo, uống bao nhiêu nước, thậm chí có thể ăn bao nhiêu đồ ăn vặt, đều có định số. Cái này là phúc phần của bạn, bạn kiếm được bao nhiêu tiền đều có định số. Tu pháp có thể cái thiện, không sai. Nhưng không hề nhanh như vậy. Cũng không thể nói lúc nào cũng như vậy, có khi cũng có thể rất nhanh đó. Nếu tôi nói với bạn là chẳng hề nhanh, các bạn sẽ không tu nữa. Vì thế phải nói rằng, đôi khi có cơ duyên tốt thì cũng sẽ rất nhanh.
Vì thế chính tín rất quan trọng, vận mệnh là có, Phật giáo không nói vận mệnh, nhưng vận mệnh thực tế là có, bởi vì Phật giáo nói về phá vận mệnh, tức là phá vỡ vận mệnh của bạn, dùng Phật pháp để hóa giải vận mệnh. Nhưng vận mệnh có hay không? Bởi vì có nên mới phải phá, không có vận mệnh thì không phải phá, đây đều là một dạng lý niệm, một dạng trí huệ, một dạng tín ngưỡng của trí huệ. Có vận mệnh, phá vận mệnh cũng là một dạng tín ngưỡng của trí huệ.
Lấy một ví dụ rất đơn giản, trước kia tôi từng nói rồi. Trước kia tôi ăn mọi thứ, chỉ có hai thứ không ăn, một là kim cương, hai là vàng. Vàng là bởi vì nó quá cứng, không ăn nổi, còn kim cương thì đắt quá, cũng không ăn nổi, những thứ khác tôi đều ăn. Nhưng một miếng ăn một miếng uống đều có định số, đến ngoài 40 tuổi, ngoài 50 tuổi, có một số thứ không thể ăn được nữa, vì thế tôi từ một người cái gì cũng ăn được đã biến thành chẳng thể ăn được cái gì.
Rất đơn giản, đây chính là định số đó! Bạn không thể ăn nhiều đường, bởi vì ăn đường sẽ mắc bệnh tiểu đường; bạn không thể ăn muối, bởi vì ăn muối sẽ mắc bệnh cao huyết áp; bạn không thể ăn chất béo, bởi vì chất béo quá nhiều sẽ làm sao? (Đệ tử trả lời: Bệnh tim.) À, tim sẽ bị tắc nghẽn, sẽ có bệnh hẹp van tim, hoặc là quả tim này sẽ rất phiền phức, sẽ có bệnh tim. Ví dụ nói về mực, mẹ tôi nói: "Mực có cholesterol cao nhất." Nó có thể khiến mạch máu của bạn tắc nghẽn, cholesterol cao sẽ bị tắc mạch máu. Thế rồi bạn không thể ăn rất nhiều thứ, có những thứ sẽ gây bệnh ung thư, có thứ sẽ gây ra u, có thứ sẽ gây ra bài tiết không tốt, hoặc là thế nào đó. Thế là có vấn đề rồi.
Sinh khởi chính tín và trí tín
Vậy thì sao? Cái gọi là một miếng ăn miếng uống đều có định số cũng là tất nhiên, một định số trong vận mệnh, đây là một loại tín ngưỡng của trí huệ, gọi là trí tín.
Học Phật chính là phải hiểu có trí huệ, thế rồi học Phật phải hiểu chính tín, bạn học Phật có trí huệ rồi, có chính tín rồi mới có thể ở trên con đường thành Phật này mà tỏa sáng, đạt đến thành tựu, bằng không sẽ giống như phàm phu thế tục, không có gì khác biệt.
Bạn hoàn toàn giống một phàm phu thế tục, chẳng qua chỉ thờ thần, cầu phúc, cầu thọ, cầu con cái, cầu hôn nhân, cầu danh, cầu lợi. Nếu cầu không được, bạn không thờ nữa, thế chẳng phải là phàm phu thế tục sao? Vì thế, học Phật không giống với thờ thần thông thường, bởi vì thờ thần thuộc về cầu phúc, tương đối thiên về mê tín, là phạm vi thế tục. Hôm nay bạn học Phật là hướng về con đường của trí huệ, là muốn đạt đến trí huệ vô thượng, muốn giải thoát sinh tử của chính mình, hiểu rõ ý nghĩa của đời người, minh tâm kiến tính, giải thoát mọi phiền não.
Hôm nay mọi người đến nghe "Phật Học Tổng Thuyết", cần hiểu thế nào là chính tín, thế nào là trí tín, phải đi trên con đường của chính tín, đi trên con đường của tín ngưỡng trí huệ, thì sẽ không sai. Hôm nay giả sử tín ngưỡng mù quáng, hoặc là đi theo tín ngưỡng cầu phúc, cầu thọ, cầu con cái, cầu hôn nhân, cầu danh lợi, thì sẽ là một dạng mê tín của thế tục.
Điều mà tôi muốn nhấn mạnh với mọi người hôm nay là, một chữ "tin" là một sự bắt đầu, khởi niềm tin chính là vì muốn hiểu đạo lý của cuộc đời, muốn giải thoát, muốn đắc trí huệ vô thượng, thế rồi bạn bước vào cửa Phật, bắt đầu có tín ngưỡng, đây là khởi tín.
Vô thường
Bắt đầu từ khởi tín, chúng ta cần nói về vô thường. Hôm nay, bài giảng đầu tiên nên nói về tín, rồi sau đó nói về vô thường, tín và vô thường. Thế giới này là vô thường, không chỉ thế giới này là vô thường, mà toàn bộ con người chúng ta đều vô thường. Chúng ta đã nói rất nhiều về vô thường, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ muốn chúng ta thể nghiệm vô thường, và khi thể nghiệm vô thường bạn phải biết rằng, thời gian con người sống trên thế gian này rất ngắn ngủi. Hôm nay chúng ta tụ họp ở đây, thời gian rất ngắn ngủi, và nhân duyên cũng rất vi diệu; rất nhanh tụ họp lại với nhau, rồi cũng rất nhanh sẽ giải tán. Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói rất rõ về vô thường này, có sinh ắt có tử. Sống ắt sẽ đi đến cái chết; khỏe mạnh ắt sẽ trở nên suy tàn.
Khi Phật Đà già đi, thân thể của Ngài rất không khỏe, thân thể vốn rất khỏe mạnh cũng trở nên suy yếu. Những người tụ họp với nhau rồi cũng sẽ chia ly, có sinh ắt có tử, có khỏe mạnh ắt có suy tàn, có tụ họp ắt có chia ly. Hôm nay chúng ta tụ họp với nhau, pháp duyên thù thắng, nhưng qua vài ngày nữa lại chia ly. Cơ hội tụ họp ở Cầu Vồng Sơn Trang này không nhiều, có lẽ một năm chỉ có một, hai lần. Vậy thì Cầu Vồng Sơn Trang sau này thì sao? Có thể chỉ giảng Nội pháp, nghĩa là chỉ có thể chứa 40 người, 50 người, nhiều nhất là 100 người.
Bài giảng lần này mang tính phổ biến hơn, nhưng lần giảng tới chỉ có 40 người, hoặc 50 người, 100 người mà thôi. Vậy thì, có thể nói đây là buổi giảng dạy phổ cập lần thứ hai, một kiểu khai giảng công khai, cũng là lần cuối cùng, sau này tất cả đều phải nộp luận văn.
Như vậy cơ duyên này cũng chỉ thoáng qua là không còn. Cho nên đây là có hợp có tan, đã có tụ họp thì ắt sẽ có phân tán, đó chính là vô thường.
Ví dụ mà tôi vừa nêu, trước đây tôi ăn được tất cả mọi thứ, tôi rất thích ăn đồ ngọt, như bánh mochi! Còn có bánh của Nhật nữa. Cái đó gọi là gì nhỉ? Bánh cuộn của Đài Loan (tiếng Đài), bánh "bị lừa" (chơi chữ âm tiếng Đài), bánh quy cuộn! Những loại bánh của Nhật đó, rồi còn bánh mochi, bánh đậu đỏ, và bánh cưới Đài Nam, bánh to, loại tròn tròn đó tôi thích nhất.
Trước đây, khi Sư Mẫu thấy tôi ăn uống ngấu nghiến, chỉ trong chốc lát đã ăn hết một miếng to, bà ấy nói: "Không được ăn nữa!" Mỗi khi bà nói "Không được ăn nữa", tôi lập tức ăn thêm hai miếng nữa. (Mọi người cười) Tôi là người không thích bị người khác sai bảo, tôi có tính cách tự chủ mà! Ai nói gì với tôi, tôi cố tình ăn nhiều hơn một chút.
Chúng ta biết khi được mời đi ăn bên ngoài, món cuối cùng luôn là chè ngọt, cũng có trái cây, bánh kem, đồ tráng miệng, khi chè ngọt được dọn ra, trước đây mỗi lần tôi ăn xong một bát, nhất định phải lấy thêm bát thứ hai... Khi Sư Mẫu đứng bên cạnh thấy vậy, bà nói: "Sao ông ăn tới hai bát?" Tôi nhất định phải lấy thêm một bát nữa! (Mọi người cười)
Nhưng mà này! Phải biết rằng, ăn nhiều đồ ngọt quá, vô thường sẽ đến! Này! Vô thường gọi bạn đến đấy. Bạn đến đây, khi vô thường gọi bạn một tiếng, bạn không thể ăn nữa, đường huyết cao mà! Không được ăn nữa, phải cấm hẳn rồi, không thể ăn món này nữa.
Tôi nói cho mọi người biết, đừng có "cứng đầu" nhé! Thật đấy. Khi bạn ăn đã đủ rồi, vô thường bảo bạn không được ăn nữa, thì phải ngoan ngoãn nghe lời. Không được! Tôi nghĩ không xong, có chuyện này, nhất định tôi phải bắt đầu luyện công, rồi tôi bắt đầu chống lại nó, tôi luyện công. May mắn thay, chư Phật Bồ Tát rất thương tôi, các Ngài bảo tôi luyện công là được rồi.
Tâm từ bi lớn nhất là chịu thay
Nói chung, nhiều người mắc bệnh, Sư Tôn cũng bị bệnh, Sư Tôn cũng có rất nhiều bệnh đấy! Các bạn cứ nói ra không sao cả, tôi không sợ người khác nói đâu, nhiều người tu hành bảo rằng không được có bệnh, có bệnh thì cứ như là không có công lực vậy. Thực ra tôi có rất nhiều bệnh, có tiểu đường, có bệnh tim, có cao huyết áp, còn có bệnh ngoài da, còn có cả ung thư nữa. (Cười) Ung thư xương đấy! Ghê lắm!
Còn gì nữa không? Tôi nhớ trước đây có nhiều thứ lắm, giờ kể hết ra luôn. Tôi bị nấm chân, cái đó là chuyện ngày xưa! Những gì tôi đang kể đều là chuyện ngày xưa cả! Bị nấm chân, bị đau thấp khớp. Nhớ hồi nhỏ có một thời gian tôi bị bại liệt. Thật đấy! Hồi học tiểu học, tôi phải đi học với dáng đi khập khiễng, tôi vẫn còn nhớ! Rồi còn bệnh ngoài da nữa, hai bàn chân giống như đá bào đậu đỏ vậy, nổi từng chấm một như hạt đậu đỏ trong đá bào vậy, đó là bệnh về da.
Ngoài ra tôi còn bị viêm khớp, đau khớp ở đây này. Còn bị đau lưng, suy thận, bàng quang yếu. Bàng quang yếu tức là "són tiểu" (tiếng Đài) đấy! (Mọi người cười) Chính là chứng tiểu không tự chủ đấy! (Cười) Ngoài ra còn có gai xương, đau lưng, đau dạ dày, bệnh về dạ dày cũng nhiều lắm.
Phổi thì hô hấp cũng không tốt, khí quản viêm, không phải là "vợ quản nghiêm" đâu [chơi chữ đồng âm], mà là thực sự bị viêm khí quản, mũi mẫn cảm, bây giờ gọi là allergy, viêm xoang.
Mắt đỏ, viêm mắt đỏ. Chứng viêm mắt đỏ là do Quan Thế Âm Bồ Tát chữa lành cho tôi, điều này tôi nhớ rất rõ.
Ráy tai, bây giờ cứ ba tháng tôi phải thông tai một lần, phải rửa tai. Đây là thật đấy! Cho nên tôi rất thích về Đài Loan, chính là vì ở Đài Loan có dịch vụ lấy ráy tai, lấy ráy tai ấy, cứ ba tháng phải về một lần, chính là vì về để lấy ráy tai, cái tai này thường xuyên phải làm.
Huyệt thái dương bên này sưng đau, phần não này! Tiểu não không phát triển lắm, sau này có thể bị chứng sa sút trí tuệ ở người già. (Mọi người cười) Chứng sa sút trí tuệ là do não bị teo lại.
Đôi khi chỗ này bị viêm, bên mép miệng, chỗ này bị viêm, miệng bị nứt nẻ, lưỡi thường xuyên bị lở loét, ăn uống rất khó khăn.
Chảy máu mũi, còn bị chảy máu mũi nữa! Khi tôi mới đến Mỹ, bị chảy máu mũi rất nặng, cũng phải dùng phương pháp điều trị. Da thì bị viêm và dị ứng.
Thượng sư Thường Nhân đâu rồi? Mọi người có nhận thấy gần đây thầy ấy béo ra rất nhiều không? Tại sao thầy ấy lại béo vậy? Là vì thầy ấy bị ngộ độc đấy. (Mọi người cười) Thầy ấy uống thuốc cảm, uống nhiều loại thuốc cùng lúc, khi các loại thuốc trộn lẫn vào nhau, ôi chao! Da của thầy ấy, từ đầu xuống tới chân; từ đầu này! Bên này đều đỏ ửng, toàn thân đều đỏ ửng. Nhưng bây giờ vết đỏ đã giảm bớt rồi, mặt vẫn còn sưng, toàn thân vẫn còn sưng, đó chính là bị ngộ độc.
Tại sao tôi lại béo như vậy? Trước đây tôi rất gầy, rất mảnh mai, vậy tại sao bây giờ lại hơi béo ra? Chính là vì tôi uống thuốc bổ Tam Hải hiệu Thần Ưng do em gái tôi bán, sau khi uống vào, tôi rất thích ăn cơm, nhưng mà cái thuốc đó cũng có tác dụng như một chất kích thích nội tiết, làm thay đổi toàn bộ cấu trúc cơ thể, bị ngộ độc luôn, sau khi bị ngộ độc thì béo ra.
Cho nên béo có mấy nguyên nhân! Một là phù nề, hai là ngộ độc, còn một nguyên nhân nữa là do bản thân họ ăn quá nhiều, giống như Tam Nguyên (Thượng sư Chân Tam Nguyên), tôi nghĩ thầy ấy không phải bị phù nề, cũng không phải bị ngộ độc, có lẽ là do ăn quá nhiều thôi. (Mọi người cười)
Tôi có bị u không? Cơ thể tôi có u không? Có! Nói cho mọi người biết, có đấy. Tôi chữa khỏi một cái u to cho người ta, thì trên người tôi lại mọc lên một cái u nhỏ. Đó là chịu thay mà! Tôi chữa khỏi u cho mấy người, thì trên người tôi lại mọc lên mấy cái u nhỏ, nhưng rồi tôi lại phải vận công để làm tiêu những cái u nhỏ đó đi.
Tôi chữa khỏi ung thư cho người ta thì bản thân tôi lại bị ung thư, cho nên trên người tôi có rất nhiều ung thư. Tôi bị ung thư xương! Điều này các đệ tử thân cận đều biết cả, rồi tôi lại vận công làm tiêu ung thư xương đi. Tôi chữa khỏi gai xương cho người ta, thì trên người tôi lại có gai xương, tôi bị đau, tôi lại phải tập công để mài mòn gai xương đi. Tôi bị ung thư dạ dày, ung thư xương, đủ loại ung thư, chỉ có mỗi ung thư tử cung là không có thôi. (Mọi người cười)
Khi tôi ở đại pháp hội Hồng Kông, trong vòng ba ngày, hàng trăm hàng nghìn căn bệnh đổ xuống người tôi, các bạn nói đó có phải là phép màu không? Mọi người đều tận mắt chứng kiến. Tôi mê man bất tỉnh suốt ba ngày ba đêm, không ăn được một miếng nào. Mọi người đều rất ngạc nhiên! Sư Tôn vốn rất thích ăn, vậy mà không ăn được một miếng nào, như vậy chẳng phải là tự bỏ đói mình sao? Không phải là đang biểu diễn thần thông đâu! Tôi không phải đang biểu diễn thần thông, mà là thực sự không thể ăn được gì.
Chỉ uống nước, ba ngày ba đêm làm "chịu thay", chỉ có như vậy mới có thể khiến người bị bại liệt, người bị teo cơ đứng dậy được từ xe lăn, mới có thể chữa lành cột sống cho người ta. Cột sống bị xốp, trong tiếng Đài chỉ có thể nói là "xốp giòn" thôi! Cột sống bị "xốp giòn". Rất nhiều bệnh, những khối u đó mới có thể biến mất, phải mất ba ngày ba đêm, chịu hàng trăm hàng nghìn căn bệnh nhập vào người để thay thế.
Cuộc đời này là vô thường, thực tế, vốn dĩ đã là vô thường rồi. Bạn nói có thường, thì cái gì là thường? Cái gì là cái gọi là trạng thái thường hằng? Đúng không? Tôi đã nói rồi, những người làm quan lớn, tại sao họ lại phải tin Phật? Những vị tướng quân, tại sao họ phải tin Phật? Tướng quân rất oai phong, nhưng đến lúc về già lại nhìn thấy bóng ma, những người bị họ giết đều hiện về, họ không thể không tin Phật.
Kiến giải đúng đắn
Phật Quang Tự, không phải là Phật Quang Sơn, mà là Phật Quang Tự, Phật Quang Tự ở Quan Âm Sơn, Phổ Lý, có ai từng đến chưa? Có mấy người Đài Loan đã từng đến. Đó là nơi ở của sư phụ truyền quy y cho tôi, pháp danh của tôi là Đạo Ngạn, Sư Mẫu có pháp danh là Đạo Hoa, trong tiếng Đài gọi là Đậu Hoa (mọi người cười), đó là đạo tràng của lão pháp sư Lạc Quả, là sư phụ Hiển giáo mà tôi quy y. Khi tôi đến đó, bên trong toàn là tướng quân, toàn là những vị tướng quân đã giải ngũ xuất gia ở đó, tập khí của họ cũng rất nặng, trước đây đều là quan chức lớn, đều là tướng quân, sau khi về hưu thì học Phật, xuất gia.
Tại sao vậy? Vô thường. Bởi vì con người, dù bạn có làm đến chức vị nào rồi cũng phải từ chức, làm tổng thống rồi cũng phải từ chức. Đó là chức vị cao nhất rồi! Người giữ chức vị cao nhất cũng phải rời đi, huống chi là những quan chức nhỏ như hạt mè. Người giàu có thể trở thành người nghèo, người nghèo cũng có thể trở thành người giàu, đó chính là vô thường.
Những quan chức lớn kia! Sau khi về hưu tập trung ở đó xuất gia tu hành, có người tập khí vẫn không thay đổi. Những vị tướng quân khi ăn cơm, đi chợ mua đồ ăn, không có ớt là mọi người đập bàn. "Cộp cộp cộp..." Tại sao vậy? Vì không có ớt. Những người lính của họ đều phải ăn ớt, không mua ớt thì họ không thoải mái, không lật bàn là may lắm rồi. Ông ấy trước đây là tướng quân mà!
Chùa Phật Quang này có phong thủy không tốt lắm, thường xảy ra cảnh chư tăng đánh nhau, thậm chí còn có tăng đánh chết ni cô. (Cười) Lão pháp sư Lạc Quả không biết về phong thủy, tôi đã đi xem, mảnh đất đó gọi là "long hỏa tinh", rất nóng! Bên trong có khí rất nóng, cho nên khó tránh khỏi hiện tượng tính khí rất nóng nảy, đó là vô thường.
Những người làm quan lớn, họ xuống chức; những người làm tướng quân, họ về hưu, họ muốn học Phật; rồi có rất nhiều người giàu có, khi về già cũng muốn học Phật; người có thân thể khỏe mạnh cũng muốn học Phật. Tại sao vậy? Bởi vì khi vô thường đến, họ cũng phải học Phật. Nhiều cặp vợ chồng cùng xuất gia, cũng phải học Phật.
Duyên phận này, bạn nghĩ rằng duyên phận là mãi mãi sao? Là thường hằng sao? Không chắc đâu. Lúc mới cưới thì đương nhiên rất yêu thương nhau, nhưng có những duyên còn ngắn hơn, chỉ một tuần họ đã đánh nhau; sáng còn gọi nhau "cục cưng ơi", tối đã ly hôn rồi, tất cả đều là hiện tượng vô thường.
Thể nghiệm vô thường
Vì vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy chúng ta "thể hội vô thường, thể niệm vô thường", khi bạn thường xuyên nghĩ đến vô thường, bạn sẽ sinh khởi tín tâm, có được niềm tin kiên cố. Tại sao hôm nay Lư Thắng Ngạn có thể giải thoát phiền não? Là bởi vì tôi thường xuyên thể niệm vô thường, trong cuộc đời này tôi đã trải qua rất nhiều thăng trầm; những thăng trầm đó, khó khăn chồng chất, lời phỉ báng từ bên ngoài cũng rất nhiều, nhưng tại sao tôi có thể giải thoát khỏi phiền não? Bởi vì tôi thể niệm vô thường.
Trước đây tôi rất khỏe mạnh, biết đâu một ngày nào đó thân thể tôi sẽ suy yếu; hiện giờ cuộc sống của tôi rất tốt, biết đâu một ngày nào đó cuộc sống sẽ rất bi thảm; Chân Phật Tông của chúng ta hiện nay rất hưng thịnh, biết đâu một ngày nào đó... Bạn thấy đó, chính Như Lai đã nói, Phật pháp tồn tại ở Ấn Độ chỉ có 500 năm, đây chính là vô thường. Phật pháp tốt đẹp như vậy, tại sao ở Ấn Độ chỉ hưng thịnh được 500 năm? Đây chính là vô thường.
Vô thường của thân thể, vô thường của địa vị, vô thường của tiền bạc, vô thường của bệnh tật, vô thường của giàu nghèo, vô thường của duyên phận, tất cả đều khiến con người thể hội được sự vô thường của thế gian. Chính vì tôi thường xuyên thể hội được vô thường, nên từ trong vô thường sinh khởi tín tâm. Sau khi thể hội sâu sắc về vô thường, mới nhận ra toàn bộ hiện tượng của vũ trụ này đều là cảnh giới không; nhờ vào việc bước vào cảnh giới không, bạn mới có thể cảm thấy tâm an. Vốn dĩ đã là vô thường rồi! Làm sao bạn còn phiền não được?
Một ngày nào đó, khi người vốn giàu có trở thành người nghèo, đương nhiên sẽ có phiền não, nhưng chỉ cần thể hội vô thường thì sẽ không còn phiền não; thân thể bạn vốn rất khỏe mạnh, đột nhiên mắc bệnh nặng, hãy thể hội vô thường, bạn sẽ không còn phiền não; vốn là chủ tịch hội đồng quản trị, nhưng bây giờ mất chức vị đó rồi, nếu bạn thể hội vô thường, bạn sẽ không quá đau buồn.
Phải biết rằng tất cả mọi sự vật trong thế gian đều nằm trong vô thường, khi thâm nhập vào vô thường để thể hội vô thường, bạn sẽ không còn vướng bận chuyện được mất, phải hiểu được đạo lý này thì mới có thể giải thoát phiền não; chính vì vô thường mà chúng ta phải tìm cầu trí tuệ vô thượng, đây chính là ý nghĩa cuộc đời của chúng ta.
Mọi người nghĩ Phật học này, tại sao phải học Phật? Chính là vì vô thường! Chính vì vô thường nên chúng ta phải tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời. Việc có ý nghĩa nhất trong đời người chính là học Phật, chính là tu hành; ngoài điều này ra, bạn và tôi đều ở trong vô thường, có gì đáng để so sánh, để kiêu ngạo? Có gì đáng để tự đại? Tất cả đều ở trong vô thường.
Người Đài Loan chúng ta thường nói: Không ai giàu ba đời! Không chỉ không thể vượt qua ba đời, có khi ngay cả một đời cũng không giữ được, có thể chỉ một hoặc hai đời là hết sạch, thậm chí có người chỉ một đời đã mất hết. Bạn tưởng tiền bạc mình kiếm được sao? Bạn tưởng mình xây cao ốc sao? Hôm trước chẳng phải tôi đã nói sao? Người phá tòa nhà đã đến rồi. Khi ông ta xây xong tòa cao ốc, tòa nhà hoàn thành rồi. Ồ! Xây được một tòa cao ốc, vui sướng biết bao! Kết quả là vợ ông sinh một đứa con trong đó, đứa trẻ này chính là người sẽ phá hủy tòa nhà, nó đã sẵn sàng để phá hủy tòa cao ốc của ông rồi. Đây chính là vô thường!
Vì thế, đừng quá vui mừng khi xây được tòa cao ốc, cũng đừng buồn phiền khi nó sụp đổ; đừng mừng vui khi Phật giáo của Đức Phật hưng thịnh, cũng đừng đau buồn khi nó suy tàn; tương lai Chân Phật Tông này, dù có hàng triệu, hàng chục triệu đệ tử quy y, cũng đừng vui mừng, và khi không còn một ai nữa, cũng đừng đau lòng.
Những gì tôi vừa nói có chút buồn bã, nhưng thực ra không cần phải buồn, tôi chỉ đang bày tỏ tâm ý của mình như vậy thôi. Như tôi đã nói lúc đầu, tôi đã bỏ ra nhiều tâm huyết, đem những điều tốt đẹp nhất cho người khác, nhưng người ta không cần, tôi chỉ đang miêu tả nỗi buồn đó. Thực ra, người thực sự giác ngộ sẽ không còn chấp trước được mất, trở nên tự tại và biết đủ.
Chỉ nghĩ về vô thường
Vì vậy Phật học giảng về vô thường, bạn thể nghiệm vô thường, vô thường, vô thường, liên tục dạy bạn thể nghiệm, chính là để bạn có thể giải thoát phiền não; nếu không thể nghiệm hai chữ này, bạn sẽ không sinh khởi tín tâm, không thể giải thoát phiền não. Vì thế Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi và tất cả các đệ tử Mật giáo phải thấu hiểu sâu sắc về vô thường, để sinh khởi niềm tin kiên định. Sinh khởi tín tâm, chỉ có suy nghĩ về vô thường mới có thể thực sự sinh khởi tín tâm, và chỉ khi thực sự thể nghiệm vô thường, bạn mới không còn vướng bận chuyện được mất.
Hôm nay có nhiều người phỉ báng bạn, sỉ nhục bạn, bắt nạt bạn, đó là vô thường! Phải không? Bạn không nghĩ như vậy sao? Thế giới này vốn dĩ là vô thường mà! Không có gì là thường hằng cả! Bạn phải giữ tâm bình khí hòa, đó chính là giác ngộ rồi, bạn thực sự có thể giải thoát phiền não rồi, nếu không làm sao bạn giải thoát phiền não được? Xin hỏi ngược lại: "Nếu bạn không thể nghiệm vô thường, làm sao giải thoát phiền não?" Bạn sẽ mãi mãi có phiền não, mãi mãi không thoát ra được, mãi mãi không hết khổ! "Khổ liên miên!" (tiếng Đài)
Vì vậy, tôi cảm thấy như hôm nay mình có thể tự chủ, tự tại, rất hài lòng với thế giới này, tương lai còn đời đời kiếp kiếp trong cõi Ta Bà, chính là vì tôi có tâm vô thường. Hôm nay bạn có tâm vô thường, sẽ không lo không sợ; hôm nay bạn không có tâm vô thường, sẽ mãi mãi có phiền não. Đây là dạy các bạn Phật pháp làm thế nào để giải thoát phiền não.
Hãy nhìn Đại sư Liên Trì, ở đầu giường ngài viết một chữ "Tử". Chết nghĩa là die/all die, tất cả đều chết. Tôi không phải đang nguyền rủa mọi người đều phải chết đâu, nhưng có một quy luật tuyệt đối không thể phá vỡ, đó là mọi người đều phải chết; tôi chết, bạn chết, họ chết, tất cả đều chết. Qua một trăm năm nữa, tất cả đều chết thôi! Bạn có thể sống lâu đến thế sao? Bạn có thể sống lâu hơn rùa không? Phải không? Bạn có thể giống như những cây tùng ở Cầu Vồng Sơn Trang này, đứng sừng sững ở đây hàng nghìn năm không? Tuổi thọ của một hòn đá bình thường, tuổi thọ của một cây, đều dài hơn chúng ta! Hãy thể hội vô thường ở đây.
Đại sư Liên Trì viết một chữ "Tử", mỗi ngày tự nhắc nhở mình ngày mai sẽ chết, để tinh tấn tu trì Phật pháp. Sinh khởi tín tâm, đó chính là "chỉ nghĩ về vô thường". Làm sao để tiến bộ trong Phật pháp? Bắt đầu từ "tín". Làm sao để có lòng tin? Chỉ nghĩ về vô thường! Phải không? Sinh lão bệnh tử khổ, tất cả đều là vô thường, đừng chỉ nghĩ đến kiếm tiền, hãy nghĩ đến chân lý nữa.
Tôi nói với mọi người, có rất nhiều người thoái đạo tâm đều là do tiền hại chết. Một chữ tiền, một chữ danh, danh và lợi đã khiến những người này thoái lui. Đừng chấp trước vào danh, đừng chấp trước vào lợi. Như Lai đã dạy, Đức Phật nói: "Tiền bạc là rắn độc." Ngày xưa Ngài dạy chúng ta: "Mắt đừng nhìn người đẹp, tay đừng chạm vào tiền." Người thời nay không phải là không chạm vào tiền đâu! Mà là ôm chầm lấy tiền đấy! Một khi bị tiền trói buộc thì thật là thảm.
Tôi đã từng nói, trên thế giới này có hai sức mạnh rất lớn, sức mạnh thứ nhất chính là đạo, chính là Phật, chính là chân như, chính là Phật tính; đây là điều vĩ đại nhất, bao trùm khắp vũ trụ, đó là điều thứ nhất. Sức mạnh thứ hai chính là tiền, nhưng bạn tuyệt đối đừng để địa vị của tiền vượt qua chân như, vượt qua đạo, vượt qua Phật, vượt qua Phật tính, nếu không bạn sẽ chấp trước, không thể giải thoát; muốn giải thoát, phải đặt chân như Phật tính lên hàng đầu.
Vậy nên quan niệm về tiền bạc của người hiện đại vẫn nên thanh đạm, hợp lý, như vậy sẽ tốt hơn một chút. Tuyệt đối đừng cưỡng đoạt chiếm hữu, cũng tuyệt đối đừng lừa gạt, đừng lừa dối. Bảo bạn thể nghiệm vô thường chính là để bạn thể nghiệm điều này. Bởi vì nhiều tiền không phải là phúc đâu! Không phải là phúc phần đâu! Nhiều tiền đôi khi sẽ mang đến gánh nặng, đồng thời nếu bạn không vận dụng tốt, sẽ mang đến tội ác, trở thành nghiệp chướng của chính mình. Không có tiền ngược lại không có nghiệp chướng, càng nhiều tiền, càng nhiều nghiệp chướng.
Phật Đà ngày xưa cũng từng dạy, tiền giống như rắn độc vậy, tai họa nó mang đến cũng giống như vậy. Không có tiền, sẽ chẳng ai động đến bạn đâu! Hôm nay bạn có tiền, sẽ tăng thêm nguy hiểm cho sinh mạng, người ta sẽ nhắm đến bạn, tiền này chính là con rắn bên cạnh bạn đấy! Bạn tự nghĩ xem, lời Phật dạy có đúng không? Bởi vì có tiền, người ta mới nhắm đến bạn! Hôm nay không có tiền, ai thèm nhắm đến bạn chứ? Họ chạy còn không kịp. Tôi nói cho bạn biết, ngay cả ma quỷ cũng sợ người nghèo. (cười, mọi người cười)
Khi chúng ta học Phật, phải thâm nhập kinh tạng, nhưng việc bảo bạn đọc Tam tạng kinh điển và Thập nhị bộ kinh là điều gần như không thể. Thời gian sống của mỗi người chúng ta trên thế gian này đều rất có hạn, trừ phi người đó chuyên tâm tu hành thì mới có thể đọc hết tất cả kinh Phật. Nhưng dù bạn đọc hết, chưa chắc đã hiểu, chưa chắc đã thấu triệt; cho dù bạn đọc một lượt "Tam tạng Thập nhị bộ kinh", đọc xong đầu óc vẫn trống rỗng, chẳng có ích gì. Vì vậy hôm nay tôi giảng "Phật Học Tổng Thuyết" cho các bạn, chính là để nêu ra những điểm chính yếu, trích ra những trọng điểm quan trọng.
03. Giải
"Tín" và "vô thường", một khi đã có "tín" rồi, bước tiếp theo cần làm là "giải". Sau khi có "tín" rồi thì phải làm gì? Phải "giải". Thực ra "giải" chính là suy nghĩ, phân tích, lĩnh ngộ, thấu hiểu, đó chính là "giải".
Đọc kinh và chuyển kinh
Bạn đi đọc kinh, người xuất gia thường nói: "Bạn hãy xem kinh đi! Bạn hãy đọc kinh đi! Bạn hãy chuyển kinh đi!" Có tác dụng không? Tất nhiên là có tác dụng. Nhiều người đọc kinh đến cuối cùng, ồ, mở kinh điển ra, đều thấy Phật Thích Ca Mâu Ni hiện ra trong kinh điển, mở kinh điển ra đều thấy Bồ Tát Quan Thế Âm hiện ra trong kinh điển, đó chính là đã thâm nhập rồi.
Kinh chính là Như Lai thuyết pháp cho bạn, chính là Phật Đà thuyết pháp cho bạn. Có rất nhiều người đọc kinh, qua loa đại khái! Đọc cho xong! Đọc thôi! Tụng Kinh Kim Cang, tụng Kinh A Di Đà, tụng Phẩm Phổ Môn, tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, kinh gì cũng đọc, cũng tụng; hỏi bạn, bạn có biết trọng điểm của kinh ở đâu không? Không biết!* I don't know!* (cười) Tôi chỉ đọc thôi! Đó giống như cái đĩa nhạc vậy! (cười) Đĩa nhạc là gì? Quay một vòng, chẳng có tâm gì cả, tâm bạn chẳng lĩnh hội được kinh.
Lĩnh hội kinh điển chính là giải, gọi là giác trí; chúng ta hôm nay đọc kinh chính là để hiểu kinh này. Thâm nhập kinh tạng không phải là đọc qua loa bề mặt, mà là giải, chính là giải kinh, thậm chí là chuyển kinh. Chuyển kinh là gì? Lấy kinh điển lên xoay một vòng là gọi là chuyển kinh sao? Hoặc là giống như các vị Lama Tạng truyền kia, lắc tay chuyển kinh như vậy, tay xoay, xoay, xoay, xoay một vòng, tụng một tụng, xoay một vòng, bên trong đặt kinh điển rồi tay xoay như vậy, gọi là chuyển kinh sao? Không phải vậy.
Ý nghĩa thực sự của chuyển kinh là vận dụng linh hoạt kinh điển, biến nó thành trạng thái hợp nhất với cuộc sống hàng ngày, đó gọi là chuyển kinh. Bạn biết không, có một số người tu hành có công lực rất lớn! Họ thực sự đi vào trong kinh điển, khi tuyết rơi bên ngoài, họ ngồi trên tuyết, bay lơ lửng theo những bông tuyết; khi khát nước, họ trốn trong nhụy hoa để uống nước từ trong đó. Bạn biết đấy, khi hoa đung đưa theo gió, họ trốn trong nhụy hoa để uống nước từ bên trong; họ có thể ngồi trên những bông tuyết, bay lơ lửng theo chúng như thế.
Khi đọc kinh, họ đọc đến mức có thể thân tâm hòa làm một với gió, cứ thế trôi theo gió, có thể bay lơ lửng lên xuống như gió vậy, đó là một cảnh giới vô cùng tự tại. Đọc kinh có thể đọc đến mức thâm nhập kinh tạng, giải kinh, thậm chí chuyển kinh, thân và kinh hợp nhất làm một, giống như kinh vậy, khơi gợi tầng ý thức sâu thẳm hơn trong bản thân mình, có thể tiêu dao tự tại như thiên nhiên vậy, đó mới gọi là "thâm nhập kinh tạng", đó mới gọi là "giải".
Chân đế của "giải" - nghe, nghĩ
Sau khi chúng ta đã có niềm tin vào Phật, vậy chúng ta tin vào ai? Chính là giáo pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại, rồi từ đó thâm nhập kinh tạng, đi sâu vào trong tạng kinh của Ngài để tiếp nhận sự giáo hóa của Như Lai. Sau khi được Như Lai giáo hóa thì sao? Thân thể và hành vi hợp nhất với Như Lai, có thần thông tự tại như Như Lai vậy, như thế chẳng phải đã thành Phật rồi sao? Khi bạn có thần thông tự tại như Như Lai, đó chính là Phật rồi, đây là một cách hiểu về việc học Phật.
Vậy chúng ta phải đi nghe pháp, các bạn đến đây nghe Sư Tôn thuyết pháp, thân cận thiện tri thức, đạt được Phật pháp chân chính, ý nghĩa của việc nghe pháp là ở đó. Khi bạn nghe và lĩnh hội được trong tâm, nó sẽ trở thành của bạn. Các bạn xem qua "Nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh của Mật giáo" ("Mật Giáo Đại Quang Hoa"), nó sẽ trở thành của chính các bạn.
Các bạn chỉ cần bỏ ra 1500, 2000 Đài tệ là có được rồi, sau đó các bạn thực sự đi tu tập, đó chính là "hành chứng", đi sâu vào bên trong gọi là "giải"; cho nên các bạn cần đi nghe pháp, đi đọc kinh, đi tư duy, đây chính là nghe - nghĩ - tu trong Phật pháp. Đi nghe, đi tư duy, cuối cùng là đi hành chứng, hành chứng chính là tu. Khi bạn có thể tư duy, lĩnh hội ý nghĩa trong đó, đạt được trí tuệ của nó, nói một cách đơn giản, đó chính là "giải".
Bài giảng đầu tiên của tôi trong "Phật Học Tổng Thuyết", và trong bài giảng đầu tiên này, tôi sẽ nói về "tín", về "vô thường", và về "giải". Về phần "giải", điều quan trọng là phải thường xuyên lắng nghe lời dạy của pháp sư và thiện tri thức. Chúng ta cần đọc kinh, xem kinh Phật, thâm nhập kinh tạng, phải đi sâu và tư duy; suy nghĩ thấu đáo, chiêm nghiệm, và khi đạt được sự lĩnh ngộ thần diệu, đó chính là "giải", trong đó bao hàm hai chữ "nghe nghĩ".
Trong những ngày này, tôi muốn trình bày tổng quan về toàn bộ tinh yếu của Phật học, giảng giải cho mọi người tại Cầu Vồng Sơn Trang trong những ngày này. Việc thuyết pháp trong những ngày này rất quan trọng, đây là những điều tôi thu nhận được từ kiến thức Phật học, là những gì tôi tự phân tích, và cũng là những điều tôi đã lĩnh ngộ được.
Trong quá trình thuyết pháp, các bạn hãy từ từ thể hội những lời pháp này, tự nhiên sẽ có thể tương ứng với Phật học; sau khi đã tương ứng rồi, hãy theo đúng phương pháp "hành chứng" này mà tu tập, sẽ nhận được nhiều gia trì của chư Phật Bồ Tát, nâng cao tâm linh của các bạn, ai ai cũng đạt được thành tựu lớn.
Đây là bài khai thị đơn giản ngày đầu tiên của tôi.
Kiến giải chính xác
Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào buổi trưa mọi người!
Hôm nay là ngày thứ hai của "Phật Học Tổng Thuyết". Tôi xin nhắc lại một chút về những gì đã giảng hôm qua. Hôm qua chúng ta đã bàn về vấn đề "tín", vấn đề "giải", và vấn đề "vô thường". Về phần "tín" thì có người nói rằng "mê tín" còn tốt hơn "không tin", và "chính tín" thì tốt hơn "mê tín".
Điều đáng sợ nhất khi học Phật chính là không tin, tức là hoàn toàn không tin bất cứ điều gì, điều này rất phiền phức. Có mê tín ban đầu cũng là điều tốt, bởi vì sau khi dần dần hiểu được, sẽ hướng về chính tín. Vì vậy, về vấn đề "tín", mê tín vẫn tốt hơn không tin, chính tín lại tốt hơn mê tín, điều đáng sợ nhất chính là không tin.
Có người nói họ không tin bất cứ điều gì, nhưng nếu bạn hỏi họ: "Chắc chắn anh phải có một thứ để tin chứ." Họ sẽ hỏi lại: "Tôi phải tin vào cái gì?" Tôi nói: "Tiền." Họ chắc chắn sẽ đáp: "À! Anh nói đúng tâm lý của tôi rồi." Tiền bạc là thứ mà ai cũng tin tưởng, bởi vì chân như, chân lý thì không thể nhìn thấy được, còn tiền thì nhìn thấy được. Người đời đều mê đắm trong thế giới vật chất này; còn về mặt tâm linh, những điều vô hình và siêu hình, họ không hiểu được. Vì vậy khi học Phật, điều quan trọng nhất là phải có chính tín, có niềm tin từ trí tuệ, đây là điều quan trọng nhất.
Nói về việc "giải", bạn cần thân cận thiện tri thức, cần đi nghe pháp, cần thâm nhập kinh tạng, cần dựa vào tư duy của mình, cần nghe, cần suy nghĩ, đó chính là "giải". Điều quan trọng nhất của "giải" là phải có "chính giải", không thể hiểu sai lệch, hiểu sai lệch là không được. Vì vậy chúng ta phải dựa theo giáo pháp của Như Lai truyền lại để có sự hiểu biết đúng đắn, tích cực, điều này là rất tốt.
Nếu bạn hiểu sai về Phật pháp thì cũng rất phiền phức. Có nhiều người chỉ hiểu nửa vời về Phật pháp, vì vậy mọi người đến nghe tôi thuyết pháp là để có được chính kiến về Phật pháp; khi các bạn đã tiếp nhận được chính kiến Phật pháp từ thánh giáo của Như Lai, thì kiến giải của các bạn sẽ vô cùng chính xác.
Mặc dù tông phái của chúng ta bị nhiều người bên ngoài công kích, nhưng thực tế, những gì họ công kích chỉ là quần áo của tôi (mọi người cười), công kích xe của tôi, công kích nhà của tôi, họ không thể nào công kích được Chân Phật Mật Pháp. Đúng không? Chưa từng có ai dám chỉ ra Chân Phật Mật Pháp sai ở chỗ này, sai ở chỗ kia cả. Tại sao vậy? Bởi vì đó là chính giải! Đó chính là điều chân chính!
Pháp môn dạy bạn tu tập, chứ không dạy bạn mặc loại quần áo gì, mua xe gì, hay làm những việc gì khác, không hề dạy bạn những điều đó. Vì vậy những người bên ngoài công kích, chỉ là công kích bề ngoài thôi, còn về nội hàm thực sự của Chân Phật Mật Pháp, không ai dám bàn luận, bởi vì đây là giáo pháp do tổ sư truyền xuống, là Phật pháp do thánh giáo Như Lai truyền lại. Các bạn tu theo Chân Phật Mật Pháp sẽ đạt được chính quả.
Bạn việc gì phải quan tâm thầy của bạn làm gì, đi xe gì? Bạn việc gì phải quan tâm thầy mặc quần áo gì, phải không? Thầy ăn cơm gì? Ăn cơm thường! Ăn cơm Nhật! Ăn gạo Thái! Bạn quan tâm thầy ăn gì làm gì? Điều đó chẳng liên quan gì đến bạn! Dù sao khi bạn đã được pháp vị thì bạn đã no đủ rồi, bạn đã đạt được chính quả rồi.
Vì vậy khi mọi người có được niềm tin từ trí tuệ này, có được niềm tin từ lý trí này, có được chính tín, có được kiến giải chính xác thì sẽ rất dễ dàng lĩnh hội, các bạn sẽ hiểu được những pháp vị này.
Một bước xoay mình nghiền nát hư không
Có người vì mối quan hệ nhân sự không hòa hợp, thực ra đây chỉ là mối quan hệ giữa người với người, chẳng liên quan gì đến Phật pháp cả. Vốn dĩ con người với nhau đã không hợp rồi! Có mấy ai thực sự hợp nhau đâu? Nhưng chuyện này không cần bận tâm.
Trước đây, Liễu Minh Hòa Thượng đã bảo tôi: "Một bước xoay mình là nghiền nát hư không." Câu này giải thích thế nào? Nghĩa là, những thứ lộn xộn trong quá khứ của bạn, những lời đàm tiếu, những thứ này nọ, những lời đã nói, người ta đã đối xử với bạn thế nào, hợp với người này, không hợp với người kia, chỉ cần một bước xoay mình là quét sạch tất cả; ngủ một giấc, chuyện hôm qua thuộc về hôm qua, chuyện hôm nay thuộc về hôm nay, tất cả đều bắt đầu lại từ đầu. Người tu hành phải có khí phách như vậy!
Sư phụ Liễu Minh Hòa Thượng của tôi cũng từng mắng tôi, khiến tôi rất khó chịu. Sư Tôn cũng nổi giận, tôi nói: "Con sẽ không cúng dường thầy nữa!" (mọi người cười). Vài ngày sau, nghĩ lại lời thầy: "Một bước xoay mình, nghiền nát hư không." Thầy dạy rằng, chuyện hôm qua thuộc về hôm qua, hôm nay chúng ta vẫn là bạn tốt, vẫn là thầy trò; tôi vẫn học pháp của thầy, thầy vẫn dạy pháp cho tôi, mọi chuyện quá khứ đều quên hết.
Người tu hành phải có khí phách như vậy! Nhờ đó bạn mới có thể đạt được pháp vị. Ôi chao! Tuyệt quá! Bạn có thể quên được chuyện hôm qua không? Không chỉ chuyện hôm qua, mà tất cả quá khứ đều buông bỏ, hôm nay bạn chính là Phật, là vị Phật tự tại; nếu không quên được, bạn sẽ mãi bị ràng buộc, vướng bận. Mọi người hãy từ đây mà hiểu, mà tin.
Suy ngẫm về vô thường và cầu giải thoát
Vậy hãy suy ngẫm về vô thường, vô thường như đã nói hôm qua. Vốn dĩ đã là vô thường rồi! Mẹ tôi ngồi đây, trước đây tôi thấy mẹ rất trẻ, không biết bây giờ mẹ có còn thấy tôi như một đứa trẻ không. Bây giờ mẹ tôi đã thay đổi như thế này, nhưng thực ra vẫn rất đẹp! Thực sự vẫn rất đẹp. Tôi nghe nói mẹ mua quần áo, vẫn toàn mua những bộ dành cho người hai mươi mấy tuổi. (mọi người cười)
Đây chính là vô thường! Thời gian thật đáng sợ, từ lúc còn bé, còn là baby, rồi thiếu niên, thanh niên, trung niên, cao niên, rồi nằm xuống, già đi, và không còn nữa; đây là một quá trình, một quá trình của đời người. Thánh giáo Như Lai dạy chúng ta như vậy đó, thời gian rất ngắn ngủi, phải nhanh chóng suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát.
Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế, Ngài đã dạy chúng ta như vậy, hãy nhanh chóng suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát; như vậy rất nhanh, bạn sẽ đi được trên con đường này. Con đường đời người sẽ rất có giá trị, bạn đã nắm được những điều có giá trị nhất.
Bạn muốn học tiến sĩ ư, được thôi! Bạn muốn học tiến sĩ? Đã lãng phí hơn hai mươi năm rồi đấy. (cười) Bạn biết khi tốt nghiệp tiến sĩ thì bao nhiêu tuổi rồi không? Còn phải kết hôn, sinh con, nuôi con nữa, rồi bạn sẽ tốn rất nhiều thời gian cho sự nghiệp, hôn nhân, con cái, sắp không còn kịp nữa đâu! Vì vậy Như Lai dạy chúng ta phải suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát, điều này rất quan trọng. Đây chính là ý nghĩa bài thuyết pháp hôm qua của tôi.
04. Hành
Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người về hai chữ "hành" và "chứng" trong bốn chữ "tín, giải, hành, chứng".
Khi bạn đã có được chính tín, bạn cũng có thể có được kiến giải chính xác, có thể thâm nhập kinh tạng, nhưng tất cả những điều này chỉ là lý thuyết. Giống như có một bữa ăn ngon được bày ra trước mặt, đúng là rất ngon, nhưng nếu không ăn thì bạn sẽ không no. Dù bạn biết món ăn đó được mua và nấu như thế nào, hiểu rõ cách làm, b ỏ bao nhiêu muối, bao nhiêu đường, bao nhiêu bột ngọt, bao nhiêu nước tương để làm ra món ăn ngon như vậy, nhưng nếu bạn không ăn, thì đó chính là không có "hành". Vì vậy hôm nay chúng ta sẽ bàn về vấn đề "hành", "hành" này rất quan trọng, trong phương diện "hành" chia làm hai phần lớn, tức là trong phương diện thực tu chia làm hai phần lớn.
Nội học và ngoại học
Phật học còn được gọi là nội học. Vậy nội học là gì? Rất đơn giản, nội học chính là môn học về ý niệm của bạn, môn học về ý niệm bên trong thân thể được gọi là nội học. Trước đây, khi Phật học truyền vào Trung Quốc, người Trung Quốc đã gọi nó là nội học. Chúng ta biết đến Chi Na Nội Học Viện rất nổi tiếng; Âu Dương Cảnh Vô, Lữ Trừng đều là viện chủ của Chi Na Nội Học Viện. Vậy thì Chi Na Nội Học Viện, cái gọi là nội học chính là Phật học. Nội học là gì? Chính là môn học về ý niệm, không phải nói về ngoại học.
Tuy nhiên Phật pháp cũng có nói về ngoại học, vậy ngoại học là gì? Ngoại học chính là giới luật. Trong phương diện hành này cần phải giữ gìn hai phần, cả trong lẫn ngoài đều phải giữ, đều phải thực hành, phần hành về ngoài chính là giới, phần hành về trong chính là ý niệm. Phần "ngoại" này khá dễ, phần "nội" thì khó hơn, tuy nói như vậy nhưng thực ra cũng không dễ.
Bàn về Ngũ Giới
Chúng ta biết rằng đối với Phật tử, giới đầu tiên cần phải giữ chính là Ngũ Giới. Sát - không sát sinh, đạo - không trộm cắp, dâm - không tà dâm, vọng - không nói dối, tửu - không uống rượu. Đây chính là năm giới, mọi người sẽ nghĩ, Sư Tôn lại giảng về Ngũ Giới rồi, mỗi lần nói đến Ngũ Giới, mọi người trong lòng đều cười, vị Sư Tôn này vẫn uống rượu mà! (cười) Chữ "tửu" này ông ấy không giữ giới, nhưng tôi xin thưa với mọi người: "Đã giữ giới rồi!" (mọi người cười) Là thật sự giữ giới, không phải giả.
Nhiều người rất ngạc nhiên, như Sư Mẫu cũng rất ngạc nhiên: "Ông có thể nói bỏ là bỏ được luôn sao?" Trước đây tôi đã từng nói một câu: "Tôi học Phật bao nhiêu năm nay, tôi không có sở thích gì cả, bây giờ lại bắt tôi bỏ rượu nữa thì tôi sống còn có ý nghĩa gì? Mỗi ngày được nếm một chút, tối ngủ rất ngon, chỉ nhấp một ngụm thôi, tuyệt làm sao!" (mọi người cười) Nhưng, lạ thay! Tôi có thể giữ giới, nói bỏ là bỏ được. Đây chính là định lực, là nghị lực của một con người.
Đã rất lâu rồi tôi không uống rượu, kể từ lần pháp hội trước khi tôi uống rượu với các đệ tử ở Los Angeles, từ lần đó đến nay, một giọt rượu cũng không động đến! Ủa? Sao không ai vỗ tay? (mọi người cười, vỗ tay) Đây là điều rất vĩ đại! (mọi người cười) Thật sự rất vĩ đại. Bắt một người nghiện rượu cai rượu, thật sự là chuyện rất khó! (mọi người cười) Thật sự là một giọt rượu cũng không chạm đến, đã cai hoàn toàn rồi. Cho nên sau này các bạn cúng rượu thì cúng cho Hoàng Tài Thần, Hồng Tài Thần, không cần cúng cho Sư Tôn nữa. (mọi người cười) Những loại rượu này..., nào là X.O.! Những loại rượu bổ này! Tất cả đều không còn nữa.
Nói dối thì rất khó giữ giới, thật sự rất khó giữ, tôi cũng biết giới không nói dối rất khó giữ. Nói thật lòng, chạm vào lương tâm mà nói, hễ nhắc đến nói dối là tự mình cũng sợ. (mọi người cười) Chỉ cần không cẩn thận một chút là đã nói dối rồi. Nhưng người học Phật không được nói dối. Tôi nhớ hình như có báo chí và tạp chí đăng một đoạn văn ngắn như vậy, đọc ra e sẽ làm tổn thương lòng nhiều người. Tôi chỉ nói vài câu thôi. Trên đó viết chữ rất to: "Kẻ nói dối bẩm sinh..." Ừm! Không dám nói tiếp... (mọi người cười) Đây là nói về mặt trái của đàn ông, mặt trái của đàn ông... (mọi người cười) Tôi không nói đâu nhé! Tôi không nói đâu nhé! (mọi người cười)
Vì vậy, hãy nhớ không được nói dối, giữ giới không nói dối rất khó; không chỉ phụ nữ, đàn ông cũng vậy, họ cũng nói dối như nhau. Đặc biệt là người làm kinh doanh, rõ ràng món hàng sắp hỏng rồi mà lại nói là còn tươi mới, bởi vì nếu nói là sắp hỏng thì ai mua? Họ buộc phải nói dối. Rõ ràng là rất đắt, lại nói là rẻ.
Người làm kinh doanh càng dễ nói dối, không nói khuyết điểm gì cả, chỉ toàn nói ưu điểm. Căn nhà có rất nhiều khuyết điểm, nhưng không nói khuyết điểm nào, chỉ nói toàn ưu điểm của căn nhà, như mấy người bán hàng, mấy người môi giới ấy, phải không? Giống như Thượng sư Triệu làm bất động sản (mọi người cười), chưa bao giờ nói bất kì bất động sản nào là xấu cả, ông ấy toàn nói tốt không thôi, cho nên hễ Sư Tôn gặp ông ấy là mua liền. (mọi người cười)
Tôi không mua bất động sản gì cả, đừng hiểu lầm. (mọi người cười) Chỉ mua đất của Bồ Đề Lôi Tạng Tự và đất để xây tòa nhà Chân Phật Báo. Lần nào ông ấy cũng chỉ nói điều tốt, chưa bao giờ nói điều xấu, bởi vì cái xấu thì không ai mua.
Còn về chữ "dâm", khi chúng ta nói về chữ dâm này, đây cũng là một giới. Chúng ta biết rằng trong cuộc đời con người có hai loại dục vọng là "ăn" và "sắc", đây là lời Khổng Tử nói. Chữ "dâm" này khó tránh khỏi việc nhiều người sẽ sa ngã, còn tôi chỉ đi trên bờ vực thôi, tôi không rơi xuống. Tuy nhiên tôi có thò một chân xuống (mọi người cười), may mà kịp rút chân lên, không sao!
Trước đây có một đệ tử nói với tôi như thế này! Cô ấy nói cô ấy đi Trung Quốc Đại Lục, về kể với tôi rằng đã làm rất nhiều việc tốt. Tôi hỏi việc tốt gì vậy? Kể tôi nghe thử. Cô ấy nói cô ấy đi bố thí, tôi hỏi cô bố thí thế nào? Cô ấy kể rằng, cô ấy đã lên giường với một chàng trai họ Hà, rồi cũng lên giường với người họ Ngô, lên giường với em rể của cô ấy, và còn lên giường với một người mà thực sự không thể nói ra. Tôi hỏi sao cô lại làm như vậy? Cô ấy nói: "Thầy không phải bảo con đi bố thí sao?" (mọi người cười) Tôi nói: "Làm sao có thể gọi đây là bố thí được?" Cô ấy nói: "Tứ vô lượng tâm không phải có viết đó sao? Cho người khác niềm vui. (mọi người cười) Thứ nhất, trong từ bi hỷ xả, chữ 'từ' không phải là cho người khác niềm vui sao?" Tôi nhất thời nghẹn lời!
Các bạn biết không? Miệng không thể nói ra được, cái miệng mở ra mà không biết nói sao. Nói rằng cô ấy làm vậy là cho người khác niềm vui! Là bố thí! May mà tôi là người học Phật, hôm nay tôi giảng "Phật Học Tổng Thuyết" này, ít nhất phải hiểu rõ đạo lý Phật pháp mới có thể giảng được! Tôi nói: "Không đúng! Đức Phật đã từng dạy, những gì làm tăng thêm dục vọng của người khác, làm tổn hại người khác, giết chết huệ mệnh của người ta, thì không được bố thí. Cô làm như vậy là làm tăng thêm dục vọng của người khác."
Có một số thứ không được phép bố thí; những thứ làm tăng dục vọng của người khác, thuốc độc không được bố thí, hung khí cũng không được bố thí, dao không được bố thí, súng cũng không được bố thí. Đây là lời Đức Phật dạy, tôi đã nói lại cho cô ấy nghe. Tôi không biết cô ấy có nghe vào tai không. Cho nên việc này là phạm giới dâm, là không được phép. Bởi vì theo pháp luật hiện nay, là một vợ một chồng, người cư sĩ tại gia là một vợ một chồng; người xuất gia thì không còn loại dục vọng đó nữa, phải tu pháp để chuyển hóa nó, chuyển hóa loại dục vọng này, chuyển hóa tâm tham này.
Người phụ nữ đó rất giỏi nói lý lẽ quanh co, cô ta nói ra rất nhiều lý lẽ quanh co khiến bạn không chịu nổi. Sư Tôn nói, chân suýt chút nữa đã lún xuống! Rồi rút lên được! Tôi nói cho các bạn nghe chuyện này. Rất rõ ràng! Không phải tôi đến phòng cô ta! Mà là cô ta mặc đồ ngủ đến phòng tôi.
Tôi có thể giữ được "bình tĩnh tự tại" đã là rất giỏi rồi! "Bình tĩnh tự tại" nghĩa là tôi không bị sa ngã; chỉ ngồi đó nghe cô ấy kể chuyện, kể xong rồi tiễn cô ấy về, chỉ vậy thôi, đúng là như vậy. Tôi vẫn mặc nguyên quần áo chỉnh tề, một cái nút áo cũng không cởi! (mọi người cười)
Cuộc đời là như vậy đấy, cho nên thời Phật Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng bị tiếng xấu lan truyền. Thời Phật Đà, lúc thì người phụ nữ này gây rắc rối cho Phật, lúc thì mấy người phụ nữ kia gây rắc rối cho Phật. Tại sao vậy? Bởi vì họ thấy các nhà sư, người tu hành dễ bắt nạt. Cho nên trong đó mới có một giới "dâm", chính là vì vậy.
Một giới nữa là trộm cắp. Trong giáo dục ở nước ngoài hay phương Tây, việc rèn luyện nhân cách còn nhiều thiếu sót. Ở phương Đông, việc rèn luyện nhân cách cho trẻ em rất tốt; đặc biệt là ở Nhật Bản, về mặt trộm cắp, họ thực sự rất nghiêm khắc. Bởi vì từ nhỏ họ đã được dạy rằng: "Những gì không phải của mình thì không phải của mình, hễ lấy đi là đánh mất tư cách làm người." Trong giới luật của Như Lai, tội trộm cắp này được xem là một tội rất nặng trong ngũ giới.
Tiếp đến là sát sinh, chúng ta đều không sát sinh, Chân Phật Tông cũng dạy mọi người không sát sinh; không những không sát sinh mà còn phải phóng sinh. Còn về việc ăn chay hay ăn mặn, đó là một vấn đề khác; điều quan trọng nhất là bạn không đi sát sinh. Đây chính là hình tướng bên ngoài của ngũ giới.
Sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp
Về phương diện tu hành, trong Chân Phật Tông chúng ta có Chân Phật Mật Pháp, đây là phương pháp tu hành nội tâm, là phương pháp tu tập để thanh tịnh ý niệm; dạy bạn làm đại lễ bái, dạy bạn làm đại cúng dường, dạy bạn làm pháp mặc giáp hộ thân, dạy bạn làm pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, dạy bạn niệm Tứ quy y, tụng kinh, trì chú, kết thủ ấn, nhập Tam ma địa, tất cả đều là để rèn luyện ý niệm thanh tịnh của bạn.
Sự thanh tịnh của ý niệm là vô cùng quan trọng, bởi vì Phật Đà đã dạy: "Mọi ác đừng làm, hãy làm mọi thiện, tự tịnh ý mình, là chư Phật dạy." Hai câu đầu là hình tướng bên ngoài, hai câu sau là nội học, là thực tu. Chân Phật Mật Pháp bạn đến đâu để tìm?
Ngày nay Hiển giáo tu hành, tôi thấy họ đồng tu, họ đăng tải ra nghi quỹ đồng tu, "niệm Phật, nhiễu Phật, lễ Phật, tọa thiền", chỉ có bốn việc này, họ không thoát ra khỏi bốn việc này. Dù bạn là Thiền tông cũng vậy, họ cũng làm y như thế, niệm Phật, nhiễu Phật, lễ bái, tọa thiền, chỉ có bốn việc này. Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, nội dung còn thâm sâu hơn, rộng lớn hơn, vi diệu hơn, và càng thêm nhiều pháp vị.
Luận bàn về việc quy định giới
Bạn nói Chân Phật Mật Pháp tìm ở đâu? Hiện nay các vị pháp sư bên ngoài đều là những vị pháp sư về "tín" và "giải", còn pháp sư về "hành" và "chứng" thì rất hiếm. Cho nên ngày nay Chân Phật Tông của chúng ta dạy mọi người tu tập công phu về "hành" này, là điều rất tuyệt vời. (mọi người vỗ tay)
Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài dạy chúng ta về A La Hán, ban đầu giới luật không có nhiều như vậy, nguyên nhân giới luật ngày càng nhiều là vì ngày càng nhiều người phạm giới, nên Ngài mới có thêm nhiều giới luật như vậy. Ban đầu, Ngài chỉ dạy bốn điều, mọi người hãy nghe cho rõ, các bạn học được bốn điều này cũng đã là rất giỏi rồi. Ngài dạy chúng ta, đừng đi ra ngoài, đừng đi tiếp xúc với người đời, hãy ở một mình trong một phạm vi nhỏ trên núi, giống như ở Cầu Vồng Sơn Trang vậy, bạn cứ ở đây, không ra khỏi tường rào bên ngoài, bạn cứ ở trong tường rào, mỗi ngày đều ở bên trong này, đây gọi là "trụ sơn".
Trước đây, pháp sư Huệ Viễn, người sáng lập Tịnh Độ tông, đã sống như vậy. Ngài không bao giờ đi qua con suối đó, chỉ tiễn khách đến bờ suối rồi quay về, không bước ra ngoài. Rất nhiều hành giả đều như vậy. "Trụ sơn" nghĩa là ở lại trên núi 30 năm, 40 năm, 50 năm; không xuống núi, như vậy dễ đạt được sự thanh tịnh. Vì thế Phật Đà dạy chúng ta trụ sơn, tự lập một tăng đoàn, cùng sống với nhau. Khi đi khất thực, phải đi cùng nhau, không được nhìn ngang nhìn dọc; phải rất nghiêm trang, xếp hàng một như đi quân sự vậy, không được nhìn trước nhìn sau, không được nhìn qua nhìn lại, vì nhìn náo nhiệt như vậy tâm sẽ tán loạn. Cho nên "trụ sơn", tâm của bạn sẽ ở trên núi, điều thứ nhất chính là sống trên núi.
Điều thứ hai là "không được nhìn", như Khổng Tử đã dạy "không nhìn khiếm nhã", nam không nhìn nữ, nữ không nhìn nam; không được nhìn, ngay cả liếc qua cũng không được. Vì thế ban đầu Đức Phật không cho phép phụ nữ xuất gia, chỉ toàn là nam giới, đều là tỳ kheo. A Nan này! Ngài vốn có thiện cảm với phụ nữ, Ngài cứ xin xin xin, ba vị phản đối Ngài mạnh mẽ nhất là Đại Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, đều cho rằng không thể được.
Nhưng không còn cách nào khác, phụ nữ đã được xuất gia, kết quả là Phật pháp ở thế gian, ở Thiên Trúc đã giảm mất 500 năm; chính pháp vốn ở Thiên Trúc, ban đầu Phật nói sẽ tồn tại 1000 năm, chính vì phụ nữ xuất gia mà giảm mất 500 năm. Bạn xem! "Có phải là hại chết không? Đúng là hại chết!" (tiếng Đài) (mọi người cười)
Còn có một điều Phật Đà dạy là "đừng động vào tiền"; Phật dạy chúng ta tuyệt đối không được chạm vào tiền, người tu hành một khi đụng vào tiền thì danh tiếng sẽ rất không tốt. Hiện nay cũng có nhiều người khổ hạnh, họ không chạm tiền; khi họ đi khất thực, người ta cho tiền, họ dùng đũa gắp. "Tay không chạm tiền, dùng đũa gắp thì được chứ?" (mọi người cười) Thực ra cũng không được.
Tay không chạm tiền thì lòng tham của bạn sẽ không còn; cuộc sống của bạn có người cúng dường là được rồi! Chỉ cần có người cúng dường thức ăn! Những thứ khác không có gì nhiều! Quần áo mặc rất đơn giản, chỗ ở cũng rất đơn giản. Thời đó ngài Đại Ca Diếp sống dưới gốc cây, ở dưới tán cây, sống ở mộ địa, tức là ở giữa các ngôi mộ, hoàn toàn không có nhà cửa đẹp đẽ gì để ở, đó đều là những lời dạy của chính Đức Phật.
Điều tiếp theo là "không uống rượu", vì rượu có thể làm rối loạn tâm tính, người bình thường nhút nhát, uống rượu vào lại trở nên táo bạo. Tóm lại không biết tại sao, rượu vừa vào là nói, cái gì cũng nói, từ Ngọc Hoàng Đại Đế trên trời cho đến tám đời tổ tiên đều được mời đến, cho nên rượu rất dễ tạo nghiệp, nó sẽ tạo ra rất nhiều nghiệp. Tôi thì rất tốt! Trước đây tôi uống rượu, chưa từng một lần mất kiểm soát, một lần cũng không có.
Tôi càng uống càng say thì càng im lặng (mọi người cười), thôi thì không nói luôn, càng uống nhiều càng không nói. Cả đời say có ba lần, lần đầu tiên là ở trường Trắc Lượng, trèo tường ra ngoài uống rượu cao lương, sáng hôm sau, lúc điểm danh, cả đơn vị vẫn còn... "Ôi! Mùi rượu nồng quá." Lần thứ hai là ở nhà La Ngọc Cầm ở Phong Nguyên, cũng say rượu. Lần thứ ba, là uống rượu thi với người ta; không phải tôi thi với họ, mà là hai người thi với nhau, thì tôi nói với họ: "Ai thắng hay thua, tôi đều uống hết." (mọi người cười) Thế thì đương nhiên là say rồi!
Đó là ba lần say rượu trong đời, sau đó không bao giờ say nữa. Tôi vẫn giữ được phong thái bình tĩnh khi uống rượu như vậy cho đến tận bây giờ. Và tất nhiên, Sư Tôn cũng đã cai rượu rồi.
Hành giả Du Già và cô gái chăn cừu
Ở Thiên Trúc, tức là Ấn Độ, có lưu truyền câu chuyện như thế này......
Một hành giả tu hành sống trong núi sâu, người dân trong làng đều biết trên núi có một người tu hành. Họ rất thích cúng dường cho hành giả, nên họ mang thức ăn, đồ dùng đến cúng dường, chủ động cúng dường cho vị hành giả này. Vị hành giả này là người trụ sơn, ông không muốn người dân trong làng đến quá gần mình, nên đã vẽ một ranh giới. Ông nói: "Những thứ các vị muốn cúng dường cho tôi, cứ đặt ở đây là được." Đặt trong một phạm vi, cách khoảng 50 thước, đặt ở đó không được đến gần người tu hành này. Có một cô gái, mỗi lần cúng dường sữa bò hoặc sữa dê, đều đặt ở chỗ cách 50 thước đó.
Đã cúng dường như vậy trong một thời gian dài, vị hành giả này cũng biết có một cô gái, mỗi lần đều cúng dường cho ông sữa bò, sữa dê rất tươi và ngon. Một ngày nọ, cô gái nói với hành giả rằng, cô hy vọng được chiêm ngưỡng người tu hành này; cô đã cúng dường rất lâu nhưng vẫn chỉ nhìn thấy hành giả từ xa, không rõ, cô hy vọng được nhìn thấy hành giả. Đó là sau một thời gian rất dài cúng dường, gần như cả năm rồi. Vị hành giả có chút động lòng, ông nói: "Được rồi! Cô có thể đến gần khoảng 10 thước để nhìn." Cô gái rất xinh đẹp, liền đến chiêm ngưỡng vị hành giả. Vị hành giả nhìn cô một cái không nói gì, rồi nhập định.
Từ đó về sau, mỗi khi cô gái mang sữa đến, trong khi những người khác đặt ở khoảng cách 50 thước, cô được đặc biệt đến gần 10 thước. Cứ thế, hai người nhìn nhau. Khi đang nhìn nhau, cô gái đứng ở khoảng cách 10 thước và nói: "Nghe nói những hành giả du già khi tu hành, lòng bàn tay của họ rất nóng, và còn bốc ra một thứ giống như khói vậy, chỉ cần vận khí thì lòng bàn tay sẽ trở nên rất nóng." Cô hỏi để xác nhận với hành giả: "Thầy có biết không, hành giả du già tu hành, lòng bàn tay không phải rất nóng sao? Vậy có thể cho tôi xem lòng bàn tay của thầy không?"
Vị hành giả này nghĩ rằng, đã cho cô ấy đến gần 10 thước thì cho cô ấy xem lòng bàn tay có gì đâu? Thế là ông đưa tay ra cho cô xem. Cô gái không chỉ dừng lại ở khoảng cách 10 thước nữa, mà bò đến gần hơn một chút, xem lòng bàn tay của ông, sờ thử xem có nóng không! Vừa chạm vào, ôi! Như có luồng điện chạy qua. (cười, mọi người cười) Điện giật rồi, mắt đã nhìn nhau, tay lại chạm tay. Rồi sau đó thì sao? Sau đó, vị hành giả này cuối cùng đã đi chăn bò và chăn cừu. (cười, mọi người cười) Ông không cần tu hành nữa, chỉ đi chăn bò và chăn cừu; còn cô gái chăn cừu ngày xưa, giờ đang cho con bú và bế con.
Cho nên Đức Phật dạy, giới luật ban đầu là như vậy đó, mắt không được nhìn; bởi vì khi mắt nhìn, sẽ có một loại điện vô hình; khi tay chạm nhau, sẽ có điện hữu hình, khi điện này và điện kia tiếp xúc với nhau, chính là âm dương hòa hợp. Đây là chuyện rất phiền phức, không có định lực, lập tức hoàn tục, cho nên nói đến "sát, đạo, dâm, vọng, tửu", năm giới này đều phải giữ, không thể qua loa được.
Phật Đà dạy chúng ta trụ sơn, mắt không được nhìn, không được chạm vào tiền, phải cai hết rượu, dĩ nhiên hôm nay tôi nói bốn điều này là nói về thời xưa. Người thời nay có lẽ định lực tốt hơn, mọi người đều có định lực đủ mạnh, cho nên người thời nay tu hành khác với người xưa tu hành. Tuy nhiên, năm giới, về mặt hình tướng bên ngoài vẫn phải giữ.
Thực tu
Cái gọi là "hành" - nội học, chính là thực tu Chân Phật Mật Pháp. Như tôi đã giảng về "Nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh chi tiết" (trong sách "Mật Giáo Đại Quang Hoa"), khi bạn tu tập đến tương ứng rồi, còn có Nội mật pháp, còn có Mật mật pháp, còn có Mật pháp, từ đó phân ra. Sơ quán là Bổn tôn, Nhị quán là Nội pháp, Tam quán là Vô thượng mật, Tứ quán là Đại viên mãn. Bốn quán đảnh này rất quan trọng. Vậy nên, bạn phải tu theo phương pháp tu hành của Mật giáo này, đó chính là hành nội học.
Vậy Hiển giáo tu như thế nào? Tôi cũng biết Hiển giáo tu ra sao, về phương diện niệm Phật, có vẻ như là "một câu Phật hiệu, một niệm thanh tịnh", khi bạn đang niệm Phật "Nam Mô A Di Đà Phật", tức là niệm một câu Phật hiệu một niệm thanh tịnh, khi bạn niệm câu này, trong tâm sẽ sinh ra một niệm thanh tịnh. Vậy còn đả thiền thất thì sao? [Đả thiền thất là hạn kỳ tu hành trong vòng bảy ngày để cầu chứng ngộ.] Thiền thất này chính là trong đó, bạn hoàn toàn dùng tư tưởng "không vô" để đi vào trạng thái thanh tịnh này, thiền hoàn toàn thanh tịnh. Đây đều thuộc phạm vi của "hành", trong Hiển giáo là làm như vậy.
Trong Mật giáo của chúng ta, trước tiên tu tập Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn, đều thuộc về Sơ quán đảnh. Nhị quán đảnh Nội mật là tu Bảo bình khí, tu thông trung mạch, tu khai ngũ luân. Đến Tam quán đảnh, tức là Vô thượng mật bộ, tu Lạc-không đại định. Đến Tứ quán đảnh là Đại viên mãn, hoàn toàn đi vào tính Không, đó chính là thực tu. Tông phái của chúng ta ngày nay là một tông phái rất thực tu, dạy bạn cách tu hành. Hiển giáo rất đơn giản, "một câu Phật hiệu, một niệm thanh tịnh", tọa thiền quán "không", quán "vô", đi vào tính Không, đó chính là cách làm của Thiền tông.
Kinh thật hòa thượng giả và kinh giả hòa thượng thật
Về những điều được truyền ra bên ngoài, tức là về mặt danh tiếng của tôi, dĩ nhiên mọi người đều biết, Sư Tôn Lư Thắng Ngạn này, danh tiếng của ngài, "lời đồn", hiện nay mọi người đều nói rằng lời đồn này không tốt lắm. Rất nhiều đệ tử viết thư cho tôi, nói rằng: "Sao lại thế này? Lời đồn của Lư Thắng Ngạn rất không tốt!" Khi tôi nhìn thấy hai chữ "lời đồn", như thể là lời đánh giá theo chiều gió, những lời phê bình mà gió mang đến, thực ra đó chỉ là những lời đồn đại bên ngoài mà thôi!
