---
# File: chan-ngon-than-chu/an-tho-dia-chan-ngon.md
# Title: An thổ địa chân ngôn
---

![image](/img/img_c883c25f2526b349f28e724cc4eda352.png)

## An thổ địa chân ngôn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Liên Sinh Hoạt Phật thường dạy mọi người niệm một chú ngữ, chú ngữ này không phải là chú lớn, không phải là chú bí mật, không phải là chú phóng đại quang minh, không phải là chú vô đẳng đẳng, không phải là chú vô thượng. Mà là một chú ngữ nhỏ phổ thông.

Trong bất kì kinh điển nào đều có thể đọc thấy, rất bình phàm, bình phàm tới nỗi khiến người ta xem nhẹ nó. Đó chính là An thổ địa chân ngôn. 

Chú này như sau: “Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.”

Liên Sinh Hoạt Phật thật lòng thật sự nói với mọi người, chính là chú ngữ này có thể thay đổi vận mệnh. Đây không phải là An thổ địa chân ngôn phổ thông sao? Không sai, nhưng nó có sức mạnh lớn để thay đổi vận mệnh, thật sự không thể coi thường.

Có người trì An thổ địa chân ngôn, bệnh da liễu khó chữa mười năm của họ đã khỏi.  
Có người trên mặt có khí xui, cả đời nghèo khó, trì An thổ địa chân ngôn lâu ngày, phúc quang chiếu mệnh, vận mệnh thay đổi hoàn toàn, từ nghèo thành giàu.  
Có người trì An thổ địa chân ngôn, không ngờ mười năm không có con lại có được con.  
Có người trì An thổ địa chân ngôn, cả đời khỏe mạnh không bệnh.  
Có người trì An thổ địa chân ngôn, có được duyên hôn nhân, trên mặt họ hiện ánh sáng đỏ.  
Có người trì An thổ địa chân ngôn, ban đầu mọi việc đều không suôn sẻ, nhưng cuối cùng thì tất cả đều thuận lợi, không có việc gì là không như ý.  
Có người trì An thổ địa chân ngôn, trúng xổ số.

Tôi còn nói cho mọi người biết một bí mật, bí mật này vốn dĩ không thể nói ra, nhưng không thể không nói. Bạn chỉ cần thường xuyên trì An thổ địa chân ngôn thì khi bạn đến Las Vegas, bạn sẽ đặc biệt được như ý.

Về cơ bản thì chẳng có ai đề xướng trì tụng chú này lâu ngày, chỉ có Liên Sinh Hoạt Phật đề xướng. Liên Sinh Hoạt Phật lĩnh ngộ được nguyên lý: học Phật đương nhiên có thể thay đổi vận mệnh, học Tiên cũng có thể thay đổi vận mệnh, nhưng niệm An thổ địa chân ngôn thì sự thay đổi vận mệnh càng trực tiếp hơn.

Muốn thay đổi vận mệnh của chính mình, nắm chắc chìa khóa của tạo hóa, đích thực bất kì pháp thuật nào cũng đều phải hợp với thời cơ, hợp với cơ duyên. Chỉ cần niệm An thổ địa chân ngôn nghìn biến, vạn biến, triệu biến, nhất tâm phụng trì, phúc quang của Địa Thần sẽ chiếu mệnh, có thể cải vận, đây là sự thật.

---
# File: chan-ngon-than-chu/bat-khong-mani-cung-duong-chan-ngon.md
# Title: Bất Không Mani cúng dường chân ngôn
---

![image](/img/img_fb9072d5d80e2c795abd3e731cefb2d2.jpg)

## Bất Không Mani cúng dường chân ngôn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">06/09/2020</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Cầu Vồng Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

Theo Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh đã ghi chép, công đức lợi ích của chân ngôn này bất khả tư nghì như sau:

(1) Trước khi tu pháp bất kì, trì tụng chú này, có thể khiến trong hư không pháp giới hiện lên thánh vật cúng dường vô lượng vô biên bất khả tư nghì. (Đây là lợi ích và công đức của chú này.)

(2) Nếu lấy ví dụ về phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này thì dùng thất bảo đầy ắp cả tam thiên đại thiên thế giới, rải đầy hoa vàng bạc, mỗi ngày ba thời cúng dường Như Lai ở khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng không bằng một phần mười sáu phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này.

(3) Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.

(4) Hóa sinh hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, và có thể nhớ lại các kiếp trước. Về sau luôn luôn được hóa sinh từ hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, không còn chuyển thế nữa. Lại có thể nhớ được nhân duyên của kiếp trước, có thể nói là túc mệnh thông. Cái này chính là công đức.

Bất Không Mani cúng dường đà-la-ni được thấy trong Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh (Phẩm Bất Không Mani cúng dường chân ngôn): “Khi ấy, Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. Thấy uy đức thần biến của tất cả đại mandala samaya quảng đại thần thông này. Trong sát-na xuất hiện đầy ắp mười phương. Sau đó trao thanh tịnh liên hoa cho Minh Vương xong. Liền nói Bất Không Mani cúng dường chân ngôn.”

“Bất Không Mani cúng dường đà-la-ni chỉ niệm 3 biến là tương đương với quảng đại cúng dường, khi đi ra ngoài du lịch có thể niệm chú này 3 biến.  
Ôm. A-mo-ga. Pu-ja. Ma-ni. Pad-ma. Wa-ji-la. Ta-tha-ga-ta. Vi-lo-ki-te. Sa-man-ta. Pra-sa-ra. Hùm.”

Theo ghi chép của Vô Lượng Thọ Như Lai Quán Hành Cúng Dường Nghi Quỹ: “Bất Không Mani cúng dường đà-la-ni quảng đại này. Mới tụng ba biến. Lập tức trở thành ở trong tập hội của Vô Lượng Thọ Như Lai và trong các cõi Phật nhiều như vi trần. Trút mưa vô lượng quảng đại cúng dường. Gọi là đủ loại phấn thơm nhiều như biển mây. Đủ loại mũ hoa nhiều như biển mây. Đủ loại hương thơm nhiều như biển mây. Đủ loại thức ăn kỳ diệu nhiều như biển mây. Đủ loại thiên y kỳ diệu nhiều như biển mây. Đủ loại đèn nến mani sáng rực nhiều như biển mây. Đủ loại cờ phướn, màn che quý, ô lọng quý nhiều như biển mây. Đủ loại thiên nhạc kỳ diệu nhiều như biển mây. Đầy khắp các hội của chư Phật Bồ Tát. Thành quảng đại cúng dường chân thực. Đều nhờ kết thủ ấn và tụng chân ngôn cúng dường này. Mà tập hợp được vô lượng phúc. Giống như hư không không biên giới.”

Quan Thế Âm Bồ Tát nói với Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ: “Mani cúng dường chân ngôn này, nếu người nào thường xuyên vào sáng sớm tu pháp quán tưởng tướng tự tại và tụng trì cúng dường, đủ nghìn vạn biến không gián đoạn, thì có thể sinh ra đại cúng dường nhiều như biển mây. Chân ngôn này có đầy đủ các loại thần thông lực, giống như cây ngọc Mani có thể sinh ra vô lượng vô tận các vật tối thắng, sức mạnh công đức vô tận như biển mây.”

Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ: “Mani cúng dường chân ngôn này. Nếu có người như pháp lấy giấy trắng, thẻ tre, lụa, tấm bảng viết chân ngôn này. Sẽ được tiêu trừ sạch sẽ năm nghiệp vô gián tích lũy trong quá khứ. Nếu có hữu tình nào thấy hoặc nghe được chân ngôn này. Cũng được diệt trừ dơ bẩn, chướng ngại, nghiệp tội, phiền não. Người viết chép, nếu sau khi mệnh chung, được sinh về Tây phương Cực Lạc quốc thổ. Cho đến khi bồ đề cũng không đọa vào thai, noãn, thấp, hóa sinh. Được thọ sinh làm hoa sen sống trong các cõi Phật, đắc túc trụ trí.”

Bất Không Mani cúng dường đà-la-ni là Quan Thế Âm Bồ Tát từ thần thông lực của Đại Huyễn Hóa Võng Tam ma địa hóa hiện ra, là tập hợp phúc tối thắng bất khả tư nghì của chân ngôn giới, là sức mạnh đại từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát khi cứu tế chúng sinh khỏi khổ hải. 

![image](/img/img_539006bccbb452a89db88e25a4796fa6.jpg)

### Trò hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh - Tập 44.

Ngày 06/09/2020, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và khai thị Đạo Quả - bài giảng số 331.

**Câu hỏi 233:** Xin Sư Tôn khai thị. Đệ tử vì các việc như du lịch và công tác mà thường xuyên phải đi nước ngoài, khi tu pháp cúng dường đôi khi không có cúng phẩm, vì thế nghĩ đến Bất Không Mani cúng dường chân ngôn của Bất Không Quyến Sách Quan Âm Bồ Tát. Chú cúng dường bí mật này chỉ niệm 3 biến là tương đương với quảng đại cúng dường. Chú là: “Ôm. A-mo-ga. Pu-ja. Ma-ni. Pad-ma. Wa-ji-la. Ta-tha-ga-ta. Vi-lo-ki-te. Sa-man-ta. Pra-sa-ra. Hùm.” Lại thỉnh Sư Tôn vì lợi ích đại chúng mà khai thị giới thiệu công đức và ứng dụng của chú này, và thỉnh cầu phương thức hồi hướng. Bình thường chú này dùng như thế nào?

Theo Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh đã ghi chép, công đức lợi ích của chân ngôn này bất khả tư nghì như sau:

(1) Trước khi tu pháp bất kì, trì tụng chú này, có thể khiến trong hư không pháp giới hiện lên thánh vật cúng dường vô lượng vô biên bất khả tư nghì. (Đây là lợi ích và công đức của chú này.)

(2) Nếu lấy ví dụ về phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này thì dùng thất bảo đầy ắp cả tam thiên đại thiên thế giới, rải đầy hoa vàng bạc, mỗi ngày ba thời cúng dường Như Lai ở khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng không bằng một phần mười sáu phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này.

(3) Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.

(4) Hóa sinh hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, và có thể nhớ lại các kiếp trước.

**Trả lời 233:** Kiếp trước, tương đương với có túc mệnh thông, rất nhiều đời bạn đều có thể nhớ lại được. Chà! Theo Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Kinh đã ghi chép, công đức lợi ích của chân ngôn này bất khả tư nghì như vậy. Liên Hoa Dung Thừa Minh này đã nói ra lợi ích của chú ngữ này rồi. Vì anh ta đã nói ra, anh ta sẽ có công đức. Người này sẽ có công đức, khiến mọi người biết được có câu chú này. Ai đã từng đọc câu chú này rồi? Có mấy đồng môn từng đọc rồi, họ đều tụng chú này, rất tốt. 

“Thỉnh Sư Tôn vì lợi ích đại chúng mà khai thị giới thiệu công đức và ứng dụng của chú này, và thỉnh cầu phương thức hồi hướng.” Chú ngữ này là Bất Không Mani cúng dường chân ngôn của Bất Không Quyến Sách Quan Âm Bồ Tát, bạn có thể niệm chú này, tức là Bất Không Quyến Sách Quan Âm Bồ Tát quán đảnh thì sẽ có tác dụng. Mọi người biết Bất Không Quyến Sách Quan Âm, phàm là người đã từng nhận quán đảnh thì mọi thỉnh cầu đều không hỏng, cho nên khi nào làm Hộ Ma của vị này thì rất nhiều người sẽ làm chủ cầu. Bất Không Quyến Sách Quan Âm, rất nhiều người sẽ làm chủ cầu vì mọi người cũng biết lợi ích của ngài. Còn về quảng đại cúng dường của ngài, niệm chú này “Ôm. A-mo-ga. Pu-ja. Ma-ni. Pad-ma. Wa-ji-la. Ta-tha-ga-ta. Vi-lo-ki-te. Sa-man-ta. Pra-sa-ra. Hùm.” Trước kia mẹ tôi cũng niệm chú này. Công đức của chú này tôi đã giảng rồi.

(1) Trước khi tu pháp bất kì, trì tụng chú này, có thể khiến trong hư không pháp giới hiện lên thánh vật cúng dường vô lượng vô biên bất khả tư nghì. (Đây là lợi ích và công đức của chú này.)

(2) Nếu lấy ví dụ về phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này thì dùng thất bảo đầy ắp cả tam thiên đại thiên thế giới, rải đầy hoa vàng bạc, mỗi ngày ba thời cúng dường Như Lai ở khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng không bằng một phần mười sáu phúc đức chỉ tụng mỗi câu chú này.

(3) Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.

(4) Hóa sinh hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, và có thể nhớ lại các kiếp trước.

Về sau luôn luôn được hóa sinh từ hoa sen, vĩnh viễn không thai sinh, không còn chuyển thế nữa. Lại có thể nhớ được nhân duyên của kiếp trước, có thể nói là túc mệnh thông. Cái này chính là công đức. Anh ta đã viết ra rồi.

Ứng dụng ra sao? Ứng dụng đã có ngay ở đây rồi. “Sáng tối mỗi lần tụng 7 biến thì nghiệp tội vô gián cũng được giải thoát.” Đây chính là ứng dụng. 

Phương thức thỉnh cầu hồi hướng, bạn có thể hồi hướng theo cách như sau. Cái gọi là phương thức bất không hồi hướng, niệm chú xong, bạn có thể làm hồi hướng, tôi cũng vừa mới nói về hồi hướng rồi. Trọng điểm hồi hướng tôi cũng vừa mới nói, thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, gặp dữ hóa lành, đạo tâm kiên cố, đây chính là hồi hướng. Công đức của chú đã nằm trong đó rồi, ứng dụng cũng ở trong đó rồi. Phương thức thỉnh cầu hồi hướng, dùng như thế này là được rồi. Chính bản thân anh ta đã nói ra rồi. Tôi không cần nói lại nữa. Có lợi ích lớn như vậy, hy vọng mỗi người đều có thể trì tụng, chỉ một câu là được, từ này về sau luôn được hóa sinh làm hoa sen, không còn thai sinh. Ngoài ra, công đức lớn như vậy — nghiệp tội vô gián cũng có thể được giải thoát, sớm tối mỗi lần niệm bảy biến, nghiệp tội vô gián cũng có thể giải thoát, đây là công đức rất lớn.

Còn tôi bình thường thì sao? Bản thân tôi quán tưởng, trong thangka của chúng ta chẳng phải có đồ cúng sao? Trên mỗi bức thangka, ví dụ bức Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang này, ở bên dưới có một cúng phẩm (ở chỗ thấp nhất), chính là mấy cái vại hình tròn bên trên có nắp, có mấy cái liền với nhau, đó chính là cúng phẩm, thất trân bát bảo, các loại thuốc, thứ gì cũng ở trong đó, sau đó quán tưởng thành cúng dường mây, rồi niệm bảy biến, đó chính là quảng đại cúng dường. Bạn có biết đó là thứ gì không? Mọi người có nhìn thangka không? Thangka ở đây có hay không? Mọi người nhìn xem ở bên dưới thangka có cái nắp tỏa ra ánh lửa, hơi giống mấy quả đào tiên được bày ở đây, rồi bên trên có lửa. Cái bình có nắp hơi giống quả đào, bên trong đều là cúng phẩm. Bạn hãy quán tưởng cúng phẩm này biến thành cúng dường mây, sau đó lại niệm bảy biến chân ngôn cúng dường của Bất Không Quyến Sách Quan Âm. 

Chính là quán tưởng và trì chú, làm theo phương thức này. (Máy quay chiếu trực tiếp vào bên dưới thangka). Đúng rồi đúng rồi, chính là những thứ đó, những thứ đó chính là cúng phẩm. Quán tưởng những thứ đó biến hóa thành cúng dường mây. Các bạn có biết đó là những thứ gì không? Không có ai biết à? Đó chính là ngọc mani, trong chú ngữ này cũng có. Trong câu chú vừa nãy, cái đó gọi là ngọc mani, biến ngọc mani thành cúng dường mây, sau đó niệm bảy biến, mỗi lần làm quán tưởng như vậy thì niệm bảy biến thì tức là quảng đại cúng dường.

---
# File: chan-ngon-than-chu/cam-lo-minh-vuong-chu-va-thu-an.md
# Title: Cam Lộ Minh Vương chú và thủ ấn
---

## Cam Lộ Minh Vương chú và thủ ấn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Ôm a-mi-li-ti hùm-fa-cha.  
Hoặc:  
Ôm a-mi-ta hùm pan.  
Cam Lộ Vương, tên tiếng Phạn là Amrta-raja, là một trong Ngũ Như Lai, là biệt hiệu của hệ A Di Đà Như Lai. Di Đà hóa thân thuyết pháp, đúng lúc giáng mưa pháp cam lộ, vì thế mượn tên của Cam Lộ Vương để xưng công đức của ngài. Chú của ngài là Cam Lộ chú, đại chú thì gọi là Thập Cam Lộ Minh.

Hai tay ngón cái và ngón út nối vào nhau thành vòng, ba ngón còn lại dựng thẳng, hay tay đặt chéo nhau.

### Quyển 3. Mão Nhị

(Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận - Tổ sư Tsongkhapa)

Mão Nhị: Ra ngoài, đi tắm, vào Phật đường

Tôi nhớ từng xem một bộ phim tài liệu, đó là ở vùng Tây Tạng, khuôn mặt của họ thật sự rất đen, rất nhiều ngày không tắm cho nên khuôn mặt đều có một lớp rất đen. Họ cũng dùng đất, nắm một nắm đất lên rồi chà chà lên mặt, dùng nước dội đi. Chà! Đây là một cách làm rất sạch.

Khi họ đi tắm thì làm rất nhiều niệm chú và kết thủ ấn.

“Lấy đất chia làm ba phần, để vào nơi sạch, lúc này cũng kết ba loại ấn samaya đã nói ở phần trước, tùy theo một trong số điều họ cần mà sau đó lấy đất.” Bạn phải cầm đất đó lên, sau đó chia làm ba phần, để ở bên bờ sông.

Sau đó thì sao? Lúc này ngài dùng một phương pháp để dọa quỷ, phương pháp gì đây? “Tiếp đó dùng ngón cái đè lên ngón út, các ngón tay còn lại làm thành hình chày kim cang, hai tay bắt chéo nhau đè lên cánh tay, răng trên ấn xuống môi, mắt trợn lên phẫn nộ, tụng rằng: …..” Còn phải tụng chú. Ngài kết thủ ấn này (thị phạm kết thủ ấn). Đây là thủ ấn của Cam Lộ Minh Vương. Tương tự, ngài dùng răng trên cắn vào môi dưới, ngài làm như vậy, Sư Tôn là môi dưới bặm lên môi trên, làm như vậy, cái nào trông hung dữ hơn? Môi dưới bặm lên môi trên trông hung dữ hơn đó! Thế thì ngài viết sai rồi à? Làm như thế này trông hung hơn. Ngài phải kết thủ ấn như thế này đè lên hai bên, đè vào hai vai, sau đó ở giữa, ấn như thế này, đảo mắt. 

Phương pháp này của ngài dùng để dọa quỷ, có nghĩa là phải đi đến bờ sông, bạn làm thủ ấn này, sau đó làm tướng phẫn nộ, dùng con mắt kim cang đảo vòng quanh. Đó là để làm gì? Tức là, có thứ gì không tốt, nhìn thấy tướng mặt của bạn như thế này thì nó sẽ sợ mà bỏ chạy. Thế nhưng, tôi cảm thấy các bạn căn bản là không giống, thật đó! Cho dù các bạn kết thủ ấn, sau đó môi dưới bặm lên môi trên, tiếp theo làm như thế này, đảo mắt một hồi, lại còn cười hi hi. Tôi nói cho bạn biết nhé, quỷ không những không dọa được mà còn cho rằng có thể bắt nạt được bạn, thế là sẽ đến để quấy nhiễu bạn.

Ngài dùng phương pháp này tức là dùng tướng khủng bố để dọa những thứ bất hảo bỏ đi. Làm tướng phẫn nộ để xua đuổi các ma quỷ, ý nghĩa chính là ở đây.

Sau đó niệm chú, câu chú chủ yếu nhất ở phía sau: “Ôm a-mi-ta hùm pan.” Đây là câu chú ngắn, cũng có thể niệm chú dài hơn một chút: “Ôm gu-ru gu-ru ti-cha-ti-cha pân-ta-pân-ta ha-na-ha-na a-mi-ta hùm pan.” Đây là chú trung. Nếu kết hợp hai câu này sẽ là chú dài. Đây chính là chú ngữ của Cam Lộ Minh Vương.

Niệm chú này, kết thủ ấn Cam Lộ Minh Vương, sau đó đảo mắt một lúc, như vậy thì sẽ không có ma.

Bình thường, giả sử trong phòng tắm ở nhà bạn cũng làm như thế này thì cũng được. Các bạn ở trong phòng tắm, những con ma đó đều bỏ chạy hết, sẽ không có ma đến nhìn trộm bạn tắm. Tôi nói với bạn, trong Mật giáo chúng ta có nói rằng ở trong nhà vệ sinh thật sự để có các thứ trốn ở trong đó. Vì thế, bạn (hành giả Chân Phật) khi đi vào nhà vệ sinh phải búng ngón tay một cái, biểu thị có người đến, ai ở bên trong phải đi đi. Tỏ ý như thế một chút, đưa ra sự nhắc nhở, ý nghĩa của búng ngón tay là như vậy.

Vậy thì mỗi khi bạn đi vào nhà vệ sinh nếu đều phải đảo mắt nhìn, tôi thấy thế thì chẳng thế nào “đi” ra được. Như thế sẽ rất căng thẳng, về mặt tâm lý bạn đã sợ trước rồi, muốn đi dọa quỷ, nhưng kết quả là lại dọa chính mình. Đây là phòng hộ.

Ngài phải kết thủ ấn, còn phải đánh toàn thân, hơn nữa còn phải niệm tụng: “A-mi-ta hùm pan.” Chúng ta đọc trang 54 dòng số 7: “Hai tay nắm vào trong, ngón trỏ duỗi thẳng, đánh từ đầu đến chân và xung quanh để trừ ma chướng ở trong người.” Đây là để đánh ma chướng ở trong người mình. Ngài không chỉ muốn phòng hộ ma ở bên ngoài mà còn muốn phòng hộ ma ở bên trong chính mình. Hai ngón cái ấn vào hai bên, đây là ấn gia trì, sau đó đánh toàn thân, từ đầu cho đến chân đều đánh, đây là để trừ ma chướng trên người mình. Bạn xem, lại còn phải “xòe và ngửa hai bàn tay, hai ngón út móc vào nhau, hai ngón áp út ấn vào trong, hai ngón giữa cùng giơ lên, hai ngón trỏ cong về đốt thứ ba, ngón cái hợp lại ở trong. Kết ấn này và mặc giáp hộ thân, mặc giáp kim cang.” Thủ ấn này sao mà loằng ngoằng. Thủ ấn này rất loằng ngoằng. 

### Quyển 3. Mão Tứ

(Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận - Tổ sư Tsongkhapa)

Mão Tứ: Bảo vệ chính mình và nơi ở

Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, hôm nay chúng ta giảng “Mão Tứ: Bảo vệ chính mình và nơi ở” (trang 58).

Hôm nay phải nói về bảo vệ cá nhân và bảo vệ đàn thành. Trong Mật giáo rất chú trọng bảo vệ cá nhân và bảo vệ đàn thành, Hiển giáo thông thường thì tương đối ít có.

Là một hành giả Mật giáo, bạn phải hiểu cách bảo vệ chính mình và phòng ma, phải đặc biệt đặc biệt coi trọng.

Thông thường trong Hiển giáo, đại khái chỉ làm sái tịnh trong chùa, cá nhân tự mình sái tịnh cho mình, điều này vẫn không đủ. Cho nên rất nhiều người tu hành hoặc pháp sư, thân thể của họ đều không tốt. Có câu nói rằng “tu hành phải mang ba phần bệnh”. Dường như mỗi người đều có bệnh, hơn nữa mặt còn xanh xao, âm thanh giọng nói rất yếu ớt, rất nhỏ, bộ dạng như sắp chết rồi. Thật sự giống như đang tha lôi một cái mạng già, tha lôi lê lết, ngày nào cũng giống như sắp chết và vẫn không chết. Như thế thì không được!

Với một hành giả Mật giáo mà nói, họ phải rất uy vũ, rất trang nghiêm, rất hùng tráng, phải là kim cương bất hoại, như thế mới là hành giả Mật giáo. 

Không thể giống như kiểu một chút khí lực cũng không có, đọc kinh lên nghe giống như muỗi kêu vậy. Trước kia tôi nghe một lão pháp sư giảng kinh, thật sự là ông ấy giảng kinh thì người ở dưới đều nghe không hiểu, không chỉ nghe không hiểu mà còn không nghe được tiếng của ông ấy, âm thanh nói chuyện của ông ấy như muỗi kêu vậy. Nói thật là nghe ông ấy giảng kinh thì phải bịt tai lại rồi nghe cho thật kĩ thì mới có thể nghe được. Hơn nữa ông ấy lại là người từ Đại Lục đến, khi nói chuyện có khẩu âm địa phương, nếu là giọng Bắc Kinh thì còn dễ nghe một chút, nhưng ông ấy lại nói thổ ngữ của Tứ Xuyên. Ôi, tôi thật sự không chịu nổi!

Chúng ta là hành giả Chân Phật, hành giả Mật giáo, nhất định phải biết bảo vệ chính mình, bảo vệ đàn thành và bảo vệ nơi ở, nhất định phải hiểu rõ, điều này tôi từng nói nhiều lần rồi. Chí ít bạn phải sái tịnh, biết cách dùng nước hoa, niệm Cam Lộ Vương chân ngôn 7 biến, sau khi niệm xong thì vẩy lên người mình, chính là đã sái tịnh cho mình rồi.

Sái tịnh không phải là quán đảnh đâu! Hiện nay rất nhiều pháp sư coi sái tịnh là quán đảnh, loạn hết cả lên! Đáng ăn mắng! Ngoài ra còn có một điểm nữa, sái tịnh đàn thành có thể dùng nước hoa, niệm 7 biến Cam Lộ Vương chân ngôn, búng ngón tay tức là sái tịnh. Ở mỗi một nơi búng ngón tay một cái chính là sái tịnh, cách sái tịnh này là rất đơn giản rồi. Là sái tịnh, không phải quán đảnh. Cho nên phải nhớ, đó gọi là sái tịnh, không phải quán đảnh. Sái tịnh có ý nghĩa là thanh tịnh tự thân, thanh tịnh thân mình, thanh tịnh chỗ đặt đàn thành, dùng nước chú Đại Bi để sái tịnh, dùng nước pháp Cam Lộ Vương (cam lộ thủy) để sái tịnh, đều gọi là làm sái tịnh. Đoạn đầu tiên ở đây là nói về sái tịnh, có thể niệm Cam Lộ Vương chân ngôn: “Ôm a-cưa-li-cưa-la pê-cha hùm pan.” Chú ngắn của Cam Lộ Vương.

### Pháp kết giới bằng chú Cam Lộ Minh Vương

Cho nên Mật giáo có kết giới, phòng ma, mặc bia giáp hộ thân, pháp Quan Âm thân đàn thành tránh tai nạn, đây đều là hàng phục bùa ngải. Có người làm cái gì bạn cũng không sợ, bởi vì bạn có kết giới, bốn góc có cọc kim cang, hư không có lưới kim cang, xung quanh có tường kim cang, còn có cả lửa kim cang nổi lên, đây chính là bốn tầng kết giới của Mật giáo, nhất định phải học.

Bình thường tôi làm bia giáp hộ thân, tu pháp thì làm tứ trùng kết giới. Buổi tối khi đi ngủ, bạn cũng có thể quán tưởng tứ trùng kết giới thì sẽ không có ma chướng. Bạn có thủ ấn, bạn có quán tưởng, bạn còn phải niệm chú. Niệm Cam Lộ Minh Vương chân ngôn: “Ôm a-mi-ta hùm pan. Ôm a-mi-ta hùm pan. Ôm a-mi-ta hùm pan.” Đây là chú ngữ kết giới của Cam Lộ Minh Vương, các bạn niệm chú, quán tưởng, rồi kết thủ ấn. Pháp của Mật giáo này các bạn học được rồi, thân tâm của chính các bạn đều sẽ khỏe mạnh. Vâng, cám ơn mọi người.

Om mani padme hum.

🌟

Làm một hành giả Chân Phật, hành giả Mật giáo, nhất định phải biết cách bảo vệ chính mình, bảo vệ đàn thành và bảo vệ nơi ở.

Tứ trùng kết giới của Mật giáo cũng là một pháp phòng hộ, bao gồm đàn thành và chính bản thân bạn. 

Tứ trùng kết giới có bốn thủ ấn:

Thứ nhất là thủ ấn cọc kim cang (xem hình 1):  
Hai tay ngón giữa và ngón áp út cùng nối lại thành vòng, đầu mút ngón tay tiếp xúc nhau, ngón trỏ và ngón út giơ thẳng, ngón cái làm thành hình cọc đâm xuống đất, đây là ấn cọc. Làm thủ ấn cọc kim cang, quán tưởng bốn cái cọc kim cang cắm chắc tại xung quanh đàn thành và thân thể bạn.

Thứ hai là thủ ấn lưới kim cang (xem hình 2):  
Tách hai ngón cái ở bên dưới ra là thành lưới kim cang. Quán tưởng lưới kim cang từ hư không buông xuống, đặt trên bốn cái cọc kim cang.

Tiếp theo là xây tường kim cang (xem hình 3):  
Hai ngón cái mở hướng lên trên, lật lại là thành tường kim cang, dựng thẳng, bốn xung quanh dựng lên tường kim cang.

Sau đó thắp lửa kim cang (xem hình 4):  
Dùng ngón trỏ và lòng bàn tay, chấm một cái, lửa nổi lên, quán tưởng toàn bộ lưới kim cang và tường kim cang đều bốc cháy. 

Cọc kim cang chính là địa giới, dựng lên bốn cọc kim cang trên mặt đất, trói ma trên cái cọc này.  
Lưới kim cang chính là thiên giới, tấm lưới vô hình giăng khắp hư không, cũng bao trùm lấy các bức tường.  
Tường kim cang chính là chu vi giới, phong tỏa toàn bộ nơi mình ở, không có kẽ hở.  
Lửa kim cang chính là phòng hộ giới, lửa nổi lên, ma sẽ không thể đi vào. Võng kim cang và tường kim cang đều cháy lên ngọn lửa kim cang.

Có thủ ấn, có quán tưởng, còn phải niệm chú. Niệm Cam Lộ Minh Vương chân ngôn: “Ôm a-mi-ta hùm pan.” Đây là chú ngữ kết giới của Cam Lộ Minh Vương.

Muốn tu trì pháp này trước tiên phải nhận quán đảnh pháp tứ trùng kết giới.

---
# File: chan-ngon-than-chu/cam-lo-quan-do-loi-chan-ngon.md
# Title: Cam Lộ Quân Đồ Lợi chân ngôn  
---

![image](/img/img_46e55929d5a6f6fa3631596ee1b79db8.jpg)

## Cam Lộ Quân Đồ Lợi chân ngôn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Quân Đồ Lợi Minh Vương là một trong Ngũ Đại Minh Vương của Mật giáo, còn gọi là Cam Lộ Quân Đồ Lợi Minh Vương, dịch nghĩa là Cam Lộ Minh Vương, Cam Lộ Tôn. Vì Minh Vương hiển tướng phẫn nộ cho nên còn gọi là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa.

Ý nghĩa của Quân Đồ Lợi là từ bảo bình chảy ra nước trí huệ cam lộ, gột rửa phiền não, và chuyển tính tướng ngu si ngạo mạn tương ứng với thức thứ bảy của ta thành bình đẳng tính trí, vì thế trong các nghi quỹ hay gọi vị này là Cam Lộ Quân Đồ Lợi.

Quân Đồ Lợi Minh Vương có vị trí trong mandala Kim cương giới, thuộc hệ thân giáo lệnh luân của Bảo Sinh Phật, hiện thân phẫn nộ, nằm ở góc Tây Nam của Hàng Tam Thế Hội. Hình tượng của ngài là một mặt ba mắt tám tay, tay cầm vũ khí, lưng cõng ngọn lửa, dùng rắn quấn quanh thân thay cho chuỗi vòng.

Quân Đồ Lợi Minh Vương ở trong viện La Tô Tất Địa của mandala Thai tạng giới là Kim Cang Quân Đồ Lợi, mật hiệu là Cam Lộ Kim Cang, thuộc hệ sứ giả của Phật bộ, hình tượng là màu vàng, kết ấn trước ngực, ngồi trên hoa sen màu đỏ. 

Quân Đồ Lợi Minh Vương ở trong viện Quan Âm là Liên Hoa Quân Đồ Lợi, mật hiệu là Hàng Phục Kim Cang, thuộc hệ sứ giả của Liên Hoa bộ, hình tượng là màu xanh, tay trái cầm hoa sen chưa nở, mặc thiên y.

Quân Đồ Lợi Minh Vương ở trong viện Kim Cang Thủ cũng là Kim Cang Quân Đồ Lợi, mật hiệu là Cam Lộ Quân Đồ Lợi, thuộc hệ sứ giả của Kim Cang bộ, hình tượng màu vàng, hai tay làm ấn tam cổ, bắt chéo ôm trước ngực.

Bởi vì Cam Lộ Quân Đồ Lợi Minh Vương trong Mật giáo là vị Minh Vương làm việc rất nổi tiếng, Liên Sinh Hoạt Phật thường tu tập. Người phụng pháp này có thể loại trừ các loại bệnh của ma bệnh, xà chướng, nhiệt não, yếm thực, u ám, về phương diện trị bệnh, vị Minh Vương này rất có công lực.

Bình thường tu pháp đàn tràng kết giới thanh tịnh, có thể trì Quân Đồ Lợi Minh Vương chú thủy, niệm Quân Đồ Lợi Minh Vương tiểu chú: “Ôm a-mi-li-tơ hùm pây” 7 biến, quán tưởng đi vào trong nước, dùng ngón tay vẩy nước về bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, còn bản thân cũng uống một chút nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương, biểu thị Đông Nam Tây Bắc Trung tất cả thanh tịnh.

---
# File: chan-ngon-than-chu/cam-lo-thuy-chan-ngon.md
# Title: Cam lộ thủy chân ngôn
---

![image](/img/img_065287bf0bdbf229ac1fa2d141128970.jpg)

## Cam lộ thủy chân ngôn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Cam lộ là một dạng tỉ dụ của giáo pháp Như Lai, trong kinh Pháp Hoa, phẩm “Dược Thảo Dụ” có nói: “Ta là Thế Tôn, không ai sánh bằng, vì yên chúng sinh, nên hiện trên đời, vì chúng sinh nói cam lộ tịnh pháp, pháp ấy nhất vị, giải thoát niết bàn.”

Đây là:  
Đạo của đại giác. Tịch diệt vô tướng.  
Vị ấy như thần. Ví như cam lộ.

Vậy ai là Cam Lộ Vương? Thì ra Cam Lộ Vương là chỉ A Di Đà Phật, chú của A Di Đà Phật gọi là cam lộ chú. A Di Đà Phật là Cam Lộ Vương Như Lai, bởi vì A Di Đà Phật hóa thân thuyết pháp, ban mưa cam lộ, vì thế gọi đây là công đức của ngài.

Chúng ta tu Mật pháp biết Quân Trà Lợi Minh Vương có ba loại:
1. Kim Cang Quân Trà Lợi Minh Vương.
2. Liên Hoa Quân Trà Lợi Minh Vương.
3. Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương. 

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông từng truyền thụ Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương cúng dường niệm tụng thành tựu nghi quỹ, còn truyền thụ mười chú cam lộ. 

Cam lộ thủy chân ngôn cơ bản nhất là:  
”Na-mô su-lu-pô-yê ta-tha-yê-tô-yê ta-chi-tha ôm su-lu-su-lu pô-la-su-lu sô-ha.”

Đây là gia trì nước, khiến cho nước thanh tịnh trong veo, vẩy khắp pháp hội, khiến các loài ngạ quỷ cổ họng tự mở ra, chúng sinh pháp giới cùng lúc đều được uống cam lộ.

Chúng ta mong rằng cam lộ thủy này:  
*”Mong đều sung túc bỏ tham lam  
Mau thoát u minh sinh tịnh thổ  
Quy y Tam Bảo phát bồ đề  
Sau cùng đắc thành vô thượng đạo  
Công đức vô biên tận ngày sau  
Tất cả Phật tử cùng hưởng pháp.”*

Pháp môn này là:  
*Các vị trời trí huệ  
Thương xót loài chúng sinh  
Năng mở cửa cam lộ  
Quảng độ cho tất cả.*

---
# File: chan-ngon-than-chu/chan-ngon-coc-kim-cang.md
# Title: Chân ngôn Cọc kim cang
---

![image](/img/img_0990303dfeff08ce37d628dee3b8cf3c.jpg)

## Chân ngôn Cọc kim cang

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

**Thủ ấn:**

Ngón giữa và ngón áp út của hai tay đan vào nhau, điểm mút của ngón tay chạm vào nhau, ngón út và ngón trỏ giơ thẳng, ngón cái làm thành hình cái cọc.

![image](/img/img_a89e6337e0d02d8896e61cc99d6e56fb.png)

**Sư Tôn truyền khẩu quyết tâm yếu của pháp:**

Hành giả Mật giáo tu pháp Cọc kim cang tương đương với tu thủ hộ luân <span className="note-blue">[bánh xe bảo vệ]</span>. Trong Mật giáo, nói đến bánh xe tức là ý nghĩa bẻ gãy. Tu hộ luân làm pháp Cọc kim cang là để bảo vệ đàn thành và biến đàn thành thành thanh tịnh. 

Hành giả kết thủ ấn cọc kim cang, niệm chú, niệm chú xong thì búng ngón tay một cái tức là có môt chiếc cọc kim cang ở trước mặt bạn để trói ma, trói ma lên chiếc cọc đó. Chiếc cọc này cũng có thể cắm xuống đất, cắm xung quanh ngôi nhà, kết thủ ấn cọc kim cang, niệm chú ngữ: “Ôm cưa-li-cưa-la pan-chi-pan-chi pu-rưa pân-ta-pân-ta hùm-pan.” Dùng chú ngữ này để gia trì cho cọc kim cang. Tay kết thủ ấn cọc kim cang, sau đó niệm chú 7 biến, búng ngón tay một cái tức là một chiếc cọc kim cang cắm trên mặt đất. Sau đó quán tưởng ma bị trói trên cái cọc đó. Bạn làm với bốn phía nghĩa là bảo vệ đàn thành và bảo vệ địa điểm đó.

Ngón giữa và ngón áp út của hai tay đan vào nhau, điểm mút của ngón tay chạm vào nhau, ngón út và ngón trỏ giơ thẳng, ngón cái làm thành hình cái cọc cắm xuống đất, đây là thủ ấn cọc. Tụng chú, quán tưởng các ma bị cọc kim cang phẫn nộ đóng xuống, khiến chúng không thể chuyển động. Đây chính là thủ ấn cọc kim cang.

Trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” có ghi chép: “Cọc kim cang dùng ba nguyên liệu là gỗ, xương, hoặc sắt để làm. Có độ dài khác nhau như 18 đốt tay, 12 đốt tay, 8 đốt tay.” “Trên đầu cọc kim cang làm tượng Minh Vương, đầu bên dưới thì làm thành hình cọc đinh nhọn.” Cọc kim cang có pháp Đóng cọc.

Tác dụng của pháp Đóng cọc là dùng cọc kim cang để đóng đinh ma gây chướng ngại cho tu hành, khiến ma không thể nhúc nhích. Tức là dùng cọc kim cang để đóng vào đầu ma. Ngoài ra có thể đóng cọc bốn phía, tương đương có bốn vị Minh Vương bảo vệ bốn hướng, ở trong phạm vi được đóng cọc, tà ma không thể vào. Đây chính là pháp kết giới của Mật giáo. Đóng cọc kim cang rồi thì lại tu tường kim cang, tức là lấy cọc kim cang làm cột trụ để dựng lên bức tường kim cang, có ý nghĩa bảo vệ cho người tu hành.

Trong tiểu sử của đại sư Mật tông Nhiệt La Hoạt Phật có mấy truyền kỳ về cọc kim cang như sau:  
”Có một con ác long thổi gió lớn đến mức sỏi đá bay tứ tung, khiến cho Nhiệt La Hoạt Phật và những người đi theo không thể tiến lên phía trước. Nhiệt La Hoạt Phật ném cọc kim cang ra, đánh mù một con mắt của ác long. Cuồng phong lập tức ngừng. Cuối cùng con rồng mù này đã đầu hàng Nhiệt La Hoạt Phật.”

Ngoài ra còn một truyền kỳ khác:  
”Trên đường từ Thiên Hồ trở về, trời đã tối mà vẫn cách nơi ở còn xa, đi lại rất vất vả, mọi người nói phải làm sao đây? Nhiệt La Hoạt Phật từ hông rút ra cọc kim cang cắm lên mặt đất. Đột nhiên ở phía trước mặt xuất hiện một ngôi nhà, bên trong có nồi niêu, thức ăn, giường ghế đủ cả.  
Mọi người liền ở lại đó qua đêm, ăn một bữa tối rất thịnh soạn. Sáng sớm ngày hôm sau, khi ăn sáng xong và lên đường, Nhiệt La Hoạt Phật rút cọc kim cang ra, quay đầu lại nhìn thì ngôi nhà đã biến mất rồi.”

Hai truyền kỳ này giống như thần thoại trên trời, nhưng chày kim cang của Mật giáo có cách tu pháp bí truyền, pháp này rất quý báu.

---
# File: chan-ngon-than-chu/chan-ngon-phat-bo-de-tam.md
# Title: Chân ngôn phát bồ đề tâm
---

![image](/img/img_e62efc304998cd6456bf9c3a969947d0.jpg)

## Chân ngôn phát bồ đề tâm

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Chân ngôn phát bồ đề tâm là chân ngôn của tất cả Bồ Tát mới phát tâm thanh tịnh.  
”Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán Kinh” ghi chép rằng: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Tâm không hình tướng và cũng không có chỗ trụ, hành giả phàm phu mới phát tâm dựa vào chỗ nào, quán tướng nào?” Phật nói: “Thiện nam tử! Tướng bồ đề tâm mà phàm phu quán giống như mặt trăng thanh tịnh tròn đầy,  sáng tỏ trụ trong lòng. Nếu người nào muốn nhanh chóng đắc bất thối chuyển, tại a-lan-nhã <span className="note-blue">[chùa Phật]</span> và tịnh thất trống trải, ngồi ngay, chính niệm, kết ấn kim cang phộc trước Như Lai, nhắm mắt quan sát trăng sáng trong lòng và suy nghĩ như sau: Mặt trăng này trong năm mươi do tuần sáng tỏ vô cấu, nội ngoại trong veo cực mát lành, trăng chính là tâm, tâm chính là trăng. Không sinh ra vọng tưởng ô nhiễm do bụi che mờ, có thể khiến thân tâm chúng sinh thanh tịnh. Đại bồ đề tâm kiên cố bất thối. Kết thủ ấn này trì niệm quan sát. Những câu văn đại bồ đề tâm vi diệu.”

Chân ngôn phát bồ đề tâm: “Ôm bô-đi-chi-ta pê-cha sa-ma-ya ah-hùm.” Chân ngôn này có sức mạnh đại uy đức, người có thể trì chú thanh tịnh thân tâm, trì lâu ngày sẽ đắc bất thối chuyển. Tất cả Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai khi ở tại nhân địa sơ phát tâm đều trì chú này, nhập địa bất thối, nhanh chóng viên mãn chính giác.

“Trí Độ Luận” viết: “Bồ đề là con đường của chư Phật.” “Duy Thức Thuật Ký” viết: “Phật nói bồ đề, dịch ra là giác. Vì là giác pháp tính.” 

Trong Chân Phật Mật Pháp, Liên Sinh Thánh Tôn dạy mọi người phát ba loại bồ đề tâm, cũng chính là bồ đề tâm của hành giả chân ngôn Mật giáo:
1. Hành nguyện bồ đề tâm — tu hành phát nguyện gọi là hành nguyện. Cũng tức là “chúng sinh vô biên thề nguyện độ”, “phiền não vô biên thề nguyện dứt”, “pháp môn vô biên thề nguyện học”, “bồ đề vô thượng thề nguyện chứng”. 
2. Thắng nghĩa bồ đề tâm — đây là dừng hết những thứ không tốt, quán hiển thắng nghĩa, cuối cùng an trụ trong tâm trang nghiêm bí mật của thành quả tột cùng. Đây là giáo môn thắng nghĩa của Chân Phật Mật Pháp.
3. Tam ma địa bồ đề tâm — đây là hành giả Chân Phật đạt đến đại định, hành giả nhập vào địa tín giải, thực tu tam mật tương ứng, đẳng trì chư Phật tự hóa ra vạn đức của họ. Nhập vào giới hữu tình, bình đẳng nhiếp thọ và hộ niệm.  
Hành nguyện bồ đề tâm là đại bi.  
Thắng nghĩa bồ đề tâm là đại trí.  
Tam ma địa bồ đề tâm là đại định.

---
# File: chan-ngon-than-chu/chu-dai-bi-va-phap-gia-tri-nuoc.md
# Title: Chú Đại bi và pháp gia trì nước
---

## Chú Đại bi và pháp gia trì nước

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">26/04/2020</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Seattle Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

(Gồm quán đảnh kim cương chỉ)

### Chú ngữ

Na-mô ta-na-tha-ya-ya. Na-mô a-rya-cha-na.  
Sa-ka-ra. Vê-lô-cha-na. Bu-ha-ra cha-ya.  
Ta-tha-ka-ta-ya. A-la-ha-tê. Sam-ya-sam bút-đà-ya.  
Na-mô sa-ơ-wa ta-tha-ka-tê bê. An-la-ha-ta bê.  
Sam-ya-sam. Bu-tê bê. Na-mô a-rya a-va-lu-kê-tê.  
Sua-ra-ya bô-đi-sat-tô-va-ya. Ma-ha sat-tô-va-ya.  
Ma-ha ka-ru-ni-ka-ya.  
Ta-đya-tha. Ôm. Đa-ra đa-ra. Đi-ri đi-ri. Đu-ru đu-ru.  
I-ti-guê. I-ti cha-rê cha-rê. Bu-đa-cha-rê. Bu-đa-cha-rê.  
Ku-su-mê ku-su-ma wa-rê.  
I-li mi-li chi-ti jơ-va-la ma-pa-na-ya sô-ha.

### Thủ ấn

Chú Đại bi này vốn là Đại bi chân ngôn được ghi trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh. Ấn khế khi trì chú là: trước tiên hai tay chắp lại, hai ngón cái bắt chéo nhau. Ngón cái tay phải giao với chân của ngón trỏ tay trái. Ngón cái tay trái đặt vào khớp giữa của ngón cái tay phải. Đây là ấn Đại bi. 

### Khai thị của Liên Sinh Hoạt Phật

Chúng ta biết rằng nước chú Đại bi trong Phật pháp uống vào thì công đức rất lớn, có thể chữa tám vạn bốn nghìn loại bệnh. Quan Thế Âm sắc lệnh tất cả thiện thần, kim cang mật tích thường theo bảo vệ, lúc lâm chung tùy ý sinh về bất kì cõi Phật nào.

Phàm là đệ tử của Tam Bảo, tịnh khẩu cung kính tu đều có thể niệm nước chú Đại bi, có thể tự dùng cho mình, có thể bố thí kết duyên.

Trình tự thông thường như sau: Cúng một lượng nước. Châm hương đảnh lễ Quan Thế Âm Bồ Tát.

**1. Hương tán. Tịnh nghiệp chân ngôn.**

**2. Phụng thỉnh đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát.**

**3. Chú Đại bi 49 biến.**

**4. Chân ngôn bổ khuyết.**

**5. Dùng tay phải kết kim cương chỉ, ở trên mặt nước viết chữ Hum (tiếng Phạn/Tạng). Làm như vậy tức là đã thành nước chú Đại bi.**

Công đức của nước chú Đại bi, linh cảm rộng lớn của nước này, trong giới Phật giáo người người đều biết.

<span className="note-blue">[Trò hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh - Tập 6]</span>

Ngày 26/04/2020 tại Seattle Lôi Tạng Tự, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp ngữ và giảng Đạo Quả bài giảng số 293. 

**Câu hỏi 41:** Phải làm thế nào để tu Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm đại bi cam lộ thủy dùng để uống, bài trừ độc thuật bùa chú tiềm ẩn ở trên người?

**Trả lời:**

Cô ấy muốn cầu nước Đại bi (nước chú Đại bi của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát) để uống, bài trừ độc tố bùa chú ở trên người, câu hỏi là như vậy. Tôi nói để mọi người biết, chúng ta cầu nước chú Đại bi, dùng thủ ấn “cái đỉnh” (Sư Tôn thị phạm), đây là thủ ấn cái đỉnh. Cái đỉnh của Trung Quốc có ba chân. Rồi lấy một cái cốc. Ở đây có cốc không nhỉ? Chà, cái này vừa to vừa nặng. (Sư Mẫu nhắc nhở: Có nước thật đấy!) Nước thật thì uống một ngụm vậy. (Sư Tôn thị phạm cầm cốc.) Làm như thế này mọi người làm được chứ?

(Tay phải) Kết thủ ấn này (ấn kim cương chỉ). Đây là một cốc nước âm dương, sau đó ngón tay của bạn ở trên mặt nước viết một chữ Hum: chấm một nét, một cái khuyên, một mặt trăng, một nét ngang… Ở trên mặt nước dùng thủ ấn này viết một chữ Hum. Viết xong thì bạn niệm: “Na-mô sa-man-tô mu-thua-nam wa-zư-la ta-mô sê. Na-mô sa-man-tô mu-thua-nam wa-zư-la ta-mô sê….” Bạn niệm chú ngắn của chú Đại bi. Niệm 108 biến cũng được, 49 biến cũng được, 21 biến cũng được. Niệm xong, bạn lại viết một chữ Hum lên mặt nước để gia trì. Sau đó bạn uống nước này là có thể giải trừ độc thuật bùa ngải tiềm ẩn trên người bạn. Người ta làm một bùa ngải lên bạn, bạn dùng nước chú Đại bi để giải trừ cho chính mình. Chỉ cần niệm chú ngắn của chú Đại bi 21 biến, 49 biến, hoặc 108 biến. Sau đó kết thủ ấn này (ấn kim cương chỉ), ở trên mặt nước viết một chữ Hum tiếng Tạng hoặc Phạn. Sau đó uống nước này là được.  

### Chú Đại bi

Namo ratnatràyàya.  
Namo aryàvalokites’varàya Bodhisattvaya Mahasattvaya Mahàkarunikàya.  
Om sarva rabhaye sunadhàsya.  
Namo skirtva imam aryàvalotites’vara ramdhava.  
Namo narakindhi hrih mahàvadhasvàme.  
Sarvàrthato subham ajeyam sarvasata.  
Namo varga mahàdhàtu.  
Tadyathà: om avaloki lokate karate.  
Ehrih mahà bodhisattva sarva sarva mala mala.  
Mahi hrdayam kuru kuru karman.  
Dhuru dhuru vijàyate mahàvijayati.  
Dhara dhara dhirini svaràya.  
Cala cala mama vimala muktir.  
Ehi ehi s’ins’ina àrsam prasari.  
Basha basham prasàya hulu hulu mara.  
Hulu hulu hrih sara sara siri siri suru suru.  
Bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya.  
Maitreya narakindi dhrish nina.  
Bhayamana svaha siddhaya svàhà.  
Maha siddhàya svaha.  
Siddha yoge s’varaya svaha.  
Nirakindi svàhà.  
Mara nara svaha s’ira Simha mukhàya svaha.  
Sarva maha asiddhaya svaha.  
Cakràsiddhaya svaha.  
Padma kastàya svaha.  
Nirakindi vagalàya svaha.  
Mavari śankaraya svāhā.  
Namo ratnatràyàya.  
Namo aryàvalokites’varaya svaha.  
Om siddhyantu mantra pàdàya svàhà.

### Tụng chú Đại Bi theo âm tụng của Sư Tôn

Na-mô hơ-la-ta-na. Tô-la-yê-yê. Na-mô a-li-yê.  
Pô-lô-gê-tê. Liêp-pân-la-yê. Pô-tê-sat-tô-pô-yê.  
Ma-ha sat-tô-pô-yê. Ma-ha ka-lu-ni-ka-yê.  
Án. Sa-ta-la-fa-yi. Su-ta-la-ta-sê.  
Na-mô hê-kê-li-tô. Yi-mâng-a-li-yê. Pô-lô-kê-tê.  
Sêt-pô-la-linh-tô-pô. Na-mô na-la-kin-tin.  
Xi-li ma-ha can-tô-sa-mê. Sat-tô-a-tha. Tô-su-pâng.  
A-sê-yin. Sat-tô sat-tô. Na-mô pô-sat-tô. Na-mô pô-kya.  
Mô-fa-thưa-tua. Tan-chi-tha. Ôm. A-lua-lu-yi.  
Lô-ka-tê. Ka-la-tê. Yi-hê-lê. Ma-ha pu-thi-sat-tô.  
Sa-pố sa-pố. Mô-la mô-la. Mô-xi mô-xi. Yi-tô-yin.  
Ki-lu ki-lu kê-mân. Tu-lu tu-lu.  
Fa-sa-ya-tê. Ma-ha fa-sa-ya-tê. Tô-lô tô-lô. Ti-li-ni.  
Sê-pô-la-ya. Chưa-la-gia-la. Ma-ma. Fa-mô-la.  
Pô-ti-yi. Yi-hê-yi-hê. Sê-li-sê-na. A-lô-san-pô la-sưa-li.  
Fa-sa-fa-san. Pô-lô-sê-ha.  
Hu-lu-hu-lu mô-la. Hu-lu-hu-lu xi-li.  
Sa-la-sa-la. Xi-li-xi-li. Su-lu-su-lu.  
Pô-thê-yê. Pô-thê-yê. Pu-thô-yê. Pu-thô-yê.  
Mi-ti-li-yê. Na-la-kin-tin. Piên-li piên-ni-la. Pô-yê-mô-na.  
Sa-pô-hơ. Si-thô-yê. Sô-ha. Ma-ha si-thô-yê. Sô-ha.  
Si-thô-yi-yi. Sư-pan-la-yê. Sô-ha.  
Na-la-kin-chư. Sô-ha. Mô-la-na-la. Sô-ha.  
Xi-la-châng. A-mu-chê-yê. Sô-ha.  
Sa-pô mô-hơ. A-xi-thô-yê. Sô-ha.  
Chưa-chi-la. A-xi-thô-yê. Sô-ha.  
Pô-thô-mô-chế xi-tô-yê. Sô-ha.  
Na-la-kin-chi. An-kya-la-yê. Sô-ha.  
Mô-pô-li-sâng kya-la-yê. Sô-ha.  
Na-mô hưa-la ta-na-tô-la-yê-yê. Na-mô a-li-yê.  
Pô-lô-gê-tê. Kê-pân-la-yê. Sô-ha.  
Ôm. Xi-ten-tu man-tô-lô ka-thô-yê. Sô-ha.

---
# File: chan-ngon-than-chu/chu-thai-tue.md
# Title: Chú Thái Tuế
---

## Chú Thái Tuế

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b> Liên Sinh Hoạt Phật chỉ thị chú này không cần quán đảnh, khi đón Thái Tuế và an Thái Tuế có thể niệm.</span>

### Chú ngữ

Tam quang hách dịch chiếu phù lệnh, thiên thượng nhật nguyệt lai củng ứng, Nam Đẩu Bắc Đẩu thôi ngũ hành, úm Phật hiển linh sắc chân lệnh, bát quái tổ sư kì trung hình, ngọc chỉ phụng lệnh Thái Tuế năm …. Lư Siêu Tinh Quân đến đây trấn, thất tinh ngũ lôi hộ lưỡng biên, lục giáp thần tướng đáo tự tiền, lục đinh thiên binh thủ hậu doanh, thiên quan tứ phúc thần cộng giáng, chiêu tài tấn bảo tụ đương minh, đệ tử nhất tâm tam bái thỉnh, phụng thỉnh Tinh Quân bảo an ninh, trấn tự quang minh nhân tôn kính, hợp gia bình an vạn sự hưng, bảo mệnh hộ thân thả trấn trạch, trực niên Thái Tuế lai giáng lâm, cấp cấp như luật lệnh.

### Nghi quỹ an phụng (nghênh đón) Thái Tuế

Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư và đàn thành Tam Bảo. 

Vỗ tay, búng ngón tay. 

Quán tưởng truyền thừa Chân Phật Tông:  
Nam mô Đại Nhật Như Lai.  
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.  
Nam mô A Di Đà Phật.  
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.  
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.  
Quán tưởng Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát phóng quang gia trì. 

Trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 7 biến.

**1. Niệm chú thanh tịnh.**

**2. Niệm chú triệu thỉnh.**

Đệ tử nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật. (3 lần)

Nam mô … Thái Tuế Tinh Quân năm …. (3 lần)  
(Triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát Kim Cang của đàn thành và Thái Tuế Tinh Quân mới nhậm chức.)

**3. Chân Phật đại lễ bái.**

**4. Chân Phật đại cúng dường.**

**5. Niệm chú Tứ quy y.**

**6. Mặc bia giáp hộ thân.**

**7. Niệm Cao Vương Kinh.**

**8. Niệm chú vãng sinh.**

**9. Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng Liên Hoa Đồng Tử phóng tam quang bao trùm. Niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú (108 biến).**

**10. Hát tụng chú Thái Tuế.**

Tam quang hách dịch chiếu phù lệnh, thiên thượng nhật nguyệt lai củng ứng, Nam Đẩu Bắc Đẩu thôi ngũ hành, úm Phật hiển linh sắc chân lệnh, bát quái tổ sư kì trung hình, ngọc chỉ phụng lệnh Thái Tuế năm …. Lư Siêu Tinh Quân đến đây trấn, thất tinh ngũ lôi hộ lưỡng biên, lục giáp thần tướng đáo tự tiền, lục đinh thiên binh thủ hậu doanh, thiên quan tứ phúc thần cộng giáng, chiêu tài tấn bảo tụ đương minh, đệ tử nhất tâm tam bái thỉnh, phụng thỉnh Tinh Quân bảo an ninh, trấn tự quang minh nhân tôn kính, hợp gia bình an vạn sự hưng, bảo mệnh hộ thân thả trấn trạch, trực niên Thái Tuế lai giáng lâm, cấp cấp như luật lệnh.

**11. Hồi hướng:**

Nguyện đem công đức tu pháp tụng kinh hồi hướng cho Thái Tuế Tinh Quân năm …, cầu nguyện … Thái Tuế Tinh Quân phù hộ chúng con thân thể kiện khang, sự sự như ý, trừ bệnh tiêu tai, tiền đồ xán lạn, đạo tâm kiên có, phúc huệ tăng trưởng.

**12. Niệm Bách tự minh chú. (3 biến)**

**13. Chân Phật đại lễ bái.**

**14. Niệm chú viên mãn.**  
Om mani padme hum. 

Thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay.

Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.

(Chú ý: Câu “lục giáp thần tướng đáo tự tiền”, “trấn tự quang minh nhân tôn kính” trong chú Thái Tuế, nếu là phân đường, hội đồng tu, thì đổi chữ “tự” thành “đường”.)

---
# File: chan-ngon-than-chu/cuu-tu-chan-ngon-phap.md
# Title: Cửu tự chân ngôn pháp
---

![image](/img/img_19d393734926d54158770d272561439f.jpg)

## Cửu tự chân ngôn pháp

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">16/08/2020</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Cầu Vồng Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn  
Thời gian: N/A  
Địa điểm: N/A  
Biên dịch: Nhóm Upala

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị pháp Cửu tự chân ngôn của Bất Động Minh Vương

Tại Nhật Bản phổ biến Cửu tự thiết pháp (cửu tự quyết, áo nghĩa cửu tự quyết). Cửu tự thiết pháp <span className="note-blue">[pháp cắt hình chữ “cửu”]</span> là cắt như thế nào? Vẽ ấn tứ tung ngũ hoành, lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền (Sư Tôn thị phạm). Tứ tung chính là cắt dọc một, hai, ba, bốn (Sư Tôn thị phạm), ngũ hoành chính là cắt ngang năm đường. Kiếm đạo của Nhật Bản có cái gọi là “mễ tự thiết pháp” <span className="note-blue">[pháp cắt hình chữ “mễ” 米]</span>, cắt ở giữa, cắt ngang, cắt xéo, rồi lại cắt xéo, thế là thành chữ “mễ”, một, hai, ba, bốn nét chéo (Sư Tôn thị phạm). Về cơ bản, pháp cắt của đao võ sĩ chính là “mễ tự thiết pháp”. Hôm nay kiếm Bất Động Minh Vương mà chúng ta dùng chính là ấn tứ tung ngũ hoành, tức là bốn nét dọc, năm nét ngang, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, cũng chính là lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền.

Ấn thật sự tôi sẽ kết cho mọi người xem (Sư Tôn thị phạm). Nếu bạn kết kiếm ấn để vẽ ấn tứ tung ngũ hoành, Sư Tôn đặc biệt nói cho mọi người biết, ấn tứ tung ngũ hoành này của tôi hễ chỉ ra thì sẽ tự động biết vẽ (Sư Tôn thị phạm), đây là tự động vẽ ra đó, chỉ cần bạn dồn khí về ngón tay là tự nhiên sẽ vẽ ra ấn tứ tung ngũ hoành. Thường ngày, khi tôi giúp đệ tử bằng pháp cắt tứ tung ngũ hoành, cắt trên người họi, nếu như xuất hiện một phù hiệu thì cho thấy nghiệp chướng của người này rất nhẹ, nếu xuất hiện năm phù hiệu thì cho thấy nghiệp chướng của họ rất nặng. Bất kể là nặng hay nhẹ, chỉ cần dùng pháp cắt chữ thì có thể tiêu trừ được nghiệp chướng của họ, có một số người là bị bệnh nghiệp. 

Cơ bản nhất là các bạn trở về nhà thí nghiệm một chút, khi trẻ con khóc buổi đêm, trong nhà có trẻ con buổi tối khóc không dừng, cũng có thể dựa theo phương pháp này, vẽ “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” về phía đứa bé. Nếu đứa bé khóc do bị quấy nhiễu thì đứa bé sẽ không thể ngủ yên, đặc biệt là khi có linh khác đến quấy nhiễu, bạn vẽ ấn này xong thì linh đó lập tức rời đi, đứa bé sẽ không khóc nữa. Vì thế, chữa trẻ con khóc đêm là dùng phương pháp này.

Lớn thì đến trình độ nào? Bạn vẽ ấn tứ tung ngũ hoành về phía vong linh trong nhà xác, nếu dùng cách dồn khí để làm, có năm ấn thì biểu thị nghiệp chướng của họ rất nặng, có một ấn thì biểu thị nghiệp chướng của họ rất nhẹ. Tuy nhiên, việc bạn khoa tay vẽ giống như nổi lửa Hộ Ma, sẽ tiêu trừ toàn bộ nghiệp chướng của vong linh, rất dễ cởi bỏ những trói buộc của họ, để họ vãng sinh đến West Very Happy Buddha Country.

Đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, tôi không thích dùng danh từ riêng của Phật giáo, tôi dùng tiếng Anh của mình để nói, đây là tiếng Anh của người Trung Quốc chúng ta. Tiếng Anh của người Trung Quốc chúng ta, hay! Cho nên ấn tứ tung ngũ hoành, nhỏ thì có thể dừng trẻ con khóc đêm, lớn thì có thể làm cho vong linh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, có thể thấy là uy lực lớn đến mức nào.

Ngoài pháp cắt chữ Cửu tự chân ngôn ra, còn có “thân tự pháp”, ”thủ ấn pháp”, giống như thủ ấn tôi vừa kết, mọi người đã nhìn rõ chưa? Thật ra pháp Cửu tự chân ngôn, để tôi bỏ míc xuống đã (Sư Tôn thị phạm), “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”, đây chính là chín thủ ấn của “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”. Mọi người học Cửu tự chân ngôn thiết tự pháp là rất tốt. 

Nói chung, “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”, chữ “tiền” là dùng hai bàn tay đẩy ra, nếu là có ma, có quỷ, có mị, quỷ rất hung, ma rất hung, mị cũng rất hung, nhưng chỉ cần đụng phải Cửu tự chân ngôn thì cũng giống như có Đại Nhật Như Lai ở đó, và Bất Động Minh Vương hóa thân của Đại Nhật Như Lai thì càng hung hơn, có thể đuổi ma quỷ đi. Vì thế, có người bị chiếm thân, hay bị linh nhập gì đó, về mặt tinh thần thuộc loại bệnh cho quỷ thần quấy nhiễu, thì đều có thể dùng phương pháp này để trị. Bạn chỉ cần tương ứng với Bất Động Minh Vương thì uy vũ không thể khuất phục, cực kì có *power <span className="note-blue">[sức mạnh]</span>*, có pháp lực. Vị có sức mạnh nhất chính là Bất Động Minh Vương Kim Cang. Các bạn học được pháp này thì không chỉ như thế này, chỉ cần bạn tương ứng với Bất Động Minh Vương thì cực kì lợi hại, cuối cùng sẽ tức thân thành Phật, bạn có thể thành Phật. Bạn biết được tâm của Bất Động Minh Vương thì sẽ biết được tâm của mình, thì có thể nhìn thấy được tâm của mình, hiển hiện tâm của  mình, sau đó đầy ắp cả vũ trụ, trực tiếp tỉnh ngộ, thành tựu Phật quả. 

Khi bạn tu đến lúc tương ứng với Bất Động Minh Vương rồi, tương lai bạn có thể thành tựu Phật quả, Phật quả cao nhất. Mục đích chủ yếu chúng ta tu hành vẫn là thành tựu Phật quả, có thể thành Phật, đây là điều quan trọng nhất. Vì thế, pháp Bất Động Minh Vương có thể dạy bạn thành Phật, là pháp Kim Cang Minh Vương vĩ đại nhất. Cửu tự chân ngôn và pháp Bất Động Minh Vương tôi giới thiệu tới đây, mọi người đừng tùy tiện mà biết rồi bỏ qua. Chúng ta học pháp, chủ yếu nhất là bạn có duyên với vị nào, tuyệt đối đừng có đi lướt qua rồi thôi, nếu mà lướt qua rồi thôi thì đây là việc vô cùng đáng tiếc. Thật sự, sau khi bạn tu pháp Bất Động Minh Vương rồi, bạn không những thành tựu Bất Động Minh Vương mà còn tương đương với bạn trực tiếp thành Phật nữa.

### Trò hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh - Tập 38.

Ngày 16/8/2020 tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Lục Độ Mẫu, và khai thị Đạo Quả, bài giảng thứ 325. 

**Hỏi:** Sư Tôn cát tường, đệ tử muốn thỉnh thị Sư Tôn về từng chi tiết quán tưởng có liên quan đến pháp thủ ấn Cửu tự chân ngôn của Bất Động Minh Vương, rốt cục đã được quán đảnh rồi, nhưng lúc kết thủ ấn làm kết giới, trừ tứ tung ngũ hoành ra, khi kết chín thủ ấn này thì cần làm quán tưởng như thế nào? Cảm ơn Sư Tôn.

**Đáp:** Tôi nói để bạn biết, khi kết thủ ấn không nhất định phải quán tưởng, bạn chỉ cần quán tưởng Bất Động Minh Vương trụ đỉnh là đươcj rồi. Quán tưởng Bất Động Minh Vương trụ tại đỉnh đầu của bạn (ở trên đỉnh đầu). Bất Động Minh Vương trụ đỉnh, sau đó bạn kết thủ ấn, kết thủ ấn pháp Cửu tự chân ngôn. Mỗi lần tôi kết thủ ấn đều có “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” (Sư Tôn thị phạm từng thủ ấn). Đây chính là thủ ấn của Cửu tự chân ngôn đó. Mỗi lần tôi kết thủ ấn đều có “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” (Sư Tôn thị phạm từng thủ ấn).

Nếu bạn đặc biệt muốn quán tưởng thì có một quán tưởng đặc biệt. Khi bạn kết thủ ấn giơ lên đỉnh đầu này thì bản thân bạn có thể biến thành sư tử - sư tử vua của muôn loài thú, bạn hãy quán tưởng con sư tử này, hoặc không thì bạn quán tưởng Bất Động Minh Vương trụ đỉnh là được rồi, “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”. Ngoài ra còn có ấn tứ tung ngũ hoành, bốn nét dọc, năm nét ngang, một hai ba bốn (bên trái) năm nét ngang ở bên phải, ấn tứ tung ngũ hoành này tung ra, làm động tác “đẩy ra” (Sư Tôn thị phạm). “Lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” đẩy ra, thì ma quỷ kia, nếu như có ma quỷ ở trước mặt bạn, bạn hét lên “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền” rồi đẩy ấn tứ tung ngũ hành ra (Sư Tôn thị phạm), đẩy ra thì sẽ có sức mạnh có thể làm chấn động ma quỷ, chúng sẽ bỏ chạy.

Khi làm chín thủ ấn này, “lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền”, trong đó có một thủ ấn là tam sơn ấn, bạn có thể quán tưởng mình biến thành một con sư tử, sư tử là vua của muôn thú, tất cả linh động vật nhìn thấy vua của muôn thú thì đều chạy mất, con người cũng chạy luôn, con người nhìn thấy sư tử thì cũng chạy, ma quỷ nhìn thấy sư tử cũng sẽ chạy, yêu mị quỷ quái nhìn thấy sư tử cũng sẽ bỏ chạy. 

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

---
# File: chan-ngon-than-chu/dai-bao-quang-bac-lau-cac-thien-tru-bi-mat-da-la-ni-phap.md
# Title: Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni pháp
---

![image](/img/img_8f475ec7cd39398e7eeecc3c7b95c232.jpg)

## Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni pháp

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

Từng có ba vị tiên nhân Bà-la-môn sống trong khu rừng ở Bảo Sơn để tu hành. Vì phát đại bồ đề tâm nếu đắc chính quả, nguyện phổ độ tất cả hữu tình. Phật Thích Ca Mâu Ni biết chuyện liền đến trong không trung. Trong không trung, ngài hướng về ba vị tiên nhân tuyên thuyết “Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni”. Thế là ba vị tiên nhân liền tu hành pháp này. Tu đến cuối cùng, toàn thân của ba vị tiên nhân phát ra ba đường ánh sáng trắng, thế rồi ánh sáng xuyên vào trong đất. Chỗ ba đường ánh sáng xuyên vào trong đất đó mọc lên ba cây trúc, ba cây trúc này lớn lên mười tháng sau thì tự động tách ra, từ trong mỗi thân trúc có một đồng tử thân màu vàng kim chạy ra, tướng mạo trang nghiêm tuyệt diệu. Thế rồi ba vị kim đồng này ngồi tư thế kiết già bên dưới cây trúc, nhập vào chính định, liền thành tựu chính đẳng chính giác. Vị Phật thứ nhất tên là Ma Ni Bảo Hoa Tràng Vương Như Lai, vị Phật thứ hai tên là Chủng Chủng Ma Ni Như Lai, vị Phật thứ ba tên là Kim Cang Siêu Dũng Vương Như Lai. Còn ba cây trúc ở trong rừng đó đều biến thành ba tòa tháp trang sức bằng thất bảo. Đồng thời trong hư không lại hiện lên chữ vàng “Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni”. Lúc này thập phương chư Phật hiện lên tại không trung, tán thán sự vĩ đại huyền diệu của chú ngữ này.

Chú căn bản: “Nam-mô sa-ơ-wa. Ta-tha-ga-ta-na-mu. Ôm. Pây-pu-la-ka-ơ-bi. Ma-ni-pu-la-bi. Ta-tha-ka-tha. Ni-tia-ơ-sha-ni. Ma-ni-ma-ni. Su-pu-la-bi. Bi-ma-ni. Sha-ka-la. Can-pây-ni. Hùm-hùm. Chua-la-chua-la. Pu-ta-wa-yê lua-gưa-yê-tia. Gu-ha-yê. Ya-ti-chư-ta. Ka-ơ-bi. Sô-ha.”

Tâm chú: Ôm. Ma-ni. Ben-za. Hum.

Tùy tâm chú: Ôm. Ma-ni. Ta-lia. Hùm. Pây.

Tổng nhiếp tâm chú: Ôm. Ma-ni. Chưa-cha. Hùm.

Hành giả có thể tự chuẩn bị một tòa tháp thất bảo, bên trong tháp viết chú ngữ bằng tiếng Phạn, mỗi lần tu trì thì đặt tháp lên tay, có thể tăng tốc sức mạnh cảm ứng.

Pháp này không chỉ lợi ích tất cả chúng sinh hữu tình ở trong rừng mà cũng có thể lợi ích tất cả tứ sinh hữu tình. Nếu có thiện tri thức muốn tu pháp, nên đọc “Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni”, dùng chữ Phạn viết lên tràng phan, viết lên điện đường, viết lên giấy treo, viết lên cổng chào ở tất cả các nơi. Nếu có chúng sinh nhìn thấy, dùng tay chạm vào, thân thể chạm vào, hoặc ai nghe được âm thanh chú đó, thậm chí bụi rơi trên người đi qua, thì có thể tiêu trừ được các loại trọng tội.

![image](/img/img_d2900c48cabe039b7a8a2f19450ccdf9.png)

Người tu pháp này, thân hiện tại không chịu tất cả các bệnh khổ của thế gian, bệnh nghiệp đều được đẩy lùi và khỏi bệnh. Vì thế, “Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni” là chú ngữ huyền diệu và bất khả tư nghì. Chú này vốn là câu chú của Phật bộ, bắt nguồn từ bản tâm của Phật Thích Ca Mâu Ni, độ hóa ba tiên nhân. Người đời sau theo đây mà tu, tự đắc thành tựu tất cả.

---
# File: chan-ngon-than-chu/dai-luan-nhat-tu-da-la-ni-chu.md
# Title: Đại luân nhất tự đà-la-ni chú
---

![image](/img/img_a26a5d564bb82a7fd402e17acf6be39b.png)

## Đại luân nhất tự đà-la-ni chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

**Chú ngữ:** Ôm. Bờ-rôm. <span className="note-blue">[Om Bhrum]</span> <span className="note-blue">[Trong Chân Phật Tông thường được phát âm là Ôm bu-lin.]</span>

**Thủ ấn:**

Thứ nhất: ngón trỏ trái giơ thẳng, các ngón khác nắm lại, ngón cái đè lên ba ngón kia. Ngón trỏ phải cong lại, đè lên chóp ngón trỏ trái, bốn ngón tay kia nắm lại. 

Thứ hai: ngón trỏ trái giơ thẳng, các ngón khác nắm lại, ngón cái đè lên ba ngón kia. Ngón trỏ phải cong lại, đè lên chóp ngón trỏ trái, đầu ngón cái và ngón áp út phải chạm nhẹ vào ngón trỏ trái, hai ngón tay còn lại gập vào trong lòng bàn tay. 

**Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết:**

Có người hỏi tôi: “Om Bhrum là chú gì?”  
Tôi đáp: “Chú này là “tâm chú một chữ” trong Văn Thù Nghi Quỹ Kinh, còn gọi là “đại luân nhất tự chú”, nó được phát âm là “bờ-rôm” <span className="note-blue">[bu-lin]</span>.”

Lại hỏi: “Sau khi tu xong Chân Phật Mật Pháp, vì sao đều niệm chú này?”  
Tôi đáp: “Căn cứ theo kinh nói, nếu tụng tất cả chân ngôn, tu Mật pháp nhưng lo sợ rằng không thành tựu thì dùng chú này tụng sau cùng, tức là quyết định thành tựu. Nếu không thành tựu và không hiện linh nghiệm thì thần của chú này lập tức đầu sẽ bị vỡ làm bảy phần. Vì thế cần biết chú này có thể giúp tất cả chân ngôn mau đắc thành tựu.”

Hỏi: “Om Bhrum có công đức ra sao?”  
Đáp: “Ngoài có thể giúp tất cả chân ngôn mau đạt thành tựu ra, nếu tụng chú này, trong vòng năm trăm trạm dịch ở xung quanh, tất cả ác quỷ thần đều tháo chạy như bay, các sao xấu và các thiên ma cũng không dám đến gần. Và chú này lại giống như viên ngọc như ý, có thể thỏa mãn tất cả nguyện vọng, có thể hàng phục ác ma, có thể đẩy lùi tất cả ác chú của thế gian, có thể thí cho tất cả chúng sinh sự không sợ hãi, có thể dành cho tất cả chúng sinh niềm vui.”

Hỏi: “Vì sao Om Bhrum có công đức lớn như vậy?”  
Đáp: “Om Bhrum này là tâm của Văn Thù Bồ Tát, là đỉnh vô thượng của tất cả chư Phật.”

Nói về Đại luân nhất tự chú, thật ra chỉ là âm “Bhrum” mà thôi, còn “Om” có ý nghĩa là “cung kính quy y”. Bhrum mới là chú chính. Chú này tôi được Phổ Phương Thượng sư truyền thụ, vì thế mà tôi đặt nó làm câu chú sau cùng trong Chân Phật Mật Pháp, chủ yếu vẫn là để giúp tất cả chân ngôn mau đắc thành tựu và đạt hiệu ứng. Tại đây, chúng ta cần cảm tạ Phổ Phương Kim cương Thượng sư đã truyền thụ.

Còn nữa, cũng có người hỏi tôi, vì sao niệm ba biến “Om Bhrum” xong, lại còn niệm “Om mani padme hum” nữa. Tôi nói, Đại minh lục tự chân ngôn này ai ai cũng biết, muốn hiểu về chú Đại minh lục tự này thì có thể tự mình đọc kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương là sẽ hiểu. Sau cùng tụng chú này nghĩa là có vô lượng tam muội pháp môn, mau đắc quả vị Bồ Tát.

Tôi có thể nói thế này, toàn bộ vùng Tây Tạng đều niệm “Om mani padme hum” đó!

---
# File: chan-ngon-than-chu/dai-phat-dinh-thu-lang-nghiem-vuong-chan-ngon.md
# Title: Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn
---

## Pháp tu trì Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

### Chú ngữ

Tan-chi-tha. Ôm. A-na-lê. Vi-sa-thi. Bi-la. Pa-sa-la. Thua-li. Pan-thua-pan-thua-ni. Pa-sa-la. Bang-ni-ban. Hu-xin-tô-lu-yin-ban. Sô-ha.

### Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết của pháp tu

Tôi đã được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ ký, vì sao tôi lại được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ ký? Bởi vì tôi đã tu trì Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn. 

Ngày nay, hành giả Mật tông nếu muốn được chư Phật quán đảnh sờ đầu thọ ký thì phải dựa theo phương pháp của tôi mà thực tu. Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, pháp Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn có thể đạt được cái sờ đầu thọ ký của Phật.

Tuy nhiên, bày đàn pháp để tu trì pháp này là đặc thù nhất, cũng là khó nhất, trong cuốn sách “Hắc giáo hắc pháp” tôi từng kể một lần rồi, bây giờ tôi đặc biệt ghi ra như sau.

Phương thức lập đàn là một đàn thành hình bát giác, chu vi là một trượng sáu xích <span className="note-blue">[tương đương khoảng 5,3 mét]</span>, chọn nơi tàng phong tụ khí và đào xuống mặt đất năm xích <span className="note-blue">[khoảng 1,6 mét]</span>, lấy đất ở dưới lòng đất 5 xích, kết hợp với hương từ gỗ đàn hương, trầm thủy hương, huân lục hương, phong chi hương, thanh mộc, v.v…. cho thêm nước và trộn lẫn với nhau rồi trét lên mặt sân của đàn tràng (để làm thanh tịnh mặt sân). 

Ở trung tâm đàn thành phải dùng vàng, bạc, đồng, gỗ để làm thành bốn bông hoa sen, trong mỗi bông hoa sen đặt một cái bát, bên trong bát đựng đầy sương của tháng tám. Trong bát nước sương có bỏ cánh hoa. Ngoài ra, lấy tám chiếc gương tròn bày ở tám hướng, chiếu về phía nhau. Bên ngoài gương thì đặt hoa sen. Lại chuẩn bị thêm 16 lư hương. (Bố trí lư hương hoa sen.)

Trên bức tường bên ngoài chu vi đàn thành phải treo danh hiệu và chú ngữ của Phật Bồ Tát. Bên trong thì treo bảo tướng của tất cả thập phương tam thế Như Lai và thánh tượng của tất cả Bồ Tát, tướng của các vị Phật Bồ Tát đó bao gồm Lô Xá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật, Di Đà Phật, Di Lặc Tôn Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, và tượng của các đại Bồ Tát. Ngoài ra, hai bên trái phải bày Kim Cang Tạng Bồ Tát, điểm này rất quan trọng. (Bố trí pháp tướng trang nghiêm.)

Cửa hai bên để ra vào đàn thành bố trí Hỏa Đầu Kim Cang, Thanh Diện Kim Cang, Tứ Đại Thiên Vương, Vi Đà Hộ Pháp, tám đại Kim Cang Minh Vương, Đế Thích Thiên Vương hoặc Sơ Thiền Thiên Chủ. Cuối cùng còn phải dùng tám chiếc gương treo trên không trung, để cho gương ở trong đàn và gương ở trên không chiếu soi lẫn nhau, trở thành vô cùng vô tận. (Đây là pháp thiên chuyển luân bố trí Hộ Pháp Kim Cang và gương phản xạ.) 

Trước hết hành giả Mật tông phải bố trí xong đàn thành, sau đó phải học chú Lăng Nghiêm, thần chú tổng cộng có 427 câu, chú này được gọi là Vua Chú, là Phật Thích Ca Mâu Ni vì cứu A Nan tôn giả nên từ trong nhục kế trên đầu mình đã phóng ra hào quang bách bảo vô úy, trong ánh sáng tuôn ra hoa sen nghìn cánh, có một vị Như Lai ngồi trên hoa sen, vị Hóa Phật này chính là Đế Thù La Thi <span className="note-blue">[Tejorazi]</span>, ngoài ra còn xuất hiện hằng hà sa số Nội mật Bồ Tát và Kim cang thần, đầy khắp hư không.  
(Toàn văn của chú Lăng Nghiêm rất dài, nên tôi không ghi ra đây, xin tự đi đến chùa Phật để thỉnh.)

Cách tu trì như sau:

Trì tụng chú Lăng Nghiêm vào sáng sớm tinh mơ, khoảng 4 giờ. 4 giờ sáng tắm gội tịnh thân rồi nhập đàn, thắp lên các loại hương, chí thành đảnh lễ chư Phật Bồ Tát, sau đó đi nhiễu quanh đàn tụng chú. Đầu tiên tụng 1 biến hoặc 3 biến toàn văn chú Lăng Nghiêm, sau đó trì tụng chú ngắn (tâm chú) của chú Lăng Nghiêm.

Tan-chi-tha. Ôm. A-na-li. Vi-sa-thi. Bi-lua. Pa-sưa-lua. Thua-li. Ban-thua-ban-thua-ni. Pa-sưa-lua. Pang-ni-ban. Hu-xin-tô-lu-yin-ban. Sô-ha.

Chú ngắn có thể trì 108 biến.

Tụng chú xong, tĩnh tọa, tay kết ấn Đại Phật đỉnh.

Lúc này quán tưởng nguyệt luân của thập phương Phật phóng ra lọng quý, từng chiếc lọng quý hiện hình ở trong gương, hình thành vô lượng trùng trùng những chiếc ô trắng lớn di chuyển đến phía trên đầu hành giả, tự thân biến thành thân tâm minh tịnh như lưu ly. Quán tưởng này cần phải tu tập mỗi ngày, từng thứ một đều phải rõ ràng.

Tu tập pháp này 21 ngày, đến khi thân tâm minh tịnh của mình nhập định, thập phương Như Lai sẽ cùng xuất hiện, ở nơi ánh gương giao nhau, thập phương Phật sẽ hiện ra tay Phật để sờ đầu thọ ký cho hành giả Mật tông. Thậm chí có người có duyên Phật lớn, người kiếp trước có tu hành, người có căn khí lớn và sắc bén, chỉ cần tu trì pháp này, công phu đủ 100 ngày, lập tức đắc chứng tứ quả A La Hán. Vì thế, pháp này cũng là một trong số đại pháp vô thượng mật.

Tu tập pháp này, đương nhiên không chỉ được Phật đến sờ đầu thọ ký, thậm chí bất kì thiên ma nào cũng không có cách nào đến làm hại, vĩnh viễn biến thành không có ma sự, bởi vì nhờ sự hộ trì của Đại Phật Đỉnh Lăng Nghiêm nên tất cả đều có thể cát tường như ý, tất cả mọi độc cũng vĩnh viễn không thể chạm tới thân. Hành giả Mật tông có tám vạn bốn nghìn Kim Cang Thần bảo vệ từng giờ từng phút.

Pháp sư Hiển giáo không kết thủ ấn, không làm quán tưởng lọng quý sờ đầu, không nhập Tam ma địa, chỉ mỗi trì Đại Phật Đỉnh Lăng Nghiêm chân ngôn mà cũng có được công đức rất lớn, cũng sẽ có chúng thần bảo hộ, thì huống hồ có kết thủ ấn, lại có quán tưởng, nhập Tam ma địa, Phật nhất định sẽ đến sờ đầu thọ ký, tương lai nhất định thành Phật là điều không nghi ngờ gì.

Tôi được Phật Tổ sờ đầu khai đỉnh, tôi có “trên đầu hóa tay Phật”, nhận được sự phó thác của Phật, và rất nhiều người tu đạo thấy thế thì ghen tỵ, thật ra cũng không cần phải ghen tỵ với tôi. Tôi dạy mọi người pháp tu trì Đại Phật Đỉnh Lăng Nghiêm chân ngôn, người người cũng chắc chắn được Phật Tổ đến sờ đầu thọ ký. Chỉ cần kiền thành thực tu theo mật pháp mà tôi đã dạy, mười người tu, mười người được, trăm người tu, trăm người được, nghìn người tu, nghìn người được.

Trọng điểm của mật pháp này nằm ở bố đàn, nhất là ánh sáng gương giao nhau chính là pháp thiên chuyển luân, bí mật của hoa sen nghìn cánh nằm trong đó. Bố trí đàn pháp tốt thì Phật Bồ Tát nhất định vào lúc bạn dâng cúng sẽ giáng xuống pháp đàn và đi qua đi lại.

Tôi viết một bài kệ:  
*Đàn thành bát quái như đình gác  
Ánh gương phản chiếu Phật hiện hình  
Sờ đầu tâm linh tôn hình tướng  
Thân như lưu ly ở thiên đình.*

---
# File: chan-ngon-than-chu/dai-phat-dinh-thu-lang-nghiem-vuong-tam-chu.md
# Title: Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương tâm chú
---

## Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương tâm chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

### Chú ngữ

Ôm. A-na-lê. A-na-lê. Vi-sa-đa. Vi-sa-đa. Ban-đa. Ban-đa. Ban-đa-ni. Ban-đa-ni. Vê-ra. Va-zư-ra. Pa-ni. Phát. Hùm. Bờ-rừm. Phát. Sô-ha.

### Công đức của pháp

Thần chú Lăng Nghiêm tổng cộng có 427 câu, chú này có tên gọi là Vua Chú, là Phật Thích Ca Mâu Ni vì cứu A Nan tôn giả nên từ trong nhục kế trên đầu mình đã phóng ra hào quang bách bảo vô úy, trong ánh sáng tuôn ra hoa sen nghìn cánh, có một vị Như Lai ngồi trên hoa sen, vị Hóa Phật này chính là Đế Thù La Thi <span className="note-blue">[Tejorazi]</span>, ngoài ra còn xuất hiện hằng hà sa số Nội mật Bồ Tát và Kim cang thần, đầy khắp hư không.

Kinh Lăng Nghiêm viết: “Thập phương Như Lai vì tâm chú này mà đắc thành vô thượng chính biến tri giác. Chúng sinh thời mạt thế có thể tự trì tụng, lửa không thể thiêu cháy, nước không thể nhấn chìm, độc lớn độc nhỏ không thể làm hại. Tất cả ác chú đều không thể tiếp cận. Có thể khiến người phá giới được thanh tịnh giới căn. Khiến người không có trí huệ có được trí huệ. Tất cả nghiệp tội giống như nước sôi làm tan tuyết. Không bao lâu đều đắc ngộ vô sinh nhẫn. Sau khi mệnh chung, tùy nguyện mà vãng sinh thập phương tịnh thổ. Trì tụng chú này, hoặc mang theo người, cầu trai được trai, cầu gái được gái, cầu trường thọ được trường thọ, cầu quả báo viên mãn sẽ nhanh được viên mãn. Cũng có thể bảo hộ các tu hành giả nhập Tam ma địa thì không có ma oán đến làm hại.”

### Quán tưởng

Hành giả Chân Phật trì chú này có thể quán tưởng như sau:

Khi tụng chú, quán tưởng chủng tử “Brum” tiếng Phạn màu vàng kim yên vị tại đỉnh đầu hành giả, phóng quang phổ chiếu tất cả chúng sinh. 

Brum là chủng tử tự của Đại Nhật Như Lai Phật Đỉnh. 

### Ứng dụng yết ma

Chú này có công đức rất lớn, có lợi ích như sau:  
Kéo dài tuổi thọ.  
Không có ma oán.  
Cầu trai được trai, cầu gái được gái.  
Quả vị vô sinh pháp nhẫn.  
Tất cả độc thủy hỏa không thể làm hại.  
Trừ tất cả ác chú bùa ngải.  
Đắc trí huệ vô thượng.

---
# File: chan-ngon-than-chu/index.md
# Title: Chân ngôn thần chú
---

## Tổng tập chân ngôn - thần chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

**Ghi chú:** Thần chú ở đây được phiên âm Việt hóa theo khẩu âm của chính Sư Tôn khi đọc hoặc ghi chép câu chú đó.

*“Thần chú của Chân Phật Tông, đương nhiên lấy cách phát âm được truyền miệng từ vị Căn bản Thượng sư làm chuẩn, tại sao nhất định phải do Thượng sư truyền miệng? Nói một cách đơn giản, thần chú được Thượng sư truyền miệng mới có được lực gia trì chân thực của Thượng sư, mới có thể cùng Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật tạo ra sự cộng hưởng và hòa hợp.  
Nếu miệng tụng Phạn ngữ cổ, thì đương nhiên không phải là Chân Phật Tông.  
Miệng tụng Phạn ngữ hiện đại, thì đương nhiên cũng không phải là Chân Phật Tông.*

*Tụng bằng tiếng Indonesia, tiếng Thái, tiếng Tạng, tiếng Quảng Đông hoặc bất kì ngôn ngữ địa phương nào, hầu hết đều có sự lệch lạc, tất nhiên cũng lệch xa khỏi Chân Phật Tông.*

*Âm của thần chú rốt cuộc ai đúng ai sai? Trên dãy Himalaya có hàng trăm phương ngữ, người nào cũng nói mình đúng, người khác sai? Phạn âm cổ có thực sự đúng không? Có vẻ cũng không hẳn, bởi vì người Ấn Độ cổ đã chết hết từ lâu, Phạn âm cổ mà người hiện đại khôi phục qua khảo chứng, rốt cuộc có thể cổ đến mức nào, thật đáng nghi vấn.*

*Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật đã thân chứng cảnh giới thông qua việc trì tụng chân ngôn của mình cho nên chú âm truyền miệng của Liên Sinh Hoạt Phật chính là sự tiếp nối của chứng đắc. Nói cách khác, tôi đã thân chứng, vì thế bạn học theo cách phát âm của tôi đương nhiên sẽ không có sai sót, và chắc chắn sẽ nhận được sức mạnh bí ẩn của sự gia trì từ Thượng sư. Đây là ngữ mật của chư tôn thông suốt với ngữ mật của Thượng sư, rồi lại thông suốt với ngữ mật của các hành giả khác, tạo thành một dòng chảy liên tục.“* <span className="note-blue">[Trích lời Liên Sinh Hoạt Phật]</span>

## Danh sách chân ngôn thần chú

<div className="mantra-list">

- [Nguyệt Quang Bồ Tát trừ bệnh chú](/chan-ngon-than-chu/nguyet-quang-bo-tat-tru-benh-chu)
- [Nhật Quang Bồ Tát tránh ma chú](/chan-ngon-than-chu/nhat-quang-bo-tat-tranh-ma-chu)
- [Cửu tự chân ngôn pháp](/chan-ngon-than-chu/cuu-tu-chan-ngon-phap)
- [Cam lộ thủy chân ngôn](/chan-ngon-than-chu/cam-lo-thuy-chan-ngon)
- [An thổ địa chân ngôn](/chan-ngon-than-chu/an-tho-dia-chan-ngon)
- [Kim cang hỏa thần chú](/chan-ngon-than-chu/kim-cang-hoa-than-chu)
- [Quang minh chân ngôn](/chan-ngon-than-chu/quang-minh-chan-ngon)
- [Vũ bảo đà-la-ni - Vasudhara Mantra](/chan-ngon-than-chu/vu-bao-da-la-ni-vasudhara-mantra)
- [Chân ngôn Cọc kim cang](/chan-ngon-than-chu/chan-ngon-coc-kim-cang)
- [Cam Lộ Minh Vương chú và thủ ấn](/chan-ngon-than-chu/cam-lo-minh-vuong-chu-va-thu-an)
- [Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú](/chan-ngon-than-chu/phan-no-ton-bach-tu-minh-chu)
- [Phật thuyết An trạch đà-la-ni chú kinh](/chan-ngon-than-chu/phat-thuyet-an-trach-da-la-ni-chu-kinh)
- [Chú Thái Tuế](/chan-ngon-than-chu/chu-thai-tue)
- [Thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú](/chan-ngon-than-chu/thap-dia-bo-tat-ho-than-kim-cang-chu)
- [Đại luân nhất tự đà-la-ni chú](/chan-ngon-than-chu/dai-luan-nhat-tu-da-la-ni-chu)
- [Nhất tự kim luân Phật đỉnh pháp](/chan-ngon-than-chu/nhat-tu-kim-luan-phat-dinh-phap)
- [Nhất tự thanh tịnh chú pháp](/chan-ngon-than-chu/nhat-tu-thanh-tinh-chu-phap)
- [Thất Phật diệt tội chân ngôn thủ hộ pháp](/chan-ngon-than-chu/that-phat-diet-toi-chan-ngon-thu-ho-phap)
- [Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương tâm chú](/chan-ngon-than-chu/dai-phat-dinh-thu-lang-nghiem-vuong-tam-chu)
- [Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn](/chan-ngon-than-chu/dai-phat-dinh-thu-lang-nghiem-vuong-chan-ngon)
- [Tam muội da giới chân ngôn](/chan-ngon-than-chu/tam-muoi-da-gioi-chan-ngon)
- [Chú Đại bi và pháp gia trì nước](/chan-ngon-than-chu/chu-dai-bi-va-phap-gia-tri-nuoc)
- [Bất Không Mani cúng dường chân ngôn](/chan-ngon-than-chu/bat-khong-mani-cung-duong-chan-ngon)
- [Tam tự minh và Kim cang tụng](/chan-ngon-than-chu/tam-tu-minh-va-kim-cang-tung)
- [Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát](/chan-ngon-than-chu/nhu-y-luan-quan-tu-tai-bo-tat)
- [Trường Thọ Tam Tôn tâm chú](/chan-ngon-than-chu/truong-tho-tam-ton-tam-chu)
- [Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni pháp](/chan-ngon-than-chu/dai-bao-quang-bac-lau-cac-thien-tru-bi-mat-da-la-ni-phap)
- [Cam Lộ Quân Đồ Lợi chân ngôn](/chan-ngon-than-chu/cam-lo-quan-do-loi-chan-ngon)
- [Pháp Hỷ Kim Cang dừng mưa](/chan-ngon-than-chu/phap-hy-kim-cang-dung-mua)
- [Chân ngôn phát bồ đề tâm](/chan-ngon-than-chu/chan-ngon-phat-bo-de-tam)
- [Kim cang thọ mệnh chân ngôn](/chan-ngon-than-chu/kim-cang-tho-menh-chan-ngon)

</div>

---
# File: chan-ngon-than-chu/kim-cang-hoa-than-chu.md
# Title: Kim cang hỏa thần chú
---

## Kim cang hỏa thần chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Uy thần lực của chú Kim cang hỏa.

Chú Đại Phạm Thiên chính là chú này. Tụng thêm mặc giáp hộ thân để đánh ma quỷ tan tác.

Q3-1: Văn tập số 44 của Sư Tôn - cuốn “Phục ma bình yêu truyện”, chương “Thủ ấn mặc giáp hộ thân”, có nhắc đến “Sau này, tôi tu mặc giáp hộ thân còn đặc biệt gia trì thêm chú Kim cang hỏa, thì tôi thấy tấm màn kim sắc cháy lên ngọn lửa mãnh liệt, ngọn lửa này không phải là lửa thường, có thể thiêu đốt mọi ma quỷ. Có Thiên ma dùng tay chạm vào thì tay đều bị cháy xém thành than đen, nổi giận lôi đình, nhưng vẫn chẳng làm gì được tôi. Chỉ có làm như vậy thì tôi mới không bị tẩu hỏa nhập ma.” Tại đây liệu có cơ hội khẩn cầu Sư Tôn khai thị chú ngữ của chú Kim cang hỏa như thế nào không?

A3-1: Ồ, đúng là rất lâu rồi, cuốn “Phục ma bình yêu truyện”, hình như là tiểu thuyết võ hiệp. (Sư Tôn cười) Đây là câu hỏi thứ nhất: có ai biết chú Kim cang hỏa không? Thử tra xem chú Kim cang hỏa. Văn tập số 44 của tôi “Phục ma bình yêu truyện” - chương “Thủ ấn mặc giáp hộ thân”, có nhắc đến chú Kim cang hỏa.

(Thượng sư trình tư liệu lên cho Sư Tôn.) Dùng chú Đại Phạm Thiên là được, đây chính là chú Kim cang hỏa. Còn thủ ấn là ấn kim cang ba chấu, thủ ấn là ấn nội tam cổ kim cang. Chú ngữ là chú ngữ Đại Phạm Thiên là được. Đại Phạm Thiên chính là Brahma, chú Đại Phạm Thiên là “Ôm pê-cha bra-ma sô-ha”. Anh ấy hỏi chú ngữ như thế nào. Tôi trả lời rồi. Đã hiểu chưa? Đại Phạm Thiên ở chỗ kia (ống kính chiếu đến đàn thành Seattle Lôi Tạng Tự). Shiva, Brahma, Vishnu, ở tận cùng bên phải. Bên tay phải tôi là Shiva, bên tay trái là Brahma cùng với hai con thiên nga, bên dưới là Vishnu cùng với Garuda. Ba vị. Được rồi, tôi đã nói cho bạn biết rồi, chú Kim cang hỏa là “Ôm pê-cha bra-ma sô-ha”.

---
# File: chan-ngon-than-chu/kim-cang-tho-menh-chan-ngon.md
# Title: Kim cang thọ mệnh chân ngôn
---

![image](/img/img_351d9b51e97429de254e70991cf6f100.jpg)

## Kim cang thọ mệnh chân ngôn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Pháp bí mật kéo dài tuổi thọ này phải thờ cúng Hàng Tam Thế Minh Vương. Hàng Tam Thế Minh Vương là một trong năm đại Minh Vương, có ý kiến cho rằng ngài là hóa thân của Đông phương A Súc Phật, có ý kiến khác nói ngài là chủ thần của Bà-la-môn giáo, là hóa thân của Shiva. Pháp tướng của Hàng Tam Thế Minh Vương là bốn mặt, tám tay, có tướng hung bạo màu đen đại phẫn nộ, thông thường chân trái dẫm lên Đại Tự Tại Thiên, chân phải dẫm lên Thiên Phi Ô Ma. Bốn mặt của ngài thì mặt trước màu xanh, mặt phải mặt vàng, mặt trái màu lục, mặt sau màu đỏ. Râu tóc ngài đều có màu đỏ, để lộ răng sắc nhọn. Cánh tay trái phải thứ nhất kết ấn Hàng Tam Thế Minh Vương giữ trước ngực, tay phải thứ hai cầm chày, tay phải thứ ba cầm mũi tên, tay phải thứ tư cầm kiếm. Tay trái thứ hai cầm chuông, tay trái thứ ba cầm cung, tay trái thứ tư cầm dây thừng.

Người tu pháp này phải kết thủ ấn Hàng Tam Thế Minh Vương.

Trong đầu quán tưởng pháp tướng của Hàng Tam Thế Minh Vương, đầu tiên ngồi kiết già, nhắm mắt, hai tay kết ấn đặt trước ngực, đầu tiên quán tưởng một nguyệt luân ở không trung, trong nguyệt luân hiện ra năm cái chày kim cang, và năm chày này càng biến càng to, sau đó biến thành Hàng Tam Thế Minh Vương. Quán tưởng lúc này phải sáng tỏ rõ ràng, đến khi tất cả mọi quán tưởng đều rõ ràng rồi thì lại trì chân ngôn kim cang thọ mệnh là:

”Ôm pô-rư-la yu-sai sô-ha.”

Phải trì chân ngôn này 1080 biến.

Niệm chú xong lại quán tưởng các lỗ chân lông khắp toàn thân Hàng Tam Thế Minh Vương chảy ra cam lộ, những cam lộ này từ trong khoảng không trước mặt rơi xuống, trút vào trong người của hành giả Mật tông, từ đỉnh đầu đi vào thân tâm, khiến thân tâm được chắc khỏe. Hành giả Mật tông lúc này giống như trạng thái nhập Tam ma địa.

Sau khi xuất định, dùng chắp tay kim cang (thủ ấn tam xoa xử) đặt trên đầu, niệm:

”Ôm chân pô-rư-la yu” 7 biến.

Ấn vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, đủ năm chỗ. Chắp tay kim cang trở về trán rồi giải ấn. Ngay khi giải ấn thì quán tưởng chính mình đã mặc áo giáp, giống như kim cương bất hoại, tất cả những tai nạn nguy hại đến sinh  mạng đều rời bỏ mình mà đi, tất cả cái chết bất ngờ đều không xảy ra trên người mình.

Muốn được trường thọ, kéo dài tuổi thọ, tu pháp Hàng Tam Thế Minh Vương, chỉ cần tiến vào Tam ma địa kim cương trường thọ thì nhất định có thể kéo dài tuổi thọ, đắc kim cương bất hoại.

Trọng điểm của pháp này nằm ở cam lộ ánh sáng rơi ra từ xung quanh thân của Hàng Tam Thế Minh Vương, và hành giả Mật tông có được cam lộ ánh sáng này trút vào người, có thể tiêu trừ bách bệnh, có thể không còn tai nạn, trừ hết bệnh tật.

Khi cam lộ ánh sáng giống như mưa sao băng rơi xuống, hành giả Mật tông giống như được tắm trong ánh sáng Phật, có cảm giác hòa tan, có cảm giác vô cùng kiên cố, như thế là tương ứng.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nguyet-quang-bo-tat-tru-benh-chu.md
# Title: Nguyệt Quang Bồ Tát trừ bệnh chú
---

![image](/img/img_9941025b11ba2ccf5988bce68800deb4.jpg)

## Nguyệt Quang Bồ Tát trừ bệnh chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

**The Candraprabha’s Mantra**

Nhật Quang Bồ Tát còn gọi là Nguyệt Tịnh, Nguyệt Quang Biến Chiếu. Nguyệt Quang Bồ Tát là người hầu hạ bên phải của Dược Sư Phật ở Đông phương Lưu Ly Thế Giới, cùng với Nhật Quang Bồ Tát - người hầu hạ bên trái của Dược Sư Như Lai, là hai đại thị giả.

Dược Sư Như Lai, Nguyệt Quang Bồ Tát và Nhật Quang Bồ Tát, ba vị hợp lại gọi chung là Đông phương tịnh thổ Tam Thánh. Tương truyền, Dược Sư Như Lai và Nhật Quang, Nguyệt Quang Bồ Tát trong đời quá khứ vốn là cha con, từng ở chỗ của Điện Quang Như Lai chăm chỉ tu Phạm hạnh, được Điện Quang Như Lai dặn dò đổi tên thành Y Vương và Nhật Chiếu, Nguyệt Chiếu, phát đại nguyện vô thượng bồ đề, thề cứu lục đạo tất cả chúng sinh hữu tình xuất ly khổ luân hồi.

Nguyệt Quang Bồ Tát biểu thị tịch định, quang minh thấu triệt, thanh lương tịch tĩnh. Nguyệt Quang Bồ Tát có thể thu nạp rộng rãi vô vàn chúng sinh của đại thiên thế giới để tránh cho họ phải chịu phiền não bởi tham sân si. Kinh Dược Sư viết: “Ở trong nước ấy, có hai vị Bồ Tát Ma Ha Tát: một vị là Nhật Quang Biến Chiếu, một vị là Nguyệt Quang Biến Chiếu, là thượng thủ của vô lượng vô số Bồ Tát.” Trong số vô lượng vô số quyến thuộc của Dược Sư Phật, Nguyệt Quang Bồ Tát và Nhật Quang Bồ Tát chiếm vị trí là Bồ Tát trọng yếu thượng thủ, hai vị nắm giữ chính pháp bảo tạng của Dược Sư Như Lai. 

Nguyệt Quang Bồ Tát Đà-la-ni: “Samdheti tusutha ah jame ututha samkitha palautiyamejatha ututha kaulotitha kimotha svaha.” Đà-la-ni này xuất xứ từ Thiên Thủ Quan Âm Đại Bi Tâm Đà-la-ni Kinh. Chú này chính là trong quá khứ hằng hà sa số chư Phật đã nói, vì hộ trì các chúng sinh, trừ tất cả chướng nạn, trừ tất cả ác bệnh đau khổ, rời xa tất cả sợ hãi, thành tựu tất cả các pháp thiện. 

Hành giả lấy sợi dây ngũ sắc, cúng trước Phật, tụng chú ngữ Nguyệt Quang Bồ Tát. Sau đó đem sợi dây ngũ sắc để ở chỗ đau nhức, hoặc buộc ở chỗ đau… như thế nỗi khổ đau nhức có thể được giảm nhẹ, thậm chí hoá thành vô hình. Lực từ bi và lực trong mát của Nguyệt Quang Bồ Tát khiến cho con người kinh ngạc. Bởi thế pháp loại bỏ đau đớn dùng chú lực của Nguyệt Quang Bồ Tát là tối cao, người tu trì không thể không biết.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nhat-quang-bo-tat-tranh-ma-chu.md
# Title: Nhật Quang Bồ Tát tránh ma chú
---

![image](/img/img_93437079cf7b8910c41c8a1a844077f3.jpg)

## Nhật Quang Bồ Tát tránh ma chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

**The Suryaprabha Mantra**

Nhật Quang Bồ Tát, còn gọi là Nhật Quang Biến Chiếu, Nhật Diệu. Cùng với Nguyệt Quang Bồ Tát ở trong thế giới Lưu Ly thanh tịnh ở phương đông là hai đại thị giả của Dược Sư Phật, là hai vị Bồ Tát thượng thủ của vô lượng các Bồ Tát trong Phật quốc đó. 

Pháp tướng thông thường của Nhật Quang Bồ Tát là toàn thân màu đỏ thẫm, tay trái cầm mặt trời, phải cầm cành hoa dài màu đỏ thẫm, hoặc hoa nở bung, hoặc nở hé, hoặc chưa nở. 

Nhật Quang Bồ Tát có Mật hiệu là Uy Đức Kim Cang. Trong mandala Thai tạng giới, ngài trụ ở viện Địa Tạng, đây là vì ngài chưởng quản quang minh biến chiếu của Địa Tạng Bồ Tát, vì thế có công đức vô hạn. 

Trong mandala Thai tạng giới, hình tướng của ngài là: tướng của Bồ Tát, màu da, tay trái cầm cờ quý, tay phải kết ấn ban nguyện, ngồi trên hoa sen màu đỏ.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng xuất thần đến chỗ của Nhật Quang Bồ Tát, thành đó gọi là thành Nhật Quang. Thành rất rộng rãi, ngoài thành có sông lớn vây quanh. Cổng thành cao như trời, cảnh trí rất ngoạn mục. 

Cung điện của Nhật Quang Bồ Tát xung quanh được giăng cờ kinh ngũ sắc, rất sáng sủa và đẹp đẽ, rất hài hòa dễ chịu, lại có cảm giác rất vui tươi, cảnh sắc rực rỡ đó không có một chút vẩn đục nào. 

Có tiên ở trong hư không khẽ ngân nga hát, cảnh tượng kiều diễm vô cùng. Cả thành gần như là màu vàng kim, đặc biệt là cung điện của Nhật Quang Bồ Tát là đỉnh vàng cao sừng sững, tỏa sáng lấp lánh, màu sắc tươi sáng.

Nhật Quang Bồ Tát có một chú ngữ là: “Na mô pô thua chuy na mi. Na mô ta ma mô hưa ti. Na mô sâng kya tô yê ni. Ti li pu pi chang chu zen na ma.”

Nếu ở trước Phật, tụng một câu chú, lạy Phật một lạy, Nhật Quang Bồ Tát hộ trì người này tu hành, phóng ánh sáng chiếu đến người này, tất cả âm ma không thể xâm phạm, tức là bạn đi đến đâu, ánh sáng mặt trời sẽ chiếu đến đó, khiến ma không thể vào được. 

Chỉ cần sáng tối niệm chú ngữ của Nhật Quang Bồ Tát 3 biến, hướng về Phật lạy 3 lạy, chỉ tu trì đơn giản như vậy thôi, vào đời vị lai, người đó sẽ được sinh ra với tướng vô cùng đoan chính, hơn nữa phúc khí cát tường, đường làm quan hanh thông, hưởng thụ mọi phú quý. Nếu là phụ nữ thì chắc chắn xinh đẹp, tôn quý như vợ vua, trí huệ hơn người.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nhat-tu-kim-luan-phat-dinh-phap.md
# Title: Nhất tự kim luân Phật đỉnh pháp
---

![image](/img/img_afb53e54eaec949887f193f0d68c269b.jpg)

## Nhất tự kim luân Phật đỉnh pháp

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

**Chú ngữ:** Brum.

**Thủ ấn:** Ấn trí quyền (thủ ấn Kim Cương Giới Đại Nhật Như Lai)

Tay trái nắm lại, giơ ngón trỏ lên.  
Năm ngón tay phải nắm lấy ngón trỏ tay trái, ngón cái đè lên trên đỉnh của ngón trỏ tay trái.

**Quán tưởng:** "Trong sát-na, từ bánh xe trí huệ biến thành thân Kim Cang Luân Vương Biến Chiếu Như Lai, thân hình ngài như trăng sáng, đầu đội mũ miện kim cang, những lọn tóc vòng tròn là đồ trang sức, tất cả tướng tốt, có đủ mọi trân bảo trang nghiêm, giữ đại ấn trí quyền, pháp tọa của ngài là bạch liên hoa tọa nhật luân sư tử.”

**Lợi ích tu pháp:**

Nếu có người thành tâm thành ý tu trì pháp này, cho dù là người mắc bệnh nặng như điên khùng hay câm điếc, đều có thể khỏi bệnh, sinh đẻ cũng được bình an. Công đức của pháp này vô cùng lớn, hơn nữa còn thù thắng quảng đại.

"Trong sát-na, từ bánh xe trí huệ biến thành thân Kim Cang Luân Vương Biến Chiếu Như Lai, thân hình ngài như trăng sáng, đầu đội mũ miện kim cang, những lọn tóc vòng tròn là đồ trang sức, tất cả tướng tốt, có đủ mọi trân bảo trang nghiêm, giữ đại ấn trí quyền, pháp tọa của ngài là bạch liên hoa tọa nhật luân sư tử.”

**Nghi quỹ:**

Tu trì pháp Nhất tự kim luân Phật đỉnh có thể dựa theo:

1. Nhất tự kỳ đặc Phật đỉnh kinh.

2. Nghi quỹ niệm tụng Nhất Tự Đỉnh Luân Vương.

3. Nhất Tự Phật Đỉnh Luân Vương kinh.

4. Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Du Già kinh.

5. Pháp niệm tụng Kim Luân Vương Phật Đỉnh yếu lược.

6. Kim Cương Đỉnh kinh Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Du Già - nghi quỹ niệm tụng thành Phật mọi lúc mọi nơi.

7. Đại Đà-la-ni Mạt Pháp Trung Nhất Tự Tâm Chú kinh.

Thủ ấn là: Trí quyền đại ấn.

Quán tưởng là: "Trong sát-na, từ bánh xe trí huệ biến thành thân Kim Cang Luân Vương Biến Chiếu Như Lai, thân hình ngài như trăng sáng, đầu đội mũ miện kim cang, những lọn tóc vòng tròn là đồ trang sức, tất cả tướng tốt, có đủ mọi trân bảo trang nghiêm, giữ đại ấn trí quyền, pháp tọa của ngài là bạch liên hoa tọa nhật luân sư tử.”

Chú ngữ là: Brum.

Chú này và Đại Nhật kim luân, Thích Ca kim luân là bản thể đồng nhất, hơn nữa còn có liên quan đến chú Phật Nhãn Phật Mẫu, kinh nói rằng: “Đại thiện nam tử, nếu nơi sở tại có người trì chú Phật đỉnh này, năm trăm do tuần xuất thế tại thế gian tất cả chú vương đều không thành trụ.”

Lại nói: “Tất cả các đại Bồ Tát thập địa cũng khiếp sợ thần lực uy đức của chú này, huống hồ là chư thiên có uy lực nhỏ. Nếu thường xuyên tụng chú Nhất tự Phật đỉnh luân vương, mỗi lần trước khi tụng thì niệm đủ bảy biến chú Phật Nhãn, rồi an tâm tụng chú Nhất tự Phật đỉnh luân vương cho đến khi đủ số biến, lại tụng bảy biến chú Phật nhãn, như vậy sẽ được an ổn, không có gì phải lo lắng.”

Pháp Nhất tự kim luân Phật đỉnh này là một trong sáu đại Mật pháp của Đài mật, nếu có người thành tâm thành ý tu trì pháp này, cho dù là người mắc bệnh nặng như điên khùng hay câm điếc, đều có thể khỏi bệnh, sinh đẻ cũng được bình an. Công đức của pháp này vô cùng lớn, hơn nữa còn thù thắng quảng đại.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nhat-tu-thanh-tinh-chu-phap.md
# Title: Nhất tự thanh tịnh chú pháp
---

## Nhất tự thanh tịnh chú pháp

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

**Chú tự:** Hum (màu lam)

**Thủ ấn:** Thân ấn (Tỳ Lô thất chi tọa)

**Công đức tu pháp:** 

Chữ Hum này có tác dụng lớn, nó có thể thanh trừ tất cả nghiệp chướng. Bạn chỉ niệm mỗi chữ Hum này thì đã là chú ngữ rồi, đây là chú ngữ rất vĩ đại. Bạn có biết không? Trong hai mươi cõi trời của chư Thiên, một chú ngữ của họ chính là chữ Hum này mà thôi, chính là chữ này. Đây gọi là pháp thanh tịnh vi diệu nhất. Chỉ tu mỗi chữ này thôi, nếu bạn tu thành thì cũng cực kì đó, Phật Bồ Tát đều có thể hợp nhất với bạn.

Pháp của Mật giáo rất vi diệu, chỉ tu mỗi chữ Hum này đã có tác dụng rồi, tác dụng mà nó sản sinh ra có thể tiêu trừ rất nhiều nghiệp chướng, tất cả nghiệp chướng đều tiêu trừ sạch sẽ. Bản thân bạn hóa thành chữ Hum màu lam thanh tịnh, trong vũ trụ này, chữ Hum màu lam và bạn hoàn toàn hợp nhất. Pháp này cũng có thể trị bệnh, cũng có thể tiêu nghiệp chướng, gia tăng phúc phần, cũng có thể thành Phật. Đến lúc đó bạn hô lên "Hum" một cái, toàn bộ vũ trụ vỡ nát, thế là bạn thành Phật rồi - "Hum!"

**Quán tưởng:**

Bây giờ tôi dạy mọi người một pháp thanh tịnh. Chúng ta dùng chữ "Hum" màu xanh lam ở trong tâm chính mình để cho hoa sen đứng thẳng. Hô một tiếng "Hum", từ lỗ mũi bên phải đi ra một chữ "Hum" đến trước mặt bạn, "Hum hum hum...". Từ chữ "Hum" mẹ này lại sinh ra một số chữ "Hum" con biến thành cả một đống chữ "Hum" bao vây lấy bạn, bao quanh toàn bộ căn phòng, đầy ắp cả ba nghìn đại thiên thế giới, toàn bộ đều là chữ "Hum" màu xanh lam.

Lúc này, bạn phải niệm Hum hum hum... liên tục phát ra âm thanh, chữ "Hum" từ lỗ mũi của bạn đi ra giống như một tấm màn chú tự, chữ này nối với chữ kia, đầy ắp cả đại thiên thế giới, trở thành một chữ "Hum" lớn màu lam. Lúc này bạn quán tưởng: toàn bộ vũ trụ đều bị chữ "Hum" này che kín hết.

Tiếp theo, bạn dùng lỗ mũi trái lại hít những chữ "Hum" này vào, hít chữ "Hum" màu xanh lam vào, "Hum hum hum...", đi vào bên trong thân thể bạn, bao gồm ngón tay, ngón chân, những nơi vi tế nhất, toàn bộ đều tràn đầy chữ "Hum" màu lam. Sau cùng chính mình biến thành một chữ "Hum" lớn màu lam.

Trì chú và quán tưởng như vậy, đây là một pháp thanh tịnh rất vi diệu. Nói cách khác là lúc này toàn bộ thân tâm của bạn hoàn toàn thanh tịnh rồi, bản thân biến thành chữ "Hum", toàn bộ vũ trụ biến thành chữ "Hum", một trạng thái "Hum" và "Hum" hợp nhất.

**Sư Tôn truyền tâm yếu khẩu quyết tu pháp:**

Bạn biết chữ "Hum" này, tôi từng nói về pháp Nhất tự thanh tịnh rồi, rất hữu dụng đó. Bạn quán tưởng chính mình thành chữ "Hum" chính là thanh tịnh rồi, bạn quán tưởng chữ "Hum" có thể đi ra ngoài, thế rồi nếu biến toàn bộ vũ trụ thành chữ "Hum", vậy thì toàn bộ vũ trụ tất cả đều thanh tịnh. Pháp Nhất tự thanh tịnh này, chữ "Hum" từ thân thể bạn đi ra, vậy thì đến đỉnh một ngọn núi rất cao hay là xuống tận đáy biển bạn đều có thể đi được. Sau khi bạn tu thành tựu rồi, dùng chữ "Hum" này để quán tưởng, quán tưởng chữ này đi đến đâu thì bạn thật sự có thể đi tới đó được, khi thật sự thành tựu là như vậy đó. Toàn bộ vũ trụ bạn đều có thể biến thành một chữ "Hum", bao gồm chính bạn cũng biến thành chữ "Hum", đây chính là quán tưởng Nhất tự thanh tịnh chữ "Hum".

Chữ "Hum" này là tiếng Phạn, tiếng Tạng, có pháp lực rất lớn. Chữ "Hum" có pháp lực rất lớn như vậy, cho nên hai chữ "Hum" này là pháp Bảy ngày vãng sinh của Mật giáo, cũng là pháp thành Phật, việc tu hành này vô cùng quan trọng, có thể quán tưởng đến mức nhất tâm bất loạn thì đây chính là khẩu quyết chân chính.

---
# File: chan-ngon-than-chu/nhu-y-luan-quan-tu-tai-bo-tat.md
# Title: Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát 
---

![image](/img/img_886ab6c403cd82bf8cdfed71d2791f5d.png)

## Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Giới thiệu pháp tướng Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát

Bồ Tát có sáu tay, thân màu vàng kim, ngồi trong nguyệt luân. Trên đầu, nơi búi tóc có đội mũ miện trang nghiêm, trên mũ miện có A Di Đà Phật trụ tướng thuyết pháp. Bên phải, tay thứ nhất làm tướng tư duy, biểu thị thương nhớ tất cả chúng sinh hữu tình; tay thứ hai cầm bảo châu như ý, biểu thị có thể thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh; tay thứ ba cầm chuỗi hạt, biểu thị có thể cứu độ khổ của bàng sinh. Bên trái, tay thứ nhất đè lên quang minh sơn, ý rằng có thể thành tựu tín niệm của chúng sinh không dao động; tay thứ hai cầm hoa sen, vì hoa sen được ví với sự thuần khiết, biểu thị có thể tịnh trừ pháp bất chính của thế gian; tay thứ ba cầm bảo luân, biểu thị có thể chuyển vô lượng pháp luân, vì thế ngài còn được gọi là Như Ý Luân. Sáu tay biểu thị có thể đi tới lục đạo, dùng tâm đại bi để đoạn trừ khổ của chúng sinh hữu tình.

![image](/img/img_6f103f16862150624e13b4d767f94f21.jpg)

Chủng tử: chữ Seh màu vàng kim.  
Thủ ấn: Ngón cái giơ thẳng chạm vào đầu ngón trỏ, ngón giữa giơ thẳng chạm đầu vào nhau, ngón áp út và ngón út duỗi thẳng đan chéo nhau.  
Chú ngữ: Ôm wa-la-ta pô-thô-mi hùm

### Pháp ngữ khai thị trân quý của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - lai lịch của Như Ý Luân Quán Tự Tại Bồ Tát và lợi ích tu pháp

Như Ý Luân Quan Âm có mật hiệu là Trì Bảo Kim Cang, là một trong những biến hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Như Ý Luân Quan Âm có sáu cánh tay là hình tượng được người đời thờ cúng rộng rãi. Căn cứ theo ghi chép trong “Quán Tự Tại Như Ý Luân Bồ Tát du già pháp yếu”, Bồ Tát có thân màu vàng kim, ngồi trong nguyệt luân. Trên đầu, nơi búi tóc có đội mũ miện trang nghiêm, trên mũ miện có A Di Đà Phật trụ tướng thuyết pháp. Bên phải, tay thứ nhất làm tướng tư duy, biểu thị thương nhớ tất cả chúng sinh hữu tình; tay thứ hai cầm bảo châu như ý, biểu thị có thể thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh; tay thứ ba cầm chuỗi hạt, biểu thị có thể cứu độ khổ của bàng sinh. Bên trái, tay thứ nhất đè lên quang minh sơn, ý rằng có thể thành tựu tín niệm của chúng sinh không dao động; tay thứ hai cầm hoa sen, vì hoa sen được ví với sự thuần khiết, biểu thị có thể tịnh trừ pháp bất chính của thế gian; tay thứ ba cầm bảo luân, biểu thị có thể chuyển vô lượng pháp luân, vì thế ngài còn được gọi là Như Ý Luân. Sáu tay biểu thị có thể đi tới lục đạo, dùng tâm đại bi để đoạn trừ khổ của chúng sinh hữu tình.

Như Ý Luân Quan Âm có đại thần chú, gọi là “Đại Liên Hoa Chiên Đàn Mani Tâm Luân Như Ý Bảo Luân Vương Đà-la-ni”. Sức mạnh uy thần của pháp này giống như cây báu mani và bảo châu như ý, có thể khiến cho tất cả báu vật rơi xuống như mưa, thỏa mãn nguyện vọng của chúng sinh, có thể đắc xuất thế và của cải của thế gian. 

Chú ngữ của Như Ý Luân Quan Âm có chú dài, đại tâm chú, tùy tâm chú, chủ yếu căn cứ theo “Phật Thuyết Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Tâm Đà-la-ni Kinh” thì tùy tâm chú của ngài là: “Ôm wa-la-ta pô-thô-mi hùm.”

Tụng chú này một biến, lập tức có thể miễn trừ tội nạn, thành tựu sự nghiệp. Nếu ngày ngày trì tụng 108 biến, A Di Đà Phật tự hiện thân, cũng nhìn thấy đủ tướng trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, và nhìn thấy các Bồ Tát ở thế giới Cực Lạc, cũng nhìn thấy tất cả chư Phật mười phương, cũng nhìn thấy tịnh thổ mà Quan Thế Âm Bồ Tát cư ngụ, đắc tự thân thanh tịnh, liên hoa hóa sinh, có đủ mọi tướng, không đọa ác đạo mà thường sinh trước Phật.

Căn cứ theo ghi chép trong “Như Ý Luân Đà-la-ni Kinh”, phẩm “Đàn Pháp”, mandala Như Ý Luân phân thành Nội viện và Ngoại viện, còn gọi là “Bí Mật Như Ý Luân Đà-la-ni Đại Mandala Ấn Tam Muội Da”. Trong kinh ghi rằng: “Mandala tam muội da bí mật này, người chưa đủ lực chỉ vẽ chỗ ngồi, viết tên lên từng vị trí, làm pháp cúng dường cũng sẽ được thành tựu.” Mandala tam muội da bí mật này là nơi mà Thánh Quán Tự Tại hiện thân và nguyện, là nơi mà tất cả chư thiên thần tiên cung kính tán thán thủ hộ, là nơi các hữu tình được miễn trừ tất cả tội chướng, là nơi thành tựu hai loại thuốc thế gian và xuất thế gian. Tăng trưởng tích phúc, khi mệnh chung sẽ được vãng sinh đến cõi Tây phương Cực Lạc, liên hoa hóa sinh, mặc thiên y và tự mình trang nghiêm, nhận thức được túc mệnh trí và thậm chí bồ đề, không đọa ác đạo.”

---
# File: chan-ngon-than-chu/phan-no-ton-bach-tu-minh-chu.md
# Title: Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú
---

## Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">28/07/2019</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Tông Ủy Hội thông báo pháp vụ

**Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú**

1. Khởi nguồn:  
Ngày 28/07/2019, khi Liên Sinh Hoạt Phật khai thị Đạo Quả, lần đầu tiên truyền pháp hoàn tịnh bằng Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú. Nay xin chỉnh lý Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú và những việc có liên quan cần chú ý như sau. 

2. Chú văn: 

Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú - Chú dài (hành giả nam dùng)

Ôm pê-cha hây-lu-ka sa-ma-ya. Ma-nu-pa-la-ya.  
Hây-lu-ka tê-nu-pa-ti-cha. Chưa-chô-mê-pa-wa.  
Su-tô ka-yu mê-pa-wa. Su-pu ka-yu mê-pa-wa.  
An-nu ra-tô mê-pa-wa. Sa-ơ-wa. Sit-đi. Mê-pu-ra-ya-cha.  
Sa-ơ-wa. Ka-ơ-ma. Su-cha-mê. Chi-ta-mu.  
Si-ri-rân ku-ru-hùm. Ha-ha ha-ha hơ.  
Pa-ka-wân. Pê-cha hây-lu-ka ma-mê-mân-cha.  
Hây-lu-ka-pa-wa. Ma-ha sa-ma-ya. Sa-tô-ah. Hùm pây.

Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú - Chú dài (hành giả nữ dùng)

Ôm pê-cha ta-chi-ni hây-lu-ka sa-ma-ya. Ma-nu-pa-la-ya.  
Ta-chi-ni hây-lu-ka tê-nu-pa-ti-cha. Chưa-chô-mê-pa-wa.  
Su-tô ka-yu mê-pa-wa. Su-pu ka-yu mê-pa-wa.  
An-nu ra-tô mê-pa-wa. Sa-ơ-wa. Sit-đi. Mê-pu-ra-ya-cha.  
Sa-ơ-wa. Ka-ơ-ma. Su-cha-mê. Chi-ta-mu.  
Si-ri-rân ku-ru-hùm. Ha-ha ha-ha hơ.  
Pa-ka-wân. Pê-cha ta-chi-ni hây-lu-ka ma-mê-mân-cha.  
Ta-chi-ni hây-lu-ka-pa-wa. Ma-ha sa-ma-ya. Sa-tô-ah. Hùm pây.

3. Thánh Tôn chỉ thị các việc cần chú ý

(1) Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú có thể dùng để sám hối, tịnh trừ hành giả Chân Phật đã vi phạm 14 giới đọa cơ bản của Mật giáo và các giới samaya đã phạm.

<span className="note-red">(2) Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú phải được quán đảnh mới có thể trì tụng. (Có thể gửi thư cầu Thánh Tôn quán đảnh từ xa.)</span>

(3) Cho dù là hành giả Chân Phật mới quy y, sau khi nhận quán đảnh Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú xong, nếu có vi phạm giới samaya, cũng có thể niệm chú này để hoàn tịnh.

(4) Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú này nam nữ hành giả đều có thể trì tụng, nhưng hành giả nữ khi trì tụng, trước mỗi cụm “hây-lu-ka” đều phải trì thêm “ta-chi-ni”. (Tức là Không hành mẫu - Dakini.)

(5) Khi trì Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú, không cần có quán tưởng đặc biệt, nhưng phải chuẩn bị cúng phẩm cúng dường, các loại cúng phẩm chỉ cần là cúng phẩm thường ngày cúng Phật là được.

(6) Nếu phạm giới samaya và muốn hoàn tịnh, chí ít phải thành tâm trì niệm 200 biến Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú hoặc hơn, hồi hướng cho tội đã phạm được tiêu trừ.

(7) Trong Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú, tuy rằng cụm từ “hây-lu-ka” chỉ xuất hiện 4 lần, Thánh Tôn khai thị điều này cũng được.

(8) Bách tự minh chú mà bình thường đệ tử Chân Phật trì tụng gọi là Tịch tĩnh tôn Bách tự minh chú, cùng với Phẫn nộ tôn Bách tự minh chú đều có sự bổ khuyết cho nhau, có công đức tịnh trừ lỗi lầm và tội chướng, nhưng bình thường lúc tu pháp vẫn dùng Tịch tĩnh tôn Bách tự minh chú là chính.

Tông Ủy Hội Chân Phật Tông thế giới trân trọng thông báo.

---
# File: chan-ngon-than-chu/phap-hy-kim-cang-dung-mua.md
# Title: Pháp Hỷ Kim Cang dừng mưa
---

![image](/img/img_c53c15416a48274f8ba129f89b7a18ac.jpg)

## Pháp Hỷ Kim Cang dừng mưa

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Bây giờ nói ngược lại, Phật Thích Ca Mâu Ni nói, nếu như là nạn lũ lụt thì sao? Mưa quá nhiều thì phải làm sao? Trời mưa không ngớt thì có pháp dừng mưa. Pháp dừng mưa này là như thế này. Lấy một bộ quần áo của người chết. Ở Ấn Độ, người chết đều dùng vải để quấn, sau đó thì hỏa thiêu. Bạn đi đến sông Hằng, ở thành cổ Varanasi bên bờ sông Hằng, đó là tổng bộ của Ấn Độ giáo, có một lò hỏa táng cạnh sông Hằng. Ở đây lò hỏa táng không dùng điện như chúng ta mà là dùng gỗ xếp lên, đặt người chết bên trên rồi châm lửa. Ở bên cạnh sông Hằng là hỏa thiêu như vậy, sau khi thiêu xong thì nhặt tro xương, những thứ còn lại thì đều quét xuống sông. Chúng tôi có ngồi thuyền đi xem lò hỏa thiêu, khu hỏa thiêu đó xếp thành hàng, thi thể cũng xếp thành hàng, toàn bộ đều dùng vải trắng để bọc lại.

Kiểu vải đó rất hữu dụng, có nạn lũ lụt, trời mưa không dừng, lấy một tấm vải bọc thi thể này, hoặc là lấy một mảnh từ vải bọc tử thi, một mảnh cũng được, hành giả ngồi trên mảnh vải này, trong sát-na bạn biến thành Hỷ Kim Cang, đó gọi là “đối sinh”. Khi chúng ta tu Mật pháp có cái gọi là “đối sinh”. Khi tu pháp, trước mặt xuất hiện Hỷ Kim Cang, đây gọi là đối sinh, đôi khi cũng gọi là tự sinh, tự sinh tức là thân thể của chính mình. 

Dùng chú tự của Hỷ Kim Cang, trong tâm trong tích tắc bạn biến thành Hỷ Kim Cang, tay bạn phải kết thủ ấn Hỷ Kim Cang, bạn phải nghĩ tay mình đều cầm kapala, đầu bạn biến thành đầu của Hỷ Kim Cang, thân thể biến thành thân của Hỷ Kim Cang. Sau đó, chân dẫm lên bốn ma, chính mình biến hóa thành Hỷ Kim Cang, pháp biến hóa này gọi là tự sinh. Biến chính mình thành Hỷ Kim Cang thì gọi là tự sinh. Còn đối sinh là Hỷ Kim Cang trụ trong hư không. Sau đó niệm chú dừng mưa: “Ôm. Ta chính là Hỷ Kim Cang. Sắc lệnh dừng mưa ngay! Hùm-hùm-hùm fa-cha sô-ha.” Chú ngữ này rất dễ niệm, bởi vì những câu này đều như lời nói thông thường, trực tiếp đọc lên.

---
# File: chan-ngon-than-chu/phat-thuyet-an-trach-da-la-ni-chu-kinh.md
# Title: Phật thuyết An trạch đà-la-ni chú kinh
---

![image](/img/img_b5ee338110cf6276bb7b21e7843ded26.jpg)

## Phật thuyết An trạch đà-la-ni chú kinh

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở tại tinh xá Cấp Cô Độc trong rừng Kỳ Đà ở nước Xá Vệ, cùng các đại tì kheo là một nghìn hai trăm năm mươi người, các đại Bồ Tát là bốn vạn người, chủ của thế giới Đại Phạm Thiên Vương, Thích Đề Hoàn Nhân, Tứ Đại Thiên Vương. Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương, Tỳ Lâu Lặc Xoa Thiên Vương, Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương, Bì Sa Môn Thiên Vương. Hai mươi tám bộ quỷ sư đại tướng quân. Như vậy các chư Thiên, tám vạn bốn nghìn A Lợi Đa, cùng các con và quyến thuộc đều đến để tụ hội. 

Khi ấy, cách cõi Phật này mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Chúng Hoa, Đức Phật nơi ấy hiệu là Tối Thắng Đăng Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Giác Phật Thế Tôn, nay hiện đang thuyết pháp, phái hai vị Bồ Tát, một là Đại Quang, hai là Vô Lượng Quang và bảo rằng: “Thiện nam tử, các ông mang đà-la-ni chú này đến thế giới Ta Bà trao cho Phật Thích Ca Mâu Ni, chú này có nhiều lợi ích, có thể khiến cho chúng sinh đêm dài được yên ổn, có được điều thiện, lợi ích, sắc đẹp, sức mạnh, danh dự.” Ngài liền nói chú rằng: “Tô-tê-ya-tha pô-lô-su-li su-li su-li-li-sa-ma-ti ma-ha-sô-ma-ti sô-man-ti ma-ha-sô-man-ti sô-li sô-lô-li sô-ha.”

Khi ấy hai vị Bồ Tát từ nơi Phật nhận lấy đà-la-ni chú này. Nhanh như tráng phu cong duỗi cánh tay, hai vị từ nước Chúng Hoa đến tinh xá Cấp Cô Độc trong rừng Kỳ Đà ở nước Xá Vệ. Khi ấy, hai vị Bồ Tát đi đến chỗ Phật, cúi đầu làm lễ dưới chân Phật rồi đứng lui về một bên mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! cách thế giới này mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Chúng Hoa, Đức Phật cõi ấy hiệu là Tối Thắng Đăng Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Giác, hiện đang nói pháp, phái chúng tôi đến hỏi thăm Thế Tôn.”

Chúng sinh thế giới Ta Bà có ít bệnh ít phiền não, khí lực có được yên không? Các hàng đệ tử bị các ma, thiên, quỷ, la sát, quỷ đói, a tu la, ca lâu la, quỷ can nhân, quỷ can đà, quỷ dịch bệnh, quỷ khiến người bị điên, quỷ khiến người loạn tâm, quỷ phương đạo, quỷ khởi thi, quỷ làm cho phát bệnh một ngày, quỷ làm cho phát bệnh hai ngày ba ngày bốn ngày cho đến bảy ngày, quỷ làm cho thường xuyên phát bệnh, các loài như vậy hoành hành gây ra phiền não.

Tối Thắng Đăng Vương Như Lai sai đem đà-la-ni chú này trao cho Thế Tôn cũng muốn khiến cho chúng sinh thế giới Ta Bà này được đêm dài an ổn, có được điều thiện, lợi ích, sắc đẹp, sức mạnh, danh dự mà nói chú như trên. 

Bấy giờ Phật bảo A Nan: “Ông nên thọ trì, đọc tụng thuộc lòng, vì người khác mà giảng giải, viết chép cúng dường đà-la-ni chú này. Tại sao vậy? Vì Phật xuất thế đã khó mà trì chú này lại càng khó hơn. A Nan! Nếu có thọ trì, đọc tụng thuộc lòng sẽ được phúc lợi lớn.”

“Phật thuyết an trạch đà-la-ni chú kinh”.

**(Hết)**

---
# File: chan-ngon-than-chu/quang-minh-chan-ngon.md
# Title: Quang minh chân ngôn
---

![image](/img/img_b7a1e0fe61f1fd4688e0deedc066fa35.jpg)

## Quang minh chân ngôn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Có một chân ngôn tên gọi là Quang minh, công đức độ vong của chân ngôn này rất lớn. Có bài kệ rằng:  
”Nghe âm diệt tội. Rải cát độ vong. Thường tự mình tụng. Tội diệt thiền tăng. Vãng sinh Tây phương.”

Kinh Mật Giáo viết:  
”Nếu các chúng sinh đã gây ra mười ác năm nghịch bốn loại tội, khi thân hoại mạng chung, đọa vào các ác đạo, dùng chân ngôn này gia trì cho cát 108 biến, rải lên xác người chết, hoặc rải lên mộ, người chết lập tức được vãng sinh Tây phương Cực Lạc quốc thổ. Còn nữa, nếu có chúng sinh nghe được chân ngôn này 21 biến, đi vào tai, lập tức được trừ diệt tất cả tội chướng.”

Tên gọi gốc của chân ngôn này là: Tỳ Lô Giá Na Phật đại quán đảnh quang chân ngôn.  
Chân ngôn như sau:  
”Ôm a-mô-ka vai-rô-cha-na ma-ha mu-đra ma-ni pat-ma ji-wa-la bra-wa-ta-ya hùm.”

Chú này chính là Quang minh chân ngôn.  
Khi tụng chú phải quán tưởng trong tâm nguyệt luân <span className="note-blue">[Mật giáo quán tưởng quả tim là vầng trăng tròn sáng, cũng là chỉ tâm bồ đề tròn đầy thanh tịnh như mặt trăng]</span> có một chữ Phạn Ah màu vàng kim phóng quang chiếu khắp tất cả chúng sinh, những người được chiếu đến đều lìa khổ được vui.

Quang minh chân ngôn, căn cứ theo ghi chép trong “Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn Kinh”, trì tụng chú này có thể diệt tất cả trọng tội, chúng sinh hễ nghe chú này là lập tức diệt tất cả tội chướng.  
Dịch theo ngữ nghĩa có thể giải thích là:  
Ôm <span className="note-blue">[quy mệnh]</span> a-mô-ka <span className="note-blue">[Bất Không Vô Gián]</span> vai-rô-cha-na <span className="note-blue">[Tỳ Lô Giá Na Phật, quang minh biến chiếu, Đại Nhật Như Lai]</span> ma-ha <span className="note-blue">[đại]</span> mu-đra <span className="note-blue">[thủ ấn]</span> ma-ni <span className="note-blue">[bảo châu]</span> pat-ma <span className="note-blue">[hoa sen]</span> ji-wa-la <span className="note-blue">[quang minh]</span> bra-wa-ta-ya <span className="note-blue">[chuyển thành]</span> hùm <span className="note-blue">[mãn nguyện bồ đề]</span>.

---
# File: chan-ngon-than-chu/tam-muoi-da-gioi-chan-ngon.md
# Title: Tam muội da giới chân ngôn
---

![image](/img/img_b0cce64597281355f8e57e2292ad6fc9.jpg)

## Tam muội da giới chân ngôn

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! Căn bản Thượng sư đích thân quán đảnh, chú ngữ cũng không thể quán đảnh từ xa.</span>

### Chú ngữ

Ôm. Sa-ma-ya. Sư-tô-fan-mu.

### Công đức của pháp

Tam muội da giới cũng là bình đẳng Phật giới. Vô thượng bồ đề lấy giới làm nền tảng, hành giả phải tự thanh tịnh ý, yên lặng an trụ. Lúc này tụng tam muội da giới chân ngôn: Ôm. Sa-ma-ya. Sư-tô-fan-mu.

“Thiền Yếu” viết: “Tụng ba biến đà-la-ni này tức giống như nghe giới. Là pháp bí mật. Cũng có thể có đầy đủ tất cả các luật nghi thanh tịnh của Bồ Tát. Các đại công đức không thể nói hết.”

“Thí Ngạ Quỷ Kinh” viết: “Khi tụng chú này, nên quán tưởng chữ màu trắng (tức là ở tâm nguyệt luân có một chữ “fan-mu” bằng tiếng Phạn màu trắng), phóng ánh sáng mạnh mẽ, chiếu khắp chúng sinh hữu tình. Ánh sáng chiếu đến thân cũng tức là tam thế chư Phật giới ba-la-mật cùng lúc viên mãn, là chân Phật tử.”

Khi tụng, quán tưởng tất cả chúng sinh đều nhận được ánh sáng kim cang của tam muội bảo giới, tâm được thanh tịnh, thân như Bồ Tát.

“Đại Nhạc Kim Cang Tam Muội Kinh” viết: “Tam muội còn gọi là bản thệ, cũng gọi là thời, gọi là kỳ khế, hoặc mandala. Vì có các tên gọi khác nhau, cho nên có bốn loại: 1. Đại; 2. Tam muội da; 3. Pháp; 4. Yết ma. Mandala này là tổng nhiếp tất cả mandala.”

Còn nữa, tam muội da cũng có bốn trí ấn, tức là: Đại thủ ấn, Tam muội da trí ấn, Pháp trí ấn, Yết ma trí ấn. “Thần Biến Nghĩa” chú thích rằng: “Tam muội da là bình đẳng nghĩa, là bản thệ nghĩa, là trừ chướng nghĩa, là cảnh giác nghĩa. Khi nói người bình đẳng gọi là Như Lai hiện chứng tam muội này, tất cả chúng sinh các loại thân ngữ ý, đều ngang bằng với Như Lai. Trí huệ thiền định và thân thực tướng cũng bình đẳng rốt ráo. Khi mới phát tâm và khi địa ba-la-mật viên mãn, cũng bình đẳng rốt ráo. Cho nên Xuất Thành Đế nói với chúng sinh, nếu điều ta nói chắc chắn không hư giả, cũng lệnh cho tất cả chúng sinh khi nói đạo lý thiện ý này, cũng được tam mật gia trì, vô tận trang nghiêm và bình đẳng với Như Lai. Nhờ nhân duyên này mà có thể làm sự nghiệp kim cang, vì thế gọi là tam muội da.”

“Kinh Cương Đỉnh Kinh” viết: “Nếu tụng 1 biến chú này, như nhập đàn luân chứng samadhi, tất cả pháp thiện đều đầy đủ, tam tụ tịnh giới cũng đồng thời viên mãn, thân giống như Phổ Hiền ngồi trên đại nguyệt luân, tất cả chư Phật nhớ đến lời thề gốc ngày xưa mà quan sát hộ niệm. Có người từng thọ Phật giới, bị ác tâm phá hủy không còn thanh tịnh nữa, nếu tụng chú này 17 biến, ô uế của tội phá giới đều được thanh tịnh, tất cả giới phẩm lại được như xưa.”

---
# File: chan-ngon-than-chu/tam-tu-minh-va-kim-cang-tung.md
# Title: Tam tự minh và Kim cang tụng
---

## Tam tự minh và Kim cang tụng

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b> Không cần quán đảnh, ban gia trì là được.</span>

**Chú ngữ:** Om Ah Hum

### Tâm yếu khẩu quyết Kim cang tụng

Khí nhập trung mạch có hai cách, bất luận thế nào, chúng ta đều phải rất nghiêm túc tu khí nhập trung mạch. Phương pháp thứ nhất gọi là Kim cang tụng, là “Om Ah Hum” ba chữ tiếng Tạng của pháp hô hấp thổ nạp, khẩu quyết phải do chính miệng của Thượng sư truyền. Hôm nay tôi sẽ dạy mọi người pháp này. Chúng ta tu hành nhất định phải có nghị lực, không thể lười biếng.

Thế nào gọi là Kim cang tụng? Bạn phải niệm “Om Ah Hum”. Đầu tiên quán tưởng Bổn tôn trong hư không xuất hiện, có ánh sáng trắng chiếu đến mi tâm của bạn, chính là chữ “Om”. Có ánh sáng đỏ chiếu đến hầu luân của bạn, chính là chữ “Ah”. Vùng tim của Bổn tôn có ánh sáng màu lam chiếu đến vùng tim của bạn, chính là chữ “Hum”. Lúc này bạn phải quán tưởng trung mạch của bạn, sau đó biến “Om Ah Hum” thành một cái đĩa từ, ở tại tâm luân của bạn. Chính là một cái đĩa từ có ba chữ “Om Ah Hum”. “Om” ở bên trên, xoay tròn thuận theo chiều kim đồng hồ, quán tưởng chữ “Om”, trong tâm niệm chữ “Om”, xoay một chút. Tiếp theo là đến chữ “Ah”, cũng lại xoay một chút. Tiếp theo là chữ “Hum”, lại xoay một chút.

Khi hoàn thành bước ba ánh sáng bao trùm này, bạn phải niệm tam tự minh chú. Bạn cần quán tưởng ba chữ này rơi xuống tề luân của bạn, hoặc tâm luân, sau đó ba chữ “Om Ah Hum” này ở trong đó. Bạn đừng niệm ra tiếng, chỉ dùng ý niệm của mình để xoay chữ “Om”, xoay chữ “Ah”, xoay chữ “Hum”, đây chính là Kim cang tụng. Bạn cứ ngồi ở đó chỉ có “Om”, tức là đang ở trong thiền định, bạn đã đang tu Kim cang tụng rồi.

Ngoài ra còn một kiểu nữa chính là hít thở của Bổn tôn, thở ra ba chữ “Om Ah Hum”, từ lỗ mũi phải của bạn đi vào, đi đến tề luân của bạn, “Om Ah Hum” liền dừng lại ở tề luân, giống như cái đĩa từ, sau đó lại xoay tròn. Cứ thế niệm “Om Ah Hum”, “Om Ah Hum”… khi niệm không phát ra âm thanh, chỉ là lưỡi động đậy thôi, cứ như thế liên tục xoay chuyển, tức là bạn đang làm Kim cang tụng rồi.

Khi bạn muốn dừng lại, “Om Ah Hum” sẽ từ lỗ mũi trái của bạn đi ra, tiến vào trong thân của Bổn tôn, cũng là tiến vào trong lỗ mũi của Bổn tôn, cứ tuần hoàn như vậy: đi vào, niệm một biến, đi ra; đi vào, niệm một biến, đi ra; rồi lại đi vào, lại niệm một biến, lại đi ra. Cứ tuần hoàn như vậy thì gọi là Kim cang tụng. Cách tu Kim cang tụng là như vậy. 

![image](/img/img_be9d2522a5cb943e77610e8979e7147b.jpg)

### Tâm yếu khẩu quyết Kim cang niệm tụng

Trước kia sư phụ tôi giảng Kim cang niệm tụng, tức là tụng từng chữ, từng chữ một. Bạn hít vào, “Om”, không phát ra tiếng, lưỡi động đậy một chút, chữ “Om” này từ lỗ mũi đi thẳng đến đan điền. Sau đó nín thở, nín thở một lúc thì thở chữ “Om” này ra ngoài. Chữ “Om” này, ở đây có nhập, trụ, dung, xuất. Đi vào, giữ ở bên trong, tan ra, rồi đi ra ngoài. Có bốn động tác như vậy.

Tiếp theo, chữ thứ hai là chữ “Ah”, vào đến đan điền, sau đó dừng lại ở đó, tức là trụ, sau đó tan ra, cuối cùng lại đi ra ngoài, đây chính là một hơi thở. Đây chính là pháp Kim cang niệm tụng. Nhưng kim cang niệm tụng này chỉ có lưỡi của bạn động đậy thôi, không phát ra âm thanh. “Hum” cũng thế. Chữ “Hum” đi vào đến đan điền, dừng ở đó rồi tan ra, sau đó lại từ từ đi ra. Nhập, trụ, dung, sau đó là xuất ra ngoài.

Ở đây có ba chữ, tam tự minh chính là như vậy. Bạn tiếp tục làm hít thở như vậy, vì sao cần làm hít thở như vậy? Khi hít vào phải đến đan điền, đây chính là hít thở hoàn toàn. Cũng tức là một kiểu thở của tu hành, đây là một kiểu khí của tu hành, không giống với hít thở bình thường. Hít thở bình thường chỉ hít vào đến phổi rồi rất nhanh chóng đã thở ra rồi. 

Nhưng bạn đừng để ý là nó đi đến đâu, dù sao bạn dùng ý niệm để hít thở sâu, nhận thức là đang có gió ở bên trong, dùng ý thức của bạn để dẫn nó đến đan điền, khi dẫn đến đan điền thì để nó tan ra ở đó, giữ ở đó và tan ra, sau đó lại thở ra ngoài. Đây chính là hít thở hoàn toàn, rất quan trọng.

Khi mới bắt đầu niệm thì cần niệm như vậy thì sẽ có thể chuyên chú. Đây gọi là Phong du già, tức là Kim cang niệm tụng. Kiểu niệm tụng này còn gọi là bất hoại, bởi vì kim cương là không bị hủy hoại.

---
# File: chan-ngon-than-chu/thap-dia-bo-tat-ho-than-kim-cang-chu.md
# Title: Thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú
---

## Thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp! Đồng môn quy y Chân Phật Tông xin quán đảnh pháp sẽ được trì tụng.</span>

### Chú ngữ

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ nhất:**

Tan-chi-tha. Fu-lu-ơ-nu-la-thi. Tu-hu-tu-hu, yê-pa-su-li-yu. A-pua-pua-sa-ti. Yê-pa-chan-ta-lua. Tan-cha li-hưa-lan. Chuy-lu sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ hai:**

Tan-chi-tha. Uân-ru. Li-chư-li-chư-li. Uân-ru-lua-ru-lua. Nam-san-pô-san-pô. Uân-ru-li hu-lu-hu-lu. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ ba:**

Tan-chi-tha. Tan-chai-chi pan-chai-chi. Chia-la-chi. Cao-la-chi. Chi-âu-li tan-chi-li. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ tư:**

Tan-chi-tha. Sư-li-sư-li. Thua-ơ-ơ thua-ơ-ơ. Thua-li-thua-li-ơ. Sư-li-sư-li-ơ. Pi-sưa-lua pua-sư-pua-sư-na. Ban-thua-ơ-ti. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ năm:**

Tan-chi-tha. Ha-li-ha-li-ơ. Chưa-li-chưa-li-ơ chia-la-mua. Ơ-sâng-chia-la-mua. Ơ. San-bua-san-ơ chan-pa-ơ xi-tan bua-ơ mua-han-ơ. Suây-yen pu-pi. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ sáu:**

Tan-chi-tha. Pi-tu-li pi-tu-li. Mua-li-ơ ca-li-ca-li. Pi-tu-han-ti. Lu-lu-lu-lu. Chu-lu-chu-lu. Tu-lu-bua tu-lu-bua. Sưa-sưa-sưa-chưa bua-li-sa. Sô. Xi-ti-sa-bua-sa-tua-nan. Xi-tien-du. Man-tan-lua tu-thua-ơ. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ bảy:**

Tan-chi-tha. Sao-ha. Sao-ha-lu. Sao-ha sao-ha sao-ha-lu. Pây-lu pây-lu lu-chư. A-mi-li-tô hu-han-ơ. Bua-li-san-ơ. Pây-lu-tu-chi bua-lu-fa-ti. Pây-thi-sư-chư. Bin-thua pây-li-ơ. A-mi-li ti-chi. Pao-hu-chu-uy. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ tám:**

Tan-chi-tha. Sư-li-sư-li sư-li-ơ. Mi-ti-mi-ti. Chia-li-chia-lia. Xi-lu-xi-lu. Chu-lu-chu-lu. Ban-thua-ni. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ chín:**

Tan-chi-tha. Ha-li-chan cha-li-chư. Chuy-lan bua-la-thi. Tu-chư-sư. Pa-cha pa-cha-sư. Sư-li-sư-li. Chia-sư-li-chia. Pi-sư-li. Sa-xi-ti. Sa-bua sa-tua-nan. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ mười:**

Tan-chi-tha. Xi-thi. Su-xi-thi. Mua-chưa-ơ mua-cha-ơ. Pi-mu-ti an-mua-li. Pi-mua-li nê-mua-li. Mang-chia-li. Sư-lan-rưa. Chia-pây. Chia-la tan-na chia-pây. San-man-tô pa-chư-li. Sa-bua an-tha sua-tan-ơ. Mua-nai-sư mua-hưa mua-nai-sư. An-pu-ti. An-sư-pu-ti. A-la-sư pi-la-sư. An-chu-ti an-mi-li-ti. A-la-sư. Pi-la-sư. Pa-lan-mi. Pa-lua-can. Mơ-sa. Li-fu-la-ơ fu-la-na. Man-nu-la-ti. Sô-ha. 

### Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ tâm yếu khẩu quyết

(Trích văn tập 049 - Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp.)

Trong cuốn sách “Phục ma bình yêu truyện”, tôi từng giải thích về “Thiên Phật Thiên Ma”, “Thứ Bồ Tát Thiên Ma”, những Thiên Ma này là Thiên Ma hạng nhất, không thể coi thường. Một khi những Thiên Ma này ra oai thì ngay cả Bồ Tát cũng không giữ được thân Bồ Tát. Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni bèn nói mười loại chú ngữ, để cho những Bồ Tát mới bước vào mười địa trì chú kim cang này dùng để phá ma. Tránh cho những Bồ Tát ở mười địa quả vị này trong một lúc sơ xuất mà ngã lộn nhào, chẳng thành được Bồ Tát lại trở thành bữa điểm tâm trong miệng của Thiên Ma. 

Có thể thấy chú kim cang thập địa Bồ Tát này trân quý đến mức nào. Tam ma địa của thập địa Bồ Tát này phân loại như sau:

Địa thứ nhất, diệu bảo Tam ma địa.  
Địa thứ hai, khả ái lạc Tam ma địa.  
Địa thứ ba, nan động Tam ma địa.  
Địa thứ tư, bất thối chuyển Tam ma địa.  
Địa thứ năm, bảo hoa Tam ma địa.  
Địa thứ sáu, nhật viên quang diễm Tam ma địa.  
Địa thứ bảy, nhất thiết nguyện như ý thành tựu Tam ma địa.  
Địa thứ tám, hiện tiền chứng trụ Tam ma địa.  
Địa thứ chín, trí tạng Tam ma địa.  
Địa thứ mười, dũng tấn Tam ma địa.

Mười địa Bồ Tát này là dựa theo việc tu trì pháp môn mà đắc quả vị, tu địa thứ nhất thì dùng Thí ba-la-mật, tu địa thứ hai là Giới ba-la-mật, tu địa thứ ba là Nhẫn ba-la-mật, tu địa thứ tư là Cần ba-la-mật, tu địa thứ năm là Định ba-la-mật, tu địa thứ sáu là Huệ ba-la-mật, tu địa thứ bảy là Phương thiện thắng trí ba-la-mật, tu địa thứ tám là Nguyện ba-la-mật, tu địa thứ chín là Lực ba-la-mật, tu địa thứ mười là Trí ba-la-mật.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ nhất:**

Tan-chi-tha. Fu-lu-ơ-nu-la-thi. Tu-hu-tu-hu, yê-pa-su-li-yu. A-pua-pua-sa-ti. Yê-pa-chan-ta-lua. Tan-cha li-hưa-lan. Chuy-lu sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ hai:**

Tan-chi-tha. Uân-ru. Li-chư-li-chư-li. Uân-ru-lua-ru-lua. Nam-san-pô-san-pô. Uân-ru-li hu-lu-hu-lu. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ ba:**

Tan-chi-tha. Tan-chai-chi pan-chai-chi. Chia-la-chi. Cao-la-chi. Chi-âu-li tan-chi-li. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ tư:**

Tan-chi-tha. Sư-li-sư-li. Thua-ơ-ơ thua-ơ-ơ. Thua-li-thua-li-ơ. Sư-li-sư-li-ơ. Pi-sưa-lua pua-sư-pua-sư-na. Ban-thua-ơ-ti. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ năm:**

Tan-chi-tha. Ha-li-ha-li-ơ. Chưa-li-chưa-li-ơ chia-la-mua. Ơ-sâng-chia-la-mua. Ơ. San-bua-san-ơ chan-pa-ơ xi-tan bua-ơ mua-han-ơ. Suây-yen pu-pi. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ sáu:**

Tan-chi-tha. Pi-tu-li pi-tu-li. Mua-li-ơ ca-li-ca-li. Pi-tu-han-ti. Lu-lu-lu-lu. Chu-lu-chu-lu. Tu-lu-bua tu-lu-bua. Sưa-sưa-sưa-chưa bua-li-sa. Sô. Xi-ti-sa-bua-sa-tua-nan. Xi-tien-du. Man-tan-lua tu-thua-ơ. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ bảy:**

Tan-chi-tha. Sao-ha. Sao-ha-lu. Sao-ha sao-ha sao-ha-lu. Pây-lu pây-lu lu-chư. A-mi-li-tô hu-han-ơ. Bua-li-san-ơ. Pây-lu-tu-chi bua-lu-fa-ti. Pây-thi-sư-chư. Bin-thua pây-li-ơ. A-mi-li ti-chi. Pao-hu-chu-uy. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ tám:**

Tan-chi-tha. Sư-li-sư-li sư-li-ơ. Mi-ti-mi-ti. Chia-li-chia-lia. Xi-lu-xi-lu. Chu-lu-chu-lu. Ban-thua-ni. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ chín:**

Tan-chi-tha. Ha-li-chan cha-li-chư. Chuy-lan bua-la-thi. Tu-chư-sư. Pa-cha pa-cha-sư. Sư-li-sư-li. Chia-sư-li-chia. Pi-sư-li. Sa-xi-ti. Sa-bua sa-tua-nan. Sô-ha.

**Chú hộ thân của Bồ Tát địa thứ mười:**

Tan-chi-tha. Xi-thi. Su-xi-thi. Mua-chưa-ơ mua-cha-ơ. Pi-mu-ti an-mua-li. Pi-mua-li nê-mua-li. Mang-chia-li. Sư-lan-rưa. Chia-pây. Chia-la tan-na chia-pây. San-man-tô pa-chư-li. Sa-bua an-tha sua-tan-ơ. Mua-nai-sư mua-hưa mua-nai-sư. An-pu-ti. An-sư-pu-ti. A-la-sư pi-la-sư. An-chu-ti an-mi-li-ti. A-la-sư. Pi-la-sư. Pa-lan-mi. Pa-lua-can. Mơ-sa. Li-fu-la-ơ fu-la-na. Man-nu-la-ti. Sô-ha. 

Thập địa Bồ Tát kim cang hộ thân chú có phải là người người đều có thể tu trì không? Thật ra không phải là ai ai cũng có thể tu trì, là hành giả ở quả vị thập địa Bồ Tát mới tu trì. Thập địa Bồ Tát này có mười kim cang chú mới có thể tu để lánh xa năm nạn, năm nạn này là ác thú ăn thịt, ác quỷ bức hại, oán tặc làm hại, tai nạn nước lửa, tai nạn bất ngờ. Từ đó mới có thể đắc tâm bất thối, không thối chuyển, nếu thập địa Bồ Tát chưa tu đại kim cang hộ thân chú này thì cũng đồng nghĩa với muốn gặp ma nạn.

Ngoài ra, đại Bồ Tát hộ thân kim cang chú này là dành cho hành giả ở thập địa Bồ Tát tu trì, chú âm của kim cang chú này là phát âm theo tiếng Quốc ngữ, là tiếng Quốc ngữ ghi lại âm tiếng Phạn để phát âm, cho nên kiểu ngữ âm này không chắc đã là rất chính xác, chỉ là rất gần tương tự như thế. Âm gần giống, nếu mà những người có giọng địa phương khác mà phát âm thì sẽ càng ngày càng sai, cho nên tất cả chú âm phải lấy âm mà Thượng sư truyền thụ để làm chuẩn, âm mà Thượng sư truyền dạy mới có công đức, nếu chưa được nghe truyền dạy mà dựa theo sách để niệm thì không có công đức. Điểm này cực kì quan trọng, và là hành giả Mật giáo thì nhất định phải quy y, quán đảnh, chưa quy y quán đảnh mà tu Mật pháp thì là trộm pháp, không có thầy mà đọc sách tự học thì rất dễ sai lầm mà không tự biết. 

Theo như tôi biết, thập địa Bồ Tát hộ thân chú này có năm ý nghĩa lớn:

Thứ nhất, ý của câu chú rất sâu — mười câu chú này có ý nghĩa sâu không thể đo lường, chú ngữ vốn dĩ chính là có ý nghĩa không thể suy đoán, và thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú này lại càng không thể suy đoán. Như hôm nay có rất nhiều người đến thăm dò đạo hạnh của Lư Thắng Ngạn tôi, thật ra tôi cũng là người không thể đoán biết. Có một số pháp sư đạo trưởng có suy đoán thì cũng chỉ là đoán được lông tóc của tôi, chỉ là bề ngoài của tôi mà thôi. Nếu độc giả đọc tiếp tục đọc sách của tôi thì dần dần sẽ càng ngày càng thâm nhập, càng ngày càng không thể đoán, không thể biết. 

Thứ hai, chú như tự tính — thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú này chính là Đại thủ ấn của thập địa Bồ Tát, nói ngắn gọn chính là thanh tịnh toàn bộ tự tính và phát quang, mười câu chú này chính là tự tính, tự tính là thể, thể chính là tự tính, không hai không khác.

Thứ ba, nội chứng đắc lực — thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú chính là vô phân biệt trí, vì vô phân biệt trí cho nên mới có thể khế nhập đắc nội chứng, đây cũng chính là lý lẽ nội chứng thậm thâm.

Thứ tư, nương dựa rất sâu — mười chú ngữ này là do hằng hà sa số chư Phật tuyên thuyết, nói là hằng hà sa số chư Phật tức là vô lượng chư Phật. Chú này là Phật Thích Ca Mâu Ni nói, nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni còn nói rằng chú ngữ này là hằng hà sa số chư Phật đã nói, cho nên sự nương dựa của nó là sâu nhất, vì thế được gọi là vô lượng môn, có thể phá núi kim cang.

Thứ năm, pháp lực vô thượng — ở đây tức là chỉ vô dư vô trụ, vô hướng vô không hữu, cho đến khi sinh diệt.

Tôi biết rằng muốn hiểu và giải thích được đại trí huệ của Phật pháp này phải tu con mắt thứ ba, bởi vì có con mắt thứ ba mới có thể viên mãn, mới có thể bình đẳng kiến. Người đắc được con mắt thứ ba mới xem là không có tạp tư tạp huệ, mới xem là đã giải thoát đường sinh tử. Ngày nay tôi viết sách đã dần dần nói đến Vô thượng mật rồi, Vô thượng mật này mới là đại bồ đề. Nếu hôm nay tôi không viết ra thì thiên hạ người nào sẽ viết ra. Những người đắc chứng thành Phật bình thường trước nay luôn luôn là bí mật, đắc được Phật nhãn (con mắt thứ ba), xem chúng sinh đều bình đẳng thì đó là Phật, cho nên tôi mới bằng lòng nói ra!

Thập địa Bồ Tát tuy có nhân thanh tịnh, cũng có quả thanh tịnh, nhưng ma chướng thì không hoàn toàn trừ hết, vẫn không xem là thanh tịnh nhất. Giờ đây tôi tuyên thuyết thập địa Bồ Tát hộ thân kim cang chú, đó là lợi ích trời người. Phẩm hạnh nhân từ này, mưa pháp ngập tràn nhân gian và thiên giới, khiến trời người đều có được lợi ích lớn.

---
# File: chan-ngon-than-chu/that-phat-diet-toi-chan-ngon-thu-ho-phap.md
# Title: Thất Phật diệt tội chân ngôn thủ hộ pháp
---

## Thất Phật diệt tội chân ngôn thủ hộ pháp

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

<span className="note-red"><b>Chú ý:</b>  Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp!</span>

Khai thị của Sư Tôn

Ngoài ra còn có pháp Thất Phật diệt tội chân ngôn bảo vệ. Bạn niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn "Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha”, tay phải của bạn là mặt trăng, tay trái là mặt trời, sau đó bạn chắp tay lại, giữa hai bàn tay lại xuất hiện chữ "Hum" màu xanh lục, dùng chữ "Hum" này in lên toàn thân bạn, in vào đầu, vào trán, vào họng, vào tim, vai trái, vai phải, sau đó in vào chân (tay thì đã có rồi), như vậy chính là bản thân bạn đang tu bánh xe bảo hộ, chính là bảo hộ toàn thân, bản thân biến hóa thành Bổn tôn, điều này cực kì quan trọng. 

Ở đây tôi nói với mọi người, bạn niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn, tay phải của bạn biến thành mặt trăng, tay trái biến thành mặt trời, mặt trăng và mặt trời chập lại, ở giữa hai bàn tay chắp lại có một chữ "Hum", sau đó chữ "Hum" biến thành chày kim cang ấn lên toàn thân bạn, chủ yếu là chỗ khớp xương, vai cũng là khớp xương, và ấn vào những vị trí quan trọng như là đầu, họng, tim.

Sau đó bản thân bạn tự hóa thành Bổn tôn, bạn bắt đầu niệm chú của Bổn tôn, như thế này là bạn đang tu pháp phòng hộ. Toàn thân phải được ấn như vậy. Đôi khi đơn giản một chút, bạn quán tưởng mình thành Bổn tôn, các chỗ khớp xương trên toàn thân đều có đầy chú ngữ của Bổn tôn. Bạn lại quán tưởng mình đội lên cái mũ của binh sĩ thời cổ đại, toàn thân mặc áo giáp, người hiện đại thì đội mũ cối, áo chống đạn, để bảo vệ chính mình. 

Thậm chí có vũ khí sắc bén hơn, ví dụ có một loại váy của nữ sinh, bên trên có kim nhọn, đó là dùng để bảo vệ, ngồi trên xe, kẻ biến thái đưa tay ra một cái sẽ bị đâm trúng. Đó chính là phòng hộ. Bạn mặc quần áo có kim nhọn trên người, người ta không thể chạm vào thân thể của bạn, đây chính là một kiểu phòng hộ. Cho nên bạn hãy quán tưởng mình đang mặc quần áo có kim, người khác sẽ không có cách nào chạm vào bạn.

---
# File: chan-ngon-than-chu/truong-tho-tam-ton-tam-chu.md
# Title: Trường Thọ Tam Tôn tâm chú
---

![image](/img/img_ae82c6fe649bc3d056fd6fb1f79d9f5f.jpg)

## Trường Thọ Tam Tôn tâm chú

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">01/03/2008</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Trường Thọ Phật tâm chú: Ôm a-ma-rua-ni chu-wân-ti-yê sô-ha.  
Tôn Thắng Phật Mẫu tâm chú: Ôm bờ-rừm sô-ha. Ôm a-mi-ta a-yu-la ta-tê sô-ha.  
Bạch Độ Mẫu tâm chú: Ôm ben-za gu-ru ya sô-ha.

Trường Thọ Tam Tôn của Mật giáo chính là Tôn Thắng Phật Mẫu, Trường Thọ Phật, Bạch Độ Mẫu, bạn tu pháp của ngài sẽ được trường thọ, có thể kéo dài tuổi thọ, có pháp lực uy đức vô lượng, có thể lợi ích tất cả chúng sinh. 

![image](/img/img_adc98ee7fb4985e98c04aead0457789a.jpg)

### Hình tướng của Trường Thọ Tam Tôn

Trường Thọ Phật: pháp tướng của ngài là một đầu hai tay, thân màu đỏ, tóc buộc thành búi, đội mũ Ngũ Phật, trên khoác thiên y, dưới mặc váy lụa, thân đeo chuỗi trân bảo, có đủ mọi tướng trang nghiêm của Báo thân Phật, hai tay kết định ấn đặt trên đầu gối, trên tay cầm bảo bình trường thọ, hai chân khoanh lại ngồi tư thế kiết già trên nguyệt luân hoa sen.

Tôn Thắng Phật Mẫu: ba mặt tám tay, trên mỗi khuôn mặt có ba con mắt, khuôn mặt ở giữa màu trắng tịch tĩnh trang nghiêm là Tôn Thắng Phật Mẫu, khuôn mặt bên phải màu vàng tươi cười vui vẻ là Quán Tự Tại Bồ Tát, khuôn mặt bên trái màu lam tướng phẫn nộ là Kim Cang Thủ Bồ Tát.

Tôn Thắng Phật Mẫu thân như trăng mùa thu, trắng trong không tì vết, tướng mạo như thiếu nữ tuổi thanh xuân, ngồi ngay ngắn trên nguyệt luân hoa sen, thiên y, vòng hoa, mũ miện, chuỗi vòng, trang nghiêm hiền từ, có vô lượng tịnh quang màu trắng tỏa ra. Tám cánh tay của Tôn Thắng Phật Mẫu đều cầm pháp khí, tay phải thứ nhất cầm chày kim cang chữ thập giữ trước ngực, tay phải thứ hai nâng hoa sen bên trên có A Di Đà Phật, tay phải thứ ba cầm tên, tay phải thứ tư kết ấn ban nguyện đặt trước đùi phải. Tay trái thứ nhất kết ấn phấn nỗ quyền cầm sợi thừng, tay trái thứ hai giơ lên cao làm ấn vô úy, tay trái thứ ba cầm cung, tay trái thứ tư kết định ấn nâng bảo bình cam lộ.

Bạch Độ Mẫu: thân màu trắng, một đầu hai tay, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái kết ấn cầm hoa, cầm hoa upala màu hồng, hoa nở ba đóa, một đóa chưa nở, một đóa nở hé, một đóa nở bung. Lòng bàn tay, lòng bàn chân, thiên tâm đều có một con mắt, tổng cộng có bảy con mắt. Tướng mạo như thiếu nữ thanh xuân, tóc buộc sau đầu, bên phải rủ xuống một lọn tóc, thân mặc thiên y váy lụa, đeo các loại chuỗi vòng, ngồi kiết già, sau lưng có nguyệt luân, xinh đẹp phi phàm. 

### Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ tâm yếu khẩu quyết

**Trường Thọ Phật**

Trường Thọ Như Lai còn gọi là Tây Phương Vô Lượng Thọ Như Lai, là do A Di Đà Phật biến hóa ra. Ngài có đặc trưng là bình cam lộ trường thọ, nếu có thể uống cam lộ trường thọ trong bình cam lộ trường thọ thì có thể sống lâu và khỏe mạnh.

Trường Thọ Phật có bốn vị Không Hành Mẫu tức-tăng-hoài-tru ở xung quanh, dùng móc câu để triệu tập tinh hoa, thọ mệnh, phúc đức, trí huệ của đất, nước, lửa, gió, không khí.

Trường Thọ Như Lai có thể ngăn chặn những tai nạn của chúng ta, tiếp dẫn chúng sinh u minh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh. Ánh sáng của Trường Thọ Như Lai vô cùng sâu xa, có ánh sáng lớn màu đỏ, có thể khiến chúng sinh tăng trưởng trí huệ, tăng trưởng phúc phần, diệt trừ bệnh nghiệp, gia trăng kính ái, khiến gia đình vui vẻ hòa hợp, tất cả tai nạn và thù địch đều có thể tiêu tan.

Ánh sáng của Trường Thọ Như Lai cũng có thể tiếp dẫn mọi chúng sinh u minh vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, vì thế vị Phật này cũng là Bổn tôn siêu độ tốt nhất.

**Kinh Vô Lượng Thọ**

“Vô Lượng Thọ Phật uy thần quang minh tối tôn đệ nhất. Ánh sáng của chư Phật không thể sánh bằng.”

Trong kinh Phật nói, trì tụng chú Trường Thọ Phật, có thể tăng trưởng thọ mệnh và phúc đức trí huệ. Tránh được những tai nạn bất ngờ hoặc chết yểu. Tiêu trừ mọi nghiệp tội, chứng thành tựu vô tử hoặc trụ sinh tại Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ. Tu trì Trường Thọ Phật có thể tiêu trừ bệnh tật, phúc thọ kéo dài, thiện duyên tăng trưởng, ác duyên tiêu trừ, khiến sự nghiệp pháp thế gian trường thọ.

Chủ yếu nhất là Phật cầm bình cam lộ, thủ ấn của ngài là định ấn thông thường, chính là định ấn của A Di Đà Phật, nhưng không vòng ngón tay lại, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, hai ngón cái chạm vào nhau. Chú ngữ của ngài là “Om ama ruani chuantiye soha.” Hình tướng của ngài là thân màu đỏ, ngài vốn là A Di Đà Phật, và A Di Đà Phật vốn dĩ còn gọi là Trường Thọ Phật. Có hình tướng, có thủ ấn, chú ngữ thì sẽ có niệm tụng pháp của Bổn tôn Trường Thọ Phật.

Đặc trưng chủ yếu nhất của Trường Thọ Phật là bình cam lộ mà ngài cầm trên tay. Bản thân bình cam lộ có thể gia trì cho chúng sinh, cũng có thể tiếp dẫn chúng sinh. Ngài còn có tác dụng thanh tịnh, có tác dụng trị bệnh, tác dụng trường thọ và tác dụng khỏe mạnh. Còn có rất nhiều tác dụng bất khả tư nghì nữa. Cho nên, Trường Thọ Phật còn được gọi là Cam Lộ Vương Như Lai, cũng còn gọi là A Di Đà Như Lai, Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Đại Quang Phật, đều là tên gọi của vị Phật này.

Tín đồ Phật giáo gặp nhau thường hay nói “A Di Đà Phật”. Các đạo sĩ Đạo giáo hoặc đạo trưởng gặp nhau thì đều nói “Vô Lượng Thọ Phật”. Thật ra, cả hai vị đều như nhau. A Di Đà Phật chính là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang.

Trường Thọ Phật, Tôn Thắng Phật Mẫu, Bạch Độ Mẫu đều là hóa thân của đại từ đại bi, có thể đem đến sức khỏe và bình an, may mắn cho con người, gọi chung lại là Tam Trường Thọ Phật hoặc Trường Thọ Tam Tôn.

Hôm nay chúng ta nói về Trường Thọ Như Lai là rất quan trọng. Vì sao bạn có thể sống lâu? Bởi vì bạn sẽ không gặp tai nạn bất ngờ, thân thể bạn không gặp những điều ngoài ý muốn. Đi ra ngoài làm mọi thứ cũng không xảy ra điều bất trắc. Không chỉ là thân thể không xảy ra chuyện ngoài ý muốn, mà ngay cả khi đi ra ngoài cũng sẽ không gặp chuyện không may. Lái xe cũng không gặp tai nạn.

Vì thế, mọi lúc chúng ta đều có Hộ pháp của mình ở bên cạnh để bảo vệ. Hoặc bạn có thể đeo thẻ hộ thân của Hộ pháp, hoặc thẻ hộ thân của Bổn tôn, thẻ hộ thân của Thượng sư. Nếu như bạn đã tương ứng, tự nhiên sẽ có Bổn tôn ở bên cạnh bạn, bạn sẽ không gặp những tình huống ngoài ý muốn, điều này vô cùng quan trọng. Chúng ta tu hành chính là cần tu đến khi Hộ pháp ở bên cạnh bạn, Bổn tôn ở bên cạnh bạn, Thượng sư ở bên cạnh bạn. Một ngày bạn đạt được như vậy rồi thì thân tâm của bạn sẽ an định.

Bạn muốn khỏe mạnh thì cần biết tu Trường Thọ Như Lai. Điều mà Trường Thọ Như Lai dạy bạn thật ra chính là dạy: đừng lừa dối người khác, đừng ganh đua. Bởi vì ganh đua sẽ có một bên bị hại. Đừng sỉ nhục người khác, bạn sỉ nhục người khác sẽ làm tổn thương người khác. Bạn không thể sát sinh, tâm bạn cần phải rất từ bi, rất nhân từ, rất tốt bụng, phải có lòng nhân từ. Cần có tâm nghĩ cho người khác, như thế bạn chính là Bồ Tát, như vậy chính bạn sẽ có thể trường thọ. Bằng không, nếu bạn có tâm sát sinh, lại muốn sỉ nhục người khác, lại muốn ganh đua, lại muốn lừa gạt người, vậy thì thân tâm bạn sẽ bất an, làm sao có thể trường thọ được chứ? Đây chính là điểm quan trọng về Trường Thọ Như Lai đó!

**Tôn Thắng Phật Mẫu**

Tôn Thắng Phật Mẫu là sự hóa hiện vô thượng đỉnh của Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng chính là thân khẩu ý của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài chính là một vị Bồ Tát do ánh sáng vô lượng, trí huệ vô lượng, đỉnh vô lượng của Thích Ca Mâu Ni Phật tổng hợp lại mà biến hóa ra, ngài còn được gọi là Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu.

Vô thượng đỉnh của Thích Ca Mâu Ni Phật là trí huệ của Đại Nhật Như Lai, vô lượng quang của A Di Đà Phật, đại diện cho trí huệ vô thượng của Như Lai là “Không” và “Vô”.

Vì thế, Tôn Thắng Phật Mẫu là ba thân trong một của Quan Thế Âm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát và Tôn Thắng Phật Mẫu, có đầy đủ mọi pháp, là tổng hợp của trí huệ, phẫn nộ, hàng phục và từ bi, dựa vào vô thượng đỉnh của Như Lai mà hiển hóa, có đầy đủ đại uy thần lực, có thể nói là thể, tướng, dụng đều có sẵn.

Trong kinh điển gọi Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu là Tối Thắng Phật Đỉnh, mật hiệu là Trừ Ma Kim Cang.

Trường Thọ Tam Tôn của Mật giáo chính là Tôn Thắng Phật Mẫu, Trường Thọ Phật, và Bạch Độ Mẫu. Bạn tu pháp của ngài thì có thể sống lâu, kéo dài tuổi thọ, có pháp lực vô lượng uy đức, có thể lợi ích mọi chúng sinh.

Sức mạnh đại công đức của Tôn Thắng Phật Mẫu:

1. Trừ tất cả phiền não nghiệp chướng.

2. Có thể phá trừ tất cả ma đạo và khổ ách của chúng sinh.

3. Có thể khiến chúng sinh được tất cả Bồ Tát đồng tâm bảo hộ, trong đời hiện tại sẽ không bị bệnh tật và các việc phiền não gây trở ngại.

4. Chú này có thể phá tất cả khổ của địa ngục, của Diêm La Vương giới và bàng sinh, có thể hồi hướng thiện đạo.

5. Người đoản mệnh có thể được trường thọ.

6. Người trì chú này đều có thể diệt trừ tất cả nghiệp tội trong trăm nghìn kiếp, nơi họ sinh ra luôn gặp được chư Phật và thậm chí đắc vô thượng bồ đề, bỏ thân này và lập tức được vãng sinh đến các sát thổ vi diệu của chư Phật.

7. Nếu người nào có thể trì tụng đà-la-ni, người này đều phá trừ và tiêu diệt được mọi khổ của địa ngục, súc sinh, Diêm La Vương giới, ngạ quỷ.

**Bạch Độ Mẫu**

Bạch Không Hành Mẫu thì sao? Là thầy dạy giới của tôi, ngài dạy tôi rất nhiều giới luật bí mật, ngài chính là Bạch Độ Mẫu. Bản thân Bạch Độ Mẫu còn là bạn đạo tu hành của Sư Tôn, hơn nữa còn là sư phụ dạy giới, cho nên, ngài vô cùng tôn quý, không thể quên ngài.

Bạch Độ Mẫu Bạch Không Hành Mẫu cũng là Thất Nhãn Phật Mẫu, hai mắt của ngài cộng thêm con mắt thiên tâm, mỗi lòng bàn tay có thêm một con mắt, lòng bàn thân có thêm một con mắt, tổng cộng là bảy con mắt, cho nên, biệt hiệu của ngài chính là Thất Nhãn Phật Mẫu.

Bạch Độ Mẫu là hóa thân từ giọt nước mắt bi mẫn của Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài cũng là một trong số 21 vị Thánh Cứu Độ Mẫu, hay còn gọi là Tăng Thọ Cứu Độ Phật Mẫu, cùng với Trường Thọ Phật, Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu được gọi là Trường Thọ Tam Tôn. Bạch Độ Mẫu là một trong các vị Bổn tôn chữa bệnh và kéo dài tuổi thọ trong Phật giáo. Thân tướng màu trắng của ngài có ý nghĩa là tiêu tai, toàn thân có bảy con mắt, con mắt thứ ba nằm ở chính giữa hai lông mày, có thể chiếu kiến tất cả duyên khởi của dịch bệnh, từ đó mà diệt trừ.

Vì chúng sinh vô cùng khó độ, mà trái tim của Quan Thế Âm Bồ Tát vô cùng từ bi, vì thế, ngài bộc lộ tình cảm từ bi của mình, từ con mắt chảy ra hai giọt nước mắt, một giọt hóa thành Lục Độ Mẫu, một giọt hóa thành Bạch Độ Mẫu. Bạch Độ Mẫu chính là vị Phật Mẫu được hóa sinh ra từ giọt nước mắt của Quan Thế Âm Bồ Tát, vì thế, lai lịch của Bạch Độ Mẫu và Quan Thế Âm Bồ Tát là giống nhau, từ bi cứu độ chúng sinh. Màu trắng là gốc của tiêu tai, chính là tiêu diệt tai nạn, có thể tiêu diệt ác nghiệp của chúng sinh.

Công đức thề nguyện và tâm chú của Bạch Độ Mẫu chủ yếu là để tiêu diệt bệnh khổ của chúng sinh, tiêu trừ những bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh và các chứng bệnh do oan nghiệp, si nghiệp, ma chướng gây ra. Ngài cũng có thể đối trị với các bệnh tật do cổ độc hay chú thuật gây ra, giúp tu hành giả trừ bỏ nghịch duyên, tăng trưởng thọ lượng, giải thoát sinh tử luân hồi.

Chú của Bạch Độ Mẫu nên phân tách âm ra để niệm như sau: “Om, guru, ye, soha”. “Guru” và “ye” đọc tách nhau ra.

Bạch Độ Mẫu có nhân duyên rất sâu dày với Lư Sư Tôn. Trong cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn số 214 “Bảo kiếm của Yogi”, toàn bộ cuốn sách này đều nói về Bạch Độ Mẫu, chính là “giới luật của Mật giáo” do chính ngài dạy. Mọi người đọc cuốn sách “Bảo kiếm của Yogi” thì có thể làm kiên cố đạo tâm của mọi người.

Tu pháp kiện khang của Bạch Độ Mẫu, bạn phải quán tưởng Bạch Độ Mẫu trụ đỉnh, chữ “Pang” biến thành bông hoa sen trắng, chữ “Tang” trong hoa sen biến thành Bạch Độ Mẫu, thế rồi hô “Cha, Hum, Ban”,  ngài trụ trên đỉnh đầu bạn, cuống hoa sen trắng cắm trên đỉnh đầu bạn. Thế rồi từng giọt từng giọt cam lộ màu trắng, pháp lạc màu trắng sẽ chảy đến nơi nào trong thân thể bạn có bệnh. Ví dụ, tim bạn có bệnh thì giọt cam lộ sẽ chảy vào tim, bạn quán tưởng cam lộ đi vào tim bạn, quán tưởng cam lộ tuần hoàn trong người bạn, quán tưởng nó ở trong tim, gan, tì, phổi, thận, chỗ nào có bệnh thì cam lộ màu trắng sẽ chảy đến chỗ đó. Mỗi lần làm quán tưởng ngài, bạn niệm chú của ngài “Om tare tutare ture soha. Om benza guru ye soha”. Quán tưởng như vậy, toàn bộ da dẻ của bạn biến thành màu trắng, toàn thân bạn biến thành màu trắng, pháp nhũ đầy ắp toàn thân bạn. Trong một cái búng tay, thân thể bạn chính là Bạch Độ Mẫu. Khi bạn ngồi thiền, bạn biến thành Bạch Độ Mẫu. Bản thân Bạch Độ Mẫu vô cùng khỏe mạnh và tràn trề tuổi thanh xuân, ngài có thể ban cho bạn sống lâu, trường thọ cũng đại diện cho khỏe mạnh mà.

Ngày xưa, Thượng sư Thubten Dhargye từng được Bạch Độ Mẫu hiện thân nói với ngài rằng phải đến Đài Loan tìm một người họ La, rồi truyền pháp cho người đó, kết quả là Thượng sư thật sự đã đến Đài Loan để tìm, nhưng không tìm được. Kết quả là Bạch Độ Mẫu lại giáng xuống và nói với Thubten Dhargye Thượng sư là đệ tử này đã ở bên cạnh ngài rồi đó, chính là Lư Thắng Ngạn, bởi vì ở Đài Loan, chữ “Lư” này phát âm thành “La”. Thubten Dhargye Thượng sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, thế là ngài đã xem Lư Thắng Ngạn (Thubten Qimo) là đệ tử chủ yếu của mình, và truyền mọi khẩu quyết nội mật cho đệ tử này, ban những quán đảnh không gì sánh bằng, sức mạnh gia trì liên tục không dứt.

**Chú thích:**

Trong cuốn văn tập Lư Thắng Ngạn số 202 “Nhìn xa nghìn dặm ”, Sư Tôn đã ghi lại rằng vào buổi tối ngày 1/3/2008, Bạch Không Hành Mẫu đã hạ giáng và giáo thị rằng:  
”Nếu đệ tử Chân Phật muốn sinh về cõi Tịnh thổ, hãy dùng chữ “Tang” màu trắng để triệu thỉnh ta. Ta ngồi trên đỉnh đầu của đệ tử Chân Phật, mạch và mạch tiếp nối, đệ tử Chân Phật đóng lại tám lỗ, chỉ để lại thiên khiếu, dùng chữ “Tang” của tự tâm từ đỉnh đầu đi vào trong mạch của ta.

Bạch Độ Mẫu ta bay đến A Di Đà Phật tịnh thổ, đệ tử này tự nhiên sẽ được sinh ra ở tịnh thổ.”

---
# File: chan-ngon-than-chu/vu-bao-da-la-ni-vasudhara-mantra.md
# Title: Vũ bảo đà-la-ni - Vasudhara Mantra
---

![image](/img/img_2c4fafa7e871332156c6e186454a2ec1.jpg)

## Vũ bảo đà-la-ni - Vasudhara Mantra

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Vào thời đại Phật Đà, ở nước Kiêu Thiểm Di <span className="note-blue">[Kosambi]</span> có trưởng giả Diệu Nguyệt, là một đệ tử Phật rất kiền thành tịnh tín, trong nhà có rất nhiều họ hàng và tôi tớ, nhưng của cải không đủ, nam nữ trong nhà lại nhiều bệnh tật, kinh tế gia đình khó mà duy trì được. Khi ấy Phật Đà cũng sống trong rừng Kiến Tra Ca tại nước Kiêu Thiểm Di, vì thế trưởng giả Diệu Nguyệt nhân cơ duyên này đến thỉnh thị Phật Đà:  
”Nam nữ nghèo khó trên đời làm sao để thoát khỏi nghèo khó? Làm sao có được tài bảo dồi dào và có thể giúp đỡ người thân và bố thí cho chúng sinh hữu tình?”

Phật Đà nói với trưởng giả Diệu Nguyệt, vào đời quá khứ, khi ngài ở chỗ của Kim Cang Hải Âm Như Lai đã có được Vũ bảo đà-la-ni, đà-la-ni này có đại uy đức, người trì tụng sẽ có rất nhiều lợi ích:
1. Phi nhân, dược xoa, la sát, ác quỷ không thể làm hại, loài chuyên môn ăn tủy mỡ, máu mủ, nước mắt, nước miếng, nước tiểu, phân của con người, và các ma quỷ muốn đến quấy nhiễu không thể gây ra các chướng ngại, bệnh tật, đói khát, nghiệp chướng, chúng đều sẽ bị tiêu trừ.
2. Người có tâm niệm tay cầm bút viết, hoặc chỉ nghe tên mà thọ trì và tùy hỷ diễn thuyết cho người khác, thì thiện nam, thiện nữ này suốt đêm dài được yên ổn và hưởng mọi niềm vui. Đời hiện tại không nghèo khó, và chư thiên đều yêu thích, ban xuống tài bảo, ngũ cốc lương thực cho người thọ trì.
3. Nếu thiện nam nữ cúng dường tất cả Như Lai, ngày đêm trì tụng đà-la-ni này không gián đoạn, trong nhà người đó tài bảo và kho chứa đầy ắp không thiếu hụt.

Trưởng giả Diệu Nguyệt nghe Phật Đà nói đà-la-ni này xong, trong lòng hết sức hoan hỷ. Sau khi trở về nhà, trưởng giả thọ trì đọc tụng không ngừng, và giải thích rộng rãi cho những người khác.

Có một lần, Phật Đà bảo A Nan đến thăm nhà của trưởng giả Diệu Nguyệt, A Nan phát hiện thấy trong kho ở nhà của trưởng giả có đủ loại tài bảo, ngũ cốc và các báu vật, mọi của cải đều dồi dào, khác hẳn với cảnh nghèo khó ngày xưa. Lúc này Phật Đà mới bảo cho A Nan biết đây là vì trưởng giả Diệu Nguyệt trong lòng tịnh tín Thế Tôn, lại thọ trì Vũ bảo đà-la-ni này và tuyên thuyết cho tất cả chúng sinh hữu tình.

Vũ bảo đà-la-ni còn gọi là Năng hoạch nhất thiết tài bảo phục tạng, hoặc là Nhất thiết Như Lai xưng tán vũ bảo đà-la-ni giáo. Chú ngắn của Vũ bảo đà-la-ni là: “Ôm va-su đa-rê sô-ha”. Nếu có thiện nam nữ trong nhà nghèo khó thiếu thốn của cải, trong lòng tịnh tín cúng dường Như Lai, trì tụng chú này không gián đoạn, chắc chắn có thể thoát khỏi nghèo khó, có được tài bảo lớn.

(Dịch từ Tạp Chí Nhiên Đăng - Chân Phật Tông)

---
# File: gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/bach-van-loi-tang-tu.md
# Title: Bạch Vân Lôi Tạng Tự
---

![image](/img/img_aea4065d1f753ed741ab7c59cf6c7787.jpg)

## Bạch Vân Lôi Tạng Tự và vị Thượng sư khai ngộ đầu tiên của Chân Phật

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">22/10/1993</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Xuất bản: N/A  
Tác giả: N/A  
Biên dịch: Nhóm Upala

Nguồn gốc: *[https://tbsn.org/news/detail/1818/真佛卓越道場系列報導18–白雲雷藏寺.html](https://tbsn.org/news/detail/1818/%E7%9C%9F%E4%BD%9B%E5%8D%93%E8%B6%8A%E9%81%93%E5%A0%B4%E7%B3%BB%E5%88%97%E5%A0%B1%E5%B0%8E18%E2%80%93%E7%99%BD%E9%9B%B2%E9%9B%B7%E8%97%8F%E5%AF%BA.html)*

---

*Tiếp sau Tịnh Âm Lôi Tạng Tự, đơn vị giành được danh hiệu đạo tràng Chân Phật xuất sắc thuộc về Bạch Vân Lôi Tạng Tự ở Calgary.*

### 1. Lịch sử đạo tràng

Năm 1986, hơn 10 đệ tử mới quy y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã tụ họp lại cùng nhau trong một nhà kho của một vị sư huynh để đồng tu. Tháng 8 cùng năm được Thánh Tôn ban cho tên gọi là Bạch Vân Đường, mở đầu cho lịch sử Chân Phật Tông hoằng pháp độ chúng tại thành phố Calgary Canada.

Sau khi thành lập, Bạch Vân Đường mỗi năm đều tổ chức mời Thượng sư từ các nơi trên thế giới đến hoằng pháp, tổ chức các pháp hội và hoạt động. Tích cực tham gia các hoạt động xã hội của Canada, đưa Phật pháp dung nhập vào xã hội phương Tây, nhờ đó nhanh chóng thu hút được thiện tín các nơi đến quy y, học tập Chân Phật Mật Pháp. Bạch Vân Đường cũng giữ vững đồng tu hàng tuần và triển khai các hoạt động pháp vụ, khiến cho sự phát triển của Bạch Vân Đường đi trên quỹ đạo phát triển đúng đắn nề nếp, và cũng khiến cho đệ tử Chân Phật ở Calgary tăng lên nhanh chóng.

### 2. Thánh Tôn năm lần đến Calgary

**Chuyến đi lần đầu tiên của Sư Phật**

Tháng 6/1988, Thánh Tôn và Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư lần đầu tiên đặt chân đến Calgary. Sư Tôn Sư Mẫu thân mật gần gũi hỏi thăm và động viên các đệ tử, rất nhiều đồng môn lần đầu tiên gặp mặt Sư Tôn, tâm trạng vô cùng phấn khích.

Bạch Vân Đường bốn lần chuyển dời và mở rộng, địa điểm đồng tu vẫn không đủ chỗ, việc cần có một địa điểm cố định và tương đối rộng là rất cấp thiết. Năm 1993, Bạch Vân Đường thành lập ủy ban hoạch định kế hoạch xây dựng, đồng thời tổ chức cho đồng môn cùng tu pháp hồi hướng cho việc xây chùa được thuận lợi viên mãn.

Sau đó đã tìm được một tòa nhà cũ tại địa chỉ: 1809 Centre St. NW, Calgary, AB, Canada, Alberta. Trong quá trình đập bỏ và xây lại đã xuất hiện rất nhiều khó khăn và khảo nghiệm, ví dụ ngân quỹ thiếu trầm trọng, đồng môn thiếu tin tưởng, lo lắng không thể xây xong, những hộ kinh doanh ở xung quanh và nhóm phường hội do có những hiểu lầm về Phật giáo nên đã đưa ra sự phản đối gay gắt. May mắn được Thánh Tôn và Phật Bồ Tát gia trì, các Thượng sư giúp đỡ và sự phát tâm hỗ trợ của nhiều bên, ủy ban thành phố nhanh chóng thấu hiểu, vì thế mọi khó khăn và chướng ngại đều được giải quyết. Khi ấy rất nhiều lão Bồ Tát đã đem tiền gửi ngân hàng và các khoản tiết kiệm riêng ra cho vay, trong ba tháng ngắn ngủi đã giải quyết được vấn đề ngân sách xây dựng. Ngày 22/10/1993 chính thức động thổ khởi công.

**Thánh Tôn đến thăm lần thứ hai**

Ngày 30/06/1994, Thánh Tôn và Sư Mẫu lần thứ hai đặt chân đến Calgary, thị sát tòa nhà vừa mới xây xong còn chưa kịp chỉnh trang, Thánh Tôn đã tự tay viết bức hoành phi “Bạch Vân Lôi Tạng Tự”.

![image](/img/img_9b754a22bcfb292dcd096ff1b5fd85c5.jpg)

**Thánh Tôn đến thăm lần thứ ba**

![image](/img/img_e81e46d3218f30b10b0a9dee8f2f15ae.jpg)

Ngày 06/08/1994, Thánh Tôn nhận lời mời đến khai quang và cắt băng khánh thành cho Bạch Vân Lôi Tạng Tự mang đầy sắc thái Mật tông, đi cùng có tám vị Thượng sư, hai vị pháp sư. Vào ngày khai quang, trời giáng xuống cam lộ vi diệu, khiến cho Calgary tháng 8 nóng nực bỗng trở nên mát mẻ, thời tiết nóng hoàn toàn tiêu tan. Đúng 9 giờ, đoàn xe của Thánh Tôn đã đến Bạch Vân Lôi Tạng Tự, mặt trời xuyên thủng những tầng mây, lập tức ánh nắng chan hòa, chiếu sáng vạn vật cả một vùng cát tường. Bên ngoài chùa là biển người đông nghịt, hân hoan vui mừng, nhìn theo tay kéo của Thánh Tôn vung lên và dải vải đỏ rơi xuống, để lộ ra bức hoành phi “Bạch Vân Lôi Tạng Tự” ánh vàng lấp lánh, đồng thời cũng tượng trưng cho sự khởi đầu mới của Bạch Vân Lôi Tạng Tự hoằng pháp độ chúng. Ngày hôm đó Thánh Tôn ban cho bút tích “thâm nhập thiền định là Pháp Vương, Bạch Vân thâm xứ lạc tiên gia”, đồng thời ban giới xuất gia và giới Bồ Tát.

### 3. Các hoạt động thường lệ của đạo tràng

![image](/img/img_deb9c3a1f026b58f980d1c11c0ec311d.jpg)

Dưới sự lãnh đạo của các vị giám đốc các khóa của Bạch Vân Lôi Tạng Tự, các pháp sư đồng môn luôn luôn tuân theo lời dạy của Thánh Tôn, nỗ lực tinh tấn siêng tu Chân Phật Mật Pháp, hết sức phát huy tinh thần đoàn kết tập thể, đồng tâm hiệp lực, cầu sự thống nhất và duy trì sự khác biệt nhỏ, cùng nhau phối hợp về mặt công tác, có thương lượng bàn bạc, hợp mưu hợp sức, tích cực triển khai các hoạt động pháp vụ và hoạt động xã hội, khiến cho các việc của Bạch Vân Lôi Tạng Tự và các pháp vụ được làm rất sinh động, nhiều sắc thái đa dạng.

Bạch Vân Lôi Tạng Tự giữ vững thứ bảy hàng tuần đồng tu tiếng Trung và tiếng Anh, và tổ chức cả lớp đồng tu trên mạng. Thường xuyên tổ chức các buổi pháp hội và giảng tọa khác nhau.  
Mỗi năm đều tổ chức một lần pháp hội Lương Hoàng Bảo Sám.  
Mỗi tháng vào mồng 1, 15 đều làm hoạt động bái chủ đất.  
Mỗi năm tổ chức sáu lần pháp hội, trong đó hai lần đại pháp hội đều mời Thượng sư ở các nơi trên thế giới đến hoằng pháp, đồng thời làm giảng tọa và khai thị Phật pháp, thu hoạch được ý kiến và kinh nghiệm quý báu từ các nơi, sửa đổi những chỗ khiếm khuyết.

Khích lệ đồng môn đến Seattle, tham gia đại pháp hội mùa xuân và mùa thu do Thánh Tôn chủ trì, nhận truyền pháp và quán đảnh trân quý của Thánh Tôn.

### 4. Đạo tràng đặc sắc

![image](/img/img_2f6b562ddf1958c2a2395f751a44c4c8.jpg)

Bồi dưỡng nhân viên hoằng pháp - Bạch Vân Lôi Tạng Tự là mảnh đất sinh ra tăng bảo, đến nay đã thai nghén được hai vị Thượng sư, mười vị pháp sư, một vị giảng sư, và ba vị trợ giảng.

Tháng 2/2009, trong buổi pháp hội cầu phúc mùa xuân tổ chức tại Seattle, Thánh Tôn đã đích thân chứng nhận sư huynh Liên Hoa Hạo Dân là một vị khai ngộ đầu tiên của Chân Phật Tông, là Đại Kim Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, sắc phong và ban pháp hiệu là Thượng sư Thích Liên Minh, ban quán đảnh Acharya. Thánh Tôn còn tự tay khoác lên Thượng sư Liên Minh chiếc áo truyền thừa “Pháp Vương tổ y” đầu tiên của Chân Phật Tông, đây là niềm vinh dự vô thượng, cũng là niềm vẻ vang của Bạch Vân Lôi Tạng Tự.

Thượng sư Liên Minh có kiến thức Phật học phong phú, đã đem đến một thời kỳ mới cho Bạch Vân Lôi Tạng Tự. Dưới sự chủ trì và dẫn dắt của Thượng sư Liên Minh, chùa đã triển khai một loạt trình tự học pháp để thâm nhập Mật pháp, suốt 10 năm qua đã giải thích cho đồng môn các kinh điển Đại thừa như kinh Bát Đại Nhân Giác, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Viên Giác, còn liên tục tổ chức ba khóa thiền và một loạt buổi giảng tọa Phật học.

Ngày 17/10/2012, giám đốc tiền nhiệm của Bạch Vân Lôi Tạng Tự là pháp sư Thích Liên Uân đã được thăng cấp làm Thượng sư và được Thánh Tôn ban quán đảnh Acharya, trở thành vị Thượng sư thường trụ thứ hai, cũng đảm đương trụ trì chùa. Thượng sư Liên Uân và Thượng sư Liên Minh cũng là bạn đạo trước khi xuất gia, là sinh lực của thế hệ tuổi trẻ của Chân Phật Tông.

**Thánh Tôn lần thứ tư đến chùa**

![image](/img/img_88a88c5c160db590c76265a54e9e2da6.jpg)

Bạch Vân Lôi Tạng Tự không chỉ là một đạo tràng tu pháp rất tốt mà còn là một đoàn thể xã hội sôi nổi. Nhiều năm nay không chỉ trả được hết các khoản nợ mà còn mua thêm ký túc xá cho tăng đoàn và làm trang nghiêm đạo tràng, rồi mở nghĩa trang Chân Phật. Ngày 30/07/1998, Thánh Tôn lần thứ tư đến Bạch Vân Lôi Tạng Tự, thị sát nghĩa trang Chân Phật đầu tiên của tông phái và đặt tên cho ký túc xá mới mua cho tăng đoàn là Bạch Vân Tiểu Trúc.

Năm 2010, Bạch Vân Lôi Tạng Tự mở rộng đàn thành và làm thêm gác lửng, tăng thêm 244 mét vuông cho không gian. Đã xây mới điện Tài Thần, điện Dược Sư, điện Khổng Tước Minh Vương và điện Bất Động Minh Vương. Vừa bước chân vào đại điện, cảnh tượng đầu tiên lọt vào tầm mắt là kim thân Thất Phật cao 2 mét lấp lánh ánh vàng ở ngay trung tâm, bên trên có ô lọng bảy màu, trang nghiêm thu hút lòng người. Tầng dưới là tượng Phật Diêu Trì Kim Mẫu và Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Hai bên trái phải có tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông và chư Phật Bồ Tát, Hộ pháp Kim cang thần chúng. Hai bên đàn thành đặt riêng điện Dược Sư, điện Tài Thần, điện Bất Động Minh Vương và điện Khổng Tước Minh Vương.

Bốn vị Tứ Đại Thiên Vương cao gần 2,5 mét đứng ở hai bên đàn thành, cao lớn uy mãnh. Hai cột trụ rồng điêu khắc đá cao 4,5 mét càng hiển lộ vẻ trang nghiêm thù thắng. Toàn bộ đàn thành bằng gỗ lim đem đến cảm giác cao quý trang nghiêm lại thân thiết. Đáng quý hơn là, tất cả những tượng Phật được làm mới thêm khi ấy trong khi chế tác đều có xá lợi tóc của Thánh Tôn ở bên trong, càng cho thấy pháp lưu thù thắng. Bạch Vân Lôi Tạng Tự còn có bộ phận dụng cụ Phật giáo, thư viện và Đại Tạng Kinh để thuận tiện cho đồng môn học tập và thỉnh mua dụng cụ Phật giáo.

**Thánh Tôn lần thứ năm đến chùa**

![image](/img/img_459020cd624bed568a9d8b7215644913.jpg)

Tháng 8/2012, lần thứ năm đón Thánh Tôn đến Calgary để khai quang cho đạo tràng mới xây dựng, và chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Nhật Như Lai Kim cương giới và Thai tạng giới. Ngày diễn ra pháp hội có 14 vị Thượng sư và hơn 30 vị pháp sư đến hộ trì, có hơn 800 đồng môn có mặt tham gia và mãn nguyện trở về. Lần đó, Thánh Tôn một lần nữa ban bút tích và mũ Pháp Vương cho Bạch Vân Lôi Tạng Tự.

![image](/img/img_66980775db78b5c60cbf5797b435b6e0.jpg)

**Nghĩa trang Chân Phật Calgary và Nghĩa trang Bạch Vân Thắng Cảnh**

![image](/img/img_22b0c48772633bbd3df54fb505da170d.jpg)

Điều đặc sắc nhất của Bạch Vân Lôi Tạng Tự chính là hoàn thiện nghĩa trang Chân Phật. Nghĩa trang Chân Phật Calgary khánh thành vào năm 1994, được Thánh Tôn đích thân đến khai quang bắt đầu sử dụng. Rất nhanh chóng, gần 900 khu đất mộ đã không đủ để đáp ứng nhu cầu. Vì thế năm 2012, khi Thánh Tôn đến Calgary, một lần nữa ngài quan sát nghĩa trang Chân Phật Calgary và thanh tịnh, gia trì, kết giới cho nghĩa trang Bạch Vân Thắng Cảnh mới được xây dựng thêm.

Vào năm 2012, Thánh Tôn đã tự mình xem phong thủy và đặt gạch an vị, còn nhiều lần khen ngợi nghĩa trang Chân Phật Calgary và nghĩa trang Bạch Vân Thắng Cảnh là một bảo huyệt phong thủy tuyệt đẹp, đây là may mắn của đồng môn ở Calgary. Thánh Tôn ngày hôm đó đã giải thích về phong thủy nghĩa trang, có thể xem thêm video trên Youtube. Nghĩa trang Bạch Vân Thắng Cảnh có môi trường thanh tịnh tao nhã, cảnh quan xanh sạch đẹp được chăm sóc cẩn thận bởi đội ngũ nhân viên tận tâm. Thánh Tôn từng hai lần khen ngợi: “Phong thủy nơi đây là đẹp nhất!” Nếu có thể lợi dụng phương vị, kết hợp tiên mệnh niên vận để lập tọa hướng tốt nhất thì có thể khiến con cháu đời sau có được hiệu quả cát tường cực lớn.

### 5. Sự tương tác giữa đạo tràng và Tông Ủy Hội

Vì tình hình dịch bệnh, Tông Ủy Hội đã tổ chức cho các Thượng sư trên khắp thế giới trên “đám mây” cùng làm chủ đàn pháp hội Hộ Ma Hổ Đầu Kim Cang để cầu phúc cho thế giới. Khi ấy, Thượng sư Liên Minh đã liên hệ với Tông Ủy Hội, cho biết rằng do múi giờ của địa phương mà Bạch Vân Lôi Tạng Tự chỉ có thể chọn thời gian khác để làm Hộ Ma, hưởng ứng cùng Tông Ủy Hội cầu phúc vì thế giới.

### 6. Hoạt động của đạo tràng và xã hội

Vào năm 2002, Bạch Vân Lôi Tạng Tự đã thành lập chi nhánh của Hội Công Đức Hoa Quang, đưa Phật pháp vào xã hội.  
Mỗi năm đều tiến hành hoạt động gây quỹ từ thiện cho Hội Chữ thập đỏ và Trung tâm Ung thư Bệnh viện Nhi đồng Alberta.  
Tiến hành các hoạt động gây quỹ cho người dân ở các vùng thiên tai như động đất, lũ lụt xảy ra trên khắp thế giới, vì chúng sinh gặp nạn ở các vùng thiên tai mà làm siêu độ, trì tụng chú Đại cứu nạn hồi hướng cho chúng sinh chịu khổ được thoát ly khổ nạn.  
Cũng hưởng ứng lời hiệu triệu của tổng hội Hội Công Đức Hoa Quang, vào dịp sinh nhật Thánh Tôn tổ chức “Walk for Rice” <span className="note-blue">[tạm dịch: Đi bộ vì Gạo]</span> để kết duyên với chúng sinh.  
Phật tử trẻ tuổi tham gia trại “Sức sống thanh niên Phật giáo” để truyền Phật giáo đến thế hệ trẻ, gia tăng kiến thức Phật học cho họ. Bạch Vân Lôi Tạng Tự còn đưa Phật pháp và công tác quan tâm từ thiện đến hoằng pháp trong nhà tù, đưa đến viện dưỡng lão và tổ chức các hoạt động giao lưu vui chơi, đây là tuân theo lời dạy không bỏ rơi một chúng sinh của Thánh Tôn.

Thượng sư Liên Minh có nhắc đến điều Thánh Tôn nói trong một bức thư gửi đến Bạch Vân Đường: “Sự hoằng dương của Bạch Vân Đường giống như tên gọi - trong sáng thanh cao, tiêu dao tự tại. Chăm chỉ phát huy, tương lai cũng có thể trở thành đạo tràng kiểu mẫu của Chân Phật Tông.” Từ khi Bạch Vân Đường phát triển thành Bạch Vân Lôi Tạng Tự ngày nay là 35 năm, không phụ kỳ vọng của Thánh Tôn. Bạch Vân Lôi Tạng Tự đã phát huy thành một tổ chức kiện toàn, là một đoàn thể Phật giáo có tài chính ổn định, pháp vụ hưng long, hương hỏa cường thịnh, nhân tài xuất chúng, sinh khí hừng hực. Cảm ơn tất cả các vị đại đức đã tham gia xây dựng và phát triển chùa, tất cả những gì của Bạch Vân Lôi Tạng Tự ngày nay đều là thành quả của sự nỗ lực của mọi người, chúc Bạch Vân Lôi Tạng Tự nguyện bồ đề, hạnh bồ đề viên mãn.

**(Hết)**

**Lời bổ sung:**

Một trong những lý do khiến chúng tôi giới thiệu Bạch Vân Lôi Tạng Tự đến với các đồng môn Việt Nam là vì có khá nhiều người Việt Nam tham gia đồng tu tại ngôi chùa này. Hầu hết họ là những người Việt gốc Hoa, có thể giao tiếp bằng tiếng Hoa phổ thông hoặc tiếng Quảng. Một số đồng môn cao tuổi thuộc thế hệ trước có thể còn nói được tiếng Việt. 

Một vị sư huynh - nhân viên hoằng pháp người Việt gốc Hoa đã làm việc tình nguyện tại ngôi chùa này hơn 20 năm qua đã chia sẻ link đồng tu của chùa, hoan nghênh các đồng môn Việt Nam tham gia đồng tu. 

**Link ZOOM đồng tu:** [https://us02web.zoom.us/j/82755610273?pwd=b0JRTkc3N0JwOEJvVnFseHZhaUZWZz09](https://us02web.zoom.us/j/82755610273?pwd=b0JRTkc3N0JwOEJvVnFseHZhaUZWZz09)

**Thời gian đồng tu:** 8:30 sáng thứ bảy hàng tuần theo giờ PST  (11:30 tối thứ bảy theo giờ VN). 

Xin vui mừng thông báo nhân duyên tốt lành này rộng rãi đến các đồng môn người Việt, để đồng môn có thể kết nối, giao lưu, học tập, đồng tu. 

Om guru liansheng siddhi hum 🙏🏽

---
# File: gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/cau-vong-loi-tang-tu.md
# Title: Cầu Vồng Lôi Tạng Tự
---

![image](/img/img_a7197f5ec2816a926ec01ee42717dbf4.jpg)

## Cầu Vồng Lôi Tạng Tự

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cùng với Seattle Lôi Tạng Tự là hai ngôi chùa Lôi Tạng Tự chính của Chân Phật Tông, địa điểm tại North Bend, bang Washington, Hoa Kì.

Ngôi chùa này thường xuyên diễn ra các buổi pháp hội Hộ Ma do Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì. Linh Cốt Tháp của Chân Phật Tông (Song Liên Cảnh Giới) cũng được xây dựng tại đây.

![Song Liên Cảnh Giới - Ảnh: Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cung cấp](/img/img_7084ce8ea2aaee441f43f987114c442f.jpg)

**Thông tin liên lạc của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự**

彩虹雷藏寺 Rainbow Temple  
14310 476th Ave SE,  
North Bend, WA 98045 U.S.A.  
Tel: 425-888-3677  
Fax: 425-888-9008  
Website: [https://tbs-rainbow.org](https://tbs-rainbow.org/)  
Email: service@tbs-rainbow.org  
Facebook: [https://www.facebook.com/pages/彩虹雷藏寺/108711872551528](https://www.facebook.com/pages/%E5%BD%A9%E8%99%B9%E9%9B%B7%E8%97%8F%E5%AF%BA/108711872551528)

---
# File: gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/dai-loan-loi-tang-tu.md
# Title: Đài Loan Lôi Tạng Tự
---

![Toàn cảnh Đài Loan Lôi Tạng Tự (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_1ad3002ba9304f37b2fdf64f93cb2a04.jpg)

## Đài Loan Lôi Tạng Tự

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Đài Loan Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Đài Loan Lôi Tạng Tự là ngôi chùa Lôi Tạng Tự Chân Phật Tông lớn nhất tại Đài Loan, ngụ trên đỉnh núi Hổ tại huyện Nam Đầu, thành phố Đài Trung. Ngôi chùa này là nơi diễn ra các buổi pháp hội lớn do đích thân Liên Sinh Hoạt Phật và các vị Thượng sư khác chủ trì với hàng vạn tín chúng tham dự.

![Quang cảnh một buổi lễ Hộ Ma tại Đài Loan Lôi Tạng Tự (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_a137dc14d9a87f9fcdca30b9cea9182b.jpg)

![Quang cảnh một buổi lễ Hộ Ma tại Đài Loan Lôi Tạng Tự (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_51dd5cec5ac160c0e2dfd033925faaa0.jpg)

![Quang cảnh một buổi lễ Hộ Ma tại Đài Loan Lôi Tạng Tự (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_64ada38824a502bc4cf2f8b2c586b18f.jpg)

![Điện Tây phương Tam Thánh - Lầu 2 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự. (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_f6a1967be2b6483259084d41aae2ef73.jpg)

Nằm trong quần thể Đài Loan Lôi Tạng Tự, trên ngọn núi cao hơn phía sau lưng chùa, là điện thờ Diêu Trì Kim Mẫu. Diêu Trì Kim Mẫu là một trong những vị Bổn tôn của Liên Sinh Hoạt Phật, vị Tiên Vương mà Liên Sinh Hoạt Phật cả đời một lòng tôn sùng kính ngưỡng.

![Điện Kim Mẫu trên đỉnh ngọn núi phía sau lưng Đài Loan Lôi Tạng Tự. (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp.)](/img/img_5ced1fade99223141722e6f19af0981f.jpg)

Trên ngọn núi phía trước Đài Loan Lôi Tạng Tự là tháp Phật Đảnh Tôn Thắng trang nghiêm. Nơi đây, bạn có thể ngắm tháp, chiêm ngưỡng toàn cảnh Đài Loan Lôi Tạng Tự, và rất nhiều Phật tử thường nhiễu quanh ngôi tháp linh thiêng này.

![Tháp Tôn Thắng Phật Mẫu (Ảnh: Đài Loan Lôi Tạng Tự cung cấp)](/img/img_fc489d3ef27222ffe06d150cc52b547d.jpg)

**Thông tin liên lạc của Đài Loan Lôi Tạng Tự**

台灣雷藏寺 Taiwan Lei Tsang Temple  
54264 南投縣草屯鎮山腳里蓮生巷100號  
No. 100, LianSheng Lane, Shanjiao Village, Tsao-Tun Township, Nantou County, Taiwan, 54264, R.O.C.
<span className="note-blue">[Số 100, đường Liên Sinh, thôn Sơn Cước, trấn Thảo Đồn, huyện Nam Đầu, Đài Loan ROC 54254]</span>  
電話 <span className="note-blue">[Điện thoại]</span>: [+886-49-2312992](tel:+886-49-2312992)  
傳真 Fax：+886-49-2350801  
Email: [leybet@gmail.com](mailto:leybet@gmail.com)  
Website: [https://tbsec.org/](https://tbsec.org/)  
Facebook: [https://www.facebook.com/台灣雷藏寺httpstbsecorg-414354695424437](https://www.facebook.com/%E5%8F%B0%E7%81%A3%E9%9B%B7%E8%97%8F%E5%AF%BAhttpstbsecorg-414354695424437)

---
# File: gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/index.md
# Title: Địa điểm và tổ chức
---

# Địa điểm và tổ chức

<div className="temple-list">

- [Đài Loan Lôi Tạng Tự](/gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/dai-loan-loi-tang-tu)
- [Seattle Lôi Tạng Tự](/gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/seattle-loi-tang-tu)
- [Cầu Vồng Lôi Tạng Tự](/gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/cau-vong-loi-tang-tu)
- [Bạch Vân Lôi Tạng Tự](/gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/bach-van-loi-tang-tu)
- [Pháp Hoa Đường](/gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/phap-hoa-duong)

</div>

---
# File: gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/phap-hoa-duong.md
# Title: Pháp Hoa Đường
---

![image](/img/img_0fcb185d87e657a7cac13ba33d36f806.jpg)

## Pháp Hoa Đường

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">13/08/2014</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Seattle Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

🏡 Địa chỉ: Số 43 ngõ 218 đường Nhật Tân khu Đông thành phố Gia Nghĩa, Đài Loan.

☎️ Điện thoại: +886966520610

📧 Email: hellofahua@gmail.com

Tên gọi Pháp Hoa Đường do Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật vào ngày 13/08/2014, đúng dịp Diêu Trì Kim Mẫu Thánh đản thiên thu, tại Chân Phật Mật Uyển đã đích thân ban cho bút tích trân quý và căn dặn ba người là Giáo sư ưu tú Vương Tiến Hiền, phu nhân sư tỉ Lâm Thế Trân và cậu con trai nhỏ - sư huynh Vương Lượng Quân (hiện là Thượng sư Liên Anh), rằng trong tương lai phải tích cực phát huy pháp vụ của Phật đường tại Gia Nghĩa - nơi Sư Tôn sinh ra, để hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.

Đồng thời, trong buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử tại Seattle Lôi Tạng Tự vào ngày 16/08/2014, Sư Tôn đã tuyên bố lai lịch của ba người: Giáo sư Vương là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, sư tỉ Lâm là Đế Thích Thiên Công Chúa chuyển thế, Thượng Sư Liên Anh là Bất Động Minh Vương chuyển thế, cùng lúc thông báo rằng họ sẽ thành lập Pháp Hoa Đường tại Gia Nghĩa Đài Loan. Sư Tôn còn dự đoán rằng tương lai, Chư La (tên cổ của Gia Nghĩa) sẽ là “chim sắt bay trên trời, Mật pháp đại hưng”!

Sau khi ba người trở về Đài Loan đã lập tức tìm những đồng môn hữu duyên để bắt đầu đồng tu, và vào tháng 6/2016 họ đã xin phép chính quyền thành phố Gia Nghĩa thành lập Pháp Hoa Học Hội Chân Phật Tông Thành Phố Gia Nghĩa, do giáo sư Vương giữ chức chủ tịch chịu trách nhiệm chính. Họ đã phát tâm mua ngôi nhà số 1 và 2 tầng 2 tòa nhà số 1 đường Tân Vinh thành phố Gia Nghĩa, từ đó pháp vụ và hội vụ đã bước trên con đường phát triển đúng đắn, quảng độ hữu tình.

Tại pháp hội Đại Lực Kim Cang ngày 27/08/2016, Liên Hoa Lượng Quân đã được Căn bản Thượng sư cạo đầu xuất gia, ban pháp hiệu là Liên Anh, khi ấy ngài 22 tuổi. Thượng sư Liên Anh khi ấy vẫn đang là sinh viên năm thứ 3 khoa Trung Văn trường Đại học Đông Hải, sự phát tâm như thế đủ cho thấy đại nguyện và quyết tâm tu hành và hoằng pháp của ngài. 

Sau khi pháp sư xuất gia đã tích cực thúc đẩy pháp vụ, bản thân tinh tấn tu hành, thích làm việc thiện và dẫn dắt đại chúng thực hành tinh thần kính sư, trọng pháp, thực tu.

Tháng 02/2018, Tông Ủy Hội đã tuyên bố pháp sư Liên Anh là thị giả theo sát bên cạnh Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. 

6 năm kể từ sau khi xuất gia, pháp sư Liên Anh trên cương vị của mình luôn tận tụy thận trọng hướng dẫn cho rất nhiều chúng sinh quy y Căn bản Truyền thừa Thượng sư, tu trì Chân Phật Mật Pháp, có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền, quảng bá, trả lời thư tín, thiết kế tượng Phật và thuyết pháp. Vì thế, vào ngày 21/01/2023, tại mật đàn trên tầng 6 của Đài Loan Lôi Tạng Tự, Căn bản Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã ban cho pháp sư Liên Anh quán đảnh Acharya, trở thành Thượng sư của Chân Phật Tông, đảm đương trách nhiệm hoằng pháp sâu rộng hơn nữa.

Dưới sự dẫn dắt của Thượng sư Liên Anh, Pháp Hoa Đường ngoài duy trì đồng tu và khai thị mỗi tuần hai lần thì còn mời các chuyên gia từ mọi tầng lớp xã hội đến chia sẻ các bài giảng về sức khỏe y học, vận động dưỡng sinh, khoa học đời sống, văn học lịch sử, v.v… 

Ngoài phương diện pháp vụ, Pháp Hoa Đường còn dốc sức đẩy mạnh hoạt động từ thiện, trong những năm qua đã tích cực phối hợp với hoạt động cứu giúp người nghèo của Hội Công Đức Hoa Quang khu vực phía Nam của Chân Phật Tông, cấp phát tư lương, gạo, quan tâm đồng hương, thăm hỏi người già neo đơn, làm việc thiện không cần người khác biết, nhưng cũng không hề tụt hậu. Đây là tinh thần mà Sư Tôn dạy chúng ta: người đói thì ta đói, người chìm thì ta chìm. 

Pháp Hoa Đường luôn phối hợp với các hoạt động có tính toàn cầu được Tông Ủy Hội phát động hàng năm như trì chú, hội cúng, thỉnh Phật trụ thế. Pháp Hoa Đường đã thâm nhập địa phương, trở thành trạm chuyển tiếp quan trọng trong việc thúc đẩy pháp vụ của tông phái.

Hơn nữa, Sư Tôn còn đích thân dặn dò Thượng sư Liên Anh dùng pháp phương tiện “Hỏi Việc”, lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ tôn hỏi việc, để tùy duyên độ chúng, phát huy năng lực bẩm sinh của ngài. Địa điểm hỏi việc ngoài Pháp Hoa Đường ra thì do Sư Tôn chỉ thị, đạo tràng thỉnh mời, Thượng sư cũng không quản ngại vất vả mỗi tuần đều đi đi về về từ Nam ra Bắc đến Hương Hoa Lôi Tạng Tự ở Đài Trung và Pháp Ký Lôi Tạng Tự ở Đào Viên để phục vụ Hỏi Việc, thật sự đã giúp đỡ rất nhiều đồng môn giải quyết rất nhiều vấn đề.

Chủ tịch nhiệm kỳ 2 và 3 của Pháp Hoa Học Hội là bác sĩ Ngô Đông Long hiện là chủ nhiệm khoa ngoại tổng hợp của bệnh viện Thánh Martin ở thành phố Gia Nghĩa, đồng thời cũng là một đệ tử Chân Phật lương thiện sùng đạo, kính sư trọng pháp thực tu. Ông đã mua một ngôi biệt thự độc lập tại số 43 ngõ 218 đường Nhật Tân thành phố Gia Nghĩa, cúng dường không hoàn lại cho Pháp Hoa Đường và Pháp Hoa Học Hội sử dụng, đúng là sự phát tâm của một Đại Bồ Tát!

Nhờ sự hỗ trợ lớn của chủ tịch Ngô, Thượng sư Liên Anh đã tận tâm tận lực đi gây quỹ và một tay thiết kế, trang hoàng, bố trí, điêu khắc tượng Phật cho Phật đường mới, trong thời gian chưa đầy một năm đã biến ngôi nhà thô sơ thành một đạo tràng rất trang nghiêm. Sau khi Thượng sư Liên Anh và đường chủ, chủ tịch chuyển Phật đường đến địa chỉ mới đã đi Mỹ vào tháng 08/2022, tại Chân Phật Mật Uyển đã báo cáo với Sư Tôn Sư Mẫu và nhận được sự khen ngợi, động viên rất lớn.

Tháng 05/2018, Liên Sinh Hoạt Phật đã đáp ứng lời thỉnh pháp của Thượng sư Liên Anh, tại Gia Nghĩa sẽ đích thân lần đầu tiên truyền Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương bất cộng đại pháp, nhưng không ngờ do dịch bệnh mà thời gian pháp hội đã bị hoãn lại. May mắn thay, sau khi Pháp Hoa Đường chuyển đến đường Nhật Tân thật sự đã đón nhận một bầu không khí mới. Khi dịch bệnh thuyên giảm, Liên Sinh Thánh Tôn trở về Đài Loan, vào ngày đầu tiên của năm mới tức 01/01/2023, Thánh Tôn đã đích thân lần đầu tiên truyền Ngũ Sắc Bất Động Minh Vương tại Sân Vận Động Công Viên Thể Thao thành phố Gia Nghĩa. 

Pháp này đã ứng với lời vàng của Liên Sinh Thánh Tôn vào tháng 08/2014 rằng Gia Nghĩa (Chư La), nơi sinh ra của Liên Sinh Thánh Tôn, cuối cùng đã đại hưng Mật pháp.

Pháp Hoa Đường cũng hy vọng dưới sự gia trì của Sư Tôn có thể triển khai mạnh mẽ nhiệm vụ hoằng pháp, tự độ độ tha, tự giác giác tha, cùng với chúng sinh cùng lên Ma Ha Song Liên Trì.

![image](/img/img_7df807aa2acaf105dec0a04b301d8eb0.jpg)

---
# File: gioi-thieu/dia-diem-va-to-chuc/seattle-loi-tang-tu.md
# Title: Seattle Lôi Tạng Tự
---

![(Ảnh: Seattle Lôi Tạng Tự cung cấp)](/img/img_76df5d92fcf12b58603507b3f0843f80.jpg)

## Seattle Lôi Tạng Tự

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">1985</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Seattle Lôi Tạng Tự là Chùa Tổ của Chân Phật Tông, hoàn thành xây dựng vào năm 1985 tại thành phố Seattle, bang Washington, Hoa Kì.

Seattle Lôi Tạng Tự cùng với Cầu Vồng Lôi Tạng Tự là hai ngôi chùa Lôi Tạng Tự chính của Chân Phật Tông tại nước Mĩ.

![image](/img/img_551ad5265e5007e7e86d335c8b498916.jpg)

**Địa chỉ liên lạc của Seattle Lôi Tạng Tự**

西雅圖雷藏寺 Ling Shen Ching Tze Temple  
17012 NE 40th Court  
Redmond, WA 98052-5491, U.S.A.  
Website: [https://www.tbsseattle.org/](https://www.tbsseattle.org/)  
Email: [webmaster@tbsseattle.org](mailto:webmaster@tbsseattle.org)  
Tel: (425) 882-0916  
Fax: (425) 883-7360  
Facebook: [https://www.facebook.com/tbsseattle.org/?ref=page_internal](https://www.facebook.com/tbsseattle.org/?ref=page_internal)

---
# File: gioi-thieu/doi-dieu-nhan-gui.md
# Title: Đôi điều nhắn gửi
---

## Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

Liên Sinh Hoạt Phật tên thật là Lư Thắng Ngạn, sinh năm 1945 tại Gia Nghĩa, Đài Loan.

Vượt qua bình diện của nhị nguyên, Tôn Sư đã thọ nhận, nắm giữ và phát triển Rimé không bộ phái từ các dòng truyền thừa Phật giáo Tây Tạng là Nyingma (Ninh mã phái - Cổ mật - Mũ đỏ - Hồng giáo), Kagyu (Cát cử phái - Bạch giáo), Sakya (Tát ca phái - Đa sắc - Hoa giáo) và Gelug (Cách lỗ phái - Mũ vàng - Hoàng giáo). Ngài cũng quảng bá và sử dụng tất cả các phương tiện thiện xảo có thể trong Đạo giáo, Đại thừa Hiển giáo cũng như Mật giáo để độ hóa chúng sinh.

![image](/img/img_5d831710f279743afd0fc7e9659f36aa.jpg)

*(Nguồn ảnh: Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Indonesia)*

Trong dòng truyền thừa Chân Phật Tông, ngài là Đạo sư gốc (Root guru - Kim cương truyền thừa Thượng sư), và thường được các đệ tử gọi thân mật là Lư Sư Tôn.

Thành tựu đầy đủ Tam minh, Ngũ nhãn, Lục thông, Tôn Sư đã không ngại ngần mà thể hiện năng lực cùng hiểu biết vô song của mình để lái con thuyền pháp đưa chúng sinh đến bến bờ giác ngộ trong suốt nhiều thập kỉ.

Chỉ tính riêng đến năm 2008, toàn cầu đã có hơn 5 triệu đệ tử quy y và học pháp từ ngài, trong đó có rất nhiều Rinpoche và Lama Tây Tạng nổi tiếng. Với hơn 400 phân đường trên khắp thế giới, Chân Phật Tông là một dòng truyền Phật giáo có sức ảnh hưởng rất lớn ngày nay. Mỗi pháp hội của ngài thường có hàng chục nghìn người tham dự, có khi chật kín cả một sân vận động lớn.

*(Nguồn video: Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia)*

Cho đến thời điểm này, Liên Sinh Hoạt Phật đã viết hơn 300 cuốn sách cũng như giảng pháp với hàng trăm video bằng tiếng Trung xuyên suốt các chủ đề như Phật giáo Mật tông, Phật Giáo Thiền tông, Biện giảng kinh sách, Thuật phong thủy và Đạo giáo. Rất nhiều sách trong số này đã và đang được dịch ra tiếng Indonesia, Malaysia, Anh, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Việt Nam cùng các ngôn ngữ khác. Năm 1982 ngài chuyển đến định cư tại thành phố Seattle, bang Washington nước Mỹ. Từ đó đến nay, Ngài chủ yếu sống, tu hành và hoằng pháp tại Hoa Kỳ và Đài Loan.

"Những cuốn sách này chứa đựng đầy năng lượng tâm linh… Ngay khi bạn mở một cuốn sách ra đọc, năng lượng tâm linh sẽ tỏa ra..."

*"Đối với nhiệm vụ cứu độ chúng sinh của tôi, nguyện vọng của tôi luôn luôn là không có một ai bị bỏ rơi phía sau; tất cả mọi người sẽ được lên con thuyền pháp đi tới Ma Ha Song Liên Trì đầy bình yên, tất cả đều trở nên tốt đẹp và rực rỡ với gió luôn ở sau lưng họ. Nếu bạn tình cờ gặp ai chưa từng đọc sách của tôi, làm ơn hãy tặng họ một cuốn.

Tôi không có sự phân biệt nào giữa những người là đệ tử của tôi và những người không phải đệ tử của tôi. Sự thật là, tất thảy chúng sinh là chính tôi."*

(Trích dẫn từ cuốn 165 - Những trang thơ và bài thơ - Sách của tôi nói hộ lòng tôi. )

![image](/img/img_647505fe8877b3671375a504d53a8901.jpg)

### Nhắn gửi đến bạn

Hãy đến với Tôn Sư ngay khi còn có thể. Tại thời điểm này trên trái đất, rất khó gặp được một vị Đại thành tựu giả có thân người chứng ngộ ở mức độ như ngài, và lại càng khó khi vị Đại thành tựu giả ấy chấp nhận ban phước gia trì, quán đảnh hay đáp ứng mọi mong cầu ở mức độ rộng lớn như thế này.

Chỉ ở trong pháp hội bạn mới có thể cảm nhận được hết thần lực, sự gia trì, sự từ bi và cả hài hước của Tôn Sư.

Chỉ ở trong pháp hội bạn mới cảm nhận được hết lòng sùng mộ, sự yêu quý và hỗ trợ lẫn nhau giữa mọi người.

Chỉ ở trong pháp hội bạn mới cảm nhận được sự thay đổi mạnh mẽ như thế nào trong tâm thức của chính mình...

Dù bạn chỉ là người bình thường, chỉ mong cầu thế gian hay đã tu tập ở mức độ sơ cơ, dù tu tập đang ở trên giai đoạn phát triển hay giai đoạn thành tựu, dù ở Ngoại mật hay Nội mật, dù chưa tu tập bao giờ hay tu tập đã lâu nhưng không thấy thành tựu gì, dù tràn ngập niềm tin hay đã mất niềm tin vào thế giới tâm linh, dù mới chỉ trau dồi phương tiện Mật pháp hay đang đi tìm sự giác ngộ viên mãn, dù chỉ cần khỏe mạnh bình thường hay thực sự muốn thiền định sâu, từ Tứ thiền hữu sắc, tới Thiền vô sắc hay Diệt Thọ Tưởng Định.

Dù bạn tu tập theo Thiền công án, Thiền nguyên thủy, theo Đại thừa Hiển giáo, theo Mật tông Đông mật hay Mật tông Tây Tạng, dù theo nghề phong thủy sư, dù theo Đạo giáo, Ấn Độ giáo, Hatha Yoga, Raja yoga, Sahaja Yoga, hay thậm chí theo Thiên Chúa giáo v.v...

Dù bạn theo chủ thuyết New Age, theo Kabbhala hoặc thậm chí cả vô thần, không tin có thần thánh, dù bạn theo đuổi Aristotle hay tin vào Plato, theo chủ thuyết duy vật biện chứng hay vạn vật duy tâm tạo.

Dù bạn chẳng có một xu dính túi để cúng dường, dù bạn có âm thầm bịt mặt giấu kín tên tuổi thân phận để nhận sự gia trì và quán đảnh, dù bạn chẳng muốn bỏ dòng phái đang theo, không muốn rời xa vị thầy hiện tại, hay dù bạn chẳng bao giờ muốn theo con đường nào về tâm linh.

Đừng ngại ngần, hãy tới với Tôn Sư! Ngài không bao giờ từ chối, ngài không bao giờ phân biệt, và ngài có đầy đủ mọi phương tiện thiện xảo, mọi vi diệu pháp để đáp ứng mọi nhu cầu của bạn, cho dù nhu cầu của bạn tầm thường hay vĩ đại.

Ngài sẽ kết nối bạn tới vị thầy của bạn, Bổn tôn của bạn, chúa Jesus của bạn, hay với higher-self của bạn, sẽ mở cánh cổng của bạn tới với sự may mắn, niềm tin và sự thành công của bạn.

Tôn Sư đích thực là một Viên ngọc mani như ý. Giống như mặt trời rọi nắng, ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ tự nhiên bình đẳng không phân biệt. Ngài chẳng yêu cầu bạn phải quy y, cũng chẳng quan tâm bạn thực sự theo môn phái gì, chỉ cần thấy bạn được sống tốt hơn, cuộc sống của bạn bớt khó khăn hơn, và nếu có thể, hãy làm nhiều điều có ích hơn cho người khác, dưới bất kì hình thức nào. (Tất nhiên với ngài, nếu bạn muốn trở thành hành giả mong cầu đạt tới giác ngộ viên mãn, bạn sẽ là một viên ngọc vô giá.)

Bất kì mong muốn nào, bất kì mong cầu gì, miễn là nó không có hại cho bạn và người khác, chỉ cần giữ nó trong tâm bạn, không cần phải nói ra và tới với Tôn Sư... Rất kì lạ, bằng cách nào đó, chúng sẽ được đáp ứng.

Năm 2025, ngài đã ở tuổi 81 (và thực ra đã vượt quá tuổi thọ thực tế của mình). Bạn nghĩ rằng mình có còn thời gian để chần chừ? Chúc bạn sẽ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội quý giá trong đời mình. 

Trân trọng!

---
# File: gioi-thieu/index.md
# Title: Giới thiệu
---

## Giới thiệu

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

> Giới thiệu về Chân Phật Tông cùng các thông tin liên quan

---

### Truyền thừa và nhân vật

---

### Hoạt động và sự kiện

- Pháp hội Hộ ma và Quán đảnh
- Quán đảnh và gia trì từ xa
- Sinh cơ
- Đồng tu trực tuyến

---

### Địa điểm và tổ chức

---

### Mạng lưới trực tuyến toàn cầu

- Chân Phật Toàn Cầu
- Chân Phật Bát Nhã Tạng
- Chân Phật Báo

---

### Dành cho cộng đồng người Việt

- Facebook Chân Phật: [facebook.com/chanphat.org](https://www.facebook.com/chanphat.org)
- Youtube Chân Phật: [youtube.com/@chanphat](https://www.youtube.com/@chanphat)

---

### Liên hệ và cộng tác

---
# File: gioi-thieu/lien-he-va-cong-tac/index.md
# Title: Liên hệ và cộng tác
---

# Liên hệ và cộng tác

<div className="contact-list">

- [Sử dụng bản văn từ Upala](/gioi-thieu/lien-he-va-cong-tac/su-dung-ban-van-tu-upala)

</div>

---
# File: gioi-thieu/lien-he-va-cong-tac/su-dung-ban-van-tu-upala.md
# Title: Sử dụng bản văn từ Upala
---

## Về việc sử dụng bản văn từ Upala

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Tôi có thể sử dụng và chia sẻ các bản văn từ Upala không?

Hoan nghênh các bạn sử dụng các bản văn và videos từ Upala, dưới bản quyền của Tbboyeh (Chân Phật Bát Nhã Tạng), TBSN (Mạng Chân Phật Toàn Cầu) và TBSEC (Đài Loan Lôi Tạng Tự) dưới danh nghĩa cá nhân, phi vụ lợi khi chia sẻ. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng, các mục đích chia sẻ khéo léo vì mục tiêu cao thượng là một điều tốt đẹp và cao quý. 

Trên thực tế, các huynh đệ đồng môn có sử dụng dưới hình thức cá nhân vẫn đã và đang trực tiếp liên hệ riêng Upala và đề nghị được sử dụng một cách hợp lí. Đây là điều đáng trân trọng. Mong rằng khi chia sẻ, các bạn ghi rõ nguồn từ các trang của chúng tôi để kết nối thêm nhiều người đến với nguồn thông tin chính thống của Chân Phật Tông.

Riêng dưới danh nghĩa là một tổ chức, bạn cần liên hệ trực tiếp với Tbboyeh để xin bản quyền, xin giấy phép sử dụng hoặc ít nhất cũng cần trích dẫn chính xác (không thay đổi nội dung) cũng như cần ghi chú nguồn dịch rõ ràng. Đây cũng là lẽ thường tình.

Nếu bạn thấy các bản văn hữu ích, vui lòng thoải mái sử dụng, càng nhiều càng tốt, đây là điều chúng tôi thật sự mong đợi, và điều này cũng hợp với tinh thần của Sư Tôn, đó là chia sẻ và kết nối thật nhiều, Sư Tôn không có sự phân biệt nào về việc một người nào đó có phải là đệ tử CPT hay không.

### Tôi có thể thu âm các bản dịch của Upala và phổ biến không?

Vấn đề thu âm các bản dịch cũng liên quan đến bản quyền, và bạn cần xin bản quyền trực tiếp từ các đơn vị nói đến ở trên. 

Tuy nhiên, chúng tôi không khuyến khích bạn thu âm. Các bản dịch vẫn chưa được Upala xếp vào mức độ hoàn hảo 100%. Chúng sẽ được tiếp tục hiệu đính, rà soát cho tới khi chúng tôi hài lòng. 

Nếu các bản ghi âm bản văn còn chưa được hoàn thiện được lan truyền rộng rãi thì chúng có thể sẽ lẫn lộn với các bản ghi âm chính thức sau này. Đây là điều không tốt, cả về phương diện thế gian lẫn xuất thế gian (gánh nghiệp nếu chúng ta không cẩn thận).

Khi hoàn thiện, chúng tôi sẽ kết hợp cùng Tbboyeh để thu âm và cùng Tông Ủy Hội để quảng bá một cách chính thức các bản thu hoàn chỉnh (cũng dưới bản quyền của các đơn vị kể trên). 

Chúng tôi biết các bạn rất nóng lòng có bản thu âm, do nguồn lực hiện tại rất có hạn, chúng tôi hiện chưa thể làm nhanh cùng một lúc rất nhiều mảng công việc. Cùng là đệ tử của Sư Tôn, mong chúng ta cùng nhau chậm lại một chút để đảm bảo chất lượng cao nhất, và mong tất cả chúng ta cùng hỗ trợ cho Upala cũng như các đơn vị kể trên trong công việc này.

Cảm ơn các bạn!

Om guru liansheng siddhi hum! 🙏

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/dat-tang-vuong-ba-hoat-phat-cua-hong-giao-ca-ngoi.md
# Title: Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật của Hồng giáo ca ngợi
---

## Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật của Hồng giáo ca ngợi

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">25/09/1984</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật ca ngợi. 

Đây là thư của Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật. 

Trước pháp tọa của Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư, chúc cát tường.

Từ đầu đến cuối tôi đều xin tiếp nhận chỉ dạy, tất cả đều vui vẻ. Tôi đã nhận được bức “pháp tướng con mắt thứ ba” của ngài, vô cùng hoan hỷ và khâm phục. Từ nay triết học phương Đông dần dần chuyển dịch về phương Tây.

Dòng chảy pháp của Phật pháp Mật tông hướng về phương Tây, văn hóa Đông Tây có sự giao lưu, có thể gọi là lợi ích lẫn nhau.

Ngài đã hòa hợp bốn giáo phái, rồi phát triển những tư tưởng mới, thành lập Chân Phật Tông, những quá trình này không phải là một sớm một chiều mà có thể thành được, đòi hỏi phải là người có đại chứng ngộ và đại thần thông, trải qua thời gian mấy chục năm thì mới có thể thành được. Sáng lập tông phái là sự nghiệp trăm năm, sự nghiệp nghìn vạn năm, không phải chuyện thường. Chỉ mong Chân Phật Tông của Thượng sư khiến chúng sinh mười phương đều thấm được lợi ích, hợp với mục đích Phật pháp phổ độ chúng sinh.

Tôi biết Ngài hành-giải cả đôi đều đắc, đạt được hết mọi tinh hoa của các Thượng sư Hoạt Phật, Hiển-Mật đều viên dung, hơn nữa còn phát đại bồ đề tâm, nóng lòng hoằng pháp, đáp ứng đời mà phổ biến lợi ích tinh hoa của Mật giáo, dùng ngòi bút viết ra những điều sâu sắc của đại trí huệ, cho dù là kho tàng bí mật của Mật pháp cũng đều công khai hết, in và phát hành trên đời, tôi (Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật) biết ngài là hành giả Mật thừa được gia ân, tự nguyện phân thân xả cốt, công đức nhiều tựa hằng hà sa này sao có thể đo lường!

Sự xuất thế của ngài, Liên Sư đã có ghi chép đầy huyền bí, có bài kệ rằng:  
*Liên Sư sớm dự đoán  
Đã ghi trong điển chương  
Khi thế ma lại mạnh  
Chim sắt bay trên trời  
Thì đó chính là lúc  
Chính pháp lại hưng thịnh  
Như đèn dầu rực cháy  
Ánh sáng vụt lóe lên  
Chúng sinh sẽ được cứu  
Gánh nặng con đường xa  
Khi ấy sẽ chín muồi  
Trong ánh sáng vô ngại  
Chỉ nguyện cầu Thượng sư  
Từ bi ban gia hộ.*

Tôi (Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật) biết ngài nhìn xa trông rộng, đã hoàn toàn biết rõ thời cơ này, ngài phải vận dụng đạo để phát huy truyền thống. 

Tại đây lúc này, cần phối hợp với sự đổi mới của thời đại và địa điểm mà hoằng pháp hưng tông, tập hợp các lực. Hành giả Mật tông phải lấy thực tu làm đầu, ngài có thể tập hợp nhiều người cùng nhau tu tập, định ra quy tắc, thứ tự tu pháp, như vậy các đệ tử mới có thể hiểu pháp của ngài là vi diệu hiếm có.

Còn về phương diện pháp khí, Mật pháp có thể nói là quá rườm rà phức tạp, hao phí rất nhiều, đủ loại nghi thức không dễ tu tập. Về phương diện thiết lập đàn thành thì chỉ cần trang nghiêm và tâm hoan hỷ. Tụng chú cúng dường thì chủ yếu là thuận tiện và tâm cung kính, còn nghi thức và pháp khí thì có thể giảm bớt, vì nếu phức tạp quá thì con người phổ thông không thể nào đảm nhiệm được. 

Phật giáo Mật tông, phương Tây dần dần đã có người tu tập Mật tông này, Hoạt Phật cũng đến phương Tây truyền pháp và quán đảnh rất nhiều, những người đi theo ngài như dòng chảy bất tận, nhìn vào thì dường như cực kì hưng thịnh. Nhưng người phương Tây thiếu mất nền tảng triết học của phương Đông, việc học pháp của người phương Tây khá thiên về lập đàn tụng chú cúng dường mà thôi, còn đối với những ý nghĩa thâm sâu huyền bí của nội tại thì lại không biết. Nhất là thời gian truyền pháp rất ngắn, cũng không có kế hoạch truyền pháp, việc dịch kinh điển cũng không có nhân tài, trong thời gian ngắn ngủi thì thành tích chưa thể lý tưởng được hết. Người phương Tây coi trọng hiện thực, nếu trong thời gian ngắn mà không thấy tương ứng thì việc tập hợp nhân duyên này cũng là công cốc, điểm này là nói về kinh nghiệm của tôi.

Nguyện lực của ngài sâu rộng, và ở nước Mỹ đã có pháp môn long tượng như vậy, đúng là nhân tài xuất chúng về truyền pháp, nhất là ngài tinh thông kinh luận, trải qua tu Đạo Hiển Mật, không nề hà khó khăn gian khổ để mà được nhiều Hoạt Phật dạy dỗ, hơn nữa ở trong thiền định còn được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ dạy giáo pháp, có được Vô thượng mật trời người khó gặp. Nay biết thường có trăm, nghìn người đến nghe pháp tại Seattle, đệ tử khắp thế giới quy y có đến sáu vạn người, sách mà ngài viết phù hợp với thời kỳ này, Phật pháp bao la uyên thâm, còn ngài viết sách thì thâm nhập và hiểu rõ ý nghĩa của cuộc đời, giải thích về Mật pháp không lệch khỏi trung quán, đây là điều cực kì có giá trị.

Tôi (Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật) biết ngài là Thượng sư Mật tông thật sự có năng lực thực hiện thực tu, hơn nữa còn hữu hình hữu nguyện, trong tương lai nên thỉnh mấy vị đại Hoạt Phật có tu có chứng đi khắp nơi giúp đỡ, để khiến cho giáo pháp và thời cơ càng phù hợp với nhau, đại khái là các đại thánh đại triết ngày nay truyền pháp cũng nên hợp thời cơ.

Có nhiều vị Hoạt Phật trợ giúp thì càng nêu cao thuyết cũ, sáng lập ý tưởng mới, cũng đều là lẽ này. Tất cả nguyên lý, hoặc đã cũ, hoặc đã suy hoại, thì càng có thể thúc đẩy sự siêu việt của thắng nghĩa Hoa Nghiêm. 

Tiếp nối chính pháp của Hồng giáo Nyingmapa đặt ở trên lưng ngài, Pháp Vương Karmapa của Bạch giáo cũng rất coi trọng ngài, ngài lại có được truyền thừa của phái Sakya và truyền thừa của phái Gelugpa. Mật tạng được mở rộng to lớn như vậy, việc ngài sáng lập giáo phái thật sự có ý nghĩa trọng đại.

Tôi (Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật) trịnh trọng báo cáo với nhiều vị Hoạt Phật rằng Vô thượng đại mật pháp mà ngài có được cũng chính là tâm pháp của phái Cổ mật Nyingmapa Hồng giáo chính thống. Đặc biệt là pháp Đại viên mãn trân quý phi thường, vô cùng hiếm gặp và khó cầu. Và Thượng sư Lư Thắng Ngạn trong thế giới Ta Bà chính là Liên Hoa Đồng Tử của Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới, đây chẳng phải là cổ Phật lại đến sao!

Đời người khó có được, Phật pháp chính thống cũng khó nghe được, thành tựu của ngài, những Hoạt Phật chúng tôi xem là kỳ duyên hiếm có trên đời. Ngài giống như ngọn đèn sáng trong đêm đen, giống như cái bè quý trong biển khổ, nhân sĩ phương Tây lấy ngài làm chỗ nương dựa, dũng mãnh tinh tấn, đó là may mắn lớn của người phương Tây. 

Chúc cát tường viên mãn. 

Đạt Tăng Vượng Ba.  
25/09/1984

Tái bút: Mời ngài đến vùng núi của dân tộc Tạng, đây là tâm ý của tôi, sau này gặp mặt mọi người có thể nói chuyện lâu hơn một chút, cũng có thể nói chuyện tỉ mỉ hơn về tâm yếu tu pháp.

Mấy ngày nay, Sakya Cống Mã Hoạt Phật có ghé chỗ tôi, cho nên chùa chúng tôi rất bận rộn. Khoảng một thời gian nữa sẽ lại viết thư cho ngài.

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/index.md
# Title: Truyền thừa và nhân vật
---

# Truyền thừa và nhân vật

<div className="cloud-list">

- [Truyền thừa, tôn chỉ của Chân Phật Tông](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/truyen-thua-ton-chi-cua-chan-phat-tong)
- [Tổ chức và cơ cấu các vị trí trong Chân Phật Tông](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/to-chuc-va-co-cau-cac-vi-tri-trong-chan-phat-tong)
- [Liên Sinh Hoạt Phật - Lư Thắng Ngạn](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/lien-sinh-hoat-phat-lu-thang-ngan)
- [Kí sự trưởng thành của Lư Thắng Ngạn](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/ki-su-truong-thanh-cua-lu-thang-ngan)
- [Liên Hoa Đồng Tử "Pháp Tướng Bảo Điển"](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/lien-hoa-dong-tu-phap-tuong-bao-dien)
- [Long bào Pháp Vương của Liên Sinh Hoạt Phật bay vào vũ trụ](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/long-bao-phap-vuong-cua-lien-sinh-hoat-phat-bay-vao-vu-tru)
- [Tín vật truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/tin-vat-truyen-thua-cua-lien-sinh-hoat-phat)
- [Sakya Chứng Không Thượng sư quán đảnh Ngũ Phương Phật](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/sakya-chung-khong-thuong-su-quan-danh-ngu-phuong-phat)
- [Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật của Hồng giáo ca ngợi](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/dat-tang-vuong-ba-hoat-phat-cua-hong-giao-ca-ngoi)
- [Kalu Rinpoche tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/kalu-rinpoche-ton-sung-lien-sinh-hoat-phat)

</div>

<div className="sparkles-list">

- [Thượng sư Thích Liên Tăng](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/thuong-su-thich-lien-tang)
- [Thượng sư Thích Liên Anh](/gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/thuong-su-thich-lien-anh)

</div>

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/kalu-rinpoche-ton-sung-lien-sinh-hoat-phat.md
# Title: Kalu Rinpoche tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật
---

![Kalu Rinpoche (Nguồn ảnh: Internet)](/img/img_203c8b3169653931c93fe9afc35e739f.png)

## Kalu Rinpoche tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">07/01/1989</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Ngày 07/01/1989, Kalu Rinpoche của Bạch giáo tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật.

Kalu Rinpoche - vị Thượng sư thực tu thành tựu cao nhất của Phật giáo Tây Tạng, vào ngày 7/1/1989 đã gửi đến Liên Sinh Hoạt Phật một bức thư và ba món quà, ba món quà này như sau:

(1) Một bức pháp tướng được Kalu Rinpoche đích thân ký tên.

(2) Một chiếc khăn khata.

(3) Một tấm ảnh chụp Kalu Rinpoche thân tình nâng bức pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật.

**Nay xin thuật lại nội dung của bức thư như sau:**

(1) Chúng ta nhận thức rõ về nhau.

(2) Liên Sinh Hoạt Phật là vị thành tựu giả cao nhất thực tu Mật pháp, dùng tiếng Hoa để hoằng pháp độ chúng sinh.

(3) Không có những cuốn sách hoằng pháp của Liên Sinh Hoạt Phật thì việc phát huy Mật tông trên toàn thế giới không thể lan truyền với tốc độ nhanh như vậy, chúng sinh vô cùng may mắn.

Dưới bầu trời này đã xuất hiện một vị Thượng sư hoàn mỹ như vậy. Người đời cần nghiêm túc tôn sư, trọng pháp, thực tu, Mật pháp của Liên Sinh Hoạt Phật nhất định có thể khiến con người có thành tựu lớn.

(4) Tôi (Kalu Rinpoche) hai tay nâng tấm ảnh của Liên Sinh Hoạt Phật, là vì tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật, cho nên giống như sự tôn kính đưa hai tay cúng Phật.

(5) Tôi (Kalu Rinpoche) sẽ tự mình ký tên lên bức pháp tướng và khăn khata, kèm thêm cả tấm ảnh chụp hai tay nâng ảnh pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật, để dâng tặng Liên Sinh Hoạt Phật, chúc phúc Liên Sinh Hoạt Phật, Hoạt Phật vĩnh viễn trụ nhân gian, vĩnh viễn không nhập niết bàn, vĩnh viễn trường thọ.

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/ki-su-truong-thanh-cua-lu-thang-ngan.md
# Title: Kí sự trưởng thành của Lư Thắng Ngạn
---

![image](/img/img_f35ff70c91590b4c4dc815f52fe72886.png)

## Kí sự trưởng thành của Lư Thắng Ngạn

*Ghi chép theo lời kể của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn*

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Trần Chỉ Tần</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

*Kí sự trưởng thành của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Khởi đầu của một cuộc đời bình phàm.*

### Phần 1. Đứa bé cuốn trong màn lụa trắng

Tỉnh Gia Nghĩa ở Đài Loan, mỗi năm vừa qua ngày Hạ chí, trên cánh đồng Gia Nam ta có thể bắt gặp hình ảnh người nông dân đầu đội nón đan lá trúc, mặc bộ đồ vải mềm màu trắng, cúi cong lưng gập người đang gặt lúa. Việc trồng lúa ở Đài Loan mỗi năm diễn ra hai lần, vụ đầu tiên vào lúc chớm xuân bắt đầu gieo mạ, đến tháng 5 nông lịch là người nông dân có thể hưởng thụ niềm vui thu hoạch những hạt giống đã gieo trồng.

Ánh mặt trời như thiêu đốt, sóng lúa xanh rì rập rờn theo gió, thỉnh thoảng có những con chim từ phía chân trời bay vòng vòng tới lui. Mùi của đất lẫn với mồ hôi của người nông dân, những bờ đất chạy giữa cánh đồng vùng thôn quê, thực sự tất cả như một bức tranh đơn sơ mộc mạc mà đầy ắp những cảnh trí đầy sức sống.

🌟

Thời gian quay ngược trở lại ngày 18 tháng 5 âm lịch, năm Dân quốc thứ 34. Chiến tranh thế giới thứ hai ở phương xa vẫn còn chưa kết thúc. Những ngôi chùa phía sau hồ Gia Nghĩa không lúc nào được nhàn rỗi, chùa nào cũng thắp đèn kết hoa, bận rộn chuẩn bị những thứ cần dùng cho sự kiện chúc mừng: cờ tam giác, túi hương, lụa đỏ, tranh vẽ. Càng gần trưa, tín chúng đổ về các chùa ngày càng nhiều. Bên trong những ngôi chùa không lớn lắm này chật cứng những khách hành hương ra ra vào vào và đầy ắp những vòng hương khói lan tỏa khắp mọi nơi.

Hôm nay là ngày sinh thần của Tổ sư Đạo giáo Trương Thiên Sư. Tình hình chính trị lúc này bất ổn, cả một niên đại khắp nơi đầy khói súng. Những gì người dân thường trên phố có thể làm có lẽ cũng chỉ là đem niềm hy vọng về hòa bình trong tâm mình gửi gắm vào trong sự sùng bái và lễ kính đối với thần minh.

Thỉnh thoảng trên bầu trời lại xuất hiện những chiếc máy bay chiến đấu đi tuần hành, tiếng động cơ rít lên từng hồi nối tiếp nhau vang lên ở phía này rồi tan biến ở phía kia, ngước mắt trông ra xa về phía chân trời chỉ thấy toàn là những vệt màu trắng mong manh còn lưu lại bởi mây và sương bị cắt xẻ.

Thiên thượng và nhân gian, chiến tranh và hòa bình, con người chắp tay khấn lầm rầm, rốt cục liệu việc này có thể xua tan đi khói sương tràn đầy khắp mọi nơi hay không?

🌟

Bởi vì cần tìm nơi lánh nạn, gia đình họ Lư lúc này đã đến sống tại một trại gà bên bờ suối Ngưu Trù (thuộc thị trấn Trúc Khê tỉnh Gia Nghĩa). Suối Ngưu Trù, còn có tên gọi là suối Ngưu Khiêu. Những người tổ tiên vượt biển đến Đài Loan cảm thấy con suối quanh co uốn lượn này giống như cảm giác lắc lư uốn éo khi ngồi trên lưng trâu, thế nên đặt tên nó là suối Ngưu Khiêu. Còn tên gọi suối Ngưu Trù ngày nay là do bởi những lời nói truyền miệng trong thôn lâu ngày bị gọi chệch đi mà thành.

Con suối này đã chảy gần nửa thế kỉ nay, nó đã tưới cho biết bao kho ngũ cốc của Đài Loan, thượng nguồn của nó là suối Phác Tử thuộc cánh đồng Gia Nam.

![Suối Ngưu Trù, Đài Loan](/img/img_7f8779764953792c538ed1612b8f3372.png)

Suối Ngưu Trù nước trong leo lẻo, tiếng suối chảy róc rách, ánh mặt trời chiếu soi in hình bóng những lùm cây mọc thưa thớt hai bên bờ. Mặt nước hồ trong suốt nhìn thấu xuống tận đáy phản chiếu ánh sáng lấp loáng như những đốm sao, cả một tấm gương sáng lóng lánh. Vẻ đẹp phong nhã của một vùng nước yên gió lặng nhường này thực sự khiến người ta khó có thể tưởng tượng được rằng không ngờ nó chỉ là một góc hình ảnh được cắt ra giữa thời kì chiến tranh loạn lạc.

🌟

Hôm đó, càng gần đến giữa trưa, Lư Ngọc Nữ càng cảm thấy những cơn quặn đau trong bụng, những đợt co thắt tử cung dần dần nhiều hơn cùng với cảm giác ẩm ướt và nóng ấm đã khiến cho thai nhi trong bụng không thể kiên nhẫn chờ thêm mà sắp muốn chui đầu ra ngoài chào thế giới này rồi. Đây là đứa con đầu lòng của nhà họ Lư. Đây cũng là lần đầu tiên Lư Ngọc Nữ được trải nghiệm làm mẹ, cái giá phải trả cho việc này thấm sâu vào từng huyết mạch. Những cơn đau chuyển dạ mãnh liệt như những con sóng không ngừng tấn công, Lư Ngọc Nữ đau tới mức nổi cả gân xanh, hai tay run rẩy dùng hết sức nắm chặt lấy tấm chăn. Bởi vì thần kinh quá căng thẳng nên toàn thân từ trên xuống dưới vã đầy mồ hôi, hơi thở hổn hển gấp gáp nghe giống như những lời thổn thức cuối cùng phát ra trước khi lìa xa cõi đời vậy. Cơn đau đẻ thực quá sức chịu đựng, đau tới mức giống như bị liên tiếp những pháo lạc đốt cháy lên thần kinh vậy. <span className="note-blue">[Pháo lạc: một hình phạt thời xưa, lấy lửa đỏ đốt thân thể tội phạm.]</span>

Cái gọi là mẫu tử liên tâm liệu có phải chính là bởi vì trải nghiệm quá trình đau đớn dứt ruột dứt gan này chăng, thế nên rõ ràng là không thể tách rời, ý nghĩa vô cùng sâu sắc?

🌟

Cậu bé tên là Lư Thắng Ngạn, cái tên này được một vị hiệu trưởng đặt cho, cậu sinh năm Ất Dậu, là tuổi con gà.

Lúc sinh ra, Lư Thắng Ngạn rất gầy gò nhỏ bé, nhìn giống y như con gà con mới chui ra từ vỏ trứng vậy. Điều khá đặc biệt là cậu bé Lư Thắng Ngạn lúc vừa mới lọt lòng toàn thân giống như được khoác một lớp màn màu trắng được dệt bằng lụa mỏng mềm mại sáng bóng. Nhìn từ xa cậu bé trông giống như một con tằm đang nhả tơ tự quấn lấy mình vậy.

![Bé Lư Thắng Ngạn và mẫu thân Lư Ngọc Nữ.](/img/img_a02725be73de21f7007328fd0ed94d50.png)

Hiện tượng kì lạ này khiến cho bà đỡ khi đó, người đã đỡ đẻ cho không biết bao nhiêu đứa trẻ sơ sinh, không giấu khỏi nét kinh ngạc trên khuôn mặt, cứ cật lực lắc đầu nói chưa từng nhìn thấy đứa bé sơ sinh nào như vậy. Lớp vải mỏng mềm bao phủ lấy toàn thân cậu bé Lư Thắng Ngạn này thực sự không dễ rửa sạch chút nào, bà đỡ mất tới mấy ngày trời, phải dùng khăn lau có thấm dầu hỏa mới dần dần lau sạch được lớp màn vải mỏng trên người của đứa bé.

🌟

20 ngày sau, ngày 15 tháng 8 dương lịch, chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài 6 năm liên tiếp đã kết thúc sau khi chính phủ Nhật Bản tuyên bố đầu hàng. Mọi người khấp khởi hy vọng vào một thời kì bình minh. Cuối cùng hy vọng đã trở lại với người dân sau bao nhiêu lần mong chờ được đắm mình trong làn nước mùa thu.

Đó là một điểm kết thúc. Một chiến dịch toàn cầu khiến cho 50 triệu người hi sinh cuối cùng đã kết thúc rồi. Đó cũng là một điểm khởi đầu. Con người rốt cục lại tiếp tục cuộc sống hòa bình và an định, không gì khác hơn là một giấc mơ bình phàm.

Điểm kết thúc và điểm khởi đầu đều xảy ra không bao lâu sau khi đứa bé được quấn lớp lụa trắng đến với con người thế gian.

Đất nước Đài Loan vừa mới khôi phục vẫn đang trong thời đại đêm tối của giới nghiêm và bị khống chế thời gian bật đèn. Mỗi khi ánh hoàng hôn cuối cùng bị nuốt chửng bởi màn sương đêm, bầu trời nhuốm màu đỏ ối từ từ chuyển sang màu xám tro mờ mịt, trời đất càng giống như mang theo những bí mật đen tối đi vào giấc mộng vùng quê. Điều kì lạ là mỗi lần đến thời điểm này, cậu bé Lư Thắng Ngạn nhỏ xíu cứ gào khóc mãi không dừng.

🌟

"Làm sao dỗ yên được đứa bé này đây? Sao mà gào khóc to đến vậy?" Lư Ngọc Nữ nhỏm dậy đi châm ngọn đèn dầu trên bàn, chuẩn bị đi xem thằng bé ra sao.

Ngọn bấc đèn dầu được châm lên bập bùng một ngọn lửa màu cam, chẳng mấy chốc ánh sáng đã cắt xuyên qua không gian tối đen đặc. Nói kể cũng lạ, Lư Thắng Ngạn lúc ấy lập tức giống như gặp phải "nốt lặng" trong bản nhạc, trong nháy mắt đã im bặt những tiếng nức nở và nghẹn ngào. Có vài lần sau khi màn đêm buông xuống, đứa bé này cứ luôn như vậy mà không rõ vì nguyên nhân gì, chẳng vì lý do gì mà cứ khóc gào lên như vậy.

Hóa ra là nó sợ tối.

Nó thích nhìn đèn, thích nhìn ngọn lửa, thích nhìn những điểm sáng phát ra ánh sáng rực rỡ.

![Bé Lư Thắng Ngạn ở cạnh mẫu thân.](/img/img_e912955ebad519b4690920ac64298e46.png)

Sau này, thường thường sau bữa cơm tối, cha mẹ bế đứa bé con đỏ hỏn thích nhìn ánh đèn này ra bên ngoài nhìn những vì sao lấp lánh trên bầu trời. Lư Thắng Ngạn với cặp mắt tròn xoe cứ nhìn chăm chú đến sững sờ vào những ngôi sao trên màn đêm đen sì, nhìn một cách đầy tập trung tư lự vào bầu trời đêm rộng lớn.

"Nhìn xem này, đứa bé này mắt cứ dính chặt lên bầu trời, không biết nhìn thấy rồi đang nghĩ gì đây?" Những người lớn tuổi sau bữa cơm bữa trà đều tập trung lại như vậy để trò chuyện đủ thứ trên trời dưới biển đông tây nam bắc.

Một vầng trăng sáng, một bầu trời đầy sao, những người lớn tuổi lúc này đang trò chuyện và ngắm trăng sao không hiểu, nhưng Lư Thắng Ngạn hiểu. Một đêm hè rỉ rả tiếng ve kêu, gió mát thổi vi vu, ánh trăng ánh sao rải xuống thấm đẫm cảnh vật đã ôm ấp vỗ về đứa bé sợ bóng tối này, khiến nó không còn thổn thức khóc nữa.

### Phần 2. Đứa trẻ tai chuột

Lư Thắng Ngạn lúc nhỏ ngoài cơ thể gầy yếu ra, điều khiến người ta ấn tượng mạnh mẽ nhất chính là đôi tai bé tí của cậu bé. Dáng người nhỏ bé lại cộng thêm đôi tai nhỏ xíu, bộ dạng này của cậu xem ra cực kì giống một con chuột nhỏ.

Theo quan niệm của thế hệ trước thì tai của một người cần càng to càng tốt, bởi vì tai tượng trưng cho phúc phận của con người. Hễ có buổi tụ tập trong làng, Lư Nhĩ Thuận thường thích ở trước mặt mọi người chỉ vào đôi tai của Lư Thắng Ngạn nói một cách oán trách: "Xem này, xem này, đứa bé còm nhom như chữ "bát" (八) này, tai còn vừa ngắn vừa nhỏ, xem ra chẳng thể có được tí phúc báo nào, tương lai chắc chắn số mệnh sẽ xấu lắm!"

![Ảnh chụp toàn gia. Tôn sư Lư Thắng Ngạn lúc này còn bé đứng phía trước.](/img/img_e38105a15eb972727e5fc8bf4561c015.png)

Trong ấn tượng về tuổi thơ của Lư Thắng Ngạn, cha cậu thường đuổi theo kéo tai cậu nói rằng ông muốn kéo cái tai chuột này cho nó dài hơn, dày hơn. "Kéo cho nó dài dài ra nhìn cho nó trông may mắn hơn một chút…" - Lư Nhĩ Thuận thường nói như vậy.

🌟

Vào tiểu học, Lư Thắng Ngạn học trường Tiểu học Đại Đồng. Trường nằm ở chính hướng tây của quận Tân Hưng tại thành phố Cao Hùng, được thành lập vào năm Dân Quốc thứ 24 thời đại còn bị Nhật Bản chiếm đóng, bởi vậy đây là một ngôi trường cũ có lịch sử lâu dài.

"Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ". Trong cuộc sống nông nghiệp nhìn trời đất mà sinh hoạt đó, nhà nào nhà nấy suốt cả ngày dài bận rộn để lo cho bữa ăn kế tiếp, thực sự số gia đình có thể chu cấp cho con cái đi học chỉ là thiểu số. Đa số các bạn học khi về nhà đều phải giúp đỡ gia đình việc nhà nông, nuôi lợn nuôi gà, hoặc đến mỏ dầu hỏa để nhặt than bánh kiếm thêm chút tiền sinh sống. Do vậy chỗ ngồi trong lớp học thường xuyên có quá nhiều học sinh vắng mặt, trông lồi lõm như ổ gà vậy. Mặc dù nói giáo dục là nghĩa vụ quốc dân, nhưng trên thực tế, đại đa số đứa trẻ đi học đều là bữa đực bữa cái.

Bởi vì việc đi học không dễ dàng, thân phận giáo viên tự nhiên cũng đại diện cho một dạng trình độ địa vị xã hội. Ta sẽ thường nhìn thấy cảnh những bậc cha mẹ chưa từng đọc qua cuốn sách nào vô cùng kính cẩn thành tâm giao con cái mình vào tay những người giáo viên, lại còn không quên kính cẩn nhắc nhở cầu xin: "Xin thầy đừng ngại ngần, trẻ con cần phải bị đánh thì mới trưởng thành được!"

Vào thời kì mà ai ai cũng đều "cầu xin được trưởng thành" như vậy, tự nhiên cũng chẳng có người nào từng băn khoăn xem việc này liệu có hợp tình hợp lý hay không.

🌟

Điều khiến Lư Thắng Ngạn nhớ sâu sắc nhất chính là một tiết học Công dân.

Hôm đó, tiếng chuông báo giờ học vừa dứt không bao lâu, những đứa trẻ nhỏ không thích rời khỏi lớp học vì thời gian nghỉ không đủ, còn những đứa trẻ lớn thì chẳng thích thú gì khi phải trở vào lớp học, chúng vừa đi vừa chơi. Lúc này bỗng thầy giáo dạy công dân mặt mày xám ngoét không rõ vì sao, nổi giận đùng đùng chạy từ ngoài hành lang vào trong lớp học, thầy vừa đi qua khỏi cửa liền cảm thấy ngay một bầu không khí căng thẳng đi theo, sự u ám không xác định bao trùm lấy mọi ngóc ngách của toàn bộ lớp học.

Những đứa trẻ nhỏ không dám làm ồn, mau chóng chấn chỉnh lại tư thế ngồi, giả vờ giả bộ giở sách vở ra…

Thầy giáo công dân tức giận tới mức sắp bốc hỏa đứng trên bục giảng không nói một câu nào càng khiến cho người khác nghẹt thở, cảm giác giống như chỉ cần một cây kim rơi xuống cũng có thể kích nổ một quả bom lớn chưa từng có.

Đám học sinh sợ đến mức không dám ngẩng đầu lên, chỉ thấy đứa nào đứa nấy len lén trao đổi những cái nhìn hoang mang bên dưới bục giảng. Sự im lặng kéo dài khoảng vài phút, thầy giáo đột nhiên thẳng tay ném cuốn sách lên bàn giáo viên mạnh tới nỗi chiếc bàn rung lên làm những viên phấn nảy lên cao. Rồi thầy đút hai tay vào túi, nhìn khắp lớp học, cái nhìn sắc nhọn giống như đang tìm kiếm một con quỷ nhỏ xui xẻo để cho ông trút cơn giận dữ này.

🌟

"Đứng dậy! Lên đây! Mau!" - Thầy giáo giống như một con sư tử mất kiểm soát gào xuống phía dưới bục giảng.

Ánh mắt nhìn khiến người khác không rét mà run của thầy giáo không may gặp trúng Lư Thắng Ngạn, bốn mắt nhìn nhau, cậu bé biết ngay mình bị đại họa giáng đầu rồi. Bây giờ cậu càng bị những lời mắng mỏ không rõ nguyên nhân kia dọa cho khiến toàn thân run rẩy.

"Chính là mày, tao ghét nhất là mày, cái đồ tai chuột kia! Chính là mày, chính là mày!" - Thầy giáo tức giận phừng phừng vừa gào thét vừa đi xuống dưới lớp học, thẳng đến chỗ ngồi của Lư Thắng Ngạn.

Cậu bé Lư Thắng Ngạn vô cùng hoang mang, không hiểu có chuyện gì xảy ra. Chỉ có trực giác cho cậu thấy rằng lúc này chỉ nên mau chóng nói với thầy mấy tiếng "con xin lỗi"…

"Thầy… thầy, con… xin…"

Tốc độ của lời xin lỗi không theo kịp cơn phẫn nộ phừng phừng của thầy giáo. Một tiếng "bốp", Lư Thắng Ngạn cảm thấy trên mặt mình một cảm giác bỏng rát, tức thì chân không trụ vững nổi nữa, cậu ngã dúi dụi bên trái bên phải, đâm bổ vào bàn học của bạn bên cạnh.

Cái tát bất ngờ như trời giáng này thực sự khiến cậu bé Lư Thắng Ngạn sững sờ, trong đầu cậu vẫn in rõ mồn một hình ảnh phẫn nộ trong ánh nhìn của thầy giáo. Má phải của cậu vừa đau vừa tê buốt giống như bị sét đánh trúng vậy, mặt nóng rát như bị bỏng. Tiếp theo đó cậu không biết làm sao để đối mặt với sự ngại ngùng nên càng đỏ mặt tía tai, đầu bị choáng tới mức nảy đom đóm mắt, còn chưa kịp hoàn hồn.

Lúc này cậu chỉ nhìn thấy thầy giáo công dân, sau khoảnh khắc không kiềm chế được cơn giận dữ, cuối cùng đã lấy lại được lý trí cần có, ông tỏ ra như chưa có chuyện gì xảy ra, chỉnh lại cổ áo xộc xệch và mái tóc bù xù rồi quay người trở về bục giảng, mở sách ra, sau đó bắt đầu giảng bài như bình thường.

"Hóa ra việc không đáng nhất chính là cái tai giống như tai chuột của mình đã khiến cho thầy giáo ghét đến vậy…"

Xoáy nước trong lòng khó nói thành lời, nỗi nhục có thể nuốt xuống nhưng tâm trạng cần được trút ra, chỉ là tâm trạng này nên trút ra cho ai nghe đây?

🌟

"Thằng tai chuột", các bạn trong lớp đều hét vào cậu như vậy.

Lư Thắng Ngạn là học sinh nhỏ bé nhất lớp, luôn luôn ngồi ở dãy bàn đầu trong lớp học. Cũng bởi vì mối liên quan này mà Lư Thắng Ngạn thường bị những bạn học to con hơn trong trường bắt nạt, bị đối xử như cái "bao cát". Không hiểu vì sao mà cậu luôn phải chịu cảnh làm cái "bị đấm" cho mọi người.

Hôm nay lẽ ra nên là thời gian vui vẻ nhất của Lư Thắng Ngạn. Tranh thủ sau giờ học, cậu cùng mấy người bạn trong lớp vui vẻ chơi trò uông tử tiêu. Uông tử tiêu là một tấm thẻ bài tròn tròn nhỏ nhỏ, đường kính khoảng vài centimet, xung quanh có đường uốn lượn trơn tru mượt mà, mặt trên có các loại hình ảnh, thông thường chúng được in những hình các con rối tay hoặc các nhân vật hoạt hình đang thịnh hành thời đó.

Ngày nay trẻ em đã quen thuộc với các loại trò chơi chạy bằng pin, bởi vậy rất khó có thể hiểu được những cái thẻ bài tròn tròn dày dày kia rốt cục có sức hấp dẫn gì mà có thể khiến cho các thế hệ cha ông của chúng mê mải suốt cả ngày trời.

🌟

Hôm nay vận may của Lư Thắng Ngạn không tệ, chỉ sau vài ván cậu đã thắng được đầy cả một túi chiến lợi phẩm. Lúc này mấy người bạn học vừa béo vừa khỏe đi tới, trong đó có một cậu được gọi là "Đại Cô" (đai to) béo tới nỗi xem ra phải khó khăn lắm mới ních vừa bộ đồng phục màu khaki. Kế bên cạnh là một cậu bạn khác đeo trên cổ sợi dây giày màu trắng tên gọi là Lạc Cước, chưa cần đứng thẳng dậy đã cao hơn Lư Thắng Ngạn tới hai cái đầu. Cái nhìn ranh mãnh của chúng, khóe miệng nhếch lên cười khẩy, hai đứa có bộ dạng đang tới để gây sự.

"Làm sao đây nhỉ? Hôm nay chúng tao ngứa tay quá! Thực sự cần tìm một đứa để luyện quyền, chúng mày nói xem có đúng không?" - Thằng nhóc tiểu đại ca dẫn đầu làm động tác bẻ ngón tay kêu răng rắc.

Không kịp thu dọn đám thẻ bài còn đang lộn xộn trên mặt đất, Lư Thắng Ngạn và các bạn cùng chơi đã trông thấy lũ hung thần ác quỷ đi đến, muốn quay người bỏ chạy cũng không kịp nữa rồi, buộc phải co rúm lại với nhau trên mặt đất, sợ sệt nhìn nhau không dám ngẩng đầu lên.

"Ý? Thằng tai chuột bữa nay vận may cũng không tệ nhỉ! Vậy thì đánh nó là đúng rồi, hôm nay tao thực sự nhìn nó không vừa mắt!"

Tiếp theo đó là một trận đấm đá tối tăm mặt mũi và những tràng nhạo báng giễu cợt. Những nắm đấm thụi lên người, lên mặt, mỗi cú đấm đá đều khiến người ta cảm thấy nổ đom đóm mắt, chóng mặt quay cuồng.

Đối diện với sự bắt nạt vô duyên vô cớ không cần lý do này, Lư Thắng Ngạn vẫn chịu đựng mà không khóc. Những vết thương đau đến mức dứt da dứt thịt hết lần này tới lần khác đó cứ dần dần khắc sâu vào trong lòng cậu bé.

"Ha ha ha! Đồ ngu, thằng tai chuột khốn nạn không dám đánh lại!" - Vừa nói vừa xổ những lời khinh miệt vào mặt Lư Thắng Ngạn, chúng ném từng tấm thẻ bài, sau đó chỉ còn trông thấy một đám trẻ sau khi đạt được niềm vui phù phiếm bên ngoài nghiến răng cười lớn rồi bỏ đi.

🌟

Nói ra kể cũng lạ, mấy người bạn học này, mỗi lần nói muốn luyện gân cốt, giãn xương khớp, nhưng những nắm đấm thì hoàn toàn là thật, cứ thế giáng xuống đầu Lư Thắng Ngạn, một ngày vài lần, một lần vài đấm. Tất cả bọn chúng đều thấy việc này rất vui.

"Con chuột nhắt là tôi đây ở trong nhà đã chẳng có chút may mắn gì, ở trường học là thằng bé tai chuột, luôn luôn phải chịu đựng số phận khiếm khuyết. Tôi cố gắng hết sức để kiềm chế bản thân, một mình chịu đựng, không làm kinh động đến bất kì ai. Tôi thường nghĩ những chuyện cỏn con này nếu tôi có thể nhẫn nhịn được thì cứ nhẫn nhịn đi."

Những người bạn học luôn dứ nắm đấm, thích động thủ với người đối diện này, có lẽ phải rất lâu rất lâu về sau mới có thể phát hiện ra trong trò bắt nạt tưởng chừng hay ho năm đó, cái "thằng tai chuột" chưa từng bao giờ thốt ra một lời nào đó lại có một tính cách và mức độ chịu đựng cứng cỏi mà chúng không thể tưởng tưởng được. Tinh thần và sức mạnh khi đối diện với sự đối xử bất hợp lý, không công bằng của "thằng tai chuột" mạnh mẽ vượt xa năm ngón tay túm chặt của chúng, vượt xa những nắm đấm lộ cả gân xanh của chúng đến cả triệu lần.

Những bài luyện tập nhẫn nhịn liên tiếp liên miên khiến cho đôi chân tưởng chừng yếu đuối run sợ đã vươn lên trở thành một con người cao quý đáng tự hào.

🌟

Trước khi Lư Thắng Ngạn ra đời, Đài Loan đã từng trải qua 50 năm bị Nhật chiếm đóng. Những đứa trẻ lớn lên trong thời kì này bị ảnh hưởng bởi quan niệm uy quyền trong truyền thống phụ hệ của Nhật Bản cực kì sâu sắc. Trong gia đình, người chủ của một gia đình đa thế hệ có địa vị tối thượng, một lời nói hành động của người này đều có trọng lượng tuyệt đối. Hình tượng chắc nịch và nghiêm khắc này đã hằn sâu trong tâm, những đứa trẻ khi đó đối với cha hầu hết là giữ khoảng cách tôn kính, không dám có bất kì sự chống đối nào.

Cha của Lư Thắng Ngạn, ông Lư Nhĩ Thuận chính là đã trưởng thành trong hoàn cảnh như vậy.

![Cha của Lư Thắng Ngạn lúc còn trẻ.](/img/img_4e47829946746d6279f4ae93ff87cb65.png)

Đối với một người mà nói, chúng ta không chỉ thừa hưởng dòng máu được truyền từ cha mẹ mà còn đồng thời chịu ảnh hưởng bởi thái độ sống của họ, thậm chí cách thức họ giáo dục vợ con. Ngoài ra người đó sẽ kế thừa quan niệm thái độ này và tiếp tục dùng chúng để giáo dục thế hệ con cháu tiếp theo của mình.

Cuộc sống có lẽ vốn là một việc rất phức tạp, nó có quá nhiều quá nhiều niềm vui và nỗi buồn đan xen. Hãy lấy chính mối duyên phận giữa Lư Nhĩ Thuận và Lư Thắng Ngạn để nói. Mặc dù là cha con ruột thịt cùng chung một dòng máu, nhưng giữa họ vẫn có rất nhiều nỗi chua xót mà có lẽ chỉ nên giữ trong lòng của chính người trong cuộc.

🌟

Có một lần tan học sớm, Lư Thắng Ngạn vui vẻ vừa đi trên đường vừa ca hát nhảy nhót, lẩm bẩm những ca từ mà cậu tự nghĩ ra. Cậu lẩm nhẩm hát, cảm nhận mặt trời, gió nhẹ, hoa cỏ, cây cối đều đang lắc lư theo cậu. Tâm trạng cậu bé vui vẻ tới mức ngay cả cảnh vật bên đường đều biến thành những nốt nhạc đang nhảy nhót trên năm dòng kẻ của khuông nhạc.

Nhưng lại có một điều không may là…

Vừa bước chân qua cửa nhà, cậu đã nghe thấy tiếng cha gào thét từ trong phòng vọng lại, "Răng đau à! Răng đau có phải không! Thế còn cãi cái gì! Hát cái bài gì mà khó nghe, hay là đang hát bài Khốc Điều Tử đấy à?" <span className="note-blue">[Khốc Điều Tử: một bài hát dân ca được lưu truyền lâu đời ở Đài Loan, lời lẽ và giai điệu buồn thảm bi thương.]</span>

Rồi lập tức trông thấy Lư Nhĩ Thuận giận dữ điên cuồng từ bên kia tấm màn cửa kết từ những hạt tròn lao vụt ra. Cơn giận phừng phừng khiến ông tóm lấy cây roi tre vung cao đến trời, rồi tiếp theo đó là tiếng gió vun vút cùng với sức mạnh của cánh tay vụt xuống tới tấp một cách đầy tàn nhẫn. Viu! Viu! Âm thanh của tiếng roi đánh xuống nhanh như gió, chẳng mấy chốc, trên hai cánh tay và đôi chân nhỏ khẳng khiu của Lư Thắng Ngạn lập tức nổi đầy những vết thương sưng đỏ và những vết bầm vừa đen vừa tím.

Chiếc roi tre gần như te tua luôn luôn được đặt trên nóc chiếc đài radio trong nhà, chuyên môn được dùng để "phục vụ" Lư Thắng Ngạn.

Cậu bé Lư Thắng Ngạn đụng đâu xui đó, bước chân đi luống cuống một chút là liền nghe tiếng Lư Nhĩ Thuận nhướn mày trừng mắt tiến đến gần và hét lên đầy dữ dằn: "Mày lại làm sao đấy! Rốt cục là mày lại làm trò gì? Không biết đi đường đúng không, hay là mày đang luyện tập thể thao? Bóng với chả bánh?"

Mỗi lần như vậy, Lư Thắng Ngạn liền biết ngay mình lại thảm rồi, sẽ bị ăn roi, khi thì roi tre, khi thì thanh kiếm gỗ vừa nặng vừa dày kiểu Nhật, khi thì cây chổi tre quét lá rụng, có khi thì là ống nước, sào phơi quần áo. Nói tóm lại, bất kì "gia pháp" nào có thể được dùng tạm thời để "dạy dỗ" trẻ con, Lư Thắng Ngạn đều đã từng được nếm trải những cơn đau nhói tê buốt do chúng gây ra trên thân thể mình.

Mặc dù như vậy, cậu bé con vẫn luôn luôn đứng vững, không khóc cũng không chạy. Những cơn gào thét phẫn nộ bất ngờ giáng xuống hết lần này tới lần khác luôn khiến cho cậu bé Lư Thắng Ngạn thời thơ ấu sợ hãi và hốt hoảng. Tính cách nghiêm khắc dễ nổi giận của cha khiến cho cậu từ đầu tới cuối đều không tìm ra cách nào để đến gần và thân thiết với ông.

🌟

Trong lòng của thằng bé tai chuột cũng luôn khao khát một vòng tay rộng lớn dịu dàng ấm áp có thể dẫn dắt cậu trưởng thành. Cậu cũng khao khát một bờ vai vững chắc có thể cho cậu gục vào những lúc muốn khóc, hoặc cho cậu tạm thời dừng lại một chút để dựa vào và nghỉ ngơi.

"Những gì là quá khứ đều đã qua rồi, đối với cha, trong lòng tôi vẫn là một sự biết ơn vô cùng vô tận. Đây là sự rèn luyện của cuộc sống. Khi tôi còn nhỏ những lúc khóc nhiều hơn lúc cười, nhưng đôi khi tôi không để cho người khác biết rằng trong lòng tôi đang khóc. Tôi mím chặt môi, nuốt cơn thổn thức vào trong, bất kể là bị cha mẹ đánh, hay là thầy cô giáo chì chiết, hay là bạn học bắt nạt, tôi đều học được khả năng nhẫn nhịn."

"Mỗi nhà đều có một câu chuyện khó nói", hãy lạc quan ngước nhìn những ánh đèn rực rỡ, Lư Thắng Ngạn từ khi còn rất nhỏ đã có thể hiểu rõ đạo lý này rồi…

### Phần 3. Sự ôm ấp của sách và biển

"Ha ha ha! Lần này đạt được hai con dấu rồi, bài sau không cần phải học thuộc nữa!"

Tiếng chuông báo giờ lên lớp vừa dứt, các bạn học cùng lớp ai nấy đều lắc lắc quay quay đầu, rì rà rì rầm đọc thuộc lòng bài học. Lư Thắng Ngạn ngồi trên bàn ghế gỗ mà không khác gì ngồi trên đống đinh, tâm trí từ đầu tới cuối đều không thể đặt vào sách vở, ánh mắt cậu tò mò nhìn xung quanh lớp học và các bạn cùng lớp, quan sát nhất cử nhất động của mọi người.

Đây là môn học mà Lư Thắng Ngạn cảm thấy đau đầu nhất. Ngay khi tiếng chuông báo tan trường vang lên, những bạn học đã học thuộc cẩn thận lần lượt theo thứ tự đi lên bục giảng, đọc thuộc lòng bài cho giáo viên nghe. Rồi lại từng người lần lượt không ngừng vẫy vẫy cuốn vở cho người khác phải ngưỡng mộ. Còn bản thân cậu thì lúc nào cũng phải nỗ lực vất vả, khó khăn khổ sở mới có thể đạt được những con tem hình sao quay vòng vòng, trong lòng Lư Thắng Ngạn lại cảm thấy càng lo lắng hơn.

"Nhanh lên, nhanh lên, sắp học thuộc xong rồi… Sao học lâu thế rồi mà vẫn chưa thuộc vậy?" - Đơn giản là Lư Thắng Ngạn đang rơi vào tình trạng khẩn cấp, một mặt cậu tự "tiêm" cho mình một liều thuốc trợ tim, một mặt bồn chồn lo lắng cứ kéo ngón tay suốt.

🌟

Trong những môn học thời tiểu học, Lư Thắng Ngạn ghét nhất là môn học thuộc lòng. Không biết vì sao mà dù chỉ là một đoạn văn rất ngắn, cậu cũng phải mất tới vài ngày mới có thể đọc thuộc được. Có lúc để ứng phó với môn học khó khăn này, Lư Thắng Ngạn còn tranh thủ lúc sáng sớm tinh mơ ánh mặt trời vừa lấp ló đã tỉnh dậy để học thuộc bài, đọc đọc đọc, đọc đọc đọc, đọc suốt cả quãng đường từ nhà đến trường, Lư Thắng Ngạn miệng không ngừng lẩm nha lẩm nhẩm bài văn một cách vô vị. Cho đến khi chính mình cũng giống như các bạn học khác, cho đến khi bước lên bục giảng…

"Nhanh nhanh nhanh, tới đây đọc bài. Mau… mau… mau.""Mau… mau… mau…"

Trong đầu Lư Thắng Ngạn đã sẵn sàng cho một kết cục thảm hại, hai mắt không ngừng đảo lòng vòng tìm kiếm. Trong đôi mắt của cậu bé ánh lên cái nhìn cầu khẩn và sự phó mặc vô hạn, cậu trông chờ vào một linh cảm nào đó sẽ đến ."Cầu xin hãy nhắc cho con một chữ, nhắc cho con một chữ thôi…, một chữ là tốt rồi…"

🌟

Cậu luôn luôn không hiểu vì sao các bạn học khác có thể dễ dàng ghi nhớ bài học vào trong đầu như vậy? Họ giống như cái máy photocopy chỉ cần ấn một cái nút là có thể mau chóng chạy ro ro, bíp bíp bíp bíp là có thể mở miệng ra lặp lại từng trang từng trang bài học. Vì sao việc này đối với người khác xem ra là một việc dễ dàng như trở bàn tay, còn đối với cậu thì lại trở thành việc khó như lên trời vậy.

Học thuộc xong bài thứ nhất, còn có bài thứ hai. Học thuộc xong bài thứ hai, còn tiếp tục có bài thứ ba…

"Ai da…" Mỗi lần nghĩ đến việc này, Lư Thắng Ngạn liền cảm thấy hai vai nặng trĩu, bỗng chốc cậu như hoa héo. Việc học thuộc lòng thực sự là một biển khổ vĩnh viễn không có lối thoát!

"Tôi thực sự hy vọng có một phép thuật nào đó có thể nhét một mạch những bài học vào trong não…" Chăm chú nhìn ngắm những con chim sẻ kêu lích ra lích rích bên ngoài cửa sổ, Lư Thắng Ngạn luôn luôn nghĩ một cách tự do bay bổng như vậy.

🌟

Giống như bao đứa trẻ khác, Lư Thắng Ngạn cũng có những lúc mải chơi, có những lúc nghịch ngợm. Bởi vì sợ cái roi mây của thầy giáo nên cậu sẽ lén lút lấy vải rách nhét vào trong quần. Bởi vì hy vọng né được những cái roi trừng phạt của thầy giáo mà cậu sẽ đứng cạnh những người bạn học có hoàn cảnh gia thế tốt, đợi cho tới khi thầy giáo không dám xuống tay đánh nữa mà đành phải nói "Được rồi, được rồi! Hôm nay không đánh nữa, đánh tới đây thôi…".

Vậy thì rốt cục Lư Thắng Ngạn dùng phương pháp gì mà lần đầu tiên có được hai dấu tem, rồi lần lượt vượt qua từng kì thi một?

"Giấu! Giấu! Giấu! Tôi giấu! Tôi giấu! Tôi giấu!"

Khóe miệng Lư Thắng Ngạn khẽ mỉm cười, cái biểu hiện đắc ý đó thật giống như đang thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật vô cùng khéo léo vậy.

Cậu bé âm thầm sung sướng dùng sức ấn lên cuốn vở, mau chóng lợi dụng hơi nước nóng và những dấu tem hình sao còn chưa khô mực, cậu ấn mạnh chúng lên bài học của trang kế tiếp. Thử nghiệm này thành công hết lần này tới lần khác càng khiến cho cậu tăng thêm sự tin tưởng đối với cái ý tưởng ranh mãnh này. Sau này thậm chí khi mực đã khô rồi, Lư Thắng Ngạn cũng sẽ tự mình nhỏ vài giọt nước lên cuốn vở, rồi lại dùng cách này để tiếp tục copy những con dấu tem hình sao.

🌟

Chỉ là người có tính nghìn tính vạn cũng không bằng ông trời tính một. Điều Lư Thắng Ngạn không ngờ đến là…

"Thằng bé Lư Thắng Ngạn này rõ ràng là học thuộc lòng đâu có giỏi thế này! Quái lại sao bỗng nhiên bây giờ lại thuộc làu làu tốt thế?"

Cho dù là tròn hay méo, đối với tính cách và trình độ của mỗi đứa trẻ trong lớp, người làm giáo viên đương nhiên là quá quen thuộc, nắm rõ trong lòng bàn tay. Lư Thắng Ngạn liên tục vượt qua bài kiểm tra rốt cục cuối cùng cũng khiến cho thầy giáo nghi ngờ. Kết quả đã quá rõ ràng, tất cả mọi giấc mơ phép màu đẹp đẽ của cậu bất ngờ tan tành, đổi lại đương nhiên là một trận roi tre cháy da cháy thịt.

Lư Thắng Ngạn hồi nhỏ không phải là một học sinh đạt tiêu chuẩn. Cậu không thích đi học, trên phương diện học tập từ đầu tới cuối thành tích đều không xuất sắc. Chỉ có năm học lớp 4, cậu từng được một giáo viên tên là Nhan Thủ Chân đặc biệt quan tâm dạy dỗ, việc học của cậu đột ngột có nhiều tiến bộ, còn những thời gian khác, Lư Thắng Ngạn gần như là luôn ở giữa ngọn roi của thầy giáo mới có thể vượt qua được bài thi "Mãn Giang Hồng" <span className="note-blue">[tên một bài thơ của Nhạc Phi, một vị tướng quân giỏi đời nhà Tống ở Trung Quốc]</span>. 

🌟

Nhưng cũng có một điều an ủi, mặc dù Thượng đế đóng cánh cửa này, nhưng cũng sẽ mở ra một cánh cửa khác cho cậu.

Đối với việc học tiểu học Lư Thắng Ngạn không có một chút hứng thú nào, nhưng cậu lại vô cùng thích đọc những sách ngoại khóa. Cậu đã từng rung động khôn xiết trước tinh thần hào kiệt của những người cùng lý tưởng như Cầu Nhiêm Khách <span className="note-blue">[một nhân vật anh hùng hào kiệt trong tiểu thuyết võ hiệp]</span> và Lý Thế Dân <span className="note-blue">[vua Đường Thái Tông, được đánh giá là một vị vua vĩ đại của nhà Đường, được hậu thế đời đời ngưỡng vọng]</span>, lập chí tương lai sẽ trở thành một hiệp khách giang hồ vác kiếm đi tới tận chân trời, đấu tranh cho công lý, trừ ác phục thiện.

"Từ khi còn rất nhỏ tôi đã thong dong ngao du trong thế giới của những cuốn sách. Sách là thiên đường của tôi, là bầu trời của tôi, là đại dương của tôi, là vương quốc của những giấc mơ an lành của tôi."

"So với những cuốn sách giáo khoa khô khan chán ngắt, việc đọc sách một cách tự nhiên đã trở thành một thế giới khác trong cuộc sống. Bất kể tâm trạng có buồn bã tối tăm thế nào, chỉ cần trốn vào trong thế giới này, tôi liền giống như được chắp thêm đôi cánh, lập tức cảm thấy được phiêu du khắp mọi phương trời xa xôi từ những con chữ, được tùy ý mở rộng tầm mắt mở rộng con tim ngao du giữa những cuốn sách cuốn truyện.

Đó là một dạng tương tác vô cùng tinh tế tuyệt vời, không chỉ là một kiểu hưởng thụ mà đồng thời còn là một sự trưởng thành."

Đọc sách và sáng tác, hai sở thích ngang nhiên độc lập này giống như giàn giáo, đã mở ra cho Lư Thắng Ngạn một thế giới cổ tích tràn đầy trí tưởng tượng. Chỉ có vào những lúc này, cậu mới không còn lo lắng về những cái bạt tai hay những cú đấm liên tiếp giáng xuống, hoặc những cây roi cây gậy từ trên trời bay tới.

🌟

"A! Sáng tác của Lư Thắng Ngạn được tờ Bạn Học xuất bản rồi này!""Ồ, lợi hại thật đó!""Có đúng là văn của thằng tai chuột không? Tương lai không biết chừng cậu ta lại trở thành một tác giả lớn ấy nhỉ!"

Thời đó mỗi lớp học đều đặt mua Nhật báo Quốc ngữ. Sợ các bạn học không đọc được, Lư Thắng Ngạn đã dán những sáng tác của mình lên bảng tin ở phía sau lớp học. Đây là một biểu hiện có phần khoe khoang tự hào với mục đích muốn cho mọi người thấy được tên họ của tác giả: "Thắng Ngạn".

Từ lúc bắt đầu học tiểu học, Lư Thắng Ngạn đã thường đem những tác phẩm của mình gửi cho tờ Bạn Học và Nhật báo Quốc ngữ. Thậm chí vào năm học lớp ba, cậu đã đạt được giải nhất trong cuộc thi sáng tác văn học của toàn thành phố Cao Hùng. Lấy câu văn thay cho lời nói, lấy con chữ thay cho hành động, Lư Thắng Ngạn lúc nhỏ đã lựa chọn dùng ngòi bút của mình để làm cây cầu nối mình với thế giới. Cũng bởi vì có được chiếc chìa khóa này mà cậu đã không khóa chặt cõi lòng của mình lại sau những thất bại chán chường.

![Lư Thắng Ngạn tuổi niên thiếu.](/img/img_e5704219b84b69f0c019dab738936b4b.png)

Lư Thắng Ngạn tuổi nhỏ có lẽ hoàn toàn không nghĩ đến rằng sự tài hoa trong văn chương này sẽ có ngày theo cậu đi suốt cả cuộc đời sáng tác không ngừng nghỉ. Những bài viết thời điểm này đối với cậu mà nói chỉ giống như những tia sáng từ bên ngoài cửa sổ chiếu tới soi sáng cõi lòng đầy u ám và nặng nề của cậu, thế rồi chính những điểm sáng nhỏ xíu của lòng tự tin và tự hào này đã xoa dịu con tim đã từng trải qua bao nhiêu tổn thương và nhục mạ, tự ti và cô độc.

🌟

Vịnh Tây Tử là một địa danh du lịch nổi tiếng của thành phố Cao Hùng, nằm về phía tây thành phố, phía bắc dựa vào núi Vạn Thọ, phía nam quay mặt vào bán đảo Kì Tân, là một vịnh cảng tự nhiên với dải đá ngầm, ánh hoàng hôn, biển màu ngọc bích, trời xanh ngăn ngắt, danh tiếng lưu truyền khắp xa gần.

Tô Đông Pha đã từng viết hai câu thơ để ngợi ca vẻ đẹp yêu kiều duyên dáng của Tây Hồ: (*)"Dục bả Tây Hồ tỉ Tây Tử. Đạm trang nùng mạt tổng tương nghi." <span className="note-blue">[Hai câu thơ cuối trong bài Uống rượu ở Tây Hồ lúc cơn mưa vừa tạnh của Tô Đông Pha.]</span>

Nghĩa thơ:

"Tây Hồ Tây Tử đem so sánh. Điểm trang đậm nhạt đều đắm say."

Còn nay Tây Tử nằm ở nơi cảnh trí rung động lòng người bên bờ biển hiền hòa, vẻ đẹp thậm chí càng có phần thơ tình họa cảnh hơn.

🌟

Ngoài viết văn, khả năng bơi lội bẩm sinh cũng là một điểm đáng tự hào của Lư Thắng Ngạn.

Đã từng có một buổi học thể dục, thầy giáo đẩy tất cả học sinh trong lớp xuống nước, chỉ thấy học sinh không biết bơi đứa nào đứa nấy tay chân đập nước tung tóe loạn xạ, miệng la hét sợ hãi, đứa thì sặc nước, đứa thì kêu cứu, chỉ có Lư Thắng Ngạn giống như con vịt đạp nước mạnh mẽ, thoắt cái đã bơi ra tới giữa hồ bơi và bắt đầu thong dong tự tại rẽ nước.

Bầu trời phía nam Đài Loan thường có những ngày mặt trời lên cao, thời tiết rất đẹp với bầu trời xanh ngắt trong vắt. Mỗi dịp như vậy Lư Thắng Ngạn lại đến vịnh Tây Tử tận hưởng đắm mình trong nhịp điệu vỗ về của làn nước trong mát. Cậu như đứa trẻ thích nước một cách bẩm sinh, vừa xuống nước là có thể tự do tự tại khua tay đạp nước, hơn nữa cậu còn tự tìm ra phương pháp hít thở có nhịp điệu mà không cần ai dạy. Rồi cậu cùng lắc lư khiêu vũ với những cây cỏ dưới mặt nước, rướn người một cách tự nhiên, chìm nổi tùy ý. Cậu chỉ hoàn toàn chuyên tâm nhúng mình chìm đắm vào trong vẻ đẹp của làn nước lấp lánh dưới ánh mặt trời, xung quanh là những con sóng xô lên một màn khói nhẹ.

Những con sóng lăn tăn, những bãi cát bỏng rát bàn chân, những cơn gió biển mằn mặn và những hàng dừa khẽ đung đưa, chỉ cần như vậy là có thể khiến cho Lư Thắng Ngạn được thảnh thơi suốt cả một mùa hè. Sóng biển vỗ bờ, đợt này nối tiếp đợt khác, giữa trời và đất ngoài những âm thanh của sóng thì dường như chẳng còn lại gì khác nữa.

🌟

Liên quan đến việc bơi lội này, bố mẹ cậu luôn luôn phản đối không cho phép. Mỗi lần Lư Nhĩ Thuận và Lư Ngọc Nữ nghe Lư Thắng Ngạn chạy lại xin phép được đi bơi, họ luôn luôn xua tay nói cậu không cần phải phí lời xin xỏ. Mặc dù vậy, thường cứ đến buổi sáng ngày hôm sau họ liền phát hiện ra trên cửa sổ phòng Lư Thắng Ngạn đã thủng một cái lỗ thật to.

"Cái thằng khỉ gió này, lại trốn mẹ đi chơi nước rồi!" Những cây roi vung lên, Lư Ngọc Nữ tức đến xịt khói lỗ tai, thực sự không còn có biện pháp nào đối với thằng con thích bơi lội này nữa.

Vì sao cậu lại thích bơi đến vậy? Mặc dù biết rõ là lén đi ra ngoài chơi, khi trở về nhà chắc chắn sẽ bị đánh, vì sao đôi chân ấy vẫn bắt chấp nỗi đe dọa này? Biển lớn đối với đứa trẻ này có sức hút gì khó cưỡng đến vậy?

Thực sự có rất nhiều lần ở vịnh Tây Tử, Lư Thắng Ngạn chẳng làm việc gì khác, chỉ ngồi im lặng nhìn những người đánh cá ở phía xa xa đang kéo lưới đi tới đi lui. Bọn họ không bắt cá to, chỉ bắt cá con, bởi vì khi đó những con cá mới nở là cá sữa, một con có thể bán được tới bảy hào. Lư Thắng Ngạn thích quan sát những biểu hiện cảm xúc không ngừng thay đổi của những người đánh cá.

Cậu không chỉ thích bơi mà còn thích ngắm nhìn chăm chú, giống như lúc nhỏ cậu thích dán chặt mắt vào những vì sao trên bầu trời, im lặng nhìn về phía xa.

![image](/img/img_94b4c8839e5b44548b4bf2541003833c.png)

Biển với những con sóng xô bờ, với những đợt thủy triều lên xuống, với mặt trời mọc đằng đông, với mặt trời lặn đằng tây, biển trào dâng tráng lệ, biển yên tĩnh êm đềm, đối với Lư Thắng Ngạn mà nói, giữa đủ loại phong tình, cho dù một trạng thái tĩnh lặng cũng có hơi thở.

🌟

Chúng ta không thể kìm nén được thắc mắc phải chăng vì biển nuôi dưỡng vạn vật thực sự đã khiến cho Lư Thắng Ngạn như có đôi tay mẹ ôm ấp yêu thương? Liệu có phải sự ôm ấp và mềm mại của biển đã kịp thời làm lành những vết thương suốt một thời gian dài của thằng bé tai chuột?

![image](/img/img_791448df777cfa7afe3106025a768051.png)

Hay liệu có phải bờ biển có tên gọi Tây Tử này rốt cục đã nhiễm chút linh khí và ý thơ của đại văn hào đời Tống, khiến cho Lư Thắng Ngạn khi ở nơi đây luôn luôn có được những nguồn cảm hứng sáng tác, luôn luôn chưa từng vứt bỏ chiếc chìa khóa giúp cậu kết nối cõi lòng mình cùng thế giới…

**(Hết)**

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/lien-hoa-dong-tu-phap-tuong-bao-dien.md
# Title: Liên Hoa Đồng Tử \"Pháp Tướng Bảo Điển\"
---

![image](/img/img_abd9966f35546c5aecdba2586ddf9b63.png)

## "Chân Phật Pháp Tướng Bảo Điển" - Liên Hoa Đồng Tử

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">22/12/2018</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Đài Loan Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

*"Chân Phật Tông" Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương vào lúc 15:00 ngày 22 tháng 12 năm 2018 (thứ bảy), tại Đài Loan Lôi Tạng Tự chủ trì "Liên Hoa Đồng Tử hộ ma đại pháp hội", ban quán đảnh "quán đảnh truyền thừa, Căn bản Thượng sư tương ứng pháp, ngũ đại thành tựu pháp, pháp nhanh chóng nhất để tương ứng vãng sinh, Chân Phật gạo cúng pháp thí quán, pháp tu xá lợi tóc của Liên Sinh Kim cương Thượng sư, pháp hoàn tịnh (vô cùng quan trọng)", truyền giảng Đạo Quả.*

### Tóm tắt pháp tướng Liên Hoa Đồng Tử

Liên Hoa Đồng Tử đầu đội mũ miện Ngũ Phật trân quý (mũ Pháp Vương), tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái giữ ấn cầm hoa sen, ngồi trên pháp tọa bông hoa sen lớn màu trắng, ngồi thẳng ở tư thế chân xếp hình hoa sen kim cương, nét mặt khẽ mỉm cười, pháp tướng trang nghiêm, thân tỏa ra hàng trăm ánh sáng quang minh trân quý.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Pháp Vương khai thị những lời Phật pháp quý báu - Lai lịch thù thắng và bí mật tu pháp thành công của Liên Hoa Đồng Tử:

- Liên Hoa - hoa sen trắng, biểu tượng của sự thanh tịnh, thoát khỏi bùn nhơ và không bị dính nhiễm.
- Đồng Tử - biểu thị sự thuần khiết, biểu thị pháp thân thanh tịnh.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vào năm 26 tuổi đã được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, đêm đó đã xuất thần thức đi du ngoạn đến cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc, tận mắt nhìn thấy ánh sáng huy hoàng chói lọi của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, đồng thời bên tai vọng lại lời nói rằng: Ngài chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tiếp theo!

Còn nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử là vị Phật của địa thứ mười ba, gốc rễ xuất phát từ Đại Nhật Như Lai, và ở cùng nơi với Đại Nhật Như Lai chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Hai mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu biến hóa thành Maha Song Liên Trì (*nghĩa là hai hồ sen rộng lớn). A Di Đà Phật là chủ tôn của Tây phương Cực Lạc thế giới, Liên Hoa Đồng Tử là chủ tôn của Maha Song Liên Trì. A Di Đà Phật hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử lại ứng hóa thành Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Vì thế mà Liên Hoa Đồng Tử là hóa sinh của tất cả Phật Nhãn Đại Kim Cương Cát Tường và tất cả Phật Mẫu Tâm Tôn, Phật Nhãn Phật Mẫu thì là hóa sinh của Ngũ Phương Ngũ Phật, cũng chính là Phật hóa sinh đầu tiên và trung tâm của Đại Nhật Như Lai.

Liên Hoa Đồng Tử là gọi chung cho 18 vị Liên Hoa tôn giả ở Maha Song Liên Trì. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử là vị đứng đầu của 18 vị Liên Hoa tôn giả. Ngoài 18 vị Liên Hoa tôn giả ra thì còn có vô số vô lượng các vị Liên Hoa Đồng Tử hợp thành một nhóm thành viên gia đình.

### Truyền thừa Chân Phật Tông

Do vậy, truyền thừa Chân Phật Tông chính là:

Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Còn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn lại có ba Bổn tôn là A Di Đà Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Bồ Tát. Chính là thân của Địa Tạng Bồ Tát, khẩu của A Di Đà Phật, ý của Diêu Trì Kim Mẫu, là biến hóa thân của thân-khẩu-ý, đây gọi là ứng hóa tam thân hợp nhất. Vào thời nhà Đường đã có kệ của Liên Hoa Đồng Tử được lưu truyền. Do vậy Liên Hoa Đồng Tử là từ Cực Lạc thế giới mà đến, Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là hóa thân của A Di Đà Như Lai.

### Lai lịch thù thắng và quả vị của Liên Hoa Đồng Tử

Lai lịch thù thắng và quả vị của Liên Hoa Đồng Tử là chí cao vô thượng, liệt kê ra như sau:

1⃣ Vào thời đại của Đại Uy Đức Vương, là nhờ có Bảo Ý Đồng Tử và Bảo Thượng Đồng Tử dẫn độ Đại Uy Đức Vương đến chỗ của Kim Quang Phật, nhờ có Kim Quang Phật dạy đạo cho Đại Uy Đức Vương thành đạo, hơn nữa Đại Uy Đức Vương chính là tiền thân (kiếp trước) của Phật Thích Ca Mâu Ni. Bảo Ý Đồng Tử, Bảo Thượng Đồng Tử đều là Liên Hoa Đồng Tử. Do vậy, vị thầy dẫn độ của Phật Thích Ca Mâu Ni chính là Liên Hoa Đồng Tử.

2⃣ Trong Cao Vương Kinh có nhắc đến vị Phật số một, tên đầy đủ thực ra là Tịnh Quang Liên Hoa Đồng Tử Bí Mật Phật, do vậy Tịnh Quang Bí Mật Phật cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử.

3⃣ Truyền thừa pháp Đại Thủ Ấn là do Bản Sơ Phật truyền cho Bảo Ý Đồng Tử, mà Bảo Ý Đồng Tử cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử.

4⃣ Truyền thừa pháp Đại Viên Mãn là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho Xưng Tùng Đức Chân (*Trisong Detsen, 742 - 797), Di Hỷ Tha Gia (*Yeshe Tsogyal, 757 - 817), mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thực ra chính là Liên Hoa Hóa Sinh, cũng là Liên Hoa Đồng Tử, còn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chính là ứng hóa của Liên Hoa Đồng Tử mà đến.

5⃣ Chân Phật Kinh, một trong số điển tích trọng yếu của Chân Phật Tông, là do Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tâm quang phát lộ, lĩnh hội tinh thần của Tì Lư Tính Hải, trực tiếp công bố với Tây phương Cực Lạc thế giới cùng 18 Liên Hoa Đồng Tử và cảnh giới Maha Song Liên Trì.

6⃣ Trong hang động số 249 của di tích hang đá Đôn Hoàng tại Trung Quốc (*tỉnh Cam Túc, trong đó nổi tiếng nhất là hang Mạc Cao, được gọi là động nghìn Phật, được Unesco xếp hạng di sản văn hóa thế giới), có Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Phật Di Lặc và chư Phật, Diêu Trì Kim Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, có thể thấy địa vị cao quý tương đương của Liên Hoa Đồng Tử.

Tại hang động số 314 thì đặc biệt chỉ rõ Liên Hoa Đồng Tử, ngoài ra trong một cuốn sách viết về Đôn Hoàng do đại học Lan Châu từng xuất bản đặc biệt có bài nghiên cứu về Liên Hoa Đồng Tử.

7⃣ Nhờ có sư huynh Trương Minh Thông của Pháp Minh đồng tu hội Chân Phật Tông đã biên tập cuốn sách về nguồn gốc Liên Hoa Đồng Tử, có rất nhiều văn bản tài liệu có thể chứng minh Liên Hoa Đồng Tử là thực sự có tồn tại không phải là giả, hoàn toàn không phải là dựng chuyện, là vô cùng chính chân thực!

Trong nhiều thế kỉ, giới học giả, nghệ thuật, khảo cổ và giới Phật giáo đã bắt nguồn từ Ấn Độ vùng Tây Bắc Ấn (nay là Pakistan), họ đã hiểu nguồn gốc của nghệ thuật hình ảnh Phật giáo theo phong cách Hy Lạp, và tin rằng chỉ có Phật Đà (trước khi giác ngộ) và Bồ Tát Di Lặc.

Đến năm 1990, cuốn sách mỹ thuật Ganda II được tổng hợp bởi tác giả Lật Điền Công người Nhật Bản, xuất bản bởi Nhị Huyền xã, đã hé lộ rằng không chỉ có Phật Đà Bồ Tát (trước khi thành đạo), Bồ Tát Di Lặc, mà còn có cả Liên Hoa Thủ Bồ Tát (kì thực chính là Liên Hoa Bồ Tát, cũng chính là Liên Hoa Đồng Tử).

Điều này đã gây kinh ngạc cho cả thế giới!

Còn hai vị Liên Hoa Thủ Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát đều trở thành nguồn gốc phát triển của Bắc truyền Đại thừa Hiển giáo và Mật thừa Bồ Tát. (Xem chi tiết trong cuốn Nguồn gốc Liên Hoa Đồng Tử, mục thứ 78, trang 79).

8⃣ Vết tích tượng Phật được làm sớm nhất tại Trung Quốc là tượng Liên Hoa Đồng Tử, vào thời đó được gọi là Hạng Quang Đồng Tử, tượng này được phát hiện tại Nghi Nam tỉnh Sơn Đông trên bia mộ đá của người Hán, vào khoảng năm 150-170 cùng lúc với Đông Vương Công, Tứ Vương Mẫu. (Xem chi tiết trong cuốn Nguồn gốc Liên Hoa Đồng Tử, mục thứ 104.)

9⃣ Tây Hạ vương triều (Đại Bạch Cao quốc) có ba vị quân vương là Cảnh Tông, Nhân Tông và Mộ Đế, cũng đều là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, và Đại Bạch Cao Quốc chính là Cao Vương Quan Thế Âm Quốc được kiến lập bởi Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, vì thế được gọi tên là Đại Bạch Cao quốc.

🔟 Trong cuốn kinh điển cổ xưa nhất của Ấn Độ - cuốn Mahabharata mà Trung Quốc dịch thành "Ma ha bà la đa", trong cuốn kinh điển này có nhắc đến tên của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử. Bởi vì quốc vương Shambala đệ nhất là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, đệ nhị là Bạch Liên Hoa Vương.

### Liên Hoa Đồng Tử Thượng Sư tương ứng pháp

"Liên Hoa Đồng Tử Thượng sư tương ứng pháp" là pháp vô cùng siêu thắng, bất khả tư nghị!

Chỉ cần tương ứng được "Liên Hoa Đồng Tử Thượng sư tương ứng pháp", lập tức sẽ tương ứng được với Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử tương ứng rồi thì sẽ tương ứng A Di Đà Phật. A Di Đà Phật tương ứng rồi thì sẽ tương ứng Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu tương ứng rồi thì sẽ tương ứng Đại Nhật Như Lai. Do vậy, Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp cũng tương đương với Đại Nhật Như Lai tương ứng pháp vậy. Hơn nữa pháp của Liên Hoa Đồng Tử là bất cứ người nào cũng có thể tu, bất cứ ai cũng có thể thành tựu.

### Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh

Liên Hoa Đồng Tử vì giúp đỡ A Di Đà Phật của Tây phương Cực Lạc thế giới hoằng pháp nên mới hạ sinh xuống nhân gian, do vậy nhân gian mới có Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

![image](/img/img_8e86ec48f1acc92025bd562530762489.png)

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vừa trùng hợp lại có rất nhiều nhân duyên, được nhận truyền dạy của nhiều vị thầy, hơn nữa cũng được đích thân Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí, Phật A Di Đà trao gửi lòng tin, Bồ Tát Di Lặc ban cho đội Hồng Quán, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy Mật pháp. Đại pháp duyên này chính là thời đại Liên Hoa Đồng Tử cứu độ chúng sinh, giáng xuống những cơn mưa đại pháp, thổi đại pháp loa, đánh đại pháp trống, thực hiện đại pháp nghĩa!

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/lien-sinh-hoat-phat-lu-thang-ngan.md
# Title: Liên Sinh Hoạt Phật - Lư Thắng Ngạn
---

![image](/img/img_5d831710f279743afd0fc7e9659f36aa.jpg)

## Tiểu sử tóm lược của Liên Sinh Hoạt Phật

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">18/05/1945</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

*Người sáng lập Chân Phật Tông*

*(Nguồn ảnh: Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Indonesia)*

Liên Sinh Hoạt Phật tên thật là Lư Thắng Ngạn, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1945 âm lịch tại Hậu Hồ, tỉnh Gia Nghĩa, Đài Loan, tại một trại nuôi gà bên bờ suối Ngưu Trù. Ngài tốt nghiệp trường Trắc Lượng, chính là khoa Trắc Lượng thuộc học viện Khoa học công nghệ Trung Chính (khóa 28), có bằng kĩ sư, sau đó ngài phục vụ 10 năm trong quân đội. Trong thời kì ở quân đội, ngài đã đạt được những giải thưởng Lạc Đà Vàng, Lạc Đà Bạc cho hoạt động văn học nghệ thuật quân đội quốc gia. Thời kì đầu các tác phẩm chủ yếu của ngài là tản văn, thơ ca và bình luận. Thời thanh niên, ngài là một thanh niên văn nghệ cực kì năng động.

🌟

Một ngày vào năm 1969, Liên Sinh Hoạt Phật theo mẹ đến tham bái ngôi chùa Ngọc Hoàng Cung tại thành phố Đài Trung. Tại đây, ngài đã được Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn mở thiên nhãn, thiên nhĩ, hơn nữa ngài còn tận mắt nhìn thấy ba vị Bồ Tát hiện thân khai thị cho ngài rằng, ngài cần: nhất tâm học Phật, nhất tâm học Pháp, nhất tâm hướng thiện. Trong hư không còn xuất hiện hai chữ "trung nghĩa", nhắc nhở ngài cần hoằng pháp để làm lợi ích cho chúng sinh, quảng độ chúng sinh hữu tình. Đêm đó, thần thức của Liên Sinh Hoạt Phật đã được Phật Bồ Tát đưa đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Ngài tận mắt nhìn thấy tiền thân của chính mình (pháp thân) chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử - Bạch Y Thánh Tôn của mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc. Vì độ chúng sinh mà ngài trở về Ma Ha Song Liên Trì, hơn thế nữa còn lên con thuyền từ bi hạ sinh tại nhân gian.

![Ngọc Hoàng Cung tại thành phố Đài Trung, Đài Loan. (Ảnh: Internet)](/img/img_f3a26ce39f390b84530dfbb578aeb285.jpg)

Kể từ hôm đó, mỗi buổi tối, Liên Sinh Hoạt Phật đều cùng tu luyện Mật pháp với vị linh sư vô hình là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh (cách gọi tôn kính của Liên Sinh Hoạt Phật đối với pháp thân của Phật Bồ Tát), cứ như vậy mà trải qua ba năm. Dưới sự chỉ dẫn của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, vào năm 1972, ngài đã đến vùng núi ở huyện Nam Đầu bái Liễu Minh Hòa Thượng - truyền nhân đời thứ 14 của phái Thanh Thành Đạo giáo làm thầy, học tập Đạo pháp, đan đỉnh phù lục, cửu tinh địa lý đại pháp, Trung mật và Tạng mật hồng giáo đại pháp, ngũ minh, v.v… Ngài đã trở thành truyền nhân đời thứ 15 của Đạo giáo Thanh Thành phái, đạo hiệu là Huyền Hạc Đạo Trưởng.

🌟

Do nhân duyên đã nói ở trên, vào năm 1972, Liên Sinh Hoạt Phật đã hoàn thành hoàn chỉnh việc tu trì Mật pháp. Đối với các khẩu quyết tâm yếu để chứng ngộ thành Phật, cũng như những đại pháp bí mật "nghìn năm bất truyền" của các giáo phái chủ yếu được trao truyền một cách bí mật thì ngài đều thông hiểu rõ, thành tựu Bí Mật Chủ (chi tiết xin đọc cuốn văn tập số 129 của Liên Sinh Hoạt Phật "Bước vào thế giới âm dương bí mật", trang 23), thành tựu quả vị Đại Phúc Kim Cang (chi tiết xin đọc cuốn văn tập số 157 của Liên Sinh Hoạt Phật "Thêm một chuyến ngao du", trang 116) (Quả vị tương đương với Thập Địa Bồ Tát.)

🌟

Bắt đầu từ năm 1970, Liên Sinh Hoạt Phật trước sau đã quy y Ấn Thuận Đạo Sư, pháp sư Lạc Quả, pháp sư Đạo An của Hiển giáo. Năm 1972 thì ngài thọ Bồ Tát Giới tại chùa Bích Sơn Nham ở Nam Đầu, giới sư là pháp sư Hiền Đốn, pháp sư Huệ Tam, pháp sư Giác Quang, sư phụ dạy bài khóa và nghi thức là pháp sư Thượng Lâm và pháp sư Thiện Tứ.

🌟

Vào năm 1972, ở chỗ của Liễu Minh Hòa Thượng, Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận quán đảnh học Mật pháp. Từ năm 1981 trở đi, vì nhân duyên này mà ngài tiếp tục xin quán đảnh truyền thừa của các vị Thượng sư ở nhân gian. Họ là:

- Trong phái Nyingma (Hồng giáo), Trung mật, Liên Sinh Hoạt Phật sớm đã có được tâm ấn và quán đảnh truyền thừa của Liễu Minh Hòa Thượng, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: chuông kim cương nhỏ mà Norlha Rinpoche sử dụng, bảo vật Chiếc hộp Văn Thù, sách Pháp của cung điện Polata ở Tây Tạng, v.v…
- Trong phái Sakya (Hoa giáo), Liên Sinh Hoạt Phật có được quán đảnh Đại Nguyên Thắng Huệ, quán đảnh Acharya của Sakya Chứng Không Thượng Sư, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: bức tượng Thánh của Phật Thích Ca Mâu Ni mà Sakya Chứng Không Thượng sư đem theo bên mình rất lâu, ngọc ấn của Tuyết Sơn Sư Tử, hoa sen, hũ ngọc, chìa khóa kim cang, v.v.  
• Trong phái Kagyu (Bạch giáo), Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được quán đảnh Ngũ Phật từ Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ mười sáu, được nhận tín vật truyền thừa gồm có: chuỗi tràng hạt bằng thủy tinh trắng mà Pháp Vương thường cầm trong tay, bảo bình của tu viện Rumtek ở Sikkim, v.v…

- Trong phái Gelugpa (Hoàng giáo), Liên Sinh Hoạt Phật đã được nhận quán đảnh Vô Thượng Mật Bộ của Thubten Dhargye Rinpoche, được nhận tín vật truyền thừa gồm: bức tượng đất sét Kim Cang Thủ Bồ Tát, tượng đất sét Kim Cang Hợi Mẫu, tượng vàng Thời Luân Kim Cang của Cam Châu Hoạt Phật, pháp luân bằng kim cương, chuông chày kim cang bằng vàng, chày kim cang một cổ ba mặt, quần áo của Sư Tử Pháp Vương, chuỗi gồm 108 chày kim cang bằng vàng của Thubten Dhargye Rinpoche, v.v…

🌟

Ngày 16 tháng 6 năm 1982, toàn bộ gia đình Liên Sinh Hoạt Phật đã di cư đến Seattle nước Mỹ. Ngài ở tại Linh Tiên Các khổ tu tất cả các pháp bí mật. Thời gian này, ngài được Phật Thích Ca Mâu Ni sờ đầu thọ kí, đỉnh đầu hóa bàn tay Phật. (Điều này là xác nhận ngài đã đạt quả vị Thập Địa Bồ Tát.)

Ngày 27 tháng 8 năm 1982 (ngày 10 tháng 7 âm lịch), pháp thân của tổ sư Mật giáo - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đã xuất hiện trong thiền định của Liên Sinh Hoạt Phật, và trong suốt một năm ngài đã truyền thụ pháp Đại Viên Mãn đệ nhất (tổng cộng gồm 18 bộ), hơn nữa còn ban cho quán đảnh Đại Trì Minh Kim Cang Acharya, ban cho danh hiệu là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả. Sau đó Liên Sinh Hoạt Phật lại nhận được quán đảnh và gia trì của Tam Tôn Phật ở ngọn tuyết sơn Rainier.

Liên Sinh Hoạt Phật ở tại căn nhà của mình mà ngài gọi tên là Linh Tiên Các, ở quận Ballard, Seattle, đã đóng cửa ẩn tu ba năm. Trong thời gian này ngài đã nghiên cứu và học tập:

- Đại Huyễn Hóa Võng Mật Tục
- Mật Tích Kim Cang Mật
- Thượng Lạc Kim Cang Mật Tục
- Diễm Mạn Đức Già Mật Tục
- Thời Luân Kim Cang tối bí mật
- Tát Đan Già Du ca tương ứng hỏa diễm pháp
- Kim Cương Man Đỉnh tối bí mật pháp
- Pháp song thân Tịch Tĩnh Bổn Tôn và Phẫn Nộ Bổn Tôn
- Vô thượng mật tục của Đại Viên Mãn địa thủy hỏa phong không
- 6 pháp của Naropa: chuyết hỏa, huyễn thân, giấc mộng, quang minh, thiên thức, trung ấm

Liên Sinh Hoạt Phật đã hoàn thành nghiên cứu và học tập toàn bộ những khẩu quyết trọng yếu của bốn thứ tự pháp tu: tác mật, tu mật, du già mật, vô thượng du già mật. Ngài đã du nhập đến Bì Lư Tính Hải, thực sự thành tựu tám ngoại pháp và tám nội pháp.

Xưng hiệu mà Liên Sinh Hoạt Phật được chư Phật chứng nhận là: Tây Phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả.

🌟

Trong ba năm Liên Sinh Hoạt Phật đóng cửa ẩn tu, vô số các vị tổ sư Tạng Mật trong lúc Hoạt Phật thiền định đã hiển hiện pháp thân để chỉ dạy những "chí thâm tinh nghĩa" và "thậm thâm nội nghĩa". Trong quá trình học pháp, Liên Sinh Hoạt Phật đã được chư Phật Bồ Tát hiện pháp thân để ban gia trì:

- Phật Thích Ca Mâu Ni chạm đỉnh đầu thọ kí.
- A Di Đà Phật đích thân ủy thác.
- Bồ Tát Di Lặc ban cho mũ miện đỏ.
- Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân truyền Mật pháp.

Liên Sinh Hoạt Phật bởi vì có nhân duyên đại sự mà đã đến nhân gian, khởi đầu với thân phàm phu, từng bước từng bước tu hành theo thứ tự, thực tu thực chứng, tu trì cho đến khi chứng ngộ "tức thân thành Phật". Thậm chí ngài còn từ bi phát nguyện cứu thế: "Phân thân xả cốt độ chúng sinh, đời đời kiếp kiếp tại nhân gian. Địa ngục chưa sạch, thề không thành Phật.", và thề nguyện "không bỏ rơi bất kì chúng sinh nào".

🌟

Ngày 28 tháng 6 năm 1983 (ngày 18 tháng 5 âm lịch), vừa hay trùng với sinh nhật của Liên Sinh Hoạt Phật, Liên Sinh Hoạt Phật đã chứng đắc thành tựu thân "cầu vồng bất tử". Lúc này có hàng triệu Không Hành Mẫu hoan hô tán thán! Thành tựu "cầu vồng bất tử" tức là Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác (hoặc còn được gọi là Tức thân thành Phật.)

Ngày 6 tháng 5 năm 1992, Liên Sinh Hoạt Phật đã được Phật Thích Ca Mâu Ni đặc biệt thọ kí là Hoa Quang Tự Tại Phật.

🌟

Năm 1975, tại Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã thành lập Linh Tiên Tông, năm 1983 tại Seattle nước Mỹ, ngài chính thức thành lập Chân Phật Tông, ngoài ra vào năm 1985 thành lập Chùa Tổ của Chân Phật Tông là Seattle Lôi Tạng Tự, phục vụ cho việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.

![Seattle Lôi Tạng Tự - Chùa Tổ Chân Phật Tông tại thành phố Seattle bang Washington, Hoa Kì. (Ảnh: Internet)](/img/img_a32a4499dbdea82bdd04a8064f3f6632.jpg)

Ngày 19 tháng 3 năm 1986 (tức mồng 10 tháng 2 âm lịch), tại Chân Phật Mật Uyển ở Redmond nước Mỹ, Liên Sinh Hoạt Phật chính thức được pháp sư Thích Quả Hiền xuống tóc, trở thành người xuất gia để quảng độ chúng sinh.

🌟

Hơn 50 năm qua, Liên Sinh Hoạt Phật đã dành toàn bộ thời gian vào ba việc lớn sau:

**I) Tinh tấn sáng tác**

Có thể nói Liên Sinh Hoạt Phật là nhân vật số một trong việc viết văn độ chúng sinh. Những giáo lý của "tức thân thành Phật" và cảnh giới "minh tâm kiến tính" trong truyền thống Mật giáo đều là những vấn đề rất trừu tượng, sâu sắc khó hiểu. Liên Sinh Hoạt Phật đã dùng trí huệ vô thượng của con người siêu việt để diễn đạt và giải thích những lý thuyết Phật giáo và Phật pháp thâm sâu ảo diệu. Mỗi ngày ngài đều viết văn không hề gián đoạn. Tính đến tháng 2 năm 2023, ngài đã hoàn thành 292 cuốn văn tập có nội dung Phật học, hơn nữa ngài vẫn đang tiếp tục sáng tác. Không chỉ có vậy, các tác phẩm của ngài còn được dịch ra các ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, Nhật, Bồ Đào Nha, tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Hàn Quốc, tiếng Indonesia và tiếng Thái, sách được xuất bản và quảng bá rộng khắp trên toàn thế giới. Ngoài ra thư viện Quốc hội Mỹ đã lưu giữ toàn bộ các tác phẩm của ngài.

**II) Tinh tấn tu pháp**

Mỗi ngày Liên Sinh Hoạt Phật đều thiền định, mỗi ngày đều tu Chân Phật Mật Pháp, đặc biệt là tu Mật pháp, tụng kinh niệm chú, say mê đọc sách, nghiên cứu toàn bộ Kinh, Luật, Luận của Đại Tạng Kinh. Sự thiền định tinh tấn và thậm thâm của Liên Sinh Hoạt Phật chứa đầy sức mạnh thần thông, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử. Hơn nữa, mỗi ngày ngài tu pháp để độ chúng sinh, hóa giải tai nạn, cứu thế cứu người.

**III) Tinh tấn thuyết pháp**

Bắt đầu từ năm 1990 đến nay, Hoạt Phật mỗi ngày đều không dừng thuyết pháp. Ngài lấy những kinh nghiệm chứng ngộ của bản thân để làm lợi lạc cho chúng sinh hữu tình. Hiện nay, pháp ngữ khai thị của Hoạt Phật đã được tổng kết lại thành sách như sau:

Pháp ngữ khai thị

- Hồng Quang Đại Thành Tựu (7 tập)
- Lời lời thăng hoa (5 tập)
- Bộ Hồng Quang Đại Thành Tựu mới (5 tập)
- Nói chuyện ngang dọc về Phật pháp (4 tập)
- Tâm sự cùng bạn (10 tập)
- Theo đuổi những thứ trên mặt đất, sẽ đánh mất những thứ trên thiên đường (1 tập)
- Bài ca của Hoạt Phật (10 tập)
- Đại Viên Mãn cửu thứ đệ (nhiều tập)

Hạng mục giảng dạy Phật pháp

- Phật học tổng thuyết (1 tập)
- Mật giáo đại quang hoa - Giảng giải chi tiết nghi quỹ Mật pháp hoàn chỉnh (1 tập)  
Giải thích kinh Phật

- Giải thích Chân Phật Kinh (1 tập)
- Cửu phẩm Liên Hoa Sinh - Phật giảng kinh A Di Đà và Di Đà pháp yếu (1 tập)
- Tịnh quang của vô thượng cứu cánh / Đại trí huệ đến paramita (Giải thích Tâm Kinh - 1 tập)
- Thấu kính thanh tịnh (Giải thích kinh Viên Giác - 4 tập)
- Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh (4 tập)
- Thanh kiếm trí huệ của Mật giáo (Giải thích Mật tông đạo thứ đệ quảng luận - 13 tập)
- Đại tâm ấn - Liên Sinh Hoạt Phật giảng Lục Tổ thiền kinh (5 tập)
- Giảng nghĩa Hỷ Kim Cang / pháp Đại viên mãn/ Đạo quả

Liên Sinh Hoạt Phật văn tập

- Đến tháng 2 năm 2023, tổng cộng có 292 cuốn văn tập (vẫn tiếp tục được viết thêm).  
Ngoài những pháp ngữ khai thị được nói đến ở trên ra còn có rất nhiều băng hình video ghi lại những khai thị tại các pháp hội, được lưu truyền qua các phương tiện truyền thông để độ chúng sinh.

Bắt đầu từ năm 1989, Hoạt Phật thường đáp ứng những lời mời của đệ tử ở khắp các quốc gia trên thế giới, ngài vân du khắp nơi để hoằng pháp, in dấu chân trên khắp năm châu lục, cử hành vô số hoạt động hoằng pháp quy mô rất lớn, từng chủ trì một pháp hội có tới bảy vạn người tham dự, cảnh tượng vạn người quy y thực sự khiến người ta cảm động.

🌟

Bởi Liên Sinh Hoạt Phật là một bậc giác ngộ chân chính, ngài đã kêu gọi được vô số người đến xin quy y, đến nay toàn cầu đã có hơn 5 triệu đệ tử <span className="note-blue">[5 triệu là con số ước lệ dùng trong Phật giáo, chỉ ý nghĩa rất rất nhiều, trên thực tế số lượng đệ tử quy y Liên Sinh Hoạt Phật nhiều hơn con số này rất nhiều]</span>, trong số đó không ít là các vị Lama Hoạt Phật của Mật tông Tây Tạng và các pháp sư Hiển giáo.

Các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y gồm có: Đạt Thừa Hoạt Phật, Kháp Khắc Thoát Khắc Hoạt Phật, Tát Già Cát Mã Hoạt Phật, Bổn Lạp Hoạt Phật, Hạ Khắc Đức Cách Hoạt Phật, Già Nhiếp Hoạt Phật, Thổ Đăng Gia Thố Hoạt Phật v.v…  
Các đại pháp sư Hiển giáo đến quy y gồm có: pháp sư Thích Đại Hùng ở Singapore, pháp sư Thích Tuệ Tung ở chùa Phật Quang Sơn, pháp sư Thích Hội Đạt ở chùa Nguyên Hanh Đài Loan, pháp sư Thích Tiệp Viên ở chùa Ấn Tâm, Thích Tục Bách tức Đức Hải Đại Hòa Thượng ở Việt Nam, v.v…

- Năm 1988, Pháp chủ hội Phật giáo Đài Loan Trung Quốc Ngộ Minh Trường đã đích thân đến thăm Liên Sinh Hoạt Phật, ca ngợi Chân Phật Mật Pháp là Phật pháp chân thực, là chính pháp.
- Năm 1989, trưởng lão Kalu Rinpoche - bậc thực tu đạt thành tựu tối cao phái Bạch Giáo của Phật Giáo Tây Tạng, đã tán thán và ca ngợi Liên Sinh Hoạt Phật là thành tựu giả thực tu Mật pháp cao nhất trong số những người dùng tiếng Hán để hoằng pháp độ chúng sinh trên thế giới.
- Năm 1991, Ông Kháp Khắc Hoạt Phật của phái Gelugpa với hơn 1300 vị Hoạt Phật và Lama đã đích thân tặng "Pháp Vương bảo tọa" tôn quý nhất cho Liên Sinh Hoạt Phật. Cùng năm này, các vị trưởng lão của bốn đại giáo phái Tạng mật, Yoeser Rinpoche của phái Mũ Đỏ, Sang Sang Rinpoche của phái Mũ Vàng, Chiêm Dương Rinpoche của phái Sakya, đã đích thân đến hộ trì Liên Sinh Hoạt Phật tổ chức đại pháp hội Hộ Ma tại Hồng Kông.
- Năm 1995, tại nhà khách chính phủ Điếu Ngư Thai tại Bắc Kinh Trung Quốc, Liên Sinh Hoạt Phật đã gặp gỡ với sư phụ của Lama Panchen đời thứ mười là Hạ Lỗ Hoạt Phật. Hạ Lỗ Hoạt Phật nói: "Liên Sinh Hoạt Phật đã nội chứng Mật giáo tam muội, trên thân có quang khí cực mạnh, là một vị Hoạt Phật chân chính."
- Năm 1996, người đại diện đời thứ 100 của tổ sư dòng Mũ Vàng - đại sư Tsongkhapa, trụ trì của tu viện Ganden - một trong ba ngôi đại tự của dòng Mũ Vàng Tây Tạng, Pháp Vương Ganden Tripa, vị Pháp Vương tối cao của phái Mũ Vàng toàn thế giới, đã đặc biệt từ miền nam Ấn Độ đến Seattle thăm chính thức Liên Sinh Hoạt Phật, ngoài ra còn đem theo nhiều tặng phẩm đích thân tặng cho Liên Sinh Hoạt Phật, gồm: một bộ long bào Pháp Vương, một chiếc chuông kim cang của Pháp Vương, một chiếc chày kim cang của Pháp Vương, một chiếc trống của Pháp Vương, ba pháp bảo của tổ sư, một số thuốc trân quý nhất của Mật giáo.
-  Pháp Vương Ganden Tripa nói với Liên Sinh Hoạt Phật rằng: "Món quà long bào Pháp Vương chỉ mặc trong những pháp hội lớn nhất, long bào Pháp Vương này có pháp lực vô cùng, từng đường kim mũi chỉ đều được trì chú mà đan thành áo. Liên Sinh Hoạt Phật mặc long bào Pháp Vương này thì chính là Đại Pháp Vương."
- "Chày, chuông, trống đều là những pháp khí được Pháp Vương sử dụng nhiều năm rồi, tượng trưng cho dòng chảy pháp tối cao của dòng Mũ vàng Tạng mật này chảy trong người Liên Sinh Hoạt Phật." Việc Pháp Vương Ganden Tripa ban tặng Long bào Pháp Vương này là một ấn chứng trân quý vô thượng. Liên Sinh Hoạt Phật không chỉ có ấn chứng của Phật Bồ Tát mà còn có ấn chứng của Pháp Vương ở nhân gian.
- Ngày 16 tháng 11 năm 1996, Liên Sinh Hoạt Phật đã lên đường đi Ấn Độ thăm các chùa chiền của Phật giáo Tây Tạng. Ở tại tu viện Drepung, một trong ba ngôi đại tự của Tạng mật, ngài đã ngồi trên pháp tọa thuyết pháp cho hơn hai nghìn tăng chúng. Tại ngôi chùa Karma Lekshey Ling, ngài đã được tiếp nhận nghi thức "Tọa sàng đại điển" của dòng Mũ Trắng được Kachen Rinpoche cử hành long trọng.

🌟

Tháng 7 năm 1996, Liên Sinh Hoạt Phật đã có được khởi thị của Thập phương Như Lai, ngài đặt bút viết cuốn văn tập số 120 "Cảnh giới mới của Phật Vương". Trong cuốn sách này, Hoạt Phật đã hé lộ những cơ mật lớn nhất của Thập phương Như Lai, hé lộ thân phận thực sự của Liên Hoa Đồng Tử chính là A Di Đà Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Kim Cương Thượng Sư chính là một trong những ứng hóa thân của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, trong kiếp này đã hóa danh là Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng cõi Ta Bà, đem Chân Phật Mật Pháp để quảng độ chúng sinh.  
Do vậy, truyền thừa chân chính của Liên Sinh Hoạt Phật là:  
Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh thế giới Ta Bà thuyết pháp độ chúng sinh, mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử và các trung, tiểu Liên Hoa Đồng Tử ở tại Ma Ha Song Liên Trì đều hạ sinh tại nhân gian để hộ trì Phật pháp.

Lai lịch truyền thừa của Liên Hoa Đồng Tử là: Đại Nhật Như Lai là vị Phật ở địa thứ 13, ngài là vị Phật chính nhất của Thai Tạng Giới và Kim Cương Giới. Dưới Đại Nhật Như Lai có một phi tử quan trọng nhất là Phật Nhãn Phật Mẫu. Hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là Ma Ha Song Liên Trì, cũng chính là Tây phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật. Trong Song Liên Trì có mười tám đại Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh ở nhân gian chính là Lư Sư Tôn, chính là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Do vậy, truyền thừa Chân Phật Tông của chúng ta chính là: Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

🌟

**Toàn bộ quá trình tu hành của Liên Sinh Hoạt Phật như sau:**

Đầu tiên ngài trải qua Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Phật môn Hiển giáo, cuối cùng là tu trì Mật pháp mà đạt thành tựu. Do vậy, trong toàn bộ hệ thống của Chân Phật Tông vẫn còn gìn giữ và dung hợp rất nhiều pháp thuật Đạo giáo, phù lục, linh cơ thần toán, địa lý phong thủy, các pháp môn nhập thế, nhằm giúp chúng sinh giải quyết khó khăn hoạn nạn, loại bỏ ưu phiền, đạt được mục đích quảng độ chúng sinh là: Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí. <span className="note-blue">[Trước tiên thông qua những dục vọng để lôi kéo, sau đó dẫn nhập vào trí huệ Phật.]</span>

Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thành lập Chân Phật Tông, đem đến cho con người thế gian một pháp môn tu trì thực tu thực chứng. Liên Sinh Hoạt Phật đã có lời hứa như sau với đệ tử của mình:  
"Chỉ cần bạn không quên Căn bản truyền thừa thượng sư, mỗi ngày đều tu, lúc lâm chung, Liên Hoa Đồng Tử nhất định sẽ hiện thân tiếp dẫn bạn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì tịnh độ."

Một đời hoằng pháp độ chúng sinh của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, ngài luôn nghiêm khắc tuân thủ lời giáo huấn của Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo Trưởng): "Không được quy định giá tiền, tất cả đều phải tùy duyên". Cả một đời Hoạt Phật đã phụng hành như vậy, điều này đã trở thành nhân cách vĩ đại của ngài.

🌟

Tính đến năm 2019, Chân Phật Tông đã có hơn 5 triệu đệ tử quy y trên toàn thế giới, tổng cộng có hơn 400 phân đường và trung tâm hoằng pháp phân bố trên khắp thế giới, đã xây dựng được 62 tòa Lôi Tạng Tự, tất cả đều do các đệ tử tự nguyện đứng ra tiến hành và tổ chức.

*(Nguồn video: Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia)*

Liên Sinh Hoạt Phật dùng nhãn quang và tư thái của một hành giả đã khai ngộ để ứng xử trước sự phát triển nhanh chóng của tông phái: Tất cả mọi nỗ lực tích cực đều không được vì ý đồ riêng, sự sống còn hay kết thúc của các tổ chức hoằng pháp tất cả đều phải tùy duyên. Trong hơn mười năm qua, Chân Phật Tông đã thành lập rất nhiều tổ chức hoằng pháp tương đối lớn ở khắp nơi trên thế giới:

- Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Trung Quốc.
- Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Malaysia.
- Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông Indonesia.
- Hội công đức Hoa Quang thế giới.
- Hiệp hội Phật giáo Nội Minh Quốc Tế.
- Chân Phật Báo.
- Tạp chí Nhiên Đăng.
- Mạng thông tin Chân Phật.
- Truyền hình hoằng pháp.
- Đại học Chân Phật trực tuyến.
- Chân Phật Bát Nhã Tạng - kho tàng lưu trữ các văn tập Lư Thắng Ngạn.

Tháng 11 năm 1997, Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân thành lập "Tông vụ ủy viên hội Chân Phật Tông thế giới" (gọi tắt là Tông Ủy Hội), các sự vụ hành chính của tông phái đều giao cho Tông Ủy Hội phụ trách xử lý. Với tấm lòng bi mẫn ôm trọn cả trời người, Liên Sinh Hoạt Phật đã quan tâm đến sự an dưỡng cho những người già, tích cực đẩy mạnh ba sự nghiệp:

- Viện dưỡng lão.
- Chăm sóc xoa dịu nỗi đau lúc lâm chung.
- Chân Phật mộ viện.

Liên Sinh Hoạt Phật khích lệ đệ tử giúp đỡ những nhóm người dễ bị thương tổn trong xã hội, đẩy mạnh ba sự nghiệp lớn, quan tâm chăm sóc người già, giúp cho họ vào lúc sinh mệnh sắp hết có thể được an tịnh bình yên mà bước vào thời điểm lớn lúc lìa xa cõi đời.

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/long-bao-phap-vuong-cua-lien-sinh-hoat-phat-bay-vao-vu-tru.md
# Title: Long bào Pháp Vương của Liên Sinh Hoạt Phật bay vào vũ trụ
---

![image](/img/img_559f9b89ffcd093fe9b10e2a85191727.jpg)

## Long bào Pháp Vương của Liên Sinh Hoạt Phật bay vào vũ trụ

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">24/02/2011</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Đài Loan Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

4:53 chiều ngày 24/02/2011 theo giờ địa phương (Houston, Mỹ), tàu con thoi Discovery mang số hiệu nhiệm vụ STS-133 của NASA đã được phóng vào không gian từ trung tâm vũ trụ Johnson (JSC). Long bào Pháp Vương của Liên Sinh Hoạt Phật cũng có mặt trong chuyến bay này. 

Ngoài long bào Pháp Vương, chiếc áo phông đồng phục của quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn cũng được đem theo trên chuyến bay. 

Sau khi hoàn thành 202 vòng bay quanh trái đất, kéo dài 12 ngày 19 giờ 1 phút với quãng đường bay là 5,3 triệu 4140 dặm, vào lúc 11:57 sáng ngày 09/03/2011 (giờ địa phương), tàu con thoi này đã hạ cánh xuống trái đất. 

Ngày 02/07/2011, tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, Sư Mẫu Liên Hương Thượng sư đã vui mừng chia sẻ với đồng môn về sự kiện vô cùng đặc biệt mà trong giới Phật giáo chỉ có Chân Phật Tông mới có này. 

Sau chuyến bay, cơ quan vũ trụ Hoa Kỳ đã trao tặng hai giấy chứng nhận, xác nhận rằng chiếc long bào và chiếc áo phông thực sự đã được tàu con thoi Discovery đưa vào không gian.

![image](/img/img_1070a495c407d764af335b426df822bc.jpg)

Nguồn gốc của sự kiện đặc biệt này là như thế nào?

Tại Houston có Mật Nghi Lôi Tạng Tự, tổng giám đốc là sư huynh Tăng Kiến Thịnh phục vụ tại NASA, có mối giao tình tốt đẹp với các phi hành gia. Các phi hành gia nói rằng trong nhiệm vụ bay cuối cùng của họ, họ có thể mang theo một món quà từ người nhà lên vũ trụ, và Tăng sư huynh đã đề xuất đem theo long bào của Sư Tôn. NASA khi ấy nói rằng họ cần xem xét vì đó là lần đầu tiên họ biết đến Liên Sinh Hoạt Phật.

Sau khi tìm hiểu thông tin, NASA đưa ra kết luận rằng vật phẩm của Liên Sinh Hoạt Phật có đủ tư cách để bay lên vũ trụ, bởi vì ngài có cống hiến rất lớn đối với xã hội. 

Mọi người đều biết rằng bình thường Sư Tôn có thể thần du, xuyên vào các cõi giới quỷ thần, du hành thánh địa của Phật Bồ Tát, nhưng lần này là long bào hữu hình bay vòng quanh trái đất 202 vòng, tương đương với đem pháp vị của Chân Phật Mật Pháp rải khắp mười phương pháp giới, tràn ngập toàn bộ hư không, cho nên đâu đâu cũng có pháp vị. 

Bài nói chuyện chia sẻ của Sư Mẫu đã được đăng chi tiết trên Tạp chí Nhiên Đăng.

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/sakya-chung-khong-thuong-su-quan-danh-ngu-phuong-phat.md
# Title: Sakya Chứng Không Thượng sư quán đảnh Ngũ Phương Phật
---

## Sakya Chứng Không Thượng sư quán đảnh Ngũ Phương Phật

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">16/06/1982</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

(Quán đảnh Ngũ Phật nghiêm đỉnh) Chỉ có một người ở bên cạnh là đệ tử của Hoạt Phật, tên là Ha Mã Đạt Xa Y.

Thế còn tôi nhận quán đảnh Hỷ Kim Cang chính là do Sakya Chứng Không Thượng sư quán đảnh.

Khi tôi nhận quán đảnh, đột nhiên có thể nhìn thấy đàn thành của Hỷ Kim Cang hiển hiện, đây là một sự việc rất vi diệu. Rất nhiều sự việc rất vi diệu ở đây, nhân duyên này thật trùng hợp. Ngày 16/6/1982 tôi đến Ballard, đến năm 1985, tôi rời Ballard, chính là chuyển đến nơi của Lôi Tạng Tự mà bây giờ tôi đang sống, tức là Chân Phật Mật Uyển. Sakya Chứng Không Thượng sư ở chùa Sakya vào năm 1982, 1983, 1984, 1985, đến năm 1986 thì ngài trở về Tây Tạng.

Thượng sư lại lấy ra năm hạt gạo, đặt vào trong lòng bàn tay trái của tôi, dạy tôi kết thủ ấn cúng dường, sau đó dạy tôi niệm từng câu từng câu của chú ngữ Bách tự minh. Thượng sư niệm một câu, tôi niệm một câu, niệm xong, Thượng sư yêu cầu tôi nhập định. Lần nhập định này, tôi lập tức đến được vùng trời của năm phương vũ trụ, Thượng sư ở phía trước, tôi ở phía sau, cả hai cùng bay và dừng lại ở vùng trời của năm phương vũ trụ. Tôi tung một hạt gạo đến phương Tây, phương Tây liền nở đầy hoa sen, những bông hoa chưa nở đều nở rộ, nơi chưa có hoa thì kết nụ. Tôi lại tung một hạt gạo về phương Đông, phương Đông xuất hiện rất nhiều pháp bảo trang nghiêm tỏa sáng. Tôi lại tung một hạt gạo về phương Nam, phương Nam hiện ra một đám tăng chúng đồng thời xướng lên chú ngữ bằng tiếng Phạn. Tiếp theo tôi tung một hạt gạo về phương Bắc, phương Bắc hiện ra vô số cờ báu lọng báu và các vị Phật trang nghiêm. Sau cùng tôi tung một hạt gạo về trung tâm, trung tâm nổ “hùm” một tiếng, xuất hiện một Phật quốc, có một vị Phật, chính là Tỳ Lô Giá Na Phật. Ngài đưa tay ra xoa lên đầu tôi một cái.

Thượng sư vô cùng vui mừng, ở trước Phật cầm một bông hoa đưa cho tôi. Tôi nhận lấy bông hoa, biểu thị đã tiếp nhận tâm ấn của Thượng sư, sau đó tôi lại đưa bông hoa cho Thượng sư, Thượng sư lại dâng cúng trước Phật. Thượng sư nói: “Ta truyền tâm ấn cho con, con có được tâm ấn rồi thì lại phát huy làm rạng rỡ truyền thống, rồi trả về cho Thượng sư, rồi cúng cho Phật, đây chính là tâm ấn bất diệt của chính pháp chân truyền. Chính là điều kinh Kim Cang đã nói, Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Phật Thích Ca Mâu Ni, ngươi vào đời sau sẽ được làm Phật. Hôm nay ta cũng nói như vậy, con vào đời sau sẽ được thành Phật.”

Thượng sư ở trước tôi lần lượt diễn hóa đại thủ ấn, dạy tôi từng phần động tác, nói đây là kết giới. Thượng sư nói: “Người tu pháp, vì có ma đến quấy nhiễu, cho nên nhất định phải kết giới để chặn sự xâm nhập của ma. Trên trời kết thiên giới, dưới đất kết địa giới, tại đàn thành của người tu kết tường giới, trên thân của người tu kết võng giới. Người tu phải học kim cang kiếm, kim cang hỏa. Bốn xung quanh và trên dưới giống như bức thành kim cang, ngoại ma không thể xâm phạm.” Lúc này Thượng sư lại tỉ mỉ dạy tôi một vài thủ ấn để sau này ứng dụng khi truyền pháp. Thượng sư ân cần nói cho tôi biết, trong tương lai, sau thời kỳ Hiển pháp thịnh hành qua đi, Mật tông nhất định sẽ thịnh hành, một khi Mật tông tỏa ánh hào quang thì sẽ có hắc ma đến thừa cơ quấy nhiễu đạo đức Phật, dẫn dắt một số người đi vào bàng môn. Lúc này con phải đứng lên làm tiếng gầm sư tử của chính nghĩa để phân biệt chính tà. Đây là một bí mật lớn mà hôm nay ta truyền tâm ấn của chính pháp cho con. Đồng thời muốn con phát dương Chân Phật Tông, để người nhập môn đều phát đại bồ đề tâm, giải trừ đau khổ phiền não của chúng sinh.”