Tôi không để tâm đâu! Nhưng vì có người đang nói, nên tôi đem ra nói một chút. Có người nói: "Sư Tôn là người không giữ giới." Nói tôi không giữ giới, lời đồn không tốt tức là không giữ giới. Thực ra tôi đang giữ giới đây! Giới mà tôi giữ còn nghiêm ngặt hơn cả những vị xuất gia khác.
Các vị có biết về các Lama Tây Tạng không? Trước đây Phật giáo Tây Tạng ở vùng đất Tạng được gọi là "kinh thật hòa thượng giả". "Kinh thật hòa thượng giả" nghĩa là gì? Những kinh điển Phật giáo từ Thiên Trúc truyền sang Tây Tạng đều là thật; tiếng Ấn Độ và tiếng Tây Tạng rất gần nhau, được dịch trực tiếp từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Pali, rồi sang tiếng Tây Tạng; đây là kinh thật, nên tụng kinh này có hiệu quả. Tại sao nói là hòa thượng giả? Bởi vì họ ăn thịt, uống rượu, lại còn "song vận", cho nên những vị hòa thượng này là giả. Trước đây giới Phật giáo phê bình như vậy đó.
Còn ở Trung Quốc Đại Lục, vùng đất Trung Quốc Đại Lục và Đài Loan này là "kinh giả hòa thượng thật", tại sao vậy? Bởi vì khi dịch từ tiếng Pali của Thiên Trúc sang tiếng Hán, đã pha trộn tư tưởng của người Trung Quốc vào trong kinh điển, chẳng hạn như phải ăn chay, phải làm gì đó, đều đã được thêm vào rồi. Sau khi pha trộn như vậy, kinh điển này tụng lên không còn linh nghiệm nữa, nên gọi là "kinh giả".
Thế nào là hòa thượng thật? Hòa thượng Trung Quốc thì ăn chay, không uống rượu, giữ ngũ giới, giữ giới luật, không kết hôn. Nhiều Lama Tây Tạng thì lại kết hôn, cho nên những vị hòa thượng đó là "giả", còn hòa thượng của Chân Phật Tông chúng ta đều là thật. (cười) Cho nên mới có những lời đồn đại như vậy.
Bên ngoài có lời đồn rằng: "Lư Sư Tôn này không giữ giới luật." Tôi giữ giới rất nghiêm ngặt đấy! Tôi thực sự rất ngoan. Seattle có gì hay ho đâu chứ? Có người phê bình tôi khiêu vũ, nhưng đã lâu lắm rồi tôi không khiêu vũ, lâu lắm rồi, lâu lắm rồi. Thật sự không còn nữa! Các vị nói Lư Sư Tôn hát, đó là do các vị ép tôi đấy. Có khi nào tôi ở nhà một mình mà hát? Cũng chỉ vì đáp ứng yêu cầu của khán giả thôi, đúng không? Là đáp ứng yêu cầu của mọi người mà! Tôi mới miễn cưỡng làm vậy. Nghe nói hát có tính gần gũi hơn, có sự gần gũi mộc mạc, nên vì sự gần gũi đó mà tôi mới hát cho mọi người nghe. Có bao giờ tôi ở nhà mà hát đâu? Không ca, không múa, đó mới là lý do thật sự tôi xuất gia. (mọi người vỗ tay) Sao cái này cũng vỗ tay? (cười, mọi người cười)
Nhưng mà tôi nói thật, tuyệt đối không nói dối. Tôi giữ ngũ giới. Sát sinh, tôi chưa bao giờ dám; trộm cắp, không có; dâm, không có, tôi là người giữ giới đấy! Vọng, nói dối, các vị thấy đấy tôi toàn nói thật mà! Tôi nói hết mọi điều, tôi viết hết mọi chuyện lên sách, đó chính là không nói dối. Rượu, đã cai rồi. Các vị hỏi tôi có giữ ngũ giới không? Có giữ chứ! Tôi giữ cho các vị thấy đây! (cười, mọi người vỗ tay) Các vị cũng hãy giữ theo.
Tất cả tùy ý
Tin đồn bên ngoài rất không tốt, nào là lừa đảo tiền bạc, nói quy y với tôi phải tốn bao nhiêu tiền! Làm pháp sự gì cũng phải trả bao nhiêu tiền! Sau này mỗi người hàng tháng còn phải cúng dường hàng tháng nữa! Làm gì có chuyện đó! Tôi là người tất cả đều tùy ý, đã nói rõ từ lâu rồi! Tôi có bao giờ mở miệng đòi các vị bao nhiêu tiền đâu? Các vị cứ đến nói với tôi, tôi sẽ hoàn trả gấp trăm lần!
Sư phụ tôi đã từng nói với tôi: "Sau này con hành tẩu giang hồ, xuống núi đi hành tẩu giang hồ, tất cả đều tùy ý người ta." Tôi vẫn luôn tuân thủ lời dạy của sư phụ, cho đến tận hôm nay, vẫn luôn theo hai chữ "tùy ý".
Trừ phi là chuyện mua bán, ví dụ như bạn đi mua thứ gì đó với ai, món đồ này bao nhiêu tiền? Chuyện mua bán thì dĩ nhiên không có gì để bàn. Còn về mặt Phật pháp, những việc liên quan đến Phật pháp như tiêu tai, siêu độ, cúng dường, quy y, cầu phúc, an vị bài vị tổ tiên, đèn quang minh, cúng Thái Tuế, đều là tùy ý.
Là người ta đến lừa tiền của tôi, chứ không phải tôi đi lừa tiền của người ta. Phải nhớ rằng, chính Sư Tôn đang thực hành bố thí, ban tài cho người ta; những gì các bạn cho tôi chỉ như những giọt nhỏ, giống như một bệnh nhân đang truyền dịch vậy, từng giọt một nhỏ xuống như thế, còn tôi cho người ta cả một chai glucose. (mọi người vỗ tay) Làm gì có chuyện lừa đảo tiền bạc? Cho nên chữ "tài" này, hãy dẹp đi! Dù những tạp chí bên ngoài đăng thế nào đi nữa, chúng ta đều biết, tất cả đều là lời nói dối.
Nói về chuyện lừa tình, mọi người đều nghĩ, dù sao khi nhắc đến thầy tu giả mạo thì nhất định là "lừa tiền" và "lừa tình", hai thứ cộng lại, chỉ có tiền và tình mà thôi! Còn có thể là gì nữa chứ? Nói về chuyện lừa sắc! Nghĩ lại không biết có hay không... Chỉ có một lần, mà không phải tôi đi lừa cô ta, mà là cô ta đến lừa tôi. (mọi người cười) Là người ta đến lừa tình tôi nhưng không lừa được, rồi lại nói tôi lừa tình cô ta, làm gì có chuyện đó! Người tu hành như chúng tôi cũng có tiêu chuẩn rất cao đấy! (mọi người cười) Nói vậy thì hơi ngại quá... (cười, mọi người cười) Đúng không? Chỉ cần suy xét một chút là có thể biết được mà!
Nội chứng tịnh quang và định lực
Một hành giả tu tập, muốn có công phu, nhất định phải luyện khí. Chúng ta tu tập Nội pháp, tu "khí, mạch, điểm". Người thực sự có nội chứng, tự thân họ có năng lượng (power), có năng lực, và chứng lượng sẽ hiển lộ, họ không cần phải lừa tình ai cả. Nói đến chuyện lừa tình! Tuyệt đối không phải Sư Tôn đi lừa tình người khác, mà chắc chắn là người khác đến lừa tình Sư Tôn. (mọi người vỗ tay)
Sư Mẫu đã từng nói một câu: "Sư Tôn! Nếu một ngày nào đó thầy công khai tuyên bố là Sư Tôn bây giờ muốn có bạn gái, lập tức sẽ có người xếp hàng dài như đi vệ sinh vậy." Là Sư Mẫu nói đấy, không phải tôi nói. Tôi không dám nói những lời to tát như vậy. (mọi người cười) Bản thân tôi không dám nói những lời to tát như vậy, đó là Sư Mẫu nói mà! Bà ấy nói, nếu công khai tuyên bố: "Được rồi! Ném quả cầu thêu đây!" Cũng sẽ có người đến. Đây chính là công phu nội chứng của bạn, khi bạn đã chứng ngộ nội tâm, bạn sẽ tỏa ra ánh sáng, sẽ có hào quang, bạn sẽ có năng lượng (power) đó, vô hình trung bạn sẽ tạo ra năng lượng đó. Nhiều người sẽ ngưỡng mộ bạn, đến gần gũi với bạn, cả nam lẫn nữ đều có; và trong đó vì lòng tôn kính thầy, vì sự tôn kính với sư phụ, họ cũng sẽ nảy sinh một tâm lý ngưỡng mộ, điều này là khó tránh khỏi.
Vì vậy, người có nội chứng thường bị người khác đến quyến rũ. Khi hành giả tu tập đến giai đoạn quan trọng, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni dưới cội bồ đề, như những gì Ngài đã trải qua; những người phụ nữ như Tôn Đà Lợi, Chiến Già, họ đều ngưỡng mộ Đức Phật, và tự nhiên sẽ tìm cách đến gần Ngài. Không phải Phật đi lừa họ, mà là họ đến lừa Phật. Do đó hiện tượng này sẽ xảy ra, nhưng hành giả phải có định lực.
Về phương diện tiền bạc, bạn nhất định phải có định lực; về phương diện nữ sắc, bạn phải có định lực. Có thì có! Không có thì không có! Sau khi đạt được định lực, bạn sẽ tỏa ra hào quang, đây chính là kết quả của việc thực tu, bạn sẽ chứng được tịnh quang như vậy.
05. Chứng
Nói về phương diện "hành", nói chung Hiển giáo là một niệm thanh tịnh, tức là tự tịnh ý mình. Còn trong Mật giáo, với những câu thần chú miên mật không ngừng, sự gia trì không ngừng của thần chú, việc thanh tịnh thân tâm không ngừng, công phu nhập Tam ma địa, đó chính là một loại "hành", tức là thực tu. Khi bạn thực tu rồi, sẽ tiến đến một chữ khác, đó là "chứng".
Chứng là gì? Có thể nói đó chính là khai ngộ. Chứng tức là khai ngộ, trong quá trình thực tu, bạn sẽ đi đến cảnh giới khai ngộ, đây là điều cuối cùng. "Tín", "Giải", "Hành", "Chứng", đó chính là chữ cuối cùng.
Có người tu hành rất lâu, thậm chí 30 năm, 50 năm, mà vẫn không chứng ngộ được. Không có gì cả, hoàn toàn không có gì. Khi họ giảng pháp cho người khác, chỉ dựa theo kinh điển mà giảng, mở kinh ra, Phật Đà nói gì thì họ giảng như vậy, họ đọc cho mọi người nghe, rồi thỉnh thoảng thêm vào lời giải thích của mình, đó chính là "giải". Họ dạy mọi người về "tín", "Các bạn phải tin Phật nhé! Các bạn phải hiểu nhé!" rồi giải thích kinh điển cho mọi người nghe, họ đọc kinh Phật, đọc cho mọi người nghe, rồi giải thích. Ồ! Các bạn nghe cũng thấy hiểu, nhưng có thực tu không? Không! Những vị pháp sư như vậy rất nhiều.
Như hôm kia và hôm nay, tôi thấy trên trời có rất nhiều mây, tất cả đều che khuất ánh sáng, không nhìn thấy gì cả, không thấy được mặt trời, vậy thì tôi đổi tên mới là Đại sư Hắc Vân. (mọi người cười) Cũng hay đấy! Mây đen này rất linh cảm, Đại sư Hắc Vân, mây đen to lắm. Mây đen có to không? Ôi! Cả Seattle, cả tiểu bang Washington đều bị phủ kín, mưa rơi, mây đen, rất hay! Đại sư Hắc Vân, sau này các bạn cứ gọi tôi là Đại sư Hắc Vân nhé. (cười, mọi người cười)
Hoặc là gọi tôi là... Tôi thấy chúng sinh đều ồn ào náo nhiệt, một mình tôi thanh tịnh cũng không hay, tôi cũng muốn ồn ào náo nhiệt, sau này tôi sẽ tên là Thượng nhân Huyên Náo. (cười, mọi người cười) (mọi người vỗ tay) Dù sao cũng hòa mình vào với mọi người mà! Đúng không? Hòa quang đồng trần, lúc thì là Đại sư Hắc Vân, lúc thì là Thượng nhân Huyên Náo.
Tôi còn nghĩ ra một cái tên hay hơn nữa. Mọi người đều biết, ở Los Angeles ai cũng biết, Đông Hải Vô Thượng Sư. Chúng ta đều biết vị Long Vương này! Đông Hải Long Vương là lớn nhất! Đúng không? Đông Hải Long Vương - Ngao Quảng, Tây Hải Long Vương, Nam Hải Long Vương, Bắc Hải Long Vương. Đông Hải Long Vương, còn Thanh Hải chỉ là một cái ao nhỏ nội địa thôi. (mọi người cười) Tôi là Đông Hải Vô Thượng Sư được rồi!
Sau này các bạn viết thư cho tôi có thể đề "Kính gửi Đại sư Hắc Vân", "Thượng nhân Huyên Náo", "Đông Hải Vô Thượng Sư", đều là biệt hiệu của tôi cả. (mọi người cười, mọi người vỗ tay)
Giảm một phần ô nhiễm, được một phần quang minh
Điều này cần phải có "chứng", có chứng ngộ! Chữ "chứng" này là một điều khác biệt đấy! Người không có chứng ngộ, họ không biết thuyết pháp, họ không có pháp vị; người có chứng ngộ, khi họ thuyết pháp sẽ có pháp vị. Người có chứng ngộ có khác biệt; khác biệt chính là khác biệt, không giống nhau chính là không giống nhau. Hôm nay nếu bạn gặp một người chưa chứng ngộ, họ giảng kinh, bên trong chẳng có pháp vị gì cả. Hôm nay nếu bạn gặp một người đã khai ngộ, họ chỉ cần thể hiện một chút chứng ngộ của mình, các bạn sẽ biết ngay pháp vị đó ở đâu, đây chính là ngôn ngữ Bát Nhã. Ngôn ngữ Bát Nhã, văn tự Bát Nhã, quán tướng Bát Nhã và thật tướng Bát Nhã, trí tuệ sẽ được sinh ra từ đó.
Thiền tông có rất nhiều công án thiền ngữ, đều là ngôn ngữ Bát Nhã. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn gặp Lục Tổ hỏi: "Ngươi từ đâu đến?" "Con từ Đài Loan đến." Lục Tổ đáp: "Con từ Đài Loan đến." "Người Đài Loan làm sao thành Phật được? Người Đài Loan làm sao có tư cách thành Phật?" Lục Tổ đáp: "Có người Đài Loan, người Tây phương, người Đông phương, mọi người tuy khác nhau, nhưng Phật tính như nhau, Phật tính đều giống nhau." Ngũ Tổ nghe xong, ồ, ngươi đã chứng được Phật tính "bình đẳng không phân biệt". Cách nói này rất sắc bén, người có pháp vị, mở miệng nói ra đã khác.
"Ngươi từ đâu đến?" "Tôi từ Los Angeles đến." "Gà rơi nước" mãi mãi là "gà rơi nước"! [chơi chữ đồng âm] (mọi người cười) Những nơi khác đều phát triển hưng thịnh, "gà rơi nước" vẫn cứ là "gà rơi nước"; làm sao một kẻ "gà rơi nước" có thể thành Phật được? Các bạn trả lời rằng: "Ôi! Thưa Sư Tôn! Con người tuy có phân biệt Los Angeles, San Francisco, Seattle, chỗ ở tuy khác nhau, nhưng Phật tính đều như nhau." Đạo lý là như vậy, đây chính là có pháp vị trong đó. Cho nên Ngũ Tổ vừa nghe câu này, liền nhận định Lục Tổ là bậc đại căn khí sắc bén. Đây chính là sự chứng ngộ thể hiện qua lời thiền.
Tính Không của Lục Tổ hiển hiện, thật là vĩ đại, trong năm trí huệ của Phật có "bình đẳng tính trí", vừa mở miệng ra nói đã trúng rồi, làm sao Ngũ Tổ không nhìn ra? Ngài đương nhiên nhìn ra được. Trong năm đặc tính của Như Lai, Lục Tổ đã có được Bình đẳng tính trí rồi.
Chữ "chứng" này chính là giảm đi một phần ô nhiễm, đạt được một phần quang minh. Tu hành của chúng ta hiện nay chính là như vậy, mỗi lần tu pháp, trong lần tu pháp đó, bạn đạt được thanh tịnh, chính là giảm đi một phần ô nhiễm, đạt được một phần thanh tịnh. Gộp tất cả những thanh tịnh này lại, liên tục không ngừng, chính là Phật tính, đây chính là chứng ngộ.
Trí tuệ này có cái gọi là ngôn ngữ Bát Nhã, văn tự Bát Nhã, quán tướng Bát Nhã và thật tướng Bát Nhã. Trong Thiền tông nói rằng, chính là bất lập văn tự; không lập bất kì văn tự nào, không viết. "Bất lập văn tự, kiến tính thành Phật." Nói thẳng với bạn rằng, thấy được Phật tính vốn có của mình thì có thể thành Phật, không nói gì khác.
Trong Mật giáo thì đó chính là "gia trì thành Phật". Nhờ có sự gia trì quán đảnh của Thượng sư trên thân bạn, khiến bạn chuyển hóa thành Phật, đây chính là sự gia trì của Như Lai. Thượng sư có chứng lượng ban cho bạn gia trì quán đảnh, giúp bạn nhanh chóng tức thân thành Phật, đây là Mật giáo. Đây chính là một bí mật của thần chú, một bí mật của chú ngữ. Các bạn thấy Sư Tôn có khai ngộ không? (các đệ tử đáp: "Có!") (mọi người vỗ tay) Các bạn nói tôi khai ngộ, tôi đương nhiên rất vui! Đâu thể tỏ ra buồn bã được. (mọi người cười)
Một câu chuyện thần kỳ
Gần đây có một vài chuyện, tôi cũng xin kể sơ qua với mọi người. Một người đã khai ngộ, trong cuộc sống của họ có những điểm đặc biệt, nhưng cũng có những điểm hoàn toàn giống như người bình thường.
Gần đây tại Chân Phật Mật Uyển, vì có nhiều người đến giúp trả lời thư, nên số người ăn cơm cũng tăng lên; trưa và tối đều khoảng 20 người, nhiều nhất có khi lên đến 30 người ăn cơm. Hai sư phụ Bích Trân và Bích Yến phụ trách nấu nướng trong bếp, họ thường kêu lên với chúng tôi: "Hết đồ ăn rồi!" Hết đồ ăn ư? Vậy thì phải đi mua thôi! Với 20, 30 người như vậy mà bảo một mình Sư Mẫu đi mua đồ ăn thì quá vất vả, nên mấy tháng gần đây, tối nào tôi cũng đi mua đồ ăn. (cười, mọi người cười)
Uwajimaya, Safeway, QFC, Larry's Market, tôi đều đi mua. Đi mua đồ ăn chỉ cần một chỗ là được rồi, sao phải nhiều chỗ như vậy? Còn có nhiều cửa hàng khác nữa đấy! Thỉnh thoảng tôi chạy đến Safeway này, có khi lại chạy đến Safeway kia; bởi vì bên cạnh tôi có rất nhiều vị Bồ Tát nhỏ đi theo, đều là những vị rất nhỏ, rất nhỏ; ở trên đỉnh đầu, ở tai, khắp thân thể đều có rất nhiều vị Bồ Tát nhỏ đi theo. Khi tôi đến chợ, các ngài vui nhất. (cười, mọi người cười)
Khi tôi đến đó, chỉ cần vỗ tay một cái (âm thanh "bốp bốp" hai tiếng vỗ tay), "Các ngài hãy đến đây!" Ồ! Những vị Bồ Tát nhỏ này đều được ăn miễn phí! (cười, mọi người cười lớn)
Vậy hôm nay đã ăn miễn phí ở chỗ này rồi, ngày mai chắc chắn phải đổi chỗ khác thôi? Vì chỗ này đã ăn hết sạch rồi mà! (cười, mọi người cười lớn) Cho nên lúc thì chạy đến Safeway bên Redmond, lúc thì phải chạy đến Safeway bên Bellevue, lúc thì chạy đến Larry's Market, ngoài ra còn thường xuyên đến QFC kia, phía trước còn có mấy chỗ market nữa, mỗi ngày đều phải đổi một chỗ. Các ngài đều đi theo tôi cả.
Tôi nói với Sư Mẫu: "Đến rồi!" Cả một đám lớn, vù! Giống như một cơn gió thổi qua vậy, tất cả đều đến. Tôi không nên ví von như vậy nhỉ? (cười) Giống như những con châu chấu ở Trung Quốc đại lục ngày xưa, từ trên trời đen kịt một mảng bay xuống, đột nhiên bay xuống; chỉ trong vài phút thôi, chỉ cần vài phút thôi. Những cây ngô đó liền biến mất sạch sẽ. (cười, mọi người cười) Giống như một đám mây đen hạ xuống, chỉ trong vài phút, cả cánh đồng ngô đều bị quét sạch.
Khi tôi bước vào đó, tôi nói: "Các ngài đã đến." Cửa tự động "vù!" mở ra, rồi "vù!" đóng lại. Ừm! Những người nước ngoài đều nhìn ngơ ngác. Sao không thấy ai đi vào mà cửa tự động mở ra, rồi tự động đóng lại vậy? (mọi người cười) Tôi sống trong cảnh giới như thế đấy, có rất nhiều vị Bồ Tát đi theo Sư Tôn, điều này hoàn toàn không phải nói dối. (mọi người vỗ tay)
Phương pháp đọc báo kỳ diệu
Sáng nay, tôi đọc báo. Ủa? Các bạn nghe đến việc đọc báo đều cảm thấy rất lạ, thực ra khi xưa chúng tôi làm quân nhân, trong quân đội đều có đọc báo, ngoài ra ở trường Trắc Lượng cũng có đọc báo; tức là cử một đại diện trong số học sinh, viết ra những điểm chính trong báo hôm nay, đọc cho mọi người nghe. Bởi vì báo không phải ai cũng có một tờ, nên mới có chương trình đọc báo này; buổi sáng trước tiên đọc qua báo một chút, đọc qua thời sự và những điểm chính trong báo, đó gọi là "đọc báo".
Sáng nay tôi cũng đọc báo. Ai đọc báo cho Sư Tôn? Chư Phật Bồ Tát đọc báo cho tôi. Tôi đã thấy, có một mẩu tin tức, viết rằng "Chùa XX hóa thành tro bụi", tức là đã bị cháy rụi. Ngôi chùa này trước đây có chút liên quan với Chân Phật Tông chúng ta, bây giờ thì không. Tôi nói với mọi người, hy vọng sau này có thể kiểm chứng tin tức này.
Dĩ nhiên chuyện này vẫn chưa xảy ra, nhưng tôi đã đọc được trên báo rồi! (mọi người cười) Tôi đã đọc được báo, Ngài cho tôi xem; việc "hóa thành tro bụi" này, bị cháy rụi, một mẩu báo như vậy cho tôi xem, tôi đã biết được chuyện này.
Có rất nhiều chuyện tôi đều đọc báo trước. Như hồi trước khi tôi ở Đài Loan, tôi đọc báo, Ngài cho tôi xem báo. Ồ! Tờ XX Thời Báo! Trên đó viết "XX Thời Báo", tờ báo đó cho tôi xem, đột nhiên "XX Thời Báo" biến mất, trở thành "XX Nhật Báo". Chuyện gì vậy? XX Thời Báo sẽ biến mất sao? Thôi tôi không nói nữa. Chuyện này liên quan đến quốc gia, tôi không thể nói nữa, nói ra thì không hay lắm.
Khi chúng tôi đọc báo, tôi đều biết trước. Tôi có khả năng thần toán, Sư Tôn biết đoán trước đấy! Tờ báo tôi đọc là báo của mười năm sau, còn báo các bạn đọc là báo mới in từ nhà in hôm nay, về những chuyện xảy ra hôm nay. Đôi khi Ngài đưa cho tôi xem báo của mười năm sau. Báo mười năm sau còn chưa ra, tôi đã đọc trước rồi.
Thực ra khi có ai muốn phê bình Sư Tôn, các vị Phật Bồ Tát đều đưa cho tôi xem trước, Ngài đọc báo cho tôi nghe trước. Mấy chữ "Lư Thắng Ngạn" to đùng, "xấu quá đi"! (cười, mọi người cười lớn) Khi họ in sách, tôi đã thấy trước rồi, làm sao không biết được chứ? Thực ra khi nhà đệ tử bị hỏa hoạn, tôi cũng thấy trước, những gì xuất hiện trên báo, tôi đều thấy trước. Nhưng tôi biết nói sao đây? Có nhiều chuyện không thể nói. Nói ra biết rồi thì có ích gì?
Các bạn thử nghĩ xem, chuyện gì sắp xảy ra với tôi, làm sao tôi lại không biết chứ? Tôi đều biết cả. Nhưng tôi nói thế nào đây? Tôi nói với ai đây? Tôi đâu thể đăng lên báo được! Cho nên tôi nói với mấy người thân cận cũng chẳng có ích gì! Họ đều giữ kín như bưng, họ lại không lan truyền tin đồn. Nhưng những người đáng lẽ nên tạo tin đồn thì họ lại không tạo, còn những người không nên tạo tin đồn thì họ lại cứ tạo ra. (mọi người cười)
Có nhiều chuyện có thể biết trước, tôi thấy không hay. Nhưng chư Phật Bồ Tát cũng nói với tôi rằng: "Chỉ báo tin vui không báo tin buồn cũng không tốt." Mà chỉ báo tin buồn không báo tin vui cũng không tốt. Các Ngài cũng không biết phải làm sao. Tôi bèn nói: "Ôi! Kệ vậy!" Kệ vậy! Dù sao các Ngài vui lòng đưa cái gì cho tôi xem thì tôi xem cái đó. (cười) Cho nên tôi thấy được, thực ra, những lời người ta sẽ chửi tôi vài năm sau, Ngài đã đưa cho tôi xem trước rồi. Vừa xem xong, tôi lại phải buồn thêm mấy năm nữa. Chẳng có ý nghĩa gì! Đến lúc đó mới buồn cũng được mà! Phải không? Cần gì phải buồn sớm chứ! (mọi người cười)
Cho nên đôi khi biết trước vận mệnh chưa chắc đã tốt! Lo lắng sợ hãi. Đôi khi Ngài không muốn cho tôi biết, để tôi phải lo lắng sợ hãi trước. Vì vậy con người tôi cũng chỉ nói: "Ôi! Tùy duyên thôi!" Đó là tự tại! "Đi đến đâu tính đến đó." Vận mệnh là như vậy đó, đi đến đâu tính đến đó. Thế nào thì cũng phải tự tại.
Giác hành viên mãn
Sư Phật Thubten Dhargye ban cho tôi pháp hiệu là "Thổ Đăng Tự Như".
"Thổ lộ bài ca hộ Phạm giáo, Đăng lên Lư Sơn đạo quang minh, Tự trí chúng sinh đều chữ Hum, Như pháp chính tri tụng cát tường". (mọi người vỗ tay) Ngài dạy tôi phải "tự như"!
Ý nghĩa câu đầu tiên, "Thổ lộ bài ca hộ Phạm giáo", tức là truyền bá Phật pháp khắp nơi, hoằng dương chính pháp do Đức Phật Thiên Trúc truyền xuống, để hộ trì chính pháp của Đức Phật; "Đăng lên Lư Sơn đạo quang minh", tức là bảo tôi phải tu hành, bước lên thế giới Tịnh Quang cao nhất; "Tự trí chúng sinh đều chữ Hum", chúng sinh đều bình đẳng, đều từ chữ Hum mà sinh ra; "Như pháp chính tri tụng cát tường", trong Mật giáo cũng đều là trí huệ của Phật, dùng trí huệ của Phật để đạt được mục đích cát tường cho chúng sinh. Đây là điều Ngài ban cho tôi, "Thổ Đăng Tự Như", cho nên phải tự tự như như.
Cho nên tôi biết trước, nếu như tôi dạy phương pháp này cho mọi người, dạy cho các bạn pháp nhãn báo, pháp nhĩ báo, pháp này pháp kia, là làm cho các bạn khổ sở. Thật sự là khổ sở! Biết trước có ích gì? Chẳng phải là đau khổ sớm hơn thôi sao? Tuy có thể giúp đỡ người khác hay làm gì đó, nhưng bạn có thể giúp được bao nhiêu? Đôi khi vận mệnh đã định sẵn rồi, bạn có thể giúp được bao nhiêu? Chi bằng tu Phật pháp, thực tu Phật pháp; lấy "hành" làm trọng, "chứng" tự nhiên sẽ đến.
Người học Phật chúng ta, học đến cuối cùng, chính là tự mình giác ngộ, tự mình khai ngộ. Bạn đã hiểu được chân lý tối thượng của vũ trụ, đó chính là "tự giác"; bạn đã tự mình giác ngộ rồi, đem phương pháp giác ngộ truyền cho người khác là "giác tha"; tức là cũng đi giúp người khác giác ngộ, cho đến khi tự giác và giác tha đều viên mãn, đó chính là "giác hành viên mãn"! Như vậy "tự giác giác tha, giác hành viên mãn", chính là Phật.
Thực tu của chúng ta chính là để khai ngộ, khi đã khai ngộ rồi, thì có thể viên mãn giác hành của mình. Bạn có thể tự giác, có thể giác tha, như vậy mọi hành vi của bạn trong cõi nhân gian này đều rất có giá trị, bởi vì bạn là một vị Phật hoàn toàn viên mãn.
Vậy làm sao để chứng ngộ? Chính là phải thực tu, thể hội chân lý tối thượng của vũ trụ. Điều này tôi sẽ trình bày từng điểm một trong những buổi giảng những ngày tới, tức là nói về cách thể hội từng tầng từng lớp pháp vị này.
Thực chứng và thần thông
Thế thì có người hỏi: "Sau khi chứng đắc rồi, ông có thần thông không?" Còn cần phải nói nữa sao? Chính bản thân bạn có thể tiếp xúc được, có thể chạm được, giống như sờ vào điện vậy, biết là có. Nếu bạn chưa chứng đắc, bạn hoàn toàn như một vật cách điện, không biết gì cả.
Khi bạn hiểu được nhân quả, hiểu được túc mệnh, thì túc mệnh thông sẽ xuất hiện. Như những chuyện đã xảy ra với tôi trước đây, tôi đã kể rồi, mọi người cũng đã nghe rồi! Kiếp trước tôi là một vị đại Lama ở cung điện Potala Tây Tạng, không phải tiểu Lama. Trước đây cũng có người phỉ báng tôi, người phỉ báng đó chính là bà chủ tiệm kim khí ở phố Bát Giác, Tây Tạng. Thì kiếp này, bà ấy cũng vậy, cũng làm những hành động tương tự. Đây chính là nhân quả, vốn dĩ phải như vậy, bạn có trốn cũng không thoát được. Ý chỉ của chư Phật Bồ Tát là như vậy: "Đã như vậy thì cứ như vậy, không có cách nào cả!" (mọi người cười) Cho nên đây là có quan hệ nhân quả.
Có một kiếp tôi làm trụ trì chùa Kim Sơn ở Trung Quốc Đại Lục, là một vị đại hòa thượng. Còn Thượng sư Thịnh Pháp, lúc đó ông ấy làm giám viện, lúc đó ông có pháp danh là Quảng Diệu - Pháp sư Quảng Diệu, bây giờ Ngài là Thượng sư Thịnh Pháp. Điều kỳ diệu chính là ở chỗ này, có duyên sẽ đến với nhau, tụ họp cùng nhau, có duyên thì sẽ ở bên nhau. Sau khi tôi đi rồi, thì ông ấy làm trụ trì. Ông ấy đá tôi đi rồi. (mọi người cười)
Không phải vậy! Đó là vô thường, là vô thường. Trên đời làm gì có trụ trì vĩnh viễn, phải không? Trên đời làm gì có chủ tịch vĩnh viễn? Trên đời không có cái gọi là hai chữ "vĩnh viễn", chỉ có A La Hán thành Phật, không sinh cũng không tử. A La Hán, không sinh không tử; Bồ Tát, không sinh không tử; Phật, không sinh không tử. Chỉ có điều này mới là vĩnh hằng.
Khi túc mệnh thông đã khai thông, mười phương rộng lớn vô biên - đây là chỉ không gian; ba đời lưu thông vô tận - đây là chỉ thời gian. Bạn đều hiểu hết! Túc mệnh của bạn, bạn đều thấu tỏ. Ồ! Thì ra là như vậy, rõ ràng minh bạch, tất cả đều có nhân quả, có luân hồi, không thể trốn tránh; cái gì phải đến thì sẽ đến, cái gì phải đi thì sẽ đi, nhân duyên tụ hợp, cứ thế luân hồi.
Có gì đáng để chấp trước? Học Phật đến mức này, bạn đã chứng ngộ rồi, đã viên mãn rồi, có gì đáng để chấp trước? Có gì đáng để vui sướng? Có gì đáng để bi thương? Học đến lúc này, bạn đã có thể tự như, đó là "tự như" mà Thượng sư Thubten Dhargye ban cho. Các bạn có muốn tự như không? Muốn tự như thì phải hành trì cho tốt, phải lĩnh hội được pháp vị, sẽ không còn phiền não; các bạn không muốn tự như, thì sẽ có phiền não, sẽ có sinh tử, có đoạn diệt. Đây là điều có giá trị nhất trong đời người đấy!
Bạn nói thứ có giá trị nhất trong cuộc đời là đồ cổ. Đồ cổ ư? Tôi cũng có, tôi cũng có đấy! (mọi người cười) Ai đã tặng cho tôi nhỉ, cô Điền đó, tôi đang tìm cô ấy, không biết cô ấy trốn ở đâu? Ồ! Ở đây này. Cô ấy có rất nhiều đồ cổ đấy! Đó là di vật của chồng cô ấy để lại. Vậy nên cô ấy tặng cho tôi, bây giờ cô ấy tặng cho tôi, sau này tôi cũng sẽ tặng cho người khác, phải không? Những món đồ cổ có giá trị này, không phải một người có thể giữ mãi! Sau này nó nhất định phải được truyền từ đời này sang đời khác, cứ thế mà tiếp tục! Bạn không thể sở hữu mãi mãi được.
Cho nên Đức Phật đã nói rất rõ ràng rồi, cái gì là của bạn? Không có thứ gì là của bạn cả, chỉ có nghiệp theo mình, nghiệp chướng đi theo bạn. Bạn tưởng đồ cổ là có giá trị sao? Bạn tưởng tiền là có giá trị sao? Kiếp này bạn cứ cố mà làm việc đi! Đi đi! Dù sao bạn cũng bận rộn không ngớt, ngày nào cũng bận, ngay cả Chủ nhật cũng bận. Có ngày thứ tám không? (tiếng cười) Không có đâu.
"Cho tôi ngày thứ tám thì tốt quá, tôi sẽ có thể bận rộn tám ngày: người ta bận bảy ngày, tôi bận tám ngày." Không có chuyện tốt đẹp như vậy đâu, một tuần là một tuần thôi, không có thêm ngày nào cả. Ngày nào cũng bận rộn, cuối cùng bận đến hai tay trắng, bận rộn vô ích! Cái gì là có giá trị? Tiền bạc ư? Đồ cổ ư? Nhà lầu ư? Xe hơi ư? Tất cả đều là bận rộn vô ích!
Cái gì là có giá trị nhất? "Tự như". Khi bạn đã chứng đắc, tín-giải-hành-chứng, bạn đã khai ngộ, bạn đã hiểu được chân lý tối thượng của vũ trụ, đây mới là điều có giá trị nhất. Hôm nay mọi người không đi con đường này, vậy đi con đường nào? Con đường bạn đang đi là... thôi không nói nữa... đường cụt! (mọi người cười) Phải không? Đó là điểm đến cuối cùng của đời người mà! Điểm đến cuối cùng của đời người chẳng phải là đường cụt sao?
06. Tứ Thánh đế
Vì vậy tôi cảm thấy kiếp này của mình rất có ý nghĩa, có thể tự tại như vậy, dù thế nào đi nữa, luôn có một trạng thái pháp hỷ tràn đầy giác ngộ, được chư Phật gia trì, tự thân tỏa sáng. (mọi người vỗ tay)
Thuở xưa Phật Thích Ca Mâu Ni, thực ra khi Ngài bắt đầu thuyết giảng, mọi người đều biết, chính là bốn Thánh đế, gọi là "Khổ Tập Diệt Đạo"; khi tôi giảng Tâm Kinh cũng đề cập đến "Khổ Tập Diệt Đạo" này, "Vô Khổ Tập Diệt Đạo". Thực ra, mấy chữ này đã bị sắp xếp sai, phải là "Tập Khổ Đạo Diệt", "Tập Khổ Đạo Diệt" mới đúng, "Khổ Tập Diệt Đạo" là sai. Có lẽ khi dịch, người ta hoa mắt nên đảo lộn các chữ. (mọi người cười) "Tập Khổ Đạo Diệt" mới đúng, không phải "Khổ Tập Diệt Đạo".
Phật Đà giảng bốn Thánh đế này, lúc đầu giảng là bốn Thánh đế, khi sắp viên tịch cũng là bốn Thánh đế. "Tập" là tích tụ tất cả "Khổ", nhanh chóng tu "Đạo", để nhập "Niết bàn", ý nghĩa của bốn chữ này là như vậy.
Đời người là khổ, rất khổ, bởi vì vô thường tự thân đã là khổ rồi, người thường không chịu nổi vô thường. Trong mắt người đã khai ngộ, họ có thể chấp nhận, bởi vì vốn dĩ đã như vậy; nhưng trong mắt người khác, "Sao lại thế nhỉ? Người này hôm qua còn ở bên cạnh mình, sao ngày mai đã không thấy nữa? Sao lại thế nhỉ?" Đó chính là vô thường. Trong đạo lý nhân quả luân hồi, trong Phật pháp, điều này là tồn tại, là có nhân quả đang luân hồi ở đó.
"Khổ" là tất cả mọi nỗi khổ, hết thảy khổ đau; "Tập" là nghĩ về khổ, "Diệt" là Niết bàn, "Đạo" chính là tu đạo, đây là bốn Thánh đế mà Như Lai Phật Đà đã thuyết giảng. Sau này, khi bốn Thánh đế này chuyển hóa, khi bạn khai ngộ, nó sẽ biến thành "Thường, Lạc, Ngã, Tịnh".
Thế nào là "Thường"? Đó là tự tại. Thế nào là "Lạc"? Đó là tự như. Thế nào là "Ngã"? Là quảng đại, cái "Ngã" này không phải tiểu ngã, mà là "Ngã" quảng đại. Thế nào là "Tịnh"? Đó là "thanh tịnh". Thường xuyên được tự tại, tự như an lạc, trong cõi quảng đại vô biên, thần thông du hý, thanh tịnh tự như, đây chính là "Thường, Lạc, Ngã, Tịnh", đây chính là bốn Thánh đế.
Trong Phật pháp, điều đầu tiên mà Như Lai, Đức Phật dạy chúng ta chính là bốn Thánh đế. Trong bốn Thánh đế bao hàm vô thường. Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn", chữ "ngã" này có nghĩa là quảng đại, chính là ý thức vũ trụ bao la, cũng chính là nói về "chân như"; "Thiên thượng địa hạ, duy chân như độc tôn." Không phải chỉ nói về một người, điều này mọi người cần phải ghi nhớ.
Thật ra bốn Thánh đế "Khổ Tập Diệt Đạo" chuyển hóa thành "Thường Lạc Ngã Tịnh", đó chính là ý nghĩa quan trọng nhất của bốn Thánh đế. Từ đó nảy sinh vấn đề về chính kiến, cũng chính là Phật pháp chia thành ba thừa. Vậy Tiểu thừa lấy gì làm chính kiến? Chính là lấy "vô thường" và "xuất ly" làm chính kiến.
Vậy Đại thừa thì sao? Lấy gì làm chính kiến? Chính là lấy "vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả" làm chính kiến. Mặc dù Kinh Kim Cang đã giảng về tứ vô, tứ vô tướng, phi tứ tướng, nhưng kinh còn giảng thêm về sáu ba-la-mật. Tư tưởng Đại thừa vì có sáu ba-la-mật nên trở thành tư tưởng Đại thừa. Tiểu thừa chỉ có vô thường và xuất ly, còn Đại thừa thì có "vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả" cộng thêm sáu ba-la-mật.
Vậy Mật giáo thì sao? Lấy Phật và ta là một làm chính kiến, "bạn chính là Phật, tôi chính là Phật", đây là nhất như; "quang quang hợp nhất", tử quang và mẫu quang làm một, tương ứng, đây là chính kiến của Mật giáo. Vì vậy người tu Mật giáo có phương tiện gia trì, bạn chính là Phật, tôi chính là Phật, quang quang hợp nhất, đây chính là chính kiến của Mật giáo.
Chính kiến của Đại thừa là sáu ba-la-mật, chính kiến của Tiểu thừa là xuất ly và vô thường.
Thời gian đã gần hết, hôm nay chúng ta đã giảng về "Hành, Chứng" và "Tứ Thánh đế". Hôm qua chúng ta đã giảng về "Tín, Giải, Vô thường", hôm nay giảng về "Hành, Chứng" và "Tứ Thánh đế", mong rằng mọi người có thể lĩnh hội.
Om mani padme hum.
Ngắm núi ngắm sông
Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người!
Hôm nay là ngày thứ ba giảng "Phật Học Tổng Thuyết", ngày đầu tiên chúng ta giảng về "Tín" và "Giải", ngày thứ hai giảng về "Hành" và "Chứng". Có thể nói hai ngày qua chúng ta đã trình bày toàn bộ thứ tự tu tập của Phật Học Tổng Thuyết, từ "Tín" cho đến "Chứng", bốn chữ này đã bao hàm tất cả, có thể nói bốn giai đoạn này đã giảng xong. Và khi đã giảng xong rồi, thời tiết đẹp thế này, chúng ta thực sự có thể đi dã ngoại, hoặc leo núi.
Tuy nhiên Phật Học Tổng Thuyết rất quan trọng, quả thật thời gian của đời người rất ngắn ngủi, chúng ta thường ngày phải chú ý đến những hoạt động có lợi cho thân tâm khỏe mạnh, nhưng đối với Phật pháp quý báu càng phải trân quý hơn. Thường ngày tôi mong mọi người hãy ngắm nhìn thiên nhiên, thế giới tự nhiên, "ngắm núi, ngắm sông, thấu hiểu cuộc đời". Từ trong sông núi, cũng có thể lĩnh hội được Phật pháp, không phải Phật pháp nhất định phải đọc kinh, niệm Phật, ăn chay, giữ giới.
Lấy Phật pháp làm thể, lấy cuộc sống làm dụng
Đôi khi, cần phải ứng dụng Phật pháp vào toàn bộ cuộc sống, có thể nói tất cả đều là Phật pháp. Tín, Giải, Hành, Chứng đều có thể xuất hiện trong cuộc sống của bạn. Điểm này cũng rất quan trọng, vì vậy khi học Phật chúng ta không thể càng học tâm càng hẹp hòi, mà phải càng học càng rộng mở, đem tất cả lời nói việc làm, mọi khía cạnh của cuộc sống hòa nhập vào trong Phật pháp, đây mới gọi là "thể" và "dụng". Thế nào là "thể"? Lấy Phật pháp làm thể. Thế nào là "dụng"? Chính là lấy cuộc sống làm dụng. Vì vậy học Phật nếu càng học tâm càng rộng mở, nó sẽ càng hiển lộ ánh sáng; nếu càng học tâm càng hẹp hòi, sẽ trở nên tăm tối. Cho nên rất dễ đi lệch, khi bạn học được cái lệch lạc, và học được những điều tà vạy, không phải chính kiến Phật pháp, sẽ dễ phạm sai lầm.
Vì vậy khi chúng ta học Phật, tôi nói theo cách thông thường, mỗi tối thứ Bảy lúc 8 giờ chúng ta đồng tu, còn Chủ nhật thì leo núi, leo núi Cầu Vồng. Ngọn núi Cầu Vồng phía sau này, đảm bảo sẽ khiến bạn thở hổn hển. (mọi người cười) Theo cách nói của người Đài Loan là "biết thổi gà mà không biết thổi lửa" (tiếng Đài), khi lên đến đỉnh núi chắc chắn sẽ thở không ra hơi, đây là một dạng rèn luyện, leo núi cũng là một cách rèn luyện sức khỏe. Khi bạn ngắm nhìn ngọn núi hùng vĩ, ngắm nhìn đất trời, ngắm nhìn dòng nước chảy, không chỉ có thi tình họa ý, mà trong đó còn chứa đựng hương vị Phật pháp.
07. Nhập Phật môn
Hai cửa Lý và Sự
Đã giảng về "Tín, Giải, Hành, Chứng" rồi, vậy làm sao để vào cửa Phật? Cửa ấy rốt cuộc ở đâu? Nhiều người có ý kiến không giống nhau, khác biệt nhau.
Có người nói nên từ "Lý" mà vào; "Lý" là Phật lý, cần phải hiểu Phật lý trước. Phật lý, mọi người đều biết Phật lý rất thâm sâu, từ "Lý" mà vào thì tốt hơn, bởi vì vào từ Lý chính là vào tri kiến Phật.
Có người cho rằng cần phải thực tu; khi bước vào học Phật nên thực tu trước, thực tu chính là "Sự pháp". Giống như chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, cần phải thực sự tu hành, giữ giới, giữ tâm ý thanh tịnh, như vậy mới được. Điều này được chia thành hai cửa, một là "cửa Lý", một là "cửa Sự". Vậy rốt cuộc nên học Phật Lý trước là đúng? Hay là nên từ Sự pháp mà tu trước là đúng? Mọi người có ý kiến gì không?
Người Trung Quốc rất giỏi nói đến chuyện "tiến hành đồng thời". Nhớ lại ngày xưa khi đi học chúng ta đã từng học: "Biết khó làm dễ, biết dễ làm khó, tri hành hợp nhất." Đúng không? Bây giờ ai cũng hiểu phải "tri hành hợp nhất". Nhưng thời Phật Đà, Ngài dạy chúng ta như thế này, có rất nhiều kinh điển đều đề cập đến; ý của Phật là Ngài muốn từ "Sự" mà vào, rất nhiều kinh điển đều đề cập đến điều này đấy!
"Nghe nhiều không bằng thực tu", rất nhiều kinh điển đều đề cập đến điều này; bạn đi nghe Phật lý, nghe rất nhiều, nhưng mà sao? Nếu không thực tu thì giống như tôi đã nói hôm qua, về căn bản bạn chưa ăn món đó! Bạn biết đấy, làm nhiều món ăn, bạn hiểu đạo lý đó, nhưng bạn không thể no bụng với nó, căn bản là không thể có được pháp vị. Vì vậy trong giáo huấn của Như Lai, Ngài dạy rằng, "thực tu là số một".
Nhưng tôi cho rằng, chúng ta cần để Lý và Sự song hành với nhau, phải cùng tiến. Tuy Phật Đà rất nhấn mạnh việc thực tu, nhưng thuở ban đầu khi Phật dạy chúng ta, Ngài chỉ nói, sau khi các con khất thực về, nghe pháp xong, được rồi! Mọi người giải tán. Có người chạy lên đỉnh núi, có người ở lưng chừng núi, có người ở chân núi, có người dưới gốc cây, đều ngồi thiền tĩnh tọa ở đó.
Mọi người đều đi tu tập. Đến giờ, một tiếng gọi vang lên, mọi người lại đi ra ngoài, tiếp tục đi khất thực, tiếp tục đi xin ăn, cuộc sống đều như thế. Điều Phật Đà dạy từ thuở ban đầu chính là bảo bạn đi tĩnh tọa, đi thiền định. Tĩnh tọa và thiền định là vô cùng quan trọng, trong toàn bộ quá trình Phật học của Như Lai, "định" chính là mắt xích quan trọng nhất.
"Lý nhập" chính là nhập tri kiến Phật, hiểu được ý thú, thấu hiểu ý nghĩa và lý thú trong kinh điển, lĩnh hội lý thú đó; từ trong Phật kinh Phật lý này, thể hội được pháp vị, và cuối cùng thì sao? Tâm địa của bạn sẽ đạt được quang minh, đây là phương diện "Lý nhập".
Có người đọc kinh, trì tụng kinh, thâm nhập kinh tạng, khi thực sự hợp nhất với kinh điển, mở kinh ra thậm chí còn thấy được Bồ Tát. Mở những lá kinh bối diệp ra đều có thể thấy Bồ Tát. Vì vậy trong kinh điển cũng chứa đựng vô tận diệu vị, khi bạn đọc kinh đến chỗ uyên thâm, lĩnh hội được sự uyên thâm đó, không chỉ gật đầu tán thưởng, mà thậm chí tâm thần của bạn cũng sẽ tỏa sáng. Đây mới là điểm then chốt của việc đọc kinh.
Ở Trung Quốc, sau thời nhà Tống, đã biên soạn rất nhiều sám bản. Sám bản là sau thời nhà Tống, nhiều vị pháp sư, đại đức, như Lương Vũ Đế chẳng hạn! Họ biên soạn ra những sám bản này. Sám bản đương nhiên cũng có điểm tốt, không phải là không có, dạy bạn sám hối, và sám hối chính là dạy bạn đọc kinh, trì tụng kinh. Xem kinh điển, rồi trì tụng, niệm tụng, sau đó lễ bái, lạy Phật.
Thực ra sám hối chính là "lễ bái" và "đọc kinh" kết hợp với nhau thành bái sám. Ý nghĩa lớn nhất của sám hối là ở chỗ bạn đang sám hối điều gì, bạn thật sự hiểu được việc sám hối, chứ không phải chỉ là lạy theo và tụng kinh theo mà thôi, mà phải hiểu được ý nghĩa bên trong sám bản, đây mới là điểm then chốt. Vì vậy mọi người cần hiểu rằng bái sám chỉ là bề mặt của Phật pháp. Pháp môn sám hối có thể nói là đơn giản nhất, chỉ là đọc kinh và lễ bái; đến cuối cùng, những pháp môn Phật pháp này đều trở nên rất đơn giản, chỉ còn là một pháp môn sám hối.
Còn với pháp môn niệm Phật, hiện nay việc niệm Phật chỉ còn là "trì danh niệm Phật"; một câu danh hiệu Phật đã bao hàm cả Tam tạng kinh điển, diễn biến đến nay đã trở nên ngày càng đơn giản. Bởi vì người thời nay thích nhàn ghét khó, cho rằng càng đơn giản càng tốt. Họ nghĩ chỉ cần niệm Phật là được, niệm "Nam mô A Di Đà Phật" là có thể thành Phật, diễn biến đến nay, ngay cả "Thập lục quán" trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh cũng không còn; "Quán tướng niệm Phật" cũng không còn, chỉ còn lại "trì danh niệm Phật", một câu "Nam mô A Di Đà Phật" đã bao hàm cả Tam tạng kinh điển. Nếu nói như vậy thì chi bằng bỏ hết Tam tạng kinh điển đi, chỉ viết "Nam mô A Di Đà Phật" là đủ. Cho nên Phật pháp trong mắt người hiện đại đã biến đổi như thế.
Thiền tông ngày xưa là pháp môn viên đốn nhất, còn chứa đựng nhiều diệu lý thâm sâu, nhưng đến thời hiện đại, chỉ còn lại thiền ngôn thiền ngữ, toàn là nói suông, cứ lật đi lật lại những gì của các bậc đại đức Thiền tông thời xưa, chỉ bàn luận những điều đó. Cho nên không lạ gì mà thời nay có rất nhiều pháp sư, thiền sư, đại sư "tâm thiền chưa sáng", rất ít người thực sự có thể khai mở tâm thiền. Vì vậy Thiền tông không chỉ là thiền ngôn suông, còn có rất nhiều pháp thiền, rất nhiều diệu pháp tham thiền, nay đã thất truyền, chỉ còn lại thiền ngôn suông, chỉ là biểu diễn trên ti vi, trong khi thuyết pháp nói qua nói lại! Thiền chỉ còn lại có thế.
Cho nên Phật pháp đến nay, pháp môn chân chính ở đâu? Nhiều người học Phật, chạy nhiều đạo tràng, nhưng bản thân các vị, đã tìm được cửa chưa?
Chân Phật Mật Pháp mà chúng ta đang học ngày nay chính là cửa vào của Sự pháp. Những người đang đi nhiều đạo tràng như các vị, đến khắp các đạo tràng Phật giáo trên thế giới, chắc chắn không thể tìm thấy một giáo pháp tinh tế như Chân Phật Mật Pháp. Các vị thấy đó, bên trong bao gồm tất cả mọi thứ, dạy bạn nhập Tam ma địa, dạy bạn chú ngữ, dạy bạn thủ ấn, dạy bạn quán tưởng, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ vô lượng tâm, mặc giáp hộ thân, Kim Cang Tâm Bồ Tát, Tứ quy y..., một bộ phương pháp hoàn chỉnh như vậy, hơn nữa còn giảng giải tỉ mỉ cho bạn, bạn đi khắp thế giới tìm ở đâu ra?
Đa phần các pháp sư Phật giáo, bạn hỏi họ về Phật lý, họ bảo bạn "đi đọc kinh Phật đi"; bạn hỏi họ làm sao tu tập, họ nói "đi niệm Phật đi"; bạn hỏi họ làm sao ngồi thiền, họ nói "từ từ". "Tại sao phải từ từ?" "Bởi vì cái này không thể nhanh được." "Làm sao để thiền định?" "Cái này không đơn giản đâu." Có khi vị lão pháp sư đó cả đời chỉ trì danh niệm Phật mà thôi, bạn hỏi ông về thiền định, ôi, ông chỉ còn cách nói: "Từ từ đã, sau này sẽ nói cho biết." Sau này... sau này thì ông viên tịch mất rồi, chưa kịp nói cho bạn biết thì đã đi đời rồi.
Ông ta không dạy cho bạn gì cả, ông ta không thể giảng được. Tại sao không nói được? Bởi vì ông ta chưa bao giờ nhập định! Tam ma địa không dễ đạt được đâu. Hôm nay các vị đến nghe tôi giảng, các vị đã tìm đúng người rồi. Tôi có kinh nghiệm này, tôi đã từng trải qua, cho nên nghe tôi giảng là đúng rồi.
Các vị đi hỏi các vị lão hòa thượng, có người tu "bất đảo đơn", các vị biết bất đảo đơn chứ. Chúng ta không tu bất đảo đơn, chúng ta tu "nhất tự thiền". Bất đảo đơn là gì? Bất đảo đơn là ban đêm ngồi ngủ, giống như bây giờ các vị ở đây đều ngồi ngủ cả, bây giờ không còn nhất tự thiền, các vị ngồi đây bây giờ đều như vậy, đều là bất đảo đơn. Ngồi thế này, nhưng đến nửa đêm thì cứ thế này (đầu gục xuống nghiêng một bên), nước miếng chảy ra. Cái đó không gọi là thiền định. Rất vất vả! Ngồi ngủ rất vất vả. Cưỡng ép bản thân như vậy là không đúng.
Thiền định của chúng ta không phải ở chỗ lâu hay mau, mà ở chỗ có định hay không. Các vị có biết ai ngồi thiền lâu nhất không? Lão hòa thượng Hư Vân ngồi lâu nhất, ngài ở trên núi của mình, nấu khoai sọ, trước khi nấu ngài ngồi thiền, đến khi tỉnh lại thì khoai đã mọc nấm hết rồi. Các vị xem ngài ngồi lâu không? Ngài là người ngồi lâu nhất. Cách ngồi này gọi là "tọa vong", quên hết tất cả, thời gian cũng không còn, vừa ngồi là không còn gì nữa; công lực thiền định này rất sâu.
Nhưng thiền định chân chính có phải như vậy không? Đúng ra là khi vào thiền thì không còn gì, nhưng tâm vẫn sáng suốt, tâm vẫn tỉnh táo, đây gọi là thiền tâm minh, tham thiền tâm minh. Bạn có định không? Cái "tâm minh" này mới gọi là "định".
Có lúc có người không mơ, có người ban đêm không nằm mơ, những người không nằm mơ, họ có phải đang thiền định không? Họ vừa nằm xuống, vừa mở mắt ra thì trời đã sáng. Tôi còn không biết mình có ngủ không nữa, sao lại thế? Loáng một cái là trời sáng. Họ lên giường lúc 11 giờ tối, nhắm mắt rồi mở mắt ra, trời đã sáng. Ôi! Công phu thiền định của tôi thâm sâu quá! (cười) Nhìn lịch thì thấy, tôi ngủ từ mùng 1, sao bây giờ đã 30 rồi? Tôi ngủ cả tháng rồi! (cười, mọi người cười) Đây gọi là công phu thiền định thâm sâu, nhưng mà cái này gọi là ngủ quên, quên mất thời gian, trong thời gian đó họ không hề nằm mơ.
Các bạn có biết trong Đạo giáo có một người tên Trần Hy Di - Trần Bá lão tổ, ông ta ngủ mấy năm liền, công phu ngủ này ghê thật! Nếu tôi mà ngủ được mấy năm liền thì cũng hay. Trần Hy Di, Trần Bá lão tổ. Thiền định của lão hòa thượng Hư Vân rất tốt, nhưng đó là tọa vong, quên mất thời gian, ngài ngồi ở Thái Lan, ngồi luôn hơn mười ngày, ngay cả vua Thái cũng đến đảnh lễ ngài.
Công lực của ngài rất tốt, nhưng đó là tọa vong, ngày nay chúng ta không nói về thời gian dài hay ngắn, chúng ta nói về việc bạn có định hay không? Thời gian ngắn không sao cả, thời gian ngồi thiền ngắn cũng không sao. Điều quan trọng nhất là bạn có định không? Nếu bạn có định, pháp vị sẽ xuất hiện, nếu bạn không định, sẽ không có pháp vị.
08. Cửa Lý
Chúng ta biết rằng trong Phật Học Tổng Thuyết này có "Lý nhập", Lý nhập là học từ kinh điển, học kinh. Rồi có "Sự nhập", tức là học tập Sự pháp, đây là phương pháp thực tu. Và Chân Phật Mật Pháp của chúng ta chính là phương pháp thực tu, hai cửa này đều có thể vào, không nên phân biệt. Tôi hy vọng mọi người, nếu các vị có duyên với việc học kinh, chuyển kinh, đọc kinh thì các vị đi cửa này, được! Các vị thích thực tu thì đi cửa Sự cũng được.
"Đất dưới móng tay" và "Đất đại địa"
Ở đây, tôi xin đưa ra một vài kiến giải như sau. Việc hiểu được Lý đôi khi rất khó, "Tam tạng thập nhị bộ kinh" rất rộng lớn. Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng, không phải tôi nói đâu, chính Phật Đà đã nói. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, pháp mà Ngài đã thuyết giống như "đất dưới móng tay". Đức Phật dạy: "Pháp ta đã thuyết giảng chỉ như đất dưới móng tay, pháp ta chưa thuyết giảng thì như đất đại địa." Các bạn có hiểu ý nghĩa này không? Ngài thường xuyên nói câu này, nghĩa là Phật lý, kinh Phật nhiều như đất đại địa, chân lý nhiều như đất đại địa; Phật thuyết pháp trong 49 năm, Ngài nói: "Chẳng qua chỉ như dùng tay vốc lên vài hạt cát mà thôi".
Hôm nay tôi thuyết pháp, chẳng lẽ tôi thổi một cái (Sư Tôn làm động tác thổi) là hết sao? (cười, mọi người cười) Còn Đức Phật thuyết pháp 49 năm, chỉ như Ngài dùng móng tay vốc lên một chút đất từ đại địa; vậy thì những gì chúng ta giảng bấy lâu nay chẳng phải chỉ bằng một hạt bụi thôi sao? Có khi còn chẳng bằng một hạt bụi, nhìn còn chẳng thấy; giống như một hạt cát trên đầu kim vậy.
Cho nên các vị biết không, Phật pháp là gì? Phật học là gì? Phật học như đất đại địa, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, Tam tạng thập nhị bộ kinh chỉ như là "một móng tay đất", vậy làm sao mà học hết?
Cho nên Lý rất nhiều, cửa "Lý nhập" này rất khó, vào bằng "Sự pháp" dễ hơn, về mặt lý thuyết thì khó hơn.
Giống như việc hiểu về cơ thể
Giả sử bạn lập luận rằng "Lý thì đơn giản hơn mà! Phật lý đơn giản hơn." Không đơn giản đâu! Trước hết hãy tự hỏi bản thân, làm sao mắt bạn có thể nhìn thấy được vật? Tôi hỏi bạn: "Làm sao mắt bạn có thể nhìn thấy vật?" Bạn có thể trả lời một cách đơn giản: "Tôi chỉ cần mở mắt ra là nhìn thấy vật." Này! Đâu có đơn giản vậy! Tôi đang hỏi bạn về nguyên lý cơ đấy.
Vật ở đó, đi vào mắt bạn, bạn dùng cái gì để cảm nhận? Phải đi qua những dây thần kinh gì trong nhãn cầu của bạn, phản xạ, khúc xạ, đủ thứ xạ, vô số thứ, đi vào mắt bạn, đến thần kinh thị giác, rồi truyền đến não bộ, truyền đến đâu đó, đột nhiên ở đó dùng một hình ảnh cho bạn thấy, cho bạn cảm nhận, ồ, bạn mới biết vật này có hình dạng gì. Điều này bạn không hiểu đâu, đạo lý bên trong rất sâu xa.
Đạo lý về việc tay tôi đang vẫy ở đây rất sâu xa đấy. Ồ! Bạn thấy đó, tay của Sư Tôn đang vẫy, vẫy như thế nào? Phải hỏi bạn, tại sao lại vẫy như vậy? Có ý nghĩa gì? Tại sao tay lại có thể vẫy như thế? Đó là miệng bạn nói tay phải vẫy, thần kinh não của bạn không biết phần nào... Tôi hỏi bạn là phần nào? (mọi người cười) Y học phát triển đến thế, đến giờ vẫn chưa biết rõ đại não, tiểu não, não gì gì đó, dù sao thì "phiền não" có đủ cả! (cười, mọi người cười)
Phần nào tiếp nhận âm thanh từ tai nghe vào qua lời nói của bạn, từ ý thức đẩy lên não bộ, từ phần thần kinh nào của não bộ chỉ huy gân, xương, máu, thịt của bạn, tất cả phải chuyển động mới có thể vẫy được? Bạn có biết không? Tiếng Nhật gọi là: "Zenzen wakaranai." Tiếng phổ thông gọi là "hoàn toàn không biết". (cười, mọi người cười) Không đơn giản đâu! Chỉ là hỏi bạn về những thứ bên trong cơ thể mình thôi.
Chúng ta biết khi ăn cơm, miệng mở ra, hai đũa, xúc xúc xúc xúc xúc, cơm vào trong. Đừng có nhầm lẫn, vào khí quản thì khổ lắm! Nó tự động, một bên là khí quản, một bên là thực quản, xúc xúc, thức ăn đi qua thực quản vào trong, không vào khí quản. Nếu phản ứng không nhanh nhạy, vào khí quản một cái là bạn sặc ngay. (mọi người cười)
Được rồi, vào đến thực quản, đến dạ dày rồi, cái dạ dày đó! Dạ dày đang làm gì ở đó? Dạ dày ở đó "bùm chát chát, bùm chát chát, bùm chát chát". (mọi người cười) Nó không phải đang nhảy múa đâu! Nó thực sự đang nghiền nát những thứ bạn ăn vào đấy. Bạn có biết nó chuyển động thế nào không? Nó quay thuận chiều hay ngược chiều? Quay trái hay quay phải? Tại sao nó nghiền nát đồ ăn của bạn? Bạn chưa nghiên cứu đấy! Thực ra không biết đâu, cứ ăn vào là được rồi. Chẳng biết gì cả, đi qua tá tràng đến đại tràng... à không, đến tiểu tràng trước! Rồi mới đến đại tràng. Nếu đến đại tràng trước thì khổ rồi! Đến đại tràng trước thì ra luôn rồi! (cười, mọi người cười)
Điều này bạn không hiểu đâu. Thành dạ dày sẽ hấp thụ cho bạn, dạ dày đấy! Nó sẽ hấp thụ, sẽ giải phóng; ruột non cũng sẽ hấp thụ mọi thứ cho bạn, còn ruột già thì còn có nhu động nữa. Ruột già chuyển động thế nào? Bạn chỉ biết ăn lòng mà không biết ruột già chuyển động ra sao à? Nó sẽ co bóp, co bóp như thế này, liên tục đẩy, đẩy, đẩy, đẩy cái thứ đó xuống đến hậu môn. (mọi người cười)
Trong quá trình đó bạn không hề biết gì. Bạn chỉ việc xúc cơm vào miệng, nói về toàn bộ các cơ quan, những cơ quan tiếp nhận thức ăn như vậy, cho đến khi thải ra ngoài, quá trình này trải qua muôn vàn biến đổi, bạn không nghiên cứu đâu. Ai có thể hiểu rõ được? Chất dinh dưỡng vận chuyển thế nào? Nước phân chia ra sao? Nó còn phải phân tách ra nhiều loại khác nhau, phân đường, phân muối, phân nước, biến đổi thành chất dinh dưỡng, nó còn đưa thêm các thứ vào, rồi lại biến đổi những chất dinh dưỡng đó, trong đó còn có sự trao đổi chất, có vận chuyển, có lưu thông, có động mạch chủ, có tiểu động mạch, có tĩnh mạch, có mao mạch, còn có những tế bào vi tế nhất.
Bạn biết tế bào, tất cả chúng ta đều biết! Tế bào là thành phần cấu tạo nên cơ thể con người. Được rồi, tôi hỏi bạn: "Bên trong tế bào có gì?" Ai có thể trả lời được? Bên trong tế bào có những gì? Nó chứa những gì bên trong? (Có người trả lời: "Sự sống.") Tôi cũng biết là sự sống. Anh ấy biết là sự sống, tất nhiên trong tế bào có sự sống rồi. Có lẽ bác sĩ, y tá thì họ hiểu rõ hơn về mặt này. Thực ra, tôi nói cho bạn biết, đừng cảm thấy xấu hổ, thực ra tôi cũng không biết. (cười, mọi người cười)
Ý tôi muốn nói là: Lý đấy! Phật lý khó hiểu lắm. Chính bản thân mình mà bạn còn chẳng hiểu được, bạn chỉ biết đưa cơm vào miệng, những thứ khác bạn chẳng quan tâm. Nhưng thực ra, trong đó có rất nhiều quá trình vi diệu, đạo lý này bạn không hiểu rõ. Phật lý cũng vậy đó! Chân lý cũng vậy đó! Bạn rất khó hiểu được nó. Nhưng khi bạn thực tu, bạn sẽ hiểu được; khi bạn bắt đầu thực tu, bạn trải nghiệm rồi, dần dần bạn sẽ biết được hương vị của nó ở đâu, điểm vi diệu của nó ở đâu, những điểm vi diệu của Phật lý, bạn và Phật lý tương ứng với nhau, lúc đó bạn mới thực sự hiểu rõ.
Đọc kinh không nếm được pháp vị
Trong kinh Phật có rất nhiều người giảng lý lẽ, rất nhiều Phật lý, nhưng họ chưa chắc đã được nếm pháp vị; dù họ có hiểu pháp vị ở đâu, họ cũng không thể nếm được. Điều quan trọng nhất chính là "nếm". Khi bạn hiểu được "tại sao tay tôi lại cử động", "tại sao mắt tôi lại nhìn thấy", hiểu được quá trình vi diệu của "thức ăn từ lúc ăn vào cho đến lúc thải ra", mà bạn vẫn chưa nếm thì bạn đã chết đói rồi, bạn đã chết đói rồi.
Cho nên Tam tạng thập nhị bộ, khi bạn đã thông hết; tôi nói: "Tôi đã xem hết Tam tạng thập nhị bộ, hôm nay tôi đã thông suốt hết Phật lý rồi." Không biết là chuyện của bao nhiêu kiếp sau. Không phải kiếp này bạn đã có thể thông được. Kiếp này bạn có thể đọc hết Tam tạng thập nhị bộ một lần, được! Có thể! Đọc ba lần bạn cũng có thể; ngày nào cũng đọc kinh ở đó, được! Bạn đọc một trăm lần cũng được; ngày nào cũng đọc ở đó, từ nhỏ đọc đến lớn, đọc đến già, đọc đến chết. Bạn vẫn chưa nếm được pháp vị! Bạn vẫn chưa bắt đầu thực tu! Bạn vẫn chưa thông Lý mà! Đến khi bạn thông Phật lý rồi thì chết! Bạn vẫn chưa nếm được! Cho nên chúng ta phải nếm trước, không cần biết món ăn được nấu thế nào, chúng ta cứ nếm trước, làm trước.
Một lần tu hơn nhiều lần nghe
Như Lai Phật Đà cũng dạy như vậy, Phật Đà dạy chúng ta: "Một lần tu hơn nhiều lần nghe". "Đệ nhất đa văn" chính là Tôn giả A Nan đó, Ngài nghe nhiều nhất, nhưng mãi về sau mới thành tựu.
Đại Ca Diếp rất ghét Ngài, Đại Ca Diếp tính tình không tốt, trong tất cả đệ tử Phật, Ngài là người có tâm sân nặng nhất, gương mặt góc cạnh. Gầy, nhiều góc cạnh, tính tình không tốt, nóng nảy, tâm sân nặng nhất. Lời Phật dạy, trước mặt Phật thì Ngài vẫn tỏ vẻ rất cung kính, nhưng khi Phật đi rồi thì Ngài không nghe lời; có khi Phật dạy điều gì, Ngài cũng không nghe.
Phật Đà dạy: "Ông đừng đi xa quá! Thỉnh thoảng hãy về ở tại tinh xá Trúc Lâm một thời gian!" Nhưng Ngài không nghe, Ngài kiên quyết, kiên quyết giữ ý chí của mình; Ngài có ý chí rất mạnh mẽ, kiên trì khổ hạnh, tu hạnh đầu-đà. Như Lai bảo: "Này! Ông hãy ăn chút gì ngon bổ, bồi dưỡng sức khỏe đi!" Nhưng Ngài không chịu ăn.
Ngài thấy Tôn giả A Nan là nổi giận liền! Ngài giận lắm: "Người này tham lam nhất!" A Nan kìa! Tham quá! Trong số đệ tử Phật, A Nan là người tham lam nhất. Ngài tham cái gì? Thích ăn ngon, thích mặc đẹp. Y phục của Phật rất tốt, rất đẹp, Ngài vừa thấy là lén lấy mặc liền. Khi Phật vắng mặt, Ngài còn ngồi lên pháp tọa nữa ; mặc y phục đẹp đẽ như thế, rồi ngồi trên ghế của Phật răn dạy hàng hậu học. Ngài không chỉ thích thế thôi, Ngài còn thích phụ nữ nữa, cho nên tâm tham của Ngài nặng nhất.
Nhưng thật ra, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng rất khen ngợi Đại Ca Diếp. Mặc dù Ngài là người có tâm sân nặng nhất, không thường xuyên ở bên cạnh Phật Đà, nhưng Phật Đà vẫn rất khen ngợi Ngài, cho rằng Ngài là đệ nhất về thực tu, thành tựu của Ngài cũng là đệ nhất, thành tựu của Đại Ca Diếp quả thật là đệ nhất.
Còn A Nan thì sao? Cuối cùng! A Nan không chỉ bị một người ghét, mà rất nhiều người đều ghét Ngài. Bởi vì Ngài làm thị giả cho Phật lâu như vậy, phải không? Ở bên cạnh Phật Đà, mọi người nhìn thấy đều rất khó chịu. Đây là tranh sủng, vẫn là tranh sủng. (cười)
09. Cửa Sự
Vậy khi bạn bước vào cửa Sự thì sao? Đó là để dạy bạn tu thân khẩu ý thanh tịnh, dạy bạn minh tâm kiến tính, dạy bạn tu tập thân thể, rồi chứng tính Không. Cuối cùng thì sao? Hóa thân cầu vồng.
Thật ra! Chỉ cần bạn thành Phật, đạt được tịnh quang, chứng được tính Không, thì bạn sẽ hiểu Phật lý. Sau khi bạn thực sự chứng được tính Không, Phật lý này, bạn không cần nghiên cứu, không cần đọc kinh, không cần nghiên cứu, bạn cũng đạt được, bạn đã hiểu được Phật lý rồi. Lục Tổ Huệ Năng không học nhiều, nhưng sau khi Ngài thực tu rồi thì sao? Ngài nói ra điều gì cũng là Phật lý, miệng Ngài nói thế nào cũng là Phật lý. Bạn nói đúng không?
Đó là bởi vì Ngài thực tu! Ngài thực tu ở đâu? Sau khi có được khẩu quyết của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Ngài đã ở giữa những người thợ săn thực tu hơn 10 năm, để thể nghiệm khẩu quyết của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Sau khi Ngài đạt được rồi, những lời Ngài nói ra đều là Phật lý; cho nên không nhất định phải là người có học thức cao mới hiểu được Phật lý, không nhất định. Cho nên nếu bạn thực sự có thể thâm nhập một pháp, thì sẽ hiểu được.
Thâm nhập một pháp
Cho nên ở đây nói đến "pháp" này, trong Phật Học Tổng Thuyết này đề cập đến pháp này; rốt cuộc là học nhiều pháp tốt, hay là học một pháp tốt? Phải học một pháp tốt hơn, học nhiều pháp chẳng phải giống như đa văn sao! Học thâm nhập một pháp, tương lai bạn thông một pháp rồi thì mọi pháp đều thông, chỉ cần bạn thực tu khai ngộ rồi, bạn sẽ hiểu được Phật lý. Cho nên Lý, Sự, vào bằng cửa Lý hay là vào bằng cửa Sự? Đạo lý là ở chỗ này.
Ngày nay có rất nhiều bậc tiền bối trong giới Phật giáo rất thông Lý. Khi bạn nói về Lý với họ, họ có thể giảng giải cho bạn kinh này nói thế này, kinh kia nói thế kia, nói rất nhiều; nhưng khi nói đến thực tu, chứng nghiệm thì họ nói không có, đây chính là cái hại của "nghe nhiều". Việc học nhiều pháp cũng có rất nhiều điều bất lợi.
Giống như bài viết tôi mới đăng trên Chân Phật Báo gần đây. À! Hôm nay không có mây đen... (mọi người cười) Tóm lại ông ấy nói rằng "thiền tâm chưa sáng"; chúng ta biết ông ấy học thiền nhưng "thiền tâm chưa sáng". Rồi "tịnh thổ chưa hiện", "không tương ứng với tịnh thổ và Di Đà"! Không tương ứng với Phật A Di Đà; việc niệm Phật của ông ấy trong Tịnh Độ tông cũng không có thành tựu.
Rồi "Mật giáo cũng không tương ứng", ông ấy cũng học Mật; thực ra ông ấy không phải học Mật, mà chỉ đi theo người ta tụng chú Đại Bi, mười tiểu chú. Chú Đại Bi, mười tiểu chú có trong sách khóa tụng, đó là những thứ người học Phật ai cũng biết chú Đại Bi, mười tiểu chú, người học Phật ai cũng biết, điều đó cũng không đơn giản chút nào.
Bạn xem, Mật giáo kiểu như vậy, ông ấy cũng không tương ứng, điều này là không đúng rồi. Có người nói: "Này! Tông phái của chúng tôi là tông phái hợp nhất của tám đại tông phái." "Ồ! Tám đại tông phái hợp thành một tông, vậy chắc chắn là vĩ đại lắm!" Đừng nghĩ như vậy! Bạn vào đó là sẽ rối loạn ngay.
Lúc thì tông này, lúc thì tông kia; lúc thì bảo bạn niệm Phật, lúc thì bảo bạn học Thiền, lúc thì bảo bạn học Mật, lúc thì bảo bạn học Luật, Thiền, Tịnh, Mật, Luật; lúc thì bảo bạn học Tam Luận, Duy Thức; rồi lại Thiên Thai, rồi lại Pháp Hoa, rồi lại Hoa Nghiêm..., bạn sẽ rối tung lên thôi!
Thâm nhập một pháp mới tốt, nếu không đến 60, 70 tuổi rồi mà chẳng có gì cả. Nếu là tôi, tôi sẽ xấu hổ chết mất!
Thật đấy, tôi sẽ cảm thấy rất xấu hổ! Tịnh thổ chưa hiện, thiền tâm chưa sáng, Mật giáo chưa tương ứng, vậy thì bạn học pháp môn gì? Bạn học môn tiền bạc, môn quyền lực, môn thế lực, Phật giáo đâu có những môn này? Đây là những việc người đời trong thế giới Ta Bà làm, bạn là người tu hành mà làm những việc này, bạn sai rồi! Cho nên, học Phật điều quan trọng nhất là - thâm nhập một pháp.
Như đã nói trước đây, khi còn trẻ, nghe nhiều cũng không sao, bạn đi nhiều đạo tràng cũng không sao; đến trung niên thì phải thâm nhập một pháp; đến tuổi già thì chỉ cầu vãng sinh. Không còn kịp nữa, nếu bạn không cầu vãng sinh thì còn làm gì nữa? Tuổi đã cao rồi, bạn phải nhanh lên! Có thể vãng sinh là tốt rồi. Những điều này đều rất quan trọng. Cho nên thâm nhập một pháp, thực tế là tốt hơn học nhiều pháp.
Ví như có một đệ tử gửi đến 100 đô la Mỹ, 1 đô la xin một lễ quán đảnh, 100 đô la tức là 100 lễ quán đảnh; dù sao những gì có trong sách của tôi, anh ấy đều muốn. Quán đảnh kiểu này cũng không đúng! Bạn muốn tu pháp nào thì quán đảnh pháp đó, trừ phi bạn là Thượng sư. Bạn nghĩ: "Tôi là Thượng sư, tôi nhận nhiều quán đảnh, sau khi được quán đảnh rồi, tôi mới có thể quán đảnh cho người khác." Điều này thì đúng. Nếu không thì đối với đệ tử bình thường chúng ta, thâm nhập một pháp là tốt rồi, chỉ cần bạn tương ứng với một pháp, tâm này vừa khai mở! Lập tức có thể thấy được ánh sáng, thấy được Phật lý, ánh sáng Phật lý này, tất cả bạn đều hiểu rõ.
Trước đây bạn đọc kinh không hiểu, tôi cũng thẳng thắn nói với mọi người rằng, trí tuệ của tôi không cao, trước đây khi đọc Kinh Kim Cang, tôi không hiểu được, toàn là mâu thuẫn, sao lại thế nhỉ? Toàn là mâu thuẫn. Cứ mâu thuẫn qua mâu thuẫn lại, lấy cái mâu công kích cái thuẫn, lấy cái thuẫn công kích cái mâu. (mọi người cười) Kinh Kim Cang này đang nói gì vậy? Tôi thực sự không hiểu. Nhưng hôm nay! Khi tôi mở Kinh Kim Cang ra, tôi có thể thâm nhập kinh tạng, hiểu được ý nghĩa của nó. Bây giờ bất kì quyển kinh nào tôi mở ra, tôi đều hiểu rõ.
Cho nên "tín, giải, hành, chứng", khi bạn đạt được chữ "chứng" này, ba chữ trước đó đều bao gồm trong đó cả rồi, bao gồm hết rồi. Vậy thì bạn từ "Lý nhập" hay từ "Sự nhập", cả hai cửa đều được; chỉ là cửa Sự tốt hơn cửa Lý, bạn thông Lý chưa chắc đã thông Sự, nhưng bạn thông Sự thì chắc chắn sẽ thông Lý. (mọi người vỗ tay)
Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày
Có rất nhiều đệ tử đến học pháp với tôi, có người đã học được vài năm rồi. Có người hỏi họ: "Bạn học Phật với Lư Sư Tôn, ngài dạy bạn những gì?" Lư Sư Tôn dạy bạn những gì? Thế là họ trả lời: "Ngài chẳng dạy tôi gì cả." Nghĩa là tôi chẳng dạy gì cho họ. Khi nghe vậy, trong lòng tôi không thấy buồn sao?
Tôi xin lấy một ví dụ, ngày xưa có Thiền sư Điểu Sào, có một đệ tử theo học với ngài rất nhiều năm. Một ngày nọ, người đệ tử thu dọn hành lý, từ biệt sư phụ và nói: "Sư phụ! Con sẽ đi." "Con định đi đâu?" "Con sẽ đi tìm sư phụ khác." "Tại sao con lại muốn đi tìm sư phụ khác? Ở đây với ta không tốt sao?" Người đệ tử nói: "Sư phụ chưa từng dạy con Phật pháp, con ở đây bao nhiêu năm rồi mà sư phụ chẳng dạy con Phật pháp gì cả." Thiền sư Điểu Sào liền đưa chân ra và nhổ một sợi lông chân. (mọi người cười) Tôi không có lông chân! (mọi người cười) Ngài nhổ một sợi lông chân và nói: "Đây chính là Phật pháp! Sợi lông chân này chính là Phật pháp đây. Con hiểu chưa?" Ngay lúc đó, người đệ tử mới bừng tỉnh ngộ ra thế nào là Phật pháp.
Ví như có đệ tử theo tôi học Phật, học mãi học mãi, rồi người ta hỏi: "Lư Sư Tôn dạy anh pháp gì?" Anh ấy trả lời: "Ngài chẳng dạy tôi gì cả." Khi anh thu dọn hành lý định đi, tôi sẽ nhổ một sợi râu. (mọi người cười) Những sợi râu dưới cổ này, chỗ này có râu, nhổ một sợi râu: "Đây chính là Phật pháp, anh hiểu chưa?" Phật pháp nằm trong cuộc sống hàng ngày, phải khéo thể hội. Khi thật sự giảng pháp, bạn nghe xong về nhà là quên hết, bạn phải thực hiện trong cuộc sống của mình, đó mới là Phật pháp; cho nên bạn xem, mỗi cử chỉ hành động, mỗi lời nói việc làm của sư phụ đều là đang thuyết pháp. (mọi người vỗ tay)
Những câu đầu tiên trong Kinh Kim Cang của Đức Phật đều là Phật pháp. "Trải tọa cụ ngồi", cái ghế này, "trải tọa cụ ngồi". "Kinh hành", rồi đi khất thực, đây là nói về đi; đi, đứng, nằm, ngồi đều là Phật pháp, trong đó có rất nhiều nghi quỹ.
Nhiều người học Phật không biết rằng, học Phật chính là Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày, không phải cố ý dạy cho bạn một pháp đặc biệt nào đó. Chỉ truyền cho một mình bạn, không cho người khác biết, đó chính là để nhận "phong bì" đấy. "Chỉ truyền cho một mình bạn thôi! Không ai khác có đâu!" Phải xem lễ vật của bạn hậu hĩnh không, phải xem nặng hay nhẹ mới truyền pháp đặc biệt, đúng không? (mọi người cười) Không phải như vậy.
Bên ngoài có rất nhiều người như vậy, có rất nhiều vị Thượng sư như vậy, rất nhiều. Không phải nói về các Thượng sư của chúng ta đâu, đừng hiểu lầm. "Tôi truyền cho bạn pháp này, không một ai biết đâu, tôi chỉ truyền cho một mình bạn thôi!" Vậy thì bạn phải thể hiện một chút! Chỉ truyền cho một mình bạn, đó không phải là quán đảnh bình thường. Ôi! Chỉ truyền cho một mình bạn, ghê gớm thật. Đây là cái mà chúng ta gọi là gì nhỉ? "Bình thường không buôn bán, một khi mở tiệm là ăn được ba năm", đây là pháp đặc biệt đấy. Cái này đôi khi là giả, không nhất định là thật đâu, đôi khi là giả.
Bên ngoài có rất nhiều người truyền Phật pháp cũng làm như vậy: "Tôi dạy cho bạn điều đặc biệt này, thế này thế kia, tóm lại là bạn phải đưa cho tôi bao nhiêu tiền thì tôi mới dạy." Họ đều lợi dụng phương thức bí mật này để truyền dạy kiếm tiền. Vào thời Như Lai, thời Phật Đà, việc này bị cấm, Ngài nghiêm cấm việc này.
Thấy núi không phải là núi
Chúng ta biết rằng, khi bạn bước vào cửa, bước vào cửa Phật pháp, vừa bước vào là bạn sẽ cảm thấy khác biệt. Trước đây có một thiền sư nói như thế này. Khi ông chưa nhập môn, "nhìn núi là núi, nhìn nước là nước"; khi vừa bước vào Phật pháp, "nhìn núi không phải là núi, nhìn nước không phải là nước"; đến khi trải qua một thời gian, ông khai ngộ rồi, "nhìn núi lại là núi, nhìn nước lại là nước". Điều này các bạn phải thật sự lĩnh hội được. Tại sao lại như vậy?
Gần đây tôi học vẽ tranh, tôi học vẽ với cô giáo Chu Mộ Lan. Cô Chu Mộ Lan ở San Francisco, trước đây cô ấy từng theo học Triệu Thiếu Ngang, là họa sĩ phái Lĩnh Nam, cô ấy đã theo học rất nhiều thầy và vẽ rất đẹp. Tôi học vẽ một chút với cô Chu Mộ Lan. Già rồi không có việc gì làm nên tôi đi học vẽ! (mọi người cười) Tôi chuẩn bị học hai thứ: một là âm nhạc, hai là hội họa. Âm nhạc thì chỉ để tự đàn tự vui thôi, không bán được tiền. Vẽ tranh thì tốt, tôi có thể mở triển lãm. Đúng không? Có thể xuất bản album tranh, mở triển lãm và xuất bản album tranh. Thế là cô ấy đến dạy một tuần, tôi bắt đầu học vẽ.
Học vẽ tranh, như chúng ta đã biết, thấy núi, thấy nước, nhìn núi là hình dáng của núi, nhìn nước là hình dáng của nước. Bây giờ tôi vẽ rồi, ồ, tôi phát hiện "núi không phải là núi, nước không phải là nước" đấy! (mọi người cười) Nước có thể vẽ thành núi, núi cũng có thể vẽ thành nước. Thế thì mọi người sẽ nói, trâu có thể vẽ thành ngựa, ngựa cũng có thể vẽ thành trâu. Trong đó có sự biến hóa đấy! Bên trong có sự biến hóa của tâm linh trong đó.
Khi bước vào cửa đã khác rồi, cho nên bây giờ tôi không học công bút, công bút là vẽ tỉ mỉ, vẽ từ từ. Tôi học ý bút, chữ "ý" trong ý niệm; khi ý niệm vừa xuất hiện, vẽ ra thứ gì đó, tuy không giống lắm, nhưng tinh thần của nó ở trong đó. Cái này trở thành gì? Đây gọi là dùng ý niệm để vẽ tranh, dùng ý niệm của bạn để vẽ.
Bạn nói phải vẽ cho giống chứ, vậy cần gì phải học vẽ? Học chụp ảnh là được rồi, chụp ra rất giống mà! Còn giống hơn vẽ nữa! Tại sao bạn phải vẽ cho giống như vậy? Cái giống đó không có tinh thần. Cho nên khi bạn vẽ một vật là để thể hiện tinh thần đặc biệt của vật đó, một hương vị vô hình bên trong, đó mới là bức tranh hay thật sự, bức tranh hay thật sự là như vậy đó. Tôi học vẽ của cô giáo Chu Mộ Lan là học cách vận bút của cô ấy, xem màu sắc đậm nhạt của cô ấy, xem cách cô ấy phác họa; như cách di chuyển bút, nét vẽ, toàn bộ cách vận dụng, và cả kỹ thuật của cô ấy nữa. Sau này, mong mọi người ủng hộ. (mọi người vỗ tay)
Tranh tâm linh, đôi khi chỉ một nét, vài nét, rất đơn giản, nhưng đã thể hiện được ý vị của nó, tất cả đều hiện ra. Học Phật cũng vậy, khi chúng ta chưa nhập môn, chúng ta thấy núi là núi, thấy nước là nước. Chúng ta biết rằng, núi là bất động, nước là động. Nhưng mà sao? Khi bạn vẽ ra, "núi là động, nước là tĩnh", điều này đã khác rồi. Học Phật cũng vậy, khi bạn đã nhập môn, có một thời gian, bạn thấy núi không còn là núi nữa, thấy nước cũng không còn là nước nữa. Tại sao? Bởi vì tinh thần của nó đã hiện ra, tinh thần vô hình của nó đã hiện ra.
Một ngày nọ, tôi xem một quyển album tranh của họa sĩ Dương Thiện Sâm. Tôi đã xem kĩ từng trang một rồi đưa cho Sư Mẫu xem. Sau khi xem xong, Sư Mẫu nói với tôi: "Tranh của ông ấy chẳng bằng ăn một miếng bánh mì nướng." Ý là nói, tôi đi mua một cái bánh sừng bò hay bánh mì gì đó, ăn vào còn có vị; còn xem tranh của ông ấy thì chẳng có vị gì cả. Đây là vì bà ấy không hiểu về hội họa, chúng ta không thể trách bà ấy được. Nếu Dương Thiện Sâm nghe được hay xem được đoạn video này, cũng đừng trách bà ấy, bởi vì bà ấy thực sự không hiểu. Tranh ông ấy có tinh thần của ông ấy trong đó, nhưng những thứ ông ấy vẽ ra, bên trong có cả "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước"; nhưng cũng có "thấy núi là núi, thấy nước là nước".
Nhưng với một họa sĩ kỳ cựu công lực thâm hậu như vậy, sao lại thế này? Những gì ông ấy vẽ ra trông cũng giống như tranh tôi vẽ hồi mẫu giáo. (mọi người cười) Tôi có vài bức tập vẽ, vẽ rất xấu, vẽ... "Ôi! Phiền thật! Sao lại thế này? Sao tôi vẽ tệ thế nhỉ?" Rồi tôi lấy mực chấm vài nét, xóa đi, rồi bôi bậy vài cái. Nhìn album tranh của ông ấy, tôi phát hiện ra những nét bôi bậy của tôi giống y như của ông ấy! (mọi người cười)
Tôi nói: "Ô! Mấy bức vẽ bôi bậy này đừng vứt đi." (mọi người cười) Tôi phát hiện ra mấy bức này cũng rất quý giá, trong album của ông ấy cũng có những bức như vậy. (mọi người cười) Pháp sư Liên Đăng nói với tôi một câu. Tôi nói: "Lạ thật, Dương Thiện Sâm là một họa sĩ lớn, sao trong album của ông ấy lại có những thứ này, nhìn chỉ là vài nét phác thô sơ, hoặc là đổ mực xuống, để nó khô, chỉ có vậy thôi." (mọi người cười) Pháp sư Liên Đăng quả là có con mắt tinh đời! Ông ấy nói: "Đây chính là khi chứng ngộ đến tận cùng, thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước." (cười, mọi người cười) (mọi người vỗ tay)
Ở đây còn có Thượng sư Liên Nhuận đến từ Indonesia, cô ấy cũng là một họa sĩ vẽ tranh thủy mặc. Cô ấy vẽ tôm, vẽ cua, vẽ chim nhạn, vẽ tùng, và cả hạc đậu trên cành tùng, vẽ hoa, chim, nhà tôi có tất cả những bức tranh này của cô ấy; hoa, chim, tùng, hạc, chim én, tôm, cua, cô ấy đều vẽ được. Vẽ rất đẹp, và cũng đã từng đoạt giải.
Mỗi lần cô ấy muốn vẽ gì đều phải quan sát trước. Ví dụ như muốn vẽ tôm, vẽ cua, phải mua thật nhiều cua về, quan sát cách chúng bò, rồi mới vẽ như vậy. Có lần chồng cô ấy nói với cô: "May mà em không vẽ hổ (cười, mọi người cười), nếu mua một con hổ về nhà thì chúng ta khốn đốn rồi."
Dù bạn đi vào bằng lý luận hay bằng sự pháp, bạn đều sẽ đạt đến cảnh giới này; cảnh giới cuối cùng chính là tự nhiên. Khi nhập môn sẽ có biến hóa, sau đó diễn biến thành tự tại và tự nhiên; khi đạt đến trạng thái tính Không đó, bạn sẽ có một hiện tượng vẽ một cách tự nhiên, và bản lai diện mục sẽ hiển lộ ra; đây gọi là "chân tính diện mục" hiển hiện trong hội họa.
Phật lý này, việc học Phật và hội họa có mối liên hệ rất sâu sắc. Bạn có biết cái gọi là "thiền họa" không? Thiền sư vẽ tranh cũng như vậy, hoàn toàn cần đến tâm linh và ý niệm, hoàn toàn thanh tịnh, vô tâm mà vẽ, loại tranh vẽ ra với ý cảnh như vậy là cực kì siêu nhiên, hoàn toàn là tác phẩm thượng thừa của hội họa tâm linh.
Tu học Phật pháp cũng phải như vậy, khi thật sự đạt đến trạng thái ý niệm thanh tịnh, thật sự đạt đến trạng thái tự tại tự nhiên, mỗi lời nói việc làm của các bạn thể hiện ra đều là phong thái của Phật Tổ, là phong thái của Tổ sư; tất cả đều có thể hiển hiện nơi thân các bạn. Lúc này, ánh sáng đó là một loại hào quang rất tự nhiên, không phải thế tục; không phải chùa ai to nhất, ai có nhiều đệ tử nhất, không phải ai có nhiều tiền nhất, ai kiểm soát được nhiều người nhất, không phải như vậy, mà là cảnh giới của thần tiên và Phật Tổ hoàn toàn siêu thoát khỏi thế tục. (mọi người vỗ tay)
Mật ngữ Chân Phật - Thấy núi không phải là núi
"Thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước." Cuối cùng lại là "thấy núi là núi, thấy nước là nước". Có người nghe xong vẫn không hiểu, họ không biết nghĩa là gì. Bây giờ tôi sẽ giải thích cho mọi người bằng một cách khác, các bạn sẽ hiểu.
Điều này được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là khi còn phàm phu, giai đoạn thứ hai là trong quá trình tu hành, giai đoạn thứ ba là sau khi giác ngộ. Cứ nói núi với nói nước hoài! Chưa chắc đã rõ! Thực ra ví dụ hay nhất nên nói về người tu hành và phụ nữ, ví dụ này tôi rất thích nói, sẽ rất rõ ràng, các bạn sẽ hiểu ngay.
Thứ nhất, một người tu hành, khi chưa tu hành, anh ta nhìn thấy một cô gái xinh đẹp, lập tức cảm thấy, thấy cô gái xinh đẹp chính là cô gái xinh đẹp, anh ta lập tức bị mê hoặc. Đây chính là cảnh giới thứ nhất, "thấy núi là núi, thấy nước là nước". Thấy cô gái xinh đẹp, bạn lập tức bị mê hoặc. Vậy nên thấy cô gái xinh đẹp như thế, thì đúng là một cô gái xinh đẹp như thế.
Thứ hai, khi bạn đã tu hành rồi, bạn tu quán bạch cốt. Cảnh giới thứ hai là "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước"; vị tu hành này vì đã tu quán bạch cốt, khi nhìn thấy cô gái xinh đẹp, "Ôi! Biến thành bộ xương trắng." Tất cả những cô gái xinh đẹp đều biến thành bộ xương trắng, người tu hành này sau khi vào cửa đạo, cảm nhận thứ hai của anh ta là, những cô gái này đều là bộ xương, từng người một đều là những bộ xương với khuôn mặt phấn son, đây là cảnh giới thứ hai, thể hiện rằng anh ta đã tách biệt với phụ nữ rồi. "Thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", anh ta nhìn thấy núi này, nhìn thấy nước này, đều không cho rằng đó là núi, không cho rằng đó là nước, tất cả đều biến thành xương trắng.
Đến cảnh giới thứ ba, chính là khai ngộ rồi, anh ta đã khai ngộ rồi, khi khai ngộ, "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước", nghĩa là gì? Lúc này khi bạn nhìn thấy cô gái xinh đẹp, vẫn là cô gái xinh đẹp. Nhưng tâm anh ta đã không còn xao động nữa, người tu hành này đã khai ngộ rồi. Nhìn thấy cô gái xinh đẹp, đúng là cô gái xinh đẹp không sai, nhưng tôi đã không còn bị mê hoặc bởi cô nữa. Đó chính là "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước". (mọi người vỗ tay)
Bởi vì tôi nói núi! Nói nước! Người ta cứ nghe mãi không hiểu, không biết chuyện gì đang xảy ra, tại sao lúc đầu là "thấy núi là núi, thấy nước là nước", lần thứ hai lại "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", đến lần thứ ba thì sao? "Thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước"? Họ không thể hiểu được ý nghĩa của "sơn thủy" này nằm ở đâu, vậy nên tôi dùng ví dụ về một cô gái và một người tu hành, thì bạn sẽ "À!" hiểu ngay!
Thứ nhất khi bạn nhìn thấy cô ấy, ôi, bị mê hoặc luôn, đây là một cô gái xinh đẹp. Còn thứ hai, khi bạn đã tu quán bạch cốt, đã vào cửa đạo rồi, ôi! Tất cả đều là những bộ xương phấn son, nhìn cô gái không còn là cô gái nữa. Khi bạn khai ngộ, bạn không còn bị ảnh hưởng bởi cô gái này, bạn nhìn cô ấy vẫn là cô gái xinh đẹp, nhưng không còn bị ảnh hưởng. Ba cảnh giới này, các bạn chỉ cần qua ba ví dụ đơn giản này là có thể lĩnh hội được.
Thực ra ví dụ thứ nhất, trạng thái thứ nhất, chính là "môi trường giết tâm". Phàm phu đều bị ảnh hưởng bởi môi trường, đó là "cảnh giết tâm", bạn đều bị ảnh hưởng bởi môi trường mà! Hôm nay thời tiết hơi âm u, trời mưa, tâm trạng bạn liền không tốt, trời nắng thì tâm trạng lại rạng rỡ, điều này hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi môi trường, chính là môi trường đã giết chết bạn.
Cảnh giới thứ hai, bạn đã vào cửa đạo rồi, bạn bắt đầu tách biệt với môi trường. Điều này có nghĩa là tâm bạn và môi trường đã tách rời, bạn cố gắng tránh để môi trường ảnh hưởng đến mình, bạn trốn vào trong núi sâu để tu hành, cố gắng không nhìn thấy, không nghe thấy, không bị ảnh hưởng. Đây chính là tâm đã tách biệt với môi trường, đây chính là cảnh giới thứ hai.
Cảnh giới thứ ba, chính là tâm giết chết môi trường, dù trời tốt hay xấu, dù trời mưa hay nắng đẹp, tâm cảnh của bạn luôn luôn sáng sủa. (mọi người vỗ tay)
Khi tu hành đến cảnh giới thứ ba, dù áp lực bên ngoài có lớn đến đâu, dù bên ngoài có nhiều tiếng hoan hô hay nhiều lời phỉ báng, dù có nhiều áp lực đè nặng lên người bạn, tâm cảnh của bạn vẫn luôn như một, đây chính là tâm cảnh khai ngộ thứ ba, đây chính là "tâm giết cảnh".
Thứ nhất là "cảnh giết tâm" của phàm phu, thứ hai là trong quá trình tu hành, tâm tách biệt với môi trường. Thứ ba là tâm tu hành của bạn đã có thể giết sạch mọi môi trường. Đây chính là "thấy núi là núi, thấy nước là nước", "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước".
Lời giải thích của tôi đã rất rõ ràng rồi. Nhiều người nghe xong nói với tôi rằng họ vẫn không hiểu, thế thì không còn cách nào khác! Tôi chỉ cần đưa ra ví dụ về nam và nữ, các bạn liền hiểu ngay, đây là cách đơn giản nhất, như vậy các bạn đã rõ chưa? (mọi người vỗ tay) Vậy hôm nay tôi khai thị với mọi người đến đây.
Om mani padme hum.
10. Hiểu rõ chúng sinh khổ, sinh ra tâm xuất ly
Sau khi chúng ta đã nhập môn, đương nhiên chúng ta phải hiểu về Phật pháp, cần phải hiểu rõ tứ Thánh, lục phàm, thập pháp giới; phải biết được nỗi khổ của chúng sinh trong lục đạo, hiểu rõ nỗi khổ của chúng sinh trong lục đạo. Cõi trời cũng là khổ; từ cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, ba ác đạo đều rất khổ. Cõi người cũng là khổ, trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tất cả đều rất khổ. Những cảnh giới này các bạn đều phải hiểu rõ, sau đó tìm cầu xuất ly. Khi đã hiểu được vô thường, hiểu được xuất ly, thêm vào đó là vô ngã, lúc này, bạn chính là A La Hán. A La Hán là gì? Chính là khi bạn hiểu được vô thường, hiểu được xuất ly, tu chứng vô ngã, bạn chính là A La Hán.
Nỗi khổ của lục đạo luân hồi thực ra đang hiển hiện rất rõ ràng ngay tại đây, các bạn nhìn xem bệnh viện này, thấy người ta xây bệnh viện, xây to lớn, làm việc thiện lớn, thực ra nếu tôi đề tựa cho nó! Sau này tôi đề tựa cho nó, tôi sẽ đề như thế này: "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát phân viện Đại học Đài Loan", nghĩa là gì? "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát U Minh Giới Địa Ngục Đạo phân viện Tổng Y viện Vinh Dân", "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát U Minh Giới Địa Ngục Đạo phân viện Từ Tế", tôi sẽ viết như vậy.
Bệnh viện chính là địa ngục, nói cho mọi người biết, đó là cách nhìn của tôi; các bạn nhìn thấy, bệnh viện chỉ là bệnh viện, trong đó có rất nhiều thiên thần, thiên thần áo trắng. Tất cả đều là ác quỷ, dạ xoa, ở đó hành hạ người ta! Toàn cầm dao kéo, mổ xẻ, cắt chém như thế. Địa ngục mổ não, địa ngục thay thận, địa ngục mổ gan, địa ngục móc mắt, đều ở đó cả! Thật sự bệnh viện là như vậy đấy.
Tôi đã từng xuống địa ngục, tôi nói thật với các bạn; tôi đã xuống địa ngục và nhìn thấy một đệ tử, hai chân của người đệ tử đó bị đóng đinh. Tôi đã rất lâu không có tin tức gì của người đệ tử này. Khi tôi nhìn thấy anh ấy, anh ấy thấy tôi đến liền khóc. Tôi hỏi: "Sao anh lại ở đây? Chẳng lẽ anh đã chết rồi sao?" Tôi hỏi anh ấy đấy! Tôi nói: "Anh đã chết rồi à?" phải không? Không phải nói tiếng Indonesia, tiếng Indonesia là "Selamat pagi". "Selamat pagi" là chào buổi sáng hay chào buổi trưa? Chào buổi sáng à? "Selamat pagi" Tôi nói: "Anh đã chết rồi à?" Selamat pagi!
Ôi! Người đệ tử đó lắc đầu với tôi, tôi hỏi: "Sao anh lại ở đây?" Anh ấy nói: "Con đang ở địa ngục." Anh ấy nói với tôi như vậy, anh ấy đang ở địa ngục, anh ấy lắc đầu với tôi. Cuối cùng tôi đi tìm hiểu về anh ấy, sau khi trở về tôi điều tra và phát hiện ra anh ấy đã nhập viện. Không biết hai chân bị làm sao, bị chuột rút! Cả hai chân đều bị chuột rút, đột nhiên bị teo cơ, co giật, không thể đi lại được, giống như bị đóng đinh vậy, đau đớn lắm! Anh ấy vẫn còn sống! Chỉ là hai chân bị teo cơ, như thể bị đóng đinh vậy, toàn bộ chân không thể cử động được, phải nhập viện, đột nhiên trở nên như vậy.
Khi tôi xuống cõi địa ngục, tôi thấy hai chân của anh ấy bị đóng đinh; người vẫn chưa chết, nhưng thực ra đã đang chịu hình phạt ở địa ngục rồi. Các bạn nói xem bệnh viện có phải là địa ngục không?
Hiểu rõ nhân quả
Chúng ta cần phải hiểu rõ nhân quả, hiểu rõ đạo lý luân hồi; nhân quả và luân hồi là một tư tưởng chủ đạo của Phật giáo. Chúng ta đã làm nhiều việc sai trái, đừng nghĩ rằng không có báo ứng, không phải đợi đến khi xuống địa ngục mới bị trừng phạt, mà ngay tại dương gian này, chúng ta đã đang chịu hình phạt của địa ngục rồi. Những căn bệnh trong cơ thể của bạn, thực ra chính là đang chịu hình phạt của địa ngục, đó là nghiệp chướng của bạn, nghiệp chướng hiện tiền. Đừng nghĩ rằng không có địa ngục, thực ra bạn đã đang chịu hình phạt rồi.
Vì vậy đừng nghĩ rằng địa ngục là không có thật, căn bản không có chuyện đó, là do người ta bịa ra để khuyên người ta làm việc thiện! Nhân quả ở đâu? Khi bạn phẫu thuật não, là bạn đã vào địa ngục phẫu thuật não rồi; khi bạn bị xơ gan, phải cắt bỏ một quả thận, khi cơ thể bạn có vấn đề gì đó, nghiệp chướng nhiều đời đã hiện ra trên thân thể bạn, điều này rất đáng sợ.
Giới
Vì vậy Phật Đà ban đầu dạy chúng ta điều đơn giản nhất, Phật pháp đơn giản nhất: "Đừng làm các điều ác, siêng làm các việc lành", đơn giản vậy thôi. "Đừng làm các điều ác" là tiêu cực, "siêng làm các việc lành" là tích cực. "Đừng làm các điều ác" chính là "giới" đấy! Chính là bảo bạn giữ giới, bạn phải giữ giới. Đúng không?
Ban đầu không có nhiều giới luật được quy định, chỉ có mấy câu này thôi. "Đừng làm các điều ác", đó chính là giới, bảo bạn không được làm việc xấu; "Siêng làm các việc lành", bảo bạn tích cực làm việc thiện; "Tự thanh tịnh ý", bảo bạn ngồi thiền dưới gốc cây, thanh tịnh tâm ý của mình; "Đó là lời Phật dạy". Giới luật ban đầu là như vậy đó. Phật Đà ban cho chúng ta giới luật, về sau có thêm rất nhiều giới, là vì nguyên nhân gì? Bởi vì đệ tử phạm một điều sai trái nào đó, Ngài lập ra một giới; đệ tử phạm một điều sai trái khác, Ngài lại lập thêm một giới, thế là giới luật càng ngày càng nhiều.
Tại sao phải giữ giới? Bởi vì khi giữ giới, bạn phải thu nhiếp tâm mình, có vậy tâm mới được thu nhiếp! Không có giới luật, tâm bạn sẽ buông lỏng. Để thu nhiếp tâm về một mối, để tâm thành một, để phát sinh định lực, nên mới cần giới luật. Nếu bạn có thể tự do thu phóng, hoàn toàn có thể định tâm, thì những giới luật này đối với bạn không còn cần thiết nữa, bởi vì trong cuộc sống của bạn, một cách tự nhiên bạn đã hoàn toàn giữ giới rồi.
Vì vậy "giới, định, huệ" tam học, là ba môn học vô lậu, khi chúng ta bước vào Phật pháp, bước vào Phật học, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ tam học "giới, định, huệ". Chúng ta trước tiên phải giữ giới, như đã nói về "giới" hôm qua.
11. Định
Hôm nay chúng ta sẽ nói về định, làm thế nào để phát sinh định? Ngày mai tôi sẽ giảng cho mọi người một số kỹ thuật thiền định.
Như mọi người đã biết, từ giới sẽ sinh ra định, từ định mới có thể sinh ra huệ. Chỉ có định mà không có trí huệ, điều này gọi là ngu; ngu nghĩa là bạn chỉ biết học định mà không có trí huệ, như vậy chẳng phải là ngu sao? Còn nếu bạn chỉ học trí huệ, bạn biện tài vô ngại, trí huệ rất cao, nhưng bạn không có định, thì sẽ trở thành cuồng, chính là chữ cuồng trong ngông cuồng.
Trí huệ của bạn rất cao, nhưng không thể định được, thì bạn là cuồng; bạn học định, nhưng không có trí huệ thì là ngu, chữ ngu trong ngu độn. Vì vậy khi chúng ta học định, tiếp theo là phải sinh ra huệ, rồi từ trí huệ quay lại tham học định, vừa hay là định và huệ song tu, định huệ có thể song tu. Như vậy giới, định, huệ được gọi là tam vô lậu học.
Dù bạn học Hiển giáo, học Mật giáo hay học Phật học, chữ định là điều quan trọng nhất. Công phu thiền định công sâu thì có thể thành Phật, không học định thì học Phật cái gì? Cho nên việc học định theo chúng tôi, dù bạn học Hiển giáo hay Mật giáo, đều như nhau cả, đều phải học định. Không có chữ định này thì không thể sinh ra sức mạnh; không có chữ định này thì trí huệ chân lý, bạn không thể đạt được; không có chữ định này thì trong suốt cuộc đời của bạn, tuyệt đối không thể đạt được pháp vị.
Dù bạn từ Lý mà vào, cuối cùng cũng phải trở thành định hợp nhất với kinh; còn nếu bạn từ Sự mà vào, cũng phải giống như Phật vậy, Phật với bạn hợp nhất, cũng là một chữ định. Cho nên học định chính là một điểm then chốt vô cùng quan trọng trong Phật học của chúng ta. Tam học giới, định, huệ chính là một điểm then chốt của Phật học, mọi người chú ý nhé.
Tính Không không phải là tất cả đều không
Vậy tu định, muốn đi vào định thực sự, như tôi vừa nói về thiền định. Về việc học định, tôi đã từng đề cập trong sách này, trước hết phải thu nhiếp tất cả ý niệm về một, rồi chuyển một thành không, một lại phải biến thành không. Trước đây nhiều người hỏi về điều này, thu nhiếp về một, vậy một quy về đâu? Một chính là quy về không. Vậy không là gì? Không có phải là trống rỗng không? Nói về cái "không" này, không chưa hẳn là trống rỗng. Không có thể nói là một loại tính Không, là một trạng thái vận chuyển tự nhiên, tự tại, không phải là loại không - quét sạch tất cả, loại không đó là "ngoan không" [ngoan cố chấp vào không]! Mà là một trạng thái rất tự nhiên, tự tại, mới gọi là "không".
Phật giáo nói về "không", không phải là tất cả đều không, không phải là cái gì cũng không, cái gì cũng không thì sẽ trở thành ngoan không. Có thể nói là tự tính không, vậy tự tính không là một trạng thái tự như tự tại, điều này rất khó giải thích bằng ngôn ngữ, rất khó giải thích cho rõ ràng, rất khó! Nhưng theo tôi giải thích thì cái gọi là tính Không, chính là tự nhiên, tự tại, tự như, thần thông tự tại, một trạng thái như thế.
Về phương diện định, ngày mai tôi sẽ thảo luận chi tiết hơn với mọi người về phương pháp thiền định. Hôm nay chúng ta cần hiểu rằng: vào từ cửa Sự tốt hơn cửa Lý, thực hành một pháp tốt hơn nghe biết nhiều; nghĩa là đi sâu vào một pháp tốt hơn học nhiều pháp. Về vấn đề cảnh giới, cần phải rất siêu việt, Phật học cũng rất siêu việt; tuy siêu việt, nhưng lại nằm trong thể dụng, thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của bạn, biểu hiện phong thái của nhà Phật. Khi bạn đạt được tự tại, tự như, bạn đã ấn chứng những điều được đề cập trong kinh Phật. Cái gọi là ấn chứng các pháp chính là tất cả đều được bao hàm trong Phật pháp.
Vấn đề quy y
Các bạn học Phật cũng đề cập đến vấn đề quy y này, có người hỏi tôi, nên quy y vào lúc nào? Có phải nên hiểu biết Phật pháp trước rồi mới quy y không?
Quy y đối với các bạn, có vẻ rất đơn giản, muốn quy y thì cứ quy y thôi! Thực ra không đơn giản đâu! Khi quy y, việc lựa chọn không hề đơn giản, bạn phải chọn một vị thầy! Nếu bạn chọn một vị thầy có tâm sân hận nặng, bạn có thể bị đánh chết đấy. (cười) Nếu bạn chọn một vị thầy tham lam, tiền bạc của bạn chẳng phải sẽ bị vơ vét sạch sao? Nếu bạn chọn một vị thầy si mê, một vị thầy ngu muội, vậy chẳng phải bạn sẽ không học được Phật pháp sao? Cho nên hai chữ "quy y" không hề đơn giản. Điều mà các bạn thấy đơn giản nhất là: "Vị thầy đó bảo chúng ta quy y! Được thôi!" Điền vào tờ đăng ký quy y, điền xong, bạn còn chưa hiểu gì về thầy mà đã quy y rồi. Đúng không?
Vậy khi nào bạn nên quy y? Có người nói: "Tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo, tôi có thể quy y không?" Đây cũng là một vấn đề. Họ là tín đồ Cơ Đốc giáo, họ hoàn toàn không biết gì về Phật học. Có người nói: "Tôi vừa mới bắt đầu thờ cúng thần linh, tôi có thể quy y không?" Họ vừa mới bắt đầu mê tín thôi. Đây cũng là một vấn đề, họ nghĩ rằng đến đây quy y, tôi sẽ cho họ tiền, ban phúc cho họ, tai nạn gì cũng không có! Lái xe đảm bảo bình an, mọi việc đều được bình an. Cũng là một vấn đề. Vậy khi nào mới là lúc quy y? Cho nên điều này trở thành một vấn đề lớn.
Bạn quy y với ai? Chúng ta biết "quy y Phật" là quy y giáo pháp của Phật, giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni; "quy y pháp" là quy y kinh điển Tam tạng, tất cả những giáo pháp mà Đức Phật đã truyền dạy; "quy y tăng" là quy y tất cả các bậc thánh hiền tăng đại diện cho Đức Phật, các vị thầy đang truyền pháp hiện nay.
Còn về Kim Cương thừa thì có Tứ quy y, tức là "quy y Kim cương Thượng sư". Các bạn phải hiểu rõ điều này, Kim cương Thượng sư là tổng trì của Tam Bảo, Tam Bảo do ngài truyền dạy, nên gọi là tổng trì của Tam Bảo. Các bạn phải nhận rõ vị thầy này. Đến khi các bạn nhận rõ rồi, có khi các bạn lại muốn trả lại giấy chứng nhận quy y. Bởi vì vị Kim cương Thượng sư mà bạn quy y không phải như vậy, không nhất định là tốt. Đây là vấn đề "lấy" và "bỏ" của bạn, giữa việc lấy và bỏ, giữa quy y và không quy y, đều là một vấn đề.
Cánh cửa tông phái của chúng ta rộng mở đón nhận mười phương. Khi bạn khởi tâm quy y, tôi đều tiếp nhận, tôi là như vậy đó. Bất kì ai, dù bạn là tín đồ Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo hay bất kì tôn giáo nào, khi bạn khởi tâm quy y, đó chính là có duyên, bạn đều có thể quy y. Quy y chính là kết duyên, nhưng tôi phải nói cho các bạn biết, Lư Sư Tôn này bảo đảm rằng tôi là người thông hiểu Phật học, là người thực tu Phật học, là người thực sự "hành" và "chứng". Tôi bảo đảm với bạn như vậy. (mọi người vỗ tay)
Vậy bạn có thể quy y thêm với người khác được không? Sư Tôn nói: "Được." nhưng nói hơi nhỏ tiếng. (cười, mọi người cười) Các bạn muốn quy y Chân Phật Tông để học Phật pháp, tôi đã nói với các bạn rồi mà! Thông hiểu Phật học, thực tu Phật học, hành chứng Phật học, khai ngộ Phật học, tất cả những điều này đã được bày ra trước mắt rồi, để cho bạn thấy, để cho bạn biết, để cho bạn thể hội, để cho bạn lĩnh ngộ quy y như vậy là không sai!
Nếu bạn đi quy y với một vị thầy khác, một số vị thầy khác cũng rất tốt! Tôi không thể nói rằng các vị thầy khác là không được! Hoặc thế này thế kia! "Trên đời này chỉ có mình tôi là giỏi nhất, những người khác đều không tốt!" - điều này không thể nói được. Trong số đó cũng có rất nhiều bậc cao nhân, nhưng khi bạn đi quy y, trước hết phải nhận rõ vị thầy đó, phải hiểu rõ vị thầy đó, như vậy mới không có sai sót.
Tuy nhiên tôi nói cho bạn biết, tôi thường nói với mọi người như thế này: "Khi bạn đã quy y một vị thầy rồi, tốt nhất đừng phỉ báng vị thầy đó." Bạn đã quy y rồi, đã tôn người làm thầy rồi, bạn tôn kính người là một vị thầy là được rồi. Nếu Phật học của thầy không viên mãn, không đầy đủ, thầy chưa chứng ngộ, đó là việc của thầy, bạn vẫn phải tôn kính thầy. Ít nhất thầy cũng có vài ưu điểm, bạn học những ưu điểm của thầy, đừng nhìn vào khuyết điểm. Cho nên điều quan trọng nhất của đệ tử đối với thầy là phải nhìn vào ưu điểm của thầy, đừng nhìn vào khuyết điểm. Nếu bạn nhìn vào khuyết điểm của thầy, bạn tuyệt đối không thể nhận được lực gia trì của dòng truyền thừa, vĩnh viễn không có! Học pháp không thành. Bởi vì bạn nhìn vào khuyết điểm của thầy, sẽ không tôn trọng pháp mà thầy truyền dạy! Bạn chỉ nhìn vào khuyết điểm của thầy, bạn sẽ không tôn kính thầy! Bạn chỉ nhìn vào khuyết điểm của thầy, làm sao bạn có thể tôn trọng pháp của thầy? Đây là đạo lý rất đơn giản, rất đơn giản.
Cho nên khi bạn theo một vị thầy, tuyệt đối đừng nhìn vào khuyết điểm của thầy, chỉ nhìn vào ưu điểm của thầy, học những ưu điểm đó, như vậy là đủ rồi. Những gì có thể làm tư lương tu hành cho cả đời bạn chính là Phật học mà thầy truyền dạy cho bạn. Ngoài những Phật học này, tất cả những ưu điểm của thầy, tinh thần học tập của thầy, những biểu hiện xuất sắc của thầy, đều là những điểm tinh xảo mà bạn cần phải học hỏi.
Cho nên, việc các bạn quy y Chân Phật Tông là không sai. Thứ nhất, như tôi vừa nói rõ với mọi người, Phật học viên mãn, thực tu viên mãn, chứng ngộ viên mãn, các bạn đạt được ba điều này là đã quá đủ rồi. Còn nếu bạn muốn đi tìm kiếm thêm điều gì khác, đó là việc của bạn. "Tôi muốn đi tìm thầy khác để tu! Muốn đi con đường khác!" - đó là việc của bạn. Nếu bạn đi học rồi nói rằng bên đó tốt hơn, vui hơn, hay thú vị hơn, điều đó cũng được thôi, đó là duyên phận của mỗi người.
Cho nên khi quy y, phải quy y với một vị thầy có tâm rộng lớn vô lượng, có trí huệ vô biên, có định lực vô biên, có chứng ngộ vô biên, có pháp vô biên, có vô biên các loại, đây chính là "rộng lớn vô lượng". Các bạn phải nhận rõ thầy của mình, quy y với một vị Kim cương Thượng sư chân chính, như vậy lực truyền thừa mà các bạn nhận được sẽ rất thực tế, tu pháp tự nhiên thành tựu.
12. Định và huệ
Thưa các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người!
Hôm nay là ngày thứ tư của "Phật Học Tổng Thuyết". Ba ngày trước chúng ta đã nói về "tín, giải, hành, chứng", ngoài ra còn có "Lý nhập" và "Sự nhập", cũng chính là nói về "tam vô lậu học". "Vô lậu" có nghĩa là giải thoát phiền não; "hữu lậu" là có phiền não, "vô lậu" là không có phiền não. Vậy "lậu tận" là gì? Chính là đã giải thoát khỏi phiền não.
"Tam vô lậu học" có thể nói là một trọng điểm của Phật học, sau vô lậu học là gì? Chính là lục độ, tiếp đến là thất bồ đề phần, bát chính đạo, cuối cùng chứng đắc thập lực của Như Lai. Mười loại năng lực siêu việt của Như Lai, gọi là thập lực, đây là một thứ tự của Phật học; vậy tam vô lậu học, tứ diệu đế, ngũ căn ngũ lực, lục độ, thất bồ đề phần, bát chính đạo, cho đến thập lực, đây chính là một thứ tự của Phật học.
Nếu các bạn thường xuyên đọc kinh, sẽ hiểu được rằng trong rất nhiều thuật ngữ Phật học, trọng điểm chính là "định" và "huệ" mà chúng ta sẽ nói đến hôm nay.
Định, huệ - muốn thành Phật cần phải có định và huệ, đây là hai cánh của việc thành Phật, nên gọi là "định huệ song tu". Bởi vì có được đôi cánh này mới có thể thăng lên tứ Thánh giới, cho nên có thể nói thiền định và trí huệ là trọng điểm của toàn bộ Phật học.
Nhớ lại thời Phật Đà, có một đệ tử quy y Phật, tên là A Xà Bá Sĩ, khi dịch sang tiếng Trung thì trở thành tỳ kheo Mã Thắng. Người này học Phật và nghe pháp từ Phật Thích Ca Mâu Ni, ông chỉ nghe được hai câu, hai câu gì? Đó là "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt". Và thế là A Xà Bá Sĩ vừa đi trên đường vừa niệm hai câu này. Để hiểu được hai câu này thật sự rất sâu sắc.
Gà có trước hay trứng có trước?
Tôi nhớ lúc còn nhỏ, thầy giáo đưa ra một vấn đề cho chúng tôi tranh luận, mọi người tranh cãi như người ngã ngựa đổ. Tranh luận gì vậy? Tôi tin rằng khi tôi nói ra, các bạn đều biết, đó là "Gà có trước hay trứng có trước?" Chúng ta đều biết rằng, trứng nở ra thành gà, rồi gà lại đẻ trứng, đây là một vòng tuần hoàn.
Đây là một vòng tuần hoàn rất đơn giản, một điều rất đơn giản, vậy mà thầy giáo cũng hỏi chúng ta! Bạn nói gà có trước ư? Không có gà thì làm sao đẻ trứng? Chắc chắn là gà có trước rồi! Nhưng gà lại nở ra từ trứng! Vậy chắc chắn trứng có trước rồi! Bây giờ mọi người trả lời thế nào? (đệ tử đáp: "Luân hồi!") Luân hồi? Anh ấy nói luân hồi. Phật giáo vốn dĩ nói về luân hồi mà. (Lại có người đáp: "Cái nào nói trước thì đúng.") Ồ! Nói trước là đúng hả? (cười, mọi người cười)
Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt
Trong số các đệ tử của Phật thuở xưa, có một vị là Xá Lợi Phất, chúng ta đều biết. Bản thân ngài Xá Lợi Phất đang suy nghĩ về một vấn đề, cũng tương tự như vấn đề này. Bản thân ngài đã học rất nhiều nghi quỹ tu hành, bởi vì cha của ngài là một học giả nổi tiếng của đạo Bà La Môn, từ nhỏ ngài đã học rất nhiều kinh điển và nghi quỹ của đạo Bà La Môn, ngài đều thông thuộc.
Chúng ta biết rằng theo lý thuyết của Bà La Môn Ấn Độ, vũ trụ được cai quản bởi Đại Phạm Thiên, và loài người được Đại Phạm Thiên tạo ra. Xá Lợi Phất biết về những luận thuyết được đề cập trong kinh điển này. Ngài không nghi ngờ điều đó, nhưng ngài đang thảo luận một vấn đề: "Đại Phạm Thiên đã tạo ra tất cả mọi người, vậy ai là người đã tạo ra Đại Phạm Thiên?" Ngài suy nghĩ mãi mà không tìm ra câu trả lời.
Chúng ta biết rằng trong Cơ Đốc giáo, con người được Chúa tạo ra, phải không? Chúa tạo ra con người! Tạo ra Adam! Tạo ra Eva! Ngài cũng có một thiên đường! Vậy thì ai đã tạo ra Chúa? Cho nên, mọi việc khi bạn tìm hiểu đến tận cùng đều không có câu trả lời. Xá Lợi Phất là người có trí tuệ rất cao, ngài thường xuyên suy ngẫm về vấn đề này nhưng không tìm được lời giải đáp.
"Gà có trước hay trứng có trước?" "Con người do Thượng đế tạo ra, vậy ai là người tạo ra Thượng đế?" Đại Phạm Thiên mà chúng ta đang nói đến, cũng chính là Allah của Hồi giáo, là Jehovah của Cơ Đốc giáo, là Ngọc Hoàng Đại Đế của Đạo giáo, là Đại Phạm Thiên của Bà La Môn giáo, tất cả đều là một, đều giống nhau. Câu đầu tiên trong Kinh Thánh viết "Ban đầu Thượng đế tạo ra trời đất", vậy thì "Ai là người tạo ra Thượng đế?" Xá Lợi Phất cứ suy nghĩ về vấn đề này.
Tỳ kheo Mã Thắng lắc đầu lắc tai đi ngang qua: "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", cứ thế mà nói đi nói lại. Xá Lợi Phất vừa nghe thấy: "Ồ! Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt!" Mọi người thử nghĩ xem, các bạn có khai ngộ không? Xá Lợi Phất vừa nghe xong, ngài đã khai ngộ!
Gà có trước hay trứng có trước? Không phải gà có trước, cũng không phải trứng có trước, mà là do nhân duyên sinh, nhân duyên diệt, hoàn toàn do nhân duyên mà sinh ra. Vậy thì Đại Phạm Thiên từ đâu mà có? Cũng là từ nhân duyên mà ra; con người từ đâu mà có? Cũng là từ nhân duyên mà ra, nhân duyên chính là một câu trả lời.
Thật ra nhân duyên chính là một câu trả lời rất lớn. Dù sao thì câu trả lời này một khi đưa ra thì tất cả đều đúng cả. Đúng vậy! Đây chính là câu trả lời! Đừng có cố chấp nữa! Dù sao cũng là do nhân duyên sinh mà! Gà cũng là do nhân duyên sinh! Trứng cũng là do nhân duyên sinh! Đại Phạm Thiên cũng là do nhân duyên sinh! Phải không? Con người cũng là do nhân duyên sinh! Vạn sự vạn vật đều do nhân duyên sinh. Do nhân duyên sinh ra, cho nên "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt".
Sau khi có được câu trả lời này, Xá Lợi Phất lập tức đến tinh xá Trúc Lâm tìm Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài cùng với Mục Kiền Liên đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni, và cả hai cùng quy y. Phật Đà ghé vào tai Xá Lợi Phất nói một câu: "Chân lý vũ trụ mà ta đã chứng ngộ, hôm nay cuối cùng đã có người hiểu được." Các bạn chưa từng nghe câu này đâu nhỉ! (Sư Tôn cười, mọi người cười) Phật ghé vào tai Ngài nói: "Chân lý vũ trụ mà ta đã chứng ngộ, hôm nay cuối cùng đã có người hiểu được." Cho nên nói một cách đơn giản, trong mười đại đệ tử, Xá Lợi Phất được xếp vào vị trí đầu tiên, là vị đại đệ tử số một, chính là vì Ngài có thể hiểu được hai chữ "nhân duyên".
Từ thuở ban đầu, điều mà Phật Đà đã lĩnh ngộ dưới cội bồ đề cũng chính là hai chữ "nhân duyên". Phật Đà ngồi dưới cội bồ đề, chính là dựa vào mười hai nhân duyên để thiền định, quán chiếu về mười hai nhân duyên này, rồi sau đó đến khi khai ngộ. Vì vậy, người có thể hiểu được "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt" chính là người đã hiểu được Đức Phật, đã ngộ được chân lý. Do đó, việc Xá Lợi Phất được tôn xưng là "trí huệ đệ nhất" cũng có đạo lý của nó.
13. Chỉ quán
Tu định, tu thiền định này có hai loại khác nhau, tu định trong Hiển giáo và tu định trong Mật giáo có sự khác biệt, nhưng đến cuối cùng đều giống nhau.
Trong Hiển giáo, tu định đều dùng "lục diệu môn". Vậy "lục diệu môn" là gì? Thứ nhất là đếm hơi thở, thứ hai là đi theo hơi thở, thứ ba là chỉ - dừng, thứ tư là quán, tiếp đến là hoàn, rồi đến tịnh, đây là sáu môn kỳ diệu, đây là điều phải học khi học định trong Hiển giáo.
Còn trong Mật giáo thì dùng quán, dùng quán tưởng để tu định. Có rất nhiều loại quán tưởng, tôi cũng đã từng giải thích rất chi tiết trong "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh" về các loại quán tưởng để nhập Tam ma địa của Mật giáo Chân Phật Tông chúng ta, giảng giải kỹ thuật quán tưởng một cách rất rõ ràng.
Thiền tông khi dạy người ta về "chỉ" và "quán", sư phụ đều xem căn cơ mà dạy. Có một lần, một vị lão thiền sư dẫn một vị thiền sư trẻ ra ngoài, ở nơi hoang vắng thấy một bầy nhạn bay qua bầu trời; vị lão thiền sư này, khi dạy đệ tử đều là tùy cơ, nghĩa là gặp thời cơ thì mới dạy. Ngài liền hỏi đệ tử: "Con thấy gì?" Người đệ tử ngẩng đầu nhìn "Ồ! Có con nhạn đang bay." Anh ta thấy con nhạn đang bay. Lão thiền sư liền nổi giận, "Con thấy con nhạn đang bay sao?" Ngài bóp mũi người đệ tử, bóp cho đau, rồi hỏi lại: "Con thấy gì?" Đệ tử đáp: "À! Bay qua mất rồi." "Ồ! Con nhạn bay qua mất rồi." Rồi ngài lại đánh anh ta, lão thiền sư giơ tay lên, "bốp"! Đánh một cái lên đầu anh ta.
Bạn biết đấy, họ rất nghiêm khắc, những vị thiền sư này có đánh có hét, cầm gậy gõ vào mặt như thế, vừa đánh bằng gậy, vừa hét lên, đánh một cái là hét một tiếng, tiếng rống sư tử, nếu không nghe lời thì lấy gậy ra, đánh ngay lên đầu, tất nhiên là khai ngộ thôi, ngất đi luôn rồi. Ngài đánh vào đầu đệ tử, hỏi: "Con lại thấy gì?" Đệ tử đáp: "Bây giờ chẳng có gì cả, không còn gì nữa, bây giờ chỉ thấy đau thôi!" (mọi người cười) Mũi đau quá! Đầu cũng bị đánh đau. Thiền sư bảo anh ta về suy nghĩ lại. Vị thiền sư này đang dạy pháp, ngài kích thích anh ta, dùng phương pháp kích thích để đánh, ép buộc, đá, mắng, cách này khiến tư tưởng của anh ta nhanh chóng tóe ra tia lửa.
Ý của ngài là, khi đánh bạn là để cho bạn nhìn, bạn thấy con nhạn bay, hiện tại chính là hiện tại, bạn đang thấy con nhạn đang bay. Tương lai sẽ là bay qua mất, trong đó bao hàm hai thứ, cho thấy bạn vẫn còn vọng niệm, người học thiền phải học "chỉ", phải dừng lại. Bảo bạn nhìn, thấy gì? Bạn phải trả lời thế nào, ồ! (Có đệ tử đáp, chẳng thấy gì cả.) Đó là thông minh đấy, nhưng lúc đó ngài cũng sẽ đánh bạn đấy! Bởi vì "Anh nói dối!", rõ ràng con chim đang bay mà anh lại nói dối! Cho nên trong cách dạy pháp của họ, phần nhiều là đánh tới đánh lui như thế đó (mọi người cười).
Vị lão sư phụ này! "Bốp"! Đánh đệ tử một cái, "Con thấy gì?" Anh ta nhìn thầy, rồi đánh lại thầy một cái. Nói cho các bạn biết, vị lão sư phụ này liền vui mừng. "Ừm! Tương ứng rồi!" (mọi người cười vỗ tay) Các bạn thấy hai vị thiền sư ở đó, tôi đá ông một cái, ông đá tôi một cái, tôi đấm ông một cái, ông đấm tôi một cái, thế là đúng rồi đấy. (mọi người cười)
Thực tế là như vậy đó, tôi đánh bạn một bạt tai, bạn đánh tôi một bạt tai, hai người ở đó lĩnh ngộ! Ở đó suy nghĩ, ở đó lĩnh ngộ, chẳng có gì để nói cả, đó chính là "chỉ". Bảo bạn dừng hết tất cả vọng niệm lại, công phu học định đầu tiên chính là "chỉ".
"Tại sao thầy đánh con một bạt tai?" Bởi vì đã lĩnh ngộ được "chẳng có gì để nói"; như vừa nói đó, chẳng có gì cả, nói không thấy gì là giả dối, chẳng có gì để nói, đừng có bất kì vọng niệm nào. Người học Phật chúng ta phải dừng vọng niệm này lại, không thể dừng ở hiện tại - chim đang bay, quá khứ - chim bay qua rồi; hiện tại - đau quá"!
Thiền trong các vị thiền sư! Lý do dùng gậy đánh và hét chính là ở đây. Trong đó có thiền cơ. Thiền cơ là gì? Thiền là "thèm ăn", cơ là "đói bụng", thế thì gọi là "thèm đói" rồi! (mọi người cười)
Tu tập định là để dạy mọi người, việc đầu tiên là phải dừng vọng niệm lại. Con người chúng ta vọng niệm không ngừng, không dứt, những ý niệm này cứ xoay vòng mỗi ngày, xoay mãi không dừng; khi bạn tĩnh lại một chút để suy nghĩ, ôi chao, thật là phiền não quá. Trong số quý vị đang ngồi đây, ai là người không có phiền não, hãy giơ tay lên? Ai cũng có phiền não cả. Vừa rồi chỉ có mình tôi giơ tay. (mọi người vỗ tay)
Thực ra không phải là không có chuyện gì, mà là có rất nhiều chuyện, không phải là không có việc gì, Sư Tôn có rất nhiều việc, có một bài hát tên là "Tâm sự ai biết được", "Tâm sự ai người biết" (tiếng Đài), rồi lại có câu "Trong lòng nghìn mối", trái tim này có nút thắt. Tối hôm qua thấy trời mưa, lại nhớ đến câu "đêm nay lại sắp mưa rồi". (tiếng Đài)
Đúng là có chuyện phiền não! Không phải là không có đâu, rất nhiều chuyện. Chúng sinh ai cũng có phiền não, bất kì ai cũng có phiền não. Dù làm tổng thống một nước cũng có phiền não, từ người bán hàng rong đến quan chức quyền quý, ai ai cũng có phiền não, chỉ là đem phiền não xem như không có gì, đó mới gọi là giải thoát phiền não.
Hôm nay bạn đem tất cả phiền não ra xem như có thật, cứ vướng mắc mãi, giải quyết xong chuyện này lại đến chuyện khác, xong chuyện kia lại đến chuyện nọ, phiền não cứ nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Bạn phải dừng lại, chặt đứt ngay lập tức, dùng thanh kiếm trí tuệ của mình, "đoạn" chính là dừng. Chặt đứt phiền não chính là đại trí huệ. Người có trí tuệ cao nhất, họ có thể dứt khoát, lập tức chặt đứt, phiền não đến đây là hết, vọng niệm từ đây không còn, như thế mới được tự tại.
Vậy dạy bạn dừng vọng niệm, nếu vọng niệm không dừng thì sao? Bạn nói khi bạn tọa thiền, giống như chúng ta học thiền quán, tĩnh tọa này, "tôi phải đoạn trừ phiền não, tôi phải đoạn trừ phiền não", ngày nào cũng niệm như thế, "tôi phải đoạn trừ phiền não", cái "tôi phải đoạn trừ phiền não" này cũng chính là phiền não, phải làm sao đây?
Thực ra quán tưởng trong Mật giáo, có những cái thực sự quá phức tạp, quá phiền! Quán tưởng trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta sử dụng cách đơn giản nhất, càng đơn thuần càng tốt. Thực ra quán cũng vậy, càng đơn thuần càng tốt, đừng tưởng rằng quán rất dễ dàng. "Quán tưởng rất dễ mà! Dù quán tưởng phức tạp đến đâu, tôi cũng có thể quán ra được." Bạn thử quán mặt trăng xem, mặt trăng có thể tưởng tượng ra được mà! Mặt trăng rất đẹp, tròn tròn nhé! Nó màu xanh, bên cạnh có một chút mây, quán ra được, bạn muốn tưởng tượng màu xanh này, có người phải mất rất lâu, không tưởng tượng ra được màu xanh lam. Bạn có từng trải qua không, bạn muốn tưởng tượng ra màu đó, màu đó bạn đều không tưởng tượng ra được.
Có một đệ tử đến nói với tôi rằng anh ta thực sự không thể hình dung ra màu sắc, bởi vì trong đó tiêu tai là màu trắng, ban phúc là màu đỏ, hàng phục là màu xanh lam, tăng ích là màu vàng, anh ta không thể hình dung ra được. Tôi hỏi anh ta: "Sao anh không thể hình dung ra được? Anh hãy nhìn nhiều vào những màu sắc đó!" Anh ta nói anh ta bị mù màu.
Nói đến mù màu thì đương nhiên là không thể hình dung ra màu sắc rồi! Ah! Anh ta nhìn thấy đèn đỏ thì cứ thế mà chạy qua! Anh ta nhìn thành màu xanh, màu xanh lại thành màu đỏ, cho nên đôi khi màu sắc cũng rất khó quán tưởng.
Một vầng trăng, pháp quán tưởng Mật giáo của chúng ta ngày hôm nay, tôi dùng cách đơn giản nhất, trước tiên quán một nguyệt luân, sau đó quán chữ chú, rồi chữ chú xoay tròn, biến thành Bổn tôn, Bổn tôn di chuyển, thực hiện pháp quán tưởng "nhập ngã ngã nhập". Tại sao phải thực hiện pháp quán tưởng Mật giáo này? Chỉ vì một đạo lý, đó là "dùng niệm để dừng niệm", dùng cách quán tưởng đơn giản nhất để ngăn chặn vọng niệm của bạn, đây chính là một phương pháp, một kỹ thuật.
Nếu bạn không thể dừng, không có cách nào dừng vọng niệm, thì hãy dùng quán, khi quán đến mức rất rõ ràng, sẽ chuyển thành chỉ, tiến vào vô niệm. Khi đến trạng thái vô niệm, lại có tạp niệm sinh khởi, bạn lại quay về quán, hiện tượng này gọi là "trong chỉ có quán", "trong quán có chỉ". Đây chính là nhập định đó! Chỉ - quán là phương pháp tốt nhất.
Tôi đã từng giảng về quán đếm hơi thở, đếm "một hai ba bốn, một hai ba bốn", hoặc là dùng "Om Ah Hum", hít vào là Om, dừng lại một chút bên trong. Khi khí trụ trong cơ thể thì dùng Ah, thở ra là Hum. Om Ah Hum, Om vào, dừng lại là Ah, ra là Hum, đây chính là đếm hơi thở.
Như vậy chúng ta đếm "một hai ba bốn năm sáu" cứ tiếp tục như thế, cách đếm hơi thở này gọi là đếm hơi thở. Đếm hơi thở cũng rất dễ, bởi vì phương pháp của nó rất đơn giản, và có thể nhanh chóng dừng vọng niệm, vì thế có rất nhiều người dùng phương pháp đếm hơi thở, dùng phương pháp này để thiền định là rất tốt.
Còn Hiển giáo thì dùng lục diệu môn, đó là đếm hơi thở và đi theo hơi thở, để tâm niệm đi theo hơi thở chính là theo hơi thở; tiếp đến dùng "chỉ", chính là phương pháp Thiền tông vừa nói dùng cách dừng lại; dùng "quán", quán tưởng; dùng "hoàn", hoàn là gì? Hoàn và tịnh, điều này sau sẽ nói với mọi người, tịnh chính là thanh tịnh, hoàn chính là hoàn nguyên, đây là phương pháp của Hiển giáo. Trong đó, tôi cho rằng chỉ-quán là quan trọng nhất.
Chỉ-quán trong tu thiền định của chúng ta mà nói, rất là thú vị, hơn nữa Mật giáo của chúng ta, trong đó có rất nhiều phương pháp liên quan đến chỉ-quán. Thậm chí trong pháp chỉ-quán, có cái gọi là Đại chỉ-quán, Tiểu chỉ-quán. Đây là do ai nghĩ ra? Do Thiên Thai đại sư Trí Giả nghĩ ra phương pháp này. Đại chỉ-quán, Tiểu chỉ-quán, cho nên cũng có cách nói là Thiên Thai chỉ-quán. Chỉ chính là dừng vọng niệm, Quán chính là quán chiếu; đặc biệt là khi bạn đang quán chiếu, trí tuệ sẽ sinh khởi.
Trong Mật giáo có tu hỏa quang tam muội, ngoài ra còn có tu quán bạch cốt, quán bất tịnh, và còn có một loại "không-lạc định".
**Thiền Mật - dị lộ đồng quy **
Như tôi đã từng nói, trong khi tọa thiền, Thiền tông tuy không có phương pháp tu thân, tức là phương pháp tu mệnh; trong tu hành có một loại gọi là tu tính, chữ "tính" trong tu tính này, là hoàn toàn tu từ tâm linh, thuộc về Thiền tông. Còn Mật giáo thì sao? Tu tính, nhưng cũng tu mệnh. Mệnh là gì? Chính là thân thể của bạn. Nói đơn giản, dùng thân thể của bạn để tu, đây là của Mật giáo, nhưng cuối cùng sẽ dị lộ đồng quy, có nghĩa là, người tu Thiền tông và người tu Mật giáo, tuy là hai con đường khác nhau nhưng cuối cùng sẽ quy về cùng một con đường.
Dù thế nào đi nữa, khi Thiền tông tu về "không" (tính Không) và "vô", do họ hoàn toàn đưa tâm linh của mình vào trong tính Không, khi niệm dừng lại, khí trong toàn thân tự nhiên sẽ hoàn nguyên, sẽ trở về nơi ban đầu.
Chúng ta trước đây có một phương pháp như thế này, ở vị trí Thiên tâm có một điểm, khi bạn hoàn toàn tĩnh lặng, nước của toàn thân, nước và khí trong cơ thể bạn, tinh khí thần hoàn toàn tập trung, hoàn nguyên về nơi ban đầu; tự nhiên, không cần bạn vận hành, đây là một hiện tượng rất tự nhiên. Cho nên khi tinh khí thần trong toàn thân tập trung vào một điểm, lúc này sẽ tương ứng với bản chất của Mật giáo.
Bởi vì phương pháp tu của Mật giáo cũng theo cách như vậy, dùng chức năng này của cơ thể để tu hành, trước tiên tu khí, sau đó tu hỏa, rồi thông trung mạch, sau đó lại phải tập trung tất cả các điểm, chẳng phải giống hệt như khi Thiền tông thực sự tọa vong, sự vận hành của cơ thể họ hoàn toàn giống nhau sao? Tuy Thiền tông không nói về khí mạch điểm, nhưng khi họ hoàn toàn dừng lại, khí trong toàn thân của họ cũng hoàn nguyên như vậy, điều này trở thành Mật.
Đại định hỏa quang tam muội và những pháp khác
Phật Đà dạy chúng ta tọa thiền, trầm tư. Ngài dạy chúng ta phương pháp Hỏa quang tam muội, Bạch cốt quán, để nhập vào Hỏa quang tam muội; đốt lên ngọn lửa bên trong của mình, thiêu đốt chính mình, nhập vào Hỏa quang tam muội. Hỏa quang tam muội này là cảnh giới của tứ quả A La Hán.
Trong giáo pháp ban đầu của Đức Phật, Ngài truyền cho chúng ta rất nhiều pháp. Trong tất cả giáo pháp của Phật, hầu như tất cả đệ tử, tất cả các vị A La Hán đều lấy đại định Hỏa quang tam muội làm cao nhất. Vì vậy, đại định của bản thân A La Hán lấy Hỏa quang tam muội làm pháp tu chính yếu; đó là trước tiên dẫn khởi nội hỏa, sau đó nội hỏa sinh khởi thiêu đốt toàn thân, đốt sạch tất cả phiền não trong toàn thân, đốt sạch những khí xấu trong toàn thân, đốt sạch phiền não, cho đến khi đạt được cảnh giới hoàn toàn thanh tịnh. Từ việc nội hỏa thiêu đốt, dẫn mình vào tính Không, chứng ngộ tính Không, cảnh giới này gọi là đại định Hỏa quang tam muội, tứ quả A La Hán.
Chúng ta biết về "dừng tại một", lúc mới bắt đầu chúng ta không thể "dừng tại không", mà đều là "dừng tại một". Vậy "dừng tại một" là như thế nào? Đó chính là pháp "nhất duyên thiền định". "Nhất duyên thiền định" trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn" của tôi có viết về phương pháp "nhất duyên thiền định", phương pháp này càng đơn thuần càng tốt, tránh cho bạn không thể quán tưởng được. Cần phải rõ ràng, phải phân minh, phải trở thành một điểm, đừng quá phân tán, hãy trở thành một điểm.
Trong đó có cái gọi là phương pháp "nhất duyên thiền định", có phương pháp niệm chú, dùng phương pháp Kim cang niệm. Có Bảo bình khí, chúng ta tu Bảo bình khí, dùng Bảo bình khí để nhập định, đây cũng là một phương pháp. Dùng chỉ-quán là một phương pháp. Ngoài ra, dùng "bất tục duyên", "bất tục duyên" chính là tùy tán, giống như khi bạn vừa ngồi xuống, không nghĩ gì cả, cũng không nghĩ về một điểm nào, cứ để tâm tán đi, ngồi trong toàn thể địa cầu, trong đại địa, trong gió, trong vũ trụ, trong bầu khí quyển, đây là phương pháp mà chỉ những người có trí tuệ cao mới có thể làm được, vừa ngồi là ở trong hư không, những phương pháp này đều là cách để nhập thiền định.
14. Vô ngã mới có thể nhập định
Tại sao tôi lại nhắc đến hai câu kệ liễu ngộ của Xá Lợi Phất? "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt", thực ra điều cốt lõi nhất của hai câu kệ này chính là vô ngã.
A La Hán có thể đạt được giác ngộ là bởi vì các Ngài quán chiếu về vô thường, về xuất ly, rồi sau đó đến cảnh giới vô ngã, điều thứ ba chính là vô ngã. Trong câu "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt" này đều hàm chứa tư tưởng vô ngã.
Ngày nay ai cũng có phiền não, Sư Tôn cũng có, nhưng Sư Tôn xem tất cả những phiền não đó như không có gì, nguyên nhân là ở đâu? Chính là vì có tư tưởng vô ngã trong "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt" này.
Bây giờ tôi muốn nói với mọi người về tư tưởng vô ngã này. Khi học thiền định, bạn nhất định phải có tư tưởng vô ngã, không có vô ngã thì bạn không thể nào nhập định được. Mọi người hãy nghĩ xem, có phải vậy không? Khi bạn thiền định, vừa ngồi xuống, chưa nhập định, ý niệm đã bắt đầu khởi lên, một ý niệm khởi lên; ý niệm đó là "ai nợ tiền mình", bạn đã nghĩ đến tiền rồi.
Phiền não suốt ngày có, nhìn thông suốt tự nhiên không
Có những người không thể nhập định được, vừa nhập định đã nghĩ "hôm qua ai mắng mình, ai chửi mình" liền xuất hiện! Điều này rất đơn giản thôi. Chúng ta nói về hôm qua, mặt trời hôm qua và mặt trời hôm nay đều giống nhau, đều rất sáng, rất chói, phải không? Vậy hôm qua các bạn có gặp chuyện phiền não gì không?
Tôi có đấy! Hôm qua khi về nhà, lúc ra ngoài thì trời mưa. Xe của tôi đang sạch sẽ. Sao lại mưa vào lúc này chứ? Mưa thế này là xe bị ướt rồi. Ôi, xe bị mưa rồi. Khi xe chạy như thế này, nước bắn tung tóe. Xe người khác cán vào vũng nước, nước sẽ bắn lên xe mình. Anh ta lái xe phía trước tôi, lái rất chậm. Tôi thì lái nhanh hơn, nước từ bánh xe sau của anh ta bắn lên, văng vào cửa sổ xe tôi. Xe tôi bẩn hết rồi. Nghĩ đến việc phải rửa xe, thật là phiền phức.
Rồi hôm qua, khi tôi thuyết pháp, trong lúc thuyết pháp thì cũng không có gì! Cảm thấy mình thuyết pháp trong ba ngày cũng rất suôn sẻ. Nhưng khi viết bài cho hôm nay, nghĩ xem hôm nay sẽ giảng những gì? Hôm nay phải giảng về thiền định. Mà giảng về thiền định thì trước đây chẳng phải đã giảng rồi sao? Nhập Tam ma địa này, những điều này đều đã giảng qua rồi. Tôi lại không thể lặp lại. Vậy phải giảng cái mới. Nhưng cái mới thì lại không nghĩ ra được. Vậy đây cũng là phiền não. Tôi phải đối diện với mọi người. Đúng không? Tôi lại phiền não rồi.
Rồi tôi lại nghĩ: Hôm qua ấy! Mọi người biết đấy, hôm qua tôi có một mảnh giấy nhỏ cầm trên tay. Tôi ghi những điểm chính, tại sao vậy? Bởi vì hôm qua cửa sổ mở rất rộng. Gió thổi từ bên đó vào. Mảnh giấy này ở đây phất phơ, phất phơ bay qua bay lại. Đúng không? Mảnh giấy nhỏ cứ bay phất phơ, nên tôi phải cầm trên tay; khi cầm trên tay, có lúc tôi nói chuyện cần phải dùng tay diễn tả, thế là một tay tôi không thể cử động. Vừa cử động là người ta thấy ngay là mình cầm phao.
Tôi nghĩ, vậy ngày mai thuyết pháp thì sao? Tôi phải để ở đâu, mảnh giấy này phải để ở đâu? Hồi xưa khi tôi gian lận thi cử, tôi thường giấu sách dưới mông, còn phao thì chép vào thước kẻ tam giác. Bây giờ mảnh giấy này rất mỏng, nhưng lại không có thước tam giác, thì phải làm sao... May mà hôm nay không có gió thổi vào, nên hai tay đều có thể cử động. Tôi cũng nghĩ đến vấn đề này đấy!