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/thuong-su-thich-lien-anh.md
# Title: Thượng sư Thích Liên Anh
---

![image](/img/img_ea361f89fb49f958ad2ede27ac8ef3c0.jpg)

## Thượng sư Thích Liên Anh

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">21/01/2023</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Seattle Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Phong làm Thượng sư

Vào thứ bảy ngày 21/01/2023, vào lúc chiều tối của ngày cuối năm, tại đàn thành trên tầng 6 của Đài Loan Lôi Tạng Tự, Pháp Vương Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân ban cho pháp sư Thích Liên Anh quán đảnh Acharya, trở thành Thượng sư của Chân Phật Tông.

Kể từ khi pháp sư Thích Liên Anh - thường trụ tại Đài Loan (Pháp Hoa Đường), xuất gia, đã luôn nghiêm túc chăm chỉ trên cương vị của mình, tinh tấn thực tu, thúc đẩy sự nghiệp bồ đề, quảng độ chúng sinh, nhiều năm qua biểu hiện đặc biệt xuất sắc, khiến rất nhiều chúng sinh quy y Liên Sinh Hoạt Phật, giáo pháp của truyền thừa Chân Phật như dòng chảy dài nối tiếp.

Nay cơ duyên chín muồi, được Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật ban quán đảnh Acharya trở thành Thượng sư của tông phái. Thánh Tôn cổ vũ Thượng sư mới phong cần có thể minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, tự độ độ tha, gánh vác trách nhiệm hoằng pháp lợi sinh, phối hợp với các hoạt động của Tông Ủy Hội, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, quảng độ càng nhiều chúng sinh quy y Chân Phật.

### Cuộc đời thù thắng của pháp sư Thích Liên Anh - Lựa chọn từ bỏ tình yêu nhỏ, thành tựu tình yêu lớn của vợ chồng giáo sư Vương Tiến Hiền

![image](/img/img_5dcd6f6e0b80d88c8e86a264db16f5c2.jpg)

(Hiểu Hiểu - phóng viên Chân Phật đưa tin, trên trang tin tức Chân Phật Báo, ngày 23/09/2016.)

Ngày 27/08/2016, tại trung tâm hội nghị Meydenbauer ở Seatlle nước Mỹ, Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã làm chủ đàn đại pháp hội A Di Đà Phật tiêu tai siêu độ năm Bính Thân, đồng thời lần đầu tiên truyền Đại Lực Kim Cang bất cộng đại pháp và quán đảnh. Trong bài khai thị sau khi pháp hội kết thúc, Sư Tôn có nhắc đến: “Đại Lực Kim Cang chính là vị Kim Cang Thần đại diện cho giới luật.” “Giới luật trước kia của Chân Phật Tông quá lỏng lẻo…, bởi vì từ trước tới nay Sư Tôn không quản, Tông Ủy Hội cũng không thể quản, tất cả đều là “tự do tâm chứng”… Nói để mọi người biết, phạm giới có thể trở thành thói quen, hơn nữa càng phạm càng lớn… Cố ý phạm giới luật là có Giới Thần ở đó, sẽ là nhân quả tự mình chịu… Sau này, giới luật của Chân Phật Tông cũng sẽ càng ngày càng nghiêm.”

Thật ra, đời này có thể gặp được Phật pháp, minh sư, chúng ta đều nên có một cảm giác thành tựu. Trí huệ vô song của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không có nền giáo dục và kiến thức nào trên thế giới sánh bằng. Điều đáng tiếc là ngay cả khi một số hành giả may mắn bước vào cửa Phật, họ vẫn mắc phải căn bệnh tai hại là “người có kiến thức sâu rộng sẽ kiêu ngạo, người tu tập tốt sẽ tích lũy tiền của, ai theo nơi tĩnh lặng thì càng tán loạn nhiều, còn những người tu tập tốt sẽ tích lũy kho báu, ai rời cố hương thì lại không thấy hổ thẹn”, chỉ trở thành một kẻ lọc lõi trong Phật giáo mà thôi.

Trong đại pháp hội mùa thu tại Seattle lần này, vui mừng thay, có một người thanh niên (và cũng là một người duy nhất) cao lớn vạm vỡ với khuôn mặt tròn - pháp sư Liên Anh. Ngài ôm ấp một lòng tin kiên định, lập lời thề muốn theo bước chân của Sư Tôn, đi trên đại đạo thành Phật, Chân Phật Tông vì thế lại có thêm một tăng bảo trân quý.

Kể ra, vị pháp sư Liên Anh này cũng có lai lịch không tầm thường. Ngài là công tử của sư huynh Vương Tiến Hiền, Giáo sư ưu tú của khoa Kỹ thuật điện, Đại học Quốc gia Trung Chính, Đài Loan. Trong buổi đồng tu tại Seattle ngày 16/08/2014, Sư Tôn đã công khai chứng nhận cả nhà tiến sĩ Vương Tiến Hiền là Phật Bồ Tát, thiên nhân chuyển thế, trong đó, giáo sư Vương là Liên Hoa Đồng Tử chuyển thế, phu nhân Lâm Thế Trân là công chúa của Đế Thích Thiên chuyển thế, pháp sư Liên Anh là Bất Động Minh Vương chuyển thế.

Ngày 27/08/2016, vào ngày diễn ra đại pháp hội A Di Đà Phật, pháp sư Liên Anh đã cung kính quỳ trước đàn thành trang nghiêm, nhận giới điệp xuất gia mà Sư Tôn ban cho. Sư Tôn hỏi: “Vì sao anh lại nghĩ đến chuyện muốn xuất gia?” Pháp sư Liên Anh thong thả điềm tĩnh niệm tụng bài kệ hồi hướng trong Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp:  
*Cung kính Liên Sinh Thánh Tôn pháp.  
Một phái Chân Phật giúp chúng sinh.  
Niệm chú sinh về Song Liên Trì.  
Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh.  
Bí mật vô thượng và hiếm có.  
Nay con tu trì cúng dường hết.  
Phát lời thề nguyện trong thâm tâm  
Mong con sớm đăng Phật địa này.  
Thỉnh cầu Thánh Tôn gia trì lực.  
Ban cho quán đảnh liên hoa sinh.  
Quảng đại viên mãn đắc tự tại.  
Độ mình độ người đến Phật quốc.*

Pháp sư Liên Anh chỉ ra rằng, có lẽ có đồng môn sẽ cho rằng anh ở trên bục niệm bài kệ này chẳng qua chỉ là kiểu học thuộc lòng, nhưng trên thực tế không phải như vậy. “Trước kia Sư Tôn cũng từng hỏi rất nhiều người vì sao muốn xuất gia, cũng có trăm nghìn kiểu câu trả lời. Bản thân tôi thì thật sự biết Chân Phật Mật Pháp là thật, cho nên quyết định chắc chắn dấn bước đi tu hành, đặc biệt là nhân lúc còn trẻ, khi bản thân vẫn còn có thể lực và tinh thần.” Pháp sư nói: “Mỗi lần tôi tu pháp, niệm đến bài kệ này đều rất có cảm xúc, tôi cảm thấy đó chính là việc mà một đệ tử Phật cần phải chuyên tâm hướng về, cho dù bạn tại gia hay xuất gia đều nên dốc hết sức để tiến bước theo hướng đó. Bởi vì bài kệ này rất có ích đối với tôi, cho nên tôi thật lòng đọc nó ra.”

Pháp sư Liên Anh năm nay mới 23 tuổi, phong nhã hào hoa. Sư Tôn cũng hài hước hỏi: “Thế bạn gái của anh phải làm sao?” Chỉ thấy pháp sư bật cười trả lời: “Sư Tôn gia trì để ác duyên chuyển thành thiện duyên.” Sư Tôn nói: “Không có gì gọi là ác duyên chuyển thành thiện duyên, chỉ dựa vào tâm của chính anh thôi, tất cả do tự anh làm chủ.”

Trước kia, pháp sư Liên Anh có một người bạn gái, nhưng ngài dần dần tiết lộ việc mình muốn xuất gia, vì thế cũng dần dần được bạn gái cảm thông và chúc phúc. Giờ đây người bạn gái này cũng đã quy y Chân Phật Tông, trở thành bạn đạo trên con đường tu hành. Hiện tại, pháp sư Liên Anh vẫn là sinh viên tại một trường Đại học ở miền Trung Đài Loan, sắp lên năm bốn. Sư Tôn cũng đặc biệt cho phép ngài có thể mặc thường phục, để tóc húi cua, tiếp tục hoàn thành sự nghiệp học tập và nghĩa vụ quân sự.

Pháp sư Liên Anh là con trai của vợ chồng giáo sư Vương Tiến Hiền, sinh ra trong gia đình dòng dõi Nho học, trên còn có một chị gái và một anh trai. Đối với sự lựa chọn của con trai, mẹ của pháp sư - sư tỉ Lâm Thế Trân dịu dàng nói: “Tâm trạng của tôi cũng giống với tất cả những người mẹ trên đời, nhưng con đường tu hành này đối với pháp sư là một sứ mệnh, vì sự thành tựu của pháp sư, chúng tôi đều hết lòng chúc phúc, toàn lực ủng hộ.” Giáo sư Vương cũng nói: “Làm cha mẹ, nếu mà nói rằng không buồn và không tiếc nuối chút nào thì đó là nói dối, không có ai cao siêu vĩ đại như vậy. Nhưng pháp sư đã có tính cách suy nghĩ độc lập, chúng tôi đương nhiên sẽ tôn trọng và chúc phúc. Điều tôi mong nhất là pháp sư tu hành phải thành tựu, giúp đỡ người khác. Tôi cũng nói đùa với pháp sư là, đợi tôi già rồi, hy vọng pháp sư có thể giúp cứu độ tôi.”

Pháp sư Liên Anh thật sự là người có phúc phần lớn. Nghe giáo sư Vương Tiến Hiền nói, tháng 2/1995, Sư Tôn tại Seattle Lôi Tạng Tự nước Mỹ lần đầu tiên truyền Đại Uy Đức Kim Cang bất cộng pháp, ông ấy đã có mặt ở Seattle để giúp cho bé Lượng Quân (tên tục gia của pháp sư Liên Anh) mới ra đời chưa tròn một tuổi quy y Chân Phật. 

Nói đến duyên Chân Phật của gia đình giáo sư Vương Tiến Hiền thì đúng là một câu chuyện tuyệt vời, và cũng cực kì gợi mở lòng người, cổ vũ đồng môn, chẳng trách mà pháp sư Liên Anh lại nói: “Từ khi sinh ra tôi đã quy y Chân Phật Tông, mặc dù lúc nhỏ tôi không hiểu tu hành, nhưng tôi cảm thấy đó đã là may mắn của tôi, tôi có thể vừa sinh ra đã trồng duyên Phật, hạt giống này đương nhiên sẽ từ từ mọc mầm. Và trong quá trình lớn lên, dần dần tôi có năng lực học tập, trong nhà cũng có được hoàn cảnh này, mưa dầm thấm đất, tôi dần dần có hứng thú với Phật học.”

Giáo sư Vương Tiến Hiền quy y Sư Tôn vào năm 1986. Ông ấy thường tự trào phúng mình đã từng là một kỹ sư “răng sắt”, sự giáo dục mà ông đã nhận được cũng đưa chính mình vào trong vô minh và vô tri. Lần đầu tiên ông tiếp xúc với Chân Phật Tông là một đoạn hồi ức kỳ lạ không thể nào phai mờ trong cuộc đời mình. Giáo sư Vương còn nhớ đó là vào một buổi chiều hoàng hôn sau bữa tối khi ông đang học năm nhất trường cấp ba Nhất Trung ở Đài Trung, ông đi đến hiệu sách Tam Dân ở Đài Trung và lần đầu tiên nhìn thấy sách tâm linh của Lư Sư Tôn. Trong sách kể chuyện Sư Tôn đến thăm nhà của một đồng môn, sau khi triệu thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát, “mặt đất nứt ra, Bồ Tát từ dưới lòng đất trồi lên”. Đọc đến đây, trong lòng ông ấy thấy kinh sợ, cứ nghĩ: sao lại có thể nói như vậy? Người này sao có thể viết ra một cách trực tiếp như vậy? Nếu đây không phải là chuyện quái dị lừa bịp thì thế nào mới là quái dị lừa bịp chứ? Lúc đó, ông ấy sợ đến nỗi kéo tay của người bạn cùng học, bước nhanh trở về kí túc xá.

Đến khi giáo sư Vương Tiến Hiền bước vào lớp tiến sĩ tại Viện Điện Tử, Đại học Giao Thông Đài Loan, ông ấy và bà Lâm Thế Trân kết tình vợ chồng. Anh ba của bà Lâm (hiện là pháp sư Liên Nhật - hòa thượng xuất gia của Chân Phật Tông), là một người thích tu hành từ rất sớm, đã đọc lướt qua các tông phái. Khi ấy, pháp sư Liên Nhật còn chưa quy y Chân Phật, nhưng đã yêu thích rất nhiều sách tâm linh của Sư Tôn. Khi giáo sư Vương gặp phải bối rối trong cuộc sống và đang nghĩ đến việc tìm kiếm kinh Phật và nhờ ông giúp đỡ, pháp sư Liên Nhật đã không ngần ngại đề nghị: “Nếu muốn quy y thì hãy tìm Lư Sư Tôn, đọc sách của Sư Tôn.” “Sách của Sư Tôn có một hương vị khác, một hương thơm tươi mát, một dạng sức mạnh ở trong đó, và chúng là chân lý tuyệt đối.” Và thế là duyên phận của vợ chồng giáo sư Vương và Chân Phật Tông đã dần dần nối đường ray.

Chỉ là, giáo sư Vương rốt cục đã chịu sự huân tập của nền giáo dục khoa học trong thời gian dài, muốn bảo là thay đổi suy nghĩ cũng không phải là chuyện một sớm một chiều. Lúc đầu, mỗi lần bà Vương là pháp sư Liên Nhật sôi nổi thảo luận Phật pháp, giáo sư Vương đều chỉ ngồi yên lặng bên cạnh, mãi đến sau này chứng kiến mấy sự thật mà chính mình đã trải qua, cách nghĩ của giáo sư Vương mới có chuyển biến lớn lao, từ đó trở thành một tín đồ Phật giáo kiền thành.

Một hôm, vợ ông mua từ chợ về một mớ cá đã phơi bụng trắng và thở thoi thóp, nhưng sau khi được pháp sư Liên Nhật niệm chú Đại Bi gia trì, không ngờ mớ cá này đã sống lại và bơi lội tự do. Giáo sư Vương nhìn thấy tận mắt thì rất chấn động, thì ra ngoài khoa học vẫn có một không gian như vậy, một dạng năng lượng tồn tại cùng với trường năng lực của vũ trụ. Thế là, theo quan sát của bà Vương, “giáo sư Vương từ lúc đó mới dần dần chú ý đi nghe những cuộc nói chuyện của chúng tôi, cũng bắt đầu mua sách của Sư Tôn về nghiên cứu.”

Khi Giáo sư Vương viết đoạn sau cùng của luận văn lớp Tiến sĩ của Đại học Giao Thông cứ liên tục làm không thuận lợi, thế là bà Vương liền giúp đọc 1000 biến Cao Vương Kinh để hồi hướng. “Khi ấy, tôi ngồi cũng niệm, đứng cũng niệm, nằm cũng niệm, đến khi niệm đủ số biến, luận văn của chồng cuối cùng đã được thông qua.” Đương nhiên, bản thân Giáo sư Vương cũng biết, tất cả những điều này đều là nhờ vào sự gia trì của Sư Tôn, thế là trong trang cảm ơn của luận văn Tiến sĩ, ông ấy chân thành viết lời kết là: “Cảm tạ Bồ Tát, tất cả không cần phải nói nhiều!” 

Tốt nghiệp xong, vì công việc và nghiên cứu, Giáo sư Vương lại gặp vấn đề khó khăn và vướng mắc, thế là ông ấy phát nguyện không ăn những thứ dưới nước và tu pháp Long Vương bảo bình, không ngờ điều mong cầu nhanh chóng được như ý nguyện. 

Thế nhưng, điều thật sự khiến Giáo sư Vương Tiến Hiền có đạo tâm kiên cố, tin tưởng sâu sắc nhân quả, và “từ người không tin vào kiến thức ngoài sách vở cho đến khi bán mạng từ nội hàm tôn giáo đi theo đuổi thực tướng của sinh mệnh” (lấy nguyên câu nói của ông ấy), chính là sự việc bé Lượng Quân bị ngộ độc. 

Sau khi quy y Chân Phật Tông, Giáo sư Vương Tiến Hiền và vợ thường xuyên ở tại Nội Minh Đường (nay là Phúc Hựu Lôi Tạng Tự) tham gia đồng tu. Sau khi sống ở Thiên Trúc 12 năm, họ chuyển nhà đến Gia Nghĩa làm việc, và cả hai cùng làm giáo chức. Một ngày chủ nhật nọ, vợ chồng Giáo sư Vương cùng với em vợ, con cái và bế bé Lượng Quân mới một tuổi, lái hai chiếc xe lên phía Bắc đến trường Tiểu học Hương Sơn ở Tân Trúc tham gia pháp hội do Phúc Hựu Lôi Tạng Tự tổ chức, không ngờ cậu con trai nhỏ trên đường đi có vẻ bị ngộ độc thức ăn, trước lúc pháp hội đã bị nôn và đi ngoài bên cạnh hội trường, bị nôn rất nặng. Quái lạ là những người cùng đi đều ăn thức ăn giống nhau, nhưng không có ai gặp chuyện gì cả.

Giáo sư Vương không còn cách nào khác, đành phải một mình đưa con trai nhỏ đến bệnh viện để cấp cứu, truyền nước. Khi ấy, đứa bé chưa biết nói nhưng lại làm rất nhiều động tác kỳ lạ không hiểu ra làm sao, cuối cùng, bác sĩ làm hóa nghiệm cũng không ra kết quả. Sau khi miễn cưỡng cho xuất viện, được Kim cương Thượng sư của Chân Phật Tông chỉ thị thì mới biết là oan thân trái chủ đã tìm đến. Khi ấy, bà Vương nước mắt như mưa, Giáo sư Vương tay chân xụi lơ. Cả nhà trở về Gia Nghĩa dằn vặt suốt cả một tuần lễ, bé Lượng Quân vẫn uống thuốc nhưng vô hiệu. Thế là họ lại tìm đến một vị Kim cương Thượng sư khác xin giúp đỡ, vị Thượng sư đó cũng xác nhận là nhân quả đòi nợ, và dặn dò là phải lập tức làm một công khóa lớn, đây cũng là nguồn gốc mà hai vợ chồng họ bắt đầu thực tu. Nhưng điều bất khả tư nghì là, vào ngày đầu tiên họ trở về nhà, niệm xong kinh chú hồi hướng thì giống như kỳ tích, bệnh của đứa bé đã không thuốc mà khỏi.

![image](/img/img_209ba5d99e45ef3b4f0797dfe293180d.jpg)

Trải nghiệm khắc cốt ghi tâm lần này khiến Giáo sư Vương Tiến Hiền hiểu được rằng: “Thì ra ngoài nhục thể sinh bệnh ra còn có cái gọi là bệnh nghiệp chướng. Thì ra chỉ có thật sự phát tâm, hơn nữa càng ngày càng rộng lớn, thì nghiệp chướng mới tiêu trừ càng nhanh, nhưng sự tôi luyện, khảo nghiệm cũng sẽ càng lớn hơn. Tứ gia hành, Bách tự minh chú, pháp Sám hối, nhất định phải nhanh chóng hoàn thành. Tu pháp càng kiên cố, lực gia trì của Phật Bồ Tát và nỗ lực của bản thân cũng sẽ càng lớn, sức mạnh chịu đựng đau khổ của tâm cũng trở nên mạnh mẽ hơn.”

Giáo sư Vương Tiến Hiền là một nhà khoa học vô cùng ưu tú. Thái độ học tập chăm chỉ và nghiêm túc của ông được thể hiện trọn vẹn qua việc tu hành hàng ngày. Quy y 30 năm, ông đã niệm đủ 100.000 biến Bách tự minh chú, 8.000.000 biến Thượng sư tâm chú, và tu hơn 200 đàn Hộ Ma, tụng hơn 20.000 biến Cao Vương Kinh. Thường ngày, ông cũng tận lực dùng thời gian buổi tối để tu trì Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng pháp. Giáo sư Vương nói: “Bởi vì muốn giải trừ nhân quả, cho nên tôi vẫn làm rất nhiều công khóa khác, bản thân tôi có một bảng biểu để ghi chép lại.”

Đối với hơn 200 cuốn văn tập của Sư Tôn, Giáo sư Vương Tiến Hiền đều đọc từng cuốn. Ông cho rằng: “Sách của Sư Tôn đều nói sự thật, cho nên phải đọc rất nghiêm túc, mỗi cuốn đọc hai lần, thậm chí ba lần đều tốt cả, điều này rất quan trọng.” Giáo sư Vương chỉ ra rằng, khai thị của Sư Tôn và những bài giảng kinh thuyết pháp thuần túy của các vị đại sư Phật học các đời không giống nhau. Bởi vì phần lớn đối với Sư Tôn là lần đầu tiếp xúc, nội dung tư liệu quá lớn, từ khái niệm về đời sống thường ngày, khái niệm tu hành, khái niệm Phật học, cho đến khi tiến vào khái niệm về không gian bốn chiều, khái niệm về lục đạo, khái niệm về luân hồi, tất cả điều này đòi hỏi thời gian để thiết lập tổ chức mạch lạc và các khái niệm bên trong. Hy vọng có ngày trong tông phái có người có thể phát tâm lực lớn để làm công việc chỉnh lý và phân loại, những thứ này đều vô cùng trân quý. Ngoài ra, Giáo sư Vương còn có một tâm đắc: “Sư Tôn thường kể rất nhiều câu chuyện, nhưng tuyệt đối đừng coi những câu chuyện chỉ là câu chuyện, bởi vì bên trong mỗi câu chuyện đều có một vài đạo lý, đều rất quan trọng, đều có thể chắt lọc ra một vài thứ.”

![image](/img/img_369d070345e03e811b1b71973f4b8d3a.jpg)

Năm 2016, theo ý chỉ của Sư Tôn, Pháp Hoa Đường được thành lập tại Gia Nghĩa - quê hương nơi Sư Tôn sinh ra. Hiện tại Giáo sư Vương Tiến Hiền là đường chủ của Pháp Hoa Đường. 

![image](/img/img_ed9edfa0ffd99d5b8dfc7588cdcfff9e.jpg)

Pháp Hoa Đường phục vụ hỏi việc vào ngày chủ nhật hàng tuần, do pháp sư Liên Anh phụ trách. Ngày 13/08/2014 tại Chân Phật Mật Uyển ở Seattle, Sư Tôn ở trước mặt đã chỉ thị những nguyên tắc mà pháp sư Liên Anh sau này khi hỏi việc cần tuân thủ. Tháng 5/2015, pháp sư Liên Anh lại một lần nữa thỉnh thị Sư Tôn, Sư Tôn lại xác nhận dựa vào Diêu Trì Kim Mẫu là chính.

![image](/img/img_e9beb628a3f92de2af9a462d4b7da75c.jpg)

Ngoài ra, bắt đầu từ tháng 12/2015, vào lúc 7 giờ tối thứ hai hàng tuần, pháp sư Liên Anh cũng phục vụ hỏi việc tại Hương Hoa Lôi Tạng Tự. Tin rằng đã có rất nhiều đồng môn từng tìm đến pháp sư Liên Anh để hỏi việc, nghe người đã từng hỏi nói rằng, pháp sư Liên Anh rất khiêm nhường nhã nhặn, có hỏi sẽ đáp, đặc biệt là đáp án thần chuẩn. Pháp sư Liên Anh là Bất Động Minh Vương chuyển thế, gánh vác sứ mệnh độ chúng sinh, phục vụ hỏi việc chỉ là một trong các hình thức hoằng pháp lợi sinh của ngài. Cuối tháng 8/2016, sau khi pháp Sư Liên Anh cạo tóc, Sư Tôn đã chỉ thị rằng, pháp sư vẫn phải tiến hành phục vụ hỏi việc tại Pháp Hoa Đường và Hương Hoa Lôi Tạng Tự, và mặc pháp y Chân Phật Tông hoặc áo xanh đều được.

Việc pháp sư Liên Anh xuất gia là vô cùng đáng quý. Khi những người trẻ tuổi ở thế gian đều bận rộn với công việc của mình, cho rằng chỉ có cuộc sống, gia đình, thanh danh, tình cảm của mình mới là quan trọng nhất, thì pháp sư Liên Anh đã quyết định đi một con đường khác. Pháp sư Liên Anh nói: “Nói về cá nhân tôi thì gia cảnh mặc dù cũng không tệ, nhưng trong đó bản thân tôi cũng đã trải qua nhiều trắc trở, khảo nghiệm, bất kể là về mặt sức khỏe hay sự nghiệp học hành, vì thế tôi bắt đầu có những suy nghĩ khác về nhân gian. Khi những đau khổ của thế gian còn chưa kết thúc, Phật pháp và giáo pháp của Sư Tôn mãi là một phương pháp giải quyết và đối trị. Trải qua hết lần này đến lần khác khiến tôi cảm thấy Phật pháp đúng là trí huệ vô thượng siêu việt thế gian. Vì thế dần dần, tín tâm và đạo tâm của tôi càng kiên cố.”

Pháp sư Liên Anh còn nói, những năm qua, Phật Bồ Tát không ngừng giáng xuống ban những chỉ dẫn tâm linh cho chính ngài và người nhà, cũng tạo nên những ảnh hưởng sâu sắc đến ngài. Đầu tiên, ngài đã hiểu rằng, ồ, thì ra những điều này đều là thật, hơn nữa cũng không phải là cái gì rất đặc biệt. Điều quan trọng là thông qua phương thức này có thể biết rất rõ ràng, thì ra vạn sự vạn vật trong cõi vô hình đều có quan hệ nhân quả. Nhưng chúng ta cũng không nên dừng lại mãi ở giai đoạn này, làm sao để tu cho tốt thân và tâm linh của mình, tu cho vững chắc ổn định, mới là chân đế của Mật pháp của Sư Tôn.

Đối với việc Sư Tôn cho phép pháp sư Liên Anh khi mới là sinh viên năm hai đã có thể hỏi việc cho người ngoài, ngài cũng cảm thấy đây là một việc rất tốt, hơn nữa còn khiến cho cách nghĩ của bản thân có trải nghiệm chân thực siêu thoát. Pháp sư Liên Anh chỉ ra, những tín chúng đến hỏi việc có người quy y 20 năm, 5 năm, cũng có người là lần đầu tiên hoặc không phải lần đầu tiên đến, nhưng những điều mà mọi người hỏi đều gần như giống nhau, không nằm ngoài tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, đều thuộc về những thứ thế gian. Càng thú vị hơn là, những vấn đề này gần như dùng Phật pháp và trí huệ của Sư Tôn là đều có thể đối trị.

Trong quá trình hỏi việc, pháp sư Liên Anh đã sâu sắc lĩnh ngộ được rằng, những việc vụn vặn bận rộn của thế gian sẽ không bao giờ kết thúc cho đến tận cuối đời, làm xong một việc lại lập tức có một việc khác, giống như những gợn sóng nước liên miên không ngừng. Vì thế, ngài đã suy nghĩ rất thận trọng xem mình cần cù tận tụy làm tất cả, đến khi chết có tác dụng gì không. May mắn thay, pháp sư Liên Anh vẫn còn trẻ như vậy mà đã nhìn ra không nên phí hoài cuộc đời, đời người nên chuyển hướng, thế là ngài đã đi trên con đường bồ đề có thể khiến chính mình giải thoát. 

Tương lai, con đường của pháp sư Liên Anh vẫn còn rất dài, khảo nghiệm còn rất nhiều. Nhưng ngài biết, chỉ có giống như Sư Tôn dạy, mỗi bước đi đều phải tu một cách thực chất, bắt đầu từ Tứ gia hành, tạo nền móng vững chắc. Đối với văn tập của Sư Tôn, mặc dù từ nhỏ đến lớn ngài đã đọc rất nhiều, nhưng vẫn muốn đọc lại để nghiên cứu kĩ càng hơn, bởi vì bên trong đều có kho báu, mỗi lần đọc đều sẽ có những cảm nhận khác nhau.

Ban đầu, pháp sư Liên Anh cũng giống như bạn và tôi, chỉ là phàm phu tục tử. Sau đó vì ngài tinh tấn tích lũy tư lương mà giờ đây ngài đã xuất gia, đang bước đến Phật quốc tịnh thổ ở bờ bên kia, vì thế đáng để chúng ta kính trọng.

Chúng ta chúc phúc pháp sư Liên Anh! Cũng mong rằng pháp sư Liên Anh sớm thành tựu Phật quả.

![image](/img/img_8ae7852a5f2208c036a824401a043c25.jpg)

**(Hết)**

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/thuong-su-thich-lien-tang.md
# Title: Thượng sư Thích Liên Tăng
---

![image](/img/img_f31afe1c5f3188ecb547b21390c5f9d7.jpg)

## Thượng sư Thích Liên Tăng

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">1983</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

🏅 Trưởng lão Thượng sư Thích Liên Tăng - trưởng Ban Giám Sát của Tông Ủy Hội nhiệm kỳ 6. 

Trưởng lão Thích Liên Tăng sinh ra tại Đài Loan, tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật Columbia tại Chicago, Hoa Kỳ. Ngài lớn lên trong gia đình Phật giáo, quy y Liên Sinh Hoạt Phật năm 1983, tháng 9/1997 thì xuống tóc xuất gia, tháng 1/1999 được Sư Phật ban quán đảnh Acharya, tháng 9/2021 được Sư Phật đích thân trao cho chức vụ trưởng lão Bộ Truyền Pháp của Chân Phật Tông. Hiện tại Thượng sư đang đảm nhiệm chức vụ trưởng lão của Bộ Truyền Pháp và trưởng Ban Giám Sát của Tông Ủy Hội và là Thượng sư thường trú của Tôn Thắng Lôi Tạng Tự.

Sau đây là bài phỏng vấn của phóng viên về trách nhiệm hiện tại của Trưởng lão và Trưởng lão làm sao để cân bằng giữa các đơn vị khác nhau.

❓ **Hỏi:** Ban Giám Sát đóng vai trò và chức năng gì trong Chân Phật Tông?  
🌟 **Đáp:** Ban Giám Sát bao gồm ba vị ủy viên thường vụ của Ban Giám Sát là Thượng sư Thích Liên Âu, Thượng sư Thích Liên Phi, Thượng sư Thích Liên Tổ, một thư ký chấp hành là thầy giảng dạy Thích Liên Truy, trợ lý hành chính, năm Thượng sư chuyên viên điều tra và tổng cộng 12 vị điều tra viên tại Malaysia, Indonesia, v.v… Tổng cộng có 22 thành viên giúp đỡ Ban Giám Sát xử lý nghiệp vụ khen thưởng và giám sát của tông phái. Ban Giám Sát cũng là đơn vị chịu trách nhiệm về hệ thống nhân sự của các đạo tràng và nhân viên hoằng pháp của Chân Phật Tông, nhiệm vụ chính là tiến cử người hiền tài, phấn đấu được như người tài đức, chấn chỉnh tác phong của tông phái, giữ giới và bảo vệ giáo lý. 

❓**Hỏi:** Trong những năm qua khi giữ nhiệm vụ chấp hành giám sát, ngài đã gặp phải những vấn đề khó khăn hỗn loạn nào?

🌟**Đáp:**
1. Đồng môn thiếu hiểu biết và tín nhiệm đối với quy trình làm việc của Ban Giám Sát.

Đồng môn không hiểu nghiệp vụ và trách nhiệm của Tông Ủy Hội, không tin tưởng vào sự giám sát vô tư của Ban Giám Sát, thậm chí còn nghi ngờ rằng Ban Giám Sát có thể che đậy việc xử phạt những trường hợp kiện cáo. Trên thực tế, trước khi Ban Giám Sát xử lý các cá nhân phạm giới đã phải tiến hành nhiều cuộc điều tra khác nhau, thu thập chứng cứ, viết báo cáo vụ việc, gửi cho nhóm nòng cốt xem xét và phê duyệt, sau đó trình lên Ban Kiểm Soát để xem xét lần cuối, sau khi thông qua mới báo cáo lên Sư Phật và đưa ra quyết định cuối cùng, do Tông Ủy Hội thực thi biện pháp xử phạt.

2. Nhiều người phạm giới hoặc đạo tràng đều thiếu hiểu biết và tôn trọng giới luật, quy tắc điều lệ của Chân Phật Tông.

3. Có sự chênh lệch giữa kỳ vọng của đồng môn đối với Tông Ủy Hội và cách làm việc của Tông Ủy Hội.

Tuyệt đại đa số đồng môn đều ủng hộ và mong đợi Tông Ủy Hội ra sức cải cách và lập lại trật tự những sự hỗn loạn đang tồn tại trong tông phái để khôi phục lại tông phong. Tuy nhiên, Tông Ủy Hội xử lý những trường hợp vi phạm giới luật dưới góc độ tư vấn, thái độ đương nhiên sẽ khoan dung hơn, chỉ cần người phạm giới sám hối và sẵn sàng hợp tác thì Tông Ủy Hội sẽ khoan dung và cho phép người phạm giới cơ hội để làm lại từ đầu, vì thế không thể tránh khỏi việc có sự khác biệt so với kỳ vọng của đồng môn. Chúng ta cần phải biết rằng con người khó tránh khỏi việc mắc sai lầm, chỉ cần thành tâm sám hối và thay đổi thì có thể hoàn tịnh, chính Sư Phật bằng sự mẫu mực của mình đã giáo hóa mọi người với lòng từ bi và khoan dung.

❓ **Hỏi:** Làm sao để khiến cho đạo tràng, đồng môn tích cực phối hợp với cách thức làm việc của Tông Ủy Hội?

🌟 **Đáp:** Muốn để cho đồng môn, đạo tràng phối hợp với cách thức làm việc của Tông Ủy Hội thì chắc chắn không chỉ là sự phối hợp một chiều. Tông Ủy Hội nên duy trì sự tương tác tốt với đồng môn, sử dụng nhiều kênh đa phương tiện, gặp gỡ trao đổi, v.v… để giao tiếp và tuyên truyền, khiến cho đồng môn hiểu rằng Tông Ủy Hội đang trong sự không ngừng tiến bộ, tự nhiên sẽ khiến cho đồng môn có sự tín nhiệm đối với Tông Ủy Hội, mong muốn phối hợp tốt hơn với cách thức làm việc của Tông Ủy Hội.

❓**Hỏi:** Xin hỏi Ban Giám Sát có kế hoạch hàng năm nào lớn không?

🌟**Đáp:** Kế hoạch hàng năm của Ban Giám Sát năm nay (2023) gồm có:
1. Chuẩn bị cho sự ra mắt trang web Chân Phật Tông Vụ vào nửa cuối năm 2023, đây là một mạng lưới liên lạc chung thuộc về tất cả đệ tử Chân Phật, gồm có tin tức của tông phái, quản lý nhân sự đạo tràng, kho tàng Chân Phật (bao gồm Chân Phật pháp tạng, phù tạng, kinh tạng, chú tạng, ấn tạng, đạo tạng, v.v…), các sự kiện Chân Phật, hệ thống khen thưởng, hệ thống nghiệp vụ hành chính trực tuyến, v.v… tất cả những tin tức có liên quan đến tông phái đều sẽ được đăng tải trên trang web Chân Phật Tông Vụ. Mục đích quan trọng nhất của trang web này là đoàn kết và liên kết các đạo tràng, nhân viên hoằng pháp và đồng môn của toàn tông phái.

2. Kế thừa và tiếp nối quảng bá “Dự án xuất sắc của đạo tràng Chân Phật”, khuyến khích càng nhiều đạo tràng tích cực tham gia.

3. Tháng 9/2023 sẽ triển khai kế hoạch khen thưởng các cá nhân của tông phái, đây là một kế hoạch hoàn toàn mới, phối hợp với các hội giao lưu và tuyên truyền của các đạo tràng để quảng bá đến mọi người trong tông phái, và vào tháng 1/2024 sẽ bắt đầu triển khai kế hoạch khen thưởng cá nhân.

![image](/img/img_72f26234b7c12f40423104bf6fb9fc2b.png)

❓ **Hỏi:** Tông Ủy Hội từ trước đến nay đã thúc đẩy những kế hoạch tông vụ quan trọng nào? Có thể lấy ví dụ để nói rõ không?

🌟 **Đáp:** Có rất nhiều sự cải cách trong tông vụ được thúc đẩy kể từ Tông Ủy Hội nhiệm kỳ 5, chẳng hạn như:
1. Ban Giám Sát là một trong những nghiệp vụ hoàn toàn mới, khích lệ mọi người tôn sư thủ giới, đã cải chính rất nhiều sự hỗn loạn, khen ngợi những đệ tử ưu tú lương thiện trong tông phái, đem lại một cảm giác bừng sáng trong tông phái. 

2. Tông Ủy Hội bắt đầu tiến cử rất nhiều nhân viên hoằng pháp hoặc đồng môn ưu tú trở thành nhân viên hành chính chuyên chú với sự hậu thuẫn của hệ thống hành chính vững mạnh, như vậy tông vụ có thể có được sự phát triển bền vững. 

3. Ban Tuyên Truyền đã tổ chức rất nhiều hoạt động tập trung như trì chú online, hội cúng, khiến cho tông phái trở nên đoàn kết hơn và có sức mạnh gắn kết hơn.

4. Ban Giáo Dục thực hiện đẩy mạnh các khóa đào tạo bồi dưỡng nhân viên hoằng pháp các cấp, đại diện của đạo tràng hoặc đồng môn, vì thế chất lượng của tông phái từ trên xuống dưới sẽ được nâng cao trong tương lai gần. 

5. Thành lập nền tảng cho Tổng hội Công đức Chân Phật làm cơ sở cho việc vận hành gây quỹ cho Tông Ủy Hội sau này. 

Đây đều là những nghiệp vụ đổi mới mà Tông Ủy Hội nhiệm kỳ trước đã xây dựng.

Các việc của tông phái quy mô lớn được Tông Ủy Hội nhiệm kỳ này lên kế hoạch và thúc đẩy bao gồm:
1. Kế hoạch khen thưởng đạo tràng và cá nhân xuất sắc của Ban Giám Sát.
2. Trang web Chân Phật Tông Vụ tổng hợp toàn bộ nguồn tài nguyên của tông phái.
3. Ban Quan Hệ Công Chúng sẽ triển khai toàn bộ kế hoạch chăm sóc tăng chúng.
4. Để tăng cường tuyên truyền phát triển các công việc của tông phái, Ban Tuyên Truyền đã thành lập nhóm phóng viên tông vụ.
5. Thu nạp các tài năng tinh anh làm cố vấn cho việc phát triển tông phái, Tông Ủy Hội đã lên kế hoạch thành lập hội Xúc tiến Phát triển Tông vụ và sẽ cố gắng để thành lập và vận hành trong thời gian sớm nhất.
6. Nhân viên hành chính và nhân viên được mời đặc biệt của Tông Ủy Hội sẽ sát hạch để lập kế hoạch khen thưởng để mong thu hút càng nhiều nhân tài ưu tú tham gia giúp đỡ Tông Ủy Hội.

![image](/img/img_3ae82c8a53ee888fb6b00160bd7746d4.jpg)

❓**Hỏi:** Trưởng lão Thích Liên Tăng đã là trưởng Ban Giám Sát của Tông Ủy Hội, đồng thời cũng là trưởng lão danh dự của Bộ Truyền Pháp, lại còn phải chăm lo cho Tôn Thắng Lôi Tạng Tự, làm sao để cân bằng xử lý những nghiệp vụ này? Thượng sư có thể kể rõ quá trình hoạt động của tâm trí mình được không?

🌟 **Đáp:** Khi có nhiều chức vụ thì theo thứ tự từng bước hoàn thành công việc, chỉ cần làm tốt vài điểm quan trọng:
1. Sự tin tưởng lẫn nhau trong nhóm — thiết lập sự đồng thuận và mục tiêu chung của nhóm làm việc.
2. Lên kế hoạch trước — Nếu muốn đến đích, bạn phải lên kế hoạch trước cho lộ trình để đạt được kết quả gấp đôi với một nửa công sức.
3. Phân công cụ thể — Thành viên trong nhóm đều phải biết trách nhiệm và nghiệp vụ của mình.
4. Chấp hành chính xác — Thiết lập theo dõi công việc để đảm bảo rằng các kế hoạch được thực hiện chính xác.
5. Đánh giá thực tế – khi công việc tiến triển, hãy tiến hành đánh giá và cải tiến một cách thực tế và liên tục.
6. Cống hiến quên mình – không lấy lợi ích riêng mà làm hại việc công, lấy sự phát triển của tông phái làm trọng tâm.

Thượng sư Thích Liên Tăng có nói rằng bản thân hiện tại dành 2/3 thời gian ở Seattle để giúp đỡ mọi việc, 1/3 thời gian trở về Tôn Thắng Lôi Tạng Tự, và nói rằng Thượng sư đặc biệt cảm ơn sự tín nhiệm và ủng hộ của hội đồng Tôn Thắng Lôi Tạng Tự và đồng môn để Thượng sư có thể yên tâm phụng sự Sư Phật và giúp đỡ Tông Ủy Hội. Cũng cảm ơn sự ủng hộ của các vị trưởng lão của Bộ Truyền Pháp, các Thượng sư, thầy giảng dạy, pháp sư ở văn phòng làm việc của Seattle để cho nghiệp vụ của trung tâm hồi đáp thư tín và tông phái được tiến hành thuận lợi.

Cảm ơn trưởng lão Thích Liên Tăng đã chia sẻ nghiệp vụ và phương pháp lên kế hoạch của bản thân, cũng mong rằng mọi người tuân thủ lời dạy của Căn bản Thượng sư, dưới sự dẫn dắt của Tông Ủy Hội, người người tôn trọng và tuân thủ quy tắc và giới luật, phát tâm bồ đề, cùng thúc đẩy Chân Phật bát nhã, lợi lạc tất cả chúng sinh hữu tình. 

**Chú thích:** Tin vui cho các đồng môn người VN. Trang web Chân Phật Tông Vụ sẽ có cả tiếng Việt. Khi trang web chính thức ra mắt, các đồng môn người Việt đều có thể tạo tài khoản cá nhân của mình, từ đó có thể thâm nhập vào hệ thống tư liệu của Chân Phật Tông - kho tàng dữ liệu này đã và đang được dịch sang tiếng Việt, có thể tìm hiểu mọi hoạt động của Chân Phật Tông đang diễn ra, và giao lưu với các chùa, đạo tràng và đồng môn trên toàn thế giới.

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/tin-vat-truyen-thua-cua-lien-sinh-hoat-phat.md
# Title: Tín vật truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật
---

![image](/img/img_71c2d82c7a8274c5f64d78c7aaaaef8f.jpg)

## Tín vật truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">12/01/1993</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Ở Hồng Kông, tôi đã đến thăm Thubten Dhargye Thượng sư. Việc này khiến tôi nhớ đến các tín vật truyền thừa mà tổ sư các đời đã để lại cho tôi. 

Tôi lần lượt liệt kê chúng ra đây như sau:

### Về Hồng giáo

(1) Chuông kim cang nhỏ — là Liễu Minh Hòa Thượng tặng. Bên ngoài màu đen, kết cấu rất chuẩn xác, nhìn mộc mạc chân phương, nhưng nó chính là cái chuông mà Norla Thượng sư của Hồng giáo sử dụng, âm thanh trong trẻo.

(2) Tráp Văn Thù — là Liễu Minh Hòa Thượng tặng, là báu vật nổi tiếng và đặc biệt như một món đồ tinh xảo. Đây vốn là một món đồ của cung điện Potala, Norla Thượng sư tặng cho Liễu Minh Hòa Thượng, Liễu Minh Hòa Thượng tặng cho tôi. Đây là món đồ thủ công tinh xảo thượng hạng, là tráp báu vô cùng trân quý.

### Về Hoàng giáo

(1) Bức Kim Cang Thủ Bồ Tát nặn bằng đất — là món đồ của Cam Châu Hoạt Phật, thậm chí trong tưởng tượng bạn cũng không tưởng tượng được, dùng đất sét để tạo hình, tinh xảo trang nghiêm, có tô màu, kích cỡ nhỏ trong lòng bàn tay, to hơn ngón tay cái một chút, không người nào có thể tưởng tượng được. Là Cam Châu Hoạt Phật tặng cho Thubten Dhargye Thượng sư, rồi Thubten Dhargye Thượng sư tặng cho tôi.

(2) Bức Kim Cang Hợi Mẫu nặn bằng đất — là món đồ của Cam Châu Hoạt Phật, kích cỡ giống như bức Kim Cang Thủ Bồ Tát nặn bằng đất sét, không tô màu nhưng đẹp y như nhau, bất khả tư nghì, là Thubten Dhargye Thượng sư tặng cho tôi.

(3) Bức Thời Luân Kim Cang bằng vàng —  là món đồ của Cam Châu Hoạt Phật, được làm từ vàng ròng, có chú tự thời luân, sau lưng có chữ ký “Cam Châu”. Thubten Dhargye Thượng sư căn dặn ví dụ như khi làm đại pháp hội thì mang theo là được.

(Ba món đồ ở trên là tín vật của Cam Châu Hoạt Phật.)

(4) Pháp luân bằng kim cương — là món đồ của Thubten Dhargye Thượng sư, dùng kim cương lấp lánh để khắc thành hình bánh xe pháp. Thượng sư nói với tôi trên thế giới chỉ có một cái, là tín vật duy nhất.

(5) Chuông chày kim cang bằng vàng — kích thước bằng ngón tay út, dùng để đeo trên chuỗi niệm hạt, là tín vật mà khi Thubten Dhargye Thượng sư quán đảnh Vô thượng mật bộ đã tặng cho tôi. 

(Tín vật mà Thượng sư truyền thừa của Hoàng giáo tặng cho tôi rất nhiều. Có móc bằng vàng, kính cánh dơi, tượng ngọc, Kim Cang Tát Đỏa, quả cầu thủy tinh, nhẫn vàng song long, Thần Tài Mũi Voi nằm, v.v…)

(6) Chày kim cang một chấu ba mặt — là tín vật được đặc biệt tặng cho tôi vào ngày 12/1/1993. Bên trên là Kim Cang Thần ba mặt, bên dưới là chày một chấu, Thubten Dhargye Thượng sư đặc biệt dặn dò tôi sau này làm pháp Yết ma có thể dùng vật này để hóa giải tất cả hung sát, chuyển nguy thành an.

### Về Bạch giáo

(1) Chuỗi niệm hạt bằng thủy tinh trắng — là món đồ của Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16, Pháp Vương thường cầm trên tay và chuyên niệm. Chuỗi niệm hạt bằng thủy tinh này, mỗi một hạt to như trứng chim, không phải là chuỗi hạt thủy tinh bình thường, đeo trên tay. Khi tôi nhận quán đảnh Ngũ Phật nghiêm đỉnh, Pháp Vương đã thuận tay tặng chuỗi hạt lộng lẫy này cho tôi làm tín vật.

(2) Bình ngọc — là món đồ của Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16, Pháp Vương có rất nhiều món đồ bằng ngọc đủ kiểu đủ loại, trong nhà gần như thứ gì cũng có. Chỗ ngồi của ngài được lót bằng thảm Tây Tạng thượng hạng. Từ trên chiếc bàn trắng tinh, Pháp Vương lấy một chiếc bình ngọc tặng cho tôi làm tín vật, bình ngọc này đã từng được gọt giũa, là món đồ của tu viện Rumtek ở Sikkim. 

(Khi Đại Bảo Pháp Vương Karmapa 16 tặng tín vật cho tôi, các Lama có mặt ở đó đều vô cùng kinh ngạc, cho rằng là pháp duyên thù thắng và bất khả tư nghì.)

### Về Hoa giáo

(1) Tượng thánh của Phật Thích Ca Mâu Ni — là món đồ của Sakya Chứng Không Lama, đúc bằng đồng đen, niên đại rất lâu, to bằng bàn tay, ngài đem theo bên mình rất lâu, dùng vải trắng bọc lại. Sakya Chứng Không Lama giống như một tăng nhân khổ hạnh lang thang, trong bất kì hoàn cảnh nào đều không mang theo nhiều đồ vật bên mình.

(2) Ấn ngọc sư tử tuyết — là món đồ của Sakya Chứng Không Lama, đây là tín vật truyền thừa mà ngài đặc biệt tặng cho tôi. Núi tuyết là chỉ núi Tanggula <span className="note-blue">[Đường Cổ Lạp Sơn]</span>, sư tử tuyết là linh thú của Tây Tạng, ngài muốn tôi sau này can đảm giống như sư tử kim cương.

(Sakya Chứng Không Lama <span className="note-blue">[Dezhung Rinpoche III Kunga Tenpai Nyima]</span> sinh ra tại Kunchok Lhundrup Tây Tạng, 16 tuổi xuất gia, 26 tuổi rời Tây Tạng, từng sống tại Bhutan, Sikkim, núi Himalaya ở bắc Ấn Độ để tu hành. Giới luật của ngài rất nghiêm, giới Mật tông của tôi đại bộ phận đều do ngài quán đảnh.)

Tín vật mà Sakya Chứng Không Lama tạng cho tôi còn có hoa sen, ấm ngọc, tóc kim cang, khóa kim cang, v.v… 

(Lời trong ảnh: Truyền thừa là pháp mạch quan trọng nhất của Mật giáo, tương đương với cội nguồn của tu học Mật giáo. Vì Mật giáo cần có thầy dạy, cho nên “khẩu nhĩ tương truyền” mới là đệ tử Mật giáo chân chính.)

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/to-chuc-va-co-cau-cac-vi-tri-trong-chan-phat-tong.md
# Title: Tổ chức và cơ cấu các vị trí trong Chân Phật Tông
---

## Tổ chức và cơ cấu các vị trí trong Chân Phật Tông

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">01/01/1997</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

*Tổ chức Chân Phật Tông (viết tắt là CPT)*

**Chân Phật Tông thế giới**

Thành lập: Năm 1975.  
Tên gọi: Linh Tiên Chân Phật Tông, gọi tắt là Chân Phật Tông. Tên gọi này do Diêu Trì Kim Mẫu ban cho.  
Tông chủ: A Di Đà Phật của Tây phương Cực Lạc thế giới.  
Tôn chỉ thành lập: Tức thân thành Phật.  
Tổng đường: Ma Ha Song Liên Trì, tại Tây phương Cực Lạc thế giới.

**Chân Phật Tông thế giới tông vụ ủy viên hội (gọi tắt là Tông Ủy Hội)**

Thành lập: Ngày 1/1/1997  
Mục đích: Hoằng dương Chân Phật Mật Pháp một cách có trật tự và suôn sẻ.  
Nhiệm vụ chủ yếu: Quản lí tất cả sự vụ của tông phái, trợ giúp các phân đường địa phương và Lôi Tạng Tự.  
Phạm vi quyền lợi: Hành chính, giới luật, nhân sự, tài chính, pháp vụ, tuyển cử, giáo dục, v.v… Nếu có phát sinh Thượng sư hoặc phân đường CPT không nghe theo chỉ đạo và góp ý của Tông Ủy Hội, nhóm nòng cốt của Tông Ủy sẽ đưa ra quyết định. Quyết định cao nhất là: Thượng sư đó hoặc nhóm hoằng pháp đó phải rút khỏi đội ngũ CPT và gửi thông báo đến toàn thế giới.

**Tổng hội Mật giáo Chân Phật Tông**

Liên Sinh Hoạt Phật từng nói: “CPT là một tông phái thực tu Mật giáo, nói một cách nghiêm khắc là, tôn chỉ chỉ có “tức thân thành Phật”. Thế nhưng tôn chỉ này quá cao, cần phải thành lập một tổ chức Mật giáo thống nhất chính thức. Vì thế, CPT Tông Ủy Hội thúc đẩy các nước trên thế giới tự thành lập Tổng hội Mật giáo.”

Hiện tại trên toàn thế giới chỉ có 3 Tổng hội Mật giáo CPT được chính thức công nhận:

1. CPT Tổng hội Mật giáo Trung Quốc.

1. CPT Tổng hội Mật giáo Malaysia.

1. CPT Tổng hội Mật giáo Indonesia.

**Lôi Tạng Tự**

“Tiếng sấm rền vang thập pháp giới, Như Lai ẩn tạng hiển chân như”, đây là lời kệ mà Liên Sinh Hoạt Phật đề cho Lôi Tạng Tự. Hiện tại có gần 60 tòa Lôi Tạng Tự trên toàn thế giới. 

Hiện tại, ở VN không có Lôi Tạng Tự của CPT. 

**Phân đường, hội đồng tu**

Mục đích thành lập: cung cấp đạo tràng và các pháp bản (tài liệu tu tập) cho đồng môn, giúp đỡ chúng sinh quy y CPT, cùng tu Chân Phật Mật Pháp (viết tắt là CPMP), hoằng dương CPMP.  
Điều kiện thành lập: yêu cầu phải có từ 40 người trở lên, địa điểm lập phân đường và hội đồng tu phải thích hợp mới có thể xin phép thành lập. Tên của phân đường, tên của hội đồng tu cần thỉnh Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật ban cho mới xem là có truyền thừa, và là một tổ chức hoằng pháp có trật tự. (Các điều kiện để xin thành lập đã được Tông Ủy Hội công bố cụ thể.)

Nghĩa vụ và trách nhiệm thành lập: Ba nguyên tắc trọng yếu nhất là hộ trì Căn bản Truyền thừa Thượng sư, truyền thừa của CPT, hộ trì CPMP, tuân thủ giới luật Mật tông.

### Cơ cấu tổ chức từ trên xuống dưới

1. Người sáng lập CPT Liên Sinh Hoạt Phật - cũng là Căn bản Truyền thừa Thượng sư.

1. Sư Mẫu Liên Hương Kim cương Thượng sư.

1. Nhóm nòng cốt Tông Ủy Hội.

1. Tông Ủy Hội CPT thế giới.

1. Tổng hội Mật giáo ở các nước.

1. Tổ chức hợp pháp ở các nước được Tông Ủy Hội cho phép và công nhận. (Ở VN chưa có tổ chức CPT VN nào được Tông Ủy cho phép và công nhận.)

1. Hội đồng tu ở các nước.

![image](/img/img_bd39d92368572a04c204b098add756be.png)

### Cấp bậc và quy định trang phục trong CPT

![image](/img/img_b5726acce200445f518d4336154ee728.png)

**Xuất gia chúng**

Kim cương Thượng sư của CPT phải là người xuất gia, do chính Liên Sinh Hoạt Phật sắc phong và làm nghi thức xối nước quán đảnh Acharya (A-xà-lê). 

Xuất gia chúng của CPT đầu tiên phải xuống tóc xuất gia, bắt đầu từ pháp sư trở đi phải trải qua kiểm tra sát hạch để lựa chọn người đạt yêu cầu. 

Trang phục của các nhân viên hoằng pháp của CPT đều do Sư Tôn lập ra quy định, tất cả trang phục đều không được tự ý thay đổi. Muốn phân biệt đâu là nhân viên hoằng pháp thì hãy chú ý đến màu sắc ở cổ áo là được.

**Thượng sư:** trang phục Lama màu đỏ tía, cổ vàng. Trong CPT, chỉ có vị trí Thượng sư mới được phép đội mũ Ngũ Phật, và chỉ đội trong pháp hội và khi làm pháp. Thượng sư đã thọ giới xuất gia bình thường đều phải mặc trang phục Lama, không được mặc thường phục. 

**Giáo thọ sư:** những người đã thông qua bài kiểm tra pháp sư mới được lựa chọn vào vị trí này, mặc áo lama đỏ tía cổ xanh lục. 

**Pháp sư:** đệ tử tại gia của CPT khi xuất gia thì sẽ trở thành pháp sư của CPT, điều kiện phải trên 18 tuổi. Người xuất gia trong CPT đều do chính tay Sư Tôn xuống tóc hoặc do các Thượng sư khác thay mặt Sư Tôn cạo đầu. Pháp sư mặc trang phục Lama màu đỏ tía, cổ áo cùng màu.

**Tại gia chúng**

**Giảng sư và trợ giảng:** đệ tử tại gia muốn hỗ trợ hoằng pháp, có thể tham gia chương trình đào tạo và kì kiểm tra lựa chọn, đạt tiêu chuẩn sẽ được ủy nhiệm chức vụ trợ giảng. Trợ giảng sau một số năm giúp đỡ, đạt đến trình độ tu Mật pháp cao hơn, có phẩm đức hợp với giới luật của tông phái, năng lực độ chúng sinh biểu hiện xuất sắc, được Sư Mẫu tiến cử, và thông qua bài kiểm tra của Tông Ủy Hội, nếu đạt thì được thăng lên làm giảng sư. Giảng sư mặc áo đỏ cổ xanh lam, trợ giảng mặc áo đỏ cổ trắng.

**Nhân viên hoằng pháp tại gia:** có nhiệm kì hạn chế, và có thể gia hạn sau khi tham gia kì kiểm tra và đạt tiêu chuẩn, trừ trường hợp Sư Tôn trực tiếp chỉ thị cho một nhân viên hoằng pháp tại gia là có nhiệm kì vĩnh viễn, gọi là “nhân viên hoằng pháp tại gia cả đời”. 

**Trợ lí hoằng pháp:** là người giúp đỡ các nhân viên hoằng pháp nói đến ở trên trong các công việc liên quan đến pháp vụ, giúp đỡ đồng môn, phạm vi nhiệm vụ rất hạn chế.

---
# File: gioi-thieu/truyen-thua-va-nhan-vat/truyen-thua-ton-chi-cua-chan-phat-tong.md
# Title: Truyền thừa, tôn chỉ của Chân Phật Tông
---

## Truyền thừa, tôn chỉ của Chân Phật Tông

### Truyền thừa của dòng phái

---

**Thời gian:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là một trong những ứng hóa thân của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. Hóa danh trong một kiếp là Liên Hoa Đồng Tử hạ giáng xuống cõi Ta Bà, dùng Chân Phật Mật Pháp để quảng độ chúng sinh.

Truyền thừa gia trì trực tiếp vô thượng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:  
Thích Ca Mâu Ni Phật - A Di Đà Phật - Di Lặc Bồ Tát - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã được:

- Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí.
- Phật A Di Đà phó thác.
- Bồ Tát Di Lặc trao mũ miện đỏ.
- Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ Mật pháp.

Tại thế gian này, Liên Sinh Hoạt Phật đã có được truyền thừa của bốn dòng phái lớn của Mật giáo gồm:

- Bạch giáo (phái Kagyupa) - Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16.
- Hoàng giáo (phái Gelugpa) - Thubten Dhargye Rinpoche.
- Hoa giáo (phái Sakya) - Sakya Chứng Không Rinpoche (Dezhung Rinpoche thứ ba).
- Hồng giáo (phái Nyingmapa) - Trung mật - Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo Trưởng).

### Lý luận cơ bản của Chân Phật Tông

Lấy trọng tâm là lời dạy của tổ sư Mật giáo Liên Hoa Sinh Đại Sĩ "kính sư, trọng pháp, thực tu", dựa vào sự thực tu thực chứng để chứng minh Phật pháp là có cơ sở lý luận, không phải là mê tín, đồng thời yêu cầu đệ tử quy y tu hành mỗi ngày.

Đối với hành vi, yêu cầu:
- Bên ngoài: mọi việc ác không làm, làm mọi điều thiện.
- Bên trong: tu luyện Mật pháp, đạt đến lý tưởng thành Phật là thân, khẩu, ý tam nghiệp thanh tịnh. Đồng thời yêu cầu đệ tử tuân thủ giới luật cơ bản của Hiển-Mật như 14 đại giới căn bản của Mật giáo, Sự sư pháp ngũ thập tung, và giới luật Chân Phật Tông.

Lấy tâm thái bình đẳng và bao dung để đối đãi với các tông phái khác.

Trong quá trình hoằng pháp làm lợi cho chúng sinh, vận dụng các pháp môn nhập thế tốt đẹp và tiện lợi để viên mãn nguyện vọng của chúng sinh, từ đó dẫn dắt con người đến với trí huệ Phật.

Không phân biệt bất kì tôn giáo tín ngưỡng, bất kì chủng tộc nào, tại gia, xuất gia, ăn chay, ăn mặn, ai cũng có thể quy y để tu trì Chân Phật Mật Pháp.

### Tôn chỉ của Chân Phật Tông

Lấy "kính sư, trọng pháp, thực tu" làm gốc.  
Lấy "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử" làm đích, từ đó nỗ lực tu tâm tu pháp.

### Sự thù thắng của Chân Phật Tông

Có thể lấy thành tựu quả vị làm nguyên nhân để tạo lập phương tiện tu trì.

Có pháp "Căn bản thượng sư tương ứng", còn gọi là "Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng đại pháp", là pháp đem lại cảm ứng nhanh nhất giữa Căn bản Truyền thừa Thượng sư và các đệ tử.

Chân Phật Tông có một bộ hoàn chỉnh trình tự tu hành "Pháp nhập thế" và "Pháp xuất thế", và Đại Bản Tôn Pháp thích hợp với con người với các căn khí Đạo - Hiển - Mật để tu trì.

Chân Phật Tông có một vị Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh Lư Thắng Ngạn tôn giả đã được thập phương tam thế tất thảy chư Phật Bồ Tát cùng minh chứng là một vị Kim Cương Thượng Sư với đầy đủ mười phẩm chất để là một vị Căn bản Truyền thừa Thượng sư.

Chân Phật Tông là một tông phái đã được nghiệm chứng. Chân Phật Mật Pháp ngoài khả năng hiển hiện thần thông nhập thế cứu độ đã được nghiệm chứng ra thì điều khiến cho thế nhân kinh ngạc còn là thành tựu xuất thế của nó tương đương với việc đạt được nghiệm chứng viên mãn. Nhìn chung những người tu tập Chân Phật Mật Pháp sau khi vãng sinh đều có được một dạng xá lợi nào đó từ tro, bao gồm cả nhiều người là tội phạm bị xử tử, nhưng sau khi quy y Liên Sinh Hoạt Phật rồi, tro của họ sau khi hỏa thiêu đều có hạt xá lợi. (*Các đệ tử Chân Phật Tông sau khi vãng sinh có được những hiện tượng cát tường rất nhiều, không thể kể hết.*)  
Do vậy có thể thấy rằng: Chân Phật Tông là một tông phái đã được nghiệm chứng, Chân Phật Mật Pháp là Phật pháp chính tín thù thắng.

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/dai-vien-man-cuu-thu-de-tap-1.md
# Title: Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 1
---

## Giảng luận Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 1

(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Đại Viên Mãn cửu thứ đệ)

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">02/06/2013</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Bài giảng số 1

**Một chân pháp giới chẳng nhiễm vạn cảnh, ứng hóa tại thế gian rộng rãi giảng truyền Đại Viên Mãn cửu thứ đệ**

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dùng phương thức "di truyền" để giấu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vào trong bộ não kiếp trước của Lư Sư Tôn.

(*Trong đại pháp hội Hộ Ma Tịnh Thổ Tam Tôn diễn ra tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Hoa Kì vào ngày 2 tháng 6 năm 2013, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã khai thị tinh yếu*.)

Hôm nay là buổi đầu tiên chúng ta bắt đầu nói về "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Đầu tiên, tôi xin nói về việc tôi đã có được truyền thừa pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" như thế nào.

Tôi có bốn vị sư phụ Mật giáo, người thứ nhất là Liễu Minh Hòa Thượng, người thứ hai là Sakya Chứng Không Thượng Sư, người thứ ba là Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16, người thứ tư là Thubten Dorjie Thượng Sư. Đây là bốn vị thầy căn bản của tôi. Trong số đó, vị thầy thứ nhất Liễu Minh Hòa Thượng thuộc phái Nyingmapa, Nyingmapa gọi là Cựu giáo. Mật giáo phân ra làm Cựu giáo và Tân giáo. Cựu giáo thì gọi là phái Nyingmapa.

Những tư tưởng của phái Nyingma là cũ, là cổ xưa. Hoàng giáo là Gelugpa, Hoa giáo là Sakya, Bạch giáo là Kagyupa, ba phái này thuộc về Tân giáo. Còn phái Nyingma là thuộc về Cựu giáo, là cổ xưa, chính là Hồng giáo. Bản thân Liễu Minh Hòa Thượng thuộc Hồng giáo. Khi còn ở Tứ Xuyên, ông ấy học tập pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" từ chỗ của Norlha Rinpoche. Do vậy, tôi nhận quán đảnh "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ở chỗ của Liễu Minh Hòa Thượng thì đây là truyền thừa nhân gian của tôi.

Ngoài ra, tôi có một kiếp, nếu mà các bạn đã đọc cuốn "Đại chuyển thế của Pháp Vương" thì có thể đã biết, Sư Tôn từng có một kiếp là tán phổ (hoàng đế) Tây Tạng, tính từ cuối lên thì là vua Trisong Detsen đời thứ ba, cũng chính là vị Trisong Detsen đã mời Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng. Khi ấy, vị đầu tiên vào Tây Tạng chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, vua Trisong Detsen đã bái Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm thầy, học tập "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Hơn nữa, bên cạnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ còn có một vị chính là Tịnh Mệnh tôn giả (Tịnh Mệnh đại sư, còn gọi là Tịch Hộ đại sư), khi ấy họ ở cùng nhau, và họ còn xây Chùa Samye, hay còn gọi là Chùa Nhậm Vận. Ý nghĩa của nhậm vận chính là rất tự do tự tại, là ngôi chùa có thể nhậm vận trong hư không và trong thế giới Ta Bà.

Bản thân vua Trisong Detsen lúc học pháp cũng rất bí mật, bởi vì các vương thần khi ấy đều phản đối Phật giáo tương đối nhiều, tôn giáo ở Tây Tạng khi ấy là đạo Bon, Tây Tạng vốn tôn thờ thần linh tổ tiên, tôn thờ tự nhiên, đạo Bon và đạo Shaman cũng giống nhau cùng thờ đá, thờ cây, thờ núi, thờ sông hồ, thờ tất cả tổ tiên, tôn giáo này gọi là đạo Shaman. Khi ấy ở Tây Tạng, đạo Shaman vô cùng hưng thịnh. Khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng, vua Trisong Detsen mặc dù nghênh đón Liên Sư nhưng khi ngài tu pháp thì lại rất bí mật.

Sau này, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ một mặt đi ngao du khắp Tây Tạng, đến Bhutan, thậm chí đến Nepal. Trong khi ngao du, ngài đã viết pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" bí mật lên những tấm da dê, giấu trong hang đá, giấu trong hồ nước, giấu trong cây, giấu ở những nơi bất kì, để sau này có người hữu duyên có thể phát hiện và lấy ra. Duy nhất có một cách giấu khác biệt, đó chính là ngài đã giấu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong não của vua Trisong Detsen. Bởi vì Sư Tôn có nhân duyên chuyển thế như vậy nên Sư Tôn có thể ngồi thiền, tập trung vào trong thiền định là có thể hiển hiện ra "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" mà năm xưa Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã giấu vào trong não của tôi.

Ở đây gọi là truyền thừa "cách thời đại", nếu nói theo khoa học ngày nay thì chính là "gen di truyền", tôi có di truyền của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", bởi vậy tôi có thể hiểu được "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ở đây có hai truyền thừa, truyền thừa thứ nhất là truyền thừa nhân gian, là do Liễu Minh Hòa Thượng quán đảnh "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho Lư Sư Tôn, truyền thừa thứ hai chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dùng phương thức "di truyền" để giấu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của chính mình vào trong não của vua Trisong Detsen, chờ đến khi chuyển thế, vì đã có "gen" của "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" rồi, nên trong khi ngồi thiền có thể tự tâm tuôn chảy ra pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Nói thẳng thắn với mọi người, "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là đỉnh cao, giống như đỉnh Chomolungma trên dãy núi Himalaya vậy, cũng chính là đỉnh Thánh Mẫu, là đỉnh núi cao nhất, là đỉnh cao nhất của mọi Mật giáo. Thành tựu lớn nhất số một là thân thể Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có thể hóa thành cầu vồng, rồi giống như cầu vồng có thể biến mất hút về phía chân trời của hư không, thân thể hóa thành ánh sáng cầu vồng, đây là thành tựu tuyệt vời số một. Chúng ta cũng có thành tựu tuyệt vời số ba, đó chính là Thượng sư Liên Hoa Ích Dân, xá lợi toàn thân của ông ấy là thành tựu tuyệt vời số ba. Thế còn sự tuyệt vời thứ hai chính là hóa thành ánh sáng cầu vồng, nhưng vẫn còn để lại quần áo, lông tóc, móng tay, đó là thành tựu tuyệt vời số hai. Chính vì vậy mà "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" được gọi là đỉnh cao.

Những kinh tục tích tồn về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có 640 vạn kinh điển Tục Bộ, là 640 vạn quyển đó! "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của ngài ấy có 640 vạn bộ kinh điển. "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" được truyền sớm nhất và đầu tiên bởi A Đạt Nhĩ Mã Phật Phổ Hiền Vương Như Lai, Phổ Hiền Vương Như Lai khác Phổ Hiền Bồ Tát, ở đây là hai vị Như Lai, Phổ Hiền Vương Như Lai chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật, thuộc về Phật ở địa thứ 16. Tì Lô Giá Na Phật Đại Nhật Như Lai thuộc về Phật ở địa thứ 13. Quan Thế Âm Bồ Tát, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát thuộc về Phật ở địa thứ 11, bản thân Phật cũng phân thành các cấp, đây là do con người chúng ta phân ra.

Tuy nhiên, vị Phật đầu tiên nhất chính là Phổ Hiền Vương Như Lai. Trước kia, trong cuốn sách số 056 "Mật giáo Đại Viên Mãn" của tôi, tôi đã viết về "Bà Tiên Như Lai", vì sao lại gọi là Bà Tiên Như Lai? Thật ra đó chính là Phổ Hiền Vương Như Lai, tôi viết thành Bà Tiên Như Lai, Bà trong từ Ta Bà, Tiên trong từ tiên nhân, Phổ Hiền (Pu Xian) --- Bà Tiên (Po Xian) , tôi cố ý viết thành Bà Tiên, vì sao vậy? Bởi vì tôi không muốn nói để mọi người biết là Phổ Hiền Vương Như Lai, đây là huyền cơ mà tôi cần giấu.

Khi tôi viết sách, đôi khi tôi cũng có giấu một vài huyền cơ ở trong đó, tôi cố ý dùng phát âm gần giống để viết ra, chỉ là chúng sinh không hiểu không thấy mà thôi. Pháp này truyền đến đời vua Lãng Đạt Mã, tức là sau vua Trisong Detsen, trải qua một đời vua nữa, rồi đời vua kế tiếp chính là vua Lãng Đạt Mã. Lãng Đạt Mã diệt Phật, tiêu diệt toàn bộ Phật giáo. Vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã biết trước vị vua này sẽ hủy diệt Phật giáo nên ngài ấy mới giấu hết mọi kinh điển đi, giấu ở các nơi khác nhau, ở Bhutan, ở Nepal, thậm chí là giấu trong sông hồ.

Những thứ ngài đã giấu thì rất vi diệu, có rất nhiều người không thừa nhận các pháp terma, nhưng cũng có rất nhiều người thừa nhận, chỉ cần đó là một vị đại sư terton có duyên với terma thì đều là đệ tử trong đời quá khứ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Người đó sẽ có cảm ứng, vào những lúc trăng tròn, thuyền trôi đến giữa hồ nước nào thì được dặn là chờ ở đó. Chờ cái gì? Chờ kinh điển xuất hiện, ví dụ như đột ngột có con cá nhảy lên, một con cá có đôi mắt to từ dưới hồ nhảy lên, miệng nó sẽ nhả ra một thứ, giống như là ánh sáng vậy, chíu! Rơi trên thuyền, mở ra xem thì đó chính là kinh điển mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ năm xưa đã giấu. Thật không ngờ terma lại nằm trong bụng của con cá ở hồ này. Trùng hợp như vậy, sự việc vi diệu như vậy đều có khả năng xuất hiện. Như tôi đây là hay nhất! Trong gen của tôi đã có sẵn "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", mọi người nghe xong, có cảm thấy kì lạ không?

Những terma của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vô cùng ảo diệu. Vào thế kỉ thứ 14, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng hóa thân thành Longchenpa tôn giả, ngài ấy đã từng chỉnh lí "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", viết thành hai cuốn sách, chủ yếu nhất là Longchen Nyingthig, cũng chính là "Đại Viên Mãn tâm trong tâm", rất quan trọng. Pháp "Đại Viên Mãn tâm trong tâm" gọi là Nyingthig. Tuy nhiên, pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ban đầu vốn là chỉ cái gì? Nãy giờ nghe cả buổi rồi vẫn không biết! Để tôi nói, nó có "ngoại tam thứ đệ", "nội tam thứ đệ", và "vô thượng tam thứ đệ".

Cái gọi là "ngoại tam thứ đệ" là nói về cái gì đây? Nói về Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa. Cái gọi là "nội tam thứ đệ" là Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ của Mật giáo. Ba thứ tự du già rất to lớn cuối cùng là cái gì? Đó chính là Đại Du Già (Maha Yoga), A Nỗ Du Già (Anu Yoga, là du già vô song), và A Để Du Già (Ati Yoga, vô thượng du già). Ba bậc ở ngoài, ba bậc ở trong, ba bậc du già được gọi "Chín bậc Đại Viên Mãn", bao gồm tất cả Mật pháp. Sau khi được Longchenpa tôn giả chỉnh lí, viết ra những trọng điểm thì được gọi là Longchenpa Nyingthig, có hai bộ, Longchenpa Nyingthig thuộc về bộ Tâm trong tâm của "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", cũng chính là phần quan trọng nhất.

Sau này, đến thế kỉ 18, có một vị gọi là Jigme Lingpa, ông ấy là một terton, quá khứ cũng từng là đệ tử chuyển thế của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ông ấy chuyên đi tìm những terma của "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" xem rốt cuộc chúng ở đâu. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ thị cho ông: "Cái cây to này, ông hãy chặt nó xuống, ở trong sẽ có terma của ta." Ông ấy thật sự đã chặt cái cây đó, chẻ ra, bên trong đúng thật là có kinh điển, chính là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ để lại. Trong các hang động cũng có terma của ngài.

Có một lần, Jigme Lingpa đến bên một tảng đá lớn, ông ấy ngồi lên trên nó, bên trong tảng đá phát ra âm thanh nói với ông: "Bên trong tảng đá này có kinh điển." Trước đây, các giáo phái mới Gelugpa, Sakya, Kagypa không mấy tin tưởng vào terma, chỉ dựa vào những gì mắt nhìn thấy. Bên trong đá có kinh điển à, mọi người không tin, đem cưa ra cưa, lấy rìu ra chặt, sau khi chém vỡ thành nhiều mảnh vụn, bới ra xem, bên trong thật sự thấy có kinh điển, hơn nữa lại còn được viết trên tấm da dê thời xưa, nội dung bên trong chính là pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" viết bằng tiếng Phạn. Bên trong não của Sư Tôn cũng có terma, chúng đã biến thành gen của chính tôi rồi. Bởi vậy, tôi có thể giảng pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vô cùng rõ ràng.

Chúng ta cần phải được quán đảnh "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", đầu tiên phải quán tưởng cây quy y. Cây quy y chính là trung tâm tín ngưỡng của chính bạn, bất kể là đạo Cơ đốc, phái Nyingma, phái Gelug, phái Sakya, phái Kagyu, thì đều có cây quy y. Cũng giống như cây như ý, từ trong nước công đức mọc lên một cái cây, có thân, có cành, có lá, hình thành nên một cái cây như vậy, ở chính giữa là Căn bản Thượng sư của bạn. Trong phái Nyingma thì thượng sư chính là Guru Rinpoche, chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, phía trên đều là các vị tổ sư của dòng truyền thừa, tổng cộng có 15 vị thầy truyền thừa.

Sau này, tôi sẽ lần lượt nói với mọi người về các thượng sư của truyền thừa. Ở trên cao nhất chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật Phổ Hiền Vương Như Lai, bởi vì ngài đã truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", tiếp theo chính là tất cả các vị tổ sư. Đầu tiên, pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" được truyền giữa các vị Phật với nhau, sau đó được truyền ở các thiên thượng giới. Sau đó được truyền giữa các đế vương ở các cõi địa thượng. Cuối cùng mới truyền ở thế giới Ta Bà, mới đến nhân gian, truyền thừa ở nhân gian cũng có rất nhiều các vị tổ sư, sau này tôi sẽ lần lượt giới thiệu cùng mọi người. Ở chính giữa cây quy y là Guru Rinpoche, cũng chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. "Om benza pema hum" chính là tâm chú ngắn nhất của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Ngài ấy ngồi ở chính giữa của cây quy y, sau lưng ngài cũng chính là 640 vạn bộ kinh điển Tục Bộ của Đại Viên Mãn, toàn bộ đều ở sau lưng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Phía trên cây quy y có các vị tổ sư truyền thừa xếp hàng, phía bên phải của Liên Sư có ba hộ chủ của Mật giáo, đó là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát và Quan Âm Tứ Thủ. Phía bên trái của Liên Sư là Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, cùng tất cả Duyên Giác, Thanh Văn, v.v… đều ở bên này. Ở phía trước chính là Phật Thích Ca Mâu Ni cùng thập phương tam thế chư Phật, nghìn vị Phật của hiền kiếp tương lai, xếp vòng tròn xung quanh.

Cho nên, sau lưng Liên Sư là kinh điển, trước mặt là Thích Ca Mâu Ni Phật cùng tất cả chư Phật của thập phương tam thế, hai bên có Quan Âm Tứ Thủ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Kim Cương Thủ, ở bên kia thì có Thanh Văn, Duyên Giác, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và tất cả Bồ Tát. Ngoài ra, phía thấp nhất thì có Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên, toàn bộ đều ở bên dưới phía trước mặt của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mọi người hãy dùng bộ óc để tưởng tượng xem. Từ trong biển, từ trong nước bát công đức sinh ra một cái cây to, ở chính giữa cây to là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, phía trên là toàn bộ các vị tổ sư truyền thừa, bên phải là Mật giáo Tam Tôn, bên trái có Thanh Văn, Duyên Giác, trước mặt có Thích Ca Mâu Ni Phật, sau lưng có kinh, tục bộ, có 640 vạn bộ, bên dưới có các vị thần Kim Cang, thần Hộ Pháp, trong tất cả mọi khoảng trống đều có các thiên thần giáng xuống trú ngụ trong đó. Đây chính là cây quy y. Nói cách khác là, vào lúc quy y, ta thường niệm: "Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye.", kì thực chính là cần phải quán tưởng cây quy y này, đây là điều chủ yếu nhất.

Pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vô cùng quan trọng, nó bao gồm tất cả mọi thứ của Mật giáo. Ở đây có hai vị tổ sư truyền thừa vĩ đại nhất, một vị là Guru Rinpoche Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài chính là tổ sư truyền thừa. Một vị là Liễu Minh Hòa Thượng, chính là vị thầy truyền thừa ở nhân gian của tôi. Trong việc chỉnh lí Đại Viên Mãn thì người quan trọng nhất là Longchenpa, vị tổ sư này rất quan trọng, bởi vì ngài ấy đã chỉnh lí tất cả Kinh Bộ và Tục Bộ.

Ngoài ra còn phải kể đến Jigme Lingpa, ông ấy đã đi khắp nơi để lấy ra những thứ của pháp Đại Viên Mãn, khi lấy ra được thì đều vô cùng thần kì. Thật ra ở đây không có gì mâu thuẫn, bởi vì "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" có "ngoại tam thừa", "nội tam thừa" và "du già tam thừa", chúng có tính thứ tự, đầu tiên là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, tiếp theo là Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ, cho đến cao nhất thì chính là Đại Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già. A Để Du Già là quan trọng nhất, nên hoàn toàn không có mâu thuẫn gì cả.

Có một câu chuyện cười, người con trai hỏi người bố già: "Bố à, trên đời này có rất nhiều điều mâu thuẫn đúng không?" Người bố trả lời: "Đương nhiên, ví dụ như bà mẹ già của con, cả đời chỉ chuyên chú vào hai việc, một là ăn cơm, hai là giảm béo." Ăn cơm và giảm béo là hai việc mâu thuẫn nhau, cơ bản chính là mâu thuẫn, vừa muốn ăn vừa muốn giảm béo.

Trong thiên hạ có rất nhiều việc mâu thuẫn. "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" bản thân không hề mâu thuẫn, đây là điều rất quan trọng. Có một câu chuyện cười, trường học quy định giáo viên lên lớp không được nghe điện thoại. Một hôm, chúng tôi có tiết học vật lí, điện thoại của thầy giáo đổ chuông, thầy giáo bèn nhìn học sinh hỏi: "Đây là điện thoại của lãnh đạo, rốt cục có nên nhận điện thoại không?" Tất cả các học sinh đều trả lời: "Lãnh đạo gọi điện đến thì nhất định phải nhận rồi." Thầy giáo liền đi ra ngoài, kêu lên một tiếng: "Bà xã, bà làm gì vậy? Tôi đang lên lớp mà." Vợ cũng là lãnh đạo, điều này cũng mâu thuẫn rồi. Đứa con hỏi mẹ: "Vì sao ai cũng kêu mẹ là chanh chua vậy?" Bà mẹ trả lời: "Đó là lời khen ngợi mẹ là người phụ nữ hoạt bát đáng yêu." Hai điều này khác nhau rất xa. <span className="note-blue">[ở đây có sự chơi chữ, trong tiếng Hán Việt, "bát phụ" là danh từ để gọi người phụ nữ đanh đá chanh chua, nhưng đồng thời chữ "bát" còn có nghĩa là hoạt bát, do vậy ở đây người mẹ đã cố ý tách từ "bát phụ" thành người phụ nữ hoạt bát.]</span>

Ở đây có một câu chuyện cười nói rằng đời người cũng giống như Tây Du Kí. Khi còn nhỏ chúng ta giống như Tôn Ngộ Không, rất nghịch ngợm, đại náo thiên cung. Lúc trẻ thì chúng ta giống như Trư Bát Giới, dám yêu dám hận. Lúc trưởng thành thì chúng ta giống như Sa Ngộ Tĩnh, công việc rất nhiều, vừa thật thà, vừa trung hậu. Khi già, chúng ta giống như Đường Tam Tạng, lôi thôi lằng nhằng, rất phiền phức. Đây không phải mâu thuẫn, mà là mọi thứ cứ theo đời người mà diễn ra.

"Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cũng không mâu thuẫn. Đầu tiên học Thanh Văn, tiếp theo là học Duyên Giác, sau đó là học Bồ Tát. Tiếp theo là tiến nhập vào Mật giáo, đầu tiên học Sự Bộ, tiếp theo học Hành Bộ, tiếp nữa học Du Già Bộ, cuối cùng là tiến nhập vào Đại Viên Mãn, có Đại Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già. Đây chính là thứ tự, cũng giống như đời người, từ lúc trẻ, cho đến trung niên, cho đến khi già, chính là theo một thứ tự. Thứ cuối cùng chúng ta cần học là A Để Du Già, chính là thứ cần học cuối cùng trong Đại Viên Mãn. Trong pháp Đại Viên Mãn có rất nhiều thứ, vô cùng vô cùng nhiều, nhưng tuyệt đối không hề mâu thuẫn với nhau.

Có một người cực kì tin vào phong thủy, có chuyện gì cũng đi hỏi thầy phong thủy, luôn muốn dự đoán trước lành dữ họa phúc. Một hôm, anh ta ngồi bên dưới bức tường, bỗng nhiên có động đất, tường đổ sập, đè anh ta ở bên dưới, anh ta kêu to để cầu cứu, những người hầu đều đến và nói với ông chủ rằng: "Ông chủ, xin hãy cố chịu một chút, chúng tôi quay về hỏi thầy phong thủy trước đã, xem xem hôm nay có thể động thổ được hay không." Đây chính là mâu thuẫn đó, thật sự đang ở vào lúc cấp bách như vậy thì bạn cũng chẳng thể để ý quá nhiều thứ được nữa.

Điều quan trọng nhất mà bạn phải nắm chắc, thứ quan trọng nhất chính là cái cuối cùng, A Để Du Già, đó cũng chính là Nyingthig, Nyingthig chính là A Để Du Già, sau này tôi sẽ nói với mọi người về A Để Du Già, sẽ giống như Đường Tam Tạng lôi thôi loằng ngoằng. Sư Tôn khai thị thì không có lôi thôi loằng ngoằng, nhưng có thể sẽ nói rất nhiều thứ lôi thôi loằng ngoằng, bởi vì nãy giờ tôi cứ nói vòng quanh về Đại Viên Mãn, đến cuối cùng thì mới nói vào phần chính, mới nói cho mọi người biết về cái cốt lõi là Nyingthig: "Ồ! Thì ra Phật pháp chính là cái này, Phật pháp chân chính chính là cái này."

Cái gọi là Nyingthig, tôi lấy một ví dụ để nói cho các bạn nghe. Có một vị vua lệnh cho hai người thợ điêu khắc con chuột, một người điêu khắc ra con chuột sống động như thật, người thứ hai cũng điêu khắc ra con chuột nhưng không giống lắm. Khi vua định tuyên bố người thợ thứ nhất chiến thắng, người thợ thứ hai đề nghị để cho con mèo đến gần để xem bức điêu khắc nào tốt hơn. Kết quả lại khác, con mèo thích bức con chuột mà không giống lắm, nguyên nhân là vì sao? Là bởi vì người thợ này dùng nguyên liệu là xương cá để điêu khắc, do vậy con mèo mới chọn bức điêu khắc của người này.

Hôm nay chúng ta nói về Nyingthig cũng giống như vậy, chúng ta muốn Nyingthig - cái cốt lõi của pháp Đại Viên Mãn, chúng ta muốn nắm bắt lấy cái cốt lõi, cái quan trọng nhất này. Con mèo chọn bức điêu khắc không giống mới là thứ tốt thật sự, giống quá thì ngược lại không phải là thứ tốt, bởi vì nguyên liệu không giống nhau. Mọi người biết ý nghĩa của Nyingthig - tâm trong tâm, cũng chính là thứ mà bản thân bạn muốn nhất, cần có nhất.

Thầy giáo hỏi học sinh: "Nếu so sánh các trò như những bông hoa tươi xinh đẹp, vậy thì có thể so sánh thầy với cái gì?" Học sinh nói: "Không biết." Thầy giáo nói: "Nghĩ thử xem, người nào thường cầm cái kéo, ở trong vườn hoa cắt tới cắt lui?" Học sinh trả lời: "Là kẻ trộm hoa." Thật ra thì là người làm vườn đó.

Thầy giáo đúng là người làm vườn, Sư Tôn cũng giống như thầy giáo, muốn dạy cho mọi người "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thì nhất định cần phải điều chỉnh những quan niệm của mọi người cho rõ ràng trước. "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là gì, truyền thừa của nó là gì, nguồn gốc của nó là gì. Phái Nyingma là Mật giáo cổ xưa lâu đời nhất, cũng chính là Mật giáo mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa từ Ấn Độ vào Tây Tạng, Tây Tạng khi ấy vẫn không tin thờ Mật giáo, thời đó họ tín ngưỡng đạo Bon.

Sau khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng thì Tây Tạng mới có Mật tông, mới có Mật giáo. Do vậy, những gì mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền chính là pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Nguồn gốc của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là hóa hiện hợp nhất của ba vị A Di Đà Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là gì? Nghĩa là đứa trẻ sinh ra từ hoa sen, từ hoa sen mà sinh ra, không có cha không có mẹ, là đứa bé sinh ra đã nằm trong bông hoa sen, chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cũng chính là Liên Hoa Sinh Đồng Tử. Đồng Tử chính là Đại Sĩ, Đại Sĩ chính là Đồng Tử, là giống nhau, là một không phải là hai. Do vậy, ngài ấy là Liên Hoa Đồng Tử của chúng ta. Nguồn gốc rất sâu đó! Sư Tôn là Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng là Liên Hoa Đồng Tử, vì khi ngài ấy ra đời cũng là hóa thân từ hoa sen mà!

Hôm nay tôi bắt đầu giảng "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", phần mở đầu thì tôi giới thiệu đến đây thôi. Cảm ơn mọi người. Om mani padme hum.

### Bài giảng số 2

**Nguồn gốc và truyền thừa của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ”**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 8 tháng 6 năm 2013.)*

Đầu tiên cần nói về nguồn gốc và lai lịch của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Lần trước tôi đã nói qua về truyền thừa, nguồn gốc cũng tương đương với truyền thừa, tất cả mọi pháp đều từ sự giác ngộ chính đẳng chính giác của Phật mà tuôn chảy ra. Dòng chảy pháp là như vậy. Ban đầu Phổ Hiền Vương Như Lai, ngài ấy cũng là vị Phật đầu tiên của toàn bộ Phật pháp, còn gọi là Thái  Sơ Phật, có nghĩa là vị Phật sớm nhất, Hồng giáo thì gọi ngài là A Đạt Nhĩ Mã Phật, từ sự chính giác của ngài mà tuôn chảy ra pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Giữa Phật và Phật với nhau thì có cùng một tâm, chỉ cần bạn thành Phật rồi thì bạn sẽ biết ở đâu có Phật, bạn sẽ biết ai là Phật, có thể cảm ứng thấy được. Bản thân Phật mà nói, khi ngài tuôn chảy ra pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thì Ngũ phương Ngũ Như Lai đều lập tức biết được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ngũ phương Ngũ Như Lai chính là Tì Lô Giá Na Phật, A Di Đà Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, năm vị Phật này lập tức đã có pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ngoài ra, những vị Phật khác cũng đều biết hết.

Trong truyền thừa của chúng ta thì pháp này gọi là gì? Trước đây, có một người là Thanh Hải Vô Thượng Sư có cái gọi là "tâm ấn", có nghĩa là "ta ban cho con tâm ấn". Nhưng mà có phải là tâm ấn thật không? Tâm ấn không phải là gài ở trong tim một cái ấn, mà thật ra là tâm của tôi và tâm của bạn là giống nhau. Phật tuôn chảy ra pháp môn, mọi vị Phật đều có được pháp môn này, là pháp môn tâm và tâm tương ấn, chỉ có pháp môn tâm và tâm tương ấn, pháp môn tâm tâm tương ấn mới là "tình nhân" chân chính đó.

Khi tâm của một vị Phật tràn đầy pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thì tâm của mọi vị Phật đều giống như vậy, những tâm giống nhau cứ chảy qua chảy lại, nên tất cả đều có được truyền thừa Đại Viên Mãn, đây gọi là tâm tâm tương ấn. Bạn và tôi tâm tâm tương ấn, tâm của tôi tràn đầy trong bạn, tâm của bạn chắc chắn cũng tràn đầy trong tôi, đây chính là pháp môn ấn tâm. Ấn tâm, trong Phật pháp mà nói, còn gọi là mật ý, pháp mang những ý niệm bí mật tuôn chảy ra, khi ấy, tất cả đều có được dòng chảy pháp mang ý nghĩa bí mật.

Đầu tiên, "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" được truyền giữa Phật với Phật. Tiếp theo là Ngũ Phương Phật truyền cho Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa là báo thân Phật, bởi vì pháp thân Phật thì không có hình tướng. Ngũ Phương Phật truyền cho Kim Cang Tát Đỏa, bởi vậy Kim Cang Tát Đỏa có được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trước. Cũng có nghĩa là từ vị Phật đầu tiên cổ xưa nhất là Phổ Hiền Vương Như Lai, đến Ngũ Phương Phật cùng tất cả các vị Phật, tiếp theo là Kim Cang Tát Đỏa, mà Kim Cang Tát Đỏa là báo thân Phật, nên đó là truyền thừa thứ ba.

Bản thân Kim Cang Tát Đỏa hiển hiện ra Kim Cang Thủ Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát đến thiên giới, đến Đao Lợi Thiên ở cõi trời thứ 33, ở Đao Lợi Thiên có năm trăm thiên tử, trong số đó có một người gọi là Thắng Tâm Thiên Tử, Kim Cang Thủ Bồ Tát liền chọn Thắng Tâm Thiên Tử làm người đầu tiên ở thiên giới để truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Kim Cang Thủ Bồ Tát quán đảnh cho Thắng Tâm Thiên Tử, truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho người này. Đó là truyền thừa tại thiên giới. Truyền thừa này gọi là "truyền thừa trì minh".

"Truyền thừa trì minh" là thế nào? Rất đơn giản, sau này, khi Di Lặc Bồ Tát hạ sinh tại Long Hoa Tam Hội ở nhân gian để độ chúng sinh, thì tất cả đều là "truyền thừa trì minh". Bồ Tát chỉ cần từ tâm mình phóng ra một tia sáng thì tia sáng này chiếu rọi bao trùm lấy tâm của mọi người, mọi người lập tức sẽ minh tâm kiến tính, có được truyền thừa minh tâm kiến tính. Chỉ cần một câu "namo buddha ye", ánh sáng liền chiếu đến bạn, tất cả nghiệp chướng đều tiêu trừ hoàn toàn.

Khi ấy tại Long Hoa Tam Hội, Di Lặc Bồ Tát độ tất cả chúng sinh đến thiên thượng giới, độ họ đến Phật quốc tịnh thổ, đó là "truyền thừa trì minh" của Di Lặc Bồ Tát. Do vậy, ban đầu, truyền thừa ở thiên thượng giới chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát dùng ánh sáng của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" chiếu đến Thắng Tâm Thiên Tử để quán đảnh cho người này. Thắng Tâm Thiên Tử đã có được truyền thừa Đại Viên Mãn, ánh sáng này rất lợi hại, gọi là "truyền thừa trì minh". Ánh sáng vừa chiếu đến thì lập tức rõ ràng minh bạch, minh tâm kiến tính. Về sau, Thắng Tâm Thiên Tử chuyển thế đến vương quốc Orgyen, làm con trai của quốc vương, gọi là Cực Hỉ Kim Cang, khác với Hỉ Kim Cang.

Ở Tây Tạng, Kim Cang gọi là Dorje. Lúc này, Kim Cang Thủ Bồ Tát lại đến nhân gian quán đảnh cho Cực Hỉ Kim Cang, quán đảnh xong thì lập tức có được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", truyền thừa ở nhân gian bắt đầu. Truyền thừa tiếp sau đó ở nhân gian đã trở thành "truyền thừa khẩu nhĩ", miệng tôi giảng, tai bạn nghe, quán đảnh cho bạn như thế thì gọi là truyền thừa khẩu nhĩ. Cuối cùng, Cực Hỉ Kim Cang đã truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho Diệu Cát Tường Hữu, Diệu Cát Tường Hữu lại truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho Cát Tường Sư Tử, Cát Tường Sư Tử lại truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Truyền thừa này ở nhân gian tương đối dài, việc truyền cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là chủ yếu nhất.

Cát Tường Sư Tử đã truyền cho một vài người Tạng, bao gồm Vajrasana, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người Ấn Độ. Sau khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng, ngài ấy đã truyền cho vua Tây Tạng khi đó là Trisong Detsen. Còn nữa, ngài ấy còn truyền cho Yeshe Tsogyal, Yeshe Tgogyal chính là vị minh phi chủ yếu nhất của ngài. Vua Trisong Detsen khi ấy đã bí mật học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Nên nói như thế này, khi vua Trisong Detsen học pháp thì không hoàn toàn hiểu được đầy đủ trọn vẹn, do vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã cất giấu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vào trong não của vua, đây cũng gọi là truyền thừa đó!

Từ Phổ Hiền Vương Như Lai cho đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đến vua Trisong Detsen, đến Yeshe Tsogyal. Yeshe Tsogyal biết rằng Tây Tạng sắp gặp họa diệt Phật, đó chính là do vua Lãng Đạt Mã diệt Phật, vì vậy bà cũng đem toàn bộ pháp Đại Viên Mãn mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền cho giấu đi, giấu tại Tây Tạng, Nepal, Bhutan, tại những nơi bất kì ở khu vực lân cận, toàn bộ đều giấu hết, giấu trong núi đá, giấu trong hư không, giấu dưới đáy hồ, giấu trong cây lớn, là như vậy đó.

Đến cuối cùng, Longchenpa tôn giả và Jigme Lingpa tôn giả là hai vị terton chủ yếu nhất. Hai vị đã đem tất cả những terma tập hợp lại thành pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ngoài ra, Longchenpa tôn giả còn tập hợp lại thành Longchenpa Nyingthig chính là pháp chủ yếu nhất. Tôi phải giảng cho mọi người về truyền thừa này trước.

Truyền thừa nào là nhanh nhất? Đương nhiên là truyền thừa mật ý, chính là ấn tâm, truyền thừa tâm tâm tương ấn là nhanh nhất.

Ở đây có một câu chuyện cười. Có ba gia đình cùng bán một mặt hàng. Ba gia đình này cạnh tranh với nhau. Bởi vì bán cùng một mặt hàng giống nhau, các cửa hàng gần nhau, và vì cửa hàng của ba gia đình này ở gần nhau nên họ cùng cạnh tranh buôn bán. Cửa hàng bên phải treo một tấm biển hiệu rất to, trên đó có viết: "Đại hạ giá, rẻ bất ngờ", cửa hàng bên trái treo lên tấm biển hiệu to hơn: "Giảm giá sốc, đại chiết khấu". Hai bên cạnh tranh, cửa hàng ở giữa treo lên tấm biển: "Lối vào". Có ba nhà mà! Bên này là "đại hạ giá", bên kia là "giảm giá sốc", nhà ở giữa viết "lối vào", vậy thì nhà nào nhanh nhất? Lối vào là nhanh nhất.

Truyền thừa cũng như vậy. Di Lặc Bồ Tát độ chúng sinh rất nhanh, bởi vì "truyền thừa trì minh" của Bồ Tát là dùng tâm quang của ngài ấy chiếu rọi, tất cả nghiệp chướng của con người đều tiêu diệt hết, chỉ một câu "namo buddha ye" là lập tức bay đến Phật quốc, cách độ này là nhanh nhất. Sau này, không biết chúng ta có thể gặp được lúc Di Lặc Bồ Tát hạ giáng không, để tâm quang của ngài ấy chiếu tới chúng ta, toàn bộ nghiệp chướng được tiêu trừ, chỉ còn lại Phật tính, trực tiếp đến Phật quốc, thế thì không cần phải nói nhiều nữa.

Còn những thứ như "đại hạ giá", "chiết khấu lớn", "giảm giá sốc", "thanh lý giải phóng mặt bằng", muốn thanh lý hàng hóa, ở Đài Loan chúng ta hay thấy "giảm giá sốc", đều không có tác dụng gì cả. Có tác dụng nhất phải là như Di Lặc Bồ Tát hạ giáng, dùng ánh sáng của ngài chiếu đến bạn, toàn bộ nghiệp chướng của bạn tiêu trừ, còn lại Phật tính, rồi trực tiếp thành Phật.

Sư Tôn cũng tiếp nhận quán đảnh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tôi từng viết trong sách, trong những cuốn sách viết thời kì đầu đó! Khi xưa, tôi có hai lần quán đảnh. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa tôi, linh hồn (trung ấm) của tôi xuất ra khỏi đỉnh đầu, ở trong hư không, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đưa linh hồn của tôi bay bay bay bay, bay đến Nepal. Trong sách tôi viết là Nepal, ở bên trong một hang động, trong đó là một nghĩa địa, khu mộ phần. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: "Bất kể Lư Thắng Ngạn anh là ai, thì ta cũng ăn anh trước đã." Ngài ấy liền túm lấy tôi, bỏ vào trong miệng ngài, sau đó tôi đi xuống bên trong thân thể ngài, rồi lại từ mật luân đi ra "viu" một cái, rất kinh khủng đó.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ há to miệng nuốt tôi vào trong, sau đó tôi từ mật luân của ngài thoát ra, việc này tương đương với việc những ô uế trên thân thể tôi đã được thanh tịnh rồi. Chiêu này của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng rất có tác dụng, giống như "truyền thừa trì minh" vậy, trong chốc lát đã tiêu trừ hết nghiệp chướng của tôi, Phật tính liền hiển hiện.

Ở đây có một câu chuyện cười nói về thân thể người. Có một nhân viên ở tiệm bánh ngọt tên là Cường, trên mặt có in vết bạt tai, là do bị đánh, trở vào bên trong cửa tiệm. Ông chủ hỏi: "Trên mặt cậu có cái gì vậy?" Cường nói: "Hôm qua, có một cô gái nói sinh nhật bà của cô ấy, cô ấy muốn cháu giao bánh tới, nhưng cháu không biết bà cô ấy bao nhiêu tuổi, vì thế cháu liền hỏi người khách nữ đó, kết quả là bị ăn một cái tát." Ông chủ hỏi: "Khách hàng sao có thể đánh cậu chứ?" Cường nói: "Cháu chỉ hỏi người khách nữ này là: bà cô bao nhiêu tuổi?" Thật ra ở đây anh ta chỉ muốn hỏi xem bà của cô gái tuổi tác được bao nhiêu rồi, chứ không phải hỏi là ngực của cô ấy to cỡ nào. Từ này có hai nghĩa khác nhau. <span className="note-blue">[trong tiếng Hán, từ *nai nai* vừa có nghĩa là bà nội, vừa có nghĩa là bộ ngực]</span>

Sư Tôn bị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ăn vào, có nghĩa là bị ngài nuốt từ miệng vào bụng, "viu" một cái, lại từ mật luân của ngài đi ra, thật sự tôi chẳng có cảm giác gì cả, chỉ là bị ngài ấy nuốt vào, xong lại bị ngài ấy đẩy ra ngoài, giống như là đi tiểu phóng ra bên ngoài thôi. Thế nhưng khi ngài ấy nuốt tôi vào rồi phóng tôi ra ngoài như vậy thì giữ lại bản tính của tôi, còn tất cả những tập tính không tốt thì đều giúp tôi tiêu trừ hết. Sau đó là quán đảnh thứ hai, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ toàn thân phóng quang, phóng tỏa ánh sáng rực rỡ. Chà! Ánh sáng này rất sáng, trong ánh sáng xuất hiện trăm vị văn võ, là các vị Phật Bồ Tát thanh cao tao nhã và các vị thần Kim Cang hung tợn, tổng cộng có một trăm vị, những ánh sáng ấy toàn bộ đều chiếu đến tôi, đây chính là quán đảnh của trăm vị văn võ. Cái này mới lợi hại.

Nhờ có pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong não tôi, bởi vì cần phải thuyết pháp, nên gần đây tôi thường tự gia trì cho chính mình, xem xem có linh cảm gì nổi lên thì đem những linh cảm đó nói cho mọi người nghe. Nói toàn bộ một trăm phần trăm cho mọi người nghe.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đem terma của ngài ấy gia trì cho tôi, Sư Tôn năm xưa từng chuyển thế tại Tây Tạng (làm vua Trisong Detsen), Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đặt terma trong não tôi. Bây giờ tôi không có sách ở đây, trước kia tôi có từng viết một cuốn sách là "Mật giáo đại viên mãn", mọi người có thể đọc thử, bây giờ những gì tôi nói và những gì tôi đã viết đại khái là giống nhau! Trước kia, tôi viết là Bà Tiên Như Lai, thật ra đó chính là Phổ Hiền Vương Như Lai.

Trước khi tôi giảng "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", tôi ấn ấn vào đỉnh đầu mình, gia trì một lát, linh cảm đến rồi, đã xuất hiện rồi, thế thì tôi sẽ giảng nguồn gốc của Đại Viên Mãn cho mọi người nghe. Bởi vì Sư Tôn có terma của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ở bên trong não cho nên chỉ cần gia trì, trong não liền sinh ra linh cảm, thế là tôi có thể giảng nó. Tôi sẽ nói toàn bộ một trăm phần trăm, nói toàn bộ một trăm phần trăm cho mọi người nghe.

Có một câu chuyện cười tôi xin kể với mọi người, cười một chút cũng tốt, thư giãn thoải mái. Đời người giống như một câu chuyện cười, ở Trung Quốc Đại Lục, mỗi tỉnh đều có một bí thư tỉnh, mỗi địa phương đều có một bí thư của địa phương. Thượng sư Liên Ấn, bố của anh là bí thư ở đâu vậy? Là bí thư ở Cáp Nhĩ Tân à. Nếu như bố của Thượng sư Liên Ấn là tổng bí thư thì tuyệt vời quá rồi. Tổng bí thư hiện nay là Tập Cận Bình, nghĩa là chủ tịch. Bố của Thượng sư Liên Ấn cũng là bí thư, tuyệt vời quá, thế là cũng rất to rồi.

Có một bí thư hỏi một nông dân: "Nếu anh có một mẫu ruộng, anh có thể quyên góp nó cho đất nước được không?" Nông dân nói: "Được." Chà! Thật là hào phóng. Bí thư lại hỏi: "Nếu anh có một trăm vạn, anh có sẵn lòng đóng góp cho đất nước không?" Nông dân nói: "Tôi sẵn lòng." Bí thư lại hỏi: "Nếu anh có một con trâu, anh có sẵn lòng đóng góp cho đất nước không?" Nông dân nói: "Tôi không đồng ý." Bí thư lại hỏi: "Vì sao vậy?" Nông dân bèn nói: "Bởi vì đúng là tôi có một con trâu."

Sư Tôn kể câu chuyện này là có ý nghĩa của nó. Tôi sẽ đem toàn bộ pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" dạy cho mọi người, tặng miễn phí. Pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của Hồng giáo là truyền thừa lâu đời nhất, nhưng Mật tông hiện tại đang lưu truyền tại Tây Tạng dường như vẫn vô cùng khao khát có được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", tuy vậy vẫn còn rất lộn xộn, vẫn chưa có trật tự. Sư Tôn đặc biệt chỉnh lí pháp này, đặc biệt giảng cho mọi người nghe, đây là pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" độc đáo.

Vì sao lại như vậy? Khi xưa Hồng giáo truyền pháp xuống, mặc dù rất phổ cập, nhưng đã bị vua Lãng Đạt Mã diệt trừ sạch, ông vua này đã loại bỏ hết tất cả Phật pháp. Khi ấy, những người xuất gia đã phải chạy trốn khắp nơi, Mật pháp bị rơi rụng tản mát, giống như Yeshe Tsogyal và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đem Mật pháp giấu trong hang động, trong hư không, giấu dưới đáy hồ, giấu dưới đáy biển, giấu ở rất nhiều nơi, tất cả đều không còn như trước nữa. Mãi cho đến sau này mới có người đào chúng ra. Vì thế mà pháp môn "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" này đã bị tản mát phân tán, không có người nào chỉnh lý. Sau này, một tăng nhân lang bạt của phái Hồng giáo, ông ấy một thân một mình, tên là Zurchen Shakya Jungne, ông ấy đã thu thập pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", và sau đó do Zurchung Sherab Drakpa chỉnh lý, và sau đó lại được Zur Shakya Sengge <span className="note-blue">[Dropukpa - con trai của Zurchung Sherab Drakpa]</span> hoằng dương, tuy nhiên cũng rất phân tán, ba vị này được gọi là ba người họ Zur.

(Chú thích: trong giai đoạn đầu của Phật giáo Tây Tạng, có ba vị đại sư phái Nyingma đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành phái Nyingma. Ba vị đại sư này được lịch sử gọi là Tam Zur, cụ thể là Zurchen Shakya Jungne, gọi là Đại Zur, thuộc gia tộc họ Zur, Zurchung Sherab Drakpa là con nuôi của Đại Zur, gọi là Tiểu Zur, và Zur Shakya Sengge là con trai của Tiểu Zur.

Tương truyền, ba vị họ Zur đã chỉnh lý kinh sách đã bị tản mát của phái Nyingma, chế định ra nghi quỹ và quy phạm tu tập Đại Viên Mãn, xây dựng chùa chiền, từ đó hình thành nên phái Nyingma. Ba vị họ Zur thuộc về truyền thừa kinh điển của phái Nyingma, tức là hệ thống Karmapa, nội dung đã truyền chủ yếu là hai bộ "Huyễn Biến" và "Tập Kinh".)

Phái Nyingma sớm nhất của Hồng giáo là do ba vị họ Zur chỉnh lý kinh điển, nhưng truyền thừa của ba vị họ Zur cũng đã suy tàn rồi. Do vậy Hồng giáo không có nhân vật hạt nhân chủ yếu xuất hiện. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đã tạ thế, vậy cái cốt lõi chủ yếu của Hồng giáo nằm ở đâu? Đương nhiên, có chùa của Hồng giáo, ví dụ như Mẫn Châu Lâm Tự chính là một ngôi chùa Hồng giáo, nhưng không có người nào lãnh đạo. Mọi người so sánh mà xem, trong Mật tông Tây Tạng, hãy xem phái Hoàng giáo hiện tại đang chấp chính, có Dalai Lama, có Panchen Lama, họ có những nhân vật cốt lõi.

Tây Tạng trước đây có cung điện Potala, cũng có ba ngôi chùa lớn là tu viện Drepung, Sera, Ganden, là ba ngôi chùa chủ yếu nhất. Nhân vật chủ yếu, một người là Panchen, một người là Dalai, bởi vậy mà Hoàng giáo có nhân vật cốt lõi. Bản thân Hoa giáo cũng có nhân vật cốt lõi, pháp vương hiện tại của họ là Pháp Vương Trizin, còn có một vị là Pháp Vương Dagchen, ông ấy là vị pháp vương thứ hai, sống tại Seattle. Hai vị pháp vương này có truyền thừa, là nhân vật cốt lõi thuộc gia tộc Khon.

(Chú thích: dòng họ Khon đến từ thiên nhân thuộc dòng dõi trời, truyền thừa của phái Sakya sớm nhất có thể bắt nguồn từ Long Vương Hộ, ngài là một trong bảy vị Tịch Hộ Tĩnh Mệnh. Vua Tây Tạng Trisong Detsen đã mời Tịch Hộ và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng, vào khoảng năm 779 sau Công Nguyên thì xây dựng chùa Samye, Tịch Hộ đảm nhiệm chức trụ trì chùa Samye. Tên gọi Thất Giác Sĩ là chỉ bảy tì kheo thọ giới từ Tịch Hộ lần thứ nhất tại chùa Samye, họ là Thiên Vương Hộ, Biện Chiếu Hộ, Long Vương Hộ, Thiện Thệ Hộ, Bảo Hộ, Trí Vương Hộ, Bảo Vương Hộ.

Em trai của Long Vương Hộ là pháp mạch chủ yếu của truyền thừa phái Sakya của gia tộc họ Khon. Trước đời quan Khon Khước Kiệt Ba, gia tộc họ Khon là đệ tử của phái Nyingma. Chùa Sakya là do quan Khon Khước Kiệt Ba xây dựng, sau khi xây chùa Sakya, quan Khon Khước Kiệt Ba đã thu nhận đệ tử rộng rãi, truyền giáo thuyết giảng, sáng lập nên phái Sakya. Chùa Sakya đều do những người đàn ông của gia tộc họ Khon nắm quyền, dần dần hình thành nên một chính giáo hợp nhất trong cục diện gia tộc họ Khon. Trong lịch sử của phái Sakya, vị tổ thứ năm của phái Sakya có cống hiến vượt bậc cho sự phát triển của phái Sakya.)

Hoa giáo được truyền trong một gia tộc, không phải là Hoạt Phật chuyển thế, họ cũng có Hoạt Phật chuyển thế, nhưng nói chung thì những người chủ trì của phái này đều là người của gia tộc họ Khon, họ cũng có những ngôi chùa chính, gọi là chùa Sakya. Bạch giáo là phái Gelug, họ có nhân vật cốt lõi không? Có đó! Chính là Đại Bảo Pháp Vương, Đại Bảo Pháp Vương đội mũ đen, và Đại Tích Đỗ Ba đội mũ đỏ, họ là những nhân vật cốt lõi. Các chùa chính đương nhiên cũng có, Chùa Long Đức ở Sikkim chính là chùa của Đại Bảo Pháp Vương, chùa này ở Ấn Độ. Còn ở Tây Tạng có chùa Sở Bố, là chùa cốt lõi của Bạch giáo. Còn có chùa Đại Tích Đỗ Ba Bát Bạng. Ngoài ra, còn có Cống Cát Hoạt Phật đến hoằng pháp tại Trung Quốc, là Cống Cát Hoạt Phật của chùa Cống Cát ở núi Cống Cát, có ba đạo tràng chủ yếu, rất là to.

Còn Hồng giáo thì sao? Phái Nyingma rất tản mát, không có nhân vật cốt lõi. Ai là giáo chủ? Không có. Hoàng giáo có Dalai, Panchen, Bạch giáo có Đại Bảo Pháp Vương, Đại Tích Đỗ Ba, Cống Cát Hoạt Phật là chủ yếu nhất. Hoa giáo thì sao? Có Trizin Pháp Vương, Dagchen Pháp Vương. Còn Hồng giáo thì không có. Trước kia thì có Dugjom Pháp Vương, đệ tử của ngài ấy tương đối nhiều. Ngoài ra, bây giờ thì có Zhatral Rinpoche, Phật Mẫu của ngài ấy là Phật Mẫu Kamala, Zhatral Rinpoche đã 104 tuổi rồi, là trưởng lão của Hồng giáo. Trước kia, ở Nepal có Urgyen Rinpoche, ngài ấy cũng thuộc Hồng giáo.

Còn có một vị đại Hoạt Phật ở vùng Kham Tây Tạng, là Norlha Thượng sư hoằng pháp tại Trung Nguyên. Truyền thừa nhân gian của Sư Tôn chính là từ Thượng sư Norlha ở Kham Tây Tạng truyền cho Liễu Minh Hòa Thượng, Liễu Minh Hòa Thượng lại truyền cho tôi, quán đảnh cho tôi. Khi ấy, tôi vẫn còn chưa biết "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là cái gì, thế nhưng ngài ấy đã quán đảnh cho tôi rồi. Đây là truyền thừa nhân gian của tôi. Liễu Minh Hòa Thượng theo học Norlha Thượng sư ở Tứ Xuyên, điều này tôi cũng cần nói rõ ràng với mọi người.

Trên phương diện "truyền thừa trì minh" thì chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đem terma truyền thừa mật ý đặt vào trong não tôi, như thế là tôi trở thành có truyền thừa mật ý rồi. Còn có một loại nữa mà rất ít người biết, hơn nữa hình như người bình thường rất ít nói đến, đó chính là "thậm thâm thiền định thanh tịnh truyền thừa". Ví dụ, khi vừa cố gắng niệm nhập tam ma địa, tôi liền kết thủ ấn nhập tam ma địa, tôi sẽ làm cửu tiết Phật phong, ánh sáng trắng đi vào lỗ mũi phải, đi một vòng, lại đi ra từ lỗ mũi trái, ánh sáng đi vào từ lỗ mũi trái rồi lại đi ra từ lỗ mũi phải, rồi lại đi vào từ hai lỗ mũi và đi ra từ cả hai lỗ mũi. Đầu tiên cần làm cửu tiết Phật phong đó! Bởi vì khi tinh thần của tôi chỉ tập trung vào việc hít thở thì tâm trí của tôi trở nên rất thống nhất.

Khi tinh thần của tôi đã thống nhất thì pháp lưu sẽ hạ xuống, khi thật sự thiền định, hai mắt nhắm lại, pháp lưu hạ xuống, tôi sẽ tiến nhập vào trong thiền định, nhất tâm bất loạn. Vào chính lúc ấy, có Phật Bồ Tát xuất hiện chỉ thị cho tôi biết "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là cái gì. Một sự xuất hiện khác thì nói cho tôi biết pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là gì, tu thế nào, làm ra sao. Điều quan trọng nhất nằm ở đâu? Nằm ở A Để Du Già (Ati yoga). "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" chính là nằm ở trong A Để Du Già.

Vì sao lại gọi là "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ"? Ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tôi đã giảng qua rồi, ba thứ tự đầu tiên là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, ba thứ tự tiếp theo là Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ, ba thứ tự sau cùng là Đại Du Già (Maha yoga), A Nỗ Du Già (Anu yoga), A Để Du Già (Ati yoga), cộng vào là chín thứ tự, vì thế gọi là "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Sau đây, tôi xin hỏi, pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ở nhân gian rốt cục đã có ai từng giảng chưa? Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát thì Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng rồi, ở nhân gian đã có giảng rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng ba thứ tự. Tiếp theo là Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ, là ai đã giảng? Là Kim Cang Tát Đỏa giảng. Cuối cùng là Đại Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già là ai đã giảng? Là do Phổ Hiền Vương Như Lai truyền thụ. Như vậy, mọi người đã hiểu cái gọi là pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" rồi. Ngày mai tôi sẽ giảng cho mọi người pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" nói về cái gì. Om mani padme hum.

Biểu đồ minh họa truyền thừa chèn ở dưới đây.

### Bài giảng số 3

**Pháp Đại Viên Mãn có thể thông kì kinh bát mạch khiến thân thể bạn khỏe mạnh**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị buổi thứ ba về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong đại pháp hội Hộ Ma Mã Đầu Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 9 tháng 6 năm 2013.)*

Đại Viên Mãn có công đức gì? Đại Viên Mãn là gì? Có hai ông vua đều rất giỏi nói khoác. Vua của nước lớn thì nói khoác thế nào đây? "Ta có đội quân năm trăm vạn binh, ngươi còn chưa đầu hàng sao?" Vua của nước nhỏ nói: "Đương nhiên ta đầu hàng, đất nước của ta thật sự quá nhỏ bé, không thể chứa được hết năm trăm vạn tù nhân đâu." Mọi người nghe có hiểu không? Pháp Đại Viên Mãn là vô cùng vĩ đại, có thể nói là pháp vĩ đại nhất, cao sâu nhất trong Mật giáo.

Thật ra, pháp Đại Thủ Ấn, ở đây là Đại Thủ Ấn của Bạch giáo, Đại Uy Đức của Hoàng giáo, Đại Viên Thắng Huệ của Hoa giáo, ba pháp này cùng với Đại Viên Mãn của Hồng giáo, thì Đại Viên Mãn của Hồng giáo là có sớm nhất, còn ba pháp kia có khả năng là lấy từ trong pháp Đại Viên Mãn ra làm thành một pháp riêng. Tôi chỉ có thể nói như vậy thôi, pháp Đại Viên Mãn rất lớn, không phải là một pháp nhỏ. Pháp Đại Viên Mãn là một pháp vô cùng hay, tiếng Anh gọi là *so good*, vô cùng hay, vô cùng lành, trong kinh Phật thường hay nhắc đến "lành thay, lành thay", ý nghĩa chính là rất tốt rất tốt đó.

Pháp Đại Viên Mãn là rất tốt rất hay, *so good, so happy*, vô cùng sung sướng, là cực lạc, pháp Đại Viên Mãn là pháp cực lạc đó. Tu pháp này thì vô cùng vui vẻ, vì thế mới gọi là *so happy*, rất vui sướng, tâm linh vô cùng sảng khoái. Sảng nghĩa là vui thích, khoái nghĩa là sung sướng, pháp Đại Viên Mãn là một pháp rất vui vẻ và sung sướng. *So wonderful*, là *number one*, Đại Viên Mãn là số một, vô cùng tuyệt vời. Rồi lại còn *so nice. Nice*, tôi không biết giải thích, *nice* chính là rất hay, rất vi diệu, trong pháp Đại Viên Mãn có rất nhiều rất nhiều điều vi diệu.

Ngoài ra còn có một cái là *so perfect*. *Perfect* nghĩa là hoàn mĩ, bởi vậy, pháp Đại Viên Mãn là vô cùng hoàn mĩ, vì vô cùng hoàn mĩ cho nên mới gọi là Đại Viên Mãn. Hoàn mĩ vô khuyết, không có một chút khuyết điểm nào nên gọi là Đại Viên Mãn. Pháp Đại Viên Mãn có thể khiến bạn trong khi tu hành đạt được niềm vui, đạt đến đỉnh cao, sau đó đạt được sự viên mãn. Có được sự xảo diệu phi thường, có được những thứ vô cùng tốt đẹp, vô cùng sung sướng, vô cùng sảng khoái. Pháp hay như vậy mà không học, ở nhân gian gặp được nhưng lại lãng phí bỏ qua thì đời người chẳng còn mấy ý nghĩa, sống trên đời này chẳng có ý nghĩa gì nữa. Bạn không học pháp Đại Viên Mãn, không học Phật pháp, thì đời này sống tại nhân gian cũng là lãng phí thôi.

Vì sao pháp Đại Viên Mãn lại tốt như vậy? Thứ nhất, nó có thể khiến thân thể bạn khỏe mạnh. Vì sao tu pháp Đại Viên Mãn lại khỏe mạnh? Nói chung thì tất cả mọi pháp, thân thể của mỗi cá nhân khỏe mạnh hay không khỏe mạnh là điều rất khó nói, nhưng học pháp Đại Viên Mãn rồi, bên trong pháp này có rất nhiều cách để thông kì kinh bát mạch, ví dụ như kinh mạch và luân xa trên thân thể bạn, bảy luân xa, trung mạch, mạch trái mạch phải, kinh mạch toàn thân, đều thông suốt.

Bởi vì trong pháp Đại Viên Mãn, có một pháp gọi là "thể vị pháp", là vị trí của thân thể, bạn triển khai một động tác, ví dụ như cánh tay của bạn đưa ra, ở đây có mạch, vươn tay ra, ở đây có mạch, nâng lên, có mạch, hạ xuống, có mạch, các bộ phận trên thân thể đều có đầy các mạch, tu pháp Đại Viên Mãn có thể khiến kinh mạch toàn thân bạn đều được thông suốt, đó chính là vì có pháp "thể vị" trong pháp Đại Viên Mãn. Ví dụ như Sư Tôn đánh kim cang quyền, đây chính là tư thế, ngồi có tư thế của ngồi, đứng có tư thế của đứng, nằm có tư thế của nằm, có rất nhiều vị trí tư thế, ví dụ như tư thế di chuyển, tư thế quay lên trên, rất nhiều pháp thể vị có thể khiến kinh mạch của bạn thông suốt, thân thể khỏe mạnh.

Khí và huyết trên thân bạn toàn bộ có thể trôi chảy, hoàn toàn trôi chảy, không có nơi nào là khí huyết không chảy đến được. Không giống như một số người già, họ cái gì cũng đi lên, huyết áp tăng lên, đường máu tăng lên, ba cao, bảy cao, sáu cao, cái gì cũng cao. Chỉ có một niềm vui vĩnh cửu, đó là khí huyết không tăng thì mới có niềm vui vĩnh cửu. Nếu như khí huyết mà tăng thì bạn sẽ chẳng thể có niềm vui vĩnh cửu, tất cả mọi thứ của bạn sẽ cùng tăng cao.

Pháp Đại Viên Mãn này chính là khiến cho huyết khí của bạn có thể thông đến bất kì nơi nào. Nơi không có huyết khí đến thì ngũ tạng lục phủ chắc chắn sẽ vô cùng suy yếu. Huyết khí của người nào mà không đến được tim thì chết từ lâu rồi. Nếu như huyết khí không đến được phổi thì bạn cũng không thể thở được. Huyết khí không đến được gan thì gan sẽ bị xơ cứng, cơ quan nào mà huyết khí không tới thì cơ quan đó sẽ bị hoại tử. Pháp Đại Viên Mãn có tư thế, có thể khiến cho huyết khí toàn thân bạn hoàn toàn đủ đầy, thân thể sẽ khỏe mạnh, rất đơn giản như vậy.

Ngoài ra, tâm linh của bạn sẽ vô cùng vui vẻ. Kì lạ, tâm linh sao có thể vui vẻ được nhỉ? Tâm của con người chúng ta là vô hình, tâm của bạn nên vĩnh viễn được giữ gìn trong một trạng thái vui vẻ phi thường. Pháp Đại Viên Mãn giúp bạn hiểu rõ cái tâm vốn có của bạn, như tôi vừa nói, chỉ cần bạn khai ngộ rồi, bạn sẽ hiểu được tâm của chính mình. Bạn hiểu được tâm của chính mình thì bạn sẽ không để những phiền não ở trong tâm nữa. Bạn sẽ gạt bỏ hết những phiền não trong tâm, duy trì sự vui vẻ vĩnh viễn.

Pháp Đại Viên Mãn có thể khiến bạn minh tâm, chính là khai ngộ. Minh tâm rồi, bạn sẽ rất vui vẻ, thân thể khỏe mạnh, tâm linh vui vẻ, thân tâm có thể hợp nhất, những gì mà tâm nghĩ đến thì thân thể sẽ làm được, thân tâm sẽ hợp nhất, thân tâm có thể dung hòa lẫn nhau. Pháp Đại Viên Mãn có thể khiến thân tâm bạn hài hòa, là một trạng thái hợp nhất hoàn toàn. Thân tâm hài hòa chính là đại viên mãn, nhục thể của bạn và tâm linh của bạn đều có thể vô cùng hài hòa.

Người tuổi tác cao thì khi tu pháp Đại Viên Mãn cũng có thể luyện đến khi thân tâm hài hòa. Trong tâm bạn nghĩ ra sao thì thân thể có thể biểu hiện ra trạng thái thân tâm hài hòa đó. Có rất nhiều người thân tâm không hài hòa, học vị càng cao, học thức càng nhiều, siêu thông minh, nhưng mà sao? Chưa chắc thân tâm họ đã hài hòa, điều này rất quan trọng. Bạn có biết không? Có rất nhiều tội phạm học lực rất cao, là tiến sĩ, hoặc những luật sư rất nổi tiếng, hoặc những nhà khoa học rất nổi tiếng, nhưng họ cũng gây ra rất nhiều nghiệp.

Vì sao vậy? Vì thân tâm không hài hòa. Nếu như thân tâm thật sự hài hòa thì tâm lý sẽ rất vui vẻ, sẽ không ghét người khác. Bởi vì sinh ra lòng thù ghét thì tâm đã bại hoại rồi. Nếu như bạn hận một người thì tâm của bạn đã bại hoại rồi, bạn sẽ có phiền não, điểm quan trọng chính là ở chỗ này đó! Hôm qua, tôi ở trước cửa Mật Uyển nói: "Bạn chấp vào cái gì thì bạn sẽ phiền não cái đó. Bạn không chấp vào cái gì, cái gì bạn cũng *I don’t care*, không quan tâm, thì bạn sẽ không có phiền não nữa. Bạn *care* cái gì thì bạn sẽ có phiền não. Bạn yêu một người thì bạn chắc chắn sẽ bị tình yêu trói buộc. Bạn ghét một người thì bạn chắc chắn sẽ bị lòng thù hận trói buộc. Tình cảm đặt vào đâu thì bạn chắc chắn sẽ bị tình cảm trói buộc. Bạn sinh lòng hận thù với người nào đó thì bạn tuyệt đối sẽ bị lòng thù hận này trói buộc, bạn sẽ không vui vẻ được.

Vì thế, bạn tu pháp Đại Viên Mãn, sau khi minh tâm, bạn sẽ biết: "Chà! Thì ra là như vậy. *I don't care everything.*" Lúc này thì bạn sẽ không bị thứ gì trói buộc nữa, không gì có thể trói buộc được bạn, phiền não cũng không còn, phiền não sẽ giảm nhẹ. Tu pháp Đại Viên Mãn, tâm linh của bạn trong đó sẽ vui vẻ, bởi vì bạn đã khai ngộ rồi thì đương nhiên tâm linh của bạn sẽ vô cùng vui vẻ, thân thể khỏe mạnh, tâm linh vui vẻ, thân tâm hài hòa, điều này cực kì tốt, chính là cực kì viên mãn. Thân tâm hài hòa chính là đại viên mãn.

Sau đó, bạn lại nỗ lực tu tiếp thì bạn có thể tức thân thành Phật, là thân thể này, thân thể đều thành Phật. Cái này lạ nhỉ! Đại bộ phận sẽ là trung ấm (linh hồn) của chúng ta thoát ra, sau đó Bổn tôn đến tiếp dẫn thành Phật. Thân thể làm sao thành Phật được? Một thứ là tổ hợp của đất, nước, lửa, gió, làm sao thành Phật? Bạn sẽ chuyển hóa hết những thứ này, pháp Đại Viên Mãn có thể giúp bạn chuyển hóa hết toàn bộ thân thể, không còn thân thể nữa, chỉ còn lại Phật tính, như thế là thành Phật rồi. Bạn hóa thành một dải cầu vồng, thân thể biến thành một dải ánh sáng, thế là thành Phật rồi, đây gọi là tức thân thành Phật.

Còn có một cái gọi là "tức sinh thành Phật", sinh trong từ sinh mạng, đời này bạn tu pháp Đại Viên Mãn, đời này bạn thành tựu rồi thì chắc chắn đời này bạn sẽ thành Phật, đây gọi là thành Phật trong một đời.

Kể một câu chuyện cười vậy! Thời tiết nóng quá, mọi người đều thấy buồn ngủ. Thư kí Tiểu Lị đi làm luôn đến muộn, lúc sắp hết giờ làm, giám đốc hỏi Tiểu Lị: "Tiểu Lị à, buổi tối có rảnh không?" Tiểu Lị vốn có tình cảm với anh chàng giám đốc trẻ tuổi đẹp trai này, vừa nghe thấy hỏi: "Tiểu Lị à! Buổi tối có rảnh không?" thì cô ấy đã vui sướng tới mức suýt ngất xỉu rồi, cô ấy lập tức trả lời: "Rảnh, tối nào em cũng rảnh." Anh chàng giám đốc trẻ tuổi đẹp trai liền bảo cô: "Vậy thì xin cô mỗi tối đi ngủ sớm một chút, để sáng sáng không đi làm muộn."

Ở đây gọi là hy vọng thành thất vọng. Chúng ta tu pháp này thì sẽ không thất vọng đâu, chỉ cần bạn tinh tấn tu pháp Đại Viên Mãn thì đời này bạn sẽ có thể thành tựu. Mật giáo có ba loại pháp, như Kim Cang Tát Đỏa đã giảng, ngài ấy giảng ba pháp: Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ. Bạn chỉ tu mỗi pháp Sự Bộ thì cần bảy kiếp mới thành Phật, không phải bảy năm, bảy năm thì rất nhanh là đến rồi, mà là bảy kiếp mới có thể thành Phật. Pháp Hành Bộ thì cần năm kiếp mới có thể thành Phật. Du Già Bộ thì cần ba kiếp mới có thể thành Phật.

Tu hành khó lắm, Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ, tu pháp Sự Bộ cần bảy kiếp mới có thể thành Phật, tu pháp Hành Bộ thì cần năm kiếp mới có thể thành Phật, tu pháp Nhất vị Du Già thì cần ba kiếp mới có thể thành Phật. Có thể một kiếp thành Phật thì phải tu Đại Viên Mãn.

Pháp Đại Viên Mãn có hai phương pháp thành Phật. Loại thứ nhất là thân thể đều hóa thành ánh sáng, giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vậy, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là truyền nhân của pháp Đại Viên Mãn, khi ngài ấy muốn nhập niết bàn thì thân thể liền biến hóa, toàn bộ thân thể liền biến thành ánh sáng cầu vồng. Viu! Ngài ấy thành Phật và đi mất. Ngài ấy đã đến Phật quốc Orgyen của chính mình, căn bản là ngay cả thân thể này cũng không còn nữa, đây chính là tức thân thành Phật, thân ở đây là thân thể.

Ngoài ra, bạn tu kém một chút thì cũng có thể tức sinh thành Phật, trong kiếp này bạn có thể thành Phật, thành tựu rất lớn. Tôi từng nói rồi, Thượng sư Liên Hoa Ích Dân có xá lợi toàn thân, thân thể hỏa táng xong thì đương nhiên thân thể không còn, nhưng cái mà ta thấy được là tất cả xương, tất cả xương do đất, nước, lửa, gió ngưng kết lại mà thành thì toàn bộ đều hóa thành những hạt xá lợi, gom lại thì cũng không thể nói là cao như núi, nhưng xá lợi nhiều như vậy thì gói ghém thế nào đây? Những cái hũ đựng tro bình thường thì không thể chứa được. Những chiếc hũ bình thường thì từng hũ từng hũ đều là xá lợi, chí ít cũng phải tới mấy hũ đó! Thùng rác ở Mỹ cái nào cũng rất to, dùng cái thùng to như thế để đựng thì cũng tạm được, một người ngồi xuống, bên trong đều là hạt xá lợi, toàn thân xá lợi, thật là tuyệt vời đó.

Mọi người sau này xem Sư Tôn sau khi hỏa táng xong thì… í? Sao chẳng có gì hết vậy, thế thì các bạn có thể biết rằng đó là toàn thân đã hóa thành ánh sáng cầu vồng đi mất rồi. Chẳng còn gì cả. À có rồi! Có rồi! Sư Tôn có hai hạt xá lợi, ở bên tai phải có một hạt, ở bên tai trái có một hạt, nếu để mỗi người sờ thử thì thời gian không đủ mất.

Tu pháp Đại Viên Mãn có nhiều lợi ích như vậy, hóa thân cầu vồng, thân hóa cầu vồng, toàn thân hóa thành một dải ánh sáng, trực tiếp thành Phật. Lợi ích của pháp Đại Viên Mãn là để cho thân thể bạn khỏe mạnh, tâm linh vui vẻ, thân tâm rất hài hòa, có thể tức thân thành Phật, cũng có thể tức sinh thành Phật, cũng có thể thân hóa cầu vồng, hóa thân cầu vồng có một dải cầu vồng nghĩa là thành tựu rồi. Giống như khi Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 sau khi hỏa táng, trong không trung liền xuất hiện một dải cầu vồng đó.

Gần đây khi Sư Tôn muốn truyền pháp của Trường Mi tôn giả, bầu trời phía trên Seattle Lôi Tạng Tự xuất hiện một vệt mây, vệt mây dài này vắt ngang qua bầu trời phía trên Seattle Lôi Tạng Tự, chúng ta có chụp ảnh lại đó, khi ấy trời trong vạn dặm không mây! Chỉ có đúng một dải mây dài vắt ngang ở trên bầu trời phía trên Seattle Lôi Tạng Tự của Trường Mi tôn giả, xuất hiện hai lần, bởi vì có hai bên lông mày mà! Chúng hiện lên trên bầu trời, rất vĩ đại đó.

Trước kia, khi Sư Tôn muốn giảng "Lục Tổ Đàn Kinh", bầu trời phía trên Đài Loan Lôi Tạng Tự xuất hiện sáu dấu chân, màu đen, khi ấy cũng là bầu trời trong vạn dặm không mây, chỉ có sáu dấu chân lớn này in lên bầu trời, "Lục Tổ Đàn Kinh", sáu dấu chân, là Lục Tổ đó! Những việc này đều là trời hiện lên những tướng lạ khác thường. Bạn nói xem, đang là trời trong vạn dặm không mây nhé! Chỉ có ở đây lại có một dải mây dài cong như lông mày, xuất hiện hai lần, một lần ở bầu trời phía trên Lôi Tạng Tự, một lần ở phía đối diện với Lôi Tạng Tự, hai dải mây dài. Bởi vì tôi muốn truyền pháp Trường Mi tôn giả, do vậy xuất hiện ra thiên tướng như vậy.

Khi giảng "Lục Tổ Đàn Kinh" thì bầu trời xuất hiện sáu dấu chân. Hơn nữa, khi bạn nhìn dải mây ấy một lúc, đi vào bên trong Lôi Tạng Tự rồi lại đi ra, thì mây cũng biến mất luôn. Lại là một bầu trời trong vắt vạn dặm không mây! Rõ ràng là có một dải mây rất lớn mà, vắt ngang qua bầu trời, sao mà vừa đi vào, đi ra đã lại biến mất rồi, đi đâu mất rồi? Tiêu biến rồi, hơn nữa trông nó giống như vệt lông mày vậy. Có thể thấy là mỗi lần Sư Tôn muốn thuyết pháp thì đều sẽ có trời ban dị tượng đó.

Người cha nói với con trai: "Bài kiểm tra đầu năm học sao mà đã bị điểm 0 vậy?" Con trai rất thông minh nói: "Thầy giáo bảo tất cả đều bắt đầu từ số 0." Hôm nay chúng ta cũng cần bắt đầu từ số 0, pháp Đại Viên Mãn cũng là bắt đầu từ số 0, từ 0 biến thành Đại Viên Mãn.

Cá nhân tôi cảm thấy pháp Đại Viên Mãn là pháp cực kì hay, vô cùng vi diệu, là pháp số một, hơn nữa còn rất viên mãn, rất *perfect* hoàn mĩ, là một pháp vô cùng hoàn hảo. Sau này, khi tôi giảng tiếp về pháp Đại Viên Mãn sẽ còn xuất hiện nhiều thứ rất vi diệu nữa, những thứ rất hay sẽ xuất hiện. Vùng Trung Nguyên vì sao lại có pháp Đại Viên Mãn? Bởi vì Mật giáo đến Trung Thổ, sớm nhất thì có một người là Lama Bạch Phổ Nhân, đây là người sớm nhất, ông ấy đến Trung Thổ hoằng pháp.

Nói về thời hiện đại, thời cổ đại không nói nữa. Cổ đại thì có ba vị đại sĩ thời Khai Nguyên (Đường Huyền Tông) là Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy, Bất Không, ba vị này ở vào thời Đường. Nói về thời hiện đại thì là Lama Bạch Phổ Nhân, tiếp theo là Thổ Đăng Ni Mã (Alak Zenkar Rinpoche), Thổ Đăng Ni Mã đến Trung Thổ hoằng pháp, Thổ Đăng Ni Mã là đệ tử của Cam Châu Hoạt Phật, Thổ Đăng Ni Mã dạy cho Thổ Đăng Đạt Lực, Thổ Đăng Đạt Lực truyền pháp cho Thổ Đăng Đạt Cát, Thổ Đăng Đạt Cát lại truyền pháp cho Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là Thổ Đăng Kì Ma. Bây giờ Thổ Đăng Kì Ma sau này lại truyền pháp cho Thổ Đăng Siddhi, đây là một truyền thừa. Sư Tôn cũng có truyền thừa của Thổ Đăng Ni Mã, Thổ Đăng Ni Mã cũng đến Trung Thổ hoằng pháp.

Tiếp theo thì sao? Có Norlha Rinpoche, Norlha Rinpoche cũng đến Trung Thổ hoằng pháp, ông ấy cho rằng Phật giáo ở Trung Thổ cần phát triển hưng thịnh, do vậy, ông nói với Cống Cát  Hoạt Phật rằng: "Ông cũng cần đến Trung Thổ hoằng pháp."

Do vậy, sau khi Cống Cát Hoạt Phật kế tục Norlha Rinpoche, ông ấy cũng đến Trung Thổ hoằng dương Mật pháp. Tại Tứ Xuyên, Norlha Rinpoche đã kết Phật duyên với Liễu Minh Hòa Thượng, Liễu Minh Hòa Thượng giảng Kinh Kim Cang cho Norlha Rinpoche, còn Norlha Rinpoche thì lại dạy và quán đảnh cho Liễu Minh Hòa Thượng pháp Đại Viên Mãn của Hồng giáo.

Liễu Minh Hòa Thượng sau khi nhận được quán đảnh thì lại quán đảnh pháp Đại Viên Mãn cho Sư Tôn, đây chính là truyền thừa ở nhân gian của Sư Tôn. Cống Cát Hoạt Phật Thượng sư có đến Trung Thổ để hoằng pháp, ông ấy ở Thành Đô, ở Trùng Khánh, ở Côn Minh, ở Nam Kinh, ông ấy đã đi rất nhiều nơi, ông ấy còn đến cả Vân Nam Côn Minh nữa. Mặc dù ông ấy là một vị Hoạt Phật của Bạch giáo, là Hoạt Phật của Đại Thủ Ấn, nhưng ông ấy cũng học pháp Đại Viên Mãn, Norlha Thượng sư cũng quán đảnh cho ông ấy pháp Đại Viên Mãn. Những vị này đều có truyền thừa pháp Đại Viên Mãn.

Thế còn truyền thừa pháp Đại Viên Mãn ở nhân gian của Sư Tôn là từ Norlha Thượng sư, Liễu Minh Hòa Thượng đến Sư Tôn, đây là truyền thừa nhân gian chủ yếu nhất, còn cái khác thì là truyền thừa cách thời đại. Ngoài ra còn có "thậm thâm thiền định thanh tịnh" truyền thừa, nghĩa là ở trong thiền định, tôi đã minh tâm kiến tính rồi, tôi tu cửu tiết Phật phong, tu Kim cang tụng, tu Bảo bình khí, tinh thần tập trung, tự nhiên nhập vào thiền định, các vị Phật Bồ Tát hóa hiện lên trong thiền định đã dạy tôi khẩu quyết và chỉ cho tôi những điểm chính nằm ở đâu, đây gọi là truyền thừa thậm thâm thiền định thanh tịnh, trên đời này rất hiếm có đó.

Hôm nay tôi giảng cho mọi người biết pháp Đại Viên Mãn là gì, nó có thể khiến thân thể bạn khỏe mạnh, tâm linh vui vẻ, thân tâm hài hòa, đạt được chứng ngộ, có thể tức thân thành Phật, có thể tức sinh thành Phật, có thể thân hóa cầu vồng, tương lai có thể trực tiếp thành Phật, hơn nữa còn là có thể thành Phật trong một kiếp. Om mani padme hum.

### Bài giảng số 4

**Tì kheo ni công chúa nước Orgyen hoài thai thánh linh sinh hạ vị tổ số một của pháp Đại Viên Mãn tại nhân gian Cực Hỉ Kim Cang**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu A Di Đà Phật tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 15 tháng 6 năm 2013.)*

Hôm nay tôi muốn giới thiệu vị tổ đầu tiên tại nhân gian của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", đó là Cực Hỉ Kim Cang (Garab Dorje). Ngài sinh ra tại đất nước Orgyen, sự ra đời của ngài cũng rất vi diệu. Khi ấy, có một công chúa là con của Quốc vương rất tin Phật, công chúa nguyện cả đời không lập gia đình, nguyện xuất gia làm tì kheo ni. Khi ấy ở Ấn Độ gọi là nữ Brahmin, nghĩa là tì kheo ni xuất gia. Công chúa cũng không lấy chồng mà đã cạo đầu xuất gia rồi.

Khi cô xuất gia tu hành, cô mơ thấy một tòa tháp lưu li, có Phật quang giáng xuống, Phật cầm tháp lưu li đặt trên đỉnh đầu cô quán đảnh ba lần. Có một tia sáng thanh tịnh màu trắng đi vào bên trong thân thể của tì kheo ni, là một tia ánh sáng lấp lánh đi vào bên trong người tì kheo ni. Là một công chúa con vua, cô ấy không kết hôn, hơn nữa lại là tì kheo ni xuất gia, thế mà bụng cô tự nhiên lại cứ to lên, đây là một sự việc rất phiền phức. Đại bộ phận các lão tổ sư khi ra đời thì đều có rất nhiều kì tích, rất nhiều sự việc thần kì. Do vậy, tôn giáo không tách rời khỏi những kì tích, không tách rời những thần tích, không có thần tích thì không được gọi là tôn giáo. Tì kheo ni này cũng giống như Đức mẹ Maria của chúa Jesus vậy, thật sự là trinh nữ hoài thai, bụng càng ngày càng to lên.

Vị mà giáng xuống là từ Đao Lợi Thiên, là Thiên Vương của 33 Thiên cung, tên là Song Huỳnh. Ngài ấy sinh hạ thái tử Thắng Tâm, thái tử Thắng Tâm là một trong số năm trăm vị thiên tử của 33 cõi trời, là con trưởng. Lần trước tôi đã giảng rồi, Thắng Tâm thiên tử được Kim Cang Thủ Bồ Tát quán đảnh pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", từ đó ở thiên thượng giới, ngài đã tu hành "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", sau đó, ngài hạ giáng đến nhân gian, chính là hạ giáng lên thân của tì kheo ni kia.

Trải qua mười tháng hoài thai, công chúa cảm thấy mình là một tì kheo ni thanh tịnh, bỗng dưng lại có con, đây là một việc rất xấu hổ. Thế là cô bèn lén ôm đứa con chạy đến một cái hố tối tăm bên trong một hang núi, cô bỏ lại đứa bé ở trong hang, để mặc nó, sống chết không quan tâm. Lâu sau, cô nghĩ đứa bé này chắc hẳn đã chết đói rồi, cô liền quay trở lại xem, baby này vẫn còn cười với cô, và nó vẫn sống khỏe mạnh, cũng không bị chết đói!

Đột nhiên, một linh cảm tâm linh khiến cô cảm động nói rằng: "Đứa bé này là thánh hiền chuyển thế, cô không được bỏ nó, hãy đưa nó về nuôi dưỡng cẩn thận." Tì kheo ni cũng cho rằng đứa bé này là thánh hiền, thế là cô thật sự đã đem đứa bé về nuôi dưỡng. Cha của tì kheo ni là Quốc vương, cũng cho rằng đứa bé này là thánh hiền, do vậy đặt tên cho đứa bé, dịch ra tiếng Trung nghĩa là Cực Hỉ Kim Cang. Đây là một câu chuyện thần kì của Ấn Độ thời cổ đại, không giống như Jesus, Jesus thì con người trong thiên hạ đều biết.

Trước kia bà Trần Truyền Phương có kể một câu chuyện cười, có một cô gái sinh con trong bệnh viện, bác sĩ khoa sản phụ chúc mừng cô: "Chúc mừng cô! Cô đã sinh ra một công tử. Cô hãy nói với chồng mình là cô đã sinh được một công tử rồi." Cô ấy bèn nói: "Tôi không có chồng." Bác sĩ khoa sản phụ nghe xong thì hiểu ra, liền nói: "Thế thì cô nói với bạn trai rằng cô đã sinh ra một bé trai rồi." Cô gái nói: "Tôi không có bạn trai." "Hả?" Bác sĩ không nói gì, cuối cùng, ông ấy chỉ nói: "Thế này vậy! Chúc mừng cô! Chúa Jesus thứ hai đản sinh rồi." Bởi vì cô ấy không có chồng, cũng không có bạn trai, thế thì làm sao mà có con đây?

Tì kheo ni còn có thánh linh nói cho cô ấy biết rằng đây là thánh hiền đến chuyển thế, Quốc vương cũng cho rằng đó là thánh hiền đến chuyển thế, và còn đặt tên cho đứa bé, gọi là Cực Hỉ Kim Cang. Khi đứa bé lên bảy tuổi, cậu bé đã biện luận cùng 500 vị pandita, pandita ở Ấn Độ là từ để gọi các bậc đại thiện tri thức, đại thiện tri thức của Phật pháp. Một đứa bé bảy tuổi biện luận cùng với 500 vị pandita, thật bất ngờ là đứa bé bảy tuổi đã thắng. Bởi vậy, bản thân đứa bé có thiên phú. Về sau, cậu bé quyết định tu hành chăm chỉ, và cậu bé đã đến một nơi gọi là núi Thái Dương Quang Minh.

Được rồi! Hôm nay tôi sẽ giảng về thái dương xuất hiện. Ở bên cạnh có một vòng hào quang, chính là đại diện cho Cực Hỉ Kim Cang, bởi vì hôm nay tôi sẽ giảng về Cực Hỉ Kim Cang. Ngài ấy đến núi Thái Dương Quang Minh, liên tục ở đó tu hành cho đến khi 32 tuổi. Khi ấy Kim Cang Thủ Bồ Tát cũng xuất hiện trước mặt ngài, mở ra terma pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" đã giấu trong não ngài, vừa mở ra thì ngài liền hiểu rõ tất cả: "Chà! Thì ra ta đã từng tu hành pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" ở cõi trời rồi."

Chính vào năm 32 tuổi, tại núi Thái Dương Quang Minh, trong sát-na, ngài đã trực tiếp thành Phật. Hôm nay, trong hư không hiển hiện thái dương, ánh sáng của mặt trời, chính là núi Thái Dương Quang Minh mà Cực Hỉ Kim Cang ở bên đó tu hành mà hiển hiện ra. Do vậy, hôm nay vì sao lại hiện ra ánh sáng mặt trời? Bởi vì núi mà Cực Hỉ Kim Cang tu hành gọi là núi Thái Dương Quang Minh. Bạn xem, mặt trời hiển hiện trong hư không còn có cả ánh sáng của ngài xuất hiện nữa.

Tiếp tục nói về Cực Hỉ Kim Cang, sau khi ngài ấy khai ngộ, ngài bắt đầu độ chúng sinh. Sau khi ngài thành Phật, ngài liền đến rừng Thi Đà Lâm hoằng pháp. Rừng Thi Đà Lâm ở Ấn Độ là một nghĩa địa, và ở đó cũng không có chuyện hỏa táng, chỉ là đem tử thi đến bỏ lại nơi đó, rồi chẳng quan tâm nữa, mau mau bỏ đi. Do vậy, ở nơi đó tử thi chất thành đống, rất nhiều xác chết, để cho chim ăn, côn trùng ăn, có một chút giống với hình thức thiên táng ở Tây Tạng. Thiên táng là xẻ thịt ra, vứt lên không trung, để cho chim kền kền đến tranh nhau mổ rỉa. Thi Đà Lâm ở Ấn Độ phần lớn đều quăng tử thi ở đó, dùng vải bọc lại, để lại ở đó rồi bỏ đi, từ đó không quan tâm đến nữa.

Do vậy, toàn bộ khu nghĩa địa rất đáng sợ, Thi Đà Lâm ở Ấn Độ rất đáng sợ. Tuy vậy thì Thi Đà Lâm cũng là một nơi tốt nhất để tu hành, cũng là nơi mà các Không Hành Mẫu, Không Hành Phụ tụ họp, rất kì lạ! Đặc điểm hoàn cảnh đất nước khác nhau, đó là một nơi vô cùng đáng sợ, âm u, nhưng những người tu hành thì đại bộ phận đều ở đó, bởi vì tu hành chính là cần phải nghĩ rằng: "Rốt cục thì ta cũng sẽ chết, có một ngày, ta cũng sẽ đến đây." Và khi ấy suy nghĩ này sẽ thức tỉnh tâm tu hành tinh tấn của bạn. Khi mà tất cả mọi thứ đều buông bỏ, cái gì là ái hận tình thù, account (tài khoản) ngân hàng, xe hơi, nhà cửa, vợ đẹp bồ xinh, khi tất cả đều buông bỏ thì sẽ khơi dậy tâm tu hành thật sự của bạn.

Vì thế nên khi xưa, rất nhiều người tu hành đều tập trung ở Thi Đà Lâm để tu hành. Cực Hỉ Kim Cang bèn đến Thi Đà Lâm hoằng pháp, hoằng dương pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Khi ấy, có rất đông người đến nghe ngài ấy giảng pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Sau cùng có một người đến, người này chính là vị tổ sư thứ hai tại nhân gian của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", là vị tổ sư thứ hai tại nhân gian, tên gọi là Diệu Cát Tường Hữu (Mañjuśrīmitra), truyền thừa lúc này là Thắng Tâm Thái Tử --- Cực Hỉ Kim Cang. Lần trước tôi nói là Đại Cát Tường Hữu là vì tôi nhớ đến Đại Cát Tường Thiên Nữ, do vậy mới nói thành Đại Cát Tường Hữu. Nhưng thật ra Đại cũng chính là Diệu, không khác là mấy! Nhưng tên gọi đúng thì là Diệu Cát Tường Hữu.

Diệu Cát Tường Hữu đi nghe pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", có được niềm hoan hỉ và quán đảnh của Cực Hỉ Kim Cang, ngài đã ở bên cạnh Cực Hỉ Kim Cang tổng cộng hơn 70 năm, Cực Hỉ Kim Cang khi ấy 32 tuổi thì chứng ngộ, thành Phật, đến Thi Đà Lâm hoằng pháp. Diệu Cát Tường Hữu ở cùng Cực Hỉ Kim Cang hơn 70 năm, thì chẳng phải là hơn trăm tuổi sao? Người Ấn Độ rất ít người sống đến hơn trăm tuổi đó.

Hẳn là thế này, cách tính năm của Ấn Độ khác với cách tính năm của chúng ta bây giờ. Một năm của chúng ta tính là một tuổi, họ thì nửa năm đã tính là một tuổi rồi. Do vậy, thật ra, Diệu Cát Tường Hữu ở cùng với Cực Hỉ Kim Cang là khoảng 30 năm, không phải là hơn 70 năm.

Có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, nhưng e rằng chỉ là 25 năm thôi. Có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni sống đến 80 tuổi, thật ra, cũng chưa chắc, khả năng chỉ là 60 tuổi.

Cực Hỉ Kim Cang truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho vị tổ thứ hai là Diệu Cát Tường Hữu. Khi truyền cho Diệu Cát Tường Hữu xong thì Cực Hỉ Kim Cang bèn nhập niết bàn, khi ngài niết bàn thì thân hóa thành cầu vồng, toàn thân đều tiêu biến, biến thành một dải ánh sáng bay lên hư không, vô cùng kì diệu. Cách nhập niết bàn này là vô cùng tuyệt diệu, chính là toàn thân hóa thành một dải cầu vồng bay lên hư không rồi tan biến mất. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng vậy, thân hóa cầu vồng, biến thành một dải cầu vồng bay vào hư không. Cực Hỉ Kim Cang đã kết thúc một đời như vậy. Đây là vị tổ sư đầu tiên tại nhân gian của pháp Đại Viên Mãn. Ngày mai tôi sẽ giảng cho mọi người về vị tổ thứ hai là Diệu Cát Tường Hữu. Om mani padme hum.

### Bài giảng số 5

**Diệu Cát Tường Hữu (Mañjuśrīmitra) niết bàn lại truyền pháp Đại Viên Mãn cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong đại pháp hội Hộ Ma Bất Động Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 16 tháng 6 năm 2013.)*

Chúng ta lại giới thiệu tiếp về vị tổ sư thứ hai của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", chính là Diệu Cát Tường Hữu. Diệu Cát Tường Hữu sinh ra tại một gia đình Bà La Môn tương đối giàu có. Bà La Môn nghĩa là người tu hành. Ấn Độ có bốn tầng lớp lớn, thứ nhất là người tu hành, địa vị cao nhất, thứ hai là hoàng tộc, thứ ba là thương nhân, thứ tư là nô lệ. Cho đến hiện tại thì bốn tầng lớp này cũng vẫn chưa kết hôn chéo lẫn nhau.

Trong đó thì tầng lớp Bà La Môn là cao nhất, họ rất tôn kính những người tu hành. So sánh với ngày nay thì Ấn Độ giống như Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc, còn nước Cộng Hòa Nhân Dân như Mỹ thì căn bản là không coi trọng người tu hành, không tôn kính người tu hành. Nhưng ở Ấn Độ thì họ rất tôn kính người tu hành, xếp người tu hành vào tầng lớp số một. Diệu Cát Tường Hữu sinh trưởng trong một gia đình người tu hành giàu có. Ngài ấy rất có Phật duyên, sau khi ra đời cũng rất nỗ lực học Phật, ngài đi khắp nơi bái sư phụ, ngài đã bái 500 vị pandita.

Cực Hỉ Kim Cang đã tranh biện cùng 500 vị pandita, vì sao mà Diệu Cát Tường Hữu này cũng lại bái 500 vị pandita làm thầy? Trong kinh Phật nhắc đến con số 500, cái gì cũng 500, ví dụ như 500 thương nhân qua sông, 500 tì kheo, 500 tì kheo ni,… cái gì cũng 500, 500 là có ý nghĩa gì đây? Ở Ấn Độ, 500 mang ý nghĩa là nhiều, không phải 500 ngoại đạo nghĩa là đúng 500 người, không phải 500 pandita thì nghĩa là đúng 500 vị đại thiện tri thức, đây chỉ là một so sánh, chỉ là để biểu thị rằng ngài ấy đã bái rất nhiều sư phụ thôi. Giống như nói Đề Bà Đạt Đa đem 500 tì kheo rời bỏ Phật Thích Ca Mâu Ni thì thật ra ý nghĩa chỉ là rất nhiều thôi.

Có một câu chuyện cười, lão Tiền nói với lão Lý rằng: "Đêm qua xui xẻo quá." Lão Lý nói: "Xảy ra chuyện gì vậy?" Lão Tiền nói: "Đêm qua tôi về nhà sớm, trước đây tôi toàn nhằm lúc tối ôm người hầu, kết quả là tôi lại ôm nhầm bà vợ tôi." Lão Lý nói: "Vậy thì có liên quan gì đâu!" Lão Tiền nói: "Nhưng mà, bà vợ tôi lại nói: "Tiểu Mã, lão Tiền về nhà rồi, mày còn chưa đi sao?"

Tôi nói về sự hiểu lầm. Chúng ta đừng hiểu lầm ý nghĩa của con số 500, người Ấn Độ nói 500, người Tây Tạng nói 500, trong kinh Phật nói 500 nghĩa là so many, nghĩa là rất nhiều rất nhiều đó.

Diệu Cát Tường Hữu bái 500 vị đại thiện tri thức, học tập Phật pháp, ngài đã nghiên cứu rất nhiều về Phật pháp, dường như ngài đã học Phật pháp bát thánh, có nghĩa là Phật pháp bát thứ đệ. Bình thường, ngài rất ngạo mạn rằng: "Phật pháp tôi đều học hết rồi, cái gì tôi cũng hiểu." Lúc này, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hiện thân nói với ngài rằng: "Còn có Phật pháp tốt hơn nữa, ở trong rừng Thi Đà Lâm, có một người là Cực Hỉ Kim Cang đang dạy "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", vẫn còn có Phật pháp cao sâu nhất. Ông cần đi bái Cực Hỉ Kim Cang làm thầy."

Diệu Cát Tường Hữu nói: "Tôi mới là người hiểu hết Phật pháp. Cực Hỉ Kim Cang thì có cơ gì chứ? Ông ta không đáng làm thầy tôi. Bây giờ tôi đã là thầy của chúng sinh rồi." Diệu Cát Tường Hữu rất ngạo mạn. Bởi vậy, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát mới bảo ông: "Thật đó, Phật pháp mà ông học còn chưa đủ đâu, còn có pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" A Để Du Già cao sâu hơn, vi diệu hơn, ông còn không đi học sao?" Diệu Cát Tường Hữu nói: "Tôi rất vĩ đại rồi! Không đi học nữa." Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát khuyên: "Hay là ông đi tham khảo một tí cũng được!" "Được! Vậy tôi sẽ biện luận cùng ông ấy."

Bản thân Diệu Cát Tường Hữu muốn đến Thi Đà Lâm để biện luận Phật pháp cùng Cực Hỉ Kim Cang, ông ấy rất ngạo mạn đi đến Thi Đà Lâm, trông thấy Cực Hỉ Kim Cang gật đầu một cái "Ừ!", động tác này chính là biểu thị "chẳng có gì to tát cả". Chúng ta học Phật không thể như vậy, ngạo mạn như thế là không tốt. Thật ra, rất ít người học Phật mà tôn trọng lẫn nhau.

Giống như người viết văn chương vậy, văn nhân thường coi thường lẫn nhau. Tôi viết văn, anh ta cũng viết văn, tôi xem thường anh, anh xem thường tôi. Võ tướng cũng coi thường lẫn nhau, đố kị tới lui, người nào vượt lên trước ta thì ta sẽ ghét người đó. Người có tiền cũng có thể bị coi thường. Bởi thế, khi Bill Gates đi ra đường, đột nhiên bị ném một quả trứng trúng mặt. Ông ấy nói: "Tôi với anh có quan hệ gì không?" "Anh và tôi chẳng có quan hệ gì cả, vì sao anh lại ném trứng vào mặt tôi?" "Tôi không thích kẻ có tiền vậy thôi." Bởi vì bản thân người này không có tiền, nên anh ta ghen tị với những người có tiền.

Tài hoa càng cao, kẻ thù càng nhiều, tài hoa trung bình thì kẻ thù cũng ở mức bình thường. Nếu như bạn chẳng có tài hoa thì căn bản là sẽ chẳng có kẻ thù. Nếu như bạn là một kẻ ngốc thì ai sẽ coi bạn là kẻ thù đây? Người có năng lực lớn thì sẽ có kẻ thù lớn, người có năng lực nhỏ thì sẽ có kẻ thù nhỏ. Không có năng lực thì không có kẻ thù, thế giới này là như vậy.

Diệu Cát Tường Hữu cho rằng bản thân đã học được toàn bộ Phật pháp rồi "Cực Hỉ Kim Cang nhà ngươi, Văn Thù Sư Lợi  
Bồ Tát bảo ta bái ông làm thầy, nhưng tôi chẳng biết ông là ai?" Hai người bắt đầu biện luận. Kì thực, những gì mà Diệu Cát Tường Hữu đã học là "nhất thiết hữu bộ", những gì mà Cực Hỉ Kim Cang đã học là "nhất thiết không bộ", hai người đấu nhau, những gì mà Diệu Cát Tường Hữu nói thì đều bị Cực Hỉ Kim Cang bác bỏ, những gì Cực Hỉ Kim Cang nói thì Diệu Cát Tường Hữu nghe không hiểu. Diệu Cát Tường Hữu không có cách nào trả lời được, bởi vì ông ấy không hiểu. Do vậy Diệu Cát Tường Hữu đã thua trong cuộc tranh biện.

Trên thế giới này, không thua thì là thắng. Có một chàng trai không muốn tiêu tiền, lần đầu tiên đến nhà bạn gái, vì không muốn tiêu tiền nên anh ta nghĩ ra một kế sách, khi anh ta vừa vào nhà bạn gái thì đã làm bộ mặt đau khổ nói rằng: "Hôm nay xui xẻo quá, có một cái đồng hồ mới mua, vốn định tặng em, không ngờ trên xe buýt đã bị kẻ móc túi lấy mất rồi." Bạn gái nghe xong vô cùng cảm động, nói đầy tiếc nuối: "Sau này cẩn thận một chút." Chàng trai lập tức đồng ý: "Chắc chắn rồi, tên móc túi quả thật rất đáng ghét, lần sau, anh sẽ không cầm theo cái gì cả, xem xem nó sẽ trộm cái gì." Thật là keo kiệt, theo đuổi bạn gái mà như vậy chắc chắn sẽ thất bại.

Trước kia, tôi đến nhà Sư Mẫu thăm Sư Mẫu, mỗi lần đến tôi đều đem theo thứ gì đó, không có lần nào là không, không lần nào đi tay không đến nhà bạn gái cả, không hề có chuyện như vậy. Tôi luôn hai tay cầm theo thứ gì đó đến nhà Sư Mẫu. Em gái của Sư Mẫu trông thấy thì bảo tôi một câu: "Sau này, đồ để lại, còn người không cần phải vào đâu." Có chuyện như vậy đó. Phải vậy không? Đúng mà. Bạn xem! Tôi đi đến nhà bạn gái, tuyệt đối luôn đem theo thứ gì đó, làm như thế là rất khéo léo đó.

Diệu Cát Tường Hữu đi đến chỗ của Cực Hỉ Kim Cang, hai tay không, cũng chẳng mang lễ vật, lại còn coi thường người ta, nhìn là muốn trói lại đánh rồi, lại còn muốn tranh biện. Cực Hỉ Kim Cang bèn tranh biện cùng ông ấy, Diệu Cát Tường Hữu không trả lời được. "Phải làm sao đây?" Khi ấy, Diệu Cát Tường Hữu vô cùng xấu hổ, nói: "Rốt cục Cực Hỉ Kim Cang đã nói gì, thật sự ta không hiểu." Diệu Cát Tường Hữu vốn tràn đầy tự tin, kết quả là nay thật sự không hiểu, nên vô cùng xấu hổ. Ông nói với Cực Hỉ Kim Cang: "Ở đây có dao không?" Cực Hỉ Kim Cang nói: "Có! Bình thường thái thức ăn nên có dao mà! Ông muốn làm gì?" Diệu Cát Tường Hữu nói: "Hôm nay tôi xấu hổ vô cùng, tôi muốn cắt lưỡi mình."

Cực Hỉ Kim Cang nói: "Ông không cần phải cắt lưỡi mình, như thế thì lại tạo thành nghiệp chướng không tốt, làm tổn hại đến thân Phật trang nghiêm. Con người chính là Phật mà! Mỗi người đều có Phật tính mà! Ông không thể tự làm hại bản thân được! Cắt lưỡi mình thì chẳng phải là làm tổn hại Phật tính của chính mình sao?" Bởi vậy tôi nói người học Phật không thể tự sát chính là như vậy. Bởi vì tự sát là giết hại Phật tính của chính mình, cắt lưỡi tương đương với làm tổn hại thân Phật trang nghiêm, đó là tự làm hại bản thân. Nghe Cực Hỉ Kim Cang nói như vậy, Diệu Cát Tường Hữu chỉ có thể nói: "Tôi đã tranh luận thua ông rồi, tôi không còn biết giấu mặt vào đâu nữa, tôi lại cũng không đem theo lễ vật, vậy tôi phải làm sao đây?"

Cực Hỉ Kim Cang bèn nói với Diệu Cát Tường Hữu: "Ông hãy cùng ta học pháp, ta sẽ dạy toàn bộ các pháp cho ông." Diệu Cát Tường Hữu rất xấu hổ, phủ phục xuống đất, ngay tại chỗ đã bái Cực Hỉ Kim Cang làm thầy, học tập A Nỗ Du Già, A Để Du Già, Đại Du Già một cách rất khiêm tốn, bởi vì ông ấy ngạo mạn nhưng thất bại, nên nay trở nên rất khiêm tốn, đã cúi rạp mình xuống đất để quy y Cực Hỉ Kim Cang. Diệu Cát Tường Hữu đã theo Cực Hỉ Kim Cang học pháp 75 năm. Thời Ấn Độ Cổ đại thì nửa năm tính là một năm, người ta tính như vậy cho nên mới thành ra là 75 năm.

Có một hôm, Cực Hỉ Kim Cang biến hóa thành cầu vồng, bay đến hư không, Diệu Cát Tường Hữu liền cầu nguyện sư phụ rằng: "Sư phụ! Sư phụ! Bây giờ thầy muốn niết bàn, thầy hãy dạy cho con khẩu quyết quan trọng nhất đi!" Đột nhiên, từ hư không rơi xuống ba cuốn sách, chính là ba yếu quyết, rơi trúng đầu Diệu Cát Tường Hữu mấy cái, thế là Diệu Cát Tường Hữu đã khai ngộ ngay tại chỗ. Sự chứng ngộ của ngài cũng giống với Cực Hỉ Kim Cang.

Diệu Cát Tường Hữu sau đó đã đi đến một nơi khác, đi đến Bodhgaya, phía tây của Bodhgaya có một rừng Thi Đà Lâm, Diệu Cát Tường Hữu liền đi đến Thi Đà Lâm đó, trở thành một vị sư phụ, hơn nữa còn truyền pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho mọi người biết. Thời gian truyền pháp của ngài rất dài, cho đến tận khi ngài nhập niết bàn. Ở đây cũng có bí mật, là bí mật gì vậy?

Tôi kể một câu chuyện cười trước. Có một bé gái mới lên hai tuổi rưỡi, thế nhưng đã cực kì thông minh, hỏi gì cũng biết. Có một lần, mommy của cô bé hỏi: "Mắt dùng để làm gì?" Bé gái đáp: "Để nhìn các thứ." Mommy lại hỏi: "Tai dùng để làm gì?" Cô bé nói: "Để nghe." Mommy lại hỏi: "Thế còn miệng?" Bé gái nói: "Để ăn các thứ!" Mommy lại hỏi: "Còn mũi thì sao?" Bé gái bèn trả lời: "À, để ngoáy gỉ mũi."

Bây giờ Sư Tôn sẽ nói bí mật của Diệu Cát Tường Hữu. Sau khi đã minh tâm kiến tính thì ngài cũng đến Thi Đà Lâm ở Bodhgaya để truyền thụ Phật pháp, chính là Bodhgaya nơi có cây bồ đề mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã thiền định đó, là khu rừng Thi Đà Lâm nằm về phía tây. Diệu Cát Tường Hữu ở đó truyền pháp độ chúng sinh, khi viên tịch thì ngài ấy hóa thành cầu vồng. Tôi nói cho mọi người biết, có hai vị Diệu Cát Tường Hữu. Sau khi Diệu Cát Tường Hữu viên tịch, pháp thân của ngài ở Áo Minh thiên cung đột nhiên cảm thấy nhiệm vụ còn chưa hoàn thành, ngài vẫn còn phải đi độ một người cách thời đại nữa. Người này chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Khi Diệu Cát Tường Hữu nhập niết bàn, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi ấy còn chưa thành tựu, nhưng Diệu Cát Tường Hữu biết tương lai Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sẽ có thành tựu rất lớn, do vậy, ngài phải đến thế giới Ta Bà lần nữa. Bởi vậy, pháp thân của ngài thật sự đã từ Áo Minh thiên cung hạ giáng, hạ giáng trên một bông hoa sen, hoa sen vốn đang khép lại, nhưng vì ngài hạ giáng ở bên trong nên hoa sen từ từ mở ra, bên trong là một baby, một cơn gió thổi qua, đứa bé liền lớn phổng. Đó là ai? Chính là Diệu Cát Tường Hữu sau này, điều này không được ghi lại trong kinh điển.

Tại biển Đạt Lai Quách Khiếu, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hóa sinh thành một baby, Diệu Cát Tường Hữu lại hóa sinh ở bên cạnh ngài, cũng là hóa sinh trong hoa sen, hoa sen nở ra, một cơn gió thổi đến, Diệu Cát Tường Hữu lập tức lớn lên. Vào lúc ấy, ngài bèn thuyết pháp cho đứa bé mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã hóa sinh thành. Ngài đã dạy cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ những khẩu quyết trọng yếu của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Những điều này không được viết trong sách. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ từ lớn lên, Diệu Cát Tường Hữu đã truyền cho ngài pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong bí mật. Chúng ta gọi Diệu Cát Tường Hữu này là Hậu Diệu Cát Tường Hữu, còn Diệu Cát Tường Hữu đầu tiên thì gọi là Tiền Diệu Cát Tường Hữu.

Diệu Cát Tường Hữu từng tập hợp toàn bộ 640 vạn bài kệ của Cực Hỉ Kim Cang phân thành ba bộ, bộ thứ nhất gọi là Tâm Bộ, bộ thứ hai là Giới Bộ, bộ thứ ba là Khẩu Bộ. Tâm chính là heart, giới trong từ kết giới, khẩu thì là kuchi, tôi biết mimi là tai, tôi từng học tiếng Nhật cổ. Còn mọi người thì trẻ tuổi, tôi nói để mọi người biết, những gì tôi học là do bố mẹ tôi chỉ cho. Mọi người đều có một cái miệng to. Ở đây là Khẩu Bộ, còn có Tâm Bộ và Giới Bộ.

Diệu Cát Tường Hữu phân 640 vạn bài kệ thành ba loại để dạy, Tâm Bộ là nói về các vấn đề về "trụ tâm", tâm của bạn làm sao để trụ vững là điều rất quan trọng, là những vấn đề về trụ tâm. Tâm của con người chúng ta rốt cục là ở đâu, chúng ta không biết. Nhưng bạn cần phải tập trung tinh thần, suy nghĩ của mình lại, đây chính là vấn đề của việc trụ tâm, trong Tâm Bộ đều có giải thích. Giới Bộ là nói về rất nhiều nghi quỹ trọng yếu, nghi thức rất trọng yếu rất quan trọng, tu hành Giới Bộ rất tinh tấn, cái này thuộc về phạm vi của Giới Bộ. Ngoài ra, Khẩu Bộ là dạy về các khẩu quyết trọng yếu.

Bởi vậy, Diệu Cát Tường Hữu đã phân 640 vạn bài kệ của Cực Hỉ Kim Cang thành Tâm Bộ, Giới Bộ, Khẩu Bộ. Hậu Diệu Cát Tường Hữu cũng biến hóa thành một Liên Hoa Đồng Tử để dạy một Liên Hoa Đồng Tử khác, chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Có hai Liên Hoa Đồng Tử sao? Bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là hóa sinh từ hoa sen, nên ngài ấy chính là Liên Hoa Đồng Tử! Ai bảo không phải Liên Hoa Đồng Tử? Hậu Diệu Cát Tường Hữu cũng hoa sinh từ hoa sen, cũng là Liên Hoa Đồng Tử.

Vì thế, Liên Hoa Đồng Tử hiện tại là xuất chúng, có càng ngày càng nhiều Liên Hoa Đồng Tử, đều là hóa sinh từ hoa sen. Hậu Diệu Cát Tường Hữu, vị tổ sư thứ hai của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", chính là Hậu Diệu Cát Tường Hữu hóa sinh từ hoa sen. Liên Hoa Đồng Tử lại dạy cho Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng là hóa sinh từ hoa sen mà. Điều này rất kì diệu đó! Thật ra thì cũng không kì lạ, bởi vì đến Tây phương Cực lạc thế giới rồi thì ai cũng là hóa sinh từ hoa sen, đều là Liên Hoa Đồng Tử. Sau này, nếu có người nói rằng không có Liên Hoa Đồng Tử thì cấm không cho đến Tây phương Cực lạc thế giới. Bởi vì Tây phương Cực lạc thế giới toàn là hóa sinh từ hoa sen mà! Nếu như nói không có Liên Hoa Đồng Tử thì không cần phải đến Tây phương Cực lạc thế giới nữa đâu!

Buổi trưa hôm nay bà Trần Truyền Phương kể một câu chuyện cười về tính trung thực, có một người mẹ trẻ đang dỗ dành một baby, người mẹ nói: "Nếu như con không ngủ thì con đi ngủ cùng với ông nội đi." Baby liền nói: "Con không muốn đi ngủ cùng ông nội." "Nếu con không đi ngủ cùng ông nội thì mẹ sẽ đi ngủ cùng ông nội đó." Ông nội đi qua và đã nghe thấy. "Chà! Muốn đi ngủ cùng ông nội." Cả buổi tối ông không ngủ được. Đến hôm sau tỉnh dậy, ông nội liền nói với con dâu: "Cô không thể dạy con trẻ như vậy được, một đằng thì cô dỗ trẻ con, một đằng thì cô lừa người già, thế là không được."

Đây là một vấn đề về tính trung thực. Bây giờ tôi sẽ kể một câu chuyện cười về tính trung thực, không giống câu chuyện mà bà Trần Truyền Phương kể. Một doanh nhân khởi nghiệp thành công nói với đứa con của mình: "Một người thành công cần có hai điều kiện tất yếu là tính trung thực và trí tuệ." Đứa con hỏi bố: "Tính trung thực là gì?" Người bố nói: "Trung thực nghĩa là biết rõ ngày mai sẽ phá sản thì hôm nay cũng vẫn phải giao hàng hóa đến tay khách hàng, đó chính là trung thực." Đứa con liền hỏi: "Thế cái gì là trí tuệ?" Người bố bèn nói: "Đừng có làm việc ngốc nghếch như vậy." Đây chính là điểm mâu thuẫn giữa trung thực và trí tuệ.

Học Phật không thể bốc phét (khoác lác), bạn học đến cái gì thì bạn nói cái đó, chưa học đến cái gì thì không thể nói về cái đó. Hôm nay, thật sự là trong đầu tôi có Diệu Cát Tường Hữu thì tôi mới có thể nói về Tiền Diệu Cát Tường Hữu và Hậu Diệu Cát Tường Hữu. Diệu Cát Tường Hữu đã học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" như thế nào, cần phải biết được quá trình ngài học pháp. Sau này, đầu tiên tôi cần phải nói về các vị tổ sư, bởi vì sau Diệu Cát Tường Hữu là Cát Tường Sư Tử (Shri Singha), sau Cát Tường Sư Tử là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Giới thiệu xong về bốn vị tổ sư này thì mới đi vào chủ đề của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ".

Vì thế trước khi đi vào chủ đề, tôi sẽ giảng về bốn vị tổ sư chủ yếu trước. Một người là Cực Hỉ Kim Cang, là tổ sư đầu tiên tại nhân gian. Diệu Cát Tường Hữu là tổ sư thứ hai tại nhân gian. Cát Tường Sư Tử là tổ sư thứ ba tại nhân gian. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là tổ sư thứ tư tại nhân gian. Đây là bốn vị tổ sư quan trọng nhất. Thật ra, trong pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" không chỉ có mấy vị này, bởi vì có rất nhiều người học, rất nhiều học sinh, nhưng thật sự trở thành thế hệ tổ sư, độ cực kì nhiều chúng sinh thì chỉ có bốn vị này, thế nên bốn vị này tương đối quan trọng. Vì thế nên tôi cũng mới giới thiệu cùng mọi người về bốn vị tổ sư này.

Mẹ hỏi con trai: "Con à! Năm nay con sáu tuổi rồi, hoạt bát hiếu động, vô cùng đáng yêu, giống như chú hổ con vậy." Con trai nói: "Hây hây hây! Con là hổ con, thế mẹ là gì?" Mẹ nói: "Mẹ là mẹ của con." Con trai nói: "Không đúng, phải như bố thường nói, mẹ là hổ cái." Cách xưng hô lẫn nhau, hổ con, hổ mẹ thì đều rất vĩ đại đó.

A nói với B: "Trong đời tôi chỉ cầu xin thượng đế làm một việc, không biết thượng đế có thể làm được không?" A nói: "Tôi chỉ cầu xin tôi không chết." Không thể nào! Đây là việc không thể nào có, cầu bất tử là không thể được, con người đều phải chết mà. Con người đến lúc chết thì vạn sự đều ngừng, tất cả đều chẳng còn gì, yêu gì, hận gì, bao nhiêu tiền, nghèo ra sao, có bao nhiêu quyền thế… cũng chẳng có tác dụng gì. Người học Phật cần hiểu điều này, vì vậy cũng không nên quá nặng nề mọi thứ. Nói dễ nghe một chút thì là biết rằng cái mà ta có chỉ là nhất thời, nghĩa là lúc này ta sống được tốt là được, sống được thiện là được, ta thật sự tu Phật pháp là được, ta thật sự làm việc thiện là được, ta thật sự phát bồ đề tâm là được, ta thật sự tu một đàn pháp là được, ta thật sự đang trì chú là được, ta nghiêm túc đọc một cuốn sách thiện là được.

Chúng ta chỉ có thể như vậy. Tất cả những thứ khác đều nên xem nhẹ. Giống như Bill Gates, bây giờ ông ấy cũng biết rồi, kiếm tiền chẳng có ý nghĩa gì cả, ông ấy không muốn làm chủ tịch của Microsoft, ông ấy về hưu, để cho người khác đi làm việc vất vả, ông ấy biết rằng kiếm nhiều tiền hơn cũng không có tác dụng gì. Ông ấy lập hội từ thiện, ông ấy cũng giúp đỡ người khác, hơn nữa còn giúp rất nhiều người nữa. Ông ấy biết rằng sẽ đến một ngày tới lượt ông ấy, ông ấy cũng biết sẽ chẳng có được thứ gì. Bởi vậy, người học Phật giống như tôi vừa nói ở trên, mọi người làm đúng theo như vậy, biết rằng mọi thứ chỉ là nhất thời, tất cả mọi thứ bạn đều rất hoàn mĩ, rất thiện, rất thanh lương, rất thanh tịnh, như vậy là được rồi. Những thứ khác thì đừng quản lo. Om mani padme hum.

### Bài giảng số 6

**Shri Singha - vị tổ sư nhân gian thứ ba của pháp Đại Viên Mãn là tộc người Đảng Hạng thời Tây Hạ**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 29 tháng 6 năm 2013.)*

Vị tổ sư thứ ba của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" chính là Sư Lợi Tinh Ha (Shri Singha). Theo những lời đồn đại phổ thông thì ngài là người Hán, nghĩa là một người Đông Thổ. Thế nhưng ngài ấy cũng sống ở Thiên Trúc, chính là Ấn Độ. Rất kì lạ, vì sao ngài ấy ở Đông Thổ, lại cũng ở Ấn Độ được?

Trong truyền thuyết, vị tổ sư thứ ba của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là người Hán, ngài cũng có một tên gọi của người Hán, gọi là Tống Huệ Thọ, ngoài tên gọi này ra thì những lời đồn đại khác cũng rất nhiều. Thật ra ngài không phải là người Hán, Sư Tôn biết điều này, ngài là người Tây Hạ, sinh trưởng tại Cam Túc, ngài là tộc người Đảng Hạng.

Người của vương triều Tây Hạ gọi là tộc người Đảng Hạng, trong số đó có một người là Tống Huệ Thọ, từ nhỏ đã rất yêu thích Phật pháp, hiểu biết rất nhiều loại ngôn ngữ, hiểu ngôn ngữ Đảng Hạng. Bởi sinh ra ở Cam Túc nên ngài hiểu một chút tiếng Tạng, cũng hiểu một chút tiếng Phạn. Như tôi vừa nói, ngài ấy đã học thanh minh <span className="note-blue">[thuyết minh về ngôn ngữ văn tự]</span>, nghĩa là trên phương diện ngôn ngữ, ngài đã học nhiều ngôn ngữ của các nước, bao gồm tiếng Phạn, tiếng Tạng, tiếng Hán, tiếng Tây Hạ, và cả chữ viết của Tây Hạ, ngài ấy đều biết hết.

Ngài ấy cũng học Ngũ minh, từ nhỏ đã thích Phật học. Ngài đã học nội minh, cũng học phương pháp chữa bệnh, chính là y phương minh, cũng học cả nhân minh, nghĩa là nhân quả và học logic. Những gì mà ngài ấy học chính là Ngũ minh: nhân minh, thanh minh, nội minh, công xảo minh, y phương minh. Ngài ấy cũng đã học rất nhiều kĩ thuật, rất hiếu học, vô cùng thông minh, ngài rất muốn học Phật pháp sâu hơn nữa. Do vậy, ngài đã từ Cam Túc đi theo con đường tơ lụa mà sang đến tận Afghanistan. Khi ngài đến được Afghanistan thì đột nhiên Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện.

Các vị cổ nhân khi xưa đều có thể nhìn thấy Bồ Tát. Bạn xem, Cực Hỉ Kim Cang nhìn thấy Kim Cang Thủ Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát đã tác động lên não bộ của ngài, khiến ngài biết rằng ngài ấy vốn là Thắng Tâm thiên tử, mở ra toàn bộ pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", thế là ngài lập tức hiểu ngay về "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Ở đây là Kim Cang Thủ Bồ Tát giúp ngài khai mở, ngài cũng nhìn thấy Bồ Tát. Vị tổ sư thứ hai là Diệu Cát Tường Hữu cũng là do Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến chỉ bảo cho ngài cần mau mau đi bái Cực Hỉ Kim Cang làm thầy. Ngài ấy cũng nhìn thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Sư Lợi Tinh Ha ở một nơi trên đất Afghanistan đã nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện nói với ngài rằng: "Ngài cần phải đi tìm Diệu Cát Tường Hữu, ở chỗ ngài ấy có Phật pháp thứ đệ viên mãn thật sự." Quan Thế Âm Bồ Tát nói với ngài một lần. Sư Lợi Tinh Ha nghĩ: "Phật pháp hiện nay của ta chưa phải là hay nhất, nên đi đến nơi nào đây?" Ngài ấy muốn đi tìm cầu Phật pháp viên mãn nhất, nhưng ngài ấy chỉ hiểu Phật pháp thông thường. Ngài ấy muốn biết Phật pháp sâu hơn nữa, cái gọi là Ngoại mật, Nội mật ngài ấy đều chưa học, huống hồ là pháp cửu thứ đệ viên mãn nhất. Cái gì mà A Nỗ, A Để, Maha Yoga, căn bản là ngài chẳng hiểu.

Vì thế, ngài muốn học Ngoại mật và Nội mật, ở đâu có thể học được Phật pháp này? Chính là Ngũ Đài Sơn. Vì sao có thể học Phật pháp ở Ngũ Đài Sơn? Bởi vì khi Phật pháp từ Ấn Độ truyền đến Trung Thổ thì đầu tiên là truyền tới Ngũ Đài Sơn. Vì thế, Sư Lợi Tinh Ha từ Cam Túc vùng Tây Hạ đã đến Ngũ Đài Sơn ở Sơn Tây. Ngài ấy bái một vị sư phụ, vị sư phụ này hiểu về Mật pháp, thế là ngài đã học Ngoại mật và Nội mật, vị sư phụ này tên là Bối Lạp Ca Địa, việc này thật kì diệu. Sau khi ngài học xong, Quan Thế Âm Bồ Tát lại hiển hiện lần thứ hai, nói rằng: "Ngài hãy mau chóng đến Thi Đà Lâm ở Sơ Sa Châu tại Ấn Độ." Đây chính là Thi Đà Lâm ở một nơi gọi là Sơ Sa Châu thuộc phía Tây của Bodhgaya. Đi đến nơi đó có thể học được pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" chân chính, là Mật pháp viên mãn nhất.

Quan Thế Âm Bồ Tát đã xuất hiện lần thứ hai nói cho ngài biết rồi, Sư Lợi Tinh Ha liền rời khỏi Trung Thổ, rời khỏi Ngũ Đài Sơn, đi một mạch đến Thi Đà Lâm ở Sơ Sa Châu ở phía tây Bodhgaya. Ở đó thì ngài đã gặp được Diệu Cát Tường Hữu, và ngài đã ở lại đó học pháp. Ngài đã học pháp tại đó 25 năm, học pháp thật sự là rất không đơn giản. Năm xưa, Atisa tôn giả từ Ấn Độ đến Sri Lanka, sau đó lại đến Jambi Indonesia để học pháp, ngài học pháp cùng Kim Châu Đại Sư, đã học bao nhiêu năm? 12 năm, không sai. Sư Lợi Tinh Ha học pháp ở chỗ của Diệu Cát Tường Hữu 25 năm, Atisa tôn giả học cùng Kim Châu Đại Sư 12 năm. Sư Tôn từng đến Jambi ở Indonesia rồi, Sư Tôn cũng đã đến Bodhgaya rồi. Thế còn Tây Hạ, rất nhiều kiếp trước, Sư Tôn đã ở Tây Hạ, tất cả những nơi này đều có một chút liên hệ với tôi. Do vậy tôi mới biết ngài ấy là tộc người Đảng Hạng ở Tây Hạ, không phải là người Hán đích thực. Điều này chỉ có tôi biết, chỉ có tôi giảng, người khác không biết.

Lại nói, vị đầu tiên xuất hiện tại nhân gian để dạy pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cho lão tổ sư Cực Hỉ Kim Cang là Kim Cang Thủ Bồ Tát, chỉ thị cho lão tổ sư thứ hai Diệu Cát Tường Hữu mau đi học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, chỉ thị cho lão tổ sư thứ ba Sư Lợi Tinh Ha là Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong Mật giáo, ba vị này là Tam Hộ Chủ. Bạn không cảm thấy kì lạ sao? Vì sao không phải là Địa Tạng Vương Bồ Tát? Vì sao không phải là Phổ Hiền Bồ Tát? Vì sao không phải là Trừ Cái Chướng Bồ Tát? Vì sao không phải?

Bởi vì các vị hiển hiện cần thuộc về Mật giáo, do vậy mà ba vị hộ chủ của Mật giáo xuất hiện, vì cần học Mật giáo nên ba vị hộ chủ đã xuất hiện, điều này chỉ có Sư Tôn biết thôi. Quan Thế Âm Bồ Tát đại diện cho từ bi, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đại diện cho trí huệ, Kim Cang Thủ Bồ Tát đại diện cho pháp lực, tổng hợp của ba điều này chính là Kim Cang Tát Đỏa. Kì thực Tam Hộ Chủ đều là do Kim Cang Tát Đỏa hóa hiện ra.

Do vậy, Kim Cang Tát Đỏa mới là tổ sư chân chính của Mật giáo. Điều này chỉ có Sư Tôn nói, người khác không hiểu, người khác không biết. Kim Cang Tát Đỏa là một vị Bồ Tát rất vĩ đại, ngài ấy là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, trung ương Tì Lô Giá Na Phật, tây phương A Di Đà Phật, đông phương A Súc Phật, nam phương Bảo Sinh Phật, bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật, Ngũ Phật đều là Phật ở địa thứ 13, tổng hợp của Ngũ Phật chính là Kim Cang Tát Đỏa. Kim Cang Tát Đỏa lại phân ra thành Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Kim Cang Thủ Bồ Tát, sự hóa hiện này là vô tận không dừng, vô cùng vĩ đại, và cũng có truyền thừa.

Có một người bị vợ đánh, nguyên nhân là vì đã đọc trộm một cuốn sách, cuốn sách này tên là "Dạy bạn cách đánh vợ", kết quả là bị vợ phát hiện ra, liền đánh cho một trận. Phía sau cuốn sách có ghi chú: "Người đọc cuốn sách này chắc chắn sẽ bị vợ đánh."

Ý của tôi muốn nói rằng Phật và Bồ Tát hóa hiện tới hóa hiện lui,  bạn không thể hiểu được nhân duyên của các vị đâu. Câu chuyện cười tôi vừa kể có nghĩa là, vì bạn đọc cuốn sách "Dạy bạn cách đánh vợ", thế rồi, vợ chắc chắn sẽ đánh bạn, đây là một logic, một mối quan hệ nhân quả.

Nói cách khác là sự hóa hiện của Phật Bồ Tát đều có mối quan hệ nhân quả. Ba vị lão tổ sư chính là như vậy. Sư Lợi Tinh Ha đến Sơ Sa Châu ở Thiên Trúc để tìm Diệu Cát Tường Hữu, ở lại đó 25 năm. Khi Diệu Cát Tường Hữu sắp viên tịch nhập niết bàn, ngài đã hóa thành một dải cầu vồng, từ phía trên linh cốt tháp ở Sơ Sa Châu bay lên. Sư Lợi Tinh Ha nói: "Con còn chưa chứng ngộ mà! Sư phụ, thầy mau truyền cho con một khẩu quyết đi." Từ trong cầu vồng lại xuất hiện Diệu Cát Tường Hữu, ngài đã đặt vào tay Sư Lợi Tinh Ha một cuốn sách nhỏ có viết khẩu quyết ở trong đó, Sư Lợi Tinh Ha mở ra xem thì ngài hoàn toàn hiểu tất cả, đã khai ngộ rồi. Vị tổ sư thứ ba ở nhân gian của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" đã khai ngộ như vậy đó, ngài theo sư phụ học pháp 25 năm.

Đệ tử Chân Phật Tông của chúng ta rất cừ, hỏi: "Anh học pháp bao năm rồi?" "Ba năm, chẳng có chút cảm ứng gì cả, tôi muốn bỏ đi rồi." Người ta học 25 năm, đương nhiên, ở Ấn Độ nửa năm tính là một năm, do vậy 25 năm cần phải chia đôi, nhưng thế thì cũng vẫn là thời gian rất dài, đều đòi hỏi công phu nhiều năm. Chúng ta thường nói "bước lên đài mười phút, dưới đài luyện mười năm". <span className="note-blue">[chỉ có khổ luyện thì mới có thành công]</span>

Bạn xem, các trò diễn xiếc của Trung Quốc rất lợi hại. Quả bóng đặt trên đầu rơi xuống vai, rồi lại rơi xuống tay, sau đó lại chuyền qua bên này, chuyền qua chuyền lại, lại chuyền ra sau lưng như thế này, bóng vẫn không rơi xuống đất, chỉ có chuyền tới chuyền lui trên thân, lăn tới lăn lui vẫn ở trên thân, luyện như thế suốt 10 năm, thế nhưng lên biểu diễn thì chỉ mất 10 phút thôi! Những trò xiếc ấy luyện tập từ nhỏ tới lớn, "bước lên đài mười phút, dưới đài luyện mười năm", rất không đơn giản.

Chúng ta học Phật pháp cũng như vậy, nếu không mài dũa từ nhỏ, giống như Sư Tôn đã mài dũa hơn 40 năm rồi! Cuối cùng mài dũa nên một con người, vẫn còn không dám nói bản thân mình có cái gì, sư phụ dạy chúng ta cần khiêm tốn một chút, cần hạ giọng một chút. Sư phụ thường nói: "Anh cần hạ giọng một chút, bởi vì tiếng tăm của anh đã quá lớn rồi, trở thành bia bắn tên của mọi người rồi." Vì thế cần khiêm tốn một chút, điều này là đúng đó, tiếng tăm quá lớn, giống như Jesus Christ ra ngoài hoằng pháp, ngài vừa xuất hiện đã hiển hiện mười loại đại thần thông, ngài ấy có thể đi trên mặt biển.

Thánh Peter vừa trông thấy Jesus đi trên mặt biển liền nói: "Tôi cũng có thể đi trên mặt biển được không?" Jesus nói: "Chỉ cần ngài có tín tâm, ngài sẽ có thể đi trên mặt biển." Thánh Peter liền bước tới biển, và thật sự có thể đứng trên mặt biển. Đó là Jesus đã khiến cho thánh Peter dựa vào tín tâm của chính ông ấy để mà bước trên mặt biển. Lúc ấy thì Thánh Peter trông thấy sóng biển to như vậy, thân thể lắc tới lắc lui, ông ấy càng lúc càng sợ, sau đó đã đánh mất tín tâm, tùm! Thế là rơi xuống biển. Trong Kinh Thánh có ghi lại như vậy.

Tuy nhiên, Jesus Christ đã hiển hiện thần thông quá lớn, ví dụ như có một người bị tâm thần đi qua, ngài liền kêu người bị tâm thần kia "bình thường đi", sau đó kêu những ma quỷ bên trong người bị tâm thần "mau biến đi", thế là những con ma quỷ liền đi hết, rất nhiều ma quỷ đã chạy đi và nhập vào những con lợn, những con lợn ấy đều bị điên, trở thành crazy pigs (lợn điên), toàn bộ đều nhảy xuống vách núi mà chết. Những thần tích mà Jesus đã tạo ra rất lợi hại, ngài có thể kêu người chết sống lại, có một người đã chết mấy ngày rồi, người đó là đệ tử và cũng là bạn của Jesus, Jesus đi thăm người đó, thần thông mà ngài hiển hiện này mới lợi hại, bởi vì người này đã chết ba, bốn ngày rồi, toàn thân đã quấn vải kín rồi.

Jesus đi đến nơi đó, hỏi rằng: "Ôi? Cậu ta làm sao vậy?" Người ta nói: "Cậu ta đã chết ba ngày rồi." Jesus nói: "Tôi sẽ gọi cậu ta tỉnh dậy." Jesus liền gọi: "Tỉnh dậy đi." Thế là người đó liền tỉnh dậy, thần thông này của Jesus quá lớn. Do vậy, câu chuyện về đấng cứu thế Messiah đã lan truyền đến mọi người ở khắp các địa phương. Quốc vương La Mã cho rằng ngài là đấng cứu thế Messiah, là vua của vạn vị vua, to hơn cả Đế quốc La Mã.

Vì vậy mà đương nhiên binh lính La Mã đã bắt ngài lại, tiếng tăm quá lớn mà, bởi thế họ mới bắt ngài lại. Ngài mới hoằng pháp ba năm đã bị đóng đinh trên thập tự giá rồi. Sư Tôn hoằng pháp 40 năm, vẫn chưa bị đóng đinh lên thập tự giá là may mắn lắm rồi. Cảm ơn Chúa, cảm ơn Thánh Allah, cảm ơn Jehovah, Sư Tôn vẫn chưa bị đóng đinh vào thập tự giá, thật sự là quá hạnh phúc rồi, MC vừa nãy mới nói rằng: "Niệm hơn một vạn biến Thượng sư tâm chú để Sư Tôn hạnh phúc và vui vẻ."

Sư Tôn nghe vậy thì rất vui mừng. Vì sao vậy? Bởi vì Sư Tôn vốn dĩ rất vui vẻ, vốn dĩ rất hạnh phúc. Có thể hoằng pháp bốn mươi mấy năm mà chưa bị đóng đinh vào thập tự giá, chỉ bị người ta chửi tới chửi lui thôi, như thế là đủ hạnh phúc rồi. Amen! A Di Đà Phật! Thật ra thì cũng giống nhau, A Di Đà Phật và Amen đều tương tự nhau, đều có một chữ "A".

Tôi không cảm thấy cuộc sống của tôi có nhiều ưu phiền hoặc kiểu như vậy. Nếu như có gì phải lo lắng thì đó cũng là việc của Tông Ủy Hội, không phải tôi. Bản thân tôi rất vui vẻ. Còn Tông Ủy Hội thì lo lắng cái gì? Họ tự lo việc của họ, tôi không quản. Sư Tôn đã tu đến vô sinh pháp nhẫn rồi. Thế nào gọi là vô sinh pháp nhẫn? Hai chữ "vô sinh" là rất quan trọng, bạn chỉ cần hiểu được hai chữ "vô sinh" thì bạn đã có thể vui vẻ rồi. Bạn không hiểu hai chữ "vô sinh" thì bạn vĩnh viễn đau khổ.

Bạn còn cho rằng "hữu sinh" thì đảm bảo bạn còn đau khổ. Hễ ốm là bạn đau khổ. Hễ đau răng là bạn đau khổ. Còn "hữu sinh" thì tuyệt đối còn đau khổ. Nếu như bản thân bạn hóa thành "vô sinh" thì bạn sẽ không còn đau khổ, sự chịu đựng này gọi là pháp nhẫn, bạn hiểu được dạng nhẫn nhục này của Phật pháp. Đã khai ngộ minh tâm thì bạn lập tức hiểu được vô sinh pháp nhẫn, người khai ngộ chính là đạt được quả vị vô sinh pháp nhẫn. Nhưng nếu như bạn vẫn không nhẫn được, không có cách nào nhẫn nhục được, thì là bạn vẫn chưa thực tiễn được sự khai ngộ của bạn.

Nói thật lòng, Chân Phật Tông ở nhân gian nhất định cũng cần phải có power (sức mạnh), không thể không có sức mạnh được. Vì Chân Phật Tông ở nhân gian độ chúng sinh, đối với những người chặn đứt con đường giác ngộ của người khác thì đương nhiên Chân Phật Tông cần pháp huy power của mình. Anh chặn đứt huệ mệnh của người khác đương nhiên sẽ có quả báo. Tất cả các đệ tử Chân Phật Tông của chúng ta phải đoàn kết nhất trí, lập chí hướng thành Phật, hộ trì Chân Phật Mật Pháp, liên tục kéo dài không ngừng. Đây là điều nhất định phải làm được, nên cần hộ trì điều này.

Đương nhiên, chúng ta không thể giống như đạo Hồi có quân đội đánh nhau khắp nơi. Chúng ta không phải Hồi giáo, chúng ta cũng bảo vệ tăng đoàn của mình, bảo vệ và kéo dài huệ mệnh của Chân Phật Tông, đây là điều nên làm, mọi người nên đoàn kết nhất trí, cần nhận thức rõ, cần biết rằng đừng gây nên sự tình gì trong đoàn thể của mình. Tôi thì cho rằng Chân Phật Tông ở nhân gian, chúng ta ở nhân gian tu pháp, chúng ta là một tăng đoàn, tăng đoàn và tất cả những cư sĩ tại gia kết hợp lại, không thể chia rẽ.

Đối với người cản trở Phật pháp lưu truyền và chặn đứt huệ mệnh của người khác, cần phải đưa ra "lời nói đanh thép" và sức mạnh của bạn thì tông phái của chúng ta mới có thể sinh tồn được, bằng không thì cũng lại chia năm xẻ bảy, không chỉ là chia năm xẻ bảy mà toàn bộ đều lụi bại hết. Những gì chúng ta sử dụng đương nhiên là Phật pháp và pháp luật ở nhân gian, đó là những gì chúng ta có thể dùng. Chúng ta thuộc chính phái thì phải dùng phương pháp của chính phái để giải quyết các vấn đề. Như vậy có đúng không? (Đúng!) Như vậy có phải không? (Phải!) Cần kêu gọi điều này, cần làm, bỏ tiền bỏ sức đều là điều nên làm.

Mặc dù cá nhân tôi, bản thân đã tu đến quả vị vô sinh pháp nhẫn, nhưng tôi cảm thấy Chân Phật Tông ở nhân gian, có một số việc vẫn phải dùng phương pháp ở nhân gian để ngăn chặn thì mới là chính xác. Sư Tôn là người không quan tâm, có sỉ nhục tôi thế nào tôi cũng vẫn rất hạnh phúc, rất vui vẻ. Tôi sẽ chẳng làm sao cả, có vấn đề gian nan trước mặt tôi tôi cũng phớt lờ. Con người tôi là như vậy, hơn nữa vì bản thân tôi tu đến "vô sinh", do vậy con người tôi đã đưa ra một lời thề: "Bản thân tôi không kiện người ta."

Tuy nhiên, Tông Ủy Hội và Hộ Pháp Kim Cang, Phật Bồ Tát ngồi ở đây nhìn, các vị sẽ không kiện người ta, Thất Phật ở trên đầu chúng ta, mỗi vị đều ngồi rất ngay ngắn, các vị sẽ không kiện người ta, các vị căn bản là không kiện được. Nhưng đều có Kim Cang Hộ Pháp ở đây, Kim Cang Lực Sĩ, Vi Đà, Già Lan, còn có tất cả các thần Kim Cang ở đây, các vị đều đang hộ trì cho Phật pháp. Đây chính là đạo lí mà! Sư Tôn đã chứng vô sinh pháp nhẫn của bát địa, nếu như mọi người khai ngộ thì sẽ biết thế nào là vô sinh pháp nhẫn. Mọi người nói khai ngộ chính là "vô sinh", không sai! Khai ngộ chính là "vô sinh". Thế nhưng, vô sinh là trạng thái gì? Bản thân bạn cần đi tìm hiểu.

Điều tôi muốn hỏi bạn là, vì sao lại là "vô sinh"? Đây mới là khai ngộ. Bạn cần hiểu được hai chữ "vô sinh", vì sao lại là "vô sinh"? Nếu như bạn hiểu được vì sao lại là "vô sinh", bạn mới được gọi là khai ngộ. Không phải nói là: "Tôi hiểu rồi, khai ngộ chính là vô sinh." Nhưng vì sao là vô sinh, bạn cần giải thích rõ ràng thì mới gọi là khai ngộ đó! Khai ngộ là vô sinh và cũng là vô tử, khai ngộ cũng là thường lạc ngã tịnh, đây mới gọi là khai ngộ. A Để Du Già cao sâu nhất của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", đến cuối cùng tôi sẽ dạy bạn khẩu quyết, thì bạn sẽ có được vô sinh pháp nhẫn, bạn lập tức minh tâm kiến tính.

Sư Lợi Tinh Ha là một vị tổ sư rất vĩ đại, ngài là người Tây Hạ, bản thân ngài sau khi đã học hiểu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thì có rất nhiều người theo ngài học pháp. Người đầu tiên theo ngài học pháp chính là Ca Nạp Tô Trá, người thứ hai theo ngài học pháp là Tất Mã Lạp Mễ Trá, người thứ ba chính là vị tổ sư được truyền dạy những điều quan trọng nhất - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Sau khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng, Tây Tạng đã phái năm người học Phật đi tìm Sư Lợi Tinh Ha, kết quả là có một người học thành công, người này là Bì Lư Già Na (Vajrasana).

Sư Lợi Tinh Ha đã truyền dạy cho rất nhiều đệ tử, trong số đó Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị Thượng sư thứ tư của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" vĩ đại nhất. Vì sao trong lịch sử Đường triều không có Tống Huệ Thọ - Sư Lợi Tinh Ha là một vị tổ sư vĩ đại như vậy cơ mà? Bởi vì ngài ấy không phải là người của Đường triều, mà là người của Đại Bạch Cao Quốc Tây Hạ bên cạnh Đường triều.

Bản thân Sư Lợi Tinh Ha thường xuyên đi đi về về giữa Ngũ Đài Sơn và Ấn Độ. Vì sao ngài ấy có thể thường xuyên đi về như vậy? Thần thông của ngài ấy rất lợi hại, ngài ấy có thể cầm một nắm cát, thổi một hơi khí, tung cát vào hư không, thế là người của ngài liền đi vào trong cát, rất thần tốc đã có thể đến Ngũ Đài Sơn rồi, rồi lại rất thần tốc đã trở về Ấn Độ rồi. Ngài ấy có thể đi lại trong đất. Pháp thuật này gọi là "độn thổ", Trung Quốc mới có, còn người phương Tây chưa bao giờ nghe qua độn thổ là cái gì. Ngài ấy có thể đi lại dưới mặt đất, hơn nữa tốc độ còn cực kì nhanh. Trong "Phong Thần Bảng" có một người gọi là Thổ Hành Tôn, người này cũng có thể đi lại dưới mặt đất.

Sư Tôn cũng từng nằm mơ giống như vậy, chỉ cần tôi hóa thân thể mình thành hư vô, xuyên xuống mặt đất, hai mắt nhắm lại, muốn đến nơi nào thì tôi liền xuất hiện ở nơi đó. Chỉ cần tôi nghĩ đến nơi nào, chỉ cần hai mắt tôi nhắm lại, hóa thân thể thành hư vô, liền độn nhập vào trong đất, thân thể lập tức có thể xoay tít. Muốn đến nơi nào? Muốn đến Đài Loan. Viu! Khi trồi lên thì đã ở ngay tại nhà ở Đài Loan, tôi đã xuất hiện trong nhà mình ở Đài Loan rồi. Hoặc là xuất hiện tại nhà đệ tử ở Đài Loan, hoặc xuất hiện tại rất nhiều nơi trên thế giới, tôi đều có thể xuất hiện.

Tuy nhiên, tôi nói để mọi người biết, đây là ở trong mơ, là ở trong mơ tôi có thể làm được. Tôi cũng thường có những giấc mơ bay đi bay lại và những giấc mơ đi xuyên qua mặt đất, khi vừa xuống lòng đất thì thân thể dường như xoay tít, trong đầu tôi nghĩ: "Hây! Mình đến Singapore vậy!" Chỉ một suy nghĩ thì người đã xuất hiện tại Singapore rồi, muốn gặp người nào là gặp được người đó. Thế nhưng đó đều là ở trong mơ.

Kẻ uống rượu thì nói: "Vũ trụ trong hũ rượu lớn." Tôi thì là: "Vũ trụ trong giấc mơ lớn." Trong mơ, vũ trụ của tôi rất lớn. À! Câu này là "Vũ trụ trong ống tay áo lớn, ngày tháng trong hũ rượu dài", đúng rồi! Sư Tôn cũng biết thần toán, là vũ trụ trong ống tay áo đó! Nghĩa là bấm vài cái, trong ống tay áo tính toán một chút, thế là liền biết nên làm thế nào. Người uống rượu thì luôn say sưa, chỉ một lát là hết một ngày, hết hai ngày, chẳng mấy chốc mà qua một năm, ngày ngày uống rượu, ngày tháng rất dài. Say xỉn mụ mị, không được như vậy. Người học Phật không thể như vậy, một ngày không tu thì một ngày là ma. Một ngày không tu hành thì ngày đó bạn chính là ma. Do vậy, chúng ta phải tu hành vững bền và chắc chắn.

Sư Lợi Tinh Ha phân pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" thành bốn loại phương pháp Ngoại mật, Nội mật, Bí mật, Cực mật. Vì thế, những người học Phật pháp ở Tây Tạng ngày nay đều biết đến bốn loại phương pháp Ngoại mật, Nội mật, Bí mật, Cực mật này. Sư Lợi Tinh Ha cũng đã giảng hai Nyingtik, một là "Không Hành Nyingtik", chính là pháp mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền cho Yeshe Tsogyal, Nyingtik chính là tâm yếu khẩu quyết quan trọng nhất, còn gọi là "tâm trong tâm" <span className="note-blue">[cốt lõi của cốt lõi]</span>. Ngoài ra, còn có một Nyingtik nữa, chính là Vima Nyingtik, là Nyingtik của một vị tổ sư khác. Như vậy, Sư Lợi Tinh Ha đã truyền hai Nyingtik, ngài ấy biết về hai khẩu quyết này, sau này chúng ta sẽ nói tới.

Chơi bài cũng có khẩu quyết đó. Play mahjong đánh mạt chược cũng có khẩu quyết, có kĩ thuật và phương pháp đó. "Chơi bài chơi được tốt, chứng tỏ đầu óc tốt." Chơi bài cũng cần có đầu óc đó. "Đánh bài đánh rất kinh, chứng tỏ suy nghĩ đỉnh." Suy nghĩ cũng phải rất rõ ràng. "Đánh bài rất vi tế , chứng tỏ hiểu kinh tế." "Chơi bài không sợ gian, chứng tỏ người mạnh dạn." Không sợ bị dọa. "Thắng cũng không phát ngôn, chứng tỏ người tinh khôn. Thua cũng không đầu hàng, vẫn cạnh tranh ngang tàng." Tinh thần cạnh tranh vẫn mạnh mẽ. "Thắng thua vẫn tỉnh bơ, chứng tỏ rất có cơ." Có sự kiềm chế là đúng rồi.

"Đánh bài có lắm chiêu, chứng tỏ tố chất siêu. Đánh bài thích đấu đá, chứng tỏ thanh niên hóa. Dám đánh một thẻ đơn, chứng tỏ có hậu trường. Thắng thua đều không bỏ, có thể thành sừng sỏ." Sừng sỏ nghĩa là người đứng đầu đó! Sư Tôn thì thắng thua đều bỏ đi, vì đã thắng chắc rồi nên tôi chạy thôi. Thua thì tôi cũng mau mau chạy để không bị thua quá nhiều. "Các đồng chí thích chơi bài, có hy vọng rồi, cố lên!" Những câu nói đùa này nghĩa là sao? Là một sự khéo léo, đánh bài cũng là một sự khéo léo, đánh cho khéo, đánh cho hay, đánh cho tuyệt vời thì mới là cao thủ đánh bài.

Vợ hỏi chồng: "Vì sao mỗi lần rửa tay xong đều cảm thấy tay rất trắng nhỉ?" Chồng nói: "Vì tay bị úng nước mà." Vợ hỏi: "Vì sao mỗi lần rửa chân xong cũng đều cảm thấy chân rất trắng?" Chồng nói: "Vẫn là vì chân bị úng nước mà." Vợ hỏi: "Vì sao mỗi lần tắm xong đều cảm thấy thân thể mình rất thon thả nhỉ?" Chồng nói: "Là vì não của em bị úng nước rồi." Cái này rất có logic đấy.

Đôi khi, chúng ta nhìn nhận sự việc là vấn đề ở góc độ. Hai người đang đứng nói chuyện như thế này, bạn nhìn từ đằng sau, bạn cho rằng hai người họ đang kiss hôn nhau, đây là vấn đề góc độ, sự khác biệt trong góc độ thì bạn sẽ nhìn lầm, chỉ là hai người đang đối thoại thôi, chứ không phải đang kiss. Vì thế, đừng hiểu lầm, rất nhiều sự việc là vấn đề của góc độ.

Bạn cho rằng mấy ngày nay ăn bớt đi một bữa cơm, thân thể bạn đã trở nên thon thả hơn chăng? Thế thì não bạn bị úng nước rồi, khác rất xa đó, là vấn đề góc độ. Con gái hỏi bố: "Bố ơi! Bố ơi! Con là gì của bố?" Con gái cho rằng bố sẽ trả lời: "Con là người tình bé bỏng sweet heart của bố, con là cục cưng của bố!" Nào ngờ, bố của cô bé quay đầu lại nói một cách ai oán: "Con là "Hình phạt cho sự bốc đồng" của bố." <span className="note-blue">[Tên một bài hát]</span> Là vấn đề góc độ. Bố của cô bé nói cũng đúng, sau khi bốc đồng thì hình phạt chính là sinh ra cô bé.

Chúng ta học Phật pháp cũng cần phải dùng góc độ bao quát để nhìn nhận. Như hôm nay tôi nói, góc độ của Tông Ủy Hội và góc độ của Sư Tôn là khác nhau. Góc độ của Sư Tôn là không quan tâm, không kiện cáo người ta. Nhưng theo góc độ của Tông Ủy Hội thì cần phải hộ trì cả tông phái. Sư Tôn nói không kiện người ta, nhưng cũng không phải là bảo tất cả đệ tử Chân Phật Tông đều không kiện người ta, mà đều để cho người ta kiện. Bạn nói xem, bạn không kiện người ta, nhưng người ta kiện bạn đó! Còn gì nữa? Một vấn đề khác, khi vợ chồng ly hôn, thì phải làm sao? Bạn nói xem, bạn học Phật rồi, thì tất cả đều cho đối phương hết, bạn có sẵn lòng không? Người ta sẽ lấy hết đi đó! Bạn phải làm sao? Vì thế, trên góc độ này, bạn cũng phải kiện tụng thôi.

Có đúng không? Góc độ của Sư Tôn là không quan tâm, vô sinh pháp nhẫn, tôi có thể không kiện người ta. Góc độ của Tông Ủy Hội là cần xem xét bao quát, những người này là những kẻ chặn đứt huệ mệnh của người khác mà! Tông Ủy Hội vì sao lại không ra mặt? Sư Tôn thì không kiện người ta, nhưng Hộ Pháp Kim Cang Tông Ủy Hội thì cần ra mặt đó! Hôm nay những gì tôi nói chính là vấn đề góc độ, học Phật là cần học tính bao quát, Sư Tôn đã là người học được tính bao quát rồi, sau khi Sư Tôn minh tâm kiến tính thì đã phát lời thề "không kiện cáo người ta, cũng không phỉ báng người ta". Sư Tôn chưa bao giờ phỉ báng người ta, cũng không muốn chỉ trích người khác, không muốn. Thế nhưng trên góc độ của Tông Ủy Hội thì cần phải làm như vậy. Đây là vấn đề góc độ. Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi. Om mani padme hum.

### Bài giảng số 7

**Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cùng Sư Lợi Tinh Ha học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" 25 năm**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong đại pháp hội Hộ Ma Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 30 tháng 6 năm 2013.)*

Hôm nay tôi sẽ giảng về Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là một trong tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông chúng ta. Guru Rinpoche của Mật giáo, nghĩa là Thượng sư Rinpoche, nghĩa là vị tổ sư tối cao của tất cả Tạng mật, chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Khi ngài ra đời là năm thứ tám sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn, sinh ra trên biển Đạt Lai Quách Khiếu. Miền bắc của Ấn Độ không có biển, nhưng mà họ gọi tất cả những hồ lớn là biển, vì thế mới gọi là biển Đạt Lai Quách Khiếu. Trên biển Đạt Lai Quách Khiếu mọc đầy hoa sen, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã sinh ra từ hoa sen.

Khi ấy, có một vị vua nước Orgyen ở bắc Ấn Độ đi đến những địa phương khác để tìm kiếm báu vật, trên đường trở về đã được Không Hành Mẫu chỉ thị: "Tại biển Đạt Lai Quách Khiếu có một baby ra đời, ông cần đi đem baby này về nuôi dưỡng." Thế là vị vua này bèn đến biển Đạt Lai Quách Khiếu và thật sự đã trông thấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đúng là có một baby ở đó, đứa bé ở trong một bông hoa sen. Vua bèn ôm đứa bé về, đặt tên là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, bởi vì ngài sinh ra ở trong hoa sen.

Cho nên, Liên Hoa Đồng Tử đều là sinh ra từ hoa sen. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sinh ra từ hoa sen. Còn nữa, lần trước tôi đã nói, sau khi Tiền Diệu Cát Tường Hữu viên tịch thì đã chuyển thế thành Hậu Diệu Cát Tường Hữu, ngài ấy cũng sinh ra từ hoa sen, cũng là Liên Hoa Đồng Tử. Về sau, Hậu Diệu Cát Tường Hữu cũng dạy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có nguồn gốc là thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, là ngữ của A Di Đà Phật, là tâm của Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển thế mà thành. Có thể nói, thân khẩu ý của ngài chính là tổng hợp của thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, khẩu của Phật A Di Đà, ý niệm của Quan Thế Âm Bồ Tát, chuyển thế thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, là hợp nhất. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ nhỏ đã có Phật duyên, ngài ấy từ bỏ vương vị, sau đó đã cạo đầu xuất gia. Ai là người cạo đầu xuất gia cho ngài ấy? Là A Nan tôn giả. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế, là A Di Đà Phật chuyển thế, là Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển thế, kết quả lại là được A Nan tôn giả cạo đầu xuất gia.

Ví dụ kiểu này vào thời hiện đại cũng có. Mọi người biết rằng khi Sư Tôn 43 tuổi, tôi có mái tóc đen và dài, rất là đẹp, tôi rất giữ gìn mái tóc này, mỗi ngày tôi đều soi gương chải tóc đó! Khi ấy tôi luôn mang theo lược bên mình, chải tóc đến khi bản thân mình thấy hài lòng thì thôi, rất tao nhã đó! Thế nhưng khi ấy, Bồ Tát chỉ thị cho tôi: "Đến năm 43 tuổi sẽ xuất gia!" Tôi nói: "Không muốn xuất gia." On Friday night, I can go to tarven, drink wine, go to night club dancing, or go to karaoke singing songs (Tối thứ sáu, tôi có thể đi đến quán rượu, uống rượu, đi đến các câu lạc bộ đêm khiêu vũ, hoặc đi hát karaoke.) It's so good, I don't want to be a monk. (Như thế quá tuyệt, tôi không muốn làm nhà sư.) Kết quả là, năm đó vào một lần tôi đi tắm, tôi vuốt ra được cả một nắm tóc rơi xuống đất, tôi nhìn lại thì thấy trên đầu chẳng còn được bao nhiêu tóc. Tóc rụng rồi, tóc tôi đã trở nên rất thưa. Chẳng còn cách nào, Bồ Tát nói 43 tuổi tôi sẽ cạo đầu xuất gia, tôi xem thời gian thì cũng đúng là 43 tuổi rồi.

Khi ấy, vừa hay có đại hòa thượng Quả Hiền ở Hồng Kông, bây giờ ông ấy cũng già rồi, ông ấy đến Seattle, ông ấy là đệ tử quy y tôi. Khi ấy, tôi lái xe đưa hòa thượng Quả Hiền đến Vancouver Canada, khi ấy Tam Nguyên (Thượng sư Chân Tam Nguyên) ở đó. Đúng vậy không? Là tôi đã lái xe đưa Quả Hiền đi, lái xe hơn ba tiếng đồng hồ đến Vancouver, rồi lại lái xe quay về. Pháp sư Quả Hiền là đệ tử của tôi, ông ấy đã quy y tôi, ông ấy nói với tôi: "Ngày 10 tháng 2 âm lịch là một ngày rất đẹp." Vì sao ngày 10 tháng 2 lại là ngày đẹp? "Bởi vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng cạo đầu xuất gia vào ngày hôm đó." Khi xưa, A Nan tôn giả đã cạo đầu cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tỏa hào quang.

Cũng vào ngày 10 tháng 2 đó, tôi đã để cho đại hòa thượng Quả Hiền cạo đầu cho tôi tại chùa Huệ Tuyền ở Sa Điền Hồng Kông. Phật Thanh đứng trên lầu ở Mật Uyển nói: "Bố ơi đừng cạo đầu!" Nó hét lên: "Bố ơi đừng cạo đầu!" Thế nhưng tóc đã cạo rồi, chẳng có cách nào khác. Hơn nữa nếu như không cạo đầu thì tóc cũng sẽ rụng hết, thế nên cạo luôn cho xong. Quả Hiền đem đến rất nhiều áo cà sa, ông ấy giúp tôi mặc lên bộ quần áo cà sa của Hiển giáo. Tôi soi gương, trông không hẳn là đẹp lắm, nhưng cũng không hẳn là xấu.

Quả Hiền đứng phía sau nói: "Chà! Cạo đầu xong trông rất trang nghiêm đó!" Tôi nghĩ: "Cạo thì cũng cạo rồi! Đợi ông quay về tôi lại hoàn tục." Tôi hỏi ông ấy: "Sau khi ông về Hồng Kông còn đến đây nữa không?" Ông nói: "Còn đến." Còn đến, thế thì tôi xong rồi, nếu như tôi hoàn tục thì không được rồi. Có đúng không? Phải dứt khoát giữ nguyên như thế này. Về sau, ông ấy còn đến mấy lần nữa. Những khoản đóng góp của ông ấy cho Seattle Lôi Tạng Tự là nhiều nhất.

Khi ấy, có tám đại gia, mỗi đại gia bỏ ra 20.000 đô Mỹ, thế nhưng hòa thượng Quả Hiền một mình đã bỏ ra 100.000 đô Mỹ. Thật đó! Nhà tài trợ vàng cho việc xây chùa thật sự là ông ấy. Mọi người hùn tiền lại để mua đất xây chùa, Seattle Lôi Tạng Tự đã được xây dựng nên như vậy đó. Tôi thật sự rất nhớ ông ấy. Tôi đi Hồng Kông, ông ấy đến hỏi tôi: "Sư Tôn, ngài minh tâm kiến tính rồi, rốt cục là cái gì vậy?" Tôi thấy huệ căn của ông ấy rất sâu, ông ấy có huệ căn rất lớn, tôi bèn nói bên tai ông ấy một câu. Ông ấy nói: "Thế thì tôi biết rồi." Pháp sư Quả Hiền bây giờ cũng là một đại hòa thượng đã khai ngộ rồi.

Sau khi A Nan tôn giả cạo đầu cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Sư đã bái rất nhiều sư phụ. Rất nhiều người nói rằng nhiều điều trong sách của Sư Tôn đều được sao chép từ trong các kinh điển. Rất nhiều điều trong sách của Sư Tôn đều được sao chép từ trong Đại Tạng Kinh. Vốn dĩ Phật pháp chính là đọc kinh sách, cảm thấy Phật pháp này rất hay, thì đương nhiên tôi sẽ dùng chúng trong sách. Lấy từ Đại Tạng Kinh không được sao? Đại Tạng Kinh không có bản quyền, bởi vì Đại Tạng Kinh không có tác giả mà! Chỉ có người phiên dịch, do vậy không có bản quyền, ai cũng có thể sao chép.

Mọi người có sao chép Kinh A Di Đà không? Có sao chép Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm không? Có sao chép Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh không? Mọi người đều sao chép mà, đạo văn mà! Thế mà còn nói sách của Sư Tôn đều là sao chép. Những gì giáo viên dạy, từ điển quốc ngữ, có cái nào không phải là sao chép chứ. Lư Thắng Ngạn tôi cũng sao chép, cha mẹ tôi dạy tôi: "Con viết "Lư Thắng Ngạn", đây là tên của con." Tôi liền viết "Lư", thế cũng là sao chép từ cha tôi, mẹ tôi, "Lư Thắng Ngạn" cũng là sao chép. Có thứ nào không phải là sao chép chứ? Không có thứ nào là không phải sao chép.

Phật pháp, bạn sinh ra là đã biết sao? Tôi bảo bạn nhé, bạn sinh ra thì chỉ biết ăn các thứ thôi! Chỉ biết uống sữa, còn thì cái gì cũng không biết. Bản thân chúng ta chính là sao chép mọi thứ của xã hội. Cái gọi là văn chương chính là giống như đem các loại rau, hoa quả, thịt, canh, tất cả bỏ vào xào nấu, xem xem mùi vị ra sao, giống như các nguyên liệu của nồi lẩu thôi! Văn chương chính là như vậy, gom rất nhiều thứ lại, xào nấu thành món ăn, xào nấu ngon thì là văn chương hay, xào nấu dở tệ thì là văn chương dở ẹc, chính là như vậy mà thôi! Bạn cho rằng văn chương đều là những thứ ở trong bụng bạn sao? Tôi nói cho bạn biết, dù có treo ngược bạn lên thì một miếng nước bọt bạn cũng không nhổ ra được đâu!

Đạo văn là gì? Tôi nói cho bạn biết, những thứ ở trong đầu, những thứ viết trên sách, những câu nói của Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta đưa chúng vào sách. Các tác phẩm của mọi thành tựu giả, chúng ta cho rằng có liên quan đến bài viết này, chúng ta liền đưa chúng vào sách. Sau đó, cắt xén thêm bớt, giống như làm thợ may vậy, chỗ nào cần cắt thì cắt bớt, chỗ nào cần nới thì nới ra, kết hợp với hình thể mà mọi người mặc, và thế là ra được bộ quần áo rất đẹp. Cùng một tấm vải, cùng một vật liệu, văn chương đều là những vật liệu giống nhau, tư liệu đều đưa cho bạn rồi, bạn đã gom hết toàn bộ mọi tư liệu rồi, sau đó tổ hợp chúng lại, cắt xén thêm bớt, thế là thành một bài văn chương. Đây mới gọi là sáng tác của chính mình.

Tuy nhiên, chính bạn cần phải có sự sáng tạo, cần tạo ra những thứ mới mẻ. Tôi nói cho bạn biết, trong Phật pháp chỉ cần làm được thứ gì mới thì mọi người sẽ nói bạn là "phụ Phật ngoại đạo" <span className="note-blue">[Chỉ những kẻ nương nhờ Phật giáo, sống trong Phật giáo mà lập ra học thuyết sai lầm, phản lại chính nghĩa của Phật giáo.]</span> "Những điềuu đó không phải do Phật nói." "Do tự anh tạo ra thôi." Sáng tạo cũng không được, sáng tạo cũng bị chửi là "phụ Phật ngoại đạo". Vì thế, không thể tự mình sáng tạo ra Phật pháp, cần dựa hoàn toàn theo thánh ngôn lượng của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Cho nên, thế nào gọi là đạo văn? Chẳng phải là bạn phải sao chép gen của cha mẹ bạn thì mới sinh ra bạn sao, từ nhỏ ngôn ngữ bạn nói ra chẳng phải là bắt chước theo bố mẹ nói sao, ở trường học thì học theo giáo viên, sao chép lời giáo viên, ở nhà thì sao chép lời cha mẹ, ngoài xã hội thì sao chép những thứ trong xã hội, đến chỗ nào thì bạn sao chép theo chỗ đó. Xã hội là một thùng thuốc nhuộm lớn, và mọi thói quen đều được sao chép từ thùng thuốc nhuộm lớn này mà ra. Có người nào là không sao chép? Bao gồm cả việc ăn, uống, vệ sinh, đều là sao chép cả.

Bản thân nghĩ mà xem, khi bạn mới ra đời, bạn biết cái gì? Không có cái gì cả, tất cả đều phải bắt chước. Được rồi, tôi giải thích xong rồi. Bạn cho rằng văn tự mà tôi xuất bản đều là sao chép đúng không? Đương nhiên rồi, đó đều là những chữ trong từ điển quốc ngữ mà, đều là sao chép từ đó ra, nếu bạn không làm thế thì bạn làm thế nào? Vốn dĩ chính là như vậy. Trước đây, giáo viên ngữ văn nói với chúng ta rằng: "Các trò không biết làm văn à? Các trò không biết sao, văn chương trong thiên hạ là một sự sao chép lớn!" Văn chương trong thiên hạ là một sự sao chép lớn, không phải anh sao chép tôi thì là tôi sao chép anh. Bây giờ cũng có người sao chép văn chương của tôi. Sao chép của tôi cũng không sao cả, lấy những thứ quý giá của tôi đi biên tập lại thành một cuốn sách cũng không sao cả.

Bởi vì tất cả văn chương, tất cả tri thức, tất cả kiến thức, tất cả Phật pháp, đều là sao chép mà ra. Những thứ tôi sao chép đến từ thầy của tôi, thầy dạy cho tôi thế nào thì tôi viết ra như thế. Vì thế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi ra đời hoàn toàn không hiểu Phật pháp, ngài ấy đã bái nhiều vị sư phụ, người đầu tiên chính là Hậu Diệu Cát Tường Hữu, không phải là Tiền Diệu Cát Tường Hữu. Long Thọ Bồ Tát cũng là sư phụ của ngài, Bì Mã Lạp Mễ Trá, Vima Nyingtik vĩ đại nhất cũng là sư phụ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Sư Lợi Tinh Ha là sư phụ mà ngài theo học lâu nhất, cũng tới 25 năm. Trùng hợp như vậy. Sư Lợi Tinh Ha cũng theo học Diệu Cát Tường Hữu 25 năm. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ theo Sư Lợi Tinh Ha học pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" cũng 25 năm. Sau đó, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã tổng hợp những thứ đó đến Thi Đà Lâm tu hành.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đi ra từ khổ hạnh. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng ở Tuyết Sơn tu khổ hạnh sáu năm. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng tu khổ hạnh ở Thi Đà Lâm. Khi tu khổ hạnh thì như thế nào? Pháp tọa của ngài là các thi thể, ngài xếp các thi thể lại làm thành pháp tọa. Ngài lấy những tấm vải quấn các thi thể, bởi khi người Ấn Độ chết thì họ đều dùng vải trắng để quấn thi thể lại, ngài đã lấy những mảnh vải này để làm quần áo cho mình, khoác lên thân thể mình, đồ mặc trên thân chính là những thứ đó. Pháp khí của ngài là pháp khí bằng xương người, ví dụ như xương cánh tay, hay xương sườn này, phía trên cắm vào ba cái đầu lâu, ngài lấy thứ này làm pháp khí, gọi là "kachangka".

Thế ngài ấy ăn cái gì? Người ta đem thi thể đến, sau khi vứt ra đó thì cũng ném đi một ít cúng phẩm, giống như là rắc hoa lên trên cúng phẩm vậy, rồi lại ném ra một ít bánh bao, hoặc là món cà-ri mà người Ấn Độ ăn, hoặc là bánh mì Ấn Độ, những thứ này được ném ở nghĩa địa để cúng tế. Đồ ăn của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là những thứ này. Tiếp theo, pháp tọa của bản thân ngài, nơi mà ngài ngồi chính là ngồi lên các xác chết. Hiện tại, các yogi ở Ấn Độ đều lấy tro cốt sau khi hỏa thiêu để bôi lên thân thể và mặt của mình.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tu hành ở đó, có được sự hỗ trợ và giúp đỡ của Phổ Ba Kim Cang. Phổ Ba Kim Cang là thần thủ hộ của Thi Đà Lâm, khi ấy, Phổ Ba Kim Cang chứng kiến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ như vậy, ngài đã đấu pháp cùng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, kết quả là bị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hàng phục, trở thành quyến thuộc của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Vì thế, thân phẫn nộ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là Phổ Ba Liên Sư Phẫn Nộ Thân. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tiến nhập vào trong tâm của Phổ Ba Kim Cang, biến thành tướng Phổ Ba Kim Cang của Guru Rinpoche.

Ngoài ra, khi ấy Mã Đầu Minh Vương cũng hỗ trợ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Vì thế, trong Không Hành Nyingtik của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", trong Không Hành khẩu quyết của ngài đã có hai vị Minh Vương ở bên cạnh Liên Sư. Cuối cùng, tại Thi Đà Lâm, ngài đã đạt được đại thần thông viên mãn, rất viên mãn, đại thần thông uy lực mạnh nhất.

Về sau, vua Trisong Detsen biết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thần thông quảng đại bèn mời ngài vào Tây Tạng. Tây Tạng khi ấy yêu ma quỷ quái, có rất nhiều ma quỷ, người dân thì tin vào đạo Bon, đạo này còn gọi là Hắc giáo. Đạo Bon chọn cái tên cũng rất hay, đúng là binh binh boong boong. Cả Tây Tạng đều tứ tung bát nháo, đều tín ngưỡng nào là đất đá, cây cối, mặt trời, mặt trăng, núi, hồ…. Họ đều tin vào những thứ của giới tự nhiên, ngay cả sói cũng tin. Loài sói ở đó là sói hoang, ở Tây Tạng có một loài sói, sói xuất hiện từng bầy từng bầy.

Bên cạnh đó, họ cũng tin vào báo, thần sói, thần báo, thần rắn, thần trâu, thần gì cũng có, Hắc giáo chính là như vậy. Vì thế, vua Trisong Detsen đã thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng truyền Phật pháp chân chính, vua Trisong Detsen chính là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là tổng hợp của thân Thích Ca Mâu Ni Phật, khẩu A Di Đà Phật, tâm Quan Thế Âm Bồ Tát.

Hai người vừa gặp mặt, một người là Văn Thù, một người là Thích Ca, một người là Quốc vương, một người là Pháp vương. Vốn dĩ, Quốc vương cho rằng bản thân rất vĩ đại, "Cả Tây Tạng đều là của ta, mặc dù ông là đại pháp sư, ông đến chỗ của ta, ông phải đảnh lễ trước ta mới phải." Hai người đứng ở bên bờ sông Yarlung Tsangpo, ai phải đảnh lễ trước ai đây? Một người là vua Trisong Detsen hóa thân của Văn Thù, một người là hóa thân tổng hợp của Thích Ca Mâu Ni Phật, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát.

Vua Trisong Detsen không muốn cúi đầu, "Ta cũng là vua mà!", "Ta là Quốc vương, làm gì có chuyện ta cúi đầu trước ông?".  
Còn vị Pháp vương kia thì cho rằng "Ta là Thích Ca mà! Ta là A Di Đà Phật, ta là Quan Thế Âm Bồ Tát, làm gì có chuyện ta cúi đầu trước ông?" Hai người cứ đứng đối diện nhau ở đó. Kết quả là, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nghĩ: "Người ta mời ta đến, ta là khách, ông ấy là chủ, thôi ta cứ cúi đầu một cái là xong." Thế là, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ liền cúi đầu trước, chắp tay và cúi thấp đầu để kính một lễ. Thế nhưng, vừa làm lễ thì quần áo của Quốc vương liền bốc cháy, phát hỏa, bị cháy xém một bên. Lúc này thì đã biết ai vĩ đại hơn rồi.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng tổng cộng dài tới 55 năm, ở đó ngài có bốn thành tựu rất lớn:  
Thành tựu thứ nhất, ngài đã thu phục tất cả ma quỷ ở Tây Tạng, yêu ma quỷ quái, tà ma ngoại đạo, toàn bộ đều quy thuận Phật pháp, toàn bộ đều trở thành hộ pháp của bản thân Phật pháp. Tối hôm qua vừa mới nói mọi người cần làm Hộ Pháp Kim Cang, nghĩa là giúp đỡ True Buddha School Chân Phật Tông, giúp đỡ hoằng dương tông phái, mọi người làm Hộ Pháp Kim Cang, bỏ tiền bỏ sức, điều này rất quan trọng. Vì thế, bản thân việc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng là rất quan trọng, ngài đã hàng phục tất cả tà ma ngoại đạo và yêu ma quỷ quái, thần thông của ngài rất lợi hại. Hôm nay, chúng ta vì hàng phục những yêu ma quỷ quái này nên mới bỏ tiền bỏ sức làm Hộ Pháp Kim Cang.  
Đây là cống hiến đầu tiên vĩ đại nhất của ngài đối với Tây Tạng, truyền Phật pháp vào Tây Tạng, thu phục tất cả tà ma ngoại đạo, yêu ma quỷ quái ở Tây Tạng, khiến cho Tạng mật sau đó trở thành một Phật quốc Tạng mật.

Thành tựu thứ hai, ngài đã truyền pháp cho một số người chủ yếu, người đầu tiên mà ngài truyền là Yeshe Tsogyal, chính là vợ của ngài, tương đương với Phật Mẫu của ngài. Thứ hai là truyền cho vua Trisong Detsen. Chủ yếu là truyền pháp cho vua Trisong Detsen và Yeshe Tsogyal.

Thành tựu thứ ba rất vĩ đại. Ngài đã xây dựng Chùa Samye, còn gọi là Chùa Nhậm Vận. Ngài đã dùng hình tượng của toàn bộ vũ trụ để xây nên chùa Samye, ở giữa là núi Tu Di, bên cạnh có bốn đại châu, tám tiểu châu, bảy biển vàng (biển nước thơm), dựa theo hình thức ấy mà xây dựng nên chùa Samye. Điều hay nhất của chùa Samye là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã thuê Vajrasana, Vajrasana là một người thông dịch, ông ấy hiểu Phạn văn, cũng hiểu cả Tạng văn, ông ấy đã dịch Phạn văn sang Tạng văn, tại chùa Samye, ông ấy đã phiên dịch rất nhiều kinh Phật. Kinh Phật tiếng Tạng chính là từ đó mà ra. Cống hiến lớn thứ ba của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là xây dựng chùa Samye.

Cống hiến lớn thứ tư, bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đem Không Hành Nyingtik, chính là những tâm yếu khẩu quyết của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" mà ngài biết được yêu cầu Yeshe Tsogyal giấu trong hư không, dưới đáy hồ, trong hang đá tại Nepal, Tây Tạng, Bhutan, giấu hết toàn bộ những kinh điển này, bởi vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ biết rằng tương lai sẽ có vua Lãng Đạt Mã diệt Phật, sẽ có một khoảng thời gian mấy trăm năm không có Phật pháp.

Vì vậy phải cất giấu những Phật pháp này đi, giấu trong hang đá, giấu dưới đáy sông hồ, giấu trong hư không, giấu trong rừng sâu, giấu ở những nơi bất kì. Đợi các Rinpoche chuyển thế trong tương lai sau khi thông qua sự mở bày của trời, sự chỉ thị của Không Hành Mẫu mà đi tìm những terma này, một lần nữa lấy lại được Phật pháp. Đây chính là điểm vĩ đại thứ tư của bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Có thể nói Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là lão tổ sư đầu tiên của Mật giáo Tây Tạng. Ngài có tổng cộng năm vị đại minh phi, hai mươi vị trung minh phi, năm mươi vị tiểu minh phi, thời gian ngài sống rất dài, sống lâu nhất. Cuối cùng, ngài cưỡi thiên mã, thiên mã mà Tứ Thiên Vương dâng tặng cho ngài, ngài cưỡi trên lưng thiên mã, khi bay lên không, ngài đã nói một câu: "Thế gian tham lam, nhất đao lưỡng đoạn." Tất cả sự tham lam trên đời cần phải thẳng tay cắt đứt. "Biến ngũ độc thành ngũ dụng". Ngũ độc tham-sân-si-nghi-mạn có thể linh hoạt sử dụng được. "Bạn có thể tự tại như như." Trong Phật pháp, bạn có thể tự tại như như. Đến lúc ấy, khi bạn đã có được Phật pháp rồi, người hiểu được kính sư, trọng pháp, thực tu nhất định có thể minh tâm kiến tính, khai ngộ, đắc chứng. Như vậy là tôi đã nói với mọi người xong về Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Tôi lại kể mấy câu chuyện cười. Có một đứa trẻ phàn nàn với mẹ: "Sao mẹ lại sinh ra con béo như vậy?" Người mẹ trả lời: "Mẹ sinh ra con chỉ có hơn ba cân, trách mẹ cái gì chứ?" Đúng mà! Không phải mẹ sinh ra bạn béo như vậy, là chính bạn tự biến mình thành béo như thế. Con người vì sao lại béo? Là vì cái miệng của anh béo, cái miệng của anh to quá, cái gì cũng ăn hết nên mới béo, đây là quan hệ nhân quả mà! Hôm nay chúng ta học Phật pháp cũng vậy, anh sẽ trở thành như thế nào, xem anh ăn thứ gì thì anh sẽ biến thành như thế. Phật pháp cũng là nhân quả đó! Cái này không thể trách sư phụ được, ai bảo anh ăn bậy bạ. Có đúng không?

Phật pháp cũng như vậy, quan hệ nhân quả, ăn gì thì sẽ trở thành cái đó. Tôi nhớ Thượng sư Liên Trí từng nói một câu, trước kia bà ấy làm y tá, trước cửa bệnh viện có đặt một tấm bảng: "Bạn ăn thứ gì thì sẽ trở thành người như thế." (You are what you eat.) "Có bạn gái 40 kg thì thấy vô cảm. Có bạn gái 50kg thì thấy xúc cảm. Có bạn gái 60kg thì thấy gợi cảm. Có bạn gái 70kg thì thấy tình cảm. Có bạn gái 80kg thì thấy mặc cảm."

Thế nên, Thượng sư Huệ Quân béo như vậy chẳng có liên quan gì đến True Buddha School Chân Phật Tông cả, là vì miệng của bà ấy thôi. Tại một bệnh viện, bệnh nhân đang xếp hàng để kiểm tra thính lực. Có một người xông lên phía trước để tìm y tá: "Tôi là số 33." Y tá nói: "Số 33 đã qua rồi, vừa nãy gọi tên ông, ông không nghe thấy sao?" Người kia rất tức giận nói: "Tôi mà nghe thấy thì tôi đã không đến đây kiểm tra."

Thật ra, con người có rất nhiều điểm mâu thuẫn. Rõ ràng biết rằng không thể ăn nhưng bạn vẫn ăn. Rõ ràng biết rằng ăn thứ này thì sẽ béo nhưng bạn vẫn ăn. Đây chính là chỗ mâu thuẫn đó. Bản thân con người cần hàng phục được chính mình trước, đừng lúc nào cũng muốn hàng phục người khác, hàng phục bản thân mình trước là quan trọng. Có một bà vợ nhìn vào gương khóc: "Mình càng ngày càng béo, càng ngày càng già, càng ngày càng xấu." Vợ hờn giận với chồng: "Chồng à! Anh mau khen em cái gì đi, dỗ em đi." Chồng nghĩ một lúc rồi nói: "Vợ à, thị lực của em vẫn còn tốt lắm."

Chúng ta học Phật không được tự dỗ dành. Bất kể là cảnh giới học Phật như thế nào, bạn cần thực tu, bạn thực tu rồi thì pháp lực mới có thể tăng trưởng, đó là đạo lí chắc chắn. Vừa nãy chúng ta cúng rong biển sợi. Cúng rong biển sợi để làm gì? Nghĩa là mong muốn pháp lực tăng trưởng, tất cả mọi người đã đến đây nhận quán đảnh thì pháp lực đều tăng trưởng. Muốn pháp lực tăng trưởng, làm sao để tăng trưởng? Bạn nhất định cần chăm chỉ thực tu thì pháp lực mới tăng trưởng được.

Vì thế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói phải kính sư, phải trọng pháp thì mới có thể thực tu, đây là sự liên quan, liên hệ nhân quả. Bạn tôn kính sư phụ thì tự nhiên sẽ tôn trọng pháp của sư phụ. Bạn tu pháp của sư phụ thì pháp lực sẽ tăng trưởng, đến cuối cùng bạn sẽ đạt được chứng ngộ. Kính sư, trọng pháp, tu hành thực tế, bạn sẽ đạt được chứng ngộ. Đây là mối liên hệ nhân quả đó! Bạn không kính sư, bạn sẽ không trọng pháp, bạn sẽ không thực tu, không thực tu thì bạn sẽ không chứng quả, sự liên hệ nhân quả mà.

Có một chàng trai có IQ rất cao, cậu ta tỏ tình với bạn gái, trên tờ giấy viết: "5201314", nghĩa là "Anh yêu em trọn đời trọn kiếp." Cậu ta viết những con số này đưa cho bạn gái xem, bạn gái đó cũng có IQ rất cao, cô ấy gửi lại một mảnh giấy viết: "(520+1314)x10" Chà! Chàng trai này vui mừng như điên: "Em yêu anh trọn đời trọn kiếp, nhân lên mười lần." Chàng trai này rất vui mừng. Mọi người dùng máy tính tính thử xem, đáp án của phép tính này là "18340", nghĩa là "Tát cho một cái chết luôn." Vậy thôi. Om mani padme hum.

### Bài giảng số 8

**Longchenpa tôn giả - Tổ sư của phái Nyingmapa là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu Đại Chuẩn Đề Phật Mẫu tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 6 tháng 7 năm 2013.)*

Hôm nay tôi giảng pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", không thể không nhắc đến một vị tổ sư, vị tổ sư này chính là Longchenpa. Lúc đầu tôi cho rằng nói đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là được rồi, nhưng không thể không nói đến Longchenpa và Jigme Lingpa tôn giả. Vì sao cần nói đến Jigme Lingpa tôn giả? Bởi vì Jigme Lingpa là vua Trisong Detsen chuyển thế. Vì thế nhất định cần phải nói đến Jigme Lingpa tôn giả. Còn vì sao phải nói đến Longchenpa? Bởi vì ngài ấy đã tổng hợp lại hai Nyingtik, nghĩa là những khẩu quyết quan trọng nhất của pháp cốt lõi của cốt lõi, ngài ấy là người kết hợp Vima Nyingtik và Không Hành Nyingtik lại với nhau.

Vì thế tôi nhất định cần phải nói, nếu như không nói về hai vị này thì tôi cảm thấy không nói tiếp được. Nên hôm nay tôi sẽ nói về Longchenpa. Ông ấy sinh năm 1308, tuổi đời cũng không quá dài, con người này rất quan trọng. Vì sao cần nói? Bởi vì, ở Tây Tạng, Văn Thù Bồ Tát có ba hóa thân lớn, vị thứ nhất chính là Longchenpa, vị thứ hai là Sakya Pandita, nghĩa là người có trí huệ cao nhất của phái Sakya Hoa giáo, vị thứ ba chính là tổ sư Tsongkhapa. Ở Tây Tạng ba vị này được gọi là Văn Thù tam đại hóa thân. Vì thế nhất định cần phải nói về Longchenpa. Longchenpa đại diện cho phái Nyingma, Tsongkhapa đại diện cho Gelugpa, Sakya Pandita đại diện cho Sakya, lần lượt là ba vị tổ sư của Hồng giáo, Hoàng giáo, Hoa giáo.

Longchenpa từ nhỏ đã vô cùng thông minh, không giống như Sư Tôn, từ nhỏ đã vô cùng ngu ngốc, thật đúng là tương phản. Mọi người thi cử thì đều đỗ, đều xếp hạng tốt nhất, tôi thì luôn đứng bét. Vì thế, khi tôi đi học, tôi lưu ban hai lần, đó là một việc rất mất mặt. Bởi vì lưu ban nên mới phải chuyển từ trường Cấp hai công lập Cao Hùng số hai sang trường Cấp hai công lập Cao Hùng số ba. Có người hỏi tôi: "Ngài lưu ban hai lần, vì sao mà đến cấp ba thành tích lại có thể đứng nhất lớp?"

Bởi vì tôi vẫn được xem là nghiêm túc với chuyện học hành, mặc dù lưu ban, nhưng trong số những học sinh lưu ban, tôi là đứa khá nhất. Khi chuyển sang lớp học lưu ban đó, ai cũng học kém hơn tôi mà! Rồi bỗng nhiên, tôi học hành có hứng thú trở lại. Khi ấy, tôi còn học hơn người khác, nên mới bồi dưỡng thói quen học hành, mới dần dần học lại, kết quả là lại thi đỗ cấp ba. Khi thi đỗ cấp ba thì tôi đã rất thích học hành rồi. Vì thế, trong sáu học kì tại cấp ba, tôi đều đứng nhất lớp.

Longchenpa từ nhỏ đã rất thông minh, rất thích học hành, ngôn ngữ gì cũng biết, kĩ năng gì cũng biết, tôi đã từng nói về Ngũ minh, ngài học thanh minh nên hiểu rất nhiều ngôn ngữ, Phạn văn cũng hiểu, Tạng văn cũng hiểu, Hán văn cũng hiểu, ngôn ngữ gì cũng hiểu hết, đây gọi là thanh minh. Giống như con người chúng ta bây giờ, tiếng Pháp cũng hiểu, tiếng Anh cũng hiểu, tiếng Tây Ban Nha cũng hiểu, tiếng Phổ thông cũng hiểu, tiếng quê hương của bạn cũng hiểu, tiếng Quảng Đông cũng hiểu, đây gọi là thanh minh, là học ngôn ngữ. Longchenpa biết rất nhiều ngôn ngữ. Công xảo minh cũng biết. Nhưng mà như các công cụ hiện nay, những công cụ mà người ta dùng để phát trực tiếp trên mạng thì đương nhiên thời ấy Longchenpa không biết.

Tôi đang nói về thời đại đó, mọi kĩ thuật ngài ấy đều hiểu. Còn cả nội minh cũng hiểu, nội minh nghĩa là Phật học, Hiển giáo, Mật giáo ngài ấy đều học. Ngài ấy đã bái hai mươi mấy vị sư phụ Mật giáo để học Phật pháp, có được rất nhiều truyền thừa, đây là nội minh. Nhân minh, nhân quả luân hồi, môn học về logic, ngài ấy cũng hiểu. Ngoài ra còn có y phương minh, nghĩa là bạn mắc phải bệnh gì thì tôi sẽ kê đơn thuốc cho bạn, việc này ngài ấy cũng biết. Ngài ấy biết hết cả Ngũ minh, vì vậy, ngài ấy là một người rất có trí huệ, rất có tri thức.

Ngài ấy đã bái hơn hai mươi thượng sư để học Phật pháp, trí nhớ của ngài phi thường, năng lực lại rất tốt. Đến năm 27 tuổi, ngài đã gây xôn xao cả Tây Tạng, mọi người đều nói ngài là một thiên tài, một thiên tài rất vĩ đại. Khi ấy, ngài đã có được Nyingtik của truyền thừa "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" Tất Mã Lạp Mễ Trá (Vimalamitra?) từ vị thầy tên là Cố Mã Thượng sư. Ngài ấy đã học Vima Nyingtik từ Cố Mã Thượng sư, Nyingtik chính là Nyingtik của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Về sau, ngài lại đi tìm cầu Không Hành Nyingtik, Không Hành Nyingtik là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giảng cho Yeshe Tsogyal và vua Trisong Detsen.

Khi xưa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có hiện ra, nói rằng Longchenpa cần đi đến đâu để tìm thầy, hơn nữa thầy nào có Mật pháp Không Hành Nyingtik, sau đó Lonchenpa liền đi bái vị thầy đó. Vì thế, đến năm 32 tuổi, ngài đã có được truyền thừa Không Hành Nyingtik từ chỗ của Bối Mã Thượng sư. Longchenpa cũng biết sáng tác văn chương, ngài ấy có thể sáng tác, hiểu văn học, ngài đã kết hợp hai Nyingtik lại, mọi người gọi là Longchen Nyingtik, cái này cũng rất quan trọng.

Bây giờ pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" mà chúng ta giảng chính là giảng Longchenpa Nyingtik. Vì vậy, không thể không nhắc đến vị lão tổ sư này. Vốn dĩ tôi nghĩ chỉ nói đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, sau đó là vua Trisong Detsen, tiếp đến là Sư Tôn, như thế là được rồi, không ngờ, vẫn còn phải nói về hai lão tổ sư, nguyên nhân chính là ở đây. Bởi vì ngài Longchenpa đã kết hợp hai Nyingtik lại với nhau. Các tác phẩm của Longchenpa vô cùng nhiều, vì thế, truyền thừa của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" có thể liên tục lưu truyền, nhờ có sự liên hệ của Longchenpa mà cho đến hiện tại, pháp lưu của ngài liên tục không gián đoạn.

Vì nghiên cứu Không Hành Nyingtik mà Longchenpa có được lực gia trì của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Yeshe Tsogyal. Giống như khi Sư Tôn giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" thì tôi cũng được Tổ sư Tsongkhapa tại hư không gia trì. Ngày đầu tiên tôi giảng thì Tổ sư Tsongkhapa đã xuất hiện tại hư không, chính là hình tướng của Tsongkhapa, xung quanh ngài là miên man ánh hào quang, tất cả ánh hào quang đều dội xuống đầu tôi, từ lỗ chân lông thấm vào bên trong thân thể tôi. Trong chốc lát, tôi đã đọc xong hết "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", đã có thể đọc hiểu hết. Tính đến hiện tại mà nói thì đại bộ phận mọi người đều đọc không hiểu "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", bởi vì văn tự vô cùng thâm sâu ảo diệu.

Hơn nữa, người không hiểu Mật giáo, hoặc là người thật sự hiểu được Mật giáo từ tứ quán trở lên mới có thể hiểu được "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" thì cũng không có ai trực tiếp giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Trong thế giới người Hoa, chỉ có Lư Sư Tôn mới giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Bài giảng về "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" của tôi được phát trên truyền hình, chính là kênh của Thượng sư Liên Duyệt, kênh của bà ấy cũng chính là Truyền hình Trung Thiên, kênh này có "Lục Tổ Đàn Kinh" và "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Bà ấy là nhà sản xuất chương trình "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Khi "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" phát sóng, còn có cả những Lama Tây Tạng, nghĩa là các Thượng sư, chuyên xem chương trình "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận" của tôi. Sau khi xem xong họ còn viết thư đến nói: "Cảm tạ ngài đã giảng Mật tông đạo thứ đệ quảng luận." Rất nhiều điều họ không hiểu thì cuối cùng đã hiểu được rồi. Rất không đơn giản, những bài thuyết pháp của Sư Tôn là vô giá, thật đó.

Vào dịp lễ Tình Yêu Valentine's Day, vợ nói: "Anh yêu, em thích nước hoa Pháp." Vào ngày lễ Tình Yêu Thất Tịch, vợ lại nói: "Anh yêu, kim cương tượng trưng cho sự vĩnh hằng." Vào ngày sinh nhật vợ, vợ lại nói: "Anh yêu, em… " Chồng lập tức cắt ngang: "Đợi chút ! Vợ yêu, em có thích thứ gì rẻ rẻ một chút không?" Vợ nói: "Có chứ! Em thích anh nhất đó!" Thứ rẻ nhất không ngờ lại là người chồng. Sư Tôn thuyết pháp có thể nói là rất rẻ đó, là món quà rất rẻ. Thế nhưng pháp này là quý giá nhất đó.

Rốt cuộc, Longchenpa tôn giả có cống hiến gì? Chúng ta cần phải kể đến cống hiến của ngài ấy, cống hiến chân chính của ngài là như sau. Thứ nhất, ngài có rất nhiều các tác phẩm về Mật pháp, bởi vì ngài là một pandita, do vậy các tác phẩm của ngài rất nhiều, sách viết rất nhiều, lưu truyền vô cùng rộng rãi. Thứ hai, ngài ấy còn trực tiếp hoằng pháp. Ngài ấy không chỉ viết sách mà còn hoằng pháp, đi khắp nơi giảng kinh thuyết pháp, giảng pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Sau đó, ngài ấy còn kết hợp Vima Nyingtik và Không Hành Nyingtik thành Longchen Nyingtik, có nghĩa là ngài ấy đã kết hợp những thứ quan trọng nhất lại. Vì thế, ngài ấy cũng rất vĩ đại, có thể dung hợp hai khẩu quyết vào với nhau, việc này cũng là vô cùng vĩ đại.

Sau khi Longchenpa viên tịch, rời xa thế gian, ngài ấy vẫn tiếp tục gia trì cho tất cả chúng sinh, đây cũng là điểm rất vĩ đại. Có nghĩa là sau khi ngài viên tịch, ngài ấy đã rời khỏi nhân gian rồi, nhưng ngài ấy vẫn hiển thị trong hư không để gia trì cho chúng sinh. Khi tôi giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", Tổ sư Tsongkhapa hiện thân gia trì cho Sư Tôn, khiến tôi có thể giảng liên tục, cho đến khi giảng xong "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận". Từ trong "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", tôi đều nói ra được hết rất nhiều pháp bí mật của Mật giáo.

Khi Longchenpa tại thế có một lần gặp phải một sự việc vô cùng nguy hiểm. Quan viên chính phủ khi đó yêu cầu quân đội bắt ngài, ngài liền chạy trốn, thật ra ngài ấy chạy trốn không được. Ngài một mình cưỡi ngựa, ngài ấy trốn vào đâu được? Bởi vì truy binh rất đông, rất nhiều người kéo đến. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã xuất hiện bảo rằng: "Hãy đi con đường xa nhất, hướng về con đường hẻo lánh, đi theo đường vòng rộng rồi lại vượt lên trên." Nghĩa là vốn dĩ con đường này là đường chính, phía sau có binh lính đuổi theo, như vậy thì đảm bảo sẽ bị bắt. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiện thân bảo ngài rằng lập tức đi theo con đường hẻo lánh, đi thành một vòng lớn, đừng đi con đường đó, bởi vì con đường đó có truy binh.

Khi truy binh ập đến, khi chúng gần như sắp bắt được Longchenpa, trong hư không đột ngột giáng xuống một màn mây mù màu đen cản trở đám truy binh, truy binh không dám tiến lên trước, bởi vì không nhìn thấy đường. Đợi đến khi Lonchenpa đã chạy thoát theo đường nhỏ, mây đen mới tản ra. Khi mây đen tản ra thì truy binh mới tiếp tục đuổi theo. Ấy? Đuổi không kịp Longchenpa rồi, không biết ngài ấy đã đi đâu rồi. Thật ra, ngài ấy đi theo đường vòng, rồi lại chuyển hướng, ngài ấy đã chạy đến Bhutan rồi. Longchenpa từng sống tại Bhutan. Ở Bhutan, ngài cũng xây dựng một ngôi chùa, sau đó ngài ấy lại trở về Tây Tạng. Ngài từng gặp một chuyện như vậy, đây là điều mà tôi biết được. Mọi người chưa chắc đã biết được rõ ràng như vậy, ở trong đầu tôi hiện lên một sự việc như vậy.

Ngài ấy cũng từng tu pháp ở rừng Thi Đà Lâm. Phái Nyingma khi ấy có Mã Đầu Minh Vương, Đại Bàng Kim Sí Điểu, và Phẫn Nộ Liên Sư, ngoài ra ở đây còn Bát Đại Heruka (Bát Đại Kim Cương Minh Vương), trong pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của phái Nyingma đều có phương pháp tu trì Bát Đại Heruka, Mã Đầu Minh Vương, Đại Bàng Kim Sí Điểu, Phẫn Nộ Liên Sư. Hành giả nam bình thường có thể tu pháp Heruka, chính là pháp Kim Cang, Heruka chính là Bát Đại Kim Cang pháp. Hành giả nữ có thể tu Đại Lạc Phật Mẫu pháp.

Đại Lạc Phật Mẫu là ai? Chính là Yeshe Tsogyal Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Có thể tu Yeshe Tsogyal, cũng có thể tu Sư Diện Không Hành Mẫu (Không Hành Mẫu mặt sư tử). Khi bắt đầu tu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", có thể tu Yeshe Tsogyal Đại Lạc Định Hành Mẫu, cũng có thể tu Sư Diện Không Hành Mẫu xem như là Bổn tôn của hành giả nữ.

Nếu muốn tu pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", bạn phải chọn một trong hai, Sư Diện Không Hành Mẫu hoặc là Đại Lạc Không Hành Mẫu, đây là pháp tu của hành giả nữ. Hành giả nam có thể tu Bát Đại Heruka.

Đừng cho rằng Heruka trông khó coi, Heruka chính là thần Kim Cang, thật ra tâm của ngài rất từ bi, rất lương thiện. Mặc dù diện mạo của ngài vô cùng hung ác, nhưng luôn luôn tốt hơn con người hiện đại. Con người hiện đại thì "mặt thiện tâm ác", mặt mũi rất đẹp đẽ, nhưng trong lòng thì rất ác độc, khẩu Phật tâm xà mà! Người Quảng Đông thích nói là khẩu Phật tâm xà, nghĩa là tướng mạo rất tốt nhưng tâm địa bất hảo. Kì thực, tướng mạo của Heruka rất hung ác, nhưng tâm thì lại rất từ bi. Vì thế, hành giả chúng ta khi trông thấy Heruka rất hung ác xuất hiện thì đừng có bỏ chạy. Bởi vì bản thân ngài thật sự rất từ bi đó.

Có một câu chuyện cười, có một "em gái khủng long" đến nhà bạn làm khách. <span className="note-blue">[em gái khủng long là tiếng lóng, dùng để gọi những cô gái xấu xí]</span>. Con trai hơn mười tuổi của người bạn trông thấy cô ấy bèn nói: "Cô này xấu quá." Em gái khủng long nghe xong thì rất không vui, đang chuẩn bị nổi khùng. Người bạn vội vàng kêu đứa con trai nhận lỗi, cậu con trai lập tức nói với em gái khủng long: "Cô à, thật ra cô cũng khá xinh đấy." Em gái khủng long nghe thế thì rất vui, đang chuẩn bị tỏ ra khiêm tốn thì nghe người bạn liền lớn giọng dạy dỗ con trai: "Mẹ bảo con nhận lỗi, chứ không bảo con nói dối."

Con người chỉ nhìn thấy một vẻ bề ngoài, đôi khi là như vậy. Thật ra có rất nhiều biểu hiện. Trong tiểu thuyết "Ỷ thiên đồ long kí" của Kim Dung, mẹ của Trương Vô Kị nói với con trai rằng: "Con gái càng xinh đẹp thì càng hay nói dối, con hãy nhớ lấy câu này." Thế nhưng, hành giả Mật giáo không thể phỉ báng phụ nữ. Dù sao cũng không thể nói như vậy. Bởi vì biết người biết mặt khó biết lòng, vẽ hổ vẽ da khó vẽ xương, hoàn toàn không phải người có diện mạo xinh đẹp thì tâm địa sẽ bất hảo, và cũng không chắc rằng người có diện mạo rất xấu thì tâm sẽ xấu. Thật ra không nên nói như vậy.

Vì thế, luôn luôn phải dùng huệ nhãn của bạn để quan sát, dùng trí huệ của bạn để quan sát thì bạn mới có thể hiểu được tất cả. Trước kia, tôi có quen một "em gái khủng long" ở trường Trắc Lượng, tôi gọi cô ấy là chị cả. Ở trường, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của cô ấy, tôi cần cái gì cô ấy đều giúp đỡ tôi, cô ấy rất thích giúp đỡ người khác, rất nổi tiếng ở trường học. Mọi người xem cô ấy là một người rất xấu xí, nhưng cô ấy vẫn luôn luôn giúp người. Vì vậy, không thể tùy tiện đánh giá một con người.

Bản thân Lonchenpa tôn giả có thành tựu lớn là vì ngài ấy bản chất thông minh, tài trí và có phương hướng đúng đắn thì ngài ấy mới có thể đạt được thành tựu rất lớn. Ngài ấy có trí huệ lớn, có thể dung hợp tất cả các pháp của Mật giáo, tiến vào bên trong pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", sau đó đã truyền lại pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" rất quý giá. Cả cuộc đời ngài cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, cũng có rất nhiều lời phỉ báng dành cho ngài, thậm chí còn có quan binh của chính phủ muốn bắt ngài. Khi ấy, thật may là trời giáng mây đen chặn trước mặt quan binh, việc này là vô cùng thù thắng, vô cùng khó gặp.

Bản thân Sư Tôn cũng gặp phải những tai nạn rất lớn, cũng có rất nhiều sự việc truyền kì. Bạn xem, khi Sư Tôn giảng "Lục Tổ Đàn Kinh", có người chụp một tấm ảnh, sư tỉ Từ Nhã Kì chụp ảnh lại, trong chương trình "Thắp sáng ngọn đèn tâm" đã từng phát sóng rồi đó, trong hư không có sáu dấu chân màu đen, chính là sáu bước chân, sáu bàn chân, tôi giảng "Lục Tổ Đàn Kinh" thì trong hư không liền xuất hiện như vậy. Giống như pháp hội mùa thu năm nay tôi giảng về Trường Mi tôn giả thì trong hư không liền hiển hiện đám mây hình cặp lông mày dài (Trường Mi). Có đúng vậy không? Mọi người đều đã nhìn thấy rồi.

Tôi vẽ tranh, rất ít khi tôi vẽ đại bàng. Hôm ấy, tôi vẽ hai con chim đại bàng, khi vẽ con đại bàng thứ hai, tất cả các đồng môn đều nhìn lên bầu rời, trên không liền xuất hiện một con chim đại bàng. Hình như cũng có video trên mạng đó, có phải không? Ngày hôm đó, đúng lúc tôi vẽ đại bàng, thật là trùng hợp. Ngoài ra, còn có một lần, tôi vẽ Seattle Lôi Tạng Tự, phía sau lưng Lôi Tạng Tự tỏa ánh sáng đỏ. Đúng không? (Đúng!) Sau khi vẽ xong, buổi tối hôm đó, phía sau lưng Seattle Lôi Tạng Tự đều là ánh sáng màu đỏ. Cái đó gọi là gì? Cái đó gọi là tương ứng. Mỗi lần tôi vẽ tranh xong thì lập tức xuất hiện thứ ở trong tranh. Giống như hôm đó vừa hay tôi vẽ Seattle Lôi Tạng Tự, trên không liền xuất hiện ánh sáng màu đỏ, đỏ rực, là kiểu ánh sáng cầu vồng lúc hoàng hôn, đẹp vô cùng.

Có rất nhiều sự việc đều trùng hợp cực kì. Ví dụ tôi vẽ tranh, có một lần, tôi vẽ xong một mĩ nữ, tối hôm đó thật sự xuất hiện một cô gái xinh đẹp trước đây chưa từng gặp, giống hệt với mĩ nữ mà tôi đã vẽ. Hơn nữa, tôi vẽ tóc cô ấy màu vàng kim, thì tóc của cô gái xinh đẹp hôm ấy cũng có màu vàng kim. Tôi cầm bức vẽ ra để đối chiếu với cô gái đó thì thật sự là rất giống. Tôi vẽ một mĩ nữ thì có một mĩ nữ xuất hiện, sau này, tôi cần vẽ nhiều mĩ nữ hơn mới được. Sự việc cảm ứng kiểu này nhiều vô cùng, trùng hợp vô cùng.

Bởi vậy, Phật Bồ Tát thật sự là vô cùng linh ứng, biết tôi đang làm cái gì liền khiến cho tôi cảm ứng thấy rất nhiều sự tình, vô cùng kì lạ. Ví dụ, ngài nói với tôi: "Ngày mai hãy chuẩn bị lá phù." Tôi nói: "Là phù gì vậy?" Ngài nói: "Thượng an phù, người đầu tiên đến gặp chính là cần ba lá phù này thì anh ta sẽ khỏi bệnh." Kết quả, đúng là như thế! Vào ngày hôm đó, người đầu tiên đến tìm gặp tôi, anh ta nói với tôi anh ta mắc bệnh gì, muốn xin phù như thế nào, tôi bảo: "Chuẩn rồi." Tôi lấy lá phù cất trong người ra đưa cho anh ta nói: "Chính là ba lá phù này, Phật Bồ Tát đã giao ba lá phù này cho anh." Trùng hợp đến như vậy đó.

Pháp sư Liên Ngôn có ở đây không? Bà ấy về rồi. Cũng là một việc rất trùng hợp, bà ấy nghe tôi thuyết pháp tại Kim Cương Lôi Tạng Tự ở New York, khi nhìn thấy trong mắt tôi có thứ gì đó, bà liền đưa cho tôi mảnh khăn giấy, nói: "Sư Tôn, thầy cầm lấy lau mắt đi." Tôi liền lau lau mắt. Vốn dĩ, tôi định cầm khăn giấy đi vứt, vừa hay Liên Ngôn đứng bên cạnh, bà ấy liền cầm lấy tờ khăn giấy của tôi bỏ vào trong túi áo, nói rằng để lát nữa bà ấy vứt, bà ấy tạm để trong túi trước. Sau đó, bà ấy bay trở về Panama. Gặp một đệ tử nữ quỳ trước pháp sư Liên Ngôn, kể rằng mắt của cô ấy mù rồi, bởi vì bị lửa xộc vào nên mắt bị mù rồi.

Thế thôi xong! Pháp sư Liên Ngôn nói: "Một pháp sư như tôi thì làm sao cứu được cô?" Bà ấy nhớ ra: "Trong túi áo của tôi có tờ khăn giấy Sư Tôn đã dùng để lau mắt." Bà ấy liền đưa tờ khăn giấy cho đệ tử bị mù mắt này lau mắt. Chờ chút, Liên Ngạn, Liên Hỉ có ở đây không? Hai người đã từng nghe chuyện này chưa? Hai người đến từ Thường Hoằng Lôi Tạng Tự ở Panama đúng không? Hai người có biết câu chuyện này không? Biết à! Pháp sư Liên Ngôn đưa tờ khăn giấy cho đệ tử kia lau mắt. Ngày hôm sau, cô ấy mở hai mắt ra thì lại có thể nhìn được rồi. Thật sự là có một chuyện kì diệu như vậy. Thế nhưng, nếu như bây giờ bạn đưa cho tôi tờ khăn giấy, bảo tôi lau mắt, sau đó cầm về đưa cho ai đó lau thì lại không linh đâu, muốn có sự trùng hợp vô cùng kì diệu như vậy thì phải có linh cảm xuất hiện thì mới có cách giải quyết được. Mọi người đừng thấy tất cả Phật Bồ Tát, vị thì đứng, vị thì ngồi, các vị ở đây đều bất động, nhưng thật sự là các vị có huệ nhãn, người nào có thiên nhãn thì nhìn là thấy mỗi một vị đều bay tới bay lui, đều hoạt động tới lui đó.

Khi tôi viết sách, bạn cho rằng Sư Tôn viết sách rất dễ dàng sao? Viết sách kì thực cần phải dựa vào linh cảm, muốn viết như thế nào đều phải dựa vào linh cảm. Viết sách không phải là đơn giản, thật sự không phải là dễ dàng. Nếu như khi tôi không biết ngày mai cần viết cái gì, thì buổi tối đó đi ngủ, có vị lại đến, đặt vào trong đầu tôi một chương sách cho tôi đọc: "Ngày mai, ngài sẽ viết chương sách này." Ngày hôm sau tỉnh dậy tôi đã ghi nhớ rồi, bèn mau chóng ghi ra những điểm chính để khỏi quên. Sau đó tôi đi ăn sáng, ăn sáng xong thì lại đi viết sách, và như thế là có thể viết ra chương sách đó. Mỗi lần tôi viết sách đều như vậy. Khi đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng, khi không có văn chương, không có linh cảm gì, thì các vị lại đem một chương sách cho tôi xem, tôi viết sách như vậy đó. Vì vậy, Sư Tôn cũng là sao chép lại linh cảm mà Phật Bồ Tát đưa cho tôi đó.

Đời người giống như một giấc mộng, thật sự đó! Mộng huyễn, chuyển thế, luân hồi, trải qua một đời lại một đời cứ chuyển biến như vậy. Nghĩ mà xem, thật đó, từ vua Trisong Detsen chuyển thế thành Jigme Lingpa tôn giả, lại chuyển thế thành Lư Sư Tôn, mà vua Trisong Detsen lại là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, mà Văn Thù Bồ Tát lại có liên kết với A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Đại Uy Đức Kim Cang lại có liên kết với nhau. Cứ như vậy chuyển tới chuyển lui, thật sự là giống như một giấc mộng. Chúng ta ở trong thế giới mộng huyễn này cần phải làm sao đây? Chúng ta cần nhớ, cần chăm chỉ tu hành. Sống một ngày cần vui vẻ một ngày, sống một ngày cần tu pháp một ngày, sống một ngày cần cảm ơn một ngày. Phải cảm ơn đó! Vì sao? Bởi vì người học Phật trong lòng không thể có thù hận, có nghiệp chướng. Do đó, tất cả đều phải cảm ơn, tất cả đều phải tu pháp, tất cả đều phải vui vẻ. Bạn đừng để bị vướng bận, nghĩa là khi bạn đang sống, đừng vướng bận vào những phiền não. Sống một ngày, vui vẻ một ngày; sống một ngày, cảm ơn một ngày; sống một ngày, tu hành một ngày. Om mani padme hum.

### Bài giảng số 9

**Jigme Lingpa viết "Công Đức Tạng" - Terma Đại Viên Mãn**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong đại pháp hội Hộ Ma Trường Thọ Như Lai tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 7 tháng 7 năm 2013.)*

Hôm nay tôi muốn giới thiệu về Jigme Lingpa tôn giả. Ban đầu tôi nghĩ giới thiệu đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là được rồi, tuy nhiên, sau này còn có hai vị tôn giả nữa, bởi vì họ đều có mối liên hệ, Longchenpa Nyingtik đang lưu truyền hiện nay cũng chính là khẩu quyết về pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" của Longchenpa. Jigme Lingpa cũng có được sự gia trì của Longchenpa, sức mạnh gia trì rất lớn, bản thân ngài cũng là người phát triển Longchen Nyingtik. Vì thế không thể không giới thiệu Jigme Lingpa. Jigme Lingpa sinh năm 1730, cách thời đại của chúng ta tương đối gần, khi sinh ra ngài cũng đã rất thông minh, vừa ra đời đã rất thông minh rồi.

Tối qua tôi đã kể rằng Sư Tôn rất ngu ngốc, sinh ra đã ngốc rồi. Tôi sinh năm 1945, vừa đúng lúc Mỹ ném bom B-52 xuống Đài Loan, chủ yếu là ném bom xuống sân bay Thủy Thượng, vì thế mà vùng Gia Nghĩa cũng bị ném bom. Vốn dĩ ông nội Lư Xương của tôi rất giàu có, toàn bộ những ngôi nhà trên một con phố là nhà của ông nội tôi, ông nội tôi còn có nhiều đất đai ở Đông Thế Trường ở Gia Nghĩa. Năm 1945, tôi sinh ra tại một trại nuôi gà ở Gia Nghĩa, đó là ở bên suối Ngưu Trù, suối Ngưu Trù là một vùng nông thôn, thuộc về huyện Hậu Hồ của Gia Nghĩa ngày nay. Ở đó có một trại nuôi gà mà ông nội tôi để lại, tôi đã được sinh ra ở đó.

Chúa Jesus ra đời tại một máng nuôi ngựa, Lư Sư Tôn thì sinh ra ở chuồng gà, hai việc này cũng có điểm chung. Jesus ra đời cũng vì vấn đề hộ khẩu, trải qua một thời gian ở Bethlehem thì Đức Mẹ Maria mới sinh ra Jesus tại máng ngựa. Sau khi sinh ra Jesus, người bạn trai của Maria trong lòng rất buồn bã, họ vẫn còn chưa động phòng mà Maria đã sinh ra Jesus rồi, rốt cuộc là có chuyện gì vậy? Tên của người bạn trai ấy là Joseph, Joseph là một thợ mộc, anh ta rất muốn chia tay Maria, nhưng Thánh Linh nói với anh ta rằng đây là thai Thánh, thai từ thiên đường đến, không thể chia tay được. Do vậy họ mới không chia tay.

Vì thế, khi Jesus độ chúng sinh, ngài quay trở về quê hương của mình, người ta bảo: "Đó là con trai của người thợ mộc thôi!" Chẳng qua những con người ở vùng quê đó tương đối khó độ. Sư Tôn sinh ra ở trại gà, vận mệnh cũng tương tự như Jesus, Jesus ở máng ngựa, tôi ở chuồng gà. Sau khi ra đời, mọi người đều nghe về câu chuyện của tôi, bởi vì tôi sinh non, bảy tháng đã ra đời rồ. Khi ấy, cha mẹ tôi rất vui: "Choa! Cuối cùng tôi đã có một đứa con trai rồi." Bố tôi chạy đi kể với họ hàng, họ hàng nó với bố tôi: "Anh mới kết hôn bảy tháng mà đứa bé đã sinh rồi, thế đứa bé này rốt cục là con ai?"

Trong lòng bố tôi rất không thoải mái, vận mệnh của tôi rất giống với Jesus. Lúc nhỏ tôi bẩm sinh đã không khỏe mạnh, sau này lại ăn uống thiếu thốn, chẳng trách mà tôi lại thấp bé như vậy, đó chính là nỗi đau trong lòng tôi! Cần phải cầu tới Tăng Trưởng Thiên Vương trong bốn vị Tứ Đại Thiên Vương. Thật ra, rất nhiều người ở trong mơ đã nhìn thấy linh thể của tôi, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn to cao như núi Tu Di. Cầu Trường Thọ Phật Như Lai, hy vọng vào những năm cuối đời, để cho tôi phúc phần tăng trưởng, chiều cao tăng lên, A Di Đà Phật! Phúc phần cần tăng trưởng mà! Kính ái cần tăng trưởng mà! Trí huệ cũng cần tăng trưởng mà! Chiều cao cũng cần tăng trưởng mà! Như thế mới gọi là tăng chứ!

Lúc nhỏ, tôi bẩm sinh ốm yếu, con nhà người ta chí ít cũng uống sữa mẹ, không thì sữa bò, thế còn tôi thì uống cái gì? Tiếng Đài Loan gọi là nước gạo, gạo nghiền thành bột, bỏ thêm nước vào nấu. Lúc nhỏ thứ mà tôi uống chính là nước gạo, thế nên tôi lớn lên rất thấp lùn, bẩm sinh ốm yếu, sau đó lại thiếu dinh dưỡng, cho đến tận khi học cấp ba cũng không được bổ sung dinh dưỡng gì cả. Tuy vậy, lúc nhỏ tôi rất thích vận động, tập xà đơn, xà đôi, vòng đôi, luôn luôn vận động. Có một lần, sau khi tắm xong, tôi cởi trần và chỉ mặc một chiếc quần đùi, bố tôi trông thấy cơ thể tôi liền giật nảy mình: "Thằng nhóc này, chẳng cho nó ăn cái gì mà cũng có thể luyện tập được cơ thể như vậy." Trông giống như là sinh ra đã có xương cốt như sắt thép vậy. Tôi cũng luyện cơ bắp toàn thân, đến bây giờ vẫn duy trì được.

Jigme Lingpa ban đầu là một tiểu sa-di, ngài rất thông minh. Năm 13 tuổi, ngài đã gặp Thổ Đăng Đa Kiệt. Gia đình Jigme Lingpa không giàu có, vì vậy ngài mới bị gửi đến chùa làm một tiểu sa-di. Lúc tôi còn nhỏ, nhà tôi rất nghèo, vì sao vậy? Ông nội tôi có nhiều tiền, cả đường phố đều là nhà của ông, thế nhưng sau khi bị quân đội Mỹ ném bom, Đài Loan khi ấy vẫn thuộc về Nhật Bản, quân đội Mỹ chính là muốn ném bom vào quân Nhật, sau khi ném bom, những ngôi nhà của ông nội tôi đều bị cháy rụi.

Jigme Lingpa đã bái rất nhiều sư phụ, vào năm 13 tuổi, ngài đã bái một vị thầy tên là Đồ Khước Đa Kiệt. Vị thầy này đối xử với ngài rất tốt, thầy đã dạy cho ngài pháp Đại Thủ Ấn của Bạch giáo. Vì thế, ngài đã có được truyền thừa Đại Thủ Ấn. Thế nhưng Jigme Lingpa vẫn chưa thỏa mãn, đã bái rất nhiều sư phụ, ngài đã có được rất nhiều kiến thức Mật giáo, rất nhiều Bổn tôn gần như ngài đều đã có được hết.

Đến năm Jigme Lingpa 28 tuổi, ngài bế quan. Khi bế quan thì ngài dùng phương pháp thiền định, hễ thiền định là đầu của ngài liền tách ra, người ta mà đầu bị tách ra thì rất đau đớn, thế nhưng đầu ngài tách ra thì lại rất thoải mái, giống như bông hoa sen nở cánh hoa tách ra vậy. Từ bên trong nhật nguyệt luân ở chính giữa hoa sen liền xuất hiện một vị tôn giả, tôn giả này tên là vua Trisong Detsen, vua Trisong Detsen cai trị Tây Tạng. Sau vua Trisong Detsen, cách hai, ba đời thì không còn Tạng Vương nữa.

Vua Trisong Detsen hiển hiện trong bông hoa sen, Trisong Detsen nói với Jigme Lingpa: "Ta có pháp Đại Viên Mãn, là khi xưa Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho ta. Ngài, Jigme Lingpa tôn giả, chính là hóa thân thứ hai của ta." Ngài ấy chính là Trisong Detsen chuyển thế.

Vì sao tôi muốn giảng về Jigme Lingpa? Bởi vì Trisong Detsen chuyển thế thành Jigme Lingpa, bản thân tôi cũng là Trisong Detsen chuyển thế. Mọi người nghĩ xem, hoa sen nở ra, đầu tách ra, biến thành một đóa hoa sen, bên trong có nhật nguyệt luân, trong nhật nguyệt luân xuất hiện một vị tôn giả Trisong Detsen, sau đó nói rằng ngài thật sự có truyền thừa của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Vì thế, Jigme Lingpa đã trực tiếp mở ra truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn.

Jigme Lingpa ngồi yên lặng trong thiền định, đột nhiên hoa sen lại khép lại, ngài lập tức tỉnh ngộ, thì ra ngài chính là người kế thừa pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", ở đây nghĩa là ngài đã khám phá ra tiền kiếp của ngài, bản thân ngài chính là vua Trisong Detsen chuyển thế. Điều này là quá tuyệt vời, ngài lập tức tỉnh ngộ, rất nhanh chóng ngài đã chứng ngộ được pháp Đại Viên Mãn. Khi ngài đã chứng ngộ pháp Đại Viên Mãn, ngài vô cùng sung sướng.

Lúc này, còn có một vị tôn giả xuất hiện giảng giải cho ngài pháp Đại Viên Mãn, vị tôn giả này chính là Longchenpa, thế thì lại càng vĩ đại hơn. Longchenpa hiện lên giải thích cho ngài pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ". Vì thế, Jigme Lingpa tôn giả là tổ sư của pháp Đại Viên Mãn. Bởi vì ngài là Trisong Detsen chuyển thế, Trisong Detsen là người được đích thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ gia trì, cái gọi là terma chính là tất cả các pháp Đại Viên Mãn được đặt bên trong não của ngài. Mà Jigme Lingpa là Trisong Detsen chuyển thế, nên tự nhiên ngài ấy có thể lĩnh ngộ được pháp Đại Viên Mãn. Sư Tôn cũng như thế, có thể lĩnh ngộ được pháp Đại Viên Mãn, chính là nguyên nhân này.

Jigme Lingpa tôn giả cũng viết sách, cũng viết sách giống như Longchenpa tôn giả. Ngài ấy có một tác phẩm hay tuyệt vời, tên là "Công Đức Tạng", chính là pháp Đại Viên Mãn được giấu trong não của ngài. Trong não của Sư Tôn cũng giấu pháp Đại Viên Mãn. Ngài ấy có được sự gia trì của Longchenpa tôn giả, Longchenpa tôn giả hiện lên giải thích cho ngài nghe, vì thế ngài đã viết rất nhiều tác phẩm. Lão tổ sư Jigme Lingpa này cũng từng quảng truyền pháp Đại Viên Mãn, vô cùng thù thắng. Pháp Đại Viên Mãn của ngài phân thành hai loại, một loại là có tính chất quảng đại, và một loại là có tính chất thậm thâm, nghĩa là những khẩu quyết vô cùng sâu của pháp Đại Viên Mãn, cùng với những khẩu quyết có tính chất rộng lớn của pháp Đại Viên Mãn, đó là những gì mà tổ sư Jigme Lingpa đã có được. Nguyên nhân phải kể đến Jigme Lingpa chính là vì vua Trisong Detsen.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy pháp cho vua Trisong Detsen, cùng Yeshe Tsogyal. Yeshe Tsogyal ở cùng với Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, một người là Pháp vương, một người là minh phi của Pháp vương, ba người họ đều có được truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn, đây là một sự việc vô cùng thù thắng.

Chúng ta biết rằng Mật giáo có bốn đại pháp. Đối với Hồng giáo thì đó chính là pháp Đại Viên Mãn, đối với Bạch giáo thì là pháp Đại Thủ Ấn, Hoa giáo thì gọi là pháp Đại Viên Thắng Huệ, Hoàng giáo thì là pháp Đại Uy Đức, chính là bốn đại pháp này. Sư Tôn có truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn, có truyền thừa của pháp Đại Thủ Ấn, cũng có truyền thừa của pháp Đại Viên Thắng Huệ, cũng có truyền thừa của pháp Đại Uy Đức, bốn loại truyền thừa đều có.

Vì thế, mọi người đến với Sư Tôn ở đây thì Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa trong Mật giáo đều có hết. Sư Tôn có bốn vị Căn bản Thượng sư, Thượng sư thứ nhất là Liễu Minh Hòa Thượng, ngài ấy thuộc Hồng giáo, truyền thừa của ngài đến từ Norlha Hotogtu Thượng sư ở vùng Kham Tây Tạng. Khi Liễu Minh Hòa Thượng ở Tứ Xuyên đã theo Norlha Thượng sư. Bởi vậy, ngài đã có truyền thừa pháp Đại Viên Mãn của Hồng giáo. Thứ hai chính là Sakya Chứng Không Thượng sư của Hoa giáo, ngài ấy có pháp Đại Viên Thắng Huệ, ngài cũng dạy Sư Tôn, vì thế Sư Tôn cũng có được truyền thừa Đạo Quả và Hỉ Kim Cang. Thứ ba, Bạch giáo có pháp Đại Thủ Ấn, chính là do Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 ban cho Sư Tôn "Ngũ Phật nghiêm đỉnh quán", đây là truyền thừa của Ngũ Phật.

Truyền thừa của pháp Đại Thủ Ấn rốt cục từ đâu đến? Đến từ Bảo Ý Bồ Tát, A Đạt Nhĩ Mã Phật truyền pháp Đại Thủ Ấn cho Bảo Ý Bồ Tát. Bảo Ý Bồ Tát là ai? Chính là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử lại truyền cho Ngũ Phương Phật, Ngũ phương Ngũ Như Lai, rồi lại từ Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 quán đảnh cho Sư Tôn lại từ đầu. Vì thế, Sư Tôn biết rằng pháp Đại Thủ Ấn có bốn phương pháp, một là "chuyên nhất du già", một là "li hí du già", một là "nhất vị du già", cuối cùng là "vô tu du già". Tiếp theo, thứ tư là pháp Đại Uy Đức, là do Thubten Dorje Thượng sư truyền cho Sư Tôn.

Pháp Đại Uy Đức là gì? Là Đại Uy Đức Kim Cang 13 tôn pháp vô cùng hoàn thiện, bao gồm pháp Thời Luân Kim Cang, còn có đủ loại Phật pháp. Sư Tôn thu thập tất cả truyền thừa của bốn phái Hồng - Hoàng - Bạch - Hoa. Mọi người đến đây rồi thì không phải đến với người khác nữa.

Có một khách hàng đã phàn nàn rất nhiều: "Em ơi, món ăn của nhà hàng này chán quá." Cô gái phục vụ nhà hàng nói: "Sao có thể chứ?" Khách hàng nói: "Không tin thì kêu ông chủ của các cô đến ăn thử xem." Cô gái nói: "Thật xin lỗi! Ông chủ của chúng tôi đã sang nhà hàng bên cạnh ăn cơm rồi."

Tôi bảo mọi người, Sư Tôn mở ra nhà hàng này, cái gì cũng có, bảo đảm bạn ăn ngon, ăn no, lại còn được thưởng thức tuyệt vời, giá tiền thì lại rẻ, tất cả đều có hết, không cần phải đi đến chỗ khác ăn đâu.

Từ rất lâu trước đây Sư Tôn đã viết cuốn sách "Mật giáo Đại Viên Mãn", là cuốn số 56, trong cuốn sách này còn có "tâm trong tâm", chính là Nyingtik. Vì sao khi ấy tôi đã viết thành sách rồi? Bởi vì khi ấy tôi đã biết rồi. Mọi người đọc cuốn sách này sẽ biết những điều ảo diệu bên trong, bên trong là pháp cốt lõi của cốt lõi, chính là Nyingtik. Những thứ mà Sư Tôn dành cho mọi người đều rất trân quý đó.

Một người chồng nói với vợ: "Em yêu, em đoán thử xem anh mua quà gì cho em?" Vợ thờ ơ nói: "Cái gì vậy?" Người chồng chỉ vào một chiếc xe ô tô màu trắng ở gần đó: "Em có nhìn thấy cái xe ô tô màu trắng kia không?" Vợ rất háo hức nói: "Em thấy rồi, không ngờ anh lại mua xe tặng em." Lúc này người chồng nói: "Anh mua cho em một cái bàn chải đánh răng màu trắng." Cũng là màu trắng mà.

Những gì Sư Tôn tặng cho mọi người là rất quý giá đó. Không phải là những vật dụng hàng ngày, mà là những lễ phẩm quý giá để mọi người có thể vãng sinh Phật quốc, có thể chấm dứt sinh tử. Sư Tôn không phải là kẻ điên đâu! Không phải là những lời nói điên rồ, bạn đọc cuốn sách số 56 sẽ thấy tôi còn viết về "Công khai pháp vô thượng của Hồng giáo do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chân truyền".

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có truyền cho Sư Tôn pháp Đại Viên Mãn không? Ngài ấy sống cách Sư Tôn rất xa, mặc dù ngài ấy sống tới một nghìn tuổi, nhưng khi ấy tôi vẫn còn chưa ra đời mà! Làm sao có được truyền thừa của pháp Đại Viên Mãn? Tôi đã từng nhận hai truyền thừa, một là ngài ấy đã túm tôi vào trong một ngôi mộ cổ ở Nepal và ngài ấy đã quán đảnh cho tôi. Đầu tiên là ngài nuốt tôi vào bụng, sau đó tôi từ luân xa bí mật của ngài đi ra. Sau đó toàn bộ các lỗ chân lông của ngài đều phóng quang, tất cả mọi ánh sáng đều đi vào từ lỗ chân lông của tôi, đây là một quán đảnh rất vĩ đại đó! Quán đảnh qua lỗ chân lông, lỗ chân lông của ngài phóng quang, toàn bộ đều phóng vào bên trong lỗ chân lông của tôi. Tôi bị nuốt vào từ miệng của ngài, rồi đi ra từ luân xa bí mật, đúng là thay da đổi thịt đó! Tôi lại cũng là Trisong Detsen chuyển thế nữa.

Vì thế, nhờ có terma ở trong não của tôi nên tôi mới có thể đại công khai pháp vô thượng của Hồng giáo do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chân truyền, trong cuốn sách số 56 đã có nói rồi. Không phải là tôi uống rượu say rồi nói linh tinh đâu. Ở đây có một câu chuyện cười. Có một nữ sinh vào toilet đi vệ sinh. Có một gã say xỉn xông vào nhà vệ sinh nữ, nghe thấy âm thanh của tiếng đi tiểu, gã say rượu liền nói: "Đừng rót nữa, tôi thật sự không thể uống tiếp được đâu." Nữ sinh này giật thót mình, không dám đi tiểu tiếp nữa, nhưng không nhịn được bèn đánh một cái rắm. Gã say rượu liền nói: "Ô hô! Lại khui thêm chai nữa." Tôi muốn nói rằng Sư Tôn không phải là gã say rượu, tôi nói những lời rất thật, tôi không dọa mọi người, trong cuốn sách số 56, tôi đã viết "Mật giáo Đại Viên Mãn", khi ấy tôi còn rất trẻ! Nhưng tôi đã có được pháp rồi.

Jigme Lingpa thường có một giấc mơ, mơ thấy thân thể của mình biến thành rất to, nằm thẳng bắc ngang qua hai ngọn núi, rất nhiều người đi lên trên người ngài. Quái lạ! Sư Tôn lúc nhỏ cũng thường mơ thấy giấc mơ ấy! Giấc mơ này rất kì lạ đặc biệt, tôi đã viết trong sách. Giấc mơ của tôi là như thế nào vậy? Cũng là có hai ngọn núi lớn, thân thể của tôi nằm ở giữa hai ngọn núi, đầu ở núi này, chân ở núi kia, có rất nhiều chúng sinh đi trên người tôi. Điều này cho thấy Jigme Lingpa lại đến để độ hóa chúng sinh.

Hiện nay, truyền thừa của Jigme Lingpa cũng rất nhiều, lưu truyền rộng rãi ở Tây Tạng. Longchen Nyingtik của Longchenpa cũng lưu truyền rất rộng. Còn nữa, hiện nay Sư Tôn độ chúng sinh cũng rất nhiều, thuyết pháp, viết văn, chúng tôi có cùng một giấc mơ giống nhau! Chúng tôi thật sự đang độ chúng sinh đó! Không giống như một số người được gọi là "phụ Phật ngoại đạo" đâu! Hay là "đạo sĩ tóc rối" đâu! Những gì Sư Tôn đã giảng thì khác, những gì Sư Tôn viết cũng là chính pháp.

Sau này khi tôi giảng đến chính pháp, tôi sẽ giới thiệu với mọi người thế nào là Thanh Văn thừa, thế nào là Bồ Tát thừa, thế nào là Duyên Giác thừa, sự phân biệt nằm ở đâu. Trong pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" có ba thừa này, là do Phật Thích Ca Mâu Ni giảng. Trên phương diện du già thì có Sự Bộ, Hành Bộ, Du Già Bộ. Phân biệt như thế nào? Ba thừa sau cùng là Maha Du Già, A Nỗ Du Già, A Để Du Già, ba thừa này phân biệt như thế nào, tôi đều có thể lần lượt giải thích rõ ràng cho mọi người, mọi người sẽ hiểu được.

Có một câu chuyện cười, một cô gái luôn có rất nhiều chàng trai vây quanh. Một hôm, không thể chịu đựng được nữa, cô ấy phàn nàn với Tiểu Minh: "Đáng ghét quá! Vì sao xung quanh tớ luôn có một đám ruồi nhặng vậy?" Tiểu Minh liền trả lời: "Tớ không biết! Khả năng là vì cậu trông giống một đống phân!" Tất nhiên không phải thế rồi. Những nữ sinh xinh đẹp khi học cấp hai, cấp ba, đại học thì sẽ có rất nhiều người theo đuổi, đó chính là nguyên nhân mà các cô gái xinh đẹp đều không thể có được bằng tiến sĩ, bởi vì họ sớm đã có người theo đuổi, sớm đã lập gia đình, nên không tiếp tục học nữa. Nhưng vì sao cũng có rất nhiều nữ sinh có thể lấy được bằng tiến sĩ? Bởi vì họ không có người theo đuổi, không lấy chồng được, tốt nhất là đi học, vì thế lấy được bằng tiến sĩ. Rất nhiều tiến sĩ là như vậy, họ không có người theo đuổi mà! Tốt nhất là ngày ngày đi học.

Ấy! Phật Thanh cũng lấy được bằng tiến sĩ Luật, nó rất thích đi học, vẻ ngoài trông cũng không tệ, tướng mạo cũng khá được. Khi nó học cấp 3 thì Andy đã luôn theo đuổi nó rồi, trên bàn học của Andy viết đầy tên "fo-ching", thật sự là theo đuổi rất gắt gao. Cuối cùng chẳng còn cách nào, nó liền đi Santa Clarita California học đại học, hai đứa vẫn có liên lạc. Phật Thanh lại đến New York học tiến sĩ, đó là trường Lawyer School (Học viện Pháp luật), Andy vẫn không ngừng theo đuổi, thật đó! Hai người yêu nhau cuối cùng đã trở thành người một nhà, chẳng có cách nào. Không phải tiến sĩ nào cũng đều xấu, Phật Thanh cũng là tiến sĩ, thế mà tôi quên, I forgot.

Có một câu chuyện cười. Vợ rất tức giận nói với chồng: "Rốt cục anh có muốn bỏ thuốc không?" Chồng nói: "Được thôi! Anh chỉ cần hút thuốc vào hai thời điểm đặc biệt là được rồi." Vợ nói: "Vậy thì tốt, là hai thời điểm nào?" "Một là lúc trời mưa, hai là lúc trời không mưa."

Có rất nhiều việc rất khó giải quyết, thế nhưng chúng ta nhất định cần giải quyết được một việc. Việc này chính là: cuộc đời của chúng ta có thể đạt được sự giải thoát. Phật pháp chính là giải thoát cuộc đời của chúng ta, để chúng ta có thể đến được cảnh giới tốt đẹp hơn. Tôi chúc phúc mọi người đều có thể học tập Phật pháp được tốt. Om mani padme hum.

### Bài giảng số 10

**Thanh Văn thừa tin rằng nhân gian khổ nhiều vui ít, nhiều người đi vào núi sâu tu hành**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu Hoàng Tài Thần tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 13 tháng 7 năm 2013.)*

Hôm nay nội dung tôi muốn giảng là "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ pháp" là gì? Cửu thứ đệ là chín thứ tự nào? Tôi giải thích với mọi người một chút. Vốn dĩ pháp mà tôi muốn giảng hôm nay rất khô khan, nếu như là pháp sư khác giảng thì bản thân ông ta cũng mệt mà người nghe cũng mệt. Bản thân pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" rất khó nghe hiểu. Trước tiên tôi kể một câu chuyện cười. Một buổi tối, đêm đã khuya, có đứa bé đang ngủ thì khóc ré lên. Khi người bố quyết định hát một khúc hát ru để dỗ con ngủ, vừa hát được mấy câu thì hàng xóm liền chạy sang cự nự: "Thôi cứ để thằng bé khóc đi! Anh đừng hát nữa." Cho thấy rằng anh ta hát rất khó nghe.

Pháp hôm nay tôi muốn giảng không phải là rất dễ nghe, thế nhưng vẫn cứ phải giảng. Trước hết chúng ta giảng về ba thừa đầu tiên, ở giữa có ba Mật thừa, tiếp theo là ba thừa của Nội mật, cộng vào là thành chín thừa. Ba thừa đầu tiên chính là do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng, ba thừa ở giữa là Kim Cang Tát Đỏa giảng, ba thừa sau cùng là Bản Sơ Phật giảng, có phân biệt như vậy. Vì thế, chúng ta nói về pháp mà Phật Đà thuyết trước đã. Chín thứ tự này cũng chính là chín nấc thang, từng nấc từng nấc thang đi đến viên mãn. Điều này rất quan trọng, giống như trèo cầu thang vậy, bậc thứ nhất, bậc thứ hai, bậc thứ ba, bậc thứ tư, bậc thứ năm, bậc thứ sáu, bậc thứ bảy, bậc thứ tám, bậc thứ chín. Đến bậc thứ chín thì là cao nhất rồi. Do đó gọi là cửu thứ đệ, ý nghĩa là chín bậc thang.

Chúng ta học Phật không thể làm người mù. Lúc đang dạo phố, có một người ăn mày đeo kính râm chặn một người đàn ông và vợ ông ta lại. Ông ta chặn người đàn ông trước, nói: "Soái ca, hãy làm ơn làm phước! Tôi là người mù." Người đàn ông đang chuẩn bị lấy tiền từ trong túi ra, bà vợ liền ngăn lại: "Đủ rồi! Quá rõ ràng rồi, hắn ta không phải là người mù." Người đàn ông liền nghĩ một lúc rồi chỉ vào bà vợ, hỏi kẻ ăn mày mù: "Người phụ nữ này có xinh không?" Sau khi tên mù nhìn vợ của người đàn ông liền nói: "Ôi! Xinh quá." Người đàn ông nói với bà vợ: "Không sai đâu, hắn ta đúng là mù rồi." Học Phật không thể làm một kẻ mù, cần phải xem xét rõ ràng, chín thứ tự này đều cần phải hiểu rõ ràng. Có người học Phật nhưng thật sự là kẻ mù. Rõ ràng là Phật pháp nhưng lại cố chấp không học. Thế họ học cái gì? Học xem bói. Đoán mệnh là pháp thế tục, thuộc về pháp thế gian.

Mặc dù cái gì cũng đều là Phật pháp, không sai! Thế nhưng, học Phật pháp cần học điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, Kim Cang Tát Đỏa giảng, Bản Sơ Phật giảng, như vậy thì mới là chính đạo. Có người nói "cửa hông thì cũng là cửa", giống như là ở đây bạn đi qua cánh cửa của phòng âm thanh và ghi hình thì đó cũng là cửa, cũng có thể vào được đại điện, cửa hông cũng là cửa, thế nhưng đi cửa này thì xa hơn, cửa nào gần nhất thì đó là cửa chính, cửa nào xa hơn thì đó là cửa hông. Phải đi vòng vòng vòng vòng một hồi thì mới vào tới nơi, cũng đúng thôi! Thật ra, đoán mệnh cũng không sai, xem địa lý cũng không sai, chẳng qua đó vẫn chỉ là pháp thế tục mà thôi.

Phật Thích Ca Mâu Ni tương đối là không chủ trương pháp thế tục. Vì thế, ngài đã tổ chức tăng đoàn, tăng đoàn chính là những người xuất gia. Những người tại gia thì phải đi vòng rất nhiều con đường, bởi vì họ cần phải làm rất nhiều việc thế tục. Hôm nay có một đồng môn hỏi tôi, mỗi ngày anh ta phải làm việc kiếm tiền, thế nhưng trong khi kiếm tiền thì lại mất đi công phu tu hành. Những người xuất gia thì tương đối chuyên nghiệp hơn, người xuất gia ngày ngày đều làm công khóa tu hành, chuyên nghiệp hơn, không có kiếm tiền, không ở bên ngoài làm các việc thế tục. Đời người vốn dĩ rất ngắn ngủi, bạn làm sự nghiệp thế tục, bận rộn với những việc thế tục, thời gian tu hành sẽ ít đi, thì lại càng khó hơn. Vì thế, nếu như muốn tu hành thì xuất gia vẫn chuyên nghiệp hơn một chút. Sự khác biệt giữa đi đường chính và đi cửa hông nằm ở đây.

Đời người rất ngắn, cái gì đáng trân trọng thì cần trân trọng, cái gì nên từ bỏ thì từ bỏ. Đồng môn nói với tôi: "Tiền kiếm được cũng không tồi! Gia đình cái gì cũng tốt, tuy vậy vẫn cảm thấy chính xác là đang sống qua ngày tại thế gian. Có đúng không?" Thật ra, chính xác là cần có một phương pháp tu hành về mặt tinh thần. Người tại gia vẫn cần dành ra một chút thời gian để tu hành. Người xuất gia thì chuyên môn với công phu tu hành, có nghĩa là tập trung vào đạo giải thoát và đạo bồ đề.

Đầu tiên Phật Thích Ca Mâu Ni giảng về Thanh Văn thừa, là thứ bậc đầu tiên trong chín thứ bậc. Thanh Văn tu Tứ Thánh Đế khổ - tập - diệt - đạo, cũng chủ trương "vô ngã", nhưng cho phép có tâm vĩnh cửu. Điều này tương đối khó giải thích, một người có tâm liên tục tồn tại thì đó là Thanh Văn thừa.

Có một câu chuyện cười, xe hơi cưới tàu hỏa, chẳng bao lâu thì li hôn. Xe hơi vô cùng đau buồn kể: "Anh ấy ngày ngày lo lắng cho mình bị đâm, còn mình thì sao, mình lúc nào cũng sợ anh ấy đi chệch khỏi đường ray, không thể chịu được. Vì thế mà hai chúng tôi li hôn." Xe hơi và tàu hỏa li hôn. Thật ra, Thanh Văn thừa chính là xe hơi, chở được ít người, đại bộ phận đều là tu hành một mình, khá nhiều người đi vào trong núi sâu tu hành, thậm chí người xuất gia còn nhiều hơn. Thanh Văn thừa cho rằng thời gian ở thế gian rất ngắn, rất khổ, thời gian vui vẻ thì chẳng có nhiều.

Mọi người thử nghĩ một chút mà xem, tôi thường hay nói: "Một tuổi bắt đầu một cuộc đời", đều là cha mẹ chăm sóc cho bạn! Chẳng có gì khổ, chẳng có gì vui, bắt đầu đi học thì bắt đầu khổ rồi. Người khác đi học cảm thấy rất vui, nhưng tôi đi học thì lại thấy rất đau khổ. Bởi vì tôi thi cử thường trượt. Vì thế mà tôi phải ở lại lớp! Tôi bị lưu ban hai lần đó! Đối với tôi mà nói thì đi học đương nhiên là rất khổ. Rõ ràng là bình thường tôi rất thoải mái, nhưng hễ gặp thi cử là tôi liền khổ sở, gặp kì thi là tôi lại không ngủ được. Hễ gặp kì thi là lại không dám nhìn người khác nữa, rất là khổ, rất mệt mỏi. Tuy nhiên, đi học là khổ, vì sao vẫn cần đi học? Ai đưa ra quy định đó? Thật khiến tôi tức chết mất. Lúc 10 tuổi, việc học hành là quan trọng nhất. Mọi người chăm chỉ phấn đấu. Học sinh tiểu học cũng hiểu rằng cần phấn đấu học hành, phấn đấu đứng thứ nhất. Tôi từng có một người bạn học như thế này, cậu ấy luôn đứng thứ nhất, có một lần rớt xuống vị trí thứ hai, cậu ấy liền tự sát. Khổ quá! Không đứng thứ nhất được thì rất đau khổ. Còn học sinh yếu kém như tôi đây, lần nào cũng đứng bét lớp, tôi chẳng thấy khổ tí nào. Bởi vì tôi vốn dĩ chính là như vậy, trái lại, rất nhiều người phía bên kia cạnh tranh tới lui thì rất khổ. Đi học có khổ không? Khổ chứ! Khi Phật Thanh học tiến sĩ Luật, nó nói: "Học luật khổ quá!" Sách à! Đọc đọc đọc, cuối cùng cầm sách lên, tức giận quăng cuốn sách đi thật xa. Kết quả là cũng vẫn phải bò bò bò bò, bò đi mà nhặt sách về rồi đọc tiếp. Đi học vốn dĩ là khổ mà! Có cái gì không khổ? Học xong, tốt nghiệp rồi đi làm, thế cũng là khổ!

Bạn cho rằng làm việc rất vui vẻ sao? Sếp của bạn bất ngờ điều bạn vào vị trí rất vất vả lại lương thấp. Mỗi người đi làm chẳng phải khổ sao? Kiếm tiền là khổ! Kiếm tiền rất khó đó, kiếm tiền có thể coi là một việc khó, cũng rất khổ. Gia đình, có khổ không? Gia đình là cái gông trói tay bạn lại, nhốt bạn vào trong hoàn cảnh ấy, một tờ giấy đã trói buộc hai người lại với nhau. Có khổ không? Gia đình cũng là khổ mà! Bạn xem rất nhiều người li hôn, những người yêu nhau thật sự rất ít, những người mà bạn trông thấy đại bộ phận đều là khổ. Hễ cãi nhau là hai người thận chí nửa năm cũng không thèm nói chuyện.

Có gia đình nào không khổ? Bạn nói xem, trước khi kết hôn, yêu đương có khổ không? Tình yêu mới là thuốc đắng, Vu Tiên đã nói rồi, bạn tìm thấy tình yêu chính là tìm thấy kẻ thù. Như tôi vừa kể, xe hơi và tàu hỏa kết hôn, tàu hỏa từ sáng tới tối lo lắng xe hơi bị đâm, còn xe hơi thì từ sáng tới tối lo lắng tàu hỏa trật bánh, tàu hỏa sẽ rơi khỏi đường ray. Liệu có trật đường ray không? Xã hội hiện đại, bất kể bạn có kết hôn hay không, con trai muốn theo đuổi con gái, bất kể là con gái đã kết hôn hay chưa, có bạn trai hay chưa, hoặc là như thế nào đó thì vẫn cứ theo đuổi thôi! Con gái cũng thế, bất kể là người con trai kia đã kết hôn hay chưa, hay là đã có bạn gái chưa, bất kể như thế nào cũng vẫn theo đuổi! Khắp nơi là các cuộc tình tay ba, tay bốn, tay năm, tay sáu, tay bảy, rốt cục là tay nào mới là thật đây? Chẳng thể hiểu được. Như thế có khổ không? Thật sự là thuốc đắng. Gia đình chính là một cái gông đã đóng khung bạn lại, một tờ giấy khiến cho bạn vĩnh viễn không thấy được ngày hết hạn nằm ở đâu, một tờ giấy đã hạn chế bạn, đều là khổ cả!

Càng khổ hơn là còn có những tai nạn liên quan đến đất nước lửa gió. Bỗng dưng động đất, bỗng dưng hỏa hoạn, bỗng dưng gió bão, bỗng dưng ngập lụt, những của cải vất vả kiếm được bỗng chốc tiêu tan, có khổ không chứ? Khổ mà!

Người với người ở cùng nhau là khó nhất, cái gọi là "làm người khó" đó là bạn và người khác rất khó hòa đồng, tự nhiên hôm nay đang tốt, ngày mai đã xấu rồi. Hôm nay tâm trạng tốt, ngày mai đã lại thành xấu, ngày sau nữa tâm trạng lại tốt, ngày sau đó nữa tâm trạng lại không tốt. Thời tiết cũng như vậy, hôm qua lạnh, hôm nay nóng, ngày mai càng nóng hơn, có phiền phức không? Nóng thì cũng nóng chết mất, lạnh thì cũng lạnh chết mất. Seattle đây này! Nóng thì nóng muốn chết, lạnh thì lạnh muốn chết. Trước kia Seattle đâu có nóng như thế, chính là vì những người di dân đến đây mang theo cả cái nóng tới.

Trước kia Seattle rất lạnh. Khi tôi đến đây, từng có cả ba năm chẳng hề đổ mồ hôi. Gần đây tôi phát hiện thấy mình đổ mồ hôi, thời tiết biến đổi rồi, bạn cho rằng lòng người không thay đổi sao? Lòng người cũng thay đổi đó. Hôm nay nói yêu bạn, aishiteru, ngày mai lại nói NO! Chia tay! Thay đổi quá nhanh, lật mặt cũng nhanh như lật sách vậy, thay đổi liên tục, chỉ không phải là thay đổi mỗi ngày mà thôi. Buổi tối ăn cơm vẫn còn vui vẻ, sau khi ngủ một giấc dậy thì không còn vui vẻ nữa rồi. Bạn nói xem có khổ hay không? Khổ mà! Làm người gì đây chứ! Chẳng bằng tu hành, chúng ta đi tu, tu Thanh Văn, đi vào trong núi sâu tu, bởi vì khổ quá mà! Cái thứ nhất chính là khổ, rời xa nhân gian, tôi tự mình đi tu hành, buông bỏ tất cả nỗi khổ của nhân gian.

Tập hợp tất cả các cái khổ lại thì vẫn còn đó! Bệnh khổ không khổ sao? Khổ nhất chính là bệnh đó! A Di Đà Phật! Bạn vào bệnh viện, những quỷ tốt của Diêm Vương cầm dao cưa đầu của bạn, cầm dao cưa bụng của bạn, xem xem bạn bị bệnh ở chỗ nào thì sẽ giúp bạn mổ. Nước Mỹ thích nhất là mổ đó, chỗ nào có bệnh thì mổ ở chỗ đó. Bạn nói xem, đau răng có đau không? Đau chết đi được, điều này bác sĩ nha khoa biết, đau đến chết đi được, sợ chết khiếp. Trước kia chúng ta nhổ răng là dùng sợi dây chỉ buộc vào răng, một đầu buộc vào phía trên cánh cửa, dùng chân đạp vào cánh cửa một cái thì răng cũng bay ra luôn, ngày xưa nhổ răng là như vậy, có khổ không chứ? Khổ mà! Hễ vào viện là bất kì ai cũng bị xâu xé, nhỏ xíu như bệnh cảm, nhiễm lạnh một tí, đau đầu một tí là đã khiến bạn rất không thoải mái rồi, thỉnh thoảng lại đau, đau lưng, đau vai. Bảy mươi tuổi rồi, tôi chưa bao giờ đi soi chiếu bao giờ, bác sĩ bảo tôi "đi soi ruột đi", "đi kiểm tra mắt đi". Tôi bảo: "Mắt tôi có chỗ nào cần phải kiểm tra chứ?"

Tám đại pháp của Diêu Trì Kim Mẫu (có pháp luyện mắt), mắt của tôi có thể chuyển động rất lợi hại đó, chữ rất nhỏ tôi đều có thể nhìn rõ được. Tôi lái xe chưa bao giờ đeo kính, trước nay chẳng hề đeo kính. Có một số người rất khổ sở, có hai cặp kính, một là kính viễn thị, hai là kính loạn thị, viễn thị, loạn thị, cận thị, ba loại kính, bốn loại kính, viễn thị đều có cả, rất khổ sở đó. Có người đi mổ laser, nghe nói sau khi mổ laser, mấy năm sau lại tái phát. Liên Chủ đó! Mắt ông thế nào rồi? Vẫn tốt à? Số ông thế là may đó! Ông ấy đi mổ laser, thật may tất cả đều vẫn tốt. Thật đó! Rất nhiều người thân thể có bệnh, khổ muốn chết. Già, có khổ không? Khổ mà! Bạn nhìn xem những người ở viện dưỡng lão, khá nhất thì là dùng những dụng cụ hỗ trợ cho việc đi lại, tiếp đến những người kém hơn thì phải ngồi xe lăn, tiếp đến người kém hơn nữa thì toàn thân phải cần có người khác phục vụ. Một số người có thể lái xe là rất tốt rồi, người không thể lái xe, phải để người ta lau lau rửa rửa thì còn công dụng gì đây?

Đời người căn bản chính là khổ đó! Sống cũng khổ, già cũng khổ, bệnh cũng khổ, chết cũng khổ. Sự đau đớn lúc sắp chết thì cho dù bạn có quyền uy gì, bạn là quốc vương hay hoàng tộc, hoặc bạn là người gì thì cũng đều phải già, phải chết. Hơn nữa, đến lúc tuổi già, bệnh tật ập đến thân bạn rồi thì bạn sẽ biết khổ sở là thế nào. Rốt cục bạn trẻ được bao lâu? Từ 20 tuổi đến 40 tuổi, là lúc tinh hoa nhất, được bao nhiêu năm? 20 năm, trừ đi 10 năm cho việc ngủ, chỉ còn lại 10 năm, bạn có gì gọi là vui chứ? Vẫn là tu hành tốt hơn mà! Thanh Văn thừa nghĩa là những người đi vào núi sâu tu hành, tu đạo giải thoát, nhận định rằng bản thân mình chẳng có, là Không! Chỉ còn lại một cái tâm, tâm tương tục <span className="note-blue">[liên tục không gián đoạn]</span>. Tu khổ, tập, tập trung tất cả mọi cái khổ lại, diệt, diệt hoàn toàn các nhân của khổ này, biến thành vô ngã mới có thể giải thoát. Đây chính là Thanh Văn thừa.

Thứ tự thứ hai gọi là Duyên Giác thừa. Thế nào là Duyên Giác thừa? Bạn có 12 nhân duyên, bởi vì tất cả đều là nhân duyên quả báo, trong Phật pháp gọi là 12 loại nhân duyên quả báo "vô minh, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử", nghĩa là cái này biến thành cái kia, cái kia lại biến thành cái khác, biến đổi tới cuối cùng thì lại quay trở về biến thành cái này, gọi là pháp "thập nhị nhân duyên". Biến tới biến lui, đến cuối cùng, biến thành một sự trống rỗng. Duyên Giác thừa chính là ngẫm nghĩ theo sự biến hóa của thập nhị nhân duyên, nghiền ngẫm mà biết về vô ngã, và còn hiểu được về "vô ngã" và "vô pháp". Pháp là thứ gì, chính là tất cả mọi thứ trên thế gian, những thứ này cũng đều là Không cả. Xe hơi, nhà cửa, bao gồm cả bạn bè tốt, thậm chí là vợ con, người yêu, đều là không hết. Sao lại không là không được chứ? Có một ngày sẽ đều biến thành không hết! Theo pháp nhân duyên thì đều biến thành không, không có một thứ tương tự nào là của bạn, con cái không phải là của bạn, vợ cũng không phải là của bạn, người thân yêu nhất cũng không phải của bạn, xe đắt tiền nhất cũng không phải của bạn, nhà cửa cũng không phải là của bạn, tất cả mọi thứ đều không phải là của bạn, đều sẽ hư hoại, bao gồm chính bản thân bạn cũng sẽ hư hoại.

Vì thế, Duyên Giác thừa cho rằng là vô ngã, vô pháp, pháp ở đây là đại diện cho tất cả mọi thứ của thế gian, chứ không phải là pháp trong Phật pháp. Đây gọi là "ngã pháp đều không" <span className="note-blue">[ta và mọi thứ đều là không]</span>. Bạn đã nhận thức được tất cả mọi thứ trên thế gian đều là không, bao gồm cả bản thân cũng không có. Sau đó, bạn theo đó mà đi vào trong núi sâu, y theo pháp thập nhị nhân duyên mà đạt được giải thoát, cái này trong Phật giáo gọi là "Nhị thừa". Giai đoạn thứ nhất gọi là Thanh Văn thừa, giai đoạn thứ hai gọi là Duyên Giác thừa. Chúng ta tu hành thì nên suy nghĩ như vậy, "khổ, tập, diệt, đạo, 12 nhân duyên". Tiếp theo là Bồ Tát thừa, là do Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Bồ Tát lấy việc làm lợi cho người khác là chính, chỉ vì người khác, dựa vào phương pháp "lục độ". Lục độ chính là nội dung trước đây Sư Tôn thường giảng, cần bố thí, cần giữ giới, cần tinh tấn, cần nhẫn nhục, cần trí huệ, cần thiền định, dùng những phương pháp này để dạy bảo chúng sinh.

Bồ Tát lấy việc lợi tha làm chủ, dựa vào sự tu hành lục độ, Bồ Tát hoàn toàn là "ngã không", "pháp không", khi đến cảnh giới Bồ Tát thì tâm liên tục dường như cũng không có nữa. Sư Tôn cũng không còn tâm nữa, bởi vì tâm đã bị người ta lấy đi mất rồi. Vì thế, tôi không còn tâm. Đây là Bồ Tát thừa. Tôi giới thiệu đơn giản ngắn gọn mấy thừa này như vậy, bạn cho rằng tu hành rất dễ sao? Ba thừa này rất khó, đều cần tu hành thời gian dài, Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói như vậy.

Có một người chủ nông trại có một con gà chạy rất nhanh, rất nhiều khách du lịch đều tranh nhau đến để xem con gà này rốt cục chạy nhanh tới mức nào. Một hôm có một phú ông đến, trông thấy con gà này, phúc ông vô cùng kích động, định bỏ tiền ra mua. Khi phú ông nói với người chủ nông trại rằng: "Ta sẽ bỏ một trăm nghìn đồng ra mua con gà của anh." thì thấy người chủ nông trại lắc đầu, nét mặt chẳng có chút biểu cảm. "Trăm nghìn đồng ít quá sao? Thế thì, hai trăm? Năm trăm? Một triệu để mua con gà của anh nhé." Mỗi lần phú ông tăng tiền, người chủ trang trại đều lắc đầu không biểu cảm gì cả. Cuối cùng, phú ông không chịu nổi nữa, bèn hỏi: "Ta đã đưa ra nhiều tiền như vậy rồi, vì sao anh không bán cho ta?" Người chủ nông trại trả lợi: "Bởi vì tôi không bắt được nó."

Tôi nói cho bạn biết, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng về Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa rất đơn giản. "Bạn hãy ngẫm nghĩ về khổ, tập, diệt, đạo thế là giải thoát rồi." "Bạn hãy ngẫm nghĩ về thập nhị nhân duyên, đến cuối cùng là không, thì bạn cũng giải thoát rồi." "Làm một Bồ Tát thì tâm nào cũng không còn nữa, tâm của chính mình cũng không còn, chỉ là luôn giúp đỡ người khác, dùng pháp lục độ vạn hành, luôn luôn giúp người." Đây là tư lương đạo, thu thập tư lương của cõi trời, thì có thể giải thoát đến nơi tốt đẹp hơn, trở thành một vị Bồ Tát, bản thân hoàn toàn không còn nữa.

Thật ra, Thanh Văn cũng là vô ngã đó. Duyên Giác cũng là vô ngã đó! Còn có vô pháp, Bồ Tát cũng là vô ngã, vô pháp đó! Sau đó lại đi làm việc lợi tha, làm những việc của tư lương đạo. Duyên Giác và Thanh Văn thì tương đối ít làm những việc của Bồ Tát thừa, chỉ là khiến cho bản thân được giải thoát xong là thôi. Vì thế, họ đều đi vào núi sâu tu hành. Còn Bồ Tát tại thế gian thì luôn giúp đỡ người khác, dùng pháp để giúp đỡ người khác, dùng tiền để bố thí giúp đỡ người khác, hơn nữa còn làm liên tục không ngừng, luôn luôn làm tư lương đạo. Đó là phương pháp của Bồ Tát, tuy nhiên cũng đều không phải là rất dễ dàng đâu. Cũng giống như con gà kia chạy rất nhanh, muốn mua được nó cũng rất khó, bởi vì bạn chẳng đuổi kịp được nó. Tu hành không dễ đâu! Phật Thích Ca Mâu Ni mới chỉ có giảng về ba loại Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa mà bạn đã khó làm được rồi, rất khó để theo kịp rồi.

Có những người rất ki bo kẹt sỉ, bo bo giữ tiền để làm cái gì? Đương nhiên cũng có lợi, chuẩn bị cho tương lai già rồi thì vẫn có tiền để tiêu, nhưng mà tiêu không hết, tiêu không hết thì hãy để làm phúc cho người khác. Còn con trai, con gái, cháu trai, cháu gái, chúng đều cần tiêu tiền của bạn, như chúng ta hiện nay đều đã đang tiêu tiền của con mình, tiêu hết sạch tiền của chúng rồi. Của mình cũng là của chúng, tiền của mình cũng là tiền của chúng sinh, sau này cũng chẳng biết tiền sẽ đi về đâu nữa. Bạn bo bo giữ chặt tiền, đến cuối cùng, con cái bạn cũng tiêu hết sạch, cháu trai cháu gái cũng tiêu hết sạch. Ông nội tôi giữ tiền chặt muốn chết, nhưng sáu bà vợ cũng tiêu hết sạch tiền của ông. Lúc ông chết thì mỗi bà vợ cũng mang theo một hòm vàng bạc châu báu, giống như chiếc hòm kho báu ở Đảo Hải Tặc vậy, còn đem theo rất nhiều tiền bạc bỏ đi nữa, bố tôi liền trở thành kẻ nghèo xác xơ. Bởi vì của cải đã bị các bà mẹ lấy đi hết rồi. Nghe nói bà nội tôi, bà là người vợ thứ ba, lúc ông nội tôi qua đời, bà cũng cầm hòm tiền dọn đi, bỏ đi đến nhà bạn trai. Ông nội thì không tiêu tiền, còn bà nội thì đem theo hòm tiền đó dọn tới nhà bạn trai, bạn trai tiêu hết sạch tiền rồi thì bà lại một mình quay trở về, trở về nhà bố mẹ tôi nói: "Anh nuôi tôi đi!" Bạn xem, ai có số may thì người ấy tiêu. Bạn cho rằng đó là tiền của bạn sao? Ông nội tôi cho rằng có sáu hòm giống như đảo kho báu, cũng từng hòm từng hòm châu báu giống như vậy, nhưng rồi ai tiêu? Sáu bà vợ đều lấy đi hết, mỗi người lại còn tái giá với người khác nữa. Bố tôi lại chẳng kiếm ra tiền. Khi tôi kết hôn, chiếc nhẫn một carat vẫn là dùng tiền lương của tôi để mua, chỉ hơi to một chút thôi, là một carat nhỉ? À 0,2 carat! Có viên nhỏ như vậy sao? Thảm quá! Tôi thật sự chẳng có tiền để cưới vợ, tôi tiết kiệm được hơn bốn vạn Đài Tệ để kết hôn, đến lúc cưới xong thì tiền cũng không còn. Cái gì là của bạn đây? Chẳng có thứ gì là của bạn cả, chẳng có đâu. Rất nhiều người cho rằng vợ là của ta, chồng là của ta, NO! Bạn cho rằng người yêu là của bạn, NO! No way! Để cho bạn trân trọng tạm thời thì được thôi.

Rất khó theo đuổi một món đồ, tu hành càng khó hơn! Bạn vào núi sâu tu hành cả đời, thật ra, công phu của bạn cũng không có được bao nhiêu. Vì thế, ba thừa mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói cũng giống như con gà chạy nhanh kia, muốn bắt nó cũng rất khó, muốn có được nó là rất khó, bạn cũng chẳng có được, bởi vì bạn chẳng có cách nào bỏ đi cái tôi, cũng chẳng thể nào bỏ hết nào là pháp, nhà cửa, xe cộ, vàng bạc tài bảo, và còn cả người mà bạn yêu nhất nữa, còn nói chuyện tu hành cái gì chứ?

Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa đều nói xong rồi. Mọi người nghe rồi là được, dù sao mọi người cũng không có nắm được, đương nhiên cũng có người nắm được, nếu bạn tu hành vô cùng nghiêm túc thì có thể xem bản thân mình thành không, buông bỏ hết tất cả mọi thứ, như thế thì cũng rất gần rồi. Chỉ là bạn không thể buông bỏ hết được, bạn không thể bỏ hết, buông bỏ không được, bản thân bạn không có cách nào biến mình thành không được, những thứ bên ngoài không thể coi như không có được, thế thì bạn không thể giải thoát được bản thân.

Tôi lại giảng tiếp về Mật tam thừa vậy! Mật giáo ban đầu có "Sự mật", lúc mới bắt đầu là "Sự mật". Thế nào là "Sự mật"? Điều tôi nói đến là "Pháp sự mật", Bổn tôn là Bổn tôn, bạn cần lễ bái Bổn tôn giống như người hầu, sau đó là cúng dường Bổn tôn. Bổn tôn là chủ nhân của bạn, bạn là người hầu, Mật pháp như vậy gọi là pháp "Sự mật". Tôi phân biệt một cách đơn giản cho mọi người thấy thế nào gọi là "Sự mật". Đó là mọi loại phương pháp phục vụ Bổn tôn của bạn. Bạn muốn thỉnh Bổn tôn đến, ví dụ như muốn thỉnh Chuẩn Đề Phật Mẫu, đầu tiên bạn phải niệm kinh chú của Chuẩn Đề Phật Mẫu, niệm bảy ngày bảy đêm, đốt đèn để cúng dường, lấy hoa, hương, đèn, trà, quả để cúng dường, cuối cùng Bổn tôn sẽ hạ giáng.

Lúc này Bổn tôn sẽ gia trì cho bạn, bạn giữ giới luật của Bổn tôn, bạn tu trì pháp của Bổn tôn, đây gọi là "Sự mật". Cơ sở đầu tiên của Mật giáo đó là Bổn tôn là chủ nhân của bạn, bạn là người hầu, mỗi ngày bạn đều phải cúng dường Bổn tôn, lễ lạy Bổn tôn, cần sám hối với Bổn tôn, bạn làm sai việc gì, phạm vào giới luật gì, bạn đều phải sám hối với Bổn tôn, cách thức mở đầu chính là như vậy. Bổn tôn là chủ nhân của bạn, bạn là người hầu, cách tu hành Mật giáo như vậy gọi là "Sự mật", có thể giúp thanh tịnh sắc thân của bạn. Thân thể của bạn giữ giới luật, khẩu giữ giới luật, ý niệm giữ giới luật, đó là điều quan trọng nhất. Khi thỉnh cầu Bổn tôn gia trì, bạn phải làm đủ các nghi quỹ, để Bổn tôn gia trì cho bạn, đây là phương pháp số một.

Thứ hai là tiến thêm một bước nữa, gọi là "Hành mật". Đây là nấc thang thứ năm (thứ tự). Thế nào là "Hành mật"? Nghĩa là Bổn tôn và bạn đã có thể "đối sinh" rồi. Cái mà hiện tại chúng ta đang tu chính là "Hành mật". Thế "Hành mật" là gì? Chính là Bổn tôn xuất hiện trên biển, tại hoa sen, tại nhật nguyệt luân, từ chú tự xoay vòng, Bổn tôn xuất hiện rồi, bạn không cần phải niệm kinh rất lâu nữa, bạn chỉ cần trì chú của Ngài là được rồi, hoặc là quán tưởng Ngài là được rồi, hoặc kết thủ ấn của Ngài là được rồi. Làm như vậy thì Ngài sẽ đến để gia trì cho bạn, khiến thân khẩu ý của bạn thanh tịnh, đây gọi là làm "đối sinh". Bổn tôn là Bổn tôn, bạn là bạn, nhưng một cách nhanh chóng, Bổn tôn liền xuất hiện, đây gọi là "đối sinh".

Đương nhiên cũng cần cúng dường Ngài, bái lạy Ngài, thỉnh cầu Ngài gia trì, để khiến cho thân khẩu ý của bản thân bạn được thanh tịnh, đây gọi là "Hành mật". "Sự mật" nói về phương pháp phụng sự Bổn tôn, bạn là người hầu. Đến "Hành mật" thì Bổn tôn chính là bạn bè của bạn, mối quan hệ giữa bản thân bạn và bạn bè. "Tôi mời … \{祂-也+你-人\} đến nhà tôi, tôi dâng trà cho bạn, mời bạn gia trì cho tôi, chỉ đạo cho tôi về Phật pháp." Lúc này gọi là "Hành mật", có nghĩa là Bổn tôn có thể đối diện với bạn, tác dụng của "đối sinh" cũng là thanh tịnh thân khẩu ý của bạn.

"Du già mật" chính là bậc thứ sáu. Tôi tóm gọn một cách đơn giản, mật thứ nhất, Bổn tôn là chủ nhân của bạn; mật thứ hai, Bổn tôn là bạn, friend của bạn; mật thứ ba "Du già mật" thì Bổn tôn chính là bạn rồi, như thế là tương ứng rồi. "Du già mật" chính là tương ứng, bạn và Bổn tôn đã rất gần rồi, Bổn tôn dung nhập vào bên trong thân thể của bạn, lời bạn nói ra là lời của Bổn tôn, âm thanh bạn nghe thấy chính là âm thanh của Bổn tôn, thân thể bạn chính là Bổn tôn, đây chính là giai đoạn thứ sáu.

Mật tam thừa có ba giai đoạn: Sự mật, Hành mật, Du già mật, là do Kim Cang Tát Đỏa giảng, cũng có thể nói rằng do Kim Cang Thủ Bồ Tát giảng, nói như vậy là rất rõ ràng rồi nhỉ! Mật giáo cao nhất, chúng ta còn chưa nói đến Ma ha du già, A nỗ du già, A để du già, bởi vì pháp Đại Viên Mãn đặc biệt nói về A để du già, còn chúng ta chỉ mới nói đến Mật tam thừa thôi. Mật thứ nhất, Bổn tôn là chủ nhân của bạn, mật thứ hai - Hành mật - Bổn tôn là bạn của bạn, mật thứ ba gọi là Du già mật, Du già mật thì gọi là tương ứng. Khi đã tương ứng cùng Bổn tôn thì Bổn tôn chính là bạn, bạn chính là Bổn tôn.

Ở Đài Loan, có một lần tôi ho rất dữ dội, không có cách nào ngừng ho. Kì lạ! Lên pháp tọa thì không ho, xuống khỏi pháp tọa thì lại ho. Vì thế, rất ít người biết tôi đang bị ho, tôi ho rất dữ dội. Thế nhưng hễ lên pháp tọa, bắt đầu giảng pháp thì lại không ho nữa. Cổ họng tôi ngứa thì ấn vào một chút là cũng không ho nữa. Khi một người bị ho thì rất khó mà bảo họ không ho nữa là có thể không ho, nếu mà thế thì bạn đã là bác sĩ rồi! Chuyên trị ho! Trong Du già mật, tôi đã tu đến mức độ tương ứng rồi, Bổn tôn chính là tôi, tôi chính là Bổn tôn đó! Mỗi lần khi tôi sờ đầu cho mọi người, tôi chắp tay lại, sau đó Bổn tôn liền hạ giáng xuống thân tôi, tay của tôi chính là tay của Diêu Trì Kim Mẫu, khi sờ đầu thì chính là tay của Diêu Trì Kim Mẫu đang sờ đầu mọi người đó, có nghĩa là Bổn tôn của tôi đang sờ đầu mọi người. Đó là Du già mật.

Bạn có thể khiến cho Bổn tôn của bạn dung nhập vào bên trong thân thể của bạn, hợp nhất cùng với bạn, thì đó gọi là Du già mật. Vì thế, khi tôi bị ho, chữa không khỏi, tôi đã khám nhiều bác sĩ rồi đều chữa không khỏi, phải làm sao đây? Có một hôm, tôi đột nhiên nhớ đến Du già mật, tôi liền nói với Diêu Trì Kim Mẫu: "Diêu Trì Kim Mẫu à! Ngài chính là con, con chính là Ngài, Ngài có thích bị ho không? Con đang bị ho đây! Lẽ nào Ngài không ho sao? Ngài cũng phải ho chứ? Nếu như Ngài không thích ho thì hãy để con khỏi ho đi!" Ngày hôm sau tôi khỏi luôn rồi! Nói chuyện với Kim Mẫu như thế là khỏi rồi!

Còn có một lần, cũng là khi tôi ở Đài Loan, tôi gặp một chứng bệnh viêm da cơ địa, rất nặng! Tôi cũng nói với Diêu Trì Kim Mẫu: "Diêu Trì Kim Mẫu, con đã đi khám hết các bác sĩ rồi, thuốc gì cũng bôi hết rồi, thuốc gì cũng uống cả rồi, Ngài là con, con là Ngài mà! Ngài không giúp con thì còn giúp ai đây? Con uống một chén nước cúng dường Ngài, đây chính là thuốc, ngày mai sẽ phải khỏi đó." Đúng thật! Ngày hôm sau tôi đã khỏi rồi. Cô Honifa phiên dịch viên có biết sự việc này. Cô ấy nói: "Ấy! Thật à!" Thật sự là ngày hôm sau tôi đã khỏi hoàn toàn, Sư Mẫu cũng biết chuyện này, chứng viêm da cơ địa kì lạ đó! Các loại thuốc tôi đều đã uống rồi, thuốc tiêm cũng tiêm rồi, các loại thuốc bôi cũng đều bôi rồi, chẳng có cái nào khỏi cả, uống chén nước của Diêu Trì Kim Mẫu thì khỏi luôn.

Trong lớp của thiền sư Dược Sơn có hai đệ tử, một người tên là Đạo Ngộ, một người tên là Vân Nghiêm. Một hôm, mọi người đang ngồi ở ngoại ô tham thiền, trông thấy bên đường có một cái cây mọc rất sum sê, lá xanh um tùm, còn một cái cây khác thì lại chết khô. Thiền sư Dược Sơn liền thử kiểm tra công hành của hai đệ tử, đầu tiên hỏi Đạo Ngộ: "Cây sum sê tốt, hay cây chết khô tốt?" Đạo Ngộ liền trả lời: "Cây sum sê tốt." Câu trả lời này không có đạo hạnh gì cả. Hỏi Vân Nghiêm, Vân Nghiêm nói: "Cây khô tốt." Câu trả lời này cũng chẳng có đạo hạnh gì cả. Lúc này vừa hay có một sa-di tới, thiền sư Dược Sơn bèn hỏi anh ta: "Là cây sum sê tốt, hay cây chết khô tốt?" Sa-di liền nói: "Sum sê thì kệ nó sum sê, chết khô thì kệ nó chết khô." Đây là cảnh giới cao nhất của tâm, chỉ có hai chữ "bất động", tâm của bạn mà động thì là chết rồi.

"Có tiền tốt, hay là không có tiền tốt?" Mọi người đều nói: "Có tiền tốt." Người tu hành chân chính thì là như thế này, "có tiền cũng tốt, không tiền cũng tốt, tiền nhiều cũng tốt, tiền ít cũng tốt, không tiền cũng tốt". Đây mới là hành giả chân chính. Sư Tôn bảo mọi người, mọi người báo danh đèn quang minh, báo danh Thái Tuế, hoặc cái gì đó, làm siêu độ, làm cầu phúc, phí báo danh tùy ý, nghĩa là ý gì? Nghĩa là nhiều cũng tốt, ít cũng tốt, không có cũng tốt, chính là bất động đó! Bạn không bị ảnh hưởng. Trên thực tế, trên thế giới này, tâm của mỗi người đều chịu ảnh hưởng, hôm nay người ta chửi bạn một câu, bạn liền nghĩ tận ba ngày xem cần chửi trả người ta thế nào.

Ví dụ như một cô gái xinh đẹp đi trên đường, một chàng trai từ phía sau đi tới, khoác lấy vai cô. Cô gái xinh đẹp này liền nói buổi tối cô ấy sẽ không ngủ được mất, bởi vì chàng trai kia đã ăn mất "đậu phụ" của cô ấy rồi, trái tim đã xúc động lắm rồi! Trái tim của mỗi người đều kích động rồi thì ai đó nói một câu rất khó nghe, bạn nghe thấy thì: "Ai da! Tôi chịu không nổi nữa.", thế là buổi tối liền mất ngủ. Sư Tôn cũng từng mất ngủ, vì sao lại mất ngủ? Vì trái tim rung động đó mà! Còn một điểm khác, là bạn tuổi tác đã cao rồi, chất melatonin không còn nữa, về mặt sinh lý, con người đi ngủ, mắt nhắm lại, chất melatonin cứ thế sản sinh ra, chính là hormone, khiến bạn đi vào trạng thái ngủ. Nếu như bạn không có chất melatonin, tuổi tác đã cao, hormone giảm bớt, thì sẽ mất ngủ, là do chất melatonin không còn nữa.

Về mặt tâm lý, bạn có chuyện phiền não, nghĩ không thông, thì tối đó bạn cũng sẽ không ngủ được. Bạn không có chuyện gì, vô sự vô tâm, thì chỉ một lúc là đi vào giấc mộng rồi. Bạn cũng không biết lúc nào mình ngủ nữa, dường như lên giường là ngủ luôn rồi. Ngủ ra sao? Bạn cũng không nói ra được, dù sao thì cũng ngủ mất rồi. Người không ngủ được thì cứ nằm bên cạnh quay qua quay lại, bởi vì có điều phiền não mà! Về mặt tâm lý có phiền não, về mặt sinh lý thì chất melatonin đã ít đi một nửa, thì bạn sẽ mất ngủ. Chính là vì bạn "bất không". Vốn dĩ chính là như vậy. Một cái là sinh lý, một cái là tâm lý. Nếu bạn thật sự bất động, ngã không, pháp không, thì ba thừa đầu tiên cũng gần như đủ tốt rồi.

Sự mật, Hành mật, Du già mật, Sư Tôn cũng đã giải thích rất rõ ràng rồi. Mặc dù nói đơn giản và ngắn gọn thì cũng đã nói cho mọi người rõ ràng rồi. Lần sau tôi sẽ giảng tiếp về ba thừa sau cùng là Ma ha du già, A nỗ du già, A để du già. Om mani padme hum.

**(Hết tập 1)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/dai-vien-man-cuu-thu-de-tap-2.md
# Title: Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 2
---

## Giảng luận Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 2

(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Đại Viên Mãn cửu thứ đệ)

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">20/07/2013</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Seattle Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Bài giảng số 11

**Ma ha du già - Bản thân là Bổn tôn, phu nhân là Phật Mẫu, con cái là quyến thuộc của Phật Bồ Tát**

*(Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn khai thị pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ" trong buổi đồng tu pháp Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại Seattle Lôi Tạng Tự, Hoa Kì, vào ngày 20 tháng 7 năm 2013.)*

Hôm nay chúng ta giảng pháp Đại Viên Mãn, Thượng sư Liên Lai lại hỏi rất nhiều câu hỏi, ông ấy nói Sư Tôn nói rằng "Sự bộ", "Hành bộ", "Du già bộ" mà Kim Cang Tát Đỏa giảng, cái gọi là "Sự bộ" nghĩa là coi Bổn tôn là chủ nhân, chúng ta là người hầu, sau đó thì phục vụ Ngài, đây gọi là "Sự bộ"; cái gọi là "Hành bộ" thì gần hơn một chút, nghĩa là biến thành bạn bè của mình, nghĩa là Bổn tôn là bạn của mình, giống như mình, "đối sinh" xuất hiện, nghĩa là đối diện, chính diện trong hư không, đó là "Hành bộ"; "Du già bộ" thì là dung nhập, Bổn tôn đi vào bên trong bản thân, bản thân đi vào bên trong Bổn tôn, dung hợp thành một với Bổn tôn như vậy, có hiện tượng tương ứng, đây gọi là "Du già bộ".

Lần trước tôi đã giảng như vậy. Thượng sư Liên Lai lại nói: "Nếu xét trong việc tu pháp thì còn có sự phân biệt gì nữa?" Cái này mà nói ra thì rất dài, đây là câu hỏi của Thượng sư Liên Lai. Thật ra cái gọi là "Sự bộ" đều hoàn toàn dựa theo những quy tắc quy chuẩn. "Sự bộ" của chúng ta tôi cũng đã giải thích rồi, muốn thỉnh cầu Bổn tôn quán đảnh thì trước tiên cần làm cúng dường mandala, có nghĩa là lập đàn thành. Ở vùng Tây Tạng, họ dùng nhiều loại cát màu sắc để cúng mandala cát, rất trang nghiêm, hơn nữa còn cần kéo sợi dây để làm viền trong tròn ngoài vuông, ở bên trong là hình tròn, bên ngoài là hình vuông, làm thành mandala cung điện của Bổn tôn, giống như một pháp đài vậy, giống như một cung điện có bốn cổng, dùng sợi chỉ để căng ra, sau đó lại dùng loại cát đặc biệt để chế tạo, làm ra một mandala hoàn chỉnh. Có rất nhiều Lama cùng tham gia làm mandala. Sau khi làm xong còn phải tụng kinh, thỉnh Bổn tôn xuống.

Tôi lấy một so sánh, giả dụ là "Sự bộ", muốn thỉnh Bát Nhã Phật Mẫu thì bạn phải niệm kinh Đại Bát Nhã, kinh Đại Bát Nhã rất dài, có rất nhiều bộ, cần niệm bảy ngày bảy đêm, đây là điều cơ bản nhất. Nếu không thì phải niệm kinh Đại Bát Nhã 49 ngày, niệm xong kinh Đại Bát Nhã thì lại dùng nghi thức trang nghiêm để triệu thỉnh, còn phải dùng "đa mã" (cúng phẩm đồ ăn) để cúng dường cho Ngài, làm phương pháp triệu thỉnh để Bổn tôn hạ xuống mandala. Muốn làm một quán đảnh cần tiến hành như vậy, cần niệm kinh bảy ngày bảy đêm, lại còn phải làm mandala cát, làm mandala cát cũng cần mấy ngày, muốn làm một quán đảnh thì mất thời gian tới nửa tháng hoặc một tháng, kinh Đại Bát Nhã chính là "Sự bộ".

Đến "Hành bộ" thì đơn giản hơn rồi, bởi vì kết tinh của bản thân kinh Đại Bát Nhã chính là kinh Kim Cang, tất cả bát nhã kết tinh lại thành kinh Kim Cang, kinh Kim Cang thuộc về "Hành bộ". Khi làm "Hành bộ", bạn niệm kinh Kim Cang, niệm bảy bộ, một buổi tối là niệm xong rồi. Một buổi tối niệm bảy bộ kinh Kim Cang là rất đơn giản, ngày hôm sau có thể quán đảnh rồi. Hơn nữa, bố trí đàn thành không cần phải phức tạp như trên, chỉ cần Bát Nhã Phật Mẫu ngồi ở chính giữa, sau đó các quyến thuộc của Bát Nhã Phật Mẫu ngồi ở xung quanh, không cần mandala cát, như thế này gọi là làm "Hành bộ", niệm kinh cũng ngắn. Còn đàn thành thì sao? Thậm chí ở chính giữa có thể dùng một nắm đất để tượng trưng cho Bát Nhã Phật Mẫu, bên cạnh đặt vài nắm cát tượng trưng cho quyến thuộc của Ngài, như thế cũng được xem là một đàn thành rồi. Đó chính là pháp "Hành bộ", niệm kinh Kim Cang là được rồi.

Còn đối với "Du già bộ", thân thể của chính bạn là đàn thành, bởi vì bạn đã hợp nhất cùng với Bát Nhã Phật Mẫu rồi, chỉ cần Bát Nhã Phật Mẫu hạ giáng, dung nhập vào với thân thể của bạn, thì đây chính là "Du già bộ" rồi. Ngài lập tức có thể quán đảnh cho bạn. Một lát nữa đây, Sư Tôn cần quán đảnh cho mấy người, ngay khi các vị từ trong hư không hạ giáng xuống, tiến vào bên trong trung mạch của Sư Tôn, xếp thành một hàng, đôi khi, thậm chí có hàng trăm vị đều hạ giáng đến bên trong thân thể tôi.

Trước đây ở Cao Hùng, khu vực Đào Nguyên có ba cây cầu được đặt tên theo tên của Sư Tôn, gọi là Cầu Liên Sinh số 1, Cầu Liên Sinh số hai, Cầu Liên Sinh số 3. Chúng là cầu nối giữa người dân tộc và thế giới bên ngoài. Khi khánh thành cầu, lúc tôi đang cắt băng khánh thành khai quang cho cây cầu, ngay tại đó còn có cúng tế, có chuẩn bị rất nhiều cúng phẩm để thỉnh cầu chư Tôn giáng lâm. Lúc cầu thỉnh, rất nhiều Sơn Thần, Thổ Địa ở bốn xung quanh khu vực Đào Nguyên đều đến, giáng xuống bên trong trung mạch của tôi, toàn bộ đều giáng xuống bên trong thân thể tôi.

Ngày hôm đó, khi các vị giáng xuống, tôi đặc biệt triệu thỉnh, cũng lắc trống, lắc chuông. Khi vừa lắc chuông lắc trống thì có năm vị giáng xuống, từ bên trong trung mạch đi xuống. Nếu mọi người chú ý thì sẽ thấy khi các vị giáng xuống sẽ hơi có cảm giác, bản thân tôi đã có cảm giác. Các vị đi vào trung mạch, dung nhập vào trong thân của Căn bản Thượng sư thì có thể biết được các vị cùng giáng xuống, đây gọi là "Du già bộ". Khi ấy nếu có làm quán đảnh cũng đều được, bởi vì thân thể của tôi chính là đàn thành của chư Tôn rồi.

Thế còn phải niệm cái gì đây? Niệm chú là được rồi. Niệm chú gì đây? Bạn có thể niệm tâm chú của Bát Nhã Phật Mẫu: "Om gati gati paluagati paluasanggati bodhi soha." "Om gati gati palua gati palua sanggati bodhi soha." Bạn hãy niệm chú này, Bát Nhã Phật Mẫu sẽ giáng xuống thân bạn, thế là bạn có thể quán đảnh Bát Nhã Phật Mẫu, đây chính là "Du già bộ".

Tôi nói như vậy mọi người cũng khá rõ ràng rồi. Cái gọi là "Sự bộ" thì làm tương đối phức tạp, "Hành bộ" thì xấp xỉ ở giữa, đơn giản nhất chính là "Du già bộ", bởi vì thân thể chính là đàn thành, căn bản là bạn không cần làm đàn thành, bởi vì thân thể của hành giả đã chính là đàn thành rồi, các vị đều có thể xuống. "Sự bộ" cần làm đàn thành, giống như mandala cát. "Hành bộ" chỉ cần làm đàn thành đơn giản là chủ tôn cũng có thể xuống rồi. "Du già bộ" thì thân thể chính mình đã là đàn thành rồi, chủ tôn có thể hợp nhất, dung nhập với bạn, như vậy là có thể làm quán đảnh rồi.

Vì vậy, đợi một lát nữa khi tôi làm quán đảnh, ai muốn quy y có thể làm quán đảnh quy y. Nếu không thì mọi người lấy một tờ giấy ghi ra, Sư Tôn lập tức triệu thỉnh, sẽ quán đảnh vị mà bạn muốn quán đảnh. Thật ra, cũng không cần triệu thỉnh, bởi vì Ngài đã ở trên người tôi rồi. Có một số người hôm nay có báo danh xin quán đảnh. Tuy nhiên, tôi nói với mọi người một chuyện, ví dụ như Kim Cang Thần, có một số vị không thể quán đảnh được, những vị đó cần phải tu pháp trước thì mới có thể quán đảnh được. Tốt nhất là bây giờ tu vị nào thì tu cho xong, rồi làm quán đảnh của vị đó, như thế là tốt nhất, đây là cách tương đối thuận tiện.

Bạn không thể tùy tiện viết ra một cái tên, viết ra tên vị Bổn tôn mà bạn muốn quán đảnh, có người nào đã nói với Sư Tôn là muốn quán đảnh gì đó, đợi lát nữa cùng ra quán đảnh. Bằng không thì ai muốn làm quán đảnh, nhất định phải cúng dường "đa mã", điều này rất quan trọng. Thế "đa mã" là cái gì? Tiếng Tạng nghĩa là đồ ăn, là những thứ có thể ăn được, nghĩa là bạn cần đem những thứ này cúng dường cho Bổn tôn mà bạn muốn quán đảnh. Không thể làm lộn xộn! Ví dụ ở bên kia bạn muốn quán đảnh vị đó, những đồ ăn thuộc về vị đó thì vị khác đến cũng không thể ăn được. Bởi vì bạn muốn quán đảnh vị đó nên đồ ăn của bạn là đặc biệt dâng cho vị đó thôi, phải như vậy mới được.

Nếu như hôm nay mọi người không mua đồ ăn thì không thể tùy tiện ra xin quán đảnh, vì như vậy thì không làm được. Quán đảnh nhất định phải có cúng phẩm, có rượu không, có thịt không? Có không? Ai đã mua rượu rồi? Có hai người mua rượu rồi. Vậy những thứ vừa nãy tôi trông thấy là đúng rồi. Ngoài ra, có ai mua thịt rồi? Anh cũng mua thịt rồi à, ok, vừa nãy tôi thấy có rượu, có thịt. Nói chung thì tôi muốn làm quán đảnh, tôi sẽ quán tưởng đồ ăn giống như mây vậy, trong hư không tràn ngập mây, như vậy mới có thể làm quán đảnh. Sau này muốn làm quán đảnh, cần nói trước với Sư Tôn xem bạn muốn làm quán đảnh gì, nếu tôi có thời gian, tôi sẽ đến Mật Uyển giúp bạn quán đảnh, tốt nhất là khi đồng tu thì sẽ quán đảnh giúp bạn, như vậy thì rất tốt. Lúc đồng tu làm quán đảnh, bởi vì có các vị giáng xuống. Hôm nay mặc dù Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đang ở đây, nhưng còn có các các vị khác cũng đã tiến nhập vào bên trong thân thể của Sư Tôn rồi, vì thế có thể giúp quán đảnh cho mọi người.

Các pháp được nói đến trong Mật giáo là rất bí mật, rất secret, làm pháp cũng rất bí mật. Trước kia, ví dụ như triều Thanh, chỉ có thể ở trong cung đình mới có Mật pháp, cũng mới có thể tu Mật pháp, các gia đình bình thường không có tu Mật pháp. Bây giờ là do Mật pháp phổ truyền, càng ngày càng công khai, nên mới có nhiều Mật pháp được nói giảng ra ngoài. Ở đây tôi có một câu chuyện cười. Có một chàng trai định trêu bạn gái của anh ta, là anh ta bất chợt nổi hứng nghĩ ra, anh ta gửi đến bạn gái một tin nhắn nặc danh rằng: "Này người đẹp, buổi tối có rảnh không?" Bạn gái của anh ta không biết là ai gửi, liền hỏi: "Anh là…?" Anh ta nói đùa rằng: "Anh là khách hàng yêu thích của em." Bạn gái liền nói: "Tôi đã không làm nghề này rất lâu rồi." Bạn trai của cô đọc thấy, thôi xong! Đây cũng là một bí mật đó.

Thật ra rất nhiều người đều có bí mật. Trước kia tôi cũng từng kể một câu chuyện cười khác nói về bí mật. Có một hôm Tiểu Minh biết được bí mật của bố, cậu bé liền nói với bố: "Bố ơi, con biết bí mật của bố rồi." Bố cậu liền lo lắng nói: "Bố cho con một trăm đồng, con đừng có nói chuyện này ra." Tiểu Minh nói: "Ô! Vâng ạ." Cậu bé cầm một trăm đồng và không nói gì hết. Cậu đột nhiên cảm thấy nói như thế rất có tác dụng, cậu bèn đi nói với mẹ: "Mẹ ơi, con biết bí mật của mẹ rồi." Mẹ cậu rất căng thẳng nói: "Mẹ cho con năm trăm đồng, con tuyệt đối không được nói ra." Tiểu Minh nghĩ: "Chỉ cần nói với người lớn về bí mật thì đều có lợi, ai cũng cho mình tiền." Ngày hôm đó người đưa thư tới, Tiểu Minh nói với người đưa thư: "Chú đưa thư, cháu biết bí mật của chú rồi." Người đưa thư rơi nước mắt nói: "Cuối cùng hôm nay con đã biết chú là bố của con rồi."

Bí mật thì không thể nói ra. Bản thân Mật pháp cũng là một dạng bí mật, vốn dĩ là không thể nói, bây giờ thì đã biến thành có thể nói rồi. Theo luật quốc gia, bạn không thể nói về chuyện riêng tư của mọi người, bạn không thể công bố chuyện bí mật riêng tư của người khác, hoặc không thể công bố thư tình của người ta. Nguyên nhân vì sao Sư Tôn không viết thư tình chính là vì khi tôi học tiểu học, tôi đã viết một bức thư tình gửi cho bạn gái của tôi, không ngờ đến ngày hôm sau, cô bạn đột ngột dán lên bảng thông báo. Tôi nghĩ: "Bạn học sao lại cùng tụ tập ở chỗ bảng thông báo xem cái gì vậy nhỉ?" Tôi chạy lại xem, ối! Mặt tôi xanh lét, xém tí nữa thì ngất xỉu, không ngờ thư tình của tôi lại bị dán lên bảng thông báo! Khi ấy trong lòng tôi nghĩ: "Từ hôm nay trở đi, mình sẽ không viết thư tình nữa." Tôi đã thề không viết thư tình, phải hành động thực tế. Về sau, tôi thật sự không viết thư tình nữa, tôi chẳng gửi thư tình cho ai cả, một chữ cũng không.

Vì thế mà hôm nay tôi vẫn còn có thể ngồi yên ổn trên pháp tọa này. Nếu như có thư tình thì tôi sẽ thảm lắm, người ta viết thư tình cho tôi, tôi tuyệt đối không trả lời. Tôi nói cho bạn biết nhé, đừng cho rằng bạn viết thư tình cho tôi thì tôi sẽ trả lời lại thư tình của bạn, không đâu! Thế nhưng, bạn viết thư tình cho tôi, tôi sẽ ghi nhớ, tôi sẽ giúp bạn cất giữ chúng cẩn thận, "Đây là thư tình của ai?", "Đây là thư tình của người nào?", tôi sẽ cất giữ cẩn thận. Thế nhưng tôi sẽ không trả lời thư tình của bạn đâu. Bởi vì, nếu như tôi trả lời thư bạn, bạn đem công bố lên mạng thì toàn thế giới lập tức biết được. Vì thế, Sư Tôn không tùy tiện viết các thứ, đây cũng là bí mật đó! Bản thân Mật giáo là một bí mật, hôm nay mọi người có thể nghe được pháp Mật giáo là vô cùng khó có được.

Chúng ta lại tiến thêm một bước nữa nói về "Ma ha du già" của pháp "Đại Viên Mãn cửu thứ đệ", chính là "Đại du già", so với "Du già bộ" thì tiến hơn một bước.

"Ma ha du già" chủ yếu nhất chính là đã xem bản thân mình là Bổn tôn rồi, giống như là nhà của bạn đều biến thành cung điện rồi. Đại du già là như vậy, người bên cạnh bạn, ví dụ như phu nhân của bạn, sẽ là Phật Mẫu của bạn, con cái của bạn, con trai thì trở thành quyến thuộc của Phật, con gái thì trở thành quyến thuộc của Bồ Tát. Tương tự, trong gia đình bạn, tất cả mọi người, bạn thân của bạn cũng xem như là quyến thuộc. Bên trong cảnh giới Đại du già, tất cả sông hồ đại địa đều trở thành tịnh thổ, bản thân bạn thì tương đương là một vị Bổn tôn, tiến thêm một bước cao hơn thì bạn chính là Bổn tôn rồi.

Đại du già là "chính bản thân bạn là Bổn tôn", không chỉ là tương ứng thôi đâu, bởi vì bạn đã hóa thành Bổn tôn rồi, phu nhân của bạn chính là Phật Mẫu, phu nhân thứ hai second wife của bạn chính là phi tử của bạn. Tất cả con cái của bạn đều là quyến thuộc của Phật Bồ Tát là bạn. Không khác gì Phật Bồ Tát, bạn bè của bạn cũng thế, tất cả mọi người đều trở thành giống như Phật Bồ Tát, tất cả nhà cửa đều trở thành cung điện, tất cả núi sông đại địa đều trở thành tịnh thổ, chẳng khác gì Phật quốc.

Bạn chính là Bổn tôn, tất cả đều biến thành một cuộc sống như Phật quốc mà không có sự khác biệt nào, chính là một cuộc sống phương tiện của Đại du già. Đại du già --- Ma ha du già, có ý nghĩa như vậy. Đó là một pháp phương tiện, trong Đại du già, có rất nhiều pháp phương tiện. Ở trong tịnh thổ, bạn đã hưởng thụ cái gọi là khoái lạc và mọi quang minh, sau đó lại xem những thứ này thành tính Không, đây là tu hành Đại du già, là ý nghĩa của Ma ha du già.

Ngoài ra, tiến thêm một bước nữa, tu hành theo cách này cũng không đơn giản, đó là cấp độ hoàn toàn không còn phân biệt. Ở đây có một câu chuyện cười, người này cũng hoàn toàn không có sự phân biệt nào cả. Có một chàng trai đi vào quán rượu, anh ta gọi phục vụ: "Cho hai ly rượu." Tiếp viên quầy rượu liền hỏi: "Thưa ông, vì sao lại gọi hai ly rượu?" Anh ta nói: "Một ly là cho tôi, một ly là cho bạn gái tôi. Bởi vì bạn gái tôi mắc bệnh nặng, nhập viện rồi, vì thế tôi uống thay cô ấy một ly." Ngày hôm sau, anh ta lại đến quán rượu, nói với tiếp viên quầy rượu: "Cho một ly rượu." Tiếp viên quầy rượu liền sốt sắng hỏi: "Bạn gái của ông đã vãng sinh rồi sao? Nếu không thì vì sao ông lại chỉ gọi một ly rượu?" Anh ta rất tức giận nói: "Nói bậy!" Tiếp viên quầy rượu lại hỏi: "Thế thì vì sao hôm nay chỉ gọi một ly thôi?" Anh ta nói: "Bởi vì hôm nay tôi bỏ rượu rồi. Tôi chỉ uống thay ly của bạn gái tôi thôi."

Có thể giúp bạn gái uống rượu cũng xem như là Đại du già. Đại du già là như vậy, Đại du già là tính tổng hợp, núi sông đại địa, nhà cửa, bản thân bạn, toàn bộ đều là Bổn tôn của bạn biến hóa ra; thân khẩu ý của bạn toàn bộ đều là Bổn tôn; thân thể của bạn làm gì, mỗi tư thế chuyển động đều là thủ ấn, miệng nói ra lời gì thì đều là chú ngữ, suy nghĩ của bạn đều là suy nghĩ của Phật Bồ Tát.

Nhờ tu hành như vậy, sự biến hóa của thân khẩu ý cũng chính là đủ loại biến hóa của Phật Bồ Tát. Núi sông đại địa, nhà cửa, đất đai,v.v…, toàn bộ đều là sự biến hóa của Phật Bồ Tát, bao gồm chính bạn, tất cả quyến thuộc, tất cả đều là sự biến hóa của Phật Bồ Tát. Nhất cử nhất động của bạn đều là Bổn tôn. Miệng bạn nói gì, đọc gì, đều là chú ngữ, tai bạn nghe thấy gì đều là thiên nhạc, đừng có sự phân biệt nào; sống tại thế giới Ta Bà cũng tương đương với sống tại Phật quốc tịnh thổ, sự tu hành như vậy gọi là Ma ha du già.

Tiếp theo, nói về A nỗ du già. Thật ra trước đây, tôi đã giảng rất nhiều rồi, Hỉ Kim Cang tu hành khí, mạch, minh điểm thuộc về trí huệ, thuộc về thứ tự viên mãn, thuộc về khoái lạc, quang minh và tính không, đều nằm trong A nỗ du già. Yogi tu khí, yogi tu minh điểm, yogi tu trung mạch, tổng hợp lại đều là phạm vi của A nỗ du già. Sư Tôn từng giảng khí, mạch, minh điểm, trong Hỉ Kim Cang đã có nói rồi, cũng có nói khoái lạc, minh, không, những cái này đều thuộc về trí huệ, là pháp thứ tự viên mãn. Mà pháp thứ tự viên mãn thì cũng tương đương với A nỗ du già.

Ở đây có một câu chuyện cười, không biết có liên quan gì đến A nỗ du già không. Có người rất thích con đười ươi ở Châu Phi. Một hôm anh ta đi đến vườn thú xem đười ươi, khi nhìn thấy đười ươi, anh ta rất hào hứng vẫy tay với đười ươi. Kết quả là khiến con đười ươi rất tức giận, tất cả đám đười ươi đều cầm đá ném người này. Anh ta bị đá ném trúng, đầu chảy máu, tức giận đi tìm người quản lý vườn thú để lý luận. Người quản lý rất nghi hoặc hỏi: "Anh đã làm gì bọn chúng?" Anh ta nói anh ta chỉ vẫy tay gọi bọn chúng mà thôi. Người quản lý đáp: "À, trong ngôn ngữ của loài đười ươi thì vẫy tay có ý nghĩa là chửi chúng nó ngu đó." "Thế thì tôi nên làm gì để chào hỏi chúng nó đây?" Người quản lý đáp: "Anh chỉ cần hướng về chúng đấm ngực và hét lên woo woo, thế là được rồi." Thế là anh ta lập tức chạy đến trước mặt đám đười ươi đấm ngực và hét lên, thế là tất cả đám đười ươi đã vẫy tay với anh ta.

Trong A nỗ du già, tu khí, mạch, minh điểm có một chút tính tượng trưng, nó là trí huệ. Rất nhiều thủ ấn, ví dụ như những thủ ấn mà hiện tại chúng ta đang làm, đều rất có trí huệ, đều có tính tượng trưng. Nhưng bản thân thủ ấn có tồn tại trí huệ của nó. Trong A nỗ du già, bạn muốn triệu thỉnh Bổn tôn nào thì thật ra chỉ cần giơ một ngón tay ra, làm thành ấn móc câu là được rồi. Muốn triệu thỉnh vị nào thì một ấn móc câu là đủ rồi. Càng lợi hại hơn là giống như lông mi giả của các cô gái, bạn chỉ cần quán tưởng lông mi thành một cái móc câu, đều là lông mi giả, chỉ cần nhắm mắt lại, suy nghĩ muốn triệu thỉnh vị nào, như thế người khác không biết thủ ấn của bạn, nhưng thật ra là bạn đã dùng lông mi giả của mình để biến thành móc câu kim cương để thu hút rồi.

Trong A nỗ du già, trung mạch thông là tối quan trọng, giống như Sư Tôn trung mạch thông thì sẽ biết được Bổn tôn nào đi vào. Người có trung mạch thông thì chạm vào lỗ đỉnh đầu một lúc, Bổn tôn tiến vào là từ lỗ đỉnh đầu đi vào, đi đến trung mạch của bạn. Khi trung mạch của bạn thông rồi thì trăm vị văn võ có thể tiến vào bên trong thân thể bạn. Tôi vừa an tịnh lại, triệu thỉnh Bổn tôn Liên Sư, Yeshe Tsogyal, Mandarava thì các vị lập tức có thể đi vào bên trong thân thể tôi.

Thỉnh thoảng khi tôi đang làm cúng dường, tôi thường hay làm cúng dường, cái này cũng có thể làm cúng dường. Đây là tiếng chuông, rất vang, âm thanh cũng rất hay. Mọi người đều thấy thân thể tôi bất động một lúc, đó là tôi đang cúng dường thanh âm tới Bổn tôn của tôi. Bổn tôn của tôi tiếp nhận cúng dường thanh âm, cúng dường âm thanh, cúng dường âm thanh tuyệt diệu, lúc này tôi ngưng bặt một lúc, biểu thị rằng ngài đã đến tiếp nhận và đi rồi. Sự ngưng bặt này không phải là bản thân tôi ngưng bặt lại, mà là tự nhiên như thế, khi ngài đến tiếp nhận cúng dường này xong thì tự nhiên tôi sẽ không ngưng bặt nữa.

Thượng sư Liên Lai thấy mỗi khi Sư Tôn cúng dường đồ ăn thì cầm đồ ăn từ bàn ăn lên, và tôi niệm rất đơn giản: "Mời Diêu Trì Kim Mẫu, mời A Di Đà Phật, mời Địa Tạng Vương Bồ Tát, mời chư Tôn." (Sư Tôn ngưng bặt lại một lúc.) Ấy? Bây giờ trên tay tôi chẳng có đồ ăn mà tôi cũng bất động một lúc, chính là biểu thị rằng các ngài đã đến tiếp nhận cúng dường của tôi, hơn nữa tôi còn thấy rất rõ ràng rằng các Du Già Mẫu, các Không Hành Mẫu, rất nhiều Không Hành Mẫu đã đến tiếp nhận cúng dường. Có thể thấy được Bổn tôn của mình đến tiếp nhận cúng dường, điều này cho thấy trung mạch đã thông rồi, các ngài đã có thể đi vào bên trong thân thể bạn, rất nhiều vị đều có thể tiến vào bên trong. Tu trung mạch thông là rất quan trọng, trung mạch không thông thì không được.

Khi ấy tôi nói với Thượng sư Liên Lai: "Muốn trung mạch thông, đầu tiên cần phải tu khí. Các yogi nhất định phải tu khí, đây là phạm vi của A nỗ du già, sau đó lại tu thông trung mạch. Thứ hai là phải chú ý ba việc, một là trong đầu không được có phiền não, hai là trong đầu cần trống rỗng, hoàn toàn là không, không được giữ lại điều gì trong đầu nữa." Đừng có để những thứ rác rưởi ở trong đầu bạn. Những gì chứa trong đầu con người không phải là Phật Bồ Tát, không thường nhớ đến Phật Bồ Tát, thì những thứ mà bạn thường nghĩ đến đều là rác rưởi, ví dụ như người nào là người rất đáng ghét, người nào là người bạn rất thích, chuyện nào khiến bạn vui, chuyện nào khiến bạn tức giận. Bạn chỉ nghĩ tới những chuyện thất tình lục dục, trong đầu bạn toàn là garbage (rác rưởi). Nếu như trong đầu bạn toàn là garbage thì trung mạch sẽ bị tắc nghẽn, triệu thỉnh Bổn tôn, Bổn tôn sẽ không đến.

Bạn chỉ cần loại bỏ hết bản thân, loại bỏ hết rác rưởi, trút bỏ hết bùn nhơ, vứt bỏ hết những vọng tưởng mơ hồ, loại bỏ hết vọng tưởng, loại bỏ hết những vọng niệm, tạp niệm, suy nghĩ ô uế trong đầu bạn, ví dụ như "tôi ghét người kia", "tôi ghen với người đó", "tôi đố kị với người này", bởi như thế thì lúc này trong đầu bạn toàn là rác rưởi. Bạn muốn triệu thỉnh vị nào đến thì vị đó đều không muốn đến, cũng không muốn tiến vào bên trong bạn, bởi vì bên trong bạn đều rất bẩn, rất dirty, vì sao phải tiến vào chứ? Bạn cần phải thanh tịnh, thân thể bạn cần thanh tịnh, ý niệm của bạn thanh tịnh, khẩu của bạn thanh tịnh, hơn nữa bạn phải buông bỏ tất cả, quét sạch sẽ mọi vọng niệm, khi ấy Bổn tôn mới có thể tiến đến được. Phương pháp tu hành như vậy chính là A nỗ du già. Nói như vậy thì tương đối có thể hiểu được rồi, tu trung mạch, dùng trung mạch để đại diện, như vậy là có thể hiểu được rồi, đây là sự tu hành mang tính trí tuệ. Ý niệm của bạn nhất định phải thanh tịnh.

Trong Chân Phật Kinh có nói đến "thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh", bạn không thể đem toàn bộ những việc vừa mới làm đặt vào trong đầu mà không trút bỏ, bạn đem bao nhiêu sự việc suốt mười mấy năm tích trữ ở trong đầu bạn, không giải phóng chúng đi, như thế thì đến bao giờ bạn mới thanh tịnh được đây? Căn bản là không hề thanh tịnh mà! Vì thế, nếu như không thanh tịnh thì trung mạch sẽ bị tắc nghẽn, trung mạch sao có thể thông được? Bạn muốn trung mạch thông thì còn phải tu khí, phải tu mạch, phải tu minh điểm thanh tịnh, đều phải nhìn thấy được minh điểm.

Thượng sư Liên Vượng, ông có nhìn thấy được minh điểm không? (Có.) Ông ấy nhìn được ánh sáng minh điểm, đây chính là thanh tịnh. Tu thân khẩu ý của bạn thanh tịnh, tu trung mạch của bạn có thể thông, minh điểm có thể hạ xuống, chuyết hỏa có thể nâng lên, những phương pháp này đều được nói đến trong A nỗ du già. Trước kia tôi cũng đã nói với mọi người rồi. Bổn tôn có thể tiến vào, vì sao vậy? Tất cả mọi vị đều có thể dung nhập vào bên trong thân thể bạn, đó là vì bạn đã trút bỏ hết rồi, đã biến thành không rồi.

Cái gì là thanh tịnh nhất? Trống không là thanh tịnh nhất, trống không đương nhiên là thanh tịnh nhất. Cái gì là không thanh tịnh? Bạn tập trung tất cả những thứ "có" lên người bạn thì làm sao có thể thanh tịnh được? Thanh tịnh nhất chính là bạn quét sạch hết những rác rưởi của bạn, toàn bộ đều quăng đi hết, hoàn toàn không còn gì, đó chính là thanh tịnh. Nếu trong nhà bạn toàn là garbage (rác) thì khách đến nhà cũng chẳng muốn vào nhà, vừa vào đã cảm thấy ặc, hôi hám quá, nghĩa là bên trong thân thể bạn hôi thối quá. Nếu không xả bỏ hết thì bên trong đều là rác rưởi, Phật Bồ Tát có muốn vào hay không?

Vì thế, đương nhiên là không thể tiến vào, đây là một điểm quan trọng. Bản thân A nỗ du già chính là tu khí, mạch, minh điểm, quan trọng nhất là thân khẩu ý thanh tịnh, dùng hình thức trí huệ. Chúng ta mở miệng ra nói đều rất hòa nhã, là khẩu thanh tịnh; viết văn chương đều viết rất nho nhã, rất hay, hơn nữa lại rất có ý nghĩa, không chửi người ta, không bỉ ổi, không hạ tiện. Viết văn cũng không thể viết về những chuyện khó chịu, bởi vì suy nghĩ của bạn khi ấy chắc chắn không thanh tịnh, trong đầu bạn chỉ muốn chửi người ta, muốn hạ thấp người khác, những suy nghĩ như thế chính là garbage, suy nghĩ rác rưởi. Chúng ta cần phải nghĩ rằng mỗi người đều có điểm tốt, đều có ưu điểm, đều là tốt cả, đó chính là suy nghĩ thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh. Điều này trong Ma ha du già đã dạy bạn rồi.

Cuối cùng, A để du già chính là cứu cánh. Cứu cánh là gì đây? Chính là để cho bạn thấy được Phật tính của bản thân, chính là cứu cánh. A để du già là điểm cao nhất rồi, để cho bạn biết bản thân bạn chính là Phật tính, để bạn biết được bạn chính là cứu cánh. Tự tính chính là Phật tính, tính vốn có của bạn là Phật tính, để bạn biết, bạn nhìn thấy được, bạn cũng biết rõ ràng, đạt đến cứu cánh rồi thì bạn cũng minh tâm kiến tính rồi, đó là A để du già.

Trong Đại Viên Mãn có nói đến Nyingtik, thế nào gọi là Nyingtik? Nyingtik còn gọi là "tâm tủy", tủy trong từ cốt tủy, có nghĩa là bộ phận quan trọng nhất, chính là khẩu quyết, tâm yếu quan trọng nhất gọi là Nyingtik, chúng ta thì gọi là "tâm trong tâm". A để du già nói về Nyingtik, nói về tâm yếu quan trọng nhất, khẩu quyết quan trọng nhất, để bạn hiểu rõ tâm, thấy được Phật tính.

Lúc này, bạn có thể biết tất cả thế giới rộng lớn chính là pháp thân Phật, thế giới vô cùng vô tận đều là pháp thân Phật, bạn hiển hiện ra ánh sáng, bạn chính là báo thân Phật; bạn hiển hiện ra ánh sáng cầu vồng, bạn sẽ biến thành báo thân Phật; nếu như bạn hiện ra ảnh hưởng và pháp lực của bạn thì bạn chính là ứng thân Phật. Tôi nói như vậy, không biết mọi người có hiểu không?

Bình Nhi ba tuổi, người bạn nhỏ của tôi, tôi đối với cô bé rất thanh tịnh. Vì sao tôi và cô bé lại thân như vậy? Bởi vì cô bé là một Không Hành Mẫu mà tôi đưa từ thiên thượng giới xuống. Đôi mắt cô bé bây giờ có thể nhìn thấy bên trong thân thể con người có cái gì. Thiên nhãn của Bình Nhi đã được mở rồi. Mọi người có biết Bình Nhi không? Rất nhiều người biết đó. Hôm đó, cô bé nhìn một sư tỉ, nó nói: "Trên người sư tỉ này toàn là sâu." Rất nhiều sâu. Không sai, sư tỉ đó cũng biết trên người cô ấy có rất nhiều sâu. Sư tỉ đó ở đâu? Ở bên trong kia à! Ở bên trong kia là được rồi, tôi không muốn nói đó là người nào. Bình Nhi nhìn thấy được, nhìn thấy trên người sư tỉ đó có rất nhiều sâu.

Tôi nói với Bình Nhi: "Con xem trên người Sư Tôn có cái gì?" Bình Nhi liền nói với mẹ cô bé: "Trên người Sư Tôn có ánh sáng màu đỏ." Một em bé ba tuổi không biết nói dối đâu, cô bé không biết thế nào là quan hệ lợi hại. Nếu như cô bé quay người lại nhìn một lúc xem trên người Sư Tôn có cái gì: "Sư Tôn là lang đó!" Lang là cái gì? Tiếng Đài Loan nói là lang, tiếng phổ thông nghĩa là người. Tôi hỏi Bình Nhi: "Sư Tôn có phải là người màu đỏ không?" Bình Nhi nhìn một lúc nói: "Trên người Sư Tôn có ánh sáng đỏ." Thế nên Sư Tôn không phải là người màu đỏ, Bình Nhi có thể nhìn thấy, hơn nữa còn nhìn thấy cực kì rõ ràng nữa. Mẹ Bình Nhi nói, họ đi du lịch, Bình Nhi cùng mẹ, bố và anh trai của cô bé đi du lịch ở Oakland. Họ đi đến bãi biển, ngắm hoàng hôn. Họ đến biển ở Oakland (ở Oregon) ngắm hoàng hôn.

Hai ngày mà Bình Nhi đi chơi, cô bé nói với mẹ rằng: "Con rất nhớ Sư Tôn." Thật đó! Tôi cũng rất nhớ cô bé! Tôi còn nhớ lúc tôi phải đi Anh hoằng pháp, tôi đi bốn, năm ngày thì vội vàng trở về, tôi không dám đi chơi. Vì sao vậy? Bởi vì tôi phải trở về thăm Bình Nhi, tôi làm sao có thể đi lâu như vậy được chứ? Tôi nói với cô bé: "Bình Nhi! Ông đi châu Âu, đi England (nước Anh), ông chỉ đi ba ngày thôi, cả đi cả về tổng cộng năm ngày, sau năm ngày, ông sẽ về thăm cháu." Tôi nói: "Bình Nhi! Tạm biệt nhé." Cô bé nói: "No, không muốn tạm biệt." Tôi nói sau năm ngày sẽ quay về thăm cô bé, cô bé liền khóc luôn, cô bé khóc thật sự, tôi là nam tử hán đại trượng phu không thể khóc. Cô bé thật sự đã khóc rồi! Vì thế, tình cảm hai ông cháu chúng tôi là thật đó. Tôi thật sự yêu Bình Nhi, Bình Nhi cũng vô cùng yêu tôi. Chà! Tôi chắc là đã thơm cô bé đến mấy nghìn lần rồi, cô bé thật sự vô cùng đáng yêu. Tôi thường hát một bài hát cho cô bé nghe: "Hãy vén tấm che mặt của bạn lên, để tôi nhìn thấy khuôn mặt bạn, khuôn mặt bạn vừa tròn vừa đỏ, giống như trái táo vào mùa thu, khuôn mặt bạn vừa tròn vừa đỏ, giống như trái táo vào mùa thu." Tôi hát cho cô bé nghe!

Mỗi ngày tôi đều học thuộc một bài hát thiếu nhi để hát cho cô bé nghe, cô bé rất vui sướng. Nếu không thì thỉnh thoảng cô bé sẽ đổ lỗi cho tôi, một Không Hành Mẫu, vì sao lại đem đến thế giới Ta Bà chứ? Cô bé biết rằng chính cô bé là Không Hành Mẫu. Bây giờ tôi phải thường xuyên học thuộc bài hát thiếu nhi để hát cho cô bé nghe, nếu không thì thỉnh thoảng cô bé lại làm bộ mặt vô cảm với tôi. Cô bé nói chuyện với người khác thì rất nhiều, nhưng hễ thấy tôi thì lại bẽn lẽn, trốn sau lưng mẹ. Hễ tôi muốn thơm cô bé thì cô bé luôn để cho tôi thơm. Tôi nói: "Để ông ôm một cái nào." Cô bé nói: "Không được." Cô bé không để cho tôi ôm, lí do không để cho tôi ôm là vì cô ấy xấu hổ. Có một hôm, cô bé không xấu hổ nữa thì lại để cho tôi ôm.

Đây chính là sự tiếp xúc lẫn nhau trong hư không. Hàng ngày Sư Tôn đều có thể trông thấy Không Hành Mẫu, mỗi ngày tôi đều có thể nhìn thấy rất nhiều Không Hành Mẫu, họ nhảy múa trong hư không. Khi tôi cảm thấy buồn, ngày hôm đó tôi cùng mọi người từ Lôi Tạng Tự đi ra đường lớn, rồi lại từ đường lớn quay trở về Lôi Tạng Tự, Không Hành Mẫu trông thấy tôi buồn liền vẩy một chút cam lộ lên tôi, khi ấy trời đang trong xanh không mây đó! Không Hành Mẫu ở phía trên vẩy nước cam lộ đó! Vẩy lên người tôi. "Ấy? Sao lại có những giọt nước mưa lớn như vậy rơi trên tay tôi nhỉ?" Mọi người cho rằng là tôi uống nước, nước rớt ở trên tay tôi, thật ra không phải, ngày hôm đó, ai được vẩy cam lộ hãy giơ tay? Đó là cam lộ của Không Hành Mẫu, mọi người có uống hết không? Không à? Uống vào có thể trường sinh bất lão đó! Thật sự là Không Hành Mẫu vẩy cam lộ đó! Tôi biết, tôi không muốn kể chuyện này ra. Không Hành Mẫu thấy tôi buồn, vì thế họ đã nhảy múa trong hư không, là cam lộ do Không Hành Mẫu vẩy xuống, là những giọt nước mắt của Không Hành Mẫu, biết rằng tôi buồn quá, vì thế ở trong hư không múa cho tôi xem, sau đó vẩy một ít cam lộ xuống. Ai bị vẩy cam lộ trúng người thì giơ tay? Có không? Chà! Có nhiều người như vậy được cam lộ vẩy tới, thế mọi người có uống không? Có ai uống thì giơ tay? Không có à? Ôi chao! Đáng tiếc rồi! Giọt nước của tôi to nhất ư? Đúng rồi, hôm đó giọt nước trên người tôi là to nhất, một giọt ở đây, một giọt ở đây, hai giọt nước cam lộ. Vậy thôi! Om mani padme hum.

(còn tiếp)

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-cao-vuong-kinh.md
# Title: Giảng thuyết Cao Vương Kinh
---

![image](/img/img_edd82e1e74a9df0d917cf09484412f83.jpg)

## Giảng thuyết - linh nghiệm Cao Vương Kinh

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Sự tích cùng những câu chuyện linh nghiệm về Cao Vương Kinh

### 01. Xem xét Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh

Viết bởi: Pháp sư Thích Huệ Ba

Ở đất nước tôi, Cao Vương Quan Thế Âm Kinh đã được lưu truyền từ lâu, từ thời Tùy, Đường đã thịnh hành rồi. Mặc dù không có ai đề xướng, cũng chưa từng được đưa vào Tạng Kinh, nhưng bởi vì những người trì tụng kinh này thực sự đều có thể gặp được những sự việc cảm ứng thần kì, do vậy từ xưa tới nay kinh này vẫn được lưu truyền. Tới triều đại nhà Thanh đã có các chùa (ví dụ như Phúc Kiến Thừa Thiên Tự, Dũng Tuyền Tự, Cổ Sơn Tự, v.v…) làm các bản khắc để in ấn. Những năm Dân Quốc đầu tiên, cư sĩ Đinh Phúc Bảo (người biên tập cuốn "Phật học đại từ điển") ngoài việc viết lời dẫn giải ra thì còn đưa kinh này vào trong cuốn "Phật học đại từ điển".

Có lẽ cần ghi chú thêm là vào năm dân quốc thứ 60, ở thành phố Đài Bắc, lão pháp sư của Hoa Nghiêm Liên Xã Nam Đình (nay đã vãng sinh) từng khởi xướng việc in ấn. Trong đó, phần đầu bản kinh ngoài việc đưa thêm vào lá thư tay do chính cư sĩ Nhạc của phái Triều An Tông viết ra thì còn có những bài phê bình ngắn gọn nữa. Có lẽ trong những bài dẫn giải trước đây, cư sĩ Đinh Phúc Bảo chỉ dẫn ra là có các cuốn sách cổ như Ngụy Thư, Bắc Sử, Pháp Uyển Châu Lâm, và Tục Cao Tăng đã có ghi lại lai lịch của Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, nhưng đều đưa ra rất ít số liệu. Những gì được nói đến cũng khá mù mờ và không rõ ràng, khiến cho người đọc thực sự không sao có được những hình dung rõ ràng. Đặc biệt là phần cuối của lời dẫn giải đã giải thích Cao Vương là số một trong tất cả mọi pháp. Đây không phải là nói về lai lịch, xuất xứ, mà chỉ có thể nói rằng đây là do cá nhân ông ấy tự mình giải thích như vậy mà thôi!

🌟

Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, theo như các vị sơn tăng được biết thì ngoài bốn cuốn sách được nhắc đến ở trên có ghi chép, thì trong "Phật Tổ tổng kí" chương 54, trong "Kê Cổ Lược" chương 2 cũng đều có ghi chép lại. Đại ý cụ thể viết rằng:

Trước đây, vào khoảng thời gian năm Thiên Bình thời Đông Ngụy (sau khi Ngũ Hồ nổi loạn Trung Hoa, khoảng vào năm 534 sau Công nguyên), trong quân đội Định Châu (nay được quy định là huyện Hà Bắc), có một vị quan quân được chiêu mộ tới, tên gọi là Tôn Kính Đức. Ông văn võ toàn tài, vô cùng xuất sắc, do ông tin tưởng sâu sắc vào Quan Thế Âm Bồ Tát, nên tại nơi ông bảo vệ, ông đã cho tạo một bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát rất trang nghiêm. Vào những lúc rảnh rỗi, các quan công vụ khác hoặc là đi săn hoặc lao vào các thú vui không chính đáng, chỉ có ông là vẫn dùng toàn bộ tâm lực của mình để lễ kính kiền thành đối với Quan Thế Âm Bồ Tát.

Về sau, hết nhiệm kì bảo vệ, khi ông được điều trở về kinh đô, ông bị gian thần ghen tị mà gài bẫy vu cáo, bị bắt giam vào thiên lao (nhà tù trong kinh thành, trực thuộc Hành Bộ, tương đương với Bộ pháp vụ ngày nay).

Mỗi ngày ông đều phải chịu đánh đập tra khảo và phải chịu những tra tấn khác đau đớn không thể nào chịu đựng nổi, bởi vậy đành phải thừa nhận là mình đã gây tội. Kết quả là ông bị phán tội cực hình (tội tử hình chặt đầu).

Trong thời gian chờ đợi thu quyết (đến mùa thu thì sẽ chấp hành hình phạt), đêm trước ngày hết hạn, ông mơ thấy một hòa thượng, hòa thượng này hỏi ông:  
"Ông có sợ chết không?"  
"Mọi sinh mệnh đều ham sống sợ chết, sao tôi lại là ngoại lệ được chứ?"- Ông nói: "Nhất là tôi còn bị gài bẫy vu oan, tôi lại càng không cam tâm!"  
"Đừng sợ!" - Hòa thượng nói: "Tôi dạy ông niệm Quan Âm Cứu Thế Kinh, ông chỉ cần niệm hết một nghìn biến, tôi bảo đảm ông sẽ không bị chết."

Trong kinh này có rất nhiều tên các vị Phật, công đức niệm danh hiệu Phật đã chẳng phải là ít, huống hồ còn có cả Thất Phật Diệt Tội đà-ra-ni thần kì nhất nữa, Thanh Lương Bảo Sơn hàng tỉ hàng triệu Bồ Tát và thánh hiệu của Bát Đại Bồ Tát nữa.

Sau khi ông tỉnh lại, với sự thành tâm không chút nghi ngờ, ông liền theo những gì hòa thượng dạy trong mơ, nhớ lại và ghi chép lại (toàn bộ kinh văn tổng cộng cũng chỉ có 666 chữ). Ông cảm thấy không có chút sai sót gì, thế là, ông liền vội vã niệm hết lần này tới lần khác.

Đến khi trời hửng sáng, ông chỉ mới niệm được có một trăm biến, nhưng lúc này, người phụng hành đã đến để trói ông đi rồi. Ông không vì thế mà thôi tụng niệm, ngay cả trên đường bị áp giải tới nơi hành hình (trước đây triều đình xử tử người ta ở tại ngã tư trung tâm của kinh thành), ông vẫn không hề ngừng niệm. Khi tên đao phủ giơ ngọn đao sáng loáng lên thì vừa hay ông niệm đủ một nghìn biến.

🌟

Khi ngọn đao của đao phủ chuẩn bị chém xuống cổ, bất ngờ thay, cổ ông không có cảm giác gì cả, dù một sợi tóc cũng không bị tổn hại, còn ngọn đao trong tay đao phủ thì đột nhiên giống như chém xuống cột thép vậy, tay tên đao phủ cũng rung lên bần bật, đao cũng bị nứt gẫy thành ba đoạn, rơi trên mặt đất! Cứ như vậy, họ liên tiếp thay tới ba tên đao phủ, dùng ba ngọn đao lớn, còn Tôn Kính Đức quỳ trên mặt đất, ông vẫn nhắm mắt im lìm tụng niệm "Quan Âm Cứu Thế Kinh", dường như ông chẳng có cảm giác gì.

Các vị quan giám sát và người hành hình vây thành vòng tròn xung quanh quan sát đều không ngớt kinh ngạc, cho rằng ông ta có tà thuật, thế là liền ngừng cuộc hành hình, áp giải ông ta trở về đại lao, sau đó báo cáo sự việc lên cấp trên.

Thừa tướng khi đó (tương đương với Viện trưởng Hành chính của chúng ta ngày nay, nhưng vào thời phong kiến, quyền lực của thừa tướng cao hơn viện trưởng hành chính ngày nay rất nhiều lần) là Cao Hoan, người Hoài Sóc (nay là tỉnh Tuy Viễn, huyện Ngũ Nguyên) liền gọi ông đến để thẩm vấn tỉ mỉ. Sau khi thừa tướng hiểu được nguyên nhân (quả nhiên là bị gài bẫy vu oan), hơn nữa sau khi phát hiện ra đích thực là nhờ có sức mạnh uy thần của Bạch Y Quán Thế Âm Bồ Tát khiến Tôn Kính Đức không bị chết, liền tấu lên Hoàng Thượng để đặc xá cho ông, phục hồi lại chức vụ ban đầu cho ông.

🌟

Nhờ có sự linh nghiệm thần kì của Quan Âm Cứu Thế Kinh, thừa tướng Cao Hoan ngoài việc ra lệnh cho quan dân trong kinh thành phải sao chép truyền tụng kinh này ra, thì sau khi Tôn Kính Đức trở về khu trại của mình, trông thấy trên bức thánh tượng Quan Thế Âm Bồ Tát mà ông đã làm trước đây, ở chỗ cổ nơi mà ông bị đao chém xuống, không ngờ cũng hằn lên vết ba đường đao chém xuống. Ông đau đớn cảm kích không ngừng. Ngoài bản thân càng kiền thành lễ kính và trì tụng kinh ra, ông cũng phát động người dân trong thôn làng cùng sao chép truyền tụng. Đây là lý do vì sao bản kinh này được đổi tên thành Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, hoàn toàn không phải là như những lời đồn đại rằng do Cao Vương gặp nạn gì đó, mà là do nhờ đọc Quan Âm Cứu Thế Kinh có được trong mơ mà tránh được cái chết. Ngoài ra, con trai của Cao Hoan khi đó là Cao Dương đã chiếm đoạt Đông Ngụy, sau khi đổi hiệu thành Bắc Tề, đã truy phong cho phụ thân ông làm Thần Võ Hoàng Đế.

Khi đó, Cao Dương cho rằng sở dĩ vì sao Quan Âm Cứu Thế Kinh có thể được đại chúng yêu thích đọc tụng như vậy là do công lao của phụ thân ông, vì thế nên ông đổi thành Cao Hoàng Quan Thế Âm Kinh. Hậu thế không thích phiền phức nên khi viết thành sách hoặc làm bản in đều giản lược chữ Hoàng thành chữ Vương. Đây chính là lai lịch và nguồn gốc phát triển của Cao Vương Quan Thế Âm Kinh.

Lịch sử cũng xác nhận sự thật này, mọi điểm đều rõ ràng, chứ không phải giống như những người không hiểu lịch sử bình thường vẫn nói rằng đây là kinh ngụy tạo, tuyệt đối không thể có việc phát sinh những sự việc cảm ứng linh nghiệm được.

Có một số phái Đạo giáo khi in kinh Cao Vương Quan Thế Âm Kinh này đã tự ý đưa thêm chữ "Chân" vào trong tên gọi nên trở thành Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

### 02. Sự linh nghiệm của Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh

Viết bởi: Cư sĩ Mạc Chính Hi

Liên quan đến sự tích Lư Cảnh Dụ, trong Nho Lâm Truyền thời Bắc Ngụy và Lư Đồng Truyền thời Bắc Sử đều có ghi chép lại.

Lư Cảnh Dụ chuyên môn nghiên cứu kinh học, làm quan Lịch Nhân Quốc Tử bác sĩ <span className="note-blue">[bác sĩ ở đây là tên học quan thời xưa]</span>, lại yêu thích nghiên cứu kinh Phật. Những nghĩa lý chủ yếu của Phật giáo ông đều thông hiểu, tuy nhiên, anh trai của ông là Lư Trung Lễ cùng với Hình Ma Nạp nắm quyền ở quê hương, gây nên mối thù ghét với những bên phiến loạn. Khi đó, Hiến Võ Vương của Bắc Tề đã dẹp yên họ, nhưng Lư Cảnh Dụ cũng bị liên lụy, bị nhốt trong kiên lao ở Tấn Dương.

Kể từ sau khi bị giam trong nhà lao, Lư Cảnh Dụ thành tâm tụng niệm Cao Vương Quan Thế Âm Kinh, niệm được mấy ngày thì ông có thể tự gỡ bỏ tất cả mọi xiềng xích trói trên người. Cai ngục tấu chuyện này lên Tề Hiến Võ Vương. Tề Hiến Võ Vương biết nhất định là ông bị oan, liền miễn tội cho ông, về sau cứ thế ông thăng quan đến chức Quốc Tử bác sĩ.

🌟

Đồng thời, lại có một vị quan viên phạm vào tội chết, buổi tối mơ thấy một hòa thượng dạy ông tụng niệm Cao Vương Quan Thế Âm Kinh. Sau khi tỉnh dậy, ông làm theo những gì hòa thượng chỉ dạy, niệm thầm đủ một nghìn biến. Đến khi bị hành hình, một đao chém xuống, đao bị gãy còn cổ ông thì chẳng mảy may bị thương. Vị quan giám sát chặt đầu lại đem chuyện này tấu lên Thượng Hiến Võ Vương, vị quan viên phạm tội đó lại được miễn tội chết.

Từ đó, bộ Cao Vương Quan Thế Âm Kinh lại càng trở nên thịnh hành. Nhưng bản kinh này không phải là kinh được dịch từ tiếng Phạn của Ấn Độ, trong Đại Tạng Kinh từ trước tới nay đều chưa từng xuất bản. Đây là bộ kinh có được từ trong mơ, từ trong giấc mơ mà học được, tuy nhiên từ thời Nam Bắc Triều tới nay, hễ ai đọc tụng bản kinh này đều có được rất nhiều sự linh nghiệm.

Đây chẳng phải là những điều phàm phu có thể ngụy tạo ra. Bởi vì trong bản kinh có rất nhiều danh hiệu Phật, cũng có danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát, người gặp phải lúc nguy cấp, tụng niệm kinh này đủ một nghìn biến, chắc chắn sẽ đạt được rất nhiều cảm ứng, có thể thấy rằng sức mạnh của Phật là bất khả tư nghì.

### 03. Liên Sinh Hoạt Phật và Cao Vương Kinh

Sự coi trọng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đối với Cao Vương Kinh:

Tại Ngọc Hoàng Cung <span className="note-blue">[một ngôi chùa tại thành phố Đài Trung, Đài Loan]</span>, cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi có được là:  
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi thuộc lòng là:  
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi có được tương ứng linh nghiệm là:  
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi truyền bá rộng rãi là:  
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Bởi vậy, tôi nói rằng: Linh Tiên Chân Phật Tông tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

🌟

Những tâm đắc về việc đọc tụng Cao Vương Kinh:

Trong những khóa tu buổi tối cách đây hơn mười năm trước, tôi thường tiến nhập vào cảnh giới của Cao Vương Kinh. Từng vị Phật Bồ Tát đều phóng ánh sáng chiếu rọi vào tôi, trên phương diện tâm linh có những sự chuyển hóa huyền diệu, hoàn toàn không có những cảm giác lo lắng bất an, chỉ có cảm giác tinh tấn hơn. Mỗi lần tôi đều rớt nước mắt, những âm thanh trong bản kinh muốn tôi đừng bám chấp vào những hiện tượng thế gian, tất cả phiền não chỉ như một nét bút phết qua mà thôi, tôi đã có được những quan kiến về giải thoát chân chính.

Niệm tụng Cao Vương Kinh khiến cho tất cả mọi đau khổ sinh tử và phiền não đều tiêu trừ, lại càng cảm thấy tâm trí trong sáng, trí tuệ sáng suốt, giống như dòng suối nước trong vắt róc rách chảy từ tâm mình ra vậy. Tất cả những ô nhiễm nhơ bẩn đều được gột sạch, tất cả bực tức nóng nảy đều hóa thành dịu mát. Trong tu hành chứng nghiệm thấy hoa sen hiển hiện, phóng đại quang minh, khiến tôi trong cảm giác hỉ lạc mà có được pháp lạc.

Ngày xưa, khi tôi bị kẻ xấu phá hoại thì đều cảm thấy bất lực, thân tâm đều bị tổn thương, có thể nói là lòng căm giận hừng hực như lửa đốt, gần như không sao chịu đựng nổi, rất muốn phá búa chìm thuyền để giải tỏa hoàn toàn những uất ức. Thế là, tôi đến Phật đường, cứ thế niệm Cao Vương Kinh. Tôi nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện, đứng trong không trung, dùng cành dương liễu vẩy nước, rắc mấy giọt cam lộ lên đầu tôi, thế là ngọn lửa phừng phừng hóa thành hồ sen trắng, tâm trạng tôi có chuyển biến lớn, tôi cảm thấy được an ủi, lập tức cảm thấy thần trí thanh minh, hoàn toàn điềm nhiên sáng suốt.

### 04. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Cao Vương Kinh

Kinh chú nào tốt nhất:

Có người hỏi tôi, kinh nào tốt nhất? Chú nào có công đức nhất?  
Đáp án của tôi là: "Chỉ cần kinh chú nào có duyên với ta thì đó là thượng phẩm. Kinh chú không phân biệt trên dưới, có thể niệm đến khi chuyển được pháp luân chính là thành công."

Bởi vậy tôi cho rằng, kinh điển Đại thừa và kinh điển Tiểu thừa đều có công đức. Chú lớn và chú nhỏ đều có pháp lực, chỉ cần bạn có động lực và nỗ lực thì sắt đá cũng biến thành vàng. Công đức của niệm kinh trì chú là bất khả tư nghì. Chư Phật Bồ Tát dựa vào kinh chú để tiếp nhận chúng sinh bình phàm trong thiên hạ, còn chúng sinh bình phàm dựa vào kinh chú để có được sự bảo vệ của chư Phật Bồ Tát.

🌟

Bí mật thành công của niệm kinh chú:

Khi mọi kinh chú đều hợp nhất thuần thục với tâm - khẩu - ý thì ngữ âm của kinh chú sẽ hóa thành ánh sáng trắng xoay vòng. Ánh sáng trắng sẽ tỏa ra từ trong miệng, từ trên đỉnh đầu, từ những lỗ chân lông trên khắp thân thể, trở thành một luồng ánh sáng rực rỡ tươi sáng. Ánh sáng này cùng với Phật quang của kinh chú kết hợp lại với nhau, Phật Bồ Tát có thể cảm nhận thông suốt đến kinh chú của người tu đạo. Chính ánh sáng trắng xoay vòng làm chuyển động pháp luân. Người bình thường niệm tới khi pháp luân xoay chuyển có thể nói là đã cởi bỏ được lớp vỏ phàm phu, tương lai sẽ đến được Tây phương cực lạc thế giới, hóa sinh thành hoa sen, vĩnh viễn không phải chịu khổ báo luân hồi nữa, thành Phật thành thánh, có được cuộc sống vĩnh hằng.

🌟

Hoàn cảnh niệm kinh và phương thức trì tụng:

Muốn niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, trước tiên tắm rửa sạch sẽ, phần mở đầu không cần niệm, chỉ cần niệm nguyên văn là được rồi. Thông thường nơi niệm kinh đương nhiên ở tại Phật đường là tốt nhất, không có Phật đường thì có thể ở trong thư phòng. Nếu không có thư phòng thì chọn một góc trong phòng ngủ, dọn sạch sẽ là có thể được rồi. (Đừng đọc kinh ở những chỗ không sạch sẽ, sẽ mất đi tấm lòng cung kính).

Thắp lên một nén hương, hoặc đốt đàn hương, nếu không thực sự thuận tiện thì chắp tay cung kính niệm cũng vẫn có được hiệu ứng. Đứng chắp tay niệm, ngồi chắp tay niệm, quỳ chắp tay niệm, dùng pháp khí hoặc không dùng pháp khí tùy theo mong muốn, hoàn toàn không có quy định cứng nhắc.

Điều quan trọng nhất là tấm lòng phải kiền thành, miệng đọc ra thành tiếng cũng được, không thành tiếng cũng được, không được để suy nghĩ chạy lung tung.

Trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, người có nguyện lực lớn, mỗi ngày niệm mười biến, mỗi sáng tối niệm năm biến, thậm chí càng nhiều càng tốt. Người có nguyện lực nhỏ, mỗi ngày niệm hai biến, sáng tối mỗi lần một biến. Gặp chuyện cấp bách cần thỉnh Bồ Tát ra sức bảo hộ thì một ngày niệm một trăm biến, mười ngày sẽ xong hết một nghìn biến. Có kiên trì như vậy thì tôi tin rằng cảm ứng sẽ theo bạn như hình với bóng, có cầu có ứng. Người càng có tín tâm kiên định thì càng có công lực, đây là một đạo lý chắc chắn.

🌟

Điểm cốt yếu khi trì tụng Cao Vương Kinh:

1. Điều chỉnh tâm quy về một chỗ, không khởi vọng niệm.
2. Bất kể thời gian, địa điểm nào, quan trọng nhất là tâm linh tự tại.
3. Lời đi ra từ miệng, đi vào tai, in vào tâm.
4. Với mỗi điều cầu nguyện cần đọc đủ 1000 biến.
5. Nếu vẫn chưa đạt hiệu quả, tự mình cần biết nghiệp chướng còn rất nặng, càng nên tiếp tục trì tụng cho đến khi đạt hiệu quả mới thôi.

🌟

Ý nghĩa tinh túy của Cao Vương Kinh:

Nam mô Ma ha Bát Nhã Ba La Mật thị vô đẳng đẳng chú. Đây là kim quang thuần tịnh, cũng là ánh sáng chiếu rọi khắp nơi, không thay đổi biến hóa, không bao gồm thành - trụ - hoại - không, vô khởi vô chung, tràn trề khắp mọi nơi, không sinh không diệt, tất cả đều viên mãn.

Kim quang lấp lánh của mỗi vị Phật đều tượng trưng cho tịnh độ trang nghiêm, là cảnh giới được trang hoàng diễm lệ bởi mọi ngọc báu, hàm chứa rất nhiều pháp môn bí mật nằm dưới sự bảo hộ của các kim cang thần. Người có thiện căn cực dày, người có duyên sẽ khai mở được pháp yếu vô thượng.

Lục phương lục Phật vốn là trí huệ vô cùng tận, thông thiên triệt địa, nắm rõ hết mọi sự trên trời dưới đất, quang hoa trường tồn vạn cổ, là tinh hoa của Phật, quang minh huy hoàng như vàng bạc ngọc bích, vốn là những huyền bí lớn trong huyền bí, là đại thánh trong thánh, về cơ bản là không có lời nào giải thích hết được, có nói cũng chỉ là lời cụt ý cạn mà thôi.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, chính là sự hóa hiện lòng từ bi không chút e sợ. Người nào phát tâm thọ trì lập tức được ban cho sự bảo hộ từ bi, người nào trì tụng sẽ có được kho báu vô giá tuyệt vời đạt được mọi sự như ý, có thể luôn mang trên đầu sự gia trì bảo hộ, ý nghĩa đích thực trong đó là: "Năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại."

Thất Phật Thế Tôn: "Lipo lipo te, kio kio te, tola nite, pili nite, mohua chante, chanling cante, soha", kể tên ở đây gồm các vị Bì Bà Thi Phật, Thi Khí Phật, Bì Xá Phù Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật.

Niệm chân ngôn này nghĩa là bộc lộ tâm sám hối, tâm từ bỏ sợ hãi, tâm thề nguyện rời xa cái ác, tâm bồ đề, tâm bình đẳng với oan - thân, tâm niệm Phật báo ân, tâm quan sát tội chính là tính không. Một khi đã bộc lộ bảy tâm này cũng chính là biết được bí mật của sinh tử, có được đại trí huệ của nhiều kiếp, là đệ nhất nghĩa luận, là con đường rời xa cái khổ đến với an lạc. Sự sáng chói của Thất Phật lại càng rực rỡ gấp đôi, biến những thứ mục nát thành thần kì, chuyển chết thành sống, biến những con người đang chết dần chết mòn thành hoàn toàn tươi mới, được thiên long bảo vệ, hộ pháp bảo vệ, thực là một viễn cảnh kì vĩ tráng lệ, có được pháp lạc lớn nhất.

🌟

Cao Vương Kinh được truyền tụng rộng rãi khắp nơi:

Quang minh truyền tới khắp chư thiên, trời người đều truyền tụng kinh này, các cõi âm phủ cũng đều truyền tụng kinh này, đó là ánh sáng chiếu rọi khắp vũ trụ, rực rỡ mười phương, trở thành chân ngôn phổ biến khắp nơi nơi, trường tồn bất diệt, phá vỡ hoàn toàn tất cả thời gian và không gian. Người nào trì tụng và gìn giữ kinh này đang từng bước từng bước tiến lên. Đây là pháp môn thù thắng nhất xuyên suốt thế giới đến để tiếp dẫn những mầm mống cỏ cây của thế kỉ này.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh - lợi ích Phật pháp thuần tịnh nhất.  
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh - cõi tịnh độ oai phong nhất.  
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh - ngọn cờ pháp cao nhất.

🌟

Sức mạnh của Cao Vương Kinh:

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh là kinh điển được Chân Phật Tông tôn sùng nhất. Thực tế đây là kinh điển có hiệu nghiệm rất lớn, niệm rồi sẽ có được pháp lực lớn, vô cùng bất khả tư nghì. Vào triều đại nhà Đường, kinh này đã cực kì nổi tiếng, ai nấy cung kính đọc tụng.

Kì thực, trong kinh này bao gồm ba sức mạnh lớn:  
Thứ nhất là sức mạnh hồng danh của chư Phật, hồng danh của chư Phật tượng trưng cho ý thức vũ trụ. Cao Vương Kinh chính là bộ kinh tổng hợp tên hiệu của chư Phật.  
Thứ hai là sức mạnh của câu chú. Cao Vương Kinh có Thất Phật diệt tội chân ngôn, chú lực của một vị Phật đã vô cùng lớn, huống hồ là chú lực của bảy vị Phật, bởi vậy Thất Phật chân ngôn là bất khả tư nghì.  
Thứ ba là trong Cao Vương Kinh có nói đến mười chữ: "Năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại", ai tin sẽ được cứu.

🌟

Trì tụng Cao Vương Kinh và bí mật thành tựu tịnh quang:

Chúng ta thường nói về "Tịnh Quang thành tựu pháp". Trong tam giới của ba cõi giới thiên - dục giới, sắc giới, vô sắc giới, tôi nghĩ cần phân biệt thế nào nhỉ?

Ở cõi trời dục giới, người có phúc báo lớn có thể đến được cõi trời dục giới, bởi vậy đây thuộc về Phúc đại, phúc khí rất lớn. Vì sao phúc khí rất lớn? Bởi vì họ từng bố thí, làm công đức, nên phúc khí rất lớn, bởi vậy họ được đến cõi trời dục giới để hưởng phúc.

Tôi thấy rằng cõi trời sắc giới là Huệ đại, không phải là "nổi điên". <span className="note-blue">[Ở đây Sư Tôn đùa, chơi chữ. Huệ lớn - có phiên âm là hui da, đồng âm với nổi điên - có phiên âm là huo da.]</span>

Huệ đại là chữ huệ trong trí huệ. Bởi vì họ thiền định, nhờ vào sức mạnh của thiền định mà tiến được vào sâu bên trong sản sinh ra trí huệ, gia tăng sức mạnh trí huệ, rồi cứ thế mà đi lên từng cấp từng cấp cõi trời, do vậy thuộc về Huệ đại.

Tôi thấy rằng cõi trời vô sắc giới là Không đại, cái gì là Không đại? Bởi vì họ tu hư không, tu duy thức, tu vô tưởng, vô tưởng chính là phi tưởng, rồi ngay cả phi tưởng cũng loại bỏ được thì chính là phi tưởng phi phi tưởng. Loại bỏ đi mọi ý thức, biến thành vô sở hữu, do vậy họ ấn chứng được Không đại, nên tôi cho rằng ở cõi trời vô sắc giới là thuộc về Không đại.

Thế còn "Tịnh quang thành tựu pháp", tôi cho rằng là ở cõi trời sắc giới, sắc giới thiên sẽ sản sinh ra tịnh quang. Tịnh quang sinh ra như thế nào? Kì thực đó chính là khi thủy hỏa vận hành hòa quyện mà sinh ra, nước rơi xuống, lửa đi lên, mở ra tâm luân.

Đối với phương diện khai mở tâm luân, tôi phát hiện ra có một chỗ rất ảo diệu. Bình thường chúng ta niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, giả sử bạn rất cẩn thận, niệm rất tập trung chuyên nhất, bạn sẽ phát hiện ra trong kinh này toàn là danh hiệu của Phật Bồ Tát khắp mười phương.

Trên phương diện niệm Phật, Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh tương đương với thập phương Phật, thập phương Bồ Tát. Nếu không tin, bạn đọc trong Đại Tạng Kinh có giải thích Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, toàn bộ đều là danh hiệu của thập phương Phật Bồ Tát. Bạn niệm tập trung được thì cũng tương đương với niệm vạn vạn tỉ tỉ vô số danh hiệu Phật và Bồ Tát.

🌟

Bạn có thể niệm với tinh thần tập trung chuyên nhất, thập phương Phật, thập phương Bồ Tát sẽ quán đảnh cho bạn. Tôi nói cho bạn biết một hiện tượng này. Niệm một biến tương đương với giảm bớt một ít nghiệp chướng của bạn, điều này giống với cái gì nhỉ? Rất giống với việc giúp bạn lột bỏ nghiệp chướng, từng lớp từng lớp nghiệp chướng được lột bỏ dần, sau đó mạch trên toàn thân bạn sẽ được thả lỏng.

Bạn nên biết rằng ở quanh tâm luân có rất nhiều mạch phiền não, rất nhiều mạch phiền não đau đớn khổ sở xoắn lại với nhau. Hôm nay bạn tu khí mạch là có thể nới lỏng những nút thắt phiền não của bạn, hơn nữa thủy hỏa còn có thể hòa quyện, nói cách khác chính là nới lỏng được những phiền não của tâm mạch. Sau khi mở được tâm mạch, hoa sen ở tâm giới của bạn mới có thể khai nở, vậy mới được gọi là mở ra tâm liên.

Bạn niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, Phật Bồ Tát trong hư không sẽ quán đảnh gia trì cho bạn, Phật Bồ Tát của mười phương sẽ quán đảnh gia trì cho bạn. Lột bỏ nghiệp chướng của bạn, lột bỏ… lột bỏ…, lột bỏ đến cuối cùng, tâm liên của bạn sẽ nở ra, tâm luân cũng mở ra, bên trong lập tức có ánh sáng, ánh sáng ngũ sắc của tâm mạch liền hiển hiện, đây gọi là Tâm quang phát lộ. Nguyên nhân của Tâm quang phát lộ chính là ở đây. Cái gì gọi là Tâm quang phát lộ? Đây chính là Tâm quang phát lộ đó.

🌟

Chúng ta nói rằng ánh sáng do tự mình phát ra thì gọi là tử quang (ánh sáng con), tử quang chính là ánh sáng của chính bạn. Ánh sáng của ý thức vũ trụ tối thượng gọi là mẫu quang (ánh sáng mẹ). Hai thứ ánh sáng này được gọi là tử tịnh quang và mẫu tịnh quang. Bạn đem ánh sáng của mình bay lên cùng hòa hợp với mẫu tịnh quang thì gọi là quả tịnh quang, ta gọi ba thứ ánh sáng này là Tam quang.

Tử tịnh quang thuộc về ánh sáng thanh tịnh do chính mình phát ra, ý thức vũ trụ được gọi là mẫu tịnh quang - ánh sáng vốn có của ý thức vũ trụ. Tử - mẫu quang gặp nhau gọi là quả tịnh quang. Lúc này bạn lập tức có thể ấn chứng được Tì Lư Tính Hải. Bạn bí mật bơi trong đại quang minh của Tì Lư Tính Hải, bơi lội ở trong đó. Bạn bắt đầu bơi trong biển ánh sáng, đảm bảo sẽ không bị hết hơi, sẽ không bị chìm xuống. Sau khi tắm xong trong ánh sáng đó thì bạn trở nên vô cùng thanh tịnh, khiến cho bạn cảm thấy ở nơi đây sao mà vui sướng đến thế. Niềm vui sướng này gọi là đại lạc, là niềm hạnh phúc vô thượng, là vô thượng đại lạc, thắng lạc diệu hỉ.

🌟

Trong kinh Phật chúng ta thường nhắc tới một câu: "Thường lạc ngã tịnh", chúng ta có thể nói nó chính là "tịnh quang thế giới". Bạn đã thành tựu được tịnh quang rồi, tiến vào được Tì Lư Tính Hải rồi, bơi trong biển ánh sáng rồi, lúc này được gọi là "thường lạc ngã tịnh". Một sự khoái lạc vĩnh hằng vĩnh cửu, ta mãi mãi được thanh tịnh. Bốn chữ "thường lạc ngã tịnh" này chính là cảnh giới kết hợp lại của cõi trời dục giới và cõi trời sắc giới. Cảnh giới kết hợp này là "thường lạc ngã tịnh".

Đến được với "thường lạc ngã tịnh" đã là rất tốt rồi, muốn được thường lạc, ở đâu có thể có cách để được thường lạc đây? Bạn xem, đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh, ở đâu có được thường lạc? Đạo súc sinh có niềm vui ngắn ngủi, còn đâu chỉ toàn là tranh đấu. Đạo atula toàn là tranh đấu. Đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ vĩnh viễn chỉ có đau khổ, đạo súc sinh cũng vĩnh viễn chỉ có khổ, đó là thường khổ, chẳng phải thường lạc mà là thường khổ. "Thường khổ ngã tảng" là như thế đó.

Bởi vậy, có thể nói rằng cảnh giới của thường lạc ngã tịnh chính là thành tựu tịnh quang. Bạn đến được cõi trời dục giới và cõi trời sắc giới đều là thành tựu rồi, đã leo lên đến được tầng trời thứ hai rồi. Bạn chỉ cần tu được thành tựu pháp tịnh quang nữa, phát ra được tịnh quang, đạt được trạng thái tử quang và mẫu quang gặp nhau biến thành quả quang, thì bạn chính là thường lạc ngã tịnh, chính là thành tựu tịnh quang rồi.

Phương pháp tu hành này vô cùng đặc biệt, hãy nhớ nhất định cần niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh để lột bỏ hoàn toàn nghiệp chướng của bạn, để những phiền não xung quanh tâm luân của bạn đều được tịnh trừ!  
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

### 05. Sáu bí quyết lớn cho một cuộc đời phúc huệ

Nghiệp chướng là gì?  
Nghiệp là ngôn ngữ của Phật gia, tiếng Phạn chính là karma <span className="note-blue">[Hán Việt là yết ma]</span>, nói cách khác là những gì do thân, khẩu, ý tạo ra thì gọi là nghiệp.

Nghiệp có thiện tính và ác tính.  
Thiện tính thì sẽ chiêu cảm hạnh phúc. (nghiệp trắng)  
Ác tính thì sẽ chiêu cảm đau khổ. (nghiệp đen)

Nghiệp của đời quá khứ là túc nghiệp.  
Nghiệp của đời hiện tại là hiện nghiệp.

Thân nghiệp là nghiệp do thân người này tạo ra, khẩu nghiệp là nghiệp do miệng tạo ra, ý nghiệp là nghiệp do suy nghĩ tạo ra. Còn nghiệp chướng chính là những chướng ngại do ác nghiệp tạo ra, ác nghiệp cũng làm hại đến người chính đạo theo Phật pháp. Nghiệp còn có định nghiệp, là hai loại báo ứng khổ hoặc sướng mà người ta chắc chắn sẽ nhận được. Còn có bất định nghiệp, là không nhất định phải chịu quả báo.

🌟

Làm sao để tiêu trừ nghiệp chướng:  
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) nói, mặc dù nghiệp báo nhân quả không thể diệt sạch, nhưng lại có thể dùng phương pháp khác để làm nghiệp trổ ra.

1. Thế thân: nhờ pháp lực của Sư Tôn, Sư Tôn thay đệ tử chịu khổ, từ đó tiêu trừ tai ách của đệ tử.
2. Chuyển dời: nhờ pháp lực của Sư Tôn, Sư Tôn chuyển dời quả báo vào hư không (vào trong đất, nước, lửa, gió), từ đó tiêu trừ tai ách của đệ tử.

Trước đây tôi từng nói như sau, muốn tiêu trừ nghiệp chướng, những người có tín tâm và hành giả cần có được sự thế thân và chuyển dời. Để làm điều này có tám phương pháp:

1. Đọc tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh một nghìn biến. (sức mạnh của kinh)
2. Trì tụng Căn bản Thượng sư tâm chú một vạn biến. (sức mạnh của chú)
3. Tu pháp sám hối 200 đàn. (sức mạnh của pháp)
4. Lễ bái cúng dường, xây chùa, xây tháp, làm tượng Phật. (sức mạnh bố thí)
5. Niệm danh xưng của Phật Bồ Tát cho đến khi tương ứng. (sức mạnh của Phật)
6. Thiền định để có sức mạnh giới - định - huệ. (sức mạnh của thiền định)
7. Căn bản Thượng sư tu pháp để gia trì, thế thân và chuyển dời. (sức mạnh của thầy)
8. Chân không hóa vô. (sức mạnh tính Không)

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn nói, bảy loại sức mạnh đầu tiên là thế thân và chuyển dời. Chỉ có phương pháp thứ tám sử dụng sức mạnh tính Không mới là cách thức tiêu trừ nghiệp chướng chân chính.

🌟

Sáu bí quyết lớn cho một cuộc đời phúc huệ:  
Muốn biến những nghiệp chướng đau khổ thành niềm vui, tôi cho rằng cần có những quan niệm như sau:

1. Phúc phận là do số trời: Cần có nhận thức rõ ràng rằng phúc phận đã được định sẵn từ khi sinh ra, muốn có được phúc phận thì trước tiên cần phải bố thí.

2. Thắng bại là do trời định: Mọi việc thắng lợi tất sẽ vui, còn nếu thất bại thì hãy nghĩ rằng thắng hay bại là chuyện thường tình của nhà binh, cần nỗ lực nhiều hơn.

3. Được hay mất là có định luật: Có được tất có mất, mất rồi sẽ lại có, trong chuyện được mất đừng nên quá bận tâm, tất cả đều xem là bình đẳng.

4. Thiện nghiệp tăng lên: Làm tốt mỗi việc nhỏ, tự nhiên thiện nghiệp sẽ tăng lên, có thể đạt được tất cả thiện quả lớn.

5. Cảnh giới vận chuyển: Đừng cho rằng vui chỉ là vui, đừng cho rằng khổ chỉ là khổ, trong khổ cũng có thể có được niềm vui, trong mọi việc đều nên nghĩ đến cái vui.

6. Tư tưởng "không thành vấn đề": Có cũng tốt, không có cũng tốt, thành cũng tốt, bại cũng tốt, được cũng tốt, mất cũng tốt, đây chính là đỉnh cao của tư tưởng "không thành vấn đề".

### 06. Con ma bóng đè

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Có đệ tử nọ thường xuyên mắc chứng bệnh đi ngủ bị bóng đè, có những lúc không dám nhắm mắt, vì hễ nhắm mắt một cái là liền nhìn thấy một bóng đen từ từ leo lên giường, đè lên trên người anh. Anh không thể mở miệng ra nói, cố gắng hết sức để ngồi dậy nhưng không thể ngồi dậy được, mắt cũng không thể mở ra được, toàn thân cứng đờ nặng trịch như khúc gỗ.

Cứ như vậy một lúc, bóng đen kia tự động rời đi, chỉ khi bóng đen bỏ đi rồi thì anh mới có thể ngủ được. Thế nhưng, tình trạng của mắt anh thì ngày càng tồi tệ, buổi sáng tỉnh dậy mệt mỏi tới mức không thể chịu đựng được, toàn thân đau nhức không còn chút sức lực nào, tình trạng càng khốn quẫn hơn.

Anh đã đi gặp nhiều bác sĩ, bác sĩ cho thuốc uống, nhưng từ đầu tới cuối đều chẳng có hiệu quả gì. Anh cũng tìm gặp pháp sư để xin bùa niệm chú, cửa sổ cửa ra vào đều dán bùa cả, nhưng chỉ được vài hôm, mọi thứ lại đâu vào đó, khiến anh chẳng còn biết làm cách gì nữa. Đây thực sự đúng như Phật Đà nói: "Quán thọ thị khổ." <span className="note-blue">[cần quán chiếu thấy rằng đã có nhận lấy bất kì cái gì là có khổ.]</span>

Sau khi đệ tử này quy y, chăm chỉ trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, cũng đã trì tụng được một khoảng thời gian khá dài rồi. Nhưng bóng đen ma quái này vẫn bám riết không buông tha anh, nó vẫn cứ đến. Cứ thế cho đến một hôm, anh cảm thấy Cao Vương Kinh chẳng có hiệu quả gì, muốn từ bỏ. Rồi anh mơ thấy Sư Tôn đến nói với anh:  
"Đừng từ bỏ, hãy trì tụng tiếp 21 ngày nữa."  
Kể từ hôm đó, anh liền đánh dấu lại, lại tiếp tục trì tụng thêm 21 ngày. Nói ra cũng kì lạ, cái bóng đen ma quái đó lại đến.

Lần này, đầu giường xuất hiện một đường ánh sáng màu trắng, trong ánh sáng trắng có một người phụ nữ nhìn rất giống Quan Âm Bồ Tát hét lên một câu: "To gan, nghiệt súc, dám ở đây hại người!"  
Bóng đen kia vừa nhìn thấy ánh sáng trắng liền tháo chạy.  
"Chạy đi đâu!"  
Người phụ nữ trong quầng ánh sáng trắng cầm bình cam lộ thổi hút vào bóng đen vào trong, thế rồi ánh sáng trắng cũng từ từ biến mất. Đêm đó, đệ tử này ngủ một giấc ngủ ngon chưa từng có. Ngày hôm sau, tinh thần sảng khoái, bách bệnh tiêu trừ, trở thành người chẳng còn bệnh tật gì.

Sau đêm hôm đó, hiện tượng bị bóng đè tự nhiên biến mất, chứng bệnh kinh niên này đã hoàn toàn khỏi rồi. Đệ tử này trong lúc hoảng hốt bỗng chốc như hai con người hoàn toàn khác, con người trước đây thì yếu ớt mệt mỏi, còn con người sau này thì thần quang rực rỡ.

### 07. Bị câm bẩm sinh

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Trong lúc thần hành trong tam muội, tôi trông thấy một cặp vợ chồng rất thành khẩn cầu xin Phật Bồ Tát ban cho họ một đứa con trai. Họ đã cầu xin nhiều năm, rốt cục cũng có cảm ứng, hạ sinh được một đứa con trai. Đứa bé lớn lên nhưng lại có một khiếm khuyết, đó là bị câm bẩm sinh. Họ nghe người ta nói thờ cúng tượng sứ của Thượng sư thì sẽ có được nhiều cảm ứng, thế là họ liền thờ cúng một bức tượng sứ Liên Hoa Đồng Tử. Chính bởi vì nhân duyên đó mà trong lúc tôi thần hành trong tam muội đã thấy được đôi vợ chồng rất thành tâm tín Phật này. Tôi cũng trông thấy đứa con bị câm bẩm sinh của họ.

Họ hướng về tượng sứ Liên Hoa Đồng Tử cầu nguyện, đau đớn rơi nước mắt, tôi trông thấy cũng không cầm lòng được.

Tôi kiểm tra lưỡi đứa bé, không có vấn đề.  
Tôi kiểm tra thanh đới của đứa bé, không có vấn đề.  
Tôi kiểm tra họng của đứa bé, không có vấn đề.

Tôi vẽ một tấm phù "Mở miệng phát âm", rồi đi vào trong giấc mơ của cậu bé, cho cậu uống phù, chẳng ngờ không có hiệu lực. Tôi không hiểu tại sao, nghĩ suốt cả nửa ngày, rồi bèn đi tìm thần chim Ca Lăng Tần Già, là thần chim phát ra âm thanh tuyệt mĩ nhất. Các thần chim rất thương xót nhưng cũng không có cách nào giúp.

Tôi đã muốn từ bỏ, nhưng sau đó, tôi nghĩ có thể là vấn đề nhân quả. Nhân quả thực sự phức tạp, phải kiểm tra rất lâu, thế rồi tôi thấy được kiếp trước đứa bé khi là pháp sư, đã phạm phải ba lỗi nghiêm trọng:

1. Đánh mất lòng tôn kính với sư phụ của mình.

1. Đánh mất bồ đề tâm.

1. Đánh mất giới luật.

Còn kiếp trước của cặp vợ chồng này, không ngờ họ cũng là cha mẹ thân sinh kiếp trước của pháp sư. (Nhân quả nhiều kiếp ràng buộc với nhau.) Tôi nhìn thấy nhân quả như thế cũng thấy thật đáng sợ.

Đến đây tôi muốn bỏ cuộc nhưng rồi lại không đành lòng. Tôi đi vào trong giấc mơ của cặp vợ chồng, khuyên họ niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh đủ 1000 biến. Quả nhiên cặp vợ chồng đó phát nguyện sẽ trì Cao Vương Kinh cả đời, sám hối tất cả, hồi hướng cho đứa con trai, không chỉ là 1000 biến mà họ đọc cả vạn biến, vạn vạn biến. (Đọc tụng tròn nghìn biến, trọng tội đều tiêu diệt.)

Theo như tôi biết, đứa con trai đã có cảm ứng. Một ngày nọ, cậu bé trượt chân ngã xuống nước, được người ta cứu lên, cậu bé nôn ra rất nhiều nước. Điều khiến người ta kinh ngạc tán thán là cậu bé bỗng nhiên mở miệng phát ra âm thanh. Sau khi bị rơi xuống nước thì bệnh câm bẩm sinh không ngờ biến mất, cậu mở miệng nói được rồi.

Cặp vợ chồng cảm kích không ngừng.  
Đây chính là cảm ứng rất lớn của Cao Vương Kinh!

### 08. Chuyển hóa suy nghĩ

Tôi có thần thông thiên nhãn, cũng giỏi quan sát khí sắc. Tôi nhiều lần giúp chúng sinh hỏi chuyện, những chuyện từng hỏi cũng linh dị phi phàm.

Có một người là ông Nhan từng đến chỗ tôi. Khi gặp ông, tôi giật nảy mình, bởi vì trước sau, trái phải của ông là một bầy quỷ quái dị hình dị dạng. Những con quỷ này đều phơi bày bộ dạng hung ác bám theo người đàn ông họ Nhan này.

Tuy nhiên, tôi cũng không để lộ ra điều này. Sau khi hỏi việc xong, tôi tặng ông Nhan một cuốn Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Tôi bảo ông Nhan mỗi ngày đọc tụng ba biến, sẽ có ích lợi. Ông Nhan hỏi:  
"Ích lợi gì?"  
Tôi đáp:  
"Thường lạc ngã tịnh."

🌟

Ông Nhan đem quyển kinh về nhà, mấy hôm sau ông Nhan này lại đến chỗ tôi, lần này đi theo ông ta là người, không còn là những ma quỷ hình dạng quái dị nữa, hơn nữa trên đầu người này còn đội bảo quán, trên thân thì mặc thiên y, tỏa ra ánh sáng thanh tịnh của thiện thần, còn có cả một đám đông với hoa thơm cờ phướn theo sau, mười phần trang nghiêm. Những thiện thần này đều vô cùng vui vẻ cát tường.

Tôi nói với ông Nhan những gì mà tôi nhìn thấy.  
Ông Nhan chắp tay lại quỳ xuống trước tôi nói:  
"Ngài biết không, tôi vốn là một người học tà thuật bùa chú, lần trước tôi đến chỗ ngài là bởi vì người ta đồn nhau rằng pháp thuật của ngài cao cường hơn tôi, nên tôi mới đến thám thính thực tế xem sao, nhằm chuẩn bị so bì với ngài một phen. Sau đó, ngài tặng tôi cuốn Cao Vương Kinh, tôi làm theo lời ngài nói mỗi ngày đọc ba biến. Đêm đó tôi nằm mơ, trong mơ vô cùng rõ ràng, tôi thấy ngài vốn là hóa thân của A Di Đà Phật. Sau khi tỉnh dậy, toàn thân tôi đổ mồ hôi đầm đìa, vốn dĩ tôi muốn làm pháp để đối phó với ngài, để cho ngài trúng bùa phép, thần kinh thất thường. Bây giờ tôi thay đổi suy nghĩ rồi, hôm nay tôi đến đây là muốn quy y ngài, học tập chính pháp, cũng không làm bùa phép lên người ta nữa."

Tôi nghe ông nói xong cũng không kém phần kinh ngạc. Thế là, tôi nhận ông Nhan làm đệ tử, làm quán đảnh quy y cho ông, dạy ông mấy Mật pháp cơ bản, bảo ông mỗi ngày cần nghiêm túc tu trì. Sự việc này khiến tôi có chút cẩn trọng đề phòng. Tôi thường nói: "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, nghĩ gì sẽ chiêu cảm cái đó!"

🌟

Khi có ác niệm thì sẽ chiêu cảm những ác quỷ theo mình.  
Khi có thiện niệm thì sẽ chiêu cảm những thiện thần đến bảo vệ mình.

Giống như ông Nhan vậy, ông vốn dĩ là người học tà pháp giáng đầu, những pháp của ông toàn là ác quỷ ác ma đến trợ giúp. Thế nhưng, một khi suy nghĩ thay đổi, ông muốn cải tà quy chính, những ác quỷ này liền bỏ đi, lập tức thiện thần đến để bảo vệ ông. Do vậy, suy nghĩ của ta vô cùng quan trọng đó!

Tôi nhấn mạnh, Mật giáo là Phật pháp thực tu, tu một đàn pháp cần niệm chú, cần làm thủ ấn, cần quán tưởng. Khi làm như vậy thì thực tiễn niệm lực sẽ thanh tịnh viên mãn, dẫn dắt người tu hành tiến nhập tới cái thiện, thường lạc, tịnh quang. Chỉ cần tu pháp nghiêm túc, thực hành trong cuộc sống hàng ngày, tương ứng cùng Phật, đây mới gọi là người học Phật chân chính.  
*(Bản văn này được trích từ văn tập số 153 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Để mặt trời chiếu soi.)*

### 09. Xích sắt đứt từng đoạn

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Khi nhập vào tam muội, tôi đến một bệnh viện lớn, trông thấy một minh sứ ở âm phủ đem theo xích chân xích tay tới để trói người. Đương nhiên tôi biết nhất định có người bệnh sắp chết nên minh sứ tới để đưa người đi.

Quả nhiên chẳng sai, có người ở trong phòng mổ, chỉ là mổ dây thần kinh bên hông, nhưng tim đã ngừng đập, thần thức vừa xuất hiện một cái là minh sứ tiến lên trước, trói lại và đem đi.

Tuy nhiên đã xảy ra một sự việc kì lạ. Sợi xích trói tay chân đứt ra từng đoạn, thần thức muốn bỏ chạy. Minh sứ liền lấy ra một sợi xích khác để trói thần thức của người bệnh lại, bảo nó đừng có chạy nữa, nhưng càng kì lạ hơn là sợi xích lại đứt ra từng đoạn. Minh sứ rất kinh ngạc.

Đúng vào lúc cả hai bên đều chẳng rõ chuyện gì xảy ra, Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện nói với minh sứ: "Ông không thể đưa người này đi được đâu."  
Minh sứ đáp:  
"Ông ta có tên trong sổ, đã phạm tội, vì sao xích sắt lại đứt ra từng đoạn vậy?"  
Bồ Tát nói:  
"Ông ta niệm Cao Vương Kinh một nghìn biến, trọng tội đều tiêu diệt, tự nhiên sẽ không phải vào địa ngục nữa."  
Minh sứ hỏi Bồ Tát:  
"Sao có thể như thế? Tội này linh hồn sẽ đi về đâu?"  
Quan Thế Âm Bồ Tát nói:  
"Ở đây cũng có nhân duyên cả, người này niệm Cao Vương Kinh, chính là đã đọc bản kinh mà Liên Sinh Hoạt Phật khuyên đọc, ông ấy tin theo và làm đúng như vậy nên mới đọc kinh này, hơn nữa người in kinh này để tặng cho ông ấy cũng ở đây, linh hồn của người phạm tội hãy để Lư Thắng Ngạn đưa đi vậy!"

Minh sứ quay đầu lại, vừa nhìn thấy tôi liền cười lớn ha ha. Tôi chắp tay đảnh lễ Quan Thế Âm Bồ Tát, chắp tay chào minh sứ, rồi tôi đưa linh hồn phạm tội đi, đưa trở về hồ Diệp Tử. Linh hồn này theo tôi học Phật, sau này chắc chắn sẽ tới được Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì hóa thân ở đó.

Tôi xuất ra khỏi tam muội. Vậy là lại thêm một người âm nữa theo tôi học Phật pháp. Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh khiến xích sắt đứt ra từng đoạn, vậy là lại thêm một ví dụ nữa.

Tôi viết một bài kệ:  
*Niệm hết Chân Kinh nghìn biến trọn  
Địa ngục khổ hình cũng thoát ngay  
Xích sắt đứt rời, chân thật có  
Hóa sinh Tịnh độ tất có ngày.*

### 10. Kết thiện duyên cùng ma

Lần này tôi bế quan ở hồ Diệp Tử, đối tượng để tôi độ sinh cũng có chút thay đổi. Tôi không chỉ độ mỗi cho con người, ngược lại tôi độ nhiều nhất lại là chúng sinh thuộc cõi ma, kết duyên với pháp sâu nhất là:  
Những con mà ở Đại Âm Sơn.  
Những con mà ở cõi ngạ quỷ.  
Những quỷ thần hoang dã.  
Những cô hồn dã quỷ.

Tôi ở đây rộng rãi kết thiện duyên, với người sống thì ít, ngược lại lại kết thiện duyên cùng ma quỷ thì nhiều. Thật sự tôi đã độ được không ít các đệ tử ma.

Mỗi ngày, tôi đặc biệt dùng hai chiếc bình sứ do Cảnh Đức Trấn sản xuất <span className="note-blue">[thành phố trực thuộc tỉnh Giang Tây, nổi tiếng về sản xuất đồ gốm sứ]</span>, đổ nước sạch vào đó, một chiếc bình thì cúng dường Phật Bồ Tát chư Tôn, bình kia thì cúng dường: "Đại bàng Kim Sí Điểu, hoang dã quỷ thần chúng, la sát quỷ tử mẫu, cam lộ đều tràn đầy. Om mu ti so ha."

Tôi hóa thực khiến cho quỷ thần chúng đều được no nê cam lộ.

Chúng sinh cõi ma đến nơi đây để nhận đồ ăn mà tôi hóa thực càng ngày càng nhiều. Tôi không cho những con quỷ đói ăn, cũng không làm đạo tràng thủy lục, lại càng không làm pháp hội siêu độ rộng rãi hay làm đại Phật sự. Nhưng việc hóa thực nước cam lộ của tôi thì cõi âm đều biết.

Tôi viết lên nước sạch ba chữ Hum Hum Hum (bằng tiếng Phạn), miệng tụng: "Om Ah Hum". Thật sự nước cam lộ nhiều như biển. Mỗi ngày tôi niệm: "Namo 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." Quỷ chúng và tôi cùng niệm. Tôi hướng dẫn cho họ cùng niệm Phật để vãng sinh Tây phương cực lạc thế giới Phật quốc tịnh độ. Chúng sinh cõi ma quỷ cũng rất đáng thương, khổ hơn cả con người, tám lạnh tám nóng, thân không an định, đồ ăn đồ uống chẳng ở yên một chỗ, cứ trôi nổi không dừng, một số ma quỷ còn chẳng biết lạy Phật sám hối để diệt tội.

Tôi hóa cam lộ là để cúng dường cho họ. Tôi dạy họ niệm Phật để cho họ có cơ hội thoát khổ. 

Tôi niệm Cao Vương Kinh, phụng thỉnh tám đại Bồ Tát, tôi còn niệm Thất Phật Diệt Tội chân ngôn. Ma lớn, ma nhỏ, ma nam, ma nữ, ma già, ma trẻ, ma tự sát, ma bị người ta giết, cô hồn, ác quỷ, thiện quỷ, hung quỷ, quỷ đầu to, quỷ xanh, quỷ đỏ, v.v… tất cả đều đến đảnh lễ Phật, Bồ Tát, Thánh hiền.

Tôi nói:  
Tâm quỷ là Phật.  
Bình đẳng không khác.

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 164 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Mỗi ngày một chuyện nhỏ.)*

### 11. Bí mật của những chấm tròn

Bình thường, chúng ta thấy những đệ tử Mật tông học tập, trên tay họ đeo một cái đồng hồ đếm. Khi họ làm công khóa gia hành, họ sẽ đếm số biến mà họ trì chú, bởi vì trong Mật tông có "thành tựu trì minh".  
Trì Thượng sư tâm chú một triệu biến hoặc nhiều hơn.  
Trì chú bổn tôn một triệu biến hoặc nhiều hơn.  
Trì chú hộ pháp một triệu biến hoặc nhiều hơn.

Ngoài "tam căn bản" này ra <span className="note-blue">[tam căn bản nghĩa là chú của Thượng sư, chú bổn tôn, chú hộ pháp]</span>, rất nhiều chú ngữ của bổn tôn có duyên với ta đều cần trì trên một triệu biến. Đồng hồ đếm chính là dùng để đếm số biến khi trì chú.

Thêm nữa, chúng ta cũng thường thấy ở những nơi phân phát sách thiện, trang cuối cùng của những cuốn sách như Bạch Y Thần Chú, Cao Vương Kinh, Quan Âm Kinh, Vãng sinh thần chú, Tông Thắng chú, Lăng Nghiêm chú, v.v… có một trang giấy trắng, ở trên đó có in một loạt những chấm tròn nhỏ.

Đây cũng chính là những chấm tròn dùng để đếm. Thông thường niệm chú, niệm kinh xong được bao nhiêu biến thì sẽ dùng bút đỏ để chấm một cái vào trong những chấm tròn đó.

Đến khi toàn bộ các chấm tròn đã được điểm màu đỏ rồi, có người sẽ:  
Gửi cho sư phụ của chính mình, thể hiện rằng đã hoàn thành công khóa rồi.  
Giơ lên trong không trung và đốt, hồi hướng cho vãng sinh tịnh độ.  
Đốt rồi rắc tro xuống sông suối, hồi hướng độ hóa cho thủy tộc.  
Đốt trước đàn thành, thỉnh cầu đạt được nguyện vọng.  
v.v…

🌟

Tôi có một đệ tử tên là Liên Hoa Khiết Như. Bản thân ông thường bị ác mộng quấy nhiễu, theo danh từ y học hiện đại thì là chất lượng giấc ngủ không tốt lắm. Không chỉ như vậy, ông thường xuyên mơ thấy ác mộng nên nửa đêm tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa, khổ sở tới mức kêu thét lên. Hơn nữa cũng vì gặp ác mộng nên ông thường xuyên mất ngủ. Ông hay mơ thấy:  
Bị bầy rắn cắn.  
Bị ác quỷ đuổi bắt.  
Bị giết chết.  
Bị chặt chân chặt tay.

Những giấc mơ của Liên Hoa Khiết Như toàn là ác mộng, hung mộng, tà mộng, chẳng bao giờ có ngoại lệ. Thế là ông liền niệm Cao Vương Quan Thế Âm Kinh một nghìn biến. Cứ niệm xong 10 biến thì ông lại dùng bút đỏ chấm một cái vào trong những chấm tròn nhỏ, tổng cộng đã chấm được 100 chấm tròn, tương đương với 1000 biến.

Ông tin vào điều Cao Vương Kinh nói:  
Năng diệt sinh tử khổ  
Tiêu trừ chư độc hại  
Niệm tròn một nghìn biến  
Trọng tội đều tiêu diệt.

Liên Hoa Khiết Như niệm xong 1000 biến thì cũng chấm dấu đỏ được 100 chấm tròn. Nhưng ông không biết phải giao cho ai cái trang giấy có các chấm tròn này, cũng không biết hồi hướng thế nào. Trong lúc ông đang lưỡng lự thì Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đến trong giấc mơ của ông.  
Sư Tôn hỏi:  
"Ông có gì nghi ngờ?"  
"Tôi đã đọc xong 1000 biến Cao Vương Kinh rồi, tờ giấy in chấm tròn khong biét phải xử lý thế nào?"  
"Ông cầu xin việc gì?"  
"Hết gặp ác mộng, đêm mơ thấy những giấc mơ ngọt ngào."

🌟

Trong mơ, tôi hướng dẫn Liên Hoa Khiết Như như sau:  
"Lấy tờ giấy có in chấm tròn này gập thành hình bát quái, rỗng ở giữa, xung quanh gập lại. Nếu không biết làm thì gập tờ giấy này thành hình vuông cũng được, rồi đặt nó bên trong gối của mình."  
"Gối của tôi bẩn lắm."  
"Mua một cái gối mới cũng được, hoặc giặt sạch đi là được."

Thế là Liên Hoa Khiết Như làm theo lời dạy của tôi, mua một chiếc gối mới, đặt tờ giấy có in chấm tròn vào bên trong gối. Nếu có ngủ mơ thì sẽ mơ thấy gặp Quan Âm, mơ thấy các cõi tịnh độ, mơ thấy mình trang nghiêm sang trọng, mơ thấy mình cưỡi mây bay lượn, mơ thấy mình ở trong những lầu các bằng vàng bạc, mơ thấy mình niệm Phật trì chú.

Trước đây hễ đi ngủ là ông cảm thấy sợ hãi. Bây giờ thì ông cực kì sung sướng. Tụng Cao Vương Kinh một nghìn biến thật là siêu siêu hữu hiệu.

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 181 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Dẫn lối trên con đường tươi sáng.)*

### 12. Thử nghiệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Có một đệ tử nọ thích niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, đặc biệt là thích một câu Sư Tôn giảng: "Kinh này thịnh hành từ triều đại nhà Đường cho đến nay, có linh nghiệm rất lớn, năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại, niệm mãn nhất thiên biến, trọng tội giai tiêu diệt."

Rất nhiều năm trước, ở Ngọc Hoàng Cung tại Đài Trung, Đài Loan, tôi đã có được một cuốn kinh này, tôi không chỉ tự mình đọc mà còn khuyên người khác đọc, hơn nữa còn khuyên người ta giúp đỡ in ấn. Cho đến nay tôi vẫn còn tụng không ngừng. Chính tôi cũng nhìn thấy kim thân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát thực sự trang nghiêm tuyệt diệu, tán thán không ngớt lời!

Nói thật lòng, tôi nay đã 60 tuổi rồi mà vẫn còn đọc tụng không ngừng đó!

Đệ tử kia của tôi có một vài nghiệp chướng, vẫn là bệnh nghiệp thôi. Anh bị mắc bệnh sỏi thận, đã đi khám bác sĩ thì thực sự là căn bệnh này. Các bác sĩ thông thường có kiến nghị là mổ để lấy sỏi ra, không phải là việc khó. Người mổ để gắp sỏi thận rất nhiều, nhưng anh ta sợ mổ, chỗ đau ẩn bên trong khiến anh rất sợ.

Anh mơ thấy Sư Tôn (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) đến trong giấc mơ nói với anh rằng: "Con là hành giả Mật giáo, hiểu về pháp quán tưởng, tại sao không tụng một biến Cao Vương Kinh, kèm theo quán tưởng ở chỗ có sỏi thận bay ra một viên sỏi đen. Quán tưởng như vậy có thể sẽ không cần phải mổ nữa."

Anh mơ thấy Sư Tôn nên đương nhiên rất vui mừng. Nhưng nói về pháp "sỏi bay" này, cũng có nhiều người bán tín bán nghi. Sỏi thận đâu dễ bị bài tiết ra ngoài, chỉ có mổ mà gắp ra thôi, chưa nghe thấy phương pháp nào khác. Đệ tử cũng không dám tin, nhưng anh lại sợ mổ, nên cũng chỉ còn cách duy nhất là phải thử xem. Anh niệm một biến Cao Vương Kinh, quán tưởng một viên sỏi đen từ chỗ bị sỏi thận bay ra. Đệ tử tụng Cao Vương Kinh một biến rồi quán tưởng một lần.

Đã xảy ra chuyện kì lạ rồi. Một ngày kia, tự anh cảm thấy cái chỗ đau ẩn bên trong không thấy đâu nữa, anh không cảm thấy đau chút nào. Chính anh cũng cảm thấy chỗ đau đã hoàn toàn biến mất rồi.

Anh đến bệnh viện lớn làm xét nghiệm, báo cáo đưa ra, trong thận hoàn toàn không còn sỏi nữa, khác hẳn so với lần kiểm tra trước đây. Lúc trước rõ ràng có sỏi kết lại, bây giờ một viên sỏi cũng không có, thật kì diệu làm sao!  
Vốn dĩ anh cần mổ, bây giờ thì không cần nữa rồi.

Đệ tử này hàng ngày đều tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh không ngừng, có được sự cứu giúp của Quan Thế Âm Bồ Tát, có tôi báo mộng kịp thời dạy anh "phi thạch pháp" (pháp sỏi bay). Đây cũng là phúc phận của chính đệ tử này, chẳng phải là sức mạnh của tôi!

### 13. Liễu Minh Hòa Thượng truyền thụ thuật cầu tự

Trên thế gian này, có rất nhiều người mắc chứng bệnh vô sinh, kết hôn đã nhiều năm nhưng ngay cả một quả trứng cũng chẳng có. Cũng có người thì toàn sinh con trai. Lại có người toàn sinh con gái.

Muốn có thể sinh cả trai lẫn gái, lại còn muốn con cái sinh ra phải là trai đẹp gái xinh, hơn nữa lại còn phải tài trí hơn người, phẩm học kiêm ưu <span className="note-blue">[vừa giỏi giang vừa đạo đức tốt]</span>, thật khó làm sao!

Tuy nhiên, thuật cầu tự của Liễu Minh Hòa Thượng có thể giúp cho tất cả được như ý nguyện, điều này chẳng phải là trân quý phi phàm sao? Đây chẳng phải là những điều vô giá nhất sao?

🌟

Thuật cầu tự của Liễu Minh Hòa Thượng như sau:  
Điểm quan trọng của thuật này là việc kiếm được vài vật. Cần phải tìm được chuỗi tràng hạt của một vị Bồ Tát già đã niệm Phật niệm chú được trên 10 năm, thời gian càng lâu càng tốt. Vật liệu làm nên chuỗi hạt này tốt nhất là hạt bồ đề tử, bởi vì hạt bồ đề tử có một chữ "tử" trong đó nên có được chuỗi hạt này sẽ có tương ứng. Nếu không phải là chuỗi hạt bồ đề thì chuỗi hạt làm bằng chất liệu khác cũng có thể được.

Vì sao cần chọn vật liệu của chuỗi hạt? Theo Liễu Minh Hòa Thượng nói thì:  
Niệm Phật một câu đã có vô lượng công đức, niệm chú một câu thì diệt trừ được tội lỗi nhiều như cát trên sông. Tay của con người khi lần tràng hạt thì chuỗi hạt đã có được linh tính. Chuỗi hạt vừa được Phật chú gia trì, vừa được tay gia trì, nên ngay từ đầu đã là một loại linh vật, niệm càng lâu thì linh khí càng nhiều.

Muốn có được chuỗi hạt do chính tay lão Bồ Tát niệm, bạn có thể dùng một chuỗi hạt sáng bóng mới tinh và có giá trị hơn để trao đổi, hoặc dùng tiền để mua nó.  
Cần ghi nhớ điều này:  
Nếu lão Bồ Tát là nam thì chắc chắn sẽ cầu được bé gái.  
Nếu lão Bồ Tát là nữ thì chắc chắn sẽ cầu được bé trai.  
(Ở đây vẫn là đạo lý khác biệt giới tính thì hấp dẫn lẫn nhau.)

🌟

Cách làm pháp như sau:  
Lấy bất kì một hạt nào trong chuỗi hạt cũng được, đến ngôi chùa có liên quan, ví dụ như chùa có thờ phụng Bà Mụ hoặc Tống Tử Quan Âm. Nếu như gần nơi bạn sống không có ngôi chùa nào thờ phụng Bà Mụ hoặc Tống Tử Quan Âm thì có thể đến miếu Thành Hoàng, miếu Cảnh Chủ, am thờ Địa Tạng,… đều được.
1. Thời gian: buổi chiều, chọn ngày Thành Nhật.
2. Dâng hương, cúng quả, cầu nguyện giống như thực hiện nghi lễ cúng Phật.
3. Lấy một hạt bồ đề tử, lén chôn vào tro của lư hương, ấn xuống nơi sâu nhất.
4. Niệm kệ:  
*"Trong ruộng bát thức  
Trồng chủng tử Phật  
Sương mưa tưới tắm  
Ra hoa kết quả."*
5. Cầu nguyện mong sớm sinh con trai, con gái.
6. Cát tường viên mãn.

Thuật cầu tự của Liễu Minh Hòa Thượng được rất nhiều người làm theo, ai nấy đều có được cảm ứng linh nghiệm. Nếu thực hiện phương pháp này đúng thì thực sự là cầu trai được trai, cầu gái được gái, hơn nữa đứa bé sinh ra chắc chắn sẽ là trai đẹp gái xinh, bé nào cũng thông minh trí tuệ.

🌟

Ngoài ra, Chân Phật Tông chúng ta cũng tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Kinh. Vào thời Đường, kinh này đã nổi danh là kinh điển rất linh nghiệm, có thể gặt hái được nhiều quả phúc.

Bài kệ cuối cùng trong bản kinh này là:  
*Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.  
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.  
Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.  
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.  
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.  
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.  
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.  
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.  
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.  
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.  
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.  
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.  
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.*

Sự linh nghiệm của Cao Vương Kinh là cực kì nhiều. Tương tự, đọc Cao Vương Kinh cũng có thể cầu tự. Những điều cần chú ý khi trì tụng Cao Vương Kinh là:
1. Tập trung tâm trí, không nghĩ lung tung.
2. Thời gian, địa điểm không quan trọng, chủ yếu là "tâm linh tự tại" <span className="note-blue">[tinh thần thoải mái]</span>.
3. Lời đọc ra khỏi miệng, âm thanh đi vào tai, ghi nhớ vào trong tâm.
4. Với mỗi điều thỉnh cầu thì đọc đủ 1000 biến.
5. Nếu vẫn chưa có hiệu quả, cần tự biết là nghiệp chướng của bản thân còn nặng, lại càng nên tiếp tục trì tụng cho đến khi nào hiệu nghiệm mới được.

🌟

Còn nữa, Liễu Minh Hòa Thượng từng truyền dạy cho tôi một lá phù, đây là phù "khóa lại bệnh chứng không sinh được con". Liễu Minh Hòa Thượng nói: nếu có người nào lấy vợ, lấy thiếp, nhiều năm không sinh được con thì dùng phù này, vào ngày bản mệnh của người vợ (ngày sinh), đốt phù rồi uống, sẽ có hiệu nghiệm. Tôi thực lòng thực sự nói để mọi người biết, sau khi tôi có được phù này, tôi đã vẽ rất nhiều phù này để giúp người, quả nhiên tôi đã giúp được vô số người.

Có người suốt mười năm không có con, nay đã sinh con.  
Có người sinh lý khiếm khuyết, không ngờ cũng sinh được con.  
Có người bác sĩ nói bó tay, cũng đã sinh con.  
Có người luôn bị sảy thai, cuối cùng cũng đã sinh con thành công.  
………….  
(Kì tích liên tiếp, kì tích không ngừng dứt, kì tích vẫn còn tiếp tục.)

🌟

Đối với pháp vẽ phù, Liễu Minh Hòa Thượng chỉ dạy cần bày hương án, hoa quả, rượu, hoa tươi, nến, cần đốt hương, cần chúc hương.  
Trình tự thực hiện là: lễ bái, nước, giấy, bút, mực đã được niệm chú để thanh tịnh và gia trì, vẽ phù, niệm chú của phù, phát ra mệnh lệnh.

Liễu Minh Hòa Thượng còn nói: đối với việc vẽ phù thì cần bút vẽ xuống giấy một cách dứt khoát rõ ràng, không được vẽ mờ, yếu hoặc hỗn loạn. Chỉ cần có được linh quang gia trì cho phù thức thì phù này sẽ có hiệu nghiệm.

Phù thức của phù khóa lại chứng không sinh được con như hình kèm theo.

🌟

Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi:  
"Tương lai, những đứa trẻ có được do việc dùng thuật cầu tự đều sẽ trở thành những Phật tử có trí tuệ hơn người!"  
Tôi hỏi:  
"Lấy đâu ra lắm Phật tử như vậy?"  
"Con không tin sao?"  
"Tin thì có tin, nhưng những Phật tử này từ đâu tới?"  
"Để ta đưa con đi xem!"

Một buổi tối, Liễu Minh Hòa Thượng (Thanh Chân Đạo Trưởng) đưa tôi đến Đại Phạm Thiên.

Đại Phạm Thiên có một cái cây vàng, cây vàng này cành lá xum xuê, chu vi phải tới cả trăm lí <span className="note-blue">[đơn vị đo lường thời xưa, một lí khoảng 500m]</span>, cây vàng còn ra quả vàng, có tới hàng nghìn hàng vạn quả. Liễu Minh Hòa Thượng chỉ vào những quả vàng nói:  
"Những quả này đều là Phật tử!"  
"Những quả vàng này sao lại là Phật tử được?"

Liễu Minh Hòa Thượng lại đưa tay chỉ vào những quả vàng, ra hiệu một cái, không ngờ vỏ quả tự động tách ra, từ trong quả xuất hiện một hài nhi, da của hài nhi trắng như tuyết, vô cùng đáng yêu, lũn cũn nhảy xuống.

Hài nhi nói:  
"Con từ đâu tới?"  
Hài nhi lại nói:  
"Ai sinh ra con vậy?"

Liễu Minh Hòa Thượng nói:  
"Những đứa bé sinh ra nhờ thuật cầu tự đều là những đứa trẻ đến từ thiên thượng giới, chúng vừa mới sinh ra đã có trí tuệ lớn rồi! Ví dụ như câu hỏi con từ đâu tới, ai sinh ra con, đều là những câu hỏi mang tính thiền, đáng để ngẫm nghĩ!"

Nhờ có Liễu Minh Hòa Thượng chỉ ra, tôi nghĩ đến một vấn đề: "Rốt cục là ai sinh ra ai?"  
Rốt cục là ai sinh ra ai?  
Vì sao vừa là Phật, thoát cái đã xuống cõi Ta Bà, chớp lóe một cái đã một nghìn năm, ai là bạn, ai là tôi?

Rốt cục là ai sinh ra ai?  
Thoắt cái là ông già, thoắt cái lại là trẻ con, trẻ con lại sinh ra ông già, ông già lại sinh ra trẻ con.

Rốt cục là ai sinh ra ai?  
Đứa bé mà bạn đang ôm trên tay, là trẻ con, hay là ông già?

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 114 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Pháp thuật của Mật giáo.)*

### 14. Phúc họa may rủi

Thời kì tôi xem bói hỏi chuyện, tôi giúp người ta quan sát đoán về phúc họa may rủi. Do vậy tôi hiểu được đạo lý phúc họa phụ thuộc lẫn nhau, phúc cũng là dựa vào họa, mà họa cũng dựa vào phúc. Lành dữ phúc họa, là phúc hay là họa cũng là số trời mà thôi!

Bởi thế, tôi hiểu được rằng:  
Phúc đến không thể hưởng tận.  
Họa đến nhẫn nhịn vượt qua.

🌟

Có một người là ông Mã, vốn là phóng viên của một tờ báo nọ, sau này được thăng lên chức chủ nhiệm phỏng vấn, ông đến để hỏi về việc lành dữ họa phúc. Tôi đáp:  
"Phúc."  
Ông nói:  
"Phải rồi! Tôi vừa được thăng chức chủ nhiệm phỏng vấn mà."  
Tôi lại nói:  
"Cũng có họa."  
Ông kinh ngạc:  
"Họa từ đâu đến?"  
"Mấy ngày tới ông sẽ biết."

Vị chủ nhiệm phỏng vấn này nửa tin nửa ngờ bỏ về.

🌟

Tôi biết chuyện họa phúc của ông là thế này. Đầu tiên tôi nhìn thấy có phúc thần đi theo ông ta vào trong nhà tôi. Sau đó, tôi cũng lại nhìn thấy có hai con quỷ dữ đẩy phúc thần ra ngoài, quỷ dữ đứng hai bên người đàn ông này, thế nên tôi biết cũng lại sắp có tai họa xảy ra. Hai con mắt của tôi trước tiên nhìn thấy phúc thần, sau đó lại nhìn thấy quỷ dữ, do vậy tôi biết đầu tiên ông sẽ gặp may, nhưng sau đó lại gặp chuyện chẳng lành.

Kì thực, thần toán không chỉ dựa vào việc nhìn thấy như vậy. Đôi khi tôi quan sát khí sắc, khí sắc của người đến hỏi chuyện như thế nào, người xem tướng giỏi xem khí sắc sẽ thấy người có khí đỏ hên, còn người có khí đen xui. Sắc đỏ và đen ở đây không phải là là do bị mặt trời làm cho da đỏ hồng lên hay bị đen da, mà là chỉ thần khí của con người. Ngoài ra, phúc họa may rủi cũng có khi do quỷ thần đến báo, việc này thuộc về pháp "nhĩ báo", khi hỏi chuyện sẽ có quỷ thần ở bên tai thông báo cho biết. Cũng có người có "tâm thông", người đến hỏi việc không cần phải nói ra tất cả, người xem bói sẽ tâm huyết dâng trào, phán đoán một chút là biết được tất cả mọi việc. 

Còn có các các pháp xem bói như:  
Thiết bản thần toán (số).  
Hoàng cực thiên số.  
Nhất trượng thanh.  
Kì môn độn giáp.  
Tử vi đẩu số.  
Ma Y tướng số.  
Tam đình tướng pháp.  
Văn Vương bát quái.  
Bói bài, bói quả cầu thủy tinh, bói bàn xoay, xem tướng mặt, bói chỉ tay, xem xương cốt, xem bóng trong nước,… và những cách bói ở mức độ thấp hơn nữa.

Tôi thấy giữa trời đất này, mặc dù con người là linh hồn của vạn vật, nhưng khi quỷ thần tác oai tác quái thì quỷ thần có thể làm ảnh hưởng đến con người, cũng có thể nói rằng giữa con người và quỷ thần xung quanh có sự ảnh hưởng lẫn nhau. Điều này tôi nói hoàn toàn là sự thật. Bạn không tin, tôi cũng không miễn cưỡng bạn, nhưng như tôi thấy thì đúng là như vậy.

🌟

Phóng viên họ Mã được thăng chức chủ nhiệm phỏng vấn, chức vị cao hơn, lương cũng tăng gấp đôi, đương nhiên là phúc. Những đồng nghiệp ở tòa báo mượn cớ này mà chúc mừng, cùng nhau tụ tập ăn uống tại một nhà hàng. 

Đồng nghiệp này nói một câu: "Chúc mừng chủ nhiệm."  
Đồng nghiệp kia nói một câu: "Chúc mừng chủ nhiệm."

Bên này một chén, bên kia một chén. Thế là uống rất nhiều rượu.  
Bình thường tửu lượng của ông Mã cũng không tệ, còn được gọi là tửu lượng như biển, hành vi thì cũng hào khí như biển, thế nên bữa tiệc chúc mừng này ông cũng chẳng hạn chế gì, liên tiếp đi mấy "tăng". Đi mấy "tăng" chính là ăn uống ở chỗ này xong lại đổi qua chỗ khác tiếp tục ăn uống. Cứ như thế mà chơi tiếp ba, bốn "tăng", đến mức say lướt khướt.

Sau khi về nhà, ông vào phòng tắm, xả nước nóng rồi ngủ quên luôn trong bồn tắm. Ngày hôm sau, người nhà mới đi tìm thì không ngờ ông đã tắt thở từ lâu. Sướng quá hóa khổ, người chết bất thình lình, việc thăng chức này không ngờ đã thăng tới tận tây phương rồi. 

🌟

Sự việc trên do đồng nghiệp của ông đến chỗ tôi kể lại chi tiết tường tận, bởi vậy tôi mới biết được, vì thế mà cảm thán không ngừng. Uống rượu nhiều tới mức trúng phong, tới mức não ngừng hoạt động, đây đúng là cái họa. Thật là xui rủi làm sao.

Một đêm nọ, hồn ma chủ nhiệm phỏng vấn họ Mã đến tìm tôi.  
"Lư sư phụ, ngài nói đúng rồi, phúc trước họa sau."  
"Đúng là như vậy."  
"Làm sao ngài biết là tôi sẽ gặp đại họa?"  
"Khi ông còn giữ chức phóng viên, ông biết được chuyện bí mật của một cô gái, muốn đưa tin này lên báo. Dù cô gái này đã cầu xin ông, nhưng ông đã lợi dụng việc này mà đe dọa cô, vừa đòi tiền, vừa đòi sắc, có chuyện này không?"  
"Có."  
"Trước hưởng phúc, sau gặp họa."

"Khi ông còn làm phóng viên, có công ty thực phẩm nọ dùng dầu thô giả làm dầu tinh luyện, ông muốn đưa tin chuyện này, công ty đã cho người đến thương lượng, ông đã nhận hối lộ, có chuyện này không?"  
"Có."  
"Trước hưởng phúc, sau gặp họa." - Tôi nói.  
"Phóng viên khác cũng làm như vậy, vì sao họ vẫn yên lành, vẫn chưa gặp tai họa gì?" - Chủ nhiệm họ Mã phẫn nộ bất bình.  
Tôi trả lời:  
"Phúc của họ chưa hưởng hết, một khi phúc hết rồi thì họa sẽ tự đến thôi!"

🌟

Lại có một phóng viên họ Chu đến hỏi tôi chuyện phúc họa may rủi.  
Tôi đáp:  
"Rủi."

Phóng viên Chu đã có bài học từ chủ nhiệm phỏng vấn họ Mã nên lo lắng âu sầu, lo lắng ra mặt, cứ hỏi tôi mãi cách làm sao để tìm may tránh xui. 

Tôi nói:  
"Trên phương diện Phật pháp mà nói thì pháp để thay đổi vận mệnh có phóng sinh, tụng kinh nghìn lần, làm Hộ Ma có được chứng nghiệm, hành thiện bố thí, trì chú niệm Phật một triệu biến, in ấn kinh hoặc in sách thiện, tu pháp tức tai, v.v…"

Phóng viên Chu nghĩ một lúc rồi hỏi:  
"In kinh gì?"  
"Cao Vương Kinh." - Tôi lấy ra một cuốn Cao Vương Kinh cho ông xem.  
"Niệm kinh nào là tốt nhất?"  
"Ông niệm Cao Vương Kinh đi!"  
Ông lại hỏi:  
"Làm như vậy có thể tránh được họa không?"  
"Làm hết sức thì có thể được."

Tôi lấy một tấm thẻ bài hộ thân của Chân Phật Tông đưa cho phóng viên Chu đeo trên cổ. Vừa đeo tấm thẻ bài hộ thân này lên cổ, tôi nhìn thấy một tên hung quỷ ở sau lưng phóng viên Chu lập tức lùi ra sau ba bước, hai con mắt lóe lên ánh nhìn hung tợn, trợn mắt nhìn tôi. Tôi cười ha ha một tiếng rồi phớt lờ luôn con quỷ hung dữ đó. 

🌟

Sau khi phóng viên Chu trở về nhà, ông mau chóng in ba nghìn cuốn Cao Vương Kinh, đồng thời mỗi ngày ông đều niệm Cao Vương Kinh, hễ có thời giờ rảnh là ông lại niệm, niệm như sắp chết tới nơi, nên rất mau chóng ông đã niệm hết một nghìn biến. Ông vẫn tiếp tục niệm không dừng, tấm thẻ bài hộ thân cũng luôn đeo trên cổ, không dám lơ là.

Thậm chí phóng viên Chu còn hỏi tôi:  
"Khi tắm thì thẻ bài phải làm sao?"  
"Tạm thời cởi ra!" - Tôi nói.  
"Không được, chủ nhiệm Mã chính là chết trong khi tắm đó."  
Tôi nói:  
"Được rồi! Tôi cho ông một thẻ bài chống nước."  
Ông lại hỏi:  
"Khi đi toilet thì phải làm sao?"  
"Tạm thời cởi ra!"  
"Không được!" - Ông cũng không dám cởi.  
"Thế này đi! Ông cứ đeo thẻ bài khi đi toilet cũng được, đi xong thì ông dùng nước hoa để xịt cho thẻ bài thanh tịnh trở lại là được."  
Phóng viên Chu gật gù đồng ý. 

Một hôm, phóng viên Chu lái xe đi phỏng vấn tin tức, khi lái xe qua đường giao với tàu hỏa, không ngờ lan can ngăn cách bị hỏng không hạ xuống, xe của phóng viên Chu chạy tới đường ray. Trước mặt có xe khác chặn đường đi tới, phía sau cũng có xe chặn mất đường lùi, còn tàu hỏa thì đang tăng tốc tới. Lúc này đã quá muộn, một tiếng đâm dữ dội, xe của phóng viên Chu bị đâm nát bét, tất cả đều đi đời, xe ô tô bị tàu hỏa đẩy đi hai trăm mét mới dừng. 

Điều người ta không thể nghĩ nổi là phóng viên Chu vẫn ngồi an toàn trong xe, không ngờ chẳng bị thương dù một sợi tóc, xe ô tô bị hỏng hoàn toàn, nhưng người thì hoàn toàn vô sự, thật sự là quá kì quái. Những người chứng kiến sự việc đều nói:  
"Phóng viên Chu mạng lớn!"

Tôi đã bói thấy phóng viên Chu gặp chuyện hung. Nhưng trong cái hung lại đưa tới cái may. Đây cũng chính là đạo lý về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa họa và phúc. 

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 177 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Gặp thần gặp quỷ.)*

### 15. Biểu hiện của việc trì tụng có được tương ứng

Kinh Tô Tất Địa viết: <span className="note-blue">[tên đầy đủ là kinh Tô Tất Địa Yết La]</span> nếu giảm bớt ăn uống, nếu ít bệnh tật, nếu phát lộ thắng huệ, nếu gia tăng uy quang quảng đại kiên cố, nếu có được thiện mộng, thường mơ thấy sự việc thực tế, nếu nhờ việc niệm tụng mà hoan hỉ gấp bội, nếu ít mệt mỏi và thân có mùi thơm, vui vẻ tu công đức, kính trọng bổn tôn, thì đây chính là biểu hiện của trì tụng có được tương ứng."

🌟

Tôi giải thích đoạn kinh văn này như sau:  
Nếu giảm bớt ăn uống --- không ăn uống quá độ hay thừa dinh dưỡng, mà có lượng ăn thanh nhẹ.  
Nếu ít bệnh tật --- không còn bệnh tật, luôn có tinh thần tốt, khí huyết tốt.  
Nếu phát lộ thắng huệ --- xuất hiện trí huệ vượt trội.  
Nếu gia tăng uy quang quảng đại kiên cố --- thân có ánh sáng, lòng tin vững chắc, có sức mạnh thu hút triệu tập rộng lớn.  
Nếu có được thiện mộng, thường mơ thấy sự việc thực tế - các giấc mơ ban đêm đều là các giấc mơ tốt lành, những gì mơ thấy chắc chắn sẽ thành hiện thực, có được sự tỉnh giác trong mơ.  
Nếu nhờ việc niệm tụng mà hoan hỉ gấp bội --- thích tu pháp trì chú.  
Nếu ít mệt mỏi --- tinh, khí, thần đều sảng khoái, tinh tấn khác thường.  
Thân có mùi thơm --- thân thể có mùi thơm nhẹ, hương thơm rất tự nhiên.  
Vui vẻ tu công đức --- hoan hỉ làm việc thiện, sẵn lòng giúp người.  
Kính trọng Bổn tôn --- luôn luôn nhớ về Bổn tôn, lễ bái Bổn tôn.

Những biểu hiện của sự tương ứng ở trên có thể nói là những biểu hiện bên ngoài của một hành giả Mật giáo. Còn những biểu hiện bên trong là tham sân si kiêu mạn và tất cả những sự ô nhiễm xấu đều đã tịch diệt, hành giả Mật giáo này có được tứ vô lượng tâm bình đẳng quảng đại, Bổn tôn hiện lên trước mặt, chính mình đã là Bổn tôn. 

🌟

Mặt khác, một hành giả Mật giáo nếu trì tụng trong một khoảng thời gian, nhưng càng tu thì tâm lại càng không tin, lười biếng thoái thác, thậm chí dừng luôn cả việc niệm tụng, luôn thấy phiền não, tăng thêm trạo cử, tăng thêm ưu phiền, tập trung vào sự nghiệp kiếm tiền, không cung kính đối với Căn bản Thượng sư, không thích tu pháp, thích nói lời trêu ghẹo buôn chuyện, làm việc bất thiện, cản trở người khác tin Phật tụng niệm, mơ thấy ác mộng, bị ma ám, thân nhiễm ác bệnh, v.v… thì là biểu hiện của việc vẫn chưa tương ứng.

Trên phương diện này, tôi giải thích như sau:  
Người không có đủ tín tâm thì đương nhiên rất khó tương ứng. Mật giáo là chân lý của vũ trụ, nếu tín tâm của bạn không đủ thì làm sao có thể tiến vào bên trong chân lý của vũ trụ được. Người lười biếng thoái thác cũng rất khó có được tương ứng. Việc chuyên tâm vào sự nghiệp kiếm tiền, đối với con người hiện đại mà nói, thì cũng có thể hiểu được, nhưng mỗi ngày nhất định cần cố định thời gian để chuyên chú vào tụng niệm, nếu chỉ chuyên chú vào kiếm tiền, lơ là niệm tụng, lâu dần sẽ trở thành phàm phu, càng rời xa với sự tương ứng. Lúc đó sẽ có những biểu hiện trạo cử, ưu phiền, không có trí tuệ, không cung kính Căn bản Thượng sư, sẽ mất đi lực gia trì của truyền thừa. Thích nói lời trêu ghẹo buôn chuyện thì khẩu không thanh tịnh. Làm việc bất thiện, hành vi sai quấy, làm điều xấu ác, cản trở người khác tin vào Phật và niệm tụng kinh chú, không độ chúng sinh mà lại ngăn chặn chúng sinh. Mơ thấy ác mộng, những gì mơ thấy đều không phải là thiện mộng. 

🌟

Bị ma ám thì lại càng là vấn đề nghiêm trọng hơn. Nếu một hành giả bị ma ám thì những việc mà người này làm đều chắc chắn là những việc quỷ ma. Nếu ma ám trên thân của một hành giả thì không những không phải là tu hành mà ngược lại, biến thành "nghịch hành", hành vi của người này không gì nằm ngoài:

1. Lừa thầy diệt tổ.
2. Phỉ báng, coi thường Căn bản Thượng sư. (Tìm ra tất cả mọi khuyết điểm của Thượng sư.)
3. Dùng cách nhìn của bản thân để tranh luận chính pháp.
4. Hành vi hủy Phật diệt thầy.
5. Tự nguyện xuống địa ngục kim cương.
6. Cười nhạo chân lý.
7. Dùng hành vi bỉ ổi nhất đều hãm hại hành giả chân chính, nhằm đạt được mục đích phá hủy thì mới hài lòng.

🌟

 
Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) thực lòng thực sự nói để mọi người biết rằng, một hành giả Mật giáo chân chính cần luôn làm được như sau:
1. Ba thời cúng dường, ba thời lễ bái, ba thời nhớ về Thượng sư, Bổn tôn.
2. Sám hối.
3. Phát đại nguyện.
4. Tụng Cao Vương Kinh, Chân Phật Kinh.
5. Làm mandala.
6. Quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa.

(Nếu thực sự quá bận, không có cách nào làm được ba thời mỗi ngày (sáng sớm, trưa, chiều tối), cũng phải mỗi ngày tu một lần, còn hai thời kia thì có thể thay bằng tụng chân ngôn của Bổn tôn 21 biến.)  
Giả sử hành giả Mật giáo có được những biểu hiện của sự tương ứng thì đương nhiên là rất tốt. Nếu vẫn chưa có được biểu hiện của sự tương ứng, thì càng cần nỗ lực hơn nữa, càng tinh tấn hơn nữa mới được. Cần biết rằng nghiệp chướng của bản thân mình chắc chắn là rất nặng, cần luôn luôn sám hối, tu pháp sám hối, chỉ cần tiêu trừ được nghiệp chướng thì sẽ không có chuyện không tương ứng. 

Thái độ của một hành giả Mật giáo đối với Căn bản Thượng sư là hễ tìm thấy được ưu điểm của Thượng sư thì cần học tập theo, đây gọi là tăng thượng duyên. Nếu tìm khuyết điểm của Thượng sư để phóng đại lên thì sẽ tăng hạ duyên. Người trước sẽ đạt thành tựu, người sau sẽ bị ma ám. (Chi tiết được ghi trong Sự sư pháp ngũ thập tụng.)

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 102 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Pháp vị của cam lộ.)*

### 16. Nhất tâm là quan trọng nhất

*(Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn kể lại trong văn tập số 173 của mình - Một giấc mộng một thế giới.)*

Hồi tưởng lại cuộc đời này của tôi, những kiếp nạn tai ương chẳng hề nhẹ. Việc tôi có thể vượt qua từng kiếp nạn một có liên quan đến việc tôi nhất tâm tôn sùng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Tôi có được kinh này, niệm kinh, khuyên người ta niệm, tự mình niệm, khuyên người ta in ấn, tự mình in ấn, tặng rộng rãi Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, chính mình gặp được Quan Âm, thực sự có rất nhiều nhân duyên.

Trong Chân Phật Mật Pháp, có một phần chính là niệm Cao Vương Kinh. Bản thân tôi cảm thấy sự nhất tâm rất quan trọng. Khi tôi còn trẻ, tôi đã có được bản kinh này, tôi niệm cho tới khi 60 tuổi, tôi chỉ nghĩ đến:  
Năng diệt sinh tử khổ  
Tiêu trừ chư độc hại.  
Hóa thân của Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát thực sự vô cùng trang nghiêm, trên đầu đội mũ miện, mặt như trăng tròn, tướng mạo như Phật, mũ miện rủ xuống hai bên, thân mặc thiên y váy xếp, đeo vòng ngọc, khuyên tai, vòng tay, lắc chân, đứng trên hoa sen cầu vồng, sau lưng có chữ Phạn tỏa ánh sáng vàng kim, toàn thân tỏa sáng, chiếu khắp thập phương tam thế.

Những kiếp nạn tai ương trong đời này của tôi quả thực không thể đếm hết.  
Bị lưu manh mai phục muốn giết chết. (Nhưng lưu manh đã bị tai nạn xe chết trước đó.)  
Bị lưu manh đuổi theo dồn vào chỗ chết. (Sau đó tôi tự mình thoát được nạn này.)  
Tai nạn xe. (Người văng xuống đất, không bị thương.)  
Bị máy móc đâm trúng. (Thoát chết trong gang tấc.)  
Bị truyền thông bao vây. (Chút xíu nữa là tôi không nghĩ thông suốt được.)  
Bị tôn giáo bao vây. (Hết phái này tới phái khác vây hãm nhưng tôi không chết.)  
Bị cạm bẫy bao vây. (Lần lượt tôi đều tự mình giải thoát.)  
Bị chính trị phá hoại. (Có quý nhân xuất hiện.)  
Bị gài bẫy ở đầm lầy. (Tôi rơi xuống rồi tự mình trèo lên được.)  
Bị đầu gấu gài bẫy. (Tôi đã tránh được nạn này.)  
Bệnh tuổi già đến thân. (Tự mình chữa khỏi.)  
Và còn nhiều nữa……….

Mỗi tai nạn này đều chẳng phải là những sự việc nhỏ, mỗi việc đều khiến tôi sống không được chết không xong. Thậm chí, đệ tử quy y tôi cũng muốn chôn sống sư phụ của mình cho chết, những nỗi khổ này tôi đều đã trải qua. Tôi ban ngày niệm Cao Vương Kinh, ban đêm niệm Cao Vương Kinh, tôi có thể sống được 60 năm qua, ẩn cư ở hồ Diệp Tử viết sách và sống sót thực sự chẳng phải là đơn giản.

Từ đầu chí cuối tôi đều cảm thấy sự nhất tâm là cực kì quan trọng. Phật cũng dạy chúng ta cần nhất tâm, chỉ cần nhất tâm thì tất cả đều có thể làm được. Kì thực, người sáng lập Chân Phật Tông chẳng biết điều gì. Thứ mà ông ấy biết chỉ là nhất tâm bất loạn thành Phật mà thôi.

### 17. Hồi hướng

Có một lần ở hồ Diệp Tử, tôi chuyên chú niệm Cao Vương Kinh. Sau khi niệm xong, bỗng nhiên tôi nghĩ đến một đệ tử đang mắc bệnh nặng. Tôi lập tức hồi hướng toàn bộ công đức niệm kinh cho đệ tử này. Lúc này, không ngờ tôi nhìn thấy một đường ánh sáng từ khu vực tim của tôi phóng ra, chiếu thẳng vào trong hư không. Trong hư không có một vị Không Hành Mẫu tiếp nhận ánh sáng này, đem ánh sáng đi đến chỗ đệ tử đang lâm bệnh. Lúc này, tôi biết rằng việc hồi hướng này đã có công đức rồi.

Các đệ tử có chuyện gì muốn cầu nguyện khi gửi thư đến Chân Phật Mật Uyển, Phật, Bồ Tát, Không Hành, chư Thiên liền biết được. Tôi chỉ ở hồ Diệp Tử niệm Cao Vương Kinh một chút, rồi hồi hướng một chút, không ngờ ánh sáng đã chiếu khắp nơi, lành thay! Lành thay!

Do vậy, về nhân quả mà nói thì con người chỉ cần khởi tâm động niệm, từng lời nói từng hành động, thiện nghiệp hoặc ác nghiệp đều có sự hồi báo đồng đẳng. Hành giả chúng ta tu pháp nhẫn nhục, bởi vì nếu không biết nhẫn nhục thì ngọn lửa vô minh sẽ bùng lên. Ngọn lửa vô minh này một khi bùng lên thì người đầu tiên chịu tai ương không phải là người khác mà chính là bản thân ta. Đạo lý của việc hồi hướng nằm ở đây, cũng chính là hồi hướng cho mình.

🌟

Tôi làm tất cả mọi việc, hồi hướng đến Cực lạc thế giới, việc hồi hướng này rất tốt, công đức tập trung tại Cực lạc thế giới, sau này nhất định sẽ là hóa sinh hoa sen.

Thơ:  
*Tôi đóng cửa ẩn cư chẳng muốn so với người  
Tôi mạnh mẽ dứt khoát từ chối mọi danh lợi  
Một lòng một ý chỉ niệm Phật trì chú  
Hồi hướng chúng sinh cứu khỏi bể khổ  
Chuông kim cương lắc lên  
Trên tay phải chày kim cang một chiếc  
Tiếng chuông vang lên  
Chày chỉ vào mây bay giữa không trung  
Nguyện mọi mong cầu đều viên mãn  
Lời hồi hướng từ tận đáy tim tôi.*

*(Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn kể lại trong văn tập số 174 của mình - Một dải cầu vồng.)*

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-chan-phat-kinh.md
# Title: Giảng thuyết Chân Phật Kinh
---

![image](/img/img_edd82e1e74a9df0d917cf09484412f83.jpg)

## Giảng thuyết - linh nghiệm Chân Phật Kinh

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">23/12/1988</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Liên Sinh Hoạt Phật thuyết giảng về Chân Phật Kinh cùng những câu chuyện linh nghiệm

### Lời người biên tập (Tbboyeh)

Trong tiểu thuyết võ hiệp, ai ai cũng đều muốn có được bí kíp võ lâm, tu được thần công cái thế, điều này cho thấy con người luôn theo đuổi mộng tưởng siêu thực. Cho dù chẳng thể nào đạt đến được nhưng vẫn say mê không biết chán! Mọi người không ngại thì thử nghĩ mà xem, đối với cuộc sống hiện thực của chính mình, có phải vẫn tồn tại những mộng tưởng rất ngây thơ chân thật không? Ai ai cũng khát khao thành công, mong mỏi một cuộc đời bình an vô ưu, không muốn bị nhấn chìm trong những con sóng ngầm và mê lầm khiến cho cạn kiệt tinh lực và quãng thời gian sống quý giá. Thế nhưng khao khát này liệu có lại là một giấc mộng không?

Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện thực của chúng ta, đích xác là có tồn tại một nguồn sức mạnh để mở ra cánh cửa vào Thánh giới. Bởi nhờ thông qua một bản kinh điển chân thực, sự thâm nhập để có được sự thấu hiểu toàn bộ sẽ có thể dẫn dắt bạn nhận ra giá trị của một cuộc sống an trụ.

Bản kinh điển này thông qua những nghiệm chứng của những người đi trước đã cho chúng ta biết những bí mật về tiêu tai và ban phúc, giúp ta tránh được những kiếp nạn sống chết ngoài ý muốn. Cũng thông qua những kiến chứng của con người hiện đại, những người nhiều lần đã cởi bỏ được những dây xích của vận mệnh, đồng thời cũng thông qua sự nghiệm chứng về cõi âm dương (thế giới linh hồn) để từ đó khởi đầu một cuộc sống quang minh.

Bản kinh điển này, trong một thế giới của một chiều không gian khác, có một nguồn sức mạnh đến từ cõi linh thánh bất khả tư nghì, có thể khiến cho tinh thần mệt mỏi kiệt quệ của bạn được lấp đầy trợ lực. Có rất nhiều người sau khi có được trợ lực này đã trân trọng sâu sắc và chăm chỉ thực hành, khiến cho cuộc sống trở nên tươi sáng rực rỡ, thực sự thấu hiểu được câu nói: "Chỉ cần đưa tay ra là nắm được kì tích." Hóa ra thực sự có sự ban phúc từ trên trời đưa xuống.

Cuối cùng, chúng tôi xin trích một câu nói của Liên Sinh Hoạt Phật - tác giả cuốn sách này: "Cải vận bằng cách thay đổi vẻ bề ngoài thì chẳng có tác dụng gì, nếu muốn hoàn toàn thay đổi vận mệnh thì cần thay đổi hoàn toàn nội tại cái gốc thực sự của bạn!"  
Chúc cho bạn, người đọc cuốn sách này: mệnh số quang minh, có được đại phúc!

### 01. Tương ứng của việc in ấn Chân Phật Kinh

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Khi tôi tuần hành đến âm phủ, tôi gặp một minh sứ đang đưa một người già muốn lên thiên giới thanh tịnh. Người già này vốn ở địa ngục chịu khổ, bây giờ chẳng ngờ lại được lên thiên giới, tôi lấy làm kì lạ.  
Hỏi: Cụ họ gì?  
Đáp: Ông.  
Hỏi: Vì sao lại được thiên giới?  
Đáp: Nhờ con cháu đời sau in ba nghìn cuốn Chân Phật Kinh hồi hướng công đức cho tôi.  
Hỏi: Làm sao biết mà in Chân Phật Kinh?  
Đáp: Con cháu của ông cụ có được một bộ Chân Phật Kinh trong một ngôi chùa, anh ta chú ý tới những bản văn trong cuốn kinh đó có dạy về thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, ngoài ra còn dạy người ta lấy vô niệm làm chính giác, do vậy đây cũng là chính pháp để đạt minh tâm kiến tính. Thế là anh ta tin tưởng trì niệm.

Cụ già họ Ông kể, sau khi con cháu cụ trì niệm Chân Phật Kinh thì cảm ứng thấy một giấc mơ, trong mơ thấy tổ tiên đang ở trong âm phủ chịu khổ cực. Rồi gặp một người tỏa ra ánh sáng vàng kim rực rỡ chói lọi nói với anh rằng, in tặng Chân Phật Kinh thì tổ tiên sẽ thoát khổ. Sau khi tỉnh dậy, anh cũng chẳng mảy may để ý vì anh cho rằng ban ngày nghĩ sao thì ban đêm mơ vậy. Thế rồi đêm thứ hai, đêm thứ ba anh lại có giấc mơ tương tự, thế rồi anh mới tin.

Anh bèn đem tiền tiết kiệm bấy lâu gửi cho pháp sư của Lôi Tạng Tự, rồi cùng với quỹ quyên góp của chùa mà in kinh sách. Chính vì như vậy mà tổ tiên lập tức được thoát khỏi khổ địa ngục, thăng lên thiên giới.

Về sau tôi biết được chuyện này liền chú ý đến đệ tử họ Ông. Phúc báo mà ông in Chân Phật Kinh không chỉ có như sau:

1. Tổ tiên thăng thiên.

1. Trúng xổ số, mua liền được ba căn nhà sang trọng.

1. Ba đứa con trai gái đều thi đỗ vào trường đại học lý tưởng nhất.

1. Bản thân ông cũng được thăng quan tiến chức.

Cá nhân tôi cho rằng việc in tặng sách thiện có công đức rất lớn, đương nhiên không chỉ mỗi in Chân Phật Kinh, mà in Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh, Liễu Phàm Tứ Huấn, Bạch Y Đại Sĩ thần chú, Ngọc Lịch Bảo Sao, Thái Thượng Cảm Ứng thiên, Văn Xương Đế Quân âm chất văn, Phổ môn phẩm, sách Phật kinh điển, các sách thiện, đều có công đức rất lớn.

Kinh Hoa Nghiêm, quyển 68 có ghi chép:  
Núi non trên biển bao Thánh hiền  
Thành tựu thanh tịnh bao điều quý  
Rừng cây hoa trái khắp nơi nơi  
Suối sông hồ nước luôn tràn đầy.  
Trượng phu dũng mãnh Quán Tự Tại  
Cư ngụ núi này vì chúng sinh  
Nếu con hỏi cách tạo công đức  
Ngài sẽ dạy con phương tiện này.

### 02. Chân Phật Kinh phóng quang

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 147 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Đừng đánh mất tâm.)*

Có một người lạ tên là Tống Viên. Anh đến kể cho tôi nghe một chuyện kì lạ.  
Anh theo một người bạn đến tham dự buổi pháp hội Chân Phật Bảo Sám ở Lôi Tạng Tự. Bản thân Tống Viên từ trước tới nay chẳng theo tín ngưỡng tôn giáo nào, anh ngẫu nhiên đến thăm bạn, vừa hay người bạn chuẩn bị đi ra ngoài. Anh hỏi bạn đi đâu, bạn nói đi tham gia pháp hội, anh ta cũng tiện và rảnh nên đi theo bạn tới pháp hội luôn.  
Người tham dự pháp hội cũng không ít, mỗi người được phát một cuốn Chân Phật Kinh. Anh lật lật sách, đọc một chút, thấy một câu chú: "Om guru liansheng siddhi hum.", Tống Viên cũng tò mò mà niệm mấy tiếng rồi ngáp một cái.

Tống Viên tìm một góc tường ngồi xuống, ngao ngán nhìn một đám đông người hát hát niệm niệm, quỳ quỳ lạy lạy. Thế rồi Tống Viên ngủ gật luôn. Trong giấc mơ, bỗng nhiên anh nghe thấy có người nói ngay bên tai anh:  
"Chân Phật Kinh này hay lắm!"  
"Chân Phật Kinh là bộ kinh quý cực linh nghiệm."  
"Chân Phật Kinh đem theo người có thể bảo vệ anh đó!"

Tống Viên tỉnh dậy, nhìn trái nhìn phải, chẳng có ai đang nói chuyện với anh cả, mọi người khác đều đang bái sám, chẳng có ai để ý đến anh cả. Tống Viên cảm thấy rất khó hiểu, đưa tay xoa xoa đầu, nhưng cũng không bận tâm.  

Cuối cùng pháp hội Chân Phật Bảo Sám cũng kết thúc. Trước khi ra về, Tống Viên hỏi pháp sư của chùa: "Cuốn Chân Phật Kinh này thì sao?"  
Pháp sư trả lời: "Có thể tặng cho anh đó!"

Người bạn trước khi đi về còn cười với anh rằng: "Kinh sách miễn phí, cậu có thể lấy thêm mấy cuốn. Nhưng cậu lấy Chân Phật Kinh làm gì? Lẽ nào cậu về nhà niệm kinh sao?"  
Tống Viên mặt đỏ bừng: "Thì... cái này là mở sách ra là có lợi ích mà!"

Sau khi Tống Viên lấy Chân Phật Kinh về thì tiện tay cất Chân Phật Kinh trong chiếc tủ đầu giường ngủ. Một hôm, anh đột nhiên thấy chiếc tủ đầu giường của mình phát quang, anh liên tiếp vài lần nhìn thấy những tia sáng kì lạ. Anh tìm trong tủ đầu giường. Chẳng có vật gì phát ra ánh sáng cả, chỉ có một cuốn Chân Phật Kinh.

🌟

Năm đó, đoàn thể công ty anh đi du lịch, thuê nguyên một chiếc xe du lịch loại lớn. Trước khi Tống Viên rời nhà đi thì anh lại một lần nữa nhìn thấy cuốn Chân Phật Kinh phát quang. Tiện tay anh cầm lấy cuốn Chân Phật Kinh đặt vào trong ba lô hành lý, khoác ba lô trên lưng.

Đây là chuyến du lịch kéo dài 3 ngày 2 đêm. Vào ngày thứ hai, xe đi tới vùng núi, vùng núi này vừa mới trải qua một trận mưa lớn.  
Đường núi ngoằn ngoèo uốn khúc, hết khúc cua này lại tới khúc cua khác, nhưng tài xế vẫn không hề giảm tốc độ. Một vài đồng nghiệp nữ sức khỏe tương đối yếu mau chóng bị say xe, có một người còn bị nôn nữa. Tống Viên vẫn khỏe nên mau mắn lấy lọ "cao Con Hổ" đưa cho đồng nghiệp nữ kia. Tay anh cầm chiếc ba lô lên.

Thế rồi, chuyện xảy ra trong tích tắc. Chiếc xe du lịch loại lớn dường như mất điều khiển, từ trên đường bay lên không trung rồi rơi xuống vách đá vực sâu. Bởi vì khoảng cách giữa đường núi và thung lũng rất rộng nên toàn bộ người trên xe không còn ai sống sót. Chỉ có Tống Viên trên tay ôm ba lô, dường như có một sức mạnh rất lớn kéo anh ta, chiếc ba lô văng ra ngoài cửa sổ, còn cả người anh cũng bất ngờ bị kéo văng ra ngoài cửa sổ xe, dường như Tống Viên và chiếc ba lô đều cùng bị một lực kéo văng ra ngoài cửa sổ xe. Trước khi cả chiếc xe rơi xuống vực thì Tống Viên đã bị kéo văng ra ngoài xe rồi, anh ngã lên bãi cỏ bên đường, cánh tay chỉ bị trầy xước mà thôi.

Khi Tống Viên tỉnh táo lại thì chiếc xe du lịch đã lộn nhào mấy vòng và nằm im lìm bất động dưới thung lũng sâu. Toàn bộ người trên xe đều bất động, đồ đạc văng tán loạn tứ phía. Đây là một vụ tai nạn xe khách thảm khốc.

Mặc dù Tống Viên bị một phen vô cùng sợ hãi, nhưng anh là người duy nhất còn sống sót. Sau sự việc anh hồi tưởng lại, việc này nhất định là do cuốn Chân Phật Kinh đã cứu anh. Anh nghĩ lại buổi pháp hội Chân Phật Bảo Sám có người nói bên tai mình rằng: "Chân Phật Kinh đem theo người có thể bảo vệ anh đó!", rồi liên tiếp mấy lần anh nhìn thấy cuốn Chân Phật Kinh phát sáng, thế là Tống Viên bắt đầu niệm Chân Phật Kinh. Anh đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bất kể bên ngoài người ta chỉ trích Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ra sao, anh từ đầu tới cuối vẫn vững chắc đạo tâm, không hề lay động. Anh thực sự cho rằng Chân Phật Kinh đã cứu anh một mạng.

🌟

Câu chuyện của Tống Viên khiến tôi chú ý. Đương nhiên tôi tin cuốn Chân Phật Kinh đã cứu mạng sống của Tống Viên, nhưng tôi lại có một suy nghĩ khác. Vì sao Chân Phật Kinh lại không thể cứu sinh mạng của tất cả mọi người trong xe, mà chỉ cứu mạng sống của mỗi một người chứ?

Đúng vào lúc tôi đang suy nghĩ như vậy, tôi phát hiện ra có một vầng hào quang đến gần, bên trong hào quang là một vùng núi rừng xanh biếc, trong rừng xuất hiện một vị thần, vị thần này nói với tôi:  
"Liên Sinh, thấy ngài có thắc mắc nên tôi đặc biệt tới đây nói cho ngài biết."  
"Ông là thần gì?"  
"Phúc Đức Chính Thần."

Phúc Đức Chính Thần nói với tôi, ông là vị Phúc Đức Chính Thần bảo hộ vùng rừng núi đó, là thần thổ địa của nơi xảy ra sự việc tai nạn xe du lịch.  
Phúc Đức Chính Thần nói, buổi tối trước ngày xảy ra vụ tai nạn xe, Phúc Đức Chính Thần vẫn như thường lệ, ông thắp một ngọn đèn thần. Cầm đèn trên tay, ông đi tuần cả vùng núi rừng, đi đến nơi có dòng chảy xiết của thung lũng, bỗng nhiên ông phát hiện ra Thất Gia tướng quân và Bát Gia tướng quân của miếu Thành Hoàng cầm theo khoảng một trăm lính quỷ hừng hực khí thế chiếm đóng khu thung lũng, trên tay mỗi quỷ đều cầm theo dụng cụ hình phạt, bộ dạng giống như muốn bắt người vậy.

Phúc Đức Chính Thần trông thấy Thất Gia, Bát Gia và lính quỷ có mặt tại đây liền biết là sắp có chuyện xảy ra, có tới cả trăm lính quỷ thì sự việc nhất định không hề nhỏ. Còn Thất Gia, Bát Gia cũng trông thấy Phúc Đức Chính Thần. Phúc Đức Chính Thần tiến tới hỏi: "Tướng quân vất vả rồi, có chuyện gì mà tới đây?"  
Bát Gia tướng quân đáp:  
"Ở đây không có việc của ông, tiểu thổ địa ạ, ông mau về đi ngủ đi!"  
"Việc này…"

Bát Gia tướng quân nói:  
"Theo luật âm của miếu Thành Hoàng thì miếu thổ địa không được can dự."  
Phúc Đức Chính Thần lắp bắp nói:  
"Nhưng mà vùng núi non thung lũng này tôi vẫn luôn bảo vệ cẩn thận."

Thất Gia tướng quân nghe xong cảm thấy cũng có lý, ông không nói gì, từ trong áo lấy ra văn kiện truy nã. Phúc Đức Chính Thần vừa đọc xong thì kinh hãi, hóa ra là tai nạn xe lớn, tổng cộng cần bắt 50 người, trong danh sách ghi rõ tên từng người một, tổng cộng là 50 người cả nam cả nữ.

Trong số đó có một người tương đối đặc biệt, đó là người cuối cùng trong danh sách 50 người, tên của người này chính là Tống Viên. Vì sao người này tương đối đặc biệt, bởi vì 50 cái tên khác đều có màu xám tro, chỉ có tên của người này là có một điểm ánh sáng.  
Phúc Đức Chính Thần hỏi:  
"Có cửa sống ư?"  
"Không sai."  
"Vì sao Tống Viên lại được sống tiếp?"  
"Người này có một cuốn kinh điển phòng thân bảo vệ."  
"Là kinh gì?"  
"Chân Phật Kinh."

Phúc Đức Chính Thần trong lòng đầy từ bi, nên ông cũng hỏi một vấn đề tương tự:  
"Kì lạ, trên xe có Chân Phật Kinh, vì sao không thể bảo vệ sinh mạng của mọi người trong xe, mà lại chỉ bảo vệ mạng sống của mỗi một người?"  
Bát Gia trả lời:  
"Tống Viên này đã đọc Chân Phật Kinh, cũng niệm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử. Còn những người khác vẫn chưa biết Chân Phật Kinh, cũng chưa từng niệm tâm chú. Tất cả sinh tử đều có định số, giữa trời đất này, tất cả họa phúc, lành dữ đều có nghiệp tồn tại. Trời đất quỷ thần chỉ là người chấp hành, khi nào bắt chỉ là vấn đề thời gian mà thôi."

Phúc Đức Chính Thần nghe xong, trong lòng buồn bã, lê thê trở về miếu thổ địa nhỏ của mình.

🌟

Phúc Đức Chính Thần nói:  
"Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật thương tiếc cho vụ tai nạn xe này, cũng nghĩ tới câu hỏi tương tự, do vậy tôi mới hiện thân để nói cho ngài hay."

Tôi chắp tay cảm tạ Phúc Đức Chính Thần. Phúc Đức Chính Thần rất hoan hỉ rời đi.  
Tôi đau lòng thay!

Thượng Thiên vốn rất ưu ái con người, do vậy mới đưa xuống rất nhiều kinh điển tu hành để cứu người. Những kinh chú này vốn đều là những lời dạy bảo chân thành, cũng là tấm lòng của Phật Bồ Tát, có thể nói giống như một sợi sinh cơ. Con người chỉ cần bám chắc lấy sợi sinh cơ này là có thể giữ được mạng sống, chỉ cần chăm chỉ đọc kinh niệm chú, mọi việc ác đừng làm, mọi việc thiện đều làm, thanh tịnh thân, khẩu, ý của chính mình, đưa vào thực hành trong cuộc sống hàng ngày, đây chính là con đường trở về cõi trời, cũng chính là con đường hóa giải tai họa, gia tăng phúc huệ.

### 03. Linh hồn chết oan được siêu thoát

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 118 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Phong thái giữa trời đất.)*

Tôi ra ngoài hoằng pháp, lúc trở về khách sạn thì thấy một cụ bà quỳ dưới đất không chịu đứng dậy. Tôi hỏi bà có chuyện gì xảy ra. Bà cụ đáp, con trai gặp tai nạn xe, từ đầu đến chân bị nghiền nát, thê thảm vô cùng, chắc chắn là phải xuống âm ti địa ngục rồi, mong tôi có thể tiến cử anh được siêu thoát. Bà cụ cứ quỳ mà khóc như vậy, mọi người thì đứng vòng tròn xung quanh bà. Thế là tôi đồng ý với bà, xin bà viết ra họ tên, ngày sinh, địa chỉ khi còn sống của con trai, và cả ngày chết của anh. Tôi xin bà đứng dậy trước đã, buổi tối tôi nhất định sẽ thay con trai bà làm Phật sự.

Tối đó, tại phòng khách ở khách sạn, tôi chuẩn bị một ít bánh bao và cơm chay đơn giản, rồi tắm rửa sạch sẽ, bắt đầu niệm kinh. Trước tiên tôi niệm tịnh khẩu nghiệp chân ngôn, rồi lại niệm thần chú thanh tịnh thân tâm, làm cúng dường, tứ quy y. Sau đó tôi niệm Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc kinh <span className="note-blue">[Chân Phật Kinh]</span>, phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát.

Trong kinh có nói: nếu có người chết oan, oan thân trái chủ, chưa được siêu độ, phải chịu vật vờ trong cõi u minh, nếu họ có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này, thì người chết sẽ được lên trời, oan thân sẽ rút lui, sẽ gặp được vận may. Tôi tụng kinh xong thì lại niệm bảy biến Chú vãng sinh.

Sau đó tôi cảm thấy vẫn chưa được, bởi vì thân tâm tôi vẫn chưa có được cảm giác an tĩnh, oan khí vẫn còn chưa tan. Tôi lại niệm thêm vài biến Chân Phật Kinh nữa, rồi làm tịnh pháp thế thân, thắp thêm nhiều loại hương, lúc này oan khí mới tản đi. Cuối cùng, tôi tiễn chư Phật Bồ tát, đốt sớ văn. Tôi bận rộn làm đến tận đêm khuya rồi mới yên tâm lên giường đi nằm nghỉ.

Ngày hôm sau, mới sáng tinh mơ, tôi muốn đi ra ngoài. Cả gia đình người lớn trẻ nhỏ của bà cụ đã lại quỳ hết ngay trước cửa phòng tôi.

Tôi nói: "Tôi đã giúp anh ta được siêu thoát rồi, thực sự tôi đã làm rồi."  
"Chúng tôi biết, chúng tôi đã biết rồi, chúng tôi đặc biệt tới để bày tỏ lòng biết ơn ngài!"  
"Không cần cảm ơn, đây là bổn phận của tôi mà!"  
Bà cụ nói: "Liên Sinh Hoạt Phật, ngài nhất định phải nghe tôi nói, đây đúng là kì tích đó! Ngài nhất định phải nghe!"

Tôi vừa nghe nói là kì tích thì mới chịu đứng yên. Họ kể cho tôi nghe thế này: chính vào đêm qua, già trẻ trong nhà của bà cụ, vợ của con trai bà, anh em của con trai bà, con trai của con trai bà đều mơ thấy cùng một giấc mơ. Họ đều mơ thấy linh hồn của người chết vì tai nạn xe trở về nói với họ rằng: "Tôi ở trong địa ngục chết oan đã chịu rất nhiều khổ nạn, chẳng có cách nào thoát thân. Nay may mắn gặp được Thánh Tôn đã niệm Chân Phật Kinh, đã giải hết nghiệp chướng nhiều kiếp của tôi. Giờ đây tôi đã được giải thoát khỏi xiềng xích rồi, âm ty Minh Vương đặc biệt ban sớ văn xuống, tôi sẽ được chuyển thế đi đầu thai vào một gia đình người tốt. Mọi người nên cảm tạ Thánh Tôn, không được lơ là, không được qua loa. Tôi đi đây."

Anh em của con trai bà mơ thấy bèn kể lại cho chị dâu em dâu, không ngờ chị em dâu cũng có giấc mơ này. Không chỉ như vậy, ngay cả đứa trẻ cũng mơ thấy cha đến nói như vậy. Họ cùng đi kể cho bà cụ nghe. Bà cụ nói: "Ta cũng mơ thấy như vậy." Cả nhà đều kinh ngạc vô cùng.

Thế là cả nhà họ từ già đến trẻ chuẩn bị một món quà để tạ lễ. Mới bình minh họ đã đến trước cửa khách sạn, chủ yếu là đến để lạy tạ tôi. Tôi nghe xong trong lòng rất vui mừng, nói: "Đây là phúc phận của mọi người, cũng là lòng từ bi của Phật Bồ tát, chẳng phải năng lực của tôi. Tạ lễ này không dám nhận."  
"Không được, nhất định ngài phải nhận." Họ đồng thanh nói.  
"Không thể nhận được."  
"Nhất định phải nhận."  
"Như thế này là được rồi." Tôi nói: "Vừa hay Singapore đang xây Lôi Tạng Tự, phần quà này của các vị xin đem đóng góp vào đúc tượng kim thân của Như Lai đi!"  
Nói như vậy họ mới đồng ý.

🌟

Ngoài ra còn một chuyện siêu độ bốn vong linh nữa tôi cũng muốn kể lại trong bản văn ngắn này. Chuyện này có liên quan đến nhiều mối quan hệ lớn, tôi vốn không muốn đề cập đến. Nhưng thôi cứ kể vậy!

Có một vị cao tăng 90 tuổi nổi tiếng khắp trong nước ngoài nước, ông cũng có xây dựng một vài đạo tràng. Nhưng sau khi ông viên tịch thì không ngờ lại bị đọa vào địa ngục. Minh Vương thông báo mời tôi đến tham gia "hội thẩm".

Tôi thực lòng thực dạ nói cho mọi người biết, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) có thể đến được Tam Tào. Tam Tào chính là Thiên Tào, Địa Tào, Nhân Tào. Vị cao tăng 90 tuổi bị đọa địa ngục, sao tôi lại phải đi "hội thẩm" nhỉ? Hóa ra việc này thực sự có liên quan đến tôi, bởi vì vị cao tăng này đã phỉ báng Mật giáo, cũng từng phỉ báng tổ sư của Mật giáo, thậm chí phỉ báng tôi càng nhiều nữa. Khẩu nghiệp của cao tăng rất nặng, bởi vậy ông mới rơi vào tay của Minh Vương.

Lúc hội thẩm, cao tăng vẫn khoác áo cà sa, nhưng mặt mày nhợt nhạt lạnh ngắt, đầy vẻ hối hận. Khi còn ở nhân gian, từ lâu ông đã bị bệnh tật dày vò đau đớn. Đồng thời trong lúc hội thẩm còn có ba đệ tử khác của cao tăng cũng phạm nghiệp nặng tương tự. Linh hồn của bốn người xếp thành một hàng.

Tôi hỏi Minh Vương: "Tăng nhân phải làm sao để được giải thoát?"  
Minh Vương đáp: "Chỉ có ngài giúp được mà thôi."  
"Sao lại nói vậy?"  
"Tăng nhân phỉ báng Mật giáo, cũng phỉ báng ngài, ngài là đương kim bí mật chủ, chủ của kim cương chân ngôn giới, chỉ có ngài mới có thể giải thoát cho ông ta."  
"Tôi phải làm sao?"  
Minh Vương đáp: "Liên Hoa Đồng Tử phóng bạch quang, ở phía trước tiếp dẫn, nhưng phải dạy tăng nhân trì tâm chú của ngài mà đi thì mới có thể được giải thoát."

Trong lòng tăng nhân do dự, nhưng ông chẳng còn lựa chọn nào khác. Miệng đành phải lầm bầm niệm tâm chú của tôi, tôi ở không gian trên đầu phía trước, tăng nhân theo sau, tất cả cùng đi ra khỏi u minh giới.

Chuyện này chính là:

"Lành thay đại chân ngôn  
Trì chú diệt tội chướng  
Lòng tôi thường mong muốn  
Tiếp dẫn đến Tây phương."

Có lẽ sẽ có người chất vấn tôi rằng đường đường là một cao tăng nổi tiếng khắp trong ngoài Trung Quốc lại bị đọa địa ngục, cũng cần có ngài cứu độ, liệu có sai sót gì ở đây không? Câu chuyện này của tôi có người làm chứng, là Liên Hoa Thụ Anh. Bà từ đầu đến cuối đều trông thấy tôi tiếp dẫn cao tăng 90 tuổi này đi ra khỏi địa ngục. Bốn linh hồn ma ở hội thẩm bà đều nhìn thấy, Liên Hoa Thụ Anh là người làm chứng cho chuyện này.

### 04. Chết rồi sống lại

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 145 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Sống từng phút giây trong sáng.)*

Có người đến hỏi về thọ mệnh thế nào.  
Tôi đáp: "Tôi không bao giờ đoán tuổi thọ của người ta." Đây là quy tắc nhiều năm của tôi ai cũng biết.

Người đó nói:  
"Tôi không hỏi tuổi chết, chỉ muốn hỏi có sống lâu không?"  
Tôi đáp: "Lâu."  
Người đó vui vẻ ra về, đem tin tức về việc sống lâu nói cho tất cả mọi người biết. Người nhà, hàng xóm và bạn bè thân hữu đều vui mừng cho anh ta.

Khoảng hai năm sau.  
Người đàn ông "có số sống lâu" này, khi đó 49 tuổi ở ngay trước cửa nhà mình đột nhiên thấy mọi thứ quay cuồng, rồi ngất xỉu ngã lăn ra đất bất tỉnh. Cấp cứu đến bệnh viện thì bác sĩ nói rằng đã có dấu hiệu chết thật rồi, nên tính sẽ trả về nhà chuẩn bị lo tang lễ.  
Con trai anh ta là Tưởng Hưng đến tìm tôi xử, hung hăng hỏi tội: "Cha tôi nói sẽ sống lâu mà sao 49 tuổi đã chết!"  
Tôi đáp: "Không thể nào."  
"Làm sao mà không thể, rõ ràng đã chết rồi, Lư Thắng Ngạn ông là tên lừa đảo. Cái gì mà Đệ Nhất Thần Toán, có mà bói toán bịp bợm."  
Tôi không biết nói gì, chỉ có thể lập bập: "Cái này... Cái này..."  
"Cái này cái gì. Trả lại mạng người đây!"  
"Một mạng người đền rồi thì tôi làm sao còn mạng mà sống chứ?"  
"Không phải là mạng sống thì tôi không muốn bất kì cái gì khác." - Tưởng Hưng nổi điên lên giơ nắm đấm muốn đánh tôi.

Tôi nói: "Tôi sẽ giúp cha anh xem lại vì sao thọ mệnh lại như vậy, rồi báo lại cho anh biết được chứ?"  
"Hãy cho chúng tôi biết một lý do tử tế, nếu không chắc chắn tôi sẽ không bỏ qua cho ông đâu. Tôi sẽ công khai trên truyền thông rằng ông là một tên bịp bợm!"- Tưởng Hưng nổi giận phừng phừng.
 
Tôi định tâm, vận khởi nguyên thần…  
*Học tập càn khôn thiên địa hàm.  
Nguyên thị Bồ Tát hạ cửu thiên.  
Quang minh thấu triệt mang hộ hữu.  
Chư đa hộ pháp bài lưỡng biên.  
Kim lô trầm đàn hương yên khởi.  
Pháp thân thanh tịnh tính tự nhiên.  
Nhất thanh tích lịch tam thiên giới.  
Trực siêu tam giới chứng niết bàn.*
 
Dịch nghĩa:

*Học nắm càn khôn trong trời đất.  
Bồ Tát cửu thiên, hạ giáng trần.  
Quang minh thấu triệt, không ngừng giúp.  
Trì hộ hai bên, hộ pháp thần.  
Kim lư trầm đàn, hương tỏa chân.  
Thanh tịnh tự nhiên, chính Pháp thân.  
Vang lên tiếng sét, xuyên thiên giới.  
Tam giới vượt siêu, chứng niết bàn.*
 
Tôi đuổi theo cha của Tưởng Hưng. Trên đường đến suối vàng, tôi trông thấy hai người mặc áo màu xanh lục áp giải cha của Tưởng Hưng đi phía trước.  
Tôi vừa đến thì cha của Tưởng Hưng nhìn thấy bèn la lên:  
"Lư Thắng Ngạn cứu mạng! Lư Thắng Ngạn cứu mạng! Xin cứu mạng!"  
Tôi ngăn hai người áo xanh lại: "Người này thọ mệnh vẫn chưa tới, vì sao lại bắt đi làm người âm?"

Hai người áo xanh nhìn thấy tôi tỏa ra Tam quang (ba loại ánh sáng) liền cúi đầu, từ trong tay áo lấy ra một cuốn sách lớn cho tôi xem.  
Dưới tên của cha Tưởng Hưng có viết rất nhiều thứ, đều là những phúc lộc lúc còn sống và quả nhiên là tuổi thọ rất dài.  
Thế nhưng ở phía sau lại có ghi chú: "Vào ngày X tháng Y năm Z đã gian dâm một cô gái nên lập tức bị tước đoạt tuổi thọ, chỉ sống đến 49 tuổi..." Tôi xem mà giật mình.

Tôi hỏi cha Tưởng Hưng: "Có chuyện này không?"  
"Đó chỉ là vì hưng phấn nhất thời, nay tôi biết sai rồi! Tôi nhất định sẽ hối cải, nhất định siêng năng làm việc thiện. Lư Thắng Ngạn cứu tôi với, Lư Thắng Ngạn cứu tôi."

Tôi không nhẫn tâm, bèn hỏi hai người mặc áo xanh:  
"Còn có thể cứu được không?"  
"Không." - Hai người mặc áo xanh lắc đầu: "Sách lớn đã viết rồi, không thể nào tiếp tục sống. Trừ phi người phạm tội lập lời thề và được Thần minh áp ấn, nếu không thì không thể cứu được."

"Tôi có thể thề" - Cha của Tưởng Hưng hét to.

"Ai áp ấn?"  
Hai người mặc áo xanh nói: "Ngài trên người có ba loại ánh sáng, Phật quang, Linh quang, Kim quang, chính ngài có thể áp ấn!"

Hai người mặc áo xanh, áp giải cha Tưởng Hưng quay mặt hướng về biển lớn mênh mông bắt lập lời thề rằng: "Thề tránh phạm giới tà dâm đến hết thọ mệnh của mình, vĩnh viễn không thay lòng. Nếu còn phạm tội thì lập tức tai họa sẽ đến. Từ nay về sau nỗ lực khuyến cáo mọi người giữ giới. Nỗ lực làm việc thiện cho tới khi chết. Trở thành Phật tử, nỗ lực tu hành."  
Rồi tôi vẽ áp ấn vào cuốn sách lớn. Hai người mặc áo xanh liền đẩy cha Tưởng Hưng vào trong biển.

Nói về phía cha Tưởng Hưng, vốn dĩ tim đã ngừng đập, nhiệt độ cơ thể cũng tụt xuống, đôi mắt trở nên trắng dã, hai chân duỗi thẳng, đây gọi là "duỗi chân trợn mắt". Người đã chết một ngày, xung quanh con cái bạn bè thân cận đều đã tụ tập một đám. Nhưng đột nhiên máy đo tim lại bắt đầu "tu tu" rồi tim đập trở lại, quanh tim dần có hơi ấm, tứ chi dần dần có cảm giác.

Mí mắt giật giật! Đầu ngón tay cử động!  
Cha Tưởng Hưng đột nhiên tỉnh dậy, không ngờ chết rồi mà sống lại, muốn uống nước. Vụ chết rồi sống lại đã làm kinh động giới báo chí, cũng được đăng lên báo.

Tưởng Hưng hỏi: "Sau khi chết đi thì thế nào?"  
Đáp: "Như ảo mộng."  
"Ảo mộng cái gì?"  
Đáp: "Hư không."

Còn cha Tưởng Hưng không nói gì. Dù cha Tưởng Hưng không nói gì, nhưng từ đó ông ta gặp ai cũng luôn khuyên răn không được tà dâm và nói rõ họa của tà dâm.
 
Một hôm, cha Tưởng Hưng tới tìm tôi.  
"Lư Thắng Ngạn, tôi tới tìm ngài!"  
"Tôi biết ông sẽ tới."  
"Tôi tới cảm ơn ngài đã cứu tôi, cũng giúp tôi áp ấn."  
"Không có gì." - Tôi nói.  
"Tôi tới quy y ngài học Pháp, bái ngài làm thầy."  
"Rất tốt."  
"Thỉnh Sư Tôn ngồi."

Tôi ngồi trên bồ đoàn, đoan nhiên bất động. Cha Tưởng Hưng đoan đoan chính chính hướng về tôi lễ bái quy y.

Tôi nói: "Tam quy y của tôi ở đây so với Tam quy y của các Pháp sư trên thế giới đại khái không giống nhau. Tam quy y của các Pháp sư trên thế giới là quy y Phật không đọa địa ngục, quy y Pháp không đọa ngạ quỷ, quy y Tăng không đọa luân hồi. Pháp luân thường chuyển. Tam quy y của tôi, quy y Phật phải định ba tâm, quét sạch lục dục, thường giữ thanh tịnh, bất loạn chân tính, đây mới là quy y Phật.

Quy y Pháp là không nói, không nhìn, không làm những việc phi lễ giáo. Thân không làm những việc bừa bãi, miệng không nói những lời tệ hại, phải nhất tâm suy nghĩ đúng đắn, đây mới là quy y Pháp chân chính.

Còn quy y Tăng là giữ thân thanh tịnh, siêu xuất tam giới, biết nơi pháp thân chân chính mà an thân lập mệnh. Hiểu sinh ra từ đâu, chết đi từ đâu, biết con đường đến cửa sinh cửa tử, hiểu thấu nơi pháp thân thanh tịnh để thường trụ bất diệt, đây mới là quy y Tăng chân chính."

Cha Tưởng Hưng nghe xong càng hiểu Tam quy y chân chính.  
"Lời của Sư Tôn là chân lý. Con muốn báo đáp ơn quy y!"

Cha Tưởng Hưng hỏi tôi:  
"Sau này Sư Tôn thân đi về đâu để con còn hầu phụng?"  
Tôi đáp: "Không vướng bận việc đi Nam về Bắc, tôi phiêu du khắp năm châu thế giới, muốn hỏi thân ở đâu thì tôi thường tu ở trên trời tịnh diệt. Tôi nói cho ông hay, ông không cần phải phụng sự tôi, báo đáp tôi. Nếu như ông dựa vào Tam quy ngũ giới mà tu hành nỗ lực không ngừng nghỉ, thì chính là phụng sự, cũng chính là báo đáp rồi."

Cha Tưởng Hưng kính lễ rồi đi.
 
Sau này tôi được biết cha Tưởng Hưng in rất nhiều sách thiện, in Ngọc Lịch Bảo Sao Khuyên Thế Văn (phiên bản ở Việt Nam là Ngọc Lịch Bửu Phiêu) và Cao Vương Kinh tặng người ta, in tặng cả Chân Phật Kinh. Ngoài ra đối với việc "không tà dâm", ông gặp ai cũng đều nỗ lực khuyên răn.

Cha Tưởng Hưng sau này xuất gia làm tăng. Tăng nhân trong chùa có lần nghe thấy tên Lư Thắng Ngạn, đã không ngớt lời nhục mạ. Chỉ riêng cha Tưởng Hưng không nói mà chỉ một tiếng niệm Phật.

Ông ta viết một bài kệ gửi cho tôi.

*Tha Phật tự Phật.  
Tha Tiên tự Tiên.  
Thao thao hồng trần.  
Thanh tịnh tự nhàn.*
 
Dịch nghĩa:

*Kệ người ta Tiên Phật.  
Ta tự có Phật Tiên.  
Hồng trần cuồn cuộn chảy.  
Tịnh tâm, tự an nhàn.*

Cha Tưởng Hưng đã ngộ ra rồi đó!

### 05. Ung thư thực sự biến mất

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 173 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Một giấc mộng một thế giới.)*

Chuyện xảy ra ở khoa Ung Thư tại một bệnh viện lớn.  
Có hai bệnh nhân mắc ung thư, sau khi làm hóa trị xong cùng nói chuyện với nhau:  
"Anh và tôi hôm nay sinh mệnh chỉ còn tính bằng giờ khắc, có cách nào có thể cứu được không nhỉ?"  
Người kia cười khổ:  
"Phép thần."  
Người hỏi thản nhiên nói:  
"Trên thế gian này làm gì có phép thần."  
Người cười khổ nói:  
"Có người chuyên tâm niệm A Di Đà Phật, cũng có người chuyên tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng có người chuyên tâm đọc kinh, đều là hy vọng vào phép thần. Phật pháp hiển hóa, thiên chủ cứu độ."  
"Được sao?"  
"Có người được có người không."  
"Vì sao thế?"  
"Tất cả đều là duyên phận."

Người cười khổ nói:  
"Có người mắc bệnh ung thư, sau khi làm hóa trị thì khỏi bệnh. Nhưng cũng có người chữa mà không khỏi, chẳng phải là duyên phận sao?"  
"Nói cũng phải."  
Người cười khổ nói:  
"Có người tặng tôi một cuốn kinh, là Chân Phật Kinh, tôi muốn tùy duyên tặng cho anh. Anh niệm đi! Nói không chừng anh lại có duyên. Cần có tín tâm, tín tâm rất quan trọng đó."

Người hỏi cầm lấy cuốn Chân Phật Kinh, niệm một biến, trì tâm chú. Trong giấc mơ anh lập tức nhìn thấy một người vươn tay vào trong phổi anh, lấy ra một thứ bẩn ở trong phổi, anh cảm giác như được giải thoát, tất cả đau đớn của bệnh đột nhiên nhẹ nhõm hẳn, thậm chí chẳng còn thấy gì nữa.  
Người trong mơ nói với anh:  
"Anh có duyên, bệnh của anh sẽ khỏi, sống đến 99 tuổi."

Sáng hôm sau tỉnh lại, kể cũng kì lạ, bệnh nhân mắc ung thư này kiểm tra toàn thân thì không thấy các tế bào ung thư đâu nữa, thực sự bệnh đã hoàn toàn biến mất. Nhưng người cười khổ, người tặng cho anh cuốn Chân Phật Kinh thì đã chết rồi, cũng đã được giải thoát khỏi bệnh khổ rồi.

Bệnh nhân mắc ung thư này cầm cuốn Chân Phật Kinh đi đến vài ngôi chùa hỏi những người xuất gia và cư sĩ tại gia, tất cả đều nói "không biết kinh này". Anh tìm kiếm rất lâu, sau đó mới biết kinh điển này là do Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tuôn chảy ra từ tâm mình. Anh muốn tìm tôi để cảm ơn, nhưng cũng không gặp được, bởi vì tôi đã bế quan, không gặp người ngoài nữa. Anh đến Lôi Tạng tự xin quy y và quán đảnh. 

Anh nói:  
"Trong giấc mơ anh nhìn thấy một người vươn tay lấy ra thứ gì đó bẩn từ trong phổi anh, người này thực sự là Lư Thắng Ngạn Sư Tôn."

### 06. Thập phương hiển thánh cứu người hôn mê

*(Bản văn này được trích từ văn tập số 089 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Chân Phật mộng trong mộng.)*

(1)

Sư Tôn, Sư Mẫu kính yêu!  
Đệ tử là Liên Hoa Sâm Minh và vợ là Liên Hoa Mỹ Ngọc rất biết ơn Sư Tôn lần này đã đến Singapore, để cho rất nhiều các đồng môn Singapore và Malaysia có cơ hội tham gia hai pháp hội thù thắng. Mọi người đều hy vọng Sư Tôn có thể tới đây thường xuyên hơn.

Đêm qua ngày 18 tháng 2 âm lịch, đệ tử không sao ngủ yên được. Tới gần sáng, vào lúc nửa tỉnh nửa ngủ, con đã mơ thấy Sư Tôn đến nhà cha mẹ con để gia trì cho cha mẹ. Sau đó Sư Tôn hóa thành ánh sáng bay đi!

Hôm nay (ngày 19 âm lịch), buổi tối con gọi điện về nhà mới biết buổi chiều hôm trước mẹ của con bị ngất xỉu, cho đến buổi sáng hôm nay mới tỉnh lại. Hóa ra là sáng sớm nay Sư Tôn đã đi cứu mẹ con. Con không biết phải làm sao để cảm tạ tấm lòng từ bi của Sư Tôn đã cứu giúp, chỉ có thể rớt nước mắt nói lên mấy tiếng cảm ơn. Hiện tại mẹ con đã khỏe lên một chút rồi, chỉ là nếu đứng dậy đi vài bước thì sẽ bị chóng mặt. Đệ tử quỳ xuống cầu xin Sư Tôn lại đến chữa bệnh cho mẹ con. Đệ tử sống tại Singapore, còn mẹ và em gái em trai của đệ tử thì đều sống tại Selangor, Malaysia.  
…

Cầu nguyện cho các bậc cha mẹ trong thiên hạ đều an khang.  
Nguyện tất cả chúng sinh đều có được Phật pháp, thực tu viên mãn.  
Phật an!  
Đệ tử: Liên Hoa Sâm Minh - đêm 19 tháng 2 âm lịch sám hối.

(2)

Tôi biết Liên Hoa Sâm Minh và Liên Hoa Mỹ Ngọc thường trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, cũng thường trì tụng Chân Phật Kinh không gián đoạn.

Nhưng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh không phải là kinh điển dịch từ tiếng Ấn Độ, trong Đại Tạng Kinh không có kinh này, trong kinh này có tên các vị Phật và thánh hiệu của Quan Thế Âm Bồ Tát.

Tuy vậy, trong "Nho Lâm Truyền" thời Bắc Ngụy và "Lư Đồng Truyền" thời Bắc Sử đều có ghi chép lại sự tích về Lư Cảnh Dụ. <span className="note-blue">[Nho Lâm Truyền là bộ truyền thuyết do nhà sử học Ban Cố thời Đông Hán biên soạn.]</span> Lư Cảnh Dụ do bị liên lụy phải vào tù, ở trong tù thành tâm tụng niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, không ngờ tất cả những xiềng xích trói trên người đều tự động tuột ra. Sau đó Vũ Vương Tề Hiến biết được ông bị kết tội oan liền miễn tội cho ông.

Sự linh nghiệm của Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh nhiều không thể đếm hết. Chân Phật Kinh cũng vậy. Những sự linh nghiệm này không phải là những việc mà phàm phu tục tử có thể ngụy tạo ra. Liên Hoa Sâm Minh và Liên Hoa Mỹ Ngọc thường xuyên trì tụng hai bản kinh này.

Cần biết rằng Chân Phật Kinh có thân samaya, là tam thân của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, là thân chủng tử, thân tam muội, thân tôn giả, cũng còn được gọi là tam thân: pháp thân, báo thân, ứng thân. Trong kinh có cảnh giới nội chứng của Phật Bồ tát, có lời thề của hộ pháp thần Kim cang, có biểu tượng hoa sen của Bồ tát. Người đọc tụng Chân Phật Kinh nếu có thể đạt đến "tam muội tương ứng" có thể nhìn thấy được vẻ mặt từ bi của Liên Sinh Hoạt Phật, hoặc thấy ngài thân màu trắng, hoặc thấy hoa sen trắng to như bánh xe.

Do vậy, Liên Hoa Sâm Minh nhìn thấy Sư Tôn đi đến nhà cha mẹ để gia trì cho mẹ anh. Sau đó Sư Tôn hóa thành ánh sáng bay đi. (Hóa ra là do mẹ anh bị bất tỉnh một ngày đêm, Sư Tôn đã đi cứu bà.) Sự việc này chính là thập phương hiển thánh cứu người hôn mê.

(3)

Những sự việc linh nghiệm chân thực giống như thế này cực kì nhiều.  
Có một người tên là Liên Hoa Thời Triều, khi mới quy y đã mắc bệnh nặng tới mức sắp chết, gần chết mấy lần rồi đều được các vị cứu sống lại, cả trăm loại thuốc cũng đều không có hiệu quả gì. Ông thường bất tỉnh không biết chuyện gì xảy ra xung quanh. Ông mắc nhiều bệnh như u não, bệnh thận, bệnh tim, bệnh tràng vị… Sau khi ông quy y thì nhất tâm trì tụng Chân Phật Kinh, trì tới ba nghìn biến.

Có một đêm, ông mơ thấy Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, người cao lớn mặc quần áo trắng giống như một vị bác sĩ vậy. Ngài mở não ông lấy u não ra. Rồi ngài lại dùng dao mổ cắt tràng vị và mổ tim, mổ thận, v.v… Tất cả đều được ngài rửa sạch sẽ lại như mới. Sau khi mọi thứ đều được rửa sạch thì lại để các bộ phận của tràng vị lại về chỗ cũ. Liên Sinh Hoạt Phật nói với ông:  
"Mọi bệnh của ông đều đã khỏi cả rồi đó."  
Liên Hoa Thời Triều hỏi:  
"Sao Liên Sinh Hoạt Phật lại là bác sĩ thế này?"  
"Tôi là Đại Y Vương mà." - Sư Tôn trả lời.

Ở trong mơ, Sư Tôn kéo tay ông, đỡ ông đứng dậy, ông còn có thể nhảy ở lối đi bên cạnh giường được nữa, động tác này bình thường ông đâu dám làm.

Liên Hoa Thời Triều tỉnh dậy, thân thể cảm thấy vô cùng sảng khoái, cảm giác mọi thứ hoàn toàn thay đổi, tinh thần phấn chấn, không chỉ khỏi bệnh hôn mê mà bệnh tim cũng khỏi, bệnh thận cũng khỏi hẳn. Từ đó về sau các bệnh trên thân thể đều khỏi cả.

Bản thân ông không dám tin, nhưng bạn bè xung quanh ông đều biết rõ ràng, tất cả đều quy y Chân Phật Tông, trì tụng Chân Phật Kinh.

(4)

Tôi đã từng cứu "người thực vật", từng cứu người hôn mê nửa năm tỉnh lại. Người bị hôn mê ba tháng, một tháng, nửa tháng, mười ngày được tôi cứu cho tỉnh lại thì rất nhiều.

Có người hỏi tôi:  
"Rốt cục là ngài có bản lĩnh gì?"  
Tôi đáp:  
"Những việc này là dùng sức mạnh thần thông để cứu những trường hợp khẩn cấp trong khổ nạn của chúng sinh chứ cũng chẳng phải là có bản lĩnh gì. Còn tôi đã ngộ nhập niết bàn, hiểu rằng đại ngũ uẩn đều là không, do vậy tất cả bệnh khổ đều từ nhân duyên mà sinh ra. Tôi là người tự tính vốn không, là người đã thông đạt tất cả, tôi chỉ niệm Phật, vô tác giả, vô thọ giả."

Người hỏi câu này không hiểu lời tôi nói, ông á khẩu không biết nói gì. Kì thực việc ông không hiểu được cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Bởi vì mấy câu nói này chính là cánh cửa giải thoát thâm sâu bí mật, người thế tục làm sao hiểu được đây?

### 07. Triết lý về bệnh nghiệp

Chiều nay chúng ta đã nghe pháp sư Cửu Như nói về bệnh nghiệp. Vừa nãy dường như trong lúc ông đang giảng thì có nhắc đến tâm thanh tịnh thì thân cũng thanh tịnh, sẽ không còn bệnh tật. Trên thực tế, Phật Thích Ca Mâu Ni đương nhiên là có tâm thanh tịnh, thân cũng thanh tịnh. Nhưng khi ngài thành tựu rồi thì vẫn có bệnh, việc này thuộc về nghiệp nhiều kiếp, do vậy bệnh và nghiệp có liên hệ chặt chẽ với nhau.

Gần đây có một sự việc có thật, là một cuộc tranh luận rất lớn.  
Chúng ta đã biết gần đây có hội XX, người sáng lập ra hội này thường nói rằng có bệnh thì không cần đi khám bác sĩ, bởi vì bệnh là nghiệp chướng. Dù bạn đi khám bác sĩ, chữa khỏi bệnh xong rồi, nhưng nghiệp đó thì vẫn chưa được tiêu trừ, nghiệp vẫn còn. Vì thế bạn cần phải để cho bệnh tồn tại, không được đi khám bác sĩ, làm như thế thì nghiệp chướng mới tiêu trừ. Đại ý là ông này nói như thế.

Ý của ông ta là bệnh chính là nghiệp, nghiệp muốn tiêu trừ thì cần phải để bệnh tồn tại, không thể đi khám bác sĩ. Bởi vì không khám bác sĩ, sau khi bạn vượt qua được bệnh thì nghiệp đó mới thực sự được tiêu trừ. Ý của ông ta chính là vậy.

Những phê phán tranh luận dấy lên gần đây chính là trên phương diện đó, do ông ta nói rằng khi có bệnh thì chớ đi khám bác sĩ. Rất nhiều người cho rằng ý trên là đúng, bởi vì bệnh chính là nghiệp mà! Cho nên muốn tiêu trừ nghiệp thì vì sao lại đi chữa bệnh? Hãy để cho bệnh tự hết, nghiệp sẽ được tiêu trừ, còn nếu đi khám bác sĩ mà chữa khỏi bệnh rồi thì nghiệp của bạn sẽ vẫn còn đó.

Tuy nhiên, ở đây tôi muốn hỏi một câu: Làm sao bạn biết được rằng, khi bệnh của bạn được chữa khỏi sau khi khám bác sĩ thì nghiệp đó vẫn chưa được tiêu trừ? Biết đâu chủ định của số mệnh là nghiệp này của bạn cần phải đi khám bác sĩ để tiêu trừ nghiệp thì sao? Mọi người dùng đầu óc thử nghĩ một chút xem. "Người có bệnh, được chữa khỏi sau khi đi gặp bác sĩ, thì làm sao mà biết được là nghiệp chướng đó đã được tiêu trừ hay chưa?"

Ở đây có lẽ chúng ta nên nói: "Người có bệnh thì nên đi khám bác sĩ, bởi vì số mệnh của ta là cần phải khám bác sĩ thì nghiệp này mới được tiêu trừ." Cũng giống như bạn xin được một Thượng sư gia trì, ví dụ mọi người đến xin tôi gia trì, tôi gia trì cho họ, bệnh của họ liền khỏi, như vậy thì nghiệp của họ vẫn còn hay sao? Chỉ là khỏi bệnh thôi còn nghiệp thì vẫn còn hay sao? Nói không chừng thì chính nhờ việc gia trì này mà nghiệp (bệnh) của bạn mới hết đó.

Do vậy ở đây có điều cốt lõi, đó là mối liên hệ giữa bệnh - nghiệp là có tồn tại và sự liên hệ này xem ra thì rất phức tạp, nhưng rất nhiều bệnh vẫn sẽ khỏi được. Sau khi khỏi bệnh rồi thì bạn lại tiếp tục làm công đức, làm việc thiện, bố thí, tu hành, tinh tấn, trì chú, tu luyện, cuối cùng có thể thành Phật. Nếu bạn có bệnh mà không đi chữa bệnh, không chịu đi tìm bác sĩ để khám chữa bệnh, rồi bệnh nhỡ không khỏi. Cứ kệ nó, nếu nhỡ không khỏi bệnh thì làm sao? Không lẽ chết rồi thì nghiệp tiêu trừ luôn ư? Về cơ bản thì như thế là bạn đem chính thân thể mình đi tặng cho Diêm Vương rồi đó.

Theo đạo lý mà nói thì có bệnh cần đi khám bác sĩ, chữa khỏi được bệnh rồi thì nghiệp chướng của bạn cũng hết, nói cách khác là bệnh nghiệp của bạn đã được tiêu trừ. Thế còn chữa không khỏi thì sao? Chữa không khỏi thì là do nghiệp của bạn quá nặng. (Sư Tôn cười.) Nói bệnh là nghiệp thì không sai, nhưng chúng ta cũng cần biết rằng không hẳn là nghiệp của bạn chỉ cần bác sĩ chữa đơn giản nhẹ nhàng cho bạn là bệnh sẽ khỏi đâu. Bạn không cần đi khám <span className="note-blue">[mà vẫn khỏi bệnh]</span> thì xem như là bạn may mắn đó. Ý của tôi muốn nói rằng rất nhiều người đến cầu xin Sư Tôn gia trì cho bệnh nghiệp. Được thôi!

Thế nhưng nếu bạn lại nói rằng bệnh này không thể chữa được, vậy bạn đi cầu xin gia trì để làm gì? Thế vì sao tôi lại cần phải gia trì cho bạn chứ? Bởi vì dù tôi có gia trì thì nghiệp của bạn không hết, sau này bạn vẫn còn tiếp tục phải chịu nghiệp đó, vậy thì tại sao tôi lại phải gia trì cho bạn làm gì? Và nếu vậy thì các bạn cũng không cần đến tìm tôi xin gia trì nữa. Có bệnh cũng không cần đến tìm tôi gia trì, bởi vì gia trì cũng chẳng thể tiêu trừ nghiệp của bạn. Khám bác sĩ cũng chẳng thể tiêu trừ được nghiệp, tìm Thượng sư xin gia trì cũng chẳng có tác dụng gì, cũng như nhau cả, nghiệp này cũng chẳng thế nào được tiêu trừ. Cái đạo lý kiểu này, chúng ta có đầu óc thì hãy nên suy nghĩ cẩn thận một chút.

Có bệnh thì cần phải đi khám bác sĩ.  
Bệnh và nghiệp có mối quan hệ, nghiệp có nặng có nhẹ, có định nghiệp, cũng có bất định nghiệp. Nếu bạn gặp phải bất định nghiệp thì vốn dĩ việc khám bác sĩ có thể chữa khỏi được, còn nếu bạn cứ kệ, không đi khám bác sĩ, oa, thế là chết, thì xem như là bạn hết vận may rồi. Ý của tôi muốn nói chính là như vậy. 

Ngoài ra, vừa rồi pháp sư Cửu Như giảng về thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì sẽ không có bệnh, nhưng mà vẫn có đấy! (Sư Tôn cười.) Bởi vì nghiệp là nhiều kiếp, nghiệp từ rất nhiều kiếp cùng đổ về, nặng có, nhẹ có, còn kiếp số ra sao nữa. Do vậy không thể nói rằng tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh thì bạn sẽ không mắc bệnh nữa, vẫn mắc bệnh đó.  
Om mani padme hum.  
*(Pháp thoại này trích từ cuốn 654 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Bài ca của Hoạt Phật - phần 3.)*

### 08. Chân Phật Kinh là gì?

Chân Phật Kinh bao hàm ba phương diện: con người, pháp, chỉ dụ.  
Con người được nói đến ở đây chính là Thượng sư Lư Thắng Ngạn, là nói duy nhất đến Thượng sư Lư Thắng Ngạn giảng pháp của Liên Hoa Đồng Tử. Từ đây mở rộng đến pháp môn của Tây phương cực lạc thế giới, trong đó có cảnh giới Ma Ha Song Liên Trì với sự thường hằng, tĩnh tịch, quang minh mang nhiều ý nghĩa huyền diệu. Con người trong bộ kinh này chính là Thượng sư Lư Thắng Ngạn.

Pháp được nói đến ở đây chính là pháp của Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, quán tưởng Liên Hoa Đồng Tử, kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử, trụ trong Liên Hoa Đồng Tử tam ma địa, là có thể thẳng tiến đến Ma Ha Song Liên Trì, gặp được A Di Đà Phật, "gặp Phật thoát sinh tử, độ tất cả như Ngài".

Chỉ dụ được nói đến ở đây chính là ẩn dụ so sánh. Chân Phật vốn không thể trực tiếp nói ra, do vậy càng cần sự so sánh.

🌟

Giải thích ba chữ Chân Phật Kinh này như sau:  
Chân là gì? Chân ở đây chính là sự thật.  
Phật là gì? Phật chính là người giác ngộ, nói chính xác là Đại thánh nhân đã tự giác - giác tha, giác hành viên mãn. Đạt được giác hành viên mãn này chính là Phật, đạt được chứng ngộ hai loại trí huệ vốn có: một là Vô thượng chính trí, cũng chính là A Nậu Đa La tam miệu tam bồ đề (trí hiểu biết rộng lớn); hai là Nhất thiết chủng trí (trí huệ hiểu biết tất cả), chính là Bồ Tát Bát Nhã. Từ tu hành chân chính đến được Phật địa, đạt được địa vị thành Phật.

Chữ Phật này có thể mở rộng ra là:  
Phật nhật --- phá bỏ bóng đêm ngu si của chúng sinh, giống như mặt trời xua tan đêm tối. So sánh Phật pháp từ bi quảng đại độ chúng sinh khắp nẻo không phân biệt, như ánh sáng mặt trời chiếu soi khắp đại địa.  
Phật ấn --- mọi thực tướng của pháp, chính là những ấn khế bất biến mà chư Phật đã quyết định.  
Phật thừa --- minh tâm kiến tính - trí huệ của thừa pháp.  
Phật tính --- tất cả chúng sinh đều có Phật tính, là tính giác ngộ bất biến không thể đổi khác, là thực thể bất sinh bất diệt, chính là Chân Như.

Chân Phật --- là vô vi, là bình đẳng, là từ bi, là hỉ xả, là phóng quang chân chính, là độ hóa hết thảy chúng sinh.

Kinh là gì? Kinh chính là tiếng Phạn của Sutra, còn được gọi là đạo lý mà thập phương chư Phật đã thuyết giảng, trên hợp với trí huệ pháp tính mà thập phương chư Phật đã nói, dưới hợp với chân lý muốn đi trên con đường tu hành của thập phương chúng sinh. Nói cách khác là mô tả lại đạo lý tu hành như thế nào thì được gọi là Kinh. Kinh vốn là những lời mà Như Lai đã nói. Phàm là những quy củ và khai ngộ mà các bậc thánh nhân đã giáo thị xuống thì đều được gọi là Kinh.

🌟

Vậy Chân Phật Kinh là gì? Một bậc giác ngộ đã minh tâm kiến tính, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn tôn giả, đã viết lại trí huệ của Phật mà ngài đã lĩnh hội hoàn toàn, hiểu thông hiểu thấu. Đây là tất cả những gì Như Lai đã thuyết giảng, bởi vậy Chân Phật Kinh là sự thật. Trong Chân Phật Kinh có cảnh giới nội chứng của Phật Bồ tát, có lời thề gốc của Hộ pháp thần Kim cang, có biểu tượng hoa sen của Bồ tát.

Tên của bản kinh này kì thực chính là con đường đạo dẫn đến giác ngộ chân chính, do vậy kinh này vừa có thể tiêu trừ rất nhiều tai nạn, vừa có thể ban phúc. Người đọc bản kinh này sẽ có được phúc khí, cũng giống như có được vận may từ trên trời rơi xuống, chính là có được thiên phúc.  
Tên gọi đầy đủ là Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh, gọi đơn giản là Chân Phật Kinh.

### 09. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (1)

**Kinh văn:**  
”Ôm A Hùm <span className="note-blue">[Om Ah Hum]</span>  
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.  
Cúng dường Tì Lô Giá Na Tôn.  
Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.  
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.  
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.  
Ba thân không khác, đại Phật ân.  
Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.  
Thần thông ban trải đầy thế giới.”

Người niệm tụng kinh này trước tiên cần niệm tụng Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì. Ba chữ mở đầu là Om Ah Hum, điều này trước đây Sư Tôn đã từng giải thích rồi.

Om A Hum là gì?  
Om --- là vũ trụ.  
Ah --- là nhất, là Phật.  
Hum --- là quả vị, là quả.  
Om, Ah, Hum, chính là tương đương với chư Phật của toàn vũ trụ hiển hiện tất cả mọi hình tướng và tất cả mọi quả vị. Kì thực, ba chữ này còn có ý nghĩa vô cùng thâm sâu ẩn chứa trong nó, không phải chỉ có mỗi nói về vũ trụ, hay là tất cả các hình tướng mà chư Phật hiển hiện, mà còn có hàm nghĩa khác.

Có thể giải thích là:  
Sự thanh tịnh của trời.  
Sự thanh tịnh của đất.  
Sự thanh tịnh của chúng sinh.  
Bản tính thanh tịnh của tất cả.

Sự thanh tịnh của thân khẩu ý là gì?  
Sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý chính là tất cả mọi thứ của thân thể đều thanh tịnh, tất cả mọi thứ về khẩu đều thanh tịnh, cũng như tất cả mọi thứ thuộc về ý niệm đều thanh tịnh. Đem toàn bộ thân thể bạn, bao gồm cả sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý để cúng dường Đại Nhật Như Lai. <span className="note-blue">[Phật Tỳ Lô Giá Na.]</span>

Mọi người đừng cho rằng thân thanh tịnh tức là đi tắm rửa một cái là xong. Bạn có thể rửa sạch những thứ bên ngoài, nhưng bên trong thì vẫn còn các thứ này khác. Bạn cho rằng bạn đã đi "hái hoa" rồi cơ mà (đã đi toilet rồi), nhưng thực tế là bên trong vẫn còn thừa lại một chút chút. Sự thanh tịnh của thân thể chính là biểu thị rằng tay của bạn không hề làm việc xấu, không sờ mó lung tung, không ăn cắp vặt. Không lấy trộm, không cướp bóc, không sờ lung tung, không chạm lung tung, thì như vậy mới là thân thanh tịnh, chứ không phải nói rằng đi tắm một cái là thanh tịnh rồi đâu.

Thứ hai là nói về khẩu thanh tịnh. Thói quen của rất nhiều người là hễ mở mồm ra, những điều nói ra chẳng phải là những thứ ngon lành như socola hay kẹo ngọt, mà là thốt ra những lời như tên bắn khiến người khác bị thương. Hoặc như bịa chuyện không có thật, những lời khoác lác hoặc bịa đặt, những lời chọc ghẹo ong bướm. Giả sử bạn mở miệng ra mà không hề nói những điều sai quấy thì đây được gọi là sự thanh tịnh của khẩu. Nhưng tôi thấy rằng để có khẩu thanh tịnh cũng rất khó. Bởi vì mọi người có cái tật là nghe thấy rồi thì không nói ra không được, giữ lại trong lòng thì ruột sẽ trương lên mà chết mất. Hy vọng mọi người sau khi nghe được điều gì, lọt vào tai rồi, cứ thế đi xuống tới dạ dày rồi tới ruột, rồi cứ thế đi ra theo đường dưới là được rồi, cùng lắm thì cũng chỉ là bốc mùi tí thôi!

Sự thanh tịnh của thân và sự thanh tịnh của khẩu là những vấn đề tương đối nhẹ, đều phần nào có thể kiểm soát được, có thể tu dưỡng cải tiến được. Nhưng ý thanh tịnh - sự thanh tịnh của ý niệm là khó nhất. Ai dám nói ý niệm của bản thân đều hoàn toàn trong sạch đây? Vừa nãy khi mọi người nhập tam ma địa, Sư Tôn thấy trên đầu mỗi người đều có một điểm sáng màu đen, thế thì tam ma địa cái gì chứ? Là "hoang tưởng địa" thì có.

Trên thực tế, chỉ cần bạn chưa phải là Thánh nhân, thì bạn đã phạm tội trên phương diện ý niệm rồi. Thánh nhân xuất hiện trên thế giới này chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay mà thôi, mà phần lớn Thánh nhân cũng đều trốn trong núi sâu rồi, không dám bước ra chốn thành thị, vì nhìn thấy áp-phích quảng cáo phim thôi là đã hoa mắt chóng mặt rồi.

Tại cõi Sắc giới, Dục giới, để có sự thanh tịnh của ý niệm là rất khó. Thánh nhân hiện tại tất cả đều tập trung tại cõi Vô sắc giới, vì chỉ có ở tại cõi Vô sắc giới, mọi hình tượng đều không tồn tại, khi đó mới là sự thanh tịnh thực sự. Do vậy, ý niệm thanh tịnh là vô cùng khó đạt được.

Câu thứ nhất nói rằng: "Cần đem thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh để cúng dường Phật Tỳ Lô Giá Na." (Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh, cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.) Ngày nay rất nhiều đệ tử cúng dường Sư Tôn cũng nói: "Con đem thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh để cúng dường Sư Tôn là được rồi." Trung tâm hồi đáp thư tín của Seattle đều biết rằng cúng dường kiểu này sẽ buộc chúng tôi phải mất tiền dán tem, tốn thêm thời gian và tiền bạc. Tuy nhiên, hôm nay tôi nói với mọi người thế này: "Giả sử mọi người thực sự có thể có được sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý để cúng dường Phật, cúng dường người xuất gia, cúng dường tất cả Thánh nhân, nếu như bạn thực sự làm được như vậy, thì miễn phí." Giả sử không có cách nào làm được như vậy, tôi cho rằng vẫn nên kèm theo một chút vật chất thì có lẽ hay hơn.

Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Nhãn Phật Mẫu - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật:  
Mọi người đều biết rằng Phật Tỳ Lô Giá Na chính là Đại Nhật Như Lai, ngài là bổn tôn của rất nhiều vị Phật. Khi ngài biến hóa pháp thân, từng biến hóa thành Phật Nhãn Phật Mẫu hạ sinh. Đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là Ma Ha Song Liên Trì hóa hiện tại Tây phương cực lạc thế giới, còn ánh sáng của đôi mắt thì hóa thành Liên Hoa Đồng Tử. Vậy Liên Hoa Đồng Tử thì sao? Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử đều hạ sinh tại thế giới này, hiện tại đang ở thế giới Ta Bà, biến hóa thành ứng thân, chính là Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh đến nhân gian này để độ chúng sinh.

Pháp thân, báo thân, ứng thân đều không có gì khác biệt. Ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni hạ sinh tại cõi Ta Bà, pháp thân của ngài chính là Phật Tỳ Lô Giá Na, báo thân của ngài chính là Phật Lô Xá Na, ứng thân của ngài chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Pháp thân, báo thân, ứng thân đều không có khác biệt. Đệ tử Chân Phật chúng ta đều nên cung kính truyền thừa vĩ đại này của Chân Phật Tông. Chúng ta tu hành, tương lai đều trở về bên trong thế giới của Liên Hoa Đồng Tử, chính là trở về trong đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu. Thế giới đó chính là Chân Phật Thế Giới, chính là nơi chúng ta thuộc về, là tịnh thổ chân chính.

Ba thân không khác đại Phật ân:  
Pháp thân, báo thân, ứng thân, ba thân này lúc trước có người giảng rằng đó chính là vũ trụ, là mặt trăng, và những mặt trăng hiện trên mặt nước hồ khi trăng soi sáng. So sánh này tương đương với pháp thân, báo thân, ứng thân. Hiện tượng này và hiện tượng mây trên trời biến thành nước mưa, nước mưa đông cứng lại thành băng, thì băng, nước, mây này là giống nhau, không hề có khác biệt gì cả, chỉ là khác nhau về hình dạng mà thôi. Đây chính là "ba thân không khác đại Phật ân".

Thần thông ban trải đầy thế giới:  
Câu tiếp theo là "thần thông ban trải đầy thế giới". Vừa hay tối nay lại nói đến hai chữ "thần thông", cái này Sư Tôn cần nghiên cứu xem lại vài kiếp trước xem có làm việc gì sai không. Giả sử nếu đã từng làm việc gì sai thì xem ra cũng rất nguy hiểm. Đây là chuyện khiến người ta rất lo lắng phiền não, bởi vì nếu có gì sai thì sẽ bị người ta ném đá cho chết, thế thì không thể ăn cơm được nữa.

Việc thần thông, biến hóa là có thật. Nếu bạn có thể tu hành đến mức tinh thần thống nhất thì sẽ sản sinh ra một dạng sức mạnh, sức mạnh này sẽ biến thành thần thông. Chúng ta biết rằng ánh nắng mặt trời không thể giết người, nhưng giả sử chúng ta đặt một thấu kính phóng đại dưới ánh nắng mặt trời, khiến cho tiêu cự tập trung tại một điểm, chiếu vào mu bàn tay của bạn. Khi có ánh nắng mặt trời, bạn đặt một thấu kính phóng đại, điều chỉnh tiêu cự cho nó chiếu lên da thịt bạn, xem thử xem bạn có đau hay không nhé?  
Mọi người đừng thử nghiệm, nếu không sẽ biến thành thịt nướng đó!

Trên thực tế, khi làm như vậy là ta tập trung tất cả năng lượng ánh sáng lại, lúc này sẽ sinh ra một năng lượng rất lớn. Cũng như vậy, khi tập trung ý niệm của bạn thành một điểm thì bất kì sức mạnh nào cũng có thể nhìn thấu quá khứ, thiên nhãn thông chính là như vậy mà sinh ra.

Ngoài ra, nếu bạn dùng sức mạnh này, nếu tất cả các tế bào trên người bạn đều hóa thành không, sức mạnh của bạn sẽ phát ra. Cũng giống như chính bạn là một dụng cụ phóng xạ, tần số phóng xạ phát ra thì cả vũ trụ này đều tràn ngập tần số của bạn. Điều này là để giải thích cho câu "thần thông ban trải đầy thế giới".

Niệm lực của bạn có thể tồn tại trong cả vũ trụ này, do vậy khi các bạn niệm Thượng sư tâm chú, mà vừa niệm một cái là đã có cảm ứng thấy rồi, đó là vì trong hư không này có tồn tại niệm lực của Thượng sư tâm chú. Trong số các đệ tử Malaysia, có một người chuyên môn thay người ta làm các liệu pháp tâm linh, dùng năng lực của mình đi giúp đỡ người khác, ông là Liên Loại nhỉ? Xin đứng dậy cho mọi người được thấy. Mọi người xem, tóc ông ấy rất bạc đó! Trước đây sức khỏe của ông rất kém, sau khi quy y Sư Tôn thì thân thể mới khỏe lên. Còn khi chưa quy y thì ông ấy cần được người khác chữa bệnh cho, sau khi quy y xong thì biến thành ông chữa bệnh cho người khác. Nguyên nhân tóc của ông rất bạc là vì các tế bào trong tóc đều đã chết hết rồi, do trước đây sức khỏe không tốt nên tóc đã bạc hết, không phải sau khi quy y xong mới bạc đâu.

Khi ông chữa bệnh cho người ta thì thường dùng cách quán tưởng, dùng niệm lực quán tưởng chư Phật, Bồ tát ở trên đầu ông, hoặc Sư Tôn ở trên đỉnh đầu ông, quán tưởng Phật phóng quang, quang năng này tiếp thêm sức mạnh lên người ông, sau đó ông lại chuyển quang năng này lên thân thể người khác. Ông thường quán tưởng Sư Tôn ở trên đầu ông, tóc của ông thì biến thành một bông hoa sen trắng, Sư Tôn ngồi trên bông hoa sen trắng đó. Tay của ông đưa ra, ánh sáng của Sư Tôn chiếu đến ông thì ông lại đẩy ánh sáng này đi để chiếu lên người khác, khiến cho bệnh trên thân thể người khác đều khỏi.

Hôm nay Sư Tôn vừa gặp ông thì liền biết ngay, nói "ồ hóa ra là ông!" Bởi vì ông thường mượn điện của tôi dùng đó! Chắc là nên thu của ông ít tiền điện nhỉ, vì ông luôn cứ trộm điện trên người tôi, hại tôi không còn điện nữa. <span className="note-blue">[Đùa]</span>  
Om mani padme hum.

### 10. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (2)

**Kinh văn:**  
”Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.  
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.  
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.  
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.  
Phó thác ân cần, A Di Đà.  
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.  
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.  
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.  
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.  
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.  
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.  
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.  
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.  
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.  
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.”

**Niệm thánh cáo (3 lần)**  
Tây phương Liên Trì hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông. Lư Thắng Ngạn mật hành tôn giả.

Hương tán  
Lư hương sạ nhiệt. Pháp giới mông huân.  
Chân Phật hải hội tất diêu văn. Tùy xứ kết tường vân.  
Thành ý phương ân. Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)  
Nam mô Chân Phật hội thượng chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)

Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời. Hóa hiện không ngừng chứng nhất như:  
Hôm nay tôi giảng về câu "phóng quang chiếu rọi khắp ba thời". Pháp hội siêu độ năm nay cũng chụp được rất nhiều ảnh phóng quang. Cái gọi là "chiếu rọi khắp ba thời", ba thời chính là chỉ quá khứ, hiện tại, tương lai. "Hóa hiện không ngừng chứng nhất như" chính là không bị hạn chế về thời gian, hoàn toàn quảng đại vô lượng, có khả năng lập tức chứng minh được mọi thần thông.

Đệ tử thiết tha thường cầu tới. Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng:  
"Đệ tử thiết tha thường cầu tới", câu này ý nói rằng người học Phật cần tu hành mọi lúc mọi nơi. "Thiết tha" được nói đến ở đây không phải là vô cùng "thống thiết", không ngừng kêu gào bằng mọi giá, mà là người muốn tu hành thì luôn nên chuẩn bị cho cái chết, thường xuyên tu hành, bất kể lúc nào cũng đều phải vô cùng thanh tịnh. Làm được như vậy thì sẽ luôn có ánh sáng quang minh chiếu trên thân, khiến cho phúc phận và trí huệ của người này cứ sau mỗi lần tu hành lại được gia tăng, một mạch đạt đến viên mãn.

Xưa đến thọ kí, Phật Thích Ca:  
Trong quá khứ, Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng thọ kí cho Liên Hoa Đồng Tử. Thọ kí có nghĩa là nói rằng tương lai con cần thành Phật, cần độ chúng sinh, cần phát bồ đề tâm.

Phó thác ân cần, A Di Đà:  
Trong quá khứ, A Di Đà Phật đã từng rất ân cần giao phó nhiệm vụ độ chúng sinh cho Liên Hoa Đồng Tử.

Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán:  
Di Lặc Bồ Tát đã đội cho Liên Hoa Đồng Tử một chiếc mũ miện đỏ.

Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền:  
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng dạy cho Liên Hoa Đồng Tử các pháp bí mật để độ chúng sinh trên thế giới này.

Thánh tôn, xin thỉnh đừng quên nguyện. Cứu độ chúng sinh, chúng con đây:  
Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử đã có được những truyền thừa chân chính này, và một khi đã là người học Phật thì không thể vứt bỏ lời thề nguyện khi mới quy y, cho nên Liên Hoa Đồng Tử không thể quên đi lời thề nguyện này. Thường xuyên nhớ đến lời thề, lời nguyện này để phát bồ đề tâm, chính là "không nỡ từ bỏ lời thề nguyện".

Nói cách khác là Liên Hoa Đồng Tử đã tuyên bố lời thề nguyện, cần phải đến cõi Ta Bà này để độ chúng sinh. Bây giờ xin đừng quên lời thề nguyện khi xưa đã nói ra. Chỉ một người đi trên con đường tu hành thì chưa được, mà cần phải đưa tất cả mọi người đi theo, chính là yêu cầu Liên Hoa Đồng Tử cần phải "cứu độ chúng sinh chúng con đây".

Do vậy, Liên Hoa Đồng Tử luôn luôn bảo hộ những mong mỏi của bạn, hơn nữa còn tiếp nhận, giúp đỡ bạn, che chở bạn. Hãy cầu thỉnh sự gia trì của Liên Hoa Đồng Tử, hy vọng bạn có thể nhanh chóng có được thành tựu.

Cầu thỉnh truyền thừa:  
Phần sau của đoạn văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì này chính là nói về truyền thừa.  
Nghĩa là:  
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật --- chính là truyền thừa gốc.  
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.  
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.  
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.  
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

Ý nghĩa của từ "Ma Ha" ở đây chính là to lớn, biểu thị Đại Bồ Tát. Do vậy, truyền thừa này của chúng ta vô cùng quan trọng. Thời điểm sơ khai có Trung Ương Phật, chính là Vị Phật đầu tiên nhất, cũng chính là Phật Nguyên Thủy, ngài chính là Đức Phật Tỳ Lô Giá Na.

Phật Tỳ Lô Giá Na hóa thành Phật Nhãn Phật Mẫu, đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thành hai hồ sen lớn gọi là Ma Ha Song Liên Trì. Ánh sáng của Ma Ha Song Liên Trì hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử.

Ngày hôm nay, Sư Tôn giảng về đại truyền thừa này chính là nói đến "Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát".

**Niệm thánh cáo:**  
Tiếp theo là niệm thánh cáo ba biến, thánh cáo này rất dài. Nếu mà tôi in ra danh thiếp thì sẽ đầy kín hết cả. Do vậy Sư Tôn rất ít khi in danh thiếp, danh thiếp toàn là đệ tử in cho. Vốn dĩ Sư Tôn rất hiếm khi nào in danh thiếp, những cái hiện có đều là do đệ tử in rồi gửi đến chùa. Trước nay tôi cũng chẳng hề phát danh thiếp cho người khác, bởi vì nếu in cho đúng ra thì danh thiếp sẽ rất dài, dù có in cả cuốn sách thì cũng chẳng đủ.

Tây phương Liên Trì hải hội:  
"Tây phương Liên Trì hải hội" chính là nơi có hồ sen của Tây phương A Di Đà Phật, hồ sen rộng lớn như biển. Bên trong hồ sen này có mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử, trong đó có một vị mặc áo trắng. Sư Tôn thì không thường xuyên mặc đồ màu trắng lắm, nhưng tóc trắng này thì là thật đó.

Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư:  
Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư chính là do Sư Tôn đã được Di Lặc Bồ Tát đội cho mũ đỏ, chính ngài đã ban cho thánh miện này. Vị Kim cương Thượng sư này đã đắc kim cang tâm, là vị thầy vô thượng, vì thế gọi là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư.

Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ:  
"Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ" là hóa thân hiện tại. Bí mật chủ ở đây chính là Kim Cang Tát Đỏa, bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa chính là "Kim Cang Tâm". Vì sao lại gọi là "Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ"? Bởi vì ngài đã đạt được kim cang tâm, cũng có nhiệm vụ hoằng pháp giống như Kim Cang Tát Đỏa. Do vậy ngài làm chủ của Kim Cang chân ngôn giới. Giải thích về Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ chính là như vậy.

Bởi vậy Sư Tôn đã viết bốn cuốn sách, một cuốn tên là "Bí mật trong bí mật", cuốn thứ hai là "Kì lạ trong kì lạ", cuốn thứ ba là "Pháp trong pháp", cuốn thứ tư là "Phật trong Phật". Những cuốn này đều rất thần bí, do thần bí nên gọi là Bí Mật Chủ.

<span className="note-blue">[Những cuốn văn tập được nhắc đến này là của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cuốn số 63 "Chân Phật bí mật trong bí mật", cuốn số 68 "Mật tạng kì lạ trong kì lạ", cuốn số 75 "Chân Phật pháp trong pháp", cuốn số 80 "Vua của Phật Vương."]</span>

Đại Trì Minh:  
Tất cả những bí mật của pháp, những bí mật trong bí mật, những kì lạ trong kì lạ, Phật trong Phật này, nếu tất cả bạn đều có thể nói ra được, bạn đều được thấy tất cả một cách vô cùng rõ ràng, tất cả đều hiểu rõ, nắm rõ được tất cả, chính là nắm giữ được tất cả quang minh. Quang minh rất nhiều, rất lớn nếu bạn đều nắm giữ được, không có điều gì là bạn không hiểu, thì bạn sẽ được gọi là một vị "Đại Trì Minh".

Đệ Nhất Thế:  
Thế nào thì được gọi là "Đệ Nhất Thế"? Đệ Nhất Thế chính là đời thứ nhất, không phải thứ hai, cũng không phải thứ ba. Mà vì không phải là đời thứ hai, cũng không phải là đời thứ ba, cho nên chính là đời thứ nhất, bởi vì không có cái gì gọi là "đời thứ không".

Nhân đây tôi có một câu chuyện này để kể cho mọi người nghe.  
Rất nhiều người vì việc này mà nói với Sư Tôn rằng: "Sư Tôn! Ngài nói rằng truyền thừa này của ngài là đời thứ nhất. Tôi thấy là hiện nay rất nhiều dòng Mật tông, rất nhiều giáo phái đều đã truyền tới đời thứ mười hai, đời thứ mười tám, đời thứ mười bốn, đời thứ mười lăm, đời thứ hai mươi mấy rồi, thậm chí là ba mươi mấy đời rồi. Thế nhưng mà vẫn chưa từng thấy giáo phái nào đời thứ nhất cả?"

Họ hỏi tôi:  
"Vậy thì truyền thừa này của thầy có phải là thật hay không?"  
(Là đệ tử của tôi hỏi.)  
Tôi hỏi anh ta:  
"Thế trong dòng phái của ta thì anh là đời thứ mấy?"  
Anh trả lời:  
"Sư Tôn là đời thứ nhất, thế thì đương nhiên con là đời thứ hai."  
Tôi lại hỏi anh:  
"Anh có biết không nhỉ? Thế trước đời thứ mười hai là đời thứ mấy?"  
Anh ta trả lời:  
"Trẻ con tiểu học cũng biết trả lời, chắc chắn là đời thứ mười một rồi."  
Tôi hỏi anh ta:  
"Thế mười một đời tính tới trước đời thứ mười hai, là đời thứ mấy?"  
Anh trả lời:  
"Đó chắc chắn là đời thứ nhất rồi!"  
Tôi nói với anh:  
"Vậy thì người đó cũng giống như Sư Tôn bây giờ vậy!"

Anh ta nói:  
"Nhưng họ đều là đời này truyền cho đời khác, thế sư phụ của Sư Tôn là ai? "Đời thứ không" là ai?"  
Tôi nói với đệ tử:  
"Anh đi hỏi vị đời thứ mười hai kia xem, vị đời thứ nhất của ông ấy là ai truyền pháp cho?"

Cũng giống như Sư Tôn cả thôi. Truyền thừa của vị kia cũng là từ hư không truyền cho vậy. Truyền thừa của Sư Tôn cũng là từ hư không truyền cho Sư Tôn.

Anh đi hỏi vị kia, họ nói: "Chúng tôi là con người truyền cho con người."  
Tôi nói: "Khoác lác! Nói vớ nói vẩn."  
Tôi hỏi: "Vị đời thứ nhất của anh thì là ai truyền cho?"

Thảm rồi!  
Họ đều chẳng biết phải trả lời thế nào, hóa ra cũng là hư không truyền cho vị thứ nhất mà.  
Người thứ nhất của bất kì tông phái nào cũng chắc chắn là được truyền pháp từ hư không. Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền định dưới gốc cây bồ đề thì được ai truyền pháp cho? Do ngài tự mình lĩnh ngộ được tâm mình, tâm của chính mình cũng là từ hư không mà tới.  
Do vậy, một vị Phật chân chính của Phật giáo là có truyền thừa từ hư không truyền cho ngài. Có người nói rằng kiếp trước của Phật Thích Ca Mâu Ni (có lẽ là vài kiếp trước đó) đã được Nhiên Đăng Cổ Phật thọ kí cho ngài, sau đó ngài ngồi thiền định dưới gốc cây bồ đề mà tự giác ngộ - tự mình khai ngộ, do đó mới có truyền thừa Phật giáo. Ngày nay Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí cho Sư Tôn, Di Lặc Bồ Tát ban cho Sư Tôn hồng quán thánh miện, do vậy mới có truyền thừa.

Đệ tử này nghe xong thì "A!" Hóa ra là như vậy, đã hiểu rồi, hóa ra Sư Tôn vĩ đại như vậy đó! Là đời thứ nhất cơ mà!  
Tôi nói: "Thế nên các anh là đời thứ hai, vậy là thắng mấy người đời thứ mười tám, thứ mười bốn, thứ mười hai rồi nhé, tất cả đều thắng hết rồi nhé."

Truyền thừa này vốn là từ hư không truyền tới, sau đó mới là người truyền cho người, giống như Sư Tôn truyền pháp cho mọi người vậy. Mọi người chính là được truyền thừa từ con người, còn mọi đời thứ nhất thì đều được hư không truyền cho.

Mật hành tôn giả:  
Tôi lại giải thích tiếp về bốn chữ "mật hành tôn giả". Thế nào được gọi là "mật hành"?  
Có người nói Sư Tôn căn bản là chẳng có gì là bí mật. Nếu giả sử tôi không có bí mật gì cả thì các bạn còn cái gì để mà học nữa?  
Bí mật của tôi nhiều lắm đó! Ví dụ trong thời kì tôi đi cầu pháp, tôi tìm đến tận những nơi đỉnh núi để học pháp, rất là gian khổ. Tôi dùng cả sinh mệnh của mình để đổi lấy những pháp này! Những pháp đó đều là tôi dùng sinh mệnh của mình để đổi mà có được. Trong thời kì học pháp, trong quá trình tu hành đều có những điều vô cùng bí mật.

Rất nhiều đệ tử theo Sư Tôn mười mấy năm đều muốn biết tôi đi tới những đâu để học pháp. Ví dụ như tôi đi tới ngọn núi nào để tìm thần tiên để họ biết mà đi tìm tôi. Lần nào tôi cũng đều chỉ đưa họ đến chân núi, hái ít nhãn, ít vải, ăn xong rồi kêu họ đi về, đến đây là bí mật của riêng tôi thôi.

Thời gian tôi ở đó tu hành, tôi không muốn để người khác biết tôi tu như thế nào, tôi dùng sinh mệnh của mình để đổi lấy pháp như thế nào. Các bạn chỉ cần biết rằng tôi có công phu là được rồi, không cần phải biết nhiều hơn nữa. Đây chính được gọi là "mật hành tôn giả".

**Hương tán:**  
Tiếp theo là "hương tán". Mỗi lần trong lúc hát tụng, mọi người đều biết rằng hương và lư hương đều là để ta đốt hương. Mùi hương thơm tỏa lên rất cao, vừa thơm vừa ấm, pháp giới đều đầy ắp, Chân Phật hải hội đều có thể ngửi thấy tất cả những thứ bạn cúng dường.

Việc cúng dường này cũng giống như những đám mây cát tường trên trời vậy, tràn đầy khắp cả bầu trời. Sự thành tâm trong lòng bạn vô cùng ân cần, vô cùng khẩn thiết, chính là trong sự vô cùng ân cần, vô cùng khẩn thiết đó mà chư Phật, Bồ Tát sẽ hiển hiện toàn thân.

Các vị Đại Bồ tát:  
Thế nào là "Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát"? Chính là việc cúng dường của bạn giống như mây thơm trên trời, tràn đầy và to lớn như một tấm màn hoa. 

Nam mô chính là quy y, quy y tất cả các vị Phật, Bồ Tát ở Chân Phật hải hội, tất cả các vị đại Phật, đại Bồ Tát.  
Hôm nay tôi giảng tới đây thôi! Om mani padme hum.

### 11. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (3)

**Kinh văn: Phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát**

Nam mô Pháp Giới Tối Thắng Cung Tỳ Lô Giá Na Phật.  
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.  
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Diệu Kiết Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Khai kinh kệ**  
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.  
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.  
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.  
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

**Liên Sinh Hoạt Phật thuyết: Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh**

“Tôi nghe như vầy.  
Một thời, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì, ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng, xung quanh là mười bảy đóa hoa sen lớn khác.

Hoa màu xanh phát ánh sáng xanh.  
Hoa màu vàng phát ánh sáng vàng.  
Hoa màu đỏ phát ánh sáng đỏ.  
Hoa màu tím phát ánh sáng tím.  
Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi. Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát.”

Phụng thỉnh hai Phật:  
Chúng ta nói đến Chân Phật Kinh cần phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát. Hai vị Phật cần phụng thỉnh ở đây là:

Nam mô Pháp Giới Tối Thắng Cung Tỳ Lô Giá Na Phật.  
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.

Có người nói rằng Phật Tỳ Lô Giá Na là vị Phật đầu tiên nhất, gọi là vị Phật đầu tiên nhất vì trước ngài không có vị Phật nào khác, ngài là vị Phật đầu tiên, ngài có một tên gọi là "Pháp Giới Tối Thắng Cung". Khi nói đến "Pháp Giới Tối Thắng Cung" thì trong đầu chúng ta sẽ tưởng tượng đến một cung điện vô cùng đẹp đẽ, có lẽ chúng ta sẽ tưởng tượng nó đẹp giống như cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng trước đây vậy.  
Thế nhưng cung được nói đến ở đây là "pháp giới", thế nào gọi là pháp giới? Pháp giới là đại diện cho Tứ thánh lục phàm, bao gồm toàn bộ tất cả các cõi giới. Tứ thánh giới chính là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, đó chính là Tứ thánh giới. Thế còn lục phàm? Đó là trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Thế còn cung điện ở đây tương đương với cả vũ trụ, toàn bộ thế giới, bao gồm cả nhân gian. Tất cả mọi thứ bao gồm trong đó chính là pháp giới, là toàn bộ mọi thứ được xây dựng bên trong cung điện này. Tối thắng chính là tốt nhất, hoàn mĩ nhất, viên dung nhất, tất cả những gì tuyệt vời nhất đều có, đó chính là tối thắng.

Mọi người biết rằng Phật Tỳ Lô Giá Na chính là vị Phật căn bản, cũng chính là Thái Sơ Cổ Phật, ngài cũng chính là vị Phật quan trọng nhất trong truyền thừa Chân Phật Tông của chúng ta, từ đó mà bắt đầu dòng truyền thừa Phật. Do vậy trước khi chúng ta tụng kinh, cần triệu thỉnh vị Phật truyền thừa của chúng ta trước (vị thứ nhất).

Tiếp đó, vì sao lại cần triệu thỉnh Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật? Bởi vì vị Phật này là vị Phật phó thác, chính ngài đã yêu cầu (kì vọng) Liên Hoa Đồng Tử từ Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì hạ sinh ở nhân gian để truyền Chân Phật Mật Pháp. Là ngài hy vọng, là ngài phó thác, giống như ngài mong bạn xuống đây, do vậy nhất định cần triệu thỉnh. Ngày hôm nay, giả sử không có Phật Tỳ Lô Giá Na, không có Phật A Di Đà thì sẽ không có Chân Phật Tông!

Phụng thỉnh tám đại Bồ Tát:  
Chúng ta cũng cần phải phụng thỉnh tám vị đại Bồ Tát.  
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Phụng thỉnh tám vị Bồ tát rồi, cuối cùng cũng vẫn phải nói thêm một câu "Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát". Ý nghĩa của câu này chính là phụng thỉnh tất cả các vị Bồ tát, khi kêu gọi như vậy thì tất cả các Bồ tát đều có duyên phận lớn với Chân Phật Tông chúng ta. Chúng ta phụng thỉnh hai Phật tám Bồ tát chính là phụng thỉnh những bổn tôn truyền thừa cơ bản, còn có cả truyền thừa phó thác rất vĩ đại nữa, tất cả các vị Bồ tát đều đến nghe, đến hộ trì.

**Khai kinh kệ:**  
Tiếp theo tôi nói đến bài khai kinh kệ. Trong mỗi bản kinh văn đều có bài kệ này. Nói vài câu đơn giản thì chính là: "Những pháp cao quý sâu sắc như vậy, các bạn rất khó gặp được! Nay bạn đã gặp được thì cần mau chóng đọc tụng đi! Đọc đi! Và đi tìm hiểu ý nghĩa của pháp đi."  
Sau đó thì mới bắt đầu đi vào kinh văn.

Tôi nghe như vầy:  
Câu đầu tiên "Tôi nghe như vầy", có nghĩa là những gì mà chính tôi nghe được trong pháp hội. Gần như trong mỗi bản kinh Phật đều bắt đầu bằng câu "tôi nghe như vầy".  
Trong số các bạn có người lớn tuổi hơn Sư Tôn, có người nhỏ tuổi hơn Sư Tôn. Người lớn tuổi hơn thì đương nhiên khi tôi không còn tại thế nữa, tôi không dám bảo đảm là các bạn vẫn còn tại thế. Những người trẻ hơn Sư Tôn thì rất hay! Bảo đảm các bạn vẫn còn sống.

Gần đây, trong lúc tôi viết sách, tôi luôn nghĩ, hiện tại tôi đã viết được 80 cuốn rồi, cuốn số 80 này tên là "Vua của Phật Vương", nghe có vẻ như có chút mùi vị "đạo văn". Sách của người ta tên là "Vua của vạn vua", còn sách của tôi là "Vua của Phật Vương". Thế nhưng cuốn sách này tôi viết vô cùng nghiêm chỉnh. Gọi là nghiêm chỉnh chính vì không có giọng điệu thoải mái, mà giọng điệu tương đối nghiêm túc, hơn nữa phong cách cũng tương đối thâm sâu ảo diệu. Tất cả những khẩu quyết quan trọng nhất trong Phật pháp tôi đều viết trong cuốn sách này.

Tôi nghĩ, cuốn sách này cũng giống như một điểm kết thúc cho việc sáng tác của tôi. Sau này tôi vẫn viết tiếp, nhưng giai đoạn này là một điểm rất quan trọng. Nói một cách nhẹ nhàng hơn chính là sau khi viết xong cuốn sách này thì tôi cũng có thể "tạm nghỉ" được một chút rồi.

Trong quân đội, khi chúng ta nói "tạm nghỉ" có nghĩa là nghỉ ngơi một chút, nó giống như cảm giác rằng ta đã mang một gánh nặng đi khá xa rồi, tới đây có thể bỏ xuống, có thể nghỉ ngơi một lát. Tôi vừa nghĩ tới việc có thể nghỉ ngơi, nếu giả sử định nghỉ lâu một chút, thế mà mới 44 tuổi tôi đã hoàn thành xong cuốn sách thứ 80 mất rồi! 44 tuổi thì có vẻ như thọ mệnh có phần hơi ngắn. Để không khiến cho bản thân "đi" sớm như vậy, nên tôi đã mau chóng viết cuốn thứ 81, đặt tên cuốn thứ 81 là "Chân Phật nghi quỹ kinh", nói một chút về quy tắc này nọ của Chân Phật Tông, hoặc giải đáp về lễ tiết, tất cả đều viết hết trong cuốn sách này. Tuy nhiên, cuốn sách này vẫn chưa định ngày xuất bản.

80 cuốn sách là một điểm kết thúc, là một điểm dừng, giả sử nếu dừng rất lâu, vậy thì tôi chỉ có sống được tới 44 tuổi thôi. Nhưng, tôi cảm thấy viết xong 80 cuốn sách rồi thì cũng xem như nhiệm vụ đến với nhân gian này, nhiệm vụ quan trọng này đã hoàn thành rồi.

Gọi là hoàn thành nghĩa là tôi đã bàn giao lại nhiệm vụ quan trọng này rồi, còn những trách nhiệm khác thì để cho Phật A Di Đà phụ trách là được rồi. Nhiệm vụ này đã xong một chặng, những việc khác có thể tương đối thoải mái nhẹ nhàng xử lý rồi.

Tương lai thì sao? Có người đến đây nghe tôi giảng pháp, sau này nếu muốn viết một cuốn sách, thì mở đầu bạn có thể viết là "tôi nghe như vầy". Điều này là rất đúng mà, vì các bạn có mặt tại chính lúc đó để nghe pháp, chính là tôi đang ở tại đó nghe Sư Tôn giảng như vậy. Bây giờ Sư Tôn chẳng còn nữa rồi! Nhưng lúc đó thì mọi người đều có mặt tại đó nghe, mọi người đối chứng thấy đều đúng cả, vậy thì đó là "tôi nghe như vầy".

Câu nói này chính là vào thời kì Phật Thích Ca Mâu Ni còn thuyết pháp, đệ tử của ngài kết tập những bài giảng pháp của ngài, những lời thảo luận của ngài, cho nên mỗi bản kinh đều bắt đầu bằng bốn chữ này, chính là biểu thị rằng khi đó tôi có mặt tại đó nghe Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, do vậy mà nói "tôi nghe như vầy".

Bốn chữ này cho thấy rằng chính tôi trước đây, tại Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, tôi đã có mặt tại nơi đó, tôi đã nghe Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, tôi đã nhìn thấy hoàn cảnh lúc đó, chính bản thân mình tận mắt tận tai nghe thấy, do vậy tôi dùng bốn chữ "tôi nghe như vầy" này.

Chứng kiến sinh tử:  
Tôi cảm thấy con người đều có nhân quả, hơn nữa phải trải qua rất nhiều rất nhiều lần sinh tử. Kì thực, chuyện sống chết chính là ở kia không còn trông thấy bạn nữa, còn ở đây thì lại thấy bạn. Ở đây không thấy bạn nữa, thì ở kia lại trông thấy bạn. Ở đó không trông thấy bạn, vì bạn lại chạy tới chỗ khác rồi, sống chết cũng giống như vậy thôi!

Trước đây khi tôi còn ở Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, các vị ở đó đều có thể trông thấy tôi, nhưng giờ thì ở đó tôi đã chết rồi, vì hiện tại tôi đang sống tại đây. Tôi nghĩ một chút xem tôi bao nhiêu tuổi thì đến nước Mỹ? Tôi sống tại Đài Loan 37 năm, tôi ở Đài Loan đã chết rồi. Bây giờ tôi ở Mỹ vừa tròn bảy năm, nhưng có lẽ sang năm tôi cũng lại chết ở Mỹ rồi, khả năng tôi lại sống tại Indonesia nữa! Hoặc sống tại Malaysia! Hoặc sống tại Singapore! Hoặc sống tại Australia!

Sinh tử đều chỉ như một sự việc mà thôi, chẳng qua là bạn sinh ra tại chỗ này chết tại chỗ kia, chết tại chỗ này rồi lại sinh ra tại chỗ khác. Hãy xem việc sống chết như vậy thì bạn sẽ cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng. Bạn nói có người ở đây vừa chết rồi, mọi người đều khóc lóc thê thảm rằng không còn được gặp người này nữa rồi, nhưng thực tế thì người kia sống ở nơi khác lại rất vui vẻ. Do vậy chuyện sinh tử cần có cách nhìn nhận như vậy.

Một thời:  
Cái gọi là "một thời", thế nào thì gọi là "một thời" đây? Một thời bao hàm một khoảng thời gian quá khứ rất rất xa. Ngày xưa có một lão thiền sư tên gọi là Thiên Long thiền sư, mọi người hỏi ông việc gì, ông đều làm như thế này (chú thích: Sư Tôn giơ một ngón tay lên). Kì thực, đôi khi có người hỏi chuyện ông, ông trả lời không được, ông liền làm như thế này (Sư Tôn giơ ngón tay lên). Hành động này tượng trưng cho điều gì? Chính là "nhất", chính là "nhất thiết", việc bạn hỏi nhất định là nằm trong "tất cả" mà! <span className="note-blue">[nhất thiết có nghĩa là tất cả, hết thảy]</span> Bảo đảm câu trả lời của bạn luôn đúng. 

Có người hỏi ông: "Núi Tu Di ở đâu?" Ông liền giơ ngón tay như vậy, ui da! Đúng thật là trông giống như một ngọn núi mà!

Có người hỏi ông: "Thế giới ở đâu?" Ông cũng giơ ngón tay như vậy, ý của ông là vũ trụ thuộc về nhất nguyên, toàn bộ vũ trụ đều là tạo hóa bởi nhất nguyên. Bạn nói xem, không phải nhất nguyên sao?

Người ta hỏi ông: "Thế nào là phụ nữ? Vì sao gọi là phụ nữ?", ông cũng làm như vậy.  
Người ta lại hỏi ông: "Làm sao phân biệt nam nữ?" Cũng là "nhất", bởi vì khi thiên thượng giới này còn là một thể thống nhất thì chẳng có sự phân biệt nam nữ, do vậy vẫn là "nhất". Cái chữ "nhất" này có thể bao hàm cả trời đất, bao gồm cả núi, bao gồm cả nước, bao gồm cả người, bao gồm tất cả mọi sự vật, bao gồm nguyên thủy, quá khứ, hiện tại, vị lai, mọi thứ đều bao hàm trong đó hết. Do vậy lão hòa thượng này hễ gặp người nào hỏi vấn đề tương đối khó, khi ông không biết trả lời ra sao, thì ông đều giơ một ngón tay lên.

Về sau có một đệ tử theo học ông, lão thiền sư hễ giơ một ngón tay lên thì đệ tử đó cũng làm như vậy (Sư Tôn giơ ngón tay lên). Lão thiền sư tức điên, cầm lấy con dao chặt đứt ngón tay của anh ta. Anh ta nói: "Cái nhất của thầy ở đâu rồi?", thế là ông liền biến nó thành thế này (Sư Tôn cong ngón tay lại liền biến thành "vô".)

Thiền trong thiền tông, bản thân nó đôi khi không nói ra, nhưng trong nó đã bao hàm rất nhiều sự biến hóa và đạo lý. Do vậy, bạn hỏi tôi: "Một thời này của Sư Tôn là thời nào vậy?". Là một trăm năm trước, một nghìn năm trước, một vạn năm trước, một tỉ năm trước, toàn bộ đều nằm trong đó, bảo đảm là đúng! Một thời, chính là vào cái lúc đó, bất kể là cái lúc nào thì cũng đều bao hàm trong một thời đó.

Một thời chính là cái thời có một vị là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử ở Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Đóa hoa sen trắng ở đây, màu trắng chính là sự tổng hợp của mọi màu sắc, tương đương với sự tổng hợp tất cả mọi màu sắc lại. Tôi nhớ có một nghiên cứu như thế này, nếu như đem tất cả các loại màu sắc cùng xoay chuyển với nhau thì sẽ thành màu trắng, còn lấy từ trong đó ra một màu sắc, lại xoay chuyển thì sẽ biến thành màu đen. Bất kể là xoay chuyển thế nào thì tóm lại, màu trắng chính là màu sắc viên mãn nhất, còn các màu sắc khác đều là thứ yếu.

Do vậy, bản thân Pháp Giới Tối Thắng Cung của Phật Tỳ Lô Giá Na, hay Đại Nhật Như Lai cũng là màu trắng, chủ tôn của Ma Ha Song Liên Trì đương nhiên cũng là màu trắng. Bởi vì tất cả các vị Phật, Bồ tát trước khi muốn trở thành Phật Bồ tát đều cần tu bạch thiện pháp màu trắng, nói cách khác là cần tu pháp thanh tịnh, đạt đến cực điểm thanh tịnh rồi thì chính là màu trắng.

Vừa nãy, thượng sư Trịnh có giảng về "tu hành cần Không, cần Vô". Bạn nói xem, Không và Vô có màu sắc gì? Không và Vô đều là màu trắng. Giả sử trộn lẫn các loại màu sắc vào với nhau thì sẽ thành một màu sắc khác, duy chỉ có màu trắng là thanh tịnh nhất.

Ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng:  
Do vậy, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử chính là chủ tôn của Ma Ha Song Liên Trì, ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng tại Ma Ha Song Liên Trì. Có một đệ tử nói với tôi: "Sư Tôn, ở đây viết là ngồi tại pháp tọa hoa sen lớn màu trắng là được rồi, không cần phải là ngồi trên." Đệ tử đó nói: "Người ta khi ngồi tại hoa sen thì đều là ngồi ở phía trên rồi, chẳng có ai là ngồi ở giữa hoa sen, hay ngồi ở trong, cũng chẳng có ai ngồi ở dưới, ngồi ở bên cạnh, ngồi bên trái, ngồi bên phải, đây đều là những việc không thể nào xảy ra, do vậy hai chữ ngồi trên này là thừa."

Đệ tử đó lấy một ví dụ, anh nói: "Thầy có thể nói là ngồi ở trên xe buýt không? Ngồi trên nghe giống như là ngồi trên nóc xe vậy." Tôi nói với đệ tử đó: "Không cần phải xoi mói với Sư Tôn như vậy, dù sao thì cũng là ngồi trên pháp tọa hoa sen thôi. Mọi người hiểu được là được rồi, anh tìm thêm phiền phức như vậy, vậy thì bản kinh này cần viết thế nào?"

Xung quanh Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tổng cộng có mười bảy đóa hoa sen lớn. Đệ tử đó cũng lại bới lông tìm vết, anh nói: "Ở trong bản này cũng xuất hiện rất nhiều từ thừa, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu tím ánh sáng tím, đây đều là những từ thừa." Anh nói tiếp: "Sư Tôn có bị mù màu không? Lẽ nào màu xanh lại phát ra ánh sáng đỏ? Còn màu vàng lại phát ra ánh sáng xanh lục sao? Thế làm sao mà Sư Tôn lại thi được bằng lái xe vậy?"

Kì thực, anh ta cũng lại thích gây phiền phức! Chẳng qua đây chỉ là một cách nói lặp thôi, đương nhiên là nói về màu xanh, màu sắc của màu xanh này sau đó lại phóng tỏa ra ánh sáng xanh, như vậy thì biểu thị hai lớp màu, giống như là hoa sen màu xanh thì phát ra ánh sáng màu xanh vậy. Giải thích như vậy là được rồi đúng không! Kì thực trong Chân Phật Kinh cũng có rất nhiều ví dụ như vậy.

Giống như là Liên Hoa Đồng Tử màu xanh thì cầm hoa sen màu xanh, rồi phóng tỏa ánh sáng màu xanh, rồi đến tất cả các tia sáng xung quanh đều là màu xanh, ví dụ là như vậy. Vế sau kết hợp với vế trước đó, không coi là có mâu thuẫn, mà là có nhiều hơn, có dư thừa hơn.

Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu:  
"Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu", câu này nói rằng mỗi đóa hoa sen đều thơm vô cùng, hương thơm biểu thị sự thuần khiết, mùi thơm này rất đẹp, rất tinh khiết. Tóm lại, hai chữ "vi diệu" thường được dùng trong kinh Phật, ý nói rằng cái gì cũng đều tốt đẹp, đẹp đến mức cực điểm.

Trước đây có một đệ tử họ Thẩm, người Đài Trung, tên là Diệu Quyên. Tên của cô có một chữ "Diệu". Ban đầu ấn tượng của cô đối với chữ Diệu này không tốt, cô nói: "Tôi cũng chỉ là một con người thôi mà! Có cái gì đẹp, có cái gì tuyệt diệu chứ? Diệu vớ diệu vẩn." Mọi người đều nói với cô rằng: "Tuyệt, cô thì có điểm nào tuyệt diệu chứ? Một chút cũng chẳng có gì tuyệt diệu cả, thế nên rất nhiều người đều nói cái tên này của cô đúng là mạc danh kì diệu." <span className="note-blue">[mạc danh kì diệu là thành ngữ, có ý nghĩa là không thể giải thích nổi.]</span>

Kể từ sau khi quy y Sư Tôn, đọc được rất nhiều kinh Phật, cô nói: "Ái chà! Trong kinh Phật đều dùng tới chữ Diệu này, hơn thế nữa ở California còn có cả Diệu Ấn Đường nữa." Giờ đây cô nghĩ lại thì thấy thật là tuyệt diệu! Cái tên này ban đầu cô còn muốn đổi, bây giờ thì không muốn đổi nữa.

Âm thầm vận thần thông:  
"Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông", cái chữ "âm thầm" trong "âm thầm vận thần thông" này được dùng rất khéo, dùng rất hay, bởi vì thần thông vốn là vô hình, chính là một kiểu biến hóa, một kiểu tự nhiên. Mây trên trời có thần thông, nó biến thành nước; nước có thần thông chính vì nước biến thành băng; băng có thần thông vì băng lại hóa thành nước; nước có thần thông vì lại hóa thành khí, biến tới biến lui đều là thần thông của tự nhiên.

Người có thần thông có thể biến hóa một số thứ, có thể hô mây tạo thành mưa, mưa kết thành băng, băng lại biến thành khí, cứ biến hóa tới lui như vậy chính là sự vận chuyển của tự nhiên, tự nhiên cứ ở đó âm thầm thi triển thần thông.

Kì thực, rất nhiều người phụ nữ, người nội trợ ở nhà nấu cơm đều âm thầm vận thần thông. Họ đi siêu thị, đến siêu thị SAFEWAY mua một con cá tanh ngòm, lại còn rẻ nhất, mùi tanh rất nặng, cái loại cá mà ngửi thấy đã muốn nôn rồi ấy. Sau khi mua về nhà, người phụ nữ này cho thêm xì dầu, thêm dấm, thêm đường, thêm hành, hành át đi mùi tanh của cá, thế là con cá tanh này được trải qua một cuộc âm thầm vận thần thông mà biến thành cá thơm phức! Mỗi người chúng ta ăn cái thứ thơm ngon này vào, rồi lại âm thầm vận thần thông một lúc, thế là lại biến thành thối, lại trở về với cái mùi lúc ban đầu.

Ở Mỹ họ trồng rau, đương nhiên là rất ít dùng phân bón "nguyên thủy". Thế nhưng loại phân bón mà họ dùng đó cũng được sản xuất từ phân bón "nguyên thủy" mà ra, ví dụ như axit uric, đạm, v.v… đều từ phân bón "nguyên thủy" mà ra cả. Cả vũ trụ này chính là một vòng tuần hoàn thần thông.

Bạn dùng nước tưới hôi thối nhất để tưới cho thực vật, thực vật hấp thụ, sinh trưởng, rồi lại lấy thực vật đem nuôi cá, nuôi lợn (ví dụ như lấy nước thiu cho lợn ăn), đem những thứ bẩn thỉu nhất để nuôi những thứ thơm tho nhất, rồi lại biến những thứ thơm tho nhất thành những thứ hôi thối nhất. Những thứ hôi thối đem nuôi những thứ thơm tho, những thứ thơm tho lại nuôi những thứ hôi thối, cứ thế nuôi tới nuôi lui.

Mọi người hiểu được đạo lý này thì có thể hiểu được đạo lý của vũ trụ chính là một kiểu vòng tuần hoàn, đây chính là giới tự nhiên âm thầm vận thần thông. Giả sử mỗi người chúng ta tu hành cho đến khi đạt tới một kiểu trạng thái hòa hợp với tự nhiên thì chính bạn cũng có thể âm thầm vận thần thông để phù hợp với tự nhiên. Thậm chí bạn có thể chuyển hóa tự nhiên, đây chính là thần thông.

Mọi người biết rằng, x-quang có thể chiếu xạ trên cơ thể con người, có thể chụp xuyên thấu hình ảnh nội tạng của bạn. Nếu bạn tu luyện cho mắt bạn trở thành x-quang thì bạn đã có được thiên nhãn thông rồi đó! Thế vận hội Olympic ngày nay họ biểu diễn các môn thể thao, các cuộc thi đấu, v.v… giả sử bạn có thiên lý nhãn, mắt bạn nhìn lên vệ tinh nhân tạo trong không gian, vệ tinh nhân tạo đó vừa hay đã tiếp nhận tất cả mọi hình ảnh của thế vận hội Olympic rồi phản chiếu lại trong mắt bạn, thế là bạn có thần thông thiên lý nhãn rồi đó.

Ngày nay chúng ta có thể gọi điện thoại tới Đài Loan, Singapore, Indonesia, chỉ cần nhấc điện thoại lên là đã có thể kết nối rồi. Giả sử bạn tu luyện cho tai của bạn thành một đường dây cáp như vậy, đường dây này nối trực tiếp tới miệng của bạn của bạn, là bạn có thể nghe thấy được người bạn kia đang nói gì. Thế là bạn có thiên nhĩ thông rồi. Phương pháp này không hẳn là không thể, hoàn toàn nằm ở hai chữ "vi diệu", hoàn toàn nằm ở hai chữ "âm thầm".

Thế nào gọi là "âm thầm"? Đó là hoàn toàn an tịnh lại, cứ thế an tịnh mãi cho đến khi an tịnh ở tầng sâu nhất. Thế nào gọi là "vận"? Bạn dùng sự an tịnh ở tầng sâu nhất này để hóa thành không có gì, biến chính mình thành không có gì, khi phù hợp với trạng thái tất cả mọi sức mạnh đều có ta, lúc đó sẽ biến thành thần thông vĩ đại nhất.

Làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi:  
"Làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi." Phiên bản sách này do Phật đường Viên Chứng ở Singapore in ra phải không? Ở đây có một chữ là chữ biến hóa "thành". Có một số nơi in là biến hóa "thành", có một số nơi lại in là biến hóa "của", nên dùng từ "thành" thì tương đối đúng hơn. Phật đường Viên Chứng của Singapore đã in đúng rồi.

Sau này các bạn có thể học một chút thần thông, ví dụ như có một bông hoa còn đang nụ ở trước mặt bạn, cánh hoa vẫn khép lại chưa nở ra, bạn âm thầm vận thần thông lên nó một chút, thế là nó liền nở "póc" một cái! Giả sử bạn có thể làm được điều này thì bạn có thể biến hóa cả thế giới này trở nên xinh đẹp tuyệt vời, chói lọi rực rỡ.

Mùa thu, mùa đông của chúng ta ở đây tương đối lạnh, hoa đều bị héo cả. Có người có đại thần thông có thể thay đổi cả thời tiết, có thể biến đổi thời tiết thành mùa xuân. Vốn dĩ khi trái đất và mặt trời ở tại một góc độ kia thì sẽ là mùa thu, khi đó ánh sáng và nhiệt độ sẽ yếu hơn. Vào mùa thu và mùa đông, bạn âm thầm vận thần thông, khiến cho cả trái đất dịch chuyển sang bên một tí. Oa! Thế là biến thành mùa xuân rồi, nóng tới mức khiến bạn toát mồ hôi luôn.

Kì thực, chúng ta chỉ cần dịch chuyển trái đất sang bên này một chút xíu thôi thì toàn bộ khí hậu đều thay đổi hết rồi! Trước đây khi tôi mới đến nước Mỹ, tôi sống tại quận Ballard, tôi rất sung sướng nói: "Ôi chao! Ở Seattle thật là tốt, từ đầu năm tới cuối năm chưa một lần nào toát mồ hôi cả!"

Khi tôi chuyển tới ở Redmond, tôi mới phát hiện ra mùa thu ở đây dường như dài hơn một chút, hơn nữa dường như mặt trời cũng to hơn một chút, cũng nóng hơn một chút, không ngờ vào mùa thu cũng vẫn đổ mồ hôi. Có người nói: "Bang Washington có khả năng sẽ xây dựng mấy lò hạt nhân." Những chiếc lò hạt nhân này sẽ thải ra rất nhiều khí độc hại.

Chỉ cần bốn cái lò hạt nhân cùng thải khí ra thì vừa hay có thể đẩy dịch trái đất một chút, như vậy thì những cái lò hạt nhân này cũng đang âm thầm vận thần thông khiến cho mùa thu ở Seattle dài hơn một chút, đồng thời cũng nóng hơn một chút. Đối với người sợ nóng như tôi đây thì đây quả là một tin tức chẳng tốt đẹp gì.

Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát:  
Sau khi âm thầm vận thần thông thì sẽ khiến cho "tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát". Vừa nãy tôi đã nói rồi, âm thầm vận thần thông như vậy sẽ khiến cho tất cả hoa đều nở rộ. Lần tới cần dạy cho mọi người thần thông này nhỉ. Thế thì nhà anh kia là sung sướng nhất rồi đó, bởi vì nhà anh bán hoa mà, thần thông mà anh cần phải học là khiến cho hoa chẳng bị héo nữa! Nhưng nếu hoa không héo thì cũng không hay lắm nhỉ, bởi vì hoa không héo thì mọi người chỉ cần mua một lần thôi, mua một lần về rồi thì có thể dùng cả năm, thế thì lại chẳng cần mua hoa của nhà anh kia nữa. Theo tôi thấy thì anh không cần học thần thông này nữa rồi!  
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

### 12. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (4)

**Kinh văn:**

“…làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi. Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát. Tiên thảo cũng tỏa ngát hương thơm. Chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, chim Ca lăng tần già, chim Cộng mạng, đều hóa màu vàng kim, cùng hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời.

Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim cùng âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu. Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới, có tầng các bằng vàng trên không trung, tất cả cùng phát hào quang hoa rực rỡ. Mọi chốn nở đầy hoa sen vàng kim và hoa trời bay phấp phới khắp hư không.”

Hoa thơm và các loài chim:

“Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát. Tiên thảo cũng tỏa ngát hương thơm" cũng có nghĩa là tất cả các loại hoa đều trong một sát-na mà nở rộ, tất cả các loại cây cỏ đều tỏa ra những mùi hương vô cùng tuyệt diệu.  
"Chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, chim Ca lăng tần già, chim Cộng mạng, đều hóa màu vàng kim, cùng hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời.", những loài chim này đều biến thành màu vàng kim, vì sao lại biến thành màu vàng kim như vậy? Bởi vì vàng là đắt nhất mà!

Hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời:  
"Hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời" chính là cất lên những âm thanh dịu dàng nhất, cao sang nhất, đẹp đẽ nhất. Sư Tôn đã từng nói: "Tây phương Cực Lạc thế giới có một loại âm thanh được gọi là hòa nhã thiên âm, âm thanh này có sức mạnh rất lớn."

Chúng ta thử nghĩ xem, trên thế giới này có rất nhiều người trong tương lai sẽ tới Tây phương Cực Lạc thế giới, trong số họ, có những người sẽ mang nghiệp vãng sinh, nói cách khác là bản thân họ vẫn còn một ít nghiệp chướng, nhưng họ đã có thể vãng sinh tới Tây phương Cực Lạc thế giới rồi. Những người này liệu có phải là muốn lấy trộm một ít đồ, vì vẫn còn một ít lòng tham, vẫn có lòng tham, thấy những thứ đẹp đẽ thế là liền thích ngay? Vậy thì thiên nữ ở Tây phương Cực Lạc thế giới có phải là rất nguy hiểm không?

Kì thực, không cần phải sợ hãi! Chính bởi vì ở đó có hòa nhã thiên âm, nên khi trong lòng bạn nghĩ: "Hầy! Đá quý này quý giá như vậy, trộm một ít thôi!", lòng tham trong bạn vừa mới khởi lên, thì hòa nhã thiên âm này sẽ truyền tới bên trong bạn, khiến cho ý nghĩ muốn ăn trộm một ít của bạn liền biến mất, tâm trí trở nên vô cùng thánh thiện và tinh khiết. "Ta là Thánh nhân, làm sao ta có thể lấy trộm mấy thứ đồ này đây?"

Khi dục vọng của bạn như lửa bùng cháy thiêu đốt tâm trí bạn, hòa nhã thiên âm này cũng giống như nước lạnh dội từ đầu xuống chân bạn, giống như nước đá đẹp đẽ nhất, thuần khiết nhất, lạnh như băng, trong suốt, gột rửa sạch sẽ hoàn toàn những suy nghĩ xấu xa ô uế trong tâm trí bạn.

Có người đã tới Tây phương Cực Lạc thế giới nhưng vẫn mang phiền não, anh ta nói: "Ở nhân gian, tôi vẫn còn vợ con, tiền bạc, vẫn còn một số chuyện lo lắng chưa giải quyết xong." Đã vãng sinh đến Tây phương rồi, anh ta không thể trở về được nữa, nhưng chỉ cần nghe được hòa nhã thiên âm này thì những suy nghĩ kiểu như vậy sẽ đều tan biến hết.

Hòa nhã thiên âm chính là cảnh giới tâm linh vô cùng đẹp đẽ vi diệu. Có một số người phạm tội sát sinh, có người phạm tội sát sinh rất nặng, đến được Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, vừa nghe thấy hòa nhã thiên âm này thì không còn có thể sát sinh được nữa. Do vậy, tâm trộm cắp, tâm tham dâm, thậm chí tâm sát sinh, tất cả đều bị hòa nhã thiên âm cải biến. Hòa nhã thiên âm thực sự có tác dụng vi diệu, thơm mát thuần khiết, thánh thiện thanh tịnh như vậy đó.

Tôi đã từng nói rằng cõi nhân gian có nhiều ưu phiền. Còn Tây phương Cực Lạc thế giới vì sao lại được gọi là Cực Lạc? Bởi vì ở đó có sự vui vẻ hạnh phúc vĩnh viễn! Chỉ cần bạn nghe được những âm thanh hòa nhã của cõi trời, âm thanh đi vào trong tâm trí bạn, thì những lo âu của bạn đều không còn nữa! Tế bào toàn thân bạn đều nhảy múa, nhảy múa bay bay nhè nhẹ như vậy, mà một khi đã nhảy múa rồi thì không có cách nào để dừng lại được. Do vậy, đây chính là lý do mà cõi giới này được gọi là Cực Lạc thế giới!

Có người hỏi: "Sư Tôn giảng thì hay như vậy, rằng khúc nhạc này khiến bạn nghe sẽ cảm thấy rất thoải mái, thế nhưng cứ nghe mãi một khúc nhạc thì nghe lâu cũng chán ngấy." Yên tâm đi! Tây phương Cực Lạc thế giới có tới cả mấy vạn khúc nhạc, mấy tỉ khúc hòa nhã thiên âm, bảo đảm bạn nghe mãi chẳng hết được, hơn thế nữa thọ mệnh của bạn cũng vô cùng dài.

Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim:  
"Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim cùng âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu. Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới, có tầng các bằng vàng trên không trung, tất cả cùng phát hào quang hoa rực rỡ. Mọi chốn nở đầy hoa sen vàng kim và hoa trời bay phấp phới khắp nơi." Đoạn này nói về toàn bộ không trung của Ma Ha Song Liên Trì đều phóng tỏa ra ánh sáng vàng kim vi diệu, là những ánh sáng đẹp đẽ nhất, có thiên âm vô cùng thanh tịnh và thiên âm vô cùng vi diệu tới từ hư không.

Âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu:  
Muốn giải thích về thứ âm nhạc này chỉ có thể dùng bốn chữ "thanh tịnh" và "vi diệu" để giải thích mà thôi. Kì thực, thứ âm nhạc này cũng giống như thiên nhạc, ở nhân gian không cách nào có thể nghe biết được. Giống như Sư Tôn lần này đến California, buổi tối lén đi ra ngoài (chỉ có một lần) bởi vì nghe có người nói: "Ở California này, chúng tôi có những thứ ở Seattle không có." Bọn họ nói rằng ở đâu có “Thế giới” gì đó ấy! Cái gì mà là số một ấy! Hoa hồng gì ấy nhỉ! Bởi vì tấm lòng của chúng ta rất rộng mở, liền bèn đến “Đại thế giới” xem thử một chút.

Âm nhạc ở đó thực sự rất hay, sàn khiêu vũ cũng rộng bằng nửa cái chùa của chúng ta! Tôi nghe nói ở đó họ có ba mươi vũ nữ, và chẳng hề có âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu gì cả. Lần đó tôi đi cùng với Sư Mẫu, chúng tôi chỉ xem chứ không có nhảy.

Thế nhưng khi nghe thứ âm nhạc đó, thứ âm nhạc giống như những ca khúc quốc ngữ của Đài Loan trước đây, vũ trường ở đó có mở những ca khúc quốc ngữ, (ở Mỹ rất hiếm khi nghe được những ca khúc quốc ngữ, hơn nữa rất hiếm những vũ khúc tango, nhìn chung ở Mỹ ít khi nào gặp nhạc tango), khi tôi nghe những khúc nhạc đó, mặc dù không xuống sàn để khiêu vũ, nhưng chân cũng dậm theo nhịp. 

Thậm chí ngay thứ âm nhạc thô tục này người bình thường nghe thấy đã cảm thấy tâm tình vui vẻ thoải mái rồi, chân cũng đã dậm theo nhịp rồi, người thích khiêu vũ thì sẽ xuống sàn khiêu vũ, rất vui vẻ, rất thoải mái. Từ đó có thể thấy rằng, âm nhạc thanh tịnh vi diệu ở Tây phương Cực Lạc thế giới còn hay hơn cả thứ âm nhạc này gấp mấy tỉ lần. Nên bảo mọi tế bào của những người ở nơi đó làm sao mà không nhảy múa được đây? Tôi so sánh như vậy là để nói lên sự thần thánh của chính loại âm nhạc ở đó, âm nhạc rất hay, đích thực có thể gột rửa sạch sẽ tâm hồn con người.

Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới:  
"Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới", câu này ý nói rằng bởi vì tất cả mọi loại hoa đều nở rộ, cây cỏ cũng rất thơm, vậy nên hương thơm lấp đầy toàn bộ hư không.

Có một hôm, Sư Tôn đến một nhà hàng ăn cơm. Tối hôm đó, do nhất thời cao hứng nên Sư Tôn có xịt một chút nước hoa. Tôi phát hiện ra mùi thơm của nước hoa này hơi giống mùi đàn hương. Thứ mùi đàn hương đó không giống với mùi thơm của dã thảo mà các cô gái trẻ thông thường vẫn xịt mỗi khi chơi. Khi tôi đi ra ngoài, vừa hay có một quý bà ở phía sau tôi nói: "Ôi chao! Toàn thân Sư Tôn tỏa mùi thơm! Có Bồ tát đi theo rồi!" Tôi không dám nói gì, chỉ nói: "Hình như có thì phải?" Tuy nhiên, người tu hành cũng có những lúc thân thể thật sự phát ra mùi thơm.

Sư Tôn từng nói, thân thể mỗi người đều có một mùi riêng, hơn nữa mùi cơ thể của mỗi người đều khác nhau. Bởi vì Sư Tôn đã gặp mấy nghìn mấy vạn người rồi. Khi họ đến hỏi việc, tới ngồi trước mặt tôi, tôi liền ngửi thấy mùi cơ thể của họ, có một số người hỏi việc tương đối lâu, mùi trên người họ tương đối dễ chịu. Nhưng cũng có người thì vừa vào ngồi xuống, Sư Tôn chỉ lập tức muốn đứng dậy ngay, tôi thật lòng nói cho mọi người biết, những lúc đó tôi đều nhịn thở để nói chuyện, cơ bản là tôi không hít thở. Con người thực sự có mùi cơ thể, người tu hành tốt thì trên người tự nhiên sẽ tỏa ra mùi thơm. Người thường xuyên có những suy nghĩ bất hảo, cũng không tu hành gì, thì mùi tiền bạc rất nặng, hơn nữa người thường xuyên bơi ở những vùng nước bẩn thì đều có mùi rất thô nặng.

Có người thường xuyên đánh bạc, trong đầu chỉ toàn nghĩ chuyện thắng thua, anh ta vừa ngồi xuống là lập tức một mùi thắng thua và tiền bạc từ trên người anh tỏa ra. Rất nhiều người trên người có kiểu mùi này, việc này không hay lắm! Giả sử anh ta ngồi bên cạnh tôi ăn cơm, tôi liền để ý xem từ miệng anh ta có bắn nước bọt ra không. Thật là đáng sợ!

Ma Ha Song Liên Trì của chúng ta tỏa ra mùi hương thơm nồng nàn. Mùi hương này nói thẳng ra là ở thế gian chẳng thế nào biết tới được! Nhờ thế, tâm tình của con người ở cõi giới này đương nhiên rất thư thái, họ đều yêu thích Cực Lạc thế giới, thích nghe âm nhạc ở đó, thích ngửi hương thơm ở đó.

Hoa trời bay phấp phới khắp hư không:  
Các tòa nhà ở Ma Ha Song Liên Trì đều là các lầu các bằng vàng, được xây nên từ vàng, tỏa ra ánh sáng vàng kim chói lọi. Toàn bộ lầu các trong không trung đều được chạm khắc hoa sen, do đó có rất nhiều hoa sen vàng. Thậm chí trong hư không cũng có rất nhiều hoa đẹp xinh đang rơi xuống.

Rất nhiều người hỏi Sư Tôn: "Những bông hoa rơi từ hư không rơi xuống này, nếu rơi trúng đầu thì có bị vỡ đầu chảy máu không?" Tôi nói với họ: "Yên tâm! Những bông hoa vàng này từ trong hư không rơi xuống, khi chạm tới bạn thì sẽ đi xuyên qua thân thể bạn. Khi những bông hoa đó đi xuyên qua sẽ khiến cho mọi tế bào trên thân thể bạn có một cảm giác thích thú như được mát-xa vậy."

Bạn thử nghĩ xem, những bông hoa xinh đẹp như vậy rơi xuống, rơi trên đầu bạn, đi xuyên qua thân thể bạn, xuyên qua các cơ quan trên thân giống như có một bàn tay khéo léo đang mát-xa cho bạn, xoa bóp thân thể bạn như vậy, cái cảm giác đó, bạn nghĩ xem dễ chịu biết bao. Hơn nữa, cảm giác khi mỗi bông hoa chạm vào thân thể bạn đều khác nhau. Không giống như khi chúng ta đi mát-xa đều chẳng khác gì, luôn luôn là một kiểu như vậy! Còn cảm giác thích thú do hoa mát-xa kia chỉ có ở thiên đường, thuộc loại dịu dàng nhất, dễ chịu nhất.  
Hôm nay tôi giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

### 13. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (5)

Kinh văn:

“Lúc bấy giờ,  
Ma Ha Song Liên Trì chấn động mạnh mẽ. Vô lượng chư Thiên đều cảm nhận được, chư Phật, chư Bồ Tát cùng chư Thanh Văn cũng đều cảm nhận được, tất cả liền đi đến Ma Ha Song Liên Trì. Ba mươi ba vị thiên chủ cõi trời cũng vội đến Ma Ha Song Liên Trì. Tập hợp liền hai mươi tám loại thiên chúng, Đế Thích, Phạm Vương, Bát bộ, Tứ chúng. Rộng giảng nói pháp yếu.

Lúc bấy giờ:  
Thế nào gọi là "lúc bấy giờ"? Không phải là lúc này, không phải là lúc quá khứ, cũng không phải là lúc đó, tóm lại là có một thời điểm nào đó. Trong bản kinh này có rất nhiều "lúc bấy giờ", ở đây thể hiện rằng không có tính chất thời gian, mà là thời gian nào cũng đều được cả!

Sáu cơn đại chấn động:  
Ở Ma Ha Song Liên Trì rộng lớn, toàn bộ các Phật quốc, toàn bộ các cõi giới đều chấn động. Nói chung, Phật quốc rất hiếm khi nào gặp chấn động, thông thường nếu có chấn động thì mọi thứ đều sẽ bị hủy hoại hết. Thế nhưng trong kinh Phật cũng có nhắc đến sáu cơn chấn động mạnh. Đó đều là những thời khắc vô cùng ý nghĩa, chỉ cần là những cơn chấn động lớn, hoặc cho dù chấn động tới mức nào, thì cũng đều rất có ý nghĩa.

Vài trường hợp có sáu cơn đại chấn động rất nổi tiếng, ví dụ như khi Phật Thích Ca Mâu Ni hạ sinh cũng có sáu cơn đại chấn động. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo, chính là khi ngài khai ngộ dưới gốc cây bồ đề, thì cũng có sáu cơn đại chấn động. Ngoài ra, khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, chính là lúc Phật Thích Ca Mâu Ni cần trở về, thời khắc đó cũng có sáu cơn đại chấn động. Có lần trong lúc Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, khi giảng đến pháp trọng yếu nhất thì cũng có sáu cơn đại chấn động. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni xuống tóc xuất gia cũng có sáu cơn đại chấn động.

Chúng ta hiện tại chỉ luôn hy vọng không có động đất xảy ra. Ngày nay ở California, ở San Francisco, mọi người đều rất sợ động đất. Sư Tôn bây giờ không dám giảng pháp trọng yếu nữa, bởi nếu giảng vô thượng đại pháp cao nhất thì sẽ xảy ra sáu cơn động đất lớn mất, thế thì chúng ta sẽ thảm lắm!

Ma Ha Song Liên Trì cũng có sáu cơn chấn động lớn. Sáu cơn đại chấn động được nói đến ở đây không chỉ giống như chúng ta chỉ có mỗi động đất đâu, mà còn có cả động trời, động đất, động gió, chấn động hai bên trái phải, chấn động trên dưới, chấn động trước sau, tổng cộng có sáu loại chấn động lớn, khiến cho sao trên trời cũng phải rơi rụng xuống, mặt trăng cũng rơi rụng xuống, tất cả đều chấn động. Những âm thanh rung rung ầm ầm đó mới được gọi là sáu cơn đại chấn động.

Cơn chấn động này khiến cho các cõi trời đều cảm nhận được, toàn bộ sáu cơn đại chấn động ở Ma Ha Song Liên Trì các vị đều cảm ứng được, bao gồm các Phật quốc, Bồ Tát, Thanh Văn, tất cả đều cảm ứng thấy! Bởi vì các vị cảm nhận được sáu cơn đại chấn động này, biết được có việc quan trọng xảy ra, có việc quan trọng xuất hiện, nên các vị đều tới Ma Ha Song Liên Trì.

Ba mươi ba vị thiên chủ, hai mươi tám loại thiên chúng, bát bộ tứ chúng:  
"Ba mươi ba vị thiên chủ cõi trời cũng vội đến Ma Ha Song Liên Trì", ba mươi ba cõi trời ở đây chính là cõi trời Dục giới, cõi trời Dục giới ở trên đỉnh núi Tu Di. Cõi trời ở trung tâm gọi là Đao Lợi Thiên, chính xác là Đế Thích Thiên. Đế Thích Thiên ở trung tâm, xung quanh tổng cộng có ba mươi hai cõi trời, nghĩa là mỗi phương có tám cõi trời, bốn lần tám ba mươi hai, cộng thêm Đế Thích Thiên ở trung tâm nữa, nên thành ba mươi ba cõi trời, sắp xếp theo mặt phẳng.

Phía trên thì sao? Còn có hai mươi tám thiên chúng. Thế nào được gọi là hai mươi tám cõi trời? Có nghĩa là ba cõi thiên giới, bao gồm cõi trời Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, toàn bộ phạm vi của ba cõi giới này gộp lại, trên dưới sắp xếp có tổng cộng hai mươi tám tầng, là hai mươi tám cõi trời. Vậy thì trong đó có rất nhiều vị đều là chủ nhân của các cõi trời, Đế Thích, Phạm Vương đều là chủ nhân, ví dụ như Đại Phạm Thiên Vương, Loa Kế Phạm Vương, Đế Thích, những vị này đều là thiên chủ của các cõi trời này.

Vì sao gọi là Bát bộ? Bát bộ được nói đến ở đây chính là trong bộ phim Thiên Long Bát Bộ mà ngày trước chúng ta đã từng xem đó, chính là Thiên Long Bát Bộ đó! Thiên Long Bát Bộ chính xác là một kiểu hộ pháp bảo vệ những cõi trời này, hoặc là các vị kim giáp thần <span className="note-blue">[các vị thần mặc áo giáp vàng]</span> bảo vệ Bồ tát, hộ trì Phật, hoặc chư Thiên, hoặc các loài rồng, do vậy gọi là Thiên Long Bát Bộ.

Vì sao gọi là Tứ chúng? Tứ chúng chính là nam cạo đầu, nữ cạo đầu, nam để tóc, nữ để tóc. Nam được gọi là tì kheo, nữ được gọi là tì kheo ni. Nam tu hành giả được gọi là ưu bà tắc, nữ hành giả được gọi là ưu bà di. Đây là bốn loại cư sĩ tu hành, hợp lại được gọi là bốn loại người, gọi tên là Tứ chúng.

Vào mùa đông, Sư Tôn rất muốn để tóc dài, để khi tuyết rơi vẫn có thể ăn kem! Thế nhưng bây giờ mà để tóc dài thì không hay lắm, bởi vì bây giờ tóc tôi đã bạc rồi, nên tôi vẫn đang đắn đo xem có nên để tóc dài không.

Tập hợp Đế Thích, Phạm vương, Bát bộ, Tứ chúng, chư Thiên, Phật, Bồ Tát, tất cả đều tới hết là để làm gì? Chính là bởi vì muốn nghe thuyết pháp, bởi vì có sự "rộng giảng nói pháp yếu". Ma Ha Song Liên Trì có rất nhiều sự việc quan trọng (buổi họp quan trọng), ở đây sẽ giảng những pháp vô cùng trọng yếu! Thích hợp với pháp hiện đại, cần truyền đạt đi, do vậy mà tập hợp thiên chúng, Phật, Bồ Tát, Thanh Văn đến để rộng giảng pháp trọng yếu.

Rất nhiều thiên nhân, thần, thậm chí là chư Phật, Bồ tát đều đến. Khi Sư Tôn đến New York, San Francisco thuyết pháp, trong hư không cũng luôn có pháp luân màu xanh lam, chính là màu xanh lam biến thành một vòng tròn ánh sáng - vòng tròn pháp luân màu xanh lam. Đây chính là "chuyển pháp luân quang". Nguyên nhân của việc này là gì? Đây chính là Phật, Bồ tát và thiên chúng trong hư không biết được rằng có đại pháp, mỗi dịp có thuyết giảng pháp, họ cũng đều đến để nghe pháp! Nhưng vì họ không thể ngồi cùng chúng ta, thế nên họ ngồi trên hư không nghe pháp, giống như là họ ngồi trên tầng hai, còn chúng ta ngồi dưới tầng một vậy. Khi họ ngồi trên đó, đúng lúc hình hành một vòng tròn ánh sáng, một vòng quang luân, sẽ giống như họ ngồi trong quang luân nghe pháp vậy. Vì vậy khi có thuyết pháp, hầu như luôn có Phật, Bồ Tát, thiên chúng hạ giáng đến nghe pháp. Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

### 14. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (6)

**Kinh văn:**

“Lúc bấy giờ:  
Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ.  
Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới.  
Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo.  
Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục.”

Lúc bấy giờ:  
Tôi đã giảng về "lúc bấy giờ" rồi, chính xác là không phải lúc đó, không phải lúc này, cũng không phải là một lúc nào đấy trong tương lai, tóm lại, chính là một thời điểm. Khi viết văn thì dùng cụm từ "lúc bấy giờ" là hay nhất, bởi vì chắc chắn sẽ luôn đúng.

Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ:  
"Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ", thế nào được gọi là ánh sáng đại trí huệ? Đại trí huệ ở đây nếu giải thích ra thì rất sâu, đại chính là có ý nghĩa vô cùng vô tận, trí huệ chính là một dạng trí tuệ vô thượng và viên mãn, bản thân từ trí huệ đã mang ý nghĩa hoàn toàn tràn đầy, vô cùng vô tận rồi.

Trí huệ ở đây hoàn toàn không giống như trí tuệ thế gian. Trí tuệ thế gian có rất nhiều loại, ví dụ, chúng ta có thể dựa vào các vòng tròn trong thân cây để đoán biết được tuổi của cây, chúng ta có thể nghiên cứu để biết cây này thuộc loại thực vật nào, nó là cây bụi hay cây thân gỗ, chúng ta cũng có thể nghiên cứu biết được lá cây của nó có bao nhiêu chất diệp lục, chúng ta có thể nghiên cứu được gỗ của loại cây nào thích hợp để làm loại đồ gỗ gia dụng nào, hoặc loại nào có thể dùng để xây nhà. Cây có rất nhiều tác dụng, thậm chí là loại gỗ nào dùng để làm củi đốt. Trên thực tế, bản thân mỗi cái cây đã chứa đựng rất nhiều kiến thức trong đó, có thể cung cấp cho ta rất nhiều điều để nghiên cứu, đây cũng là một loại trí tuệ lớn. Nhưng trí huệ và đại trí huệ mà chúng ta nói đến ở đây thì khác.

Thế nào được gọi là đại trí huệ? Đại trí huệ đương nhiên cũng bao gồm cả kiến thức về thực vật rồi, bao gồm cả kiến thức về con người, bao gồm cả kiến thức về núi, về biển, về không khí, về sự vận hành của vũ trụ, không những gồm tất cả những kiến thức ngoại tại mà còn có cả kiến thức nội tại nữa.

Vậy thì nhất định mọi người sẽ nghĩ rằng, khi Sư Tôn nói về trí huệ nội tại, chắc chắn là tôi biết! Trí huệ nội tại mà Thánh tôn nói đến chắc chắn là hiểu biết về tim, gan, tỳ, phổi, thận rồi, năm cơ quan nội tạng, các cơ quan của cơ thể con người, vòng tuần hoàn máu, sức sống gì đó, ví dụ như lượng cholesterol là bao nhiêu này! Không phải đâu. Cái gọi là đại trí huệ chính là trong tư duy của bạn, trong tư tưởng của bạn, trong ý niệm của bạn được phân thành rất nhiều tầng tri thức, và trí huệ chính là một dạng ý thức ở sâu bên trong nhất.

Hôm nay, một phi công của hãng hàng không Malaysia cũng tới đây để cầu được quán đảnh. Anh ta nói: "Sư Tôn truyền nhiều pháp như vậy, cũng có nhiều khẩu quyết như vậy, liệu có phải là vẫn còn rất nhiều bí mật nữa không?" Ý của anh ta là muốn tôi nói cho anh biết những điều bí mật nhất và những khẩu quyết cơ mật nhất.

Trong lòng tôi nghĩ, mình học Phật đã hai mươi mấy năm, để có được những thứ cơ mật nhất như vậy, tôi đã phải dùng cả sinh mệnh của mình để đổi lấy! Thánh tôn đã phải dùng cả sinh mệnh và sự mạo hiểm của mình, cộng thêm rất nhiều nỗ lực của bản thân mới có thể đạt được, không phải chỉ là tiền, mà còn cả thời gian, mạng sống để đổi lấy! Tôi cũng cần phải đợi mọi người trả giá cao một chút chứ! Câu này là tôi nói đùa thôi!

Tôi nói với anh ta rằng: "Khẩu quyết này rất vi diệu." Sao lại gọi là "vi"? Vi có nghĩa là vô cùng vi tế. Sao lại gọi là "diệu"? Diệu chính là tuyệt đối hoàn hảo, vừa hay vừa hợp. Do vậy, muốn thực sự có được những khẩu quyết thành Phật, bạn cần phải hiểu được hai chữ "vi diệu" này.

Bạn phải rất tỉ mỉ, suy nghĩ một cách tường tận cặn kẽ, thâm nhập vào cảnh giới rất rất sâu. Bạn đừng cho rằng khi ta nhập vào cảnh giới rất sâu rất vi tế, nhỏ như một cái lỗ kim rồi, thì ở trong đó làm sao mà có ánh sáng đại trí huệ được đây? Tôi nói cho mọi người biết nhé, cái gọi là ánh sáng đại trí huệ chính là ánh sáng vi diệu nhất. Khi ý niệm của bạn thẳng một mạch thâm nhập được vào tầng thứ nhất bên trong của ý thức, rồi tới tầng thứ hai, tầng thứ ba, tầng thứ tư, tầng thứ năm, tầng thứ sáu, tầng thứ bảy, tầng thứ tám, tầng thứ chín, thì khi đó giống như bạn đã đi vào một căn phòng rất tối tăm, sau đó bạn thắp lên một ngọn nến giúp bạn nhìn rõ tất cả mọi thứ trong căn phòng này.

Lúc đó, bạn sẽ thấy được rất rõ ràng minh bạch quá khứ của bạn là gì, hiện tại của bạn là gì, tương lai của bạn là gì. Lúc đó, ánh sáng của bạn có thể chiếu tới toàn bộ vũ trụ, lục hợp, bốn phương tám hướng, trên dưới, quá khứ, hiện tại, tương lai, tất cả đều rõ ràng như một với hai!

Nếu bạn từng không biết về kiếp quá khứ, về tất cả mọi kiếp sống trước đây của mình, thì lúc này tất cả mọi thứ đều hiển hiện ra trước mặt bạn. Bạn có thể biết được hiện tại, cũng có thể biết được tương lai. Tôi bảo mọi người nhé: "Ánh sáng này chính là ánh sáng đại trí huệ." Những thứ mà Sư Tôn đã đạt được đều phải dùng tính mệnh để đổi lấy, đơn giản là vậy đó.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới:  
"Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới", thế nào gọi là ánh sáng Pháp giới? Chúng ta biết các vị trí đã được xác định của toàn bộ vũ trụ, khi phân chia theo tầng lớp thì có tứ thánh giới, lục phàm giới. Tứ thánh giới chính là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn. Lục phàm giới là trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Ánh sáng Pháp giới chính là ánh sáng do Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra. Ánh sáng này không chỉ có ở Ma Ha Song Liên Trì mà thậm chí chiếu tới tất cả tứ thánh giới, đến thẳng các cõi giới của Phật, xuống dưới thì chiếu tới tận cõi địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ. Do toàn bộ trong mười pháp giới đều được ánh sáng chói chang chiếu tới, nên gọi là ánh sáng Pháp giới. Vì thế, ánh sáng Pháp giới này rất lợi hại, tương đương với việc phá bỏ toàn bộ mười pháp giới để biến thành duy nhất một pháp giới vậy.

Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo:  
"Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo", thế nào được gọi là ánh sáng Vạn bảo? Mọi người hễ nghe thấy ánh sáng Vạn bảo thì tâm trí đều chú ý ngay! Mọi người nhất định sẽ nghĩ "Sư Tôn lại định giảng về pháp tài bảo gì đây! Lục bảo, lam bảo, hồng ngọc, hay là kim cương đây nhỉ! Tất cả mọi đá quý bảo ngọc đều gom cả lại thì chính là ánh sáng Vạn bảo rồi." Kì thực, không phải như vậy đâu! Ánh sáng Vạn bảo được nói đến ở đây chính là nói tới pháp bảo.

Chúng ta cần biết, Đại Tạng Kinh hiện tại mà chúng ta đang sử dụng, bộ tam tạng pháp bảo này chỉ là một chút xíu bề mặt trên cùng của núi băng trôi mà thôi. Việc này trước đây tôi đã từng giảng rồi. Pháp bảo mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến này là vô cùng vô tận, nếu gom chúng lại với nhau thì nhiều tới mức bằng cả một đoàn tàu hỏa, dùng xe tải đến chở hết thùng này tới thùng khác thì cũng thành cả một hàng dài như vầy.

Thế nhưng những pháp bảo này hiện tại đang ở đâu? Nghe nói đã bị ngựa của cõi trời và rồng của đại dương chở đi hết rồi, tất cả đã được chở tới long cung rồi, hiện tại đang được giấu ở trong long cung.

Mọi người nghĩ mà xem, bên trong long cung có nhiều pháp bảo như thế, nên trước đây ở Ấn Độ có một vị là Long Thọ Bồ Tát. Ngài ấy đã từng đến long cung để xem những kinh Phật đó. Sau khi xem được kinh Phật, ngài trở về và dựa vào trí nhớ của mình để viết chúng ra, viết ra những kinh Phật mà ngài đã đọc được ở dưới long cung. Tuy nhiên những gì ngài ấy đã viết ra được cũng vẫn chỉ là một góc của núi băng trôi mà thôi.

Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo ở đây chính là nói đến bản thân Lục Liên Hoa Đồng Tử có thể hóa hiện ra hết mấy vạn pháp bảo này, phóng tỏa ánh sáng, có thể thấy là Lục Liên Hoa Đồng Tử rất vĩ đại! Đó nhất định là hóa thân của Long Thọ Bồ Tát, như các bạn thấy đáy biển đó, phần lớn đáy biển đều có màu xanh lục là vì thế! Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo, có mối liên hệ với hàng tỉ hàng vạn pháp bảo đang được giấu tại long cung.

Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục:  
"Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục", ánh sáng Hàng phục này là ánh sáng gì? Ánh sáng Hàng phục chính là ánh sáng có màu đen. Nói chung, nói đến hàng phục thì mọi người đều sẽ nghĩ đến Kim cang pháp, có người nói: "Phật, Bồ tát đều từ bi như thế, thế thì chúng ta có thể "bắt nạt" các vị đó rồi!" 

Phật và Bồ Tát đều là tu thiện pháp, chính là những pháp nhẫn nhục. Có người nói anh ta không muốn học Phật, bởi vì học Phật sẽ bị người khác bắt nạt! Giả sử bạn nói lại người ta một câu, hoặc là đánh trả người ta một cái, người ta sẽ nói: "Ô! Chẳng phải anh học Phật sao?" Nếu nhìn từ góc độ này thì xem ra việc học Phật đúng thật là xui xẻo rồi. Trước đây khi tôi ở Đài Loan, tôi thường nghĩ, học Phật pháp rốt cục lại biến thành "suy vĩ đạo nhân" mất thôi (trong tiếng Đài Loan có nghĩa là ma xúi quẩy). Ý nói rằng bởi vì đối với bất kì sự việc gì ta cũng đều cần nhẫn nại, cần học theo Bồ Tát, rồi trước rất nhiều sự việc cần phải nhẫn nhục, không thể nói lại người ta câu gì, lại còn cần giữ gìn sự tu dưỡng của bản thân. Sống như vậy hình như chẳng có chút ý nghĩa gì!

Tuy nhiên, trong vũ trụ có một kiểu thần, chính là thần Kim cang hộ pháp. Các vị này đến để hộ trì, để bảo vệ, chữ "hộ" ở đây chính là bảo hộ, "trì" chính là trì giữ, nói cách khác chính là trì giữ trật tự của Phật pháp để không thể có chuyện người học Phật luôn luôn bị người khác bắt nạt. Nói tóm lại là các vị này cần trở thành hộ pháp ở bên cạnh con người.

Thế còn bản thân Hộ pháp thì sao? Tượng Kim cang với con mắt phẫn nộ như chúng ta vẫn gọi, kì thực, tôi cho rằng hàng phục chính là một kiểu cảnh báo, cảnh tỉnh bạn một chút. Cũng giống như khi chúng ta đi học, nếu như học hành không tốt, trở thành học sinh cá biệt ở trường, thì trước tiên trường học sẽ gửi tới bạn một lời cảnh cáo, tiếp đó phạt nhẹ bạn, tiếp nữa là phạt nặng, tiếp nữa là giữ bạn ở lại trường để theo dõi bạn.

Trong sự hàng phục cũng có ý nghĩa khuyến thiện. Nói cách khác là mặc dù biểu hiện bên ngoài là trừng phạt bạn, nhưng kì thực là đang khuyến cáo bạn, sau đó lại đến để che chở cho bạn, hy vọng bạn có thể nghe lời, có thể nghe những lời khuyên tốt, đừng làm việc ác, hãy biết làm điều thiện, đây chính là ý nghĩa của hàng phục.

Bởi vậy, khi Kim cương Thượng sư tu pháp hàng phục, có khi làm pháp chỉ một ngày, hai ngày thì Kim cang Hộ pháp thần đã thương xót bạn rồi, tay ngài cũng trở nên mềm yếu vì ngài thương xót bạn, đồng cảm với bạn, ngài chỉ thực hiện pháp hàng phục đối với bạn có hai ngày là bạn đã ốm rất nặng rồi. Hoặc là bạn sẽ bị ngã xe đạp, hoặc là bạn sẽ bị trầy xước da một chút xíu! Để bạn thấy là bạn hãy nên cảnh giác đó!

Các vị Kim cương Thượng sư khi tu pháp hàng phục, đại bộ phận sau khi tu pháp hàng phục thì sẽ giúp bạn tu một lần pháp tiêu tai lại từ đầu. Nói cách khác là trước tiên tu pháp hàng phục, sau đó lại tu pháp tiêu tai, là để bạn nếm được mùi vị cảnh cáo trước, sau đó sẽ giúp bạn giải trừ những tai nạn này.

Ánh sáng mà pháp hàng phục hiển hiện ra chính là một loại quang khí màu đen. Người bị trúng pháp hàng phục thì chúng ta nhìn mặt họ sẽ thấy có khí xám xịt trên mặt họ.  
Hôm nay tôi giải thích đến đây thôi. Om mani padme hum.

### 15. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (7)

**Kinh văn:**

“Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện.  
Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đoan nghiêm.  
Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức.  
Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc.  
Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân.”

Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện:  
Lần trước tôi đã giảng đến ánh sáng Hàng phục, lần này tôi giảng tiếp đến "Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện". Trước đây Sư Tôn đã từng nói, mỗi người lương thiện, mỗi người tốt (chính là người có tâm địa tốt), người làm việc thiện, người đưa ra nguyện lực lớn, người bố thí, người dành toàn bộ thời gian, tiền bạc, mọi hoạt động của mình đều vì cống hiến cho chúng sinh, thì trên đỉnh đầu của họ sẽ phóng tỏa ra một loại ánh sáng màu đỏ gọi là ánh sáng hạnh nguyện.

Sư Tôn thường hay nghĩ đến một câu nói trong Kinh Thánh rằng: "Cho đi tốt hơn nhận lấy." Vì sao lại vậy? Kì thực là thế này, tôi phát hiện ra dường như trước đây Sư Tôn rất ít khi làm việc thiện, tới gần đây thì bắt đầu làm việc thiện nhiều hơn so với ngày trước một chút. Tôi nhận thấy dường như khi chúng ta cho người khác thứ gì đó, hoặc bố thí, hoặc làm việc thiện, thì trong lòng sẽ cảm thấy rất vui vẻ, bình an! Đặc biệt khi bạn đem thứ đồ bạn thích nhất, thứ bạn cho là trân quý nhất, thứ mà bạn không nỡ từ bỏ, để đem cho người khác, thì niềm vui bạn có được sẽ là một thứ hạnh phúc ở mức độ tương đối cao cấp.

Chúng ta nên phá bỏ kiểu quan niệm “cái này là của tôi, cái kia là của bạn.” Giả sử muốn phá bỏ quan niệm này thì bạn cần phải làm được "hạnh" và "nguyện", có nghĩa là hành vi của bạn và nguyện lực của bạn phải hợp với nhau, sau đó mới có thể phá bỏ kiểu quan niệm “cái này là của tôi, cái kia là của bạn.”

Mọi người hãy nghĩ thử xem, sau này giả sử có tới nào đó bạn nghĩ rằng "của tôi cũng chính là của chúng sinh", thì trên đỉnh đầu của bạn sẽ xuất hiện ánh sáng hạnh nguyện màu đỏ. Nếu như hàng ngày bạn vẫn nghĩ: "Của tôi là của tôi, của anh cũng là của tôi, của mọi người cũng đều là của tôi!", thế thì trên đầu bạn sẽ có ánh sáng màu đen. Muốn thành Phật, muốn thành Bồ tát, cần tu hành và phải không còn hai chữ "của tôi" nữa.

Bởi vậy, trên thực tế, những thứ trên đời này không có cái gì là của bạn cả. Khi bạn có thể nghĩ được rằng "mọi thứ trên đời này không có gì là của bạn", thì trên đỉnh đầu bạn sẽ xuất hiện ánh sáng hạnh nguyện màu đỏ. Tấm lòng của bạn sẽ rộng mở, quảng đại như trời đất, sẽ có thiện tâm vô lượng để giúp đỡ người khác. Những người như vậy trong tương lai sẽ chính là Hồng Liên Hoa Đồng Tử.

Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng đoan nghiêm:  
"Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đoan nghiêm", đoan chính là đoan chính, nghiêm chính là trang nghiêm, màu sắc ở đây là màu tím. Ánh sáng đoan trang và trang nghiêm này cũng hiển hiện trên hành vi của bản thân mỗi người. Ánh sáng này cũng từ tâm mà phát ra.

Gọi là "đoan" bởi vì không đảo lộn, không đảo lộn cũng có nghĩa như bất động. Chúng ta đã học rằng tâm chúng ta cần không có vọng niệm, không lẫn lộn, nghĩa là hành vi của chúng ta phải cực kì đoan chính. Nghiêm" chính là không có sự lỏng lẻo. Màu tím mà ánh sáng này tỏa ra không hề có một chút khiếm khuyết nào, hơn nữa cũng chẳng có một chút kẽ hở rò rỉ.

Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức:  
"Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức", vì sao Liên Hoa Đồng Tử màu lam lại hóa hiện ra ánh sáng Quả đức? Bản thân ánh sáng màu xanh lam có tác dụng giúp đỡ người khác, hơn nữa còn có thể đạt được kết quả rất tốt đẹp, giống như hoa quả vậy. Đơm hoa, sau đó kết trái, rồi lại từ trong quả mà xuất hiện ra từng hạt từng hạt rất tròn đầy, chính là một loại quả vậy!

Vậy thì, quả này từ đâu đến? Quả chính là đến từ đức hạnh, hoàn toàn từ sự đức hạnh mà kết thành một loại quả, giống như hoa sen vậy, hoa sen nở rất đẹp, phóng tỏa ra ánh sáng màu xanh lam vô cùng viên mãn, đây chính là một loại quả tròn trịa, tròn đầy.

Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc:  
"Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc", Sư Tôn đã từng giảng rồi. Vì sao Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc? Hơn nữa, vì sao màu vàng lại là phúc túc? Nguyên nhân là vì màu vàng rất gần với vàng đó. Trong thiên hạ, màu gì là màu được cho là quý giá nhất? Màu sắc của vàng chính là quý giá nhất, mặc dù kim cương cũng rất đắt rất quý, nhưng kim cương lại không chắc chắn được người ta thừa nhận. Cho tới nay, vàng được dùng làm tỉ giá, có thể thực sự làm một tiêu chuẩn về giá trị, dựa vào trọng lượng của vàng để làm cơ sở so sánh giá, làm biểu giá, còn kim cương thì không thể dùng làm biểu giá được.

Vì sao ánh sáng của màu vàng được gọi là ánh sáng Phúc túc? Cần biết rằng, chữ "phúc" là từ chữ "đức" mà có. "Phúc" cũng là từ "trí huệ" mà có. Người tu hành chúng ta cũng cần tu phúc, cái này gọi là "phúc huệ song tu", chỉ có tu phúc mà không tu huệ thì sẽ biến thành kẻ thế tục, chỉ có tu huệ mà không tu phúc thì chỉ có thể độ chính mình, không thể giúp đỡ người khác, không thể độ chúng sinh. Do vậy, cần phối hợp cùng tu phúc và đức, Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc chính là phân chia đồng đều tất cả mọi phúc phận.

Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân:  
"Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân", thế nào được gọi là đồng chân? Một đám các em bé ban nãy vừa đi qua đây đều là đồng chân đó. Đồng chân ở đây chính là đồng tử (trẻ em), nói cách khác là bản thân đám trẻ này rất thuần khiết, chỉ có sự trong sáng và ngây thơ, không có xấu tốt, không có thiện ác, cũng không làm việc xấu, và căn bản là chúng cũng chẳng nghĩ ngợi làm sao để làm việc xấu. Đây chính là ý nghĩa của chữ "đồng", chính là trong sáng ngây thơ.

Đám trẻ này cũng chẳng e ngại gì, như khi chúng ta ngồi ở đây đông như thế, lại có rất nhiều Thượng sư ngồi ở phía trước, nhưng chúng cũng chẳng cần phải để ý, cứ thế mà đi qua trước mặt, cũng không cần phải hiểu rằng trẻ con bọn chúng khi nói chuyện thì cần nhỏ tiếng một chút, nếu không sẽ ảnh hưởng đến mọi người đang nghe giảng kinh. Bọn chúng không màng đến lễ nghĩa, nguyên nhân chủ yếu là cái chữ "đồng" đó! Bạn có thể bảo con chim nhỏ trên cây là không được kêu nữa, điều này sao có thể được đây?

Chữ "chân" ở đây chính là những gì mà đám trẻ này làm đều là những việc rất chân thực, chúng không giả tạo. Khi vui, chúng sẽ cười, khi bị đánh, chúng liền khóc. Chúng thích bạn thì sẽ "kiss" bạn một cái, còn chúng không thích bạn thì chúng sẽ trợn mắt với bạn. Bởi vì chúng không biết giả vờ, bạn biết chứ?

Tôi phát hiện ra rằng người lớn chúng ta, con người khi tuổi càng cao thì lại càng hay giả tạo. Rõ ràng là không thích, nhưng lại nói với bạn rằng: "Đa tạ anh đã chỉ giáo." Rõ ràng là rất ghét bạn, nhưng lại nói: "Ngưỡng mộ đã lâu! Ngưỡng mộ đã lâu!" Rõ ràng là không hoan nghênh bạn đến, thế nhưng miệng vẫn nói: "Lần sau lại đến nhé! Có thời gian rảnh xin mời lại đến chơi!" Đây chính là những người lớn xấu xí. Người tu hành cần lấy lại sự "đồng chân", đừng giả tạo.

Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng này hoàn toàn là một thứ ánh sáng đồng chân, ánh sáng trong sáng và ngây thơ, ánh sáng này chưa từng bị ô nhiễm. Còn như chúng ta đều đã từng bị ô nhiễm rồi. Do vậy, mọi người đã thấy những ánh sáng này, có ánh sáng đại trí huệ, có ánh sáng kết nối các pháp giới, có ánh sáng của vạn thứ bảo vật xuất hiện, có ánh sáng hàng phục tà ma, có ánh sáng hạnh nguyện viên mãn màu đỏ, có ánh sáng đoan trang trang nghiêm, có ánh sáng từ phúc sinh ra quả, có ánh sáng phúc phận đủ đầy dư thừa, có ánh sáng đồng chân vô cùng chân thành giống như trẻ con, mọi người nghĩ thử xem, ở Ma Ha Song Liên Trì có nhiều loại ánh sáng như vậy cùng giao thoa, cùng chiếu sáng, cùng chói lọi, bạn thử nghĩ xem, thế giới đó có rực rỡ và mĩ miều hay không!

Bởi thế, trong tương lai cõi tịnh độ Ma Ha Song Liên Trì này sẽ làm chấn động toàn thế giới, toàn bộ địa cầu sẽ chấn động! Gần đây, cuốn Chân Phật Kinh này đã gây chấn động tới các quốc gia trên toàn thế giới rồi, bao gồm tất cả các tín đồ Phật giáo và tín đồ các tôn giáo khác, họ đều đã "bắn pháo" chúc mừng rồi. "Bắn pháo" này chính là "nổ pháo có ý kiến" đó!  
Hôm nay tôi giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

### 16. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (8)

**Kinh văn:**

“Chư Thiên thấy vậy cảm thấy kinh ngạc lạ kỳ. Thế là Đế Thích từ trong chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu hướng về Bạch Liên Hoa Đồng Tử mà thưa rằng: "Thánh Tôn, thật hi hữu hiếm có. Ma Ha Song Liên Trì do nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ này?"

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói: "Đó là vì để thuyết giảng cho các ông vậy."  
Đế Thích nói: "Thánh Tôn uy quyền tối tôn. Chỉ mong Thánh Tôn vì chúng sinh mà tuyên thuyết. Tất cả trời người sẽ đều biết phải hướng quay về."

Lúc bấy giờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích cùng chư đại chúng: "Lành thay lành thay. Nay ta vì các ông và chúng sinh đời mạt thế, cùng những người hữu duyên trong đời tương lai, giảng cho tất cả đều biết đạo lý chân thực Phật pháp và tiêu tai ban phúc."

Chư thiên kinh ngạc và thưa hỏi:  
Chư thiên ở đây đại diện cho các thiên thần của hai mươi tám cõi trời có tại thiên thượng giới, cùng các thần tiên của ba mươi ba cõi trời có tại thiên thượng giới. Họ đều nhìn thấy rất rất nhiều quang sắc hiển hiện, nhìn thấy quang sắc này tràn đầy cả hư không, thậm chí tràn đầy khắp cả thập pháp giới, bao gồm cả tứ thánh giới, lục đạo chúng sinh, tam ác đạo, tất cả đều tràn ngập ánh sáng bao la, nên cảm thấy vô cùng kinh ngạc và hiếu kì, bởi vì toàn bộ thập pháp giới đều xuất hiện hiện tượng ánh sáng nhiều màu sắc tràn ngập như thế vốn chẳng phải là một chuyện thường gặp! 

Chính lúc đó, Đế Thích (chính là Thích Đề Hoàn Nhân, cũng chính là thiên chủ của ba mươi ba cõi trời), từ chỗ ngồi của ngài đứng dậy. Ý nghĩa của hành động "cúi đầu" chính là chắp tay, chắp tay cung kính chính là cúi đầu. "Cúi đầu hướng về Bạch Liên Hoa Đồng Tử mà thưa", điều này cũng đồng nghĩa với việc hỏi chuyện Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử vậy.  
"Thật hy hữu hiếm có. Ma Ha Song Liên Trì do nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ này?" ý nói rằng, hiện tượng ánh sáng ngập tràn chói lọi này vô cùng hiếm gặp, vô cùng hy hữu, rốt cục là Ma Ha Song Liên Trì này, Thánh giới này có nguyên nhân gì đây? Là nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ như vậy?

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Thích Đề Hoàn Nhân (Đế Thích) cùng với tất cả thiên thần của các cõi thiên giới, ý rằng: "Bởi vì ông đã hỏi nên tôi mới vì ông mà giải thích một chút là vì nguyên nhân gì đã xuất hiện đại quang hoa này."

Uy quyền tối tôn:  
"Đế Thích nói: "Thánh Tôn uy quyền tối tôn. Chỉ mong Thánh Tôn vì chúng sinh mà tuyên thuyết. Tất cả trời người sẽ đều biết phải hướng quay về.", ở đây tôi giải thích thế nào gọi là uy quyền tối tôn.

Uy ở đây, như chúng ta vẫn nói, chính là uy phong. Uy phong bát diện!  
Ngày trước chúng ta xem múa rối tay, có một vị công phu rất cao cường hễ xuất hiện một cái là, oa, rất nhiều ánh sáng chiếu vào cũng xuất hiện! Khi âm nhạc tấu lên điệu cao nhất thì ông ta mới nhảy ra. Cái "uy" này cũng tương tự như một sự uy nghiêm, vô cùng uy nghiêm, tối cao vô thượng.

Giống như bây giờ chúng ta đi nhìn mặt trời, khi mặt trời lên cao và sáng chói thì chẳng có cách nào nhìn mặt trời trực tiếp bằng mắt được cả, bởi vì cường độ sáng của nó rất mạnh mẽ. Ánh sáng chói lọi.

Thế còn chữ "quyền" thì sao? Chính là nói đến quyền lực, quyền thế, cùng với sức mạnh mà ngài nắm giữ, nói cách khác chính là sức mạnh của chính ngài, pháp lực của ngài. Đế Thích Thiên Vương (Ngọc Hoàng Đại Đế) nói: "Đây vừa là sự uy nghiêm, vừa là quyền lực tối tôn, chính là tối cao, vô thượng, chí thượng, tôn quý nhất." Đế Thích Thiên Chủ nói rằng "Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử uy quyền tối tôn" khả năng là bởi vì ngài ấy đã nhìn thấy phía trên Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử có một vị Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai đương nhiên là uy quyền tối tôn mà!

Chúng ta biết rằng, bản thân Liên Hoa Đồng Tử chính là hóa thân của Phật Nhãn Phật Mẫu. Hai con mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thành Ma Ha Song Liên Trì, ánh sáng của Ma Ha Song Liên Trì hóa thành các vị Liên Hoa Đồng Tử. Vậy còn Phật Nhãn Phật Mẫu thì sao? Ngài lại được biến hóa ra từ Đại Nhật Như Lai, việc này đồng nghĩa với Liên Hoa Đồng Tử là hóa thân ánh sáng của Đại Nhật Như Lai. Điều này giải thích cho ta thấy nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử là đến từ Đại Nhật Như Lai.

🌟

Buổi tối hôm nay chúng ta tu pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu. Nguồn gốc của Chuẩn Đề Phật Mẫu là từ đâu đến? Kì thực, Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng đến từ cung điện Pháp Giới Tối Thắng của Đại Nhật Như Lai, vì thế Chuẩn Đề Phật Mẫu và Liên Hoa Đồng Tử có cùng một nguồn gốc. Chuẩn Đề Phật Mẫu là chị gái của Liên Hoa Đồng Tử, do đó hai vị giống như chị em vậy, tình cảm vô cùng tốt! Cho nên Chuẩn Đề Phật Mẫu là một trong số tám bổn tôn lớn nhất của chúng ta là có nguyên nhân của nó.

Trong Trung mật và Đài mật <span className="note-blue">[Mật tông của núi Thiên Thai được gọi là Đài mật, còn Trung mật chính là Mật tông Trung Quốc]</span>, và cả Đông mật <span className="note-blue">[chính là Mật tông Nhật Bản]</span>, Chuẩn Đề Phật Mẫu đều được xem như là Phật Mẫu chủ tôn. Còn trong Mật tông Tây Tạng thì Chuẩn Đề Phật Mẫu rất ít khi nghe nói đến. Trong Mật tông Tây Tạng, rất nhiều vị Rinpoche Tây Tạng đều không biết đến Chuẩn Đề Phật Mẫu. Do vậy, đối với Mật tông Trung Quốc, Mật tông Thiên Thai, Mật tông Nhật Bản, cũng chính là đối với Trung thổ, thì Chuẩn Đề Phật Mẫu đặc biệt quan tâm chăm sóc chúng ta, còn đối với người Tây Tạng thì ngài không quan tâm mấy.

Bởi vì bản thân Liên Hoa Đồng Tử đến từ cung của Đại Nhật Như Lai nên ngài biết rõ Chuẩn Đề Phật Mẫu cần hoằng dương trên toàn thế giới. Tông phái của chúng ta có bát đại bổn tôn, Chuẩn Đề Phật Mẫu chính là một vị trong số đó. Chuẩn Đề Phật Mẫu còn có tên gọi khác là Tối Thắng Kim Cang và Như Ý Kim Cang, nguyên nhân chính là vì sao? Chính là vì bản thân ngài đến từ cung của Đại Nhật Như Lai.

🌟

Đế Thích nói "Thánh Tôn uy quyền tối tôn" xong thì sao? Ngài liền yêu cầu Thánh Tôn vì tất cả thiên chúng, thiên thần, Phật, Bồ Tát hiện đang có mặt ở đó mà tuyên thuyết. Ý nghĩa của tuyên thuyết chính là giải thích công khai, để cho tất cả trời và người đều biết được nhân duyên, biết được để mà hướng quay về.

“Lúc bấy giờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích cùng chư đại chúng: "Lành thay lành thay. Nay ta vì các ông và chúng sinh đời mạt thế, cùng những người hữu duyên trong đời tương lai, giảng cho tất cả đều biết đạo lý chân thực Phật pháp và tiêu tai ban phúc.” nghĩa là vào lúc đó, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích Thiên Chủ và tất cả các vị Phật, Bồ Tát đang ở tại đó, với tất cả các thiên chúng, lúc đó ngài nói rằng "lành thay, lành thay" chính là câu cửa miệng của rất nhiều lão hòa thượng trước đây hay nói.

Trước đây, Sư Tôn đọc tiểu thuyết võ hiệp thường thấy lão hòa thượng cầm chiếc xẻng vuông, gặp những lúc phải phạm vào giới sát sinh thì đều nói: "Thiện tai! Thiện tai! Để lão tăng tiễn các người đến Tây Thiên!" <span className="note-blue">[Đùa]</span>

Đương nhiên kể chuyện hòa thượng phạm vào giới sát sinh như vậy thì chẳng hay gì rồi! Nhưng câu văn đó thì được dùng rất hay. Thế nào gọi là "thiện tai, thiện tai?" Có nghĩa là rất tốt, rất tốt! Người xuất gia như bọn họ giết người mà vẫn còn tiễn người ta đến Tây Thiên, có vẻ như hàm nghĩa rất sâu sắc.

Trên thực tế, tôi cảm thấy những người xuất gia hoặc các vị đạo trưởng trong các tiểu thuyết võ hiệp này, kì thực nhìn chung đều là cố ý viết ra thôi, chỉ là thân phận của người xuất gia và đạo trưởng có một chút đặc thù. Đại bộ phận người xuất gia và đạo trưởng đều là người tu hành, chỉ có một bộ phận nhỏ người xuất gia hoặc đạo trưởng là dấn thân vào những ân oán giang hồ. Những thứ được viết trong tiểu thuyết võ hiệp đương nhiên có rất nhiều hư cấu. Nói "thiện tai, thiện tai" ở đây là chỉ có ý rằng "rất hay, rất hay", không phải ý là muốn tiễn đến Tây Thiên đâu.

🌟

Ngày hôm nay ta <span className="note-blue">[giảng Chân Phật Kinh]</span> chính là vì Đế Thích Thiên Chủ và tất cả chúng sinh ở tại thế giới Ta Bà trong đời mạt thế cùng tất cả chúng sinh trong đời tương lai, chỉ cần là người có duyên phận trong đời tương lai. Thế nào gọi là đời tương lai? Đời tương lai nghĩa là từ thời điểm hiện tại bắt đầu thuyết pháp trở về sau, cũng chính là thế giới hiện tại và tương lai, và còn có rất nhiều đời, nhiều kiếp sau thời điểm hiện tại này, thì được gọi là các đời tương lai.

Như thế ở đây có đạo lý giống như ngày trước, khi chúng ta học Kinh Thánh, có vị thầy chuyên đảm nhận việc tra cứu Kinh Thánh. Trong Kinh Thánh có câu nói rằng chúng ta cần có lòng tin, khi Cơ Đốc Giáo tuyên truyền rộng rãi thì đã nói, người có lòng tin có thể lên thiên đường, người không tin thì xuống địa ngục.

Xưa kia, giống như Chúa Jesus Chris hạ giáng tại thế giới Ta Bà này, hạ sinh tại nhân gian. Do hiện tại là năm 1988 <span className="note-blue">[thì tính ra]</span> cũng chính là 1988 năm trước, chúa đã hạ sinh tại thế giới Ta Bà này, hạ sinh tại nhân gian để truyền bá đạo lý của Thượng Đế, truyền dạy đạo lý của Chúa.

Khi nghiên cứu đạo lý này <span className="note-blue">[lúc còn học Kinh Thánh]</span>, tôi liền giơ tay hỏi mục sư, tôi nói: "Ai tin vào chúa Jesus thì mới được lên thiên đường, còn ai không tin thì phải xuống địa ngục, vậy thì, Trung Quốc chúng ta có năm nghìn năm lịch sử, xin hỏi: Trung Quốc hai nghìn năm trở về trước, trong khoảng ba nghìn năm, các triều đại Đường, Ngu, Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, Tam Quốc, Ngụy Tấn, Nam Bắc Triều, con người của các triều đại liên tiếp này hoàn toàn không có tiếp xúc gì với Matteo Ricci, chẳng hề biết Jesus Chris ở đâu, thế thì những người này phải làm sao?"

Mặt của vị mục sư kia thoạt trắng thoạt đỏ, ông ấy chỉ vào mũi tôi và nói: "Cậu là loại thích gây khó dễ cho người khác, chuyên môn gây phiền phức." Nhưng từ đầu tới cuối tôi vẫn không hiểu, lịch sử Trung Quốc chúng ta lịch sử năm nghìn năm, vậy thì con người của ba nghìn năm trước đây đã thế nào?

Do đó, bản kinh này của chúng ta rất hay! Những người trong quá khứ chưa từng đọc được bản kinh này xem như không có duyên. Chúng ta là những người có duyên phận thì trong các đời tương lai (đời hiện tại và đời tương lai) đều có duyên với bản kinh này, người nào đọc được chính là “những người có duyên trong đời tương lai.”

Trước đây tôi đã học điều thứ nhất trong mười điều răn của Chúa. Điều thứ nhất trong mười điều răn của Chúa mà Đức Jehovah dạy cho Moses là: "Ngoài ta ra, không có Đức Chúa Trời nào khác." Theo ý nghĩa của Kinh Thánh, ý của câu này là, ngoài Chúa ra, tất cả những thứ khác đều là ma quỷ.

Khi đó, tôi nói với mục sư như thế này: "Ngoài ta ra, không có Đức Chúa Trời nào khác, <span className="note-blue">[thì ngầm hàm ý]</span> chứng tỏ rằng trong hư không vẫn còn Chúa khác."

Kì thực, Đức Jehovah nói như vậy về "Chúa" cũng đúng, bởi vì nếu ngài thừa nhận rằng có rất nhiều vị Chúa khác, <span className="note-blue">[ngộ nhỡ]</span> mọi người tin theo các vị Chúa khác, thì bản thân ngài sẽ chán nản lắm. Ở đây, chúng ta hiểu tâm tình của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời hy vọng mọi người đều có thể đi theo ngài, và cũng có thể lên được thiên đường như ngài. Ngài có thể dẫn dắt những người này hưởng phúc ở trên thiên đường.

Ngài không muốn <span className="note-blue">[các đệ tử]</span> đến với các vị Chúa khác, bởi vì hy vọng <span className="note-blue">[chỉ có nhờ vậy]</span>, việc "kinh doanh" trên cõi thiên đường của ngài mới tốt, còn tình hình "kinh doanh" của các cõi thiên đường khác thì cứ mặc kệ nó đi. Ý là như vậy. <span className="note-blue">[Đùa]</span>

Cá tính của Đế Thích Thiên:  
Kì thực, theo Sư Tôn biết, Đế Thích Thiên của Phật giáo chính là Đức Chúa Trời của Cơ Đốc Giáo, cũng chính là Thiên Chúa của Thiên Chúa Giáo, là Thánh Allah của Hồi giáo. Trước đây tôi cũng đã dành khá nhiều thời gian để tìm hiểu về vị Đế Thích này.

Cá tính của vị Đế Thích như sau: cá nhân ngài rất tốt, bản thân ngài rất giỏi, quản lý ba mươi ba cõi trời, tất cả thiên chúng đều do ngài quản lý. Phạm vi quản lý của ngài rất rộng, hơn nữa ngài mang thân phận là một Thiên Chúa, ngài hy vọng tất cả người nhân gian đều có thể tin tưởng theo ngài .

Mặc dù ngài rất giỏi, nhưng có hai khuyết điểm nhỏ: Thứ nhất là có hơi một chút cao ngạo, thứ hai là ngài lấy hơi nhiều vợ. Tôi kể như vậy, vị Đế Thích Thiên này có lẽ sẽ không tức giận, bởi vì uy năng của bản thân Đế Thích Thiên cũng rất tôn quý, toàn bộ nhân gian đều nằm dưới sự quản lý của ngài.

Có thể nói rằng ngài là Thiên Chúa của cõi Dục giới trong ba cõi giới, đồng thời, ngài cũng là Cổ Phật chuyển thế, ngài ta có duy nhất…, duy nhất…., điều này hơi khó nói! Ngài có duy nhất một kẻ địch, đó chính là bố vợ của ngài, bởi vì bố vợ của ngài cũng muốn chiếm được địa vị là Thiên Chúa của ba mươi ba cõi trời. Trên thiên đường mà có thể gây nên một vụ "Ô Yên chướng khí" như vậy chính là do ngài và bố vợ của ngài gây ra...

Ô! Tôi cũng trở nên lộn xộn rồi. Vì sao Sư Tôn lại nói mấy chuyện này nhỉ? Mặc dù Đế Thích vĩ đại như vậy, mặc dù Đức Jehovah của Cơ Đốc Giáo rất vĩ đại, Thiên Chúa, Jehovah, Đức Chúa Trời đều rất vĩ đại, nhưng họ gặp vấn đề thì vẫn phải đi hỏi Liên Hoa Đồng Tử.

Do vậy, Liên Hoa Đồng Tử lúc này mới nói cho họ, để cho mọi người được biết rằng cái gì là Chân Phật Mật Pháp. Thế nào là đạo lý tiêu tai ban phúc?

Phật pháp chân thực hoàn toàn không phải là biểu hiện sùng bái bên ngoài, đương nhiên Kinh Thánh cũng rất hay, bởi vì biểu hiện bên ngoài của nó đều là khuyên người ta làm việc thiện, khuyên người ta cần làm người thế nào, làm việc thế nào, cũng nói chuyện đạo lý.

Những điều mà Kinh Thánh giảng cũng đều là những đạo lý rất hay. Tuy nhiên, đạo lý trong Kinh Thánh vẫn là biểu hiện bên ngoài. Chúng ta đến giáo đường chính là để nghe mục sư giảng đạo, sau đó chúng ta cầu nguyện, hướng về Thiên Chúa cầu nguyện, sau đó thì sao? Chúng ta đọc văn cầu nguyện, ngâm thơ tán thán Thượng Đế. Sau đó, chúng ta có lễ Giáng Sinh, mục sư sẽ phát kẹo cho ta, đây đều là những biểu hiện bề ngoài.

Trong Phật pháp của chúng ta cũng có <span className="note-blue">[các hoạt động]</span> tương tự, ví dụ khi chúng ta sám hối thì ta niệm văn cầu thỉnh, hát tán thán, niệm Phật, tụng kinh, trì chú. Nghi thức bên ngoài này khá tương đồng với Cơ Đốc Giáo.

Trước đây trong Cơ Đốc Giáo của chúng tôi đọc văn cầu nguyện, chúng tôi dùng tiếng Đài Loan để niệm. Tôi đọc một đoạn cho mọi người nghe: "Cha ở trên thiên đường của chúng con, Cha Thượng Đế, chúng con ở đây!" Ví dụ cầu nguyện như vậy gọi là biểu hiện bề ngoài, cũng chính là sự sùng bái trên phương diện hình thức.

Dùng Phật pháp chân thực để cải vận:  
Nhưng Phật pháp chân thực thì hướng vào tìm hiểu nội tâm của bạn, hướng vào nội tâm của bạn để tìm hiểu một cách sâu xa, để thấu hiểu nội tâm bạn, khiến cho cái tâm chân chính của bạn có thể chắt lọc ra được Phật tính chân thực, biến nhân tính của bạn thành Phật tính. Tu hành như vậy mới là Phật pháp chân thực.

Như thế, Phật pháp chân thực hoàn toàn không phải là biểu hiện sùng bái bên ngoài, cũng không phải là cứ ở đó đọc kinh, niệm văn cầu thỉnh, hoặc là đi sám hối, không phải như vậy. Nó hoàn toàn là việc nhận ra thế giới nội tâm của bản thân bạn, sự thức tỉnh này mới là Phật pháp chân thực. Phật pháp không tách rời tự tâm, rời xa tự tâm liền không còn pháp thì đó cũng là ngoại đạo.

Vì thế, chúng ta đến nhà thờ, hoặc đến chùa chiền, thấy những người đến đó chỉ châm hương vái lạy, rồi nói chuyện với Bồ Tát, nói rất nhiều lời, đều là ca thán than phiền, những người này chẳng phải là học Phật pháp chân thực.

🌟

Trước đây tôi từng kể chuyện có một bà lão đem theo một buồng chuối đến chùa nói chuyện với Bồ Tát suốt từ 10 giờ tối cho đến tận 2 giờ sáng. Lão hòa thượng trông nom chùa hễ thấy bà đến là biết ngay tối nay chẳng được ngủ rồi. Tóm lại, kiểu gì cũng phải đến sáng sớm mới có thể đóng cửa chùa.

Lão hòa thượng này thấy bà lão đến liền nói với bà:  
"Bà không đến vào ban ngày được sao?"  
Bà nói:  
"Buổi tối tôi mới rảnh."

"Bà có thể nói ngắn gọn một chút không?"  
"Tôi đã tích tụ nỗi phiền muộn này bao nhiêu năm rồi, bây giờ cần phải nói với Bồ Tát, sao ông lại có thể cư xử thiếu phép tắc như vậy?"

Bà lão nói chuyện với Phật, Bồ Tát, vừa bắt đầu nói chuyện là bà bắt đầu kể lể. Nào là con trai lớn của bà bất hiếu! Thằng con trai thứ hai của bà thì hư hỏng! Thằng con trai thứ ba thì không cho bà tiền! Con dâu cả thì đuổi bà ra khỏi nhà ra sao! Con dâu thứ hai thì hễ nhìn thấy bà là trợn trừng mắt lên. Còn con dâu thứ ba thì sao? Cô ta cố ý ăn hết đồ ăn mà bà thích ăn! Tốt nhất là cho lũ chúng nó ngã hết, ngã lộn nhào, ngã gẫy chân thì thôi!

🌟

Chúng ta hiểu rằng đây chẳng phải là Phật pháp chân thực. Đây chỉ là sự sùng bái bên ngoài mà thôi. Lúc này đây, giống như chúng ta đang ngồi trong lễ đường nghe giảng đạo, hoặc đang hát thánh ca tán thán, sau đó cầu nguyện. Những việc kiểu này nhìn chung mà nói thì đều là những hành động biểu hiện bề ngoài.

Người có thể theo phương pháp giảng trong Kinh Thánh hoặc trong kinh Phật để biết cách làm người, làm việc thiện cũng đã là rất tốt, tuy nhiên đó cũng chưa phải là chân thực nhất. Phật pháp trong cuốn Chân Phật Kinh này mới có thể đủ khả năng tiêu tai, mới đủ khả năng ban phúc, cũng như đủ khả năng thay đổi vận mệnh của bạn. Không những thay đổi vận mệnh mà còn có thể giúp bạn vãng sinh đến tầng cao nhất tại Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực lạc Thế giới.

Rất nhiều người đều hy vọng có thể thay đổi vận mệnh. Các thuật sĩ giang hồ lợi dụng tâm lý này của con người nên nói rằng “tôi có thể giúp anh cải vận”, ý rằng anh phải đưa cho tôi cái gì đó thì tôi mới giúp anh cải vận, để giúp vận mệnh của anh tốt hơn. Sư Tôn cho rằng việc đó chẳng thể nào thay đổi vận mệnh được.

Các bạn muốn cải vận thì cần phải học tập Phật pháp chân thực, thay đổi từ chính nội tâm mình, có như vậy bạn mới có thể thực sự thay đổi vận mệnh. Điều này có nghĩa là phải thay đổi toàn bộ nội tại, cái gốc chân chính của bạn thì vận mệnh của bạn mới có thể thay đổi. Đó chính là "đạo lý chân thực Phật pháp tiêu tai ban phúc".  
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

### 17. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (9)

**Kinh văn:**

“Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử liền nói tiếp:  
Chư Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Có:  
Tối Thắng thế giới,  
Diệu Bảo thế giới,  
Viên Châu thế giới,  
Vô Ưu thế giới,  
Tịnh Trú thế giới,  
Pháp Ý thế giới,  
Mãn Nguyệt thế giới,  
Diệu Hỷ thế giới,  
Diệu Viên thế giới,  
Hoa Tạng thế giới,  
Chân Như thế giới,  
Viên Thông thế giới.  
Bây giờ sẽ có Chân Phật Thế Giới.

Thế là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng chư Thánh chúng nghe Thánh Tôn khai diễn Chân Phật Thế Giới.  
Biết được sự cát tường, thiện thệ, đại bi, nhân quả của quá khứ - hiện tại - vị lai, là do Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện. Ai nấy hoan hỉ chưa từng có, cúi đầu tán thán mà hát lên bài kệ.”

Pháp cúng dường của Mật giáo:  
Buổi tối hôm nay, vào lúc chúng ta làm đại cúng dường, tôi cứ nghĩ mãi, hình như không có thứ gì có thể cúng dường chư Phật, Bồ tát thì phải? Tôi vừa nhắm mắt lại liền có thể nhìn thấy những ngọn đèn rất đẹp này, những ngọn đèn rất đẹp kia. Mỗi một ngọn đèn biến hóa thành một vị Bồ tát đến đây.

Lúc đầu tôi dự định là sau khi nhìn thấy những ngọn đèn này rồi thì tôi sẽ cúng dường chúng cho tất cả các vị Phật, Bồ tát, nhưng chẳng ngờ những ngọn đèn này lại đều biến thành từng vị từng vị Phật, từng vị từng vị Bồ tát. Những ngọn đèn này là vô tận, do vậy, các vị Phật, Bồ tát cũng nhiều vô tận.

Trong lòng tôi nghĩ, làm sao có thể lấy Bồ tát để cúng dường Bồ tát đây? Tôi thấy hình như không được đúng lắm, sao có thể lấy Bồ tát để cúng dường Bồ tát được? Bây giờ thì tốt rồi, đọc tới đoạn kinh văn này là thấy có thể lấy Bồ tát để cúng dường Bồ tát rồi.

Trong Mật pháp chúng ta có một pháp là đem toàn bộ chúng sinh (dùng gạo tượng trưng cho chúng sinh) để cúng cho Phật Bồ tát, điều này biểu thị rằng người tu hành chúng ta dùng tâm của chính mình để độ chúng sinh, rồi lại cúng toàn bộ chúng sinh được độ cho Phật và Bồ tát.

Kì thực, chúng sinh đều là Phật tương lai, bên ngoài thì bạn là chúng sinh, nhưng trong tâm bạn lại có Phật tính, do vậy chúng sinh chính là Phật. Phật giáo có một câu nói rất hay rằng: "Mê là chúng sinh, ngộ liền là Phật." Do vậy chúng sinh và Phật là bình đẳng.

Hôm nay tôi nhìn thấy rất nhiều đèn. Hầy, giờ không còn đèn nữa, tất cả đều đem cúng hết rồi, đương nhiên là không còn nữa! Một cách đột ngột, những ngọn đèn này đều chẳng còn, đều đã được cúng đi hết rồi. Sư Tôn dùng Phật để cúng Phật, nói cách khác là đem chúng sinh cúng Phật, cũng như nhau cả! Do vậy, lấy Phật để cúng Phật là cách cúng chí cao vô thượng. Bởi dùng Phật để cúng dường Phật nên trở thành cả một thế giới Phật.

Thế giới của Phật:  
Ở đây, thế giới được nói đến trong đoạn kinh văn này hoàn toàn không phải là nói tới thế giới Ta Bà. Tất cả là để chỉ các thế giới của Phật. Ở đoạn này có vài thế giới, Sư Tôn sẽ kể cho mọi người những thế giới mà Sư Tôn đã từng đến từ rất nhiều đời trước đây, thậm chí từ vô lượng kiếp trước, và có một vài thế giới Sư Tôn vẫn chưa đến. Tôi không dám nói bừa, nơi nào đã từng đến thì hôm nay tôi sẽ kể cho mọi người nghe.

Tôi đã từng đến Tối Thắng Thế Giới, bởi vì trong cái tên gọi này có một chữ "Thắng" mà, giống với tên của tôi. Nơi đó gọi là Tối Thắng Thế Giới, nên tôi đương nhiên phải đến đó rồi, bởi vì trong tên của tôi cũng có chữ Thắng đó mà. Có phải thế không? Kì thực, Tối Thắng Thế Giới chính là thế giới gốc, thế giới cơ bản, chính là thế giới của Đại Nhật Như Lai, và cũng chính là Tối Thắng Cung Thế Giới.

Tên tôi có một chữ Thắng, tôi thừa nhận trước đây mình cũng tương đối hiếu thắng, viết văn chương cũng có phần ghê gớm. Cái phản ứng "giữa đường gặp chuyện bất bình bèn cầm dao xông tới giúp" này dường như có chút hơi hướng của anh hùng hảo hán, thế nhưng bây giờ thì sao?

Tôi tu Tứ vô lượng tâm rồi, tu pháp tĩnh tịch rồi, muốn học Bồ tát nên tâm cũng đã mềm hơn. Thế giới hiện tại của Sư Tôn chính là "Tối Thua Thế Giới, thế nên ba cái chữ Lư Thắng Ngạn này của tôi nên đổi thành Lư Thua Ngạn, không phải Thắng nữa mà là Thua, không chỉ là thua mà còn thua sạch sẽ. Trước đây, Sư Tôn đã từng đến Tối Thắng Thế Giới, bởi vì Tối Thắng Pháp Giới Cung chính là thế giới của Đại Nhật Như Lai. Trong cuốn văn tập "Đêm ở hồ U Linh", Sư Tôn có nhắc đến Tối Thắng Pháp Giới Cung.

Thế còn thế giới thứ hai, Diệu Bảo Thế Giới, tôi cũng đã đến đó rồi. Có người nói: "Ngài đã đến Diệu Bảo Thế Giới, thế ngài có đem thứ gì về cho chúng tôi xem không?" Tên gọi Diệu Bảo Thế Giới này hoàn toàn không phải là nói tới những bảo vật đó, cũng hoàn toàn không phải là nói mang bảo vật trong nội tâm ra để cho mọi người xem đâu! Diệu Bảo không phải chỉ bảo vật, mà là pháp bảo, pháp bảo mới là diệu bảo. Thế giới này là thế giới của Bảo Sinh Phật, do vậy được gọi là Diệu Bảo Thế Giới.

Tiếp theo, chúng ta nói về Viên Châu Thế Giới. Những người đã từng đến mật đàn của tôi, trông thấy quả cầu thủy tinh tròn tròn liền nói: "Hẳn Viên Châu Thế Giới chính là thế giới trong quả cầu thủy tinh đó." Không phải vậy, tuy nhiên tôi chưa từng đến thế giới này, nên thực tình cũng không biết nó như thế nào, do vậy tôi sẽ không nói về nó. Sau này tôi đi tới đó, khi trở về sẽ kể lại cho mọi người nghe.

Tiếp đến là Vô Ưu Thế Giới. Vô Ưu Thế Giới này Sư Tôn đã đến rồi, đó là thế giới của Di Lặc Bồ Tát. Sư Tôn có hai chiếc Hồng Quán Thánh Miện, một chiếc là chính là Hồng Quán vô hình, chỉ có người có pháp nhãn, huệ nhãn, Phật nhãn, thiên nhãn mới có thể nhìn thấy, mắt trần thì không nhìn thấy được. Chiếc Hồng Quán mà mắt trần của mọi người nhìn thấy là do Thượng sư Trịnh Dư Tín mua cho tôi đó. Bởi vì Thượng sư Trịnh thấy chiếc mũ đó cũng tương đối rẻ. Kì thực, chiếc Hồng Quán đó là một chiếc mũ thô sơ nhất trong số mũ miện Ngũ Phật. Chiếc mũ Ngũ Phật đó đội lên trông trang nghiêm nhất, đẹp nhất, nhưng cũng lại là chiếc mũ vừa rẻ nhất vừa thô sơ nhất. Tuy vậy nói thật lòng, chiếc mũ Ngũ Phật đó tôi vẫn chưa dám đội. Chiếc mũ Ngũ Phật quý giá nhất là chiếc mũ vô hình hiện đang ở chỗ của Di Lặc Bồ Tát. Nó có lúc thì ở chỗ của Sư Tôn, có lúc thì lại bay trở về chỗ của Di Lặc Bồ Tát.

Tiếp đến, chúng ta nói về Tịnh Trú Thế Giới. Nơi này tôi chưa đến. Tôi cũng chưa đến Pháp Ý Thế Giới. Những nơi này sau này tôi đi về rồi sẽ nói sau.

Tiếp theo là Mãn Nguyệt Thế Giới, tôi đã đến rồi. Vào ngày rằm chính là lúc trăng tròn nhất, mọi người đều có thể nhìn được. Trước đây vào buổi tối hôm rằm, chúng tôi đo trắc lượng thiên văn "nguyệt yểm tinh quan trắc", đây là một thuật ngữ trong ngành trắc lượng. Nguyệt yểm tinh quan trắc chính là sử dụng một loại dụng cụ đo đạc cao cấp. Khi ánh trăng chiếu vào bên trong khí cụ thì sẽ xuất hiện tại đĩa thủy tinh bên trong một vòng tròn. Đó chính là việc quan sát nguyệt yểm tinh, chúng tôi nhìn được rất rõ ràng. Đây chỉ là một cách gọi, không thể dịch ra được! Thế giới đó chính là của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thế giới của Phật Dược Sư. Đương nhiên tôi đã đến rồi, vì ngài là một trong bát đại bổn tôn mà!

Mặt trăng có lúc màu trắng, có lúc màu lưu ly, có lúc màu xanh lam, mọi người đã từng nhìn thấy mặt trăng màu lam chưa nhỉ? Trước đây chúng ta có một bài hát tên gọi là "Bé trăng giống quả chanh", thế thì quả chanh là màu lam sao?

Bởi vì thế giới của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật rất nhiều màu lưu ly, hơn nữa lại tròn như mặt trăng, giống như mặt trăng tròn đầy, biểu thị rằng ở nơi đó tất cả mọi thứ đều vô cùng thanh tịnh, vô cùng viên mãn, hơn nữa lại sáng rực rỡ. Một thế giới như vậy tất là thế giới của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

Tiếp đến là Diệu Hỷ Thế Giới. Tôi đã đến đây rồi, đây là thế giới của A Súc Phật. Thế giới của A Súc Phật tất cả đều cực kì vui vẻ, mỗi người sống ở đó đều vô cùng vui vẻ, thỏa mãn, không hề có tranh đấu. Đây chính là một thế giới không có sự ganh đua. Mỗi vị Bồ Tát, mỗi vị Phật khi gặp nhau đều tràn đầy pháp hỷ. Đồ ăn đồ uống ở thế giới này rất kì lạ, các vị đều lấy pháp hỷ của thiền định làm thức ăn. Pháp hỷ của thiền định thì ăn thế nào đây? Sau này các bạn đến thế giới này sẽ biết thôi.

Tiếp theo là Diệu Viên Thế Giới, tôi chưa đi tới đó.

Tiếp nữa là Hoa Tạng Thế Giới, các bạn đọc trong kinh điển đều thấy có nhắc đến, Hoa Tạng Thế Giới trùng trùng vô tận, quang hoa của thập phương thế giới đều ẩn giấu ở đây, vậy nên gọi là Hoa Tạng Thế Giới. Tôi chưa từng lưu lại ở thế giới này, chỉ đi ngang qua, nghĩa là chỉ đi ngang qua đường mà thôi.

Còn Chân Như Thế Giới là thế giới của Bất Không Phật, tôi chỉ nghe nói đến, chưa từng đến đó. 

Viên Thông Thế Giới chính là thế giới của Quan Thế Âm Bồ Tát, thế giới của Quán Tự Tại Như Lai.

Tiếp theo, kể từ hôm nay về sau, chính là kể từ lúc tôi đang giảng này trở về sau sẽ xuất hiện Chân Phật Thế Giới. Xin hỏi mọi người, Chân Phật Thế Giới này là nơi như thế nào? Đó chính là thế giới của Liên Hoa Đồng Tử (Liên Hoa Bồ Tát), là thế giới của chính bản thân ngài, chính là Ma Ha Song Liên Trì.

Vì sao chúng ta cần nói đến những thế giới này? Giống như địa cầu của chúng ta cũng là một thế giới, thế giới địa cầu được gọi là thế giới Ta Bà.

Tôi cảm thấy rất kì lạ, rằng vì sao trong kinh Phật lại gọi toàn bộ địa cầu này là thế giới Ta Bà? Cá nhân tôi cảm thấy, "Ta" được gọi ở đây là để chỉ cát trên mặt đất của chúng ta, do vậy Phật Thích Ca Mâu Ni rất thông minh, ngài nói về thế giới này cần hình dung nó như thế nào? Ngài đưa mắt nhìn, ai chà! Đều là cát, khắp nơi đều là cát, bởi vậy nên đây là thế giới của cát. Còn chữ "Bà" này thì tôi chẳng nghĩ ra được, có lẽ Phật Thích Ca Mâu Ni thường thấy trên thế giới này rất nhiều người, mỗi người đều cực kì ngu muội (gọi là ngu muội chính là ngu si ngốc nghếch vậy), lại cũng không muốn tu hành, bảo họ tu hành thì rồi cũng chẳng biết họ đang làm cái gì nữa. Nói với họ rằng Tây phương Cực Lạc thế giới tốt như thế, họ cũng nghe không hiểu, vừa điếc vừa câm, vừa run lẩy bẩy, vừa ngu si vô tri, cũng chẳng khác gì bà lão già yếu.

Cuối cùng thì tôi cũng hiểu ra rồi. Hóa ra Phật Thích Ca Mâu Ni nhận thấy thế giới Ta Bà này khắp nơi là cát, con người ở đây thì đều giống như những bà lão già nua vô tri ngu muội, do vậy nên mới gọi là thế giới Ta Bà.

Thế còn Tối Thắng Thế Giới và các thế giới khác đương nhiên không phải tồn tại ở thế giới Ta Bà hay toàn bộ địa cầu chúng ta đâu. Tuy nhiên:  
Hai chữ Tối Thắng chính là đệ nhất.  
Hai chữ Diệu Bảo là pháp bảo vi diệu.  
Hai chữ Viên Châu chính là quang minh viên mãn.  
Hai chữ Vô Ưu chiníh là không có phiền não.  
Hai chữ Tịnh Trú chính là thế giới hoàn toàn thanh tịnh.  
Hai chữ Pháp Ý chính là ý thức Phật pháp tràn đầy.  
Hai chữ Mãn Nguyệt là lưu ly tròn đầy.  
Hai chữ Diệu Hỷ chính là pháp hỷ vi diệu tràn đầy.  
Hai chữ Diệu Viên chính là viên mãn vi diệu.  
Hai chữ Hoa Tạng chính là thế giới hoa sen trùng trùng điệp điệp vô tận.  
Hai chữ Chân Như, Chân chính là hoàn toàn chân thực, Như là Như Lai.  
Hai chữ Viên Thông chính là thập phương pháp, thập phương Phật, thập phương tăng toàn bộ đều viên mãn, đầy ắp cả thế giới.

Chân Phật chính là thế giới tương lai, là Phật pháp đích thực, chân thực. Trong Phật pháp chân thực này sẽ xuất hiện pháp và tất cả chư Phật, Bồ tát chân thực, tất cả đều ở trong thế giới này.

Chúng ta lại giảng tiếp một đoạn nữa:  
“Thế là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng chư Thánh chúng nghe Thánh Tôn khai diễn Chân Phật Thế Giới. Biết được sự cát tường, thiện thệ, đại bi, nhân quả của quá khứ - hiện tại - vị lai, là do Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện. Ai nấy hoan hỉ chưa từng có…”

Đoạn văn này nói rằng tất cả chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, còn có tất cả thiên chúng ở tại Ma Ha Song Liên Trì, bao gồm hai mươi tám cõi trời, ba mươi ba cõi trời, nghe được Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử đang giảng về toàn bộ Chân Phật Thế Giới, thế là họ liền biết được đây là pháp duyên rất vĩ đại của quá khứ, hiện tại, vị lai.

Cát tường thiện thệ đại bi nhân quả:  
Chúng ta nói về hai chữ cát tường trước. Rất nhiều người khi nhận được thư trả lời của Sư Tôn đều thấy trong thư viết hai chữ “cát tường”. Cát tường có nghĩa là sao? Nghĩa là tốt nhất, lành nhất, so với những thứ tốt đẹp nhất vẫn còn tốt đẹp hơn thế, nói cách khác là không có gì tốt đẹp hơn sự cát tường này cả.

Thế nào là thiện thệ? Từ thiện thệ này rất khó giải thích. Trước đây, tôi đặc biệt vì hai chữ thiện thệ này mà đã tham khảo các kinh điển Phật giáo, rồi tra cả từ điển, đây chính là một danh hiệu của Phật, nghĩa là cái chết rất tốt lành. Thiện chính là tốt lành, thệ chính là qua đời. Ôi chà! Nếu mà căn cứ theo từng chữ mà giải thích như vậy thì không hẳn đâu! <span className="note-blue">[Cần hiểu]</span> Thiện Thệ chính là một trong mười danh hiệu của Như Lai, nghĩa là tất cả mọi thứ đều tốt lành.

Mọi người lại nghĩ không ra, sao có thể như vậy được nhỉ? Trong số mười danh hiệu của Như Lai lại có cái chết tốt lành sao? Tôi nói cho mọi người biết, điều này là thật đó. Một điều vui nhất trong đời người chính là khi nên chết thì chết, khi nên sống thì sống. Vì thế ở đây, khi Như Lai xuất hiện là vừa đúng lúc, khi ngài đi cũng là đúng lúc, vậy mới chính là Như Lai đó! Khi ta cần đến thì đến, khi cần đi thì đi, vừa hay khi mọi người muốn mời khách đến thì ngài đến, vừa ngay khi sắp xảy ra chiến tranh thế giới thì ngài đi, ngài chẳng muốn làm lính. Tôi nói cho mọi người biết, hai chữ này không hề đơn giản chút nào!

Chúng sinh trên đời này chẳng ai có thể Thiện Thệ, chỉ có Như Lai mới có thể Thiện Thệ, ngài biết rằng thế giới hiện tại không có Phật pháp, thời điểm nên đến thì ngài đến, còn khi rất nhiều Như Lai đều đến thế giới này rồi thì ngài không cần phải đến nữa, thế nên sẽ không đến. Bởi thế nên một trong số mười danh hiệu lớn của Phật chính là Thiện Thệ. Do đó, ngày hôm nay Sư Tôn có thể ở đây thuyết pháp cũng chính là thiện thệ. Cái chữ "thệ" này đại diện cho sự sinh ra và chết đi một cách đúng lúc, ở đây có mấy ý nghĩa như vậy.

Tiếp theo, nói về đại bi nhân quả. Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh tại thế giới Ta Bà này đều có nguyên nhân, có quả, do vậy mới gọi là nhân quả. Thế nào gọi là đại bi? Nghĩa chính là đại từ đại bi đó. Ở một nơi tốt đẹp như vậy mà ngài không ở, lại đến ở nơi bẩn thỉu này. Bạn cho rằng Sư Tôn lái xe Rolls Royce thì tâm trạng rất vui phải không? Kì thực khi trông thấy đồng hồ đo xăng này, khi thấy xăng bị tiêu thụ lãng phí, trong lòng tôi thấy rất xót xa! Tôi lại nghĩ đến tòa sen trắng mà tôi ngồi ở tại Ma Ha Song Liên Trì, muốn đi đâu là có thể tới đó, làm gì có chuyện xe chảy xăng với xe chảy nước.

Hoa sen thì chẳng thể nào chảy dầu rồi, cũng chẳng chảy nước, cũng chẳng cần bơm xăng, cũng không cần tốn chi phí gì cả, chỉ cần chuyển suy nghĩ một cái là hoa sen có thể bay đến nơi khác. Chính vì thương xót chúng sinh trong thiên hạ, chính vì có "đại bi nhân quả" này, do vậy mới "thiện thệ" - sinh ra tại nơi đây, và cũng ra đi tại nơi đây. Nói tóm lại, bởi vì "Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện", đại bi nhân quả như vậy là vô cùng thù thắng, thế nên rất nhiều vị Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, cùng ba mươi ba thiên chủ, hai mươi tám thiên chúng nghe được sự thuyết pháp như vậy, ai nấy đều vô cùng hoan hỉ, biết rằng việc này trước nay chưa từng có.

Vốn dĩ trước nay chưa từng có sự việc như vậy. Trước đây ai đã nói về Ma Ha Song Liên Trì? Trước đây ai đã nói về mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử? Căn bản là không có! Vậy thì Sư Tôn "không có" mà làm ra "có" ư? A, không phải là "không có" mà làm ra "có", nói vậy là sai rồi! Là từ cái vô hình biến thành cái hữu hình, cái vô hình biến thành cái hữu hình chính là từ Không làm ra Có đó!

🌟

Tôi đích thực là đến từ Ma Ha Song Liên Trì, cần phải thề thế nào mọi người mới tin đây nhỉ? Kì thực tôi có thề thế nào mọi người cũng đều chẳng tin! Người nào tin thì sẽ tin, người nào không tin thì vẫn cứ không tin, do vậy độ chúng sinh rất khó! Chính vào buổi tối của cái ngày mà tôi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn đó, tôi đã được du hành vào thế giới hư không rộng lớn, đích thực thấy Ma Ha Song Liên Trì, hơn nữa còn có Phật Bồ tát nói bên tai tôi rằng: "Vị kia chính là Liên Hoa Đồng Tử."

Tôi nhìn thấy vô cùng rõ ràng chân thực. Buổi tối hôm đó, tôi thực sự nghe thấy, thực sự nhìn thấy. Tôi đã đi gặp rất nhiều người xuất gia, hỏi han rất nhiều lão hòa thượng tu pháp, đại pháp sư, tôi kể với các vị nghe, họ đều nói những gì tôi kể là lời ma quỷ, thế thì tôi chịu rồi. Tôi đích thực nhìn thấy, đích thực nghe thấy, vậy phải làm sao đây? Phật Bồ tát còn muốn tôi sau này phải độ rất nhiều chúng sinh nữa.

Trước đây, trước cuốn sách số 16, tôi sáng tác văn nghệ, thơ tình, tản văn, tiểu thuyết. Từ cuốn số 16 trở đi, tôi mới bắt đầu đổi sang viết về đạo và Phật. Có một số người nói: "Lư Thắng Ngạn này có mục đích bất lương, hắn ta có lẽ có ý đồ gì đó, nên mới thêu dệt thế giới về Liên Hoa Đồng Tử, sau đó đi lừa bịp chúng sinh trong thiên hạ."

Tuy nhiên, hôm nay tôi nói thẳng với mọi người: "Những gì ngày hôm đó Sư Tôn nhìn thấy và nghe thấy, thực sự hoàn toàn không có một câu nào giả dối." Bởi vì mọi người <span className="note-blue">[ở đây]</span> đều tin tưởng tôi, nên tôi không cần thề trước mặt mọi người nữa nhé! Nhưng câu nói thành thật này khi tôi nói trước nghìn người vạn người và đưa ra lời thề, lời thề cho dù rất nặng, hoặc thề một cách nào đó, thì người không tin vẫn cứ không tin, thế nên tôi thực sự cũng chẳng có cách nào cả! Bởi thế, pháp này vô cùng khó có được, vô cùng thù thắng! Sau này, vì mục đích thảo luận về sự chân thực không hề hư giả của thế giới của Liên Hoa Đồng Tử, về thế giới Ma Ha Song Liên Trì, tôi nhất định còn phải biểu diễn vài trò hay cho mọi người xem! Mấy trò hay này có thể là tôi làm cho đồ gì đó biến mất, rồi biểu diễn thêm mấy trò thần biến, rồi mấy trò biến hóa thần kì, nhưng không phải là ảo thuật.

Như thế ở thế giới hiện tại này phải để mọi người đích thân nhìn thấy thì mọi người mới tin, còn chỉ dùng ngôn ngữ và văn chương để khiến mọi người có thể tin bạn thì vô cùng khó khăn! Trước đây mẹ tôi đã từng nói: "Cho dù có phanh ngực của con ra, lấy tim của con ra cho mọi người xem, thì người ta vẫn sẽ còn ghê tởm mùi máu tanh."

Bây giờ tôi chỉ có thể nói với các bạn thế này, tôi đã thực sự đích thực đến đó, tôi nhắc lại một lần nữa là: tôi thực sự đã đến. Người nào tin thì có phúc, người nào không tin thì vô duyên. Om mani padme hum.

### 18. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (10)

**Kinh văn:**

"Thánh Tôn đại từ bi.  
Vô thượng bí mật tôn.  
Quá khứ sớm tu chứng.  
Giới siêu phàm thoát tục.  
Nay lập Chân Phật Giới.  
Xót thương chư chúng sinh.  
Hóa thân làm giáo chủ.  
Hạ giáng cõi Ta bà.  
Lành thay hiệu Liên Sinh.  
Vì chúng sinh quảng thuyết.  
Chúng con đều đã nghe.  
Nguyện sẽ đại hộ trì."

Thánh tôn đại từ bi:  
Tôi giải thích ba chữ "đại từ bi" trong câu thứ nhất "Thánh Tôn đại từ bi". Gọi là "đại từ" cũng chính là sự cứu độ quảng đại vô lượng. Vì sao bạn lại không nói là "tiểu từ bi"? Cũng có "tiểu từ bi" đấy <span className="note-blue">[sự ích kỉ]</span>, con người bình thường, đại bộ phận con người, đại bộ phận chúng sinh đều chỉ có tiểu từ bi. Ví dụ, người nọ phát hiện ra ở nơi kia dễ kiếm tiền, anh ta liền một mình đi tới đó kiếm tiền, không nói cho người khác biết. Ví dụ Thượng sư Triệu Thiếu Đông, bây giờ ông ấy đang làm *agent <span className="note-blue">[môi giới]</span>*, nơi nào dễ kiếm tiền, ông ấy sẽ không nói cho agent thứ hai biết, không nói cho agent thứ ba biết, ông ấy làm ăn kinh doanh như vậy cũng có lý của ông ấy, nếu như ông ấy để cho người khác biết tin tức tốt, thông tin hay, vậy thì ông ấy còn kiếm được gì, uống được gì, ăn được gì đây?

Thế còn, vì sao lại gọi là Thánh Tôn "đại từ bi"? Tôi biết một phương pháp tu hành có thể đến được Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới, tôi đã biết, hơn nữa tôi còn biết có một nơi như thế thì một mình tôi đi tới đó là được rồi, hà tất phải nói cho mọi người làm gì. Tôi nói một câu tương đối thực tế. Đồ ăn ở nơi đó ăn bất tận. Sau đó thì sao, nói một điều rất thực tế nữa, đó là cung điện ở nơi đó vô cùng đẹp, người phục vụ bạn ở đó có rất nhiều, rất nhiều, tôi một mình đi tới đó là được làm vua. Chính bản thân tôi biết điều này, nhưng tôi không giấu cho riêng mình, mà tôi nói cho mọi người về nơi này, về pháp này để mọi người đều biết và có thể đi tới đó, đây gọi là đại từ bi.

Tôi không cho rằng Ma Ha Song Liên Trì này là của riêng tôi, không ai được đến cả, không giống như một số các Thượng sư ngày nay. Kiểu như tôi chiếm vùng phía nam, anh chiếm vùng phía bắc, nếu Thượng sư ở nam bộ chạy tới bắc bộ, như vậy là xâm nhập vào địa bàn của anh rồi, Thượng sư ở bắc bộ của anh chạy tới vùng nam bộ của tôi thì cũng xâm nhập vào địa bàn của tôi. Nơi của anh thì thuộc về Thượng sư ở nơi đó quản, đệ tử ở đó chạy tới bắc bộ thì coi như là gián điệp. Đệ tử ở bắc bộ chạy tới trung bộ để đồng tu thì cũng bị nói là gián điệp! Do vậy, kì thực, đệ tử Chân Phật Tông không nên phân biệt lẫn nhau, mọi người đều cần phải có lòng từ bi, không thể chỉ có "tiểu từ bi" được.

Đừng chỉ có chăm chăm lo cái đỉnh núi của ta, thức ăn ở nơi đây là của ta thu thập, có ai từ nơi khác đến thì lại xem như là xâm nhập vào địa bàn của ta, hơn nữa xem họ tới nơi đây để cắt xén thóc gạo của ta. Do vậy, người học pháp tu hành chúng ta cần có tâm đại từ bi, không thể giống như đại chúng trong xã hội chỉ có tiểu từ bi, tấm lòng tiểu từ bi cũng chính là lòng ích kỉ, "Thánh Tôn đại từ bi" được nói đến ở đây chính là có ý nghĩa như vậy.

Vô thượng bí mật tôn:  
Câu thứ hai nói rằng "vô thượng bí mật tôn". Tình hình hiện tại càng ngày càng thể hiện rõ hai chữ "vô thượng" của tông phái chúng ta. Thế nào gọi là "bí mật tôn"? Kì thực, tôi chính là bí mật tôn đây! Từ rất rất lâu trước đây tôi đã biết những sự tình kiếp trước của mình. Thế nhưng khi tôi còn ở Đài Loan, tôi luôn luôn không nói ra những bí mật kiếp trước của mình. Sau khi tôi đến nước Mỹ thì tôi mới nói ra những bí mật này trong sách. Bởi vì trước đây tôi không nói, bây giờ mới nói, nên bí mật trước đây đến bây giờ đã không còn là bí mật nữa rồi, hiện nay tôi càng ngày càng được người ta tôn sùng, đây chính là một dạng biểu trưng vô thượng.

Quá khứ sớm tu chứng:  
Câu nói "quá khứ sớm tu chứng" cũng có nghĩa là từ rất lâu trong quá khứ đã vốn là Phật rồi! Quá khứ đã thành Phật rồi, rất nhiều kiếp trước đã thành Phật rồi.

Chính tôi biết rằng, đời quá khứ của Sư Tôn rất thân cận với Đại Nhật Như Lai - Tỳ Lô Giá Na Phật, cũng rất thân cận với Phật Nhãn Phật Mẫu, với A Di Đà Phật lại càng giống như mối quan hệ cha con, có vẻ như càng nói ra thì lại càng huyền bí. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không khác gì anh em với tôi, còn Di Lặc Bồ Tát thì sao? Ngài chính là bác của tôi. Còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thì sao? Nói thẳng là giữa ngài và tôi chẳng hề phân biệt! Vì thế nói tóm lại, các vị đều giống như người thân họ hàng của tôi, điều này chính là "quá khứ sớm tu chứng".

Chư vị đừng cho rằng Sư Tôn lại tự cao tự đại rồi. Bình thường tôi đều rất khiêm tốn, thế mà bây giờ càng nói lại càng nghe rất to tát. Kì thực, các bạn cũng vậy thôi, nếu mỗi người tu hành, một khi đã khai ngộ rồi, thì đều trở thành họ hàng thân thiết với Phật Bồ Tát cả, các bạn cũng như vậy thôi!

Bởi vì quá khứ đã sớm tu chứng rồi, nên hiện tại tôi cũng đã rời xa mọi dục vọng của thế gian, vượt lên trên khỏi thế giới Ta Bà. "Nay lập Chân Phật Giới", ý nghĩa của "Chân Phật Giới" này chính là biến Ma Ha Song Liên Trì thành Chân Phật Thế Giới, vì thế lại càng đồng cảm vô cùng với chúng sinh hữu tình tại thế giới Ta Bà.

Hóa thân làm giáo chủ:  
Rất nhiều người chỉ vì câu tiếp theo này mà đến hỏi tôi thế nào là "hóa thân làm giáo chủ", họ nói: "Sư Tôn chẳng phải là chủ của tông phái sao? Sao lại vừa là giáo chủ vừa là tông chủ? Làm họ chẳng hiểu gì cả!" Rất nhiều người e sợ hai chữ "giáo chủ" này, bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni chính là giáo chủ của Phật giáo! Nếu bây giờ tôi là giáo chủ, chẳng phải là gạt Phật Thích Ca Mâu Ni qua một bên sao, bởi vì giờ chính tôi làm giáo chủ mà! 

Tôi giải thích với họ như sau, tôi giải thích thế này: Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của thế giới Ta Bà, còn như giáo chủ của Tây phương Cực Lạc thế giới chính là A Di Đà Phật, Ngũ Phật của năm phương đều là giáo chủ. Thế còn, giáo chủ của Chân Phật Thế Giới tương lai là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, ngài là giáo chủ của Chân Phật Thế Giới.

Bởi vậy, phần trước đã viết về rất nhiều thế giới, và kì thực, mỗi thế giới đều có một vị giáo chủ. Tối Thắng Thế Giới, Diệu Bảo Thế Giới, Viên Châu Thế Giới, Vô Ưu Thế Giới, Tịnh Trú Thế Giới đều có giáo chủ. Giáo chủ của Ta Bà Thế Giới chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đó không phải là tôi muốn đoạt ngôi vị đâu, mọi người không cần phải căng thẳng! Rất nhiều người rất căng thẳng, bao gồm cả đệ tử tông phái chúng ta và đệ tử các tông phái khác, dường như cho rằng Lư Thắng Ngạn muốn làm giáo chủ của Thế Giới Ta Bà, thế thì Phật Thích Ca Mâu Ni tính sao đây?

Lành thay hiệu Liên Sinh:  
"Lành thay hiệu Liên Sinh", “liên sinh” chính là hóa sinh từ hoa sen đó! “Lành thay” nghĩa là rất tốt, pháp hiệu của ngài chính là có ý nghĩa hóa sinh từ hoa sen.

"Vì chúng sinh quảng thuyết" nghĩa là bắt đầu vì chúng sinh trong thiên hạ mà tới để hoằng dương Phật pháp, tuyên thuyết rộng khắp Chân Phật Mật Pháp. Những ai đến nghe pháp hiện tại đều đã nghe được rồi. Do vậy, họ mới nguyện rằng sẽ vì Chân Phật Thế Giới này, vì Chân Phật tông phái và vì Chân Phật Mật Pháp mà sẽ đến để làm công tác "đại hộ trì".  
Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

### 19. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (11)

**Kinh văn:**  
"Lúc bấy giờ, Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng: Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."

Bàn về tâm từ bi:  
Tuần trước chúng đã đã nói đến đại từ bi và tiểu từ bi. Chúng ta nói chuyện rằng Thượng sư Thiếu Đông trên phương diện làm kinh doanh thì là tiểu từ bi, bởi vì khi ông ấy làm môi giới, biết được tin tức tốt sẽ không nói ra, thế nên công việc môi giới của ông ấy đặc biệt tốt! Do đó tối hôm nay ông ấy mới đến muộn như vậy! Tuy nhiên tôi xin bổ sung thêm một chút, đó là Thượng sư Thiếu Đông của chúng ta cũng có đại từ bi.

Trước đây khá lâu, tôi một mình lái xe tới Vancouver, ngày hôm trước lái xe đi, ngày hôm sau đã lại lái xe về. Có thể là do tinh thần tôi cực kì tập trung cho nên tròng mắt tôi có chút bất động, lưng thì giữ thẳng quá nên sau khi trở về thì lưng và eo của tôi bị đau. Tôi đã từng bị đau dây thần kinh ở vùng này, đau mất hai, ba tiếng, bởi vì thời gian lái xe đi mất ba tiếng, lái về mất ba tiếng nữa, tổng cộng là sáu tiếng, cũng xem như là một chặng lái xe dài.

Thượng sư Thiếu Đông của chúng ta trên phương diện tinh thần hoằng pháp thì có đại từ bi. Bạn nghĩ mà xem, mỗi tối thứ bảy, ông ấy lái xe suốt ba tiếng để đến Lôi Tạng Tự làm phiên dịch, phiên dịch xong, ông lại lái xe ba tiếng trở về Vancouver. Ở đây chúng ta có rất nhiều đệ tử đến từ Vancouver, họ cũng như vậy, mỗi lần đều lái xe ba tiếng tới đây rồi lại lái xe ba tiếng trở về, việc này không hề đơn giản. Nếu không có tâm từ bi lớn, hoặc tâm hoằng pháp, hoặc tâm muốn nghe pháp, thì không thể làm được. Ví dụ như Phật đường Bồ Đề ở Vancouver, tôi vẫn chưa từng đến tham gia đồng tu của họ lần nào, một lần cũng chưa, bởi vì tôi ngại phải lái xe tận ba tiếng đồng hồ, rồi lại lái xe ba tiếng để trở về, do vậy, trên tinh thần hoằng pháp mà nói thì Thượng sư Triệu thực sự là đại từ bi.

Nghĩ xem, trên đường đi vào buổi tối thì cũng chẳng ngắm được phong cảnh gì, chỉ là một màn đêm dày đặc mà thôi! Có thể nhẫn nại lái xe trong màn đêm ba tiếng đồng hồ để trở về, về đến nhà thì đã quá nửa đêm rồi, không chỉ một lần, hai lần, mà là cả năm nay rồi. Về điểm đó thì tôi thua rồi! Do đó, tôi rất cảm ơn họ đã đến đây, chính là những đệ tử ở Vancouver đó, họ có thể vội vã đến đây rồi trở về, trong lòng tôi thực sự vô cùng cảm động.

Bây giờ chúng ta đọc một đoạn Chân Phật Kinh: "Lúc bấy giờ, Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng: Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo." 

Đoạn kinh văn này, tôi đã từng giảng tại một trung tâm hội nghị ở góc phía bắc của Hồng Kông rồi, nhưng hôm nay tôi giảng lại từ đầu một chút. Đoạn văn này chính là một đoạn quan trọng nhất trong toàn bộ Chân Phật Kinh, cũng chính là tinh hoa của cả bản kinh này. Mỗi hành giả Chân Phật chỉ cần thực hiện đúng được như đoạn này thì đã thành Phật rồi. Đoạn văn này chính là bí mật của toàn bộ Chân Phật Kinh. Nhưng cũng không thể nói rằng có đoạn văn này rồi thì phần trước không cần nữa, phần sau cũng không cần nữa. Tôi bảo mọi người đọc Chân Phật Kinh một nghìn biến, thì mọi người không đọc phần nào khác, chỉ đọc mỗi đoạn này, thế thì sẽ rất nhanh hoàn thành xong một nghìn biến Chân Phật Kinh. Nhưng hôm nay tôi nói với các bạn, chỉ cần mọi người làm theo được như những gì bạn đọc tụng, tinh thần phù hợp được đúng như đoạn văn này, thì bạn đã là một Chân Phật chân chính rồi, vô niệm chính là “chính giác Phật bảo”.

Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo:  
Thượng sư Thường Nhân từng hỏi tôi: "Vì sao rất nhiều công án Thiền tông đều rất khó hiểu?" Ví dụ có một thiền sư nọ ngồi trước một đoạn thân tre, ông ta cứ ngẫm nghĩ về một vài câu hỏi. Lúc này, đột nhiên có một âm thanh "póc" vọng đến. Khi đoạn tre nứt ra thì kêu "póc" một tiếng, ngay lúc đó thiền sư liền khai ngộ. Nghe thấy âm thanh này ngài liền khai ngộ luôn.

Có rất nhiều thiền sư ngồi thiền trong rừng. Bỗng nhiên một chiếc lá từ trong không trung rơi xuống, họ liền giác ngộ luôn. Ngồi thiền trong rừng, đột nhiên có chiếc lá từ trong không trung rơi xuống, nhìn thấy lá rơi xuống, rơi trên mặt đất, "soạt" một tiếng, thế là giác ngộ liền. Có thiền sư thì chạy bạt mạng, cứ chạy mãi, chạy mãi không ngừng, rồi đột nhiên, chân khuỵu xuống, cả người đổ sập xuống, "bộp" một tiếng, đầu đập xuống đất một cái, thế là liền giác ngộ. Hoặc như đại thiền sư thấy tiểu thiền sư vẫn chưa khai ngộ, liền lấy một cái gậy, rồi gõ vào đầu một cái như thế này, thế là tiểu thiền sư liền giác ngộ! Nếu những chuyện như thế này mà có thể khiến giác ngộ được thì mọi người đều sẵn lòng làm. Đợi một chút đến khi tỉnh ngộ rồi thì mọi người lại nói: *"Master go to the court, I suit you in the court." <span className="note-blue">[Sư Tôn mau ra tòa, tôi kiện thầy ra tòa.]</span>* A! Mọi người đều cùng kiện tôi.