Tôi cũng nghĩ, mấy tối liền, khi đi ngủ vào lúc 11 giờ, Sư Mẫu đều nấu mì, như là một tô mì trắng đơn giản; không phải loại mì gì khác, chỉ là mì trắng đơn giản, ăn xong rồi đi ngủ. Đã cho tôi ăn mì 4 ngày liền rồi, 4 ngày toàn mì trắng. Bà ấy cũng không làm gì mới mẻ cả. Đây là điều tôi đang phiền não đây. Sao tối nay ăn khuya lại là mì nữa? May mà lúc về, bà ấy biết mang theo canh thịt nấu ở nhà. Cho canh thịt vào mì thì cũng có chút vị. Chứ không thì toàn là mì trắng như tuyết, cứ một màu như vậy.
Thế nên tối hôm qua tôi nghĩ phải thay đổi thôi, ăn mì như vậy không tốt. Vào khoảng hơn 11 giờ, tôi đi với Sư Mẫu đến QFC. Tôi chỉ mua vài thứ thôi, rất đơn giản, ở Mỹ có loại hỗn hợp 10 loại đậu được đóng gói sẵn, mỗi gói có 10 loại đậu. Tôi mua 4 gói đậu, và còn mua nước dùng gà để hầm. Nước dùng gà, mua một gói nước dùng gà. Trước đó bà ấy thấy một gói nước dùng gà, cả gói thịt gà, cả gói thịt gà giá bao nhiêu? Gói đầu tiên là 4 đô, tôi đứng bên cạnh nhìn. Bà ấy cầm lên, Sư Mẫu nói: "4 đô Mỹ, con gà này 4 đô. Đắt quá!" Đắt quá, tiếc tiền không mua, lại để nó lại chỗ cũ.
Lúc đó tôi có một nỗi phiền não. Chẳng lẽ tôi không đáng giá tới 4 đô sao? Một gói thịt gà có 4 đô mà bà ấy chê đắt rồi bỏ lại. Còn gói thứ hai giá bao nhiêu, bà nói thật đi! Gói thứ hai là 3 đô, chỉ chênh nhau có 1 đô, bà ấy lấy gói thứ hai. Trong lòng tôi có một nỗi phiền não: "Tại sao bà ấy lại mua cái rẻ cho tôi? Chẳng phải tôi là 'Thượng sư tôn quý' sao?"
Sau đó chúng tôi đi mua bánh mì, ở nhà có ba quả chuối, vốn có ba quả chuối, nhưng cả ba quả đều đã chuyển sang màu đen, ba quả chuối đen. Tôi đi mua vài quả chuối xanh, chuối màu xanh. Vừa về đến nhà tôi bóc một quả chuối xanh, ăn một tô mì với một quả chuối, rồi bà ấy nói bên cạnh: "Chuối xanh thế kia sao lại ăn?" Bà ấy chỉ nói với tôi một câu như vậy, trong lòng tôi lại phiền não. Ở với tôi bao nhiêu năm rồi, chẳng lẽ không biết tôi thích ăn chuối xanh sao? Đúng không? Tôi ăn chuối không thích ăn loại chín mềm. Bà ấy nói: "Loại đó thơm hơn." Còn chuối xanh, tôi nói: "Chuối xanh ăn vào giòn hơn." Chữ "giòn" tôi không biết nói thế nào. Tóm lại là giòn. Tôi thích như vậy đấy, tôi không thích mùi chuối chín quá, tôi chỉ thích loại hơi xanh một chút, rồi còn nhiều thứ nữa.
Chỉ trong một buổi tối thôi mà đã có rất nhiều suy nghĩ phiền não như vậy cứ quẩn quanh trong đầu. Bạn thử nghĩ xem, làm sao mà không có phiền não được? Chúng ta, với tư cách là một hành giả, những điều vừa nói đều là những việc nhỏ nhặt. Nói ra thì toàn là chuyện vặt vãnh không đáng kể. Nhưng bạn có biết không? Những chuyện vặt vãnh này đôi khi lại gây ra những mâu thuẫn không thể hòa giải! Vợ chồng cứ vì những chuyện nhỏ nhặt này mà không buông bỏ được, không buông bỏ được thì hai người sẽ cãi nhau. Cãi nhau chỉ vì cái vỏ chuối.
Bạn nói xem, cãi nhau vì một cái vỏ chuối thì có gì hay? Có người lại cãi nhau vì một chút rác nhỏ. Vốn dĩ đều là những việc nhỏ, nhỏ đến không thể nhỏ hơn được nữa, những điều này đều phải buông bỏ hết, bạn phải học cách buông bỏ hết những việc nhỏ, những việc lớn cũng phải buông bỏ hết, thế giới này chẳng có gì là ghê gớm cả. "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt"! Tất cả đều là không, bạn phải hiểu điều đó, chẳng có gì đáng để bận tâm cả.
Các bạn có biết biển số xe của tôi không? Chiếc Mercedes-Benz mới này, tôi không dám mua loại 600, vì sợ phiền phức. Tôi mua loại 500. Người ta hỏi tôi: "Mercedes-Benz mà thầy đang lái là loại bao nhiêu vậy? Có phải 600 không?" Tôi nói "Không! Không phải 600." Không dám mua. Bởi vì lái chiếc Rolls-Royce đó đã bị người ta chê trách suốt 5 năm rồi, nguyên 5 năm. Mercedes-Benz 600 tất nhiên là rất tốt, nhưng không dám mua. Người ta hỏi: "Vậy thầy lái loại nào?" "Không phải 600, là 500." "Ừm! 500, tạm được." Vì còn có 600 tốt hơn 500 mà! Đúng không? Người ta sẽ không chê trách tôi nữa. Từ đó tôi được yên ổn. Điều này cũng có cái hay của nó.
Nhưng rồi phiền não lại đến. Bởi vì biển số xe cấp cho tôi, các bạn có biết số mấy không? "546 - Tôi chết rồi" [chơi chữ]. "Tôi chết rồi". Biển số cấp cho tôi là "546", khiến tôi nổi da gà. Như chúng ta thường nói "Lạnh run cả chân tay". Đúng vậy! Khi nhận được biển số này, bạn phải làm sao? Tôi nói cho bạn biết, hãy nghĩ theo cách khác "Không có chuyện gì đâu" [chơi chữ]. Nhiều việc, nếu bạn nghĩ là có vấn đề thì bạn đang tự chuốc lấy phiền phức, hôm nay bạn nghĩ rằng vô sự, thì sẽ yên ổn thôi!
Vô sự, vô tâm, vô ngã
Cho nên hôm nay khi học Phật chúng ta muốn nhập định, tôi đã giảng hai khẩu quyết rất quan trọng: vô sự - loại bỏ hết mọi việc thì bạn mới có thể nhập định được; hôm nay nếu trong lòng bạn còn vướng bận việc gì, làm sao bạn nhập định được? Chắc chắn là không thể nhập định được. Vô tâm - không những bạn phải vô sự, mà bạn còn phải để tâm mình hoàn toàn trống rỗng. Vô tâm - bạn mới có thể nếm được pháp vị, lúc này tinh thần sẽ trở về với bản tính thanh tịnh. Khẩu quyết thiền định quan trọng nhất là vô sự, vô tâm thì mới có thể nhập định được, nếu bạn còn việc, còn tâm thì tuyệt đối không thể nhập định được.
Thuở xưa, Phật Đà đã dạy chúng ta như vậy: muốn giải thoát phiền não, muốn thành A La Hán, mỗi người phải tu đến vô ngã. Ngã chính là cội nguồn của phiền não! Tất cả phiền não của chúng sinh đều do có ngã mới sinh ra phiền não, hôm nay Lư Thắng Ngạn không phải là Lư Thắng Ngạn, Liên Sinh không phải là Liên Sinh, thân thể ta đều không có, không thân cũng không tâm, thì phiền não ở đâu? Phiền não từ đâu mà sinh? Chính vì bạn cứ để ý đến cái thể diện của Lư Thắng Ngạn, cái thể diện của Liên Sinh, nên bạn mới có phiền não.
Nói một cách đơn giản, khi bạn đã nhìn thấu chính mình, trở nên trong suốt, cái ngã của bạn đã trống rỗng, tự tính đã không, thì phiền não từ đâu mà có? Hôm nay vì bạn chưa khai ngộ nên đương nhiên có phiền não, bạn muốn giành lại thể diện. "Thể diện của tôi ở đâu?" Bạn nhất định phải tranh giành, thì bạn sẽ có phiền não. Hôm nay, sự khai ngộ về lý chính là "không cần có cái tôi", cái tự ngã của bạn không cần nữa! Cái tôi không cần nữa! Tự tính của tôi đã trống rỗng rồi! Tôi vô sự rồi! Cũng vô tâm rồi! Đúng vậy, bạn có nhiều điều ấm ức, Sư Tôn cũng có nhiều điều ấm ức, ai cũng có những nỗi ấm ức của riêng mình.
Có rất nhiều người, như những người làm bảo vệ ở đây, những người làm việc ở đây, những người quét dọn nhà vệ sinh, mỗi ngày đều dọn dẹp nhà vệ sinh, sau khi các bạn về, có rất nhiều người ở lại để lau chùi nhà vệ sinh, nhặt rác, hút bụi sàn nhà, làm công việc dọn dẹp. Những người này, Sư Tôn không nhìn thấy, trong lòng họ nghĩ: "Thuyết pháp bốn ngày rồi! Mà vẫn chưa có một lời an ủi chúng tôi. Không làm nữa! Tôi không làm nữa! Tôi không làm nữa! Sư Tôn còn chưa từng đến nói với tôi: công việc của anh vất vả quá! Rất nhọc nhằn! Ít nhất cũng phải nói một câu, khen ngợi một chút chứ. Rằng đây là những người làm công âm thầm."
Thực ra khi chúng ta tổ chức một pháp hội, có rất nhiều người làm rất nhiều việc, chia thành đủ loại ban ngành, mỗi người đều rất vất vả, nếu không nói một lời an ủi, họ sẽ nghĩ: "Lần sau không làm nữa! Lần sau thôi không làm. Chẳng nói gì cả, Sư Tôn cũng không biết tôi làm!" Điều này rất đơn giản, khiến mọi người ấm ức. Trong Chân Phật Tông, có rất nhiều công việc, có rất nhiều anh hùng vô danh, mọi người đều đang làm việc; nhiều người chịu ấm ức, đã làm lại còn bị mắng, thậm chí còn bị hiểu lầm, bị phỉ báng! Đều có cả. Nhưng mà bạn phải vô ngã chứ! Vô ngã thì có thể giải thoát phiền não! Nếu không bạn sẽ ấm ức, sẽ khóc, sẽ rơi lệ, sẽ tự đánh mình, sẽ đập đầu vào tường!
Đôi khi tôi cũng nghĩ như vậy! Rất đơn giản, chúng ta làm người sẽ có lúc nghĩ như vậy. Cả đời tôi chẳng có hưởng thụ gì, chỉ viết văn, hoằng pháp, tu hành, thực sự chẳng có hưởng lạc gì, cứ sống qua ngày như vậy, rất nỗ lực giúp đỡ Phật Đà, tại sao phải chịu nhiều chỉ trích phỉ báng đến thế!
Tôi không thiết sống nữa! Tôi không muốn sống nữa! Tôi cũng không làm nữa! Tôi đi làm lính đây! Tôi làm quân nhân chuyên nghiệp, đi đo đạc, tôi còn về Đài Loan chuẩn bị phục chức! Tôi sẽ nộp đơn lên Bộ Quốc phòng xin được về làm Trung tá. Tôi không làm nữa! Những gì tôi làm trước đây, xóa sạch hết! Tôi làm việc vất vả như vậy mà người ta nói "Làm vã mồ hôi, bị chê đến chảy nước miếng!" Chỉ toàn bị người ta mắng, mắng rất nặng lời. Chuyện này rất bình thường thôi.
Tôi nghĩ về những chuyện này, tôi nghĩ: Ôi! Tất cả đều rất bình thường, chẳng có gì, đừng chấp chặt vào cái tôi! Đó là công lao của người khác mà! Dù là tôi làm, công lao thuộc về người khác cũng tốt thôi! Phải không? Rất tốt! Tuy là tôi làm, công lao bị người khác giành mất, tốt thôi! Cũng như nhau thôi! Bởi vì tôi tu vô ngã mà! Tôi không tranh danh phận của mình, chẳng có gì cả! Tất cả đều là của chung! Thành quả tốt đẹp mọi người cùng hưởng, công lao không cần thuộc về tôi, đó chính là vô ngã.
Học Phật chính là học điều này, nếu bạn nói tôi làm được việc và công lao là của tôi, đó là hữu ngã, đó không phải là học Phật, đó là học cách xử thế, học danh tiếng, học những điều thế tục thông thường, không phải học Phật, học Phật phải là vô ngã. Cho nên điều đầu tiên mà A La Hán chứng đắc chính là vô ngã, nếu muốn nhập thiền định, không có bí quyết gì cả, chỉ cần vô sự, vô tâm, vô ngã, bạn sẽ nhập thiền, không có những điều này thì không thể thiền được. Nếu bạn không có quyết tâm học vô ngã, thì không thể đạt đến tứ Thánh giới, tuyệt đối không thể đạt được.
Cho nên hôm nay tôi có thể nói một câu: "Tôi, Lư Thắng Ngạn, không bỏ một chúng sinh nào." Đó là tâm gì? Đó chính là tâm vô ngã! Chính là biến cái tiểu ngã này thành đại ngã, tất cả chúng sinh đều là "tôi"! Chúng sinh tốt thì tôi cũng tốt. Chúng sinh không tốt thì tôi có trách nhiệm. Mỗi một chúng sinh đều là tôi, những gì tôi làm, miễn là chúng sinh đạt được, thì cũng như tôi đạt được vậy, không có phân biệt. (Mọi người vỗ tay)
Đừng tranh đấu vì tiểu ngã, đừng tranh đấu vì cái ta nhỏ bé này, "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", tất cả rồi sẽ trở thành không. Đó chính là đạo lý về tính Không! Giáo lý tối thượng của Như Lai về Chính đẳng Chính giác, từ vô ngã, vô pháp, từ vô ngã bắt đầu tiến vào vô pháp, "vô nhân ngã, vô chúng sinh", "không bỏ một chúng sinh nào" chính là vì xem cái ta này là chúng sinh. Dù sao thì người khác có danh có vị cũng như ta có, bạn hoàn toàn hiến dâng cho người khác hưởng lạc, cũng như chúng ta cùng có, cái ngã này là đại ngã, tuyệt đối không phải là tiểu ngã của cá nhân, nghìn vạn người học Phật chính là để học điều này.
Tư tưởng Phật giáo của người phương Đông truyền bá rất rộng, khác với tư tưởng thần ngã của phương Tây, hoàn toàn không giống nhau. Cho nên tư tưởng của Đại Phạm Thiên và tư tưởng của Đức Phật là khác nhau. Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, và nhiều tôn giáo khác đều là tư tưởng thần ngã của Đại Phạm Thiên. Còn tư tưởng của Phật Đà hoàn toàn là tư tưởng siêu việt về "vô nhân, vô ngã, vô pháp". Cho nên Phật ghé vào tai ngài Xá Lợi Phất nói: "Chân lý mà ta đã ngộ được, chỉ từ ông bắt đầu, ông hiểu được chân lý của vũ trụ." Chính là câu nói này.
Thiền định phải từ một trở về không, trở về Không tính. Lúc mới bắt đầu tu định, từ thô, dần dần tu đến tế, đến cực tế, đến trụ nơi cực tế, đến hóa thành vô, đó là một cảnh giới.
Trí tuệ tối cao của A La Hán, Chính đẳng Chính giác của ngài có thể nói chính là vô ngã, cũng chính là tam pháp ấn của Như Lai, thứ nhất là "chư hành vô thường", thứ hai là "chư pháp vô ngã", thứ ba là "niết bàn tịch tĩnh", hợp lại thành nhất thực tướng ấn.
Trong Mật giáo chúng ta quán tưởng nguyệt luân, quán tưởng chủng tự, quán tưởng chữ này từ dưới biến mất đi, dần dần không còn, không còn đến đỉnh thì nhập vào Không tính. Những chữ Phạn và chữ Tạng này từ dưới bắt đầu biến mất không còn, cho đến khi biến mất hoàn toàn ở trên đỉnh, hóa thành Không tính. Đây là một loại quán tưởng, là quán tưởng chủng tự vi tế nhất, là quán tưởng vi tế nhất.
15. Pháp linh nhiệt và Bảo bình khí
Trong Mật giáo chúng ta còn có pháp linh nhiệt, chính là pháp nội hỏa, phương pháp nội hỏa, cũng gọi là hỏa quang tam muội. Hỏa quang tam muội, phương pháp nội hỏa, tôi sẽ giảng sau. Về phương pháp nội hỏa, trong đó có bí quyết về thân thể, bởi vì trung mạch là một đường như vậy nằm ở giữa thân thể, khi đến đỉnh đầu, ở giữa đó, cổ họng và Thiên tâm, ở đây có một thứ cần phải nối lại, đây là một bí quyết, không nói cho người chưa tu luyện biết; còn từ Tề luân đến Hải để luân, ở giữa này lại có một đoạn bị đứt, cần phải nối nó lại, cho nên trên cũng nối, dưới cũng nối, mới thành một đường trung mạch hoàn chỉnh, mới là một đường trung mạch trọn vẹn, điều này tôi sẽ dạy sau.
Chúng ta nhớ pháp linh nhiệt có khẩu quyết về trung mạch, minh điểm phải tập trung, tập trung tất cả tinh hoa của cơ thể bạn vào hai điểm, đó chính là minh điểm phải tập trung; quán tưởng phải rõ ràng, trong khi quán tưởng bạn phải hết sức rõ ràng, phải minh bạch.
Khí trong cơ thể bạn phải có lực, phải tu luyện để khí này trở thành khí trí tuệ. Thực ra khí này, tất cả chúng ta đều có khí. Đánh bạn một cái, bạn sẽ tức khí, đó chính là có khí; khi nhìn thấy cô gái mặt đỏ lên, đó chính là khí của bạn chạy lên mặt, đó chính là khí; khi tức khí thì máu dồn lên não, cái đó cũng là khí phải không? Chúng ta ai cũng có trong người. Nhưng khí này chỉ là khí thế tục, không phải khí trí tuệ; trong Mật giáo chúng ta nói về khí trí tuệ, vậy khí trí tuệ là gì? Khí đó phải có lực, cái gọi là trí tuệ là có thể điều khiển theo ý niệm của bạn, phải luyện ra được luồng khí này.
Hơi thở của bạn cũng có khí! Khi tôi hít vào, toàn thân tràn đầy khí, thở ra, gọi là xì hơi, xẹp hơi (cười). Thực ra khí bạn có thể hít vào thở ra, bạn có thể cảm nhận được khí trong cơ thể đang vận hành. Khi chưa có nội hỏa, khí này của bạn có thể được điều khiển theo ý niệm, muốn đi đến đâu thì đến đó, khí này gọi là khí trí tuệ, cho nên phải bồi dưỡng khí.
Vì vậy dạy mọi người luyện Bảo bình khí là như thế này, phải quán tưởng bản thân trở thành một bảo bình, sau đó hít khí vào, rồi hòa tan nó vào từng bộ phận trong cơ thể, trong tất cả các mao mạch, bao gồm tất cả các tế bào, bề mặt da đều tràn đầy khí, toàn thân đều tràn đầy, giống như một bảo bình vậy, bảo bình khí bao phủ nó lại, để nó hòa tan, làm cho nó tan chảy trở thành nhiệt, tràn đầy toàn thân, đây gọi là Bảo bình khí.
Minh điểm và ngũ luân
Khi bạn có khí, dẫn khí vào tay này thì có thể vận khí, dẫn khí vào tay kia thì có thể vận khí ra, dẫn khí vào cả hai tay thì có thể vận khí ra, bạn đưa luồng khí trong người lên đỉnh, ép xuống dưới, có thể đến ngón tay, ngón chân, bất kì chỗ nào bạn đều có thể đến được, đây gọi là luyện khí. (Sư Tôn thị phạm, mọi người vỗ tay) Khí có thể đến Hầu luân, đến Mi tâm, đến đỉnh đầu, đến bất kì chỗ nào đều có.
Khí là gì? Khí trí tuệ này chính là biến thành chiếc truck của bạn, truck chính là xe container phải không! Đúng không? Đúng rồi! Tôi thường bị trẻ con cười là tiếng Anh không giỏi, tôi cứ tưởng mình lại nói sai rồi. (cười) Chính là chiếc xe container trong cơ thể bạn, là chiếc xe container để vận chuyển minh điểm. Vậy đường giao thông là gì? Freeway là gì? Chính là trung mạch. Khí chính là truck, trung mạch chính là freeway, tinh hoa sự sống trong cơ thể bạn được đặt trong chiếc truck đó để vận chuyển.
Mạch trong cơ thể chúng ta không chỉ có một trung mạch, còn có rất nhiều mạch khác, có ngũ luân, có năm con đường giao thông chính; ngũ luân này chính là các trạm dừng chân trên freeway trong cơ thể bạn, là những thành phố rất lớn.
Trong phương pháp tu hành Mật giáo này, trước tiên bạn phải bồi dưỡng khí, khi đã có freeway, trung mạch đã thông, điều đó có nghĩa là freeway của bạn thông suốt không ngăn trở, nhưng nếu không có truck, không có khí thì bạn không thể vận chuyển được gì cả. Vì vậy nhất định phải có khí, cho nên trước tiên hãy tu luyện khí!
Tu luyện khí, bạn dùng nội hỏa để sấy minh điểm của mình, vậy nội hỏa làm sao để sinh ra, nội hỏa chính là do thiền định sinh ra, sau khi thiền định sinh ra nội hỏa, bạn dùng nội hỏa để đốt minh điểm, khi đó tinh hoa sinh mệnh trong cơ thể bạn sẽ xuất hiện, bạn đem tinh hoa sinh mệnh này nâng cao lên, chính là thành Phật. Minh điểm vật chất của phàm phu được nâng cao lên đến cuối cùng thì sẽ thực sự biến thành bảo tính của Như Lai, đây chính là phương pháp tu hành khí mạch minh điểm của Mật giáo.
Khí hành này phải tỏa ra khắp nơi, khí này của bạn phải vận hành khắp toàn thân, sẽ không bệnh tật, thân thể bạn mới cường tráng. Nếu bạn dùng nội hỏa và khí cùng vận hành khắp toàn thân, tất cả phiền não và chướng ngại của bạn đều được tiêu trừ hoàn toàn. Trung mạch này của bạn sẽ trở nên quang minh, thành đại đạo quang minh, sẽ sinh ra tịnh quang, bạn sẽ thấy được tịnh quang. Bạn dùng truck, đưa tinh hoa sinh mệnh từ trung mạch thông qua đến Phật tính, bạn tu hành đạt được vô lậu, minh điểm vô lậu.
Song thân và song vận
Tôi nói cho các bạn biết, có rất nhiều đệ tử Mật giáo tu tập song vận, song thân. Trong tông phái chúng ta có hay không, tôi không dám nói, họ bảo họ có thể tu song vận, tu đến cuối cùng, đương nhiên song vận đã tu rồi, con cái cũng sinh ra luôn. My God! Đây là kiểu song vận gì chứ! Đây là vợ chồng mà! Làm gì có cái gọi là song vận? Đúng không? Cái này tính là tu hành gì chứ? Đây không phải là kết hôn sao? Cái họ gọi là song vận chính là kết hôn, là vào động phòng mà! Bạn hiểu sai rồi! Làm sao song vận lại có con nhỏ được? Đúng không? Đây chính là minh điểm hữu lậu của họ, là phạm giới đấy, phải đọa vào địa ngục Kim Cang.
Trong Kim Cương thừa quả thật có đề cập đến tu song vận, trước đây Tạng mật có Vô thượng mật bộ, có pháp song vận, chúng ta không thể phủ nhận rằng không có điều này, là có thật; nhưng vì tất cả các Lama đều làm bừa, ai cũng thích song vận, tất cả đều tu song vận, chả trách mà Lama lại nhiều như vậy. Ở đây chúng ta, tại bang Washington, cũng có một vị đại Lama, ông ta tu song vận với một cô gái ngoại quốc, sinh ra một tiểu Lama! Bây giờ tiểu Lama đã đến Nepal làm tiểu Lama rồi! Quả thật có, có chuyện này thật, nhưng điều này là sai lầm. Đây là phạm giới Kim Cương thừa, là điều rất nghiêm trọng.
Nói kĩ về Không và Lạc
Tối thiểu, điều đầu tiên là bạn phải luyện ra khí của mình, nghĩa là có được chiếc truck; đem minh điểm của bạn nâng lên, đặt vào trong truck, tập trung vào Tâm luân, tập trung vào tất cả ngũ luân, đều tập trung ở đó. Khi Hải để luân thực sự của bạn, Mật luân thực sự của bạn không còn minh điểm nữa, bạn có thể tu song vận, đó chính là một loại định, gọi là Không-Lạc đại định.
Thế nào gọi là Không-Lạc đại định? Đây là một phương pháp tu hành. Bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có năm vị Phật Mẫu, Ngài dùng phương pháp Không-Lạc đại định để tu, cũng chính là song vận. Trong quá trình tu tập, Ngài hoàn toàn đặt mình vào trong hư không, trong toàn bộ hư không, biến thành một trạng thái không, ngay trong song vận đi vào Không định, điều này gọi là Lạc-Không đại định; Lạc cũng là Không, Không cũng là Lạc, loại định có thể chuyển Lạc thành Không này, gọi là Lạc-Không đại định. (Mọi người cười)
Điều này có lợi cho cả hai bên. Trong quá trình tu tập pháp này, hoàn toàn là khí đang vận chuyển, không có minh điểm, hoàn toàn là khí đang vận chuyển ở đó, dùng sự vận chuyển của khí để thăng hoa thành Không, biến Lạc thăng hoa thành Không; nhưng hoàn toàn Không cũng không được, dần dần hình thành một hiện tượng Lạc; khi Lạc đến cực điểm lại chuyển thành Không, rồi lại chuyển thành Lạc, chuyển thành Không, chuyển thành Lạc, cứ thế tuần hoàn; trong quá trình tuần hoàn Lạc-Không, đạt được một trạng thái định, gọi là Lạc-Không đại định, đó chính là song vận của Tạng mật. Người có thể hiểu được kỹ thuật trong đó, có thể nói là không có mấy ai, không có mấy ai có thể hiểu được kỹ thuật trong đó. Tất nhiên là có, nhưng rất rất ít, người đủ tư cách tu loại Lạc-Không đại định này của song vận cũng không có nhiều.
Vì vậy, những người mượn cớ tu song vận rồi sinh con, hãy nhớ, tuyệt đối không được tin. Hiện nay vẫn còn người mượn cớ nói là tu song vận kiểu này, những trường hợp giả mạo như vậy vẫn còn rất nhiều, nhưng tuyệt đối không được tin, bởi vì chẳng có mấy ai thực sự biết cách tu. Bản thân khí của họ! Chúng ta là người sáng mắt, chỉ nhìn một cái là biết ngay khí của họ đã không đủ rồi, họ còn chẳng biết vận khí! Trung mạch của họ cũng chưa thông, không có truck, minh điểm của họ đã rò rỉ hết, tu song vận gì nữa? Hoàn toàn không đủ tư cách.
Hôm nay tôi nói cho mọi người rất rõ ràng, trong Không-Lạc đại định, điều đầu tiên là khí của bạn phải đủ, bạn có thể vận khí, công phu khí của bạn tu luyện rất tốt, nói vận khí là có thể vận (thị phạm), có thể nâng lên, có thể hạ xuống, bạn đều hiểu rõ, bạn hiểu được những phương pháp này, trong người có truck rồi, bạn có thể nâng minh điểm lên.
Có rất nhiều kỹ thuật, phải xoay chuyển, thân thể phải xoay chuyển; đầu cũng phải xoay, chân cũng phải xoay, khi cần nâng thân thể lên thì phải như thế nào, tất cả đều có công pháp, do sư phụ đích thân chỉ dạy, sư phụ ở bên cạnh chỉ bảo. Không phải tự mình làm bừa đâu! Ồ! Tự mình làm bừa, chính là tự mình làm truck, làm truck không thành xe, thì lại tự mình làm con, sinh ra con luôn.
Cho nên Phật học và thế tục, chính là khác nhau ở chỗ này, bạn không hiểu được Không tính, không hiểu được vô ngã, làm sao bạn có thể chứng nhập Không tính? Bạn chỉ có Lạc thôi! Lấy đâu ra Không? Vấn đề là ở chỗ này. Cho nên người tu hành phải hiểu được Không, Không-Lạc phối hợp với nhau mới gọi là song vận, mới có thể đạt được định. Vì vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói pháp này là "lấy ngọc từ miệng rắn độc".
Hiện nay có rất nhiều người nói thông trung mạch: "Đến đây, tôi sẽ giúp bạn thông trung mạch, đưa cho tôi bao nhiêu tiền, trung mạch của bạn sẽ được thông, và freeway này sẽ có thể chạy xe". Khắp nơi đều thông trung mạch! Ngày xưa Phật Đà có nói như vậy không? Trung mạch có thể để người khác giúp bạn thông được sao? Phải tự mình thông chứ! Trung mạch ở trong thân thể của chính bạn, không phải ở trong thân thể người khác! Người khác dựa vào đâu mà giúp bạn thông trung mạch? Sao mà ngốc thế? Giúp bạn một chút khí thì được, khí thì tôi có thể gia trì cho bạn, giúp bạn, nhưng bạn vẫn phải tự mình vận chuyển luồng khí này để biến thành khí trí tuệ của mình, đây mới là trọng điểm, vẫn phải tự mình tu.
16. Trí huệ vô thượng
Khi tu tập đến cảnh giới "vô ngã", tâm sẽ trở nên rộng mở, rất bao la, rất nhẹ nhàng, an nhiên, không còn cảm thấy bất kì trọng lượng nào, ý niệm sẽ dừng lại, thân và tâm có thể trở nên rộng lớn vô cùng, cũng có thể trở nên nhỏ bé. Như tôi đã nói hôm trước, có thể bay theo bông tuyết, theo gió ẩn mình trong nhụy hoa, đều có thể làm được. Bạn có thể đến những nơi rất xa, trong chớp mắt đã vượt nghìn dặm vạn dặm, rất tự tại, hoàn toàn vô sự vô tâm, điều này rất quan trọng.
Khi tu tập đến mức nhập định, bạn sẽ thể nghiệm được những điều này, có thể biến lớn biến nhỏ, bạn sẽ cảm nhận được bản thân rất khinh an, đạt được pháp vị. Bạn có thể trong chớp mắt đi nghìn dặm vạn dặm - Thần túc thông; bạn sẽ biết được nhiều đời nhiều kiếp - Túc mệnh thông; bạn có thể nhìn thấy rất xa - Thiên nhãn thông; bạn có thể nghe được rất xa - Thiên nhĩ thông; bạn có thể biết được mọi sự vật trong vũ trụ - Tha tâm thông; khi tu hành thực sự đạt đến minh điểm vô lậu, phiền não vô lậu - Lậu tận thông. Đầy đủ lục thông, nếu không phải là Phật thì là gì?
Vì vậy bây giờ mọi người hãy nâng cao và tu tập tốt nguồn khí quý báu trong cơ thể mình, bởi vì sau này khi tôi thuyết pháp sẽ dạy Nội pháp, nếu trong người không có nguồn khí này thì không được. Trước tiên phải cho các bạn luyện khí, luyện khí cho tốt, sấy nội hỏa cho tốt, dùng nội hỏa để đốt minh điểm thành kết tinh. Dùng truck chạy trên freeway, đưa đến ngũ luân, khiến cho ngũ luân của bạn đều mở ra thành Ngũ Kim Cang, lúc này bạn sẽ bước vào Vô thượng mật, Đại viên mãn.
Chúng ta nói về trí huệ, thiền định này là dạy mọi người có thể dùng đếm hơi thở, chỉ-quán, dùng các pháp quán tưởng của Mật giáo chúng ta, từ thô làm đến vi tế, cho đến khi bước vào vô niệm; trong quá trình này vì tinh thần tập trung, bạn có thể dẫn nội hỏa, đạt được hỏa quang tam muội, thậm chí quán bạch cốt, quán bất tịnh, các loại quán tưởng, quán nhập ngã ngã nhập, quán Không, đều có thể từ đây bước vào cửa thiền định.
Trí huệ là từ định mà ra, từ giới có thể sinh định, từ định có thể sinh huệ. Thế nào là trí? Chiếu kiến chính là trí, khi ánh sáng của bạn chiếu rọi đó chính là một loại trí. Thế nào là huệ? Huệ chính là hiểu biết. Khi bạn đã có thể hiểu rồi, thì sẽ sinh ra một loại huệ.
Trí huệ là một thứ vô hình, một thứ bạn không thể nhìn thấy, nhưng bạn có thể cảm nhận được. Nó có pháp vị của thiền định, trong trí huệ có pháp vị của thiền định. Nó có thể biến thành kiếm, có thể dứt khoát quyết đoán, dứt khoát quyết đoán sẽ không bị vướng mắc. Mỗi việc bạn làm, hãy dùng trí huệ của bạn như một thanh bảo kiếm để dứt khoát quyết đoán, đó chính là trí huệ của bạn.
Vì vậy trong chỉ-quán này, phần chỉ chính là dùng bảo kiếm trí huệ để chặt đứt tất cả phiền não. Bạn sẽ đạt được một loại diệu quả viên mãn. Diệu quả viên mãn, cảm thấy điều này rất vi diệu, khi bạn có thể xử lý mọi việc một cách vừa khéo, đó chính là một loại diệu quả.
Trong đó, trí huệ được nói đến trong Phật học là trí huệ vô thượng, không phải trí huệ thế tục. Trí huệ thế tục là trí huệ mưu sinh, tức là các bạn đi làm ăn kinh doanh kiếm tiền! Các bạn dùng trí óc để phát triển phần mềm máy tính! Đó là trí huệ thế tục. Trí huệ vô thượng của Phật học là chính đẳng chính giác, chính là ý nghĩa chân thật của sinh mệnh, là trí huệ về chân lý vũ trụ - đó mới là trí huệ vô thượng.
Như Lai ngũ trí
Chúng ta biết năm trí huệ lớn của Như Lai, năm trí của Phật là: Thứ nhất là Pháp giới thể tính trí, chính là các thể tính của pháp giới, là cảnh giới của pháp vị, chúng ta gọi là Pháp giới thể tính trí.
Trí huệ thứ hai là Đại viên kính trí, biểu thị loại trí huệ này giống như một tấm gương tròn lớn, có thể quán chiếu, có thể viên mãn - đây là Đại viên kính trí, đây là trí huệ thứ hai của Như Lai.
Trí huệ thứ ba là Bình đẳng tính trí, như tôi đã nói, khi Đức Phật ngồi dưới cội bồ đề, câu đầu tiên Ngài nói khi giác ngộ chính là Bình đẳng tính trí, nghĩa là: "tất cả chúng sinh đều có Phật tính", tất cả đều có Phật tính, chỉ vì bị ô nhiễm, bị chướng ngại nên Phật tính mới không hiển lộ, thực ra tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đây chính là Bình đẳng tính trí.
Trí huệ thứ tư là Diệu quan sát trí, bạn có biết trí huệ từ đâu mà có không? Trí huệ chính là từ quan sát mà có, bạn đi quan sát thì sẽ có được, điều này rất vi diệu, trí huệ sinh ra từ quan sát gọi là Diệu quan sát trí.
Trí huệ thứ năm của Như Lai là Thành sở tác trí, Thành sở tác trí chính là tất cả các pháp Yết ma, bạn có thể thành tựu, giống như sự nghiệp độ chúng sinh bạn có thể thành tựu, bạn có thể diễn pháp, bạn có thể phát huy pháp lực của mình, tất cả sự nghiệp độ chúng sinh đều có thể viên mãn.
Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí, đây là năm trí huệ lớn của Như Lai.
Trí huệ này không phải là thứ chúng ta có thể diễn tả bằng ngôn ngữ, cũng không phải là thứ chúng ta có thể diễn tả bằng ngôn ngữ cơ thể, cũng không phải là thứ chúng ta có thể thể hiện hoàn toàn trong cách làm người xử thế; nhưng thực tế, nó đã hòa nhập vào thân tâm của tất cả hành giả chúng ta, trong mỗi cử chỉ hành động, mỗi lời nói việc làm đều có trí huệ ẩn chứa bên trong, nó là vô hình.
Học định phải có trí huệ để phân biệt, trong khi tu định phải có trí huệ, và khi học huệ cũng phải có định, cho nên định huệ là song tu, tức là vừa phải tu định vừa phải tu huệ, hai điều này đi đôi với nhau, không thể tách rời.
Người xưa đã nói, định giống như bóng đèn điện phát sáng, trí huệ giống như dòng điện, không có trí huệ thì không thể định được; muốn phát sáng thì phải có trí huệ, nhưng khi bạn định, tạo thành ánh sáng này, tạo thành định này, không có bóng đèn cũng không được, không có định cũng không thể phát sáng; cho nên định và huệ là hai hợp làm một.
Trong lục độ có thiền định và trí huệ, thiền định và trí huệ là hai điều Như Lai coi trọng nhất. Trong lục độ, bốn độ còn lại có thể nói là thuộc về tướng bên ngoài, còn hai độ này thuộc về tướng bên trong, là tu tập nội tâm, đây chính là Tam vô lậu học.
Về phương diện pháp linh nhiệt, khẩu quyết của nó tất nhiên cũng nằm ở định, tức là ở tinh thần thống nhất; còn về kỹ thuật, bao gồm kỹ thuật tâm linh, kỹ thuật quán tưởng, ngoài ra còn có kỹ thuật thể vị. Thể vị không phải là mùi của thân thể mà là vị trí của thân thể, thể vị của bạn phải như thế nào mới có thể đốt được minh điểm, mới có thể thực sự đốt được nội hỏa, mới có thể thực sự thiêu đốt minh điểm, đó chính là thể vị.
Về thể vị trước đây sư phụ có dạy, ngài quy định rằng, khi Liễu Minh Hòa Thượng dạy tôi, ngài nói "Khi con truyền Nội pháp thì mới truyền thể vị này, mới dạy thể vị. Còn những người chưa được dạy Nội pháp, con chỉ dạy tất cả nghi quỹ tu hành của Mật giáo."
Vì Nội pháp chưa được truyền, nên tôi nói rằng, những người sau này muốn học Nội pháp, trước tiên phải tu khí. Còn phải dạy họ tu khí, sau đó tu thắp nội hỏa, sau khi thắp được nội hỏa, phải khai mở trung mạch, sau khi khai mở trung mạch thì khai mở ngũ luân, sau khi khai mở ngũ luân sẽ đạt đến Vô thượng mật bộ, đến Đại viên mãn, là thành Phật. Ngũ luân chính là Ngũ Kim Cang, đây đều là những điều rất quan trọng.
Thiên nhãn chân thực
Hôm nay tôi giảng giải rõ ràng cho mọi người, giống như freeway, truck, city này! Ngũ luân này giống như những thành phố lớn vậy, nói như vậy thì các bạn có thể hiểu rất rõ ràng. Như hôm nay có thể giảng Mật pháp và Phật pháp rõ ràng như vậy cũng rất hiếm có.
Các bạn thấy đó, hiện nay có rất nhiều đại pháp sư, đại hòa thượng, thực ra tôi có thể quan sát được họ, tôi chỉ cần nhập định là biết được họ từ đâu đến. Tại sao họ có được năng lực lớn như vậy? Tôi vừa nhập định: "Ồ! Thì ra là có Đại Phạm Thiên ở phía sau ủng hộ." Tại sao người đó lại có năng lực lớn như vậy? "Ồ! Thì ra trước đây họ từng làm thiên thần, không lạ gì mà có năng lực lớn như vậy." Tôi đều có thể nhìn thấy được.
Giống như nhiều người hỏi tôi: "Tổ tiên của họ đã đi đâu rồi?" Tôi nhập định, tôi đi xuống địa ngục tìm kiếm: "Ồ! Thì ra tổ tiên của anh đã làm những việc này việc kia, hiện giờ đang ở trong địa ngục." Điều này là có thật đấy! Trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, Quang Mục nữ có hỏi một vị A La Hán, vị A La Hán nói với cô ấy rằng: "Mẹ cô đã làm những việc như thế, hiện giờ vẫn đang chịu khổ trong địa ngục." Quang Mục Nữ chính là tiền thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát, những điều này đều có thật, phải không?
Nhìn xem, có vị Phật Bồ Tát nào phía sau là giả không, mỗi một vị đều hiện diện! Khi bạn khai mở Phật tính, mỗi một vị đều là thật. Khi bạn chưa khai mở Phật tính, bạn nhìn Ngài, Ngài nhìn bạn! Thật đấy.
Một đêm nọ, một mình tôi đến đây, tôi đánh trống mõ, thỉnh tất cả chư vị. Bắt đầu tụng từ Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, cứ tụng mãi, tụng từ bên đó sang Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Già Lam Tôn Giả, Nam mô Dương Tiễn Tôn Giả, từ dưới cùng, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Tứ Thủ Quan Âm, Lục Độ Mẫu, Văn Thù Sư Lợi, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thỉnh tất cả mỗi một vị.
Tiếp xuống, ở giữa là Địa Tạng Vương Bồ Tát, từ bên Hoàng Tài Thần thỉnh qua, bên này Uế Tích Kim Cang, bên này Chuẩn Đề Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Bất Động Minh Vương, bên này Hồng Tài Thần, Tứ Thiên Vương, thỉnh tất cả, từ trên xuống dưới; ngoài ra còn có Đại Thế Chí Bồ Tát, còn có Địa Mẫu, còn có Cát Tường Thiên Nữ, thỉnh tất cả.
Sau khi thỉnh và tụng xong, tôi lên lầu đi ngủ. Ôi! Một vị Thổ Địa Công chạy đến. Ông ấy nói: "Ngài chưa niệm đến tôi." Ông ấy nói với tôi rằng tôi chưa niệm đến ông ấy! Được rồi, sáng hôm sau tôi thức dậy, đi xuống, tụng lại một lần nữa, thỉnh tất cả; tụng đến Thổ Địa Công, niệm đến ông ấy rồi, ông ấy cảm thấy rất vui vẻ trong lòng.
Không có vị nào là giả đâu! Mỗi một vị đều là sống động đấy! Tôi có thể thấy Phật không? Thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát không? Có thể thấy Thích Ca Mâu Ni Phật không? Người hiểu rõ Thích Ca Mâu Ni Phật nhất chính là tôi đây! Đúng không? Tôi có thể đi vào một cảnh giới, là có thể gặp được Ngài rồi, làm sao mà không thể gặp được Thích Ca Mâu Ni Phật chứ?
Tôi có thể gặp được rất nhiều vị Phật Bồ Tát, tôi chỉ cần thiền định, vô ngã, đi vào Không tính, ý niệm của tôi triệu thỉnh là có thể gặp được. Tương lai các bạn cũng có thể, các bạn chỉ cần vận dụng trí huệ của mình, đi vào thiền định chân chính, công phu thiền định sâu, các bạn cũng chính là Phật, tương lai mọi người đều là Phật!
17. Lục độ vạn hành
Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người!
Hôm nay là ngày thứ năm giảng dạy Phật Học Tổng Thuyết, hôm nay sẽ giảng về Lục độ vạn hành. Mấy ngày trước, chúng ta đã nói về Tứ diệu đế, thực ra Đức Phật giảng Tứ diệu đế rất là sâu sắc vi diệu. Từ lúc bắt đầu giảng là giảng Tứ diệu đế, cho đến cuối cùng cũng là Tứ diệu đế.
Tứ diệu đế này là gì? Chúng ta nói đó là khổ tập diệt đạo, thực ra là tập khổ đạo diệt. Tập là gì? Ý nghĩa chủ yếu là tích tập tất cả nghiệp chướng và vô minh từ nhiều đời, đó gọi là tập, đây là nhân. Còn quả là gì? Chính là tất cả khổ của chúng ta, sau khi thể hội được tập nhân và khổ quả, thì phải tu đạo. Tu đạo thành công rồi thì đạt đến Niết bàn, chính là diệt, cũng tức là cái gọi là diệt tận; tận có nghĩa là diệt sạch tất cả phiền não khổ đau. Diệt chính là ý nghĩa của tận, đạo chính là tu đạo.
Đạo lý khổ tập diệt đạo này thoạt nhìn rất đơn giản, nhưng thực ra ý nghĩa của nó vô cùng sâu rộng, tuy cũng có thể giải thích một cách đơn giản dễ hiểu; khi Phật thuyết pháp, yếu chỉ chính của Ngài nằm ở bốn chữ "tập khổ đạo diệt". Ban đầu khi dạy pháp, Ngài dạy mọi người ngồi thiền tĩnh tọa; phải quán vô thường, phải hiểu được sự xuất ly, tiến tới đạt đến cảnh giới vô ngã, từ đó thành A La Hán, đắc quả A La Hán.
Hôm nay chúng ta nói về Lục độ vạn hành, Lục độ vạn hành chính là hành hạnh Bồ Tát, không chỉ dừng lại ở quả vị A La Hán, mà còn tiến thêm một bước nữa là cứu độ chúng sinh. Thực ra "Phật Học Tổng Thuyết" này có thứ tự, nó có một thứ tự tồn tại, tức là có một trình tự. Trong cuộc đời này, tôi đã sắp xếp nó thành "tín, giải, hành, chứng", đây chính là thứ tự thực hành.
Ban đầu nhắc đến số hai, hai là gì? Hai là "nhị nhập", làm sao để nhập môn? Từ Lý nhập hay từ Sự nhập, sự - thực tu. Ba là gì? Chính là tam vô lậu học - giới, định, huệ. Bốn là gì? Chính là tứ thánh đế tập, khổ, đạo, diệt. Vậy nói đến năm là gì? Chính là ngũ căn, ngũ lực. Nói đến sáu là gì? Chính là sáu ba-la-mật, tức là lục độ! Nói đến bảy là gì? Chính là thất bồ đề phần. Nói đến tám là gì? Chính là bát chính đạo. Nói đến mười là gì? Chính là mười loại lực của Như Lai - thập lực sau khi Như Lai chứng đắc. Nói đến mười hai là gì? Chính là thập nhị nhân duyên.
Như vậy thì trí óc của các bạn sẽ dễ nhớ hơn một chút, từ một đến mười hai, ngoại trừ chín và mười một không có, các bạn đều có thể nhớ như vậy. Có thể nói, "Phật Học Tổng Thuyết" đều bao hàm trong đó. Hôm nay chúng ta nói về lục độ. Độ là độ hóa, cũng có thể nói là phà độ [thuyền chở], ba-la-mật nghĩa là đến bờ bên kia, lục ba-la-mật, sáu phương pháp có thể đến bờ bên kia.
Thực ra trong thất bồ đề phần, lục độ, bát chính đạo, một số điều đã được bàn đến rồi, như lục độ đã bao gồm giới định huệ, trong đó có ba độ chính là tam vô lậu học, trì giới, thiền định, bát nhã, bát nhã chính là trí huệ. Lục độ này chỉ còn lại ba độ, hôm nay giảng ba điều là đủ sáu độ rồi, bởi vì trì giới, thiền định, bát nhã đã giảng qua rồi.
Trong thất bồ đề phần cũng có nhiều "giác chi", một loại giác ngộ, trong đó cũng hơi tương tự với lục độ. Như Lai thuyết pháp, một đời giáo hóa, Ngài có thể giảng như vậy, thời gian thuyết pháp của Ngài rất dài, riêng bộ "Đại Bát Nhã Kinh" Ngài đã giảng rất lâu rồi. Giảng suốt hơn hai mươi năm, cho nên có một bài kệ viết như sau: "Hoa Nghiêm hai mươi mốt ngày đầu tiên, A Hàm mười hai Phương Đẳng tám, hai mươi hai năm nói Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn nói sau cùng."
Bài kệ này nói rằng, khi Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu thuyết pháp, Ngài giảng Kinh Hoa Nghiêm trước tiên, sau đó giảng Tiểu thừa - tức là Kinh A Hàm thuộc Phật giáo nguyên thủy, tiếp đến giảng Kinh Phương Đẳng, rồi đến Kinh Đại Bát Nhã, giảng trong hai mươi hai năm, trong đó có rất nhiều kinh điển; cuối cùng giảng Kinh Pháp Hoa và Kinh Niết Bàn. Đây là bài kệ tóm tắt cả cuộc đời thuyết pháp của Đức Phật.
Hôm nay chúng ta nói về lục độ vạn hành, ai cũng biết lục độ gồm có: thứ nhất là bố thí, thứ hai là trì giới, thứ ba là nhẫn nhục, thứ tư là tinh tấn, thứ năm là thiền định, thứ sáu là bát nhã.
Sáu độ này là để đối trị, hoàn toàn đối trị mỗi một người chúng ta. Thực ra kẻ thù lớn nhất trên thế gian này là ai, mọi người đều biết rồi! Không cần tôi phải nói. Thực ra kẻ thù lớn nhất trên thế gian này chính là bản thân mình, lục độ này hoàn toàn cũng là để độ chính mình, chúng ta học Phật đều là tự độ mà! Sau khi độ được mình rồi mới độ người khác. Đều là tự giác mà! Sau khi giác ngộ rồi mới giác tha.
Bố thí là để đối trị lòng tham của chính mình. Trì giới là để đối trị sự phá giới của chính mình. Nhẫn nhục là để đối trị sân hận, phẫn nộ của chính mình. Tinh tấn là để đối trị sự lười biếng, phóng túng của chính mình. Thiền định là để đối trị sự tán loạn của chính mình. Bát nhã là để đối trị sự ngu si của chính mình, đó chính là lục độ.
18. Bố thí
Trước tiên chúng ta hãy nói về bố thí. Bố thí ai cũng đều rõ, có tài thí, pháp thí, vô úy thí. Thực ra về bố thí, có một câu nói rất hay: "Cái gì là của bạn?" Nhiều thiền sư rất thích hỏi câu này: "Cái gì là của bạn?" Hả? Phải trả lời đi! "Cái gì là của bạn?" (đệ tử đáp: tất cả đều là của tôi) Tất cả đều là của bạn sao? Ồ! Câu trả lời rất chuẩn, bởi vì tất cả không phải của bạn, cũng chính là tất cả đều là của bạn. Đây là câu trả lời rất chuẩn, là đã có ngộ đạo rồi.
Bởi vì người thường, bạn biết người học Phật, khi được hỏi những điều này, bạn thử nghĩ xem: "Sư phụ thường dạy chúng ta, 'không có gì là của bạn cả', không có một thứ gì là của bạn." Nhưng ngược lại mà nói, mọi thứ đều là của tôi. Đây chính là ngộ đạo rồi, bởi vì bạn đắc đạo rồi mới cảm thấy vạn vật trong thiên hạ đều hoàn toàn giống như bạn. Đồ vật của người khác chính là đồ vật của bạn! Nhưng mà bạn không thể lấy đi được!
Đúng vậy, mọi thứ đều là của bạn, khi bạn ngộ đạo, sẽ có ý niệm này sinh ra, đây cũng được tính là chính niệm, người học Phật thông thường, sư phụ dạy các bạn: "Không có gì là của bạn cả, kể cả bản thân bạn." Trước đây tôi cũng chưa hiểu được đạo lý này.
Tôi có một người bạn bác sĩ tên là Châu Di Thọ, làm việc tại Bệnh viện Khánh Thọ ở Đài Trung. Ông ấy chính là vị bác sĩ đã chữa khỏi chứng viêm ruột cho Phật Kỳ. Mỗi lần gặp tôi, ông ấy đều nói cùng một câu, và cũng thích rủ tôi đi uống bia, rồi đến quán Sushi Bar Nhật Bản ở Đài Trung, ăn thật nhiều món và uống bia.
Mỗi lần như vậy! Vừa uống bia ông ấy vừa nói: "Những gì ăn được, dùng được, mới thực sự là của mình." Ông ấy luôn nói như thế, và bảo rằng: "Nếu bạn không ăn, món này tôi ăn thì là của tôi, bạn ăn thì là của bạn." Ừm! Ông ấy đang dạy chúng ta đấy. Tôi có một sự lĩnh hội, ông ấy nói rằng chỉ có những thứ bạn ăn vào mới là của bạn, những thứ bạn sử dụng mới là của bạn, còn lại những thứ khác đều không phải của bạn.
Tất nhiên quan niệm của ông ấy như vậy cũng đã rất tốt rồi, không giống như người học Phật chúng ta nói: "Không có gì là của bạn cả." Người học Phật chúng ta nói: "Không có gì là của bạn cả." Nhưng ông ấy lại nói: "Chỉ có những thứ ăn vào mới là của bạn, những thứ bạn sử dụng mới là của bạn." Lúc đầu tôi chưa hiểu được câu nói này của ông ấy, nhưng bây giờ nghĩ lại, đó là một câu nói rất chân thật, đối với người bình thường mà nói, như vậy đã là đủ rồi.
Có rất nhiều đại gia, rất nhiều người giàu có, họ tích lũy được rất nhiều của cải trong cuộc đời. Tôi đã gặp rất nhiều người giàu có. Sư Tôn xem phong thủy cho người ta, nên đã đến rất nhiều nơi, đến rất nhiều nhà giàu có, tôi đều đã từng đến. Nhưng mà sao? Họ chẳng dùng đến số tiền đó, cũng chẳng có những hưởng thụ gì đặc biệt, thậm chí có người còn sống mức sống thấp hơn chúng ta hiện nay, mức sống vật chất còn thấp hơn nữa.
Mặc dù họ rất giàu có, là người giàu, nhưng lại có "số ăn mày": "Đại gia giàu có nhưng lại có số ăn mày", có rất nhiều đại gia như vậy. Chúng ta biết rằng, tuy bề ngoài họ có tiền, nhưng thực chất họ là một kẻ ăn mày. Những đại gia như vậy rất nhiều, rất nhiều.
Tiền không dùng thì chỉ là tờ giấy. Đạo lý là như vậy đó. Tiền không dùng thì cũng chỉ như tờ giấy. Mỗi ngày bạn chỉ nhìn vào sổ tiết kiệm ngân hàng, nếu phía sau sổ tiết kiệm ngân hàng có thêm một số 0, tâm hồn họ sẽ phấn chấn lên một chút, bay bổng lên một chút, chỉ có vậy thôi. Thử nghĩ xem! Bạn không đi dùng tiền, mà là bị tiền lừa gạt.
Vì vậy lời nói của bác sĩ Châu Di Thọ rất có lý: "Những thứ ăn vào được, dùng được, mới thực sự là của bạn." Những thứ bạn không thể ăn được, không dùng được, đều không phải của bạn, dù bạn có nhiều tiền đến đâu cũng vô ích.
Người học Phật chúng ta ngày nay khác. Người học Phật chúng ta nói rằng: "Không có gì là của bạn cả." Từ đó mà sinh ra bố thí trong lục độ. Đã không có gì là của mình, sao không đem ra cho chúng sinh sử dụng. Đó chính là bố thí. Giống như các bạn bây giờ đem tất cả cho chúng sinh sử dụng, có một số người trong các bạn vẫn không nỡ.
Rất nhiều người không nỡ, cái gọi là bố thí chính là nói về xả bỏ, nói về hành thiện, nói về làm việc thiện. Nếu bạn có thể xả bỏ, cũng là bước vào vô ngã, đây là một biểu hiện của vô ngã.
Sự khai sáng từ việc ăn vụng cơm hộp
Tôi nhớ hồi nhỏ, tôi có một chuyện như thế này. Khi học tiểu học tôi chạy 100 mét, các bạn cũng đã từng chạy 100 mét. Các bạn chạy bao nhiêu giây? Tam Nguyên chạy bao nhiêu giây? Anh chạy hơn 12 giây à? Vậy bây giờ anh chạy trông chẳng khác nào quả bóng lăn sao? Cũng không tệ! Chạy hơn 12 giây. Ngày xưa tôi chạy 100 mét mất 12 giây, còn bây giờ chạy bao nhiêu giây thì tôi không biết nữa! Một ngày nào đó chúng ta cũng làm một cuộc chạy 100 mét, mọi người thi xem sao.
100 mét rất nhanh thôi! Ngày xưa tôi thật sự chạy 12 giây, lúc đó tôi là người nhỏ con nhất, thấp nhất trong lớp, tôi chạy đầu tiên, chạy xong là về lớp ngay. Lúc đó mọi người đều mang cơm hộp đi học, khi còn nhỏ, bụng rất dễ đói. Ngày xưa chúng tôi thích nhất là ăn vụng cơm hộp, thầy giáo đang giảng bài trên bảng, thầy vừa quay lưng đi, chúng tôi liền lấy cơm hộp ra bên dưới múc một miếng, bỏ một miếng vào miệng; thầy vừa quay lại, chúng tôi lập tức ngậm miệng nhai.
Ngay khi vừa về đến lớp, tôi đã muốn ăn vụng cơm. Các bạn biết đấy, tất cả chúng tôi đều thích như vậy, mới đến tiết học thứ hai mà đã ăn no rồi, thực ra phải đến tiết thứ tư mới được ra chơi, vậy mà đến tiết hai đã ăn gần hết cơm rồi. Sau khi chạy xong tôi về lớp đầu tiên, vừa về đến lớp đã muốn ăn cơm hộp của mình, nhưng lúc đó tôi nhìn thấy rất nhiều cơm hộp của bạn khác để trong ngăn bàn. Tôi có một bạn học, cậu ta rất cao, hay bắt nạt tôi, tên là Chu Quốc Cường. Tôi nhớ rõ tên cậu ta, đến bây giờ tôi vẫn nhớ rõ khuôn mặt cậu ta. Tôi nghĩ: "Ừm! Xem trong hộp cơm của cậu ta có gì?" rồi mở ra xem. "Ồ! Trong này có trứng kho!" - loại có nhiều cholesterol nhất đấy. Cậu ta có trứng kho.
Tôi tự nhủ thế này, cơm hộp của mình để đến 12 giờ, tức là sau tiết thứ tư mới ăn, bây giờ trong lớp không có ai, tôi tiếc không muốn ăn phần của mình, để dành ăn sau, ăn phần của cậu ta trước. Tôi liền bỏ một miếng trứng kho vào miệng, trong hộp cơm còn có rất nhiều món ăn khác, như dưa chua ngon lành gì đó, tôi ăn sạch tất cả, rồi và thêm vài đũa cơm nữa, sau đó đặt hộp cơm lại y nguyên chỗ cũ.
Đến khi mọi người đã quay về lớp học và ngồi yên vị, lúc đó tôi rất vui, tâm trạng rất phấn khởi, bởi vì cơm của mình có thể để dành đến tiết thứ tư mới ăn mà! Đúng không? Phần của cậu ta đã bị tôi ăn mất một nửa rồi! Đến tiết thứ ba, chỉ nghe thấy một tiếng kêu thất thanh, Chu Quốc Cường kêu lên một tiếng. Nói thật lòng, khi nghe thấy tiếng kêu đó, trong lòng tôi cảm thấy rất sướng, tiếng kêu thảm thiết của cậu ta, đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ.
Nói về chuyện này, thành thật mà nói, đây chính là tâm của người chưa tu tập, chưa có tu hành. Nói chung những người chưa tu hành, họ thường làm những việc như vậy đấy. Cái của mình thì tiếc không nỡ, còn cái của người khác thì chắc chắn là xả được! Đúng không? Ai cũng chỉ vì bản thân mình thôi! Trước tiên là nghĩ cho mình, sau đó mới nghĩ đến người khác, thậm chí có khi còn chẳng đếm xỉa gì đến người khác: xâm phạm đồ của người khác trước, còn đồ của mình thì giữ chặt, đây chính là không có tâm Bồ Tát! Bồ Tát thì khác, Bồ Tát biết cách bố thí như thế nào, chúng ta người thường đều là tư lợi, chỉ có Bồ Tát là chí công vô tư, hoàn toàn thực hành hạnh Bồ Tát.
Hạnh Bồ Tát không chỉ là đem cho người khác, Ngài có thể buông xả tất cả, đó chính là điểm khác biệt. Cho nên người học Phật chúng ta không thể có tư lợi, chữ "tư" này vô cùng quan trọng. Hôm nay sau khi học Phật rồi, khi nhìn chúng sinh sẽ khác hẳn! Bởi vì vừa nhìn là biết ngay, người nào là tư, người nào là công? Người nào vì bản thân? Họ có bao nhiêu phần vì công? Bao nhiêu phần vì bản thân? Bạn có thể rất nhanh chóng, bởi vì sau khi học về bố thí, lập tức nhận ra được; tất cả các tướng của chúng sinh, tất cả nghiệp của chúng sinh, bạn đều dễ dàng nhận ra, bạn sẽ không a dua theo.
Thông thường người chưa học Phật, tôi ăn cơm hộp của bạn, rất bình thường mà! Lại còn là một việc rất vui vẻ. Dĩ nhiên lúc đó tôi thật sự rất vui! Trước đây toàn thấy tôi kêu thảm thiết, đúng không? Bây giờ tôi nghe thấy tiếng kêu thảm thiết của cậu ta. Ôi! Tâm trạng đó khác hẳn.
Nhưng hôm nay khác rồi, hôm nay bạn đã học Phật, chỉ có thể có một tấm lòng vì chúng sinh, không thể có một chút xíu nào vì bản thân. Bạn có thể tự cân nhắc, chúng ta thường xuyên cân nhắc làm những việc này, cân nhắc bản thân giữ lại bao nhiêu, dành cho chúng sinh bao nhiêu, phải ngày ngày cân nhắc như vậy mới có thể sinh khởi tâm bố thí.
Hạnh Bồ Tát của Xá Lợi Phất
Mọi người biết rằng cách đây sáu mươi tiểu kiếp, Ngài Xá Lợi Phất vẫn chưa gặp Phật Thích Ca Mâu Ni; trong kiếp trước của Ngài, Ngài cũng đã tu tập hạnh Bồ Tát. Tuy đây chỉ là một câu chuyện truyền miệng, một câu chuyện về tiền kiếp của Ngài đã được hư cấu hóa, nhưng chúng ta vẫn có thể kể cho mọi người nghe để hiểu thêm, có lẽ mọi người cũng đã từng nghe qua câu chuyện này.
Ngài phát tâm làm một vị Bồ Tát, muốn độ chúng sinh, Ngài muốn xả bỏ tất cả, Ngài đã phát khởi tâm nguyện như vậy. Chư Thiên trên trời biết được tâm nguyện của Ngài, biết được rất nhanh, liền đến để thử thách Ngài, hóa thành một chàng trai trẻ, khóc lóc bên đường. Xá Lợi Phất đi ngang qua, vừa thấy anh ta đang khóc, liền hỏi: "Tại sao anh khóc vậy?" Anh ta đáp: "Mẹ tôi bệnh rất nặng!" "Bà bị bệnh gì vậy? Làm sao để chữa? Có cần tiền không?" Anh ta nói: "Không phải, nhất định phải có con mắt của một người tu hành, ăn vào mới khỏi được."
Ôi! Thử thách đến ngay lập tức; vừa mới phát tâm, thử thách đã đến ngay. Ngài vốn là một người tu hành, hơn nữa phải là người trẻ, chỉ có mắt của người tu hành trẻ tuổi ăn vào mới khỏi bệnh. Xá Lợi Phất lúc đó đã phát tâm như vậy, "Được! Ta cho ngươi một con mắt, ta còn giữ lại một con." Rất nhanh chóng, động tác rất nhanh, lập tức móc một con mắt ra, đưa cho chàng trai trẻ. Chàng trai trẻ vừa nhận được con mắt, liền dậm chân tại chỗ, anh ta nói: "Ngài móc nhầm rồi, tôi cần mắt phải, ngài móc mắt trái."
Ôi! Thử thách thứ hai, cho cả hai mắt thì chẳng phải sẽ bị mù sao? Nhưng Xá Lợi Phất nghĩ rằng, đã phát tâm Bồ Tát thì phải xả bỏ hoàn toàn. Được rồi! Cho nốt, lại móc con mắt phải ra, thế là bị mù. Nhưng chàng trai trẻ nhận được con mắt, còn đưa lên mũi ngửi ngửi, anh ta nói: "Con mắt của người tu hành, sao lại thế này? Mùi khó chịu quá, tôi nghĩ ngài không phải là một hành giả chân chính, không phải là một người tu hành chân chính." Rồi ném con mắt xuống đất, lấy chân giẫm lên. Xá Lợi Phất tuy hai mắt không thể nhìn thấy, nhưng Ngài vẫn nghe thấy tiếng chàng trai trẻ giẫm đạp lên mắt của mình, tiếng lép bép như vậy.
Lúc đó Xá Lợi Phất thở dài, Ngài nói: "Hạnh Bồ Tát thật khó thực hành, quá khó! Ta nghĩ thà làm một vị A La Hán chỉ lo tu thân mình còn hơn, không làm Bồ Tát nữa." Khi tâm niệm này vừa khởi lên, chư Thiên trên trời liền cất tiếng nói với Ngài: "Xá Lợi Phất, ông cứ tiếp tục hạnh Bồ Tát của mình đi! Đây chỉ là chư Thiên đang thử thách ông, thử thách đạo tâm của ông thôi."
Tuy đây chỉ là một câu chuyện đơn giản, nhưng đã nói lên rất rõ ràng rồi. Để trở thành một vị Bồ Tát, thật quá khó! Ngay từ việc bố thí đầu tiên đã rất khó rồi. Bạn có thể xả được không? Việc xả bỏ vừa rồi, bạn có làm được không? Cho nên đây chính là một bài thử thách dành cho chúng ta.
Bố thí không phải là chuyện dễ dàng đâu, điều này đã được thể hiện rõ qua câu chuyện nhỏ này rồi. Trong thế giới này, có rất nhiều chuyện như vậy. Nếu bạn muốn làm một vị Bồ Tát, những thử thách dành cho bạn còn cao hơn núi, sâu hơn biển, cho nên điều đầu tiên, chúng ta phải hiểu được cách xả bỏ.
Ở đây có một bức thangka của Mã Cát Lạp Tôn, Ngài là vị Tổ sư nữ của phái Giác Vũ Tây Tạng, pháp xả thân chính là pháp môn chủ yếu của Ngài. Mật tông Tây Tạng có cái gọi là pháp xả thân, pháp xả thân chính là để dạy mọi người bố thí.
Bàn về từ thiện
Hiện nay trong số đệ tử của chúng ta, cũng đều hy vọng Sư Tôn có thể thành lập một tổ chức từ thiện, tổ chức từ thiện là để làm việc bố thí. Thực ra hiện nay rất nhiều tổ chức từ thiện đều có vấn đề, người sáng suốt như chúng ta có thể nhìn ra được. Có người xin phép Sư Tôn để thành lập một tổ chức từ thiện, tôi nói: "Anh muốn làm từ thiện gì? Anh nói cho tôi nghe quy trình của anh xem." Việc đầu tiên của anh ta, bởi vì hiện giờ anh ta thất nghiệp, cho nên đối tượng từ thiện đầu tiên của anh ta chính là bản thân; bởi vì anh ta thất nghiệp mà! Không có việc làm, không có thu nhập, cho nên anh ta lập một cơ quan từ thiện, để từ thiện cho chính mình trước. Thế thì tôi cũng làm được! Quan niệm này đều là không đúng.
Có người nói với Sư Tôn: "Sư Tôn có thể lập một tổ chức từ thiện, rất lớn, không cần phải tốn một đồng nào cả, chỉ cần đệ tử phát tâm, chúng sinh phát tâm là được rồi." Điều này cũng không đúng! Tại sao bản thân không bỏ ra một đồng nào? Danh xưng này phải gọi là: "Công ty môi giới từ thiện." Mọi người nghĩ xem, có đúng không? Anh chỉ là môi giới thôi! Anh làm từ thiện ở chỗ nào? Anh bố thí ở đâu? Anh chẳng qua chỉ là làm mai mối thôi! Ai muốn làm việc thiện, được, anh đến đây, tôi giúp anh làm, công đức này là của ai? Công đức này là của người bỏ tiền. Còn anh, anh có công đức gì?
Anh là người mở công ty môi giới, công ty làm trung gian giới thiệu này, anh không cần bỏ ra gì cả, điều này không được, cái này không thể gọi là từ thiện; từ thiện thực sự là phải bỏ công sức, còn phải đem tất cả những gì mình có ra, đó mới gọi là từ thiện.
Hiện nay nhờ có Hội Từ Thiện Từ Tế, họ làm rất tốt, làm rất xuất sắc, làm rất hiệu quả. Thế nên trong xã hội có nhiều người học theo tấm gương của họ, mọi người đều muốn mở ra. Cái này cũng là từ thiện, cái kia cũng là từ thiện, ai cũng chỉ đợi người khác đến làm từ thiện, còn bản thân thì không chịu làm.
Từ thiện là lấy của công trả về cho công, làm trung gian như vậy thì còn được. Lấy của công mà đem về tư thì thật là thảm! Đó chính là tham lam, sẽ bị đọa địa ngục. Nhiều tổ chức từ thiện đã trở thành: "Được rồi! Tôi đứng ra kêu gọi, mọi người chuyển tiền đến đây, chuyển mười đồng, tôi giữ lại bảy đồng, ba đồng làm từ thiện." Vấn đề là ở chỗ đó. "Bạn đem mười đồng đến đây, tôi bù thêm hai đồng thành mười hai đồng, rồi đem đi làm công ích." Đây mới gọi là công ích, đây mới là bố thí; người ta đưa cho bạn mười đồng, bạn thêm hai đồng thành mười hai đồng, đem đi làm công ích, đây mới gọi là từ thiện, mới gọi là bố thí.
Hiện nay trong xã hội có rất nhiều tổ chức như vậy, người ta đem mười đồng đến, tôi giữ lại bảy đồng; đó là tâm khá xấu, giữ lại ba đồng thì tâm đã tốt hơn rồi. Vì vậy có rất nhiều việc từ thiện mang danh từ thiện nhưng thực chất là tham lam. Đây không phải là bố thí! Cho nên muốn thực sự bố thí, là khi có mười đồng vào thì bỏ thêm hai đồng, đem đi làm công ích.
Trong tông phái chúng ta cũng có thể làm như vậy, cũng có thể làm từ thiện, nhưng tôi hy vọng mọi người làm với tâm như thế này, đó là tâm hoàn toàn xả bỏ, đây mới là bố thí thực sự. Không phải nói tôi không cần bỏ ra một xu nào, dù sao cũng là tiền người khác đưa đến, tôi đem xây chùa cho riêng mình, như vậy là không đúng rồi! Đây không phải là sự nghiệp công ích. Có rất nhiều việc là sự nghiệp tư ích, không phải sự nghiệp công ích, điều này đã bị hiểu sai rồi. Nhiều người nói: "Anh đưa tiền đến đây, tôi xây chùa của riêng tôi." Sai rồi! Tình huống này có vấn đề rồi. Cho nên sự nghiệp công ích mới là từ thiện thực sự, sự nghiệp tư ích thì biến thành tham lam, chỉ cách nhau một đường mỏng manh.
Bố thí rất quan trọng, "Cái gì là của bạn?" Bí quyết của bố thí nằm ở chỗ này. Chúng ta hãy suy nghĩ xem, người học Phật đều biết, không có gì là của mình cả, vậy thì mọi thứ đều là của mình; khi bạn đạt đến trạng thái hoàn toàn vô ngã, không có gì là của bạn, nhưng cũng có nghĩa là mọi thứ đều là của bạn; khi bạn thực sự có thể vô ngã, bạn đi bố thí, đi làm việc thiện, đó mới chính là từ thiện thực sự.
19. Trì giới và nhẫn nhục
Trì giới
Thứ hai trong lục độ là trì giới, chúng ta đã nói qua rồi. Trì giới chính là thực hành bồ đề, hướng về phía Phật; trì giới chính là đi theo Phật, học theo giáo pháp của Như Lai, giữ gìn giới luật của Ngài, là hướng về phía Phật, hòa trong cõi trần nhưng không quay lưng với giác ngộ.
Nhẫn nhục
Thứ ba, chúng ta bàn về nhẫn nhục. Về nhẫn nhục, tôi có một câu nói: "Ai đang phỉ báng bạn? Lại có ai phỉ báng bạn chứ?" Đây là cảnh giới cao nhất, bạn thường phải suy nghĩ như vậy. "Có ai đang phỉ báng tôi chứ?" Bạn sẽ nói: "Hàng xóm mắng tôi, Sư Tôn mắng tôi, vợ mắng tôi, con cái mắng tôi." Trẻ con cũng phản kháng, chúng cũng biết mắng đấy; không chỉ người trên mắng bạn, người dưới cũng mắng bạn, trên đe dưới búa, bạn trở thành "bánh mì kẹp", tiếng Nhật gọi là "san-đô-it-chi", tiếng Anh gọi là "sandwich".
Trước đây tôi học tiếng Nhật khá lâu, có một lần tôi đến Pizza Hut, tôi nói: "Give me サンドイッチ (san-đô-it-chi)." "Give me サンドイッチ" anh ta không hiểu. Tiếng Anh của người Nhật rất cứng nhắc, "san-đô-it-chi" là bánh mì kẹp.
Nếu mỗi chúng ta không biết nhẫn nhục, thì hằng ngày bạn sẽ là bánh mì kẹp, bởi vì trên thế giới này, người nói lời hay rất ít. Hãy chú ý nghe này! Người nói lời hay rất ít, người nói lời xấu thì nhiều. "Chuyện phiếm đừng bàn lỗi người", thực ra là "chuyện phiếm thích bàn lỗi người". Không ai nói mình không tốt, chỉ toàn nói người khác không tốt.
Như người ta thường nói trong tiếng Đài Loan - "Mười miệng thì chín mông", "Mười cái miệng thì chín cái mông" nghĩa là sao? Bởi vì cái mông thối, chín trong mười cái miệng là miệng thối, không phải là hôi miệng đâu, không phải bệnh nướu răng đâu, mà là nói toàn những lời khó nghe, lời khen thì ít mà lời chê thì nhiều, toàn nói chuyện thị phi của người khác; nghĩa là cứ mười người thì có đến chín người chuyên đi nói xấu người khác. Khi có nhiều chuyện thị phi phỉ báng như vậy xuất hiện cùng lúc, bạn không phải là bánh mì kẹp thì là gì?
Vì vậy người học Phật phải biết nhẫn nhục, phải biết nhẫn nại! Phải biết chịu đựng những lời sỉ nhục, tất cả đều phải nhẫn. Học điều này rất khó, như Sư Tôn đã từng dạy, phải tự hỏi: "Có ai đang phỉ báng ta chăng? Có ai đang mắng ta chăng?" Đây chính là để học được hai chữ "vô ngã".
Tôi của quá khứ ở đâu? Không còn nữa, đã qua rồi. Tôi của hiện tại ở đâu? Đang thuyết pháp tại Cầu Vồng Sơn Trang. Tôi của hiện tại này, chẳng phải sẽ trở thành quá khứ sao? Câu trả lời chắc chắn là có! Vậy thì tôi của quá khứ đã không còn, tôi của hiện tại rồi cũng sẽ trở thành quá khứ và cũng sẽ không còn nữa. Còn tôi của tương lai thì sao? Vẫn chưa đến. Vậy thì ai đang phỉ báng bạn chứ? Phải thường xuyên suy nghĩ như vậy, những lời phỉ báng đó rồi sẽ qua đi.