Kì thực, ở đây chỉ có một chữ thôi! Sư Tôn sẽ nói về bí mật của công án thiền tông, mọi người hãy ngoáy tai cho thật sạch và nghe cho cẩn thận, không có gì kì lạ cả, nói ra thì chẳng còn một xu giá trị. Còn nếu không nói ra thì tôi sẽ bảo mọi người nghĩ trong ba năm, chỉ một chữ thôi, đó là "dừng". Đó chính là bảo bạn "dừng lại". Bạn cứ nghĩ, nghĩ rất lâu cũng chẳng nghĩ ra gì, rồi đột nhiên, tiếng cây tre nứt "póc" một tiếng, âm thanh này chính là bảo bạn: "Này! Ây! Đừng nghĩ nữa, không cần nghĩ." Lão thiền sư đi đi lại lại, ngã đánh "bộp" một tiếng, ui chà, đây cũng chính là "dừng". Sư Tôn lấy cây gậy đánh vào đầu bạn, các bạn đều ngất xỉu, rồi bất tỉnh, đây cũng chính là "dừng". Sao lại thế? Vì sao mà cái sự "dừng" này lại có thể làm khai ngộ được? "Dừng" chính là bảo bạn đừng nghĩ nữa! Đừng nên có suy nghĩ nữa! Không suy nghĩ nữa chính là đang ở trong "vô niệm".

Vừa nãy chúng ta ở bên đó nhập tam ma địa là nhập vào tam ma địa nào? Khi nãy mọi người nhập tam ma địa rồi, thế bạn có nghĩ là tam ma địa nào không? Mọi người nghĩ thử xem! Tam ma địa ẩm thực chăng? Tam ma địa đồ ăn ngon chăng? Tam ma địa sắc đẹp chăng? Tam ma địa tiền bạc chăng? Tam ma địa thời trang chăng?

Nếu hôm nay Sư Tôn mặc quần áo mới, khi ngồi thiền lại cứ nghĩ đến bộ quần áo mới của mình, thì sẽ nhập vào tam ma địa quần áo mới. Hoặc như có người lợi dụng lúc Sư Tôn đang thuyết pháp mà lén đi vào, thì tam ma địa này lại càng phức tạp hơn.

Muốn khai ngộ được thì cần nhập tam ma địa, và chỉ có một chữ thôi, đó là bạn phải "dừng", dừng lại tất cả niệm tưởng của bạn, dừng hết mọi suy nghĩ thì mới có thể đạt đến trạng thái không còn niệm tưởng gì nữa.

Tam ma địa chân chính là không nghĩ thiện, không nghĩ ác, vô trú, vô niệm. Tôi nói cho mọi người biết, chân tâm chân chính của vũ trụ chính là vô niệm. Bạn đến được trạng thái vô niệm thực sự rồi thì tâm của bạn mới là vô cùng tận, tâm của bạn lúc này mới hợp với tâm của trời đất.

Sư Tôn thường đi giúp đỡ người khác, hoặc nửa đêm du hành (nửa đêm du hành không phải là chạy ra ngoài đi chơi đâu nhé, mà là xuất linh hồn ra khỏi thân), để đi giúp đỡ các đệ tử và những người cần giúp đỡ. Có đôi lúc một buổi tối phải giải quyết tới ba nhiệm vụ, do đó khi trở về thì rất mệt, nếu mà bị mệt như vậy thì phải làm sao đây? Chỉ có thể dựa vào cách nhập tam ma địa mà thôi.

Giả sử bạn có thể tu hành đến mức vô niệm, có thể dừng lại tất cả mọi niệm tưởng của mình, lập tức sẽ có dòng chảy pháp của vũ trụ đổ ào xuống đầu bạn, gần giống như được sạc pin vậy. Vốn dĩ thân thể của bạn cần phải tốn rất nhiều sức để đi giúp đỡ người khác, dùng hết rất nhiều sức, nhưng sức mạnh của vũ trụ lại tiếp thêm vào thân thể bạn, đi vào trong thân thể bạn, thì bạn giống như cục pin khô kiệt lại được sạc đầy, khiến bạn có thể tiếp tục đi cứu giúp người khác.

Giả sử khi tu hành, bạn không thể đạt đến trạng thái vô niệm, hơn nữa nếu bạn thường xuyên đi cứu giúp người khác, tới khi đồng tu tại đây lại càng không được ngủ gật, thế nên bạn sử dụng cạn kiệt sức của mình mà không có sự bù đắp lại. Ban ngày cũng muốn ngủ, buổi đêm cũng muốn ngủ, thậm chí khi lái xe cũng buồn ngủ, bất cứ lúc nào, kể cả khi bạn đứng cũng có thể ngủ được, ngồi cũng có thể ngủ được, cứ như vậy lúc nào cũng có thể ngủ được hết, như vậy thì chẳng thể có được sự vô niệm của việc tu hành. Bạn sẽ cảm thấy tinh thần của chính mình vô cùng mệt mỏi, dù có luôn bổ sung lại cũng vẫn không đủ!

Mỗi một ngày, chỉ cần bạn có vài phút ở trong trạng thái vô niệm thì bạn đã có thể phục hồi lại tinh thần của mình. Khi tâm của bạn ở trạng thái vô niệm, tâm của bạn khi đó chính là vô lượng tâm, chính là bồ đề tâm. Chỉ duy nhất khi ở trạng thái vô niệm thì mới là lúc thanh tịnh nhất, không hề có chút ô nhiễm. Chỉ duy nhất khi ở trạng thái vô niệm thì mới gọi là thực sự đạt đến bến bờ bên kia của Phật, hơn nữa còn đạt được chính giác, có được trí huệ của Phật và tất cả định lực, tất cả đều nằm trong trạng thái vô niệm.

Nói cho mọi người biết nhé, "dừng" của thiền định chính là “một”, có thể đạt đến mức độ dừng là đã cực kì phi thường rồi. Lại còn tiến nhập vào không gian “vô niệm”, không gian “vô chỉ tận” thì đây chính là chính giác Phật bảo, chính là thành Phật. Về vấn đề "vô niệm", tôi chỉ có thể nói đến đây thôi, bởi vì nếu nói tiếp nữa thì sẽ vô cùng bí mật, bất khả tư nghì.

Tôi nói cho mọi người biết, khi bạn ở trạng thái vô niệm thì địa cầu này đều sẽ chấn động, các vì sao trên bầu trời đều rơi rụng xuống, Ma Vương đều run sợ, tất cả mọi không gian vũ trụ, thập phương pháp giới, toàn bộ đều phóng tỏa ánh sáng mạnh mẽ. Khi bạn thực sự đạt đến trạng thái vô niệm thì bạn đã sở hữu toàn bộ vũ trụ tối cao, pháp lực lớn nhất, không chỉ là muốn cái gì là có cái đó, mà khi bạn ở trong cảnh giới vô niệm thì mọi vũ trụ, mọi thế giới sẽ đều là của bạn, bởi vì bạn đã thành Phật rồi! Ở bất kì nơi nào cũng đều có thể thấy được bạn! Con người bạn đang "vô niệm" ở Lôi Tạng Tự Seattle, nhưng ở Đài Loan, Malaysia, Indonesia, Philippines, ở bất kì một đất nước nào, chỉ cần có người nghĩ đến bạn thì người đó sẽ nhận được sóng điện của bạn, sẽ lập tức nhìn thấy bạn. Đây chính là chính giác Phật bảo.

Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo:  
Tôi nói tiếp đến: "Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo." Đây chính là tam mật, ba bí mật về thân khẩu ý. Chúng ta làm thủ ấn, trong lúc làm thủ ấn thì ta có được thân thể thanh tịnh tạm thời. Chúng ta niệm một câu chú “Ôm gu-ru lién-shâng sít-đi hùm” <span className="note-blue">[Om guru liansheng siddhi hum]</span> thì chúng ta tạm thời có được khẩu thanh tịnh. Gõ vào đầu bạn một cái, bảo bạn đừng nghĩ lung tung, thì bạn có được ý thanh tịnh tạm thời.

Người tu hành chúng ta cần phải kéo dài ba sự thanh tịnh thân, khẩu, ý tạm thời này vào trong hành vi đi đứng ngồi nằm của chúng ta. Trong cuộc sống hàng ngày luôn duy trì được ba bí mật này thì như vậy chính là tu hành tam mật hợp nhất. Vào các buổi đồng tu tối thứ bảy của chúng ta thì ta có được ba mươi phút thanh tịnh tạm thời, chính là ba mươi phút thanh tịnh trong lúc đồng tu. Chúng ta cần tu pháp như vậy để có ba mươi phút thanh tịnh tạm thời, đây chính là pháp bảo của chúng ta.

Ví dụ có người hỏi bạn rằng: tối qua bạn ăn cơm với ai, đi chơi với ai, đi dạo với ai, ngủ với ai? Bạn trả lời ra sao? Tôi nói cho bạn biết nhé, bạn cần trả lời rằng bạn ăn cơm cùng Phật, cùng Phật ra ngoài chơi, cùng Phật đi dạo, cùng Phật đi ngủ. Nếu giả sử từng giờ từng phút bạn ở cùng Phật thì chính là bạn đã có được tam mật thanh tịnh, là hiểu được việc tu hành, là bạn đã có được pháp bảo. Giả sử bạn ngủ cùng người khác thì thôi, tôi cũng không quan tâm nữa!

Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo:  
Câu cuối cùng là "lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo". Mỗi Thượng sư của Chân Phật Tông chúng ta đều có thể thu nhận đệ tử, thế nhưng, Thượng sư Chân Phật Tông của chúng ta nhất định cần phải làm được như hai chữ "Chân Phật". Khi tôi quán đảnh cho một người làm Thượng sư, trước đây rất hiếm khi tôi nói một câu nào, nhưng bây giờ tôi cần bổ sung thêm một câu này: "Làm Thượng sư chính là bản thân thành Phật rồi thì lại tiếp tục độ cho chúng sinh thành Phật." 

Thượng sư Chân Phật chân chính chỉ có một con đường này. Ngoài ra vẫn còn một con đường nữa, đó chính là làm Thượng sư nhưng không phù hợp với các điều kiện của Thượng sư Chân Phật, thì sẽ đi vào con đường tới địa ngục Kim Cương, không thành Phật thì sẽ xuống địa ngục Kim Cương, không có con đường thứ ba. Thế nên tôi hy vọng mỗi Thượng sư của Chân Phật Tông đều trở thành Chân Phật Thượng sư chân chính.  
Om mani padme hum.

### 20. Liên Sinh Hoạt Phật giảng Chân Phật Kinh (12)

**Kinh văn:**

Thánh Tôn nói với đại chúng:  
"Nếu có thiện nam tử, tín nữ tử vào ngày 18 tháng 5 hàng năm, tắm rửa trai giới, mặc y phục sạch sẽ, hoặc vào ngày 18 hàng tháng, hoặc ngày sinh thần của mình ở trước mật đàn, phụng thỉnh hai Phật tám Bồ tát, tụng "Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh"  thì cầu gì tùy tâm, sẽ có cảm ứng. Có thể cúng dường hương, hoa, đèn, trà, quả, chí thành cầu nguyện, đều được như ý."

Thánh Tôn nói với đại chúng:  
"Những vị quan chức, quý nhân, sa môn, cư sĩ, người tu đạo, phàm tục trong thế gian, nếu nghe kinh này, thêm thọ trì tụng niệm thì những người này bổng lộc chức vị tối thắng, thọ mệnh kéo dài, cầu trai được trai, cầu gái được gái, có được phúc nhiều vô lượng, là đại phúc bảo kinh tăng ích.  
Những vong linh, oan thân trái chủ chưa được cứu độ mà còn ở trong chốn u minh, nếu có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì người chết sẽ được lên trời, oan gia trái chủ sẽ bỏ đi, hiện tại còn gặt hái được phúc đức.  
Những người nam, người nữ nào hoặc bị tà ma xâm phạm, hoặc bị quỷ thần hãm hại, hoặc có ác mộng hỗn loạn, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tà ma sẽ bỏ chạy. Họ lập tức sẽ được an lạc.  
Những ai có bệnh tật đeo bám, phải trả nhân quả nghiệp báo của kiếp trước hoặc có các bệnh do quỷ thần, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tai ương sẽ được cứu, bệnh tật sẽ tiêu trừ.  
Những ai có ác vận, dính phải kiện tụng, bị giam cầm tù tội nhưng có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì tai họa sẽ được giải trừ, điều hung sẽ hóa thành cát tường.

Nếu hai nước xảy ra chiến tranh, có thể trì tụng kinh này, lập tượng cúng dường, sẽ được gia tăng uy lực, chiến thắng chắc chắn.  
Người đọc tụng, người ấn tống, người bố thí, tất cả sẽ được cát tường như ý viên mãn, tiêu trừ các độc hại, có thể diệt sinh tử khổ."

Tây Phương Chân Phật hải hội, tại Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Đồng Tử đều ở trong đó mà nói chú rằng:  
“Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hum” <span className="note-blue">[Om guru liansheng siddhi hum]</span> (vô số lần)

Thánh Tôn khi giảng xong kinh này, Đế Thích cùng chư đại chúng, Thiên long, Bát bộ, Tứ chúng cung kính hành lễ, tín thọ phụng hành.  
Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh (Hết!)

Ích lợi của bản kinh văn:  
Phần trọng điểm chủ yếu của Chân Phật Kinh đã nói đến đoạn "lấy Chân Phật thượng sư làm tăng bảo", xem như phần quan trọng nhất đều ở đoạn trước rồi. Đoạn sau này nói về lợi ích của Chân Phật Kinh, tôi đọc đoạn này một lần thì mọi người tương đối có thể hiểu được rồi.

Kì thực, đoạn kinh văn mà tôi vừa đọc ở trên nói chung là mọi người đều có thể hiểu được, bởi vì đoạn văn này rất dễ hiểu, chủ yếu là nói về những ích lợi của bản thân bản kinh này. Phần đầu của đoạn này nói rằng tùy tâm mong cầu thì sẽ có được cảm ứng, có thể cúng dường thì lại càng có thể được như ý nguyện. Đoạn này được rất nhiều người đặt câu hỏi, Có đệ tử nói với tôi: "Khi Thánh Tôn giảng đến đoạn này thì bất luận thế nào tôi cũng đến nghe." nhưng hôm nay anh ta chẳng đến, thế nên tôi muốn mau chóng giảng cho xong đoạn này.

Giải cứu chiến tranh giữa hai nước:  
Đoạn này chính là: "Nếu hai nước xảy ra chiến tranh, có thể trì tụng kinh này, lập tượng cúng dường, sẽ được gia tăng uy lực, chiến thắng chắc chắn." Rất nhiều đệ tử đều nói: "Đoạn kinh văn này dường như dạy người ta trở nên hiếu chiến hơn?" Kì thực, khi hai nước chiến tranh thì người phải chịu kiếp nạn chính là những người dân thường, biết bao tiếng khóc thương ai oán và cảnh người chết nhà tan. Chân Phật Kinh sao có thể đứng về phía gia tăng kích động chiến tranh, hơn nữa bản kinh nói rằng có thể giúp chiến thắng mọi cuộc chiến, đó chẳng phải là cổ vũ những hiềm nghi về chiến tranh sao? Phật Bồ tát đều nói về đại từ đại bi, làm sao ở đây lại biến thành người cổ vũ chiến tranh? Rất nhiều người đặt ra câu hỏi này, tôi đều nói với mọi người rằng: "Đừng nên hỏi nữa, ở đây có một bí mật." Bí mật này nói ra thì không hay lắm, nhưng nếu không nói ra thì sao đây? Mọi người có nhiều nghi vấn như vậy, liệu có cần nói không? Thế thì lại phải tiết lộ bí mật, rốt cuộc là nên nói ra hay không nói ra sẽ tốt hơn?

Có đệ tử nói với tôi: "Lẽ nào ngài đem theo bí mật này theo vào trong quan tài luôn sao?" Người đó nói tới mức ghê gớm như vậy đó, vậy thì nói ra thì hơn. Nếu hai quốc gia xảy ra chiến tranh, khi có chiến tranh, đất nước nào đọc tụng bản kinh này và lập tượng cúng dường, thì câu nói "sẽ được gia tăng uy lực" ở đây cần được giải thích rằng, đó là sẽ được gia tăng sức mạnh khiến tâm bình khí hòa, trở nên bình tĩnh hơn, tránh được sự căng thẳng. Nói cách khác là, nếu có thể lập tượng cúng dường, niệm Chân Phật Kinh, niệm cho tới khi hiểu được về "năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại" thì người tụng niệm, người thọ trì sẽ nhận được sức mạnh gia trì, sau đó sẽ càng ngày càng không muốn tham chiến nữa.

Hai đất nước cùng tụng niệm thì đương nhiên cả hai nước đều trở nên tâm bình khí hòa rồi! Lập tượng cúng dường, hai nước đều có được sự gia trì, trở nên bình tĩnh bớt căng thẳng, đương nhiên là chiến thắng mọi cuộc chiến, vì không chiến nữa chính là đã thắng rồi. Nếu như chỉ có một đất nước tụng niệm, đất nước kia không đọc tụng, thì cũng không thể đánh thắng được, vì sao vậy? Tôi lấy một câu tục ngữ để giảng điều này: "Một đồng xu không thể tạo ra tiếng kêu." Tiền xu nhất định cần có hai đồng mới có thể tạo ra âm thanh. Nếu một nước đã lui rồi, nhường cho bên kia thắng, anh làm lão đại, tôi làm lão nhị là được rồi, như vậy thì cũng là thắng mọi mặt trận rồi.

Đã nói tới chiến tranh hai nước thì nhất định phải cần có hai nước cùng muốn đánh nhau thì mới dẫn đến chiến tranh lớn được. Giả sử có một đất nước không muốn đánh nhau, nếu anh muốn xâm chiếm, muốn đánh thì tôi để cho anh đánh, như vậy sẽ không dẫn đến những tổn thất nặng nề. Đương nhiên, chúng ta hy vọng đất nước này có thể lập tượng cúng dường, sau khi đọc tụng bản kinh này, có được sức mạnh gia trì thì sẽ tạo ảnh hưởng đến đối phương, khiến đối phương cũng trở nên tâm bình khí hòa, như vậy có thể xem là đại thắng hơn nữa.

Thế nên, đoạn kinh văn này chủ yếu là hy vọng mỗi đất nước, mỗi quốc gia đều có thể đọc tụng bản kinh này, thì họ sẽ có được tâm bình khí hòa, cũng có thể đạt được hòa bình mãi mãi. Do vậy mới nói rằng "tất cả sẽ được cát tường như ý viên mãn", có thể như ý viên mãn rồi thì cũng chẳng còn chiến tranh gì nữa. Thế nên, gia tăng uy lực để hóa giải chiến tranh, biến thành chiến thắng mọi cuộc chiến.

Căn bản truyền thừa Thượng sư tâm chú:  
Tôi giải thích một chút về câu chú cuối cùng:  
"Om" nghĩa là vũ trụ.  
"Guru" nghĩa là đạo sư, đạo sư của vũ trụ.  
"Liansheng siddhi", nghĩa là đạo sư dẫn dắt tất cả chúng sinh hóa sinh từ hoa sen.  
"Siddhi" chính là Phật quốc.  
"Hum" chính là thành tựu viên mãn.  
Giải thích toàn bộ câu chú này là: "Vị đạo sư vĩ đại của vũ trụ hóa sinh từ hoa sen tại Phật quốc Ma Ha Song Liên Trì, dẫn dắt tất cả chúng sinh đạt đến thành tựu."  
Đến đây, tôi đã hoàn tất việc giải thích toàn bộ Chân Phật Kinh rồi.

### 21. Ba bí quyết của phúc huệ bảo tạng thư

Xin chào các vị Thượng sư, các bạn đồng tu!  
Hôm nay tôi rất vui lại được đến đây gặp mặt mọi người. Tối hôm qua ở sân bay Hồng Kông, tôi đã gặp mặt một vài Thượng sư và các bạn đồng tu rồi, tâm trạng của tôi vô cùng phấn khởi. Vừa đến sân bay tôi liền hỏi Thượng sư Liên Hàn xem pháp hội ngày mai có khai thị thuyết pháp không. Thượng sư Liên Hàn nói: "Không có. Sư Tôn có thể thư giãn ngồi trên sân khấu, tất cả mọi thứ đều đã chuẩn bị xong hết rồi." Kết quả là khi tôi xem tờ chương trình của pháp hội hôm nay, trên đó lại có viết là Sư Tôn thuyết pháp khai thị. Vừa nãy tôi ngồi ở đây đã cảm thấy đứng ngồi không yên rồi, bởi vì thực sự tôi không biết tiếp theo đây tôi có phải thuyết pháp với khai thị nữa không.

Tôi có chút lo lắng, liền nhờ một cô gái phục vụ lấy cho cây bút và mấy tờ giấy trắng, chuẩn bị viết ra một số nội dung mà mình muốn giảng. Thế nhưng cũng không kịp mất rồi, trên tờ giấy trắng này đến một chữ tôi cũng chưa kịp viết. Vốn dĩ là lên ghế này thì ngồi có thể thư giãn thoải mái một chút, giờ thì tôi biết là mình bị Thượng sư Liên Hàn hại đến thảm rồi, thế là thành ra chẳng có được chút thư giãn nào. Tuy vậy, bởi vì vừa nãy mọi người đã đọc bản Chân Phật Kinh mới xuất bản, nên hôm nay tôi sẽ nói về nguồn gốc của Chân Phật Kinh và ý nghĩa của Chân Phật Kinh vậy.

🌟

Chân Phật Kinh là gọi tắt của Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh, vì sao lại cần nói là "Chân"? Bởi vì tất cả mọi điều trong đó đều chân thực. Tôi đã từng đến Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, những gì tôi chứng kiến và nghe được là vô cùng chân thực, hoàn toàn không phải là nằm mơ. Sau khi tôi trở về từ Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, người đầu tiên mà tôi kể chuyện này chính là mẹ của tôi. Do cha tôi đã đọc Phong Thần Bảng tới mức mê mẩn cả người, ông ấy nói: "Liên Hoa Đồng Tử chẳng phải là Na Tra Tam Thái Tử hay sao? Bản thân bố đây sao có thể trở thành Thác Tháp Thiên Vương Lý Tĩnh được?"

Liên Hoa Đồng Tử Sư Tôn ở đây không phải là Na Tra Tam Thái Tử đồ đệ của Thái Ất Chân Nhân, mà là tôi thực sự đã đến Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, trông thấy Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, toàn thân ngài xung quanh đều phóng đại quang minh, hơn nữa ngài cất tiếng nói với tôi: “Ta chính là ngài đó.”

Đây là một trải nghiệm hoàn toàn chân thật từ hai mươi năm trước, bởi vậy nên ở đây có một chữ "Chân", nghĩa là tôi thực sự nhìn thấy, thực sự nghe thấy, thực sự ngửi thấy, hơn nữa, tôi đích thực đã đến Ma Ha Song Liên Trì.

Hôm nay, dòng phái Chân Phật Tông chúng ta đã trải qua rất nhiều thăng trầm và rất nhiều nỗ lực mới được như bây giờ. Những kinh nghiệm trong suốt quá trình này, phần lớn tôi đã đều viết trong sách, các bạn đọc sách sẽ hiểu được rõ ràng, sẽ hiểu được nguồn gốc của Chân Phật Tông.

Chân Phật Tông có siddhi thực sự. Thế nào là "siddhi"? Siddhi chính là thành tựu chân thực, là Phật địa chân thực. Tương lai mọi người có thể vãng sinh đến Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Chúng ta còn có pháp tu chân thực - đó là Chân Phật Mật Pháp, là phương pháp tu hành chân thực của dòng phái Chân Phật Tông, có được sức mạnh tích lũy và triệu tập của Thượng sư. Ở đây không phải là nói về pháp lực, mà là nói về Bồ Tát từ bi, pháp lực từ bi thường xuyên hiển hiện sức mạnh thần thông vĩ đại.

Giống như khi nãy trong pháp hội cầu phúc mọi người hát Hương tán, hát Thanh tịnh pháp thân Phật, Sư Tôn nhìn xuống hội trường thấy rất nhiều Phật, Bồ tát hạ giáng, biến thành một vòng pháp luân xoay chuyển, một vòng tròn màu xanh lam to lớn giống như một ngọn núi vậy, tất cả Phật Bồ tát đều bay trên pháp luân. Hôm nay nếu có người nào chụp ảnh mà cơ duyên đủ may mắn thì sẽ chụp được pháp luân màu xanh lam, vô cùng chân thực. Bởi vậy, Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, pháp hội của chúng ta (ví dụ pháp hội cầu phúc, siêu độ) đều vô cùng chân thực và có nhiều cảm ứng.

"Nhân” của chúng ta là do Sư Tôn đã nghe thấy vô cùng thật, nhìn thấy rất thật, nơi mà Sư Tôn đã đến cũng rất thật, nên đây chính là cái "nhân" thật. Thế còn "Quả" của chúng ta cũng là thật, nhờ bởi việc tu hành của chúng ta đều sẽ thành tựu và đạt kết quả, có thể trở về Tây phương cực lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, nên đây chính là "Quả” thật.

Chúng ta cũng có phương pháp tu hành, phương pháp và thành tựu tu hành của chúng ta chính là Chân Phật Mật Pháp. Tu hành theo thứ tự này có thể giúp chúng ta đạt được "Quả" chân thực. Từ "Nhân" đến "Quả", cùng với thứ tự tu hành đều vô cùng chân thực.

Nguồn gốc Chân Phật Kinh  
Rất nhiều người đã đọc bản Chân Phật Kinh này rồi, mọi người đều biết đây là từ Không tạo ra Có, nếu từ Không lại tạo ra Có, thế chẳng phải là giả sao? Không phải là giả, mà là từ vô hình biến thành cái hữu hình, đây chính là ý nghĩa của sự từ Không tạo ra Có. Bản kinh này làm sao mà có? Đó chính là Sư Tôn quan sát tâm của chính mình, mở rộng tâm mình ra, rồi trong toàn bộ sự tập trung, từng chữ từng chữ từ trong tâm hiển hiện ra, từ đó Sư Tôn đã hoàn thành bản kinh văn này.

Mọi người có thể cho rằng sự xuất hiện của bản kinh này có lẽ là do trong mơ Sư Tôn có được, hoặc là tự nhiên Sư Tôn nhặt được trên đường, hoặc là từ trong không trung rơi xuống, hoặc là trong một đống giấy lộn đột nhiên trồi ra. Sự thật là bản kinh này do Sư Tôn quan sát tâm mình mà thấy, thấy được tâm mình mà có được nó.

Trong bản kinh này có một câu vô cùng quan trọng, đây cũng là bí mật lớn nhất trong bản kinh. Kinh văn rất đơn giản, nhưng thực sự ảo diệu phi phàm, đoạn văn này chính là: "Lúc bấy giờ, Thánh tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng: Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."

Lấy vô niệm làm Phật bảo  
Hôm nay, các đệ tử quy y Chân Phật Tông và mọi người có mặt ở đây phần lớn đều là người tu hành. Trên phương diện tu hành, mọi người đều biết cần phải dựa vào cái gì để tu sửa hành vi của chính mình. Nhưng tu hành thì dựa vào gì để làm Phật bảo đây? Cái quan trọng nhất chính là lấy vô niệm làm Phật bảo.

Vô niệm nghĩa là không còn ý niệm. Chúng sinh trên thế giới này ai ai cũng đều có ý niệm, nhưng người tu hành có thể tu đến trạng thái vô niệm thì sẽ trở thành vô tâm và vô ngã. Khi đạt vô niệm rồi, thân thể của bạn sẽ tràn đầy khắp trong hư không. Một người tu hành có thể tiến vào trạng thái vô niệm, thân thể của người đó tương đương với toàn bộ hư không vũ trụ, tương đương với hư không. Khi vô niệm rồi thì không còn ô nhiễm nữa, không còn ô nhiễm tức là thanh tịnh, mà thanh tịnh như vậy thì chính là Phật rồi. Do vậy, vô niệm chính là “chính giác Phật bảo.”

Mọi người thấy vô niệm có vẻ như rất đơn giản, kì thực vô niệm là khó số một và cũng là thù thắng số một. Có lẽ sẽ có người cho rằng đại khái mỗi tối đi ngủ là có thể đạt đến trạng trái vô niệm rồi, nhưng thực tế tôi biết mọi người khi đi ngủ là rơi vào trạng thái hôn mê, không phải là vô niệm. Thế còn bình thường, chúng ta có vô niệm không? Các bạn đồng tu ở đây nếu đã từng ngồi thiền sẽ biết, càng muốn vô niệm thì lại càng "có niệm". Còn bạn nào có thể trải nghiệm được sự ảo diệu của vô niệm thì chính là đã đạt đến chính giác Phật bảo chân chính rồi.

Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo  
Vậy làm sao để đạt tới vô niệm đây? Muốn đạt đến vô niệm thì cần phải học pháp, học pháp chính là cần phải học được thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh và ý thanh tịnh. Thân thể thanh tịnh nghĩa là tay của bạn không thể nào sờ lung tung, cơ thể này không thể chạm lung tung, nhưng cũng không phải nói bạn cứ phải ngày ngày tắm rửa đâu, tuy nhiên thường xuyên giữ được sự sạch sẽ thì chính là thân thanh tịnh.

Thế còn khẩu thanh tịnh thì sao? Nghĩa là bảo bạn thường xuyên niệm Phật trì chú, nhưng bạn lại chẳng niệm Phật trì chú, mà lại thường xuyên chửi Tam Tự Kinh, Tứ Tự Kinh là bất hảo, thì như vậy không phải là khẩu thanh tịnh rồi. Khẩu thanh tịnh ở đây chính là cần trì chú, cần niệm Phật, cần nói lời thiện lành, đó chính là khẩu thanh tịnh.

Tật lớn nhất của con người chính là thích buôn chuyện, nói những lời khó nghe nhất về người khác. Vì thế, chúng ta có một câu tục ngữ là: "Mười cái miệng chín cái mông", vì sao gọi là mười cái miệng chín cái mông? Chính là "thối mồm" đó, ở đây không phải là nói bạn không đánh răng, hay là đại tràng bạn không tốt đâu, thối mồm thật sự chính là những lời bạn nói ra lúc nào cũng rất thối.

Do vậy, khẩu thanh tịnh có nghĩa là trong những ngôn từ mà bạn nói ra cần luôn luôn thiện lành, khiến cho người khác cảm thấy thoải mái, khiến người khác vui vẻ, hơn nữa có thể khuyên người khác những điều thiện, khuyên người khác tin Phật, như vậy mới được gọi là khẩu thanh tịnh.

Cái thanh tịnh tiếp theo mới là vô cùng khó, đó chính là ý thanh tịnh. Trong Chân Phật Mật Pháp có dạy mọi người quán tưởng, nghĩa là luôn luôn nghĩ đến sự trang nghiêm của Phật Bồ tát. Kì thực, quán tưởng chính là rèn luyện cho ý niệm của chúng ta được thanh tịnh, sự thanh tịnh trong ý niệm này vốn rất khó đạt được.

Tối hôm qua tôi đã đến Hồng Kông, khi đi qua chợ đêm, tôi cảm thấy ở Hồng Kông tu hành rất khó. Ở trong núi sâu hoặc trên đỉnh núi cao, cứ ở đó không xuống núi nữa thì tu hành sẽ dễ dàng hơn. Bởi vì khi chúng ta ở trong núi sâu thì ta chỉ nhìn thấy toàn là cây, những gì mắt nhìn thấy đều vô cùng xanh mát trong lành. Còn đến chợ đêm Hồng Kông thì chỉ cần nhìn thấy một vài bảng hiệu là tất cả đều bị ô nhiễm hết cả. Ở Seattle tốt hơn ở Hồng Kông một chút.

Vì sao ý niệm lại quan trọng đến vậy? Liên Sinh Hoạt Phật nói để mọi người biết, ý niệm thanh tịnh là quan trọng một trăm phần trăm. Nếu có người không tin rằng ý niệm có sức mạnh, chúng ta làm một thực nghiệm thế này để chứng minh. Khi bụng của bạn đói, tôi để một bát cơm chiên Dương Châu trước mặt bạn, bạn vừa nhìn thấy bát cơm chiên Dương Châu ở trước mặt, dù chưa ăn cơm, nhưng nước miếng đã tiết ra rồi, đây chính là sức mạnh của ý niệm.

Chúng ta đổi cái bát cơm chiên đó thành một bát phân đặt trước mặt bạn, bạn vừa nhìn thấy bát phân đó, liệu bạn có chảy nước miếng không? Bạn sẽ nôn ngay! Nhưng mà bạn vẫn chưa hề ăn cơm chiên Dương Châu đó, cũng như chưa hề ăn phân, nhưng bạn vẫn sẽ chảy nước miếng hoặc nôn ọe, tôi nói cho mọi người biết, đây chính ý niệm.

Trước đây tôi từng nói là muốn kiểm tra một số Thượng sư. Ở Seattle, Sư Tôn sẽ đưa vài Thượng sư đến một nơi, rồi để cho họ hoàn toàn tự do ở đó, một tiếng đồng hồ sau, Sư Tôn lại đến đón họ, xem xem sắc mặt của họ có còn thanh tịnh không. Sư Tôn sẽ đưa họ đi xem Topless đó <span className="note-blue">[múa thoát y]</span>. Đây là một bài kiểm tra rất hay.

Bạn xem mấy cái màn Topless này, mắt bạn có bị nhiễm sắc không? Ý niệm có bị nhiễm sắc không? Ý niệm và mắt của bạn đã bị nhiễm sắc rồi thì bạn chỉ là Thượng sư giả. Bạn có thể như như bất động thì mới là Thượng sư thật. Tuy vậy, cho đến nay tôi vẫn chưa dùng tới bài kiểm tra này. Trên thực tế, sự thanh tịnh của ý niệm được xếp ở vị trí đứng đầu trong ba loại thanh tịnh. Nếu ý niệm thực sự thanh tịnh thì sẽ không nhiễm sắc, bạn thực sự là "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc" rồi.

Mọi người đừng cho rằng Sư Tôn nói đến Topless <span className="note-blue">[thì mọi người cũng]</span> nên tối nào cũng chạy đến nơi đó để làm bài kiểm tra! Chỉ sau khi bạn thực sự có được định lực thì tự bạn hẵng cân nhắc xem mình có thể thực nghiệm hay không. Trên thực tế, tu hành là việc rất khó. Do vậy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh chính là pháp bảo của tu hành Chân Phật Mật Pháp.

Cuối cùng là câu "*lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo*". Căn bản truyền thừa Thượng sư của Chân Phật Tông nhất định phải là người có tu trì, bạn phải xem thầy như Phật vậy! Học tập những mặt tốt của Căn bản truyền thừa Thượng sư, nhưng chớ để ý đến những thiếu sót của thầy. Bạn học cái tốt và bỏ qua cái xấu, đến cuối cùng bạn sẽ có thể thành tựu. Nếu bạn học cái xấu mà bỏ qua cái tốt thì chắc chắn bạn sẽ đọa xuống địa ngục.

Bạn học tập những cái tốt có thể thành Phật, học những cái xấu thì sẽ xuống địa ngục, hơn nữa trong Mật giáo có nói, nếu bạn quan sát cái xấu của Căn bản truyền thừa Thượng sư đủ lâu thì bạn chắc chắn sẽ phỉ báng thầy, nếu mà việc này xảy ra thì bạn đã học để về địa ngục đó, chứ không phải là học để thành Phật nữa đâu.

Điểm quan trọng của bản kinh này nằm ở hai chữ "vô niệm". Chân Phật Mật Pháp tiết lộ cho chúng sinh biết nhập vào tam ma địa của sự vô niệm. Khi bạn đã tiến vào trạng thái vô niệm rồi thì bạn có thể biết được tất cả mọi thứ, cũng như hiểu được rất rõ ràng minh bạch về mọi thứ, có thể tự chủ sinh tử, có thể minh tâm kiến tính.

Vô niệm chính là vô nhiễm, vô nhiễm chính là hoàn toàn thanh tịnh. Khi bạn đã hoàn toàn thanh tịnh thì bạn cũng như hư không, như hư không trong không gian vũ trụ, và như thế bạn có thể hoàn toàn dung nhập vào hư không, bạn chính là thế giới, thế giới chính là bạn, bạn chính là Phật, Phật chính là bạn.

Việc này vô cùng vĩ đại, hơn nữa mười phương đều dung hòa thông suốt với nhau. Do vậy mới nói là thập phương pháp giới chính là một pháp giới, thập phương tam thế <span className="note-blue">[quá khứ, hiện tại, vị lai]</span> chính là bạn có thể phá bỏ hoàn toàn không gian và thời gian, đây chính là khai ngộ.

Cuốn văn tập số 80 của Sư Tôn có tựa đề "Vua của Phật Vương". Cuốn Vua của Phật Vương viết về những chứng ngộ và cảnh giới giác ngộ. Sau khi văn tập đó ra mắt, hy vọng mọi người có thể thể hội được một cách đúng đắn, tinh tấn cẩn thận và nghiên cứu học tập chính xác.  
Om mani padme hum.  
Tại Phật đường Tín Pháp, Hồng Kông, ngày 23/12/1988.

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-a-di-da-cuu-pham-lien-hoa-sinh.md
# Title: Giảng thuyết Kinh A Di Đà - Cửu phẩm liên hoa sinh
---

![image](/img/img_a13d7c6cd2f7d9cf87466b376d2bfae8.jpg)

## Cửu phẩm liên hoa sinh - Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh A Di Đà

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">627</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">Năm 1996</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Mở đầu: Phật Thuyết A Di Đà Kinh (Kinh Văn)

Phật Thuyết A Di Đà Kinh  
Pháp sư Tam Tạng Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần dịch

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc, cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán, được mọi người biết đến: trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, cùng các vị đại đệ tử như thế; và các vị Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, cùng các vị đại Bồ Tát như thế, và Thích Đề Hoàn Nhân và vô lượng chư thiên đại chúng có đủ.

Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: "Từ đây về phương Tây, cách xa mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở cõi ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp. Này Xá Lợi Phất! Vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Vì chúng sinh trong cõi nước đó không có các nỗi khổ, chỉ hưởng các điều vui, nên gọi là Cực Lạc.

Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được bao quanh bởi bốn loại báu, vì thế nên cõi ấy gọi là Cực Lạc. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm bậc được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng được trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não. Trong ao có hoa sen to như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, hương thơm tinh khiết vi diệu. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thường nổi thiên nhạc, mặt đất bằng vàng ròng. Ngày đêm sáu thời, mưa hoa mandala từ trên trời rơi xuống. Chúng sinh cõi ấy, thường vào mỗi sáng sớm, đều dùng y phục đựng các hoa đẹp vi diệu, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về cõi nước của mình, thọ trai, kinh hành. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các loại chim kỳ diệu đủ màu sắc: bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và chim cộng mạng. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.

Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng: "Những con chim này thực sự do tội báo mà sinh ra." Vì sao vậy? Vì cõi Phật ấy không có ba đường ác. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy còn không có tên gọi của đường ác, huống chi là có thật. Những con chim ấy đều do Phật A Di Đà muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra. Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn loại nhạc cùng trỗi lên một lúc. Người nghe những âm thanh ấy tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao Đức Phật kia có hiệu là A Di Đà? Này Xá Lợi Phất! Ánh sáng của Đức Phật ấy vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên có hiệu là A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, không thể dùng toán số mà biết được, các Bồ Tát cũng như vậy. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào sinh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc bất thoái chuyển. Trong số đó có rất nhiều vị Nhất Sinh Bổ Xứ, số lượng nhiều không thể tính đếm được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ. Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được điều này nên phát nguyện sinh về cõi ấy. Vì sao vậy? Vì sẽ được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế. Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy. Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì khi người ấy lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy nên nói những lời này. Nếu có chúng sinh nào nghe được điều này, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay, tán thán công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật: ở phương Đông có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Nam, có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Thư Phật, Nhật Sinh Phật, Võng Minh Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn." Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, và vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán công đức không thể nghĩ bàn."

Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được tất cả chư Phật hộ niệm? Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này và thọ trì, cùng nghe danh hiệu chư Phật, thì những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi đạo A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đã nói. Này Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được bất thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, ở cõi nước kia, hoặc đã sinh, hoặc đang sinh, hoặc sẽ sinh. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu có lòng tin, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các Đức Phật ấy cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta mà nói rằng: "Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc rất khó và hiếm có, có thể ở trong cõi Ta Bà, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, mà chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian." Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta ở trong ngũ trược ác thế làm việc khó này, chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vì tất cả thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó!" 

Khi Đức Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất cùng các tỳ kheo, tất cả thế gian, trời, người, atula, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra.

### 01. Trình bày "A Di Đà Kinh Thích Yếu" (1)

Trước đây, những gì tôi giảng có thể gọi là rời rạc. Thế nào gọi là rời rạc? Đó là nghĩ tới đâu nói tới đó, không có một chương trình nhất định. Bây giờ chúng ta sẽ giảng kinh Phật chính thống, giống như chuyên chở cả một con tàu đầy ắp. Trước đây giảng như thuyền nhỏ, hôm nay giảng như tàu container; trước đây giảng có thể nói là vui vẻ, còn bây giờ giảng thì không vui vẻ như vậy.

Trước đây khi tôi theo học với thầy Lý Bỉnh Nam, nghe giảng Kinh A Di Đà, một lần nghe giảng kinh như thế là năm năm. Năm năm mà Thầy Lý vẫn chưa giảng xong một bộ Kinh A Di Đà, có thể thấy bộ kinh này thật vô cùng ý nghĩa!

Tuần trước chúng ta làm pháp hội, mọi người cũng đã được nghe những Mật pháp vô cùng quý báu. Tin rằng mọi người đã học xong những Mật pháp trong "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp", rồi sau đó lại học các pháp trung cấp; các pháp sơ cấp đã học xong, bây giờ là trung cấp, như pháp quán vô lượng tâm, pháp quán bảo kiếm Văn Thù Bồ Tát, hai pháp quán này thuộc về trung cấp.

Vậy thì, giữa Mật pháp trung cấp và cao cấp, chúng ta cần nghỉ ngơi một chút. Cho nên, vừa hay chọn quyển Kinh A Di Đà này để cùng nhau thảo luận, giảng giải, để chúng ta cùng nghiên cứu với nhau.

Tôi đã từng quy y lão pháp sư Lạc Quả, lão pháp sư Lạc Quả đã từng giảng giải một quyển "A Di Đà Kinh Thích Yếu". Khi tôi quy y lão pháp sư Lạc Quả là ở Sa Lộc, Đài Trung, thầy có một ngôi chùa ở Phố Lý gọi là chùa Phật Quang, cọc mốc trung tâm và đo đạc địa lý của điện chính chùa Phật Quang đều do tôi giúp thầy xem. Tuy nhiên, rất đáng tiếc là lão pháp sư Lạc Quả đã viên tịch. Hôm nay giảng Kinh A Di Đà, tôi sử dụng pháp bản của lão pháp sư Lạc Quả, cũng có ý nghĩa tưởng nhớ lão pháp sư trong đó.

Kinh này là do pháp sư Lạc Quả giảng khi còn tại thế, tôi xin đọc một đoạn cho mọi người nghe:  
"Đức Thế Tôn Thích Ca ra đời thuyết pháp là vì độ chúng sinh. Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, những chúng sinh được độ bởi pháp môn Tịnh độ không thể tính đếm. Trong các pháp môn Tịnh độ, những người được độ bởi Kinh Phật Thuyết A Di Đà cũng không thể tính đếm. Nói chung, tin vào lời Phật Thích Ca, cùng tin vào lời chư Phật sáu phương, niệm Phật thành Phật, đây là nhân duyên lớn của đời người. Do vậy, mong rằng các vị cư sĩ hộ pháp, nghe pháp rồi giảng lại cho người khác, thường mơ thấy điềm lành như vậy. Huống chi là lưu thông Kinh Phật Thuyết A Di Đà, thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói. Công đức lợi ích này không thể dùng tâm suy nghĩ hay lời nói mà diễn tả được, đó chính là nhân quả của Phật vậy."

Bốn chữ "Thích Ca Thế Tôn" ở trước, Thích Ca là một họ, cho nên chúng ta thường nói rằng, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vốn thuộc về một chủng tộc gọi là tộc Thích Ca. Nơi Ngài sinh ra, theo nghiên cứu hiện nay, thực ra là ở vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nepal. Phật giáo phát triển mạnh ở Ấn Độ, Nepal và Kashmir.

Từ thuở ban đầu, trước khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập đạo, chỉ có đạo Bà La Môn, lúc đó chưa có tên gọi Phật giáo. Chỉ sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ chân lý, thì danh xưng Phật giáo mới bắt đầu tồn tại.

Thế Tôn nghĩa là gì? Thế Tôn có nghĩa là bậc được tất cả mọi người trên thế gian hết sức tôn kính. Câu này có nghĩa là: "Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc được tất cả mọi người trên thế gian tôn kính."

Khi xưa, lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ dưới cội bồ đề, trời đất đã có sáu lần chấn động lớn. Thực ra, sau khi rời cung điện xuất gia, Ngài không phải lập tức đến dưới cội bồ đề ngồi thiền để giác ngộ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước tiên đã đi tham bái các vị thầy Bà La Môn, tổng cộng đã tham học với vô số vị, nhưng nổi tiếng nhất có sáu vị thầy.

Ngài từng treo một chân lơ lửng trên cây, đầu chúc xuống để tu luyện; từng nhịn ăn nhiều ngày, ngồi trong bụi gai để cho gai đâm vào thân thể; cũng từng không mặc quần áo ngồi trên núi cao tuyết phủ để tu luyện ; và còn từng lặn xuống đáy sông nín thở để tọa thiền.

Ngài tu luyện trên núi tuyết tổng cộng sáu năm, tức là tu luyện trong rừng khổ hạnh sáu năm. Sau sáu năm tu luyện, Ngài cảm thấy trình độ của mình chỉ có thể tạm thời quên đi nỗi đau khổ, chỉ có thể đưa tinh thần của mình lên đến tầng trời thứ tư, Ngài luôn muốn tiến lên cao hơn nhưng không thể.  
Có rất nhiều vị tiên nhân nói với Ngài: "Ngươi theo ta thì không sai đâu."  
Tiên nhân nói với Ngài: "Ở chỗ ta, ngươi có thể học được thuật thôi miên."  
Phật Thích Ca Mâu Ni không dùng miệng để trả lời, chỉ dùng mắt nhìn chằm chằm vào thầy của mình, và thầy đã bị Ngài thôi miên.

Thầy nói với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: "Ngươi có thể đi được rồi, vì ngươi đã học được hết những gì ta có thể dạy."

Phật Thích Ca Mâu Ni lại đến chỗ một vị tiên nhân khác, vị tiên nhân này có khả năng phun lửa từ miệng. Vị tiên nhân đó nói với Phật Thích Ca Mâu Ni: "Hãy theo ta học đi."  
Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Sau khi học được cách phun lửa, con sẽ phải đi làm đầu bếp sao?"  
Vị đạo sĩ phun lửa hỏi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: "Vậy ngươi muốn đạt được điều gì?"  
Đức Phật nói: "Con muốn đạt được chân lý đích thực của cuộc đời."  
Vị đạo sĩ phun lửa đó nói: "Ta không có những điều đó."

Lại có một vị tiên nhân nói với Phật Thích Ca Mâu Ni: "Ta có thể muốn ăn gì là có ngay thứ đó!" Ông ta chỉ cần đặt cái nồi trước cửa hang là lập tức biến ra thịt gà, thịt vịt, bánh bao, cả đống thức ăn đầy ắp, nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không học điều này.

Tiếp đến, Ngài gặp một vị tiên nhân có trình độ rất cao, vị tiên nhân này có thể bay lượn, và còn có thể ngồi trên cành cây đung đưa như đánh đu. Tuy nhiên, Phật hỏi ông ta: "Chân lý là gì?"  
Kết quả là vị tiên nhân đó nói: "Ta cũng không biết."

Một lần nọ, khi Phật Thích Ca Mâu Ni muốn đứng dậy khỏi tòa kim cang dưới cội bồ đề, Ngài phát hiện mình không thể đứng dậy và không thể đi được, chỉ có thể bò đến sông Ni Liên Thiền để uống nước. Khi bò được nửa đường, may mắn có một cô bé chăn cừu dâng sữa cừu cúng dường Ngài.

Ngài ngộ ra một câu "Người tu hành cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần và thể xác". Tuy về mặt tinh thần đã khai ngộ, nhưng về mặt thể xác vẫn cần phải bổ sung thức ăn. Hôm nay, Thượng sư dạy mọi người đừng nghĩ rằng nhịn đói tu hành là rất có nghị lực. Chúng ta không nên ăn quá nhiều để tránh dư thừa thịt. Vì vậy, ăn chỉ để đáp ứng nhu cầu của thể xác và tinh thần, vừa đủ là tốt.

Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni hiểu được đạo lý này, Ngài đã chủ trương rằng thể xác và tinh thần cần phải hài hòa. Tuy nhiên, năm vị đệ tử xuất gia đầu tiên đã lần lượt rời bỏ Ngài, bởi vì họ nhận thấy Phật Thích Ca Mâu Ni đã từ bỏ khổ hạnh và bắt đầu ăn uống trở lại.

Cho nên khi các bạn thấy tôi ăn uống, hãy biết rằng tôi đang học theo Phật Thích Ca Mâu Ni. Tuy trong thời gian tu hành, tôi cũng đã trải qua nhiều ngày nhịn đói, nhưng thực tế, tinh thần con người cần giấc ngủ, thể xác con người cần thức ăn. Tu hành bằng cách nhịn ăn rất dễ gây tổn thương cho cả thể xác lẫn tinh thần.

Vì vậy, Ngài đã rời khỏi những vị tiên nhân Bà La Môn này để tìm kiếm chân lý của riêng mình. Cuối cùng, Đức Phật đến bên sông Ni Liên Thiền, dưới cội bồ đề. Ngài ngồi thiền ở đó từ tối đến sáng, và khi trời gần sáng, Ngài nhìn thấy một ngôi sao ở phương Đông, ngôi sao ấy chiếu vào tâm Ngài. Cuối cùng Ngài đã hiểu được thế nào là chân lý.

Tâm ấn mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ, tôi đã giảng cho mọi người vào hôm thứ Bảy rồi. Chân lý là gì? Chân lý chính là sự hợp nhất giữa bản thân với tâm thức vũ trụ! Ngoài "sự hợp nhất giữa bản thân với tâm thức vũ trụ" là chân lý ra, không có điều gì khác là chân lý cả. Những vì sao trên bầu trời vũ trụ chính là đại diện cho chân lý, ngôi sao chiếu vào tâm biểu thị rằng Phật Thích Ca Mâu Ni đã hợp nhất với tâm thức vũ trụ.

Bây giờ, mọi người đều đã khai ngộ. Nhưng trong tu tập thực sự, các bạn cũng phải đạt được sự hợp nhất với tâm thức tối thượng của vũ trụ, không thể sau khi khai ngộ về mặt tinh thần rồi thì để thân thể rơi vào hỗn loạn, vì vậy thực tế là phải tu hành.

Bây giờ nói đến câu thứ hai: "Thích Ca Thế Tôn, xuất thế thuyết pháp." Phật Thích Ca Mâu Ni từ đâu đến? Thực ra Phật Thích Ca Mâu Ni đến từ cõi trời Đao Lợi. Ngài từ cõi trời Đao Lợi trực tiếp giáng sinh xuống thế giới Ta Bà này, vì vậy khi vừa sinh ra, Ngài đã có thể bước đi trên hoa sen, mỗi bước chân đều sinh ra hoa sen, và còn có thể nói: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn". Đây chính là thuyết pháp, vừa sinh ra đã bắt đầu thuyết pháp.

Có một vị lão hòa thượng nói: "Nếu lúc đó tôi có mặt ở đó, tôi sẽ đánh chết Ngài bằng một gậy rồi đem cho chó ăn." Tại sao người này lại nói như vậy? Mọi người hãy suy nghĩ xem! Bởi vì vừa sinh ra đã biết đi, dưới chân sinh hoa sen, lại còn biết mở miệng nói chuyện, nếu không phải yêu quái thì là gì? Thực ra không phải vậy! Đây là lời của Thiền tông. Bởi vì Thiền tông có câu: "Gặp Phật giết Phật, gặp tướng diệt tướng, phàm những gì có tướng đều là hư vọng." Điều này nói hơi sâu một chút.

May mà vị lão hòa thượng đó không có mặt ở đó, tuy nhiên, khi câu nói này của Phật vừa được thốt ra, thiên hạ đều chấn động, mọi người đều nói: "Thằng nhỏ này quá kiêu ngạo, không phải là coi thường người khác sao? Làm sao có thể nói 'Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn' được?"

Hiện nay có nhiều người tu hành bắt chước câu nói của Phật Thích Ca Mâu Ni. Họ mới ăn chay được ba ngày đã nói "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn", cho rằng không ai ở trên mình, tất cả đều ở dưới mình. Tuy nhiên, học theo cách này là sai. Đây là lời thuyết pháp đầu tiên của Phật Thích Ca Mâu Ni, ý nghĩa bề ngoài là như vậy.

Các bạn có biết trong ngày đầu tiên giáng sinh, khi Ngài nói "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn", chữ "ngã" này ám chỉ điều gì không?

Chữ "ngã" này chỉ "chân lý", chữ "ngã" này chỉ "tâm thức vũ trụ", chữ "ngã" này chính là "đại ngã vô cùng tận", chữ "ngã" này là "bất tử", là "vô hình", là "vô cùng lớn", là "vô hạn".

Hôm nay giảng rõ như vậy là tốt rồi, nếu không giảng rõ, mọi người đều biến thành ma. Chữ "ngã" này không phải chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài không nói về "tôi", Ngài nói về "trời" và "đất", Ngài đã chỉ ra "cái tôi lớn vô cùng" này.

Tất cả mọi người trên thế giới đều chỉ nói về "cái tôi của chính mình", chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni mới nói về "cái tôi của trời", "cái tôi của đất", "cái tôi vô cùng lớn". Vì thế ngay khi Phật Thích Ca ra đời, Ngài đã thuyết pháp. Một bậc vĩ đại như vậy, đương nhiên khi sinh ra phải có hoa sen mọc dưới chân, và lập tức biết đi, lập tức biết thuyết pháp.

Mặc dù từ cõi trời Đao Lợi giáng sinh và có khả năng thuyết pháp, nhưng Ngài vẫn phải trải qua những khổ hạnh ở cõi người; sáu năm trong rừng khổ hạnh, chịu đựng vô vàn khổ đau. Vì vậy môi trường tu hành của chúng ta ngày nay quá tốt, không có gì lạ khi tất cả đều rơi vào "Tam ma địa ngủ gật".

Người ta ngồi thiền là phải ngồi giữa rừng gai, để những cái gai đâm vào thịt mà ngồi thiền, như vậy mới không ngủ gật, đây là biểu hiện của sự tu hành, là nghị lực thực sự tập trung tinh thần. Người tu hành vì ăn ít, có thể khi ngồi thiền bụng đói, nhưng có thể chuyển hóa cơn đói, có thể chuyển hóa bệnh tật trong cơ thể, có thể chuyển hóa tất cả những phước báu của mình, có thể thực sự có được sức mạnh tinh thần, để cho dòng pháp của vũ trụ tràn đầy thân thể.

Đức Phật trụ thế và thuyết pháp đều có ý nghĩa của nó. Như ngài Milarepa, tu hành mười hai năm, đến cuối cùng, tất cả y phục đều rách nát, giống như lá cây rơi trên thân vậy, chỉ cần cơ thể hơi động đậy, tất cả lá cây đều rơi xuống đất. Vì thế có những cô gái mang đồ đến cúng dường Ngài đều sợ hãi, bởi vì trên thân Ngài không còn lấy một thứ gì, tất cả đều rách nát.

Vì độ chúng sinh mà phải chịu nhiều khổ đau như vậy. Vậy mà chúng ta bây giờ mới tu được bao lâu? Mọi người có thể cho rằng tu một ngày đã là rất khổ rồi. Tôi cứ nghĩ mãi, tại sao các bạn ăn cơm không thấy khổ? Mà còn đều đặn ba bữa mỗi ngày. Các bạn chỉ thấy được cơm hữu hình, mà không thấy được cơm vô hình.

Thật ra, dòng chảy pháp của vũ trụ chính là thức ăn vô hình của chúng ta; các bạn có được dòng sữa pháp tuyệt vời như vậy từ vũ trụ, chúng ta gọi đó là sữa - sữa pháp của vũ trụ, sữa của Phật pháp, thế mà cho các bạn uống cũng không chịu uống. Một ngày chỉ bảo uống một lần cũng không uống, thật lạ! Mọi người chỉ thích ăn cơm.

Hiện nay tôi không ăn sáng, những ngày gần đây, buổi sáng tôi chỉ uống đơn giản một ly sữa nhỏ mà thôi, không ăn gì cả. Dành một bữa để uống sữa pháp - sữa của Phật pháp. Khi bạn thật sự có thể nếm được sữa pháp, bạn sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc chân thật, còn hạnh phúc hơn cả trúng số độc đắc; khi có thể uống được sữa pháp của vũ trụ, cũng giống như toàn bộ vũ trụ đều thuộc về bạn.

Pháp thoại tối nay nhằm mong mọi người thực sự có thể nếm được sữa pháp của vũ trụ. Ai đã nhận được sữa pháp của vũ trụ xin giơ tay! Vừa rồi sữa pháp của vũ trụ đã tuôn xuống. Tôi tin rằng những ai đang chụp ảnh, nếu gặp được duyên lành, sẽ chụp được hình ảnh sữa pháp đang tuôn xuống. Mong mọi người rửa ảnh ra xem, sẽ thấy như một thác sữa vậy; thác nước thì là nước, nhưng thác này là thác sữa, sức mạnh của nó thật vô cùng vĩ đại!

Phật Thích Ca Mâu Ni đến thế gian này không phải để dạy người ta cầu tài lộc, nên câu thứ hai mới nói "Thích Ca Thế Tôn, xuất thế thuyết pháp." Phật Thích Ca Mâu Ni đến thế gian là để giảng về pháp của sữa pháp này.

Những gì tôi nói với mọi người hôm nay chính là giảng về pháp của sữa pháp này. Các bạn đi theo tôi, chắc chắn sẽ có sữa pháp để uống, không cần phải tốn bao nhiêu tiền, bởi vì chỉ cần khi tu pháp có thể thực sự hợp nhất với vũ trụ, sữa pháp nhất định sẽ tuôn xuống. Chắc chắn có thể cảm nhận được hương vị thơm ngát bên trong, tràn đầy khắp thân thể, toàn thân đều có thể tỏa sáng, trở thành một với chân lý, vũ trụ chính là của bạn, đây chính là "sự sống vĩnh hằng" mà Cơ Đốc giáo nói đến, là "vô sinh" mà Phật giáo nói đến, điều này chúng ta đã nói đến lần trước.

Trạng thái ban đầu khi nhập Tam ma địa là ở thiên tâm và đỉnh huyệt có cảm giác tê tê, sữa pháp tuôn xuống, làm cho tất cả tế bào ở đầu đều tràn ngập niềm hạnh phúc. Sau đó sữa pháp tiếp tục chảy xuống phần thân trên của bạn, tất cả tế bào ở thân trên và đầu đều ngập tràn hạnh phúc, rồi sữa pháp chảy xuống đến chân, khiến tất cả tế bào trong toàn thân đều tràn đầy hạnh phúc, đây chính là Đại Lạc Kim Cang, đây chính là Tam ma địa ở giai đoạn sơ cơ.

Khi có được Tam ma địa sơ cơ, sữa pháp sẽ chảy từ đỉnh huyệt xuống bình thân thể của bạn, khiến cho bình thân thể của bạn tràn đầy sữa pháp. Bạn biết không! Những cô gái xinh đẹp kia giống như trái bầu vậy, có hình dạng như trái bầu, có nghĩa là bên trong tràn đầy dòng pháp, bắt đầu từ đỉnh đầu, rồi khi tràn đầy thì trái bầu này trở nên trong suốt, trái bầu này chính là đại diện cho một con người.

Hôm nay Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết pháp, tôi theo học với Phật Thích Ca Mâu Ni, giải thích về pháp, và tôi thực sự đã thể nghiệm được pháp này. Vì bản thân đã có sự thể nghiệm nên tôi mới giảng cho mọi người nghe. Điều này vô cùng quý giá, và là điều chân thật, quý báu, không thể dùng tiền mà mua được.

Cuối cùng, tôi xin nói thêm một câu mà Phật đã dạy: "Trên trời dưới đất, chỉ có chân lý là tối thượng". Vậy chân lý là gì? Chân lý chính là sự hợp nhất hoàn toàn với sữa pháp của vũ trụ, chỉ có như vậy mới đạt được "sự sống vĩnh hằng" và "vô sinh", ngoài ra, không có một thứ gì trên thế gian này là tồn tại mãi mãi!

Om mani padme hum.

### 02. Trình bày "A Di Đà Kinh Thích Yếu" (2)

Tuần trước chúng ta đã nói về "Thế Tôn Thích Ca, xuất thế thuyết pháp." Sự xuất thế thuyết pháp này chính là "vì độ chúng sinh nên thuyết tám vạn bốn nghìn pháp môn, trong đó những người được độ bởi pháp môn Tịnh Độ thì không thể tính đếm được." Điều này có nghĩa là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện ở thế gian là để độ chúng sinh. Còn bản thân tôi nghĩ rằng, việc tôi đang thuyết pháp ở đây cũng là để độ chúng sinh.

Tuy nhiên, đôi khi nghĩ lại, độ chúng sinh thật ra là chúng sinh khó độ. Có lúc lại nghĩ, không chỉ chúng sinh khó độ, mà độ chính mình cũng khó. Một người nếu có thể thật sự độ được chính mình, đã đủ tư cách gọi là bậc thánh nhân. Những người trên thế gian này, ai cũng có hoài bão lớn lao, hiện nay có những người muốn tu hành, ngay từ đầu đã phát tâm bồ đề muốn độ chúng sinh. Thực ra, tôi nghĩ thế này, trong tương lai tông phái của chúng ta, nếu có một người được độ, hoặc hai người được độ, hoặc nhiều hơn nữa - mười người được độ, thì đã là rất đáng mừng rồi.

Thật ra, độ chúng sinh là việc rất khó khăn, muốn độ chúng sinh cần phải thuyết rất nhiều pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni đối với chúng sinh Tiểu thừa thì giảng pháp Tứ đế; đối với chúng sinh Đại thừa thì giảng pháp Lục độ; đối với chúng sinh Trung thừa thì giảng pháp Thập nhị nhân duyên. Phật Thích Ca Mâu Ni thuở xưa cũng giảng Kinh A Di Đà, vì vậy khi pháp sư Lạc Quả nói đến đoạn này, ngài đã dạy rằng: "Chỉ riêng những người được độ bởi pháp môn Tịnh Độ đã không thể tính đếm được."

Pháp môn Tịnh Độ là gì? Pháp môn Tịnh Độ bắt nguồn từ hòa thượng Huệ Viễn của Trung Quốc. Khi ngài đến lầu tạng kinh xem kinh sách và đọc được Kinh A Di Đà, ngài nhận thấy trong kinh dạy rằng: "Chỉ cần niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn, Phật sẽ đến tiếp dẫn vãng sinh về Tây phương". Hòa thượng Huệ Viễn cho rằng bộ kinh này là một pháp môn rất thuận tiện và tốt đẹp, vì vậy ngài đã thành lập Niệm Phật Xã ở Lư Sơn (Bạch Liên Xã). Pháp môn này được gọi là pháp môn Tịnh Độ, cũng chính là tông phái Tịnh Độ tông trong Phật giáo ngày nay.

Lúc mới bắt đầu, tôi đã từng đọc một cuốn sách của Tịnh Độ tông, đó là "Văn Tịnh Độ Long Thư". Trong cuốn sách này mô tả có rất nhiều người, nhờ học Tịnh Độ và niệm Phật, mà đạt được đại thành tựu vãng sinh Tây phương.

Trước đây tôi cũng đọc cuốn sách này và vô cùng xúc động. Tuy hiện nay chúng ta tu Mật pháp, nhưng mỗi lần tu Mật pháp xong, sau khi kết thúc pháp hội đồng tu, chúng ta đều có niệm Phật. Chúng ta lấy tu Mật pháp làm chính, lấy niệm Phật làm phụ. Tôi luôn nghĩ rằng, vì Mật pháp cần phải có người đại trí tuệ mới tu được, còn Tịnh Độ thì sao? Bất kể bạn là đại trí tuệ hay tiểu trí tuệ, tất cả đều có thể tu được. Cho nên, không bắt được chuyến bay đầu tiên thì có thể bắt chuyến thứ hai. Dù Mật pháp chưa tu đến tương ứng, nhưng nếu bạn niệm Tịnh Độ thuần thục, chư Phật Bồ Tát vẫn sẽ đến tiếp dẫn bạn vãng sinh. Vì vậy, Thượng sư truyền pháp không chỉ giảng Mật tông mà còn giảng Tịnh Độ, giăng nhiều tấm lưới như vậy chính là để bắt được cá.

Kinh A Di Đà này, số người được độ cũng không thể tính đếm được. Vì đây là kinh do Đức Phật thuyết giảng, và vì chúng ta tin Phật, nên chúng ta tin vào cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà. Khi chúng ta niệm danh hiệu của Ngài, Ngài nghe được tiếng gọi của chúng ta và sẽ đến tiếp dẫn. Giống như việc hôm nay các bạn vừa nghe tôi nói "Chủ nhân của tôi xin nghỉ một tiếng đồng hồ", các bạn đều tin đó là sự thật! Bởi vì các bạn tin tưởng Lư Thắng Ngạn! Nếu các bạn không tin lời tôi nói, thì đoạn vừa rồi của tôi chẳng khác nào nói khoác.

Từ đó chúng ta biết rằng: "Do tin vào lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni và lời dạy của chư Phật sáu phương, việc niệm Phật thành Phật là nhân duyên lớn của đời người. Do vậy, mong rằng các vị cư sĩ hộ pháp, sau khi nghe pháp hãy giảng lại cho người khác. Thường xuyên có những giấc mộng tốt lành như vậy, huống chi là lưu thông Kinh Phật Thuyết A Di Đà, thọ trì đọc tụng, và giảng giải cho người khác. Công đức lợi ích này không thể dùng tâm suy nghĩ hay lời nói mà diễn tả được, đó chính là nhân quả của Phật vậy."

Trong những kinh Phật thuyết giảng, có kinh nói về khoa học, có kinh nói về triết học, thiên văn, địa lý, chính pháp, và cả những pháp phương tiện. Bậc đại trí giác ngộ như vậy rất hiếm có trên thế gian này. Bởi vì bản thân tôi cũng đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc, và tôi còn cam đoan rằng, tôi là người từ thế giới Tây phương Cực Lạc đến, nếu sau này khi tôi ra đi, có lẽ cũng sẽ trực tiếp trở về nơi đó. Những điều tôi đã "thấy" trước đây đều rất chân thật, cho đến bây giờ vẫn còn rõ ràng như ở trước mắt vậy. Vì đã thực sự chứng kiến, nên tôi càng tin tưởng sâu sắc vào sự hiện hữu của thế giới Tây phương Cực Lạc.

Ngày nay các pháp sư thuyết giảng kinh, trong sách viết thế nào thì họ giảng y như vậy. Có người hỏi: "Thầy đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc chưa?" Họ đáp: "Nếu tôi đã đến đó thì tôi đã chết rồi!" Như thể hỏi họ đã đến đó chưa là đang thúc họ mau chết vậy, bởi vì trên nhà tang lễ đều treo biển "Vãng sinh Tây phương" mà!

Tuy nhiên, hôm nay Thượng sư có thể nói với mọi người rằng: "Tôi thật sự đã đến đó, và tôi đã đến một lần, only one, chỉ một lần duy nhất. Về việc muốn đến đó lần nữa, Ngài nói: 'Đợi khi ra đi hẳn rồi hãy đến!'"

Vì vậy, tôi cam đoan với mọi người rằng thế giới Tây phương Cực Lạc thực sự tồn tại, và chư Phật ở đó vô cùng trang nghiêm. Mọi người có thể tin vào lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni, và cũng có thể tin vào những lời tôi nói hôm nay. Chỉ cần chúng ta thường xuyên niệm Phật và tưởng nhớ đến Phật vào buổi sáng và tối khi có thời gian, với sự nhất tâm bất loạn, chắc chắn Phật sẽ đến tiếp dẫn chúng ta. Như pháp sư Lạc Quả đã dạy: "Tóm lại, tin vào lời Phật Thích Ca, tin vào lời chư Phật sáu phương, niệm Phật thành Phật, đó là nhân duyên lớn của đời người."

Tôi cảm thấy Phật Thích Ca Mâu Ni rất thông minh và có trí huệ lớn. Sự lựa chọn của Ngài khác với sự lựa chọn của người đời. Người đời nếu sinh ra là thân vương tử thì sẽ chọn làm vua trong tương lai, không muốn xuất gia, đây gọi là "nhân duyên lớn". Nếu ngày xưa Phật Thích Ca không xuất gia mà làm vua một nước nhỏ ở Ấn Độ thì ngày nay chẳng ai biết đến Ngài. Ngày nay ai biết tên các vị vua của những nước nhỏ ở Ấn Độ chứ! Nói thật, ngay cả các đời tổng thống Mỹ, tôi cũng chỉ biết một vài người, như Washington khai quốc, Lincoln, Wilson, Jefferson! Chỉ biết những người nổi tiếng này thôi, còn lại không biết. Cho nên thực tế mà nói, sự lựa chọn của Phật Thích Ca là đúng đắn, Ngài muốn xuất gia thành Phật, không muốn làm vua.

Nói thêm, trước đây khi tôi từ chức thiếu tá trong quân đội, cấp trên của tôi đã nói với tôi: "Đừng nghỉ! Nếu anh không nghỉ, tôi sẽ cho anh lên trung tá, và còn có thể thăng tiến xa hơn nữa, có thể lên đến thiếu tướng, làm tướng đấy!" Tôi nói: "Tôi không muốn, tôi không muốn làm tướng, bởi vì nếu bây giờ tôi làm tướng, chẳng có mấy ai biết đến tôi, chỉ có vài thuộc cấp biết tôi thôi." Vì vậy, ngày nay tôi học Phật cũng là vì nhân duyên lớn của đời người, nhờ đó mà hiện nay trên toàn thế giới mới có hơn trăm nghìn đệ tử.

Vì vậy sự lựa chọn ngày hôm nay, tất cả chúng ta đều đang chọn lựa một nhân duyên lớn trong cuộc đời, làm vua hay làm tướng đều không có ý nghĩa bằng việc học Phật. Giống như những người giàu có trên thế gian này, đôi khi người ta chưa chắc đã biết đến họ. Chúng ta hôm nay học Phật, học pháp chính là vì một nhân duyên lớn. Điểm xuất phát của chúng ta giống như Phật Thích Ca Mâu Ni vậy, như thế cuộc đời của chúng ta sẽ có ý nghĩa hơn bất kì ai khác.

Pháp sư Lạc Quả dạy: "Như vậy, mong rằng các vị cư sĩ hộ pháp, sau khi nghe pháp hãy giảng lại cho người khác. Thường xuyên có những giấc mộng tốt lành như vậy, huống chi là lưu thông Kinh Phật Thuyết A Di Đà, thọ trì đọc tụng, và giảng giải cho người khác. Công đức lợi ích này không thể dùng tâm suy nghĩ hay lời nói mà diễn tả được, đó chính là nhân quả của Phật vậy." Chúng ta đều là những người có nhân Phật và quả Phật, hôm nay nghe Kinh Phật Thuyết A Di Đà, chúng ta phải thường xuyên giảng về công đức của Phật A Di Đà cho mọi người, in ấn Kinh Phật Thuyết A Di Đà, thường xuyên niệm Phật, hoặc đọc tụng kinh này, và thường xuyên giảng giải kinh này cho người khác. Điều này mang lại rất nhiều công đức và có ý nghĩa sâu sắc. Người giảng kinh là gieo nhân Phật vào tâm chúng sinh, còn người nghe sẽ đạt được quả Phật! Hôm nay xin giảng đến đây.

Om mani padme hum.

### 03. Trình bày "A Di Đà Kinh Thích Yếu" (3)

"Phật Thuyết A Di Đà Kinh" là do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng về Phật A Di Đà, không phải Phật A Di Đà thuyết giảng về Phật Thích Ca Mâu Ni. Giảng tới giảng lui đều là A Di Đà Phật, không giảng cũng là A Di Đà Phật, bây giờ giảng cũng là A Di Đà Phật, một lát nữa giảng xong vẫn là A Di Đà Phật.

Tại sao phải giảng về Phật A Di Đà? Bởi vì chỉ cần thọ trì danh hiệu của Phật A Di Đà thì sẽ có công đức và lợi ích. Bản thân Thượng sư cũng thường niệm A Di Đà Phật, khi các bạn đảnh lễ Thượng sư, Thượng sư liền niệm "Nam mô A Di Đà Phật", điều này là niệm cho các bạn nghe, để in vào tâm các bạn, để trong tâm có hạt giống Phật, sau này sẽ nảy mầm và phát triển.

Chúng ta thường niệm A Di Đà Phật cho người khác, đây chính là "nhân Phật" và "quả Phật".

Thật ra, trước khi có "Phật Thuyết A Di Đà Kinh", trên thế gian này đã có A Di Đà Phật rồi, A Di Đà Phật là vị Phật tồn tại vĩnh hằng. Hôm nay, có lẽ các bạn không biết A Di Đà Phật tối nay có đến hay không? Thực ra không đến mà cũng có đến. Bởi vì Ngài không đến không đi, không ở đây mà cũng ở đây, cho nên gọi là "Như Lai".

Niệm Phật có thể thành Phật, tại sao vậy? Bởi vì bản thân bạn vốn là Phật. Khi bạn niệm Phật, miệng được thanh tịnh; khi tai nghe được Phật, tai được thanh tịnh; khi tai nghe được Phật, ấn Phật này khắc vào tâm bạn, tâm bạn được thanh tịnh. Nhờ những yếu tố này mà bản thân tự chuyển hóa thành hình tượng Phật.

Pháp niệm Phật của Tịnh Độ tông thực ra cùng một nguyên lý với việc tu hành và thành Phật của Mật tông. Hôm nay cũng có người hỏi tôi: "Thầy học Mật tông, tại sao lại giảng Kinh A Di Đà?" Thực ra Kinh A Di Đà của Tịnh Độ tông chính là pháp phương tiện của Mật tông. Khi chúng ta niệm Phật, miệng sẽ không nói lời thô tục; khi chúng ta niệm A Di Đà Phật, tai chỉ nghe được danh hiệu A Di Đà Phật; khi chúng ta quán tưởng hình tướng trang nghiêm của Phật trong tâm, đó chính là pháp quán tưởng của Mật tông. Như vậy không phải là tam mật thành tựu sao? Ngày nay ở Đài Loan có rất nhiều tông phái, phần lớn nghi thức lễ bái và tu hành của họ đều dùng niệm tưởng.

Tuy bản thân chúng ta học Mật tông, nhưng cũng dạy mọi người niệm Phật, vì vậy cần phải giảng quyển Kinh A Di Đà này cho mọi người.

Mấy câu tiếp theo là: "Nay giải thích kinh này, xin tuân theo Thiên Thai tông, giải thích theo Ngũ trùng huyền nghĩa." Ý nghĩa là: hôm nay khi giải thích Kinh A Di Đà này, vẫn phải theo phương pháp của Thiên Thai tông để giải thích bộ kinh điển này.

Khi Thiên Thai tông giải thích và phiên dịch tất cả kinh điển, đều phải giảng về "Ngũ trùng huyền nghĩa". "Ngũ trùng" nghĩa là năm tầng, năm trình tự - từ một đến năm. Còn "huyền nghĩa" là gì? Đó là dùng cách diễn giải huyền diệu để giải thích ý nghĩa bên trong kinh.

Ngũ trùng gồm: Thứ nhất, "Thích danh" là giải thích tên kinh. Thứ hai, "Biện thể" là giải thích thể tướng của bản kinh. Thứ ba là "Minh tông", làm rõ tông chỉ của kinh, Đức Phật thuyết kinh này với mục đích gì? Thứ tư là "Luận dụng", bàn về cách vận dụng bộ kinh này như thế nào, có những phương pháp nào để ứng dụng? Thứ năm là "Phán giáo", nghĩa là phân định giáo pháp của Phật để độ chúng sinh, xem xét độ nông sâu của giáo pháp đó.

Vì vậy, khi giải thích bộ kinh này, chúng ta sẽ dùng năm phương pháp này, thông qua hỏi và đáp để giải thích bộ kinh điển này.

Hôm nay giảng "Phật Thuyết A Di Đà Kinh" đến đây.

Om mani padme hum.

### 04. Ngũ trùng huyền nghĩa — Thích danh

Trước tiên chúng ta sẽ nói về tầng thứ nhất trong Ngũ trùng huyền nghĩa. Tầng thứ nhất chính là "Thích danh", nghĩa là giải thích tên của bộ kinh này. Bộ kinh này lấy gì làm tên? Đó chính là năm chữ "Phật Thuyết A Di Đà". Thực ra, bộ kinh này dùng tên của hai vị làm tên kinh, một vị là Phật Thích Ca Mâu Ni, vị kia là Phật A Di Đà, tức là Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng về Phật A Di Đà. Tại sao nói là người thuyết giảng? Bởi vì lúc đó Phật Thích Ca Mâu Ni là người!

Tại sao nói Phật A Di Đà cũng là người? Chúng ta giải thích rằng cả hai vị đều là những người đã chứng đắc quả vị giác ngộ tối thượng vi diệu. Vậy thế nào là Phật? Đại giác chính là Phật. Khi một người đạt được đại giác ngộ, danh hiệu của người đó chính là "Phật".

Vì thế trong kinh Phật có câu: "Người giác ngộ là Phật, người chưa giác ngộ là chúng sinh." Cho nên có thể nói hai vị này đều là "bậc cứu cánh", nói cho cùng, đó là "con người chân chính". Vậy chúng ta là người gì? Chúng ta không phải là người sao? Nếu ai đó nói chúng ta không phải là người, chúng ta sẽ rất tức giận. Không sao cả! Chúng ta không phải là người, mà là Phật. Lần sau có người mắng bạn: "Anh không phải là người!" Bạn có thể nói: "Không sao cả! Vì tôi là Phật".

Đức Phật - Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà đều là những bậc giác ngộ viên mãn. Hai chữ "viên mãn" này thật sâu sắc! Đó chính là những bậc đã đạt được chân lý, thông đạt được đại đạo, vì vậy khi bắt đầu giải thích thì trước tiên phải giải thích tên của bộ kinh này.

### 05. Ngũ trùng huyền nghĩa — Biện thể

Trong Ngũ trùng huyền nghĩa, tầng thứ hai là "Biện thể", nghĩa là phân biệt bộ kinh này thuộc thể loại gì? Thuộc dạng thể văn như thế nào? Kinh Phật Thuyết A Di Đà lấy gì làm thể? Lấy "thực tướng" làm thể. Vậy thực tướng là gì? Thực tướng còn gọi là phi tướng, nghĩa là không có tướng, không không tướng. Như đã viết ở trên "vô phi hữu phi vô tướng" và "ly tứ tướng, tuyệt bách phi". Trong đó, "tứ tướng" được nhắc đến trong Kinh Kim Cang, đó là "vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng", nghĩa là không còn bốn tướng này. Vì vậy, khi không còn bốn tướng này, gọi là "thực tướng".

Tôi giải thích về "vô ngã tướng". Hôm nay tôi đang thuyết pháp ở đây, hôm nay tôi không thuyết pháp ở đây, hai điều này mâu thuẫn với nhau. Hiện giờ tôi đang thuyết pháp ở đây, các bạn có tin không? Các bạn tin! Nhưng nếu tôi nói rằng hôm nay tôi không thuyết pháp ở đây, các bạn có tin không? Các bạn không tin! Bởi vì hiện giờ đang thuyết pháp. Nhưng giả sử tất cả các bạn đều đã về hết, tôi cũng đã đi rồi, bỗng nhiên có một người đến, bên trong không có ai cả, người đó có tin rằng hôm nay tôi thuyết pháp không? Người đó không tin. Ở đây có một vấn đề tồn tại: có "ngã" thì có phiền não, không có "ngã" thì không có phiền não.

Phiền não trên thế gian này đều do cái "ngã" mà sinh ra. Hôm nay có người chửi người khác, tôi không phiền não, nhưng chửi tôi thì tôi phiền não, đi kiện ra tòa, ra tòa kiện người ta, vì anh chửi tôi nên tôi kiện anh, đó chính là có cái "ngã", có cái "ngã" xuất hiện. Giả như bạn tu luyện đến mức không còn "ngã", thì lời chửi từ đây vào, đi qua đây, rồi từ phía sau đi ra, vì không chạm được vào "ngã" nên những lời chửi đó vô dụng, do đó không có phiền não. Chúng sinh có phiền não là vì có "ngã tướng", cho nên chư Phật Bồ Tát dạy chúng ta phải "vô ngã tướng".

Hôm nay người khác có tiền là chuyện của họ, nhưng đôi khi nói đến chuyện có tiền sẽ bị người khác ghen tị, bởi vì "ngã tướng" hiện ra; không có tiền bạn cũng phiền não, vì "ngã tướng" cũng hiện ra. Giả như bỏ được cái "ngã" này đi, bạn sẽ không ghen tị với người khác, cũng không bị người khác ghen ghét. "Ngã tướng" chính là nguồn gốc của phiền não, điều này rất sâu sắc, vì vậy người tu hành phải tu đến mức "vô ngã tướng". Hiện giờ tôi đã tu đến mức chỉ còn nửa cái ngã, có người đánh vào bên này, vừa hay đánh trúng nửa phần "không có" của tôi, tôi không cảm thấy đau, còn nếu muốn đánh bên này, tôi tránh sang bên kia, cũng đánh trúng nửa phần không có. Tuy tôi vẫn thấy bạn muốn đánh tôi, nhưng phiền não chỉ còn chút ít.

"Vô nhân tướng" là gì? Đó chính là không có ta, cũng không có người. Có cái ta thì sẽ nảy sinh cái tâm tự ngã; có cái người thì sẽ có sự so sánh. Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta phải vô nhân tướng. Ví dụ: khi có sự so sánh giữa hai bên, tôi cũng tin Phật, bạn cũng tin Phật, tôi nói Phật của tôi lớn hơn Phật của bạn, bạn nói Phật nhà bạn linh ứng hơn Phật nhà tôi; tôi hỏi bạn tụng chú gì? Người đó nói họ tụng chú vãng sinh, tôi nói tôi tụng chú Thất Phật, tôi hơn bạn sáu vị Phật. Thôi xong! Như vậy, "có ta", "có người", lại còn so sánh nữa, thế thì gay go rồi! Tôi muốn hỏi bạn, bạn tu pháp gì?

Tu Hoàng Tài Thần, họ nói Hoàng Tài Thần chuyên kiếm tiền; rồi họ hỏi tôi tu gì? Tôi tu Dược Sư Phật. Tôi liền nói: Dược Sư Phật của tôi chuyên cứu độ chúng sinh, chuyên cứu người, còn Thần Tài của anh chỉ có mùi tiền. Đây chính là "có ngã tướng", "có nhân tướng" đều hiện ra, so sánh lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau. Vì vậy chúng ta không thể rơi vào cái bẫy đấu tranh. Bởi vì Phật giáo dạy chúng ta phải "vô ngã", "vô nhân", phát triển rộng ra thành "không có chúng sinh", cuối cùng trở thành "vô vi mà làm". Trụ trong Niết bàn rồi lại ra khỏi Niết bàn, tất cả đều tự do tự tại. Người thực sự đạt đến cảnh giới này mới thực sự không còn bốn tướng.

Chỉ khi đã trừ hết bốn tướng mới gọi là tuyệt bách phi, chỉ khi đã lìa bốn tướng mới gọi là thực tướng. Theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, chỉ khi đạt đến cảnh giới "trừ tứ tướng, tuyệt bách phi" mới được gọi là cảnh giới thực tướng, mới thực sự là như ý. Tất nhiên, cảnh giới này rất cao, không phải người bình thường như chúng ta có thể đạt được. Vì vậy hiện giờ tôi mới tu được một nửa, mỗi lần chụp ảnh phóng quang vẫn còn lộ ra một tay một chân. Cho nên nếu bạn đánh vào tay tôi, đánh vào chân tôi, tôi vẫn sẽ đá lại bạn.

Hôm nay tôi giảng về "biện thể", biện thể chính là lấy thực tướng làm thể. Trước đây có một đồng môn tranh luận với tôi về vấn đề này. Anh ấy nói: "Thế giới Tây phương Cực Lạc có những nơi đẹp đẽ như vậy, làm sao có thể là thực tướng được? Vậy thể của Kinh Phật Thuyết A Di Đà là thực tướng, có đúng không?" Tôi trả lời anh ấy như thế này: "Anh nhìn thấy tướng, tôi nhìn thấy không, tất cả cảnh tượng ở thế giới Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà là một sự biến hóa, là từ không mà biến thành có; vì vậy người nhìn bề ngoài sẽ thấy tướng, người nhìn bên trong vẫn thấy là không."

Vậy nên hôm nay Lư Thắng Ngạn đang thuyết pháp ở đây, có hay không? Không! Bởi vì nếu phân tích ra, đây chỉ là quần áo, lời tôi nói ra chỉ là một thứ vô hình, toàn thân thể tách ra chỉ là thịt, xương và máu, khi tách rời ra thì chẳng có người. Vậy cái "tôi" này ở đâu? Thiền tông bảo người ta tham cứu "hiện giờ tôi đang ở đâu?", "ai đang thuyết pháp?". Nếu bây giờ các bạn có thể nói ra được "ai đang thuyết pháp", thì tất cả các bạn đều thành Phật.

Om mani padme hum.

### 06. Ngũ trùng huyền nghĩa — Minh tông

"Minh tông": "Sau khi biện thể phải minh tông, hỏi kinh này lấy gì làm tông, đáp lấy tín nguyện trì danh làm tông; hỏi tin là tin điều gì? Đáp tin lời Phật Thích Ca thuyết."

Bởi vì tin vào lời Phật Thích Ca Mâu Ni dạy. Đã từng có người hỏi tôi: "Phật là gì?" Có người nói: "Tâm chính là Phật, Phật chính là tâm." Chúng ta vì trong tâm nghĩ Phật, niệm Phật, nên có thể thành Phật. Tông phái này xem tâm người như một thửa ruộng - tâm điền, tức là mảnh ruộng tâm. Trong mảnh ruộng này chúng ta trồng đậu thì được đậu, trồng dưa thì được dưa. Hôm nay chúng ta gieo hạt giống Phật vào tâm điền, thì sẽ sinh ra Phật tử, thật ra, pháp này chính là một loại nhân quả.

Bởi vì chúng ta thường xuyên niệm Phật, miệng niệm, tai nghe, tâm nghĩ đến, đây là một phương pháp đơn giản nhất. Chính vì đơn giản nên mới có thể độ được nhiều chúng sinh; nhưng cũng vì quá đơn giản nên có nhiều người không tin. Vậy tại sao chúng ta phải tin vào bộ kinh này? Bởi vì đó là lời Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng. Chúng ta tin vào lời Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, nên chúng ta tin rằng niệm Phật có thể thành Phật. Trong kinh còn nói rằng, đây là sự tán thán chung của chư Phật sáu phương. Đã là chư Phật sáu phương cùng tán thán thì chắc chắn phải vô cùng chân thật.

Theo tôi biết, có rất nhiều người niệm Phật đã thành Phật. Từng có một người thợ rèn, ông tự đặt ra quy tắc là mỗi lần đập sắt phải niệm một tiếng Phật, nên mỗi ngày ông vừa rèn sắt vừa niệm Phật, cho đến lúc sắp rời khỏi thế giới này vẫn còn đang rèn sắt. Ông có một bài kệ nổi tiếng rất hay: "Binh binh bang bang, rèn sắt thành gang; ta nay niệm Phật, vãng sinh Tây phương." Ông vừa rèn sắt vừa niệm bài kệ này, niệm xong, đứng thẳng mà vãng sinh.

Vì vậy mọi người hãy nghĩ xem: một người thợ rèn vì mỗi ngày đều rèn sắt, cứ đập một nhát sắt lại niệm một câu "A Di Đà Phật", cứ như vậy cho đến khi đứng niệm một bài kệ rồi thành Phật. Người thợ rèn này tất nhiên không có nhiều kiến thức, hoàn toàn dựa vào sức lao động của bản thân để kiếm sống. Bản thân ông không có kiến thức cao siêu gì, bạn nói với ông về bất kì quyển kinh nào trong Đại Tạng Kinh ông đều không hiểu, chỉ biết một câu "A Di Đà Phật", ngoài ra không biết gì khác, nhưng ông vẫn cứ rèn sắt, và vẫn thành Phật.

Vì vậy, tông phái này là một tông phái thành Phật rất thuận tiện. Khi chúng ta học Phật, nếu có thể học được với lòng kiên trì như vậy, mỗi ngày niệm Phật không ngừng, và niệm Phật đến mức thuần thục, thì cũng có thể vãng sinh. Thực ra, chỉ cần bốn chữ này là có thể thành Phật: "tín nguyện trì danh". Giống như khi tôi gặp mọi người cũng sẽ niệm một câu "A Di Đà Phật", gặp một người niệm một câu, gặp hai người niệm hai câu. Hôm nay có bao nhiêu người đến thì niệm bấy nhiêu câu "A Di Đà Phật", vì vậy, tôi cũng đang tu pháp này.

Các bạn hãy tự nghĩ xem, mỗi ngày các bạn niệm được bao nhiêu câu "A Di Đà Phật"? Có nhiều người đang chuyển hàng, thì mỗi khi chuyển một món có thể niệm một câu "A Di Đà Phật". Đôi khi, chúng ta có thể tìm cơ hội trong lúc làm việc, như là khi làm bất cứ việc gì, đều có thể niệm một câu "A Di Đà Phật". Ví dụ như làm việc ở bưu điện, tôi thấy trong ti vi có người đang đóng dấu bưu điện, vừa nhai kẹo cao su vừa đóng dấu; thực ra họ có thể mỗi lần đóng dấu là niệm một câu, cứ "bộp, bộp" đóng dấu như vậy, chắc chắn cũng sẽ có thành tựu.

Chỉ cần có lòng kiên trì, tôi tin rằng khi bạn niệm danh hiệu Ngài, Đức Phật ngồi ở nơi đó, ngồi ở Tây phương xa xôi, bạn đã niệm danh hiệu Ngài lâu như vậy mà Ngài vẫn không động lòng thì còn gọi là Phật được sao! Bởi vì bạn luôn niệm danh hiệu của Ngài, chắc chắn Ngài sẽ rất gần gũi với bạn. Khi bạn sắp lâm chung, Ngài nhất định sẽ đến nắm lấy bạn, dù cho bạn đã kiệt sức, nhưng chỉ cần Ngài nâng lên một cái, bạn sẽ về được Tây Phương.

Vì vậy người Trung Quốc có câu tục ngữ: "Lâm thời ôm chân Phật", có thể nói là lúc chết, khi sắp chết mới ôm chân Phật. Tuy nhiên, trong kinh Phật có dạy, dù bạn lâm thời ôm chân Phật vẫn có tác dụng, bởi vì Bồ Tát vốn từ bi mà! Người đệ tử này đã lâu không nghĩ đến ta, đến lúc chết mới niệm danh hiệu ta, nhưng Phật được gọi là Đại Từ Phụ (người cha đại từ đại bi), Đại Từ Mẫu (người mẹ đại từ đại bi), dù bạn không tốt, nhưng lúc lâm chung còn nghĩ đến Ngài, Ngài vẫn sẽ kéo bạn một cái.

Nghe nói ở thế giới Tây phương Cực Lạc cũng có trường mẫu giáo, phải bắt đầu từ lớp mẫu giáo. Có những người trước đây thường xuyên niệm Phật hàng ngày, đã niệm đến mức hình thành dáng Phật, chỉ trong chớp mắt, bên này vừa mất thì bên kia đã hiện ra. Còn những người "lâm thời ôm chân Phật" tất nhiên cũng có thể vãng sinh, nhưng chỉ được vãng sinh vào trường mẫu giáo của cõi Phật.

Ở đây nói rằng, chỉ cần trì danh hiệu Phật tức là niệm Phật, khi niệm Phật đến lúc công phu thuần thục, đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn, thì sẽ đầy đủ vô lượng công đức. Vô lượng công đức này, đương nhiên chính là thành Phật. Thực ra, một người niệm Phật, muốn niệm đến mức nhất tâm bất loạn, quả thật không phải dễ dàng.

Bởi vì nhất tâm bất loạn chính là thiền định, cũng chính là cảnh giới Tam ma địa mà Mật tông chúng ta thường nói, niệm Phật cũng có thể niệm đến mức nhập Tam ma địa. Bởi vì niệm Phật là để tập trung tinh thần; thiền định cũng là để tập trung tinh thần; Mật tông nhập Tam ma địa cũng là để tập trung tinh thần. Thực ra, những tông phái này đến cuối cùng đều đi cùng một con đường, khi đạt đến cảnh giới đó chính là "nhất tâm bất loạn". Bởi vì khi bạn niệm Phật đến mức nhất tâm bất loạn, tâm sẽ không còn điên đảo. Khi cảnh giới khác đến lôi kéo bạn sẽ không thể lôi kéo được, bởi vì tâm bạn chỉ hướng thẳng về Tây phương.

Quyển Kinh A Di Đà này lấy "tín nguyện trì danh" làm tông chỉ. Lấy "tín nguyện trì danh" làm tông chỉ chính là Tịnh Độ tông.

Mục đích cuối cùng là vãng sinh về tịnh thổ. Tôi hy vọng sau này ở thế giới Tây phương Cực Lạc sẽ thấy mọi người đều là những liên hoa đồng tử hóa sinh từ hoa sen, ai ai cũng thành Phật. Đừng để khi viện trưởng đến thăm trường mẫu giáo, lại thấy các bạn đều là những đứa trẻ sơ sinh, lúc đó nhìn lại mới biết là bạn chưa từng niệm Phật tu hành, đến lúc sắp chết mới kêu vài tiếng.

Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng dù thế nào đi nữa, mọi người phải thường xuyên niệm Phật, và đừng quên. Đừng như những người thế tục thông thường, đến lúc lâm chung vẫn còn nhớ nghĩ đến ông bà cố, cha mẹ, rồi mọi người khóc lóc thảm thiết. Ah! Tệ nhất là vẫn còn lo nghĩ về tài khoản ngân hàng, kim cương, vàng bạc có cất giữ an toàn không.

Vì vậy, điều quan trọng nhất chỉ có một câu: "Nhất tâm thành Phật, nhất tâm niệm Phật." Khi lâm chung chỉ cần "nhất tâm niệm Phật" mà thôi, không nên nghĩ đến điều gì khác.

Om mani padme hum.

### 07. Ngũ trùng huyền nghĩa — Luận dụng

Kinh A Di Đà, đến điểm thứ tư là "luận dụng", nghĩa là bàn về tác dụng của bộ kinh này. Bộ kinh này do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng, vậy việc giảng bộ kinh này có tác dụng gì? Có công dụng gì? Câu trả lời của bộ kinh này là: nhằm giúp hành giả vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc và không còn thối chuyển. Mục đích quan trọng nhất trong bộ kinh này chính là "vãng sinh tịnh thổ".

Trước đây trong kinh Phật thường đề cập đến việc nhiều tông phái đều phải dựa vào sức mình để tu hành, như Mật tông cần rất nhiều tự lực, Thiền tông cũng chủ trương dựa vào sức mình để tu. Tuy nhiên, trong Kinh A Di Đà dạy rằng: cần một phần tự lực, nhưng cũng cần nương vào sức mạnh của Phật.

Thiền tông thông thường hoàn toàn dựa vào việc tự mình tọa thiền, cho đến khi tâm quang của mình tỏa chiếu, rồi cùng vũ trụ giao hòa, nghĩa là dùng sức mạnh tâm linh của chính mình để thành Phật, lấy "vô niệm làm tông", dùng sức tu của bản thân để thành Phật.

Mật tông tuy dựa vào quán tưởng, trước tiên quán tưởng Phật, sau đó vận dụng sức mạnh của chính mình (cũng cần dựa vào lửa đan điền của bản thân), rồi luyện thành bảy luân xa, khai mở đỉnh đầu, và trực tiếp thành Phật. Vì vậy, Tam Bảo của Mật tông nói về: khí, mạch, điểm.

Về "khí" thì sao? Trước tiên vận khí trong cơ thể ra, đạo lý là trước hết vận khí khắp toàn thân, tức là dẫn khí này thông qua các kinh mạch toàn thân, sau đó tập trung khí tinh thuần nhất kết thành một điểm. Vậy điểm này thì sao? Thông qua bảy luân xa, từ đan điền đi lên đến Tề luân, đến Tâm luân, đến Hầu luân, đến Mi tâm luân, đến đỉnh khiếu, rồi thoát ra. Mật tông chính là nói về pháp tu "khí mạch điểm" này, rồi vận chuyển cho đến khi hòa nhập vào vũ trụ.

Vì vậy, tu Mật tông và Thiền tông đều khá khó khăn, nhưng tu Tịnh Độ tông lại đơn giản nhất, bởi vì bạn chỉ cần dựa vào việc niệm Phật, không cần phải tu "khí mạch điểm", cũng không cần phải tu cái "vô niệm mà niệm", "vô vi mà vi", "vô tâm mà tâm" này nọ, không cần phải tu những thứ đó.

Thực ra, Tịnh Độ tông giống như nói rằng, bình thường tôi chỉ niệm Phật, niệm "Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật", bởi vì niệm lâu ngày thì sẽ quen. Giống như việc cầu nguyện hàng ngày vậy, ngày nào cũng cầu nguyện, thì Phật ở trong hư không sẽ nghe được lời cầu nguyện của bạn mỗi ngày. Trước đây có người hỏi tôi: Ngày nào cũng cầu nguyện với Ngài như vậy, Ngài có bị phiền không? Thực ra Ngài không phiền đâu, bởi vì tâm lượng của Ngài rất lớn, Ngài không giống như chúng ta chỉ là một con người, tâm lượng của Ngài rất rộng lớn.

Giống như trước đây khi tôi còn ở Đài Loan, sáng sớm vừa mở cửa ra là đã có hơn ba trăm người ùa vào như thác nước chảy vào phòng khách. Ai cũng phải xếp hàng, lấy giấy, đăng ký, rồi cãi nhau, đánh nhau. Hồi đó ở Đài Loan, cứ 8 giờ sáng mở cửa là bắt đầu hỏi việc cho đến 12 giờ trưa, có khi không kịp ăn cơm trưa. Lúc đó tôi quy định mỗi người chỉ được 3 phút, nhưng nhiều người vừa đến đã chuẩn bị sẵn cả mấy tờ giấy câu hỏi.

Thật ra, với sức một mình tôi đối phó với nhiều người như vậy, dĩ nhiên tôi rất đau đầu và phiền lòng, bạn biết đấy, bên này hỏi, bên kia cứ hỏi liên tục không ngừng. Tuy nhiên có một điều rất kỳ diệu là chỉ cần tôi ngồi trên chiếc ghế tiếp khách đó, liên tục bảy tám tiếng đồng hồ mà không cần đi vệ sinh lấy một lần, giống như vòi nước bị khóa vậy.

Như thể có một lưới ánh sáng từ trên không trung bao phủ lấy mình, người ta hỏi gì là trả lời ngay đó, lại không hề cảm thấy mệt mỏi, thật là lạ. Nhưng đôi khi cũng cảm thấy, cứ phải lặp đi lặp lại những ngày như thế này, quả thật là một việc rất phiền não.

Vậy, khi chúng ta thường xuyên niệm Phật và tưởng nhớ đến chư Phật Bồ Tát như vậy, liệu Phật có cảm thấy phiền không? Thực ra là không! Tại sao vậy? Bởi vì con người chỉ là một phần rất nhỏ trong thế giới này, trong khi ánh sáng của vũ trụ mạnh hơn con người không biết bao nhiêu lần. Hiện nay nhân loại có bao nhiêu tỷ người? Tôi biết riêng Trung Quốc đại lục đã có một tỷ người, nghe nói đó cũng là con số lớn nhất!

Tuy nhiên, ở thế giới Tây Phương Cực Lạc có đến "ba mươi sáu vạn tỷ" vị Phật A Di Đà. Vì vậy, khi chúng ta niệm một tiếng A Di Đà Phật, chỉ cần một vị Phật nghe thấy là đủ rồi, có những vị còn chưa nghe thấy nữa! Cho nên trái đất nơi chúng ta đang sống, trong mắt Phật A Di Đà chỉ nhỏ bé như một hạt cát mà thôi. Vì thế, việc các ngài cứu độ chúng ta rất đơn giản, và các ngài cũng không cảm thấy phiền hà gì, bạn cứ việc niệm lớn tiếng, nếu bạn có thể niệm được ba vị Phật đến thì càng tốt.

Trong bộ kinh này dạy rằng, hy vọng bạn có thể cầu nguyện mỗi ngày, mỗi ngày niệm Phật. Tuần trước tôi có nói: ít nhất khi bạn đang niệm Phật, bạn sẽ không chửi mắng người khác; ít nhất khi bạn đang niệm Phật, trong tâm trí bạn sẽ không có những ý nghĩ xấu xa; ít nhất khi bạn đang niệm Phật, tay bạn sẽ không làm điều xấu.

Thật ra, khi bạn niệm Phật, miệng bạn đang tụng thần chú; khi niệm Phật, trong tâm trí cũng sẽ nghĩ đến hình tượng Phật; đôi tay bạn cũng sẽ chắp lại, và khi tay chắp lại chính là kết thủ ấn; khi tâm trí nghĩ đến Phật, đó chính là quán tưởng.

Vì vậy, nói đến cùng, việc niệm Phật của Tịnh Độ tông, do niệm đến mức ý nghĩ, tư tưởng tạo ra sóng não hướng lên trên rung động, một khi sóng não phát sinh, tất cả chư Phật A Di Đà ở thế giới Tây Phương Cực Lạc đều nhận được sóng não của bạn.

Một ngày nào đó khi việc niệm Phật của bạn đã thuần thục, cứ niệm mãi cho đến khi thuần thục, sức mạnh sóng não của bạn sẽ rất lớn, tạo ra một lực hút, một sức hút từ sự khẩn cầu. Khi thân thể này (ngôi nhà này) sắp hư hoại, lúc đó vừa buông bỏ thân xác, chỉ còn lại năng lượng của tâm niệm vừa phát sinh, từ sóng não này vừa phát ra, Phật sẽ kết nối với bạn, hai luồng ánh sáng giao nhau, một khi hút là sẽ đưa bạn về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Tông phái này chính là tông phái vãng sinh bất thoái. Nghĩa là khi bạn niệm Phật đến mức trong não phát sinh từ trường, có thể hút A Di Đà Phật xuống, Ngài sẽ đưa bạn lên, đó chính là cách vãng sinh. Sức mạnh này bao gồm lực của chính bản thân và lực của Phật ban xuống, hai bên giống như hai nam châm hút nhau vậy, một khi đến gần nhau sẽ phát ra tiếng "cạch" và dính vào nhau.

Tuy nhiên, Thiền tông và Mật tông thì khác. Trong Thiền tông và Mật tông, chư Phật đứng vững một chỗ, bạn phải tự tu, tu cho đến khi có đủ năng lực mới có thể tiến lên phía trước để gần gũi với các Ngài, không phải là sự tương tác từ cả hai phía. Vì vậy Tịnh Độ tông dễ hơn, còn Thiền tông và Mật tông thì khó hơn.

Bây giờ mọi người nghĩ xem: Ôi! Vậy tại sao chúng ta lại học Mật tông! Chúng ta học Tịnh Độ tông là được rồi. Tịnh Độ tông có một cách nói rằng, tông phái này thu nhận tất cả mọi người, từ người có trí tuệ cao cho đến người có trí tuệ thấp.

Bởi vì chúng ta ở đây đều là những người có trí tuệ cao, nên chúng ta mới học Mật tông, ai cũng không muốn bị người khác xem là kẻ có trí tuệ thấp. Tuy nhiên, vì bản thân chúng ta có nhiều mặt còn trí tuệ thấp và sức lực chưa đủ để tu Mật, nên tông phái của chúng ta cũng có pháp môn niệm Phật. Mặc dù chúng ta tu Mật, nhưng trong Mật giáo cũng có đặt vào pháp môn Tịnh Độ. Ví như cảnh giới của Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, đó là cảnh giới của chính bạn. Khi bạn tu Mật tông, ồ! cứ tiến lên, đến một điểm nào đó không leo lên được nữa, cứ lăn hoài ở đó, vừa hay chúng ta lại có niệm Phật, Ngài cũng đến gần, "cạch"!

Vì vậy những người tin theo tông phái của chúng ta, không sót một ai, tất cả đều về Tây phương. Người có khả năng thì đi tàu vũ trụ, người không có khả năng thì đi máy bay, ở đây chúng ta không có ai phải đi xe đạp cả, đây chỉ là ví dụ thôi. Thực ra, giống như là nói nếu đã không bắt kịp tàu tốc hành, thì chúng ta đi tàu chậm như ở Đài Loan vậy, từ từ mà đi, người nhanh người chậm cuối cùng đều đến cùng một nơi, không ai thiệt thòi gì.

Tôi thấy người nhanh không cần kiêu ngạo, người chậm cũng đừng buồn phiền, bởi vì đi chậm có một cái lợi là có thể ở thế gian ăn thêm vài bát cơm, phải không? Còn có thể trải qua thêm vài mối tình nữa, lên thiên đường quá sớm, chưa chắc đã có những niềm vui gì tốt đẹp.

Om mani padme hum.

### 08. Ngũ trùng huyền nghĩa — Phán giáo tướng

Điều thứ năm trong Ngũ trùng huyền nghĩa được gọi là "Phán giáo tướng". Những giáo lý mà Đức Phật đã giảng, mỗi bộ kinh đều tương đương với một "giáo". Đức Phật vì muốn cứu độ chúng sinh đã thuyết rất nhiều pháp, trong đó có những pháp rất sâu sắc, cũng có những pháp rất đơn giản. Đừng nghĩ rằng bộ kinh này, "Phật Thuyết A Di Đà Kinh", hoặc những giảng dạy về Tịnh Độ là những điều đơn giản.

Bởi vì ba đời chư Phật cũng đều sinh ra từ bộ kinh này. Bộ kinh này cũng là giáo lý viên mãn mà Đức Phật đã thuyết giảng.

Tuy nhiên, bên trong cũng mang một ý nghĩa "phương tiện", đây chính là điểm rất quan trọng của bộ kinh này.

Những điều đã nói về Ngũ trùng huyền nghĩa ở trên, trước khi đề cập đến kinh văn, năm loại giáo tướng này đều đã được giảng giải. Từ tuần sau mới thực sự giảng đến kinh văn. Hôm nay xin dừng tại đây!

Om mani padme hum.

### 09. Giải thích tên kinh — Phật (1)

Hôm nay giảng về "Phật Thuyết A Di Đà Kinh", vẫn chưa lật đến trang đầu tiên, chỉ mới nhìn thấy tiêu đề của sách mà thôi, tiêu đề này cần giải thích thành ba phần.  
Phần thứ nhất là "Phật".  
Phần thứ hai là "Thuyết".  
Phần thứ ba là "A Di Đà".

Trước tiên nói về "Phật". Mọi người đều biết, hiện nay mọi người tin theo đều là Phật giáo. Trước tiên hỏi mọi người: "Phật là gì?" Chắc chắn mọi người sẽ nói: "Không phải hỏi thừa sao?" Mọi người sẽ nói: "Phật là vị ngồi ở đó."  
"Rốt cuộc Phật là gì?"  
"Phật ở phương Tây sao?"  
"Phật ở trong temple (ngôi chùa) sao?"  
"Phật ở trong tâm của bạn sao?"

À! Phật có thần thông, có thể biến hóa đủ kiểu! Có người nói, mẹ của bạn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, cha của bạn chính là A Di Đà Phật. Rốt cuộc Phật tồn tại bao nhiêu ở thế gian? Ngài đến như thế nào? Đi ra sao? Trước đây mọi người đều biết, tôi cũng đã từng nói về định nghĩa của Phật.

Trước đây có người nói rằng: Phật đều ở trong chùa.  
Có người nói rằng: Bức tượng gỗ kia, đó chính là Phật.  
Có người nói rằng: Bức tượng đồng kia, đó chính là Phật.  
Nếu người điêu khắc tượng Phật chạm khắc Phật thành hình dạng gì, thì Phật sẽ có hình dạng đó.  
Có người chạm khắc Phật thành đầu trọc, thì đó là Phật đầu trọc.  
Có người chạm khắc tóc của Phật thành búi tóc cuộn lên, thì đó là Phật có búi tóc.  
Cũng có người chạm khắc Phật để râu, thì đó là Phật có râu.  
Có người tạo đôi lông mày của Phật thành màu trắng, thì đó là Phật lông mày trắng.

Thực tế, hình tượng của Phật thì thiên biến vạn hóa, nhưng định nghĩa về Ngài thì chỉ có một. Nếu lấy hình tượng để chỉ Phật thì đó là một sai lầm. Ví dụ như có người khăng khăng nói: "Tôi muốn đến Lôi Tạng Tự để lễ Phật." Câu nói này xét về triết lý, triết học thì nói được, vì trong Lôi Tạng Tự có Phật.  
Sau đó lại hỏi bạn một câu: "Phật ở đâu?"  
Bạn trả lời: "Ở Lôi Tạng Tự."  
Về mặt triết lý thì câu trả lời này không đúng.  
"Trong Lôi Tạng Tự có Phật, nhưng Phật không nhất định ở trong Lôi Tạng Tự."

Bởi vì Phật bao trùm toàn bộ hư không, lấp đầy cả vũ trụ. Vì vậy, khi mọi người nói chuyện, cần đặc biệt chú ý đến định nghĩa triết học này. Nói rằng trong Lôi Tạng Tự có Phật là đúng! Thực sự bên trong có Phật; nhưng nói rằng Phật ở Lôi Tạng Tự thì không đúng.

Trước đây tôi đã từng kể, có một lão hòa thượng có đạo hạnh rất cao, ngồi trên pháp tòa, phía trước có một bức tượng Phật. Vì tuổi già, mỗi lần ho là ông lại nhổ đờm lên đầu của bức tượng Phật. Nhiều người nhìn thấy liền nói: "Vị lão hòa thượng này không tôn kính Phật, nếu muốn nhổ đờm thì nên ra ngoài, làm sao có thể nhổ đờm lên đầu tượng Phật được?" Lão hòa thượng trả lời mọi người, ông nói: "Xin mọi người cho tôi biết, nơi nào không có Phật?" Đây là một câu hỏi cần phải suy ngẫm!

Thực tế, nơi nào không có Phật?

Tôi nói với mọi người: "Tất cả các bạn đều là Phật."

Bạn có biết không, những người đã nhận lễ quán đảnh của Mật tông, đều là các vị Phật dự bị trong tương lai. Sau này, hãy nhờ các nghệ nhân điêu khắc tạc lại tất cả khuôn mặt của các bạn, tất cả đều có thể được thờ phụng, tất cả đều là Phật; giống như cô gái kia khi lắng nghe kinh, dáng vẻ của cô ấy chính là thế, nhưng bạn đừng coi thường dáng vẻ đó, đây chính là dáng Phật, Phật được tạc ra chính là dáng vẻ này.

Đừng nghĩ rằng ở giữa có một chút hói đầu, Phật sau này cũng sẽ có hói đầu; bạn đừng nghĩ rằng có nhiều người đeo kính, Phật hiện đại cũng có đeo kính. Bất kì một hình dáng nào, trong Mật giáo đều nói rằng: "Bất kì một hình tướng nào cũng đều là hình tướng của Phật." Bạn đừng xem thường việc trẻ con đắp người tuyết, chỉ cần người tuyết được đắp lên, chỉ cần có linh hồn của Phật bên trong, người tuyết này chính là Phật.

Tôi nói với các bạn, trong Mật tông có một giới luật, đó là giới luật nghiêm trọng nhất. Giới luật này là: "Tự sát chính là giết Phật." Bởi vì chính bạn là Phật tương lai, nếu đã giết đi Phật tương lai, thì không phải là giết Phật thì là giết gì? Vì vậy, Phật pháp không phải là nói về huyền học, mà là có lý luận triết học trong đó.

Phật cũng có ngồi đó bắt chấy, cũng có nằm ngủ ở ven đường như một người say rượu, cũng có thân thể như bộ xương chỉ còn lại một khung xương trong hoang dã. Người thực sự giác ngộ sẽ biết rằng: "Tướng của chúng sinh, đều là tướng của Phật."

Vậy định nghĩa của Phật là gì? Ba chữ, đó là: Người giác ngộ.  
"Người giác ngộ chính là Phật."  
"Người chưa giác ngộ chính là Phật tương lai."

Người giác ngộ có hai định nghĩa: Định nghĩa thứ nhất là "nhận biết", định nghĩa thứ hai là "giác ngộ". Tại sao con người có thể thành Phật? Bởi vì họ phải nhận biết những phiền não của cuộc sống, trước tiên phải nhận biết rằng cuộc sống có những chướng ngại. Hôm nay tôi muốn nói với mọi người về hai chữ "nhận biết", hai chữ này cũng rất quan trọng.

Có rất nhiều người trong suốt cuộc đời của họ có thể nói rằng không hề có hai chữ "nhận biết", từ khi sinh ra, họ đã là học sinh, bắt đầu đi học thì nỗ lực vì các kỳ thi; sau khi tốt nghiệp thì bắt đầu cạnh tranh trong công việc, muốn trở thành tổ trưởng, trưởng phòng, rồi trưởng ban, giám đốc, và cuối cùng là chủ tịch hội đồng quản trị; sau đó thì kết hôn, sau khi kết hôn thì sao? Họ lại sinh con, rồi họ lại phải chăm lo cho con cái học hành, làm việc, kết hôn, rồi sinh cháu.

Vậy thì khi sự nghiệp đã thành công, lại có cháu, thì gần như là "an nghỉ cuối đời" rồi! Một số người sẽ mong mình sống lâu hơn một chút, có thể nhìn thấy cháu kết hôn. Nói đi cũng phải nói lại, từ khi sinh ra cho đến lúc chết, rất nhiều người chưa từng nhận ra rằng "cuộc sống là có trở ngại", thực tế phiền não của họ rất nhiều, nhưng họ không thể giải quyết được hết những phiền não trong cuộc đời này.

Thời niên thiếu phiền não vì thi cử, thời thanh niên đôi khi phiền não vì tình yêu, khi kết hôn thì phiền não vì hôn nhân, thành bại trong sự nghiệp cũng là phiền não, bệnh tật của cơ thể cũng là phiền não, người già cũng có phiền não, việc hòa giải trong các mối quan hệ cũng là một phiền não. Trong thế giới cạnh tranh của cuộc sống này, phiền não thường không có hồi kết, hết đợt này đến đợt khác mà không ngừng lại.  
Sinh, già, bệnh, chết thực sự đều là nguồn gốc của phiền não.  
Danh, sắc, tiền, ăn, ngủ cũng đều là nguồn gốc của phiền não.

Những ham muốn này thực chất đều là nguồn gốc của phiền não, nhưng nếu không nhận thức được phiền não này từ đâu mà đến? Làm sao để loại bỏ? Cả cuộc đời cứ mơ hồ trôi qua như vậy. Vì thế, trước tiên cần có nhận thức, sau đó mới có giác ngộ. Chúng ta bây giờ đều đã là những người có nhận thức, bởi vì có nhận thức nên mới biết tu hành, rồi mới hiểu được sự giác ngộ, mở toàn bộ ánh sáng tâm hồn, giống như Phật.

Cái gọi là giác ngộ, chính là phá bỏ phiền não, đạt được sự giải thoát hoàn toàn. Hôm nay tôi vừa trả lời một lá thư, có một đệ tử luôn hỏi tôi: "Xin Thượng sư khai thị, làm thế nào để phá bỏ phiền não?" Tôi đã trả lời cho người ấy một bài kệ:  
*Phiền não ở nơi đâu, tất cả đều ở trong tâm;  
Xưa nay vốn không có, chính tâm mình làm chủ.*

Hôm nay, tôi đã nói rất nhiều về phiền não ở đây, bây giờ Thượng sư lại nói phiền não ở đâu? Vậy thì lời Thượng sư nói trước sau mâu thuẫn, câu trước chẳng ăn nhập gì với câu sau. Thực ra, ý của tôi là thế này, tôi có ý riêng của mình. Tôi thường nói: "Trước khi trái đất tồn tại, phiền não ở đâu?" Nói gần hơn, "Trước khi bạn tồn tại, phiền não của bạn ở đâu?"

Vốn dĩ không có! Chính vì có "bạn", nên mới có phiền não. Vậy phiền não chẳng phải nằm trong tâm bạn sao? Tôi lại nói: "Sau khi bạn chết, phiền não ở đâu?" Phiền não lại không còn nữa, chẳng phải bạn đã mang theo rất nhiều phiền não như thế mà đi sao. Vì vậy, đây là một tư duy triết học.

Người Trung Quốc chúng ta từng nói một câu: "Thiên hạ vốn vô sự, kẻ tầm thường tự chuốc lấy phiền toái." Lại có một thành ngữ khác: "Tự tìm phiền não." Tôi muốn nói đến việc "tự tìm phiền não" là thế nào? Có một đệ tử viết thư cho tôi, anh ấy nói rằng mình mắc chứng sợ đi máy bay. Anh ấy thường xuyên đọc báo, thấy các vụ tai nạn máy bay, từ đó hình ảnh tai nạn máy bay đã ăn sâu trong tâm trí anh ấy. Anh ấy là một doanh nhân, nhất định phải đi máy bay, trừ khi không còn cách nào khác, anh ấy sẽ không đi máy bay.

Mỗi lần anh ấy đi máy bay đều như vậy! Vì thế, các tiếp viên hàng không trên máy bay chỉ cần nhìn thấy anh ấy là đã cảm thấy chóng mặt. Anh ấy viết thư cho tôi, nói rằng: "Làm thế nào để giúp anh ấy tránh khỏi chứng sợ đi máy bay?" Bởi vì mỗi lần khi cửa máy bay vừa đóng lại, anh ấy liền bắt đầu gõ cửa đòi ra ngoài. Toàn bộ máy bay bị anh ấy làm cho rối tung lên, tâm trạng của mọi người đều không tốt, mỗi lần anh ấy lên máy bay là mọi người cùng chịu xui xẻo theo.

Tôi đã đưa ra phương pháp điều trị cho anh ấy, đó là yêu cầu anh ấy mỗi ngày đều phải ngồi máy bay, bay đi rồi bay về, liên tục trong một tháng. Vì tay anh ấy ít nhất sẽ gõ đến mức không thể gõ nổi nữa, giọng nói cũng sẽ hét đến mức không thể hét thêm được! Đến khi anh ấy không thể gõ cửa hay hét lên được nữa, anh ấy sẽ nhận ra rằng, à! Thực ra máy bay rất an toàn! Bay đi bay lại đều không có vấn đề gì xảy ra. Loại chướng ngại tâm lý như vậy thực sự là "tự chuốc lấy phiền toái"! Đây chính là "Thiên hạ vốn vô sự, kẻ tầm thường tự chuốc lấy phiền toái."

Còn có một vị đệ tử, mỗi khi vào khách sạn, anh ấy liền chuẩn bị sẵn khăn mặt, anh còn bôi một ít xà phòng lên khăn, nói rằng có thể che mũi để không bị ngạt khói. Trước khi đi ngủ, anh nhất định phải mở vòi nước, đổ đầy nước vào bồn tắm trong phòng tắm, anh nói rằng nếu xảy ra hỏa hoạn, anh có thể nằm trong nước để không bị cháy. Mỗi lần đến khách sạn, anh cũng nhất định phải tìm lối thoát hiểm (EXIT) trước, tìm cách làm thế nào để chạy ra ngoài. Khi trả lời thư anh ấy, tôi nói: "Anh nên chuẩn bị luôn một cái dù nhảy đi thì hơn!"

Thực tế, chúng ta không thể trách anh ấy vì sự quan tâm đến an toàn của bản thân, chúng ta không thể trách anh ấy, đó là một cách để bảo vệ chính mình. Nhưng nếu đi quá xa, lần nào cũng như vậy, bạn xem, điều này chẳng phải rất khổ sao?

Giống như tôi, khi đi máy bay hoặc ở khách sạn, tôi thường nghĩ rằng: "Phật Bồ Tát phù hộ, mọi chuyện sẽ không sao." Dù có chuyện gì xảy ra, cũng là mệnh định như vậy. Đúng không? Nếu nghĩ như thế, có thể giảm bớt đau khổ trong nửa đời sau, hơn nữa còn có nhiều người đồng hành, tại sao lại không vui, nhiều người cùng đi vẫn tốt hơn đi một mình.

Bạn nói phiền não ở đâu? Khi con người có tầm nhìn rộng mở và thông suốt như vậy thì sẽ không còn phiền não. Vì thế, khi thực sự xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, tôi thường nhìn qua và nói: "Ôi, thật may mắn quá!" Nếu là tôi, tôi thấy chẳng có gì đáng ngại. Những người như chúng ta đã nhìn thấu sinh tử thì sẽ hiểu rằng "thiên hạ vốn chẳng có chuyện gì".

Khi người ta viết báo chỉ trích Lư Thắng Ngạn, tôi còn hỏi: "Lư Thắng Ngạn là ai vậy?" Có khi, tôi đọc những bài viết chỉ trích mình, tôi lại nói: "Ôi chao! Chỉ trích hay quá! Tôi còn không chỉ trích được hay như thế!" Đó chính là đã nhìn thấu suốt rồi! Không có "bạn" thì làm gì có "bạn" từ trước?

Khi bạn ngang với vũ trụ, bạn chính là người giác ngộ, là một vị Phật giác ngộ. Khi bạn có thể giác ngộ chân lý của Phật, tâm bạn thực sự khai ngộ. Phiền não ở đâu? Bạn ở đâu? Tôi ở đâu? Chúng sinh bình đẳng, nào có kẻ thù? Những gì bạn yêu và những gì bạn ghét vốn dĩ bình đẳng như nhau!

Hiểu được chân lý này, ánh sáng tâm của bạn sẽ tỏa chiếu, ngang với với Viên Giác! Khi nhận biết được phiền não của cuộc đời, rồi vận dụng sức mạnh của sự nhận biết để đạt được giác ngộ, bạn trở thành người giác ngộ; người giác ngộ chính là Phật. Vì vậy, có người nói tượng Phật là Phật, Phật ở đâu? Nếu nói Phật ở đây thì còn cách xa Phật lắm.

Hôm nay chỉ giảng một chữ - Phật. Các bạn phải tin vào chính mình, tất cả chúng ta ngồi ở đây, mỗi người đều là Phật!

Om mani padme hum.

### 10. Giải thích tên kinh — Phật (2)

Tuần trước khi giảng Kinh A Di Đà, tôi chỉ giảng một chữ Phật, tôi tưởng đã giảng xong chữ Phật này rồi, nhưng khi xem lại sách thì thấy vẫn chưa giảng hết, nên hôm nay tôi sẽ tiếp tục giảng về chữ Phật này.

Tuần trước, tôi đã nói "Phật và chúng sinh là như nhau", bởi vì "chúng sinh là Phật chưa giác ngộ", còn "Phật là bậc đã giác ngộ", sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ đã giác ngộ hay chưa giác ngộ mà thôi. Vậy thì hôm nay tôi sẽ giảng về ba loại Phật khác nhau.

Loại thứ nhất, "Ngài khác với phàm phu". Bản chất của phàm phu là mê đắm trong lục trần, chìm đắm trong lục trần này, nên gọi là phàm phu, còn Phật thì vượt thoát khỏi lục trần.  
Lục trần là gì? Đó là "sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp".  
Sắc — tức là màu sắc.  
Thanh — tức là các âm thanh, những âm thanh hay.  
Hương — phân biệt thơm, hôi.  
Vị — cảm giác của lưỡi, một loại cảm giác ngon khi ăn đồ.  
Xúc — sờ vào cái tốt biết là tốt, sờ vào cái xấu biết là xấu.  
Pháp — nói chung, là tất cả các hiện tượng trong thế gian.

Phàm phu vì xoay vần trong lục trần này, không vượt thoát ra được, nên gọi là phàm phu; bản thân Phật đã vượt lên trên lục trần này. Bản thân phàm phu không có tự giác, không cảm nhận được mình là phàm phu, vì không có tự giác nên cũng không thể giác tha. Phật khác với phàm phu, điểm khác biệt này là vì Phật đã có sự giác ngộ và tỉnh thức, nên mới khác với phàm phu. Nếu phàm phu có được sự giác ngộ và tỉnh thức, cũng có thể giống như Phật.

Điểm khác biệt thứ hai là "Phật khác với hàng Nhị thừa". Chúng ta gọi "hàng Nhị thừa" là những người biết rằng cần phải giác ngộ và tỉnh thức, nhưng họ chỉ tu hành cho riêng mình, không quan tâm đến chúng sinh, chỉ tu cho bản thân, nên gọi là "hàng Nhị thừa". Hàng Nhị thừa chỉ có thể tự giác mà không thể giác tha, nghĩa là họ tu hành có thể tự mình giác ngộ, nhưng không có tâm cứu độ người khác. Vì vậy, cảnh giới của họ rất hạn hẹp, được gọi là "kẻ tự độ", đây chính là sự khác biệt giữa Phật và "hàng Nhị thừa".

Thứ ba, "Phật và Bồ Tát cũng có sự khác biệt". Bồ Tát có thể tự mình giác ngộ, có khả năng độ chúng sinh và giúp chúng sinh giác ngộ, đó là Bồ Tát. Tuy nhiên, giữa Bồ Tát và Phật có một điểm khác biệt, đó là Bồ Tát còn chút tình nhiễm; "tình nhiễm" là một dạng cảm xúc. Nói chung, Bồ Tát vẫn chưa hoàn toàn viên mãn, trong sự viên mãn vẫn còn chút bụi trần; còn bản thân Phật đã vượt trên Bồ Tát, hoàn toàn viên mãn, vì vậy chúng ta rất hiếm khi thấy Phật rơi lệ.

Đôi khi chúng ta thấy Bồ Tát rơi lệ vì lòng từ bi, như Quan Thế Âm Bồ Tát đã từng rơi hai giọt nước mắt từ bi. Theo truyền thuyết Tây Tạng, vì Quan Thế Âm Bồ Tát rơi hai giọt nước mắt, một giọt hóa thành Lục Độ Mẫu, một giọt hóa thành Bạch Độ Mẫu, cả hai đều chuyển thế xuống trần gian để cứu độ chúng sinh.

Bồ Tát còn có một danh xưng là "Giác Hữu Tình", ba chữ này có một ý nghĩa là đem trí tuệ của mình trao cho chúng sinh hữu tình, giúp họ được giác ngộ. Nhưng vì bản thân Phật có trí tuệ viên mãn, hoàn toàn trọn vẹn, nên việc độ sinh của Phật không phải là sự chú tâm đặc biệt vào chúng sinh hữu tình, mà là một sự độ hóa tự nhiên.

Vì vậy ở đây có một sự phân biệt: Phật là sự độ hóa viên mãn, còn Bồ Tát là lòng từ bi với hữu tình. Cho nên Phật là viên mãn, Bồ Tát vẫn còn chút bụi trần, vẫn còn tình nhiễm; đây là ba điểm khác biệt giữa Phật với chúng sinh, với phàm phu, với La Hán và với Bồ Tát.

Phần lớn chư Phật hoàn toàn không có phiền não, nếu còn một chút phiền não thì không thể gọi là Phật. Vì vậy, chúng sinh chúng ta hiện nay, nếu có tâm từ bi cứu độ chúng sinh thì được gọi là Bồ Tát chứ không gọi là Phật, bởi vì bản thân Phật đã hoàn toàn siêu thoát khỏi phiền não, hoàn toàn giải thoát khỏi phiền não, tức là đã chứng đắc vô thượng bồ đề và đầy đủ lục thần thông.

Phật còn có một danh hiệu khác, tuần sau chúng ta sẽ nói về danh hiệu của Phật, đó là mười danh hiệu mà chúng ta thường nhắc đến. Đó là: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật.

Danh hiệu này rất dài, tổng cộng có mười danh hiệu, đây là những danh xưng tiêu biểu. Có vẻ như tuần sau chúng ta vẫn phải tiếp tục giảng về chữ Phật.

Om mani padme hum.

### 11. Giải thích tên kinh — Phật (3)

Hôm nay chúng ta tiếp tục giảng "A Di Đà Kinh Thích Yếu". "Kinh Phật Thuyết A Di Đà" hôm nay vẫn giảng về mười danh hiệu. Mười danh hiệu của Phật là: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật. Tổng cộng có mười danh hiệu này, nếu giảng mỗi danh hiệu một ngày, mười lần như vậy thì gần như mất cả năm, nên chúng ta cần giảng nhanh hơn một chút.

Thế nào gọi là "Như Lai"? Danh xưng đầu tiên, Như Lai chính là Phật. "Như" tức là như như, vậy thế nào gọi là "như như"? Như như chính là "tự nhiên như vậy". Thế nào gọi là "Lai"? Chính là tự nhiên mà đến, tự nhiên mà đến - đó chính là Như Lai. "Như như mà đến, như như mà đi, cũng không đến, cũng không đi", đó chính là "Như Lai", cho nên danh hiệu này là cảnh giới rất cao. Bạn hãy suy nghĩ xem, bởi vì đã không đến thì ở đó, lại không đi thì ở đây. "Không đến không đi" là thế nào? Thật ra, đã bao hàm tất cả rồi. Vốn dĩ là như vậy!

Không có thì quá khứ, không có thì hiện tại, cũng không có thì tương lai, tiếng Anh là như vậy đó. Bạn nói có đúng không? Sao mà rắc rối quá, cái gì mà quá khứ, hiện tại, tương lai chứ, phải không? Dù sao tất cả đều như nhau thôi. Đó chính là Như Lai!

Thế nào gọi là "Ứng Cúng"? Danh hiệu này là tốt nhất, nghĩa là xứng đáng được mọi người cúng dường. Cảnh giới cao như vậy, muốn học theo ngài thì đương nhiên phải dùng tâm để suy nghĩ, dùng tâm để cúng dường, để học tập, phải dùng một tấm lòng rất chân thành để học mới đạt được chân lý. Đó chính là ý nghĩa của "Ứng Cúng" - xứng đáng được cúng dường.

Vì vậy khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài thường đi ứng cúng. Khi gặp pháp sư Quả Hiền, tôi nói: "Để tôi mời thầy." Thầy ấy đáp: "Không thể để ngài mời, tôi là ứng cúng, phải được cúng dường". Nhưng nghĩ lại, "ứng cúng" là tôi phải cúng dường cho thầy chứ? Hay thầy phải cúng dường cho tôi? Đột nhiên không rõ nữa.

Tuy nhiên, có lẽ là như thế này, bạn cúng dường Phật, cúng dường Như Lai thì không sai. Nhưng khi bạn cúng dường người nghèo khó, hoặc bố thí, bố thí cho người khác, đây cũng gọi là ứng cúng. Vì vậy cúng dường không phân biệt người này người kia, có khi là trên cúng dưới, có khi là dưới cúng trên, hai bên cùng cúng dường lẫn nhau.

Bản thân Phật có ý nghĩa Như Lai ứng cúng, với cảnh giới cao như vậy, bạn nên cúng dường Ngài. Nhưng vì bạn cúng dường Ngài, Ngài sẽ ban phúc báo cho bạn, nên Ngài cũng là ứng cúng, đạo lý là như vậy.

Danh hiệu thứ ba là "Chính Biến Tri". Thế nào gọi là Chính Biến Tri? Nghĩa là biết được cả cái chính và cái "ngoại đạo". Phật biết tất cả chân lý, đạo lý chân chính, Phật có trí huệ viên mãn, biết tất cả trí huệ. Đối với trí tuệ "ngoại đạo", Ngài cũng biết; tất cả tà thuật, Ngài cũng biết. Vì vậy, tà pháp, Tiểu thừa, Thiên thừa, tất cả đều phải biết, đây gọi là Chính Biến Tri. Cái chính bạn biết, cái "ngoại đạo" bạn cũng biết; cho nên Thượng sư cũng biết tất cả mọi thứ, trước đây tôi cũng từng học nhiều pháp "ngoại đạo", nói về mạt chược Đài Loan tôi cũng biết, mạt chược Đại Lục tôi cũng biết, phải không, mười ba quân, mười sáu quân, cái gì cũng thông. Có người hỏi một câu: "Thầy đã từng đến night club chưa?" Tôi đáp: "Chỗ nào tôi cũng đã từng đến, không có nơi nào tôi chưa từng đến cả."

Đây là điều gọi là biết cả chính pháp và tà pháp. Giả sử bạn chỉ biết tà pháp mà không biết chính pháp, điều đó không được; nếu bạn chỉ biết tà pháp mà không biết chính pháp, đó chính là ma; vì vậy khi bạn biết cả tà pháp và chính pháp, đó chính là Phật. Nếu bạn chỉ biết chính pháp mà không biết tà pháp, làm sao bạn độ được chúng sinh? Làm sao bạn hiểu được tâm chúng sinh? Muốn hiểu tâm chúng sinh, bạn phải nhập thế, phải biết tất cả mọi thứ, đó chính là ý nghĩa của Chính Biến Tri.

Tuy nhiên, nếu một vị Phật mê đắm vào tà pháp, xa rời chính pháp, đó chính là ma; nếu bạn xa rời tà pháp và tự mình đạt được chính giác, đó chính là Phật, sự khác biệt chỉ có vậy thôi. Việc tu hành của Phật không nhất thiết phải ở cảnh giới cao nhất mà từ bỏ chúng sinh, Ngài hiểu được cảnh giới của chúng sinh, cũng biết được chính giác của Phật, đó chính là Chính Biến Tri.

Danh hiệu thứ tư gọi là "Minh Hành Túc". Sự thông suốt về tất cả hành vi, có thể đến được mọi nơi, đó gọi là Minh Hành Túc. Thông suốt tất cả hành vi, hiểu rõ mọi hành động, việc nào có thể làm, việc nào không thể làm; điều gì hợp lý, điều gì không hợp lý; điều gì đúng bảy phần, sai ba phần, Ngài đều thấu tỏ, tất cả đều là những hành vi rõ ràng minh bạch. Đây chính là trí huệ viên mãn, thật không đơn giản!

Danh hiệu thứ năm gọi là "Thiện Thệ". Thế nào gọi là thiện? Tốt là thiện, không tốt là ác. Còn thệ? Chính là đi. Đi đến nơi tốt đẹp chính là Thiện Thệ. Như việc mọi người học Phật ngày nay là đi đến nơi tốt đẹp, nên gọi là Thiện Thệ. Danh hiệu này theo cách nói của chúng ta là đi đến nơi tốt đẹp; theo nghĩa đen là viên tịch về nơi tốt đẹp cũng được. Dù sao tất cả mọi người đều về Tây phương Cực Lạc, tất cả đều về Tây phương, chính là viên tịch về nơi tốt đẹp. Còn nếu bạn đi về địa ngục thì đó là ác thệ, không phải thiện thệ. Giải thích này rất đơn giản.

Thứ sáu là "Thế Gian Giải". Nghĩa là thấu hiểu tất cả mọi việc trong thế gian, giải thoát tất cả phiền não của thế gian, đó gọi là Thế Gian Giải. Giải quyết hết tất cả phiền não của thế gian này, gọi là Thế Gian Giải.

Thứ bảy gọi là "Vô Thượng Sĩ". Khi đạt đến cảnh giới của Phật, thật sự là vô thượng. Không có cảnh giới nào cao hơn nên gọi là vô thượng. Đây là cao nhất, không còn gì cao hơn nữa, nên gọi là vô thượng. Vô thượng chính là danh hiệu tốt nhất của Phật, không có gì cao hơn được nữa.

Danh hiệu thứ tám là "Điều Ngự Trượng Phu". Chữ "trượng phu" này chúng ta không thể hiểu là "chồng" (husband). Người Trung Quốc nói về trượng phu, điều ngự trượng phu, ý nói người có phẩm chất cao thượng, mạnh mẽ, có năng lực, có thể hòa giải mọi việc, phải hiểu theo nghĩa này. Điều ngự có nghĩa là xử lý mọi việc rất tốt, có thể điều chỉnh, hướng dẫn mọi người đi về nơi tốt đẹp, có thể điều phục những con người, cuộc sống, người trong thế gian, tất cả chúng sinh, đều có thể dạy dỗ họ một cách ngăn nắp trật tự, đó gọi là Điều Ngự Trượng Phu.

Danh hiệu thứ chín gọi là "Thiên Nhân Sư". Trên trời, bạn có thể dạy người trên trời, cũng có thể dạy chúng sinh ở nhân gian. Trên trời, dưới đất bạn đều là bậc đạo sư, đó chính là Thiên Nhân Sư.

Danh hiệu thứ mười là "Phật". Lần trước đã giảng về ý nghĩa của chữ "Phật", đó là giác ngộ và tỉnh thức, người đạt được chính giác chính là Phật.

Vì vậy có mười danh hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, tổng cộng là mười danh hiệu. Cách giải thích của tôi cũng gần như đúng với ý nghĩa, cách giải thích này không rời xa ý nghĩa chính của nó. Vị có đủ mười danh hiệu trên được gọi là "Thế Tôn". Thế nào gọi là Thế Tôn? Đó là bậc được tất cả mọi người trong thế gian tôn kính, nên gọi là Thế Tôn; vì vậy khi chúng ta xưng tán Phật Thích Ca Mâu Ni, đôi khi cũng gọi là Thế Tôn. Khi nói đến Thế Tôn tức là trực tiếp chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc được mọi người trong thế gian cùng tôn kính, cùng ngưỡng mộ chính là Thế Tôn.

Chỉ riêng việc giảng chữ "Phật" trong "Kinh Phật Thuyết A Di Đà", việc giải thích chữ Phật này, đến hôm nay mới vừa giảng xong. Tuần sau chúng ta sẽ giảng chữ "Thuyết", thuyết chính là giảng, giảng chính là thuyết. Nếu giảng nhanh thì đã xong rồi, còn nếu giảng chậm thì có rất nhiều điều để nói.

Có điều có thể nói, cũng có điều không thể nói; có cách nói sâu, cũng có cách nói nông; có cách giải thích, cũng có cách không nói; có cách nói dài, cũng có cách nói ngắn.

Phật pháp nói ra thật vi diệu, một chữ mà giảng gần cả tháng rồi! Vậy đến chữ "Thuyết" tiếp theo này, đương nhiên có thể nói dài hay nói ngắn. Chúng ta sẽ gặp lại vào thứ Bảy tuần sau nhé!

A Di Đà Phật!

### 12. Giải thích tên kinh — Thuyết

Hôm nay chúng ta sẽ giảng về chữ "Thuyết" trong "Kinh Phật Thuyết A Di Đà".  
Vậy ai là người thuyết giảng bộ kinh này? Chính là Phật Thích Ca Mâu Ni.  
Thế Phật thuyết giảng về ai? Ngài thuyết giảng về Phật A Di Đà.  
Vậy Ngài thuyết giảng cho ai nghe? Ngài thuyết giảng cho ngài Xá Lợi Phất.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về ngài Xá Lợi Phất. Vậy ngài Xá Lợi Phất là ai? Ngài là đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. Theo kinh điển ghi chép, ngài Xá Lợi Phất là vị đệ tử thượng thủ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong số các đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài được tôn xưng là bậc trí huệ đệ nhất. Vì sao vậy?

Xá Lợi Phất vốn theo đạo Bà La Môn, cha ngài vốn là một tu sĩ Bà La Môn rất có trí tuệ. Từ nhỏ Xá Lợi Phất đã được cha dạy dỗ trở thành người rất có trí tuệ. Khi lớn lên, ngài cũng có rất nhiều đệ tử, cuối cùng ngài quy y Phật Thích Ca Mâu Ni và dẫn theo ba trăm năm mươi đệ tử cùng quy y theo Phật.

Trí tuệ của Xá Lợi Phất, chúng ta có thể thấy được qua rất nhiều kinh điển. Ngài là bậc trưởng lão có trí tuệ siêu việt, có thể tự tại sinh tử, có thể minh tâm kiến tính.

Một lần nọ, Phật Thích Ca Mâu Ni nói rằng Ngài sắp phải ra đi, Xá Lợi Phất liền thưa với Đức Phật rằng con muốn đi trước Thầy. Là đệ tử phải đi trước để chuẩn bị phòng ốc cho Thầy, mua sắm đất đai, xe cộ và những vật dụng sinh hoạt cần thiết! Vì thế Xá Lợi Phất nói rằng ngài muốn đi trước để chuẩn bị.

Thế nhưng, Xá Lợi Phất có thể nói như thế này, ngài bảo: "Thầy sắp ra đi, làm đệ tử phải đi trước, chuẩn bị sẵn một số thứ cho Thầy khi Thầy đến nơi đó." Sau đó Xá Lợi Phất liền trở về nơi mình ở trước kia, dọn dẹp phòng sạch sẽ, một mình ngồi giữa nhà, nhập định và ra đi! Vì thế ngài là vị đệ tử ra đi còn sớm hơn cả Thầy. Từ đó, chúng ta có thể thấy được ngài Xá Lợi Phất có khả năng tự chủ sinh tử.

Ngày nay, giả sử có một số đệ tử nói rằng: "Thưa Thầy, nếu Thầy sắp ra đi, con muốn đi trước Thầy mười ngày." Công phu đó thật là cao siêu. Con người không thể nói muốn chết là chết một cách đơn giản như vậy! Tất nhiên những cách như treo cổ, nhảy xuống nước, tự thiêu hay cắt cổ tay không tính! Những cách này không được tính, mà phải có khả năng "tự chủ sinh tử", phải giống như ngài Xá Lợi Phất, ngồi như thế và nói: "Ôi! Con muốn đi trước Thầy mười ngày", rồi ngồi như vậy mà ra đi. Theo như tôi được biết, trong tương lai Xá Lợi Phất sẽ trở lại nhân gian thành Phật, danh hiệu của ngài sẽ là Hoa Quang Phật.

Lần trước trong quyển "Chấn động lớn của Thiền", tôi có nhắc đến vài chữ về ngài Xá Lợi Phất, có kể về câu chuyện của ngài. Bản thân ngài Xá Lợi Phất khá là không thích cái này... Nói thế nào nhỉ? Lady, ngài rất không thích. Ngài rất chấp trước, ngài nói người tu hành bên cạnh không được có phụ nữ.

Có một lần ngài đến thăm bệnh ngài Duy Ma Cật, chỉ vì bên cạnh ngài Duy Ma Cật có thiên nữ, có các cô gái hầu hạ bên cạnh, ngài Xá Lợi Phất nhìn thấy trong lòng nghĩ rằng: "Bên cạnh người tu hành lại có những cô gái đẹp như vậy đi tới đi lui, ở đó hầu hạ ông, điều này không đúng!"

Vị tiên nữ bên cạnh có tha tâm thông, biết được những suy nghĩ trong lòng ngài Xá Lợi Phất. Bỗng nhiên, từ trên trời rơi xuống rất nhiều hoa, thiên nữ rải hoa từ trên không trung, ôi chao! Có rất nhiều hoa rơi xuống, những cánh hoa rơi trúng người khác thì lập tức rơi xuống đất, chỉ có những cánh hoa rơi trên người ngài Xá Lợi Phất là dính chặt lại. Ngài Xá Lợi Phất dùng tay phủi những cánh hoa đó đi, nhưng cuối cùng vẫn không thể phủi được.

Ngài Xá Lợi Phất hỏi vị tiên nữ bên cạnh: "Tại sao ta không thể phủi được những cánh hoa trên người?" Tiên nữ đáp: "Bởi vì trong lòng ngài có hoa, nên hoa mới không thể phủi đi được." Trong đó có một đạo lý rất sâu sắc.

Vị tiên nữ này lại hiện thần thông, biến ngài Xá Lợi Phất thành tiên nữ, còn tiên nữ thì biến thành Xá Lợi Phất đứng đó. Ngài Xá Lợi Phất cũng dùng thần thông, vội vàng muốn biến trở lại thành mình, nhưng không thể biến được. Tiên nữ liền nói với ngài: "Bây giờ ngài chính là tôi, còn tôi bây giờ chính là ngài. Vậy một người con gái xinh đẹp hầu hạ Bồ Tát Duy Ma Cật thì có gì không đúng đâu?"

Theo ý tiên nữ muốn nói rằng, đây chỉ là sự khác biệt về hình tướng mà thôi. Tâm này, Phật tính là như nhau, nam nữ chỉ là một loại hình tướng. Ngài Xá Lợi Phất sau khi nhận được bài học này, đã hiểu ra nam nữ chỉ là hình tướng, không có gì phân biệt. Bởi vì nam có thể biến thành nữ, nữ cũng có thể biến thành nam, tất cả những chuyển biến chỉ là vấn đề về hình tướng mà thôi.

Vì vậy, trong mắt chư Phật Bồ Tát, người phàm phu thì phân biệt nam nữ, còn Phật thì không phân biệt nam nữ, khi đạt đến cảnh giới tối cao thì hoàn toàn không có sự phân biệt nam nữ. Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm muốn hóa thành nữ thì hóa thành nữ, muốn hóa thành nam thì hóa thành nam, vì thế Bồ Tát Quan Thế Âm cũng có thể là Thiên Nhân Trượng Phu Quan Thế Âm Bồ Tát, Ngài thị hiện thành nữ chỉ để hiển lộ tướng từ bi. Vị thiên nữ hầu cận bên Bồ Tát Duy Ma Cật đã từng hầu hạ vô số chư Phật, nên khi Xá Lợi Phất xem thường nàng, thực ra, nàng cũng là bậc rất vĩ đại.

Đức Phật thuyết bộ kinh này với đầy đủ trí huệ, công đức và thần thông lực. Bởi vì bản thân ngài Xá Lợi Phất là bậc tôn giả trí huệ đệ nhất, có thể thấy "Kinh Phật Thuyết A Di Đà" cũng là một bộ kinh điển có trí tuệ vô cùng cao siêu.

Khi Đức Phật thuyết kinh, thường có nhiều cách thuyết giảng khác nhau; có thuyết dài, có thuyết ngắn, có thuyết rõ ràng, có thuyết bằng ẩn dụ, có thuyết trực tiếp, có thuyết gián tiếp, có khi không thuyết gì cả, có khi thuyết rất nhiều, có thuyết về quá khứ, có thuyết về tương lai, có thuyết về hiện tại, vì vậy Phật pháp là vô tận.

Cho nên hôm nay tôi ngồi ở đây thuyết giảng, cũng giống như ngồi mà thuyết; hơn nữa không chỉ là ngồi, mà là ngồi trên sàn nhà mà thuyết. Ah! Tôi cũng không biết sẽ ngồi bao lâu? Tóm lại, tôi thuyết, các bạn nghe, tương lai các bạn cũng có thể thuyết. Rồi một ngày nào đó mọi người thuyết pháp, thuyết đến độ không còn gì để nói nữa, đó chính là phù hợp với lời Phật dạy "Tất cả pháp Phật thuyết, đều là không có pháp để thuyết." Khi đạt đến cảnh giới không còn pháp để thuyết, đó mới chính là "thuyết chân thật"!

Om mani padme hum.

### 13. Giải thích tên kinh — A Di Đà

Hôm nay giảng về "A Di Đà". A Di Đà là tiếng Ấn Độ, trong tiếng Phạn gọi là A Di Đà, dịch sang tiếng Trung gọi là Vô Lượng Quang, Vô Lượng Quang nghĩa là ánh sáng vô lượng; ngoài ra cũng được dịch là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Thọ, chữ thọ này đại diện cho thời gian, tuổi thọ dài vô lượng thời gian, gọi là Vô Lượng Thọ. Vô Lượng Quang có nghĩa là: trên dưới mười phương, tất cả đều tràn đầy ánh sáng, gọi là Vô Lượng Quang, cũng chính là như chúng ta thường nói "thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương". Tam tế ở đây chính là quá khứ, hiện tại, vị lai, ngang khắp mười phương, mười phương đều tràn đầy.

A Di Đà - chúng ta đều biết đó là Phật A Di Đà. Trong quá khứ, A Di Đà Phật từng thị hiện ở thế gian, là một vị hoàng tử. Vị hoàng tử này sau khi xuất gia được gọi là tỳ kheo Pháp Tạng, sau này thành Phật chính là Phật A Di Đà. Tỳ kheo Pháp Tạng đã dùng thần thông du hành qua hàng tỷ cõi Phật, tức là những cõi Phật nơi chư Phật an trụ, nói theo cách hiện đại thì đó chính là không gian vũ trụ. Ngài đã đi qua tất cả cảnh giới trong không gian vũ trụ, sau đó chọn lấy những điều tốt đẹp nhất để thiết lập một cõi Phật trang nghiêm nhất ở phương Tây, đó chính là thế giới Tây phương Cực Lạc.

Ngài có mười hai danh hiệu, bản thân Phật A Di Đà có mười hai danh hiệu, có mười hai loại hoa, mười hai loại ánh sáng. Ngài đã phát bốn mươi tám đại nguyện, bốn mươi tám nguyện lớn, chủ yếu đều vì độ chúng sinh, Phật A Di Đà thật vĩ đại. Mọi người đều biết, ngày nay chúng ta niệm Phật, đều niệm A Di Đà Phật, được người ta niệm nhiều nhất cũng là A Di Đà Phật, vị Phật mà mọi người biết đến nhiều nhất cũng là A Di Đà Phật, và nơi mà mọi người muốn đến trong tương lai cũng chính là cõi của Phật A Di Đà.

Vì vậy, trước đây ở nhà tang lễ có một tấm biển ngang được viết rất đẹp và rõ ràng, mỗi khi xe tang đi ra đều thấy dòng chữ "Vãng sinh Tây phương", ai cũng mong muốn được về nơi đó. Thực ra, Diêu Trì của Đạo giáo cũng ở phương Tây, cho nên không phải Diêu Trì thì cũng là Tây phương, đây là hai nơi mà người đời hướng về nhiều nhất.

Phật A Di Đà hiện nay vẫn đang làm giáo chủ ở thế giới Tây phương Cực Lạc, hai vị thị giả phụ tá Phật A Di Đà chính là Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí. Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, hiện nay vẫn đang thuyết pháp. Ở đó có bao nhiêu vị Phật A Di Đà? Bởi vì bản thân Ngài là vô lượng quang và vô lượng thọ, cho nên Phật A Di Đà cũng chính là vô lượng.

Tôi thường giảng về vị Liên Hoa Đồng Tử mà chúng ta tôn kính, và vị Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì mà tôi đã thấy ở thế giới Tây Phương Cực Lạc hai mươi năm trước, tôi luôn nhấn mạnh về cảnh giới này, nhưng chưa từng giải thích tại sao thế giới Tây phương Cực Lạc lại có Liên Hoa Đồng Tử? Nhiều người không hiểu, tại sao thế giới Tây phương Cực Lạc lại có Liên Hoa Đồng Tử? Thực ra, có lẽ mọi người cũng đã hiểu được bí mật này: "Liên Hoa Đồng Tử chính là Phật A Di Đà".

Chỉ là đổi tên gọi mà thôi, Liên Hoa Đồng Tử thực chất chính là Phật A Di Đà, chỉ là khi Ngài cho tôi thấy thì dùng một danh xưng khác. Liên Hoa, vốn dĩ ở thế giới Tây phương Cực Lạc đâu đâu cũng là hoa sen, ai ai cũng đứng trên hoa sen, đó là tên gọi chung. Đồng Tử chính là Bồ Tát, bởi vì khi Phật A Di Đà xuống độ chúng sinh, mọi người chắc chắn sẽ nói: "Ôi! Không thể nào! Tại sao một vị Phật vĩ đại như vậy lại xuống độ chúng sinh? Ở Tây phương đã đủ bận rộn rồi, sao còn phải xuống trần gian độ chúng sinh nữa?"

Thực ra, Ngài chỉ hóa hiện một danh xưng khác mà thôi. Vì vậy, khi đó Phật A Di Đà phó thác Liên Hoa Đồng Tử xuống độ chúng sinh, Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký cho Liên Hoa Đồng Tử, Phật A Di Đà phó thác, Bồ Tát Di Lặc ban mũ miện đỏ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền Mật pháp, chính là như vậy đó.

Vì vậy tôi luôn không dám nói rằng Liên Hoa Đồng Tử chính là Phật A Di Đà, không dám nói, nhưng hôm nay dù không dám nói cũng phải nói ra rồi, tôi nghĩ, chắc lại có người phỉ báng thôi! Tuy nhiên, cả cuộc đời tôi có thể dùng ba chữ hoặc hai chữ để đại diện, đó là "vô úy", cũng chính là "thí vô úy". "Vô úy" nghĩa là không sợ bất cứ điều gì, "thí vô úy" nghĩa là chỉ có ban cho chúng sinh, không sợ bất cứ điều gì.

Vì vậy, người ta nói gì cũng không quan trọng. Hình tướng đều không tồn tại, ngày nay nếu có người phỉ báng Phật A Di Đà, phỉ báng Liên Hoa Đồng Tử, phỉ báng Phật Thích Ca Mâu Ni, thực ra cũng không sao cả. Giống như có người đến phỉ báng Thượng sư cũng không sao, bởi vì đều là vô úy và thí vô úy; chỉ có ban cho chúng sinh, không cần sợ gì cả, đó chính là vô úy và thí vô úy. Tất cả mọi thứ đều không còn quan trọng nữa, ở thế gian này cũng chẳng có gì quan trọng nữa! Bạn nói có gì quan trọng đâu? Vấn đề thể diện, tôi đã không còn thể diện rồi! Vấn đề địa vị, tôi cũng chẳng có địa vị gì, không có! Vấn đề tiền bạc, tôi cũng sống tạm đủ thôi! Vợ, của cải, con cái, tuổi thọ, bổng lộc, những thứ này tôi đều nhìn rất nhạt nhòa, gần như không còn nữa, vậy thì bạn còn sợ gì nữa? Cho nên khi đạt đến cảnh giới này, cũng chẳng còn sợ gì nữa, cái gì cũng bố thí không sợ hãi!

Phật A Di Đà có một số thủ ấn, đây là những thủ ấn để độ chúng sinh, khi các bạn làm lễ siêu độ cũng có thể kết những thủ ấn này, rất đơn giản. Cửu phẩm liên hoa sinh, phần lớn mọi người đều biết thủ ấn cửu phẩm liên hoa sinh phải không! Thượng phẩm thượng sinh, thượng phẩm trung sinh, thượng phẩm hạ sinh, trung phẩm thượng sinh, trung phẩm trung sinh, trung phẩm hạ sinh, hạ phẩm thượng sinh, hạ phẩm trung sinh, hạ phẩm hạ sinh; đó chính là chín thủ ấn này, thủ ấn cửu phẩm liên hoa sinh của Phật A Di Đà để độ chúng sinh, khi làm lễ siêu độ, dù chỉ tụng một thời kinh, kết chín thủ ấn này, đương nhiên cũng là cửu phẩm liên hoa sinh, cũng có thể độ được chúng sinh.

Bài giảng tối nay đến đây thôi.

A Di Đà Phật.

### 14. Giải thích tên kinh — Kinh

Tối nay chúng ta nói về chữ "Kinh". Thực ra chữ Kinh chính là chữ đầu tiên trong Tam Tạng, tức là chữ đầu tiên trong "Kinh, Luật, Luận", chính là Kinh. Chữ Kinh này từ xưa đã được hiểu là những lời Đức Phật thuyết giảng được kết tập lại gọi là Kinh, còn có một tên gọi khác là "Thông", nghĩa là thông suốt từ đây đến đó; một cách giải thích khác, Kinh chính là "đạo lộ", có nghĩa là: con đường dẫn từ nơi này đến nơi kia chính là Kinh.

Bộ "Phật Thuyết A Di Đà Kinh" này chính là kinh điển do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng. Tôi nhớ trước đây Chúa Jesus từng nói một câu: "Ta là con đường." Vậy thì, cũng có thể nói rằng, Chúa Jesus nói: "Ta là Kinh."

Kinh này trước đây là tiếng Phạn, nhưng có một vị pháp sư đã dịch sang tiếng Trung với tựa đề "Pháp sư Tam Tạng Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần dịch". Diêu Tần là một triều đại, Tam Tạng đại diện cho Kinh, Luật, Luận, còn pháp sư là một vị xuất gia thông thạo Kinh, Luật, Luận được gọi là Tam Tạng pháp sư. Pháp sư Cưu Ma La Thập, tôi xin giới thiệu với mọi người, ngài là một vị pháp sư rất nổi tiếng, là một bậc đại thành tựu giả, đã dịch rất nhiều kinh Phật và có rất nhiều đệ tử theo học. Khi sắp viên tịch, ngài đã nói một câu: "Nếu những kinh Phật tôi dịch là đúng, thì lưỡi của tôi sẽ không cháy". Quả thật, khi Cưu Ma La Thập viên tịch, sau khi hỏa táng, chiếc lưỡi của ngài thật sự không cháy, điều này chứng minh những kinh điển do Cưu Ma La Thập dịch đều vô cùng chính xác.

Ngài Cưu Ma La Thập cũng là một bậc đại học giả, là người Ấn Độ, cha và các đời tổ tiên của ngài đều là tể tướng của đất nước (tức là thủ tướng). Sau đó, cha ngài cưới một công chúa, sinh ra Cưu Ma La Thập. Từ khi còn nhỏ, ngài đã có biện tài vô ngại, có thể giảng giải nhiều kinh điển, và khi còn rất trẻ đã trở thành quốc sư. Ban đầu ngài học Phật pháp Tiểu thừa, sau đó học Phật pháp Đại thừa, rồi quay về độ vị thầy Tiểu thừa của mình.

Cưu Ma La Thập có đóng góp rất lớn trong công tác phiên dịch kinh điển Phật giáo Trung Hoa, danh tiếng của ngài từ Ấn Độ truyền đến Trung Quốc, và chính Phù Kiên đã thỉnh mời ngài từ Ấn Độ sang Trung Quốc để dịch kinh Phật. "Cưu Ma La Thập" trong tiếng Phạn có nghĩa là "Đồng Thọ", nghĩa là trẻ thơ, nhưng ngài lại có trí tuệ rất lớn, vì vậy cái tên này cũng phù hợp với dấu vết hoạt động cả đời của ngài. Muốn biết chi tiết về mọi việc trong cuộc đời của Cưu Ma La Thập, mọi người có thể đọc một cuốn sách của Trung Quốc tên là "Cao Tăng Truyện", trong đó có ghi chép về ngài. Vị cao tăng dịch kinh này, bản thân cũng là người có nhiều thần thông.

Om mani padme hum.

### 15. Tôi nghe như vầy (1)

Hôm nay chúng ta bước vào phần kinh văn của "Phật Thuyết A Di Đà Kinh". Bốn chữ đầu tiên "Tôi nghe như vầy" có nghĩa là gì? Tôi thường đọc kinh Phật và hay thấy "như vầy, như vầy", điều này giống như "dường như là, dường như là", "có vẻ như là", nhưng thực ra không nên giải thích như vậy. Đúng hơn là: giống như tôi đang ngồi trước mặt Đức Phật để nghe giảng kinh. Tại sao vậy? Bởi vì sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, các đệ tử dựa vào trí nhớ của mình, tập hợp và ghi chép lại những giáo pháp mà Phật đã thuyết giảng. Trong kinh Phật, mỗi lần mở đầu kinh văn, bốn chữ đầu tiên nhất định phải viết là "tôi nghe như vầy". Tôi nghe như vầy có nghĩa là "như tôi đã đích thân nghe Đức Phật thuyết pháp".

Hai chữ "như vầy" chính là đại diện cho "sự thành tựu của niềm tin". Mặc dù lúc đó chúng ta không có mặt để nghe, nhưng khi chúng ta đọc bộ kinh này, cũng giống như chúng ta đang có mặt để nghe Đức Phật thuyết pháp. Bởi vì chúng ta tin rằng đây là những lời Phật dạy, tin rằng kinh điển này do Phật thuyết giảng, cho nên "như vầy" chính là một dạng "sự thành tựu của niềm tin".

"Tôi nghe" là thành tựu gì? Đó chính là "thành tựu của việc tôi đến nghe" - thành tựu của việc tôi nghe. Mọi người có thể nghĩ như thế này: ai cũng đều có thành tựu, bởi ít nhất các vị cũng đã thành tựu được "việc lắng nghe". Việc tôi đến nghe cũng là một loại thành tựu, việc tôi tin tưởng cũng là một loại thành tựu; các vị không tin sao? Lấy Thiên Chúa giáo làm ví dụ, họ chuyên nói về "tin là được cứu rỗi", cái gọi là tin là được cứu rỗi, thực ra chính là thành tựu của đức tin, và rồi ở đây chúng ta thêm bốn chữ này, đó là:

Một "thành tựu của đức tin", một "thành tựu của việc lắng nghe".

Tiếp theo là hai chữ "một thời", tức là chỉ thời điểm nào đó, trong khoảng thời gian nào đó, gọi là một thời. Thực ra, thời điểm đó cũng có sự thành tựu, đó là thành tựu gì? Đó chính là "thành tựu về thời gian", sự thành tựu của thời gian. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, có rất nhiều đệ tử ngồi ở đó, tin tưởng có thành tựu, lắng nghe có thành tựu, và trong thời điểm đó có sự lĩnh ngộ chính là thành tựu về thời gian.

Sau này, khi bạn nghe pháp ở đây và tôi không còn ở cõi trần nữa, bạn cũng có thể viết "tôi nghe như vầy". Khi viết "tôi nghe như vầy", bạn phải ghi nhớ thật rõ ràng, ví dụ như vào ngày tháng năm nào đó, lúc 8 giờ tối, ai đó ngồi ở đây thuyết pháp, bạn phải ghi nhớ cho rõ! Đừng viết kiểu như: có một người hình như tên là Thượng sư Lư Hà đang thuyết pháp tại chùa Vũ Điền. Tại sao lại biến thành chùa Vũ Điền? Bởi vì nhìn chữ Lôi từ xa một chút đã biến thành Vũ Điền mất rồi. Còn chữ Lư này, không nhớ ra chữ phía dưới là gì, nên tiện tay dùng chữ Hà của sông nước, gọi là Lư Hà luôn, như vậy thì "tôi nghe như vầy" đã sai rồi. Tuy nhiên, tôi thấy mình trí nhớ không tốt, đôi khi viết lách cũng có hiện tượng này, như kiểu ghép đông với tây, đầu trâu miệng ngựa vậy.

Khi kết tập kinh điển trong quá khứ, cũng có nhiều vấn đề bị bỏ sót. Nhiều đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni phải tập hợp lại, họ nghiên cứu xem lúc đó Phật đã giảng như thế nào, cần phải tập hợp trí nhớ của nhiều người mới có thể kết tập thành kinh điển như thế này. Nếu chỉ một người viết thôi (một người viết đơn lẻ), rất có thể sẽ ghi sai hết thời gian, địa điểm, tên gọi. Gần đây tôi xem tạp chí chúng ta xuất bản, khi ghi lại lời Thượng sư giảng pháp, đôi khi nhắc đến tên người hoặc từ ngữ nào đó, vì chỉ nghe âm thanh mà không biết chữ thật sự là gì, nên vẫn còn nhiều chỗ sai. Vì vậy khi gặp danh từ riêng, cần phải chú ý một chút, nếu không sẽ bị sai.

"Tôi nghe như vầy, một thời, Phật...". Chữ Phật này cũng có một sự thành tựu, đương nhiên Phật Thích Ca Mâu Ni là một sự thành tựu, đó chính là "sự thành tựu chủ yếu" - chính là Phật.

Về địa điểm thì sao? Đó là "tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc ở nước Xá Vệ", đây cũng là một sự thành tựu. Thành tựu này gọi là gì? Gọi là "xứ thành tựu" - tức là sự thành tựu về địa điểm. Vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc của Phật Thích Ca Mâu Ni là do một thí chủ cúng dường cho Phật, Ngài đã thuyết pháp giảng kinh rất nhiều tại địa điểm đó, và địa điểm ấy đã trở thành một sự thành tựu. Giống như ngày nay, Lôi Tạng Tự của chúng ta cũng là một "xứ thành tựu". Không phải chữ "xứ" như trong "giấm chua" đâu nhé, đừng để sau này nghe giọng rồi viết thành: Sư Tôn giảng về thành tựu của giấm chua. Không phải chữ "xứ" trong giấm chua đâu, mà là chữ "xứ" trong xử lý kìa. Chữ "xứ" và "giấm" có âm giống nhau, thật ra người Đài Loan học tiếng Phổ thông hay bị "thều thào" khi nói. Tôi tin rằng chữ "xứ" và "giấm" phải có sự khác biệt, âm thanh chắc chắn phải khác nhau, nhưng tôi thực sự không phát âm rõ ràng được.

Tôi cảm thấy khả năng nói tiếng Phổ thông của mình khá chuẩn, bởi vì trước đây trong hơn 10 năm phục vụ trong quân đội, tôi chỉ nói tiếng Phổ thông. Nhưng khi sang Mỹ, trong khoảng 5 năm qua, tôi rất ít có cơ hội nói tiếng Phổ thông. Thượng sư Trần và những người khác đều nói tiếng Đài Loan, ông Lâm ở bên cạnh cũng nói tiếng Đài Loan, mọi người đều nói tiếng Đài Loan, chỉ có một mình tôi nói tiếng Phổ thông thì không thông. Vì vậy gần đây trình độ tiếng Phổ thông của tôi đã suy giảm nhiều, do đã lâu không có cơ hội sử dụng, nên khi thuyết pháp cũng có đôi chút không mạch lạc. Nhiều đệ tử ở Đài Loan nghe băng ghi âm đã hỏi tại sao tiếng Phổ thông của tôi lại như vậy, nói không được trôi chảy, nên ở đây tôi cũng xin họ thông cảm, thực sự là đã 5 năm không nói rồi.

Khi nào tôi nói tiếng Phổ thông? Chỉ khi thuyết pháp thôi, mà lại không có chuẩn bị, phần lớn những gì tôi giảng đều không chuẩn bị trước. Giống như chọn một đề tài, dựa vào kiến thức đọc sách thường ngày để tổ chức và trình bày, nên khó có thể nói được trôi chảy. Còn tiếng Phổ thông của các Thượng sư Trần và những vị khác, tôi còn nghe không hiểu nữa, nhưng thành thật mà nói với mọi người: tiếng Đài Loan của tôi không thể sánh với họ. Khi họ dùng tiếng Đài Loan thuyết pháp chắc chắn rất hay, nếu bảo họ dùng tiếng Đài Loan giảng kinh thuyết pháp, họ còn nói hay hơn cả người kể chuyện trong rối bóng, tiếng Đài Loan của họ "trong trẻo rõ ràng", rất tuyệt vời. Nếu mọi người hiểu được tiếng Đài Loan, chúng ta có thể mở lớp tiếng Đài do Thượng sư Trần chủ giảng, tôi phụ trách lớp tiếng Phổ thông, còn Thiếu Đông sau này có thể dạy lớp tiếng Anh và tiếng Quảng Đông.

Thực tế mà nói, vấn đề ngôn ngữ này cũng rất khó khăn, chủ yếu là vì đất nước Trung Quốc quá rộng lớn, phương ngữ quá nhiều. Tôi cũng hy vọng trong tương lai Trung Quốc chỉ nói một loại ngôn ngữ duy nhất, như vậy sẽ thuận tiện hơn cho việc thống nhất toàn Trung Quốc sau này.

Câu tiếp theo là "cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán, được mọi người biết đến" - câu này nói về "chúng thành tựu" - tức là tất cả mọi người đều có thành tựu. "Một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là đại A La Hán", tất cả đều là đại A La Hán. Đại A La Hán là một trong bốn quả vị thánh cao quý, nghĩa là mọi người đều có thành tựu. Hôm nay mọi người ngồi đây nghe pháp, sau này khi viết kinh văn có thể viết: "Tôi nghe như vầy. Khoảng một trăm năm mươi người. Đều là đại Bồ Tát." Sau này mọi người có thể viết kinh như vậy. Nhưng có vẻ không đủ một trăm năm mươi người, còn con số một nghìn hai trăm năm mươi người kia cũng là rất nhiều, ở đây chúng ta chỉ có một trăm năm mươi người là quá ít, trừ đi những người từ xa đến, từ Canada đến, chỉ còn lại ba mươi người, lại trừ đi mấy vị Thượng sư ngồi phía trước, chỉ còn lại mười người. A Di Đà Phật! Hy vọng sẽ ngày càng đông hơn.

Om mani padme hum.

### 16. Tôi nghe như vầy (2)

Lần trước khi giảng Kinh A Di Đà, chúng ta đã nói đến "tôi nghe như vầy". Bốn chữ này có một điển tích, được nhắc đến ở phần sau, đó là trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, tôn giả A Nan đã đến hỏi Ngài bốn việc, trong đó có một việc liên quan đến bốn chữ này.

Bốn việc đó là:  
Thứ nhất, A Nan hỏi Thế Tôn: "Khi Thế Tôn còn tại thế, chúng con nương theo Thế Tôn làm thầy; sau khi Thế Tôn diệt độ, chúng con nương theo ai làm thầy?"  
Thứ hai, A Nan hỏi Thế Tôn: "Khi Thế Tôn còn tại thế, chúng con nương theo Thế Tôn để an trú; sau khi Thế Tôn diệt độ, chúng con nương vào đâu để an trú?"  
Câu hỏi thứ ba là: "Khi Thế Tôn còn tại thế, Thế Tôn điều phục được các tỳ kheo ác tính; sau khi Thế Tôn diệt độ, làm sao điều phục họ?"  
Thứ tư, hỏi rằng: "Những lời dạy trong suốt cuộc đời của Thế Tôn, vì lợi ích cho đời sau, xét về lý nên kết tập, vậy phần đầu kinh văn nên đặt những lời gì?"

Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời bốn câu hỏi này, câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là: "Sau khi Thế Tôn diệt độ, lấy giới làm thầy." Giới chính là giới luật. Giống như chúng ta bây giờ, Chân Phật Tông có giới luật của Chân Phật Tông, thực ra giới luật của Chân Phật Tông và Phật giáo là giống nhau.

Câu hỏi thứ hai là "lấy tứ niệm xứ làm chỗ an trú." Tứ niệm xứ là gì? Đó là: Một là quán thân bất tịnh, hai là quán thọ là khổ, ba là quán tâm vô thường, bốn là quán pháp vô ngã. Lấy bốn loại quán niệm này làm chỗ an trú, đó chính là hạt giống thành Phật.

Câu hỏi thứ ba, Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời: "Đối với tỳ kheo ác tính, dùng mặc tẫn để đối trị." Mặc tẫn nghĩa là im lặng, dùng sự im lặng để đối trị.

Câu hỏi thứ tư là về vấn đề "tôi nghe như vầy" ở đầu kinh, Ngài dạy: "Đầu kinh nên ghi 'tôi nghe như vầy'." Bốn chữ "tôi nghe như vầy" này có nghĩa là "những điều Phật thật sự đã dạy". Bốn chữ "tôi nghe như vầy" chính là những điều Phật thật sự đã dạy, khiến người nghe phải tin sâu và tiếp nhận.

Ở đây, tôi cũng xin giải thích sơ qua về "Tứ niệm xứ". "Quán thân bất tịnh" nghĩa là phải thường xuyên quán chiếu rằng thân thể của mình vốn không thanh tịnh, xác thân và bản thể của mình đều không thanh tịnh. Chúng ta cũng cần thường xuyên quán chiếu rằng trong cuộc đời này khổ nhiều vui ít, nỗi khổ nhiều hơn niềm vui. Mọi người cũng có thể nghĩ xem, ngay cả Thượng sư cũng gần như bị tiền bạc đè chết, vẫn còn đau khổ!

Điểm thứ ba là "quán tâm vô thường", nghĩa là phải thường xuyên quan sát những ý niệm của mình. Thật ra, ý niệm của chúng ta luôn luôn biến đổi không ngừng, chưa bao giờ được yên tĩnh. Điểm thứ tư là "quán pháp vô ngã", điểm này rất quan trọng, nghĩa là trong khi tu tập phải quên đi cái tôi, bởi vì chỉ khi nào "tọa vong" (quên mình trong thiền định), bạn mới có thể tìm thấy "chân ngã" đích thực.

Nếu bạn luôn tu pháp vì cái "tôi" này, thì trí tuệ đạt được chỉ là trí tuệ nhỏ của cá nhân và phước báu nhỏ của cá nhân mà thôi; khi tu pháp đến mức bản thân đã trở thành trạng thái vô ngã, bạn mới có thể kết duyên với chúng sinh, chia sẻ pháp tu của mình cho chúng sinh, giống như việc giảng kinh vậy.

Tôi tiết lộ cho mọi người một bí mật, có thể làm giàu trong hàng trăm kiếp là vì tu pháp không phải vì bản thân mà là vì chúng sinh, chúng sinh trong hàng trăm kiếp đều mắc nợ bạn, bạn không thể không trở thành người giàu có! Vì vậy Phật Thích Ca Mâu Ni chưa giảng rõ, "quán pháp vô ngã" này là pháp lớn thứ nhất - "không vì mình tu mà vì chúng sinh tu", phước báu của bạn sẽ vô cùng vô tận.

Trong đây có điều bí mật, mọi người hãy tu pháp cho tốt, sẽ có phước báu vô tận, trí tuệ vô cùng, một người có thể có đến hàng trăm căn nhà. Tuy nhiên, đừng nên quá tham lam, bởi vì ban đêm bạn chỉ có thể ngủ trên một chiếc giường. Trước đây có nhiều người giàu nói rằng: khi họ còn nhỏ cắt cỏ, từ bên này cắt đến bên kia, thì bên này cỏ đã mọc lên rồi.

Vì vậy, người giàu thật sự có nỗi lo của người giàu, nhà nghèo cũng có nỗi lo của nhà nghèo. Cuối cùng chỉ có một câu: nỗi lo của người có tiền vẫn tốt hơn nỗi lo của người không có tiền, mong rằng mọi người đều có nỗi lo của người có tiền.

Om mani padme hum.

### 17. Tôi nghe như vầy (3)

Tuần trước chúng ta đã nói về bốn câu hỏi mà tôn giả A Nan hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôn giả A Nan là thị giả của Phật Thích Ca Mâu Ni, thị giả là người thường xuyên theo hầu bên cạnh Phật. Phật Thích Ca Mâu Ni từng khen ngợi Ngài (tôn giả A Nan) là "đa văn đệ nhất".

Đa văn đệ nhất nghĩa là gì? Đa văn là vì Ngài thường xuyên theo Phật Thích Ca Mâu Ni, nên được nghe nhiều đạo lý nhất, được nghe nhiều Phật pháp nhất. Tuy nhiên, dù đa văn là điều tốt, nhưng cũng có một khuyết điểm, đó là thiếu thực hành. Ngài ngày nào cũng đi nghe Phật thuyết pháp, ngày nào cũng nghe, nghe rất hoan hỷ, cái gì cũng muốn học, những pháp Phật giảng, Ngài đều biết hết, nhưng lại không thực sự tu tập nghiêm túc.

Sau khi Phật nhập Niết bàn, tất cả các vị A La Hán tập hợp lại với nhau, chuẩn bị tập trung toàn bộ những giáo lý, Phật lý mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy để cùng nhau thảo luận. Cuộc hội tập này do Đại Ca Diếp làm chủ trì, nhưng vì tôn giả A Nan là người được nghe nhiều Phật pháp nhất, nên mọi người đã mời Ngài làm vị chủ tọa để điều hành cuộc kết tập này, lúc đó có tổng cộng năm trăm vị A La Hán cùng tham dự.

Tuy nhiên, vào lúc đó, Đại Ca Diếp từ chối A Nan, Ngài nói: "Tuy ông nghe được nhiều, nhưng không có thực hành tu tập và chứng ngộ thực sự, nên ông không thể vào được." Tôn giả A Nan nghe xong rất đau lòng, bốn trăm chín mươi chín vị đều được vào trong, chỉ còn lại một mình Ngài ở bên ngoài. Cuối cùng, Ngài nói: "Được rồi! Đã như vậy, tôi sẽ nhanh chóng thực tu."

Ngài bắt đầu tu tập mỗi ngày, từ sáng đến tối, liên tục tu tập bảy ngày bảy đêm, không ngủ nghỉ. Tuy nhiên, vẫn chưa chứng ngộ, Ngài vẫn chưa tìm ra được. Ngài nói: "Tôi đã nghe được rất nhiều đạo lý, nhưng vì không thực tu, nên không chứng ngộ, mọi người không cho tôi vào bên trong tham gia kết tập."

Ngài liên tục tu tập bảy ngày bảy đêm, giống như học sinh chúng ta ôn thi thâu đêm vậy. Đến ngày thứ bảy, vẫn chưa chứng ngộ; bỗng nhiên Ngài lên giường: "Chà! Tu hoài không chứng ngộ, thôi đi ngủ cho rồi." Khi Ngài vừa nằm xuống giường, vừa chạm vào giường, liền chứng ngộ.

Ngài vội vàng chạy đến chỗ kết tập để gặp tôn giả Đại Ca Diếp và nói với Ngài: "Tôi đã chứng ngộ rồi." Đại Ca Diếp rất không tin: "Làm gì có chuyện nhanh như vậy, bảy ngày mà ông đã chứng ngộ? Chắc chắn là nói dối!" Lúc họ kết tập, bốn trăm chín mươi chín vị A La Hán đang ở trong một hang núi. Đại Ca Diếp đóng cửa hang lại, cửa kín không một kẽ hở. Ngài nói với tôn giả A Nan đang đứng bên ngoài: "Nếu ông đã chứng ngộ thì hãy tự mình vào đây." Cửa đã đóng, đã khóa chặt, làm sao mà vào được?

Tôn giả A Nan từ từ phân giải thân thể của mình thành khí, rồi đi xuyên qua lỗ khóa vào trong hang núi, sau đó khôi phục lại thân thể như cũ. Ngài nói với bốn trăm chín mươi chín vị A La Hán bên trong: "Tôi đã tự mình vào được rồi!" Đại Ca Diếp nói: "Ông đã vào được, được rồi! Ông quả thật đã chứng ngộ, có thể cùng chúng ta kết tập giáo lý của Phật."

Đây là một thần thông rất lợi hại! Thần thông này giống như thần thông của kẻ trộm vậy, nếu ai quan tâm đến điều này thì chắc chắn sẽ rất tuyệt, nhất định sẽ thành đại phú gia. Nhớ lại hồi nhỏ, thật kỳ lạ, tôi thường hay mơ một giấc mơ rất kỳ lạ, thường khi đi đến trước một bức tường, tôi có thể đi xuyên qua bức tường đó; thường hay có giấc mơ như vậy, mấy lần đều mơ như thế, đều có thể xuyên tường như vậy, giống như người đi xuyên tường vậy.

Theo như thần thông hiện tại mà nói, là biến thân thể mình thành một tần số còn loãng hơn cả nước và khí. Lý thuyết là vậy, dù bạn có thể biến thành ánh sáng, biến thành chất lỏng, vẫn không thể xuyên tường được, nhất định phải biến thành sóng tần số như sóng radio mới có thể xuyên qua tường. Vì vậy trong Mật pháp, đã từng có người biến mình thành trong suốt, rồi khi hai người đâm vào nhau, người này xuyên qua thân thể người kia, người kia cũng xuyên qua thân thể người này, có những thần thông kỳ lạ như vậy.

Khi tôn giả A Nan lên tòa để kết tập và giảng lời Phật (giảng đạo lý của Phật), mọi người cảm nhận được khuôn mặt của Ngài giống hệt như Đức Phật. Lúc đó, mọi người đều cảm thấy rất lạ lùng, tại sao khuôn mặt của A Nan đột nhiên lại trở nên giống Phật như vậy?

Nghi vấn đầu tiên là nghi ngờ Phật Thích Ca Mâu Ni chưa nhập diệt, Ngài đang thuyết pháp trở lại; nghi vấn thứ hai là có thể một vị Phật từ nơi khác đã đến; nghi vấn thứ ba là A Nan đã thành Phật. Thực ra, lúc đó tôn giả A Nan cũng đã như được khai ngộ; và mỗi lần giảng kinh, Ngài đều phải nói câu "tôi nghe như vầy" trước tiên, bởi vì khi nói câu "tôi nghe như vầy" này, tâm mọi người mới an định lại, nhận ra A Nan vẫn là A Nan. Hôm nay chúng ta giảng đến đây!

Om mani padme hum.

### 18. Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc

Tôi tin rằng, tuần này có vài người biết tôi và Thượng sư Liên Hỏa có một chuyến đi bí mật, tôi và Thượng sư Liên Hỏa đã đến Hồng Kông vào thứ Hai, hôm nay mới về, khoảng hơn 1 giờ mới từ Hồng Kông trở về Seattle. Từ thứ Hai đến thứ Bảy, tôi và Thượng sư Liên Hỏa đều ở Hồng Kông. Tuy là chuyến đi bí mật, không cho ai biết, nhưng thực tế, như câu tục ngữ Đài Loan nói: "Trứng vịt dù kín đến mấy cũng có kẽ hở".

Nói thế nào nhỉ? Khi chúng tôi xuống máy bay tại sân bay Hồng Kông, một nhân viên sân bay - người lái xe kéo đầu máy bay - là đệ tử của chúng tôi, anh ấy đã nhận ra tôi khi thấy logo Chân Phật Tông trên túi xách và nhìn thấy mặt tôi. Khi trở về Seattle, chị Ôn, một đệ tử làm phiên dịch viên tại Sở Di trú và Hải quan ở sân bay, cũng nhìn thấy chúng tôi. Chị ấy rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi từ chuyến bay quốc tế xuống, bởi vì thứ Bảy tuần trước chúng tôi đã không thông báo về việc đi xa hay đến một quốc gia khác.

Chuyến đi Hồng Kông lần này của chúng tôi chủ yếu là để chuẩn bị một nơi đặt chân cho việc chu du khắp nơi trong tương lai, một trung tâm tại Hồng Kông. Các đệ tử ở Hồng Kông đã rất chân thành tặng cho Thượng sư một ngôi nhà, để sau này khi Thượng sư chu du khắp thế giới, có một nơi đặt chân lấy Hồng Kông làm trung tâm.

Vì vậy ngày đầu tiên, chúng tôi bận rộn đến ngân hàng mở tài khoản, ngày thứ hai, bận rộn đến văn phòng luật sư để ký giấy chuyển nhượng, ngày thứ ba, lại ký các giấy chứng nhận. Các đệ tử Hồng Kông rất chân thành, ngôi nhà đó có một phòng khách rất rộng có thể thuyết pháp, tầng trên có ba phòng ngủ, garage có thể đậu hai xe, phía trước và sau đều có vườn hoa, hai bộ thiết bị vệ sinh, phía sau nhà là khu bảo tồn chim, không được phép xây thêm nhà nữa, môi trường rất đẹp.

Tôi nghĩ sau này khi các Thượng sư của Chân Phật Tông đến Hồng Kông hoằng pháp, đều có thể ở trong ngôi nhà này. Họ đã rất chân thành tặng một ngôi nhà tốt như vậy, trị giá hơn trăm nghìn đô Mỹ, tặng cho Thượng sư.

Thật ra, như tôi đã nói lần trước, có nhiều nhà như vậy chưa chắc đã có lợi. Bởi vì ngay cả khi chưa ở, đã phải trả tiền nước, tiền điện, phí vệ sinh, phí linh tinh, phí quản lý, phí đậu xe, đủ thứ phí phải trả. Tuy nhiên, tôi nghĩ vẫn có lợi ích, vì ngôi nhà đó giống như một trung tâm vân du, một trung tâm truyền pháp.

Ở Hồng Kông, tuy nói là không cho tất cả mọi người biết, nhưng thực tế, các Thượng sư ở Hồng Kông đều biết. Tôi cũng đã giảng pháp một chút tại chỗ Thượng sư Cao An Dân, cũng giảng pháp một chút cho các đệ tử ở chỗ pháp sư Quả Hiền, còn lại thời gian là để ăn uống. Vì thời gian ở Hồng Kông rất gấp rút, thực tế chỉ có ba ngày ở đó.

Có lúc mọi người cũng nghĩ: "Thượng sư thích thế, người ta tặng xe, tặng nhà, khắp các nước trên thế giới đều có nhà, sao không tặng cho chúng con một căn?" Tuy nhiên, tôi cho rằng những ngôi nhà này, trong tương lai sẽ phát huy tác dụng trở thành trung tâm hoằng pháp của Chân Phật Tông, chứ không phải để tôi hưởng thụ cá nhân kiểu lúc ở bên này, ngày mai bay bên kia, ngày mốt lại bay chỗ khác.

Trong Kinh A Di Đà mà chúng ta đang giảng đây, Phật thuyết Kinh A Di Đà tại tinh xá Kỳ Viên, thực ra tinh xá Kỳ Viên này cũng là do đệ tử cúng dường cho Phật. Tinh xá Kỳ Viên này chính là "xứ thành tựu" - một sự thành tựu về nơi chốn - được nói đến trong phần giảng giải Kinh A Di Đà.

Có hai người đã cúng dường tinh xá Kỳ Viên cho Phật Thích Ca Mâu Ni, trong đó một người là thái tử nước Xá Vệ tên là Kỳ Đà. Ban đầu khu vườn này thuộc về ông ấy, nhưng đã được bán cho đại thần Cấp Cô Độc, sau đó ông đã cúng dường tất cả cây cối trên mảnh đất đó cho Phật Thích Ca Mâu Ni, vì vậy tên thật của tinh xá Kỳ Viên là "Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên".

"Kỳ Thụ" có nghĩa là gì? Đó là vì Kỳ Đà đã cúng dường tất cả cây cối trên mảnh đất cho Phật Thích Ca Mâu Ni, nên gọi là "Kỳ Thụ". Còn "Cấp Cô Độc", không phải là nói chuyên cho người cô độc, cái tên này rất lạ, tại sao lại gọi là "Cấp Cô Độc"?

Tên gọi này có nguồn gốc từ việc vị đại thần này chuyên giúp đỡ người khác làm điều thiện. Ông làm những việc như giúp đỡ người già không con, trẻ nhỏ không cha, khiến họ không cô đơn, giống như xây dựng viện dưỡng lão và cô nhi viện vậy. Viện dưỡng lão là dành cho người già không con, cô nhi viện là dành cho trẻ nhỏ không cha. Vì vị đại thần này thường xuyên giúp đỡ những người già cô đơn và trẻ em cô độc như vậy, nên mọi người tôn xưng ông là "Cấp Cô Độc".

Khi Phật thuyết pháp tại nước Xá Vệ, trưởng giả Cấp Cô Độc và thái tử Kỳ Đà đã dâng cúng khu vườn rộng lớn này cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có được mảnh đất rộng lớn, rừng cây tốt đẹp như vậy, nên đã an trí hàng nghìn đệ tử trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc này, khiến các đệ tử có thể an cư tu hành. Vì Phật Thích Ca Mâu Ni có được khu vườn này, nhờ đó ngài có thể thuyết pháp và độ chúng sinh, nên nguyên lý này được gọi là "xứ thành tựu".

Trong tương lai, những trung tâm của chúng ta sẽ trở thành trung tâm hoằng pháp, trung tâm thuyết pháp, trung tâm vân du, sẽ xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Vì vậy, mọi người đừng xem những ngôi nhà này là tài sản riêng của Thượng sư, bởi vì trong tương lai chúng sẽ phát huy sức mạnh hoằng pháp.

Tôi biết rằng, chỉ cần chúng ta chuyên tâm hoằng pháp, trời sẽ chuẩn bị cho chúng ta nhiều chỗ ở. Của cải trên trời là vô tận, và là nguồn không bao giờ cạn kiệt, chỉ cần chúng ta nghiêm túc thực hiện Phật sự, chư Phật Bồ Tát sẽ chuẩn bị cho chúng ta mọi nơi chốn để hoằng pháp.

Đúng như hôm nay Thượng sư Trịnh đã nói: "Người đắc đạo tự nhiên được nhiều người giúp đỡ", người đắc đạo tự nhiên có nhiều người đến giúp, không cầu giàu mà được giàu, không đi cầu của cải, tự nó sẽ đến; không cần phải cầu danh, tự nhiên danh tiếng vang khắp thiên hạ. Vì vậy bây giờ tôi thường nghĩ, của cải của tôi ở đâu? Tôi cho rằng của cải của tôi không nằm ở mặt đất, mà là ở trong hư không, "trong hư không đều chứa đầy của cải, thì đương nhiên bạn sở hữu tất cả".

Om mani padme hum.

### 19. Cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán

Trong câu đầu tiên của Kinh A Di Đà có nhắc đến một số thuật ngữ: "Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc, cùng với đại chúng tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A La Hán, được mọi người biết đến."

Lần trước chúng ta đã nói về "vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc", hôm nay chúng ta nói về "đại tỳ kheo tăng" là gì? Đại tỳ kheo ở đây là chỉ các vị đại hòa thượng xuất gia; thông thường khi người ta nghe đến hòa thượng thì... người Quảng Đông sợ chết khiếp, pháp sư Quả Hiền đã từng gặp một trường hợp ở China Town; thực ra, nói chung hòa thượng không có gì đáng sợ, nhưng người Quảng Đông lại rất sợ hòa thượng, điều này khiến tôi thấy rất lạ. Lần trước có một bà cụ, khi nhìn thấy pháp sư, liền thốt lên: "Ôi trời! Xui xẻo quá!" Pháp sư bước tới nói với bà: "Bà đâu có xui xẻo, tôi có thể ban phúc cho bà mà."

Vì hai người đều nói tiếng Quảng Đông nên tôi tưởng pháp sư có người thân ở đây và họ đang chào hỏi nhau. Hai người nói chuyện một hồi lâu, vì người Quảng Đông nói chuyện nghe như đang cãi nhau vậy! Nên tôi nghĩ: "Ồ! Mừng cho pháp sư, cuối cùng cũng gặp được chị em gái."

Sau đó tôi mới biết là họ đang nói về chuyện xui xẻo, khiến tôi từ đó về sau mỗi khi ra phố China Town đều mặc thường phục. Bởi vì người Quảng Đông có một sự mê tín, họ cho rằng nếu nhìn thấy người đầu trọc thì tối đó đánh mạt chược chắc chắn sẽ thua sạch. Đặc biệt người Quảng Đông rất thích cá cược ngựa, chó, gà, họ thường xuyên chơi những trò này, nên khi ra đường, mặc thường phục vẫn thuận tiện hơn.

Thực ra, danh từ đại hòa thượng có ba ý nghĩa. Thứ nhất là "khất sĩ", nghĩa là đi khất thực xin cơm như người ăn xin. Thứ hai, tại sao phải đi xin cơm? Xin cơm là để nuôi dưỡng sắc thân, nuôi dưỡng thể xác, duy trì mạng sống của mình. Có người cho rằng hòa thượng là kẻ ăn bám, không làm mà chỉ xin ăn, nhưng thực ra hòa thượng xin ăn là để ban phúc cho người khác.

Khi thí chủ cúng dường tiền của cho nhà sư, họ được phúc đức cúng dường; nhà sư nhận sự cúng dường của thí chủ và dùng Phật pháp để truyền lại cho thí chủ, đó là pháp thí. Một bên là tài thí, một bên là pháp thí, hai bên ngang nhau, không ai nợ ai. Có khi, nhà sư nhận của bạn một đồng sẽ trả lại bạn mười đồng; bạn cho nhà sư mười đồng sẽ được trả lại một trăm đồng; bạn cho nhà sư một trăm đồng sẽ được trả lại một nghìn đồng; nếu bạn không cho nhà sư tiền thì sẽ bị thua lỗ; nhà sư có phước báu lắm! Ai có duyên thì hãy xuất gia làm nhà sư! Vì vậy nhà sư là khất sĩ, nghĩa là khất thực, họ ôm bình bát đi xin cơm.

Ngoài việc khất thực, nhà sư còn phải "cầu tuệ", nghĩa là đi cầu pháp để có được trí tuệ; khất thực là để nuôi dưỡng sắc thân, cầu tuệ là để nuôi dưỡng pháp thân. Pháp thân này rất quan trọng, khi đã là người xuất gia, đã là nhà sư, không thể chỉ biết ăn cơm, mà phải tràn đầy trí tuệ. Có đầy đủ trí tuệ thì mới là cao tăng. Nếu không có trí tuệ, chỉ biết xin ăn, thì chỉ là tăng tầm thường.

Điểm thứ hai, đại tỳ kheo còn có một ý nghĩa nữa, đó là "phá ác". Phá ác là gì? Nghĩa là khi đã trở thành đại tỳ kheo, phải dạy điều thiện ngăn điều ác, phải chuyển hóa cái ác thành cái thiện, đó là trách nhiệm của đại tỳ kheo, của bậc đại hòa thượng.

Thứ ba là "khủng bố ma quỷ". Khủng bố ma quỷ là gì? Đó là khi ma quỷ nghe nói bạn là một đại tỳ kheo thì sẽ cảm thấy vô cùng kinh sợ. Trong quá khứ, khi Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đạo và truyền giới cụ túc cho tất cả đệ tử, thiên cung và ma cung đều chấn động, Ma vương đã triệu tập tất cả ma quỷ họp lại, tất cả đều rất lo lắng, không biết chuyện gì đã xảy ra.

Ma vương nói rằng: "Thế gian có một vị Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng đạo, và đã truyền giới cụ túc cho tất cả đệ tử để họ trở thành đại tỳ kheo." Chính vì vậy mà ma quỷ không thể đứng vững trong nhân gian được nữa, khiến chúng vô cùng sợ hãi.

Một vị đại hòa thượng cần có ba yếu tố này: thứ nhất là "khất sĩ", thứ hai là "phá ác", thứ ba là "khủng bố ma quỷ", đó chính là ý nghĩa của danh từ đại hòa thượng, đại tỳ kheo.

Tiếp theo, chúng ta nói về "đại A La Hán". A La Hán trong tiếng Phạn nghĩa là Thanh Văn, nhiều đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni là những vị "trong tu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện tướng Thanh Văn". Mỗi vị A La Hán đều phải trải qua thời gian tu hành rất lâu dài mới có thể trở thành bậc đại A La Hán.

Tôi nhớ, vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni, có một vị A La Hán tên là Đạt Ca Tôn Giả, cũng từng theo Đức Phật một thời gian, nhưng ngài rất chậm hiểu, vô cùng ngu muội: Phật giảng kinh, buổi sáng giảng thì buổi chiều đã quên, buổi chiều giảng thì buổi tối đã quên, buổi tối giảng thì sáng hôm sau lại không còn nhớ gì. Đạt Ca vẫn không thể lĩnh hội được Phật pháp; cuối cùng, Phật không còn cách nào khác đành dạy ngài: "Ông hãy nhớ bốn chữ: 'Giữ miệng trị ý', giữ gìn miệng lưỡi và điều phục ý nghĩ của mình." Chỉ dạy bốn chữ "giữ miệng trị ý" như vậy.

Ban đầu, vị tôn giả này nghe Phật dạy "giữ miệng trị ý", liền thật sự giữ miệng không nói lời nào, đến nỗi cả lúc ăn cơm cũng không mở miệng, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni phải nói với ngài: "Khi ăn cơm thì phải mở miệng." Được rồi! Cuối cùng ngài cũng hiểu ra, và từ đó về sau, ngoài lúc ăn cơm ra, những lúc khác ngài đều không mở miệng.

Về câu thứ hai, Phật dạy ngài phải điều phục tâm, nhưng ngài vẫn không hiểu, nên Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ cho ngài về tâm bên trong, tâm bên ngoài và tâm trong hư không. Từ đó, ngài suốt ngày chỉ quán chiếu về tâm bên trong, tâm bên ngoài và tâm trong hư không. Như vậy, ngài tu hành tổng cộng mười ba năm, rồi một ngày nọ, khi ngài đưa tay chỉ vào mình, "À!", ngài thấy một điểm sáng ở bên trong, rồi khi chỉ ra bên ngoài, bên ngoài cũng có một điểm sáng, và khi chỉ vào vũ trụ, toàn thân ngài tỏa sáng, dần dần, chướng ngại của ngài không còn nữa, nghiệp chướng đã được tiêu trừ.

Một ngày nọ, ngài đi cùng Phật Thích Ca Mâu Ni, và được mang bình bát của Phật. Phật nhận lời thỉnh cầu, một vị quốc vương mời ngài đến dùng cơm, ngài không dẫn theo ai khác ngoài Đạt Ca Tôn Giả. Đạt Ca Tôn Giả cầm bình bát đi theo Phật vào thành. Khi đến cổng thành, người gác cổng nhìn thấy Đạt Ca Tôn Giả liền nghĩ: "Tại sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại dẫn theo một đệ tử vừa ngu vừa đần như vậy?"

Người gác cổng chỉ cho phép Phật Thích Ca Mâu Ni vào cung thọ trai, còn nghĩ rằng một đệ tử ngu ngốc như vậy thì đứng ngoài cổng là được rồi! Phật Thích Ca Mâu Ni vào trong cung điện cùng quốc vương dùng cơm, nhưng như các vị biết đấy, người xuất gia khi ăn cơm nhất định phải dùng bình bát. Bất chợt, từ trong hư không có một cánh tay duỗi dài ra, từ hư không vươn qua bức tường thành cao, xuyên qua nhiều lớp cửa và cửa sổ, vươn tới tận trong cung điện, và trao bình bát cho Phật Thích Ca Mâu Ni.

Quốc vương vô cùng kinh ngạc: "Chuyện gì vậy? Sao lại có một bàn tay từ hư không đưa bình bát này đến để ngài đựng thức ăn?" Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Đệ tử của ta là Đạt Ca Tôn Giả đang đứng đợi bên ngoài thành, nhưng người vẫn luôn quan tâm đến ta, biết ta sắp dùng cơm nên đã gửi bình bát đến cho ta từ đó."

Khi mọi người nghe thấy thần thông như vậy, tôi cũng muốn học được điều này! Dù sao thì muốn lấy vật gì chỉ cần giơ tay là có. Nhưng chúng ta không thể học cách có ba tay như vậy, có hai tay rồi, không thể mọc thêm một tay nữa! Các bạn thấy đó, tất cả tượng Phật của chúng ta tuy có nhiều tay, nhưng chưa bao giờ thấy tượng Phật nào có ba tay cả.

Nếu các bạn học được thần thông này, các bạn sẽ trở thành Bồ Tát ba tay. Tôi kể câu chuyện nhỏ này để nói rằng: tất cả các vị A La Hán, dù trí tuệ cao hay thấp, đều phải trải qua một thời gian tu hành bí mật rất lâu dài. Người có trí tuệ cao có thể chứng ngộ, người có trí tuệ thấp cũng có thể chứng ngộ.

Tôn Giả Đạt Ca cũng từng được mời lên giảng kinh, vì mọi người biết ngài có công phu tu hành như vậy nên thỉnh ngài lên giảng. Khi ngài bước lên pháp tòa, không nói một lời nào, rồi chỉ nói: "Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy tôi bốn chữ, và giờ đây tôi xin truyền lại bốn chữ ấy cho mọi người, đó là 'giữ miệng trị ý'." Nói xong, ngài bước xuống khỏi pháp tòa. Những người phía dưới đều vô cùng kinh ngạc, không một ai cười nhạo ngài. Bởi vì chỉ cần thực sự tu tập bốn chữ này đến nơi đến chốn thì sẽ đạt được giác ngộ.

Thật ra, pháp tu của chúng ta ngày nay cũng vậy. Hiện nay có nhiều đệ tử vừa mở miệng đã đòi tôi dạy Kim Cang pháp, mới quy y được hai ngày đã muốn học Vô thượng mật, rồi mới học được một tháng đã nói mình đã tương ứng hết tất cả, muốn làm Thượng sư. Họ gửi cúng dường Thượng sư cho tôi chỉ có hai đồng tiền Malaysia. Trời ơi! Tiền tem gửi thư về còn không đủ! Vì vậy chúng ta học pháp không nên đặt mục tiêu cao xa, cũng không nên học đủ mọi pháp.

Hôm nay thấy pháp quán nước hay thì muốn học pháp quán nước; ngày mai thấy pháp Hộ Ma hay thì muốn học Hộ Ma; ngày kia thấy bay lượn trên không còn hay hơn thì muốn học bay; thấy mọi người đều phát tài thì lại đòi học pháp Tài Thần; rồi lại có người nói: "Ôi! Pháp nào cũng không hay bằng pháp xuất thần."

Tôi thấy, học pháp như vậy không tốt! Học pháp như vậy chắc chắn sẽ không có thành tựu! Chúng ta nên chuyên tâm vào một pháp, và khi đã đạt được tương ứng với pháp đó rồi, vẫn tiếp tục tu tập pháp ấy. Đối với những pháp môn khác, chỉ cần hiểu biết thôi, đừng tu tập, như vậy dễ khai ngộ và dễ chứng đắc.

Khi bạn đã khai ngộ và chứng đắc rồi, tự nhiên sẽ thấu hiểu được các pháp môn khác, tất cả các pháp môn bên cạnh đều sẽ dần dần thấu tỏ. Mọi người học pháp tuyệt đối không nên một lúc học tới mười pháp, nghìn pháp, vạn pháp, tuyệt đối không nên như vậy, chỉ cần niệm một danh hiệu Phật, đó đã là một công phu rất vững chắc rồi.

Có người học chú ngữ, một lúc học vài trăm câu chú, mỗi ngày đứng trước Phật đường tụng một trăm câu chú đến nỗi toàn thân đổ mồ hôi. Anh ta viết thư nói với tôi: "Con đi làm lúc nào cũng trễ." Tôi nói với anh ta: "Những câu chú đó con có thể bớt đi, trong hơn một trăm câu chú đó con chỉ cần chọn bảy câu để tụng là được rồi." Anh ta nói: "Không được đâu! Trước đây con có tụng, bây giờ không tụng nữa, Bồ Tát sẽ giận con."

Thật ra, nếu bạn chuyên tâm tụng một câu chú, thì vị Bồ Tát đó sẽ thông với tất cả các vị Bồ Tát khác. Như hiện nay chúng ta chuyên tâm vào chú của Bát Đại Bổn Tôn, nhưng có nhiều đệ tử, sau khi tụng xong chú Bát Đại Bổn Tôn rồi, lại đi tìm thêm hơn trăm vị Bổn tôn khác để tụng, tụng hết chú của hơn trăm vị Bồ Tát, tụng một hồi lâu như vậy thì việc trì tụng chú Bát Đại Bổn Tôn lại trở nên tản mát, cách tụng như vậy rất khó đạt được tương ứng.

Vì vậy, chúng ta chỉ có một vị Bổn tôn chính, còn bảy vị Bổn tôn khác thì vây quanh vị Bổn tôn chính. Chú của Bổn tôn chính có thể tụng 108 biến, hoặc 1080 biến, còn các chú khác chỉ cần tụng 3 biến. Chú của Bổn tôn chính là chú căn bản, các chú khác là chú kết duyên, đây là bí quyết tu pháp.

Cũng không thể nói rằng mình đã trở thành Thượng sư rồi, đã học được Vô thượng mật, đã học Kim cang pháp, đã đạt được thành tựu lớn rồi, rồi bỗng nhiên lại đi học cái này... nói không nên lời! (Vị Thượng sư phiên dịch chen vào :"Pháp tương ứng Thượng sư".) Cái này... chỉ là kỹ thuật nhỏ. Pháp tương ứng Thượng sư mới là "đệ nhất đại pháp"!

Người đời không biết, tôi xin kể cho các bạn một câu chuyện, hôm nay nói đến pháp tương ứng Thượng sư, tôi mới kể cho các bạn nghe. Đại sư Marpa đến Ấn Độ tìm đạo sư Naropa cầu pháp, ngài tìm thấy Naropa ngồi dưới một gốc cây lớn. Lúc đó, Naropa hiện ra một đàn thành rất lớn cho ngài xem, tất cả chư Phật đều ở trên hư không, nhưng đạo sư Naropa vẫn ngồi bên cạnh gốc cây.

Đại sư Marpa vừa thấy đàn thành hiện ra vô cùng trang nghiêm, lập tức đảnh lễ đàn thành trước, sau đó mới đảnh lễ đạo sư Naropa. Đạo sư Naropa nói với đại sư Marpa rằng: "Ngươi đảnh lễ đàn thành trước, rồi mới đảnh lễ Thượng sư của ngươi, vì ngươi đảnh lễ đảo lộn như vậy, nên sẽ mất đi con trai."

Đại sư Marpa hỏi đạo sư Naropa: "Tại sao con lễ đàn thành trước rồi mới lễ ngài, lại phải mất con trai, tội của con ở chỗ nào?"

Naropa đáp như thế nào? Ngài nói: "Trong Mật giáo 'lấy Thượng sư là thật, đàn thành là giả', không có Căn bản Thượng sư, làm sao có đàn thành? Đàn thành chính là hóa thân của Thượng sư, điều chân thật nhất chính là Căn bản Thượng sư."

Vì vậy, Mật giáo khác với những giáo pháp thông thường. Các bạn hay nhận giả làm thật, nhận thật làm giả. Nếu các bạn đã từng đọc kinh điển Mật giáo, các bạn sẽ biết: "Đàn thành được xem là giả, Căn bản Thượng sư được xem là thật."

Vì vậy "Căn bản Thượng sư là quán chiếu đệ nhất", đây là pháp tối thượng vô thượng. Nếu không có quán chiếu Căn bản Thượng sư đệ nhất, tất cả đều là lâu đài trên không, giống như xây nhà trên hư không vậy, làm sao xây được? Cho nên điều này rất quan trọng, nói như vậy có vẻ quá nghiêm túc rồi, A Di Đà Phật!

Đại pháp, tiểu pháp, trung pháp đều là pháp, không thể xem thường, nếu khởi một niệm xem thường, đó chính là tội khinh mạn trong giới Bồ Tát. Thật thà mà nói với mọi người, hiện nay tôi vẫn đang tu tập Tứ gia hành và pháp tương ứng Thượng sư. Đây là lời nói rất thật lòng.

### 20. Trưởng lão Xá Lợi Phất

Hôm nay giảng một đoạn khác. Nguyên văn như sau: "Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, các vị đại đệ tử như vậy."

Ở đây có tổng cộng mười sáu vị đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, khi đó họ đang lắng nghe Phật thuyết giảng Kinh A Di Đà cho ngài Xá Lợi Phất. Trong số mười sáu vị đại đệ tử này, vị đứng đầu chính là ngài Xá Lợi Phất. Trong kinh này có nhắc đến Xá Lợi Phất, vì sao ngài có tên như vậy? Ở Ấn Độ có một loài chim tên là Xá Lợi, mẹ của ngài Xá Lợi Phất có đôi mắt giống như mắt của loài chim Xá Lợi; đôi mắt của loài chim này có thể nhìn thấy chim bay rất xa trên không trung và cả cá bơi dưới nước. Mẹ của ngài Xá Lợi Phất là một người phụ nữ rất trí tuệ và có tầm nhìn xa. Khi ngài Xá Lợi Phất được sinh ra, tên của ngài có nghĩa là "con trai của chim Xá Lợi", nên được gọi là Xá Lợi Phất.

Trước đây tôi đã từng kể câu chuyện về ngài Xá Lợi Phất, ngài là bậc đệ nhất về trí tuệ, trí tuệ của ngài là cao nhất, hoàn hảo nhất và viên mãn nhất. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Niết bàn, ngài Xá Lợi Phất đã biết trước, và ngài đã thông báo với tất cả đồng môn rằng Phật sắp rời khỏi thế gian này, ngài muốn làm người tiên phong mở đường, đến nơi ấy trước để đón Phật, nên ngài phải đi trước. Ngài Xá Lợi Phất trở về nơi mình ở, chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, tắm rửa sạch sẽ, mặc y phục, rồi ngồi thiền và viên tịch trước Phật Thích Ca Mâu Ni.

Trước đây tôi đã từng nói, cách ra đi như vậy gọi là "tự chủ sinh tử". Trong tương lai, tôi cũng mong mình có thể tự chủ sinh tử như vậy, và cũng mong mọi người tu hành đến mức có thể tự chủ sinh tử. Một ngày nào đó, một vị thần trên trời đến trước mặt bạn và nói: "Ngày 28 tháng 6 (ngày mai), hãy chuẩn bị sẵn sàng."

Khi nghe tin này, các bạn nên vô cùng hoan hỷ, không nên buồn bã rơi lệ. Cách ra đi này rất tốt, thiên thần đến báo tin cho bạn, trước tiên gửi một bức điện tín, gọi một cuộc điện thoại cho bạn, nói khi nào nên đi, không được lưu luyến thế gian, lưu luyến cõi đời hoa lệ này nữa! Tất cả những điều đó đều phải buông bỏ! Nếu bạn còn quỳ xuống cầu xin: "Xin cho con sống thêm vài năm nữa." Như vậy thật thiếu can đảm! Đây cũng là một cách ra đi cao cấp - thiên thần đến báo trước cho bạn biết khi nào phải đi, tự mình chuẩn bị sẵn sàng, đến lúc đó ra đi, rất tốt. Tuy nhiên đây là do người khác báo tin cho bạn biết khi nào phải đi, điều này vẫn còn kém một bậc.

Tôi biết có một phương pháp là cách ra đi đẳng cấp nhất. Cách ra đi cao nhất này là khi ngồi thiền, trước tiên hạn chế mọi cử động của thịt và xương trong cơ thể, giữ cho tất cả bất động, như thể bị trói lại, sau đó dùng năng lực của mình để ngưng hoàn toàn sự tuần hoàn của máu, khiến máu trong mạch không còn chảy nữa, tất cả đều dừng lại, rồi dập tắt lò lửa trong cơ thể, tức là nguồn sinh nhiệt, sau đó đóng tất cả các cửa sổ lại, ngưng thở, cuối cùng để nguyên thần - linh hồn duy nhất - nhẹ nhàng bay ra khỏi đỉnh đầu, như vậy sẽ không thể uống rượu nữa, cũng không thể làm bất cứ việc gì, không còn biết gì nữa, thế là xong!

Tôi xin nói với mọi người, quá trình ra đi mà tôi vừa mô tả chính là quá trình "xuất ly pháp". Vấn đề là ở chỗ bạn có thể kiểm soát được xương, thịt, lò lửa, huyết dịch, hơi thở hay không, tự mình nắm giữ được và khiến linh hồn thoát ra. Nếu bạn có thể làm được như vậy, hoàn toàn dùng ý chí của mình để kiểm soát các yếu tố trong cơ thể, khiến nó đóng lại hay mở ra, đó chính là tự chủ sinh tử, là cách ra đi hạng nhất. Còn việc chờ người khác thông báo, được người khác báo trước, đó là cách ra đi hạng hai.

Cách ra đi hạng ba là khi người cõi âm đến đón bạn, chính là những người thân đã khuất, họ mở tiệc chào mừng "sinh nhật vui vẻ", bởi vì bạn đã được sinh ra ở thế giới của họ rồi mà, nên mới gọi là "sinh nhật vui vẻ". Tuy nhiên khi bạn thấy người thân đến đón, chắc chắn đó không phải là vãng sinh về thiên quốc, mà là vãng sinh về cõi âm.

Cái chết tệ nhất là khi những thứ đó... đến bắt bạn đi, là bị lôi đi chứ không phải được đón tiếp, thậm chí cũng chẳng có tiếng hát nào! Đó là xuống địa ngục rồi.

Cho nên! Tôi mong rằng các đệ tử của chúng ta đều có cái chết hạng nhất và hạng nhì. Còn có một dạng chết khác nữa là chết để tiêu nghiệp chướng, tức là khi nghiệp chướng của bạn còn rất nhiều, phải trả những nghiệp này, nên trước khi chết ở nhân gian, bạn phải chịu nhiều đau khổ, sẽ bị bệnh, cứ bệnh rồi kéo dài hai năm, ba năm, bốn năm, năm năm, thậm chí mười năm, hai mươi năm. Thực ra khi chúng ta thấy người ta chết vì bệnh, họ đang tiêu nghiệp chướng, bởi vì họ có rất nhiều nghiệp phải trả, họ phải chịu đau khổ, vì một khi đau khổ, nghiệp sẽ tiêu, sẽ nhẹ đi, cái chết như vậy là một dạng chết để tiêu nghiệp chướng.

Cái chết như vậy cũng không tốt lắm, chúng ta nên tu tập sớm để tiêu trừ nghiệp chướng, để đến lúc đó không phải chịu cái chết đau đớn vì bệnh tật. Tốt nhất là có một vị thiên thần xuất hiện, báo cho biết thời điểm sẽ đến đón mình, đó là điều tốt nhất.

Vì vậy việc tu tập của chúng ta rất quan trọng, tu tập chính là tu tâm, tu tâm là giữ cho tâm trong sạch, tiêu trừ hết thảy nghiệp chướng. Tu tâm là giữ cho ý nghĩ thanh tịnh, tâm phải sáng suốt, nên chúng ta phải thường xuyên quét dọn, thường xuyên quét sạch nghiệp trong thân, quét sạch những bụi bặm này. Khi chúng ta đã quét sạch rồi, chúng ta sẽ không phải chịu nỗi khổ vì bệnh nghiệp! Ít nhất là có thiên thần đến báo tin, nhưng nếu chúng ta có thể tự biết được thời điểm ra đi, đó là điều tốt nhất.

Om mani padme hum.

### 21. Ma Ha Mục Kiền Liên

Hôm nay tôi giảng về Ma Ha Mục Kiền Liên. Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất cùng quy y Phật Thích Ca Mâu Ni một lúc, vị Đại Mục Kiền Liên này chính là người bạn thời thơ ấu của Xá Lợi Phất. Tên Mục Kiền Liên dịch ra có nghĩa là "hái đậu". Hái đậu là gì? Thời cổ Ấn Độ có rất nhiều người tu hành, họ không ăn gì nhiều, chỉ ăn đậu hái được, bộ tộc này lấy thức ăn tu hành làm tên gọi, nên được gọi là tộc Hái Đậu, và Mục Kiền Liên chính là hậu duệ của những vị tu hành thời xưa, lấy tên thức ăn tu hành làm tên tộc.

Tôn Giả Mục Kiền Liên là một trong mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, được xưng tụng là "thần thông đệ nhất". Tôn Giả Mục Liên có một sự kiện thần thông rất nổi tiếng, đó là câu chuyện "Mục Liên cứu mẹ" mà trước đây cũng đã được dựng thành phim. Vì Ngài nhớ thương mẹ đã qua đời, không biết mẹ đã đi về đâu. Sau đó, Ngài nhìn vào nước, thấy dòng nước của con sông lớn đang chảy, nước chảy dần ra biển, rồi chảy xuống địa ngục, mang theo tâm ý của Mục Liên. Từ sông nhỏ đổ vào sông lớn, sông lớn đổ vào hồ, hồ lại đổ ra biển, biển chảy xuống địa ngục, Ngài nhìn thấy mẹ mình đang chịu khổ trong đạo ngạ quỷ nơi địa ngục.

Đạo ngạ quỷ là nơi những con quỷ có bụng rất to, cổ họng rất nhỏ, đầu rất lớn, cổ họng của chúng nhỏ như lỗ kim, không thể nuốt được thức ăn, bụng thì rất to mà lại luôn đói, nên mới gọi là đạo quỷ đói. Mục Liên dùng thần thông của mình, mang cơm canh vào trong đạo ngạ quỷ, đem thức ăn này đến cúng dường mẹ, nhưng khi mẹ Ngài vừa cầm thức ăn đưa vào miệng, những thức ăn này lập tức biến thành than lửa, hoàn toàn không thể ăn được!

Mục Liên nhìn thấy vậy rất đau lòng, quay về thưa với Phật Thích Ca Mâu Ni: "Như vậy phải làm sao đây?" Phật dạy: "Phải tập hợp sức mạnh của rất nhiều người xuất gia tu hành mới có thể cứu được mẹ ông."

Ý Phật là sức của một người không thể tự cứu được mình, nghiệp chướng tội ác nặng nề rất khó phá trừ, phải tập hợp sức mạnh của chư tăng mới có thể độ được mẹ của ông. Vì thế về sau mới phát triển thành việc cúng dường tất cả người xuất gia vào tháng bảy Trung Nguyên, dùng sức mạnh tụng kinh và chú nguyện của các vị xuất gia để siêu độ cho các vong linh cõi âm. Cho nên dù Tôn Giả Mục Liên đã là bậc thần thông đệ nhất mà vẫn không có đủ sức để cứu được mẹ mình, có thể thấy thần thông không phải là phương pháp duy nhất để giải trừ nghiệp chướng.

Cuối cùng, vì sự tích thần thông cứu mẹ này, tất cả ngoại đạo và nhiều tôn giáo ở Ấn Độ thời đó đều biết đến, nên họ rất ghen tị với thần thông của Ngài, việc Ngài có thể xuống địa ngục, có thể biến hóa, có thể bay lượn trên không trung, lại có thể vào địa ngục. Nhiều người tu hành rất ganh ghét, và cuối cùng, một lần khi Ngài đang tu trong núi, đã bị một số ngoại đạo lõa thể ném đá đến chết.

Trước đây, nhiều người đặt ra câu hỏi này, tại sao Tôn Giả Mục Kiền Liên - bậc thần thông đệ nhất lại không thể cứu được chính mình? Phật Thích Ca Mâu Ni đáp: "Bởi vì Tôn Giả Mục Kiền Liên có sẵn số mệnh bị đánh chết, khi thời điểm viên tịch của Ngài đến, thần thông cũng không thể vượt qua nghiệp lực của chính mình."

Thực ra, với thần thông của Mục Kiền Liên, khi một tảng đá lớn đè xuống, Ngài có thể biến nó thành tro bay đi. Trước đây có người muốn hại Ngài, đốt nhà của Ngài, khóa cửa lại, đóng đinh cửa lại rồi đốt, nhưng Mục Kiền Liên có thể chui qua lỗ khóa mà thoát ra. Tôn Giả Mục Liên có thể bay lên, như bay từ Trái đất thẳng đến sao Thiên Vương để nghe Phật ở đó giảng kinh.

Khi các vị Bồ Tát ở sao Thiên Vương đang nghe kinh, bỗng nhiên phát hiện có một vật nhỏ như con muỗi bay qua bay lại ở đó, các vị Bồ Tát ở sao Thiên Vương hỏi Phật: "Đây là vật gì vậy?" Đức Phật ở đó đáp: "Đây chính là đệ tử thần thông đệ nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta Bà, Tôn Giả Mục Kiền Liên."

Có thể thấy thần thông của Mục Kiền Liên có thể đến khắp nơi trong vũ trụ để nghe Phật thuyết pháp. Ngài thể hiện rất nhiều thần thông, có thể dùng bình bát thu hết tất cả mọi người ở Seattle vào trong, Mục Kiền Liên chỉ cần nâng bình bát lên, ném lên không trung một cái, toàn bộ Seattle bao gồm cả những tòa nhà bảy mươi tầng đều chui vào trong đó. Có thể thấy thần thông của Tôn Giả Mục Liên quả thật là đệ nhất, nhưng tại sao Ngài lại không chống nổi tảng đá kia?

Lời Phật dạy, mọi người hãy ghi nhớ: "Thần thông không thắng nổi nghiệp lực", khi thời điểm đến vẫn phải chịu quả báo. Hôm nay giảng về Ma Ha Mục Kiền Liên đến đây.

Om mani padme hum.

### 22. Ma Ha Ca Diếp

Hôm nay giảng về "Ma Ha Ca Diếp". "Ma Ha Ca Diếp" chính là Đại Ca Diếp Tôn Giả. Tôi đọc một đoạn: "Ma Ha Ca Diếp, dịch là Đại Ẩm Quang. Ẩm Quang nghĩa là có thể thu hết ánh sáng khác, khiến chúng không hiện ra. Còn có tên là Quang Ba, thân phóng hào quang rực rỡ. Lại có tên là Đại Quy Thị theo họ. Vì tổ tiên của Ngài tu đạo, cảm ứng được linh quy mang đồ đến. Ngài thuộc dòng họ Đức Mệnh. Xưa gọi là Ẩm Quang Tôn Giả, thân có sắc vàng, được truyền tâm ấn của Phật làm Sơ Tổ, là bậc hạnh đầu đà đệ nhất."

Trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, Tôn Giả Đại Ca Diếp là một vị rất đặc biệt. Trong tất cả những người tu hành, Ngài là người khổ hạnh, có thể nói là đại diện cho sự khổ hạnh. Ngài ăn uống rất đạm bạc, bởi vì mỗi lần Tôn Giả Đại Ca Diếp đi khất thực, Ngài đều tìm đến những nhà nghèo khổ nhất, những người không có tiền để xin cơm. Ngài nói với mọi người rằng, vì họ không có tiền nên Ngài xin cơm từ họ, là để ban phúc cho những người nghèo khó. Sau đó, việc Ngài xin cơm từ những nhà nghèo cũng thể hiện chí nguyện của mình, Ngài chỉ ăn đủ để duy trì một chút khí lực và sinh mệnh cho cơ thể, như vậy là đủ rồi. Ngài rất phản đối việc các tỳ kheo xuất gia chuyên đi tìm những nhà giàu có, Ngài thấy một số đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, mỗi lần đi khất thực đều tìm đến những nhà giàu có, Ngài nói những người đi xin cơm từ nhà phú hộ, ai nấy đều ăn đến mặt mũi tròn trịa, bụng to, thân thể phì nộn, còn Tôn Giả Đại Ca Diếp, bản thân Ngài ăn uống đến nỗi gầy gò, trông rất khô quắt.

Mỗi lần Đại Ca Diếp đều nghiêm túc giữ giới luật, vậy Ngài ở đâu? Ngài ở giữa hai ngôi mộ, ngủ nghỉ ngay giữa các mộ phần, đó gọi là sống ở nghĩa địa. Sống trong nghĩa địa có nghĩa là ngủ giữa các ngôi mộ đấy! Ngài không ngủ trên giường cao đẹp, Ngài không ngủ ở những nơi như thế, cũng không phải tùy tiện lấy một tấm đệm, chăn mền gì đó, hoặc ngủ ở bên cạnh, không phải vậy, Ngài chỉ ngủ bên bờ sông, dưới gốc cây, giữa các ngôi mộ, Ngài tu hành như vậy đó, cho nên Tôn Giả Đại Ca Diếp là một bậc tôn giả vĩ đại, khổ hạnh.

Trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, Ngài đã đạt được giác ngộ. Một lần nọ, khi Phật ngồi trên pháp tòa thuyết pháp, bên dưới có rất nhiều đại đệ tử, các tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, mọi người ngồi chật kín, có đến mấy nghìn người.

Phật Thích Ca Mâu Ni tiện tay hái một đóa hoa cầm trên tay, Ngài không nói gì, chỉ hái một đóa hoa cầm trên tay. Tất cả đệ tử đều thấy Phật hái một đóa hoa, cầm trên tay như vậy mà không nói gì, các đệ tử bên dưới không hiểu vì sao Phật lại hái một đóa hoa, cứ cầm đóa hoa trước mặt mà không nói gì, họ còn tưởng Ngài đang ngửi hương hoa; chỉ có Tôn Giả Đại Ca Diếp khi thấy Phật cầm hoa liền mỉm cười; lúc đó, tất cả các đệ tử đều không hiểu ý của Phật là gì, chỉ có Tôn Giả Đại Ca Diếp hiểu được, Phật đang truyền tâm ấn của Phật, và Tôn Giả Đại Ca Diếp biết Phật đã truyền tâm ấn cho mình. Vì Đại Ca Diếp đã biết, Ngài đã nhận được tâm ấn của Phật Tổ, nên Tôn Giả Đại Ca Diếp trở thành Sơ Tổ của Thiền tông, đây chính là tích "Thế Tôn cầm hoa, Ca Diếp mỉm cười" nổi tiếng.

Vì vậy, trong tu hành, Tôn Giả Đại Ca Diếp vốn không thiết lập đàn tràng, không cầu sự trang nghiêm, đàn tràng của Ngài ở ngay giữa hư không. Phật pháp của Ngài không được viết thành văn tự, mà là dùng tâm - dùng tâm đã đắc đạo của mình để ấn chứng tâm đắc đạo của người khác, đó chính là "Thiền", Tôn Giả Đại Ca Diếp chính là Sơ Tổ của Thiền tông.

Tôn Giả Đại Ca Diếp cũng là một người "hữu thủy vô chung". Trong số mười vị đại đệ tử, sự tu hành của Ngài vô cùng cao diệu. Nói hữu thủy vô chung nghĩa là Ngài có sinh ra nhưng không có chết đi. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, người đầu tiên chủ trì kết tập toàn bộ kinh điển Phật giáo chính là Đại Ca Diếp. Sau khi hoàn thành việc này, Ngài một mình đi đến một ngọn núi tên là Kê Túc Sơn, khi Ngài đến bên núi, núi tự động mở ra cho Ngài vào, rồi khép lại.

Lúc đó Ngài nói một câu: "Đợi khi nào Bồ Tát A Dật Đa giáng sinh ở cõi Ta Bà, trong ba hội Long Hoa, ta sẽ ra làm hộ pháp." Bồ Tát A Dật Đa chính là Bồ Tát Di Lặc. Điều này chứng tỏ rằng Ngài vốn không hề chết. Ngài đi vào trong núi Kê Túc, hiện nay có lẽ đang tọa thiền ở đó, đợi đến khi Bồ Tát Di Lặc giáng sinh, cửa núi Kê Túc sẽ mở ra và Ngài sẽ bước ra, hiện giờ Ngài đang nhập định dưới lòng đất, đây quả là điều vô cùng vĩ đại.

Con đường tu hành của Tôn Giả Đại Ca Diếp hoàn toàn tập trung vào việc tu tâm, do đó Ngài là một vị A La Hán, là một đại diện đặc biệt trong số các vị A La Hán, vì thế trong số mười đại đệ tử, Ngài được tôn xưng là "đầu đà đệ nhất". Trong suốt cuộc đời, hành vi của Ngài chưa từng phóng túng, mỗi ngày đều nghiêm túc tu hành, làm công khóa, uống nước sông, ăn thức ăn đạm bạc, ngày ngày đều như vậy.

Mỗi khi đi đường, mắt Ngài luôn nhìn xuống đất cách chân sáu thước, không nhìn ngó lung tung. Ngài có một giới luật rất nghiêm ngặt là không nói chuyện với phụ nữ, nên cả đời không gặp nạn về nữ sắc. Tôn Giả Đại Ca Diếp không gặp nạn về nữ sắc, không giống như một vị tôn giả khác thường hay gặp nạn về nữ sắc, có lẽ vì Đại Ca Diếp tướng mạo không đẹp. Đây cũng là một điển hình, một nhân vật rất đặc biệt trong số mười đại đệ tử của Phật. Thực ra, trí tuệ và sự giác ngộ của Ngài đều rất chân thật.

Om mani padme hum.

### 23. Ma Ha Ca Chiên Diên

Hôm nay chúng ta nói về Ma Ha Ca Chiên Diên, dịch nghĩa là Đại Văn Sức, dùng văn tự để thấu lý, chứng quả A La Hán, xưa gọi là Đại Văn Sức Tôn Giả. Trong mười vị đại đệ tử, Ngài được tôn xưng là "nghị luận đệ nhất". Vị tôn giả này thuyết pháp rất giỏi, cả đời chỉ dùng thuyết pháp để độ chúng sinh, tên Ngài là Ma Ha Ca Chiên Diên.

Ngài có một người cậu (uncle) là một vị tiên nhân nổi tiếng. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni vừa mới ra đời, phụ thân của Ngài (Vua Tịnh Phạn) đã mời một vị tiên nhân đến xem tướng cho Ngài, vị tiên nhân này chính là cậu của Ma Ha Ca Chiên Diên. Ma Ha Ca Chiên Diên là con trai cả của một vị trưởng lão Bà La Môn chuyên nghiên cứu Kinh Vệ Đà, học vấn của Ngài rất uyên bác. Sau khi quy y Phật, Ngài thường có thành tựu xuất sắc trong việc nghị luận, vì vậy thành tựu của Ngài được gọi là "nghị luận đệ nhất".

Ngày nay trong Mật pháp chúng ta cũng giảng về hai loại là Sự pháp và Giáo pháp. Sự pháp là thực hành trên thực tế, Giáo pháp là lý thuyết; trong Mật pháp, Giáo pháp và Sự pháp giống như hai bánh xe của một chiếc xe đạp, thiếu một bánh thì không thể được.

Hiện nay mọi người đang nghe pháp ở đây, chúng ta đều biết trình tự tu pháp hàng ngày, chúng ta thực sự thực hành, đó chính là giáo pháp, thuộc về mặt lý thuyết; trong tương lai nếu ai có chí hướng muốn trở thành Thượng sư, người đó không những phải nắm rõ hoàn toàn về Sự pháp, mà còn phải thông suốt toàn bộ giáo lý của Mật tông.

Vì vậy, hãy nhớ kĩ! Muốn trở thành Thượng sư, mỗi ngày phải đọc kinh, mỗi ngày phải đọc sách. Hiện nay tôi cũng vậy, mỗi ngày nhất định phải đọc sách, mỗi ngày nhất định phải đọc kinh. Tôi nhận thấy hiện nay phong trào đọc sách ngày càng giảm, có người thậm chí một cuốn sách cũng không đọc. Họ nói rằng: "Kiếm tiền còn không kịp, lấy đâu thời gian đọc sách?"

Tuy nhiên tôi thấy việc đọc sách rất quan trọng, bởi vì sách chính là tri thức, trong đó sẽ dạy cho bạn rất nhiều trí tuệ; đặc biệt là những người học Phật, tu hành như chúng ta, cần phải đọc một số sách do các bậc tu hành trước đây viết, và phải đọc kinh Phật nữa. Hãy nhớ kĩ! Nhất định phải "ngày ngày đọc sách, ngày ngày đọc kinh"! Không thể chỉ muốn làm Thượng sư mà không đọc sách gì cả, đây cũng là một điểm rất quan trọng.

Chúng ta dĩ nhiên không thể mong mỗi đệ tử đều là bậc nghị luận đệ nhất, nhưng ít nhất mỗi ngày phải đọc một chút sách.

Om mani padme hum.

### 24. Ma Ha Câu Hi La

Hôm nay chúng ta sẽ thảo luận về Ma Ha Câu Hi La. Ngài là cậu (bác trai) của ngài Xá Lợi Phất. Trong những cuộc tranh luận với chị gái (mẹ của Xá Lợi Phất), Ngài thường giành phần thắng. Tuy nhiên, kể từ khi chị gái mang thai Xá Lợi Phất, tình thế đã thay đổi - chị gái luôn chiến thắng trong mọi cuộc tranh luận. Nhận thấy đứa trẻ trong bụng chị gái đã có khả năng ảnh hưởng đến việc tranh luận ngay từ khi còn trong thai, Ngài cảm thấy buồn lòng và quyết định đi đến một nơi xa xôi để học đạo. Do tập trung cao độ vào việc học tập và tu hành, Ngài không còn thời gian để cắt móng tay. Vì thế, người đời thường gọi Ngài là "Phạm Chí Móng Tay Dài" <span className="note-blue">[vị tu sĩ Bà La Môn có móng tay dài]</span>.

Cuối cùng, khi trở về và muốn gặp người cháu, chị gái nói với Ngài: "Xá Lợi Phất đã quy y Phật Thích Ca Mâu Ni rồi." Câu Hi La nghĩ: "Xá Lợi Phất ngay từ khi còn trong bụng mẹ đã có tài năng cao như vậy, vậy ai có thể làm thầy của cháu đây?" Câu Hi La đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni để tranh luận, và tất nhiên Phật Thích Ca Mâu Ni đã chiến thắng. Vì không thể tranh luận thắng được Phật Thích Ca Mâu Ni, cuối cùng Câu Hi La cũng quy y theo Ngài.

Chúng ta biết Ca Chiên Diên rất thích tranh luận, gặp ai cũng muốn tranh luận, vì thế trong số mười đại đệ tử của Phật, Ngài được tôn xưng là "đệ nhất về vấn đáp". Theo cách nói của chúng ta, đệ nhất về vấn đáp cũng chính là đệ nhất về tranh luận. Trong tiếng Đài Loan, người giỏi tranh luận nhất được gọi là gì? Gọi là "Thầy Cãi"!

Trước đây khi còn trẻ, tôi cũng rất thích tranh luận với người khác, từ lúc ngồi tranh luận, rồi đứng dậy tranh luận, sau đó lại ngồi xuống tranh luận. Nhưng bây giờ, thời kỳ nhiệt huyết đã qua rồi, hiện nay tôi chỉ thuyết pháp thôi, nếu ai muốn tìm tôi tranh luận, tôi đều không muốn nói chuyện, bởi vì tôi sợ, tuổi đã cao rồi, một khi tranh luận là dễ bị cao huyết áp, sung huyết não, rất nguy hiểm.

Hiện nay tư tưởng của tôi có khuynh hướng bình dị hơn, giữ một tâm trạng ổn định, không thích tranh luận với người khác nữa, cho nên nói về tranh luận thì tôi có lẽ là "tranh luận hạng bét".

Thực ra không phải là không muốn độ chúng sinh, mà là "tùy thuận", có duyên thì đến, không duyên thì đi, người đến không từ chối, người đi cũng không giữ lại, vì vậy tâm trạng như thế tốt hơn một chút, bình hòa hơn, tư tưởng hòa bình hơn, sẽ không bị tức giận đến mức sung huyết não.

Om mani padme hum.

### 25. Ly Bà Đa

Tối nay chúng ta nói về một đại đệ tử tên là Ly Bà Đa. Ba chữ Ly Bà Đa có nghĩa là "tinh tú", tức là những ngôi sao trên trời; vì cha mẹ của Ngài khi sinh Ngài đã từng cầu nguyện với các vì sao trên trời, nên mới sinh ra Ly Bà Đa. Ngoài tên Tinh Tú ra, Ngài còn được gọi là Giả Hòa Hợp, đây là tên do Phật Thích Ca Mâu Ni đặt cho Ngài.

Ly Bà Đa như Thượng sư Liên Chủ vừa nói, là người tu thiền định, rất thích thiền định. Gần đây tôi cũng rất thích thiền định, tuy nhiên, khi định quá sâu thì thường bị nghiêng ngả. Trước đây tôi không tin là khi ngồi thiền lại có thể bị ngủ gật, nghiêng qua nghiêng lại, không thể định tâm được. Khi người ta quá mệt mỏi, có người vừa ngồi xuống là đã vào "tứ ma địa" <span className="note-blue">[ngủ gật]</span>, không những định sâu mà còn ngáy nữa. (Mọi người cười lớn.) Trước đây mỗi lần tôi nhập định đều ở trạng thái giữa tỉnh và ngủ, định thực sự phải ở giữa trạng thái tỉnh thức và ngủ mới gọi là định. Gần đây khi định tôi hơi bị run rẩy, có vẻ như đi quá sâu, đột nhiên giật mình một cái rồi tỉnh lại, có lẽ là do quá mệt mỏi.

Định thực sự có thể có nhiều tầng cảnh giới khác nhau. Như vị đệ tử của Phật là Ly Bà Đa, có lần Ngài nhập định tại một ngôi đình trống, giống như một nhà chờ trên núi, Ngài nhập định ở đó. Thực ra, ở những nhà chờ trên núi, hoặc chùa miếu, hoặc những nơi hoang vắng, thường có rất nhiều ma quỷ; tuy nhiên ở chùa Lôi Tạng của chúng ta thì không có, đừng lo sợ.

Một lần nọ, Ly Bà Đa đang ngồi thiền trong một ngôi đình trên núi, trong lúc nhập định thì thấy ma. Một con ma lớn và một con ma nhỏ ở trong đình, hai con ma đang khiêng một xác chết, rồi tranh giành nhau để ăn thịt xác chết đó, cả hai đều muốn giành phần đùi! Có vẻ như phần đùi ngon hơn những phần khác. Không biết làm sao, hai con ma đang tranh chấp, chợt thấy bên cạnh có một người tu hành đang ngồi thiền, chúng liền nhờ Ly Bà Đa làm trọng tài.

Thực ra trong lòng Ly Bà Đa nghĩ, ma quỷ vốn không biết điều lý, đã không biết điều lý thì dù có phân xử thế nào đi nữa, cuối cùng vẫn sẽ tranh chấp. Nhưng không còn cách nào khác, Ngài nghĩ, nên đồng cảm với kẻ yếu thế, ai cũng có lòng thương người yếu thế, nên Ngài nói: "Vậy thì để con ma nhỏ ăn phần đùi vậy." Con ma lớn tất nhiên không phục, kết quả là nó tức giận xấu hổ, liền định ăn thịt luôn cả Ly Bà Đa.

Vì vậy đôi khi, người làm trọng tài thường bị đánh cho tơi tả. Khi thấy hai con trâu đánh nhau, trâu húc trâu, đừng có đi can ngăn, bởi vì không khéo, cả hai con trâu sẽ quay sang húc bạn, thế là bạn chết chắc.

Ly Bà Đa chính vì can thiệp vào chuyện không đâu này, nên con ma lớn liền ăn thịt Ngài, nó lấy cánh tay của Ngài ra ăn, con ma nhỏ thấy vậy, thấy Ly Bà Đa vì phân xử giúp mình mà bị thương tổn, nó đem lòng thương cảm, liền lấy cánh tay của cái xác chết đắp vào cho Ngài, rồi con ma lớn lại ăn tay trái của Ngài, con ma nhỏ lại vội vàng đắp tay trái vào, con ma lớn lại ăn đầu của Ly Bà Đa, con ma nhỏ vội vàng lấy đầu của cái xác chết đắp vào cho Ngài, con ma lớn lại tháo hai chân của Ngài ra ăn, con ma nhỏ lại vội vàng lấy hai chân của cái xác chết đắp vào cho Ngài.

Cuối cùng con ma lớn và con ma nhỏ đều đi mất, Ly Bà Đa cũng xuất định. Ngài vốn đã nhìn thấy cảnh tượng này trong định, và bây giờ Ngài đã xuất định, sau khi xuất định thì Ngài đã trở thành một người khác, bởi vì gương mặt vốn là của Ly Bà Đa, giờ đây toàn thân từ tay chân cho đến gương mặt đều đã biến đổi, trở thành một người hoàn toàn khác.

Lần sau khi các bạn ngồi thiền mà biến thành người khác, chắc chắn là đã bị ma ăn thịt rồi; lần sau nếu tôi ngồi thiền mà biến thành người khác, các bạn sẽ không nhận ra tôi nữa. Thực ra, đây là chuyện rất đáng sợ, Ly Bà Đa đi đến đâu cũng hỏi người khác: "Diện mạo vốn có của tôi đâu rồi?" Ngài thường hỏi mọi người: "Tôi đang ở đâu?"

Các bạn không tin có chuyện như vậy sao! Tôi nói cho các bạn biết, có những người, khuôn mặt thực ra không phải là mặt của họ, bởi vì mặt của họ chính là mông của họ đấy, tôi nghe nói các viện thẩm mỹ rất thích lấy thịt ở mông để dán lên mặt. Bây giờ các viện thẩm mỹ có phương pháp căng da, cắt bỏ da ở một bên, kéo da nhăn lên, gọi là căng da; đã có thể căng da thì tất nhiên cũng có thể vá da, và chỗ nào mịn màng trắng trẻo nhất đương nhiên là mông rồi; vì vậy bạn tưởng đó là mặt của họ, nhưng thực ra không phải, đó là mông của họ đấy. Cái gọi là vá da, sự biến đổi này, đều như vậy cả, một người không nhất thiết hoàn toàn là chính họ.

Vì Ly Bà Đa cả ngày cứ đi hỏi người khác: "Tôi đang ở đâu? Tôi là ai?" Bởi vì cái xác chết đó Ngài hoàn toàn không nhận ra! Đột nhiên biến thành "người chết" đó, Ngài liền hỏi: "Tôi là ai? Tôi rốt cuộc là ai?" Ly Bà Đa ban đầu không còn nữa, bây giờ đã biến thành một Ly Bà Đa mới, vậy Ly Bà Đa mới này là ai? Ngài đi hỏi người khác: "Tôi là ai?" Điều này rất hay, có thể tưởng tượng được! Các bạn cũng có thể thường xuyên tự hỏi mình "Mình là ai?"

Ôi chao! Hồi trước khi còn trẻ, nhìn ảnh chụp tôi rất gầy, trông khá thanh tú, bây giờ soi gương, tôi thường tự hỏi: "Mình là ai?" Vì vậy gần đây tôi thường phải ăn kiêng, bởi vì thấy cái bụng này thật không ra thể thống gì, cho nên các bạn cũng nên thỉnh thoảng tự hỏi "Mình là ai?" Bởi vì các bạn trước đây cũng đâu phải như thế này. Diện mạo lúc còn trẻ có giống bây giờ không? Hoàn toàn khác! Vì vậy, câu chuyện của Ly Bà Đa chính là câu chuyện của chính chúng ta, chứ không chỉ đơn thuần là chuyện của Ly Bà Đa.

Một đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, nghe Ly Bà Đa thường hỏi "Tôi là ai?", liền nói: "Ôi chao! Người này phi thường, công phu của người này thâm hậu quá." Rồi dẫn Ly Bà Đa đến gặp Phật Thích Ca Mâu Ni.

Ngài hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni: "Thân này của tôi là ai vậy?"  
Phật Thích Ca Mâu Ni đáp: "Thân thể này của ông vốn là tử thi của người khác, không phải của chính ông."  
Ly Bà Đa lập tức... Ồ! Cảm nhận được, đã ngộ ra, trong phút chốc Ngài liền khai ngộ! Ly Bà Đa hiểu ra rằng, cái gọi là thịt của thân thể, xương của thân thể, bao gồm tất cả vật chất của thân thể, đều từ cha mẹ mà ra, đều từ cha mẹ mà đến, không phải là cái ta thật. Khi ấy Ngài có thể khai ngộ như vậy, Phật Thích Ca Mâu Ni liền ban cho Ngài một danh hiệu là Giả Hòa Hợp, nghĩa là sự hòa hợp giả tạm mà thành.

Vì vậy, tất cả chúng ta đều đang ở nhà thuê, ở căn nhà đẹp một chút thì vui, ở căn nhà xấu một chút thì không vui; có những căn nhà rất vững chắc, rất kiên cố, có những căn nhà lại bị dị ứng phấn hoa, hay bị cảm cúm, chảy nước mũi, rồi chỗ này lại bị khoét một lỗ... ôi thôi! Không nói nữa; vì vậy mọi người phải nghĩ như thế này, chúng ta hiện giờ đang "sống trong căn nhà này", căn nhà này rồi một ngày nào đó bão đến, lửa đến, nước đến, đột nhiên gặp động đất, căn nhà này sẽ sập; nhà sập rồi, bạn không thể tìm nhà mới được nữa, bạn phải dọn nhà, và lần dọn nhà này chính là "về nhà".

Căn nhà này được làm từ những gì? Chính là đất, nước, lửa, gió, được tạo ra từ bốn thứ này.  
Đất - chính là thịt và xương trên thân.  
Nước - chính là máu và nước tiểu trong thân.  
Lửa - chính là nhiệt độ của thân.  
Gió - chính là hơi thở và không khí trong thân.  
Thân thể được tạo thành từ bốn thứ này. Vậy chủ nhân là ai? Chủ nhân chính là "ý thức" mà Phật đã dạy. Chúng ta tu hành là tu cái chủ nhân này, chứ không phải là tô son trát phấn lên mặt. Bạn tưởng đánh chút phấn lên mặt, để râu là đẹp sao! Đó chỉ là lớp sơn bên ngoài mà thôi.

Tô son điểm phấn giống như vẽ khung cửa trước cổng; để râu thì như cỏ mọc trong nhà. Tất cả đều chỉ là huyễn tướng, đều là giả tướng cả. Vì có những huyễn tướng này nên Phật Thích Ca Mâu Ni mới ban cho Ngài danh hiệu: "Ông đã hiểu được tất cả huyễn tướng, nên biết rằng ông chính là sự hòa hợp giả tạm." Sau khi chúng ta hiểu được điều này rồi, chúng ta có thể biết được thế nào là "chân ngã"? Thế nào là "giả ngã"?

Khi ngôi nhà của bạn hư hoại và đến lúc phải dọn nhà, nếu có thể dọn đến một nơi tốt đẹp hơn, đó chính là mục đích tu hành của chúng ta. Bạn không thể dọn đến nơi tệ hơn được! Ban đầu là một ngôi nhà đẹp đẽ, thanh lịch phong nhã, vậy mà sau khi dọn đi lại biến thành có sừng, thành bốn chân, thành hình trụ tròn, thậm chí không có chân, có khi dọn nhà thành loài biết bay, loài suốt ngày bơi dưới nước, hay thành rệp chuyên cắn người.

Vì vậy tôi hy vọng sau này mọi người khi dọn nhà, hãy dọn đến nơi tốt đẹp hơn, càng dọn càng đẹp. Chúng ta học Phật tu hành, phụ nữ càng dọn càng xinh đẹp, nam giới càng dọn càng phong độ. Đây cũng là hy vọng nếu kiếp sau làm người, mong rằng sẽ dọn đến chỗ đẹp đẽ hơn, có nhiều duyên với người hơn. Còn những ai không muốn tái sinh nữa thì cứ dọn thẳng về Tây phương Cực Lạc là xong.

Tôn Giả Ly Bà Đa này nhờ lĩnh ngộ được "Ta rốt cuộc là ai" nên được gọi là Tôn Giả Tinh Tú. Ngài thường ngồi thiền nhập định, được xưng tụng là "bậc nhất về tâm không tán loạn".

Tôi nhớ lúc trước khi giảng kinh từng nói:  
Ngày xưa thầy giáo hỏi chúng tôi: "Cái gì là của con?"  
Nếu bạn trả lời thầy: "Con có rất nhiều thứ là của con."  
Thầy tôi sẽ nói: "Nếu là của con thì đưa cho thầy xem thử."  
Chúng tôi thường không đưa ra được! Chúng tôi sẽ nói: "Những thứ này không phải của chúng ta, ít nhất thì trái tim cũng là của con chứ!"  
Nhưng ngay cả trái tim bây giờ cũng chưa chắc là của bạn, ở Đài Bắc có một người được ghép tim, tim của họ không còn nữa, đã thay bằng tim của người khác. Ôi! Tim của bạn ở đâu? Nói thật, tôi cũng đã không còn tim từ lâu rồi.

Có người hỏi tôi: "Tại sao không có tim?" Bởi vì tim của tôi đã sớm bị những kẻ trộm tim lấy mất rồi! Ngày xưa bạn gái nói với tôi: "Em không cần gì của anh cả, em chỉ cần trái tim của anh thôi." Thế là không còn cách nào, vì tôi có quá nhiều bạn gái, nên phải chia nhiều trái tim cho họ! Quá nhiều bạn gái lại phải chia tim ra, nên bây giờ đã trở thành người "không có tim". Vì vậy, những gì chư Phật, Bồ Tát dạy không sai, ngay cả tim của bạn cũng không phải là của bạn, đúng không? Bây giờ có nhiều cô gái chuyên đi xin tim người ta, họ nói: "Anh định cho em tiền à? Em không cần đâu, em chỉ cần trái tim của anh thôi."

Cho nên, tim cũng không phải là của mình, có thể thấy mọi thứ hữu hình trên thế gian này đều không phải của chúng ta. Tôn Giả Ly Bà Đa đã nhận ra điểm này rất rõ ràng, nên Ngài được gọi là "bậc nhất về tâm không điên đảo"; tôi còn hiểu rõ hơn nữa, bởi vì tôi "vốn dĩ không có tim"!

Om mani padme hum.

### 26. Chu Lợi Bàn Đà Già

Hôm nay trong Kinh A Di Đà, chúng ta sẽ nói về Chu Lợi Bàn Đà Già.

Chu Lợi Bàn Đà Già là một trong hai anh em, cả hai đều quy y Phật Thích Ca Mâu Ni. Một trong hai người rất đần độn, Phật dạy ông tụng kệ nhưng ông không thể nhớ nổi. Cuối cùng, Phật đành phải dạy ông niệm sáu chữ "Nam Mô A Di Đà Phật", nhưng khi ông nhớ được "Nam Mô" thì lại quên mất "A Di Đà". Khi ông nhớ được "Đà Phật" thì lại quên mất "Nam Mô". Gần như cả 500 vị tăng trong chùa đều cười nhạo ông, anh trai ông bảo: "Thôi, em hoàn tục đi, tu hành làm gì?" 

Ông cứ khóc mãi, rồi đi ra cổng thì gặp Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật hỏi ông vì sao, ông thưa: "Tôi rất ngu đần, trí nhớ kém, ngay cả sáu chữ danh hiệu Phật cũng không niệm được." Phật hỏi ông: "Ông có biết thở không?" Ông đáp: "Có biết!" Vì người sống ắt phải thở, làm sao không biết được? Phật dạy: "Tốt, ông biết thở là đủ rồi, có thể tu thành đạo được." Phật dạy: "Thở ra là 'hô', hít vào là 'hấp', một hô một hấp là một hơi thở, được rồi, vậy ông về ngồi thiền, chú ý thở ra, hít vào tính là một, lại thở ra, hít vào là hai." Phật hỏi ông: "Như vậy ông có làm được không?" Ông đáp: "Như vậy được, rất đơn giản." Dù sao ông cũng đếm được từ một đến một trăm. Thế là ông về làm theo lời Phật dạy, hít vào, thở ra, một; hít vào, thở ra, hai. Vị tôn giả này chỉ học được pháp này thôi, không biết pháp nào khác, chỉ học mỗi pháp này, và còn cho rằng trong đó có điều gì đó thâm sâu.

Đừng thấy nó đơn giản, thực ra bên trong có cả một bài học. Bởi vì đôi khi chúng ta không để ý đến hơi thở của mình, thực ra hơi thở thường thô, gấp gáp, nhanh và phát ra tiếng ồn! Bạn có biết tại sao tôi thường ngủ một mình không? Vì tôi sợ làm người khác thức giấc, thực ra không phải họ làm phiền tôi, mà là tôi làm phiền họ! Vì vậy tôi sợ làm phiền người khác nên đành ngủ riêng.

Có những người béo thở ra tiếng to đến nỗi có thể thổi đổ cả bức tường, giống như dàn nhạc giao hưởng vậy, không chỉ có sấm sét mà còn có mưa và gió, thu âm lại làm bằng chứng mà vẫn không tin. Vì vậy thở thực sự rất khó, hơi thở tốt phải rất nhẹ nhàng, chậm rãi và dài; không thể thở hổn hển, hơi thở càng ngắn thì càng gần với cái chết, thở thô tức là có bệnh, thở gấp và ngắn nghĩa là cơ thể đã có vấn đề ở đâu đó.

Vị tôn giả này học cách thở, cuối cùng có thể thở rất nhẹ, rất dài và rất chậm, dần dần, ngay cả âm thanh của hơi thở cũng không còn nữa. Sau đó, thân tâm trở nên an lạc vô cùng, đạt đến trạng thái không tịch, bỗng nhiên ngài cảm thấy mình không còn thở nữa, toàn thân nhẹ nhõm bay bổng lên.

Trong trạng thái vô ngại này, ngài đã ngồi thiền nhập định, sau khi đạt được niềm vui thiền định này, ngài lại tiến vào cảnh giới vô ngại. Tôn Giả Chu Lợi Bàn Đà Già ngay lập tức đạt được cảnh giới A La Hán, và được tôn xưng là "niệm trì đệ nhất".  
Niệm - nghĩa là thường xuyên quán tưởng hơi thở của chính mình.  
Trì- nghĩa là vĩnh hằng, liên tục, tu hành mãi như vậy.

Cho nên một pháp tuy nhìn có vẻ rất đơn giản, nhưng thực ra ý nghĩa bên trong rất sâu xa. Người học Phật chúng ta không thể vì mình ngu dốt mà từ bỏ, cũng đừng tự thương hại mình, chỉ cần biết một pháp, thường xuyên niệm trì, tu trì, ắt sẽ có thành tựu.

Om mani padme hum.

### 27. Nan Đà

Hôm nay trong Kinh A Di Đà, chúng ta sẽ nói về Nan Đà.

Vị Nan Đà này, tên tiếng Phạn là Sundara Nanda, trong đó Sundara là tên của vợ ông, có nghĩa là Diễm Lệ.

Trong kinh giải thích rằng ông là em ruột của Đức Phật, em ruột của Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi nghĩ rằng khi nói ông là em ruột của Phật, có lẽ là cùng cha khác mẹ, bởi vì mẹ của Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi sinh Phật không lâu đã vãng sinh, nên không thể nào trước khi vãng sinh lại sinh thêm một người em nữa.

Người em này, thân thể cũng có đủ ba mươi tướng tốt, ba mươi tướng tốt này nghĩa là rất trang nghiêm, vị em này cũng có dung mạo rất trang nghiêm, có đủ ba mươi tướng đẹp. Do có đủ ba mươi tướng tốt, dung mạo rất viên mãn, nên được tôn xưng là "dung mạo đệ nhất".

Tôi nhớ trong kinh có đề cập đến Nan Đà này, ông cũng là một người xuất gia, nhưng thực sự đã có vợ. Tôi nhớ, vào ngày cưới của ông, Phật Thích Ca Mâu Ni đã đến cung điện và thuyết phục người em trai của mình xuất gia. Vì vậy ông còn giỏi hơn cả Phật Thích Ca Mâu Ni, ngay cả đêm tân hôn cũng chưa trải qua đã xuất gia. Phật Thích Ca Mâu Ni rất giỏi, vừa vào đã nói: "Này! Đừng kết hôn nữa, đi xuất gia với ta." Thế là ông đi xuất gia luôn. Thực ra, theo như tôi biết, lúc đó người em của Phật cũng đang gặp khó khăn về chuyện tình cảm, vì ông rất đẹp trai, được xưng là dung mạo đệ nhất, có nhiều cô gái theo đuổi. Nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni rất tài, trước tiên đưa người em này lên thiên giới xem các tiên nữ, ông vừa nhìn thấy các tiên nữ trên trời, ôi chao! Từng người đều đẹp như tiên! Sau đó Phật Thích Ca Mâu Ni lại vào cung điện tìm em trai để xuất gia. Người em nhìn vợ mình, trời ơi! Trông như rác vậy. Cho nên, lần sau có đệ tử như vậy, nên đưa họ lên thiên giới xem tiên nữ trước, rồi xuống trần gian nhìn những cô gái đẹp sẽ thấy như rác thôi.

Việc người em này xuất gia với Phật Thích Ca Mâu Ni vào ngày cưới là có nguyên nhân như vậy. Đây là thông tin tôi tra cứu được.

Om mani padme hum.

### 28. A Nan Đà, La Hầu La

Hôm nay chúng ta nói về hai nhân vật trong Kinh A Di Đà, một vị đã được nói đến rồi, đó là A Nan Đà - người "đa văn đệ nhất". Vị thứ hai là La Hầu La. La Hầu La chính là con trai của Phật Thích Ca Mâu Ni, do chính thất Da Du Đà La sinh ra, là người con trai đầu tiên của Phật. Phần nói về La Hầu La nằm ở trang 18 của "Phật Thuyết A Di Đà Kinh Thích Yếu", đoạn văn này rất đơn giản, mọi người đọc qua là hiểu được, nên tôi không cần phải giảng nữa! Vậy bài giảng kinh hôm nay đến đây kết thúc. OK!

※Chú thích: Sau đây là trích đoạn về La Hầu La trong "Phật Thuyết A Di Đà Kinh Thích Yếu":

La Hầu La nghĩa là che giấu. Thuở xưa ngài bịt hang chuột sáu ngày, ở trong thai sáu năm. Da Du Đà La mang thai sáu năm mới sinh con. Mọi người trong ngoài hoàng cung, cả quốc vương và dòng họ Thích đều nổi giận, vì thế ra lệnh ném vào hố lửa. Da Du Đà La phát đại thệ nguyện: "Nếu ta có điều phi lễ, mẹ con đều chết. Nếu đây là hậu duệ của Phật, xin trời chứng giám." Nói xong bế con nhảy vào hố lửa. Hố lửa hóa thành ao mát mẻ, hoa sen nâng đỡ thân. Lúc đó vua và dân trong nước mới hết nghi ngờ. Sau khi Phật trở về nước, Da Du Đà La bảo con là La Hầu La dâng bánh vui vẻ lên Phật. La Hầu La nói: "Con còn nhỏ tuổi, kính cẩn dâng lên Phật trước đại chúng." Da Du Đà La nhờ đó dẹp được lời phỉ báng. Xưa gọi là Tôn Giả Phú Tàng, là thái tử của Phật, là bậc "mật hành đệ nhất".

### 29. Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa

Hôm nay giảng "Phật Thuyết A Di Đà Kinh Thích Yếu", đề cập đến hai nhân vật. Vị đầu tiên là Kiều Phạm Ba Đề. Kiều Phạm Ba Đề ở đây được dịch là "người rống như trâu", vị tôn giả này trong đời trước từng rất bất kính với người tu hành, thường bắt chước tiếng trâu rống, tiếng hừ hừ để chế nhạo họ. Vì lý do này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã ban cho ngài một chuỗi hạt, bảo ngài niệm Phật để ngăn chặn nghiệp phỉ báng từ kiếp trước, hậu thế gọi ngài là Ngưu Tư Tôn Giả, vị tôn giả này được tôn xưng là "thọ thiên cúng dường đệ nhất".

Thọ thiên cúng dường đệ nhất nghĩa là gì? Đó là vì có rất nhiều vị thần trên trời mang nhiều thức ăn quý giá đến cúng dường ngài, dâng những y phục tốt đẹp cho ngài mặc. Tại sao ngài được như vậy mà chúng ta thì không? Bởi vì vị Kiều Phạm Ba Đề này đã học được tất cả thần chú trên cõi trời, thường xuyên tụng đọc các thần chú đó. Vào thời đó rất ít người biết được điều này, vị tôn giả này chỉ cần vừa tụng, các vị thần tiên trên trời đều vui vẻ xuống tặng lộc cho ngài.

Giống như chúng ta bây giờ nghe ca hát vậy, nghe bài hát hay thì cho ca sĩ một ít tiền thưởng. Vì Kiều Phạm Ba Đề biết tụng thần chú của cõi trời, nên chư thiên đều ban lộc cho ngài, vì vậy ngài được tôn xưng là "thọ thiên cúng dường đệ nhất".

"Tân Đầu Lư Phả La Đọa, dịch nghĩa là lợi căn bất động. Xưa được gọi là người trụ lâu trong thế gian, nhận sự cúng dường của đời sau, là bậc ruộng phước đệ nhất". Tôn Giả Tân Đầu Lư Phả La Đọa, ở đây được dịch là "lợi căn bất động", trong quá khứ, mọi người đều gọi ngài Tân Đầu Lư Phả La Đọa là bậc trụ lâu trong thế gian, ngài sống trong thế giới này, nhận sự cúng dường của người đời; danh hiệu của ngài là "ruộng phước đệ nhất".

Vị Tân Đầu Lư Phả La Đọa này là một vị xuất gia, nhưng ngài thường thị hiện thần thông trước mặt các cư sĩ. Nhiều cư sĩ biết vị tôn giả này có thần thông nên mời ngài biểu diễn, hễ ai mời là ngài liền biểu diễn: có thể ngồi tại chỗ rồi lập tức bay lên không trung, sau đó biểu diễn ngủ trên không và lộn nhào, ngài có thể đi trên không trung, xoay vòng như phi hành gia rồi quay về, không chỉ lộn nhào mà còn đánh quyền võ Trung Quốc trên không, còn việc có biểu diễn cởi áo hay không thì không rõ.

Vì ngài dễ dàng thị hiện thần thông nên bị Phật Thích Ca Mâu Ni quở trách. Phật Thích Ca Mâu Ni nói với vị tôn giả này rằng: "Nơi đây đâu phải gánh xiếc mà cứ biểu diễn show thần thông hoài". Cuối cùng ngài bị quở trách đến nỗi rất buồn lòng, liền phát nguyện trước Phật rằng ngài sẽ mãi mãi trụ ở thế gian này, không cầu thành Phật, mà sẽ giúp đỡ chúng sinh trong thời mạt pháp.

Vị Tân Đầu Lư Phả La Đọa tôn giả này, trong mười tám La Hán của Trung Quốc được gọi là Trường Mi Tôn Giả, chính là vị có đôi lông mày trắng rất dài kia.

### 30. Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na

Đầu tiên chúng ta sẽ giảng "Kinh A Di Đà Thích Yếu", sau đó giới thiệu hai vị đại La Hán. Vị đầu tiên tên là Ca Lưu Đà Di, ngài là con trai của một vị đại thần trong vương quốc của Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài có gương mặt rất đen, trông rất đáng sợ. Có lần ngài đi khất thực vào ban đêm, một số người khi mở cửa nhìn thấy ngài đã sợ chết khiếp! Ngài được tôn xưng là "giáo hóa đệ nhất". Ca Lưu Đà Di còn có thể dịch là Hắc Quang, nghĩa là ánh sáng đen.

Người ta kể rằng, trước đây khi Phật Thích Ca Mâu Ni điều hành tăng đoàn, các vị xuất gia tu hành cùng nhau, chưa có quy định không ăn sau giờ Ngọ, mà vẫn ăn sáng, ăn trưa, ăn tối như người thường. Nhưng như chúng ta đã biết, ở Ấn Độ thời đó, cách đây mấy nghìn năm không có đèn điện, người giàu thì thắp nến, người nghèo thì không có đèn. Ban đêm, khi các vị tỳ kheo cùng nhau đi khất thực, gõ cửa nhà người; khi mở cửa ra, ôi chao! Họ sợ đến chết khiếp, tưởng gặp ma! Có người sợ đến ngất xỉu; ngoài ra, một số người Ấn Độ nghĩ rằng: Chuyện gì vậy? Nửa đêm có người đến gõ cửa nhà mình, hoặc đứng im lặng trước cửa, tưởng là kẻ trộm nên đánh họ một trận. Vì xảy ra vài trường hợp tỳ kheo đi khất thực làm thí chủ sợ chết khiếp, lại có tỳ kheo đi khất thực bị thí chủ đuổi đánh vì tưởng là kẻ trộm, nên Phật Thích Ca Mâu Ni nghĩ: Đã là người tu hành thì chỉ cần đủ dinh dưỡng là được, vì vậy đặt ra quy định "từ nay về sau, các tỳ kheo khi trời tối không được đi khất thực nữa", và điều này đã phát triển thành quy định không ăn sau giờ Ngọ.

Hiện nay vì người tu hành cần phải khổ hạnh, không thể ăn quá no, và đôi khi chỉ cần một hai bữa là đủ dinh dưỡng, nên vẫn có người giữ quy tắc không ăn sau giờ Ngọ. Nhưng thời đại bây giờ đã khác, ban đêm có đèn điện, người xuất gia cũng ít khi đi khất thực, nên có người ăn tối tại nhà; đi khất thực ban đêm có lẽ cũng không làm ai sợ hãi nữa. Chính vị La Hán Hắc Quang này khi đi khất thực đã làm người ta hoảng sợ.

Tôi nhớ trước đây khi làm thành viên đoàn thánh ca của nhà thờ Thiên Chúa giáo, vào đêm Giáng sinh, chúng tôi thường đi hát thánh ca cho mọi người nghe, đi thăm viếng. Một tối nọ, vào đêm Giáng sinh, vị mục sư của chúng tôi nói: "Tối nay chúng ta sẽ đến khu dân nghèo hát cho họ nghe, sau đó ném kẹo và thiệp Giáng sinh vào nhà họ." Chúng tôi đều mặc đồng phục trắng của ca đoàn, vào nửa đêm, khoảng 11-12 giờ, cho đến 2 giờ sáng, cả nhóm trong trang phục trắng đổ về khu dân nghèo. Chúng tôi vừa hát vừa ném kẹo, thấy khe cửa là ném vào, thiệp Giáng sinh cũng ném vào như vậy. Chúng tôi cố gắng đi thật khẽ, bước chân nhẹ nhàng, giọng hát nhỏ nhẹ, không dám bước mạnh, cứ thế lướt đi trên đường.

Có vài bà cụ thức dậy đi vệ sinh nửa đêm, nhìn thấy chúng tôi đều sợ ngất đi. Những bà cụ ấy thấy một đám người mặc đồ trắng, đi nhẹ nhàng và vừa đi vừa hát, trông như ma, họ sợ đến run chân, họ nói: "Các người muốn dọa chết tôi sao!" Ôi! Lần đó, nhiều người vì chúng tôi ném kẹo, ném thiệp nên tỉnh giấc, mở cửa ra xem, trời ơi! Không trung toàn những bóng áo trắng bay! Nghe nói khu dân nghèo đó hôm sau có nhiều thầy đến làm lễ giải kinh. Thực ra không phải gặp ma, mà là gặp chúng tôi.

Tiếp theo giới thiệu một vị đại La Hán nữa, đó là Ma Ha Kiếp Tân Na. Tên này dịch ra chính là tên một ngôi sao, trong Trung Quốc có 28 sao, đây là ngôi sao thứ tư trong 28 sao. Vì cha mẹ ngài đã cầu nguyện với các vì sao trên trời nên sinh ra được vị Ma Ha Kiếp Tân Na này, ngài được tôn xưng là "ngôi sao đệ nhất".

Vị Ma Ha Kiếp Tân Na vốn cũng là một vị quốc vương, nước của ngài tên là Câu Tất Đa, ngài chính là vua nước Câu Tất Đa. Do ngưỡng mộ Phật pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni nên ngài đã xuất gia; sau khi xuất gia, ngài rất thích tu hành một mình và đã từng chứng được pháp vị Niết bàn. Sau khi quy y, ngài rất nghiêm túc tu tập theo giáo pháp của Đức Phật, sống trong hang động trên núi sâu. Ngài tu tập phương pháp luyện hỏa đan điền, khiến "hỏa" này có thể chạy khắp toàn thân, đến từng mạch máu nhỏ, từng lỗ chân lông đều có thể dùng lửa để đốt thân thể, sau đó luyện nội hỏa trở nên tinh thuần, tập trung toàn bộ lửa ở thiên đình, và còn có thể phóng ra ngoài, khiến nhiệt độ cơ thể hoàn toàn hạ xuống, có thể nhịn ăn nhịn uống trong một tháng.

Mặc dù thân thể ngài vẫn ở trên mặt đất, nhưng thực ra rất giống với lúc nhập Niết bàn; pháp vị này, sự thanh tịnh hoàn toàn này, không còn dục vọng, niềm pháp lạc đạt được, gọi là pháp vị Niết bàn. Tất nhiên, với niềm pháp lạc này, ngài có thể du hành đến tứ thiền thiên, có thể đến bất kì cõi Phật nào. Tuy không ăn bất cứ thứ gì, nhưng thực ra đã ăn tất cả, ngài đạt được pháp vị Niết bàn này hoàn toàn nhờ tu tập trong hang động trên núi sâu.

Một ngày nọ, Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trước hang động của ngài và hỏi: "Hiện giờ ông đã thỏa mãn chưa?" Ngài đáp: "Rất thỏa mãn. Phật nói: "Đã thỏa mãn rồi thì cũng phải giúp người khác được thỏa mãn!" Vì vậy Phật Thích Ca Mâu Ni mời ngài ra làm công việc giáo giới. Bởi vì lúc bấy giờ, nhiều đệ tử khi mới quy y đều rất nghiêm giữ giới luật, nhưng sau đó lại không giữ giới nữa, nên Ma Ha Kiếp Tân Na đã ra làm vị đạo sư dạy trì giới. Khi ngài ra khỏi hang động, cách làm đã khác trước - trước kia ngài an trụ trong pháp vị Niết bàn, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni gọi ngài ra dạy giới luật cho tất cả đệ tử Phật. Ban đầu ngài được gọi là bậc tự trì giới, sau trở thành bậc dạy người trì giới, nên ngài được tôn xưng là "ngôi sao đệ nhất", và còn được gọi là "bậc giáo giới đệ nhất".

Thật ra, giới luật rất quan trọng, không có giới luật thì sẽ hành xử bừa bãi. Giữ giới cũng giống như chúng ta tuân thủ trật tự của quốc gia, chính là tuân theo pháp luật. Khi đệ tử Phật giữ giới, nhờ trì giới mà hành vi của họ trở nên rất đoan chính, nhờ hành vi đoan chính mới sinh tâm định, nhờ có định mới phát sinh trí tuệ, đạt được trí tuệ mới có thể khai ngộ, mới có thể thành Phật.

Nhiều người hỏi tôi: "Phái Chân Phật Tông có giới luật không?" Chân Phật Tông cũng có giới luật như các phái khác, chúng ta có giới luật của Hiển giáo thông thường và cả giới luật của Mật giáo. Thực ra, giới luật của chúng ta cũng rất nghiêm ngặt, xét theo giới luật thì rất nghiêm khắc, nhưng vì chư Phật Bồ Tát từ bi hơn một chút nên nhìn có vẻ thoải mái hơn, tuy nhiên hôm nay tôi muốn nói với mọi người rằng: "Muốn có thành tựu, nhất định phải có giới." Thượng sư cũng có giới của Thượng sư, vì vậy chúng ta phải đọc giới luật của Chân Phật Tông, trong quyển sách nhỏ đó đều có. Hy vọng mọi người đừng vì chư Phật Bồ Tát từ bi mà quên hết giới luật.

Mỗi hành giả khi mới bắt đầu tu tập, nhất định phải giữ giới luật; đến khi khai ngộ, tuy những giới luật đó có thể phá bỏ, nhưng vì độ chúng sinh, cũng phải để chúng sinh thấy được giới luật của mình. Thực ra, Thượng sư đã từng nói: "Nơi sư tử nhảy qua, thỏ không thể nhảy theo."

Điều này có nghĩa là những việc mà một vị đại hòa thượng có thể làm, một vị tiểu hòa thượng chưa chắc đã có thể làm theo. Khi một người đã khai ngộ, những việc họ làm không nhất thiết là những việc mà người mới vào cửa Phật có thể bắt chước. Đây là vấn đề về cảnh giới tu tập. Vì vậy, khi bạn đã trở thành sư tử, bạn có thể nhảy vực; nhưng khi chưa trở thành sư tử mà nhảy vực thì chính là tự sát. Khi tâm bạn đã bất động, bạn có thể đến night club; nhưng khi tâm còn dao động mà đến night club thì chính là tự sát. Do đó, việc tu học có từng cấp độ. Nếu các bạn muốn tự sát thì có thể đi theo thầy; còn nếu thấy mình chưa đủ sức thì tốt nhất là ở nhà ngủ ngon!

Vừa rồi Thượng sư Liên Hỏa đã cảm ơn tất cả mọi người, tôi cảm thấy chúng ta làm bất cứ việc gì cũng phải mang lòng biết ơn. Miễn là mỗi người đều tận tâm tận lực làm tốt việc của mình, và giúp đỡ làm những việc chung, chúng ta đều nên mang lòng biết ơn. Bởi vì lòng biết ơn có thể sinh ra lòng từ bi, trong vũ trụ này vốn dĩ là đồng thể đại bi; vì vậy chúng ta không chỉ cảm ơn những người bỏ tiền, bỏ công sức, những người có tâm, mà đối với những người phỉ báng chúng ta và những lời trái ý cũng phải mang lòng biết ơn. Bởi vì họ đến thử thách chúng ta, cũng chính là đang giúp đỡ chúng ta, khi bạn cũng biết ơn những lời trái ý này, thì sẽ hiểu được rằng "lời trái ý cũng chính là trợ duyên của chúng ta". Vì vậy tôi đã từng nói:  
"Trên thế gian này vốn dĩ không có chuyện gì cả."  
"Người tu hành chính là người vô sự."  
"Chúng ta chỉ cần tận tâm tận lực làm việc, không tính toán thành bại, đó chính là vô sự."

Om mani padme hum.

### 31. Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, cùng các vị đại đệ tử như thế

Chúng ta đã giới thiệu mười bốn vị La Hán, tối nay sẽ tiếp tục giới thiệu thêm hai vị La Hán nữa, tổng cộng là mười sáu vị tôn giả.

Vị thứ mười lăm được giới thiệu là Bạc Câu La. Vị tôn giả này suốt đời không thuyết pháp, không giảng đạo, không đi khắp nơi giảng đạo thuyết pháp, ngài hoàn toàn không nói chuyện. Bởi vì vị tôn giả này không nói chuyện, nhưng thích thiền định, chỉ thích tọa thiền, nên thọ mạng của ngài rất dài, sống đến một trăm sáu mươi tuổi.

Thích thiền định thì thọ mạng sẽ dài, điều này có lý của nó. Các bạn biết đấy, khi thiền định, giống như trạng thái ngủ đông của động vật, cơ thể hoạt động rất ít, dùng rất ít năng lượng để vận hành cơ thể; các bạn biết đấy, chúng ta sử dụng cơ thể quá nhanh, lại quá gấp gáp, cơ thể thường hay hư hỏng, cơ thể đều có tuổi thọ nhất định, dù sao dùng nhiều cũng sẽ hỏng. Vì Bạc Câu La từ từ sử dụng cơ thể của mình, nên sống đến một trăm sáu mươi tuổi.

Chúng ta biết có một loài động vật sống rất thọ, đó là rùa. Rùa có tuổi thọ rất cao và cũng không thích nói chuyện. Bạn nhìn những con rùa dưới đáy ao, chúng thường xuyên thiền định, cứ bò, bò, bò đến khe đá rồi ở đó... trông như đang ngủ vậy. Chúng cũng không nhiều lời. Phải biết rằng, những người thích nói chuyện, thích ba hoa thường có tuổi thọ ngắn hơn. Tại sao vậy? Trong nội công cũng có giải thích, bởi vì khi nói chuyện, khí thường xuyên phải thoát ra ngoài. Chúng ta hít vào nhiều, thở ra ít thì sẽ trường thọ; thở ra nhiều, hít vào ít thì sẽ đoản thọ.

Vị Bạc Câu La này rất ít nói chuyện, chỉ thích thiền định, nên được gọi là "thọ mạng đệ nhất". Hơn nữa, ngài cũng giữ giới không sát sinh, ngài trì giới không giết hại sinh mạng. Trong cuộc đời, ngài có mấy lần không chết, đó là khi bị đặt vào đĩa cũng không thể thiêu chết được, khi bị thiêu vẫn không chết; ở trong nước không chết, bị luộc cũng không chết, bị một con cá lớn cắn cũng không chết, bị cá lớn nuốt vào bụng rồi lại ra được mà vẫn không chết, có năm loại bất tử như vậy.

Vị tôn giả Bạc Câu La này cũng rất ít khi đau ốm, vì vậy ngoài danh hiệu "thọ mạng đệ nhất", ngài còn có một biệt danh là "đệ nhất không bệnh". Việc không bệnh tật này cho thấy ngài tu hành rất tốt, bởi vì ngài thường xuyên thiền định, bảo dưỡng cơ thể rất tốt, nên ngài... dù sao cũng rất ít khi có bệnh!

Tôi rất ngưỡng mộ "đệ nhất không bệnh" này. Ban đầu tôi còn nói to rằng: "Từ khi đến Mỹ chưa từng bị bệnh!" Nhưng bây giờ không dám nói to nữa, vì từ khi đến Mỹ, trong sáu năm ít nhất cũng bị cảm cúm một lần, hơn nữa răng còn bị sứt một miếng. Mặc dù tôi nghĩ mình rất khỏe mạnh, nhưng răng thực sự cũng là một căn bệnh. Vị đệ tử này rất tốt, biết răng tôi không tốt nên đã mua tặng tôi một bàn chải điện tự động; hai người từ Toronto chuyển đến Vancouver cũng mua bàn chải điện cho tôi. Tôi cũng đánh răng hàng ngày, không phải là không đánh đâu, cái bàn chải điện tự động đó con trai tôi cũng lấy để dùng, mỗi ngày tranh nhau dùng với tôi.

Vị tôn giả này không có bệnh tật, những người thích thiền định sẽ trường thọ, và cũng ít khi bệnh tật, bởi vì khi thiền định đến trình độ cao nhất, con người sẽ chuyển hóa thành hư không; bởi vì con người đã chuyển hóa thành hư không rồi, bạn thử nghĩ xem, hư không có bệnh tật gì? Khi gió thổi đến, có thể xuyên qua thân thể của ngài; khi lửa đốt hư không, lửa sẽ tự tắt; nước muốn dâng lên ngập hư không cũng không thể ngập được; lấy vật kim loại đánh vào hư không, hư không cũng không bị tổn hại. Một người trong thiền định, thường xuyên chuyển hóa thân thể thành hư không thì sẽ không có bệnh tật gì cả.

Người có thể thiền định cũng không có phiền não, bởi vì những việc trên thế gian không thể ảnh hưởng đến hư không. Bạn thử nghĩ xem, hư không có phiền não gì? Vì vậy, chỉ khi nào con người trong thiền định lĩnh hội được đạo lý về Không mới đạt được vô ngã chân thực, khi ý niệm vô ngã đó sinh khởi, đó mới là "thiền định chân chính". Cho nên, người đạt được thiền định chân chính là: dù có việc hay không có việc, đều tự nhiên đạt được tự tại của đại trí huệ chân chính.

Bây giờ tôi xin giới thiệu vị La Hán thứ mười sáu, tên là A Nậu Lâu Đà, dịch nghĩa là "Vô Bần". Vị này cũng là một hoàng tử, là em họ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong kiếp trước của ngài, ngài từng sinh ra trong một đất nước, khi đó đang có nạn đói, có một vị Độc Giác Phật đi khất thực, khất thực là khi đói bụng đi xin cơm; có một người rất nghèo, bản thân rất nghèo khổ, chỉ còn lại một bát cơm, đúng lúc vị Độc Giác Phật đến khất thực, nhưng người nghèo đó vẫn đem bát cơm đó cúng dường cho vị Độc Giác Phật.

Do người nghèo này chịu bố thí bát cơm duy nhất của mình cho vị Phật Độc Giác, nhờ công đức này mà đời đời kiếp kiếp ông đều giàu có, không bao giờ nghèo khổ. Nhờ công đức bố thí một bát cơm, vị nghèo khổ này được tái sinh thành bậc "Vô Bần" và mãi mãi không phải chịu cảnh nghèo khó nữa. Vì không bao giờ phải chịu cảnh nghèo khổ nên được gọi là Tôn giả Vô Bần.

Từ khi bắt đầu giảng Kinh Phật Thuyết A Di Đà, chúng ta vừa giới thiệu xong vị tôn giả thứ mười sáu, đây là một trong những vị tôn giả đứng đầu trong số một nghìn hai trăm năm mươi vị, là một trong mười sáu vị đại A La Hán được nhắc đến trong Kinh A Di Đà.

Om mani padme hum.

### 32. Và các vị Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử

Mười sáu vị tôn giả đã giảng xong, bây giờ sẽ giảng về một số vị Bồ Tát, đại Bồ Tát.

Trong kinh văn viết rằng: "Cùng các vị Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, và các vị đại Bồ Tát như vậy."

Ở đây, "Ma Ha" có nghĩa là "đại", "Bồ Tát" nghĩa là "giác hữu tình", có ý nghĩa là trên cầu giác ngộ, dưới độ hóa chúng sinh.

Vị Bồ Tát đầu tiên được giảng là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử. Văn Thù Sư Lợi có lai lịch rất đặc biệt, là bậc vô thượng trong tất cả các vị Bồ Tát, trong quá khứ ngài cũng từng là một vị Phật, có pháp hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, núi Thiên Thai của Trung Quốc chính là đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Trong nhiều ngôi chùa có một vị đại Bồ Tát cưỡi sư tử (trông giống sư tử nhưng thực ra không gọi là sư tử), chúng ta gọi là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi; vị cưỡi voi là Bồ Tát Phổ Hiền. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi trong Mật pháp có rất nhiều thân tướng hiển hiện.

Tại sao trong pháp hội A Di Đà này, khi Phật Thích Ca Mâu Ni đang giảng Kinh A Di Đà, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cũng có mặt để nghe kinh? Điều này chứng tỏ Kinh A Di Đà do Phật giảng vô cùng quan trọng, ngay cả Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, một vị đại Bồ Tát cao quý như vậy cũng xuất hiện trong pháp hội, cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của Kinh A Di Đà.

Trong các vị Bồ Tát, Phật là Pháp Vương, còn Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thường được gọi là Pháp Vương Tử. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi có nhiều danh hiệu khác như: Diệu Đức, Diệu Cát Tường. Sư Tôn đã từng... Bây giờ nói về vấn đề pháp lực, tôi đã từng đến đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, ngài thấy hàng hậu bối đến thăm cũng rất vui, ngài đã từng duỗi cánh tay màu vàng kim, cánh tay vàng kim vốn chỉ dài như thế thôi, nhưng ngài có thể biến hóa, duỗi dài ra, ồ! cứ thế vươn tới, rồi xoa đầu đứa trẻ này: "Chào con!" Trước Phật và Bồ Tát, chúng ta giống như những con muỗi nhỏ bé, chúng ta thật sự quá nhỏ bé. Vì thế, được Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi xoa đầu, tôi vui đến cả tuần, đầu cũng không nỡ gội, suýt nữa thành đầu hôi.

Om mani padme hum.

### 33. A Dật Đa Bồ Tát

Hôm nay tôi xin giới thiệu thêm một vị Bồ Tát, đó là A Dật Đa Bồ Tát. Trong tiếng Phạn, A Dật Đa được dịch là "Vô Năng Thắng", còn được gọi là "Vô Tam Độc Giả", tam độc chính là tham, sân, si.

Bồ Tát Di Lặc trong tương lai sẽ thành Phật, hiện tại ngài đang ở quả vị Đẳng Giác Bồ Tát. A Dật Đa Bồ Tát chính là Bồ Tát Di Lặc được thờ trong các chùa hiện nay, Bồ Tát Di Lặc là vị Bồ Tát có cái bụng to, hiện đang ở cung trời Đâu Suất, ngài đang thuyết pháp ở đó. Cung trời Đâu Suất có tổng cộng bốn mươi chín viện, trong đó có một viện gọi là viện Thuyết Pháp, ngài đang thuyết pháp trong viện này. Trước đây Sư Tôn có viết, chiếc mũ đỏ của Sư Tôn, chiếc mũ Ngũ Phật đội lên đó, chính là do Bồ Tát Di Lặc đội lên.

Bồ Tát Di Lặc ở Ấn Độ và Tây Tạng có hình tướng khác với Bồ Tát Di Lặc ở Trung Quốc. Bồ Tát Di Lặc Trung Quốc có khuôn mặt to, tai dài, bụng lớn, trông rất mập mạp; nhưng ở Ấn Độ và Tây Tạng thì trông gầy hơn, có lẽ vì thức ăn ở Trung Quốc phong phú hơn, còn Ấn Độ và Tây Tạng nghèo hơn một chút. Thực ra không phải vậy! Theo kết quả nghiên cứu của tôi, trước đây ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc từng xuất hiện một vị hòa thượng Bố Đại, vị này rất mập, bụng to, mặt tròn, trước khi viên tịch đã để lại một bài kệ "Di Lặc Di Lặc Di Lặc thật", ngài muốn nói rằng: "Đã đến nhân gian một chuyến rồi, nhưng mọi người vẫn chưa nhận ra."

Bồ Tát Di Lặc này có đạo hạnh rất cao, ngài mang theo một chiếc túi vải, người ta hỏi pháp ngài: "Nghe nói ngài đã khai ngộ rồi, xin hãy giảng pháp cho chúng con nghe."

Hòa thượng Bố Đại liền đặt chiếc túi vải xuống đất, các vị hòa thượng đang hỏi ngài đều cảm thấy kỳ lạ, sao không nói gì mà chỉ đặt chiếc túi vải xuống? Theo như người có trí tuệ hiện nay, họ hiểu rằng đây là sự khai thị của hòa thượng Bố Đại, ngài muốn nói: "Ông phải buông bỏ tất cả mọi thứ."

Người học Phật phải buông bỏ tất cả, như tôi vừa nói, người học Phật phải học đến chỗ không còn mong cầu, tức là phải buông bỏ tất cả, bởi vì phải buông bỏ phiền não trong tâm, buông bỏ tất cả những chướng ngại trong tâm thuộc về thế tục và đủ loại khác, kể cả những chướng ngại của thân thể, mới có thể giải thoát, mới có thể thành Phật.

Kết quả sau khi các vị hòa thượng được khai thị như vậy, lại hỏi ngài: "Sau khi buông xuống rồi thì còn gì nữa?" Hòa thượng Bố Đại liền nhặt chiếc túi vải lên, đặt lên vai rồi bỏ đi. Điều này có ý nghĩa gì? Người có trí tuệ sau này giải thích: "Đây là phải buông bỏ tất cả phiền não trước, sau đó nhấc lên đặt lên vai, tức là phải gánh vác sứ mệnh lớn lao của Như Lai để cứu độ chúng sinh." Việc nhấc lên này chính là để cứu độ chúng sinh. Vì vậy buông xuống là Niết bàn, nhấc lên là độ sinh.

Người học Phật không chỉ cần buông bỏ, mà còn phải độ chúng sinh. Khi chúng ta tu hành cho bản thân phải không mong cầu, nếu có cầu thì cầu cho chúng sinh, "không vì mình cầu, mà vì chúng sinh cầu". Nói đến hiện tại, tuy miệng tôi luôn nói rằng mình đã vô sở cầu, không cầu gì cả, nhưng có điều gì đó cũng sẽ cầu một chút, chỉ là một chút thôi.

Tượng Bồ Tát Di Lặc ở Đài Loan còn có thêm mấy chữ rất hay: "Luôn mở miệng cười, cười người đáng cười trong thiên hạ". Tại sao lại cười người đáng cười trong thiên hạ? Bởi vì tất cả mọi người đều đáng cười! Vì thế Bồ Tát Di Lặc luôn mở miệng cười, khóe miệng ngài luôn nở nụ cười. Ngài có cái bụng to, "bụng lớn dung chứa, chứa việc khó dung trong thiên hạ"; Bồ Tát Di Lặc thường cười người đáng cười trong thiên hạ, có thể dung chứa những việc khó dung trong thiên hạ, nụ cười của ngài chính là sự giác ngộ trọn vẹn. Ngài hiểu rõ tất cả, nên mới cười tất cả mọi người trên đời. Công phu nhẫn nhục, nhẫn nại của ngài cũng rất tốt, ngài có thể dung chứa những việc khó bao dung nhất trên đời, điều này cũng cho thấy ngài đã đạt được tất cả thiên hạ.

Bồ Tát Di Lặc trong tương lai sẽ thành Phật, là vị Phật kế tiếp sau Phật Thích Ca Mâu Ni, sẽ thành Phật độ chúng sinh trong thế giới Ta Bà. Cái gọi là Long Hoa Tam Hội là ba lần thuyết pháp độ chúng sinh, chính là Bồ Tát Di Lặc sẽ trở thành giáo chủ của thế giới Ta Bà.

Om mani padme hum.

### 34. Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát

Hôm nay tôi sẽ giới thiệu thêm hai vị Bồ Tát, đó là Càn Đà Ha Đề Bồ Tát và Thường Tinh Tấn Bồ Tát.

Khi dịch sang ra, một vị được gọi là Bồ Tát Không Nghỉ Ngơi, và vị còn lại là Bồ Tát Thường Tinh Tấn. Cả hai danh hiệu Không Nghỉ Ngơi và Thường Tinh Tấn đều thể hiện sự tu tập rất nghiêm túc; giống như những gì Thượng sư Liên Trí vừa nói, các ngài đều chú trọng vào thực hành, là những vị Bồ Tát không nghỉ ngơi và luôn tinh tấn.

Điều này cho thấy khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng Kinh A Di Đà, có rất nhiều Bồ Tát đến nghe pháp. Bồ Tát Không Nghỉ Ngơi và Bồ Tát Thường Tinh Tấn đều là những vị Bồ Tát có địa vị rất cao, cảnh giới của các ngài vô cùng thâm sâu, vì vậy Kinh A Di Đà không phải là một bộ kinh thông thường, mà là bộ kinh được tất cả các vị đại Bồ Tát đến nghe Đức Phật giảng.

Vì bộ kinh này cũng có thể giúp đại chúng nhanh chóng chứng đắc vô thượng bồ đề, nên bộ kinh này vô cùng quan trọng. Gần đây có đệ tử viết thư cho Thượng sư, mong Thượng sư truyền dạy cho họ pháp môn đặc biệt, cũng có nhiều người từ nơi xa bay đến để học pháp. Họ cho rằng, Thượng sư tu tập mà có thể khai ngộ nhanh như vậy, chắc hẳn phải có pháp môn bí mật nào đó, có thể phải bỏ ra rất nhiều tiền, vì thế khi một đệ tử đến thăm tôi, vào phòng tôi tham quan, anh ta hỏi: "Thượng sư có uống thuốc gì không?" Anh ta rất chú ý những vật đặt trên bàn của tôi, xem có tiên đan không, tôi hỏi anh ta: "Thuốc gì?" Anh ta nói: "Loại thuốc uống vào là có thể nhanh chóng thành tựu ấy." Ah! Thực ra không có thuốc đó! Cũng có người đến, mong được cùng Thượng sư tu pháp, khi Thượng sư đang tu pháp, họ đặc biệt chú ý, xem Thượng sư có kết ấn đặc biệt nào khác người không, hoặc tụng chú có âm thanh kỳ lạ gì mà người khác không thể tụng được, hoặc có bí quyết đặc biệt nào khác; thực ra không có! Rồi cũng có người, mong tôi có thể chỉ dạy bí mật tối thượng trong pháp tu, tức là chỉ cần một câu nói là có thể lập tức thành Phật thì càng tốt; vậy có không? Thực ra cũng không có! Hôm nay tôi xin nói thật với mọi người: "Phương pháp thành Phật nhanh nhất chính là không nghỉ ngơi và thường tinh tấn."

Nói thật ra, Không Nghỉ Ngơi và Thường Tinh Tấn không chỉ là hai vị Bồ Tát. Trong Kinh A Di Đà này có đến ba vị Không Nghỉ Ngơi và bốn vị Thường Tinh Tấn, và Thượng sư cũng là người không nghỉ ngơi và thường tinh tấn. Gần đây có một đệ tử rất buồn phiền, anh ấy nói: "Muốn rời khỏi Chân Phật Tông để đi nơi khác học pháp." Anh ấy nói đã theo tôi và quy y được một thời gian rồi, nhưng Thượng sư vẫn chưa truyền pháp cho anh ấy. Tôi đã trả lời rất thẳng thắn, tôi nói với anh ấy: "Lý do tôi có thể đạt được trình độ như ngày hôm nay, chỉ đơn giản là nhờ tâm kiên định, chỉ là nhờ có tâm bền bỉ mà thôi." Tâm kiên định là gì? Bởi vì tôi nhất định phải tu pháp mỗi ngày, hàng chục năm như một ngày, trên máy bay phải quán tưởng tu pháp, ở khách sạn cũng phải quán tưởng tu pháp, khi đi du lịch, đi bộ cũng có thể quán tưởng tu pháp, tất cả đều dùng quán tưởng để tu thành.

Bây giờ, mỗi ngày tôi vẫn tu pháp! Vậy pháp mà tôi tu có gì đặc biệt không? Thật ra không có gì đặc biệt, chỉ đơn giản là tu pháp Bổn tôn, chính là pháp mà chúng ta cùng tu vào tối thứ bảy hàng tuần ở chùa, chính là pháp mà Thượng sư tu hàng ngày. Các bạn đến tìm bí mật của Thượng sư, hoặc nhiều người đến tìm hiểu bí mật tại sao Thượng sư thành tựu nhanh như vậy, nhìn kĩ một hồi mới thấy rằng họ tu còn kém xa tôi. Tôi nghĩ pháp tu của tôi thực sự không bằng các bạn đâu, chỉ là tôi rất kiên tâm làm mà thôi.

Bây giờ Trần Ngạn Đình mỗi ngày đến Chân Phật Mật Uyển lúc 6 giờ chiều để cùng tu với tôi, thời gian tu của tôi không dài, chỉ khoảng nửa tiếng. Tôi nghĩ mỗi lần Trần Ngạn Đình tu có thể phải mất đến 50 phút, hơn nữa anh ấy một lần tu đến ba pháp, bốn pháp, năm pháp, thật ra Trần Ngạn Đình còn có pháp bí mật, còn tôi thì không. Bây giờ anh ấy tinh tấn hơn tôi, sự tinh tấn của tôi không bằng anh ấy. Tuy nhiên, mỗi ngày tôi chỉ tu một lần pháp, cứ đi từng bước một, tôi liên tục không ngừng nghỉ, giống như con rùa vậy. Tuy mọi người tu pháp rất tinh tấn, nhưng các bạn không thể như thỏ ngủ quên. Hiện nay trong số đệ tử của chúng ta, nhiều người tìm kiếm những pháp bí mật rất đặc biệt, nhưng mọi người không biết rằng, Thượng sư mỗi sáng tu tứ gia hành, mỗi tối tu pháp Bổn tôn. Không có bí mật nào cả, bí mật duy nhất chính là kiên tâm.

Nói thật ra, người không tu pháp giống như sắt, sẽ bị rỉ sét; người tu pháp giống như cỏ, sẽ phát triển. Khi sắt bị rỉ, ta không thể thấy được nó đang rỉ, lười biếng vài ngày có sao đâu! Lười biếng... là sẽ bị rỉ sét! Khi chúng ta tu pháp, không thể thấy được pháp lực, công lực đang tăng trưởng; nhưng mỗi ngày tu pháp, "cỏ" sẽ mọc lên, đó chính là bí mật lớn nhất để thành tựu. Bí mật lớn nhất chính là thường tinh tấn, không nghỉ ngơi. Vì vậy ở chỗ tôi không có tiên đan, cũng không có gì đặc biệt, cũng không có bí mật. Dù các bạn có đưa tôi nhiều tiền đến đâu, tôi vẫn chỉ truyền cho các bạn pháp Bổn tôn.

Pháp ở đâu? Từ lâu tôi đã truyền cho bạn rồi! Bạn không tu, lại nói tôi không truyền pháp cho bạn. Có người còn nói: "Làm trò gì đâu, vẫn chưa truyền à! Thượng sư định đem theo xuống mồ sao!" Có kkiên tâm, bạn sẽ đạt được, đừng nói tôi không truyền pháp, pháp đơn giản như vậy đó. Cho nên hôm nay tôi tu nửa ngày vẫn là pháp đó, họ không tu, ngược lại còn nói tôi không truyền pháp.

A Di Đà Phật.

### 35. Và Thích Đề Hoàn Nhân và vô lượng chư thiên đại chúng có đủ

Thích Đề Hoàn Nhân chính là Đao Lợi Thiên Chủ, tức là Đế Thích Thiên Chủ. Thích Đề Hoàn Nhân là thiên chủ của ba mươi ba cõi trời, vô lượng chư thiên đều ở trên đỉnh núi Tu Di, với Đao Lợi Thiên ở giữa, xung quanh có tám cõi trời, tổng cộng là ba mươi ba cõi trời. Về lai lịch của Thích Đề Hoàn Nhân, nghe nói có một người phụ nữ, thấy Phật Ca Diếp nhập diệt, rất cung kính Phật Ca Diếp, sau đó xây tháp cúng dường Phật Ca Diếp. Lúc đó có ba mươi hai người đến giúp người phụ nữ này xây tháp, vì thế ba mươi ba người này trở thành thiên chủ của ba mươi ba cõi trời.

Trong đoạn văn này, nói về "vô lượng chư thiên", thể hiện rằng có rất nhiều thiên nhân đến nghe Phật thuyết pháp, vô lượng chư thiên đều đến pháp hội để nghe Phật giảng Kinh A Di Đà. Những đoạn văn tiếp theo đều nói về hai mươi tám cõi trời và những chuyện về tất cả thiên nhân, mọi người có thể xem "A Di Đà Kinh Thích Yếu" sẽ hiểu rõ! Vì vậy những người đến nghe pháp có thiên nhân mười phương, hộ pháp, thiên long bát bộ, vô lượng vô số, nên mới gọi là "đại chúng có đủ".

Một người phụ nữ xây tháp cúng dường Phật Ca Diếp, liền được phúc báo làm thiên nhân, trở thành thiên chủ cõi trời Đao Lợi. Trước đây có người hỏi tôi: "Sao lại đơn giản vậy? Vậy tôi cũng xây vài cái tháp cúng dường Phật, rồi tôi sẽ thành thiên chủ trên trời luôn." Ah! Ít nhất trong Lôi Tạng Tự của chúng ta cũng có bốn tháp Quang Minh! Theo như tôi biết, việc người phụ nữ này trở thành thiên chủ cõi trời Đao Lợi có hai ý nghĩa. Điều này giống như một sự khai thị, chỉ cần làm một chút việc thiện, hoặc hành thiện, là có thể đạt được phúc báo của thiên nhân; hơn nữa, vị thiên chủ Đế Thích này vốn là cổ Phật chuyển thế, cũng là một vị Phật chuyển thế, hóa thân làm thiên chủ Đế Thích, trong đó có rất nhiều nhân quả và duyên phận.

Chúng ta biết trên cõi trời cũng có chiến tranh, những cuộc chiến trên cõi trời chính là giữa Đế Thích Thiên Chủ Thích Đề Hoàn Nhân và vua Atula thường xuyên giao chiến với nhau. Nguyên nhân nào dẫn đến cuộc chiến này? Nghe nói vua Atula đang tổ chức tiệc sinh nhật dưới đáy biển, đúng lúc đó Đế Thích Thiên Chủ cùng các thiên nhân đi du ngoạn bay qua vùng biển đó, ồn ào náo nhiệt. Vua Atula nói: "Ta đang tổ chức tiệc sinh nhật, các ngươi lại dám bay qua không trung như vậy, đây chính là sự sỉ nhục đối với ta." Chỉ vì lý do đó mà dẫn đến cuộc chiến lớn trên cõi trời. Từ điểm này chúng ta có thể thấy, trí tuệ của thiên nhân không nhất định vượt qua trí tuệ của con người chúng ta. Trí tuệ của người học Phật đôi khi còn vượt qua trí tuệ của thiên nhân. Trên cõi trời vẫn có sự tranh chấp cao thấp, lớn nhỏ.

Vì nói đến chuyện cao thấp, lớn nhỏ nên tôi mới kể, gần đây có một vị đường chủ viết thư cho tôi, nói rằng ông ấy muốn làm Thượng sư. Tôi nói với ông ấy: "Có phải hơi sớm không?" Ông ấy khẳng định nhất định phải được làm. Tôi hỏi: "Nếu không cho ông làm thì sao?" Ông ấy đáp: "Sẽ dẫn đầu tất cả các đường chủ tuyên bố độc lập." Ông ấy cho rằng Thượng sư lớn hơn đường chủ, vì đường chủ ngồi hàng đầu còn Thượng sư ngồi phía trên, đây là sự phân biệt cao thấp. Làm Thượng sư mà không giác ngộ được đạo, tất cả đều phải xuống địa ngục Kim Cang; làm đường chủ không giác ngộ được đạo, đầu thai vẫn làm người. Trách nhiệm của Thượng sư rất lớn, nên cần phải có sự so sánh như vậy.

Nói thêm, có một đệ tử cũng yêu cầu tôi cho một đạo tràng. Tôi nói: "Bên cạnh chỗ anh ở không phải đã có một đạo tràng rồi sao?" Anh ấy nói với tôi là không hợp với vị đường chủ đó. "Vậy anh muốn có đạo tràng để làm gì?" Anh ấy đáp: "Con muốn có đạo tràng để đối đầu với đạo tràng kia." Ah! Nghe như là chiến tranh vậy!

Còn nữa, có một vị Thượng sư chạy đến đây nói với tôi: đạo tràng lớn của ông ấy đã bị gián điệp từ đạo tràng nhỏ xâm nhập vào. Tôi nói: "Vậy không phải là gián điệp đấu với gián điệp sao?" Người tu hành mà tu thành như vậy, đều giống như atula vậy! Tính tranh đấu rất mạnh, hiếu chiến và háo thắng, càng tu hành thì lửa vô minh càng lớn, suốt ngày cứ thấy ai không vừa mắt là muốn đánh cho một cái vào đầu! Chuông và chày kim cang không phải để hàng ma, mà là để đánh người, những hành vi như vậy chúng ta đều biết, điều này càng ngày càng xa rời đạo.

Đạo thật sự bất khả thuyết, tự nhiên chính là đạo, tinh tấn chính là đạo, vô tư chính là đạo, vô ngã chính là đạo. Con người trên thế gian này có chiến tranh, có tranh cao thấp, có tranh lớn nhỏ, đều là vì "có ngã". Nếu như lĩnh ngộ được đạo lý này thì đã gần với đạo. Tôi mong muốn tất cả đệ tử Chân Phật Tông đều có thể thành Phật, không nhất định phải làm Thượng sư, cũng không nhất định phải làm đường chủ. Tôi tin rằng sau này các đệ tử đều thành Phật hết, chỉ có đường chủ và Thượng sư không thành Phật được. Bởi vì đường chủ và Thượng sư chỉ cần sinh một chút tâm kiêu ngạo, sẽ đọa vào địa ngục Kim Cang.

Om mani padme hum.

### 36. Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất… hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp

Kinh văn:  
"Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: "Từ đây về phương Tây, cách xa mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở cõi ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp."

Bây giờ chúng ta thật sự đi vào nội dung kinh văn, những phần trước đã giới thiệu tên của tất cả chư Phật Bồ Tát trong pháp hội này. Giờ tôi đọc đoạn kinh văn này một lần cho mọi người nghe: "Bấy giờ, Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: Từ đây về phương Tây, cách xa mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở cõi ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp."

Hai chữ "bấy giờ" nghĩa là lúc đó. Thực ra, hai chữ "bấy giờ" này, cũng giống như khi Thượng sư Trần vừa thuyết pháp, cũng tương đương với việc nói "bấy giờ". Ngài nói về con chuột đen và con chuột trắng, chuột trắng tượng trưng cho ban ngày, chuột đen tượng trưng cho ban đêm, biểu thị thời gian "con người" sống trong thế giới này rất ngắn ngủi, và thời gian trôi qua rất nhanh.

Tôi cảm thấy mình cũng lãng phí rất nhiều thời gian ban ngày, còn thời gian ban đêm thì có lẽ không lãng phí vì đều ngủ cả, ban đêm ai cũng ngủ nên không lãng phí. Tại sao tôi nói lãng phí nhiều thời gian ban ngày? Lúc tôi còn học cấp ba, có một thầy giáo mời tôi đi ăn, bữa ăn đó rất thú vị, thầy đặt một đĩa nước tương phía trước, trên bàn ăn có để một cái lồng nhỏ, trong lồng nhốt vài con chuột con, những con chuột đó mới sinh, từ bên ngoài có thể nhìn thấy ruột và bụng của chúng, vẫn còn mới sinh ra, là những con chuột bạch rất nhỏ; thầy giáo dạy chúng tôi ăn bữa tối, là nắm đuôi chuột, chấm qua nước tương rồi ăn như vậy, giống như ăn sashimi vậy; thầy nói, chuột bạch mới sinh như thế này bổ dưỡng nhất, đây là món bổ thận mà người Trung Quốc rất thích. Tôi đã từng nói, ngày xưa tôi là người ăn tất cả mọi thứ, biệt danh của tôi là "kẻ ăn tất cả". Vì vậy tôi nói lãng phí nhiều thời gian ban ngày, vì đã ăn không ít chuột bạch, vì một con chưa đủ no, tối hôm đó ăn khoảng sáu con, giờ nghĩ lại vẫn còn cảm giác mùi chuột!

Thật ra, từ "bấy giờ" đó chính là lúc Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, cách thời điểm hiện tại đã mấy nghìn năm. Vậy thì, hiện giờ chúng ta thuyết pháp, cũng được gọi là "bấy giờ". Nói về thời gian này, theo như tôi biết thì: "Thực ra chẳng có thời gian, thời gian là do con người tạo ra." Con người chia một năm thành ba trăm sáu mươi lăm ngày, chia một năm thành mười hai tháng, rồi một tháng lại có hai mươi tám ngày, hai mươi chín ngày, ba mươi ngày, ba mươi mốt ngày, một ngày lại chia thành hai mươi bốn giờ, ở Mỹ thì còn phải chỉnh đồng hồ nhanh lên một giờ rồi lại giảm đi một giờ. Thật ra, tất cả những điều này đều do con người tạo ra.

Trong số chúng ta có người từ kiếp trước ở Ai Cập đầu thai đến, có người tiền kiếp là người Ấn Độ chuyển sinh vào cộng đồng hiện tại của chúng ta, có người Nhật, người Phi Châu, trong chúng ta còn có cả bộ tộc ăn thịt người, thậm chí có một số không phải từ cõi người chuyển sinh đến, trong số chúng ta có người tiền kiếp là một con cá kiếm, còn có một chú gấu con quý hiếm nữa. Vào thời điểm này, phá vỡ giới hạn không gian thời gian, những gì mắt nhìn thấy, quá khứ đều hiện ra hết, bạn cũng có thể thấy được tương lai của người đó. Trong chúng ta có người tương lai sẽ làm Diêm La Vương, con gấu quý hiếm kia kiếp sau vẫn là gấu quý hiếm, nhưng kiếp này là người, còn ông cá kiếm kia tương lai sẽ được sinh lên cõi trời thành thiên nhân, người bộ tộc ăn thịt người kia kiếp sau chuyển sinh làm người mổ lợn.

Hai chữ "bấy giờ" này chứa đựng rất nhiều học vấn. Hãy nhìn vào sách của Thượng sư, không cần nói đến "bấy giờ", chỉ cần nhìn tấm ảnh của tôi chụp ở trường cách đây hai mươi năm, và bây giờ tôi ngồi đây thuyết pháp, đã không còn là cùng một người nữa. Hai mươi năm trước và hai mươi năm sau có giống nhau không? Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi hai mươi năm thôi mà đã khác biệt như hai con người. Thời gian này chỉ mang tính tượng trưng, vốn dĩ không có thời gian, nhưng vì dấu vết chúng ta để lại khi bước đi, nên mới tạo thành thời gian. Vì vậy thời gian trôi qua rất nhanh, nếu chúng ta không tu hành, sẽ càng ngày càng xấu xí đi.

Nếu bạn có tính cách như heo, kiếp sau sẽ đầu thai làm heo; nếu bạn có tính hay đấu đá, gặp ai cũng muốn chiếm lợi, muốn hại người, kiếp sau sẽ đầu thai làm rắn; nếu bạn quỷ quyệt xảo trá, kiếp sau sẽ làm cáo; nếu bạn có tâm lượng hẹp hòi và nhiều mưu mẹo, kiếp sau sẽ làm rết, vì có nhiều mưu mẹo nên biến thành nhiều tay nhiều chân, bản thân có nhiều kế sách nên trở thành con rết. Kiếp sau, khi bạn chết, nếu có người khiêng kiệu đến đón, phải cẩn thận, sẽ biến thành cua. Còn nữa! Nếu có xe buýt đến đón, phải cẩn thận, sẽ biến thành sâu bướm, nếu máy bay đến đón thì sẽ biến thành chuồn chuồn. Nếu bạn nghĩ mình đang đi qua đường hầm thời gian, sẽ biến thành rắn. Đây đều là những cảnh giới sinh ra vào lúc lâm chung, và dẫn dắt bạn đi con đường tương lai.

Trong cái nhìn của Phật, "bấy giờ" đại diện cho "quá khứ", "hiện tại" và "tương lai". Thực ra có rất nhiều vị Phật, Bồ Tát có thể hóa thân, có thể tái sinh, hiện đang ở trần gian độ chúng sinh. Các ngài cũng là Phật, Bồ Tát trong quá khứ, nay các ngài là người, đang thuyết pháp, đang độ chúng sinh. Nhưng bạn xem, các ngài vẫn phải ăn cơm, đi vệ sinh, vẫn phải ngủ, có thể không nhận ra quá khứ các ngài là Phật, là Bồ Tát. Giống như bây giờ bạn không thể nhận ra ai là gấu, ai là cá kiếm, ai là người bộ tộc ăn thịt người. Đừng hỏi tôi nhé, vì nếu nói ra chắc chắn sẽ có người kiện tôi phỉ báng.

Câu thứ hai là "Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất". Trước đây khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, thường là đệ tử hỏi trước rồi Phật mới trả lời. Nhưng lần này khác, Phật Thích Ca Mâu Ni chủ động thuyết giảng, trực tiếp giảng cho tất cả mọi người, giảng cho Xá Lợi Phất, tại sao lại chủ động giảng như vậy? Bởi vì nếu Ngài không giảng, thì các đệ tử bên dưới và tất cả chư thiên đều không biết A Di Đà Phật là gì.

Trước đây có rất nhiều đệ tử hỏi tôi: "Phật Thích Ca Mâu Ni có phải là Phật A Di Đà không?" Bởi vì nhiều người không hiểu rõ. Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà là Phật A Di Đà. Hiện nay đôi khi bạn hỏi một số cụ bà Phật tử, hỏi họ có bao nhiêu vị Phật? Họ sẽ nói một vị, vì họ chỉ biết Phật Thích Ca Mâu Ni, nên chỉ có một vị. Thực ra, có rất nhiều vị Phật. Hôm nay chúng ta đọc danh hiệu Phật A Di Đà, đọc đến ba mươi sáu vạn tỷ, chỉ một câu đã khiến chúng ta kinh ngạc. Mãi đến giờ cứ tưởng con người là vĩ đại nhất, không ngờ số lượng Phật còn nhiều hơn chúng ta, còn vĩ đại hơn. Thực ra, con người không nên thường nghĩ mình vĩ đại nhất, thực tế con người rất nhỏ bé.

Nói về trái đất, so với bất kì hành tinh nào khác, trái đất cũng chỉ là một chấm nhỏ mà thôi. Khi chúng ta lấy thái dương hệ của mình, lấy trái đất của mình để so sánh với tất cả các hành tinh, sẽ thấy được trái đất nơi loài người chúng ta đang sống nhỏ bé đến nhường nào. Nói về sự giàu có, dĩ nhiên hiện tại chúng ta đang sống trên trái đất, tự cho rằng nó rất lớn, có thể trái đất rất giàu có. Nhưng nào ngờ, những hành tinh kia như mặt trời, sao Thiên Vương, sao Diêm Vương, sao Hỏa, sao Thổ, rất nhiều hành tinh đều lớn hơn và giàu có hơn trái đất chúng ta. Hóa ra, trái đất chỉ là một giọt nước nhỏ sinh ra từ cái hắt hơi của mặt trời mà thôi. Vì vậy, về mặt giàu có, giống như chúng ta cứ nghĩ nhà mình to, chỗ ở rộng là giàu có, thực ra người trái đất mới là nghèo nhất.

Phật nói với trưởng lão Xá Lợi Phất: "Từ đây (nơi thuyết pháp này) đi về phương Tây, qua mười vạn ức cõi Phật." Mười vạn ức cõi Phật xa đến mức nào? Chưa đến được phương Tây đã có đến mười vạn ức cõi Phật. Có thể thấy Tây phương Cực Lạc thế giới xa biết nhường nào!

Trước đây, đại đệ tử thần thông đệ nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni đã đến một cõi Phật khác để nghe giảng kinh. Giống như ở đây, ví dụ Lôi Tạng Tự là một cõi Phật, có một vị Phật đang giảng kinh, Ngạn Đình đang ngồi nghe, bỗng có một con muỗi xám bé tí đang bay qua bay lại trước mặt Ngạn Đình. Ngạn Đình thấy con muỗi này sẽ đốt mình, định đuổi nó đi hoặc vỗ cho chết, vị Phật liền bảo Ngạn Đình rằng, đừng đập chết nó, vì con muỗi xám bé nhỏ này chính là Mục Kiền Liên - đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài đã dùng thần thông từ cõi Ta Bà hiện đến cõi Phật của chúng ta để nghe kinh.

Bạn xem, người ở cõi Ta Bà này xấu xí như muỗi vậy, lại còn bé nhỏ nữa, chỉ có cái miệng há ra là dọa được người ta thôi. Chúng ta thử nghĩ xem, người ở các cõi Phật khác to lớn biết bao, còn người cõi Ta Bà của chúng ta thì bé nhỏ biết bao. Vũ trụ này vĩ đại vô cùng, không hề nhỏ bé như trong trí óc con người chúng ta tưởng tượng.

Tôi xin kể một ví dụ đơn giản. Khi hai quốc gia đang giao tranh với nhau, khi hai cường quốc trên thế giới đang đánh nhau, trong con mắt của Phật, chỉ giống như hai con vi khuẩn đang đánh nhau trên một góc rất nhỏ như râu của con ốc sên vậy. Vì thế, việc hai con vi khuẩn đánh nhau trên râu ốc sên thì liên quan gì đến Phật Thích Ca Mâu Ni?

Trước đây có người đến nói với tôi rằng: "Lư Thắng Ngạn ơi, ông nói có Phật, vậy tại sao Phật không giúp tôi? Ông nói có Phật, sao Phật không giúp đất nước tự do của chúng ta? Tại sao Phật để cho nhiều người phải chịu sự đàn áp của chính quyền xấu xa, khiến nhiều người phải chết chóc thương vong?" Vậy bây giờ, tôi xin hỏi ngược lại mọi người: "Các vị có quan tâm đến cuộc chiến của vi khuẩn không? Các vị có quan tâm con vi khuẩn nào thắng con vi khuẩn nào không?" Phật nhìn chúng sinh cũng giống như nhìn vi khuẩn đánh nhau vậy. Đây là hiện tượng tự nhiên, nếu các vị không tu hành, không thành Phật, thì cũng giống như những con vi khuẩn đó thôi. Tôi đã nói với người đó rằng: "Con người chỉ có thể tự cứu mình, không thể dựa vào người khác để cứu, cũng không thể dựa vào Phật để cứu."

"Qua mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc." Riêng hai chữ "Cực Lạc" này cũng cần phải giải thích rất lâu. Cõi Cực Lạc, nói chung, là một thế giới không có khổ đau và phiền não, nên gọi là Cực Lạc, là hương vị an lạc tối thượng. Không có niềm vui nào vui hơn niềm vui này nên gọi là Cực Lạc. Niềm vui của con người chúng ta thường phải trải qua đau khổ mới có được niềm vui. Người Trung Quốc có câu nói rất hay, niềm vui tột độ gọi là "thống khoái" <span className="note-blue">[khoái lạc thống khổ]</span>. "Thống khoái quá!" Các triết gia nói rằng, niềm vui lớn nhất, đau khổ nhất chính là "lạc cực sinh bi", vui đến cực điểm thì sinh ra bi thương. Khổ đau chính là niềm vui, niềm vui cũng là khổ đau, nhưng ở thế giới Cực Lạc này không có khổ đau. Trong cõi tịnh thổ này, trong thế giới Cực Lạc như vậy có một vị Phật, danh hiệu của Ngài là A Di Đà. Danh hiệu A Di Đà này có nhiều tên gọi khác, còn được gọi là Vô Lượng Quang (vô lượng ánh sáng), Vô Lượng Thọ (vô lượng thọ mạng).

"Nay" có nghĩa là hiện tại, "đang thuyết pháp". Vào thời đó, cách đây hơn hai nghìn năm đang thuyết pháp, nhưng bây giờ, có đang thuyết pháp không? "Hiện tại vẫn đang thuyết pháp", tuy nhiên thuyết pháp cũng có lúc tạm dừng để uống trà; còn hiện tại đang uống trà hay đang thuyết pháp? Tôi không biết. Tôi nghĩ, khi Phật nói A Di Đà Phật hiện đang thuyết pháp là nói về thời điểm đó đang thuyết pháp. Tuy nhiên, nếu suy rộng ra, vì dù Phật đang ăn cơm, đang ngủ, đang đi lại, hay đang uống trà, tất cả đều là đang thuyết pháp.

Bây giờ thuyết pháp đã kết thúc! Vừa rồi Phật đang thuyết pháp, bây giờ nghỉ ngơi.

Om mani padme hum.

### 37. Xá Lợi Phất! Vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc… chỉ hưởng các điều vui, nên gọi là Cực Lạc.

Kinh văn: 

"Này Xá Lợi Phất! Vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Vì chúng sinh trong cõi nước đó không có các nỗi khổ, chỉ hưởng các điều vui, nên gọi là Cực Lạc."

Ý nghĩa của câu này là: Tại sao cõi này gọi là thế giới Cực Lạc? Vì chúng sinh ở cõi nước này không có các nỗi khổ, chỉ hưởng thụ tất cả niềm vui, nên gọi là Cực Lạc. Hai chữ Cực Lạc cần được giải thích, nghĩa là trong cõi này không có khổ, chỉ có vui.

Trong đây có giải thích về chữ "Lạc", lạc là gì? Trong này có nói đến "sinh chốn vui", giống như sự ra đời của chúng ta, niềm vui khi sinh ra ở đó, nhưng ở cõi người chúng ta thì sinh là khổ, không phải sinh là vui. Thế nào gọi là sinh khổ? Khi người mẹ sinh con, nhất định phải chịu đau đớn như xé xương, đó là cơn đau khi sinh nở, đó chính là khổ, có người nói nếu dưới đất có lỗ thì cũng chui xuống, khổ đến vậy đó! Nam giới không phải chịu đựng điều này, nữ giới rất khổ. Cho nên nam nữ vốn dĩ không bình đẳng, phụ nữ phải chịu đựng nhiều đau khổ hơn nam giới, nên dù có đề xướng nam nữ bình đẳng, thực tế vẫn là không bình đẳng.

Ở đây nói rằng, khi sinh ra lúc nhỏ, dĩ nhiên bạn đã quên đi những nỗi khổ đó, khi còn trong bụng mẹ, bạn đang trải nghiệm sự khổ nhưng đã quên mất rồi. Bạn có biết xung quanh toàn là những dòng máu hôi tanh bao quanh bạn, khi mẹ không ăn cơm, bạn cũng bị đói trong đó. Tôi nói cho bạn biết, bạn hít thở được rất ít, hai mắt nhắm nghiền chỉ thấy tối tăm mờ mịt, nằm trong đó mười tháng khó thở vô cùng. Bạn nghĩ khi da ngứa có thể gãi được không? Tôi nói cho bạn biết, khi nằm trong bụng mẹ, da có ngứa đến mấy cũng không thể gãi được, nỗi khổ lúc đó còn hơn bất kì nỗi khổ nào. Khi bạn có thể cử động, duỗi tay duỗi chân cũng không thể phá vỡ được thành bụng. Hãy nghĩ xem, bị giam mười tháng, giam trong bóng tối không thấy ánh sáng, giống như ở trong tù vậy, đó gọi là nỗi khổ khi sinh ra.

Vậy thì nói về sự sinh ra ở Tây phương Cực Lạc thế giới, được gọi là niềm vui khi sinh, đó là một mùi hương thơm ngát, rất vi diệu, như hương thơm của hoa vậy, hoa vừa nở là người đã sinh ra. Khi con người sinh ra ở cõi này, toàn thân đều dơ bẩn; nhưng sinh ra ở cõi Phật thì khác hẳn, giống như hương thơm của hoa vậy, toàn thân đều thanh tịnh, vi diệu, đó chính là sinh ra ở chốn vui.

Tiếp theo nói về "sống ở chốn vui". Hiện nay chúng ta đang sống trên trái đất, tất nhiên nước Mỹ có môi trường sống tốt hơn so với các nước khác. Lấy ví dụ như Nepal - nơi Mật tông đang hưng thịnh nhất hiện nay, môi trường vệ sinh ở đó rất kém, trên đường đầy phân, trẻ em có thể đi tiểu ngay trên phố, trâu bò, dê, heo đi lại trên đường, đi bộ phải hết sức cẩn thận! Nói về môi trường, chúng ta sống ở Seattle, Mỹ, mùa đông rất lạnh, có tuyết rơi, có lúc lạnh đến nỗi phải mặc nhiều quần áo, đến mùa hè lại nóng bức, toát mồ hôi.

Thế giới Cực Lạc cũng có vàng, tuy nhiên, vàng ở thế giới Cực Lạc được dùng làm đường đi, lát đất bằng vàng thật, không giống như Nepal lát đường bằng phân. Dĩ nhiên rồi, thử nghĩ xem, nếu chúng ta thấy đường phố toàn vàng, toàn những khối vàng, làm sao không nhặt ngay? Ở đó, thời tiết thế giới Cực Lạc vừa phải, giống như khách sạn sang trọng hiện nay có điều hòa không khí, có điều chỉnh nhiệt độ, nhiệt độ và không khí vô cùng dễ chịu. Vào mùa hè không đổ mồ hôi, mùa đông không bị lạnh cóng tay chân. Nơi chúng ta ở đó là những ngôi nhà thủy tinh tuyệt đẹp, nhà vàng, nhà kim cương, nhà mã não, tất cả đều đẹp như vậy. Tất nhiên, không có chuyện động đất San Francisco hay động đất Los Angeles, đó chính là sống ở chốn vui, nơi ở vô cùng an lạc.

Tiếp theo nói về "niềm vui khi nhìn thấy sắc tướng" ở thế giới Cực Lạc. Niềm vui khi nhìn thấy sắc tướng này không phải là kêu bạn về phố Hoa Tây ở Đài Loan! Niềm vui khi nhìn thấy sắc tướng này cũng không phải là đi xem các show diễn giải trí, hay những màn biểu diễn hở hang, không phải vậy. Vậy niềm vui khi nhìn thấy sắc tướng là gì? Đó là khi bạn nhìn thấy những cảnh tượng vô cùng đẹp đẽ, tất cả những gì mắt thấy đều khiến tâm hồn vui thích. Ví như nhìn thấy mặt đất bằng vàng, vô cùng rực rỡ và đẹp đẽ; nhìn thấy cung điện, nhà cửa bằng pha lê vô cùng tráng lệ; nhìn thấy cây cối mọc rất kỳ diệu; nhìn thấy dòng nước chảy rất đẹp; nhìn thấy những con chim đầy màu sắc rực rỡ, và rất hiền hòa, đều biết chào hỏi bạn.

Tiếp đến là "niềm vui khi nghe âm thanh", đó là niềm vui khi được nghe các loại âm thanh. Niềm vui khi nghe âm thanh là gì? Ở thế giới Cực Lạc có một loại âm nhạc, giống như tiếng tụng kinh Phạn âm, luôn vang vọng trong không trung, rất vi diệu, cứ thế từ từ trôi đi, trôi đi, đi vào tai này rồi lại trôi ra tai kia của bạn, lúc đó, vì được nghe loại âm nhạc ấy, thân thể cảm thấy vô cùng thanh tịnh.

Hiện tại nơi ở của chúng ta ở Seattle này cũng khá tốt, không có những tiếng ồn đặc biệt nào, chỉ có buổi sáng có tiếng quạ kêu mà thôi. Tuy nhiên, tiếng quạ kêu cũng là đang tụng chú đấy! Nó đang tụng âm "Ah" trong thần chú "Om Ah Hum". Khi chúng ta nghe thấy quạ biết tụng chú, thật là kỳ diệu, tôi nghĩ con quạ này trong tương lai đều có thể thành Phật, bởi vì chữ "Ah" này rất quan trọng. Khi chúng sinh bị tổn thương, âm thanh đầu tiên phát ra chính là "Ah". Niệm chữ "Ah" này đều có thể thành Phật.

Ở thế giới Cực Lạc có một loại âm nhạc rất vi diệu, khi nó chảy qua tâm bạn, chảy qua thân thể bạn, khiến cho thân tâm bạn đều được thanh tịnh, khi nghe được âm nhạc như vậy, bạn sẽ muốn cùng ca hát, cùng niệm Phật với nó, trong lòng sẽ sinh ra niềm vui. Dòng chảy pháp âm này không bao giờ ngừng nghỉ, vì vậy mới gọi là thế giới Cực Lạc.

Bởi vì những người sinh ra ở đó đều do hoa sen hóa sinh, mồ hôi chảy ra đều là mồ hôi thơm, hơi thở tỏa ra đều là hơi thở thơm, quần áo không có bụi bẩn, nên tất nhiên không cần phải tắm rửa, cũng không có mùi hôi miệng. Bạn biết đấy, ở cõi người rất dơ bẩn, cơ thể tiết ra mồ hôi hôi, trong tai rất bẩn, mắt có ghèn, mũi có gỉ mũi, mỗi ngày phải ngoáy cho sạch, không ngoáy thì không sạch được. Bạn nghĩ hôn nhau là sạch sẽ sao? Đó là truyền vi khuẩn đấy, trong lỗ chân lông toàn là vi khuẩn! Tất nhiên, chưa kể đến chất thải nữa. Tất cả những thứ này ở thế giới Cực Lạc đều không có! Bởi vì đó là do hoa sen hóa sinh, không phải do tinh huyết hóa sinh, mà là do hoa sen hóa sinh, điều này hoàn toàn khác biệt. Vì vậy những niềm vui này đều không thể nghĩ bàn, là những điều chúng ta ở cõi người không thể tưởng tượng được, niềm vui như vậy mới gọi là Cực Lạc.

Nhiều người nói rằng: "Chỉ có ở cõi người mới có niềm vui." Họ không hiểu rằng, niềm vui chốc lát chính là nỗi buồn vĩnh hằng! Thực tế, các triết gia đã từng nói một câu: "Niềm vui chốc lát chính là nỗi buồn vĩnh hằng." Chính vì cái niềm vui chốc lát đó mà phải nuôi dưỡng cả một đời, cho đến khi học xong đại học. Tôi nói cho bạn biết, khi nó cười bạn phải cười theo, khi nó bệnh bạn phải bệnh theo, khi nó khóc bạn phải ở bên cạnh khóc cùng. Nói chung, niềm vui ở cõi người đều rất ngắn ngủi, tạm bợ.

Niềm vui ở cõi Phật là niềm vui không thể nghĩ bàn, còn niềm vui chân chính chính là "sự tịch tĩnh chân chính", chính là "Niết bàn chân chính hoàn toàn", chỉ có trong tịch tĩnh mới có niềm vui chân chính. Nhiều người hỏi tôi: "Thế giới Cực Lạc rốt cuộc vui sướng như thế nào? Nếu giống như cõi người thì chúng ta cần gì phải về đó?" Tuy nhiên, niềm vui ở Tây phương Cực Lạc là niềm vui vĩnh hằng hơn, tịch tĩnh hơn, và bền vững hơn; trong khi niềm vui ở cõi người thì dơ bẩn hơn, ngắn ngủi hơn, như hoa quỳnh sớm nở tối tàn vậy.

"Tại sao cõi này được gọi là Cực Lạc?" Bởi vì tất cả những gì được thọ dụng ở cõi này đều chỉ có niềm vui mà không có khổ. Đâu như ở cõi người có một nỗi khổ gọi là sinh ly tử biệt, tin rằng nỗi khổ sinh ly tử biệt này rất nhiều người đã trải qua. Ngoài ra còn có một nỗi khổ gọi là ghét mà phải gặp, ghét mà phải gặp có nghĩa là, người mà bạn rất ghét, lại cứ suốt ngày bám theo bạn; còn người mà bạn rất thích, lại ở cách xa nghìn trùng núi, vạn dặm sông. Giống như trong văn phòng luôn có một người mà bạn rất ghét, và người đó đi đến đâu cũng như một gián điệp theo dõi bạn đến đó, điều này trong cách nói của người Trung Quốc gọi là "gặp tiểu nhân", đây chính là ghét mà phải gặp.

Điều này thường xảy ra ở cõi người, không chỉ giữa cha mẹ và con cái có ghét mà phải gặp, mà giữa anh chị em cũng có ghét mà phải gặp, bạn bè cũng có ghét mà phải gặp, vợ chồng cũng có ghét mà phải gặp, nếu không phải là ghét mà phải gặp thì đã chẳng kết hôn. Tuy nhiên, người Trung Quốc thì có khả năng chịu đựng hơn, dù có ghét mà phải gặp nhưng vẫn không ly hôn; còn người phương Tây thì thực tế hơn, sáng còn gọi nhau là "cục cưng ơi", "honey", đến tối không thoải mái là đã ly hôn rồi.

Ở thế giới Tây phương Cực Lạc không có chuyện ghét mà phải gặp đâu, không có! Giả sử bạn ở thế giới Cực Lạc bỗng nhiên gặp lại kẻ thù ở cõi người cũng được sinh về đó, bạn có thể nổi giận. Nhưng điều đó sẽ không xảy ra! Tại sao không? Bởi vì những người được sinh về thế giới Cực Lạc đều là những người có tu dưỡng, có tâm vô lượng, và kẻ thù ở cõi người kia, có thể được sinh về thế giới Cực Lạc chính là vì họ đã được bạn cảm hóa, biến oán thù thành thiện hữu, vì vậy các bạn đã cùng nhau sinh về thế giới Cực Lạc, đây không còn là kẻ thù nữa, mà là người bạn tốt, người bạn thân thiện, là đạo hữu tu hành tốt.

Vì vậy khi bạn ở thế giới Tây phương Cực Lạc, gặp kẻ thù từ cõi người, đừng nghĩ rằng: "Ôi không! Hỏng rồi! Tiểu nhân lại đến nữa." Cứ yên tâm! Chỉ những người có lòng độ lượng, tâm vô lượng mới được sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Những người còn tâm đấu tranh sẽ sinh vào cõi người, đường súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ, atula. Chỉ khi từ bỏ được tâm đấu tranh mới có thể sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Nếu bạn vẫn còn tâm đấu tranh mà được sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, thì tất cả chư Phật Bồ Tát sẽ nói: "Ôi không! Hỏng rồi, tiểu nhân đến kìa." Người đó sẽ đi mách lẻo với tất cả chư Phật Bồ Tát, lại đến thế giới Tây phương Cực Lạc để gây rối, ly gián mọi người.

Chúng ta nói rằng thế giới Tây phương Cực Lạc là thế giới Cực Lạc chính là vì không có những điều này, không có đấu tranh, không có mách lẻo, không có ly gián, cho nên mới gọi là thế giới Cực Lạc!  
Muốn về thế giới Tây phương Cực Lạc, nhất định phải:  
Phải có lòng tin.  
Phải niệm Phật.  
Phải nương vào sự tu hành của chính mình.  
Và phối hợp với lực nhiếp thọ của chư Phật Bồ Tát mới có thể về được.

Bất kể là tôn giáo nào, nhất định phải tu tâm cho thật thiện lành, hành vi cho thật đoan chính. Nếu chỉ muốn nương vào lực của Phật mà nói rằng: "Tâm con không thiện lành, hành vi cũng không đoan chính, xin Phật cứu con là được." Không được đâu! Bởi vì bạn vẫn còn là tiểu nhân, "small person"! Mong rằng mỗi người chúng ta, hãy học tập tâm lượng rộng lớn, hành vi đoan chính, đây là điều kiện đầu tiên để về Tây phương.  
Om mani padme hum.

### 38. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc… vì thế nên cõi ấy gọi là Cực Lạc

Kinh văn:

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được bao quanh bởi bốn loại báu, vì thế nên cõi ấy gọi là Cực Lạc."

Nói đến "bảy lớp lan can" nghĩa là gì? Đó chính là có bảy lớp lan can bao quanh và giới định phạm vi của cõi Cực Lạc. Mọi người chắc sẽ thấy rất lạ, tại sao cõi Cực Lạc lại cần đặt lan can? Nghe như để ngăn không cho tội nhân trốn ra, hay để ngăn người khác vào vậy? Tuy nhiên những lan can này rất trang nghiêm và đẹp đẽ, như một ranh giới. Phạm vi của Phật quốc Cực Lạc này được tạo nên rất đẹp. Theo cá nhân tôi, nếu không có những lan can này cũng sẽ có vấn đề; bởi vì theo như tôi biết, bên cạnh Phật quốc Cực Lạc có một cung điện gọi là Nghi Thành Thai Cung.

Những người sống trong Nghi Thành Thai Cung này chính là "những người niệm Phật với tâm nghi ngờ", họ sống trong thành nghi hoặc.

Thế nào gọi là Thai Cung? Thai Cung là nơi của những người sinh ra từ thai, giống như chúng ta hiện nay là thai sinh; nhưng ở Phật quốc Cực Lạc là hóa sinh từ hoa sen, có hương thơm khác biệt, có mùi hương đặc biệt, còn chúng ta thai sinh này có khí trọc đặc biệt, khác nhau, không khí hít thở cũng khác. Dù sao thì những người thai sinh đều ở trong Thai Cung này. Những người có tâm nghi ngờ và thai sinh họ cũng niệm Phật, nhưng không còn cách nào khác, vì họ là người thai sinh và có tâm nghi ngờ, nên chỉ có thể ở trong Nghi Thành Thai Cung này. Điều này trong kinh Phật rất ít đề cập đến, đây là điều tôi biết được. Những lan can này bao quanh, những người đó không thể vào được, người bên trong không phải là không thể ra ngoài, mà là người bên ngoài không thể vào được, không để khí trọc này quấy nhiễu Phật quốc Cực Lạc. Vì vậy những lan can này được thiết lập để trang nghiêm Phật quốc Cực Lạc, tổng cộng có bảy lớp.

Ngoài ra, "bảy lớp lưới giăng" nghĩa là gì? Tôi biết rằng trên vũ trụ của chúng ta có Ngọc Hoàng Đại Đế, nơi đó có một tấm lưới gọi là "Đế võng", trong mỗi điểm giao nhau của lưới đều có một viên minh châu; tấm lưới đó được giăng trên không trung, bao quanh toàn bộ Phật quốc của Đế Thích, tại mỗi điểm giao nhau của sợi tơ đều có một viên minh châu, cho nên gọi là Đế võng minh châu.

Ở thế giới Cực Lạc, Đế võng minh châu này có tất cả bảy lớp, bảy tầng Đế võng minh châu trải khắp hư không. Những ánh sáng đó trang nghiêm cho ánh sáng của Phật quốc Cực Lạc. Như hôm nay chúng ta bước ra ngoài, nhìn bầu trời Seattle không thấy một ngôi sao nào vì trời mưa; nhưng khi nhìn bầu trời thế giới Cực Lạc, có bảy lớp minh châu treo lơ lửng giữa hư không, vô cùng đẹp đẽ, như thể chúng ta đang xem pháo hoa mỗi đêm vậy, đó là sự trang nghiêm của hàng nghìn viên ngọc tỏa sáng. Hàng nghìn, hàng vạn viên minh châu trong không trung, tỏa ánh sáng chiếu rọi Phật quốc Cực Lạc, khiến quốc độ này vô cùng trang nghiêm.

Lần trước tôi giảng: Tại sao ở Phật quốc Cực Lạc, tâm trạng của mọi người đều vô cùng hoan hỷ? Bởi vì Phật quốc Cực Lạc tạo ra một loại âm nhạc vô cùng tuyệt diệu, thường xuyên lan tỏa khắp nơi, khiến trong tâm mỗi người đều cảm nhận được âm nhạc hoan hỷ đó, ai ai cũng vui vẻ, vì vậy mới gọi là Cực Lạc.

Ở cõi Phật Cực Lạc còn có "bảy lớp hàng cây", tức là có bảy tầng cây, khi cây lay động sẽ tạo ra một loại âm nhạc vô cùng tuyệt diệu, hoan hỷ, lan tỏa vào tâm của mỗi người trong Phật quốc, khiến ai ai cũng cực kì hạnh phúc, đó chính là Cực Lạc. Dù muốn hay không bạn cũng phải hạnh phúc thôi! Âm nhạc hoan hỷ đó đi vào tai, không cho phép một chút phiền não nào sinh khởi, hai chân sẽ nhảy múa vì hạnh phúc. Bất kì ai vừa có ý nghĩ phiền não, khi âm điệu hoan hỷ vang lên đều không thể cưỡng lại được, chỉ có thể hạnh phúc mà thôi. Âm thanh hoan hỷ này cũng chính là để trang nghiêm toàn bộ cõi nước Cực Lạc.

Thậm chí những lan can này, cùng với lưới giăng trên không trung, và tất cả hàng cây đều được làm bằng bốn loại báu vật vô cùng quý giá. Tại sao Phật quốc Cực Lạc lại hoan hỷ đến vậy? Nguyên nhân chính là vì có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng trên không, và bảy lớp hàng cây này, mới tạo thành một Phật quốc Cực Lạc.

Tuy nhiên không khí ở Seattle thực sự tốt hơn Tokyo và Hong Kong rất nhiều. Ở Tokyo và Hong Kong, chỉ cần ở một ngày là lỗ mũi đã đen rồi. Không khí ở Seattle tốt hơn một chút, có lẽ phải mất vài ngày lỗ mũi mới đen. Ở thế giới Cực Lạc thì hoàn toàn khác, quần áo không cần giặt, không đổ mồ hôi, cơ thể tự tỏa hương thơm, là một mùi hương kết hợp giữa hoa và một loại khí đặc biệt, khó có thể diễn tả được. Và nó luôn giữ nguyên như vậy, không bị biến chất, không bị hư hỏng. Ở Seattle chúng ta có thể nhìn thấy rất xa, các ngọn núi phía xa đều nhìn thấy rõ ràng, còn núi ở Tokyo và Hong Kong do không khí ô nhiễm nên trông có vẻ mờ ảo.

Ở thế giới Tây phương Cực Lạc, tất cả đều như đang trôi bồng bềnh. Không khí hoàn toàn như đang lơ lửng, mùi hương cũng như đang phiêu đãng, âm thanh cũng vậy, thậm chí ngay cả thân thể cũng như đang trôi nổi, tạo cảm giác vô cùng sảng khoái. Khi tôi ở nơi đó, có lúc nhìn các vị Phật Bồ Tát mà không thể mở mắt ra được, các ngài còn rực rỡ hơn cả kim cương VVS thượng hạng, tỏa ra ánh sáng vô cùng chói lọi, lấp lánh trước mặt. Vì vậy, các vị Phật Bồ Tát ở đó đều vô cùng thanh khiết, tinh khiết, và tỏa ra mùi hương vi diệu khó tả.

Thực ra, có rất nhiều thứ trên trái đất mà chúng ta không thể nhìn thấy được. Chỉ cần rời khỏi trái đất và lên không gian, ở đó có nhiều điều vượt xa trí tưởng tượng của con người. Ví dụ như vành đai của sao Thổ, nếu không có kiến thức khoa học và hiểu biết về vũ trụ, làm sao chúng ta có thể tưởng tượng được sao Thổ lại có vành đai đẹp đến vậy? Chúng ta cũng khó mà hình dung được trên sao Diêm Vương có rất nhiều khoáng thạch quý hiếm, còn lấp lánh hơn cả kim cương. Vũ trụ có vô vàn điều kỳ diệu mà kiến thức hiện tại của loài người không thể nào tưởng tượng được. Vì vậy, Phật quốc Tây phương Cực Lạc không phải là không có thật! Đây là điều mà chính Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng.

Tôi cũng đã từng đến nơi đó và tôi nghĩ tương lai mình cũng sẽ đến đó. Tuy nhiên, sau khi đến đó rồi, tôi vẫn phải quay về, bởi vì cõi người có hơi ấm! Ở thế giới Tây phương Cực Lạc lâu ngày, có lẽ sẽ cảm thấy cô đơn. Ở thế giới Tây phương Cực Lạc, mỗi ngày đều hạnh phúc, không có việc gì để làm, cũng rất cô đơn! Không trách được các vị Phật Bồ Tát phải đến cõi người để độ chúng sinh! Bởi vì cõi người vẫn có chút hơi ấm.

Om mani padme hum.

### 39. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có… thành tựu công đức trang nghiêm như thế

Kinh văn:

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm bậc được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng được trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não. Trong ao có hoa sen to như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, hương thơm tinh khiết vi diệu. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế."

Chúng ta hãy tiếp tục giảng Kinh A Di Đà, tôi xin đọc lại đoạn kinh văn hôm nay: "Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm bậc được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng được trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não. Trong ao có hoa sen to như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vàng ánh sáng vàng, màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, hương thơm tinh khiết vi diệu. Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế."

Điều này có nghĩa là, tại cõi Cực Lạc, nơi ở rất tốt đẹp, mọi thứ được sinh ra cũng rất tốt đẹp, sinh ra ở đó rất hạnh phúc, sống ở đó cũng rất hạnh phúc.

"Ao bảy báu" là ao được trang hoàng bằng bảy loại báu vật vô cùng đẹp đẽ.

Có "nước tám công đức tràn đầy trong đó", vậy nước tám công đức là gì? Thứ nhất, nước này vô cùng thanh tịnh, không có chút ô nhiễm nào. Ví dụ nước hồ Washington của chúng ta là hồ ở cõi người nên bị ô nhiễm; bản chất của nước tám công đức rất trong, rất sạch, nó rất mát mẻ, chúng ta biết rằng nước này uống vào rất ngọt, có vị ngọt, uống vào đều ngọt; mọi người hãy đến thế giới Tây phương Cực Lạc, rất tuyệt! Vì Thượng sư thích nhất món tráng miệng là nước đường cho nên răng mới bị hỏng, có lẽ là vì vậy; tôi tin rằng nước đường ở thế giới Tây phương Cực Lạc uống vào không làm hỏng răng. Nước này nhẹ nhàng và mềm mại, nước trơn láng và tươi mát, khiến thân tâm đều rất an hòa, nghe tiếng nước còn có thể tạo ra tâm trạng hoan hỷ và khinh an, còn có thể khiến tất cả mọi người đều cảm thấy được tăng thêm lợi ích vô cùng, có thể khiến pháp thân của chính mình đều được tăng ích.

Đạo tổ của Đạo giáo Trung Quốc ngày xưa - Lão Tử, ngài là tổ sư của Đạo gia, cũng rất sùng bái nước. Bản thân tôi cũng rất thích nước, tôi nhìn thấy nước là vui vẻ, còn Sư Mẫu nhìn thấy nước là chóng mặt. Vì tôi thích nước, và từ nhỏ tôi đã biết bơi, còn Sư Mẫu mỗi khi bơi là chìm xuống luôn! Có lẽ là vì trong 12 cung hoàng đạo phương Tây, tôi thuộc cung Cự Giải (Con Cua). Tại sao tôi lại thích nước? Bởi vì nước mạnh mẽ nhất, khi nước lớn đến, không có gì có thể cản được. Điều này cho thấy khi chúng ta hoằng pháp, giống như sóng thần vậy, sẽ cuốn sạch tất cả mọi thứ.

Nước cũng là thứ yếu ớt nhất, vì nước luôn chảy xuống chỗ thấp, bản tính của nước có thể rửa sạch mọi ô uế trên thân người, kể cả tất cả những ô uế trong vũ trụ, tất cả đều có thể rửa sạch.

Tính chịu đựng của nước cũng là tốt nhất, bạn phải biết rằng, dùng vật tròn để đựng nước, nước sẽ trở thành tròn, dùng vật vuông để đựng nước, nước lại trở thành vuông.

Nước lại là thứ biến hóa muôn hình vạn trạng, bạn bảo nước rất nông ư? Khi nông thì rất nông, nhưng khi sâu thì còn cao hơn cả dãy Himalaya.

Sức mạnh của nước rất nhỏ sao? Nước có thể xuyên qua đá, cũng có thể xuyên qua vàng. Sức mạnh của nước khiến bạn không thể chặt đứt, chỉ cần có một lỗ nhỏ, nó liền chui vào. Khi nước lũ thực sự đến, không thứ gì có thể cản được.

Nước là thứ thuận theo tự nhiên nhất, khi thế đất thấp, nó sẽ chảy xuống; khi thế đất cao, nó sẽ dâng lên; vì vậy công đức của nước là vô tận, không thể nói hết được. Nếu con người có thể học được công đức của nước, tức là đã đạt được trí tuệ, vì nước là thứ có trí tuệ nhất. Tôi rất thích nước nên mới nói về những điều tốt đẹp của nó. Bởi vì ở thế giới Tây phương Cực Lạc cũng có rất nhiều ao nước, nếu đạt được nước, sẽ hiểu được cách nhập định vào tam muội của nước, sẽ đạt được biện tài, khéo ăn nói, khi thì nói về hình tròn, khi thì nói về hình vuông, khi thì nói về hình tam giác, khi thì nói về hình thoi.

Tuyệt vời nhất chính là nước ở thế giới Tây phương Cực Lạc! Đáy ao được lát bằng cát vàng. Bản thân tôi không thích vàng lắm, vàng vật chất ấy, tôi không thích. Nhưng tôi thích màu sắc của nó. Cho nên lần sau đến thế giới Tây phương Cực Lạc, có thể nhảy từ hoa sen xuống nước, xuống tận đáy ao nhìn cát vàng, lén vốc một nắm cát vàng, mang về cõi người là thành đại gia. Ở đây viết rằng "đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất", không có bụi bẩn, cũng không có ô nhiễm, "bốn bên thềm bậc, đều dùng bốn báu vật bao quanh". Chúng ta chỉ cần nhìn thấy ao như vậy, nói thật, đôi mắt đều vô cùng hoan hỷ; đôi mắt vô cùng hoan hỷ, chính là "thấy sắc vui", thấy sắc vui thay! Sắc này chẳng phải sắc kia. Cảnh giới vi diệu như vậy, chính là niềm vui của Phật quốc Cực Lạc.

Ngoài ra, tôi muốn nói về hoa sen! Lần trước tôi đã từng nói về thế giới Tây phương Cực Lạc, khi nhìn thấy những đóa hoa sen từng đóa một, những đóa hoa sen mà tôi nhìn thấy, đều "lớn như bánh xe", to bằng bánh xe vậy, có rất nhiều màu sắc khác nhau. Ở đây nói rằng: "Màu xanh tỏa ánh xanh, màu vàng tỏa ánh vàng, màu đỏ tỏa ánh đỏ, màu trắng tỏa ánh trắng, tất cả đều vô cùng vi diệu và rất thơm ngát." Có người hỏi: "Thưa Thượng sư, Ma Ha Song Liên Trì này rốt cuộc ở đâu trong thế giới Tây phương Cực Lạc?" Tôi sẽ nói cho mọi người một bí mật, không biết trước đây đã từng nói chưa? Ma Ha Song Liên Trì chính là đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu. Mọi người sẽ nghĩ: "Hai mắt của Phật nhỏ như vậy, làm sao chứa được nhiều hoa sen đến thế?" Mọi người đừng nói rằng hai mắt của Phật nhỏ! Trong kinh điển viết rằng, đôi mắt của Phật vô cùng thanh tịnh, vô cùng sáng ngời, như ánh sáng của nước ở phương Tây vừa nói đến; hơn nữa, trong kinh Phật nói rằng, một mắt của Phật to bằng bốn đại dương. Một mắt đã to bằng các đại dương của chúng ta, vậy hai mắt còn lớn hơn cả trái đất. Vậy đầu của Phật to đến mức nào? Chúng ta không dám tưởng tượng! Cho nên trong mắt Phật, chúng ta thực sự còn chưa đáng là một hạt cát. Vì vậy đừng nghĩ rằng Ma Ha Song Liên Trì nhỏ bé, chỉ đi vài người là đã đầy. Tất cả chúng ta cùng đi, cũng chỉ như "lấp góc tường" (tiếng Đài) mà thôi! Nghĩa là tất cả chúng ta cùng đi, cũng chỉ chiếm một góc tường mà thôi.

Phật A Di Đà dạy rằng, chỉ cần chúng ta niệm Phật, một người niệm Phật, một người sẽ về Tây phương, mười người niệm Phật, mười người sẽ về Tây phương. Khi niệm Phật, thế giới Tây phương Cực Lạc sẽ nở ra một đóa hoa sen, niệm một thời gian, nhưng sau đó không niệm nữa, đóa hoa sen đó sẽ khép lại và biến mất. Vì vậy chúng ta phải niệm cho đến khi về được nơi đó. Khi chúng ta niệm đến cuối cùng, người ở đây không còn nữa, thì sẽ sinh ra ở bên đó; đây là điều Phật đã dạy, phải có lòng kiên trì, bạn mới có thể vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc; không có lòng kiên trì, đóa hoa đó cũng sẽ héo tàn, điều này là hoàn toàn chân thật.

Bản thân tôi cũng đã từng đến đó, vô cùng chân thật! Bởi vì từ khoảng 9 giờ tối tôi đã nhìn thấy liên tục cho đến 7 giờ sáng, suốt một đêm chỉ để ngắm nhìn cảnh sắc của thế giới Tây phương Cực Lạc. Như tôi đã nói tối nay, tôi đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc, có lẽ mọi người sẽ nghĩ rằng tôi đang nói mơ, nhưng tôi muốn nói với mọi người một câu: "Vô cùng chân thật!" Nếu như trước đây 99% là lời nói dối, thì câu này hoàn toàn là sự thật, tôi chỉ mong mọi người tin vào câu nói này của tôi, đây thực sự là lời đã được rèn giũa nghìn lần, tinh khiết như vàng ròng!

Hôm nay tôi lập nên tông phái này là vì tôi thực sự đã đến đó rồi mới trở về, nên tôi mới dám lập nên tông phái này. Nếu câu nói hôm nay của tôi là giả, thì tất cả đều là rỗng không, đều là giả dối. Bởi vì câu này là thật, nên tất cả đều là thật. Hôm nay tôi đưa ra chứng minh như vậy, nói lên sự chứng minh này, đều là lời chân thật, là lời thực tế; Phật A Di Đà đang ở đây, Ngài tràn đầy trong hư không, Ngài biết rằng câu nói này của tôi là thật. Giả sử có người cầm hàng trăm triệu đô la Mỹ, bảo tôi nói câu này, họ nói: "Câu mà ông vừa nói đó, chỉ cần ông nói là giả, tôi sẽ cho ông hàng trăm triệu đô la." Tôi cũng không chấp nhận. Nói đi nói lại cả buổi, cuối cùng vẫn là thật, ông không cần đưa tiền cho tôi, tôi vẫn nói: "Thật!"

Om mani padme hum.

### 40. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy… đến giờ ăn liền trở về cõi nước của mình, thọ trai, kinh hành.

Kinh văn:

"Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thường nổi thiên nhạc, mặt đất bằng vàng ròng. Ngày đêm sáu thời, mưa hoa mandala từ trên trời rơi xuống. Chúng sinh cõi ấy, thường vào mỗi sáng sớm, đều dùng y phục đựng các hoa đẹp vi diệu, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về cõi nước của mình, thọ trai, kinh hành."

Đây chính là nói về âm nhạc cõi trời ở thế giới Tây phương Cực Lạc. Lần trước tôi đã nói về âm nhạc cõi trời này, khi nghe sẽ khiến người ta cảm thấy vô cùng hoan hỷ, vô cùng vi diệu, vô cùng nhẹ nhàng. Ngay cả kẻ trộm khi nghe được loại âm nhạc này cũng quên mất việc đi trộm cắp; còn những tên cướp, khi nghe được âm nhạc này, tâm hung ác và lửa sân hận của chúng cũng bị dập tắt như nước dội vào. Vì vậy, những kẻ sát nhân, những người phạm tội này đều nên được đưa đến thế giới Tây phương Cực Lạc để nghe loại âm nhạc này, bởi vì sau khi được âm nhạc này tẩy rửa, những người xấu đều sẽ trở thành người tốt. Lần sau khi đến thế giới Tây phương Cực Lạc, tôi đề nghị trước tiên hãy mang âm nhạc này ra cho mọi người nghe thử, đem phát trong tất cả các nhà tù, tâm mọi người đều sẽ trở nên tốt đẹp.

Ở cõi nước này "mặt đất bằng vàng ròng", mặt đất được làm bằng vàng. Tôi vẫn thường nghĩ, tại sao ở cõi này mọi người không tranh giành lợi ích để kiếm tiền, không điên cuồng tìm kiếm tiền bạc, vàng bạc, kim cương, tại sao người dân ở cõi này lại sống hòa thuận đến vậy? Tôi nghĩ điều này là có lý do, bởi vì khắp mặt đất đều là vàng! Những viên đá ở nhân gian này đều là vàng ròng, vậy còn cần vàng để làm gì nữa? Bởi vì chỉ khi không có mới thấy quý, đã là vàng khắp nơi rồi thì còn tranh giành những viên đá đó làm gì? Vì vậy người ở cõi Phật A Di Đà, họ sống rất hòa thuận với nhau, không tranh giành vàng bạc.

Ở đó, vào sáu thời trong ngày đêm, từ trên trời có những đóa hoa tuyệt đẹp rơi xuống, đây chính là một loại "niềm vui của màu sắc". Chúng sinh ở cõi Phật thường dùng những vật đựng trong sạch nhất, đặt vào đó những "phẩm vật cúng dường vi diệu", rồi đi đến các cõi Phật khác để cúng dường chư Phật, Bồ Tát ở những cõi đó. Chúng sinh ở thế giới Cực Lạc có thể biến hóa ra nhiều vật phẩm, rồi đem đi cúng dường tất cả chư Phật, Bồ Tát.