Bạn có biết không? Những lời phỉ báng rồi sẽ không còn, rồi sẽ biến mất, bởi vì chính bạn cũng sẽ không còn mà! Lời phỉ báng làm sao tồn tại được? Người phỉ báng bạn cũng sẽ biến mất; qua năm mươi năm, một trăm năm sau đều không còn nữa, vậy thì ai phỉ báng bạn? Phải thường xuyên suy nghĩ như vậy, nghĩ như vậy thì sẽ không tự tử. Tôi thường xuyên suy nghĩ như vậy, nếu không thì tôi đã tự tử từ lâu rồi. Phải suy nghĩ như vậy đấy!
Tôi nghĩ rằng, trước khi Lư Thắng Ngạn chưa sinh ra, ông ấy ở đâu? Không tồn tại. Bây giờ Lư Thắng Ngạn đã được sinh ra, có người mắng Lư Thắng Ngạn, vậy liệu Lư Thắng Ngạn này có trở thành không còn nữa trong tương lai không? Có, bởi vì Tần Thủy Hoàng giờ cũng không còn nữa, Khổng Tử cũng không còn nữa, Trang Tử cũng không còn nữa, Lão Tử cũng không còn nữa, ngay cả Tôn Trung Sơn cũng không còn nữa, cả Tưởng Giới Thạch cũng không còn nữa, vậy thì Lư Thắng Ngạn sớm muộn gì cũng sẽ không còn nữa! Đúng không? Vậy những người mắng ông ấy có còn không? Cũng không còn nữa, tất cả đều cùng nhau không còn nữa. Đã như vậy thì ai là người phỉ báng bạn?
Quá khứ không còn nữa, hiện tại rồi sẽ trở thành quá khứ, tương lai thì vẫn chưa đến! Tôi thường xuyên suy nghĩ như vậy, đây chính là nhẫn nhục, sẽ trở thành "nhẫn sự vô nhẫn", không cần phải nhẫn, dù sao cũng đều như nhau. Đôi khi nghĩ lại, rất cảm ơn họ, rất cảm ơn đối phương, họ làm những việc này, tôi rất khâm phục tâm ý của họ, rất tôn trọng sự cần cù chịu khó của họ, rất khâm phục tinh thần cao cả của họ. Điều này ngược lại trở thành một sự biết ơn, một sự cảm tạ. Không cần phải nhẫn, cảnh giới cao nhất của nhẫn nhục là "không cần phải nhẫn, vốn dĩ không có gì cả".
Giống như người ta nói về những bức ảnh phóng quang, nhiều lần ảnh phóng quang của Sư Tôn được công bố, người ta nói là giả, vậy có cần phải đi tranh luận với họ làm gì? Thứ nhất là tôi không có máy ảnh, tôi chưa từng chụp ảnh, tôi có chụp ảnh nhưng là chụp cho người khác, tôi không có camera, tôi không có phòng tối, cũng không phải tôi rửa phim, tôi không tự rửa ảnh; tất cả đều là đệ tử, rất nhiều đệ tử gửi đến những bức ảnh phóng quang này. Rất nhiều người nói rằng, tất cả đệ tử của ông vì muốn làm ông vui lòng nên đã làm giả những hiện tượng phóng quang này, tôi nói muốn làm tôi vui lòng, không phải một hai người, mà là hàng nghìn người, hàng nghìn đệ tử đều gửi những bức ảnh phóng quang này, làm sao có thể là giả được?
Người khác muốn nói gì là việc của họ, chúng ta nghe những lời này cũng không cần phải tức giận, bởi vì thực tế không phải chúng ta cố tình làm giả; đặc biệt là với tôi, nếu bạn cố tình làm những thứ này cho tôi, tôi cảm thấy đó là điều rất đáng xấu hổ, bởi vì Chân Phật Tông nhấn mạnh chữ "Chân". Bạn làm giả, bản thân đó là một tâm lý lừa dối, đó là phạm giới; cho nên đừng làm giả, đưa những thứ giả cho Sư Tôn là một sự lừa dối, đó là phạm giới. Tôi cho rằng đó là điều đáng xấu hổ. Vì vậy hãy để nó tự nhiên, có phóng quang thì tốt. Không có cũng không sao. Nhưng khi chúng ta nghe những điều này cũng không cần tức giận, đó là nhẫn nhục.
Ví dụ về sự cứng đầu
Nói tiếp về Chân Phật Mật Pháp. Tôi nhớ trước đây có một đệ tử, trong khi chúng tôi đang tu tập Chân Phật Mật Pháp, anh ta đã nói một câu: "Trong mật đàn chỉ cần tùy tiện kết thủ ấn, niệm chú là có thể thành Phật sao?" Bạn nghĩ xem, đó là lời của chính đệ tử mình nói đấy! Anh ta nói: "Thầy chỉ cần ở đó tùy tiện kết thủ ấn một chút, niệm vài câu thần chú, như vậy là có thể thành Phật sao?" Nhưng đây là tâm huyết đấy! Đây là tâm huyết tu tập hơn 20 năm của tôi, vậy mà anh ta xem qua một chút rồi nói: "Hừ! Đơn giản thế này, tôi cũng biết làm!" Có những người đọc qua "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh", sau khi đọc một lượt liền nói: "Ồ! Tôi hiểu rồi." Tất nhiên là bạn hiểu rồi, bạn đọc qua thì bạn hiểu; nhưng khi chưa đọc bạn có hiểu không? Trong đó có rất nhiều tinh tế, nhiều điều huyền diệu, là những tâm đắc tôi đã tu tập hơn 20 năm mới có được. Vậy mà bạn đọc qua một lượt là bạn hiểu được, bạn biết tu rồi, đối với bạn thì rất đơn giản, nhưng nếu không chỉ dạy cho bạn như vậy, liệu bạn có hiểu không?
Vì vậy người giang hồ có một câu nói: "Một bí quyết giang hồ, nói ra chẳng đáng tiền, không nói ra thì phải nghĩ ba năm." Ảo thuật gia lấy một vật ra, anh ta nói bên này trống không, bạn thấy không có gì! Bên kia cũng không có gì! Đúng không? Bên này không có, bên kia cũng không có! Biến ra là có liền! Ảo thuật chỉ là một bí quyết thôi, một khẩu quyết.
Khi còn nhỏ, tôi bị ảo thuật gia lừa "ngờ nghệch cứ thế mà bị lừa", tôi chạy theo ảo thuật gia đó, "Làm ơn dạy cho em với!". Anh ta hỏi: "Em muốn học gì?" Tôi nói: "Anh chỉ cần dạy cho em một thứ thôi là em mãn nguyện rồi." Tôi van nài anh ấy! Anh ta hỏi: "Em rốt cuộc muốn học gì?" Tôi nói với anh ta: "Em chỉ cần học được cách biến ra tiền là được rồi." Nếu anh ta có thể biến ra tiền thì đã không phải đi lang thang giang hồ rồi, đó chỉ là một mẹo thôi.
Những điều tôi giảng trong "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Mật giáo hoàn chỉnh" chính là những khẩu quyết về quán tưởng, thủ ấn, trì chú, toàn bộ giảng thuyết tỉ mỉ đều nói về các khẩu quyết. Người mới tiếp xúc thì nghĩ chẳng có gì, nhưng đệ tử tu học nhiều năm vừa nhìn đã biết trong đó có nhiều điều tinh diệu. 20 năm tâm huyết, vậy mà bạn chỉ nói một câu: "Tùy tiện kết thủ ấn một chút, niệm vài câu chú là có thể thành Phật sao?" Đây là lời rất tổn thương lòng người, nghe được những lời này phải nhẫn nhục, chúng ta nghe xong chỉ có thể nhẫn.
Tôi vẫn phải giải thích cho anh ta, giải thích rất lâu, rất lâu. Anh ta nói với tôi một câu: "Thành Phật để làm gì?" Cuối cùng anh ta nói với tôi: "Thành Phật để làm gì?" Tôi nói: "Vậy anh quy y để làm gì?" Anh ta nói: "Tôi thấy người ta quy y nên tôi cũng quy y thôi!" "Ồ! Thì ra anh chỉ là tùy thuận tùy hỷ!" Tôi nói: "Quả vị Phật rất tốt đấy, đó là một trạng thái rất an tường, an nhiên, là một thế giới Cực Lạc rất tốt đẹp; tâm hồn rất bình an, mọi thứ đều vô cùng viên mãn." Anh ta nói: "Tôi không đi." Hả? Anh ta không đi. "Vậy anh muốn làm gì?" "Tôi muốn làm chó." Anh ta muốn làm chó. Ôi trời ơi! Tôi gặp phải đệ tử kiểu này, tôi thật là khổ quá.
Anh ta nói muốn làm chó, bảo rằng làm chó rất tốt. Bạn thấy đấy, ở Mỹ, các siêu thị như Safeway, QFC, Uwajimaya, Larry's Market đều có bán Dog Food, thức ăn cho chó; thức ăn cho chó bày bán rất nhiều. Khi du học sinh đến, những du học sinh nghèo đến, họ nói: "Ồ! Cái này rẻ quá." Lúc đó tiếng Anh của anh ta còn chưa giỏi lắm, anh ta vừa mới đến, bạn biết không? Ôm một đống đồ hộp thức ăn chó về nhà ăn.
Ở Mỹ, chó sống rất sung sướng, được lên giường ngủ cạnh chủ! Ngủ ngon lành, mỗi ngày được chủ bảo vệ, tắm rửa, sấy lông; trời đông lạnh còn may quần áo cho mặc, được bế đi dạo khắp nơi, đi công viên tản bộ. Con người còn không được sướng như vậy. Làm chó không phải đi làm, lại có cái ăn. Anh ta nói: "Thế này tốt quá." Tôi nói: "Anh chưa gặp người Quảng Đông đấy." Đây là sự thật đấy! Thực ra cái gì cũng có mặt tốt mặt xấu của nó.
Giữ gìn giới samaya
Cả cuộc đời tôi đều nghiên cứu Mật pháp. Trong đời này, tôi đã hoàn toàn dấn thân, hoàn toàn hòa mình vào Mật pháp. Vì vậy khi bạn đem những điều mình có ra mà người ta vẫn chê trách, nhất định phải nhẫn nhục, phải nhẫn. Trong số đệ tử có những người như vậy, đó cũng là một cách tu nhẫn.
Ngoài ra, các bạn đừng nhìn vào địa vị tôn quý của Thượng sư mà tôi có hiện nay. À! Người sáng lập Chân Phật Tông. Ồ! Thật to lớn, một triệu rưỡi đệ tử, ai gặp cũng đảnh lễ. Tôi vẫn còn có sư phụ đấy! Có mấy vị sư phụ, họ đều đã ra đi rồi. Có nhiều sư phụ đều đã say goodbye, đã đi rồi. Các bạn không biết đâu, ngày xưa tôi từng bị sư phụ mắng rất thậm tệ. Làm gì cũng sai.
Không nói về những vị sư phụ trước đây, vị sư phụ gần đây nhất, ở Hồng Kông, là Thượng sư Thubten Dhargye. Lần này tôi đến gặp ngài, trước mặt tất cả các vị Thượng sư, tôi cũng ngồi ở đó. Sư phụ ngồi phía trên, ngài ngồi ngang hàng với tôi, nhưng ngài lót hai cái đệm, còn tôi lót một cái đệm. Ngài là sư phụ mà! Dưới mông ngài phải lót hai lớp, làm đệ tử chỉ được lót một lớp, còn các vị Thượng sư khác thì xếp hàng phía dưới tôi, mọi người đều ngồi ngay ngắn. Ngài hỏi tôi một câu, ngài nói: "Ta sẽ mắng con đấy!" Ngài nói ngài sẽ mắng tôi. Cũng phải giữ chút thể diện cho tôi chứ, đúng không? Có nhiều đệ tử ở đó như vậy, tôi là người sáng lập Chân Phật Tông mà! Là Thượng sư tôn quý, là Liên Sinh Hoạt Phật, còn là Hoa Quang Tự Tại Phật. Ngài muốn mắng tôi.
Ngài hỏi tôi: "Chúng ta là quan hệ thầy trò hay là quan hệ bạn bè?" Tôi nói: "Là quan hệ thầy trò." Trời ơi! "Quan hệ thầy trò. Rất tốt! Lần trước ta dặn con làm việc, sao lại làm thành ra thế này?" Nói ra rồi! Tôi thực sự không biết chuyện gì, thầy dặn dò tôi, tôi lại dặn dò xuống dưới, tôi có dặn lại các Thượng sư, đường chủ bên dưới. Vì thầy gọi điện đến, tôi nhận được liền, lập tức dặn xuống dưới, việc này phải xử lý ngay.
Chuyện này là sau khi làm xong, các Thượng sư và đệ tử của chúng tôi không xử lý nhanh, còn ngài thì tính rất nóng vội, không nhanh chóng hoàn thành được, chậm mất hai tháng. Trong khi đó, người khác đã hoàn thành sớm hơn khoảng một tháng, ngài đã giao cho họ làm, họ đã hoàn thành và báo cáo lại cho ngài trong vòng một tháng, còn chúng ta phải đến hai tháng sau mới báo cáo, tức là chúng ta làm chậm hơn, người ta làm nhanh hơn.
Ngài nói ngài đã không vui trong suốt mười ngày, mười ngày, ban đầu ngài định phế bỏ tôi. Phế bỏ, các bạn biết không? Như trong tiểu thuyết kiếm hiệp ấy: "Phế bỏ võ công!" Phế bỏ tôi, ngài đã cân nhắc có nên phế bỏ tôi hay không. May mắn thay, may mắn là ngài đã nằm mơ. Ngài không kể giấc mơ gì, không nói, chỉ nói là đã nằm mơ. Sau đó thì sao? Ngài nói: "Thôi được, vẫn công nhận con là đệ tử của ta." Vẫn công nhận tôi là đệ tử của ngài, nếu không thì tôi đã sớm bị ngài phế bỏ rồi, mất hết võ công rồi!
Trong vòng mười ngày, ngài đã có một giấc mơ, sư phụ đã nằm mơ. Giấc mơ này ngài không kể cho tôi! Nhưng giấc mơ này đã thay đổi ý định muốn phế bỏ tôi của ngài. Ý ngài là như thế này, có một vị Bồ Tát đến nói với ngài: "Ngài không thể phế bỏ Lư Thắng Ngạn đâu! Trong lòng cậu ấy vẫn rất tôn kính ngài đấy!" Có lẽ vị Bồ Tát đó đã "đặc biệt chỉ điểm" cho ngài! Bảo ngài đừng làm vậy, mười ngày sau ngài mới thay đổi. Nhưng ngài nghĩ, khi tôi đến gặp ngài, ngài sẽ phải dạy dỗ tôi một trận cho ra trò.
Ngài đưa một vật cho tôi, tôi dùng hai tay đón nhận, ngài hỏi tôi: "Chỉ thế thôi sao?" Không phải là mặt cười đâu! Không phải nói nhỏ nhẹ đâu, không phải đâu! "Chỉ thế thôi sao?" Phải làm gì đây? "Quỳ xuống!" Thế là ngoan ngoãn quỳ xuống. Các bạn biết không, Thượng sư tôn quý đấy! Là Liên Sinh Hoạt Phật đấy! Là người sáng lập Chân Phật Tông đấy! Là Hoa Quang Tự Tại Phật đấy! Bảo quỳ là quỳ, tôi cứ thế mà quỳ xuống. Tôi vừa quỳ xuống, may mắn thay, tôi thấy các vị Thượng sư, đệ tử, mọi người đều đứng dậy cùng quỳ xuống.
Phải hoàn toàn tâm phục khẩu phục với sư phụ của mình, không cần lý do gì cả. Bạn muốn nói lý do gì với thầy? Không có lý do nào cả, tôi chẳng có lý do gì để nói. Tôi không thể nói với thầy rằng: "Con đã giao việc xuống cho người khác rồi, con có làm gì sai đâu! Con đã giao việc cho mọi người làm rồi, đó là chuyện không thể tránh khỏi." Thực ra chẳng có lý do nào cả, không thể nói lý do, đừng nói bất kì lý do gì, tôi chẳng có lý do nào để nói cả.
Ngày xưa khi sư phụ mắng tôi, tôi chỉ có một cách, đó là quỳ xuống, sám hối, tôi chưa bao giờ nói lý do; bởi vì dù có nói lý do gì thì sư phụ cũng không nghe đâu, bất kì lý do gì sư phụ cũng không nghe đâu, sư phụ nghĩ thế nào thì là như thế.
Ngày xưa khi theo học pháp với sư phụ, thật là khổ sở, sư phụ đánh rất mạnh, một tay đánh qua đây, bạn né sang bên kia, ngài lại đưa tay kia đánh tới, đánh còn mạnh hơn. Bây giờ thì sư phụ thích mắng tôi, ngài cứ mắng tôi, ngài đã mắng tôi suốt mười năm rồi mà vẫn chưa chán, phải ngoan ngoãn chịu mắng thôi. Chỉ một câu: "Ngài là sư phụ."
Lúc đó! Nói thật, tôi có thể nói gì đây? Tôi không thể nói bất cứ điều gì, tôi không thể nói: "Này! Nếu thầy cứ mắng con như vậy, con sẽ bỏ đi đấy!" Tôi không thể nói vậy, Mật giáo là mối quan hệ một thầy một trò, Mật giáo là nói về giới samaya, là giới samaya. Giới samaya là gì? Khi quy y bạn đã phát nguyện rồi, một khi rời bỏ là đã phạm giới samaya. Bình thường thì được, nhưng Mật giáo thì không được! Giới samaya là giới luật nghiêm trọng nhất, là giới luật nghiêm trọng nhất trong Phật giáo, là một loại giới luật hoàn toàn thẳng tắp trong định giữa bản thân với chư Phật Bồ Tát và với sư phụ.
Khi ở bên sư phụ, ngài bảo quỳ là quỳ, ngài bảo mắng là mắng, ngài muốn thế nào thì phải thế ấy, tôi phải một lòng, không thể hai lòng, đối với sư phụ phải như vậy đấy. Trong lòng bạn chỉ cần nảy sinh một chút phản cảm, cảm thấy hơi không hợp với sư phụ này, thì làm sao còn là "một đối một" nữa? Cái "một" của bạn đã không còn rồi! Đã trở thành "một đối không" rồi! Bạn sẽ không nhận được lực gia trì truyền thừa nữa!
Được rồi, tôi lại lên lầu, lên tiếp, ngài viết cho tôi một chú tự bằng tiếng Tạng, ngài muốn tôi làm người truyền thừa của ngài. Đây là thử thách dành cho tôi đấy! Ngài đang thử thách tôi, trước tiên đá tôi ra, làm tổn thương tôi, xem tôi còn chịu đựng được không; trước tiên giết chết tôi, xem tôi có thể nhẫn nhịn không. Anh vẫn quay về, thế là tốt. "Ta truyền thừa cho con." Mấy vị sư phụ của tôi đều như vậy cả, học Mật giáo là thế! Phải nhẫn nhịn. Đối với sư phụ của mình phải biết nhẫn nhịn, không có lý do nào để nói cả, còn nghiêm khắc hơn cả giáo dục quân đội, đừng có nói lý do với ngài.
Câu chuyện của Milarepa
Ngày xưa, Đại sư Marpa đánh đá Milarepa túi bụi, bảo ngài xây nhà hình nhọn, nhà hình tam giác nhọn, rồi lại bảo xây nhà hình tròn, nhà hình vuông, sau đó lại xây một ngôi nhà kỳ dị lung tung, nhà hình bán nguyệt, xây xong lại phá. Phải nhẫn nhục biết bao! Da thịt đã trầy trụa, chân cẳng đã mỏi nhừ, nhà xây xong ngài lại bảo phá đi; đó chính là đang dạy ngài pháp môn "tức, tăng, hoài, tru".
Nhà hình nhọn chính là pháp tru [hàng phục, trừ chướng]; nhà hình vuông chính là pháp tăng ích; nhà hình tròn là pháp tiêu tai; nhà hình bán nguyệt là kính ái. Ngài đã dạy pháp cho Milarepa rồi đấy, bảo xây nhà rồi phá nhà chính là đang dạy pháp cho ngài. Làm đệ tử không biết được dụng tâm khổ cực của sư phụ nằm ở đâu, sao lại bảo con xây nhà rồi lại phá nhà? Thật vô lý! Thực ra là đang dạy pháp cho ngài, đang tiêu nghiệp cho ngài.
Kinh nghiệm cầu pháp của Liên Sinh Hoạt Phật
Tôi đã gặp một vị sư phụ còn nghiêm khắc hơn, vị sư phụ này mắng tôi, bắt tôi quỳ, bắt tôi bò, sau đó mới dẫn tôi đi, rồi truyền pháp cho tôi.
Mật pháp là học như thế đấy, bạn đã quy y với thầy rồi, trong Mật giáo không có chuyện rút lui, trong Hiển giáo bạn muốn đi thế nào, muốn rút lui thế nào cũng được, nhưng Mật giáo là giới samaya, rút lui là vào địa ngục Kim Cang! Không có lựa chọn thứ hai. Làm sao tôi dám rút lui? Với bao nhiêu sư phụ như vậy. Ngài Sakya Chứng Không Thượng sư này! Ngài dạy tôi cũng rất nghiêm khắc. Hòa Thượng Liễu Minh, tôi đã từng bị đánh; hiện giờ ở Hong Kong, Thượng sư Thubten Dhargye đã mắng tôi suốt mười năm. Chữ "rút lui", một nửa, một chút thôi tôi cũng không dám nói. Giới samaya đấy! Không phải nói đùa đâu.
Cho nên Mật giáo là như vậy đấy, là để dạy bạn nhẫn nhục, thầy trị bạn trước, xem bạn có tâm nhẫn nhục không, khi bạn thực sự có được, đạo tâm rất kiên cố, thầy mới truyền cho bạn chân pháp.
Khi ở bên sư phụ, ở chỗ Lama Sakya Chứng Không, tôi đã nhận được rất nhiều quán đảnh, ngài đã cho tôi rất nhiều thử thách. Ở chỗ Hòa Thượng Liễu Minh, tôi nhận rất nhiều sự sỉ nhục, không, không nên nói là sỉ nhục! Nhận rất nhiều sự quở trách, nhưng ngài đã nói một câu: "Con càng nhận nhiều quở trách, tai nạn càng nhiều, thành tựu càng lớn."
Tôi không thể giữ thể diện này, tôi bị mắng trước mặt tất cả đệ tử, tôi còn thể diện gì nữa? Tôi không quan tâm đến thể diện này, người học Phật còn thể diện gì? Ngày hôm đó trước mặt Thượng sư Thubten Dhargye, tất cả đệ tử, hơn mười vị Thượng sư và pháp sư đều có mặt, phải không? Người có mặt giơ tay. Các vị thấy đó, có nhiều người như vậy, còn những người hiện không có đây, phải không? Có mấy người không ở đây. Phía sau cũng có, có bao nhiêu Thượng sư và pháp sư có mặt. Vì cái thể diện này, khi ngài mắng tôi, khi ngài quở trách tôi, nếu tôi đứng dậy nói tôi không làm nữa, tôi bỏ đi, sẽ là phạm giới đấy! Phạm giới đấy! Bạn chưa học được nhẫn nhục, bạn còn phạm giới samaya nữa.
Khi đã quy y với thầy, bạn phải giữ chặt giới samaya của sự quy y này, dù có bị thầy đánh chết cũng là đáng đời. Hôm nay tôi giữ tâm như vậy đấy! Nếu tôi bị thầy đánh chết, tôi đáng đời thôi, bị đánh chết là thầy đang siêu độ tôi, tôi được vãng sinh, thầy đang thành tựu cho tôi, cho nên đánh chết tôi, tôi sống ở thế giới này có ích gì? Đời sau tôi sẽ trở lại, trở lại độ chúng sinh. Thầy giúp tôi giải thoát sớm, cho tôi vãng sinh về Tây phương Cực Lạc!
Ngày nay chúng ta học Phật là học ưu điểm của thầy; thầy có ưu điểm, chúng ta học ưu điểm của thầy. Sau này khi các bạn trở thành thầy của người khác, khi các bạn thu nhận đệ tử, khi các bạn làm thầy của người khác, các bạn không thể nói những cái khác không học được, chỉ học được mỗi cái cách của thầy tôi thôi, như vậy thì đệ tử dưới trướng sẽ khổ lắm.
Tuy nhiên, tôi có lòng tin vào sư phụ của mình, một khi tôi đã quy y với ngài, tôi xem ngài như Phật, ngài chính là Phật, ngài có thể sửa chữa tôi, có thể mắng tôi, có thể thành tựu cho tôi, thậm chí có thể đánh chết tôi, đó mới chính là đệ tử Mật giáo. Nếu không thì đừng quy y. Nói cho các bạn biết, nếu bạn muốn quy y Mật giáo, khi đã quy y với thầy, bạn phải hoàn toàn tin phục, tin phục một trăm phần trăm, không được có tâm ý khác, như vậy bạn mới không phạm giới samaya, không phá giới nhẫn nhục, bạn đã tu được rồi.
20. Tinh tấn
Chúng ta hãy nói về tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là "không tiến ắt lùi", nếu không tiến thì chắc chắn sẽ lùi; như thuyền ngược dòng, không tiến ắt lùi. Về tinh tấn, chúng ta cũng phải thường xuyên nghĩ đến câu hỏi "Có ai có thể giữ mãi được tâm ban đầu?" Có ai không? Vậy nên bạn phải nghĩ đến bản thân, tự mình phải giữ gìn tâm ban đầu của mình.
Khi đi đường, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi con đường này? Tại sao vậy?" Khi ở nhà, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đang ở căn nhà này? Mình ở đây vì điều gì?" Khi ngồi, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại ngồi ở đây?" Khi nằm, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại nằm ở đây?" Ý nghĩa của việc bảo bạn phải suy nghĩ là vậy đó, trong mọi việc, đều phải nghĩ đến tu hành.
Giống như tối nay bạn nói: "Được rồi! Hôm nay thư giãn đi! Ngày mai là thứ Bảy, ngày mai là thứ Bảy, ngày kia là Chủ nhật, cuối tuần đi chơi, nướng BBQ và đi bất cứ đâu, xem phim, muốn đi đâu cũng được." Bạn sẽ tự nghĩ. Nhưng khi bạn đến rạp chiếu phim, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi con đường này?" Khi đang nướng thịt, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi nướng thịt?" Khi leo núi dã ngoại bạn cũng phải suy nghĩ như vậy, đây là sự quán chiếu trong hành động.
Đôi khi bạn đi sai đường, ôi, tối thứ Sáu, vui quá, chúng ta có thể đi xem. Đi xem gì? Topless. Hả! Bạn đi xem múa thoát y, topless chính là múa thoát y, tiếng Nhật gọi là "トップレス (toppuresu)". Mẹ tôi gật đầu. Tôi thường thích đùa giỡn.
Ở đây chúng ta có hai vị Hoạt Phật, tên của họ rất gần nhau, một vị là Topless Rinpoche, một vị là Chocolate Rinpoche, tôi thích nói đùa như vậy.
Cho nên khi bạn thư giãn, khi bạn đi trên con đường đó, bạn phải nghĩ: "Hôm nay tại sao mình lại đi con đường này?" "Tại sao mình lại đi xem múa thoát y?" Đây chính là để bạn tinh tấn. Khi bạn chợt nhận ra: "Ôi! Con đường này không đúng!" "Con đường này đi ngược với đạo, không phải chính đạo, không được đi!" Thông thường, bạn đi xem một bộ phim để thư giãn thì được; nhưng đi xem múa thoát y, làm tăng thêm dục vọng, là đi ngược với đạo, không được! Đây chính là tinh tấn trong hành động.
Khi bạn nghĩ đến tinh tấn, bạn sẽ nói: "Ồ! Con đường này không thể đi được." Rồi khi bạn đi, bạn cũng phải vừa đi vừa niệm Phật. Khi dừng lại cũng vậy, quá nhàn rỗi, hoặc bất kể bạn ở đâu, bạn đều phải suy nghĩ.
Vì vậy khi đi, đứng, nằm, ngồi, bạn đều phải nghĩ đến tinh tấn, khi nằm bạn cũng có thể niệm Phật, có thể cầu xin Bổn tôn, Thượng sư gia trì, để bạn ngủ ngon, đạt được ánh sáng trong giấc ngủ, trong lúc ngủ có quang minh; trong khi nằm mơ, bạn sẽ không đi vào những giấc mơ không tốt. Cầu xin Thượng sư, Bổn tôn gia trì cho bạn. Cho nên làm bất cứ việc gì, bạn đều phải nghĩ đến tinh tấn, đây là một phương pháp tinh tấn.
Yếu lĩnh đọc kinh
Tinh tấn đôi khi thực sự có thể tạo ra những điều tốt đẹp, viên mãn, giống như Chân Phật Mật Pháp chính là tâm đắc mà Sư Tôn đã đạt được nhờ tinh tấn học Mật pháp.
Đôi khi khi tôi đọc kinh, đọc những kinh Phật này, tôi luôn cầm bút để ghi chú bên lề; nghĩa là, khi đọc đến chỗ vi diệu, tôi lập tức đánh dấu lại, viết ra tâm đắc của mình, rồi gạch chân những điểm quan trọng nhiều lần, đánh dấu lại. Sách nào tôi đọc qua cũng đều như vậy. Khi đọc sách của các bậc cổ đức, kinh sách của chư Bồ Tát, tôi đều đánh dấu như thế. Tôi gạch chân, viết vào đó, vừa viết vừa nghĩ: Những người viết sách này, những người viết kinh này, nếu biết trong tương lai, có một người tên Lư Thắng Ngạn đọc sách theo cách này, họ sẽ từ trong kinh bước ra và nói với tôi: "Anh đúng là tri kỷ của tôi."
Sư phụ của các bạn là như vậy đó, tôi đọc kinh rất tỉ mỉ từng quyển một, đọc từ đầu đến cuối toàn bộ như thế, còn ghi chú bên lề, không phải đọc qua rồi thôi, đều gạch lại, còn ghi tâm đắc nữa, đọc kinh phải như vậy đó. Tôi tin rằng những người viết kinh, thậm chí người tạo kinh, tất cả những người giảng kinh, những bậc cổ đức, những vị Bồ Tát, họ sẽ hiện thân trước mặt tôi, nói một câu như thế này: "Cuối cùng cũng có một người rất tỉ mỉ, đọc tác phẩm của ta rất kĩ lưỡng và còn ghi chú bên lề." Tôi tinh tấn là như vậy đó.
Vì vậy nhiều người, người bên ngoài không biết, thực ra tôi rất tinh tấn; trong tu hành, trong tu pháp, mọi người đều biết, tôi rất tinh tấn. Tôi viết sách rất tinh tấn, đã hoàn thành 105 quyển sách, bây giờ đang viết quyển 106. Mọi người chê trách Lư Thắng Ngạn, họ không biết tôi rất tinh tấn, tôi làm việc ở bàn mỗi ngày, không có ngày nào nghỉ cả. Dù những ngày này tôi thuyết pháp, sáng nào tôi cũng viết bài, chưa từng dừng lại, cho nên một người muốn có thành tựu, nhất định phải tinh tấn, phải hoàn toàn hòa nhập vào!
Các bạn nghĩ "Lư Thắng Ngạn, người ta đồn là thầy phù thủy, là kẻ lừa đảo", nhưng làm kẻ lừa đảo có dễ không? Kẻ lừa đảo thông thường lừa xong là ôm tiền chạy mất, hôm nay lừa bạn, ngày mai đã biến mất rồi. Tôi là kẻ lừa đảo mà viết được 106 quyển sách, mỗi sáng đều ngồi đó mài công viết! Trên đời này có kẻ lừa đảo nào như vậy không? Đây là dồn hết tinh thần, cả cuộc đời, có thể nói là tâm huyết và toàn bộ sinh mệnh của một đời người dành cho Phật học, cho Phật pháp, là sự dấn thân toàn tâm toàn ý, đây chính là tinh tấn, đây chính là lục độ.
Mọi người rất tinh tấn, nhiều đệ tử rất tinh tấn, tôi biết họ mỗi ngày trì chú, ôi! Trì, trì, trì, trì, trì, Thượng sư Cao giao công khóa cho họ; Thượng sư Liên Cảnh, Cao An Dân giao công khóa cho họ, "Bạn phải trì chú mấy vạn biến." "Bạn phải đại lễ bái bao nhiêu lần." Đây là công khóa mà Thượng sư Cao đã giao.
Ngoài ra, Thượng sư Liên Hoa Lệ Huệ ở Tử Liên Đường, cô ấy cũng thường xuyên giao công khóa cho tất cả đệ tử, "Bạn phải làm bao nhiêu." "Cái gì phải làm bao nhiêu, việc thiện phải làm bao nhiêu, in kinh sách bao nhiêu, làm cái gì bao nhiêu." Ôi! Đau đầu quá! Phải, mọi người đều đang tinh tấn.
Nhưng trong số đó có nhiều đệ tử không làm được như vậy, sau khi quy y xong, thỉnh thoảng đến đồng tu, tu pháp một chút rồi về nhà lại quên hết, đây gọi là lười nhác. Họ không tu pháp, xem việc tu pháp như một công việc, không xem như một niềm vui, mà xem như một công việc, xem như một gánh nặng.
"Ôi! Lúc đầu không quy y thì tốt rồi, một khi quy y rồi khổ quá! Mỗi ngày còn phải tìm thời gian, phải vào mật đàn, đến đó tu pháp một lần." "Làm sao mà được?" "Thôi! Chi bằng đi uống rượu còn hơn." Có phải không? Suy nghĩ kiểu này! Như vậy sẽ không có thành tựu đâu, tu hành như vậy sẽ không có thành tựu đâu.
Tinh tấn, chính là toàn tâm toàn ý dấn thân. Có nhiều người phát tâm rất tốt, vừa mới phát tâm ban đầu! Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến phát tâm ban đầu, "Chỉ cần giữ được tâm ban đầu, bạn sẽ thành Phật."
Có rất nhiều người khi mới bắt đầu bái Phật, nói rằng: "Con nhất định sẽ hộ trì Chân Phật Tông, phát nguyện với chư Phật Bồ Tát, con nhất định sẽ hộ trì Sư Tôn." "Con xin cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi." Phát tâm ban đầu rất tốt, "Con nhất định sẽ học Phật pháp thật tốt, cho đến hết đời này." "Con xin đời đời kiếp kiếp theo Sư Tôn." Ôi! Mới được vài năm đã bỏ đi rồi. Chưa được mấy năm đã thôi. Phát tâm ban đầu đều rất tốt, cho nên nói rằng, nếu giữ được tâm ban đầu, nhất định sẽ thành Phật. Bởi vì bạn tinh tấn mà!
Tuy nhiên, phát tâm ban đầu còn phải đi kèm với tâm dài lâu, thời gian này, tinh thần tinh tấn của phát tâm ban đầu phải kéo dài, phải xa thẳm, mới có thể thành tựu được. Cho nên phát tâm ban đầu rất dũng mãnh, nhưng đầu voi đuôi chuột. Không phải chỉ đệ tử mới như vậy, nhiều Thượng sư cũng vậy; mới đầu, ôi, tinh thần sẵn sàng vứt bỏ đầu óc, đổ máu nóng. "Sư Tôn, con hộ trì thầy, một đời một kiếp, mãi mãi đời đời kiếp kiếp theo thầy." "Con đảnh lễ thầy, con hộ trì Chân Phật Mật Pháp. Con sẽ làm thế này, làm thế kia." Nói, nói, nói. Tôi bảo: "Từ từ đã nào, để tôi quan sát thêm một thời gian! Để tôi xem thêm một thời gian nữa." Quả bóng này đã xì hơi rồi.
Phát tâm ban đầu thì không sai! Nhưng không có tâm dài lâu, đây là tật xấu của con người, là tật xấu của chúng sinh. Tôi hỏi anh ta: "Tại sao bây giờ lại thế này?" Anh ta nói: "Con đã bị bệnh rồi." Tôi hỏi: "Bệnh gì vậy?" Anh ta nói: "Bệnh nan y." Ôi! Anh ta đã mắc bệnh nan y rồi, tâm đã chết rồi, tâm ban đầu không còn nữa. Cái tâm đó! Chỉ mới phát khởi, vừa phát thì "vù", đã mất tiêu rồi. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói rất rõ ràng, giữ được tâm ban đầu, có tâm dài lâu, nhất định sẽ thành Phật. Đây chính là tinh tấn, tinh tấn này rất quan trọng, chúng ta hiểu rằng, mọi thành tựu đều phải dựa vào tinh tấn.
Vậy thứ năm là gì? Đó là thiền định, thiền định chúng ta đã nói qua hôm qua rồi. Thứ sáu là bát nhã, bát nhã chúng ta cũng đã nói qua hôm qua rồi.
Lục độ vạn hành, khi phát huy lục độ này ra, sẽ trở thành vạn hành.
Thứ nhất là bố thí, thứ hai là trì giới, thứ ba là nhẫn nhục, thứ tư là tinh tấn, thứ năm là thiền định, thứ sáu là bát nhã, đây chính là lục độ vạn hành.
Người học Phật chúng ta, khi đã hiểu được tứ diệu đế, đạt được quả vị A La Hán, rồi từ A La Hán chuyển thành Bồ Tát, đều phải dựa vào lục độ này; lục độ thuộc về việc làm của Bồ Tát Đại thừa, tư tưởng Đại thừa là điều mà chính Đức Phật đã giảng dạy trong giai đoạn giữa, nói về rất nhiều kinh điển Đại thừa. Lúc đầu và cuối cùng, đều giảng về tứ thánh đế, giai đoạn giữa Ngài có đề cập đến tư tưởng Bồ Tát Đại thừa này.
Theo sự chỉ dạy của Phật Đà mà chúng ta biết được, người học Phật, khi bạn học Phật, tuân thủ giới luật của Phật, dùng tâm Bồ Tát lục độ của Phật, hiểu được đạo lý vô thường, biết cách xuất ly, hoặc bạn làm một cư sĩ tại gia cũng có thể tu hành được.
Xuất gia và tại gia đều có diệu pháp tuyệt diệu của nó, đều có thể đạt được thành tựu như nhau. Sau khi học được lục độ, bạn sẽ trở thành Bồ Tát, từ quả vị A La Hán chuyển thành Bồ Tát, rồi tự giác giác tha, giác hành viên mãn, thành tựu Phật quả, đây là một trọng điểm của Phật pháp.
Tam vô lậu học, lục độ, hôm nay giảng đến đây.
Om mani padme hum.
21. Thất bồ đề phần
Hôm nay là ngày thứ sáu giảng dạy "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang.
Hôm nay chúng ta sẽ nói về thất bồ đề phần và bát chính đạo.
Thực ra, khi tôi giảng về bát chính đạo trong "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", lúc nói đến chữ "đạo" trong tập khổ đạo diệt, nếu các vị lắng nghe kĩ sẽ hiểu rằng chữ đạo đó chính là nói về bát chính đạo. "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" đã được giảng xong hoàn toàn cách đây hai tuần, thời gian giảng khoảng hơn một năm. Sau này khi các vị tìm hiểu kĩ về bát chính đạo, có thể xem bài giảng "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" của tôi, trong đó có giảng về bát chính đạo.
Hôm nay chúng ta sẽ nói về thất bồ đề phần. Thất bồ đề phần là gì? Đó chính là bảy loại giác, chúng ta gọi là giác chi, giống như một cột trụ vậy. Giác chính là một sự lĩnh hội, trụ cột hỗ trợ cho sự lĩnh hội, gọi là giác chi. Trong Phật pháp, thất giác chi, thất bồ đề phần nói về việc lĩnh hội bảy loại trí tuệ to lớn.
Thực ra thất bồ đề phần có ở đâu? Trong Kinh A Di Đà đã có đề cập, những người đến được Tây phương Cực Lạc vẫn đang thực hành công phu thất bồ đề phần, ở đó có hàng cây bảy báu, xung quanh có những cây báu, chim ca lăng tần già, chim cộng mạng, chúng giúp cho bạn có thể lĩnh hội thất bồ đề phần.
Thất bồ đề phần là gì? Nó bao gồm thứ nhất là trạch pháp giác chi, trạch pháp giác chi nghĩa là sự lĩnh hội về việc chọn lựa pháp. Một loại là tinh tấn giác chi, tinh tấn chúng ta đã nói qua trong lục độ rồi. Một loại là hỷ giác chi, một loại là niệm giác chi, một loại là khinh an giác chi. Rồi định giác chi chúng ta cũng đã nói qua rồi. Thứ bảy là xả giác chi, chữ "xả" trong từ "từ bi hỷ xả", nhưng mà chữ "xả" này có chút khác biệt so với chữ "xả" trong việc xả bỏ tất cả sinh mệnh để thực hành từ bi hỷ xả.
22. Trạch pháp giác chi
Hôm nay điều quan trọng nhất cần giảng thuộc về trạch pháp giác chi, trạch pháp giác chi vô cùng quan trọng; trạch pháp giác chi nghĩa là trong quá trình học Phật pháp, bạn không thể học hết tất cả Phật pháp, chúng ta biết rằng Phật học như biển cả mênh mông, bạn không thể nào học hết tất cả được, dù dành cả cuộc đời để học cũng không thể nào thông thạo hết Phật học, cho nên bạn cần phải trạch pháp, tức là chọn lựa Phật pháp. Do có trạch pháp giác chi, nên trong Phật pháp mới phân ra thành nhiều tông nhiều phái, điều này là bởi vì Phật pháp quá nhiều.
Có một số pháp sư chọn một bộ kinh điển, cho rằng bộ kinh điển này rất hay, bản thân học được tâm đắc, liền từ bộ kinh này sáng lập ra một tông phái, vì vậy mới diễn biến thành mười tông phái. Mười tông phái phổ biến nhất, mỗi tông phái đều có một hướng nhấn mạnh riêng, mười tông phái đó là:
Thứ nhất là Câu Xá Tông, Câu Xá Tông là giảng về vô ngã, đại nghĩa bên trong bàn luận về vô ngã.
Thứ hai là tông phái Thành Thật Tông, dựa theo Thành Thật Luận mà hình thành nên tông phái gọi là Thành Thật Tông, Thành Thật Tông giảng rằng ngã và pháp đều là không.
Trong đó có nhiều tông phái có những quan điểm lý luận trái ngược nhau. Theo như tôi được biết, như Câu Xá Tông giảng về "trung ấm thực có", nghĩa là trong Câu Xá Tông, họ cho rằng linh hồn là có thật, linh hồn này tồn tại, hiện hữu dưới dạng âm hình, có trung ấm; còn Thành Thật Tông đặc biệt nhấn mạnh không có trung ấm, không có linh hồn. Hai tông phái này rất mâu thuẫn với nhau, một bên nói có linh hồn, một bên nói không có linh hồn.
Vậy các tông phái Đại thừa giải thích về linh hồn như thế nào? Họ nói rằng "có cái có, có cái không có". Điều này rất khó để lĩnh hội, làm sao trong cùng một Phật pháp, trong Phật học, có người nói "có linh hồn", có người nói "không có linh hồn", có người nói "có cái có, có cái không có"? Làm sao mọi người có thể chấp nhận tông phái nào mới là đúng?
Ý nghĩa của Đại Thừa Tông, họ nói đối với những người đại thiện, những người tu trì thành tựu, căn bản không cần phải trải qua trung ấm, không cần qua trung ấm để thành Phật, có thể trực tiếp thành Phật. Như vậy không có trung ấm! Không có linh hồn nữa. Như tôi chẳng hạn, một ngày nào đó tôi sẽ viên tịch! Sau khi viên tịch thì sao? Trực tiếp hóa thành cầu vồng, thành Phật luôn! Không cần trải qua thủ tục linh hồn. Ý nghĩa của Đại Thừa Tông là không có linh hồn.
Còn những người làm điều đại ác cũng không có linh hồn, họ cũng không trải qua trung ấm, nghiệp chướng của họ rất nặng, thế nên một khi chết đi, cả con người họ không cần trải qua thủ tục linh hồn, trực tiếp biến thành ngạ quỷ; theo cách giảng này thì không có hiện tượng âm hình, đây là quan điểm của Đại Thừa Tông. Ba tông phái có quan điểm khác nhau, vì vậy điều này cần các bạn tự mình lĩnh hội và lựa chọn.
Vậy thì có Câu Xá Tông và Thành Thật Tông, cũng có Thiền Tông, Thiền Tông giảng về điều gì? Giảng về "kiến tính thành Phật", khi thấy được bản tính của mình thì bạn thành Phật; không giảng gì khác, hoàn toàn chỉ là khi thấy được Phật tính của mình, bạn liền thành Phật, chỉ là công phu tu tập để thấy được bản tính.
Còn Thiên Thai Tông thì sao? Tông này giảng về "nhất tâm tam quán". Tam quán là gì? Đó là "không quán, giả quán, trung quán", đó chính là tam quán; Thiên Thai Tông chuyên giảng về "nhất tâm tam quán".
Hoa Nghiêm Tông giảng về "thập huyền lục tướng", tức là mười loại huyền bí và sáu tướng. Thập huyền lục tướng này, chữ tướng ở đây là pháp tướng. Về thập huyền, sau này có cơ hội, tôi sẽ nói chuyện với mọi người về phương pháp tu trì của từng tông phái, để mọi người có thể lựa chọn.
Ngoài ra còn có Pháp Tướng Tông, Pháp Tướng Tông giảng về "vạn pháp duy thức", tức là giảng về duy thức, cũng chính là Duy Thức Tông.
Tiếp theo là Tịnh Độ Tông, hiện nay Tịnh Độ Tông là phổ biến nhất, bởi vì đây là pháp môn thuận tiện nhất, chỉ giảng về niệm Phật, nhất tâm bất loạn niệm Phật, khi niệm Phật đến mức thấy được Phật! Cũng như thấy được bản tính, cũng có thể thành Phật, đây là pháp môn giảng về niệm Phật. Cho nên Tịnh Độ Tông chuyên giảng về niệm Phật.
Ngoài ra còn có Luật Tông, Luật Tông là tông phái giảng về giới luật, lấy Tứ Phần Luật làm chủ đạo, giảng rằng trước tiên phải giữ giới, sau đó mới đạt được định, khi đã đạt được định thì sẽ có được trí huệ, đến khi công phu thiền định sâu dày, hành giả cũng sẽ thành Phật. Như vậy Luật Tông là tông phái chuyên giảng về giới luật.
Còn có Tam Luận Tông, Tam Luận Tông là tông phái giảng về ba bộ luận, đó là Trung Luận, Bách Luận và Thập Nhị Môn Luận, ba bộ luận này hợp lại gọi là Tam Luận Tông. Tam Luận Tông giảng về Không tính, giảng về tính Không, hoàn toàn giảng về tự tính vốn không.
Vừa rồi chúng ta nói về Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ Tông có "tam kinh nhất luận", ba bộ kinh đó là Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà và Vãng Sinh Luận, dựa theo ba Kinh một Luận này mà diễn biến thành Tịnh Độ Tông.
Tiếp theo là Mật Tông, hiện nay chúng ta đang tu chính là Mật Tông, Mật Tông lấy Kinh Kim Cương Đỉnh và Kinh Đại Nhật làm chủ đạo. Mật Tông là bên ngoài tu thân khẩu ý thanh tịnh, bên trong tu khí, mạch, minh điểm, tam mật hợp nhất, kiến tính thành Phật. Đây là Mật Tông, như vậy đã nói đủ mười tông.
Vậy thì bạn phải lựa chọn thôi! Có mười tông phái, xem bạn chọn thế nào? Giống như có mười cửa hàng, một dãy toàn là tiệm bán mì; có mười cửa hàng, tiệm nào cũng nói mình tốt, không có tiệm nào nói mình không tốt cả, tôi chưa từng thấy tiệm nào nói mình không tốt, tiệm nào cũng nói hàng tốt giá rẻ, hàng thật giá thật, giá cả phải chăng.
Có người thì đi theo duyên may, nhìn xem tiệm nào, mười tiệm mì ở đây, tiệm nào cũng có thể no bụng, xem bạn có duyên với tiệm nào thì vào tiệm đó. Học Phật cũng có rất nhiều đường lối! Có rất nhiều tông phái, mỗi tông phái đều nhấn mạnh tông phái của mình là số một.
Như trong Kinh Lăng Nghiêm, có hai mươi lăm vị Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi họ tu tập như thế nào? Các phương pháp họ sử dụng, có vị dùng lửa để tu chứng hỏa quang tam muội; có vị dùng nước, dùng phương pháp quán nước để chứng đắc thủy quán tam muội. Còn Bồ Tát Quan Thế Âm cuối cùng nói về nhĩ căn viên thông của Ngài, hiện nay cũng có người dùng phương pháp lắng nghe âm thanh nội tại, quán chiếu ánh sáng nội tại; đây chính là pháp nhĩ căn viên thông của Bồ Tát Quan Thế Âm trong Kinh Lăng Nghiêm, có rất nhiều phương pháp.
Thật ra khi Đức Phật còn tại thế, Ngài dạy chúng ta nhiều nhất chính là hỏa quang tam muội. Pháp tứ thánh đế, A La Hán, tứ quả A La Hán đều là hỏa quang tam muội. Còn rất nhiều vị Đại Bồ Tát khác, phương pháp tu chứng của các Ngài đều có thể thành Phật; các bạn muốn tìm đến tông phái nào thì cứ tìm đến, tông phái nào tốt, tông phái nào mình có duyên nhất, đó chính là cái gốc học Phật của chính mình, đây gọi là trạch pháp giác chi.
Các bạn phải lựa chọn! Hôm nay các bạn chọn tông phái nào? (Mọi người nói: Chân Phật Tông). Các bạn đã chọn đúng rồi. Đây chính là trạch pháp giác chi. Khi các bạn chọn Phật học Phật pháp, nhất định phải dùng con mắt của mình để nhìn để chọn lựa. Không phải là tùy tiện bịt một miếng vải lên mắt, như các bạn nói, giống như bệnh nhân bây giờ trông như gấu trúc vậy, giống gấu trúc ở Đại Lục vậy, hai mắt đều đen thui; bịt một miếng vải, giống như "Hiệp Sĩ Ong Xanh" hay hiệp sĩ gì đó, đều như vậy cả. Rồi cứ thế xông bừa, xông bừa, đụng phải tông phái nào thì vào tông phái đó, đó chính là số phận của mình. Số phận này chưa chắc đã tốt, bởi vì đó là lựa chọn mù quáng.
Cái gọi là trạch pháp giác chi là bạn dùng trí tuệ của chính mình để phán đoán, để lựa chọn pháp, đây gọi là sự lĩnh ngộ về chọn lựa pháp. Các bạn quy y sư phụ cũng vậy, các bạn phải dùng mắt mình để nhìn, dùng trí tuệ để phán đoán, đây mới chính là trạch pháp giác chi! Nếu không thì bạn chọn cái gì? Cứ xông bừa thôi. Bạn xông vào một tiệm đen, bạn sẽ biến thành bánh bao nhân thịt người.
Bạn có biết không! Trong Thủy Hử Truyện đó, họ bán cái gì? Bánh bao nhân thịt người. Bạn xông vào tiệm đen, bị giết mất, không biết đó là tiệm đen, bạn cứ tùy tiện đi vào, bạn muốn ăn chút gì đó, họ gói ra toàn bánh bao nhân thịt người. Rồi nhìn bạn béo béo, trắng trẻo mịn màng, mỡ nhiều thế này, vừa hay họ cũng đang thiếu nguyên liệu, thế là bạn bị giết mất.
Cho nên trong Phật pháp vẫn còn rất nhiều tiệm đen. Mọi người hãy chú ý một chút, đừng bước lên thuyền cướp, đừng đi vào tiệm đen. Bạn tưởng mình được ăn no, nhưng lại biến thành món ăn cho người khác. Đây chính là trạch pháp giác chi.
Sự thù thắng của Chân Phật Tông
Tại sao lại chọn Chân Phật Tông? Chân Phật Tông có điểm thù thắng nào? Nhất định phải nói ra. Các bạn đều chọn Chân Phật Tông, tôi nghĩ đầu óc các bạn rất tốt, trí tuệ của các bạn là vô thượng.
Có điểm thù thắng nào không? Bạn phải nói ra được! Là nước dùng ngon chăng? Là nguyên liệu thật chăng? Không phải bỏ bột ngọt, bây giờ tôi rất sợ bột ngọt. Nước dùng ngon, nguyên liệu thật, đã được tinh luyện. Nước dùng đó dùng xương gì để ninh? Là nước dùng hầm lửa nhỏ, từ từ hầm, hầm nhiều giờ, hầm ba ngày ba đêm, những thứ được hầm ra, nước dùng như vậy mới ngon.
Còn dùng những món sơn hào hải vị. Còn có màu sắc nữa! Trên còn bỏ thêm chút hành, tỏi! Còn thêm chút củ cải đỏ. Khiến bạn nhìn thấy, màu sắc đẹp, mùi vị thơm, lại ngon miệng; khiến bạn vừa no vừa đói, còn muốn ăn nữa, không để bạn ăn no ngay lập tức. No ngay lập tức thì bạn sẽ không quay lại nữa. Để bạn ăn nửa bát, rồi bạn quay lại mua tiếp, như vậy lại đãi bạn. Sắc, hương, vị đều đầy đủ cả, đó chính là điểm thù thắng.
Căn bản Truyền thừa Thượng sư thù thắng
Hôm nay chúng ta nói về sự thù thắng của Chân Phật Tông, đầu tiên là sự thù thắng của Căn bản Thượng sư. Đúng không? Đây là tự mình dán vàng lên mặt mình! Bây giờ tôi đã biến thành kim thân. Thực tế đúng là như vậy, quả thật là sự thật.
Bây giờ bạn đi hỏi tất cả các pháp sư, rất nhiều vị Thượng sư bên ngoài, các vị Hoạt Phật của Mật giáo! Bạn hỏi họ: "Thầy đã từng đến Tây phương Cực Lạc chưa? Thầy đã từng đi chưa?" Những vị pháp sư đó đã từng đến Tây phương Cực Lạc thế giới chưa? Họ đều không dám nói "có", rất ít người nói rằng họ đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc.
Có lẽ rất ít, họ chưa từng đến đó, chỉ dựa vào những mô tả trong Kinh A Di Đà để tưởng tượng ra thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào. Con đường này họ vẫn chưa đi qua. À có, có nhiều pháp sư đã từng đến. Có chứ, nhưng không quay về. Họ là một đi không trở lại, họ không thể quay về nữa. Đúng không?
Họ không thể nói được! Họ không thể nói được thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào, có những địa danh nào? Có những xe cộ gì đang chạy? Đúng không? Có bao nhiêu người ở đó? Cõi Phật đó lớn đến mức nào? Họ không thể nói được! Phải là vị Thượng sư đã đến đó và có thể quay về, mới có thể nói về con đường tu hành này, bạn đã thực sự đi qua rồi, bạn đã thực sự trải nghiệm rồi, hôm nay quay về dẫn người khác đi, sẽ không bị lạc đường.
Đây là một đạo lý rất đơn giản, nơi bạn đã từng đến thì bạn biết đi như thế nào, thành phố đó ra sao, bạn đều biết. Hôm nay nếu bạn không biết, bạn chỉ xem "Cẩm nang Du lịch", tôi xem "Cẩm nang Du lịch" xem đi như thế nào. Tôi đã biết rồi! Ở đó có những gì, có những công trình kiến trúc gì, có những tác phẩm điêu khắc gì, có những bảo tàng gì, tất cả đều là bạn xem từ "Cẩm nang Du lịch". Đây là kém một bậc!
Cho nên vị Căn bản Thượng sư của Chân Phật Tông là "Ichiban" (tiếng Nhật: hạng nhất)! Các vị pháp sư khác cũng không tệ, nhưng các vị pháp sư khác là "Niban" (tiếng Nhật: hạng nhì). Họ chỉ dựa theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni, những gì Phật đã giảng trong Kinh A Di Đà về thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào. "Hoa sen to như bánh xe". Ủa! To như bánh xe? Bạn phải động não một chút. Thời Phật Đà, bánh xe mà Ngài nói là bánh xe gì? Không phải bánh xe Jeep đâu, vậy là bánh xe gì? Bạn hãy suy nghĩ xem. Kinh A Di Đà nói như vậy, đúng không? Cho nên những vị pháp sư bên ngoài kia giảng "to như bánh xe", được! Bánh xe Jeep, bánh xe bò, bánh xe ngựa, đều là bánh xe cả! Rốt cuộc to đến mức nào? Điều này phải là người đã đến đó, đã xem qua và quay về mới nói được.
Bên trong hoa sen đó có thể ngồi được bao nhiêu người? Có người nói tôi biết rồi, "một người". "Mọi người đều thấy đó, Tam Bảo Phật, mỗi người đều ngồi một đóa sen mà! Chắc chắn là một người". Không đúng! Có đóa ngồi một người, cũng có đóa ngồi cả chục người, cho nên điểm này những vị pháp sư bên ngoài kia không thể nói được. Tôi hỏi họ tòa sen ngồi được mấy người? Một đóa sen ngồi được mấy người? Họ lập tức bảo "tôi chưa từng thấy". Đương nhiên họ không trả lời được rồi! Căn bản Thượng sư đã từng đến đó, đây chính là điểm thù thắng.
Tất cả chúng ta tu tập, chứng nghiệm và chứng minh một cách thực tế như vậy về tình hình của thế giới Tây phương Cực Lạc, bạn sẽ thấy rõ ràng tường tận, sự hiểu biết này không phải đến từ sách vở. Các vị pháp sư bên ngoài hoàn toàn dựa vào sách vở, bản thân họ chưa từng đến đó, cho nên họ không có sự chứng nghiệm. Đây chính là sự thù thắng của Căn bản Thượng sư, sự thù thắng của Chân Phật Tông, điều thù thắng thứ nhất.
Sự thù thắng của quả vị quán đảnh
Điều thù thắng thứ hai chính là sự thù thắng của quán đảnh.
Các tông phái khác không có cái gọi là quán đảnh! Có, bây giờ các pháp sư Hiển giáo cũng bắt đầu quán đảnh; mọi người đều biết, họ cũng làm nước cam lộ, rồi rảy một chút! Nước của họ từ đâu ra vậy? Bây giờ rất tiện, chỉ cần lấy một cái bình đến chỗ nước máy hứng một lúc là có rồi! Các bạn về nhà quán đảnh cho con trai, quán đảnh cho cháu, các bạn chỉ dùng nước máy, dùng một vật gì đó rảy một cái, rảy, rảy, rảy, thực ra cho tiện thì mua một cây súng nước, mua một cây súng nước dài một chút, loại chứa được nhiều nước ấy. Đến một người, xoẹt! Bắn một cái, ồ! Quán đảnh.
Quán đảnh không phải như vậy! Phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ đi vào trong bình quán đảnh này, Phật trụ trong hư không, thỉnh Bổn tôn trí huệ từ hư không vào trong nước của bình này, rồi quán tưởng Bổn tôn trí huệ khác ngồi trên đỉnh đầu mình, rồi đi vào trong tâm mình, rồi tự mình biến thành Bổn tôn trí huệ, sau đó dùng nước pháp của Bổn tôn này để quán đảnh cho người khác, như vậy mới hợp với quán đảnh của Mật giáo.
Thực ra quán đảnh của Mật giáo, nhìn từ bên ngoài có vẻ rất đơn giản. Cầm nước lên rồi rảy! Thế là những vị pháp sư Hiển giáo kia vừa thấy thế liền bảo "Tốt quá! Cái này còn hay hơn tụng tam quy y của chúng ta nhiều". Rồi họ cũng làm theo, rảy, rảy như vậy, nhưng đó không phải là rảy tịnh! Quán đảnh không phải là rảy tịnh, không phải vậy. Phải quán tưởng, phải trì chú, phải hợp nhất với Bổn tôn trí huệ; phải làm tất cả cùng lúc mới hợp với nghi quỹ Mật giáo.
Nếu bạn muốn quán đảnh cho người khác, bản thân bạn trước hết phải được thọ quán đảnh, đây là một kiến thức căn bản nhất. Xin nói với mọi người, Thượng sư muốn quán đảnh cho người khác, trước khi quán đảnh pháp này, phải được Căn bản Thượng sư quán đảnh cho mình trước, sau khi được quán đảnh rồi mới có thể quán đảnh cho người khác.
Nói một cách đơn giản, vị pháp sư đó không hề có truyền thừa Mật giáo, ông ta chỉ là thỉnh thoảng trì một vài câu chú, chưa từng được ai quán đảnh cho. Vốn dĩ ông ta chỉ học Hiển giáo mà thôi! Ông ta chưa từng học Mật giáo! Ông ta cũng không có Căn bản Thượng sư Mật giáo! Việc ông ta quán đảnh cho người khác là sai lầm, bởi vì ông ta chưa từng được thọ nhận bất kì quán đảnh nào, không thể dùng thứ này để quán đảnh cho người khác.
Cho nên truyền thừa là như vậy đó, người này truyền cho người kia, rồi lại truyền tiếp cho người khác, đây gọi là "dòng pháp truyền thừa", nó phải có nguồn gốc; chứ không phải đột nhiên xuất hiện và nói "tôi quán đảnh cho bạn", nhưng chưa từng được bất kì Thượng sư nào quán đảnh cho mình mà đã đi quán đảnh cho người khác, điều này là sai lầm.
Quán đảnh này, như đã từng nói trước đây, trong Mật giáo một khi bạn được quán đảnh, bạn sẽ trở thành Pháp Vương Tử, bạn là vị Phật dự bị, nghĩa là tương lai bạn sẽ thành Phật, cho bạn quán đảnh trước, điều này biểu thị rằng hiện tại bạn là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, đây chính là phương tiện của quả vị, là điểm thù thắng của quán đảnh quả vị.
Có người đến hỏi thiền sư Bách Trượng: "Bách Trượng ơi! Phật là gì vậy?" Bách Trượng trả lời thế nào? Có ai đã đọc công án này chưa? "Phật là gì?" Có người đến hỏi Bách Trượng: "Phật là gì vậy?" Bách Trượng trả lời, câu trả lời của ngài rất hay, câu nói này là khai ngộ, ngài lập tức đáp: "Ông là gì vậy?" Người kia hỏi Ngài: "Phật là gì vậy?" Ngài hỏi ngược lại: "Ông là gì vậy?" "Ông là gì vậy?" Ông chính là Phật! Ông còn hỏi ta, ta còn phải hỏi ông đấy! Đúng không? Ông hỏi ta: "Phật là gì?" Ta hỏi ngược lại: "Ông là gì vậy?"
Trước đây có đệ tử hỏi tôi: "Sư Tôn ơi! Thầy có phải là Phật không?" Tôi nói: "Anh mới là Phật đó!" Đây là một câu hỏi rất đơn giản, nhưng đôi khi lại khiến con người không nghĩ ra. Mật giáo rất thẳng thắn, tôi quán đảnh cho bạn, bạn chính là Phật rồi, tuy hiện tại bạn chưa phải là Phật, nhưng bạn là Phật dự bị.
Ngày xưa chúng ta đi thi, thi đại học, đậu chưa? "Đậu mà không đậu". Chuyện gì vậy? Đậu là đậu, không đậu là không đậu, làm gì có "đậu mà không đậu"? Hỏi kĩ lại thì người đó nói: "Dự bị". Nghĩa là dự bị trúng tuyển. Kiểu như nếu có người không nhập học thì mình sẽ được chuyển thành chính thức. Cho nên các bạn đều là "dự bị", hiện tại là Phật dự bị.
"Các bạn là Phật gì vậy?" "Phật dự bị." Dự bị chính là dự phòng mà! Một khi được quán đảnh, bạn liền thành Phật dự bị. Quán đảnh thù thắng này có sự huyền diệu bên trong, nó chính là như vậy đó. Cho nên Mật giáo một khi quán đảnh cho bạn, bạn liền thành Phật dự bị, bạn không thể xem thường chính mình. Tương lai bạn nhất định sẽ thành Phật.
Tịnh thổ thù thắng
Những vị pháp sư thông thường này, "tịnh thổ chưa hiện", tịnh thổ của họ chưa xuất hiện, họ không biết tương lai sẽ đi về đâu. Họ chỉ nói: "Tôi niệm Phật là để về Tây phương Cực Lạc thế giới." Như vậy tương lai chắc chắn vãng sinh về Tây phương.
Trong tông phái của chúng ta, chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng, cung điện của các bạn, phòng ốc của các bạn đều đã được xây dựng xong. Đúng không? Thậm chí những thị giả của các bạn đều đang chờ đợi các bạn ở cõi trời. Đây chính là Ma Ha Song Liên Trì của chúng ta, tịnh thổ Song Liên Trì vĩ đại đã xuất hiện rồi. Tất cả đều đã được chuẩn bị sẵn sàng cho các bạn, cung điện ở cõi trời, tất cả đều đã viên mãn, đều đã xây dựng xong, chỉ đợi các bạn đến. Waiting for you! Đây chính là tịnh thổ của chúng ta. Tôi nói tịnh thổ đã hiện ra rồi, là tịnh thổ do Căn bản Thượng sư an bài, ở Ma Ha Song Liên Trì thuộc cõi Thường Tịch Quang tại Tây phương Cực Lạc thế giới; tương lai các đệ tử Chân Phật Tông đều có thể đến nơi đó, tất cả đều có sẵn, có ngay lập tức, tất cả đều đã được chuẩn bị sẵn sàng.
Thật ra các pháp sư hiện nay nói rằng: "Ôi! Các vị hãy đi đi! Các vị hãy về Tây phương Cực Lạc thế giới đi!" Vậy các vị đến đó tìm ai? Đúng không? Các bạn không có mục tiêu gì cả! Họ nói: "Tìm Phật A Di Đà." Ồ! Đúng là có Phật A Di Đà, về Tây phương Cực Lạc thế giới là không sai, nhưng các vị phải quen biết người ta chứ.
Hôm nay khi các bạn đến Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ của các bạn ở đâu? Ở Ma Ha Song Liên Trì thuộc cõi Thường Tịch Quang. Phật A Di Đà sẽ lập tức phân phối cho các bạn, tốt! Các bạn có thể đi ngay bây giờ, Ngài biết các bạn là đệ tử Chân Phật Tông. Nếu các bạn không nói được là Ma Ha Song Liên Trì, Ngài sẽ hỏi các vị là tông phái nào? Còn phải hỏi nhiều lắm, còn phải "điều tra hộ khẩu" nữa! Hỏi các vị tu gì? Họ sẽ hỏi bạn cả ngày mà các bạn vẫn không trả lời được gì cả. "Thôi! Thôi! Các bạn hãy đến biên địa của Tây phương Cực Lạc thế giới này chờ vậy!" Cho nên tịnh thổ của Chân Phật Tông chúng ta đã hiện ra, là cảnh giới tịnh thổ hiện tiền, đây chính là điểm thù thắng của tịnh thổ.
Mật pháp thù thắng
Mật pháp của tông phái chúng ta, như tôi đã từng nói, Chân Phật Mật Pháp, các bạn đi tìm thử đi, không có đâu. Đã không còn nữa rồi. Trong những Phật pháp trên thế giới này, nếu các bạn muốn tìm tương tự Chân Phật Mật Pháp, các vị nói: "Ôi! Có một vị pháp sư, ông ấy cũng giảng Chân Phật Mật Pháp của chúng ta! Những gì ông ấy giảng, hoàn toàn giống với những gì Sư Tôn chúng ta giảng." Tôi nói: "Ồ! Lạ thật? Pháp sư này ở đâu nhỉ? Tôi đi tìm xem sao." Kết quả điều tra ra, thì ra ông ấy là đồ tôn của chúng ta.
Đồ tôn là gì? Chính là đệ tử của đệ tử chúng ta, lấy băng hình Chân Phật Mật Pháp của chúng ta đưa cho ông ấy xem, ông ấy lén lút học trong phòng, học rất nghiêm túc, sau này đi thuyết pháp, cũng giảng Chân Phật Mật Pháp của chúng ta. Vị pháp sư này không phải là đồ tôn thì là gì? Bây giờ ông ấy cũng kết ấn thuyết pháp nữa. Ông ấy nói: "Ôi! Tôi phải kết ấn này, ấn này hay quá." Tôi nhìn thấy, trời ơi! Sao lại thế này? Xuất hiện nhiều đồ tôn quá! Thật đấy! Hiện nay có rất nhiều pháp sư đang lén lút học Chân Phật Mật Pháp.
Bởi vì các pháp sư hiện nay khi thuyết pháp đều nhìn vào kinh điển, không phải là nhìn vào tài liệu tham khảo đâu! Họ hoàn toàn lấy kinh điển ra xem, rồi đọc xong thì cứ theo từng chữ trong kinh điển này mà giải thích, cứ giải thích rồi lại giải thích. Một ngày nọ, bạn lấy quyển sách chú giải của họ, đợi lúc họ không để ý, bạn dùng ba ngón tay nhấc lên như thế này, giả vờ không biết gì. Họ vừa lên bục sờ tìm, ôi chao, thảm rồi! Thảm quá! "Hôm nay phải giảng gì đây?"
Nói cho bạn biết, vị pháp sư đó khi thuyết pháp, quyển sổ quý báu của ông ấy, các bạn để ý một chút, trước khi ông ấy lấy ra, bạn lấy trộm nó đi. Ông ấy vừa lên pháp tọa, mở túi ra, "Ôi trời! Tìm không thấy!" "Thảm rồi!" Không giảng được, ông ấy không thể giảng được, mặt ông ấy lập tức tái xanh. Không có quyển sổ cũ rích đó, món bảo bối mà ông ấy đã giảng hơn 40 năm rồi, không có quyển bảo bối đó thì ông ấy không thể giảng được, ông ấy không có kinh nghiệm mà! Ông ấy không thực sự thể nghiệm Phật pháp, ông ấy chỉ dựa vào sách vở mà! Cho nên khi bạn lấy đi, ông ấy chẳng còn gì, không còn gì hết.
Trước đây, tôi ngại không muốn nói, ở khoa Trắc Lượng của trường đại học chúng tôi có một giáo sư vật lý, ông ấy cũng là giáo sư của trường đại học Phùng Giáp, quyển sổ của ông ấy cầm lên toàn mùi quẩy. Quẩy, rất nhiều dầu! Có lẽ là khi ông ấy ăn sáng, ăn cháo quẩy, bánh bao, đậu nành, đã làm nhỏ giọt dầu mỡ đầy cả quyển sách. Có một lần chúng tôi lấy trộm quyển sổ đó của ông ấy, ông ấy đã không đến dạy học cả tuần, chúng tôi toàn được tự học. Tự học nghĩa là chơi đùa thôi, cuối cùng chúng tôi thấy ông ấy tội nghiệp quá, nên đã trả lại quyển sổ cho ông ấy; lúc đó tôi là trưởng khoa, tôi là trưởng khoa Địa Chất, chuyện này tôi biết rất rõ.
Tông phái của chúng ta có Thượng sư thù thắng, có quán đảnh thù thắng, có quả vị thù thắng, có tịnh thổ quang minh thù thắng, và điều quan trọng nhất là Chân Phật Mật Pháp thực sự thù thắng.
Khi học Phật, chúng ta phải học được chỗ khéo léo, chỗ vi diệu của nó. Phật học có những chỗ vi diệu, không phải học tất cả, học tất cả thì không thể nào học được. Cho nên chỉ cần chuyên tâm tu tập những chỗ vi diệu, thâm nhập kinh tạng, đi vào bên trong, không chỉ là học rộng; chúng ta biết học Phật có rộng, rộng là học nhiều, học sâu, đạt được chỗ khéo léo của nó thì sẽ thành tựu. Nói về điều này cũng giống như nói về tinh tấn vậy!
Trước đây khi học bắn súng, lúc tôi ở trong quân đội, tôi học súng trường bán tự động M1, tôi đã học qua súng tiểu liên làm mát bằng nước, học qua súng carbine, súng tiểu liên, còn có súng máy nhẹ, súng máy hạng nặng, súng cối, tôi được gọi là "xạ thủ thần kỳ". Thực ra học những thứ này chính là tinh tấn, khi bạn có thể tinh tấn, có thể tỉ mỉ nắm bắt được chỗ vi diệu của nó thì bạn sẽ thành công.
Giống như ngày xưa có một người học bắn cung, sư phụ của anh ta nói: "Con đến đây học, ta sẽ dạy con một phương pháp. Con hãy về bắt một con nhện, con nhện nhỏ nhất có thể, treo nó ở cửa sổ, mỗi ngày nhìn con nhện đó." Anh ta hỏi sư phụ phải nhìn bao lâu. Sư phụ nói: "Con nhìn ba năm." Cứ nhìn một con nhện suốt ba năm. Học bắn cung kiểu gì vậy? Bảo anh ta nhìn con nhện suốt ba năm? Nhưng anh ta thật sự rất tinh tấn nhìn con nhện đó suốt ba năm.
Bạn có biết sau ba năm thì thế nào không? Con nhện to như bánh xe, vừa nãy nói hoa sen to như bánh xe, bây giờ là nhện to như bánh xe, nhìn mãi thì cuối cùng thì con nhện to bằng bánh xe. Anh ta đến tìm sư phụ, sư phụ nói: "Con đã học được rồi." Đơn giản vậy thôi, học bắn cung là như vậy đó. Anh ta hỏi: "Vậy bước tiếp theo là gì?" "Bước tiếp theo con cầm tên bắn vào con nhện đó là được." Anh ta về nhà cầm tên nhìn con nhện, ồ! Con nhện to như bánh xe, anh ta bắn một phát, ôi! Thật sự trúng ngay bụng con nhện; mũi tên đôi khi còn to hơn cả con nhện, vậy mà lại có thể bắn trúng con nhện nhỏ xíu như vậy, đây chính là "tinh thần chuyên nhất" đấy! Khi bạn chuyên tâm vào một việc thì sẽ đi rất sâu, có thể nắm được chỗ vi diệu của nó.
Trước đây tôi học bắn súng như thế nào? Khi học bắn súng, trước tiên phải điều chỉnh đường ngắm, bởi vì mỗi người có tính cách khác nhau, khẩu súng cũng khác nhau, cách điều chỉnh súng cũng khác nhau. Đường ngắm và ống ngắm của bạn, mỗi người có thói quen khác nhau, vì vậy việc đầu tiên là ngắm một điểm, sau đó lần thứ hai ngắm lại điểm đó, bạn sẽ thấy có sự chênh lệch, lúc đó bạn điều chỉnh đường ngắm theo độ chênh lệch cho đến khi trùng khớp, đó chính là cách điều chỉnh đường ngắm.
Mỗi khẩu súng, vì mỗi người có cách nhìn khác nhau, nên đường ngắm và ống ngắm đều sẽ khác nhau, khi bạn đã quen với đường ngắm do chính mình điều chỉnh, bắn theo thói quen của mình thì mới chuẩn xác, đây là một điểm tinh tế. Dùng súng của người khác thì bạn sẽ bắn không chuẩn, dùng khẩu súng mà bạn đã quen thì bạn sẽ bắn chuẩn, bởi vì bạn đã điều chỉnh đường ngắm đó, đây là một bí quyết.
Bí quyết thứ hai, khi bắn súng, súng phải được giữ cố định, không được rung lắc. Còn về đường ngắm, phải ngắm hơi thấp dưới vòng tròn một chút, bởi vì khi bạn bóp cò, súng sẽ có một lực bật lên trên, khi bật lên sẽ vừa khớp trúng tâm. Khi tôi ngắm, tôi bắt đầu từ dưới, rồi từ từ nâng lên, nâng lên, đến khi ngắm được điểm phía dưới thì mới bóp cò, khi bóp cò, khẩu súng hơi bật lên một chút là vừa khớp bắn trúng điểm giữa.
Nó có bí quyết đấy, và bạn phải cầm súng thật chắc chắn, giống như tư thế cầm súng phải thật vững vàng. Ngoài ra còn một điểm nữa, tay phải duỗi thẳng, phải duỗi thẳng tay, nếu là súng M1 thông thường, phải điều chỉnh dây đeo, phải xoay vòng, siết chặt, và phải cân bằng, phải giữ cân bằng; bên này là cân bằng, bên kia là điểm tựa hình tam giác, làm như vậy đấy.
Khi bóp cò súng, nó cũng có cả một nghệ thuật, không phải kiểu "ồ, tôi sắp bắn đây"; nếu bạn nghĩ "tôi sắp bắn rồi" thì sẽ không chuẩn, bởi vì khi bạn sắp bóp cò, tim sẽ đập nhanh hơn, hơi thở sẽ gấp gáp, lúc này khẩu súng sẽ di chuyển, sẽ bật lên trên. Khi bóp cò, bạn phải bóp trong vô thức, nghĩa là khi bạn đang tập trung cao độ, bạn bóp cò trong vô thức; khi hơi thở của bạn ổn định nhất, lúc đó bóp cò mới chuẩn được. Tất cả những điều này đều có chỗ vi diệu của nó!
Giờ tôi nói mãi như thế này giống như biến thành huấn luyện viên quân sự rồi, không phải đang giảng Phật pháp, nhưng thực ra điều này có liên quan đến Phật pháp đấy! Các bạn đừng tưởng Sư Tôn đang dạy các bạn sát sinh, không phải vậy, tôi đang dạy các bạn rằng bất cứ việc gì cũng đều có chỗ vi diệu của nó, chỉ cần nắm được chỗ vi diệu đó, bạn sẽ trăm phát trăm trúng, trăm trận trăm thắng, bạn sẽ đạt được thành tựu.
Nó có nguyên lý về sự cân bằng, có quy luật về sự cân bằng, có quy luật về việc bật lên. Khi bóp cò, súng sẽ bật lên và bắn vào điểm giữa. Bạn phải đặt đường ngắm ở phía dưới, rồi trong vô thức, khi hơi thở đã ổn định, thậm chí bạn không cảm thấy mình đang bóp cò, bạn bóp cò trong tiềm thức chứ không phải cố ý bóp cò. Nếu bạn cố ý bóp cò thì sẽ không chuẩn, chính là trong vô thức bạn bóp cò thì mới bắn trúng.
Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều điều vi diệu bên trong, đó là kho báu! Là kho báu chân chính ở bên trong. Bạn hãy xem kĩ những đoạn video đó, những điều bên trong hoàn toàn là tinh hoa, đã được tinh luyện, đã được rèn giũa nghìn lần, đây là điều mà các pháp sư thông thường không có. Đây chính là trạch pháp giác chi đó!
23. Tinh tấn giác chi
Bây giờ chúng ta nói về tinh tấn giác chi, nó cũng giống như tập bắn cung vậy, đó là một dạng tinh tấn giác chi, tôi tập vẽ tranh cũng là một dạng tinh tấn giác chi.
Khi tôi tập vẽ tranh, tôi thường xuyên đi xem tranh, đứng trước bức tranh, cứ nhìn bức tranh đó, nhìn mãi, quan sát nét bút của nó, xem thần thái của nó ở đâu, chỗ nào có thần, điểm nhấn của nó ở đâu. Đôi khi chúng ta tùy ý lấy một vật, chấm một nét lên, cái chấm đó liền tạo ra hương vị của nó. Chỉ một nét bút tùy ý, một nét vẽ như thế, đã vẽ ra được hương vị đó, thần thái đã ở ngay đó.
Vì vậy khi bạn tinh tấn, bạn phải thường xuyên dụng tâm. Đã học vẽ thì phải đi xem tranh, xem những bức tranh đó, rồi bản thân phải động tay, tâm cũng phải đến; tâm đến, ý đến, tay đến, thì những gì bạn vẽ ra mới có thần. Học bất cứ điều gì, đừng làm qua loa, học Phật pháp cũng vậy, khi bạn đã đến được tất cả, bạn nhất định sẽ có thành tựu, đây chính là tinh tấn giác chi; tinh tấn giác chi tức là nỗ lực tinh tấn, rất chăm chỉ học tập.
24. Hỷ giác chi
Bây giờ nói về hỷ giác chi.
Nói chung, giải thích về hỷ giác chi chỉ đơn giản là khi trong tâm bạn đạt được Phật pháp tốt đẹp như vậy, tâm bạn sẽ sinh ra hoan hỷ, bạn duy trì sự hoan hỷ đó, đó chính là hỷ giác chi. Điều này nghe thì rất dễ nói, tất nhiên bạn sẽ cho rằng Phật pháp rất tốt. Thật vậy! Sau khi nhìn thấy Phật pháp, bạn sẽ cảm thấy: "Ôi! Trên thế gian này còn có gì quan trọng hơn Phật học không? Phật học đương nhiên là quan trọng nhất, tu hành đương nhiên là quan trọng nhất." Nhưng khi bạn chưa đạt được sự vi diệu của Phật pháp, bạn sẽ không sinh ra tâm hoan hỷ sâu sắc; chỉ khi bạn đạt được pháp vị vi diệu, bạn mới có tâm hoan hỷ, mới vui thích ngồi thiền.
Tôi biết có nhiều đệ tử đôi khi, Sư Tôn dạy về việc tu tập mỗi ngày một lần, họ thực sự không tìm ra được thời gian để tu trong ngày, ngay cả khi có thời gian thì cũng lười không muốn vào tu. "Phim truyền hình này đang hay quá!" Cứ đúng lúc phim hay thì cũng lười không muốn vào tu. Tu tập mỗi ngày một lần trở thành gánh nặng! "Ôi! Thật khổ quá, Sư Tôn bảo chúng ta phải tu tập mỗi ngày một lần, thật là khổ sở." Nhưng mới bắt đầu vài ngày đầu thì còn cố gắng được, vài ngày không sao, nhưng sau đó thì sao? Không còn nữa. Đó là vì bạn chưa đạt được pháp vị nên mới như vậy. Nếu bạn đã đạt được pháp vị rồi, bạn sẽ đạt được hỷ giác chi, cảm giác hoan hỷ thấu hiểu sẽ tự nhiên xuất hiện.
Như tôi chẳng hạn, nếu một ngày không tu pháp, thực ra tôi ngày nào cũng tu pháp, giờ giờ phút phút đều tu pháp, không phải nhất định phải cố định vào một thời điểm nào đó mới tu pháp, không phải vậy. Bạn sẽ có một cảm giác, cảm giác đó là pháp hỷ vô cùng, giống như bây giờ tôi đang thuyết pháp ở đây, tôi cảm thấy rất hoan hỷ, tôi không nghĩ rằng: "Ah! Đây là công việc của tôi, tôi mệt quá." Thực ra khi tôi đang thuyết pháp ở đây, tôi đã đang vận khí, luồng khí đó đang luân chuyển trong cơ thể, đang vận hành. Và trong quá trình vận khí đó, sẽ sinh ra một cảm giác rất thư thái, đó chính là pháp vị.
Khi bạn vào đàn thành tu pháp, bạn sẽ đạt được sự kiên cố, dòng pháp lưu đó sẽ quán đảnh cho bạn, toàn thân bạn tràn đầy pháp lưu thanh tịnh, rất kiên cố và vô cùng rõ ràng, vừa kiên cố vừa rõ ràng, có một loại lực lượng, một sức mạnh sinh ra, cảm giác đó vô cùng thư thái, cũng chính là vô cùng hỷ lạc; khi bạn đạt được loại hỷ giác này, bạn sẽ rất thích thú tu pháp.
Các bạn nhất định phải tu để đạt được điều này, khi pháp lưu quán đảnh cho bạn, bạn cảm thấy rất nhẹ nhàng, giống như đang... như thế nào nhỉ? Đung đưa trên xích đu vậy. Cách giải thích này không được hay lắm. Đung đưa trên xích đu... Có cách giải thích nào hay hơn không nhỉ? Mắt đang ăn kem, cũng không giống. Linh hồn ngồi ghế sofa, cũng không giống. Ôi! Không có cách nào giải thích được. Không thể diễn tả!
Dù sao thì khí của toàn thân bạn cứ luân chuyển, vận hành mà cảm thấy vô cùng thoải mái, đây chính là hỷ giác chi, chính là pháp vị.
Trong Mật giáo có cái gọi là "tứ hỷ", thực ra nói đến chính là pháp vị, thiên đình thủy của bạn, hoa sen nghìn cánh ở Mi tâm luân, Phật gia Mật giáo gọi là "bồ đề tâm nguyệt dịch", Đạo gia gọi là "thiên đình thủy", nước này nhỏ xuống, ồ, nhỏ xuống, khi đi qua khí mạch toàn thân, sinh ra một loại hỷ lạc, đây chính là pháp vị, cho nên "tứ hỷ" cũng có thể nói chính là pháp vị.
Thiền tông thông thường cũng có loại pháp vị này, trong công án Thiền tông có rất nhiều loại pháp vị như vậy. Như Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn nói với Lục Tổ: "Ngươi từ đâu đến?" "Con từ Lĩnh Nam đến." "Lĩnh Nam sao lại có người tài có tri thức cao có thể thành Phật như vậy?" "Người có phân Nam Bắc, Phật tính không có phân Nam Bắc." Đây chính là pháp vị. Sau khi Lục Tổ đạt được điều này, Ngài cũng rất thích hỏi người khác: "Ngươi từ đâu đến?" Mỗi lần đệ tử đến chỗ Ngài, "Ngươi từ đâu đến?", đệ tử phải trả lời, để xem ngươi có pháp vị hay không.
Bây giờ tôi hỏi mọi người: "Bạn từ đâu đến?" "Ồ! Từ Đài Loan đến." "Con không trả lời được câu hỏi của thầy." Phải trả lời: "Từ gần đây đến." Chữ "gần" này, pháp vị nằm ở chữ "gần" này. Rõ ràng bạn từ rất xa đến, từ Đài Loan đến, tại sao bạn lại nói "từ gần đây đến"? Tôi biết bạn từ Đài Loan đến, nhưng khi bạn trả lời tôi, lại nói "từ gần đây đến." Điều này không đúng! Nhưng nghĩ lại, ồ, đã lĩnh ngộ, điều này có pháp vị.
Bởi vì điều gì là gần gũi nhất với bạn? Phật tính gần gũi nhất với tôi, tôi chính là Phật mà! Phật tính và tôi là một, đương nhiên là từ nơi gần nhất đến! Điều này thể hiện bạn đã hiểu được Phật tính, Phật tính luôn ở cùng với bạn, "tôi từ gần đây đến" thể hiện tôi đã hiểu được tính. Tâm à, kiến tính, tôi từ trong tính mà đến, chính là từ trong tâm tôi mà đến, là gần nhất. Câu trả lời này được 90 điểm, có pháp vị, được rồi.
Rồi Ngài lại hỏi, hỏi vị đệ tử thứ hai: "Ngươi từ đâu đến?" (Có đệ tử đáp: "Từ hư không đến.") Từ hư không đến ư? Xa quá! Hư không rộng lớn vô biên! Ngươi bảo ta làm sao mà nghĩ được? Câu trả lời của ngươi quá rộng lớn vô biên, ta không thể lĩnh hội được. Vị đệ tử này trả lời: "Con không từ đâu đến." Câu này mới có pháp vị, Lục Tổ hỏi: "Ngươi từ đâu đến?" "Con không từ đâu đến." Câu này có pháp vị, thể hiện người ấy không còn phân biệt với Phật tính.
Cái "ngã" này! "Đại ngã" và "tiểu ngã" là một, ta là người kiến tính, ta đến đâu thì Phật tính đến đó! Ta vốn không từ đâu đến cả! Lục Tổ vừa nghe, "Hay! Người này được! Người này đã đạt được sự truyền thừa của ta." Rồi lại có người được hỏi, Lục Tổ thường hay hỏi câu này với nhiều đệ tử. "Ngươi từ đâu đến?" "Đến và đi với con đều như nhau." Ồ! Người này cũng kiến tính, đây chính là "không đến không đi"! Phải không? Không đến không đi, đây chẳng phải là Như Lai sao? Đây chính là Phật, đây chính là lời kiến tính.
Thiền tông của họ là như vậy đấy, trong vấn đáp đối đáp mà đạt được pháp vị, ta hỏi ngươi đáp. Ta nghĩ một chút, ồ! Có pháp vị, ngươi liền đạt được hỷ. Ôi! Hỷ giác chi, đạt được pháp hỷ, lập tức có thể lĩnh ngộ được Phật tính, kiến tính thành Phật. Trong những vấn đáp này, có pháp vị, có ngộ tính; họ từ trong đó đạt được pháp hỷ, đạt được lĩnh ngộ và khai ngộ, cho nên phương pháp của Thiền tông rất đặc biệt.
Cho nên hỷ giác chi này trong Mật giáo mà nói, là rất rõ ràng, không phải từ ngôn ngữ. Khai thông trung mạch, bạn đạt được tịnh quang; khai thông ngũ luân, bạn liền thông ngũ kim cang. Tâm luân vừa mở, lập tức đạt được Báo thân Phật; Hầu luân vừa mở, Ứng thân Phật liền đạt được; Mi tâm luân vừa mở, Pháp thân Phật bạn liền đạt được. Ít nhất là, khi bạn ở trong đàn thành tu pháp, bạn đạt được kiên cố rõ ràng, vô cùng kiên cố, vô cùng rõ ràng.
Ngày xưa có một vị Tổ sư Mật giáo, Ngài tu đến cảnh giới "vách Đông đánh vách Tây", thế nào gọi là "vách Đông đánh vách Tây"? Khi Ngài ngồi thiền, nhìn thấy cái này..., chúng ta biết, bên kia là phía Đông, bên này là phía Tây, Seattle này là phía Tây, Spokane này là phía Đông, vách Đông đánh vách Tây; chính là chư Phật Tổ ở đây đều đánh qua bên kia, đánh đến chỗ Liên Hoa Đồng Tử. Vốn dĩ là có khoảng cách, nhưng khi bạn ngồi thiền ở đây, phát hiện họ hòa hợp làm một. Đây là cảnh giới gì? Sự hòa hợp làm một này, chính là không còn không gian nữa; không gian không còn, thân thể của chính bạn cũng không còn. "Vách Đông đánh vách Tây", vách Đông và vách Tây hợp làm một, trở thành "nhất vị", một mùi vị, biểu thị hiện tượng bản thân bạn với Phật tính, hoàn toàn hòa hợp làm một, sẽ sinh ra như vậy.
Cho nên phải hiểu những điều này! Bạn phải biết cách hiểu thế nào, thế nào gọi là "vách Đông đánh vách Tây"? Vách tường phía Đông làm sao có thể đánh đến vách tường phía Tây? Đó chính là biểu thị "nhất vị", là tiểu ngã của bạn đã hòa hợp với Phật tính, không còn không gian nữa, đây đều là hỷ giác chi, là hiện tượng đạt được pháp hỷ.
25. Niệm giác chi và khinh an giác chi
Vậy niệm giác chi là gì? Chính là chỉ-quán.
Ngoài ra còn có khinh an giác chi, khinh an giác chi cần phải nói một chút, những người học Phật chúng ta, tâm sẽ trong sáng ý sẽ rõ ràng. Tâm giống như nước vậy, rất trong suốt, nhìn thấy rất rõ ràng, ý niệm rất thông thoáng. Khi học Phật, nghìn vạn lần đừng càng học càng đi vào ngõ cụt, ngày nào cũng buồn bã như vậy, tâm trạng rất u uất, không thể mở được nút thắt trong lòng.
Tâm trong ý sáng, tư duy phải thông suốt; dòng suy nghĩ của bạn phải rất thông suốt, rất rõ ràng và trong sáng. Ba mạch và bảy luân xa trong cơ thể bạn đều được khai thông, học Phật phải học đến mức độ này, đây mới chính là khinh an giác chi, bạn không thể lúc nào cũng u uất, u uất chính là đã trói buộc tâm bạn lại.
Ngày xưa có một người đi hỏi một vị pháp sư, anh ta nói rằng mình rất phiền não, rất không vui, cảm thấy bản thân rất u uất, vị pháp sư chỉ trả lời một câu: "Ai trói buộc ngươi vậy?" Hôm nay mọi người hãy nhớ câu nói này: "Ai trói buộc bạn vậy?" (Đệ tử đáp: "Chính mình"). Đúng rồi! Đều là tự mình trói buộc chính mình, thực ra chẳng có ai trói buộc bạn cả! Hai chân bạn vẫn tốt đấy thôi! Thân thể bạn vẫn rất tự do đấy thôi! Ai trói buộc bạn chứ?
Hôm nay tại sao bạn không vui, ai trói buộc bạn, chẳng có ai trói buộc bạn cả! Thực ra bạn có thể vui vẻ mà, bạn có thể không u uất mà. Tại sao bạn phải u uất chứ? Tại sao không vui vẻ đi? Bạn là tự do mà! Hôm nay chúng ta là người học Phật, học để làm người tự do, mọi người đều tự do cả, chẳng có ai đến trói buộc chúng ta, chúng ta đều đạt được khinh an, bạn phải luôn luôn học Phật trong trạng thái khinh an này.
26. Định giác chi và xả giác chi
Định giác chi chính là nhất tâm bất loạn, trong Hiển giáo gọi là nhất tâm bất loạn, trong Mật giáo gọi là thiền định, nhập Tam ma địa, thành Phật. Ồ! Dùng ý thức cao nhất để đạt được Phật tính, Không tính, rồi thành tựu, đây chính là định giác chi.
Xả giác chi là gì? Theo lời Phật dạy, xả giác chi là như thế này, trong "Kinh Kim Cang", Phật Đà từng dạy rằng: "Pháp ta nói ra, ví như chiếc bè, pháp còn phải bỏ, huống chi không phải là pháp." Ý nghĩa câu này là nói, Phật pháp cũng giống như một chiếc thuyền vậy, chỉ cần bạn đã đến được bờ bên kia thì có thể buông bỏ chiếc thuyền này, không cần nữa, đây chính là xả giác chi; nghĩa là trong quá trình tu hành của các bạn, có những pháp cần phải xả bỏ, có những pháp không thể xả bỏ, điều này cần phải dùng trí tuệ của chính mình để lựa chọn.
Vì vậy, để cầu được gia trì, pháp tương ứng Thượng sư là không thể xả bỏ. Để đạt được thành tựu một Bổn tôn này, pháp Bổn tôn là không thể xả bỏ. Để đạt được thành tựu Yết Ma do Không hành Hộ pháp ban cho bạn, nghĩa là, bạn cần đạt được thành tựu sự nghiệp thông thường, thì pháp Yết Ma là không thể xả bỏ. Vậy những pháp khác có thể xả bỏ hay không? Bạn phải dùng trí tuệ của chính mình, bởi vì sau khi bạn đạt được tương ứng trong một phần nào đó, cái nào cần tăng thêm, cái nào cần giảm bớt, pháp nào cần tăng thêm, pháp nào cần phải xả bỏ, bạn phải tự mình biết cách lựa chọn. Đây gọi là xả giác chi.
Cái gọi là xả giác chi có cách giảng sâu hơn một chút, nghĩa là trong quá trình tu hành của bạn, có lúc sau khi bạn đã tương ứng với một pháp, muốn tiến vào tầng thứ hai sâu hơn, nhưng lại không buông bỏ được pháp thứ nhất. Giống như khi bạn tu Tứ gia hành, bạn tu đến mức rất có pháp vị, thực sự tương ứng rồi, bạn vẫn cứ muốn tu Tứ gia hành, không muốn tu những pháp khác. Vậy thì phải dùng trí tuệ để lựa chọn, bạn có nên tiến thêm một bước nữa không? Còn những pháp khác phải thích ứng như thế nào? Trong những pháp mới tu của bạn, giữa pháp và pháp phải có giữ, phải có bỏ, phải có tăng thêm, phải có giảm bớt. Nhất thiết phải hoàn toàn dùng trí tuệ của bạn để lựa chọn. Cho nên Như Lai nói "Pháp ta nói ra, ví như chiếc bè, pháp còn phải bỏ, huống chi không phải là pháp."
Giới là sống động
Ở đây chúng ta nói về vấn đề giới, có rất nhiều giới luật, khi mới bắt đầu chúng ta đều phải tuân thủ những giới luật này, phải giữ tất cả; nhưng giới cũng là linh hoạt, giới không phải là chết cứng, việc bạn vận dụng những giới pháp này như thế nào, điểm này rất quan trọng. Cho nên những điều này đều là trí tuệ vô thượng, đều phải linh hoạt vận dụng, tuyệt đối không phải dạy bạn giữ giới một cách cứng nhắc.
Có người nói rằng: "Không sát sinh." Được rồi! Không sát sinh. Không sai! Bạn cứ giữ như vậy. "Tôi tuyệt đối không thể sát sinh, tôi ngay cả một con kiến cũng không giết." Hôm nay tôi thấy trong phòng mình có một con ong, tôi đang nghĩ: "Tôi có nên giết nó không?" Không giết nó, lát nữa tôi đang viết văn mà nó bay đến chích tôi một cái; hôm nay tôi đang thuyết pháp có quay phim đấy! Tôi sưng một bên mặt thế này. Ừm! Suy nghĩ rất lâu rồi mở cửa sổ, đuổi nó ra ngoài, tôi cũng dùng trí tuệ vô thượng của mình để phán đoán.
Giết nó ngay lập tức thì rất dễ! Nhưng không giết nó, nó sẽ gây phiền phức cho tôi, phải không? Nó sẽ chích tôi một cái, rồi đột nhiên vào ngày thuyết pháp thứ sáu lại sưng một cục, môi bị chích một cái, người ta sẽ nói: "Ủa? Sư Tôn có vấn đề gì vậy? Môi sưng một cục, không biết bị ai cắn vậy?" (mọi người cười) Những chuyện oan uổng như vậy sẽ xảy ra, phải không? Đôi khi cũng phải để ý, suy nghĩ rất lâu, cuối cùng vẫn mở cửa sổ ra, rồi đuổi nó ra ngoài. Việc gì cũng phải lựa chọn như vậy.
Về việc không sát sinh, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng gặp phải! Trên một con thuyền, có tên cướp muốn giết người, muốn giết năm trăm thương nhân, Đức Phật vì cứu năm trăm thương nhân này, Ngài đã giết chết tên cướp; Ngài vì cứu năm trăm người mà giết tên cướp đó. Trong "Bản Sinh Kinh" của Phật có đoạn chuyện này, mọi người đều biết. Phật Đà có từng giết người không? Có! Ngài đã phạm giới sát sinh, Ngài vì cứu năm trăm người mà giết chết tên cướp.
Điều này cần phải dùng trí tuệ để phán đoán, giả sử bạn nói "Tôi không sát sinh", khi tên cướp đang giết người, bạn nói "Tôi không sát sinh, anh cứ giết đi." Như vậy là không đúng rồi. Bạn có khả năng ngăn cản tên cướp giết người, trong hoàn cảnh đó, bạn phải lập tức phán đoán "nên giết hay không nên giết". Vì cứu năm trăm người mà Phật Đà cũng phải sát sinh; cho nên giới sát sinh không phải là chết cứng, tuyệt đối không phải là chết cứng. Các bạn cho rằng nó là chết cứng, thực ra nó là sống động, điều này là sống động.
Giống như không uống rượu, bạn cứ khư khư giữ không uống rượu, người ta nấu một tô gà nấu dầu mè; gà nấu dầu mè có cho rượu vào, bạn nói: "Tôi không uống rượu, tôi không thể ăn gà nấu dầu mè." Mọi người đều ăn, chỉ mình bạn không ăn! "Kỳ quặc!" "Người lập dị!" Cái người lập dị này, bạn phải biết "đồng sự" chứ! Phật không từng nói sao? Trong tứ nhiếp pháp có một pháp là đồng sự, cùng làm một việc; người ta đang ăn gà nấu dầu mè, mọi người rất vui vẻ, một mình bạn không ăn, cũng đừng biểu lộ sự ghét bỏ khi người khác ăn chứ! Bạn giữ giới không uống rượu, bạn cũng không thể như vậy được! Còn khóc nữa chứ!
Thực ra bạn phải đồng sự, vì muốn độ họ nên cùng ăn với họ, sau đó giảng một chút đạo lý nhà Phật cho họ nghe: "Vì giữ giới nên tôi chia gà nấu dầu mè này cho mọi người." Như vậy là được, bạn vui vẻ: "Mọi người có thể ăn mà! Không có vấn đề gì đâu." Bạn có thể nói với mọi người: "Vì các bạn chưa thọ giới này, còn tôi đã thọ giới rồi." Còn nếu là tôi thì sao? Tôi sẽ ăn luôn. Cần gì phải quan tâm nhiều thế! Phải không? Trong tứ nhiếp pháp có một pháp là đồng sự, mọi người cùng làm một việc.
Cho nên các bạn bảo Sư Tôn hát, thực ra tôi hát không hay lắm, nhưng cũng phải hát. Giống như trước đây có nhiều vũ nữ quy y Chân Phật Tông, chẳng phải do tôi đi độ họ sao? Đúng không? Bảo Sư Tôn lên trời thì tôi lên trời cho các bạn xem. Đúng không? Bảo xuống biển thì tôi bơi thôi! Đúng không?
Thật ra làm Sư Tôn cũng không dễ, tôi thấy người ta tập xà đôi, tôi cũng phải leo lên làm vài cái. Người ta nói: "Sư Tôn là người luyện khí công, xem thử ông ấy có khí không?" "Lần này ông ấy sẽ lộ tẩy!" Tôi leo lên đong đưa vài vòng, các bạn nói: "Ông ấy 50 tuổi rồi đấy! 50 tuổi rồi mà vẫn còn khá phết."
Bạn xem sư phụ Hoàng ở võ đường Anh Quốc, còn có đệ tử ở Alaska nữa, họ đều là người dạy võ công mà! Sư Tôn cũng phải hạ công phu một chút. Họ đánh quyền bọ ngựa, còn tôi đánh quyền cua. Đây chính là đồng sự. Thế nào gọi là đồng sự? Chính là cùng làm một việc.
Thực ra ở đây, về mặt giới luật là linh hoạt. Như hôm qua leo núi Cầu Vồng có nói "không được bước lên bóng của sư phụ" (có ghi trong "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng"), nếu chân bước lên bóng của Sư Tôn, giống như phá tháp, tội này rất nặng. Hôm qua lên núi có nhiều người như vậy, gần cả nghìn người, ai mà không bước phải? Bước phải là tiêu rồi! Cho nên tôi nói: "Lúc đó không có chuyện đó." Mọi người chen chúc nhau chết đi được. Việc lên núi xuống núi này, ở chỗ đó, nếu bạn không bước lên bóng của Sư Tôn thì không ai có thể, đây không phải là đồng sự nữa, điều này đã tạo ra khoảng cách rồi.
Đúng vậy, Sư Tôn là tôn quý, tất nhiên đừng mất lễ độ trong những chi tiết nhỏ. Có những chỗ thất lễ cần phải chú ý một chút, nhưng khi thực sự đông người, chân bạn nhất định sẽ bước lên bóng của Sư Tôn; vì người đông chen lấn qua lại, bạn không muốn bước nhưng bị người ta đẩy qua là bước phải rồi. Không phải bạn cố ý bước, không phải cố tình giẫm lên như thế này. (lấy chân giẫm) Cho nên tôi nói "giới luật là linh hoạt", đây là chữ "xả". Cho nên "không" trong Phật pháp là tất cả đều là không tướng, khi thực sự đạt đến cảnh giới viên mãn, bạn làm việc gì cũng đều hợp với giới luật; thực sự đạt đến cảnh giới viên mãn, bạn đều được tự tại tự nhiên, hoàn toàn là một trạng thái hoan hỷ khinh an, rất mỹ mãn, thần thông. Loại thần thông này cũng là tự nhiên, từ trong tâm tuôn ra, không phải cố ý tạo tác.
Nhiều người nói: "Chân Phật Tông các người chuyên nói về thần thông." Làm gì có chuyện đó? Có thông gì đâu? Ăn đậu thì tất nhiên là thông rồi! Ăn đậu thì nó sẽ phát ra tiếng thôi! Cái đó gọi là "khí thông", khí nó thông đấy. Thần thông gì chứ? Đó là chuyện tự nhiên thôi.
Khi chữa bệnh cho người ta, tôi quán tưởng dòng chảy pháp gia trì cho họ, bệnh của họ khỏi, pháp lưu tự nhiên chảy vào thân thể họ, tôi không hề cố ý tạo tác, cái gì tạo tác ra thì mất đi tự nhiên rồi. Cho nên bên ngoài đồn rằng: "Chân Phật Tông chuyên nói về thần thông, Lư Thắng Ngạn chuyên nói về thần thông." Không có chuyện đó đâu! Chỉ là sống một cách tự nhiên thôi, đi đến đâu, cần gì thì nó tự nhiên xuất hiện, muốn thông thế nào thì tự nhiên thông. Thần thông chẳng liên quan gì đến tôi cả.
Tính Không trong Phật pháp chính là trạng thái tự nhiên như vậy, đó là "vô trụ". Như vừa nói, "Từ đâu đến?" "Từ hư không đến." Câu trả lời này rất đúng. Hư không có mặt khắp nơi, nơi nào cũng là hư không, Phật tính vốn là hư không. Hỏi: "Ông ở đâu?" "Tôi ở trong hư không." Ồ! Cách nói này chỉ có bậc đã chứng ngộ, chỉ có Như Lai mới có cách nói như vậy.
Thành tựu vĩ đại nhất thực sự là "y không an trụ". Y không an trụ nghĩa là an nhiên cư trú trong hư không, một trạng thái tự tại như vậy, tâm của bạn cũng y không an trụ. Khi giới luật đạt đến trạng thái "y không an trụ", nó sẽ hóa thành vô hình, luôn luôn giữ giới, không có chút sai sót nào. Cũng không thể phạm giới.
Sự thù thắng của truyền thừa
Điểm thù thắng của tông phái chúng ta còn có truyền thừa, truyền thừa là thù thắng. Các bạn xem hôm qua chúng ta đi leo núi, khi xuống thấy được cầu vồng mặt trời. Thực ra khi khai quang Bồ Đề Lôi Tạng Tự cũng có cầu vồng mặt trời, đều giống nhau cả, hiển hiện điềm lành trên không trung. Tôi có nói với mặt trời "nhờ ông tạo một vòng hoa bên cạnh" đâu. Tôi có làm vậy đâu? Đúng không? Muốn gió thì có gió, muốn mưa thì có mưa; trời muốn tạo cầu vồng mặt trời, người khác nói với tôi, tôi mới ra xem, không phải tôi chỉ cho các bạn xem đâu, nó tự nhiên hiển hiện. Điềm lành trên bầu trời này chứng minh Chân Phật Tông chúng ta là vô cùng thù thắng.
Chúng ta vốn đều đến từ Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai ở trong hư không vô trụ, từ trong đó xuất hiện Phật Nhãn Phật Mẫu, từ Đại Nhật Như Lai xuất hiện Phật Nhãn Phật Mẫu, rồi đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là cõi Thường Tịch Quang. Các bạn biết cõi Thường Tịch Quang chính là ở đây mà! Hai con mắt chẳng phải giống như Thường Tịch Quang Thổ sao! Đôi mắt ấy hóa thành Ma Ha Song Liên Trì. Rồi trong Song Liên Trì hóa sinh ra Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử giáng xuống nhân gian, trở thành Lư Thắng Ngạn.
Thực ra không phải chỉ một mình tôi đến, mà có rất nhiều Liên Hoa Đồng Tử đến, tất cả các bạn đều có duyên với Liên Hoa Đồng Tử, và cũng đều là Liên Hoa Đồng Tử. Trong tương lai, mọi người sẽ trở về Ma Ha Song Liên Trì, đến chỗ của Phật Nhãn Phật Mẫu, tương đương với việc trở về nơi của Đại Nhật Như Lai, tất cả đều là Liên Hoa Đồng Tử.
Vì vậy truyền thừa chân chính của Chân Phật Tông là: Đại Nhật Như Lai — Phật Nhãn Phật Mẫu — Liên Hoa Đồng Tử. Truyền thừa này là chính xác một trăm phần trăm.
27. Bát chính đạo
Tiếp theo chúng ta nói về bát chính đạo. Bát chính đạo đã được rất nhiều pháp sư giảng dạy rồi, trong Kinh "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" tôi nói về "khổ tập diệt đạo", chữ "đạo" này chính là nói về bát chính đạo, sau này các bạn có thể tự mình thấu hiểu.
Hiện nay bát chính đạo bao gồm: Chính kiến - tri kiến chân chính; Chính tư duy - tư duy chân chính; Chính ngữ - lời nói chân chính; Chính nghiệp - nghề nghiệp chân chính; Chính mệnh - hành vi chân chính; Chính tinh tấn - nỗ lực chân chính; Chính niệm - quan niệm chân chính; Chính định - thiền định chân chính; đây là nói sơ lược về bát chính đạo.
Nhiều người học Phật đều biết về bát chính đạo, những người học Phật chúng ta đều phải đi theo con đường bát chính đạo này, bởi vì nếu bạn đi theo bát chính đạo thì sẽ không bị lệch lạc, không đi vào tà đạo, không rơi vào cạm bẫy. Bát chính đạo chính là tám phương pháp tu hành thành Phật đúng đắn do Như Lai chỉ dạy.
Những điều chúng ta đã bàn đến hôm nay, tôi xin nhắc lại một lần nữa. Thất bồ đề phần gồm có trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, niệm giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Còn bát chính đạo là chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Chúng ta học Phật, những thứ tự chính yếu trong việc học Phật đã được giảng xong.
Trong Phật học có rất nhiều điều. Như mười tông phái, mỗi tông phái đều có rất nhiều luận thuyết và tác phẩm, sau khi các bạn đã chọn được, trạch pháp giác chi, các bạn đã chọn xong rồi thì hãy hướng về một mục tiêu mà tiến bước. Đối với những tông phái khác có liên quan, chỉ cần hiểu sơ qua là được. Giống như khi bạn học Mật, thì hãy chuyên sâu về Mật tông, còn chín tông phái lớn khác, bạn chỉ cần hiểu qua là được. Bởi vì khi bạn khai ngộ, bạn ngộ được Sự pháp thì Lý pháp cũng tự nhiên thông suốt. Giống như trước đây tôi đọc văn ngôn rất vất vả. Kinh Phật rất hay, không sâu như văn ngôn; văn ngôn thời xưa như "Liêu Trai", trong "Liêu Trai Chí Dị" câu văn tương đối sâu hơn.
Ngoài ra tôi đọc rất nhiều sách cổ văn cổ thư; những gì tôi không hiểu thì để sang một bên, tôi đọc những thứ khác trước, đọc xong những thứ khác, rất tinh tấn nỗ lực. Điều này cũng lạ, khi bạn đã học thông những thứ khác, hôm nay bạn cầm "Liêu Trai" lên đọc lại, ồ! tất cả đều thông suốt, không cần phải dùng văn viết hiện đại giải thích. Tôi có thể đọc văn ngôn, có thể đọc cổ văn, những cổ văn rất thâm sâu, chỉ một chữ tôi đã có thể hiểu được ý nghĩa rất sâu xa bên trong. Đây là chuyện gì vậy? Đây chính là: một pháp thông, pháp pháp thông.
Trước đây khi tôi cầm kinh Phật lên đọc, tôi không hiểu được, như Kinh Kim Cang, tôi không hiểu, trước đây tôi thực sự không hiểu, như câu vừa rồi: "Ví như chiếc bè, pháp còn phải xả bỏ, huống chi không phải pháp!" Câu này tôi không hiểu. Như Lai còn nói: "Nếu người nói Như Lai có thuyết pháp tức là phỉ báng Phật." Ngài thuyết pháp 49 năm, lại nói Ngài không thuyết pháp, nếu nói Ngài có thuyết pháp thì là phỉ báng Phật.
Sau này tôi cũng có thể nói với bạn: "Tôi chưa từng thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang, các bạn nói tôi có thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang là phỉ báng tôi." Có đơn giản như vậy không? Không đơn giản đâu! Sau khi bạn đọc những điều này bạn mới hiểu được, bạn sẽ lĩnh hội được, pháp vị sẽ xuất hiện, pháp vị nằm trong đó, chỗ vi diệu của nó nằm trong đó.
Vì vậy bây giờ khi tôi đọc kinh Phật, mỗi một bộ kinh, trước đây không hiểu lắm, nhưng bây giờ hiểu hết, bây giờ đọc là hiểu ngay. Khi cầm một bộ kinh điển lên, bộ kinh điển này trước đây rất thâm sâu, có thể tôi không hiểu được, không ngờ bây giờ mở ra đều hiểu hết, vừa đọc là thông suốt, tôi hiểu được Như Lai là gì. Tại sao vậy? Tại sao lại như thế? Bởi vì bây giờ tâm cảnh đã khác, bây giờ là một loại tâm cảnh khai ngộ, tôi từ Mật pháp đi sâu vào, thâm nhập một pháp là đã khai mở tâm này, tôi dùng tâm khai ngộ của mình để ấn chứng, tất cả kinh Phật, vừa ấn là tương ứng ngay.
Bạn muốn đọc hết tất cả kinh điển, đọc qua tất cả, nghiên cứu hết tất cả lý luận Phật học rồi mới đi sâu vào một pháp sao? Đến khi bạn đọc hết tất cả, bạn đã trải qua mấy kiếp rồi, mấy đời rồi, đã thành người của mấy kiếp rồi.
Trước đây, Hồ Thích nghiên cứu thiền học, nhưng không có tác dụng gì, bởi vì ông ấy không đi sâu, không đi sâu vào một pháp nào cả, ông ấy chỉ đạt được kiến thức về thiền, chứ không phải là sự khai ngộ thực sự; khi bạn đã đạt được khai ngộ, bất kì kinh điển nào trước mặt bạn đều tương ứng với bạn.
Cho nên "một pháp tương ứng, vạn pháp đều tương ứng", từ một môn đi sâu vào, bạn sẽ đạt được thành tựu lớn; Phật học không nằm ở chỗ "nhiều, rộng" mà nằm ở chỗ "sâu"; Như Lai cũng nói như vậy, thuở xưa Đức Phật cũng dạy: "Đa văn không bằng thực tu", "Thực tu không bằng một pháp", "Nhiều pháp không bằng một pháp".
Vừa rồi cũng có người nói: "Một chính là nhiều." Cho nên anh ta chỉ xà đơn một cái thôi, xà kép cũng chỉ một cái. Chúng ta hỏi anh ta: "Tại sao chỉ có một cái?" "Một chính là nhiều!" Bó tay với anh! Đúng là hết cách.
Mọi người hãy hiểu rõ đạo lý này, bởi vì một khi bạn đã khai ngộ, bất cứ điều gì ở trước mặt bạn, bạn đều có thể hiểu rõ ràng minh bạch. Nếu bạn chưa khai ngộ, dù cho học nhiều pháp đến mấy, vẫn chỉ là "số 0", cho nên chi bằng đi sâu vào một pháp. Đây chính là hương vị của Phật học, tinh túy nằm ở chỗ này.
Om mani padme hum.
28. Có ba loại khai ngộ
Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người. Hôm nay là ngày thứ bảy giảng dạy "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang.
Thế nào là khai ngộ?
Hôm nay chúng ta sẽ bàn về thập lực của Như Lai, đó là mười loại lực của Như Lai, cũng có thể nói là những năng lực phát xuất từ trí huệ, đây chính là năng lực trí huệ của bậc giác ngộ.
Những ngày trước chúng ta cũng đã đề cập đến thế nào là khai ngộ. Khai ngộ chính là bậc giác giả, chính là người đã giác ngộ rồi; vậy bậc giác giả sẽ có những năng lực trí huệ như thế nào? Đó chính là điều chúng ta sẽ giảng hôm nay.
Thực ra việc khai ngộ không phải là chuyện dễ dàng, khi chúng ta nói đến khai ngộ, ai cũng cảm thấy đó là một chuyện rất thâm sâu, rất xa vời, không phải dễ dàng chút nào.
Cho nên nếu có người nói: "Đời này tôi có thể giải thoát, tôi sẽ khai ngộ ngay tức khắc." Lời tuyên bố như vậy thật là vĩ đại, và sức thu hút của lời tuyên bố như vậy quả thật rất mạnh mẽ.
Giả sử hôm nay tôi nói: "Tôi sẽ giúp các bạn khai ngộ trong một giây, giải thoát trong ba giây." Tôi tin chắc sẽ có nhiều người đến quy y hơn. "Ba giây giải thoát", "một giây khai ngộ", cái này không cần kiểm tra, cũng không cần thi cử gì cả. Tuy nhiên cũng có thể được, tôi chỉ cần chuẩn bị một cây gậy gỗ lớn là được rồi. Đánh bạn một cái là khai ngộ! Đánh ba cái là xong luôn! Là thực sự giải thoát rồi. Tôi thấy ngoài cách này có thể giúp bạn "một giây khai ngộ, ba giây giải thoát" ra thì những cách khác đều là chuyện rất khó khăn.
Thực ra đừng tưởng rằng những ngày qua tôi toàn nói về khai ngộ, mọi người nghe khai ngộ đã quen rồi, hỏi bạn: "Đã khai ngộ chưa?" "Khai ngộ rồi!" Đúng vậy! Các bạn đã khai ngộ về Lý, đã hiểu được đạo lý; tôi giảng như vậy bảy ngày, những đạo lý này các bạn đều đã biết cả. Vô thường mà! Xuất ly mà! Vô ngã mà! Thế là thành A La Hán rồi. A La Hán là sự khai ngộ của Tiểu thừa, đã là rất tốt rồi. Thuở xưa mười đại đệ tử năm trăm vị A La Hán, không biết bao nhiêu vị A La Hán tu trì thành tựu, chỉ dựa vào ba điều này mà khai ngộ. Sau này mọi người ra ngoài, người ta hỏi "Bạn học Phật, học được gì?" "Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh." Ồ! Khai ngộ rồi.
Bây giờ Phật tử có một câu cửa miệng, vừa ra ngoài người ta hỏi: "Bạn học Phật, học được thế nào?" "Vô ngã." Ồ! Tốt quá! Vô ngã. Tôi đánh bạn một cái, bạn lập tức biến thành "hữu ngã". Bởi vì bạn liền nổi giận ngay! "Vô ngã" của bạn đi đâu mất rồi? Cho nên có nhiều người nói khai ngộ, đôi khi có đệ tử gọi điện cho Sư Tôn, đệ tử nói: "Con đã khai ngộ rồi." Chà! Tôi vừa nghe hai chữ "khai ngộ" là vô cùng hoảng sợ.
Tại sao lại vô cùng hoảng sợ? Tôi sợ rằng họ khai ngộ đến mức có vấn đề, là sự khai ngộ có vấn đề. Vài ngày sau họ lại gọi điện đến: "Con lại không khai ngộ nữa rồi." Khai ngộ không phải là chuyện dễ dàng như vậy, cho nên tôi vẫn luôn chia khai ngộ thành ba loại.
Khai ngộ có ba loại sao? Mọi người sẽ cảm thấy kỳ lạ, khai ngộ chẳng phải chỉ có một loại thôi sao? Khai ngộ là khai ngộ, sao khai ngộ lại có đến ba loại? Để tôi nói cho mọi người nghe.
Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa đảo
Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa gạt người khác, là kẻ lừa gạt. Họ lợi dụng cái "khai ngộ" này với mục đích riêng, có âm mưu, có dương mưu, có âm dương mưu. Họ nói với mọi người như thế này: "Tôi đã khai ngộ rồi, tôi đã thành Phật rồi." Ồ! Thế là nhiều người đến lễ bái. "Đây là Phật mà! Phật là bậc siêu việt thế gian, cảnh giới của Phật rất cao, có pháp lực rất lớn, chúng ta đến lễ bái Ngài, cúng dường Ngài, có thể nhận được gia trì của Phật." Vậy là bạn nghĩ rằng sau khi nhận được gia trì của Phật này, mọi việc sẽ như ý cát tường, tiền tài cuồn cuộn. Nhưng khi bạn chưa kịp "cuồn cuộn" thì vị Phật "khai ngộ" này đã "cuốn gói" đi mất rồi. Vấn đề là ở chỗ này, bởi vì họ chỉ cần tự xưng là khai ngộ, thì đó chính là "Om money coming home". Cái này là lừa tiền.
Loại khai ngộ này cũng có kẻ lừa gạt tình, làm sao lừa tình? "Tôi là Phật mà! Trên người tôi có mùi hương của Phật, bạn phải tiếp nhận Phật khí của tôi. Bạn biết không, Phật khí của tôi truyền cho bạn, đúng là có phương pháp này, nhưng mà không phải kiểu như thế. Bạn sờ tôi một cái, ồ, thế là nhận được Phật khí rồi, huống chi là ôm tôi một cái! Nếu bạn ôm một cái thì khí sẽ hoàn toàn trở thành của bạn, bạn sẽ thành Phật, còn tôi sẽ trở thành người thường. Thế nên tôi phải tu luyện lại, tu xong rồi sẽ đến lần thứ hai." Những kẻ lừa tiền gạt sắc là như vậy đó.
Hắn rất gian xảo, hắn nói: "Tôi đã khai ngộ rồi." Hắn nói sẽ khai thông trung mạch cho bạn, khai thông kiểu gì? Hắn nói: "Đưa tiền đây, tôi lấy cây chổi khai thông cho." Khai thông kiểu gì chứ? Tôi học Phật bao lâu nay, còn chưa biết dùng cái gì để khai thông! Bạn nói tôi có khí, tôi gia trì cho bạn, dùng khí để gia trì cho bạn, để khí của bạn cũng có thể tuần hoàn, cái này thì được. Nhưng làm sao khai thông trung mạch trong người bạn? Dùng cái bơm xe đạp ấy, ấn vào mông, bơm khí vào cho bạn, tôi thấy chỉ có cách đó mới thông thôi! Đúng không? Cho nên cái kiểu "Lập tức khai thông trung mạch cho bạn!" Được rồi, thông xong rồi, bạn vui vẻ, bạn về nhà, một ngày nọ bạn sẽ nói: "Sao thế này, sau khi khai thông trung mạch xong, lúc đầu cảm thấy trong người có một luồng khí, sao bây giờ lại không còn nữa?" Vị thầy đó sẽ gọi bạn quay lại: "Mỗi tháng phải thông một lần, không thông thì ống cống sẽ tắc mất!" Một tháng phải thông ống cống một lần, bạn nghe hắn nói cũng có lý, đây chính là "Om money coming home", là ôm tiền về nhà.
Vì vậy tu hành là phải tự mình nỗ lực, tuyệt đối đừng nghĩ rằng người khác sẽ ban cho mình điều gì, ngay cả Sư Tôn cũng chỉ truyền pháp cho bạn thôi, bạn vẫn phải tự tu. Cho nên đối với những người "khai ngộ" đó, bạn có thể phân biệt được họ có thực sự khai ngộ hay không, rất đơn giản, bạn có thể nhận ra ngay, đây là một bài kiểm tra rất đơn giản. Chỉ cần người "khai ngộ" đó mở miệng xin tiền người khác, bạn phải cảnh giác ngay! Tại sao vậy? Bởi vì người khai ngộ thực sự họ hiểu rằng, toàn bộ vũ trụ hư không đều là của họ, họ không cần phải đòi hỏi gì từ bạn cả, không cần phải xin xỏ, không cần phải lấy tiền. Hôm nay nếu có người "khai ngộ" mở miệng nói với bạn "Tôi cần bao nhiêu tiền mới có thể gia trì cho bạn, mới có thể dạy bạn mật pháp gì đó." Những người này đều có vấn đề cả.
Cho nên trong số những người khai ngộ, có những kẻ là lừa đảo, mọi người phải cẩn thận một chút, nghĩa là phải thận trọng. Cần biết người đó có tham hay không, người có lòng tham chứng tỏ họ vẫn chưa thể buông xả. Người khai ngộ là từ bi hỷ xả, họ đã có lòng tham thì làm sao là người khai ngộ được? Người khai ngộ, tâm rộng lớn như hư không, vạn vật trong vũ trụ đều là của họ, họ không cần phải lấy tiền từ người khác nữa. Người ta tự động cúng dường họ như thế đã đủ rồi. Cho nên những kẻ mở miệng xin tiền người khác, cái "khai ngộ" này chắc chắn có vấn đề, họ vẫn chưa đoạn trừ được lòng tham.
Ngoài ra, đạo đức của họ, bạn hãy để ý đến đạo đức của họ, khi không nên nóng giận mà họ lại nóng giận, bạn nói: "Kim Cang Thần cũng nóng giận mà!" Đúng vậy, nhưng Ngài có lý do của Ngài, lý do mà Ngài dùng phải hợp lý, phải phù hợp với đạo lý, Ngài phải nói ra được một đạo lý; còn nóng giận vô lý và những hiện tượng thất thường như vậy là không được phép, không thể có.
Sư phụ đôi khi cũng sẽ thử thách bạn đấy, giống như có những vị sư phụ sẽ thử thách đệ tử của mình, khi gặp một đệ tử đến, đệ tử đó nói: "Con đã tu hành đến mức vô ngã rồi." "Tốt! Con đã tu hành đến mức vô ngã rồi, vậy con có muốn lấy thầy không?" Sư phụ nói đấy! "Con có muốn lấy thầy không?" Đệ tử đó nói: "Sao sư phụ có thể nói như vậy? Làm sao con có thể lấy thầy được?" Sư phụ tuổi đã cao như vậy, gương mặt nhăn nheo như vỏ quýt, vỏ quýt đấy! Nhăn nheo như thế, già như vậy. "Con mới chỉ mười mấy tuổi, làm sao con có thể lấy thầy được?" "Con không phải nói là đã tu hành đến mức vô ngã rồi sao?" Thực ra sư phụ chưa chắc đã thực sự muốn cưới bạn đâu, thầy chỉ muốn thử thách bạn thôi, bạn nói là "vô ngã" mà! "Vô ngã" nên thầy mới nói ra câu đó. Cho nên nếu vẫn còn ba chữ "tham sân si" này thì chưa phải là thực sự khai ngộ.
Chúng ta đều biết, người khai ngộ khi mở miệng nói năng đều có pháp vị, đều có trí tuệ của họ. Nếu một người ở đâu cũng thể hiện không có chút trí tuệ nào, hành xử điên đảo, sân hận rất nặng thì… Tuy nhiên, các bạn cũng phải phân biệt cẩn thận, giống như Sư Tôn đây, đôi khi cũng nói những lời ngớ ngẩn, đó là vì "đại trí giả ngu" đấy! Hoặc đôi khi cũng nói những lời ngược lại, nói trái ngược.
Rõ ràng không có tư tâm, nhưng lại nói những lời rất có tư tâm; rõ ràng tu dưỡng rất tốt, nhưng đôi khi lại nổi giận dữ dội. Đó là đôi khi đang giáo dục bạn, đang kiểm tra bạn, phải làm như vậy đấy. Lúc đó các bạn phải dùng con mắt trí tuệ để phân biệt, bởi vì các bạn biết đấy, bậc đại trí huệ, đôi khi biểu hiện của họ hoàn toàn giống như người bình thường, chỉ là thỉnh thoảng họ sẽ để lộ ra trí huệ và pháp vị của mình, điểm này, những người học Phật các bạn phải phân biệt thật cẩn thận mới có thể hiểu rõ được.
Giả sử người khai ngộ đó có lòng tham vô tận, sân hận vô tận, si mê vô tận thì sao? Nếu bạn đã quy y với họ rồi thì hãy lặng lẽ rút lui, cũng đừng phỉ báng họ, cho nên người học Phật chúng ta khi quy y một vị thầy phải hết sức thận trọng. Sau khi quy y thì bạn học những điều hay của thầy, không học những điểm yếu, và mọi hành vi của bạn phải phù hợp với sự tôn kính thầy. Nếu bạn có thể học được điều gì đó từ họ, học được Phật pháp thì tốt nhất. Không học được Phật pháp thì bạn có thể đến nơi khác học, đi cầu học. Sau đó chọn một pháp và đi sâu vào pháp đó. Cho nên trong lời nói của họ có phù hợp với Phật pháp không? Trong ngôn hành của họ có phù hợp với Phật pháp không? Những điều này đều phải dùng trí tuệ để phân biệt. Nếu không thì tiền mất tật mang, thời gian cũng lãng phí.
Giống như Sư Tôn giảng ra bộ "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh" này, nếu bạn không nghiên cứu sâu, nếu họ bảo bạn đến quy y một cách vô căn cứ, bảo bạn đến học mà chẳng có gì để cho bạn, thì bạn biết đó là kẻ lừa đảo rồi. Hôm nay có Phật pháp để cho các bạn, có pháp vị vi diệu, có những điều tốt đẹp bên trong, các bạn có thể cảm nhận được, thực ra đó chính là có trí tuệ.
Loại khai ngộ thứ hai là kẻ điên
Vậy loại khai ngộ thứ hai là gì? Bây giờ chúng ta nói về loại khai ngộ thứ hai. Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa đảo, loại khai ngộ thứ hai là kẻ điên, kẻ điên chính là người bệnh tâm thần.
Hành vi của kẻ điên các bạn có thể nhận ra được, có một loại điên là thực sự điên, thực sự điên đấy! Nhưng cũng có một loại điên là giả điên, điều này các bạn cũng phải nhận ra được. Giống như Tế Công Hoạt Phật, Ngài là kẻ giả điên, nhưng Ngài là bậc khai ngộ chân chính. Một số hành vi của Ngài cũng điên điên khùng khùng, nhưng trong sự điên khùng đó, Ngài vẫn thuyết giảng được Phật lý.
Ngài từng bắt con bọ chét, con rận! Sau khi bắt được con rận ở phía trước ngực, vì Ngài không sát sinh mà! Nên Ngài thả nó ra phía sau lưng, rồi khi bắt được con rận ở phía sau lưng, lại thả ra phía trước. Thế là có người hỏi Ngài: "Sao thầy cứ bắt con rận từ chỗ này sang chỗ kia mà không giết nó đi?" Ngài nói: "Đây là không sát sinh." Ngài giữ giới không sát sinh. Nhưng tại sao lại bắt con ở phía trước thả ra sau, bắt con ở phía sau thả ra trước vậy? Ngài nói: "Làm như vậy chúng sẽ không quen thổ nhưỡng." Nhưng mà các bạn phải nghe lời của Tế Công Hoạt Phật nói này! Thực ra trong đó có đạo lý của Ngài, Ngài đang dạy người ta phải giữ giới không sát sinh; nhưng mà, có thể dùng phương tiện thiện xảo, khiến cho chúng không quen thổ nhưỡng là được rồi.
Giống như ở Cầu Vồng Sơn Trang của chúng ta cũng phát hiện có chuột, có vài con chuột không biết từ đâu di cư đến, tôi không biết, sau đó chúng tôi dạy pháp sư Hiểu Quang dùng một cái thùng nhựa 5 gallon, vì nó rất trơn mà! Sau đó bỏ lạc vào trong, dựng sát vào tường để nó có thể trèo vào; nó ngửi thấy mùi lạc, leo lên, "tõm", rơi xuống, vào bên trong ăn lạc, ăn xong nhảy không ra được. Sau đó pháp sư Hiểu Quang lái xe chở nó đến một nơi rất xa, để cho nó không quen thổ nhưỡng.
Đây là điều mà Tế Công Hoạt Phật dạy chúng ta, trong đó có đạo lý của Ngài; bạn thấy Ngài điên điên khùng khùng, nhưng Ngài có lý do của mình. Ngài vác tượng Vi Đà ở chùa Linh Ẩn trên lưng rồi chạy đi. Người ta hỏi Ngài: "Ủa! Thầy ơi! Sao lại thế này? Sao lại vác tượng Vi Đà chạy khắp phố vậy?" Ngài nói: "À! Chùa chúng tôi đang chuyển nhà." Ừm! Ngài đang chuyển nhà! Mọi người nói: "Có lý đấy! Ngài vác Bồ Tát Vi Đà chạy khắp nơi." Thực ra Ngài vác tượng Vi Đà là để đi bắt yêu quái, Ngài đặt tượng ở nhà viên ngoại, Vi Đà sẽ hiển linh và bắt yêu quái. Ngài có lý do của mình. Chúng ta thấy Ngài có vẻ điên điên khùng khùng, nhưng thực ra đó là sự điên khùng có lý do.
Nhưng nếu là người khai ngộ mà nói năng không rõ ràng, tâm niệm không chân chính, hành vi lệch lạc, thì đó không phải là hành vi của người khai ngộ! Giống như hành vi của Tế Công Hoạt Phật, đôi khi Ngài không giống người bình thường; nhưng tất cả đều có lý do, đều có lý niệm của Ngài. Tâm niệm của Ngài đều là chính niệm, mọi hành vi đều vì chính niệm mà làm, chỉ là biểu hiện khác với người thường, đó mới là người khai ngộ. Nếu tâm niệm không chân chính, nói năng không rõ ràng, đó chính là kẻ điên.
Tôi nhớ có một vị đại hòa thượng, là một vị hòa thượng rất lớn, rất nổi tiếng! Ngài mắc phải chứng bệnh gì vậy? Tôi không biết Ngài mắc phải chứng bệnh gì, tóm lại là đầu óc không được tỉnh táo. Nghe nói là ở trong bệnh viện, tôi nghe người ta nói vậy thôi, không chắc là đúng. Lúc đó cũng có nhiều người nhìn thấy mà! Dù sao thì Ngài đang nằm trong bệnh viện, một y tá xinh đẹp đi vào, cô y tá này định tiêm thuốc cho Ngài thì bàn tay quái dị của Ngài liền xuất hiện. Bàn tay quái dị xuất hiện.
Sờ chỗ nào của người ta ư? Thật ngại không dám nói. Bàn tay quái dị của Ngài xuất hiện đấy!
Còn nữa? Khi y tá xinh đẹp đi vào, hoặc là đệ tử nữ vào thăm Ngài, Ngài liền kéo quần xuống. Thế là nhiều thị giả bên cạnh và các đệ tử theo Ngài đều nói: "Sư phụ khai ngộ rồi!" Nói rằng sư phụ khai ngộ rồi.
Cái khai ngộ mà họ nói là khai ngộ kiểu gì vậy? Họ nói: "Sư phụ đã không còn tâm phân biệt nữa." Ngài thể hiện một trạng thái khai ngộ. Thấy phụ nữ đến là kéo quần xuống, thấy y tá xinh đẹp đến tiêm thuốc là bàn tay quái dị liền xuất hiện. Hành vi như vậy sao gọi là khai ngộ được?
Vậy bây giờ thì sao? Hiện tại người ta đã nhốt Ngài lại rồi, không ai được gặp Ngài nữa, bởi vì đó không phải là khai ngộ. Ngài muốn biểu đạt điều gì vậy? Là tâm không phân biệt sao? Vậy thì tại sao khi bác sĩ nam vào, Ngài lại không xuất hiện bàn tay quái dị? Khi đệ tử nam vào, tại sao Ngài lại không kéo quần xuống? Phải gặp ai cũng kéo xuống chứ! Như vậy mới gọi là không phân biệt chứ! Ngài có phải bị chứng đãng trí không? Nếu bị chứng đãng trí thì sao Ngài còn phân biệt được nam nữ? Điều này quả thật có vấn đề.
Vì vậy tôi cho rằng đó không phải là khai ngộ, mà là vị đại hòa thượng này đã kìm nén bản thân quá lâu, Ngài đã kìm nén dục vọng của mình! Từ khi còn rất nhỏ Ngài đã kìm nén rồi, bên ngoài Ngài tỏ ra rất trang nghiêm. Ừm! Là đại hòa thượng, suốt ngày cứ làm ra vẻ rất thần thánh, một bộ dạng thần thánh không ai xâm phạm được, Ngài đã kìm nén dục vọng đó, kìm nén quá lâu rồi, đến một ngày kia, đầu óc Ngài đã bị trúng độc, Ngài không thể kiểm soát được hành vi của mình nữa, lúc đó Ngài đã để cho dục vọng của mình hoàn toàn bộc lộ ra hết, điều này không phải là khai ngộ, người khai ngộ không phải như vậy, cho nên đây là kẻ điên.
Cũng có rất nhiều người điên! Ở bệnh viện tâm thần đâu đâu cũng thấy! Bạn thử vào bệnh viện tâm thần mà xem, trong bệnh viện tâm thần, tất cả đều là người nhìn thấy thần thánh nhìn thấy ma quỷ. Mỗi người ở đó đều rất căng thẳng, ai đó đang đuổi theo họ, họ bỏ chạy. Họ nói: "Có người đuổi theo tôi." Chúng ta nhìn chẳng thấy ai cả. Người kia nói: "Đức Mẹ Maria đến rồi." Họ quỳ xuống trước mặt mọi người cầu nguyện, toàn thân run rẩy. Có người nói "Chúa Jesus đến rồi", có người nói "Đức Phật đến rồi", có người nói "Ma Tổ đến rồi", ai đó đến rồi, ngày nào cũng có nhiều khách đến tìm họ như vậy, khách thăm của họ đặc biệt nhiều, suốt ngày cứ ở đó nói chuyện với ai đó.
Tôi nói cho bạn biết, những người này đều là người khai ngộ đấy. Có nhiều người khai ngộ như vậy, bạn phải cẩn thận đấy! Nếu bạn khai ngộ kiểu như vậy, tôi thà không khai ngộ còn hơn. Ồ! Nếu tôi trở thành người khai ngộ kiểu này, tôi sẽ phải "bay qua tổ chim cúc cu" (ý nói: vào viện tâm thần). Họ đều có thiên nhãn, có nhĩ thông, có nhãn thông, thông cái gì cũng có, chỉ là không thể kiểm soát được bản thân, đây không phải là người khai ngộ.
Loại thứ ba, người thực sự khai ngộ là Phật tử
Người thực sự khai ngộ là như thế nào? Ngoài kẻ lừa đảo, kẻ điên ra, họ là người có đạo.
Người có đạo là điều tôi nói. Người khai ngộ này rất tự nhiên, tất cả hành vi của họ đều phù hợp với tự nhiên, tất cả ngôn hành của họ đều rất tự tại, rất thư thái, rất tự tại; họ sống trong tự nhiên và tự tại, họ rất tự nhiên, nghĩa là bất kì sự việc nào đến trước mặt họ, họ đều có thể không quá vui mừng cũng không quá bi thương. Trước mặt họ không có việc gì quá lớn lao, cũng như là không có việc gì; nghĩa là họ có thể vận dụng trí tuệ của mình một cách tự nhiên.
Họ có đức tính vi diệu, họ thể hiện ra một loại đức tính rất vi diệu, không phải tự mình tạo tác, không phải cố ý làm ra, một loại đức tính vi diệu hiển lộ trên thân họ, tâm linh của họ thanh tịnh, không ô nhiễm, trong suốt, không che giấu, điểm này rất quan trọng.
Tâm này là thanh tịnh, cảnh giới khai ngộ này có người nói là "vạn dặm trời trong", trạng thái trời quang; chính là thời tiết rất trong sáng, trong suốt, vô tận đến vạn dặm. Trạng thái hoàn toàn trong suốt đó là tâm cảnh của bậc khai ngộ, là diệu lạc vô cùng; không phải nói là rất u uất, mà là họ có niềm vui của họ, sống trong pháp vị là một loại niềm vui rất vi diệu. Không phải là loại dục lạc của người đời, đây là một yếu tố vốn có của bậc khai ngộ.
Đây là gì vậy? Chính là "thường, lạc, ngã, tịnh" trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh mà chúng ta tụng đọc. "Thường" này có thể nói chính là tự nhiên, tự nhiên, tự tại, tự như chính là "thường". "Lạc" là gì? Chính là diệu lạc vô cùng, pháp vị diệu lạc vô cùng, không có phiền não. Còn "Ngã" thì sao? Ngã này là đại ngã, diệu đức của vũ trụ, tất cả đức tính của vũ trụ, địa thủy hỏa phong không, tất cả đức chính là ngã này. Còn "Tịnh" thì sao? Chính là hoàn toàn thanh tịnh.
Lần thuyết pháp này tại Cầu Vồng Sơn Trang, về chữ "ngã" này, có người nói rằng "địa thủy hỏa phong" đều đã đến. Về "địa" này, các vị mỗi ngày phải chạy rất xa, đều là đi trên mặt đất! Các vị đâu phải bay mà đến, cho nên là "địa". Các vị ma sát với mặt đất, bánh xe ma sát với mặt đất, ma sát 40 phút đến đây, rồi lại ma sát 40 phút để về, đây là "địa".
Còn "thủy" thì sao? Trời mưa. Mây đen vừa kéo đến thì mưa liền xuống, cho nên có nước, trời liền mưa.
Còn "hỏa" thì sao? Chiều hôm qua bỗng nhiên rất nóng, rất ngột ngạt, thời tiết cũng rất nóng, nhiệt độ tăng cao, đó chính là "hỏa".
Còn "phong" thì sao? Sáng hôm qua gió rất to, đã thổi bay mất một cái lều. "Địa thủy hỏa phong" đều đã đến, nhưng không sao cả, vũ trụ này và thân thể chúng ta đều là sự kết hợp của "địa thủy hỏa phong", toàn bộ vũ trụ, toàn bộ con người chúng ta đều là sự kết hợp của "địa thủy hỏa phong", đó chính là "ngã".
Bạn sống giữa vũ trụ này, tùy thuận với địa thủy hỏa phong để điều phục địa thủy hỏa phong trong cơ thể mình, nếu bạn điều hòa tứ đại tốt thì sẽ không bị cảm cúm.
Trước khi tôi thuyết pháp lần này, có rất nhiều đệ tử đến, trong đó cũng có người bị cảm. Tôi cũng rất sợ! Trong số các bạn có một người ho một tiếng về phía tôi, đúng lúc tôi hít vào, thế là có mấy nghìn con vi khuẩn vào cơ thể tôi. Tôi là người luyện khí, nếu không có sức đề kháng, thì bảy ngày, tám ngày, chín ngày, mười ngày, tôi sẽ ở đây ho.
Nếu cổ họng tôi có vấn đề thì làm sao tôi thuyết pháp? Thế thì không tự tại rồi! Cho nên trong mấy ngày này, khi các bạn ho về phía tôi, tôi liền mau mau mặc giáp hộ thân, luyện khí! Tôi không thể ho được! Nếu tôi ho, quay video lại, ôi, thảm rồi! Ho liên tục như vậy, trông giống người khai ngộ không? Người ta nhìn tôi: "Đúng là tên nghiện Đông Á!" "Đâu phải là người khai ngộ?" "Người luyện khí cái gì chứ?"
Ngày xưa chúng ta xem hát bội, "Người luyện khí ở lều bí đỏ", người luyện khí này thật ra cũng có đạo lý của nó, chúng ta học Phật, học Mật đều là luyện khí, cho nên gọi là người luyện khí, hành giả yoga. Hành giả yoga chính là đang luyện khí, khai thông kinh mạch, nâng cao minh điểm. Luyện khí này làm cho thể lực tốt hơn, sau đó có sức đề kháng, trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại.
Hôm nay tu chính là tu để trăm bệnh không nhiễm kim cương bất hoại, nhưng không thể nói khoác, bởi vì ở đây cũng có vận mệnh, có lúc bệnh ma tìm đến bạn, có lúc vận mệnh của bạn đã định sẵn phải mắc một trận bệnh nặng, tôi cũng không có cách nào. Tôi không dám nói to tát đâu, mỗi lần tôi vừa nói to tát là xong luôn.
Cái "thường lạc ngã tịnh" này, "thường" chính là tự nhiên, con người bạn rất tự nhiên, rất tùy duyên, tùy tục tùy hỷ, tự nhiên, nhìn không thấy có gì cả, nhưng trong tâm có diệu lạc vô cùng, đạt được pháp vị rất lớn. Còn "ngã" này thì sao? Là địa thủy hỏa phong không của vũ trụ tương hỗ điều ngự, tương hỗ qua lại, tương hỗ dung hợp dung nhập, còn "tịnh" này là một loại thanh tịnh hoàn toàn, đây mới là bậc khai ngộ.
Bậc khai ngộ là người có đạo, chính là Pháp Vương Tử, chính là Phật tử, không phải là kẻ điên, khác với kẻ điên, cũng khác với kẻ lừa đảo, các bạn phải phân biệt rõ ba loại này, tất cả đều rất giống nhau, có một số bậc khai ngộ thật sự có vẻ điên điên khùng khùng. Chẳng phải tôi đã viết một bài "Pháp Vương điên Lư Thắng Ngạn" sao? Tuy ông ấy điên điên khùng khùng, nhưng điên có đạo lý, điên tự tại, điên tự nhiên, điên tự như. Ngoài ra, phải cẩn thận, cũng có những kẻ dựa vào Phật pháp để lừa gạt chúng sinh, thường xuyên tự xưng là khai ngộ, rất nhiều.
Về mặt Lý, các bạn đều đã biết rồi, có thể nói về mặt lý thuyết các bạn đều đã hiểu, đều đã khai ngộ, nhưng về thực tu chưa chắc đã chứng ngộ đến cảnh giới khai ngộ. Có người cũng nói với tôi: "Con đã khai ngộ rồi, con có một việc rất quan trọng muốn thưa với Sư Tôn." Tôi nói: "Việc quan trọng gì vậy?" Vị khai ngộ này lại nói: "Muốn hỏi việc." Hỏi cả nửa ngày cũng chỉ là muốn hỏi tại sao gà nhà họ không chịu ăn gạo? "Gà nhà anh không ăn gạo thì liên quan gì đến tôi?" Tôi cũng không biết.
Cho nên người khai ngộ, lời nói của họ phải có trí tuệ, bản thân họ phải có trí tuệ, họ không thể để lộ ra ba độc tham sân si. Các bạn hãy chú ý điều này. Đối với bậc khai ngộ, các bạn phải có sự lựa chọn sáng suốt. Ví dụ như họ có thể giảng giải Phật lý, họ có Phật pháp hợp lý, như Chân Phật Mật Pháp, nếu không phải là người đã thâm nhập và nghiên cứu trong thời gian dài thì không thể giảng giải được.
29. Mười lực Như Lai
- Biết trước tất cả sự vật
Hôm nay chúng ta bàn về mười lực Như Lai, Như Lai chính là bậc giác ngộ. Thứ nhất, Ngài biết tất cả sự vật, điều được đề cập ở đây là sự thấu hiểu tường tận, rõ ràng minh bạch, Như Lai Phật biết tất cả sự vật. Khi một người đến trước mặt Ngài, Ngài nhanh chóng biết được mọi ngọn ngành của tất cả sự việc, biết được lai lịch của người đó, điều này nói lên điều gì? Đối với đạo lý của toàn thể vũ trụ, tất cả những đạo lý giữa vũ trụ này, Ngài đều thấu tỏ, biết được tất cả sự vật, như tôi thường đề cập trong những lần trò chuyện, đối với mọi việc, tất cả mọi thứ Ngài đều thấu hiểu tường tận, rõ ràng minh bạch, hiện tượng này chính là một trong những lực trí huệ của Phật.
- Hiểu rõ nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh
Thứ hai, biết nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh. Điều này có thể nói là sự tiếp nối của điều thứ nhất, biết được nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh. Làm sao biết được? Bởi vì trên thân của bạn đều có dấu ấn, mỗi người đều mang dấu ấn, tiền kiếp của bạn là gì, vị lai sẽ ra sao? Chỉ cần đạt được trí huệ Như Lai, họ đều biết được, bởi vì trên thân bạn có dấu ấn.
Tôi đã từng nói, tôi thấy mọi người đều là đồ cổ, bạn ở thế gian này cùng lắm có người sống được bốn mươi mấy tuổi, có người năm mươi mấy tuổi, có người mới hai mươi mấy tuổi, ba mươi mấy tuổi, chưa tính là đồ cổ phải không! Nhưng mà tôi biết tiền kiếp của bạn, bạn đến gặp tôi, tôi sẽ nói, nhưng không thể nói bừa. Tiền kiếp bạn làm gì, kiếp này trên thân bạn đều mang dấu ấn của tiền kiếp.
Tại sao gọi các bạn là đồ cổ? Bởi vì bề ngoài các bạn chỉ sống được hai mươi mấy tuổi, ba mươi tuổi trong kiếp này, nhưng thực tế tiền kiếp các bạn đã sống đến chín mươi tuổi, cộng lại đã là một trăm hai mươi tuổi, thế thì đã là đồ cổ rồi. Nếu tính thêm kiếp trước, kiếp trước nữa thì sao? Không chừng các bạn đã sống được mấy nghìn tuổi rồi! Đúng không? Các bạn đã sống cả nghìn tuổi, vạn tuổi, không phải đồ cổ thì là gì?
Cho nên một bậc khai ngộ với trí huệ Như Lai, Ngài biết được nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh, trên người các bạn đều mang dấu ấn; nhìn thấy dấu ấn đó, liền biết được tiền kiếp các bạn làm gì, có bao nhiêu nghiệp chướng, làm được bao nhiêu việc thiện, có bao nhiêu phúc báo, có bao nhiêu nghiệp báo, tất cả đều có dấu ấn trên thân các bạn.
- Biết phương pháp giải thoát phiền não
Trong trí huệ Như Lai, Ngài biết về giải thoát, tri giải thoát. Tri giải thoát là gì? Như tôi đã nói, muốn giải thoát bản thân, các bạn phải quán chiếu thế gian vô thường, phải nhanh chóng cầu xuất ly, phải nhanh chóng tu thành vô ngã, giải thoát tất cả phiền não; quy trình này, thứ tự này được giảng giải rõ ràng, tường tận, đây chính là trí huệ của Như Lai, biết được phương pháp giải thoát. Vậy nên hiện giờ đang dạy mọi người cách giải thoát, đây chính là tri giải thoát.
- Biết được ưu khuyết của chúng sinh
Tiếp theo là biết được ưu khuyết của chúng sinh. Điều này có thể nói như thế này, biết được ưu khuyết của chúng sinh; ưu là mặt tốt, khuyết là mặt xấu. Mặt tốt bạn có thể vận dụng sở trường của mình, mặt xấu thì phải loại bỏ nó đi, đây là tập tính của con người, là nói về tập tính vốn có của con người.
Trong Mật giáo, tiền kiếp của bạn, ồ, giả sử là chicken, là gà, thì đời này lòng tham của bạn rất nặng, đời này lòng tham sẽ rất nặng, bởi vì người ta thấy được tiền kiếp của bạn là một con gà mà! Gà thì tham dục rất nặng. Nếu thấy tiền kiếp của bạn là một con snake (rắn), thì đời này tâm sân của bạn sẽ rất nặng, gặp người là muốn cắn người, là một con rắn, tâm sân của nó rất nặng. Nếu tiền kiếp là một con pig, là một con lợn, thì đời này, tâm si của người đó sẽ đặc biệt nặng, ngu si. Cho nên ba con vật này đại diện cho tham, sân, si.
Chúng ta phân biệt chúng sinh như vậy, không phải là phân biệt đối xử với chúng sinh, mà chỉ là biết được tập tính vốn có của người đó, làm sư phụ thì dễ dàng dạy họ hơn, dạy theo tập tính của họ.