Mọi người sẽ thấy kỳ lạ, những thức ăn và những vật phẩm tinh xảo đẹp đẽ đó từ đâu mà có? Trước đây tôi đã từng xem "Công chúa ngủ trong rừng", có ba vị thiên thần dùng đũa phép chạm một cái là biến ra đồ vật. Ở thế giới Cực Lạc của Phật cũng tương tự như vậy, nhưng họ không cần dùng đến đũa phép, không phải như thế; khi bạn ở Phật quốc Cực Lạc, muốn ăn món gì thì món đó sẽ hiện ra trước mặt bạn, khi nó xuất hiện, không cần phải dùng tay lấy, nó sẽ từ từ bay đến miệng, bạn có thể ăn ngay. Sau đó những thứ này, dù là thức ăn hay những vật phẩm tốt đẹp nhất, ăn còn dư thừa, bạn vẫn có thể đem đi cúng dường chư Phật Bồ Tát khác, có thể cúng dường mười vạn ức Phật, mười vạn ức Phật ở các cõi Phật khác, tôi cảm thấy điều này thật không thể nghĩ bàn.

Ở Phật quốc Cực Lạc có rất nhiều điều tuyệt diệu, khi bạn nghĩ đến việc muốn mặc trang phục nào, trên thân đã có sẵn bộ trang phục đó, khi bạn muốn ăn món gì, món đó đã hiện ra trước mặt bạn, hoàn toàn có thể thỏa mãn mọi điều mong muốn trong tâm, vì vậy mới gọi là Cực Lạc.

Vừa rồi tôi nói về "mưa hoa mandala", đây là một loại hoa. Ví như khi chúng ta muốn thưởng thức một đóa hoa, chúng ta phải đi mua cây cảnh để trồng, phải mua cây giống về trồng, phải chuẩn bị đất, phải diệt trừ sâu bọ, phải bón phân, còn phải có mùa thuận lợi, đủ nước, hoa mới nở được! Vì quá phiền phức như vậy nên nhà tôi không có hoa thật. Nhà tôi tuy có hoa, nhưng đó là hoa nhựa, toàn là hoa giả, trông có vẻ đẹp nhưng ngửi không có mùi hương. Ở cõi Phật Tây phương Cực Lạc, không cần phải tự chuẩn bị đất, không cần bón phân, diệt trừ sâu bọ, không cần phải trồng, hoa cũng không héo tàn sau vài ngày nở.

Những đóa hoa này rơi xuống từ bầu trời, khi chúng sinh ở cõi Phật nhìn thấy hoa, họ đều cảm thấy vô cùng hoan hỷ, những đóa hoa đẹp như vậy ngày nào cũng rơi xuống cho mọi người chiêm ngưỡng. Những bông hoa rơi xuống không phải là hoa nhựa đâu, mà là hoa thật, vô cùng đẹp đẽ, và đang nở rộ, vì vậy mới gọi là "mưa hoa mandala". Đừng nghĩ rằng những đóa hoa rơi xuống này giống như hoa hồng ở nhân gian có gai nhọn; theo kinh điển mô tả, những đóa hoa này rất mềm mại và vừa ý, khi chạm vào bạn sẽ cảm thấy: "Ôi, thật tuyệt vời quá!", không giống như hoa hồng có gai, chạm vào là bị thương. Vì vậy, nói như thế này, tất cả đều là cảnh giới không thể nghĩ bàn, vô cùng không thể nghĩ bàn.

Ngoài ra, ở thế giới Cực Lạc, mọi người nghĩ rằng muốn đi cúng dường các cõi Phật khác thì phải lái xe đi phải không? Phải lái xe à? Đi tàu hỏa? Đi máy bay? Nếu không thì từ cõi này đến cõi khác xa như vậy, phải không? Phải làm sao đây? Trong kinh điển nói rằng, người ở Phật quốc đều có thần túc thông. Giống như thế nào? Được rồi! Bạn đang ăn ở đây, muốn cúng dường Phật, gói ghém phần thức ăn còn lại, chỉ trong nháy mắt, đã đến được cõi Phật khác rồi quay về, thức ăn của bạn vẫn còn ở đây, không ai ăn trộm mất, điều này cho thấy việc đi lại, "ăn uống đi lại" đều có thần thông qua lại, trong một sát-na có thể đi về, thật không thể nghĩ bàn.

Giống như chúng ta ăn cơm phải dùng bát để đựng, phải lấy bát đựng thức ăn mới có thể ăn được. Nhiều người không thích ăn cua và tôm, họ nói không phải vì không ngon, mà vì phải bóc vỏ, rất phiền phức và khó chịu; chỉ ăn phần thịt thì rất ngon, nhưng bóc vỏ thì quá khó; hỏi họ tại sao không muốn ăn? Còn phải rửa bát nữa! Nhưng ở thế giới Cực Lạc thì khác, sau khi dùng bát đựng thức ăn cho bạn ăn xong, cái bát sẽ tự động biến mất, không cần rửa, nó không còn nữa. Khi tôm cua xuất hiện, chúng đã tự động tách vỏ. Vì vậy, có rất nhiều điều tốt! Mọi người hãy đến đó để hưởng thụ nhé! Một nơi tốt đẹp như vậy quả thật không thể tìm thấy ở nhân gian, tôi nghĩ ngay cả cá ở đó cũng không có xương. Nếu có xương cá, hoặc có vỏ, hoặc còn phải rửa bát, chúng ta đều không muốn đến. Ý của tôi là nói rằng, ở thế giới Cực Lạc không có khổ, ngay cả một chút khổ nhỏ cũng không có, hoàn toàn là một Phật quốc cực lạc.

Trong kinh nói: "Vì Phật quốc Cực Lạc có rất nhiều điều tốt đẹp như vậy, nên mọi người tu hành đều lấy thế giới Tây phương Cực Lạc làm mục tiêu". Chúng ta có niềm vui từ thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác, quan trọng nhất là có pháp lạc, đó là niềm vui của việc tu hành. Ở đó vì có rất nhiều niềm vui dành cho bạn, và còn có pháp lạc, nên bạn hiểu được cách tu hành, tương lai đều có thể trở thành vị Phật kế thừa, bạn chính là vị Phật trong tương lai, sau khi tu hành sẽ thành Phật được.

Ở đây có một câu nói rằng: "Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế". Thực ra thiên quốc này, trong Cơ Đốc giáo thường nói đến thiên đường, trong Đạo giáo cũng đề cập đến cõi trời, trên trời cũng có niềm vui như vậy!

Tôi đã từng đến cõi trời Đế Thích, cõi trời Đế Thích chính là cung trời Đao Lợi, nơi đó cũng rất đẹp. Khi ra ngoài, chúng tôi ngồi trên xe bay có bánh xe rất êm ái. Do cõi trời này chỉ ở trên đỉnh núi Tu Di, gần với nhân gian, nên ở đó vẫn có chợ. Cõi trời này khác với cõi trời ở Tây phương Cực Lạc, ở Cực Lạc chỉ cần khởi ý nghĩ là có ngay, còn ở đây vẫn có mua bán, chỉ là các vị thiên nhân ở đây đều rất giàu có. Các bạn tưởng rằng khi tôi nói về sự giàu có này, chắc là họ chuyển tiền từ ngân hàng Mỹ lên cõi trời Đao Lợi để đổi tiền, họ nghĩ rằng giữa cõi trời Đao Lợi và ngân hàng Mỹ có trung tâm đổi tiền, nhưng không phải vậy! Tùy theo công đức đã làm ở nhân gian, sau khi sinh lên cõi trời Đao Lợi, việc mua bán ở đó rất đơn giản, thích món đồ trang sức nào, thích thức ăn gì, những thứ đẹp đẽ quý giá, bạn muốn có, họ có thể bán cho bạn, người bán sẽ đưa tay xin tiền, nhưng tiền từ đâu ra? Tiền sẽ ra từ các lỗ chân lông trên cơ thể, các lỗ chân lông sẽ mở ra và tiết ra một đồng vàng, như một đồng tiền vậy, đó chính là tiền để mua đồ. Tiền đó từ đâu ra? Tiền đó chính là công đức đã làm ở nhân gian, biến thành tiền công đức ẩn trong các lỗ chân lông trên cơ thể, dùng công đức để mua những thứ này. Vì vậy, khi thích món đồ nào, nhìn thấy thích, công đức sẽ tự nhiên từ cơ thể chảy ra để trao đổi, rồi mang đồ về.

Khi mua sắm quá nhiều, hưởng thụ đủ rồi, những công đức trong người không còn nữa, ôi chao! Bạn liền trở thành người nghèo! Ở cõi trời, nếu khi không còn công đức, những bông hoa cài trên đầu sẽ héo úa; quần áo đẹp đẽ đang mặc sẽ bắt đầu dơ bẩn; thân thể vốn tỏa ra hương thơm công đức, giờ lại chảy ra mồ hôi hôi; thân thể vốn rất nhẹ nhàng, bỗng nhiên cảm thấy rất nặng nề, không thể bay được; tâm hồn vốn luôn vui vẻ, bỗng nhiên cảm thấy bồn chồn, phiền não. Đây chính là khi phước báu ở cõi trời đã hưởng hết, bắt đầu phải đầu thai xuống nhân gian, hoặc đọa xuống địa ngục. Những người ở cõi trời tưởng rằng được hưởng phước trên trời là tốt lắm, nhưng thực ra một khi phước báu ở cõi trời đã hết, lại phải tiếp tục luân hồi.

Vì vậy, thiên quốc và thế giới Cực Lạc là khác nhau, ở thế giới Cực Lạc vì phước báu vô tận, có nhiều pháp lạc, và còn có thể tu hành, nên có thể tiếp tục tu hành, tiếp tục tiến bộ. Ở thiên quốc chỉ có hưởng phước, khi phước hết thì không còn gì. Vì thế trong Kinh Thánh có câu nói rằng: đến lúc đó mọi người sẽ cùng Chúa Jesus làm vua một nghìn năm, có giới hạn thời gian, sau một nghìn năm làm vua rồi, lại không biết phải làm sao? Cho nên thiên quốc của Cơ Đốc giáo và thế giới Cực Lạc của Phật giáo là hai nơi khác nhau. Công đức ở thế giới Cực Lạc là vô tận, không thể nói hết được.

Trước đây, khi chúng ta nghe những điều này đều cảm thấy rất kỳ diệu và khó tin, nhưng với sự phát triển dần dần của khoa học, ngày nay đã có cửa tự động, không cần phải đẩy cửa bằng tay, cửa tự mở. Thức ăn đôi khi cũng được chế biến sẵn, như ở Philippines có một loại cá mắt to thật sự không có xương. Vì vậy trong tương lai, nếu ai có thể phát minh ra cách ăn cua không cần bóc vỏ, ăn tôm không cần bóc vỏ, tôi nghĩ chắc chắn sẽ có rất nhiều người muốn ăn. Hôm nay chúng ta giảng pháp đến đây.

Om mani padme hum.

### 41. Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có… đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.

Kinh văn:

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các loại chim kỳ diệu đủ màu sắc: bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và chim cộng mạng. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng."

Trước tiên tôi đọc đoạn kinh văn: "Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các loại chim kỳ diệu đủ màu sắc: bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và chim cộng mạng. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót lên âm thanh hòa nhã, diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng."

Trước đây, chúng tôi đã từng đặt câu hỏi rằng: "Thế giới Tây phương Cực Lạc toàn là hóa sinh từ hoa sen, vậy tại sao lại có chim bay trên trời? Điều này là sao?" Đây là một câu hỏi hay! Bởi vì ở thế giới Tây phương Cực Lạc không có đạo súc sinh, vậy tại sao lại có những con chim bay lượn trên không trung như vậy? Theo lời giải thích của Phật, tất cả những con chim bay lượn trong thế giới Tây phương Cực Lạc đều do Phật A Di Đà biến hóa ra.

Âm thanh hay nhất trên thế giới là âm thanh gì? Có người nói đó là âm nhạc, âm nhạc hay là tốt nhất, nhưng dường như âm nhạc hiện đại không hẳn là hay, có nhiều loại nhạc không thực sự tốt. Có lúc chúng tôi tò mò, có đệ tử mở vũ trường, đệ tử này mời chúng tôi đến, vừa bước vào, âm thanh thật không chịu nổi, như sấm đánh vậy. Trước đây khi còn đi học tôi cũng từng học nhảy twist, học nhảy soul, nhảy soul và twist đều nhảy khá tốt, nhưng bây giờ không còn thịnh hành twist và soul nữa, mà thịnh hành cái gọi là disco, nhìn quả thật như ngã lên ngã xuống! Tiếng trống trong vũ trường và những tiếng kêu thảm thiết đó, nghe chẳng khác gì tiếng ồn trong lò mổ, giống như tiếng mổ lợn vậy! Âm nhạc đó, chúng tôi vừa bước vào đã phải bịt tai lại.

Tôi nhớ trước đây thầy dạy nhạc của tôi từng kể một câu chuyện: Có một người đang nổi cơn thịnh nộ, cầm dao định giết một nhạc sĩ. Vị nhạc sĩ liền chạy sang một bên, lập tức mở đàn piano ra và chơi một bản Ánh Trăng. Vừa khi tiếng đàn vang lên, trời như tối đi và trăng hiện ra, tạo nên một khung cảnh thật đẹp! Có những cây xinh đẹp, trên cây có nhiều chim đang hót! Người hung thủ ban đầu cầm dao định giết nhạc sĩ, khi nghe thấy âm nhạc tuyệt vời như vậy, anh ta đã quên mất ý định giết nhạc sĩ. Vị nhạc sĩ lại chơi tiếp những âm thanh như dòng nước chảy, từ một nơi rất xa, một dòng suối nhỏ, nước chảy rất nhẹ nhàng, chảy mãi về phương xa! Người hung thủ vốn đang rất tức giận trong lòng, khi nghe thấy âm thanh dòng nước tuyệt diệu này, cơn giận trong lòng lập tức tan biến, bàn tay đang cầm dao cũng buông xuống. Nhạc sĩ lại chơi thêm những giai điệu làm tâm hồn tràn ngập niềm vui, người hung thủ vẫn cầm dao, bắt đầu nhẹ nhàng đu đưa, chân nhẹ nhàng trượt theo, nhảy điệu valse.

Âm nhạc có thể gột rửa tâm hồn con người, những con chim mà Phật A Di Đà hóa hiện trong hư không chính là để hát những bài ca này nhằm thanh tẩy tâm hồn mọi người, loài chim này được gọi là chim cộng mạng. Tiếng hót của chúng khiến cho tâm người hướng về Phật, pháp, tăng, và điều thiện. Những gì chim này hót ra đều là pháp, đều là Phật pháp, chúng không hót lung tung. Giống như loài chim có tiếng hót hay nhất - chim họa mi, khi chim họa mi cất tiếng hót, âm thanh đều rất tuyệt vời. Những con chim mà chúng ta thấy ở thế giới Tây phương Cực Lạc đều do chính Phật A Di Đà biến hóa ra.

Việc này làm tôi nhớ lại trước đây khi bố vợ tôi sắp qua đời, lúc đó tôi đang sống ở Ballard, bố vợ tôi họ Lư, tên là Lư Kim Thủy. Một ngày trước khi ông mất, Địa Tạng Vương Bồ Tát đã dẫn bố vợ tôi đến bên giường tôi, Địa Tạng Vương Bồ Tát nói với tôi: "Bố vợ ngài có một chút nghiệp chướng, đời sau sẽ chuyển kiếp thành chim." Tôi nói: "Nếu được làm chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc thì tốt quá!" Bởi vì tôi biết chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc cũng như đã thành Phật, chúng đều diễn pháp, hót lên những âm thanh tuyệt diệu và còn dạy pháp cho người khác. Nhưng không phải vậy! Ngài nói: "Cả đời ông ấy làm người cũng tốt, chỉ là thích vui chơi." Thích vui chơi như thế nào? Bởi vì ông rất thích đi du lịch, đã từng đến mũi Nga Loan hơn mười lần, từng đi chơi Bành Hồ cũng nhiều lần, như đến núi Dương Minh, đến hồ Nhật Nguyệt, nhiều đến không đếm xuể, du lịch chính là niềm vui lớn nhất trong đời ông.

Tại sao lại chuyển kiếp thành chim? Bởi vì cả đời ông ấy đến già vẫn cứ bay đi bay lại khắp nơi để du lịch, tâm của ông ấy giống như chim vậy, ngày nào cũng bay. Vì thế Địa Tạng Vương Bồ Tát tính toán một hồi lâu rồi nói: "Làm chim là tốt nhất." Đây chính là nhân quả, nếu chúng ta thích du lịch thì kiếp sau có thể sẽ làm chim. Thế là tôi nói: "Làm sao có thể như vậy được? Tôi là Lư Thắng Ngạn, bố vợ tôi cũng họ Lư, nên vợ tôi cũng họ Lư. Thật kỳ lạ, bố vợ của Lư Thắng Ngạn lại chuyển sinh vào đường súc sinh, như vậy không phải là... mất mặt lắm sao?" Tôi nói: "Như vậy thì không thể giữ được thể diện!" Địa Tạng Vương Bồ Tát hỏi: "Vậy phải làm sao?" Tôi nói: "Bây giờ tôi không biết phải nói gì với Ngài, tóm lại, xin Bồ Tát nghĩ cách là được." Địa Tạng Vương Bồ Tát rất khó xử, nhưng rồi linh cảm chợt đến, linh cảm của Bồ Tát rất sáng suốt, Ngài nói: "Bố vợ ngài tuy cả đời thích đi đây đi đó, nhưng chưa từng đi nước ngoài, không có duyên với nước ngoài, nên tương lai chuyển kiếp chỉ có thể chuyển sinh ở Đài Loan." Bồ Tát suy nghĩ một lúc rồi nói: "Được rồi, có một cách, ở Đài Loan vừa hay có một địa danh gọi là Điểu Tùng Hương." Nơi này nằm bên cạnh Phượng Sơn thuộc Cao Hùng, ngay cạnh hồ Trừng Thanh, có một địa danh gọi là Điểu Tùng Hương, đó là một vùng nông thôn rất đẹp, non xanh nước biếc. Theo lời Bồ Tát, đưa ông ấy đến Điểu Tùng Hương để đầu thai làm người, lấy cái vốn là sẽ sinh làm chim, thêm vào chữ Tùng Hương, thành ra Điểu Tùng Hương. Người này là Lư Kim Thủy, từ chuyển thế làm chim, rồi thêm vào Tùng Hương, đây gọi là "lách luật" (tiếng Đài). Cứ thế, để ông ấy chuyển thế đến Điểu Tùng Hương, đây là vấn đề giữ chút thể diện.

Sáng sớm hôm sau, điện thoại từ Đài Loan gọi đến báo tin bố vợ tôi đã qua đời. Tôi đã biết trước tin này sớm hơn họ gần một ngày, đây là sự thật! Đây là một chuyện rất thật! Người chuyển kiếp thành chim cũng không tốt lắm, vẫn là đường súc sinh, súc sinh đạo là noãn sinh, chim là noãn sinh. May mắn thay, tôi có chút giao tình với Địa Tạng Vương Bồ Tát, chỉ cần thêm hai chữ vào sau chữ "điểu" (chim) là có thể chuyển thành người, lần sau tôi phải gửi chút quà tặng Địa Tạng Vương Bồ Tát. Điều này chỉ là vì chúng tôi có tu pháp, nên có thể trao đổi với Bồ Tát, có thể điều chỉnh một chút, không thể thay đổi hoàn toàn. Chuyển thế thành chim, rồi đổi thành chuyển thế ở Điểu Tùng Hương, thực ra cũng không khác nhau là mấy.

Những con chim này có thể "phát ra âm thanh vi diệu" - những âm thanh tuyệt vời nhất. Tôi nghĩ rằng phần lớn những người có khả năng ca hát đều là chim chuyển kiếp, à! Tôi không nói về những con chim bình thường trong thế gian này, mà là những con chim do Phật A Di Đà hóa hiện ở thế giới Tây phương Cực Lạc trên thiên giới; những con chim này còn có thể thuyết pháp, chúng có thể giảng về ba mươi bảy đạo phẩm, tức là những gì được nói trong kinh Phật về ba mươi bảy đạo phẩm, nói về "giới, định, huệ", được chia thành bảy phần. Mặc dù cảnh giới của con người cao hơn chim, nhưng thực ra cảnh giới của con người chúng ta cũng chẳng cao siêu gì cho lắm.

Bây giờ chúng ta nói về "bốn niệm", bốn niệm xứ cũng nằm trong ba mươi bảy đạo phẩm. Chúng ta phải thường xuyên quán tưởng rằng thân thể của chúng ta không phải là hoàn toàn thanh sạch, sự không thanh sạch của thân thể được chia thành bảy loại, bảy loại bất tịnh, chúng ta phải luôn nghĩ như vậy.

Thứ nhất là "chủng tử bất tịnh". Thực ra chủng tử của con người chính là tế bào, và tế bào không thanh sạch.

Thứ hai là "thọ sinh bất tịnh". Ngoài tế bào không thanh sạch ra, khi chúng ta thọ sinh là lúc bất tịnh nhất, bởi vì khi con người được sinh ra, trong bào thai của mẹ, xung quanh toàn là những thứ dơ bẩn bao bọc, máu bẩn bao quanh chúng ta, đó chính là chỗ ở không sạch sẽ.

Sau đó "thức ăn cũng bất tịnh", giống như chúng ta ăn những thứ mà mẹ đã tiêu hóa, những gì còn lại chúng ta hấp thụ, những gì mẹ ăn vào, tiêu hóa rồi lại phân phối cho chúng ta.

"Khi sinh ra cũng không sạch sẽ", bởi vì lúc sinh ra có rất nhiều thứ dơ bẩn cùng ra một lúc.

Chúng ta toàn thân đều không sạch sẽ, lớp da bên ngoài của chúng ta tuy trông có vẻ sạch sẽ một chút, nhưng thực ra bên trong đều không sạch, nói cho cùng ngay cả bề mặt cũng không sạch. Nhiều cô gái rất giỏi trang điểm, trước đây tôi coi việc các cô trang điểm như là đang quét sơn vậy, cô đang quét sơn khuôn mặt đấy. Thực ra, có hai hạng người biết rõ nhất các cô có đẹp hay không, có người nói thế này, đó là người giao sữa buổi sáng, bởi vì lúc đó các cô vừa mới thức dậy chưa kịp trang điểm, mở cửa ra lấy sữa, nhìn thấy mặt là giật mình ngay. Sau khi "quét sơn" xong thì trông như tiên nữ, còn khi chưa "quét sơn" thì trông như ác quỷ, khiến người ta phải sợ chết khiếp.

Có người hỏi tôi chỗ nào sạch sẽ? Trước đây tôi đã từng nói: "Ngay trong nhà vệ sinh bạn cũng có thể tu pháp." Tôi có một đệ tử hỏi tôi, anh ấy nói cha mẹ không cho anh tu pháp, anh sống trong nhà, rất chật hẹp, không có chỗ tu pháp. Tôi nói sao anh không tu pháp trong nhà vệ sinh! Anh ấy nói thế nào, anh ấy nói: "Nhà vệ sinh rất dơ, làm sao có thể tu pháp trong đó được?" Tôi nói với anh ấy: "Trong cơ thể anh cũng có nhà vệ sinh, chỉ là một cái ở trong, một cái ở ngoài mà thôi."

Hành giả Mật tông chân chính biết rằng, trên đời không có nơi nào là sạch sẽ, cũng có thể nói trên đời đâu đâu cũng sạch sẽ. Bạn nghĩ nhà vệ sinh rất bẩn, không thể tu hành ở đó, nhưng thực ra trong bụng bạn toàn là những thứ như trong nhà vệ sinh, bạn nghĩ che đậy như vậy là sạch sao? Thực ra, chỗ nào cũng sạch, cũng có nghĩa là chỗ nào cũng không sạch. Hơn nữa, khi người ta chết đi, cái mùi thịt thối rữa, thối tha đó, ôi chao! Thật là không sạch. Con người có gì đáng nói đâu? Có gì để nói là sạch sẽ đâu, cho nên dù sao thì ai cũng không sạch sẽ, tất cả đều như nhau. Ngoại trừ ở thế giới Tây phương Cực Lạc, mồ hôi chảy ra là mồ hôi thơm, chứ con người bình thường, ngoài việc xức nước hoa, hay bôi phấn thơm, hoặc cố tình tạo ra mùi thơm, thì đều là không sạch. Chúng ta phải thường xuyên nghĩ như vầy: "Thân người không sạch", vì thế chúng ta phải tu hành để về thế giới Tây phương Cực Lạc, nơi đó thanh tịnh nhất.

Ở đó thực sự có những âm nhạc tuyệt vời để nghe, những bài hát chúng ta nghe được ở nhân gian không nhất định đều hay, nhưng ở thế giới Tây phương Cực Lạc, những bài hát nghe được đều là hay nhất, hôm nay giảng kinh đến đây.

Om mani padme hum.

### 42. Diễn thuyết ba mươi bảy đạo phẩm (1)

Hôm nay Thượng sư Liên Hỏa giảng về "Các hành vô thường", vừa hay trong Kinh A Di Đà cũng đề cập đến việc vô thường này. Điều đầu tiên nói đến là thế gian đều rất khổ, chúng ta không cần phải nói thêm về sự khổ của thế gian nữa, trước đây cũng đã nói rồi. Thực ra, dù có giàu có đến đâu, thân thể khỏe mạnh thế nào, địa vị cao đến mấy, mọi thứ đều viên mãn, vẫn có lúc khổ; bởi vì người "có" sẽ muốn "có thêm", nên rất khổ. Như người giàu có, đã có vài triệu rồi, vẫn muốn có vài tỷ, nên rất khổ; người đã có một gia đình viên mãn, vẫn muốn có hai gia đình, ba gia đình, nên cũng rất khổ. Như Sư Tôn cũng rất khổ, vì số nhà 17102 (chú thích: số nhà của Chân Phật Mật Uyển), một vợ! Mãi mãi chỉ một vợ! Căn nhà ở Hồng Kông là tốt nhất, ba vợ bốn bồ (chú thích: số 3747)! <span className="note-blue">[Ở đây Sư Tôn chơi chữ, số 7 có cùng cách phát âm với chữ vợ.]</span> Đừng có ghen tị nhé, vì dù có ghen tị thế nào, cũng không có thời gian, vẫn rất khổ. Thân thể không làm chủ được, dạ dày không tốt, nhìn người khác ăn uống thỏa thích, cũng rất khổ. Ai dám nói thân thể này sẽ không bao giờ bệnh? Như tôi không có thời gian để bệnh, vẫn bị bệnh, tôi thường nói ở Mỹ bao nhiêu năm nay, cũng có một lần bị cảm cúm, chóng mặt ba ngày, đây cũng là khổ.

Kinh A Di Đà giảng về "tâm niệm xứ". Chúng ta biết "các hành vô thường", không chỉ các hành vô thường, mà tâm cũng vô thường. Hôm nay, có rất nhiều đệ tử đến quy y, sau khi quy y với Thượng sư, họ đều như thể đã phát lời thề sẽ mãi mãi đi theo Thượng sư, ai nấy đều tỏ ra trung thành tuyệt đối. Tôi thấy hiện tượng này cũng không tốt lắm, bởi vì chỉ cần có một chút, một tẹo không vừa ý là đã hỏng! Thượng sư làm chín mươi chín điều khiến họ hài lòng, nhưng có một điều không vừa ý, thì lòng trung thành tuyệt đối ấy liền biến thành... không nói nổi nữa! Tâm là vô thường, sẽ thay đổi, tâm người là hay thay đổi! Những lời ngọt ngào, cái sweet talk này cũng không nên tin, sáng còn gọi honey, honey, tối đã đòi divorce <span className="note-blue">[ly hôn]</span>. Vì thế sáng còn nói Thượng sư vĩ đại lắm, tối đã đem trả chứng thư quy y! Đây chính là biểu hiện của tâm cũng vô thường, tâm người là hay thay đổi.

Thời đó, khi tôi mới bắt đầu bái Phật, thành thật mà nói, tôi cũng mắc phải căn bệnh này, đây là tâm người, cũng là chuyện thường tình. Mỗi ngày tôi đều lễ bái Phật Bồ Tát vào buổi sáng. Nhưng có một lần khi tôi xem tướng cho người khác, tôi cầu chỉ dẫn từ chư Phật Bồ Tát, nhưng những gì các ngài chỉ dạy lại hoàn toàn trái ngược với những gì người đó gặp phải, có nghĩa là không chính xác. Có lẽ là do khả năng thông linh của tôi có sai sót, nhưng tôi nghĩ, thật kỳ lạ, chín mươi chín điều Phật Bồ Tát chỉ dạy tôi đều rất chính xác, sao lại có một điều không đúng như vậy? Sáng hôm đó tôi không vào Phật đường lễ bái, khi đi ngang qua Phật đường còn liếc mắt nhìn các ngài, không những thế, còn mấy ngày liền không tụng kinh, thật sự tức giận đến nỗi mắng "đồ tượng gỗ" (tiếng Đài). Ngày xưa tâm tôi như vậy đó, cũng thường dao động, có lúc tu hành chăm chỉ một chút, có lúc lại lười biếng. Khi có cảm ứng sâu sắc thì chúng ta tu hành tương đối nghiêm túc, không có cảm ứng thì chúng ta lại xa rời, đây chính là tâm vô thường, sự biến hóa của tâm.

Sự biến đổi của tâm không chỉ hoàn toàn nói về mặt tôn giáo. Ví dụ trong việc kết bạn, hôm nay người bạn này rất tốt với bạn, nhưng có thể ngày mai đã thay đổi rồi, một người bạn tốt, chỉ cần tâm vừa thay đổi, liền biến thành người chuyên phá đám, phá hoại bạn; ngược lại, cũng có người vốn là kẻ thù, cuối cùng lại trở thành bạn tốt; còn có giữa nam nữ, vốn khi yêu đương là những người bạn rất thân thiết, cuối cùng lại trở thành xa lạ; vợ chồng khi mới cưới đều rất yêu thương nhau, cuối cùng trở thành kẻ thù cũng rất nhiều; đây là gì? Đây chính là "tâm vô thường".

Tâm vô thường này sẽ khiến người vốn rất chính trực bỗng nhiên trở nên rất tham lam; người vốn rất có tu dưỡng bỗng nhiên nổi giận đùng đùng; người vốn rất thông minh bỗng nhiên làm một việc rất ngớ ngẩn. Đây chính là niệm đang biến chuyển, không thể giữ cho niệm mãi mãi chính trực, mãi mãi không nổi giận, mãi mãi thông minh. Nếu chúng ta hiểu được tình huống này rồi, chúng ta phải thu nhiếp tâm này lại. Nếu có thể học cách kiểm soát tâm mình, sẽ có thể kiểm soát được niệm và hành vi. Việc tu hành của chúng ta chính là nắm bắt được tâm, niệm và hành vi này của mình.

Ngoài ra còn có "quán pháp vô ngã", nghĩa là nhìn pháp thế gian, pháp tu hành, đều phải có tư tưởng vô ngã. Thiện pháp vô ngã, pháp tốt không có "ngã", ác pháp cũng không có "ngã". Tay phải chúng ta làm việc thiện, không để tay trái biết. Như tuần trước chúng ta quyên góp tiền từ thiện, chúng ta cũng mời phóng viên đến chụp ảnh, trên báo dường như cũng đăng tin phải không? Ah! Điều này thật là ngại quá! Bởi vì có vẻ như làm việc thiện để được đăng báo, điều này không tốt lắm; tuy nhiên chúng ta cũng xem đó như một sự khích lệ! Chúng ta làm việc thiện, bắt đầu từ việc để mọi người biết làm việc thiện, điều này cũng tốt, không phải là không tốt.

Ý nghĩa của "thiện pháp vô ngã" là:  
Khi bạn làm việc thiện, đừng nghĩ rằng mình đang làm việc thiện, đừng nghĩ như vậy.  
Thầy tôi còn dạy thêm một điều:  
Khi bạn độ chúng sinh, đừng nghĩ rằng "tôi đang độ chúng sinh".  
Khi bạn tu pháp, cũng không được nghĩ "tôi đang tu pháp".

Hãy xem việc làm thiện và tu pháp như không phải do ta làm, mà là điều diễn ra một cách tự nhiên, thì công đức đó mới là lớn nhất. Làm việc thiện vì danh tiếng, hoặc tu pháp vì muốn thành Phật, đều là "có mong cầu". Tư tưởng "quán pháp vô ngã" này chính là điều Lão Tử đã nói "không vì gì mà làm", tức là "vô vi nhi vi". Vô vi nhi vi nghĩa là không mong cầu điều gì cả, rồi ta mới làm, đó chính là vô vi nhi vi. Ví như khi chúng ta làm việc thiện, nếu muốn cho tất cả mọi người đều biết ta đang làm việc thiện, thì công đức sẽ nhỏ hơn. Nếu bạn đã âm thầm làm việc thiện, không ai hay biết, nhưng bạn đã làm, thì công đức đó mới lớn. Vì thế mới có cái gọi là dương đức và âm đức, âm đức thì công đức lớn hơn một chút.

Gần đây tôi đã bắt đầu viết một cuốn sách mới, mới chỉ bắt đầu viết thôi, hôm qua mới viết (chú thích: quyển thứ 76), là viết về chuyện tiền kiếp của tôi. Ngay từ đầu, Phật A Di Đà đã kể về việc Liên Hoa Đồng Tử đã rời khỏi Ma Ha Song Liên Trì ở thế giới Tây phương Cực Lạc để đến thế gian này chịu khổ như thế nào. Gần đây vì buổi tối ở nhà yên tĩnh hơn, nên tôi đã lục lại tất cả những ký ức về tiền kiếp trong tâm trí. Trong đó cũng bao gồm nhiều cảnh giới và hình ảnh trong Kinh A Di Đà. Mỗi đêm tôi đều đến thế giới Tây phương Cực Lạc, trở về nơi xưa cũ, nơi đó thật tuyệt vời!

Thật kỳ lạ, khi tôi còn sống ở đây trước đây, mỗi tối đều mơ màng không rõ ràng, còn bây giờ chuyển đến nơi ở mới, có lẽ nhờ ánh sáng hồ chiếu rọi, tâm như tấm gương sáng, nên mọi việc đều hiện lên rõ ràng, như một bộ phim được chiếu lại vậy. Tiền kiếp của tôi, thực sự như một bộ phim được phát lại, viết ra rất rõ ràng. Phật A Di Đà đã từng dặn dò tôi xuống trần gian một chuyến nữa; Bồ Tát Quan Thế Âm cũng chỉ dạy tôi khi xuống trần gian phải từ bi; Bồ Tát Đại Thế Chí cũng nhắc nhở tôi khi xuống trần gian, phải học hỏi trí tuệ thật tốt, nghe ba vị Bồ Tát dạy như vậy, tôi đã khóc rất nhiều.

Trong đó, tôi còn đi vào trong ma cung. Vì sắp xuống trần gian rồi mà, lúc đầu tôi ngồi trên đài sen, ngồi rất thong dong, còn thoải mái hơn cả tấm thảm chúng ta đang đặt chân lên bây giờ, nhưng có lẽ vì nghe Phật A Di Đà thuyết pháp quá vui nên đã duỗi hai chân đạp xuống dưới hoa sen. Ôi! Hỏng rồi! Không ngờ vừa đạp xuống như vậy, trái đất liền rung chuyển, đến cả ma cung cũng rung động, ngay cả Ma Vương trên trời cũng biết được rằng có một Liên Hoa Đồng Tử sắp hạ sinh xuống trần gian, vì thế Ma Vương đã phái mấy trăm thiên ma xuống. Chẳng trách tôi phải chạy trốn như chó mất chủ vậy. Sau này vẫn sẽ gặp lại những điều này, sau này những thiên ma này và Thượng sư vẫn sẽ gặp lại nhau.

Câu chuyện này rất dài, các bạn sẽ được đọc khi sách xuất bản. (Vị Thượng sư phiên dịch hỏi: "Là rất dài hay rất thảm?") "Dài lắm!" Bạn tưởng là thảm sao? Những điều thảm đã qua bớt rồi, đừng thảm thêm nữa. Tôi mong có thể sống tiếp một cách bình an thuận lợi, đừng có quá nhiều ma nạn, bởi vì tôi cảm thấy đã vất vả sống được nửa đời người rồi, nếu còn thêm ma nạn nữa thì thật là mệt mỏi. Tuy nhiên Sư Tôn vẫn ổn, tôi đã đạt được "vô ngã", nên dù có bao nhiêu ma nạn đến, tôi cũng không màng.

Tuy nhiên dù có "vô ngã" đến đâu, khi người thân của mình làm tổn thương mình thì vẫn trở thành "có ngã". Người khác có làm gì mình, mình vẫn giữ được vô ngã, nhưng khi chính người thân làm tổn thương mình, mình lại "có ngã". Điều này cho thấy việc tu hành vẫn còn tình cảm, chưa hoàn toàn đạt đến cảnh giới Không. Nếu mọi người đọc quyển sách "Chứng ngộ tính Không" của tôi, sẽ hiểu được cảnh giới mới này của Thượng sư. Trong quyển sách mới này, tôi cũng rất thẳng thắn, đề cập đến những tư tưởng vô ngã này. Chúng ta học được tư tưởng vô ngã và tư tưởng tự nhiên, thì sẽ dễ thích nghi hơn với thế giới này. Nếu bạn không có tư tưởng tự nhiên, tức là vẫn còn chấp trước; nếu trong tâm vẫn còn một chút ý niệm về ngã, thì vẫn còn đau khổ. Hôm nay, lý do Thượng sư có thể chiến thắng ma, không, không nên nói là chiến thắng, mà là kết bạn với ma, không còn bận tâm điều gì, chính là nhờ có tư tưởng tự nhiên và vô ngã.

Mong rằng mọi người có thể lĩnh hội được tự nhiên, lĩnh hội được vô ngã. Dùng tự nhiên và vô ngã, thì có thể quan sát được "chư hành vô thường" và "tâm vô thường" của thế gian này.

Om mani padme hum. 

### 43. Diễn thuyết ba mươi bảy đạo phẩm (2)

Hôm nay chúng ta giảng Kinh A Di Đà, đang nói về "bốn chính cần" trong ba mươi bảy đạo phẩm. "Chính cần" nghĩa là sự tinh tấn chân chính không có sai lệch.

Tôi thấy có một ví dụ rất hay về tu hành, tu hành giống như khoan gỗ lấy lửa, mỗi ngày nỗ lực tu hành, ắt có ngày sẽ khai ngộ. Lấy ví dụ bản thân mình cho mọi người nghe, mỗi ngày tôi đều dậy đúng giờ, sau đó lái xe đến Chân Phật Mật Uyển, đó chính là nhà cũ của tôi, về đến nhà, vào Phật đường, thắp hương, tu Tứ gia hành, tu xong Tứ gia hành thì viết sách, mỗi ngày cố định viết hai trang; trưa mang cơm hộp, ăn xong nghỉ ngơi một chút, 1 giờ chiều bắt đầu trả lời thư. Thời gian nghỉ trưa cũng là lúc đọc thư, trả lời thư đến 4 giờ thì tan làm. Sau khi tan làm lúc 4 giờ, lại vào Phật đường làm công khóa buổi chiều, đến 5 giờ thì lái xe về nhà; cuộc sống hoàn toàn có quy củ như vậy, thay đổi rất ít, từ trước đến nay đã gần mười mấy, hai mươi năm. Qua Mỹ cũng không khác gì ở Đài Loan là mấy, nếu lúc 4 giờ, vì có khách hay có việc đặc biệt, đợi làm xong việc đặc biệt rồi, vẫn phải tu pháp. Về mặt tu hành, buổi sáng tôi nhất định tu Tứ gia hành, buổi tối nhất định tu pháp Bổn tôn.

Thực ra, tôi tu hành cũng không có phương pháp đặc biệt gì. Có người nói: "Thượng sư chắc chắn phải có phương pháp đặc biệt nào đó, chúng ta phải chú ý xem ngài tu như thế nào." Thực ra không có! Tôi rất bình thường. Điều duy nhất đáng nhắc đến là tâm lý luôn rất an bình, mỗi ngày đều tu pháp cố định như vậy, chưa từng gián đoạn. Khi đi xa, tôi tu pháp trong khách sạn, hoặc tu pháp trên máy bay. Cho nên, nói ra tôi không phải vĩ đại, mà rất bình thường, nhưng trong sự bình thường đó vẫn duy trì mỗi ngày một thời Tứ gia hành, một thời Bổn tôn pháp. Nói đơn giản, có kiên trì thì có thể đắc đạo chứng ngộ.

Trước đây nhiều người hỏi: "Sao thầy viết và xuất bản sách nhanh vậy? Có phải thầy viết buổi sáng, chiều cũng viết, tối không ngủ cũng viết?" Không phải vậy, tôi chỉ đơn giản là viết đều đặn mỗi ngày, và viết hai trang giấy, chỉ vậy thôi, không có ngày nào lười biếng! Vì thế việc tu pháp của tôi cũng giống như viết văn vậy, không có ngày nào lười biếng. Sách của tôi đã xuất bản đến quyển thứ 75, hiện đang viết quyển thứ 76 (chú thích: đến tháng 4 năm 2025 đã xuất bản đến quyển thứ 304), 50 ngày đúng 100 trang giấy, tức là một quyển sách. Đây là gì? Đây chính là "chính cần".

Tôi cảm thấy làm như vậy không có gì vĩ đại, cũng chẳng có gì đặc biệt, nhưng nếu có thể duy trì được thì đó là điều phi thường, đây chính là "khoan gỗ lấy lửa". Trước đây tôi thường nghĩ, khi nào mới có thể đạt được giác ngộ? Phật bảo tôi, mỗi ngày chỉ cần đi một bước là đủ, rồi sẽ đến đích. Tuyệt đối đừng một ngày đi cả nghìn bước, rồi sau đó ngừng lại hai mươi năm, như vậy là vô ích. Mỗi ngày chỉ cần đi một bước, nhất định sẽ đạt được mục tiêu, đây là một phương pháp tu hành. Bạn không thể nói tôi sáng cũng tu, chiều cũng tu, tối cũng tu, nửa đêm cũng tu, một tháng liền không ngủ; nhưng nếu bạn một tháng không ngủ, thì sau đó sẽ phải ngủ liền ba năm! Tu hành kiểu này là lệch lạc, không bình thường.

Trong đây nói rằng, khi tu hành, nếu đã sinh khởi những ý niệm không tốt, chúng ta phải nhanh chóng loại bỏ những ý niệm không tốt đó; nếu chưa sinh khởi những ý niệm không tốt, cũng phải phòng ngừa những ý niệm không tốt thấm vào như dòng nước. Và việc tu hành của chúng ta phải giống như khoan gỗ lấy lửa, bởi vì khoan gỗ lấy lửa phải liên tục khoan, không thể dừng lại, chỉ cần dừng là phải bắt đầu lại từ đầu. Đối với những người đã đạt được diệu pháp này, chúng ta hy vọng họ có thể tiến bộ hơn nữa, đây chính là "bốn chính cần".

Cuộc đời này, như Thượng sư Trịnh vừa nói, chúng ta tu hành đều sẽ gặp chướng ngại; chủ yếu là do đời trước có nhiều tai nạn, tạo nhiều nghiệp, nên trở thành chướng ngại trong việc tu hành. Tôi cảm thấy những chướng ngại của mình hiện giờ đã trở nên rất vi tế, tức là đã trở nên rất nhỏ, tâm lượng cũng trở nên rộng mở hơn, không còn vì những chuyện nhỏ nhặt mà phiền não, có thể nói phiền não đã hóa thành những hạt bụi li ti bay đi. Mấy ngày trước trong thiền định, tôi lại trở về Ma Ha Song Liên Trì, mọi cảnh tượng trong quá khứ hiện ra rõ ràng trước mắt.

Ma Ha Song Liên Trì có mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử, mỗi vị được vây quanh bởi năm trăm vị Trung Liên Hoa Đồng Tử, và mỗi vị Trung Liên Hoa Đồng Tử lại được vây quanh bởi năm trăm vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử. Nhớ lại trước khi giáng sinh, mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử đều đưa ra ý kiến về việc sau khi xuống trần nên dùng pháp môn nào để độ chúng sinh. Mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử đều trình bày kinh nghiệm tu chứng của mình, mỗi vị đều có sự khai ngộ và kiến giải rất thâm sâu, vì vậy Chân Phật Tông chúng ta độ chúng sinh theo nguyên tắc "phương tiện đa môn", tức là sử dụng nhiều pháp môn khác nhau để độ chúng sinh.

Một vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử cũng bước ra phía trước để phát biểu ý kiến, giơ tay hỏi: "Mặc dù con là Tiểu Liên Hoa Đồng Tử chưa chứng đắc thánh quả Như Lai, nhưng con cũng hiểu đạo lý thành Phật." Vị ấy nói: "Bây giờ con có một thắc mắc muốn hỏi chủ tôn, tuy con chưa chứng đắc thánh quả Như Lai, nhưng sau khi giáng sinh, con có thể độ chúng sinh được không? Có thể thuyết pháp không?" Đại Liên Hoa Đồng Tử trả lời: "Người chưa khai ngộ cũng có thể phát tâm độ chúng sinh, cũng có thể thuyết pháp, đây gọi là Bồ Tát phát tâm." Bởi vì khi bạn hiểu được Phật lý, đạo lý của Phật, biết được con đường về nhà, thì có thể chỉ con đường đó cho người khác; mặc dù bản thân chưa từng về nhà, nhưng biết đường thì có thể chỉ dẫn người khác về nhà, đây gọi là Bồ Tát phát tâm. Giống như bây giờ, mọi người nghĩ: "Ôi! Làm sao tôi có thể kêu gọi người khác đến lễ Phật được? Bản thân tôi còn chưa thành Phật mà!" Có người nói: "Từ khi tu hành đến giờ tôi chưa có tương ứng, cũng chẳng có cảm ứng gì, chẳng có gì cả, làm sao tôi dám thuyết pháp?" Nhưng điều đó là có thể, tại sao vậy? Bởi vì bạn biết mặt trăng ở đâu, ngón tay bạn chỉ mặt trăng chính là con đường, biết được đạo lý thành Phật thì có thể thuyết pháp, đây gọi là Bồ Tát phát tâm.

Nếu bạn đã chứng quả Phật, đạt được thánh quả Như Lai, sau đó dùng kinh nghiệm của mình để giảng giải cho chúng sinh nghe, dẫn dắt chúng sinh quay về chính giác, đó gọi là Như Lai ứng thế. Vì thế Bồ Tát phát tâm và Như Lai ứng thế đều là phương pháp độ chúng sinh.

Vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử này vô cùng hoan hỷ vì bản thân cũng có thể đến nhân gian độ chúng sinh. Chính vì Bồ Tát vừa phát tâm như vậy, trên trời liền rơi xuống một quả tiên, sau khi ăn quả tiên này, đạo tâm sẽ kiên cố, vĩnh viễn không thoái lui đạo tâm. Quả tiên này sau này tôi sẽ viết trong sách, thì ra người tặng những quả tiên này cho tất cả Liên Hoa Đồng Tử ăn chính là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn.

Tôi nhớ lại chuyện trong quá khứ, Phật A Di Đà từng đích thân ủy thác, đến cung Đại Nhật ở pháp giới để gặp Đại Nhật Như Lai, sau đó trở về Ma Ha Song Liên Trì họp hội, rồi tất cả các vị Liên Hoa Đồng Tử mới giáng sinh. Việc giáng sinh không phải là đột ngột rơi xuống trần gian, vì nếu rơi xuống đột ngột sẽ bị vỡ đầu, cho nên phải từng tầng từng tầng đi xuống. Chúng tôi cũng đã đến cõi trời Ma Ê Thủ La, cõi trời Ma Ê Thủ La chính là cõi trời Ma Vương, gặp Ma Vương, Ma Vương nói: "Sau này ta sẽ giả dạng giống như ngươi vậy." Ông ta đến để giúp đỡ chúng ta, để kiểm tra chúng ta, những người tu hành đều sẽ có thử thách.

Thực ra thử thách là điều rất tốt, nó có thể giúp chúng ta đạt được thành tích tốt, tu hành nghiêm túc và vượt qua thử thách. Giống như khi chúng ta lướt sóng ở Hawaii, sóng càng cao, miễn là chúng ta không ngã, rồi lại lướt lên, thì sẽ bay cao hơn nữa. Những thử thách này, sau này khi về già tôi có thể viết ra. Tôi có một trăm cửa ải khó khăn, nhưng tất cả đều đã vượt qua, thì thành Phật rồi, còn nếu không vượt qua được, thì kiếp sau lại đến!

Vì vậy chúng ta đừng sợ khó khăn, đừng sợ ma chướng, càng gặp tai nạn và thử thách lớn, chúng ta càng nâng cao được bản thân, cho nên ma đến là để giúp đỡ chúng ta, ma có rất nhiều điều tốt. Nếu sợ ma và bị ma đánh bại thì sẽ rất tầm thường. Khi tôi ở cõi trời Ma Ê Thủ La, Ma Vương nói với tôi: "Chúng ta là anh em ruột thịt, là bạn tốt, cũng có thể là vợ chồng. Có ma làm bạn đồng hành thì đạo hạnh của ngươi mới có thể vượt trội, không có ma thử thách thì chỉ là phàm phu tầm thường mà thôi."

Tôi mong mọi người đừng phiền não, đừng sợ ma, hãy giữ tâm bình an và thuận theo tự nhiên, rồi xem ma như không có gì, thì kiếp này ở nhân gian sẽ sống rất vui vẻ. Dù ma nạn có lớn đến đâu cũng không thể cản trở được đức tin của Liên Hoa Đồng Tử, bởi vì đạo tâm của bạn vĩnh viễn không thay đổi và không thoái chuyển. Người có đạo tâm không thay đổi, không thoái chuyển, chỉ cần mỗi ngày tu tập, nhất định sẽ trở về Ma Ha Song Liên Trì.

Om mani padme hum.

### 44. Diễn thuyết ba mươi bảy đạo phẩm (3)

Tối nay chúng ta tiếp tục giảng về "bốn như ý túc" trong Kinh A Di Đà.

Như ý túc thứ nhất là "dục như ý túc", tức là có ước muốn và lòng ham thích, ý nguyện tùy tâm. Thứ hai là "niệm như ý túc". Thứ ba là "tấn như ý túc". Thứ tư là "huệ như ý túc". Đây được gọi là "bốn thần túc".

Cái gọi là "dục như ý túc" chính là "dục thần túc". Khi người tu hành chúng ta tu tập đến mức sinh ra pháp lực, sẽ sinh ra một loại thần thông gọi là dục như ý túc, tương tự như câu chúc phúc thường thấy trong thư từ ngày nay - "tâm tưởng sự thành". Dục như ý túc này là trạng thái thần tiên sơ khởi. Chư thiên ở cõi Dục giới vẫn còn ước muốn, họ vẫn thích mặc y phục đẹp đẽ, thưởng thức món ngon, thậm chí kết giao với người đẹp, bởi vì họ vẫn đang ở trong cõi trời còn ước muốn này, nên những ước muốn đó vẫn tồn tại. Khả năng thỏa mãn được những ước muốn ấy chính là "có đầy đủ thần thông về ước muốn".

Mấy ngày trước đây Thượng sư từng đến một cảnh giới thần tiên, gọi là Thiên Hà Thắng Cảnh. Vì những ngày này đều viết về hồi ức chuyện trên trời trong quá khứ, nên đặc biệt trở lại thăm một lần nữa, rồi trở xuống, thường xuyên qua lại như vậy, nên đã thấy được rất nhiều điều kỳ diệu của các vị thần tiên. Những vị thần tiên ở Thiên Hà Thắng Cảnh, họ vẫn còn nhiều dục vọng, nếu nói về cuộc sống của thần tiên, có lẽ mọi người đều không dám tin! Có những vị thần tiên cũng có nhiều bạn gái, điều này không phải là giả đâu.

Vị Thượng sư đến từ Đài Loan hôm trước vừa nói về trầu cau ở Đài Loan, kể cho mọi người nghe: "Ở Thiên Hà Thắng Cảnh cũng có người ăn trầu cau!" Tôi nghĩ lại chuyện trước đây, đã từng có một nơi nào đó trời đổ mưa màu đỏ, tôi đoán có lẽ là do các vị thần tiên ở Thiên Hà Thắng Cảnh ăn trầu cau, họ nhổ nước trầu ra nên mới thành mưa đỏ trên trời. Mọi người thấy lạ lùng không? Sao thần tiên trên trời cũng ăn trầu cau vậy? Thực ra không có gì lạ cả, bởi vì thần tiên ở đó, mọi ước muốn của họ đều được thỏa mãn, khi họ nghĩ về việc ăn trầu cau lúc còn ở nhân gian, chỉ cần muốn ăn, ước muốn vừa sinh khởi, trước mặt họ liền có trầu cau. Họ muốn gì, chỉ cần ước muốn vừa sinh khởi, trước mặt họ liền có thứ đó. Sau khi thành thần tiên, ngay cả những cô gái mà trước đây theo đuổi không được, cũng có thể dùng ý nghĩ biến ra.

Vì vậy cảnh giới của thần tiên vượt xa trí tưởng tượng của các bạn. Không phải cứ nghĩ, ôi, trông đẹp quá! Mặc toàn thiên y! Không cần tắm rửa! Không phải vậy đâu. Cảnh giới của thần tiên chính là - ước muốn, mọi ước muốn của bạn đều được thỏa mãn, cho nên khi làm thần tiên mà muốn tắm sauna, tự nhiên sẽ hiện ra ba hồ tắm sauna cho bạn.

Mọi người chắc chắn sẽ nghĩ rằng Sư Tôn nhất định có "dục thần túc". Đúng vậy, tôi xin nói với mọi người, Sư Tôn có dục thần túc. Tôi có thể kể cho các bạn một chuyện rất thật, ví dụ: bây giờ tôi muốn xem gì, lập tức có thể xem được phim đó; bây giờ muốn nghe loại nhạc nào, lập tức có thể nghe được; bây giờ muốn ăn gì, trong nước miếng liền sinh ra hương vị của món đó, nuốt vào chính là món đó; tôi muốn thứ gì, tuy không thể có ngay lập tức, nhưng cách vài ngày, thậm chí vài tháng, một năm, hoặc vài năm sau tôi đều có thể có được, chắc chắn sẽ có được, đây gọi là "dục thần túc".

Tóm lại, khi ước muốn vừa sinh khởi trong tâm, lập tức cảm nhận được ngay. Mọi người sẽ nghĩ, thật kỳ lạ, Sư Tôn muốn xem gì là có thể xem được ngay, vậy xem vào lúc nào? Khi ngủ thì đã quên sạch hết rồi, chính là lúc vừa đắp chăn lên người, nhắm mắt lại là có thể thấy được, lúc đó vẫn chưa ngủ, vừa hay muốn xem gì thì xem được nấy, cho nên giải thích về dục thần túc chính là "ước muốn điều gì, dục vọng tùy tâm". Dục thần túc là cấp độ sơ cấp nhất, Thượng sư có được dục thần túc này, mọi người tu hành cũng có thể đạt được dục thần túc.

Thứ hai là "niệm thần túc", cũng gọi là "niệm như ý túc". Như hiện giờ, khi Thượng sư vừa nghĩ đến, giống như đã nói trong pháp hội lần trước, đã đến cung Đại Nhật Pháp Giới, từ Đại Nhật Như Lai rồi hạ xuống Ma Ha Song Liên Trì, từ Ma Ha Song Liên Trì đến cõi Ma Vương, từ cõi Ma Vương đến cõi Đao Lợi, từ cõi Đao Lợi đến cõi Đế Thích, từ cõi Đế Thích lại hạ xuống địa ngục, rồi từ địa ngục đến Phổ Đà Sơn, từ Phổ Đà Sơn đến Thiên Hà Thắng Cảnh, cứ xoay chuyển qua lại như vậy, đều là "niệm như ý túc", đó là những trải nghiệm hạ sinh trong tiền kiếp của Thượng sư, không hề quên mất. Điều này không có nghĩa là chúng ta luôn tồn tại trong không gian ba chiều, bốn chiều, năm chiều, luôn luôn lưu chuyển trong quá khứ, hiện tại, tương lai, mà là khi bạn muốn biết về tiền kiếp, chỉ cần chuyển một ý niệm trong tâm trí, những cảnh tượng của tiền kiếp sẽ lần lượt hiện ra trước mắt, đây chính là thần túc thứ hai "niệm thần túc", Thượng sư cũng có điều này.

Vì vậy để đi vào kiếp trước một đời, hai đời, ba đời, thậm chí đến năm trăm đời trước, chỉ cần khởi một ý niệm là có thể nhớ lại tất cả. Năm trăm đời giống như năm trăm bộ phim vậy, nếu muốn biết về bộ phim thứ 499, chỉ cần tìm nó trong máy tính và phát lên xem, đó chính là niệm thần túc. Thượng sư đã tu chứng được niệm thần túc, không biết các bạn đã có chưa? Nếu không thể phát lại những ký ức tiền kiếp một lần nữa, thì giống như bây giờ, sẽ không thể hiểu được mối quan hệ giữa mình với tiền kiếp. Cuốn sách mà tôi đang viết đây chính là cuốn sách về "niệm thần túc".

Có một đệ tử từ Cao Hùng đến hỏi tôi: "Pháp môn Quan Âm là gì?" Nếu làm Thượng sư như tôi mà không trả lời được câu hỏi này thì chẳng phải rất mất mặt sao? May mắn thay, khi tôi tọa thiền, trong niệm thần túc, tôi đã đến rừng Tử Trúc ở Nam Hải Phổ Đà Sơn để gặp Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong kiếp trước, Quan Thế Âm Bồ Tát có một con chim tên là chim Thái Bình. Con chim này thấy tôi từ xa ngồi trên hoa sen trắng bay đến, rất ngạc nhiên, liền kêu lên: "Liên Hoa Đồng Tử đến rồi!" Các bạn có biết con chim này thường làm gì không? Nó thường ngậm tràng hạt của Quan Thế Âm Bồ Tát, nên khi vừa mở miệng, tràng hạt liền rơi xuống đất với một tiếng "bộp". Lúc đó, Quan Thế Âm Bồ Tát nói với nó: "Đây là một lỗi lầm nghiêm trọng, ngươi thấy người đến liền mở miệng kêu lên, làm rơi tràng hạt quý giá xuống đất, lỗi lầm này chính là nhân duyên khiến ngươi phải đầu thai xuống trần gian." Trong này có rất nhiều nhân quả, tạm thời không nói đến.

Tuy nhiên, khi ở chỗ Quan Thế Âm Bồ Tát, Ngài đã dạy tôi pháp môn Quan Âm. Pháp môn Quan Âm nói khó thì rất khó, nói dễ thì cực kỳ đơn giản, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát từng nói một câu rằng: "Chỉ cần niệm danh hiệu của ta, tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn." Pháp môn Quan Âm được chia thành hai giai đoạn tu tập, giai đoạn thứ nhất là "pháp nhiếp niệm", giai đoạn thứ hai là "pháp hóa niệm". Học được pháp môn Quan Âm có thể đạt được thành tựu, có thể thành Phật, pháp này cũng đầy đủ vạn pháp. Tôi đã học pháp này từ Quan Thế Âm Bồ Tát, đã viết nó trong sách, và cũng đã nhận được ấn tâm từ Quan Thế Âm Bồ Tát, ấn tâm chính là tâm ấn. Vì vậy, những gì tôi nói hôm nay về việc đến chỗ Quan Thế Âm Bồ Tát học được pháp môn Quan Âm, toàn bộ ký ức tiền kiếp này được hiện ra, đó chính là "niệm thần túc".

Như tôi đã từng nói lần trước, con của tôi và nhiều đứa trẻ khác đều đến từ cõi trời Đế Thích. Khi chúng mới sinh ra đã kết ấn Đế Thích, bà đầu bếp chính là Đại Cát Tường Thiên Nữ; mẹ tôi chính là chim Thái Bình; còn bố tôi chính là sứ giả cầm đèn. Rất nhiều nhân quả tiền kiếp liên kết với nhau, từng mắt xích một, tôi sẽ dùng niệm thần túc để viết ra tất cả. Tuy nhiên, những điều này đều không liên quan gì đến tôi, bởi vì tất cả chỉ là duyên mà thôi. Có duyên thì ở bên nhau, vô duyên thì chia lìa.

Thần túc thứ ba gọi là "tấn thần túc", tức là "tấn như ý túc". "Tấn như ý túc" là gì? "Tấn" nghĩa là "tinh tấn không gián đoạn", không ngừng nghỉ. Cuốn sách này viết ra để giải thích về sự tinh tấn không gián đoạn, không nghỉ ngơi. Thực ra, còn có một cách giải thích sâu xa hơn, khi đạt được tấn thần túc, mọi lúc mọi nơi đều là Phật, mỗi cử chỉ hành động đều là cử chỉ hành động của Phật, đây là bước tiến xa hơn nữa. Thần túc thứ nhất là "thỏa mãn ước muốn", thần túc thứ hai là "ý niệm của bạn luôn được thỏa mãn", thần túc thứ ba là "bạn hoàn toàn hợp nhất với Phật", gọi là "tấn thần túc".

Lấy một ví dụ, đôi khi chúng ta tu hành rất tinh tấn, khi nhập Tam ma địa, cảm nhận được dòng chảy pháp tràn ngập toàn thân, vô cùng xúc động, thậm chí rơi lệ, lúc đó lòng từ bi của chư Phật Bồ Tát chiếm ngự thân tâm ta, thực sự rất từ bi, khi đó tâm lượng của ta rất rộng lớn, rất ôn hòa, khi nói chuyện với người khác, làm việc đều thể hiện thân tâm của Phật Bồ Tát. Nhưng khi vừa rời khỏi chùa, rời khỏi nhà thờ, lại đi đến hộp đêm, lại uống rượu, hút thuốc, nói lời thô tục, lúc thì là Phật, lúc lại thành phàm nhân, đó không phải là tấn thần túc. Có người chỉ đi nhà thờ sám hối một lần mỗi tuần, từ thứ Hai đến thứ Bảy thì phạm tội, Chủ nhật lại vào nhà thờ sám hối. Đây chính là một vòng tuần hoàn phạm tội - sám hối - phạm tội - sám hối. Nếu chúng ta cũng như vậy, lúc nhập định thì là Phật, ra khỏi định lại phạm tội, như đang luân hồi vậy, lúc thì rất tinh tấn, tu tập rất tốt, lúc lại phạm sai lầm, đó không phải là tấn thần túc. Tấn thần túc là đã không còn gián đoạn hay thăng trầm nữa, đã giống như Phật vậy, là Phật không gián đoạn. Một sự tinh tấn không ngừng nghỉ, không gián đoạn, đó chính là "tấn thần túc", tức là đã thành Phật, trong đó có học vấn rất sâu xa.

Một vị Phật có tấn thần túc, khi nhập định là Phật, khi xuất định được gọi là "dạo chơi cõi người", dạo chơi cõi người chính là du hý tam muội. Thực ra trong du hý tam muội của Phật, tâm không hề lay động, nhưng hành vi của Ngài giống như người thường, bởi vì Ngài phải độ chúng sinh, nên hình tướng, thói quen, ngôn ngữ đời sống đều phải hòa đồng với chúng sinh. Vì vậy, dù đi đến địa ngục độ chúng sinh, đến hộp đêm độ chúng sinh, hay đến bất kỳ nơi nào để độ chúng sinh, đều phải giống như chúng sinh, nhưng điểm khác biệt duy nhất là tâm Ngài không hề lay động. Ngài muốn độ người ăn chay thành Phật thì cũng ăn chay; muốn độ người ăn mặn thành Phật thì cũng ăn mặn; muốn độ người điên thành Phật thì cũng phải giả điên! Vì vậy, Phật tùy thuận chúng sinh, trong sự tùy thuận đó rồi mới tìm cách độ hóa. Chỉ cần trong tâm luôn có Phật, không bao giờ gián đoạn, đó chính là "tấn như ý túc".

Thần túc thứ tư chính là "huệ như ý túc". Khi đã đạt được tấn như ý túc thì tự nhiên sẽ đạt được huệ như ý túc. Cần phải biết rằng trí huệ này không chỉ là kiến thức thế gian, mà là thấu hiểu tường tận tất cả các pháp. Khi người khác hỏi về bất kì pháp nào, có thể lập tức vận dụng trí huệ để trả lời rõ ràng. Là một vị Thượng sư, chúng ta phải hiểu biết tất cả các pháp, không những thế còn phải biết cách tu học những pháp này, có thể viên mãn thông suốt tất cả các pháp, đầy đủ trí huệ viên mãn, đồng thời phải giữ cho tâm mình luôn có Phật, không để mất đi. Khi đầy đủ bốn loại thần túc này thì gọi là "thần túc thông". Khi bạn hiểu được trí huệ từ đâu mà có, thế nào là "trí huệ chân chính", thì mới có "huệ thần túc thông". Khi bạn đầy đủ huệ thần túc thông, có thể nói bạn là người số một thiên hạ, tuyệt đối không phải người thứ hai.

Khi mọi người học pháp và đạt được trí huệ chân chính, sẽ cảm thấy toàn thể vũ trụ, mười phương trên dưới đều vì mình mà sinh ra, mọi trí huệ trong thiên hạ đều nằm trong tâm, không có vấn đề nào là không thông suốt, bất kì vấn đề nào cũng có thể dung thông hiểu thấu, như nghệ thuật, tôn giáo, triết học, học vấn của nhân gian, thậm chí tất cả mối quan hệ giữa người với người, cõi trời và mười pháp giới đều thấu hiểu tường tận, đó chính là "huệ thần túc".

Om mani padme hum.

### 45. Âm thanh của chúng diễn xướng các pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần

Hôm nay giảng về "ngũ căn, ngũ lực" trong Kinh A Di Đà. Thực ra ngũ căn, ngũ lực và như ý túc là gần giống nhau. Chúng ta có thể tự đọc, về ngũ căn và ngũ lực này mọi người nhìn qua đều sẽ hiểu.

"Ngũ căn là: Thứ nhất, tín căn - tin tưởng và chấp nhận các chân lý với lòng hoan hỷ. Thứ hai, tấn căn - do tin vào các pháp nên càng thêm tinh tấn. Thứ ba, niệm căn - luôn ghi nhớ không quên chính đạo và trợ đạo. Thứ tư, định căn - thu nhiếp tâm vào chính định, tương ứng không tán loạn. Thứ năm, huệ căn - tự soi chiếu quán xét, phân biệt rõ ràng. Giải thích ngũ căn xong."

Ngũ lực là: Thứ nhất, tín lực - khi tín căn tăng trưởng, có thể phá tan sự nghi ngờ. Thứ hai, tấn lực - khi tấn căn tăng trưởng, có thể phá tan sự lười biếng. Thứ ba, niệm lực - khi niệm căn tăng trưởng, có thể phá tan sự mê mờ quên lãng. Thứ tư, định lực - khi định căn tăng trưởng, có thể phá tan sự tán loạn. Thứ năm, huệ lực - khi huệ căn tăng trưởng, có thể phá tan sự ngu mê. Năm lực này nương theo năm căn ở trên, như cây lớn sinh rễ. Người tu tập ngũ lực giống như cành lá sum suê, ắt sẽ kết quả lớn. Giải thích ngũ lực xong.

Hôm nay chúng ta nói một chút về "thất bồ đề phần". Thực ra hai chữ "bồ đề" chính là "giác", dịch thành "giác". "Thất bồ đề phần" còn gọi là "thất giác chi".

Giác chi đầu tiên chúng ta gọi là "niệm giác chi". Niệm giác chi được nói đến ở đây dạy chúng ta tu hành chính là tu tập tâm niệm của mình. Nhiều người cho rằng tu hành là việc phiền muộn nhất, mỗi ngày đều phải làm công khóa cố định. Hồi còn đi học, điều sợ nhất là làm bài tập về nhà, nếu một ngày thầy cô thông báo: "Hôm nay không có bài tập, các em về nhà không cần làm bài!" thì vui mừng biết bao! Nhưng bây giờ là người tu hành, mỗi ngày đều phải làm công khóa, nghĩ lại quả thật rất mệt mỏi. Đôi khi đúng giờ làm công khóa cố định, lại gặp chương trình ti vi hay, liền nghĩ thôi vậy; đi tiệc tùng, ngày mai lại thôi; ngày mốt có người mời ăn cơm, cũng thôi luôn, cái thôi này không phải không đi ăn, mà là bỏ qua công khóa! Rồi ngày kia nữa, hiếm khi bị cảm cúm, tinh thần không tốt, Sư Tôn từng dạy tinh thần không tốt tu pháp cũng vô ích, à, thế thì nghỉ ngơi vậy; đến thứ Bảy, định đến Lôi Tạng Tự tham gia đồng tu, ôi, xe không chạy nổi, thôi, đừng đi nữa. Cứ như vậy, dần dần cảm thấy tâm trạng thoải mái, càng ngày càng xa rời việc tu hành, cuối cùng giống như đồng hồ ngừng chạy vậy. Tâm niệm chúng ta chưa bao giờ nhớ nghĩ đến Phật, nên càng ngày càng xa rời Phật.

Thực ra mỗi ngày phải cố định vào Phật đường để làm đại lễ bái, bốn pháp gia hành; lại phải tĩnh tọa, lại phải quán tưởng, lại phải kết thủ ấn, người khác sẽ cho rằng lãng phí thời gian, một người ở đó múa tay múa chân, đang làm gì vậy? Đời người thời gian cũng không dài, lãng phí trong mật đàn có ý nghĩa gì? Có người mỗi ngày tu pháp, đã tu được một năm, hai năm, ba năm, bốn năm, năm năm, bảy năm lâu như vậy rồi, mà một chút cảm ứng cũng không có.

Nhưng sau khi tu tập bảy năm như vậy mà vẫn chưa có một chút cảm ứng nào, phải làm sao đây? Sư Tôn dạy: "Chỉ cần tâm niệm càng tu càng sáng suốt, càng tập trung, đó chính là tiến bộ." Tốt nhất là khi tọa thiền, nhập định, có thể cảm nhận được niềm hoan hỷ vô cùng phát sinh. Sư Tôn khi nhập Tam ma địa, thậm chí ngay cả lúc cầm chuỗi hạt tụng chú cũng đã nhập định rồi. Trong trạng thái nhập định, sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng, thoải mái, chúng ta gọi cảm giác này là "pháp hỷ", chính là niềm vui trong tu pháp. Phải giải thích thế nào về niềm vui tu pháp này đây? Thật sự rất khó, nhưng tôi thường thích ví von đó như "các tế bào đang nhảy múa".

Trong cuộc đời có hai điều hạnh phúc nhất, một là ăn, hai là ngủ. Trước kia khi tôi chưa tu pháp, tôi cho rằng ăn là niềm vui số một thiên hạ, ngủ là niềm vui số hai thiên hạ. Bố tôi thì khác với tôi, ông thường nói rằng ngủ quan trọng hơn ăn. Dù sao đi nữa, ai cũng cho rằng ăn và ngủ đều rất sướng. Sư Tôn đã phát hiện ra một điều bí mật, khi chúng ta tu pháp, chính là các tế bào trong cơ thể đang ăn uống, và hương vị của pháp này rất ngon, sau khi mỗi tế bào được thưởng thức, tất cả đều nhảy múa.

Vì vậy khi công phu trở nên buồn tẻ, chúng ta càng phải tinh tấn hơn nữa. Khi đã nếm được pháp vị và các tế bào tràn đầy linh lực, niềm vui nhẹ nhàng đó sẽ giúp bạn tiếp tục tu hành mãi mãi. Trạng thái này chính là khi dòng pháp trong vũ trụ đổ đầy vào thân, khiến bạn cảm thấy toàn thân nhẹ bổng bay lên. Nếu có được trải nghiệm như vậy, sẽ không còn sợ hãi hay lười biếng tu pháp nữa, bởi vì vào mật đàn tu pháp chính là để được nhẹ nhàng, để được bay bổng! Mỗi ngày được vào trong đó thư giãn một chút, bay bổng một chút, không phải rất tốt sao? Vì vậy Sư Tôn có thể tu pháp liên tục mỗi ngày là có lý do, đó chính là mỗi ngày được vào trong đó thư giãn một chút, tu pháp và bay bổng.

Bạn biết đấy, cuộc sống con người trên thế gian này có rất nhiều nỗi khổ, mỗi người đều có phiền não riêng, nhà nào cũng có nỗi khó khăn của riêng mình. Tâm trí chúng ta thường xuyên bấp bênh, khi phiền não đến, tâm giống như một chiếc thuyền con liên tục lay động, không thể giữ được bình tĩnh; lúc tâm trạng bất ổn dễ nổi giận, cáu gắt, cũng dễ làm sai việc, thường xuyên như một con thuyền tròng trành không định. Khi chúng ta vào mật đàn tu pháp, có thể loại bỏ được tâm phiền não này, giúp con thuyền trong tâm được vững vàng, để biển tâm được bình lặng. Ý nghĩ của con người thường xoay chuyển trong biển khổ, nhưng nhờ có tu pháp, tu tâm, nên khiến ý nghĩ trở nên tĩnh lặng không sóng. Vì tu pháp có thể sinh định, từ định sinh huệ, nên chúng ta vẫn phải tu pháp mỗi ngày, tốt nhất là có thể sinh ra pháp hỷ, một khi có pháp hỷ, sẽ tinh tấn tu pháp, không còn lười biếng.

Chúng ta hãy bàn về yếu tố giác ngộ thứ hai, đó là "trạch giác chi". Trạch giác chi thực chất là một loại trí tuệ, giúp chúng ta có thể quán chiếu mọi sự việc để phân biệt đâu là chính, đâu là tà, đâu là thật, đâu là giả - đó chính là trí tuệ.

Thế giới này vốn dĩ là sự pha trộn giữa thật và giả, như tôi đã từng nói, ở đời có thật thì sẽ có giả, nói về tu hành chẳng hạn, ai cũng tự cho mình là đúng; Sư Tôn nói: "Phật pháp tôi giảng là Phật pháp thật." Nhưng người khác lại không nói như vậy! Họ sẽ nói: "Phật pháp của chúng tôi mới là thật, Phật pháp bên Thượng sư Lư là giả." Có người còn nói: "Những gì tôi đang học mới là cao siêu nhất, bên Thượng sư Lư là tà." Tuy nhiên cũng có nhiều người đến đây nghe pháp, sau khi nghe xong cảm thấy Sư Tôn giảng hay, nơi này mới là thật.

Nhưng khi gặp một người tu hành khác nói với anh ta rằng: "Anh không biết đâu! Chỗ của Thượng sư Lư không thể đến được, đó là tà đạo!" Lúc đó trong lòng anh ta sẽ nảy sinh nghi hoặc - rốt cuộc đâu là thật, đâu là giả? Không thể lựa chọn được, bởi vì không có trí tuệ. Thế là, một lúc thì Nhật Liên Tông gọi anh ta đến quy y, anh ta liền đi theo, suốt ngày niệm "Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh". Rồi khi tiếp xúc với Tịnh Độ Tông, họ nói không được niệm kinh của Nhật Liên Thượng Nhân nữa, phải niệm Phật! Anh ta lại đi quy y, bây giờ lại niệm "Nam Mô A Di Đà Phật".

Sau đó có người của Tiên Thiên Đạo nói với anh ta: "Đạo của chúng tôi chỉ cần điểm đạo là lên thiên đường ngay." Thế là anh ta lại đi điểm đạo, bây giờ đổi sang niệm ngũ tự chân ngôn "Vô Thái Phật Di Lặc". Bất chợt lại có người của Thiên Đức Giáo đến nói: "Những cái đó đều thấp kém cả, Vô Hình Đạo Tổ của chúng tôi mới là cao nhất." Ồ! Thế là anh ta lại đi quy y, niệm nhị thập tự chân ngôn "Trung Hiếu Liêm Minh Đức Bác Ái Tín Nhẫn Công". <span className="note-blue">[Nhị thập tự chân ngôn gồm 20 chữ đầy đủ là "trung thứ liêm minh đức, chính nghĩa tín nhẫn công, bác hiếu nhân từ giác, tiết kiệm chân lễ hòa".]</span> Đột nhiên anh ta nghĩ: "Ôi, lâu quá không đến Lôi Tạng Tự, đến thăm một chút vậy." Thế là anh ta lại bắt đầu niệm: "Ôm bua-rua lan chưa-li". Chẳng biết làm sao! Không có trí tuệ để quán chiếu, không thể tự lựa chọn, người ta nói Đông thì theo Đông, người ta nói Tây thì theo Tây.

Người tu hành chúng ta cần phải thiền định để đạt được "trạch giác chi", tức là dùng trí tuệ để quán chiếu, vì vậy mọi việc đều phải dùng lý trí để phân biệt, không thể nghe một vài lời nói mà đã thay đổi mục tiêu tu hành của mình. Thực ra, mỗi việc đều phải dùng lý trí để phân biệt, rồi dùng trí tuệ để quán chiếu, chọn lấy cái đúng làm kim chỉ nam cho cả đời, như vậy mới đúng. Người tu hành phải biết tự lựa chọn, phải có chủ kiến, dùng lý trí để phân biệt, chứ không phải người ta nói Đông thì theo Đông, nói Tây thì theo Tây, người ta nói một chút không đúng là không đến nữa, như vậy là không đúng.

Yếu tố giác ngộ thứ ba là "tinh tấn giác chi", tu hành cần phải tinh tấn, không được gián đoạn.

Yếu tố giác ngộ thứ tư là "hỷ giác chi", như vừa nói ở trên, đó là đạt được pháp hỷ, pháp vị, không điên đảo và có thể tinh tấn.

Yếu tố giác ngộ thứ năm là "khinh an giác chi". Khinh an nghĩa là đoạn trừ phiền não, chỉ có người đoạn trừ được phiền não mới có thể đạt được thân tâm khinh an. Bởi vì nếu trong tâm có chuyện, sẽ cảm thấy rất nặng nề. Nếu tâm không có phiền não, không có việc gì, sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng, vui vẻ.

Yếu tố giác ngộ thứ sáu là "định giác chi", định giác chi là gì? Bởi vì tâm đã định, nên có thể bất động, đã bất động thì sẽ không còn yêu, không còn ghét.

Yếu tố giác ngộ thứ bảy gọi là "xả giác chi". Chúng ta đều biết trong thế giới này, một trong những điều khó nhất chính là buông xả; đôi khi chúng ta rất khó buông bỏ tình cảm quá khứ, như người ta thường nói "ngọn lửa tình cũ bùng cháy trở lại", ở Đài Loan có một bài hát tên là "Tình xưa miên man"; không chỉ khó buông bỏ tình yêu, tiền bạc cũng khó buông xả, còn rất nhiều thứ khác nữa, như những oán hận trong quá khứ, những điều tiếc nuối, cũng không thể buông bỏ. Vì vậy, công phu buông xả là một yếu tố giác ngộ, phải có khả năng buông xả thì mới có thể đạt được thành tựu. Tại sao Phật Thích Ca Mâu Ni có thể đạt được thành tựu? Bởi vì Ngài có thể buông xả, buông bỏ ngôi vua, buông bỏ vợ con, buông bỏ tài sản, buông bỏ tất cả những duyên bên ngoài, Ngài có thể hoàn toàn nhìn thấu, hoàn toàn buông bỏ danh vọng, lợi lộc, địa vị, thậm chí tất cả mọi thứ trên thân mình, vì vậy mới đạt được đại thành tựu. Đó chính là xả giác chi.

Bảy yếu tố giác ngộ đến đây là hết.

Om mani padme hum.

### 46. Bát thánh đạo phần… hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng

Kinh văn: 

"… bát thánh đạo phần; chúng sinh trong cõi ấy nghe những âm thanh này rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng."

Tối nay chúng ta tiếp tục giảng Kinh A Di Đà. Thứ Bảy tuần trước chúng ta đã giảng về "thất giác chi", tối nay sẽ giảng về "bát chính đạo". Trong đó có đề cập đến chữ "chính", tức là nói về chính đạo, nghĩa là đi trên một con đường chân chính, tu hành của chúng ta chính là phải đi trên một con đường chân chính.

Bát chính đạo là chia chính đạo thành tám loại đạo lý để giảng:

Thứ nhất là nói về "chính kiến", chữ "kiến" này có nghĩa là "sự thấy biết chân chính". Khi Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu thuyết pháp, Ngài giảng về bốn diệu đế, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Hiểu rõ được đạo lý của Khổ, Tập, Diệt, Đạo chính là một loại chính kiến. Giáo pháp đầu tiên mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng là bốn diệu đế, và giáo pháp cuối cùng Ngài giảng cũng là bốn diệu đế.

Thứ hai là nói về "chính tư", "chính tư" còn gọi là "chính tư duy", nghĩa là tư tưởng của bạn rất chân chính. Tư tưởng rất chân chính là bởi vì từ chính kiến về pháp bốn đế của bản thân mà dẫn phát ra tư tưởng, đó chính là tư tưởng chân chính, gọi là chính tư duy. "Chính kiến" và "chính tư", một cái là kiến giải chân chính, đúng đắn, một cái là tư tưởng chân chính, đúng đắn.

Thứ ba là "chính ngữ", thông thường những lời chúng ta nói ra đều phải rất công chính, và phải hết sức đúng đắn, hợp lý, gọi là chính ngữ. Cái gọi là chính ngữ bao gồm cả việc không được nói ỷ ngữ, ỷ ngữ là gì? Đôi khi rất khó giải thích. Trước đây khi chúng ta mới bắt đầu học tiếng Anh, có những giáo viên nói: "Các em học tiếng Anh tốt nhất nên bắt đầu từ những từ ỷ ngữ (những từ khiếm nhã)." Tại sao giáo viên tiếng Anh lại bảo chúng ta bắt đầu học từ những từ khiếm nhã? Bởi vì nó dễ thu hút người học hơn. Trước đây khi tôi còn học đại học, có một người bạn thường xuyên đọc tiểu thuyết tiếng Anh, anh ấy học tiếng Anh rất nghiêm túc, gặp từ nào không hiểu là lập tức tra từ điển. Tôi hỏi: "Sao cậu lại chăm chỉ đến thế?" Anh ấy đáp: "Vì đó là tiểu thuyết khiêu dâm." Cốt truyện của nó rất lôi cuốn, dễ dàng kích thích hứng thú học tập. Nếu là tiếng Anh chính thống thì anh ấy không đọc nổi, chỉ có tiểu thuyết khiêu dâm mới khiến anh ấy chăm chỉ tra từ điển, những đối thoại trong loại tiểu thuyết này gọi là ỷ ngữ.

Trong chính ngữ còn có một điểm rất quan trọng là "không hai lưỡi", điểm này rất quan trọng, bởi vì hai lưỡi là một điều rất đáng sợ. Tôi nhận thấy trong thế gian này, có rất nhiều người nói nhiều không ngừng, như người Trung Quốc thường nói: "Chê nhà họ Trương, khen nhà họ Lý." Họ lúc chạy đến nhà này nói chuyện nhà kia, lúc chạy đến nhà kia nói chuyện nhà này, đây gọi là hai lưỡi, người nói lời chân chính không hai lưỡi. Thực ra trên đời này muốn tìm một người quân tử chân chính rất hiếm, ai cũng có khuyết điểm, chúng ta là người tu hành phải che giấu điều xấu, phát huy điều tốt, học những ưu điểm của người khác, không nên phô bày khuyết điểm của người khác, như vậy mới có thể thực sự học được chính ngữ.

Tôi nghĩ như lời Khổng Lão Phu Tử đã từng nói: "Chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó dạy." Có lẽ ngài đang đề cập đến chính ngữ. Trước đây tôi từng đọc một quyển sách, nói về bảy đời, ba đời hay mấy đời sống chung một nhà, trong đó có một câu chung là "đừng nghe lời phụ nữ"; bởi vì một khi nghe theo lời phụ nữ thì xong rồi, nửa đời cũng không thể sống chung được. Tất nhiên, đàn ông đôi khi cũng nói hai lời, nhưng phụ nữ thường hay nói hai lời hơn một chút, vì vậy cả nam lẫn nữ đều phải giữ gìn chính ngữ.

Còn có một điều tệ hại hơn nữa là "ác khẩu", miệng lúc nào cũng thốt ra những lời chửi rủa ba chữ, năm chữ, trong tiếng Anh có cả những câu chửi bốn chữ, những điều này đều không tốt. Bởi vì đây là những lời lệch lạc, không phải là chính ngữ.

Tại sao việc tu hành lại dạy mọi người niệm Phật? Bởi vì khi niệm Phật, tâm sẽ được thu nhiếp, tại sao lại dạy bạn trì chú? Bởi vì khi trì chú, sẽ không thể ác khẩu. Chú chính là một loại chính ngữ, danh hiệu Phật cũng là một loại chính ngữ. Niệm Phật trì chú có thể thu về khẩu nghiệp của bạn, khiến cho khẩu nghiệp được thanh tịnh.

Thứ tư, chúng ta nói về "chính nghiệp". Chính nghiệp không phải là nghiệp đen, mà là nghiệp thiện màu trắng. Chúng ta nói nghiệp thanh tịnh chính là thuộc về chính nghiệp.

Thứ năm, chúng ta nói về "chính tinh tấn". Tinh tấn là tinh tấn, vậy tại sao còn phải thêm chữ "chính"? Đi trên con đường chân chính mới gọi là chính tinh tấn. Nếu không, dù có hiểu được đạo lý tinh tấn, nhưng pháp tu không đúng, đã lệch lạc mà bản thân chưa nhận ra, thì sự tinh tấn như vậy là vô dụng. Học pháp là để làm gì? Nếu học pháp chỉ để có được thần thông rồi hơn người, đấu đổ tất cả các pháp sư, thì không gọi là chính tinh tấn. Có nhiều người học kiếm thuật, chăm chỉ luyện kiếm chỉ để giết hết tất cả những người biết kiếm thuật, muốn trở thành thiên hạ đệ nhất, thì đó cũng không phải là chính tinh tấn. Có người rất tinh tấn, nhưng lại thích so đo hơn thua với đồng môn, sau khi có được pháp lực thì chuyên đi hại người bằng bùa ngải, đó cũng không phải là chính tinh tấn.

Trước đây có một vị Tổ sư của phái Bạch giáo tên là Milarepa đến tham học với Lama Ung Đông Giáp. Ngài học pháp với tâm oán hận, mục đích chỉ để trả thù những người đã từng gây hại cho gia đình. Bởi vì trước kia, dân làng đã ngược đãi họ - một gia đình góa phụ và cô nhi, và đuổi họ ra khỏi làng, nên giờ đây ngài học pháp trở về là để trừng phạt những người đồng hương đó. Milarepa đã học được thuật làm mưa đá, và khi quay về làng, ngài đã thi triển pháp thuật khiến mưa đá rơi xuống, phá hủy toàn bộ lúa mạch và lúa gạo của dân làng. Đây chính là tâm thái "người khác càng đau khổ, ta càng vui sướng". Tương tự như một vị thầy thuốc học được tà pháp, rồi thi triển khiến cả làng mắc dịch bệnh, buộc tất cả mọi người phải đến nhờ ông ta chữa trị; hoặc như người bán quan tài thi triển pháp thuật khiến nửa dân làng chết đi. Những cách học pháp như vậy đều không phải là chính tinh tấn.

Milarepa rất lợi hại, những người cô, dì trước đây đã bắt nạt ngài, tất cả đang ở trong ngôi nhà mới, đang ăn tiệc cưới, ngài liền làm một pháp thuật, pháp thuật vừa làm xong, ôi trời ơi! Tất cả chuột bọ đều tụ tập lại gặm nhấm các cột nhà mới. Mối cũng tập trung lại, ăn hết cả bốn cột trụ của ngôi nhà. Trên lầu đang uống rượu mừng, ăn tiệc cưới, cũng là ngày vui chuyển nhà, không ngờ các cột trụ vừa bị ăn xong, cả ngôi nhà sụp đổ, đè chết hơn hai mươi người. Mặc dù pháp lực của Milarepa rất mạnh, nhưng thực ra đây không gọi là chính tinh tấn, bởi vì pháp này là lệch lạc. Vì vậy khi chúng ta học pháp phải chính tinh tấn. Pháp bốn đế là một chính pháp, điều quan trọng nhất là càng học tâm càng phải bình an, càng tĩnh lặng, để đi vào Niết bàn tịch tĩnh, chứ không phải càng học pháp càng muốn đấu tranh.

Trước đây có một thời gian Sư Tôn cảm thấy mình là người số một thiên hạ, gặp một số pháp sư giỏi hơn mình là muốn tìm họ tính sổ; bây giờ thì khác, giờ là người cuối cùng thiên hạ, không dám như vậy nữa. Lúc mới học pháp, cảm thấy mình rất mạnh, trong vũ trụ mười phương trên dưới chỉ có mình ta cao nhất, ta chính là Phật. Thực ra trong thiên hạ, cao thủ còn có cao thủ hơn, núi này cao còn có núi khác cao hơn, sóng sau đẩy sóng trước, người mới thay người cũ, giờ tôi càng lớn tuổi thì đầu óc càng kém, càng mờ mịt. Con hổ con mới sinh thì trời cao đất dày chẳng sợ gì cả, bê con mới đẻ không sợ cọp, nhưng bây giờ thì cái gì cũng sợ. Mới bắt đầu học Phật thì Phật ở trước mặt; học Phật năm mươi năm rồi thì Phật ở tận chân trời. Trí tuệ của đời người thật là bao la viên mãn, không phải kiếp sống nhỏ bé của chúng ta có thể học hết được. Lý do bây giờ không dám làm người số một thiên hạ, là vì càng học càng sợ, càng học càng thấy mình nhỏ bé, càng học càng không dám ngạo mạn, cuối cùng đành phải im lặng. Vì vậy nhờ pháp bốn đế mà có thể hướng đến Niết bàn, tâm được bình an tĩnh lặng, đó là vì đã hiểu rõ tất cả.

Thứ sáu, chúng ta nói về "chính định". Ở đây chính định không phải là thiền định, mà là bất động, nghĩa là chuyên tâm đi trên con đường chân chính này, không quay đầu lại, không thoái lui tâm ban đầu. Sư Tôn đã không thoái lui tâm ban đầu, dù sao thì kiếp này đã quyết tâm đi con đường này đến cùng. Thực ra trong số những người đến tu hành, hay những người đến quy y, người có thể chính định, hoàn toàn không dao động, cũng không nhiều. Người có thể có lòng kiên trì, có thể tu hành, có tâm định tĩnh, có thể quyết chí không lay chuyển, đó gọi là chính định.

Thứ bảy là "chính niệm", chính niệm có nghĩa là ý niệm của bạn rất đúng đắn, ở đây được giải thích là tâm bất động. Chúng ta biết dùng tâm có thể tiêu diệt tất cả hoàn cảnh, ai cũng nói: "Tâm tôi đã không động"; nhưng khi hoàn cảnh vừa thay đổi, tâm liền động. Tâm người thực ra đều bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài, tôi đã từng nói, đang niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, bỗng có một cô gái đẹp đi qua cửa, bạn nghĩ: "A Di Đà Phật đẹp quá!", thực ra A Di Đà Phật không phải là đẹp, A Di Đà Phật là trang nghiêm. Miệng vẫn còn niệm A Di Đà Phật, nhưng tâm đã động rồi, tâm người thật không dễ tu đến mức bất động. Ý niệm của chúng ta thường bị môi trường bên ngoài lôi kéo, vì vậy chính niệm chính là giữ tâm không động.

Có lẽ mọi người đều nghĩ rằng mình đã tu tập rất tốt rồi, tâm đã không còn động nữa. Thực ra, muốn thử xem tâm mình có động hay không rất đơn giản, chỉ cần nhắm mắt lại một chút, khi nhắm mắt lại tâm đang nghĩ gì? Có thể vừa nhắm mắt lại, bạn gái liền hiện ra trong tâm; có thể vừa nhắm mắt lại, liền thấy kẻ thù; có lúc vừa nhắm mắt lại, phát hiện trong tâm đang nói chuyện, hóa ra trong tâm toàn là đang chửi người; hoặc có khi vừa nhắm mắt lại, ôi chao! Tệ quá, vừa rồi mình xem một cuốn tạp chí, có một cô gái xinh đẹp, cô ấy liền hiện ra trong tâm. Tâm luôn luôn động, không có chuyện bất động. Nói rằng tâm mình không động, những người chưa tu tập đều là nói dối. Người chơi chứng khoán, trong tâm toàn là cổ phiếu; người thích chính trị, trong tâm đã đang bầu cử; người thích triết học, trong tâm toàn là lý thuyết triết học. Hãy nghĩ xem, tâm bạn đã từng tĩnh lặng chưa? Vì vậy Phật pháp dạy người ta phải chính niệm, chính là nói về tâm bất động.

Thứ tám là nói về "chính mệnh", thông thường mà nói, chính mệnh này cũng rất khó giải thích, Phật đã từng nói về năm loại tà mệnh, chỉ cần chúng ta thấu hiểu kĩ càng, sẽ có thể phân biệt rõ ràng giữa chính mệnh và tà mệnh.

Loại thứ nhất gọi là hiện tướng đặc biệt. Thể hiện khác với người khác, giống như khi chúng ta cùng đứng chụp ảnh, tôi phát hiện có một đệ tử cứ thò đầu ra như thế này, rất kỳ lạ, bất kể tấm ảnh nào, đầu của người đó cũng như vậy, đây gọi là hiện tướng đặc biệt, luôn thích thể hiện bản thân khác với người khác; cách giải thích này có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng đây chính là hiện tướng đặc biệt. Có người rất thích thể hiện bản thân, thực ra thể hiện cũng là điều tốt, nhưng phải tự nhiên, đừng vì muốn thể hiện mình mà cố tình làm những hành động kỳ quặc. Ý của chư Phật Bồ Tát là như vậy rất giả tạo, bởi vì sự giả tạo của bạn và việc thể hiện những điều kỳ lạ, đây không phải là chính mệnh tốt.

Loại thứ hai là tự nói công đức. Cảm thấy mình vĩ đại, công đức đã nhiều lắm rồi, cao như trời vậy, tôi đã làm bao nhiêu việc thiện, in bao nhiêu kinh sách, độ bao nhiêu người, cúng dường bao nhiêu, tôi đã từng thuyết pháp độ chúng sinh cho hàng vạn người, không ai có công đức bằng tôi, đây cũng là tà mệnh. Bởi vì trong mắt chư Phật Bồ Tát, cái gọi là công đức chính là không có công đức, không có công đức mới là công đức thật sự. Chúng ta làm việc thiện phải không khởi tâm nghĩ đến công đức, đó mới là công đức thật sự, nếu còn nghĩ đến công đức mà làm việc thiện, thì công đức sẽ giảm một nửa. Cho nên thường xuyên khoe khoang công đức của mình lớn lao, đó chính là một loại tà mệnh.

Loại thứ ba là xem bói cho người khác - chiêm đoán lành dữ. Thực ra việc chiêm đoán lành dữ đôi khi cũng không phải là không tốt, miễn là dẫn dắt người ta hướng thiện, dẫn người vào cửa Phật, điểm xuất phát này đều là thiện. Nhưng nếu chỉ nói về điềm tốt xấu, mà không đi đúng chính đạo, thì đó là tà mệnh. Thậm chí còn nhân cơ hội lừa tiền, đe dọa người khác, thậm chí còn lừa gạt sắc dục, đây chính là tà mệnh của việc chiêm đoán lành dữ.

Trước đây chúng tôi từng đến một nơi xem bói, thầy bói nói: "Ôi chao! Không được rồi, năm nay anh phải mặc đồ trắng." Ông ta không nói thẳng ra, chỉ nói mặc đồ trắng, chúng tôi đều cảm thấy rất lạ, mặc đồ trắng là sao? Có phải là quần áo của chúng tôi đều trắng và sạch sẽ? Theo phong tục của người Trung Quốc, mặc đồ trắng là biểu hiện nhà có tang sự mới mặc đồ trắng, giống như là đồ tang vậy. Sau khi hiểu ra, chúng tôi nghĩ: "Phải làm sao đây? Là ông nội, bà nội, cha, hay là mẹ? Rốt cuộc là ai?" Chúng ta thường mong muốn người thân trường thọ, sống càng lâu càng tốt, vừa nghe nói năm nay có tang sự, trong lòng liền hoảng sợ. Lúc này, thầy bói lấy một cái búa, từ một hòn đá đập xuống một mảnh đá nhỏ, dùng một tờ giấy vàng gói lại, ông ta nói: "Vật này có thể cứu mạng người nhà anh, anh có muốn không?" Chúng tôi đương nhiên nói muốn! Một mảnh đá nhỏ này có thể cứu mạng người nhà, làm sao tôi có thể không muốn chứ! Bên cạnh ông ta đặt một ống bút, ông ta liền đưa lên trên ống bút và nói: "Muốn thì phải trả ○○ tiền, không muốn thì tôi sẽ ném xuống." Đương nhiên lúc đó trong lòng rất giằng xé, vì nếu không lấy, tức là mất đi một người thân, còn nếu muốn thì phải đưa ra bao nhiêu tiền. À! Tôi biết được thủ đoạn nhỏ của thầy bói này, nên tôi nói với ông ta: "Không lấy." Ông ta nói: "Anh không lấy, tôi thật sự ném xuống là chết đấy." Lúc đó tôi vẫn giữ tâm không động và nói không lấy. Tại sao vậy? Bởi vì lúc đó tôi cũng không có nhiều tiền như thế, hơn nữa lại còn rất keo kiệt. Thực ra, đó là lừa đảo! Hoàn toàn không có chuyện đó. Nhưng thầy bói nắm được tâm lý "Anh muốn người đó sống hay chết?" để đe dọa bạn, khiến bạn phải móc tiền ra.

Loại thứ tư là cao giọng giương oai". Thực ra khi Phật Thích Ca Mâu Ni đề cập đến điểm này, tôi thấy cũng khá thú vị. Tôi nhận thấy những người nói to để thể hiện uy quyền thường là quan chức hoặc người giàu có. Bởi vì nếu không nói to thể hiện uy quyền, người ta sẽ không biết họ có tiền có thế, người giàu thường nói chuyện to tiếng hơn, ít nhất là vì họ đang đứng trên đống tiền mà nói chuyện. Tuy nhiên khi chư Phật Bồ Tát nói về việc thể hiện uy quyền bằng cách nói to, phần lớn là chỉ những người giàu có, quan chức hay người có phước báu. Những người giàu có, quan chức địa vị cao do họ có phước báu nên mới thể hiện uy quyền bằng cách nói to, đôi khi cũng không có gì sai! Thực ra khiêm nhường một chút thì tốt hơn là thể hiện uy quyền bằng cách nói to, nếu không sẽ bị người ta chê là "mùi thùng phân quá nồng" (tục ngữ Đài Loan). Kiêu căng ngạo mạn, mùi hôi xông trời, dễ khiến người khác cảm thấy không hài lòng hoặc gây ra tranh chấp, vì vậy đây cũng là một loại tà mệnh. Do đó, quan chức càng khiêm nhường, người giàu càng khiêm nhường thì càng được người khác tôn kính hơn.

Loại thứ năm là nói về lợi ích đạt được. Ví dụ trong việc tu pháp, giống như sáng nay có người gọi điện đến nói: "Sư Tôn, con đã đắc đạo rồi." Tôi nói với anh ấy: "Chúc mừng anh!" Vài ngày sau anh ấy lại gọi điện đến nói: "Sư Tôn, con lại không đắc đạo nữa rồi." Nói thật, việc anh ấy nói không đắc đạo mới là bình thường. Khi anh ấy nói đã đắc đạo, tôi rất buồn, bởi vì có thể đầu óc anh ấy đã có vấn đề! Trước đây cũng có người gọi điện cho tôi nói: "Sư Tôn, tối qua con đã đắc đạo rồi." Ah! Tôi rất lo lắng, bởi vì chỉ vài ngày nữa chắc chắn anh ấy sẽ bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Cho nên đắc đạo không phải là thứ dùng miệng nói ra, cũng không phải dùng tâm, cũng không phải dùng thân thể để thể hiện; mà là trong tâm thực sự đã giác ngộ, vô cùng bình an, vô cùng an lành.

Trước đây có người gọi điện cho tôi nói rằng: "Sư Tôn, con đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì và gặp được ngài." Tôi hỏi: "Vậy anh thấy tôi như thế nào?" Người đó đáp: "Thầy là một chú ếch nhỏ trong Ma Ha Song Liên Trì." Không lâu sau, tình trạng trở nên nghiêm trọng và người đó phải vào bệnh viện tâm thần. Cho nên những người nói mình đã đắc đạo thật ra là chưa đắc đạo, thần thông quá mức sẽ dẫn đến tẩu hỏa nhập ma, đó chính là tà mệnh. Thần thông chân chính là không có thần thông, bởi vì tâm bạn vận hành tự nhiên như vũ trụ, tự nhiên không có thần thông gì cả, tất cả đều diễn ra một cách tự nhiên, người giác ngộ thật sự là người không tranh đua với đời, tâm luôn bình an.

Tám chính đạo này còn gọi là tám chính pháp, giống như tám con thuyền hướng về chính đạo, có thể vượt qua sông phiền não, đến được bờ bên kia của sinh tử, đạt đến Niết bàn chân chính. Phần giải thích về tám chính đạo đến đây là hết.

Om mani padme hum.

### 47. Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng…. muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra.

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng: "Những con chim này thực sự do tội báo mà sinh ra." Vì sao vậy? Vì cõi Phật ấy không có ba đường ác. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy còn không có tên gọi của đường ác, huống chi là có thật. Những con chim ấy đều do Phật A Di Đà muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra."

Tuần trước chúng ta đã nói về tất cả các loài chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc, âm thanh mà chúng phát ra, và giáo pháp do chính những con chim này thuyết giảng, đến đây là kết thúc.

Do đó trong kinh có nói: "Tất cả các loài chim này, ngày đêm sáu thời, phát ra âm thanh hòa nhã, những âm thanh ấy diễn giảng về ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần và các pháp như vậy; chúng sinh ở cõi đó nghe được âm thanh này rồi, thảy đều niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng."

Ở đây có hai đoạn kinh văn: "Ông chớ nghĩ rằng: 'Những con chim này thực sự do tội báo mà sinh ra.' Vì sao vậy? Vì cõi Phật ấy không có ba đường ác." Đoạn này nói về những con chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc không phải sinh ra từ đường ác.

Trong kinh văn còn nói: "Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy còn không có tên gọi của đường ác, huống chi là có thật. Những con chim ấy đều do Phật A Di Đà muốn cho âm thanh của pháp được lan truyền mà biến hóa ra." Ý nghĩa của đoạn kinh văn này là nói, những con chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc đều do chính Phật A Di Đà biến hóa ra, không phải do nghiệp báo từ ba đường ác sinh ra. Trước đây, có một vị thiền sư hỏi: "Tại sao Phật A Di Đà lại hóa ra những con chim bay đi bay lại trong thế giới Tây phương Cực Lạc?" Tôi nghĩ việc Phật A Di Đà biến hóa ra những con chim là có lý do của Ngài, bởi vì tiếng chim hót rất hay; khi chim bay lượn trên không trung, dáng vẻ rất đẹp; bộ lông của chim rất đẹp, màu sắc phong phú, và hình dáng của chim nhìn rất đẹp. Chim tượng trưng cho sự du hành, chúng bay khắp nơi, rất tự do, đây là điều mà người ta thường mơ ước. Vị thiền sư này hỏi: "Tại sao Phật A Di Đà lại biến hóa ra những con chim bay lượn trên không trung?" Bởi vì người đời đều thích chim, nên Ngài hóa ra những con chim để thuận theo ý nguyện của chúng sinh.

Phật A Di Đà rất thông minh, Ngài không biến hóa ra những con rắn ở thế giới Tây phương Cực Lạc, nếu thế giới Tây phương Cực Lạc toàn là rắn thì tôi sẽ là người đầu tiên không dám đến. Ngoài ra tại sao thế giới Tây phương Cực Lạc không có gấu? Tại sao không có hổ? Tại sao không có voi hay tê giác? Bởi vì những con vật này hoặc là quá to lớn, hoặc là quá hung dữ, hoặc là trông rất xấu xí. Nếu trong Ma Ha Song Liên Trì có cả cá sấu thì chúng ta sẽ khốn đốn! Không phải là loài cá đói bụng đâu, mà là loài gọi là alligator, tôi còn biết từ này đấy. Nhưng những con chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc không có loại to lớn và hung dữ như đại bàng hay kim sí điểu, tất cả đều là những con chim rất hiền hòa. Giống như cách chúng ta hay ví von hiện nay, phe chủ trương dùng vũ lực gọi là phái diều hâu, phe chủ trương hòa bình gọi là phái bồ câu, bồ câu là loài chim có tính tình ôn hòa và hiền lành hơn.

Ngoài ra tôi còn nghĩ, tại sao Phật A Di Đà lại biến hóa ra những con chim ở thế giới Tây phương Cực Lạc? Bởi vì những con chim này được biến hóa ra để thuận theo sở thích của chúng sinh. Tiếng chim rất du dương, và chúng diễn xướng những âm thanh Phật pháp, khiến người nghe sinh tâm hoan hỷ.

Bản thân tôi rất ngưỡng mộ tư tưởng của Trang Tử, tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử đều như thể có thể bay lên, khi tư tưởng bay bổng, nó giống như chim vậy, lướt đi hàng vạn dặm, vượt xa trí tưởng tượng của người đời. Vì thế Trang Tử từng mơ mình là một con bướm, khi bướm bay, dáng vẻ cũng vô cùng uyển chuyển đẹp đẽ. Nhưng tôi không thích giống như bướm, bởi vì bướm đến mùa đông đều phải chết.

Sư Tôn thích chim hơn, như những loài chim bốn mùa, xuân hạ thu đông đều sống được. Ngoài ra, trước đây tôi cũng có cảm tình với chim, vì khi chưa theo đạo Phật, ở Đài Loan tôi rất thích ăn thịt chim nướng. Thịt chim nướng rất ngon, nhưng sau này, khi hiểu được Phật pháp, thấy làm vậy quá tàn nhẫn với chim, nên không còn ăn thịt chim nướng nữa.

Phật A Di Đà hóa hiện những con chim này, chủ yếu là để dạy cho người đời đừng nên phân biệt, giống như những con chim này đều có thể sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, đây chính là Pháp thân bình đẳng. Đây là điều được nói trong Kinh A Di Đà về thế giới Tây phương Cực Lạc, lời Phật dạy về lý do có loài chim cộng mạng.

Tối nay vì có đệ tử muốn học pháp, tôi đã giảng nửa ngày, dường như không có pháp nào để dạy, vừa hay hôm nay chúng ta nói về chim, vậy thì hôm nay hãy dạy một pháp về chim vậy! Các bạn đừng xem thường pháp này, Sư Tôn nói cho các bạn biết, đây cũng là một pháp trong Mật tông. Trong Mật pháp có một pháp Đại Bàng Kim Sí Điểu, nhưng tối nay Sư Tôn dạy không phải pháp Đại Bàng Kim Sí Điểu, mà là pháp Ca Lăng Tần Già.

Thần chú của pháp này là "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha".

Trong phép quán tưởng này, lấy Phật A Di Đà làm trung tâm, xung quanh hiện ra rất nhiều chim đẹp. Xung quanh Phật A Di Đà có rất nhiều chim nhiều màu sắc, vô cùng đẹp đẽ.

Khi thực hành pháp môn này, thủ ấn được kết là thủ ấn chim, thủ ấn chủ yếu của chim chính là đôi cánh. Thủ ấn này rất đơn giản, là hai cánh và một đầu đặt trước ngực, đây chính là thủ ấn Ca Lăng Tần Già, cũng là thủ ấn của chim cộng mạng. Trong pháp tu của chúng ta, trước tiên quán tưởng Phật A Di Đà xuất hiện, sau đó xung quanh có rất nhiều chim, có rất nhiều chim nhiều màu sắc, rồi kết thủ ấn chim. Quán tưởng những con chim đó bay lượn trong không trung, sau đó quán tưởng Phật A Di Đà phóng quang chiếu rọi hành giả. Tiếp theo tụng chú: "Ôm ca lăng tần già sô-ha", âm đọc là "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha".

Đây là thần chú, phép quán tưởng và thủ ấn được sử dụng khi thực hành pháp môn.

Mọi người sẽ hỏi, tu tập pháp môn này có lợi ích gì? Liệu tu tập pháp môn này có khiến chúng ta biến thành chim trong tương lai không? Không phải vậy! Pháp môn này có ý nghĩa giúp thần thức xuất ra, nhiều người ban đêm hay gặp ác mộng, khó ngủ, tu tập pháp môn này có thể ngăn chặn ác mộng, bởi vì sau khi tu tập, thân thể sẽ trở nên nhẹ nhàng, tâm hồn cũng trở nên thanh thoát như chim. Ngoài ra có nhiều đệ tử khi nằm mơ, lúc thì bị rắn cắn, lúc thì bị chó cắn, lúc thì có người cầm dao muốn giết, chạy không thoát, lúc thì gặp ma quỷ, lúc thì gặp những việc rất tàn bạo, chạy cũng không thoát; nếu tu tập pháp môn này thì trong mộng sẽ có thể bay được, những con chó và rắn đó sẽ không thể cắn được bạn.

Tóm lại, tu tập pháp môn này, ít nhất trong tương lai cũng được làm thiên nhân, chứ không phải biến thành loài quạ trong thế gian này cứ "a a a". Tuy nhiên, nếu có biến thành quạ cũng không tệ, vì nó biết niệm chú, niệm "a". Bồ câu cũng biết niệm chú, bạn có biết bồ câu niệm chú gì không? "Guru guru guru guru", guru chính là Thượng sư. Thật ra, chúng ta tu tập pháp môn này, niệm "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha" chính là bước đầu tiên để sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Nếu chúng ta tu tập pháp môn này tương ứng, trong mơ sẽ được an lành, tiếp đến sẽ xuất thần, đắc thần túc thông. Tôi nghĩ những người có phiền não tu tập pháp môn này cũng có lợi ích, bởi vì tâm trạng sẽ được giải thoát, như thể trên thân đã mọc cánh có thể bay được.

Tôi nhớ lúc còn nhỏ khi đến nhà thờ, thấy những bức tranh thiên thần đều có một đôi cánh. Hồi nhỏ tôi đến nhà thờ chỉ có hai mục đích, một là vào dịp Giáng sinh để lấy thiệp và kẹo, hai là vào dịp Phục sinh để ăn trứng đỏ. Còn về phần bột mì thì tôi không được chia vì còn quá nhỏ; ngoài ra, cũng vì bạn gái thời tiểu học của tôi cũng đi nhà thờ.

Pháp môn mà tôi vừa giảng cho mọi người rất dễ tu tập và rất nhẹ nhàng. Bạn có thể quán tưởng các loài chim xung quanh Phật A Di Đà bay lượn tuyệt đẹp, bạn sẽ cảm nhận được âm thanh thần chú vô cùng vi diệu, "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha", âm thanh thần chú này rất nhẹ nhàng, như thể sắp bay lên vậy. Thường xuyên trì tụng thần chú này, quán tưởng bầy chim bay lượn, tâm hồn sẽ như chim bay lượn, có thể vượt thoát khỏi thế gian, không trụ ở thế gian mà ở trên thiên giới, thường xuyên bay lượn như chim, sẽ không còn phiền não, tầm nhìn có thể nhìn xa, có thể thấy núi non, thấy sông nước, thấy được tướng của chúng sinh, thực sự là sống trong cõi trời.

Trì tụng thần chú này chính là kết duyên với Phật A Di Đà, bởi vì những con chim này đều là hóa thân của chính Phật A Di Đà. Cảnh giới cao nhất có thể đạt đến thế giới Tây phương Cực Lạc, có thể đi vào trong tâm của Phật A Di Đà, có thể xem pháp môn này là pháp tu sơ cấp của Phật A Di Đà. Khi bạn tu tập đến mức có thể bay trong mơ, tâm hồn trở nên nhẹ nhàng, có thể thấy được thế giới nghìn đèn nghênh đón của Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc, đó chính là tương ứng, đã đắc thần túc thông, có thể đi khắp nơi. Đây chính là pháp Ca Lăng Tần Già được truyền trong tối nay.

Các bạn đã từng nghe về pháp này chưa? Trước đây có người chỉ tu một pháp này thôi mà vẫn được vãng sinh về Tây phương Cực Lạc. Những ca sĩ tu pháp này, giọng hát sẽ mãi mãi tuyệt vời. Còn một điều tốt nữa là khi người ta tặng quà cho bạn, họ sẽ tặng những bộ quần áo đẹp. Dù không tu thành tựu đi nữa, kiếp sau chuyển thế, giọng nói sẽ trong trẻo như chim, tất cả mọi người khi nghe giọng nói của bạn đều như bị điện giật vậy, ai cũng sẽ thích bạn. Nhờ vào giọng nói tuyệt vời đó, ở kiếp sau, bạn có thể đạt được tất cả của cải, nghề nghiệp tốt nhất là làm nhân viên trực tổng đài.

Pháp môn này thực sự hữu dụng, những ví dụ mà Thượng sư đưa ra trong khi giảng pháp đều rất chân thật. Vì vậy, xin nhắc lại đại ý một lần nữa, tu tập pháp môn này có thể đắc thần túc thông, phá trừ phiền não, âm thanh tuyệt diệu, vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới của Phật A Di Đà, ít nhất cũng chắc chắn được sinh lên cõi trời.

Các bạn còn nhớ thủ ấn không? Thần chú là "Ôm ka-lin-pin-ka sô-ha". Trong pháp truyền thừa này, ở giữa là Phật A Di Đà, xung quanh là những con chim nhiều màu sắc. Hôm nay giảng pháp đến đây.

Om mani padme hum.

### 48. Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy… cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn loại nhạc cùng trỗi lên một lúc. Người nghe những âm thanh ấy tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế."

Giảng thêm một chút về Kinh A Di Đà. Hai đoạn kinh văn hôm nay đều rất đơn giản, mọi người có thể tự đọc. "Này Xá Lợi Phất! Ở cõi Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn loại nhạc cùng trỗi lên một lúc. Người nghe những âm thanh ấy tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế." Dù sao hai đoạn này mọi người đều rất rõ, vừa đọc là hiểu, cho nên hôm nay giảng kinh đến đây là kết thúc.

Om mani padme hum.

### 49. Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào… không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao Đức Phật kia có hiệu là A Di Đà? Này Xá Lợi Phất! Ánh sáng của Đức Phật ấy vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà."

Chúng ta hãy tiếp tục giảng về "Kinh Phật Thuyết A Di Đà".

"Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao Đức Phật kia có hiệu là A Di Đà?" Đoạn này nói về báo thân chính của Phật A Di Đà. Phật hỏi Xá Lợi Phất rằng: "Theo ý ông, tại sao Phật có danh hiệu A Di Đà?"

Câu trả lời của Ngài là: "Này Xá Lợi Phất! Ánh sáng của Đức Phật ấy vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì thế nên có hiệu là A Di Đà."

Vừa rồi chúng ta đã nói về ánh sáng, ở đây sẽ giảng về ba ý nghĩa của Phật A Di Đà. Ý nghĩa thứ nhất là "Quang", ánh sáng của Phật A Di Đà là vô lượng. Thế nào gọi là "Quang vô lượng"? Ánh sáng vô lượng này giống như có thể hòa nhập vào toàn bộ hư không vậy, đạt đến trình độ như vậy mới gọi là quang vô lượng. Khi mọi người tọa thiền vào Tam ma địa, vì thân thể phát ra ánh sáng, ánh sáng này hòa nhập với ánh sáng vũ trụ, tự mình biến thành ánh sáng vũ trụ, như vậy mới có thể đạt được quang vô lượng. Trước đây, Sư Tôn đến thế giới Tây phương Cực Lạc Ma Ha Song Liên Trì, thấy các vị Liên Hoa Đồng Tử, mỗi vị đều tỏa sáng.

Hôm nay nhớ lại, những ánh sáng đó giống như gì? Dường như chính là loại ánh sáng này. Ánh sáng mà mắt nhìn thấy chiếu thẳng đến, mắt thường không thể mở ra để nhìn được, ôi! Đó thực sự là một biển ánh sáng vô tận. Ở đây nói rằng: "Phật A Di Đà là vô lượng quang." Có người hỏi: "Tại sao ánh sáng này lại vô lượng?" Ánh sáng mà chúng ta thường thấy không phải là vô lượng, đôi khi chỉ có chỗ này có ánh sáng, những nơi khác vẫn không có. Nhưng hãy nghĩ xem, vành đai ánh sáng quanh sao Thổ lớn đến mức nào? Vũ trụ lớn đến đâu? Phải biết rằng tàu vũ trụ của chúng ta bay một vòng quanh hệ Mặt Trời cần bao nhiêu năm ánh sáng? Nếu dùng tuổi thọ của chúng ta để bay vòng quanh hệ Mặt Trời hay vũ trụ, phải qua bao nhiêu đời con cháu mới có thể bay hết số năm ánh sáng đó và quay về. Thực ra, chúng ta đều biết vũ trụ này là vô lượng. Ai có thể đo được ánh sáng của mặt trời sáng bao nhiêu? Chỉ riêng ánh sáng mặt trời đã là vô lượng rồi. Do vậy có thể thấy rằng "quang vô lượng" của Phật A Di Đà là điều có thể giải thích được.

Thứ hai là "thọ vô lượng". Hãy nghĩ xem, đã là quang vô lượng thì tuổi thọ của Ngài đương nhiên cũng vô lượng. Thời gian hình thành của vũ trụ, chúng ta có thể gọi là năm ánh sáng. Đã là ánh sáng vô lượng, thì thọ mạng của Ngài cũng vô lượng.

Thứ ba là "đồ chúng vô lượng". Bản thân Phật A Di Đà có số tín đồ là vô lượng, chỉ riêng đệ tử ở Ma Ha Song Liên Trì của thế giới Tây Phương Cực Lạc đã vô lượng rồi, có mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử, bên cạnh mỗi vị Đại Liên Hoa Đồng Tử có năm trăm vị Trung Liên Hoa Đồng Tử, bên cạnh mỗi vị Trung Liên Hoa Đồng Tử có năm trăm vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử, bên cạnh mỗi vị Tiểu Liên Hoa Đồng Tử lại có năm trăm vị Tiểu Tiểu Liên Hoa Đồng Tử. Nghĩ như vậy, quả thật là vô lượng, không biết tính thế nào! Hôm nay tôi bảo họ tính, họ tính mãi vẫn không ra được.

Thật ra, vô lượng này cũng giống như đạo lý một hạt cát chứa đựng đại thiên thế giới, một giọt nước chứa tiểu thiên thế giới vậy. Các nhà khoa học nói rằng, chỉ riêng một điểm nhỏ ở đầu mũi kim đã có hàng tỷ hạt nhân nguyên tử, hàng tỷ proton, hàng tỷ neutron và electron. Vô lượng này, từ vĩ đại như vũ trụ cho đến nhỏ bé như lỗ kim, đều chứa đựng nhiều thành phần như vậy, cho nên vô lượng được giải thích như thế.

Ở đây giải thích: "Ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng chiếu soi khắp thế giới không hề bị ngăn ngại, sơn hà đại địa không thể cản trở được ánh sáng của Ngài, ánh sáng của mười phương cõi Phật đều là vô lượng, vì vậy nên có danh hiệu là A Di Đà."

Vừa rồi tôi đã giảng với mọi người về vô lượng quang của Đức Phật A Di Đà. Mỗi người chúng ta trong quá trình tu tập thiền định, chỉ cần đạt được trạng thái vô ngã thì cũng có thể hiển hiện vô lượng quang. Ý nghĩa của câu này là không nên nhớ nghĩ về bản thân, không nghĩ về người mình yêu thương, cũng không nghĩ về người mình ghét, không giận dữ, không đố kỵ, trong lòng không buồn phiền, cũng không vui mừng. Khi đạt được trạng thái cân bằng tuyệt đối này thì mới có thể tập trung tinh thần và đạt đến vô ngã. Lúc này sẽ cảm thấy thân thể rất nhẹ nhàng, như đang bay bổng; tinh thần vốn đã tập trung, sau đó hóa thành hư không, rồi mở rộng thành ánh sáng mười phương; trước tiên tập trung thành một điểm sáng, sau đó mở rộng điểm sáng đó, từ các lỗ chân lông tỏa ra ánh sáng mười phương. Đã vô ngã thì thân xác cũng không còn. Lúc này ánh sáng bên ngoài và ánh sáng từ thân hòa làm một, dung hợp thành ánh sáng vũ trụ, lúc đó bạn chính là Phật A Di Đà. Tu hành nhập vào Tam ma địa của Phật A Di Đà thì có thể hóa thành ánh sáng mười phương, trong ngoài hợp nhất. Khi đó, ánh sáng vũ trụ sẽ hút lấy bạn, chỉ kéo một cái là đưa bạn lên thế giới Tây phương Cực Lạc. Tôi thành thật nói với mọi người, điều này hoàn toàn dựa vào sức mạnh của thiền định, nương vào tự lực để trực tiếp sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Nói chung, Hiển giáo vì bản thân chưa thể phóng quang bay đi được, chỉ có thể nương nhờ ánh sáng của Phật A Di Đà chiếu rọi, hút lấy chút ánh sáng nhỏ như ngọn nến trên thân mình, tu hành thực ra là như vậy. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

### 50. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy… Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp

Kinh văn: 

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên có hiệu là A Di Đà. Này Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp."

Tối nay chúng ta tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà Thích Yếu". Tuần trước đã giảng đến câu "chiếu khắp mười phương cõi nước, không bị chướng ngại, vì vậy có hiệu là A Di Đà".

Tôi đọc tiếp một đoạn kinh văn: "Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên có hiệu là A Di Đà." Đoạn này nói về thọ mạng của Đức Phật A Di Đà cũng là vô lượng.

"Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp." Mười kiếp này, có lẽ là mười năm chăng? Giả sử tính một kiếp là một trăm năm thì cũng chỉ được một nghìn năm. Thực ra phải hiểu như thế này, vì sao gọi Phật A Di Đà là thọ mạng vô lượng? Bởi vì thọ mạng của Ngài quả thật rất dài, tựa như vô lượng, thực ra không phải là thực sự không có khởi đầu, không có kết thúc, mà là thọ mạng của Ngài rất dài, giống như vô lượng vậy.

Điều mà chúng ta gọi là một đại kiếp có thể tính như thế này: giống như trái đất, vũ trụ có giai đoạn "thành", sau khi thành rồi trải qua một thời gian là giai đoạn "trụ", rồi khi sự vật hư hoại đi là giai đoạn "hoại", "hoại" rồi lại trở thành "không", thành-trụ-hoại-không, tính như vậy thành một kiếp.

Nhiều nhà khoa học nghiên cứu tuổi thọ của Trái đất, phát hiện ra trước đây có cái gọi là chuyển động tạo núi, giống như núi biến thành biển, biển lại biến thành núi. Chu kỳ này đã xảy ra bảy lần, vì vậy đôi khi trên đỉnh núi có thể tìm thấy vỏ sò, còn dưới đáy biển cũng có thể có núi lửa.

Trái đất trải qua mỗi chu kỳ thành-trụ-hoại-không được tính là một tiểu kiếp; tám mươi tiểu kiếp gọi là một đại kiếp. Như vậy Phật A Di Đà đã thành Phật được mười đại kiếp rồi, chúng ta thử nghĩ xem, thọ mạng này thực sự quá dài, khó có thể tưởng tượng được có thọ mạng dài như vậy, cho nên Phật A Di Đà là quang vô lượng, cũng là thọ vô lượng.

Lại nói về "trong ánh sáng có thọ mạng, trong thọ mạng có ánh sáng". Ánh sáng vô lượng và thọ mạng vô lượng như vậy dường như đã vượt quá khả năng tưởng tượng của con người chúng ta. Có nhiều điều rất khó tưởng tượng, giống như ánh sáng di chuyển, ánh sáng của Phật A Di Đà di chuyển trong vũ trụ, đương nhiên cũng mang theo thọ mạng, bởi vì ánh sáng di chuyển ắt phải có tốc độ, đã có tốc độ thì nhất định có thời gian, đã có thời gian thì nhất định có thọ mạng. Phật A Di Đà ở một thế giới Tây phương Cực Lạc rất xa xôi, từ nơi này đến chỗ Phật A Di Đà phải trải qua không gian và thời gian của hàng tỷ năm. Chúng ta phải dùng hiện tượng vũ trụ mới có thể hiểu được ý nghĩa của quang vô lượng và thọ vô lượng.

Om mani padme hum.

### 51. Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn… thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

Kinh văn: 

"Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, không thể dùng toán số mà biết được, các Bồ Tát cũng như vậy. Này Xá Lợi Phất! Cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế."

Ở đây lại nói: "Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, không thể dùng toán số mà biết được, các Bồ Tát cũng như vậy."

Những vị gọi là Thanh Văn đều là người tu hành và đạt được thành tựu trong tĩnh lặng, Thanh Văn chính là A La Hán. Có một số người có thể tu theo Thanh Văn thừa, tính tình khá nóng nảy, lại khá cô độc, thích yên tĩnh, họ có thể tu theo Thanh Văn thừa, bởi vì họ không thích độ chúng sinh, chỉ cần nhắc đến việc độ chúng sinh là nổi giận. Phần lớn những vị Thanh Văn, đều thấy người trong thế gian này khó độ, nhìn mà không chịu nổi, lại sinh tâm sân hận, nên một mình tu trên núi. Thanh Văn vì bản thân khá cố chấp, nóng tính, cũng không thích chúng sinh, chỉ thích tu hành một mình, nên mới trở thành Thanh Văn.

Ở đây chúng ta có Thập Bát La Hán, tất cả đều là bậc Thanh Văn. Tượng điêu khắc của các ngài trông khá nghiêm nghị, với những nét mặt độc đáo. Mỗi vị Thanh Văn đều có điểm cố chấp riêng, có vị suốt đời không chịu mở mắt vì cho rằng nhìn thấy mọi thứ trên đời sẽ làm ô nhiễm đôi mắt. Có vị hoàn toàn không nói một lời nào, bởi họ cho rằng khẩu nghiệp đều từ miệng mà ra, nên giữ miệng như bình, không nói lời nào. Có vị không nghe bất cứ điều gì, vì cho rằng mỗi lần người ta nói chuyện đều là bàn chuyện thị phi, lời có ý nghĩa thì ít mà chuyện phiếm thì nhiều, không muốn nghe nhiều lời, nên bịt kín tai lại, nếu vô tình nghe được âm thanh nào lọt vào tai thì vội vàng chạy ra bờ sông rửa tai.

Những vị La Hán này, mỗi người đều có những điểm cố chấp riêng. Có người chỉ sống trên cây, không chịu xuống. Trước đây có một vị thiền sư Điểu Sào cũng sống trên cây không chịu xuống, có người nói với ngài: "Sống trên cây rất nguy hiểm." Ngài đáp: "Tôi ở trên cây không bao giờ sợ nguy hiểm." Chúng ta sống dưới mặt đất có nhiều nguy hiểm, đi trên đường có thể gặp tai nạn xe cộ, hỏa hoạn bất ngờ; ngoài thiên tai ra còn có những khó khăn do con người gây ra. Nhưng ngài sống trên cây lại rất an toàn, bởi vì không xâm phạm đến ai, nên người khác cũng không làm hại ngài. Vì vậy những vị Thanh Văn thực ra có lý lẽ riêng của họ.

Bây giờ chúng ta hãy nói về Bồ Tát chúng. Bồ Tát khó tu hơn Thanh Văn, vì Bồ Tát phải độ chúng sinh, Bồ Tát là người nguyện độ tất cả chúng sinh hữu tình. Không giống như Thanh Văn, Bồ Tát có thể hàng phục rồng và chế ngự hổ. Làm Bồ Tát phải sẵn sàng xả thân, nếu có con hổ đói đi đến, còn phải bước tới cho nó ăn. Bồ Tát vì lòng từ bi độ chúng sinh, nên xem tất cả chúng sinh hữu tình trong thế gian như chính mình. Thậm chí có những vị nữ Bồ Tát, khi thấy người đàn ông hung ác, còn cố ý kết duyên với họ, rồi từ đó khuyên bảo, khiến họ quay đầu hướng thiện; những vị Bồ Tát như vậy, đã xả bỏ cả sinh mạng và danh tiết của mình. Đây chỉ là ví dụ, mọi người đừng bắt chước, bởi vì nếu bạn muốn khuyên một người xấu mà không thành công, lại còn hy sinh bản thân, thì không tốt chút nào.

Bồ Tát còn được gọi là Giác Hữu Tình, tức là dùng sự giác ngộ của mình để ảnh hưởng đến chúng sinh hữu tình, khiến chúng sinh cũng được giác ngộ, đó chính là Bồ Tát.

Om mani padme hum.

### 52. Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào… vô lượng vô biên a-tăng-kỳ.

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào sinh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc bất thoái chuyển. Trong số đó có rất nhiều vị Nhất Sinh Bổ Xứ, số lượng nhiều không thể tính đếm được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ."

Ở đây lại nói: "Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nào sinh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc bất thoái chuyển. Trong số đó có rất nhiều vị Nhất Sinh Bổ Xứ, số lượng nhiều không thể tính đếm được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ."

Trước đây khi tôi tụng kinh, thường tụng về A-bệ-bạt-trí này, vậy A-bệ-bạt-trí là gì? Chúng ta dịch là "bất thoái", tức không thoái chuyển. Tất cả chúng sinh khi đến Tây phương Cực Lạc thế giới đều được gọi là A-bệ-bạt-trí, nghĩa là đã đạt đến trạng thái không còn thoái chuyển. Ở đây nói về bất thoái có ba ý nghĩa:

Thứ nhất gọi là danh vị bất thoái. Cần biết rằng, địa vị của chúng sinh đều là thăng trầm vô thường, ở cõi Ta Bà này, chúng sinh sống trong cõi phàm trần, địa vị đều phải thoái. Trước đây Sư Tôn có xem tướng số cho người khác, có một vị cấp trên đến hỏi tôi: "Khi nào tôi có thể đạt được chức vụ cao nhất?" Tính toán một hồi, tôi biết một năm sau ông ấy sẽ lên được chức vụ Cục trưởng cao nhất ngành đo đạc, nhưng chưa đầy một năm sau sẽ rớt xuống vị trí thấp nhất. Tôi nói với ông ấy: "Một năm sau ông sẽ được làm Cục trưởng." Nhưng tiếp theo tôi nói: "Tuy nhiên sau một thời gian, ông sẽ..." Chưa nói hết câu thì ông ấy đã nói: "Không cần nói nữa." Ông ấy bảo chỉ cần biết được chức vụ cao nhất là đủ rồi. Vị cấp trên của chúng tôi thực sự đã đạt đến chức vụ cao nhất, nhưng vì phạm phải một sai lầm, khi mọi người đến tìm ông, ông cầm kéo nói: "Đừng ai đến tìm tôi, tôi sẽ tự kết liễu!" Rồi ông lấy kéo đâm vào bụng mình, chưa đầy một năm giữ chức vụ cao đó thì đã tự sát. Đúng như lời Sư Tôn đã nói: "Từ địa vị cao nhất bỗng chốc rơi xuống thấp nhất", thậm chí là xuống tận địa ngục.

Tôi đã thấy rất nhiều trường hợp, các cấp trên của chúng tôi đều leo lên từng bước, leo đến tận đỉnh, rồi "bộp" một cái là rơi xuống. Sư Tôn là người từng trải qua ba đời thượng cấp. Bản thân tôi là kỹ sư kiêm nhân viên đo đạc, mãi mãi chỉ là nhân viên đo đạc kiêm kỹ sư; tôi tận mắt chứng kiến ba vị cấp trên đều lên đến đỉnh cao nhất, rồi rơi xuống, lại đẩy một người khác lên, rồi người đó cũng bị đẩy xuống. Chính trị cũng vậy, người này lên, người kia mất chức, rồi người khác lại lên, người khác lại mất chức, đều như thế cả.

Vì vậy đến Tây phương Cực Lạc có một điều tốt là một khi đã lên rồi thì không còn bị trượt xuống nữa, không giống như chúng ta chơi cầu trượt. Nếu Tây phương Cực Lạc mà giống như cầu trượt thì tôi không muốn đến đó. Bất thoái này có nghĩa là không còn thoái chuyển nữa, đây gọi là danh vị bất thoái.

Thứ hai là tu hành bất thoái. Trong Tây phương Cực Lạc, môi trường xung quanh tạo nên một nguồn năng lượng tích cực, khuyến khích sự tinh tấn tu tập. Tất cả những gì hành giả nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận được đều là những điều thiện lành của sự tu tập - từ cảnh quan thanh tịnh, âm nhạc vi diệu, đến niềm an lạc trong thiền định. Chính môi trường thù thắng này đảm bảo cho sự tinh tấn không bị thoái chuyển.

Thứ ba là niệm bất thoái. Vì tâm bạn đã hòa nhập vào biển pháp của vũ trụ, nên tâm trở nên rộng lớn vô biên, lấy tâm vũ trụ làm tâm mình. Tâm niệm của người thường chúng ta thường là những suy nghĩ nhỏ nhen, tâm lượng hẹp hòi, ví dụ như: đôi khi làm gì cũng không vừa ý (chú thích: tiếng Đài Loan), nghĩa là không được hoàn hảo. Chúng ta lấy một ví dụ: như khi tôi mời khách, tôi đi mời họ, họ không đến, trong lòng chúng ta sẽ nghĩ là họ coi thường mình; tôi mời bạn mà bạn không đến? Thật là kiêu ngạo! Chắc chắn là coi thường tôi rồi, trong lòng không thoải mái, lần sau bạn mời tôi, mười lần tôi cũng không đi. Ngược lại, nếu tôi mời khách, bạn đến, nhưng lại dẫn theo mười người, mà tôi không chuẩn bị nhiều như vậy! Trong lòng rất không vui, trên mặt cũng lộ vẻ khó chịu. Nhất là khi chỉ mang đến một chai rượu sake thường, trong lòng bạn nghĩ: "Lần này thua lỗ rồi, lần sau bạn mời khách tôi sẽ dẫn một trăm người đến." Người đến sớm, bạn chưa chuẩn bị xong, trong lòng không thoải mái; người đến muộn, lại cho là không giữ đúng giờ; có khi khách đến, làm bẩn chỗ này chỗ kia, trong lòng lại nổi giận, còn có người làm vỡ cả đồ cổ quý giá. Vì vậy để làm được mọi việc thật hoàn hảo, thật khó!

Người tu hành khác với người thế tục, người tu hành do tâm lượng rộng lớn, tư tưởng cao rộng, nên cho dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể thông cảm cho người khác, tâm họ luôn rộng lớn, tự nhiên không thoái chuyển, đây gọi là niệm bất thoái.

Nếu tâm lượng nhỏ hẹp, làm bất cứ việc gì cũng sẽ sinh phiền não; nếu tâm lượng rộng lớn, việc gì cũng không gây phiền não. Người học Phật khi đến thế giới Tây phương Cực Lạc, cũng không thể nào còn những phiền não đó nữa. Không thể nào khi ở Tây phương Cực Lạc lại bỗng nhiên nghĩ: "Chết tiệt! Ai cũng được gặp Phật A Di Đà, chỉ có mình tôi là chưa được gặp, tức quá, tôi về đây!" Hoặc nói: "Tối qua Phật A Di Đà dạy sư huynh tôi một pháp bí mật, còn tôi chỉ được dạy một pháp nhỏ, tôi cũng tức lắm, quyết định bỏ về!" Đây đều là những biểu hiện của niệm thoái chuyển - tư tưởng thoái chuyển, nhưng khi đến thế giới Tây phương Cực Lạc rồi thì sẽ không còn những hiện tượng này nữa.

Danh bất thoái chuyển, tu hành bất thoái chuyển, ý niệm bất thoái chuyển, ba loại bất thoái chuyển này được gọi là A-bệ-bạt-trí.

Trong đó còn có rất nhiều vị Phật, rất nhiều vị Bồ Tát, các vị Phật tương lai, các vị Bồ Tát tương lai, đều được gọi là hậu bổ Phật, nghĩa là sự bổ sung về sau. Hậu bổ có nghĩa là bạn cứ ở đó chờ đợi, một ngày nào đó chắc chắn sẽ đến phiên mình, rồi sẽ có ngày đến lượt mình.

Om mani padme hum.

### 53. Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được… được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế.

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được điều này nên phát nguyện sinh về cõi ấy. Vì sao vậy? Vì sẽ được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế."

Chúng ta hãy đọc một đoạn kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Chúng sinh nghe được điều này nên phát nguyện sinh về cõi ấy. Vì sao vậy? Vì sẽ được cùng hội họp một chỗ với các bậc thượng thiện nhân như thế." Đoạn kinh văn này dạy rằng: "Chúng ta nên phát nguyện vãng sinh về cõi Phật Tây phương Cực Lạc. Vì sao vậy? Bởi vì khi đến đó, ta sẽ được cùng hội họp với tất cả những bậc thiện nhân."

Tôi tin rằng ở thế giới Tây phương Cực Lạc, khắp nơi đều treo những túi hương thơm. Nói về các bậc thượng thiện nhân - đều là những người tốt, nói về việc hội họp một chỗ tức là mọi người cùng nhau tụ hội, những người rất tốt, rất thiện lành đều tụ hội một nơi, giống như việc chúng ta hiện nay có thể cùng nhau tụ hội, lắng nghe Phật pháp, chính là "cùng các bậc thượng thiện nhân hội họp một chỗ" vậy.

Tôi nhớ trước đây ở một nơi nọ, buổi sáng có rất nhiều người tập thể dục, có người múa kiếm, có người tập võ, có người chạy bộ, có người nhảy dân vũ. Nhưng đôi khi người ta nhận thấy họ chỉ "tập thể dục cái miệng". "Tập thể dục cái miệng" là gì? Bề ngoài thì nói là đi chạy bộ buổi sáng, nhưng thực tế mọi người tụ tập lại chỉ để nói chuyện mà chẳng chạy. Nhiều người rất thích "tập thể dục cái miệng", bàn tán chuyện thị phi, như thể không được nói thì khó chịu lắm. Thường xuyên A nói với B, B nói với C, bảo A đừng nói với B nữa, cũng bảo B đừng nói với C nữa, nhưng cuối cùng ai cũng biết hết, đây chính là "những kẻ xấu xa tụ họp một chỗ". Con người có một căn bệnh chung, thật kỳ lạ! Đó là càng là chuyện bí mật thì càng thích nghe, mà càng là chuyện bí mật thì càng thích nói; điều tốt thì tuyệt đối không nói, còn khuyết điểm của người khác thì nhất định phải nói ra.

Vì vậy chúng ta đến đây tham gia đồng tu, đến niệm Phật, cùng tu tập, nghe Phật pháp, chính là mong mọi người bớt vận động cái miệng đi một chút, vận động đôi tai nhiều hơn một chút. Ngoài ra, khi đến đây, hãy cố gắng để bản thân không có phiền não, tâm được quang minh thanh tịnh.

Tất nhiên, trong xã hội cũng có rất nhiều hội nhóm tốt, như Hội Sư Tử, Hội Rotary, Hội Đồng Tế, đều là những hội rất tốt. Tuy nhiên tôi cho rằng những hội cao cấp như vậy, đôi khi cũng không tránh khỏi một số tật xấu, những điều này sau này sẽ biến thành "hội khoe của". Hội Sư Tử, Hội Rotary đều rất tốt, nhưng một khi đến đó, nếu phải so kim cương của ai to hơn, xe có phải dòng SEL không, bộ vest may ở nước nào, áo khoác kia làm từ da chồn bắt ở Bắc Cực... những điều này tuy là "các bậc thượng thiện nhân tụ hội một chỗ", nhưng vẫn không thoát khỏi tâm thái "khoe của" của người phàm tục.

Ở nơi đây của chúng ta, khi "các bậc thượng thiện nhân cùng hội họp một chỗ", hoàn toàn không có sự hư vinh và tâm danh lợi của người phàm tục, ở đây chỉ có tu hành, niệm Phật, mọi người đều bình đẳng như nhau. Chúng ta đều phát nguyện vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, đây chính là một nguyện vọng vô thượng, không có nguyện vọng nào cao hơn thế nữa.

Chúng ta có thể thấy rằng, người đời nếu không tu hành thì trong cuộc đời chỉ có hai mục đích - một là tranh danh, hai là tranh lợi. Cuộc đời rốt cuộc đang theo đuổi điều gì? Chính là hai điều này. Nhưng hôm nay chúng ta đến đây là để vượt thoát danh và lợi, nên mới gọi là vô thượng, việc quan trọng bậc nhất mà chúng ta theo đuổi chính là đạo; còn người đời chỉ theo đuổi hình tướng bên ngoài, theo đuổi danh lợi, nên không thể hiểu được đạo. Những người đắc đạo như chúng ta không còn phiền não thế gian, nhưng những người ở ngoài cửa đạo vẫn đang theo đuổi phiền não thế gian. Khi về đến thế giới Tây phương Cực Lạc, tương lai mọi người đều là Bồ Tát, đều là La Hán. Bồ Tát và La Hán là những bậc đã dứt sạch mọi phiền não, đoạn trừ tất cả phiền não, họ tụ hội nơi Cực Lạc tịnh độ, đó mới thực sự là "chư thượng thiện nhân tụ hội một chỗ".

Om mani padme hum.

### 54. Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy."

Chúng ta hãy đọc một đoạn kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sinh về cõi ấy."

Trên thế gian này, nhiều người làm việc thiện đều mong được đăng báo, để mọi người biết họ đã làm việc tốt, đó gọi là "hữu sở vị nhi vi" (làm vì mục đích); còn người tu hành chúng ta là "vô sở vị nhi vi" (làm không vì mục đích).

Làm vì mục đích thì cũng có thể sinh lên cõi trời, không phải làm như vậy là sai, nhưng phước báo và đức hạnh có được từ cách làm này khá ngắn ngủi, không phải vô hạn, chỉ là phước báo hữu hạn mà thôi. Tất nhiên chúng ta đều cần có những thiện căn này mới có thể vãng sinh về Tây phương Cực Lạc, nhưng những thiện căn này không phải để cầu phước báo sinh thiên, mà là để cầu phước báo thanh tịnh, tức là phước báo hoàn toàn trong sạch, mới có thể vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Nhiều người làm việc thiện thực ra cũng chỉ vì danh tiếng; khi chúng ta làm việc thiện, phát tâm, đừng trụ tâm vào đó rồi mới sinh tâm, đừng vì có mục đích mới làm, như vậy không tốt. Không mục đích, giữ một lòng, công đức hoàn toàn thanh tịnh, mới thực sự là công đức của tịnh thổ.

Tối nay Thượng sư Liên Chủ giảng về câu "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", hoàn toàn phù hợp với đạo lý trong Kinh A Di Đà mà chúng ta đang giảng tối nay. Những thứ ô uế, chỉ cần tay chạm vào, trong thời gian rất ngắn, thân thể đã nhiễm mùi hôi. Chúng ta đến đây tu pháp, khi về thân thể đều tỏa hương thơm, vì vậy chúng ta làm bất cứ việc gì cũng phải có tiết chế.

Khổng Tử từng nói rằng, chúng ta cần biết sống vui vẻ, nhưng không được vượt quá giới hạn - tức là không vượt qua khuôn phép. Ví dụ như uống rượu cũng là việc rất vui, nhưng không được uống say, uống say thì trở thành đau khổ. Bạn có thể đến vũ trường nhảy múa cũng không sao, just exercise, chỉ là để tập thể dục, nhưng ngoài việc tập thể dục ra, nếu còn có những tiết mục khác thì đã vượt quá khuôn phép rồi. Ở Mỹ, cách chào hỏi lịch sự của họ là ôm nhau, còn người phương Đông chúng ta chỉ dừng lại ở bắt tay mà thôi, nhưng dù là ôm hay bắt tay, đều phải biết tự kiềm chế không vượt quá giới hạn. Vì vậy nhiều việc đều như thế, nếu chúng ta biết tự kiềm chế thì là thiện, không biết tự kiềm chế thì trở thành ác.

Người tu hành chúng ta cũng vậy, nếu biết tự kiềm chế thì việc tu hành sẽ không bị lạc đường lầm lối; còn tu hành mà không biết tự kiềm chế thì rất nguy hiểm. Không phải Phật sai, mà là tâm niệm sai. Từng có một người tu theo Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Âm vốn rất trang nghiêm và thường xuyên hộ trì người đó, nhưng vì người này cảm thấy quá gần gũi với Bồ Tát Quan Thế Âm nên tâm niệm bị lệch lạc, cuối cùng còn nói rằng Bồ Tát Quan Thế Âm xuống hôn mình. Đây chính là tâm niệm không chân chính, kết quả cuối cùng đương nhiên là phải vào bệnh viện tâm thần. Vì vậy việc tu hành của chúng ta chính là tu cho tâm niệm hoàn toàn thanh tịnh, quang minh, không có những ý nghĩ xấu.

Ngoài ra, trước đây Thượng sư đã từng giảng, khi làm lễ cúng dường cần cúng dường Kim Xí Điểu, đó là một loài chim bay trong hư không, một con chim rất lớn, chuyên ăn thịt rồng. Nhưng có một đệ tử, tâm niệm không chân chính, anh ta nghĩ khi chim đang bay, liền lấy cung tên bắn vào chim. Anh ta không thể ngăn được ý nghĩ này, vốn dĩ là cúng dường Kim Xí Điểu, nhưng kết quả là mỗi lần quán tưởng đều thành bắn chết chim. Tôi tin rằng nhiều người khi quán tưởng cũng mắc phải căn bệnh này, cách tốt nhất là dừng việc cúng dường này lại.

Bởi vì những ý nghĩ trong tâm của con người qua nhiều kiếp, nhiều đời truyền lại, đều được cất giấu trong tiềm thức, bình thường không dễ hiện ra, nhưng khi tĩnh lặng lại thì sẽ hiện ra. Khi ngồi thiền, phát hiện trong tiềm thức toàn là những ý nghĩ chửi bới người khác, lúc này, cần phải chuyển đổi quan niệm, sau đó lấy một thứ thanh tịnh nhất để thay thế, chuyển đổi những ý nghĩ xấu đó đi. Thanh tịnh chính là những thứ rất trong sạch, hãy nghĩ đến một điều khác rất thanh tịnh, rất tốt đẹp, để chuyển đổi những ý nghĩ chửi bới trong tâm.

Sư Tôn từng trải qua nhiều kinh nghiệm tương tự, có một lần gặp một cô gái rất xinh đẹp bị bệnh tâm thần, khi cơn bệnh phát tác, những lời thô tục cô ấy thốt ra trong bệnh viện không ai dám nghe. Nhưng cha mẹ cô ấy nói rằng, bình thường cô ấy là người rất văn nhã, thậm chí không thể chịu được khi nghe một câu tục tĩu. Nhưng tại sao khi mắc bệnh tâm thần, những lời cô ấy nói ra lại khó nghe đến vậy? Thực ra Sư Tôn biết, đây đều là những ý niệm trong tiềm thức của cô ấy, chỉ là lúc bình thường, cô ấy đã kìm nén hoàn toàn những ý nghĩ xấu này mà thôi.

Việc tu hành của chúng ta chính là phải chuyển hóa những ý nghĩ xấu, những nghiệp ác từ kiếp trước, bằng cách dùng những ý niệm tốt đẹp, quán tưởng chư Phật Bồ Tát trang nghiêm để thay thế và chuyển đổi chúng. Đây là một phương pháp tu hành sâu sắc và vi diệu hơn. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

### 55. Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân… vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì khi người ấy lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà."

Tối nay chúng ta tiếp tục giảng Kinh A Di Đà. Trước tiên chúng ta đọc kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì khi người ấy lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng sẽ hiện ra trước mặt. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà."

Đoạn kinh văn này, nhiều người đọc xong trong lòng rất hoan hỷ, vì nghĩ rằng chỉ cần niệm Phật một ngày là đủ. Có người nói trong này viết tối đa chỉ cần niệm bảy ngày; nhưng thực ra Sư Tôn biết rằng, đoạn kinh văn này rất sâu sắc và khó thực hành. Nhiều người đọc đoạn kinh này tưởng rằng việc vãng sinh về Tây phương Cực Lạc dễ dàng như vậy, niệm một ngày, hay hai ngày, hoặc một tuần là có thể vãng sinh. Trong này có một số điểm khó khăn, tôi xin giải thích trước.

Thứ nhất, khi nói "nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân" đã là một điều rất khó. Như vừa rồi Thượng sư Liên Chủ có kể, có người đã thỏa thuận với thần linh, rồi trộm bài vị thần, vậy có thể gọi là người tốt không? Khi nói chuyện với Bồ Tát, người đó nói: "Con đã thưa với Bồ Tát rồi! Đây là mượn thôi." Nói rõ là mượn. Hơn nữa, ban đầu trộm một bài vị vàng, đợi kiếm được nhiều tiền hơn sẽ trả lại hai cái, tưởng rằng như vậy là công đức. Nhưng chúng ta biết, đây không phải là việc thiện.

Trước đây trong Kinh Thánh có một câu: "Trên đời này không có một người tốt nào, dù là nửa người cũng không." Nếu như không có dù chỉ nửa người tốt, vậy thì thiện nam tử, thiện nữ nhân này từ đâu ra? Theo lời Kinh Thánh, tất cả mọi người đều phải xuống địa ngục, còn nói gì đến việc vãng sinh về Tây phương Cực Lạc? Chúa Jesus cũng từng nói: "Nếu trong số các ngươi đây, ai là người tốt, chưa từng làm điều sai trái, hãy cầm đá ném ta." Vào lúc đó không ai dám cầm đá ném Ngài. Do vậy, ngay từ câu đầu tiên "thiện nam tử, thiện nữ nhân" đã là điều rất khó thực hiện.

Chữ "thiện" ở đây không nhất thiết chỉ việc làm thiện, mà là chỉ tâm địa vô cùng quang minh, tâm rất an bình, rất trong sạch, không hề cảm thấy nhất định phải lên thiên đường, cũng không cảm thấy nhất định phải xuống địa ngục, họ thấu hiểu mọi đạo lý. Tóm lại, không phải đi cầu xin điều gì, mà là hoàn toàn an trú trong một cảnh giới vô cùng quang minh, thanh tịnh. Đây mới chính là thiện nam tử, thiện nữ nhân chân chính.

Tiếp theo, cụm từ "nghe nói đến Phật A Di Đà" cũng là điều rất khó. Mọi người nghĩ, Sư Tôn hàng ngày đều niệm A Di Đà Phật, niệm A Di Đà Phật với mọi người, làm sao lại khó được? Được rồi, chúng ta hiện đang sống ở Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, một nơi rất đẹp, nhưng bạn thử hỏi người phương Tây xem có bao nhiêu người biết đến A Di Đà Phật? Dù có nghe qua thì họ cũng không hiểu đang niệm gì? Như đã từng nói, khi mọi người niệm "Nam mô A Di Đà Phật", nhiều người phương Đông lại giải thích câu này thành: "Phương Nam không có A Di Đà Phật"; rất nhiều người phương Tây chưa từng nghe đến A Di Đà Phật, nên câu này cũng rất khó. Hôm nay chúng ta truyền bá kinh này ở phương Tây, cũng chính là hy vọng các đệ tử phương Tây có thể niệm danh hiệu Phật này, có thể có được năng lực như vậy để vãng sinh.

Tôi tin rằng nhiều người khi lâm chung không niệm A Di Đà Phật. Người phương Tây thường thích niệm "my God", có khi niệm "boy", người phương Đông thích niệm "Ôi mẹ ơi!". Đến lúc lâm chung, để niệm một câu "A Di Đà Phật" cũng rất khó. Người ta khi lâm chung, nếu không có nền tảng niệm Phật lâu dài, sẽ không có cách nào nhớ được danh hiệu này, lúc đó, ngay cả một chữ "A", chữ "A" trong câu A Di Đà Phật cũng không niệm ra được! Tôi còn nói thật với mọi người, lúc đó, trong hoàn cảnh lâm chung, có khi ngay cả họ tên của mình là gì cũng không nhớ nổi.

Tôi từng biết một chuyện, khi người ta bệnh rất nặng, có lúc bạn dẫn trẻ con đến thăm bệnh nhân: "Xem ai đến thăm này?" Bệnh nhân đó không thể gọi được tên người đó, gọi rất nhiều tên đều gọi sai. Điều này cho thấy lúc đó đã thần trí không minh mẫn, vào thời điểm đó bảo họ niệm "A Di Đà Phật" càng khó hơn. Bình thường không niệm, trong tâm không có hạt giống Phật, đến lúc đó sẽ không niệm ra được.

Tại sao có đoạn kinh văn này? Đó là vì Ngài hy vọng tất cả đệ tử biết phương pháp này rất đơn giản, rất thuận tiện, là để khuyến khích mọi người, nói rằng niệm Phật là có thể vãng sinh. Cho nên ở đây nói "nếu một ngày", thực ra không chỉ một ngày không niệm được, một câu bạn cũng không niệm nổi.

Cuối cùng Ngài nói "khi người ấy mạng chung", lúc con người lâm chung "tâm không điên đảo", cái "tâm không điên đảo" này cũng rất khó. Khi lâm chung, người ta nghĩ đến điều gì? Họ nghĩ đến nỗi đau khổ của thân tâm đang phân ly, như thể thân thể đang tan rã, như núi lở đất nứt! Lúc đó quá đau đớn, chỉ nghĩ đến cơn đau, không thể nghĩ đến A Di Đà Phật. Xung quanh có nhiều người thân vây quanh, khi mọi người rất đau buồn, bạn chỉ nghĩ đến người thân, không nỡ xa lìa người thân, lúc đó bạn chỉ nghĩ đến người thân, không thể nghĩ đến A Di Đà Phật. Có nhiều người khi lâm chung, không còn nghĩ đến người thân nào nữa, tiếng khóc cũng không còn, hy vọng cũng không còn, đau khổ cũng không còn, nhưng đôi khi lại nghĩ đến số tiền riêng của mình, chỗ cất giấu mà không ai biết, không ai dùng thì phải làm sao? Điều này là có thật.

Chúng ta có một ví dụ như thế này. Có một đệ tử là một người giàu có, từ Mỹ bay sang Nhật, rồi khi bay về Đài Loan, tại sân bay bị nghẽn mạch cơ tim, ngất xỉu ngay lập tức, đây là cơn đau tim đột ngột, khi được đưa đến bệnh viện, bác sĩ cấp cứu ngay. Sau khi hôn mê gần cả chục ngày mới tỉnh lại, lần đầu tiên tỉnh lại, ông ta nói với người thân: "Chúng ta có bảo hiểm ở bệnh viện này không?" Câu đầu tiên của vị đại gia này là hỏi có bảo hiểm hay không? Vừa nghe không có bảo hiểm, lập tức mắng người thân, bảo nhanh chóng xuất viện, chuyển đến bệnh viện có bảo hiểm. Vì vậy, một đệ tử như thế này, khi lâm chung, bạn nghĩ họ có nghĩ đến A Di Đà Phật không? Người sắp chết rồi mà vẫn còn nghĩ đến vấn đề có bảo hiểm hay không!

Vì vậy, những người có tiền riêng hoặc cất giấu tiền riêng, hãy nói cho Sư Tôn biết số két sắt, thầm thì với Sư Tôn về nơi cất giấu, Sư Tôn sẽ không lấy đâu, đây gọi là "tâm điên đảo". Thực ra, vị đệ tử giàu có này, theo tôi biết, cách đây 7 năm, không nói đến hiện tại, 7 năm trước có tài sản hơn 8 tỷ Đài tệ, khi kinh doanh tốt nhất, một tháng kiếm được 100 triệu Đài tệ. Tuy nhiên theo lời ông ấy, khi thua lỗ nhiều nhất, một tháng lỗ 20 triệu Đài tệ. Thực tế, một người giàu có như vậy, vào lúc sinh tử, vẫn chỉ nhớ nghĩ đến bảo hiểm.

Tôi còn có một đệ tử khác, trước đây từng làm Phó Bộ trưởng. Khi lâm chung, ông ấy gọi người thân đến bên, chỉ để lại hai chữ di ngôn, hai chữ đó là "Bộ trưởng". Con trai ông nghe mãi như vậy, tưởng rằng cha mình sắp nói điều gì quý giá, nhưng ông chỉ nói hai chữ Bộ trưởng. Sư Tôn thì biết, tại sao vậy? Bởi vì vị Phó Bộ trưởng này thường nói với Sư Tôn rằng, điều tiếc nuối lớn nhất trong đời ông là chưa được làm Bộ trưởng. Ông cho rằng làm Phó Bộ trưởng thì còn phải đứng dưới một người, vẫn còn một Bộ trưởng ở trên, nếu được làm Bộ trưởng thì tức là tôi đã mãn nguyện rồi, tôi đã là người lớn nhất trong Bộ này, cho nên việc chưa được làm Bộ trưởng là điều khó quên nhất trong đời ông. Xin hỏi vị Phó Bộ trưởng này khi lâm chung có nghĩ đến A Di Đà Phật không? Ông ấy ngay cả một câu "A Di Đà Phật" cũng không niệm!

Còn Sư Tôn thì sao? Mỗi ngày gặp ai cũng nói "A Di Đà Phật". Thực ra, khi đi bộ chạy bộ tôi cũng niệm "A Di Đà Phật", khi ăn cơm cũng "A Di Đà Phật", khi ngủ cũng "A Di Đà Phật", khi chống đẩy cũng "A Di Đà Phật", khi tắm rửa cũng "A Di Đà Phật", khi nhổ cỏ cũng "A Di Đà Phật". Đây không phải là nhổ bỏ A Di Đà Phật đi, mà đã trở thành thói quen, biến thành một thói quen, làm bất cứ việc gì cũng đều "A Di Đà Phật".

Có lúc, khi đi vệ sinh cũng muốn niệm ra tiếng, nhưng biết là không hợp hoàn cảnh nên chỉ niệm thầm trong tâm. Khi chúng ta bị cảm cúm thật sự rất khổ, hoặc khi đau răng cũng rất khổ, thật ra cứ tiếp tục niệm "A Di Đà Phật", đau răng thì đương nhiên chỉ có niệm thôi, lúc đau đớn, cũng niệm "A Di Đà Phật". Mỗi lần Sư Tôn đi khám răng, nhắm mắt lại và cứ niệm mãi, niệm không ngừng. Dù sao răng cứ để nha sĩ nạo, họ nạo một cái, tôi dùng một câu "A Di Đà Phật" để chống lại, khi đau thì quán tưởng A Di Đà Phật phóng quang chiếu soi tôi, khiến tôi mát mẻ, khiến dao nạo của nha sĩ đừng nạo trúng thịt của tôi.

Sư Tôn cho rằng, tương lai chắc chắn tôi có thể vãng sinh, bởi vì tôi đâu chỉ niệm có bảy ngày! Hy vọng mọi người có thể thường xuyên trì danh hiệu "A Di Đà Phật", đừng đợi đến ngày cuối cùng mới niệm! Cũng đừng chỉ niệm có bảy ngày! Bởi vì khi thực sự xảy ra, như bệnh tim đột ngột chỉ là chuyện vài giây, vài phút, bạn không kịp một ngày đâu! Không ai may mắn đến mức bị bệnh kéo dài lâu như vậy.

Thực tế có những người khi bị bệnh, họ biết phải niệm Phật, nên cứ niệm mãi, kết quả niệm cả năm mà vẫn chưa được siêu thoát; có nhiều người cứ niệm liên tục, từ lúc bị bệnh bắt đầu niệm, kết quả niệm suốt bốn năm, năm năm mà vẫn chưa chết, cuối cùng họ nổi giận, không niệm nữa, và chính trong ba giờ không niệm đó thì họ qua đời. Đây chính là tâm điên đảo, không thể giữ vững được ba giờ cuối cùng, tâm đã điên đảo mất rồi. Thực ra, việc "tâm không điên đảo" là điều khó nhất.

Vừa rồi chúng ta đều ngồi thiền, ai là người thực sự không có một chút vọng niệm nào, chỉ còn một tâm đang sống, là ai? Giơ tay lên! Khi ngồi thiền vừa rồi, bạn hãy tự nghĩ xem, mình đang nghĩ gì? Những người khi ngồi thiền vừa rồi mà không có vọng tưởng lăng xăng, đó là người đầu tiên có thể vãng sinh về Tây phương Cực Lạc. Những người vừa rồi hoàn toàn không nghĩ gì cả, hoàn toàn trống rỗng, ngồi xuống là hoàn toàn trống rỗng, không nghĩ gì hết, chắc chắn sẽ vãng sinh. Thứ hai, những người khi ngồi thiền, luôn giữ Địa Tạng Vương Bồ Tát trong tâm, nhập vào Tam ma địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát, cũng chắc chắn được vãng sinh. Ngoài hai trường hợp này ra, tất cả đều không thể vãng sinh.

Thời gian ngồi thiền vừa rồi rất ngắn, chỉ có 4 phút thôi. Ngay cả Sư Tôn cũng không thể vãng sinh được, bởi vì tôi đã để ý đến đồng hồ. Bạn hãy nghĩ xem, chỉ ngồi thiền có 4 phút mà đã không thể kiểm soát được vọng niệm, suy nghĩ lung tung, vậy thì lúc lâm chung làm sao niệm Phật được? Cho nên việc giữ tâm không điên đảo là rất khó, đặc biệt là trong thời khắc lâm chung khi ý chí không thể hoàn toàn tự kiểm soát được, đó là lúc khó khăn nhất.

Những người thường ngày có niệm Phật, hoặc người nhập Tam ma địa, có thể đi vào trạng thái "không", và có thể đạt đến trạng thái "nhất", tức là trong trạng thái tinh thần thống nhất, đều có thể vãng sinh được.

Bởi vì bạn thường xuyên đi vào trạng thái không, hợp nhất với Phật, trở thành trạng thái "nhất", thân thể đã sinh ra từ tính. Trong kinh văn có viết "A Di Đà Phật cùng các thánh chúng, hiện ra trước mặt." Cái gọi là "hiện ra trước mặt" nghĩa là, Tây phương Cực Lạc thế giới tự nó là một nguyện lực rất lớn, là một từ trường rất mạnh, tự nó đang hút các chúng sinh; bản thân bạn là một nam châm, còn Ngài là một từ trường rất lớn, rất dễ dàng vì sự gần gũi của bạn, phù hợp với sự gần gũi của Tây phương, từ tính hai bên tương đồng, một khi hút vào, lập tức đến được Tây phương Cực Lạc thế giới.

Nếu thường ngày hoàn toàn không có từ tính đó, đến lúc lâm chung chỉ đơn giản niệm một câu A Di Đà Phật, chưa kịp tạo ra từ tính đó, thì giống như một chất cách điện, chỉ có câu niệm đó là có từ tính, lực hút này không đủ, không thể nào hút được bạn về, vì vậy bạn vẫn còn trong vòng luân hồi lục đạo.

Chúng ta không thể đợi đến ngày cuối cùng, hoặc tuần cuối cùng, mới bắt đầu nhất tâm bất loạn niệm Phật. Chúng ta phải thường xuyên niệm từ bây giờ, hơn nữa phải nhập định, vào Tam ma địa, sinh ra tính không của thân thể, hợp nhất với tinh thần, có như vậy mới có sức mạnh, có lực hút mới có thể vãng sinh được. Vì vậy đoạn này tương ứng với đoạn kinh văn trước, đoạn trước có nói: "Không thể với ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sinh về cõi đó."

Tuy nhiên Sư Tôn cho rằng, khi một người đến lúc lâm chung, tức là khoảnh khắc sắp chết, mà vẫn có thể niệm được một câu Phật hiệu, thì điều đó cho thấy vẫn còn có thể được cứu. Bởi vì câu Phật hiệu đó giống như một hạt giống, gieo vào trong tâm, nghĩa là trong tương lai khi luân hồi lục đạo, vẫn còn có Phật duyên này, có thể được nghe Phật pháp, có thể vãng sinh.

Trong lúc ngồi thiền 4 phút vừa rồi, có ai thực sự đạt được tính Không không? Hoàn toàn không có một ý niệm nào, không có vọng niệm. Có ai thực sự có ý niệm về Địa Tạng Vương Bồ Tát trong tâm không? Không nghĩ đến bất cứ điều gì khác, có ai không? Nếu có người như vậy, người đó chính là Phật, là một vị Phật chân chính. Bốn phút, không phải dễ đâu, bởi vì trong quá trình tu hành của chư Phật Bồ Tát, thường chỉ là khoảng không sinh ra giữa một niệm và một niệm.

Vì vậy, đoạn kinh văn vừa rồi, hy vọng mọi người có thể lĩnh hội, và quý trọng nhân duyên Phật pháp khó gặp này, chúng ta phải thường xuyên niệm Phật.

Om mani padme hum.

### 56. Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy… nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy nên nói những lời này. Nếu có chúng sinh nào nghe được điều này, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy."

Trước tiên tụng một đoạn kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ích ấy nên nói những lời này. Nếu có chúng sinh nào nghe được điều này, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy."

Vừa rồi Thượng sư Liên Thế nói rằng Sư Tôn đã bảo đảm, cam kết không trả lại giấy bảo đảm. Khi nghe điều này, trong lòng tôi rất lo sợ, bởi vì hiện nay có đến 200 nghìn đệ tử (chú thích: hiện nay đã có 5 triệu người), tôi phải bảo đảm cho 200 nghìn người, làm sao gánh nổi! Đến lúc đó dù có chặt thân thành nhiều mảnh cũng không đủ. Tuy nhiên, khi đọc đến đoạn kinh văn này thì không còn sợ nữa, bởi vì người bảo lãnh cho tấm phiếu bảo đảm này chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đúng là tấm phiếu của tôi không sai, nhưng người bảo lãnh lại là Phật Thích Ca Mâu Ni! Khi bị trả lại phiếu, mọi người đừng tìm tôi, hãy đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mọi người có thấy đoạn kinh văn này nói gì không? Chữ "Ta thấy lợi ích ấy", chữ "Ta" chỉ ai vậy? "Ta" chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni thấy được lợi ích to lớn như vậy, nên vội vàng nói những lời quan trọng này: "Nếu chúng sinh nghe được điều này, thì mỗi người đều nên phát nguyện vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới." Chỉ cần dựa vào câu nói này, chúng ta có thể thấy rằng người bảo lãnh chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Chính Phật Thích Ca Mâu Ni đã bảo chúng ta rằng: "Mỗi người đều nên phát nguyện vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới." Sau này nếu mọi người muốn tìm ai, hãy đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni.

Nhưng nếu bạn tìm được Ngài thì cũng đã vãng sinh rồi, còn nếu không tìm được Ngài thì đó là không may của bạn. Khi bạn đến tìm tôi, tôi sẽ bảo bạn đi tìm Ngài. Chính vì Phật Thích Ca Mâu Ni đã tận mắt thấy và thực sự biết rõ, nên Ngài mới dám nói những lời như vậy, và Sư Tôn cũng dám nói như vậy. Bởi vì, quả thật khi sức mạnh tưởng niệm của một người được tập trung, sẽ sinh ra một nguồn năng lượng toàn thân, mỗi người khi tinh thần tập trung đều sẽ sinh ra một nguồn lực. Việc chúng ta tu hành, làm nghi quỹ hôm nay hoàn toàn là để cầu sự thống nhất tinh thần. Ở đây là kêu gọi mọi người phát nguyện, trong tâm có nguyện vọng, tập trung tưởng niệm vào nguyện vọng đó, rồi niệm Phật, quán tưởng, như vậy sẽ sinh ra từ tính, Ngài sẽ đến hút lấy bạn, và bạn sẽ có thể vãng sinh.

Om mani padme hum.

### 57. Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay… Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay, tán thán công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật: ở phương Đông có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật."

Tiếp theo, mấy đoạn kinh văn phía sau càng đọc càng thấy thú vị. Hóa ra sau bao lâu nay, không chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni là người bảo chứng. Đoạn kinh văn phía sau viết như thế này: "Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay, tán thán công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật: ở phương Đông có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật." Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni cũng rất giỏi, tổ chức của Ngài cũng rất lớn, không phải chỉ có một mình Ngài làm chủ, tôi cứ tưởng chỉ có một mình Ngài bảo chứng, nhưng thật ra phương Đông có người bảo chứng, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương trên, phương dưới, các phương đều có người bảo chứng.

Trong đoạn này là đang tán thán Phật A Di Đà, không chỉ có một mình Phật Thích Ca Mâu Ni, mà còn có rất nhiều vị Phật khác cũng tán thán Phật A Di Đà như vậy. Vì thế tôi thấy đây là một tấm vé chắc chắn, bởi vì chỉ một tấm phiếu nhỏ như vậy, một giấy thông hành, nếu mời tất cả các vị Phật đến ký thì đã kín hết rồi, tôi nghĩ còn phải bổ sung thêm nhiều tờ nữa. Phật Thích Ca Mâu Ni nói về công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, không chỉ Ngài tán thán, mà ở phương Đông còn có Phật A Bệ, chữ "A Bệ" này có nghĩa là bất động, tâm không động. Thực ra trong đoạn kinh văn này, Phật Thích Ca Mâu Ni đang dạy tất cả chúng ta về tâm bất động.

Chủ nhật tuần trước, Sư Tôn đến Oregon thuyết pháp. Trong số đó có một người theo đạo Cơ Đốc, trước khi tôi thuyết pháp, đã hỏi tôi: "Ý nghĩa của cuộc sống rốt cuộc là gì?" Lúc đó tôi cũng giả vờ không hiểu, tôi nói tôi cũng muốn hỏi lại anh, và anh ấy thừa nhận thật sự không tìm ra câu trả lời. Thực ra, hiện nay mỗi người trên thế giới này đều có câu hỏi như vậy trong lòng: Cuộc đời, chúng ta sống trên thế gian này, rốt cuộc là để làm gì? Đây cũng là câu hỏi của rất nhiều người trong suốt hàng nghìn năm qua.

Từng có một người đi rất xa đến phương Đông, trong một ngọn núi sâu tìm được một vị tu hành đạo hạnh cao thâm đang tu tập ở đó, và đến hỏi câu hỏi này. Vị tu sĩ đang ngồi thiền, người đó hỏi: "Con xin hỏi Đại sư một câu, chúng ta sống trên đời này, rốt cuộc có ý nghĩa gì?" Vị Đại sư đang ngồi thiền liền mở mắt ra và nói: "Ông thấy ta ngồi đây làm gì?" Người đó đáp: "Ngài đang tọa thiền." "Vậy tọa thiền để làm gì?" "Ngài đang tĩnh tâm quán tưởng." Vị Đại sư bèn nói với người đến hỏi: "Ta đang suy nghĩ về câu hỏi của ông đấy!" Câu nói này cho thấy, tất cả mọi người trên đời đều đang suy nghĩ về câu hỏi này, hàng trăm triệu chúng sinh đều đang suy nghĩ về câu hỏi này, ngay cả các bậc cao tăng tu hành trong núi sâu cũng đang suy nghĩ về câu hỏi này.

Có rất nhiều người giải đáp câu hỏi này, ai cũng biết rằng, ôi! Chúng ta đến thế giới này là để tu hành, trái đất này là một trường huấn luyện, chúng ta được gửi đến đây là vì hành vi và tâm niệm của chúng ta chưa chính, nên cần phải tu tập để đạt đến viên mãn, rồi mới trở về nơi ban đầu. Thực ra, chân lý này, chúng ta nói rằng: "Ý nghĩa của cuộc sống là tìm kiếm chân lý." Vậy chân lý có đơn giản như vậy không? Chúng ta sống và đến với cõi người này, rốt cuộc là để làm gì? Vị cao tăng ngồi im lặng ở đó, lại là để làm gì? Hôm nay chúng ta đến đây tu hành, đến đây nghe pháp, đến đây làm những nghi quỹ này, lại là để làm gì?

Khi tôi ở Oregon, tôi đã nói với thính giả rằng: "Những gì chúng ta học là để đạt đến sự hợp nhất giữa trời và người, để tâm được vô lượng, chúng ta phải tu tập đến mức bất động trước mọi thứ trên thế gian này - tài, sắc, danh, ăn, ngủ." Bởi vì khi bất động mới không có phiền não, khi không có phiền não mới có thể đạt đến sự thanh tịnh hoàn toàn. Khi bạn đạt được sự thanh tịnh hoàn toàn, bạn mới có thể viên mãn, và trong cảnh giới này, bạn mới có thể thấu hiểu được thiên đạo. Giá trị như vậy mới không phải là giá trị của phàm phu thế tục. Vì thế tôi nói với thính giả: "Chúng ta là để theo đuổi cái vô hình, và theo đuổi chân lý vô hình, cho đến khi đạt được sự hợp nhất giữa trời và người." Giá trị như vậy mới là siêu việt, không phải là điều mà người thường theo đuổi. Nếu là điều mà người thường theo đuổi, thì đó không phải là giá trị chân thật.

Vị Phật thứ hai ở đây là Diệu Cao Phật. Tu Di Tướng Phật trong tiếng Phạn có nghĩa là diệu cao, diệu là vô cùng vi diệu, cao là cao nhất.

Vị thứ ba là Đại Tu Di Phật. Có nhiều người nói ý nghĩa của cuộc đời là theo đuổi căn nhà tốt nhất, lái chiếc xe tốt nhất, kiếm được nhiều tiền nhất. Nhưng, căn nhà tốt nhất là như thế nào? Chiếc xe tốt nhất là gì? Nhiều tiền nhất thì phải là bao nhiêu tiền mới đủ?

Ý nghĩa của cuộc đời là thực sự đạt được phước báu lớn nhất và trí tuệ cao nhất. Phước báu lớn nhất nằm ở thế giới Tây phương Cực Lạc, trí tuệ cao nhất cũng chính là trí tuệ của thế giới Tây phương Cực Lạc. Bạn đã từng thấy ngôi nhà làm bằng vàng chưa? Trên thế gian này không có, như vua Brunei có một chút, nghe nói vòi nước máy của vua Brunei đều làm bằng vàng, tôi tin rằng chậu rửa mặt của ông ấy cũng bằng vàng, bồn tắm chắc cũng bằng vàng, bàn chải đánh răng cũng bằng vàng. Nhưng tôi đã từng đến Brunei, nhìn thấy những bức tường đó, ngôi nhà đó không làm bằng vàng. Khi bạn đến thế giới Tây phương Cực Lạc, ngay cả đường đi cũng làm bằng vàng, vì vậy người có phước báu lớn nhất không phải là vua Brunei, mà là Phật A Di Đà, phước báu lớn nhất và trí tuệ cao nhất đều ở thế giới Tây phương Cực Lạc. Ý nghĩa lớn nhất của cuộc đời chúng ta hôm nay, cũng là theo đuổi phước báu lớn nhất và trí tuệ cao nhất.

Vì vậy, những danh hiệu Phật trong này đều rất có ý nghĩa. Ý nghĩa của cuộc đời chính là theo đuổi sự bất động. Giống như vị cao tăng sống trong núi sâu, ngồi bất động trong hang núi, theo đuổi sự vi diệu của việc hợp nhất giữa trời người, sự cao siêu của việc viên mãn vô thượng, phước báu lớn nhất và trí tuệ cao nhất.

Ở đây còn có một vị Phật là Tu Di Quang Phật. Vị Tu Di Quang Phật này chính là ánh sáng vô lượng, ánh sáng lớn nhất, và còn tượng trưng cho sự viên mãn. Như vậy, có nghĩa là tràn đầy khắp pháp giới, toàn bộ pháp giới đều được sung mãn.

Như vậy A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật và Diệu Âm Phật, tất cả những vị Phật này đều tượng trưng cho ý nghĩa của cuộc đời. Xin hỏi mọi người, ý nghĩa của cuộc đời này là gì? Câu trả lời đã được giải đáp hoàn toàn ở trong đây rồi.

Vị Diệu Âm Phật này còn tượng trưng cho: Dù thân tâm đang phiền não, nhưng khi nghe được âm thanh đó, liền được giải thoát hoàn toàn. Tu Di Quang Phật chính là tượng trưng cho những ánh sáng thanh tịnh, khiến toàn thân không còn ô nhiễm, hoàn toàn thanh tịnh.

Om mani padme hum.

### 58. Vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế… kinh được tất cả chư Phật hộ niệm

Kinh văn:

"Vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế. Mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: "Chúng sinh các ngươi nên tin kinh này, kinh được tất cả chư Phật hộ niệm."

Tối nay chúng ta sẽ tiếp tục giảng Kinh A Di Đà. Tuần trước vì Hòa thượng Ngộ Minh đến thuyết pháp nên đã cách một tuần không giảng Kinh A Di Đà, hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục.

Xin đọc lại một đoạn kinh văn: "Vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng như thế, mỗi vị đều ở tại cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời chân thật rằng: 'Này các chúng sinh, các ngươi nên tin kinh này, một bộ kinh ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn, được tất cả chư Phật hộ niệm.'"

Trong những đoạn kinh văn này đều nói rõ, chư Phật ở thế giới phương Đông đến hộ trì kinh này, ngoài ra còn có chư Phật ở thế giới phương Nam, phương Tây, tất cả chư Phật ở mọi thế giới đều đang hộ trì kinh này, vì vậy gọi là "Kinh được tất cả chư Phật hộ niệm". Điều này có nghĩa là không chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy, mà tất cả chư Phật trong mười phương trên dưới đều tán thán kinh này, và còn hộ trì những người niệm Phật tụng kinh.

Tôi xin giải thích một vài từ trong đoạn này. Có người hỏi: "Tướng lưỡi rộng dài là gì?" Tướng lưỡi rộng dài này rất kỳ lạ, đây là một trong 32 tướng tốt của Phật. Nói về cái lưỡi rộng, không giống như lưỡi của người bình thường chúng ta không rộng, khi Ngài mở miệng, thè lưỡi ra thì rất rộng, rất dài, nhưng không dày mà rất mỏng.

Trước đây thầy tôi đã nói với chúng tôi, lưỡi của Phật khi thè ra có thể che phủ hết cả khuôn mặt, tôi đã nói với thầy: "Vậy sao không dùng làm chăn cho tiện?" Một người mà có thể thè lưỡi ra để đắp như chăn thì chắc là ấm lắm. Về tướng lưỡi rộng dài này, khi trước thầy giải thích cho tôi, tôi thường nghĩ đến hai công dụng vi diệu. Tôi nhớ lúc còn nhỏ, hay khi còn đi học, tôi rất nhút nhát (chú thích: Thượng sư phiên dịch dịch là chicken), từ "chicken" nghe không hay ho gì, nhưng trong 12 con giáp tôi lại đúng tuổi Dậu. Ngày xưa, mỗi khi nói sai điều gì, hay làm điều gì sai, hoặc khi ở cạnh con gái, mặt tôi đều đỏ bừng lên, nếu có thể thè lưỡi ra che kín mặt như vậy thì thật là hữu dụng!

Chuyện thứ hai là, khi còn nhỏ tôi thường tự nấu cơm và đun nước nóng để tắm. Lò ngày xưa là loại đốt than, trước tiên phải đặt một ít giấy xuống dưới, rồi bào một ít gỗ mỏng, sau đó cho than cốc vào. Lúc đầu cho loại than cốc đen và mịn xuống dưới, trên cùng đặt thêm than viên, rồi nhóm lửa như vậy. Sau khi nhóm được lửa, ngay khi lửa vừa cháy lên phải nấu cơm trước, đến cuối còn chút lửa tàn mới dùng để đun nước nóng. Mỗi lần tắm, mỗi người múc một xô nước nóng, rồi thêm chút nước lạnh vào, cứ thế mà tắm. Tôi cứ nghĩ, hồi đó chúng tôi dùng quạt tre để quạt lửa, nếu có "tướng lưỡi rộng dài" này thì tốt quá, không cần dùng quạt, chỉ cần thè lưỡi ra, động đậy một chút là lửa sẽ bùng lên. Trước đây tôi rất giỏi nhóm lửa, nhưng vì là trẻ con nên rất lười, đến mùa đông thường nói với mẹ: "Hôm nay đừng nhóm lửa đun nước nóng." Mẹ sẽ hỏi chúng tôi: "Vậy hôm nay con không tắm à?" Chúng tôi sẽ nói: "Trời lạnh, chúng con chỉ rửa chân thôi." Rửa chân rồi lên giường, giường sẽ không bị bẩn.

Nhiều người hỏi, tướng lưỡi rộng dài này có phải là chư Phật thường xuyên thè lưỡi ra để nói chuyện không, và lưỡi lại mỏng, liệu có giống như những người hay buông lời đồn đại, suốt ngày cứ lải nhải không? Trước đây thầy tôi giải thích rằng, tướng lưỡi rộng dài này chỉ nói những lời tán thán, toàn là lời hay. Phật thường thuyết pháp, nhưng các Ngài nói toàn những lời hay, lời thiện lành, lời Phật pháp, tuy thường xuyên nói nhưng đều là lời tốt đẹp, nên gọi là "tướng lưỡi rộng dài", khác hẳn với tướng "lưỡi dài" thông thường.

Còn tướng "lưỡi dài" kia một khi gặp nhau thì như súng máy bắn liên thanh không ngừng nghỉ, toàn nói những điều không hay, chẳng có lời tốt đẹp nào. Vì vậy người Trung Quốc có câu dạy về đạo làm người rằng: "Chuyện phiếm đừng bàn chuyện phải trái của người, nên học điều hay, đừng nói điều dở của người." Đây là nói "đừng kể xấu người, đừng khoe tốt mình." Nhưng có những người lại làm ngược lại, cứ muốn bàn tán phải trái của người khác, thực ra người đó chẳng liên quan gì đến mình, dù nói thế nào cũng chẳng dính dáng gì, vậy mà vẫn cứ bàn tán phải trái của người. Đây là tướng lưỡi dài của người đời, không phải tướng lưỡi rộng dài của Phật. Tóm lại, "tướng lưỡi rộng dài" chuyên nói điều thiện, còn "tướng lưỡi dài" chuyên nói điều ác.

Tướng lưỡi rộng dài này có nghĩa là: những lời nói đều chân thực và rất thành thật. Vì tất cả chư Phật có tướng lưỡi rộng dài đều đến tán thán bộ kinh này, cho nên tất cả chúng sinh đều nên tin tưởng và tán thán công đức không thể nghĩ bàn của kinh này, đây là một bộ kinh được tất cả chư Phật hộ niệm.

Tôi xin đọc tiếp về chư Phật ở thế giới phương Nam: "Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Nam có Phật Nhật Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn."

Còn nữa: "Này Xá Lợi Phất! Ở thế giới phương Tây có Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang."

"Ở thế giới phương Bắc có Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Thư, Phật Nhật Sinh, Phật Võng Minh."

"Ở thế giới phương dưới có Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp."

"Ở thế giới phương trên có Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Sa La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn."

Đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dẫn chứng chư Phật ở sáu phương Đông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới để tán thán bộ kinh này, đó chính là Kinh Phật Thuyết A Di Đà, được xem là kinh điển để thành Phật.

Nếu chúng ta có thể nhất tâm trì danh hiệu A Di Đà Phật, vĩnh viễn không thoái chuyển, niệm trì mãi mãi, không quên không lui sụt, nhất định sẽ được vãng sinh, và như vậy chúng ta sẽ có thể thành Phật.

Hôm nay giảng Kinh Phật Thuyết A Di Đà đến đây.

Om mani padme hum.

### 59. Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao… A nậu đa la tam miểu tam bồ đề.

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được tất cả chư Phật hộ niệm? Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này và thọ trì, cùng nghe danh hiệu chư Phật, thì những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi đạo A nậu đa la tam miểu tam bồ đề."

Hôm nay chúng ta sẽ đọc thêm một đoạn kinh A Di Đà. Bởi vì những đoạn kinh này đều rất đơn giản và ai cũng có thể hiểu được.

"Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh được tất cả chư Phật hộ niệm? Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này và thọ trì, cùng nghe danh hiệu chư Phật, thì những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi đạo A nậu đa la tam miểu tam bồ đề." A nậu đa la tam miểu tam bồ đề này, dịch sang tiếng Hán là Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác".

Om mani padme hum.

### 60. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều nên tin nhận lời ta… nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy.

Kinh văn:

"Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đã nói. Này Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được bất thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, ở cõi nước kia, hoặc đã sinh, hoặc đang sinh, hoặc sẽ sinh. Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu có lòng tin, nên phát nguyện sinh về cõi nước ấy."

Những đoạn này đều do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng: "Nên phát nguyện, mỗi người đều phải phát nguyện vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới."

Phật Thích Ca Mâu Ni bảo ngài Xá Lợi Phất rằng, tất cả mọi người đều phải tin tưởng lời của Ngài và chư Phật đã dạy. Khi về được cõi Phật A Di Đà rồi, đều được bất thoái chuyển, nghĩa là tâm không bao giờ thối lui.

Trong đó có đã sinh, đang sinh, sẽ sinh. "Đã sinh" là chỉ những người hiện đã sinh về cõi nước đó; "Sẽ sinh" là những người trong tương lai sẽ sinh về cõi nước đó; còn "Đang sinh" là gì? Là những người hiện đang ở tại cõi nước đó. Về phần đã sinh thì rất nhiều, như Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí và tất cả chư vị Bồ Tát đều đã sinh về đó.

Vì những đoạn kinh này đều rất dễ hiểu và đơn giản nên không cần phải giải thích, mọi người đều đã hiểu rồi. Chính vì vậy mà việc giảng kinh diễn ra nhanh hơn, và bộ kinh này sắp giảng xong rồi.

Tôi tin rằng khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng bộ kinh này cũng thường xuyên lặp lại, Ngài muốn củng cố ấn tượng cho mọi người. Vì thế mà phần sau của kinh lại lặp lại, lặp lại rất nhiều điều ở phần trước. Những người đang nghe kinh ở đây bây giờ, thực ra thông minh hơn người thời đó cả triệu lần, nên những phần lặp lại không cần phải giảng nữa. Các vị vừa đọc qua đã hiểu rõ hơn tôi rồi.

Om mani padme hum.

### 61. Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay … Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các Đức Phật ấy cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta mà nói rằng: "Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc rất khó và hiếm có, có thể ở trong cõi Ta Bà, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, mà chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian."

Hôm nay chúng ta tiếp tục giảng Kinh A Di Đà.

Trước tiên chúng ta đọc một đoạn kinh văn: "Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các Đức Phật ấy cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta mà nói rằng: 'Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc rất khó và hiếm có, có thể ở trong cõi Ta Bà, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, mà chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Vì các chúng sinh mà nói pháp khó tin này trong tất cả thế gian.'"

Đoạn này nói rằng: Phật Thích Ca Mâu Ni tán thán tất cả chư Phật có công đức không thể nghĩ bàn, và tất cả chư Phật cũng tán thán Phật Thích Ca Mâu Ni có công đức không thể nghĩ bàn.

Điều cần giải thích ở đây chính là "kiếp trược". Trước hết tôi giải thích về kiếp trược, tất cả chúng ta ngồi đây hôm nay đều đang ở trong kiếp trược này, tức là từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, đó là một kiếp số, trong kiếp số này được tính là một kiếp trược. Nghĩa là khi sinh ra làm người đã là bất hạnh rồi, đã định sẵn phải sống trong một thế giới ô trược như thế này, lại không thể sống riêng mình cho thanh thản, tóm lại là bất hạnh đến cùng, đó chính là kiếp trược. Điều đầu tiên cần nói là khi chúng ta đến thế gian này một chuyến, không phải mọi thứ đều hoàn hảo, hạnh phúc, mà đều phải chịu khổ. Vì vậy thế giới này chính là kiếp trược trong ngũ trược thế giới, nghĩa là đã sinh ra trong thế giới này thì phải chịu kiếp số này.

Điều thứ hai cần giải thích là "kiến trược". Những gì mắt nhìn thấy không trong sạch mà nhơ bẩn, đó chính là kiến trược. Tôi xin lấy một ví dụ, như vừa nói về ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, tức là Tết Đoan Ngọ, ngày Tết Đoan Ngọ là ngày tưởng nhớ Khuất Nguyên. Trước đây ông làm quan Đại phu, vì nhìn thấy trong triều đình kẻ tiểu nhân đắc chí, người quân tử bị đày ải, ông nhìn thấy triều đình tối tăm, trong lòng rất đau khổ, đó chính là kiến trược, nhìn thấy toàn những điều nhơ bẩn. Có kiến trược nghĩa là mọi người nhìn thấy nhiều điều xấu; tuy cũng có người nhìn thấy nhiều điều tốt, nhưng thực ra những điều tốt đó cũng đều không tốt.

Điều thứ ba là "phiền não trược". Do nhìn thấy nhiều hiện tượng không tốt nên trong lòng sinh phiền não, tâm sinh phiền não, đó chính là phiền não trược. Chúng ta đã nhắc đến Khuất Nguyên, bản thân ông chính vì có phiền não trược, chính vì nhìn thấy trong triều đình toàn kẻ gian thần đắc chí, nên trong lòng vô cùng phiền não, liền ra bờ sông đi dạo, muốn kết thúc mạng sống của mình. Trước khi Khuất Nguyên tự vẫn, ông đã gặp một người đánh cá, người đánh cá thấy ông sầu não đầy mặt, liền nói với ông một câu: "Nếu ông thấy nước sông này sạch sẽ thì hãy dùng để rửa mặt! Nếu ông thấy nước sông này dơ bẩn thì hãy dùng để rửa chân!" Có lẽ vì Khuất Nguyên không hiểu nhiều về triết học, ông không nghe ra được lời cảnh tỉnh của người đánh cá, chỉ vì triều đình nghe theo lời gian thần, không trọng dụng ông, khiến chí hướng của ông không thể thực hiện được, cảm thấy cuộc sống vô dụng, nên đã nhảy sông tự vẫn.

Lời người đánh cá nói với ông rất có lý. Câu nói "nước sạch thì dùng để rửa mặt, nước bẩn thì dùng để rửa chân" chính là "tâm bình thường". Ví dụ như hai người không thích nhau, có xích mích, nhìn nhau không vừa mắt, nếu anh đối xử với tôi thế nào thì tôi đối xử với anh như vậy, đó chính là nước sạch có thể rửa mặt. Trường hợp thứ hai là không sao cả, anh không đếm xỉa đến tôi, nhưng tôi vẫn đối xử tốt với anh, đó là nước dù bẩn nhưng vẫn dùng để rửa chân. Trường hợp thứ ba là anh không đếm xỉa đến tôi, tôi cũng không đếm xỉa đến anh, thế là dẫn đến tự sát. Đó chính là gặp ánh sáng thì chết, như vua gặp vua, vua gặp vua thì phải chết, như tướng đỏ gặp tướng đen thì phải chết.

Thực ra chúng ta không nên học theo Khuất Nguyên, bởi vì Khuất Nguyên đã nói: "Ôi! Triều đình không đếm xỉa đến ta, ta cũng chẳng còn cách nào để quan tâm đến triều đình nữa, thôi thì chết cho xong!" Ông ấy là như vậy đó. Thực ra, là người tu hành chúng ta phải như thế này: người ta không đếm xỉa đến mình, mình vẫn cứ quan tâm đến họ, giống như đi theo đuổi bạn gái vậy, dù sao anh không để ý đến tôi, tôi vẫn có thể để ý đến anh mà! Thực ra nếu lúc đó Khuất Nguyên hiểu được triết lý này, ông có thể hết lòng giúp đỡ triều đình làm việc, bất kể triều đình đối xử với ông thế nào.

Ngày nay, các đệ tử Chân Phật Tông chúng ta muốn độ chúng sinh cũng phải như vậy, dù người ta không thèm để ý đến chúng ta, chúng ta vẫn ngày ngày bám theo họ, phải có tinh thần như thế. Tất nhiên đôi khi trong lòng chúng ta cũng có phiền não: "Ôi! Sao cố gắng nửa ngày rồi mà vẫn không lay chuyển được gì?" Ah! Không được sinh tâm phiền não! Nhưng trên thế giới này, sự thật là nó đầy rẫy kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, đó chính là thế giới như thế.

Điều thứ tư là "chúng sinh trược" là gì? Chúng sinh sống như thế này: vừa sinh ra, rồi lớn lên, học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học, cao học, lấy bằng tiến sĩ, kiếm tiền, kết hôn, sinh con, già đi, rồi chết. Thế là xong! Đó chính là quá trình của cuộc đời chúng ta. Nhưng mỗi ngày chúng ta làm những việc gì? Chính là ngủ dậy, đánh răng, rửa mặt, làm việc, kiếm tiền, về nhà, ăn cơm, đi ngủ cứ như vậy, còn có đi vệ sinh nữa. Nếu lược bỏ cuộc sống hàng ngày thì chỉ còn là zero, là "số không". Hiện nay tất cả chúng sinh nhìn thấy, cuộc sống của họ chỉ là học hành, ăn uống, ngủ nghỉ, kiếm tiền, cứ sống như vậy, hầu như không còn gì mới mẻ hơn nữa. Điều này nói lên rằng, chúng sinh đều sống như vậy, mọi người nhìn thấy, đều là như thế! Không thể có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc hơn nữa, đó chính là chúng sinh trược.

Cuối cùng, điều thứ năm gọi là "mạng trược". Trên đời cái gì dơ bẩn nhất? Con người có lẽ là dơ bẩn nhất. Đôi khi chúng ta thấy động vật chết, chúng ta sẽ tụng kinh cho chúng. Chúng ta thấy thịt động vật vẫn khá thơm ngon, có thể nấu canh, xào nấu và ăn được. Nhưng thử nghĩ xem, khi một người chết đi, người sống nhìn thấy xác chết đều phải khiếp sợ; và dù có thể ăn được hầu hết các loại thịt, nhưng thịt người thì không thể ăn được, trên thực tế, mùi của người sau khi chết còn khó ngửi hơn bất kì loài động vật nào.

Mọi người đều thắc mắc, chẳng lẽ Sư Tôn đã ngửi qua rồi sao? Ah! Sư Tôn đã từng ngửi qua! Trước đây tôi đã từng đi tụng kinh cho người khác, người ta chết rồi, tụng kinh, làm pháp sự, nhưng người đó đã chết lâu rồi, khi chết lâu thì quan tài rất to, và người ta sơn lớp sơn bên ngoài, nhưng vì trời hè nóng quá, sơn không khô được, chất dịch từ trong kẽ hở chảy ra, mùi đó thật là... Có người tự cho rằng cơ thể mình thơm tho, nhưng thực ra khi ngủ chảy nước dãi lên gối, bạn hãy nhấc lên ngửi thử xem. Được rồi! Bạn nghĩ những thứ bên trong cơ thể đều tốt đẹp sao? Thực ra tất cả đều hôi thối không chịu nổi. Lúc sống đã ô uế, lúc chết cũng ô uế, bản thân cơ thể bạn chính là tổng hợp của sự ô uế. Đó chính là mạng trược.

Phật Thích Ca Mâu Ni có thể thuyết pháp trong một thế giới dơ bẩn như vậy, quả thật là điều hiếm có và khó được.

Om mani padme hum.

### 62. Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta ở trong ngũ trược ác thế… đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra

Kinh văn:

"Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta ở trong ngũ trược ác thế làm việc khó này, chứng được đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vì tất cả thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó!  
Khi Đức Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất cùng các tỳ kheo, tất cả thế gian, trời, người, atula, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra."

Tôi lại đọc kinh văn: "Xá Lợi Phất! Hãy biết rằng ta ở trong đời ác năm trược này, thực hiện điều khó khăn này, chứng đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vì tất cả thế gian mà nói pháp khó tin này, thật là rất khó!" Sau khi Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất cùng các vị tỳ kheo, tất cả chư thiên, người và a tu la trong thế gian, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra."

Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng Kinh A Di Đà, đây là điều vô cùng quý báu và khó được. Mọi người có thể nghe được bộ kinh này đã là một phúc phần lớn lao, bởi vì chính pháp thật khó được nghe! Nhưng hiện giờ mọi người đã được nghe rồi. Trước đây mọi người đều chưa khai ngộ, nhưng hôm nay đã được nghe rồi, mọi người cũng đều đã khai ngộ. Mỗi người trong tâm đều phải sinh khởi tâm hoan hỷ, phải tin tưởng và tiếp nhận.

Hôm nay, phần giảng giải cốt yếu của Kinh Phật Thuyết A Di Đà, Kinh A Di Đà đến đây là kết thúc.

Om mani padme hum.

### 63. Phụ lục 1: A Di Đà Phật Bổn tôn pháp

Bây giờ xin trình bày chi tiết về quy trình tu quán A Di Đà Phật Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:

1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.

2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.

3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)

5. Chân Phật tứ quy y pháp.

Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta ya. Na-mô ta-mô ya. Na-mô sâng-kya ya.

6. Mặc giáp hộ thân pháp.

7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

8. Hai tay kết định ấn: Ngửa hai lòng bàn tay, chồng lên nhau, ngón cái và ngón trỏ của hai tay chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. (đặt dưới rốn)

Hoặc kết ấn căn bản: Hai tay trước tiên đan vào nhau như nắm đấm, dựng thẳng hai ngón giữa chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. (đặt trước ngực)

9. Kết ấn quán tưởng: Trước tiên quán Không. Trong hư không hiện ra A Di Đà Phật thân hình màu đỏ, khoác cà sa, ngồi kiết già trên đài sen nghìn cánh, hai tay kết định ấn, nâng bát đầy cam lộ, mắt từ bi nhìn chúng sinh. Quán tưởng bát trong tay A Di Đà Phật, cam lộ trong bát hóa thành nước cam lộ ánh sáng trắng, nâng lên, tạo thành hình vòng cung, rót vào đỉnh đầu của hành giả mật tông, khiến toàn thân hành giả trở nên trong suốt như pha lê trắng, nghiệp chướng hoàn toàn tiêu trừ. (Hoặc đóa sen trong tay Phật phóng ra ánh sáng trắng chiếu vào hành giả cũng được.)

10. Tụng chú căn bản A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-đê-wa sê." (108 biến) Khi tụng chú tay lần chuỗi hạt.

11. Cửu tiết Phật phong.

12. Quán tưởng A Di Đà Phật hóa thành một chấm đỏ, từ đỉnh đầu của hành giả đi vào, theo trung mạch đi xuống đến tim của hành giả, an tọa trên đài sen trong tim của hành giả, lúc này A Di Đà Phật dần dần phóng to lên, đến khi bằng với hành giả, hành giả tức là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức là hành giả, hai thân hòa hợp làm một, không có sự khác biệt.

13. Nhập định. (Không sinh một niệm, nhất tâm bất loạn, nhập vào Tam ma địa của A Di Đà Phật.) Tay kết định ấn.

14. Xuất định. Tụng tán:

Tịnh nguyện trang nghiêm an lạc lợi,  
Phổ tế trọc thế chư hữu tình;  
Tây phương tiếp dẫn chứng vô sinh,  
A Di Đà Phật con kính lễ. (Chỗ này có thể thêm niệm Phật trăm lần nghìn lần.)

15. Hồi hướng:

Nguyện người cùng niệm Phật  
Cùng sinh cõi Cực Lạc  
Trên báo bốn ơn sâu  
Dưới cứu ba đường khổ  
Thấy Phật thoát sinh tử  
Như Phật độ tất cả.

16. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, diệu pháp "chú, ấn, quán tưởng" của Phật A Di Đà mà tôi đã viết ra không hề phức tạp, chỉ cần hành giả thực hành theo trình tự trong thời gian dài sẽ trở nên rất thuần thục, mỗi lần vào đàn tu pháp sẽ thành thạo dần, thậm chí có thể lĩnh hội được tâm yếu bên trong, thực sự nhập vào Tam ma địa.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều pháp tướng của Phật A Di Đà, có vị ngồi trên đài sen hai tay kết định ấn, nâng bát. Có vị Phật A Di Đà đứng, tay cầm đài sen. Có vị hai tay kết ấn ban nguyện, trong tư thế tiếp dẫn, và còn nhiều kiểu khác nữa.

Quán tưởng này là linh hoạt:  
Nâng bát đầy cam lộ: "Quán tưởng cam lộ hóa thành ánh sáng trắng rót vào đỉnh đầu qua thiên khiếu."  
Tay cầm đài sen: "Quán tưởng hoa sen hóa thành ánh sáng trắng chiếu vào hành giả."  
Hai tay kết ấn ban nguyện: "Quán tưởng ánh sáng trắng từ tướng bạch hào giữa chân mày A Di Đà Phật xoay tròn, bay lên không trung, tạo thành hình cung, chiếu vào đỉnh đầu qua thiên khiếu, lan tỏa khắp toàn thân tạo thành ánh sáng."

Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Quán tưởng trong Mật pháp rất linh hoạt, điều quan trọng nhất là tập trung tâm niệm vào một vị A Di Đà Phật."  
Sau phần Cửu tiết Phật phong, nếu ai muốn tiếp tục tu nội hỏa minh điểm cũng được.  
Nếu sau khi tụng xong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, muốn tụng Kinh A Di Đà cũng được.

Về phần hồi hướng, nếu muốn thay người khác tu pháp, có thể thêm câu: "Công đức tu pháp lần này, xin hồi hướng cho người nào đó, giúp họ vãng sinh cõi Phật, hoặc sớm kết duyên Phật, hoặc quay về điều thiện, v.v…" Hồi hướng cũng cần vận dụng linh hoạt, không cần cứng nhắc theo một khuôn mẫu không đổi.

Liên Sinh Hoạt Phật từng viết trong cuốn sách "Mật Giáo Đại Viên Mãn", trang 141, về nghi quỹ tu pháp Bổn tôn A Di Đà Phật của Tạng mật. Pháp của Tạng mật này khá phức tạp, cần tụng bảy bài văn và có quán tưởng biến hóa. Một số đệ tử khó học được, vì vậy, tôi đặc biệt viết ra "Trình tự tu pháp A Di Đà Phật của Chân Phật Tông" đơn giản hơn, cả hai đều có năng lực pháp và công đức như nhau. Hành giả có thể đối chiếu lẫn nhau.

Có Hoạt Phật Tây Tạng cho rằng, đại mật pháp dễ đạt thành tựu nhất, vững chắc nhất, và nhanh chóng thành Phật nhất vẫn là mật pháp A Di Đà Phật.

Tôi cho rằng, câu nói này rất đúng, bởi vì bốn mươi tám đại nguyện của A Di Đà Phật không phải tầm thường, Tây phương Cực Lạc thế giới tiếp dẫn chúng sinh cả linh lợi và ngu độn, pháp niệm Phật của Tịnh Độ tông, chỉ cần nhất tâm cầu vãng sinh, hoặc nhất tâm niệm Phật cầu A Di Đà Phật từ bi tiếp dẫn, chỉ cần lúc lâm chung niệm Phật bảy ngày là thành tựu.

Tôi cho rằng, "tín niệm vãng sinh" của Tịnh Độ tông là một con đường tắt trực tiếp vãng sinh. Còn một hành giả quán tu học mật, sâu hơn Tịnh Độ tông, tu mật pháp A Di Đà này, sẽ thành tựu bản tính Di Đà, ta tức Di Đà, Di Đà tức ta, là tâm là Phật, là Phật là tâm, không gì không thành tựu.

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy rằng, trong tất cả sự cứu độ của chư Phật, ở thế giới Ta Bà nhân gian, Phật A Di Đà đứng hàng đầu. Gần như những đứa trẻ ba tuổi cũng biết niệm câu "A Di Đà Phật". Hào quang của Phật A Di Đà có thể chia thành: "Vô lượng quang, Vô biên quang, Vô ngại quang, Vô đối quang, Diệm vương quang, Thanh tịnh quang, Hoan hỷ quang, Trí huệ quang, Bất đoạn quang, Nan tư quang, Vô xứng quang, Siêu nhật nguyệt quang." Tây phương Cực Lạc thế giới có cảnh giới tam phẩm cửu sinh.

Tôi từng thấy pháp tướng của Phật A Di Đà:  
A Di Đà Phật tì kheo Pháp Tạng.  
A Di Đà Phật kết pháp giới định ấn.  
A Di Đà Phật tiếp dẫn ban nguyện.  
A Di Đà Phật đội mũ miện.  
A Di Đà Phật thân pha lê đỏ.  
A Di Đà Phật tư duy năm kiếp.  
A Di Đà Phật cầm đài sen.  
A Di Đà Phật ba mặt sáu tay. (Vị này rất hiếm gặp, xuất phát từ Kinh Đại Giáo Vương Du Già.)

Phật A Di Đà trong Mật giáo là một trong năm trí huệ của Đại Nhật Như Lai, sinh ra Tây phương diệu quan sát tam muội. Trong Thai Tạng Giới, ngài ở phương Tây của viện Trung Đài Bát Diệp, trong Kim Cương Giới, ngài ở phương Tây của Ngũ Giải Thoát Luân. Ngài làt trí huệ phương tiện của Như Lai.

Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: "Thân Phật Vô Lượng Thọ, như trăm nghìn vạn ức màu vàng diêm phù đàn của cõi trời Dạ Ma, thân Phật cao sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần. Tướng bạch hào giữa chân mày xoay về bên phải uốn lượn, như năm núi Tu Di, mắt Phật như bốn biển lớn, xanh trắng phân minh rõ ràng, toàn thân các lỗ chân lông đều tỏa ánh sáng."

Tôi cho rằng, đệ tử Chân Phật Tông, nếu tự chọn Bổn tôn, có thể chọn A Di Đà Phật, bởi vì sự cứu độ của Ngài rộng lớn nhất, Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật Liên Hoa Đồng Tử chính là Liên Hoa Bồ Tát của thế giới Tây phương Cực Lạc. Điều huyền diệu bên trong thực sự không thể nói hết.

Đặc biệt ghi lại kệ:  
*Di Đà mật pháp cứu độ sâu,  
Không phân khôn đần phàm với tăng;  
Bốn tám đại nguyện rộng cứu kiếp,  
Thế giới Ta Bà vạn đời tôn.*

~ Bài viết này được trích từ cuốn văn tập số 063 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp

### 64. Phụ lục 2: Khẩu quyết Bổn tôn A Di Đà Phật - Nhất tâm bất loạn

Khẩu quyết của Bổn tôn A Di Đà Phật chỉ về "nhất tâm bất loạn", nghĩa là "tâm ý chuyên nhất không tán loạn".  
"Nhất tâm" chính là chuyên nhất.  
"Bất loạn" là không điên đảo.  
Chỉ cần nhất tâm bất loạn tin tưởng vững chắc vào bản nguyện của A Di Đà Phật, ắt sẽ thành tựu vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy rằng thế giới Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà có năng lực độ sinh vô lượng, bởi vì thế giới này có chín phẩm liên hoa sinh, chín phẩm ấy là:

Thượng phẩm thượng sinh - dành cho người tu hành Đại thừa thượng thiện, lúc lâm chung được A Di Đà Phật đón tiếp, ngồi đài sen kim cương, trong chớp mắt liền vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, đắc quả vị vô sinh pháp nhẫn.

Thượng phẩm trung sinh - dành cho người tu hành đức hạnh kế dưới bậc Đại thừa thượng thiện, lúc lâm chung được A Di Đà Phật đón tiếp, ngồi đài sen tử kim, vãng sinh về thế giới Cực Lạc, thấy Phật đắc bất thoái chuyển, trải qua một tiểu kiếp nữa sẽ đắc quả vị vô sinh pháp nhẫn.

Thượng phẩm hạ sinh - dành cho người tu hành đức hạnh kế dưới nữa, lúc lâm chung được A Di Đà Phật đón tiếp, ngồi hoa sen sắc vàng vãng sinh về thế giới Cực Lạc, được nghe và thấy Phật pháp, trải qua ba tiểu kiếp sẽ đắc quả vị hoan hỷ địa.

Trung phẩm thượng sinh - dành cho người tu hành Tiểu thừa thượng thiện, lúc lâm chung được A Di Đà Phật đón tiếp, vãng sinh về thế giới Cực Lạc, nghe pháp bốn đế, đắc quả vị A La Hán.

Trung phẩm trung sinh - dành cho người tu hành Tiểu thừa hạ thiện, lúc lâm chung, Phật đến đón tiếp, vãng sinh về thế giới Cực Lạc, trải qua nửa kiếp sau mới thành tựu quả vị A La Hán.

Trung phẩm hạ sinh - dành cho người làm việc thiện thế tục, lúc lâm chung, nghe được đức của Phật mà vãng sinh về thế giới Cực Lạc, trải qua một tiểu kiếp sau sẽ đắc quả vị A La Hán.

Hạ phẩm thượng sinh - dành cho người phạm mười điều ác nhẹ, lúc lâm chung niệm Phật, có thể tiêu trừ tội sinh tử trong năm mươi ức kiếp, vãng sinh về hồ báu ở thế giới Cực Lạc, sau bốn mươi chín ngày, hoa sen mới nở, mới được nghe pháp.

Hạ phẩm trung sinh - dành cho người phạm giới nhẹ, lúc lâm chung niệm Phật, có thể tiêu trừ tội sinh tử trong mười ức kiếp, vãng sinh về hồ báu ở thế giới Cực Lạc, trải qua sáu kiếp, hoa sen mới nở, mới được nghe pháp.

Hạ phẩm hạ sinh - dành cho người phạm năm tội nghịch nặng, lúc lâm chung, mười niệm niệm Phật, trong mỗi niệm có thể tiêu trừ tội sinh tử trong tám mươi ức kiếp, vãng sinh trong hoa sen ở thế giới Cực Lạc, trải qua mười hai kiếp sau, mới được nghe pháp.

Đây là sự phân biệt của "chín phẩm liên hoa sinh". Khi tôi hiểu ra rằng, trong chín phẩm liên hoa sinh, ngay cả những người phạm mười điều ác nhẹ, những người phạm giới nhẹ, những người phạm năm tội nghịch nặng, chỉ vì lúc lâm chung nhất tâm niệm Phật, mà cũng được vãng sinh, có thể thấy sự siêu việt của thế giới Cực Lạc, bản nguyện của A Di Đà Phật thật sự vĩ đại, Ngài quả thật là vị Vô Lượng Thọ Phật đệ nhất về độ sinh.

Theo cảm nhận cá nhân tôi, việc vãng sinh về thế giới Cực Lạc, chỉ cần nhất tâm bất loạn niệm Phật là có thể vãng sinh, tưởng như rất dễ, nhưng thực ra cũng khá khó khăn, bởi vì nhất tâm bất loạn cần phải lấy "thập tín" làm nền tảng, muốn niệm Phật, trước hết phải có lòng tin, và lòng tin phải kiên định, không điên đảo mới được.

"Thập tín" này, chính là tâm hợp với lý, chắc chắn không đổi dời, diệt tất cả vọng tưởng, gọi là tín tâm. Dù trải qua vô số kiếp, xả thân thọ thân, nhưng một niệm hiện tiền này quyết định không quên, gọi là niệm tâm. Không tạp gọi là tinh, không thoái gọi là tiến, chuyên trì một vị Phật, gọi là tinh tấn tâm. Tâm thuần hạnh siêng năng, trí tuệ tự sinh, gọi là tuệ tâm. Trăm thứ tạp nhiễm tan biến, tâm thể trong lặng, gọi là định tâm. Ánh sáng định phát chiếu, tiến tu không mỏi mệt, gọi là bất thoái tâm. Tiến đến công đức thuần thục, giữ gìn không mất, cùng mười phương Như Lai, khí phần tương tiếp, gọi là hộ pháp tâm. Do giữ gìn sức tu đạo, nên cùng Phật quang giao tiếp, gọi là hồi hướng tâm. An trụ tịnh giới, tâm quang thường ngưng đọng, gọi là giới tâm. Đi khắp mười phương, hóa độ chúng sinh, tùy theo nguyện ước đều được viên mãn, gọi là nguyện tâm.

Có được "thập tín" này, quyết định vãng sinh không nghi ngờ.

Sự thù thắng của thế giới Cực Lạc nằm ở chỗ có bốn loại tịnh thổ: Phàm Thánh Đồng Cư thổ, Phương Tiện Hữu Dư thổ, Thật Báo Trang Nghiêm thổ và Thường Tịch Quang thổ. Đặc biệt là Phàm Thánh Đồng Cư thổ còn có thể "mang nghiệp vãng sinh", đây là một phương tiện vĩ đại nghìn đời, trong cảnh giới hoa sen thù thắng, chuyển tâm sinh diệt của phàm phu thành tâm bồ đề bất sinh bất diệt.

Khi hành giả Mật tông tu Mật pháp, quán tưởng thân mình là đức A Di Đà Phật duy nhất hiện tại của thế giới này, phía trên là A Di Đà Phật quá khứ, phía dưới là A Di Đà Phật vị lai. A Di Đà Phật phía trên hóa thành điểm sáng hạ xuống, A Di Đà Phật phía dưới hóa thành điểm sáng đi lên, như vậy quá khứ, hiện tại, vị lai hợp thành một, rồi lại khiến mười phương thế giới hợp thành một, hóa thành thế giới Cực Lạc.

Đây là pháp tối mật "thụ cùng tam thế nhất thời, hoành biến thập phương nhất thể".  
Mật chú trì tụng là "Ôm a-mi-tê-wa sê."  
Thủ ấn là pháp giới định ấn".

Một người nếu tu Mật pháp Bổn tôn A Di Đà Phật, giữ lòng tin không nghi ngờ, nhất tâm bất loạn, khi lâm chung có thể niệm danh hiệu A Di Đà Phật, đóng kín tất cả lỗ chân lông trên toàn thân, chỉ để hở Phạn huyệt đỉnh, niệm một tiếng chữ "Hum", nguyên thần sẽ xông ra từ đỉnh đầu, Tây phương Tam Thánh hiện tiền, liền được hóa sinh trong hoa sen.  
A Di Đà Phật và Liên Hoa Đồng Tử có mối liên hệ sâu sắc.  
Tây phương Tam Thánh và Liên Hoa Đồng Tử không hai không khác.  
Trong đây có bí mật của bí mật.

~Trích từ văn tập số 075 của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Chân Phật Pháp Trung Pháp

### 65. Phụ lục 3: Tôi thường dạy chú vãng sinh

Bác gái của tôi là người xuất gia, khi còn sống, bác đã xuất gia tại Thiên Tự ở Tân Hóa, Đài Nam. Bác rất chăm chỉ trì chú vãng sinh, bởi vì bác tin rằng trì chú vãng sinh chắc chắn sẽ vãng sinh.

Trong Phật giáo lan truyền rộng rãi một câu chuyện. Vào thời kỳ Thiên Gia, núi Lư Sơn có một vị là Trân thiền sư, khi nhập định, ông đã nhìn thấy mấy trăm người cùng lên một chiếc thuyền pháp đi về phía Tây, Trân thiền sư yêu cầu những người ở trên thuyền pháp thất bảo nhân tiện chở ông ấy đến Tây phương. Nhưng người trên thuyền nói Trân thiền sư tuy đã giảng được Kinh Niết Bàn, có định lực bất khả tư nghì, nhưng Trân thiền sư lại chưa trì tụng Kinh A Di Đà và chú vãng sinh, cho nên không thể chở ông ấy cùng về Tây phương được. 

Vị Trân thiền sư này nghe vậy, sau khi xuất định, lập tức dừng giảng kinh, ngày đêm chuyên tụng Kinh Di Đà và niệm chú vãng sinh. Khi niệm chú vãng sinh được 20.000 biến thì trong thiền định nhìn thấy thần nhân gửi đến một tòa hoa sen màu trắng, đồng thời còn nói rằng, nếu pháp sư thọ chung viên tịch thì hãy ngồi trên tòa sen này vãng sinh đến nước Tây phương Cực Lạc A Di Đà Phật. Trân thiền sư liền biết công lực của Kinh A Di Đà và chú vãng sinh lớn như vậy, quyết định vãng sinh.

Vào lúc Trân thiền sư thọ chung, mọi người cũng nghe thấy trong không trung có thiên nhạc vang lên, khắp phòng tỏa hương thơm, mấy tháng không hết, Trân thiền sư đã vãng sinh rồi.

Chú vãng sinh có lợi ích gì? Nếu có người thường niệm chú vãng sinh, tụng đủ 200.000 biến, thì sẽ có hạt mầm của Phật sinh ra trong tim, nếu trì 300.000 biến, A Di Đà Phật sẽ thường trụ trên đầu người đó, ngày đêm đều bảo vệ người đó được an ổn, lúc lâm chung tự nhiên vãng sinh Phật quốc. 

Cá nhân tôi khi tu trì Mật pháp độ âm, triệu thỉnh linh hồn người ngoại quốc đến trước đàn cúng của tôi, tôi thường trì chú vãng sinh, rồi thường dạy u linh niệm chú vãng sinh. Những u linh này niệm chú vãng sinh rồi nhất định sẽ cảm động A Di Đà Phật đến tương ứng, sẽ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới.

Tu trì pháp vãng sinh, tôi dạy mọi người như sau:  
Trước tiên thờ cúng Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, pháp tướng của ngài tốt nhất là một tay cầm hoa sen. A Di Đà Phật trong Kim Cương Giới là vị Phật của phương Tây, trong Mật giáo, ngài là một trong ngũ trí thuộc hệ Đại Nhật Như Lai, trú trong tam muội Tây phương Diệu quan sát trí. Trong Thai Tạng Giới ngài ở phía Tây của viện Trung Đài Bát Diệp. Bốn đại Bồ Tát của ngài là Kim Cang Pháp, Kim Cang Lợi, Kim Cang Nhân, Kim Cang Ngữ. Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn tịnh thổ lớn, cửu phẩm liên hoa sinh, có cảnh hai mươi lăm Bồ Tát đến nghênh đón, là một Phật quốc tịnh thổ rất thù thắng.

Tôi dạy người ta tu pháp vãng sinh vô cùng giản tiện, mọi người có thể tay kết thủ ấn mãn nguyện, tức là tay trái nắm vào áo cà sa, tay phải duỗi thẳng, lòng bàn tay ngửa lên trời.

Hành giả Mật tông trước tiên quán tưởng bảo tướng trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, sau đó tinh thần tập trung vào đài hoa sen trên tay của A Di Đà Phật. Nếu bạn thích đài hoa sen màu đỏ thì quán tưởng đài hoa sen màu đỏ phóng quang; nếu thích đài hoa sen màu trắng thì quán tưởng đài hoa sen màu trắng phóng quang; nếu thích đài hoa sen màu vàng thì quán tưởng đài hoa sen màu vàng phóng quang, dựa theo màu sắc hoa sen mà mình thích để quán tưởng.

Sau đó tiếp tục quán tưởng đài hoa sen đó bay lên không, từ trên tay của A Di Đà Phật bay đến trên tay phải của mình, trở thành hoa sen tương lai của chính mình, và đài hoa sen trên tay mình phóng quang.

Quán tưởng hoàn tất, liền sau đó trì chú vãng sinh:  
”Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê. Tô-tây-ya-tha. A-mi-ni-tô pô-pi. A-mi-ni-tô si-tam pô-pi. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô. Ka-mi-ni ka-ka-na. Chê-tô ka-ni sô-ha.” Tổng cộng trì chú 108 biến.  
Sau đó là nhập thiền định.

Tôi cảm thấy nếu có người tu trì pháp này, một ngày hai lần hoặc một lần, liên tục và không gián đoạn, tất cả chúng sinh nhất định có thể vãng sinh đến nước A Di Đà Phật. Nếu muốn quy mệnh A Di Đà Phật, phải thường niệm danh hiệu hoặc trì tâm chú của A Di Đà Phật, hoặc tu Di Đà đại pháp, hoặc tu đại mật pháp chú vãng sinh mà tôi viết ra. Y theo thề nguyện của Phật thì rất dễ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ.

Tôi cảm thán, A Di Đà Phật có pháp đại thuận tiện như vậy, một người tu một người đi, vạn người tu vạn người đi, tiếc thay chúng sinh sao lại không tin. Hôm nay tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư ở tại đây, thay Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật làm một minh chứng lớn, Di Đà đại pháp, Di Đà vãng sinh pháp, Di Đà cưỡi hoa sen pháp đều là những pháp rất có công lực. Một người tu Mật, chỉ tu Tứ gia hành, sau đó tu Thượng sư tương ứng, cuối cùng tu Di Đà vãng sinh pháp, duy trì một ngày tu pháp một lần, vào ngày họ mệnh chung, chắc chắn vãng sinh, nếu không vãng sinh, Thượng sư Lư Thắng Ngạn tôi đây chịu trách nhiệm. Tôi đã liều mình đưa ra lời thề nguyện phân thân xả cốt mà nói như vậy, lẽ nào chúng sinh không tin sao?

Trí tính của A Di Đà Phật không sinh không diệt, bên trong chiếu bảo tướng của các pháp, bên ngoài chiếu căn cơ của chúng sinh, công đức của ngài vô lượng vô biên, ban lợi ích cho tất cả chúng sinh. 

Viết một bài kệ:  
*Tây phương Cực Lạc hồ hoa sen,  
Trí huệ vô biên như biển lớn,  
Pháp bao tiện lợi người ngợi khen  
Chuyên tu vững chắc là chính đạo.*

~ Bản văn này trích từ văn tập Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn số 054 - Mật Tông Yết Ma Pháp.

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-1.md
# Title: Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 1
---

![image](/img/img_ff730f3c3a29aa0c7697a25b64a1bd6b.png)

## Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 1

(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Kim Cang)

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">710</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">13/04/2013</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Đài Loan Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Lời người biên tập

*Đại từ đại bi - Quả vị trí huệ tính Không kim cương bất hoại*

Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn vào ngày 13 tháng 4 năm 2013 tại Đài Loan Lôi Tạng Tự, trong buổi đại pháp hội Hộ Ma Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát đã khai thị như sau:

Mọi người đều đọc kinh Kim Cang rồi, có người biết đọc, có người có thể đọc thuộc lòng, nhưng bạn có hiểu nội dung của kinh Kim Cang là cái gì không? Có rất nhiều người giảng kinh Kim Cang, tôi nói với mọi người, không có một người nào nói đúng cả. Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh tức là nói rằng có thể phá hủy được kim cương, nên bộ kinh này mới được gọi là kinh Kim Cang, ngay cả kim cương cũng đều có thể phá hủy, nên bộ kinh này mới là kinh Kim Cang vua của các bộ kinh. Tôi còn phải nói với mọi người rằng, cái gọi là kinh Kim Cang tức là phá hủy tất cả tập tính và quy phạm của nhân sinh thế tục, tất cả mọi thứ được cho là thiện, ác đều nhất loạt phá hủy hết, bất kể là thiện hay là ác đều đồng loạt phá hủy hết, thì mới coi là kinh Kim Cang. Hơn nữa còn phá hủy tất cả những gì bạn cho rằng là quy tắc, quy phạm trên người bạn đều phá hủy toàn bộ.

Nếu bạn có thể hiểu lời tôi đang nói lúc này thì bạn đã hiểu ý nghĩa sâu nhất của kinh Kim Cang rồi, hiểu chân đế của kinh Kim Cang. Nếu bạn nghe không hiểu lời tôi đang nói bây giờ, bạn sẽ không thể hiểu được kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang còn gọi là kinh phá hủy tất cả mọi thứ, đây mới là kinh Kim Cang chân chính. Nếu trong kinh Kim Cang bạn còn nhắc đến rằng Phật có nói ra một quy phạm nào đó thì bạn vẫn chưa hiểu kinh Kim Cang. Vô cùng thâm sâu đó! Ai có thể hiểu rõ kinh Kim Cang đây?

Thế nên tôi nói câu này, người ở dưới liên hỏi: “Sư Tôn, lẽ nào thầy không muốn chúng tôi bố thí sao? Lẽ nào thầy không muốn chúng tôi làm việc thiện sao? Lẽ nào thầy không muốn chúng tôi chiếu theo pháp của Phật mà tu sao? Vì sao lại phá hủy sạch sành sanh mọi thứ? Sư Tôn có ý gì vậy?” Tôi lấy một so sánh đơn giản nói cho bạn nghe, tôi hỏi bạn: Trên mặt trăng, cái gì là thiện, cái gì là ác? Bây giờ ai có thể trả lời tôi? Trên mặt trăng cái gì mặn cái gì là chay? Ai có thể trả lời tôi? Bây giờ tôi nói với bạn một câu, cái gọi là kinh Kim Cang tức là kinh điển phá hủy tất cả.

Trên thế giới này người có thể hiểu thấu kinh Kim Cang, Lư Sư Tôn là một trong số đó. Người giảng kinh Kim Cang thì có rất nhiều, nhưng không có người nào nói như vậy. Cái gọi là bố thí tức là không có bố thí, biết rằng không có bố thí mới gọi là bố thí. Cái gọi là công đức là vì biết rằng không có công đức nên mới gọi là công đức. Cái gọi là quả vị là vì biết rằng không có quả vị nên mới gọi là quả vị. Rất khó giải thích, nhưng Sư Tôn có thể biết được đó là ý gì, chân đế của nó nằm ở đâu, chính là vì tôi đã minh tâm khai ngộ. Khi bạn minh tâm kiến tính rồi bạn mới có thể giảng kinh Kim Cang, nếu chưa minh tâm kiến tính mà giảng kinh Kim Cang thì sẽ bỏ sót nghĩa đế chủ yếu nhất của kinh Kim Cang.

Người Trung Quốc chúng ta, người Hán là thích kinh Kim Cang nhất, và Tâm Kinh nữa, rất nhiều người đều có thể thuộc lòng, hơn nữa còn chép lại, sao chép, điều này rất tốt. Sư Tôn bảo mọi người cũng phải bố thí, cũng phải làm việc thiện, không hề nói rằng mọi người đừng làm bố thí và làm việc thiện. Nhưng đây chỉ là một giai đoạn, là một giai tầng. Thật sự đến được cảnh giới cao nhất rồi thì là kim cang phá hủy tất cả, tôi nói để mọi người biết, ngay cả Phật pháp cũng phá hủy! Phật Đà trong kinh Kim Cang đã nói rất rõ ràng rồi, “pháp còn nên bỏ huống hồ không phải là pháp”. Phật pháp đều phải bỏ huống hồ không phải là pháp, đó là cảnh giới cao nhất. Cho nên không ai hiểu kinh Kim Cang, người có thể giảng kinh Kim Cang thì nhất định phải là người đã minh tâm kiến tính, nhất định đã đắc được chân đế của Như Lai thì mới có thể giảng kinh Kim Cang.

Tôi lại nói đến Hỉ Kim Cang, “điều trọng yếu là sinh khởi nhân duyên”, nếu bạn và Hỉ Kim Cang có duyên, bạn nhận được quán đảnh của Hỉ Kim Cang, bạn có được kiến địa của Hỉ Kim Cang, bạn tu pháp của Hỉ Kim Cang rồi, bạn có pháp lực của Hỉ Kim Cang rồi, đắc được quả của Không trí <span className="note-blue">[trí huệ tính Không]</span>. Hai chữ “Không trí” này rất quan trọng, đây là quả Không trí mà trong kinh Kim Cang nói đến. Khi mới bắt đầu, bạn phải có nhân duyên với Phật pháp, bạn nhận quán đảnh của Bổn tôn, bắt đầu có kiến địa của Phật pháp, cuối cùng bạn tu Phật pháp rồi, đến khi bạn lại đắc được pháp lực của Phật pháp, cuối cùng bạn đắc được quả Không trí, và Không trí này chính là kinh Kim Cang.

Dưới sự cùng thỉnh pháp của Chân Phật Tông Tông Vụ Ủy Viên Hội, Chân Phật Tông Seattle Lôi Tạng Tự, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Đài Loan Lôi Tạng Tự, vào ngày 24/07/2021, Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật đã bắt đầu giảng dạy bộ kinh Kim Cang - Vua của các kinh này. 

Nay chúng tôi đã biên tập và chỉnh lí hoàn chỉnh kinh văn Kinh Kim Cang và nội dung giảng kinh của Pháp Vương để trình bày với bạn đọc những yếu nghĩa giảng kinh thuyết pháp sâu sắc thấu đáo.

### Giới thiệu văn tập 710. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn giảng Kinh Kim Cang

### 00. Tác giả Kinh Kim Cang là ai?

Hôm nay tôi thấy buổi đồng tu này có hai chủ đề chính: Thứ nhất, thỉnh pháp vừa rồi là yêu cầu tôi giảng kinh Kim Cang. Thật ra, giảng về Đạo Quả, đến một người cũng không có, bởi vì Đạo Quả rất khó giảng. Người giảng kinh Kim Cang thì lại vô cùng nhiều, rất nhiều pháp sư đã giảng rồi. Nhưng tôi cho rằng ý nghĩa trọng yếu của kinh Kim Cang còn khó giảng hơn cả Đạo Quả. Rất nhiều người giảng kinh Kim Cang, nhưng tất cả đều là "học sinh mầm non" hết… Không thể nói tất cả đều là *kindergarten, kindergarten baby* <span className="note-blue">[trẻ em mầm non]</span>. Thật ra, kinh Kim Cang là "chí kim", "chí cang", là một bộ kinh điển vô cùng vĩ đại! Rất ít người có thể nói trúng yếu nghĩa, vì thế tôi mới phải bắt đầu giảng kinh Kim Cang.

Rất nhiều người giảng kinh Kim Cang là giảng như thế nào? Đầu tiên là họ giải thích tên gọi kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, sau đó họ lại giảng về người phiên dịch là pháp sư Tam Tạng Cưu Ma La Thập đời Hậu Tần, nói về dịch giả. Còn tôi thì nói với các bạn một sự thật: kinh Phật là Phật Thích Ca Mâu Ni giảng. Thế còn là ai viết ra? Tác giả là ai? Tác giả là ai, đại bộ phận đều không có tác giả… Kinh điển Hiển giáo có dịch giả Cưu Ma La Thập, ông ấy phiên dịch, kinh Kim Cang là do Cưu Ma La Thập dịch, thế nhưng tác giả là ai? Không có, không có tác giả. Kinh điển Hiển giáo đại bộ phận đều là như vậy, gần như bất kì kinh điển nào cũng là như vậy, không có tác giả, chỉ có dịch giả. 

Kinh điển Mật giáo thì khác. Mọi người có chú ý thấy không nhỉ? Các kinh điển Mật giáo đều có tác giả, có dịch giả. Bản kinh này là ai viết? Đạo Quả, Virupa là tác giả, còn bản dịch thì có dịch giả. Kinh điển Mật giáo cũng có rất nhiều, và đều có tác giả: Là ai viết? Tsongkhapa viết "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận", "Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận"… tất cả "Ngũ bộ đại luận" đều có tác giả, không phải là Di Lặc Bồ Tát viết; Duy thức, Trung quán đều có tác giả. Vô Trước, Thế Thân viết về Duy thức. Còn Trung quán thì có Long Thọ, có Đề Bà, đều có tác giả. Duy nhất chỉ có kinh điển Hiển giáo là không có tác giả, chỉ có người phiên dịch. Mọi người có phát hiện ra không? Là mọi người phát hiện ra sao? Mỗi bộ kinh điển Mật giáo đều có tác giả, có dịch giả, kinh điển Hiển giáo thì toàn bộ đều không kí tên, không có tác giả. Đây là một vấn đề đáng tìm hiểu.

Đương nhiên kinh Hiển giáo là Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, nhưng khi giảng, vào thời Ấn Độ cổ đại, lúc Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, nếu như những người ngồi ở dưới nghe cũng lập tức bận bịu ghi chép lại, ngay tại chỗ đó dùng bút ghi chép lại, thì vào thời Ấn Độ cổ đại, đó không phải là một hành vi lễ phép, không phải là một hành vi lịch sự. Ấn Độ cổ đại coi đó là hành vi không hợp lễ nghĩa. Nếu mà Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp, đệ tử ở dưới lui cui ghi chép, ghi lại những điều mà sư phụ giảng, thì đó là điều không thể. Thời hiện đại này thì được, thời cổ đại thì không được. Do vậy mà có cái gọi là lần kết tập thứ nhất, lần kết tập thứ hai, lần kết tập thứ ba, lần kết tập thứ tư, là để chỉ những người đã nghe xong, sau đó mọi người cảm thấy cần ghi chép lại những lời Phật Đà đã nói giảng khi ấy, sau đó lại biên soạn chúng lại, kinh điển thông thường đều như vậy. 

Khả năng ghi nhớ của A Nan tôn giả rất tốt, vì thế đại bộ phận đều là do A Nan tôn giả nghe được, ghi nhớ những điều nghe được, rồi ngài ấy có thể nói lại chúng, rồi những đệ tử ở dưới xác nhận rằng đúng là Phật có nói lời đó, sau đó họ mới lại ghi chép chúng. Còn con người hiện đại, ai có được trí nhớ tốt như vậy? Lúc này tôi đang nghĩ, Sư Tôn thuyết pháp lâu như vậy, bản thân tôi cũng quên rồi, rất nhiều điều bản thân tôi cũng quên rồi, tôi đã nói gì tôi cũng quên rồi. Các vị đang ngồi ở đây, ai là người có thể nhớ hết những bài thuyết pháp của Sư Tôn từ lúc bắt đầu cho đến bây giờ? Có hay không? Nếu có người như thế thì hãy đến bảo tôi, thế thì bạn chính là A Nan trong quá khứ đó.

Lần đầu tiên tôi thuyết pháp là ở đâu? Địa điểm là Đầu Biện Khanh ở Đài Trung. Lần đó sau khi chúng tôi bơi xong, tôi mặc quần áo vào rồi lên một tháp nước, ở trên tháp nước tôi đã giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Khi ấy có ai có mặt ở đó? Chà, mọi người xem! Liên Thế, Liên Chủ, họ là hai đệ tử lâu năm. Hai người có xuống bơi không? Khi ấy sau khi tôi xem phong thủy xong liền đi bơi ở con sông ở Đầu Biện Khanh Đài Trung. Tôi thích bơi, mọi người đều cùng xuống bơi, sau khi bơi xong thì vẫn còn thời gian, tôi ở trên tháp nước, ngồi ở phía trên tháp nước giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bắt đầu từ lúc đó cho đến bây giờ, có ai có thể nhớ bài thuyết pháp của tôi không? Hoặc từ khi bạn quy y nghe Sư Tôn thuyết pháp, bạn có hoàn toàn ghi nhớ hết từng chữ không? Người nhớ được nhất định là A Nan tôn giả chuyển thế đó. Thật sự rất khó đó! Vì thế thật sự vô cùng thù thắng, vô cùng hi hữu.

Hôm nay thuyết pháp đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 24/07/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và giảng Đạo Quả bài giảng thứ 419.)*

### 01. Ý nghĩa chân thực của Kinh Kim Cang

*(Bài giảng 1)*

Hôm nay tôi bắt đầu giảng một chút về kinh Kim Cang. Hôm nay sẽ nói về hai chữ Kim Cang. Kim Cang là gì? Chúng ta đã xem bộ phim điện ảnh King Kong chưa? Rồi à, đó chính là Kim Cang, Kim Cang chính là đại tinh tinh đó, bộ phim King Kong. Kim Cang ở đây không phải là King Kong kia. Cái được gọi là kim cang ở Ấn Độ là một vũ khí của Ấn Độ cổ đại, là một loại vũ khí dùng vào thời cổ đại khi họ đánh nhau, vũ khí được dùng khi các quốc gia đánh nhau gọi là kim cang. Thế kim cang là gì? Giống như hình thêu trên áo đây. (Sư Tôn chỉ vào hình chày kim cang được thêu trên áo ngài.) Đây chính là kim cang. (Sư Tôn giơ chiếc chày kim cang lên.) Đây là vũ khí được dùng vào thời Ấn Độ cổ đại. Thật ra cái này rất kiên cố không hư hỏng, vũ khí này dùng làm gì? Chính là dùng để phá hủy mọi thứ. Phá hủy quân địch, tiêu diệt quân địch, vào thời Ấn Độ cổ đại, vũ khí này dùng để tiêu diệt kẻ địch.

Kim Cang có rất nhiều hàm nghĩa, cũng có thể nói rằng, đây chính là kim cang, kí hiệu này chính là kim cang, đại diện cho sự bất hoại, cái này sẽ không hư hoại, nhưng nó có thể phá hủy tất cả. Bởi vì nó rất cứng chắc, có thể phá hủy mọi thứ. Chúng ta cầm chày kim cang là cầm như thế này, dùng ấn phẫn nộ để cầm chày kim cang (Sư Tôn thị phạm). Phẫn nộ Kim Cang, Đại Lực Kim Cang của Chân Phật Tông chúng ta, ngài ấy là Đại Lực Kim Cang phá hủy tất cả. Hùng Thiên Hộ Pháp cũng gọi là Đại Lực Kim Cang, một tên gọi khác của ngài ấy chính là Đại Lực Kim Cang. Hùng Thiên Hộ Pháp chính là Đại Lực Kim Cang, mọi người hãy tìm hiểu một chút về Đại Lực Kim Cang mà xem.

Rất nhiều người không biết kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật rốt cục hàm nghĩa nằm ở đâu. Chỉ riêng tên kinh này đã chỉ ra ý nghĩa của kinh Kim Cang nằm trong đó rồi. Phá hủy tất cả, chính là kinh Kim Cang. Ý nghĩa nói tóm gọn lại thành kinh Kim Cang, phá hủy tất cả, cái gì cũng phá hủy hết. Bởi vậy, khi Tổ sư Đạt Ma thuyết pháp, ngài ấy đi lên, ngồi xuống, sau đó đập bàn một cái, xong, thuyết pháp xong rồi, thế rồi đi xuống. Hôm nay tôi giảng kinh Kim Cang, đã giảng xong rồi, bởi vì chẳng có gì có thể nói được mà, cái gì cũng đều phá hủy hết rồi thì còn nói gì nữa? Không cần giảng, đến cả pháp cũng phá hủy hết thì còn giảng pháp gì nữa chứ?

Chẳng có ai nói như vậy cả. Chẳng có ai giảng kinh Kim Cang lại nói như vậy cả. Những người mà giảng thì đều thao thao bất tuyệt, người nghe thì cũng thờ ơ, rốt cục hiểu được cái gì? Hôm nay giảng kinh Kim Cang chính là cần nói về ý nghĩa trọng yếu của nó. Phá hủy tất cả chính là yếu nghĩa của kinh Kim Cang, ngay đến pháp cũng phá hủy, ngay cả Phật pháp cũng phá hủy. Bạn tự mình nghĩ thử xem, mọi người hãy dùng một chút não bộ nghĩ thử xem, nếu như bạn đã thành Phật rồi, tôi hỏi bạn, bạn đã thành Phật rồi, bạn là A Đạt Nhĩ Mã Phật, bạn là Tì Lô Giá Na Phật, bạn là A Di Đà Phật, bạn là Dược Sư Như Lai, bạn là A Súc Phật, bạn là Bảo Sinh Phật, bạn là Bất Không Thành Tựu Phật, thế thì bạn mỗi ngày còn tu Phật pháp không? Có cần phải tu Phật pháp không? Có cần không? Đúng rồi, vô tu mà, không cần tu nữa, Phật pháp có thể quẳng đi, bạn đã thành Phật rồi mà, vô tu chính là tu, tu cũng tức là vô tu. Kinh Kim Cang chính là phá hủy tất cả, chính là thành tựu, nói như vậy mọi người sẽ thấy rõ ràng. Bạn thành Phật rồi thì còn tu Hộ Ma không? Thành Phật rồi, bạn còn làm Hộ Ma không? Bạn cần cúng dường ai nữa? Có Bổn tôn nào không phải là bạn đây? Sau khi bạn thành Phật rồi bạn còn tu Hộ Ma, thế thì bạn cúng dường cái gì? Cúng dường người à? Cúng cái gì? Không cần cúng, bạn là Ứng Cúng, bạn nên nhận đồ cúng chứ không phải là đi cúng dường. Nói như thế mọi người nghe hiểu hay không hiểu?

Cái gì gọi là Bát Nhã Ba La Mật? Bát nhã, chúng ta biết đó là trí huệ, trí huệ không phải là trí huệ bình thường, mà là Phật huệ, trí huệ của Phật, không phải là tri thức của nhân gian, không phải là trí tuệ của nhân gian, không phải tri thức của nhân gian, không thuộc về tri thức nhân gian, mà là tri thức xuất thế gian. Hai chữ bát nhã này thuộc về trí huệ xuất thế gian. Đến khi trí huệ viên mãn rồi thì thành tựu cảnh giới Không, tất cả đều quét sạch.

Ba la mật, trước đây chúng ta thường nói Bát nhã Ba la mật, Ba la mật, Ba la mật thừa chính là Đại thừa, là quảng đại vô biên. Ý nghĩa của Kim Cang chính là nói rằng trí huệ phá hủy tất cả là Như Lai đệ nhất, Đại thừa quảng đại vô tận. Ý nghĩa của kinh điển này chính là nằm ở đây, trí huệ phá hủy tất cả, Ba la mật quảng đại vô biên. Bản kinh điển này, bạn hãy ghi nhớ: nó là kinh điển quảng đại vô biên về trí huệ phá hủy tất cả. Cách giải thích của tôi khác với cách giải thích của người khác. Bạn có thể thấy người khác giải thích không giống như vậy. Có người cũng giải thích như vậy, bởi vì kim cang là kiên cố, nên họ gọi là trí huệ bất hoại. Kinh điển trí huệ bất hoại quảng đại vô biên. Ba la mật được gọi là Ba la mật thừa, chính là Đại thừa, Ba la mật thừa chính là Đại thừa. Hỏi "Anh học cái gì?" "Tôi học Đại thừa, chính là Ba la mật thừa." Tiểu thừa là *Small* thừa, *small potato* thừa. Kinh điển trí huệ bất hoại quảng đại vô biên. Kinh điển trí huệ bất hoại đạt đến quảng đại vô biên. Hoặc có thể nói rằng, là kinh điển quảng đại vô biên vĩ đại nhất, là kinh điển về trí huệ phá hủy tất cả để đạt đến Phật quả. Quả là quả trong từ quả vị, không phải là quốc trong từ quốc gia. Cũng có thể nói như vậy.

Thật ra, Ba la mật mọi người đã từng ăn chưa? <span className="note-blue">[trong tiếng Trung, từ quả mít cũng có cách đọc là ba la mật]</span> Loại quả đó gọi là ba la mật. Mọi người có biết quả mít được trồng ở đâu không? Đông Nam Á, Đông Nam Á có quả mít. Có ngon không? Tôi không thích ăn lắm, mọi người nói ngon, nhưng tôi lại không thích ăn lắm, tóm lại là có một hương vị hơi lạ. Ba La Mật kinh, như thế là đã biết đến danh từ này rồi, hôm nay sẽ nói về danh từ này. Kim Cang vừa là bất hoại vừa là phá hủy, Bát nhã chính là trí huệ, hàm ý của Ba la mật rất nhiều. Quảng đại vô biên, giúp đến được bỉ ngạn, thành tựu Phật quả, cứ nói như thế này thì rất dài.

Bản kinh điển này, người phiên dịch là Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập đời Hậu Tần. Bản thân người phiên dịch, mọi người thử lấy điện thoại tìm kiếm xem, có tư liệu về ông ấy đấy, mọi người sẽ biết ngay thôi, không cần tôi nói nữa. Ông ấy đương nhiên là người Ấn Độ, ấy, có phải là người Ấn Độ không? Có phải không? Đúng là người Ấn Độ. Có thể là người Trung Quốc di dân đến Ấn Độ không, rồi lại từ Ấn Độ quay về? Hình như có một pháp sư là như thế, đúng, đó là Sư Lợi Tinh Ha. Sư Lợi Tinh Ha thầy của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, ngài ấy là người Hán, di dân đến Ấn Độ học tập Phật pháp, sau đó Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã bái ngài ấy làm thầy. Sư phụ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người Hán, di dân đến Ấn Độ trở thành người Ấn Độ, sau đó lại truyền pháp cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người Ấn Độ. Mọi người đã từng nghe qua chưa? Sư Lợi Tinh Ha là người Hán, di dân đến Ấn Độ (Thiên Trúc), sau đó trở thành người Ấn Độ, rồi lại truyền pháp cho Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Thôi, hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 25/07/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 1.)*

### 02. Liên hệ giữa kinh Kim Cang và pháp Thời luân, pháp Thí thân

*(Bài giảng 2)*

Kim cang chính là vũ khí của thời Ấn Độ cổ đại. Kim cương thừa biểu thị sự bất hoại. Giống như kim cang, đây chính là kim cang. Đây là vũ khí thời Ấn Độ cổ đại, nó là thứ bất hoại. Bạn không tin sao? Bạn thử cầm nó lên và ném vào tường, nó cũng sẽ không hỏng đâu, vẫn như thế này. Bạn ném nó xuống đất nó cũng không hỏng, nó cũng vẫn như thế này. Đây là vũ khí của thời Ấn Độ cổ đại, tượng trưng cho Kim cương thừa. Vũ khí của Ấn Độ cổ đại, cầm vũ khí này tượng trưng cho sự bất hoại, đây chính là kinh Kim Cang. Cái thứ bất hoại này là để làm gì? Để phá bỏ tất cả, kinh Kim Cang cũng như vậy. 

Kim Cang là kinh điển trí huệ bất hoại để phá bỏ tất cả đạt đến thành tựu. Giải thích về kinh Kim Cang tôi đã nói rồi. Là kinh điển dựa vào trí huệ bất hoại của kim cang, Bát nhã chính là trí huệ, để đạt đến thành tựu, nên gọi là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Thành tựu rất lớn, thành tựu lớn nhất, thành tựu vô thượng, chính là Ba la mật, đại diện cho Đại thừa, Ba la mật thừa đại diện cho Đại thừa, Ba la mật chính là tượng trưng cho thành tựu vô thượng. Bởi vậy, kinh điển này chính là kinh điển dựa vào trí huệ của kim cang bất hoại để mà quét sạch tất cả, đạt đến thành tựu vô thượng. Giải thích thế này là rõ ràng rồi. 

Tôi bảo mọi người nhé, từ kinh điển này tôi đã liên tưởng đến Thời Luân Kim Cang. Thời Luân Kim Cang là ai biến hóa ra? Là Thích Ca Mâu Ni Phật biến hóa ra Thời Luân Kim Cang, tại tháp Amaravati ở miền nam Ấn Độ, ngài đã đem pháp Thời Luân Kim Cang truyền cho Quốc vương xứ Shambhala là Vua Nguyệt Hiền. Thời luân có ý nghĩa là gì? Là bánh xe lớn của thế gian liên tục quay vòng, không có một thứ nào là không bị hủy hoại. Nhà cửa, ví dụ, tuổi đời của Chân Phật Mật Uyển dài, hay là thọ mạng của Sư Tôn dài? Tuổi đời của nhà cửa tương đối dài, đúng vậy không? Có những ngôi nhà có thể kéo dài tới một trăm năm, hai trăm năm, thậm chí những ngôi nhà mấy trăm tuổi cũng có, đã trở thành những ngôi nhà cổ rồi, lâu đài cổ, chúng vẫn tồn tại như xưa. Nhưng chúng sẽ có lúc bị hủy diệt không? Có, bởi vì chúng đã trải qua một thời gian rất dài. Thời Luân Kim Cang chính là bánh xe thời gian khổng lồ, phá hủy toàn bộ, hủy hoại tất cả. Đây là ý nghĩa của bánh xe thời gian, ý nghĩa của Thời Luân Kim Cang. 

Mọi người đã nghe qua Thời Luân Kim Cang, ý nghĩa chân chính của Thời Luân Kim Cang chính là bánh xe thời gian khổng lồ khi lăn qua thì cái gì cũng chẳng còn. Xe cộ có hỏng không? Có, sẽ hỏng. Nhà cửa có hỏng không? Sẽ hỏng. Con người có hoại diệt không? Sẽ hoại diệt. Hoại diệt như thế nào? Thời gian qua đi, bạn sinh ra là trẻ sơ sinh, sau đó thành trẻ con, thành thanh niên, thiếu niên, rồi trưởng thành, tiếp theo là tuổi già, cuối cùng bạn chết đi, thế là bạn đã hoại diệt rồi. Cái thứ gì đã khiến mọi thứ hoại diệt? Là bánh xe thời gian. Thời gian, nằm trong thời gian. 700 triệu năm trước, chúng ta học vật lý đôi khi có nhắc đến. 700 triệu năm trước trái đất đã có bảy lần chuyển biến, có nghĩa là núi biến thành ruộng dâu, ruộng dâu biến thành núi. Biển rộng là núi, sau đó núi lại biến thành biển, biển lại biến thành núi, tất cả mọi thứ đều hoại diệt hết cả. Nằm trong thời gian thì chẳng thứ gì tồn tại được, nghĩa là quét sạch tất cả. Thời Luân Kim Cang cũng quét sạch tất cả. 

Ngoài ra, bạn có nhớ Tổ sư Đạt Ma đến Tây Tạng đã đổi tên thành gì không? Là Padampa Sanggye. Khi đến Tây Tạng, tên của ngài được gọi là Padampa Sanggye. Padampa Sanggye đã truyền cho Mã Cát Lạp Tôn <span className="note-blue">[Machig Labdron]</span> pháp gì? Pháp này gọi là pháp Thí thân. Pháp Thí thân, pháp Xả thân. Đó là pháp Đoạn. Đoạn, thế nào gọi là pháp Đoạn? Phá hủy hết! Cắt luôn cả cái cổ của mình. Người Nhật Bản thì rạch bụng mà chết. Họ có ba cây đao, một cây đao dài, một cây đao trung, một cây đao ngắn. Đao ngắn dùng để làm gì? Khi thất bại thì họ rạch bụng, đó là tinh thần võ sĩ đạo. Mổ bụng tự sát, rạch bụng. Rạch bụng trong tiếng Nhật gọi là gì? Tiếng Nhật, *Japan language*. Tôi nhớ hình như là *seppuku*. Tôi không nhớ rõ lắm, bởi vì trước kia bố tôi thường kể chuyện rạch bụng tự sát. Phát âm thế nào, từ rạch bụng ấy? Tôi nhớ hình như bố tôi nói là… tôi nghe rồi nhưng lại quên mất rồi. *Seppuku* phải không? *Seppuku*. Đúng thế à, đúng thế không? *Is it true? No kidding?* <span className="note-blue">[Có đúng không? Không đùa chứ?]</span> *Seppuku*. Thấy không, tôi vẫn còn nhớ được, bố tôi thường nói *seppuku*. Bố tôi cầm cái *bokken* trong nhà, là cái kiếm gỗ, kiếm gỗ của samurai Nhật Bản, rất dày, rất thô, để đánh tôi tới mức cây gậy này cũng gãy luôn. Chà, thật đó. Thế nên Sư Tôn là mình đồng da sắt đó. Bốp! Cái gậy *bokken* Nhật Bản cũng gãy luôn. 

Bánh xe lớn thời gian này là Đoạn pháp, Tổ sư Đạt Ma truyền cho Mã Cát Lạp Tôn chính là Đoạn pháp. Cắt lìa cái cổ, đem toàn bộ thân mình cúng dường cho tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát của thập phương tam thế, cúng dường lục đạo chúng sinh, đem toàn bộ thân mình cúng dường hết, đây gọi là tinh thần cho đi và tinh thần xả bỏ. Chúng ta tu hành cần có tinh thần này mới có thể thành tựu. 

Hôm nay bạn nghe tôi giảng kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, bạn cần phải có tinh thần từ bỏ tất cả. Đừng để điều tốt lưu lại trong tâm, cũng đừng để điều xấu lưu lại trong tâm. Thiện, ác đều không đặt trong tâm, tất cả việc lớn, việc vừa, việc nhỏ đều không để trong tâm, hãy quét sạch tất cả. Chỉ vì người ta nói bạn một câu mà bạn đau lòng đến ba ngày, không đáng như thế! Bạn là hành giả, đừng đem những thứ rác rưởi này bỏ vào bên trong thân thể bạn, cần vứt bỏ hết những thứ rác rưởi bên trong thân thể bạn! Tiền bạc, sự nghiệp, tình yêu, tình thân, tất cả vàng bạc châu báu, bao gồm cả thân thể của chính mình, tất cả đều loại bỏ sạch sẽ, thì đó mới là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. 

Bạn có hiểu kinh điển này không? Chỉ một câu nói có thể khiến bạn đau lòng mất mấy ngày, một việc nhỏ xíu thế là bạn chẳng đến nữa. Lão phu không đến nữa, tôi chẳng lên pháp tọa thuyết pháp nữa! Không sướng mà! Có được như thế không? Mỗi sự việc đều là việc tốt, tôi đã nói rồi: "Tất cả mọi việc đều là sự an bài hoàn hảo nhất." Thế thì còn có việc gì nữa, sự an bài hoàn hảo vẫn còn là có việc, ngay cả sự an bài hoàn hảo cũng cần phải bỏ đi. Tôi giảng kinh Kim Cang không giống những người khác giảng. Chỉ riêng mỗi tên gọi kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật tôi đã nói lâu như vậy rồi. 

Mọi người hiểu kinh Kim Cang, mọi người mỗi ngày đều niệm kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật: *"Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong khu vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi."* Ngày ngày niệm, thế bạn có biết kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật là gì không? Chính là bánh xe thời gian, chính là pháp Đoạn! Đoạn trừ tất cả! Tình yêu gì chứ? Khốn kiếp! Thật đó, tất cả đều là nhất thời thôi! Bạn không biết sao? Đó là nhất thời đó! Lúc này thì có tình yêu, bạn chết đi rồi thì còn tình yêu gì nữa? Bạn chết rồi thì còn tiền bạc của cải gì nữa? Bạn chết rồi thì còn nhà cửa xe hơi gì nữa? Bạn chết rồi thì ngay cả nhục thể cũng chẳng còn, bạn muốn thành tựu thì ngay cả nhục thể này cũng cần phải thanh trừ sạch sẽ hết!

Sự nghiệp à, tình yêu à, vận mệnh à, phong thủy à, tử vi à,… kì thực Phật Đà nói, chúng đều là khốn kiếp cả! Phật Đà chẳng thích gì những thứ này. Người hiểu phong thủy là Xá Lợi Phất, đại đệ tử số một của Phật, là vị trí huệ bậc nhất, phong thủy chủ yếu dùng tại nhân gian, là dùng pháp nhập thế để độ chúng sinh mà thôi, chứ thật ra chẳng có tác dụng gì.

Hôm nay tôi giảng kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật thì sẽ giảng rõ ràng một chút cho mọi người rằng: kinh này có liên quan với pháp Thời luân! Bánh xe lớn của thời gian lăn qua, tất cả mọi thứ đều chẳng còn. Kinh này có liên quan đến pháp Thí thân, con người chết rồi thì cái gì cũng chẳng còn. Tuy nhiên, là tôi nói một ý chung, tất cả mọi thứ trên đời đều chẳng còn. Con người chết đi rồi, tất cả mọi thứ trên thế gian đều chẳng còn gì! Tình thân cái gì, tình yêu cái gì, tình cái gì, tình cái gì, cho dù như ông Piano cũng chẳng còn nữa! (Sư Tôn chỉ vào Thượng sư Liên Cầm - chữ Cầm này trong từ dương cầm, nghĩa là đàn piano). Piano và Sakura, Thượng sư Liên Cầm này gọi là Piano, Sakura là thầy giảng dạy Liên Anh (Anh trong từ hoa anh đào), thật sự đều chẳng còn gì. Hoa anh đào cũng chẳng còn, sakura. Om mani padme hum. 

*(Ngày 31/07/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 2.)*

### 03. Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội (1)

*(Bài giảng 3)* Nguồn gốc thời gian địa điểm của người giảng kinh Kim Cang

Bây giờ chúng ta lại nói một chút về kinh Kim Cang. Đi vào chủ đề "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội".  
Kinh Kim Cang này, Phật Thích Ca Mâu Ni muốn nói kinh Kim Cang thì cũng phải có điều kiện, bây giờ nói về điều kiện của nó. Thứ nhất, phải có người giảng kinh. Nhân vật chính là ai? Là Phật Thích Ca Mâu Ni. Người nghe là ai? Người đặt câu hỏi chủ yếu là ai? Nhìn chung mà nói thì Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh cũng là trò hỏi thầy trả lời, một trong số những đệ tử này nêu lên thắc mắc, Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ theo điều mà người đó hỏi mà nói bộ kinh điển này. Người hỏi ở đây, nhân vật nam chính thứ hai chính là Tu Bồ Đề. Địa điểm là ở đâu? Ở tịnh xá Kì Viên. Phật Thích Ca Mâu Ni từng sống ở ba nơi rất quan trọng, một là hang động Linh Sơn, hang động ở núi Linh Thứu, hai là tịnh xá Trúc Lâm, thứ ba là tịnh xá Kì Viên. Trong đời Thích Ca Mâu Ni Phật đã từng sống ở ba nơi, hang động ở núi Linh Thứu, tịnh xá Trúc Lâm và tịnh xá Kì Viên.

Thế còn nguyên do là gì? Là do có người hỏi. Ai hỏi? Tu Bồ Đề hỏi. Vì sao lại là Tu Bồ Đề hỏi? Bởi vì là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Tu Bồ Đề cũng là một trong số mười đại đệ tử, là "giải Không nghĩa đệ nhất", tức ngài ấy hiểu rõ nhất về tính Không, nên ở đây do ngài ấy hỏi. Trí huệ đệ nhất là Xá Lợi Phất. Thần thông đệ nhất là Mục Kiền Liên. Còn đây là do người hiểu rõ về tính Không nhất là Tu Bồ Đề hỏi, phần lớn đều là giải đáp câu hỏi của Tu Bồ Đề. Nguyên do của pháp hội, chúng ta mỗi lần tụ hội để giảng đều có người giảng kinh, có người nghe kinh, có địa điểm. Có nhân vật, thời gian, địa điểm, còn có quá trình diễn ra, nên đây là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội". Nói như vậy mọi người hiểu rồi chứ? Thế nào là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội"? Có nhân vật, có địa điểm, có hỏi có đáp, quá trình hỏi đáp, có thời gian (đương nhiên chính là lúc sống tại tịnh xá Kì Viên), nguyên do của pháp hội chính là như vừa nói. 

Lúc ban đầu, Phật Thích Ca Mâu Ni lên Đao Lợi Thiên giảng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện cho phu nhân Maya nghe, chính là mẫu thân của ngài. Sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni biến mất khỏi đó một lúc, rồi đột nhiên trở về. Liên Hoa Sắc là một tì kheo ni xinh đẹp nhất trong tăng đoàn. Bởi vì trong tăng đoàn, Liên Hoa Sắc là người xinh đẹp nhất, nên đã hại rất nhiều tăng nhân đầu trọc chạy theo nàng ấy. Liên Hoa Sắc là người đầu tiên chạy đến trước mặt Phật Đà, nàng nói: "Con đến trước tiên để nghênh đón Thế Tôn trở về." Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Không phải, không phải cô." Nàng ấy nói: "Rõ ràng con là người đầu tiên đến, vì sao lại nói không phải con?" Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Có một người đến trước cô." Nàng ấy nói: "Không có đâu, con là người đầu tiên chạy đến, tì kheo ni Liên Hoa Sắc con là người đầu tiên chạy đến, vì sao thầy lại nói còn có người khác, bên cạnh con chẳng có người nào khác, con là người đầu tiên đến nghênh tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni." Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Có một người đến trước cô, người này chính là Tu Bồ Đề." Bởi vì Tu Bồ Đề cũng biết Phật Thích Ca Mâu Ni sắp từ Đao Lợi Thiên xuống, ngài ấy muốn đi nghênh tiếp, nhưng ngài ấy đứng lên rồi lại ngồi xuống, đây là ngồi thiền định còn suy nghĩ thì đi nghênh tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni lập tức biết ngay: "Người đầu tiên đến nghênh tiếp ta là Tu Bồ Đề tôn giả." Ngài ấy không dùng hình tượng thật để đi đón tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni, còn Liên Hoa Sắc thì có hình tượng thật để đi đón tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng người đến đầu tiên vẫn là Tu Bồ Đề. Vì thế ở đây nói đến hai nhân vật chính, một là Phật Thích Ca Mâu Ni là người giảng kinh, hai là Tu Bồ Đề là người nêu câu hỏi. Kinh Kim Cang chính là vì hai nhân vật chính này mà mới thành kinh Kim Cang. Đây là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội". Hôm nay chúng ta sẽ nói về câu nói này. 

Đúng thế, nguyên do của pháp hội nhất định cần có địa điểm, là ở tịnh xá Kì Viên. Cần có nhân vật, Tu Bồ Đề nêu câu hỏi, Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời. Quá trình diễn ra sự việc, có bao nhiêu người ở đó, ở tịnh xá Kì Viên, đây chính là lí do dẫn đến pháp hội. Thời gian thì sao? Là hơn 2600 năm trước, 100 năm nữa đã qua rồi, nên thành ra là hơn 2600 năm trước tại tịnh xá Kì Viên thành Xá Vệ ở Ấn Độ. Có thời gian, có địa điểm, có nhân vật, như vậy mới có thể thành một bản kinh điển, đây chính là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội". 

Nếu như không nói như thế này, nhân duyên chính là bắt đầu, nhân duyên bắt đầu chính là thứ nhất, tiếp theo thì là đoạn văn này: *"Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong khu vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi."*

Đoạn văn này hẳn là mọi người rất hiểu rồi, nhưng ở đây cũng có rất nhiều hàm nghĩa, đừng coi thường đoạn văn này. Đoạn văn này cũng cần phải giảng tới mấy ngày đó. Sao, làm gì có cái gì? Mọi người nghĩ mà xem, bạn đọc đoạn văn này thấy rất rõ ràng, bạn đọc đều hiểu cả. Ở nơi đó, mọi người ra ngoài rồi đem bát trở về, bày chỗ ngồi ra, sau đó ăn cơm xong, rửa chân, rửa mặt, đi tắm, rồi lại lên chỗ ngồi, đại khái là như vậy. Đâu có đơn giản như thế. Có hàm ý đó, mọi người tự mình thử nghĩ trước đi, ở đây rốt cục có hàm ý gì? Đây là cuộc sống của Phật Thích Ca Mâu Ni đó, trong đây có hàm ý gì, bạn tự mình nghĩ xem. Rồi đợi đến thứ bảy tuần sau tôi sẽ nói cho bạn nghe, bạn sẽ hiểu.

Những gì viết trong đoạn này là địa điểm và các vị đại tì kheo nhiều như vậy, khi ấy họ đi ra ngoài hóa duyên, hóa duyên trở về thì ăn cơm no. Ăn no rồi thì dọn dẹp y bát, rửa chân, Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngồi ở đó. Cái này rất đơn giản, tôi đã nói xong rồi, đúng vậy không? Là như thế à? Trong đây còn có ý nghĩa rất sâu nữa, tôi bảo bạn nhé, bạn đừng có không biết một cách ngốc nghếch thế, ý nghĩa rất sâu nằm ở trong này đó. Thôi nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 01/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 3.)*

### 04. Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội (2)

*(Bài giảng 4)* Chuyện ăn mặc ở hoạt động đi lại của Phật Đà

*“Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi.”*

Hôm nay chúng ta nói về kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, nghĩa là kinh điển dùng trí huệ bất hoại để đạt được thành tựu vô đẳng đẳng, vô thượng, là kinh điển lấy trí huệ bất hoại để phá hủy tất cả, đạt đến vô đẳng đẳng. Pháp hội đã bắt đầu, pháp hội, và kinh Kim Cang này cũng bắt đầu rồi!

*"Tôi nghe như vầy."* Bốn chữ này, bình thường thì chữ "tôi" này là để chỉ… chủ yếu là chỉ A Nan tôn giả, cùng tất cả những người có mặt ở đó đã nghe được, người nghe pháp, "tôi" ở đây là chỉ A Nan tôn giả nghe Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, cùng tất cả đồng môn cùng ngồi nghe Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, nên gọi là "tôi nghe như vầy", nghĩa là tôi đang ngồi ở đó nghe được Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp. "Tôi" này là chỉ A Nan tôn giả.

Khả năng ghi nhớ của A Nan tôn giả là *Number One*. Trí nhớ của ngài ấy là tốt nhất, thế nên "tôi nghe như vầy" là ngài ấy đã ghi nhớ tất cả lời mà Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói. Vốn dĩ tôi muốn nói, có thể ghi nhớ tất cả kinh điển mà Phật Thích Ca Mâu Ni từng giảng, trí nhớ như vậy là thiên hạ vô song, chẳng có người nào khác. Tôi không thể nào tin được, lão phu đây không tin. Có loại người nào như thế không, thời bây giờ ấy? Nói thử xem. Có kiểu người như thế không? Tôi cũng chẳng thể nhớ được.

Hôm nay, tôi nói để bạn biết, Chu Thời Nghi dạy Lực học lượng tử, lượng tử này, sáng nay tôi vừa ngủ dậy thì cứ nghĩ mãi về hai chữ "lượng tử", rốt cục là các hạt, hay là điện tử, hay là trung tử, hay là cái gì tử? Nghĩ cả nửa ngày rồi thì từ bên trong, chữ "lượng" này mới bật ra, tôi mới nhớ ra là Lực học lượng tử, ông ấy là chuyên gia. Một chữ "lượng" đã khiến tôi nghĩ lâu như vậy. Bạn chê tôi ư? Tôi mắc chứng đãng trí rồi, tôi làm sao mà nhớ được chứ?

Nghe nói trí nhớ của A Nan siêu tốt, những gì Phật Đà nói ông ấy đều biết, kinh đều do A Nan và những người bổ sung cho trí nhớ của A Nan. Những người ngồi nghe pháp khi ấy, cái gọi là "tuyệt kĩ" chính là nằm ở đây đó. Câu này Phật Thích Ca Mâu Ni có từng nói không? Có, mọi người cùng thừa nhận, và thế là sẽ ghi lại, và như thế là "tôi nghe như vầy". Mỗi kinh điển đều bắt đầu bằng bốn chữ này. Là A Nan và các đại tì kheo có mặt ở đó nghe pháp. 

*"Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc",* ở đây có vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc, thành Xá Vệ thì mọi người đã biết rồi, Phật Đà sống ở thành Xá Vệ. Vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc này gọi là tịnh xá Kì Viên. Phật Đà từng sống ở ba nơi: một là hang động ở núi Linh Thứu, đó là lúc sớm nhất, nơi tiếp theo là tịnh xá Trúc Lâm, cuối cùng là tịnh xá Kì Viên, gọi đầy đủ là vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc. Thế nào là Kì Thụ? Kì thụ tức là cây kì lạ, có người nói thế này, đó là cây (thụ) mà. *No*, sai rồi, là Thái Tử Kì Đà. Hồi ấy có một người là Thái Tử Kì Đà, khu vườn này thuộc về thái tử. Rồi có trưởng lão Cấp Cô Độc muốn mua khu vườn này. Ai đã đi xem địa lí? Là Xá Lợi Phất. 

Xá Lợi Phất đã tìm khắp nơi trong nước Xá Vệ thì tìm thấy địa điểm này. Trưởng lão Cấp Cô Độc, hay còn gọi là trưởng giả Cấp Cô Độc, ông ấy là một từ thiện gia lớn ở nước Xá Vệ. Thế nào gọi là Cấp Cô Độc? <span className="note-blue">[Cấp cô độc nghĩa là tặng cho người cô đơn.]</span> Nghĩa là, hễ bạn là cô nhi, quả phụ, hoặc đàn ông độc thân, người nghèo, ông ấy sẽ đều cho thức ăn, cho chỗ để ở. Bởi vậy đại thiện nhân này có biệt danh là trưởng giả Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc muốn dâng tặng một khu vườn cho Phật Thích Ca Mâu Ni, ông ấy muốn cúng dường một mảnh vườn cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Xá Lợi Phất đã nhìn trúng khu vườn này, đó là khu vườn của Thái Tử Kì Đà. Thái Tử Kì Đà nói với trưởng lão Cấp Cô Độc: "Nếu ông có thể dùng vàng, dùng vàng để phủ lên khu vườn này thì tôi sẽ bán nó cho ông." Thế rồi trưởng giả Cấp Cô Độc thật sự đã dùng vàng để phủ lên mặt đất, mặt đất toàn bộ đều lát vàng, thế là Thái Tử Kì Đà đã không thể không bán cho trưởng lão Cấp Cô Độc. Nói như vậy mọi người rõ rồi chứ?

Thế nhưng ông ấy chỉ phủ vàng lên mặt đất, trên cây không có phủ vàng. Trong khu vườn này có rất nhiều cây, cây không được phủ vàng. Những cây ấy là do ai cúng dường? Là Thái Tử Kì Đà nói rằng vì ông đã cúng dường đất này cho Phật Thích Ca Mâu Ni rồi, vậy thì tôi sẽ cúng dường cây ở đây cho Phật Thích Ca Mâu Ni, vì thế nên gọi là vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc. Nói như vậy hiểu rồi chứ? Mọi người nghe có hiểu không? Khu vườn này vốn dĩ là của Thái Tử Kì Đà, Cấp Cô Độc muốn mua, Thái Tử nói: "Chỉ cần ông dùng vàng phủ lên mảnh đất này, phần đất được phủ vàng tôi sẽ bán cho ông."

Trưởng giả Cấp Cô Độc thật sự là một người rất có tiền, bởi vì ông ấy là đại phú hào, ông ấy chuyên môn chu cấp cho người cô quả, còn cho cả người cô đơn, là một đại thiện nhân cho người ta ăn, cho người ta chỗ ở. Ông ấy đã dùng vàng để phủ lên mảnh đất này để tặng cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Cây thì không phủ vàng, cây là của Thái Tử Kì Đà, những cây ấy là do Thái Tử Kì Đà cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni, vì thế trở thành vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc, gọi đơn giản là tịnh xá Kì Viên. Như vậy mọi người hiểu rồi chứ?

Đoạn này, *"Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc",* người khác dịch ra đôi khi dịch sai. Kì thụ có người dịch thành... cây không có gốc đúng không? Cây không có gốc thì gọi là kì thụ, có người dịch thành cây không gốc. Sai rồi! Là cây của Thái Tử Kì Đà tặng cho Phật Thích Ca Mâu Ni, cùng với trưởng giả Cấp Cô Độc tặng khu vườn này cho Phật Thích Ca Mâu Ni, phong thủy địa lí của khu vườn này là do Xá Lợi Phất xem. 

*"Cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo"*, tổng cộng có 1250 người, có nhiều người như vậy. Khi ấy, Phật Thích Ca Mâu Ni *"gần đến giờ thọ trai"*, giờ ăn đã đến rồi, ngài mặc y phục, cầm theo bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. *"Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi."* Tôi giải thích đoạn này. Giờ ăn cơm đã đến rồi. Ăn cơm, tiếng Đài Loan gọi là "đi ăn", tiếng Quảng Đông gọi là "xực phàn", tiếng Mã Lai, Ấn Độ gọi là "makan nasi". Còn tiếng Quốc ngữ thì sao? Là "ăn cơm", đúng không?

Đúng, chúng ta thì vào buổi trưa sẽ nói là *lunch time*, buổi tối thì nói là *dinner time*, buổi sáng thì là *breakfast*. Ăn cơm ở đây cũng có kiến thức đó. Đại Ca Diếp chuyên tìm đến người nghèo để xin đồ ăn. Phật Thích Ca Mâu Ni có hỏi ông ấy vì sao lại tìm đến nhà người nghèo để xin ăn? Ông ấy nói ông ấy muốn chúc phúc cho người nghèo, để họ sau này trở nên giàu có. Đó là Đại Ca Diếp. Thế nên Đại Ca Diếp ăn như thế nào? Ăn giống như pháp sư Liên Tự ấy. Còn A Nan tôn giả thì chuyên môn đến nhà người giàu để xin ăn. Thế là, Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi ông ấy, vì sao ông chuyên môn xin ăn từ những người có tiền? A Nan trả lời rằng ông ấy muốn giảm bớt gánh nặng của người nghèo, người nghèo muốn cúng dường ông ấy nhưng họ đã rất nghèo rồi, lại còn phải san sẻ thức ăn để cúng dường ông ấy thì thật sự không đành lòng, vì thế ông ấy chuyên đi xin thức ăn từ người giàu. Thế nên A Nan nhìn trông như pháp sư Tuyên Nhân vậy. 

Mọi người nhìn xem hai người này đứng lên thấy rất khác nhau. Tuyên Nhân thì trông to như thế này, còn Liên Tự thì còm nhom gầy khô. Đại Ca Diếp cũng còm nhom gầy khô, còn A Nan thì béo béo mầm mập. Cả hai người nói đều có lí. Phật Đà nói, hai ông nói đều có lí, nhưng cũng chẳng có lí. Hai ông không có "bình đẳng quán"! Ông ra ngoài hóa duyên, đi khất thực, ông gặp được cái gì thì ăn cái đó, không có chuyện ông lựa chọn, ông còn lựa chọn thì đã đi chệch đường rồi. Giáo huấn của Phật Thích Ca Mâu Ni là như vậy đó. Ăn, bạn cần có quan điểm bình đẳng, không thể lựa chọn đồ ăn. Người xuất gia chính là như thế, hôm nay có cái gì thì ăn cái đó. Hôm nay bạn gặp người nghèo thì bạn ăn đồ của người nghèo. Ngày mai bạn gặp người giàu, người có rất nhiều tiền, thì bạn ăn đồ của người giàu. 

Ăn cũng cần có học vấn! Phật nói, một người chuyên môn xin ăn từ người nghèo, một người chuyên môn xin ăn từ người giàu, thì đều không có "bình đẳng quán", đều có thiên lệch. Một người hướng về người nghèo, một người hướng về người giàu, hai người đều không đúng. Có cái gì thì ăn cái đó, bản thân là một hành giả thì không thể chọn lựa thức ăn, điểm này cần chú ý đó! Bạn chọn lựa đồ ăn là không đúng đâu. Tôi bảo bạn nhé, Đại Ca Diếp là cực kì đó! Ông ấy là người cực kì đó! Ông ấy ăn… gọi ông ấy là Đầu Đà Đệ Nhất chẳng phải là gọi bừa đâu! Vì sao cuối cùng ông ấy lại rời bỏ tăng đoàn của Phật Thích Ca Mâu Ni? Bởi vì sau này, Phật Thích Ca Mâu Ni sống tại tịnh xá Trúc Lâm, sống ở nơi này, sống cũng cần có học vấn đó. Ở đây nói đến sống, ở đây cần bàn về chuyện ăn, mặc, ở, đi lại. 

Đại Ca Diếp bởi vậy gọi là Đầu Đà Đệ Nhất, trên phương diện ăn, phương diện ở, phương diện mặc, phương diện hoạt động, toàn bộ việc ăn mặc ở hoạt động ông ấy đều không giống những người khác. Về việc ăn, thức ăn xin được, trước tiên ông ấy quán tưởng, trước khi ăn đều làm quán tưởng, đem những thức ăn này… giống như chúng ta vậy, đầu tiên cúng dường Phật Bồ Tát chư Tôn, cúng dường lục đạo chúng sinh, sau đó lại quán tưởng những thức ăn này biến thành *poo*! <span className="note-blue">[Poo trong tiếng Anh có nghĩa là cục phân.]</span> Canh để ăn thì biến thành nước tiểu, uống nước tiểu! Ăn phân! Đây là dùng hạnh đầu đà để làm mọi việc. Bạn là người tu hành thì cần ghi nhớ! Không chỉ là "bình đẳng quán" mà còn phải quán tưởng những thứ này thành những thứ khó nuốt trôi nhất trong thiên hạ. Thật đó. "Pháp sư ăn phân, uống nước tiểu", không phải là uống rượu, mà là uống nước tiểu, ăn nước tiểu, ăn phân, đó là cách ăn của Đầu Đà Đệ Nhất.

Vì sao ông ấy rời tăng đoàn? Bởi vì cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni sống tại tịnh xá Trúc Lâm, sống ở vườn Cấp Cô Độc, là nơi quá tuyệt vời! Đó là biệt thự đó! Đại Ca Diếp không hề muốn sống ở đó. Nơi ông ấy sống là ở đâu? Ông ấy sống ở giữa nghĩa địa, giữa những phần mộ, ở giữa các ngôi mộ, sống trong hang, sống dưới cây, đó đích thực là Đại Ca Diếp, bởi vậy mới nói ông ấy là một đệ tử rất vĩ đại. Ông ấy không sống ở tịnh xá, không ngủ trên giường, tuyệt đối luôn ngủ giữa những ngôi mộ, ngủ dưới cây, ngủ trong hang động, đó là việc sống của ông ấy. 

Ông ấy ngủ cũng vẫn không ngả ra, tuyệt đối không nằm xuống, ông ấy ngủ ngồi, đó là Đại Ca Diếp. Ông ấy giữ thói tu hành theo hạnh đầu đà, là người số một, vì thế ông ấy được gọi là Đầu Đà Đệ Nhất. Nào có giống như A Nan, ngủ giống như heo vậy! Thế nên hai người ấy vốn không hợp nhau, A Nan và Đại Ca Diếp căn bản là không hợp nhau. Một người giống như Liên Tự, một người giống như Tuyên Nhân, hình thể đều khác nhau. Một người ăn tới béo mầm, một người còm nhom, Đại Ca Diếp là như vậy. Ồ, thật đó! Ngón tay ông ấy duỗi ra thì trông như chân gà vậy. 

Tiếp theo lại nói về việc mặc. Thời ấy Phật Thích Ca Mâu Ni mặc đồ là mặc như thế nào? Một tấm vải! Hồi đầu tiên, vị Đầu Đà Đệ Nhất mặc như thế nào? Ở nghĩa trang, rất nhiều khu rừng vứt xác ở Ấn Độ là những gò đất chôn lộn xộn! Những người chết ấy, những mảnh vải quấn lên thân người chết, lấy ra để quấn lên người mình, cách mặc là quấn vải lên người như vậy, đó là cách mặc của Đại Ca Diếp. Cách mặc sau này, cách họ mặc và cách mặc quấn lên người có một chút giống với cách mặc của các hòa thượng Tiểu thừa ở Thái Lan, họ vẫn còn gìn giữ cách mặc của thời cổ đại ở Thiên Trúc. 

Cách mặc, mặc quần áo không giống với chúng ta hiện tại là mặc một chiếc váy Lama, một chiếc áo khoác, thế là thành trang phục Lama, có đúng không? Còn khoác thêm cái áo choàng không tay này, áo thiền, khoác thêm cái áo thiền, cái đó gọi là áo thiền. Cái này đã thay đổi rồi, đã cải biến rồi. Cách mặc đúng là một tấm vải quấn lên người, hơn nữa tấm vải ấy không phải là vải tốt gì, đều giống như tấm vải quấn người chết, cái vải bọc người chết lại. Ở Ấn Độ khi chết, lấy tấm vải quấn lên thân người chết, đó là cách mặc của họ. Cách mặc cũng có học vấn đó. Bạn xem họ mặc ra sao? Bạn có biết mặc không? Thật sự đem tấm vải ra cho bạn mặc, bạn có biết mặc không? Đưa cho bạn y phục của Tiểu thừa để mặc, chỉ có một tấm vải quấn lên người thôi.

*"Cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực"*, mọi người đều đi như vậy, sau đó họ đi chân đất, thời ấy là đi chân đất, bây giờ thì đã đi giày rồi, đi dép cỏ. Hòa thượng bây giờ đã khác rồi! Đi giày da, đi cái gì… trước kia là đi dép cỏ, đi giày cỏ, thế nhưng vào mùa hè, vì Ấn Độ nhiều mưa, khi ấy thường hay mưa, thế nên mới có "an cư kết hạ". "An cư kết hạ" là ý nói rằng bởi vì trời mưa, sâu bọ sẽ bò ra, bạn đi ra ngoài khất thực sẽ dẫm lên những sâu bọ này, khiến chúng bị dẫm chết, bởi vì không sát sinh, cho nên mới gọi là "an cư kết hạ", "an cư kết hạ" trong thời gian ba tháng.

Ở đây sau khi vào thành khất thực xong, *"trở về nơi ở của mình"*, nghĩa là trở về tịnh xá Kì Viên. Mọi người ăn cơm xong, chỉnh đốn lại y phục, sắp xếp lại, dọn dẹp sạch sẽ, *"thu dọn y bát, rửa chân"*, bởi vì đi chân đất nên phải rửa chân, khi đi về thì chân đều bẩn cả, thế nên phải rửa chân. Sau đó đem giường ngồi ra… họ gọi là giường ngồi, tương đối rộng một chút, sau đó bày một tấm thảm ngồi, sau đó ngồi lên thảm, ngồi ngay trên mặt đất. Đoạn này nói về hạnh đầu đà. Ăn, vừa rồi ta đã nói rồi. Mặc, là quấn vải dùng cho người chết, loại vải để bọc người chết, quấn nó lên trên người. Ở, nếu là hạnh đầu đà, thì họ sống ở nơi nghĩa địa và hang động, hoặc dưới cây. Còn đi lại, chính là đi chân đất, đi chân trần. Mọi người đều đi chân đất, tiếng Đài Loan gọi là đi chân đất, đó là việc đi lại. 

Về đoạn này, mọi người có ý kiến gì không?  
Nhưng rồi về sau, Đại Ca Diếp đã rời khỏi tăng đoàn. Vì sao vậy? Tăng đoàn đã thay đổi rồi, hơn nữa Phật Thích Ca Mâu Ni cũng tiếp nhận người ta cúng cơm, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni cũng tiếp nhận người ta cúng cơm, nghĩa là có thí chủ nói "tôi mời các vị ăn cơm", "mời tăng đoàn các vị ăn cơm", mọi người đều cùng đi ăn, tiếp nhận cúng cơm, sau này Phật Đà cũng tiếp nhận cúng cơm. Việc mặc y phục cũng có thay đổi, những vải quấn người chết trước kia đã trở thành một loại hình như gọi là… có một loại quần áo gọi là "áo trăm mảnh vá", vải mà người ta không cần, đem những mảnh vải ấy khâu lại với nhau, may thành quần áo để mặc, đó gọi là "áo trăm mảnh vá". Vải mà người ta không cần đem bỏ đi, thì nhặt chúng về, may chúng lại thành quần áo. Nói như vậy bạn có thể hiểu được những điều tôi vừa mới nói chứ?

Phật Đà thời cổ đại, hồi mới đầu là Phật Đà ở trong hang động. Sau đó có người cúng dường tịnh xá Trúc Lâm, sau đó lại có người cúng dường nơi ở tốt nhất, nơi đó cũng tương tự như biệt thự, tịnh xá Kì Viên chính là vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc. Cái này thì rất tốt rồi! Đó là nơi phong thủy mà Xá Lợi Phất đã nhìn ra. Đoạn này đã giảng xong rồi. 

Bởi vậy bây giờ chúng ta tu hành, thật sự là quá tiện lợi cho những hòa thượng các bạn rồi, quá tiện nghi rồi. Liên Tự chẳng phải là không ăn đồ ngon, mà là hệ tiêu hóa của ông ta không tốt! Ông ấy chẳng giống Đại Ca Diếp đâu. Bạn xem, lại còn quán tưởng nữa chứ! Đại Ca Diếp còn quán tưởng nữa kìa! Cầm lấy đồ ăn ngon, lại quán tưởng chúng thành *poo*. Quán tưởng thành "xi xi", *pee pee*, quán tưởng thành *pee pee*. <span className="note-blue">[pee pee trong tiếng Anh là đi tiểu - ý Sư Tôn là quán tưởng thành nước tiểu]</span>

Bạn xem, ăn lại còn phải quán tưởng như vậy. Còn Mật giáo của chúng ta thì lại khác. Người tu Mật giáo là biết, mỗi lần ăn gì cũng cần quán tưởng. Thế là may quá rồi. Còn y phục Lama thì còn may cả đường cong nữa! Áo Lama lại còn may thành những đường cong, chà, A Di Đà Phật. Om mani padme hum. 

*(Ngày 08/08/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 4.)*

### 05. Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội (3)

*(Bài giảng 5)* Chuyện ăn mặc ở đi lại có phải là tu hành không?

Hôm qua tôi đã giảng “Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội”.  
*”Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi.”*

Đoạn này, hôm qua tôi đã giảng đoạn này rồi, không biết mọi người đã xem chưa? Tôi hỏi mọi người, các bạn có biết ý nghĩa của đoạn này không? Hôm qua đã giải thích ý nghĩa từng từ rồi, nhưng thật ra vẫn còn ý nghĩa sâu xa nữa. Có người hỏi Lư Sư Tôn: "Lư Sư Tôn, ngài tu hành như thế nào?" Tôi đáp, ăn cơm đi ngủ, câu trả lời của tôi là ăn cơm rồi đi ngủ. Mọi người hỏi tôi: "Ngài tu hành ra sao?" Tôi nói: "Ăn cơm rồi đi ngủ." Người đó liền nói: "Cái này thì ai cũng biết mà!" Mỗi người đều biết ăn cơm, đi ngủ. 

Tu hành chính là ăn cơm đi ngủ, không hề sai! Vừa rồi giảng về phẩm thứ nhất, phần thứ nhất nguyên do của pháp hội, chính là ăn cơm, mặc quần áo, rửa chân, lên giường đi ngủ, chính là ăn cơm đi ngủ. Người ấy rất vui mừng: "Thế thì tôi cũng biết tu hành, tôi cũng ăn cơm đi ngủ mà." Không giống đâu, bên trong có ý nghĩa đó. Bạn phải biết hôm nay chúng ta ăn cơm cũng có kiến thức trong đó. Bạn ăn cơm thì có làm cúng dường, ăn cơm thì cũng làm siêu độ, ăn cơm thì phải làm thanh tịnh. Bạn có biết làm không? Đó mới là biết cách ăn cơm thật sự. Bạn phải biết đi ngủ cũng có kiến thức, tu hành chân chính là bạn phải biết giấc mơ trong khi ngủ, bạn biết rằng đó chỉ là mơ, bạn có làm được thế không? Giấc mơ xấu tôi có thể thay đổi thành giấc mơ tốt, bạn có thể không? Có biết không? Rồi trong mơ, tôi còn có thể tu pháp trong khi ngủ nữa, bạn có biết không? Khác nhau đấy! Bởi thế ý nghĩa chính là ở đây. 

Cuộc sống của Phật Đà cũng giống với người bình thường, ăn cơm đi ngủ, nhưng cũng không giống với người bình thường. Mặc dù bên ngoài vẫn là ăn cơm đi ngủ, nhưng ý nghĩa sâu nhất của nó thì khác, không giống với người bình thường. Khác hẳn đó. Bạn đừng tưởng rằng là giống nhé. Mọi người đều biết ăn cơm đi ngủ. Mọi người hỏi Lư Sư Tôn: "Ngài tu hành thế nào?" "Ăn cơm đi ngủ." Thế thì ai mà không biết chứ? Tôi bảo bạn nhé, đâu phải ai cũng biết. Bạn có biết cúng dường không? Bạn có biết siêu độ không? Bạn có biết thanh tịnh không? Ăn cơm, trong việc này có ba hàm nghĩa. Đi ngủ, bạn biết là mơ, có thể thay đổi giấc mơ hoặc có thể tu hành trong mơ, thì đây chính là đang làm công phu thanh tịnh thực sự đó. Bạn có biết không? Vì thế, người học Mật pháp nhất định phải hiểu. 

Hơn nữa, tôi nói để mọi người biết, trong đây còn có hàm nghĩa. Hôm qua nói về việc ăn, ăn mặc ở đi lại đều là tu hành, ngoài ra còn có một điểm, là thanh tịnh. Bạn biết rằng Đại Ca Diếp tu hành theo hạnh đầu đà, việc ăn mặc ở hoạt động của ông ấy không giống người ta. Hạnh đầu đà của ông ấy là phá hủy. Phá hủy cái gì? Nơi ông ấy sống, tôi nói để mọi người biết, là ở giữa những phần mộ, ở giữa rừng vứt xác giữa những ngôi mộ, ở dưới cây, ở trong hang động, không có giường ngủ. Tay của ông ấy không chạm vào tiền, tay không được chạm vào tiền. Nếu mắt ông ấy nhìn thấy tì kheo ni, nhìn thấy phụ nữ xinh đẹp, ông ấy không nhìn, mắt ông ấy sẽ nhìn xuống đất, không nhìn người ta, hạnh đầu đà là như thế đấy, mắt nhìn xuống đất, không được nhìn vào mắt của phụ nữ, nhìn rồi thì có điện, bạn sẽ bị điện giật mà chết đó, tôi nói để bạn biết đấy. Mắt của phụ nữ bạn có dám nhìn không? Bạn biết Đường Tam Tạng gặp phải yêu tinh nhện: "Ông hòa thượng, mắc vào lưới này rồi thì không bò ra được đâu, để cho yêu tinh nhện ăn thịt thôi." Bởi vậy nói, cái gọi là A La Hán chính là trừ bỏ lục tặc nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, chính là nằm trong việc ăn mặc ở đi lại hoạt động. 

Bạn xem Đại Ca Diếp, tiền, ông ấy không chạm vào, trên người ông ấy không một xu dính túi, không chạm vào tiền. Sắc, mắt ông ấy nhìn xuống đất, không nhìn phụ nữ. Danh, ông ấy không tranh tên tuổi, rời khỏi tăng đoàn. Trong tăng đoàn cũng có tranh đấu, bạn xem, Đề Bà Đạt Đa kia chính là muốn tranh giành tăng đoàn với Phật Thích Ca Mâu Ni. Lúc Phật Thích Ca Mâu Ni đã già, Đề Bà Đạt Đa tu hành cũng rất tốt, ông ấy cũng tu được 30 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, Phật Thích Ca Mâu Ni tu được 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Đề Bà Đạt Đa tu được 30 tướng tốt, chỉ kém Phật Thích Ca Mâu Ni hai tướng tốt mà thôi, và đều có 80 vẻ đẹp. Ông ấy muốn làm, làm cái gì? Ông ấy muốn làm người lãnh đạo tăng đoàn: "Phật Thích Ca Mâu Ni già đanh ra rồi mà vẫn còn chưa chết, nên đến lượt ta rồi chứ."

Đề Bà Đạt Đa đã có cách nghĩ như vậy: "Nên đến lượt ta làm lãnh đạo rồi, làm Tổng thống, làm thế nào đây? Mi đứng ở đó à, đứng ở hố xí rồi mà còn không ị đi, cái lão già đanh rồi mà vẫn còn không mau chết đi, ta muốn làm lãnh đạo rồi." Đề Bà Đạt Đa đã nghĩ như thế đó, danh, đã cắm đầu vào cái chữ "danh" này rồi. Còn có cả cắm đầu vào việc ăn. Bạn xem Đại Ca Diếp ăn, ăn những thứ nghèo nàn nhất rồi mà lại còn quán tưởng những thứ nghèo nàn nhất ấy thành *poo* và *pee pee*. Ngủ, bạn xem, con người có năm nhu cầu lớn, tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, năm nhu cầu lớn, Đại Ca Diếp đều bỏ qua hết. Đây chính là hàm nghĩa sâu nhất của đoạn thứ nhất này. Người khác không giảng như vậy, Lư Sư Tôn mới giảng như vậy thôi. Bạn nói xem có đúng thế không?

Giống như A Nan, con lợn lười biếng đó, ăn tới mức béo phây phây, từ sáng đến tối ở cùng với những cô gái, vừa tham ăn vừa háo sắc, lại còn cái gì cũng muốn hưởng thụ. Trong số mười đại đệ tử thì sau khi Phật Đà tạ thế, A Nan tôn giả chẳng đạt được cảnh giới gì, sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch thì ông ấy mới bắt đầu tu hành. Mười đại đệ tử người ta mỗi người đều có thành tựu. Trong tăng đoàn của Phật Đà có Xá Lợi Phất, có Mục Kiền Liên, bởi vì Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên bản thân cũng có đoàn thể của chính mình. Trước khi Xá Lợi Phất quy y Phật Thích Ca Mâu Ni, bản thân ngài ấy đã có một đoàn thể tu hành rồi. Mục Kiền Liên cũng thế, họ đều là người đứng đầu. Xá Lợi Phất là trưởng lão, Mục Kiền Liên cũng là trưởng lão, một người là trí huệ đệ nhất, một người là thần thông đệ nhất. Xá Lợi Phất là trí huệ đệ nhất. Mục Kiền Liên là thần thông đệ nhất. Bởi vì cảm nhận thấy Phật pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni vô cùng hay nên họ mới đến quy y Phật Thích Ca Mâu Ni. Họ vốn dĩ đã lãnh đạo đoàn thể của họ đến quy y ở chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni. Mục Kiền Liên cũng thế, ngài ấy lãnh đạo đoàn thể của mình đến quy y ở chỗ của Phật Thích Ca Mâu Ni, vì thế tăng đoàn của Phật Đà mới trở nên lớn mạnh như vậy. Bởi vậy, Phật Đà rất tôn trọng Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, bởi vì bản thân họ vốn đều là người đứng đầu, nên khá tôn trọng họ, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. 

Đại Ca Diếp, Phật cũng rất tôn trọng. Vì thế, khi ông ấy mới rời khỏi tăng đoàn, Phật Thích Ca Mâu Ni một mực gọi ông ấy quay lại, ông ấy không chịu, gọi mấy lần ông ấy vẫn không muốn quay lại, cho đến tận lúc Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch, ông ấy từ một nơi rất xa vội vã trở về. Phật Thích Ca Mâu Ni rất tôn trọng Đại Ca Diếp, bởi vì ông ấy thật sự tu hành. A Nan thì chỉ lười biếng, vì thế Đại Ca Diếp rất coi thường A Nan. Mặc dù cuối cùng A Nan cũng có thành tựu thì cũng là do Đại Ca Diếp thúc ép ông ấy. Hai người ấy vốn dĩ bất hòa, Đại Ca Diếp nhìn thấy một người lười như heo, thế nhưng lại làm thị giả của Phật Thích Ca Mâu Ni, cho nên ông ấy lặng lẽ rời khỏi tăng đoàn, đến cuối cùng, Đại Ca Diếp cũng độ được không ít người, khi Phật Đà viên tịch, ông ấy đã đặc biệt quay về. A Nan đã mấy lần nổi lửa để thiêu Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng hễ muốn hỏa thiêu thì châm lửa kiểu gì cũng không thành. Chỉ có sau khi Đại Ca Diếp quay về thì mới có thể châm lửa lên, có thể thấy là Phật Thích Ca Mâu Ni rất tôn trọng Đại Ca Diếp, Phật đã đợi ông ấy trở về. 

Tôi vừa giảng với mọi người xong rồi, đây chính là "Phần thứ 1: Nguyên do của pháp hội", về ý nghĩa sâu xa bên trong của nó, là phá bỏ cả việc ăn mặc ở hoạt động, phá hủy tài sắc danh ăn ngủ, nằm ở việc đóng lại nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, đây mới là trọng điểm của đoạn này. Có ai giảng như vậy không? Có người nào giảng kinh Kim Cang như vậy không? Mọi người đã từng nghe người ta giảng kinh Kim Cang chưa? Có người nào giảng như vậy không? Khả năng là có, cũng có khả năng là không có, nhưng Sư Tôn thì giảng như vậy đó. Ý nghĩa của đoạn này chính là nằm ở đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 09/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hỉ Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 5.)*

### 06. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (1)

*(Bài giảng 6)* Thiện Hiện có ý nghĩa gì?

Bây giờ sẽ giảng kinh Kim Cang. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi. Bây giờ tôi hỏi mọi người nhé. Thế nào gọi là Thiện Hiện. Tiêu đề "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi." Thế nào là Thiện Hiện? Các Thượng sư, các vị đọc kinh Kim Cang thường niệm Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi. Phần thứ 1: Nguyên do pháp hội, Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi. Thế nào là Thiện Hiện? Nếu như bạn biết thì hãy giơ tay, người nào hiểu thì giơ tay. Thế nào gọi là Thiện Hiện? Thượng sư Liên Vượng có biết hay không? (Thượng sư Liên Vượng thử trả lời câu hỏi của Sư Tôn.) Ông bảo là đoán thôi à? Mời ngồi!

Nhưng ông ấy đoán đúng rồi. Tôi bảo bạn nhé, Tu Bồ Đề có ba tên gọi, tên thứ nhất là Không Sinh, tên thứ hai là Thiện Cát, tên thứ ba là Thiện Hiện. Ở đây nhắc đến tên gọi thứ ba. "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi." Bởi vậy rất nhiều người không hiểu vì sao tiêu đề này lại gọi là phần "Thiện Hiện thưa hỏi." Liên Vượng đoán bừa rằng là Tu Bồ Đề thỉnh cầu. Ông ấy đoán thôi, để cho ông ấy đi mò cá thì cũng mò được cá đấy, mò bừa mà không ngờ cũng bắt được cá. (Sư Tôn cười) Ba tên gọi này cũng có nguồn gốc, để tôi nói cho bạn biết. 

*Trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"*  
*Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."*  
*"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."*

Tôi đọc một lần kinh văn. Bây giờ sẽ giảng về nguồn gốc của Thiện Hiện. Tôi nói về Tu Bồ Đề trước. 

Được rồi, Tu Bồ Đề, có người nói thế nào nhỉ? Tu nghĩa là cần, Bồ Đề, Cần Bồ Đề, thế có đúng không? Nói đúng thì cũng đúng, nói không đúng thì cũng không đúng. Bởi vì bạn đã tách cái tên gọi của người ta ra, cái tên vốn dĩ là Tu Bồ Đề. Thật ra, đệ tử của Phật Đà có hai vị Tu Bồ Đề. Một Tu Bồ Đề thuộc hàng vương tộc. Bạn biết rằng Ấn Độ giai cấp phân rất rõ ràng, người tu hành là người tu hành, một người là Tu Bồ Đề tu hành, Tu Bồ Đề của tộc Bà La Môn, một người là Tu Bồ Đề của vương tộc. Tu Bồ Đề này là Tu Bồ Đề của Bà La Môn, là Tu Bồ Đề sinh ra trong gia đình của người tu hành, không phải là Tu Bồ Đề của dòng dõi vua kia. Đầu tiên phải nói rõ rằng không thể tách tên gọi của ông ấy ra được. "Tu", mỗi người chúng ta đều cần bồ đề, điều này thật sự rất đúng. Nhưng Tu Bồ Đề là tên gọi của một người, là tôn giả Tu Bồ Đề. 

Nếu như bạn từng đọc một cuốn kinh điển tên là Bách Duyên Kinh, trước tiên tôi nói với bạn điều mà người ta không biết, trong Bách Duyên Kinh cũng không có viết đâu, chỉ có Lư Sư Tôn biết thôi. Người ta nói nhân quả ba đời, cái tôi nói là nhân quả bốn đời. Nhân quả bốn đời của Tu Bồ Đề, bốn kiếp đầu tiên, không có ai biết, chỉ có Lư Sư Tôn biết. Trong kiếp quá khứ, ông ấy cũng là một hành giả. Kiếp sớm nhất đó chỉ có tôi biết, không có người nào từng nói, bây giờ tôi nói mọi người mới biết. Tôi mà không nói thì bạn có đọc Bách Duyên Kinh cũng không thấy có viết đâu. Bách Duyên Kinh cũng chỉ nói rằng ông ấy cũng là một hành giả thôi. Nhưng Bách Duyên Kinh cũng có viết rằng hành giả này vốn dĩ cũng có rất nhiều đồ đệ, nhưng toàn bộ đồ đệ của ông ấy cuối cùng đều rời bỏ ông ấy. Trong lòng ông ấy sinh niềm tức giận, phẫn nộ, đây chính là cái sân trong tham sân si. Đối với mỗi đệ tử bỏ đi, ông ấy đều nguyền rủa họ, đều chửi họ. Đó là một kiếp trong tam thế của Tu Bồ Đề. Tôi nói về kiếp trước đó, trước cả cái kiếp này. Đó là điều mà Bách Duyên Kinh đã ghi chép, là nói về kiếp ấy. Điều tôi nói nằm ngoài Bách Duyên Kinh, điều mà không có ai biết. Vì sao tôi lại biết? Là Tu Bồ Đề nói với tôi. 

Vào kiếp quá khứ trong quá khứ, ông ấy cũng là hành giả. Ông ấy nhận nuôi một vài trẻ mồ côi ở trong chùa. Những đứa trẻ mà người ta không muốn thì ông ấy đem về nhận nuôi chúng. Thời ấy tiếng đồn lan xa rằng nếu bạn sinh trẻ con mà không muốn chúng, thì bạn hãy đem đến chùa đó, ông ấy sẽ nhận nuôi chúng. Khi ấy, Tu Bồ Đề là trụ trì của ngôi chùa đó. Bởi vì những lời đồn đại mà bọn đạo tặc đã biết được tin tức ấy, chúng cho rằng chùa có nhiều tiền, cho rằng Tu Bồ Đề có tiền nên ông ấy có thể nhận nuôi trẻ mồ côi, nên chúng liền đi đến chùa đó để cướp. 

Kết quả là lục lọi thế nào cũng chẳng ra tiền. Bọn cướp bức hỏi Tu Bồ Đề: "Đem tiền ra đây!" Những tên cướp này rất hung hãn đòi đưa tiền ra. Tu Bồ Đề nói: "Tôi không có tiền!". Bọn cướp hỏi: "Không có tiền mà sao ông nhận giữ trẻ mồ côi?" Ông ấy nói: "Chúng tôi đi ra ngoài hóa duyên, trở về được nhiều hơn một chút, nên đem cho những đứa trẻ mồ côi này ăn." Bọn cướp không tin. Bọn cướp thật sự không tin, chúng liền bắt lũ trẻ mồ côi lại, nhốt những đứa trẻ ở đó cho bọn trẻ con khóc, chúng nói chúng sẽ uy hiếp Tu Bồ Đề: "Nếu như ông không nói ra chỗ giấu tiền, bọn tao sẽ giết hết những đứa trẻ này!" Tu Bồ Đề nói: "Tôi thật sự không có tiền, tôi chỉ thương xót những đứa trẻ mồ côi thôi. Tôi đi hóa duyên về, bản thân ăn một ít, còn lại là cho bọn chúng."

Bọn cướp không tin. Chúng nói: "Không giết một đứa thì ông sẽ không nói ra chỗ giấu tiền!" Bọn cướp liền giết một đứa bé, máu chảy đầy mặt đất. Tu Bồ Đề òa khóc, thật sự ông ấy không lấy đâu ra tiền, nếu như có tiền thì đã tốt rồi. Bọn cướp lại giết đứa thứ hai, giết hết lũ trẻ mồ côi rồi, Tu Bồ Đề cũng không đưa ra được tiền. Bọn cướp thấy vậy, thật sự có lẽ đã nhìn ra rằng không có tiền thật, chúng liền chạy mất, bỏ lại một mình Tu Bồ Đề. Lúc này, Tu Bồ Đề vô cùng căm phẫn, vô cùng căm hận. Ông ấy nói ông ấy không muốn làm người nữa, không muốn làm người nữa rồi. Không muốn làm người, thì làm gì? Cuối cùng, vì trẻ mồ côi đều đã bị giết, ông ấy liền rời khỏi chùa này đi vào hang động trong núi sâu cho đến những năm cuối đời. Tu Bồ Đề đã kể với tôi như vậy. Chuyện này không có người nào biết. Trong lòng ông ấy có sự hận thù con người, từ lúc ấy bắt đầu có lòng hận thù con người.

Đó là một kiếp, một kiếp sống của ông ấy đã trải qua như vậy. Còn trong Bách Duyên Kinh là Phật Thích Ca Mâu Ni nói về lai lịch của Tu Bồ Đề, là kiếp thứ hai, khi ông ấy là trụ trì của một ngôi chùa, đem theo các đệ tử đi ra ngoài hóa duyên, cũng đi khất thực như vậy. Nhưng đến cuối cùng thì mỗi đệ tử đều bỏ đi hết, từng người từng người một đều không tin ông ấy nữa, bởi vì trong lòng ông ấy có một sự căm hận, mọi người bị ông ấy mắng, bị vị trụ trì Tu Bồ Đề này mắng, mắng đến mức mọi người đều bỏ đi hết. Bỏ đi rồi thì ông ấy lại càng chửi. Ông ấy vốn dĩ rất căm ghét con người, ông ấy nói: "Con người chẳng phải thứ tốt đẹp gì!", chửi câu này thì rất ác độc, chửi hết cả đám đệ tử của ông ấy, chửi tới mức mọi người đều rời bỏ ông ấy, đó là những gì ghi lại trong Bách Duyên Kinh, tất cả đệ tử đều bỏ đi hết sạch.

Trong lòng ông ấy lại có sự thù hận thứ hai, đó là kiếp tiếp theo. Bởi vì có cái duyên thù hận này, hai kiếp thù hận, mà ông ấy đã biến thành độc long, có năm trăm kiếp ông ấy đều làm độc long. Độc long là gì? Nói theo cách thông thường thì chúng ta nói ở Thiên Trúc không phân biệt rồng và rắn, rồng và rắn không phân biệt, như vậy cũng có nghĩa là ông ấy có năm trăm kiếp đọa làm thân rắn độc, ông ấy biến thành một con độc long, rắn độc. "Naga", chính là rắn độc, naga chính là rắn. Có một ngày, thời gian làm rắn độc của ông ấy đã hết, tâm sân hận của ông ấy vẫn còn, do vậy đến khi xong kì hạn làm rắn độc, có đại bàng kim sí điểu bay tới, dùng móng bắt lấy độc long từ trong biển, bay lên không trung để chuẩn bị nuốt gọn, con độc long này rất to, và đại bàng kim sí điểu đã sẵn sàng có một bữa ăn ngon rồi.

Phật Thích Ca Mâu Ni biết được, khi vừa thành Phật, ngài đã biết, ngài liền hóa ra một thân biến thành một tì kheo sống ở lưng chừng núi. Đại bàng kim sí điểu bắt được con độc long ấy thì bay lên núi này, bay qua trước mặt Phật Thích Ca Mâu Ni. Con rắn độc này miệng phát ra âm thanh, gật đầu với Phật Thích Ca Mâu Ni, chính là gật đầu. Gật đầu, sau đó miệng phát ra âm thanh cầu xin tì kheo cứu nó, bởi vì nó đã sắp sửa biến thành thức ăn rồi. Phật Thích Ca Mâu Ni không cứu nó, và thế là con độc long này đã bị đại bàng kim sí điểu ăn mất. Nhưng vì nó đã cầu cứu và gật đầu với Phật Thích Ca Mâu Ni, gật đầu cung kính để cầu xin tì kheo cứu nó, Phật Thích Ca Mâu Ni không cứu nó, như vậy là đã trải qua một kiếp được nói đến trong Bách Duyên Kinh. 

Sau đó ông ấy chuyển thế đến nhà của một Bà La Môn, sinh ra làm một đứa bé. Khi đứa bé này ra đời, nhà kho của nhà đó vốn dĩ có rất nhiều tiền, gia đình Bà La Môn ấy rất lắm tiền, có nhà kho, có vàng bạc châu báu, có biệt thự, khi đứa bé ra đời thì những của cải này cũng biến mất luôn, bởi vậy mới gọi đứa bé là "Không Sinh". Đứa bé lấy tên này, người nhà đó nói, mày vừa ra đời thì nhà kho, vàng bạc châu báu, và tất cả nhà cửa của nhà ta đều chẳng còn nữa, mày vừa ra đời thì nhà ta biến thành trống rỗng, chẳng còn thứ gì cả, thế nên đặt cho mày tên là Không Sinh. 

Nhà ấy chạy đi tìm một thầy tướng mệnh để xem mệnh số, quẻ bói nói rằng đó là biểu tượng của điềm lành, là điều tốt, đứa bé này là điều lành, là tượng trưng cho cát tường, chính là Tu Bồ Đề. Quẻ bói này đã nói đứa trẻ này là tốt, là may mắn, vì thế đứa bé được đặt cho cái tên thứ hai là Thiện Cát. Bảy ngày sau, ấy, nhà kho lại có, nhà cửa lại xuất hiện, vàng bạc châu báu lại xuất hiện, vì thế, người nhà lại đặt cho đứa bé tên gọi thứ ba gọi là Thiện Hiện. Vì thế, Tu Bồ Đề vừa tên là Không Sinh, vừa tên là Thiện Cát, tên gọi thứ ba là Thiện Hiện.

Thế nên "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi", Thiện Hiện chính là Tu Bồ Đề, phần thưa hỏi chính là thỉnh cầu Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu thuyết pháp, vì thế nên đây gọi là "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi". Ý nghĩa của Thiện Hiện là từ đây mà có, nói như vậy mọi người hiểu chứ? Thế nên Thượng sư Liên Vượng đã mò được con cá trong cái ao nước đen, mò cá đó, thật sự ông ấy đã tóm được con cá rồi. Thiện Hiện chính là tên của Tu Bồ Đề, bản thân ông ấy còn tên là Không Sinh, sau đó tên là Thiện Cát, tên thứ ba gọi là Thiện Hiện, chính là Tu Bồ Đề. 

*"Trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật."* Vì sao lại là để lộ vai phải và đầu gối phải? Bây giờ tôi hỏi mọi người, vì sao lại là để lộ vai phải và đầu gối phải? Bạn biết rằng để lộ vai phải nghĩa là, như các Lama Tây Tạng bây giờ, ở bên này họ đều để lộ ra, tôi mới hỏi họ là vì sao lại để lộ vai phải? Họ bảo để như thế trông "gợi cảm", đó là một vị geshe nói đó. Tôi sẽ không nói tên ra, vị geshe đó nói để như thế trông khá gợi cảm.

Để lộ một bên vai, sau đó đầu gối phải, đây là tập tục của đất nước Thiên Trúc. Để lộ vai phải, đầu gối phải, chủ yếu là thuận theo chiều kim đồng hồ, thuận theo chiều kim đồng hồ là biểu thị hành vi là chính pháp, những gì chúng tôi làm là chính pháp, nên mới là vai phải, đầu gối phải. Bạn xem, mỗi khi chúng ta đi vòng quanh tháp, vòng quanh núi, vòng quanh hồ, vòng quanh chùa, đều là đi theo chiều thuận kim đồng hồ, bạn đừng đi ngược chiều kim đồng hồ, quay kinh luân cũng như vậy, bạn cần quay thuận chiều kim đồng hồ, đừng quay ngược chiều kim đồng hồ, phải thuận theo chiều kim đồng hồ mà quay, như thế thì được coi là chính pháp. Nếu làm ngược chiều kim đồng hồ thì sẽ bị coi là tà môn ngoại đạo. Truyền pháp ngoại đạo… Vì thế, để lộ vai phải, đầu gối phải biểu thị đó là chính pháp, không phải là để cho gợi cảm, để cho gợi cảm là do vị geshe kia nói đó. 

Geshe người Tây Tạng họ gọi là *doctor* (tiến sĩ), geshe cũng phân thành mấy loại, có geshe cao, có geshe thấp, đó là do một vị geshe nói. Chúng tôi có hỏi họ vì sao anh lại để lộ vai phải, không để lộ vai trái? Anh ta nói để cho nó gợi cảm. Vai phải vai trái giống nhau mà, thật đúng là… Chắp tay cung kính, hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni… Đã hơn 10 giờ rồi à, đã quá thời gian nhiều rồi. 

Vợ hỏi: "Chồng à, mắt em cứ nháy suốt, phải làm sao đây?" Chồng nói: "Mắt trái nháy thì có tiền, mắt phải nháy thì có họa, mắt nào của em nháy?" Vợ nói: "Mắt trái em nháy." Chồng nói: "Em sắp phát tài rồi." Vợ nói: "Cũng đúng đấy, hôm nay em dọn dẹp phòng, phát hiện ra quỹ đen của chồng đó." Chồng nói: "Tiên sư, chả trách mắt phải của anh cứ nháy mãi." Câu chuyện này cũng là trái phải, thế nhưng việc nháy mắt của anh ta không đúng lắm với điều chúng ta nói.  
Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 14/08/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 6.)*

### 07. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (2)

*(Bài giảng 7)* Làm sao để loại bỏ chủng tử sân hận trong tâm 

*Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"  
Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."  
"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."*

Bây giờ chúng ta lại nói về trưởng lão Tu Bồ Đề. Thật ra, đoạn văn này… (Pháp Vương đọc diễn cảm "Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi" một lần.) Đoạn kinh văn này mọi người đều nên hiểu. Một người đặt câu hỏi, nghĩa là Tu Bồ Đề đặt câu hỏi. Đoạn kinh văn này hẳn là đã rất rõ ràng rồi, không cần phải giải thích lại. Hay là vẫn nên giải thích một chút nữa nhỉ! Chúng ta vẫn nói về ba chữ Tu Bồ Đề. Sau khi Tu Bồ Đề ra đời, ông ấy rất thông minh, vô cùng thông minh. Nhưng ông ấy vẫn còn chủng tử sân hận ở bên trong. Bởi vì những sự liên quan của mấy kiếp trước nên trong lòng ông ấy vẫn còn chủng tử sân hận. Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy bảo Tu Bồ Đề, đầu tiên là dạy Nhẫn nhục ba la mật, ngài dạy ông ấy Nhẫn nhục ba la mật. Ông ấy đã đạt đến tam muội gọi là Vô tranh tam muội, đã đắc được Vô tranh tam muội rồi, cuối cùng, ông ấy đã đạt được cái gì? Samaya tính Không.

Trong lúc Phật truyền pháp, ngài đã đến làng quê của Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề nghe nói Phật Thích Ca Mâu Ni là một người trí huệ rất cao, ông ấy tự nhận thấy trí huệ của mình cũng rất cao, vì thế khi Phật đang thuyết pháp, ông ấy đứng từ xa xa nghe. Khi Phật thuyết pháp thì ngài đã nói gì? Ngài nói: "Thật ra chúng sinh là bình đẳng, không có sự phân biệt người và ta." Phật đã giảng pháp tột cùng nhất: không có sự phân biệt người và ta, chúng sinh là bình đẳng. Ngài cũng nói: "Thật ra chúng sinh chính là ta, ta chính là chúng sinh, không có sự phân biệt người và ta, là bình đẳng." Lúc này, Tu Bồ Đề đang đứng ở nơi xa nghe thấy, ông ấy liền chắp tay lại. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Không có sự phân biệt người và ta." Thật ra, điều mà Ngài giảng rất hợp với tâm của Tu Bồ Đề, vì thế, khi Phật Đà quay trở về nơi ngài ở, Tu Bồ Đề cứ đi đi lại lại ở ngoài cửa nơi Phật ở. Phật Thích Ca Mâu Ni biết được, liền mời ông ấy vào trong ngồi, hai người nói chuyện, vừa nói thì đã rất hợp ý nhau, đã có duyên rồi. Duyên từ đâu đến? Duyên chính là từ lúc ông ấy còn là một con độc long bị đại bàng kim sí điểu dùng móng tóm lấy bay lên không trung, Phật Thích Ca Mâu Ni thì ngồi ở lưng núi, con độc long đã cầu cứu Phật Thích Ca Mâu Ni, gật đầu với Phật Thích Ca Mâu Ni cầu cứu. Đó chính là duyên. Ông ấy và Phật Thích Ca Mâu Ni đã có duyên, cái duyên này là từ đây mà có.

Bởi vậy tôi nói, cái duyên vô cùng quan trọng, duyên phận vô cùng quan trọng. (Không phải là "phân vượn" trong từ bãi phân của loài khỉ vượn đâu nhé.) Có đúng không? Là như vậy mà, không có duyên phận thì Sư Tôn cũng chẳng có cách nào. Vì thế, Phật Đà có nói một câu rằng: "Chẳng có cách nào độ người không có duyên phận." Phật có ba điều không thể, không thể độ người vô duyên, tất cả đều cần có duyên phận. Vì thế, có rất nhiều người từ rất xa xôi đến tìm tôi, cầu tôi giúp họ chữa bệnh trị bệnh. Tôi đưa tay ra thì phát hiện ra sức mạnh ấy không thể phát ra được, cho thấy rằng người này và tôi không có duyên phận, họ sẽ không có cách nào khỏi bệnh được, cuối cùng tôi chẳng có cách nào để giúp họ cả, đây là vì duyên phận quá mỏng. Chỉ cần có duyên phận thì sẽ xuất hiện kì tích, sẽ hiển hiện kì tích.

Cô Elizabeth ở đây nhỉ. Đúng, Elizabeth, cô ấy và tôi có duyên phận. Lúc trước cô ấy đến Seattle, trong đầu cô ấy có khối u. Chụp X-quang, MRI, trong đầu có một khối u. Cô ấy đến đây. Sau đó quay trở về, sau khi gặp Sư Tôn rồi thì quay về. Buổi tối cô ấy nằm mơ. Trong mơ, Sư Tôn đã biến thành bác sĩ ngoại khoa, đẩy cô ấy vào trong phòng phẫu thuật, mổ não cho cô ấy, lấy khối u ra, để lại một mảnh da. Sau đó nói với cô ấy: "Khối u này đã giúp cô lấy ra rồi, chỉ còn lại một chút da." Ấy, trong mơ cô ấy được Sư Tôn mổ não, cô có cảm thấy đau không? Có không? Không à? Phẫu thuật trong mơ đương nhiên là không thấy đau rồi. Thực tế mà mổ xem, chỉ có tiêm thuốc tê mới không đau thôi. Nhưng trên thực tế là tôi không có mổ não cho cô ấy. Trong mơ phẫu thuật thì không có cảm giác gì. 

Xong rồi, qua một đêm. Cô ấy đã nhìn thấy Sư Tôn là người mổ não cho cô ấy. Tôi không phải là bác sĩ ngoại khoa, tôi không học khoa đó. Đến con gà tôi cũng không dám giết, Sư Tôn không dám giết gà. Trước kia mẹ tôi từng giết gà. Mẹ tôi thường niệm một câu: "Làm gà làm chim đến bao giờ hết. Tao hóa kiếp cho mày. Cắt!" Thế là cắt tiết. Mẹ tôi từng giết gà. Mẹ tôi nói câu: "Làm gà làm chim đến bao giờ hết. Tao hóa kiếp cho mày. Cắt!" Bạn làm gà, làm chim, vĩnh viễn chẳng thể hết kiếp được, hãy mau chóng đi chuyển thế đi, ý câu nói ấy là thế.

Tôi phẫu thuật mổ não cho Elizabeth. Trước nay tôi chưa từng cầm vào dao, tôi sợ nhất là dao, nhưng khi nằm mơ thì lại dám cầm. Được rồi, sau khi lấy khối u ra, cô ấy không còn đau nữa, hơn nữa quay trở về kiểm tra thì khối u đó thật sự đã biến mất rồi, chỉ còn thừa lại chút da. Đây chính là có duyên phận đó, có duyên phận mới có khả năng giúp bạn làm thủ thuật thì mới khỏi được. Bản thân Elizabeth cũng biết cô ấy và Sư Tôn có duyên từ mấy kiếp, duyên phận trong mấy kiếp nằm ở đây, cho nên rất dễ khỏi bệnh. Cũng có rất nhiều người đã đến đây, khỏi bệnh rồi thì trở về, đều là do duyên phận mấy kiếp nên mới có khả năng, không có duyên phận thì không thể chữa được, đơn giản như vậy thôi.

Vì thế, bạn muốn nương dựa vào Phật, Tu Bồ Đề nương dựa vào Phật Thích Ca Mâu Ni cũng cần có duyên đó, chính là từ lúc ông ấy làm độc long bị đại bàng kim sí điểu bắt lấy, ông ấy đã cầu xin tì kheo cứu, người đó là Phật Thích Ca Mâu Ni, việc cầu cứu này đã trở thành có duyên, vì thế lần sau gặp mặt, ông ấy sẽ có thể nương dựa vào Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau khi Tu Bồ Đề nương dựa vào Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni biết kiếp quá khứ của ông ấy, nói ra rằng trong lòng ông ấy có sân có hận, vì thế muốn giải trừ sân hận của ông ấy, nên bảo ông ấy tu Nhẫn nhục ba la mật. Ông ấy đã tu đến Vô tận tam muội, tu đến Vô sinh pháp nhẫn, đã chứng được Vô sinh pháp nhẫn. Vô sinh pháp nhẫn là một quả vị, quả vị rất cao. Bây giờ mà muốn chứng được Vô sinh pháp nhẫn thì không đơn giản đâu, thật sự là không dễ đâu! Chỉ cần ngoáy một cái lông gà vào mũi bạn là bạn đã thấy ngứa rồi, có đúng không? Chỉ mới nói bạn vài câu là bạn đã tâm trạng không tốt rồi. Không được đánh lộn, hễ đánh lộn là thôi bạn xong rồi, hôn nhân chắc chắn là rạn nứt. Vì thế, kiểu gì cũng không được đánh lộn. Vợ chồng không thể đánh lộn, chỉ cần đánh là sẽ hằn vào trong tâm, in dấu vào trong tâm rồi thì sẽ sinh ra sân hận. Chửi mắng cũng không được, chửi rồi cũng không được, nói những lời nặng nề cũng không được. Nếu có tức giận: "Bảo anh làm thế nào thì anh làm như thế đi!" Trong lòng liền không thoải mái: "Lão phu đây không làm đấy!" Thế là không sướng rồi, bạn nghe hiểu rồi chứ?

Chồng thường mắng vợ, cuối cùng vợ đã phản kháng. Một hôm, vợ không phản kháng nữa, chồng cảm thấy rất kì quái: "Sao lại không phản kháng nhỉ? Trái lại sao lại cầm bàn chải đi cọ bồn cầu nhỉ?" Mỗi lần chồng chửi vợ, vợ liền đi chùi bồn cầu. Ôi, vợ đã thay đổi rồi, rất tốt!  
Chồng nói: "Vì sao mỗi lần tôi chửi cô, cô đều đi cọ bồn cầu?"  
Vợ liền nói: "Tôi cầm cái bàn chải đánh răng của anh đi cọ bồn cầu đó." 

Vẫn còn có sân hận trong lòng, vì thế, người với người chung sống với nhau thật sự là rất khó, bởi vậy nói việc người khó. Thiên hạ có ba cái khó: lên trời khó, thứ hai là kiếm tiền khó, thứ ba là việc người rất khó. Chuyện thị phi của nhân gian rất khó. Bạn cần phải tu đến khi hoàn toàn có thể nhẫn nhịn, chính là Nhẫn nhục ba la mật. Tu Bồ Đề đã tu Nhẫn nhục ba la mật, người ta nói cái gì, ông ấy đều vẫn như thế, bởi vì chung quy vẫn là không. Ông ấy đắc được Không tam muội, đắc được Vô sinh pháp nhẫn, cuối cùng, ông ấy đã loại bỏ được chủng tử sân hận của khiếp quá khứ trên người mình rồi. Người ấy chính là Tu Bồ Đề vĩ đại.

Bởi vậy cần hiểu, chúng ta tu hành, bạn tu hành cái gì? Cần hiểu nhẫn nhục, nhẫn nhục chính là tu hành, ai không hiểu nhẫn nhục thì thật sự là *kindergarten baby* (trẻ con mẫu giáo). Rất nhiều đệ tử thực sự mà nói thì hoàn toàn không hiểu nhẫn nhục, cùng ở dưới một mái hiên, nhưng bạn còn tranh giành tới lui. Cùng là đồng môn quy y, bạn còn không sướng nhau, còn đấu tới đấu lui, còn đấu tranh, còn phỉ báng lẫn nhau. Nếu như bạn biết tu Nhẫn nhục ba la mật thì sẽ không có chuyện, không tu Nhẫn nhục ba la mật thì chắc chắn có chuyện. Hãy học tập Tu Bồ Đề đi, có phải không? Mọi người tu Nhẫn nhục ba la mật, tất cả mọi thứ đều quy về không, vứt bỏ hết những rác rưởi bên trong thân thể bạn. Bạn đem rác rưởi đặt vào trong lòng làm cái gì? Vứt đi! Để cho tâm mình trống rỗng, sẽ chẳng còn chuyện gì cả.

Tâm không giải phóng được, rác rưởi đều chất chồng bên trong bạn, để cho rác rưởi lên men ở bên trong. Không phải lên men, là phát điên đó. Bạn tự làm cho mình ngột ngạt. Thật là ngốc! Ngu quá! Ngốc quá! Nhẫn nhục ba la mật đi thôi, hôm nay Sư Tôn dạy mọi người Nhẫn nhục ba la mật của Tu Bồ Đề để vứt bỏ rác rưởi trên người bạn, giải phóng hết! Tất cả đều không quan trọng, giải phóng chúng hết đi, cái gì cũng chẳng có, sống ung dung tự tại. Tự bạn đem rác rưởi quẳng vào trong thân thể mình, như thế cả buổi, chính bạn sẽ sinh ra sự ngột ngạt, những rác rưởi ấy đã lên men, biến thành có độc. Bạn không mắc Covid-19, nhưng bạn đã bị chính mình nhiễm độc mà chết. Bạn không mắc Covid-19, không sai. Những người ngồi ở đây đều không nhiễm Covid-19, nếu có người nào mắc Covid-19 thì chúng ta phải chạy mau! Nhưng tâm của bạn đã bị nhiễm độc mà chết rồi. Thật đó, kiếp sau, vì bạn có chủng tử sân hận, bạn sẽ chuyển thế đến nơi có độc. Hôm nay mọi người nghe điều này: Tu Bồ Đề tu Nhẫn nhục ba la mật, đạt được Vô tranh tam muội. Om mani padme hum.

*(Ngày 15/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 7.)*

### 08. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (3)

*(Bài giảng 8)* Vô sinh pháp nhẫn

*Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"  
Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."  
"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."*

"Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi" vẫn còn chưa bắt đầu giảng nữa. Vẫn còn đang nói về Tu Bồ Đề. Ba chữ này cần nói rất lâu. Vẫn cần phải nói về Tu Bồ Đề.  
Phật Đà dạy Tu Bồ Đề là vô cùng có dụng ý. Phật Đà quan sát kiếp quá khứ của Tu Bồ Đề… quá khứ của ông ấy tôi đã nói rồi. Tâm sân hận của ông ấy vô cùng nặng, tham sân, tâm sân này vô cùng nặng. Vì thế Phật Đà dạy ông ấy Nhẫn nhục ba la mật trước. Tôi đã giảng Nhẫn nhục ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật cần tu đến trình độ nào? Tu đến không còn nhẫn nhục. Vừa là nhẫn nhục, vừa không có nhẫn nhục, nhưng vẫn là nhẫn nhục. Phải biến hai chữ nhẫn nhục này thành tự nhiên mà thế thì sẽ trở thành không có nhẫn nhục nữa.

Chúng ta bắt đầu là nhẫn nhục: nhẫn nhục thì khó chịu lắm, người ta sỉ nhục bạn mà bạn vẫn bất động là điều rất khó. Đại bộ phận nhìn chung mà nói đều là, chúng ta gọi là cái gì nhỉ? Tiếng Đài Loan cái gì mà như một đám khói, giống như một đám lửa, thế rồi một cơn gió thổi đến, vù! Thổi đám lửa này tán loạn tứ tung. Bạn vốn dĩ đang bất động, bỗng dưng người ta nói một câu, bạn liền giống như đám lửa kia, lửa bùng bùng khói ngùn ngụt. Tiếng Đài Loan có một câu nói, là thế nào nhỉ? Người ta đụng vào một cái đã giãy nảy lên như đỉa phải vôi. Có đúng thế không? Lại vẫn là cái lão già này nghĩ ra, mấy người đều từ Đài Loan đến mà chẳng nói ra được! Người ta đụng vào một cái đã giãy nảy lên như đỉa phải vôi.

Tu Bồ Đề ban đầu là như vậy. Phật Đà dạy ông ấy Nhẫn nhục ba la mật: "Ông phải nhẫn." Ông ấy nhịn, nhẫn nhịn mọi thứ, nhẫn nhịn đến cuối cùng thì trở thành tự nhiên. Tất cả mọi sự phỉ báng, tất cả mọi sự công kích, tất cả cái gì đến, ông ấy đều rất tự nhiên như không, chẳng có cảm giác gì. Cái này thì không phải là nhẫn nhục, không cần nhẫn nhục nữa rồi! Bạn đã tự nhiên rồi thì làm gì còn phải nhẫn nữa? Vì thế cái này mới gọi là thành công. Sau đó tiến thêm một bước, bạn đạt đến Vô sinh pháp nhẫn thì lại là một bước cao hơn. Tu Bồ Đề ông ấy đã chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn rồi. Tất cả mọi sự công kích đều là chẳng có công kích gì, tất cả mọi phỉ báng đều chẳng phải là phỉ báng. Tất cả mọi sỉ nhục đều không phải là sỉ nhục, đều chẳng sinh ra thì lấy đâu ra sỉ nhục? Cái này gọi là Vô sinh. Bạn tu đến trình độ này rồi thì quả vị này mới gọi là Vô sinh pháp nhẫn. 

Không có phỉ báng, không có công kích, cái gì cũng không có. Cái này làm được không? Phật Đà dạy ông ấy: "Ông chứng đắc cái này rồi thì mới gọi là Vô sinh pháp nhẫn." Cái này, đương nhiên bây giờ nói như thế này mọi người nghe không hiểu, sau này giảng tiếp mọi người sẽ hiểu. Kinh Kim Cang là nói đến điều này. Đây là một điều trong số đó: căn bản là không có phỉ báng, bạn cũng không cần nhẫn nhục. Căn bản là không có cái gì gọi là công kích, bạn cũng không cần nhẫn nhục. Căn bản là cái gì cũng chẳng có. Mà cái gì cũng không có thì bạn nhẫn nhục làm cái gì? Bởi vì không có nhẫn nhục thì mới gọi là nhẫn nhục. Được rồi, Tu Bồ Đề tu đến mức như thế, như thế mới gọi là Vô tranh tam muội mà Phật dạy. Vô tranh, không có cái gọi là tranh luận, cái đó gọi là Vô tranh, Tu Bồ Đề đã chứng đến đây, cuối cùng, ông ấy đã đạt đến Không tam muội, bởi vì vô sinh mà, nên có thể chứng được Không tam muội, cũng có nghĩa là tiến nhập vào thiền định tính Không.

Bởi vì Tu Bồ Đề đã tiến nhập vào bên trong thiền định tính Không - Không tam muội rồi, ông ấy có hai hiện tượng sản sinh ra: hiện tượng thứ nhất, ông ấy ở trong hang động trên núi Linh Thứu, sống trong hang động tu hành thiền dịnh. Khi tiến nhập vào Không tam muội, rất nhiều thiên nữ xuất hiện trong hư không rắc hoa cho ông ấy. Hoa trời từ trong hư không rơi xuống ấy khiến nửa thân người ông ấy ngập trong hoa, nghĩa là hoa ngập đến cả nửa thân người. Hoa trời rơi xuống chỗ ông ngồi, rắc lên trên người ông. Sau đó hoa làm thành vòng quây xung quanh ông, khiến ông ấy ngập cả nửa người trong hoa.

Tu Bồ Đề tỉnh lại, vừa nhìn lên trời thì: Chà! Bao nhiêu là hoa trời đang rơi xuống! Ông ấy hỏi: "Các vị là ai? Vì sao từ trên trời rắc hoa cho tôi?" Lúc này, thiên chủ của Đế Thích Thiên mới nói rằng: "Ta là thiên chủ của Đế Thích Thiên, đem theo thiên nhân của Đế Thích Thiên, bởi vì biết ông đã tiến nhập vào Không tam muội, toàn thân tỏa sáng, ánh sáng trực thấu (đẳng lưu), chúng tôi ở trên trời đều cảm nhận thấy, ánh sáng này ở thiên thượng là bất khả tư nghì. Nhìn xuống dưới thì thấy là Tu Bồ Đề đang tiến nhập vào Không tam muội, chúng tôi khen ngợi, vì thế mới rắc hoa."

Tu Bồ Đề cũng hỏi: "Thế vì sao các vị lại rắc hoa?" "Chính là vì ông đã tiến nhập vào Không tam muội." Thế nào gọi là Không tam muội? Không có phiền não, không có ngã chấp, ngã chấp không còn, phiền não không còn, pháp chấp cũng không còn. Không còn pháp chấp, không còn ngã chấp, không còn phiền não, tiến nhập vào Không tam muội. Vì thế nên mới rắc hoa khen ngợi Tu Bồ Đề! Tu Bồ Đề liền cùng với thiên nhân nói một vài đạo lí, đạo lí tiến nhập vào Không tam muội, nhắc đến: không còn cái Ngã, cũng không còn pháp, cũng không còn phiền não, như thế tiến nhập vào Không tam muội. Vì thế thiên nhân ca ngợi, rắc hoa cho ông ấy, đó là điều thứ nhất, chỉ có Tu Bồ Đề mới được ghi vào trong kinh điển rằng Tu Bồ Đề đã đắc Không tam muội, khi tiến nhập vào Không tam muội thì Đế Thích Thiên và thiên nữ cùng rắc hoa cho ông ấy. 

Hiện tượng thứ hai là, có một hôm Tu Bồ Đề bị ốm, bị bệnh. Bạn nói xem, Tu Bồ Đề đã chứng đắc Không tam muội rồi thì vì sao vẫn bị ốm? Ông ấy thật sự đã chứng đắc Không tam muội rồi, ông ấy không còn cái tôi nữa, nhưng cái thân thể thì vẫn phải đi theo Phật Đà. Cái bụng đói thì vẫn phải đi ra ngoài hóa duyên, vẫn cần phải ăn. Vì thế, con người ta ăn ngũ cốc hoa màu, có ai là không sinh bệnh chứ? Đều sẽ có bệnh, không có người nào là không sinh bệnh. Mọi người ở đây ai không mắc bệnh hãy giơ tay, ai chưa từng mắc bệnh thì hãy giơ tay? Ai chưa từng mắc bệnh, chưa từng bị cảm cúm thì giơ tay? Mọi người đều từng bị cảm cúm. Bây giờ mọi người ai đang cảm thấy thân thể hoàn toàn không có bệnh gì cả thì giơ tay? Một chút bệnh cũng không có sao? Bạn có bị nhức hông không, có bị đau lưng không? Thân thể có chỗ nào không đau? Mắt bạn có bị cận thị không? Mắt vẫn tốt à, không bị cận thị à? Tốt.. Ơ! Thế bạn từng mổ lazer à? Từng mổ lazer thì là có bệnh rồi! 

Sư Tôn mới là chưa từng mổ lazer. Tôi trước nay chẳng hề đeo kính. Tôi chẳng qua chỉ là học một pháp: mỗi ngày, buổi sáng ngủ dậy… cái này tôi từng nói rồi, mỗi buổi sáng khi ngủ dậy thì đứng bên cửa sổ, sau đó nhắm mắt lại đảo mắt 14 lần, sau đó bất thình lình mở to mắt ra. Đảo mắt cần phải đảo hết cỡ đấy nhé! Con mắt và nhãn cầu cùng chuyển động, đảo theo vòng tròn 14 lần, nhắm mắt lại đảo mắt 14 lần, sau đó lại mở to mắt ra, nhìn vào nơi xa nhất. Tôi nhìn vào *double trees* ở xa nhất, hai cái cây, tôi nhìn vào hai cái cây ở xa nhất. Tôi tập đảo mắt như vậy đã bao nhiêu năm rồi… đổi lại là không phải đeo kính. Chữ gì tôi cũng nhìn rõ ràng được hết, chữ nhỏ tôi cũng nhìn rõ được. Cái này cần công phu luyện tập bao nhiêu năm đó! Bởi vậy cái này cũng là một sự bền bỉ. 

Sau đó là răng đập vào nhau 36 lần, đập thế xong rồi cuối cùng răng cũng rụng mất một chiếc. Sau đó bác sĩ nha khoa Quế Thanh đã gắn răng lại cho tôi. Sau khi tôi gắn răng lại, không thể nói là răng của tôi không có bệnh. Răng của tôi vẫn có bệnh đó. Lần trước răng còn bị viêm, răng bị viêm thì cũng đau. Ngoài ra, tôi còn có trò gõ màng nhĩ: bịt lỗ tai lại, gõ vào màng nhĩ, giống như là gõ trống vậy, gõ 70 lần, tôi gõ 70 lần. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu; một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tổng cộng làm mười lần; một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy. Đôi khi tôi nói là một hai ba bốn năm sáu, sau đó nói A Di Đà Phật. Hai hai ba bốn năm sáu A Di Đà Phật. Ba hai ba bốn năm sáu A Di Đà Phật… Tổng cộng 70 lần. Tai tôi vẫn tốt, nhãn lực vẫn tốt, còn răng thì… cũng là việc chẳng có cách nào. Đời người bảy chục mới bắt đầu mà. Bảy chục mới bắt đầu cái gì? Bảy chục bắt đầu rụng răng! Còn gì nữa? Đau khớp, đau hông, mọi thứ đau đều đến. Bảy chục tuổi bắt đầu có những cái đau như vậy, những thứ khác thì vẫn tốt. 

Vì thế Tu Bồ Đề mắc bệnh, Đế Thích Thiên này lại đến, khi ông ấy mắc bệnh. Lần này Tu Bồ Đề lại hỏi Đế Thích Thiên: "Các vị đến làm gì?" "Tôi đến để hát tặng cho ông nghe." Đế Thích Thiên nói "Tôi đến hát cho ông nghe", thế rồi hát. Tất cả thiên nhân trong hư không đều hát cho Tu Bồ Đề nghe, an ủi ông ấy. Tu Bồ Đề nghe xong thì trong lòng vui vẻ! Những đóa hoa tâm đều nở. Hoa tâm nở ra thì bệnh cũng khỏi. Họ đã hát cái gì vậy? "Đức hạnh cao hơn cả trời! Công ở nơi ấy dài giống như nước chảy! Đức thì cao như núi! Hạnh của ông, công đức của ông dài như dòng nước chảy vậy!" Ca ngợi Tu Bồ Đề. Vì Tu Bồ Đề được thiên nhân hát cho nghe, âm nhạc có thể chữa lành, âm nhạc có thể trị bệnh, thế là bệnh của Tu Bồ Đề đã khỏi rồi.

Mọi người có biết không? Có một lần Sư Tôn mắc chứng viêm mô tế bào. Lão hòa thượng Hư Vân trong hư không đi qua, nhìn thấy tôi bị bệnh, ông ấy chỉ giơ tay ra, cứ thế xuyên qua mây, từ trên mây chỉ vươn cánh tay ra rất dài, vươn đến tận trong nhà tôi, từ mái nhà đi vào trong nhà tôi, thẳng đến giường bệnh mà tôi đang nằm, ông ấy sờ lên đầu tôi. Mọi người có nhớ không? Đó là lão hòa thượng Hư Vân… Tôi còn chẳng biết nữa… Bấy giờ tôi mới biết có một vị là lão hòa thượng Hư Vân, do đồng tu hội Thập Phương ở Hồng Kông điêu khắc tặng cho tôi, là Thượng sư Thường Nhân tặng cho tôi một bức tượng lão hòa thượng Hư Vân, trong Mật Uyển có một bức tượng lão hòa thượng Hư Vân đó. Giữa tôi và lão hòa thượng Hư Vân có nhân duyên tồn tại. Vì thế khi ông ấy đi qua, nhìn thấy tôi đang bị bệnh, ông ấy cũng xoa đầu tôi để an ủi tôi. 

Sau đó mọi người có nhớ không? Khi tôi ẩn cư, tôi đã mắc chứng nứt não, nứt não, bộ não đã sắp vỡ ra rồi. Tôi đi nhiễu chùa, đi lễ Phật, nhiễu chùa, nhiễu tháp, cứ thế đi đến chỗ của Phật Dược Sư, một vị rất lớn… Hàn Quốc có một vị Phật Dược Sư rất to lớn, Phật Dược Sư đặt ở ngoài trời. Tôi đi đến đó làm đại lễ bái trước Phật, đi đến nơi đó làm đại lễ bái, người cũng sắp xỉu cả rồi. Trên đường trở về, tôi nhìn thấy Dược Sư Như Lai đến, Dược Thượng Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, 12 Dược Xoa Thần Tướng, toàn bộ đều hiển hiện lên trước mặt tôi. Tôi liền biết rằng bệnh này được cứu rồi, các vị như thể đang an ủi tôi.

Tương tự, Đế Thích Thiên hạ giáng để an ủi Tu Bồ Đề: "Ông bị ốm rồi.", các vị hạ giáng hát cho Tu Bồ Đề nghe. Vì sao Tu Bồ Đề có thể có được sự ca ngợi của thiên nhân, được họ rắc hoa và hát cho ông ấy nghe? Bởi vì ông ấy thật sự đã có thể tiến nhập vào Không tam muội. Không tam muội là chủ đề của kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang là nói về Không tam muội. Phá hủy tất cả, chính là Không. Cho nên, sau cùng thì Thiền tông dựa vào kinh Kim Cang để nhận định xem bạn đã khai ngộ hay chưa. Chính là dựa vào kinh Kim Cang để phán đoán: bạn đã khai ngộ chưa, kinh Kim Cang đây sẽ nhận định xem bạn đã khai ngộ rồi hay bạn chưa khai ngộ, dùng kinh Kim Cang để đánh giá bạn. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 21/08/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Diêu Trì Kim Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 8.)*

### 09. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (4)

*(Bài giảng 9)* Tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề

Bây giờ tôi cùng mọi người nói về Phần thứ hai: Thiện Hiện thưa hỏi.  
*”Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật.”* Để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất. Cái này thuộc về một kiểu nghi thức ở Thiên Trúc thời ấy, biểu thị là cách quỳ đúng, chứ không phải tà môn, là đúng đắn. 

*Chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"* Đây là điều Tu Bồ Đề hỏi, ý nói rằng: thật vô cùng hiếm có, Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế là điều vô cùng hiếm có. Thời gian qua Phật vẫn luôn hộ trì tất cả Bồ Tát, cũng có thể giúp đỡ tất cả Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni, tất cả thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, có nghĩa rằng rất nhiều tín chúng phát tâm ấy... Thế nào gọi là tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề? Bây giờ tôi hỏi mọi người. Bốn chữ, trả lời đúng thì có thưởng. Ồ, anh đã kêu lên trước. (Có một đệ tử nào đó nói: Chính đẳng chính giác.) Vậy chuỗi hạt này tặng cho anh. Chính là chính đẳng chính giác. Tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chính là phát tâm cầu được chính đẳng, cầu chứng minh chính đẳng chính giác. Chính đẳng chính giác, phát cái tâm này.

*"Nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"* Chủ yếu là nói rằng: tâm phải trụ ở chỗ nào? Nên làm thế nào để hàng phục tâm ấy? Đây là điều Tu Bồ Đề hỏi. Trước kia, mẹ tôi nói tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cái này chính là phát tâm chính đẳng chính giác, câu này chính là thế. Thế nào là thiện nam, thiện nữ? Ý muốn nói rằng, người phát tâm chính đẳng chính giác này thì gọi là thiện nam, thiện nữ. Bạn không phát tâm muốn đạt đến chính đẳng chính giác này thì bạn không phải là thiện nam thiện nữ. Thật ra, thiện nam thiện nữ có ý nghĩa vô cùng rộng, chủ yếu ở đây là nhắc đến ưu bà tắc, ưu bà di. Những ưu bà tắc, ưu bà di tín ngưỡng Phật giáo đều gọi là thiện nam, thiện nữ. *"Nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"* Tu Bồ Đề hỏi vậy. 

*Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."*

*"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."*Đây là Tu Bồ Đề nói. Nguyện được lắng nghe nghĩa là con sẵn lòng nghe một cách vui vẻ, mong Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời câu hỏi này của con. Con rất hoan hỉ lắng nghe Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời câu hỏi này của con. Con nguyện lắng nghe, nghe một cách vui vẻ.

Cũng thế, *"khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát",* ở đây là Phật Thích Ca Mâu Ni, bản thân ngài chính là điều ngự trượng phu. Thế nào gọi là điều ngự trượng phu? Ai đi chệch đường thì gọi trở về, ai đi sai đường thì gọi người ấy trở về chính đạo. Gọi mà không trở về thì phải làm sao? Thả trâu đi ăn cỏ. Thả trâu đi ăn cỏ, để tùy họ đi. Giống như Quỷ Bà của chúng ta bái quỷ đó, thật ra tôi cũng rất cảm kích bà ấy, tôi nói thật lòng đó, nhiều năm như vậy đều đi trên chính đạo, đột nhiên gặp phải quỷ liền bị quỷ mê muội đầu óc, không ngờ lại đi đem tấm bia ở Bách Tính Công Miếu đến thôn Quốc Tính (ở huyện Nam Đầu, Đài Loan) để đặt ở đó. Đến khi bố của Thượng sư Liên Đông đã trang hoàng xong xuôi, bà ấy lại đem những tấm bia đó về. Bạn biết không, khi bà ta đem đến đặt ở Quốc Tính, có hai tì kheo ni trông giữ tấm bia này đều bị chết. Hai tì kheo ni ấy đều chết rồi, mọi người đều biết rồi đó. *Selamat pagi*, đúng không nhỉ? Tiếng Indonesia là *selamat, selamat* chính là chết rồi. 

Tôi nói cho bạn biết nhé, ai đã đi đem tấm bia đó về? Chính là bố của Thượng sư Liên Đông. Ông ấy đã đem tấm bia đó về, ngay cả ông ấy cũng bị trúng bùa. Ông ấy cắt tóc thành kiểu đầu Nhật Bản, kiểu đầu của võ sĩ Nhật Bản, chỗ này là một túm tóc, phần tóc hai bên thì cạo sạch, ở giữa có một túm tóc, ông ấy dẹp bỏ hết tượng Phật ở đàn thành trong nhà mình. Bạn có biết không? Đã phải tốn biết bao nhiêu công sức mới chữa khỏi được cho ông ấy, tất cả đều bị tinh thần thất thường. Tấm bia ấy đã được đặt ở khu Quan Âm ở Đào Viên, Đài Loan. Một trong hai tòa Điện Hộ Pháp đã được xây dựng ở đó, tấm bia ở Bách Tính Công Miếu đã được bày ở đó. Đó là đã đi vào tà đạo, đi vào quỷ đạo, kêu bà ta quay lại, bà ta không quay lại, không quay lại thì tôi cũng chẳng còn cách nào, thả trâu ăn cỏ thôi, thả trâu ăn cỏ. Bạn quay về, bạn thay đổi cho đúng là xong rồi, đúng vậy không. Đây gọi là bậc trượng phu giỏi dặn dò điều ngự. Ai đi sai đường thì sửa chữa lại họ, đi vào tà đạo thì khiến họ cải tà quy chính. Đây gọi là khéo hộ niệm, khéo dặn dò. 

Về đoạn này, có còn ai không hiểu không? Thiện nam, thiện nữ là chỉ ưu bà tắc, ưu bà di, chứ không phải là con người có tâm địa tốt thông thường. Đừng có nhầm lẫn mà cho rằng thiện nam là người nam có tâm địa tốt, thiện nữ là người nữ có tâm địa tốt, không phải đâu, chính là ưu bà tắc, ưu bà di có tâm muốn học chính pháp của Phật giáo để tương lai muốn chứng được chính đẳng chính giác.

Có người giải thích tâm Tam miệu tam bồ đề là thượng đan điền, trung đan điền, hạ đan điền chính là tam, có người giải thích là pháp thân, báo thân, ứng thân, ba thân này chính là tâm tam bồ đề. Cũng có người giải thích Tì Lô Giá Na Phật, Lô Xá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật gọi là tâm Tam miệu tam bồ đề. Thật ra chỉ đơn giản là Chính đẳng chính giác thôi, đừng nghĩ nó quá phức tạp. Om mani padme hum.

*(Ngày 22/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 9.)*

### 10. Phần thứ 2: Thiện Hiện thưa hỏi (5)

*(Bài giảng 10)* Chính đẳng chính giác

Chẳng phải Tu Bồ Đề hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni sao? *"Phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."*  
Hôm đó tôi đã hỏi thế nào là tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, và Thượng sư Liên Chủ đã trả lời đúng rồi, nghĩa là chính đẳng chính giác. Kết quả là ông ấy đã được thưởng một chiếc vòng tay. Vậy thì bây giờ tôi hỏi mọi người, tôi hỏi nhé: Thế nào là chính đẳng? Thế nào là chính giác? Ở đây cũng có ý nghĩa rất sâu đó! Thế nào gọi là chính đẳng, thế nào gọi là chính giác? Ông ấy đã nói rồi, Thượng sư Liên Chủ đã nói rồi, là chính đẳng chính giác. Chính đẳng chính giác nghe rất hay, thế ý nghĩa sâu xa của nó là gì? Bạn phải biết được thâm nghĩa của nó, ý nghĩa chủ yếu nhất của nó nằm ở đâu.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni đắc chính đẳng chính giác, ngài ấy có ba lần chuyển pháp luân. Mọi người đều biết, lần chuyển pháp luân thứ nhất tại vườn Lộc Dã, đó là khi Phật truyền dạy Khổ - Tập - Diệt - Đạo của Tiểu thừa, đây là lần chuyển pháp luân thứ nhất, tại vườn Lộc Dã. Bây giờ tôi hỏi bạn, hỏi mọi người lần chuyển pháp luân thứ hai ở đâu? Phật Đà đã giảng cái gì? Lần thứ hai chuyển pháp luân là giảng ở đâu? Mọi người học Phật nhiều năm như vậy rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni có ba lần chuyển pháp luân. Bây giờ tôi hỏi, lần chuyển pháp luân thứ hai là giảng ở đâu? Tịnh xá Trúc Lâm ư? Lần thứ hai vị Phật chuyển pháp luân là ở thành Vương Xá, tại thành Vương Xá đã nói về lần chuyển pháp luân thứ hai. Được rồi, vậy thì giảng cái gì? Bát nhã. Còn gì nữa? Ý nghĩa của nó nằm ở đâu? Nằm ở "vô tướng". Vô tướng, vô, vô nghĩa là không có, và tướng, là vô tướng. 

Bây giờ tôi hỏi bạn, lần chuyển pháp luân thứ ba là giảng ở đâu? Ở thành nào? Giảng cái gì? Lần chuyển pháp luân thứ ba là tại thành Liên Hoa, Phật giảng "liễu nghĩa". Bởi vậy, chính đẳng, cái gì là chính đẳng? Vô tướng chính là chính đẳng. Cái gì là chính giác? Liễu nghĩa chính là chính giác. Cái này rất thâm sâu nhỉ, tôi đã nói rồi, bản thân kinh Kim Cang rất thâm sâu đó. Nói vô tướng là chính đẳng. Ở đây nói đến hai loại trí huệ. Cái gì là chính đẳng? Bình đẳng tính trí chính là chính đẳng. Đại viên kính trí chính là liễu nghĩa. Trong Phật pháp, hai cái này vô cùng quan trọng. Ba lần chuyển pháp luân của Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói rõ về chính đẳng chính giác của Phật.

Lần thứ nhất chính là nói về Khổ - Tập - Diệt - Đạo của Phật, chính là chân lí. Cái gọi là đế, khổ đế, tập đế, đạo đế, diệt đế, toàn bộ đều là chân lí, gọi là đế, chữ đế bên trái có bộ ngôn, bên phải có chữ hoàng trong từ hoàng đế. Chữ đế này chính là chân lí, Khổ - Tập - Diệt - Đạo chính là chân lí. Bình đẳng chính là chân lí. Viên mãn, liễu nghĩa chính là chân lí. Vô tướng chính là chân lí. Điều mà kinh Kim Cang nói đến chính là cái này, chính đẳng chính giác. Mọi người thử dùng não để nghĩ một chút mà xem, sau này khi tôi giảng tiếp kinh Kim cang thì mọi người sẽ càng hiểu rõ hơn thế nào gọi là chính đẳng chính giác.

Rồi, chúng ta giảng đoạn thứ ba này. Phần thứ ba: Đại thừa chính tông. Đại thừa, cái gì là Đại thừa? Mật giáo cũng là một giáo phái trong Đại thừa. Đại thừa bao hàm rất nhiều tông phái. Chính tông, thế nào là chính tông? Hàm nghĩa chân chính, liễu nghĩa chân chính, liễu nghĩa chân chính của Đại thừa, đó là phần thứ ba này nói đến.

Phần thứ 3: Đại thừa chính tông

*Phật bảo Tu Bồ Đề: "Chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục tâm như thế này! Cần nghĩ tất cả các loài chúng sinh hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa mà sinh ra, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát.*
 
Đoạn này nói về việc tương ứng chính đẳng chính giác. Phật nói rằng, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa mà sinh ra, chúng ta nói về đoạn này trước. Sinh từ trứng, hôm nay chúng ta ăn món trứng chưng cà chua, trứng chính là noãn sinh. Món trứng chưng cà chua, trước kia chúng tôi làm bộ đội, làm lính, quân nhân, khi tôi học trường quân đội cũng có một món mà mọi người rất thích ăn, chính là món trứng chưng cà chua. Đây là một món ăn nổi tiếng trong quân đội, một món ăn nổi tiếng của bộ đội. Chúng tôi cũng thường xuyên ăn. Chùa của chúng ta, mặc dù chúng ta làm hòa thượng, thật ra cũng không khác làm bộ đội là mấy, tôi cũng ngày ngày ăn trứng chưng cà chua, trứng này chính là noãn sinh. 