Thời Đức Phật, Ngài có hai đệ tử, vị tỳ kheo nam là Ca Lưu Đà Di, Ca Lưu Đà Di có tập tính khá nặng, tính xấu của ông là gì? Tính xấu của ông là hay phạm đào hoa.
Hoa đào rất đẹp, tại sao lại phạm đào hoa? Chuyện là như thế này, mỗi lần Phật Thích Ca Mâu Ni muốn độ các nữ chúng sinh, Ngài đều sai ông đi. Bởi vì ông hay phạm đào hoa, phụ nữ nhìn thấy ông đều sinh lòng hoan hỷ, nên ông nói gì họ cũng nghe, vì vậy Phật Đà đặc biệt sai ông đi làm công tác ngoại giao với nữ giới. Tập tính của ông rất nặng, lại thích phụ nữ; không giống như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, họ chẳng bao giờ đụng chạm đến phụ nữ.
Ca Lưu Đà Di này, ông có tập tính nặng về phụ nữ; cuối cùng ông cũng bị người ta sát hại, nguyên nhân chính là vì ông quá gần gũi với thế tục, quá gần gũi với các gia đình thế gian. Người tu hành đôi khi cần phải tránh quá gần gũi với gia tộc người khác, tránh quá nhập thế.
Trước đây thầy tôi có một giới luật dạy tôi: "Nếu không ai mời, con không được tự tiện đến nhà người khác." Hôm nay các vị mời tôi đến nhà, tôi mới đến, nếu không ai mời, tôi không được tự tiện đến nhà người khác chơi, không thể được, bởi vì sợ bị ô nhiễm bởi thế tục.
Ngày xưa Ca Lưu Đà Di thường xuyên tự tiện đến nhà người khác chơi, nên đã bị người ta sát hại, đó là do tập tính của ông ấy quá nặng.
Còn người thứ hai có tập tính nặng hơn, đó là Đa Lan Nan Đà, một vị tỳ kheo ni, bà là một "mụ phàm phu", bà rất ghét Đại Ca Diếp, bởi vì Đại Ca Diếp rất nghiêm túc, ngài không bao giờ nhìn phụ nữ. Đa Lan Nan Đà này sáng sớm vừa ra khỏi cửa đã gặp Đại Ca Diếp, liền mắng: "Xui xẻo quá! Vừa sáng sớm đã gặp gã ngoại đạo này." Rồi bà bắt đầu chửi.
Bà ấy rất ương ngạnh, trong giáo pháp của Phật Đà có "bát kính pháp", là tám phương pháp mà tỳ kheo ni phải tôn kính tỳ kheo, nhưng bà không tuân thủ điều nào cả; với thân phận một tỳ kheo ni, bà lại dám mắng một vị tỳ kheo nam, một đại đệ tử của Phật như vậy.
Tuy nhiên Phật Đà biết được tập tính của bà, nên đã dùng nhiều phương pháp để giáo hóa bà, chứ không đuổi bà ra khỏi tăng đoàn. Cho nên ngay từ đầu, Phật Đà dạy các đệ tử đều tùy theo căn cơ mà giáo hóa. Vì tính bà hung hăng mà, cho nên Ngài sai bà đi đối phó với những kẻ bên ngoài xúc phạm, những sự sỉ nhục từ bên ngoài, cứ phái bà ra đối phó.
Đôi khi một người đàn bà ương ngạnh như vậy cũng có điểm tốt, người ta chưa kịp mở miệng, bà đã như súng liên thanh, bắn liên tục quét ngã tất cả mọi người.
Nếu bạn phái một vị tỳ kheo ni hiền lành, hoặc một vị tỳ kheo ni nói năng nhã nhặn đi thì không được đâu! Cãi nhau được gì với người ta? Nhất định phải phái những người đàn bà ương ngạnh này, đội quân của những người đàn bà ương ngạnh.
- Biết được cấp độ giải thoát của chúng sinh
Thứ năm là gì? Cần phải biết được cấp độ giải thoát của chúng sinh, phải có khả năng biết được trí huệ giải thoát của mỗi chúng sinh; đây cũng là tùy căn cơ mà giáo hóa.
Chúng ta biết rằng khi Như Lai mở miệng nói, trong hư không liền hóa thành pháp âm, pháp âm này phân thành vạn loại, vang đến tận nơi xa xôi. Ngài Mục Kiền Liên đã từng bay đến Phật quốc ở phương Đông để nghe Như Lai thuyết pháp, ở đó vẫn có thể nghe được Như Lai thuyết pháp, cho nên pháp âm này cũng rất vi diệu. Đôi khi Như Lai thuyết pháp, một âm diễn hóa vạn pháp, một loại âm thanh khi nói ra biến thành vạn loại âm thanh, độ vạn loại chúng sinh, đây là sức mạnh nhiếp triệu của Như Lai.
Phật Đà đã từng mất tích trong tăng đoàn, mất tích mất mấy tháng. Mất tích rồi, không thấy đâu. Phật Đà đi đâu rồi, không ai biết, hóa ra Ngài đã dùng thần túc mà đi. Thần túc đi đâu vậy? Đến cung trời Đao Lợi giảng "Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện" cho phu nhân Maya nghe.
Ngài thuyết pháp trên thiên giới ba tháng, ai là người phát hiện ra? Đó là A Na Luật. Tôn giả A Na Luật dùng thiên nhãn quan sát và nói rằng: "Đức Phật đã đến cung trời Đao Lợi, đến đó thuyết giảng "Kinh Địa Tạng Vương Bồ Tát Bản Nguyện" cho phu nhân Maya nghe; khoảng ba tháng sau Ngài mới trở về."
Đức Phật có thể biến mất như vậy, đó là thần thông gì? Đó chính là thần túc thông. Thần túc thông này không phải là xuất nguyên thần, mà là cả thân xác lẫn thần thức cùng bay lên.
Gần đây tôi đang luyện công, rất kỳ lạ, hai tay đều dang ra như thế này, ồ, cứ cố gắng bay! Giống như chim đang bay vậy. Tôi nghĩ sau này có một ngày, tôi cũng sẽ mang cả thân xác bay lên, bay lên thiên giới để thuyết pháp.
- Biết tất cả các cảnh giới
Thần lực của Như Lai, trong mười loại lực của Ngài, bao gồm loại thứ sáu là tri cảnh giới, tức là biết các loại cảnh giới. Là người học Phật, cảnh giới của bạn đã đạt đến đâu, chứng lượng của bạn được bao nhiêu, chứng phần của bạn được bao nhiêu, khả năng của bạn được bao nhiêu, lực của bạn được bao nhiêu, trí tuệ của bạn cao đến đâu, đều phải được phân biệt rõ, tức là phải biết cảnh giới của bạn đã đến đâu rồi. Bạn đã đạt đến cảnh giới A La Hán? Đến cảnh giới Bồ Tát? Đến cảnh giới Phật? Cảnh giới Duyên Giác? Cảnh giới Thanh Văn? Cảnh giới Hậu Bổ Phật? Tất cả những điều này đều nằm trong thập lực của Như Lai, Ngài có thể dùng trí huệ của Như Lai để quan sát ra.
Phật Đà đã từng đến cung trời Đao Lợi thuyết pháp, cũng đã từng đến long cung thuyết pháp. Nếu như tôi cũng biểu diễn mất tích: "Sư Tôn mất tích rồi, không thấy đâu, không ai biết ngài đi đâu?" Rồi một ngày đột nhiên xuất hiện: "Đi đâu vậy?" "Tôi đi đánh cờ với Đại Ca Diếp." Sự mất tích này phải rất bí mật, nếu để lộ tung tích thì thật là tệ.
Những người tu luyện khí như chúng ta, muốn đạt được thần túc thông thì phải nhiều khí ít thịt; khi bạn tu luyện được khí này, có thể hòa nhập với vũ trụ, những phàm thịt trên thân thể bạn, những dục vọng, những thịt mang tính phàm tục này, những dục vọng này phải rất ít, thì mới có thể lên trời, xuống đất, muốn đi đâu, có được oai thần lực là có thể đi.
Nói về việc xuống địa ngục, Quang Mục Nữ hỏi Vô Độc Quỷ Vương: "Ai có thể xuống địa ngục?" Ngài đáp: "Chỉ có hai loại, một là nghiệp chướng hiện tiền, nghiệp lực dẫn dắt xuống địa ngục; hai là có oai thần lực thì có thể xuống địa ngục."
Hôm nay thập lực của Như Lai có thể xuống địa ngục, lực gì vậy? Oai thần lực! Tôi muốn xuống địa ngục! Tôi muốn đi thăm đệ tử! Đệ tử này ở trong địa ngục quá khổ sở, tôi dạy y Chân Phật Mật Pháp mà y không chịu tu, ngày nào cũng uống rượu, đúng không? Bề ngoài thì nói với Sư Tôn: "Con không có cách nào! Con phải đi giao tế xã giao." Giao tế xã giao mà bên ngoài nuôi hai bồ nhí? Toàn là những chuyện dơ bẩn đầy dục vọng trong đầu.
Ngày nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện kiếm tiền, kiếm tiền cho ai? Cho chính mình à! Tôi thấy ngay cả bản thân ông cũng chẳng tiêu được, để lại cho con cháu ư? "Vì ai vất vả, vì ai bận rộn?" Con cháu chúng không biết ăn sao? Chúng không biết làm việc sao? Con cháu tự có phúc của con cháu, ông vất vả như vậy để làm gì? Cho nên, tu hành mới là quan trọng. Không còn kịp nữa rồi, có người nói: "Sang năm tôi sẽ tu!" Còn bao nhiêu cái sang năm nữa? Ông còn được bao nhiêu cái sang năm? Biết đâu nửa năm nữa ông đã ra đi rồi, còn sang năm tu nữa? Không còn kịp nữa! Cho nên có những đệ tử đến giờ vẫn chưa từng tu pháp, cũng chẳng tu tập gì, họ nói "Tôi đã quy y rồi!" "Tôi có trì chú mà!" "Những thứ tốt đẹp từ từ rồi sẽ tới!" Đây chính là rắc rối.
Cho nên bạn phải hiểu được cảnh giới, thần túc thông là "nhiều khí, ít thịt", khí nhiều thịt ít thì bay lên, khí ít thịt nhiều thì rơi xuống, rất đơn giản, tôi đã nói với mọi người rồi. Thịt của bạn quá nhiều, khí quá ít, thế thì xuống địa ngục. Bạn muốn lên thiên đường thì khí nhiều thịt ít, bạn sẽ có thể bay lên.
- Biết nhân quả của tất cả đạo hạnh
Thứ bảy là biết nhân quả của đạo hạnh, tức là biết nhân quả, gieo nhân nào, gặt quả nấy. Tôi nhớ Thượng sư Liên Trí có kể, trong bệnh viện có một tấm biển: Ăn gì thì sẽ trở thành người như thế. Tấm biển trong bệnh viện là như vậy đấy! Ăn gì thì sẽ trở thành người như thế.
Đó là nhân quả! Câu nói này rất đơn giản, chính là nhân quả. Bạn ăn gì là nhân, bạn trở thành người như thế nào là quả, bạn không ăn gì thì làm sao có quả đó? Đúng không? Trong đó đều có nhân quả, cho nên mới nói trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, gieo thiện gặt thiện, gieo ác gặt ác, điều này phải hiểu rõ nhân quả.
Trong thập lực của Như Lai có nói đến biết tất cả nhân quả của đạo hạnh, Ngài đều hiểu rõ ràng. Nhân quả của bạn là gì? Làm sao tránh những quả báo này? Bạn đã gieo những nhân này thì làm sao hóa giải? Làm sao để giải? Làm sao biết cách giải thoát? Đây chính là một trong mười lực của Như Lai.
- Thiên nhãn thông
Chúng ta vừa đề cập đến thứ tám là thiên nhãn. Trong số đệ tử của Phật Đà, có một vị được gọi là thiên nhãn đệ nhất, đó là A Na Luật. Tôn giả A Na Luật là bậc thiên nhãn đệ nhất, Ngài có thể dùng thiên nhãn nhìn thấy Phật Đà thuyết pháp ở cung trời Đao Lợi, đó chính là A Na Luật.
Tại sao A Na Luật lại trở thành thiên nhãn đệ nhất? Trong chúng ta có rất nhiều A Na Luật, ở đây có rất nhiều A Na Luật. Thiên nhãn đệ nhất, tốt lắm! Thực ra Ngài là người thích ngủ gật nhất, trước kia khi nghe Phật thuyết pháp, tinh thần của A Na Luật không thể nào tỉnh táo nổi, lần nào Ngài cũng như thế này (Sư Tôn làm động tác ngủ gật), cầm chuỗi hạt, lần chuỗi "Ôm a-mi-tê-wa sê, Ôm a-mi-tê-wa sê, Ôm… " (Sư Tôn làm động tác ngủ gật). Đức Phật ở trên nhìn xuống, "Đệ tử này, ôi! Thật là tệ." Phật biết nhân quả, Ngài nói với A Na Luật rằng "Nếu ông cứ tiếp tục như vậy, ông sẽ đọa xuống long cung đấy." "Long cung? Long cung cũng tốt mà! Theo hầu Long Vương!" "Không tốt đâu, làm con sò bên cạnh long cung ấy."
Con sò là gì? Vỏ sò, con sò đấy! Chính là con sò. Bởi vì ông cứ ngủ! Ông trốn trong vỏ sò đó, mãi mãi ở trong đó không thấy ánh mặt trời, cái vỏ sò đó che kín ông lại, ông mãi mãi ngủ trong đó. Đức Phật biết nhân quả đấy! Ngài nói với A Na Luật rằng: "Nếu ông cứ tiếp tục như vậy thì không xong đâu, ông sẽ đọa xuống long cung làm con sò, không phải để hưởng thụ đâu, mà là làm con sò dưới đáy biển. Con sò đó không thấy ánh mặt trời, dùng cái vỏ để che kín mình lại, thường xuyên ngủ trong đó, một giấc ngủ cả mấy nghìn năm."
Tôi đã từng nói rồi, nếu như khi chúng ta đang tu pháp, lúc nhập Tam ma địa mà các bạn lại nhập "tứ ma địa" [ngủ gật], phương pháp đối trị là trước tiên phải mở mắt ra, mắt phải mở ra; bởi vì nhắm mắt rất dễ bị hôn trầm, các bạn phải mở mắt ra. Nếu vẫn không được, hai tay đan vào nhau, dùng lực đẩy, tạo ra sức mạnh, tạo ra lực để làm cho tinh thần phấn chấn một chút. Nếu vẫn không được, ưỡn ngực, thu cằm, mắt nhìn thẳng, đây là kiểu bộ đội đấy! Các anh lính nói, thu cằm, ưỡn ngực, mắt nhìn thẳng, nhìn về phía trước, chính là để làm cho tinh thần phấn chấn lên một chút. Nếu vẫn không được thì đứng dậy trì chú, kinh hành. Kinh hành chính là trì chú, niệm Phật! Cứ thế đứng dậy đi động.
Thực ra, nếu bạn không được khỏe, bị cảm cúm, điều đó có thể tha thứ được, vì bạn đang bệnh; hoặc bạn từ nơi xa đến, từ Đài Loan đến, từ Đông Nam Á đến, có sự chênh lệch múi giờ, trong những ngày đầu tiên đó, chênh lệch múi giờ thật sự không thể tránh khỏi, đến giờ ngủ là phải ngủ, điều đó cũng có thể thông cảm được. Nhưng bình thường thì không thể 365 ngày, thậm chí 366 ngày, mỗi lần tu pháp nhập Tam ma địa đều ngủ gật được. Đức Phật đã nói rằng, thôi thì ông xuống long cung đi, ta không thể dạy ông được nữa, để Long Vương dạy ông pháp vậy.
Vì thế, sau khi Phật Đà nói những điều này với A Na Luật, từ đó A Na Luật không nhắm mắt nữa, nghĩa là hai mắt luôn mở to, Ngài phát nguyện với Phật vĩnh viễn không nhắm mắt lại, luôn nỗ lực, tinh tấn tu tập. Tu đến cuối cùng, vì Ngài không ngủ mà, không ngủ nên mắt hỏng mất, sau khi hỏng thì sao? Đức Phật dạy Ngài cách khai mở thiên nhãn, tuy hai mắt thịt của Ngài đã hỏng, nhưng Ngài đã đạt được thiên nhãn. Cho nên, Tôn giả A Na Luật đạt được thiên nhãn là như vậy đó. Con người phải có quyết tâm, có nghị lực, phải tinh tấn mới có thể đạt được thành tựu lớn.
Đặc biệt trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" có viết rằng, khi Sư Tôn thuyết pháp, khi đang thuyết pháp ở đây, mà bạn cứ lắc lư qua lại như thế, giống như khi Sư Tôn giảng pháp, bạn cứ lắc đầu "No, No". Bạn không phải đang trêu chọc tôi sao? Đúng không? Tôi giảng pháp thế nào bạn cũng lắc đầu. Bạn đang khinh thường tôi đấy! Điều này không được phép. Cho nên, hình ảnh của tông phái chúng ta cũng rất quan trọng. Chưa nói đến việc khi chúng ta làm pháp hội, mỗi vị Thượng sư đều đội mũ Ngũ Phật, kết quả là mũ sắp rơi xuống rồi.
Thực ra khi tôi đang thuyết pháp ở trên đó, giả sử tôi đang nhập Tam ma địa, tôi cũng gật gù như thế này, tôi còn có thể giải thích rằng tôi đang đàm đạo với Như Lai mà! "Ồ! Thế à! Phải! Phải! (gật đầu) OK, I know." Đây là Phật đang nói chuyện với tôi, tôi đang nói chuyện với Ngài, cứ nói qua nói lại; talk, speak, chính là đang đàm đạo với Phật, điều này tôi còn có thể giải thích được. Còn các ông ngồi ở bên cạnh, mũ Ngũ Phật sắp rơi xuống rồi! Ôi! Đây đúng là một vấn đề. Cho nên hy vọng những người thích ngủ gật, tinh thần không phấn chấn, phải luyện khí, khí đủ rồi thì tinh thần sẽ đủ.
Khi khí đủ đầy rồi thì giống như xe tải trên xa lộ freeway vậy, bạn mới có thể xuất phát như một đội "quyết tử thần phong". Chúng ta đều phải như vậy, người tu hành phải có tinh thần sung mãn, không thể ủ rũ không có sức sống, nếu ủ rũ thì không giống người tu hành.
- Túc mệnh thông
Thứ chín là túc mệnh thông, nghĩa là bạn hiểu được tất cả túc mệnh. Túc mệnh cũng có nhân quả, bạn tạo nhân gì sẽ kết quả đó. Bạn biết được bao nhiêu đời kiếp, những điều này nằm trong băng ký ức trong não chúng ta, không cần phải lên kho trời để lấy. Người ta nói rằng trên trời có một kho báu, lưu giữ tất cả những đoạn phim về tiền kiếp của mọi người. Một ngày nào đó, nếu bạn lên đến kho trời và nói: "Tôi muốn tìm cuộn băng về tiền kiếp của mình." Khi đó thiên quan sẽ chiếu cho bạn xem, bạn sẽ: "Ồ! Thì ra tiền kiếp của tôi là như vậy." Bạn sẽ hiểu ra, đó chính là túc mệnh.
Thực ra cuộn băng này nằm trong tâm trí của bạn, chỉ cần bạn khai mở đến cảnh giới Pháp thân Phật của "bánh xe nghìn cánh", là có thể đạt được túc mệnh thông, toàn bộ túc mệnh bạn sẽ biết hết. Trong mười lực của Như Lai, Ngài đi vào trong hoa sen nghìn cánh của Pháp thân Phật của chính mình, biết được đủ loại quá khứ của mình, năm trăm đời trước, năm trăm đời sau đều rõ ràng minh bạch.
Cho nên trong mười lực của Như Lai có như vậy đó, Ngài không chỉ biết túc mệnh của chính mình, mà còn biết được túc mệnh của người khác nữa. Tôi còn biết túc mệnh của rất nhiều pháp sư đấy! Có nhiều pháp sư bây giờ làm kiểu gì mà đệ tử của họ đông đảo như vậy? Chùa chiền xây to như vậy, tại sao họ có thể hoằng dương được như thế? Tại sao tiếng tăm của họ lớn như vậy? Cánh tay của họ to lớn thế! "Cánh tay to!" Cánh tay to không phải là "Đại thủ ấn", tại sao họ có cánh tay to lớn như vậy? Chúng ta nhìn thử, ồ, thì ra phía sau họ là Đại Phạm Thiên Vương. À! Đại Phạm Thiên Vương đang ủng hộ họ từ phía sau. Chúng ta có thể từ lý niệm thuyết pháp của họ mà nhìn ra họ là ai. Chúng ta có thể qua cách thuyết pháp của họ, qua lý niệm của họ mà biết được vị thiên thần phía sau họ là ai.
Thực ra trên thế gian này, rất nhiều vị xuất gia có lai lịch đều có nguồn gốc của họ, vậy nên chúng ta biết được túc mệnh của những vị pháp sư này, chỉ cần bạn có được mười lực của Như Lai, bạn đều hiểu rõ. Sau này khi các bạn khai ngộ rồi, các bạn cũng sẽ hiểu ra. Ồ! Thì ra đằng sau vị đại pháp sư này là vị thiên thần nào đang ủng hộ. Ồ! Thì ra đằng sau vị đại sư phụ này là vị thiên vương nào đang ủng hộ. Bạn có thể hiểu rõ ràng tất cả, đó chính là đã có túc mệnh thông rồi, hiểu hết tất cả; không chỉ túc mệnh của chính mình, mà túc mệnh của người khác bạn cũng đều hiểu rõ.
- Vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh
Thứ mười là gì? Là vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh. Vô sinh, vốn dĩ bản thân A La Hán đã là vô sinh rồi; "vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh" có thể nói là Niết bàn tịch tĩnh, sau khi đạt được mười thần lực của Như Lai bạn sẽ biết được đời hiện tại của bạn cũng là vô sinh, đời quá khứ của bạn cũng là vô sinh, đời tương lai của bạn cũng là vô sinh, bạn hòa hợp trong ý thức vũ trụ này, bạn có thể Niết bàn. Khi bạn xuất hiện chính là Báo thân, Ứng thân, khi đi vào chính là Pháp thân của bạn, đi vào trong cảnh giới Pháp thân. Cảnh giới này, trạng thái này gọi là vô sinh, bạn hiểu được điều này thì không còn sợ hãi điên đảo nữa.
Hôm nay bỗng nhiên có người báo cho bạn một tin: "Thảm rồi, tờ báo lớn nhất của một quốc gia đăng tên bạn và chỉ trích bạn một trận." Không sợ hãi! "Thảm rồi, khắp thế giới đều có những cuốn sách nhỏ phỉ báng bạn." Không sợ hãi! "Thảm rồi, người ta sắp kiện bạn, nói bạn thế này thế kia..." Không sợ hãi! "Ôi! Bạn không biết đâu, có mấy người đang âm mưu hãm hại bạn, bạn phải cẩn thận khi ra ngoài đấy!" Không sợ hãi! Tại sao lại không sợ hãi? Bởi vì bạn đã chứng ngộ quá khứ vô sinh, hiện tại vô sinh, tương lai vô sinh, bạn là một vị thánh Niết bàn tịch tĩnh, một vị thánh hoàn toàn như như bất động, không có gì có thể lay động được bạn, đó gọi là không còn sợ hãi điên đảo.
Cho nên một bậc đại tu hành, dù biết rõ phía trước có người muốn hãm hại mình, vẫn có thể thản nhiên tự tại chấp nhận cho họ hãm hại. Điều này chứng minh điều gì? "Không còn sợ hãi điên đảo". Trong mệnh số của bạn định sẵn là sẽ bị người hãm hại, giống như Tôn giả Mục Kiền Liên, Ngài không phải là không biết, Ngài đều biết cả, nhưng Ngài sẵn sàng trả những nghiệp báo này, bởi vì nghiệp báo hiện tiền, Ngài liền trả nghiệp báo đó. Đã có nghiệp báo này thì phải trả nghiệp báo này, có sao đâu! Tâm này chính là tâm vô sinh, quá khứ vô sinh, hiện tại vô sinh, tương lai vô sinh, là ý thức hòa nhập với toàn thể vũ trụ, đây chính là mười lực của Như Lai.
Vì vậy hôm nay tôi giảng về mười lực của Như Lai, thứ nhất là biết tất cả sự vật; thứ hai là biết nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh; thứ ba là biết sự giải thoát; thứ tư là biết sự giỏi kém của chúng sinh; thứ năm là biết trí lực giải thoát của chúng sinh; thứ sáu là biết cảnh giới; thứ bảy là biết nhân quả hành đạo; thứ tám là thiên nhãn; thứ chín là túc mệnh; thứ mười chính là vĩnh viễn đoạn vô sinh.
Tôi đã từng giảng về biết tất cả sự vật, điểm thứ nhất là biết tất cả sự vật, mỗi người chúng ta đều có địa thủy hỏa phong, vũ trụ cũng có địa thủy hỏa phong, những nguyên tố trong thân thể con người và những nguyên tố của vũ trụ đều thông với nhau; nếu có thể hiểu được đạo lý này, bạn hãy để địa thủy hỏa phong trong cơ thể mình hòa hợp với địa thủy hỏa phong của vũ trụ, sau đó lại dùng địa thủy hỏa phong của vũ trụ để ấn chứng với tất cả vạn sự vạn vật trong thế gian, bạn sẽ hiểu rõ tất cả mọi sự vật, sẽ có thể thấu hiểu tường tận, điều này rất quan trọng.
Bởi vì trời và người, khí mạch đều thông với nhau, việc bạn có thể trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại, chính là nhờ để địa thủy hỏa phong trong cơ thể hòa hợp với địa thủy hỏa phong của vũ trụ, mới có thể trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại.
30. 10 xưng hiệu của Phật
Phật là gì? Phật có mười danh hiệu.
Thứ nhất là Như Lai, thật ra Như Lai là gì? Không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, đó chính là Như Lai. Như đến như không đến, những lời này đều khá thâm sâu. Như lai như bất lai, không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, đây là Phật, đây là danh hiệu, một trong mười danh hiệu của Phật.
Thứ hai là Ứng Cúng, Ứng Cúng là gì? Khi bạn thực sự gặp được một bậc giác ngộ, một vị Phật, bạn nên cúng dường Ngài, đó chính là Ứng Cúng, nên cúng dường; bởi vì dù bạn không muốn cúng dường Ngài, bạn cũng sẽ tự động cúng dường Ngài, tại sao? Bởi vì trong Ngài có ý thức vũ trụ, Ngài có một loại lực nhiếp thọ tỏa ra, trong tâm bạn sẽ tự nhiên sinh khởi lòng tôn kính, tự nhiên sẽ cúng dường. Nên cúng dường, đây là danh hiệu thứ hai của Như Lai.
Thứ ba là Chính Biến Tri. Chính Biến Tri là gì? Tức là biết tất cả sự vật, như vừa mới nói. Như Lai là quang minh, nhưng ánh sáng của Ngài cũng chiếu rọi vào bóng tối, đó gọi là Chính Biến Tri. Là chính tri, có sự hiểu biết chân chính, thấu tỏ tất cả mọi sự vật, đó là biết tất cả, đó gọi là Chính Biến Tri.
Danh hiệu thứ tư gọi là Minh Hạnh Túc, là thấu hiểu con đường tu hành phải đi. Minh Hạnh Túc chính là hiểu rõ phương pháp và thứ tự giải thoát, biết phải đi như thế nào. Đây là danh hiệu thứ tư của Phật.
Thứ năm, Thiện Thệ. Thiện Thệ, chính là Như Lai! Muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, muốn sinh thế nào thì sinh thế ấy, muốn diệt thế nào thì diệt thế ấy, đó gọi là Thiện Thệ. Thiện là tốt đẹp, Thệ là biến mất và xuất hiện. Cho nên Phật, Như Lai đều là trò chơi thần thông. Ngài cao hứng lên đi thì Ngài đi; Ngài cao hứng lên muốn đến thì Ngài đến, hoàn toàn là một trò chơi, một thần thông.
"Hmm! Kiếp sau tôi muốn sinh ra ở đâu nhỉ?" Tôi thường suy nghĩ về vấn đề này, "Kiếp sau làm người gì thì tốt?" Kiếp sau tôi làm người phương Tây chăng? Tôi không thích lắm, thật đấy. Vậy kiếp sau làm người Trung Quốc chăng? Ồ! Ý tôi là Trung Quốc Đại Lục.
Như chúng ta đã biết, ngày xưa người Đài Loan bị người Hồng Kông bắt nạt, người Hồng Kông là kẻ lừa đảo; ngày xưa người Hồng Kông chuyên bắt nạt người Đài Loan, tôi nhận thấy người Đài Loan bị người Hồng Kông bắt nạt, nhưng người Hồng Kông lại bị người Đại Lục bắt nạt.
Người Đài Loan thì quê mùa hơn! Tính tình quê mùa nặng hơn, nên chúng ta gọi là "khoai lang". Người Đại Lục thông minh hơn, nên chúng ta gọi là "khoai môn". Khoai lang thì quê mùa hơn! Khoai môn thì có vẻ cao quý hơn một chút. Có sự phân biệt như vậy đấy.
Đây là vấn đề phong thủy! Như người Đài Loan, bạn biết đấy, các cô gái Đài Loan, gương mặt trông rất giống "khoai lang", khá quê mùa. Các cô gái từ Đại Lục đến, thực sự có một cái chất đặc biệt khác biệt đấy! Họ chính là "khoai môn", khí chất của họ khác; đó là do phong thủy, không có gì phải bàn cãi, mỗi nơi sinh ra đều khác nhau. Giống như người Tây Tạng, ví dụ người dân tộc miền núi ở Đài Loan, tộc A Mi, như người thổ dân da đỏ ở Mỹ, khí chất của họ khác với người bản địa, có thể nhìn thấy được.
"Vậy tôi sẽ sinh ra ở đâu đây?" Nếu tôi sinh ở Thái Lan, đó là một đất nước Phật giáo, nhưng đó là nước theo Tiểu thừa, tầm nhìn không rộng. Còn ở Sri Lanka, mặc dù họ dùng tiếng Pali, thời Đức Phật cũng dùng tiếng Pali, là nơi có Phật giáo nguyên thủy, nhưng tri thức của họ bị bế tắc. Nếu tôi sinh ở Ấn Độ thì lại có Bà La Môn giáo, có đạo Sikh, vừa nghèo nàn, vừa lạc hậu. Thôi vậy! Sinh ở Trung Quốc thì tôi lại sợ chủ nghĩa đó. Sinh ở Đài Loan thì lại là khoai lang. Sinh ở Hồng Kông, nói thật, tôi rất ghét tiếng Quảng Đông, cái giọng cứng ngắc ấy, trời ơi! Khó nghe quá!
Nói thật, tiếng Quảng Đông thực sự rất khó nghe! Thật đấy, đừng biến văn phòng của chúng ta thành "Tiểu Hồng Kông" chứ! Trung tâm hồi đáp thư tín của tôi bây giờ đã biến thành "Tiểu Hồng Kông" rồi, mở miệng ra là tiếng Quảng Đông, khó nghe quá, nghe như đang cãi nhau ấy!
Phương Tây thì không đến, phương Đông cũng không đi, vậy đi đâu đây? Đến giờ vẫn chưa có câu trả lời.
Cho nên cần phải Thiện Thệ, Thiện Thệ là đến tốt, đi tốt, đến tốt đi tốt. Như Lai là như vậy đó, Ngài thiện thệ, sự ứng hóa của Ngài rất vi diệu, rất tốt đẹp, Ngài là trò chơi thần thông, là tự tại, cho nên Ngài có thể tự chủ sinh tử. Hôm nay dạy mọi người tu hành, có thể tự chủ sinh tử chính là phải có được cái ý vị này, phải thiện thệ.
Còn có một xưng hiệu là Thế Gian Giải, thế gian giải là gì? Là hiểu biết tất cả kiến thức của thế gian. Trong Phật học cũng có môn học Ngũ Minh, môn Ngũ Minh chính là thế gian giải. Khi bạn đã hiểu rõ, bạn phải biết cách chữa bệnh cho người khác, đó chính là thế gian giải. Hiểu được công xảo minh, bạn biết quay phim, biết điêu khắc, biết vẽ tranh, biết làm thơ, trong đó có công xảo minh. Môn học Ngũ Minh này chính là những điều thuộc về thế gian giải, là hiểu biết tất cả kiến thức của thế gian. Như Lai là bậc thấu hiểu điều này, cho nên đây cũng là một trong những danh hiệu của Ngài.
Vô Thượng Sĩ, thế nào gọi là Vô Thượng Sĩ? Hiện nay có người gọi là Vô Thượng Sư, Vô Thượng Sư thực ra chính là Vô Thượng Sĩ! Cũng là một trong những danh hiệu của Phật. Có nghĩa là, trong thế giới này không có ai cao hơn ta nữa, Ngài là đệ nhất. Giống như Như Lai là đệ nhất, không có đệ nhị.
Vậy còn năm vị Phật thì sao? Trong năm vị Như Lai ai là đệ nhất? Đại Nhật Như Lai nói ta là đệ nhất, vậy A Di Đà Phật là đệ nhị rồi! Bất Không Thành Tựu Phật là đệ tam rồi! A Súc Phật là đệ tứ rồi! Bảo Sinh Phật là đệ ngũ rồi. Không phải như vậy đâu! Tất cả đều là đệ nhất! Chúng ta chỉ có thể nói Đại Nhật Như Lai là đệ nhất, A Di Đà Phật là đệ nhất thứ nhất, Bất Không Thành Tựu Phật là đệ nhất thứ hai, như vậy được, dù sao cũng đều là đệ nhất mà! Đó gọi là Vô Thượng Sĩ, không có ai cao hơn nữa, chỉ cần chứng đắc Như Lai thì là đệ nhất rồi, không có ai cao hơn nữa.
Điều Ngự Trượng Phu, thế nào gọi là Điều Ngự Trượng Phu? Đó là Ngài hoàn toàn làm công việc điều phục chúng sinh ở thế gian. Trượng phu là một vị đại nhân, không phải là tôi là chồng của bạn, bạn là vợ của tôi, không phải giải thích theo kiểu đó, không phải giải thích theo từng chữ. Thế nào là Trượng phu? Phật Thích Ca Mâu Ni là trượng phu của ai? Da Du Đà La ư? Đó là Điều Ngự Trượng Phu. Trượng phu chính là một vị đại nhân, là một bậc vĩ nhân. Còn điều ngự có nghĩa là: chỗ nào cần cao hơn một chút, chỗ nào cần thấp hơn một chút, cần phải cân bằng. Ngài làm công việc này ở thế gian; đối với tâm linh con người, chỗ nào lệch lạc, Ngài điều chỉnh lại, chỗ nào quá căng, Ngài làm cho nới lỏng, chỗ nào quá lỏng, Ngài làm cho chặt lại, Ngài là kỹ sư vĩ đại của tâm linh, đó là Điều Ngự Trượng Phu.
Nói về Phật, Phật cũng là một danh hiệu của Ngài, Phật chính là bậc giác ngộ, bậc giác ngộ chính là Phật.
Còn Thế Tôn, Thế Tôn là gì? Là bậc được thế gian tôn kính.
Mười danh hiệu của Phật, tôi đọc lại một lần nữa: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Phật, Thế Tôn. Cũng có người đổi Phật thành Thiên Nhân Sư, Thiên Nhân Sư chính là đạo sư của trời và người, là đạo sư của tất cả chúng sinh và tất cả cõi trời, đó là cách nói như vậy. Đây là mười danh hiệu của Như Lai.
Mười lực của Như Lai chúng ta đã giảng rồi, mười danh hiệu của Như Lai chúng ta cũng đã giảng rồi, vậy giác ngộ là gì? Chúng ta cũng đã giảng rồi. Phật Học Tổng Thuyết này, thực ra hôm nay tôi giảng Phật Học Tổng Thuyết nên gọi là Phật Học Điểm Thuyết mới đúng, điểm thuyết chính là giảng giải các trọng điểm, không thể gọi là tổng thuyết, bởi vì tổng thuyết là rất rộng, giảng mãi cũng không hết, chỉ riêng việc Phật Đà thuyết pháp 49 năm, chúng ta ở đây giảng bảy ngày, tám ngày, chín ngày mà có thể giảng hết được sao? Đó là điều không thể.
Vậy nên hôm nay những gì chúng ta giảng là trích ra những trọng điểm Phật học, đem tất cả những điểm trọng yếu này chắt lọc ra để chia sẻ với mọi người, để mọi người có thể có được một nền tảng.
Một là gì? Tín giải hành chứng, bắt đầu theo thứ tự.
Hai chính là làm sao để nhập môn, vào hai cửa nào? Một là cửa Lý, một là cửa Sự, "Lý Sự nhị môn" bạn vào như thế nào, bạn chọn lựa ra sao.
Ba là gì? Tam vô lậu học- giới, định, huệ.
Bốn chính là tứ thánh đế. Là điều rất quan trọng trong giáo pháp của Như Lai, bốn thánh đế này - khổ, tập, diệt, đạo, tập là nhân, khổ là quả, đạo là nhân, diệt là quả. Tứ đế này, nếu bạn hiểu được thì rất tốt, bạn có thể từ đây mà bước vào cửa, đây chính là phương pháp tứ thánh đế mà Đức Phật đã ứng dụng sớm nhất khi dạy chúng ta lúc ban đầu.
Năm là gì? Chính là ngũ căn, ngũ lực, bạn dùng năm loại lực để tu hành thì có thể trừ bỏ được các khuyết điểm của ngũ căn, điều này rất quan trọng.
Sáu là gì? Chính là lục độ, lục độ là chính bản thân đại Bồ Tát dùng lục độ vạn hành để độ chúng sinh, Ngài phát bồ đề tâm, muốn độ chúng sinh. Bồ Tát phát tâm là vô cùng vĩ đại, dù bản thân chưa khai ngộ, nhưng Ngài có thể dạy và học cùng tiến; cho nên pháp sư hiện nay, chúng ta cũng phải tôn kính họ, không phải vì họ chưa khai ngộ mà không tôn kính. Thực ra họ cũng đang dạy, vừa dạy vừa học, đó chính là dạy và học cùng tiến. Đó là lục độ.
Bảy là gì? Chính là thất bồ đề phần.
Tám là gì? Chính là bát chính đạo.
Mười là gì? Chính là thập lực của Như Lai.
Hiện nay Phật giáo có mười tông phái, Hiện nay Phật giáo có mười tông phái.
Mười hai là gì? Chính là thập nhị nhân duyên. Mười hai nhân duyên lần này tôi không giảng, nhưng trước đây trong sách tôi đã bàn rất nhiều về thập nhị nhân duyên. Bát chính đạo này cũng không giải thích chi tiết. Nhưng thực ra, khi giảng về bát chính đạo trong "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", tôi đã giảng giải toàn bộ về chữ đạo. Vậy các bạn đã có một khái niệm như vậy, một trình tự học pháp.
Thực ra, nếu bạn thực sự có thể hiểu rõ Phật học từ một đến mười hai nhân duyên, bạn thông suốt được tất cả. Đây chính là Phật học điểm thuyết, đã chỉ ra những điểm cốt yếu rồi. Ngoài ra bạn cần hiểu các phương pháp tu hành của mười tông phái, như nhất tâm tam quán, không giả trung tam quán, như chỉ quán, đại chỉ quán, tiểu chỉ quán, maha chỉ quán, giáo lý của hòa thượng Đỗ Thuận, cảnh giới trong Hoa Nghiêm, Duy Thức, Tam Luận, Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận! Nếu bạn muốn hiểu rõ tất cả cũng được, các vị làm Thượng sư thì bắt buộc phải hiểu rõ tất cả những điều của mười tông phái này.
Trong tương lai khi người thuộc các tông phái khác đến hỏi, bạn có thể trình bày những gì mình biết và đã nghiên cứu, bạn sẽ không rơi vào tình trạng "hoàn toàn mù tịt", bạn sẽ hiểu rõ tất cả những điều của bất kì tông phái nào, chúng ta đều có kiến thức cơ bản, bạn đều có thể giảng, có thể nói, và còn có thể đi sâu vào. Nếu bạn ứng dụng được Chân Phật Mật Pháp, bạn sẽ hiểu rõ tất cả Phật pháp, như vậy "Phật học điểm thuyết" cũng sẽ trở thành "Phật học tổng thuyết", là như nhau vậy.
Được rồi! Chúng ta giảng "Phật Học Tổng Thuyết" đến đây là kết thúc. Vậy ngày mai thì sao? Sẽ là phần cho mọi người đặt câu hỏi, các bạn viết câu hỏi vào giấy rồi nộp lên, tôi sẽ giải đáp tại đây, đừng hỏi những vấn đề cá nhân, mà hãy hỏi về Phật pháp, đây mới là điều quan trọng.
Ngày mai sẽ giải đáp cho mọi người, những ai lần này đến nghe pháp, có điều gì thắc mắc, các bạn có thể viết ra để hỏi.
Còn ngày kia thì sao? Chính là quán đảnh. Các bạn muốn quán đảnh pháp nào, các bạn có thể thảo luận với nhau, sẽ chia ra từng phần một, giống như là quán đảnh pháp này, quán đảnh pháp kia, sẽ làm tất cả các quán đảnh, cả buổi chiều sẽ dành để quán đảnh cho các bạn, còn ngày mai thì cả buổi chiều sẽ dành để giải đáp câu hỏi cho các bạn.
Lần này "Phật Học Tổng Thuyết" của chúng ta cuối cùng đã viên mãn kết thúc, cảm ơn mọi người đã đến.
Om mani padme hum.
31. Giải đáp thắc mắc (108 câu)
Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người!
Hôm nay là ngày thứ tám thuyết giảng "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang, hôm nay là phần giải đáp thắc mắc, nghĩa là những ai có thắc mắc gì, các bạn viết vào giấy rồi đặt ở đây, Sư Tôn sẽ giải đáp những vấn đề này cho mọi người.
Vừa rồi tôi đã xem qua sơ bộ, mỗi người đều viết rất nhiều câu hỏi, tôi sợ không thể giảng hết được, đôi khi, sẽ giải đáp cho mỗi người một hai câu hỏi như vậy, nếu viết nhiều thì hy vọng có thể trả lời hết. Cảm ơn mọi người.
【Hỏi】
Khi Sư Tôn giảng dạy hôm đó có nói đến "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", nhưng đệ tử ngu muội vẫn chưa hiểu rõ. Xin hỏi Sư Tôn nhân duyên từ đâu mà sinh ra? Khoảng thời gian luân hồi được phân biệt như thế nào? Tại sao có những linh hồn lưu lại ở nhân gian hơn 20 năm? Chẳng lẽ họ không cần đi luân hồi sao?
Con người là gì? Tại sao con người lại thực hiện một hành động nào đó? Tại sao con người lại có ý niệm? Và ý niệm đó lại từ cái gì mà sinh ra?
【Đáp】
Người này không viết tên, chỉ ghi là đệ tử. Điều này rất tốt, bởi vì nếu để tôi biết đó là ai, tôi sẽ đánh anh ta ba gậy. Bởi vì câu hỏi này là câu hỏi để thử thách người khác, là một bài kiểm tra, là test, là một dạng kiểm tra rất nghiêm khắc.
Khi Như Lai đề cập đến "các pháp do nhân duyên sinh" và "các pháp do nhân duyên diệt", tất cả đều nói về nhân duyên. Ngài không chỉ ra đó là loại nhân duyên nào. Nhưng Ngài có dạy rằng, trong thập nhị nhân duyên, nhân duyên đầu tiên chính là vô minh, vì có vô minh mới có sinh; nếu không có vô minh thì sẽ là vô sinh. Trong quan điểm Phật học, nhân duyên đầu tiên trong thập nhị nhân duyên, nhân duyên sớm nhất chính là vô minh, vậy nên tôi chỉ có thể nói như vậy.
Tại sao bạn sẽ sinh ra? Đó là vì có mây đen nên mới có mưa, không có mây đen thì tuyệt đối không thể có mưa. Vậy mây đen từ đâu mà có? Là từ hơi nước mà có. Vậy hơi nước từ đâu mà có? Là từ nước mà có. Vậy nước từ đâu mà có? Là từ mưa mà có. Đây chính là nhân duyên đang luân hồi. Vậy bạn lại hỏi, nhân duyên sinh ra từ đâu? Điều đầu tiên Đức Phật dạy chính là vô minh, cho nên chúng ta cần phải giải thoát khỏi vô minh này thì mới có thể chấm dứt cái sinh này, đây là câu trả lời thứ nhất.
Thời gian luân hồi được phân biệt như thế nào? Tại sao có những linh hồn lưu lại ở nhân gian hơn 20 năm? Tại sao họ không cần đi luân hồi? Không chỉ có linh hồn trung ấm lưu lại nhân gian hai mươi mấy năm, con người tồn tại trên thế giới này đã rất nhiều năm, còn lâu hơn họ nữa. Điều này chẳng có gì lạ cả. Chúng ta tồn tại trên thế giới này, có người không chỉ hai mươi mấy năm! Đúng không? Hiện nay tuổi thọ trung bình của con người là 70, 80 tuổi, bạn còn lưu lại lâu hơn cả linh hồn đó, tại sao họ không thể mà bạn lại có thể?
Con người là gì? Câu hỏi này rất nghiêm trọng. Tôi có thể giảng Phật là gì, nhưng lại không thể giảng con người là gì. Câu hỏi của bạn: "Tại sao con người lại thực hiện một hành động nào đó, tại sao con người lại có ý niệm? Và những ý niệm đó lại từ cái gì mà sinh ra?" Đây chính là những điều tôi đã giảng trong bảy, tám ngày qua. Đây chính là Lý, nếu muốn đi vào từ cửa Lý thì phải nghiên cứu những điều này.
May mà hiện nay chúng ta tu theo Chân Phật Tông là từ Sự pháp mà vào, tức là từ thực tu mà vào. Cái Lý này chúng ta tạm thời gác sang một bên nhé! Nếu tôi giảng hết cái Lý này cho bạn, chỉ riêng câu hỏi của bạn thôi, tôi có thể giảng cả ngày.
【Hỏi】
Khi tu pháp có nên chuyển đổi khuôn mặt tượng Liên Hoa Đồng Tử được thờ trên đàn thành bằng khuôn mặt của Sư Tôn không? Hay là trực tiếp quán tưởng theo khuôn mặt của tượng thì tốt hơn? Đây là câu hỏi thứ nhất.
【Đáp】
Vậy tôi xin trả lời câu hỏi này trước. Là theo tượng đó, bởi vì khuôn mặt của Sư Tôn sẽ thay đổi. Tôi đã nói rồi! Tôi cho các bạn xem khuôn mặt mới sinh của tôi, khuôn mặt búng ra sữa, chụp ảnh lúc đó, lúc khỏa thân chụp ảnh, không còn cách nào khác, là nằm sấp chụp, khuôn mặt hướng như thế này, gương mặt trẻ thơ. Còn khuôn mặt bây giờ là khuôn mặt trung niên, sắp bước vào tuổi già rồi. Vậy đến lúc khuôn mặt già của tôi lại khác nữa! Hoàn toàn khác! Vậy thì các bạn chẳng phải phải như thế này sao? Cho nên cứ theo khuôn mặt của tượng để quán tưởng là được rồi.
【Hỏi】
Sư Tôn đã từng nói rằng, mỗi đàn thành đều có chư Phật Bồ Tát thường trú, vậy khi tu pháp thỉnh mời chư Phật Bồ Tát, có cần phải áp dụng phương pháp móc kim cang để đảm bảo chư Phật Bồ Tát giáng xuống phóng quang không? Và như trong một đàn thành cùng tu có nhiều vị chủ tôn, có thể quán tưởng đồng thời nhiều móc kim cang bay lên, cùng lúc thỉnh mời xuống được không?
【Đáp】
Ồ! Các bạn biết biến hóa rồi đấy! Điều này là đúng. Chúng ta phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ như vậy, khi chúng ta ở đàn thành thường ngày, Bổn tôn trí huệ ở trong hư không, cần phải quán tưởng trong hư không. Vì vậy móc kim cang đều hướng về hư không. Chúng ta biết rằng cái gọi là Pháp thân Phật chính là trụ trong hư không. Từ trong hư không hiện ra chính là Báo thân Phật, đến trong đàn thành này chính là Ứng thân Phật. Phải có quan niệm này. Pháp thân Phật vĩnh viễn trụ trong hư không, từ trong hư không hiện ra chính là Báo thân Phật, thường trú trong đàn thành của bạn chính là Ứng thân Phật. Khi bạn có quan niệm này rồi thì việc thỉnh mời sẽ rất tốt.
【Hỏi】
Làm thế nào để vận dụng kim cang? Khi tu pháp thỉnh mời chư Phật Bồ Tát giáng lâm, kim thân của chư Phật Bồ Tát trên đàn thành, chủng tử tự xoay chuyển hiện ra chủ tôn, có cần phải quán tưởng cả ba hợp nhất, rồi quán tưởng tam quang từ sự hợp nhất này phóng ra từ chủ tôn không? Hay chỉ cần quán tưởng chủng tử tự sinh ra là được, tức là quán tưởng tam quang từ Bổn tôn do chủng tử tự sinh ra chiếu đến hành giả?
【Đáp】
Điều này rất phức tạp, bạn viết cũng phức tạp, tôi nghĩ cũng phức tạp. Ý của bạn có lẽ là nói: "Có cần phải quán tưởng chủ tôn trong hư không và chủ tôn trên đàn thành của bạn hợp nhất, rồi tam quang chiếu đến bạn không?" Bạn có thể quán tưởng chủ tôn trong hư không, chủ tôn trong hư không từ chủ tôn ở dưới này bay lên, chủ tôn trên đàn thành bay lên hư không hợp nhất với chủ tôn trong hư không, sau đó phóng quang chiếu đến bạn, làm như vậy là được.
【Hỏi】
Sau khi đệ tử thông thường đã được quán đảnh pháp Hộ Ma và trở về, có thể giúp người khác làm Hộ Ma không? Sau khi trở về có thể làm pháp hội Hộ Ma không?
【Đáp】
Ồ! Đây là chủ trì pháp hội!.. Đây là tranh khách hàng!
Là như thế này, trong Mật giáo có một quy định, pháp Hộ Ma thuộc ba bộ sau, trong Mật giáo là rất quan trọng, mỗi đệ tử, đệ tử Mật giáo thông thường phải làm 200 đàn, có nghĩa là sau khi làm xong 200 đàn, có được sự thuần thục trong việc làm Hộ Ma, lửa - Bổn tôn - hành giả tam thể hợp nhất, khi tu Hộ Ma trong tình trạng hoàn toàn không sai sót thì mới có thể giúp người khác.
Nhưng nếu bạn muốn làm pháp hội Hộ Ma, tốt nhất là để Thượng sư làm, tốt nhất là do các vị Thượng sư làm. Đường chủ cũng có thể làm, nhưng phải đợi đến khi tu học pháp Hộ Ma đến mức không còn sai sót mới được làm. Trước tiên là tự giúp mình, giúp gia đình tiêu nghiệp chướng, tạm thời chưa nên làm pháp hội Hộ Ma; giúp người khác thì phải đợi đến khi bạn tu trì pháp Hộ Ma hoàn toàn không còn sai sót mới được.
【Hỏi】
Sau khi đường chủ phân đường được quán đảnh pháp Hộ Ma rồi, về có thể làm pháp hội Hộ Ma không? Có thể công khai cho mọi người đăng ký tham gia không?
【Đáp】
Câu hỏi này tôi vừa trả lời rồi.
【Hỏi】
Nếu đệ tử chưa được quán đảnh pháp Hộ Ma từ Căn bản Truyền thừa Thượng sư, có thể tự mình làm Hộ Ma được không?
【Đáp】
Điều này là không được. Bởi vì trong Mật giáo nói đến chính là truyền thừa, trong bảy, tám ngày qua tôi thuyết pháp đã đề cập đến rồi, bạn được quán đảnh pháp nào thì mới được tu pháp đó, chưa được quán đảnh Hộ Ma thì không được làm pháp Hộ Ma.
【Hỏi】
Quán đảnh pháp Hộ Ma, có thể xin quán đảnh từ xa không?
【Đáp】
Tốt nhất là quán đảnh trực tiếp, quán đảnh thực tế là tốt nhất, đích thân đến nhận quán đảnh từ Căn bản Thượng sư mới tốt.
【Hỏi】
Phật là bậc giác ngộ, là người vô niệm. Chúng sinh đều có Phật tính, cho nên cần mọi người không phân biệt, tất cả đều bình đẳng. Tu pháp là quán tưởng Tử quang và Mẫu quang hợp nhất, Tiểu ngã và Đại ngã hợp nhất; nói chung, tu Phật pháp là quay về bản tính, trở về bộ mặt vốn có ban đầu.
Nhưng vấn đề chính là ở chỗ này, nếu tất cả đều xuất phát từ cùng một nguồn gốc, vậy thì sự khởi đầu ban sơ chẳng lẽ là do Phật tạo ra nhân quả sao? Tại sao vậy? Chẳng phải là vô niệm sao? Cuối cùng đều là tự mình cứu mình. Ví dụ như Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử của Sư Tôn, từ trong tâm xoay chuyển biến hóa ra những Liên Hoa Đồng Tử khác - chính là chúng ta hiện nay, kết quả việc làm vẫn là để giải thoát chính mình, như vậy tại sao phải làm thêm điều thừa thãi này?
【Đáp】
Ồ! Rất hay, đây là một bài kiểm tra, đây chính là trò chơi thần thông của Như Lai, bởi vì quá nhàm chán, Như Lai một mình ở đó rất buồn chán, muốn chơi đùa một chút, thế nên tìm một số quân cờ để đánh cờ, Ngài biến ra rất nhiều quân cờ là con người để đánh, cuối cùng thu hết tất cả về. Tôi chỉ có thể nói như vậy thôi! Đây là câu trả lời đơn giản nhất! Bạn bảo tôi nói sâu hơn, tôi không nói được.
【Hỏi】
Xin hỏi đã có bao nhiêu đóa sen từ Ma Ha Song Liên Trì xuống trần gian rồi? Nếu Liên Hoa Đồng Tử tạo nghiệp thì làm sao để giải nghiệp? Trong tương lai khi Sư Tôn nhập Niết bàn, ai sẽ là người công nhận các Thượng sư của Chân Phật Tông? Trong tương lai, đệ tử Chân Phật sẽ lấy gì làm giới luật? Lấy ai làm căn cứ? Trong tương lai khi Sư Tôn tái sinh xuống trần gian, có giống như Dalai Lama không, đời này sang đời khác tiếp tục truyền thừa, để cho đệ tử có chỗ nương tựa về tinh thần?
【Đáp】
Đây đều là những câu hỏi rất hay, trước đây khi Đức Phật nhập Niết bàn, A Nan đứng bên cạnh cũng hỏi Ngài những câu hỏi như vậy, tuy nhiên tôi vẫn chưa nhập Niết bàn. Liên Hoa Đồng Tử tạo nghiệp thì làm sao để giải nghiệp? Tự mình giải nghiệp.
Nếu Sư Tôn nhập Niết bàn, ai sẽ công nhận các Thượng sư Chân Phật Tông? Điều này do chúng sinh công nhận, do con mắt của mọi người công nhận.
Trong tương lai, đệ tử Chân Phật sẽ lấy gì làm giới luật? Dựa vào những sách của Sư Tôn cùng với giới luật xuất gia của chúng ta, thêm vào đó là "Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo" và "Sự sư pháp ngũ thập tụng", tất cả những điều này đều là giới luật. Lấy ai làm căn cứ? Cũng là lấy những giới luật này làm căn cứ.
Trong tương lai khi Sư Tôn tái sinh xuống trần gian, có giống như Dalai Lama không? Vấn đề này vẫn chưa quyết định.
【Hỏi】
Trong Chân Phật Báo số 32 có đăng tuyên bố của Sư Tôn rằng Chân Phật Tông không thiết lập tổng đường và tông chủ, vậy trong tương lai đệ tử Chân Phật sẽ lấy ai làm tư tưởng trung tâm?
【Đáp】
Như tôi vừa nói, chính là dựa vào dòng pháp vốn có này, dòng pháp chính là tư tưởng trung tâm, Chân Phật Mật Pháp này chính là tư tưởng trung tâm, nếu đi chệch thì không còn đúng nữa. Giống như một cái cây vậy, nó có thể phân nhánh, có thể sinh lá, một cây lớn, bạn nhìn một cây lớn, một thân cây, nó có thể đâm chồi nảy lộc, càng phân càng nhiều, càng lớn, Chân Phật Tông càng lớn, phân nhánh phân lá đều được, nhưng tất cả không được rời xa thân cây chính, một khi rời xa thân cây chính thì đứt đoạn, đứt đoạn truyền thừa rồi, chính là như vậy đó. Vậy lấy ai làm tư tưởng trung tâm? Chính là lấy thân cây chính đó - Chân Phật Mật Pháp làm tư tưởng trung tâm.
【Hỏi】
Điều kiện và nhân duyên Sư Tôn chọn Thượng sư phát sinh trong hoàn cảnh nào? Sư Tôn có phân cấp bậc Thượng sư của Chân Phật Tông không? Lama Tây Tạng có phân cấp, chúng ta có tuyên bố như vậy không? Như vậy đệ tử mới dễ chọn lựa và học tập, không bị sai lệch?
【Đáp】
Vấn đề này là như thế này, điều kiện chọn Thượng sư, tôi dựa theo sự giáo hóa của chính Như Lai: Thứ nhất, vị ấy phải có đạo tâm kiên cố, bản thân phải có đạo tâm kiên cố. Thứ hai, hộ trì Chân Phật Tông và hộ trì Căn bản Thượng sư. Thứ ba, phát bồ đề tâm. Thứ tư, có tâm từ bi. Thứ năm, có khả năng buông xả. Năm điều kiện này chính là điều kiện của một vị Thượng sư, ngoài ra không còn gì khác.
Được! Nếu mỗi vị Thượng sư đều phải phù hợp với năm điều kiện này, tôi thành thật nói với mọi người là "không có"! (Sư Tôn cười) Để có đủ cả năm điều kiện này đã là rất khó rồi, vậy thì các Thượng sư ngày nay phải làm sao? Họ cũng phải nỗ lực hoàn thành năm điều này.
Vậy có phân cấp không? Dĩ nhiên là có phân cấp, Thượng sư có A Xà Lê, Đại A Xà Lê, Kim Cương A Xà Lê, Đại Trì Minh A Xà Lê, chính là bốn cấp này. Trước đây trong sách cũng đã viết, đệ tử phải chọn vị Thượng sư tốt để học tập, tùy theo trí tuệ của đệ tử mà phân biệt và quan sát.
【Hỏi】
Pháp thí thực đại bàng Kim Sí Điểu có cần quán đảnh không? Tại sao có đồng môn sau khi thực hiện pháp thí thực này, trong nhà không được yên ổn, người nhà đều có vấn đề về sức khỏe, vận nhà sa sút thê thảm? Có phải do công lực không đủ, phương pháp không đúng, quán tưởng không rõ ràng?
【Đáp】
Là như thế này, thứ nhất, tôi nói cho bạn biết, muốn làm loại thí thực này, chỉ cần bạn là đệ tử thì đều có thể làm được, bạn phải theo nghi quỹ rõ ràng, minh bạch, không sai sót mà làm thì sẽ không có sai sót.
Giả như sau khi bạn làm xong, ngược lại vận nhà của bạn sa sút thê thảm, không tốt, là vì lúc đó bạn đang gặp thời vận xui xẻo, không phải do làm việc này. Không liên quan gì đến việc này cả.
【Hỏi】
"Quán đảnh là đưa hạt giống vào ruộng thức thứ tám", khi quán đảnh đệ tử nên quán tưởng như thế nào? Làm sao để đưa hạt giống vào ruộng thức thứ tám?
【Đáp】
Thức thứ tám là một tầng thức rất sâu, đó thực sự là thức chứa hạt giống. Nhưng mà, bạn chỉ cần quán tưởng Bổn tôn của mình ở trên đỉnh đầu, quán tưởng phải rõ ràng minh bạch, đặt vị Bổn tôn mà bạn muốn quán đảnh trên đỉnh đầu là được. Còn những quán tưởng khác, chỉ cần quán tưởng dòng pháp chảy vào tràn đầy khắp thân thể là được.
【Hỏi】
Cảnh giới được mô tả trong Chân Phật Kinh có phải là cõi Phàm Thánh Đồng Cư không? Sư Tôn khai thị là cõi Thường Tịch Quang, vì lý do gì vậy?
【Đáp】
Không phải mâu thuẫn đâu, nói cho mọi người biết là không mâu thuẫn. Bởi vì cõi Thường Tịch Quang, nếu như muốn viết ra Chân Phật Kinh, bạn mở ra, không có một chữ nào cả! Nếu muốn viết ra cõi Thường Tịch Quang thì không có một chữ nào cả, như vậy không biết mọi người có hiểu không? Chân Phật Kinh chân chính thì bạn mở ra không có một chữ nào cả.
【Hỏi】
Khai ngộ có phân biệt giữa khai ngộ về Lý pháp và khai ngộ về Sự pháp không, hay là chỉ cần khai ngộ thì Lý - Sự đều viên thành? Có thành tựu về ngoại pháp và chứng lượng về nội tu không? Kính xin Sư Tôn từ bi khai thị?
【Đáp】
Điều này đã giảng qua rồi, có sự phân biệt giữa khai ngộ về Lý pháp và khai ngộ về Sự pháp. Sau khi hành giả thành tựu về Sự pháp, họ sẽ có chứng lượng nội tu, cũng có thành tựu về ngoại pháp.
【Hỏi】
Đệ tử chợt nhận ra rằng chúng ta hiện đang ở trong Ma Ha Song Liên Trì, thế giới này vốn đã có Ma Ha Song Liên Trì, tất cả đều là vấn đề tâm cảnh, vì vậy mới có tức thân thành Phật. Tất cả các tướng như trời, người, giới địa ngục, cõi Phật, đều do một tâm biến hóa, nghĩa là cõi Phật không đến không đi, địa ngục thiên đường cũng như vậy, không trên không dưới, tất cả các tướng đều là sự hiển hiện và biến hóa của tâm. Tu pháp chính là chuyển hóa vọng tâm của con người thành tịnh độ tâm, từ đó có thể thể hội được rằng ngay trong nhân gian đã có tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì, nếu như trong nhân gian không có tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì, thì làm sao có cảnh địa ngục nhân gian ở bệnh viện Địa Tạng Vương mà Sư Tôn đã nói? Vì vậy đệ tử càng thêm thể hội được sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, càng thêm trân quý việc tu trì Chân Phật Mật Pháp, nó sẽ chuyển hóa vọng tâm của chúng ta thành tịnh độ tâm của Ma Ha Song Liên Trì. Kính xin Sư Tôn khai thị thêm về tướng địa ngục nhân gian và tướng tịnh độ nhân gian, xin cảm ơn!
【Đáp】
Cái này, những gì bạn nói chính là sự khai thị rồi. Tôi không cần phải trả lời nữa. Bạn nói rất hay, quan niệm này của bạn rất chính xác, cái tâm này có thể diễn hóa được.
【Hỏi】
Kính xin Sư Tôn khai thị về "Số 0 quy về hư vô".
【Đáp】
"Số 0 quy về hư vô" ư? Tôi giảng "1 quy về 0" cơ mà. Sao lại "0 quy về hư vô"? Không chính là "hư vô" rồi.
Cái "0" này là về mặt số học, "0" là một ký hiệu đại diện trong số học. Nếu chúng ta đặt dấu bằng giữa "0" và "hư vô", thì "0" đại diện cho một đơn vị. Còn hư vô thì sao? Thậm chí không có đơn vị, chỉ có thể nói như vậy thôi - khi bạn đưa cái có đơn vị quy về cái không có đơn vị, đó chính là "số 0 quy về hư vô".
【Hỏi】
Tự tính có phải là không bị luân hồi hủy diệt không? Nó có điểm chung gì với thức thứ tám A-lại-da thức không?
【Đáp】
Câu trả lời của bạn là đúng.
【Hỏi】
Đệ tử phát hiện có một số Thượng sư trong tông phái chúng ta truyền pháp không phải là Chân Phật Mật Pháp của Sư Tôn, việc truyền pháp như vậy có phải là không như pháp không? Đệ tử nên làm thế nào? Ngoài Căn bản Truyền thừa Thượng sư ra, các Thượng sư khác trong bản tông có thể truyền quán đảnh từ xa Chân Phật Mật Pháp cho đồng môn không?
【Đáp】
Câu hỏi thứ nhất, bởi vì bản thân Chân Phật Mật Pháp, như tôi vừa nói, có thể có các nhánh phụ, nếu pháp do Thượng sư bản tông truyền là Phật pháp, là pháp do chính Như Lai giáo hóa, tuy Sư Tôn chưa từng nói đến nhưng có trong kinh Phật, thì có thể truyền được và cũng là như pháp. Tuy nhiên, nhất định phải lấy Chân Phật Mật Pháp làm chủ.
Thứ hai, ngoài Căn bản Truyền thừa Thượng sư ra, các Thượng sư khác trong bản tông có thể truyền quán đảnh từ xa Chân Phật Mật Pháp cho đồng môn không? Quán đảnh từ xa này là một phương tiện, nếu Thượng sư bản tông tự thấy mình đã có thể thực hiện quán đảnh từ xa, thì quán đảnh từ xa cần có hai điều kiện: Thứ nhất, bản thân phải có thần túc thông, có thể xuất nguyên thần đến bên đệ tử để quán đảnh. Thứ hai, có thể triệu thỉnh tất cả Không hành, mang theo nước quán đảnh đến bên đệ tử để quán đảnh; pháp này bạn đã thông thạo và phải thực sự có năng lực thì khi đó bạn mới có thể thực hiện quán đảnh từ xa. Ý nghĩa của quán đảnh từ xa chính là hai điều này.
【Hỏi】
Do tính tò mò, đệ tử muốn thỉnh giáo Sư Tôn, hôm qua trong lúc thuyết pháp, vì lý do gì mà Sư Tôn đã nhìn về phía cửa bên trái hai lần? Bởi vì đệ tử nhận thấy Sư Tôn thường không bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh khi thuyết pháp, luôn như như bất động.
【Đáp】
Vị đệ tử này rất giỏi, rất tinh ý, đó chính là lý do tại sao tôi không thể ho được. Tôi đang cố nín ho đấy! Muốn ho ra ngoài, mọi người đều bị cảm, thực ra tôi không có, tôi không bị cảm, nhưng đôi khi có một số chi tiết nhỏ mà tôi cần phải để ý đến. Ví dụ như cái nút áo, có một cái nút tôi chưa cài! Đệ tử đều rất tinh ý: "Thầy không biết đã làm gì ở đâu mà quên cài nút áo?" Tôi nhìn qua bên nào hai lần họ cũng biết.
Đúng vậy, quả thật là như vậy, bởi vì khi chúng ta đang thuyết pháp, bên ngoài không có ai đi lại, nhưng lúc đó đột nhiên có người đi lại bên ngoài, có một nhóm người đi đến những cánh cửa này, rồi lại đi, lại rời khỏi, có lẽ bên ngoài có người làm bảo vệ không? Nhân viên an ninh không? Không có! Cửa chính bên ngoài có mở không? Hay là đóng? (Nhân viên bảo vệ trả lời: "Đóng một nửa.") Đóng một nửa, vậy là có người ngoài vào. Lúc đó có người ngoài vào, tôi đặc biệt chú ý một chút xem có phải là nhân viên cứu hỏa hay nhân viên gì không? Chỉ là có người ngoài vào nên tôi mới nhìn hai lần, không có ý nghĩa đặc biệt gì.
【Hỏi】
Chân Phật Báo cũng giống như kinh sách của chúng ta, xin hỏi Sư Phụ nên xử lý Chân Phật Báo như thế nào? Khi chúng con đọc xong rồi, đem đi tái chế hoặc đốt đi, bỏ vào thùng rác được không? Có nghi thức gì không?
【Đáp】
Ôi! Bạn rất quan tâm đến việc này, nhưng thực ra sau khi bạn đọc xong thì có thể đưa cho người khác đọc, đọc cho đến khi nó rách nát đi; báo này đã đọc đến rách nát rồi thì bạn cũng không cần xử lý, dù sao cũng đã rách nát rồi. Nên chuyển cho người khác, bởi vì trong đó có rất nhiều bài viết rất có ý nghĩa, vậy nên sau khi mọi người đọc xong, có thể lần lượt cho người khác đọc.
【Hỏi】
Sư Tôn từng dạy chúng con dùng âm chú rung động để mở luân xa họng và tim, xin hỏi Sư Tôn, luân xa họng và tim có hiện tượng hay cảm giác gì? Vài tháng trước con tụng chú Liên Hoa Đồng Tử, chú âm khiến ngực con rất đau, sau đó con rất thành tâm cầu xin chư Phật Bồ Tát gia trì, tiêu trừ nghiệp chướng của con, bây giờ cổ họng và tim không còn đau nữa, mỗi lần dùng phương pháp chú âm rung động để tụng chú Liên Hoa Đồng Tử đều rất thông suốt, có phải đây gọi là thông không?
【Đáp】
Phải nói là đúng vậy, đây chính là những hiện tượng tốt trong quá trình tu pháp của chúng ta. Nếu bạn tu bình khí, tu nội hỏa, đều sẽ có hiện tượng lửa bốc lên mạnh mẽ như vậy, có người sẽ bị đau đầu, thậm chí đau mắt, đau chân răng, những hiện tượng này sẽ xuất hiện. Khi bạn gặp những hiện tượng này, cần dừng lại một chút, quán tưởng một cái hồ, một cái hồ lạnh giá ở đỉnh đầu, nước hồ như dòng pháp lưu đang quán đảnh thân thể bạn, dập tắt ngọn lửa này. Sau đó đợi đến khi những cơn đau của bạn đã hết, tình trạng viêm nhiễm đã khỏi, bạn hãy tiếp tục tu trì.
【Hỏi】
"Tự trí chúng sinh giai Hum ཧཱུྃ tự" - có thể quán tưởng chư Phật, bản thân mình, chúng sinh trong lục đạo, và vạn vật có linh đều thành chữ ཧཱུྃ được không? Có phải là không chấp trước vào hình tướng và hành vi của tất cả chúng sinh, mà xem tất cả đều bình đẳng?
【Đáp】
Đây là một vấn đề. "Chúng sinh giai ཧཱུྃ tự" là dựa theo " Om Ah Hum ཨོཾ་ ཨཱཿ ཧཱུྃ " mà có. Om ཨོཾ་ chính là ý thức vũ trụ, Ah ཨཱཿ chính là Phật, Hum ཧཱུྃ chính là chúng sinh, ý nghĩa nằm ở trong đó. Vì vậy tất cả vạn vật có linh đều có thể quán tưởng thành chữ Hum ཧཱུྃ , đều được cả.
"Có phải là không chấp trước vào hình tướng và hành vi của tất cả chúng sinh, mà xem tất cả đều bình đẳng?" Đúng vậy, chư Phật Bồ Tát đều như thế.
【Hỏi】
"Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", "pháp" ở đây là chỉ Phật pháp, phi Phật pháp, hay tất cả mọi sự việc?
【Đáp】
Cái gọi là "chư pháp", chữ "pháp" này không phải chỉ pháp trong Phật pháp, mà là chỉ hoàn cảnh, tất cả môi trường sự vật, gọi là các pháp. Trong kinh Phật thường nhắc đến chữ "pháp", nhưng không chỉ đơn thuần chỉ Phật pháp, hoặc như pháp Tứ quy y, pháp tương ứng Thượng sư mà chúng ta tu tập đâu. Các pháp chính là tất cả hình tướng trong sắc giới đều gọi là các pháp.
【Hỏi】
Kính thỉnh Sư Tôn từ bi, vì lợi ích chúng sinh, xin thị phạm lại thủ ấn và khẩu quyết lắc chuông chày kim cang. Lần quay phim này có thể làm hiệu ứng quay chậm, để dạy cho các đệ tử hoằng pháp độ chúng. Và khẩu quyết của thủ ấn đại hải siêu độ.
【Đáp】
Tôi sẽ làm một thủ ấn chuông chày kim cang. Đây là kết giới. (Sư Tôn thị phạm chuông chày) Đây là tiêu tai. Đây là kính ái. Đây là tăng ích. Đây là hàng phục. Bạn làm cho Yết Ma này thật viên mãn, thật đẹp, rồi quán tưởng những ánh sáng này, biến hóa trong thủ ấn của bạn, tinh thần, ánh sáng và chuông chày hợp làm một, đó chính là khẩu quyết.
【Hỏi】
Pháp giới là gì?
【Đáp】
Pháp giới, nói chung là tứ thánh, lục phàm, thập pháp giới; tức là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác gọi là tứ thánh, còn lục phàm là: trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đây là tứ thánh, lục phàm, thập pháp giới.
Pháp giới còn được chia thành nhiều loại, nhiều tầng bậc, nói chung là chỉ tất cả các tầng bậc trong vũ trụ, tất cả đều gọi là pháp giới!
【Hỏi】
Đã nói "Phật biết tất cả sự vật", vậy tại sao Phật không biết nói tiếng Anh?
【Đáp】
Là Liên Hoa Ninh Thánh hỏi đấy, bây giờ tôi hỏi bạn, làm sao bạn biết Phật không biết nói tiếng Anh? Chỉ là Ngài chưa nói thôi, để tôi nói một đoạn tiếng Anh cho bạn nghe nhé!
I can speak English. This morning I washed my car. Some people asked me, how come you change the car? Before, you drive the Rolls- Royce, now you drive the Mercedes, why? I say because the Rolls-Royce car is no good. In Washington state, just one person takes care Rolls-Royce, service no good. So, many many troubles. Sometimes, not sometimes, always, always oil leak. Yeah, always oil leak is true, no kidding. Now, I like my car, because I like the white color. Yeah, white color. White color same as my Iotus color. Yeah, I can speak English. But I speak English so slow, so slow. My first language is Chinese, English is my second language.
[Tôi có thể nói tiếng Anh. Sáng nay tôi rửa xe. Có người hỏi tôi tại sao lại đổi xe? Trước đây anh lái Rolls-Royce, bây giờ lại lái Mercedes, tại sao vậy? Tôi nói bởi vì xe Rolls-Royce không tốt. Ở bang Washington, chỉ có một người phụ trách bảo dưỡng Rolls-Royce, dịch vụ không tốt. Thế nên có rất nhiều rắc rối. Thỉnh thoảng, không, không phải thỉnh thoảng, mà là luôn luôn, luôn luôn bị rò rỉ dầu. Đúng vậy, bị rò rỉ dầu là thật, không đùa đâu. Bây giờ, tôi thích chiếc xe của mình, bởi vì tôi thích màu trắng. Đúng vậy, màu trắng. Màu trắng giống như màu hoa sen của tôi. Vâng, tôi có thể nói tiếng Anh. Nhưng tôi nói tiếng Anh rất chậm, rất chậm. Ngôn ngữ thứ nhất của tôi là tiếng Trung, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai của tôi.]
Giả sử Phật Đà sống ở thế giới Tây phương thì tiếng Anh của Ngài sẽ không chê vào đâu được! Tiếng Anh này cũng là bị ép mà nói được đấy.