Tôi ở nơi đây lâu như vậy rồi, nhưng vẫn chưa từng ăn trứng rùa. Thật ra rùa cũng là loài noãn sinh, chúng nở ra từ trứng, vì thế mới có "vương bát đản", nguyên nhân mà có từ "vương bát đản" là vì vậy đấy. <span className="note-blue">[Vương bát đản, vương bát là con rùa, đản là quả trứng, trong tiếng Trung từ này có nghĩa là thằng khốn, đồ vô lại, hoặc có ý chửi người khác là đồ con rùa rụt cổ.]</span> Thế nên, chuyện kể rằng có người đến nhà hàng để ăn món ba ba. Sau đó gọi *waiter* (bồi bàn), họ có năm người, năm người đi đến nhà hàng ăn ba ba, gọi *waiter* lại nói: "Anh hãy chia thành năm bát cho tôi!". Người *waiter* loay hoay một hồi rồi nói: "Tôi không có cách nào chia được". Anh ta hỏi: "Vì sao lại không chia được?" "Bởi vì con ba ba này có tổng cộng sáu quả trứng, các ông chỉ có năm người, có sáu quả trứng, vậy ông bảo tôi chia thế nào?" Nói sáu quả trứng rùa chẳng phải là chửi họ sao, hơn nữa đích xác lại còn lôi cả chính bản thân mình vào nữa, khách có năm người mà có sáu tên vô lại. Đây chính là noãn sinh, là sinh ra từ trứng.

Thấp sinh, thế nào gọi là thấp sinh? Thấp sinh chắc chắn là rất nhiều rồi. Thật đó, trong nước có rất nhiều sinh vật do ẩm ướt mà sinh ra. Vì thế những sinh vật sinh ra từ nước đều gọi là thấp sinh. Như thế thì nhiều lắm. Do đó, người ăn chay chân chính thì ngay cả vaccine cũng không thể tiêm. Vì sao thế? Bạn tiêm vaccine rồi thì chẳng phải là giết hết virus Covid-19 sao. Virus cũng là sinh mạng mà, bởi vì chúng sống, thế là bạn sát sinh rồi, bạn đi tiêm vaccine chẳng phải là giết bọn chúng rồi sao? Đó là thấp sinh! Rất nhiều vi khuẩn đó: *"Uống một ngụm nước sạch, tám vạn bốn nghìn trùng, nếu như không trì chú, khác gì giết chúng sinh."*

Thực vật cũng là sinh vật đó, bạn nhổ chúng lên, ví dụ như là củ cải, khi cắt chúng thì chúng kêu "á", kêu "á" một cái thế là bạn nhổ cây cải lên, thực vật có biết kêu không? Chúng mọc dài ra, chúng có tế bào, bạn cho rằng ăn rau chính là ăn chay sao? Nhầm rồi. Việc ăn chay là ai nói? Là do Lương Vũ Đế nói. Hòa thượng ở Thái Lan có ăn chay không? Tôi bảo bạn nhé, việc ăn mặc ở Thái Lan, ăn, mặc, ở, đi lại đều kế thừa Phật giáo nguyên thủy, họ mang nhiều sắc thái đậm nhất, còn những hòa thượng ở nơi khác đều đã có thay đổi rồi. Đặc biệt là khi Phật giáo truyền đến Đông Thổ, Phật giáo Trung Quốc đã thay đổi thành ăn chay, điều này là do Lương Vũ Đế thay đổi. Việc điểm giới sẹo là do Lương Vũ Đế kêu người ta làm. Hòa thượng Thái Lan ở đâu có điểm giới sẹo? Căn bản là không có chuyện đó! Vì sao phải điểm giới sẹo chứ? Tâm phân biệt quá nặng!

Vị Lương Vũ Đế này, mặc dù ông ta là Phật tâm thiên tử, nhưng ông ta đã làm hậu cung loạn cào cào. Ông ta đã cưới một người phụ nữ yêu kiều nhất của triều đại trước. Bạn biết rằng khi Lương Vũ Đế đóng đô tại Kiến Khương (hiện nay là thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô), ông ấy đã đánh bại triều đại trước, sau đó toàn bộ phi tần đều bị Lương Vũ Đế đem đi, vì thế hoàng hậu khi đó hối hận vì Lương Vũ Đế làm hoàng đế, bà ấy nói, từ nay về sau, bà ấy cũng không gặp được Lương Vũ Đế nữa. Lương Vũ Đế rất háo sắc, thật sự là một tên họ Trư đó! Mọi người có biết Lương Vũ Đế không? Ông ta đã sinh bao nhiêu đứa con, mọi người nói xem? Ông ta đã kết nạp phi tần yêu kiều xinh đẹp nhất của triều đại trước làm sở hữu của mình, sinh ra hai người con gái — đây chính là báo ứng: hai người con gái đó đều qua lại với chú và bác của chúng. Thật sự là loạn, loạn luân. Lương Vũ Đế rất đồi bại!

Chúng ta thường tụng Lương Hoàng Bảo Sám để sám hối, Lương Hoàng Bảo Sám là kinh dùng để sám hối, nhưng không phải là của ông ta! Chỉ là dùng tên của ông ta thôi, là do khi đó Lương Vũ Đế bảo những người xuất gia viết một bản kinh sám hối, để siêu độ cho một phi tử mà ông ta sủng ái. Lương Vũ Đế rất đồi bại, là một tên họ Trư! Thật đó, ông ta ngồi trong cung điện, nhìn thấy một cung nữ, rất nhiều cung nữ đứng bên cạnh, rồi gió thổi qua, váy của cung nữ nào tốc lên ông ta nhìn thấy đùi của cung nữ đó, thế là tối hôm đó, ông ta liền nói "ta muốn ngươi". 

Mọi người có biết Lương Vũ Đế không, mỗi lần ông ta gặp trắc trở là lại muốn xuất gia làm hòa thượng, liền chạy đến chùa Đồng Thái Tự ở cạnh đó để làm hòa thượng! Ngay sát vách đó! Nằm ở sát vách với hoàng cung, ông ta xây một ngôi chùa, chính là đi sang chùa ở sát vách để làm hòa thượng. Rồi tất cả thần tử lại kéo ông ta về, lôi trở về, thế thôi, ông ta lại làm hoàng đế, đến khi gặp chuyện khó khăn lại đi làm hòa thượng, rồi lại bị lôi trở về. Đến lần thứ ba lại đi làm hòa thượng, lại bị lôi về… thật là báo ứng! Vì thế, đến cuối cùng, ông ta chết đói tại hoàng cung. Tôi giảng lan man đi đâu mất rồi…? Không phải tôi phê bình Lương Vũ Đế, tôi nói cho bạn biết, Lương Vũ Đế là Phật tâm thiên tử, ông ta đã xây rất nhiều chùa. Thai sinh, thấp sinh, việc ăn chay là do ai tạo ra? Là Lương Vũ Đế. Điểm giới sẹo là do ai tạo ra? Lương Vũ Đế. Bởi vì Phật giáo Trung Nguyên chính là do ông ta làm như vậy nên mới có điểm giới sẹo, mới có ăn chay, những việc này là do Lương Vũ Đế làm.

Hóa sinh, thế nào là hóa sinh? Là hóa ra từ trong không khí! Con vi khuẩn Covid-19 là từ không khí hóa ra, là hóa sinh, nó có thể biến chủng! Bạn có biết không? Đóng cửa ở trong nhà từ sáng tới tối thì cũng mắc bệnh sưng phù, biến thành phù to lên, béo mập ra, đều sẽ biến thành phù lên. Nó có thể hóa sinh biến chủng đó! Hai loại kết hợp lại với nhau rồi biến hóa, đó chính là hóa sinh. Còn có thai sinh, con người chúng ta là thai sinh. Rất nhiều động vật cũng là thai sinh, cũng có rất nhiều động vật là noãn sinh, đại bộ phận loài chim đều là noãn sinh, có rất nhiều động vật là thai sinh, và cũng có rất nhiều là noãn sinh.

Bốn hình thức sinh ra này, thế nào nhỉ… nói điều này là có ý nghĩa gì? Bình đẳng. Hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Bình đẳng, bình đẳng diệt độ. Thế nào là Vô dư niết bàn? Giờ hỏi mọi người, tôi đã từng nói rồi, người nào giơ tay trả lời Vô dư niết bàn? Tôi đã giảng rồi, mọi người đều không nhớ được sao? Thế nào là Vô dư niết bàn? Là không còn nhân duyên Sinh, cũng không còn nhân duyên Tử, đó là Vô dư niết bàn đó! Bạn sẽ không sinh ra nữa, bạn cũng sẽ không chết nữa, đây gọi là Vô dư niết bàn. Giảng cho mọi người chẳng có tác dụng gì cả, giảng xong mọi người đều quên… so với trí nhớ kém cỏi của lão già tôi đây thì trí nhớ của mọi người còn kém hơn. 

Hoặc có sắc, tôi hỏi bạn, chữ sắc này là ý gì? Tôi nói cho bạn biết, chữ sắc này không phải là sắc trong từ háo sắc đâu. *Hou sek* (tiếng Quảng, ý là ngon), háo sắc… à, là ngon à? Ngon và háo sắc không giống nhau! Có sắc nghĩa là có hình tượng. Hoặc không sắc, là không có hình tượng. Bạn nói xem cái gì là không có hình tượng? Vi khuẩn này, bạn có nhìn thấy chúng không? Chúng không có hình tượng! Nhưng Covid-19 thì có hình tượng, nó có hình cầu, đội thêm cái chóp, dưới kính hiển vi có thể nhìn thấy. Khi đó chúng ta gọi chúng là không sắc, đó là vô sắc. Ma cũng không có hình tượng, *ghost* <span className="note-blue">[ma]</span> không có hình tượng.

Hoặc có sắc, hoặc không sắc, trung ấm cũng không có hình tượng. Hoặc hữu tưởng, là có tư tưởng, có suy nghĩ, và không có suy nghĩ. Thế nào là thứ không có suy nghĩ? Thực vật đều có suy nghĩ, hòn đá, nó có suy nghĩ không? Thật ra nếu nói cho đúng thì vẫn là có… bạn xem đá quý, đá quý có tồn tại từ tính. Bạn chặt nó làm đôi, từ tính của nó sẽ giảm đi một nửa, một nửa này không phát sáng được. Một nửa kia nó vẫn có từ tính, một nửa kia thì không có. Bây giờ khoa học đã chứng minh như vậy. Muốn tìm ra được những thứ thật sự không có tư tưởng là rất khó.

Hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, cũng không phải là hữu tưởng cũng không phải là vô tưởng, nghĩa là ở giữa. Có lúc có suy nghĩ, có lúc không có suy nghĩ, thì Phật Thích Ca Mâu Ni đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Vừa nãy tôi đã giải thích thế nào là Vô dư niết bàn rồi, không còn nhân duyên Sinh, cũng không còn nhân duyên Tử, thì đó là Vô dư niết bàn. Diệt độ là chữ diệt cuối cùng, là diệt trong Tứ thánh đạo, độ tương đương với độ hóa, độ hóa cho chúng sinh.

Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, chúng sinh mà Phật độ hóa là vô lượng vô biên, ai muốn làm như vậy? Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, có ai muốn như vậy? Có một người… Có một vị Bồ Tát làm điều đó, ngài ấy ở trước mặt rất nhiều vị Phật và phát nguyện rằng: "Tôi muốn độ hóa tất cả chúng sinh, nếu tôi không độ hóa những chúng sinh này, nếu tôi không làm theo lời thề nguyện của tôi, đầu tôi sẽ vỡ thành mười phần." Đó là Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài đã phát lời thề này, khi ấy có thập ức câu tri Phật, một câu tri chính là mười triệu, ở trước mặt mười ức câu tri Phật, nghĩa là ở trước mặt vô lượng vô số Phật mà phát nguyện, đó là Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngài ấy muốn độ hóa chúng sinh, nếu như ngài ấy không làm đúng theo mà thối lùi cái tâm lúc đó, tâm của ngài thay đổi, thì đầu ngài sẽ bị vỡ thành mười phần. Đây là lời thề của Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát rất từ bi, chúng sinh mà ngài ấy độ hóa là nhiều nhất. Hôm nay tạm thời giảng đến đây thôi! Om mani padme hum.

*(Ngày 28/08/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 10.)*

### 11. Phần thứ 3: Đại thừa chính tông (1)

*(Bài giảng 11)* Ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng

(Tiếp tục bài giảng trước) *Ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát.* 

Bây giờ chúng ta nói về *"Ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ."* Câu này là quan trọng nhất! Bạn nói xem, chúng ta độ hóa chúng sinh, thật ra không có chúng sinh nào để mà bạn có thể diệt độ. Quan Thế Âm Bồ Tát phát nguyện muốn cứu độ tất cả chúng sinh, đến cuối cùng ngài ấy phát hiện ra, những chúng sinh mà ngài đã độ không tăng cũng không giảm (không tăng thêm cũng không giảm bớt), chúng sinh vẫn là chúng sinh, không ít đi dù chỉ một người. Quan Thế Âm Bồ Tát vô cùng nản lòng, thế là đầu của ngài liền vỡ thành mười phần, vì đã chùn bước rồi, không độ hóa chúng sinh nữa, mất lòng tin rồi, nên đầu vỡ thành mười phần. Sư phụ của ngài là A Di Đà Phật vội vã đến, khẩn trương biến các mảnh đầu của ngài (toàn bộ mười mảnh vỡ) thành mười cái đầu, biến mỗi phần đầu thành một khuôn mặt, rồi lại cộng thêm bản thân Bồ Tát đứng ở trên, thế là thành mười một cái đầu, rồi biến thành Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt.

A Di Đà Phật đến nói với Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ngươi thật là đứa trẻ ngốc! Ngươi thật ngốc quá!" A Di Đà Phật đã sắp xếp tổ hợp lại từ đầu, thế là biến thành Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát. Thật không có chúng sinh nào được diệt độ, là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát. Đây chính là đáp án. 

Thích Liên Thùy là ai? Lôi Phong Bồi, anh trả lời câu hỏi này thế nào? Tôi hỏi anh: "Anh là ai?" Anh hãy trả lời câu hỏi này. Tổ sư Đạt Ma đã từng trả lời rồi. Lương Vũ Đế hỏi Tổ sư Đạt Ma: "Người ở trước mắt ta là ai?" Tổ sư Đạt Ma trả lời thế nào? Mọi người có trả lời được không? Rất đơn giản, mọi người đều đã đọc qua điển tích này rồi. Lương Vũ Đế hỏi: "Người đứng trước mặt ta đây là ai?" Hỏi Tổ sư Đạt Ma như vậy. Tổ sư Đạt Ma trả lời thế nào? Có ai biết không? Ôi, chuỗi hạt này (Sư Tôn cầm chuỗi hạt ở trên bàn lên), chà chuỗi hạt này đẹp quá! Thích Liên Thùy, anh trả lời xem nào. Anh ta im thin thít kìa. Mọi người trả lời đi, ai nói trúng thì có thưởng. (Một đệ tử nào đó nói: không biết.) Không biết ư? Không biết vẫn chưa được, vẫn chưa hoàn toàn nói đúng. Mới được tạm một nửa. Thôi giữ lại, không tặng nữa!

Ở đây nói đến: Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát. Hỏi mọi người, ngã tướng, đương nhiên biết rồi, vô ngã tướng. Nhân tướng, mọi người biết rồi, ngã tướng chính là cá thể, nhân tướng chính là hình tướng của cá thể. Chúng sinh tướng, cái gọi là chúng sinh tướng là rất rất nhiều chúng sinh. Thọ giả tướng nghĩa là sự dài ngắn của thời gian, thời gian dài ngắn. Thật ra, theo những gì Phật nói, cái gọi là ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì chúng sinh tướng chính là không gian, thọ giả tướng chính là thời gian. Một vị Bồ Tát (Bodhisattva) nếu còn có cái tâm ngã ở trong đó, cùng cái tâm "tôi là một con người" ở trong đó, còn có những chúng sinh khác ở trong đó, còn có thọ mạng của tôi dài bao nhiêu ở trong đó, thế thì đây không phải là Bồ Tát. Ý nghĩa chính là nằm ở đây.

Ý nghĩa của nó, ý nghĩa rất quan trọng trong kinh Kim Cang, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, cái này đại diện cho… Tôi hỏi bạn nhé, thời gian bây giờ là mấy giờ? Bây giờ là 4 giờ 56 phút, thời gian này là do ai định ra? Là con người định ra. Tôi nói cho bạn biết nhé, làm gì có thời gian? Không có thời gian. Thời gian là do con người đặt ra. Mọi người thử nghĩ một chút mà xem, hôm nay nếu không có thời gian, con người sẽ… giống như bây giờ chúng ta đang là năm 2021, là bắt đầu tính từ lúc chúa Jesus của đạo Cơ Đốc ra đời, đạo Cơ Đốc bắt đầu từ chúa Jesus, năm dương lịch hiện tại là năm 2021. Khi ấy, thời của chúa Jesus là hơn 2000 năm trước, nhưng hơn 2600 năm trước Phật Thích Ca Mâu Ni đã đản sinh rồi, Phật còn sớm hơn cả Jesus, còn Lão Tử của Trung Quốc lại càng sớm hơn cả Phật Thích Ca Mâu Ni, còn sớm hơn nữa. Đó đều là dùng thời gian để tính toán. 

Thời gian là ai định ra? Là con người định ra. Vô thọ giả tướng nghĩa là thời gian không còn nữa, vì thời gian đã không còn, nếu như không có thời gian, thì còn có nhân duyên hòa hợp gì nữa chứ. Không có nhân duyên hòa hợp gì. Không có không gian, tôi nói cho bạn biết, vô chúng sinh tướng, vì đã không còn chúng sinh thì còn có nhân duyên hòa hợp cái gì nữa. Không còn, nhân duyên cũng không còn nữa. Tất cả nhân duyên sinh, tất cả nhân duyên diệt, đều không còn gì nữa. Vậy cái mà Phật pháp nói đến (vừa nãy điều mà Liên Thùy hỏi chính là ở đây) nhấn mạnh tất cả đều là do nhân duyên mà sinh ra, sinh diệt vô thường, duyên khởi tính Không chăng? Ngay cả duyên khởi cũng không còn, không còn chúng sinh tướng thì làm gì có duyên khởi gì đây. Vì thế toàn bộ cái này đều là phiến diện, tất cả Phật pháp cũng là phiến diện, còn có Phật gì đây? Không Phật, không chúng sinh. Ngã tướng, nhân tướng, cái này càng thấp cấp. Lại còn thêm Bồ Tát có ngã tướng ư? Bồ Tát là nghĩ vì chúng sinh, không nghĩ vì bản thân. Bạn vẫn còn vì bản thân ư? A Di Đà Phật! Thế thì bạn không phải là Bồ Tát.

Vì thế, người học Phật chúng ta, dựa theo cuộc sống của mình, dựa theo việc tu hành mỗi ngày của mình mà làm, điều bạn làm không phải vì bản thân, mà là làm vì chúng sinh. Bạn làm pháp lục độ — bố thí, nhẫn nhục, trì giới, trí huệ, thiền định, tinh tấn, làm pháp lục độ là Bồ Tát, không làm vì bản thân, bạn làm vì chúng sinh. Thật ra, khi bạn làm điều này mà trong mắt không có chúng sinh, nhưng bản thân bạn vẫn cứ làm như vậy, thì cái này mới là Bồ Tát chân chính. Còn nếu như bạn làm pháp lục độ, mà trong mắt vẫn còn có chúng sinh thì cũng không phải. Vì thế, chúng ta nói tam luận thể không: không có người làm pháp lục độ, cũng không có người nhận pháp lục độ, cũng không có sự việc làm hoặc nhận, đây mới là Bồ Tát.

Nói thế này đã là rất sâu rồi. Tôi nói điều này đã là rất sâu rồi. Vì thế, hôm nay tôi thuyết pháp ở đây: Sư Tôn ở đây thuyết pháp, nhưng không có người thuyết pháp. Mọi người ở dưới nghe pháp, nhưng không có người nghe pháp. Cũng không có việc thuyết pháp này. Đây mới là điều chính xác. Vì thế, nếu có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni có thuyết pháp thì chính là đang phỉ báng Phật. Nói thế mọi người có hiểu không? Ở đây ý nghĩa rất sâu đó! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức là không phải Bồ Tát. Tất cả Phật pháp đều phá bỏ hết. Liệu có phải là giảng quá sâu một chút rồi không? (Đệ tử: xin Sư Tôn giải thích một lần nữa.) Không có người giảng (không có người thuyết pháp), cũng không có người nghe pháp, cũng không có sự việc thuyết pháp này.

Vì thế, Lương Vũ Đế xây nhiều chùa như vậy, tự cho rằng công đức của mình rất cao, nhưng trước mặt Đạt Ma thì không đáng giá một đồng. Lương Vũ Đế hỏi Đạt Ma rằng: "Ta xây nhiều chùa như vậy, nuôi dưỡng nhiều hòa thượng như vậy, công đức của ta thế nào?" Đạt Ma chỉ nói một câu: "Không có công đức." Lời Đạt Ma nói mới là đúng. Lương Vũ Đế vừa nghe nói rằng không có công đức thì ông ta liền tức giận, không nghe lời Đạt Ma nữa. Đạt Ma đi rồi, ông ta còn phái quân đi truy sát Đạt Ma nữa. Khi đó, Chí Công hòa thượng, Chí Công cũng là một cao tăng đắc đạo, mới đến nói với Lương Vũ Đế rằng: "Điều ngài ấy nói mới là đúng. Điều Đạt Ma nói mới là đúng." Thế rồi mới tìm ngài ấy về, nhưng không đưa về được, ngài đã đến nước Ngụy rồi (chính là Bắc Ngụy, Nam Lương Bắc Ngụy), không đưa ngài ấy về được!

Lương Vũ Đế vẫn còn chưa đến được trình độ đó, nhiều nhất ông ấy cũng chỉ là một tín đồ Phật giáo mà thôi. Ông ta rất háo sắc, hôm qua tôi đã nói rồi đúng không? Gió thổi qua, thổi tốc váy của cung nữ lên, ông ta nhìn thấy là thèm nhỏ dãi, tối đó liền muốn cô cung nữ đó, kết quả là lại sinh con. Đứa con này là cung nữ sinh ra, những đứa con do các phi tần sinh ra đều coi thường đứa con này, cuối cùng đứa con này đã chiếm quân đội hùng hậu, anh ta cũng là con trai của Lương Vũ Đế, chỉ là mẹ của anh ta tương đối thấp hèn mà thôi, cô ta chỉ là một cung nữ. Từ nhỏ đứa con trai này đã bị các A Ca lớn bắt nạt, cuối cùng anh ta đã nắm lấy một lực lượng quân đội hùng hậu.

Lương Vũ Đế hỏi Chí Công: "Sau này ta sẽ gặp phải chuyện gì?" Chí Công không dám trả lời, chỉ vào yết hầu và cổ của mình, kết quả là một phản tướng của Đông Ngụy tên là Hầu Cảnh đã bao vây đánh Lương Vũ Đế. Khi ấy, Hầu Cảnh rời bỏ Đông Ngụy, Lương Vũ Đế đầu hàng, sau đó ông ta quy thuận Nam Lương. Lương Vũ Đế đóng đô tại Kiến Khang, chính là Nam Kinh. Khi Lương Vũ Đế bị Hầu Cảnh bao vây, vây thành, khi toàn bộ hoàng cung bị bao vây, đứa con trai của cung nữ nắm đội binh hùng hậu, anh ta là người nhỏ nhất trong số các A Ca, anh ta nắm quân đội hùng hậu, anh ta chỉ cần xuất binh là có thể giải cứu được Lương Vũ Đế, nhưng anh ta đã không xuất binh, kết quả là Lương Vũ Đế đã chết đói. Bởi vậy, thật ra Lương Vũ Đế cũng là một hoàng đế rất tốt, ông ta không muốn bị như vậy, nhưng sau khi lên làm hoàng đế rồi thì đã thay đổi. Đây cũng là lịch sử, thế nên gọi là "sóng cuốn trôi hết cả những nhân vật anh hùng thiên cổ." Om mani padme hum.

*(Ngày 29/08/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Câu Tài Thiên Nữ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 11.)*

### 12. Phần thứ 3: Đại thừa chính tông (2)

*(Bài giảng 12)* Vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng

*Phật bảo Tu Bồ Đề: "Chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục tâm như thế này! Cần nghĩ tất cả các loài chúng sinh hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa mà sinh ra, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát.* 

Có người hỏi: "Trong phần thứ 3: Đại thừa chính tông, vì sao Sư Tôn giảng chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thọ giả tướng là chỉ thời gian, chúng sinh tướng là thuộc về không gian, không có không gian, không có thời gian thì có gì tốt?" Có người hỏi vấn đề này. Chúng sinh tướng… Phần thứ 3: Đại thừa chính tông, "chúng sinh tướng" và "thọ giả tướng", "vô ngã tướng".

Vô ngã tướng… Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát. Vậy thì nhất định phải không có rồi! Thế còn chúng sinh tướng, Sư Tôn nói, chính là không gian. Thọ giả tướng là thời gian. Tôi nói với mọi người, thọ giả tướng là thời gian, tuổi thọ đại diện cho thời gian. Vì sao? Có người trường thọ, có người đoản thọ, có người sống lâu, có người sống rất dài, cái này gọi là thọ giả tướng. Nếu như không có thời gian, trong Phật giáo gọi là "tam tế nhất như". Thế nào là tam tế nhất như? Quá khứ, hiện tại, vị lai đều thành một khối. Sư Tôn có thể biết đời quá khứ, có thể biết đời tương lai của mình, vì sao tôi có thể biết được? Bởi vì đó là vô thọ giả tướng, không có thời gian, thời gian đều là do con người tạo ra.

Bạn xem đó, *I miss you every year, every month, every second, every minute, every second, every hour. I miss you.* (Anh nhớ em từng năm, từng tháng, từng giây, từng phút, từng giờ. Anh nhớ em.) Đây là lời những người yêu nói với nhau. Là lời mà trước đây tôi nói (Sư Tôn cười). Bây giờ thì không nói nữa, không biết nữa rồi. *Every second, I miss you.* Chà, cái này thật lợi hại, trong từng giây đều đang nhớ. Ở đây, năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây, hàng tuần, cứ thế từ đầu tới cuối, toàn bộ đều là con người đặt ra, vốn dĩ không có thời gian, đều là do bản thân con người thiết lập ra. Vô thọ giả tướng, ai có thể thật sự tính được, thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang, ai có thể tính ra được là bao lâu?

Đương nhiên rồi, Phật giáo có nói, Phật Thích Ca Mâu Ni có nói, chính là nói về kiếp: đầu tiên chính là Sơ kiếp, kiếp cuối cùng gọi là Câu lạc kiếp, kiếp hiện tại gọi là Hiền kiếp. Trong Phật giáo có nói, Hiền kiếp có nghìn vị Phật, có không? Hiền kiếp thiên Phật. Vì thế, khi bạn tu hành chứng được vô thọ giả tướng, bạn có thể trở về quá khứ. Quá khứ tôi là ai, là ai… tôi đều có thể nói được ra. Sau này tôi sẽ ra sao, tôi có thể nói được ra, tam tế nhất như mà! Quá khứ hiện tại vị lai, tam tế nhất như là cùng một thời gian, cùng một lúc, thì gọi là vô thọ giả tướng. Có được lợi ích này.

Vô chúng sinh tướng thì là buổi tối hôm nay tôi muốn đến nơi nào, tôi không có khái niệm không gian. Tôi muốn đi tìm bạn, tôi liền đi tìm bạn, bất kể bạn sống ở đâu, bạn sống ở Malaysia cũng được, sống tại Đài Loan cũng được, sống tại nước Anh cũng được, sống tại Pháp, tại Thụy Điển, tại bất kì nơi nào… Iceland, thậm chí sống tại Nam Cực, Bắc Cực, tôi đều có thể đến, bởi vì tôi không còn khái niệm không gian. Khi bạn tu hành đạt đến không còn không gian, thì điều càng lợi hại hơn là, bạn muốn đến thế giới Cực Lạc, đến thế giới, đến Phật quốc, đến thế giới Viên Thông của Quan Thế Âm Bồ Tát, đến tịnh thổ Thúy Vi của Địa Tạng Vương Bồ Tát, đến thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật, đến thế giới Diệu Hỉ của A Súc Phật, đến chỗ nào bạn cũng đều có thể đi được hết.

Cái này gọi là "không còn không gian". Chớp mắt một cái là bạn đã đến nơi rồi, tôi không cần phải tốn rất nhiều thời gian để đi bằng máy bay, hay là cưỡi mây đạp sương, hay là như ta vẫn nói là niệm chú một lát, một đám mây liền hạ xuống, bạn ngồi trên đám mây đó, rồi đám mây chở bạn đi, không cần phải thế. Vô chúng sinh tướng nghĩa là không còn không gian, lợi ích còn có rất nhiều nữa, tôi nói với mọi người, đúng thế không. Chà, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, vô nhân tướng, vô ngã tướng, đây là điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề.

Mọi người biết ngôi chùa Jokhang, chùa Ramoche đều có các bức tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni, đúng vậy không? Có tướng Phật Thích Ca Mâu Ni 8 tuổi, có thân tướng Phật Thích Ca Mâu Ni trong độ tuổi 12. Bức tướng ở chùa Jokhang là do công chúa nào tặng? Có một người là công chúa Xích Tôn ở Nepal tặng. Còn bức kia là do một người là công chúa Văn Thành của triều Đường tặng. Công chúa Văn Thành lấy bức tướng mấy tuổi? Khi công chúa gả vào hoàng cung Tây Tạng đã đem theo bức tướng 12 tuổi. Còn công chúa Xích Tôn thì đem theo bức tướng 8 tuổi, hai bức tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni, một bức để ở chùa Jokang, một bức để ở chùa Ramoche, có đúng không? Một bức là 12 tuổi, một bức là 8 tuổi, hai bức tướng này là từ đâu đến?

Làm sao mà một bức từ Trung Quốc đến vùng đất tuyết, đến Tây Tạng, một bức thì từ Nepal đến Tây Tạng, là ai điêu khắc? Ai đem cho vật liệu? Mọi người có biết không? Đều không ai biết à? Bồ Tát Di Lặc cho vật liệu, người điêu khắc là Công Tượng Thiên. Di Lặc Bồ Tát đã bỏ ra rất nhiều vàng bạc, châu báu của ngài, tập hợp lại, tặng cho Công Tượng Thiên, Công Tượng Thiên đã chế tác ra bức thân tướng Phật Thích Ca Mâu Ni 12 tuổi và 8 tuổi. Vì sao lại có bức thân tướng Phật Thích Ca Mâu Ni 8 tuổi và 12 tuổi? Có ai biết khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni cao bao nhiêu không? Có ai biết không?

Khi xưa, lúc điêu khắc ra bức tướng này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói với Công Tượng Thiên: "Anh hãy điêu khắc thân tướng 8 tuổi và 12 tuổi của ta." Công Tượng Thiên đó nói: "Tôi không biết lúc 8 tuổi thì ngài cao bao nhiêu, cũng không biết lúc ngài 12 tuổi thì cao bao nhiêu?" Thế là Phật Thích Ca Mâu Ni nói với anh ta rằng: "Có một nhũ mẫu khi ta còn nhỏ vẫn còn sống…" nghĩa là nhũ mẫu mà cho ngài bú sữa vẫn còn sống, "… nhũ mẫu đưa ta đến một nơi, anh hãy đến hỏi nhũ mẫu của ta là biết được khi 8 tuổi ta cao bao nhiêu, khi 12 tuổi ta cao bao nhiêu."

Kết quả là Công Tượng Thiên liền tìm đến nhũ mẫu đó. Nhũ mẫu bảo anh ta rằng: "Tôi biết. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn nhỏ tôi cho ngài uống sữa, tại một cái chòi nghỉ mát ở thành Ca Tì La Vệ, ở đó có hai bức tượng, một bức vóc dáng tương đối nhỏ, một bức vóc dáng tương đối cao, bức nhỏ chính là Phật Thích Ca Mâu Ni lúc 8 tuổi, bức cao chính là Phật lúc 12 tuổi, anh hãy tới đó mà đo." Công Tượng Thiên đó đi đo, thế là biết được khi 8 tuổi Phật Thích Ca Mâu Ni cao bao nhiêu, khi 12 tuổi Phật Thích Ca Mâu Ni cao bao nhiêu.

Sư Tôn biết được những sự việc trong quá khứ này của Đức Phật. Vì sao ngài biết những việc này chứ? Thân tướng lúc 8 tuổi, thân tướng lúc 12 tuổi, cúng tại chùa Jokhang, chùa Ramoche. Chùa Jokhang, chùa Ramoche ở Tây Tạng, làm sao ngài biết được đo được bao nhiêu tấc, thân hình ra sao, vì sao mà ngài biết được? Bởi vì, tôi đã là vô chúng sinh tướng, tôi đã vô thọ giả tướng. Khi tôi vô chúng sinh tướng thì tôi có thể đi đến bất kì chỗ nào. Khi vô thọ giả tướng, tôi có thể trở về quá khứ, đương nhiên tôi biết được! Còn mọi người có biết không? Biết làm sao được! Mấy giờ rồi nhỉ? 10 giờ 13 phút à? Chà, hôm nay tôi kể chuyện xưa cho mọi người nghe rồi. 

Tu Bồ Đề, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan, bốn người này. Nếu như bạn đi xem bốn người này, sau lưng bức thân tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni lúc 8 tuổi và thân tướng lúc 12 tuổi có bốn đệ tử của ngài. Bốn người này được điêu khắc đứng sau lưng Phật Thích Ca Mâu Ni, có bốn bức tướng, chính là Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề, Mục Kiền Liên, A Nan. Vì sao không có Đại Ca Diếp? Bởi vì khi đó Đại Ca Diếp đã rời khỏi tăng đoàn rồi, vì ngài ấy cãi nhau với A Nan, nên ngài muốn rời khỏi tăng đoàn.

Phật Thích Ca Mâu Ni giữ ngài ấy ở lại, nói "ông đừng bỏ đi, ông đừng đi", Phật Thích Ca Mâu Ni giữ ông ấy ở lại tăng đoàn. Ông ấy nói, tôi thật sự không thấy có lí do gì để ở lại, mọi người sống và ăn mặc tốt như vậy, tôi theo hạnh đầu đà, vẫn phải theo pháp của Thanh Văn. Thế nào gọi là Thanh Văn? Tôi hỏi mọi người, vì sao gọi là Thanh Văn? Bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni có mười đại Thanh Văn, chính là mười đại A La Hán. Vì sao gọi là Thanh Văn? Thế nào gọi là Thanh Văn?

Tôi nói cho bạn biết, Thanh Văn chính là tận tai nghe được Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, thì gọi là tai nghe được âm thanh của Phật Thích Ca Mâu Ni, nghe được tiếng nói của Phật Thích Ca Mâu Ni, người nghe Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp mà thành tựu thì gọi là Thanh Văn. Mọi người hiểu chứ? Hôm nay tôi nói điều này, bạn xem, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề và A Nan, đều ở phía sau thân tướng 8 tuổi và 12 tuổi của Phật, bốn người này, khi xưa bốn người này ở gần Đức Phật nhất. Tôi biết, mọi người đến chùa Jokhang, chùa Ramoche xem những bức tượng này, bốn trong số mười đại đại A La Hán, bốn vị trong số đó đều có tượng điêu khắc ở sau lưng Phật.

Ngày mai tôi sẽ bắt đầu giảng "Phần thứ tư: Diệu hạnh vô trụ". Tôi nói cho bạn biết nhé, hôm nay tôi giảng cái này là bí mật đó, không được nói ra ngoài đâu đấy! Không có ai biết đâu, cái này buộc phải vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng mới có thể biết được, không có ai biết đâu! Mọi người đã biết được căn nguyên của bức thân tướng 8 tuổi, bức thân tướng 12 tuổi của Phật. Ngoài ra, các bức tướng sau lưng ngài là gì, chỉ có Sư Tôn biết thôi! Om mani padme hum.

*(Ngày 04/09/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 12.)*

### 13. Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ (1)

*(Bài giảng 13)* Vô tướng bố thí

Hôm nay chúng ta giảng Kinh Kim Cang. Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ.

*"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Trong pháp, Bồ Tát nên vô sở trụ mà làm việc bố thí, gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên bố thí như vậy, đừng trụ vào tướng. Vì sao như vậy? Nếu Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc đức ấy bất khả tư lượng."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Hư không phương đông có thể đoán chừng được không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn!"  
"Tu Bồ Đề! Hư không phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên phương dưới có thể đoán chừng được không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn!"  
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà không bám trụ vào tướng thì phúc đức cũng bất khả tư lượng như vậy. Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm theo như điều đã dạy."*

Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ. Diệu hạnh, diệu hạnh mà ở đây nói đến chính là bố thí. Là Bồ Tát, bạn muốn làm một Bồ Tát đăng địa, bố thí là việc số một cần phải làm. Trong kinh Kim Cang gọi đó là diệu hạnh. Một loại hành vi rất tốt được gọi là diệu hạnh. 

Đoạn này, tôi cảm thấy Guru Jesus của tôi cũng đã từng nói rồi, trong Kinh Thánh cũng có nói đến. Tôi thường nói, tay phải làm việc thiện đừng để tay trái biết, tay trái làm việc thiện đừng để tay phải biết. Câu nói này của Jesus chính là làm diệu hạnh vô trụ. Đây là điều mà Jesus đã từng nói trong Kinh Thánh, tay phải làm việc thiện đừng để tay trái biết, tay trái làm việc thiện đừng để tay phải biết, như thế là vô trụ rồi. 

Nếu mà bạn hữu trụ bố thí thì đó là tình trạng gì? Nghĩa là bạn cố ý làm điều đó! "Tôi phải đi làm việc thiện đây." Trước khi làm việc thiện mà bạn lại nói: "Tôi phải đi bố thí đây!" Thế thì đó là cố ý bố thí, công đức đó chỉ nằm trong việc bố thí của bạn mà thôi, một sự bố thí rất nhỏ bé. Bạn quên luôn cả việc bố thí, thì đây gọi là… Chúng ta ở United States, Texas, vì sao có Lôi Tạng Tự gọi là Tam Luân Lôi Tạng Tự nhỉ? Tôi đặt tên cho nó là Tam Luân Lôi Tạng Tự, khi tôi viết "Tam Luân Lôi Tạng Tự", mọi người trông thấy nói là xe ba bánh, bây giờ làm gì có xe ba bánh chứ?

Chúng ta nói: *xe ba bánh chạy rất nhanh, trên xe có bà già đanh, đòi năm chục đưa một "cành", thế có phải là sang chảnh*? Vì sao xe ba bánh chạy rất nhanh, trên xe có bà già đanh, đòi năm chục đưa một "cành"? Bởi vì người kéo xe là tình nhân trong quá khứ của bà già, khi trở về nhà bà ấy đã ngồi trên xe ba bánh của ông ta, thấy người yêu cũ vẫn còn phải kéo xe ba bánh, vì thế xe ba bánh đó chạy tới, đòi năm chục, bà ấy đưa hẳn một trăm, đồng cảm với hoàn cảnh của ông ta.

Tôi không bảo Tam Luân Lôi Tạng Tự là xe ba bánh đâu, mà trọng điểm của nó là "tam luân thể không". Bạn bố thí phải là không có người bố thí, không có người nhận bố thí, không có vật bố thí, đó gọi là bố thí không bám trụ vào sắc tướng, gọi là tam luân thể không. Đây là một cảnh giới rất cao, bạn thật sự muốn làm việc thiện, không cần phải nói ra rằng "tôi đang làm việc thiện đây", bất kể thời gian nào bạn cũng đều đang làm việc thiện. Không có tiền làm sao làm việc thiện? Có người hỏi tôi: "Tôi không có tiền làm sao làm việc thiện?" Có thể chứ, cười với người khác một cái, bạn không làm được sao?

Một nụ cười, bạn đừng có kiểu như… (Sư Tôn làm bộ mặt khó đăm đăm) "để tôi xem anh nợ tôi bao nhiêu tiền", đó không phải là làm việc thiện. Người ta đến nhà bạn thì bạn hỏi "Đến làm gì? Anh đến đây làm cái gì?" Người ta mắc nợ bạn sao? Hãy cười với người ta một cái: "Hoan nghênh!" Sau đó cười với họ: "Mời ngồi! Mời ngồi!" Đừng giống như mấy người canh cổng, gác cổng của Lôi Tạng Tự chúng ta cứ ngồi bên trong mà tiếp đãi. Vào lúc đó, có người đi vào, bạn hãy cười tươi hoan nghênh họ, phải tự nhiên một chút: "Chào mừng bạn đến thăm." "Xin hỏi có phải bạn đến bái Phật không?" "Xin hỏi bạn đến rút thẻ phải không?" "Xin hỏi có phải bạn đến khu bán đồ Phật giáo để thỉnh đồ không?" "Xin hỏi…" Thế rồi bạn dắt họ đi, rất chào đón họ, đây chính là cúng dường đó. Không được như thế này: có người đến (Sư Tôn làm động tác xua tay để bảo người ta đi mau đi), không được như thế! Ở nơi bán đồ Phật giáo, khách hỏi: "Xin hỏi món này bao nhiêu tiền?" "Đừng hỏi bao nhiêu tiền, muốn mua thì mua!" Không được thế! Bạn như thế có phải là bố thí không? "Nếu bạn thích, nhưng bạn lại không có tiền, thì bạn cứ cầm về đi." "Nếu bạn thích, nhưng không đủ tiền, bạn cứ cầm về đi, lần sau cầm tiền đến đưa cho tôi cũng được." Thế thì tốt bao nhiêu! Đó là bố thí đó!

Bạn có biết không, Dagchen Rinpoche, Pháp Vương của phái Sakya, chính là Pháp Vương phái Sakya của chùa Sakya của chúng ta ở đây, Dagchen Rinpoche. Chỉ có hai vị Pháp Vương phái Sakya thôi, một người là Trizin (Trizin ở Ấn Độ), một người ở Seattle, chính là Dagchen. (Dagchen Rinpoche viên tịch ngày 29 tháng 4 năm 2016). Dagchen Rinpoche và Sư Tôn cùng làm hỏa cúng, có ảnh chụp làm chứng, ngài ấy cùng Sư Tôn làm hỏa cúng tại Seattle Lôi Tạng Tự. Khi ấy chúng ta đang là Tết Hải Dương nên bày sạp bán đồ, vào Tết Hải Dương chúng ta có bày sạp bán đồ, Dagchen Rinpoche đi tham quan Tết Hải Dương, trông thấy cái kinh luân quay tay mới cầm lên chơi, lắc lắc, lắc lắc, hỏi bao nhiêu tiền. Pháp sư trông nom đã giật ngang ngay: "Không bán! Không bán!" Không bán kinh luân quay tay. Ngài ấy là một trong hai vị Pháp Vương của phái Sakya đó, Dagchen và Trizin, chỉ có hai vị Pháp Vương mà thôi, ngay cả Pháp Vương mà anh cũng không tặng cho họ được cái kinh luân quay tay sao, chí ít anh cũng phải kết thiện duyên chứ. Người ta là Pháp Vương cơ mà, rất hiếm có, rất hi hữu đó, từ nơi rất xa đến đây. Người ta đến thăm ngài ấy thì đều phải bò, phải quỳ đến trước cửa chùa, quỳ ở trước mặt ngài ấy để cầu xin gia trì đó, thế mà pháp sư của chúng ta lại nói: "Không bán! *No, go your way.*" <span className="note-blue">[Không, ông đi đi.]</span> Không lẽ pháp sư của chúng ta vĩ đại hơn sao?

Có điều, phải hiểu về bố thí đó! Không được đắc tội với khách, có người đến, bạn phải độ họ, một người thì một người, nhất định phải độ cho họ. Có người đến đã là rất khó có được rồi, thế mà đều bị bạn đắc tội hết cả, thế thì chẳng còn ai đến nữa. Chồng của Jennifer, ông ấy sinh ra tại Ấn Độ, ông ấy có rất nhiều bạn bè Ấn Độ, trước kia có rất nhiều người Ấn Độ đến, là do chồng của Jennifer giới thiệu họ rằng ở đây có một ngôi chùa. Người Ấn Độ đều đến tham bái, thế là bị một vài pháp sư của chúng ta ở đây lần lượt "mời đi", từ đó không có người Ấn Độ đến nữa. A Di Đà Phật! Phải thay đổi đó! Đó là bố thí đó, là độ chúng sinh, không phải là chặn chúng sinh. Điều này rất quan trọng, một người đến thì độ một người, bất kể thế nào cũng phải nói những lời hết sức tốt đẹp, tươi cười chào hỏi, rất vui vẻ, rất khiêm nhường nói chuyện và tiếp đãi họ, mời họ uống một chén trà. Họ có thiện cảm với chùa của bạn thì cũng tăng thêm niềm vẻ vang của Phật Bồ Tát. Đó là bố thí đó, bình thường bạn cần phải tu dưỡng. Cái đó cũng gọi là bố thí, ngôn ngữ nồng hậu, ngôn ngữ ấm áp, nét mặt tươi cười: "Hoan nghênh bạn đến! Chào mừng đến thăm!" Mọi người đến rồi, hoan nghênh đã đến chơi, những cô gái bán hàng trong trung tâm thương mại người ta còn biết nói, sao mà bạn không biết nói thế chứ? "Anh muốn gì? Anh đến đây làm gì?" Ở đâu có cái kiểu đó vậy? Hãy độ chúng sinh đi!

Tu Bồ Đề! Trong pháp, Bồ Tát nên vô sở trụ mà làm việc bố thí. Đừng dùng cái tâm của bạn, bạn mà dùng tâm của bạn, tâm phải như thế nào? Hãy tự nhiên mà đi cảm hóa người ta đến quy y Chân Phật, tự nhiên như nó là thế mà đi cảm hóa, cái đó chính là bố thí, cái đó chính là bố thí pháp, ý nghĩa của nó là như vậy. Bạn đừng quá giả tạo: "Hê hê hê hê! Hi hi hi hi!" Giả tạo quá, đó là giả tạo, nhìn qua một cái là thấy bạn đang giả tạo rồi. Hãy làm một cách tự nhiên, tôi không bảo mọi người phải giả tạo, nên vô sở trụ mà làm. Trong pháp Bồ Tát nên vô sở trụ. Đừng có giả dối, trong tâm bạn phải thấy tự nhiên thoải mái mà làm việc bố thí. Gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Đây là bố thí ở mức độ cao hơn, bố thì ở mức cao nhất, tự nhiên mà sinh ra, là một dạng bố thí tự nhiên sinh ra trên phương diện tâm lí, đây chính là bố thí mà không bám trụ vào tướng. 

Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc đức ấy bất khả tư lượng. Ngày ngày bạn đều nghĩ: "Hôm nay mình phải bố thí cái gì đây?" Thế thì công đức bố thí này rất là có hạn! Bố thí xong rồi thì quên luôn, coi đó là việc rất tự nhiên, thì phúc đức mới là không thể đo lường được. Phúc báo và đức hạnh ấy mới là không thể đo lường được. Đoạn này chủ yếu là nói về những điều này. 

Tu Bồ Đề! (Mỗi khi Phật nói một câu đều sẽ gọi tên của ngài ấy). Ý ông thế nào? Hư không phương đông có thể đoán chừng được không? Ý ông thế nào: ở đây là có ý gì? Ông hãy xem hư không phương đông có thể đoán chừng được không? Ông hãy nhìn hư không, hư không ở phương đông có thể suy xét được không? Phương đông xa tới bao nhiêu? Không thể đo lường được! Đông tây nam bắc bốn phương phụ và hư không trên dưới có thể đoán chừng được không? Đương nhiên, đông tây nam bắc toàn bộ cả hư không đều không thể xét đoán được.

Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà không bám trụ vào tướng thì phúc đức cũng bất khả tư lượng như vậy. Nếu như Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí… vì sao không trụ vào tướng mà bố thí? Ý là, tôi cầm món đồ này tặng cho người ta, nhưng không tính toán món đồ đó bao nhiêu tiền. Ngày ngày cứ nghĩ tôi tặng bạn món đồ đó đáng giá bao nhiêu tiền, thế thì bố thí đó rất ít, nghĩa là bạn chỉ xét đoán những món đồ đó mà thôi. Căn bản là bạn không nghĩ ngợi món đồ đó bao nhiêu tiền, bạn cứ cho đi, như thế gọi là bố thí mà không bám trụ vào tướng. Đồng thời, hôm nay bạn cho rồi, một lúc sau là bạn cũng quên luôn, đừng ghi nhớ là bạn đã tặng người ta cái gì, cho rồi là cho thôi. Nếu như bạn không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc phận và phúc đức của việc đó cũng sẽ là không thể đo lường được.

Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên giữ tâm theo như điều đã dạy. Đây gọi là không trụ tướng mà bố thí, muốn hiểu được điều này rất đơn giản, xem ra rất đơn giản, nhưng làm được thì rất khó, thật đó! Vì thế chúng ta, bất kể là bạn như thế nào cũng không được đánh giá người khác thông qua quần áo họ mặc bên ngoài. Bất kì người nào đến Seattle Lôi Tạng Tự, Biệt thự Cầu Vồng, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, thì đều phải có thái độ như thế. Không trụ tướng mà bố thí: không được thường xuyên nghĩ đến mình đã làm được bao nhiêu công đức, đi tính toán xem hôm nay mình đã làm được bao nhiêu công đức rồi, hoặc là kiểu như thế, đừng đi tính toán, thì công đức đó mới là không thể đo lường. Cũng đừng quá giả tạo, bởi vì giả tạo chính là bị trụ vào tâm mất rồi, và cũng đừng có nghĩ mãi đến điều đó.

Nhưng người tiếp nhận thì cần cảm ơn — người tiếp nhận cần cảm ơn, cần thường xuyên báo đáp người ta, báo đáp người ta khi xưa đã cho bạn những thứ này, thường xuyên cảm ơn họ. Vì thế, Sư Tôn thường hay nói một câu rằng: "Trong cuộc đời tiếp theo đây của tôi chỉ còn lại hai chữ, đó chính là cảm ơn." Đối với mỗi một người đều cần cảm ơn, người ta cho bạn một hào một xu, bạn cũng đều phải cảm ơn hết, phải hồi hướng. Đúng vậy! Tôi vẫn luôn nghĩ rằng trong cuộc đời này chỉ còn lại hai chữ "cảm ơn" mà thôi, chỉ còn lại cảm ơn. Tôi thường nghĩ, bố tôi, khi tôi còn nhỏ ông ấy đã không thừa nhận tôi, đến khi ông ấy ra đi, ông ấy vẫn không nhận tôi. Bởi vì khi tôi còn nhỏ, ông ấy cho rằng tôi không phải là đứa con do ông sinh ra, cho đến tận khi ông ấy ra đi, ông ấy vẫn cho rằng tôi không phải là con do ông sinh ra. Nhưng tôi có cần cảm ơn không? Cần! Vì sao? Vì sao ông ấy đối với tôi như vậy mà tôi vẫn cần cảm ơn ông ấy? Vẫn nên cảm ơn! Nếu không có bố tôi nuôi dưỡng tôi… Mẹ tôi không đi làm kiếm tiền, mặc dù bà ấy có giúp người ta may quần áo để kiếm chút tiền, rồi nuôi gà để kiếm chút tiền, nuôi lợn để kiếm chút tiền, mẹ tôi từng nuôi gà, nuôi lợn, cũng bán lợn, bán gà, cũng giúp người ta may quần áo, bà ấy cũng kiếm được chút tiền, nhưng vẫn là số tiền lương mà bố tôi kiếm được để nuôi những đứa trẻ chúng tôi. Mặc dù ông ấy đối xử với tôi không tốt, Sư Tôn cũng vẫn là ăn cơm của ông ấy mà lớn lên. Vẫn cần cảm ơn, ông ấy vẫn có công ơn đối với tôi, mặc dù ông ấy không thừa nhận tôi, nhưng tôi không thể không nhận ông ấy. Bạn vẫn cần cảm ơn, người xấu xa thế nào bạn cũng đều phải cảm ơn họ.

Trước kia tôi bị giáo viên đánh, bởi vì thành tích học hành của tôi không tốt lắm, lại còn bị lưu ban hai lần. Đó là niềm "vẻ vang" của tôi đó, trong số các bạn có ai bị lưu ban hai lần không? Làm sao mà dốt bằng tôi được chứ, mọi người cũng lưu ban hai lần à, thật không đó? Cấp hai, năm một thời cấp hai tôi lưu ban hai lần, sau đó bị chuyển đến trường cấp ba hạng ba ở thành phố Cao Hùng, tôi không thể tiếp tục học ở trường cấp ba hạng hai nữa. Anh lưu ban hai lần, vậy thì tống anh đến lớp học nghề, lớp huấn luyện nghề. Trong lớp học lưu ban đó, thành tích của tôi xem ra lại là tốt nhất, vì thế mới khích lệ tôi bắt đầu học hành. Tôi bị chuyển tới trường cấp ba hạng ba ở Cao Hùng (hiện tại là trường cấp ba Sư Giáp), còn trường hạng hai thì tôi không biết hiện tại có còn hay không, nó ở cạnh sông Ái Hà. Khi xưa là trường cấp ba hạng ba ở Cao Hùng, cấp hai tôi bị lưu ban hai lần, bị chuyển đến trường cấp ba hạng ba, hai lớp học đều là học sinh lưu ban, gọi là lớp huấn luyện nghề (lớp học nghề). Tôi bị chuyển đến nơi đó, nhưng vẫn phải cảm ơn, cảm ơn những giáo viên đó, tôi vẫn cần cảm ơn.

Lúc nhỏ tôi thường xuyên bị đánh, nhưng tôi cũng khá thông minh, con trai của hội trưởng hội cha mẹ học sinh đứng ở chỗ này, thầy giáo đánh từ bên kia qua, tôi nhanh chóng đứng cạnh con trai của hội trưởng hội cha mẹ học sinh, thầy đánh tới chỗ này, trông thấy con trai của hội trưởng hội cha mẹ học sinh, thầy giáo liền không dám đánh nữa. Thầy giáo không dám đánh con trai của hội trưởng hội cha mẹ học sinh, thầy nói: "Những em còn lại không cần đánh nữa, tay tôi mỏi rồi." Thế là tôi không bị đánh nữa. Sau đó, tôi cũng sẽ lót thêm bao bố bên trong quần kaki, khi thầy giáo đánh vào mông tôi: "Bộp! Bộp! Có chuyện gì thế nhỉ?" Thầy liền lôi ra được bao bố bên trong quần kaki của tôi ra. Tôi cảm ơn cách giáo dục đánh mắng của họ, cảm ơn họ, điều đó thúc giục bạn tinh tấn hơn, thật sự đã thúc giục tôi tinh tấn hơn. Từ một học sinh lưu ban đến khi tôi lên cấp ba, tôi đều đứng nhất lớp, còn giành được học bổng của công ty xi măng Gia Tân Cao Hùng nữa, lần nào tôi cũng được học bổng, hơn nữa còn được miễn học phí. Học sinh xếp thứ nhất được miễn học phí. Gia đình thanh bần được miễn học phí, còn giành được học bổng của công ty xi măng Gia Tân. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ công ty xi măng Gia Tân, không biết công ty đó có còn không. Tôi thật sự rất cảm ơn họ đã cho tôi học bổng, để tôi được đi học miễn phí.

Vì thế bây giờ các bạn đã biết là cần cảm ơn, cũng cần hiểu về bố thí, hơn nữa, khi bố thí thì phải vô tướng. Cho người khác cái gì thì cũng quên luôn việc đó đi, gia trì cũng quên luôn, làm việc gì cũng quên luôn. Mỗi người hãy nhớ điều này. Vì như thế mới được công đức lớn. 

Cả đoạn này "Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ" là nói về tam luân thể không, Jesus cũng từng nói rồi, trong Kinh Thánh có nói: "Việc mà tay phải làm, chớ để tay trái biết." Như vậy mọi người nghe có hiểu lời tôi nói không? Khi bố thí, bạn đừng chủ động nói rằng tôi đang bố thí đây, cứ tự nhiên mà phát tâm bố thí thôi, cái này gọi là hành vi khéo léo, là thật sự vô trụ, vô trụ tướng bố thí. Còn đối với những người nhận bố thí như chúng ta, chúng ta cần ghi nhớ, hơn nữa còn phải biết ơn, cũng cần học tập tinh thần tinh tấn đó, cũng đi thực hiện vô trụ bố thí. Đây là điều quan trọng nhất. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 05/09/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma mùa thu A Di Đà Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 13.)*

### 14. Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ (2)

*(Bài giảng 14)* Lại nói về bất trụ tướng bố thí

Bây giờ tôi giảng tiếp Kinh Kim Cang. Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ. Đoạn này nói về bố thí.  
Trước tiên tôi nói một điều này: đúng vào buổi tối hôm trước… Sư Tôn ngồi xuống, buổi tối tôi tu pháp siêu độ nghìn chiếc thuyền pháp. Tôi ngồi thiền, tôi thỉnh, ra lệnh, tôi niệm: "Xin mời các thân trung ấm hữu duyên, xin mời lên thuyền pháp.", "Triệu tỉnh các thân trung ấm hữu duyên, xin mời lên thuyền." Tôi cứ niệm như vậy. Sau khi niệm xong thì có một vị Bồ Tát đến, vị này gọi là Hiền Thủ Bồ Tát. Hiền là chữ Hiền trong Thánh hiền, Thủ là chữ thủ trong thủ lĩnh, Bồ Tát Hiền Thủ. Có Hiền Thủ Bồ Tát đến, nói với tôi: "Lư Sư Tôn, ngài siêu độ gì đấy?" Nghĩa là ngài siêu độ cái gì. Tôi nói với Hiền Thủ Bồ Tát: "Bây giờ tôi đang làm siêu độ, đang siêu độ cho tất cả những linh hồn hữu duyên đã chết do bị nhiễm virus corona." Hiền Thủ Bồ Tát lại hỏi: "Vậy khi ngài siêu độ chuyển dời và độ hóa cho các đệ tử Chân Phật Tông, lúc viên tịch, khi đệ tử Chân Phật Tông viên tịch, ngài cũng siêu độ sao?" Tôi nói: "Có, tôi có siêu độ. Chỉ cần viết thư gửi đến Tông Ủy Hội, tôi đều cùng siêu độ cho họ lên thuyền pháp, nghĩa là đệ tử Chân Phật Tông tôi cũng siêu độ."

Sau đó ngài ấy hỏi tôi: "Tổ tiên của ngài và cả bạn bè của ngài, ngài đều siêu độ sao?" Tôi nói: "Đúng, tôi cũng siêu độ." Điểm quan trọng là ở đây — cuối cùng, Hiền Thủ Bồ Tát hỏi tôi: "Đối với các linh hồn trung ấm đã qua đời, những linh hồn mà đến đây để mong ngài siêu độ, họ là những linh hồn trung ấm hoàn toàn không có quan hệ gì với ngài cả, cũng chẳng phải bạn bè thân thích của ngài, cũng không phải là tổ tiên của ngài, cũng không phải là đệ tử của ngài, cũng không phải là những người đã chết vì virus corona,… những trung ấm này ngài cũng siêu độ sao?" Tôi lập tức không trả lời được, đúng vậy không? Bởi vì họ và tôi không có duyên mà, những linh hồn mà ngay cả một chút quan hệ cũng không có thì tôi không siêu độ được.

Hiền Thủ Bồ Tát nói với tôi: "Thế thì việc siêu độ của ngài gọi là hữu tướng siêu độ rồi." Vậy ngài bảo tôi phải làm sao đây? "Sau này ngài phải thay đổi: trung ấm hữu duyên, trung ấm vô duyên, xin mời lên thuyền pháp." Bồ Tát nói: "Có như thế thì công đức của ngài mới là vô lượng, công đức vô đẳng đẳng. Kinh Kim Cang nói rồi: hư không có thể đo lường được không? Không thể. Nhưng chỉ cần ngài làm siêu độ không bám trụ vào tướng, thì công đức không thể ước đoán! Đạo lý tương tự, vì thế, ngài cần phải làm vô tướng siêu độ - trung ấm hữu duyên, trung ấm vô duyên, đều phải siêu độ. Bất kể là người mà ngài quen biết hay không quen biết, là đệ tử Chân Phật Tông hay không phải là đệ tử Chân Phật Tông, cho dù là bạn bè của ngài cũng tốt, không phải bạn bè của ngài cũng tốt, là tổ tiên của ngài cũng tốt, không phải tổ tiên của ngài cũng tốt, là người chết vì dịch bệnh cũng tốt, không phải là người chết vì dịch bệnh cũng tốt, toàn bộ đều siêu độ hết. Đây mới gọi là vô tướng siêu độ.” Hiền Thủ Bồ Tát nói với tôi như vậy.

Tôi nói, xin cảm ơn, bởi vì Hiền Thủ Bồ Tát đã nói một câu: "Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Tất cả những gì có linh hồn đều cần siêu độ. Như thế mới gọi là làm công đức vô đẳng đẳng… nhưng lại không nghĩ về công đức, đừng nghĩ về những việc này thì có công đức. Hơn nữa còn vô đẳng đẳng, không nghĩ về nó, đó mới gọi là vô tướng siêu độ." Hiền Thủ Bồ Tát nói với tôi như vậy. Tôi đem kể chuyện này, vì đoạn kinh hôm nay chính là cái này.

Phần thứ 4: Diệu hạnh vô trụ.  
*"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Trong pháp, Bồ Tát nên vô sở trụ mà làm việc bố thí, gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên bố thí như vậy, đừng trụ vào tướng. Vì sao như vậy? Nếu Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc đức ấy bất khả tư lượng."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Hư không phương đông có thể đoán chừng được không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn!"  
"Tu Bồ Đề! Hư không phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên phương dưới có thể đoán chừng được không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn!"  
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà không bám trụ vào tướng thì phúc đức cũng bất khả tư lượng như vậy. Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm theo như điều đã dạy."*

Như vậy mọi người có hiểu không? Tôi kể, trước kia có một viên ngoại già, vào lúc mất mùa, ông ấy đã bố thí cháo, tiếng Quảng Đông gọi là cháo, bố thí cháo. Ông ấy cứ nấu, cứ thế nấu ra cho người hầu phục vụ. Vào lúc mất mùa, mọi người không có gì để ăn, rất nhiều người đói bụng, vừa nghe nói viên ngoại này bố thí cháo, kết quả là người hầu, có rất nhiều người hầu đang bố thí, rất nhiều người đến. Người hầu chạy lại nói: "Viên ngoại, viên ngoại! Chúng tôi nhận thấy người có tiền cũng đến ăn cháo đó!" Viên ngoại già ở đó nói: "Không sao, vẫn cứ bố thí, có tiền hay không có tiền thì đều bố thí."

Hàng xóm của ông ta cũng đến, "Cái người hàng xóm gia đình cũng đâu có tệ, thế mà họ cũng đến!" "Không sao!" Lão viên ngoại nói: "Đều được hết." Người hầu lại chạy đến nói: "Còn có một vài người sau khi lấy một bát rồi, ăn xong lại đến lấy nữa đó! Lại đến gói, lại đến lấy, cầm theo cả cái thùng để đựng nữa!" Viên ngoại già cũng nói: "Không sao cả, để họ lấy, không có vấn đề gì." "Không được đâu! Họ không phải chỉ có một người đến, cả nhà lớn lớn nhỏ nhỏ, lại còn ôm cả cháu chắt đến hết nữa!" "Không sao cả." Viên ngoại già vẫn nói là không hề gì. "Rồi còn nữa, thế còn cái gì mà… họ đã đến nhiều lần rồi, ngày nào cũng đến ăn, họ đã xem chỗ của ông như quán cơm rồi!" "Không sao cả." Viên ngoại già cũng vẫn nói: "Không có vấn đề gì."

"Liệu có cần phải giới hạn thời gian không, vào lúc nào có thể đến, lúc nào không thể đến không?" "Không sao cả." Viên ngoại già cũng vẫn nói như thế: "Cái gì cũng không sao hết. Người nào đến lấy mang về cũng không sao, đem thùng đến đựng cũng không sao, thậm chí lấy cả một thùng đi cũng không sao, chúng ta lại nấu tiếp thôi." Câu chuyện về viên ngoại già này chính là vô tướng bố thí đó! Tất cả đều bố thí hết.

Còn phải bất trụ tướng bố thí: những người ác, những kẻ ác nhất trong làng, giết người vô số, có người thì cướp bóc, có người thì rất xấu xa, có người trộm cướp, cũng có người lừa đảo, nói dối, có kẻ phạm tội giết người, đều đến để lấy cháo. Người hầu lại chạy đến nói: "Không được đâu, tên sát nhân cũng đến, tên lừa đảo cũng đến, tên trộm cướp cũng đến, kẻ hiếp dâm cũng đến, đều đến để ăn cháo của ông đó!" Viên ngoại già nói: "Không sao cả, được hết. Tất cả bất kể là thiện hay ác, đều bố thí cho họ hết."

Tôi nói với mọi người rất đơn giản, đây là vô tướng bố thí. Chúng ta đừng nói về công đức, không bám trụ vào tướng công đức. Nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni có nói thế này, *"công đức này mới là bất khả tư nghì".* Viên ngoại kia đời đời kiếp kiếp đều là người giàu có, ông ấy không cầu lên trời, cũng không mong xưng thần, nhưng mỗi một kiếp sống của ông, trong vô lượng kiếp đều là người giàu có, hơn nữa thân thể lại không có bệnh tật. Tôi nghĩ sau đợt dịch bệnh này, khi mọi người lại sống bình thường, tôi cũng hy vọng Seattle Lôi Tạng Tự, cho dù hàng xóm đến ăn cũng tốt, hãy để cho họ ăn. Bất kể là người ta ở lại bao lâu cũng không hạn chế, bất kì ai đến ăn đều được. Cả nhà đến ăn cũng được, gói đem về cũng được, thậm chí bạn gói đem về cho hàng xóm ăn cũng được, đều được cả, cái gì cũng được hết, tôi sẽ nấu.

Thật sự là ăn đến mức mỏ vàng cũng cạn. Pháp sư Liên Từ ơi… Seattle Lôi Tạng Tự hết tiền rồi à, phải làm sao đây? Tất cả đều bị ăn hết rồi à? Đệ tử trên khắp thế giới đến ăn, rồi ở lại không đi, ngày ngày đến ăn cơm! Không chỉ ăn cơm, ngay cả bữa phụ, bữa trưa, bữa tối, bữa sáng đều gói về hết! Hơn nữa không chỉ như vậy, người ta còn đưa cả nhà đến! Không chỉ cả nhà đến, hàng xóm xung quanh cũng đều gói đem về!" Tôi bảo bạn nhé: "Sẽ không vô ích đâu, công đức vô lượng đó!"

"Tuyệt đối đừng sắp cơm hộp cho những người này!" "Không được, anh đã ở đây tương đối lâu rồi đó!", lại còn gói ghém cơm mang đi, coi chừng pháp sư sẽ chửi đó, Thượng sư sẽ chửi đó. Cơm hộp đã cầm đến tay rồi còn bị thu lại, đó thật là sự việc xấu hổ quá. Người ta lấy đi rồi thì cứ lấy đi thôi, đừng chỉ vì một hộp cơm, đúng thế không? Vì thế, phải thật sự bố thí vô lượng đó! Phật Thích Ca Mâu Ni nói vô tướng bố thí, tất cả Bồ Tát khi làm lục độ đều là vô tướng, đây là điều do chính Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói, là điểm quan trọng trong Kinh Kim Cang.

Thế nào là vô tướng? Sư Tôn phải làm vô tướng siêu độ, tất cả chúng sinh, tất cả người xuất gia, tì kheo, tì kheo ni, tổ nấu ăn, thậm chí tất cả nhân viên làm việc, sau này khi dịch bệnh qua đi rồi, bởi vì khi có dịch bệnh thì chúng ta có hạn chế người đến, vì sao phải hạn chế người? Bởi vì sợ tụ tập đông thì sẽ bị lây nhiễm, thế nên buộc phải như vậy, nên phải giới hạn số người, bao nhiêu người thì được vào, bao nhiêu người thì không được vào, đặt ra sự phân biệt số người, đặt ra sự phân biệt về thời gian, đặt ra sự phân biệt về thời gian ngắn dài. Hình như ở chỗ nào đó chúng ta có dán một mảnh vải, dán một tờ giấy trắng, phải không? Hình như là ở lâu trên ba tháng thì không được ăn cơm hộp nữa, người ở trên ba tháng thì không được ăn cơm hộp đúng không?

Không vấn đề gì, không vấn đề gì hết! Hãy để cho họ ăn đi! Hàng xóm sống trong khu vực nếu như đến lấy cơm hộp thì cũng cho họ lấy, bất kể là vì dịch bệnh mà họ lấy về ăn, hoặc là ở trong lều ăn, ăn ở bên ngoài, đều được cả. Ở trong nhà chúng ta hạn chế số người bởi vì liên quan đến dịch bệnh, sau này Seattle Lôi Tạng Tự, hoặc Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đều hãy vô tướng bố thí. Đừng sợ người ta đến ăn! Bởi vì người ta ăn xong thì bạn sẽ có phúc phần đó, người nấu ăn có phúc phần, trụ trì có phúc phần, hễ là người xuất tiền hỗ trợ Lôi Tạng Tự thì đều có phúc phần. Đều là vô tướng. Điều này rất quan trọng. Như vậy thì không phải chặn chúng sinh, mà thật sự là đang giúp đỡ tất cả chúng sinh. Bởi vậy, chúng ta trợ giúp tất cả chúng sinh đều là vô tướng.

Diệu hạnh vô trụ ở đây là không trụ vào cái gì hết. Không vì cái gì cả, cứ thế bố thí thôi. Bởi vậy nói, nên vô sở trụ mà làm việc bố thí, gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Thật ra trong việc bố thí này… không bám vào sắc tướng mà bố thí, rất đơn giản mà! Người trẻ tuổi đến, tôi bố thí; người già đến, tôi bố thí, đây gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí. Người bệnh thân thể ốm yếu đến tôi bố thí; người khỏe mạnh đến tôi bố thí, đây gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí. Cũng thế, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, hoàn toàn đều bố thí như vậy, thì công đức này là không thể đo lường được, Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 11/09/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 14.)*

### 15. Phần thứ 5: Thấy lẽ thật đúng lí

*(Bài giảng 15)* Phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng

Chúng ta giảng Phần thứ 5: Thấy lẽ thật đúng lí

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào thân tướng mà thấy được Như Lai. Là vì sao? Thân tướng mà Như Lai nói đến cũng tức không phải thân tướng."  
Phật nói với Tu Bồ Đề:  
"Phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng. Nếu thấy mọi tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai."*

Nếu thấy mọi tướng không phải tướng thì mới có thể thấy được Như Lai, vì thế điều mà ở đây nói đến chính là vô tướng. Vô tướng, ở đây có ý nghĩa rất sâu. *"Có thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai không?"* Hỏi Tu Bồ Đề, Tu Bồ Đề trả lời: *"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào thân tướng mà thấy được Như Lai."* Vì sao vậy? Thân tướng mà Như Lai nói đến tức không phải là thân tướng.

Tôi nhớ trước kia trong kinh sách có ghi chép lại, Công Xảo Thiên (cũng chính là Tài Nghệ Thiên) muốn làm tượng của Như Lai. Tôi từng kể với mọi người rồi, ông ấy muốn làm tượng đẳng thân của Phật Thích Ca Mâu Ni 8 tuổi và tượng đẳng thân của ngài lúc 12 tuổi. Bức tượng đẳng thân 8 tuổi của Như Lai ở Nepal được nghênh đón qua Tây Tạng, bức tượng đẳng thân 12 tuổi ở Đại Đường cũng được nghênh đón qua Tây Tạng, được thỉnh đến Tây Tạng để thờ cúng. Một bức ở chùa Jokhang, một bức ở chùa Ramoche. Công Xảo Thiên muốn đo thân tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi xuống để cho ông ta đo, nhưng từ đầu tới cuối ông ta không thể đo được thân tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni, bởi vì thân thể của Phật có vô kiến đỉnh tướng <span className="note-blue">[vô kiến đỉnh tướng là một trong ba tướng đặc biệt của Phật, tướng cao quý nhất, nằm ở đỉnh đầu Phật phóng hào quang màu vàng]</span>, đó là một trong 32 tướng tốt của Phật, là vô kiến đỉnh tướng. Ông ta không có cách nào nhìn thấy được đỉnh đầu của Phật, không thể đo được đỉnh đầu của Phật, thân tướng của Như Lai không thể thấy được, không có cách nào để đo. Vì sao lại như vậy? Bởi vì tất cả mọi tướng đều là phi tướng.

Trên thực tế cũng như vậy. Bạn ở tại thế giới Ta Bà, bạn nhìn thấy hình tướng của tôi Lư Thắng Ngạn, rất nhiều người chụp ảnh thân tướng của Lư Thắng Ngạn, chụp thân tướng của tôi: "Lư Sư Tôn bây giờ là tướng gì, chúng tôi chụp tướng đó." Tôi bây giờ không muốn bạn chụp ảnh tôi, vì sao vậy? Tôi đã 77 tuổi rồi, bây giờ đã già rồi, bạn muốn chụp ảnh tôi, bạn hãy chụp bức ảnh khi tôi còn trẻ ấy, bức ảnh đó là tôi thích nhất, vì thế, tôi luôn mang theo bên mình. Đúng rồi, bức ảnh *young man* đó. (Sư Tôn lấy tấm ảnh từ trong túi đem theo mình ra.) Người ta so sánh bức ảnh này của tôi với một ngôi sao Hàn Quốc, họ nói: "Ôi chao! Tấm ảnh này của Sư Tôn rất giống một ngôi sao điện ảnh Hàn Quốc đó." Có thể chiếu được bức ảnh này không? Đến gần một chút có thể chiếu được không? Mọi người xem bức ảnh này, vừa đẹp trai vừa phong độ. Bức ảnh này của tôi mà đưa cho các nữ sinh xem, nữ sinh sẽ ra sức mà hôn, ra sức hôn tấm ảnh này của tôi. Họ không hôn bản thân tôi, thế vì sao lại hôn bức ảnh này? Đây cũng là Lư Thắng Ngạn mà. Lư Thắng Ngạn, người nào mới là Lư Thắng Ngạn đây? Lư Thắng Ngạn lúc sơ sinh, Lư Thắng Ngạn lúc nhi đồng, Lư Thắng Ngạn thời niên thiếu, Lư Thắng Ngạn lúc trung niên, Lư Thắng Ngạn lúc đứng tuổi, Lư Thắng Ngạn già nua hiện tại, đều chẳng giống nhau! Đây chính là phi tướng, có thứ nào thật sự có thể bảo lưu một loại tướng tồn tại mãi chứ?

Đoạn sau có nói đến, trong kinh Kim Cang có nói đến, bất kì một tướng nào cũng đều là một hợp tướng. Thế nào gọi là một hợp tướng? Là một sự cấu thành, là tổ hợp. Thế nào là tổ hợp? Là đất nước lửa gió tổ hợp lại, nhà cửa cũng là một sự tổ hợp, cái xe cũng là một sự tổ hợp, bất kì một cái nào, bạn xem những thứ này đều là sự tổ hợp, bất kì thứ gì cũng đều là sự tổ hợp. Bạn có thể thật sự nhận ra cái tướng ban đầu nào mới là Lư Thắng Ngạn không? Bạn nói xem, tướng nào? Tương lai tôi sẽ tạ thế, nếu như tôi có thể sống đến 80 tuổi, sống đến 90 tuổi, sống đến 100 tuổi, sống đến 110 tuổi, sống đến 120 tuổi… còn có người bảo tôi sống đến 150 tuổi, họ nói: "Sư Tôn, thầy phải đưa con đi, con muốn cùng thầy đi đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, nhưng bây giờ con vẫn còn rất trẻ, nếu như thầy không sống đến 150 tuổi thì làm sao con đi cùng thầy được?" Tôi sống đến 150 tuổi ư? Đừng nằm mơ nữa, đó chỉ là chuyện trong mơ thôi. Sống đến 120 tuổi ư, đừng có nằm mơ, đừng có mơ nữa. Sống đến 100 tuổi, ngay cả mơ tôi cũng không dám mơ. Sống đến 90 tuổi, thế thì rất may mắn rồi, may mắn lắm mới có thể sống đến 90 tuổi. Bây giờ tôi gặp những người 90 tuổi, tôi liền cảm thấy, ôi bà tôi ơi! Dọa tôi chết mất! Sao mà xấu xí thế, khó coi thế! 90 tuổi thì trông rất xấu rồi. Sống đến 80 tuổi thì còn có thể miễn cưỡng được một chút.

Muốn đi cùng với tôi, không phải tôi nói là thân thể xương thịt này đi cùng nhau, không phải, bạn muốn đi cùng Sư Tôn, được thôi, tôi đều đồng ý với bạn, cùng Sư Tôn vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, nhưng tôi đi trước, bạn đi sau. Tôi đi trước, bạn đi sau, đều có thể cùng đi, cũng là cùng đi mà, sau này đều ở cùng nhau, đều ở Ma Ha Song Liên Trì mà, cái đó mới gọi là sống mãi. Phải tu hành, đúng vậy không? Đến khi bạn thấy được pháp nhĩ bản nhiên rồi, bỏ được ngã chấp, pháp chấp, loại bỏ hết phiền não, loại bỏ hết tập khí, loại bỏ hết mọi loại nghiệp chướng, thì bạn có thể vãng sinh. Phải tu hành đó, trước tiên phải loại bỏ được điều này thì pháp nhĩ bản nhiên sẽ ở ngay đó, đó mới là cùng đi, chứ không phải là biến mất cùng thân thể xương thịt này, mọi người cùng đi. Cùng đi là được rồi, Chân Phật Tông không còn nữa, mọi người đều cùng đi thì Chân Phật Tông làm gì còn nữa? Chẳng còn nữa đâu. 

Vì thế, điều nói đến ở đây là, chúng ta đều là phi tướng, ta ở đây chỉ là một biểu hiện bên ngoài, là sự tổ hợp của đất nước lửa gió. Thân thể của chúng ta là đất nước lửa gió, đất chính là thịt và xương cốt, nước là máu và dịch, lửa là nhiệt độ, gió là hô hấp. Những thứ ở bên trong cơ thể thì là gì? Những thứ đó chính là đất, chính là đất đó, lục phủ ngũ tạng chính là đất, ta chỉ là một sự tổ hợp của đất nước lửa gió. Bạn nhìn thấy bản thân mình chính là sự tổ hợp của đất nước lửa gió, mà vì bạn đã biết thân thể của bạn là tổ hợp đất nước lửa gió rồi, bạn mới có thể nhìn thấy được chân tướng. Hiểu được phi tướng rồi thì bạn sẽ *"nếu thấy mọi tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai".* Nếu bạn giải tán hết đất, nước, lửa, gió, thì cái còn lại chính là Phật tính, là Như Lai. Nói như thế mọi người hiểu chứ? Đoạn này là thế.

Đương nhiên, không thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai, bởi vì Như Lai cũng có tướng lúc 8 tuổi, cũng có tướng lúc 12 tuổi, cũng có tướng lúc mới chỉ vài tuổi. Phật sống đến 80 tuổi. Không thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai. Bạn cho rằng Lư Sư Tôn chính là như thế này sao, thế thì tôi trước kia phong độ anh tuấn, đó cũng là tôi mà, đúng không? Bạn xem, tôi đã lấy tấm ảnh ra, đây chính là bằng chứng rồi, khi xưa tóc hất như thế này, để lệch, rất nhiều nữ sinh đều sẽ rú lên rồi ngất xỉu đó. Khi xưa tôi có nhiều bạn gái, thật đó.

Bởi vậy, điều mà Như Lai nói, *"thân tướng, tức không phải thân tướng"*, chỉ là sự tổ hợp tạm thời của đất nước lửa gió. Phật bảo Tu Bồ Đề: *"Phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng."* Bạn đừng cho rằng những thứ trên trái đất là thật, tôi nói cho bạn biết, cho rằng trái đất là thật, là thực tướng, *NO*, trái đất cũng sẽ có ngày vỡ ra. Nói một cách rất đơn giản, trái đất cũng là một tổ hợp, cũng là một tổ hợp của đất nước lửa gió. Có một ngày, những tai nạn đất nước lửa gió xảy đến, nước nhấn chìm cả địa cầu, trái đất vỡ ra, khi ấy còn tướng không? Cũng là một tổ hợp thôi, vì thế Phật nói, phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng, đều là giả hết. Đây là thấy lẽ thật đúng lí, dùng đạo lí để nói, thật sự nhìn thấy được phi tướng. 

Cuộc đời chúng ta cũng giống như điều nói ở đây:  
Đời người giống như một đống phân.  
Cơ hội giống như cục phân, nước dội đi thì cũng không lấy lại được. Nước bồn cầu mà dội đi thì không lấy lại được nữa.  
Tình yêu cũng giống như cục phân, khi đã "đến" rồi thì ngăn cũng không ngăn được nữa. Làm sao có thể nhịn được? Tôi cảm thấy người tuổi cao sẽ có trải nghiệm này, tuổi tác cao rồi, khi buồn đi vệ sinh thì không nhịn được, bởi vì sao, cứ đúng bảy giờ là đi vệ sinh, nhưng chín giờ thì mới ngủ dậy. Người già là như vậy.  
Cuộc đời giống như một đống phân, mỗi ngày đều như thế, cũng lại không phải như thế. Bạn có nhìn phân của bạn không? Có nhìn phân của bạn mỗi ngày không? Đó là thứ nghệ thuật nhất do chính bạn chế tạo ra mà. Nghệ thuật đó, bức họa ấy, mỗi ngày bạn đều vẽ lên trên bồn cầu, hơn nữa hình dạng đi ra đều khác nhau, màu sắc cũng khác, mỗi ngày đều phải thế, nhưng mỗi ngày đều không giống nhau.  
Đi làm cũng giống như đại tiện, đôi khi rất nỗ lực rất lâu, nhưng chỉ đánh được một cái rắm.  
Đáng tiếc nhất là, kem mà chúng ta thích ăn nhất cũng giống như cục phân. Vì sao vậy? Lúc kem tuôn ra thì cũng quấn mấy vòng, cuối cùng nhấn một cái mới thật sự thành cây kem. Đời người chính là như thế, đời người chính là một đống phân.  
Om mani padme hum.

*(Ngày 12/09/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Lục Độ Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 15.)*

### 16. Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín (1)

*(Bài giảng16)* Chính tín nghĩa là thấy tướng là phi tướng  
Bây giờ giảng đến Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín. Tiêu đề này rất hay… Nếu bạn có chính tín thì là vô cùng hiếm có đó. Ý nghĩa của tiêu đề "Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín" này cũng chính là nói rằng bạn có thể có chính tín thì đã là vô cùng hi hữu.

Bây giờ tôi có một câu hỏi rất đơn giản hỏi mọi người. Ở đây chúng ta không chuẩn bị quà. Chỉ có cái phất trần. Thế nên không có món quà nào có thể tặng mọi người. Được rồi, mọi người đều biết chính tín, mọi người đều nói chính tín Phật giáo mà. Bây giờ hỏi mọi người: Thế nào là chính tín? Trong kinh Kim Cang nói rằng người có chính tín là vô cùng hi hữu. Các tín đồ Phật giáo hiện nay thường thích nói thế này: "Tôi có lòng tin vào Phật giáo. Lư Sư Tôn ấy à, ông ta vừa là Cơ đốc giáo, Jesus cũng là guru của ông ta, ông ta cũng là Đạo giáo, Diêu Trì Kim Mẫu là Bổn tôn của ông ta, A Di Đà Phật cũng là Bổn tôn của ông ta. Rốt cục ông ta tin A Di Đà Phật hay là tin Diêu Trì Kim Mẫu? Hay là tin Guru Jesus của ông ta? Lư Thắng Ngạn kia chẳng phải là chính tín Phật giáo!"

Bây giờ tôi hỏi bạn, rất nhiều người đều nói là chính tín Phật giáo. Hai chữ chính tín này, bạn nói cho tôi biết, thế nào là chính tín? (Mọi người có mặt tại chỗ hăng hái trả lời.) Thiện tri thức, chính đẳng chính giác ư? Nói to tát quá rồi! Tam pháp ấn? Đó là chân đế. Là tín ngưỡng khiến bản thân đạt được thân khẩu ý thanh tịnh? Trung đạo, bát chính đạo? Ấy, trong bát chính đạo có chính tín, đều là chính. Ôi, nói ra được một cái chính… chính tín nghĩa là gì? Ý nghĩa chân chính của chính tín nằm ở đâu? Chính tín, thế nào là chính tín? Trong kinh Kim Cang có nói đến chính tín đó!

Không có sai lệch? Không có sai lệch đương nhiên là chính rồi, không sai, không có sự sai lệch… thế nhưng chỗ nào là không có sai lệch? Trung quán? Chỉ dựa vào giáo pháp của Phật Đà làm chính tín? Phạm vi của câu nói này quá lớn rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng nhiều như vậy mà. Tôi đang nói về ý nghĩa chủ yếu nhất của hai chữ chính tín, trong kinh Kim Cang, ý nghĩa chủ yếu nhất là cái gì? Lấy giới làm thầy? Lấy giới làm thầy là di huấn cuối cùng của Phật Thích Ca Mâu Ni, là di huấn cuối cùng của Phật. Nếu như tôi hỏi di huấn cuối cùng của Phật Thích Ca Mâu Ni là gì và bạn trả lời là lấy giới làm thầy thì như thế là đúng, còn tôi đang nói về chính tín.

Lấy bát nhã làm tôn chỉ, lấy trí huệ làm tôn chỉ? Thật ra những điều mọi người nói đều không sai, đều xoay quanh đó. Sư Tôn sẽ nói với mọi người chính tín chân chính là cái gì. Tôi thu lại chuỗi hạt này, không bán nữa. Phá bỏ tất cả phiền não? Nhưng vẫn còn bám chấp. Khổ - Tập - Diệt - Đạo? Đó là Tứ thánh đế. Người hợp với đạo, ý nói rằng, hợp với đạo lí đúng đắn… đạo thì quá lớn rồi, hợp nhất với đạo, ý của anh là hợp nhất với đạo à? Xin hỏi ngài đại sứ? (Sư Tôn ngoảnh đầu hỏi đại sứ Liêu Đông Châu, đại sứ đáp: thấy tất cả là không, như mộng huyễn.) Ô… rất gần rồi. Sư Tôn nói cho bạn nghe cái gì gọi là chính tín. Chính tín trong kinh Kim Cang, ở phần trên đã nói rồi, thấy tướng không phải tướng, tức là thấy Như Lai! Tất cả mọi tướng mà bạn nhìn thấy, đó đều không phải là thật, bởi vì đều không phải là thật thì bạn sẽ thấy được Như Lai.

Thế nào là chính tín Phật giáo? Cái gọi là chính tín, phần chính tín hi hữu ở đây, bởi vì rất khó hiểu được thế nào gọi là chính tín, vì thế, hôm nay tôi mới giảng cho mọi người. Điều người ta nói: "Vừa tin Guru này, Jesus vừa là Guru của ông ấy, Diêu Trì Kim Mẫu cũng là Bổn tôn của ông ấy, A Di Đà Phật cũng là Bổn tôn của ông ấy, thế thì người này chẳng phải là chính tín Phật giáo." Họ không hiểu về chính tín. Hai chữ “chính tín” chính là thấy tướng không phải tướng, mọi tướng mà bạn nhìn thấy toàn bộ đều là hư vọng… hư trong từ hư giả, huyễn, đều là hư huyễn, nghĩa là phi tướng. Thấy tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai, bạn sẽ nhìn thấy được Như Lai, thấy được đạo chân chính.

Vì thế, thấy tướng không phải tướng, phi tướng chính là chính tín. Đạo lí này… người có thể hiểu được đạo lí này là vô cùng hiếm có, vô cùng ít. Phần này nói rằng, có thể hiểu được đạo lí này, người có thể hiểu được chính tín là vô cùng ít. Vì thế, con người thế gian bình thường đều là chấp tướng. Vì sao con người thế gian không có chính tín? Bởi vì họ đều chấp tướng. Bạn xem, người trẻ tuổi ngày nay, những người đàn ông chưa kết hôn, những chàng trai trẻ tuổi, mỗi người họ đều muốn cưới vợ xinh đẹp, có ai chịu lấy vợ xấu? Người xấu thì không gả được cho ai. Người mà xấu thì chẳng thể gả đi được. Đàn ông đều muốn lấy vợ xinh. Có người trẻ tuổi nào không muốn lấy người xinh đẹp? Họ đều chấp vào tướng.

Bất kể là người xinh hay xấu, hoàn toàn đều không phải là tướng, đều là đất nước lửa gió tổ hợp thành. Bao gồm cả toàn bộ trái đất này, bất kì một thứ gì cũng đều là đất nước lửa gió hợp thành. Xe hơi cũng vậy, nhà cửa cũng vậy, cái gì cũng đều là một hợp tướng. Bạn nhìn thấy những tướng này, hiểu rằng chúng là do đất nước lửa gió hợp thành, khi phân tán ra thì chẳng còn gì hết, thì sẽ không chấp tướng nữa. Bạn không chấp tướng thì gọi là chính tín. Người chấp tướng chính là người thế tục. Đơn giản như vậy thôi. Thấy tướng không phải tướng, bởi vậy điều mà ngài đại sứ nói là gần đúng nhất, chính là điều mà phần trước nói đến, thấy tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai, cái này chính là chính tính. Vô cùng hi hữu, bạn muốn hiểu được điều này là vô cùng hiếm có đó!

Trên thế gian này, có người nào không chấp tướng? Cái họ chấp vào là tướng của tiền. Họ tin vào cái gì? Tin vào tiền! Không phải tiền của sư tỉ Tiền… cũng là tiền của sư tỉ Tiền. Đúng vậy không? Họ chấp vào tiền, tài, tiền tài, mọi người đều chấp vào những cái này. Tiếp đó là chấp vào sắc, những thứ đẹp đẽ: chấp vào nhãn hiệu, mặc toàn đồ hàng hiệu, ngay cả khẩu trang cũng phải hàng hiệu, ngay cả gậy ba-toong cũng phải hàng hiệu, ngay cả xe lăn cũng phải hàng hiệu, đều là đồ hàng hiệu, đó chính là chấp tướng, chấp sắc. Còn có chấp địa vị, chấp địa vị gì? Bạn xem, là tranh giành. Nước Mĩ và Trung Quốc tranh chấp cái gì? Minh chủ võ lâm. Minh chủ võ lâm trong tiểu thuyết Kim Dung, thật đó. Trên trái đất này ai to nhất? "Lão phu là to nhất" - đây là cái danh đó!

Bạn xem, giữa nước này và nước kia cũng là cái danh, đất nước nhỏ chẳng có tiếng tăm gì, người ta đều coi thường. Người ta nhìn vào nước lớn, coi thường nước nhỏ. Trung Quốc nổi dậy rồi, bắt đầu rồi, khẩn trương, ai là minh chủ võ lâm, ai là lão đại? Họ tranh giành cái danh! Bạn xem, bây giờ có trưởng lão nổi dậy rồi, Chân Phật Tông chúng ta vừa lâu vừa già… Trưởng lão nổi dậy rồi, nhưng vì sao tôi không phải là trưởng lão, mọi người mới là trưởng lão? Mọi người là cái thứ gì chứ! Tranh giành cái danh trưởng lão này, đúng vậy không?

Thượng sư cũng đang tranh cái danh. Pháp sư tranh với Thượng sư, Thượng sư tranh với trưởng lão, trưởng lão tranh với người tiếp nối, mọi người đều đang tranh với nhau, đúng thế không? Đây là một chữ danh đó! Thấy tướng chẳng phải tướng, tức là thấy Như Lai. Toàn bộ đều là giả, là không, đều là hư huyễn, không có cái nào là chân thực! Bạn tu đến khi Phật tính của mình hiển hiện thì sẽ thấy Như Lai. Tất cả các tướng mà bạn nhìn thấy, bạn đều không bám chấp, khi ấy gọi là thấy tướng chẳng phải tướng, tức là thấy Như Lai. Vì thế, hôm nay tôi cùng mọi người nói về chính tín hi hữu. Hiểu được thấy tướng chẳng phải tướng là vô cùng hiếm có. 

Hôm nay tôi chỉ giảng tiêu đề này thôi, thế là đã rất đủ rồi, đối với mọi người là đủ rồi, khi trở về hãy tận hưởng đi, hai chữ chính tín này là cái gì. Trở về hãy ngẫm nghĩ kĩ. Không giống như tín đồ Phật giáo bình thường, nói "Tôi chính tín Phật giáo." Anh chính tín cái gì chứ? Chấp tướng! Ngay việc anh có cách nghĩ chính tín cũng là chấp tướng rồi, thật ngốc. Bởi vậy, chính tín… họ nói bản thân họ chính tín Phật giáo, họ chấp vào chính tín Phật giáo, đồ ngốc. Thật sự là… Om mani padme hum.

*(Ngày 18/09/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 16.)*

### 17. Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín (2)

*(Bài giảng 17)* Đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp

*Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn, liệu có chúng sinh nào nghe được những lời dạy này mà sinh lòng tin thật sự không?"  
Phật bảo Tu Bồ Đề: "Đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người giữ giới tu phúc, với những lời dạy này có thể sinh tín tâm, coi những lời này là chân thật, nên biết là người ấy không chỉ gieo thiện căn ở một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật, mà là đã gieo thiện căn ở vô lượng nghìn vạn vị Phật. Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh thì Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy rằng những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Vì sao vậy? Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng."  
"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."  
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói: tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp."*

Đoạn này vô cùng thâm sâu ảo diệu, bạn đừng coi thường đoạn này, đoạn này vô cùng sâu. Rất nhiều người đều biết tụng kinh Kim Cang, nhưng hàm nghĩa trong đoạn này là cực sâu, bạn phải hiểu được ý nghĩa chân chính của đoạn này nằm ở đâu. Bạn hiểu được đoạn này thì quá tuyệt vời rồi. Tôi sẽ cùng mọi người nói kĩ về đoạn này. Bám vào "hữu tướng" đương nhiên không đúng rồi, nhưng bám vào "vô tướng" thì cũng không đúng. Sao lại như vậy? Câu trả lời chính là ở trong đoạn này. 

Tu Bồ Đề hỏi Phật, là hỏi như thế nào? *"Thưa Thế Tôn, liệu có chúng sinh nào nghe được những lời dạy này mà sinh lòng tin thật sự không?"* Lòng tin thật sự chính là chính tín. "Liệu có sinh chính tín không?" Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề rằng đừng nói như vậy. Chớ nói như vậy, đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, nghĩa là sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch. 500 năm sau, 500 năm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ. Có người giữ giới tu phúc, với những lời dạy này có thể sinh tín tâm, coi những lời này là chân thật, nghĩa là người có thể sinh lòng tin đối với những gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Coi những lời này là chân thật: cái này chính là chính tín. Nên biết là người ấy, cần biết con người này. Không chỉ gieo thiện căn ở một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật,… Chúng ta gặp được Phật thì cũng đồng nghĩa với đã trồng được thiện căn rồi, nghĩa là có thiện căn thì mới gặp được Phật. Nghĩa là bạn do có chính kiến đối với thực tướng phi tướng thì cũng tương đương trồng thiện căn ở vô lượng nghìn vạn vị Phật, nghĩa là thiện căn của bạn vô cùng thâm hậu, bạn sẽ gặp được nghìn vạn vị Phật.

Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh. Niềm tin thanh tịnh, tín ngưỡng hoàn toàn thanh tịnh. Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy, nghĩa là Phật đều biết đến bạn, sẽ nhìn thấy bạn, cũng biết đến bạn. Bạn hiểu được thực tướng phi tướng thì Phật đều sẽ thấy được bạn và biết đến bạn. Những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Công đức của những chúng sinh này là vô lượng, phúc phần và phúc đức đều là vô lượng. Vì sao có thể như vậy? Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng. Bởi vì những chúng sinh này không còn ngã tướng, đã vô ngã rồi. Cũng không còn nhân tướng, cái tướng con người này. Chúng sinh tướng là chúng sinh ở thế giới Ta Bà. Thọ giả tướng nghĩa là có người sống lâu, có người sống ngắn. Vô pháp tướng là không còn tướng của pháp. Cũng không còn phi pháp tướng, đây chính là chỗ sâu nhất.

*"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả.”* Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Chỗ sâu sắc nhất là ở đây. Cái chữ "bám" này vô cùng quan trọng, bạn bám vào pháp tướng, cái gì là pháp. Pháp được nói đến ở đây là sơn hà đại địa, bạn cho rằng có sơn hà đại địa thì đó chính là bám vào pháp tướng. Bạn cho rằng không có sơn hà đại địa thì chính là bám vào phi pháp tướng. Nhìn chung mà nói, đến đây thì đều là chấp ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, đều là chấp tướng. Bám vào phi pháp tướng cũng là chấp tướng, trọng điểm nằm ở việc "bám". Xuất hiện chữ "bám" này thì biểu thị rằng có cái ngã rồi. Nếu như bạn không có cái ngã thì bạn bám vào cái gì?

Mọi người đọc kinh thì cứ thế là đọc, đọc, đọc, đọc rồi đọc cho hết.  
Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh thì Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy rằng những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Vì sao vậy? *“Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng."*  
*"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."  
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói: tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp."*

Đọc xong rồi, đọc xong là xong thôi, bạn không biết ý nghĩa của nó nằm ở đâu. Vì sao không thể bám vào ngã tướng? Bởi vì vô ngã mà, tôi đã từng giảng rồi, không có cái tôi. Tôi đã từng nói, Lư Thắng Ngạn là ai, không có người nào là Lư Thắng Ngạn. Tôi đã lấy tấm ảnh cho bạn xem, người đó chính là Lư Thắng Ngạn ư, không phải đâu, đó là quá khứ của tôi. Vậy bạn nói người hiện tại chính là Lư Thắng Ngạn, không thể, ông ta cũng sẽ thành quá khứ. Người nào mới là Lư Thắng Ngạn? Người ở Song Liên Cảnh Giới là Lư Thắng Ngạn phải không? Linh cốt tháp Song Liên Cảnh Giới, linh cốt tháp của chúng ta, người ở đó chính là Lư Thắng Ngạn phải không? Cũng không phải, đó chỉ là tro cốt của ông ta, hoặc là một chút xá lợi đã thiêu ra được, đó cũng không phải là Lư Thắng Ngạn. Thế Lư Thắng Ngạn ở đâu? Căn bản là không có. Ở đâu có Lư Thắng Ngạn? Người đang thuyết pháp bây giờ có phải là Lư Thắng Ngạn không? Cũng không phải. Tôi nói, ngày mai chúng ta lại ở đây lại làm một lễ Hộ Ma. Tôi nói cho bạn biết, tôi dứt khoát không đến, mỗi ngày cứ bận bịu thế để làm cái gì, đúng vậy không, thật khiến lão già này mệt chết mất. Những người cho dù có đến thì cũng không chắc là các vị ở đây. Có một số người không đến, "Hôm qua chủ nhật vừa mới làm Hộ Ma xong, thứ hai lại kêu chúng tôi đến đây làm Hộ Ma, để làm cái khỉ gì chứ? Tôi không đi." Thế là không đến. Thay đổi tới lui, biến hóa tới biến hóa lui, căn bản là di động, chưa từng bao giờ dừng lại, suy nghĩ của bạn, những suy nghĩ trong đầu bạn, cái nào là suy nghĩ chứ? Suy nghĩ cũng thay đổi tới lui. 

Vừa mới nói "con người này tốt lắm đó", lúc sau đã "con người này là đồ khốn nạn". Thằng đểu, đồ vô lại, đồ thối tha. Ngày hôm nay bạn ca ngợi người ta, ngày mai bạn đã chửi người ta rồi. Suy nghĩ cũng thay đổi lung tung. Bạn biết không, thật là đáng sợ. Bạn yêu một người, ôi chao, ngày mai người ta hận bạn, bạn yêu người ta, yêu tới mức muốn chết, thế thì hỏng rồi, yêu tới mức muốn chết, nếu như người ta không yêu bạn, bạn liền muốn người ta chết, suy nghĩ này rất đáng sợ đó. Bạn có yêu người ta không? Yêu, yêu nhất! Được, yêu nhất, yêu nhất thì cũng hận nhất, có một ngày bạn không yêu người ta nữa, bạn trông thấy họ thì… Tình yêu, tôi bảo bạn nhé, kết duyên thì rất dễ, chia tay thì rất khó. Thật sự chia tay là một môn học rất lớn, chia tay mà không tốt thì người ta mà yêu bạn đến muốn chết thì người ta cũng xử bạn luôn, cũng chết đẹp luôn, rất nguy hiểm đó. Bạn cho rằng tình yêu rất ngọt ngào sao? Nguồn gốc của đau khổ đó, sẽ sản sinh ra rất nhiều đau khổ, bạn không hiểu sao.

*”Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."  
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói…”*

Nói riêng về đoạn này. Không nên chấp pháp, không nên chấp vô pháp. Đây là cảnh giới cao nhất. Vì thế, theo những điều Phật nói, không nên chấp vào yêu cũng không nên chấp vào hận, không nên chấp thiện cũng không nên chấp ác. Đó là cảnh giới cao nhất. Trước kia, trong Thiền tông có nói một câu rằng: "Không nghĩ thiện không nghĩ ác." Lục Tổ nói, không nghĩ thiện không nghĩ ác. Khi xưa Lục Tổ thật sự rất thông minh, không đi học, không biết chữ (có quỷ mới tin), ngài ấy có thể hiểu được không nghĩ thiện không nghĩ ác, đây chính là kinh Kim Cang, vô cùng sâu sắc. Ở đây ý nghĩa rất sâu, nói thẳng ra là không thể nói được, không thể giảng được, không thể giảng, đến cảnh giới này thì đã không thể dùng ngôn ngữ văn tự để mà giảng ra được. Không nên chấp pháp, cũng không nên chấp phi pháp, không nghĩ thiện không nghĩ ác. 

Bởi vậy, chữ "bám" này rất quan trọng, hễ có bám vào thì sẽ có cái ngã, cái tôi vốn dĩ là không có thì tôi bám vào cái gì? Đây là một cảnh giới rất cao. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, bạn sẽ không còn nghiệp nữa. Bạn làm thiện nghiệp bạn sẽ lên trời, đạt quả nhỏ làm người làm trời. Bạn làm ác nghiệp bạn sẽ đọa tam đồ, gặp phải ác báo. Vì thế, bạn làm điều thiện rồi, không sai, bạn hành thiện nhưng không cần biết là thiện, đây là điều mà Jesus nói. Guru của tôi nói một câu: "Tay phải làm việc thiện, đừng để tay trái biết." Tôi cảm thấy Jesus chắc chắn là đã đọc kinh Kim Cang rồi, bởi thế ngài ấy hiểu được điều này mà. Tay phải việc thiện, đừng để tay trái biết. Ngài ấy không chấp thiện, không chấp ác, không chấp pháp, không chấp pháp tướng, không chấp phi pháp tướng, như thế mới có thể thành Phật. 

Hôm nay tôi nói với mọi người điều rất quan trọng… tôi vẫn chưa giảng xong đoạn này, lần sau sẽ giảng đến Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Tôi nói để mọi người biết, vô đắc vô thuyết chính là ý này, không có được, cũng không nói được.

Có một đôi vợ chồng tham quan triển lãm tranh, người vợ bị cận thị nặng, bỗng nhiên có tiếng bà ấy kinh ngạc thét lên: "Đây là bức tranh xấu nhất mà tôi từng thấy." Chồng của bà bèn kéo bà sang một bên: "Nói nhỏ một chút, cái mà bà vừa nhìn thấy là cái gương đó." Đây gọi là chấp tướng.

Sư tử trông thấy một con chó điên liền vội vàng tránh đi. Sư tử con nói: "Bố ơi, bố dám đánh nhau với hổ, dám tranh hùng với báo, thế sao lại lẩn tránh con chó điên này, thật là mất mặt quá!" Sư tử hỏi: "Con à, đánh bại một con chó điên thì có vinh quang không?" Sư tử con lắc đầu. "Vậy để con chó điên cắn một miếng thì có xui xẻo không?" Sư tử con gật đầu. "Bởi vì như thế, việc gì chúng ta phải dây dưa với con chó điên này. Không phải người nào cũng đáng làm đối thủ của con, đừng tranh biện với những người không đủ tố chất, hãy cười một chút, tránh thật xa, đừng để cho nó cắn con." Điều này bạn phải hiểu rõ, bởi vì rất nhiều người trên thế giới hiện nay đang đánh nhau với chó điên đó.

Vì thế, Phật giáo có nói một câu: "Đừng để ý." Hãy phớt lờ đi. Còn tôi nói ba chữ "Không can hệ". Đừng để ý thì vẫn còn có sự việc đó. Không can hệ, tôi đã nói rồi, tôi nói sau khi tôi chết, sau này còn lại Chân Phật Tông chẳng có liên quan gì đến tôi. Tôi đã chết rồi mà. *Selamat pagi. Selamat malam. Selamat*, sẽ có một ngày tôi sẽ chết. Chân Phật Tông và tôi có quan hệ gì chứ? Không can hệ. Có Chân Phật Tông, không can hệ. Không có Chân Phật Tông, không can hệ. Chân Phật Tông không còn, cũng không can hệ, chẳng có một chút liên quan nào đến tôi. Tôi và cái tôi còn không có quan hệ gì cả thì còn có quan hệ gì với Chân Phật Tông chứ? Mọi người nghĩ mà xem, Chân Phật Tông và Lư Thắng Ngạn có can hệ gì? Chẳng có can hệ gì cả. Chân Phật Tông chỉ là một danh từ, Lư Thắng Ngạn cũng là một danh từ, đều là một danh từ mà thôi, căn bản là chẳng có, căn bản là chẳng có gì. Sau này chẳng còn gì thì cũng là cần phải như thế. Không có quan hệ gì cả. Vì thế, trong tâm tôi chẳng có một chút lăn tăn nào, chẳng hề có suy nghĩ đó.

Rất nhiều phóng viên hỏi tôi, rất nhiều người phỏng vấn tôi: "Sau này ngài có kế hoạch gì không? Tương lai ngài muốn làm gì? Tương lai Chân Phật Tông muốn phát triển đến mức nào? Ngài muốn viết bao nhiêu cuốn sách? Ngài muốn vẽ bao nhiêu bức tranh? Ngài muốn thành tựu ra sao?" Tôi đều lắc đầu, không có. *No, I don't care*. Không có can hệ gì, chính là như thế, tôi chỉ có thể lấy ví dụ với mọi người như vậy mà thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 19/09/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Khổng Tước Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 17.)*

### 18. Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín (3)

*(Bài giảng 18)* Thế nào là pháp? Thế nào là phi pháp?

*Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn, liệu có chúng sinh nào nghe được những lời dạy này mà sinh lòng tin thật sự không?"  
Phật bảo Tu Bồ Đề: "Đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người giữ giới tu phúc, với những lời dạy này có thể sinh tín tâm, coi những lời này là chân thật, nên biết là người ấy không chỉ gieo thiện căn ở một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật, mà là đã gieo thiện căn ở vô lượng nghìn vạn vị Phật. Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh thì Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy rằng những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Vì sao vậy? Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng."  
"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."  
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp phi pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói: tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp."*

Tôi đã nói rồi: Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp vô pháp. Tôi đã giảng rồi, không nên chấp pháp, không nên chấp vô pháp, trọng điểm nằm ở chữ chấp. Bạn chấp thì sẽ là hữu tướng. Không nên chấp phi pháp, mặc dù phi pháp là vô tướng, nhưng việc bám chấp này của bạn lại là hữu tướng. Kinh Kim Cang nói về vô tướng, không thể chấp pháp. Khi bạn thật sự có được cái nghĩa này rồi thì Như Lai thường nói: *“Tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp.”*

Như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp được nói đến ở đây là một điểm quan trọng. Tôi thường nói, tu hành giống như ngồi trên thuyền bè, bạn được chở trên cái thuyền này, cái thuyền này cần đến một bến khác, cái thuyền này đi đến nơi đó, bạn xuống thuyền, bạn có còn muốn bám trụ vào cái thuyền này không? Nói tôi không xuống thuyền, tôi muốn cái thuyền này cơ. Bạn cần cái thuyền này để làm gì? Cái thuyền này phải quay đầu, bạn đã lên bờ rồi, bạn vẫn còn muốn bám trụ lấy cái thuyền này không buông, thế gọi là bám chấp. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp là nói như thế này, bạn tu hành nắm chắc vào một điểm, bạn tu thành rồi, thì điểm này cũng phải vứt bỏ, bạn đã đến được bờ rồi, bạn còn cần cái pháp đó làm gì nữa? Giống như chúng ta, nếu như chúng ta nói đời này tu hành, cuối cùng bạn đã đến được tịnh thổ rồi. Tốt rồi, bạn ở tịnh thổ, bạn có còn tu "pháp đến tịnh thổ" nữa không? Không cần nữa! Bạn đã đến được tịnh thổ rồi mà, cái pháp ban đầu bạn tu để có thể đến tịnh thổ bây giờ không cần dùng nữa, có thể quẳng đi rồi.

Giống như cái bè, bạn ngồi trên chiếc thuyền nhỏ, đã đến được bờ rồi thì còn cần chiếc thuyền này nữa không? Không cần nữa. Không dùng đến con thuyền này nữa, không cần phải đi thuyền, không cần trở về nữa. Bạn đã đến tịnh thổ rồi thì sẽ không thối chuyển nữa. Có thể không cần dùng đến pháp nữa rồi. Phật pháp mà bạn tu để đến tịnh thổ đã có thể không cần nữa, huống hồ là cái không phải là pháp. Thế nào là phi pháp? Phi pháp được nói đến ở đây chính là những thứ như xem phong thủy, chính là phi pháp, cái này không thể khiến bạn vãng sinh được. Bạn giải trừ tai họa, giúp người ta tiêu tai giải ách, cái này cũng không thể vãng sinh. Xem tướng cho người ta, xem tướng rất giỏi cũng không thể vãng sinh được! Đó chính là phi pháp.

Bạn hiểu về cửu cung, chín cung ở trên bầu trời, xem tướng sao, bạn cũng không thể vãng sinh, cái này đều là phi pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni nói những cái này đều là phi pháp, không phải là Phật pháp chân chính. Còn tử vi đẩu số, bát tự đoán mệnh, tướng mặt, ma y tướng thuật, những cái này là phi pháp. Bạn xem phong thủy có thể vãng sinh không? Không thể, đó không phải là pháp để vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Tối thiểu vào lúc bạn sắp đi, tây phương Tam Thánh phải hiện lên trước mặt. A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát hiện lên trước mặt bạn, cầm một đài hoa sen để cho bạn ngồi lên thì bạn mới có thể đến được Phật quốc tịnh thổ đó, đây mới là chính pháp, chính là chính pháp của Tịnh thổ tông.

Chúng ta tu hành Mật giáo còn cần thân thể chính mình hóa thành ánh sáng, dùng ánh sáng của chính mình để đến được Phật quốc tịnh thổ, nhờ ánh sáng của chính mình trực tiếp đến được Phật quốc tịnh thổ. Hóa thành cầu vồng, đi vào bên trong biển Phật, tử quang gặp mẫu quang, đó là Mật giáo! Những cái này mới thuộc về chính pháp. Còn những cái khác, ngũ thuật, bốc quẻ, tôi biết quẻ Văn Vương, xem bói, biết bát quái, thượng quái là gì, hạ quái là gì, vận mệnh tương lai của bạn ra sao… Tôi đều có thể tính ra được. Cái đó không thể vãng sinh được! Cái đó đều là phi pháp. Bạn biết tử vi đẩu số, cái này là phi pháp. Biết phong thủy, xem núi xem nước, xem loan đầu, xem tướng sao. Bạn biết xem hướng long mạch sơn thủy, bạn đều có thể xem được, nhưng cũng không thể vãng sinh. Chỉ là có thể khiến bạn đời sau có thể xưng vương, có phúc phận, có danh vọng, có ích ở thế giới Ta Bà, còn ở cõi trời, cõi tịnh thổ thì chẳng có tác dụng gì. Đó đều là phi pháp.

Vì thế, hôm nay chúng ta tu hành, bạn nghĩ là "ấy, để tôi xem có thể kiếm được bao nhiêu tiền", đúng thế không, xem có thể kiếm được bao nhiêu tiền, bạn tu tương ứng với Hoàng Tài Thần, tương ứng với Dzambhala, bạn có thể đến được chỗ của ngài Dzambhala, bạn có thể đi đến Tứ Thiên Vương Thiên, đó chỉ là một pháp phương tiện. Đến được Tứ Thiên Vương Thiên rồi thì bạn vẫn phải tu hành… Đến được Thiên giới rồi, vẫn còn phải tu hành. Vì thế, ở đây, Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong đoạn này, tôi nhất định phải giảng cho rõ ràng cái gì là pháp, cái gì là phi pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, tất cả cái gì mà không phải là Phật pháp đều phải bỏ, huống hồ với Phật pháp, khi bạn đã đạt đến thành tựu rồi, đến được tịnh thổ rồi, bạn còn cần những pháp tịnh thổ để làm gì nữa? Không cần nữa! Đoạn này mọi người hiểu chưa? Tôi đã giảng cho mọi người rất rõ ràng rồi.

Bảo bạn học Phật không phải là bảo bạn học xem phong thủy, học xem tướng mặt. Tôi cũng biết đó. Nhìn lông mày để xem anh em, nhìn mắt để xem trí tuệ, nhìn tai để xem thọ mạng, nhìn cằm để xem nô bộc, nhìn mũi để xem tiền tài… xem tiền tài của bạn có bao nhiêu. Nhìn miệng để xem vận, vận tốt, vận xấu, thì phải xem miệng của bạn. Ở phía sau đuôi mắt này thì xem số đào hoa. Cái này là tướng mặt! (Sư Tôn lần lượt chỉ các bộ phận trên khuôn mặt.) Đây là cung đào hoa, đây là cung huynh đệ, đây là cung trí tuệ, đây là cung tài bạch, đây là cung nô bộc, đây là cung vận khí, đây là cung đào hoa. Cái tai này, kéo nó ra, dài ra một chút, thì sẽ thành tai trường thọ ngay. Tai trường thọ, tai Phật Bồ Tát đều rất dài, dái tai đều rủ xuống vai, rủ xuống vai như thế này.

Cái này đều là phi pháp! Không phải chính pháp, cái này đều không thể vãng sinh tịnh thổ được! Nếu bạn giỏi y thuật, bạn học y thuật rất giỏi, bạn thật sự là một thầy thuốc vĩ đại, bạn cứu độ rất nhiều chúng sinh, thì đây là một cơ sở để vãng sinh Thiên quốc. Bạn cứu độ rất nhiều người, bạn có thể đến cõi trời, còn Phật quốc thì vẫn chưa thể đến được, bởi vì bạn không có duyên tu Phật, không phải chính pháp. Nhưng bạn có thể dựa vào những thứ phi Phật pháp này để cứu độ chúng sinh, cái này được. Bạn có thể đến cõi trời, nhưng không thể đến Phật quốc, đó thuộc về phi Phật pháp. Vì thế, chính pháp và phi pháp, mọi người nghe rõ rồi, như thế là mọi người biết rồi.

Đừng cho rằng đoán mệnh cũng là Phật pháp, đừng cho rằng biết xem sao trời cũng là Phật pháp. Có thể mượn gió đông, hô phong hoán vũ… bạn cho rằng gọi gió hô mưa là Phật pháp sao? Điều binh khiển tướng, thiên binh thiên tướng, cái mà thiên binh thiên tướng cấp cấp như luật lệnh, thần binh thần tướng cấp cấp như luật lệnh, bạn biết niệm câu chú này, thần binh thần tướng cấp cấp như luật lệnh, tất cả thần tướng bạn đều có thể điều động tới lui, chẳng có tác dụng gì, đều không phải là Phật pháp! Căn cứ theo những điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, đó là bàng môn tà đạo, đều không phải là Phật pháp. Sư Tôn cũng có thể niệm, thần binh thần tướng cấp cấp như luật lệnh! Bạn bấm vào đầu ngón tay nào thì là vị thần nào, hôm nay ai trực nhật, bây giờ là thời gian nào, tí sửu dẫn mão thìn tị ngọ mùi thân dậu tuất hợi, bạn ấn vào thời gian nào, sau đó bạn niệm chú, thì vị thần trực nhật của thời gian đó sẽ giáng xuống, thần trực nhật hôm nay sẽ giáng xuống để chờ nghe lệnh.

Tôi bảo anh đi làm việc gì, anh chờ đợi nghe lệnh, thế rồi đi làm việc. Như thế có thể đến Phật quốc tịnh thổ không? Không thể! Nhiều nhất cũng chỉ có thể giúp bạn lên được cõi trời mà thôi, hưởng thiên phúc. Bạn cho rằng bạn là người có phúc phận, bạn giúp đỡ rất nhiều người nghèo khó, thế là bạn có thể đến Phật quốc tịnh thổ ư? Không có đâu, đến cõi trời thôi. Đây là điểm khác biệt giữa Phật giáo và các giáo phái khác. Vì thế, tôi giảng điểm này: Phần thứ 6: Hiếm người có được chính tín. Tất cả các tì kheo, nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp. Đoạn này tôi đã giảng rõ ràng rồi.

Vợ và chồng đang xem phim truyền hình, phim cổ trang về đề tài chiến tranh. Vợ xem rồi nói với chồng: "Không ngờ con người cổ đại cũng tự yêu bản thân đến như vậy!" Chồng nghi hoặc hỏi: "Tự yêu bản thân như thế nào?" Vợ nói: "Họ ra chiến trường, anh xem, họ giơ lá cờ lên, trên lá cờ còn viết một chữ "soái" to đùng nữa chứ!" <span className="note-blue">[soái vừa có nghĩa là chủ tướng, vừa có nghĩa là đẹp trai]</span> Tôi bảo cho bạn biết nhé, đây gọi là thiếu tri thức, người vợ này không đủ tri thức. Vì thế, người học Phật chúng ta ngày nay phải có đủ tri thức, giống như hôm nay giảng kinh Kim Cang, có đủ tri thức, bạn có thể phân biệt được, không có đủ tri thức thì bạn sẽ bị lừa!

Bạn cho rằng bạn biết đoán mệnh, bạn biết xem bói, bạn có thể này kia… xem đông, xem tây, xem nam, xem bắc, bạn đều có thể tính ra được, thế nào cũng đều tính được… vô ích! Không đến được tịnh thổ, đó chẳng phải là Phật pháp. Bạn cho rằng bạn biết thần thông, thần cũng chẳng thông được, quỷ thông thì có! Thần thông cái gì chứ? Là quỷ thông, không phải thần thông! Hoặc thông loạn cào cào, thông cái gì chứ. Bạn có thể thông đến Phật quốc mới là chính pháp, những cái khác đều là tà pháp, thần thông cũng là tà pháp.

Đương nhiên, bạn đã sản sinh năng lực rồi, bạn thành tựu rồi thì đương nhiên bạn sẽ sản sinh ra năng lực, đó chỉ là sản phẩm phụ thôi, tôi hoàn toàn không bảo bạn theo đuổi những thứ đó! Bạn mê đắm vào thần thông, thế thì bạn xong rồi, bạn không đến được Phật quốc tịnh thổ đâu. Thông cái gì mà thông? Tôi bảo cho bạn biết, có mà táo bón! Táo bón thì chẳng thông đâu. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 25/09/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 16.)*

### 19. Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết (1)

*(Bài giảng 19)* Vô đắc vô thuyết

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Như con hiểu ý nghĩa mà Phật nói, không có pháp nhất định gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói. Là vì sao? Là vì pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao như thế? Vì tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt."*

Đoạn này - Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Tôi giảng tiêu đề "Vô đắc vô thuyết" này. Tổ sư Đạt Ma, người ta mời ngài ấy thuyết pháp, khi ngài ấy đến Trung Thổ, người ta thỉnh ngài thuyết pháp, ngài nói: "Được, tôi thuyết pháp." Ngài ấy lên pháp tọa, cầm một cái hình như là tấm lót, cầm lên rồi đập bộp xuống bàn một cái. Xong rồi, thuyết pháp kết thúc, thế rồi đi xuống. Là như thế đó. Đơn giản như thế đó, tôi cũng làm được, lần sau tôi làm pháp hội, tôi sẽ đi lên, lắc chuông kim cang một cái, hoàn tất bài thuyết pháp, rồi tôi đi xuống. Thuyết pháp chẳng khác gì không thuyết pháp, có được cũng như chẳng có được gì, vô đắc vô thuyết. 

Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Tu Bồ Đề rất lợi hại, Tu Bồ đề thật sự là số một về biện giải ý nghĩa tính Không, bởi vì ngài ấy đã chứng được tính Không. Có chứng đắc tính Không không? Không có, đây gọi là vô đắc, bởi vì người chứng đắc tính Không sẽ chẳng nói tôi chứng đắc tính Không rồi đâu.

A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chỉ là một danh từ mà thôi. Bạn thấy đó, vô đắc vô thuyết, không có người nào có được, cũng không có người nào mất. Một số người sẽ hỏi: "Sư Tôn, ngài nói vô đắc, không được không mất, ngài nói không được không mất: không có được gì, cũng không mất đi. Nếu thế thì, vì đã là vô đắc, chúng ta còn tu hành làm cái gì? Không cần tu nữa." Mọi người đi chơi, đi leo núi, đi chơi nước. Đưa mọi người đi leo núi, leo lên núi Chẩm Đầu mà ngủ <span className="note-blue">[chẩm đầu nghĩa là cái gối]</span>, leo lên núi Sa Mạo ở phía sau Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, mọi người đi leo núi, ở đó có một công viên, núi ở đó cũng rất đẹp, có thác nước nhỏ. "Cầu nhỏ nước chảy bãi cát mây, đường cổ gió tây con ngựa gầy." Cực kì nên thơ, đi leo núi ở đó, thật sự có cây cầu nhỏ, có nước chảy, có thác nước, có bãi cát. Đi chơi là được rồi, đời người vui chơi là được rồi, còn tu hành cái gì chứ? Bảo chúng tôi tu hành ư? Chẳng có được cái gì cả thì tu cái hành gì chứ? Phải tu hành đó, bởi vì bạn cần tu hành mới có thể biết về vô đắc, bạn không tu hành thì làm sao biết về vô đắc được chứ. Bạn tu đến cuối cùng, thì cuối cùng bạn sẽ biết: "Tôi chẳng đạt được cái gì cả." Cái này chính là chứng nghiệm, bạn thật sự vô đắc, người biết được vô đắc mới gọi là có chứng nghiệm, bạn đã chứng được vô đắc rồi. 

Vì thế, trong Kinh Kim Cang có viết: *"Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc"*. Bạn nắm bắt, đắc được tâm gì? Có một ông bác đang bán các món điểm tâm, ông bác này nói với một hòa thượng (hòa thượng đó muốn lên núi tìm sư phụ), ông bác nói: "Tôi đang bán điểm tâm, tôi xin hỏi cậu một câu, tâm quá khứ không thể nắm bắt, tâm hiện tại không thể nắm bắt, tâm vị lai không thể nắm bắt, thế cậu nắm bắt được tâm gì?" Hòa thượng kia không trả lời được. Cậu ta lên núi đi tìm sư phụ. Ông bác nói: "Mọi người xem, lại thêm một người nữa chết." Câu hỏi của ông bác không ai có thể trả lời được. "Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc. Cậu đắc được tâm gì? Nếu cậu trả lời được, tôi sẽ cho cậu điểm tâm miễn phí. Trả lời không được thì không cho nữa." Rất đơn giản, đó là tâm vô sở đắc. Tôi có được cái tâm vô sở đắc đó!

Nếu như là tôi, ông bác hỏi tôi: "Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc. Anh đắc được tâm gì?" "Tôi muốn ăn điểm tâm này thôi." Tôi lấy luôn rồi đi. Cái đó là ngay lập tức, ngay tức thì tôi muốn ăn điểm tâm của ông. Rất nhiều người theo Thiền tông bây giờ đều nói về ngay lúc này, tôi nói cho bạn biết nhé, nói rất đơn giản, ngay lúc này cũng là sai. Ngay lúc này cũng là sai, bởi vì ngay lúc này của bạn hiện tại chính là tâm hiện tại rồi, tâm hiện tại chính là ngay lúc này mà. Rõ ràng đã nói với bạn rồi mà: "Tâm hiện tại cũng không thể đắc." Vì thế ngay lúc này của bạn cũng là sai, vậy cái gì mới là đúng? Vô đắc mới là đúng. Đây chính là tiêu đề mà hôm nay tôi giảng: Vô đắc.

Vô thuyết. Phật pháp, vì sao cần giảng Phật pháp? Căn bản là không có Phật pháp. Trong kinh Kim Cang nói: tính Không vốn dĩ đã tồn tại rồi, Phật tính vốn dĩ đã tồn tại rồi, không phải là tu mà ra. Lần trước tôi đã giải thích qua một lần rồi, không phải là bạn dùng tu hành để tu ra được Phật tính, Phật tính từ đầu đã có rồi. Điều này rất sâu đó. Vô thuyết, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, nhưng Ngài ấy không hề nói gì cả, trong kinh Kim Cang còn nói: "Nếu nói rằng ta có thuyết pháp, thì là phỉ báng ta, nghĩa là phỉ báng Phật." Đây đều là những điều rất thâm sâu ảo diệu. Pháp nhĩ bản nhiên chính là ở đây. Vô đắc vô thuyết chính là pháp nhĩ bản nhiên, chính là Phật tính, chính là tính Không. Bạn chỉ cần trực nhận được tính Không, trực nhận được Phật tính này. Bây giờ tôi hỏi mọi người, trên thế giới này bạn đạt được cái gì? Tôi hỏi bạn, trên thế giới này bạn có được thứ gì? Bạn có thể có được thứ gì? Mỗi người các bạn đang ngồi đây, sau này bạn sẽ có được cái gì?

Nói đơn giản là, chúng ta ở đây người trẻ tuổi nhất là mấy tuổi? Tenzin, cậu trẻ tuổi nhất, cậu mấy tuổi rồi? 19 tuổi à? Được rồi, tôi hỏi cậu: 100 năm sau cậu có được cái gì? Vô sở đắc, không sai, mời ngồi. Thế cậu còn đi học làm cái gì? Đúng thế, người nào có thể có được cái gì? Có ai có thể có được thứ gì? Vô đắc mà, chẳng phải tôi đã nói rõ rồi sao. Bạn cho rằng tiền bạn kiếm được bây giờ là của bạn, không phải của bạn. Những thứ bạn vừa ăn lúc trưa xong mới là của bạn, nhưng mà cũng chẳng phải là của bạn, buổi tối là lại ra ngoài luôn. Bạn có được cái gì? Rốt cục bạn có được cái gì?

Bởi vậy, điều mà kinh Kim Cang nói đến là mộng. Huyễn - mộng huyễn, bào - bong bóng nước, ảnh - cái bóng. Mộng huyễn bào ảnh thôi! Mọi người bán mạng kiếm tiền, bán mạng tranh làm minh chủ võ lâm, tiểu thuyết Kim Dung đã viết đó, mọi người đều tranh nhau làm minh chủ võ lâm. Bây giờ ai đang làm minh chủ võ lâm? Nước Mĩ đã làm một thời gian rồi. Không thể làm vĩnh viễn được, người nào có thể vĩnh viễn làm minh chủ võ lâm? Thế giới này thay đổi liên tục, biến tới biến lui, biến hóa vô cùng. Thật vô thường, trong Phật giáo chúng ta gọi là vô thường, không có trạng thái thường hằng. Bạn cho rằng sẽ vĩnh viễn làm minh chủ võ lâm ư? Hỏi bạn nhé: trên thế giới này bạn có thể có được cái gì? Không có, chính là vô đắc. Vô thuyết, bởi vì vô đắc rồi mà, thế thì còn nói cái gì nữa? Không cần nói nữa. Vì thế, mặc dù Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm nhưng cũng không khác gì không nói. Sư Tôn thuyết pháp nhiều năm như vậy cũng như không nói. Vì thế, thuyết pháp là vì muốn bạn hiểu được vô đắc vô thuyết. Nếu bạn hiểu được vô đắc vô thuyết thì tâm bạn sẽ bình lặng. Thế giới sẽ được hòa bình thực sự. Bạn cho rằng vẫn còn có được thì sẽ khởi lên chiến tranh, khởi lên tranh luận, tranh tới tranh lui.

Trước kia, sư phụ tôi nói với tôi, những con dòi trong hố phân đều tranh tới tranh lui, những con dòi nhỏ nhỏ màu trắng đó, có hay không? Chúng cứ thế tranh nhau nhung nhúc trong hố phân. Trước kia chúng ta còn có hố phân để mà nhìn, bây giờ mọi người đã không còn thấy hố phân nữa rồi. Bây giờ đã không còn nhà xí, nhà xí ở cạnh ruộng không còn nữa rồi, bây giờ đã dùng phân bón hóa học. Ngày xưa khi chúng tôi còn nhỏ còn phải ngồi xổm trên hố xí nữa, ở quê thì vẫn phải ngồi xổm, ngồi xổm trên hố xí, phía dưới thì những con dòi bò tới bò lui, lúc nha lúc nhúc, chúng có được cái gì không? Con người cũng giống như thế, chẳng có được cái gì cả. Vì thế, lúc này bạn có thể tâm bình khí hòa. Bạn thật sự nhận ra vô sở đắc chính là tu hành, vô đắc chính là tu hành, tâm sẽ lắng xuống, cũng không tranh đấu không phiền não, bởi vì cuối cùng thì đều như nhau cả, về cơ bản chính là như vậy, vô đắc mà! Có ai có thể đạt được một thứ gì chứ? Nhà cửa, bạn nói bạn có nhà cửa, nhà cửa so với tuổi thọ của bạn còn dài hơn. Khi Sư Tôn đi rồi, Chân Phật Mật Uyển vẫn còn đó, biệt thự Cầu Vồng vẫn còn đó, đúng thế không? Tro cốt của tôi sẽ được gửi đến Song Liên Cảnh Giới, cũng thế thôi. Bạn có được một chỗ trong đó, mua được một vị trí trong đó, có được một chỗ trong đó, thật ra vị trí đó cũng không hẳn là của bạn, không có, đó là không có không mất.

Vô đắc vô thuyết, muốn thuyết pháp, pháp chân chính, chẳng có pháp nào có thể nói. Chúng ta nói pháp này nghĩa là nói về công cụ. Lần trước đã nói đến: Phật pháp chính là cái bè, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp. Phật pháp chân chính bạn còn phải bỏ, huống hồ là những thứ không phải là pháp kia. Ngày hôm qua đã nói rồi. Vì thế, mọi người tâm bình khí hòa, tâm bình khí hòa, vô niệm, chính là tu hành. Vô niệm, không can hệ, chính là tu hành. Chẳng phải hôm qua tôi đã nói đừng cho rằng Sư Tôn mặc kệ con trai, con gái, cháu trai, cháu gái của mình, mặc kệ, không phải là không yêu họ, có yêu. Không sai, chúng là con trai, con gái của bạn thì đương nhiên là yêu rồi, nhưng bạn có biết con trai, con gái của bạn là oan thân trái chủ kiếp trước của bạn không? Bạn có biết hay không? Có người là do thiện duyên mà đến, sẽ đối với bạn rất tốt, có người là do ác duyên mà đến, e rằng còn giết cả bạn nữa! Đó chính là duyên. Cái duyên đời đời kiếp kiếp của chúng ta, nghiệp chướng đời đời kiếp kiếp của chúng ta đang kiểm soát chúng ta đó.

Khi bạn đã hiểu Phật pháp rồi, biết rằng vô sở đắc rồi, bạn sẽ tâm bình khí hòa. Bạn vẫn còn yêu con cái, nhưng tất cả đều xuôi theo chúng, đối với cháu trai, cháu gái cũng vậy. Chẳng phải là vô tình, tôi muốn độ hóa chúng, nhưng còn phải xem nhân duyên của chúng nữa. Bây giờ chúng vẫn còn bám chấp vào tất cả mọi thứ của thế gian này, không hiểu về vô đắc vô thuyết. Bạn thật sự hiểu vô đắc vô thuyết thì bạn sẽ tu hành đó. Bạn chẳng có được cái gì thì bạn đi tranh giành với người ta làm cái gì? Bạn đi trộm đồ của người ta làm cái gì? Bạn đi khoe mẽ sắc dục của bản thân làm cái gì? Cuộc sống của bạn về cơ bản đã đủ rồi thì vì sao bạn còn phải đi tranh giành những thứ khác? Đó là "độc", Phật Thích Ca Mâu Ni nói rồi, những thứ đó là rắn độc đó. Bởi vậy, bạn hãy pháp nhĩ bản nhiên đi, cái gì đến sẽ đến, cái gì đi sẽ đi, cái gì có được sẽ có được, cái gì không có được thì không có được. Những thứ vật chất là như thế đó, con cái cũng thế thôi, con cái, cháu chắt đều là như thế. Phải lĩnh ngộ được những điều này là yếu nghĩa trọng yếu nhất của kinh Kim Cang. Hôm nay tôi đã giảng Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Om mani padme hum.

*(Ngày 26/09/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hổ Đầu Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 19.)*

### 20. Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết (2)

*(Bài giảng 20)* "Vô vi pháp" và "vô hữu định pháp”

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Như con hiểu ý nghĩa mà Phật nói, không có pháp nhất định gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói. Là vì sao? Là vì pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao như thế? Vì tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt."*  

Tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt, câu này cũng rất quan trọng, vô cùng quan trọng. Vô thuyết, vô đắc vô thuyết, phần thứ bảy.

Lần trước chúng ta đã nói về vô đắc, tôi đã giảng một buổi tối rồi, bây giờ tôi nói về vô thuyết. Ý của Tu Bồ Đề là như thế này. Những pháp mà Như Lai đã nói, ở đây, lời mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng: pháp, đều không thể có được, không thể lấy được, cũng không thể nói được. Chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao như thế? Tôi hỏi mọi người nhé: thế nào là chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp? Vì sao lại nói như vậy? Phi pháp, phi phi pháp. Lần trước chúng ta đã nói về phi pháp, thế nào là chẳng phải pháp? Đoán mệnh này, xem tướng này, bốc quẻ này, xem sao trời này, tiên đoán này, xem phúc phận của bạn được bao nhiêu, nghiệp chướng nhẹ không, tử vi đẩu số này, hoàng cực mệnh số này, cân lạng của Viên Thiên Cương này, phong thủy địa lý của Lí Thuần Phong này, những cái này đều thuộc về phi pháp. 

Thế còn cái gì là phi phi pháp? Có ai có thể giải thích câu này không? Tôi nói cho mọi người biết nhé, cái gì gọi là không phải pháp, không phải phi pháp: hình như có pháp, mà hình như cũng không có pháp. Hãy nhớ cho kĩ, hình như có pháp, hình như có thuyết pháp đó, nhưng hình như không có pháp. 

Bạn có biết vì sao lại có hai chữ gọi là Như Lai không? Vì sao chúng ta lại dịch ra là Như Lai? Xin hỏi, Như Lai có ý nghĩa gì? (Có người trả lời tại chỗ: không đến, không đi.) Không phải không đến, không đi, không phải thế, tôi đã nói với mọi người rồi mà, lần trước tôi đã giảng rồi mà: hình như có đến, đó chính là Như Lai. Thế nào gọi là Như Khứ? Thật ra, Như Khứ cũng giống với Như Lai thôi, hình như có đi, đúng vậy không? Hình như có đến, nên gọi là Như Lai. Hình như có đi, nên gọi là Như Khứ. Cái chữ "như" ở đây nghĩa là "giống như" mà. Bởi vậy, thế nào gọi là chẳng phải phi pháp? Hình như có pháp, lại hình như không có pháp, cái này chính là chẳng phải phi pháp. 

Vậy thì rốt cục có thuyết pháp hay không? Vô thuyết. Thật sự đến cảnh giới cao nhất thì gọi là vô thuyết. Vì thế, tôi kể chuyện Tổ sư Đạt Ma, bạn xem Tổ sư Đạt Ma đó, người ta mời ngài thuyết pháp. Thiếu Lâm Tự, bởi vì ngài ấy sống ở Tung Sơn mà, ở núi phía sau Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, ở đó quay mặt vào tường. Sau đó ngài đi ra ngoài, mọi người biết ngài ấy là cao tăng đắc đạo bèn thỉnh ngài thuyết pháp. Ngài ấy đi lên pháp tọa… chẳng phải tôi đã kể với mọi người rồi sao? Lấy một quyển sổ ghi chép, cầm lên rồi đập bộp xuống một cái! "Xong, thuyết pháp xong rồi." Thế rồi ngài đi xuống. Bây giờ tôi cũng thuyết pháp xong rồi, là như vậy đó. Vô pháp khả thuyết, vô thuyết, căn bản là không có nói giảng, Tổ sư Đạt Ma căn bản không giảng, không thuyết pháp, chỉ bước lên rồi đập bộp xuống bàn một cái, rồi đi xuống, như thế là đã thuyết pháp xong rồi.

Đó là cảnh giới tối cao, cao nhất. Vì sao lại như thế? Tôi kể cho mọi người một chuyện: mọi người cho rằng chúng ta đang ở trên trái đất, trên trái đất này có rất nhiều quốc gia, mỗi một quốc gia đều có rất nhiều người, đúng vậy không? Đều có rất nhiều, rất nhiều người, đều có rất nhiều, rất nhiều nhà cửa, rất nhiều xe cộ chạy tới chạy lui. Bây giờ, nước Mĩ và Trung Quốc, cả hai đều là nước lớn, xem ra thì đều to cả. Hai nước Mĩ - Trung thật sự là chẳng biết đang làm cái trò gì nữa… Cá nhân tôi không tham dự vào chính trị, cá nhân tôi trước nay không tham gia vào chính trị, tóm lại tôi cảm thấy, hai bên tranh tới tranh lui, cũng chẳng biết là tranh nhau cái gì nữa? Tranh đua à! Mọi người tranh đua, chẳng có liên quan gì đến tôi cả, tôi sống cuộc đời tôi, họ tranh nhau thì cứ tranh đi.

Vậy mọi người nghĩ thử xem, cảnh giới cao nhất là cái gì? Đây là một kiến thức rất sâu. Trong con mắt của tôi, căn bản là không có trái đất, không có các quốc gia, không có chúng sinh, không có những con người này. Thật đó, các bạn tranh giành cái gì? Trong con mắt của tôi cơ bản là không có các quốc gia, không có những người này, không có ai đang làm minh chủ võ lâm. Bây giờ cái mà họ đang tranh giành chính là địa vị minh chủ võ lâm, trong tiểu thuyết Kim Dung có viết về minh chủ võ lâm, bây giờ người ta đang tranh nhau làm minh chủ võ lâm.

Trong mắt mọi người có những con kiến không, có hay không? Có à? Chúng ta thường nhìn thấy những con kiến đang bò, đúng vậy không? Kiến và kiến, kiến đỏ và kiến đen có đánh lộn không? Còn nữa, kiến đen có đánh nhau với kiến đen không? Còn nữa, kiến nhỏ có đánh nhau với kiến to không? Kiến to và kiến nhỏ, và kiến các loại màu sắc có đánh nhau không? Thêm nữa, kiến ở trên núi có đánh nhau với kiến ở dưới núi không? Tôi hỏi bạn đó?

Trước kia tôi thường thấy kiến đánh nhau. Tôi sống ở Cao Hùng, kí túc xá của công ty điện lực Cao Hùng. Tôi thường thấy một bầy kiến từ bên đây bò qua, kiến từ bên kia bò qua, hai bên cắn nhau, đánh nhau đến cuối cùng thì xác kiến khắp nơi, xương cốt cao như núi! Toàn bộ đều là xác kiến, tất cả đều ở đó. Bọn chúng có tranh giành tới lui không? Có. Hơn nữa chúng còn cắn sừng của nhau, cắn nhau đến cuối cùng chết một đống. 

Hình như có kiến… bây giờ trong lòng mọi người nghĩ, hình như có kiến, hình như không có kiến. Con người chúng ta, thật sự là giống hệt lũ kiến! Trong mắt bạn có kiến không? Bạn có từng nghĩ đến vương quốc kiến, kiến là một đất nước, một đất nước, nếu bạn có nghiên cứu về động vật thì bạn sẽ biết, kiến có đời sống quần tụ, có những vương quốc kiến, đôi bên sẽ vì lợi ích mà cũng đánh nhau. Bạn có thuyết pháp cho lũ kiến không? Bạn hãy nhìn một cách rộng hơn, con người có thuyết pháp không? Kiến có thuyết pháp không? Cái này chính là phi phi pháp. Tôi lấy ví dụ như vậy, không giống với kinh Kim Cang mà mọi người tưởng tượng. Kinh Kim Cang đích xác là phá hủy tất cả, bạn đắc được cái gì?

Hôm đó tôi hỏi cậu, Tenzin Gyatso, một trăm năm sau cậu có được cái gì? Không có được gì. Thế rồi tôi hỏi thêm một câu: Thế bây giờ cậu còn đi học cái gì nữa? Vì sao còn phải đi học nữa? Tôi bảo cậu nhé, cậu phải trả lời thế này: "Bởi vì con cần phải đi học thêm để bổ sung tri thức, hiểu được lời Sư Tôn đang nói, sau đó lĩnh ngộ được vô đắc, vô thuyết." Đây là câu trả lời chính xác đó! Bạn cần hiểu được vì sao là vô sở đắc, vì sao là vô sở thuyết. Bạn cần lĩnh ngộ được những điều này. Vì thế, hôm nay tôi chủ yếu giảng về tiêu đề này: Vô đắc vô thuyết.

Phật Thích Ca Mâu Ni hình như có thuyết pháp, mà cũng hình như không có. Trên thực tế cũng là như thế. Vì sao lại như vậy? Tu Bồ Đề nói, tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt. Thế nào là pháp vô vi? Vô vi pháp là làm chẳng vì cái gì cả, thì gọi là vô vi, tôi hoàn toàn làm chẳng vì cái gì cả. Giả sử hôm nay tôi làm việc thiện, giúp đỡ rất nhiều người, tôi cần phải xem báo ngày mai có đưa tin không, xem ti vi có phát tin tức không. Truyền hình có đưa tin việc tôi làm việc thiện không nhỉ. Tôi thấy mình làm việc thiện thì trong lòng rất sung sướng. Truyền hình có đưa tin, báo chí không đưa tin. Tôi làm việc thiện lớn như vậy mà báo chí không đăng à, ti vi cũng không phát, cũng chẳng đưa tin về tôi, thế thì sau này tôi không làm nữa, như thế thì gọi là hữu vi pháp. 

Thế nào là pháp vô vi? Jesus nói rồi: Việc thiện mà tay phải làm, đừng để tay trái biết. Jesus chính là một vị Guru cao minh, ngài đã nói câu này thì chính là "tam luân thể không" đó! Làm không phải vì điều gì cả, đó là pháp vô vi. Bạn mà làm vì một chút gì đó thì đó là pháp hữu vi. Vì thế, Thánh Hiền có sự khác biệt, tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt. Pháp vô vi của bạn thanh tịnh được mấy phần?

Có được cái gì chăng? Vô vi pháp đương nhiên là không thể có được gì, có vì cái gì không? Cũng không phải là vì cái gì cả, chỉ là bạn cứ làm việc thiện một cách rất tự nhiên thôi. Mọi việc ác đừng làm, hãy làm mọi việc thiện, làm rồi thì cũng coi như chưa làm, nói rồi cũng không khác gì chưa nói. Kinh Kim Cang là kinh điển rất cao sâu đó! Bạn đừng xem thường nó, bạn nghĩ rằng nói rất dễ sao? Thật ra không hề dễ giảng đâu! Pháp vô vi có sự khác biệt gì, rốt cục bạn thanh tịnh được mấy phần? Vì thế, trong Mật giáo của chúng ta có cái gọi là phần thanh tịnh. Phần thanh tịnh là cái gì vậy? Hoàn toàn thanh tịnh nghĩa là pháp vô vi chân chính.

Mọi sự khác biệt… bạn thanh tịnh hai phần thì bạn sẽ đăng địa, tới Bồ Tát địa thứ hai, bạn thanh tịnh được bốn phần thì là Bồ Tát địa thứ tư, thanh tịnh được tám phần thì là Bồ Tát địa thứ tám, thanh tịnh được mười phần là Bồ Tát địa thứ mười. Trong Mật giáo, bạn thanh tịnh được mười hai phần rưỡi thì bạn là Bồ Tát địa thứ mười hai rưỡi, bạn đến được mười ba phần thanh tịnh thì chính là Ngũ Phương Phật, thanh tịnh được mười sáu phần thì bạn chính là A Đạt Nhĩ Mã Phật, chính là Bản Sơ Phật.

Trong thân thể chúng ta, chúng ta có ngũ luân, năm luân xa chính là mười địa, mỗi luân xa đại diện cho hai địa. Bạn mở được mật luân thì sẽ có được hai địa. Mở được tề luân thì bạn đạt được bốn địa, bạn mở được tâm luân thì đạt được sáu địa, bạn mở được hầu luân thì đạt được tám địa, mở được mi tâm luân thì đạt được mười địa Bồ Tát. Sau đó lại mở tiếp đỉnh luân thì sẽ là địa thứ mười hai. Mở được đỉnh kế thì là địa thứ mười hai rưỡi, cho đến khi thành Phật. Đây chính là sự khác biệt, đều do có pháp vô vi mà có sự khác biệt. Tôi nói đến chính là điều này.

Vì thế, bạn thanh tịnh được mấy phần rồi? Không phải như người thế tục… Hôm nay tôi làm được việc thiện, ngày mai tôi phải xem báo, thậm chí phải mở cuộc họp báo, ngày mai phải xem mời phóng viên ảnh đến, phóng viên viết bài đến, ngày mai phải xem báo: "Tôi làm việc thiện đây, anh xem, mọi người đều biết tôi là người tốt đó!" Thế thì chẳng có tư cách, bạn chỉ có được suất lên trời, không có tư cách làm một Bồ Tát. Làm một vị Phật, Bồ Tát. Thế nào là Bồ Tát? Bồ Tát là vì người khác, không vì bản thân, nghĩ vì người khác, không nghĩ cho bản thân, đó mới là Bồ Tát. Chuyên nghĩ cho bản thân thì đó là còn có cái tôi, không phải là Bồ Tát, nhiều nhất thì là Nhân - Thiên thừa. Bồ Tát là nghĩ cho người khác, không nghĩ vì chính tôi, không nghĩ cho bản thân, đây mới là Bồ Tát, nhưng cũng có sự khác biệt.

Có một phú ông đang dắt chó đi dạo, một sát thủ từ trong bụi cỏ nhảy ra, hai tiếng "binh binh", hắn ta đã đánh chết con chó. Phú ông nổi giận: "Anh giết con chó của tôi làm cái gì?" Tên sát thủ cười lạnh lùng: "Có người trả năm trăm vạn muốn tôi lấy cái mạng chó của ông." Phú ông nhìn tên sát thủ một cái, rất xúc động nắm lấy tay hắn: "Thầy dạy văn của cậu là ai vậy? Tôi muốn tặng quà cho ông ta." Thế nên đi học có tác dụng đó, Tenzin Gyatso ạ, nếu không khi cậu làm sát thủ, người ta thuê cậu đi lấy mạng chó của người nào đó, cậu lại giết chết con chó của họ, thế cũng là sai lầm đó. Tên sát thủ kia cũng phạm sai lầm rồi.

Có một người đang bị đau răng, anh ta liền đi nhổ răng (anh ta tự bỏ tiền để đi nhổ răng), cuối cùng đã nhổ được chiếc răng. Người bệnh nói với nha sĩ: "Anh thật là biết kiếm tiền, trong vòng ba giây anh đã kiếm được của tôi 1500 đồng rồi." Nha sĩ nói với ông ta: "Nếu như ông sẵn lòng thì tôi có thể làm động tác chậm để nhổ răng cho ông." Cái này cũng là hiểu sai rồi, nhổ răng mà lại làm động tác chậm. Vì thế, thế nào là tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt, thế nào là phi pháp phi phi pháp, pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, vì cũng không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói.

Tất cả mọi pháp, trong câu chuyện cười vừa nãy có nói rồi, trên đời không có pháp nhất định. Bạn có biết không? Pháp Mật giáo là do các vị tổ sư trước kia truyền lại. Liệu có phải tự bản thân có thể tạo ra không? Có thể. Tổ sư Mật giáo tạo ra một pháp mới, có thể, điều này không sai, có thể như thế, rất nhiều pháp đều là pháp mới, nhưng các pháp này đều có thể thay đổi, vì thế mới gọi là không có pháp nhất định. Cái này mọi người cũng phải nghĩ một chút. Không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói, vì không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói. Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni thường nói: "Bất khả thuyết!", bởi vì không có pháp nhất định, vì thế không thể nói.

Tiểu Quyền và Tiểu Lưu hẹn nhau vào rừng leo núi, không cẩn thận bị lạc đường, điện thoại di động thì không có tín hiệu. Tiểu Quyền nói: "Đừng sợ, tớ có đem theo bản đồ." Tiểu Lưu vô cùng vui mừng giật lấy, mở ra xem rồi nói: "Cái cậu đem theo là bản đồ thế giới mà." Cũng là bản đồ, nhưng cái quan trọng là bản đồ của khu rừng này cơ, chứ không phải là bản đồ thế giới. Nói như thế mọi người đã hiểu chưa?  
Om mani padme hum.

*(Ngày 02/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 20.)*

**(Hết tập 1)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-2.md
# Title: Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 2
---

![image](/img/img_ff730f3c3a29aa0c7697a25b64a1bd6b.png)

## Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 2

(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Kim Cang)

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">710</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">03/10/2021</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Cầu Vồng Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### 21. Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết (3)

*(Bài giảng 21)* Dùng logic học để làm rõ "phi phi pháp”

Chúng ta nói về Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết. Tối hôm qua, khi tôi tu pháp, Diêu Trì Kim Mẫu đã nói với tôi: "Tối hôm qua ngài giảng quá mơ hồ, mọi người nghe chẳng ai hiểu, rất ít người nghe mà hiểu được, ngài phải giảng lại một lần nữa." Tôi nói: "Giảng lại một lần nữa, họ nghe cũng không hiểu đâu." Kim Mẫu nói: "Ngài hãy dùng cách so sánh để mà nói." Bởi Phật Thích Ca Mâu Ni khi thuyết pháp rất thích dùng cách thức so sánh để giảng, để mà thuyết pháp. 

Tối qua tôi giảng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là ý gì? Như Lai có đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng? Tu Bồ Đề trả lời: *"Như con hiểu ý nghĩa mà Phật nói, không có pháp nhất định gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."* Không sai. Ở đây nói rằng, khi bạn đã trở thành một vị Bồ Tát rồi thì bạn không cho rằng bạn là Bồ Tát, nếu bạn thường xuyên nghĩ "ta là Bồ Tát" thì như thế là có nắm giữ. Rất đơn giản thôi, khi bạn đã đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, bạn sẽ không từ sáng tới tối nói với người ta rằng: "Tôi đã đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề." Bạn sẽ không nói với người khác như thế. Bạn nói hẳn ra "Tôi đã đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề", thế thì nghĩa là bạn chưa đắc đâu, người thật sự đắc được thì sẽ không nói. Một vị Bồ Tát sẽ không nói từ sáng đến tối rằng: "Tôi là Bồ Tát", vị ấy đã là Bồ Tát rồi, nhưng sẽ không nói ra rằng "tôi là Bồ Tát", điều này mọi người hiểu chứ? Bởi vậy, tôi nói với mọi người một cách rất đơn giản, ý mà Phật nói là như vậy.

Tiếp theo, pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Hôm qua tôi giảng phi pháp, phi phi pháp. Phi pháp thì chúng ta đã biết rồi, phi phi pháp thì không biết. Tôi nói rằng: hình như có pháp, hình như không có pháp. Kim Mẫu bảo thế là mơ hồ quá. Thế nào là quá mơ hồ? Diêu Trì Kim Mẫu bảo tôi: "Đó là logic, ngài phải nhớ cái này là logic học đó, phi pháp, phi phi pháp." Bây giờ tôi nói rõ với mọi người, người học logic chúng ta sẽ biết, bạch mã là ngựa, đúng không? (Mọi người trả lời: đúng.) Ngựa là bạch mã, có đúng không? Không đúng! (Mọi người trả lời: không đúng! Còn có những con ngựa màu sắc khác nữa.) Bạch mã là ngựa, ngựa không phải là bạch mã, nói vậy mọi người hiểu chưa? Chính là cái logic đó. Vì thế Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Ngài phải nói với mọi người về logic, thế thì mọi người sẽ hiểu cái gì gọi là phi phi pháp." Bố thí là Phật pháp, đúng thế không, nhưng Phật pháp không phải là bố thí, cái này mới là đúng. Nếu Phật pháp là bố thí, thế là sai rồi, cái này chính là chẳng phải phi pháp. Rất giống Phật pháp nhưng lại không phải là Phật pháp, thì nghĩa là chẳng phải phi pháp. Vì thế, muốn giảng Phật pháp, phạm vi của nó là rất lớn.

Bởi vậy, trước kia, tôi ở Bản Sư Đường tại Cao Hùng, Đài Loan, khi tôi thuyết pháp ở đó, tôi đã nói một câu: "Từ tế là Phật pháp, Phật pháp không phải là từ tế." Bên dưới có một người hay làm việc tình nguyện giúp đỡ, hình như là người của hội công đức Từ Tế, anh ta đứng dậy nói: "Sư Tôn, ngài nói sai rồi, từ tế chính là Phật pháp, Phật pháp chính là từ tế." Tôi bảo anh ta rằng: "Anh hãy về hỏi Chứng Nghiêm Thượng Nhân đi, bà ấy là sư tỉ của tôi đó." Chứng Nghiêm Thượng Nhân là sư tỉ của tôi, thật đó, tôi không lừa bạn đâu, bà ấy là đệ tử của Ấn Thuận Đạo Sư.

Tôi là đệ tử của Ấn Thuận Đạo Sư, bà ấy lớn tuổi hơn tôi, nên tôi gọi bà ấy là sư tỉ được chứ? Đúng mà, bà ấy gọi thầy Minh Thánh là sư bá, thầy Minh Thánh là hàng xóm của nhà tôi. Khi tôi còn sống tại biệt thự Tinh Võ ở Đài Loan, nhà tôi chỉ cách nhà thầy Minh Thánh một bức tường, chỉ cách nhà Ấn Thuận Đạo Sư một bức tường thôi. Nhà chúng tôi là biệt thự kề nhau, tôi sống ở gian nhà phía trong, gian nhà phía ngoài là Hoa Vũ Tinh Xá của Ấn Thuận Đạo Sư. Ấn Thuận Đạo Sư sống ở đó, thầy Minh Thánh là thị giả của ngài ấy, ông ấy là người quản gia (Chú thích: đạo tràng Giám Viện.) Chính là thầy Minh Thánh. Bà ấy gọi thầy Minh Thánh là sư bá, thầy Minh Thánh và tôi rất thân thuộc.

Vì thế, mọi người phải ghi nhớ câu nói này, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Chẳng phải phi pháp nghĩa là nói rằng: bố thí là Phật pháp, Phật pháp không phải là bố thí, nhẫn nhục là Phật pháp, Phật pháp không phải là nhẫn nhục…" Bởi vì Phật pháp quá rộng lớn, tất cả mọi thứ đều là Phật pháp, bạn tùy ý chỉ bất kì cái gì cũng đều là Phật pháp, nhưng mà, bạn nói Phật pháp là nhẫn nhục thì đó là sai rồi. Do vậy, đây chính là cách giải thích về không phải phi pháp, ý nghĩa của không phải phi pháp chính là ở đây: là Phật pháp lại không phải là Phật pháp. Giải thích như vậy là cách mà Diêu Trì Kim Mẫu đã dạy tôi. 

Rất đơn giản thôi, đây là logic: bạch mã là ngựa, ngựa không phải là bạch mã. Vì sao vậy? Ngựa có màu trắng, màu đen, màu nâu, có màu sắc hoa văn, bất kì loài ngựa nào cũng đều có, bây giờ ở Đài Loan còn phát minh ra loài "ngựa cỏ bùn" <span className="note-blue">[tên gọi một loài động vật giống con alpaca, đồng thời cũng được sử dụng như một từ tiếng lóng vận dụng chơi chữ vì có cách phát âm gần giống một câu chửi bậy ở Trung Quốc]</span> Có chuyện gì nữa không biết? Hát thì cứ hát thôi, Tạ Kim Yến hát thì cứ hát thôi, sao mà lại còn cưỡi một con ngựa cỏ bùn nữa chứ? <span className="note-blue">[Tạ Kim Yến là một ca sĩ, diễn viên, người mẫu, người viết ca khúc, sinh năm 1974 tại Cao Hùng Đài Loan]</span> Đài Loan còn có một nghệ nhân tên là Mã Quốc Tất, đúng không nhỉ? Không hiểu chuyện gì nữa? Tên gì không lấy, lại đi lấy cái tên là Mã Quốc Tất. Còn gì nữa, không đặt tên là ngựa gì khác, lại gọi là "ngựa cỏ bùn". Đúng thật là… 

Tiếp nữa, Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Có một điểm ngài cũng nói không rõ ràng: Tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt. Ngài nói thế nào nhỉ?" Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Bồ Tát chính là Thánh Hiền." Đúng rồi! Tứ Thánh đều là Thánh Hiền, A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật đều là Thánh Hiền, chúng ta chỉ lấy Bồ Tát làm ví dụ để nói. Bồ Tát là Thánh Hiền, *"đều dựa vào pháp vô vi"*, Bồ Tát chính là tu pháp vô vi, làm mà không vì cái gì cả, nhưng vẫn làm, thế là đúng rồi. Pháp vô vi là cái gì? Tôi làm không vì cái gì cả, chỉ là tôi dùng bồ đề tâm của Bồ Tát để mà làm thôi, phát bồ đề tâm để làm các thứ thì chính là Bồ Tát. Tôi phát bồ đề tâm mà đi làm việc, tôi làm việc này là do phát bồ đề tâm, chứ không phải làm vì cái gì khác, chính là pháp vô vi. 

Nhưng vì sao có sự khác biệt? Có chứ! Bồ Tát có sự khác biệt, Bồ Tát sơ địa gọi là Hoan hỉ địa, tiếp theo có Diễm huệ địa (địa thứ tư), Bồ Tát ở địa thứ bảy gọi là Viễn hành địa, Bồ Tát ở địa thứ mười gọi là Pháp vân địa, từ Bồ Tát sơ địa đến Bồ Tát thập địa, ở giữa có Bồ Tát của mỗi địa, đây chính là sự khác biệt. Bạn là Bồ Tát sơ địa, bạn là Bồ Tát nhị địa, bạn là Bồ Tát tam địa, bạn là Bồ Tát tứ địa, Bồ Tát ngũ địa, Bồ Tát lục địa, Bồ Tát thất địa, Bồ Tát bát địa, Bồ Tát cửu địa, Bồ Tát thập địa, đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt, khác biệt chính là nằm ở đây: bạn là Bồ Tát ở địa nào?

Diêu Trì Kim Mẫu nói với tôi: "Ngài phải giảng rõ ràng đó! Tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt." Bồ Tát có các cấp địa, A La Hán có các cấp địa không? Đợt lát nữa sẽ giảng đến, kinh Kim Cang có nhắc đến A Na Hàm, A La Hán là đẳng cấp cao nhất. Có bốn đẳng cấp: có vị gọi là A La Hán trụ thế, sống tại thế gian. Có vị gọi là A La Hán nhất lai, nghĩa là còn phải đến một lần nữa thì mới có thể thành tựu A La Hán. Có vị gọi là A La Hán bất hoàn, vị này ở Bất Hoàn Thiên. Có vị là A La Hán Thánh Hiền tối cao. Bốn cấp, bốn cấp này có sự khác biệt, có khác nhau. 

Phật cũng có khác biệt, Bản Sơ Phật là Phật ở địa thứ 16, Ngũ Phương Phật là Phật ở địa thứ 13, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát cũng tương đương với Phật, ngài ấy là địa thứ 11, ngài ấy có 11 khuôn mặt. Đến cao nhất là A Di Đà Phật. Ngài có 11 khuôn mặt, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát còn gọi là Quan Âm Thập Nhất Diện. Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát là Phật ở địa thứ 11. Vì vậy, tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt, nói như vậy đã rõ ràng chưa?

Vì thế, tôi giải thích Phần thứ 7: Vô đắc vô thuyết, tối hôm qua (tối thứ bảy) những gì tôi nói chưa đủ rõ ràng dễ hiểu, nên tối hôm qua Kim Mẫu bảo tôi phải giảng lại một lần nữa. Do đó tôi giảng lại một lần nữa cho mọi người, mọi người có thể hiểu rõ ràng hơn. 

Có một đôi vợ chồng sinh được một đứa con trai mặt heo, nghĩa là đứa con trai có khuôn mặt giống Trư Bát Giới. Người vợ nói: "Tôi đẹp như tiên nữ, anh cũng rất đẹp trai, vì sao con mình lại thành ra thế này? Lẽ nào sinh ra yêu quái?" Người chồng nói: "Đây đều là do họa di truyền, tôi chính là Trư Bát Giới đã được phẫu thuật thẩm mỹ." 

Thế nên, trên thế giới này, thật sự, mọi người cần phải mở to con mắt ra một chút, nhìn mọi thứ rõ hơn một chút, rất nhiều sự việc bạn cần phải nhìn cho rõ ràng bạn mới có thể hiểu được. Vì thế, đôi khi những gì trên ti vi có nói, hoặc trên báo có viết, cũng không chắc đã là thật đâu, bạn phải xem xét đó, đúng thế không? Chân Phật Tông rất trung thực này, nó chỉ là một group (nhóm) tu hành thôi, không có mưu đồ gì với việc gì khác cả, vì thế cần phải thấy rõ. Những gì trên ti vi nói hoặc trên báo viết cũng không chắc là đúng đâu. Trên thế giới này cái trung thực nhất, có khi chính là Chân Phật Tông đó. 

Hôm nay tôi giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 03/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 21.)*

### 22. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh (1)

*(Bài giảng 22)* Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, thì phúc đức người đó được nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Thưa Thế Tôn, rất nhiều! Là vì sao? Vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều."  
"Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc của người này còn hơn cả bố thí. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Hết thảy chư Phật và pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Tu Bồ Đề! Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp."*

Phần này, tôi vừa đọc xong đoạn kinh văn rồi. Bây giờ giảng về câu thứ nhất. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh. Tất cả Phật pháp, ở trong đây đã nhắc đến rồi, đều là xuất phát từ bản kinh điển này mà ra… tất cả Phật pháp đều từ Kinh Kim Cang mà ra. Trong đoạn này, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, thì phúc đức người đó được nhiều không?"* Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy. 

Tu Bồ Đề trả lời: *"Thưa Thế Tôn, rất nhiều! Là vì sao? Vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều."* Đoạn tiếp theo lại là Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *"Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc của người này còn hơn cả bố thí. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Hết thảy chư Phật và pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Tu Bồ Đề! Cái gọi là Phật, pháp, cũng tức không phải Phật, pháp."* Câu này Phật Đà nói.

Bởi vậy, cần phải phân biệt rõ cái nào là Phật Đà nói, cái nào là Tu Bồ Đề nói, mọi người phải thấy rõ. Đoạn ở đầu là Phật Đà nói, đoạn ở giữa là Tu Bồ Đề nói, đoạn ở sau lại là Phật Đà nói. Phần Y pháp xuất sinh này, Phật pháp từ kinh Kim Cang mà sinh ra, câu nói này ý là như vậy. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh: Phật pháp sinh là từ kinh Kim Cang mà bắt đầu sinh ra. Ở đây có mấy điểm quan trọng. Thứ nhất là sự so sánh, trong đoạn kinh văn này đầu tiên là so sánh. Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới, đem thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới này, đem đi bố thí, thì phúc đức của người này có nhiều không? Tu Bồ Đề nói, rất nhiều. Vì sao vậy? Bởi vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều. Đây là nói đảo lại, trong kinh Kim cang có rất nhiều câu nói đều là như vậy. Ở đây cũng nhắc đến cái gọi là Phật pháp cũng tức không phải Phật pháp. Nếu không giải thích thì mọi người sẽ chẳng có cách nào biết được những câu này là nói đảo lại. 

Tôi hỏi bạn một câu. Trước kia Sư Tôn đi thăm cư sĩ Lí Bỉnh Nam, tôi và cư sĩ Lí Bỉnh Nam hai người nói chuyện, cư sĩ Lí Bỉnh Nam ở Đài Loan rất nổi tiếng, ông ấy là một vị tổ sư của Tịnh độ tông, có thể nói ông ấy là tổ sư, cư sĩ Lí Bỉnh Nam, ông ấy theo Tịnh độ tông, là vị tổ sư chủ trương theo Tịnh độ. Tôi đến nhà ông ấy, khi ấy ông ấy sống tại số 9 đường Chính Khí ở Đài Trung. Tôi gặp ông ấy, gặp mặt Lí Bỉnh Nam. 

Tôi nhắc đến cư sĩ Trương Trừng Cơ, chính là cư sĩ Trương Trừng Cơ người đã dịch cuốn Milarepa, cũng là đệ tử của tôi, ông ấy là *Doctor*, làm tiến sĩ ở Mỹ, tôi đã quán đảnh quy y và gia trì cho ông ấy. Trương Trừng Cơ đến nhà tôi. Ông ấy đã viết một cuốn sách nhỏ "Cái gì là Phật pháp", tôi đem đến cho cư sĩ Lí Bỉnh Nam xem cuốn "Cái gì là Phật pháp" mà tiến sĩ Trương Trừng Cơ viết. Lí Bỉnh Nam trả lời: "Tôi muốn hỏi tiến sĩ Trương Trừng Cơ, Phật pháp là cái gì?" Cư sĩ Lí Bỉnh Nam cho rằng viết về vấn đề này là sai rồi. Cái gì là Phật pháp? Lí Bỉnh Nam cho rằng cái gì cũng đều là Phật pháp, làm gì có cái nào không có Phật pháp. Mọi người đã nghe rõ ràng rồi: cái gì cũng đều là Phật pháp!

Bây giờ tôi lại hỏi bạn một câu hỏi: trên trái đất có Phật pháp, trên mặt trăng có Phật pháp không? Tôi hỏi bạn, trên mặt trăng có Phật pháp hay không? Không có ư? Mọi người nói không có. (Có người trả lời: Có.) Anh nói có. Tôi nói cho anh biết một điều: rất đơn giản, bởi vì có con người, nên mới có tám vạn bốn nghìn pháp để đối trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh. Phật pháp ra đời như thế nào? Từ trong kinh Kim Cang mà sinh ra. Tôi đã nói rồi, mặt trăng có Phật pháp không? Mọi người nói không có. (Có người trả lời: Không có! Có!)

Tôi bảo bạn nhé, Phật pháp là để đối trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh. Nếu trên mặt trăng không có người thì không cần đến Phật pháp. Bởi vì con người mới có bệnh mà! Trên mặt trăng có người không? Không có. Nhưng trên mặt trăng, theo như kinh Phật nói, Quan Thế Âm Bồ Tát ở trên mặt trăng, vì thế trên mặt trăng cũng có Phật pháp. Cái này đã nói với bạn rồi: Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp. Nếu tất cả con người đều là Thánh Hiền thì không có Phật pháp nữa, đúng thế không? Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp, thì không có Phật pháp nữa. Con người đều là Thánh Hiền thì cần Phật pháp để làm gì? Không cần Phật pháp nữa. Cái gọi là Phật pháp, cũng tức không phải Phật pháp, chính là câu này, Phật pháp là từ đây mà ra.

So sánh một chút. Chúng ta nói, người này làm bố thí rất nhiều, đã mua hẳn tam thiên đại thiên thất bảo, người đó đem tam thiên đại thiên thất bảo đi bố thí, công đức rất lớn, Tu Bồ Đề nói công đức rất lớn. Vì sao lại nói một câu là: *“Thưa Thế Tôn, rất nhiều! Là vì sao? Vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều.”* Đây cũng là lời nói tương đồng, tôi vừa nãy đã giảng rồi, cái gọi là Phật pháp cũng không phải là Phật pháp, bởi vì không phải là Phật pháp nên mới là Phật pháp. Cái gọi là phúc đức nghĩa là không phải tính phúc đức, vì thế Như Lai nói là phúc đức nhiều. Cái gọi là phúc đức cũng không phải phúc đức, bởi vì không phải là phúc đức, cho nên phúc đức… đều là kiểu nói này. 

Hỏi bạn một câu. Ai thật sự có phúc đức, ai? Tôi? Tôi đã vừa nói với bạn rồi, cái gọi là phúc đức thì không phải phúc đức, bởi vì không phải phúc đức nên mới cần phúc đức. Tôi chưa bao giờ nghĩ về chuyện phúc đức, thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới, người nào có thể có được? Tôi hỏi bạn, có người nào có thể có được thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới? Người đó thật sự là có phúc đức, thật sự là nhiều đó! Nhưng có được rồi thì có tác dụng gì? Chẳng có tác dụng gì cả! Thế nên lại không phải là phúc đức, có tác dụng gì đâu. 

Tôi bảo bạn nhé, bốn câu kệ ở đây, đoạn sau nói đến: *"Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc của người này còn hơn cả bố thí. Là vì sao?"* Bốn câu kệ là cái gì vậy? Đã nói rồi: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. "Ngã" không tồn tại… Hôm đó chúng ta thấy Thượng sư Liên Ấn ngồi ở đây, ông ấy ngồi ở bên đó. Xin hỏi, bây giờ Thượng sư Liên Ấn đâu? Vô ngã tướng, tôi đã giảng rất rõ ràng rồi mà, khi bạn là đứa trẻ lúc mới sinh ra, tấm ảnh Thượng sư Liên Ấn khi còn trẻ, người đó là Thượng sư Liên Ấn sao? Cái người mà đi tới đi lui là Thượng sư Liên Ấn sao? Người ngồi ở bên kia là Thượng sư Liên Ấn sao? Người đã bị hỏa thiêu là Thượng sư Liên Ấn sao? Những hạt xá lợi là Thượng sư Liên Ấn sao? Những tro cốt kia là Thượng sư Liên Ấn sao? Vô ngã tướng, chính là cái này! Bạn nói xem, bạn có được cái gì? Hạt xá lợi sao? Đó là những viên đá cứng, hạt xá lợi còn gọi là hạt kiên cố, những viên đá cứng.

Hết rồi, không còn gì nữa. Bạn có thể giải thích được vô ngã tướng, có thể nói hết về vô ngã tướng, giải thích được cho người khác. Vô nhân tướng, ngoài Liên Ấn ra, chúng ta cũng đều không có nữa. Tôi nói với Tenzin Gyatso: "Một trăm năm sau cậu ở đâu? Cậu có được cái gì?" Cậu ta nói, chẳng có được cái gì cả. "Cậu không có được gì, vậy cậu đi học làm cái gì?" Tôi giải thích với cậu ấy rằng: phải đi học, cần đọc sách, chính là hi vọng rằng nghe hiểu được những lí thuyết Phật giáo mà Sư Tôn giảng, những Phật pháp mà Sư Tôn giảng. Xin mời ngồi. Cậu ta trẻ tuổi nhất, một trăm năm sau… làm gì còn tuổi trẻ với cái vẻ bề ngoài như một đứa trẻ con nữa.

Nhưng một trăm năm sau mọi người đều sẽ ở đâu? Đều biến mất rồi! Sư Tôn cũng chẳng thấy nữa, mọi người cũng đều sẽ không thấy nữa… Sư Tôn mấy năm sau cũng sẽ biến mất rồi, căn bản là chẳng có cái gì cả! Bạn có được cái gì? Có được vàng sao? Tôi có một ít vàng đó, vô dụng, đó chẳng phải của bạn, chỉ để cho bạn ngây ra ngắm thôi. Tôi có mang một ít tiền trên người, tôi mang theo số tiền này trên người, một túi to đó! Ôi chà, tiền không được để lộ ra… Để ngây ra ngắm thôi! Tôi ở Seattle nước Mĩ thì chỉ có mua… đi đến *gas station* (trạm xăng). *I buy gas in the gas station because I drive a car, I want gas.* (Tôi mua xăng ở trạm xăng bởi vì tôi lái xe, tôi cần mua xăng.) Tôi phải đổ xăng cho nên tôi mua xăng thôi. *I go back Taiwan, I just want water, I buy water.* (Tôi về Đài Loan, tôi chỉ cần nước, nên tôi mua nước.) Mua nước, ở đây thì mua xăng, ở Đài Loan thì mua nước. Còn những thứ khác thì sao? Cũng không có cái gì là của bạn. Không có. Tuổi đời cái xe của tôi còn dài hơn cả tôi.

Bạn không tin ư? Cái gì cũng đều không có được, bạn không có được thứ gì cả, cái gì cũng đều không có, vô ngã tướng, vô nhân tướng, chúng ta đều như nhau. Vô chúng sinh tướng, chúng sinh trên toàn thế giới đều như nhau. Thế bạn tranh giành cái gì chứ? Thế nên Phật giáo mới nói hai chữ "vô tranh". Trên thế giới, những người còn đang tranh giành thật sự là không hiểu bốn câu kệ này: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nếu như bạn có thể nói giảng cho người khác về bốn câu kệ này thì phúc đức của bạn là cực kì đó. Nhưng mà, phúc đức cũng không phải là phúc đức thì mới là phúc đức, chính là câu nói này. 

Sư Tôn có được cái gì? Phúc đức ư? Vừa nãy bạn nói Sư Tôn có được phúc đức, không có, tôi làm gì có được phúc đức gì? Phúc đức của tôi xem ra rất lớn… Trước kia, Thubten Daerji Thượng sư khi nhìn thấy tôi đã nói: "Phúc đức của anh rất lớn, Sư Tôn, phúc báo của tôi rất nhỏ, phúc báo của anh rất lớn, anh có biệt thự Cầu Vồng, tặng biệt thự Cầu Vồng cho tôi được không?" Tôi nói: "Được chứ!" Thế là thầy liền viết: "Lư Thắng Ngạn tặng biệt thự Cầu Vồng cho tôi." Rồi bảo: "Sư Tôn kí tên đi, Lư Sư Tôn kí tên tặng cho tôi đi." Tôi nói: "Được, được, tôi tặng cho thầy." Tôi liền kí tên. Tôi nói: "Tôi tặng thầy biệt thự Cầu Vồng." Thầy nói: "Hầy, tôi cầm tờ giấy này đi làm ông chủ ở biệt thự Cầu Vồng đây!"

Thầy ấy nói như vậy. Vì sao tôi muốn tặng cho thầy ấy? Tôi đã phải bỏ rất nhiều tiền để cày bừa ở đó đó! Xây nhà ở chính, xây điện Hộ Ma, xây bốn gian nhà nhỏ dùng cho việc bế quan, xây nhà vệ sinh… nhà vệ sinh cũng là tôi xây, đều là do tôi xây cả… Tôi và Sư Mẫu hai người, không thể nói là mình tôi, tôi và Sư Mẫu hai người đã xây dựng nó lên. Đất cũng là tôi mua, tôi lại có thể như thế ư, rộng rãi tặng nó cho Thubten Daerji Thượng sư ư? Khẳng khái làm sao, hơn nữa còn kí tên đóng dấu, còn đóng cả ấn để tặng cho thầy ấy… Tôi biết là thầy ấy cũng chẳng có được đâu mà.

Đừng nói rằng thầy ấy không có được, tôi cũng có được gì đâu. Bạn xem, bây giờ là người ta quản lí, tôi đi đến đó làm pháp hội thôi, mỗi buổi họ đưa tôi một nghìn đồng. Tôi ở bên đây làm các buổi đồng tu, mỗi buổi họ đưa cho tôi hai trăm đồng. Cái này thật là… thật là khiến người ta tức muốn chết! (Đùa). Chùa ở đây to như thế này, hai trăm đồng! Chùa bên kia cũng chẳng phải là nhỏ, một nghìn đồng. Bây giờ tôi thật sự là nghèo đến mức thảm thương. Nhưng mà tôi cũng chẳng buồn phiền, vì sao vậy? Chúng ta biết rồi, vô sở đắc. Bạn không thể có được gì thì cũng không tranh nữa. Nếu bạn có thể vô tranh thì tâm sẽ ôn hòa. Bạn sẽ chẳng có bệnh gì, về mặt tinh thần bạn sẽ chẳng có bệnh gì.

Vì sao tâm linh của con người có tám vạn bốn nghìn loại bệnh? Vì sao vậy? Chính là vì bạn cho rằng có thể có được, thế nên mới có bệnh. Nếu bạn hiểu vô sở đắc thì bạn sẽ không có bệnh. Vì sao anh chị em lại tranh nhau tài sản? Còn bạn, người ở thiên đường, tiền ở ngân hàng, anh em thì đang tranh giành tài sản của bạn, vợ thì nằm trên ngực của người khác. Cái gì là của bạn chứ? Hãy nghĩ cho rõ ràng, không có thứ gì là của bạn. Khi bạn cảm thấy đúng là vô sở đắc — phúc đức cũng là không phải phúc đức, thì tức là phúc đức. Phật pháp chẳng phải Phật pháp thì chính là Phật pháp. Những câu tương phản đều nằm ở đây, bằng không bạn sẽ không hiểu rõ vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói là, cái gọi là Phật, pháp, cũng tức không phải Phật, pháp. Thật chẳng hiểu ra làm sao, vừa nói là Phật pháp, vừa nói là không phải Phật pháp, phúc đức gì mà lại là không phải phúc đức?

Hôm nay tôi đã giảng rõ ràng cho mọi người rồi. Một câu nói quan trọng nhất trong Tâm Kinh là: *"Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa."* Bởi vì bạn đã nhận rõ là vô sở đắc rồi, nhận thức rõ ràng rồi, thì tâm bạn sẽ ôn hòa, không tranh chấp, bạn có thể an định, bạn có thể nghĩ cho người khác, chính là Bồ Đề, Bồ Đề Tát Đỏa. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề Tát Đỏa chính là Bồ Tát, Bồ Tát do như vậy mà có. Chúng ta muốn làm một Bồ Tát, trước tiên phải dựa vào tâm vô sở đắc, trọng điểm của kinh Kim Cang nằm ở đây, phần Y pháp xuất sinh. 

Vì sao lại có Phật pháp sinh ra? Bởi vì bản thân con người có tám vạn bốn nghìn loại bệnh, từ tám vạn bốn nghìn loại bệnh này mà sinh ra tám vạn bốn nghìn loại Phật pháp. Nếu không có con người thì không cần Phật pháp, tất cả đều là Thánh Hiền thì cũng không cần Phật pháp. Phật pháp cũng tức không phải Phật pháp. Như vậy mọi người nghe hiểu không? Vì thế, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đây là "tứ phi tứ tướng" mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Bốn tướng này đều loại bỏ hết, thật sự hiểu được điều này thì trong lòng sẽ vô cùng bình hòa, tôi cũng sẽ không tính toán chi li vì sao Seattle Lôi Tạng Tự chỉ đưa cho tôi hai trăm đồng, ở biệt thự Cầu Vồng thì họ đưa cho tôi một nghìn đồng… Biệt thự Cầu Vồng là đưa một nghìn đồng nhỉ? Một cái gói một nghìn đồng. Còn ở bên kia là hai trăm đúng không? Bạn thấy đấy, mỗi buổi tôi về nhà, tôi đếm số tiền đó rất kĩ càng đó. Mỗi tuần sẽ có được một nghìn hai trăm đồng… bây giờ nghèo muốn chết rồi, nghèo tới nỗi ma còn không muốn bắt tôi nữa. (Đùa)

Thật đó, rất thảm. Khoảng thời gian này, thời kì dịch bệnh thật sự là rất thê thảm, người ở nơi khác đến không nhiều, cũng không có đại pháp hội, người ở nơi khác đến rất ít. Kể từ gần đây nới lỏng một chút, người ở các bang khác có thể đến một chút. Trước kia khi chưa nới lỏng, các nước đều đóng cửa đất nước, mọi người đều không ra ngoài, các đệ tử đều không xuất hiện nữa, thế là Sư Tôn không có thu nhập gì, rất thê thảm, sống những ngày tháng thê lương. Rất thê lương, chỉ có trông vào hai trăm đồng ngày thứ bảy, và một nghìn đồng vào ngày chủ nhật. Tôi còn phải nuôi con xe Rolls-Royce nữa chứ! Mong nó không bị hỏng, mỗi lần tôi sửa nó là mấy nghìn đồng đó. Rolls-Royce mỗi lần sửa là hết mấy vạn đồng, nếu mà xe Rolls-Royce bị hỏng thì… có một lần tôi sửa hết bốn chục nghìn đô đó. Bạn có biết không? Trước kia xe Rolls-Royce sửa hết bốn chục nghìn đô đó! Bốn chục nghìn à… tôi phải ở đây thuyết pháp đến lúc tôi chết cũng không có được bốn chục nghìn đồng! Ở Biệt thự Cầu Vồng có được một nghìn đồng... Tôi còn phải nuôi ngôi nhà nữa, còn phải nộp thuế nữa! Thật đó, gần đây tôi đi ra ngoài đều thất vọng ủ ê.

Nhưng còn may, tâm lí tôi rất yên ổn, tôi biết là vô sở đắc. Được nhiều, được ít, phúc đức nhiều, phúc đức ít, đều bình đẳng như nhau. Có được cái tâm này thì rất thản nhiên. Bạn sẽ sống một cách ung dung thoải mái, chúng ta có thì cố gắng hết sức để bố thí, đi làm những việc gọi là công đức. Thật ra cái gọi là công đức cũng là không có công đức, vì thế, do không có công đức nên mới là công đức, chính là như thế, đều là như vậy. Bạn sẽ là một vị Bồ Tát, Bồ Tát chính là từ đây mà sinh ra. A La Hán cũng từ đây mà sinh ra, Bồ Tát cũng là từ đây mà sinh ra, Duyên Giác cũng từ đây mà sinh ra, Phật cũng từ đây mà sinh ra. Kinh Kim Cang là cái gốc, phá hủy tất cả cái gốc, những thứ vốn dĩ không có đều sinh ra. Chính là như vậy, vì thế ở đây nói rất hay. 

Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tu Bồ Đề, ông nghĩ như thế nào? Nếu con người đem thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc đức mà người đó có được chẳng phải nhiều sao? Tu Bồ Đề nói: *"Rất nhiều."* Thật đó, dùng thất bảo nhiều bằng tam thiên đại thiên để bố thí thì đương nhiên phúc đức của người đó là vô cùng nhiều. Phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, người ta không biết việc đó có ý nghĩa gì… vừa nãy tôi đã giảng rồi, bởi vì phúc đức không phải là phúc đức, cho nên Như Lai nói phúc đức nhiều. Cái gọi là phúc đức chính là chẳng phải phúc đức, bởi vì chẳng mang tính phúc đức nên là phúc đức, cho nên có phúc đức.

Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, tức là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Tôi thường nói, vô chúng sinh tướng là thuộc về không gian, vô thọ giả tướng là thuộc về thời gian. Thời gian là con người đặt ra, vốn dĩ cũng không có. Không gian cũng không có, không gian cũng không tồn tại. Bạn nói xem nó to lớn chừng nào? Vũ trụ này lớn chừng nào? Đến bây giờ người ta vẫn chưa biết nó to cỡ nào. Bạn cũng chưa thể vượt ra ngoài hệ mặt trời. Bạn biết vũ trụ lớn bao nhiêu không? Trước kia con người chúng ta nói, thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, trời là tròn, đất là vuông, thế thì cứ đi, đi,… đi đến đây thì rơi "bộp"! Thế là rơi xuống mất tiêu. Đương nhiên thế là sai rồi, đất là vuông sao? Đương nhiên không phải rồi, bây giờ chúng ta đã biết đất không phải vuông.

Rốt cục to bao nhiêu, nhỏ bao nhiêu? Không có, bạn không thể đo được, không thể đo không thể biết, đó là cảnh giới bất khả thuyết. Vũ trụ này to lớn cỡ nào? Cảnh giới bất khả thuyết. Lần trước có người hỏi Sư Tôn: Sư Tôn có biết phân thân của ngài đi đến những đâu không? Có biết không? Khi tôi trở về, tôi đã hỏi Phật Bồ Tát, tôi phải nói thế nào đây? Các vị nói với tôi: bất khả thuyết. Điều đó thuộc về cảnh giới bất khả thuyết. Phân thân này đi đến đâu? Phân thân trở về Đài Loan, phân thân ở Nhật Bản, phân thân ở Indonesia, phân thân đến Malaysia, phân thân đi đến những nơi nào, ở trong mơ thuyết pháp cho mọi người. Cái đó thuộc về cảnh giới bất khả thuyết. Bất khả thuyết, bạn có bao nhiêu phân thân là điều bất khả thuyết. 

Tôn Ngộ Không trước kia trong truyện Tây Du Kí, Tôn Ngộ Không nhổ hết lông ra, thổi một hơi, toàn bộ đều biến thành Tôn Ngộ Không. Rốt cuộc có bao nhiêu Tôn Ngộ Không? Tôi hỏi bạn, bạn có bao nhiêu sợi tóc? Đó là phạm vi không thể nói được. Trên người bạn có bao nhiêu lỗ chân lông? Đó là cảnh giới bất khả thuyết đó. Ngay trên thân người đã có điều không thể nói được rồi! Vì vậy, có bao nhiêu phân thân? Các vị Phật Bồ Tát nói với tôi: đó là điều bất khả thuyết. Còn việc phân thân đi đâu, bạn có biết không? Bạn cùng người kia thuyết pháp, thuyết pháp gì, bạn có biết không? Đó là cảnh giới bất khả thuyết, nhưng đôi khi Sư Tôn có biết. 

Đúng rồi, mọi người có biết không? Không biết. Bởi vì không thể nói mà. Tôi kể cho bạn một chuyện rất kì quái. Gần đây, người ta tặng cho tôi một bộ quần áo bọ cạp. Có ai biết không? Mọi người có biết bộ quần áo bọ cạp không? Biết à. Tôi cởi áo một chút cho mọi người thấy, bây giờ nhìn thấy y phục của tôi rồi. Đây là quần áo trong của tôi, quần áo trong mà tôi mặc bây giờ, bộ quần áo đó gọi là quần áo bọ cạp, nghĩa là có hình dáng của một con bọ cạp, tôi mặc lên người. Có đệ tử mơ thấy hai tay của họ bị hai con bọ cạp cắn, họ nói, ấy, quái lạ, đây là mộng cảnh gì vậy nhỉ, vì sao thế? Sau đó, tôi trả lời cho họ rằng, bởi vì tôi đã mặc lên người bộ quần áo bọ cạp, cho nên họ sẽ mơ thấy bọ cạp.

Tương ứng đó! Rất ít người biết tôi mặc bộ đồ bọ cạp, bởi vì đó là quần áo trong, mặc ở bên trong, người ta không biết tôi mặc quần áo bọ cạp gì cả, kết quả là mơ thấy con bọ cạp. Họ nói, họ chưa từng bao giờ nghĩ đến bọ cạp, bởi vì tôi cũng rất ít khi nghĩ đến bọ cạp, bởi vì ở đây chúng ta không nhìn thấy bọ cạp, ở chỗ bạn có thể nhìn thấy nhưng ở Mĩ cũng rất ít khi thấy bọ cạp, nên cũng sẽ chẳng nghĩ đến bọ cạp. Kết quả là họ nằm mơ, không ngờ mơ thấy bọ cạp! Đây là hiện tượng tương ứng. Vì thế, phân thân là một chuyện vô cùng kì lạ. 

Mắt tôi nhắm lại, tôi biết tôi đã đến nơi nào đó rồi. Bạn đừng thấy tôi ngồi trên pháp tọa ngủ gật, bởi vì tôi vô niệm, tôi chẳng có suy nghĩ gì. Khi mọi người đang nghĩ thì tôi chẳng nghĩ gì, khi mọi người đang trì chú thì tôi chẳng trì chú, bởi vì tôi vô niệm, tâm dừng lại ở một, ngay cả một cũng không có nữa. Vốn dĩ là nhập định, kết quả là đã ngủ gật mất… Bạn đừng cho là tôi ngủ mất rồi đấy nhé! Tôi ngủ là thật ra đã đi ra ngoài làm rất nhiều chuyện đấy, sau đó tôi lại quay về. Bạn thấy tôi ngủ gật, gục gặc cái đầu, nhưng bạn có biết linh hồn của tôi thoát ra khỏi lỗ đỉnh đầu không? Đi ra rồi, đi đến nơi khác rồi, tôi biết tôi đi làm việc gì, tôi cũng biết đó. Vì vậy, đây là một chuyện rất vi diệu, một cảnh giới bất khả thuyết.

Tôi bảo mọi người: không phải của bạn. Trước kia có một người nói với Sư Tôn: "Sư Tôn, tình hình của tôi rất căng, Sư Tôn có thể cho tôi vay tiền không?" Tôi nói: "Có thể chứ." Tôi liền đem số tiền tiết kiệm khi đó của tôi cho anh ta vay, gói lại toàn bộ đưa cho anh ta. Anh ta cầm theo cái túi, anh ta đã chuẩn bị cả cái túi, bỏ tất cả số tiền của tôi vào trong đó, khoác lên lưng rồi ngoái lại nhìn tôi một cái. Tôi nói một câu: "Khi ngoảnh lại, đã trăm năm rồi." Đến hôm nay… khi ấy tôi nhìn tấm lưng anh ta, anh ta nhấc túi lên một cái rồi đi. Từ đó tôi không còn gặp lại anh ta nữa, đến tận bây giờ. Liên Chủ, Liên Thế, hai người có quen anh ta không, cái người cầm theo cái túi rồi bỏ đi đó? Họ Phan, có biết không? Tôi không gặp lại anh ta nữa, sau khi anh ta khoác túi bỏ đi, tôi không gặp lại anh ta nữa. Ngoảnh đầu lại thì đã trăm năm rồi. Tôi vẫn còn nhớ sự việc này, nhưng tôi cũng không có cái suy nghĩ đòi anh ta phải trả lại. Vì sao vậy? Tôi cũng chưa bao giờ tìm anh ta. Bởi vì anh ta cầm tiền đi thì cũng đi rồi mà, đó cũng chẳng phải là tiền của tôi. Hiểu chứ?  
Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 09/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 22.)*

### 23. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh (2)

*(Bài giảng 23)* Bố thí tiền, bố thí pháp và bố thí vô úy

Ở đây có một so sánh. Nếu con người đem thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới dùng để bố thí, thì phúc đức người này có được rất nhiều, nhưng vì người khác mà nói bốn câu kệ, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức này còn hơn cả phúc đức bố thí tam thiên đại thiên thế giới thất bảo. Phúc đức này còn hơn cả phúc đức kia. Đây là một sự so sánh, vì thế trong kinh Kim Cang có rất nhiều so sánh dùng để ví dụ. Dùng thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, công đức rất lớn, nhưng vì người khác mà giải thích bốn câu kệ này: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, giải thích bốn câu kệ, thì công đức của việc này còn lớn hơn công đức của bố thí thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới.

Vì thế, ở đây cần nói đến một điểm, bố thí thật ra có ba loại. Loại thứ nhất là bố thí tiền. Vừa rồi có bố thí thất bảo, đây là dùng tiền để bố thí, dùng tiền để đi làm công đức, đi bố thí, đây là loại thứ nhất, có thể nói nghĩa là dùng thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới để bố thí. Loại thứ hai là bố thí pháp. Bạn thuyết pháp cho người khác, giảng Phật pháp cho người ta nghe, đây cũng là một kiểu bố thí, cái này chính là bố thí pháp, công đức hơn hẳn loại kia — công đức này lớn hơn bố thí tiền.

Loại thứ ba chính là bố thí vô úy. Thế nào là bố thí vô úy? Cũng tương đương với bố thí bình đẳng, bình đẳng xả thí là Bồ Tát. Bình đẳng xả, hôm qua tôi đã nói rồi, trước kia có một đệ tử cũ vay tiền của tôi, tôi cho anh ta vay tiền và nói: "Khi ngoảnh đầu lại thì đã trăm năm rồi." Anh ta ngoảnh lại nhìn tôi một cái, rồi cầm túi tiền trong đó đựng số tiền mà tôi đã dành dụm riêng bỏ di. Toàn bộ số tiền tiết kiệm riêng của tôi đều đưa cho anh ta, anh ta đem toàn bộ số tiền dành dụm riêng của tôi đi, đó là tôi đã bố thí vô úy <span className="note-blue">[cho đi mà không lo sợ điều gì]</span>, không nghĩ ngợi anh ta sẽ trả lại tiền không, tôi đã cho rồi thì là cho. 

Anh ta vay tiền tôi, tôi liền cho anh ta vay. Bạn có biết anh ta vay tiền để dùng làm gì không? Tôi không biết. Nếu như anh ta đem đi, đem số tiền này đi để bố thí, cầm đi làm việc thiện, cầm đi làm những việc tốt thì sao? Từ trước đến giờ tôi nghĩ như thế này: tôi rất ít khi tiêu tiền, bây giờ có người giúp tôi tiêu tiền, tiền vốn dĩ là để tiêu mà, đúng không? Tiền mà không tiêu thì làm gì gọi là tiền, chỉ là giấy thôi. Sư Tôn không tiêu tiền, thế thì thẳng thắn nói luôn là tiền của ngài cứ đưa tôi dùng hết cho. Anh cầm tiền đi làm việc thiện, được thôi, đây là bố thí vô úy, bố thí bình đẳng. 

Tiền vốn dĩ chính là để tiêu, tiền của bạn không tiêu thì chỉ là giấy thôi, so với giấy vệ sinh thì có gì khác đâu chứ? Nếu tiền của anh không tiêu thì có gì khác với giấy vệ sinh? Bạn nghĩ mà xem, tiền vốn dĩ là để tiêu, thế thì tôi dành dụm số tiền riêng đó, tôi chẳng bao giờ dùng đến, anh lấy đi dùng, thì đó là anh giúp tôi tiêu, thế thì chẳng sao cả, bình đẳng, cần nghĩ như vậy, vì thế, tôi cũng không đòi anh ta trả lại tiền, tôi sẽ không chạy theo anh ta mà nói: "Lần trước anh cầm tiền của tôi, bây giờ phải trả lại tôi toàn bộ." *No*, tôi sẽ không làm thế.

Cái này tương đương với bố thí bình đẳng vô úy, đây là sự thí xả của Bồ Tát, luôn luôn nghĩ vì người khác, người ta cầm đi làm việc thiện. Trên đời này làm gì có tiền của bạn, bạn chẳng qua chỉ là gặp cơ duyên may mắn, bạn có được số tiền này, người ta giúp bạn tiêu, bạn còn phải cảm ơn người ta đó. Bạn còn phải đi cảm ơn người ta: "Cảm ơn anh đã giúp tôi tiêu tiền." Đây cũng chính là tinh thần của Guru Jesus của tôi. Người ta lấy mất quần áo ngoài của bạn, thế thì quần áo trong bạn cũng đưa cho họ luôn. (Thế thì bạn cũng trần trùng trục luôn.) Người ta lấy đi cái quần tây của bạn, vậy thì cái quần lót bạn cũng cởi ra đưa cho người ta luôn. Đó là tinh thần của Jesus, Jesus cũng là bố thí vô úy, Ngài cũng có tinh thần của một vị Bồ Tát.

Buổi tối cuối cùng, Ngài đã cầu nguyện đến Thượng Đế như thế nào? Ngài biết rõ sẽ bị bắt đi đóng đinh trên thập tự giá, Ngài đã cầu nguyện ra sao? Ngài nói: "Những gì họ đã làm họ không biết, vì thế, xin Thượng Đế hãy tha thứ cho những người đóng đinh con lên thập tự giá." Xin Thượng Đế tha thứ cho những người đóng đinh Ngài lên thập tự giá, vì họ không biết về những việc họ làm, Jesus cũng bố thí vô úy. Cho nên, nếu bạn tu hành có được ba loại bố thí này, bố thí pháp tốt hơn bố thí tiền, bố thí bình đẳng vô úy tốt hơn bố thí pháp. Cần phải hiểu kiểu so sánh này, bởi vì tinh thần của Bồ Tát thật sự là vô cùng vĩ đại. Jesus cũng đã thể hiện sự vô úy không sợ hãi, bình đẳng, còn tha thứ cho những người đã hại Ngài, cầu nguyện lên Thượng Đế xin tha thứ cho những người đã hại Ngài, đây chính là chỗ rất vĩ đại của bản thân Jesus. 

Vì vậy, tôi cảm thấy, chúng ta tu hành cần thật sự làm một vị Bồ Tát (Bồ Đề Tát Đỏa), đó là mục tiêu của chúng ta. Trong kinh Kim Cang nói đến bình đẳng vô úy, có so sánh rằng: ở đây nói, nếu có người đem thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới dùng để bố thí, công đức rất lớn, nhưng nếu lại có người, trong bài kinh này, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà nói, thì phúc ấy còn hơn cả phúc kia. Bố thí pháp càng lớn hơn, vĩ đại hơn, sau đó bố thí bình đẳng vô úy còn vĩ đại hơn nữa, đây là một sự so sánh.

Rồi, hôm nay tôi giảng cho mọi người Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh, nói với mọi người rõ ràng một chút, trong đây có sự so sánh, một cái là bố thí thất bảo, một cái là bố thí pháp, tôi nói thêm một cái nữa là bố thí bình đẳng vô úy. Nếu bạn có bố thí bình đẳng vô úy thì thế giới này đã được an ninh rồi. Thế nào gọi là thế giới đại đồng? Lí tưởng của Khổng Tử, thế giới đại đồng, đại đồng thế giới, đây là một điều lí tưởng, cả thế giới Ta Bà này đều là tịnh thổ, mỗi một người đều nghĩ cho người khác, không khởi lên tranh chấp, không có tranh chấp. Giữa người và người với nhau sẽ không khởi tranh chấp, không có đố kị, không có ghen tuông.

Bởi vì người khác tốt hơn bạn nên bạn ghen tuông, bạn sẽ đố kị, chỉ nghĩ cho bản thân, thế thì đó không phải là tinh thần của Phật giáo, đó là "hữu ngã" chứ không phải "vô ngã". Thật sự đến được vô ngã rồi, là một Bồ Tát nghĩ cho người khác không nghĩ cho bản thân, là một Bồ Tát không cầu cho mình mà cầu cho người khác. Bạn xem thế giới này, bạn mở ti vi ra mà xem xem, tất cả đều thế, mỗi người đều ích kỉ, mỗi gia đình đều ích kỉ, mỗi quốc gia đều ích kỉ. Đạo lí lớn của Phật giáo, thế giới đại đồng thật sự nằm trong Phật giáo, cái gì là vô duyên đại từ, đồng thể đại bi? Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, đó là Bồ Tát đó, vì thế đừng vì cá nhân, đặc biệt là ghen tuông, đố kị, cái này đều không tốt, thật sự đó.

Thật ra mọi người cần luôn luôn nghĩ cho người khác, đừng nghĩ cho bản thân, cho nên tôi thường nói, người thọ Bồ Tát giới đến thọ Bồ Tát giới, tôi nói: "Bồ Tát không nghĩ cho bản thân, nghĩ cho người khác, phát bồ đề tâm hoán đổi mình và người khác." Bạn luôn luôn nghĩ: "Nếu chính bạn là người ta thì bạn sẽ như thế nào?" Hãy luôn có suy nghĩ như vậy. Đặt mình vào vị trí của người khác chính là một cách trong pháp phát bồ đề tâm. Kim Châu Đại Sư truyền cho Atisha tôn giả pháp phát bồ đề tâm, cách hoán đổi mình và người khác trong đó chính là dạy bạn làm một vị Bồ Tát, cho nên, đặt mình vào vị trí của người khác để nghĩ cho người khác là ở đây. 

Trong so sánh ở Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh này, bố thí pháp tốt hơn bố thí tiền, tiếp theo nữa, bố thí bình đẳng vô úy tốt hơn bố thí pháp. Bạn là một Bồ Tát, học tập tinh thần của Bồ Tát, bạn thọ Bồ Tát giới rồi, học tập tinh thần của Bồ Tát, giúp đỡ người khác thậm chí đến mức hi sinh bản thân mình, không còn bản thân nữa. Bồ Tát là không còn bản thân, khi ấy gọi là thành tựu, bởi vì không còn bản thân, nên cũng không có thành tựu, bởi vì không có thành tựu, cho nên mới gọi là thành tựu, chính là như vậy đó. Phần thứ 8: Y pháp xuất sinh được nói đến ở đây, tôi nói một so sánh này cho mọi người nghe, cái này vô cùng quan trọng. Phật Thích Ca Mâu Ni đưa ra so sánh này ở đây, nếu như tôi không giảng, mọi người cũng sẽ không biết. So sánh này phải… chỉ riêng giải thích bốn câu kệ này đã vượt trội sự bố thí tiền rồi, sau đó lại thêm bố thí bình đẳng vô úy nữa, thế thì lại càng tốt hơn, tất cả đều viên mãn.

Vì sao giữa các quốc gia có chiến tranh kinh tế, cuộc chiến gì cũng đều vì đất nước của chính mình? Vì sao bạn không nghĩ cho đất nước khác? Tối hôm qua tôi xem ti vi, có một người nuôi rất nhiều mèo, sau đó anh ta đem lũ mèo đi khắp nơi làm bẩn toàn bộ cả khu phố. Sau đó người khác bí mật đi thông báo cho ban quản lí, ban quản lí cảnh cáo anh ta, anh ta ghét hàng xóm đối diện đã bí mật báo cho ban quản lí, không ngờ anh ta đã đem rác ra chặn ở trước cửa nhà của hàng xóm. Tôi xem thấy đoạn phim này, đó chính là chỉ vì bản thân mình, anh cũng cần phải nghĩ cho hàng xóm một chút, anh nuôi nhiều mèo như vậy chúng đi ị bậy khắp nơi, khiến cho cả khu đều bốc mùi hôi thối, hàng xóm có chịu nổi không?

Sau đó người ta bí mật đi tố cáo anh ta, anh ta lại chặn cửa nhà người ta lại. Anh ta kéo các thứ đến để chặn trước cửa nhà người ta, hại người ta không ra được. Người ta ở trong nhà không ra được, còn phải gọi điện thoại kêu cảnh sát đến để mở cửa, sau đó camera đã ghi lại được là do hàng xóm đối diện làm. Đều là ích kỉ tư lợi, nhìn xem, ôi chao, ích kỉ tư lợi. Quốc gia cũng thế, bạn nghĩ xem mấy người làm Tổng thống, bạn xem những người làm Tổng thống như thế nào? Những người học Phật chúng ta cũng đừng phê bình người khác, chúng ta chỉ cảm thấy cần nói rằng, đời người ngắn ngủi như một trò chơi, bạn xem, Liên Ấn đã đi rồi, "Mắt thấy người ta chết, trong lòng nóng như lửa, chẳng phải lo người khác, lo sắp tới lượt mình." Tiếp theo lại đến lượt mình. Nghĩ mà xem, bạn còn tranh giành cái gì? Mọi người đừng tranh tới tranh lui, bình đẳng vô úy buông xả đi. Om mani padme hum.

*(Ngày 10/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Ma Lợi Chi Thiên tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 23.)*

### 24. Phần thứ 9: Nhất tướng vô tướng (1)

*(Bài giảng 24)* Sơ quả A La Hán Tu Đà Hoàn

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tu Đà Hoàn có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tu Đà Hoàn còn được gọi là Nhập Lưu, nhưng không có chỗ nào mà nhập vào, không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn."*

Nhất tướng cũng tương đương với vô tướng, đây là phẩm thứ chín. Phật hỏi Tu Bồ Đề: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tu Đà Hoàn có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không?"* Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi. Tu Bồ Đề nói… Tu Bồ Đề trả lời: *"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tu Đà Hoàn còn được gọi là Nhập Lưu, nhưng không có chỗ nào mà nhập vào, không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn."*

Tôi giải thích với mọi người đoạn này. Thật ra mấy đoạn tiếp theo cũng đều là một vấn đề giống nhau. Chúng ta biết rằng A La Hán là cao nhất. A La Hán phân thành bốn loại, một loại là "Nhập Lưu" như vừa nãy mới nói, là Tu Đà Hoàn - A La Hán sơ quả. Tiếp theo, A La Hán nhị quả gọi là "Nhất Lai". A La Hán tam quả gọi là "Bất Hoàn". A La Hán tứ quả gọi là "Li Thế", đó là bốn cảnh giới của A La Hán. A La Hán phân thành bốn cấp, cũng chính là tu Khổ - Tập - Diệt - Đạo. Phật hỏi Tu Bồ Đề: Ý ông thế nào? Một vị Tu Đà Hoàn có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không?

Đúng, không sai. Bạn không thể nói "Bây giờ tôi là Phật", bạn cũng không thể nói "Tôi là Bồ Tát", bạn cũng không thể nói "Tôi là A La Hán", không thể nói thế. Bởi vì thân ở trong đó, đó chỉ là một cái tên thôi! Phật là một cái tên, Bồ Tát là một cái tên, A La Hán là một cái tên, Tu Đà Hoàn này chỉ là một cái tên thôi! Bây giờ có nói "Tôi đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không? "Tôi đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không? Nếu có người đã là Tu Đà Hoàn rồi, bây giờ người đó lại nói rằng "Tôi đã đắc Tu Đà Hoàn", ở đây Tu Bồ Đề nói: Không có chuyện như vậy.

Thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tu Đà Hoàn còn được gọi là Nhập Lưu. Tôi hỏi mọi người, thế nào gọi là nhập lưu? Tôi nói cho mọi người biết luôn, không cần tôi phải hỏi nữa… bởi vì ở đây tôi cũng không có quà gì để tặng. Hỏi rồi lại không có giải thưởng, bạn trả lời đúng cũng không có giải thưởng, ở Biệt thự Cầu Vồng còn có mấy thứ để làm giải thưởng, ở đây hoàn toàn chẳng có giải thưởng gì, tôi mời bạn uống một cốc nước vậy. (Có người có mặt ở đó trả lời: Ở trong ngăn kéo có.) Ồ, bên trong ngăn kéo có à? Giấu ở trong đây à? Bên trong ngăn kéo có cái cóc khô gì thế? Không thấy gì! Bị người ta lấy đi mất rồi à? Bên trong ngăn kéo… vì thế tôi mới bảo mọi người: trả lời đúng thì được cái cóc khô gì chứ?

Rồi, tôi nói cho mọi người biết, thế nào gọi là nhập lưu? Chúng ta nói đến nhà ăn lớn ở Seattle Lôi Tạng Tự, phòng ăn, ở phía trước chẳng phải có một vị Tân Đầu Lư sao? Nói cho bạn biết, Tân Đầu Lư chính là Nhập Lưu. A La Hán trụ thế, A La Hán sống tại thế giới Ta Bà này thì gọi là Nhập Lưu. Chữ “lưu” này của chúng ta nằm trong ý nghĩa xã hội suy đồi con người bon chen. Bạn nhập lưu nghĩa là bạn tiến vào một dòng chảy. Dòng chảy này là cái gì? Là ngũ trọc ác thế. Đó gọi là nhập vào dòng, A La Hán trụ thế gọi là Nhập Lưu, họ tiến vào ngũ trọc ác thế của thế giới Ta Bà. Tân Đầu Lư của chúng ta thuộc nhóm A La Hán Nhập Lưu, sống trong xã hội suy đồi con người bon chen này, ngài ấy là A La Hán trụ thế, gọi là Nhập Lưu.

Ở đây nói với mọi người một cách đơn giản, vì sao Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu, nhưng không có chỗ nào để nhập vào? Mặc dù Tân Đầu Lư sống trong ngũ trọc ác thế, nhưng ngài ấy không thật sự tiến nhập vào ngũ trọc ác thế, ngài ấy giữ gìn sự thanh tịnh của một bậc Tu Đà Hoàn. Ngài ấy thanh tịnh! Ngài ấy là một A La Hán thanh tịnh. Mặc dù ngài ấy tiến vào ngũ trọc ác thế, ở trong xã hội suy đồi con người bon chen, nhưng ngài ấy thuộc hàng A La Hán thanh tịnh, cái này tương đương với không nhập lưu, như vậy mọi người hiểu chứ? Bởi thế, người bình thường họ không hiểu được vì sao nhập lưu lại không phải là nhập lưu. Là ý gì đây? Bởi vì mặc dù ngài ấy sống trong ngũ trọc ác thế nhưng không chịu ảnh hưởng của ngũ trọc. Vì sao không chịu ảnh hướng của ngũ trọc? Tu Bồ Đề đã trả lời: không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn.

Ngài ấy không tiến nhập vào, ngài không bị sắc thanh hương vị xúc pháp ảnh hưởng… Tân Đầu Lư của chúng ta ngồi ở đó, Trường Mi Tôn Giả ngồi ở đó, cặp lông mày dài dài, cái miệng mở to, Phật Thích Ca Mâu Ni ở phía sau, bức tướng của Phật Thích Ca Mâu Ni treo ở phía sau. Miệng ngài há ra, bởi vì bị Phật Thích Ca Mâu Ni phạt phải ở lại thế giới Ta Bà, ngài ấy kêu thảm thiết một tiếng "á". Vị Bạch Mi Tôn Giả này, ngài ấy không nhập vào sắc. Tôi kể với mọi người, ví dụ hôm nay có một cô gái xinh đẹp bước vào nhà ăn để ăn cơm, ngài ấy cũng sẽ không mở to mắt nhìn chằm chằm vào cô ấy. Nếu mà mắt háo sắc, nước miếng túa ra thì cái anh chàng họ Trư này sẽ rớt nước dãi. Ngài ấy sẽ không như thế, ngài ấy như như bất động!

Nếu có người rất xấu bước vào, ngài ấy cũng chẳng hừ giọng, trong mắt ngài cơ bản là không có sắc. Bạn có hát bài hát rất hay cho ngài nghe, ngài cũng không tiếp nhận, bởi vì mắt tai mũi lưỡi thân ý của ngài, lục tặc đã đóng lại hết rồi. Vốn dĩ tu cái này nghĩa là phải đóng lục tặc lại. Bạn xem trên cái tấm che ánh sáng kia, chỗ đó có Tân Đầu Lư của chúng ta. Hang động của Tân Đầu Lư, khi ngài ấy tu hành ở núi Linh Sơn, hang động của ngài ấy cách hang động của Xá Lợi Phất cực kì gần. Ngài ấy là bạn của tôi đó, *my friend*. Tôi còn nhớ khi tôi đi Kyoto… chùa Đông Đại nhỉ? Có chùa Đông Đại không? Ở Nara à? Nara Đại Phật à? Khi đến chùa Đại Phật ở Nara, bên cạnh có một vị Tân Đầu Lư, ngài ấy ngồi ở cổng chùa. 

Tôi vừa nhìn vào mắt ngài ấy thì… ối, mắt ngài ấy cử động! Tôi nói: "Này, Tân Đầu Lư đến rồi. Bảo mọi người hãy mau đến sờ đi." Khi đó, có người tên là Nhật Lương và Nguyệt Cầm, người đó là La Nhật Lương, còn Nguyệt Cầm kia họ gì? Họ Hoàng à, La Nhật Lương, Hoàng Nguyệt Cầm, họ là đôi vợ chồng đi theo tôi. La Nhật Lương mắc bệnh dạ dày rất nghiêm trọng, vì thế người rất gầy, bệnh rất nghiêm trọng. La Nhật Lương nghe thấy thế, anh ta rất có linh cảm. Tôi nói: "Mau lên, trên người anh chỗ nào có bệnh thì nhanh nhanh đi sờ đi, sờ lên thân thể của ngài đi." Anh ta liền trèo lên, bởi vì bức tượng đó rất to lớn, anh ta liền bò lên để sờ vào bụng. Kể từ hôm đó, bệnh dạ dày của La Nhật Lương đã khỏi rồi. 

Trước kia, anh ta hoàn toàn không thể ăn dứa, hễ ăn một miếng dứa là anh ta sẽ đau dạ dày. Bây giờ anh ta có thể ăn cả quả dứa rồi. Tôi bảo anh ta: "Anh xem đi, bây giờ Tân Đầu Lư đang ở đây, hãy mau đi sờ đi, thân thể anh chỗ nào có bệnh thì mau đi sờ đi." Khi ấy tôi cũng có bệnh nấm kẽ chân, tôi liền đi sờ chân của ngài ấy, sờ một chút, kể từ hôm đó tôi không còn bị nấm kẽ chân nữa. Có ai đi làm lính mà không bị mắc bệnh nấm kẽ chân chứ… làm lính, chúng tôi trước kia làm quân nhân, giặt quần áo tập thể, tất cả đồ lót đều giặt cùng, tất cả bỏ chung vào một cái nồi, cùng giặt, người nào cũng mắc bệnh truyền nhiễm, mắc tới mắc lui, đều mắc các bệnh da liễu, rất là nhiều.

Bởi vì trong quân đội là cuộc sống tập thể, rất đông người, cực kì đông người, mỗi người đều mắc bệnh ngoài da. Tôi còn bị mắc bệnh nấm kẽ chân, mặc bệnh phong tú cầu. Bệnh phong tú cầu là gì… không thể nói được. Khi xưa bệnh nấm kẽ chân rất khó chữa! Quái lạ, vì sao bệnh này lại đặt tên là "chân Hồng Kông" nhỉ, *Hongkong feet*? Tiếng Hồng Kông, chân Hồng Kông, tôi đang nói tiếng Anh. Tôi nói cho mọi người biết, thật sự là bệnh "chân Hồng Kông" rất khó chữa, khỏi được mấy ngày nó lại bị lại, khỏi được vài hôm nó lại bị lại… Bệnh nấm kẽ chân của tôi đã hoàn toàn khỏi rồi, hoàn toàn khỏi hẳn rồi, không còn tái phát nữa. Dạ dày của La Nhật Lương sau khi sờ tượng xong cũng khỏi thật rồi.

A La Hán trụ thế, Tân Đầu Lư. Có bao nhiêu A La Hán trụ thế? Rất nhiều. Ngài ấy là người dẫn đầu, Tân Đầu Lư là người tiên phong. Vốn dĩ ngài ấy có thể đến Tứ thánh giới, chỉ vì ngài ấy hiển lộ thần thông bừa bãi nên bị Phật Thích Ca Mâu Ni phạt phải trụ thế, làm một vị A La Hán sống tại thế giới Ta Bà này. Do đó, hôm nay tôi giải thích với mọi người thế nào gọi là Nhập Lưu. Nghĩa là trụ thế, chính là sơ quả. Sơ quả chính là trụ thế, nhưng không có chỗ nào mà nhập vào, không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp, không sai. Sắc thanh hương vị xúc pháp chính là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Đóng chặt sáu cái cửa này lại, tịnh trừ toàn bộ lục tặc, trong tu hành chúng ta gọi những cái này là sáu tên giặc. 

Trong tiếng Quảng Đông, trẻ con gọi là gì? Nhãi à? Nhãi? Nói gần giống như "giặc" nhỉ! Lục tặc này, tôi cảm thấy cái từ "nhãi" trong tiếng Quảng Đông này, chữ này là tặc, không phải là nhãi, nhãi là tiếng Quảng Đông, nghĩa là trẻ con. Bạn thấy đấy, trước tiên phải tu cái này. Mắt đã bị sắc mê hoặc rồi, tai đã bị thứ âm nhạc đồi trụy mê hoặc rồi, lưỡi bị mùi vị mê hoặc rồi, mũi thì thích hương thơm, ngửi thấy mùi hôi thối thì cự tuyệt, cái thơm thì thích, đây chính là những dục vọng của con người. Mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp… Không được nhập vào sắc thanh hương vị xúc pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn, ở đây đã đóng chặt lục tặc rồi, nên mặc dù trụ thế, nhưng thật ra không chịu truyền nhiễm từ ngũ trọc ác thế, không bị nhiễm. Do đó, tôi giảng điều này như thế hẳn là rõ ràng rồi. 

Vì thế, bạn đọc kinh Kim Cang thì phải hiểu được ý nghĩa gốc của bản thân kinh Kim Cang. Rất nhiều người biết, đều niệm kinh Kim Cang từ sáng tới tối, buổi tối cũng niệm kinh Kim Cang, buổi sáng cũng niệm kinh Kim Cang, nhưng lại không hiểu ý của nó. Vì sao là nhập lưu mà lại là không nhập? Rõ ràng là nhập lưu, vì sao lại là không nhập lưu. Sự thật ở đây là: nhập lưu nghĩa là không nhập lưu, là nói đến điều quan trọng nhất của Tu Đà Hoàn, là mặc dù họ nhập lưu nhưng thật ra là không nhập lưu. Trong kinh này có rất nhiều câu nói kiểu này, trong kinh Kim Cang có nhắc đến. Ý nghĩa là gì? Vì vậy hôm nay tôi đã giảng rồi, mọi người đã hiểu được: mặc dù ngài sống ở ngũ trọc ác thế, thật ra ngài không dùng đến mắt tai mũi lưỡi thân ý của mình để tiếp xúc với ngũ trọc ác thế, đây gọi là Tu Đà Hoàn, là một quả vị, là A La Hán sơ quả. 

Tôi còn nói cho mọi người một bí mật nữa: ở Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta có hai vị Tu Đà Hoàn, là A La Hán sơ quả, ở chính đây. Mọi người không biết đâu. Nếu bạn biết, bạn có thể chắp tay đảnh lễ các vị đó, các vị cũng ứng cúng. Thế nào gọi là ứng cúng? Là nên cúng dường các vị đó. Có hai vị Tu Đà Hoàn sống tại Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta. Tôi nói cho mọi người biết điều đó. 

Tôi lại giảng thêm một đoạn nữa, hay là giảng như vậy là đủ rồi? Ngày mai lại giảng tiếp vậy. Cho nên, tôi đã giải thích cho mọi người thế nào gọi là Nhập Lưu. Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu. Ngày mai tôi sẽ giảng "Nhất Lai". Thế nào gọi là Nhất Lai? Ở đây là tu hành còn chưa đạt đến nhị quả, bạn là A La Hán nhị quả thì gọi là Nhất Lai. Ồ, ở đây viết là "Nhất Vãng Lai"… cái này để đến ngày mai giảng tiếp nhé, ngày mai tôi sẽ giải thích rõ hơn với mọi người. Bởi vì trước tiên phải giảng hai chữ Nhập Lưu đã. Rất khó… bạn đi hỏi những người thường xuyên niệm kinh Kim Cang xem: "Xin hỏi vì sao Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu?" Nhập vào cái dòng chảy gì? Có một số người họ không biết, đã gọi là nhập lưu rồi vì sao còn gọi là không nhập lưu? Bởi vì các vị ấy đã đóng lục tặc rồi, nghĩa là đóng mắt tai mũi lưỡi thân ý.

Vì thế không có sắc thanh hương vị xúc pháp, không nhập vào sắc thanh hương vị xúc pháp thì sẽ không bị sáu loại sắc thanh hương vị xúc pháp này mê hoặc. Người đạt đến cảnh giới này gọi là Tu Đà Hoàn. Nói như vậy là hiểu rồi chứ? Ngày mai tôi lại giải thích cho mọi người thế nào gọi là Nhất Vãng Lai. Nhất Vãng Lai này, bạn hỏi những người thường niệm kinh Kim Cang xem cái gì gọi là Nhất Vãng Lai? Có lẽ họ cũng không biết đâu. Vì sao là Nhất Vãng Lai, lại không phải là Nhất Vãng Lai? Ý nghĩa là gì? Ngày mai tôi sẽ nói rõ với mọi người. Om mani padme hum.

*(Ngày 16/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 24.)*

### 25. Phần thứ 9: Nhất tướng vô tướng (2)

*(Bài giảng 25)* Nhị quả A La Hán Tư Đà Hàm - Nhất Vãng Lai

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tư Đà Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tư Đà Hàm" không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tư Đà Hàm còn gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật ra không hề có sự đến đi, thì gọi là Tư Đà Hàm."*

Bây giờ giảng đoạn này. Giải thích đoạn tôi vừa nhắc đến là nói thế này: "Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tư Đà Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tư Đà Hàm" không?" (Nhị quả A La Hán gọi là Tư Đà Hàm.) Có phải người đó thường xuyên nghĩ đến "Ta đã đắc nhị quả A La Hán" không? Thật ra là không, sẽ không nghĩ như thế. 

Tôi lấy một ví dụ, khi cá bơi, khi ở trong nước, chúng có nghĩ rằng "bây giờ mình đang ở trong nước" không? Nó không cần nghĩ, vốn dĩ nó đang ở trong nước mà, nó không cần phải nghĩ về nước nữa. Bạn đắc được Tư Đà Hàm rồi, bạn không cần thường xuyên nghĩ rằng "mình đã đắc Tư Đà Hàm rồi", bởi vì vốn dĩ đã ở trong Tư Đà Hàm rồi mà, bạn còn ngày ngày nghĩ đến Tư Đà Hàm làm cái gì nữa?

Tôi lấy một ví dụ, giống như con người chúng ta ở trong không khí, bạn có ngày ngày nghĩ đến không khí không, ngày ngày nói rằng: "Ta ngày ngày nghĩ đến không khí, không khí, không khí, không khí, ở đây cũng là không khí, ở giữa cũng là không khí, trốn trong chăn bông cũng là không khí, ngồi trong toilet cũng là không khí, ngồi ở chỗ nào thì chỗ đó cũng là không khí, trong nhà kho cũng là không khí, trong phòng làm việc cũng là không khí, ở chỗ nào…" căn bản không cần phải nghĩ về không khí, không khí tự nhiên ở xung quanh bạn, không cần nghĩ, đây chính là ý nghĩa mà Phật Đà nói với Tu Bồ Đề: "Người đắc Tư Đà Hàm có còn ngày ngày nghĩ đến Tư Đà Hàm không?" Không cần nghĩ, bạn vốn dĩ chính là Tư Đà Hàm rồi, bạn vốn dĩ đã ở trong Tư Đà Hàm rồi, ngày ngày nghĩ đến Tư Đà Hàm làm cái gì, không cần nghĩ, ý ở đây là thế.

Cá ở trong nước, ngày ngày nghĩ: "Mình bơi đến chỗ này là nước, bơi đến chỗ kia cũng là nước, ở đây cũng là nước…" Không cần nghĩ, bạn vốn dĩ đã ở trong nước rồi mà, bạn vốn dĩ chính là một con cá mà. Chúng ta vốn dĩ là một con người, chúng ta sống trong không khí, bạn còn nghĩ đến không khí làm cái gì? Chúng ta thường nói: "Người này coi tôi như không khí", nghĩa là không coi bạn là con người, bạn có đến thì cơ bản người ta cũng chẳng đoái hoài gì đến bạn. "Người này coi tôi như không khí", trong lòng bạn rất tức giận. "Ngay cả gật đầu hay cười một cái cũng không, lại còn liếc xéo tôi một cái." Trong lòng rất bực, xem mình như không khí thì rất bực. (Coi như không tồn tại người khác.)

Kì thực, không khí lúc nào cũng tồn tại, cho nên, cũng là "không thể". "Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tư Đà Hàm còn gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật ra không hề có sự đến đi, thì gọi là Tư Đà Hàm." Tôi nói là Nhất Lai, được rồi, vì sao Nhất Lai lại không có vãng lai? "Gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật ra không có vãng lai, thì gọi là Tư Đà Hàm." Ý nghĩa của Nhất Lai, nhị quả A La Hán là phải trở về nhân gian một lần nữa, xong rồi thì lại trở về thiên thượng, thậm chí là Tứ thánh đạo.

Nhị quả A La Hán thì chắc chắn phải trở lại nhân gian một lần nữa, nhân duyên này là như vậy. Vì sao các vị đến nhân gian mà vẫn là không có đến đi, cũng chẳng hề đến đi giống như con người, vì sao vậy? Mọi người chắc chắn sẽ nghĩ đến điều tôi nói ngày hôm qua, hôm qua giảng: "Nhập thế thật ra là không nhập thế, do vậy mới gọi là nhập thế." Hôm qua nói đến Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn là Nhập Lưu, mà thật ra lại không nhập lưu, bởi vì các vị giữ gìn thanh tịnh. Không sai, các vị phải đến nhân gian, các vị cần giữ gìn giới thể thanh tịnh để quay trở về thiên thượng, thật ra cũng không khác gì các vị chưa tới nhân gian.

Bởi vì nhân gian là cái gì? Nhân gian là ngũ trọc ác thế, là thùng thuốc nhuộm lớn, một khi bước vào thì bạn sẽ bị ô nhiễm, bạn sẽ biến thành kimchi (món kimchi Hàn Quốc). Bạn biết kimchi được làm như vậy đó, một cái vại, bỏ tất cả rau vào trong đó, rồi bỏ thêm nước xốt, cả một đống nguyên liệu đậy lại muối một năm, hai năm sau (không cần phải muối lâu như vậy), dù sao bạn muối xong thì tất cả đều là một mùi vị, chính là dưa muối, chính là kimchi đó. Dưa muối đều có một mùi vị, bởi vì bạn đã bước vào ngũ trọc ác thế rồi, nhân gian này chính là một thùng thuốc nhuộm lớn, một khi bạn bước vào thì bạn sẽ nhiễm tất cả những tập khí nhơ bẩn của con người, một khi bạn đã bị nhiễm hết rồi thì bạn không trở về được nữa.

Thế thì phải làm sao? Tôi bảo bạn nhé, tôi đã gặp một vị Tư Đà Hàm. Trước kia, khi tôi đang học ở trường Trắc Lượng, tôi có quen một người bạn gái nhưng không phải là bạn gái, nghĩa là không phải là bạn gái mà chỉ là bạn bè thôi, cô ấy là người làm thuê ở trường Trắc Lượng. Văn phòng của trường Trắc Lượng có thuê một vài nữ sinh làm việc tạm thời, tôi đã quen cô ấy ở trường đó, tuổi cô ấy lớn hơn tôi một chút, nên tôi gọi cô ấy là chị. Sau khi tôi có thiên nhãn, có một lần tôi đến nhà cô ấy, thấy mẹ cô ấy bế một người, thì ra trong số chị em của cô ấy có một người sinh ra rất nhỏ bé, cô ấy nói đó là chị của cô ấy. "Chị của chị sao nhỏ như vậy? Mẹ của chị còn phải bế nữa." "Bởi vì chị ấy bị mắc bệnh xương mềm, khi sinh ra đã mắc bệnh này rồi." Vừa sinh ra đã mắc bệnh mềm xương, mềm xương, không thể cử động được gì, mắt chỉ có thể mở ra nhìn mẹ thôi, hai con mắt còn rất đẹp nữa, còn những thứ khác thì… không biết nói chuyện, không biết nói, xương cốt toàn thân đều rất mềm. Vừa sinh ra đã mắc bệnh mềm xương, rất nhỏ bé, sau này đã nuôi hai mươi mấy năm mà xương vẫn mềm. 

Chỉ có hai con mắt, tôi nhìn vào đứa bé đó, bởi vì khi ấy tôi đã có thiên nhãn, mắt tôi nhìn vào mắt của đứa bé, vừa nhìn vào trong mắt của cô bé đó thì tôi đã nhìn ra bản chất, ôi! Cô bé đó không ngờ là một Thánh Hiền, là nhị quả A La Hán, là Tư Đà Hàm. Tôi nói: "Mọi người có lễ phép với người chị này không?" Cô ấy nói: "Rất kì lạ, chị ấy sinh ra đã mềm xương, nhưng mỗi người chúng tôi (bao gồm cha, mẹ, cả các anh chị em) lại vô cùng yêu quý và nâng niu người chị bị mềm xương này, rất lo sợ làm chị bị tổn thương, hàng ngày đều đút cho chị ăn nữa." Cô bé này có thể sống, toàn thân mềm nhũn không chút sức lực, mềm xương, xương cốt đều rất mềm, da dẻ trắng nõn, đôi mắt rất có trí huệ, nhưng cô bé không biết nói và nghe cũng không hiểu, cái gì cũng không biết, chỉ có hai con mắt là tỏa ra ánh sáng trí huệ.

Tôi nhìn vào trong đôi mắt, tôi nói với họ: "Đứa bé này là một vị Tư Đà Hàm." Họ không hiểu thế nào là Tư Đà Hàm. Đứa bé này là Tư Đà Hàm, chính là Nhất Lai, đến thế gian một lần nữa, vị đó vì để giữ gìn giới thể của mình nên đã tìm đến một gia đình có duyên với mình, một thí chủ sẽ nuôi dưỡng vị ấy, để xuất sinh tại nhân thế gian, tay đều không thể cử động, chân cũng không thể cử động, tai không thể nghe, miệng không thể nói, chỉ biết đến mùi vị khi người ta cho ăn, vị ấy có thể ăn, chính là để duy trì thân thể này. Có một ngày vị ấy sẽ chết, vị ấy chính là đến một lần nữa, chính là một vị Tư Đà Hàm. Trên thế gian này vị ấy có tạo nghiệp không? Không có, cho nên khi vị ấy trở về vẫn là Tư Đà Hàm, nhị quả A La Hán, vị ấy đã hoàn thành số mệnh phải đến thế giới Ta Bà một lần nữa.

Vì sao người nhà lại yêu thích đứa bé này? Đứa bé rõ ràng là mềm xương mà, nếu sinh ra một đứa con vô dụng thì nhiều nhà cũng đánh cho chết luôn rồi, nếu như sinh ra trong nhà của người khác thì có khi đã bị đánh chết từ lâu rồi, vì sao nhà họ lại không đánh đứa bé, hơn nữa mọi người còn chăm sóc hàng ngày, mỗi ngày đều thay nhau bế đứa bé? Đứa bé chỉ biết ngủ, mở to mắt, cả đời đứa bé chỉ có ngủ và mở to mắt, anh chị em đều nuôi dưỡng đứa bé này, cha, mẹ đều rất yêu đứa bé này.

Chính vì đã tìm được một thí chủ tốt, sinh ra trong nhà họ, nên sau đó vị ấy không hề tạo nghiệp, bởi vì cũng chẳng có cách nào để mà ác khẩu, giết - căn bản là không thể, vị ấy không thể cử động, trộm - tay của vị đó cũng không thể lấy đồ của người khác, dâm - vị ấy cũng không phạm vào dâm, hai lưỡi ác khẩu - đều không nói được, uống rượu - cũng không thể uống rượu, vị ấy chỉ có thể uống sữa thôi. Những thứ khác cái gì cũng đều không biết, căn bản là vị ấy không tạo nghiệp, bởi vì không tạo nghiệp ở thế giới Ta Bà, nên sau khi qua đời, sau khi chết, cha mẹ chôn cất cho vị đó yên ổn, vị ấy lại trở về là Thánh Hiền ban đầu, vị ấy đã hoàn thành được một lần vãng lai.

Bởi vậy, nói tóm lại, tôi đã dùng một ví dụ, chính là ví dụ về Tư Đà Hàm, nhị quả A La Hán có hiện tượng như vậy. Không phải là mỗi vị Tư Đà Hàm đều có hiện tượng này, nhưng vị Tư Đà Hàm thông minh thì sẽ dùng hiện tượng này, chuyển thế đến một nhà có duyên với vị đó, ở trong một gia đình yêu thương vị đó. Sinh ra đã bị mềm xương, cho nên anh chị em và cha mẹ đều rất yêu thương chăm sóc, cho đến khi chết đi, đây là một ví dụ về nhất vãng lai mà thật ra là chẳng hề vãng lai. Như vậy mọi người đã hiểu chưa?

Hôm nay nếu tôi không có kinh nghiệm này thì không thể nói được vì sao một lần đến thế giới Ta Bà mà thực ra lại không hề có sự đến đi là ý nghĩa thế nào? Vị đó đã sinh ra tại thế giới Ta Bà rồi, nhưng thật ra căn bản là vị ấy chưa hề đến, không đến thế giới Ta Bà là có ý nghĩa gì? Vị ấy có đến thế giới Ta Bà không? Có, một lần đến. Sự thật là không đến đi là ý nghĩa gì? Là căn bản vị ấy không có nghiệp, thiện nghiệp cũng không làm, ác nghiệp cũng không làm, chẳng làm cái gì cả, nên cũng tương đương như là chẳng hề đến đi.

Vừa hay là Sư Tôn mở thiên nhãn, nhìn vào đôi mắt của đứa bé này, thâm nhập vào bên trong mà biết được đó là một vị Tư Đà Hàm. Tư Đà Hàm đương nhiên là phiên âm theo tiếng Phạn, do vậy tôi dùng chuyện này làm ví dụ, cũng là muốn nói rằng, nhị quả A La Hán Nhất Vãng Lai thường dùng trạng thái xuất hiện này. Tôi đã thấy được, dùng tư thái của A La Hán này, nghĩa là xương mềm toàn thân không thể cử động, nên không hề tạo nghiệp, chỉ mỗi con mắt là chuyển động được thôi, và miệng để ăn các thứ, những cái khác đều không có, giết cướp dâm vọng rượu năm giới đều không phạm, không có nghiệp ác cũng không có nghiệp lành, chỉ là "một cái gì đó" đến nhân gian một lần rồi trở về, bởi liên quan đến nhân duyên, sau đó lại trở về Thánh giới. Tôi có thể giải thích đoạn này, nếu không có kinh nghiệm này của Sư Tôn thì cũng không có cách nào giải thích được thế nào là Nhất Vãng Lai nhưng thật ra là không hề đến đi. 

Nhất định phải chuyển thế làm người, nhưng chuyển thế làm người thì rất khó trở về, bởi vì chuyển thế làm người thì như bước vào thùng thuốc nhuộm lớn, và rồi bạn sẽ biến thành kimchi, mà vì đã biến thành kimchi thì có thể nói là mùi vị của tập khí sẽ tỏa ra, giết, cướp, dâm, hai lưỡi, ác khẩu, rượu, cái gì cũng có hết. Trừ phi bạn đến đây và nhanh chóng biết đến tu hành, lập tức đóng chặt lục tặc, mắt tai mũi lưỡi thân ý đều đóng lại. Tôi lấy ví dụ này hay chứ? Bởi vì có ví dụ này nên tôi mới giải thích được, không có ví dụ này, thật sự tôi muốn giải thích thì cũng rất khó.

Con người đều có tập khí, ghen tuông cũng là tập khí, đố kị cũng là tập khí, thế rồi ích kỉ cũng là tập khí. Tôi vừa giảng rồi đấy, vừa đọc lên đoạn này, ở đây đều là tập khí: nông cạn, tầm nhìn hạn hẹp, nhũng nhiễu, vô tri, bụng dạ hẹp hòi, soi mói, chỉ trích, bi quan, mong ngóng, oán hận, ỷ lại, tất cả đều là tập khí. 

Vì vậy, hôm nay chúng ta tu hành, không có phiền não là cái gì? Là loại bỏ hết những kì vọng của bản thân, không kì vọng cái gì cả, như thế bạn sẽ không thất vọng. "Tôi không kì vọng điều gì, không được không mất, tôi cũng không cần có được cái gì cả." Cần hiểu rằng, mọi người chăm chỉ tu hành! Sơ quả A La Hán, nhị quả A La Hán, còn có tam quả A La Hán, tứ quả A La Hán, A La Hán có bốn quả vị, lát nữa đây chúng ta sẽ cùng giảng về A Na Hàm.

Đây cũng là một câu chuyện cười rất hay. Rất lâu trước kia có một quốc vương muốn tìm một câu nói mà có thể khiến người vui nghe xong thì thấy buồn, người buồn nghe xong thì thấy vui, nhưng ông ta đã tìm kiếm một thời gian rất dài rồi mà vẫn không tìm được. Cho đến một buổi đêm nọ, ông ta mơ thấy một bậc trí giả nói với ông một câu, chính là câu mà bản thân ông muốn tìm kiếm. Câu nói thần kì nhất trong lịch sử chính là: "Tất cả rồi sẽ qua đi, bất kể là chuyện tốt hay chuyện xấu, không có thứ nào có thể vĩnh hằng bất biến.” Khi bạn thất bại đau khổ, bạn cần nói với chính mình, tất cả đều sẽ qua đi, khi bạn thành công mà đắc ý vênh váo, bạn cũng phải biết rằng tất cả đều sẽ qua đi. "Tất cả đều sẽ qua đi" là câu nói của tôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 17/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 25.)*

### 26. Phần thứ 9: Nhất tướng vô tướng (3)

*(Bài giảng 26)* Tam quả A La Hán A Na Hàm - Bất Lai

Hôm nay sẽ nói về A Na Hàm.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A Na Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả A Na Hàm" không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? A Na Hàm còn gọi là Bất Lai, mà thật sự không có không đến thì gọi là A Na Hàm."*

Tôi giảng đoạn này là xong. Tu Bồ Đề nói: "Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? A Na Hàm còn gọi là Bất Lai, mà thật sự không có không đến thì gọi là A Na Hàm." Ở đây vẫn là cùng một đạo lí, bạn đắc quả A Na Hàm rồi, bạn sẽ không nói "Tôi đã đắc quả A Na Hàm". Tuần trước tôi đã lấy ví dụ cá ở trong nước sẽ chẳng thường xuyên nhớ mãi đến nước. Nếu cá sống trong nước, hàng ngày nó đều sống trong nước, thì nó sẽ không nghĩ đến nước, bởi vì nó đã quen rồi mà, căn bản là nó không rời xa nước, nó phải có nước thì mới sống được. Con người chúng ta sống trên trái đất này, chúng ta sẽ không ngày ngày nghĩ đến không khí, không nghĩ rằng "Ôi, hôm nay có không khí không nhỉ? Hôm nay có không khí gì nhỉ?" Sẽ không thường xuyên nghĩ đến, vì chúng ta đã có được không khí rồi. Bạn đã đắc A Na Hàm rồi, bạn chính là A Na Hàm, bạn sẽ không ngày ngày nghĩ đến "Ta là A Na Hàm."

Xem bạn đến cảnh giới nào, bạn đã có được cảnh giới nào rồi, bạn sẽ không muốn nói rằng tôi đã đến cảnh giới nào đó rồi, bạn đã là như vậy rồi mà, sẽ không ngày ngày nghĩ về điều đó nữa. Vì thế, Tu Bồ Đề nói rằng: Như một vị A Na Hàm, ngày ngày sẽ không nghĩ vị ấy là A Na Hàm, sẽ không thế. Ở đây nói A Na Hàm sẽ là như thế nào: gọi là Bất Lai, mà thật sự không có không đến thì gọi là A Na Hàm. Thế nào gọi là Bất Lai? Chúng ta nhớ rằng, thứ nhất: Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu, nhập vào dòng chảy dục vọng của ngũ trọc ác thế, nên gọi là Nhập Lưu, đây là vị A La Hán trụ thế, sơ quả A La Hán. Tiếp theo là Tư Đà Hàm, Tư Đà Hàm chính là Nhất Vãng Lai, lần trước tôi đã giảng: vị này cần phải đến thế giới Ta Bà một lần nữa, sau đó thì không đến nữa.

Bây giờ giảng A Na Hàm. A Na Hàm chính là Bất Lai: vị ấy đã không còn đến thế giới Ta Bà nữa, đây là tam quả A La Hán. Chúng ta gọi là tam quả A La Hán, gọi là A Na Hàm. Tam quả A La Hán đã tương đương với Thánh Hiền, thế nhưng vị ấy ở đâu? Vì sao vị ấy được gọi là Bất Lai? Tam quả A La Hán có năm cõi trời, vị ấy sống tại Thiên giới, không phải ở cõi Dục giới. A Na Hàm biểu thị rằng vị ấy đã rời xa đủ mọi dục vọng của cõi Dục giới rồi. Dục vọng này, bởi vì con người là loài có dục vọng, giống như vừa rồi Sư Tôn ngủ gật chính là một trong những loại dục vọng. Ngủ là một trong những loại dục vọng. Tiền, thích tiền là một trong những loại dục vọng. Sắc, bạn thích mĩ sắc cũng là một trong những loại dục vọng.

Danh, bạn háo danh, ví dụ như các đệ tử Chân Phật Tông của chúng ta háo danh, pháp sư háo danh muốn làm Thượng sư, Thượng sư háo danh muốn làm trưởng ban, trưởng ban của Tông Ủy Hội, trưởng ban háo danh muốn làm trưởng lão, có đúng thế không? Trưởng lão háo danh muốn làm tông chủ tương lai. Ai cũng có cách nghĩ như vậy, hết cái háo này đến cái háo khác, đó là háo danh. Giống các nhân vật chính trị đều là háo danh: họ muốn làm ủy viên lập pháp, sau ủy viên lập pháp lại muốn làm thị trưởng thành phố, có thực quyền thực lợi. Làm thị trưởng rồi thì sao nữa? Còn muốn làm bộ trưởng, cao hơn một chút, làm bộ trưởng. Làm bộ trưởng rồi lại muốn làm viện trưởng, viện trưởng Ngũ Viện. Lên viện trưởng Ngũ Viện rồi lại muốn làm phó Tổng thống, sau phó Tổng thống lại muốn lên nữa, muốn làm Tổng thống. Ở đây chỉ là háo danh.

Tài, sắc, danh… rồi lại đến ăn. Bạn có thích ăn đồ ăn ngon không? Thích chứ, đây chính là dục vọng của bạn. Tài sắc danh thực… các món ăn. Ngủ, ngủ cũng là dục vọng của bạn đó, sau đó, bạn vẫn còn muốn nữa! Tôi muốn mua đồ hàng hiệu, đồ dùng xịn, đi xe sang, ở nhà xịn, ăn mặc sống đi lại đều là dục vọng. Phải mặc quần áo đẹp, mặc quần áo hàng hiệu, túi xách hàng hiệu cầm ra ngoài, bạn xem đều treo trên tay này. Lại còn háo danh nữa. Bạn hỏi tôi, cái miệng há ra, bên trong toàn là răng vàng, sau đó giơ ngón tay có đeo nhẫn ra, "đường này rẽ bên đây", trong mắt chỉ nhìn vào chiếc nhẫn… anh xem chiếc nhẫn của tôi này, anh xem, nhẫn kim cương đó! Mười carat đó! Họ cũng phải khoe một chút, đúng thế không? Cái gì cũng háo, đều là dục vọng. Lái xe cũng là có dục vọng, đi lại cũng là có dục vọng, mặc cũng là dục vọng, cái gì cũng là dục vọng cả.

Rời xa mọi thứ dục vọng, tôi nói cho bạn biết, Dục giới thiên cũng là dục vọng. Từ tứ Thiên Vương thiên cho đến Đao Lợi thiên cao nhất, ba mươi ba cõi trời, hai mươi tám cõi trời, trong đó sáu cõi trời Dục giới đều là dục vọng. Vì thế, vị A Na Hàm không sống tại Dục giới. Vậy vị ấy sống ở đâu? Nơi đó gọi là ngũ Tịnh Cư thiên. Ngũ Tịnh nào? Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Hỉ Kiến thiên, Hỉ Hiện thiên, Sắc Cứu Cánh thiên, năm cõi trời này gọi là Ngũ Tịnh Cư thiên. Năm cõi trời này chính là nơi ở của Thánh Hiền. Không còn dục vọng nữa thì gọi là Thánh Hiền. Đó là Vô Phiền thiên, không còn phiền não. Vô Nhiệt thiên, không còn chịu nóng bức. Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên, và Sắc Cứu Cánh thiên. Sẽ không trở lại nữa, sẽ không đến Dục giới nữa, bởi vì họ đã rời xa mọi dục vọng rồi, nên gọi là Thánh Hiền.

Vì sao là Vô Phiền thiên? Rời xa dục vọng thì không còn phiền não nữa. Có dục vọng thì tuyệt đối sẽ có phiền não, rời bỏ dục vọng thì sẽ không còn phiền não. Bởi vì bạn không muốn có cái gì cả thì bạn còn phiền não cái gì, căn bản là bạn không muốn cái gì cả thì không có phiền não. Đó gọi là Vô Phiền thiên. Không còn khó chịu vì cái nóng, bởi vì bạn cũng sẽ không bị thời tiết nóng khiến bạn muốn mở máy lạnh, muốn lạnh chừng nào, bởi thế thì bạn vẫn còn ưa thích máy lạnh. Đến Vô Nhiệt thiên rồi thì không còn phải chịu nóng bức nữa. Thế nào gọi là Thiện Kiến thiên? Những gì mà ta nhìn thấy đều là những cảnh sắc tốt đẹp nhất, Thiện Kiến thiên tối thắng. Những gì mà các vị nhìn thấy đều là hoàn mĩ, là Thiện Kiến thiên.

Thế nào là Thiện Hiện thiên? Tam quả A La Hán ở Thiện Hiện thiên có thể xuất hiện ở bất kì nơi nào, vị ấy cần đi giúp đỡ thì đều có thể xuất hiện. Ở đây nói rằng A Na Hàm gọi là Bất Lai, nghĩa là không nhập vào dòng chảy ô trọc của Dục giới, tất cả những dòng chảy ô trọc của Dục giới đều sẽ không đến, nhưng thật ra không phải là không đến. Ý là gì? Bởi vì có Thiện Hiện thiên, các vị đã nhìn thấy, các vị muốn đi giúp người ta, giúp chúng sinh, thì các vị sẽ đến, thật ra không phải không đến, nghĩa là các vị vẫn sẽ đến Dục giới. Đến Dục giới để làm gì? Để độ chúng sinh. 

Các vị có thể không đến, nhưng Thiện Hiện thiên các vị biểu hiện rằng các vị không có dục vọng, đến giải thích cho chúng sinh nghe về không còn dục vọng, sẽ xuất hiện ở ngũ trọc ác thế, xuất hiện tại Dục giới thiên, chủ yếu là đến để độ hóa tất cả những người còn có dục vọng, chúng sinh của cõi trời. Vì thế, không có không đến chính là ý nghĩa này. Bởi thế, ở đây có một cõi trời gọi là Thiện Hiện thiên, chỉ cần là điều tốt thì các vị đều sẽ xuất hiện, sẽ đến giúp đỡ chúng ta. Cho nên vẫn là có đến, chứ không phải là không đến. Chỉ là các vị đều không còn dục vọng, việc đến đây cũng là không có dục vọng.

Thường thường khi tôi bước vào Seattle Lôi Tạng Tự, tôi nhìn thấy bên trên lư hương của chúng ta, trên lư hương thiên cung đó có một vị tam quả A La Hán. Bạn có biết không? Trên đỉnh của Song Liên Cảnh Giới có hai con hươu và pháp luân, trên pháp luân thường có một vị tam quả A La Hán ngồi ở đó. Vị ấy có đến đó, có đến thế giới Ta Bà của chúng ta, chỉ là vị ấy không còn dục vọng gì. Vị ấy ngồi ở đó, giúp đỡ những người có thiện niệm. Vị ấy cũng từng ở bên trong Song Liên Cảnh Giới để mà thuyết pháp khai thị cho những linh hồn trung ấm ở bên trong Song Liên Cảnh Giới. 

Tam quả A La Hán là Bất Lai, nhưng thật sự thì các vị vẫn đến. Ở trên lư hương có một vị tam quả A La Hán, ở trên pháp luân tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Sư Tôn thường mở cửa sổ ra là có thể nhìn thấy một vị A Na Hàm - tam quả A La Hán, ngồi ở đó. Thỉnh thoảng, khi đi lên đó là sẽ nhìn thấy có một vị tam quả A La Hán ngồi ở trên lư hương, ở Seattle Lôi Tạng Tự. Vì thế ở đây các vị thật sự không phải là không đến. Các vị có thể không đến, nhưng thỉnh thoảng các vị vẫn đến. Bởi vì có Thiện Kiến thiên, các vị biết đó là điều thiện, các vị sẽ nhìn thấy, thế là các vị sẽ đến. Có Thiện Hiện thiên, nên các vị sẽ xuất hiện, nhìn thấy là thiện thì các vị sẽ xuất hiện.

Như vậy mọi người đã hiểu đoạn này chưa? Có thể đạt đến tam quả A La Hán là đã rất tốt rồi, A Na Hàm. Đó chính là Thánh Hiền, chính là li dục, rời khỏi dục vọng. Dục vọng có rất nhiều loại, dục vọng thật sự là rất nhiều, dục vọng mà tôi vừa nói khi nãy… thật đó, tiền sắc danh ăn ngủ. Quần áo, ăn mặc, đi lại, ngoài ra còn có sống, sống cũng là một dục vọng. Bạn nói xem nơi bạn đang sống bây giờ, có người luôn chuyển nhà tới lui, chuyển tới chuyển lui, "tôi muốn sống tốt hơn một chút". Vì sao thường xuyên chuyển nhà? Là vì muốn sống tốt hơn một chút, đây chính là ham muốn về việc sống. Vì sao phải lái xe sang? Đó chính là ham muốn về việc đi lại. Vì sao phải mặc quần áo xịn? Đó là ham muốn về ăn mặc. Ăn mặc sống đi đứng đều là dục vọng.

Còn nữa, vì sao phải đi học trường nổi tiếng? Bạn muốn học ở trường xịn cũng là một dục vọng đó! Bạn vào được trường danh tiếng, vì sao bạn không đi học ở một trường học lộn xộn làng nhàng đi? Vì sao không đi? Mà khăng khăng phải đi học nào là… muốn học trường luật, lại còn muốn học trường luật tốt nhất nữa. Muốn học trường khoa học công nghệ thì phải đến học ở học viện công nghệ Massachusetts cơ, trường công nghệ California cơ. Vì sao bạn muốn đi học ở Harvard? Vì sao bạn không đi học ở các trường đại học khác, vì sao nhất định phải đến Harvard? Chính là một cái danh đó! Bạn tốt nghiệp Harvard… đúng là trò cười. Đúng vậy không? "Tôi tốt nghiệp Harvard đây." Bạn xem, Harvard cho ra được bao nhiêu Tổng thống? Không giống nhau mà. Người tốt nghiệp Harvard đi ra ngoài còn được tiếng thơm nữa! Vì là trường học xịn mà, bó tay, chỉ là một cái tên đi theo bạn thôi. Cái gì cũng thế, đi học cũng là dục vọng.

Con người đều như vậy. Bạn biết không? Có một người lúc nào cũng là số một. Có một lần người đó xếp thứ hai, anh ta liền tự sát. Anh ta luôn nói tôi phải là người đứng thứ nhất (không thể nào). Bỗng có một lần, anh ta đứng thứ hai, thế là anh ta bị trầm cảm, thế rồi tự sát... Thật là đáng thương! Bị cái danh trói lại. Tài sắc danh ăn ngủ, còn có rất nhiều rất nhiều dục vọng. Người học Phật chúng ta nhất định phải thoát khỏi cái này. Sau này bạn thành Thánh Hiền rồi, bạn hoàn toàn không còn dục vọng thì bạn sẽ là Thánh Hiền. Bởi vì cõi trời thứ nhất: Vô Phiền thiên, cõi trời không còn phiền não… Ngũ Tịnh Cư thiên cao nhất là Sắc giới, Sắc Cứu Cánh thiên là cao nhất, trong Ngũ Tịnh Cư thiên thì cao nhất là Sắc Cứu Cánh thiên. Phật Thích Ca Mâu Ni hiện tại đang ở đâu? Ở tại Sắc Cứu Cánh thiên thuyết pháp. Phật vẫn là có đến, Ngài ấy ở Sắc Cứu Cánh thiên thuyết pháp. Rồi, hôm nay chúng ta biết được tới đây cũng là rất tốt rồi. Tôi giải thích như vậy rõ ràng rồi chứ?

Hỏi người bạn: "Anh nuôi con vẹt biết nói đó đến giờ thế nào rồi?" Người bạn đáp: "Ôi đừng nhắc nữa. Không ngờ tôi nuôi nó một tuần nó đã chết rồi." Tôi hỏi: "Nó bị bệnh chết à?" Người bạn đáp: "Không phải bị bệnh chết, nó thi nói với bà xã tôi, nói đến khi không còn sức lực nữa mà chết." Tôi kể cho bạn một chuyện nhé! Nói chuyện cũng là một loại dục vọng. Có người nếu hoàn toàn không nói gì thì phải khẩn trương cưới người đó ngay! Bởi vì *exercise mouth* (vận động miệng) thì phụ nữ là lợi hại nhất. Sư Tôn nói chuyện điện thoại thì không quá mấy câu, nói mấy điều quan trọng rồi thôi không nói nữa, chứ không buôn chuyện qua điện thoại. 

Bạn biết mấy cô gái nói chuyện điện thoại là thế nào không? Trước kia cho dù bạn cầm điện thoại di động nói chuyện, "Chúng ta nghỉ một lát nhé?" thế là cái tay này hạ xuống nghỉ một lát, ngay sau đó lại cầm lên "Rồi, chúng ta nói tiếp đi." Bây giờ hình như còn có cả cái giá đỡ rồi, đặt điện thoại lên cái giá là nói thôi. Mọi người có trải nghiệm này không? Phụ nữ mà nói chuyện điện thoại thì… ôi, trời ạ. Sư Tôn nói chuyện điện thoại, nói cho bạn biết, tôi không buôn chuyện, nói xong điểm chính, không còn gì nữa là thôi. Bạn nói chuyện với phụ nữ thì cũng hoa mắt chóng mặt đấy! Tôi chịu không nổi, đã sắp chết đến nơi rồi. Tôi nói: "Tôi phải đi ăn cơm." "Không được đi ăn cơm!" "Vì sao?" "Nói tiếp chứ." Thật đó! Sao lại thế chứ? Nói chuyện cũng là một loại dục vọng. Hôm nay giảng đến đây thôi, A Di Đà Phật!

*(Ngày 23/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 26.)*

### 27. Phần thứ 9: Nhất tướng vô tướng (4)

*(Bài giảng 27)* Tứ quả A La Hán tự tính thanh tịnh

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A La Hán có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Thật ra không có pháp danh là A La Hán. Thưa Thế Tôn! Nếu A La Hán có suy nghĩ: "Ta đã đắc đạo A La Hán", tức là đã chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Thế Tôn! Phật nói con đã đắc Vô Tránh Tam Muội, là đệ nhất trong số con người, là A La Hán bậc nhất đã lìa bỏ tham dục. Thưa Thế Tôn! Con không khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán". Thế Tôn! Nếu con khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" thì Thế Tôn đã chẳng nói rằng Tu Bồ Đề là hành giả ưa thích hạnh A Lan Na. Do Tu Bồ Đề thật sự vô sở hạnh, nên nói là Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A Lan Na."*

Ở đây là Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi, và Tu Bồ Đề đã trả lời nhiều việc như vậy. A La Hán chính là tứ quả, tứ quả A La Hán, đó cũng là Thánh nhân của Thanh Văn thừa. A La Hán chính là tứ Thánh quả mà chúng ta nói đến. Cái gọi là Tứ thánh quả là: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, tứ Thánh quả chính là bốn cảnh giới Thánh Hiền vượt lên trên cả thiên giới. Thanh Văn chính là A La Hán, tứ quả A La Hán gọi là Thanh Văn. 

Thế nào gọi là Thanh Văn? Vì sao lấy tên gọi là Thanh Văn? Nghe được pháp của Phật Đà mà đắc đạo, mà chứng đạo thì gọi là Thanh Văn, nghe được Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp mà chứng đạo thì là Thanh Văn. Thanh nghĩa là âm thanh - giọng nói của Phật Đà, bạn nghe thấy và hơn nữa bạn còn chứng đạo, do vậy gọi là Thanh Văn thừa, là tứ quả A La Hán cao nhất. Tôi cho rằng A La Hán tứ quả là tự tính thanh tịnh, Phật tính của bản thân bạn đã hiển hiện rồi, đã thanh tịnh rồi thì là tứ quả A La Hán, đó đã là bất thối chuyển rồi, ở nơi đó gọi là bất thối chuyển.

Hôm qua chúng ta giảng về tam quả A La Hán, tam quả A La Hán ở Ngũ Tịnh Cư thiên (nghĩa là năm cõi trời bất hoàn), vị ấy cũng sẽ không đến Dục giới nữa, nhưng vị ấy vẫn ở tại Ngũ Tịnh Cư thiên (Ngũ Bất Hoàn thiên), sẽ không trở về, đó là tam quả A La Hán, cũng là Thánh Hiền. Tự tính hoàn toàn thanh tịnh rồi thì là tứ quả A La Hán, gọi là Thanh Văn. Tôi phân biệt một cách đại khái như vậy, đây chỉ là đại khái thôi, hoàn toàn không phải là cách phân biệt theo quy định chặt chẽ. 

Bạn muốn tu tứ quả A La Hán, bạn phải theo lời Phật Đà nói, khổ - tập - diệt - đạo mà Phật Đà giảng trong lần chuyển pháp luân đầu tiên, từ đó thành tựu đại La Hán. Duyên Giác, thế nào gọi là Duyên Giác? Duyên Giác cũng là Thánh nhân, gọi là Độc Giác, một vị làm theo pháp thập nhị nhân duyên mà Phật nói, để lĩnh ngộ được đạo lý của nó, thực tiễn pháp thập nhị nhân duyên, tu pháp thập nhị nhân duyên thì gọi là Duyên Giác. 

Thế nào là Bồ Tát? Là vị tu hành theo pháp lục độ, lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, trí huệ, thiền định, y theo pháp lục độ mà tu thì là Bồ Tát. Tu theo bát chính đạo thì là Phật. Tôi phân biệt sơ lược như vậy để mọi người thấy rõ ràng một chút vì sao gọi là Phật, vì sao gọi là Bồ Tát, vì sao gọi là Duyên Giác, vì sao gọi là Thanh Văn. Thanh Văn chính là A La Hán, tự tính thanh tịnh do thực hành khổ - tập - diệt - đạo. 

Phật Đà hỏi: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A La Hán có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" không?"* Tu Bồ Đề trả lời: *"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Thật ra không có pháp danh là A La Hán. Thưa Thế Tôn! Nếu A La Hán có suy nghĩ: "Ta đã đắc đạo A La Hán", tức là đã chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."* Câu này rất quan trọng, bạn nói: "Tôi đã đắc A La Hán rồi." Cái này chính là chấp tướng, chấp vào cái tên gọi, chấp vào danh. Tôi đắc đạo A La Hán, cái "tôi" này là chỉ cái tôi nào đây? Vì thế, ở đây có một kiến thức rất lớn, và Tu Bồ Đề hiểu được điều này, ngài ấy nói: "Nếu như nói tôi đã đắc đạo A La Hán, thế thì tôi không thể nào là A La Hán." Bởi vì bạn đã chấp tướng rồi, chấp vào cái tướng của danh từ đó, chấp vào danh tướng. "Tôi đã thành Phật rồi." Bạn đã chấp vào cái danh tướng Phật. Bạn chỉ tự thực tiễn thôi chứ không có cái tên gọi Phật này, không có cái tên gọi Bồ Tát này, không có cái tên gọi A La Hán này, không có cái tên gọi Duyên Giác này. Bởi vì sau khi bạn chứng đạo, danh tướng đều phải buông bỏ, không bám chấp vào cái gọi là "tôi chính là Bồ Tát", "tôi chính là A La Hán"… Không có cái chuyện đó. 

Nếu như tôi nói tôi đã đắc đạo A La Hán, thì đó là chấp ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả tướng. Bởi vì đã vô ngã rồi thì sẽ không còn có con người, mà đã không có con người thì đương nhiên không có chúng sinh, đã không có chúng sinh thì cái gì là thọ giả đây (vì thọ giả là thời gian)? Chúng ta nói thọ giả tương tự như thời gian, chúng sinh tương tự như không gian. Vì thế, tôi giảng đạo lí này như vậy, mọi người có thể hiểu rồi, đạo lí chính là cái ý nghĩa này, bạn không được chấp vào danh tướng, mặc dù bạn đã là A La Hán, nhưng bạn sẽ không thường xuyên nghĩ: "Ta chính là A La Hán." Sẽ không thế! Bạn đã là một Bồ Tát rồi, bạn sẽ không thường xuyên nghĩ: "Ta chính là một Bồ Tát." Cái "ta" này chính là đã chấp vào ngã tướng rồi — tướng của cái ta này, ngã tướng, không thể chấp vào danh tướng.

Trong lần chuyển pháp luân thứ hai, Phật Đà đã nói về vô tướng. Bạn chấp vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đều không thể có bốn tướng này. Phật nói pháp vô tướng, lần chuyển pháp luân thứ hai, Phật đã giảng về vô tướng. Tiếp nữa, vì không thể chấp vào danh tướng cho nên không thể thường xuyên nghĩ "tôi đã đắc A La Hán rồi". Thật ra, rất nhiều các đệ tử của Phật đều là A La Hán, chúng ta thường nói năm trăm vị A La Hán, năm trăm chính là mang ý nghĩa rất nhiều, chứ không phải thật sự chỉ có năm trăm vị A La Hán. Vào thời đại của Phật Đà, người đắc đạo A La Hán nhiều vô cùng, cho nên chúng ta nói năm trăm vị A La Hán thì ở đây năm trăm là ý nói rất là nhiều.

 *"Thế Tôn! Phật nói con đã đắc Vô Tránh Tam Muội, là đệ nhất trong số con người."* Thế nào gọi là Vô Tránh Tam Muội? Rất đơn giản, bởi vì đã vô ngã rồi thì còn tranh cái gì với người ta nữa? Vô Tránh Tam Muội, không có cái ta, bạn còn tranh cái gì với người ta nữa, có cái gì đáng để tranh? Không có tôi, không có bạn, không có người khác, không có chúng sinh, vậy bạn tranh với ai? Tôi hỏi bạn một câu rất đơn giản là thấy. Có người nói tôi đã đến mặt trăng để mở khách sạn Hilton. Tôi đợi đến khi một số người di cư đến mặt trăng, tôi đợi chúng sinh ở thế giới Ta Bà (con người trên trái đất) tương lai sẽ bay bay bay, ngồi trên tàu vũ trụ bay thẳng tới mặt trăng, lên đó có khách sạn Hilton, tôi kiếm tiền của chúng sinh, kiếm tiền của trái đất. Tôi có thể tiên tri, nên bây giờ mở khách sạn Hilton ở đó, rồi đợi tàu vũ trụ của các bạn bay đến, mọi người đến đây, hoan nghênh hoan nghênh, phòng Tổng thống bao nhiêu tiền, những căn phòng bình thường bao nhiêu tiền, bao nhiêu tiền. Bạn cầm số tiền đó có tác dụng gì? Bởi vì chỉ có mỗi cái khách sạn Hilton của bạn, bên cạnh chẳng có cái gì, ngay cả một quầy hàng ăn vặt cũng không có, ngay cả xe ô tô, xe buýt cũng đều chẳng có. 

Bạn cầm số tiền đó thì có tác dụng gì? Tôi hỏi bạn, bạn cầm tiền không dùng được, bạn đem kim cương cho tôi có được không? Bạn bay đến đó, đưa kim cương cho anh ta, kim cương có công dụng gì không, kim cương có thể ăn không? Không thể ăn, kim cương không thể ăn, vàng thì có thể nhỉ, vàng rất đắt, đè chết bạn luôn. Bạn đi tới đó mở khách sạn Hilton, bạn mở cả buổi, kết quả là tên lửa bắn không thành công, con người đăng kí bay lên mặt trăng, nhưng rồi chẳng ai đến được cả, bạn đã mở khách sạn Hilton rồi, ở đó ngày ngày nhìn thấy Hằng Nga, nhìn thấy thỏ ngọc, nhìn thấy Ngô Cương chặt cây quế, thật không hiểu ra làm sao cả! 

Tôi hỏi bạn, một câu rất đơn giản: "Ở trên mặt trăng bạn tranh với ai?" Chỉ có một mình bạn ở trên mặt trăng, bạn tranh với ai? Phật Đà nói rồi, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn tranh với ai? Đây là Vô Tránh Tam Muội. Tôi nói một ví dụ đơn giản cho bạn nghe, bạn sẽ hiểu thế nào gọi là Vô Tránh Tam Muội. Vì đã vô ngã rồi thì bạn còn tranh với ai? Nếu như còn tranh với người ta thì cho thấy vẫn còn có cái ngã.

Trước kia, Sư Tôn đã làm rất nhiều việc sai, tôi đã làm rất nhiều việc sai. Trước kia tôi viết mục "Chân Phật luận kiếm", tôi phê bình người này, phê bình người kia, sai lầm rồi, đó vẫn còn là có cái ngã. Trước kia tôi rất hay mắng người ta, từng có một tờ báo, tờ báo đó là báo gì nhỉ? Ở Đài Loan có một tờ báo rất nổi tiếng, từ hồi rất lâu rồi, bây giờ còn không nhỉ? (Đệ tử nói: Tờ Thời Báo Trung Quốc.) Thời Báo Trung Quốc. Giống như tờ tuần san Times đó, tuần báo Times, đăng bài rằng Lư Thắng Ngạn là chửi người ta số một. Tuần báo Times nói tôi là người chửi người ta số một, bởi vì trong Chân Phật Báo có mục "Chân Phật luận kiếm", Chân Phật luận kiếm chính là như thế, luận kiếm mà, Hoa Sơn luận kiếm, Chân Phật luận kiếm, choa, giết tới giết lui, chặt tới chặt lui, đã chém rất nhiều người, rất sướng! Điều đó không phù hợp với Vô Tránh Tam Muội, thật đó.

Bạn đã tu đến vô ngã rồi còn tranh với người ta cái gì? Vô Tránh Tam Muội mà! Đừng tranh với người khác, giống như con rùa, hãy tu bản thân cho thành tựu, sau đó lại đến độ chúng sinh, làm một vị Bồ Tát. Làm con rùa, mọi người có chém bạn thì bạn cũng đều trốn trong mai rùa, có chặt chém thế nào cũng chém không được, tay cũng không chặt được, chân cũng không chặt được, ta cứ trốn ở bên trong mà tu pháp cho tốt, tu thành rồi mới ra ngoài để thuyết pháp độ chúng sinh, đây mới gọi là Vô Tránh Tam Muội đó.

"Phật nói con đã đắc Vô Tránh Tam Muội, là đệ nhất trong số con người", (là người số một trong số mọi người). Tu Bồ Đề nói, Phật nói ngài ấy là vị A La Hán bậc nhất đã rời bỏ tham dục. Cảnh giới rời bỏ dục vọng chính là A La Hán, rời xa tất cả dục vọng chính là A La Hán. "Thưa Thế Tôn! Con không khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán." Tu Bồ Đề nói: "Con không nghĩ như vậy, con là bậc A La Hán rời bỏ tham dục." Đương nhiên không nghĩ, bởi vì nếu ta nghĩ như vậy thì đó không phải là A La Hán. Bởi vì có cái tôi rồi mà, không thể chấp vào danh tướng.

*"Nếu con khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" thì Thế Tôn đã chẳng nói rằng Tu Bồ Đề là hành giả ưa thích hạnh A Lan Na."* Thế nào gọi là ưa thích hạnh A Lan Na? Thế nào là ưa thích hạnh A Lan Na? Có ai biết không? Đại sứ Liêu giơ tay, tốt lắm, xin mời. (Đại sứ Liêu: Hạnh A Lan Na chính là thích ở một mình, giống như con rùa mà thanh tịnh tu hành.) Đó chính là điều tôi vừa nói mà! (Đại sứ Liêu: ưa thích hạnh A Lan Na nghĩa là suy nghĩ rất thanh tịnh.) Đúng rồi! Không sai. Cho nên cái này chuyển tới chuyển lui vẫn là một con rùa. Bạn không thể có suy nghĩ này, suy nghĩ này không thể xuất hiện: "Tôi đã đắc đạo A La Hán." Nếu mà "ta" còn có cái suy nghĩ này, thì Thế Tôn sẽ không nói Tu Bồ Đề là người ưa thích hạnh A Lan Na.

"Do Tu Bồ Đề thật sự vô sở hạnh, nên nói là Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A Lan Na." Ngài ấy thật sự không làm gì cả. Chúng ta cũng nghĩ như vậy, thật ra con người ở thế giới Ta Bà, thật sự bạn cũng chẳng làm gì cả. Cho nên sau này sẽ nói rằng, Lư Sư Tôn bây giờ đang ở đây thuyết pháp, cũng giống như chẳng hề thuyết pháp, không đang làm gì cả, chẳng qua chỉ là ở thế giới huyễn này mà làm việc huyễn thôi.

Cho nên Đức Phật, Phật pháp là rất cao thâm, tuyệt đối không hề giống các tôn giáo bình thường, bởi vì trí huệ của Phật pháp vô cùng cao siêu. Kiểu trí huệ này cũng tương tự như trí huệ không có trí huệ, bởi vì không có trí huệ cho nên mới gọi là trí huệ. Cái này vô cùng cao, ở vào thời đại đó, Phật Đà đã có thể nói pháp vô tướng như vậy, đây tuyệt đối không phải là người bình thường, cũng không phải là tôn giáo bình thường, tuyệt đối không phải là tôn giáo bình thường. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, chỉ cần bốn điều này, bạn đã có thể đạt đến bốn điều này thì bạn đã thành tựu rồi. 

"Tu Bồ Đề thật sự vô sở hạnh, nên nói là Tu Bồ Đề." Câu nói này, ngài ấy thật sự đã làm cái gì, ngài ấy có làm, nhưng mà ngài ấy không chấp vào cái việc đã làm này, tương đương như xem nó là không làm, bởi vì vô ngã cho nên cũng là vô tác. Hôm nay Lư Sư Tôn ở đây thuyết pháp, tôi nói căn bản là tôi không thuyết pháp, điều này chính là vô tác - không làm, chỉ là phát bồ đề tâm, thuận theo như thế mà làm, làm cũng như không làm gì cả. Tôi chưa từng bao giờ xem việc thuyết pháp hôm nay là này nọ cả, hoặc cứ luôn nhớ đến nó, tôi nói pháp gì, thuyết pháp gì, thuyết pháp gì… tôi đang thuyết pháp gì. Không có cái tôi này đang thuyết pháp.

Vì thế, khi người ta bảo Tổ sư Đạt Ma thuyết pháp, ngài ấy mới lên pháp tọa, đập bàn một cái, "bộp", thuyết pháp đã xong, rồi đi xuống. Điều đó chính là nói đến việc này: hoàn toàn không làm gì cả. Có người nói Tu Bồ Đề thuyết pháp, như thế là phỉ báng Tu Bồ Đề, về sau, trong kinh Kim Cang có nói: "Phật cũng không thuyết pháp, không có pháp nào có thể nói." Trí huệ rất cao đó, mọi người phải hiểu cho kĩ càng. Kinh Kim Cang không hề dễ nói giảng đâu, có thể giảng đến mức kĩ càng tỉ mỉ không dễ đâu. Cho nên, Tu Bồ Đề cũng không phải là bậc A La Hán rời bỏ tham dục số một, cũng không phải là nguời số một trong số con người.

Thế nào gọi là Vô Tránh Tam Muội, vô tránh? Mọi người đi vào đại điện của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đi vào căn phòng khách nhỏ đó, muốn đến căn phòng khách nhỏ ở nhà ăn, ở bên đó có viết hai chữ "vô tránh", là Sư Tôn viết đó. Không có cái ngã thì làm gì có việc tranh giành? Vô Tránh Tam Muội đó! Không có cái tôi, làm gì có tranh giành? Bạn tranh với người ta cái gì? Cho nên, người nghe lời Sư Tôn nhưng chẳng hề thực hành, trở về là lại ghen tuông, lại đố kị, hoặc làm mấy việc ngốc nghếch, đó là làm việc ngu ngốc trong mơ, đều chưa đến được hai chữ vô tránh này, đều chưa có tác dụng gì cả.

Nếu bạn học Phật học đến bây giờ mà vẫn còn tranh giành với người khác, tranh danh, tranh vị, tranh lười nhác, đến cả lười biếng cũng phải tranh, đúng thế không? "Anh có thể lười như thế thì vì sao tôi lại phải làm? Tôi phải lười hơn anh." Đó chính là tranh lười đó, tông phái chúng ta thích nhất là tranh nhau lười biếng đó. "Vì sao tôi phải vất vả như thế chứ?" "Vì sao người kia lại rảnh rỗi thế nhỉ?" "Tôi làm tì kheo ni, vì sao tôi không thể lười chứ, vì sao mỗi ngày tôi đều phải làm những việc này? Tôi cũng phải học lười như người ta."… Đó đều là tranh lười nhác, cũng là tranh.

Chúng ta không tranh tinh tấn, mà lại tranh lười nhác, tông phái chúng ta thích nhất là tranh lười nhác: "Cái này kêu người khác đi làm là được rồi, vì sao tôi phải đến làm chứ?" Ba bí quyết làm việc: thứ nhất là đùn đẩy, đùn đẩy cho người khác: "Tôi không làm", "Tôi không có thời gian đâu", "Anh làm đi", …. Thứ hai là trì hoãn. Ba ngày phải làm xong thì tôi kéo dài tới một tuần lễ, tôi kéo dài tới một tháng, tôi kéo dài tới một năm, kéo dài hai năm, kéo dài ba năm… Bí quyết làm việc thứ hai là trì hoãn. Bí quyết làm việc thứ ba là lôi kéo. Thực sự không trì hoãn được nữa thì lôi kéo người khác đến làm, mau chóng đi lôi kéo thêm người. Đùn đẩy, trì hoãn, lôi kéo, ba bí quyết làm việc. Trong Hậu Hắc Học, Lí Tông Ngô đã viết rằng, da mặt phải dày, tâm phải đen tối, cái đó gọi là Hậu Hắc Học. Da mặt dày, tâm phải đen tối, gọi là Hậu Hắc Học, Lí Tông Ngô viết vậy. Bạn đọc xong Hậu Hắc Học sẽ cảm thấy rất buồn cười, ba bí quyết làm việc là đùn đẩy, trì hoãn và lôi kéo.

Người học Phật chúng ta phải Vô Tránh Tam Muội. Tinh tấn, nhất định phải tinh tấn. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum. 

*(Ngày 24/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Quan Thế Âm Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 27.)*

### 28. Phần thứ 10: Tịnh thổ trang nghiêm (1)

*(Bài giảng 28)* Thật không đạt được điều gì về pháp

*Phật hỏi Tu Bồ Đề:  
"Ý ông thế nào? Xưa kia Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, có đạt được điều gì về pháp không?"  
"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?"  
"Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."  
"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy."  
"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn."*

Thế nào là tịnh thổ? Ví dụ như Tây phương Cực Lạc thế giới chính là tịnh thổ, chúng ta thường xuyên nói Tây phương Cực Lạc thế giới. Thực tế có rất nhiều tịnh thổ: ở chỗ của Địa Tạng Vương Bồ Tát có tịnh thổ Thúy Vi, chỗ của Quan Thế Âm Bồ Tát có tịnh thổ Viên Thông, chỗ của A Di Đà Phật thì chính là tịnh thổ Tây Phương, chỗ của Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật là tịnh thổ Lưu Li. Vậy thế nào là tịnh thổ? Nơi mà Thánh nhân ở, nơi mà các Thánh Hiền đều đến đó để ở, nơi mà tất cả đều rất thanh tịnh, không có khổ chỉ có vui. Pháp thân Phật ở nơi đó, báo thân Phật cũng ở nơi đó, ứng thân Phật cũng ở nơi đó.

Tây phương Cực Lạc thế giới còn có cõi "Phàm Thánh đồng cư", ở nơi đó chủ yếu là những người mang nghiệp vãng sinh, bạn vẫn còn có nghiệp chướng, trước tiên bạn đi đến nơi đó để ở cùng với Thánh nhân, chịu những ảnh hưởng và cảm hóa từ Thánh nhân, thế rồi bạn sẽ trở thành Thánh nhân, đó chính là cõi "Phàm Thánh đồng cư". Tiếp theo là cõi "Phương tiện hữu dư", tiếp theo cao hơn nữa là cõi "Thực báo trang nghiêm", cao tiếp nữa là cõi "Thường tịch quang". Cõi "Thường tịch quang" chính là nơi pháp thân Phật cư ngụ. Cõi "Thực báo trang nghiêm" chính là nơi báo thân Phật cư ngụ. Tiếp theo thì sao? Cõi "Phương tiện hữu dư" là nơi ứng thân Phật cư ngụ. Pháp thân Phật, báo thân Phật, ứng thân Phật đều ở cõi tịnh thổ, và những nơi mà các Thánh Hiền cư ngụ gọi là tịnh thổ. 

Thế nào gọi là trang nghiêm? Thanh tịnh chính là trang nghiêm. Ở đây nói đến phần thứ mười rồi, Phật nói với Tu Bồ Đề: *"Xưa kia Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, có đạt được điều gì về pháp không?"* Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề. *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."* Tôi sẽ giảng câu nói này. Trong kiếp quá khứ, khi Phật Thích Ca Mâu Ni là Thiện Huệ Đồng Tử, đã đem hoa sen mà Da Du Đà La đưa cho ngài để đi cúng dường Phật Nhiên Đăng. Ở chỗ của Phật Nhiên Đăng ngài ấy có đạt được cái gì không? Tu Bồ Đề trả lời: *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."* Có nghĩa là: Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến chỗ của Phật Nhiên Đăng học được điều gì? Thật sự là chẳng học được điều gì cả, Tu Bồ Đề trả lời như vậy.

Đây rồi, ba chữ "vô sở đắc" lại xuất hiện rồi, thật không có được điều gì. Ai có thể nói hoàn toàn rõ ràng viên mãn về "vô sở đắc"? Vì sao là vô sở đắc? Bạn có thể nói rõ, bạn có thể nói rất trọn vẹn hoàn hảo thì Sư Tôn sẽ tặng cho bạn chuỗi hạt này. Mọi người đều biết niệm kinh Kim Cang mà, khi mọi người siêu độ thì cũng niệm, bạn làm bất kì pháp sự nào cũng đều niệm kinh Kim Cang. Chính câu nói này, nếu bạn có thể nói về nó một cách đầy viên mãn thì tôi sẽ tặng bạn chuỗi hạt. *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."* Vô sở đắc, vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni đi gặp Phật Nhiên Đăng, nhưng lại chẳng có được cái gì cả? Vì sao vậy? Bạn có thể trả lời đúng và đầy đủ, bộ não hoạt động đi nào, lập tức trả lời, chuỗi tràng hạt này sẽ là của bạn. 

Bạn có thể trả lời về vô sở đắc thì là bạn "hữu sở đắc" rồi. (mọi người cười) Không có ai nói được à? Lại đùn đẩy cho tôi à? Nói được chính xác thì cầm ngay chuỗi hạt này mà đi. Không phải nói nhiều, chuỗi hạt này chính là của bạn. Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến chỗ Phật Nhiên Đăng nhưng Phật Nhiên Đăng lại chẳng hề dạy gì cho Phật Đà? Vì sao? Phật Đà không có được cái gì cả. Vì sao vậy? Hôm nay tôi sẽ giảng câu nói này. Nhất định sẽ phải nói cho trọn vẹn, tôi nói để bạn biết, sự việc này không nói cho rõ ràng thì mọi người sẽ không hiểu được kinh Kim Cang.

Tôi nói với mọi người nhé, đây là một vấn đề rất nghiêm túc. Sau thời Lục Tổ, nếu muốn phán đoán xem bạn đã khai ngộ hay chưa thì đều phải dựa vào kinh Kim Cang để đoán định. Bạn đã khai ngộ hay chưa? Bạn đã hợp được với ý nghĩa của kinh thì gọi là khai ngộ, không hợp với ý nghĩa của kinh thì không được xem là khai ngộ! Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói là vô sở đắc? Tất cả Thánh Hiền, bất kể là bạn đi đến nơi nào, bạn đi đến chỗ sư phụ mà bạn theo, nếu còn có những điều thu được thì những cái đó không tính. Những thứ đó đều không tính! Bất kể là bạn theo sư phụ nào, nếu thực sự bạn có thu được điều gì thì đều không phải là thật sự có được. Cái thật sự có được là gì? Là cái vô sở đắc. Cái thật có được chính là vô sở đắc.

Khi xưa khi Phật Thích Ca Mâu Ni khai ngộ đã nói một câu: chúng sinh trên đời đều có Phật tính. Mà vì bạn đã có Phật tính rồi, bạn làm gì còn đi lấy Phật tính nữa? Không thể nào! Bạn đã có Phật tính rồi, lẽ nào Phật Nhiên Đăng còn đưa cho bạn cái đèn sao? Đưa cho bạn cây đèn hoặc thắp lên ngọn đèn tâm cho bạn sao? Hay là cho bạn ánh sáng? Không phải! Trong tâm bạn… mỗi một chúng sinh đều có Phật tính! Vì thế, "Chỉ Nguyệt Lục"… Sư Tôn dùng ngón tay này để chỉ vào mặt trăng, là có ý gì? Tôi chỉ thế này là ý nói rằng "Bạn đã có Phật tính rồi". Phật tính ở trên người bạn, không cần phải đến tìm tôi nữa. Bạn vừa mới nói là vô sở cầu, không sai, là không còn mong cầu gì nữa. Chỉ cần bạn nhìn thấy được, nhìn thấy Phật tính của chính mình, thì Phật Nhiên Đăng không thể cho tôi cái gì cả, tôi vô sở đắc. Ý nghĩa này nằm ở đây.

Nghe cho rõ nhé, bạn đọc đến câu này phải nhớ câu này rất quan trọng. Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được cái gì? Bởi vì chính bản thân bạn đã có rồi, không cần phải đến tìm tôi nữa! Bạn chỉ cần dùng một ngón tay chỉ vào mặt trăng, Phật tính của bạn ở đó. Chỉ cần bạn nhìn thấy mặt trăng đó thì chính là nhìn thấy Phật tính của chính mình. Bạn có được cái gì? Chẳng có gì. Cái này gọi là vô sở đắc. Chỉ có Tu Bồ Đề mới có thể nói ra được câu này: *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp.*" Đúng thế không?

Nhưng cái nội tại thì vốn là ta đã có, thành Phật cũng là cái mà ta có, nên ta không thể nào do Phật Nhiên Đăng cho ta thành Phật được. Thành Phật không phải là tôi ban cho các bạn đâu! Tương lai các bạn thành Phật là do tự mình thành Phật đó chứ! Làm gì có chuyện tôi cho bạn? Tôi cho bạn thứ gì? Cái mà tôi cho bạn đều là những thứ thế tục: chuỗi hạt này là món đồ thế tục, tôi cho bạn cái chày kim cang… "Lấy được một cái chày kim cang ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đó là cái tôi có được" ư? Chẳng phải, đó là thứ của thế tục. Cái thứ đích thực chính là Phật tính thì bạn vốn đã có rồi, bạn còn có gì để mà đạt được nữa? Nói như vậy có đúng không?

Vì thế bạn đọc kinh bạn phải hiểu rõ, mọi người đều thuộc làu kinh Kim Cang, mọi người ngày nào cũng đọc, đọc tới đọc lui, thuộc tới thuộc lui, nhưng bạn lại không hiểu ý nghĩa của kinh nằm ở đâu. Hôm nay, trọng điểm chính là câu nói này: "Thực vô sở đắc." Bạn xem, *"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."* Tu Bồ Đề biết điều này. Nếu không giải thích câu nói này, nếu không phải là tôi biết, tôi giảng cho các bạn nghe thì các bạn mãi mãi không biết câu nói này rốt cục là nói cái gì. Chỉ biết là vô sở đắc. Trong Tâm Kinh nói: "Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa." Bởi vì vô sở đắc nên bạn mới có thể trở thành một vị Bồ Tát.

Vừa rồi có đệ tử kia hỏi về "tám ngọn gió thổi vẫn bất động", thật ra tám ngọn gió thổi vẫn bất động chính là một quá trình tu hành. "Vô sinh pháp nhẫn" là quan trọng nhất, bạn có thể tu hành đến được quả vị "vô sinh pháp nhẫn" thì tám ngọn gió căn bản là có thổi thì bạn vẫn bất động. Bất kể chúng ta đọc kinh cũng được, học Phật cũng được, nhưng phải hiểu ý nghĩa của kinh. Những sư phụ bình thường khác thì chỉ thuyết pháp giống như Liên Tự, Liên Tự vừa mới thuyết giảng về pháp: tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc, đều là không thể nắm bắt được, các vị thầy khác chỉ có thể giảng như thế thôi, nhưng họ không biết vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến chỗ Phật Nhiên Đăng học tập mà sau khi học xong ngài ấy lại chẳng có được cái gì.

Thiền tông có một vị tổ sư đã đến chỗ của sư phụ của ngài ấy để học. Khi trở về, rất nhiều người hỏi ngài: "Ngài có được cái gì từ chỗ của sư phụ?" Ngài ấy nói: "Cuối cùng tôi đã có được rồi." "Có được cái gì?" "Tôi đã biết rồi." "Biết cái gì?" "Con mắt nằm ngang, cái mũi nằm dọc!" Cái này thì ai chẳng biết! Con mắt nằm ngang, cái mũi nằm dọc ư? Thật ra ngài ấy nói "con mắt nằm ngang, cái mũi nằm dọc" là có ý nói rằng "căn bản là tôi chẳng có được cái gì". Vì thế, kì thực thành Phật là tự mình thành Phật, không phải là sư phụ cho bạn. Tôi chỉ là trỏ vào mặt trăng, đầu ngón tay tôi trỏ vào mặt trăng kia, bạn nhìn xem đó là mặt trăng đó, là như vậy đó.

Có một người mẹ dắt đứa con trai bốn tuổi đi vào siêu thị. Sau khi vào siêu thị, người mẹ liền tháo lỏng đai quần của con trai ra. Nhân viên làm việc ở siêu thị liền hỏi: "Vì sao chị lại làm như vậy?" Người mẹ trả lời: "Tay của nó sẽ bận túm cái quần lên, thế thì sẽ chẳng có cách nào cầm nắm lung tung các thứ." Đây là trí tuệ của người mẹ.

Tôi nói cho bạn biết nhé, Phật pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng đều vô cùng có trí huệ, đều là Phật huệ tối cao! Kinh Kim Cang là trí huệ Như Lai rất cao siêu, không phải là thứ mà người thế tục có thể biết được. Giống như Tâm Kinh, mọi người đều thuộc lòng, Tâm Kinh rất ngắn, kinh điển ngắn nhất chính là Tâm Kinh. Tôi đã nói rồi, chắt lọc của kinh Đại Bát Nhã chính là kinh Kim Cang, chắt lọc của kinh Kim Cang chính là Tâm Kinh, tinh hoa đều nằm ở Tâm Kinh và kinh Kim Cang. Kinh Đại Bát Nhã là trí huệ của Như Lai, nếu bạn thật sự ngộ rồi, thật sự khai ngộ rồi, thì lấy bất kì kinh điển nào ra đọc, thì liếc qua là hiểu ngay. Bạn chưa khai ngộ thì mỗi kinh điển sẽ đều là chướng ngại của bạn.

Đừng nói là bạn thuộc lòng Tâm Kinh, bạn có thể đọc thuộc kinh Kim Cang, ngày ngày bạn niệm kinh Kim Cang, chẳng bằng Lục Tổ Huệ Năng nghe được một câu: "Nên vô sở trụ mà sinh tâm ấy." Lục Tổ nghe được câu này thì lập tức ngài ấy có được ngộ cảnh. Hôm nay Sư Tôn chỉ giảng một câu nói này mà thôi. Câu nói này chính là điểm chính, điểm qua trọng mà hôm nay tôi giảng. Chính bạn đã có thì tuyệt đối đừng đi tìm ở bên ngoài, vì thế nên bạn mới là vô sở đắc. Om mani padme hum.

*(Ngày 30/10/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 28.)*

### 29. Phần thứ 10: Tịnh thổ trang nghiêm (2)

*(Bài giảng 29)* Cõi Phật trang nghiêm tức không trang nghiêm

*Phật hỏi Tu Bồ Đề:  
"Ý ông thế nào? Xưa kia Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, có đạt được điều gì về pháp không?"  
"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?"  
"Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."*

Lúc này Phật Thích Ca Mâu Ni lại hỏi: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?" "Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."*

Lại có một câu hỏi rồi: Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không? *"Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."* Câu hỏi này cũng rất hay. Bạn có thể đọc nó lên, rất đúng. Bồ Tát có làm trang nghiêm tịnh thổ không? Không phải, không phải Bồ Tát làm trang nghiêm tịnh thổ. *"Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm."* Vì sao người làm trang nghiêm Phật thổ thì không phải là trang nghiêm, nhưng lại gọi là làm trang nghiêm? Vì sao vậy?

Câu hỏi của ngày hôm qua, hôm nay muốn lấy đồ gì nhỉ… cái vòng tay này cũng không tồi, để tôi hà một hơi khí. Rồi, giờ có linh khí rồi nhé, cái vòng tay đã có linh khí. Vì sao Bồ Tát không hề làm trang nghiêm tịnh thổ? Vì sao rõ ràng là ở đó rất trang nghiêm, nhưng lại chẳng phải là trang nghiêm, bởi vì không phải trang nghiêm nên chính là trang nghiêm? Ai trả lời được giơ tay, cái vòng tay này sẽ là của người đó. (Đệ tử: không chấp tướng, không bám chấp vào tướng bên ngoài.) Không chấp vào ngoại tướng. Cũng không sai, nhưng cũng không hoàn toàn là như thế. Vâng, xin mời đại sứ. (Đại sứ Liêu Đông Châu: Phật thổ trang nghiêm chỉ là một cái danh dùng để độ hóa chúng sinh, Phật thổ vốn dĩ đã là trang nghiêm rồi, vì thế không có cái gọi là Bồ Tát làm trang nghiêm Phật thổ hoặc là Phật thổ trang nghiêm của ai.) Lời đại sứ nói cũng được khoảng 99 điểm rồi. Lời đại sứ nói cũng được 99 điểm rồi, chiếc vòng tay này tặng cho đại sứ. Vâng cảm ơn ông, ông nói rất đúng.

Phải hiểu được điều này! Bạn đọc hết *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?" "Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."* Bồ Tát vốn dĩ đã là trang nghiêm rồi, Phật vốn dĩ đã là trang nghiêm rồi. Tướng của bản thân Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, mọi người đều biết điều này. Thế nào là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp? Hai dái tai dài đến vai, dái tai rất dài, đúng thế không? Hai dái tai rủ xuống vai, bạn xem dái tai Sư Tôn cũng rủ xuống, cũng chạm xuống vai đây nè! Lông mày thì cong như mặt trăng lưỡi liềm, đôi mắt thì là đôi mắt trí huệ, mũi thì cao như núi Tu Di, cái miệng thì không quá nhỏ, cũng không to đến mức rộng sang hai bên, lưỡi có thể thè ra rất dài tới mức che kín cả mặt, đây gọi là tướng lưỡi rộng dài. Cánh tay rất dài, dài quá đầu gối, đứng dậy thì cánh tay rất dài, qua đầu gối, chân có bánh xe nan hoa, trên chân có bánh xe nan hoa, giống như là cái lưới hình bánh xe tỏa ra vậy. Đó là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. 

Bạn bảo có một kiểu trang nghiêm gọi là sáu thứ trang nghiêm, đó là những thứ bên ngoài: đeo hoa tai, trước ngực có đeo chuỗi hạt, ba chuỗi hạt ngọc, trên tay có vòng tay, ở chân có vòng chân, đó là sáu thứ trang nghiêm, bảy thứ trang nghiêm ở bên ngoài. Đó là trang nghiêm, thỉnh thoảng xuất hiện trên sân khấu thì đó chính là tướng trang nghiêm, đó là trang nghiêm bên ngoài. Vừa rồi ta nói đến trang nghiêm ở bên ngoài, thật ra Bồ Tát và Phật bản thân đã trang nghiêm rồi, khi các vị đến Phật thổ, Bồ Tát ở trong Phật thổ, không cần phải làm trang nghiêm Phật thổ, nó tự động sẽ trang nghiêm, vốn dĩ là tự trang nghiêm rồi. 

Tây phương Cực Lạc thế giới đã có *tree* (cây), đã có *lake* (hồ), đã có *beautiful house* (nhà đẹp), không có mùa đông lạnh, cũng không có mùa hè với mặt trời to như vậy, cũng không nóng cũng không lạnh, nhiệt độ vừa đủ dễ chịu. Những hàng cây thất bảo ở đó (chính là *tree*), có bát công đức thủy (chính là *lake*), có các đình đài lầu gác rất đẹp, có những ngôi nhà lấp lánh để cho bạn ở, khắp mặt đất đều là vàng, trên cây cũng có y phục (thiên y). Chuyện ăn uống, trong đầu bạn nghĩ muốn ăn gì thì thứ đó liền xuất hiện. Chuyện quần áo, trên cây sẽ trổ ra y phục của cõi trời, có thể mặc được. Nơi ở thì chính là những gác vàng lầu bạc, đi lại thì bằng xe mây, xe mây sẽ đưa bạn đi bất kì nơi nào bạn muốn, rất nhanh chóng.

Và như thế tự nhiên các cõi tịnh thổ đều trang nghiêm rồi chứ không phải là cố ý tạo dựng ra sự trang nghiêm ở đó. Là vô tâm, căn bản là vô tâm mà làm nên sự trang nghiêm đó. Vô cùng trang nghiêm, nhưng trang nghiêm cũng lại không phải là trang nghiêm, bởi vì không phải là trang nghiêm nên mới là trang nghiêm. Không phải là Bồ Tát cố ý đi tạo ra sự trang nghiêm đó, mà là vốn dĩ tịnh thổ đã trang nghiêm rồi. Phật cũng không tự mình cố ý tự tạo cho mình tướng trang nghiêm, mà là Phật vốn dĩ đã trang nghiêm rồi. Như ngài đại sứ nói đó, vốn dĩ chính là đã trang nghiêm rồi, còn phải tạo ra sự trang nghiêm để làm cái gì? Bởi vì không phải là trang nghiêm mới là trang nghiêm, câu nói này, Sư Tôn đã giảng rõ ràng rồi, như vậy có đúng không?

Vì thế, bạn đọc thuộc hết kinh Kinh Cang, biết niệm kinh Kim Cang, vì thế bạn có thể nói: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?"* "Không có." Đương nhiên là không có rồi. Tôi đâu có cố ý đi làm trang nghiêm Phật thổ. *"Thưa Thế Tôn! Là vì sao?"* Phật thổ trang nghiêm như vậy, không phải là cố ý làm cho nó trang nghiêm, nó vốn dĩ đã trang nghiêm rồi, gọi tên là trang nghiêm. Chỉ một câu rất ngắn này, nếu không giảng giải thì mọi người cũng sẽ không hiểu được là vì sao. 

Vốn dĩ Bồ Tát là trang nghiêm, Phật cũng trang nghiêm, tịnh thổ vốn là trang nghiêm không cần phải cố hết sức làm cho nó trang nghiêm, nó vốn dĩ đã là trang nghiêm rồi, vì thế chẳng phải là trang nghiêm, chẳng phải cố ý làm cho nó trang nghiêm, thật ra nó đã trang nghiêm rồi, ý nghĩa này chính là nằm ở đây. Nếu hôm nay không giải thích thì sẽ không có ai hiểu ý nghĩa này. Hôm nay giảng đoạn này như vậy là cũng rất tốt rồi, như thế này là mọi người cũng đã thu được lời rồi.

Cuối cùng kể một câu chuyện cười vậy. Một trường tiểu học nọ đang tổ chức đại hội thể dục thể thao. Đây là cuộc thi chạy tiếp sức, chỉ thấy một học sinh nam bé nhỏ đang ra sức chạy như bay về phía trước, khi cậu sắp chạm được vào cây gậy, thầy giáo điên cuồng hét lên: "Tóm chắc, tóm chắc vào! Các em phải tóm chắc vào!" Thế là hai học sinh nam ngay lập tức đờ người ra, hai bên nhìn nhau vô cùng bối rối, sau đó ôm lấy nhau và hôn môi nhau. <span className="note-blue">[ở đây có hai từ đồng âm khác nghĩa, từ tóm chắc và hôn môi trong tiếng Trung có âm giống nhau]</span>

Ý của thầy giáo là phải tóm chắc một chút, vì đây là chạy tiếp sức mà, khi cây gậy đó chuyển giao cho người kia thì phải khẩn trương tóm chắc, đừng để rơi mất, tóm chắc, tóm chắc. Kết quả là hai đứa trẻ ôm lấy nhau và hôn môi. Cái này có thể so sánh với việc rất nhiều người đọc kinh Kim Cang nhưng không hiểu được ý nghĩa của nó, đúng kiểu chỉ có chạy đến mà ôm hôn. Om mani padme hum.

*(Ngày 31/10/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Bất Động Minh Vương tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 29.)*

### 30. Phần thứ 10: Tịnh thổ trang nghiêm (3)

*(Bài giảng 30)* Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy

Bây giờ chúng ta giảng kinh Kim Cang.

*"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy."*

Chúng ta giảng đến chỗ này đã, đoạn bên dưới sẽ giảng vào lúc khác. Đoạn này có một câu nói nổi tiếng, một câu rất nổi tiếng: *"Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*. Trong đoạn này có điển cố: Lục Tổ Huệ Năng của Thiền tông nghe hàng xóm đọc kinh Kim Cang, đọc đến câu *"Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"* thì Lục Tổ Huệ Năng lập tức lĩnh hội được. Vẫn là những người họ Lư chúng tôi lợi hại, Lục Tổ Huệ Năng mang họ Lư, ngài ấy là Lư hành giả, vừa nghe đến câu này thì ngài ấy lập tức giác ngộ.

*"Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*… Trên thế giới này có người nào không phạm sai lầm? Trong kinh Địa Tạng nói chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề làm gì nghĩ gì không có cái nào không là nghiệp, đại ý là thế này, khởi tâm động niệm, không có cái gì không là nghiệp. Đều là nghiệp cả! Có người nào không phạm lỗi? Người nào không phạm sai lầm giơ tay? Nếu người nào không phạm sai lầm thì tôi tặng cho chuỗi hạt này. Chà, chuỗi hạt này rất nhiều màu sắc nhé! Rất đẹp đó, chuỗi hạt này rất đẹp… có cả linh khí nữa. (Sư Tôn hà hơi vào chuỗi hạt.) Tôi tin rằng không người nào dám giơ tay, chỉ có một người dám giơ tay thôi, để tôi nói cho bạn biết, đó là người chết. 

Phật đương nhiên là có thể, bởi vì Phật chính là *"Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy".* Chỉ có một người là không phạm sai lầm: người chết! Người chết thì sẽ không phạm lỗi nữa, chẳng cử động được, thế thì đương nhiên sẽ không tạo nghiệp nữa! Nằm thẳng đơ ra đó thì làm sao tạo nghiệp được? Không thể tạo nghiệp. 

Được rồi, bây giờ tôi giảng nhé, cái này rất khó: *"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm".* Ai vô tâm? Con người đều có tâm, đều có suy nghĩ, đều có ý nghĩ. Tôi còn nhớ trước kia tôi đi nghe một pháp sư giảng kinh. Ông ấy nói, có người niệm Phật: "Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật…" khi mở mắt ra nhìn thấy trước mặt có một cô gái đi qua "….nam mô A Di Đà Phật, ôi xinh quá!" Ông ấy đã bị sắc làm động tâm rồi! Đây gọi là "trụ sắc sinh tâm"! Rồi lại niệm "Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật…", một mùi thơm từ nhà bếp của Lôi Tạng Tự bay tới: "Ấy, đúng món đậu hũ thối mà mình thích ăn nhất!" Đây là "trụ vị sinh tâm" rồi! Ngửi thấy mùi vị mà sinh tâm.

Tiếp tục lại "Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật…", nghe thấy âm nhạc: *"Nhớ em khi em ở nơi xa xôi, nhớ em khi em ở ngay trước mắt, nhớ em em ở trong tâm trí, nhớ em em ở trong tim anh…"* Chao, hay quá! "Trụ thanh sinh tâm" rồi! Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… vì thế người niệm Phật cũng thế thôi! Lục trần này sẽ ảnh hưởng đến tâm bạn. Cho nên Phật mới nói: *"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy."* Rất khó! Bạn tu đến khi có thể *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"* thì bạn chính là Bồ Tát rồi!

Vì thế chúng ta… bạn hỏi Sư Tôn: "Sư Tôn, ngài có năm triệu đệ tử, vì sao ngài không xây dựng Lôi Tạng Tự cho chính mình? Người ta XX đó (Quỷ Bà ở San Francisco) đều có Lôi Tạng Tự của riêng mình, vì sao ngài không xây Lôi Tạng Tự cho chính ngài nhỉ? Ngài chỉ cần nói rằng ngài xây Lôi Tạng Tự thì rất nhiều đệ tử của ngài sẽ đều gửi cúng dường đến, ngài có thể xây một tòa Lôi Tạng Tự rất to! Các đệ tử của ngài đều sẽ bỏ tiền ra, ngài có Lôi Tạng Tự cho riêng mình, tốt biết bao?"

Quỷ Bà người ta có thể xây Lôi Tạng Tự của bà ấy, bà ấy không xây Lôi Tạng Tự, bây giờ đã không còn gọi là Lôi Tạng Tự nữa rồi. Bà ấy ấy xây chùa riêng của bà ấy. Ngài cũng có thể xây chùa riêng cho mình mà? Tôi không vì cái chùa này mà sinh ra cái tâm xây chùa, tôi không có. Nói như vậy mọi người có hiểu không? Tôi không trụ vào cái chùa này. Tôi không tạo nên cái tâm xây chùa cho bản thân, căn bản là tôi không có tâm ấy.

"Thế bây giờ ngài có truyền pháp không?" Truyền pháp cũng là một cái tâm, tôi truyền pháp xong thì tôi cũng quên luôn việc đó.  
"Ngài thuyết pháp mà, ngài thuyết pháp là để độ chúng sinh, có sinh cái tâm độ chúng sinh không?" Không có! Tôi nói là việc của tôi, bạn nghe là việc của bạn, nghe hay không là do bạn!

"Tương lai ngài sẽ có bao nhiêu đệ tử?" Không quan tâm! Mãi mãi vẫn là năm triệu, không tăng lên, cũng không giảm bớt.  
"Sau này nếu ngài không có đệ tử thì sao?" Cũng vẫn *OK* thôi, không vấn đề gì. *No problem*.  
"Ngay đến một đệ tử cũng không có?" *No problem.* 

Tôi không trụ vào cái gì để mà sinh tâm, đó chính là "không trụ tâm" đó! Nếu như muốn trụ tâm thì hôm nay tôi đã xây Lôi Tạng Tự cho riêng mình rồi! Tôi xây đó! Tôi muốn xây thật là to! Ngôi chùa nào to nhất? Lôi Tạng Tự của Lư Thắng Ngạn là to nhất! Là chùa của Lư Thắng Ngạn, sẽ đặt tên là Lư Thắng Ngạn Lôi Tạng Tự. Lôi Tạng Tự của Lư Thắng Ngạn là to nhất. Thế thì đó không phải là to! Tôi không trụ vào cái này. Không trụ vào danh, có cái danh gì chứ? Tôi thường xuyên nghĩ mình là một người chết. Người chết thì có cái gì? Cái gì cũng chẳng có! Thế bây giờ ông đang làm cái gì? Chỉ là làm những việc mà tôi nên làm thôi. Trung Quốc có một câu thành ngữ nói rằng "tự nhiên mà làm", "tự nhiên mà làm" nghĩa là "*nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*.

Bây giờ tôi là "tự nhiên mà làm", tôi đang làm rất nhiều việc, nhưng tôi đều không trụ tâm vào việc đó, không vì cái gì cả, cái này mới là Bồ Tát. Rất nhiều người hôm nay làm một việc thiện, ngày mai liền đi xem ti vi xem ti vi có đưa tin không, trên báo có chú ý tới không. Làm một việc thiện rất lớn thì khẩn trương xem báo, xem ti vi xem xem có đăng tin không. Đó là làm vì muốn có được gì đó, chứ không phải làm không vì cái gì cả.

Vì thế khi xưa, Lư hành giả Lục Tổ Huệ Năng nghe được câu này lập tức giác ngộ. Câu nói này rất nhiều người không hiểu, cũng không rõ vì sao *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*. Ý nghĩa là gì? Chính là câu mà Jesus nói "việc tốt mà tay phải làm đừng để tay trái biết". Lư Sư Tôn là một đạo nhân vô tâm, làm cái gì, bất kể là viết văn chương gì, viết xong rồi cũng bỏ luôn. Tôi không thể nói: "Tôi đã viết 286 cuốn sách rồi, cuốn 287 cũng đã hoàn thành rồi, bây giờ tôi đang viết cuốn 288. Tôi cho rằng, chà, 288 cuốn sách, bản thân tôi đã rất cừ rồi! Có người nào sánh được với tôi viết tận 288 cuốn sách chứ?" Không được có cách nghĩ như vậy! Nghĩ như thế là sai rồi! Làm xong rồi thì cũng quên luôn.

Tiếng tăm lớn đến mức nào? Cũng vô dụng! Con người thế gian theo đuổi danh lợi! Một cái là danh, một cái là lợi, bạn trụ tâm vào lợi thì bạn sẽ muốn tiền của người ta! Bạn trụ tâm vào danh thì bạn sẽ đọ sức để đạt được tiếng tăm! Bạn không trụ vào danh, cũng không trụ vào lợi mà vẫn làm tất cả mọi việc bố thí thì chính là Bồ Tát. Rất đơn giản thôi. Vì thế, trước kia sư phụ nói với tôi: "Tuyệt đối không được mở miệng ra đòi tiền của người khác! Đây chính là giới luật của anh!" Nghĩa là không trụ vào lợi! Không được nghĩ tiếng tăm của mình lớn đến mức nào, muốn xông lên, muốn để cho người trong thiên hạ biết bạn là Chúa cứu thế! Không được có cách nghĩ như vậy.

Quỷ Bà kia nói trong tạp chí Tử Liên rằng Jesus nói với bà ta: "Bà hãy đi nói với mọi người trong thiên hạ rằng bà là Chúa cứu thế!" Quỷ Bà là Chúa cứu thế sao? Tôi chưa bao giờ từng nghĩ đến hai chữ "cứu thế", tôi có thể cứu được chính mình đã không đơn giản rồi, còn cứu thế cái gì? Bản thân mình còn không thể cứu nổi mà còn đòi cứu thế? Tôi khinh! Trong Mật giáo có một chữ "pei" để giải tán, đúng thế không? Rất đơn giản thôi! Tôi không trụ thế, tôi không trụ vào cái danh, tôi chẳng quan tâm hữu danh vô danh cái gì cả. Bất kể cái gì có lợi hay không có lợi, tôi cũng không thể mở mồm ra đòi tiền người ta! Nếu tôi mở mồm ra đòi tiền bạn thì tôi sẽ bò trên mặt đất, tôi chính là một con rùa!

Rất đơn giản mà, đúng thế không? Vì thế hôm nay tôi giảng *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"* chính là Bồ Tát. Không hề vì cái gì cả, tôi vẫn làm bố thí, cứu tế chúng sinh, tôi chính là một vị Bồ Tát. Bạn cũng không thể có suy nghĩ mình là Bồ Tát, bạn có suy nghĩ mình là Bồ Tát thì không phải là Bồ Tát nữa rồi! Bởi vì không có suy nghĩ mình là Bồ Tát thì mới là Bồ Tát. Ý nghĩa của kinh Kim Cang rất quan trọng, ý nghĩa ở trong đây. Vì thế, nếu Sư Tôn có mở miệng ra đòi tiền bạn thì bạn hãy chỉ thẳng vào mũi tôi mà nói: "Ông phạm giới rồi!"

Cần tiền để làm gì? Tôi đâu phải là Tăng Diệu Toàn <span className="note-blue">[ý ở đây là: "thật cần tiền"]</span>. Chúng ta có một đồng môn tên là Tăng Diệu Toàn sư huynh, thật đó, "thật cần tiền" (cụm từ đồng âm khác nghĩa). Còn có một người nữa cũng cần tiền, tên là Hứa Đức Toàn (tên này đọc lên nghe giống như "muốn có tiền"). Có một người nữa tên là Lập Toàn (kiếm tiền). Vì thế hôm nay tôi giải thích *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*: không vì cái gì cả, nhưng bạn đi làm công tác độ hóa chúng sinh, đi làm công tác độ hóa chúng sinh không vì cái gì cả thì cái này gọi là *"nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*. Hôm nay tôi giải thích câu này thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 06/11/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 30.)*

### 31. Phần thứ 10: Tịnh thổ trang nghiêm (4)

*(Bài giảng 31)* Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn

*"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn."*

Đoạn này rất thú vị, hôm nay tôi sẽ giảng đoạn này.  
*"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?" Tu Bồ Đề nói: "Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn."* Trọng điểm nằm ở chữ "lớn", thế nào là lớn? Tôi nói để bạn biết, núi Tu Di trong Phật giáo, trong thế giới quan của Phật giáo, trên đỉnh của núi Tu Di là 33 cõi trời, ở giữa là Tứ Thiên Vương Thiên, phía dưới núi Tu Di phân thành bốn đại châu, tám tiểu châu, ở giữa có biển nước thơm, đây chính là vũ trụ quan của Phật giáo.

Cách nhìn về vũ trụ là như vậy, ở giữa là núi Tu Di, núi Tu Di đương nhiên là to lớn nhất rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni liền so sánh: "Núi Tu Di có to lớn không? Nếu có người to lớn như núi Tu Di thì có xem là lớn không?" Lớn, nhưng Tu Bồ Đề lại nói: "Đúng là rất lớn, nhưng mà không phải là thân." Ngài ấy nói thế này: *"Phật nói không phải thân thì gọi là thân lớn."* Phật Đà nói không phải thân thì mới gọi là lớn. Bây giờ vấn đề lại nằm ở chữ "lớn" này. Núi Tu Di chỉ là một sự so sánh. Núi Tu Di, có người to cao giống như núi Tu Di thì có xem là lớn không? Lớn! Thế cái gì mới thật sự là lớn đây? Tu Bồ Đề đáp: *"Phật nói không phải thân thì gọi là thân lớn."* Ngài ấy đã trả lời rồi, vấn đề chính là nằm ở chữ "lớn" này, núi Tu Di chỉ là một so sánh mà thôi.

Vũ trụ này của chúng ta có lớn không? Lớn. Hệ mặt trời có lớn không? Lớn. Hệ mặt trời chẳng qua chỉ nằm trong vũ trụ, là một hệ mặt trời trong số hơn trăm hệ mặt trời mà thôi, nếu so với cả vũ trụ thì không lớn, khoa học kĩ thuật của con người càng phát triển thì càng không biết vũ trụ lớn tới mức nào nữa, căn bản hiện nay vẫn chưa biết vũ trụ lớn đến mức nào. Nước Mĩ có lớn không? Lớn. Trung Quốc có lớn không? Lớn. Ấn Độ có lớn không? Lớn. Brazil có lớn không? Brazil cũng rất lớn, Brazil cũng cực kì lớn. Hiện nay nước mạnh nhất trên thế giới, chúng ta không dám nói, bởi vì hai nước đang tranh nhau, Trung Quốc và Mĩ đang tranh nhau xem ai lớn nhất, mọi người đều muốn làm ông lớn. 

Nước Mĩ đã quen làm ông lớn rồi, ta là United States of America <span className="note-blue">[hợp chủng quốc Hoa Kì]</span>, ta là bá chủ cả địa cầu, trên thế giới rất nhiều quốc gia đều muốn nghe theo ta, ai không nghe theo ta chứ? Nam Hải, Nam Hải ở Trung Quốc, cách Trung Quốc tương đối gần, đúng không? Cách Mĩ tương đối xa, đúng không? Nhưng Mĩ cũng quản cả Nam Hải luôn, ta đem cả hàng không mẫu hạm đến Nam Hải, ngươi xây dựng đảo đá ngầm ở Nam Hải, đang làm căn cứ, ta vẫn phải quản, Mĩ cái gì cũng muốn quản, khoảng cách tới Mĩ rất xa, Nam Hải thật sự cách Trung Quốc Đại Lục khá gần.

Nam Hải này, Nam Hải của chúng ta còn có Quan Thế Âm Bồ Tát, Đông Hải thì còn có Đông Hải Long Vương, còn có Tứ Hải Long Vương nữa, Trung Quốc có Tứ Hải Long Vương, Nam Hải cũng là Trung Quốc, Nam Hải còn có Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng là của Trung Quốc chúng tôi, cớ sao Nam Hải lại biến thành của các người được, thế thì Quan Thế Âm Bồ Tát của chúng tôi ở đâu? Đây chỉ là một câu chuyện cười, chuyện cười thời hiện đại. Sư Tôn thấy vở kịch này đúng là do Kim Dung viết, đều là tranh làm minh chủ võ lâm. Những thứ mà Kim Dung viết không phải là không có đạo lí triết học, những thứ mà ông ấy viết là có đạo lí triết học cả, mọi người đều đang tranh làm ông lớn.

Bạn xem, đừng nói là nước này với nước khác, đừng chỉ nói là giữa các quốc gia với nhau, những người giàu có có tiền đều đang tranh nhau xem ai là người giàu số một thế giới, đều đang tranh đua. Hai chúng ta đều là người có tiền, tôi thấy anh không thuận mắt, anh cũng thấy tôi không vừa mắt. Amazon, bạn biết là ông chủ của Amazon rất giàu có, ông chủ của hãng xe điện cũng rất giàu có, đúng không? Ông chủ của Amazon thấy vậy nói, xe điện của anh kiếm được tiền thì có là cái gì, tôi cũng làm xe điện cho anh xem, Amazon bây giờ cũng muốn bắt đầu làm xe điện đó, cả hai người đều có lắm tiền, ông chủ của Amazon rất có tiền, ông chủ hãng xe điện cũng rất có tiền, hai người đang tranh tới tranh lui, đều muốn làm người có nhiều tiền nhất.

Rồi giới tôn giáo cũng thế, thật ra, mọi người trên thế giới này đều muốn tranh làm số một. Trước kia ở Đài Loan thì Phật giáo Trung Quốc làm ông lớn, sau khi bỏ những hạn chế thì mọi người lũ lượt tách riêng, Phật giáo Trung Quốc đã biến thành cái vỏ rỗng. Khi xưa lúc vừa bỏ những hạn chế thì Phật Quang Sơn cũng tách riêng, Từ Tế cũng tách riêng, mọi người đều độc lập, đều lập phái riêng. Trước kia mỗi một giáo phái đều phải là một chùa nào đó hội nào đó gắn với Hội Phật Giáo Trung Quốc, trước kia đều thuộc dưới Hội Phật Giáo Trung Quốc, Hội Phật Giáo Trung Quốc Đài Bắc Phổ Tế Tự, Thiện Đạo Tự, Hội Phật Giáo Trung Quốc Đài Bắc Phân Hội Thiện Đạo Tự, đều là phân biệt như vậy, khi xưa tất cả đều quy về Hội Phật Giáo Trung Quốc. 

Thân phận người xuất gia cũng đều do Hội Phật Giáo Trung Quốc quản, Sư Tôn có thân phận là tăng nhân xuất gia, cũng là do trưởng lão Ngộ Minh của Hội Phật Giáo Trung Quốc phát cho tôi (khi ấy ông ấy là chủ tịch hội), tôi vẫn mang theo người đây, tôi là người xuất gia chân chính, Sư Tôn không phải là giả mạo đâu. Để tôi xem có đem theo người không? Có đem theo người thì sẽ cho mọi người xem, không mang theo người thì chẳng có cách nào. Ui chà! Có rồi, chứng nhận hội viên Hội Phật Giáo Trung Quốc, pháp hiệu Liên Sinh, quê quán Gia Nghĩa Đài Loan, họ tên Lư Thắng Ngạn, nam, sinh ngày 27 tháng 6 năm 34 (Dân Quốc), tăng tử Đài Loan số hiệu 002083. Đây là chứng nhận của Hội Phật Giáo Trung Quốc, người xuất gia phải có thẻ chứng nhận xuất gia này, đúng thế không? Sư Tôn có thẻ chứng nhận thân phận xuất gia thật đây, đây là chứng minh thân phận của người xuất gia. 

Ai là ông lớn? Bây giờ không có nữa, bây giờ mọi ông đều là ông lớn. Đúng vào lúc đang tranh giành này, đúng vào lúc người ta cứ ở đó mà tranh tới tranh lui, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Người hợp với đạo là lớn." Phật Thích Ca Mâu Ni nói một câu rất rõ ràng: Người hợp với đạo là lớn. Bạn đã hợp nhất với đạo rồi thì bạn chính là lớn, người hợp với đạo là thân gì? Là phi thân, chính là phi thân, không phải là thân thể nữa, cái gì cũng không phải, nhưng bạn hợp nhất với đạo rồi thì bạn chính là số một. Vì thế, mọi người đều đang tranh làm số một, học sinh cũng như thế, thi cử nhất định phải đứng thứ nhất, mỗi lần thi đều phải tranh vị trí số một, tâm hiếu thắng rất mạnh, nhất định phải là số một. Có người kia một lần đứng thứ hai, thế là'"khậc"… ! Anh ta chết rồi, tự sát chết, thật đáng thương! Thật đó, học sinh đi học đứng số một có tác dụng gì? Lư Sư Tôn lưu ban hai lần, bây giờ ngồi trên pháp tọa, sáng lập tông phái Chân Phật Tông, nhiều đệ tử như vậy đến quy y. Tôi bảo cho bạn biết nhé, chỉ cần bạn lưu ban là bạn có thể sáng lập tông phái đấy, không cứ phải đứng thứ nhất mới là tốt đâu, không cần phải tranh đấu, không cần phải cạnh tranh cái này.

Phật Đà đã nói một câu, một câu nói tối quan trọng sau cùng: "Người hợp với đạo là lớn." Lớn này là vô hình, lớn mà lại không phải là cái bên ngoài - lớn đến mức không còn cái bề ngoài, nhỏ mà lại không phải là cái bên trong - không có bên trong cũng không có bên ngoài, cái này mới là lớn thật sự, đạo là như vậy, lớn mà không phải bên ngoài, nhỏ mà không phải bên trong, đây mới là đạo chân chính, là lớn. Cái lớn này là cái gì? Phi thân, không có hình tướng, vô tướng, người không có hình tướng mới gọi là lớn, còn có hình tướng thì đều là nhỏ hết.

Bạn cho rằng bạn ở dinh thự, dinh thự lớn cỡ nào? 16.000 xích (khoảng 5300 mét vuông), Biệt thự Cầu Vồng có được 16.000 xích không? Gộp toàn bộ biệt thự Cầu Vồng vào thì còn lớn hơn 16.000 xích, rất lớn rồi, biệt thự Cầu Vồng là dinh thự. Nhà người ta là 20.000 xích, người ta ở trong căn nhà hai mẫu Anh (1 mẫu Anh khoảng 4.050 mét vuông) bạn đã từng thấy chưa? Bạn so với người ta, "chim cu" mà đòi so với đùi gà à, làm sao mà so được? Không so được, những thứ đó đều là hữu hình. Bạn cho rằng "Tôi ở dinh thự, nhà tôi to nhất." Bạn cho rằng bạn lái xe Rolls-Royce thì bạn rất là to. Xe Rolls-Royce, tôi nói cho bạn biết nhé, Ferrari có chiếc tới một triệu đô, Rolls-Royce của bạn chẳng qua cũng chỉ nửa triệu đô, một chiếc Ferrari bằng hai chiếc Rolls-Royce đó. Lamborghini có thể so được: bạn muốn xe mười triệu đô tôi cũng có thể làm được cho bạn. Mọi người so sánh mà xem, ôi dào, xe của anh cũng vẫn là nhỏ thôi, Rolls-Royce cũng chỉ coi là nhỏ thôi. Cho nên cái gì cũng đều không so sánh được, tôi nói để bạn biết, những thứ hữu hình đều không phải là lớn, Phật Đà nói rồi: "Người hợp với đạo là lớn", vô tướng là lớn nhất, những gì hữu tướng thì đều là nhỏ, vì thế tôi mới nhắc lại cho bạn câu nói này. 

*"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?"* Tu Bồ Đề nói: *"Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn."* Phi thân, không phải là thân có hình tướng, thì gọi là lớn nhất. Không phải là thân có hình tướng thì là cái gì? Là đạo, là Phật tính, bạn đã tu hành đến vô tướng rồi, hơn nữa Phật tính đã hiển lộ rồi - hiển lộ Phật tính của bạn rồi, thì đó là lớn nhất. Đọc kinh Kim Cang, bạn cần biết rằng Phật nói chẳng phải thân, cái gì là chẳng phải thân? Cái không có hình tướng là lớn nhất, chính là đạo, chính là Chân như, chính là Phật tính. Om mani padme hum.

*(Ngày 07/11/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Tùy Cầu Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 31.)*

### 32. Phần thứ 11: Phúc vô vi là hơn hết

*(Bài giảng 32)* Bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng

Chúng ta giảng kinh Kim Cang.

*"Tu Bồ Đề! Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, ý ông thế nào, số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"  
"Tu Bồ Đề! Nay ta nói lời thật cho ông nghe: nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."*

Hôm nay chúng ta giảng Phần thứ 11: Phúc vô vi là hơn hết. Vâng, Phần thứ 11: Phúc vô vi là hơn hết. Đầu tiên nói đến hai chữ vô vi. Thế nào là vô vi? *"Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy"*, gọi là làm một cách tự nhiên. Nếu nên không có chỗ trụ thì chính là vô vi, vô sở trụ chính là vô vi. Ý nghĩa của phần phúc hơn hết là: dùng phúc đức để so sánh, dùng phúc và đức để làm một sự so sánh, đây là phẩm thứ mười một.

Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi, Phật Thích Ca Mâu Ni thường xuyên dùng so sánh, *"Tu Bồ Đề! Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, ý ông thế nào, số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"* Câu nói này có người đọc không hiểu. Mọi người chú ý nhé! Câu nói này cũng không phải là rất đơn giản mà có thể giảng được đâu.

*"Tu Bồ Đề! Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, ý ông thế nào, số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"*  

Phật Thích Ca Mâu Ni lại nói:  
*”Tu Bồ Đề! Nay ta nói lời thật cho ông nghe: nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."*

Ở đây là so sánh phúc đức. Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích dùng so sánh, ngài ấy rất thích hai so sánh: một là núi Tu Di, là rất lớn, cao lớn, còn dùng cát để so sánh mức độ nhiều vô cùng. Ai đã đến Ấn Độ thì sẽ biết sông Hằng này, chúng tôi đã đi rồi, Sư Tôn đã đi đến Ấn Độ, đã đi Varanasi, Varanasi là thành cổ có năm nghìn năm văn hóa, Ấn Độ cũng là một trong bốn nền văn minh lớn gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Babylon, Ai Cập. Babylon đã không còn nữa, chỉ còn lại Ai Cập, Ấn Độ và Trung Quốc, là những quốc gia có nền văn hóa trên năm nghìn năm. Thành phố Varanasi này đã tồn tại năm nghìn năm, nó nằm bên bờ sông Hằng, người Ấn Độ gọi sông Hằng là dòng sông Thánh. Cũng giống như người Trung Quốc, người Trung Quốc cho rằng sông Trường Giang, Hoàng Hà, đều là hai dòng sông chủ yếu nhất của họ. Người Ấn Độ cho rằng sông Hằng chính là dòng sông Thánh của đất nước họ. Chúng tôi từng chèo thuyền du ngoạn trên sông Hằng, ngồi thuyền đến giữa sông Hằng để ngắm.

Ở đây Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích nói về cát sông Hằng, dùng cái này để so sánh. Câu thứ nhất nói, cát sông Hằng là rất nhiều rất nhiều, không thể đếm hết, bởi vì sông Hằng xuyên suốt cả Ấn Độ mà. Như thế cát sông Hằng đương nhiên là không thể nào đếm được, cho nên ở đây có ý nghĩa là vô lượng. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, mỗi lần nhắc đến cát sông Hằng thì nghĩa là vô lượng, rất nhiều, rất nhiều đếm không hết. Nhưng Phật cũng lại thêm một câu nữa! Mọi người xem ngài nói câu này, rất nhiều người không biết câu này: *"Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng."* Thế nào là *"bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng"*? Phật Đà là muốn nói thế này: nếu mỗi một hạt cát lại tương đương với một con sông Hằng, câu nói này rất nhiều người không hiểu được hết, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, nghĩa là mỗi hạt cát lại ví von thành một dòng sông Hằng! *"Số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"* Chà, thế này thì quá khủng khiếp rồi! Cát của một con sông Hằng đã là vô số rồi, nếu mỗi một hạt cát đó lại tương đương với một con sông Hằng, thế thì có bao nhiêu cát? Chẳng có cách nào mà đếm được, cũng có nghĩa là vô cùng nhiều, ý nghĩa là nhiều vô cùng đó.

Vốn dĩ là rất nhiều, rất nhiều, không đếm được, một hạt cát này lại tương đương với một con sông Hằng, thế thì quá khủng khiếp rồi, vậy thì có bao nhiêu cát sông Hằng đây? Số cát đó lại càng nhiều hơn. Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích ví von, một hạt cát tương đương với một sông Hằng, thế thì "khủng" quá, đó là vô số sông Hằng, vô số cát, không cách nào đếm được. Tu Bồ Đề liền trả lời: Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Nhiều sông Hằng như vậy đã không có cách nào đếm được rồi, lại còn đi đếm số cát đó nữa ư? Căn bản là chẳng có cách nào. Ý của ngài ấy là như vậy.

Rất nhiều người nếu đọc đến câu này mà cho rằng Phật Đà chỉ nói đến cát sông Hằng, không, không phải thế, Phật Đà nói rằng trong một con sông Hằng có rất nhiều, vô cùng nhiều cát, và mỗi hạt cát nếu đều là một con sông Hằng thì số cát đó là bao nhiêu? Tu Bồ Đề liền trả lời: Vô cùng nhiều thưa Thế Tôn. Số sông Hằng nhiều như thế đã chẳng có cách nào đếm được rồi. Sông Hằng vốn dĩ chỉ có một thôi, nhưng nếu nó lại biến thành nhiều như cát, thế thì quá khủng khiếp, vô số đó! Chỉ riêng các con sông Hằng đã là vô số rồi, những sông Hằng này đã không có cách nào đếm được rồi, huống hồ là cát! Chà, đoạn đối thoại này mọi người cần biết, bởi vì có một số người đọc xong cho rằng Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ nói về cát, mà không hiểu rằng cát lại biến thành sông Hằng. Đúng thế không?

Đúng mà, nếu bạn không đọc kĩ đoạn kinh văn này, bạn không biết Phật Thích Ca Mâu Ni đang ví von cái gì, trong cái nhỏ hơn còn có cái nhỏ hơn nữa. Nếu bạn đọc, đọc xong một cái rồi cũng thôi! Chính là cát sông Hằng, rất nhiều đó! Tu Bồ Đề nói cát sông Hằng là rất nhiều, nhưng bạn không biết là Phật đang hỏi cái gì. Rất nhiều đó, các sông Hằng là rất nhiều. Tu Bồ Đề nói: *"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"* Hai câu này là đối ứng nhau. Rất nhiều người đọc kinh Kim Cang, nói "Mỗi ngày tôi đều đọc thuộc kinh Kim Cang đó", nhưng mà bạn có biết ở đây, Phật Đà có nói đến hai ý không? Tất cả cát biến thành sông Hằng, bên trong những sông Hằng đó lại có cát. Vì thế Tu Bồ Đề trả lời: *"Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"* Nói như vậy mọi người hiểu rồi chứ? Cho nên người đọc kinh, khi người đọc kinh này nếu không cẩn thận thì sẽ cho rằng Phật Đà chỉ nói về cát sông Hằng thôi, không ngờ rằng Phật Đà lại còn biến cát thành sông Hằng nữa.

Vì thế, Tu Bồ Đề trả lời câu hỏi này, bạn xem ngài ấy nghe rất rõ ràng, các sông Hằng… sông Hằng vốn chỉ có một, cái gì mà "chư sông Hằng" chứ? Không phải là "trư" của Trư Bát Giới đâu. Sông Hằng vốn dĩ chỉ có một thôi, vì sao Phật lại nói là các sông Hằng? Bởi vì là tất cả cát mỗi hạt đều biến thành một sông Hằng. Do đó bạn xem Tu Bồ Đề đó, ngài ấy nghe lời Phật Thích Ca Mâu Ni giảng rất rõ ràng, Sư Tôn khi giải thích kinh điển cũng nói rất rõ ràng. Các sông Hằng nghĩa là rất nhiều, rất nhiều sông Hằng, đã không có cách nào đếm được hết các sông Hằng rồi, huống hồ là cát trong chúng? Câu này, nói chung, người đọc kinh thư đều sẽ đọc qua quýt, cho rằng Phật Đà chỉ nói đến số cát sông Hằng thôi, cát sông Hằng rất nhiều mà, núi Tu Di rất cao mà, cát sông Hằng rất nhiều mà, ví von của Phật Thích Ca Mâu Ni đều là như vậy.

Phật thường dùng so sánh, vì thế trong kinh Phật có một bộ kinh điển gọi là kinh Tỉ Dụ. Mọi người có biết… Kinh Thí Dụ à? Vậy thì phát âm tiếng Quốc Ngữ của tôi không đúng chuẩn rồi! Kinh Thí Dụ hay kinh Tỉ Dụ thì cũng gần như nhau, không khác nhau là mấy. Kinh Thí Dụ, thí dụ chính là tỉ dụ mà, đúng vậy không? Vì thế, có người nói kinh Kim Cang này là kinh Toản Thạch <span className="note-blue">[toản thạch nghĩa là viên kim cương]</span> Kinh này phiên dịch Anh văn gọi kinh Kim Cang là kinh Kim Cương. Bởi vì bản thân kim cương là rất cứng, là bất hoại, là bất diệt, dùng thứ bất diệt để diệt trừ tất cả mọi thứ thì chính là kinh Kim Cương. Do đó người nước ngoài gọi kinh Kim Cang dịch thành kinh Kim Cương, kim cương so sánh với kim cang, đá kim cương cũng rất cứng. Vì thế tôi từng giảng ý nghĩa của kinh Kim Cang là: phá hủy tất cả. Kinh Kim Cang chính là kinh điển phá hủy tất cả, cái gì cũng đều phá hủy hết.

Ở đây nói… tiếp theo là đoạn sau:  
*"Tu Bồ Đề! Nay ta nói lời thật cho ông nghe: nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."*  

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Hôm nay ta dùng lời rất thật, thật lòng thật sự nói để ông biết, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới", dùng thất bảo… thế nào là thất bảo? Trong kinh điển này của chúng ta có viết, thế nào là thất bảo? Ví dụ như vàng cũng là một trong thất bảo, ốc xà cừ cũng là một trong thất bảo, mã não cũng là một trong thất bảo. Những thứ này đều là những thứ quý giá của nhân gian. *"Thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới"*, tam thiên đại thiên thế giới là rất nhiều đó! Nếu bạn nghe thấy trong kinh Phật nói đến tam thiên đại thiên thế giới thì cũng biểu thị cực kì nhiều, do vậy Phật Thích Ca Mâu Ni thường xuyên dùng so sánh.

Vì thế bạn nghĩ mà xem, vì sao Sư Tôn chỉ có năm triệu đệ tử? Bởi vì năm triệu chính là biểu thị rất nhiều đó. Bạn xem Phật Thích Ca Mâu Ni thường hay nói, năm trăm thương nhân qua sông. Thế nào gọi là năm trăm thương nhân qua sông? Lẽ nào thật sự là năm trăm người thương nhân qua sông? Không phải! Là rất nhiều, rất nhiều thương nhân qua sông, rất nhiều, rất nhiều nhóm lạc đà đang qua sông Hằng. Thế rồi Phật Đà còn nói năm trăm La Hán, thế nào là năm trăm La Hán? Lẽ nào chỉ có năm trăm vị La Hán thôi sao? Không phải, là rất nhiều, rất nhiều La Hán, thì gọi là năm trăm! Do đó Sư Tôn đã mượn khẩu khí của Phật để nói Sư Tôn có năm trăm vạn đệ tử, không tăng lên thành sáu trăm vạn đệ tử, cũng không ít đi, không phải là bây giờ đã ít đi rồi thì nói thành bốn trăm vạn, tôi nói năm trăm vạn ý là rất nhiều, rất nhiều đệ tử, nói như vậy mọi người hiểu chứ? Đó là tôi dùng cách ví von của Phật Thích Ca Mâu Ni đó! Thường xuyên nghe thấy năm trăm: năm trăm thương nhân, năm trăm giặc cướp, đều là năm trăm.

Sư Tôn cũng dùng cách nói năm trăm vạn của Phật… vì sao trải qua thời gian lâu như vậy rồi, rất nhiều đệ tử hỏi, vì sao Sư Tôn vẫn chỉ có năm trăm vạn đệ tử? Bây giờ tăng lên nhiều như thế rồi, nhiều người quy y như thế rồi, vì sao không phải là sáu trăm vạn? Không cần, năm trăm chính là biểu thị rất nhiều, rất nhiều rồi, ý này chính là như thế. Bây giờ, nhiều thất bảo như vậy, giống như tam thiên đại thiên thế giới số cát sông Hằng, lấy thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới này để bố thí, thì phúc phận ấy có lớn không? Đương nhiên là lớn. Trong Bồ Tát lục độ, bố thí là đứng hạng nhất, phúc đức của bố thí rất lớn, phúc phận rất lớn. Tu Bồ Đề nói: "Rất nhiều, thật sự phúc phận này là quá lớn rồi, thưa Thế Tôn!"

Phật bảo Tu Bồ Đề:  
*"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."* Đây là so sánh, nếu có thiện nam, thiện nữ, từ trong cuốn kinh Kim Cang này, bạn thọ trì bốn câu kệ, đó là "vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng", bạn dùng bốn câu kệ này để nói cho người khác nghe, giảng giải bốn câu kệ này, thì phúc đức này còn hơn cả phúc đức của việc dùng *"thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới"* để đem bố thí, vượt trội so với phúc đức ấy rồi. Đoạn này, Phần thứ 11: Phúc vô vi là hơn hết, tôi nói để bạn biết, con người chỉ cần làm được đến khi vô ngã, vô ngã tướng, thì đã là Thánh Hiền rồi. Thất bảo của nhân gian, nhiều thất bảo như vậy, đều thua hết một cái "vô ngã tướng", huống hồ là bốn câu kệ này chứ?

Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn chỉ cần bốn cái này, thọ trì bốn cái này, bạn chính là Thánh Hiền, bạn chính là Bồ Tát! Bạn còn phiền não gì nữa? Vô ngã tướng, bạn còn phiền não gì đây? Hôm nay bạn có phiền não, đó là bởi vì còn "có ngã tướng" nên bạn mới phiền não, không có cái tôi này thì còn phiền não cái gì? Bạn phiền não thân thể có bệnh sao? Không còn cái tôi này thì làm gì còn có bệnh? Thế nào là "nhân, ngã, thị, phi"? Bởi vì là có tôi, có người ta, nên mới có thị phi đó! Trước kia tôi nhớ Đài Loan có một Bộ trưởng nói một câu: "Nơi nào có người thì sẽ có thị phi." Bạn đã vô ngã rồi, vô ngã tướng rồi, vô nhân tướng rồi, bạn làm gì còn người ta nào, tôi nào, thị phi nào? Không còn. Không còn cái tôi thì đã không còn phiền não rồi. Thế thì tốt quá! Vì thế trước tiên học vô ngã, chỉ cần bạn có thể thọ trì vô ngã thì ba tướng khác đều sẽ xuất hiện.

Cho nên Sư Tôn rất dễ ngủ gật trên pháp tọa, đó là vô ngã tướng. Tôi còn bảo: "Năn nỉ đấy, hãy làm cái ghế pháp này thành cái giường đi, rồi cho tôi một cái gối, một tấm chăn, để tôi ngủ." "Lư Sư Tôn, thầy phải thuyết pháp chứ! Vì sao lại ngủ ở đây?" "Mọi người ở dưới niệm còn tôi ở trên ngủ, vì sao? Vì sao có thể như thế chứ? Không được! Như thế thì làm gì còn trang nghiêm nữa!" Tôi đã vô ngã tướng rồi, tôi còn phải lo đến cái trang nghiêm của nhà anh sao? Đúng thế không? Tôi lo gì trang nghiêm hay không trang nghiêm chứ! Tôi ngủ xong, tỉnh dậy tôi lại thuyết pháp. Vì thế đừng căng thẳng, Sư Tôn chẳng hề có phiền não gì, bởi vì chẳng có vấn đề gì cả! Cứ mặc kệ đi, muốn làm cái gì thì đó là việc của nhà anh! Việc của nhà anh chẳng có can hệ gì đến tôi! Tôi thường hay nghĩ như vậy, rồi dần dần nhập vào vô ngã tướng.

Người ta nói, người cao tuổi phần lớn đều rất khó ngủ, tuổi tác càng cao thì càng khó ngủ, tôi thì tuổi tác càng cao càng dễ ngủ, tôi đúng kiểu là ngủ không đủ đó! Tôi rất thích ngủ, buổi sáng tôi đều không dậy nổi. Buổi tối tôi dỗ Sư Mẫu ngủ, ngủ đi, ngủ nào, bà ấy ngủ rồi, tôi mới rón rén đi ra, trở về phòng mình. Mỗi sáng bà ấy lại đến gọi tôi, bà ấy nói: "Hôm nay là chủ nhật, ông phải đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đó." Tôi nói: "Xin nghỉ phép!" Thế nhưng tôi vẫn phải dậy! Rốt cục vẫn là phải tinh tấn, phải thuyết pháp. Mỗi lần tôi bảo "Cho tôi nghỉ phép đi!" nhưng rồi vẫn phải bò dậy. Đời người là như vậy, vô sở trụ tốt biết bao. Vô vi, không vì cái gì cả, chỉ là làm việc mà tôi nên làm thôi.

Do vậy, về sau sẽ nói đến kinh Kim Cang là thật sự "không tứ tướng", thật sự là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Cho nên mấy chương sau này sẽ đều nói đến. Sư Tôn ở đây thuyết pháp, có thuyết pháp không? Có thuyết pháp cũng tương đương với không thuyết pháp, bởi vì không có việc thuyết pháp mới là thuyết pháp. Pháp có tồn tại không? Bạn lên mặt trăng xem xem có Phật pháp không? Mặt trăng chính là vô nhân tướng, bạn đến mặt trăng rồi thì là vô nhân tướng, không có con người mà! Mặt trăng không có người mà! Ở đó có Phật pháp gì? Có cái tôi gì? Có chúng sinh không? Không có. Có người không? Không có. Có người sống trường thọ không? Cũng không có. Trên mặt trăng, thời gian có liên quan gì đến bạn? Thời gian có tác dụng gì? Tôi hỏi bạn, thời gian ở đó có tác dụng gì? Có tác dụng không? Thọ chính là thời gian, chúng sinh tướng chính là không gian.

Ở nơi đó… được rồi, Sư Tôn nói: "Đất đai trên toàn bộ mặt trăng là của tôi, anh có muốn mua không?" Tôi bán cho mọi người, bán cho mọi người thì Sư Tôn kiếm bộn tiền! Tôi bán cho bạn đất trên mặt trăng, tôi viết: "Lư Thắng Ngạn bán mấy mẫu đất trên mặt trăng, ở Đài Loan gọi là mẫu, ở đây tính theo mẫu Anh, bán cho bạn bao nhiêu mẫu đất." Thế thì tôi thành địa chủ rồi! Tôi bảo cho bạn biết, tờ giấy bán đất này của tôi, bạn có thể xác nhận, cuối cùng khi bạn đáp tàu vũ trụ đến mặt trăng, bạn nói rằng "Đây là của Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn bán cho tôi mảnh đất ở đây." Đến lúc đó, bạn đi đến chỗ nào bạn cũng có bằng chứng, có chứng cứ này để nói tôi là chủ nhân của mặt trăng. Đâu có tác dụng gì! Ở nơi đó, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng!

Tôi bán hết mặt trăng rồi còn bán sao Thổ, bán sao Hỏa, bán sao Diêm Vương, bán sao Hải Vương, bán sao Kim. Đất trên địa cầu tôi không cần, tôi bán không gian vũ trụ cơ. Tôi còn bán… bán gì nữa? Chứng khoán vãng sinh Phật quốc! Tôi muốn bán vé lên thuyền pháp của tôi! Bạn muốn ngồi trên thuyền pháp của tôi đến Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ, bạn buộc phải mua vé thuyền của tôi. Tôi nói để bạn biết: đến được Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, những tờ giấy đó đều chẳng có tác dụng gì hết! Tôi bán vé thuyền để làm cái gì?

Hôm nay tôi cũng đã lấy rất nhiều ví dụ cho mọi người nghe, thế nào gọi là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Tấm vé đi thuyền từ Ta Bà đến Tây phương Cực Lạc thế giới đó, là vì bạn đã thanh tịnh rồi, sự thanh tịnh đó chính là vé thuyền của bạn! Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 13/11/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 32.)*

### 33. Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo (1)

*(Bài giảng 33)* Tôn trọng chính giáo

Bây giờ tôi giảng kinh Kim Cang!

*"Lại nữa, Tu Bồ Đề, nói theo kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, nên biết nơi này, tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, ví như chùa tháp Phật, huống hồ có người hết sức thọ trì đọc tụng. Tu Bồ Đề! Nên biết rằng người này thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Những nơi nào có kinh điển này thì xem như có Phật hoặc đệ tử đáng tôn trọng."*

Đoạn này cực kì đáng nói, tôi cũng mới nói rồi. Bạn có biết không? Tôi tôn trọng tất cả các bức tượng Phật Bồ Tát, bất kể đó là tượng, hay tranh vẽ, bất kể là tượng gì, là làm bằng gỗ, hay bằng đất, bằng gốm sứ, bằng kim loại, tôi đều chắp tay chào hỏi các vị. Các vị Phật Bồ Tát trong nhà tôi thật sự quá nhiều rồi, ở trong Chân Phật Mật Uyển Phật Bồ Tát cũng quá nhiều rồi, tôi chỉ lấy một vị trong số đó để đại diện. Tôi chạm mặt bức Dorje Drollo của Liên Sư phẫn nộ: tôi kính lễ các vị Dorje Drollo, kính lễ các vị Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, kính lễ các vị Diêu Trì Kim Mẫu, kính lễ tất cả các lão tổ sư, kính lễ tất cả đồng tử, kính lễ A Di Đà Phật. Tôi bước vào đó thì phải chào hỏi hết, không có cách nào cả. Vừa bước vào là lập tức phải làm như vậy.

Buổi sáng ngủ dậy, đầu giường tôi đã có Hổ Đầu Kim Cang, chính là Diêu Trì Kim Mẫu, đầu giường tôi có đặt bức Hổ Đầu Kim Cang và Diêu Trì Kim Mẫu, tôi liền nói với Diêu Trì Kim Mẫu *good morning*, nói với Hổ Đầu Kim Cang *good morning*. Quay người một cái, thấy Yeshe Tsogyal ở bên đó, lại nói *good morning* với Yeshe Tsogyal. Sau đó ở phía trên có Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, bên dưới có Bất Động Minh Vương, bên phải có A Di Đà Phật, phía dưới có Kim Cang Tát Đỏa, ở bên này có Đại Uy Đức Kim Cang, bên dưới có tất cả Thổ Địa Công Địa Thần, tất cả tôi đều chào hỏi hết, dọc đường đi đều chào hỏi hết. Các vị thỉnh thoảng cũng nói chuyện với tôi, hễ nói chuyện thì tôi phải đứng nghiêm nghe các vị nói, sau đó đôi khi chào chung các vị, chắp tay lại, sau đó quán tưởng bàn tay mình biến hóa thành nghìn nghìn vạn vạn bàn tay để lễ bái đảnh lễ các vị. Sau đó các vị có cảm ứng với tôi, nói chuyện với tôi, bận rộn lắm, *it is busy*. 

Tôi nói cho bạn biết nhé, Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo, chính là tôn trọng. Bạn đừng thấy Đại Lực Kim Cang, bức này là ở chỗ Thượng sư Thường Nhân ở hội đồng tu Thập Phương tại Hồng Kông… vị này tôi rất thích, tôi nói tôi muốn đem về nhà tôi, tôi muốn thỉnh ngài về. Khi Liên Ấn vẫn còn, ông ấy đã khẩn trương đưa ngài về, ban đầu ông ấy đặt ngài ở bên cạnh toilet, tôi nói: "Ông để cạnh toilet, thế thì tôi sẽ đưa ngài về nhà tôi, sao lại có thể đặt ngài bên cạnh toilet chứ?" Ông ấy vừa nghe tôi nói thế thì không cho tôi đưa về nhà nữa, ông ấy liền chuyển đến đây, hại tôi mỗi lần đều phải nhìn thấy ngài như thế này, tôi đi lên thì buộc phải kính lễ với ngài. Mọi người xem, có lần nào tôi lên pháp tọa này mà không phải kính lễ với ngài ấy chứ? Tôi cứ thế mà ngồi lên pháp tọa sao? Không có chuyện đó đâu, tôi nhất định phải kính lễ với ngài. Bức tượng này tôi rất thích, cực kì thích, nhưng mà… tôi giống như Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo, Sư Tôn tôn trọng, tranh vẽ tôi cũng tôn trọng, tượng gỗ tôi cũng tôn trọng, tượng kim loại tôi cũng tôn trọng, tất cả đều tôn trọng, đó chính là Phật đó!

Kinh điển tôi cũng tôn trọng, mọi pháp khí tôi đều tôn trọng, huống hồ là kinh Kim Cang. Tôi tôn trọng kinh Kim Cang, tôi từng dùng kinh Kim Cang để cứu ma. Có vị Cửu Thiên Ứng Nguyên Phổ Hóa Thiên Tôn đang đuổi theo một con ma, liên tục cho sét đánh, tôi nói: "Bên ngoài sao có tiếng sấm to thế? Có chuyện gì thế nhỉ?" Tôi đang ở đây viết sách, một con ma trốn ngay dưới bàn tôi. Tôi liền hỏi nó: "Cô bị làm sao?" Nó nói: "Lư Sư Tôn, xin lỗi, cho tôi trốn nhờ một chút." Tôi nói: "Không được đâu, sấm sét kia đã đánh tới xung quanh nhà tôi rồi, đến lúc đó nhà tôi sẽ bị đánh nát thì phải làm sao?" Bởi vì có sét đánh mà. Cửu Thiên Ứng Nguyên Phổ Hóa Thiên Tôn tôi có quen biết, ngài ấy nhìn thấy nhà của Lư Sư Tôn mà vẫn liên tục đánh sét ở xung quanh như vậy, cứ thế đánh…

Kết quả là tôi nhìn thấy một con ma trốn ở dưới bàn viết của tôi, tôi thấy con ma này rất xinh đẹp, là một cô gái đẹp, tôi nói thế này thì hay rồi, cô ấy nói: "Lư Sư Tôn cứu tôi!" Từ phía sau đống sách, tôi lấy ra một cuốn kinh Kim Cang đặt lên đỉnh đầu cô ấy. Tiếng sấm chớp liên tiếp đánh vào xung quanh nhà tôi, đánh cật lực, phải đánh tới ba, bốn chục nhát, sau đó thì bỏ đi. Vị ấy đánh đổ một cái cây trong nhà tôi, thế rồi trở về báo cáo rằng đã đánh rồi.

Tôi đã cứu con ma này, bởi vì tôi thấy cô ấy xinh đẹp quá, tôi chưa bao giờ thấy con ma nào xinh đẹp như thế. Trên thế gian có ba kiểu xinh đẹp: một là rất biết trang điểm làm dáng, hai là rất quyến rũ, ba là rất duyên dáng, rất duyên dáng nghĩa là xinh đẹp, xinh xắn diễm lệ. Rất quyến rũ, còn có một kiểu nữa là rất lẳng lơ, con ma này rất lẳng lơ, giống như một con ma yêu tinh vậy, tôi đã thu nhận cô ta làm thị giả của tôi, bởi vì thực sự là cô ta quá xinh đẹp, nhưng ở bên cạnh tôi cô ấy rất tốt, cô ấy không làm những việc xấu. Trước kia cô ấy làm rất nhiều việc xấu, vì thế Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn mới truy đuổi cô ấy, Lôi Công, Điện Mẫu truy đuổi cô ấy, muốn băm vằm cô ấy (muốn đánh chết). Sau đó tôi đã cứu cô ấy, cứu xong rồi thì thu nhận cô ấy làm thị giả ở bên cạnh tôi.

Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo này, hôm nay tôi nói về sự tôn trọng, đối với Phật Bồ Tát, đối với tất cả quỷ thần tôi đều tôn trọng, nhưng tôn trọng quỷ thần, với ma quỷ cũng tôn trọng sao? Đúng vậy, đối với ma quỷ tôi cũng tôn trọng, chỉ cần bạn không phải là ác quỷ, ác quỷ đương nhiên tôi vẫn tôn trọng bạn. Trước kia, những con quỷ cũng không phải do tôi giết, mà là Bất Động Minh Vương và Đại Lực Kim Cang giết, không phải tôi giết. Thật ra đối với ma quỷ tôi cũng đầy tôn trọng, những con quỷ đó ở bên ngoài lưới ánh sáng của tôi, khi tôi đi ngủ có một lưới ánh sáng bao trùm, ma quỷ đứng ở bên ngoài nói: "Lư Sư Tôn, ta muốn bắt ngươi đến San Francisco gặp chủ nhân của ta." Chúng cứ hét lên như thế, nói với tôi thế này: "Lư Sư Tôn, bây giờ ta phải đến để bắt ngươi đi San Francisco gặp chủ nhân của ta." Thôi đủ rồi chứ, dám hét lên với tôi như vậy… thật là! Không lâu sau thì… xẹt, xẹt, xẹt, bảo kiếm của Bất Động Minh Vương xoay tròn giống như quạt máy vậy, chặt đầu toàn bộ trăm nghìn con quỷ đã kéo đến đây.

Đó không phải là tôi muốn làm thế, căn bản là tôi vẫn nằm trên giường chẳng hề ngồi dậy, thật đó. Đại Lực Kim Cang cũng thế, Đại Lực Kim Cang từ trong miệng tôi bay ra. Sự thật là, buổi tối hôm đó, bọn quỷ ở bên ngoài lưới ánh sáng hét lên với tôi: "Lư Sư Tôn, ta đến để bắt ngươi đi San Francisco gặp chủ nhân của ta." Chúng nói như vậy, tôi nghe thấy rõ mồn một. Cho nên nói thật lòng, đối với ma quỷ tôi vẫn rất tôn trọng, đối với thần lại càng tôn trọng, đối với thần cũng rất tôn trọng, đối với tất cả chính giáo lại càng thêm tôn trọng. Thật đó, mỗi lần kết bạn tôi đều hỏi thử xem: "Diêu Trì Kim Mẫu, con có thể chơi với người bạn này không?" Hỏi ý kiến, Kim Mẫu nói có thể được thì tôi mới dám. Tôi đều hỏi xem sao, tôi không phải là không tôn trọng các vị, tôi đều phải hỏi trước, nếu không được thì đó là do tôi không tốt. Nếu tôi không hỏi thử thì đó hoàn toàn là vì tôi không tốt. Tôi đều hỏi trước, cái này chính là Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo. Hôm nay chúng ta chỉ giảng tiêu đề phần này thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 14/11/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hoàng Tài Thần tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 33.)*

### 34. Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo (2)

*(Bài giảng 34)* Đệ tử đáng tôn trọng

Bây giờ chúng ta giảng kinh Kim Cang, đi vào chủ đề. 

Phần thứ 12: Tôn trọng chính giáo. Tôn trọng chính giáo, thế nào là chính giáo? Sư Tôn nói với bạn bốn câu kệ trong kinh Kim Cang: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nghĩa là chính giáo của Phật Đà. Bạn nhất định phải tôn trọng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.

*"Lại nữa, Tu Bồ Đề, nói theo kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, nên biết nơi này, tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, ví như chùa tháp Phật, huống hồ có người hết sức thọ trì đọc tụng. Tu Bồ Đề! Nên biết rằng người này thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Những nơi nào có kinh điển này thì xem như có Phật hoặc đệ tử đáng tôn trọng."*

Điều nói đến ở đây, rất nhiều người hỏi Sư Tôn, thế nào là đệ tử đáng tôn trọng. Đệ tử vẫn phải tôn trọng sao? Thật ra rất nhiều người hỏi Sư Tôn câu này, thế nào là đệ tử đáng tôn trọng? Được rồi, Sư Tôn muốn hỏi mọi người, tôn trọng đệ tử là ý nghĩa gì? Anh bảo sao? Thế nào là tôn trọng đệ tử? Có ai giơ tay không? Ở đây có rất nhiều chuỗi hạt. Thế nào là đệ tử đáng tôn trọng? Rất nhiều người đọc kinh Kim Cang, đọc đến chỗ này nói đệ tử đáng tôn trọng là ý gì? Không có ai giơ tay, được rồi. Sư Tôn nói để mọi người biết, rất đơn giản, đệ tử đáng tôn trọng, cũng chính là đệ tử tôn trọng chính giáo, chẳng qua là thêm vào mấy chữ mà thôi. 

Đệ tử tôn trọng chính giáo chính là đệ tử đáng tôn trọng, chứ không phải nói rằng "tôi phải đi tôn kính đệ tử của tôi", không phải cái ý nghĩa ấy. Mà là vốn dĩ đó đã là đệ tử tôn trọng chính giáo rồi. Đơn giản như vậy thôi, rất đơn giản, rất *easy* (dễ), *so easy* (rất dễ). Chẳng qua là mọi người không nắm bắt được. Đọc kinh Kim Cang, mọi người các bạn đều đọc: siêu độ cũng đọc, hỉ sự cũng đọc, tang sự cũng đọc, bình thường cũng đều đọc. Mấy chữ này, đệ tử đáng tôn trọng, chính là đệ tử tôn trọng chính giáo, cũng chính là đệ tử đáng tôn trọng. Bạn đã là đệ tử tôn trọng chính giáo rồi thì bạn đã là một đệ tử đáng tôn trọng. Nói như vậy hiểu rồi chứ? Câu tiếp theo. Rất nhiều người hỏi, bạn đọc kinh Kim Cang, mọi người đều đọc rồi, đúng thế không? Mọi người đều đã từng đọc. Đọc hết phẩm nọ rồi đến phẩm kia, nhưng mấy chữ sau cùng thì lại chẳng hiểu. Đệ tử tôn trọng chính giáo.

Ở đây nói đến: phải tôn trọng cái gì? Tôn trọng pháp mà Phật Đà đã dạy, nghĩa là chính giáo. Trong kinh Kim Cang nói đến cái gì? Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Bạn buộc phải tôn trọng. Ở đây nên biết điều này, tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, chúng ta biết rằng Trời là: Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên, thiên nhân của ba cõi trời này, thậm chí Atula — là một trong lục đạo, đều phải cúng dường. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng đều phải cúng dường. Giống như chùa tháp của Phật, bạn phải cúng dường Phật, cũng cần cúng dường tháp, cũng cần cúng dường chùa, giống như Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta, chúng sinh tới đây, họ đem cúng phẩm đến chính là cúng dường.

Trong Mật giáo, tôi nói để mọi người biết, chúng ta cúng dường cái gì? Thân thể của Phật, khẩu của Phật, ý của Phật. Thân khẩu ý của Như Lai, bạn đều cần cúng dường. Cái gì là thân của Phật? Các vị có biểu tượng, trên đỉnh đầu của Sư Tôn có bảy vị Phật, bạn nhìn thấy thì phải chắp tay: cúi đầu quy y Susiddhi, chắp tay. Giống như Sư Tôn, cũng như thế, mỗi lần đi vào nhà ăn của Seattle Lôi Tạng Tự, Sư Tôi nhất định phải chắp tay. Tân Đầu Lư, Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, nhất định phải chắp tay. Bởi vì ở đó là vị Tân Đầu Lư, Tân Đầu Lư ngồi ở phía trên, phía sau tấm thangka là Phật Thích Ca Mâu Ni, nên nhất định phải chắp tay. Ăn cơm xong đi ra ngoài, nhìn thấy các vị, cũng nhất định phải chắp tay. Cái này chính là tôn trọng thân của Phật, bởi vì vị ấy tượng trưng cho thân của Phật. Phía trên có Thất Phật, phía dưới có tất cả Bổn tôn và Hộ pháp, tất cả đều phải kính trọng, đều phải chắp tay cung kính. Đây chính là cúng dường, chắp tay cũng là cúng dường, đó là thân tướng của Phật.

Ngoài ra phải cúng dường… cái gì là khẩu của Phật? Kinh điển, pháp mà Phật đã thuyết giảng, bạn nhất định phải tôn trọng. Kinh điển, đặc biệt là kinh Kim Cang. Ở đây nói: ví như chùa tháp Phật, bên trong có thân của Phật, còn có kinh điển của Phật. Khẩu, bạn phải kính trọng khẩu của Phật, khẩu chính là pháp, pháp là gì? Chính là kinh điển, kinh điển mà Phật Đà đã giảng. Cái gì là tháp? Xá lợi của Phật, mà cũng là ý của Phật. Ý của Phật là gì? Chính là tháp. Bạn nói là ở Thiên Trúc phải không? Ở Thiên Trúc xây nên một cái tháp Phật, Thiên Trúc có rất nhiều tháp Phật, trong mỗi một tháp Phật đều có xá lợi của Phật, đó là ý của Phật. Vì vậy chúng ta tôn trọng thân của Phật, khẩu của Phật, ý của Phật. Kinh điển, pháp chính là khẩu của Phật, thân, chính là tượng Phật và các vị Bổn tôn, ý là tháp của Phật.

Trong kinh Phật có nhắc đến, chỉ cần là tháp thì cũng như là có Phật ở trong đó, đó là ý của Phật. Hạt xá lợi chính là ý của Phật. Huống hồ có người hết sức thọ trì đọc tụng, không chỉ là tôn trọng mà còn có thể thọ trì đọc tụng, khi bạn đọc kinh này, khi bạn trì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, thì Tu Bồ Đề! Nên biết rằng người này thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Do đó kinh Kim Cang được gọi là kinh hiếm có số một chính là bởi chỗ này.

Những nơi nào có kinh điển này, chỉ cần là nơi có kinh Kim Cang thì nơi đó có Phật. Nơi có kinh điển tồn tại thì chính là có Phật, cũng có nghĩa là có đệ tử tôn trọng chính giáo. Rất nhiều người đọc kinh Kim Cang, đọc đến câu cuối cùng, Sư Tôn giảng từ câu cuối cùng giảng đi, đệ tử đáng tôn trọng là ý gì? Không có ai trả lời được. Vì sao đệ tử phải tôn trọng? Không phải bản thân bạn là đệ tử đáng tôn trọng, mà là đệ tử tôn trọng thân của Phật, khẩu của Phật, ý của Phật, đệ tử tôn trọng kinh Kim Cang, đệ tử tôn trọng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Đoạn này, nói như vậy là mọi người đã hiểu rõ ràng rồi.

Giống như người học Phật chúng ta nhìn thấy tháp Phật, cũng phải chắp tay, bất kể là tháp to, tháp nhỏ… Sư Tôn từng đi đến Hàn Quốc, núi Bát Công có tháp Phật, bởi vì rất nhiều người xếp những tháp Phật nhỏ ở hai bên, họ dùng sỏi, nhặt một ít sỏi, hòn to thì để ở dưới, tiếp theo là hòn sỏi cỡ vừa, trên cùng là hòn sỏi nhỏ nhất, để làm thành một cái tháp Phật nhỏ. Họ đi đến đó xây tháp, khắp cả mặt đất… rất nhiều nơi đều có tháp nhỏ, đều là những viên sỏi xây lên, một tháp, lại một tháp. Vì sao làm nhiều tháp như vậy? Bởi vì họ kính trọng tháp Phật, bảo tháp, bên trong sẽ có xá lợi. Nơi nào có tháp cũng giống như có Phật. Xung quanh tháp, rất nhiều người thay phiên nhau làm tháp nhỏ, đi đến nơi đó, Sư Tôn đều chắp tay.

Nhìn thấy tượng Phật là chắp tay đảnh lễ, thấy nơi nào có kinh điển là chắp tay đảnh lễ, thấy có tháp Phật là chắp tay đảnh lễ. Bởi vì tượng Phật chính là thân của Phật, kinh điển chính là khẩu của Phật, tháp mà ta gặp chính là ý của Phật. Đối với thân khẩu ý của Phật, chúng ta đều phải rất tôn trọng. Do đó, chúng ta đọc đoạn này, Sư Tôn giảng như vậy, mọi người đều hiểu rõ ràng rồi, đều rất hiểu rồi: phải tôn trọng chính giáo, như thế chúng ta đều thuộc về những đệ tử đáng tôn trọng, tôn trọng thân khẩu ý của Phật. Mật giáo thường nói đến thân khẩu ý, chúng ta dùng thân khẩu ý tu hành thanh tịnh để tôn trọng thân khẩu ý của Phật. Nếu bạn có thể tôn trọng theo cách như vậy thì chính là đã thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Thật ra pháp này là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. 

Ở đây có một câu chuyện cười. "Trong lòng tôi luôn có một nỗi nghi hoặc không tháo gỡ được, anh có thể giúp tôi không?" Người bạn hỏi: "Thế anh bị làm sao?" Câu hỏi của anh ta là: "Tôm hùm có được xem là tôm không?" Người bạn đáp: "Lẽ nào nó là con hùm sao?" Không coi là tôm, lẽ nào nó là con hùm sao? Cái này rất thú vị! Cái này rất giống với kinh Kim Cang, "đệ tử đáng tôn trọng", bạn chính là đệ tử đáng tôn trọng mà, một câu trả lời rất đơn giản như vậy, bạn xem, chẳng người nào có thể lấy được cái vòng tay này, thôi vẫn để nó ở đây vậy. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 20/11/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 34.)*

### 35. Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp (1)

*(Bài giảng 35)* Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

*Lúc này, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì? Chúng con phụng trì ra sao?"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Kinh này tên gọi là "Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật", các ông nên dựa vào tên này mà phụng trì. Vì sao như vậy? Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật."*

Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp, nghĩa là dạy cho bạn phương pháp thực tu. Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp, như pháp, thế nào gọi là như pháp? Chúng ta thường nói như pháp, thật ra như pháp chính là hợp với pháp, hợp với pháp mà thọ trì, thọ trì nghĩa là tiếp nhận và tu trì. Phẩm thứ mười ba, lúc này, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: *"Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì? Chúng con phụng trì ra sao?"*

Tu Bồ Đề hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni: *"Kinh này tên gọi là gì? Chúng con phụng trì ra sao?"*   
*Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Kinh này tên gọi là "Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật", các ông nên dựa vào tên này mà phụng trì. Vì sao như vậy? Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có từng thuyết pháp không?"*   
Tôi giảng đoạn này, đây là lời thường có trong kinh Kim Cang, thường xuyên có. Là kinh được gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Kinh điển này được gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Kim Cang, tôi từng nói rồi, là bất hoại, nó sẽ không bị hủy hoại, nó là vô cùng kiên cố, nó có thể phá trừ tất cả. Bát nhã, chúng ta thường hay nói bát nhã, thật ra bát nhã chính là trí huệ, ở Tây Tạng gọi là piacha, piacha chính là bát nhã, tiếng Hoa gọi là bát nhã, trong tiếng Tạng gọi là piacha. Piacha có ý nghĩa gì? Chính là trí huệ của Như Lai, gọi là Phật huệ, trí huệ của Như Lai cũng giống như kim cương vậy. Ba la mật là ý nghĩa gì? Bình thường thì dịch thành "từ bến bờ này đến bến bờ khác", tên gọi của kinh điển này chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, lấy tên gọi này để mà phụng trì. Đây chính là tên gọi của kinh điển, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, bạn cần phụng trì kinh điển này.

Sau đó Phật lại nói: *“Vì sao như vậy? Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật.”* Ý nghĩa là gì? Phật nói, cái gọi là Bát Nhã Ba La Mật thì không phải là Bát Nhã Ba La Mật, cho nên chính là Bát Nhã Ba La Mật. Mọi người thường xuyên bị những câu nói kiểu này trong kinh Kim Cang làm cho mơ hồ. Tôi thường rất thích dùng cách nói này, tôi luôn luôn thích dùng mặt trăng để ví dụ: trên mặt trăng có Phật pháp không? Trên sao Thổ có Phật pháp không? Trên sao Hỏa có Phật pháp không? Chúng ta chỉ nói về mặt trăng là được rồi, không cần phải nói xa xôi như thế, mặt trăng tương đối gần, bởi vì nó là vệ tinh của trái đất. 

Mặt trăng tương đối gần, mặt trăng không có người. Không nhìn thấy có người, nhìn vào kính thiên văn thì mặt trăng mà ta nhìn thấy rất sáng và không có người. Một bên sáng, một bên tối, không có người, không nhìn thấy có người, Phật pháp ở đó cũng chẳng có tác dụng gì, ở đó không có Phật pháp. Nói một cách rất đơn giản, tôi dùng ví dụ này để làm gì? Rất đơn giản thôi! Trong bánh mặt trăng có mặt trăng không? Không có, bởi vì không có mặt trăng nên mới gọi là bánh mặt trăng. Trong bánh mặt trời có mặt trời không? Không có, bởi vì không có mặt trời cho nên gọi là bánh mặt trời. Trong bánh bà xã có bà xã không? Không có, bởi vì không có bà xã nên mới gọi là bánh bà xã. <span className="note-blue">[bánh mặt trăng tức là bánh trung thu. Bánh mặt trời, bánh bà xã cũng là tên gọi của hai loại bánh nổi tiếng ở Đài Loan]</span>

Ý nghĩa này cũng gần tương tự. Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật chính là trí huệ kim cang của Phật có thể phá hủy tất cả, đạt đến cảnh giới không, đến cảnh giới không huệ, bởi vì là không nên không phải là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, bởi vì không có, cho nên mới gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Nói như vậy mọi người nghe có hiểu không? Là cái danh từ "không hữu" này, nhưng đây là trí huệ cao nhất, trí huệ cao nhất chính là Không huệ, chính là tính Không, tính Không chính là Phật tính, cái này thì không có cách nào nói giảng được. 

Tôi mới vừa chỉ thị rằng "bất khả thuyết" <span className="note-blue">[trước đó có đệ tử đặt câu hỏi và Sư Tôn trả lời rằng "bất khả thuyết" - không có khả năng nói giảng]</span>, thật sự là bất khả thuyết, cho nên khi bạn thật sự có được trí huệ ấy rồi, bạn có thể buông bỏ tất cả, thật đó. Giống như Sư Tôn mà nói, giống như Sư Mẫu, đương nhiên vợ chồng là vô cùng thân thiết, vô cùng gắn bó, vợ chồng là vô cùng thân mật, Sư Mẫu đã giúp đỡ Chân Phật Tông rất nhiều rất nhiều, tôi rất cảm ơn bà ấy, thật sự, nói thật lòng, tôi rất biết ơn bà ấy. Nhưng mà, đương nhiên thôi, nếu như nói là tôi đi trước… tôi hi vọng tôi sẽ đi trước, tôi không hi vọng Sư Mẫu đi trước, tôi đi trước có cái lợi, tôi đi rồi, cái gì tôi cũng có thể buông bỏ, cái gì của Sư Mẫu trả về với Sư Mẫu, tôi quy về tôi, ông tu ông được, bà tu bà được, bà ấy có công đức của bà ấy, tôi có công đức của tôi.

Nếu như bà ấy đi trước thì tôi sẽ khá phiền phức, vì sao lại phiền phức? Đối với các việc của thế gian tôi chẳng khác gì kẻ ngốc, tôi không biết đi ngân hàng lĩnh tiền, tôi không biết ghi chi phiếu, tôi không biết khai báo thuế, tôi sống ở nhân gian là một kẻ ngu đần. Cây có cành khô, người có ngu đần, Sư Tôn là kẻ ngu đần, bạn có tin hay không? Bạn nên tin điều này, bởi vì ngay cả đến điện thoại di động tôi cũng không biết dùng, tôi chưa từng một lần đến ngân hàng, chưa từng một lần lĩnh tiền, tôi chưa từng một lần khai báo thuế, những cái này đều là việc của Sư Mẫu. Bà ấy đi trước rồi, tôi sẽ rất thê thảm đó. Đúng thế! Tôi cái gì cũng không biết, tôi là một kẻ ngu đần sống tại nhân gian, tôi chỉ biết Phật pháp, cái gì cũng đều không biết, làm sao mà tôi sống đây? Tôi sẽ khóc gần chết mất! Sao mà bà có thể vứt bỏ tôi lại, còn bản thân thì đi trước thế? Tôi phải đi trước mới đúng chứ! Bởi vì tôi là kẻ đần độn, bà rất thông minh, ở nhân gian bà lăn lộn bôn ba, bà đều chẳng gặp vấn đề gì cả, tôi thì không thể lăn lộn, không biết báo thuế, lập tức tôi sẽ đi đời.

Làm sao đây? Bạn phải buông bỏ tất cả. Muốn buông bỏ tất cả nghĩa là phải hiểu Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, bởi vì bạn biết Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật chính là buông bỏ tất cả, khi đó tôi buông bỏ tất cả rồi, đương nhiên tôi đã trở nên không hề gì rồi, đối với nào là Phật Thanh, Phật Kì, tôi cũng không quyến luyến, đối với cháu trai, cháu gái, tôi cũng không quyến luyến. Tôi và Sư Mẫu, tôi cũng nói rằng không hề quyến luyến, tôi đi trước rồi thì hoàn toàn chẳng còn liên lụy. Để lại tôi một mình trên thế gian thì tôi sẽ gặp phiền phức lắm: về mặt lí mà nói tôi sẽ phải cần người ta giúp đỡ, nhưng về mặt lí trí mà nói, căn bản tôi là người buông bỏ hoàn toàn. Nếu Sư Mẫu đi trước, tôi không biết cách khai báo thuế, thế thì tôi nhất định sẽ bị chính phủ Mỹ bắt đi. Anh trốn thuế, anh né báo thuế, thì nhất định đi đời!

Vì thế, rất nhiều sự việc, thật sự… Nhưng nếu bạn hiểu trí huệ của Như Lai thì bạn có thể buông bỏ hoàn toàn, trí tuệ tính Không mà, đó là một cái Không. Thật ra đời người chính là như vậy, sẽ có một ngày sẽ hỏng hóc, đều sẽ phải bị loại bỏ, cái gì cũng đều bị loại bỏ hết. Sống tại nhân gian rất phiền phức, quá phiền phức rồi, phải báo thuế, sống ở đất nước nào cũng đều phải báo thuế. Ở bất kì đất nước nào cũng phải làm một số việc: phải đi ngân hàng, tôi chưa từng bao giờ đến ngân hàng; phải công chứng, tôi chưa bao giờ đi công chứng, cái gì tôi cũng không biết, đây là việc rất phiền phức.

Cho nên bây giờ tôi nói thế nào đây nhỉ? Tôi thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu, cái gì cũng không có liên lụy gì đến tôi, nhưng mà cũng là điều bi thảm nhất. Hôm ấy cuối cùng tôi đã gặp được cháu gái tôi, sinh nhật mẹ của cháu gái tôi, cháu gái tôi đã đến Nam Sơn Nhã Xá, đã lâu như vậy tôi không gặp cháu gái tôi, vừa nhìn thấy cháu, tôi giật nảy mình! Á! Cháu gái tôi đã trở nên xinh xắn như vậy! Tôi chụp ảnh cùng cháu tôi, lần đầu tiên tôi nhận thấy cháu tôi rất xinh đẹp. 

Có quyến luyến không? Không có, tôi chẳng có liên hệ gì với cháu gái tôi, tôi cũng chẳng có quan hệ gì với cháu trai tôi, không có quan hệ. Đứa cháu trai ấy của tôi, Lư Hoằng, trên đời này nó là… tôi thấy trên toàn nước Mĩ này người hiền lành nhất chính là nó, nó thật sự rất hiền lành, một hình mẫu hiền lành điển hình. Ai chà ủa ôi, hiền lành đến chết mất thôi! Nói một cách khác thì là ngờ nghệch muốn chết, nó là một người rất ngây thơ, rất hiền lành, bởi vì nó là một vị trưởng lão ở Phật Sơn chuyển thế, cũng giống như tôi vậy. Tôi không biết là tôi có hiền lành không, nhưng nó thì thật sự rất hiền lành, Lư Hoằng là trưởng lão ở Phật Sơn chuyển thế. Lư Quân là Bồ Tát thất địa, Bồ Tát Viễn hành địa, đến địa thứ tám là cực kì ghê gớm rồi, địa thứ tám thì là bất động địa rồi. Nhưng đó là chúng, không liên quan gì đến tôi, tương lai chúng có nghiệp của chúng, tương lai chúng có… 

Con trai, con gái, cháu trai, cháu gái, đều không liên lụy, tôi không để trong lòng. Bởi vì lần đầu tiên gặp lại cháu gái, thấy nó sao mà đã trở nên xinh đẹp như vậy, Sư Mẫu ở bên cạnh lo lắng: "Liệu có bị người ta bắt cóc không?" Tôi nói: "Đó cũng là việc của nó, không có liên quan gì với chúng ta." Tâm chúng ta giống như một tấm gương sáng, trong tâm của Sư Tôn giống như một tấm gương sáng. Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật tức chẳng phải là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, cũng chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. 

Hôm nay tôi nói lải nhải những điều này… tâm của Sư Tôn, mọi người đều biết, giống như một tấm gương, cái gì cũng không biết, tất cả mọi phiền não (phiền não của nhân thế gian) đều để cho Sư Mẫu gánh vác, tôi chỉ biết hai việc là viết sách và tu pháp, những việc khác, trong tâm như tấm gương sáng, không có vướng mắc, ý tôi là như vậy. Vì thế, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật chính là thanh tịnh, không có gì cả, thanh tịnh, không có một chút vương vấn nào, chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Bởi vì không còn chút vương vấn nào, chính là không, tức chẳng phải là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, nên cũng chính là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Om mani padme hum.

*(Ngày 21/11/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 35.)*

### 36. Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp (2)

*(Bài giảng 36)* Như Lai có thuyết pháp không?

*“Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có từng thuyết pháp không?"  
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."*

Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi Tu Bồ Đề, Như Lai có thuyết pháp không? Tu Bồ Đề trả lời, Như Lai không thuyết pháp. Câu nói này mọi người đều biết đọc, bởi vì bạn đọc kinh Kim Cang, siêu độ cũng dùng nó… siêu độ cũng dùng kinh Kim Cang, cầu phúc cũng dùng kinh Kim Cang, thế rồi những người bình thường thích kinh Kim Cang cũng đều đọc kinh Kim Cang. Vậy Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi bạn, Như Lai có thuyết pháp không? Hỏi Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề nói rằng, Như Lai không thuyết pháp. Như Lai không thuyết pháp, câu nói này giải thích thế nào? Tôi nói một cách đơn giản là được rồi, tôi lấy ví dụ đơn giản rồi lại nói dài dòng một chút. Cái gọi là thuyết pháp, không có pháp nào có thể nói, bởi vì không có pháp nào có thể nói nên chính là thuyết pháp. Tôi nói thế này thì cũng là hơi dài một chút: cái gọi là thuyết pháp, không có pháp để nói. Vì không có pháp để nói thì là thuyết pháp. 

Cái này nếu như dựa vào Tam luận thể không để mà nói, bởi vì kinh Kim Cang nói về tính Không, cho nên: vô thuyết pháp giả, không có người thuyết pháp; vô thính pháp giả, không có người nghe pháp; và rồi, cũng không có sự việc thuyết pháp này, đây là cách nói theo Tam luận thể không. Tam luận thể không, không có người nói, không có người nghe, lại càng không có pháp nào để mà nói. Đây là cảnh giới Tam luận thể không. Cũng chính là thuyết pháp mà cũng như không thuyết pháp, bởi vì không có thuyết pháp mới được gọi là thuyết pháp.

Cái này khả năng mọi người cũng rất khó hiểu, Phật Thích Ca Mâu Ni rõ ràng có thuyết pháp, những kinh điển mà Phật đã giảng không phải là pháp sao? Chúng ta nói rồi, chúng ta phải tôn trọng… Namo guru beh, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye. Namo guru beh chính là quy y Kim Cương Thượng Sư, namo buddha ye chính là quy y Phật, namo dharma ye chính là quy y Pháp, namo sangha ye chính là quy y Thánh Hiền Tăng. Vậy bạn quy y pháp, bây giờ bạn lại nói là không có Phật pháp, thế thì những kinh điển mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng thì sao? Không phải là pháp sao? Là pháp đó. Bây giờ chúng ta đọc kinh Kim Cang, kinh Kim Cang này cũng là pháp đó. Vì sao Tu Bồ Đề lại trả lời rằng *"Như Lai không thuyết pháp"*, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng hỏi: *"Như Lai có từng thuyết pháp không?"* Tu Bồ Đề nói: *"Như Lai không thuyết pháp."*

Tôi nói xa hơn một chút để mọi người biết. Tôi thích dùng mặt trăng để làm ví dụ: bạn đến mặt trăng rồi, mặt trăng không có người mà, trên mặt trăng có ai đang thuyết pháp không? Không có. Có ai đang nghe pháp không? Không có. Vậy cái gì là pháp đây? Trên mặt trăng có pháp không? Cũng không có. Vì thế trên mặt trăng là phá bỏ tất cả. Trên mặt trăng thời gian có công dụng gì không? Không có. Thời gian chỉ có ở nhân gian mới có con người dùng thôi. Bạn nói không gian thì sao ư? Sư Tôn nói về không gian, được thôi, ở đó tôi có một mảnh đất, mảnh đất đó là của tôi, trên trái đất tôi có mua một mảnh đất, tôi là địa chủ của mảnh đất đó. Bạn nói ở trên mặt trăng bạn cũng có một mảnh đất, bạn cũng là địa chủ đó. Thế mảnh đất đó đối với bạn có hữu dụng không? Chẳng hề hữu dụng. Có đáng tiền không? Chẳng hề đáng tiền. Không gian trên mặt trăng là cả một vùng đất, không gian ấy có công dụng không? Không có, chẳng hề hữu dụng.

Vì thế, trên mặt trăng không có thời gian. Thời gian ở trên mặt trăng cũng chẳng dùng đến! Không gian ở trên mặt trăng cũng chẳng dùng đến. Vậy thì tôi nói với bạn một câu này… đoạn sau có nói rõ: thế giới Ta Bà của chúng ta bây giờ, vào mười hai vạn năm sau, sẽ nát thành cát bụi, toàn bộ trái đất cũng là thành - trụ - hoại - không. Khi đến kiếp không, trái đất không còn nữa. Xin hỏi Phật pháp ở đâu? Có ai thuyết pháp? Có ai nghe pháp? Có Phật pháp không? Khi đến kiếp Không, kiếp Không có nghĩa là trái đất đã hoàn toàn hủy hoại, nhân loại cũng không tồn tại, tất cả những gì vốn có đều không tồn tại nữa… xin hỏi, ai thuyết pháp? Ai nghe pháp? Phật pháp ở đâu? Nếu ta đẩy đến tận kiếp Không, kiếp thành, kiếp trụ, kiếp hoại. 

Hiện tại cũng… Chúng ta nói một cách ngẫu nhiên là được rồi. Bất kể là kiếp nào, bây giờ đang thuộc về kiếp hoại rồi, châu Phi đã xuất hiện biến chủng virus mới, gọi là gì nhỉ? Mọi người còn không biết virus đó rốt cục là chuyện gì đây, tóm lại là biến chủng của virus Corona, biến chủng này càng lợi hại hơn, biến đổi đến cuối cùng thì chẳng có thuốc miễn dịch nào còn dùng được nữa, đến lúc ấy tất cả nhân loại đều chết hết. Hay rồi, tôi nói tất cả nhân loại đều bị lây nhiễm hết, toàn bộ đều cùng đi đời, trên trái đất không còn con người nữa. Tôi hỏi bạn, ai thuyết pháp? Ai nghe pháp? Có Phật pháp không? Nói gần một chút thì sẽ biến thành như vậy.

Tôi nói, xuất hiện một virus siêu cấp, không chỉ là chủng virus châu Phi đâu, chỉ cần bạn nghe thấy tên của virus đó là bạn đã mắc rồi, là đã nhiễm bệnh rồi, bạn đã bị lây nhiễm. Bạn nghe thấy tên của virus này thôi, khi bạn chỉ vừa mới nghe thấy tên gọi này thôi là bạn đã bị mắc bệnh rồi, hơn nữa virus này còn có thể khiến bạn tiêu đời lập tức. Cho nên nhân loại đều không tồn tại nữa, xin hỏi: Ai thuyết pháp? Ai nghe pháp? Cái gì là Phật pháp? Tôi nói như vậy, lấy ví dụ như vậy, mọi người gần như cũng đều có thể nghe hiểu rồi, cũng tương đối rồi. 

Vì thế bạn biết rằng, điều Phật nói, tất cả đều là vô thường, tam pháp ấn mà Phật nói chính là chân lí đó! Cái gì gọi là tam pháp ấn? Chính là chân lí: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tĩnh, cái cuối cùng là niết bàn tịch tĩnh. Ý của Phật pháp là bảo bạn biến chính mình thành Không, vô ngã, dùng cái Không này để đi ấn chứng cái Không của vũ trụ, Không và Không tương ứng rồi, thì cái đó chính là niết bàn.

Thật ra niết bàn chính là cái Không của chính bạn, theo như Mật giáo nói, ý của Phật Đà muốn nói rằng: dùng tính Không trên chính con người bạn để đi ấn chứng tính Không của vũ trụ, tiến nhập vào một trạng thái niết bàn; trạng thái của pháp nhĩ bản nhiên chính là đã thoát khỏi luân hồi rồi, tiêu diệt cả luân hồi luôn rồi. Kinh Kim Cang chính là một bản kinh điển tiêu diệt luôn cả luân hồi. Nhân duyên cũng không còn, không có nhân thì sẽ không có duyên. Cái gì là niết bàn? "Không có nhân sinh, không có nhân tử" gọi là niết bàn. Bởi thế, Phật pháp rất thâm sâu, người bình thường chúng ta không thể đi lí giải được Phật pháp. Tôn giáo thông thường chẳng qua chỉ là một cái là thiên đường, một cái là địa ngục, một cái là nhân gian, ba cái. Ấn Độ giáo thì nói đến Phạm - Ngã hợp nhất, Phạm chính là trời, Phạm Thiên và ta hợp nhất, cảnh giới cao nhất của Ấn Độ giáo là Phạm Thiên và ta hợp nhất. Giống như người Trung Quốc nói "trời người hợp nhất"... Người Trung Quốc cũng nói Trời - Người hợp nhất đó!

Phật giáo thì khác, Phật giáo nói về "Không và Không hợp nhất". Lấy tính Không của bản thân để đi ấn chứng tính Không, hợp nhất, tiến nhập pháp nhĩ bản nhiên, không tái luân hồi, thì gọi là đã niết bàn rồi. Đó là một cảnh giới vô cùng cao siêu. Những gì Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói cũng không có cảnh giới nào có thể nói. Vì thế, *"Như Lai không thuyết pháp"* mà Phật nói đến ở đây, Tu Bồ Đề có thể… ông ấy là bậc "giải Không nghĩa đệ nhất" mà, ông ấy là người hiểu rõ nhất về tính Không đó! Vì thế ông ấy có thể nói ra rằng: *"Như Lai không thuyết pháp"*, chính là ý này. Đương nhiên rồi, hôm nay điều mà mọi người đã nghe, thật sự đó, rất là khác!

Làm sao để phá bỏ luân hồi? Bạn có nhân thì sẽ có quả, muốn phá bỏ luân hồi, trừ phi chính bản thân bạn biến thành vô ngã thôi! Bởi vì khi vô ngã, bạn mới không tạo ra nhân nữa, tất cả mọi nhân đều không còn. Không còn nhân nữa thì sẽ không có quả mà, sẽ không có duyên nữa! Nhân duyên gì? Cái gì cũng không có! Đều không có. Luân hồi cũng sẽ biến mất… Kinh Kim Cang đã phá bỏ hết rồi, luân hồi cũng không còn nữa! Không phải luân hồi nữa, luân hồi cũng không còn nữa rồi! Vì vậy vô ngã… chính là tam pháp ấn mà Phật nói: vô ngã, vô thường, thành trụ hoại không. Thân thể của chúng ta cũng là thành trụ hoại không, bất kì thứ gì cũng đều là thành trụ hoại không, trong con mắt của Phật mà nói thì tất cả đều là khổ.

Khổ à! Bạn phải nhanh chóng thoát khổ được vui, bởi vì chúng sinh đều là khổ cả, chư hành vô thường đều là khổ mà! Vì thế bạn muốn thành tựu, trước tiên phải học vô ngã, vô ngã thì sẽ thành Bồ Tát. Bạn vì bản thân thì sẽ có nhân đó. Bạn không buông bỏ được, không buông được, không bỏ được… Chính bởi vì vô ngã cho nên bạn mới có thể buông bỏ được! Bạn còn có cái ngã thì bạn làm sao buông bỏ được đây? Đó là một đạo lí rất đơn giản, chúng sinh không hiểu. Vì vậy, thế nào là vô ngã? Vô ngã thì là Bồ Tát rồi! Chỉ vì chúng sinh, không vì bản thân ta, phát bồ đề tâm, đây là một điểm quan trọng đó!

Do đó tôi từng nói rồi, vô cùng rõ ràng: sở dĩ Sư Tôn đảnh lễ với đệ tử, đó chẳng xem là điều gì cả. Vốn dĩ chính là bình đẳng mà — Jesus rửa chân cho đệ tử, cái đó biểu thị bình đẳng, khiêm nhường. Chúa cũng là vô ngã đó! Buông bỏ, vô ngã, bạn mới có thể khiêm nhường, còn có cái ngã tồn tại thì đừng nói đến chuyện khiêm nhường. Bởi vậy, bạn phải hiểu tiến nhập niết bàn chính là không còn nhân của sinh, bạn không xuất hiện nhân của sinh nữa thì bạn sẽ không có nhân của tử, cũng sẽ không bị chết, cũng sẽ không sinh ra, pháp nhĩ bản nhiên, chính là niết bàn.

Khi ấy thì còn phải thuyết pháp gì đây? Không có pháp nào để mà nói. Tất cả đều là vô thường, tất cả đều là vô ngã, cái cuối cùng chính là niết bàn, pháp nhĩ bản nhiên. Tất cả đều là tịch tĩnh, tiến nhập vào một kiểu trạng thái tịch tĩnh, cũng không có cái gì gọi là đạt thành tựu. Cho nên câu nói này là sâu sắc nhất đó! Tôi có thể giải thích đoạn này, thật sự là không đơn giản. Hôm nay bạn đọc: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có từng thuyết pháp không?"* Thế rồi, *"Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."* Đúng mà, tôi vừa nói rồi đó… không có người thuyết pháp, cũng không có người nghe pháp, cũng không có pháp, trên mặt trăng là như vậy đó. Có một ngày, đột nhiên xuất hiện một loại virus biến chủng rất lớn, mọi người đều bị nhiễm mắc, tất cả đều kết thúc. Xin hỏi ai thuyết pháp? Ai nghe pháp? Có Phật pháp không? Hôm nay tôi giảng đến đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 27/11/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 36.)*

### 37. Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp (3)

*(Bài giảng 37)* Phi tướng

Chúng ta giảng một chút kinh Kim Cang. Hôm qua giảng: *"Như Lai có thuyết pháp không?"* Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: *"Thưa Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."* Tôi đã giải thích xong rồi.

Phần thứ 13: Thọ trì đúng như pháp.

*"Như Lai có từng thuyết pháp không?"  
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"  
"Tu Bồ Đề! Các vi trần ấy, Như Lai nói rằng chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần. Như Lai nói thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng."  
"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, nếu lại có người cho dù chỉ thọ trì bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc ấy rất nhiều!"*

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào?"* Phật Đà lại nói: *"Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều không?" Tu Bồ Đề nói: "Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"* Câu nói này, chúng ta nói thẳng thắn, Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự có thần thông rất lớn, thời đó không có đài thiên văn, làm sao biết được có hệ mặt trời? Không chỉ là một hệ mặt trời, còn có rất nhiều hệ mặt trời khác, hệ mặt trời nhiều không đếm xuể. Phật Thích Ca Mâu Ni có thể nói: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới…"* Câu nói này cho thấy thần thông quảng đại của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật có thể biết được tam thiên đại thiên thế giới. 

Mọi người có thể tra xem thế nào gọi là tiểu thiên thế giới, thế nào gọi là trung thiên thế giới, thế nào gọi là đại thiên thế giới, đó là toàn bộ vũ trụ không thể nào mô tả nổi, tam thiên đại thiên thế giới chính là toàn bộ vũ trụ không thể nào mô tả nổi. Sao Phật biết được? Làm sao mà Phật Thích Ca Mâu Ni biết được? Khoa học ngày nay, con người hiện tại chúng ta biết rằng vũ trụ là lớn vô hạn mà vẫn còn không biết ranh giới nằm ở đâu. Ai có thể biết được? Nhưng không ngờ Phật Đà lại có thể nói tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới.

Bạn xem Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, họ cũng chỉ có một thiên đường, một nhân gian, một địa ngục, thế giới của họ chính là một thiên đường, một nhân gian, một địa ngục, chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni mới có thể nói ba nghìn đại thiên thế giới - thế giới lớn vô hạn. Ở đây chính là Phật nhãn, pháp nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, không chỉ là con mắt thịt, Phật Thích Ca Mâu Ni không chỉ thế giới nhìn thấy bằng con mắt thịt, Phật có thể nói đến ba nghìn đại thiên thế giới, thế giới lớn vô hạn. Đây là cái chỗ không hề đơn giản của Phật Đà, các tôn giáo khác đại bộ phận chỉ có một thiên đường, một nhân gian, một địa ngục, họ chỉ nói đến cái này, Phật có thể nói đến ba nghìn đại thiên thế giới. <span className="note-blue">[Trong vũ trụ quan của Phật giáo, Phật giáo nói một mặt trời mặt trăng chiếu bốn thiên hạ, bao gồm Lục dục thiên, Sơ thiền thiên, gọi là một tiểu thế giới. Một nghìn tiểu thế giới bao gồm một Nhị thiền thiên làm thành một tiểu thiên thế giới; một nghìn tiểu thiên thế giới bao gồm một Tam thiền thiên làm thành một trung thiên thế giới, một trung thiên thế giới bao gồm một Tứ thiền thiên làm thành một đại thiên thế giới. Một đại thiên thế giới có ba loại tiểu, trung, đại thiên thế giới, do vậy gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Mỗi tam thiên đại thiên thế giới là một Phật quốc.]</span>

Tất cả vi trần, thế nào gọi là vi trần? Vi trần chính là PM2.5 (bụi mịn), mắt thường không nhìn thấy. Tất cả vi trần, bạn không thể nhìn được những hạt bụi đó đâu! Tôi kể một câu chuyện cười vậy: Đường Tam Tạng đi lấy kinh, đưa Tôn Ngộ Không đến một nơi, nhìn thấy núi mờ mịt, chim mờ mịt, nước mờ mịt, Tôn Ngộ Không nói: "Ở đây chắc là cách Tây phương thế giới rất gần rồi, giống như tiên cảnh vậy." Hỏi Đường Tam Tạng: "Đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi sao?" Đường Tam Tạng nói: "Không, đây là Đài Trung ở Đài Loan." Đài Trung ở Đài Loan, vì sao vậy? Nhà máy phát nhiệt điện ở Đài Trung mà, nhà máy phát nhiệt điện lớn nhất là ở Đài Trung, khói mà nó nhả ra đã biến thành… Vừa bước ra khỏi cửa những tòa nhà cao tầng thì ngay cả đến nhà cao tầng cũng mờ mịt. Bạn đứng trên tầng cao nhất, Bồ Tát Đỉnh đó của tôi… tôi có một ngôi nhà gọi tên là Bồ Tát Đỉnh, đứng ở đó nhìn xuống, trời ạ! Cả một vùng mờ mịt, che mờ tất cả nhà cửa, giống như một đại dương vậy, đám bụi mù che phủ như vậy. Đó không phải là sương, mà là bụi mịn PM2.5 đó!

Bao gồm toàn huyện Nam Đầu… Bạn đứng từ Lôi Tạng Tự nhìn xuống núi, cả thị trấn Thảo Đồn đều chìm trong một màn bụi mù mịt, thật đáng thương! Tôn Ngộ Không nói "đây là Tây phương Cực Lạc thế giới", Đường Tam Tạng liền bảo Ngộ Không rằng: "Ngộ Không à, con thích nơi này, thế thì con hãy ở lại đi! Ta đi Tây phương đây, nơi này là Đài Trung của Đài Loan." Tôn Ngộ Không liền nói: "*No*, con muốn cùng sư phụ đi đến Tây phương lấy kinh, con không ở lại nơi này, con muốn đi Tây phương lấy kinh." Đường Tam Tạng nói: "Ở lại cũng có cái tốt, rất nhanh chóng sẽ đến được Tây phương Cực Lạc thế giới, rất nhanh thôi, con ở lại, rất nhanh chóng con sẽ đến được Tây phương Cực Lạc thế giới." Sớm muộn gì cũng đều mắc ung thư phổi, rất nhanh chóng sẽ đến được Tây phương Cực Lạc thế giới. Bạn thấy đấy. 

Cho nên, tất cả vi trần của tam thiên đại thiên thế giới, PM2.5 có phải là rất nhiều không? Không nhìn thấy, rất nhiều đó! Bạn không nhìn thấy những hạt bụi đó, bụi mịn PM2.5 bạn không thể nhìn thấy. "Có nhiều không?" Tu Bồ Đề nói: *"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!" "Tu Bồ Đề! Các vi trần ấy, Như Lai nói rằng chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần."* Cùng một câu nói: "Bạn không nhìn thấy mà!" Vi trần là một danh từ thôi, PM2.5. Bây giờ chúng ta đã biết PM2.5 chính là bụi mịn, nhưng khi xưa bạn không có kính hiển vi, bạn không thể nhìn được bụi. Tất cả bụi trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều không? Tu Bồ Đề nói: "Rất nhiều, thưa Thế Tôn!" "Tu Bồ Đề! Các vi trần ấy, Như Lai nói rằng chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần." Rất đơn giản: không nhìn thấy, nhưng mà có vi trần, có PM2.5, nhưng mà không nhìn thấy, do vậy gọi thẳng ra là vi trần.

Giống như bụi mịn PM2.5 bạn cũng không nhìn thấy, làm sao bạn nhìn thấy được, đúng thế không? Những hạt bụi nhỏ ấy. Vì thế khi chúng tôi ở Đài Loan thì phải đeo một cái máy lọc không khí, nói rằng cái máy đó sẽ loại bỏ PM2.5, không khí chúng tôi hít vào là không khí sạch. Thật ra có phải là lừa người ta không thì chúng tôi cũng không rõ lắm. Máy đó do Nhật sản xuất, nói rằng chuyên để đối phó với PM2.5, đeo ở trước ngực. Bạn không nhìn thấy bụi mà, cho nên những hạt bụi này cũng lấy một cái tên đặt cho nó gọi là vi trần. Thật ra chúng đều vào trong nhà rồi, nhưng ở trong nhà bạn không nhìn thấy bụi, nhưng bạn đứng trên núi cao là sẽ nhìn thấy, đứng trên tầng cao sẽ nhìn thấy, cả một vùng mờ mịt, đây là miền trung, bao gồm Nam Đầu, Đài Trung, Chương Hóa đều như thế.

Tiếp theo là "Như Lai nói thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới." Cùng một câu nói giống nhau: "Thế giới phi thế giới." Thế giới này bạn có nhìn thấy không? Cũng không nhìn thấy mà, chúng ta bây giờ, những gì mà con mắt thịt nhìn thấy thì chỉ thấy thành phố này của chúng ta gọi là North Bend, đúng thế không? North Bend, chúng ta nhìn thấy Rainbow Villa Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, chúng ta đến Redmond thì sẽ nhìn thấy Redmond Lôi Tạng Tự của chúng ta. Những gì mà con mắt nhìn thấy là như thế. Bạn có nhìn thấy thế giới không? Chúng ta nhìn trái đất… "Trái đất đây, chúng tôi nhìn thấy thế giới rồi." *No*, đó không phải là thế giới, thế giới rộng lớn lắm, còn bao gồm cả mặt trăng. Chúng ta có nhìn thấy mặt trăng không? *No*, đó không phải là thế giới, còn có sao Hỏa, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Diêm Vương, sao Hải Vương, đúng thế không? Còn có rất nhiều các ngôi sao mà bạn không nhìn thấy, trừ thái dương hệ này ra thì vẫn còn có những hệ mặt trời khác nữa, nghe nói còn có tới một trăm hệ mặt trời cơ! Những ánh sáng ấy chẳng có cách nào đến được thái dương hệ của chúng ta đây.

Vì vậy, *"Tu Bồ Đề, thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới."* Tôi đã giải thích điều này rõ ràng rồi. Chúng ta nói thế giới, thực ra chúng ta không nhìn thấy, nên đặt tên là thế giới, đặt cho nó một cái tên gọi là thế giới, chứ thật ra bạn không nhìn thấy. Chẳng phải thế giới, căn bản là bạn không nhìn thấy, cho dù bạn có nhìn thấy thì cũng là nhân duyên hòa hợp. Các bạn nhìn thấy Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn này rồi sẽ hư hoại, căn bản là không còn nữa, bởi vì đó là tứ đại tổ hợp: đất nước lửa gió, thân thể của bạn chính là đất, xương thịt của bạn chính là đất; huyết dịch trong thân thể bạn là nước, nhiệt độ của bạn là lửa, hô hấp của bạn là gió, đây là tứ đại tổ hợp. Tứ đại mà phân rã thì không còn gì nữa, bạn có nhìn thấy không? Bây giờ bạn nhìn thấy Lư Thắng Ngạn, trước kia vào 77 năm trước, có Lư Thắng Ngạn này không? Không có đâu. Sau mấy năm nữa, mọi người cũng không nhìn thấy tôi nữa, cũng không có Lư Thắng Ngạn. Lư Thắng Ngạn chỉ là một cái danh từ tạm thời thôi, đây chính là thế giới. Vì thế, *"thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới"* chính là giải thích như vậy đó.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?" "Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng."* Cái nói đến ở đây chính là tướng. Kinh Kim Cang chính là vô tướng… tôi nói với bạn, trọng điểm nằm ở vô tướng, là phi tướng. Tất cả mọi tướng đều sẽ hư hoại, những thứ bạn nhìn thấy đều sẽ hư hoại. Trước kia có một cái ghế tựa mà tôi ngồi rất vừa vặn, để cho cái mông của tôi rơi bịch xuống mấy lần, thế rồi nói cũng gẫy luôn. Tôi vận động vài lần, tôi chống người lên như thế này, rồi ngồi bịch xuống, rắc! Ghế hỏng luôn rồi. Cái ghế cũng sẽ hỏng đó, bàn cũng sẽ hỏng, nhà cũng hỏng, đều sẽ hỏng cả.

Nhà mới xây lên, nhà mới sau vài năm cũng biến thành nhà cũ, sau đó không có người ở nữa, rồi thì cũng hỏng luôn. Xe cộ, làm bằng sắt, xe cũng sẽ hỏng, dùng mấy năm rồi hỏng luôn, sẽ biến thành xe đồng nát. Đều sẽ hỏng cả! Đều là phi tướng, có thứ nào không hư hoại chứ? Đều sẽ hư hoại! Bạn nói bất động sản, bất động sản có hư hoại không? *No*, bây giờ đều là động sản, động đất thì sẽ biến thành động sản mà, làm gì có bất động sản chứ? Vỏ trái đất sẽ hư hoại, có thứ gì không hư hoại? Trái đất đều sẽ hư hoại, thành trụ hoại không mà, Phật Đà nói vô thường mà! Có thứ nào sẽ không hỏng? Câu này như thế là hiểu được rồi.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?"* *"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng."* Ba mươi hai tướng là tướng của bản thân Phật, tôi đã giảng rồi, là hai tai dài xuống vai, hai tai đến tận vai, bạn xem, tai của Sư Tôn cũng đều chạm vai rồi. Tướng lưỡi rộng dài, đầu lưỡi vươn ra có thể che kín cả mặt. Tướng lưỡi rộng dài là cực kì đó! Vì sao mà Phật lại có tướng lưỡi rộng dài? Đầu lưỡi thè ra khiến người ta phát sợ, rất kinh khủng đó! Che kín cả mặt, tướng lưỡi dài rộng. Tượng Phật thì rất trang nghiêm, dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai, đương nhiên, đó là giả tướng. Đó là tướng giả, chỉ là chúng ta tôn trọng vị ấy, tôn trọng vị ấy đại diện cho Phật Thích Ca Mâu Ni. "Có thấy Như Lai không?" Đương nhiên đó là giả rồi, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni liền nói: *"Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?" "Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng."* 

Phi tướng… Kinh Kim Cang nói rồi, trong đó mọi người ghi nhớ rõ hai chữ "phi tướng", hai chữ này, bởi vì Kknh Kim Cang nói đến vô tướng. Lần chuyển pháp luân thứ hai Phật nói đến vô tướng, lần chuyển pháp luân thứ hai có trí huệ nhất là nói đến vô tướng, Phật Thích Ca Mâu Ni nói, tất cả mọi tướng đều là phi tướng. Tôi thấy cô gái kia vô cùng xinh đẹp, phi tướng! Bạn thấy cô ấy bây giờ xinh đẹp, đương nhiên rồi, cô ấy 20 tuổi thì đương nhiên là xinh đẹp, đợi đến khi cô ấy 80 tuổi bạn lại nhìn mà xem, thật sự là *sorry* (rất lấy làm tiếc). Đã biến đổi rồi, vô thường! Cuối cùng cũng thành hồ thôi, biến thành hồ dán, một thùng hồ dán, đặt bạn vào trong một cái vại, rồi để ở trong Song Liên Cảnh Giới. Cho bạn vào trong một cái hũ rồi đặt ở Song Liên Cảnh Giới, bạn dù có xinh đẹp thế nào thì vẫn là một cái hũ, bạn có xấu thế nào cũng là một cái hũ, cái hình tướng ban đầu của bạn đâu? 32 tướng đâu? Không có! Một cái hũ. Cho nên hãy chú ý: Phật Đà nói phi tướng, vô tướng, mỗi một thứ đều sẽ hư hoại, bạn dù có xinh đẹp thế nào thì cũng chẳng có ích gì, vô ích thôi! Vì thế, lời này là rất trí huệ, điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói.

Con người thế gian chỉ nhìn thấy trước mắt, không nghĩ đến tương lai sẽ ra sao. Trước mắt à, kiếm tiền, mua bất động sản, mua đất đai, mua nhà cửa, hưởng thụ cuộc sống, đến cuối cùng sẽ thế nào? Thành hồ, cuối cùng cũng thành hồ thôi! Bởi thế, Phật Đà nhìn rất xa, phi tướng, nói rất rõ ràng. Phật nói: "Ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng." Câu nói này có thể giải thích với bạn một cách rất đơn giản: 32 tướng mà bây giờ bạn nhìn thấy sẽ không tồn tại vĩnh viễn, nó sẽ hư hoại, nghĩa là biến thành phi tướng. Vì sao cũng là 32 tướng? Rõ ràng là có 32 tướng mà, nhưng thật ra nó sẽ hư hoại, là vô tướng.

Câu nói sau cùng hẳn là mọi người đều có thể biết rồi: *"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, nếu lại có người cho dù chỉ thọ trì bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc ấy rất nhiều!"* Lúc trước cũng đã giảng về bố thí này. Cho dù bố thí nhiều thế nào thì cũng không sánh bằng công đức của bốn câu kệ này: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Tương lai toàn bộ trái đất hoại rồi thì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng sẽ xuất hiện ra hết. Nếu trái đất hoại rồi, không còn nhân loại nữa, đương nhiên cũng không có tôi, không có con người, cũng không có chúng sinh, cũng không có người nào sống lâu. Cái gọi là thọ chính là thời gian, vô chúng sinh nghĩa là không gian, nói như vậy hiểu chứ? Om mani padme hum.

*(Ngày 28/11/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Uy Đức Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 37.)*

### 38. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (1)

*(Bài giảng 38)* Tịch diệt

*Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt mà bạch Phật rằng:  
"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy…"*

Chúng ta biết rằng, rời xa tất cả mọi tướng nghĩa là tịch diệt, ấn cuối cùng trong tam pháp ấn chính là "niết bàn tịch tĩnh ấn". Rời xa tướng rồi thì sẽ tiến nhập vào Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt. Thế nào là lìa tướng? Chính là rời xa bốn tướng: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Bạn rời xa bốn tướng này thì bạn sẽ tiến nhập "tịch diệt". Tịch diệt nói đến ở đây là cái gì? Hỏi đáp có thưởng đây. 

Tịch diệt là gì? (Đại sứ Liêu Đông Châu trả lời.) Tôi nói với mọi người nhé! Lời giải thích vừa rồi của ông đại sứ đương nhiên là chính xác một trăm phần trăm, lời đại sứ vừa nói là chính xác một trăm phần trăm. Điều ông ấy nói đến là cảnh giới của Phật, còn như tịch diệt chính là cảnh giới của Phật. Cảnh giới của Phật cũng chính là tịch diệt, điều này tuyệt đối không sai, chính xác một trăm phần trăm. Nhưng điều tôi muốn nói là, hai chữ tịch diệt, vừa rồi ông ấy cũng nhắc đến niết bàn… tôi đã từng giảng rồi, thế nào gọi là tịch diệt? Không phải là không có gì cả, không phải là trống rỗng. Cảnh giới của Phật là gì? Nói sâu hơn một tầng nữa, cảnh giới của Phật chính là tịch diệt, tịch diệt chính là cảnh giới của Phật đó!

Nói sâu hơn một tầng nữa, trước kia tôi từng nói mấy câu, tôi từng nói mấy câu đơn giản là: không còn nhân sinh, không còn nhân tử. Đã không còn lục đạo luân hồi rồi thì gọi là tịch diệt. Bạn đã không còn luân hồi rồi, có thể nói là không còn phải luân hồi nữa. Không có nhân sinh, không có nhân tử: Phật không có nguyên nhân sinh ra, cũng không có nguyên nhân chết đi, cái này chính là niết bàn, chính là cảnh giới của Phật. Tịch diệt là cảnh giới của Phật, Phật chính là tịch diệt, nhưng nội hàm của Phật chính là không còn nhân sinh, không còn nhân tử, không lục đạo luân hồi nữa. Như vậy thì là đúng.

Cho nên tịch diệt không phải là không có gì. "Lìa tướng" mà Phật giáo nói đến nghĩa là hoàn toàn rời xa vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, cái này chính là lìa tướng. Lìa tướng rồi thì thế nào? Không còn lục đạo luân hồi nữa rồi, không có nguyên nhân sinh ra, cũng không có nguyên nhân chết đi, chính là niết bàn, không còn lục đạo luân hồi nữa. Mẹ của Ngụy Tư Nhan nói rằng bà ấy không muốn lục đạo luân hồi nữa, bà ấy nói không muốn lại luân hồi nữa. Không sai, mỗi cá nhân đều không muốn lại phải luân hồi. Nhưng, rốt cục bạn có lìa tướng không? Bạn có còn nghiệp thân khẩu ý không? Nếu bạn có nghiệp thân khẩu ý thì nhất định bạn sẽ phải lục đạo luân hồi.

Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại Ấn Độ, nói để các bạn biết, ngài ấy sinh ra tại Ấn Độ, nên ngài rất hiểu Ấn Độ giáo. Chủ yếu nhất của Ấn Độ giáo chính là Phạm - Ngã hợp nhất, sử dụng suy tưởng và tất cả Thiên, Trời và Ta hợp nhất, điều chủ yếu nhất của Ấn Độ giáo gọi là Phạm-Ngã hợp nhất. Phạm là cái gì? Ví dụ như Đại Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên chính là Phạm. Đại Phạm Thiên là gì? Là Brahma. Shiva là Đại Tự Tại Thiên, Vishnu là Biến Tịnh Thiên. Cách nói của Phật là: Thiên cũng không tồn tại. Cách nói của Phật giáo đã tách rời khỏi Ấn Độ giáo.

Bản thân Ấn Độ giáo mà nói, một điều mà chúng ta thường nói là: Thần Sáng Tạo là Đại Phạm Thiên, còn Thần Hủy Diệt là Shiva - là Đại Tự Tại Thiên, Vishnu là Thần Bảo Hộ, là Biến Tịnh Thiên. Bạn nhìn xem ở bên kia là ba Đại Thần của Ấn Độ giáo. Cưỡi Garuda là Vishnu, người có con ngỗng trắng là Đại Phạm Thiên. Còn kia là Đại Tự Tại Thiên Shiva. (Sư Tôn chỉ về phía đàn thành của Seattle Lôi Tạng Tự.) Shiva, Brahma, Vishnu, vị lớn nhất là Vishnu. Đó là ba đại Thần của Ấn Độ giáo, Phật giáo là sinh ra từ Ấn Độ giáo.

Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại Ấn Độ, Ấn Độ giáo nói về Phạm - Ngã hợp nhất, cũng không phải là không tốt. Bạn biết thọ mệnh của Đại Phạm Thiên là dài bao nhiêu không? Ngài ấy trải qua… có người nói là một trăm kiếp, một kiếp tức là một trăm triệu năm, một trăm kiếp nghĩa là mười tỉ năm, một trăm kiếp nghĩa là mười tỉ năm sau, rồi sẽ thế nào? Đại Phạm Thiên vẫn phải lục đạo luân hồi. Chứng tỏ rằng… đã đủ lâu chưa? Mười tỉ năm đó! Shiva ở cõi trời cao nhất của Dục giới thiên, Đại Tự Tại Thiên, thọ mệnh của ngài ấy đương nhiên là rất dài. Còn Vishnu lại càng dài hơn! Ngài ấy ở tại Sắc cứu cánh thiên, lên cao hơn là Vô sắc giới thiên. Biến Tịnh Thiên chính là Sắc cứu cánh thiên, cao nhất rồi, là cõi trời vô cùng cao, thọ mệnh rất dài.

Niết bàn tịch diệt của Phật giáo, mặc dù vị trí cõi trời của các vị ấy đều rất cao, như Brahma, Shiva, Vishnu, họ đều là những vị Thiên vô cùng cao, nhưng Dục giới thì vẫn phải lục đạo luân hồi. Cho nên hôm nay pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, "lìa tướng tịch diệt" là đã rời khỏi lục đạo luân hồi rồi. Muốn không luân hồi nữa, có khó không? Rất khó đó! Nhiều nhất là thăng lên cõi trời: Bạn làm việc thiện, thân khẩu ý thanh tịnh, hành thiện, thì bạn vẫn đến được thiên giới. Cho nên muốn lìa tướng, dường như là chuyện không thể… nhưng mà vẫn có thể, chuyện không thể thì vẫn có thể.

Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt, ở đây nói đến: *"Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt…"* Tôi giảng đoạn này là được rồi, đủ rồi. Vì sao khi Tu Bồ đề nghe thấy Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh này, ngài ấy hoàn toàn có thể hiểu được ý nghĩa và tôn chỉ của nó? Vì sao ngài ấy lập tức đau khổ mà rơi lệ? Vì sao đau khổ mà khóc? Có hai lí do, bạn có nói được vì sao mà Tu Bồ Đề khóc không? Trong kinh không có nói. Vì sao ngài ấy khóc? Cảm động đến mức khóc ư? Tôi cảm động tôi cũng khóc đó, mỗi người mà xúc động thì cũng khóc mà?

Có hai lí do. Thứ nhất là Phật Thích Ca Mâu Ni đã giải đáp điều bí mật từ thiên cổ đến nay. Bởi vì rất nhiều người không hiểu đạo lí này, đạo lí của lục đạo luân hồi, điều bí ẩn thiên cổ đã được giải đáp, ngài ấy đã đưa ra lời giải rồi, đã phá bỏ hết luân hồi rồi, đạo lí này đương nhiên là khiến Tu Bồ Đề vô cùng cảm động. Như vừa rồi nói về cảm động, ngài ấy rất cảm động, cho nên ngài ấy đã khóc, đây gọi là vui quá mà khóc. Một lí do nữa là đau buồn quá mà khóc. Thế nào gọi là đau buồn quá mà khóc? Ngài ấy khóc vì: chúng sinh không hiểu đạo lí này, vẫn còn ở trong lục đạo luân hồi, vì danh vì lợi, vì tài sắc danh thực thụy, và cứ như thế mà luôn luôn tạo nghiệp, trong luân hồi vẫn không ngừng lặp lại như vậy, vĩnh viễn không có cách nào đắc chứng được cái đạo lí ấy, không có cách nào chứng được địa vị của Phật, không có cách nào chứng được địa vị của không luân hồi. Ngài ấy đau buồn vì chúng sinh.

Cho nên có hai lí do này: một là vui mừng quá, cuối cùng ngài ấy đã biết, điều bí ẩn thiên cổ đã được giải đáp rồi, cho nên khóc vì sung sướng. Và còn có khóc vì đau buồn, ngài ấy cho rằng chúng sinh không hiểu hoặc là không làm được, vẫn còn đang lục đạo luân hồi. Đặc biệt là tiền, tiền là thứ rất mê hoặc con người! Tiền này rất mê hoặc con người! Tiền đó! Bạn nghĩ mà xem, đều là khoáng thạch đó! Vàng, kim cương, những thất trân bát bảo đều là khoáng vật đó! Tiền, tiền là cái gì? Là giấy thôi! Là *paper*, là giấy đó! Bạn mê muội vào đám giấy đó, mê muội vào những khoáng vật đó có tác dụng gì? Lại còn sắc, bạn mê muội vào sắc thì có tác dụng gì? Chúng chỉ là nhất thời thôi! Một thời gian mà thôi, khi bạn xinh đẹp đương nhiên vẫn còn có sắc, khi bạn không xinh đẹp nữa thì sao đây?

Người trẻ tuổi tranh luận với người già: “Bà có trẻ trung xinh đẹp giống như cháu đây không?” Bà cụ nói: “Bà cũng từng trẻ, bà cũng từng xinh đẹp giống như cháu đó! Nhưng cháu đã từng già chưa?” Bạn từng già chưa? Vẫn là cụ bà thắng, tuổi trẻ thì mọi người chúng ta đều từng trải qua rồi, đúng thế không? Nói một câu rất đơn giản: sắc, nhất thời. Chỉ lúc bạn còn trẻ thì bạn mới có được. Bạn già rồi thì nhan sắc cũng suy tàn, còn sắc cái gì mà sắc? Chỉ còn một thân thể già nua. Chỉ còn đến các quán trà của của ông cụ mà tiêu tiền thôi! Đúng thế không? Bỏ tiền ra mà mua thôi.

Mọi người nghĩ mà xem, tài sắc danh cũng là không đó! Ba thứ này làm người ta mê muội nhất, tài sắc danh. Bạn cho rằng làm Tổng thống thì tốt sao? Hễ nhậm chức Tổng thống là bị đạp đổ, bốn năm sau bạn sẽ bị đạp xuống cái "bịch", bằng không, nếu bạn vẫn giữ được chức vụ, thì tám năm sau vẫn cứ bị đạp xuống cái "bịch". Bạn cho rằng bạn vĩnh viễn làm Tổng thống sao? Thế nào rồi cũng sẽ bị lật đổ, bạn xem các triều đại, mỗi hoàng đế đều muốn làm vua vĩnh viễn: Tần Thủy Hoàng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, Hán Vũ Đế muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, đi ra ngoài biển để tìm tiên đơn, xem xem ăn rồi có thể sống vĩnh viễn được không… người nào có thể vĩnh viễn? Không có đâu! Danh cũng không có, Đường Ngu Hạ Thương Chu, Tần Hán, Tứ quốc (Thụy Thục Ngô Yên), Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, Tùy Đường Tống Nguyên Minh Thanh, hoàng đế của thời đại nào còn lưu lại?

Làm hoàng đế rất tốt đó! Sư Tôn cũng từng làm rồi… Sư Tôn mặc hoàng bào, bạn xem tôi khoác hoàng bào đó! Tôi ngồi trên pháp tọa, ở vị trí cao nhất đó! Bạn xem hậu cung có ba nghìn mỹ nhân! (Sư Tôn vừa cười vừa nhìn về phía đàn thành ở sau pháp tọa.) Đều là Phật Bồ Tát, thật là tuyệt vời, các vị Phật Bồ Tát của chúng ta ở đây thật bá đạo, thật đó. Cái gì là vĩnh viễn? Không có, chỉ có tịch diệt mà Phật nói đến, thoát li khỏi luân hồi mới là vĩnh viễn.

Brahma, Shiva, Vishnu, Mahasriya, Sarasvati, đều không phải là vĩnh viễn. Các Đại Thần của Ấn Độ giáo đều ở đó, Kali, Sarasvati, Mahasriya, Thần Khỉ đều ở đó. Đại Thần của Ấn Độ giáo, Cát Tường Thiên cũng ở đó, Cát Tường Thiên, Diệu Âm Thiên, Kali, ba Đại Thần, họ đều vẫn phải luân hồi. Theo như Phật nói, rời khỏi Phạm Thiên… cho nên ở đây là Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt.

Tu Bồ Đề khóc có hai nguyên nhân: thứ nhất, điều bí ẩn thiên cổ đã được giải đáp, giải đáp xong rồi, đã thoát li lục đạo luân hồi rồi, điều bí ẩn này đã giải đáp rồi. Điều ngài ấy khóc là… điều đau lòng là, chúng sinh không hiểu, nên vĩnh viễn ở trong lục đạo mà luân hồi! "Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt…" Cho nên, khóc lóc thảm thiết là có hai nguyên nhân, thứ nhất là đều bí ẩn thiên cổ đã được giải, ngài ấy hoan hỉ, rất vui. Thứ hai là rất đau lòng mà nói, chúng sinh tương lai không thể thoát li lục đạo luân hồi. Ba thứ mà con người mê đắm nhất: tài sắc danh… không có người nào có thể thoát li lục đạo luân hồi, đều ở trong lục đạo luân hồi. Bạn mê tài sắc danh thì bạn sẽ tham sân si đó! Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 04/12/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 38.)*

### 39. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (2)

*(Bài giảng 39)* Ngũ nhãn

*Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt mà bạch Phật rằng:  
"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy. Thế Tôn! Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất."*

Tôi nói sơ qua một chút về trọng điểm nằm ở đâu. Tu Bồ Đề hỏi Phật: *"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy."* Tôi giảng đến đoạn này là được rồi, nó có nghĩa là, Tu Bồ Đề nói từ rất lâu rồi ngài ấy đã có được huệ nhãn này. Từ rất sớm Tu Bồ Đề đã có được huệ nhãn, nhưng chưa bao giờ từng thấy qua kinh điển thâm sâu như thế. 

Kinh Kim Cang thật sự là kinh điển vô cùng thâm sâu, vì sao lại thâm sâu? Vì sao nói kinh Kim Cang vô cùng sâu sắc? Tôi kể một mẩu đối thoại giữa tôi và Dalai Lama, tôi và Dalai Lama nói chuyện về Tâm Kinh, Dalai Lama hỏi tôi: "Thế nào là sắc tức thị không, không tức thị sắc, cái này giải thích thế nào?" Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc. Cái này giải thích thế nào? Câu trả lời của tôi là song vận, sắc - không song vận. Dalai Lama trả lời bằng hai chữ: tự nhiên.

Tôi và Dalai Lama gặp nhau nửa tiếng, hai chúng tôi đàm luận về vấn đề của kinh điển, toàn bộ đều chỉ thảo luận về vấn đề kinh điển, không dính líu gì đến chính trị, chúng tôi không nói về chính trị, tôi là người của tôn giáo, tôi chỉ nói với ngài ấy về Phật pháp.  
"Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc" giải thích ra sao? Tôi nói là song vận, sắc - không song vận. Dalai Lama nói hai chữ tự nhiên. Song vận cũng có nghĩa là sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc, là hai kiểu.

Thật ra, song vận chính là trung đạo mà Phật Đà đã nói, không hẳn là lìa xa sắc cũng không phải là lìa xa không, hai cái hòa vào lẫn nhau, cái hòa lẫn chung với nhau thì gọi là song vận. Dalai Lama nói là tự nhiên, tự nhiên nghĩa là thấy sắc thì là sắc, thấy không thì là không, ý của ngài ấy là như vậy. Kì thực tự nhiên, song vận, tôi cảm thấy cũng không khác nhau là mấy, sự khác biệt không nhiều lắm, xem ra hai người là ngang sức ngang tài. Một người nói cờ, một người nói trống, kì thực là cờ trống tương đương.

Tu Bồ Đề nói rằng đây là kinh điển thâm sâu, vô cùng sâu, kinh điển vô cùng sâu sắc. Tôi đã giảng vì sao lại là kinh điển rất thâm sâu. Nếu bạn đã hiểu được kinh Kim Cang, và đi thực tiễn rồi, bạn sẽ có thể thành Phật. Bạn có thể tiêu trừ mọi nghiệp chướng của bạn, mọi nghiệp chướng đều bị tiêu trừ hết tại đây, không còn nhân sinh, bởi vì đã vô ngã tướng, vì bạn đã vô ngã rồi, bạn còn tạo nghiệp gì nữa chứ? Không còn nghiệp, tất cả nghiệp chướng toàn bộ đều không còn, vô ngã, vô nhân.

Tôi hỏi bạn nhé, hỏi bạn một câu rất đơn giản: "Trên mặt trăng có thiện ác không? Xin hỏi bạn ở trên mặt trăng có thiện ác không?" Không có, đó là đáp án chính xác. Trên mặt trăng chẳng có cái gì cả, vì đã không có thì làm gì còn có thiện gì, ác gì. Mặt trăng không có sinh vật mà, không có con người mà, lấy đâu ra thiện ác. Không có hổ báo voi sư tử, không có gì, thậm chí covid-19 cũng không lây truyền đến đó được, không có thứ gì có thể lây truyền mà, ngay cả virus cũng không có.

Thế nào là thiện, thế nào là ác? Không có, vì không có nhân thiện, thiện ác, không có ác duyên, không có thiện duyên, không có cái nhân gì cả, cái gì cũng không có. Đây chính là kinh điển thâm sâu nhất. Điều mà bạn chưa bao giờ từng nghĩ tới: không có nhân sinh, không có nhân tử. Sinh tử từ đâu đến? Do nghiệp chướng mà đến, bởi vì bạn có nghiệp chướng thì mới có sinh tử, không có nghiệp chướng sẽ không có sinh tử. Không có ác nghiệp, bạn không có nhân sinh; không có thiện nghiệp, bạn không có nhân sinh. Không có nghiệp thiện ác, căn bản là bạn sẽ không có nhân sinh, không có quả tử. Không có thiện ác, lấy đâu ra sinh tử? Không có sinh tử, lấy đâu ra lục đạo luân hồi. Toàn bộ đều được tháo gỡ rồi.

Kinh điển thâm sâu mà Phật Đà giảng chính là cái này. Trọng điểm là, nghiệp là bất khả tư nghì, căn bản không có nghiệp thì lúc này mới có thể thành tựu. Bạn có thiện nghiệp, sẽ thăng thiên, bạn có ác nghiệp, sẽ xuống tam đồ. Bạn không thiện không ác, sẽ biến thành người. Bạn có tu hành, nhưng bạn có đố kị, có ghen tuông, bạn sẽ là Atula, bạn thích tranh đấu thì bạn sẽ là Atula đó. Đây đều là có nhân có quả, nhân quả bất khả tư nghì, nghiệp bất khả tư nghì. Nghiệp này, điều mà kinh điển thâm sâu nói đến chính là nghiệp. 

Tu Bồ Đề có được huệ nhãn, nói một câu rất đơn giản, con người chỉ có mắt thịt, nhìn thấy những thứ hữu hình là mắt thịt. Sư Mẫu có con mắt âm, bà ấy không chỉ có mắt thịt, bà ấy còn có mắt âm, bà ấy có thể nhìn thấy quỷ thần. Bà ấy còn có mắt âm, có một buổi tối, bà ấy nhìn Sư Tôn bảo: "Ấy, ông thay đổi rồi." Tôi nói: "Thay đổi cái gì?" Bà ấy nói: "Ông biến thành quái vật." Bà ấy nói tôi biến thành quái vật. Tôi nói: "Trên đầu mọc sừng sao?" Bà ấy bảo không có, bà ấy nói: "Trên mặt ông có năm con mắt." Năm con mắt à, trời ơi! Con người chúng ta chỉ có hai con mắt, bà ấy nhìn thấy tôi có năm con mắt: ở giữa một con mắt, bên này một mắt, bên dưới một mắt, năm con mắt thì biến thành quái vật rồi. 

Vì sao là năm con mắt? Rất đơn giản thôi, mắt thịt, thiên nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, Phật nhãn, là năm con mắt. Tôi nói: "Bà nhìn rất chuẩn, bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni gọi tôi đến Sắc cứu cánh thiên, ngài ấy trao giải thưởng cho tôi, tất cả Phật Bồ Tát đều nhìn thấy tôi, tất cả Phật và rất nhiều Bồ Tát ở đó nhìn thấy tôi. Phật Thích Ca Mâu Ni trao giải thưởng cho tôi, tôi giở từng lớp vải đỏ ra, bên trong có năm con mắt, năm con mắt ấy không ngờ lại bay lên trên mặt tôi, thế là tôi biến thành có năm con mắt. Hôm qua chúng vừa mới bay lên mặt tôi, hôm nay bà đã nhìn thấy trên mặt tôi có năm con mắt rồi." Chà! Thật đó, Sư Mẫu nhìn thấy trên mặt tôi có năm con mắt, bà ấy lợi hại ghê, bà ấy nhìn được năm con mắt của tôi. 

Tu Bồ Đề từ sớm đã có được huệ nhãn. Bạn thấy không, từ lâu đã có được huệ nhãn rồi, nhưng chưa bao giờ thấy qua kinh điển như vậy, ngài ấy chưa từng thấy qua kinh điển giống như kinh Kim Cang, chưa từng nghe bao giờ. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni nói kinh Kim Cang, rất nhiều đệ tử có mặt ở đó đều nghe được, nghe kinh Kim Cang có thể tin và hiểu, và có thể biết được, trọng điểm này là đây, nghiệp gì cũng không làm. Vô ngã tướng, vì đã vô ngã rồi, bạn còn làm thiện nghiệp, ác nghiệp gì? Bạn làm thiện nghiệp cũng là vô ngã mà làm. 

Không mong cầu thiện quả, đây gọi là vô vi, cái này chính là vô vi. Chúng ta làm thiện nghiệp, giống như Sư Tôn giảng kinh thuyết pháp cũng là vô vi, tôi giảng xong, tôi cũng không hề yêu cầu gì mọi người mà nói rằng: "Mọi người đều phải y theo kinh điển tôi giảng như vậy mà làm, tôi hi vọng như vậy." Tôi thường nói một câu: "Không có hi vọng thì sẽ không có thất vọng." Căn bản là nếu tôi không mong trúng xổ số thì tôi sẽ không thất vọng. Bởi vì bạn không kì vọng, cứ vô vi mà làm chính là như thế: tôi không nghĩ sẽ được cái gì, nhưng tôi vẫn cứ làm. Đây chính là pháp vô vi, vô ngã tướng chính là hiểu về pháp vô vi.

Không có nhân thiện, không có nhân ác, cho nên Lục Tổ Huệ Năng nói một câu rất đơn giản: "Không nghĩ thiện không nghĩ ác." Chính vào lúc này, không nghĩ thiện không nghĩ ác: bạn không nghĩ về cái thiện —"Việc tôi làm là thiện." Không nghĩ ác, ngay cả việc ác cũng không nghĩ đến, cái thiện, không nghĩ đến, là nói về nghiệp đó. Lục Tổ Huệ Năng nói không nghĩ thiện không nghĩ ác, ai nghe hiểu được thì hiểu.

Bạn không tạo nghiệp, trên mặt trăng tạo nghiệp gì? Trên mặt trăng cũng không có thiện, cũng không có ác, tạo nghiệp gì chứ? Ở đó vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tôi lấy ví dụ này là rõ ràng nhất rồi. Trên mặt trăng vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, nghiệp là cái gì? Trên mặt trăng có nghiệp gì? Không có. Bạn có học được như thế này không: vô thiện vô ác, không có thiện, ác nghiệp. Nếu bạn không có điều này, điều mà kinh điển thâm sâu nói, thì bạn sẽ là Tu Bồ Đề có được rất nhiều trí huệ. 

Thế nào là con mắt thịt? (Chúng ta nói Tu Bồ Đề có được huệ nhãn.) Mắt thịt, chính là mắt nhìn thấy những thứ có hình tượng, thì là mắt thịt. Cái gì là thiên nhãn đây? Nhìn được xa, có thể nhìn được chư Thiên, nhìn được Dục giới thiên, nhìn được Sắc giới thiên, nhìn được Vô sắc giới thiên, thì đây chính là thiên nhãn, nhìn được thần, nhìn được trời, nhìn được người trời, đây chính là thiên nhãn. Cái gì là pháp nhãn đây? Bạn hiểu Phật pháp, tất cả mọi pháp bạn đều hiểu rõ ràng, có thể hiểu thấu, thì đó là pháp nhãn. Còn huệ nhãn là cái gì? Tất cả trí (tất cả trí huệ) bạn đều hiểu được, tất cả trí huệ bạn đều thông suốt toàn bộ. Thế nào là Phật nhãn? Hiểu rõ những điều thâm sâu mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, cái đó chính là Phật nhãn, đã bao gồm ngũ trí - pháp giới thể tính trí, thành sở tác trí, đại viên kính trí, diệu quan sát trí, bình đẳng tính trí. Tất cả mọi trí huệ bạn đều hiểu, bao gồm cả những điều trong kinh Kim Cang… vua của các kinh, vua của mọi kinh mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói, đó chính là Phật nhãn, hơn nữa bạn còn phải thực tiễn được!

Tâm của bạn có thể trống rỗng không có gì như mặt trăng không? Đó chính là tịch diệt đó, tịch diệt cái gì? Tịch diệt mọi nghiệp. Sinh tử, không còn sinh tử. Cho nên Thánh Nghiêm Pháp sư có bài kệ, mấy chữ cuối cùng là "sinh tử đều bỏ được", bài kệ "sinh tử đều bỏ được" (câu cuối cùng đó), tôi sẽ nói về câu đó: câu đó cho thấy ông ấy vẫn còn có sinh tử để mà đem ra vứt bỏ đi, thế thì không đúng rồi!

Bạn là người hiểu kinh Kim Cang thì sẽ biết, không có sinh tử để mà vứt bỏ, không có sinh tử có thể đem vứt bỏ. Bạn vẫn còn có sinh tử để mà vứt bỏ, có thể thấy bạn vẫn là người thôi! Bạn có ngã tướng thì mới có sinh tử, nếu bạn hiểu được kinh Kim Cang thì "không có sinh tử để mà bỏ", tôi đã sửa câu này rồi. Bài kệ kia được ông ấy viết bốn năm trước khi qua đời, chuẩn bị bài kệ đó, đợi đến bốn năm sau thì lấy ra để cho thế nhân đọc, kết quả là vẫn có khuyết điểm: sinh tử đều bỏ được, cho thấy ông vẫn còn có sinh tử để mà bỏ, điều đó thể hiện rằng ông vẫn còn có ngã tướng.

Nếu tôi viết kệ, tôi chỉ có ba chữ: "không can hệ". Thế nào gọi là không can hệ? Cái gì cũng không liên quan gì đến tôi, không có can hệ, thì tất cả đều không có, thì sẽ là mặt trăng đó, ngay đến con người cũng không có, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Không can hệ, tôi và chúng sinh không có liên quan gì cả. Tôi và "ngã" không có quan hệ, tôi và "nhân" không có quan hệ, tôi và "chúng sinh" không có quan hệ, tôi và "trường thọ, đoản thọ" đều chẳng có quan hệ gì.

Cái này chính là ngũ nhãn. Tu Bồ Đề có được huệ nhãn nhưng lại chưa từng thấy qua kinh điển này, bạn thấy không, lần này ngài ấy mới nghe được. "Con từ xưa tới nay chưa từng nghe thấy kinh như vậy." Ngài ấy đã có được huệ nhãn rồi mà còn chưa biết đến kinh điển này, cho nên kinh Kim Cang này là kinh điển phá hủy tất cả (tôi từng nói rồi mà). Om mani padme hum.

*(Ngày 05/12/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 39.)*

### 40. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (3)

*(Bài giảng 40)* Tín tâm thanh tịnh

Hôm nay tôi giảng một điểm quan trọng trong đoạn này.

*Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt mà bạch Phật rằng:  
"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy. Thế Tôn! Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất…"*

Tu Bồ Đề nói, *"Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất".* Phần lớn những người giảng kinh chúng ta thì với câu nói này chẳng có cái gì để mà giảng, vì sao thế? Nếu có người nghe được kinh này, người ấy sinh ra lòng tin, hơn nữa lòng tin này lại vô cùng thanh tịnh, người ấy sẽ sinh ra thực tướng. Người ấy sẽ thật sự hiểu được thế nào gọi là thực tướng, cái tướng thực tại. Nên biết rằng người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất. Phần lớn con người đều như thế này: mấy câu nói đơn giản, chẳng khác gì lời nói suông, cũng không cần phải giải thích. 

Nhưng bạn cần chú ý nhé! *"Tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng"*, chú ý bốn chữ này "tín tâm thanh tịnh". Rất nhiều người đều cho rằng họ có tin Phật, "tôi rất sùng đạo", cái ấy chính là tín tâm thanh tịnh, nghĩa là tin hoàn toàn, hoàn toàn tín ngưỡng Phật giáo, hoặc là có thể nói "tôi thuần tín". Thế nào gọi là thuần tín? Một chút hoài nghi cũng không có, như thế là rất thuần. Giống như chúng ta có *gold* (vàng) 999, chúng ta gọi đó là vàng ròng, không phải là mạ vàng. Mạ vàng chỉ là mặt ngoài, thật phải là vàng ròng 999. Chỉ còn thiếu một chút xíu thôi, thế là vô cùng thuần rồi, thuần hết mức có thể!

Cái đó có phải là tín tâm thanh tịnh không? Đương nhiên tôi tin, tôi tin tưởng Bổn tôn Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát của mình. Bởi vì rất thuần, nên chuyện gì tôi cũng đều nói với ngài, không có giấu diếm, nhưng chúng ta không thể nào vì như vậy mà sinh thực tướng, không thể nào, tín tâm ở đây không phải nói về cái lòng tin vào tín ngưỡng đó đâu! Hai chữ "thanh tịnh" rất quan trọng, cái đó mới là thực tiễn.

Tín tâm là phải dùng thực tiễn! Thực tiễn cái tín tâm của bạn mới gọi là thanh tịnh! Không phải là tín ngưỡng biểu hiện bề ngoài! Thật đó, cho nên mọi người cho rằng "tín tâm thanh tịnh thì tôi sẽ sinh thực tướng", không phải. Tín tâm thanh tịnh là cần bạn phải đi thực tiễn nó! Thực tiễn cái gì? Thực tiễn cái vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đó mới là thuần thật sự. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng mới gọi là thuần!

Lúc này mới gọi là làm gì? "Thụ cùng tam tế, hoành biến thập phương." Đây là thuật ngữ của Phật giáo, "thụ cùng tam tế" là quá khứ, hiện tại, vị lai trở thành nhất quán. "Hoành biến thập phương" là phía trên, phía dưới, tám phương, rộng lớn không giới hạn. Cái này mới gọi là tín tâm thanh tịnh. "Thụ cùng tam tế" đại diện cho cái gì? Thời gian, đại diện rằng thời gian đều thanh tịnh, đại diện cho đời quá khứ của bạn là thanh tịnh, đời hiện tại cũng là thanh tịnh, đời tương lai cũng là thanh tịnh. Sau đó lại còn "hoành biến thập phương", phía trên cũng thanh tịnh, phía dưới cũng thanh tịnh, tám phương toàn bộ không gian, "hoành biến thập phương" chính là toàn bộ không gian đều thanh tịnh.

Tôi cũng lấy một ví dụ, tôi thường xuyên lấy ví dụ này: mặt trăng không có con người, cả mặt đất rộng lớn không có sinh vật… rốt cục có sinh vật không? Khoa học hiện nay nói thế, tôi cho rằng, nếu coi mặt trăng là hoàn toàn không có sinh vật, trên mặt trăng một con người cũng không có. Thời gian đối với mặt trăng mà nói có ích gì, có hại gì? Không có, không ảnh hưởng, đúng thế không? Thời gian không có ảnh hưởng gì, không gian cũng không có ảnh hưởng gì. Lư Sư Tôn nói, trên mặt trăng là đại địa chủ, mảnh đất kia là của Lư Sư Tôn… cũng chẳng có tác dụng gì, bởi vì không gian không có giá trị gì cả.

Đất trên mặt trăng có đáng giá không? Có lẽ tương lai có thể có. Chỉ cần con người lên mặt trăng, ở trên mặt trăng dựng lên một đại khách sạn Hilton, bạn hãy ở bên đó đợi đi, đợi những con tàu vũ trụ đến để ở trong đại khách sạn Hilton của bạn, kiếm US Dollar (đô la Mĩ). Bạn ở đó cầm US Dollar (đô la Mĩ), chẳng phải là không khác gì giấy sao? Đám giấy đó ở trên mặt trăng có tác dụng gì không? Trên trái đất mới có tác dụng. Cho dù đến mặt trăng để ở khách sạn Hilton, đòi trả bằng vàng, bạn muốn vàng thì cũng có tác dụng gì? Trên mặt trăng có công dụng gì không? Cũng vô dụng. Cái này mới gọi là tín tâm thanh tịnh đó.

Mọi người dùng đầu óc mà suy nghĩ một chút xem: tâm bạn như hư không, tâm bạn rộng lớn giống như không gian, trong tim bạn giống như mặt trăng vậy, không có cái gì gọi là thiện, không có cái gì gọi là ác, đối với bạn mà nói thì chẳng có gì. Cũng không có cái tôi này, cũng không có chúng sinh, cũng không có thời gian, cũng không có không gian, mức độ thuần này gọi là đệ nhất, đây mới gọi là tín tâm thanh tịnh, lúc này mới sinh ra thực tướng. Rất nhiều người giảng kinh Kim Cang tuyệt đối không nói đến điểm này, tôi nói để bạn biết như thế. Không có ai nói đến điểm này đâu. 

Vì sao Khổng Tử phải đi hỏi đạo ở chỗ Lão Tử? Khổng Tử là Thánh nhân, vì sao phải đi hỏi Lão Tử chứ? Hỏi Lão Tử giảng đạo cho ông ấy… giảng cho Khổng Tử nghe đạo này, đó là giảng đạo gì? Lão Tử giảng cho Khổng Tử nghe, Khổng Tử là Thánh nhân Trung Quốc, cũng đã rất vĩ đại rồi, thế mà Lão Tử giảng đạo cho Khổng Tử nghe, ngài ấy giảng cái gì? Đó là hai chữ "chí hư". "Chí" tức là đạt tới. "Hư", là hoàn toàn tịnh không.

"Chí hư" là cái gì? "Chí hư" mới là đạo. Điều này rất sâu sắc nhỉ? Lão Tử nói với Khổng Tử, "chí hư" mới là đạo. Anh đến hỏi ta cái gì là đạo. Ta nói với anh: "Chí hư" mới là đạo! "Chí hư" mới là thực, thực trong thực tướng! Trong kinh Kim Cang nói: *"Tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng."* Chính là nói đến điều này. Không có ai giảng kinh Kim Cang mà biết nói điều này đâu. Đại bộ phận chỉ nói "tín tâm thanh tịnh rồi thì thực tướng của bạn sẽ xuất hiện…" Lấy đâu ra mà đơn giản thế? Nếu đơn giản như thế, Khổng Tử không cần đi hỏi Lão Tử. "Chí hư" mới sinh thực tướng, "chí hư" mới là thực đó! Cho nên câu tiếp theo: thực tướng chính là phi tướng, câu nói này mọi người có hiểu không? Thực tướng chính là chí hư, nghĩa là không có tướng!

Thực tướng là không có tướng! Cho nên Như Lai mới nói tên là thực tướng, mới gọi là thực tướng. Nói như thế bạn mới có thể hiểu được, bằng không bạn sẽ không hiểu. Vì sao thực tướng là phi tướng, phi tướng mới là thực tướng? Lão Tử đã nói rồi: "Chí hư" chính là thực, "tất cả đều không có" mới là thực tướng. Cho nên, hôm nay tôi đã giảng cho mọi người về "tín tâm thanh tịnh", bốn chữ này không phải là dễ giải thích đâu. Hôm nay chỉ có Lư Sư Tôn mới có thể giảng được thôi.

Mọi người đều biết Khổng Tử hỏi đạo ở chỗ Lão Tử, đều biết Khổng Tử đi thỉnh giáo Lão Tử đạo này. Lão Tử rốt cục đã nói với Khổng Tử điều gì? "Chí hư." Chính là điều mà kinh Kim Cang nói đến: phi tướng mới là thực tướng, cũng có nghĩa là thực tướng chính là phi tướng, từ đó mới có thể nói đoạn tiếp theo là *"Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thực tướng."*

Nói như vậy mọi người hiểu chứ? Cho nên giảng kinh Kim Cang, phải giảng được cái điểm quan trọng nhất này. Bạn không nói ra được thì còn giảng kinh Kim Cang gì chứ? Đó là kinh điển bất hoại đó! Chí hư sao có thể hoại được? Phi tướng sao có thể hoại được? Đó là bất hoại! Không có thời gian, không có không gian, sao có thể hoại được chứ? Phải đạt đến cảnh giới này mới là Phật đó! Thiếu một chút đều không được.

Hôm nay chỉ có Lư Sư Tôn hiểu được đạo lí này. Bạn đi xem người ta giảng kinh Kim Cang… rất nhiều người giảng kinh Kim Cang, tôi không lừa bạn đâu, rất nhiều pháp sư đều giảng kinh Kim Cang. Họ đều không nghĩ đến tín tâm thanh tịnh. Tôi giảng như thế này, bạn lập tức sẽ biết được: thực tướng chính là phi tướng, phi tướng cũng chính là thực tướng. Bạn lập tức có thể nhanh chóng hiểu được. Tôi không giải thích như vậy, không ai có thể biết được. Bề ngoài bạn nói lướt qua nó một cái rồi đi, cái mà bạn giảng đó không phải là kinh Kim Cang, đó là "kinh hữu hoại", kinh sẽ hư hoại! Cho nên kinh Kim Cang mà Lư Sư Tôn giảng là kinh bất hoại, nó sẽ không thể hư hoại. Om mani padme hum.

*(Ngày 11/12/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 40.)*

**(Hết tập 2)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-3.md
# Title: Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 3
---

![image](/img/img_ff730f3c3a29aa0c7697a25b64a1bd6b.png)

## Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 3

(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Kim Cang)

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">710</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">12/12/2021</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Cầu Vồng Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### 41. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (4)

*(Bài giảng 41)* Tin hiểu thọ trì

Hôm qua chúng ta giảng: *"Thế Tôn! Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất. Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thực tướng."* Chúng ta đã giảng đến chỗ này rồi, hơn nữa Sư Tôn còn giảng cực kì rõ ràng, cần hiểu rằng thực tướng chính là phi tướng, bởi vì phi tướng cho nên là thực tướng. Điều này mọi người đều hiểu rồi.

*"Thưa Thế Tôn! Nay con nghe được kinh điển này, tin hiểu thọ trì cũng không khó gì. Nhưng nếu đời sau, năm trăm năm sau, có chúng sinh nghe được kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có. Là vì sao? Vì người này vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế rồi thì sao? Ngã tướng tức chẳng phải tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng."*

Chúng ta không cần phải giảng nhiều như vậy, chỉ giảng cái này: *"Thưa Thế Tôn! Nay con nghe được kinh điển này, tin hiểu thọ trì cũng không khó gì."* Đây là Tu Bồ Đề nói, ngài ấy có thể tin, có thể hiểu, cũng có thể thọ trì, đối với Tu Bồ Đề mà nói thì không phải là một chuyện khó khăn, hoàn toàn không phải là việc rất khó. *"Nhưng nếu đời sau, năm trăm năm sau,"* (sau 500 năm nữa), *"có chúng sinh nghe được kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có."* Nói về đoạn này, chúng ta giảng về đoạn *"bậc nhất hiếm có"*, giảng về *"bậc nhất hiếm có"* ở đây. Câu về tin hiểu thọ trì này, tôi đã giảng về tín tâm thanh tịnh rồi. Tin, nghĩa là tôi tin tưởng kinh Kim Cang, tôi tin tưởng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Hiểu, bạn có thể biết bây giờ cái tướng "ngã" này là vô ngã. Bạn có thể hiểu, giải thích chính bạn, tôi là vô ngã, thì như thế là hiểu.

Bởi vì thân thể chúng ta là tứ đại giả hợp, cũng không có hình tướng cố định. Tôi từng giảng rồi, lúc Sư Tôn còn trẻ thì rất điển trai đó! Tôi có rất nhiều bạn gái, thật đó. Lúc tôi sống ở hợp tác Thôn Mới ở Đài Trung, có người bạn gái kia ngồi trong nhà tôi không chịu về, bố tôi, mẹ tôi đều muốn đi ngủ rồi, tôi cũng muốn đi ngủ, mà cô ấy không về, cô ấy cứ ngồi mãi trong phòng khách nhà tôi. Tôi muốn đi ngủ rồi mà cô ấy vẫn chưa về, cô ấy cứ ngồi ở đó… tôi biết tên của cô ấy, nhưng không tiện nói ra. Mà tôi cũng không biết bây giờ cô ấy còn sống không nữa. Nên nói ra chắc là không sao đâu nhỉ? Tôi gọi cô ấy là Giang Hà. Giang Hà, cô ấy cứ ngồi trong phòng khách nhà tôi không về, khi ấy trông tôi rất điển trai, cô ấy cứ không về là không về, tôi phải tiễn cô ấy về tận nhà sau đó tôi tự đi về nhà mình thì cô ấy mới chịu đi.

Đó là lúc tôi còn trẻ, cái tướng ấy khiến người ta chết mê chết mệt! Tôi tự thấy cũng đúng! Đúng là tôi trông cũng rất bảnh! Khi ấy tôi không cảm thấy gì, là như thế đấy. Còn bây giờ thì sao? Bạn xem tướng của tôi bây giờ đã khác rồi, ngày xưa, bây giờ, còn có cái lúc tôi vừa mới chào đời chưa mặc quần áo nữa, lúc còn chưa mặc quần áo cũng có chụp một tấm ảnh. Đó căn bản đều là một thứ do tứ đại giả hợp thôi! Đều sẽ biến hóa, đều sẽ thay đổi, mỗi một thời điểm đều sẽ thay đổi: *baby* (em bé) mới chào đời, lúc học tiểu học, lúc học cấp hai, lúc học cấp ba, lúc học đại học, lúc ra đời đi làm, lúc lập gia đình, sau đó bước vào tuổi trung niên, rồi cuối cùng là tuổi già, bây giờ tôi 77 tuổi rồi, là như thế đó. Mỗi thời điểm đều khác nhau, bất kì thời gian nào cũng đều khác nhau, điều này chính là đại diện cho vô ngã.

Đến một ngày tôi sẽ biến thành tro tàn, sau đó được đưa đến Song Liên Cảnh Giới. Tôi ở đâu? Căn bản là tôi đang biến hóa, biến hóa trong sự vô thường, cái tôi thật sự là ai? Làm gì có! Ba chữ Lư Thắng Ngạn này cũng là tên giả. Tôi từng nói rồi, đó là vô ngã tướng, bạn nhận thức được "ngã" là "vô ngã" rồi, cần phải hiểu được điều này, sau khi tin rồi thì phải hiểu được. Tiếp theo là phải tiếp nhận vô ngã tướng, vô nhân tướng, bởi vì khi bạn không còn có cái suy nghĩ "tôi là như thế này, tất cả chúng sinh cũng đều là như thế này", thì đó là vô nhân tướng rồi. Vô chúng sinh tướng, rất đơn giản, cái gì là chúng sinh? Chính là không gian đó. Thứ nào là của bạn? Tôi nói để bạn biết, tôi đang sống, cũng không có ý định sống tiếp. Được thôi, tôi hỏi bạn: khi bạn chết, bạn đem theo được cái gì? Vô chúng sinh tướng mà!

Bạn nói: "Bây giờ tôi có bất động sản." Nhà cửa là của bạn sao? Không có. Đất đai là của bạn sao? Không có. Tôi nhìn những người giàu có, chà! Nước Mĩ có rất nhiều người giàu, người phát minh ra xe ô tô điện này, ông ấy cũng là một tỉ phú, gần đây ông ấy bán hết toàn bộ nhà cửa, biệt thự của ông ấy cũng đem bán hết, rồi đi ở trong một nhà chung cư. Tôi nói để bạn biết, nhà chung cư cũng không phải của ông ấy. Tôi nhìn những người có quyền lực rất lớn, ví dụ như Biden, hay chủ tịch nước Trung Quốc Đại Lục, như Đài Loan… đúng vậy! Họ có thể làm được bao lâu? Đều sẽ chỉ được vài năm, đều sẽ không được lâu.

Nhà cửa, đất đai đều không phải là của bạn, đó chính là vô chúng sinh tướng. Bạn có thể sống được bao lâu, đó chính là thọ giả tướng (thời gian). Tôi thử hỏi cậu Tenzin: *"How old are you?"* (Cậu bao nhiêu tuổi?) *Nineteen*, 19 tuổi. Mời ngồi! "100 năm sau cậu ở đâu?" Nói không chừng cậu có thể sống đến 119 tuổi đấy, nhưng đó cũng là điều rất khó, đúng thế không? Rất khó đó, rất khó. Đến lúc đó thì không còn nữa, cậu không còn nữa, chúng tôi đều không còn nữa, cho nên những người đang ngồi đây, có lẽ là trừ các em bé ra, thì hầu hết sẽ không còn sống nữa, sau 119 tuổi thì đều không còn nữa, cái ấy chính là thời gian, chính là vô thọ giả tướng.

Bạn có thể hiểu được bốn điều này — không có bạn, không có người khác, không có thời gian, không có không gian, bạn có thể hiểu, thì đây gọi là tin và hiểu. Thọ, là sau khi bạn biết được điều này rồi, bạn có thể tiếp nhận. Trên thực tế là bạn không tiếp nhận không được, như tôi vừa nói, tôi đang sống cũng không dự tính được là sống tiếp, bạn cần phải chấp nhận thực tế này, bạn tiếp nhận rồi, bạn "trì" (duy trì), nghĩa là bạn đã tiếp nhận rồi, sau khi tiếp nhận rồi thì bạn theo đó mà tu trì, tu trì cái gì? Tâm của bạn vẫn còn chưa bình tịnh đúng không? Bạn vẫn còn đố kị đúng không? Bạn đố kị ai? Đố kị những người có tiền sao?

Bill Gates đến một nơi nọ, người ta vô duyên vô cớ cầm bánh *gateaux* ném "bộp" vào mặt ông ấy, thế là cả mặt dính đầy bánh kem. Vì sao vậy? Bởi vì đối phương nói một câu: "Tao ghét người có tiền." "Tao ghét người có tiền", đó chính là ghen tuông và đố kị. Bạn cần biết rằng, người có tiền và chúng ta là giống nhau, bạn cũng cần biết, những người ở địa vị cao cũng giống như chúng ta thôi, họ ở đó cũng chẳng có gì là tốt đẹp hơn. Người có tiền cũng không hẳn là tốt hơn nhiều, cũng giống như chúng ta thôi. Tâm lí của bạn vô cùng tĩnh lặng, tâm lí giống như nước đứng yên, bạn có thể thiền định. Bạn có trí huệ này, bạn có thể thiền định, cái này gọi là tin hiểu thọ trì. 

Người có tiền, người xinh đẹp, bạn rất ghen tị họ: "Choa, cái người kia thật sự xinh đẹp quá!" Sư Tôn vẽ Đại Cát Tường Thiên, còn có Trường Thọ Ngũ Thiên Nữ, 12 Cát Tường Thiên, rồi còn có Sarasvati, ba thị nữ của Diêu Trì Kim Mẫu, những người con gái của Diêu Trì Kim Mẫu tôi đều vẽ rồi. Người nào cũng đẹp như Thiên Tiên, đó là cõi trời đó, những người ở cõi trời thì chúng ta không tính. Chúng ta ở thế giới Ta Bà, sắc, mọi người hãy nhớ một câu "người già ngọc ố", người hay ngọc đều biến đổi, đều là vô thường, đều đang biến động trong vô thường. Tiền, bạn có thể rất điềm nhiên trước tiền, thì sẽ không tham lam. Sắc, bạn cũng rất điềm nhiên trước sắc, thì sẽ không tham lam. Tham, sân, si, nghi, mạn, tất cả những thứ không tốt, bạn đều đã hiểu thấu hết, như thế tức là "thọ". 

Tâm linh của bạn vô cùng an bình, không có phiền não. Có cái gì đáng để phiền não chứ? Vui vẻ chẳng qua cũng là nhất thời, đau khổ cũng là nhất thời. Đương nhiên đời người là khổ, không sai, khổ sinh lão bệnh tử, những chuyện đau khổ quá nhiều, chuyện vui thì rất ít, đời người là như thế, cho nên ngày xưa khi Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp đều luôn nói một câu, bắt đầu bài giảng bằng câu "đời người là khổ". Phật Thích Ca Mâu Ni cũng vì nhìn thấy mọi cái khổ bên ngoài cho nên mới nhanh chóng xuất gia, 25 tuổi Phật đã xuất gia rồi. Năm 19 tuổi Phật cũng kết hôn, đến 25 tuổi thì xuất gia. Phật Thích Ca Mâu Ni vì du lịch bên ngoài bốn bức tường thành, ngài nhìn thấy sinh lão bệnh tử ở khắp nơi, cho nên ngài liền xuất gia. Đây chính là "thọ". 

Còn "trì" thì sao? Bạn căn cứ theo vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng của mình mà tâm linh bình tịnh thiền định. Làm theo phương pháp của Mật giáo để mở ra năm luân xa là đến được Bồ Tát thập địa, mở ra được đỉnh kế nữa là địa thứ mười hai rưỡi rồi. Mở ra lỗ đỉnh đầu, đỉnh luân, mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, mật luân, thì bạn đạt đến địa thứ mười hai, đến khi sinh ra đỉnh kế thì là địa thứ mười hai rưỡi, địa thứ mười ba thì là Phật. Trong Đạo Quả có nói đến rồi, đây chính là "trì", tất cả đều thanh tịnh hết.

Tôi nói để bạn biết, vừa nãy tôi nói một câu rất thù thắng: "Phá hủy tất cả thanh tịnh." Lúc hồi hướng tôi nói phá hủy tất cả thanh tịnh. "Sư Tôn, câu nói này có phải là bị nói nhầm không? Phá hủy tất cả thanh tịnh ư?" Không, tôi không nói nhầm đâu. Ngay cả đến cái từ thanh tịnh này tôi cũng phá hủy luôn, bởi vì căn bản là không có cái gọi là thanh tịnh. Như vậy là sao đây? Chẳng phải thầy bảo chúng tôi tu thanh tịnh sao, vì sao ngay cả thanh tịnh cũng phá hủy? Thanh tịnh chỉ là một từ thôi, bạn có thể duy trì vững vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bên trong không có thanh tịnh, bên trong là trống rỗng, cái gì cũng không có, đó là cảnh giới cao nhất đó!

Lục Tổ Huệ Năng nói: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính vào lúc ấy." Khi ấy tôi rất hoài nghi về câu nói "không nghĩ thiện không nghĩ ác" này của Lục Tổ. Tôi nói: "Lẽ nào ngài nói chúng ta không cần làm việc thiện sao?" Không nghĩ thiện, câu này sai rồi, khi xưa tôi cho rằng Lục Tổ nói sai rồi. Không nghĩ ác thì được, bạn không được nghĩ đến chuyện làm điều xấu. Không nghĩ ác, được, nhưng nhất định phải nghĩ thiện, làm sao lại không nghĩ thiện chứ? Ngay cả thiện cũng không nghĩ, vì sao vậy?

Giờ đây khi tôi đã đọc kinh Kim Cang, tôi đã biết, đã hiểu, bởi vì trên mặt trăng, tôi hỏi bạn, cái gì là thiện, cái gì là ác. Trên mặt trăng cái gì là thiện cái gì là ác đây? Không có thiện, không có ác, nơi nào có con người thì mới có thiện ác. Hôm nay chúng ta làm việc thiện, giống như Hội Công Đức Hoa Quang, Sheng Yen Lu Foundation - Tổ chức từ thiện Lư Thắng Ngạn đang làm việc thiện, nhưng không có suy nghĩ về thiện, đây gọi là không nghĩ thiện. Tôi đi làm việc thiện, làm bố thí, nhưng tôi chưa bao giờ để cái việc bố thí ấy ở trong đầu, làm xong là thôi, làm xong là xong, chưa bao giờ để trong tâm. Cái này chính là, nói một cách đơn giản, là không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy. Vô sở trụ: tôi không bám trụ vào cái gì, tôi làm việc này, tôi không vì cái gì đó mà làm, đó là pháp vô vi. Bạn có thể làm pháp vô vi, việc ác đương nhiên không thể làm, việc ác không thể nghĩ cũng không thể làm, việc thiện cũng không cần phải nghĩ nhiều, nhưng cần phải làm, bạn làm xong thì là xong, không phải vì cái gì đó thì mới làm, cái này chính là không nghĩ thiện không nghĩ ác.

Thế nên hôm nay tôi nói phá hủy tất cả thanh tịnh, nghĩa là hãy xem những việc thiện bạn từng làm như là không có, phá hủy hết, bạn đã làm rất nhiều việc thiện rồi, nhưng bạn đều hủy bỏ hết những việc đó, nghĩa là phá hủy tất cả thanh tịnh. Không phải tôi nói nhầm đâu, mọi người ở dưới nghĩ rằng: "Làm sao mà tất cả thanh tịnh đều phá hủy hết?" Không sai! Bởi vì chỉ cần bạn có thể làm được vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, thì bạn hoàn toàn đạt được đến tính Không của Như Lai rồi. Cái này là gì, chính là "trì". Nhưng mà cái "trì" này rất là không dễ dàng, tiếp nhận thực tế này, và duy trì làm nó là vô cùng khó. Tin hiểu thọ trì, cái "trì" này không dễ, bạn có thể duy trì được, bạn không có phiền não, được cũng được, mất cũng được, hôm nay như thế này cũng được, ngày mai như thế kia cũng được, ngày nào cũng tốt. Tôi đã viết mấy chữ: "Tất cả đều là sự an bài hoàn hảo nhất."

Tất cả đều là sự an bài hoàn hảo nhất, hôm nay bạn bị đột quỵ phải vào bệnh viện, cũng là sự an bài tốt đẹp. Hôm nay trên người có khối u, mắc ung thư cũng là sự an bài đẹp đẽ nhất, để bạn hưởng thụ cái khổ của đời người, để bạn càng thấy rõ được cái thân thể này không phải là của bạn. "Tôi không hề muốn tôi mọc khối u, mắc ung thư đâu, tôi không hề muốn nó đến, nó tự đến đó chứ." Thân thể là của bạn sao? Nếu như thân thể là của bạn thì sẽ phải để cho chính bạn tự chủ, bạn không thể làm chủ được thân thể của bạn mà. Ung thư này nói đến là đến, đi kiểm tra, mắc rồi, phải phẫu thuật, bạn than thở: "Lại còn phải hóa trị, đau khổ làm sao!" Nhưng bạn phải nghĩ như thế này: thân thể chỉ là để cho bạn cư trú tạm thời thôi, nó là cái nhà của bạn. Đừng cho rằng bạn xinh đẹp, bỗng nhiên mắc ung thư, hóa trị xong, trông bạn cứ như đã già đi 50 năm, cứ thế hóa trị tiếp, ôi! Đúng là, đó là đau khổ đó.

Tôi thường xuyên thương xót con người ở nhân gian này mà khóc, tối hôm qua tôi cũng khóc một trận, vì con người thế gian, vì những người phải hóa trị, vì tế bào ung thư đã lan ra khắp người mà qua đời rồi. Tối hôm qua tôi cũng khóc, khóc vì chúng sinh. Đời người rất khổ, cho nên bạn phải biết, tất cả mọi thứ trên đời thật sự là vô thường, cho nên mọi người phải tin, hiểu, thọ, trì, bốn chữ này. Đừng vì cái chuyện bé xíu này mà cứ ở đó nói đi nói lại, nhai đi nhai lại như thế chứ, thật nhàm chán, nhàm chán quá, chẳng có gì hay cả!

Trong tâm bạn cũng đừng có phiền não, cũng đừng buồn phiền. Khổ, hãy nhẫn nhục chịu đựng; đau, nhẫn nhục chịu đựng, bất kể gặp phải hoàn cảnh nào bạn cũng nhẫn nhục chịu đựng. Bạn có thể tiếp nhận, bởi vì bạn biết rằng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nếu bạn hiểu được điều này, bạn sẽ không ước ao được như người có tiền, cũng không hâm mộ những người có địa vị rất cao, cũng không thèm muốn được như những người xinh đẹp, như người đẹp trai anh tuấn, đều không cần phải ước ao. Trong lòng bạn rất an bình, hễ nhập định là lập tức tiến vào thiền định, vừa nằm xuống ngủ là ngủ lập tức. Việc khổ gì rơi vào đầu bạn cũng hóa thành không, tất cả đều là sự an bài tốt đẹp nhất.

Tất cả đều là sự an bài hoàn mĩ nhất. Một cụ bà trước lúc lâm chung gọi con cái đến bên giường, lấy ra một tờ giấy ghi nợ hai trăm nghìn đô, nói với các con: "Giấy ghi nợ hai trăm nghìn đô này, là do mẹ mượn ở chỗ cậu của các con, mẹ đi rồi, các con phải trả." Con trai nghe xong liền rối cả lên: "Con không có tiền, con không trả." Con gái nghe xong thì khóc và nói: "Mẹ, mẹ hãy yên tâm, con không có tiền, nhưng con sẽ trả, con kiếm không được nhiều tiền, con sẽ từ từ trả." Làm tang sự xong, con gái cầm tờ giấy ghi nợ đến nhà người cậu để thương lượng chuyện trả nợ, người cậu nói: "Giấy ghi nợ này là giả đó, đây là tiền của mẹ cháu kiếm được để ở nhà cậu. Mẹ cháu dặn cậu, ai đem giấy nợ này đến trả nợ thì tiền sẽ trao cho người đó." Hãy nghĩ đến câu này: tất cả đều là sự an bài hoàn hảo nhất. Om mani padme hum.

*(Ngày 12/12/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 41.)*

### 42. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (5)

*(Bài giảng 42)* Bậc nhất hiếm có

Bây giờ tôi giảng kinh Kim Cang. Đây là Tu Bồ Đề nói:

*"Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thực tướng. Thưa Thế Tôn! Nay con nghe được kinh điển này, tin hiểu thọ trì cũng không khó gì. Nhưng nếu đời sau, năm trăm năm sau, có chúng sinh nghe được kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có. Là vì sao? Vì người này vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế rồi thì sao? Ngã tướng tức chẳng phải tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng. Là vì sao? Lìa bỏ tất cả mọi tướng thì gọi là chư Phật."*

Được rồi, hôm nay tôi đã giảng xong về tin hiểu thọ trì rồi. *"Thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có."* Bậc nhất hiếm có này ý nói rằng người mà vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng là bậc nhất hiếm có. Có thể tin hiểu thọ trì là người hiếm có bậc nhất. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh điển này, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, vì sao ngài lại là bậc nhất hiếm có? Bởi vì chưa từng có một vị giáo chủ nào nói như vậy. Phật Thích Ca Mâu Ni nói vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.

Trên thế giới này có rất nhiều tôn giáo. Vào thời Đế quốc La Mã, họ tin vào giáo hội của phương tây, tức là tòa thánh Rome bây giờ. Tòa thánh Rome thuộc giáo hội phương tây. Tại Đế quốc La Mã có giáo hội phương đông, giáo hội phương đông và giáo hội phương tây sau này càng ngày càng tách xa nhau. Giáo hội phương tây trở thành tòa thánh ngày nay, tòa thánh Vatican, có Giáo hoàng. Giáo hội phương đông chính là Đông Chính Giáo, Đông Chính Giáo thì ở Thổ Nhĩ Kì, địa điểm chính của nó là ở Thổ Nhĩ Kì và Hi Lạp. Tòa thánh Vatican là giáo hội phương tây, còn giáo hội phương đông thuộc về Đông Chính Giáo. Đây là hệ thống của Thiên Chúa giáo, cũng chính là Cựu Ước Thánh Kinh trong Kinh Thánh. Ngài ấy là một vị Thần, vị Thần này chính là Thiên Chúa, vị Chúa ở trên trời, đây là đạo một thần.

Thế còn đạo Cơ Đốc do chúa Jesus giáng thế, sau khi ngài đến ở Nassad và được rửa tội bởi John người rửa tội, cửa thiên đường của ngài đã mở ra. Theo những gì mà Tân Ước Thánh Kinh viết, đây là con trai của ta, đứa con mà ta yêu thương. John người rửa tội tại dòng sông kia đã dùng nước sông giúp rửa tội cho Jesus. Cổng thiên đường mở ra, Thánh linh giống như con chim bồ câu giáng lên người Jesus, thân thể của Jesus đã tỏa sáng. Ngài ấy bắt đầu hoằng dương phúc âm của mình, chúng ta gọi đó là phúc âm, vì thế chúng ta giảng Tân Ước Toàn Thư chính là Matthew, Mark, Luke, Johan, sách Công Vụ Tông Đồ. Bốn phúc âm chính là Matthew phúc âm, Mark, Luke, Johan, bốn sách phúc âm này và các sứ đồ trong sách Công Vụ Tông Đồ là những tông đồ hoằng dương Thánh giáo của Jesus sau này. 

Lúc Jesus 33 tuổi, ngài ấy đã đến Thánh địa Jerusalem, khi ấy còn dưới thời Đế quốc La Mã. Và do thế lực của Jesus rất mạnh, Đế quốc La Mã đã dùng một kẻ không tên tuổi (tội danh) đóng đinh ngài lên thập tự giá, vị thống đốc khi ấy của thành phố Jerusalem là Pilate, hắn đã phán xử đóng đinh Jesus lên thập tự giá, lúc Jesus chết mới có 33 tuổi. Ngài ấy cũng là một vị Thần, chính là hợp nhất của Thượng đế (cha), Jesus (con) và Thánh thần. Cha chính là Jehovah, Jesus và tất cả thiên sứ hợp lại. Ba hợp làm một, đây là tín ngưỡng một thần.

Tiếp theo nói đến Mohammed. Sau khi nhà tiên tri Moses dẫn người Hebrew vượt biển Đỏ, họ lang thang giữa những vùng hoang dã trong nhiều năm. Đến núi Sinai, Moses chỉ về vùng Canaan nói rằng đó là mảnh đất Thượng Đế ban cho các người, các người phải ở nơi đó, nơi đó bây giờ gọi là Palestine. Jerusalem trở thành Thánh địa của bốn tôn giáo: một là Thánh địa của người Do Thái, một là Thánh địa của Thiên Chúa giáo, một là Thánh địa của Cơ Đốc giáo, một là Thánh địa của Hồi giáo.

Thánh địa Hồi giáo có ba nơi: một là Mecca, Mecca và Jerusalem. Mohammed 63 tuổi thì qua đời. Lúc sinh ra ngài ấy vốn là người rất giàu có, sau đó gia đình sa sút, từ nhỏ ngài ấy đã giúp người ta việc chăn cừu. Sau đó bằng nỗ lực của chính mình, ngài đã cùng một người đàn bà góa lái lạc đà và trở thành người đứng đầu các thương nhân buôn bán lạc đà. Người vợ đầu tiên của Mohammed là một góa phụ. Cuối cùng, Mohammed theo đạo Hồi đã cưới tổng cộng 12 người vợ, thật là hâm mộ. 

Thế nên trong kinh Koran có nói đến một chồng nhiều vợ, một chồng lấy bốn bà vợ, đó là điều được phép, nhưng họ cũng chủ trương một vợ một chồng. Tôi đã đọc kinh Koran, đọc từ đầu tới cuối. Đó là vì ở giữa Mecca và Medina có một hang động, Mohammed đến hang động đó đã nhìn thấy thiên sứ Gabriel, thiên sứ ấy nói với ngài rằng: ngài là vị tiên tri cuối cùng, Moses cũng là nhà tiên tri, Jesus cũng là nhà tiên tri. Sau đó, đến ngài ấy là vị tiên tri cuối cùng. Chỉ thị của bề trên nói với ngài ấy rằng: đệ tử sau này sẽ biên tập nên cuốn kinh Koran, tôn giáo của Mohammed cũng là tôn giáo một thần.

Kết quả cuối cùng, ý nghĩa của Cơ Đốc giáo là như thế này. Khi Jesus lại đến, nếu như Jesus quay trở lại, linh hồn này sẽ cùng với thể xác đã được chôn cất kết hợp lại với nhau, như thế con người có thể hồi sinh, cùng với Jesus lên thiên đường. Điều này được ghi lại trong Lời Sấm Truyền. Thật ra đạo Hồi cũng giống như vậy. Khi ngày đó đến, linh hồn sẽ cùng với thể xác đã được chôn hợp lại với nhau, bạn tin theo đạo Hồi thì bạn cũng sẽ được thăng thiên.

Thế còn, ngày trước khi tôi còn đi học ở học viện Kinh Thánh, tôi biết Cơ Đốc giáo chính là một thiên đường một địa ngục. Thế còn Hồi giáo cũng là một thiên đường, họ gọi là Vườn địa dàng (khu vườn của cõi trời), cũng là một thiên đường một địa ngục giống như vậy. Giống hệt nhau. Sau khi đến nơi đó rồi, con người không thể trở thành Thượng đế, bởi vì Thượng đế là thần. Thượng đế là một vị thần, con người vĩnh viễn không thể nào thành được Thượng đế.

Phật giáo thì có điểm khác biệt. Trên thế giới này mấy tôn giáo, bạn so sánh với nhau. Ví dụ Do Thái giáo, Đông Chính giáo, Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, bạn xem những tôn giáo này đều là tôn giáo thờ một thần, với một thiên đường, một địa ngục. Kinh Kim Cang thì khác, vì sao nó lại là bậc nhất hiếm có? Bởi vì nó không phải là một thiên đường, cũng không phải là một địa ngục. Điều mà Phật nói là lục đạo luân hồi, lục đạo này đã rất khác biệt rồi: gồm Trời, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Có sự luân hồi trong sáu đạo, và trời cũng không phải chỉ có một trời. Có các cõi trời gọi là Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên, có tới ba cõi trời, không phải một trời. Các tôn giáo khác chỉ có một cõi trời, một Thượng đế, một Thần mà thôi. Một Thượng đế, một Allah, chính là Thượng Chủ, là Chúa Trời.

Cho nên đây chính là bậc nhất hiếm có rồi. Bởi vì chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni mới có thể nói rõ ràng đến vậy, đó đương nhiên là hiếm có bậc nhất. Hơn nữa không chỉ có thế, ngài ấy còn vượt lên cả trời, vượt quá cả trời, bạn ở trong cõi trời thì vẫn phải luân hồi, theo như lời Phật Thích Ca Mâu Ni giảng thì khi hưởng hết phúc báo ở trên trời rồi, bạn vẫn phải luân hồi. Đây là điều mà các tôn giáo khác không có, các tôn giáo khác chỉ lên đến trời là dừng lại. Đến địa ngục thì vĩnh viễn chịu hình phạt thiêu sống. Thật ra địa ngục của Hồi giáo, địa ngục của Cơ Đốc giáo, và địa ngục của Thiên Chúa giáo đều là hình phạt lửa thiêu, là giống nhau. Vậy không thể nào là một trời, một đất, một người, mà là một Thần, một vị Thần thôi, tôn giáo thờ một Thần, chỉ có một Thần.

Phật giáo thì khác, Phật giáo phá hủy tất cả, cái tinh thần vô ngã tướng này, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng này, thọ giả ở đây tức là đại diện cho thời gian, chúng sinh tướng đại diện cho không gian. Ngã - đại bộ phận con người đều cho rằng cái tôi này là trung tâm, thật ra các tôn giáo khác đều lấy cái tôi này làm trung tâm. Phật pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni thì khác, là phá bỏ toàn bộ cái tôi này. Trong kinh Kim Cang nói: vô ngã tướng, nghĩa là phá bỏ cả cái tôi này, phá bỏ hết cái tôi dục vọng này. 

Vậy đương nhiên, các tôn giáo khác trên thế giới đều là tôn giáo có cái tôi. Chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni là nói không còn cái ngã. Nếu nói là tôn giáo thì đó chính là tôn giáo. Nếu không phải là tôn giáo thì cơ bản cũng nói chẳng phải là tôn giáo. Tôn giáo cũng là một danh từ mà thôi. Vì đã vô ngã rồi, cái này chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến, không có cái tôi rồi thì sẽ không còn dục vọng nữa.

Nhưng các tôn giáo khác đều có cái tôi, có dục vọng. Chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni nói: không có cái tôi, không có dục vọng. Đây chính là bậc nhất hiếm có. Nếu như bạn không còn dục vọng, bạn tu đến khi hoàn toàn không còn dục vọng, thì bạn chính là Thánh nhân. Sao lại không phải là Thánh hiền? Bạn không có dục vọng, bởi vì có dục vọng mới biến thành nghiệp lực. Pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng đều hoàn toàn không còn dục vọng, cái tôi này không có nữa thì sẽ không có dục vọng.

Bạn thường xuyên nhớ rằng bạn là không, không có cái ta này, thế thì bạn sẽ không sản sinh ra dục vọng nữa. Vì đã không sản sinh dục vọng, tất cả hành vi của bạn sẽ hợp với chính nhân Thánh hiền của trời đất. Bởi vì dục vọng sản sinh nghiệp lực, người không có dục vọng sẽ không sản sinh nghiệp lực, căn bản không còn nghiệp lực, cũng có nghĩa là không có nhân sinh, không có nhân tử. Không có nhân sinh nghĩa là sống vĩnh viễn, nghĩa là niết bàn. Khác với sự bất tử của các tôn giáo khác, cho nên đây là bậc nhất hiếm có. Chỉ có Lư Sư Tôn mới có thể nói thế nào là bậc nhất hiếm có.

Phật giáo nói đến ngũ độc tham sân si nghi mạn, tài sắc danh thực thụy, đều là dục vọng, tất cả những điều này đều phải loại bỏ. Tài sắc danh thực thụy, cái này đều phải phá bỏ. Tham sân si nghi mạn, toàn bộ đều bị phá trừ. Nếu bạn có thể phá bỏ, dục vọng của bạn không còn nữa, thì nghiệp lực sẽ không còn, bạn sẽ tiến nhập niết bàn. Niết bàn mà Phật giáo nói đến chính là sống mãi, không có nhân sinh, không có nhân tử. Phật Thích Ca Mâu Ni nói được điều này là bậc nhất hiếm có.

Vì thế, tôi thường xuyên so sánh, lần nào cũng đều so sánh với mặt trăng, mặt trăng không có người, mà đã không có người thì cái gì là thiện đây? Cái gì là ác đây? Không có thiện ác. Không có con người thì lấy đâu ra thiện ác. Vậy ở trên mặt trăng, bạn còn tham cái gì chứ? Nếu một mình bạn ở trên mặt trăng, bạn tham cái gì? Tiền ư, bạn cũng sẽ chẳng tham. Sắc ư, bạn cũng sẽ chẳng tham. Danh ư, bạn cũng sẽ chẳng tham. Ăn, bạn cũng chẳng ham. Ngủ, bạn cũng chẳng ham. Cái gì cũng không có. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: cái gì cũng không có mới là thực tướng.

Hoàng đế Trung Quốc, tôi không nói đến hoàng đế bình thường - những hoàng đế lên ngôi làm hoàng đế. Tôi nói đến Hiên Viên Chi tổ tiên sớm nhất của người Trung Quốc, hoàng đế, hoàng đế Trung Quốc hỏi đạo ở chỗ của Quảng Thành Tử. Còn Thánh nhân Trung Quốc, Khổng Tử hỏi đạo ở chỗ của Lão Tử. Lão Tử và Quảng Thành Tử, đều nói một câu "chí hư". Anh hỏi đạo ở chỗ tôi, tôi nói với anh rằng "chí hư" chính là đạo, cái gì cũng không có chính là đạo. Vì bạn đã không còn cái gì cả thì đó là thanh tịnh một trăm phần trăm. Căn bản không có dục vọng, chính là Thánh hiền một trăm phần trăm.

Cho nên, kinh Kim Cang là bất hoại, cho nên nó là *diamond* (kim cương). Có một số người phương tây họ gọi đây là kinh Kim Cương, đắt nhất, bất hoại. Kinh Kim Cang là bất hoại, cái gì cũng không có thì làm gì mà bị hư hoại? Chính vì có nên mới sẽ bị hư hoại. Nếu bạn còn có bản ngã, cái tôi này sẽ già, sẽ chết, những nghiệp được sinh ra trong đó sẽ biến thành nguyên nhân khiến bạn luân hồi. Khi bạn tu đến vô ngã rồi, bạn bất hoại, bạn sẽ được sống mãi. Ý nghĩa ở đây chính là như vậy.

Theo những gì được nói trong kinh Phật: có dục vọng nhất định có nghiệp lực. Vì vậy, nguyên nhân tôi học Phật chính là ở đây. Bởi vì những điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói không giống với những tôn giáo thờ một Thần nói, hoàn toàn không giống.

Cho nên, "người ấy cũng là bậc nhất hiếm có". Cái sự hiếm có này, đương nhiên là hiếm có bậc nhất. Bởi vì Phật không còn gì cả, ngài không còn dục vọng. Và như thế, Thần Tiên không còn dục vọng thọ cùng trời đất, sống thọ cùng với trời đất. Vì sao linh hồn cứ phải bám vào cái nhục thể này, phải hợp với cái nhục thể này mới có thể thăng thiên? Linh hồn trực tiếp thăng thiên là được rồi mà? Sự hoài nghi của tôi là như vậy. 

Tôn giáo một Thần nói: vì sao họ phải cắm cây thập tự trên phần mộ? Là vì khi chúa Jesus quay trở lại, người tin theo Jesus, nhục thể lại có thể đi ra cùng với linh hồn kết hợp lại, thế rồi đến thiên đường, vĩnh viễn duy trì sự thanh xuân. Tôi không biết thanh xuân này đại diện cho bao nhiêu tuổi, tóm lại là rất trẻ, vĩnh viễn giữ được thân thể như vậy. Khi chết đi, nhục thể đó đã thối rữa rồi, làm gì còn có nhục thể chứ? Cho nên, linh hồn có thể trực tiếp thăng thiên.

Phật Đà thì nói rằng nhục thể chẳng có tác dụng gì, thân thể này của chúng ta là vô dụng. Hơn nữa càng ngày càng già, già đến cùng thì chết, đến lúc đó thì hóa thành tro, hóa thành đất. Làm gì còn có con người tồn tại? Vì sao không phải là linh hồn này trực tiếp thăng thiên, mà lại phải là linh hồn này cùng với con người trong ngôi mộ kia kết hợp lại, sau đó lại thăng lên thiên đường chứ? Kinh Koran, kinh Thánh đều viết như vậy. 

Tôi thảo luận với mọi người về các tôn giáo khác nhau trên thế giới, và điều Phật nói về việc loại bỏ cái tự ngã này, hóa thành thân thể thanh tịnh tồn tại vĩnh viễn. Khi bạn không còn dục vọng, bạn sẽ cùng tồn tại với trời đất, cái đó chính là cảnh giới niết bàn. Vì thế, cái này thuộc về *"người ấy cũng là bậc nhất hiếm có"*, tôi chỉ có thể nói là bậc nhất hiếm có, là số một, vô cùng hi hữu. Bởi vì Phật không còn cái ngã, không còn nghiệp, không còn nguyên nhân sinh, cũng không còn nguyên nhân tử, Phật vĩnh viễn tồn tại, chính là Buddha. Như vậy tôi có thể giải thích tiếp đoạn sau.

"Là vì sao?" Vì sao vậy? "Vì người này vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế rồi thì sao? Ngã tướng tức chẳng phải tướng", bởi vì sẽ hư hoại hết, nên là phi tướng, căn bản là không còn gì. "Nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng." Tiếp theo, mọi nhân tướng, còn cả mọi không gian, thời gian đều không phải là tướng. "Là vì sao?" Vì sao lại như vậy? "Lìa bỏ tất cả mọi tướng thì gọi là chư Phật." Lìa bỏ những tướng này, hoàn toàn thanh tịnh một trăm phần trăm chính là Phật (Buddha). Giảng đến đoạn này.

Một người đi qua một ruộng dưa hấu, trong lòng nảy ra một suy nghĩ không tốt, đó là ăn trộm dưa thật nhanh, kết quả là bị phát hiện. Bị người trồng dưa đuổi theo suốt đoạn đường, người này nghĩ: "Xong rồi, lần này nhất định chết chắc." Kết quả là người trồng dưa chạy theo mồ hôi đầm đìa, cuối cùng cũng tóm được. Người trồng dưa hét: "Anh bạn, dưa hấu này có thuốc trừ sâu, nếu anh muốn ăn thì phải rửa nhiều lần." Người nông dân trồng dưa này tâm địa rất tốt, anh ta đuổi theo người ăn trộm không phải vì muốn bắt, mà là vì trên quả dưa có thuốc trừ sâu, nếu anh muốn ăn thì phải mau rửa sạch đã, rửa sạch hết thuốc trừ sâu.

”Khi duyên phận đến thì có ngăn cũng không ngăn được. Tôi liên tục suốt một tháng liền mua đồ ăn sáng cho một đồng nghiệp nữ mà tôi vô cùng ái mộ, sau một tháng thì tôi đã cùng với bà chủ quán ăn sáng ở bên nhau rồi." Không phải anh ta thân với đồng nghiệp nữ. Hai mẩu chuyện cười này đều là có dục vọng, chuyện cười thứ nhất là ham muốn ăn uống, ăn trộm dưa hấu chính là muốn đem về ăn. Chuyện cười thứ hai là ham muốn về sắc, hai chuyện đều có dục vọng, cho nên có dục vọng thì mới là nhân gian, không có dục vọng thì tức là Thánh hiền. Om mani padme hum.

*(Ngày 18/12/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 42.)*

### 43. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (6)

*(Bài giảng 43)* Không kinh không hãi không sợ

Bây giờ chúng ta giảng kinh Kim Cang. 

*Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Đúng vậy! Đúng vậy! Nếu lại có người, nghe được kinh này, không kinh, không hãi, không sợ, nên biết rằng người này rất hiếm có. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói: đệ nhất Ba la mật, tức chẳng phải đệ nhất Ba la mật, thì gọi là đệ nhất Ba la mật."*

Tôi nói để mọi người biết. Người đọc kinh Kim Cang, người đã nghe Lư Sư Tôn giảng pháp, không kinh (nghĩa là không có cảm giác rất kì lạ), không hãi (không hãi hùng), không sợ (cũng không sợ sệt), sáu chữ này *"không kinh không hãi không sợ"* vô cùng quan trọng. Nhìn chung mà nói, phần lớn người nghe đến kinh Kim Cang, người nghe tôi thuyết pháp, kì thực sẽ giật nảy người kinh ngạc. Vì sao vậy? Vì sao mà giật nảy người kinh ngạc (đại bộ phận nhìn chung mà nói đều sẽ hết hồn)? Kinh Kim Cang nói đến vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, không có tôn giáo nào nói như vậy cả, ngoại trừ Phật Thích Ca Mâu Ni. 

Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại Ấn Độ, trong Ấn Độ giáo có nói đến ba Đại Thần: Sắc giới thiên… cao nhất là Sắc cứu cánh thiên, trong Sắc cứu cánh thiên có Biến Tịnh Thiên Vishnu. Sơ thiên của Sắc giới thiên có Đại Phạm Thiên, là Thần Sáng Tạo Brahma. Cõi trời cao nhất của Dục giới thiên thì là Đại Tự Tại Thiên Shiva. Đây là ba vị đại Thần của Ấn Độ giáo, ba đại Thần cao nhất. Biến Tịnh Thiên Vishnu, Đại Phạm Thiên Vương, và Đại Tự Tại Thiên, là ba vị đại Thần của Ấn Độ giáo, họ đều có hình tướng, hơn nữa còn đều có thú cưng. Vishnu có thú cưng là Garuda (đại bàng Kim Sí Điểu), đó là thú cưng của ngài ấy. Thú cưng của Đại Phạm Thiên là thiên nga, thiên nga trắng. Thú cưng của Đại Tự Tại Thiên là trâu trắng, thú cưng của Shiva là trâu trắng, đều là những vật hữu hình.

Chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni nói căn bản là không có gì, không có tôi, không có bạn, không có người ta. Cho nên mọi người đều sẽ thất kinh: "Đâu có, vẫn còn có trời mà?" Ngay cả trời cũng không có. "Còn có địa ngục mà?" Ngay cả địa ngục cũng không có. Kì lạ thật! Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại nói như vậy, chẳng phải rõ ràng nói là có địa ngục sao? Có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mà? Bởi vì trong con mắt của Phật thì không có thứ gì cả, khi bạn thật sự tu đến được cảnh giới cao nhất rồi, kinh Kim Cang này là tối cao - vua của các kinh, không có kinh nào cao hơn, là bậc nhất hiếm có. Người giảng kinh Kim Cang đều phải hiểu điều đó, làm sao mà không kinh chứ? Kinh sợ bỏ xừ!

Tôi nhớ Thiền tông có một công án thế này. Có một đệ tử đến hỏi sư phụ: "Có địa ngục không?" Sư phụ bảo anh ta là có. Đệ tử thứ hai đến hỏi sư phụ: "Có địa ngục không?" Sư phụ bảo anh ta là không có. Thị giả của sư phụ này ở bên cạnh thấy rất kì quái: "Thầy vừa mới nói với người kia là có địa ngục, với người này lại nói là không có địa ngục." Thế nên thị giả cũng hỏi sư phụ: "Sư phụ à, thầy vừa nói với đệ tử đầu tiên là có địa ngục, nói với đệ tử thứ hai là không có, con không hiểu rốt cục địa ngục có hay không có? Bây giờ con là thị giả, con hỏi thầy: Rốt cục địa ngục có hay không có?" Sư phụ bảo người này rằng: "Điều con hỏi đều đúng, có và không có, đều đúng."

Chuyện này là thế nào? Tôi nói để bạn biết, câu trả lời rất đơn giản. Người đầu tiên, người này bản thân có nghiệp, sẽ đến địa ngục, cho nên sư phụ nói với anh ta là có địa ngục. Người thứ hai, anh ta tu hành vô cùng thanh tịnh, sư phụ nói với anh là không có địa ngục. Nói như vậy bạn hiểu rồi chứ? Bởi vì người đó không phải đến địa ngục, cho nên căn bản là không có địa ngục. Vì vậy, bạn đã đến được cảnh giới của vua của các loại kinh, bậc nhất hiếm có, các cõi trời đều không có: Vô sắc giới thiên không có, Sắc giới thiên không có, Dục giới thiên không có, tất cả đều không có. Bởi vì sau khi bạn nghe đến kinh điển này, bạn đã siêu vượt khỏi tam giới, không có cái gì gọi là các cõi trời, không có cái gì gọi là địa ngục. 

Điều này chỉ có mỗi Phật Thích Ca Mâu Ni có thể nói ra, bạn không kinh hãi sao? Đương nhiên ai nghe rồi thì đều kinh hãi. Thứ hai, bạn nghe xong không hoảng hốt sao? Vì sao mà hoảng hốt? Đương nhiên là sợ rồi. Bây giờ bạn đang sống để làm gì? Cái gì cũng không có, tôi cũng không có, Lư Thắng Ngạn cũng không có, Chân Phật Tông cũng không có, sách tôi viết cũng không có, tất cả con trai, con gái, cháu trai, cháu gái của tôi đều không có. Bạn nghe xong có sợ hãi không? Tiền của bạn cũng là không, nhà cửa của bạn cũng là không, đất đai của bạn cũng không phải là của bạn, nhà cửa cũng không phải là của bạn, xe cũng không phải là của bạn. Nghe xong có sợ hãi không? Ta không có gì cả, không sợ hãi sao? Đương nhiên là sợ rồi, những gì của ta đều không có nữa!

Đôi khi ngồi thiền, hễ thiền đến khi tiến vào bên trong cái thùng đen ngòm, có người ngồi thiền một lúc là bay vọt lên, bay lên rất cao rất cao, anh ta sợ phát khiếp: "Ôi trời ơi! Lát nữa rơi xuống thì phải làm sao?" Rất sợ hãi, bạn không có gì để dựa vào, bên trên không có chỗ dựa, bên dưới không có chỗ dựa, bên trái không có chỗ dựa, bên phải không có chỗ dựa, cả người bạn ở trong hư không, trở thành một mình bạn ngồi trong hư không, bạn không bị dọa sợ muốn chết sao? Thật sự rất kinh sợ đó. Đây chính là khủng bố. Khủng bố, khủng bố, đây là kinh điển khủng bố số một.

Không sợ: bạn cũng không cự tuyệt nó. Điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bạn cũng không cự tuyệt. Sư Tôn đã giải thích rồi, cái gì cũng không có chính là thực tướng, thực tướng chính là phi tướng, phi tướng chính là thực tướng, tôi đã giải thích với bạn rồi. Có nghiệp mới có tướng, bạn không có nghiệp thì tướng gì cũng không có. Bạn cũng không phải luân hồi, bạn cũng không phải niết bàn, là Phật vĩnh viễn, sống mãi, là Phật tồn tại vĩnh viễn. Bồ Tát cũng thế, đến được cảnh giới Bồ Tát rồi thì cũng vậy, Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Tứ thánh giới đều như thế. Cho nên rất nhiều việc đều là nhất thời, bởi vậy tôi mới nói: những người ngồi trên địa vị cao nhất kia, chỉ là nhất thời, người có nhiều tiền nhất, chỉ là nhất thời, người xinh đẹp nhất, chỉ là nhất thời. Tất cả đều chỉ là nhất thời mà thôi, thật ra cái gì cũng không có, đây là điều nói đến trong kinh này. Cho nên, tôi giải thích: khi có thể hiểu được ý nghĩa quan trọng nhất của kinh này, bạn sẽ không kinh, không hãi, không sợ.

"Nên biết rằng người này rất hiếm có", cực kì ít, đại bộ phận con người đều sợ mất. Bạn xem, Tần Thủy Hoàng của Trung Quốc chúng ta, ông ấy muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, ông ấy đi khắp nơi để tìm tiên đơn, ăn vào có thể trường sinh bất lão, vĩnh viễn làm Tần Thủy Hoàng. Nhất thời thôi! Hán Vũ Đế cũng tìm tiên đơn, đi khắp nơi để tìm, đến đỉnh núi Thái Sơn để cầu Diêu Trì Kim Mẫu, hi vọng Diêu Trì Kim Mẫu sẽ "bùm", bỗng dưng hiện ra một viên tiên đơn để cho ông ấy, ông ấy ăn xong viên tiên đơn thì sẽ vĩnh viễn làm Hán Vũ Đế bất tử. Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế đều là những nhân vật có công danh sự nghiệp vĩ đại, nhưng cũng đều là nhất thời, không có cái gọi là bất tử, không có đâu. 

Trước kia làm hoàng đế là cao nhất rồi, bây giờ người có quyền hành cao nhất trong tay cũng chẳng qua chỉ là nhất thời. Có tiền cũng thế thôi, đều chỉ trong một thời gian mà thôi. Nhà cửa, đất đai, đều là nhất thời, thân thể của bạn cũng là nhất thời, bạn đâu có sở hữu một thân thể vĩnh viễn, trên thế giới này chưa từng có chuyện như vậy. Tôi thường xuyên nói một câu: "Tôi đang sống đây nhưng không nghĩ việc sống trở lại." Đúng mà! Làm gì có người nào sống trở lại? Đều chết hết, cho nên cái này là nhất thời mà thôi, thân thể cũng là nhất thời, hiểu rõ rồi!

Phật Thích Ca Mâu Ni nói với bạn, cần phải nhìn rõ những điều này. Bạn nói, tình yêu, có một ca khúc tên là "Yêu em một vạn năm", yêu em một vạn năm, lừa đảo à, đó là bài hát lừa đảo đó. Bài hát "yêu em một vạn năm" do tập đoàn lừa đảo viết ra. Tôi nói để bạn biết nhé, bảy năm, năm thứ bảy là ngứa ngáy lắm rồi, lấy đâu ra mà vạn năm? "Nên biết rằng người này rất hiếm có", bạn hiểu thấu được điều này, thường xuyên lưu ý nó trong tâm, dần dần bạn sẽ lược bỏ bớt dục vọng của bạn. Đừng vội vàng, không hề gì, không sao cả, bạn sẽ trở nên không căng thẳng, không hề gì, không sao cả, tùy thuận, tùy mọi người đi!

*"Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói: đệ nhất Ba la mật, tức chẳng phải đệ nhất Ba la mật, thì gọi là đệ nhất Ba la mật."* Tôi giảng cái này. *"Như Lai nói: đệ nhất Ba la mật, tức chẳng phải đệ nhất Ba la mật, thì gọi là đệ nhất Ba la mật."* Ở đây rất đơn giản: người đầu tiên có thể đến được bờ bên kia, cũng không phải là người đầu tiên đến được bờ bên kia, bởi vì không phải là người đầu tiên đến được bờ bên kia cho nên mới là người đầu tiên đến được bờ bên kia. Câu này có lẽ là có thể giải thích như vậy, đúng không. Bởi vì bạn đến được bờ bên kia rồi thì cũng tương đương như chưa hề đến bờ bên kia, căn bản là không có bờ bên kia, bờ bên này chính là bờ bên kia mà. Bạn hiểu được cái này, cho nên đệ nhất Ba la mật cũng không phải là đệ nhất Ba la mật, mà cũng chính là đệ nhất Ba la mật. Ý nghĩa này, nói như vậy mọi người có hiểu không? Om mani padme hum.

*(Ngày 19/12/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma A Di Đà Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 43.)*

### 44. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (7)

*(Bài giảng 44)* Nhẫn nhục Ba la mật

“*Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải là nhẫn nhục Ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục Ba la mật. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận. Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”* 

“*Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải là nhẫn nhục Ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục Ba la mật. Là vì sao?”* Đương nhiên rồi, nhẫn nhục Ba la mật, nhẫn nhục cao nhất chính là chẳng phải nhẫn nhục Ba la mật. Bởi vì vô ngã thì còn phải nhẫn nhục cái gì đây? Không cần nhẫn, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn còn nhẫn cái gì? Không còn nhẫn nữa, cho nên nhẫn nhục Ba la mật chính là chẳng phải nhẫn nhục Ba la mật, thì cũng chính là nhẫn nhục Ba la mật. Đây là một trong số sáu Ba la mật, có nghĩa là bạn có thể nhẫn nhịn mọi sự sỉ nhục đạt đến bỉ ngạn. 

Vì sao là “chẳng phải nhẫn nhục” nhỉ? Bởi vì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Lư Sư Tôn thường lấy ví dụ: trên mặt trăng, nhẫn nhục cái gì? Cũng chẳng có người nào chửi bạn, cũng không có người nào bị chửi, cũng chẳng có cái việc chửi này, thế thì bạn còn nhẫn nhục cái gì? Chính vì không cần nhẫn nhục, cho nên vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bản thân bạn đã hoàn toàn trống rỗng rồi, bạn căn bản không cần nhẫn nhục. 

Người ta chửi bạn cái gì thì cũng như gió đông thổi qua tai ngựa, đi vào từ tai này thì lại đi ra từ tai kia, căn bản không giữ ở trong tâm mình. Bạn còn nhẫn nhục cái gì? Không cần nhẫn! Chính là nhẫn nhục Ba la mật. “*Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải là nhẫn nhục Ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục Ba la mật.”* Nghĩa là như thế, rất đơn giản có thể giải thích được rồi. Bạn không cần nhẫn, bởi vì bạn không để ở trong tâm mình, bạn còn nhẫn cái gì?

Người không thể nhẫn nhịn tức là còn có ngã tướng thì bạn mới không nhẫn nhịn được. Người ta nói bạn một câu thì bạn đã nổi cơn tam bành: “Tao giết chết mày!” Bị áp bức và nhục mạ một tí thì bạn đã trở nên ghê gớm rồi! Thật sự, phải hiểu kinh Kim Cang đó! Bạn đã đọc bao nhiêu lần kinh Kim Cang rồi mà vẫn không hiểu, không cần nhẫn nhục chính là nhẫn nhục. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn còn nhẫn nhục cái gì? Không cần nhẫn, làm trống rỗng chính mình, không còn cái tôi nữa. Ai chửi bạn thì cũng chẳng chửi được.

Những con người thế tục kia, những chúng sinh thế tục, chúng ta nói những kẻ cặn bã mới chửi người khác, mới đánh người khác. Không cần chửi, không cần đánh, vô ngã, cái gì cũng không có. Nhẫn nhục Ba la mật, đây là điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Tôi đã giải thích rất rõ ràng rồi, không có ai chửi bạn, bạn còn nhẫn nhục cái gì? Không có người bị chửi, bạn còn nhẫn nhục cái gì? Cũng không có cái việc chửi. Giống như tôi vừa nói, kẻ cặn bã mới chửi người khác, loại người này là rác rưởi. Người này đúng là rác rưởi, *garbage* (rác rưởi), *dirty* (bẩn thỉu), *yuck* (kinh tởm). Đúng là cái đồ đầu heo! Đó đều là chửi người ta. Mẹ nhà mày, con mẹ mày, đây đều là câu chửi. 

Cho nên bạn phải đọc hiểu kinh Kim Cang, nhẫn nhục Ba la mật, không sao cả, mặc kệ đi! Đừng căng thẳng, chửi thì chửi đi! Cũng chẳng làm sao cả, chửi thì cũng chẳng chết được, đúng thế không? Đừng đánh nhau, đừng động chân động tay là được rồi, quân tử dùng miệng không dùng tay. 

“*Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận. Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng.”* Nếu mà như người bình thường thì đương nhiên sẽ nổi xung lên, vì quá đau khổ!

Trong đời quá khứ, Phật Thích Ca Mâu Ni từ rất sớm trước kia, ngài là một người thành tựu, chúng ta đều gọi là tiên nhân, ngài ấy là tiên nhân nhẫn nhục. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng là tiên nhân nhẫn nhục. Khi ngài thuyết pháp, cũng không rõ là hữu ý hay vô ý mà ngài quay sang bốn vị phi tử của vua Ca Lợi. Vua Ca Lợi có mấy vị ái phi. Tiên nhân nhẫn nhục này ở dưới gốc cây thuyết pháp (tôi giả dụ là ở dưới cây thuyết pháp), bốn ái phi của vua Ca Lợi nhìn thấy tiên nhân đang thuyết pháp thì đi nghe, tiên nhân nhẫn nhục giảng rất vui vẻ, giảng Phật pháp cho bốn vị ái phi nghe. 

Khi giảng như vậy thì vua Ca Lợi trông thấy ái phi của mình ở cùng với người đàn ông lạ mặt, họ ở đó nghe giảng pháp rất thân mật, trong lòng liền sinh ra ghen tuông: “Mấy ái phi kia trước nay chưa từng chắp tay trước ta như vậy, trước nay chưa từng cung kính với ta như vậy, thế mà lại cung kính với con người kia!” Trong lòng sinh ra đố kị. Bắt lấy tiên nhân kia, chặt tay ngài, chặt chân ngài, chặt ngón tay ngài, móc mắt ngài, sau đó chặt thành từng miếng. Trong kinh điển viết như vậy. 

“*Như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể”,* ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni bị vua Ca Lợi chặt đứt thân thể. “*Ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Là vì sao?”* Ngày xưa khi bị vua Ca Lợi chặt thân thể thành từng khúc, nếu mà có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì hẳn là sẽ sinh sân hận. Bạn nói rằng không tức giận sao? Jesus Christ khi bị đóng đinh trên thập tự giá, ngài ấy có hận không? Nếu như ngài ấy có hận thì đã không là Jesus Christ rồi! Đóng đinh trên thập tự giá có khổ không? Cái đinh ấy rất sắc, từ đây đóng đinh qua, đinh cắm vào giá chữ thập, hai chân bắt chéo nhau, đóng đinh như thế, máu cứ thế chảy ra, có khổ hay không? Có đau hay không? Đau!

Jesus Christ là bị đóng đinh mà chết, Phật Thích Ca Mâu Ni trong quá khứ, lúc làm tiên nhân nhẫn nhục cũng như thế, khi truyền pháp bị vua Ca Lợi chặt ngón tay, chặt thành từng khúc, thân thể bị chặt thành từng khúc từng khúc, trong lòng ngài có hận không? Có thể so sánh hai vị này với nhau, Jesus Christ và Phật Thích Ca Mâu Ni. Bị chặt liên tiếp đó! Chặt thành từng khúc từng khúc. Bạn nói xem, khi tay bạn bị dao cắt vào thì cũng đã rất đau rồi. Tai bị cắt đi có đau không? Mũi bị cắt đi có đau không? Trong lòng có oán ghét không, có oán hận không? Không có ư? Bạn có muốn thử không? Móng tay bị cắt đi một mẩu thì còn được chứ! Con người thế gian chúng ta không chịu nổi đâu, Sư Tôn cũng chẳng chịu nổi.

Có một lần, tôi đẩy cửa đi vào, ngón tay của một bàn tay vẫn còn chưa rút ra, vì cánh của đó có tính đàn hồi, đầu ngón tay đã bị kẹp lại, tôi kêu “á” lên một tiếng thảm thiết, trong lòng tôi khi ấy có bực không? Lại chả muốn chửi lên ba tiếng tam tự kinh ấy chứ! Sao cái cửa ấy lại có tính đàn hồi, mở cửa đi vào, tay còn chưa rút ra đã bị kẹp rồi! Bởi vì tay đang vặn khóa cửa, cửa đã đóng lại kẹp vào ngón tay, thế là đã bị bầm tím rồi, sao mà không đau chứ? Tức chết đi chứ, trong lòng đã oán trách rồi: “Ai làm cái kiểu này chứ?….” Trong lòng đã có oán trách rồi. Đó là vì có ngã tướng! Bạn xem, Phật Thích Ca Mâu Ni và Jesus giống nhau, nhẫn nhục Ba la mật, bị đóng đinh trên thập tự giá, bị vua Ca Lợi cắt thân thể thành từng đoạn, ghê gớm như vậy mà!

Nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng thì sẽ sinh sân hận. Nhất định sẽ oán trách, con người thế gian đại bộ phận đều có ngã tướng. Bạn muốn học được như Phật Thích Ca Mâu Ni: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, thân thể bị chặt, bị móc mắt, bị cắt tai, bị chặt lìa ngón tay, sau đó thân thể đều bị băm chặt thành thịt băm, như thế mà không tức giận sao? Lão già này không tin! Thật sự không tin. Nhưng tiên nhân thì khác, ngài ấy là thành tựu giả, là người giác ngộ. Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đó là người khai ngộ, đó là Thánh nhân!

Vì thế, hôm nay bạn học Phật phải ghi nhớ, những cái nhẫn nhục nhỏ bé mà cũng không chịu được thì nói chi đau khổ lớn đến như vậy, làm sao mà bạn có thể chịu được? Bạn hễ có sân hận thì sẽ là nghiệp, sẽ xuống tam đồ! Chuyển thế thành kẻ thù, rất ghê gớm, như thế thì nhất định muốn báo thù. Cho nên, kinh Kim Cang là kinh điển thật sự vô cùng cao siêu, vô cùng vĩ đại. Bốn câu kệ này, bạn học “vô ngã tướng” là được rồi. Vô ngã tướng mà bạn học được thì bạn đã đến được bỉ ngạn rồi, bạn đã thành tựu rồi. Không dễ đâu! Thật sự là không dễ đâu.

Mọi người trong lòng hãy thử nghĩ mà xem, thật sự không dễ dàng. Tiên nhân nhẫn nhục, khi người ta cắt lìa thân thể của bạn, khi liên tục bị cắt lìa thân thể, trong lòng bạn một chút oán trách cũng không có. Tôi nói rồi, khi Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, trong lòng ngài có sân hận không? Không có! Ngài ấy vì cứu nghiệp chung của chúng sinh, cho nên trong lòng không sinh oán hận, như thế ngài ấy mới có thể là Jesus Christ, ngài ấy là vua của vạn vị vua. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thế. Đây là điểm tương đồng. Trước khi ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, ngài còn cầu nguyện Thượng Đế tha thứ cho những người đóng đinh ngài lên thập tự giá: “Bởi vì những gì họ làm, họ không biết.”

Vì thế hôm nay với chúng ta là ngày Giáng Sinh, tôi kể chuyện Jesus trước khi bị đóng đinh vào thập tự giá, ngài ấy đã tha thứ cho những người đóng đinh ngài, nếu là một người bình thường thì từ lâu đã chửi liên tục ba chữ tam tự kinh rồi. Khi ấy, có một thống đốc ở tỉnh đó tên là Pilate nghĩ rằng nếu là ông ấy thì ngay từ đầu, ông ấy đã chửi người ta rất thê thảm: “Rõ ràng đã kết án ta đóng đinh trên thập tự giá, cái thứ gì vậy? Ta là Jesus Christ, ta lập tức cho nhà ngươi đi đời, nghĩa là *“game over”* đó. Ta không chỉ kêu nhà ngươi *game over* đâu, bố mẹ ngươi, anh chị em ngươi, người cả gia tộc ngươi, toàn bộ đều *game over* hết, tất cả đều bị *knock-out.*” Người bình thường nếu bị đóng đinh trên thập tự giá thì nỗi oán hận ấy sâu đến mức nào?

Người bình thường bị cắt mũi, bị cắt tai, bị chặt lìa ngón tay, nỗi hận ấy sâu đến mức nào? Kinh điển cũng nói thọ giả tướng. Khi bị cắt rất đau, khi ấy nói đến “phi tứ tướng”. Thân thể không phải của ta (vô ngã), mặc cho người cắt xẻ cũng chẳng cắt được đến ta, cũng không có ai cắt được đến ngài ấy, ngài ấy không sinh sân hận. Vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, không có thời gian, không có không gian, mặc cho người ta cắt xẻ.

Vì thế, nguyên nhân mà Phật giáo nói không sát sinh chính là ở đây. Bởi vì nếu bạn sát sinh, chúng sẽ sinh lòng sân hận. “Kiếp gà chim chẳng tốt gì, cho mày mau mau đi chuyển thế.” <span className="note-blue">[Sư Tôn nói câu này bằng Đài ngữ.]</span> Trước kia người sát sinh đều đọc câu này, ngày xưa mẹ tôi cũng giết gà, khi giết gà bà ấy đều đọc câu này. Vì sao phải đọc câu này? Dịch ra tiếng Quốc ngữ thì có nghĩa là “Kiếp gà chim chẳng tốt gì, cho mày mau mau đi chuyển thế”, ý nghĩa là như thế. 

Bây giờ ở Mĩ hoặc như các nước phương tây, đệ tử làm nhà hàng rất nhiều. Phải nhớ: khi bạn sát sinh phải niệm chú vãng sinh, quán tưởng con cá này sống lại, sau đó bay lên hư không; quán tưởng Bổn tôn của bạn đưa con cá này đến tịnh thổ của ngài; sau đó niệm chú vãng sinh: 

“*Namo amitābhāya tathāgatāya  
Tadyathā  
Amṛtod-bhave  
Amṛta-siddhaṃ bhave  
Amṛta-vikrānte  
Amṛta-vikrānta  
Gāmine gagana  
Kīrta-kare svāhā.”*

*“Om ah pei la hum khan tra la so ha.*”

Niệm chú vãng sinh, niệm chú Văn Thù vãng sinh, dùng sức mạnh của chú để siêu độ cho chúng. Bởi vì rất đông người Hoa mở nhà hàng ở các quốc gia phương tây, mỗi ngày họ phải sát sinh rất nhiều, cho nên phải niệm chú. Giống như chúng ta khi ăn cũng phải làm cúng dường, phải siêu độ, chúng ta cần làm như vậy, nếu không chúng sẽ sinh tâm sân hận, sau này bạn sẽ là kẻ thù của chúng.

Phật Thích Ca Mâu Ni ở đoạn này: “*Như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận.”* Nói đến “ắt sinh lòng sân hận”, người bình thường chúng ta tuyệt đối sẽ sinh lòng sân hận. Người có tu hành nhìn chung mà nói, nếu như bị người ta chửi hoặc thế nào đó, đừng căng thẳng, không sao cả. 

Kể từ khi Sư Tôn bắt đầu hoằng pháp đã bị người ta chửi rồi, trước nay chưa bao giờ dừng lại. Khi ấy còn có người muốn giết tôi nữa, thật may có Bồ Tát cứu tôi. Họ ra giá rằng móc mắt Sư Tôn thì cho bao nhiêu tiền, chặt cái tay viết sách của Sư Tôn đi thì cho bao nhiêu tiền… sau này tôi mới biết, rất đáng sợ. Vì thế làm một người bình phàm thì tương đối dễ, còn làm một người hơi đứng đầu một chút thì khó lắm. Khi tôi mới viết sách và trở nên nổi tiếng thì đã có rất nhiều người chửi tôi rồi, ghê gớm lắm, bên này chửi, bên kia chửi, chửi tới chửi lui, kinh khủng lắm, khi ấy thật sự là chịu không nổi. 

Khi ấy tôi vẫn còn chưa tu dưỡng được tốt như Phật Thích Ca Mâu Ni, đúng thế không? Phật Thích Ca Mâu Ni “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Tôi khi ấy vẫn còn có ngã tướng, tôi còn viết cuốn sách là “Cơn giận của Bồ Tát đất”, “Tuyển tập Con mắt phẫn nộ của Kim Cang”. Bồ Tát đất làm gì có cơn giận? Là cơn tức giận của chính mình thôi. “Tuyển tập Con mắt phẫn nộ của Kim Cang”, so sánh chính mình với Kim Cang, thế thì bạn sẽ không thể thành tựu. Bây giờ thì tôi hiểu rồi, tu dưỡng đã khá hơn một chút. Con người chúng ta tu dưỡng, tu từ từ, trong một lúc không thể nào vô ngã tướng được ngay, trong một lúc mà vô ngã tướng sẽ bị người ta đánh chết. Tóm lại, chúng ta hãy nỗ lực để được như vô ngã tướng. 

Om mani padme hum. 

*(Ngày 25/12/2021 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 44.)*

### 45. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (8)

*(Bài giảng 45)* Bồ Tát nên rời xa mọi tướng

*“Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không nên trụ trong sắc mà sinh tâm, không nên trụ trong thanh hương vị xúc pháp mà sinh tâm, nên sinh tâm vô sở trụ. Nếu tâm có nơi trụ cũng tức là không phải trụ. Thế nên Phật nói: tâm Bồ Tát không nên trụ trong sắc mà bố thí.”*

Đoạn này đọc lên rất dài, chúng ta nói một cách đơn giản. *“Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng.”* Bây giờ tôi giảng đoạn này. Chúng ta nói về nhẫn nhục Ba la mật, tiên nhân nhẫn nhục. Sáu Ba la mật (trong đó có một cái là nhẫn nhục), là bố thí Ba la mật, tinh tấn Ba la mật, nhẫn nhục Ba la mật, trì giới Ba la mật, thiền định Ba la mật, trí huệ Ba la mật. Tiên nhân nhẫn nhục là người chuyên môn tu nhẫn nhục. 

Trong quá khứ, Phật Thích Ca Mâu Ni từng là tiên nhân nhẫn nhục, ngày hôm qua chúng ta cũng đã giảng rồi, ngài ấy bị vua Ca Lợi cắt lìa thân thể, cắt thành nhiều phần, liên tiếp bị chặt chân tay là một việc rất đau khổ, nhưng ngài đều có thể chịu đựng được. Thật ra là rất khó có thể chịu đựng. Vì việc này mà tôi đã viết một chương sách, tôi nói: “Phật Đà à, ngài giảng là việc của ngài, tôi kêu là việc của tôi.” Vì sao tôi kêu là việc của tôi? Bởi vì đau mà! “Ngài nói là việc của ngài, tôi kêu là việc của tôi.” Bạn bị dao cắt như vậy, “xoẹt” như thế này, thế thì đau lắm, phải kêu chứ, làm sao mà chịu được? Xương bị chặt làm sao có thể chịu được? Chỉ có kêu oai oái thôi!

Xương bị đứt lìa rồi, gãy rồi, cái đau ấy thật sự là… vì thế tôi nói với Phật Thích Ca Mâu Ni: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng mà ngài nói, tôi đều hiểu!” Tôi cũng có thể giải thích vô ngã tướng, bởi vì tứ đại phân rã thì cũng không có gì nữa, làm gì còn có cái tôi tồn tại? Đất nước lửa gió một khi phân rã thì cũng chính là trống không mà, làm gì còn có cái tôi? Cái chết thật sự là tứ đại phân rã rồi, đau cũng không tồn tại nữa, khổ cũng không tồn tại nữa, phiền não cũng không tồn tại nữa, cái gì cũng không còn nữa, như thế là vô ngã tướng rồi. Nhưng mà vì ta còn có cái nhục thể này mà! Lão Tử nói: “Hoạn nạn của cuộc đời tôi chính là có cái nhục thể này đây.”

Tôi và Lão Tử giống nhau, Sư Tôn bây giờ 77 tuổi rồi, sang năm theo tuổi Đài Loan là 78 tuổi. Cách nghĩ của tôi giống với Lão Tử, tôi hiểu vô ngã tướng, đất nước lửa gió phân rã, không còn nữa thì là vô ngã tướng rồi, nhưng mà có cái nhục thể này. Lão Tử nói: “Hoạn nạn của cuộc đời tôi chính là có cái nhục thể này.” Bây giờ đến lượt tôi nói, hoạn nạn của cuộc đời tôi chính là có cái nhục thể này. Bạn xem buổi tối Sư Tôn đi ngủ, đột nhiên chỗ cằm rất ngứa, tôi liền dùng tay để gãi, bây giờ móng tay của tôi đã bị cắt cụt rồi, không còn móng tay nữa. Bởi vì tôi dùng móng tay để gãi cằm, rất ngứa nên tôi cứ gãi, gãi, gãi… Chà! Gãi thành vết luôn. Người ta đều hỏi tôi: “Sư Tôn, cằm của ngài, ở chỗ môi này, sao lại bị một vết đỏ bầm thế này?” Tôi nói: “Thật không may, bị một cô gái xinh đẹp hôn đó.” Người đó nói: “Đó không phải là hôn, là bị cắn đó, cắn bị thương rồi, là trồng dâu tây đó! Cô gái đó đã trồng dâu tây ở chỗ dưới môi ngài, cái này sẽ không biến mất đâu.” Đương nhiên là nói đùa thôi, đây là do ban đêm tôi bị ngứa nên gãi đó. Nếu bạn vô ngã tướng, tứ đại phân rã, thì làm gì còn ngứa? Sẽ không bị, ngay cả ngứa cũng không bị.

Bạn biết vô ngã tướng, tứ đại phân rã rồi thì còn phải nhẫn nhục không? Không cần nhẫn nhục đâu, chính vì có cái thân thể này nên mới phải nhẫn. Bởi vì bạn vẫn còn thính giác, người ta chửi bạn bạn vẫn nghe thấy, người ta đánh bạn bạn vẫn có xúc giác mà! Khi tôi đang hỏi thăm tình hình, đột nhiên tay của một cô gái thò vào bên trong váy Lama sờ lên phía trên! Trời ơi, cô gái này to gan quá, dám sờ vào “chân ngọc” của lão phu. Thế nhưng tôi không động thanh sắc, bởi vì đó là cảm giác đặc biệt mà! Đã rất lâu rồi tôi không có cảm giác đó. Có cảm giác này cảm thấy rất là lời, đúng thế không? Được lời rồi! <span className="note-blue">[Đùa]</span>

Rất nhiều sự việc cần nhẫn nhục. Bởi vì thân thể này có cảm giác mà, khi liên tiếp bị chặt chân tay, vô ngã tướng, Phật Đà có thể làm được, Lư Thắng Ngạn tôi không làm được. Vì sao? Tôi sẽ kêu cha kêu mẹ, thật đó, xương bị đứt lìa rồi, tôi sẽ kêu cha kêu mẹ. Cho nên đoạn sau chương sách đó tôi nói: “Phật Đà, ngài giảng là việc của ngài, tôi kêu là việc của tôi.” Chính là nguyên nhân này, bởi vì ta còn có cái thân thể này.

Nhưng tôi cũng có thể hiểu được, khi người ta chửi bạn, bạn hãy coi như gãi ngứa, tôi có thể coi chúng như là gió thổi bên tai. Bạn tu dưỡng đã đủ rồi, người ta có chửi bạn thế nào, bạn cũng vẫn như như bất động. Đừng căng thẳng, anh muốn chửi bao lâu thì tùy anh chửi, chửi đến khi anh miệng khô lưỡi cháy, chửi tới khi anh tinh thần không yên, chửi đến khi anh tinh thần bực bội, tôi vẫn như như bất động, có thể làm được! Cái này thì tôi có thể làm được. Bạn đã tu dưỡng đến mức đủ rồi, đồng nghĩa với vô ngã tướng rồi, là tiên nhân nhẫn nhục. Nhưng tôi không làm tiên nhân nhẫn nhục, tôi không muốn làm tiên nhân nhẫn nhục, vì sao? Người ta sẽ cắt thịt của bạn, làm sao mà chịu nổi?

Phật Đà trong mấy kiếp, có một kiếp thế này: có con diều hâu đói, ngài liền cắt thịt cho nó ăn, cắt thịt chính mình để cho con diều hâu kia ăn, xả thân cho hổ ăn, xả bỏ thân thể của mình cho hổ ăn thịt. Việc này tôi không làm được, tôi mà nhìn thấy con hổ đến thì tôi chạy liền. Nhìn thấy hổ đến là tôi chạy ngay, tôi không phải là Võ Tòng, Võ Tòng biết đánh hổ. Thật ra Võ Tòng rất sợ hổ đó, chỉ vì anh ta uống rượu say nên đi lên gò cao, con hổ đến, anh ta mạnh bạo đánh nhau với hổ, đánh đến mức cánh tay đau nhức thì mới hàng phục được con hổ đó. 

Cho nên, “*Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng.”* Tiên nhân nhẫn nhục nghĩa là phải không còn có cái gì cả, đương nhiên cũng không cần nhẫn nhục, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng rồi thì không cần nhẫn nhục nữa, đạo lí này tôi hiểu, nhưng muốn làm được giống như Phật Đà thì thật sự là rất khó.

“*Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không nên trụ trong sắc mà sinh tâm.”* Chúng ta nói Bồ Tát nên rời xa mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng chính là câu nói của Jesus: “Việc thiện mà tay phải làm, đừng để cho tay trái biết.” Không trụ tâm, làm việc gì cũng không trụ tâm, nói cách khác là, bạn làm việc thiện, đừng có cái ý nghĩ là “Tôi muốn làm việc thiện” thì tự nhiên bạn sẽ không trụ tâm, làm rồi thì cũng quên việc đó luôn. Làm xong rồi thì cũng quên nó luôn, điểm này chính là pháp nhĩ bản nhiên.

Vì thế vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng chính là pháp nhĩ bản nhiên. Vốn dĩ chính là làm như vậy, không mang bất kì một loại tướng nào, không phải là làm cho người khác nhìn, không phải là làm cho chính mình. Làm cho chúng sinh nhìn, làm cho bạn, làm cho người ta, tất cả đều không đúng. Không phải làm cho chính mình, cũng không phải làm cho người khác nhìn. Ở đây nói rằng, tiên nhân nhẫn nhục cần phải làm được như vậy.

Lúc này, “*Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng”,* có thể nói rời xa mọi tướng chính là hoàn toàn không phải vì chính mình, không phải vì người khác, cũng không phải vì chúng sinh, mà là có được bồ đề tâm này, bồ đề tâm này không phải vì chính mình, cũng không phải vì người khác, cũng không phải vì chúng sinh mà phát bồ đề tâm, ý nghĩa nằm ở đây. Vậy thôi! Om mani padme hum.

*(Ngày 26/12/2021 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Bất Không Quyến Sách Quan Âm tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 45.)*

### 46. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (9)

*(Bài giảng 46)* Vô sở trụ

Hôm nay chúng ta giảng kinh Kim Cang.

*“Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không nên trụ trong sắc mà sinh tâm, không nên trụ trong thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm, nên sinh tâm vô sở trụ. Nếu tâm có nơi trụ cũng tức là không phải trụ. Thế nên Phật nói: tâm Bồ Tát không nên trụ trong sắc mà bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà bố thí như vậy. Như Lai nói: tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng. Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.”*

Tôi nói với mọi người, tôi nói một chút về đại ý ở đây. Bản thân Lư Sư Tôn trong cuộc đời này đi đến hiện tại, sang năm là tôi 78 tuổi rồi. *Next year, I am seventy-eight years old.* Xấp xỉ đến tuổi này thì đã *retire* rồi, từ lâu đã ở nhà nghỉ hưu rồi, thế mà tôi vẫn ngồi trên pháp tọa. *Seventy-seven, seventy-eight, retired, so old. Every day go to mountain, take a walk. In the lake, you fish.* (Bảy mươi bảy, bảy mươi tám, nghỉ hưu rồi, già rồi. Hàng ngày đi lên núi, đi dạo bộ. Câu cá ở hồ.) Đương nhiên phải niệm chú vãng sinh rồi. *You fish, go mountain. Every day, just happy. See the mountains, see the water, see the trees. Seattle air is clean. So good, so nice, so happy. How come in the temple, teach Buddha dharma, how come?* (Bạn đi câu cá, đi leo núi. Hàng ngày, đều vui vẻ. Ngắm nhìn núi, ngắm nhìn sông, ngắm nhìn cây cối. Không khí ở Seattle trong lành. Thật tốt, thật đẹp, thật vui vẻ. Thế mà lại ở chùa, dạy Phật pháp, sao lại thế chứ?) Vì sao? Nói một câu dễ nghe một chút thì là độ chúng sinh đó! Nghĩa là vẫn còn cái tâm này để đi độ chúng sinh.

Rất đơn giản thôi, nói thật lòng, tôi phân thành hai con người: một con người là vô hình, vĩnh viễn tồn tại, người đó “không phán xét”, thế nào là không phán xét? Nghĩa là bất động, đó là pháp thân của tôi. Pháp thân của tôi vốn là bất động, không phán xét, tất cả đều tự nhiên như nó là, nhậm vận, tự tại, vô cùng vui vẻ. Bốn chữ đơn giản (trong Cao Vương Kinh có) là: thường - vĩnh viễn tồn tại; lạc - vĩnh viễn vui vẻ, đó là cái ngã chân thực, con người đó là tịch diệt. Thường lạc ngã tịnh, đó là cái tôi chân thực, người đó chính là “chân ngã”. Chính là pháp thân, chính là Phật tính, người đó mới là thật. Thường - vĩnh viễn tồn tại; lạc - nhậm vận tự tại; ngã - đó là cái ngã chân thật; con người đó là tịch diệt. Thường lạc ngã tịnh là chân thực.

Còn một người kia chính là Lư Thắng Ngạn lúc này đang ngồi trên pháp tọa thuyết pháp, Lư Sư Tôn thuyết pháp, cái tôi này là giả, là “giả ngã”. Cái ngã thật chính là như trong kinh Kim Cang nói: “*Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng”,* không có mọi tướng tức là vô hình đó! Rồi còn phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chính là Phật tính đó! Chân ngã đó có Phật tính, không có trụ sắc sinh tâm, không có vì sắc tướng nào mà sinh tâm, vô sắc, không phán xét.

“*Không nên trụ trong thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm”,* cũng không có thanh hương vị xúc pháp gì, chân ngã là vô sở trụ, thế nào gọi là vô sở trụ? Ở khắp mọi nơi chính là vô sở trụ đó! Chân ngã không trụ ở đâu cả. Bạn cho rằng là ở Cực Lạc thế giới à, ở Lưu Li Quang thế giới à, ở tịnh thổ nào đó à… không có! Khi tôi gặp Liên Hoa Đồng Tử, chỉ có một vùng ánh sáng hào quang thôi, không có hình tượng, không trụ vào cái gì cả. Phật nói *“nếu tâm có nơi trụ cũng tức là không phải trụ”,* nếu như nói là có trụ cũng là không có trụ đó. 

“*Thế nên Phật nói: tâm Bồ Tát không nên trụ trong sắc mà bố thí.”* Tôi nói để bạn biết, làm một Bồ Tát thì làm mà không vì cái gì cả. Nói ví dụ hôm nay, tôi đang độ chúng sinh, độ chúng sinh này cũng là một danh từ thôi. Cũng không có cái tôi này. Cái tôi này là giả đó! Các bạn đang ngồi đó cũng đều là “giả ngã”, bao gồm cả tôi cũng là cái tôi giả, làm gì có độ chúng sinh gì chứ? Cái tôi giả đang độ các bạn giả đó. Nói một cách rất đơn giản là như vậy. Bây giờ tôi đang thuyết pháp chính là đang bố thí, vì sao là bố thí? “*Bồ Tát nên vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà bố thí như vậy.”* Nên làm như vậy. Tôi nói: *How come? Retired..., how come in the temple, talk Buddha dharma? How come?* (Sao lại thế? Đã nghỉ hưu rồi… sao lại ở trong chùa giảng Phật pháp? Sao lại thế?) Chính là vì không trụ tướng mà bố thí đó! Cũng không phải là bố thí đâu, bố thí không nên trụ trong cái gì mà bố thí, thuyết pháp cũng không vì điều gì mà thuyết pháp, chính là như vậy đó, đã hiểu rõ chưa?

*“Như Lai nói: tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng. Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.”* Tôi đã nói, trên mặt trăng, một con người cũng không có, làm gì có tướng gì? Cái gì là Phật pháp, không có người lấy đâu ra Phật pháp? Trên mặt trăng, cái gì là thiện? Làm gì có thiện? Cái gì là ác? Làm gì có ác? Bạn nói là chay, là mặn, trên mặt trăng căn bản không có chay mặn, ở đó có cái gì? Cái gì cũng không có, thực tướng chính là cái này, cái này mới là thực tướng, tướng chân thực. 

Người khai ngộ đều biết, khai ngộ cũng là giả. Tôi nói với bạn rằng căn bản không có khai ngộ! Không có hai chữ khai ngộ này, chỉ là danh từ, Lư Thắng Ngạn cũng là danh từ thôi! Thực tướng mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bạn xem, “*Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.”* Chúng sinh đều là người giả, vì sao là giả? *Game over.* Trò chơi này đã kết thúc rồi, bạn không tin à? Trò chơi của bạn đã kết thúc rồi. 

Khi tôi học mẫu giáo, bên cạnh tôi có một cô bé ngày nào cũng giúp tôi lấy phấn, cô ấy tên là Lâm Yến Ngọc, thời mẫu giáo tôi đã có bạn gái rồi. *Kindergarten, I have the girlfriend.* Bạn gái tôi ngồi bên cạnh tôi, ngày nào bạn đó cũng lấy phấn cho tôi chơi… kết quả là tôi rất thích bạn đó, bởi vì người bạn đó rất thơm, tôi liền cùng với bạn đó làm bạn trai bạn gái. Có một hôm bạn đó mời tôi đến nhà, khi ấy tôi đang học mẫu giáo, tôi thật sự đã đến nhà bạn đó chơi. Mẹ bạn đó nhìn thấy tôi thì nói: “Này, bạn trai con đến rồi đó!” Đúng là một giấc mộng! Nói cho bạn biết, bạn có còn là trẻ mẫu giáo không? Không còn! Thế còn Lâm Yến Ngọc? Tôi cũng không biết bạn đó đã đi đâu rồi. Đó không phải là một giấc mơ sao? Bạn bảo tôi quay về đi tìm Lâm Yến Ngọc, tìm ở đâu bây giờ? Một giấc mộng, thời mẫu giáo chính là một giấc mộng.

Bạn học tiểu học với tôi Hoàng Kim Hùng, cậu ấy là người bạn thân nhất của tôi, mỗi lần tôi trốn học trốn nhà, tôi đều ở nhà cậu ấy. Nhà cậu ấy ở đường Vĩnh Thái và đường Vĩnh Mậu, là đại lộ lớn nhất ở Cao Hùng, bố mẹ cậu ấy trước kia làm linh kiện xe hơi. Khi ấy rất ít người làm linh kiện xe hơi, rất ít người có xe hơi, họ làm linh kiện xe hơi kiếm được rất nhiều tiền, trong nhà rất giàu có. Hoàng Kim Hùng vẫn là bạn rất thân với tôi cho đến tận khi tôi học đại học. Khi tôi trở về Đài Loan thì cậu ấy đã đi rồi. *Game over.* Cậu ấy bị mắc bệnh tim và qua đời rồi. Bạn học thân nhất thời tiểu học của tôi, đó chính là một giấc mơ, giấc mơ đã qua rồi. 

Bạn học thân nhất của tôi thời cấp ba là Trang Chính Hòa, là tổng cán sự của Hiệp hội leo núi Cao Hùng, cậu ấy chết ở đâu? Người ở Mainland China (Trung Quốc Đại Lục) đều biết Đài Loan có núi A Lí. Khi xưa chúng tôi hát: “Một hai ba, đến Đài Loan, Đài Loan có A Lí Sơn”, lúc còn nhỏ chúng tôi thường xuyên hát. Bạn xem, tổng cán sự của Hiệp hội leo núi, khi leo núi vì lạc đường mà chết trên núi A Lí rồi. Bạn thân nhất của tôi Trang Chính Hòa, trước kia cậu ấy là phó chủ biên của tờ tạp chí Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng, tôi cũng là phó chủ biên, nhưng tôi kiêm chủ biên, bởi vì tôi tự mình biên tập tờ tạp chí Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng, tờ tạp chí Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng của trường Cấp ba Công Nghiệp Cao Hùng, hai cái tên của chúng tôi đặt cạnh nhau, Lư Thắng Ngạn, Trang Chính Hòa, chủ biên là Tuyết Hồng (Lí Thế Khai). 

Một giấc mộng thôi, đều đã qua rồi, người này cũng *game over* rồi. Bạn xem đi, đều là mơ thôi! Dịch bệnh này không phải là mơ sao? Dịch bệnh này cũng là một giấc mơ, giấc mơ này đến giấc mơ khác đều qua đi, còn tương lai thì sao? Chính mình cũng không có. Tương lai tôi vẫn còn có một cái chân thân, thường lạc ngã tịnh, cho nên cuộc đời tôi phân thành hai con người, kinh Kim Cang nói, thực tướng mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói chính là như vậy. 

Giống như bây giờ rất nhiều người già có bệnh, đúng thế không? Chúng ta trước kia có Thượng sư Lí Hạnh Chi, bà ấy chết rồi, sau đó trở về nói với tôi: “Chu choa, tôi không hề biết chết đi rồi tốt biết bao! Khi tôi còn sống, đi lại cũng rất khó khăn, chỗ này đau, chỗ kia đau, đầu gối đau, toàn thân đau! Đi lại phải còng lưng gập bụng, thân thể không thoải mái, đau đầu, đau họng, xương khớp toàn thân đều đau, đi lại rất khổ sở!” Sau khi bà ấy chết rồi thì chạy tới nói với tôi: “Bây giờ rất thoải mái!” *Butterfly*, thành con bướm rồi! Nhàn nhã ung dung, bay tới bay lui, làm gì còn đau? Chết rồi thì đau đớn gì cũng không còn, một giấc mơ! Chồng, con trai, con gái, một giấc mơ thôi! Bà ấy nói với tôi: “Nói với mọi người, chết đi thật tốt!” Bà ấy vãng sinh Phật quốc mà còn bay đến nói với tôi, bạn xem, chết đi tốt biết bao! Lúc còn sống, giai đoạn tuổi già đau khổ lắm, thời gian bị bệnh rất là thảm! Nhưng cũng là một giấc mộng huyễn, thực tướng chính là như vậy.

Vì thế, kinh Kim Cang là kinh điển xuất thế, kinh điển liễu nghĩa, nói cho bạn biết rằng, thực tướng chính là như vậy. Bạn đừng cho rằng bây giờ bạn rất vui vẻ, có tiền, có thế, tiền tài có, sắc cũng có, bạn cũng trẻ và xinh đẹp, còn có địa vị nữa. Địa vị bạn cũng có, sắc đẹp bạn cũng có, tiền bạn cũng có, đó chỉ là một giấc mộng thôi! Không có vĩnh viễn! Đều là nhất thời! Tôi nói với bạn, cái này đều là một giấc mơ ngắn ngủi. Cho nên nói với bạn rằng: *“Tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh”.* Không phải một cá nhân tôi như vậy, các bạn cũng đều như vậy! Tôi là cái tôi giả, các bạn là con người giả. *“Tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh. Tất cả tướng tức không phải tướng.”* Đúng vậy, tôi cũng từng trẻ trung phong độ mà, đúng vậy không?

Tôi để tấm ảnh lúc tôi còn trẻ trung phong độ ở trong cái ví da của tôi, tôi nói cho bạn biết, tôi so với ca sĩ, so với những ngôi sao ca nhạc, so với những ngôi sao điện ảnh, như Hàn Quốc đó, những thiếu niên trẻ tuổi, tôi còn đẹp trai hơn họ nữa! Đúng mà, khi tôi còn trẻ tôi rất đẹp trai! Tôi hất mái tóc một cái như thế này thì rất nhiều cô gái đều kêu ré lên rồi ngất xỉu đó! Tôi có không ít bạn gái đâu, tôi nói với bạn, Sư Mẫu không biết đâu. Thật đó, tôi rất đẹp trai. Bạn nhìn tấm ảnh của tôi lúc còn trẻ, chẳng phải tôi từng lấy ra cho các bạn xem rồi sao? Tôi mang theo người, bây giờ ở trong ví da cũng có, lấy ra xem tấm ảnh đẹp trai hơn cả những thanh niên Hàn Quốc bây giờ, tôi có thể so sánh được với họ.

Thế nên Như Lai nói: *“Tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng.”* Đương nhiên rồi, qua đi rồi thì không còn nữa. Vì thế Phật nói *“không nên trụ trong thanh hương vị xúc pháp mà sinh tâm, nên sinh tâm vô sở trụ”*. Thanh hương vị xúc pháp, toàn bộ đều là nhất thời. Những gì bạn nhìn thấy bây giờ, cảnh giới mà bạn chạm tới, đó là cảnh giới nhất thời, cảnh giới trong một thời gian ngắn như thế thôi, sau đó là không còn nữa. Vì thế, *“Như Lai nói: tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng. Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.”* Tôi nói với bạn, những gì nói đến trong kinh Kim Cang là thật. 

Bố hỏi: “Con yêu bố hay yêu mẹ?” Tiểu Minh: “Yêu cả hai.” Bố: “Nếu bố đi Mĩ, mẹ đi Paris, con đi đâu?” Tiểu Minh: “Paris.” Bố: “Vì sao?” Tiểu Minh: “Bởi vì Paris đẹp.” Bố: “Nếu bố đi Paris, mẹ đi Mĩ thì sao?” Tiểu Minh: “Đương nhiên là đi Mĩ rồi.” Bố: “Vì sao lần này con vẫn đi cùng mẹ?” Tiểu Minh: “Bởi vì vừa mới đi Paris rồi.”

Tôi nói với bạn, đi Paris, đi Mĩ đều là giấc mơ, đi đâu cũng đều là một giấc mơ. Có một ngày bạn không đi nữa, đó chẳng phải mơ thì là gì? Paris tôi đã từng đi rồi, Anh Quốc tôi cũng đi rồi, Châu Âu tôi cũng đã đi nhiều quốc gia rồi, sau này không đi nữa, đó không phải là giấc mơ sao? Một giấc mộng huyễn thôi!

Ông Vương đánh bài thua 100 đồng, bị vợ mắng ngay nơi công cộng, tức là mắng ngay trước mặt mọi người. Tôi thấy ông Vương rất tội nghiệp liền an ủi ông ấy: “Ông thế là còn tốt đấy, tuần trước tôi ở chợ mua rau, từ xa nhìn thấy một người đàn ông bị vợ chửi như thể dội máu chó lên đầu, thế mới gọi là mất mặt.” Ông Vương nghe xong thì nước mắt rơi lã chã: “Người kia cũng là tôi đó.” Đừng sợ, rồi sẽ có một ngày, vợ bạn sẽ không chửi bạn nữa, bởi vì khi trò chơi này kết thúc rồi, *game over*, thì chẳng còn gì nữa. Hôm nay chúng ta nói đến đây cũng *game over*. Om mani padme hum!

*(Ngày 1/1/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 46.)*

### 47. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (10)

*(Bài giảng 47)* Lời chân thật

*“Tu Bồ Đề! Như Lai nói lời chân chính, đúng thật, như nghĩa, không nói dối, không nói lời sai khác.*

*Tu Bồ Đề! Pháp mà Như Lai có được, pháp này không thực không hư. Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng.* 

*Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì xem như Như Lai dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên.”*

Tôi chỉ giảng một câu *“Tu Bồ Đề! Như Lai nói lời chân chính, đúng thật, như nghĩa, không nói dối, không nói lời sai khác.”* Kinh điển này nói về thực tướng, thực tướng chính là phi tướng, không có mọi tướng. Bản thân Phật nói ngài là người *nói lời chân chính*, điều ngài nói là lời thật, người *nói lời chân chính*, điều nói ra là lời đúng thật, như nghĩa, chân tướng này giống như tôi đã giảng, *không nói dối*, Phật không hề lừa người ta. *Không nói lời sai khác*, không nói hai lời, chỉ có một lời thôi. Thực tướng duy nhất, thực tướng chính là phi tướng, căn bản là cái gì cũng không có. Câu này giải thích đơn giản chính là như vậy, nếu bạn thâm nhập được, bạn sẽ biết. 

Tôi nói với bạn, bây giờ tôi đang ngồi ở đây thuyết pháp, đích thực là có một Lư Thắng Ngạn đang ngồi thuyết pháp, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự cũng là có thật, bạn đều nhìn thấy. Hôm nay có gió tuyết đầy trời, bạn đều nhìn thấy, Hộ Ma Bảo Điện bạn đều nhìn thấy, cái này không phải là chân thực sao? Người ngồi bên trái bạn, bên phải bạn là ai, bạn đều nhìn thấy được, sao mà không thật chứ? Vì sao lại nói là đều không có? Những gì chúng ta nhìn thấy hôm nay, chúng ta tiếp xúc, đều là chân thực mà! Sư Tôn ở đây thuyết pháp, các bạn ngồi ở dưới kia, đúng vậy không? Bạn thấy Liên Viễn đến từ Indonesia kia, bạn thấy Liên Già đến từ Brazil, bạn thấy Liên Uân đến từ địa phương nào đó, nhìn thấy bốn người đang ngồi trơ ra đó, mọi người đều nhận ra mà, đó chẳng phải là rất chân thực sao? Sao lại nói là không có ai thuyết pháp, không có ai nghe pháp, cũng không có việc thuyết pháp này, làm sao phân biệt đây?

Phật Thích Ca Mâu Ni nói “thực tướng chính là phi tướng”, ngài là người nói lời chân thật, điều ngài nói là lời chân thật, lẽ nào điều chúng ta nói là lời giả dối sao? Tenzin Gyatso ngồi ở đó mà, đúng không? Còn đây là Thượng sư Piano, hai người còn lại chúng ta không nói, nhưng hai người này thì đích thực là con người thực tại, đây chẳng phải là rất chân thực sao? Tôi nói với bạn một chuyện, cái đó gọi là thấy cảnh sinh tình, là cảm nhận hiện tại của bạn, bạn có cảm giác thấy, con mắt bạn nhìn thấy, thậm chí bạn nghe thấy họ, bạn có nhìn thấy hình tướng đó, theo như lời Phật nói thì đó chỉ là nhất thời, một khoảng thời gian ngắn. Hôm nay mọi người ngồi ở đây, nhìn người bên trái bên phải, tuần sau lại đến nhìn thì không giống nữa, tuần sau lại đến thì đã khác rồi.

“Khi nào ông đi?” (Sư Tôn hỏi Thượng sư.) Thứ tư đi à. Bạn xem, tuần sau là không còn ông ấy nữa rồi, đã khác rồi, tuần sau là không thấy ông nữa rồi. Liên Nguyên khi nào thì đi? Ngày 12, thế thì tuần sau vẫn còn ở đây, anh có còn ngồi ở đây nữa không? Đúng mà! Cái gì thay đổi thì không phải là chân thực, cái chân thực thì sẽ không thay đổi, chỉ có cái Không mới không đổi, bất kì cái gì cũng đều biến đổi, đều đổi khác.

Giống như một đôi tình nhân thề non hẹn biển: “Nước biển có thể khô cạn, sỏi đá có thể thối rữa, nhưng tấm chân tình của tôi vẫn không đổi.” Cái đó gọi là “bốc phét”, không có chuyện đó. Tình yêu đều thay đổi. Thế nào là “yêu em một vạn năm”, ai hát bài đó nhỉ? Lưu Đức Hoa. Tôi không biết anh ta đã thay đổi chưa. Đó căn bản là nói khoác. Theo như điều Phật nói, bất kì sự việc gì cũng đều nằm trong sự biến đổi, mỗi một giây, mỗi một phút, mỗi một giờ, đều đang thay đổi, bất kì lúc nào cũng đều là vô thường. Điều Phật nói đều là vô thường, toàn bộ đều sẽ thay đổi, tình cảm cũng thay đổi, vợ chồng cũng sẽ thay đổi như thế. Cái gọi là “phu thê” chính là lừa gạt lẫn nhau đó <span className="note-blue">[Ở đây Sư Tôn chơi chữ bằng cách dùng từ đồng âm khác nghĩa.]</span> Hôm nay tôi lừa anh, ngày mai anh lừa tôi, mọi người lừa qua lừa lại, thật sự, cái gì là thực tướng?

Cái duy nhất không đổi chính là Phật tính, chính là cái Không, là không có gì cả. Có một người chứng đạo, viết một bài “Chứng đạo ca”, là của đạo sư Vĩnh Gia viết: “Trong mộng rõ ràng có lục thú, tỉnh rồi trống trải không đại thiên.” Ở trong mơ bạn rõ ràng có lục thú, mơ là chỉ cuộc đời, có Trời, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, đây là lục thú. Chúng ta hiện tại cũng là có lục thú, lục đạo luân hồi. Tối hôm qua tôi quên không nói, bạn có nghiệp thì chắc chắn sẽ có lục đạo luân hồi, trừ phi nghiệp của bạn đã không còn gì thì bạn mới có thể thành đạo. “Tỉnh rồi trống trải không đại thiên”, bạn đã khai ngộ rồi thì mới biết là không có, ngay cả đại thiên thế giới cũng không tồn tại. 

Một nhật nguyệt của chúng ta (một mặt trời, một mặt trăng) làm thành một tiểu thiên thế giới, ba nghìn tiểu thiên thế giới làm thành một trung thiên thế giới, ba nghìn trung thiên thế giới làm thành một đại thiên thế giới. Ba nghìn đại thiên thế giới thì gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Phật giáo nói đến tam thiên đại thiên thế giới, bạn nói xem thế giới lớn đến mức nào? “Tỉnh rồi trống trải không đại thiên.” Tam thiên đại thiên thế giới đều không tồn tại, đó là điều mà đại sư Vĩnh Gia viết: “Trong mộng rõ ràng có lục thú, tỉnh rồi trống trải không đại thiên.” Ngẫm nghĩ thì đúng là vậy. Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni nói, *“Như Lai nói lời chân chính, đúng thật, như nghĩa, không nói dối, không nói lời sai khác.”* Không có cách nói thứ hai, cái gì cũng không có.

Mọi người cho rằng Phật Thích Ca Mâu Ni nói thế nào? Có phải là chân thực không? Trước kia tôi đi Paris xem tháp Eiffel, tôi thật sự đã nhìn thấy tháp Eiffel như thế này, bây giờ tôi không ở nước Pháp, tôi không nhìn thấy tháp Eiffel ở Paris, trong kí ức của tôi thì có, kí ức về tháp Eiffel ở Paris, nhưng mà có thật không? Trong kí ức, có hình tượng của tháp Eiffel ở Paris trong não tôi. Tôi đã đến sông Thames, tôi biết sông Thames trông như thế nào. Tôi đã đi Hà Lan, đã biết nhà cửa ở Hà Lan được xây dựng như thế nào. Tôi đã đến núi Alps, tôi biết hình dáng núi Alps như thế nào. Tôi đã đến Thụy Sĩ, nhìn thấy hình dáng hồ của Thụy Sĩ. Tôi đã đến nước Đức, đã đến Munchen, tôi cũng đã thăm nhà máy sản xuất xe BMW, trong ấn tượng của tôi đều có.

Nếu như bạn chưa đi, bạn chỉ nhìn tranh ảnh thì bạn cũng có ấn tượng đó ở trong đầu, chúng ta xem phim ảnh cũng có ấn tượng đó ở trong đầu. Nhưng bây giờ đã thay đổi rất nhiều rồi, nếu bạn không đi lại thì có phải là dường như đã mấy đời trôi qua không? Cuộc đời này có lẽ có thể đi, cũng chưa chắc có thể đi. Ví dụ như hội đồng tu ở Tây Ban Nha vẫn luôn muốn tôi đi, muốn đi đến đó thì cũng phải xem thời gian thế nào. Trong não của tôi, hội đồng tu ở Tây Ban Nha đó, tôi chỉ nhìn qua ảnh chụp. Mọi người vì xúc cảnh sinh tình mới khiến bạn cảm thấy là có, bạn không nhìn thấy thì sẽ biến thành không có, bạn chưa nghe thấy thì sẽ biến thành không có.

Vì thế trước đây Malaysia có “Con Khỉ” chỉ trích Sư Tôn ở trên mạng, Singapore thì có Nghiêu Trung cũng chỉ trích Sư Tôn ở trên mạng, ở Đài Loan cũng có mấy người, họ cũng phê bình Sư Tôn, nhưng con người tôi đây không có điện thoại cầm tay, không có máy vi tính, không có máy tính bảng, từ đầu tới cuối tôi đều chẳng đọc được những lời phê bình đó. Cũng có người in ra đưa cho tôi đọc, Sư Mẫu cũng in ra rất nhiều đưa cho tôi đọc, tôi nói tôi không đọc những cái này, tôi không muốn đọc chúng nên quăng chúng đi luôn. Người ta phê bình, sau đó đồng môn nói với tôi: “Sư Tôn ơi, nghiêm trọng lắm, rất nghiêm trọng.” Tôi chẳng cảm thấy nghiêm trọng gì, bởi vì tôi không biết, người ta viết cái gì tôi cũng đều không biết, tôi không để trong lòng, cũng không để trong đầu, vì thế căn bản là không có áp lực gì, một chút xíu áp lực cũng không có.

Bởi vì bạn thấy cảnh tư tình, đọc thấy thì mới có áp lực, bạn không đọc thấy thì sẽ không có áp lực. Đồng môn đọc xong nói với tôi là rất nghiêm trọng, còn tôi thì mỗi ngày đều sống rất tốt, một chút cảm giác cũng không có. Chửi bạn, phê bình bạn, chẳng hề có cảm giác gì, bởi vì bạn không nhìn thấy cũng không nghe thấy, căn bản là bạn không có áp lực. Nếu như bạn nhìn thấy và cũng nghe thấy, đương nhiên sẽ có áp lực rồi, cho nên bạn hãy tắt nó đi thì bạn chẳng hề có áp lực gì, trống rỗng trống trơn. Ồ, đã 5 giờ 31 phút rồi. Bạn xem, tôi đã nhìn thấy giờ rồi, thế là tâm lí tôi sẽ rất căng thẳng, đây chính là xem thời gian thì trong lòng sẽ căng thẳng đó, chứ nếu không thì tôi cứ tiếp tục nói, giảng đến 6 giờ luôn. 

Đây gọi là thấy cảnh nghĩ tình, bởi vì bạn đã nhìn thấy rồi, nếu không nhìn thấy, một chút áp lực cũng không có. Vì thế Lão Tử nói một câu: “Vi học nhật ích”, nghĩa là mỗi ngày bạn cần hấp thụ thêm vào những tri thức mới, học vấn của bạn sẽ trở nên rất lớn. “Vi đạo nhật tổn”, nghĩa là học đạo thì nhất định phải vứt bỏ hết những thứ rác rưởi. Lão Tử nói câu này cũng giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, phải tiêu trừ toàn bộ nghiệp chướng của bạn giống như thế, bạn sẽ trống không, bạn sẽ có thể chứng đạo, đó mới là đạo chân chính.

Điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói, trong thân thể bạn hoàn toàn không có thứ gì nữa, không có nghiệp nữa, căn bản sẽ không có lục đạo luân hồi, có lục đạo luân hồi này là vì bạn có nghiệp nên mới có lục đạo luân hồi. Có thiện nghiệp thì sẽ sinh vào đạo Trời, đạo Người, đạo Atula, có ác nghiệp thì sẽ sinh vào Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Con người đều ở trong sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, sinh tử, cứ sinh tử như thế trong luân hồi, lục đạo là luân hồi như vậy. Bạn muốn thoát khỏi lục đạo luân hồi, hôm nay tôi nói lời chân thật: làm sạch trơn nghiệp chướng của bạn thì bạn mới có thể đắc đạo, mới có thể thành Phật, mới có thể thành Bồ Tát. Om mani padme hum.

*(Ngày 02/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hổ Đầu Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 47.)*

### 48. Phần thứ 14: Lìa tướng tịch diệt (11)

*(Bài giảng 48)* Không thực không hư

*"Tu Bồ Đề! Pháp mà Như Lai có được, pháp này không thực không hư.”* Vì sao Phật nói là không thực không hư? Bởi vì hư chính là thực, thực chính là hư. 

*“Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng.*

*Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì xem như Như Lai dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên.”*

Đoạn mà chúng ta giảng ngày hôm nay, pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni có được, có thực có hư, vì sao? Bởi vì hư chính là thực, thực chính là hư. Tôi đã giảng nhiều như vậy, các bạn đã biết thế nào gọi là hư, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng” chính là hư; thực tướng là cái gì? Thực tướng chính là hư, thực tướng chính là “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Thực chính là hư, hư chính là thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực.

Vì sao Phật Đà luôn nhắc đến *“mà làm việc bố thí”*? Thường xuyên nhắc đến hai chữ bố thí. Tôi nói với bạn, bố thí chính là làm việc tốt, chính là từ bi hỉ xả đó, nếu bạn “trụ tướng bố thí”, thì sẽ không thể rời xa luân hồi. Thế nào gọi là “trụ tướng bố thí”? Phật Đà thường nói câu này, bạn muốn rời xa lục đạo luân hồi, đây là điều quan trọng nhất của người học Phật chúng ta. Sau khi bạn khai ngộ rồi bạn mới đi tu hành trên thực tế, có một ngày bạn thoát khỏi luân hồi rồi, bạn không còn phải luân hồi nữa, bạn đã đến Tứ thánh giới rồi, nhưng chỉ cần bạn trụ tướng thì bạn sẽ không thể đến được Tứ thánh giới.

Không hề sai đâu, hôm nay chúng ta làm bố thí, chúng ta đang làm từ bi hỉ xả, nhưng bạn không thể có suy nghĩ bố thí, không thể nghĩ là bạn đang làm việc thiện, bạn đang làm từ, làm bi, làm hỉ, làm xả, không được nghĩ như vậy, thế mới gọi là “không trụ tướng bố thí” mà Phật Thích Ca Mâu Ni thường nói đến. Bởi vì bạn mà “trụ tướng bố thí” thì tuyệt đối vẫn thăng lên cõi trời, nhưng cõi trời thì vẫn không thể rời xa luân hồi, điều mà Phật giáo nói đến chính là phải thoát khỏi luân hồi, giải thoát luân hồi thì bạn vĩnh viễn có thể thành tựu Như Lai. 

Một mục đích, bạn làm việc thiện, tuyệt đối không thể có cái suy nghĩ là “mình làm việc thiện” để ở trong tâm. Bạn có suy nghĩ này thì cũng là tốt, nhưng không phải là rất tốt, và bạn chỉ có thể có được phúc báo làm Thiên nhân, bạn có được phúc báo này bạn có thể lên trời. Phật Thích Ca Mâu Ni nhấn mạnh điểm này, nhấn mạnh cực kì cực kì nhiều lần. Tôi thường xuyên nói, Jesus cũng nói: “Việc thiện tay phải làm đừng để tay trái biết”, cái này gọi là làm việc thiện chân chính.

Khi bạn làm việc thiện, tâm bạn vốn dĩ chính là đang làm việc thiện, tất cả hành vi của bạn đều đang hành thiện, nhưng không thể có suy nghĩ hành thiện thì đây gọi là không có tướng, Phật Thích Ca Mâu Ni nhấn mạnh điểm này, nhấn mạnh rất nhiều lần, luôn luôn nhấn mạnh điểm này. Bởi vì làm việc thiện tức là không phải làm việc thiện, bởi vì không phải làm việc thiện mới là việc thiện đó. Cái gọi là công đức chính là không phải công đức, bởi vì không phải công đức nên mới là công đức đó. Trong kinh Kim Cang cũng nhiều lần nhắc đến, cái gọi là công đức căn bản không phải là công đức, vì không phải là công đức nên mới là công đức đó!

Cho nên chúng ta làm bất kì bố thí nào thì không phải là bố thí, bởi vì không phải là bố thí nên mới là bố thí chân chính! Nếu hôm nay bạn làm việc thiện, ngày mai đã đăng lên báo, lên ti vi rồi thì việc đó không có công đức, đó chỉ là giúp bạn lên trời mà thôi! Bạn đã làm rất nhiều việc thiện, người ta ca ngợi bạn là người tốt, tôi nói với bạn, làm việc thiện cũng đừng để người ta nói bạn là người tốt! Người ta có nói thì bạn cũng không được để trong lòng, bạn vốn dĩ là tốt, nhưng không để trong lòng. Không trụ tướng bố thí, điểm này rất quan trọng, cho nên bạn đọc toàn bộ kinh văn này: *“Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng.”*

*“Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này…”* Người có thể giảng giải kinh này, có thể tiếp nhận “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, người có thể vĩnh viễn giữ gìn, hơn nữa còn có thể đọc tụng, người này tương lai nhất định có thể thành Phật. Nếu bạn làm được như vậy, sau này nhất định có thể giải thoát lục đạo luân hồi.

*“Dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên.”* Vì sao Như Lai đều biết người ấy? Bởi vì Phật và Phật biết nhau, Như Lai đều biết người ấy, đều thấy người ấy, bởi vì bản thân người đó đã không còn là con người, không là con người thì là cái gì? Người ta chửi bạn “Mày đúng là không phải là con người!”, vậy thì bạn nên vui mừng, bởi vì bạn là Phật rồi! Cái này chỉ có Phật và Phật với nhau biết, đạo lí này chỉ có Phật và Phật biết với nhau, giải thoát lục đạo luân hồi rất khó đó. 

Tôi từng nói với người ta, kinh Kim Cang này nói rất hay, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, bạn đi thực hành “không trụ tướng bố thí”, sau này bạn sẽ có thể thành tựu, trở thành Phật Bồ Tát, Bồ Tát chân chính, A La Hán chân chính. Vì sao có thể trở thành A La Hán? Bởi vì con người có cảm giác, cảm giác của con người từ đâu đến? Từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà đến, A La Hán đóng chặt sáu giác quan, nhắm mắt lại không nhìn, tai không nghe, miệng không nói, lưỡi không có vị, thân thể không tiếp xúc, ý niệm suy nghĩ cũng không có thì sẽ thành tựu A La Hán. 

Có người nói với tôi: “Đạo lí mà Sư Tôn nói chúng tôi đều biết, chỉ là rất khó làm được.” Vì sao rất khó làm được? Thói quen đều không thay đổi thì làm sao bạn làm được. Tập tính vẫn còn đó! Tham sân si nghi mạn này, đủ mọi tập tính, bạn phải từ từ thay đổi, thay đổi đến cuối cùng thì tất cả đều bình đẳng. Cho nên những gì như Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói đây rất khó tìm thấy ở những tôn giáo khác, đương nhiên tôn giáo khác cũng có, chỉ là họ không nói một cách rõ ràng giống như Phật Thích Ca Mâu Ni nói.

Tôn giáo khác chỉ đến Thiên đường, nhưng nếu hiểu được Jesus, bạn hiểu Jesus thì sẽ thấy đạo của Jesus thật sự có Phật pháp, ở con người Jesus thật sự là Phật pháp. Bạn hãy xem chữ “xả” trong từ bi hỉ xả kia, Jesus cũng có nói về chữ “xả” này, Jesus cũng nói về “không trụ tướng bố thí”: “Việc mà tay phải làm, đừng để tay trái biết.” Đây là không trụ tướng bố thí, Jesus cũng nói, chỉ là rất ít người hiểu được.

Bởi vì bản thân Jesus cũng đã đến núi Himalaya, học pháp của Bạch giáo, học pháp của Hồng giáo, ngài trở về truyền Phúc Âm của Thiên đường. Ngài đến thế giới Ta Bà nói về Thiên đường, đó chỉ là cơ bản thôi, bởi vì thọ mệnh của ngài rất ngắn, ngài truyền pháp chỉ được ba năm thì đã bị đóng đinh trên thập tự giá rồi, không kịp để giảng thêm! Bằng không thì nói không chừng Jesus cũng là Phật Đà đó, ngài thật sự giống như Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì thế đạo lí tôi nói ở đây, bạn xem Thánh Teresa của Thiên Chúa giáo, ngài coi mỗi con người đều là Thượng Đế, tư tưởng này chính là bốn chữ từ bi hỉ xả. Trên phương diện nhập thế, chữ “xả” đó của ngài là quan trọng nhất, chữ xả đó hoàn toàn xem là bình đẳng, mỗi con người đều là Thượng Đế, đó không phải là Thánh nhân thì là cái gì? Đương nhiên ngài là Thánh nhân, nếu là Thánh nhân thì có thể xuất khỏi tam giới, không còn luân hồi nữa. 

Đây là đoạn mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói: 

*"Tu Bồ Đề! Pháp mà Như Lai có được, pháp này không thực không hư. Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng. Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì xem như Như Lai dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên.”*

Hãy nhớ rõ, thọ trì, đọc tụng chính là truyền pháp, người đó chính là Như Lai. Trí huệ của Phật, huệ nhãn của Phật đều có thể biết người này là Như Lai, đều biết người ấy, người này chính là Phật. *“Đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên”,* căn bản là vô lượng vô biên, công đức có được rất nhiều, chính là như thế. Om mani padme hum.

*(Ngày 08/01/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 48.)*

### 49. Phần thứ 15: Công đức trì kinh (1)

*(Bài giảng 49)* Tín tâm thuận theo

Chẳng trách mà có rất nhiều người niệm kinh Kim Cang, thì ra trì tụng kinh điển này cũng có công đức. 

*"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ vào đầu ngày mới dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, vào giữa ngày dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, vào cuối ngày dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, cứ như thế trong vô lượng trăm nghìn vạn ức kiếp dùng thân mà bố thí; nếu lại có người nghe kinh điển này, tín tâm thuận theo, thì phúc còn hơn cả công đức bố thí kia.”*

Phật Đà là như vậy đó, Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích dùng so sánh, hễ so sánh là lại lấy cát sông Hằng ra để so sánh. Ấn Độ chỉ có một con sông Thánh, con sông Thánh này chính là sông Hằng. Vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, Nữ Thần Sông Hằng chính là Saraswati, rất nổi tiếng. Cái này cũng là so sánh, Phật nói chỉ cần bạn nghe được kinh điển này, có lòng tin đối với kinh điển này, và không làm trái ý nghĩa của kinh điển này, trọng điểm nằm ở hai chữ “thuận theo” này. *“Nghe kinh điển này”,* bạn nghe được kinh Kim Cang này, nghe được và tín tâm thuận theo, chà, hai chữ “thuận theo” này rất quan trọng, không vi phạm ý nghĩa của kinh Kim Cang, có nghĩa là bạn thực thi những ý nghĩa trong kinh Kim Cang, trọng điểm là nằm ở đây.

“*Thì phúc còn hơn cả công đức bố thí kia”,* đương nhiên là công đức vô cùng to lớn, công đức vô lượng. Ngài nói như vậy, vào đầu ngày mới, thế nào gọi là đầu ngày mới? Khi mặt trời mới mọc thì gọi là đầu ngày mới. Vào giữa ngày, khi mặt trời lên cao chính giữa thì gọi là giữa ngày; vào cuối ngày, khi mặt trời sắp xuống núi thì gọi là cuối ngày. Phật nói: “*dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí”,* bố thí của người đó giống như bố thí cát sông Hằng, nhưng mà trải qua thời gian bao lâu? *“Cứ như thế trong vô lượng trăm nghìn vạn ức kiếp.”* Chà, trăm nghìn vạn ức kiếp, thời gian ấy thật sự là quá dài.

Bạn làm được công đức như vậy, liên tục làm, làm không ngừng nghỉ, ý nói rằng cả ngày bạn đều làm bố thí, số lượng bố thí nhiều như số cát sông Hằng, mỗi ngày đều làm như vậy, hơn nữa phải làm thời gian bao lâu? Trăm nghìn vạn ức kiếp. Một kiếp đã là cực kì rồi, mọi người tra xem một kiếp là bao nhiêu thời gian? Trong kinh điển thường dùng kiếp. (Đệ tử: một tiểu kiếp là hơn 1600 vạn năm.) Hơn 1600 vạn năm, bạn xem Trung Quốc có lịch sử 5000 năm thì là mấy kiếp? Một tiểu kiếp là hơn 1600 vạn năm. 

Ở đây viết *“vô lượng trăm nghìn vạn ức kiếp”* đó! Bạn làm công đức bố thí lâu như vậy, hơn nữa cả ngày đều phải làm, buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, làm không ngừng nhiều công đức bố thí như vậy, thế mà đều thua việc nghe được kinh điển này, *“tín tâm thuận theo, thì phúc còn hơn cả công đức bố thí kia”,* phúc đức này còn thắng cả những công đức kia. Chỉ mỗi đọc tụng kinh điển này, hiểu nghĩa của kinh điển này, thực thi “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, bạn làm theo như vậy, như thế còn hơn cả những công đức kia.

“Thuận theo”, không phải là vi phạm những ý nghĩa trọng yếu ở trong kinh Kim Cang. Hai chữ “thuận theo” rất quan trọng! Không phải là mỗi ngày bạn tụng một biến thì công đức sẽ hơn cả bố thí trăm nghìn vạn ức kiếp, bố thí trăm nghìn vạn ức kiếp đều thua tôi hết, tôi niệm kinh Kim Cang là có công đức như vậy, không phải! Phật nói “nghe kinh điển này”, bạn nghe thấy, bạn tin tưởng, và bạn tín tâm tuân theo, không vi phạm yếu nghĩa trong kinh Kim Cang. 

Yếu nghĩa của kinh Kim Cang là “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, phúc đức này là cực kì, hơn cả công đức có được khi bạn bố thí trăm nghìn vạn ức kiếp, thắng vượt công đức đó. Trên thực tế, tôi cũng cảm thấy là siêu việt hơn, chính tôi cũng biết chắc chắn là siêu việt hơn, bởi vì không ai có thể thắng được “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, không có ai!

Nếu như bạn có thể làm như vậy, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, bạn có thể nắm chắc được yếu nghĩa của nó, có thể thực tiễn trên chính bạn, bản thân bạn chính là Phật, như thế là rất cao rồi. Kì thực, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng” chính là khai ngộ, bạn đi thực thi sự khai ngộ này thì bạn chính là Phật rồi, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chính là Phật tính.

Điều Lão Tử nói, Lão Tử nói cái gì? Tôi nói thành lời nói xuôi dễ hiểu: “Chính vì cái gì cũng đều không có, kì thực cái gì cũng đều không có, nhưng trong đó có vật, dường như trong đó có vật.” Lão Tử nói như thế: cái gì cũng không có, trong mơ hồ có vật, trong đó có vật. (Chú thích: Đạo Đức Kinh viết: “*Hốt hề, hoảng hề, kì trung hữu tượng. Hoảng hề, hốt hề kì trung hữu vật”*, tức là: trong hoảng hốt vẫn có hình tượng của Đạo, trong hoảng hốt vẫn có vật - bản thể của Đạo.) Bây giờ tôi cũng nói, cái gì cũng không có, nhưng trong đó có Phật tính. Cái gì cũng không có, trong đó đã có Phật tính, Phật tính đó chính là Phật.

Hai chữ “thuận theo” là trọng điểm, bạn không vi phạm những yếu nghĩa nói đến trong kinh Kim Cang, bạn có thể thực tiễn, bản thân bạn chính là Như Lai. Vậy bây giờ chúng ta là cái gì? Chúng ta ngồi đây nghe pháp, người thuyết pháp thực ra là không có, cũng không có Phật pháp; người nghe pháp không nghe thấy Phật pháp, người thuyết pháp không có giảng Phật pháp, cũng không có cái thứ Phật pháp này, nhưng mà trong đó có vật. 

Tôi nói như thế này, cái gì gọi là Như Lai? Hình như có đến, kì thực chúng ta thường nói Như Lai, Như Lai, Như Lai chính là Phật rồi. Chúng ta nói A Di Đà Như Lai, và A Di Đà Phật thật ra là như nhau, Phật chính là Như Lai. Như Lai có ý nghĩa gì? Dường như có đến. Thế nào gọi là Như Khứ? Bạn tra kinh điển một chút sẽ biết, dường như có đi, Như Khứ cũng chính là Như Lai. Tôi nói với mọi người, mọi người đều chỉ biết Như Lai, không biết Như Khứ, Như Khứ cũng là Như Lai, dường như có đến, dường như có đi.

Hôm nay đây, hình như Lư Sư Tôn có làm Hộ Ma ở Biệt thự Cầu Vồng, giảng Phật pháp cho mọi người, chỉ có thể nói hình như có, chính là Như Lai. Đợi một lát pháp hội này của chúng ta kết thúc rồi, mọi người đều trở về, hình như có đi, chính là Như Khứ. Dường như có đến, dường như có đi, người này chính là Phật, Như Lai, Như Khứ đều là Phật. Nếu bạn hiểu được đạo lí này thì sẽ biết, điều chúng ta đang làm bây giờ chính là “Như” (dường như), vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời đại đó, dường như có ở Linh Sơn thuyết pháp.

Phật Thích Ca Mâu Ni dường như có ở Linh Sơn thuyết pháp, Sư Tôn dường như có ở Linh Sơn nghe pháp, chỉ có thể nói như vậy, bởi vì đó đã là quá khứ rồi, sau này sẽ cùng mọi người nói đến. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, kì thực cái gì cũng không có, bởi vì pháp hội ở Linh Sơn đã qua rồi. Bây giờ Lư Sư Tôn đang ở Hộ Ma Bảo Điện của Biệt thự Cầu Vồng thuyết pháp, hiện tại cũng sẽ trở thành quá khứ. Tuần trước tôi nói Thượng sư Liên Già ngồi ở đây, bây giờ Thượng sư Liên Già đã không còn ở đây nữa rồi, bà ấy đã trở về văn minh cố quốc rồi. Sự việc này liệu có diễn biến lại không? Không có, đã qua rồi.

Bà ấy hình như có đến, lại hình như có đi, còn bây giờ thì không có, cho nên hiện tại cũng sẽ trở thành quá khứ, bởi vì ngày mai sẽ trôi qua, sẽ không có lại nữa. Hãy nhìn đi! Quá khứ đã qua rồi, hiện tại cũng sẽ thành quá khứ, tương lai còn chưa đến, vậy ở đây có cái gì? Cái gì cũng không có. Yếu nghĩa của kinh Kim Cang là ở đây - quá khứ đã trôi qua, hiện tại cũng sẽ thành quá khứ, tương lai còn chưa đến, ở đây có cái gì? Không có! Vì thế Tâm Kinh mới nói là “bất khả đắc”. 

Bạn có biết Trung Quốc trước kia, đế quốc lớn nhất là đế quốc Mông Cổ, là lớn nhất! Kéo dài suốt châu Á đến châu Âu, bạn hãy xem đế quốc Assyria, đế quốc Macedonian, đế quốc La Mã, khi xưa huy hoàng biết bao, cả châu Âu kéo dài đến tận châu Á, đế quốc đó là rất rộng lớn. Macedonian, Assyria, La Mã đại đế quốc đều là những đế quốc rất lớn. Dường như có những đế quốc này là đúng, có! Nhưng đã qua rồi, đã như khứ rồi, đế quốc cũng không còn tồn tại nữa. Giống như đại đế quốc Mông Cổ to lớn như vậy cũng không còn nữa! Ba Tư trước kia cũng từng là một đại đế quốc Ba Tư, cũng có một giai đoạn là đại đế quốc. 

Bạn hãy xem Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế đều muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, tìm kiếm trường sinh bất lão, còn đi ra ngoài biển để tìm tiên đơn. Hán Vũ Đế cũng đã uống không ít tiên dược, tiên đơn, Hán Vũ Đế kêu người ta luyện tiên đơn cho ông ấy uống, kết quả là Hán Vũ Đế cũng chẳng còn nữa! Tần Thủy Hoàng nói: “Ta là Thủy Hoàng Đế, thống nhất sáu nước, ta là Thủy Hoàng Đế!” Nghĩa là vị hoàng đế vĩnh viễn. Tần Thủy Hoàng cũng phái Từ Phúc đi ra ngoài tìm tiên đơn, ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ cùng lên thuyền, bảo Từ Phúc đi thuyền ra núi Tiên ở ngoài biển để tìm tiên đơn, kết quả là một đi không trở lại! Tần Thủy Hoàng cũng không thể làm hoàng đế vĩnh viễn. Hán Vũ Đế cũng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, cũng muốn trường sinh bất lão, đã uống không ít tiên đan, nghe nói Hán Vũ Đế còn bị tiên đơn hại chết nữa, uống tiên đơn kết quả là bị chết.

Thế nên bạn hãy nhìn lịch sử, một triều đại như vậy, một triều đại tiếp tục, tôi đã đọc Trung Quốc 5000 năm văn hóa, các triều đại Đường, Ngu, Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, bốn nước (Ngụy, Thục, Ngô, Yên), Ngụy, Tấn nam bắc triều, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, cho đến bây giờ, bao nhiêu triều đại rồi, bao nhiêu chiến tranh rồi, bao nhiêu cuộc tranh bá, kết quả đều là không, cái gì cũng không có. Như lai, như khứ, bạn phải hiểu yếu nghĩa của kinh Kim Cang. 

Sư Tôn vừa mới giảng yếu nghĩa của kinh Kim Cang, thế nên Thiền tông mới có người nêu ra “ngay lúc này”. Tôi nói cho bạn biết, ngay lúc này cũng vô dụng! Ngay lúc này vui vẻ thì tốt, nắm chắc ngay lúc này, mỗi ngày đều nắm chắc một chút vui vẻ của hiện tại, chính là cuộc đời của bạn. Ngay lúc này khi rất đau khổ cũng là ngay lúc này. Đời người những thứ vui vẻ thì ngắn ngủi, đau khổ thì nhiều, vui vẻ đương nhiên là có, nhưng khổ cũng nhiều. Một ngày này, những niềm vui của một ngày tập hợp lại, chính là cuộc đời của bạn. Một ngày, đau khổ của một ngày tập hợp lại, chính là cuộc đời của bạn. Mỗi một ngày, mỗi một ngày liên kết lại với nhau, vì sao có thể liên kết lại? Bởi vì chúng để ở trong não bạn mà!

Có một ngày bạn mất trí nhớ rồi, kho kí ức của bạn không còn gì nữa, trống rỗng. Khi ấy, Sư Mẫu đến hỏi tôi: “Tôi là ai?” “Bà à, là con gái tôi.” “Bà à, là cháu tôi.” Kho kí ức không còn nữa, xóa sạch rồi, bạn còn có cuộc đời không? Không còn nữa! Tôi nói với bạn, rất nhiều người con gái trở về thăm mẹ: “Mẹ còn nhận ra con là ai không?” Thì người mẹ hỏi ngược lại con gái: “Cô là ai?” Sống cùng nhau bao nhiêu năm, kho kí ức đã trống rỗng rồi, rỗng không rồi.

Tôi nói để bạn biết, có một ngày kho kí ức của bạn trống rỗng rồi, cuộc đời bạn ở đâu? Không còn nữa, bạn không còn có cảm giác gì mà! Chúng ta bây giờ có cảm giác là vì có mắt tai mũi lưỡi thân ý, bạn để ở trong kho kí ức của mình. Có một ngày kho kí ức không còn gì, cuộc đời của bạn chính là zero, cái gì cũng không có. Bạn có nhiều tiền, bạn là người có uy tín ở khoa tim mạch, bạn là người có uy tín ở khoa thần kinh, nhưng kho kí ức không còn nữa thì bạn cũng là *zero* thôi, cuộc đời đều không còn. Tôi nói với bạn về yếu nghĩa ở trong kinh Kim Cang như vậy.

Vợ hỏi chồng: “Chồng ơi, em mắc bệnh rồi, em sợ đến nỗi đã mua một cái túi.” Chồng nói: “Mắc bệnh mà mua túi để làm gì?” Vợ nói: “Lẽ nào anh không nghe người ta nói “bao trị bách bệnh” sao?” Người chồng này đi ra ngoài cầm vào một viên gạch, vợ hỏi: “Anh làm cái gì đấy?” Chồng nói: “Cái này gọi là viên gạch trị các loại bệnh khó chữa.” Om mani padme hum.

*(Ngày 09/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Đồng Tử tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 49.)*

### 50. Phần thứ 15: Công đức trì kinh (2)

*(Bài giảng 50)* Ngũ thừa

*“… huống chi là chép viết, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết. Tu Bồ Đề! Lời quan trọng nhất là kinh này có công đức vô biên bất khả tư nghì, không thể đo lường. Như Lai vì những người phát tâm Đại thừa mà nói, vì những người phát tâm Tối thượng thừa mà nói.”*

Hôm nay chúng ta giảng đoạn này. Có người thường xuyên dùng bút để chép kinh Kim Cang này, cũng có người đọc tụng kinh Kim Cang, rất nhiều người buổi tối hoặc buổi sáng ngủ dậy đều niệm một biến kinh Kim Cang. “Thọ trì” ở đây tôi đã giảng rồi, bạn hiểu được yếu nghĩa của kinh Kim Cang, bạn thọ trì yếu nghĩa của kinh Kim Cang, điểm này là quan trọng nhất. Bạn thực tiễn những yếu nghĩa của kinh Kim Cang, điểm này là quan trọng nhất. Chúng ta biết yếu nghĩa “vô ngã tướng” của kinh Kim Cang, bạn chỉ cần “vô ngã tướng” đã là rất khó rồi, hai chữ “vô ngã” bản thân đã vô cùng khó rồi, cho nên trong yếu nghĩa của kinh Kim Cang, đầu tiên bạn phải tu “vô ngã”. 

Hôm nay bạn còn có thể tức giận không? Xin hỏi người nào chưa bao giờ tức giận giơ tay? Không có ai giơ tay, có thể thấy là ai cũng từng tức giận. Kì thực nhà chúng tôi có thói nóng tính gia truyền, khi tôi còn trẻ, thường xuyên khi tôi viết văn, tôi viết rằng: “Gia tộc của chúng tôi thuộc về gia tộc vịt mặt đỏ.” Thế nào gọi là vịt mặt đỏ? Nghe thấy khó chịu là mặt lập tức đỏ lên, lửa dâng lên, đỏ mặt ngay. Sau đó, không chỉ là miệng, đôi khi còn động thủ nữa.

Ông nội tôi Lư Xương, họ Lư, chữ Xương có hai mặt trời ghép lại, Lư Xương. Nghe mẹ tôi kể có một lần chị cả của tôi (do mẹ khác sinh ra), chị của tôi đang may vá, chị ấy nói một câu, ông nội tôi từ bên cạnh đi qua, nghe thấy không vui, ông liền dùng tay đẩy đầu chị đập vào cái máu khâu, máy khâu làm bằng sắt đó! Bị đập đầu như vậy, máu chảy túa ra. Đó là ông nội tôi, mẹ tôi kể lại cho tôi nghe, tính nóng của ông nội tôi không tốt.

Bố tôi di truyền tính nóng nảy của ông nội tôi, bố tôi theo tinh thần của người Nhật, *Nihon sensei* (đại trượng phu Nhật Bản), cái tính khí nóng nảy của những *Japanese husband* (ông chồng Nhật Bản), đại nam nhân chủ nghĩa. Trong nhà tôi có một cây kiếm gỗ, là một thanh kiếm gỗ rất thô, *bokken* (tiếng Nhật). Miyamoto Musashi, kiếm thuật của Miyamoto Musashi rất cao minh, cầm lên thanh kiếm võ sĩ, Yến Phản kiếm thuật như thế này, “viu, viu”, viết chữ “chi”, Yến Phản kiếm thuật vung qua vung lại. Tôi bị bố tôi đánh đến mức kiếm gỗ đó gãy luôn! Kiếm gỗ đó đánh “pẹt pẹt pẹt” như thế này, kiếm gỗ cũng gãy luôn! Kiếm gỗ đó rất thô, đánh đến mức kiếm gỗ cũng gãy luôn. 

Người tôi đại khái là cứng như thép nhỉ! Thép có thể khắc chế được gỗ, đánh đến mức gãy luôn. Tôi quay đầu lại nói với bố tôi, tôi rất tức giận: “Con vĩnh viễn ghi nhớ bố đã đánh con như thế này!” Khi tôi khoảng ba tuổi, có một lần tôi không uống thuốc, bố tôi từ phía sau đi tới, túm lấy tôi từ trên ghế ở bàn ăn, nhấc lên cao quá đầu, sau đó từ trên không quăng tôi đi, giống như là quăng quả bóng rổ xuống đất vậy, sàn nhà là nền xi-măng. Bạn có biết không? Tôi từ trên không bay “viu… viu…” rồi “bộp”, rơi xuống đất. Mẹ tôi vội vàng chạy đến xem, sờ vào mũi, vẫn còn hơi thở, vẫn còn sống!

Vì thế, hồi nhỏ sau khi bị đánh, tôi đã hướng lên trời phát lời thề: “Kể từ nay về sau, bất kể là trẻ con làm chuyện gì, tôi sẽ đều không đánh trẻ con.” Bắt đầu từ lúc đó thì tôi không còn đánh trẻ con nữa. Phật Thanh và Phật Kì tôi đều chưa từng đánh chúng. Chỉ có một lần… cũng không phải là đánh chúng, lần đó là tôi đang ngồi thiền, hai đứa đang chơi bên cạnh cười hi hi ha ha, hai đứa đẩy qua đẩy lại. Tôi liền đưa tay đẩy hai đứa chúng nó một cái. Chỉ có một lần đó, tôi đẩy Phật Thanh và Phật Kì một cái, đẩy chúng nó ra ngoài, hai đứa nó nhớ mãi lần tôi đẩy chúng. Tôi nói: “Kể từ khi sinh ra cho đến nay, bố chưa từng bao giờ đánh hai đứa.” Nó nói: “Có chứ!” “Có khi nào?” “Bố đẩy chúng con một cái.” Bạn xem, chúng nó đều nhớ cả.

Vì thế, ai cũng có nóng giận. Khi bạn tu đến vô ngã rồi, căn bản bạn chính là Thánh nhân đó! Bạn không còn là chính mình nữa, bạn chỉ làm công việc bố thí, giống như Bồ Tát làm bố thí, mỗi ngày đều cứu người, giúp đỡ người ta, không có bản thân mình nữa. Giống như vị nữ tu của Thiên Chúa giáo, Thánh Teresa, tôi đã kể rồi, bà ấy coi mỗi con người đều là Thượng Đế, bạn sẽ không đánh Thượng Đế đúng không? Bạn không thể đánh Thượng Đế. Bà ấy xem mỗi một người đều là Thượng Đế, bạn sẽ không nổi cáu với Thượng Đế đúng không? Chỉ có dùng tâm từ bi và cung kính để đối đãi với mỗi con người, Thánh Teresa là như vậy.

Bà ấy còn có một điểm rất quan trọng nữa (là Thượng sư Liên Vượng nói), Thánh Teresa có nói một câu: “Sau này nếu tôi được phong Thánh, tôi không muốn đến Thiên đường, tôi muốn sống ở nhân gian thế giới Ta Bà tại nơi đen tối nhất, tiếp tục giúp đỡ chúng sinh.” Điều này giống với Địa Tạng Vương Bồ Tát “địa ngục chưa trống thề không thành Phật”. Bà ấy phát lời thề này, cho nên Thánh Teresa không đến Thiên đường, “cho dù tôi trở thành Thánh nhân, tôi sẽ không đến Thiên đường, tôi vĩnh viễn sống ở nơi tối tăm nhất để giúp đỡ chúng sinh.” Đó là Thánh nhân. Tinh thần này chính là tinh thần “vô ngã tướng” của Phật giáo, căn bản là bạn không còn cái tôi nữa, không nghĩ cho chính mình, chỉ nghĩ vì chúng sinh, nghĩ cho người khác, đó là người không còn hận, chỉ có yêu chúng sinh.

Đầu tiên hãy tu điều này đã, đúng thế không? Điều này rất quan trọng. Bạn phải thọ trì, vì người khác mà giảng thuyết, bây giờ tôi đang vì người khác mà giảng thuyết về “vô ngã tướng”. Bạn phải thọ trì yếu nghĩa của kinh Kim Cang là quan trọng nhất, hơn nữa còn giảng thuyết cho người khác, giảng nói cho người khác thế nào là “vô ngã tướng”. Giống như Thánh Teresa, giống như Địa Tạng Vương Bồ Tát, chính là vô ngã tướng. Ngài không đến Tứ thánh giới, vì vốn dĩ ngài chính là Tứ thánh giới rồi, ngài vốn dĩ chính là Thánh nhân rồi, nhưng ngài lại nguyện sống ở nơi đen tối nhất để phục vụ chúng sinh, ngài sẽ không có oán hận. Chữ “hận” này không có nữa, thù hận là không có. Cho nên tôi rất tôn kính bố tôi, đối với ông ấy tôi hoàn toàn không có ý nghĩ thù ghét, không có bố tôi thì tôi cũng không thể trưởng thành, không nên có oán ghét. Tôi cũng không nên có oán hận chúng sinh, tôi không ghét bất kì ai, chỉ nghĩ cho chúng sinh, đây chính là “vô ngã tướng”. Vì người khác giảng thuyết, tôi vừa mới nói rồi, chính là vì người khác mà giảng giải thế nào là vô ngã.

*"Tu Bồ Đề! Lời quan trọng nhất là kinh này có công đức vô biên bất khả tư nghì, không thể đo lường.”* Chúng ta cũng không nghĩ về công đức, Phật Thích Ca Mâu Ni nói có công đức vô biên, kì thực nếu trong lòng nghĩ là “mình làm như vậy là có công đức” thì đó không có công đức. Bởi vì bạn không nghĩ về việc làm công đức thì đó mới là công đức. Cho nên chúng ta làm bất kì việc gì cũng đừng nghĩ về công đức, bởi vì bạn không nghĩ về công đức thì mới là công đức. Nếu bạn có nghĩ về công đức thì không phải là công đức. Bạn không nghĩ về công đức thì là công đức vô biên.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói là *“bất khả tư nghì, không thể đo lường”*, không thể nào so sánh, đó là công đức vô biên. *“Như Lai vì những người phát tâm Đại thừa mà nói, vì những người phát tâm Tối thượng thừa mà nói.”* Phật Thích Ca Mâu Ni nói cho những người phát tâm Đại thừa, nói cho người phát tâm Tối thượng thừa. Phật giáo có năm thừa - Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Bồ Tát thừa, Phật thừa. 

Nhân thừa là nói đến tùy tâm làm gì bạn muốn mà không vượt quá các quy tắc, tùy tâm bạn mà làm, tùy thuận chúng sinh mà làm, nhưng không vượt quá các quy tắc, chính là giữ giới. Đừng vượt quá quy tắc, quy tắc đó chính là giới luật. Bạn có thể tùy tâm làm gì bạn muốn, tùy thuận mà làm, nhưng bạn không được vượt quá quy tắc. Chúng ta hiểu rằng Nhân thừa là đạo lí làm người, Thánh nhân Khổng Tử của Trung Quốc chuyên môn nói về những thứ như lễ, nhạc, thơ, sách, dịch, đó là những thứ nói đến trong “Luận Ngữ”. Học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử đều nói về Nhân thừa, cũng là thuộc về Phật giáo.

Thiên thừa, Thiên đường của Jesus Christ: “Bạn làm một người nhân nghĩa bạn sẽ có thể lên Thiên đường.” Chữ “nghĩa” trong từ trung nghĩa, bạn phải làm một con người nhân nghĩa, làm một người có quy tắc, chính là một con người nhân nghĩa, bạn sẽ có thể đến được Thiên đường, đó là Thiên thừa. Bạn làm công đức, người tốt có thể đến được Thiên đường, đó là thuộc về Thiên thừa. 

Thứ ba là Thanh Văn thừa, tức là Tiểu thừa, đã đến được Tứ thánh giới rồi, độ được chính mình, nhưng không rộng rãi đi độ chúng sinh. Độ chính mình mà thôi, chứ không rộng rãi đi độ chúng sinh, đó chính là Tiểu thừa hay Thanh Văn thừa. Tiếp theo là Bồ Tát thừa, là rất cao. Bồ Tát thừa chính là chỉ vì chúng sinh, không vì bản thân thì chính là Bồ Tát! Tôi nói một cách đơn giản như vậy, bởi vì ở trong đây còn có rất nhiều nội dung. Tối thượng thừa chính là Phật thừa, bạn đã khai ngộ rồi, làm không vì điều gì cả, không vì cái gì cả, nhưng làm gì đó mà không vì cái gì mà làm thì gọi là Phật thừa. Phật thừa tức là nói rằng, ngoài tự mình độ chính mình ra thì còn độ người khác, còn giảng thuyết cho người khác.

Kinh này của Phật Thích Ca Mâu Ni là giảng cho ai? Giảng cho những người Tối thượng thừa, chính là vì những người Phật thừa hoặc Bồ Tát thừa mà giảng. Đại thừa chính là Bồ Tát, Tối thượng thừa chính là Phật thừa. Ngũ thừa này: Nhân, Thiên, Thanh Văn, Bồ Tát, Phật. Tối thượng thừa chính là Phật, Đại thừa chính là Bồ Tát. Kinh Kim Cang là vì người Bồ Tát và người Tối thượng thừa mà giảng nói. Tự mình độ chính mình, còn cần độ người khác, đây là “tự giác giác tha”, Phật là “giác hành viên mãn”. Tự giác giác tha chính là Bồ Tát, còn Phật là giác hành viên mãn, làm đến mức vô cùng viên mãn chính là Phật. Om mani padme hum. 

*(Ngày 15/01/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 50.)*

### 51. Phần thứ 15: Công đức trì kinh (3)

*(Bài giảng 51)* Thọ trì đọc tụng

*“Nếu có người có thể thọ trì đọc tụng, vì người khác mà rộng rãi giảng thuyết, thì Như Lai đều biết người này, đều thấy người này đạt thành tựu công đức không thể đo lường, không thể cân tính, không có biên giới, không thể nghĩ bàn. Những người như thế tức là gánh vác A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của Như Lai. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu người nào yêu thích pháp nhỏ, chấp vào ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết.”*

Ngày xưa tôi không giảng kinh Kim Cang, hồi mới đầu, vì sao tôi chưa giảng kinh Kim Cang? Bởi vì trong tông phái chúng ta, tức là chúng ta có Thượng sư muốn giảng kinh Kim Cang, thế là tôi đem nguyên bản pháp sư Lạc Quả giảng kinh Kim Cang tặng cho Thượng sư đó, để cho Thượng sư đó giảng kinh Kim Cang. Sau này, mọi người đều thúc giục Sư Tôn giảng kinh Kim Cang.

Tôi biết kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa. Thế nào gọi là kinh liễu nghĩa? Trong thuyết pháp của Phật có cái gọi là liễu nghĩa và không liễu nghĩa, cái gọi là liễu nghĩa tức là kiến đạo, kinh điển nhìn thấy đạo, đó là kinh liễu nghĩa. Thế nào gọi là không liễu nghĩa? Giống như Phật giáo Nhân thừa giảng đạo lí làm người, Phật giáo Thiên thừa giảng về Thiên đường, đến Thiên giới, đó thuộc về không liễu nghĩa. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng giảng rất nhiều kinh điển không liễu nghĩa. Kinh Kim Cang là kinh điển liễu nghĩa, Tâm Kinh cũng là kinh điển liễu nghĩa, kinh Đại Niết Bàn cũng là kinh điển liễu nghĩa.

Ngoài ra còn có rất nhiều kinh điển thuộc về liễu nghĩa, cũng có kinh không liễu nghĩa. Kinh không liễu nghĩa nói về việc chưa kiến đạo, kinh liễu nghĩa là nói về việc đã kiến đạo rồi. Vì thế muốn giảng kinh điển này, nhất định phải là người kiến đạo mới có thể giảng được, người chưa kiến đạo chỉ là giảng theo cách thông thường mà thôi. Thông thường tức là chỉ giải thích dựa theo mà căn bản không thể nói trúng đạo lí của bản thân kinh điển, không thể nói trúng yếu nghĩa chân chính nằm ở đâu.

Cho nên nói “thọ trì đọc tụng”, đọc tụng kinh Kim Cang thì mọi người đều biết đọc, cũng đều biết chép lại, nhưng mà thọ trì thì không dễ dàng, trọng điểm chính là ở việc thọ trì này. Bạn tiếp nhận yếu nghĩa của nó, hơn nữa còn có thể duy trì được yếu nghĩa ấy. Tối hôm qua tôi đã nói rồi, bạn còn có nóng giận không? Có nóng giận! Còn có tập khí không? Có tập khí! Cho dù bạn đã hiểu kinh Kim Cang, đã hiểu yếu nghĩa của kinh Kim Cang, nhưng bạn không thể thọ trì, bạn tiếp nhận rồi, nhưng bạn không có cách nào duy trì được, bởi vì tập khí của bạn vẫn còn, cho nên tập khí nhất định phải từ từ giảm đi.

Hai chữ “thọ trì” tức là nhất định phải loại bỏ tập khí của bản thân con người bạn, ví dụ như tham, sân, si, nghi, mạn, ngoài ra còn có ghen tuông, đố kị đều là những tập khí của con người, bạn không loại bỏ cái này thì bạn không thể nào thọ trì. Nếu như bạn vẫn còn nóng giận, vẫn còn ghét người ta: “Tôi ghét người này, người nào tôi cũng có thể tiếp nhận, nhưng người này thì tôi ghét.” Như thế thì bản thân bạn vẫn còn tâm sân hận, chính là có cái tôi, vì là có cái tôi, nên bạn không làm được “vô ngã tướng”, bạn muốn làm được “vô ngã tướng” là vô cùng khó! Vì thế, đây mới gọi là liễu nghĩa.

Người có thể liễu nghĩa tức là đã đến Tứ thánh giới rồi, tương đương với Thánh nhân rồi, vì thế có thể thọ trì đọc tụng, còn có thể nói với rất nhiều người, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Phật đều biết con người này, đều thấy con người này, vì sao vậy? Phật và Phật biết nhau, bạn đã đến được cảnh giới nào, làm gì có chuyện Phật không biết? Bạn đã đến được cảnh giới nào rồi, Phật đều biết bạn, Phật đương nhiên *“đều biết người này, đều thấy người này”*, ngài có thể nhìn thấy bạn. Bạn đã làm được, bạn đã biết rồi, *“đều biết người này”*, Phật hiểu bạn, giữa Phật và Phật với nhau đều biết.

Lúc này, người này có thể nói là *“công đức không thể đo lường, không thể cân tính, không có biên giới, không thể nghĩ bàn”,* công đức ấy là vô biên vô tận, cũng không cần phải nói công đức vô biên vô tận, bởi người này đã là Thánh nhân rồi. Vì thế phải tu hành đến khi kiến đạo, sau khi kiến đạo rồi mới cần tu đạo, mới phải tu, chính là tu quán tưởng, trì chú, kết thủ ấn, nhập tam ma địa của Mật giáo chúng ta.

Kì thực tu hành Mật giáo cũng rất tốt. Quán tưởng, ý niệm của bạn sẽ thanh tịnh; bạn trì chú, khẩu sẽ thanh tịnh; bạn kết ấn, thân sẽ thanh tịnh, thân khẩu ý thanh tịnh. Giống như bạn ở thế giới Ta Bà làm đủ mọi việc, bạn đều có thể quán tưởng, có thể kết ấn, có thể trì chú, thì bạn là thanh tịnh. Làm bất kì việc gì đều có thể quán tưởng, đều có thể trì chú, đều có thể kết ấn, đều có thể như vậy. Cho nên Mật giáo có lợi ích chính là ở đây, thân khẩu ý thanh tịnh, từ tam nghiệp chuyển thành tam mật, đây là một điểm quan trọng.

Trong Mật giáo chúng ta dùng quán tưởng, bạn đang quán tưởng cái gì? Quán tưởng mắt của Như Lai, quán tưởng lông mày của Như Lai, quán tưởng tai của Như Lai, quán tưởng miệng của Như Lai, bạn đều có thể quán tưởng, rồi tổ hợp lại thành hình tướng của một vị Như Lai. Trong khi bạn quán tưởng thì tinh thần thống nhất, bạn sẽ không nghĩ đến điều gì khác nữa, thì tức là ý niệm thanh tịnh rồi. Miệng bạn trì chú tức là khẩu của bạn thanh tịnh, tay bạn kết ấn (thân thể kết ấn) tức là thân bạn thanh tịnh. Thân khẩu ý thanh tịnh, đây là phương pháp tu hành, bình thường làm bất kì việc gì cũng đều như vậy.

Tôi nói để bạn biết, cho dù là sinh hoạt vợ chồng, hai vợ chồng ở trong phòng, bạn làm cái việc ấy, chúng ta gọi là làm “chuyện vui”. Sinh hoạt vợ chồng bạn cũng có thể quán tưởng, cũng có thể trì chú, cũng có thể kết thủ ấn, *“Như Lai đều biết người này, đều thấy người này”*, bạn biết, Phật biết. Cho nên, thế nào là pháp song thân? Trong Mật giáo có nói đến pháp song thân, rất nhiều tôn giáo đều chửi pháp song thân của Mật giáo: “Sao mà như thế cũng gọi là tu hành chứ?”

Tôi đã nói với bạn trong pháp song thân phải quán tưởng ra sao rồi, phải trì chú ra sao, phải kết thủ ấn ra sao, tức là biến cái việc ấy thành tu pháp, chỉ đơn giản như vậy thôi, cũng là thanh tịnh. Việc này con người thế gian không hiểu, không hiểu thì phỉ báng, phỉ báng pháp song thân của Mật giáo chính là ở điều này, Mật giáo chẳng qua là biến việc ấy thành một loại tu hành. Như vậy ban ngày cũng có thể tu, ban đêm cũng có thể tu, trong mơ cũng có thể tu, còn có thể tu hành trong mơ nữa đó! Pháp của Mật giáo là tuyệt đối khác với bình thường.

Vì thế nói rằng Phật Thích Ca Mâu Ni biết người này, không gì khác là có thể nhìn thấy người này, người này việc gì cũng đều có thể làm được, bởi vì việc mà họ làm đều hợp với Phật pháp. Lúc này chính là *“gánh vác A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của Như Lai”*, đây là đạo, người ấy gánh vác mọi đạo, người ấy đã gánh vác mọi đạo rồi, có công đức bất khả tư nghì, đó là *“công đức không thể đo lường, không thể cân tính, không có biên giới, không thể nghĩ bàn”.* Đương nhiên rồi, cảnh giới ấy của người đó là không có biên giới, đến được cảnh giới vô ngã này rồi thì không còn biên giới nữa, không còn biên giới nào. 

*“Không thể đo lường”*, không thể dùng thước để mà đo được. “Không thể cân tính”, thực sự không có gì để nói. *”Không có biên giới”,* đương nhiên rồi, vô ngã tướng, đã là vô ngã tướng thì làm gì có biên giới? Không chỉ là thái dương hệ, một thái dương hệ chẳng qua là một tiểu thiên thế giới mà thôi; kết hợp ba nghìn tiểu thiên thế giới mới là một trung thiên thế giới, kết hợp ba nghìn trung thiên thế giới mới là một đại thiên thế giới, kết hợp ba nghìn đại thiên thế giới, bạn nói xem lớn thế nào? Thế giới đã to lớn như vậy rồi, nhưng mà công đức của người đó còn không có biên giới, cái này chính là công đức vô cùng to lớn của bản thân kinh Kim Cang, nó là kinh điển liễu nghĩa.

Phật lại nói với Tu Bồ Đề: *“Nếu người nào yêu thích pháp nhỏ, chấp vào ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết.”* Nếu là người có ngã tướng, người có chúng sinh tướng, người có thọ giả tướng, đối với kinh điển này, người đó không có cách nào tiếp nhận được, không có cách nào đọc tụng, cũng không có cách nào vì người khác mà thuyết pháp, bởi vì bản thân người đó chưa đến được cảnh giới ấy. Nếu có người tham tài yêu tiền tức là ngã kiến, tức là tham. Bạn háo sắc, đó là tham! Khổng Phu Tử nói là “tính tham sắc”, nghĩa là tính người vốn dĩ chính là ăn và sắc, đó đều là tập tính của con người, tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, đều là tập tính của con người, những tập tính đó phải loại bỏ. 

Sư Tôn vốn dĩ cũng có lo lắng một chút. Hôm nay vào buổi trưa lúc tôi đang ăn cơm cũng nói: “Thôi bỏ đi!” Bỏ đi cái gì? Sư Tôn đi Đài Loan cũng xấp xỉ được 10 năm rồi, quãng thời gian 10 năm là nửa năm ở Đài Loan, nửa năm ở Mĩ. Tôi có nhà ở Đài Loan, không phải là một nhà. Một nhà, hai nhà, ba nhà, bốn nhà, Sư Mẫu cũng có hai nhà, cộng lại là sáu nhà. Đúng vậy! Sáu nhà, chúng tôi đều già rồi, dịch bệnh thì như thế này, muốn trở về nhà ở Đài Loan đều phải cách li lâu như vậy. Trong nhà cũng có để một vài đồ đạc, để một ít này kia, trong nhà có để một vài thứ đông tây nam bắc, <span className="note-blue">[Ở đây Sư Tôn chơi chữ, trong tiếng Trung, “đông tây” cũng có nghĩa là “đồ đạc, sự vật”.]</span> chúng cũng là những thứ có giá trị. Những nhà này đều là tiền, mặc dù có hai căn hộ nhỏ thì nhỏ thôi nhưng cũng đều là tiền, những thứ đông tây nam bắc để ở trong nhà cũng đều là tiền, số tiền ấy phải làm sao đây? Sư Mẫu bây giờ sức khỏe như vậy, Sư Tôn nói ra thì mặc dù vẫn còn tàm tạm, nhưng trời có gió mây khó đoán, người có họa phúc sớm chiều, bạn biết vô thường khi nào sẽ tới sao? Tôi cũng có biết sơ sơ một chút, Phật Bồ Tát có thể bí mật nói cho tôi biết, tôi có thể biết một chút. Nếu tôi là người bình thường tôi sẽ lo lắng. Tôi tuổi tác đã cao rồi, theo tuổi Đài Loan thì năm mới là 78 tuổi rồi, sắp 80 rồi. Nhà ở Đài Loan, những thứ đông tây nam bắc ở Đài Loan phải làm sao đây? Làm rau trộn! Là của ai thì người đó lấy đi!

Tôi có thể nhìn rất thoáng, những thứ đó là đông tây mà cũng là nam bắc, không quan trọng! Bị trộm thì phải làm sao? Thì cứ trộm đi, dù sao bạn không dùng thì người khác dùng! Gặp phải cướp thì làm sao? Người ta lấy áo ngoài của bạn, bạn cho luôn áo trong của bạn. Sư Tôn có cách nghĩ như vậy: “Yên tâm! Không hề gì!” Vì sao? Đó không phải là đồ của tôi thì chẳng dùng được đâu! Nhà ở Mĩ thì sao? Ở Mĩ tôi cũng có hai nhà, một nhà chính là Chân Phật Mật Uyển, một nhà chính là Nam Sơn Nhã Xá mà bây giờ tôi đang ở. Trong nhà cũng có đồ này đồ nọ, cất giấu ở khắp nơi, không cần nữa, bỏ thì bỏ thôi, kệ đi! Người ta muốn lấy thì để cho người ta lấy đi, người ta thích thì cho người ta, đều chẳng phải là của bạn. 

Ngay cả thân thể của bạn cũng không phải là của bạn, có hiểu không? Vô ngã mà, ta cũng không phải của ta, cái vỏ bọc này của ta đều không phải của ta, những thứ đông tây nam bắc đó thôi bỏ đi! Vì thế, những người nghĩ thoáng chúng ta đều nghĩ như vậy. Sư Tôn nói là nghĩ thoáng, không có thứ gì quan trọng, duy có một thứ quan trọng, đó chính là đạo. Bạn có được đạo này rồi thì bạn có thể trở về nhà của Như Lai, đó mới là ngôi nhà vĩnh hằng, những nhà khác đều là giả.

Vì thế tôi vừa mới kể có một đệ tử hỏi việc, anh ta tên là Liên Hạt, đặt cái tên này rất hay. Trên đời này ai cũng mù, mù mù mù, toàn bộ con người đều mù mắt rồi. <span className="note-blue">[Ở đây Sư Tôn chơi chữ, trong tiếng Trung, “hạt” đồng âm với “mù”.]</span>  Chỉ có một mình bạn là sáng. Phật có thể nhìn thấy bạn, Bồ Tát nhìn thấy bạn, chỉ có mình bạn là sáng. Bạn sẽ không bám chấp vào những thứ của nhân gian, nhà cửa, xe cộ, bao gồm cả cái vỏ thân thể này của bạn, bao gồm tất cả tài sản của bạn đều không phải là của bạn, bao gồm thân thể này của bạn cũng không phải là của bạn, chỉ có cái đạo đó, bạn biết được con đường trở về nhà, con đường trở về nhà của Như Lai, đây mới là chân chính, loại người này mới có thể giảng kinh Kim Cang.

Nếu bạn vẫn còn có tham sân si nghi mạn, bạn còn có ghen tuông, đố kị, còn có hận, còn có tình yêu ích kỉ, thì bạn không trở về được con đường về nhà, nói một cách đơn giản là như vậy. Vì thế đoạn này nói rất rõ ràng, bạn gánh vác sự nghiệp của Như Lai. *“Nếu người nào yêu thích pháp nhỏ, chấp vào ngã kiến…”*, bạn còn có sự bám chấp vào cái tôi, còn có bám chấp vào con người, còn có bám chấp vào chúng sinh, còn có bám chấp vào thọ giả, thì đối với kinh điển này *“không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết”,* trọng điểm nằm ở giảng thuyết, không thể giảng kinh Kim Cang. Vì sao tôi đến lúc già như thế này mới giảng kinh Kim Cang? Bạn thực sự đích thực hiểu rõ ràng minh bạch rồi bạn mới giảng kinh Kim Cang.

Thế thì mọi người bảo, vì cái gì Sư Tôn cũng nhìn thoáng rồi, vậy thì cũng không cần phải cúng dường Sư Tôn nữa nhỉ? Tôi nói với bạn, cúng dường vẫn cần. Cái này là gì? Chính là các bạn tùy tình cảm, Sư Tôn cũng nói mọi người tùy ý, tùy ý, tùy tình cảm, tùy tâm ý của chính các bạn. Như Lai cũng có một tên gọi là Ứng Cúng (nên cúng dường), đây cũng là một danh xưng của Như Lai, bạn nên cúng dường. Sư Tôn bây giờ còn có nhục thể, còn phải ăn cơm, đúng vậy không? Xe còn phải đổ xăng, về Đài Loan còn phải mua nước, phải mua xăng. *In Taiwan, I buy water. In the US, I buy gas. Go to gas station, I buy gas.* (Ở Đài Loan, tôi mua nước. Ở Mĩ, tôi mua xăng. Đi đến trạm xăng, tôi mua xăng.) Đúng mà! *Every breakfast, lunch, dinner, I eat.* (Tôi ăn mọi bữa sáng, bữa trưa, bữa tối.) Còn phải ăn cơm, còn phải sống. 

Mặc dù việc ăn, mặc, ở, đi lại của Sư Tôn đều là người ta cúng dường, nhưng Sư Tôn cũng không bám chấp. Nếu tôi muốn bám chấp thì Biệt thự Cầu Vồng kia chính là do tôi xây mà, Biệt thự Cầu Vồng chính là do tôi và Sư Mẫu hai người xây nên mà. Tôi bỏ tiền, Thượng sư Liên Thế đi mời công nhân xây dựng Biệt thự Cầu Vồng, là tôi bỏ tiền ra đó, nên bây giờ các bạn mới ngồi đây làm pháp hội, đúng không? (Đệ tử: Là của Sư Tôn.) Anh ấy nói là của Sư Tôn. Tôi nói với bạn nhé, tôi không có suy nghĩ như vậy, cả khu biệt thự này không có tên của Sư Tôn, cũng không có tên của Sư Mẫu, đều là lấy tên của mọi người đi làm pháp sự, còn chúng tôi ở đây hoằng pháp độ chúng sinh.

Tôi trở về Đài Loan 10 năm, khi ấy Đài Loan Lôi Tạng Tự chưa xây dựng được, sắt thép đều bị gỉ cả, sắt thép đều gỉ sét, không xây được, nói thẳng ra là không có tiền để tiếp tục xây, bỏ dở ở đó. Trở về Đài Loan 10 năm, tôi giúp Đài Loan Lôi Tạng Tự xây dựng đến khi hoàn chỉnh xong xuôi rồi, sau đó bây giờ xây tòa nhà hành chính, tôi cũng đã chuẩn bị rất nhiều tiền để xây dựng tòa nhà hành chính bảy tầng. Khi xây dựng gần như Đài Loan Lôi Tạng Tự không có tiền. Ban đầu Thượng sư Liên Triết muốn xây viện dưỡng lão nữa, ông ấy đã xin giấy phép xây dựng, nhưng không còn tiền nữa, Sư Tôn cũng không trở về, nên tiền đã ít đi rồi.

Tôi nói với Thượng sư Liên Triết: “Khi nào có tiền thì khi ấy ông hẵng xây, không có tiền thì ông đừng miễn cưỡng xây, không có tiền thì tạm thời ông đừng xây viện dưỡng lão.” Mặc dù ông đã rất vất vả để xin được giấy phép xây dựng viện dưỡng lão, xin giấy phép đã được rồi, muốn xây viện dưỡng lão. Nhưng tạm thời ông đừng xây, bởi vì xây xong tòa nhà hành chính thì không còn tiền nữa! Sư Tôn đã 78 tuổi rồi, lại trở về 10 năm nữa ư, bà tôi ơi! Tôi giúp ông xây viện dưỡng lão à? Nhưng tôi có thể sống được đến 88 tuổi không? (Mọi người vỗ tay: Có thể!) Tuổi có thể sống là có hạn mà, tuổi của tôi thật sự rất có hạn, tôi không thể sống lâu như vậy được, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng chỉ sống đến 80 tuổi thôi!

Tôi đã 78 tuổi rồi, tôi còn có thể sống mấy năm nữa đây? Ông hãy nghĩ cho Sư Tôn một chút, ông tuyệt đối không thể xây viện dưỡng lão, ông mà xây thì trách nhiệm của tôi sẽ nặng nề lắm, tôi phải trở về hoằng pháp mà! Còn có bệnh dịch kia nhất định phải lắng xuống thì người ở các nước mới có thể đến được, mới có thể trợ giúp Đài Loan Lôi Tạng Tự. Đạo lí này Thượng sư Liên Triết phải biết chứ, ông không thể xây dựng nó được, cứ xây thì tôi sẽ chết đó! Tôi nói với Thượng sư Liên Triết trụ trì Đài Loan Lôi Tạng Tự rằng, có bao nhiêu tiền thì làm bấy nhiêu việc, mặc dù đã xin giấy phép xây dựng viện dưỡng lão rồi, tạm thời ông hãy bỏ đi, không sao cả!

Đợi đến khi Lôi Tạng Tự có tiền rồi, chúng ta lại xin giấy phép xây dựng viện dưỡng lão, mặc dù muốn xây thì cũng có kì hạn thôi, nhưng hiện tại thì Đài Loan Lôi Tạng Tự, tôi biết là không có tiền, không thể xây dựng. Tôi ở đây cũng không thể giúp được, đó không phải là số tiền nhỏ đâu! Bạn biết xây tòa nhà hành chính, bây giờ mấy chủ thầu đều đang kêu đó, chủ thầu kêu cái gì? Giá cả đều tăng, mọi vật liệu xây dựng đều tăng giá, đúng là “tiếng kêu vang rừng núi” mà. Mọi vật liệu xây dựng đều tăng giá, để xây tòa nhà hành chính của ông, xây xong rồi, tôi còn thiếu tiền đó! Chủ thầu cũng mất tiền, nhà thầu xây dựng cũng mất tiền! Thế nên, Thượng sư Liên Triết à, có bao nhiêu tiền thì làm bấy nhiêu việc, chúng ta không có tiền cũng không cần miễn cưỡng.

Đợi tôi trở về đi! Đợi đến khi tôi có thể trở về, tôi trở về giúp ông, Sư Tôn cũng không vì bản thân, mà là vì chúng sinh, vì người già. Cho nên Sư Tôn có thể giảng kinh Kim Cang, bởi vì Sư Tôn không phải vì bản thân. Nếu bạn vì bản thân thì vẫn có *“nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết”*. Đạo lí này chính là ở đây. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 16/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Lục Độ Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 51.)*

### 52. Phần thứ 15: Công đức trì kinh (4)

*(Bài giảng 52)* Kinh Kim Cang chính là đại diện cho Phật

Hôm nay chúng ta lại giảng kinh Kim Cang. Phật Đà lại nói: *"Tu Bồ Đề! Bất kì nơi nào có kinh này, thì tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, nên biết nơi này tức là tháp, đều nên cung kính, làm lễ nhiễu quanh, dùng mọi hoa thơm mà rải khắp nơi ấy.”*

Đoạn này rất hay, mọi người đều biết, Phật Đà nói với Tu Bồ Đề *“bất kì nơi nào có kinh này”*, nếu có kinh Kim Cang ở đó, *“thì tất cả thế gian, Trời, Người, Atula đều nên cúng dường”*, ở thế gian, Thần ở trên trời, Người và Atula, đây là ba thiện đạo. *“Đều nên cúng dường”*, đều nên cúng dường kinh điển này. *“Nên biết nơi này tức là tháp”*, nơi có kinh Kim Cang chính là có một bảo tháp. *“Đều nên cung kính, làm lễ nhiễu quanh, dùng mọi hoa thơm mà rải khắp nơi ấy”*, thiên nữ cúng dường tung hoa, tung hoa thơm lên kinh Kim Cang, hoặc đi nhiễu quanh kinh Kim Cang giống như nhiễu tháp. 

Chúng ta biết rằng Phật từng nói, nơi nào có tháp thì sẽ có Phật. Cho nên trong chùa của chúng ta thường hay xây tháp, giống như Biệt thự Cầu Vồng của chúng ta, ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự có tháp Ngũ Luân, có năm tháp Ngũ Luân nhỉ? Bạn thường xuyên đi nhiễu tháp, bởi vì nơi nào có tháp là có Phật. Vào thời cổ đại, khi bày đàn thành, đôi khi Mật giáo chúng ta, ở trên đàn thành có tượng kim thân của Phật, bên phải của Phật, tức là bên Thanh Long, chúng ta có tháp thì cúng tháp, bởi vì tháp chính là đại diện cho Phật.

Còn kinh điển để bên Bạch Hổ, kinh điển đại diện cho pháp. Cuốn kinh Kim Cang này đại diện cho Phật, bởi vì trong đó có ý của Phật, ý của Phật ở trong đó nên là đại diện cho Phật, kinh Kim Cang đại diện cho Phật. Vì thế, bên Thanh Long bạn bày tháp, bên Bạch Hổ bạn bày kinh điển, kinh điển là đại diện cho pháp. Nhưng kinh Kim Cang cũng có thể đặt ở bên Thanh Long, tức là đại diện cho tháp. Còn cúng dường? Đương nhiên là bày hoa thơm, mùi thơm của hoa đặt ở nơi đó, rồi còn làm lễ và đi nhiễu quanh. 

Trước kia tôi có cứu một con ma. Lúc đó, tôi đang viết sách, xung quanh nhà đột nhiên nổi sấm, tiếng sấm hết sức vang dội, tiếng Đài Loan chúng ta gọi là tối tăm trời đất, nghĩa là bầu trời tối sầm, rất giống như sắp đổ mưa, sấm rung chớp lóe ở ngay bên cạnh thư phòng của tôi. Sấm rung chớp lóe không phải chỉ có một lần, mà là mười lần, trăm lần, tiếng sấm nổ kinh người, ở ngay bên cạnh thư phòng mà tôi đang ngồi viết sách. Kì lạ ghê? Vì sao mà chớp lại cứ liên tục lóe lên ở bên này? Xung quanh thư phòng của tôi liên tục chớp lóe không ngừng, hơn nữa trời u đất ám. Khi ấy tôi nhìn dưới chân mình, bên dưới bàn viết của tôi có thứ gì đang động đậy.

Tôi nhìn thì trời ơi! Là một ma nữ rất xinh đẹp đang trốn ở dưới bàn viết của tôi! Chà, cô ấy rất xinh đẹp, một con ma nữ hết sức xinh đẹp! Thật đó, xinh đẹp giống như tiên nữ vậy! Ma có thể biến thành ma nữ xinh đẹp đến như vậy đúng là hiếm thấy đó! Ma nữ đó nhìn thấy tôi đang nhìn cô ấy liền nói với tôi: “Lư Sư Tôn! Cứu tôi!” Khi ấy tôi liền cảm ứng thấy, thì ra những sấm rung chớp giật này chính là vì muốn bắt ma nữ này, thế nên mới ra sức nổi sấm chớp xung quanh phòng tôi. Thần Sấm đó, Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn cứ đi tới đi lui như vậy xung quanh phòng tôi, đi tới đi lui, cứ thế phóng sấm chớp muốn đánh chết ma nữ này.

Khi ấy tôi khởi tâm từ bi, giá sách sau lưng tôi vừa hay có kinh Kim Cang, tôi liền lấy cuốn kinh Kim Cang ra đặt lên đầu của ma nữ kia. Một lúc sau, bên cạnh thư phòng của tôi có một cái cây, “đoàng” một tiếng, Thần Sấm đã đánh cái cây gãy đổ, cây liền đổ xuống, sau đó trời bắt đầu sáng dần lên, mây đen tản đi. Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn biết Lư Sư Tôn cứu ma nữ này, dùng kinh Kim Cang đặt trên đầu, sấm chớp chẳng thể nào đánh được ma nữ, bởi vì kinh Kim Cang đặt ở trên đầu không khác gì có Phật ở trên đầu ma nữ đó. Có một sự việc như vậy, vì thế mà tôi đã cứu ma nữ này.

Chà, ma nữ đó rất cảm ơn, thật sự rất cảm ơn tôi, bởi vì con người tôi giống như câu nói mà người ta cầu xin tôi “Lư Sư Tôn, cứu tôi!”, bởi vì lời nói mới ngọt ngào làm sao, trái tim tôi lập tức mềm nhũn, thế là cứu cô ấy luôn. Nhưng tôi cũng dạy cô ấy phải cải tà quy chính, cô ấy cũng quy y, sau đó cô ấy trở thành thị giả của tôi, chính là như vậy đó! Cho nên kinh Kim Cang có thể cứu người, bởi vì tương đương với Phật trụ tại đỉnh đầu, Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn kia (chính là Thần Sấm) cũng không có cách nào đánh được cô ấy. Có một câu chuyện như vậy, hình như tôi đã viết trong sách rồi nhỉ? Trong sách của tôi có viết, đặt kinh Kim Cang lên trên đầu cô ấy.

Vì thế bây giờ khi tôi làm các thứ, thật sự là có ma ở cùng với tôi. Buổi tối tôi trở về nhà có rất nhiều ma, nhưng những con ma đó đều là ma tốt. Tôi từng kể rồi, nhà tôi có một đoạn hành lang, từ phòng Sư Mẫu muốn đi qua phòng của tôi thì phải đi qua mấy bức tường, ở hành lang “binh” một tiếng, trong bức tường “binh” một tiếng, một cái đầu liền thò ra, rồi lại “binh” một tiếng, một cái đầu nữa lại thò ra, rất nhiều cái đầu cứ mọc ra như thế, tôi nói: “Mấy người làm gì mà cứ dọa tôi thế?” Bởi vì trong nhà không có ai, cho nên họ cứ “binh” một tiếng làm tôi cũng giật nảy mình. 

Tôi đi về phòng mình, đầu tiên tôi nhìn thấy là Địa Tạng Vương Bồ Tát, sau đó là Nam mô Cát Tường Thiên, Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Cao Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Nam mô Hắc Phẫn Nộ Mẫu, Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Nam mô Bất Động Minh Vương, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Kim Cang Tát Đỏa, Nam mô Đại Uy Đức Kim Cang, các Địa Thần, Hổ Đầu Kim Cang và Chư Tôn, các vị ở tầng dưới tôi đều gọi là Chư Tôn, các vị ở tầng trên thì tôi đều lần lượt xưng hô, đi dọc hành lang đều xưng hô.

Khi tôi đi đến bên bức tường thì “binh binh binh”, những cái đầu đều thò ra, tôi nói: “Các người dọa tôi!” Họ nói: “Không phải là dọa Lư Sư Tôn, là xin gia trì.” Thế là tôi lại vừa đi vừa lần lượt gia trì cho những cái đầu từ trong bức tường thò ra trên suốt quãng hành lang. Ngày ngày tôi sống cùng với ma. Đến bên chậu trúc cảnh thì có tiếng “bộp bộp bộp” như thế này, ở trong nhà tôi có rất nhiều tiếng động lạ! Thính lực của Sư Mẫu rất tốt, hẳn là bà ấy nghe thấy, còn có những ma khác sống trong nhà tôi, đại bộ phận đều thấy những âm thanh lạ vang lên. Tôi đi qua tủ lạnh, tủ lạnh cũng kêu lên, tôi đi qua bức tường, tường cũng kêu lên, mỗi bức tường đều có tiếng động vang lên.

Thỉnh thoảng tôi đi qua những chỗ khá tối, cánh cửa ở phòng vận động sẽ chuyển động, cứ thế chuyển động, cứ thế chuyển động, sau đó đóng cửa lại. Cửa đóng lại thì tôi lại đẩy nó ra, tôi nói: “Mấy người làm gì đấy? Muộn thế này rồi, mấy người đóng cửa làm cái gì?” Họ nói: “Chúng tôi đang mở tiệc.” Họ nói họ đang mở tiệc đấy! Tôi khẽ mở cửa ra nhìn, chà! Đúng là một đám người đang tập trung ở trong đó, không đếm xuể, có tới mấy trăm mấy nghìn người. Hàng ngày tôi và ma sống cùng với nhau cũng quen rồi, họ cũng sợ tôi.

Khi tôi đi vào nhà vệ sinh, cái nắp bồn cầu luôn kêu lên một tiếng “cạch”, cái nắp bồn cầu cũng kêu “cạch”, nắp bồn cầu đó vốn dĩ bình thường, nhưng hễ tôi đi qua thì lại kêu “cạch”. Tôi đi tới cửa phòng vệ sinh thì cố ý không đi tiếp nữa, nó cũng không kêu gì. Được rồi, nhưng tôi vừa dợm bước thì bên trong cái nắp bồn cầu lập tức kêu “cạch”. Hễ tôi đi qua là nó lại kêu “cạch”, tôi cố ý không đi qua thì nó sẽ không kêu lên như thế. Đôi khi sống cùng với ma cũng khá thú vị! Còn có rất nhiều Thần, Phật Bồ Tát đều ở đó, ma vào nhà tôi đều là tốt, đều là thiện, không phải sợ. 

Khi tôi làm lễ chào Diêu Trì Kim Mẫu, tôi về đến cửa phòng mình, tôi sẽ làm lễ chào Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn và Chư Tôn, làm lễ chào xong, ngẩng đầu lên, tôi lại cúi chào Diêu Trì Kim Mẫu ở trên tường, Diêu Trì Kim Mẫu ở trên tường sẽ phóng quang chiếu đến tôi. Mỗi lần Diêu Trì Kim Mẫu ở trên tường phóng quang chiếu đến tôi, tôi đều nghe thấy tiếng bước chân, có đôi khi là tiếng giày da đi ở trên hành lang đó từ xa đến gần, bước từng bước đi tới, bạn cũng đừng sợ, ở nhà tôi có hiện tượng như vậy.

Khi tôi làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp mà có hơi muộn một chút, họ sẽ gọi tôi “nhanh lên, nhanh lên”, “đánh răng nhanh lên”. Tôi ngồi trên ghế sofa dùng chỉ nha khoa để làm sạch răng, họ sẽ từ bên trong sofa thò ra mấy nắm đấm để đẩy tôi, đẩy tôi như thế này, tôi nói: “Đừng giục tôi!” Đợi tôi đánh răng xong rồi tôi sẽ lên pháp tọa, đúng thế không? Đánh răng rửa mặt xong thì tôi lên pháp tọa, không cần phải giục tôi! Họ liền an phận một chút, thu nắm đấm lại như thế này, những sự việc này là hết sức chân thực đó! Tôi nói với bạn, nếu các bạn có thiên nhãn thì đến nhà tôi đi lòng vòng mà xem.

Kinh Kim Cang là kinh điển vĩ đại. Tôi nói với bạn: kinh điển này vô cùng vĩ đại, là vua của các loại kinh! Bạn hiểu kinh điển này, bạn có thể đi thực tiễn, bạn có thể tránh khỏi rơi vào lục đạo luân hồi, tất cả phiền não không gặp. Không có gì để mà phiền não nữa! Bởi vì căn bản là cái gì bạn cũng không có được thì còn phiền não cái gì? Ai cũng đều không có được cái gì cả. Trong kinh Kim Cang đã nói rất rõ ràng rồi, vậy bạn ghen tuông cái gì? Đố kị cái gì? Bill Gates có nhiều tiền như vậy, bạn ghen tị với ông ấy à? Ông ấy có tiền cũng như không có tiền thôi! Tôi nói với bạn, ông ấy cũng không có được tiền! Trong kinh Kim Cang đã nói rất rõ rồi, ông ấy cũng không có được tiền, bạn ghen tị với ông ấy để làm gì? Bạn ghen tuông cái gì? Có duyên thì hợp, không có duyên thì chia tay thôi, ghen tuông cái gì chứ?

Những tập tính này đều không còn nữa, mọi phiền não cũng không còn nữa. Có phiền não gì? Phải chết thì chết, sống thì cứ sống, chết rồi thì chết thôi, không có gì đáng phiền não cả! Thân thể sinh bệnh, đó là đang tiêu nghiệp của bạn đó! Đến khi bạn không còn bệnh nữa, bạn chết rồi, chẳng phải là rất tốt sao? Tiêu nghiệp chướng đó, nên tiêu nghiệp, có gì đáng phiền não đâu? Không có cái gì đáng phiền não cả. Bạn mắc bệnh ung thư, tôi nói với bạn, ung thư đều là do kẻ thù kiếp trước của bạn ở trên người bạn tác quái. Chúng ta nhìn thấy rất rõ ràng, họ làm thành những viên bi, ném lên người bạn, ném vào trong não bạn, thế là não bạn có u, ném lên cổ bạn, thế là cổ bạn có khối u, ném vào chỗ nào trên người bạn thì chỗ đó sẽ có khối u, nói để bạn biết, là kẻ thù của bạn làm đó. 

Nhưng chúng ta là người hồn nhiên, chúng ta thông cảm với kẻ thù của chúng ta, chúng ta phải yêu kẻ thù của chúng ta, người thành Phật là bình đẳng như vậy, bình đẳng tính trí, phải yêu chúng sinh, yêu kẻ thù của chúng ta. Bạn đọc kinh Kim Cang rồi, bạn phải thực tiễn thì bạn sẽ hiểu. Tôi nói với bạn, hiểu thì khá dễ dàng, làm thì mới khó! Tập tính rất khó thay đổi, tập tính khó đổi thì vẫn phải đổi! Bạn không đổi thì nói gì đến chuyện rời khỏi lục đạo luân hồi? Rất đơn giản, *easy*, tức là bạn không được có phiền não nữa, không được có tập tính nữa, người ta khen bạn, bạn cũng không quá vui mừng, bạn biết rằng cái gì cũng đều vô sở đắc, vậy bạn còn phiền não cái gì? Bạn còn đố kị cái gì? Đều là vô sở đắc mà!

Những người có tiền, bạn ghen tị với họ? Họ phải vất vả muốn chết, họ mới đáng thương đó! Những con người đáng thương ấy. Rồi còn những người thích chính trị, thích làm lãnh đạo, làm người chịu trách nhiệm, họ giữ những vị trí rất cao, thật đáng thương! Hãy thông cảm với họ, bởi vì họ phải gánh vác rất nhiều người trên vai. Nhất là khi bạn nhìn thấy những ông chủ lớn của các công ty kia, họ nuôi bao nhiêu con người? Công xưởng lớn đến vậy, người làm đếm không xuể, gánh nặng của họ rất nặng, rất tội nghiệp! Những người này mới là những người đáng thương. Còn những người trọc đầu chúng ta đây thì đang ở trong phúc mà không biết là phúc! Om mani padme hum.

*(Ngày 22/01/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 52.)*

### 53. Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng (1)

*(Bài giảng 53)* Có thể làm sạch

Chúng ta giảng về tiêu đề của phần này - Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng.

Kinh Kim Cang có thể thanh tịnh nghiệp chướng của bản thân bạn, giải thích tiêu đề này rất thú vị. Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng. Phần thứ 16 kinh Kim Cang nói về có thể thanh tịnh nghiệp chướng của bạn. Nghiệp chướng thanh tịnh xong rồi, bạn không còn nghiệp chướng nữa, đương nhiên bạn đã giải thoát, giải thoát rồi thì bạn có thể đến Thường Tịch Quang Thổ ở Tây phương Cực Lạc thế giới, trên người phát ra ánh sáng. Không có nghiệp chướng thì thân thể tự nhiên sẽ phát quang, thế là có thể đến được Thường Tịch Quang Thổ cao nhất. Thực Báo Trang Nghiêm Thổ, tịnh thổ của Báo thân Phật bạn đều có thể đi tới đó. Phương Tiện Hữu Dư Thổ đương nhiên cũng có thể đến, tịnh thổ của mười phương Phật quốc bạn đều có thể đến.

Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng. Kinh Kim Cang có thể thanh trừ nghiệp chướng của bản thân bạn, tiêu đề này chính là nói về có thể làm sạch. Có thể làm sạch nghiệp chướng của bạn, nghiệp chướng của bạn toàn bộ tiêu trừ rồi, mười phương Phật quốc đều có thể đi, bạn cũng thành tựu Tứ thánh giới rồi, Tứ thánh giới chính là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn. Chúng ta hãy nói về kinh văn đi, vừa xong đã giảng rồi, kinh văn chính là như vậy, vậy là đã giảng xong rồi.

Giảng đến đây, tôi có một cảm tưởng, kinh Kim Cang là nói về cái Không, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, chính là Không. Tâm Kinh cũng nói về Không. *“Vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, vô lão tử diệc vô lão tử tận.”* Điều được nói ở đây cũng giống với kinh Kim Cang.

Tâm Kinh cũng nói về Không, vô sở đắc, bạn không có được thứ gì cả, trên thế giới này bạn không có được thứ gì. Tôi có một so sánh nói với mọi người, bây giờ tôi đang ở đây thuyết pháp, mọi người đang ở dưới nghe pháp, trong kinh Kim Cang nói, vô thuyết giả - không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp, không có pháp, đây chính là Không, cũng tức là tam luân đều không, gọi là tam luân thể không.

Vì thế tôi mới nói Tam Luân Lôi Tạng Tự đó, chúng ta ở Texas có Tam Luân Lôi Tạng Tự, tôi đặt tên là Tam Luân, tôi nói: “Hãy gọi là Tam Luân Lôi Tạng Tự đi.” Đầu tiên họ nói với tôi: “Sư Tôn à, sao thầy lại cho chúng tôi một chiếc xe ba bánh, xe người ta toàn là bốn bánh, sao thầy lại cho chúng tôi xe ba bánh.” Ý nghĩa của Tam Luân chính là tam luân thể không trong kinh Phật, phải lĩnh ngộ được tính Không này. 

Tâm cảnh của Sư Tôn hiện tại, nhân sinh quan của tôi, tôi nói với mọi người, tôi giống như một khán giả, đi vào trong rạp chiếu phim xem một bộ phim, trong bộ phim có một nhân vật nam chính tên là Lư Thắng Ngạn, có một nữ chính tên là Lư Lệ Hương, hai người bắt đầu diễn vở kịch cuộc đời. Bắt đầu diễn kịch tức là có rất nhiều cảnh, rất nhiều vai phụ. Có rất nhiều vai nam phụ, vai nữ phụ, còn có rất nhiều diễn viên tạm thời, còn có rất nhiều bối cảnh. Bối cảnh là gì? Bối cảnh chính là ở Cao Hùng Đài Loan, ở Đài Trung, liên tục diễn, diễn cho đến Seattle nước Mĩ. 

Diễn cho đến bây giờ, Lư Thắng Ngạn này đã trở thành Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn ở bên đó thuyết pháp, bên dưới ông ấy có rất nhiều tín chúng, sáng lập ra Chân Phật Tông. Tôi đi vào rạp chiếu phim chính là để xem bộ phim này, tên của bộ phim là “Lai lịch của Lư Thắng Ngạn”, bắt đầu diễn, từ lúc ông ấy ra đời thế nào, liên tục diễn đến cuối cùng, cuối cùng bộ phim này đã diễn xong rồi, tức là *“The End”*, tức là kết thúc rồi. Bộ phim đã kết thúc rồi, còn tôi xem xong thì tôi lại rời khỏi rạp chiếu phim. 

Đương nhiên tôi có thể bị bộ phim này làm cảm động, bởi vì những hỉ nộ ái ố ở trong đó, tôi đi cùng với những tình tiết… Lư Thắng Ngạn và Lư Lệ Hương đó, hai người diễn bộ phim, trong bộ phim, cuộc đời của ông ấy đều được diễn ra, vai nam chính, vai nữ chính, còn có vai phụ, và một đám đông những diễn viên tạm thời. Sau đó, bộ phim kết thúc rồi, *owari* (tiếng Nhật), tức là kết thúc rồi, bộ phim đã kết thúc rồi. Tôi xem xong thì cũng ra khỏi rạp. Lư Thắng Ngạn thật đang xem bộ phim của Lư Thắng Ngạn giả. 

Người giảng kinh Kim Cang, bây giờ tôi đang ở đây thuyết pháp là Lư Thắng Ngạn giả, Phật tính của tôi là Lư Thắng Ngạn thật. Lư Thắng Ngạn thật đang xem Lư Thắng Ngạn giả đang diễn phim, có một ngày sẽ kết thúc, owari, kết thúc rồi. Xem xong rồi, xin hỏi nam, nữ chính, diễn viên tạm thời, diễn viên phụ và mọi cảnh trong bộ phim có liên quan gì đến người xem này không?

Khi bạn xem bộ phim này, cũng có thể có cảm động, khi người ta cười thì bạn cũng cười theo, khi người ta khóc thì bạn cũng khóc theo, khi người ta tức giận thì bạn cũng tức giận, khi người ta bi ai thì bạn cũng bi ai, khi người ta vui vẻ thì bạn cũng vui vẻ theo. Xem xong rồi, ồ! Thì ra chỉ là một bộ phim, hai người chẳng có liên quan gì cả. Người khán giả này (tôi là khán giả) xem chính mình đang diễn bộ phim, đây chính là yếu nghĩa của kinh Kim Cang.

Những gì diễn trong phim đương nhiên đều là giả, giả và thật cũng gần như nhau, nhưng tôi chỉ là một người xem, người xem này chính là Phật tính, là Lư Thắng Ngạn thật. Bây giờ trên thế giới Ta Bà Lư Thắng Ngạn kia là Lư Thắng Ngạn giả, còn có diễn viên giả, toàn bộ đều là giả, tất cả đều là giả. “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Nhưng Phật tính của bạn tự chủ, xem xong rồi, ta và Lư Thắng Ngạn giả kia hoàn toàn không liên quan, ta chính là Phật tính.

Tôi nói với mọi người điều này, mọi người hiểu thế nào là Phật tính, thế nào là giải thoát, Lư Thắng Ngạn thật này mới là người giải thoát, trong phim tất cả những gì được diễn toàn bộ đều là giả. Nhưng Lư Thắng Ngạn ở trong bộ phim này, nếu như phạm giới, có nghiệp chướng, thì anh ta cũng sẽ ở trong lục đạo mà luân hồi. Vì thế có thể nói như thế này, lục đạo luân hồi đều là giả, nếu bạn không nhận ra được điều đó, bạn vĩnh viễn ở trong lục đạo mà luân hồi.

Nếu bạn nhận ra rằng bạn chỉ là đang xem một vở kịch, vở kịch này sẽ kết thúc, vậy thì bạn đã giải thoát được chính mình rồi, có thể thành tựu rồi, bạn là tự chủ, bạn là nhậm vận, bạn hoàn toàn giải thoát, không phải lục đạo luân hồi. Nếu bạn cho rằng Lư Thắng Ngạn giả này chính là Lư Thắng Ngạn thật, vậy thì bạn còn phải lục đạo luân hồi. Bởi vì anh ta còn có chỗ phạm giới, còn có chỗ làm sai việc, anh ta chắc chắn phải chịu nghiệp báo này mà tiếp tục luân hồi. 

Ở đây tôi nói về kinh Kim Cang nói làm sao để giải thoát, làm sao để thanh tịnh nghiệp chướng của bạn, vì thế Lục Tổ Huệ Năng nói “không nghĩ thiện không nghĩ ác”, thiện ác và ngài không có quan hệ gì. Bây giờ bạn đã thoát ra rồi, sau khi bạn đọc kinh Kim Cang, bạn đang xem vở kịch mà cuộc đời này bạn đã diễn, nhưng bạn cũng phải thanh tịnh chính mình thì bạn mới có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi. Nếu bạn không thanh tịnh nghiệp chướng của bản thân thì không có cách nào thoát khỏi luân hồi. Vì thế, có một ngày khi tôi - Lư Thắng Ngạn giả này chết đi, tôi chỉ còn để lại ba chữ “không liên quan”, tôi và Lư Thắng Ngạn giả đó không có quan hệ gì, tôi chỉ đang nhìn anh ta diễn, tôi chỉ là một khán giả. Nói như vậy đã hiểu chưa?

Bởi vậy, làm sao để có thể thanh tịnh nghiệp chướng của chính mình? Tiêu đề phần này là làm sao để thanh tịnh nghiệp chướng của chính mình. Bạn đã nhìn rõ rồi, cuộc đời bạn chính là một bộ phim, mỗi người chúng ta đều đang diễn bộ phim đó, đều là diễn viên, tức là đang diễn bộ phim của chính mình, lấy tự ngã làm trung tâm để diễn bộ phim này. Có một ngày bộ phim này sẽ kết thúc, nếu bạn không biến thành Phật tính, bạn sẽ ở trong bộ phim, vĩnh viễn cho rằng bộ phim này là thật, chính là bạn. Bạn đang diễn bộ phim, bạn vẫn còn phải chuyển thế, chuyển tới chuyển lui trong lục đạo luân hồi, chuyển tới chuyển lui, bởi vì nghiệp chướng của bạn chưa thanh trừ sạch sẽ.

Sau khi bạn hiểu kinh Kim Cang rồi, đã biết “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, tôi không diễn vở kịch này nữa, tôi thanh tịnh chính mình, tôi thoát ra ngoài, biến thành người xem để xem chính mình, để anh ta đừng phạm lỗi nữa.

Bạn diễn vai chính này đừng phạm vào những việc nghiệp chướng thì bạn có thể không cần diễn lại bộ phim này, không cần lục đạo luân hồi tiếp tục diễn tiếp nữa, bạn đã bước ra rồi, có thể thanh trừ nghiệp chướng của bản thân, bạn đã giải thoát rồi. 

Điểm này tôi nói rõ với mọi người, tham sân si nghi mạn, đóng lại lục tặc nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, không còn mắt tai mũi lưỡi thân ý nữa, không có sắc thanh hương vị xúc pháp nữa, không có tham niệm về tiền sắc danh ăn ngủ nữa thì bạn sẽ giải thoát. Bởi vì còn có Lư Thắng Ngạn giả đó thì mới có luân hồi, Lư Thắng Ngạn thật sẽ không phải chịu luân hồi. 

Nói đến tham, hai ngày trước tôi cùng với Sư Mẫu ăn nhẹ vào buổi tối, sau đó bà ấy muốn trở về phòng đi ngủ, tôi phải đi nhỏ thuốc mắt cho bà ấy, rồi đắp chăn cho bà ấy, sau đó lại làm kiết giới cho căn phòng của bà ấy. Khi đi đến cửa phòng của bà ấy, bà ấy có một chiếc xe lăn bốn bánh nhỏ, bình thường nếu bà ấy đi lại khó khăn thì bà ấy sẽ ngồi trên xe lăn đó, có thể ở trong nhà đi tới đi lui. Chiếc xe lăn đó rất nhỏ, một người ngồi, là loại xe nhỏ, người đi lại bất tiện thì ngồi ở trên đó, chiếc xe muốn đi tới chỗ nào trong nhà đều được, bà ấy có thể đi từ phòng bà ấy sang phòng tôi. Bà ấy nhìn chiếc xe lăn đó rồi nói: “Trên xe có một cô gái đang ngồi.” Trên chiếc xe lăn nhỏ có một cô gái đang ngồi, tôi liền hỏi bà ấy: “Cô ấy có xinh không?” Bà ấy liền liếc tôi một cái.

Thế rồi hôm nay tôi hỏi bà ấy: “Cô gái ngồi trên xe lăn hôm trước bà nhìn thấy có xinh không?” Bà ấy nói: “Cô gái ấy là ma, cho dù con ma này có xinh đẹp thì tôi cũng sẽ ghen đấy.” Vì thế, bà ấy không nói cho tôi biết cô gái ấy có xinh đẹp hay không. Những gì bà ấy nhìn thấy có thật không? Bà ấy chuẩn bị đi vào trong phòng mình thì nói với tôi rằng trên xe lăn có một cô gái, câu đầu tiên tôi đã hỏi cô ấy có xinh không? Đó chính là cái tâm của Lư Sư Tôn giả. Đó rõ ràng là một con ma vô hình mà anh còn hỏi con ma đó có xinh không? Đây là giả mà tôi cũng hỏi như thế. 

Ngoài ra, mỗi lần khi Sư Tôn trở về phòng mình thì chắp tay trước Diêu Trì Kim Mẫu: “Om jinmu siddhi hum. Om jinmu siddhi hum. Om jinmu siddhi hum.” Diêu Trì Kim Mẫu sẽ bay lên hư không, mi tâm của ngài phóng quang, sau đó chiếu đến mi tâm của tôi. Đúng vào lúc ấy, tôi sẽ nghe thấy âm thanh “cạch cạch cạch” của tiếng giày cao gót, từ phía xa của hành lang, “cạch cạch cạch” đi đến bên tôi, sau đó không còn âm thanh nữa. Thật may đây là tôi, nếu là bạn thì úi giời ơi nổi hết cả da gà! Thật đó, tôi tuyệt đối không lừa bạn đâu. Tiếng “cạch cạch cạch… đi đến bên cạnh rồi không còn âm thanh nữa. Ngày nào cũng như vậy, ngày nào cũng vang lên âm thanh đó. Nếu không thì cũng là tiếng giày da của đàn ông đang bước đi, hoặc là dép lê, hoặc là loại dép gì đó, họ đi những loại giày dép khác nhau bước tới, đi đến bên cạnh tôi. Thật may đây là tôi, khi ấy tôi có cảm nghĩ như vậy.

Thỉnh thoảng khi họ làm ồn ào tôi, tôi sẽ nói với họ: “Tôi đến đây để vấn an các vị, các vị không cần hỏi thăm tôi, tôi sẽ chào hỏi các vị, xin chào mọi người. Sau đó các vị không cần phải phát ra âm thanh đâu, tuy tôi không sợ những thứ vô hình, nhưng đột nhiên các vị phát ra âm thanh sẽ làm tôi giật mình đó.” Tôi cũng bị dọa cho giật mình chứ, thật đó, đột nhiên phát ra âm thanh lớn như vậy. Dọa tôi để làm gì? Lần nào cũng muốn dọa tôi, tiếng giày đó lúc nào cũng muốn dọa tôi, tôi nói, tôi biết các vị ở đây, nên tôi sẽ chào hỏi các vị “xin chào”. Mấy ngày nay tôi đi đến đâu, đầu tiên đến cửa tôi sẽ nói: “Xin chào các vị.” thì đều không có âm thanh, họ không còn dọa tôi nữa, họ phát ra tiếng động cũng sẽ khiến tôi giật mình đó.

Thật sự có những người vô hình này, tuyệt đối không phải là không có, nếu không có vô hình thì hôm nay các bạn đeo khẩu trang để làm gì? Virus Covid-19 cũng đều là vô hình, các bạn cũng chẳng có cách nào nhìn thấy, vô hình chính là như thế, rõ ràng là có. Cho nên tôi đã trải nghiệm thấy, tức là thật sự có âm gian, thật sự có ma quỷ vô hình. Cho nên, bạn không thể biến thành trung ấm được! Sau này mỗi người phải giống như tiêu đề phần này “có thể làm sạch nghiệp chướng”, các bạn đều có thể thanh trừ nghiệp chướng của chính mình. Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 23/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Lực Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 53.)*

### 54. Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng (2)

*(Bài giảng 54)* Lợi ích của thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang

*"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khác khinh chê, thì người này do nghiệp kiếp trước đáng lẽ phải đọa ác đạo, thì đời này do bị người khinh chê mà nghiệp tội kiếp trước bị tiêu diệt, sẽ đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”*

Tôi vừa nói về mối liên hệ nhân quả, đây chính là mối liên hệ nhân quả. Nếu có thiện nam thiện nữ đọc tụng kinh Kim Cang, người ta vẫn còn rất khinh chê người này, người này kiếp trước có nghiệp tội, *“đáng lẽ phải đọa ác đạo, thì đời này do bị người khinh chê mà nghiệp tội kiếp trước bị tiêu diệt”.* Bởi vì con người đời này khinh thường bạn, thế thì nghiệp tội kiếp trước của bạn sẽ vì thế mà tiêu trừ đi. Vì thế đây là “có thể làm sạch nghiệp chướng”, bạn đọc kinh Kim Cang có lợi ích, có thể tiêu trừ nghiệp tội của chính bản thân bạn.

Mật giáo có Kim Cang Tâm bách tự minh, mỗi lần chúng ta đều phải niệm ba lần Bách tự minh chú, bởi vì nó có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Kinh Kim Cang là Không, bất kì tội gì đến được Không rồi thì sẽ như mây tan khói tản. Bách tự minh chú là cái gì? Tôi đã nói về Không, nó cũng là Không. Bạn niệm Bách tự minh chú, tội chướng sẽ tiêu trừ hết, đó là câu chú tiêu trừ nghiệp chướng tốt nhất. Vì thế tôi nói bạn niệm xong 100.000 biến Bách tự minh chú, lấy cây phất trần: *“Quét một cái sạch sẽ phiền não, quét hai cái loại trừ vận rủi, quét ba cái trừ bỏ nghiệp chướng. Giáng xuống đây Bổn tôn phúc phần. Om benza satto hum.”* (3 lần) “Om benza satto hum” là câu chú ngắn của Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh.

Vì thế, bạn niệm xong 100.000 biến Bách tự minh chú tức là tiêu trừ nghiệp chướng của mình, dùng dòng chảy pháp Không để làm cho bạn sạch trơn, làm sạch nghiệp chướng của bạn. Kinh Kim Cang cũng có sức mạnh như vậy. Bạn niệm kinh Kim Cang, khi bạn niệm, vẫn sẽ chịu sự coi thường của người khác (tức là khinh rẻ hoặc sỉ nhục), Phật Thích Ca Mâu Ni nói người này kiếp trước có nghiệp tội, lẽ ra sẽ đọa vào ác đạo, nhưng “*đời này do bị người khinh chê”,* vì thế đời này người ta sẽ coi thường bạn, sẽ khinh chê bạn, sẽ sỉ nhục bạn.

Nhưng vì bạn niệm kinh Kim Cang, nghiệp tội kiếp trước của bạn sẽ được tiêu trừ, đây là Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng. *“Sẽ đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề”*, về sau nếu như nghiệp tội tiêu trừ hết rồi thì sẽ đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Phải tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình trước là vô cùng quan trọng. Bản thân tôi cũng cảm giác thấy như vậy, trong Mật giáo chúng ta nói đến Đạo Quả, tôi đã giảng Đạo Quả rồi, trên phương diện nội tu, bạn dùng minh điểm và chuyết hỏa của mình hợp nhất, sau đó mở ra năm luân xa, nó có ý nghĩa của nó.

Mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, mật luân này, chỉ cần mở ra được một luân xa là bạn được thanh tịnh hai địa, mở ra năm luân xa là bạn được thanh tịnh mười địa, khi đó gọi là thập địa Bồ Tát. Mở ra đỉnh luân thì tương đương với thanh tịnh hai địa nữa, tức là Bồ Tát địa thứ mười hai. Rồi mở ra thêm đỉnh kế nữa thì sẽ trở thành Bồ Tát địa thứ mười hai rưỡi. Trong Đạo Quả viết như vậy, tôi căn cứ theo Đạo Quả mà giảng như vậy. 

Vì sao đến địa mười hai là Bồ Tát, địa mười ba chính là Phật? Nguyên nhân chủ yếu là nói rằng, bạn mở ra một luân xa thì tương đương đã thanh tịnh một phần, nghiệp chướng của thân thể bạn đã thanh tịnh rồi, ý nghĩa chính là như vậy. Từ Hoan hỉ địa cho đến Pháp vân địa, địa thứ mười là Pháp vân địa. Trong Hiển giáo, Bồ Tát chỉ có mười địa, địa thứ mười một chính là Phật rồi. Điều đó cho thấy rằng bạn thanh tịnh được mấy phần thì sẽ đến gần Bồ Tát được mấy phần, Bồ Tát sơ địa chính là sự thanh tịnh ban đầu, vì thế đương nhiên rồi, tiêu trừ nghiệp chướng chính là thanh tịnh. Cho nên phải tiêu trừ nghiệp chướng trước, nghiệp chướng tiêu trừ đến khi hoàn toàn thanh tịnh rồi thì bạn sẽ đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cái này là đạo, bạn sẽ hợp với đạo.

Vì sao ma lại sợ Sư Tôn? Tôi biết ma rất sợ tôi, bởi vì tôi chỉ cần đi đến nơi có ma thì ma đó đều bỏ chạy, nghĩa là chạy một mạch “bạch bạch bạch”. Thật đó, nếu tôi bước vào một ngôi nhà ma, nếu ở nơi đó có ma, bức tường sẽ phát ra tiếng động, liên tục chạy “beng beng beng”, hơn nữa còn thật sự phát ra âm thanh. Điều này đã thông qua thực nghiệm của cá nhân tôi. Tôi bước tới tủ lạnh trong nhà tôi, tủ lạnh nhất định sẽ kêu lên. Tôi đi vào *toilet* trong nhà tôi, *toilet* nhất định sẽ kêu lên. Tôi đi qua chậu cây cảnh, chậu cây cảnh đó nhất định sẽ kêu lên. Kết quả sẽ thành là họ kêu lên thì tôi cũng giật nảy mình, bởi vì đó là buổi tối mà! Bạn biết không, toàn là lúc 12 giờ, 1 giờ đêm. 

Khi tôi trở về phòng mình, suốt dọc đường họ cứ kêu lên, cứ hét lên, tôi nói với họ: “Thế này là đủ rồi, mấy người không cần gọi, tôi chào hỏi mọi người trước, xin chào, xin chào.” Tôi hoàn toàn bình đẳng! Tôi cũng nói với Phật Bồ Tát là *good morning*, mỗi buổi sáng tôi ngủ dậy tôi đều nói với các vị là *good morning*. Tôi cũng như vậy, mấy người không cần gọi, không cần làm ồn, tôi nói “xin chào” rồi tôi đi qua, các vị không cần gọi. Bởi vì trong nhà tôi làm siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp mà! Trong nhà có bao nhiêu ma trốn? Mỗi chiếc thuyền đều ngồi chật kín cả! Bao nhiêu trung ấm chạy tới nhà tôi. Những người sau khi được kiểm tra xong thì đi vào, không biết là bao nhiêu. Trong tủ lạnh cũng có, trong tủ quần áo cũng có, trong tủ bếp cũng có. Tôi đi đánh răng, bên dưới bồn rửa toàn phát ra âm thanh “bang bang bang”, đi qua bức tường, bức tường đó đều kêu “bang bang bang”, đi tới chậu cây cảnh, chậu cây cũng kêu “binh binh binh”, sau đó thì khá ồn ào. Tôi chào hỏi mọi người trước, mọi người đừng làm ồn, cũng không cần chạy. Là như vậy đó, ngày nào vào buổi tối tôi cũng nói với họ như vậy. Hai năm nay đều như vậy.

Vì thế, Sư Mẫu nhìn thấy những con ma đang mở tiệc, một số còn mặc đồ cổ trang nữa. Sau khi nhìn thấy Sư Mẫu thì họ trốn trong tủ quần áo. Mở tủ quần áo ra, rồi tất cả lũ ma đi vào hết rồi đóng tủ lại, vẫn còn bị kẹt cái mũ của một con ma ở ngoài, họ còn đưa tay ra để lấy nữa. Sau đó chân họ còn thò ra ngoài, Sư Mẫu còn nhìn thấy cái chân đó là chân giả, là ma bị cụt chân, ma lắp chân giả chui vào trong đó. Còn có một người khác nhìn thấy, đó là bà Ngụy Tư Nhan ở California nhìn thấy.

Tôi nói với mọi người, cái này đều có nhân quả ở trong đó! *“Đáng lẽ phải đọa ác đạo”*, ác đạo tức là ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, ba ác đạo là không tốt nhất. Đạo người, nửa thiện nửa ác, nhưng mà cũng rất khổ, đều là vì nghiệp trước đây đã làm, vì nghiệp tội. Sau này thì sao? Bạn niệm kinh Kim Cang có thể tiêu trừ nghiệp, đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tôi nói như vậy mọi người đã hiểu rõ chưa? Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 29/01/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 54.)*

### 55. Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng (3)

*(Bài giảng 55)* Công đức thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang

*"Tu Bồ Đề! Ta nhớ quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp trước thời Đức Phật Nhiên Đăng, ta được gặp tám trăm bốn nghìn vạn ức na-do-tha chư Phật, ta đều cúng dường cung kính phụng sự không bỏ sót vị nào. Nếu lại có người, vào thời mạt pháp sau này, có thể thọ trì đọc tụng kinh này, thì công đức người ấy có được so với công đức cúng dường chư Phật của ta nhiều hơn bội phần, trăm phần ta không bằng một phần họ, nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được.”*

*"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ vào thời mạt pháp, có thọ trì đọc tụng kinh này thì công đức người đó có được, dù ta nói ra đầy đủ thì có lẽ có người nghe thấy tâm sẽ cuồng loạn, nghi ngờ không tin. Tu Bồ Đề! Nên biết nghĩa kinh này bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì.”*

Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Tu Bồ Đề, mỗi lần Phật thuyết pháp, đệ tử nào hỏi ngài thì ngài sẽ đọc tên đệ tử đó. Phật trong *“quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp trước thời Đức Phật Nhiên Đăng”* (chính là Định Quang Phật), *“được gặp tám trăm bốn nghìn vạn ức na-do-tha chư Phật”*. Chà, thế là Phật nhiều không đếm xuể! Vô số vị Phật *“đều cúng dường, phụng sự không bỏ sót vị nào”*, cúng dường toàn bộ những vị Phật này, để các vị đều hài lòng, không bỏ sót một vị Phật nào. 

Nếu có người vào thời mạt thế có thể thọ trì kinh Kim Cang, đọc tụng kinh Kim Cang, “c*ông đức người ấy có được so với công đức cúng dường chư Phật của ta nhiều hơn bội phần, trăm phần ta không bằng một phần họ, nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được”.* Đây chính là so sánh mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, ngài lấy việc cúng dường vô lượng các vị Phật và việc thọ trì kinh Kim Cang ra để so sánh với nhau. Phật Thích Ca Mâu Ni đem công đức của hai việc: cúng dường vô lượng chư Phật và người đời sau có thể thọ trì và đọc tụng kinh Kim Cang ra để so sánh. 

Phật Thích Ca Mâu Ni so sánh như thế này: *“trăm phần ta không bằng một phần họ”*, tức là còn chưa đến một phần trong một trăm phần. Bạn cúng dường vô lượng chư Phật còn thua người có thể thọ trì kinh Kim Cang và đọc tụng kinh Kim Cang. Tôi đã từng giảng trọng điểm nằm ở hai chữ “thọ trì”, vì sao vậy? Bởi vì bạn cúng dường Phật là có công đức, nhưng còn có thể đếm được. Bạn thọ trì kinh Kim Cang là không thể nào đếm được, không có cách nào đếm. Mọi người cần phải chú ý điểm này, ở đây có sự so sánh.

Phật Thích Ca Mâu Ni trong đời quá khứ từng cúng dường vô cùng vô cùng nhiều các vị Phật, không bỏ qua một vị nào, mọi vị Phật ngài đều cúng dường cả. Ngoài ra có một người là tôi thọ trì kinh Kim Cang, tôi đọc tụng kinh Kim Cang, đem so sánh hai người, vấn đề nằm ở hai chữ “so sánh”. Tôi muốn nói với mọi người, ở đây có ẩn giấu ý nghĩa ở bên trong, rất ít người nhắc đến điều này. Tôi nói với bạn, chúng ta ở trên thế gian này không được so sánh, Lư Sư Tôn nói bốn chữ “không được so sánh”, tuyệt đối không được so sánh. Vì sao? Bởi vì so sánh là nguồn gốc của phiền não, so sánh tức là có cái “ngã”, có cái tôi thì mới có so sánh, bạn vô ngã rồi thì còn so sánh với ai?

Ý nghĩa ở trong kinh Kim Cang, ở đây nhắc đến Phật Thích Ca Mâu Ni *“tám trăm bốn nghìn vạn ức na-do-tha chư Phật đều cúng dường cung kính phụng sự”.* Cúng dường và phụng sự nhiều vị Phật như vậy không bỏ sót vị nào, cho dù một vị Phật cũng không bỏ qua, đều cúng dường phụng sự hết. Và công đức của một người thọ trì đọc tụng kinh này *“so với công đức cúng dường chư Phật của ta nhiều hơn bội phần, trăm phần ta không bằng một phần họ, nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được”.* 

Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến hai chữ so sánh này. Tôi không nói với Phật Thích Ca Mâu Ni, tôi nói với các bạn rằng không được đi so sánh, làm sao có thể so sánh? So sánh chính là nguồn gốc của phiền não đó! Hôm nay bạn đi ra đường nhìn thấy một mĩ nữ, trở về nhà nhìn thấy vợ mình, thế là bạn bắt đầu đập vỡ cốc, đem những đồ cổ trong nhà ra đập vỡ hết… đồ cổ thì không được đâu, rất quý đó! Tìm thứ gì rẻ một chút mà đập. Vì sao? Người ta thì đẹp như thế, vì sao trở về nhà nhìn vợ mình thì lại như thế này? Trong lòng bạn sẽ tức giận. Không được so sánh, phiền não chính là từ so sánh mà ra.

Bạn xem, phía sau Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta chính là công ty Microsoft, công ty rất to, càng ngày càng to, họ mua hết toàn bộ đất rồi. Khi xưa tôi đi qua nơi đó, lúc đó còn chưa có Seattle Lôi Tạng Tự, tôi liền bảo người ở khu này đều là những người giàu nhất thế giới. Khi tôi đi qua khu đó, tôi nói khu đất này có địa lí, là đất của người giàu nhất thế giới. Chúng tôi mua ở dưới núi, rồi đi lên phía trên chính là Microsoft. Bạn so sánh mình với Bill Gates, đúng là “chim cu so với đùi gà”, làm sao mà so sánh chứ?

Người ta hễ vung tay là mấy tỉ mấy tỉ, làm từ thiện là cho bạn mấy tỉ mấy tỉ. Ông ấy thấy châu Phi rất nghèo, liền cho châu Phi mấy tỉ mấy tỉ để đi nuôi gà, ông ấy không biết rằng gà đều là nuôi từ châu Phi mà ra, nhưng mà một khi ông ấy đã tiêu thì toàn là mấy tỉ mấy tỉ! Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn đến bây giờ không biết đã tiêu bao nhiêu tiền rồi nhỉ? Tổng số khoảng mấy triệu nhỉ! Tôi cũng không dám nói mấy triệu, người ta mấy tỉ, làm sao mà so sánh chứ? Người ta hễ ra tay là tiền tỉ, chúng ta ra tay chỉ có tiền triệu, làm sao mà so sánh? So sánh rồi thì tức chết mất, không bằng người ta mà. 

Giống như so sánh Chân Phật Tông chúng ta và Hội công đức Từ Tế, chúng ta chẳng bằng con số lẻ, con số ở phía đuôi của tiền của Hội công đức Từ Tế, huống chi là con số ở phía trước. Chúng ta so sánh với Phật Quang Sơn, làm sao mà bì được! Chùa của người ta *so big* (quá to), chùa của chúng ta *so small* (quá nhỏ). Phật Quang Sơn xây chùa ở bất kì đất nước nào, ở Nam Phi cũng xây một ngôi chùa, chùa mà Phật Quang Sơn xây, bạn nhìn xem tại thị trấn Đại Thụ ở Cao Hùng, trên cả một ngọn núi, chùa Phật Quang Sơn to vô cùng! Chúng ta chẳng thể nào sánh bằng, hễ so sánh là bạn phiền não ngay. Bạn xem Trung Đài Thiền Tự, bạn đi đến Trung Đài Thiền Tự sẽ nhìn thấy rất nhiều đồ cổ, một món đồ cổ chúng ta cũng không không sánh bằng.

Bạn đến Pháp Cổ Sơn, cái chuông khổng lồ đó, cái chuông rất to, đêm giao thừa hàng năm đều gióng chuông, mọi nhân vật chính trị quan trọng đều đi gióng chuông, Tổng thống, phó Tổng thống đều đến Pháp Cổ Sơn để gióng chuông. Chúng ta không có cái chuông to như vậy, làm gì có cái chuông to như thế? Chúng ta chỉ có chuông kim cang. Cái chuông của họ rất to, cần rất nhiều người kéo như thế này, “tùng”, gõ như vậy. Không thể so bì, bạn so bì với Pháp Cổ Sơn, bạn so bì với Hội công đức Từ Tế, bạn so bì với Trung Đài Sơn, bạn so bì với Phật Quang Sơn, không thể nào sánh bằng!

Ở đây tôi nhấn mạnh không được so sánh, so sánh là nguồn gốc của phiền não. Kinh Kim Cang nói về Không nghĩa, chuông là không, chùa là không, tiền là không, đồ cổ là không, bạn chỉ dựa vào cái Không mà dung nạp thì mọi thứ đều đi vào. Bạn phụng sự cúng dường vô lượng chư Phật đều thua việc thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang. Bạn có thể trì tụng kinh Kim Cang thì bạn chính là Không, phạm vi của cái Không bao gồm vạn vật vũ trụ. Tôi nói với bạn, bạn hiểu được kinh Kim Cang rồi, tâm của bạn có thể sinh ra vạn pháp.

Vì thế ở đây, Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến so sánh, ngài đã phụng sự vô lượng chư Phật, đều thua công đức của một người có thể thọ trì đọc tụng kinh này có được. Vì sao? Bạn phải hiểu được đạo lí này, bởi vì kinh Kim Cang là Không, Không có thể sinh vạn pháp, cho nên tất cả đều đến từ Không, đất nước lửa gió đều đến từ Không. Chúng ta biết rằng trong đất - nước - lửa - gió - không, cái “không” là thứ cuối cùng, nhưng cái “không” có thể dung nạp đất nước lửa gió, cái “không” đó có thể dung nạp tất cả. Vừa rồi tôi cũng đã so sánh, Sư Tôn vì lấy ví dụ mà làm so sánh, Phật Thích Ca Mâu Ni ở đây cũng làm so sánh. Hai chữ so sánh, tôi nói để mọi người biết, là căn nguyên của phiền não. Bạn gặp phải chuyện gì cũng đều không được so sánh.

Hôm nay tôi lái xe ra ngoài, chiếc xe này của tôi là xe sang, xe của tôi là xe Maserati, Maserati là xe thể thao, Maserati do Italy sản xuất. Bạn gặp phải chiếc Lamborghini, gặp phải Ferrari, Ferrari và Lamborghini có đắt hơn Maserati không? Đắt hơn đó! Đúng mà, bạn sẽ cảm thấy trong lòng không sướng. Bạn gặp phải chiếc xe Honda hoặc Infiniti của Nhật, Suzuki hoặc Subaru, bạn nhìn thấy thì sẽ cảm thấy xe Maserati của mình tốt hơn. Người ta nói với bạn là “*good car*” (xe ngon) thế là bạn rất sướng. Người ta lái xe Lamborghini đi qua bạn thì… (Sư Tôn thị phạm biểu hiện không sướng.) Đây là một so sánh nhỏ.

Hễ so sánh là bạn sẽ sinh phiền não, bất kể bạn thích hay không thích, cho nên chúng ta phải hiểu không thể so sánh. Phật Thích Ca Mâu Ni vì nói kinh Kim Cang mà làm so sánh, tôi vì giải thích đoạn kinh văn này mà tôi cũng làm so sánh. Tôi nói với mọi người, không được so sánh, bởi vì trong kinh Kim Cang nói vô ngã tướng, không có cái ngã thì làm gì có so sánh? Vô nhân tướng, vô ngã thì sẽ vô nhân, vậy thì ai so sánh với ai? Vô chúng sinh tướng, không có chúng sinh, vậy bạn so sánh với ai? Vô thọ giả tướng, không có thời gian, không có so sánh.

Tôi thường xuyên lấy ví dụ, trên mặt trăng căn bản là “vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, trên mặt trăng ai so sánh với ai? Cái gì là thiện? Cái gì là ác? Cái gì là Phật pháp? Cái gì là mặn? Cái gì là chay? Tất cả đều không có, tất cả đều nằm trong cái Không. Vì thế đôi khi, nếu bạn không so sánh, bạn đã nhận thức được cái Không rồi, bạn lĩnh ngộ được cái Không rồi, đó chính là khai ngộ. Bạn thực tiễn cái Không này thì bạn chính là Thánh hiền, đây là điều vĩ đại nhất, bởi vì phiền não không có nữa, công đức cũng không có nữa, bám chấp cũng không có nữa.

Bạn chấp vào cái gì? Bám chấp cũng không có nữa. Còn cả những tâm trạng của bạn, đó chỉ là *small potato* (củ khoai tây nhỏ), tâm trạng của bạn cũng không còn nữa. Bạn không còn so sánh thì còn tâm trạng gì? Tâm trạng cũng không có nữa, không có so sánh thì không có tâm trạng, hễ so sánh thì sẽ sản sinh tâm trạng. Ngoài ra, vì bạn đã vô ngã rồi, bạn còn có tập tính gì nữa? Không có, tập tính cũng tương đương với số không, tương đương với trống rỗng, không còn nữa, đây chính là có thể giải trừ hết, hơn nữa ở trong cái Không, bạn còn bao hàm vạn pháp. Nguyên nhân mà kinh Kim Cang là vua các kinh điển là ở đây. Hôm nay tôi giảng đến đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 30/01/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Câu Tài Thiên Nữ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 55.)*

### 56. Phần thứ 16: Có thể làm sạch nghiệp chướng (4)

*(Bài giảng 56)* Nên biết ý nghĩa kinh là bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì

*"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ vào thời mạt pháp, có thọ trì đọc tụng kinh này thì công đức người đó có được, dù ta nói ra đầy đủ thì có lẽ có người nghe thấy tâm sẽ cuồng loạn, nghi ngờ không tin. Tu Bồ Đề! Nên biết nghĩa kinh này bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì.”*

Phật Thích Ca Mâu Ni nói như thế này, kinh này không dễ lí giải, bởi vì bản thân nó vô cùng thâm sâu ảo diệu, nghĩa lí của nó hàm chứa đạo lí rất sâu, không dễ để mà hiểu được nó. Bản thân kinh Kim Cang không dễ lí giải, bởi vì nó là Vua Kinh, không dễ mà hiểu được. Cho nên có người nghe rồi nhưng không chắc sẽ tin tưởng, cho dù có tin tưởng thì cũng sẽ có một chút nghi hoặc. Ý nghĩa của kinh này là bất khả tư nghì, nói cách khác là nghĩa lí của kinh Kim Cang là bất khả tư nghì, nhân quả báo ứng của nó cũng bất khả tư nghì giống như vậy.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói câu nói này, nghĩa của kinh là bất khả tư nghì, vậy nghĩa của kinh rốt cục là cái gì? Kì thực nó bao gồm “có thể làm sạch nghiệp chướng”, muốn thanh tịnh nghiệp chướng bạn nhất định phải “thọ trì đọc tụng”. Thọ trì - bạn tiếp nhận rồi, bạn duy trì rồi, bạn tu hành rồi, thực tiễn nó rồi. Đọc tụng - bạn có thể đọc, cũng có thể tụng. Bạn tiếp nhận rồi, bạn cũng có thể thực tiễn nó, hai chữ thọ trì vô cùng quan trọng.

Vì sao có thể làm sạch nghiệp chướng? Rất nhiều người đều biết kinh Kim Cang có thể tiêu trừ nghiệp chướng, nhưng không đưa ra được một đạo lí, đạo lí của nó rất sâu. Đạo lí rốt cục ở đâu? Tôi nói với mọi người, đó chính là diệu quan sát trí của A Di Đà Phật (trong năm trí huệ, A Di Đà Phật có diệu quan sát trí), dùng diệu quan sát trí để thâm nhập vào trong ý nghĩa của kinh, sau đó lại quan sát chính mình. Quan sát chính mình cái gì? Quan sát ý niệm của mình, đây chính là thọ trì đó, nghĩa lí quan trọng chính là ở đây!

Tôi hỏi mọi người, bạn có quan sát suy nghĩ của chính mình không? Mỗi ngày các bạn đều nghĩ về những sự việc, những suy nghĩ liên tiếp sinh ra, tôi nói để bạn biết, bạn không chú ý đến suy nghĩ của chính mình, bạn chỉ chú ý đến hành vi của người khác thôi, bạn quan sát hành vi của người khác. Bạn phải quan sát suy nghĩ của chính mình, nghĩa lí quan trọng nhất nằm ở đây. Mọi người biết A Di Đà Phật có diệu quan sát trí, bạn biết diệu quan sát trí của A Di Đà Phật là quan sát cái gì không? Phật Thích Ca Mâu Ni đã giấu đi nghĩa lí không nói ra, chính là quan sát ý niệm của chính mình.

Trong suy nghĩ của bạn, bạn đang nghĩ cái gì? Bạn có đang nghĩ mình đang nghĩ cái gì không? Đây là hai việc khác nhau. Bởi vì chính bạn đang nghĩ gì bạn lại không quan sát. Thật ra trong suy nghĩ của bạn có rất nhiều sai lầm, rất nhiều người khi gặp một vài vấn đề liền nghĩ như thế này, người kia đối với mình không tốt, hoặc là nói rằng người này hôm nay chửi mình, trong lòng mình không thoải mái, sẽ có một ngày mình nhất định phải chửi lại, lấy mắt trả mắt, lấy răng trả răng, đại bộ phận con người đều nghĩ như vậy, suy nghĩ này là sai lầm.

Ví dụ bình thường chúng ta sát sinh: “Ví dụ côn trùng nhỏ, gián hoặc muỗi, ruồi, thạch sùng, đập một phát là giết luôn, có gì đâu! Dù sao mặc dù là sinh mạng, nhưng mà chúng đáng chết mà!” Bạn cũng nảy sinh ra suy nghĩ này: “Chuột chắc là không sao đâu!” Thế là giết luôn. Kì thực tín đồ Phật giáo chúng ta là phải niệm chú vãng sinh. Đối với những loài không tốt như rắn độc bị chúng ta giết, chúng ta cũng phải giúp chúng niệm chú vãng sinh, và đừng có suy nghĩ sát sinh.

Khi bạn nảy sinh suy nghĩ sát sinh: “Người này đối với tôi rất tồi tệ, lát nữa hắn đi ra ngoài để cho hắn bị xe đâm trúng đi!” Bạn nảy sinh suy nghĩ này, mặc dù chỉ một lúc thôi rồi sẽ hết, nhưng mà đây chính là suy nghĩ không tốt, bạn không hề quan sát thấy, bởi vì suy nghĩ này chỉ xuất hiện trong một sát-na rất nhanh chóng. Bạn bị trộm tiền, bạn liền nguyền rủa kẻ trộm tiền này. Thậm chí đôi khi bạn nhìn thấy tiền, nhặt tiền rơi trên đất, dù sao cũng không có ai nhìn thấy thì coi như là của mình. Suy nghĩ như vậy đều sẽ có. Nhìn thấy thứ gì hay, trong bếp có cái nồi hay, tôi chẳng nói đó là nồi người khác mua, tôi cầm nó về nhà cho mình nấu, dù sao lấy trộm thì cũng không có ai biết, cũng không có ai biết là tôi cầm về nhà nấu. Những suy nghĩ kiểu này đều không đúng, đó là suy nghĩ ăn trộm, bạn cho rằng đều rất nhẹ thôi, kì thực suy nghĩ này đều không đúng.

Ngoài ra, nam sinh nhìn thấy nữ sinh cảm thấy rất xinh đẹp, thế là ghi nhớ trong đầu, thường xuyên nghĩ đến cô ấy, hơn nữa còn biến thành một hình tượng khác. Nữ sinh nhìn thấy một nam sinh rất đẹp trai phong độ, nam sinh “cao phú soái” <span className="note-blue">[cao to, giàu có, đẹp trai]</span>, nữ sinh liền ghi nhớ trong đầu, sau đó sản sinh ra những huyễn tưởng khác. Kiểu suy nghĩ này cũng không đúng, có rất nhiều suy nghĩ đều không đúng đắn.

Bạn có quan sát suy nghĩ của chính mình không? Trong kinh Kim Cang nói bạn phải quan sát suy nghĩ của bạn, phải dừng lại mọi suy nghĩ tiêu cực, phải gia tăng suy nghĩ tích cực, như vậy mới có thể làm sạch nghiệp chướng, trọng điểm nằm ở đây, bạn phải thanh tịnh nghiệp chướng của bạn. Làm thế nào mới có thể thanh tịnh nghiệp chướng của bạn? Bạn quan sát suy nghĩ của chính mình, bởi vì suy nghĩ xong thì sẽ sinh ra hành vi, ngoài thanh tịnh hành vi của mình, bạn còn phải thanh tịnh suy nghĩ của mình. Bạn lấy việc quan sát suy nghĩ của chính mình và quan sát hành vi của chính mình xem có đúng hay không để thanh tịnh nghiệp chướng của chính bản thân bạn, trọng điểm nằm ở đây. 

Nếu bạn chỉ có đọc, và bạn vẫn còn không hiểu yếu nghĩa mà Sư Tôn nói về nghĩa lí quan trọng của kinh Kim Cang nằm ở đâu, thì sao có thể thanh tịnh nghiệp chướng chứ? Là phải nhờ bạn dùng diệu quan sát trí để quan sát suy nghĩ và hành vi của bạn, để thanh trừ hết những thứ tiêu cực, kéo dài và tăng trưởng những thứ tích cực, như vậy bạn sẽ có thể làm sạch nghiệp chướng. Nếu không làm như vậy, bạn chỉ mỗi đọc kinh thôi, không có thọ trì thì làm sao thanh tịnh nghiệp chướng được?

Tôi vừa giảng với mọi người rồi, đây là điều mà người khác không giảng được, người khác khi giải thích chương này, họ không thể giảng được điều này đâu! Tôi nói như vậy có đúng không? Bởi vì có nhân quả mà! Chúng ta nói rằng có nhân quả, đã làm ra nhân ác thì chắc chắn sẽ chịu quả ác. Nhưng lại có người nói kinh Kim Cang nếu đã nói về cái Không thì thiện kia cũng có thể không cần làm, vậy chúng ta cũng có thể làm ác thôi! Bởi vì tất cả đều là không, thiện cũng là không, ác cũng là không, vậy thì tôi làm ác, giết cướp dâm cái gì cũng làm, đó chính là tạo ra vô nhân quả.

Nhân quả là phàm phu thế tục, tôi bây giờ là Thánh nhân hiểu kinh Kim Cang, tất cả đều là không, vậy thì tôi giết, trộm, dâm cũng đều là không mà! Cái này chính là cuồng loạn, tư tưởng điên loạn, hiểu sai hết rồi. Thật ra nhân quả không mơ hồ, nhân quả không che giấu, không che giấu nhân quả, chứ không phải là tạo ra vô nhân quả, chứ không thì vì sao vẫn còn phải thanh trừ nghiệp chướng? Nếu bạn đã là không thì nghiệp chướng cũng là không. Cái gì cũng là không, thế thì làm loạn, mọi người cùng làm loạn, trở thành như thế này, cái này chính là tư tưởng điên loạn, cho nên vẫn là nhân quả không mờ mịt <span className="note-blue">[nhân quả báo ứng là cực kì rõ ràng hiển nhiên]</span>.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *“Nên biết nghĩa kinh này bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì.”* Vẫn là có nhân quả báo ứng, không thể nói là vì kinh Kim Cang là Vua Kinh, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, cho nên căn bản chính là không có nhân quả báo ứng. Nếu bạn nói như vậy, vậy thì giải thích thế nào về quả báo cũng bất khả tư nghì đây? Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn nói rằng có nhân quả báo ứng. Thế còn “nghĩa kinh ngày bất khả tư nghì”, nghĩa lí này có thể làm sạch nghiệp chướng, vì sao có thể thanh tịnh nghiệp chướng? Bởi vì thọ trì đọc tụng là có thể tịnh nghiệp chướng, trọng điểm nằm ở việc thọ trì.

Bạn quan sát hành vi của mình, quan sát suy nghĩ của mình, có gì không tốt thì bỏ, tiêu cực phải bỏ, để lại những điều tích cực, như thế mới là đúng, mới có thể tịnh nghiệp chướng, nếu như không nói thì các bạn không biết. Bảo bạn quan sát hành vi của mình, quan sát suy nghĩ của mình, bạn không làm, bạn lại đi quan sát hành vi của người khác, quan sát lời mà người khác nói. Kì thực tu hành là tu chính mình, tự giác trước rồi mới giác tha <span className="note-blue">[tự mình giác ngộ trước rồi mới giúp người khác giác ngộ]</span>, sau đó mới nói cho người khác biết dùng phương pháp gì để có thể làm sạch nghiệp chướng. 

Hôm nay tôi đang giảng phương pháp với mọi người đây. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 05/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 56.)*

### 57. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (1)

*(Bài giảng 57)* Vô ngã tột cùng

Chúng ta nói về tên gọi của chương này - Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng. Thế nào gọi là “vô ngã tột cùng”? Ai có thể nói xin mời giơ tay. (Sư Tôn lấy mặt dây chuyền hồ lô ra cho mọi người xem.) Chà! Cái này hay lắm, để treo trong xe ô tô, mặt hồ lô này rất đẹp, hồ lô có thể nạp tài, vàng bạc tài bảo đều ở bên trong hồ lô. Ai nói đúng thì sẽ tặng cho người đó. Thật ra ai nói hợp với ý của Sư Tôn thì coi là đúng. Giải thích bốn chữ “vô ngã tột cùng” này như thế nào?

Tốt, Liên Hữu. (Thượng sư Liên Hữu: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.) Ý cô nói là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, thế còn “tột cùng” thì sao? (Thượng sư Liên Hữu: Bởi vì không có bốn tướng là thực tướng, cho nên gọi là tột cùng.) Đương nhiên điều mà cô nói đều đúng rồi. Còn gì nữa không? (Có người nói: hình như có “ngã”, kì thực không có “ngã”, bởi vì “ngã” là huyễn hóa. Tột cùng là nói về vô sinh, cho nên là vô ngã.) Như bạn nói cũng là đúng rồi. Còn nữa không? (Có người nói: Tột cùng có Phật tính, là vô tướng, là vô ngã tướng.) Tột cùng chính là vô ngã tướng. Còn gì nữa? Liên Tự. (Pháp sư Liên Tự: tột cùng vốn dĩ chính là Phật tính thanh tịnh, nó không còn ở trong sự khác biệt bạn, tôi, người khác.) Tốt, mọi người nói đều đúng rồi!

Muốn đạt đến thành tựu tột cùng thì nhất định phải vô ngã, đây chính là vô ngã tột cùng. Tiêu đề này chính là: “Muốn đạt đến thành tựu tột cùng thì phải vô ngã”, chính là như vậy! Thật ra mọi người trả lời đều đúng rồi, mỗi người trả lời đều đúng, chỉ là phải hợp với câu nói của Sư Tôn: “Muốn đạt đến thành tựu tột cùng thì phải vô ngã, chính là vô ngã tột cùng.” Là như vậy mà thôi, nó chính là tiêu đề của ngày hôm nay.

Chúng ta biết rằng thành tựu tột cùng chính là cảnh giới cao nhất, Tứ thánh giới đều có thể nói là thành tựu tột cùng, Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đều là thành tựu tột cùng, các vị đã đều không ở trong lục đạo luân hồi, không phải chịu luân hồi nữa, đó đã là thành tựu tột cùng rồi. Không chịu luân hồi, không phải ở trong sáu đạo Thiên giới, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh mà luân hồi tới lui nữa, lúc thì đạo Trời, lúc thì lại phải xuống nhân gian (đạo Người), lúc thì lại đọa lạc đến tam ác đạo, có lúc lại đến đạo Atula, cứ luân chuyển không ngừng trong lục đạo như vậy.

Các vị đã rời xa lục đạo luân hồi rồi, đây là vĩnh sinh, tồn tại vĩnh viễn, đã không ở trong lục đạo mà luân hồi nữa, không còn đến nhân gian nữa. Khổ nhân gian rất khổ, khi Phật Thích Ca Mâu Ni làm vương tử, vì ngài không biết nhân gian có bệnh khổ, một lần ngài đi du lịch ra ngoài bốn cổng thành, nhìn thấy sinh lão bệnh tử thì mới thấy sợ. Thì ra con người có bệnh, con người sẽ chết, và sẽ già, những điều này đều là những việc rất đau khổ, từ khi sinh ra cho đến khi chết đều rất khổ. Ngài bèn quyết ý phải đi tu hành, đi ngộ đạo, sau đó không còn phải đến nhân gian luân hồi nữa. Vì Phật Thích Ca Mâu Ni đi du lịch ra ngoài bốn cổng thành, sau khi nhìn thấy sinh lão bệnh tử mới quyết định cần phải tu hành.

Tột cùng, trong kinh Kim Cang Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bạn muốn đạt đến thành tựu tột cùng thì nhất định phải vô ngã, đó chính là tiêu đề của ngày hôm nay - Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng. Chúng ta nói một chút về vô ngã, trên thế giới này thật sự có ai có thể vô ngã? Rất khó đó! Bởi vì bản thân con người có thứ gì tồn tại? Có tập tính, mỗi người sinh ra đều có tập tính. Có người nóng nảy không tốt, có người thì tư tưởng đi chệch hướng, có người bị thùng thuốc nhuộm lớn là xã hội làm ô nhiễm, trở thành một phần tử của tập đoàn lừa đảo, có người trở thành lưu manh, có người làm kẻ cướp, có người làm kẻ trộm. Vậy còn tập tính thì sao? Có rất nhiều người phạm vào tội tà dâm, suy nghĩ đại bộ phận đều bất chính.

Thế nào là vô ngã? Thật sự, giảng về vô ngã là rất khó. Điều chúng ta cảm nhận thấy là con người muốn học vô ngã là rất khó. Tôi từng nói về vị nữ tu Thánh Teresa, bà ấy có hiện tượng của sự vô ngã: phàm việc gì cũng không vì mình. Chẳng phải tôi đã nói rồi sao, bà ấy coi mỗi con người đều là Thượng Đế để phục vụ, ai có thể làm được điều này? Tôi thấy mỗi người đều không làm được. Thánh Teresa là một Thánh nhân, là một nữ tu Thiên Chúa giáo, sau đó bà ấy được phong Thánh, thêm vào một chữ “Thánh”, Thánh Teresa, một nữ tu ở Ấn Độ, bà ấy có một tổ chức từ thiện, lời vàng của bà ấy là: “Tôi coi mỗi con người đều là Thượng Đế để phục vụ.” 

Xin hỏi mọi người, các bạn có làm được không? Bạn coi mỗi một người đều là Thượng Đế, khó mà có thể được. Bởi vì bản thân con người chúng ta có yêu, ghét, yêu người mà ta thích, ghét người mà ta không thích. Ở nơi bạn làm việc luôn có người bạn thích và người mà bạn không thích. Sếp của bạn cũng như vậy, họ thích một nhân viên nào đó, họ không thích bạn. Nhưng Thánh Teresa là vô ngã, bà ấy coi mỗi con người là Thượng Đế, điều này rất nhiều người không làm được. 

Nhưng nếu bạn muốn xưng Thánh thì nhất định phải coi mỗi con người là Phật. Chúng ta phải học tinh thần của bà ấy, coi mỗi con người đều là Phật, bạn có thể làm được không? Bạn có cung kính với Phật không? Có đi hành lễ đại lễ bái không? Tượng trưng cho thân, bạn làm đại lễ bái trước hình tướng Phật, bạn có làm đại lễ bái trước mỗi con người không? Bạn có cung kính đối với họ không? Cái này chính là vô ngã. Tôi lấy ví dụ này để nói. Ngoài ra, Thánh Teresa còn nói một câu: “Nếu có Thiên đường, tôi không đi, tôi sẵn sàng ở lại nơi tăm tối để phục vụ chúng sinh.” Đây cũng là tinh thần vô ngã! Bà ấy vĩnh viễn phục vụ chúng sinh ở nơi tối tăm. 

Bạn có biết khi bà ấy phục vụ người bệnh, chúng ta từng nghe rồi, bệnh nhân da dẻ chảy mủ, mắc bệnh phong, khắp người da dẻ lở loét, tiếng Đài Loan gọi là bệnh hủi, bệnh phong còn gọi là bệnh hủi, bệnh này rất bẩn, da dẻ đỏ tấy chảy mủ. Tôi nghe nói Thánh Teresa phục vụ họ như thế nào, bạn đã từng nghe chưa? Đúng vậy, bà ấy dùng lưỡi để hút mủ đó ra, ở đây là bà ấy có tinh thần vô ngã. Ngoài ra còn một điểm nữa, bà ấy có tư cách đến Thiên đường để hưởng phúc nhưng lại không đi, bà ấy muốn ở lại nơi tối tăm để phục vụ những người bệnh ấy, những chúng sinh tội nghiệp ấy, vĩnh viễn muốn làm như vậy, cái này chính là tinh thần vô ngã. Thế nào là vô ngã? Tôi lấy chuyện này làm ví dụ.

Tôi lại hỏi các bạn một câu: “Các bạn có thể yêu kẻ thù của mình không?” Ai làm được? Người này thường xuyên soi mói bạn, thường xuyên hận bạn, nhưng bạn phải yêu họ, bạn có khởi lên được tình yêu không? Làm gì có chuyện đó! Họ thường xuyên sỉ nhục tôi, bắt nạt tôi, chửi tôi, đã khiến tôi thấy rất chán ghét rồi, tôi còn phải yêu họ ư? Quên đi! Tôi không cắn họ một miếng đã là tốt lắm rồi. Hàm răng của tôi đã rất muốn cắn ngập thịt hắn một cái, ghét đến mức răng ngứa ngáy lắm rồi, mà lại còn muốn tôi “yêu kẻ thù của bạn” ư? Ai nói câu đó vậy? Là Jesus nói đó. Đừng bảo chỉ có Phật giáo chúng ta, Jesus Christ người ta cũng nói “phải yêu kẻ thù của bạn” đó, đây là vô ngã đó!

Kì thực trong lòng tôi cũng có người mà tôi rất ghét, nói thẳng thắn, tôi cảm thấy bóng dáng hắn thấp thoáng, cái tư thế đi lại của hắn nhìn đã thấy ghét rồi, nhưng tôi có uốn nắn suy nghĩ của mình, tôi không thể cảm thấy họ đáng ghét, hoặc là cảm thấy họ không tốt, hoặc là cảm thấy họ hung ác, không thể nghĩ đến mặt không tốt của họ, họ cũng có mặt tốt, tôi có đang tu sửa cho đúng suy nghĩ của chính mình. Đối với người đó tôi cảm thấy như vậy là không tốt, như vậy là không đúng, tôi phải thông cảm với họ, phải cung kính họ, tôi phải cải chính suy nghĩ của mình, cái này chính là tu hành!

Khi bạn có suy nghĩ: nhìn thấy người này là tôi thấy khó chịu rồi. Nhưng không thể có suy nghĩ này, suy nghĩ này là sai rồi. Bởi vì Guru của tôi nói với tôi: “Bạn phải yêu kẻ thù của bạn.” Thánh Teresa đã giáo dục tôi: “Bạn phải coi mỗi con người là Thượng Đế.” Hai điểm này, tôi thường xuyên đang tu cho đúng suy nghĩ của chính mình, phải coi mỗi con người là Thượng Đế, coi mỗi con người là Phật. Mặc dù họ không có duyên hợp với bạn, nhưng họ làm những động tác đáng ghét, bạn đều phải thông cảm cho họ, hơn nữa còn phải đối với họ tốt hơn. Trong quá trình tu hành, bạn có cảm giác người nào đó mà bạn nhìn đã thấy không thích không? Có! 

Kì thực tôi thường xuyên nghĩ thế này. Ví dụ Quỷ Bà, tôi đã viết năm cuốn sách, thỉnh thoảng trong một vài cuốn sách khác cũng có nhắc đến bà ấy, không chỉ là năm cuốn này. Bây giờ tôi cảm thấy tôi làm như vậy là không được. Bà ấy có nhân duyên của bà ấy, bà ấy đưa người ta và quỷ đến gần nhau, thậm chí có người vì thế mà mắc bệnh tâm thần, có người tự sát, có người đi đến đạo tràng của bà ấy trở về thì sắc mặt trắng bệch, tôi đã gặp rất nhiều rồi, khi ấy tôi dựa trên lòng căm phẫn mà viết sách. Nhưng bây giờ nghĩ lại, đây cũng là nhân duyên của bà ấy, đó là tự bạn đi theo Quỷ Bà, đây cũng là nhân duyên của bà ấy. Bạn đừng thấy bà ấy như vậy, nói không chừng bà ấy sau này có thể cải chính những người đó, hoặc là những người này vốn dĩ có duyên phận thân cận với quỷ, bạn không thể miễn cưỡng. Cho nên tôi viết năm cuốn sách về bà ấy, tôi cảm thấy đã lãng phí rất nhiều thời gian của tôi, hơn nữa, tôi cũng đã phê phán bà ấy đến mức tơi bời hoa lá rồi.

Không nên đi ghét bỏ người này, mặc dù bà ấy thân cận với quỷ, dùng quỷ, nhưng có liên quan gì đến anh? Ở trong Chân Phật Tông, bà ấy đã thả ra bao nhiêu là quỷ, nhưng tôi cảm thấy nếu người nào đạo tâm kiên cố rồi thì sẽ không đi theo bà ấy. Cái gì nên thuộc về anh thì sẽ thuộc về anh, cái gì nên thuộc về bà ta thì sẽ thuộc về bà ta, hà tất anh phải nhiều chuyện? Bây giờ tôi có đôi chút ngẫm nghĩ lại, bà ấy cũng có nhân duyên của bà ấy, bà ấy cũng có quyền lợi sinh tồn của bà ấy. Bên chỗ bà ấy mặc dù là ác quỷ, vậy thì anh hãy giúp đỡ những con quỷ ấy, anh hãy coi chúng là đối tượng để anh siêu độ. 

Tôi nghĩ như vây, có liên quan gì đến anh? Chân Phật Tông sau này cũng chưa chắc đã phải là của anh, có liên quan gì đến Chân Phật Tông của anh chứ? Anh hãy tự làm cho việc tu hành của chính mình thăng hoa, anh vẫn cần phải cung kính với Quỷ Bà mới đúng. Bởi vì anh hãy nhìn Thánh Teresa coi mỗi con người đều là Thượng đế, tôi cũng nên coi Quỷ Bà là Phật, là Thượng đế, bây giờ nghĩ lại thì tôi nghĩ như vậy đó.

Người đi theo bà ấy, anh lại càng phải thông cảm với họ, khuyên họ trở về, khuyên mà họ không trở về thì cũng bỏ qua đi, có liên quan gì đến anh chứ? Anh cũng cần phải coi mỗi người đi đến chỗ bà ấy là Thượng Đế, đó mới gọi là vô ngã. Tôi nói như vậy, mọi người có hiểu không? Chẳng có liên quan gì đến anh! Bà ấy chiêu binh mãi mã lại từ đầu, xây dựng vương quốc của mình từ đầu, (vương quốc của quỷ), đó là việc của bà ấy, chẳng có liên quan gì đến anh. Vẫn nên cung kính bà ấy, coi bà ấy là Phật, như vậy thì bạn có thể thành tựu, thật sự có được thành tựu tột cùng. Bạn muốn đạt được thành tựu tột cùng thì nhất định phải như vậy. Nếu trong lòng bạn còn oán ghét người nào đó thì bạn tuyệt đối không có được thành tựu. Nếu trong lòng bạn còn có một chút hận thì bạn sẽ không có được thành tựu. Tôi nói với bạn, bạn còn chưa làm cho mình thành Không. Tôi nói với mọi người, tôi nghĩ như vậy, và tôi cũng làm theo phương thức như vậy. 

Tính khí của Sư Tôn trước kia rất không tốt, tôi từng nói, tính nóng nảy của ông nội tôi không tốt, tính nóng nảy của bố tôi cũng không tốt, thế tôi rốt cục là ai sinh ra, chính tôi cũng không rõ nữa, bởi vì bố tôi từ khi tôi sinh ra cho đến khi ông ấy chết, ông ấy đều không thừa nhận tôi là con trai ông ấy. Nhưng nguyên nhân mà tôi vẫn cung kính ông ấy chính là vì không có bố tôi thì tôi cũng không thể trưởng thành. Mặc dù lúc tôi còn nhỏ, đầu tiên là bà ngoại tôi nuôi, tiếp theo là dì tôi nuôi. Bà ngoại tôi qua đời thì giao tôi cho dì tôi nuôi. Dì tôi kết hôn thì cũng không thể đem tôi theo mà đi lấy chồng, thế là gửi tôi trở về nhà. Mặc dù bố tôi đối với tôi không tốt, nhưng vẫn là nhờ có ông ấy tôi mới trưởng thành, điểm này tôi phải cảm ơn, phải cung kính ông ấy, không thể vì ông ấy đối với tôi không tốt mà ông ấy không còn là bố anh nữa, không phải. Ông ấy vẫn là bố tôi, tôi vẫn phải kính trọng ông ấy, tôi vẫn phải siêu độ cho ông ấy, việc này là như vậy.

Vì thế, hãy học tập tinh thần của Phật, học tập tinh thần của Jesus, học tập tinh thần của Thánh Teresa, trong lòng ghi nhớ một câu: “Nếu bạn còn trút cơn nóng giận lên người người khác, trong lòng bạn vẫn còn cơn tức giận ấy, cái đó phải mau loại bỏ.” Đừng tức giận, bởi vì đó là tập tính, không tốt! Đó là thói quen xấu của chính bạn. Tôi đã từng rất nóng nảy và rất dễ mất bình tĩnh, bây giờ phải học tập những Thánh nhân này, học tập vô ngã. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 06/02/2022 Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Hổ Đầu Kim Cang tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, đồng thời thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 57.)*

### 58. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (2)

*(Bài giảng 58)* Vô trụ vô tâm

Hôm nay tôi cùng mọi người giảng kinh Kim Cang. Lần trước chúng ta nói về Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng. 

*Khi ấy, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thưa Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sinh tâm thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ hết thảy chúng sinh rồi nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Vì thật không có pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."*

Chúng ta nói về khi ấy, vào thời đó. Khi ấy, bình thường chúng ta nói là vào thời đó, đúng vậy không? Vào thời đó rốt cục đã phát sinh chuyện gì? Các vị đang ngồi đây, có ai vào thời đó đã ở trong pháp hội Bát Nhã đó không? Hãy mở kí ức tiền kiếp của bạn ra, người nào trong các bạn đã tham gia pháp hội Bát Nhã của Phật Thích Ca Mâu Ni? Pháp hội Bát Nhã giảng kinh Kim Cang các bạn có mặt tại đó không? Rốt cục là có ở đó hay không? Có.

Vậy thì tôi hỏi bạn, khi ấy, vào thời đó đã phát sinh chuyện gì? Khi ấy, vào thời đó, khi nói về chương này - Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng, đã xảy ra một sự việc, các bạn ai nói ra được (Pháp Vương lấy ra miếng hồ lô bằng ngọc), tôi hà một hơi khí, miếng hồ lô bằng ngọc này sẽ tặng cho người đó. Ai có mặt ở đó sẽ biết vào thời đó đã xảy ra chuyện gì. Ai không có mặt ở đó sẽ không thể biết được khi ấy đã phát sinh chuyện gì.

Mọi người đều rất yên lặng nhỉ, không có ai muốn vật này sao? Một vật tốt như thế này, đã kêu mấy lần rồi mà không có ai lấy đi, hồ lô này là một món đồ rất tốt đó! Hai chữ “khi ấy” ở đây không có người nào nhắc đến, bạn xem, có người nào có thể nói ra. Ai nói ra được thì cho thấy người đó có mặt tại Linh Sơn Hội Thượng. Khi nói về Bát Nhã, giảng Đại Bát Nhã (Ma Ha Bát Nhã), khi nói kinh Đại Bát Nhã, giảng kinh Kim Cang đến Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng, vào lúc nói “khi ấy”, rốt cục đã phát sinh chuyện gì? Không có ai nói cả.

Tôi nói với mọi người, vào lúc pháp hội bắt đầu, khi bắt đầu chuẩn bị giảng phần “Vô ngã tột cùng”, có Long Nữ dâng tặng bảo châu của mình. Long Nữ dâng tặng bảo châu nghĩa là cúng dường châu báu của mình tới Phật Thích Ca Mâu Ni, dâng tặng bảo châu sáng chói của mình cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Bạn có thể nói được thì miếng hồ lô này là của bạn, bạn nói được tức là bạn đã có mặt tại Linh Sơn Hội Thượng, bạn có tham gia pháp hội Linh Sơn. Chính là vào lúc giảng phần “Vô ngã tột cùng”, Long Nữ đã dâng tặng viên ngọc sáng cho Phật Thích Ca Mâu Ni. 

Ở đây có dụng ý quan trọng, khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Long Nữ rằng: “Ta thọ kí cho Long Nữ thành Phật, Long Nữ sau này sẽ thành Phật.” Phật Đà nói câu này “Long Nữ sẽ thành Phật”, Long Nữ sẽ trực tiếp biến thành Phật, nghĩa là vào thời khắc đó, Long Nữ thành Phật rồi. Mọi người đều biết chuyện Long Nữ thành Phật. Chính vào lúc đó, Long Nữ đã dâng tặng bảo châu. Bạn nghe người ta giảng kinh Kim Cang tuyệt đối không nói đến điều này. 

*“Nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?”* Câu nói này tôi hỏi các bạn, cái này là đơn giản nhất rồi. Nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy? Đó là Tu Bồ Đề hỏi Phật: *"Thưa Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?”* Nghĩa là nên trụ tâm thế nào, hàng phục tâm như thế nào? Tôi hỏi các bạn, ai trả lời được thì tôi vẫn tặng hồ lô này. Trụ thế nào? Chính là Vô trụ, đừng thêm vào chữ “Sở”. Làm sao hàng phục tâm? Vô tâm. Không sai, chính là vô trụ vô tâm. Nhưng bây giờ nên tặng cho ai đây? Người nào nói trước nhỉ? Vô trụ vô tâm là đúng rồi. Được rồi, vậy tặng cho Liên Ha đi! 

Phật Thích Ca Mâu Ni khi giải thích đoạn này, *“Nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?”,* không sai, đó là vô trụ và vô tâm. Bây giờ lại có vấn đề rồi, vì sao là vô trụ? Vì sao là vô tâm? Phát bồ đề tâm, phát bồ đề tâm cần phải là vô trụ và vô tâm. Đoạn này là hết sức thâm sâu ảo diệu, nói thật là vô cùng thâm sâu, bí mật, vô cùng sâu sắc. Tôi đã nói rồi, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, vì đã không còn cái “ngã” rồi thì bạn còn trụ vào đâu? Vì đã không còn cái “ngã” rồi thì bạn còn có tâm gì? Còn phải hàng phục tâm gì? Vì đã không còn cái “ngã” thì không còn tâm, thì không cần phải hàng phục tâm nữa. 

Tôi thường xuyên lấy một so sánh để mọi người hiểu, chính là ở trên mặt trăng. Xin hỏi: trên mặt trăng có A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không? Không có. Mặt trăng có vì muốn làm cái gì nên mới làm cái đó không? Không có. Trên mặt trăng, bạn còn cần hàng phục tâm gì không? Không có. Ở đó là thanh tịnh một cách cực kì thanh tịnh. Vừa nãy khi tôi làm hồi hướng chung có nói: “Thanh tịnh, tất cả thanh tịnh, toàn bộ mọi thứ đều thanh tịnh.” Đó là cảnh giới gì? Đó là cảnh giới của tính Không.

Cái gì thanh tịnh nhất? Không là thanh tịnh nhất! Không làm gì cả, không có hành vi gì cả. Thế là bạn vô trụ rồi. Thế nào là vô tâm? Vô ngã đương nhiên là vô tâm, trên mặt trăng còn có tâm gì chứ, đó là nơi thanh tịnh vĩnh viễn đó! Chính vì có con người nên mới không thanh tịnh, có chúng sinh mới không thanh tịnh, không có chúng sinh tướng thì làm sao có thể không thanh tịnh? Bởi vì có cái tôi nên tâm ích kỉ mới sinh ra, nếu bạn vô ngã rồi thì bạn còn có cái tâm ích kỉ gì nữa. Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni rất nhấn mạnh điểm này.

Thành tựu Bồ Tát chính là vì bạn không còn tâm ích kỉ thì mới là Bồ Tát. Bạn có tâm ích kỉ thì nước này mới đánh nhau với nước kia, có tâm ích kỉ thì gia đình mới xảy ra tranh chấp ồn ào. Có tâm ích kỉ thì người với người mới không hòa hợp, *person to person,* một người đối với một người, bạn có hai người thì tức là có tâm ích kỉ. Bạn nhìn tôi không vừa mắt, tôi nhìn bạn cũng không vừa mắt, lớn thì là quốc gia mà nhỏ thì là mỗi cá nhân, bởi vì còn có tư lợi thì còn có trụ, tức là có tâm, nếu bạn vô trụ vô tâm, thì là không, thanh tịnh tuyệt đối.

Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Phật giáo là tôn giáo vô tranh.” Là vô tranh đó! Vô tranh tức là căn bản sẽ không khởi lên tranh chấp. Vì sao ngày nay giữa các nhóm tôn giáo của Phật giáo có tranh chấp? Bỏi vì là con người mà, họ vẫn còn có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Phật Thích Ca Mâu Ni trong phần “vô ngã tột cùng” đã nói rất rõ ràng rồi, chỉ có cái Không mới là thanh tịnh, cho nên chúng ta phải tu hành đến mức giống như Bồ Tát chân chính là không có tâm ích kỉ, ít nhất cũng phải đến gần một chút.

Cho nên tôi thường nói, phải quan sát suy nghĩ của chính bạn, thường xuyên quan sát ý niệm của mình, sửa cho đúng những suy nghĩ không tốt của bản thân. Thật ra có đôi khi tôi nhìn thấy một người này. Ui dào! Người này tôi không thích lắm, người này là phụ nữ, tôi nhìn không thích lắm, cảm thấy cô ta đi lại cứ kì kì, khi cô ta nói chuyện thì cũng rất giả tạo, ánh mắt cũng không đứng đắn, ngay cả cái mũi cũng vẹo, nhìn cô ta đi đứng không ra làm sao. Nhưng mà tôi biết suy nghĩ này của tôi là không đúng, như thế là bạn đã sản sinh ra cảm giác ghét người này rồi, một sự chán ghét không ưa, một cảm giác không thoải mái. 

Về mặt suy nghĩ thì bạn phải nghĩ đến điểm tốt của cô ta, chí ít cô ta còn có thể hô lên với bạn một tiếng là: “Chào Sư Tôn!” Đúng thế không? Bạn phải nghĩ như vậy. Bạn phải nghĩ ngược lại về cô ta. Cô ta đối với bạn căn bản là vô hại, vì sao bạn phải nhìn cô ta không vừa mắt chứ? Cho nên đôi khi chúng ta đối với một người cần phải nghĩ: ưu điểm của cô ta ở đâu? Ưu điểm của cô ta chứ đừng nghĩ đến khuyết điểm, phải như vậy mà từ từ sửa đổi cách suy nghĩ của mình.

Điều chỉnh tiêu cực trở thành tích cực tức là bạn đang tu hành, chính là đang quan sát suy nghĩ của mình. Hãy nhớ rằng bạn phải quan sát suy nghĩ của mình, nghĩ về ưu điểm của người ta, đừng nhìn vào khuyết điểm của người ta, sau đó trở nên tích cực. Tuyệt đối đừng có kẻ thù, đừng có kẻ địch, đừng có oán hận. Bạn có oán hận rồi, tôi nói để bạn biết, chính bạn đau khổ trước, người đau khổ không phải là họ, họ căn bản không biết bạn đang hận họ đâu, vấn đề nằm ở đây đó.

Bạn ghét người này, mặc dù bạn không biểu hiện ra ngoài, nhưng bạn đã đang hành hạ chính mình rồi, trong lòng bạn sẽ sinh ra cảm giác không thoải mái. Cho nên bạn phải nghĩ tốt về họ, thay đổi suy nghĩ này, họ sẽ trở thành tốt, điều này sẽ trở thành năng lượng tích cực. Nếu bạn có thể biến mọi chúng sinh và những người bạn tiếp xúc thành năng lượng tích cực thì bạn sẽ sinh ra một cảm giác của năng lượng tích cực. Đây chính là sửa cho đúng suy nghĩ của mình. Quan sát suy nghĩ của mình, tu sửa cho đúng suy nghĩ của mình chính là tu hành.

Chúng ta không có cách nào giống như kinh Kim Cang mà Phật giảng, bạn vẫn có tâm niệm tồn tại, bạn có suy nghĩ, chỉ là bạn không quan sát suy nghĩ của bản thân, bạn luôn đi theo hướng năng lượng tiêu tực, nếu cứ tiếp tục đi, trong lòng bạn sẽ rối bời, khó chịu, hành hạ chính mình ngủ không ngon, ăn cũng không ngon, bạn không thể chính danh ngôn thuận mỗi ngày đều sảng khoái. Sư Tôn mỗi ngày đều rất vui vẻ, tôi vẫn luôn tu sửa cho đúng suy nghĩ của mình, đối với mỗi một người đều tốt, đối với mỗi một người đều cảm thấy người ta đều tốt, tôi thích người ta. 

Chẳng phải tôi thường nói 520 sao (âm đọc gần giống với tôi yêu bạn), đúng không? Hơn nữa tôi sẽ không cảm thấy thế nào cả. Bây giờ, tôi cảm thấy Quỷ Bà kia cũng có điểm tốt, bà ấy không phải là không có điểm tốt, tôi đã thay đổi cách suy nghĩ về Quỷ Bà, tôi nghĩ về điểm tốt của bà ấy. Trước kia vào mỗi dịp năm mới, tôi đều nói “đồ rê mi” với bà ấy, ý tức là tôi chế giễu bà ấy, chế giễu bà ấy cái gì? Bà ấy luôn nói rằng tôi 73 tuổi sẽ chết, đã nói hơn 10 năm nay rồi, nói rằng 73 tuổi thì tôi sẽ “tinh tinh” đó!

Đến bây giờ tôi vẫn không “tinh tinh”, tôi vẫn còn sống, theo tuổi Đài Loan thì đã 78 tuổi rồi, theo tuổi ở Mĩ thì là 77 tuổi rồi, bà cứ nói là 73 tuổi tôi sẽ chết, nên mỗi năm tôi đều làm “đồ rê mi” chế giễu bà ấy. Bây giờ thì không được! Rốt cục bà ấy khiến tôi vào năm 73 tuổi, ngày nào tôi cũng đều rất cẩn thận, đây cũng là điều tốt đó! Tôi nghe bà ấy nói 73 tuổi tôi sẽ chết, nên năm 73 tuổi tôi đặc biệt thận trọng, đến đi cầu thang tôi cũng đều rất cẩn thận. Khi đi tắm tôi cũng rất cẩn thận, không để bàn chân dính xà phòng sẽ bị trượt ngã, ngã trong nhà tắm thì tôi sẽ “tinh tinh” đó. Cho nên tôi đã đặc biệt cẩn thận, ngay cả mặc đồ lót tôi cũng phải dựa vào tường, nhất cử nhất động đều rất cẩn thận.