My wife and my son, my daughter say Master Lu speaks English is very down. Because I just everyday stay in my home and watch the TV one hour. I study English just by watching TV one hour and sometimes go to the downtown and drink a little wine, and waiter and waitress talk and study, just…
[Vợ tôi và con trai, con gái tôi nói tiếng Anh của Sư Phụ Lư rất kém. Bởi vì tôi chỉ ở nhà mỗi ngày và xem TV một tiếng. Tôi học tiếng Anh chỉ bằng cách xem TV một tiếng và thỉnh thoảng đi trung tâm thành phố uống chút rượu, nói chuyện và học từ các anh chị phục vụ bàn, chỉ thế thôi...]
Vâng, là như thế đấy!
【Hỏi】
Thành tựu toàn thân xá lợi ở đâu? Toàn thân xá lợi và hóa thân cầu vồng có gì khác nhau về mặt thành tựu?
【Đáp】
Xá lợi tử là kết tinh các yếu tố sinh mệnh trong cơ thể, kết tinh đến khi toàn thân đều kết tinh thì gọi là xá lợi; khi các chất tiết trong cơ thể kết tinh khắp toàn thân thì gọi là thành tựu toàn thân xá lợi toàn thân. Toàn thân xá lợi là bản thân đã kết tinh, các chất tiết của yếu tố sinh mệnh kết tinh trong toàn thân. Hóa thân cầu vồng là chuyển hóa những thứ đã kết tinh thành ánh sáng, cho nên thành tựu hóa thân cầu vồng là cao nhất.
【Hỏi】
Tại sao xá lợi tử lại tự sinh ra những xá lợi tử nhỏ? Tại sao lại sinh ra được?
【Đáp】
Đây là vấn đề thuộc về cấp độ tinh thần, do chư Phật Bồ Tát gia trì xá lợi tử đó, khiến cho tinh thần của nó lại phân ra tinh thần, vật chất lại phân ra vật chất, trong đó có tác dụng thần hóa.
【Hỏi】
Thế nào gọi là "chỉ thường giác chiếu mà quên giác chiếu"?
【Đáp】
"Chỉ thường giác chiếu mà quên giác chiếu", câu hỏi này rất hay. Giống như bây giờ ánh đèn (đèn rọi) này chiếu vào tôi, tôi cảm thấy rất nóng. Nhưng mà, tôi đem toàn bộ tinh thần tập trung vào việc trả lời câu hỏi này, thì quên mất ánh sáng nóng đang chiếu vào mình, đây chính là "thường giác chiếu mà quên giác chiếu", đã quên rồi.
【Hỏi】
Dùng chủng tự nào để tu pháp Địa Tạng Vương Bồ Tát? Là dùng chữ " བྱི ", chữ "ཧ", hay chữ " སེ "?
【Đáp】
Dùng chữ " ཧ " được.
【Hỏi】
Khi A Di Đà Phật là chủ tôn, vậy thì ai là Hộ pháp của chủ tôn? Ai là Hộ pháp trí huệ của chủ tôn? Ai là minh phi của chủ tôn? Chân Phật Tông dùng bộ thủ ấn bát cúng nào làm thủ ấn truyền thừa?
【Đáp】
Ai là Hộ pháp của chủ tôn? Hộ pháp của bản thân A Di Đà Phật, chúng ta có thể nói như thế này, là Đại Uy Đức Kim Cang làm Hộ pháp chính của Ngài. Vậy ai là Hộ pháp trí huệ? Rất đơn giản, chính là Không hành mẫu trí huệ. Còn ai là minh phi của chủ tôn? Cái này bạn đã đề cập đến song thân rồi! Bởi vì là minh phi mà! Vấn đề về minh phi là nói đến vấn đề song thân của A Di Đà Phật, để sau này sẽ nói cho bạn biết.
Chân Phật Tông cũng có thủ ấn bát cúng làm truyền thừa, trước đây chúng ta dùng ngũ cúng, bởi vì hoa, hương, đèn, trà, quả, đều dùng ngũ cúng. Hoa, hương, đèn, trà, quả, các bạn thêm vào nước thơm, tức là thêm vào nước tắm, thêm vào vỏ ốc như ý, thêm vào một loại phấn thơm, đó chính là thủ ấn bát cúng.
【Hỏi】
Băng ghi hình thuyết pháp của Sư Tôn tại Cầu Vồng Sơn Trang có thể phát công khai trên truyền hình cáp không?
【Đáp】
Được, càng nhiều người xem càng tốt, điều này có thể thu hút rất nhiều người đến quy y.
【Hỏi】
Cơ thể có thương tổn bên trong, khi tu luyện khí công, có phương pháp đặc biệt nào có thể chữa lành thương tổn bên trong không?
【Đáp】
Có, trong phần Nội pháp này có phương pháp chuyên trị thương tổn bên trong, Kim cang quyền cũng có. Về phần thông khí, chúng ta có cách như thế này: Khi khí đang vận hành, hãy quán tưởng dòng khí đó đang di chuyển, ngón tay bạn cũng theo đó mà quán tưởng di chuyển, từ chân đi lên, quán tưởng dòng khí đi lên giống như ngón tay của bạn, đây là sự hợp nhất giữa xúc và khí, phương pháp chỉ dẫn này sau này sẽ giảng, sẽ được đề cập trong Nội pháp.
Thế nào là đề? Đề, tức là nâng lên, rất quan trọng, cho nên trong "giáng, đề, trì, tán", chữ "đề" là quan trọng nhất.
Tôi đã từng nói, "một đề có thể bay qua núi Tu Di". Trọng điểm của đề ở đâu? Ở tư thế, ở một bộ phận nào đó trên cơ thể bạn. Có nhiều người nói: "Có lẽ là bảo chúng ta đề hậu môn, nâng hậu môn lên." Nâng hậu môn, không phải! Bây giờ chưa thể nói được, phải giữ một chút bí mật, nếu cho các bạn học hết thì tôi còn gì để chơi nữa?
【Hỏi】
Khí có mấy loại?
【Đáp】
Khí thượng hành, khí hạ hành, khí biến hành, khí mệnh, khí bình hành, còn có một loại nữa là đẳng khí, đẳng khí chính là khí bình hành.
【Hỏi】
Khí và lực khác nhau thế nào?
【Đáp】
Đây cũng là điều thuộc về Nội pháp, đây là Nội pháp, khí thượng hành, khí hạ hành, khí biến hành, khí mệnh, khí bình hành, những điều này đều thuộc về Nội pháp, sau này sẽ giảng.
【Hỏi】
Hỏa cúng, cúng Tứ Đại Thiên Vương, nên dùng cúng phẩm gì là tốt nhất? Ngày mai có thể cầu quán đảnh Hộ Ma hỏa cúng không? Nên quán tưởng quán đảnh như thế nào?
【Đáp】
Được, về cách quán tưởng quán đảnh, đây chính là điều sẽ giảng cho mọi người vào ngày mai. Bởi vì khi làm quán đảnh lửa Hộ Ma, thông thường, bạn phải nhóm lửa, phải đốt lửa lên, sau đó quán tưởng ngọn lửa này đi vào thiên tâm của bạn, rồi di chuyển xuống dưới, di chuyển đến Tâm luân, trước tiên đốt cháy nửa thân trên, sau đó đốt cháy nửa thân dưới, bản thân bạn hòa tan trong lửa, đây là cách quán tưởng quán đảnh lửa Hộ Ma.
Vậy ngày mai thì sao? Khi được quán đảnh chạm đỉnh đầu, bạn cũng có thể quán tưởng một khối lửa đi vào cơ thể bạn, đốt cháy toàn thân bạn, biến thành một khối lửa, đây là quán đảnh lửa Hộ Ma. Vậy khẩu quyết là gì? Chính là lửa, Bổn tôn và bạn, tất cả hợp nhất làm một, đó chính là khẩu quyết.
Cúng phẩm nào tốt nhất để cúng Tứ Đại Thiên Vương? Tứ Đại Thiên Vương là để cầu tài, cầu tăng ích, vì vậy bạn nên cúng trái cây màu vàng, cúng rượu nho, cũng có loại rượu nho màu vàng, tất cả cúng phẩm tốt nhất nên lấy màu vàng làm chủ đạo. Cúng gì cũng được, miễn là thứ gì có thể đốt được đều có thể cúng.
【Hỏi】
Nếu tổ tiên qua đời ở Nam Kinh, Thượng Hải, Trung Quốc và đã thăng thiên, hai năm sau an linh vị tại Lôi Tạng Tự thì có ích lợi gì không?
【Đáp】
An linh vị tại Lôi Tạng Tự, dù bạn đã thăng thiên hay chưa thăng thiên đều được, bất kể bạn qua đời ở đâu cũng được, đều có lợi ích cả.
【Hỏi】
Trong cuộc sống hàng ngày, hành giả Mật tông nên an trụ tâm như thế nào? Khi có nhiều vọng niệm thì phải đối trị ra sao?
【Đáp】
Hành giả Mật tông trong cuộc sống hàng ngày nên an trụ tâm như thế nào? "Nên vô sở trụ", nên không trụ vào đâu cả. Khi có nhiều vọng niệm thì phải đối trị ra sao? Nếu đã vô sở trụ thì không còn vọng niệm, khi vô sở trụ thì không còn vọng niệm, nếu không thì nên trụ vào "một".
【Hỏi】
"Cửu phụng phá uế tịnh thủy pháp", cửu phụng là gì? Phải quán tưởng thế nào?
【Đáp】
Cửu phụng là một tên gọi, tức là chim phượng hoàng, một loại chim thiêng thời cổ đại. Bản thân nó, theo truyền thuyết cổ xưa, cửu phụng này có thể trừ được nhiều độc, mọi thứ độc hại đều rất sợ nó, cho nên "cửu phụng phá uế", chữ "uế" này nghĩa là dơ bẩn. Vậy cửu phụng bạn có thể quán tưởng là một con phượng hoàng, quán tưởng phượng hoàng như thế nào? Mọi người có biết không? Phượng hoàng là hình dáng phượng hoàng, bạn quán tưởng hình dáng phượng hoàng, có chín con phượng hoàng là được.
【Hỏi】
Mật pháp khi học mỗi chú, mỗi thủ ấn, mỗi nghi quỹ, đều phải thọ nhận quán đảnh, nhận gia trì mới như pháp. Vậy thì thủ ấn của chú vãng sinh của Văn Thù Bồ Tát trước khi ăn cơm có cần phải được quán đảnh mới được sử dụng không? Nếu không thì có sao không?
【Đáp】
Về câu hỏi đầu tiên của bạn, phải nói rằng, mỗi chú, mỗi thủ ấn, mỗi nghi quỹ đều nên thọ nhận quán đảnh, thực tế là như vậy mới như pháp. Còn về thủ ấn của chú vãng sinh của Văn Thù Bồ Tát, nếu bạn muốn thọ nhận quán đảnh cũng được, có thể trực tiếp thọ nhận quán đảnh.
Giả sử bạn đã hiểu được ý nghĩa của nó, giống như có một vị Bồ Tát, tuy bạn chưa khai quang nhưng bạn rất thành tâm sử dụng, rất thành tâm trì tụng chú ngữ này, dù bạn chưa từng thọ nhận quán đảnh, tất nhiên là không có lực gia trì trong đó. Nhưng một ngày nào đó bạn cảm động được Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, vị Bồ Tát này từ trong hư không sẽ gia trì cho bạn, tương đương với việc quán đảnh cho bạn, điều này cũng có thể xảy ra, cho nên có thể nói, đó là do lòng thành của bạn cảm động được Bồ Tát.
Vậy nên tốt nhất là bạn hãy đến thọ nhận quán đảnh, nếu chưa thọ nhận quán đảnh, bạn phải dùng lòng thành của mình để cảm động Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát gia trì cho bạn, khi đó chú vãng sinh Văn Thù và thủ ấn của bạn mới có pháp lực.
【Hỏi】
Địa ngục kim cang và địa ngục được mô tả trong "Ngọc Lịch Bảo Sao" có gì khác nhau? Quán tưởng có phải là minh tưởng không?
【Đáp】
Quán tưởng và minh tưởng, đây chỉ là khác chữ mà thôi, thực ra ý nghĩa của chúng giống nhau.
Địa ngục kim cang và địa ngục được mô tả trong "Ngọc Lịch Bảo Sao" có gì khác nhau? Địa ngục được mô tả trong "Ngọc Lịch Bảo Sao" là "thập điện", tức là "Thập Điện Diêm Vương" hoặc là "18 địa ngục". Còn địa ngục kim cang thuộc về địa ngục của Mật giáo, hành giả tu Mật pháp nếu phạm giới kim cang, giới samaya, thậm chí các giới luật khác, họ sẽ đọa vào địa ngục kim cang, đó là địa ngục thuộc về Kim cương thừa.
【Hỏi】
Xin hỏi Sư Tôn, tại sao thực vật không được tính vào trong lục đạo luân hồi? Xin hỏi Sư Tôn, ý thức vũ trụ là gì? Để đạt được ý thức này có phải chỉ có thể đạt được từ Tam ma địa không? Hoa sen to như bánh xe mà Sư Tôn đã từng đề cập, có phải tượng trưng cho các đạo tràng chi nhánh của Chân Phật Tông (nhiều người ngồi trên hoa sen) và bàn thờ cá nhân (một người ngồi trên hoa sen) không?
【Đáp】
Thực vật cũng nằm trong luân hồi.
"Ý thức vũ trụ có phải chỉ có thể đạt được từ Tam ma địa không?" Thực ra ý thức vũ trụ chính là pháp giới, chúng ta gọi là pháp giới, pháp lưu, không phải chỉ có thể đạt được từ Tam ma địa. Miễn là bạn có thể tương ứng với ý thức vũ trụ, mọi phương pháp đều có thể giúp bạn đạt được nó; bất kì phương pháp nào cũng có thể giúp bạn đạt được nó. Như Lai dạy rằng "tám vạn bốn nghìn pháp môn, pháp pháp bình đẳng", mọi pháp đều có thể đạt được ý thức vũ trụ.
"Hoa sen to như bánh xe" không phải là hoa sen ở đạo tràng chi nhánh thì to hơn, còn hoa sen ở bàn thờ cá nhân thì nhỏ hơn, không phải như vậy.
【Hỏi】
Trong công án Thiền tông, khi sư phụ hỏi đệ tử "Con đã no chưa?", đệ tử nên trả lời thế nào? Nếu trả lời "Con đã no", ý nghĩa của nó là gì? Nếu trả lời "Chưa" thì có ý nghĩa gì?
【Đáp】
Nếu bạn trả lời "Đã no", nghĩa là no rồi! Có thể đi được rồi! Còn trả lời "Chưa no", thì chưa no thì tiếp tục ăn chứ sao! Thực ra điều này có ý nghĩa của nó, khi sư phụ hỏi bạn "Đã no chưa", nếu bạn nói "Đã no" tức là đã ấn chứng, đã có ấn chứng. Còn nói "Chưa" có nghĩa là bạn phải tiếp tục cố gắng, tiếp tục tinh tấn.
Điều tôi nói rất đơn giản, rất đơn giản thôi, còn có ý nghĩa sâu xa hơn nữa, không thể nói.
【Hỏi】
Người xuất gia hoặc người tu đạo có khi đánh vỡ ly, hoặc thấy lá cây rơi, hoặc ngón chân cái đá phải viên gạch, đều có thể khai ngộ, xin Sư Tôn chỉ dạy thiền cơ ở đâu?
【Đáp】
Ngón chân cái của bạn đá phải viên gạch, thiền cơ của nó chính là "sưng lên"! Đừng suy nghĩ nhiều quá, hãy nghĩ đơn giản thôi, mau đi mua thuốc mỡ về thoa.
Đánh vỡ ly, bị bỏng tay, đó là lão hòa thượng Hư Vân, ngài cho rằng vừa đánh vỡ ly, đột nhiên ngài khai ngộ. Về sự khai ngộ này, họ cho rằng đó là "phá sơ quan", bị rơi cái cửa đầu tiên; tức là cái ly vỡ, rơi mất cửa đầu tiên của ngài. Điều này nói lên rằng, trong ngoài đều phá; giống như bạn chính là cái ly đó, vậy thì bạn đã thu hẹp phạm vi của mình rồi, tại sao bạn không phá vỡ thân thể của mình? Như vậy tầm nhìn của bạn sẽ giống như ý thức vũ trụ, không phải tốt hơn sao? Đây chính là phá vỡ trong ngoài.
Lá cây rơi xuống, hãy quét nó đi.
Lá cây rơi xuống thật sự phải quét đấy! Vị sư phụ này đưa cho bạn một cây chổi, bảo bạn quét những chiếc lá rơi đó, thế là bạn đi quét, quét lá, thấy lá rơi xuống, nhìn kìa, ngày nào cũng rơi! Bạn nói với sư phụ: "Sư phụ, không cần quét đâu." "Tại sao không cần quét?" "Bởi vì hôm nay quét xong, ngày mai lại rơi! Ngày mai quét xong, ngày mốt lại rơi! Tại sao phải quét chứ?" Ồ! Sư phụ nghe xong: "Ôi chao, khai ngộ rồi!"
Lá rơi này cũng có thể khai ngộ đấy! Những chiếc lá này tượng trưng cho phiền não, mỗi ngày đều có phiền não rơi xuống, tại sao bạn phải quét nó? Cứ để gió thổi bay đi. Cầu Vồng Sơn Trang thường có gió núi, khi có nhiều lá cây, một cơn gió núi thổi qua là tất cả đều bay sang nhà người khác rồi. Có khi không cần quét, có khi phải quét, tùy bạn giải thích ra sao.
【Hỏi】
Con người và súc sinh đều có sự sống, tại sao khi cắt con giun đất làm hai nửa, cả hai phần đều còn cử động được? Vậy lúc này, làm sao xác định Phật tính của nó nằm ở phần nào?
【Đáp】
Câu hỏi này hay đấy! Trước đây cũng đã có người hỏi câu này rồi. Con giun đất cũng có Phật tính đấy! Vậy khi cắt làm hai, cả hai bên đều cử động! Thế Phật tính nằm ở bên nào?
Có người nói Phật tính ở cả hai bên, Phật tính ở hai bên, đa số mọi người đều cho rằng Phật tính ở cả hai bên. Nhưng thực ra câu trả lời đúng là "Phật tính ở khắp nơi", không phải chỉ ở hai bên, mà còn ở trong hư không, trong không gian, ở khắp mọi nơi.
Không phải chỉ những gì cử động được mới gọi là Phật tính đâu, không phải vậy; không phải có sự sống là có Phật tính, Phật tính và sự sống là hai chuyện khác nhau. Cho nên câu hỏi này hỏi thật là kỳ cục. Không phải là thứ có thể cử động mới gọi là Phật tính.
【Hỏi】
Tại sao thủ ấn phải giải ấn ở thiên tâm? Có bí quyết nhiệm mầu gì? Xin Sư Phật khai thị.
【Đáp】
Giải ấn ở thiên tâm bởi vì tư thế đó là đẹp đẽ nhất. Bạn giải ấn ở Hầu luân, giải ấn ở chỗ này, giải ấn ở chỗ kia, thì nên ở đây (chỉ Thiên tâm) là thành kính nhất, ở đỉnh đầu là thành kính nhất.
Trong tất cả Pháp thân của Như Lai có "Vô thượng đỉnh", Vô thượng đỉnh chính là "Phật đỉnh tôn thắng", thù thắng nhất phải là Phật đỉnh. Vậy nên chúng ta giải ấn ở đỉnh đầu, cũng biểu thị đó là tôn quý thù thắng nhất, tôn quý nhất, thù thắng nhất.
【Hỏi】
Hành giả Mật tông trước khi nghe Căn bản Truyền thừa Thượng sư thuyết pháp khai thị thì nên chuẩn bị những gì? Có cần quán tưởng hoặc trì chú không? Làm thế nào để có thể đạt được lợi ích của "khẩu nhĩ tương truyền"?
【Đáp】
Thông thường nói "khẩu nhĩ tương truyền" là một đối một, một người đối một người mới gọi là "khẩu nhĩ". Giống như miệng tôi nói, tai bạn nghe, đó chính là "khẩu nhĩ tương truyền". Hôm nay ở đây thì khác. Trước đây khẩu nhĩ tương truyền là nói một đối một, tương đối bí mật. Còn bây giờ giảng công khai, cũng gọi là khẩu nhĩ tương truyền; tôi giảng, các bạn dùng tai nghe.
"Khi nghe Căn bản Truyền thừa Thượng sư thuyết pháp khai thị thì nên chuẩn bị những gì?" Đi vệ sinh trước! Đi vệ sinh không cần quán tưởng, không cần trì chú, chuẩn bị như vậy là được rồi.
【Hỏi】
Tu pháp Thượng sư tương ứng và pháp Bổn tôn vốn phải tu tập riêng biệt, nhưng nếu vì lý do thời gian, có thể kết hợp tu tập cùng một lúc được không?
【Đáp】
Có thể tu tập như vậy được, có thể kết hợp tu. Vì thế Mật giáo có nhiều cách tu kết hợp, Tứ gia hành kết hợp với Thượng sư tương ứng, Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng kết hợp với pháp Bổn tôn, đều được cả.
【Hỏi】
Năm 1991 có một cuốn băng ghi âm, là lời khai thị Chân Phật Mật Ngữ của Sư Tôn, từng giảng giải Bách tự minh chú nói rằng: "Chư-yô-mi-pa-wa, Chư-chô mê-pa-wa". Nguyên bản Bách tự minh chú không có câu "Chư-yô-mi-pa-wa", vậy bây giờ khi tụng, có cần thêm câu này vào không? Xin Sư Tôn khai thị.
【Đáp】
Bạn đang bắt lỗi tôi đấy! Chỉ có "Chư-chô-mê-pa-wa", không phải "Chư-yô-mi-pa-wa". "Chư-yô-mi-pa-wa" là vì lúc đó tôi phân biệt trái phải không rõ.
Mọi người đều biết, thực ra rất nhiều đệ tử thân cận đều biết, Sư Tôn đôi khi người ta hô trái hô phải không phân biệt được, cuối cùng có người dạy tôi nói "Có" (Sư Tôn giơ tay), mỗi lần hô "Có" thì bạn giơ tay lên! Giơ tay phải lên! Lúc này bên này là bên phải, vậy bên kia mới là bên trái, từ đó về sau tôi nhớ được rồi, nói: "Có". (Sư Tôn giơ tay) Tôi biết rồi! Bên phải là bên này.
Trước đây tôi thường hay không phân biệt được, cho nên khi tôi đi lính, huấn luyện viên hô "Quay phải", tôi toàn quay trái. Mà tôi là người có thân hình nhỏ nhất, các bạn biết đấy, mọi người đều quay về bên này đi về bên này, chỉ có một mình tôi... một mình tôi…
Trước đây tôi thực sự không phân biệt được phải trái, tôi chỉ nhớ rõ lệnh quay về sau, "Quay sau" thì tôi biết quay, quay ngay lập tức, tôi làm được. Nhưng mà quay phải quay trái thì đôi khi tôi phải suy nghĩ một chút, khi nghĩ thì lại nghĩ không ra, nên tôi cứ quay đại. Thế là mỗi lần như vậy tôi lại đi ngược hướng với cả đơn vị, đến khi đi được nửa đường, quay đầu nhìn lại, thì mọi người đã đi xa rồi. Cho nên cái tật không phân biệt được phải trái này đã làm tôi khổ sở nhiều năm.
Sau này lái xe, mọi người lái xe ở Mỹ này, turn right turn left, turn right là rẽ phải, turn left là rẽ trái. Tôi cũng từng lúng túng một thời gian với cái turn right và turn left này, cũng từng lúng túng một thời gian. Cái tật không phân biệt được phải trái là khuyết điểm của tôi, tốt quá! Anh ấy đã nói hết ra rồi.
【Hỏi】
Chúng sinh vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc có thọ mệnh vô tận, vậy chúng sinh vãng sinh về các cõi tịnh thổ khác của chư Phật, thọ mệnh có phải cũng vô tận không?
【Đáp】
Đúng vậy. Nhiều cõi tịnh thổ của chư Phật thọ mệnh đều rất dài, dài đến mức không thể tính đếm được, cho nên mới gọi là "vô tận", bởi vì thọ mệnh của họ đều rất dài.
【Hỏi】
Quán tưởng chủng tử tự biến thành Bổn tôn có quan trọng không? Nếu như nhầm lẫn chủng tử tự của chư Phật Bồ Tát, điều này có nghĩa là không thể tương ứng không?
【Đáp】
Chủng tử tự biến thành Bổn tôn, đây là vấn đề về trình độ, là vấn đề về thứ tự. Trước tiên quán tưởng nguyệt luân, sau đó chủng tử tự ở giữa, rồi xoay chuyển, Bổn tôn xuất hiện, lúc đó Bổn tôn tam quang gia trì cho bạn, thậm chí di chuyển đến đỉnh đầu của bạn hóa thành rất nhỏ, đi vào trung mạch của bạn, dừng lại ở Tâm luân, rồi hóa thành giống như bạn, đây gọi là quán Nhập ngã Ngã nhập.
Thực hiện quán tưởng như vậy là có trình độ. Chủng tử tự biến thành Bổn tôn đương nhiên rất quan trọng, nếu chủng tử tự sai, điều này có nghĩa là không thể tương ứng. Chủng tử tự sai, thực sự là không có cách nào, bạn không biết, coi như là một lỗi lầm; nhưng sau này khi bạn biết rồi, bạn có thể bổ sung lại, sửa đổi lại, điều này đều rất quan trọng.
Vì thế mới có cái gọi là "chân ngôn bổ khuyết", nghĩa là khi bạn biết mình có sai sót, trong khi tu pháp có điều gì sai? Bạn trì tụng chân ngôn này để bổ sung những lỗi lầm đó, chân ngôn bổ khuyết chính là để bổ sung lỗi lầm. Ví dụ như tụng Bách tự minh, dù trong nghi quỹ có điều gì sai sót, quán tưởng không rõ ràng, ý niệm không tốt, kết sai thủ ấn, hoặc trong khi trì chú, có chỗ sai sót nghi quỹ, bạn ngáp một cái, không nhịn được ho, những cái này đều là lỗi lầm, vậy làm sao bổ khuyết? Tụng chú Bách tự minh có thể bổ sung. Và cũng có chân ngôn bổ khuyết, cũng có thể bổ sung.
Trong những chủng tử tự này có một chữ là ấn chung của tất cả chư Phật Bồ Tát, đó là chữ Ah " ཨཿ ". Chữ " ཨཿ ", chữ " ཨཿ " này chính là ấn chung của tất cả chư Phật Bồ Tát, là chủng tử tự thông dụng. Bất kể đúng hay sai, hoặc vị Bổn tôn nào, bạn đều quán tưởng nguyệt luân chữ Ah. Quán nguyệt luân, quán chữ Ah, rồi biến hóa thành tất cả Bổn tôn, bạn đều có thể dùng chung. Vì thế bạn quán tưởng chữ " ཨཿ " xuất hiện trong nguyệt luân, biến hóa thành Bổn tôn thì sẽ không sai, bởi vì đó là chữ thông dụng của tất cả chư Phật Bồ Tát.
【Hỏi】
Chủng tử tự trong nguyệt luân, quay theo chiều kim đồng hồ, hay đứng thẳng và xoay trái phải?
【Đáp】
Ồ! Lại hỏi đến vấn đề trái phải của tôi rồi. Tôi thì dùng cách quay theo chiều kim đồng hồ. Cũng có thể quay thẳng đứng, cũng có thể quay ngang. Thông thường theo Mật tông Tây Tạng thì đều thẳng đứng, đều nói là thẳng đứng. Nhưng đôi khi, chủng tử tự này, cũng có thể để ngang. Giống như thói quen của tôi, bây giờ nói về thói quen của tôi. Trên nguyệt luân, đương nhiên là dùng thẳng đứng, ở rốn của tôi, tôi dùng quay ngang; ở Tâm luân của tôi, tôi dùng quay ngang. Tôi không dùng thẳng đứng, đây là thói quen của tôi.
【Hỏi】
Năm trí huệ lớn của Phật, Như Lai, thứ tự tiến triển như thế nào?
【Đáp】
Là như thế này. Nói về năm trí huệ lớn, đều xuất phát từ Đại Nhật Như Lai. Vậy làm sao tiến triển? Chúng ta dùng phương pháp của Trung Quốc để diễn giải. Trước đây có người hỏi tôi, nhưng trong kinh Phật tôi vẫn chưa từng thấy nó tiến triển như thế nào.
Tôi dùng Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ bắt đầu từ Thổ ở trung ương, vậy Thổ sinh ra cái gì? Thổ sinh Kim, chính là từ phương Tây, phương Tây là Phật A Di Đà, là từ phương Tây. Vậy Kim sinh ra cái gì? Sinh ra Thủy. Vậy Thủy là phương nào? Phương Bắc, Bất Không Thành Tựu Phật. Vậy Thủy lại sinh ra cái gì? Thủy sinh Mộc! Chính là phương Đông, phương Đông là A Súc Phật! Đúng không? Vậy Mộc lại sinh ra cái gì? Sinh ra Hỏa, Hỏa ở phương Nam, phương Nam là Bảo Sinh Phật! Được sinh ra như vậy đó. Thứ tự của năm trí tuệ, tôi giảng như vậy. Còn người khác giảng thế nào, tôi không biết.
【Hỏi】
Làm thế nào để kết nối điểm dưới của nội hỏa?
【Đáp】
Sau này tôi sẽ nói cho bạn biết, đây là về phương diện Nội pháp. Tôi nói về nội hỏa phải kết nối cả trên lẫn dưới, chính là nói về trung mạch này. Trung mạch này làm sao kết nối phía trên, làm sao kết nối phía dưới? Làm sao để nâng ngọn lửa này lên? Làm sao để đốt? Tại sao có thể đốt được? Là bởi vì vật để đốt lửa này, và tờ giấy này. Lửa cháy ở đây, giấy ở đây, ở giữa có một khoảng cách, lửa này không thể đốt được tờ giấy đó, nó không thể cháy được, vậy làm sao để nó cháy lên? Làm sao để cho nó gần lại? Làm sao để đốt cháy nó? Nội hỏa này sinh ra như thế nào? Đây chính là bí quyết.
Nếu hôm nay tôi dạy bí quyết này cho các bạn, tôi sẽ không cần phải dạy nữa, tôi sẽ không cần phải mở lớp nữa, các bạn đều đã biết rồi. Cho nên vẫn là đợi đến lúc mở lớp rồi giảng vậy!
【Hỏi】
Về mặt địa linh, cát hai bên không đều, ngoài việc dùng thần để chế ngự sát khí, có thể thỉnh cầu thập lực của Phật để điều ngự càn khôn được không?
【Đáp】
Thỉnh cầu thập lực của Phật để điều ngự càn khôn, thực ra việc này còn khó hơn cả dùng thần để chế ngự sát khí. Bạn xem thập lực của Phật, lẽ nào Phật lại phải lo chuyện nhà của bạn. Nhà bạn có địa thế không cân bằng, bạn liền thỉnh Phật đến, muốn thỉnh Ngài đến, thật sự rất khó đấy! Bạn phải tu hành đạt đến trình độ gần như Ngài thì mới có thể thỉnh được Ngài; nếu không, bạn tùy tiện gọi như gọi một đứa trẻ: "Này! Như Lai, ngài đến đây, đến đây." Làm sao Ngài đến được? Như Lai này thành ra "Như Bất Lai", đúng không? Không dễ thỉnh Ngài đến đâu. Bạn phải tu hành đạt đến cảnh giới như Ngài thì mới có thể thỉnh được Ngài đến. Khi bạn tu hành đạt đến cảnh giới như Ngài rồi thì cần gì phải dùng thần để chế ngự sát khí nữa? Dùng chính bạn là được rồi.
【Hỏi】
Hôm qua nghe Sư Tôn nói, ngày mai khi ban quán đảnh pháp cho đệ tử, pháp hỷ tràn đầy, đệ tử tha thiết thỉnh cầu Sư Tôn cho quán đảnh Bạch Độ Mẫu tiêu tai làm pháp quán đảnh đầu tiên. Pháp thân Độ Mẫu bao gồm Quan Âm, Bạch Độ Mẫu, Lục Độ Mẫu, 21 Độ Mẫu v.v…, là pháp môn thù thắng của Mật tông, nếu được Sư Tôn từ bi truyền thừa phổ độ, thì truyền thừa Độ Mẫu của Chân Phật sẽ càng rạng rỡ thiên hạ.
【Đáp】
Trước đây chúng ta có thần chú 21 Độ Mẫu, không biết ai còn giữ? (Nhiều vị Thượng sư giơ tay) Trong tông phái của chúng ta, tôi có ban thần chú 21 Độ Mẫu, họ đều có (chỉ vào một số Thượng sư), ngày mai sẽ làm quán đảnh này. (Mọi người vỗ tay) Thần chú 21 Độ Mẫu này, hãy gặp các Thượng sư để xin.
【Hỏi】
Đệ tử đã đọc một bài kinh "Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni", có kèm theo hình vẽ, trong hình có ngọn tháp kim cang ngũ luân, trông rất giống hình dáng cơ thể người, có phải đây chính là kim thân Như Lai nguyên thủy không? Nếu không thì tại sao lại nói "trong tháp có xá lợi, xá lợi tích tụ, tất cả pháp yếu ấn mật đà-la-ni tâm vô lượng câu chi của chư Như Lai, nay đều ở trong đó"?
Trong kinh nói: "Lúc bấy giờ Thế Tôn thấy tháp mục nát, cởi y trên thân phủ lên trên đó, rơi lệ thảm thiết, nước mắt và máu hòa lẫn tuôn trào, khóc xong mỉm cười. Khi ấy chư Phật mười phương đều cùng quan sát, cũng đều rơi lệ, mỗi vị đều phóng hào quang chiếu sáng ngôi tháp này." Có phải việc đệ tử hậu thế cúng dường tháp xá lợi bắt nguồn từ đây không?
Bảo tháp được tạo thành từ năm hình chồng lên nhau: vuông, tròn, tam giác, bán nguyệt và tâm, nếu đệ tử muốn bày đàn một cách thuận tiện, có thể thiết lập tháp kim cang ngũ luân không?
Càng đọc kinh này càng thấy giống như đang nói về quá khứ, hiện tại, tương lai của Sư Phật, không biết cảm nhận của đệ tử có đúng không? Nếu đúng vậy, thì trong các hạng mục quán đảnh ngày mai, có thể quán đảnh "Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi" được không? Có cần căn khí hay điều kiện đặc biệt không? Và phải quán tưởng như thế nào? Nếu đúng vậy, pháp này có phải là pháp Liên Hoa Đồng Tử không?
【Đáp】
Đây là một bộ kinh điển Mật giáo. Tháp ngũ luân chính là hình tượng của Thai Tạng giới, Thai Tạng giới Đại Nhật Như Lai, tức "địa thủy hỏa phong không"; vì vậy năm chữ "địa thủy hỏa phong không" chính là tâm chú của Thai Tạng giới Đại Nhật Như Lai. Còn một chú khác là Kim Cương giới, "Ôm pê-cha ta-tu fan" là của Kim Cương giới. Thai Tạng giới chính là "địa thủy hỏa phong không".
Vậy thì tháp ngũ luân chính là biểu tượng của Đại Nhật Như Lai. Trước đây tôi đã từng vẽ tháp ngũ luân mà! Tôi đã giảng về điều này tại Chân Phật Mật Uyển rồi. Cảm nhận của bạn, trực giác của bạn không tệ đâu, nếu mọi người muốn quán đảnh thì ngày mai sẽ làm lễ quán đảnh, nếu không thì chỉ có một mình bạn quán đảnh thôi.
【Hỏi】
Quán đảnh một lần có thể duy trì được bao lâu? Kiếp sau còn tác dụng không?
【Đáp】
Thông thường chúng ta quán đảnh, đi cầu quán đảnh, quán đảnh nhiều lần cũng không sao cả, nhưng nếu bạn muốn tu pháp một cách chắc chắn, ví dụ như, bạn quán đảnh một lần, bạn muốn tu pháp này, bạn lại đi cầu quán đảnh pháp này, cũng được.
Vậy sau khi bạn đã quán đảnh nhiều lần rồi thì sao? Sau này muốn tu pháp này, điều đó có nghĩa là lực gia trì của truyền thừa đã xuất hiện trở lại. Bởi vì bạn đã được quán đảnh, nó có thể duy trì, giống như hạt giống của bạn đã được gieo xuống đất vậy, khi bạn tu pháp, giống như bạn tưới nước cho nó, cho nó ánh nắng, rồi cho nó không khí. Ngược lại, nếu bạn không tu pháp, nó vẫn chỉ là một hạt giống, mãi mãi chỉ là một hạt giống.
【Hỏi】
"Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật ở Tây phương Cực Lạc" có phải đại diện cho tất cả chư Phật và tất cả chúng sinh không? Hay chỉ đại diện cho cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc? Chư Phật cùng chúng sinh ở các phương Đông Nam Bắc có tính vào không? Kính xin Thánh Tôn chỉ dạy.
【Đáp】
Khi chúng ta niệm "Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật" là chỉ A Di Đà Phật ở Tây phương Cực Lạc, không thể đại diện cho tất cả chư Phật và tất cả chúng sinh, mà chỉ đại diện cho cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc mà thôi.
Chư Phật và chúng sinh ở các phương Đông Nam Bắc cũng có số lượng nhiều vô kể như vậy, trong mắt Như Lai, cảnh giới của chúng sinh là không thể đếm, không thể nói; cảnh giới của Phật cũng không thể đếm, không thể nói, đều nhiều vô số vô biên như nhau.
【Hỏi】
Xin hỏi Sư Phụ, tướng tương ứng có phân chia theo thứ bậc không, và làm sao để nhận biết được các thứ bậc tương ứng này?
【Đáp】
Về tướng tương ứng, hôm thứ Bảy tối rồi tôi đã khai thị cho mọi người rồi. Dĩ nhiên, có một loại là tu luyện nội hỏa, tôi chỉ nói về nội hỏa thôi.
Ban đầu sẽ có khói, xuất hiện cảnh tượng của khói, giống như có khói tỏa ra, cảnh tượng nội hỏa là như vậy. Thứ hai là xuất hiện tiểu hỏa, là một loại cảnh tượng lửa nhỏ xuất hiện. Thứ ba mới là đại hỏa, xuất hiện ngọn lửa mãnh liệt. Cuối cùng mới xuất hiện ánh sáng, cho nên tướng tương ứng là có thứ bậc. Ban đầu xuất hiện khói, rồi đến tiểu hỏa, tiếp theo là đại hỏa, cuối cùng mới là ánh sáng. Khi đạt đến ánh sáng, tức là trình độ tương ứng đã rất cao rồi.
Vì vậy chỉ riêng nội hỏa đã có bốn cấp độ: khói, tiểu hỏa, đại hỏa và ánh sáng. Những pháp khác cũng có các cấp độ tương ứng của chúng.
【Hỏi】
Liên quan đến vấn đề "vô lậu", làm sao để "đoạn huyết hà"? Làm sao để hàng long phục hổ? Liên quan đến phương diện linh hồn, ba hồn bảy vía an trú ở đâu? Liên quan đến chân ngôn chủng tử tự và màu sắc của Tứ Đại Thiên Vương.
【Đáp】
Về phần linh hồn, có thể tìm thấy trong cuốn sách "Biển pháp uyên thâm", chân ngôn của Tứ Đại Thiên Vương có thể tìm thấy ở trang 72 trong cuốn sách "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp" (nhà xuất bản Văn Hóa Đại Đăng, năm 2004).
Bây giờ tôi sẽ trả lời về vấn đề "vô lậu" và vấn đề "đoạn huyết hà".
Trong Đạo gia hay Mật giáo đều có một câu nói về vô lậu, đó là "lậu tận tắc vong", nghĩa là khi rò rỉ hết thì sẽ chết. Những yếu tố sinh mệnh trong cơ thể bạn, tốt nhất là có thể tu chứng đến trạng thái vô lậu.
Nói một cách đơn giản, đối với nam giới cần đoạn tuyệt không để rơi rớt minh điểm. Minh điểm bao gồm "minh điểm trí tuệ" vô hình và "tinh" hữu hình, đối với nữ giới cũng có "minh điểm trí tuệ" vô hình và "huyết" hữu hình.
Vậy làm sao để đoạn trừ? Đây là vấn đề của Nội pháp, tức là trước tiên dạy bạn tu Bảo bình khí, toàn thân tràn đầy khí, khí này sẽ sinh ra lực. Khi khí này vận hành, đôi khi chúng ta dùng tay để dẫn dắt, khi cọ xát sẽ có cảm giác. Khi khí đi lên, bạn phải quán tưởng khí cũng đi lên theo, cuối cùng không cần dùng tay chạm nữa, nó sẽ tự động có khí đi lên.
Dòng khí này yêu cầu bạn tu Bảo bình khí, để khí của bạn sung mãn, toàn thân tràn đầy khí, giống như một bảo bình vậy. Khí này sẽ đến tất cả các mao mạch.
Sau đó bạn tập trung khí lại, phải tập trung khí lại, rồi dùng dòng khí này hóa thành nội hỏa để đốt cháy những minh điểm vật chất, những minh điểm vật chất trong cơ thể bạn mà có thể bị rơi rớt; ban đầu nó là chất lỏng, sau khi đốt cháy, nó sẽ biến thành khí. Sau đó khí này sẽ bốc lên, nâng lên, khi lên đến ngũ luân, ở đó nó sẽ ngưng tụ, kết tinh, biến thành xá lợi tử.
Bạn có thể dùng khí trong cơ thể để vận chuyển những chất lỏng được đốt cháy bởi nội hỏa, phương pháp đưa minh điểm vật chất đến ngũ luân trong cơ thể, đó chính là nội pháp. Khi nó sắp rò rỉ, bạn phải nâng lên, phải dùng tư thế của cơ thể để nâng nó lên; dùng nội hỏa của bạn để nung nó, đốt nó, đốt thành khí; khí sẽ theo trung mạch đi lên đến ngũ luân, những thứ này sẽ ngưng kết tại ngũ luân và biến thành xá lợi tử.
Trong Đạo gia gọi đây là "hàng long phục hổ", đây chính là "đoạn huyết hà" và "minh điểm vô lậu". Nói thì đơn giản, nhưng thực tế muốn đạt được minh điểm vô lậu, bạn còn phải giảm bớt dục vọng; không được có nhiều dục niệm, bạn phải đóng kín lục giác - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tất cả đều phải đóng lại, trong tâm không còn dục vọng đó nữa, có thể giữ được tâm hồn bình an.
Bạn tiếp tục tu luyện "giáng đề, trì, tán", rồi sử dụng phép "đề" để nâng vật này lên, dùng nội hỏa để nung nó, khiến nó chuyển hóa thành khí. Vì vậy, Đạo gia nói về tinh, khí, thần, chính là luyện tinh hóa khí, từ khí chuyển thành thần, từ thần trở về hư không, đây chính là "phản bản hoàn nguyên", phương pháp tu luyện của Đạo gia.
Còn Mật tông thì sao? Cũng tương tự phải giữ cho minh điểm không rò rỉ. Trong Kim Cương thừa, khi tu song vận, nếu để rò rỉ tức là phạm giới, sẽ phải đọa vào địa ngục kim cang. Vì vậy Kim Cương thừa tu song vận, song vận là như thế này, rất dễ khiến thiên đình thủy, bồ đề tâm nguyệt dịch hạ giáng, rồi lợi dụng phương pháp song vận, chân khí quán chú, khiến khí này thông qua trung mạch của đối phương; dùng phương tiện khí chuyển thành trí tuệ khí, thông qua trung mạch của bản thân họ, giống như đang độ hóa họ vậy, sau đó dùng sự tuần hoàn của khí, dùng sự xoay chuyển của khí, khiến đối phương giống như mình, đạt đến cùng một cảnh giới.
Đây là phương pháp song vận rất bí mật của Mật giáo, nó có lý do tồn tại của nó. Tuy nhiên, nếu nữ giới chưa thể đoạn huyết hà, nam giới cũng chưa thể đạt được minh điểm vô lậu, thì khi tu tập phương pháp này, bạn sẽ phải đọa vào địa ngục kim cang. Vì vậy, điều tối thiểu là bạn phải tu đến trình độ minh điểm vô lậu, không còn phạm giới nữa mới có thể tu được. Giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài cùng với năm vị Phật Mẫu, bản thân Ngài tu tập như vậy, Ngài tu song vận chính là đạo lý này.
【Hỏi】
Đệ tử mới bắt đầu học pháp, vẫn chưa thực sự hiểu rõ. Đệ tử tu tập theo pháp bản mỗi ngày một lần. Đệ tử xin hỏi, khi nào mới có thể tu thiền định?
【Đáp】
Thực ra, các đệ tử thông thường mỗi lần tu pháp đều phải tu thiền định, phải theo pháp đếm hơi thở, trước tiên giữ tâm yên tĩnh một chút cũng được, từ từ thực hành, dần dần thiền định sẽ ngày càng sâu, vì vậy thiền định là điều phải tu trong mỗi lần hành pháp. Tuy nhiên, vì bạn vừa quy y, bạn hãy tu Tứ gia hành trước, khi tu Tứ gia hành thì không cần thiền định, bạn cứ tu từng gia hành một, hoặc tu cả bốn gia hành cùng lúc, hãy làm như vậy.
【Hỏi】
Hồ sen chín phẩm ở thế giới Tây phương Cực Lạc và Ma Ha Song Liên Trì của Sư Tôn có liên quan với nhau không?
【Đáp】
Có liên quan.
【Hỏi】
Quy y và giới samaya, nhiều đệ tử khi quy y đều mơ mơ hồ hồ, không thực sự hiểu rõ về Sư Tôn và Chân Phật Tông. Nếu sau này vì nhân sự, vì sư huynh tỷ hoặc các vị Thượng sư khác mà rời khỏi Chân Phật Tông, có phải là phá giới samaya không?
【Đáp】
Thực ra, điều này được tính là phá giới samaya. Hôm nay tôi nói với mọi người, quy y và giới samaya đều rất quan trọng. Ban đầu bạn quy y một cách mơ hồ, thì sau này bạn phải tu pháp một cách rõ ràng, và nghe hiểu rõ ràng những giới luật và pháp do Sư Tôn truyền dạy, như vậy sẽ không còn mơ hồ mà rời đi nữa.
【Hỏi】
Thường nói làm việc "hăng quá hóa dở", trong việc tu học Phật pháp và hành Bồ Tát đạo, có những ví dụ nào về việc quá mức không? Làm sao để cảnh tỉnh bản thân giữ mọi việc vừa phải? Khi thấy đồng môn hoặc đường chủ làm việc không đúng, có nên khuyên can không?
【Đáp】
"Quá" và "không đủ" đều không tốt, điều này giống như vấn đề của dây đàn vậy. Đức Phật ngày xưa cũng từng dùng ví dụ: dây đàn quá căng sẽ đứt, quá lỏng lại không thể phát ra âm thanh hay; cho nên khi đánh đàn guitar, dây đàn phải vừa đúng mức thì mới phát ra âm thanh hay nhất. Vì vậy, khi chúng ta tu học thiền định cũng phải như vậy, phải vừa đúng mức, không căng không chùng, đó là trạng thái tuyệt vời nhất.
Về việc có nên khuyên can không, cần phải dùng trí tuệ, vấn đề nhân sự là khó nhất, nếu bạn biết vận dụng trí tuệ của mình để làm công việc điều ngự, bạn có thể trở thành "điều ngự trượng phu".
【Hỏi】
Làm sao để phân biệt vòng hào quang ở thiên tâm là bồ đề tâm nguyệt dịch? Nó có màu trắng không? Nếu không phải màu trắng thì làm sao tu để nó chuyển thành màu trắng? Vòng hào quang ở thiên tâm có chuyển động có đúng không? Làm sao để biết mình không đi sai đường, không phải là đã trở thành người điên? Khi những ý nghĩ nghiệp chướng xuất hiện, có phương pháp đối trị đúng đắn không?
【Đáp】
Câu hỏi thứ nhất, về vòng hào quang ở thiên tâm và bồ đề tâm nguyệt dịch, về màu sắc của nó, thông thường chúng ta nói, màu trắng là biểu tượng của nó, màu trắng chính là biểu tượng cho bản chất của nó. "Có chuyển động có đúng không?" Nếu bạn thấy được nó đang chuyển động thì đúng rồi.
Về câu hỏi "Làm sao để biết mình không đi sai đường, không phải là đã trở thành người điên?", hãy dùng trí tuệ để phân biệt. Nghĩa là, với nhiều việc, bạn phải dùng lý trí của chính mình, khi đi sai đường, hãy suy nghĩ xem có hợp lý không? Có hợp tình không? Có phù hợp về mặt tình lý không? Có phù hợp với Phật pháp không? Bạn phải thường xuyên suy nghĩ như vậy.
Khi những ý nghĩ nghiệp chướng xuất hiện, có phương pháp đối trị đúng đắn, quán tưởng chính là phương pháp đúng đắn. Khi những ý nghĩ không tốt xuất hiện, bạn phải thường xuyên nghĩ đến khuôn mặt từ bi của chư Phật Bồ Tát, để thay thế những ý nghĩ không tốt đó, vì vậy quán tưởng chính là "dùng niệm để dừng niệm", Mật giáo dùng quán tưởng để thực hiện điều này.
【Hỏi】
Xin Sư Tôn giảng giải về cách ứng dụng quán "tùy tán" và những điều cần chú ý.
【Đáp】
Thế nào gọi là quán "tùy tán"? Có nghĩa là, đó là một trạng thái rất tự nhiên, một loại tùy tâm, một loại quán tưởng về hư không bao la theo tâm, gọi là quán "tùy tán". Ví dụ, bạn thường nghĩ, bạn đang trụ trong hư không, như vậy bạn vô sở trụ, trạng thái đó gọi là quán "tùy tán". Vô sở trụ, tâm bạn không đặt ở đó, không đặt ở đây, không đặt ở kia, không tập trung vào một điểm, cũng không phân tán đi nơi khác, như vậy, cứ để nó tự nhiên, để nó theo gió mà phiêu diêu, đó chính là quán tùy tán, cũng như trụ trong hư không, "vô sở trụ mà sinh tâm ấy", trạng thái này gọi là quán "tùy tán".
【Hỏi】
Đệ tử thực hành pháp thí thực cúng dường đã được một thời gian, Sư Tôn từng nói: "Cửa trước để đón, cửa sau để tiễn", nhưng đệ tử vẫn thường ở sân sau để thỉnh Sư Tôn và Thất Bảo Như Lai gia trì pháp thí thực cúng dường của đệ tử, như vậy có được không?
【Đáp】
Được, bởi vì bạn đã coi cửa sau như cửa trước, cửa trước như cửa sau.
【Hỏi】
Khi tụng biến thực chân ngôn và cam lộ thủy chân ngôn, có nên tụng ở Phật đường hay tụng ở sân sau?
【Đáp】
Đều được cả, được, bởi vì bạn đã coi cửa sau như cửa trước, cửa trước như cửa sau.
【Hỏi】
Sau khi tụng chú gia trì nước pháp, có nhất thiết phải rảy ra bên ngoài nhà không? Có thể rảy lên tường rào phía sau sân nhà không?
【Đáp】
Được.
【Hỏi】
Thời gian thực hành pháp thí thực tốt nhất là mấy giờ?
【Đáp】
Giờ nào cũng được.
【Hỏi】
Trong quá trình tu tập Chân Phật Mật Pháp, dục vọng dần dần giảm bớt, đúng hay sai?
【Đáp】
Đương nhiên là đúng rồi!
【Hỏi】
Thêm nữa, người thân không tin mà lại tin giáo pháp khác, không tu tập Chân Phật Mật Pháp, khiến con sinh lòng chán ghét đối với người thân, phải đối trị như thế nào?
【Đáp】
Đừng ghét họ, bởi vì các tôn giáo khác cũng có những ưu điểm của họ.
【Hỏi】
Nếu không tùy thuận, liệu có khiến người thân phạm một trong năm giới không?
【Đáp】
Không phải họ phạm năm giới, mà là bạn phạm năm giới đấy, cho nên tùy thuận là được.
【Hỏi】
Khi gặp một số chúng sinh, lúc giải thích về Chân Phật Tông cho họ thì bị từ chối, khiến họ phỉ báng Chân Phật Tông, xin hỏi làm thế nào để cầu Phật tha thứ cho sự vô minh của họ?
【Đáp】
Hãy tụng chú giúp họ, trì chú giúp họ, tu pháp giúp họ.
【Hỏi】
Ở những nơi không có địa linh và chư Phật Bồ Tát, làm sao thỉnh chư Phật Bồ Tát gia trì tu pháp, liệu có linh nghiệm như nhau không?
【Đáp】
Làm sao bạn biết ở đó không có địa linh? Không có chư Phật Bồ Tát? Chư Phật Bồ Tát ở khắp mọi nơi, địa linh cũng ở khắp mọi nơi.
【Hỏi】
Trong lúc cầu cứu khẩn cấp, sau khi vỗ hai chân để thỉnh Hộ pháp trợ giúp, nên cảm tạ như thế nào?
【Đáp】
Cúng dường. Chỉ cần cúng dường là được.
【Hỏi】
Khi tâm sự quá nặng nề không thể tập trung tu pháp, nếu trì tâm chú Thượng sư thì có được không? Hoặc nên làm thế nào?
【Đáp】
Khi không thể tu pháp, bạn trì chú cũng được, đó cũng là một cách tu pháp.
【Hỏi】
Theo điều 37 trong "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng", nữ đệ tử nghe pháp phải trang nghiêm đứng đầu, chắp tay, tập trung tinh thần. Xin hỏi khi nữ đệ tử tham gia "Phật Học Tổng Thuyết", đồng tu, pháp hội nghe Sư Tôn thuyết pháp khai thị, có phải luôn chắp tay ngồi cung kính không?
【Đáp】
Chắp tay một chút là được rồi! Chứ không lẽ để tay mỏi sao!
【Hỏi】
Con vẫn luôn thắc mắc Đức Phật có độ Da Du Đà La không? Tại sao?
【Đáp】
Trong kinh Phật có ghi lại việc này. Cuối cùng, bản thân Da Du Đà La rất tức giận, vì ngay cả con trai bà cũng xuất gia, bà chẳng còn gì cả! Nhưng cuối cùng bà cũng nhận ra rằng vạn sự đều là khổ, không, vô thường.
【Hỏi】
Làm sao để đạt được trạng thái vô sự, vô tâm, vô ngã? Làm sao để thực hành điều này trong cuộc sống hàng ngày?
【Đáp】
Vô sự, vô tâm, vô ngã, hãy từ từ lĩnh hội.
【Hỏi】
Sư Tôn thích điều gì nhất? Sư Tôn sợ điều gì nhất?
【Đáp】
Không có gì đặc biệt thích, cũng không có gì đặc biệt sợ. Đương nhiên rồi! Phật cũng vậy! Phật không có gì đặc biệt thích, cũng không có gì đặc biệt sợ, đó chính là trạng thái vô sự, vô tâm, vô ngã thực sự.
【Hỏi】
Tại sao chúng con lại đến tham dự "Phật Học Tổng Thuyết"? Đó là nhân duyên gì? Mỗi người nên báo đáp Sư Tôn như thế nào? Cầu xin Sư Tôn thường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân, đệ tử rất muốn được gần gũi Sư Tôn nhiều hơn, đệ tử cần sự chỉ dạy của Sư Tôn, đệ tử rất lo lắng, rất sợ Sư Tôn ẩn cư, đệ tử phải làm thế nào để giữ được Sư Tôn ở lại?
【Đáp】
Thỉnh Phật trụ thế là đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát, thỉnh Phật trụ thế chính là nguyện này. Vậy tham gia Phật Học Tổng Thuyết là nhân duyên gì? Là các bạn muốn đến mà! Báo đáp thì không cần đâu!
【Hỏi】
Vô niệm mới có thể vào định, nhưng Sư Tôn thường thành tựu nhiều sự nghiệp trong định, trong quá trình thành tựu sự nghiệp đó, có phải từ vô niệm lại trở về hữu niệm không? Đây có phải là cảnh giới "chân không diệu hữu" không?
【Đáp】
Đúng vậy, cái niệm từ vô niệm này, "niệm của vô niệm" chính là pháp lực. Khi bạn vào được vô niệm, lúc sinh khởi ý niệm đầu tiên, muốn làm bất kì sự nghiệp Yết Ma nào, đó gọi là "niệm của vô niệm", chính là pháp lực, chính là "chân không diệu hữu".
【Hỏi】
Sư Tôn có thể ban quán đảnh vào ngày mai cho tất cả những người chưa được nhận quán đảnh tại Cầu Vồng Sơn Trang hồi tháng 11 không, như quán đảnh chuông chày kim cang, quán bạch cốt, pháp xả thân, Kim Cang Tâm Bồ Tát, Thượng sư tương ưng pháp, Cát Tường Thiên Nữ và các quán đảnh khác?
【Đáp】
Hy vọng sẽ có thời gian.
【Hỏi】
Những người trước đây tu tập công pháp dưỡng sinh Đan đạo, nay quy y Sư Tôn, học Chân Phật Mật Pháp, cần chú ý điều gì?
【Đáp】
Thực ra Đan đạo cũng là một loại Nội pháp, nhưng là của Đạo gia. Cái gọi là "Cửu chuyển huyền công đan đỉnh pháp" của Đạo gia, "đan đỉnh" này chính là chín viên đan trong ruột, chín đan đỉnh; phương pháp ứng dụng là đưa minh điểm vào trong đan đỉnh, dùng nội hỏa để nung, đó là phương pháp này.
Như vậy Đan đạo dưỡng sinh, đan đỉnh pháp của Đạo gia và Nội pháp của Mật giáo có những điểm tương đồng, tuy có một số phương pháp khác nhau, như quán tưởng trung mạch là khác nhau; mạch giữa, mạch trái phải, mạch Nhâm Đốc, sự sắp xếp của chúng là khác nhau. Dù phương pháp Mật giáo có nhiều quán tưởng, phương pháp khác nhau, pháp tuy khác nhưng kết quả cuối cùng là giống nhau.
【Hỏi】
Xin giải thích ngắn gọn về thập nhị nhân duyên?
【Đáp】
Thập nhị nhân duyên, như vừa đề cập, chính là mười hai loại nhân duyên của vòng luân hồi sinh tử, mười hai loại sinh tử lưu chuyển này, bắt đầu từ vô minh, và cuối cùng là lão tử, tức là chết.
Từ vô minh, đến hành, đến thức, đến danh sắc, đến lục nhập, đến xúc, đến thọ, đến ái, đến thủ, rồi hữu, sinh, lão tử, mười hai yếu tố này là những danh từ mà Đức Phật đã suy ngẫm dưới cội bồ đề; đó là các hiện tượng của con người từ khi sinh ra từ vô minh cho đến già chết, được phân thành mười hai loại, mười hai chi. Đó chính là hiện tượng của mười hai chi từ vô minh sinh ra cho đến già chết, và khi suy ngẫm đến cuối cùng thì Ngài đã giác ngộ. Đây chính là thập nhị chi, tức là hiện tượng của vòng luân hồi sinh tử.
【Hỏi】
Làm thế nào để tăng cường ý chí và nghị lực của bản thân, nỗ lực tinh tấn tu tập?
【Đáp】
Đó chính là giữ gìn tâm ban đầu.
【Hỏi】
Khi làm theo Phật pháp mà gặp phải sự áp bức từ thế lực trong đời, nên ứng xử thế nào? Có nên cố gắng bày tỏ lập trường và quan điểm của mình không?
【Đáp】
"Uy vũ không thể khuất phục", có thể nói thì nói, không thể nói thì đừng nói; đó chính là giữ gìn tâm ban đầu.
【Hỏi】
Khi chưa tu tập thành tựu, nên dùng thái độ và phương pháp gì để giải quyết nỗi khổ của người khác?
【Đáp】
Bạn hãy cầu xin chư Phật Bồ Tát. Có tám phương pháp trì tụng kinh điển, đó chính là tám phương pháp giải trừ phiền não.
【Hỏi】
Trước khi tu tập, khi thắp hương, lông ở chân trái dựng đứng lên, chỉ trong chốc lát thôi ư? Khi tu tập, vừa định tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh và chú Đại Bi, lưng cảm thấy như có côn trùng bò qua bò lại? Người tu hành mỗi ngày tu tập nhiều lần, hiểu nhiều Phật lý, cũng có cảm ứng, mỗi lần nói Phật lý một bộ, nhưng hành động lại một kiểu khác, vọng niệm còn nhiều (tham lam, tranh danh v.v...), như vậy có phải là một người tu hành, hiểu Phật lý không? Nhưng đôi khi họ tỉnh táo, biết vọng niệm là không tốt.
【Đáp】
Lông ở chân trái dựng lên, chỉ một chút thôi, đừng để ý là được. Đừng để ý, chỉ một chút thôi mà! Còn về việc có côn trùng bò qua bò lại, nếu không ảnh hưởng đến việc tụng kinh thì không sao cả, đừng quan tâm đến nó.
Về phương diện Phật lý, có nhiều vọng niệm, nói một đằng làm một nẻo! Đó là do việc tu hành chưa thực sự ổn định, bạn hãy từ từ tiếp tục tu tập, khi lý và sự phù hợp với nhau thì sẽ tốt thôi.
【Hỏi】
Có người nói chư Phật Bồ Tát cũng không phải là chính đẳng chính giác, đệ tử cảm thấy rất nghi ngờ, không biết họ có ý gì khác không?
【Đáp】
Tôi nghĩ thế này, Bồ Tát vẫn còn trần sa hoặc, tức là còn một chút mê hoặc nhỏ như hạt bụi, Bồ Tát vẫn còn, đến khi thành Phật mới viên mãn. Nếu Phật không phải là chính đẳng chính giác thì chẳng còn gì để học nữa! Chính đẳng chính giác là gì? Trong Phật pháp, Phật phải thuộc về chính đẳng chính giác, tức là "tam miệu tam bồ đề", đó chính là chính đẳng chính giác.
【Hỏi】
Đệ tử cảm thấy tông phái chúng ta đã có pháp môn tu luyện thù thắng thì cũng nên có sự hệ thống hóa về ngũ thuật "sơn y mệnh bốc tướng", cũng nên thù thắng, không biết Sư Phật có cho rằng đệ tử quá nhập thế không?
【Đáp】
Điều này là để giúp đỡ Phật pháp, dùng để giúp đỡ Phật pháp thì được.
【Hỏi】
Hiền thánh thời xưa Lý Thuần Phong có "kế đẩy lưng", Lưu Bá Ôn có "bài ca bánh nướng" (đều là những lời tiên tri về tương lai Trung Quốc), không biết Sư Tôn có bài thơ dài nào tiên tri về tương lai thế giới như "bài ca bánh nướng" hay những bài thơ tương tự để cảnh tỉnh thế nhân không?
【Đáp】
Để sau này viết, để sau này viết.
【Hỏi】
Băng ghi hình "Chi Tiết Mật Pháp Hoàn Chỉnh" sẽ được truyền bá khắp thế giới và lưu truyền đến đời sau, xin hỏi: "Các đồng môn khắp thế giới và đệ tử Chân Phật trong tương lai không thể gặp trực tiếp Sư Tôn, học tập qua băng ghi hình, thần chú, ấn quyết, pháp khí vận dụng, làm sao có thể nhận được truyền thừa?"
【Đáp】
Có thể quán đảnh từ xa.
【Hỏi】 Khi Chân Phật Mật Pháp được truyền bá đến những nơi xa xôi trên thế giới và trong tương lai lâu dài, sẽ có đệ tử tự cho mình là đúng, tự ý thêm bớt và thay đổi Chân Phật Mật Pháp, rồi còn tự nói là được Sư Tôn cho phép, làm rối loạn Mật pháp. Xin Sư Tôn chỉ dạy, tất cả đệ tử Chân Phật nên bảo hộ Chân Phật Mật Pháp như thế nào để giữ gìn lâu dài và tránh sai lệch?
【Đáp】 Tôi nghĩ rằng, miễn là không tách rời khỏi cội cây lớn, bạn đừng đứt đoạn, thì việc phân nhánh phân lá là được.
【Hỏi】 Trước khi đệ tử Chân Phật cầu học pháp phowa, bản thân đệ tử cần phải có những điều kiện gì? Khi tu pháp phowa có cần Thượng sư ở bên cạnh không?
【Đáp】 Khi tu pháp phowa, không nhất thiết phải có Thượng sư ở bên cạnh, có thể tự mình tu tập; nhưng phải nói cho bạn biết, bản thân pháp phowa cũng có nguy hiểm của nó, cần phải tu pháp Trường Thọ Phật để bổ sung; bởi vì tu pháp phowa đến khi mở được lỗ đỉnh đầu rồi thì một tháng chỉ có thể tu một lần.
【Hỏi】
"Tĩnh là gốc; động là phụ, là biểu hiện" có đúng không? "Tìm tĩnh trong động" để đạt được sự cân bằng, thoải mái, có đúng không? Làm thế nào để điều chỉnh mối quan hệ động tĩnh cho thích hợp?
【Đáp】
Cũng giống như sự căng chùng vậy.
【Hỏi】
Tinh hoa của cơ thể là gì? Tinh hoa của cơ thể tập trung ở hai điểm nào?
【Đáp】
Một là Thiên tâm, một là dưới rốn bốn lóng tay, đó chính là vị trí đan điền. Tinh hoa của cơ thể, một là huyết, một là tinh, đó là những nguyên tố của sinh mệnh.
【Hỏi】
Tịnh quang là gì? Có gì khác với ánh sáng thông thường? Tại sao ánh sáng của Đại Nhật Như Lai có thể chiếu đến mọi góc tối? Việc loại ánh sáng đặc biệt này có thể uốn cong có thể giải thích được không? Làm sao phân biệt được các loại ánh sáng màu sắc nhìn thấy trong quá trình tu tập là bình thường hay bất thường? Tu tứ gia hành pháp 100.000 lần, nếu tu toàn thời gian cũng phải mất 3 năm, có cần phải xuất ly mới tu tập tốt được không?
【Đáp】
Về vấn đề tịnh quang này, ánh sáng của Đại Nhật Như Lai không thể dùng ánh sáng của phàm phu chúng ta để tưởng tượng được; ánh sáng của Đại Nhật Như Lai khác với ánh sáng thông thường, đó là một loại ánh sáng của pháp giới. Khi chúng ta nói về ánh sáng của pháp giới, đó không phải là ánh sáng thông thường, nếu bạn dùng khoa học thông thường, hoặc dùng tầm nhìn giới hạn của tư duy con người để cảm nhận ánh sáng của Đại Nhật Như Lai thì đã là sai lệch rồi. Vì vậy tịnh quang của Đại Nhật Như Lai này là khác biệt, khác với những loại ánh sáng màu sắc mà chúng ta nhìn thấy; còn những ánh sáng mà chúng ta nhìn thấy hiện nay, đều là những ánh sáng sinh ra từ quan niệm của bản thân chúng ta.
Tu pháp Tứ gia hành 100.000 lần có phải mất 3 năm không? Hãy từ từ thể nghiệm, có người làm rất nhanh đã xong.
【Hỏi】
Thức thứ bảy có phải là tiềm thức trong giấc mơ không?
【Đáp】
Thức thứ bảy được gọi là mạt-na thức. Mạt-na thức chính là ý thức! Cũng có thể nói là tiềm thức, vậy nó có hiển hiện trong giấc mơ không? Cũng sẽ hiển hiện ra thôi.
【Hỏi】
Làm thế nào để tự chủ được giấc mơ?
【Đáp】
Điều này cần có Bổn tôn và Thượng sư gia trì cho bạn, giúp tâm bạn giữ được tỉnh táo, thì có thể tự chủ được giấc mơ. Có pháp tu Đại thủ ấn giấc mơ.
【Hỏi】
Không lâu nữa tôi sẽ về Bắc Kinh, dự định xây dựng một mật đàn tại nhà. Nhưng do nhiều điều kiện hạn chế, chỉ có thể xây một mật đàn rất đơn giản. Khi xây dựng cần chú ý điều gì? Sau khi xây xong thì khai quang như thế nào? Nội dung chính của ngũ căn ngũ lực là gì?
【Đáp】
Bạn cứ theo trong "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh" để xây dựng mật đàn là được, trong đó viết rất rõ ràng.
Cái gọi là ngũ căn chính là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Ngũ lực chính là tín, tinh tấn, niệm, định, huệ.
【Hỏi】
Đối với đệ tử Hiển giáo hoặc người ngoài Phật môn, phương pháp nào đơn giản là tốt nhất để độ họ vào Chân Phật Tông? Và Chân Phật Tông có tài liệu nào để độ những người không biết tiếng Trung không, dành cho người châu Âu, Mỹ và con cháu người Hoa sinh ra ở Mỹ?
【Đáp】
Những điểm thù thắng của Chân Phật Tông chúng ta, hôm trước đã nói rồi, chúng ta phải nói cho họ biết Chân Phật Tông có những điểm thù thắng gì. Pháp bản tiếng Anh thì đã có, hiện đang làm thêm, hình như Tử Liên Đường có bản dịch tiếng Anh, ngoài ra còn nhiều công việc dịch tiếng Anh khác đang được thực hiện.
【Hỏi】
Khi vãng sinh niệm danh hiệu A Di Đà Phật, đồng thời phải quán tưởng pháp tướng của Phật A Di Đà. Con tin rằng đệ tử Chân Phật Tông đều có ấn tượng sâu sắc hơn về pháp tướng của Sư Tôn. Xin hỏi Sư Tôn, khi vãng sinh, đệ tử Chân Phật Tông có thể trì tâm chú Thượng sư để được chỉ dẫn thành Phật một cách thích hợp hơn không?
【Đáp】
Điều này được, các bạn có thể trì tâm chú Thượng sư hoặc quán tưởng Sư Tôn, việc vãng sinh như vậy là được. Quán tưởng A Di Đà Phật hoặc niệm danh hiệu A Di Đà Phật cũng được; bởi vì đều ở Tây phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật và Liên Hoa Đồng Tử có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời, cho nên hai điều này là như nhau.
Cuối cùng cũng đã trả lời xong. Om mani padme hum.
32. Phật Học Tổng Thuyết - Tổng quán đảnh khai thị
Hôm nay là buổi quán đảnh tổng thể của chủ đề "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang. Vậy khi quán đảnh lát nữa thì sao? Mọi người hãy chú ý một chút, khi quán đảnh vị Phật nào thì trì chú của vị đó, rồi quán tưởng vị Bổn tôn đó an trụ trên đỉnh đầu của mình.
Vừa rồi tôi đã làm phép thỉnh chung, thỉnh chung nghĩa là thỉnh mời tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, bao gồm tất cả chư thiên. Sau khi làm phép thỉnh chung xong, bất cứ khi nào các bạn quán tưởng vị Bổn tôn nào an trụ trên đỉnh đầu, vị ấy sẽ an trụ ngay, vừa rồi chính là thỉnh mời tất cả chư tôn từ hư không giáng xuống.
Vậy lát nữa khi quán đảnh, các bạn chỉ cần quán tưởng là vị ấy sẽ an trụ trên đỉnh đầu ngay. Còn bản thân tôi cũng sẽ hóa thành Bổn tôn để quán đảnh cho các bạn, như vậy chính là Bổn tôn đang quán đảnh cho các bạn vậy.
Đây chính là dòng pháp truyền thừa.
Khai thị quán đảnh Hộ Ma
Về quán đảnh lửa Hộ Ma này, khi quán đảnh Hộ Ma mọi người hãy chú ý, nghĩa là khi bình quán đảnh ở trên đỉnh đầu của bạn, bạn phải quán tưởng lửa giáng xuống toàn thân, thiêu đốt hoàn toàn bản thân mình, phải làm quán tưởng thiêu thân bằng lửa.
Tụng: "Ôm pê-cha ta-tu fan."
Khai thị quán đảnh chuông chày kim cang
Quán đảnh chuông chày kim cang là để sau này các bạn sử dụng chuông kim cang và chày kim cang. Sự vận chuyển "bi trí song vận" này có thể thực hiện tiêu tai, có thể làm các loại pháp Yết Ma, tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái đều có thể làm được.
Vậy lát nữa khi quán đảnh, mọi người hãy quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa an trụ trên đỉnh đầu, bởi vì Kim Cang Tát Đỏa là vị nắm giữ chuông kim cang và chày kim cang, cũng có thể nói tất cả các pháp Mật giáo đều do Ngài truyền xuống.
Vậy mọi người hãy quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa an trụ trên đỉnh đầu, các bạn cũng trì chú Kim Cang Tát Đỏa.
"Ôm pê-cha sat-tô ah hùm pây."
Khai thị quán đảnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Đây là quán đảnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng là thầy của rất nhiều Như Lai, bản thân Ngài là một vị Bồ Tát có trí huệ rất cao, vì vậy thông thường tu Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có thể đạt được trí huệ rất cao. Đồng thời, uy lực của Ngài cũng vô cùng vô tận; rất nhiều vị tổ sư, như tổ sư Tsongkhapa, Bổn tôn của Ngài chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Trong Mật giáo, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là một vị chủ tôn rất lớn, bao gồm tất cả các vị tổ sư đều là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Bây giờ quán đảnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, khi quán đảnh phải trì chú Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, quán tưởng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát an trụ trên đỉnh đầu.
"Ôm a-ra-pa-cha-na ti."
Khai thị quán đảnh 21 Độ Mẫu
21 Độ Mẫu đều là hóa thân của Độ Mẫu, Độ Mẫu cũng giống như một vị Quan Âm; Bạch Độ Mẫu, Lục Độ Mẫu đều cùng một chủng tính từ bi.
Còn về 21 Độ Mẫu, phân chia rõ ràng hơn, tức là mỗi vị Độ Mẫu quản lý một Yết Ma, tức là một sự nghiệp. Nếu bạn hiểu được tất cả các thần chú của 21 vị Độ Mẫu và tổng chú của các Ngài, sự nghiệp Như Lai mà bản thân các Ngài thực hiện càng vi tế hơn, cũng chính là 21 Độ Mẫu, các Ngài có thể chủ trì tất cả sự nghiệp Như Lai trong cuộc đời.
Về việc tu 21 Độ Mẫu, trong Mật tông Tây Tạng, họ đều đạt được thành tựu rất lớn, vì vậy các bạn có thể học cách quán tưởng hình tượng 21 Độ Mẫu, cũng có thể học thần chú 21 Độ Mẫu; sau này tu 21 Độ Mẫu cũng giống như chủng tính của Quan Âm, Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu vậy.
Chú âm: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha."
Lời kết
Đây là quán đảnh pháp thuyền báu, Ma Lợi Chi Thiên, Ngũ Lộ Tài Thần, Cát Tường Thiên Nữ, quán bạch cốt, pháp xả thân, ngoài ra còn có phần thủ ấn, phần thủ ấn siêu độ, và còn một vài vị Thượng sư cần được quán đảnh.
Hiện tại pháp thuyền báu, Ma Lợi Chi Thiên, Ngũ Lộ Tài Thần, Cát Tường Thiên Nữ, quán bạch cốt, pháp xả thân đều có thể thực hiện quán đảnh từ xa.
Vì vậy nếu lần này không được quán đảnh, các bạn có thể viết thư đến, hoặc khi có cơ hội cũng có thể trực tiếp quán đảnh, tức là sau này sẽ có quán đảnh, lần này vất vả cho mọi người rồi.
Om mani padme hum.
(Hết.)