Bạn thấy đây là điểm tốt của Quỷ Bà đúng không? Cho nên tôi đã sống được, tôi còn phải cảm ơn bà ấy. Thật đó, bà ấy cũng có rất nhiều điểm tốt, cho nên đổi lại tôi không nghĩ nữa, tôi không coi bà ấy là kẻ địch nữa, cũng không ghét bà ấy, hoàn toàn bỏ hết, trống không rồi! Tất cả đều viên mãn rồi, không cần oán hận. Bạn có hận thì hãy hận chính mình. *“I will kill you! I hate you, you are dirty! You are garbage!*” (Tao sẽ giết mày! Tao ghét mày, mày là đồ bẩn thỉu! Mày là rác rưởi!) Sao phải thế? Người đau khổ trước là bạn, là chính mình đó! Bạn hãy quan sát ngược lại mình, khi bạn ghét một người, trong lòng đau khổ biết bao! Vì thế bạn phải mở lòng ra, vô tâm, mọi người đều tốt thì sẽ vui vẻ, hạnh phúc, tự tại. Om mani padme hum.

*(Ngày 13/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang Xuân mới năm Nhâm Dần tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 58.)*

### 59. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (3)

*(Bài giảng 59)* Tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề

Chúng ta giảng kinh Kim Cang. 

*"Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sinh tâm thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ hết thảy chúng sinh rồi nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Vì thật không có pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”*

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không?"  
"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."*

*Phật nói:  
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kí cho ta rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta.”*

Phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vì sao tôi phải giảng câu nói này? Bởi vì tôi thường xuyên nghe mẹ tôi khi niệm kinh, tức là niệm bằng tiếng Đài Loan tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cho nên tôi mới đọc theo. Tôi niệm bằng tiếng Đài Loan vẫn chuẩn hơn. Bởi vì có chữ chúng ta rất ít dùng, cũng không biết phát âm, không phải là chữ nào tôi cũng hiểu đâu. Mặc dù Sư Tôn viết văn đã viết nhiều như vậy, cũng không phải là chữ nào tôi cũng biết, cho nên tôi nghe mẹ tôi niệm tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tôi liền niệm tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. 

*“Nên sinh tâm thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ hết thảy chúng sinh rồi nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát.”* Trước tiên tôi giảng điều này đã. *“Nên sinh tâm thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sinh”* là nói rằng, bạn là người phát tâm bồ đề, cần phải phát cái tâm là “tôi muốn cứu độ tất cả chúng sinh”. 

Sau khi độ tất cả chúng sinh, “*nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ”,* lại không có một chúng sinh nào được bạn độ hóa. Điều này rất khó giải thích, bảo chúng tôi phải phát bồ đề tâm đi cứu độ chúng sinh, rồi lại bảo các chúng sinh đều không phải là bạn cứu độ đâu, thật sự không có một chúng sinh nào được cứu độ. Mọi chúng sinh cũng không phải là do bạn cứu độ, cái này rất khó giải thích, nhưng hãy đọc câu sau: “*Là vì sao?”* Là nguyên nhân gì đây?

*“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát.”* Ý câu này là làm một Bồ Tát, bạn phát tâm phải đi cứu độ chúng sinh, nhưng thực tế không có một chúng sinh nào mà bạn cứu độ được, cũng không có chúng sinh nào được cứu độ. Vì sao? Bởi vì bạn chỉ có thể phát tâm này, sau đó đi làm việc này, còn như chúng sinh có được độ hay không thì không có liên quan đến bạn, không có quan hệ gì tới bạn cả. Bạn cũng đừng cho rằng bạn có bao nhiêu công đức, nếu bạn có nghĩ về công đức tức là có cái tâm “ta”, có ngã tâm tức có ngã tướng.

Rốt cục bạn cứu độ được bao nhiêu chúng sinh tức là có ngã tướng thì mới có thể nói rằng tôi có bao nhiêu công đức. Vậy rốt cục tôi cứu độ được bao nhiêu người đây? Đó chính là có chúng sinh tướng. Bạn cũng đừng có chúng sinh tướng, dù sao bạn đi làm việc đó là đúng rồi. Bạn đã phát cái tâm này, sau đó đi cứu độ chúng sinh, cũng đừng nghĩ về công đức, cũng đừng nghĩ chúng sinh có được độ hay không, cũng đừng nghĩ bạn đã độ được bao nhiêu chúng sinh, đều không được nghĩ, thì như thế là được. Tôi giải thích với mọi người như vậy. 

Mọi người đọc thấy điều này đều không hiểu, vừa phải phát tâm đi độ chúng sinh, vừa không có một chúng sinh nào là do bạn độ, vừa không có một chúng sinh nào được độ, chuyện này là thế nào? Cho nên đoạn sau có giải thích: “*Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát.”* Nếu bạn chấp vào ngã tướng, chúng sinh tướng, nhân tướng, thọ giả tướng thì bạn không phải là Bồ Tát. Vì thế Bồ Tát phát tâm độ chúng sinh là như vậy mà thôi, bạn độ bao nhiêu, có được độ hay không thì đều không quản lo, ý của Phật là như vậy, câu này mới nói rõ đó!

Cuối cùng thì Phật nói thế nào là Bồ Tát chân chính, Ngài nói: Người mà vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng thì mới là Bồ Tát thật. Nếu có ngã tướng thì đó không gọi là Bồ Tát. Bạn vì công đức mà đi làm, bạn vẫn còn đếm xem rốt cục tôi đã độ được bao nhiêu người. Vì thế nói đến đệ tử của Chân Phật Tông có bao nhiêu, tôi thường nói năm triệu người, ý của năm triệu là rất nhiều. Có người nói năm triệu là nói từ lâu lắm rồi, bây giờ phải là sáu triệu rồi, có người còn nói là bảy triệu rồi. 

Tôi bảo, không cần phải nói sáu triệu, bảy triệu, chúng ta nói năm triệu tức là rất nhiều rồi. Rốt cục là nhiều tới bao nhiêu? Đừng có nghĩ, đó là vô nhân tướng. Bạn đừng đi nghĩ xem có bao nhiêu người, đừng có nghĩ đệ tử Chân Phật Tông có bao nhiêu người. Đừng có nghĩ bạn có bao nhiêu công đức, bởi vì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nếu bạn đi nghĩ về những điều đó thì là có cái ngã rồi. Bạn đã độ bao nhiêu chúng sinh? Như thế là bạn có nhân tướng rồi, chính là như vậy đó! Ý của Phật nói chính là như vậy, tôi giải thích đơn giản với mọi người, bằng không có một số người đọc đến đây sẽ không hiểu vì sao lại có thể như vậy.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không?”* Phật hỏi Tu Bồ Đề, Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, nghĩa là lúc Phật Thích Ca Mâu Ni gặp Phật Nhiên Đăng, có pháp được truyền cho Phật Thích Ca Mâu Ni hay không? *"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”* Tu Bồ Đề trả lời rằng: “Không có, thưa Thế Tôn! Con hiểu liễu nghĩa mà Phật nói, ý nghĩa chân chính, Phật Thích Ca Mâu Ni ở chỗ Phật Nhiên Đăng không hề có được pháp.” Nói cách khác là, Phật Nhiên Đăng không hề dạy pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm cho Phật Thích Ca Mâu Ni, vì sao? Phật Thích Ca Mâu Ni đi gặp Phật Nhiên Đăng, ngài cúng dường Phật Nhiên Đăng hoa sen, Phật Nhiên Đăng thọ kí cho ngài nói rằng: “Sau này thành Phật thì gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni.” Chỉ thọ kí cho ngài, không hề truyền pháp cho ngài, vì sao lại như vậy?

Cái này lại phải hỏi mọi người rồi, vì sao Phật Nhiên Đăng không truyền pháp cho Phật Thích Ca Mâu Ni? Sau này tôi sẽ bảo với mọi người, sẽ lại phải giải thích lại điều này, vốn dĩ không có pháp mà! Vốn dĩ không có pháp thì làm gì có việc truyền pháp này? Không có việc truyền pháp, đây là liễu nghĩa đó! Trong đoạn đối thoại giữa Tu Bồ Đề và Phật Thích Ca Mâu Ni hoàn toàn là đối thoại không có liễu nghĩa. Nếu như có ngã, có Phật Nhiên Đăng, có Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Nhiên Đăng truyền pháp cho Phật Thích Ca Mâu Ni thì tức là có pháp. 

Phật Nhiên Đăng là vị Phật chân chính, cái ngài truyền là Không, bên trong không có pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni lĩnh hội được cái Không của Phật Nhiên Đăng, cái Không làm gì có pháp chứ? Không có pháp! Chỉ cần trải nghiệm được, lĩnh hội được cái mà Phật Nhiên Đăng truyền cho tôi chính là một chữ Không, tôi đạt được cái Không này, không hề có pháp. Cái Không có thể bao hàm mọi pháp rồi. Tôi nói với bạn nhé, trong Thiền tông nói đến “tất cả do tâm tạo”. Là ý thức của bạn nghĩ ra trước rồi mới hiển hiện thứ đó.

Tôi nói với bạn một cách đơn giản, giống như chúng ta nói con người chết rồi, tự mình không thể tự chủ, đột nhiên một vị Bạch Vô Thường và Hắc Vô Thường xuất hiện, một vị rất cao, một vị rất thấp. Bạn biết rằng Thất Gia là người rất cao, hễ gặp là đại cát, Bát Gia là người rất thấp và đen sì, toàn thân đều đen. Từ trong miếu Thành Hoàng đi ra một cao một thấp, một người là Thất Gia, một người là Bát Gia, đó là Bạch Vô Thường và Hắc Vô Thường đã in trong não của tôi. Bạn là người Hoa thì trong ý thức của bạn có Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường, khi bạn chết rồi nằm xuống đó, Bạch Vô Thường và Hắc Vô Thường sẽ xuất hiện, khi bạn không thể tự chủ được, họ sẽ bắt bạn đi, *catch you*, sẽ bắt bạn đi mất!

Là trong ý niệm của bạn có Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường nên Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường mới xuất hiện. Chúng ta bảo rằng một người da trắng thật tốt, họ chưa từng nghe nói đến Phật pháp, cũng không biết cái gì là Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường, khi họ chết, Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường có xuất hiện không? Không! Bởi vì trong ý thức của họ không có Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường, trong ý thức của họ có Thần Chết cầm lưỡi hái, mặt thì che kín, nên người sẽ xuất hiện chính là Thần Chết.

Bạn đã hiểu “tất cả do tâm tạo” chưa? Cho nên, địa ngục cũng vì thế mà hình thành, Thập Điện Diêm Vương của chúng ta sao mà toàn là người Hoa, lẽ nào không có người nước ngoài sao? Không giống, không như nhau. Người nước ngoài xuống địa ngục thì là địa ngục lửa, dùng lửa, có thể nói là những gì mà Phật giáo và Đạo giáo chúng ta nói đến là địa ngục Bát Nhiệt, địa ngục Bát Hàn Bát Nhiệt. Địa ngục Bát Nhiệt chính là dùng lửa thiêu, nhìn chung người da trắng xuống địa ngục thì sẽ dùng lửa để thiêu đốt họ, thiêu rụi bạn toàn bộ, là địa ngục lửa thiêu.

Người Hoa chúng ta thì khác, bởi vì trong đầu chúng ta có Thập Điện Diêm Vương, bạn phải thông qua Thập Điện Diêm Vương. Địa ngục ở trong não bạn là gì thì bạn sẽ sản sinh ra hiện tượng của địa ngục đó. Tất cả do tâm tạo. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, bạn không có cái tâm đó thì làm gì có pháp. Bạn có cái tâm này thì mới có pháp này. Bạn vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, cái mà Phật truyền cho bạn là Không, cái Không của bạn chứa vạn pháp. Tôi chỉ có thể nói với mọi người như vậy thôi.

Vì thế, không phải không có thiên đường, địa ngục, người da trắng hiện ra thiên đường và địa ngục là thiên đường trong đầu óc họ, là địa ngục trong đầu óc họ. Thiên đường và địa ngục trong Phật giáo và Đạo giáo thì không giống lắm, cũng không phải là thứ giống nhau. Cho nên trong não bạn có cái gì, bạn sẽ chịu báo ứng cái đó, bởi vì tất cả do tâm tạo, đều là những thứ trong tâm bạn nghĩ ra.

Vì thế Tu Bồ Đề nói: *"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”* Bởi vì không có pháp mới là pháp, mới là liễu nghĩa chân chính, có pháp rồi thì không phải liễu nghĩa, đó là cảnh giới cao nhất rồi! Không có pháp mới là pháp chân chính, có pháp thì tuyệt đối có hạn chế. Nói như vậy bạn có thể nghĩ thông được không?

Phật nói chính là như vậy đó! *“Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kí cho ta rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta.”* Bởi vì lấy Không truyền Không, pháp này là lớn nhất, chính là Không, Không là pháp lớn nhất, lấy Không truyền Không. Nói như vậy bạn nghe có hiểu không?

“*Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta.”* Giống như A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cũng là một danh từ mà thôi. Kì thực chính là một chữ Không. Nếu bạn có thể ấn chứng tính Không này, tự bạn có thể ấn chứng tính Không này, lấy Không để hòa tan tất cả tức là thành tựu rồi.

Vì thế chúng ta nói khi Phật Đà thuyết pháp có nói giới, vì đã không có con người, thì giới có tác dụng gì? Giới cũng là Không mà! Vì đã không có con người, bạn định cái gì định? Định cũng là Không đó! Vì đã không có con người, bạn huệ cái gì huệ? Trí huệ, bát nhã cũng là danh từ, cũng là Không đó! Giới, định, huệ, tam vô lậu học, học Phật là bắt đầu từ đây, không sai, thứ mà đến cuối cùng ấn chứng được, khi đến được sự thấu hiểu chân chính, bạn sẽ hiểu sau khi thành tựu bạn chính là tính Không, chính là Phật tính. Cái này nói quá sâu rồi, thật sự là quá sâu.

Phật pháp là có chứ, không phải không có, chúng ta thường nghe nói đến Tam học Giới - Định - Huệ, Tứ thánh đế Khổ - Tập - Diệt - Đạo, ngũ căn ngũ lực, ba mươi bảy đạo phẩm, bát chính đạo, lục độ, đều là Phật pháp đó, sao có thể không có Phật pháp chứ? Kinh Kim Cang là nói cái gì? Nó nói về hủy diệt tất cả! Toàn bộ những thứ này đều nằm trong cái Không đó! Cho nên Phật Nhiên Đăng truyền cái Không cho Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni không hề có được pháp, là có được cái Không, ngài hiểu được chữ Không, cho nên thọ kí cho ngài hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Cái này quá sâu rồi, cái này không dễ nói.

Ông Vương muốn bỏ thuốc lá, ông bảo vợ: “Bà giám sát tôi, nếu tôi hút thuốc thì không cho tôi lên giường.” Sau hai tháng, vợ nói: “Ông thế này không phải là bỏ thuốc, mà là bỏ sắc! Ông muốn bỏ tôi phải không? Không được, phải thay đổi quy tắc, ông hút một điếu thì phải làm tôi một lần.” Chiêu này quả nhiên có hiệu quả, không đến một tuần, ông Vương hễ nhìn thấy thuốc lá là hai chân run rẩy.

Câu chuyện cười này có ý nghĩa đó! Bỏ thuốc chính là pháp, không bỏ thuốc là phạm pháp. Bỏ thuốc cũng là pháp, vậy phải làm sao? Căn bản là không có thuốc, đó mới là tam miệu tam bồ đề chân chính. Bạn bỏ thuốc tức là một phương pháp, không bỏ thuốc tức là phạm pháp. Cái thật sự quan trọng nhất là căn bản không có thuốc, bạn chính là Không! Như vậy có hiểu không? Om mani padme hum.

*(Ngày 19/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 59.)*

### 60. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (4)

*(Bài giảng 60)* Như thực như hư

Tối hôm qua tôi trở về nhà đi ngủ, kết quả là tôi bị Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật và Địa Tạng Vương Bồ Tát cằn nhằn: “Tối qua ngài thuyết pháp, ngài thuyết pháp gì vậy? Người ta nghe xong, càng nghe càng hồ đồ.” Tôi nói: “Vậy tôi phải nói thế nào đây? Đơn giản là không nói nữa.” A Di Đà Phật, Diêu Trì Kim Mẫu và Địa Tạng Bồ Tát nói: “Không nói là đúng rồi.” Bởi vì bất khả thuyết mà! Các vị nói với tôi: “Bất khả thuyết, bởi vì nói không tới được. Ngài nói những điều đó lặp đi lặp lại, chỉ vài câu đó lặp đi lặp lại, căn bản là nói không rõ ràng, họ càng nghe càng hồ đồ, cái ngài giảng là pháp gì?”

Tôi nói: “Vậy tôi nói thế nào đây?” Không giảng cũng không được mà, đúng không? Được, không nói nữa, không nói thì chúng ta tan ca thôi, bây giờ chỉ đợi ăn cơm, xem biểu diễn, thật tốt biết bao, đúng không? Không giảng nữa mà. Đương nhiên pháp này là giảng cho những người có phân ở trong bụng nghe, nếu là người có phân ở trong não thì họ nghe xong sẽ không thấy thoải mái. Pháp là để giảng cho người tương đối bình thường nghe, còn những người không bình thường, trong não có phân, thì căn bản là nghe không thông. Cho nên bây giờ là thế này, các vị bảo tôi giảng lại từ đầu.

*"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."  
Phật nói:  
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kí cho ta rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta.”*

A nậu đa la tam miệu tam bồ đề này là bất khả thuyết, nếu phải nói một cách miễn cưỡng thì chỉ có thể dùng so sánh để mà nói, cho nên tối hôm qua Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát, ba vị Bổn tôn của tôi nói với tôi: “Cái gọi là pháp chính là vô pháp, bởi vì vô pháp mới là pháp.” Không có pháp mới là pháp, các vị bảo tôi làm so sánh gì đây? Các vị nói: “Lấy chính ngài làm so sánh là được rồi.” Tôi thường xuyên lấy chính mình ra làm ví dụ so sánh. Được rồi, tôi là ai? Lư Thắng Ngạn chính là tôi, tôi chính là Lư Thắng Ngạn, điều này đương nhiên không có gì để nói, tôi cũng không phải là Thượng sư Piano, tôi cũng không phải thầy giảng bài Sakura, đúng không? Tôi chính là Lư Thắng Ngạn thôi!

Các vị nói: “Ngài nghĩ xem, Lư Thắng Ngạn là tên của ngài, còn cái thực tại của ngài ở đâu? Ngài phải hỏi chính mình: Ta là ai?” Lư Thắng Ngạn chỉ là một cái tên thôi! Tôi là Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn là tôi, Đài Loan tổng cộng có mười sáu Lư Thắng Ngạn, người nào mới là anh? Lư Thắng Ngạn là đại diện cho mười sáu người à, có mười sáu Lư Thắng Ngạn, có mười sáu người cùng tên này ở Đài Loan, vậy Lư Thắng Ngạn làm sao là anh được chứ? Đó chỉ là một cái tên mà thôi, anh thật sự ở đâu? Không tìm ra!

Xá lợi tóc của Lư Thắng Ngạn cũng không có nữa rồi. Ngày ngày cạo đầu, tóc đã cạo sạch nhẵn rồi. Người ta muốn thỉnh xá lợi tóc thì phải làm sao? Lông nách cũng bị cạo sạch rồi, nách cũng không có lông nữa rồi, thảm quá, không có lông thì phải làm sao đây? Vẫn còn bên dưới vẫn có lông, không sao hết, cắt thôi! Cắt luôn cả lông ở bên dưới. Cho nên có người lấy được xá lợi tóc của Sư Tôn lại thắc mắc: “Sao lại xoăn xoăn nhỉ?” Biết làm sao đây, trên người tôi không còn lông nữa. Người da trắng đại bộ phận mà nói thì trên ngực họ đều có lông, sau lưng có lông, sờ lên giống như tấm thảm vậy. Ở phía trước, khi muỗi bay vào thì còn bị lạc đường, muỗi bay đến ngực họ đều nghĩ là muốn đốt một cái, nhưng mà chúng đều bị lông làm cho hồ đồ rồi, đều lạc đường không bay ra được. Người Hoa chúng ta thì không có, nếu có vài sợi thì cũng để đó, không dám cắt chúng đi.

Cho nên Lư Thắng Ngạn là bất khả thuyết, không có cách nào để đi miêu tả Lư Thắng Ngạn, điều này anh nói đúng rồi, bởi vì A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là không thể nào giảng, không có cách nào giảng được cái cốt lõi của nó, không có một thứ nào có thể đại diện cho nó, cho nên căn bản là không thể nào giảng. Bởi vì giảng không được, Phật Nhiên Đăng giảng không được, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng giảng không được, bởi vì hai vị đều giảng không được, cho nên Phật Nhiên Đăng liền thọ kí cho Phật Thích Ca Mâu Ni là: “Sau này ngài thành Phật gọi là Thích Ca Mâu Ni.” Bởi vì các vị đều lĩnh ngộ được cái cảm giác không nói ra được ấy, đó là không thuyết giảng được.

Tối hôm qua Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật và Địa Tạng Bồ Tát nói với tôi, đó là cái không giảng được, đó là cái không thể nói, bởi vì là Không, là cái bất tận. Tôi nói: “Nói như thế thì mọi người có thông không?” Các vị nói: “Ngài phải nói như vậy mới là đúng, là chính xác.” Người khác không nói như vậy đâu! Cái gì mà giới định huệ, ngũ căn ngũ lực, tứ niệm xứ, tứ chính cần, ba mươi bảy đạo phẩm, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên, lục đạo, đều không có cách nào nói rằng cái này là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Cái đó là pháp, chỉ là công cụ để cho bạn đạt được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, ví dụ như một chiếc xe, tứ thánh đế chính là bốn cửa của chiếc xe, bát chính đạo chính là tám hàng ghế, lục độ chính là giống như động cơ sáu xi-lanh, cuối cùng hợp tất cả những thứ này lại, giới định huệ, tứ thánh đế, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên, lục độ đều tập hợp lại, tạo nên một chiếc xe. Bạn muốn nói về vật chất thì chính là như thế này, nếu còn nếu như muốn nói về Phật pháp thì đó là bất khả thuyết, giảng không được.

Đoạn sau Phật Thích Ca Mâu Ni có nói đến, pháp chính là con thuyền đưa bạn đến bờ bên kia, không phải là pháp chính là bờ bên kia. Không thể nói bát chính đạo chính là bờ bên kia, lục đạo chính là bờ bên kia, tứ thánh đế chính là bờ bên kia, giới định huệ chính là bờ bên kia, không thể nói như vậy. Những cái này chỉ là tập hợp lại trở thành một con thuyền chở bạn đến nơi của đạo chân chính, chính là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nói như vậy mọi người nghe rõ chưa?

*“Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta mà nói rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Là vì sao? Vì Như Lai tức là mọi pháp đều như nghĩa."  
"Nếu có người nói: Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! A nậu đa la tam miệu tam bồ đề mà Như Lai có được trong ấy không thật không hư.”*

Bạn xem, không có thứ thực tại, là vô thực, nhưng lại không phải là thứ hư cấu, không có thứ thực tại, cũng không phải là thứ hư cấu, đây chính là cái chỗ vi diệu. Như “không thực không hư” chính là Đạo, chính là giống như Lão Tử nói “đạo khả đạo phi thường đạo”. Đạo là thứ không giảng được. Đạo có thể nói được nhưng đó cũng không phải là đạo thông thường, là đạo không giảng được. Đạo khả đạo, phi thường đạo, đạo có thể giảng được, nhưng cũng là đạo không giảng được, cái này chính là như “không thực không hư”, dường như là thứ có thực, lại dường như là không có thứ này.

*“Vì thế Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp.”* Như Lai nói tất cả mọi pháp đều là Phật pháp. Cho nên, trước kia đệ tử của tôi là tiến sĩ Trương Trừng Cơ đã viết một cuốn sách tên là “Cái gì là Phật pháp”, khi tôi đi gặp cư sĩ Lí Bỉnh Nam, Lí Bỉnh Nam nói với tôi: “Thứ mà tên tiểu tử này viết sai rồi!” Trong lòng tôi nghĩ đó là đệ tử của mình, tôi nên thay đệ tử bào chữa mới đúng. Lí Bỉnh Nam nói: “Tôi muốn hỏi anh ta cái gì là Phật pháp?” Trương Trừng Cơ viết “Cái gì là Phật pháp”, các bạn ai đã đọc cuốn sách đó giơ tay? Đó là sách mà đồng môn của bạn - tiến sĩ Trương Trừng Cơ viết đó.

Tôi đã từng xem phong thủy cho nhà anh ấy, nhà anh ấy ở núi Bát Quái ở huyện Chương Hóa, là nhà của nhà nước phân cho anh ấy, anh ấy là con rể của Vu Hữu Nhâm, Vu Hữu Nhâm là một ông lớn ở Đài Loan trước đây. Là con rể của Vu Hữu Nhâm nhưng anh ấy không thích làm quan, lại thích Phật pháp, anh ấy viết cuốn “Cái gì là Phật pháp”. Lí Bỉnh Nam cũng là một cư sĩ già, nghiên cứu Phật pháp và chuyên môn giảng Tịnh độ tông, ông ấy muốn hỏi Trương Trừng Cơ cái gì là Phật pháp. Ở đây Phật đã nói ra rồi: “*Vì thế Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp.”* Không có cái không phải là Phật pháp, cái gì cũng đều là Phật pháp, đây là điều Phật nói, phạm vi là rất lớn. Là Phật Thích Ca Mâu Ni nói, ngài không phân chia Phật pháp thành những bộ phận nhỏ, mà là cái gì cũng đều là Phật pháp.

Vì thế tôi cho rằng Jesus Christ cũng là Phật pháp, Thánh Mẫu Maria cũng là Phật pháp, kinh Koran cũng là Phật pháp, đạo lí mà Khổng Tử nói cũng là Phật pháp… (Trong phòng có đồ vật rơi xuống.) Rơi rồi à! Tôi nói đến mức mà nó cũng sợ, hiện tượng linh dị đây! Bạn có biết phái lên đồng viết chữ gọi Khổng Tử là gì không? Là Đại Thành Chí Thánh Hưng Nho Trị Thế Thiên Tôn, đạo hiệu của Khổng Tử là Chí Thánh Tiên Sư. Đạo lí mà Khổng Tử nói cũng là Phật pháp, đạo lí mà Mạnh Tử nói cũng là Phật pháp, đạo lí mà Tăng Sâm nói cũng là Phật pháp, rất nhiều Phật pháp, bao la vạn tượng cái gì cũng là Phật pháp. Phật Thích Ca Mâu Ni ở đây cũng nói: *“Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp.”*

*“Tu Bồ Đề! Nói là tất cả mọi pháp tức chẳng phải tất cả mọi pháp, thế nên gọi là tất cả mọi pháp.”* Lại nữa rồi. Rất đơn giản, mọi người đều biết rồi, đúng không? Ở đây Phật lại làm một so sánh, so sánh này bây giờ đã nói xong rồi. 

*"Tu Bồ Đề! Ví dụ như nói thân người cao lớn."  
Tu Bồ Đề nói:  
"Thế Tôn! Như Lai nói: thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, thì gọi là thân lớn."*

Thế nào gọi là thân người cao lớn? Lẽ nào thân người rất cao lớn sao? Ví dụ những cô gái, cô Sư Đầu là người cao lớn đó. Sư Đầu, cô đứng dậy cho mọi người nhìn một chút. Cô ấy rất cao, trong số phụ nữ ở đây người nào cao hơn cô ấy? Bây giờ ở đây có phụ nữ nào cao hơn cô ấy không? Đứng dậy để tôi xem xem, bây giờ hai người so với nhau xem sao. Cô có tóc à, không sao hết, hai người so một chút xem sao, như vậy là ai cao? Cao bằng nhau à. Cao bằng nhau là đánh mạt chược rồi! Mời ngồi, hai người đều là những người cao lớn đó! Ở đây nói tất cả những thứ hữu hình đều không tính. 

*“Vì thế Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp. Tu Bồ Đề! Nói là tất cả mọi pháp tức chẳng phải tất cả mọi pháp, thế nên gọi là tất cả mọi pháp."  
"Tu Bồ Đề! Ví dụ như nói thân người cao lớn."  
Tu Bồ Đề nói:  
"Thế Tôn! Như Lai nói: thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, thì gọi là thân lớn."*

Vóc dáng chúng ta nhỏ, đương nhiên không so được với người cao, chúng ta là thân nhỏ, họ là thân lớn, lớn nhỏ là so sánh với nhau. Nếu là trong Phật pháp, thậm chí là trong Phật tính, thì không có sự phân biệt lớn nhỏ, vì thế ở đây nói: “*thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, thì gọi là thân lớn”.* Tương đối cao là thân lớn, không sai, nhưng mà so sánh với cái Không thì đều như nhau thôi, đều là bình đẳng. Cho nên ý nghĩa là nói đều là bình đẳng.

Tôi giảng kinh Kim Cang không giống như người khác nói. Bạn xem, tối hôm qua Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật và Địa Tạng Bồ Tát, bốn chúng tôi, các vị nói rằng: “Ngài (những gì đã giảng vào hôm thứ bảy) sẽ khiến người ta càng nghe càng hồ đồ.” Bởi vì là bất khả thuyết, không thể nói được, vì sao không thể nói được? Bởi vì như thực như hư, dường như là có lại dường như không có. Cái tôi thật sự dường như có lại dường như không có. Phật tính thật sự dường như có lại dường như không có, không nói ra được. Cho nên thân người cao lớn, thân người nhỏ thì so sánh được, nếu không so sánh được thì căn bản không có cái gì gọi là thân cao lớn, thân lớn là thân lớn, thân nhỏ là thân nhỏ, đó là thế giới vật chất hữu hình.

Cho nên hôm qua các vị lại nói với tôi một câu: “Lấy một hạt cát sông Hằng, nói đây chính là sông Hằng, đương nhiên không phải, cát sông Hằng làm sao có thể đại diện cho sông Hằng chứ?” Sông Hằng đó nói như thế nào, bạn cũng không nói được, bạn lấy một giọt nước sông Hằng nói đây là sông Hằng, cũng có phải đâu, không có cách nào nói được. Như vậy mọi người đã hiểu thế nào gọi là bồ đề tâm, thế nào gọi là đạo, thế nào gọi là Phật tính. Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng rất nhiều so sánh. Tối hôm qua Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát nói với tôi: “Ngài dùng chính bản thân để làm so sánh, ngài rốt cục là ai?” Nghĩ thử xem “ta là ai?”. Không có một thứ nào có thể tượng trưng cho bạn. Om mani padme hum. 

*(Ngày 20/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 60.)*

**(Hết tập 3)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-4-het.md
# Title: Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 4 (Hết)
---

![image](/img/img_ff730f3c3a29aa0c7697a25b64a1bd6b.png)

## Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 4 (Hết)

(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Kinh Kim Cang)

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">710</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">26/02/2022</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Seattle Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### 61. Phần thứ 17: Vô ngã tột cùng (5)

*(Bài giảng 61)* Thích Ca Mâu Ni

Khi chúng ta nói đến kinh Kim Cang, bây giờ tôi nói một chút về quá khứ. *“Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta mà nói rằng: Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.”*

Ở đây có một câu hỏi, vì sao Phật Nhiên Đăng lại thọ kí cho Phật Thích Ca Mâu Ni là “Thích Ca Mâu Ni”? Ai biết ý nghĩa của bốn chữ “Thích Ca Mâu Ni”? Ai nói được hoàn toàn thì tặng cho người đó chuỗi niệm hạt này. Năng nhân và tịch tĩnh? Tốt, còn gì nữa không? Nói từng chữ một, Thích là ý nghĩa gì? Ca là ý nghĩa gì? Mâu Ni là ý nghĩa gì? Bạn nói năng nhân thì không sai, nhưng nếu nói từng chữ một thì sao? Phật Nhiên Đăng vì sao ban tên gọi là Thích Ca Mâu Ni? Khi ấy ngài chưa được gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni đâu.

Khi ngài đi gặp Phật Nhiên Đăng, ngài là Thiện Huệ Đồng Tử, phải thế không? Ngài đến bên một cái giếng, bởi vì tất cả hoa sen đã được bán hết rồi, không có hoa sen, ngài nhìn thấy bên cạnh giếng có một cô gái đang rửa hoa sen, ngài đã mua hoa sen của cô gái này để cúng dường Phật Nhiên Đăng. Cô gái bán hoa sen cho ngài, sau này cô chuyển thế thành thê tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, chính là Yashodhara <span className="note-blue">[Da Du Đà La]</span>. Nếu bạn có đọc tiểu sử, khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni có một xưng hiệu, hình như ngài cũng là tiên nhân, nghĩa là một người tu hành.

Còn gì nữa không? Vì sao thọ kí cho ngài bốn chữ Thích Ca Mâu Ni? Câu chú của Phật Thích Ca Mâu Ni là: “Om muni muni maha muni sakyamuni soha.” Bởi vì không có ai biết, cho nên mới hỏi các bạn. Mọi người đều nói là năng nhân và năng tịch, đây là điều mọi người đều biết, nhưng tách từng chữ ra thì lại khác, tức là đặc biệt giải thích bốn chữ này.

Thích chính là giải thoát, trong tiếng Trung thì Thích chính là giải thoát. Ý nghĩa của chữ Ca chính là tăng lên, có thể nói là gia tăng giải thoát. Hai chữ Mâu Ni là bảo châu, chúng ta thường nói là ngọc Mani, là bảo châu đó! Là châu báu, bảo châu, trên đời căn bản là không có cái gọi là ngọc Mani. Ngày xưa, bảo châu mà Long Nữ dâng tặng là ngọc Mani, thế gian không có đâu, đó là viên bảo châu quý giá nhất trên đời, tỏa ra vạn tia ánh sáng. Bốn chữ này ghép lại, chính là “thành tựu giải thoát, giống như bảo châu quang minh trân quý nhất”. Chính là ý nghĩa của bốn chữ này.

Bây giờ chúng ta giải thích hai chữ Mâu Ni, còn gọi là năng nhân, cũng có nghĩa là “có thể ở thế giới Ta Bà vượt trên con người bình thường, có thể dùng bố thí để độ hóa con người chúng sinh”, chúng ta gọi là năng nhân. Mâu Ni còn gọi là năng nhân, Thích Ca là tộc Thích Ca. Phật Nhiên Đăng vào lúc ấy đã sớm biết ngài sẽ sinh ra trong gia tộc Thích Ca rồi, sau đó ngài sẽ trở thành năng nhân, giải thoát, có thể giải thoát, có thể cứu độ chúng sinh. Cho nên hôm nay tôi đặc biệt giảng hàm nghĩa chính là như vậy. Điều bạn nói cũng đúng rồi, đó là ý nghĩa chủ yếu của Thích Ca Mâu Ni. Năng tịch, năng nhân, có thể tịch diệt, cũng có thể năng nhân bố thí pháp cho chúng sinh, Phật Nhiên Đăng khi ấy đã ban cho ngài ý nghĩa của bốn chữ Thích Ca Mâu Ni như vậy.

*"Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế. Nếu nói rằng: "Ta đang diệt độ vô lượng chúng sinh" thì không gọi là Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Thế nên Phật nói: mọi pháp vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói rằng: "Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật" thì không gọi là Bồ Tát. Là vì sao? Như Lai nói: trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã thì Như Lai nói đó đúng là Bồ Tát.”*

Đoạn này rất đơn giản. *"Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế. Nếu nói rằng: "Ta đang diệt độ vô lượng chúng sinh" thì không gọi là Bồ Tát.”* Nếu Bồ Tát nghĩ như thế này “Ta phải đi cứu độ chúng sinh”, vậy thì đó không phải là Bồ Tát. Vì sao không phải là Bồ Tát? Không có cái danh xưng Bồ Tát này, chỉ là miễn cưỡng nói thành Bồ Tát. Giống như Sư Tôn nói “Trong cuộc đời này tôi đang độ chúng sinh”, nếu tôi nghĩ như vậy thì không phải là Lư Sư Tôn. Không thể nghĩ như vậy, bởi vì mỗi con người đều như nhau, Sư Tôn cũng như vậy, Phật tính là bình đẳng, bình đẳng tính trí, không có “tôi là Bồ Tát, các bạn không phải”, không có chuyện đó. Chỉ có sự khác biệt giữa ai giác ngộ trước ai giác ngộ sau mà thôi.

Bạn chỉ là tỉnh ngộ trước mà thôi, chúng tôi tỉnh ngộ sau mà thôi, sự khác biệt là như vậy. Cho nên ai tỉnh giấc mộng lớn trước, ai thức tỉnh trước, người thức tỉnh trước lại đi đánh thức người còn chưa thức tỉnh, như vậy tức là nói tôi đang độ chúng sinh. Tôi thức tỉnh trước, bạn thức tỉnh sau, có sự khác biệt trước sau, và những cái khác căn bản không có sự khác biệt gì cả. Cho nên Bồ Tát không thể nghĩ thế này “Tôi đang diệt độ vô lượng chúng sinh”. “Tôi phải độ rất nhiều rất nhiều chúng sinh”, không thể nghĩ như vậy, đó không gọi là Bồ Tát.

Vì sao vậy? *“Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát.”* Thực tế không có cái tên gọi Bồ Tát này, Bồ Tát cũng là một hư danh thôi. Nếu bạn nghĩ “Tôi muốn làm một Bồ Tát”, bạn nghĩ như vậy là bạn vì điều gì đó mà làm. Ý của Phật nói rằng bạn căn bản không trụ tâm, vô trụ, bạn không trụ vào cái bề ngoài của Bồ Tát, không trụ trên cái tên gọi Bồ Tát, bởi vì bạn không trụ cho nên mới gọi là Bồ Tát, nếu bạn có trụ thì không phải là Bồ Tát. Bởi vì bạn có trụ thì tức là có ngã, có nhân, có chúng sinh, có thọ giả. Trong kinh Kim Cang chủ yếu nhất chính là vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả. Vì đã là vô ngã thì còn có Bồ Tát gì? Không có, không có Bồ Tát. Vì đã vô ngã thì còn có Phật gì? Không có, cho nên đó là một danh từ, Bồ Tát, thứ gì cũng đều là danh từ.

Nếu như vẫn còn có Bồ Tát nói như thế này: “Tôi phải đi làm trang nghiêm cõi Phật”, cõi Phật vốn dĩ đã trang nghiêm rồi mà, cần gì bạn đi làm trang nghiêm nữa? Bạn cho rằng bạn có thể làm trang nghiêm cõi Phật sao? Không thể làm trang nghiêm cõi Phật! Chính vì có ngã, có chúng sinh nên bạn mới đi làm trang nghiêm cõi Phật đó! Bạn có ngã tướng mới đi làm trang nghiêm cõi Phật, cõi Phật không cần trang nghiêm, vốn dĩ đã rất trang nghiêm rồi. Cái gì trang nghiêm nhất? Cái Không chính là trang nghiêm, cái gì cũng không có chính là trang nghiêm. Trang nghiêm là cái gì? Chính là thanh tịnh đó! Cái gì cũng không có chính là thanh tịnh, thanh tịnh chính là trang nghiêm đó! Đâu cần bạn đi thanh tịnh? Cái Không vẫn cần bạn đi tạo ra cái Không sao? Bạn không tạo ra được cái Không, chỉ là bạn biến mình thành cái Không, lấy cái Không đi ấn chứng cái Không, lấy thanh tịnh đi ấn chứng thanh tịnh.

Không trang nghiêm được, bởi vì bạn có ngã tướng nên bạn mới nghĩ là đi làm trang nghiêm, mới nghĩ đến trang nghiêm, cho nên *"Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật - thì không gọi là Bồ Tát.”* Đó không phải là Bồ Tát. Có suy nghĩ này thì đã có ngã tướng rồi, bạn đã không thanh tịnh rồi thì làm sao trang nghiêm? *“Là vì sao? Như Lai nói: trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm.”* Bạn muốn đi làm trang nghiêm cõi Phật, kì thực không có việc làm trang nghiêm này, bởi vì không có trang nghiêm mới gọi là trang nghiêm, nói ra thì là như vậy. Vốn dĩ chính là không, bạn đi trang nghiêm cái gì?

Không là cái gì? Chính là thanh tịnh đó! Thanh tịnh chính mình, không còn một chút gì nữa thì đó là Không, không có hai chữ trang nghiêm này, đó mới gọi là trang nghiêm. Nếu bạn thêm vào hai chữ trang nghiêm này thì đó còn gọi là Không ư? Đó là Bất Không rồi. Cho nên Không và Bất Không ở đây phân biệt rất rõ ràng, Không chính là thanh tịnh, thanh tịnh chính là trang nghiêm. Vậy Không lại còn thêm vào hai chữ trang nghiêm thì không còn ý nghĩa nữa, không cần! Vốn dĩ chính là thanh tịnh, vốn dĩ chính là Không.

*“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã”,* nếu có một Bồ Tát đã hiểu được pháp vô ngã rồi thì vị đó sẽ biết, sẽ hoàn toàn hiểu rõ. Lúc này Phật mới nói, người này mới là Bồ Tát chân chính, Bồ Tát cũng là một danh từ thôi! Cho nên danh xưng của sư phụ tôi là Sakya Chứng Không Thượng sư, thế nào gọi là Sakya Chứng Không Thượng sư? Ngài đã chứng được tính Không rồi, ngài đã hoàn toàn thanh tịnh rồi, mới là Sakya Chứng Không Thượng sư. 

Ngài đã hoàn toàn thanh tịnh rồi, Sakya Chứng Không Thượng sư chỉ là một danh từ, ngài chính là Trisong Rinpoche, ngài bảo tôi gọi ngài là Sakya Chứng Không Thượng sư. Chùa Sakya ở Seattle chính là do Sakya Chứng Không Thượng sư đi quyên tiền mà xây dựng lên. Vì sao ngài bảo tôi gọi ngài là Sakya Chứng Không? Ngài đã chứng tính Không rồi, ngài đã đạt được tính Không, không cần gọi ngài là Trisong Rinpoche, gọi ngài là Sakya Chứng Không - vị Thượng sư đã chứng được tính Không, đó mới là Thượng sư chân chính, chứng được tính Không mới gọi là một Thượng sư chân chính.

Có Thượng sư chỉ có cái danh Thượng sư, còn thật ra là không thanh tịnh, đương nhiên họ không học được vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Khi bạn thật sự có thể đến được vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng thì lúc đó chính là đã chứng minh bạn là Thượng sư Chứng Không, Thượng sư đã chứng tính Không. Khi ấy mới có thể nói *“Như Lai nói đó đúng là Bồ Tát”*, người đó chính là Bồ Tát chân chính rồi. Người bình thường không giảng được, chỉ có Sư Tôn hiểu được, nghiêm túc mà nói thật sự là rất khó giảng. 

Ví dụ Sakya Chứng Không Thượng sư, ngài cũng từng nói với tôi ngài là Trisong Rinpoche, vì sao tôi không gọi ngài là Trisong Rinpoche? Bởi vì đó là tên giả, Chứng Không mới là cái tên chân chính. Mọi người sau này mỗi người chứng ngộ được tính Không rồi, bạn dung nhập vào tính Không, vậy thì bạn thành tựu rồi. Bạn dựa vào vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng để bố thí cho người khác, để họ cũng có thể chứng được tính Không, đây chính là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cho nên căn bản là không có danh từ này, cũng có nghĩa là bạn là người tỉnh trước, sau đó lại gọi người khác thức tỉnh.

Cũng có rất nhiều người gọi không dậy, bởi vì trong đầu của con người hiện đại đều có phân, phân thì đều không sạch, bạn còn gọi được họ dậy sao? Bạn bảo họ “phải yêu kẻ thù của bạn”, họ ghét muốn chết mà còn phải yêu ư? Trong đầu có phân mà! Bạn làm sao đây? Không cứu được. Bạn xem các quốc gia cũng như vậy, Nga đánh Ukraine, bởi vì có một bên cho rằng: “Tôi phải dựa vào bên đó.” Bên này nói: “Anh không được dựa vào bên đó, anh phải quy về bên này của tôi, anh không nghe lời tôi, tôi sẽ tiêu diệt anh!” Quốc gia và quốc gia, con người và con người cũng chẳng có khác biệt gì, cũng như nhau thôi.

“Anh không nghe tôi, tôi sẽ tiêu diệt anh!” Bên đó coi là Thượng sư sao? Đó là “hạ sư”! Không thể nào có chuyện mỗi người đều nghe bạn được, đúng không? Tôi độ chúng sinh cũng không nói rằng mỗi chúng sinh đều phải nghe tôi. *No!* Ai sẽ nghe bạn? Cũng không thể nói độ mấy người, người ta hỏi tôi: “Lư Sư Tôn, bây giờ ngài đã độ bao nhiêu người rồi?” Tôi nói: “Nửa người.” Á? Con người làm gì có nửa người? Tôi nói: “Tôi không có độ chúng sinh.” Tôi làm gì có độ chúng sinh. 

Không phải tôi độ! Là tôi gọi bạn tỉnh dậy, tôi tỉnh trước rồi gọi bạn tỉnh dậy, đây cũng không phải là là độ chúng sinh, mọi người đều bình đẳng, sẽ có một ngày sẽ tỉnh ra. Đợi đến khi bạn tỉnh rồi, bạn sẽ hiểu thế nào là vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Nếu bạn không có bốn điều này, tôi bảo đảm, quốc gia và quốc gia sẽ đánh nhau tới lui, trong gia đình cũng có phân tranh, giữa người và người cũng không hợp lại, không phải tôi tiêu diệt anh thì anh cũng tiêu diệt tôi, không phải anh hại tôi thì là tôi hại anh, không phải anh ghét tôi thì là tôi ghét anh.

Cho nên chúng ta làm một người tu hành phải vô ngã tướng, bạn đi làm bất cứ việc thiện gì cũng đừng để ở trong tâm, đó mới là chân thiện, là việc thiện chân chính. Nếu bạn làm một việc thiện mà lại ghi nhớ ở trong tâm, “tôi mãi mãi ghi nhớ ở trong tâm, tôi làm việc thiện gì, làm bao nhiêu việc thiện, tôi đều ghi nhớ trong lòng”, vậy đó không gọi người tốt, bạn không phải là người tốt, bạn là vì điều gì đó mà làm chứ không phải là làm mà không vì gì cả. Kinh Kim Cang chính là nói đến điều này. Om mani padme hum.

*(Ngày 26/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 61.)*

### 62. Phần thứ 18: Nhất thể đồng quán (1)

*(Bài giảng 62)* Nhất thể đồng quán

Chúng ta nói về “nhất thể đồng quán” là được rồi. Thế giới đại đồng mà Khổng Phu Tử của chúng ta nói chính là nhất thể đồng quán. Nhất thể đồng quán mà Thánh nhân Khổng Tử của Trung Quốc nói là thế giới đại đồng. Tiêu đề này Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến chính là điều này. Tôi thường nghĩ đến một việc, vì sao bây giờ mỗi quốc gia đều phải có quân đội, đều phải có Bộ trưởng Quốc phòng? Tôi thường nghĩ chúng ta cùng sống trên một địa cầu, vì sao không phải là những người sống trên địa cầu đều là người cùng một nhà? Không cần phải có quân đội, có cảnh sát là được rồi. 

Cảnh sát thì vẫn cần, có cảnh sát để bắt những người phạm tội, trộm này, cắp này, dâm này, cướp này, những việc này đương nhiên là phạm pháp. Phóng hỏa, giết người, đây đều là tội rất nặng, đều cần cảnh sát để bảo vệ. Bộ đội thì không cần, vì sao? Tôi thường nghĩ thế này: vì sao nước này phải đánh nhau với nước kia? Không cần! Không cần phải có bộ đội, không cần có Bộ trưởng Quốc phòng, hãy biến thế giới thành một liên hợp quốc chân chính, tất cả con người trên trái đất đều là một đất nước, đất nước này gọi là Liên Hợp Quốc, đừng so bì với nhau, cũng đừng đánh nhau. Ý của Phật, ý của Như Lai là như vậy.

Phật từng nói rằng, mọi chúng sinh đều có Phật tính, có thể nói là mọi chúng sinh đều là Phật. Sinh mệnh của họ là có hạn, từ khi họ sinh ra đến khi chết, quãng thời gian này hãy để cho họ được sống những ngày hạnh phúc vui vẻ mĩ mãn. Bây giờ đã phân thành nhiều quốc gia như vậy, mỗi quốc gia đều có quân đội. Nếu một nhà lãnh đạo cấp thế giới bước ra và phát biểu rằng, tất cả vũ khí, chiến xa, quân cơ, chiến hạm mà bộ đội sử dụng toàn bộ đều hủy bỏ, không cần có quân đội nữa, vậy con người liệu có thể sống tương đối hạnh phúc một chút không? Bởi vì con người trong thời gian ngắn ngủi này, sinh mạng có hạn mà! Các bạn hãy dùng đầu óc suy nghĩ một chút đi. Cách nghĩ của Sư Tôn chính là như vậy.

Cách nghĩ của Sư Tôn là không cần có quốc gia, trên địa cầu chính là một đất nước địa cầu, có thể có hôn nhân, thương mại thông với nhau mà không có ranh giới nào cả, có thể đến đến đi đi mà không cần thị thực, cũng không cần phải thế nào cả, không cần phải giữ nghiêm như vậy, mọi người có thể đi tới đi lui tùy ý mọi người. Nhưng phải có cảnh sát để quản, bạn không thể làm điều phi pháp, bạn không thể giết người phóng hỏa, bạn không thể trộm cướp, như vậy có phải là tốt hơn một chút không? Cả thế giới chính là một quốc gia, như vậy liệu có hạnh phúc hơn một chút không? Các bạn có từng nghĩ đến điều này không? Không có à, không có ai từng nghĩ đến điều này.

Không cần có Bộ trưởng Quốc phòng, không cần có quân đội. Bạn biết quân đội rất lãng phí mạng sống con người mà! Có một số người cả đời làm bộ đội, hoặc là phải chịu huấn luyện quân sự, làm bộ đội trong nhiều năm, điều này rất lãng phí. Hơn nữa còn chế tạo ra những vũ khí, chế tạo ra những thứ giết người, tôi rất phản đối điểm này. Rất nhiều quốc gia vào ngày Quốc khánh của mình, chiến xa xếp hàng đi qua phủ Tổng thống. Hoặc là tên lửa gì đó, hoặc là đạn đạo, thậm chí bom nguyên tử, bom hạt nhân đều được mang ra, một đống những thứ giết người đó đều được mang ra, tôi phản đối nhất là điều này!

Vào ngày Quốc khánh thì phải là xe hoa diễu hành, Sư Tôn chủ trương là những cô gái xinh đẹp đều ra múa cột! Bạn nói xem, khi mọi người hoan hỉ vui mừng kỉ niệm sinh nhật của đất nước này, bạn đem những vũ khí giết người ra để làm cái gì? Tôi cứ nghĩ đến vấn đề này đó! Vì sao cố ý phải tỏ ra “đất nước tôi rất mạnh, tôi có bao nhiêu tên lửa”, đó có ý nghĩa gì? Đó không phải là nhất thể đồng quán. Nhất thể chính là mọi người đều là như nhau, chỉ cần là con người, mọi người đều như nhau thì gọi là nhất thể, bạn, tôi và người khác không có phân biệt, chỉ có yêu không có ghét. 

Cái gọi là chiến tranh chính là nước này và nước kia ghét nhau. Theo Phật nói, chỉ có yêu không thể có ghét, cho nên mới có thể là nhất thể, bạn tách ra, hễ tách ra thì sẽ phiền phức rồi, sẽ có phân biệt, hễ có phân biệt thì sẽ có ghét. Nếu nhất thể là không có oán ghét thì thế giới đại đồng rồi! Mọi người đều như nhau mà, chính là thế giới đại đồng mà Khổng Tử nói. Tôi tán thưởng nhất là phụ thân của Khổng Tử, 70 tuổi lấy cô vợ 20 tuổi rồi sinh ra Khổng Tử, vì sao tôi lại tán thưởng ông ấy? Tôi cũng không nói ra được. Nhất thể mà, đừng phân biệt lẫn nhau, đều là đồng thể đó!

Chẳng phải Phật giáo nói rằng “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” sao? Vô duyên đại từ tức là tôi và bạn mặc dù không phải là cùng một nguồn gốc, nhưng tôi vẫn từ bi bạn, chúng ta đều là con người đương nhiên là đồng thể rồi! Cho nên thật sự vào ngày Quốc khánh, mời Lư Sư Tôn ra ngoài múa cột, tôi cũng có thể múa, tôi có thể nhảy, mặc dù múa cũng chẳng được lắm đâu nhưng cần múa thì cũng có thể chứ! Ngày Quốc khánh, mọi người diễu hành xe hoa, khắp chốn mừng vui, đem những vũ khí kia bày ra cho mọi người xem có ý nghĩa gì chứ? Anh muốn khoe cơ bắp, “đất nước tôi rất mạnh, tôi có *muscle* (cơ bắp)” để làm cái gì? Cho nên đó đều trái ngược với tinh thần của Phật Đà, Phật Đà là nói về vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni mới là vĩ đại, vĩ nhân!

Ý tưởng của Sư Tôn là như thế này, tôi cho rằng không cần có các quốc gia, và không có ranh giới, muốn đi đâu thì đi đến đó, không cần hộ chiếu. Không có quốc gia mà! Toàn bộ địa cầu là một quốc gia thì cần gì phải có hộ chiếu? Cũng không cần vũ khí, bạn không cần làm ra những vũ khí giết người đó, tên lửa, đạn pháo, bom hạt nhân, bom nguyên tử, đạn gì chứ… toàn là trứng gà! <span className="note-blue">[Trong tiếng Trung, từ đạn và trứng đồng âm với nhau.]</span> Đúng là trứng gà thối, tư tưởng của con người thật *dirty* (bẩn), rất bẩn thỉu, rất *dirty*. Vì sao không hiểu tinh thần của Phật Đà? Nhất thể đồng quán, tinh thần của Phật Đà chính là như vậy. 

Vì thế tôi nghĩ, ví dụ như nhiều quốc gia như vậy có bom hạt nhân, nước có nhiều số một là Nga, nước thứ hai là Mĩ, nước thứ ba là Trung Quốc, kì thực đều không cần phải có, không cần có cái gì mà súng trường AK tự động, không cần! Không cần chiến xa, chiến hạm, quân cơ, toàn bộ đều là máy bay dân dụng. Chúng ta chỉ cần hai thứ: máy bay dân dụng và gà rán, để cho con người hạnh phúc một chút mà, đúng thế không? Anh làm những thứ kia để làm cái gì?

Tôi đang nói đến nhất thể đồng quán, cho nên tôi có cảm nghĩ như vậy. Tôi giải thích nhất thể đồng quán khác với người ta, điều tôi giảng không giống họ. Bởi vì tôi là người trái đất, tôi nhìn địa cầu của chúng ta và nghĩ, mọi người ở trên trái đất này có thể sống cuộc đời 100 năm rất hạnh phúc. Chúng ta nếu tính bình quân tuổi thọ là 100 tuổi đi, mọi người sống 100 năm rất hạnh phúc, yêu thương lẫn nhau, hòa hợp lẫn nhau, viên mãn lẫn nhau, đều không có tranh cãi, mọi người rất vui vẻ, bên nào có nạn đói, chúng ta liền giúp bên đó, bên nào có dịch bệnh, chúng ta đi cứu giúp họ, phát minh ra những loại vaccine để giúp đỡ họ.

Giống như lần này có dịch bệnh, mọi người cùng giúp đỡ, mỗi quốc gia đều giúp đỡ nhau, đây đều là việc rất tốt, đây chính là nói một cách rất đơn giản về đồng thể đại bi, vô duyên đại từ đồng thể đại bi chính là như vậy. Khiến cho trái đất này càng hạnh phúc hơn, càng viên mãn hơn, trong một giấc mộng ngắn ngủi này, chí ít cũng có một giấc mộng đẹp chứ không phải là ác mộng. Đừng hận tới hận lui, đừng có tôi ghét anh, anh ghét tôi, con người lúc nào cũng tôi ghét anh, anh ghét tôi, gia đình thì là vợ chồng hận nhau tới lui, giữa vợ chồng con cái không hợp nhau hoặc như thế nào đó, đều không cần có những điều này, sau đó các quốc gia cũng thế. Cho nên chiếu theo tinh thần của Phật Đà, không cần có Bộ trưởng Quốc phòng, không cần có quân đội, không cần phải chết nhiều người như vậy.

Hàng ngày mỗi buổi tối, Sư Tôn làm siêu độ cho những người chết vì dịch bệnh, chết vì virus, đã làm hai năm rồi. Tôi không có được thù lao gì của những người đó, không cần thù lao, tôi không phải vì tiền mà làm việc này, cũng không phải vì công đức mà làm việc này, không phải vì làm việc này thì có công đức, cũng không phải vì công đức này mà làm. Làm siêu độ đã hai năm không vì cái gì cả, đây chính là nhất thể đồng quán, không phân biệt bạn là người nước nào, không phân biệt bạn là người của tôn giáo nào. Tối hôm qua có cái đoạn phim hoạt hình kia: “Bạn theo tôn giáo nào, tôi đều có thể giúp bạn, bất kể bạn tin theo tôn giáo gì, tôi đều có thể giúp bạn.” Đây chính là tư tưởng của tôi, nhất thể đồng quán mà, chính là như vậy. 

Tôi giải thích điều này tuyệt đối khác với người ta giải thích. Sau này chúng ta ở đây nếu có người làm Tổng thống, tôi hi vọng vào ngày Quốc khánh, vào lễ kỷ niệm quốc gia, hãy làm xe hoa diễu hành, Tổng thống hạ một cái lệnh là được, đừng có đem những vũ khí kia ra trình diễn, vũ khí đều tiêu hủy hết, không cần có Bộ trưởng Quốc phòng, không cần có quân đội. Kì thực bây giờ châu Âu có mấy nước trung lập, tư tưởng của họ gần với nhất thể đồng quán: chúng ta đều là trung lập, chúng ta không dựa vào bên nào cả, tốt nhất là không có Quốc phòng, không có Bộ trưởng Quốc phòng, không có Quốc phòng không có quân đội, tôi không đánh nhau với người ta.

Sau này chúng ta ở đây, bất kể là thế hệ này hay thế hệ sau, thậm chí thế hệ sau nữa, khi họ lên làm Tổng thống, ngày Quốc khánh thì hãy diễu hành xe hoa, không có ai múa cột thì Sư Tôn sẽ ra múa! Lần sau ở Hộ Ma Bảo Điện chúng ta hãy làm một cái cột, huấn luyện mấy người múa cột, trước khi làm Hộ Ma thì biểu diễn cho Phật Bồ Tát xem. Đây chính là ý tưởng lạ của tôi, mọi người không nghĩ đến, còn tôi thì nghĩ như thế.

Trước Tết ước rằng có thể tài nguyên cuồn cuộn, bây giờ đã thực hiện được ba phần tư rồi, bây giờ tôi đã trở thành “viên cuồn cuộn” rồi. Tài nguyên cuồn cuồn, tài chưa thấy cuồn cuộn, nhưng vóc dáng thì đã trở thành “viên cuồn cuộn” rồi. <span className="note-blue">[Trong tiếng Trung, từ nguyên và viên (tròn) đồng âm.]</span> Được rồi, hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 27/02/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 62.)*

### 63. Phần thứ 18: Nhất thể đồng quán (2)

*(Bài giảng 63)* Ngũ nhãn

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có nhục nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có nhục nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có thiên nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có thiên nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có huệ nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có huệ nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có pháp nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có pháp nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có Phật nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có Phật nhãn."*

Hôm nay tôi giảng về Ngũ nhãn. Trước khi giảng về Ngũ nhãn, tôi muốn nói với mọi người, mặc dù chúng ta đã học pháp vô ngã, trong kinh Kim Cang nói về vô ngã, tột cùng, bạn muốn đắc được pháp tột cùng thì nhất định phải vô ngã. Bạn đã học rồi, biết rồi, muốn đạt đến tột cùng thì nhất định phải vô ngã. Vậy bạn học vô ngã rồi, vì sao còn cần những con mắt này? Kì thực trong phần trước của kinh Kim Cang không nói đến, nhưng trước đây tôi đã từng nói với mọi người, hai chữ “quán chiếu” rất quan trọng, chúng ta có Quán Chiếu Lôi Tạng Tự. Quán Chiếu Lôi Tạng Tự ở bang nào nhỉ? Ở bang New Jersey cạnh bang New York có Quán Chiếu Lôi Tạng Tự. 

Hai chữ “quán chiếu” rất quan trọng, mặc dù bạn đã học pháp vô ngã, nhưng bạn vẫn cần có quán chiếu mới có thể nói về Ngũ nhãn. Nếu bạn đã học pháp vô ngã, bạn nói không có cái ngã rồi thì còn quán chiếu cái gì? Tôi không quán chiếu cái gì cả. Nhưng quán chiếu vẫn tồn tại đó! Chúng ta ở tại thế giới Ta Bà, quán chiếu của bạn vẫn còn đó! Thế nào gọi là quán chiếu? Tôi chẳng đã nói rồi sao? Phải tu cho đúng hành vi của bạn, và tu cho đúng suy nghĩ của bạn đó! Cái này chẳng phải cần quán chiếu sao?

Cái gọi là tu hành chính là tu cho đúng hành vi của bạn, và tu cho đúng suy nghĩ của bạn. Bạn nói: “Tôi đã học pháp vô ngã rồi, vậy tôi nằm ra đó, không ăn không uống, không tiểu tiện.” Người ta có ăn, có uống thì mới có tiểu tiện. Không ăn không uống thì sẽ không tiểu tiện. Nằm xuống giống như một người chết, không làm gì cả, vô ngã mà, tức là tương đương với chết rồi! Vậy nghiệp của bạn vẫn còn đó, những nghiệp bạn đã từng làm vẫn còn đó!

Vì thế chúng ta tu hành nhất định phải quán chiếu, quán chiếu là không thiếu được. Quán chiếu cái gì? Nhìn rõ hành vi của bạn có tạo nghiệp hay không? Rồi lại nhìn rõ suy nghĩ của bạn có tạo nghiệp hay không? Đây chính là tu hành đó! Bằng không bạn sẽ chẳng có gì nữa, sẽ chỉ còn lại việc chờ chết thôi! Có người hỏi tôi: “Lư Sư Tôn ở thế giới Ta Bà này làm cái gì?” Tôi nói tôi chờ chết đó! Tất cả vô sở đắc mà, tôi còn làm cái gì nữa? Chính là đợi chết đó! Nhưng cũng không thể như vậy, bạn phải quán chiếu hành vi của chính bạn. Bạn vẫn còn có hành vi, vẫn còn có suy nghĩ của bạn mà, nằm ra đó nghĩ lung tung có tác dụng gì? Đó không phải là tu hành. Cho nên hai chữ “quán chiếu” rất quan trọng.

Trong kinh Kim Cang cũng nhắc đến, bạn xem A Di Đà Phật là thế nào? Diệu quan sát trí! Diệu quan sát trí là cái gì? Quán chiếu! Trong năm trí huệ lớn của Như Lai có một loại là diệu quan sát trí. Bạn phải quan sát hành vi và suy nghĩ của chính mình, đây mới là tu hành. Sau đó tu sửa chúng cho đúng, biến chúng thành đúng, đừng có suy nghĩ ngông cuồng, đó chính là biến thành chính niệm. Đừng có hành vi bất hảo, đó là chính, bát chính đạo không có chính hành nhỉ, mà là chính nghiệp, cũng tức là như vậy.

Tiếp theo tôi giải thích dùng cái gì để quán chiếu. Đương nhiên là dùng con mắt của bạn, dùng suy nghĩ của bạn đó! Dùng suy nghĩ để xem xét suy nghĩ. Ở đây có nhắc đến Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi Tu Bồ Đề: “Như Lai có nhục nhãn không?” “Có.” Tu Bồ Đề trả lời đều nói có. Nhục nhãn là làm gì? Muôn vàn chúng sinh đều có nhục nhãn, chúng sinh chúng ta đều có con mắt thịt, để nhìn cái gì? Quan sát lời nói và sắc mặt, mọi cảnh tượng của thế giới Ta Bà này bạn đều có thể nhìn được, đó là phạm vi của con mắt thịt. “Như Lai có thiên nhãn không?” Tu Bồ Đề trả lời: “Có.” Thiên nhãn là làm gì? Bạn có thể nhìn thấy những thứ mà nhục nhãn của người bình thường không nhìn thấy, ba nghìn đại thiên thế giới bạn đều có thể nhìn thấy.

Ví dụ tối hôm qua, Sư Mẫu nhìn thấy một vị Cát Tường Thiên Nữ ở trước mặt bà ấy. Bà ấy đích thực đã nhìn thấy, bà ấy kể với tôi rằng trước lúc bà ấy sắp ngủ thì nhìn thấy Cát Tường Thiên Nữ. Đa phần là bà ấy đã nhìn thấy rất nhiều ma, tối hôm qua lại đặc biệt nhìn thấy Tiên nữ. Buổi tối tôi từ hành lang nhà tôi, khi tôi trở về phòng ngủ của tôi, tôi đều niệm, đầu tiên là niệm Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát, vị thứ hai tôi nhìn thấy chính là Cát Tường Thiên. Tối hôm qua Sư Mẫu nhìn thấy Cát Tường Thiên, đây là con mắt gì? Người khác không nhìn thấy nhưng thiên nhãn có thể nhìn thấy, nhìn thấy ba nghìn đại thiên thế giới, đó thuộc về phạm vi của thiên nhãn.

Tiếp theo, “Như Lai có huệ nhãn không?” "Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có huệ nhãn.” Tu Bồ Đề trả lời rằng cũng có, liên tục năm lần trả lời có, đều là Tu Bồ Đề trả lời. Huệ nhãn là làm cái gì? Có thể nhìn thấy tâm của chính mình, nhìn vào bên trong chính là huệ nhãn, huệ nhãn không phải là nhìn ra bên ngoài, mà là nhìn vào bên trong chính mình. Nhìn cái gì? Nhìn suy nghĩ của chính bạn đó! Nhìn hành vi của chính bạn đó! Nhìn cái nội tại của bạn, bạn tu hành đến khi Phật tính của bạn hiển hiện, nhìn thấy Phật tính của chính bạn, cái này thuộc về huệ nhãn.

Tiếp theo, “Như Lai có pháp nhãn không?” Tu Bồ Đề trả lời: “Có, có pháp nhãn.” Thế nào là pháp nhãn? Bạn có phát bồ đề tâm muốn đi cứu độ chúng sinh không? Người có pháp nhãn mới có thể đi quảng độ chúng sinh đó! Bạn hiểu Phật pháp của Đại thừa, Tiểu thừa, Phật pháp của Tiểu thừa bạn cũng hiểu, bạn hiểu đệ nhất nghĩa pháp. Thế nào là đệ nhất nghĩa pháp? Pháp vô ngã chính là đệ nhất nghĩa pháp, là pháp tối thượng thừa, pháp cao nhất là pháp vô ngã, vô ngã chính là đệ nhất nghĩa pháp. Bạn đã có pháp nhãn thì bạn mới có thể dùng pháp đệ nhất nghĩa của bạn để đi gọi người khác thức tỉnh. Hiểu được đệ nhất nghĩa pháp này mới là người có pháp nhãn, không có pháp nhãn thì bạn không hiểu được.

Sư Tôn đã nói rồi, các bạn hiểu được thế nào là đệ nhất nghĩa pháp, pháp vô ngã chính là đệ nhất nghĩa pháp, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế nào là chúng sinh tướng? Vô chúng sinh tướng này và vô nhân tướng chẳng phải là như nhau sao? Không giống nhau. Chúng sinh là đại diện cho toàn bộ không gian. Thọ giả là đại diện cho thời gian đó! Tôi phải nói rõ với mọi người, không gian, thời gian đều phá bỏ! Không gian và thời gian đều phá bỏ, đây mới là vô ngã chân chính. Cho nên bạn có thể nhìn thấy Phật tính, là vì bản thân Phật tính là phá bỏ không gian và thời gian, đâu đâu cũng có. Đây là thuộc về pháp nhãn. 

Tiếp theo hỏi: “Như Lai có Phật nhãn không?” Không sai, Như Lai có Phật nhãn. Phật nhãn là thế nào? Không chỉ là có thể nhìn được Tứ thánh giới, thậm chí trên nhìn đến Tứ thánh giới, dưới có thể nhìn đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, mười pháp giới đều có thể nhìn được hết, bao gồm cả tâm của con người. Người nào khởi tâm động niệm Phật đều có thể thấy, đều rất rõ ràng. Đây chính là năm con mắt, Ngũ nhãn đó!

Bạn phải phân biệt rõ Ngũ nhãn. Thế nào là nhục nhãn, chính là bạn có thể nhìn thấy những hình ảnh sắc tướng của thế giới Ta Bà. Thế nào là thiên nhãn? Ba nghìn đại thiên thế giới bạn đều có thể chiếu kiến. Thế nào là pháp nhãn? Bạn có thể biết cái gì là pháp đệ nhất nghĩa, pháp tối thượng thừa, pháp cứu cánh bạn đều hiểu được, chính là pháp nhãn. Thế nào là huệ nhãn? Bạn có thể quan sát hành vi của chính mình, suy nghĩ của chính mình, bao gồm Phật tính của chính bạn hiển hiện, bạn đều có thể biết, chính là huệ nhãn. Thế nào là Phật nhãn? Phật nhãn là trên nhìn được Tứ thánh giới, dưới nhìn được tam đồ, mười tám tầng địa ngục bạn đều có thể nhìn thấy được, bao gồm mọi vọng niệm của chúng sinh bạn đều nhìn rõ mồn một.

Vì thế hôm nay chúng ta nói về Ngũ nhãn, năm loại con mắt, tôi giảng cho mọi người về năm con mắt này. Như Lai có Ngũ nhãn này mới có thể viên mãn. Tôi lấy một ví dụ thế này. Buổi tối hôm trước tôi đột nhiên đi đến một nơi, sau đó tôi đã nhìn thấy đệ tử đó. Tôi không phải là nhìn lén người ta đâu, tôi là tùy ý, nói cách khác là nguyên thần này đi ra, sau đó đi đến một nơi nhìn thấy một đệ tử. A! Tôi bất ngờ phát hiện ra bí mật của anh ta, *secret,* bí mật của anh ta đó. “A! Thì ra anh ta là như vậy!” Tôi không nhìn ra mà. Thật đó, tôi tình cờ nhìn thấy bí mật của anh ta, sau khi tôi nhìn thấy bí mật của anh ta, tôi liền trở về. Sau khi trở về, buổi sáng tôi tỉnh dậy, tôi nghĩ thì ra là như vậy, thì ra anh ta có thể như vậy, chính là vì như thế. Bởi vì như thế cho nên anh ta mới như thế này, chà! Cuối cùng tôi đã hiểu rồi, cuối cùng tôi đã biết được bí mật của anh ta rồi!

Nhưng bí mật này không thể nói ra được, cũng không thể nói công khai, cũng không thể nói riêng, cái gì tôi cũng không dám nói. Vậy hiểu rồi thì có tác dụng gì? Chính là để Sư Tôn biết người này có cách nghĩ như vậy. Anh ta đã làm một việc rất bí mật, nhưng anh ta cũng bày kế nghi binh để mọi người không rõ anh ta đang làm cái gì. Khi làm việc này, anh ta đã nghĩ rất nhiều kế sách, cố ý bày nghi binh để mọi người tin tưởng anh ta, rằng làm như vậy bạn sẽ tin tưởng tôi. 

Không ngờ tôi lại đi nhìn thấy bí mật của anh ta, ôi chao! Điều không nên nhìn thấy tôi đều đã nhìn thấy rồi, nhưng lại không thể nói ra. Cho nên tôi nói điều này tức là bạn có thể biết được tâm chúng sinh, mặc dù anh ta bề ngoài ngụy trang là một người như thế này, nhưng bạn đã hiểu được bí mật của anh ta rồi. Như Lai có năng lực này để biết được vọng tâm của một con người, khởi tâm động niệm của anh ta bạn đều có thể hiểu được rất rõ ràng.

Giống như một câu chuyện cười thế này. Tiểu Minh: “Bố ơi, con biết bí mật của bố rồi.” Kì thực Tiểu Minh có biết hay không thì chính bố cậu cũng không rõ. Bố nói: “Con biết giữ mồm thì bố sẽ cho con 500 đô la Mĩ.” 500 đô la Mĩ là rất nhiều đó. Tiểu Minh nói: “Chà! Hữu dụng đến thế cơ? Một lúc đã kiếm được 500!” Cậu liền nói với mẹ: “Mẹ ơi, con biết bí mật của mẹ rồi!” Mẹ lấy ra 1000 đô Mĩ nói: “Cho con 1000 đô này, con không được nói ra!” Người đưa thư đến, Tiểu Minh nói với người đưa thư: “Bác đưa thư, cháu biết bí mật của bác rồi!” Người đưa thư liền khóc: “Cuối cùng con đã biết ta là bố của con rồi!” Lần này không cho tiền, người đưa thư ôm chặt lấy cậu bé, Tiểu Minh thì chẳng hiểu ra làm sao cả. Có rất nhiều bí mật không thể nói ra đâu. Hôm nay chúng ta nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 05/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 63.)*

### 64. Phần thứ 18: Nhất thể đồng quán (3)

*(Bài giảng 64)* Vô sở đắc

Bây giờ chúng ta giảng kinh Kim Cang. Bây giờ Phật Đà lại hỏi Tu Bồ Đề, Ngài vẫn lấy cát sông Hằng để so sánh. 

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát lại có bấy nhiêu sông Hằng nhiều bằng số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều bằng tất cả cát của tất cả sông Hằng ấy, như thế có nhiều không?"  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Trong tất cả quốc thổ ấy, tất cả chúng sinh có bao nhiêu loại tâm, Như Lai đều biết. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tâm đều chẳng phải tâm, thì gọi là tâm. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc."*

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát lại có bấy nhiêu sông Hằng nhiều bằng số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều bằng tất cả cát của tất cả sông Hằng ấy, như thế có nhiều không?" "Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"* Rất nhiều người không biết giải thích câu này. Trước đây tôi từng nói, Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích nói câu này, dùng cát sông Hằng để làm so sánh. Ý của câu này nói rằng: “Cát của sông Hằng có nhiều không? Nhiều đến mức không cách nào đếm được. Nhưng nếu mỗi hạt cát là một con sông Hằng, vậy cát đó nhiều không?” Câu nói này là như vậy, vì thế khi đọc kinh các bạn phải ghi nhớ.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như cát có trong sông Hằng, Phật nói đó là cát chăng?” "Thưa Thế Tôn, đúng vậy!* Như Lai nói là cát.” Cát của sông Hằng là cát. Tiếp theo: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát lại có bấy nhiêu sông Hằng nhiều bằng số cát ấy.”* Câu nói này rất nhiều người đều không có cách nào giải thích được. Phật Thích Ca Mâu Ni nói nếu tất cả cát trong sông Hằng, mỗi một hạt cát lại là một sông Hằng. Ý của câu “sông Hằng nhiều bằng số cát ấy” là muốn nói rằng một hạt cát tương đương với một sông Hằng. “S*ố cõi Phật nhiều bằng tất cả cát của tất cả sông Hằng ấy”,* thế giới của Phật, thế giới của Như Lai tương đương với tất cả số cát của tất cả sông Hằng. *“Như thế có nhiều không?"* Như vậy có được xem là nhiều không? Đương nhiên là nhiều rồi! Cát sông Hằng đã là rất nhiều rồi, một hạt cát lại tương đương với một sông Hằng, thế giới của Phật nhiều tương đương như vậy. Thế giới của Như Lai tương đương với cát sông Hằng, lại còn là một hạt cát tương đương với một sông Hằng, và tất cả số cát tương đương với thế giới của Phật. Tôi thấy thế giới của Phật là vô cùng nhiều, đếm không xuể!

*Phật bảo Tu Bồ Đề: "Trong tất cả quốc thổ ấy, tất cả chúng sinh có bao nhiêu loại tâm, Như Lai đều biết.”* Trong mỗi một tịnh thổ, mỗi một Phật quốc này, tâm niệm của mọi chúng sinh, một suy nghĩ mà họ nghĩ ra Phật đều biết, vì sao vậy? Chiếu theo lí mà nói thì Phật hẳn là không biết được, bạn nói xem cát sông Hằng, nếu một hạt cát là một chúng sinh, làm sao mà nghĩ được tâm nhiều như số cát ấy đang nghĩ cái gì. Huống hồ là mỗi hạt cát lại tương đương với một sông Hằng. Nhiều cát như vậy, nhiều thế giới Phật như vậy, nhiều chúng sinh trong các thế giới Phật như vậy, đầu của họ đang nghĩ cái gì Phật cũng biết, vì sao? 

Bây giờ tôi cũng biết, bao nhiêu loại tâm Như Lai đều biết. Phật đều biết, là vì sao? Vì sao có thể biết được đây? Lúc này Như Lai mới nói ra nguyên nhân, Như Lai nói: “Mọi tâm đều chẳng phải tâm.” Mọi suy nghĩ, mọi ý tưởng đều là chẳng phải tâm, tất cả đều không phải là ý nghĩ, bởi vì đều không phải là ý nghĩ nên chẳng phải tâm chính là tâm. Là vì sao? Cho nên Phật nói thế này: *“Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc.”* Đương nhiên tôi cũng hiểu ba chữ này. 

Tâm chúng sinh giống như cát sông Hằng, cho dù một hạt cát là một chúng sinh rồi, cát sông Hằng đã khiến bạn không đếm nổi rồi, làm sao bạn biết được tâm của chúng sinh chứ? Không thể nào! Một hạt cát đó lại tương đương với một sông Hằng, vậy thì có bao nhiêu cát chứ? Căn bản là không có cách nào đếm nổi. Cát của một sông Hằng đã không có cách nào đếm được rồi, lại còn một hạt cát tương đương với một sông Hằng, toàn bộ số cát lại tương đương là một Phật quốc, vậy chúng sinh trong Phật quốc nhiều như thế nào? Vô số đó. Đó là bao nhiêu loại tâm, rất nhiều, rất nhiều suy nghĩ Như Lai đều biết, vì sao vậy? Phật nói:* “Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc.” *Đây chính là nguyên nhân, cũng là câu nói quan trọng nhất trong kinh Kim Cang. Ba chữ “vô sở đắc” mà tối hôm qua tôi đã giảng. 

Ví dụ nói mỗi thế giới Ta Bà của chúng ta là được rồi, chúng ta nói thế giới Ta Bà tổng cộng có bao nhiêu người? Trên trái đất này tổng cộng có bao nhiêu người? Bảy tỉ, được, vậy Phật biết tâm của bảy tỉ người này đang nghĩ gì, vì sao Phật biết được? Đáp án nằm ở đây: “Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc.” Cũng có thể nói thế này, mọi điều mà các bạn nghĩ, điều mà mỗi con người nghĩ trong tâm, các bạn đều không có được, cho nên Như Lai biết tâm chúng sinh, bởi vì không có người nào có thể có được, không cần phải nói! Phật cũng không cần nghĩ.

Dù sao các bạn cũng không có được, mọi người các bạn đều suy nghĩ đi: “Tôi muốn có được tiền, tôi muốn trúng xổ số, tôi muốn trúng Power <span className="note-blue">[một giải xổ số độc đắc ở Mĩ]</span>, tôi muốn thế nào đó…” Bạn nghĩ đi, để cho bạn nghĩ. Tôi nói với bạn, không ai có thể có được. Cho dù bạn trúng xổ số rồi, trúng Power rồi, không ai có thể vĩnh viễn có được Power này, có được xổ số này, không có! Bạn có biệt thự, rất tốt! Bạn liền mua nhiều căn nhà, bạn có tiền mua nhiều căn nhà, có thể kiếm tiền. Bạn mua rất nhiều nhà, bạn làm nhà trọ, thế là bạn kiếm được tiền rồi.

Tôi thường nghĩ, Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta cũng đã mua mấy gian phòng khách nhỉ, Seattle Lôi Tạng Tự có mấy gian phòng khách. Người hiện sống trong phòng khách này, Thượng sư Liên Vượng, phòng khách bên đó của ông có mấy người ở? Một người ở, một gian phòng khách chỉ một người ở, chính là căn mà Liên Vượng ở. Còn có phòng không có người ở không? Đều có người ở hết à? Chắc là Bích Trân biết rõ hơn một chút. Mỗi phòng đều có người ở, ở được bao nhiêu người? (Thượng sư Bích Trân: ngoài phòng của Thượng sư Liên Vượng ra, ít nhất đều có thể ở hai người trở lên, phòng phía tây, phía bắc hiện tại đều đã kín người, phòng phía nam cũng có rất nhiều người ở.) Có một vài căn là ít người ở. (Thượng sư Bích Trân: bình thường tương đối ít người, nếu có pháp hội thì bên đó sẽ ở kín hết.) Được rồi, cảm ơn!

Ví dụ Thượng sư Liên Vượng một người ở một phòng, tôi nghĩ, căn phòng đó có thể làm phòng trọ! Còn có trong số những người ấy, bạn chỉ cần tập trung người ta vào ở một nửa số phòng, một nửa kia có thể lấy ra làm phòng trọ, thuê người đến quản lí, thu tiền hàng tháng. Còn có một người chuyên môn tu sửa phòng trọ nữa, ví dụ có thứ gì đó hỏng thì họ liền đi sửa chữa. Người có đầu óc kinh doanh thì chắc chắn sẽ kiếm tiền, tuyệt đối có thể kiếm tiền, thuê hai người, một người chuyên môn sửa chữa đồ đạc bị hỏng, một người là quản lí, đi giám sát, thu tiền và tiếp khách. 

Làm nhà trọ đi, bởi vì có phòng mà! Có phòng không thể nào để một người ở trong một phòng, chà! Thế này lãng phí quá! Ông rất may mắn đó ông biết không? (Thượng sư Liên Vượng: Tôi phải quét phòng, quét sân.) Dù sao ông không phải trông phòng là tốt rồi. Tôi nói với bạn, bất kể bạn kiếm được bao nhiêu tiền, đầu óc của bạn tính toán rất nhanh, cuối cùng cũng là vô sở đắc! Cho dù nhà bạn to thế nào, là biệt thự, cuối cùng cũng chẳng có được!

Giống như xe mà Sư Tôn lái toàn là xe hàng đầu đó! Là xe do sư tỉ Hanifa tặng, sư tỉ Hanifa tặng tôi hai chiếc xe, một chiếc là xe Rolls-Royce hàng đầu, là do sư tỉ Hanifa tặng, một chiếc là xe bán thể thao Maserati, tiếng Ý gọi là Maserati, họ chuyên môn làm xe thể thao, bây giờ cũng làm xe bán thể thao, xe Sư Tôn đi là xe bán thể thao, đây cũng là xe rất đắt. Bạn có thể vĩnh viễn có được hai chiếc xe này không? Không thể nào, không thể có được! Sẽ có một ngày phải rời xa xe của bạn, rời xa biệt thự của bạn, xe, nhà bạn đều không có được, tiền làm sao bạn có thể có được chứ?

Cho nên Phật biết tâm chúng sinh đang quằn quại, cũng giống như cái hố xí thời xưa của chúng ta. Các bạn đã từng ngồi trong hố xí ngày xưa chưa? Khi ấy chúng ta phải ngồi xổm, không hề có bồn cầu ngồi bệt, lấy đâu ra bồn cầu ngồi, rồi còn bồn cầu xả nữa nữa, nước xả ra là không còn gì nữa, cái này cũng rất hay, ngay cả phân cũng chẳng phải là của bạn! Những thứ có trên người bạn, đó là phân của bạn tồn ở trong đại tràng của bạn, bạn ngồi như thế này, xả một cái, “ào”, không còn gì nữa. Hố xí ngày xưa bạn cho rằng có, không sai, nhưng phải gọi người ta đến để lấy ra, phải moi hết toàn bộ những thứ đó ra. Còn nữa, bạn nhìn thấy ở phía trên hố xí ngày xưa có rất nhiều dòi, những con dòi màu trắng ở đó ngọ nguậy lăn lộn. Mấy thứ của bạn vừa rơi xuống, “pẹt”, bọn chúng liền lao vào tranh nhau, cả một đống. Tôi nói với bạn, suy nghĩ của con người, những gì đầu óc bạn nghĩ mỗi ngày cũng giống như những con sâu non trong cái hố xí ngày xưa, ở trong đó lăn lộn quằn quại. Mọi của cải không người nào có thể có được cái gì.

Nói một cách rất đơn giản, có người muốn sống lâu, vừa rồi thỉnh Phật trụ thế vô lượng thọ, nghĩ mà xem, chẳng qua cũng chỉ thêm vài năm nữa, nếu thật sự có tăng thêm tuổi thọ thì cũng chỉ sống thêm vài năm thôi, sống thêm mấy năm nữa. (Mọi người vỗ tay.) Có gì đáng để vỗ tay chứ, cuối cùng cũng vẫn “tinh tinh” thôi. Ngày trước tôi đi đến chỗ của thầy Thubten Daerji, thầy ấy thường giơ ra một ngón tay kêu “tinh tinh”, thầy luôn nói với tôi “tinh tinh”, “tinh tinh” thế là đi thôi! Thị giả của thầy (Thubten Qigong) cũng “tinh tinh” giống như thế rồi đi. Thầy Thubten Daerji đi rồi, thầy chuẩn bị một phần các thứ của chính mình giao cho Thubten Qigong, Thubten Qigong cũng chẳng có được, bây giờ ông ấy cũng đã “tinh tinh” rồi, cũng đã đi rồi. 

Vì thế, cuối cùng rồi con người cũng đều “tinh tinh”, đều nằm xuống “tinh tinh”. Tiền không phải của bạn, nhà cửa không phải của bạn, xe không phải của bạn, vợ không phải của bạn, con cũng không phải của bạn, cháu cũng không phải của bạn, đây chính là tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc.

Tối hôm qua tôi đã nói rằng quá khứ đã qua rồi, hiện tại cũng sẽ thành quá khứ, tương lai còn chưa đến, xin hỏi bạn có được cái gì? Tôi hỏi lại một câu: “Mọi người sau này có thể có được cái gì?” Mọi người thử nghĩ xem, tương lai bạn sẽ có được cái gì? Có người cho rằng: “Tôi sẽ trở nên rất xinh đẹp.” Trở nên rất đẹp thì sẽ có tâm ngạo mạn, bởi vì cô ấy trở nên xinh đẹp thì sẽ có tâm kiêu ngạo. Không thể vĩnh viễn, không có thứ gì thuộc về ta vĩnh viễn. 

Vừa rồi chẳng phải đã nói câu chuyện cười đó sao? “Khi bạn là sinh viên năm hai, bạn nặng bao nhiêu kg? Hãy giết chết trái tim của bạn trai bạn bằng cách hãy đi ăn cơm cùng với bạn trai trước đây, để cho anh ta cắt bỏ cái tâm ấy.” Cho nên sắc đẹp cũng không phải là vĩnh viễn, tuyệt đối không phải là vĩnh viễn, chẳng mấy chốc sẽ không có gì. Hơn nữa thanh xuân cũng chẳng qua là một chốc rồi sẽ tan biến, ta muốn tóm chặt lấy cái đuôi của hoàng hôn, là cái đuôi của thanh xuân. Tôi nói cái đuôi của hoàng hôn chỉ một chốc cũng tiêu biến, sẽ không có hoàng hôn nữa. Hoàng hôn đẹp nhất, nhưng ngay lập tức cũng không còn nữa. Cái đuôi của tuổi trẻ cũng như vậy, muốn túm chặt lấy cái đuôi của tuổi trẻ để cho mình đẹp lâu hơn một chút, nhưng cuối cùng cũng không thể có được. 

Hôm đó hình như chúng ta ở nhà ăn của Seattle Lôi Tạng Tự, nhìn thấy có một phụ nữ đang hát, đúng không? Bà ấy đi hát từ khi còn trẻ cho đến khi già yếu và biến thành một bộ xương, đó đại diện cho bất khả đắc. Sắc không thể có, muốn túm lấy cái đuôi của tuổi trẻ, tôi nói để bạn biết rất đơn giản, không cần Như Lai phải biết tôi cũng biết, túm không được! Tôi đều biết cả rồi, tôi thường lấy ra tấm ảnh của tôi, đó là tấm ảnh hồi hai mươi mấy tuổi, có giống ngôi sao điện ảnh không? Rất giống mà. 

Bây giờ ai còn mang theo tấm ảnh đó? Trên mạng có à? Tôi không xem mạng, tôi không biết trên mạng có tấm ảnh đó. Bây giờ tôi có giống ảnh đó không? Khi ấy tôi ngoài 20 tuổi, bạn gái của tôi là Lưu Giang Hà ngồi ở phòng khách nhà tôi, tối nào cô ấy cũng ngồi ở phòng khách nhà tôi không đi. Bố mẹ tôi nói: “Chúng ta sắp đi ngủ rồi, bạn gái anh vẫn chưa đi, làm sao đây?” Tôi nói: “Để con tiễn cô ấy về, con đưa cô ấy về.” Lưu Giang Hà, ngày nào cô ấy cũng ngồi trong phòng khách nhà tôi, cứ ngồi mãi cho đến khuya vẫn không đi.

(Trong phòng có nhiều người giơ điện thoại lên.) Có tấm ảnh đó rồi, tìm được bốn tấm ảnh à? (Màn hình hiển thị ảnh của Pháp Vương.) Đó là bộ đội, khi ấy tôi mặc quân phục, đó là tấm ảnh khi tôi học ở trường quân đội. Không phải tấm đó, là tấm này, không phải để cho tôi xem đâu, đó là tôi, đưa cho tôi xem làm gì? Đúng vậy, không giữ được tuổi trẻ, không thể có! Thân thể của bạn cũng không phải là của bạn, con người đều sẽ già, hơn nữa đôi khi vô thường đến rất nhanh, vô thường rất nhanh chóng, hôm nay vẫn còn đây, một lúc sau đã không còn nữa, vì thế sắc đẹp cũng không giữ được.

(Màn hình hiển thị một tấm ảnh khác của Pháp Vương.) Ồ, là tấm ảnh đó phải không? Có người nói có hơi giống ngôi sao điện ảnh đó! Bạn nhìn xem có giống tôi hiện tại không? (Mọi người: giống.) Đừng lừa tôi, đừng có lừa tôi, bây giờ nếu mà tôi giống như vậy thì đi ra ngoài đường không biết có bao nhiêu người huýt sáo. Điều đáng tiếc duy nhất trong cuộc đời này của tôi chính là tôi lùn quá. Người ta nói cao to đẹp trai, đẹp trai, lúc trẻ có, nhưng không thể nói là cao to đẹp trai được, không thể nói hai chữ cao to được, vốn dĩ là không thể có mà! Làm sao bạn có thể hoàn hảo được? Con người không thể nào hoàn hảo như vậy.

Pháp sư Lị Lị ở đâu nhỉ? (Pháp sư Lị Lị: Dạ ở đây!). Bố và mẹ của pháp sư Lị Lị chúng tôi đều biết, bố của pháp sư Lị Lị từng nói: “Trong số ba người con gái của tôi, đứa thứ hai là xinh đẹp nhất.” Người con gái thứ hai chính là pháp sư Lị Lị, cô đứng dậy cho mọi người nhìn xem, bây giờ có xinh đẹp không? Vâng, mời ngồi! Cuối cùng cũng xinh đẹp một chút. Khi xưa pháp sư Lị Lị là phó chủ tịch của ngân hàng Rainier, ngân hàng Rainier là tiền thân của Seattle First, cô ấy là phó chủ tịch của một đơn vị của ngân hàng Rainier.

Khi ấy có ba người mới di cư qua (ba người đàn ông). Bởi vì cô ấy là người Hoa, rất nhiều người Hoa đến ngân hàng đều tìm cô ấy để gửi tiền, rút tiền, làm nghiệp vụ ngân hàng gì phần lớn đều tìm cô ấy. Có ba người đàn ông này ngày nào cũng cắt cỏ trong sân vườn nhà cô ấy, chúng tôi biết căn bản là nhà cô ấy không cần cắt cỏ, đã có ba người đàn ông đó đến cắt cỏ miễn phí ở nhà cô ấy rồi. Có ba người đàn ông, một người hình như làm kiến trúc, một người bán hoa quả, người kia thì không biết là làm cái gì. Cô đã quên rồi à, tôi thì vẫn nhớ, một người làm xây dựng, bây giờ rất phát đạt, làm xây dựng kiếm được rất nhiều tiền. Một người là nhập khẩu trái cây, còn có một người không biết là người nào? Tóm lại là có ba người đàn ông thường xuyên giúp cô ấy cắt cỏ, cô ấy khi đó là tiền hô hậu ủng, rất uy phong. Cho nên bạn xem, tiền không thể có, sắc không thể có, địa vị không thể có.

Người nào có thể làm Tổng thống vĩnh viễn? Không có ai, đại bộ phận đều là đời này tới đời kia, chính là như vậy. Triều đại cũng như thế, đều là luân phiên, không có vĩnh viễn. Giống như Tần Thủy Hoàng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, Hán Vũ Đế cũng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, họ đều luyện đơn, ăn Tiên đơn trường sinh bất lão, giống như ở trên tấm vải kia viết vô lượng thọ, họ đều muốn có được vô lượng thọ. Tần Thủy Hoàng cũng muốn có được vô lượng thọ, cho nên đã phái đạo sĩ khi đó là Từ Phúc dẫn ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ đi ra biển để tìm Tiên đơn, một đi không trở lại, đi đến Nhật Bản trở thành tổ tiên của người Nhật. Hán Vũ Đế cũng tương tự, luyện đơn uống Tiên đơn, xem xem có thể vô lượng thọ không, đến cuối cùng thì cũng “tinh tinh”. Có mấy người đều muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, chẳng có ai, đều sẽ chết.

Cho nên mọi người nghĩ mà xem, vô sở đắc, khi đặt ba chữ này vào trong tâm, phiền não gì cũng không có, nó có thể cắt đứt tập khí, cắt đứt phiền não, có thể cắt đứt mọi bám chấp. Bạn chấp vào cái gì? Vô sở đắc! Bạn chấp vào cái gì? Bạn phiền não cái gì? Vô sở đắc! Bạn không cần tức giận, bởi vì bạn có nổi giận thì cũng là vô sở đắc. Cắt đứt! Bạn phiền não cái gì? Dù sao mọi người đều như vậy, sau này mọi người đều sống ở Tây Phương Cảnh, Song Liên Cảnh Giới, đi đến nơi đó, ở bên trong cái hộp càng tốt hơn! Có được cái gì đây? Vô sở đắc mà! Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, không ai có được cái gì.

Vì thế đương nhiên Như Lai hiểu được tâm của con người, bởi vì mọi tâm đều chẳng phải là tâm. Những gì bạn nghĩ đến đều không phải là nghĩ, bởi vì những gì bạn nghĩ đều là vô sở đắc, vì thế chính là chẳng phải tâm. Điều bạn nghĩ đều vô ích, đều không phải là suy nghĩ của bạn, bởi vì không phải suy nghĩ mới gọi là tâm. Tôi đã giải thích với bạn câu này rồi. Như Lai đều biết các bạn đang nghĩ cái gì, bởi vì đều vô sở đắc mà. Ba chữ vô sở đắc là đúng rồi, không ai có thể có được cái gì, cho nên Phật đương nhiên đều biết vô sở đắc.

Chỉ có mê muội trong thế giới Ta Bà, suy nghĩ đủ thứ về thế giới, họ ở trong mê mà không biết, cho nên không thể cắt đứt phiền não, không thể cắt đứt bám chấp, không thể cắt đứt tập khí. Nếu bạn biết thì có thể buông bỏ toàn bộ, như vậy bạn mới có thể đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Dụng ý của kinh Kim Cang nằm ở đây, kinh Kim Cang chính là cắt đứt! Cắt đứt tất cả, hủy diệt tất cả, cắt! Tôi nói kinh Kim Cang là bất hoại, phá hủy tất cả, bạn nói xem có phải là phá hủy toàn bộ không? Bởi vì vô sở đắc mà, không ai có thể có được cái gì.

Sư Tôn cho rằng người ta mua cho tôi xe Rolls-Royce, xe Maserati, tốt, hai chiếc xe đó cũng chẳng phải của tôi, tạm thời dùng một chút thôi, cũng là không thể có. Như vậy mọi người nghe hiểu rồi chứ? Vì thế đừng cho rằng bạn dài hay là ngắn, thật ra dài ngắn đều như nhau, đều là như nhau. Trên thế giới này, Phật biết chúng sinh thế giới Ta Bà nhiều người như vậy, bảy tỉ chúng sinh toàn bộ đều vô sở đắc. Trong con mắt của Phật, chúng sinh chẳng qua chỉ là những con dòi ở trong hố xí ngày xưa, ở đó lăn lộn, có lúc thì tôi ngoi lên, có lúc thì đè anh xuống, có lúc thì lộn xuống dưới, có lúc thì lộn lên trên, lộn xuống dưới, đến cuối cùng cũng không còn. 

Nhìn khí sắc người bạn thân không được tốt lắm, tôi hỏi: “Nhìn sắc mặt cậu không tốt, trong người không thoải mái à?” Cô ấy nói: “Không phải, chồng tớ nhập viện, tớ phải ngày đêm trông nom.” Tôi lại hỏi: “Vậy là cậu không thuê y tá chăm sóc anh ta à?” Bạn thân nói: “Chính vì có thuê một cô y tá xinh đẹp cho nên tớ mới phải ngày đêm để mắt đến anh ta.” Bạn xem, đây chính là phiền não của con người. Om mani padme hum.

*(Ngày 06/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 64.)*

### 65. Phần thứ 19: Pháp giới thông suốt không ngăn trở

*(Bài giảng 65)* Pháp giới thông suốt không ngăn trở

Hôm nay chúng ta giảng kinh Kim Cang - Phần thứ 19: Pháp giới thông suốt không ngăn trở. Tôi đọc một lần cả đoạn của phần thứ 19 này, bởi vì nó không dài lắm.

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo tràn đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy vì nhân duyên này có được phúc nhiều không?"  
"Đúng thế, thưa Thế Tôn! Người này do nhân duyên ấy mà có phúc rất nhiều."  
"Tu Bồ Đề! Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không, nên Như Lai nói có được phúc đức nhiều."*

Chỉ có mấy câu ngắn ngắn này thôi là kết thúc phẩm này.

Phần thứ 19: Pháp giới thông suốt không ngăn trở, bạn xem, đoạn văn này và phẩm thứ 8 của kinh Kim Cang chẳng phải là có chỗ tương đồng sao? Phẩm thứ 8 là nói như thế này: *“Có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí”*, cũng là nói đến vấn đề phúc đức. Nhưng điều nói đến trong phẩm thứ 8 là lấy việc này để so sánh với việc thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang xem cái nào phúc đức nhiều, cái nào phúc đức ít. *“Có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí”*, công đức của người này đương nhiên là rất nhiều, nhưng vẫn thua người thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang, đây là so sánh của phẩm thứ 8. 

Thế còn phẩm thứ 19 là dùng việc này để so sánh: *"Tu Bồ Đề! Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không, nên Như Lai nói có được phúc đức nhiều."* Đây là câu trả lời của Phật Đà, nếu phúc đức là có thật, thực tế là có, Như Lai không nói là có được phúc đức nhiều. Thực tế là có phúc đức, vì sao Như Lai nói là không có phúc đức nhiều? *“Vì phúc đức là không”*, phúc đức là không có, cho nên Như Lai nói là có được phúc đức nhiều. Nói chung, người đọc kinh các bạn có thể hiểu được Phật Đà rốt cục đang nói cái gì không? Đây chính là vấn đề mà Phật Đà trả lời. 

Tu Bồ Đề đã nói: “Có được phúc rất nhiều.” Nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tu Bồ Đề rằng: *“Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói là có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không, Như Lai nói là có được phúc đức nhiều.”* Ở đây đang nói cái gì? Ý nghĩa gì? Ai có thể giải đáp, lần này có thưởng! Chà! Là Dzambhala Tài Thần đó! Lại còn có thêm hai đồng tiền cổ nữa. Chà, sợi dây này rất quý, tôi hà một hơi khí! Ai có thể trả lời được câu này sẽ tặng cho người đó sợi dây này. Vâng, mời đại sứ.

(Đại sứ: đảnh lễ Sư Tôn. Kinh Kim Cang là Phật Đà nói cho người phát tâm Đại thừa, người phát tâm Đại thừa muốn đạt đến A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nói cho người đạt chính đẳng chính giác cao nhất. Cho nên pháp của vũ trụ là không sinh không diệt, không đoạn không thường, là giống như hư không, thậm chí ngay cả tro bụi bạn cũng đều không thấy. Vậy bạn tu hành bạn muốn độ chúng sinh vô lượng, căn bản không có thời gian để nghĩ là tôi đang độ chúng sinh, căn bản không có thời gian để đi tính toán. Cũng giống như một vị hoàng đế kia nói ông ta đã xây bao nhiêu chùa, có phúc đức không? Đạt Ma nói ông không có phúc đức.

Vì thế phúc đức có thể tính đếm đo lường được thì không xem là nhiều, phúc đức thật sự, tôi xây chùa, tôi quyên tặng nhà cửa, tôi quyên tặng cái gì có thể tính đếm được, đó không nói là có nhiều phúc đức. Cho nên phúc đức tức là nói rằng bạn làm mà không nói, phúc đức vô lượng, cái đó mới gọi là nhiều, cái đó mới là phúc đức thật, cái này chính là chân nghĩa của kinh Kim Cang, chính là bố thí vô tướng, sống vô trụ, tu hành vô đức. Khi bạn làm theo cách như vậy, những công đức này không nhìn thấy, chính mình cũng không nói, thì sẽ nhiều như hư không, đó mới gọi là phúc đức. Cảm tạ Sư Tôn!)

Nói rất chính xác, tặng cho ông sợi dây này. Phật Thích Ca Mâu Ni nói câu này, bạn đừng dựa theo kinh văn để giải thích. Vừa rồi ngài đại sứ đã nói rồi, người có phúc đức chân chính không bao giờ đi nói về phúc đức, cái này chính là vô trụ. Bạn vô trụ mà đi bố thí, tôi không phải vì cái gì mới bố thí, không vì phúc đức mới đi bố thí, như thế thì phúc đức nhiều. Nếu bạn vì cái gì đó mới đi bố thí thì phúc đức ấy sẽ ít đi, thậm chí không có phúc đức. Cho nên cả đoạn câu này chính là vô trụ, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy mọi người vô trụ tướng bố thí.

Phẩm thứ 8 dùng so sánh, *“Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, công đức rất nhiều.”* Tu Bồ Đề nói không sai, công đức rất nhiều, nhưng vẫn còn thua người đọc tụng kinh Kim Cang, thọ trì kinh Kim Cang, đó là hai so sánh. Ý nghĩa của phẩm thứ 8 chính là hai người so sánh với nhau, chính là hai so sánh. Phẩm này nói đến vô trụ tướng bố thí thì là phúc đức nhiều, có trụ tướng bố thí thì *“Như Lai không nói có được phúc đức nhiều”*, bởi vì phúc đức ấy có hạn.

Vì thế, chúng ta bất kể làm việc gì, không phải vì phúc đức mới làm, chúng ta làm theo bổn phận tu hành của mình, cũng không mong cầu báo đáp gì, cái đó mới gọi là phúc đức nhiều. Bạn vì cái gì đó mới làm thì cái đó chính là *“Như Lai không nói có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không”,* căn bản là bạn không có phúc đức. Giống như Lương Vũ Đế thời Nam Triều, ông ấy đã xây dựng nhiều chùa như vậy, nuôi dưỡng nhiều người xuất gia như vậy, kết quả ông ấy hỏi Tổ sư Đạt Ma rằng: “Công đức của ta thế nào?” Tổ sư Đạt Ma nói một chút công đức cũng không có. Bạn vì công đức mà làm thì đó còn có công đức gì? Căn bản chính là không có công đức.

Cho nên chúng ta không vì cái gì mà làm, là vô trụ tướng bố thí, bạn không phải vì cái mà đi bố thí thì cái đó là phúc đức nhiều. Bạn vì cái gì mà đi làm thì đó là không có phúc đức. Cái này hết sức đơn giản, đoạn văn này vô cùng đơn giản, vì sao tiêu đề là Phần thứ 19: Pháp giới thông suốt không ngăn trở? Thế nào là Pháp giới thông suốt không ngăn trở? Nếu dựa theo ý nghĩa thì đề mục của phần này nên là Phần thứ 19: Phúc đức có hay không, vì sao tiêu đề lại là Pháp giới thông suốt không ngăn trở? Pháp giới thông suốt không ngăn trở và phúc đức có hay không có liên quan gì? Đương nhiên là có liên quan rồi!

Nếu dựa theo Pháp giới thông suốt không ngăn trở mà nói thì làm gì có phúc đức gì. Toàn bộ pháp giới, chúng ta nói gom về một cái cho tiện lợi là được rồi, mặt trăng, trái đất, còn có chín hành tinh trong hệ mặt trời, tinh cầu nào có phúc đức? Tôi hỏi bạn, là sao Hải Vương à? Sao Diêm Vương à? Sao Hỏa à? Mặt trăng à? Trái đất à? Trái đất có công đức gì? Trái đất chẳng qua cũng chỉ là một hành tinh trong số chín hành tinh thôi. Pháp giới thông suốt không ngăn trở, chúng ta nói về hệ mặt trời là được rồi, không cần phải nói về toàn bộ pháp giới đều tương thông, đều là như vậy. Bạn biết có bao nhiêu pháp giới không? Nghe nói có một trăm hệ mặt trời.

Hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một hệ mặt trời trong số đó, ngoài ra còn có bao giới hạn, bạn không vượt qua được, thế giới bên ngoài thái dương hệ này bạn căn bản là không vượt qua được. Đi tới nơi đó chính là điểm đầu cùng, bạn không vào được, bởi vì đó là có lớp khí quyển lớn, dày hơn cả lớp khí quyển bao quanh trái đất, lại còn chìm xuống, không có thứ gì có thể xuyên qua được. Cả hệ mặt trời bạn đã không có phúc đức gì rồi, một hạt cát nhỏ bé như bạn xem là phúc đức gì chứ?

Chúng ta biết rằng trên mặt trăng đến một con người cũng không có, người ta cũng chưa từng phát hiện ra có sinh vật trên mặt trăng. Tôi hỏi bạn, trên mặt trăng có phúc đức gì? Bạn nói cho tôi nghe xem, trên mặt trăng có phúc đức gì? Lại quay lại nói, trên trái đất có phúc đức gì? Bạn nhìn xem Nga và Ukraine đang đánh nhau, đó chẳng qua là hai con dòi ở trong hố phân, chúng đang ở đó đánh nhau thôi, nhìn từ trên vũ trụ thì căn bản là không có việc này. Cho nên nếu bạn có nhãn quang rộng lớn, bạn biết Phật pháp, Phật pháp thật sự là quảng đại vô biên, chúng ta thường nói Phật pháp vô biên, không có biên giới. Phật pháp vô biên chính là pháp giới thông suốt không ngăn trở. 

Lúc nhỏ tôi có xem kiến đỏ và kiến đen, hai bên kiến đánh nhau. Khi còn nhỏ, tôi sống ở kí túc xá của Công ty Điện Lực Đài Loan ở ngã tư đường Lâm Sâm ở Cao Hùng (khu phố thị Đại Cảng). Khi ấy tôi thường xuyên nhìn thấy kiến bò tới bò lui. Bạn làm rơi ra một viên đường, rất nhiều kiến lập tức bu tới, ở Đài Loan cũng có hiện tượng này, bạn làm rơi một viên đường là sẽ có kiến bu tới. Cho nên ở trong sân nhà tôi, kiến đỏ và kiến đen hai bên đánh nhau, đánh rất kịch liệt, thật sự là máu chảy thành sông, những xác chết, những con kiến chết đầy rẫy.

Hai bên đánh nhau, kiến đỏ và kiến đen cắn lẫn nhau, chà! Hai bên kiến đánh nhau. Khi ấy tôi là trẻ con rất nghịch ngợm, muốn kết thúc cuộc chiến của chúng, tôi lấy mấy tờ giấy để ở đó, sau đó tôi châm lửa ở bên này, châm lửa ở bên kia, chà! Toàn bộ kiến đều chết sạch, hại tôi bây giờ siêu độ mệt nghỉ. Khi xưa tôi không hiểu, nhìn thấy kiến bò bò thế này… chà! Kiến từ bên kia bò tới, kiến từ bên này bò qua, bên cạnh bức tường tôi đặt một ít giấy, sau đó đốt bên này, đốt bên kia, cứ thế đốt lửa, chà! Xác chết đầy đồng.

Các bạn có biết chuyện này không? Ai lúc nhỏ từng dùng giấy đốt kiến giơ tay? Cũng không ít người từng giết kiến nhỉ! Thật đó, khi ấy tôi còn là trẻ con rất nghịch ngợm, nhìn thấy kiến bò theo bức tường bao, liền dùng giấy đốt bên này đốt bên kia, để cho chúng không có đường chạy thoát, sau đó chúng chết thành một đống. (Hội trường có người nói: Còn có phương pháp khác.) Bạn xịt thuốc DDT à? (Hội trường có người nói: dùng nước sôi.) Bạn dùng nước sôi để dội vào tổ kiến à? Chà, cái này càng dã man hơn.

Tôi hỏi mọi người, có liên hệ gì với trời đất thần linh chứ? Thật sự là những sinh mạng rất nhỏ mà! Từ sinh mạng của kiến, bạn lại nhìn xem sinh mạng của con người, kì thực sinh mạng của con người cũng là những sinh mạng rất nhỏ bé thôi! Ngày nay mạng người cũng chẳng đáng tiền gì, bạn xem chiến tranh kia xảy ra, rất tàn ác. Chúng ta đều cảm thấy, ôi chao! Thật sự không muốn có chiến tranh như vậy, những người chết đều là đồng loại, đồng loại đều là loài người hà tất phải tương tàn, tôi có cách nghĩ như vậy. Nhưng mà con người, đôi khi cũng tự mình gây tội lỗi, làm cái gì mà bom hạt nhân, làm cái gì mà vũ khí hóa học, làm những vũ khí hạt nhân này, bạn tự mình chịu diệt vong, đó là tự tạo ác nghiệt đó! Tự gây tội lỗi, không thể sống được!

Bạn xem Covid-19 đã làm cho toàn thể nhân loại khốn đốn lắm rồi! Học sinh không còn giống với học sinh, người đi làm không còn giống như đi làm, còn như người hoằng pháp chúng ta đều không đi ra ngoài được, trước đây đều đi đến các nước trên thế giới hoằng pháp, bạn xem bây giờ nước nào phong tỏa đã phong tỏa, muốn đi ra ngoài cũng khó! Bởi vì Covid-19 mà mọi thứ đã đóng cửa hai năm rồi, đóng đến cuối cùng thì học sinh bây giờ thật sự phải nói một câu là: trơ ra như phỗng. Những người đi làm thì đóng cửa làm việc trong nhà mình, giống như Microsoft vẫn chưa hoàn toàn đến công ty làm việc, có người vẫn ở nhà làm việc, hai năm rồi không có gặp mặt đồng nghiệp, tôi thấy tinh thần người ta đều sắp suy sụp rồi. Con người không thể thăm hỏi lẫn nhau, sự héo mòn tinh thần ấy thật sự là rất tàn nhẫn.

Cho nên bạn xem, tiêu đề này chính là Pháp giới thông suốt không ngăn trở, Phật pháp vô biên, pháp giới thông suốt rộng lớn vô biên, đều là đạo lí này. Vì thế chúng ta bây giờ hiểu được cái gì? Tâm lượng đừng nhỏ hẹp như vậy! Tâm lượng rộng lớn một chút, không có việc gì là không thể linh hoạt châm chước, không có việc gì là không thể khoan dung. Tâm lượng của bạn nhỏ như con kiến, nhất định muốn đánh nhau sao? Tâm lượng phải mở rộng, đừng có con mắt bé tin hin như mắt đậu xanh. Con mắt Sư Tôn vốn dĩ rất to, bây giờ già rồi thì da mắt trùng xuống, da mắt trùng xuống thành một đường, lại càng giống Phật Bồ Tát. Rất ít Phật Bồ Tát có con mắt mở ra rất to, đều là mắt he hé nhìn xuống như thế này.

Tôi cũng không phải là mắt đậu xanh, mắt của tôi rất to. Mắt của con người đừng có nhỏ giống như hạt đậu xanh, nhãn giới nhỏ như vậy, pháp giới vô cùng tận, Pháp giới thông suốt không ngăn trở, Phật pháp quảng đại vô biên, rất rộng lớn. Tuyệt đối đừng học loài kiến, tuyệt đối đừng học loài rùa, hai con mắt của loài rùa chỉ nhìn thấy phía trước mình. Tâm lượng này, mọi người phải học khoan dung, Phật pháp chính là khoan dung, là quảng đại vô biên, tâm lượng quảng đại vô biên đều có thể bao dung. Chính vì con người không thể khoan dung nên giữa nước này với nước kia mới có chiến tranh, không thể khoan dung nên mới có cách mạng gia đình, không thể khoan dung nên giữa người với người mới có thù hận, mới có oán thù.

Điều Sư Tôn học tập là như vậy, đều đối tốt với mỗi con người, bao gồm cả người rất xấu, ta vẫn phải đối tốt với họ. Cho nên Sư Tôn từng ở Đài Loan Lôi Tạng Tự nói một câu là: “Lư Sư Tôn tuyệt đối sẽ không đi kiện người ta.” Khi ấy Thượng sư Liên Cực ở bên cạnh, tôi đi xuống pháp tọa, ông ấy liền nói với tôi: ”Thầy sai rồi! Người ta sẽ kiện thầy, thầy không kiện người ta thì người ta sẽ kiện thầy.” Vậy thì coi như tôi xui xẻo, không sao cả, để cho người ta kiện đi! Tôi nói với bạn nhé, kiện người khác sẽ khiến người khác đau khổ. Bạn kiện người đó, người đó nhất định sẽ rất đau khổ, họ phải nghĩ cách giải quyết vụ kiện này, họ chắc chắn sẽ đau khổ.

Cho nên bản thân tôi cũng sám hối rồi! Trước kia tôi viết văn cũng từng phê bình người ta, khi tôi phê bình người ta, người ta chắc chắn rất đau khổ. Vì thế sau này tôi không còn giễu Quỷ Bà “đồ rê mi” nữa, tôi không cần phải mỗi năm đều chế giễu bà ấy “đồ rê mi” nữa, đâu cần chứ? Tôi đã viết năm cuốn sách phải không? Có sai không? Thật sự chẳng có cách nào phân biệt. Còn nữa, trước đây tôi từng viết “Con mắt kim cang phẫn nộ”, tôi đã phê bình rất nhiều người, cũng phê bình cả Lâm Vân, cũng phê bình cả Tinh Vân của Phật Quang Sơn, không nên thế, không nên thế. Cho nên khi muốn phê bình phải ghi nhớ không thể khiến đối phương đau khổ, đừng làm cho người ta đau khổ. 

Ở trên pháp tọa tôi nói tôi tuyệt đối không kiện người ta, bởi vì bị kiện thật sự rất đau khổ. Vì thế tôi không kiện người ta, đây chính là điều tôi nói khi ngồi trên pháp tọa ở Đài Loan Lôi Tạng Tự. Tôi bất kể mình phải chịu ấm ức thế nào cũng không thể đi kiện người khác. Giống như điều mà Jesus nói đó, Guru Jesus của tôi cũng nói như vậy, “phải yêu kẻ thù của bạn”, đó là Phật pháp, điều Jesus nói là Phật pháp, yêu kẻ thù của bạn cũng là Phật pháp, tôi giảng về Pháp giới thông suốt không ngăn trở một cách đơn giản như vậy.

Có người hỏi thi nhân Ấn Độ Tagore ba câu hỏi: “Cái gì dễ nhất? Cái gì khó nhất? Cái gì vĩ đại nhất?” Tagore đáp: “Chỉ trích người khác là dễ nhất, nhận thức chính mình là khó nhất, tình yêu không mong cầu được đáp lại là vĩ đại nhất.” Bạn xem thi nhân Tagore nói mấy câu này chính là điều mà hôm nay Sư Tôn giảng về Pháp giới thông suốt không ngăn trở. Phê bình người khác, chỉ trích người khác là việc dễ nhất, nhận thức chính mình, là suy nghĩ trong đầu bạn đó, bạn có hiểu được chính mình không? Cái này là khó nhất. Tình yêu không mong cầu báo đáp là vĩ đại nhất, chính là điều vô sở trụ bố thí mà kinh Kim Cang nói đến hôm nay. Tôi không vì điều gì cả mà đi bố thí, bố thí mà không bám trụ vào việc bố thí. Câu trả lời của Tagore. Trước kia tôi viết thơ mới, thơ mới của Tagore, ông ấy có tập thơ của ông ấy, Tagore thật sự rất vĩ đại. Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 12/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu A Di Đà Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 65.)*

### 66. Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng

*(Bài giảng 66)* Sắc, tướng

Hôm nay chúng ta giảng Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng. Đoạn này cũng rất ngắn, tôi đọc toàn bộ đoạn này:

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?"  
"Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ."*

Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng, cũng tức là bạn nói về Phật thì không thể nói sắc của ngài, cũng không thể nói tướng của ngài, bạn phải thấy được Như Lai không phải nhờ nhìn tướng của ngài, cũng không phải nhờ nhìn sắc của ngài. Sắc này kì thực là sẽ biến hóa; tướng, chúng ta biết rằng Như Lai có 32 tướng, bản thân Phật có 32 tướng, 80 vẻ đẹp. Nhưng trong kinh Kim Cang nói, mặc dù Như Lai có đầy đủ mọi tướng, nhưng không thể dựa vào tướng để thấy Như Lai, cũng không thể dựa vào sắc để thấy Như Lai. Vậy cái gì là sắc? Sắc nói đến ở đây không phải là sắc trong háo sắc mà chúng ta nói, mà là nói về sự biến hóa của Như Lai.

Tôi lấy một ví dụ, giống như Tôn Ngộ Không có 72 phép biến hóa, Tôn Ngộ Không cùng với Nhị Lang Thần của Đô Giang Yển ở Thành Đô, Tứ Xuyên, miếu Nhị Lang Thần có phải ở Thành Đô, Tứ Xuyên không? Nhị Lang Thần là cháu của Ngọc Hoàng Đại Đế, tên là Dương Tiễn. Nhị Lang Thần có 73 phép biến hóa, Tôn Ngộ Không có 72 phép. Tôi nhớ tôi đã từng đọc là khi Nhị Lang Thần đuổi theo Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không liền biến thành một ngôi miếu, biến thành một tòa Lôi Tạng Tự, bên cạnh có một cột cờ, bởi vì cái đuôi của hắn chưa biến mất được, chính là cái cột cờ. Nhị Lang Thần nhìn quanh, Tôn Ngộ Không đã chạy đi đâu rồi? Nhìn thấy cái cột cờ, đây chắc chắn là cái đuôi của hắn rồi, Nhị Lang Thần nhận ra đây là Tôn Ngộ Không biến ra. Tôn Ngộ Không có biến hóa thế nào thì cái đuôi của hắn cũng vẫn lộ ra, cho nên trong khi Tôn Ngộ Không và Nhị Lang Thần đấu pháp, bởi vì Tôn Ngộ Không có 72 phép biến hóa, Nhị Lang Thần có 73 phép biến hóa, cho nên Tôn Ngộ Không luôn thất bại.

Sắc ở đây chính là nói về biến hóa, bạn không thể thấy một vị đang bay trong không trung, bạn liền nói đó là ai đang bay, cho rằng người đó chính là Phật. Người đang bay trong không trung chính là Phật, không thể cho rằng như vậy, bay trong không trung còn có chim mà, lẽ nào chim là Phật sao? Lẽ nào máy bay là Phật sao? Đều không phải, cái này chính là sắc. Mấy hôm trước tôi mới vừa bay trong không trung, ở trong không trung lượn đi lượn lại quay vòng như thế này, tôi có thể phi hành, muốn đến nơi nào là có thể bay đến nơi đó. Vậy bạn không thể nói rằng: “Ngài có thể bay trong không trung, vậy ngài chính là Phật!” Không phải. Cho nên không thể dựa vào sắc thân để mà thấy. Hoặc bạn có thể ẩn thân, bạn có thể biến hóa, giống như Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không có thể biến thành một ngôi chùa, có một cột cờ, bạn liền nói: “Chà! Tôn Ngộ Không rất lợi hại, chắc chắn là Phật!” Đây là biến hóa, là nói về sắc, chính là nói về biến hóa.

Cái gọi là tướng, Như Lai đương nhiên có rất nhiều tướng mạo, ví dụ như hai tai rủ xuống vai, mọi người đều làm được, vai co lên thế này thế là rủ xuống vai rồi, hai tai liền rủ xuống vai. Con mắt, mắt của Phật đều là mắt khép hờ. Chẳng phải chúng ta nói là thèm khát sao? Mắt khép hờ thật ra không phải là con mắt thèm khát, Kim Cang tức là con mắt phẫn nộ, Kim Cang tức là mở to con mắt, bạn không thể nói người nào mở to con mắt là Kim Cang Thần, không thể nói như vậy. Bạn không thể nói mắt khép hờ chính là thèm khát, con mắt của Phật là con mắt hiền từ, đôi lông mày rất hiền từ thiện lành, con mắt rất hiền hòa, tướng mạo của ngài hết sức viên mãn, trên đỉnh đầu có nhục kế rất trang nghiêm, thân tướng của mỗi vị Phật đều vô cùng viên mãn.

Còn có cánh tay dài quá đầu gối, cánh tay của ngài vươn ra dài quá đầu gối. 32 tướng của Phật có cánh tay dài quá đầu gối, cánh tay của ai có thể vượt quá đầu gối? Bạn ngồi thì đương nhiên có thể tay dài quá đầu gối rồi, phải đứng lên mà cánh tay vẫn dài quá đầu gối cơ. Cho nên bạn xem, 32 tướng tốt của Phật là tuyệt đỉnh. Hơn nữa lưỡi của ngài thè ra có thể che kín cả khuôn mặt, bạn đọc trong kinh A Di Đà nói Phật vươn ra tướng lưỡi dài rộng, tức là lưỡi vươn ra cả một mảng lớn, rất dài, hơn nữa còn có thể che kín khuôn mặt của mình, đó cũng là một trong 32 tướng.

Phật có 32 tướng, bạn đừng nhìn thấy có 32 tướng, nhìn thấy người có thân tướng viên mãn là bảo đó là Phật. Không thể dựa vào thấy 32 tướng, bởi vì Chuyển Luân Thánh Vương cũng có tướng như vậy, sau này kinh Kim Cang cũng sẽ nhắc đến, Chuyển Luân Thánh Vương cũng có 32 tướng. Cho nên ở đây, phần lìa sắc lìa tướng chủ yếu là nói bạn phải rời xa đủ loại biến hóa, người có đủ loại biến hóa không nhất định là Phật. Bạn phải rời xa tướng, có 32 tướng, 80 vẻ đẹp cũng chưa chắc là Phật.

Bạn biết Phật có 32 tướng, Đề Bà Đạt Đa có 30 tướng, rất gần với Phật Thích Ca Mâu Ni, cho nên tướng mạo của Đề Bà Đạt Đa vô cùng trang nghiêm. Nhưng ở trong tăng đoàn, ông ta nói Phật Thích Ca Mâu Ni đã già rồi, nên tới phiên ông ta làm lãnh đạo tăng đoàn rồi, tức là muốn cưỡng bức Phật Thích Ca Mâu Ni thoái vị, dùng ngôn ngữ hiện đại thì chính là cưỡng bức, đẩy Phật Thích Ca Mâu Ni khỏi ngôi vị: “Ông nghỉ hưu đi, bây giờ để tôi làm lãnh đạo tăng đoàn.” Đề Bà Đạt Đa chính là có ý như vậy, tăng đoàn lớn như thế, Phật Thích Ca Mâu Ni đã già rồi mà còn chưa chết, tuổi tác đã cao như thế rồi, thân thể cũng không khỏe mạnh, thế mà ông ta cũng chưa đi, cũng không nghỉ hưu, tiếp tục chiếm giữ vị trí này. Đề Bà Đạt Đa thật sự không chịu được nữa liền cưỡng bức, muốn Phật Thích Ca Mâu Ni phải thoái vị, ông ta muốn bản thân làm lãnh đạo tăng đoàn. Đề Bà Đạt Đa có 30 tướng, chỉ thiếu có 2 tướng mà thôi, cho nên không thể dùng tướng mạo để nói người đó chính là Phật, cũng không thể dùng biến hóa để nói đó là Phật.

Biến hóa, cái này Tân Đầu Lư rất lợi hại. Các chúng sinh nói rằng một số vị A La Hán đều có thần thông. Chúng sinh thì sao, họ trèo lên cây, ở nơi rất cao treo một gói đồ, sau đó nói với A La Hán rằng: “Các vị ai có năng lực bay lên lấy cái gói kia xuống thì gói đồ đó sẽ thuộc về người đó.” Tân Đầu Lư liền hiển hóa thần thông, nhẹ nhàng nhún một cái là bay lên, giống như chim bay lên chỗ cao nhất của cây, lấy cái gói đó xuống. Bởi vì Tân Đầu Lư hiển hiện thần thông này, Phật Thích Ca Mâu Ni liền quở mắng rằng: “Sau này ông sẽ ở lại thế giới Ta Bà, làm A La Hán trụ thế.” Chính vì thế mà Tân Đầu Lư đã trở thành A La Hán trụ thế. 

Cho nên rất nhiều Phật Bồ Tát đều có thần thông. Kì thực giống như chiếc chuông kim cang này ở đây, cầm lên thì rất nhẹ, nếu như đè chiếc chuông này xuống, tăng thêm một chút sức mạnh, rồi lại cầm lên thì đã khác rồi, nó đã bịt hút chặt vào mặt bàn rồi. Có thể di chuyển qua lại, nhưng trên thực tế nó đã bị hút xuống bàn rồi, thật sự bị hút rất chặt, bạn dùng nhiều sức hơn thì đương nhiên có thể nhấc nó lên, nhưng nhấc một cách nhẹ nhàng thì không nhấc lên được. Chỉ là như thế này thôi, đây là ma thuật, thật sự tôi chỉ đè nhẹ một chút, thêm vào một chút sức mạnh mà thôi, bên trong có một lực hút đã hút chặt nó xuống rồi.

Tôi từng biểu diễn qua trò này ở tại bàn ăn, hình như là ở nhà hàng Kiều Viên ở Đài Trung. Khi mọi người đi ăn, khi ấy món ăn còn chưa được đưa lên, tôi cầm bát lên rồi úp xuống, rồi liền đè lên nó một lúc, tôi kêu mọi người nhấc cái bát này lên. “Ấy!” Mọi người đều nói: “Sao cái bát này lại có lực hút?” Nó đã bị hút lên mặt bàn. Bình thường không như vậy, bình thường đặt bát như thế, nhấc lên là nhấc được ngay, tôi đè lên nó, thêm vào một chút linh lực, thật sự là chiếc bát đó đã có lực hút hút nó lại, không nhấc lên được. Cho nên bạn ngẫu nhiên lấy một chiếc đĩa đưa cho tôi, tôi chỉ cần gia trì cho chiếc đĩa này, các bạn dùng chiếc đĩa này thì nó sẽ chạy được, sẽ trở thành điệp tiên. <span className="note-blue">[Đĩa tiên dùng cho hình thức bói toán bằng chén đĩa.]</span>

Vì thế cái này không phải là ma thuật, cái này vốn dĩ chính là linh, vốn dĩ chính là khí. Cho nên lìa sắc lìa tướng, các bạn đừng vì tôi có thể làm như vậy mà các bạn liền cho rằng tôi là Phật, đây là biến hóa; các bạn đừng cho rằng người nào đó tướng mạo rất trang nghiêm mà liền cho rằng đó là Phật, phải rời tướng, đó gọi là lìa tướng. Ý nghĩa của đoạn kinh văn này là Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng. *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?" "Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ."*

Có biến hóa, không sai, có đầy đủ sắc thân, Phật đương nhiên có thần thông, nhưng người có thần thông không nhất định là Phật, nói với mọi người như vậy là mọi người hiểu rồi, không chắc đã là Phật, ở đây có thể giải thích “Như Lai nói có đầy đủ sắc thân tức không đầy đủ sắc thân”. Như Lai cũng có thể biến hóa, nhưng người biết biến hóa không nhất định chính là Phật, ý ở đây chính là như vậy. Tôi đã giải thích với mọi người ý này, không giống người khác giảng lắm. Phật có thần thông, nhưng người có thần thông không nhất định là Phật.

Ma có sức mạnh nhỏ, Phật có sức mạnh lớn, có sức mạnh lớn thì gọi là Thần, có sức mạnh nhỏ thì gọi là ma. Ma cũng có sức mạnh đó, sao ma lại không có sức mạnh được chứ? Có đó, họ cũng có thể biến hóa, tôi từng gặp rất nhiều ma, còn có Sư Mẫu cũng nhìn thấy rất nhiều ma, họ đều biết biến hóa. Họ có thể biến hóa thành xinh đẹp nhất để cho bạn thấy, cũng biết biến thành xấu xí cho bạn nhìn thấy, biến thành tóc tai rũ rượi, bảy lỗ chảy máu cho bạn nhìn, dọa bạn sợ chạy tóe khói. Đợi một lát sau ngoảnh đầu lại, chà! Họ lại biến thành một cô gái vô cùng yêu kiều cho bạn nhìn. Lúc thì họ là cô gái duyên dáng yêu kiều, lúc thì họ tóc tai rũ rượi, bảy lỗ chảy máu, lưỡi thè ra rất dài.

Không thể vì họ có thể biến hóa mà cho rằng họ chính là Phật, đây là lìa sắc. Không thể vì tướng mạo của họ rất trang nghiêm mà cho rằng họ là Phật. Ma cũng có thể biến ra vô cùng trang nghiêm, giống như Đề Bà Đạt Đa cũng có được 30 tướng, bạn nhìn không ra. Cho nên ở đây nói: *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?" "Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ."* Như Lai có đầy đủ 32 tướng, không sai, nhưng người có đầy đủ 32 tướng không nhất định chính là Như Lai. Cho nên không thể dựa vào tướng mà thấy, không thể dựa vào sắc mà thấy. Phần thứ 20: Lìa sắc lìa tướng mà Phật nói, cho dù ngài biết biến hóa, bạn cũng không nhất định phải tin, vậy ngài xuất hiện 32 tướng, bạn cũng không thể cho rằng đây chính là Như Lai, vậy phải thấy Như Lai như thế nào? Trong Mật giáo chúng ta nói, cho dù hiển hiện Phật tính của bạn, chính bạn đã hiển hiện Phật tính của mình rồi, lúc này cái bạn nhìn thấy chính là Phật rồi. Phật tính, chúng ta nói là minh tâm kiến tính, bạn đã nhìn thấy Phật tính chân chính, cái đó mới là chân thực kiến chân chính. Nếu không thấy được Phật tính chân thực, mọi sắc, tướng đều không phải, chỉ có chính bạn hiển phát được Phật tính quang minh của chính mình thì đó mới gọi là thấy.

Muốn nhìn thấy Phật tính phải tiêu trừ sạch nghiệp chướng của bạn, tiêu trừ sạch nghiệp thân khẩu ý của bạn, tức là trong khi tu pháp Mật giáo, bạn thanh trừ nghiệp thân khẩu ý của mình, trở thành thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh, đến khi hoàn toàn thanh tịnh, bạn nhận thức được tính Không rồi, bạn tiến vào tính Không, lúc này mới có thể gọi là kiến tính. Vâng, hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 13/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Bất Không Quyến Sách Quan Âm tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 66.)*

### 67. Phần thứ 21: Không nói điều đã nói

*(Bài giảng 67)* Bất khả thuyết

Hôm nay chúng ta giảng kinh Kim Cang. Đoạn này rất ngắn, giảng một lúc là xong rồi. 

Phần thứ 21: Không nói điều đã nói. Tiêu đề này nói rất hay. Pháp không thể nói, tức là không nói. Cái gì là điều đã nói? Điều đã nói chính là không phải pháp. Tiêu đề này, Phần thứ 21: Không nói điều đã nói, thế nào là không nói? Chính là pháp không thể nói. Thế nào là điều đã nói đây? Điều đã nói chính là không phải pháp. Tiêu đề này giải thích điều đã nói đều không phải là pháp, pháp là không thể nói, điều đã nói đều không phải là pháp. Tiêu đề này viết như vậy, được rồi, chúng ta đọc nội dung.

*"Tu Bồ Đề! Ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói: "Ta đang thuyết pháp ở mức độ nào đó." Đừng nghĩ như thế, là vì sao? Nếu có người nói Như Lai có thuyết pháp ở mức độ nào đó thì tức là phỉ báng Phật, không thể hiểu được điều ta nói. Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó, không có pháp nào có thể thuyết, thì gọi là thuyết pháp.”*

Người thuyết pháp không có pháp nào có thể nói, vậy vì sao bạn vẫn phải nói? Đoạn này cũng rất quan trọng, có thể nói rằng ở đây chính là nói yếu nghĩa quan trọng số một, ở trong đây nói về một yếu nghĩa rất quan trọng. *"Tu Bồ Đề! Ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói: "Ta đang thuyết pháp ở mức độ nào đó."* Bạn không được nghĩ như vậy, bạn không được nghĩ Như Lai này có thuyết pháp. 

“*Đừng nghĩ như thế, là vì sao?”* Vì sao vậy? Nếu có người nói Như Lai có thuyết pháp tức là phỉ báng Phật đó! “*Không thể hiểu được điều ta nói.”* Người này không thể hiểu được điều ta đã nói. Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp này là không có pháp nào có thể nói, bởi vì không có pháp nào có thể nói mới gọi là thuyết pháp. Đoạn này, mọi người nghe như vậy có rõ không? Đọc thì thấy rất rõ ràng, ngẫm nghĩ thì hình như chỉ hiểu lơ tơ mơ, lơ tơ mơ là tiếng gì nhỉ? Tiếng Quảng Đông. 

Thật sự, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh là giảng như vậy, bạn nghe xong thì không hiểu gì cả, cái này có gì để mà nói? Nói thẳng tưng là không cần giảng là xong, không giảng thì còn rõ ràng một chút, giảng rồi lại khiến cho mọi người không hiểu gì cả, nhưng điều Phật Đà nói có đạo lí ở trong đó. Cái nói đến ở đây là “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Nếu lấy điều này ra để giảng thì sẽ giảng được thông, nếu không lấy điều này ra để giảng thì những gì Phật Đà đã nói toàn bộ đều không thông.

Phật Đà nói ngài không có thuyết pháp, bạn không thể nói Phật Đà có thuyết pháp, vì sao vậy? Nếu có người nói “Như Lai có thuyết pháp”, tức là phỉ báng Phật, *“không thể hiểu được điều ta nói”,* người đó không có cách nào hiểu được ý nghĩa chân chính của ta nằm ở đâu. “*Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó, không có pháp nào có thể thuyết.”* Không có pháp nào có thể thuyết này mới gọi là thuyết pháp. Tôi nói lại lần thứ hai, lần thứ ba, các bạn vẫn lơ tơ mơ đúng không? Kì thực tôi cũng lơ tơ mơ, rất khó nói được rõ ràng, giảng thế nào đây, điều này không thể giảng.

Tôi thường dùng mặt trăng để làm so sánh. Trên mặt trăng không có con người, vậy có ai thuyết pháp? Không có. Có ai nghe pháp? Cũng không có. Có pháp không? Cũng không có! Cái gì cũng không có, không có người, không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp, cũng không có pháp có thể thuyết, đó là mặt trăng đó! Nhưng chúng ta bây giờ đang ở trên trái đất, trên trái đất có người, khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ cũng là ở trên trái đất, núi Linh Thứu, cũng là núi đó! Tại pháp hội Linh Sơn ngài không hề thuyết pháp, là ý gì? Cái nói đến ở đây chính là Phật tính đó!

Phật tính chân chính là không có cách nào giảng được, nói ra đều là bã mía, tức là lơ tơ mơ, cái mà nói ra, cái mà có thể nói ra đều không phải là pháp, cái mà có thể nói ra thì không phải là Phật tính, Phật tính là không giảng được, Phật tính là bất khả thuyết. Vậy cái mà bạn đang giảng bây giờ đương nhiên không phải là pháp rồi, đều không phải là Phật tính mà! Cho nên Phật Đà nói, nếu bạn nói Phật có thuyết pháp thì đó là đang phỉ báng Phật.

Người này căn bản là không hiểu, bởi vì Phật tính là bất khả thuyết. Ở đây có nói “*thuyết pháp đó, không có pháp nào có thể thuyết”,* Phật tính là thật sự không thể giảng, bởi vì là Phật tính không thể giảng, lúc này mới gọi là thuyết pháp. Bởi vì bạn không thể giảng, không thể thuyết, cho nên mới là thuyết pháp, nói đến thuyết pháp này là bất khả thuyết, đó mới là thuyết pháp, như vậy có hiểu hơn một chút không?

Việc thuyết pháp đó, phải nói là người thuyết pháp không có pháp nào có thể thuyết, bởi vì muốn nói về Phật tính là bất khả thuyết, Phật tính là không thể thuyết. Bởi vì nói rằng Phật tính là bất khả thuyết thì đây mới là thuyết pháp. Như thế đoạn sau mới nói một câu là: *“Không thể hiểu được điều ta nói.”* Bởi vì Phật tính tuyệt đối là bất khả thuyết. Tôi hỏi bạn: “Phật tính là cái gì?” Không thứ gì có thể nói, bởi vì tôi giảng rằng không thứ gì có thể nói cho nên mới là thuyết pháp, đây là điều Phật Đà nói.

Phật Đà nói kinh này, càng nói người ta càng hồ đồ. Nếu như ai không hiểu, người không thể minh tâm kiến tính đọc bản kinh này, thật sự là đọc cũng như không! Tụng bản kinh này cũng là uổng công! Bạn phải biết rằng ý chủ yếu của Như Lai là cái gì. Đây chính là đệ nhất nghĩa, phải hiểu được đệ nhất nghĩa này. Tiếp tục từ đây trở đi tương đối dễ giảng, nhưng nếu bạn không hiểu thì cũng vẫn là không dễ giảng.

*Khi ấy, Huệ Mệnh Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Sẽ lại có chúng sinh ở đời vị lai nghe pháp này mà sinh tín tâm sao?" Phật nói: "Tu Bồ Đề! Đó chẳng phải chúng sinh, chẳng phải không phải chúng sinh. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Chúng sinh đó, Như Lai nói không phải chúng sinh, thì gọi là chúng sinh."*

“*Khi ấy, Huệ Mệnh Tu Bồ Đề bạch Phật rằng”,* vào lúc ấy, Tu Bồ Đề nói với Phật Đà rằng: *"Thế Tôn! Sẽ lại có chúng sinh ở đời vị lai nghe pháp này mà sinh tín tâm sao?"* Ngài hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu có rất nhiều chúng sinh, vào đời tương lai nghe được pháp này, họ có sinh tín tâm không? Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tu Bồ Đề! *Đó chẳng phải chúng sinh, chẳng phải không phải chúng sinh. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Chúng sinh đó, Như Lai nói không phải chúng sinh, thì gọi là chúng sinh."*

Câu này như vậy, các bạn có hiểu không? Điều nói đến ở đây là gì? Tiếng Đài Loan sẽ nói là ông nói về cái con cóc khô gì đó! Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tu Bồ Đề, ông nghe rõ đây, họ không phải là chúng sinh đâu!” “Chẳng phải không phải chúng sinh”, không phải là chúng sinh, vì sao không phải là chúng sinh? “Tu Bồ Đề! Chúng sinh, chúng sinh đó, Như Lai nói không phải là chúng sinh đâu! Vì không phải là chúng sinh mới gọi là chúng sinh.”

Nói cái con cóc khô gì vậy, nói cái con khỉ gió gì vậy chứ? Nói rất hay mà, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tu Bồ Đề, họ không phải là chúng sinh, là Phật tính. Trong con mắt ta thấy mọi người đều là Phật tính, trong con mắt Phật Đà ta nhìn là Phật tính, không phải chúng sinh.” Vì sao *“chẳng phải không phải chúng sinh”* đây? “Tu Bồ Đề, ông hãy nghe kĩ, chúng sinh đó, Như Lai nói không phải chúng sinh, là Phật tính.” Nhưng mà chúng sinh chính là nói chúng sinh đó, là vì họ chưa minh tâm kiến tính, cho nên mới gọi chính họ là chúng sinh. Như vậy đã hiểu chưa?

Cái nói đến ở đây là Phật tính, Phật tính là không thể thuyết, cái mà có thể thuyết thì không phải là Phật tính, Phật tính là bất khả thuyết, cái mà được thuyết ra thì không phải là Phật tính. Trong con mắt của Phật Đà căn bản không có chúng sinh, chỉ có Phật tính, bởi vì chúng sinh đều có Phật tính. Cái Phật Đà nhìn thấy là Phật tính, không phải là chúng sinh, cho nên Phật Đà nói đó không phải chúng sinh, nhưng những người này tự cho rằng họ là chúng sinh, bởi vì họ không nhìn được Phật tính, vì thế mới cho rằng họ là chúng sinh. Đoạn này như vậy là mọi người hiểu rồi.

Vì sao nói là Huệ Mệnh Tu Bồ Đề? Tu Bồ Đề là Tu Bồ Đề, thêm hai chữ Huệ Mệnh làm cái gì? Là Phật Đà ca ngợi ông ấy. Huệ chính là tính, mệnh là thân thể, tính, tức là tính Không, mệnh tức là thân thể. Huệ Mệnh Tu Bồ Đề tức là nói rằng Tu Bồ Đề có thân thể lại có trí huệ, trí huệ này là trí huệ của Như Lai, không phải là trí huệ bình thường, là trí huệ của Như Lai, cho nên Phật nói, trí huệ của Như Lai thật sự là vĩ đại nhất. 

Tôi còn nhớ trong “Ngũ Đăng Hội Nguyên” có một chuyện, khi Phật Thích Ca Mâu Ni sắp tạ thế, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hạ giáng nói với Phật Thích Ca Mâu Ni: “Thỉnh Phật trụ thế, thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh tiếp tục lại chuyển pháp luân.” Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi ngược lại Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: “Ta có chuyển pháp luân sao?” Lúc này Văn Thù Bồ Tát nghe xong thì lập tức biết Phật đang nói cái gì, ngài không nói một câu nào liền rời đi, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát liền bỏ đi.

Một câu nói quan trọng nhất của Phật là: “Ta có thuyết pháp sao? Ta có chuyển pháp luân sao?” Ta có thuyết pháp sao? Phật không hề có thuyết pháp, bởi vì chúng sinh đều là Phật tính. Nhưng vì sao có chúng sinh? Bởi vì họ vẫn chưa hiểu Phật tính của chính mình, họ chưa minh tâm kiến tính, cho nên họ chính là chúng sinh. Nếu minh tâm kiến tính rồi, bạn hiểu Phật tính của mình rồi, bạn đã là Phật tính rồi, Phật còn cần thuyết pháp gì? Không cần thuyết pháp. Pháp đã thuyết cũng không phải là pháp, bởi vì pháp là chỉ Phật tính, Phật tính là không thể thuyết. Toàn bộ ý nghĩa của đoạn này nằm ở đây. 

Vì vậy các bạn đã hiểu rồi, chúng sinh là không có ý nghĩa gì. Sống trên thế giới này cũng chẳng có ý nghĩa. Bạn đã làm rất nhiều công đức, cũng là không có công đức, làm gì có công đức gì? Cho nên kiếm tiền cũng không có ý nghĩa gì cả, bạn kiếm tiền vì cái gì? Muốn mua biệt thự à, mua nhà cửa à, mua nhà cửa cũng chẳng có ý nghĩa gì, nhà là nhà, bạn là bạn, không có ý nghĩa. Muốn mua chiếc xe này à, mua xe cũng không có ý nghĩa, xe là xe, bạn là bạn. Muốn kết hôn sinh con à, vợ là vợ, con là con, bạn là bạn, không có ý nghĩa gì cả, làm gì có ý nghĩa gì?

Người ở thiên đàng, tiền ở ngân hàng, vợ nằm trong vòng tay người khác, anh em đang tranh nhau tài sản của bạn, có ý nghĩa gì chứ? Tạm thời, là bạn có thể dùng một lúc, hơi có một chút thú vị, tạm thời bạn có thể dùng được, sau này đều chẳng có gì nữa. Cho nên tình yêu, biến mẹ mày đi! Toàn bộ đều là huyễn, trên thế giới Ta Bà này toàn bộ đều là huyễn, nằm mơ đó, mộng huyễn mà thôi! Điều kinh Kim Cang nói tôi đã chỉ rõ rồi, thế giới Ta Bà này chẳng qua là mộng huyễn bào ảnh, sau này sẽ nói đến mộng huyễn bào ảnh, chẳng qua là mộng huyễn bào ảnh. Đương nhiên bạn thuyết pháp là không có ý nghĩa, bởi vì cái có ý nghĩa nhất vẫn là Phật tính của bạn, lậu tận thông, công đức thiên, công đức thiên chú ý đến Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn.

Mật giáo chúng ta có cái gọi là Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn. Theo lí mà nói Phật Đà nói bộ kinh này toàn là Thứ tự viên mãn, không có Thứ tự sinh khởi, nhưng Thứ tự sinh khởi của chúng ta có quan trọng không? Kì thực cũng quan trọng. Cái gọi là Trung quán chính là Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn kết hợp với nhau, vì sao? Bởi vì Thứ tự sinh khởi chính là Thứ tự viên mãn, Thứ tự viên mãn chính là Thứ tự sinh khởi. Để tôi nói rõ hơn một chút, chúng sinh chính là Phật, Phật chính là chúng sinh, bạn nói Không, tôi nói Có, Không và Có đều phải coi trọng.

Kinh Kim Cang là nói về cái Không, nhưng Không chính là Có, Có chính là Không. Thế giới vật chất chính là thế giới tinh thần, thế giới tinh thần chính là thế giới vật chất. Chính là điều mà Tâm Kinh nói đến “sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc”. Trong Tâm Kinh có sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc. Có chính là Không, Không cũng chính là Có, cái này chính là Trung quán.

Vì thế chúng ta học Mật giáo, Thứ tự sinh khởi cũng quan trọng, bởi vì bạn tu viên mãn Thứ tự sinh khởi rồi thì chính là Thứ tự viên mãn đó. Bạn không tu Thứ tự sinh khởi thì làm sao mà viên mãn được? Vậy trong viên mãn chính là từ Thứ tự sinh khởi mà tu xuất ra. Thứ tự sinh khởi chính là nhân, Thứ tự viên mãn chính là quả. Kinh Kim Cang là nói về quả nên mới nói như vậy, cho nên chúng ta bình thường không chỉ mỗi coi trọng những gì đã nói trong kinh Kim Cang này.

Nếu bạn hoàn toàn chấp vào Không thì sẽ thế nào? Tốt thôi, vậy tôi không phải là chúng sinh, tôi là Phật tính, tôi có thể làm thế nào cũng đều là Phật tính đó, vậy thì không đúng rồi, như vậy thì bạn không có nhân quả rồi. Nếu như bạn quá mê vào Không sẽ biến thành “ngoan không”, nếu mà ngoan không thì sẽ không có nhân quả rồi. Như vậy đã hiểu chưa? Mật giáo chúng ta gần như đều thuộc về Trung quán, Có cũng coi trọng, Không cũng coi trọng, cho nên không thể nói vì bạn hoàn toàn Không rồi cho nên có thể làm loạn.

Bởi vì chúng sinh quá coi trọng cái Có cho nên mới giảng cho bạn về cái Không. Bạn thật sự tiến vào cảnh giới của Không, thật sự hoàn toàn trống rỗng, vậy thì sẽ biến thành ngoan không rồi, hoàn toàn chấp vào Không, vậy cũng là bám chấp. Lúc ấy gọi là ngoan không, tức là không có nhân quả, bạn cho rằng không có nhân quả, bạn sẽ làm loạn lung tung cả. Đây là đạo lí mà Phật nói.

Hôm nay tôi giảng đoạn này, bất khả thuyết, vậy cái có thể thuyết thì chính là không nói điều đã nói, cái đã nói chính là không phải pháp, pháp là không thể thuyết, cái đã nói chính là không phải pháp, tiêu đề này chính là như vậy. Nếu tôi không giảng, không ai biết ý nghĩa của đoạn này là gì, đoạn này cũng rất khó giảng, thật may Sư Tôn có thể giảng. Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

*(Ngày 19/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 67.)*

### 68. Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc

*(Bài giảng 68)* Số 0 là lợi hại nhất

Hôm nay chúng ta giảng kinh Kim Cang là giảng đoạn này. Phẩm này là phẩm thứ 22, rất ngắn. 

Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc.

*Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là không phải có được sao?"  
Phật nói:  
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Ta đối với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thậm chí không có một chút pháp nào có thể có được, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."*

Phẩm này chỉ có mấy câu ngắn này thôi. Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc. Bạn xem, kinh Kim Cang Phật Thích Ca Mâu Ni giảng thành như thế này, có mệt mỏi không chứ? Mệt mỏi chết mất thôi! Tôi thẳng thừng không giảng cho xong. Phật Thích Ca giảng kinh mà giảng như thế này: Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc, cũng tức là nói rằng không pháp nào có thể đắc, không có pháp có thể có được.

Kì lạ không, vậy chúng ta học pháp gì? Không học là xong! Hôm nay giảng đến đây thôi. Vì đã không pháp nào có thể đắc, tôi thuyết pháp gì đây? Thuyết cũng như không thuyết, có nói cũng như không nói pháp, có thuyết pháp cũng không thể đắc, vậy thì tôi còn thuyết pháp gì đây? Mọi người trở về nhà, những người đầu trọc chúng tôi trở về nhà, nam thì về nhà kết hôn, nữ thì về nhà lấy chồng, Chân Phật Tông chúng ta, True Buddha School thế là giải tán.

Sau khi đọc kinh Kim Cang, không pháp nào có thể đắc, thật sự giải tán cho xong! Không pháp nào có thể đắc, còn giảng nhiều pháp như vậy, còn học nhiều Mật pháp như vậy để làm gì? Đây là Tu Bồ Đề hỏi Phật: “Thế Tôn, Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề…” Trong kinh Kim Cang thường xuyên nhắc đến câu nói này, kì thực câu nói này căn bản chính là Phật tính. Phật đắc A nậu a la tam miệu tam bồ đề vẫn là không đắc được cái gì cả, bạn đắc được Phật tính vẫn là không đắc được gì cả. 

Đương nhiên là vô sở đắc rồi, tôi cũng nói được. Vốn dĩ Phật tính chính là của bạn rồi, vì sao phải đi đắc nó? Đắc là lấy một thứ từ bên ngoài vào mới gọi là đắc. Phật tính là thứ vốn có của bạn, bạn còn phải đắc cái gì? Phật tính vốn dĩ chính là của bạn, còn có cái gì để mà đắc đây? Vốn dĩ bạn chính là Phật tính, Phật tính chính là bạn đó! Bạn còn muốn cầu pháp gì, cầu đắc cái gì? Đương nhiên là không đắc được gì cả. Tôi đã giải thích rồi đó!

Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Đúng thế, đúng thế, Tu Bồ Đề. Ta đối với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, Phật tính của ta, thậm chí không có một chút pháp nào có thể có được, thì gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” “Phật tính của ta, một chút pháp đều không có được, bởi vì không có được mới gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” Vốn dĩ chính là của ta, ta còn muốn đắc cái gì? Giảng xong rồi, chúng ta kể chuyện cười thôi.

Đây hình như là chuyện cười về Vi Tiểu Bảo, có hình ảnh. Vi Tiểu Bảo thường cảm thấy võ công mà có con số mới là lợi hại nhất. Anh ta nói: “Ví dụ như Cửu âm bạch cốt trảo là của Mai Siêu Phong.” Cửu âm bạch cốt trảo là của Mai Siêu Phong, bạn xem có một số 9 ở đây. Võ công của Mai Siêu Phong là rất mạnh, trong cuốn tiểu thuyết nào của Kim Dung nhỉ? Anh Hùng Xạ Điêu. Lợi hại lợi hại, bái phục bái phục! Cửu âm bạch cốt trảo của Mai Siêu Phong. Còn nữa bạn xem đây, Hàng long thập bát chưởng cũng có con số, là bộ nào nhỉ? Thần Điêu Đại Hiệp à, cũng là Anh Hùng Xạ Điêu à, Thiên Long Bát Bộ cũng có. Tóm lại, Hàng long thập bát chưởng cũng rất lợi hại, là của tiểu thuyết Kim Dung. Chà! Lợi hại quá, Cửu âm bạch cốt trảo, Hàng long thập bát chưởng. Vi Tiểu Bảo nói: “Còn có một khóc, hai gào, ba thắt cổ của bà vợ ta nữa.” Bạn xem, con số này vẫn là lợi hại.

Tôi nói với bạn, lợi hại nhất là Phật Thích Ca Mâu Ni! Bạn xem đây cũng là con số đó: Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc, 22 cũng là con số, cũng là một phẩm. Một chiêu lợi hại nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni chính là… tôi nói để bạn biết, *zero*, số 0 chính là lợi hại nhất. Làm sao số 0 là lợi hại nhất chứ? Bởi vì 0 chính là khởi đầu của tất cả con số. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Không pháp nào có thể đắc, vô sở đắc.” Vô sở đắc là cái gì? *Zero*, số 0 là lợi hại nhất.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra con số lợi hại nhất là số 0, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là cái gì? Là số 0, là Phật tính, là tính Không. Không là cái gì? Hôm nay chúng ta giảng Không, mọi người biết Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Không, giảng cái Không này chính là số 0. Không là bao hàm tất cả, mọi con số đều nằm trong đó, số 0 là lợi hại nhất, còn có cái gì lợi hại hơn số 0 sao? Không có! Bởi vì số 0 bao hàm tất cả mọi con số, cho nên tất cả mọi con số bắt nguồn từ số 0.

Số 0 là gì? Chính là không pháp nào có thể đắc, ngay cả một chút cũng không dính, hoàn toàn thanh tịnh. Hoàn toàn thanh tịnh chính là *zero*, chính là số 0. Bạn có thể tu đến khi hoàn toàn thanh tịnh thì bạn thành Phật rồi, không còn một chút nghiệp nào nữa. Nghiệp, vào lần giảng kinh trước, chúng ta thường nhắc đến “tịnh phần”, thế nào gọi là tịnh phần? Tôi nói với bạn một cách rất đơn giản, tức là bạn đã thanh tịnh được mấy phần. 

Ví dụ như Bồ Tát thập địa, khi bạn mới bắt đầu thanh tịnh được một phần thì là Hoan hỉ địa. Tiếp theo thanh tịnh được hai phần, thanh tịnh ba phần, thanh tịnh bốn phần, thanh tịnh năm phần, thanh tịnh sáu phần, thanh tịnh bảy phần thì gọi là Viễn hành địa. Thanh tịnh được tám phần gọi là Bất động địa, thanh tịnh chín phần, thanh tịnh mười phần gọi là Pháp vân địa. Sau đó, trong Mật giáo nói rằng đến địa mười một chính là Ngũ luân, bao gồm đỉnh luân, đều mở ra. Đến địa mười hai, địa mười hai rưỡi, địa mười hai rưỡi chính là ngay cả nhục kế của Như Lai cũng đều mở ra, toàn bộ đều mở ra hết thì chính là Phật. 

Thập địa Bồ Tát là mở một phần thanh tịnh thì là Bồ Tát sơ địa, đến địa thứ tám là Bất động địa, đến địa thứ mười gọi là Pháp vân địa, sau đó lại tiến một bước nữa, Hiển giáo thì địa mười một là Phật rồi. Cho nên Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có mười một đầu, thể hiện rằng Ngài đã đến địa mười một rồi, một đầu đại diện cho một địa, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát tương đương là Phật, trong Hiển giáo là như vậy. Thế còn đến như A Di Đà Phật thì gọi là địa mười ba, thanh tịnh mười ba phần gọi là địa mười ba. Bản Sơ Phật là thanh tịnh địa mười sáu. Kì thực trên địa thứ mười thì đều là số 0.

Bạn xem hệ chữ số Ả Rập của chúng ra bắt đầu từ số 0. 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, đếm như vậy. Cho nên Phật nói về Phần thứ 22: Không pháp nào có thể đắc, giải thích của Sư Tôn khác với giải thích của người ta, số 0 không pháp nào có thể đắc, không có được một ít, dù một chút xíu cũng đều không có được, tức là hoàn toàn thanh tịnh, tức là tịnh phần hoàn toàn thanh tịnh. Cái mà Phật Thích Ca Mâu Ni đắc được là hoàn toàn thanh tịnh, cũng chính là số 0, tiến nhập Không, cái này chính là Thứ tự viên mãn.

Sao lại chỉ có một người vỗ tay nhỉ? Một người vỗ tay, người này chính là số 1, người thứ nhất, không có ai vỗ tay thì là số 0. Tôi nói như vậy thì các bạn đã hiểu rõ rồi. Tôi đọc lại một lần: *Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là không phải có được sao?" Phật nói: "Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Ta đối với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thậm chí không có một chút pháp nào có thể có được, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."*

Đương nhiên rồi, tính Không, số 0, tôi không có được cái gì, nhưng cái tôi có được là Không, Không chính là số 0, cái gì cũng không có, nó là thứ mà bạn vốn đã có. Chúng ta thường nói “thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”, trong kinh điển viết “trên trời dưới trời chỉ có mình ta”, cái “ngã” ở đây là cái gì? Chính là số 0, cái ta này chính là Phật tính, cũng chính là số 0, chính là Không, đó là độc tôn, chỉ có số 0 mới có thể nói là độc tôn, số 1 thì đều không thể nói, số 1 thì vẫn còn có 1, bất kể bạn thanh tịnh đến trình độ nào. Vậy thì ý nghĩa của việc hôm nay chúng ta tu hành chính là nói rằng chúng ta đang làm thanh tịnh chính mình, từ sơ địa cho đến thập địa, tịnh phần như vậy.

Chúng ta đang thanh tịnh bản thân, bạn thanh tịnh được một phần, thanh tịnh hai phần, thanh tịnh ba phần, thanh tịnh bốn phần, thanh tịnh năm phần, thanh tịnh sáu phần, thanh tịnh đến khi hoàn toàn thanh tịnh là con số 0 thì đó là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cái này chính là điều mà hành giả chúng ta nói rằng chúng ta đang tu hành. Vì sao không đắc được cái gì? Bởi vì số 0 vốn dĩ chính là của chính bạn, Phật đã nói rồi, chúng sinh đều có Phật tính, chỉ là bạn không biết mà thôi, bạn không khai phát nó, không minh tâm kiến tính, bạn vẫn là chúng sinh. 

Cho nên cái tên chúng sinh là vì cái gì? Vì bạn vẫn không nhìn thấy được Phật tính thì gọi là chúng sinh. Bạn đã giác ngộ rồi, bạn đã nhìn thấy Phật tính rồi, vậy thì bạn chính là Phật. Phật tính không phải là lấy từ chỗ của sư phụ, cũng không phải là lấy từ chỗ của người khác, càng không phải là ai cho bạn. Phật Nhiên Đăng khi thọ kí cho Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật cũng nói: “Ta không có được pháp gì, ta không đắc được cái gì, Phật thọ kí cho ta là thọ kí cho ta, nhưng ta không đắc được cái gì.” Bởi vì Phật tính vốn dĩ chính là chính bạn, bạn được nhiên là không đắc được cái gì.

Vì thế, Phần 22: Không pháp nào có thể đắc này, chủ yếu là nói rằng không phải là ai cho bạn, không phải là sư phụ cho bạn, cũng không phải là người khác cho bạn, cũng không phải là đàn ông cho bạn, không phải là đàn bà cho bạn, cũng không phải là Phật Thích Ca Mâu Ni cho bạn, cũng không phải là A Di Đà Phật cho bạn, không phải là người nào cho bạn. Chỉ có chính bạn tìm kiếm ở bên trong, để khi tập khí, bám chấp, phiền não của bạn hoàn toàn tịnh trừ sạch sẽ, cuối cùng sẽ hiển phát Phật tính của bạn, chính là số 0, cái đó chính là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Mọi người có ý kiến gì về Phần 22: Không pháp nào có thể đắc này không? Không có ý kiến à! Om mani padme hum.

*(Ngày 20/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma A Di Đà Phật tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 68.)*

### 69. Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện (1)

*(Bài giảng 69)* Tâm thanh tịnh

Tiêu đề của chúng ta hôm nay là Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện. Phật Đà nói: *"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng, không có cao thấp, thì gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nhờ vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu tất cả pháp thiện, tức là đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp thiện, thì gọi là pháp thiện.”*

Tôi giảng cho mọi người về đoạn này một chút. Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện, giải thích tiêu đề này thế nào? Chính là dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả pháp thiện. Dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả các pháp thiện, kì thực là vô cùng khó, chủ yếu nằm ở ba chữ “tâm thanh tịnh”. Khi chúng ta giảng Đạo Quả có nói đến một phần thanh tịnh thì vẫn là chưa viên mãn. Cho nên tâm thanh tịnh làm tất cả pháp thiện, kì thực tiêu đề này là dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả pháp thiện là rất khó. 

Tâm thanh tịnh nói đến ở đây là tương đương với Phật đang làm tất cả các pháp thiện. Ai có thể mười phần thanh tịnh chứ? Đại bộ phận con người chúng ta, khi còn nhỏ, chúng ta đã phân chia con người thành người này tốt, người này xấu, khi còn nhỏ chúng ta nói muốn làm một người tốt, không muốn làm người xấu, phân làm hai, phân con người thành bên này tốt, bên kia xấu. Điều đó là không đúng. Người có học vấn chân chính biết rằng trong tốt có xấu, trong xấu có tốt. Cho nên trước kia, giáo viên ở trường tôi từng kể một câu chuyện: có một tên đạo tặc đi cướp một ngôi làng kia, nhìn thấy một em bé đang trèo lên thành giếng, trèo lên trên miệng giếng và sắp rơi xuống rồi. Tên đạo tặc đó vẫn còn có thể đột ngột khởi lương tâm, ôm lấy em bé đó đi, bế em bé đến một chỗ tương đối an toàn, sau đó lại đi vào cướp. Đó là giáo viên kể cho chúng tôi nghe! Trên thế giới không có người tốt tuyệt đối, cũng không có người xấu tuyệt đối, không cần dùng cách phân đôi để phân con người thành “đây là người tốt, đây là người xấu”, không thể làm như vậy.

Muốn xem bạn thanh tịnh được mấy phần, trong Đạo Quả đã nói bạn thanh tịnh được mấy phần. Cho nên tôi giảng tiêu đề này không giống với người khác giảng. Người ta giảng là dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả pháp thiện, thế là kết thúc tiêu đề này rồi. Tôi thì khác, thế nào là tâm thanh tịnh? Dưới bầu trời này có người nào là tâm thanh tịnh? Không có đâu, thật sự! Sư Tôn đã rất thiện lương rồi, thế mà lúc nhỏ tôi đến nhà sách Đại Bàng xem sách, bởi vì nhà tôi ở Cao Hùng, lúc nhỏ tôi lớn lên tại Cao Hùng, từ tiểu học đến trung học đều ở Cao Hùng Đài Loan cho đến tận khi 19 tuổi.

Ở nơi tôi sống, khi đó gọi là ngã tư Lâm Sâm, bên cạnh là đường Sân Bóng, ở đó có một nhà sách Đại Bàng. Từ nhỏ tôi đã thích đọc sách, thích đọc sách đương nhiên là tốt rồi, là hiện tượng tốt, tôi đã đọc rất nhiều sách. Tôi đến nhà sách để thuê sách, đọc xong mà thấy thích thì cũng nghĩ cách lấy trộm một cuốn về. Tôi cũng ăn trộm đó! Đọc sách là tốt, trộm sách là không tốt, cái tốt và cái xấu đó triệt tiêu lẫn nhau, chính là số 0. Tôi thích đọc sách là tốt, nhưng ăn trộm sách của người ta thì là không tốt.

Đương nhiên tôi có cách trộm sách… Tôi rất lợi hại đó. Tôi trộm sách chưa bao giờ bị phát hiện. Đến cuối cùng vì đã trộm nhiều quá nên bị bố tôi phát hiện ra, sau đó bố tôi đem số sách đó và tôi, túm tất cả đến nhà sách Đại Bàng, kêu tôi xin lỗi ông chủ, trả lại sách cho người ta, nói xin lỗi ông chủ rằng tôi đã sai rồi. Trộm sách đương nhiên là không tốt rồi, nhưng đọc sách là tốt, thích sách là tốt, cho nên chúng tôi khi ấy còn có một câu nói là: ăn trộm sách là nhã tặc, là tên trộm nho nhã. Nho nhã là tốt, trộm thì không tốt, bạn nói xem có đúng không? 

Vì thế con người không hoàn toàn là tốt! Phải trải qua từng phần, từng phần thanh tịnh. Ví dụ như Phật pháp mà nói, trong Đạo Quả có nói, bạn đã thanh tịnh được một phần thì gọi là Hoan hỉ địa, thanh tịnh được tám phần, thật sự thanh tịnh đến tám phần, chỉ còn lại hai phần không tốt thì gọi là Bất động địa, khi ấy đã gần như là đăng địa Bồ Tát rồi. Thanh tịnh một phần gọi là Hoan Hỉ Bồ Tát, thanh tịnh được tám phần gọi là Bất động địa, khi ấy mới là Bồ Tát chân chính. Thanh tịnh được chín phần, thanh tịnh được mười phần, mười phần gọi là Pháp vân địa, khi ấy mới thật sự gần đến Phật, Hậu Bổ Phật, thanh tịnh mười phần gọi là Hậu Bổ Phật.

Bây giờ tôi hỏi mọi người: “Bạn đã thanh tịnh được mấy phần?” Bạn thật sự luôn không có ác niệm sao? Bạn không hề có một chút suy nghĩ xấu nào sao? Ai thật sự một chút suy nghĩ không tốt đều không có hãy giơ tay? Bạn có bảo đảm suy nghĩ của chính bạn đều là tốt không? Nếu suy nghĩ của bạn hoàn toàn là tốt, ngay cả một chút tà niệm, ác niệm, hoặc đố kị, ghen tuông, tất cả đều không có, hoàn toàn sạch trơn rồi, giống như tôi đang ngồi trên pháp tọa này hoàn toàn sạch trơn rồi, suy nghĩ gì cũng đều không có, mời giơ tay? Có ai mười phần thanh tịnh? Vì thế tôi nói tiêu đề này rất quan trọng, chính là ở chỗ này đây!

Tâm thanh tịnh làm tất cả pháp thiện, người khác sẽ không giảng như thế này đâu! Người khác chỉ nói dùng tâm thanh tịnh để làm tất cả pháp thiện, xong, tiêu đề này thế là kết thúc rồi. Tôi nói với bạn, có một phần thanh tịnh, có hai phần thanh tịnh, có ba phần thanh tịnh, có bốn phần thanh tịnh, có năm phần thanh tịnh, có sáu phần thanh tịnh, có bảy phần thanh tịnh, có tám phần thanh tịnh. Đến được chín phần thanh tịnh thì Phật mới nhận định tám phần thanh tịnh này là Bất động địa, tức là khi ấy tâm thanh tịnh của bạn đã hoàn toàn bất động rồi, nhưng vẫn còn có hai phần chưa thanh tịnh. Khi ấy mới là mang tên gọi Bồ Tát chân chính, gọi là Bồ Tát chân chính. Đến được tám phần thanh tịnh thì gọi là Bồ Tát bất động, đã bất động rồi thì mới bảo đảm sẽ không còn đi lệch về nơi xấu nữa.

Tâm thanh tịnh là cái gì? Người khác giảng thì nói là tâm thanh tịnh thôi, không phải! Sư Tôn nói tâm thanh tịnh là cần phải xem bạn có bao nhiêu phần thanh tịnh, giống như chúng ta ăn món *steak* (bò bít tết), bạn muốn chín mấy phần? *Well-done* tức là chín mười phần, *medium* (tái) hay là *medium-well*, *almost well-done* (gần chín hẳn), hoặc là nói *well-done* hoàn toàn, tức là chín mười phần. Hay là bạn muốn ăn sống, đương nhiên không có ai ăn sống rồi. Cũng có người ăn năm phần, cũng có người ăn mấy phần, đều có *medium, medium-well, almost well-done, well-done* là như vậy đó. Như vậy các bạn đã hiểu tâm thanh tịnh chưa?

Vì thế hôm nay Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện, nếu như tôi không giảng thì không có ai giảng như vậy đâu, tôi tin rằng không có ai. Giảng kinh Kim Cang không có ai giảng như vậy đâu! Người ta giảng tâm thanh tịnh rất dễ thôi, tôi chính là người tốt! Bạn là người tốt chỗ nào? Tự bạn nghĩ thử đi, bạn có phải là người tốt không? Bạn hoàn toàn thanh tịnh không? Bạn còn có sự phân biệt tốt xấu đó! Lại còn phân biệt trên dưới nữa, không được! Phật tính là hoàn toàn bình đẳng!

Bạn còn có ưa thích, nhìn thấy người này, tôi thích làm bạn với họ, *my good friend* (bạn tốt của tôi), người kia nhìn thì cảm thấy rất *dirty* (bẩn), *yuck* (kinh tởm), họ nói chuyện tôi không thích, nhìn thấy họ là tôi buồn nôn rồi, nhìn thấy họ, ngay đến nhà xí cũng không muốn vào cùng nhà, nhà xí họ đã vào thì tôi không vào. Có tâm tốt xấu thì không phải là hoàn toàn thanh tịnh, chúng ta nhìn chúng sinh là bình đẳng, không có tâm tốt xấu.

Vì thế người với người có bất hòa đều vì cái tâm thiện ác, không được có tâm này! Nếu bạn có tâm thanh tịnh, vậy thì căn bản sẽ không có những điều này! Ghen tuông cũng vậy, đố kị cũng vậy. Bạn làm tốt, bạn là số một, tôi liền ghen tị với bạn, đây không phải là thanh tịnh. Ghen tuông cũng không phải là thanh tịnh, đó là có tâm tốt xấu. Hôm nay tôi giảng như vậy mọi người nghe có hiểu không?

Các bạn đã đọc chú giải của kinh Kim Cang chưa? Người khác giảng kinh Kim Cang có giảng như vậy không? Có ai từng đọc giơ tay? (Mọi người có mặt ở hội trường giơ tay.) Có ai giảng như vậy về tâm thanh tịnh không? (Có người nói: Không nhớ nữa.) Hả? Anh không nhớ à, vậy anh đọc rồi cũng như chưa đọc. Còn ai không? Nhưng mà như vậy cũng rất tốt, bạn biết không? Đọc rồi đã là rất tốt rồi.

Hình như tôi từng đọc một câu chuyện như thế này. Có ông nội và cháu, hai người đang ở bên bờ sông. Ông nội thích đọc sách, ông ham học không biết mệt mỏi, cháu liền hỏi ông: “Ông đọc nhiều sách như vậy đều nhớ hết sao?” Ông nội nói: “Thật sự là ông đọc xong là quên luôn.” Cháu cười ông: “Vậy ông nội còn đọc sách làm gì nữa? Ông đọc xong là quên, chi bằng không đọc!” Ông nội liền lấy một cái giỏ đưa cho cậu bé, là một cái giỏ đựng than củi, bên trong rất đen. Ông bảo cháu: “Cháu cầm cái giỏ này đi đến bờ sông đựng nước đem về cho ông.” 

Cháu liền đi lấy nước, kết quả là hễ nhấc lên là nước đều chảy ra ngoài hết. Cháu cầm về cho ông nội xem, nói không có cách nào đựng được nước. Ông nội liền nói: “Vậy cháu lại đi lấy lần nữa.” Cháu nghe lời ông nội, lại đi lấy nước. Trở về thì vẫn như vậy, chiếc giỏ chẳng có một chút nước nào. Cháu nói: “Đựng nước cách này thì cũng vô dụng.” Ông nội nói: “Không sai, ông đọc sách cũng chẳng có tác dụng gì, bởi vì đều không lưu giữ được, hôm nay đọc rồi, ngày mai lại quên. Nhưng mà, cháu hãy chú ý nhìn xem, cái giỏ đó ban đầu đựng than củi, là màu đen, bây giờ nó đã trở nên sạch sẽ rồi. Đọc thêm nhiều lần thì ta sẽ sạch sẽ, sẽ thanh tịnh.”

Vì thế đọc thêm nhiều lần kinh Kim Cang, bạn sẽ thanh tịnh. Bạn đọc một lần đương nhiên sẽ quên mất, bạn đọc thêm nhiều lần, cũng đọc thêm cả phần chú giải nữa, bạn sẽ trở nên thanh tịnh. Cho nên vì sao phải trì, phải tụng, phải chép kinh Kim Cang chính là vì ý nghĩa này, để bạn mỗi lần lại gia tăng, mỗi lần lại thanh tịnh thêm, ý nghĩa chính là ở đây. 

Hôm nay chúng ta giảng tiêu đề này là tâm thanh tịnh làm tất cả pháp thiện, dùng tâm thanh tịnh làm tất cả pháp thiện. Tâm thanh tịnh này, không có ai giảng giống như Sư Tôn phân nó thành một phần thanh tịnh, hai phần thanh tịnh, ba phần thanh tịnh, liên tục đến mười phần thanh tịnh, đến khi thanh tịnh mười ba phần thì chính là Ngũ Phương Phật, đến được thanh tịnh mười sáu phần thì chính là Bản Sơ Phật, A Đạt Nhĩ Mã Phật, Đạo Quả đã viết như vậy.

A Hoa đi khám bác sĩ, nói với bác sĩ rằng: “Bác sĩ, không biết vì nguyên nhân gì, mỗi lần khi tôi đánh răng đều cảm thấy kinh tởm bồn nôn?” Bác sĩ chú ý nhìn A Hoa, nói: “Chắc là không có chuyện gì đâu, lần sau đánh răng hãy nhớ đừng đeo kính là được rồi.” Nhìn chính mình cũng sẽ cảm thấy rất kinh tởm đó. Đúng vậy, có đôi nhi nhìn chính mình cũng sẽ thấy rất kinh tởm. Om mani padme hum.

*(Ngày 26/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 69.)*

### 70. Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện (2)

*(Bài giảng 70)* Pháp này bình đẳng, không có cao thấp

Hôm nay chúng ta giảng Phần thứ 23: Tịnh tâm hành thiện. Đoạn này nói đến: *"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng, không có cao thấp, thì gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nhờ vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu tất cả pháp thiện, tức là đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp thiện, thì gọi là pháp thiện.”*

Câu này nói rằng: Pháp thiện đó, Như Lai nói đó không phải là pháp thiện, bởi vì không phải là pháp thiện cho nên là pháp thiện. Điều này chắc là mọi người đều hiểu rõ rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni nói những câu kiểu này quá nhiều rồi, chúng ta cũng nghe quá nhiều rồi, mọi người đều hiểu điều ngài nói là ý gì. Thế nhưng ở đây tôi lại giải thích với mọi người một chút, cái gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Sư Tôn nói tiếng Đài), nói cách này là mẹ tôi dạy, câu này nói theo tiếng Đài. Bởi vì tôi phát âm theo tiếng Quốc ngữ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mẹ tôi khi niệm kinh, tôi nghe thấy là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (tiếng Đài), nên tôi đã bị thành thói quen, mỗi lần niệm đến câu này tôi liền nói A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (tiếng Đài), là như vậy đó.

*“Pháp này bình đẳng, không có cao thấp.”* Mọi người nghĩ xem, Phật tính là bình đẳng không có cao thấp, không có phân đẳng cấp. Chúng ta giảng đơn giản một chút là được rồi. Chúng ta nói đến cả vũ trụ rộng lớn này, ở đâu là cao, ở đâu là thấp đây? Cao, thấp vốn dĩ là con người phân biệt, bạn sống ở nơi nào trên trái đất? Bạn có sống ở nơi cao của trái đất không? Hay là nơi thấp? Kì thực mỗi con người chúng ta chân đều dẫm trên trái đất, trái đất ở bên dưới bàn chân ta, nhưng nếu như lật ngược lại, trái đất đang tự chuyển động, trái đất ở phía trên chúng ta, con người chúng ta ở bên dưới trái đất, bởi vì nó là thứ hình tròn mà!

Vì thế chúng ta nói một cách rất đơn giản, bạn là một hạt cát sông Hằng nhỏ bé, trái đất chỉ là một hạt cát nhỏ bé trong vũ trụ. Các nhà khoa học chỉ ra chín đại hành tinh xếp hàng, hệ mặt trời từ sao Thiên Vương, sao Diêm Vương, sao Hải Vương, sau đó là sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ (sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Thổ, sao Hỏa), sau đó mới đến lượt Trái Đất, chín đại hành tinh xếp hàng như vậy. (Chú thích: thứ tự cách mặt trời từ gần đến xa là sao Thủy, sao Kim, Trái Đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương, sao Diêm Vương.)

Trong đó còn có rất nhiều vệ tinh, ngoài ra trong hư không còn có rất nhiều sao băng. Còn bây giờ? Đã có quá nhiều vệ tinh nhân tạo đếm không xuể, rốt cục bạn ở đâu? Bây giờ khoa học nói, bên ngoài chín đại hành tinh có bao giới hạn, hệ mặt trời với chín đại hành tinh này có kết giới, bạn không ra ngoài được. Thế rồi còn nói có một trăm mặt trời, vì sao bạn không cảm thấy là có một trăm mặt trời? Bởi vì ánh sáng của những mặt trời đó chiếu không tới chỗ của bạn, cho nên bạn mới không cảm thấy có mặt trời. Nói có một trăm hệ mặt trời, đó chỉ là dự đoán.

Trước kia Sư Tôn học trắc lượng, cũng từng học quan trắc khi mặt trăng che các hành tinh. Giờ Greenwich, tức là ở nước Anh có một ngôi làng nhỏ tên là Greenwich, lấy thời gian ở đó làm chuẩn, trong thời gian này, ngôi sao nào sẽ bay qua bầu trời của bạn, chúng ta hãy nhìn vào đáy của khay thủy ngân. Dựa vào mặt trăng che các vì sao để thăm dò khí hậu, tôi học quan trắc, giờ Greenwich mấy giờ mấy phút mấy giây, sẽ có một ngôi sao bay vào vùng trời của bạn, độ sáng của nó là sao cấp một, sao cấp hai, sao cấp ba, sao cấp bốn, sao siêu sáng là sao cấp một, sao càng tối mờ thì là sao cấp bốn, nó sẽ đi qua đây, nó cũng có tên, đều được đăng kí trong sổ thiên văn học, mỗi ngôi sao, từng ngôi sao đều có.

Bạn biết vũ trụ lớn thế nào không? Rất lớn, những ngôi sao mà nhân loại đã phát hiện, mỗi ngôi sao đều có tên. Khi bạn phát hiện được một ngôi sao, chưa có ai viết tên ngôi sao đó, ngôi sao đó là vô danh, là do bạn quan trắc mà thấy, bạn nhìn thấy ngôi sao đó, ngôi sao đó sẽ dùng tên của bạn làm tên ngôi sao. Mỗi một ngôi sao đều có tên, đây là những ngôi sao mà người ta quan trắc thiên văn đã nhìn ra. Sư Tôn cũng nhìn, hi vọng có một ngôi sao Lư Thắng Ngạn, nhìn cả nửa ngày đều là những ngôi sao đã có tên rồi, không có nhìn thấy ngôi sao nào chưa có tên. Vì thế trong một khoảng thời gian nào đó, có một ngôi sao nào đó đi qua đài thiên văn này, bạn đều có thể biết, đó chính là khoa học. Thiết bị đó của chúng tôi gọi là nghi cụ nguyệt yểm tinh, Sư Tôn từng học qua.

Vũ trụ lớn vô cùng, Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời đại của Ngài, hơn 2600 năm trước, thật kì lạ, Phật Thích Ca Mâu Ni đã biết có ba nghìn đại thiên thế giới! Ba nghìn tiểu thiên thế giới mới thành một trung thiên thế giới, ba nghìn trung thiên thế giới mới thành một đại thiên thế giới, vậy ba nghìn đại thiên thế giới sẽ rộng lớn cỡ nào? Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời đại ấy, ngài đã chẳng phải là con người rồi, ngài thật sự là ông Phật rồi! Ngài nói số cát sông Hằng, một hạt cát sông Hằng tương đương với một thế giới, một hạt hạt cát sông Hằng tương đương với một con sông Hằng, bạn nói xem có bao nhiêu cát sông Hằng? Ba nghìn đại thiên thế giới tương đương như vậy, vũ trụ này to lớn đến mức nào? Làm sao có thể phân rõ, chẳng có cách nào phân được!

Mọi người nghĩ xem, có phải là không có cách nào phân rõ không? A nậu đa la tam miệu tam bồ đề phân thế nào? Đó là toàn bộ hư không, toàn bộ hư không đều bao hàm rồi, ba nghìn đại thiên thế giới đều bao hàm toàn bộ rồi, làm gì có cao thấp? Không có, đều là bình đẳng. Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự là không đơn giản, não của con người chúng ta không có cách nào nghĩ giống như vậy được, Phật Thích Ca Mâu Ni căn bản không phải là con người! Ngài nói ba nghìn đại thiên thế giới, ai có thể nghĩ đến chứ? Chỉ có Phật thôi, trí huệ của Phật mới có thể biết, cho nên lời Phật nói là chân lí.

Pháp là bình đẳng, không có cao thấp, cái này mới gọi là Phật tính. Bởi vì là vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, lấy điều này để tu tất cả pháp thiện, đều là không vì cái gì cả! Không vì cái gì mà làm, tôi chưa bao giờ vì cái gì đó mà làm. Tôi làm vì tiền sao? Không phải làm vì tiền. Làm vì danh sao? Cũng không phải làm vì danh. Vậy làm vì cái gì? Tôi chẳng làm vì cái gì cả, chính là vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, sau đó tu hành tất cả pháp thiện. Hãy nhớ, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chính là giúp đỡ chúng sinh, bạn đi giúp đỡ chúng sinh.

“Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó…” Bây giờ sẽ nói về pháp thiện. “Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp thiện.” Pháp thiện kì thực cũng không phải pháp thiện thì gọi là pháp thiện, chính là vì đặt cho nó một cái danh từ thì gọi là pháp thiện. Vì sao không phải là pháp thiện? Chúng ta đang làm việc tốt, sao lại không phải là pháp thiện chứ? Rất nhiều bác sĩ nói: “Tôi làm nghề y cứu đời, tôi đang làm việc thiện, tôi đang cứu độ chúng sinh.” Tôi đang cứu độ chúng sinh, tôi đang làm việc thiện, tôi là bác sĩ, tôi loại bỏ đau khổ cho bạn, chữa khỏi bệnh cho bạn, loại bỏ ung thư của bạn, loại bỏ rất nhiều bệnh tật khó chữa của bạn.

Rất nhiều bác sĩ ở trong bệnh viện lớn đều đang làm việc thiện. Bác sĩ đúng là đang làm việc thiện, trước kia chúng ta nói là nghề y cứu đời, nghề y cứu đời tức là đang giúp đỡ chúng sinh, giải trừ đau khổ của con người thế gian, cái đó chính là việc thiện. Nghề y cứu đời, tôi không tính công lao, tôi đi khám bệnh miễn phí, tôi đi ra ngoài làm việc thiện, tôi đến châu Phi khám bệnh từ thiện, tôi là một bác sĩ rất nổi tiếng, tôi không cần tiền, tôi đến châu Phi khám bệnh từ thiện. Đó chính là làm việc thiện, đúng không? Bố thí cho chúng sinh, cứu độ chúng sinh, đây chính là việc thiện.

Được rồi, là việc thiện phải không? Bạn lại nghĩ sâu thêm một chút, mọi người có chút đầu óc thì hãy nghĩ sâu thêm một chút, bệnh nhân nào bạn có thể cứu họ không chết? Cứu, chỉ là tạm thời, nhất thời giải trừ cái đau khổ này. Cái đau nhất thời, tôi loại bỏ nó cho bạn, bạn sẽ không chết sao? Đến cuối cùng thì bạn vẫn sẽ chết mà! Tôi nói với bạn, người cứu cũng chết, người được cứu cũng chết, bệnh nhân của mọi bệnh viện toàn bộ đều chết, và bác sĩ chữa cho bệnh nhân trong bệnh viện cũng đều chết cả. Hôm nay ở đây Lư Thắng Ngạn thuyết pháp, nói rằng ông ấy đang thuyết pháp độ chúng sinh, Lư Thắng Ngạn cũng sẽ chết, người thuyết pháp cũng sẽ chết, người nghe pháp cuối cùng thì cũng sẽ phải chết.

Tôi thường hỏi Tenzin Gyatso trẻ tuổi nhất, cậu bao nhiêu tuổi? *How old are you? Nineteen* (mười chín). Mời ngồi! *Kindergarten baby* (em bé mẫu giáo). 19 tuổi, vào tuổi ấy tôi vẫn còn chưa hiểu chuyện đâu. Sau 100 năm nữa, cậu có còn không? (Tenzin Gyatso: Không còn.) Phải dũng cảm một chút, cậu phải sống tới 120 tuổi chứ! Thật sự, sống đến 120 tuổi đúng là rất khó, lão hòa thượng Hư Vân sống đến 120 tuổi, sống 120 tuổi thật sự là rất khó! Bạn xem, 100 năm sau, người thuyết pháp cũng không còn, người nghe pháp cũng không còn, ngay cả người trẻ tuổi nhất của chúng ta… đúng, vẫn còn có mấy *baby* (em bé). 120 năm sau còn có ai sống không? Đều không có! Người thuyết pháp không còn, người nghe pháp cũng không còn, vậy bạn cứu chúng sinh nào?

“Bây giờ tôi đang thuyết pháp độ chúng sinh.” Bạn độ chúng sinh nào? Bác sĩ ở bệnh viện cứu chúng sinh nào? Trên nguyên tắc mà nói, cái gì là thiện? Không có, đều là nhất thời thôi! Đau khổ, nhất thời thôi! Giải trừ đau khổ của bạn cũng là nhất thời! Có tiền, nhất thời thôi! Bạn đừng ngưỡng mộ người có tiền, họ cũng là nhất thời thôi. Bạn không cần ngưỡng mộ người xinh đẹp, nhất thời thôi. Rất nhanh chóng bạn sẽ trở thành bà lão, mặt đầy nếp nhăn, chẳng mấy chốc mà răng cũng rụng hết, nhanh chóng bạn sẽ bị loãng xương. Vì thế bạn xem, cái đó gọi là việc thiện gì? Đều là nhất thời thôi. Cuối cùng cái gì cũng đều không còn, cái gì cũng không có.

Khi ấy, Phật tính chân chính có thể hiển hiện ra, chính là vô ngã, vô nhân, không có ta cũng không có người, cũng không có chúng sinh, cũng không có thời gian, tất cả đều không có. Cho nên, nói bạn đang làm việc thiện, Như Lai nói đó không phải là làm việc thiện, bởi vì không phải là việc thiện nên mới gọi là việc thiện. Bởi vì bạn không vì cái gì cả mà làm, đó chính là việc thiện, bạn vì cái gì mà làm thì không phải là việc thiện. Điều Như Lai nói đến là cái “nhất thời” này. 

Lúc này tôi đang làm việc thiện, nhưng việc thiện này nếu là vì cái gì đó mà làm, đó không phải là việc thiện. Bạn vì cái danh mà làm, bạn muốn thành danh, đó là vì cái danh của bạn mà làm, vậy đó được coi là việc thiện gì chứ? Bác sĩ vì kiếm tiền thôi, bác sĩ có khi họ đeo vàng đeo ngọc. Tôi đã thấy một số bác sĩ, bác sĩ đó nói rằng: “Chiếc nhẫn kim cương này là do tôi phẫu thuật mà có được đó.” “Cái khóa của cái thắt lưng da của tôi làm bằng vàng đó.”

Ở Đài Loan người có tiền, đàn ông thì dùng thắt lưng da, cái khóa thắt lưng làm bằng vàng. “Cái này của tôi làm bằng vàng, là do tôi mổ ruột thừa của người ta mà có đó.” “Cái đồng hồ Rolex của tôi là do giúp người ta mổ não mà có đó.” “Cái vòng tay làm bằng vàng, kim cương và châu báu này của tôi là do tôi giúp người ta cắt trĩ mà có đó.” Bạn vì cái gì mà làm? Bạn vì những thứ này mà làm, đó không gọi là thiện, đó không phải là pháp thiện, bạn không vì cái gì mà làm thì tức là pháp thiện, không vì cái gì mà làm thì đó chính là pháp thiện trong một khoảnh khắc thật sự. 

Như Lai nói không có pháp thiện vĩnh viễn, đó chính là tính Không. Bạn thật sự tu được ánh sáng tính Không trong tâm bạn, dung nhập vào trong ánh sáng của vũ trụ, cái đó mới là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cho nên giữ được ánh sáng trong tâm bạn, cái đó mới là pháp thiện vĩnh viễn, Phật tính đó mới là pháp thiện chân chính. Những cái khác, bạn vì cái gì đó mà làm thì đều không phải. Hơn nữa nghiêm túc mà nói, Lục Tổ Huệ Năng nói: “Không có thiện cũng không có ác, chính vào cái lúc đó.” (Chú thích: Không nghĩ thiện không nghĩ ác, chính vào lúc ấy.) Cái ngài nói đến chính là Phật tính. 

Bạn xem trên trái đất, một hạt cát nhỏ bé của sông Hằng Ấn Độ tượng trưng cho một trái đất, bạn nói xem bạn hành được cái thiện gì? Bạn có hiểu không? Con kiến tha hạt gạo, chúng tha hạt gạo để đi cứu tế cho loài kiến gặp nạn, chúng cũng đang hành thiện. Nhân loại chúng ta mang đồ cứu tế đi cứu những người dân gặp nạn của Ukraine, chúng ta cho rằng đó là thiện hạnh, là thiện hạnh không sai, nhưng trong vũ trụ này, việc ấy chỉ giống như một con kiến gánh một hạt gạo đi đến nhà của con kiến không có gì để ăn, bên trong tổ kiến, để chúng được ăn no, đây chính là thiện.

Mọi người thử nghĩ xem, bạn nhìn thấy kiến tha những hạt cơm mà con người ăn thừa đến nhà của một con kiến khác để đi cứu tế chúng, sự việc này bạn có nhìn thấy không? Giống như chúng ta đang làm việc thiện, Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn mang những đồ cứu tế tặng cho dân ở vùng gặp nạn ở Ukraine để cứu giúp họ, Hội công đức Hoa Quang mang rất nhiều đồ cứu tế gửi đến Ba Lan để cho những dân tị nạn của Ukraine. Bởi vì họ không sản xuất được, hơn nữa đã biến thành dân tị nạn rồi, bạn không cứu tế họ, họ làm sao mà sống đây? Cái này gọi là làm việc thiện.

Hội công đức Hoa Quang không vì cái gì cả, Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn cũng không vì cái gì cả, thường xuyên đi giúp đỡ người ta, những đoàn thể từ thiện khác cũng không vì cái gì cả, đây chính là cái thiện trong khoảnh khắc, còn việc thiện vĩnh hằng chính là Phật tính, ánh sáng trong tâm của bạn tỏa sáng lấp lánh, sau đó dung nhập vào trong ánh sáng lớn của cả vũ trụ, trong tính Không bao la, cái này mới gọi là thành tựu. Điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói là cái này.

Tôi có một nữ đồng nghiệp cái gì cũng tốt, mỗi tội lười. Lười đến mức nào? Bà ngoại yêu thương cô ấy nhất bị ốm, nằm trên giường bệnh đã hai tháng, cô ấy đi chăm sóc bà, chưa tới vài ngày bà ngoại đã khỏe rồi, ngồi dậy được và cũng có thể ăn cơm, cái gì cũng có thể làm được, mọi người đều khen nữ đồng nghiệp này chăm sóc bà thật tốt. Hỏi bà cụ: “Cô ấy chăm sóc bà thế nào?” Bà cụ thở dài một hơi: “Tôi mà không gượng dậy thì e là con bé nó chết đói rồi.” Rốt cục là cô chăm sóc bà ngoại hay là bà ngoại chăm sóc cô đây? Hành giả chúng ta không thể lười biếng, tu hành không thể lười biếng.

Ngoài ra còn có một người là Audrey Hepburn, trước đây các nữ sinh rất chuộng kiểu tóc của Hepburn. Đây là lời Audrey Hepburn nói: nếu muốn có đôi môi xinh đẹp, thì hãy nói những lời tử tế; nếu muốn có đôi mắt khả ái, thì hãy nhìn vào những điểm tốt của người khác; nếu muốn có thân hình mảnh mai thì hãy đem thức ăn của bạn phân phát cho người đói khát. Có hiểu không Huệ Quân? Đừng quá ích kỉ nhé!

Tiểu Minh 5 tuổi giở cuốn album và hỏi: “Bố ơi, cái cô xinh đẹp bên cạnh bố là ai vậy?” Bố nhìn người con gái trong tấm ảnh, thân hình mảnh mai, tướng mạo xinh đẹp, tự nhiên và phóng khoáng, nghĩ đến dung nhan từng có của vợ mình, không khỏi tự hào nói: “Đó chính là mẹ con đó.” Tiểu Minh liền nhếch mép về phía nhà bếp, thấp giọng nói: “Bà béo ở trong bếp kia quả nhiên không phải là mẹ ruột của con rồi.” Bạn xem, xinh đẹp cũng là nhất thời, sắc đẹp cũng là nhất thời, bạn thấy họ bây giờ xinh đẹp, cảm thấy rất đẹp. Vì sao bạn không dùng cách quán Bạch cốt? Bởi vì quán không ra xương trắng, chỉ quán thấy một thân thể trắng nõn nà thôi. Om mani padme hum.

*(Ngày 27/03/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 70.)*

### 71. Phần thứ 24: Phúc trí không gì sánh bằng

*(Bài giảng 71)* So sánh với vô hạn

*"Tu Bồ Đề! Nếu tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới, có người dùng thất bảo tích tụ nhiều như số núi ấy mà bố thí, hoặc có người thọ trì đọc tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức của người bố thí so với người trì kinh trăm phần không bằng một phần, trăm nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được.”*

Phần thứ 24: Phúc trí không gì sánh bằng, phúc phần và trí huệ không cách nào có thể so bì. Phật Thích Ca Mâu Ni rất thích dùng so sánh để nói. Đoạn trước ngài dùng sông Hằng của Ấn Độ, lấy cát sông Hằng để so sánh, mỗi một hạt cát của sông Hằng lại tương đương với một con sông Hằng, cát của nhiều sông Hằng như vậy, bạn có thể đếm được không? Không đếm được. So sánh phúc phần và trí huệ, phúc trí chính là dùng so sánh.

Và phần thứ 24 này cũng là đang so sánh, trước tiên tôi nói với mọi người về so sánh, sau đó mới giảng vào nội dung kinh văn. Lần này Phật dùng cái gì để so sánh? Phật nói *"Tu Bồ Đề! Nếu tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới”,* đây chính là so sánh đó. Nhưng bạn đọc xong không cảm thấy rất kì quái sao? Phật nói câu này là ý gì? Nếu “*tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới”,* so sánh này trong não của chúng ta, bạn có nghĩ ra lối suy nghĩ đó không? Bởi vì trong Phật giáo dùng so sánh là như vậy. 

Trên thế giới này của chúng ta, núi cao nhất chính là núi Tu Di, đó là ngọn núi cao nhất. Trung tâm của toàn bộ thế giới quan của Phật giáo chính là núi Tu Di, bên cạnh có bốn đại châu, cách xa bốn đại châu một chút là tám tiểu châu. Bốn châu này là châu gì? Trước đây chúng ta nói phương đông là Đông Thắng Thần Châu, phương nam là Nam Thiệm Bộ Châu, phương tây là Tây Ngưu Hạ Châu, phương bắc là Bắc Câu Lư Châu, có bốn châu. Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Bắc Câu Lư Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, phân thành bốn đại châu, có biển nước thơm ngăn cách, rồi có tám tiểu châu như vậy.

Núi Tu Di chỉ có một, đó là ngọn núi cao nhất, cho nên gọi là Tu Di Sơn Vương. Vậy thì vì sao Phật lại nói là “tất cả các núi Tu Di” chứ? Đây là điều khiến mọi người bối rối. Các núi Tu Di, lẽ nào núi Tu Di có rất nhiều sao? Không phải! Núi Tu Di chỉ có một, trong quan niệm của Phật giáo thì đó là Núi Vua, ngọn núi cao nhất thì chỉ có một, không có các núi Tu Di. Vì sao nói là “tất cả các núi Tu Di”? Đây là tỉ dụ của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Núi Tu Di, nếu như núi Tu Di nhiều như tam thiên đại thiên thế giới cộng lại, bạn xem nhiều thế nào! Ý của Phật nói rằng rất lớn, lớn tới mức không gì sánh bằng. Một núi Tu Di đã là rất lớn rồi, cao vô cùng rồi, còn dùng tới tất cả các núi Tu Di của tam thiên đại thiên thế giới, như vậy thì cao thế nào? Bởi vì núi Tu Di chỉ là một ngọn núi Tu Di trong một tiểu thiên thế giới mà thôi, vậy thì ba nghìn đại thiên thế giới nhân với ba nghìn đại thiên thế giới, có bao nhiêu núi Tu Di chồng lên nhau cao đến mức như thế. 

So sánh của Phật Thích Ca Mâu Ni đều dùng cách này, cho nên khi bạn đọc kinh, tất cả các núi Tu Di, núi Tu Di chỉ có một thôi, vì sao là các núi Tu Di? Tức là Phật đang dùng so sánh. Núi Tu Di giống như là rất nhiều núi Tu Di của ba nghìn đại thiên thế giới cộng lại, chính là các núi Tu Di. Nếu núi cao như vậy tương đương với toàn bộ thất bảo chồng chất lên cao như vậy, có người dùng thất bảo nhiều như so sánh này để mà bố thí, nếu người đó dùng cái này làm bố thí. Đây chính là so sánh của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Nếu có một người khác dùng kinh Bát Nhã Ba La Mật, dùng một cuốn kinh Kim Cang, cho dù chỉ bốn câu kệ, chỉ niệm bốn câu kệ: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.” Thọ trì đọc tụng, tôi đã giải thích thế nào là thọ trì đọc tụng rồi, ở đây không giải thích lại nữa. Được, giảng cho người khác, “*vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức của người bố thí so với người trì kinh trăm phần không bằng một phần, trăm nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được.”* Đoạn này đã kết thúc rồi. Nói cách khác là, bố thí nhiều như thế đều không sánh bằng bốn câu kệ của kinh Kim Cang.

Có nghĩa là phúc đức của thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang lớn hơn cả phúc đức của việc đem thất bảo cao như tất cả núi Tu Di của tam thiên đại thiên thế giới đi bố thí. Việc này không có gì sánh bằng, ở đây chủ yếu nói rằng, hễ là những việc bố thí của thế gian thì đều là hữu hạn. Bạn ở thế giới Ta Bà làm việc thiện đều là hữu hạn, đó là phúc nhỏ trí nhỏ. Muốn vô hạn thì phải là hư không, phải là Phật tính, mới là vô hạn. Phúc đức của nhập thế đều là rất có hạn, phúc đức của xuất thế là vô hạn, ý nghĩa chủ yếu nhất của đoạn này là nói như vậy.

Phật Thích Ca Mâu Ni dùng so sánh, ngài thường dùng số cát sông Hằng để so sánh, lại dùng độ cao của núi Tu Di để so sánh với công đức này, công đức của ai lớn, công đức của ai nhỏ, nhưng mà công đức lớn hay công đức nhỏ đều là có hạn, bất kể công đức của bạn nhiều bao nhiêu đều là có hạn. Vậy cái vô hạn là cái gì? Chính là kinh Kim Cang mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, còn có bốn câu kệ, đó chính là vô hạn, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, đó là vô hạn. 

Chúng ta có thể so sánh một cách đơn giản, bạn nhìn xem thế giới Ta Bà chẳng qua là một quả bóng. Chúng lấy tạm một chuỗi hạt là được rồi, một hạt ở đây là thế giới Ta Bà, còn những hạt khác thì sao, là chín đại hành tinh và tất cả vệ tinh xâu lại thành chuỗi nhiều thế này. Vậy bạn ở trên quả bóng này làm một vài việc thiện, bạn nói công đức của bạn lớn bao nhiêu? Rất nhỏ mà, đúng không? Công đức vô cùng nhỏ, bạn xem chuỗi hạt này có bao nhiêu địa cầu? Một hạt coi như là một địa cầu đi, việc thiện bạn làm có tính là gì chứ?

Trên địa cầu, một quốc gia nhỏ bé, bạn ở đây làm việc thiện, công đức của bạn lớn bao nhiêu? Cả hệ mặt trời nhiều tinh cầu như vậy, bạn làm việc thiện quá nhỏ bé, việc thiện trên thế giới Ta Bà thật sự là quá nhỏ, quá nhỏ nhưng không phải là bảo bạn đừng làm, vẫn phải làm, nhưng mà so với công đức chân chính thì đó đúng là quá nhỏ. Phật Thích Ca Mâu Ni so sánh như vậy.

Một ngọn núi Tu Di đã là rất lớn rồi, nhiều núi Tu Di như vậy toàn bộ cộng lại, cũng chẳng qua là một chuỗi hạt, bạn so sánh với hư không thì làm sao mà so chứ? Không so nổi. Cho nên ở trên Phật đã nói: Phần thứ 24: Phúc trí không gì sánh bằng. Phúc trí không gì sánh bằng, tiêu đề này chính là như vậy, lấy cái hữu hạn để so sánh với cái vô hạn, đương nhiên là chẳng có cách nào sánh bằng. Cái gì là cái vô hạn? Kinh Kim Cang chính là vô hạn, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng” chính là cái vô hạn. Như vậy mọi người đã hiểu phần thứ 24 chưa? Hẳn là có thể hiểu được rồi!

Vì thế chúng ta học Phật, căn cứ theo điều Phật đã giảng, thật sự là vô hạn, điều Phật đã thuyết là vô hạn. Có người học Phật, càng học tâm lượng càng hẹp hòi, như vậy là đã đi sai đường rồi. Học Phật cái cần học chính là tâm đó, tâm lượng của bạn phải rộng lớn như hư không vô hạn, cái gì cũng đều dung chứa được, đó mới là Phật pháp. Học Phật, chỉ là vì bản thân ích kỉ thì là có hạn. Bạn học Phật là vì chúng sinh thì đó là vô hạn. Lại so sánh thêm nữa thì lấy chúng sinh tướng so sánh với hư không, hư không càng rộng lớn hơn. 

Vì thế, nhân gian thế giới Ta Bà này của chúng ta, theo như Phật nói thì không có thứ chân thực, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, nghĩa là không có thứ chân thực. Bạn nói xem thứ nào là chân thực? Không có cái gì là chân thực. Những gì mắt bạn nhìn thấy, tai bạn nghe thấy, thứ mà bạn chạm vào được, bạn cho rằng là thật, kì thực đều là huyễn tướng. Bạn cho rằng tiền của bạn rất nhiều, đều không phải của bạn. Bạn cho rằng chiếc xe hào nhoáng kia là của bạn, cũng không phải là của bạn. Bạn cho rằng biệt thự này là của bạn, cũng chẳng phải là của bạn.

Thứ gì là của bạn? Không có một thứ nào là của bạn, bao gồm cả chính thân thể bạn cũng không phải là của bạn. Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy, tất cả những thứ bạn nhìn thấy, thứ bạn nghe thấy, thứ bạn sờ chạm được, không có thứ gì là của bạn. Chỉ là để cho bạn có được một lúc, đến cuối cùng thì đều không có. Tôi thường nói, người ở thiên đàng, tiền ở ngân hàng, vợ thì ở trong vòng tay người khác, anh em đang tranh giành tài sản của bạn. Trên đời không có một thứ nào là của bạn, vô hạn mà Phật nói chính là đạo lí này. 

Vô hạn, bạn hiểu vô hạn rồi, tâm lượng của bạn sẽ lớn lên, tâm lượng sẽ rộng rãi. Kẻ trộm vào nhà bạn để lấy đồ của bạn, dù sao bạn cũng không dùng thì để cho người khác dùng đi, người khác dùng cũng như bạn dùng, tâm lượng chính là phải như vậy. Jesus nói rồi, người ta lấy áo ngoài của bạn, bạn cũng cho họ luôn áo trong, ngay cả đồ lót cũng cởi ra đưa cho họ. Jesus nói vậy, không phải tôi nói. 

Đúng thế, Jesus người ta cũng hiểu được đạo lí này, cho nên Jesus cũng nói phải yêu kẻ thù của bạn. Làm gì có kẻ thù gì, dưới bầu trời này làm gì có kẻ thù nào? Chỉ có lợi hại, không có kẻ thù, người nào đối với tôi có lợi thì là bạn của tôi, người nào đối với tôi không có lợi thì là kẻ thù của tôi, đó là tâm lí ích kỉ, làm gì có kẻ thù nào? Tâm lượng mở rộng ra như vũ trụ vô hạn thì bạn mới có thể thành tựu, tâm lượng bạn hẹp hòi thì làm gì có thành tựu.

Thẩm phán hỏi phạm nhân tại tòa, thẩm phán hỏi: “Vì sao anh muốn làm tiền giả?” Phạm nhân trả lời: “Bởi vì tôi trên còn cha mẹ già, dưới còn con nhỏ, người già mắc bệnh phải vào viện, trẻ con đi học cần học phí, vợ phải mua đồ trang điểm, còn phải thỉnh thoảng đánh bài, vay nợ bên ngoài vẫn còn phải trả lãi, mỗi tháng còn trả tiền vay mua xe, mua nhà.” Thẩm phán nói: “Đủ rồi, nói vào điểm chính.” Phạm nhân nói: “Tôi không biết in tiền thật.”

Tôi nói để bạn biết, bạn cho rằng bạn có tiền, đó đều là giấy thôi! Làm gì có tiền? Tiền đó chỉ có ở tại đất nước của bạn mới có thể dùng, ở trên trái đất này có thể dùng, rời khỏi trái đất này thì chẳng cái gì còn dùng được. Có một ngày, có một đất nước tiêu tùng rồi, bạn nói xem tiền đó là tiền gì? Chỉ là giấy thôi, làm gì còn là tiền? Đều là giả.

Ở đây hỏi đến vấn đề tiền thật và tiền giả, câu chuyện cười này là như sau. Vào tiết thanh minh tảo mộ, Tiểu Minh rất cảm thán: “Tiền vàng mã bây giờ làm giống y như thật, khi đốt đi còn có cảm giác hơi tiếc.” Anh ta cười khổ xong thì vợ gọi điện tới: “Chẳng phải anh đang đi tảo mộ sao? Sao anh không mang theo tiền vàng mã?” Vợ nói tiếp: “Còn cả 60.000 tệ em vừa lĩnh đi đâu mất rồi? Em để ở bên cạnh tiền vàng đó.” Tiểu Minh nghe xong thì khóc ngất đi ở trước ngôi mộ. Có rất nhiều người đang tảo mộ ở bên cạnh đều hết sức tán thưởng anh: “Đúng là hiếu thuận, tảo mộ mà cũng khóc như thế này, ngày nay không còn thấy nhiều người như thế.” Buổi tối anh còn gặp ác mộng, tổ tiên nói: “Con à, hại chúng ta ở âm phủ bị cảnh sát bắt, bởi vì cảnh sát âm phủ nói tiền chúng ta dùng là tiền giả.”

Tôi hỏi bạn, cái gì là tiền thật, cái gì là tiền giả? Mọi người công nhận là tiền thì đó là tiền, mọi người không công nhận là tiền thì đó không phải là tiền, chỉ là vì công nhận mà thôi! Bởi vì đất nước công nhận đây là tiền thì mới là tiền, cho nên tiền cũng là giả. Và vì tiền là giả, vậy cái gì là thật? Không có, không có thứ gì thật, vốn dĩ chính là một cảnh hư huyễn mà thôi! Vì thế Phật Đà nói, nhân gian này vốn dĩ chính là một huyễn cảnh. Cho nên bạn muốn tìm đến một thứ chân thực, thứ chân thực này chính là Phật pháp.

Nhưng Phật pháp cũng không phải là thật, Phật pháp chỉ là dạy bạn thanh tịnh, khi bạn thật sự hoàn toàn thanh tịnh rồi bạn mới tìm thấy Phật tính chân chính, Phật pháp chỉ là một công cụ mà thôi. Trong kinh Kim Cang có nói, Phật pháp cũng chỉ là một công cụ mà thôi, từ bờ bên này đến bờ bên kia, trong đó mọi con thuyền chính là công cụ, thuyền đó chính là Phật pháp.

Bạn đến được bờ bên kia rồi, công cụ này có thể bỏ đi, con thuyền này không dùng đến nữa, bởi vì bạn đã thành tựu rồi. Phật pháp cũng chính là một công cụ mà thôi, chính là một công cụ đưa bạn đến bờ bên kia. Vì thế điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói khá thực tế, tương đối có tính chân thực. Kì thực trên thế giới này không có cái gì có tính chân thực. Om mani padme hum.

*(Ngày 02/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Chuẩn Đề Phật Mẫu Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 71.)*

### 72. Phần thứ 25: Hóa vô sở hóa

*(Bài giảng 72)* Chúng sinh ai độ?

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Các ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói: "Ta đang độ chúng sinh". Tu Bồ Đề! Đừng nghĩ như thế. Là vì sao? Thật không có chúng sinh nào được Như Lai độ. Nếu có chúng sinh nào được Như Lai độ thì Như Lai ắt có ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Tu Bồ Đề! Như Lai nói: "Có ngã, tức chẳng phải có ngã, nhưng kẻ phàm phu cho là có ngã." Tu Bồ Đề! Phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu, thì gọi là phàm phu.”*

Cái này tôi đã nói rồi: “Tu Bồ Đề à! Ông có biết không? Tất cả đệ tử các ông đừng cho rằng Phật có suy nghĩ thế này: “Ta đang độ chúng sinh.” Kì thực không có suy nghĩ ấy. Tu Bồ Đề, đừng có suy nghĩ này, vì sao vậy? Thực sự không có chúng sinh nào là ta độ, nếu có chúng sinh là do ta độ, Như Lai tức là có ngã, có nhân, có chúng sinh, có thọ giả. Tu Bồ Đề à! Như Lai nói có ngã tức không có ngã, có ngã tức là không có ngã, nhưng phàm phu cho rằng có ngã, người bình thường đều cho rằng có ngã. Tu Bồ Đề! Người bình thường, Như Lai nói tức không phải phàm phu, họ không phải là người bình thường mới gọi là người bình thường.” Đoạn này nói như vậy.

Trọng điểm nằm ở đâu? Chúng sinh vốn dĩ đều có Phật tính. Phật thuyết pháp, bạn nghe pháp, bạn biết pháp rồi, dùng pháp này rồi, bạn sẽ tự độ. Phật không độ bạn, là chính bạn làm thanh tịnh chính mình, Phật tính của bạn hiển hiện, Phật tính vốn dĩ đã có rồi, vốn dĩ trên người bạn đã có Phật tính rồi, ai cũng không thể độ bạn, chỉ có tự độ, chỉ có tự mình độ chính mình.

Như Lai không thể độ bạn, Phật Đà cũng không thể độ bạn, bởi vì Phật tính là của chính bạn mà! “Là thứ của tôi, vậy tôi còn cần anh đến độ tôi làm cái gì? Anh dạy tôi phương pháp, tôi thanh tịnh chính mình rồi, là tôi tự mình độ chính mình.” Sau khi độ chính mình xong, Phật tính của mình hiển hiện rồi, là bạn tự mình thành Phật, không phải là Phật độ bạn. Phật Đà nói như vậy, không phải ta đi độ chúng sinh, là chúng sinh tự độ.

Là chúng sinh tự độ chính mình, tôi chỉ nói với bạn phải làm thế nào mới có thể thanh tịnh, rồi bạn chiếu theo phương pháp của tôi mà làm, tự mình độ chính mình, tự mình thành tựu, thành Phật. Ý nghĩa chính là như vậy. Cho nên Phật Đà không thể nghĩ thế này: “Ta độ chúng sinh.” *No*, chúng sinh không phải là bạn độ, mỗi một chúng sinh đều là tự mình độ chính mình. Như vậy mọi người nghe đã hiểu chưa? Không có ai có thể độ bạn, chỉ có chính bạn độ chính mình, bởi vì Phật tính nằm ở trên người bạn, bạn làm thanh tịnh chính mình rồi, bạn thành tựu rồi, bạn chính là thành tựu giả.

Bản thân bạn không thanh tịnh, Phật nào có thể độ bạn? Cho nên Phật không nghĩ như thế này: “Ta đang độ chúng sinh”. Cũng tức là không có người thuyết, không có người nghe, Phật nói như vậy đó. Ý của tôi là như thế này, bạn chẳng qua chỉ là dùng Phật pháp để thanh tịnh chính mình, Phật pháp chỉ là một công cụ, là một cái tua-vít, xoay, xoay, xoay, xoay như thế này để vặn bạn chặt lại, là một cái tua-vít để vặn bạn chặt lại, chỉ là một công cụ, bạn bị lỏng thì vặn bạn chặt lại, bạn sẽ tinh tấn, khi tinh tấn rồi thì cuối cùng sẽ thanh tịnh chính mình, tự mình độ mình là thành tựu rồi.

Cho nên Phật không nói bạn quy y ai. Đương nhiên, chúng ta khi đang sống ta nói, bạn quy y Lư Sư Tôn, bạn quy y Phật pháp tăng, kì thực là quy y tự tính, tự quy y, tự mình quy y Phật tính của chính mình, đó gọi là tự quy y, tự mình độ mình. Tôi nói điểm này mọi người đều biết rồi. Phật nói “thật không có chúng sinh nào là Như Lai độ”, căn bản không có một chúng sinh nào là Như Lai độ, vì sao? Bởi vì tự mình độ chính mình mà! Phật tính của bạn làm gì có phải do Như Lai độ, không có chuyện này, là tự mình độ mình.

“Thật không có chúng sinh nào được Như Lai độ”, nếu có chúng sinh được Như Lai độ, thì Phật đó không phải là Phật rồi, đó là vì có nguyên nhân mới thuyết pháp, không phải là vì không vì nguyên nhân gì mà thuyết pháp. Phật Đà thuyết pháp là “vô nhân thuyết pháp”, nếu Như Lai thuyết pháp vì điều gì đó thì tức là có ngã rồi. “Chúng sinh đều là do ta độ, vui quá đi!” Đừng vui mừng, người ta đều là tự mình độ mình, không phải là bạn độ, “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”, căn bản không có, ai là do bạn độ chứ? Không có! Cho nên Phật nói nếu như có ngã, tức không có ngã, thì không phải là ngã, ngã cũng không phải là ngã.

Nhưng người bình thường đều cho rằng có ngã, bởi vì có ngã nên mới ích kỉ đó! Nếu bạn nghĩ đến cái tôi, tâm ích kỉ của bạn sẽ xuất hiện, cho nên người học Phật không thể có tâm ích kỉ, cho nên không thể có cái ngã này! Người phàm phu, người bình thường đều cho rằng “Tôi chính là ai, chính là tôi”, đều cho rằng có cái tôi. Cho nên Phật nói với Tu Bồ Đề, cái gọi là *“phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu”,* người bình thường không phải là người bình thường, bởi vì trong con mắt của Phật là nhìn thấy Phật tính, người bình thường chính là Phật. 

Cái gọi là *“phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu”,* bởi vì trong con mắt của Phật đều là Phật tính, không có kẻ phàm phu, tức không phải phàm phu. Vì người phàm phu cho rằng có ngã, cho nên “gọi là phàm phu”, cho nên gọi là làm một phàm phu, tức là người bình thường. Người bình thường đều cho rằng có cái ngã, con người đều cho rằng có cái tôi, bởi vì có cái tôi nên bạn ích kỉ, không thể có cái tôi, cho nên Phật Đà nói là vô ngã tướng, phải vô ngã.

Từ sáng đến tối nói vô ngã, vô ngã, tức là bảo bạn không được ích kỉ. Bởi vì một khi đã xuất hiện cái tôi thì bắt đầu ích kỉ rồi: “Đây là của tôi, đó là của anh, kia là của họ, đều có cái tôi cả.” Đây chính là đều có cái tâm ích kỉ. “Tôi muốn cái tốt, tôi cho anh cái xấu” chính là ích kỉ đó! Nếu mọi người bình đẳng như nhau thì mới đúng, mới là tâm bình đẳng. Cho nên Phật tính chính là tâm bình đẳng, chính là cái đạo lí này. Chương này tôi vừa giảng đã hiểu chưa?

Mấy năm nay mọi người hãy học một chút thiền định, bởi vì ở trong nhà tức là sống yên, kiết hạ an cư, đừng đi lung tung, ở nhà cho khỏe, không sợ thời gian, chăm sóc bản thân, người nhà yên lòng. Trong thời kì dịch bệnh, không đến không đi không hề gì. Đương nhiên, không đến không đi thì sẽ không bị lây nhiễm. Mọi người yên tâm, mấy năm nay thời kì dịch bệnh ở trong nhà chăm chỉ tu thiền định đi. Om mani padme hum.

*(Ngày 03/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 72.)*

### 73. Phần thứ 26: Pháp thân phi tướng

*(Bài giảng 73)* Pháp thân thanh tịnh

*"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Đúng thế! Đúng thế! Dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."  
Phật nói:  
"Tu Bồ Đề! Nếu dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai."  
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thưa Thế Tôn! Theo con hiểu nghĩa Phật nói, không nên dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."  
Khi ấy, Thế Tôn bèn nói bài kệ:*  
Nếu do sắc thấy ta  
Do âm thanh cầu ta  
Người ấy hành tà đạo  
Không thể thấy Như Lai.*

“Pháp thân phi tướng” là ý gì đây? Tức là pháp thân thanh tịnh là hoàn toàn vô tướng, không phải là dùng tướng để biểu thị, pháp thân thanh tịnh là không có tướng. Pháp thân thanh tịnh là không có tướng, tiêu đề này là như vậy, nội dung bản văn là thế nào đây? *"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào?”* Ý của ông là như thế nào đây? “*Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai không?"* Nếu như có đủ 32 tướng thì chính là Như Lai sao?

*Tu Bồ Đề nói: "Đúng thế! Đúng thế! Dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."* Tu Bồ Đề không trả lời, “Đúng thế, đúng thế”, thưa vâng, thưa vâng, dùng 32 tướng mà quán Như Lai, có 32 tướng thì dường như là Như Lai rồi! Như Lai có 32 tướng thì không sai, nhưng Phật Đà nói với ông ấy rằng: “*Nếu dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai”,* nếu mà có 32 tướng thì là Như Lai, thì *“Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai”.* Chuyển Luân Thánh Vương chính là Như Lai, bởi vì Chuyển Luân Thánh Vương cũng có 32 tướng.

Mọi người đối với vấn đề này đều xét đến Chuyển Luân Thánh Vương, mọi người đều biết ngài có 32 tướng. Phật Thích Ca Mâu Ni hiển hóa thân tướng của ngài, ngài có 32 tướng, 80 vẻ đẹp. Vậy người kia có 32 tướng thì là Như Lai sao? Tu Bồ Đề không dám nói, ông ấy không nói đúng, cũng không nói sai. Nhưng Phật Đà đã trả lời ông ấy, nếu dùng 32 tướng để thấy Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai.

Thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương? Mọi người thử tìm trên điện thoại xem câu trả lời thế nào. Thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương? Bởi vì giới Phật giáo cũng vì điều này mà có tranh luận. Mọi người xem từ điển Phật giáo xem họ viết Chuyển Luân Thánh Vương là ai, là cái gì? Giới Phật giáo vì vấn đề này cũng có tranh luận, thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương?

(Thượng sư Liên Truyền: Báo cáo Sư Tôn, trong từ điển Phật học nói như thế này: Chuyển Luân Thánh Vương ý nghĩa là nói về vua chuyển bánh xe, Chuyển Luân Thánh Đế, Luân Vương, Phi Hành Chuyển Luân Đế, Phi Hành Hoàng Đế, ý tức là vua chuyển bánh xe quý. Thuyết về sự xuất hiện của Chuyển Luân Thánh Vương thịnh hành vào thời đại Thế Tôn, đoạn sau còn rất dài, về cơ bản là như vậy.)

Vâng, cảm ơn! Từ điển Phật giáo này nói như vậy, hình như là vua của nhân gian, đúng không? Mọi người đều cho rằng vua của nhân gian, ở Ấn Độ họ nói rằng Chuyển Luân Thánh Vương chính là vua ở nhân gian, tức là vua của thế giới Ta Bà. Vậy thì có rất nhiều đệ tử Phật đưa ra nghi vấn, bây giờ có Chuyển Luân Thánh Vương không? Chắc là không có, theo như từ điển Phật giáo nói thì bây giờ ở đâu có Chuyển Luân Thánh Vương chứ? Cũng không có bánh xe bay xuất hiện, cũng không có thất bảo. Đương nhiên bánh xe bay đó, hoặc thất bảo đó, những thứ này đều thuộc về vô hình.

Vậy chúng ta xem những nhân vương hiện nay xem, bạn nói xem hiện tại trên thế giới, nước lớn nhất có thể ảnh hưởng đến toàn thế giới, bạn xem Biden đó, ông ấy cũng có đầy sức ảnh hưởng, đúng không? Tổng thống Mĩ Biden, ông ấy làm gì có 32 tướng? Cho dù một tướng ông ấy cũng không có. Đây là nhân tướng, làm gì có tướng gì? Bạn nói xem Tổng tống của đất nước nào có 32 tướng? Theo như 32 tướng mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, căn bản là ngay cả một tướng cũng không có, làm gì có Chuyển Luân Thánh Vương? Vì thế, giới Phật giáo vì chuyện này mà cứ chỉ trích lẫn nhau mãi.

Cho nên bạn nói xem, thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương? Chúng ta ở thế giới Ta Bà thì không nhìn thấy. Bạn nói Thánh Vương xuất hiện, chúng ta lấy Trung Quốc để nói đi… hoặc là chúng ta nói về Ấn Độ cũng được. Vua Ashoka chuyển pháp luân của Phật giáo là người nổi tiếng nhất, vua Ashoka của vương triều Maurya, ông ấy chuyển pháp luân của Phật giáo. Mọi người có biết vua Ashoka trông như thế nào không? Vua Ashoka có 32 tướng không? Vì thế rất nhiều người vì Chuyển Luân Thánh Vương mà vẫn đang tranh luận. Cá nhân tôi nghĩ thế này, cái gọi là Chuyển Luân Thánh Vương cũng là vô hình thôi, Chuyển Luân Thánh Vương mà Phật Đà nói cũng là vô hình.

Dưới bầu trời này, có người nào mà tai dài rủ xuống vai không? Tai rất dài, dái tai rủ xuống đến tận vai, đây là một trong 32 tướng. Đương nhiên bạn làm như thế này (co vai lên) thì có thể được, tai chạm vào vai, tức là rất dài. Tôi đã kéo tai rất lâu rồi mới được dài như thế này đó, kéo bao lâu rồi mới được dài thế này, Sư Tôn cũng được xem là có một chút tướng tai rồi! Trước đây tai của tôi rất nhỏ, chính vì tai tôi rất nhỏ, khi còn nhỏ tôi có biệt hiệu là “con chuột”, tai của con chuột rất nhỏ mà. Bây giờ tôi đã kéo nó tương đối dài một chút rồi, tai là phải như vậy.

Lưỡi thì phải có tướng lưỡi rộng dài, tôi từng nói lưỡi thè ra là có thể che kín cả mặt, có kiểu tướng này không? Tìm thấy ở đâu? Cho nên trong kinh A Di Đà nói, lộ ra tướng lưỡi rộng dài che khắp cả ba nghìn đại thiên thế giới, che hết cả ba nghìn đại thiên thế giới lại, đó gọi là tướng lưỡi rộng dài. Không chỉ là che kín mặt mình thôi, mà có thể che kín cả ba nghìn đại thiên thế giới. Thành thật mà nói, 32 tướng đó, bây giờ làm gì có kiểu người ấy? Lưỡi thè ra có thể che kín mặt mình, thật là…

Các bạn ở đây có người nào cánh tay dài quá đầu gối, đứng dậy mà cánh tay dài quá đầu gối, có ai không? Đó cũng là một trong 32 tướng, cánh tay dài quá đầu gối. Bạn đứng lên, nếu bây giờ cánh tay dài quá đầu gối, thì tôi sẽ tặng bạn cái túi này, lập tức tặng cho bạn. Làm gì có chứ? Ngay cả tôi cũng không có, cho nên Phật Đà nói điều này tôi cho rằng là vô hình.

Bạn có biết Thập Điện Diêm Vương không? Thập Điện Diêm La Vương, điện thứ nhất là Tần Quảng Vương, điện thứ năm là Diêm La Vương, điện thứ mười gọi là gì? Chính là Chuyển Luân Vương. Diêm La Vương ở điện thứ mười chính là Chuyển Luân Vương, đúng không? Diêm La Vương có tướng này không? Các bạn đã từng nhìn thấy Diêm La Vương chưa? Có Thập Điện Diêm Vương, mười điện đó! Thập Điện Diêm La Vương, chúng ta gọi chung là Diêm La Vương, kì thực là điện thứ năm mới là Diêm La, điện thứ nhất là Tần Quảng Vương, điện thứ năm là Diêm La Vương, điện thứ mười là Chuyển Luân Vương.

Tôi cho rằng trước nay chưa có người nào từng nhìn thấy Chuyển Luân Vương, Chuyển Luân Thánh Vương chưa từng có ai nhìn thấy, cũng chưa từng có ai sau khi nhìn thấy Thập Điện Diêm Vương lại trở về thế giới Ta Bà để kể Diêm La Vương trông như thế nào cả. Những người đã đi tới âm gian, đã đi đến Thập Điện Diêm Vương, sau đó lại trở về thì có! Nhưng cũng không nói họ trông như thế nào, đều là dựa vào tưởng tượng. Cá nhân tôi cho rằng 32 tướng, 80 vẻ đẹp này có vẻ như là vô hình, cho nên trước mắt nói rằng Chuyển Luân Thánh Vương là vô hình.

Thượng Nguyên Thiên Quan ở trên trời chuyển luân, Thượng Nguyên Thiên Quan ở trên trời chuyển bánh xe, chuyển luân tại thế giới Ta Bà thì là Trung Nguyên Địa Quan, chuyển luân ở dưới nước là Hạ Nguyên Thủy Quan, trong kinh điển Đạo gia có điều này. Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế chính là Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Thiên Quan là chưởng quản chuyển luân ở trời, Địa Quan là chưởng quản chuyển luân ở trên mặt đất, Thủy Quan Đại Đế là chưởng quản chuyển luân ở dưới nước.

Ở Trung Quốc mà nói thì chúng ta gọi Nghiêu, Thuấn, Vũ là Tam Quan Đại Đế. Thiên Quan là Nghiêu, Địa Quan là Thuấn, Thủy Quan là Đại Vũ, Đại Vũ trị thủy đó, Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế. Kì thực bây giờ Nghiêu, Thuấn, Vũ cũng không có người nào từng nhìn thấy, mọi người đã từng thấy chưa? Cũng chưa từng thấy. Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế, các bạn cũng chưa từng nhìn thấy, Thập Điện Diêm Vương cũng chưa từng nhìn thấy, họ đều là vô hình mà. Ngoài ra còn một số vị nữa các bạn cũng chưa từng nhìn thấy.

Nếu dựa vào tín ngưỡng mà nói, người ở dưới nước chưởng quản nước, chúng ta gọi là Thần Bảo Hộ là được rồi, Thần Bảo Hộ. Đài Loan chúng ta có rất nhiều người đến từ Phúc Kiến, những người thời kì đầu di dân đến Đài Loan có Tuyền Châu, Thần của Tuyền Châu là Quảng Trạch Tôn Vương, là Thần Bảo Hộ của Tuyền Châu. Thần Bảo Hộ của Chương Châu là Khai Chương Thánh Vương, đây là Thần Bảo Hộ. Ngoài ra còn có một vị, Thần Bảo Hộ của mỗi gia đình là gì? Tam Sơn Quốc Vương. Các bạn đã từng nhìn thấy các vị này chưa? Mọi người chúng ta cũng không biết, bởi vì họ cũng là vô hình. Nhưng các bạn đã từng nhìn thấy tướng của họ được điêu khắc ra chưa? Mỗi một vị đều có 32 tướng giống như Phật. 

Vì thế, Chuyển Luân Thánh Vương này, cá nhân tôi cho rằng thế này, ngài là vô hình. Ở đây chúng ta có một vị là Thiên Thượng Thánh Mẫu, tướng của ngài như thế nào? Đúng vậy, bạn thấy tướng mạo của ngài, tai rất dài đó! Kì thực Thiên Thượng Thánh Mẫu cũng thuộc về Thủy Thần. Giống như tượng điêu khắc của Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài cũng có 32 tướng. Địa Tạng Bồ Tát chưởng quản địa ngục, ngài cũng có đầy đủ 32 tướng, tranh vẽ của Địa Tạng Vương Bồ Tát, tranh vẽ của Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có 32 tướng. 

Cho nên chuyển pháp luân từ bi là Quan Thế Âm Bồ Tát, chuyển pháp luân của địa ngục là Địa Tạng Vương Bồ Tát, chuyển pháp luân của cõi trời là Ngọc Hoàng Đại Đế, tại Đao Lợi Thiên chuyển pháp luân của cõi trời. Ngọc Hoàng Đại Đế chuyển pháp luân của cõi trời, ngài cũng có đủ 32 tướng. Tôi cho rằng những cái gọi là 32 tướng 80 vẻ đẹp này, trong Phật giáo nói đến các vị chuyển pháp luân trên trời, chuyển pháp luân dưới nước, chuyển pháp luân trong địa ngục, chuyển pháp luân từ bi, chuyển pháp luân trí huệ, các vị đều có đủ 32 tướng, nhưng các vị ấy không nhất định là Phật.

Phật chắc chắn có 32 tướng, 80 vẻ đẹp. Cho nên đoạn này Phật nói thế nào là Chuyển Luân Thánh Vương, các bạn phải chú ý đó, thế giới Ta Bà căn bản không tìm được một vị Chuyển Luân Thánh Vương như vậy, cho nên trong thế giới vô hình mới có. Tôi nhớ rằng vì Chuyển Luân Thánh Vương này mà trong giáo giới từng có những cuộc tranh luận, tôi cho rằng họ vẫn là vô hình.

Thế rồi Tu Bồ Đề lại bạch Phật rằng, *"Thưa Thế Tôn! Theo con hiểu nghĩa Phật nói, không nên dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai.”* Không sai. Lúc này Tu Bồ Đề mới hiểu là không thể dùng 32 tướng để thấy Như Lai, bởi vì Như Lai không có tướng. Nói cách khác là, pháp thân thanh tịnh căn bản là vô tướng, 32 tướng căn bản chính là vô tướng, cho nên pháp thân thanh tịnh càng là vô tướng. 

Lúc này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói một bài kệ:  
*Nếu do sắc thấy ta  
Do âm thanh cầu ta  
Người ấy hành tà đạo  
Không thể thấy Như Lai.*

Hiểu bài kệ này thế nào? Sắc chính là 32 tướng. Nếu dựa vào tướng, nếu như cho rằng tướng chính là Như Lai, lại còn cho rằng âm thanh phát ra chính là Như Lai, thì người này đang làm tà đạo, không thể thấy Như Lai.

*“Do âm thanh cầu ta”*, tôi cho rằng câu này nên nói thế này, bạn đi tìm cầu Như Lai có tướng thì không thể thấy được Như Lai. Tìm cầu Như Lai có tướng thì không tìm được. Bạn dùng âm thanh để đi tìm Như Lai này cũng không tìm được, vì sao không tìm được? Tâm thanh tịnh, Phật tính thanh tịnh, pháp thân thanh tịnh hoàn toàn không phải là có tướng. Bạn không thể dùng âm thanh để đi tìm pháp thân thanh tịnh. Nếu bạn dùng âm thanh để đi tìm cầu, hoặc bạn nhìn thấy cái tướng kia cho rằng đó chính là Như Lai thì người này đang làm tà đạo, không thể thấy Như Lai.

Ngày xưa khi tôi đọc kinh Kim Cang, tôi vẫn chưa hiểu những điều này, tôi cho rằng *“do âm thanh cầu ta”*, cái này không tốt, không đúng. Thế thì tôi thường xuyên niệm Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, đó là tôi dùng âm thanh, lẽ nào dùng âm thanh là không đúng sao? Niệm Nam Mô A Di Đà Phật không đúng sao? Chúng ta thường thấy chính là A Di Đà Phật mà! Ngày ngày niệm Nam Mô A Di Đà Phật, đó không phải là dùng âm thanh sao? Sao lại là *“người ấy hành tà đạo”*? Tôi ngày xưa đã nghi hoặc điểm này. Tôi niệm Phật hoặc là cầu nguyện Phật, thỉnh cầu Phật tức là đang hành tà đạo ư? Điều này không đúng rồi! Vậy thế nào mới đúng đây?

Không phải là giải thích như vậy. Ở đây Phật nói đến tâm thanh tịnh, pháp thân thanh tịnh, không phải là có tướng. Pháp thân thanh tịnh cũng không phải là cầu mà có, nếu bạn đi cầu pháp thân thanh tịnh, dùng cách cầu xin đó thì sẽ không có được, cũng không phải là tu mà ra. Là bạn làm cho mình thanh tịnh rồi thì tự nhiên Phật sẽ hiển hiện, nói như vậy mọi người đã hiểu chưa? Cho nên câu nói này, “nếu do sắc thấy ta”, cũng là biểu thị pháp thân thanh tịnh, vô tướng, không thể dùng 32 tướng để thấy, cũng không thể dùng 80 vẻ đẹp để thấy.

Pháp thân thanh tịnh cũng không phải là bạn dùng âm thanh đi tìm cầu là có thể cầu được, là buộc phải dùng pháp thanh tịnh để thanh tịnh chính bạn, thanh tịnh đến cuối cùng Phật tính của bạn sẽ hiển hiện, không cần phải cầu. Hai câu này “Người đó hành tà đạo, không thể thấy Như Lai”, nếu bạn làm như vậy thì người này đang làm tà đạo, không thể nhìn thấy Như Lai, không thể nhìn thấy pháp thân thanh tịnh, bản thân bạn không thể biến thành pháp thân thanh tịnh. Nói thế này đã hiểu chưa?

Vì thế, theo âm thanh này mà nói, trước kia tôi nói rằng chúng ta thường xuyên niệm Phật, vậy Phật ở trong kinh Kim Cang lại nói rằng *“Do âm thanh cầu ta, người đó hành tà đạo”*, vậy thì mỗi ngày chúng ta niệm Phật chẳng phải là đang hành tà đạo sao? Không phải! Chúng ta niệm Phật là khẩu thanh tịnh, niệm chú là khẩu thanh tịnh, đó là dùng âm thanh, không sai. Bạn không dùng âm thanh cũng được, bạn niệm thầm trong tâm cũng được, nhưng bạn niệm ra tiếng rồi in vào trong tâm. Khi bạn niệm Phật thì sẽ không nói lời tục tĩu, đó không phải là vọng ngữ.

Nếu không vọng ngữ, khẩu của bạn sẽ thanh tịnh, còn cả thanh tịnh ý niệm, còn cả thanh tịnh thân thể, đây chính là pháp thanh tịnh, thanh tịnh đến tận cùng thì cuối cùng bạn đạt được pháp thân thanh tịnh. Cho nên không phải là dùng âm thanh niệm Phật của bạn, không phải là dùng pháp thân thanh tịnh mà bạn đi thỉnh cầu về, không phải là dùng âm thanh để đi cầu pháp thân thanh tịnh, mà là dùng thân khẩu ý thanh tịnh rồi, khi đã đạt 12, 13, 16 phần thanh tịnh rồi thì bạn chính là Như Lai. Ý của Phật là như vậy.

Phần pháp thân phi tướng này tôi giải thích như vậy. Vì thế Chuyển Luân Thánh Vương, tôi cho rằng cũng là vô hình, giống như Thập Điện Diêm Vương đều rất trang nghiêm, giống như Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng rất trang nghiêm, giống như Quan Thế Âm Bồ Tát cũng rất trang nghiêm, ngài cũng có 32 tướng. Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng có 32 tướng, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cũng có 32 tướng, rất nhiều Bồ Tát đều có 32 tướng, nhưng Bồ Tát thì không nhất định đã là Phật!

Phật có 32 tướng, 80 vẻ đẹp, Bồ Tát cũng có 32 tướng, nhưng Bồ Tát không nhất định đã là Phật, không chắc mỗi một vị đều là Phật. Cho nên bạn xem, Ngọc Hoàng Đại Đế, Thiên Đế kia ở Đao Lợi Thiên chuyển thiên thượng giới, ngài cũng có 32 tướng. Chuyển địa giới như Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan cũng đều có 32 tướng, Thập Điện Diêm Vương cũng có 32 tướng, nhưng họ không phải là Phật. Đây là giải thích của tôi.

Khi giới thiệu bản thân, nhất định phải nói là bản thân rất xấu. Nếu bạn đúng là mĩ nữ soái ca, mọi người sẽ cảm thấy bạn rất khiêm tốn, nếu bạn thật sự rất xấu thì chí ít người ta vẫn có thể phát hiện ra ưu điểm khác của bạn. Ưu điểm ấy chính là bạn đúng là rất thật thà.

Cái này cũng là thân tướng, có người trông rất đẹp, có người trông rất xấu. Nhưng bạn không thể nói người nào xinh đẹp thì là người tốt, người nào xấu xí thì là người xấu, đúng không? Soái ca mĩ nữ trông rất đẹp, ít nhất kiếp trước của họ đều có nhân duyên, bạn trông rất xấu, kiếp trước của bạn cũng có nhân duyên. Tuy nhiên có người trông xấu xí nhưng tâm địa lại rất tốt.

Tôi thích xem múa rối của Đài Loan, bạn có biết múa rối không? Trước kia thịnh hành trò múa rối, Cáp Mạch hai răng trông rất xấu, nhưng tâm địa anh ta rất tốt, anh ta hình dạng xấu xí, hai răng chìa ra, Cáp Mạch, Cáp Mạch. Ngoài ra còn có Bí Điêu, Bí Điêu trông rất xấu xí lại còn gù lưng, nhưng tâm địa cũng rất tốt. Quái Lão Tử cũng rất xấu, nhưng anh ta cũng là người tốt, cũng rất kì lạ, múa rối rất thích diễn cái này. Nhân vật có tạo hình đẹp, Sử Diễm Văn là đại nho hiệp ở Vân Châu, anh ta hình dáng rất đẹp, đương nhiên anh ta là nhân vật nam chính.

Tướng không nhất định là như vậy, nhưng chúng ta nói “tướng do tâm sinh”, khuôn mặt của con người là do tâm bạn sinh ra, bạn phải có trách nhiệm với tướng mạo của mình. “Tướng do tâm sinh”, cho nên nếu bạn đã nhiều tuổi, già rồi, đại bộ phận đều rất xấu, bởi vì có nhiều nếp nhăn nên càng ngày càng xấu, người xấu thật sự khiến người ta sợ. Phụ nữ xấu lại còn để tóc dài, nửa đêm xuất hiện dọa người ta sợ khiếp, bạn nhìn thấy mái tóc rất dài của họ, đột nhiên quay ra phía sau nhìn thấy, bạn sẽ bị dọa cho sợ gần chết. Tuổi tác đã cao thì để tóc dài không đẹp, nên cắt tóc ngắn đi một chút.

Nếu bạn có tu hành, tuổi tác càng ngày càng cao thì trông bạn sẽ càng hiền hậu. Người cao tuổi, bất kể là nam hay nữ đều rất hiền hậu, đây đều là người có tu hành. Nếu càng già càng trông đáng sợ thì nhất định là phàm phu, càng già càng ghê, bạn hung hăng cái gì chứ! Mọi người đều nhất luật bình đẳng, đều có Phật tính, bạn hung cái gì mà hung! Bạn xem Bí Điêu đó, mặc dù lưng gù nhưng anh ta không hề đáng sợ!

Bạn hãy xem ai kia ở Lôi Tạng Tự của chúng ta… Vì thế phải hiền hậu một chút, rất quan trọng đó, phải hiền hậu một chút, đừng hung dữ, ăn nói phải rất khách khí. Thấy người đến thì phải: “Hoan nghênh đến thăm!” Nhìn thấy người ta đi thì phải nói “Xin phép không tiễn!” Người đến sắp rời đi thì phải nói “Cảm ơn!” đều phải cảm ơn, phải rất lễ phép, càng hung thì càng xấu! Đừng có hung dữ quá, bệnh của Seattle Lôi Tạng Tự của chúng ta chính là mọi người đều rất hung dữ. Cầu Vồng Lôi Tạng Tự có hung dữ không? Tôi nói với bạn, người hung dữ đều là người không có tu hành! Om mani padme hum.

*(Ngày 09/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 73.)*

### 74. Phần thứ 27: Không đoạn không diệt

*(Bài giảng 74)* Ngoan không

Bây giờ giảng Phần thứ 27: Không đoạn không diệt. Chà! Tiêu đề này, tôi nói để bạn biết, đây là điều khó giảng nhất, đoạn này là khó giảng nhất trong kinh Kim Cang, Phần thứ 27: Không đoạn không diệt. 

Phần thứ 27: Không có đoạn cũng không có diệt có ý nghĩa là gì? Chúng ta đọc nội dung:

*"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng: Vì Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Chớ nghĩ rằng: Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."  
"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng, người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nói mọi pháp đoạn diệt. Đừng nghĩ như vậy! Là vì sao? Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đối với pháp không nói tướng đoạn diệt."*

Đoạn này tôi cho là khó giảng nhất trong kinh Kim Cang. Vốn dĩ trong kinh Kim Cang nói về cái Không, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, tôi đã nói cũng giống như mặt trăng, cái gì cũng không có, tức là không. Mặt trăng có cái gì? Cái gì cũng không có, không có mặn, không có chay, không có pháp thiện, không có pháp ác, cái gì cũng không có. Chúng ta biết mặt trăng cũng không có con người, vô ngã tướng, không có cái tôi ở đó; vô nhân tướng, cũng không có người mà; vô chúng sinh tướng, căn bản không có con người cũng không có chúng sinh; vô thọ giả tướng, cũng không có ai thọ mạng dài, ai thọ mạng ngắn. Thời gian và không gian trên mặt trăng đều không có ý nghĩa, thời gian qua bao lâu rồi không có ý nghĩa gì, không gian lớn thế nào cũng không có ý nghĩa. 

Bây giờ Sư Tôn bán đất trên mặt trăng, các bạn có muốn mua không? Muốn à? Rất đắt đó, bởi vì tôi có thể cắt ra một mảnh lớn cho bạn, sau này bạn vãng sinh rồi thì có thể đến đó sống. Tôi viết cho bạn tờ giấy, tôi còn đóng dấu nữa, Sư Tôn bảo đảm cho bạn, đúng thế không? Bán được rồi thì tôi cầm tiền đi đổ xăng. Chẳng có ý nghĩa gì hết! Ở đó tiền không có ý nghĩa gì hết! Bạn nói trên mặt trăng kiếm tiền gì, tiền kiếm được bạn có thể tiêu không? Không thể tiêu thì có ý nghĩa gì? Đất trên mặt trăng cũng không có ý nghĩa! Bạn xem bây giờ một mảnh đất bất kì, một căn nhà cần bao nhiêu tiền? Đất trên mặt trăng rộng như vậy đều không cần tiền, không có quan niệm về tiền, đó là đoạn!

Kinh Kim Cang vốn là nói về đoạn, bây giờ lại nói “không đoạn không diệt”, không đoạn cũng không diệt, cũng không phải là hoàn toàn cái gì cũng không có, cho nên đoạn này là khó giảng nhất. Phật nói với Tu Bồ Đề: Tu Bồ Đề, ông không thể nghĩ như vậy đâu! “Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ”, Như Lai không hề dựa vào 32 tướng 80 vẻ đẹp mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạn không được nghĩ như vậy, không được nói: “Như Lai vì vô tướng mới đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” Tu Bồ Đề, ông không được nghĩ như thế này: “Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.” Lại nhắc lại một lần nữa, không phải là dựa vào các tướng đầy đủ mà đi đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng, người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nói mọi pháp đoạn diệt.” Nếu như bạn đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề rồi, phát tâm bồ đề rồi, khi thuyết pháp nói “mọi pháp là đoạn diệt, là không có. Phật pháp là không có, là đoạn, là diệt”, cũng không thể có suy nghĩ này. Vì sao? “Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đối với pháp không nói tướng đoạn diệt.” Vì bạn đã có phát tâm bồ đề rồi, đối với pháp này bạn không nói về tướng đoạn và diệt.

Giảng xong rồi, mọi người nghe thấy thế nào, có đã hay không? Đã lắm! Bởi vì không biết rốt cục đang giảng cái gì, Phật Thích Ca Mâu Ni đang giảng cái cóc khô gì vậy? Ngài chẳng phải nói về không sao? Đừng chấp vào tướng sao? Không thể chấp vào có ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả sao? Chính vì không thể chấp mà phát tâm bồ đề, phát tâm bồ đề cũng không thể nói tất cả đều là không, đều là đoạn, đều là diệt. Đoạn này chính là như vậy, giảng thế nào đây?

Giống như hôm qua giảng về 32 tướng, khi tôi trở về Phật Bồ Tát có chỉ điểm. Quá khứ Phật từng nói, có cái gọi là Kim Luân Vương, Ngân Luân Vương, đều là Thánh Vương chuyển pháp luân, Thiết Luân Vương cũng là Thánh Vương chuyển pháp luân. Trong đời quá khứ khi có Kim Luân Vương xuất hiện để quản lí thiên hạ đều có 32 tướng, Kim Luân Vương, Ngân Luân Vương, Đồng Luân Vương và Thiết Luân Vương, Sư Tôn đã từng làm một trong bốn vị vua này.

Còn như Địa Tạng Vương Bồ Tát, ngài chuyển pháp luân của đất, ngài cũng có 32 tướng. Quan Thế Âm Bồ Tát, Chuẩn Đề Phật Mẫu đều có 32 tướng, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát chuyển bánh xe trí huệ có 32 tướng, Quan Thế Âm Bồ Tát chuyển pháp môn từ bi có 32 tướng, các vị đều là Chuyển Luân Thánh Vương. Giống như trong Phật Quốc Shambhala, vị Quốc vương đời thứ nhất có đầy đủ mọi tướng là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, vị Quốc vương đời thứ hai có đầy đủ mọi tướng là Bạch Liên Hoa Vương, cũng đều là Chuyển Luân Thánh Vương, đều có 32 tướng. Tối hôm qua Phật Đà chỉ thị tôi như vậy, có Kim Luân Vương, Ngân Luân Vương, Đồng Luân Vương, Thiết Luân Vương, khi ấy những vị vua xuất hiện đều quản lí thiên hạ, đều có 32 tướng.

Phần 27: Không đoạn không diệt này, Trung quán mà chúng ta nói chính là từ đây ra, Long Thọ Bồ Tát hiểu đạo lí của Trung quán. Có, là “không phải là không có”, giống như chúng ta bây giờ tức là có, ngồi ở đây đều là có, nhưng đều là huyễn thân, huyễn hóa mà ra, có cũng như không có, cho nên nói là không. Nhưng không thể nói đoạn diệt, nếu đoạn diệt tức là ngoan không <span className="note-blue">[ngoan cố chấp vào cái không]</span>. Không đoạn không diệt tức là nói rằng bạn không thể nói đoạn nói diệt, bởi vì đoạn diệt tức là ngoan không, ngoan không thì cái gì cũng đều không cần phải làm, chúng ta cũng không cần phải tu hành, vì sao? Vì đã đoạn diệt rồi thì đều là không có mà!

Giống như trước kia bố tôi biện luận với tôi, khi tôi đang học Phật, ông ấy tranh luận với tôi. Bố tôi chủ trương chết rồi thì cái gì cũng không còn. “Linh hồn là cái gì? Tôi không nhìn thấy, thiên đường gì, địa ngục gì, Phật quốc tịnh thổ gì, cái gì cũng không có!” Bố tôi kiên trì với chủ trương này. Tôi thì bảo có, khi ấy tôi bảo bố tôi: “Có chứ, có thiên đường, có địa ngục, có linh hồn đó!” Tôi nói là có. Bố tôi cãi tôi, ông ấy nói không có, thế nên không có gì cần làm cả. Ngày hôm đó là đêm giao thừa, hai chúng tôi cãi nhau, tranh luận đến cùng thì ông ấy nổi giận, đập bàn một cái rồi không ăn nữa! Ông ấy từ Đài Trung đi Cao Hùng chơi, bố tôi đi Cao Hùng gặp bạn.

Tôi nói tôi cũng muốn đi Cao Hùng tìm bạn, Cao Hùng có bạn học của tôi, tôi cũng muốn đi Cao Hùng. Mẹ tôi nói: “Hai người cãi nhau xong rồi hai người đều đi Cao Hùng, thế tôi đi đâu?” Khi ấy chúng tôi tranh luận về có và không. Kì thực bố tôi là ngoan không, cái gì cũng không có. “Anh bảo có, lấy ra cho tôi xem! Anh nói có linh hồn, lấy ra cho tôi xem! Tôi nhìn thấy thì mới tính.” Bố tôi cứ kiên trì như vậy, tôi thì nói với ông ấy, tranh luận với ông ấy. Thật ra tôi cũng không đúng, nói có cũng không đúng, bởi vì cái có này là huyễn.

Nhưng chúng ta phải hiểu một câu, chúng ta phải mượn cái huyễn này để rời xa huyễn. Trong cõi vô hình tự nhiên có vật, không thể nói là đoạn, không thể nói là diệt, không đoạn không diệt chính là ở đây. Bản thân bạn có một Phật tính, bạn tu được rồi, thanh tịnh rồi, Phật tính của bạn tự nhiên hiển hiện. Phật tính vốn dĩ chính là của chính bạn, bạn tự mình độ mình, cũng không phải là ai đến độ bạn, chính là bạn tự mình độ mình. Sau khi bạn học Phật pháp, dùng phương pháp của Phật pháp này để hiển hiện Phật tính của bạn, thanh tịnh rồi hiển hiện ra, cái này chính là thành tựu.

Phát bồ đề tâm không thể nói tướng đoạn diệt, bạn nói tướng đoạn diệt thì phát bồ đề tâm có tác dụng gì? Không có chúng sinh có thể độ mà! Vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, vậy bạn phát bồ đề tâm làm cái gì? Nhưng vì sự thanh tịnh của bạn, bạn phải phát bồ đề tâm, phải phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bạn phát bồ đề tâm rồi bạn mới có thể thanh tịnh chính mình. Thanh tịnh chính mình rồi mới có thể thành tựu Phật tính, Không tính, dung nhập, bạn mới có thể đắc được quả vị, bạn mới có quả vị được!

Làm như vậy, nhưng đừng ghi nhớ tôi đã thuyết pháp gì, độ bao nhiêu chúng sinh, không cần ghi nhớ, đó là vô hạn. Viết sách cũng đừng ghi nhớ bao nhiêu cuốn, cứ viết viết viết thôi… Bất kể là thế nào thì tôi cứ viết. Vẽ tranh cũng thế, phát bồ đề tâm cũng thế. Bạn giúp đỡ người ta đừng nghĩ việc giúp đỡ, tôi cứ phát bồ đề tâm, tôi muốn làm thôi, đừng nghĩ sau đó sẽ thế nào, tôi làm mà không vì gì cả. Điều kinh Kim Cang nói là như vậy, cho nên Trung quán của Long Thọ Bồ Tát là từ đây ra. Ngài cho rằng Thứ tự sinh khởi chính là Có, Thứ tự viên mãn chính là Không, Có và Không phải song vận, tư tưởng của Long Thọ Bồ Tát chính là Trung quán. 

Bạn phải có Thứ tự sinh khởi mới có thể có Thứ tự viên mãn được! Bạn chưa gì đã nói Không, nói Thứ tự viên mãn, vậy Thứ tự sinh khởi không cần làm sao? Không cần Thứ tự sinh khởi nữa, vậy chúng ta đều không cần Phật pháp, không dùng Phật pháp, không cần thuyết pháp, không cần nghe pháp, không cần tu pháp, dù sao cũng là đoạn diệt mà! Chết rồi tất cả đều không có, giống như lí luận của bố tôi, lí luận của bố tôi chính là đoạn diệt. Cho nên phải ở trong cả hai, cũng không phải Có, cũng không phải Không, cũng không phải là ở giữa Có và Không, chỉ là dùng cả hai. 

Giống như Tâm Kinh nói: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Điều này đã nói rất rõ ràng rồi. Sắc chính là Có, vốn dĩ toàn bộ thế giới Ta Bà đủ loại hình tượng chính là sắc, nó căn bản chính là Không, nhưng cái Không cũng chính là sắc! Sắc tức là Không, Không tức là sắc. Bạn phải có Có, phát bồ đề tâm sau đó thanh tịnh tất cả thì bạn mới có thể tiến nhập tính Không, đắc được quả vị, chính là như vậy. Cũng không phải là đắc được quả vị gì, dù sao bạn cũng đã hiển phát Phật tính của mình rồi.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói về không đoạn không diệt như vậy, không thể có suy nghĩ đoạn diệt, bởi vì có đoạn, có diệt tức là ngoan không. Cho nên hôm nay chúng ta làm bất kì việc gì, thanh tịnh chính mình là quan trọng nhất, bạn thanh tịnh chính mình rồi thì vô cùng tốt, giống như Chuyển Luân Thánh Vương vẫn đang ở các cõi trời, Đại Phạm Thiên Vương chính là Chuyển Luân Thánh Vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên Thiên Vương, thiên chủ của Dục Giới Thiên, Đại Tự Tại Thiên cũng là Chuyển Luân Thánh Vương, đều có 32 tướng. Thiên chủ của Sắc Giới Thiên có 32 tướng, thiên chủ của Dục Giới Thiên có 32 tướng, rất nhiều Phật Bồ Tát đang chuyển pháp luân đều là 32 tướng, ở đây là căn cứ theo điều đã giảng tối hôm qua và hôm nay phối hợp lại.

Bạn đã làm rồi, chuyển pháp luân, sau đó thanh tịnh chính mình rồi, tự nhiên thành tựu. Không có nhân sinh, không có nhân tử, không sinh không tử, bạn sẽ niết bàn thành tựu. Phải tẩy trừ bản thân không thanh tịnh, biến nó thành thanh tịnh rồi thì Phật tính hiển hiện, chính là như vậy. Đây là yếu nghĩa của Phật pháp, yếu nghĩa này cũng chính là Trung quán, Sắc Không song vận, Có và Không là song vận, quan niệm Trung quán của Long Thọ Bồ Tát, Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn song vận. (Đệ tử dâng lên cúng dường cảm ơn Pháp Vương đã truyền thụ kinh Kim Cang.) Vâng, việc cúng dường này vẫn có giá trị. Om mani padme hum.

*(Ngày 10/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Chuẩn Đề Phật Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 74.)*

### 75. Phần thứ 28: Không thọ không tham

*(Bài giảng 75)* Pháp vô ngã 

*"Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát đem thất bảo đầy trong thế giới nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, nếu lại có người biết tất cả pháp là vô ngã nên thành tựu pháp nhẫn, thì công đức của Bồ Tát này có được còn hơn cả công đức của Bồ Tát trước. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Là vì các Bồ Tát không nhận phúc đức."  
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Vì sao nói Bồ Tát không nhận phúc đức?"  
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát không nên tham chấp vào phúc đức có được nên mới nói là không nhận phúc đức."*

Cái này đã giảng bao lâu rồi vẫn là hai chữ phúc đức, lại dùng cát sông Hằng để so sánh. Phật Thích Ca Mâu Ni dùng cát sông Hằng để so sánh, còn dùng cả núi Tu Di để so sánh rất là nhiều. Phần thứ 28: Không thọ không tham ở đây là nói về Bồ Tát không thọ, không tiếp nhận bất kì thứ gì, ví dụ tiền bạc, ví dụ danh vị, ví dụ lợi ích, ví dụ đủ mọi thứ hữu hình, không vì cái này mà làm tức là không thọ. Không tham có ý nghĩa là bản thân Bồ Tát làm mọi việc bố thí không hề vì muốn nhận được cái gì, hay là muốn tham danh, tham lợi, tham sắc, đều không có! Nhưng ngài vẫn đi làm, đây mới là Bồ Tát chân chính. Bồ Tát không vì cái gì cả mà làm.

Bây giờ chúng ta giảng nội dung. Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi Tu Bồ Đề: *“Nếu Bồ Tát đem thất bảo đầy trong thế giới nhiều như số cát sông Hằng để bố thí”.* Nếu Bồ Tát dùng thất bảo trong thế giới nhiều như số cát sông Hằng, đem ra để làm bố thí, cũng tức là làm việc thiện, bố thí tương đương với làm việc tốt, làm việc thiện. *“Nếu lại có người biết tất cả pháp là vô ngã nên thành tựu pháp nhẫn, thì công đức của Bồ Tát này có được còn hơn cả công đức của Bồ Tát trước.”* Ý nghĩa là Bồ Tát sau biết mọi pháp vô ngã nên đắc thanh tựu pháp nhẫn, nói cách khác là cũng đi bố thí, Bồ Tát sau biết tất cả pháp là vô ngã nên đắc thành tựu pháp nhẫn, cũng đi làm việc thiện, làm đủ mọi việc thiện, thì công đức của Bồ Tát sau thắng công đức mà Bồ Tát trước có được.

Thế nào gọi là tất cả pháp là vô ngã? Tức là pháp vô ngã, Bồ Tát không có chữ “ngã” này tồn tại. Vì thế khi mọi người thọ Bồ Tát giới, tôi đã nói một câu, bạn nhận Bồ Tát giới rồi thì hãy nghĩ cho người khác, không nghĩ cho chính mình. Điều kiện cơ bản nhất khi thọ Bồ Tát giới là nghĩ cho người khác không nghĩ cho chính mình, cái này chính là pháp vô ngã. Khi người ta thọ Bồ Tát giới tôi thường phải nói câu này, bạn thọ Bồ Tát giới rồi tức là nghĩ vì chúng sinh chứ không nghĩ cho chính mình. Nếu nghĩ cho chính mình thì không có công đức. Nếu bạn không nghĩ cho mình, cái đó mới là công đức chân chính.

Cho nên ở đây nói rốt cục có bao nhiêu phúc đức? Bạn xem thất bảo đầy trong thế giới bằng với số cát sông Hằng, đem ra làm việc thiện, người này có công đức không? Đương nhiên là có, đương nhiên là có công đức. Nhưng nếu dựa vào pháp vô vi mà làm việc thiện, thì mọi công đức của Bồ Tát này còn hơn cả công đức mà Bồ Tát trước đã làm. Vì sao? *“Tu Bồ Đề! Là vì các Bồ Tát không nhận phúc đức.”* Có nghĩa là Bồ Tát là không thọ, không tham. Vì các Bồ Tát không nhận phúc đức, Bồ Tát là không tiếp nhận phúc đức, cũng không tham, căn bản chính là không có nghĩ về phúc đức.

Tu Bồ Đề bạch Phật rằng, Tu Bồ Đề hỏi: *"Thế Tôn! Vì sao nói Bồ Tát không nhận phúc đức?”* Vì sao Bồ Tát này không nhận phúc đức? Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời: *"Tu Bồ Đề! Bồ Tát không nên tham chấp vào phúc đức có được nên mới nói là không nhận phúc đức.”* Mặc dù là Bồ Tát làm các việc phúc đức, nhưng các vị không có tham chấp vào phúc đức đó, cho nên nói là không nhận phúc đức. Đoạn này thật sự là quá đơn giản, nhưng Phật không nói cái gọi là phúc đức chính là không phải phúc đức, vì không phải là phúc đức nên mới là phúc đức, Phật không nói câu này. Bình thường Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ nói, nhưng đoạn này ngài không nói câu này.

Cái gọi là phúc đức chính là không có phúc đức, bởi vì phúc đức giống như mộng huyễn, phúc và đức đều là một dạng giấc mộng, là một dạng huyễn, là một dạng huyễn giác, như mộng như huyễn, căn bản là không có phúc đức. Bởi vì không có phúc đức cho nên mới là phúc đức. Tức là nói rằng bạn đã hiểu rõ ràng rành mạch rồi, phúc đức này cũng là mộng huyễn, không nhận phúc đức, không tham phúc đức, đây mới là phúc đức chân chính đó! Phúc đức này khiến bạn có thể rời xa như mộng như huyễn, nghe rõ rồi chứ!

Nói về Lư Sư Tôn làm ví dụ, mọi thứ của thế gian thật sự tôi không tham chấp, không hề tham chấp. Bạn xem, bây giờ Sư Tôn lái xe Rolls-Royce, xe cao cấp nhất. Vậy sao lại bảo là không tham? Lẽ nào không phải là tham lái chiếc xe Rolls-Royce cao cấp đó ư? Mặc dù tôi lái xe Rolls-Royce, nhưng tôi biết chiếc xe này không hề thuộc về tôi. Đây là thứ của thế gian, chỉ là để cho tôi dùng tạm một lúc mà thôi, tạm thời có thể dùng thay cho đi bộ, Sư Tôn cũng có một chiếc xe Maserati, tổng cộng có hai chiếc xe. Ngoài ra còn có một đồng môn muốn tặng tôi xe Bentley, xe đã lái tới rồi, xe Bentley đều đã đưa đến cho tôi xem rồi! Họ mua xe đó là muốn tặng cho tôi. 

Tôi nói tôi chẳng biết làm thế nào, tôi không chống đỡ được! Có một số đồng môn nghe thấy thì nói: “Sao cơ? Người ta muốn tặng thầy một chiếc Bentley, thầy nhận đi! Thầy biết sao không? Thầy nhận nó rồi có thể bán lại.” Khi ấy tôi chỉ muốn nói rằng tôi đã có hai chiếc xe rồi, chiếc Rolls-Royce này là đi lại giữa nhà và chùa, tôi chưa từng đỗ lại ở bên ngoài, chỉ đỗ ở trong bãi đậu xe của Chân Phật Mật Uyển, đậu ở trong sân đậu xe ở Nam Sơn Nhã Xá, tức là chỉ chạy qua chạy lại giữa nhà và chùa thôi. Khi tôi đi tới những nơi khác thì tôi lái chiếc Maserati sẽ không bị chú ý lắm, nhưng lái xe Rolls-Royce đi khắp nơi đậu ở đó, một lát sau thì xe sẽ biến mất đó.

Nhưng tôi biết, đây chẳng qua chỉ là trong mơ thôi! Trong mơ cho bạn lái chiếc xe này, tôi không hề tham chấp, tôi không hề nói chiếc xe đó là của Lư Sư Tôn, tôi không nói vậy! Trên người tôi có rất nhiều món đồ tốt, Sư Tôn có viên kim cương bao nhiêu carat đó, viên kim cương Marilyn Monroe đã đeo bao nhiêu carat nhỉ? Gần ba mươi carat nhỉ! Tôi cũng không tham viên kim cương này, tôi cũng không đeo ra ngoài, khi vui thì đeo một chút. Tôi đã ngừng đeo tất cả những chiếc nhẫn này trong một thời gian, vàng, bạch kim đều không đeo. Gần đây tôi vui thì đeo một chút.

Bạn xem, tôi có một chiếc đồng hồ rất tốt, chiếc đồng hồ này là loại Rolex đầy sao. Lần trước tôi đeo một chiếc Piaget bằng bạch kim, đồng hồ Piaget này là vàng trắng, lần trước tôi đeo ra ngoài, cũng đầy sao đó. Người ta tặng tôi bao nhiêu đồng hồ bạn có biết không? Đồng hồ Piaget do người ta tặng, đệ tử tặng có mười chiếc, tôi đem đi bán. Đã bán bao nhiêu chiếc Rolex rồi? Không đếm nổi, khoảng bảy, tám cái đồng hồ vàng Rolex rồi! Bán từ thiện cho Phật đường đó, bán từ thiện xong đều cho Phật đường kia. Sau này cũng là bán từ thiện, đem những thứ kia đi bán hết, rồi tặng cho Chân Phật Tông, tặng cho Quỹ từ thiện Lư Thắng Ngạn, tất cả đều bán hết.

Hai chiếc xe bây giờ đều là sư tỉ Hanifa tặng, đều là người ta tặng, không phải tôi mua đâu! Tất cả đồng hồ đều là đệ tử tặng, cũng không có một chiếc nào là tôi mua. Nhưng tôi có tham không? Không! Vì sao không tham những thứ đó? Chỉ là để bạn đeo chơi một lúc thôi! Mấy carat mấy carat đều là chơi thôi, bạn không thể có được chúng vĩnh viễn, bao gồm cả chính thân thể bạn cũng đều không phải là của bạn vĩnh viễn, không có thứ nào là của bạn, bạn hiểu điều này thì sẽ không thọ không tham. Bạn không có lòng tham với những thứ này, bạn cũng nhìn thấu chúng đều là những thứ giả.

Tôi nói với bạn nhé, Long Thọ Bồ Tát Thiên Thai Tông “nhất tâm tam quán” là ai? Pháp sư Huệ Văn truyền cho pháp sư Huệ Tư, pháp sư Huệ Tư truyền cho đại sư Trí Giả. Sơ tổ Huệ Văn của Thiên Thai Tông, nhị tổ Huệ Tư, tam tổ chính là đại sư Trí Giả, trong đó có một cái là nhất tâm tam quán, vì sao gọi là nhất tâm tam quán? Không, Giả, Trung. Cái gì gọi là Không, Giả, Trung? Không, điều kinh Kim Cang nói đến chính là Không. Kinh Kim Cang cũng nói đến Giả. Trung là Trung quán của Long Thọ Bồ Tát. 

Mọi người thử nghĩ xem, trên thế giới này là giả, là huyễn, thế giới này tương lai cũng sẽ biến thành không. Bạn nghĩ xa một chút, trái đất cũng là thành trụ hoại không, thân thể chúng ta cũng là thành trụ hoại không. Bạn nghĩ kĩ mà xem, thân thể của bạn có phải là thành trụ hoại không không? Vì đã là thành trụ hoại không, sau này cũng là không thôi. Vì đã là không, vậy bạn còn bám chấp gì vào những thứ vật chất? Nên không thọ, không tham. Nói như vậy mọi người đã rõ chưa? Người sau họ đã biết, không có cái gì gọi là làm phúc đức. Không có phúc đức cái thứ này, bởi vì hiểu rõ rồi, căn bản là không có phúc đức mới là phúc đức, phúc đức đó là để cho bạn rời xa Không và Giả của thế giới Ta Bà này.

Đồ vật đều sẽ hoại, chiếc Rolls-Royce đầu tiên của tôi là bố của Thượng sư Liên Truyền - Thượng sư Liên Tín tặng cho tôi, chiếc xe đó đã hỏng rồi, cho nên đã bán rồi. Chiếc xe thứ hai là Bentley, là sư tỉ Hanifa tặng, bởi vì tôi đã lái nó rất lâu rồi, lái đến bây giờ công ty Bentley đó không còn sản xuất linh kiện cho xe đó nữa, chẳng biết làm sao, hễ nó hỏng là không có chỗ nào sửa. Bạn hỏi cô phiên dịch Hanifa đó, bây giờ chiếc xe Bentley đó vẫn còn để ở chỗ cô ấy, xe rất dài rất to, rất đẹp, vỏ ngoài rất tốt, bên trong toàn bộ đều rất cũ rồi, cho nên tôi liền trả lại cho cô ấy. 

Còn chiếc Rolls-Royce kia có sẽ cũ không, có sẽ hỏng không? Cũng thế thôi! Vì thế sao bạn lại bám chấp rằng thứ này là của tôi, vĩnh viễn đều là của tôi, chuyện này là không thể nào, chiếc xe này rồi sẽ hỏng. Kim cương hình như sẽ không hỏng nhỉ! Nghe nói kim cương ở một góc độ nào đó cũng sẽ hỏng. Vì sao tôi đeo những thứ này trên người? Ví dụ đồng hồ này, bởi vì khi người ta tặng cho tôi thì có khắc hai chữ Thắng Ngạn, dùng một lá vàng để khắc lên hai chữ Thắng Ngạn, úp cái đồng hồ Rolex này xuống cũng là hai chữ Thắng Ngạn, thế nên tôi đeo trên người.

Bởi vì đây cũng có một sự tượng trưng, có hai chữ Thắng Ngạn cho nên tôi mới đeo, nếu không có hai chữ Thắng Ngạn này thì tôi không đeo. Nhưng mà Thắng Ngạn cũng là không có, đó cũng là cái tên giả thôi! Gần đây có lẽ là tôi vui vẻ phấn khởi quá cho nên tôi mới đeo một chút, bình thường tôi cũng không đeo, hai tay đều không đeo, ngay cả nhẫn tôi cũng không đeo. Cái này bằng vàng, cái này là vàng trắng, bên cạnh là kim cương, cũng không biết là đồng môn nào tặng tôi, cái này cũng là đồng môn tặng. Đồng hồ Rolex này là lúc trước Tông Ủy Hội tặng, cái này là một đại gia ở Trung Quốc Đại Lục tặng, đều là người ta tặng, không phải tôi đi mua đâu, tôi không tham.

Sư Tôn không tham, chỉ là bạn tặng cho tôi thì tôi đeo cho bạn thấy. Tôi cũng biết cái này là đồ giả, bởi vì bạn tặng tôi, tôi không đeo cho bạn thấy, bạn sẽ hỏi tôi: “Có phải là thầy tặng cho người ta rồi không? Hay là thầy không thích?” Bởi vì tôi không thường xuyên đeo, cho nên gần đây họ lại muốn tặng tôi một cái, đúng vậy! Lại muốn tặng tôi một cái đồng hồ Piaget, lại có khắc tên, bên trong chiếc đồng hồ lại khắc lên hai chữ Thắng Ngạn, đúng là cái tên rất to đó. Họ cho rằng tôi không thích đeo cái đồng hồ Piaget bạch kim kia. Thật ra tôi rất thích đeo, chỉ là hơi nặng một chút, khi làm đại lễ bái thường đè lên cái tay này, tay sẽ bị đau. 

Mọi người hãy nhớ, cái này là để bạn dùng tạm thời thôi, không phải là chính bạn có được thật sự, tạm thời để bạn nhìn một chút, không phải là bạn thật sự có được. Mọi người đã hiểu chưa? Vì thế điều mà kinh Kim Cang nói rất rõ ràng, Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát dùng thất bảo trong thế giới nhiều bằng số cát sông Hằng để làm việc thiện, nếu có người biết tất cả pháp là vô ngã, căn bản tức là tư tưởng vô ngã, pháp vô ngã, để làm mọi việc thiện, thì công đức mà Bồ Tát này có được còn hơn cả công đức mà Bồ Tát trước có được. Vì sao? Tu Bồ Đề! Vì các Bồ Tát không nhận phúc đức. 

Đương nhiên là không nhận phúc đức rồi, bởi vì căn bản không có phúc đức. Phúc đức cũng là không, là giả, chỉ là tạm thời cho bạn hưởng thụ một chút, cảm thấy dường như thoải mái một chút, thấy hay một chút, đó chỉ là tạm thời. Tu Bồ Đề hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni vì sao Bồ Tát không nhận phúc đức? Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời, Tu Bồ Đề à, Bồ Tát sẽ không tham vào phúc đức đã làm, cho nên nói là không nhận phúc đức, sẽ không tham thứ này.

Thế giới Ta Bà này của chúng ta có rất nhiều tỉ phú, ví dụ Bill Gates đang sống ở ngay đây thôi, phía trên của chúng ta chính là Microsoft, ở đó có một khu đất đai rất rộng, rất tốt. Ngày xưa khi đi qua nơi đó, tôi liền bảo khu đất này là của người giàu có nhất thế giới, khi ấy còn chưa có Microsoft đâu, toàn bộ đều là rừng cây, khi chúng ta mới chuyển tới đây. Bạn thử hỏi bậc cha ông mà xem, khi chúng ta mua mảnh đất này còn chưa có Microsoft, khi ấy ngồi trên xe tôi đã nói với họ rằng, mảnh đất ở phía trên là của người giàu có số một thế giới. Đúng đó, thế rồi Microsoft đã mua nó, Bill Gates chính là người giàu nhất thế giới. Thật sự là có chuyện ấy! Không tin bạn hãy hỏi họ, khi ấy ai ngồi trong xe nhỉ? Chúng tôi từ quận Ballard đi qua đây, đúng không! Tôi nói mảnh đất phía trên là của người giàu nhất thế giới. Khi ấy tôi vừa nhìn đã biết đó là của người giàu nhất thế giới rồi, chính là Bill Gates. 

Thế nhưng người giàu nhất thế giới thì có tác dụng gì không? Không có tác dụng gì, chẳng có tác dụng quái gì cả! Có một ngày ông ta sẽ… bây giờ ông ta dường như đã biết rồi, có tiền thật sự cũng vô dụng. Có mảnh đất đó, làm càng ngày càng to, bạn xem tòa nhà công ty đó càng xây càng rộng, càng ngày càng to, họ đã mua hết toàn bộ đất phía trên rồi. Là của ông ấy sao? Không phải! Tạm thời để ông dùng thôi, tạm thời để ông nhìn thấy thôi, có một ngày cũng sẽ là của người khác. Người giàu số một thế giới cũng không phải là người giàu số một thế giới, bởi vì không phải là người giàu số một thế giới mới là người giàu số một thế giới. Bây giờ họ đều hiểu, cho nên họ đem hết mấy tỉ mấy tỉ ra để làm từ thiện, bạn xem ông ấy cũng đem mấy tỉ cho ai, mấy tỉ này cho ai, ông ấy cũng đang làm phúc đức, sau này ông ấy có thể lên cõi trời. Bởi vì ông ấy có làm phúc đức, ông ấy sẽ có thể lên trời.

Ông ấy biết rằng tiền đó chỉ dùng ở thế giới Ta Bà thôi, không có ý nghĩa gì! Cho nên tôi thường xuyên nói một so sánh, nói rằng là bạn đến mặt trăng, cái gì là phúc đức? Cái gì là việc thiện? Cái gì là việc ác? Thứ gì quý giá nhất? Tôi lấy ví dụ đó! Bạn đến mặt trăng, thứ gì là đắt nhất? Thứ gì là rẻ nhất? Không có. Cái gì là thiện, cái gì là ác? Không có. Cái gì là Phật pháp, cái gì là chính pháp, cái gì là tà pháp? Không có. Trên mặt trăng người nào thắng người nào bại? Không có. Trên mặt trăng, người nào được người nào thua? Không có.

Nhân gian vốn dĩ cũng không có! Chỉ là khiến cho con mắt của chính mình bị mê lú mới cho là có. Đoạn sau sẽ nói đến, chỉ là con mắt của con người cho là có, kì thực là không có. Con người phải tu hành thế nào mới có thể thoát khỏi thế giới mê huyễn, thoát khỏi cái không huyễn này của nhân gian? Long Thọ Bồ Tát nói với chúng ta về Trung quán, dùng Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn song vận mới có thể rời xa thế giới Ta Bà này, mới có thể có được thành tựu. 

Ở chương trước Phật Thích Ca Mâu Ni cũng nói không đoạn không diệt. Vì thế không thể chấp vào Có, cũng không thể chấp vào Không, tức là phải Trung quán. Điều Long Thọ Bồ Tát nói chính là phải Có - Không song vận, Không và Có song vận, sau đó bạn thanh tịnh chính mình rồi bạn mới có thể rời xa huyễn cảnh này. Đạo lí chỉ là như vậy mà thôi, nhưng nếu bạn lười biếng, không nghiêm túc, không nỗ lực học tập chăm chỉ, chăm chỉ thanh tịnh bản thân thì kiếp sau bạn vẫn ở trong lục đạo trong huyễn cảnh mà luân hồi. 

Không rời xa được lục đạo luân hồi này, vĩnh viễn lưu chuyển trong lục đạo, bạn không rời xa được huyễn cảnh này, đây chính là nhân quả. Cho nên Phật pháp nói như thế này, mặc dù bạn biết, nhưng bạn buộc phải dùng cái huyễn cảnh này, thân thể này của mình, sau khi rời xa thân thể này của mình, bạn có thể rời xa huyễn cảnh mới xem là thành tựu. Phật pháp dạy như vậy. Tôi giảng như vậy mọi người có hiểu không?

(Có đệ tử hỏi: Thành tựu pháp nhẫn.)

Chữ nhẫn ở đây là việc tốt, việc thiện, không phải là bảo bạn nhịn không được đi tiểu tiện, không phải là cái nhẫn đó. Cũng không phải là nói người ta đánh bạn, chửi bạn, bắt nạt bạn, bạn nhẫn nhục, ở đây không phải nói về nhẫn nhục. Chữ nhẫn này là chỉ thiện, việc thiện, làm việc thiện, thật ra vừa nãy tôi đã giảng nhẫn này chính là việc thiện. Tôi không bảo bạn rằng đó là nhẫn nhục, là nhẫn nhục đại diện cho mọi việc thiện, không phải! Trong kinh Kim Cang, Phật không nói việc thiện, Phật nói bố thí, bố thí đại diện cho tất cả việc thiện. Kì thực sáu ba la mật đương nhiên có nhẫn nhục, bố thí, trì giới, tinh tấn, trí huệ, thiền định, đó là sáu ba la mật. Thành tựu pháp nhẫn, lúc này là dùng chữ nhẫn, một chữ để đại diện cho mọi pháp thiện, ý nghĩa là việc thiện, sự đại diện ấy tương đối rộng lớn, không chỉ có mỗi nhẫn nhục. Om mani padme hum.

*(Ngày 16/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 75.)*

### 76. Phần thứ 29: Uy nghi tịch tĩnh

*(Bài giảng 76)* Uy nghi

*"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc ngồi hoặc nằm, thì người đó không hiểu nghĩa ta nói. Là vì sao? Vì Như Lai đó chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.”*

Đoạn này rất nhiều người đã đọc rồi nhưng cũng không hiểu là Phật đang nói cái gì. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc ngồi hoặc nằm, thì người đó không hiểu nghĩa ta nói. Là vì sao? Vì Như Lai đó chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.”* Rất nhiều người đọc đoạn này đều không thể giải thích. Thế nào là Phần thứ 29: Uy nghi tịch tĩnh, uy nghi tức là thế nào? Chúng ta thường xuyên nói uy nghi, người xuất gia phải có sự uy nghi, uy nghi cái gì? “Đi như gió, ngồi như đồng, đứng như tùng, nằm như cung.” Đây chính là uy nghi, uy nghi bề ngoài, đây là uy nghi biểu hiện ra bên ngoài. Người xuất gia là như vậy.

Ví dụ bạn đi đường thì không bao giờ được đung đưa lắc lư đâu! Người ta trông thấy sẽ bảo cái người xuất gia này làm gì có cái uy nghi gì để mà nói? Chẳng có uy nghi gì! Muốn có uy nghi, ngồi phải có tướng ngồi, đứng phải có tướng đứng, nằm phải có tướng nằm. Khi đi bộ nhanh còn có quy định là hai người phải đi cạnh nhau, phải có cùng nhịp bước. Tôi đã từng sống trong một thiền viện ở Nhật một thời gian, tôi đã đến chùa Yukawa ở Hakodate, Hokkaido, ngoài ra còn có mấy ngôi chùa nữa tôi cũng từng ở một thời gian.

Lối đi của họ đều dùng sỏi để rải, hai người đi bộ thì âm thanh phải cùng vang lên “rạo, rạo, rạo”. Những lối đi nhỏ họ thích rải sỏi, hai người đi phải cùng nhịp bước và đi cạnh nhau, không thể một người đi trước một người đi sau, là hai người cùng bước, quy định là như vậy, đó gọi là uy nghi. Ngồi có tướng ngồi, đứng có tướng đứng, không thể bảo là cúi xuống, khom lưng, xì mũi, khạc nhổ, ngoáy tai, gãi đầu, tất cả những điều này đều không đúng. Đều phải có quy tắc, đây chính là uy nghi, sự uy nghi của tướng bên ngoài. 

Uy nghi tịch tĩnh ở đây, uy nghi mà Phật Đà nói là cái gì? Bất động chính là uy nghi, tịch tĩnh chính là uy nghi. Bạn đi vào trong chùa của người ta thấy họ đang ăn cơm, bạn sẽ bị người ta dọa chết khiếp đó! Vì sao? Một cái kim rơi xuống đất cũng nghe thấy được, nghĩa là sao? Không có ai nói chuyện. Chân Phật Tông chúng ta ăn cơm, bất kể là ở Seattle Lôi Tạng Tự hay Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, khi chúng ta ăn thì nói chuyện oang oang, chỉ là không co chân lên thôi, còn đâu mọi người đều nói chuyện oang oang, kỉ luật của chúng ta khá lỏng lẻo. Bạn nhìn xem phòng ăn của người ta, một cây kim rơi xuống cũng đều nghe thấy, không nói chuyện, không nói thì thầm.

Khi ăn cơm, ăn cơm có tướng ăn, từ bát tới miệng, cầm bát lên là đưa lên miệng, không phải là cúi xuống rồi xì xà xì xụp, không phải là như vậy. Từ bát tới miệng, đưa bát lên, rồi ăn từ tốn như thế này, ăn từ tốn, vì thế đều là quy tắc. Hơn nữa, ăn cơm không bao giờ nói thì thầm. Nếu bạn muốn ăn thêm cơm, đũa bạn phải bày ở tư thế nào đó tức là làm dấu hiệu muốn người phục vụ giúp bạn đi lấy thêm một bát cơm nữa. Bạn muốn gắp thêm món gì, đũa của bạn sẽ bày ở tư thế đó, đều không nói chuyện, đó chính là uy nghi. Tuy vậy đó là biểu hiện bên ngoài thôi. Chân Phật Tông chúng ta chú trọng nội tâm. Cái bên ngoài cũng không ích gì, đúng không? Cái bề ngoài không ích gì, chúng ta chú trọng tới bên trong.

Uy nghi chân chính nói đến ở đây là sự tịch tĩnh trong tâm, sự tịch tĩnh của tâm, không có niệm tưởng. Vừa mới nói rồi, Lục Tổ Huệ Năng nói “không nghĩ thiện không nghĩ ác”, không có niệm tưởng gì, trong tâm bạn tịch tĩnh tức là uy nghi, trong tâm bạn rất tịch tĩnh, rất bình lặng, chính là uy nghi. Nếu bạn tức giận, tức là mất kiểm soát. Giận dữ, tức giận hoặc nói với giọng to hơn đều là mất kiểm soát, điều này là không đúng. Tịch tĩnh mới là uy nghi chân chính, bất động, tịch tĩnh là uy nghi chân chính, tâm bất động, tâm tịch tĩnh, đó mới là uy nghi. Tiêu đề này là viết như vậy.

Nội dung đoạn văn là: *“Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc ngồi hoặc nằm”*, đây là biểu hiện cái uy nghi ra ngoài, đây chính là uy nghi. *“Thì người đó không hiểu nghĩa ta nói. Là vì sao? Vì Như Lai đó chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.”* Tôi thường nói về hai chữ Như Lai này, vì sao dùng hai chữ Như Lai? Như tức là hình như, dường như có đến, dường như có đi. Như Lai và Như Khứ cùng là tên gọi của Phật, Như Khứ cũng là tên của Phật. 

Hình như có đến, hình như có đi, cũng là tịch tĩnh, kì thực Phật căn bản là đầy ắp cả vũ trụ, bạn thành Phật rồi thì cũng như đầy ắp cả vũ trụ, bạn chính là hư không. Bạn nghĩ đến Phật, Phật sẽ tiến vào trong tâm bạn, bạn thành tựu rồi, chỉ cần suy nghĩ nhớ đến Phật, Phật liền xuất hiện, Phật sẽ ở trước mặt bạn. Ý này nói rằng, Như Lai căn bản là như như bất động, không có đến cũng không có đi, không có đến cũng không có đi thì mới gọi là Như Lai, là Như Lai chân chính. Chữ Như này tức là giống như, hình như có đến, hình như lại không đến.

Phật nói với Tu Bồ Đề là nếu có người nói Như Lai *“hoặc đến hoặc đi”,* hình như Phật đã sinh ra tại thế giới Ta Bà rồi lại đi rồi, *“hoặc ngồi hoặc nằm”*, hình như có ngồi hoặc có đi ngủ, nói Như Lai có đến có đi, có ngồi có nằm, thì người này *“không hiểu nghĩa ta nói”*, là người này không hiểu ta. Vì sao? Bởi vì là Như Lai thì từ trước tới nay đều không từng đến cũng không từng đi mới gọi là Như Lai. Như vậy mọi người nghe đã hiểu chưa?

Ý tôi muốn nói rằng, bản thân Như Lai là bất động, là tịch tĩnh, đây là sự uy nghi tốt nhất. Bất động và tịch tĩnh là sự uy nghi tốt nhất, là tướng tốt nhất của Như Lai. Bởi vì Phật không phải là ở trong tâm bạn, chỉ là khi trong suy nghĩ của bạn có Phật thì ngài sẽ hiển hiện, bạn cầu ngài thì không nhất định phải đến trước mặt ngài cầu ngài, bạn chỉ cần một suy nghĩ, tôi nhớ đến vị Như Lai này thì Như Lai sẽ xuất hiện.

Tôi thường nghĩ đến bài hát kia: *“Nhớ đến em, em ở nơi chân trời; nhớ đến em, em ở ngay trước mắt; nhớ đến em, em ở trong tâm trí; nhớ đến em, em ở trong tim tôi.”* Là như thế đó! Phật hình như ở chân trời, không phải, Phật ở ngay trước mắt bạn, cũng không phải, Phật ở ngay trong tâm trí bạn, Phật ở ngay trong tim bạn. Khắp nơi đều có Phật, bạn chỉ cần trong tâm tịch tĩnh, tâm bạn bất động thì chính là sự uy nghi của bạn. Lúc này tâm bạn tịch tĩnh, tâm bất động, bản thân bạn chính là Phật rồi! Đây là sự uy nghi lớn nhất chứ không phải là cái biểu hiện bề ngoài.

Cho nên Phần thứ 29: Uy nghi tịch tĩnh nói đến ở đây, uy nghi lớn nhất chính là tịch tĩnh, chính là bất động, bạn bất động thì Phật sẽ ở ngay trong tâm bạn. Bạn tịch tĩnh thì Phật cũng chính là bạn. Nếu nói là phải động mới là Phật thì đó là hiểu sai điều Phật nói rồi, ý nghĩa của đoạn này đã hiện rõ rồi. Phật có đến có đi, Phật có ngồi có nằm, vậy đó không phải là Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni nói như vậy, Phật chân chính là đầy ắp hư không, ngài không đến cũng không đi, cho nên mới gọi là Như Lai. Như vậy nghe đã hiểu chưa?

Nói chung đoạn này nếu không giải thích thì rất ít người hiểu, tôi giải thích như vậy thì các bạn đã hiểu rõ ràng rồi. Mọi người hiểu được đoạn này, sau đó khi bạn đọc kinh, đọc đoạn này sẽ hiểu, tịch tĩnh chính là uy nghi, bất động chính là uy nghi. Phật chính là hư không, bạn nhớ đến ngài, ngài sẽ tiến vào trong tâm bạn, bạn nhớ đến ngài, chính bạn sẽ là Phật, đó chính là Như Lai. Phật là như vậy, ngài không có hình tướng gì, không có đến đi, không có ngồi nằm. Om mani padme hum.

*(Ngày 17/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Kurukulle Phật Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 76.)*

### 77. Phần thứ 30: Lí lẽ về một hợp tướng

*(Bài giảng 77)* Một hợp tướng

*"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ nghiền nát tam thiên đại thiên thế giới thành vi trần, ý ông thế nào? Vi trần ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Nếu những vi trần là thật có thì Phật ắt không nói là vi trần. Vì sao như thế? Phật nói: vi trần tức chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần. Thế Tôn! Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới tức chẳng phải thế giới, thì gọi là thế giới. Là vì sao? Nếu thế giới thật có thì ắt là một hợp tướng. Như Lai nói: một hợp tướng, tức chẳng phải một hợp tướng, thì gọi là một hợp tướng."  
"Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó ắt không thể nói, chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó."*

Phật Đà hỏi: *"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ nghiền nát tam thiên đại thiên thế giới thành vi trần, ý ông thế nào? Vi trần ấy có nhiều không?"* Cái này mọi người đều có thể thấy rõ rồi, Phật hỏi Tu Bồ Đề dùng ba nghìn đại thiên thế giới nghiền nát thành bụi. Trước đây tôi đã từng giảng về tam thiên đại thiên thế giới rồi. Bây giờ chúng ta ở thế giới này gọi là tiểu thiên thế giới, ba nghìn tiểu thiên thế giới sẽ thành một trung thiên thế giới, ba nghìn trung thiên thế giới mới biến thành một đại thiên thế giới, ba nghìn đại thiên thế giới thì gọi là tam thiên đại thiên thế giới. 

Bạn thấy tam thiên đại thiên thế giới đã rất lớn rồi, đếm không xuể rồi, lại còn nghiền nát thành vi trần, tam thiên đại thiên thế giới để biến thành bụi mịn PM2.5, ngay cả nhìn cũng không thấy bụi đó. Bụi xám còn có thể nhìn thấy được, còn bụi mịn PM2.5 thì có nhìn cũng không thấy. “Vi trần nhỏ như vậy có nhiều không?” Phật Đà hỏi Tu Bồ Đề.

Tu Bồ Đề đáp rằng rất nhiều. *"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Nếu những vi trần là thật có thì Phật ắt không nói là vi trần. Vì sao như thế? Phật nói: vi trần tức chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần.”* Câu này Tu Bồ Đề trả lời là rất nhiều thưa Thế Tôn. Vì sao vậy? *“Nếu vi trần là thực có thì Phật sẽ không nói là vi trần.”* Nếu như có nhiều vi trần như vậy, Phật nói đó không phải là vi trần. Vì sao lại nói như vậy? Phật nói những vi trần này đều không phải là vi trần, vì muốn có thể nói như thế cho nên gọi là vi trần.

Thế này chắc là nghe không hiểu rõ lắm. Có người giảng nói rằng nhiều như vậy nhưng trong con mắt của Phật thì không có những vi trần ấy. Vì muốn nói là có nhiều vi trần như vậy nên đặt cho nó một cái tên, cái tên ấy chính là vi trần, ý nghĩa chính là như vậy. Phật nói đó không phải là vi trần, vì sao? Bởi vì Phật nói rất nhiều vi trần đều không phải là vi trần, vì để gọi cái thứ này cho nên Thế Tôn đặt cho nó cái tên gọi là vi trần.  

*“Thế Tôn! Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới tức chẳng phải thế giới, thì gọi là thế giới. Là vì sao?”* Tam thiên đại thiên thế giới đều không phải là thế giới, cho nên mới gọi là thế giới. Vì sao vậy? *“Nếu thế giới thật có thì ắt là một hợp tướng.”* Trọng điểm nằm ở một hợp tướng. *“Như Lai nói: một hợp tướng, tức chẳng phải một hợp tướng, thì gọi là một hợp tướng.”* Một hợp tướng, cũng không phải là một hợp tướng, cho nên gọi là một hợp tướng. *"Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó ắt không thể nói, chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó.”*

Cho nên bây giờ phải giải thích với mọi người thế nào gọi là một hợp tướng, cái gọi là một hợp tướng chính là tổ hợp. Bạn nói xem thế giới Ta Bà có bao nhiêu người? Rất nhiều rất nhiều, người của mỗi chủng tộc đều nhiều cực kì, có rất nhiều chủng tộc. Ví dụ Trung Quốc Đại Lục, tức là người Hán, Mãn là người đông bắc, Mông là người Mông Cổ, Hồi là người Tân Cương, Tạng là người Tây Tạng, Miêu là người dân tộc Miêu, Hán Mãn Mông Hồi Tạng Miêu, Trung Quốc có tồn tại những chủng tộc này, mỗi một chủng tộc đều có rất nhiều người. Như vậy có nhiều không? Nhiều chứ!

Bạn xem một thành phố Thượng Hải đã có 26 triệu người, một thành phố Trùng Khánh gần bằng dân số của cả Đài Loan, một thành phố mà dân số bằng một quốc gia, nhiều người như thế, rất là khủng! Dân số của Trung Quốc Đại Lục rất đông, dân số của Ấn Độ cũng rất nhiều, còn có rất nhiều quốc gia nữa dân số đều rất nhiều, không biết là có bao nhiêu người, thật sự! Có người da đen, có người da trắng, có người da vàng, chủ yếu còn có người da nâu, còn có người da xám, người chủng tộc màu sắc gì cũng có, rất nhiều!

Nhưng trong con mắt của Phật đều không phải là người, vì sao vậy? Bởi vì cái này đều là tổ hợp, một hợp tướng chính là tổ hợp. Thế nào là tổ hợp? Mỗi con người đều là đất nước lửa gió tổ hợp lại mà thành, đất nước lửa gió cộng thêm một chút linh khí tổ hợp lại, hoặc là biến chủng. Nói một cách rất đơn giản về biến chủng, bạn xem Covid-19 đều là biến chủng, vì sao? Cái này và cái kia tổ hợp lại sẽ thành biến chủng… Những virus này đều đã học Mật giáo. Rất nhiều Phật Bồ Tát của Mật giáo đều là biến chủng đó. Bạn xem Đại Uy Đức Kim Cang là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Diễm Ma Pháp Vương kết hợp lại mà thành, biến thành Đại Uy Đức Kim Cang, đó không phải là biến chủng sao?

Nói đơn cử con người chúng ta là được rồi. Bạn cũng là biến chủng đó, có người nào không phải là biến chủng? Đều là tổ hợp mà, bố bạn và mẹ bạn kết hợp lại, biến thành một con trùng có hình sợi và một con trùng có hình tròn, hai con kết hợp lại biến thành bạn. Phần tử cấu tạo ra bạn là cái gì? Cũng là một hợp tướng. Thế nào là một hợp tướng? Đất nước lửa gió chính là một hợp tướng. Ở đây duyên tập hợp lại, rồi nó cũng sẽ tan. Bạn đừng nói chỉ có con người là biến chủng, tất cả chúng sinh bao gồm loài bay trên trời, loài bò dưới đất, loài bơi trong nước, toàn bộ đều là biến chủng, đất nước lửa gió toàn bộ địa cầu cũng là biến chủng.

Mọi ngôi sao đều là biến chủng, mọi tiểu thiên thế giới, trung thiên thế giới, đại thiên thế giới, toàn bộ đều là biến chủng, đều là một hợp tướng. Toàn bộ đều là tổ hợp, đó gọi là một hợp tướng. Như vậy mọi người đã hiểu một hợp tướng chưa? Vì thế đừng nói rằng sinh vật chúng ta là một hợp tướng, mọi cái bàn cũng là một hợp tướng, cái *table* (bàn), *chair* (ghế) mà bạn nhìn thấy là một hợp tướng. Bàn này là từ đâu biến chủng ra? Đó là được làm từ gỗ, tạo khúc gỗ thành một hình dạng, sau đó thì ngăn kéo đi với ngăn kéo, mặt bàn đi với mặt bàn, thế rồi còn phải thêm mấy cái đinh hoặc bên trong còn có vài miếng thép nữa, kết hợp chúng lại thành một cái bàn, đó là một hợp tướng.

Cái bàn là một hợp tướng, cái ghế cũng là một hợp tướng, cái gì cũng đều là một hợp tướng. Đó là những khoáng chất lấy từ lòng đất, khi kết hợp lại sẽ trở thành một chiếc lư hương, đều là một hợp tướng. Lư Sư Tôn có thứ này rất đắt (mặt dây chuyền), bằng vàng, có đá quý ngọc bích hồng ngọc, còn có rất nhiều viên kim cương nhỏ ở bên trong nữa, được nhà thiết kế tổ hợp lại, đây là cái gì? Một hợp tướng. Cái này giống như một mandala, ở chính giữa viên ngọc bích hồng ngọc này có một vị Bổn tôn ở đây, còn những cái khác là quyến thuộc của ngài, đây chính là phạm vi của ngài, là một thế giới của ngài, đây chính là một hợp tướng.

Nói ngẫu nhiên bất kì một thứ gì đều là một hợp tướng. Giống như cái gương này là pha lê, bên trong phủ lên một lớp ánh sáng bạc thì sẽ trở thành cái gương, có thể soi thấy con người. Pha lê không soi được con người, nhưng nếu quét lên nó một lớp sơn phản xạ, thêm vào cái khung này để có thể xoay tròn, thêm một cái giá đỡ, cái gương này là một hợp tướng, bất kì thứ gì cũng đều là một hợp tướng, bao gồm cả máy ghi hình, toàn bộ đều là như nhau, là nhựa, sắt thép hoặc sắt thanh, công nghiệp khai khoáng, nhựa, giấy dán, thứ gì kết hợp lại, còn có chiếc gương pha lê trước mặt nữa, những sợi dây điện bằng nhựa ở bên trong, toàn bộ đều là một hợp tướng, không có thứ gì không phải là một hợp tướng.

Trong con mắt của Phật, một hợp tướng là Không, một hợp tướng không phải là một hợp tướng, miễn cưỡng gọi nó là một hợp tướng. Con người chúng ta một hợp tướng mới là nhiều đó! Bạn xem con người chúng ta có tóc, có mắt, có mũi, có miệng, có răng, có tai, toàn bộ đều là tổ hợp, ngũ quan toàn bộ đều là tổ hợp, đây chính là một hợp tướng. Tách ra thì không phải đâu! Tôi nói với mọi người, chỉ cần bạn tách cái đầu ra thì không còn con người nữa, mắt trả về với mắt, không nhìn thấy; tai trả về với tai, không nghe thấy; mũi trả về với mũi, không hít được không khí. Bạn nói xem, lấy răng ra thì còn có thể ăn được không? Không thể ăn, bạn cần có một hợp tướng mới có thể có tác dụng, tách ra thì đều không còn tác dụng nữa.

Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni nói lí lẽ về một hợp tướng, toàn bộ đều là một hợp tướng, tách ra là hết. Con người chết đi, tức là tách ra rồi. Tôi nói với mọi người, khi còn sống cũng không phải là bạn. Mọi người cho rằng tôi là tôi, Phật nói bạn không phải là bạn, tôi không phải là tôi, họ không phải là họ. Vì sao? Bạn cho rằng bạn ở đây có thể kiểm soát chính mình à? *Wrong!* (Sai!) Tôi nói cho bạn biết, không thể kiểm soát! Mắt tôi muốn nhìn, nhưng tuổi cao rồi, mắt bạn nhìn cũng không rõ ràng. Mắt mờ, tóc bạc, răng long, là của bạn sao?

Răng bạn muốn nhai vật cứng thì không nhai được, răng cũng chưa chắc là của bạn, nó rụng đi thì không phải là của bạn nữa, phải lắp răng giả. Mắt cũng không phải của bạn, bạn có thể kiểm soát không? Bạn muốn nhìn xa, nhưng nhìn gần bạn còn không nhìn được. Lư Sư Tôn đọc chữ trên báo đều nhìn được, chữ trên tờ báo rất nhỏ nhưng Lư Sư Tôn vẫn nhìn được. Người có đeo kính, bỏ kính ra xem xem bạn có nhìn được không? Mắt là của bạn sao? Không phải của bạn. Tai cũng không phải của bạn, miệng cũng không phải của bạn, răng cũng không phải của bạn.

Mấy hôm trước, Lư Sư Tôn bị đau lưng, bây giờ cái miếng đỡ ở đây đã bỏ ra rồi. Bạn bảo lưng không đau thì nó sẽ không đau sao? Nó vẫn đau. “Lưng là của tôi, tôi có thể ra lệnh cho nó không đau!” Làm gì có chuyện bạn ra mệnh lệnh chứ! Mệnh lệnh của bạn vô tác dụng, cái lưng cũng không phải của bạn. Khi bạn già đi thì sẽ bắt đầu hỏng từ chân, đầu gối bạn đau, nếu đã là của bạn thì bạn hãy bảo nó không đau đi, nhưng nó vẫn đau, bạn phải đi chữa, đi xử lí. “Om suri suri mahasuri…” Cái dụng cụ này của bạn hỏng rồi thì phải đi xử lí sửa chữa. Bạn chẳng qua là một thứ tổ hợp mà thôi, đừng cho rằng đều là của bạn.

Chính là Phần thứ 30: Lí lẽ về một hợp tướng mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Một thứ tổ hợp khi phân tán rồi thì không còn gì nữa. Trái đất cũng như thế, hễ phân tán ra thì trái đất không còn nữa. Ba nghìn đại thiên thế giới hễ phân tán ra thì đều không còn. Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó, kì thực không thể nói, vốn dĩ là một việc không thể nói, nhưng con người phàm phu tham chấp vào việc này.” Con người là có tham niệm. Ý của Phật Đà là nói rằng con người đừng có tham niệm, bởi vì thân thể đều không phải là của bạn, bạn tham cái gì mà tham?

Tôi thấy ở đây “Quyên góp 750.000 đô”, trong lòng có chút không nỡ, nhưng không thể tham 750.000 đô này là của tôi, kì thực cũng không phải là của tôi. Bởi vì tôi không dùng đến 750.000 đô này. *You just buy the gas, just buy a water, no use the money.* (Ông chỉ mua xăng, mua nước, không cần nhiều tiền.) Vậy thì bố thí cho người khác có sao đâu! Cho nên bạn nghĩ một chút sẽ nghĩ thông thôi. Cái gì là của bạn? Bạn cho rằng những thứ mà Sư Tôn đeo đi ra ngoài, đây đương nhiên là của Lư Sư Tôn rồi. Cái này là của Lư Sư Tôn, cũng không phải của Sư Mẫu, bởi vì cái này là một đệ tử tặng cho tôi. Người ta tặng cho tôi đồ tốt như vậy, đó là của tôi sao? Đây là cho bạn mượn để ngây ra nhìn mấy chục năm thôi!

Bạn xem, cuối cùng tôi đã nghĩ thông rồi, để vào trong két an toàn của ngân hàng, hoàn toàn không lấy ra, có một ngày bạn tứ đại phân tán, thì đó còn là của bạn không? Không có! Ở trong két an toàn của ngân hàng, nó là của ai? Ai lấy được chứ cũng không phải của bạn, chỉ là tạm thời. Nghĩ thông rồi thì lấy ra đeo, nghĩ thông rồi thì để cho mình sướng một chút, đúng không? Để cho bạn sướng một lúc, sau đó thì không phải là của bạn nữa. Bạn cho rằng vợ là của bạn sao? Tôi nói cho bạn biết, không phải của bạn. Mọi người cho rằng cô vợ xinh đẹp kia là của tôi, không phải của bạn. Có một ngày bạn chết đi, cô ấy vẫn còn trẻ, cô ấy còn muốn lấy người khác nữa, trên đời này không có gì vĩnh viễn. 

Hãy nhớ điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói *“chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó”*. Người chưa hiểu đạo lí của kinh Kim Cang đều cho rằng là của mình. Tôi mới không cho rằng cái mặt dây chuyện này là của tôi, cũng không cho rằng cái đồng hồ có khắc tên tôi ở trên tay là của tôi. Đồng hồ khắc tên chắc chắn là của tôi, cái đồng hồ Rolex này cũng có khắc tên Thắng Ngạn của tôi, bỏ cái tên Rolex đi, dùng vàng dán lên, trên đó khắc chữ kí của tôi, đây là đồng hồ Rolex nhãn hiệu Thắng Ngạn, hai chữ Thắng Ngạn này to như vậy, Thắng Ngạn đây là cái dây đeo của tôi.

Hãy nhớ, đợi đến khi tôi bị đưa đi thiêu, những thứ này cũng thiêu luôn, thiêu không được, chúng vẫn còn đó. Bạn đều biến thành tro rồi, còn thứ này (đồng hồ) thì không thiêu được, dù có khắc tên của bạn lên thì cũng không phải là của bạn, cho bạn mượn để nhìn mấy chục năm thôi! Chỉ là ngây ra nhìn mà thôi. Tiền cũng không phải của bạn, nhà cũng không phải của bạn, xe cũng không phải của bạn, đều là một hợp tướng. Nhà cửa là một hợp tướng, xe cộ là một hợp tướng, bạn là một hợp tướng. Cả địa cầu là một hợp tướng, toàn bộ tam thiên đại thiên thế giới đều là một hợp tướng! Chỉ là con người phàm phu không hiểu đạo lí một hợp tướng, cho rằng đều là của họ, không có chuyện này!

Cho nên bạn xem cuộc chiến tranh Nga-Ukraine, họ đều cho rằng “Tôi chiếm lĩnh thành phố của anh”, họ cho rằng chiếm lĩnh được thì là của họ, trong con mắt của chúng ta thấy thì đúng là trò chơi, trong cái nhìn của chúng ta thì căn bản là họ đang chơi trò chơi, *play game*, những người này đang chơi trò chơi. “Tham chấp việc ấy”, phàm phu đó! Đều là những kẻ đần độn! Toàn là những kẻ đần độn ngu si, không có trí tuệ, không có trí huệ của Như Lai. Trí huệ của Như Lai rõ ràng nói với bạn rằng toàn bộ đều là một hợp tướng, nhưng bạn vẫn cứ không tin. Bạn vẫn cứ tin cái hợp tướng này, còn tin cái gì là của bạn nữa? Thế nên mới ngu!

Bạn xem Hán Vũ Đế, Tần Thủy Hoàng, làm hoàng đế rất thoải mái thế là muốn trường sinh bất lão. Hán Vũ Đế còn luyện đơn, Tần Thủy Hoàng cũng kêu Từ Phúc đi ra ngoài biển tìm tiên đơn, mang theo ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ, kết quả là họ đi ra biển kết đôi với nhau. Tần Thủy Hoàng muốn làm hoàng đế vĩnh viễn, Hán Vũ Đế cũng muốn giành nhiều công lao hiển hách, sau khi đã chiếm lĩnh rất nhiều đất đai, trở thành hoàng đế vĩ đại nhất của triều Hán là Hán Vũ Đế, ông ấy còn muốn làm thần tiên, vĩnh viễn không chết, kết quả là không biết đã chết bao nhiêu năm rồi. Ông ta cũng đã uống đơn do đạo sĩ luyện, muốn trường sinh bất lão. Chết rồi! Phật Thích Ca Mâu Ni nói đều là hợp tướng! “Tham chấp việc ấy”, đều là tham.

Cho nên người tu hành dục vọng càng ít càng tốt, tốt nhất là con người cần sống đạm bạc, đừng tranh giành chiếm đoạt, phải hiểu đạo lí này. Bởi vì Phật Đà nói: “Chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó.” Tham, vẫn là tham cái thứ một hợp tướng này. Vì sao người tu hành có thể tâm bình khí hòa, có thể thờ ơ với mọi thứ, có thể dễ dàng tịnh tâm lại? Là vì vô niệm! Bởi vì bạn không tham, đương nhiên có thể vô niệm.

Bạn còn nảy sinh tham niệm thì làm sao có thể vô niệm? Vô niệm, Chân Phật Kinh nói: “Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo.” Bạn không còn nảy sinh những suy nghĩ không tốt nữa, suy nghĩ của bạn đã hoàn toàn trống rỗng, lúc này bạn thành tựu rồi, Phật tính chân chính hiển phát. Phật Đà bảo chúng ta tu hành là như vậy, đầu tiên bạn hiểu đạo lí này, sau đó đi thực tiễn “không tham chấp”. 

Vì sao Quỷ Bà phải nói là kiếp trước anh nợ tôi bao nhiêu tiền? Tiền của bạn phải đưa cho Quỷ Bà. Khi xưa bà ấy thấy Seattle của chúng ta rất nhiều người trúng xổ số, bà ấy còn kêu đồng môn mau đi mua xổ số, kết quả là dù một người cũng không trúng. Bà ấy thậm chí còn mua xổ số phân phát cho mọi người, hi vọng có thể trúng, kết quả là đều không trúng, tham chấp vào việc ấy đó! Đến một ngày bạn sẽ biết, thân thể còn không phải là của bạn thì bạn tham cái gì mà tham? Cho nên tôi nói với mọi người, hôm nay phải nghe cho rõ ràng đạo lí này của kinh Kim Cang, không được tham chấp vào một hợp tướng! 

Phàm phu là tham một hợp tướng. Tham cái gì? Nhà cửa, xe cộ. Tham cái gì? Tham cái mặt dây chuyền này, vàng, kim cương, đá quý. Tham cái gì? Tham vẻ ngoài của bạn trông phải rất đẹp, muốn nó đẹp nhưng nó đẹp không nổi, và cứ thế càng ngày càng già, rồi đến lúc cũng tan tành vỡ vụn, lửa thiêu một cái rồi chẳng còn gì cả, hết sạch rồi! Khi ấy không thể tham được nữa… vẫn có thể, linh hồn kia vẫn tham, trung ấm vẫn còn tham. Vì thế con người phàm phu, nếu hiểu được đạo lí này, bạn sẽ không tham chấp, có thể hiển phát Phật tính của chính mình, ánh sáng tự mình tỏa sáng, ánh sáng vô cùng xán lạn tỏa sáng một mình. Om mani padme hum.

*(Ngày 23/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 77.)*

### 78. Phần thứ 31: Tri kiến chẳng sinh

*(Bài giảng 78)* Tri kiến chẳng sinh

Tôi đọc đoạn kinh văn một lượt.

*"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Người đó có hiểu nghĩa ta nói không?"  
"Không hiểu, thưa Thế Tôn! Là người ấy không hiểu nghĩa Như Lai nói. Là vì sao? Thế Tôn nói: ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, tức chẳng phải ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến."  
"Tu Bồ Đề! Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đối với tất cả các pháp, nên biết như vậy, nên thấy như vậy, nên tin hiểu như vậy, không sinh pháp tướng. Tu Bồ Đề! Pháp tướng đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp tướng, thì gọi là pháp tướng."*

“Phần thứ 31: Tri kiến chẳng sinh”, kinh văn nói như vậy. Hôm qua chúng ta giảng toàn bộ vũ trụ đều là một hợp tướng, những gì nhìn thấy đều là một hợp tướng, phân tách ra thì không còn gì cả, cho nên câu này nói rằng, tất cả mọi tướng thật sự đều không phải là thực tướng. Tất cả mọi tướng đều không phải là thực tướng. “Tri kiến chẳng sinh”, tất cả mọi tướng mà bạn nhìn thấy đều không phải là thực tướng, mọi tướng không có tính chân thực, không có tự tính.

Như vậy mọi người gần như có thể lí giải được toàn bộ đoạn kinh văn. “Tri kiến chẳng sinh”, cái gì bạn nhìn thấy, cái gì bạn biết hoàn toàn là vô sinh, không có tính chân thực. Bạn biết cái gì, bạn nhìn thấy cái gì, đều không có tính chân thực, bởi vì toàn bộ vũ trụ đều là một hợp tướng, tiếp theo, những gì bạn nghe thấy đều không có tính chân thực.

Tôi hỏi mọi người một vấn đề, mỗi lần tôi làm Hộ Ma, chẳng phải là tôi cầm cái chổi lông chim công sao? Cầm cái này rồi tôi sẽ đưa qua đưa lại ba lần, đúng không? Bạn có thể đoán trúng Sư Tôn viết gì trên cái chổi này không? Miệng tôi đang niệm cái gì không? Nếu có thể đoán trúng, tôi sẽ tặng cho bạn cái nhẫn vàng này, đây là nhẫn vàng, có đá quý, bên cạnh còn có kim cương lóng lánh nữa, tôi sẽ lập tức tặng bạn, tôi tuyệt đối không hối hận! Bạn có biết tôi cầm cái chổi này rồi niệm cái gì không? Tôi đang niệm cái gì? Nói sai một chữ cũng không được.

(Đệ tử sôi nổi trả lời.) Niệm 3 biến “Om ah hum” à, còn gì nữa không? Hum hum hum à, ram yam kham à, thôi không bán nữa, cái này tôi giữ lại đeo, bởi vì tôi đảm bảo các bạn không biết. (Đệ tử lại trả lời). Bốn chữ “trả về hư không” à? Tôi lắc một lần, hai lần, ba lần đều tăng thêm chữ đó. Được rồi! Tôi thấy mọi người không đoán được nên tôi mới dám nói như vậy, bởi vì thật sự cái mặt dây đeo này thật sự quá đắt, đưa cái này ra thì ai cũng đều giơ tay. Cái nhẫn này thì còn được một chút, nhưng cũng rất đắt, bạn xem xung quanh toàn là kim cương thật đó, ở giữa là đá quý thật, được làm bằng vàng, đây là nhẫn vàng, rất đẹp, đương nhiên không thể cho các bạn được. <span className="note-blue">[Đùa]</span>

Tôi nói thật đó, tôi không lừa người ta đâu. Cái chổi lông chim công này cầm lên, câu đầu tiên tôi niệm là “thanh tịnh”, câu tứ hai là “tự tính thanh tịnh”, câu thứ ba là “tất cả tự tính thanh tịnh”, thanh tịnh, tự tính thanh tịnh, tất cả tự tính thanh tịnh, chính là ba câu đó. Tôi làm Hộ Ma là để thanh tịnh, đó không chỉ là Hộ Ma thanh tịnh mà còn phải khiến cho tự tính của mình, Phật tính của mình thanh tịnh, biến tất cả ô uế thành Phật tính của chính mình thanh tịnh. Câu thứ ba “tất cả tự tính thanh tịnh” bao gồm tất cả chúng sinh các bạn, tất cả Phật tính đều thanh tịnh. Tôi nói ba câu đó.

Tôi nói để mọi người biết, tất cả mọi thứ đều là một hợp tướng, phân tách ra thì căn bản không có tự tính, tất cả đều không có, đều là vô tự tính, trên thực tế không có cái gì chân thực, đều không có. Tối hôm qua tôi nói, con mắt tách khỏi thân thể bạn thì nó không nhìn được nữa. Tai tách khỏi thân thể bạn thì nó không nghe được nữa. Răng tách khỏi thân thể bạn thì nó không thể ăn được nữa, tổ hợp lại thì mới có tác dụng, phân tách ra thì đều không có. Thế thì khi toàn bộ đều phân tách ra, còn lại cái gì? Cái còn lại chính là Phật tính. Loại bỏ hết, phân tách ra, bạn có thể nghĩ như vậy thì bạn sẽ thanh tịnh, nghĩ như vậy thì sẽ thanh tịnh, phải phân tách ra để nghĩ. 

Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni nói: *“Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Người đó có hiểu nghĩa ta nói không?”* Không, không phải là nói như vậy thưa Thế Tôn. Người này không hiểu nghĩa Như Lai nói. Phật không nói như vậy, ý nghĩa không nằm ở đây, vì sao? *“Thế Tôn nói: ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến”*, đều không phải. Nhưng con người phàm phu lại xác thực là có ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, cho nên mới nói là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. 

*"Tu Bồ Đề! Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đối với tất cả các pháp…”* Nếu bạn là người hiểu phát tâm bồ đề, trong tất cả các pháp, trong tất cả mọi thứ, *“nên biết như vậy, nên thấy như vậy, nên tin hiểu như vậy”*, bạn có thể biết, bạn cũng có thể thấy, phải tin theo như vậy và giải thích như vậy. “Không sinh pháp tướng”, thật sự là không có, cái gì cũng đều là không. *“Tu Bồ Đề! Pháp tướng đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp tướng, thì gọi là pháp tướng.”* Pháp tướng đã nói đó, cái gì là pháp tướng đây? Tất cả những gì nhìn thấy trong vũ trụ, những gì biết được, kì thực Như Lai nói *“chẳng phải pháp tướng”*, đều không phải là tính chân thực. *“Thì gọi là pháp tướng”* con người phàm phu cho rằng là có, cho nên mới gọi là pháp tướng.

Cả đoạn kinh văn này tôi đều giảng với mọi người rồi. Nói cách khác là, bất kì thứ gì trong vũ trụ cũng đều là một hợp tướng, những gì phàm phu nhìn thấy toàn bộ đều là một hợp tướng, những gì Phật Đà nhìn thấy kì thực là cái gì cũng không có, bởi vì cái chân thực duy nhất chính là Phật tính. Tôi đã nói về “thanh tịnh”, bạn thanh tịnh rồi thì chính là Phật tính, cho nên trong Cao Vương Kinh có Thanh Tịnh Phật. Khi thầy Thubten Daerji qua đời đã niệm hai chữ “thanh tịnh”. 

Thượng sư Thubten Daerji chỉ niệm hai chữ “thanh tịnh”; “tự tính thanh tịnh” - bạn thanh tịnh rồi, Phật tính của chính bạn sẽ hiển hiện, thì gọi là tự tính thanh tịnh. Bạn thanh tịnh rồi, Phật tính của chính bạn đã hiển hiện rồi thì gọi là tự tính thanh tịnh; “Tất cả tự tính thanh tịnh” - tất cả mọi chúng sinh, tự tính của họ toàn bộ đều thanh tịnh. Vì thế mọi pháp mà chúng ta tu bây giờ, pháp cũng là giả, nhưng bạn tu pháp rồi thì bạn mới có thể thanh tịnh. Trong Đạo Quả nói, bạn có thể thanh tịnh được mấy phần? Thanh tịnh đến mười ba phần thì là Phật ở địa thứ mười ba, thanh tịnh đến mười sáu phần thì là Bản Sơ Phật (A Đạt Nhĩ Mã Phật), đó là dùng sự thanh tịnh để đại diện.

Bồ Tát cũng là thanh tịnh, thanh tịnh một phần thì là Hoan hỉ địa, thanh tịnh bảy phần thì là Tốc hành địa, thanh tịnh tám phần thì là Bất động địa. Thanh tịnh được mười địa thì gọi là Pháp vân địa, chính là Pháp vân địa. Thanh tịnh được mười một địa thì chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát ở địa thứ mười một. Vì thế dùng sự thanh tịnh để phân biệt, bây giờ chúng ta đang tu pháp chính là thanh tịnh bản thân, bạn thanh tịnh mấy phần, thanh tịnh bao nhiêu? Trong Đạo Quả phân biệt như vậy, chính là nói về thanh tịnh.

Cho nên, vì bạn đã là Bồ Tát, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tất cả pháp nên biết như vậy, thấy như vậy, tin theo như vậy, giải thích như vậy, là pháp tướng chẳng sinh. Những gì bạn nhìn thấy đều không có, đều không phải là thực tướng. Duy có Phật tính, duy có bạn thanh tịnh rồi, đến cuối cùng Phật tính của bạn hiển hiện rồi, cái đó mới là chân thực, những cái khác không có thứ gì là chân thực. Đoạn kinh văn này nói như vậy, đoạn này người khác có lẽ không giảng như thế này, Sư Tôn mới giảng như thế này.

Tiếp theo là giảng đoạn cuối cùng của kinh Kim Cang, Phần thứ 32: Ứng hóa không phải thật, tất cả mọi ứng hóa đều không phải là thật. Tôi nói với mọi người, Tây phương Cực Lạc thế giới cũng là ứng hóa, mọi Phật quốc tịnh thổ toàn bộ đều là ứng hóa mà ra, nhưng đã đến nơi đó rồi thì là cõi bất thối chuyển. Cõi bất thối chuyển tức là bạn đã đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi thì bạn sẽ không thối chuyển nữa, sẽ không trở lại lục đạo chúng sinh để mà luân hồi nữa, cho nên tôi hi vọng mọi người đều có thể đến được Tây phương Cực Lạc thế giới, bởi vì đó là cõi bất thối chuyển, sẽ không thối chuyển nữa.

Ở nơi đó có pháp thanh tịnh, ba mươi bảy đạo phẩm chính là pháp thanh tịnh. Ba mươi bảy đạo phẩm đều là pháp thanh tịnh, tu A La Hán là giới định huệ, bạn tu Bồ Tát chính là bát chính đạo, lục độ, bạn đạt thành tựu Phật chính là thập địa viên mãn, thập địa Bồ Tát viên mãn chính là Hậu Bổ Phật, đến địa mười một bạn thành Phật rồi, đó đều dùng sự thanh tịnh để phân biệt. Ba mươi bảy đạo phẩm, cái này rất nhiều người đều biết. Tứ thánh đế, bát chính đạo… bắt đầu từ tứ niệm xứ, như vậy tổng cộng có ba mươi bảy đạo phẩm, thuộc về Phật giáo đại thừa. Tiểu thừa là giới định huệ, Đại thừa là ba mươi bảy đạo phẩm. Đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, bạn lại tu ba mươi bảy đạo phẩm này thì rất dễ dàng.

Sau này đến Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, bạn chỉ cần tu ba mươi bảy đạo phẩm, ai nấy thành Phật, đó là thế giới mà A Di Đà Phật ứng hóa ra. Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có Viên Thông Thế Giới, Địa Tạng Vương Bồ Tát có Thúy Vi Thế Giới, Đại Bồ Tát đều có Phật quốc tịnh thổ của riêng mình, ví dụ như Dược Sư Lưu Li Quang Phật có Lưu Li Thế Giới, Chân Phật Tông chúng ta có Chân Phật Thế Giới, chính là như vậy, đều là ứng hóa mà ra. Nhưng đến nơi đó rồi, bạn lại tu ba mươi bảy đạo phẩm, thành tựu rồi, bạn người người thành Phật, cho nên duy nhất là phải thành tựu Phật pháp, có thể thành tựu Phật tính quang minh thì nhất định phải thanh tịnh, dùng sự thanh tịnh để phân biệt xem bạn đã đến được Bồ Tát địa nào, là như vậy đó. Om mani padme hum.

*(Ngày 24/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Tôn Thắng Phật Mẫu tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 78.)*

### 79. Phần thứ 32: Ứng hóa không phải thật

*(Bài giảng 79)* Ứng hóa không phải thật

Chúng ta giảng kinh Kim Cang đoạn cuối cùng.

Phần thứ 32: Ứng hóa không phải thật. Hôm nay kinh Kim Cang phần thứ 32 này, mọi người đều đọc hiểu được, kì thực không cần phải giảng đã kết thúc rồi. Đã xuất hiện hai dải cầu vồng, vừa đúng lúc Chân Phật Bát Nhã Tạng lại tuyên truyền cuốn sách *“Như mộng như huyễn”*, đó chính là phẩm thứ 32 rồi. “Ứng hóa không phải thật”! Thế nào gọi là ứng hóa không phải thật? Tất cả những gì ứng hóa ra đều không phải là chân thực, cho nên trong kinh Kim Cang có nhắc đến, mọi người có nghĩ ra không, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, ngài nói ngài không có thuyết pháp. Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni là ứng hóa thân, không phải là thật, ngài là ứng thân Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni ở tại thế giới Ta Bà là ứng thân Phật, không phải là thật, cho nên đương nhiên là ngài không có thuyết pháp.

Hôm nay nếu bạn nói “Lư Sư Tôn có thuyết pháp”, xem ra hình như là thật sự có thuyết pháp, kì thực cũng không có thuyết pháp, bởi vì tôi là ứng hóa thân, bạn cũng là ứng hóa thân, bởi vì ứng hóa thân đều là giả, căn bản chính là không có thuyết pháp. Pháp vốn dĩ cũng là giả, giống như pháp của Mật giáo đó là người ta soạn ra, mọi pháp nào là tiền hành, chính hành, hậu hành, toàn bộ đều là con người soạn ra, Mật pháp đều là con người soạn ra, đó chỉ là một công cụ. 

Giống như chúng ta tu Tứ gia hành, tu Bổn tôn, tu Nội pháp, tu Vô thượng mật, cái này là thứ tự, một thứ tự của Mật pháp. Ví dụ Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ của Mật pháp cũng là một thứ tự, cái này là ai làm ra? Là con người soạn ra, đó chỉ là một công cụ, một công cụ tu hành, pháp cũng là giả. Cho nên trong kinh Kim Cang có nói rằng pháp này cũng không phải là thật, huống hồ không phải là pháp, đó càng không phải là thật.

Phật nói rằng “ứng hóa không phải thật”, tôi nói với bạn nhé, trái đất cũng là giả, hệ mặt trời cũng là giả, ba nghìn đại thiên thế giới toàn bộ đều là giả, không có thứ chân thực, đây gọi là Phần thứ 32: Ứng hóa không phải thật. Bạn cho rằng là thật, giống như hôm nay hiển hiện hai dải cầu vồng, chúng ta biết rằng cầu vồng đương nhiên là giả rồi, nhìn trông có vẻ giống như thật, không sai, trông thì đúng là thật, kì thực là giả. Con người chúng ta cũng như vậy, trông thì là thật, kì thực cũng là giả.

Toàn bộ trái đất trông thì là thật, kì thực nó là một hợp tướng (đất nước lửa gió, có một ngày trái đất nổ tung, vỡ ra, còn có trái đất không? Không có! Toàn bộ hệ mặt trời đều nổ tung, còn có hệ mặt trời không? Không có! Con người thì sao, càng không có! Chúng ta học địa lí, hoặc là học lịch sử đều biết, Trung Quốc có năm nghìn năm lịch sử, chúng ta nói về Trung Quốc là được rồi, có năm nghìn năm lịch sử, vậy sáu nghìn năm trước, một vạn năm trước, hai vạn năm trước thì sao? Không có Trung Quốc ư? Đương nhiên không có rồi!

Trong thế giới khủng long, chúng ta nói về thế giới khủng long là được rồi, khủng long cũng là ứng hóa, chúng ta biết có khủng long, bởi vì có dấu tích xương của khủng long, chúng ta nghiên cứu biết rằng có cái thứ gọi là khủng long. Nhưng mà khủng long cũng không còn, bây giờ bạn đi tìm khủng long ở đâu? Có rồi, Seattle Lôi Tạng Tự chúng ta có khủng long. Trước đây có Khủng Long sư huynh, ông ta mặc bộ đồ khủng long lên người, kịch trường khủng long, chúng ta còn có kịch trường khủng long đúng không? Chúng ta biết đó là giả, đó là con người cải trang mà thành. Cho nên trước đây có, bây giờ không có. Bạn có biết không? Nhân loại chúng ta bây giờ có, sau này còn có không? Nói không chừng tương lai cũng không có nhân loại nữa, cũng là giả.

Trong lịch sử có rất nhiều ví dụ, trước kia có khủng long, bây giờ không có; trước kia có nhân loại, sau này còn có không? Không có! Tôi nói với bạn một khi bom hạt nhân kia ném ra, nếu nói tương lai thật sự đánh nhau bằng bom hạt nhân, đánh tới cuối cùng thì trái đất cũng đều nứt vỡ ra, trái đất vỡ ra, con người sống ở đâu chứ? Toàn bộ nhân loại đều không còn, về sau con cháu đời sau chúng sẽ nói trong quá khứ có một trái đất, trên trái đất có con người, con người trông hình dáng thế nào, bây giờ đã không còn rồi. Đó không phải là ứng hóa sao?

Tôi đọc toàn bộ kinh văn, phần “Ứng hóa không phải thật”, mọi thứ ứng hóa ra đều không phải là thật, không chỉ có mỗi cầu vồng không phải là thật.

*"Tu Bồ Đề! Nếu có người dùng thất bảo đầy khắp vô lượng a-tăng-kỳ thế giới để bố thí, nếu có thiện nam, thiện nữ phát tâm bồ đề, trì bản kinh này cho dù chỉ bốn câu kệ, thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết rộng rãi, thì phúc của người này còn hơn cả người cúng dường kia. Thế nào gọi là người diễn thuyết? Không giữ vào tướng, như như bất động. Là vì sao? Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh. Như sương cũng như điện. Nên quán thấy như vậy. Phật nói kinh đã xong, trưởng lão Tu Bồ Đề và các tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả thế giới, Trời, Người, Atula nghe điều Phật nói đều vô cùng hoan hỉ, tín thọ phụng hành.”*

Giảng xong rồi, tín thọ phụng hành. 

Ở đây nói “*thất bảo đầy khắp vô lượng a-tăng-kỳ thế giới”,* ở đây nói về thời gian, nếu có người dùng thất bảo đầy khắp vô lượng a-tăng-kỳ thế giới, cái gọi là a-tăng-kỳ chữ này đọc là “kỳ” nhỉ, a-tăng-kỳ thế giới, tôi thường viết chữ này thành chữ “chỉ” trong từ “chỉ có”, vì thế tôi đọc là “chỉ”, các bạn đọc là “kỳ”. Cái này đại diện cho thời gian. Ý của nó là nói rằng vô lượng a-tăng-kỳ, nghĩa là thời gian rất dài rất dài, chúng ta gọi là ba đại a-tăng-kỳ. Chữ “chỉ” cũng được, ông ấy đi tra điện thoại, nói là chữ “chỉ” cũng được. Khi tôi viết sách tôi dùng chữ này, lấy chữ “chỉ” để dùng, “chỉ” trong từ “chỉ là”. 

Ba đại a-tăng-kỳ chính là vô cùng tận, thời gian rất dài rất dài. Sau đó lại thêm một cái “thế giới”, không gian rất dài rất dài, thế giới tương đương với không gian. Thời gian và không gian đều vô cùng dài, dùng thất bảo để bố thí, thứ quý giá nhất ở nhân gian là thất bảo, nói chung là kim cương, vàng, những thứ kiểu vậy, xà cừ, những thất bảo đó, mang những kim loại quý này đi làm từ thiện, dùng để bố thí, đương nhiên phúc đức này là rất lớn.

Nhưng “*nếu có thiện nam, thiện nữ phát tâm bồ đề”,* có một số thiện nam thiện nữ, người phát tâm bồ đề chính là thiện nam thiện nữ đó! *“Trì bản kinh này”,* họ chỉ cần trì kinh điển này, “*cho dù chỉ bốn câu kệ”,* vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, có thể “*thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết rộng rãi, thì phúc của người này còn hơn cả người cúng dường kia”.* Bạn có thể giảng kinh Kim Cang, bạn có thể trì vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, vì người khác mà giải thích, cũng tự mình thọ trì đọc tụng, thì phúc phần của người đó, phúc đức hơn cả người lấy thất bảo của vô lượng không gian, vô lượng thời gian ra để bố thí, thắng hơn!

Đây là pháp thí thắng tài thí. Pháp thí, không phải là nói các pháp sư đầu trọc của chúng ta ở đây đâu, là dùng pháp để bố thí, thì hơn cả dùng tài vật để bố thí, ý nghĩa chính là ở đây. Dùng Phật pháp này để bố thí thì hơn cả bố thí tài vật. Bạn lấy bốn câu kệ của kinh Kim Cang, thậm chí bạn trì tụng kinh Kim Cang, rồi bạn còn có thể thọ trì kinh Kim Cang, bạn tin tưởng vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, rồi còn đi thực tiễn điều này, thì phúc đức của bạn còn thắng hơn cả cái người bố thí trong vô lượng thời gian và không gian, ý nghĩa chính là ở đây. Vì sao lại như thế? Bởi vì bạn *“không giữ vào tướng”* nên có thể “*như như bất động”.*

Trên thế giới này cái thứ gì cũng động, chỉ có một thứ bất động, thứ gì bất động? Hư không bất động! Các bạn đi mua bất động sản, bất động sản tức là bất động, nhưng mà động đất thì làm sao mà bất động? Bất động sản mới là động sản, động sản mới là bất động sản. Động động, bất động, bất động, động động. Tôi nói với mọi người, trên thế giới làm gì có bất động sản gì, động đất một cái là không còn, dời núi lấp biển. Pháp thuật đôi khi có thể dời núi lấp biển, núi đều có thể chuyển dịch, khi có động đất thật sự, núi này sẽ chạy tới chỗ khác, vốn dĩ là văn phòng địa chính kia sẽ giúp tôi đo lường <span className="note-blue">[đúng vị trí bất động sản]</span>, ngọn núi đó của tôi đã dịch chuyển đến chỗ khác, núi của tôi không còn nữa. Cả ngọn núi đều dịch chuyển rồi, làm gì có cái gì là bất động sản? Cái gì là như như bất động? Hư không chính là như như bất động. Mây cũng sẽ chạy tới chạy lui, gió cũng động, lửa cũng động, nước cũng chảy, cũng chuyển động, đất cũng động. Chỉ có hư không bất động, cho nên dùng tính Không để ví với Phật tính. Trong kinh Phật nói đến tính Không chính là Phật tính, Phật tính chính là tính Không. *“Như như bất động. Là vì sao?”* Thế nào gọi là như như bất động? Nguyên nhân gì đây? “*Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh. Như sương cũng như điện. Nên quán thấy như vậy.”*

Trong sách của tôi đã viết “như mộng như huyễn” đó, ở đây lại xuất hiện rồi. “*Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh.”* Thế nào là pháp hữu vi? Có pháp vô vi, pháp hữu vi. Pháp hữu vi tức là có hành vi, tất cả những gì bạn làm vì tiền, vì danh, vì sắc đều gọi là pháp hữu vi, nó sẽ trở thành không có. Bạn đừng thấy ở tỉ phú Bill Gates ở chỗ chúng tôi đây, bây giờ ở Mĩ có tỉ phú phát minh ra xe điện, ngoài ra còn có rất nhiều người có tiền, ví dụ tỉ phú Amazon, rất nhiều tỉ phú của Microsoft, những người này đều rất có tiền, những tỉ tỉ tỉ… kia, hết tỉ này tới tỉ nọ!

Nhưng tôi biết đó không phải là của họ, có một ngày họ sẽ già, họ biết tiền đó tuyệt đối không phải là của họ, tiền! Tiền tỉ của bạn có tác dụng gì? Thân thể bạn có bệnh, thế rồi bạn sẽ chôn ở đâu? Ví dụ như chúng ta thì sẽ rúc vào trong cái hộp vuông vuông đó ở trong Song Liên Cảnh Giới, cái hộp vuông vuông đó cũng không phải là của bạn, bạn hãy trốn ở trong cái hộp đó, buổi tối đi ra ngoài dọa người ta, chẳng dọa được ai đâu! Sư Tôn sẽ thu về, nếu bạn bị hồn ma đó dọa thì hãy tìm Lư Sư Tôn.

Bố vợ của con trai tôi sau khi chết, ông ấy theo Phật Kì và Sunny về Mĩ, buổi tối đi ra dọa người ta! Phật Kì và Sunny ngủ trên giường, ở giữa đột nhiên có thêm một người xuất hiện, Phật Kì nhìn thấy, trời ơi! Là bố của Sunny đó, ông ấy đang nằm ngủ giữa Sunny và Phật Kì, sau đó lại bay tới bay lui ở trong nhà, Phật Kì vội vàng chạy tới gọi tôi qua xem. Tôi đã nhìn thấy rồi: “Lại đây, ngoan đi nào, ông sống ở trong cái bình này.” Tôi kêu ông ấy ở trong cái bình, đậy ông ấy lại, từ đó ông ấy không ra ngoài nữa. Khi bố Sunny qua đời, bọn chúng mang một ít tro cốt từ Indonesia trở về, nên cố nhiên là ông ấy cũng đến nhà Phật Kì, đến nhà Phật Kì và Sunny rồi thì thường xuyên xuất hiện, dọa chúng sợ tới mức vội vàng chạy đi tìm tôi. Bị dọa như vậy thì bọn chúng mới đến tìm tôi, tìm tôi xem làm thế nào. Rất đơn giản thôi, đóng các cửa lại là ông ấy không chạy đi được. Tôi niệm chú triệu thỉnh thế là ông ấy đến, đưa tay tóm lấy rồi bỏ vào trong này không ra được nữa. Không thể ra ngoài dọa người, bảo chúng nó mỗi ngày chắp tay chào ông là được rồi.

Nói đến “tất cả pháp hữu vi”, tôi nói đến những tỉ phú đúng không? Ai vì tiền thì cuối cùng cũng là không, không có. Ai vì sắc thì tuổi già sức yếu, sắc cái gì mà sắc? Chẳng phải tôi đã nói rồi sao, cái cần cứng thì không cứng, đúng không? Vì thế sắc cũng là không, tiền cũng là không. Còn danh lại càng là không, danh cái gì? Có cái danh gì đáng lưu lại? Rất đơn giản, tôi nói với bạn, bạn đến châu Phi đi, tìm ngẫu nhiên một người của quốc gia nào đó mà hỏi: “Anh biết Khổng Tử là ai không?” Họ sẽ chẳng biết Khổng Tử là ai. Khổng Tử rất nổi tiếng đó, là Thánh nhân Khổng Tử của Trung Quốc. 

Bạn đến châu Phi xa xôi hỏi xem Sư Tôn có nổi tiếng không? Ở một số quốc gia thì Lư Sư Tôn có một chút tiếng tăm, không chỉ là một vài quốc gia thôi đâu, đệ tử của tôi trên khắp thế giới đều có, đúng không? Nhưng bạn đến tháp Tokyo, bạn đứng ở dưới hỏi một người Nhật: “Anh có biết Lư Thắng Ngạn không?” Người Nhật sẽ nói với bạn: *“Wakaranai”*, tôi không biết người này. Bạn hỏi mười người xem, mười người này cho bạn hỏi, bạn hỏi mười người Nhật xem ai biết Lư Thắng Ngạn? Không có ai biết. Hỏi một trăm người cũng được, không có ai biết. Danh, căn bản là cứt chó! Bạn dẫm vào cứt chó còn biết kêu lên: “Đây là cứt chó!” Cứt chó còn có danh hơn bạn, bạn mang cái danh gì chứ, đúng không? Mọi người cho rằng mình rất nổi tiếng, Sư Tôn còn không có cái danh gì, bạn còn nói bạn có cái danh gì chứ?

Cho nên, *“tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh”*, chẳng qua chỉ là hiển hiện một lúc, trong một khoảng thời gian này nó hiện ra, sau đó thì không còn nữa. Tôi biết bố tôi tên là Lư Nhĩ Thuận, còn ông nội tôi là Lư Xương, ông cố tôi là Lư Đức Tiệp, hay, thế trên Lư Đức Tiệp thì sao, còn nhớ được không? Không nhớ được, bố tôi không nói với tôi, tôi chỉ biết từ Lư Đức Tiệp trở đi là không biết nữa. Sau này cháu tôi cũng như thế, có một ngày cháu chắt chút chít chụt chịt của bạn sẽ quên hết toàn bộ tổ tiên, bạn có cái danh gì? Không có danh.

Như Tổng thống của các nước, tôi hỏi mọi người, Tổng thống của châu Phi bạn biết được mấy người? Tôi hỏi bạn, ví dụ Tổng thống của nước Bờ Biển Ngà là ai? Có người nào biết? Tổng thống của đất nước Sư Tử là ai? Các bạn có biết không? Ai biết giơ tay, lập tức có thưởng! Tổng thống của nước Cộng Hòa Sierra Leone ở châu Phi là ai? Ai nói được lập tức có thưởng. Những thứ ở đây đều tặng cho người đó hết. Tổng thống của đất nước Sư Tử là ai? Mọi người không được xem điện thoại đâu đấy! Không có ai biết à! Tên gì? Đó là Tổng thống đó, Tổng thống là người nổi tiếng nhất một đất nước đúng không?

Đương nhiên bây giờ chúng ta biết Tổng thống của Ukraine là ai rồi, tin tức ngày nào cũng đưa, ngày xưa khi còn chưa có cuộc chiến tranh này, tôi hỏi bạn Tổng thống của Ukraine là ai, các bạn cũng không biết đâu, đúng không? Tổng thống à, những con người chúng ta ở đây đều không biết tên ông ấy là gì, trừ đất nước của ông ta ra, hoặc là những nước khác ở vùng phụ cận thì biết. Cộng Hòa Sierra Leone là tên của một quốc gia, cho nên bạn nghĩ thử xem cái danh có tác dụng gì?

*“Như mộng huyễn bào ảnh”*, thật sự là mộng huyễn, bong bóng, một lát sau là không còn nữa. *“Như sương cũng như điện”*, sương là những giọt sương của buổi sáng, mặt trời chiếu vào là không còn nữa. Điện, tức là tia chớp, lóe lên một cái rồi thôi. Mộng, tỉnh dậy là không còn nữa. Những bong bóng nước kia, vỡ rồi thì không còn nữa. Nên nghĩ như vậy, đối với toàn bộ thế giới vũ trụ nhân gian, *“nên quán thấy như vậy”*, cần suy nghĩ như vậy. Vào lúc đó bạn suy nghĩ như vậy thì tâm bạn mới dừng lại được, mới như như bất động. Thế nào là như như bất động? Nếu bạn suy nghĩ như vậy, *“như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện”*, bạn nghĩ như vậy thì bạn có thể như như bất động. Đây là điều mà kinh Kim Cang dạy bạn.

Cuối cùng, sau khi Phật nói kinh này, “*Phật nói kinh đã xong, trưởng lão Tu Bồ Đề và các tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di”,* trưởng lão Tu Bồ Đề mọi người đều biết. Tì kheo và tì kheo ni mọi người đều biết, nam xuất gia gọi là tì kheo, nữ xuất gia gọi là tì kheo ni. Ưu bà tắc là nam chưa xuất gia, ưu bà di là nữ chưa xuất gia, đây chính là tứ chúng, trong Phật giáo gọi là tứ chúng.

*“Tất cả thế giới”,* tất cả con người thế gian, còn có Thiên nhân ở trên trời, chính là Thiên nhân của các cõi Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên và Atula. Atula là một đạo khác, đạo Trời và đạo Atula. Đạo Atula thuộc hạng quỷ thần, họ tương đối thích đố kị và ghen tuông, những người này đều sẽ đến đạo Atula. Đạo Atula có một chút thần thông, nhưng vì họ còn có tập tính ghen tuông, còn có tập tính đố kị, còn có tập tính hiếu thắng ganh đua tồn tại, cho nên mới đến đạo Atula. Nghe được điều Phật giảng đều rất hoan hỉ, “tín thọ phụng hành”. Tiếp theo là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. 

Mười rưỡi rồi, thời gian cũng trôi qua rất nhanh, giảng xong rồi, giảng xong rồi thì nên làm thế nào? Giảng xong rồi thì không còn việc nữa, hát một bài hát để kết thúc nhé! Thật ra tôi hát điệu này không giống lắm, không giống với A Thủy ở Malaysia làm, ca từ là do tôi viết, anh ta viết nhạc, nhưng từ đầu tới cuối tôi đều không học được, thôi hát hai câu vậy: “Phật tính là biển, nhân gian là những con sóng, chúng ta trôi nổi ở trong đó, cuối cùng vẫn trở về với biển. Phật tính là biển, nhân gian là những con sóng, chúng ta trôi nổi ở trong đó, cuối cùng vẫn trở về với biển.” Om mani padme hum.

*(Ngày 30/04/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì buổi đồng tu Dược Sư Phật Bổn tôn pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự, và thuyết pháp khai thị Kinh Kim Cang - bài giảng 79.)*

### 80. Lời kết

Hôm nay tại đây, tôi đã giảng xong kinh Kim Cang. Tôi cũng vừa nói, kinh Kim Cang là kinh điển trí huệ, có thể nói là trí huệ cao nhất, bởi vì nó trực tiếp dùng Phật tính để nói. Ngày xưa Thiền tông đến đời Ngũ tổ Hoằng Nhẫn thì đã dùng kinh Kim Cang để *check* (kiểm tra) xem bạn đã khai ngộ hay chưa. Cho nên khi Ngũ tổ Hoằng Nhẫn gọi Lục tổ đến phòng mình thì đã nói mấy điểm chính yếu quan trọng nhất trong kinh Kim Cang, ngài nói: “Đắc được cái này thì anh sẽ là vị tổ thứ sáu.”

Ngũ tổ truyền cho Lục tổ là dùng kinh Kim Cang, giải thích kinh Kim Cang, truyền bí mật cho Lục tổ. Hôm nay Sư Tôn đem những khẩu quyết trọng yếu nhất của kinh Kim Cang… bạn chú ý nghe điều Sư Tôn giảng, khẩu quyết quan trọng nhất đều đã giảng rồi. Người bình thường giảng kinh Kim Cang có khi không giảng như vậy đâu. Cho nên, Thượng sư Liên Từ, bà giảng có giống Sư Tôn giảng không? (Thượng sư Liên Từ: ban đầu Sư Tôn để cho đệ tử đọc bài giảng nghĩa của lão pháp sư Quả Hiền.) Không phải là Quả Hiền, là lão pháp sư Lạc Quả. Ở Đài Loan, Phổ Lí có một ngôi chùa là Phật Quang Tự, tôi ở đó nghe ông ấy giảng kinh Kim Cang. Nhưng ông ấy giảng có cách giảng nghĩa của ông ấy, tôi đã đưa cho Thượng sư Liên Từ xem để bà ấy giảng.

Nhưng lão pháp sư Lạc Quả giảng không giống tôi giảng. Tôi dựa vào trí huệ của tôi để giảng, dựa vào lí giải của tôi để giảng. Chúng ta không thể nói sư phụ của mình… Tôi đã quy y ba sư phụ Hiển giáo: người thứ nhất là Ấn Thuận đạo sư, người thứ hai là pháp sư Đạo An, người thứ ba là pháp sư Lạc Quả, tôi quy y ba sư phụ Hiển giáo. Nhưng chúng ta không thể nói rằng sư phụ không nói ra toàn bộ những yếu chỉ của kinh Kim Cang.

Thiền tông “một hoa nở năm cánh”, lão pháp sư Lạc Quả là truyền thừa của Tào Động tông, pháp sư Quả Hiền cạo đầu cho tôi là truyền thừa của Lâm Tế tông. Vì thế sau này thì Thiền tông là một hoa nở năm cánh, đến sau đời Lục tổ thì phân thành năm tông phái: một là Pháp Nhãn tông, một là Tào Động tông, một là Vi Ngưỡng tông, một là Lâm Tế tông, một là Vân Môn tông, một hoa nở năm cánh. Cho nên lão pháp sư Lạc Quả là truyền thừa của Tào Động tông của Thiền tông. Lão pháp sư Quả Hiền là Lâm Tế tông, tên của ông ấy là Lâm Tế Nghĩa Huyền.

Cho nên Sư Tôn truyền thừa nào cũng có, cũng có truyền thừa của Tịnh Độ tông, có truyền thừa của Tam Luân tông, có truyền thừa của Thiên Thai tông, có truyền thừa của Pháp Tướng tông, có truyền thừa của Luật tông, có truyền thừa của Mật tông, bạn muốn học cái gì bạn học tôi là có rồi! Hơn nữa bản thân Sư Tôn dùng lí giải của chính mình và những điều mà chính mình biết, những điều mà mình lĩnh ngộ được để giảng giải kinh Kim Cang, đó là điều người khác không bằng.

Nhưng chúng ta không thể nói: “Lão pháp sư Lạc Quả không giảng được, ông ấy chỉ giảng một cái có tính thông thường thôi.” Chúng ta không thể nói như vậy. Bởi vì chúng ta nhận định rằng sư phụ của chúng ta chỉ truyền những khẩu quyết quan trọng cho một vài người, bình thường ông ấy không công khai giảng cái này. Cho nên các bạn lĩnh ngộ được rồi, các bạn cũng không muốn nói ra, tôi thì đã nói ra rồi. Đúng thế! Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đã giảng rất rõ ràng cho Lục tổ Huệ Năng, chính là như vậy.

Giảng thì giảng luôn ra, nhưng chúng ta không thể nói sư phụ của mình chỉ hiểu cái bề ngoài. *No*! Không thể nói như vậy. Mặc dù tôi từng nghe pháp sư Lạc Quả giảng kinh Kim Cang, nhưng điều mà lão pháp sư Lạc Quả đã nói về kinh Kim Cang, ông ấy chỉ nói với người bình thường. Ông ấy gọi mấy đệ tử bí mật lại, vào buổi tối giảng cho họ nghe, đó mới là khẩu quyết trọng yếu chân chính, ông ấy không truyền rộng rãi.

Tôi nói để mọi người biết, có hai nhân vật rất vĩ đại, trong lòng tôi vô cùng ngưỡng mộ. Họ không phải là tín đồ Phật giáo. Một người là Thánh Phương Tế ở thế kỉ 13 (không phải là Phương Tế Danh của bây giờ, Phương Tế Danh là giáo tông hiện tại). Đó là Thánh Phương Tế của Thiên Chúa giáo vào thế kỉ 13, cũng là được phong Thánh. Văn cầu thỉnh ngài có câu cuối cùng là: “Chỉ có hi sinh chính mình mới có thể đạt được cuộc sống vĩnh hằng.”

Ngoài ra, người thứ hai mà tôi kính phục là Thánh Teresa cũng của Thiên Chúa giáo. Tôi thường nói ngài nói một câu là: “Có thiên đường tôi không đi, tôi sẽ không đến thiên đường.” Vậy ngài đi đâu? “Tôi muốn ở cùng chỗ với những con người đau khổ nhất.” Đó là lời mà Thánh Teresa nói: “Có thiên đường tôi không đi, tôi muốn ở cùng chỗ với những con người đau khổ nhất, tôi muốn giúp đỡ những người đau khổ nhất.” Đó là lời của Thánh Teresa.

Tôi nói với mọi người, hai người này chính là vô ngã! Vô ngã chính là hi sinh bản thân, thành tựu chúng sinh. Vô ngã chính là bản thân không hưởng lạc mà ở cùng với những người đau khổ. Vô ngã tức là dành cho chúng sinh, không có chính mình. Om mani padme hum.

*(Ngày 01/05/2022 Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và nói lời kết thúc khai thị Kinh Kim Cang.)*

**(Hết tập 4 - Trọn bộ)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-1.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 1
---

![image](/img/img_01d0d6093efa9742206f211851f84a18.jpg)

## Hồng quang đại thành tựu - Tập 1

(Liên Sinh Hoạt Phật giảng Hồng quang đại thành tựu)

🪷 Pháp thoại tại Chân Phật Mật Uyển vào năm 1996

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">622</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">01/07/1996</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Lôi Tạng Tự</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Lời mở đầu: Tôi giảng Hồng quang đại thành tựu

Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người một chút về Hồng quang đại thành tựu. Hồng quang đại thành tựu ở đây cũng là một dạng thành tựu vô thượng cao nhất trong tu hành Mật giáo. Hồng quang đại thành tựu là gì ư? Hồng quang đại thành tựu chính là đại thành tựu thân cầu vồng.

Thật ra cũng không có gì để nói cả, nhưng nếu muốn nói ra thì cũng rất dài. Vốn dĩ cầu vồng ở đây chỉ mang tính trượng trưng về mặt văn tự. Còn về mặt hữu hình mà nói thì là ánh sáng của cầu vồng. Về mặt vô hình mà nói thì là ý thức của vũ trụ, là ý thức ở nơi sâu nhất bên trong vũ trụ. Nếu trong quá trình tu hành bạn có thể thành tựu hợp nhất với ý thức vũ trụ thì đó chính là đại thành tựu thân cầu vồng. 

Chúng ta tu hành ở trong nhân thế này đã được xem là một chuyện đại sự rồi. Người tu hành biết rằng, tất cả mọi sự tình trong vũ trụ này, hầu hết đều là trống rỗng, là hư không, và là một huyễn mộng. Vậy bản thân bạn trong quá trình tu hành, giả sử bạn có thể đi trên con đường tu hành này cũng có nghĩa là bạn đang thực hiện sự nghiệp lớn nhất trong cuộc đời của mình. Thành quả tu hành cao nhất chính là đại thành tựu thân cầu vồng. Từ một phàm phu, bạn tiến nhập vào bên trong ý thức của vũ trụ, hợp nhất với toàn bộ vũ trụ, chính là đại thành tựu thân cầu vồng mà chúng ta nói đến. 

Về sự khác biệt giữa Mật giáo và Hiển giáo tôi có thể nói với mọi người theo cách đơn giản như thế này. Hiển giáo chính là lớp học, ở bên trong lớp học này chúng ta học tập về phương pháp lí luận. Thế còn bản thân Mật giáo nếu nói ra thì chính là phòng thực nghiệm. Bạn từ trong lớp học bước ra, đi vào phòng thực nghiệm để thực hành. Vì vậy khác biệt lớn nhất giữa Hiển – Mật là: Hiển là nằm ở lí luận, Mật là nằm ở thực tiễn, là thực hành. Một cái là lớp học, một cái là phòng thực nghiệm, nói như vậy mọi người sẽ biết rõ, sẽ hiểu được thế nào là Hiển giáo, thế nào là Mật giáo.

Thành tựu cao nhất trong Mật giáo chính là đại thành tựu thân cầu vồng. Sau khi bạn thành tựu pháp này rồi thì cũng sẽ được trời ban hiện tượng kì lạ. Trên người bạn sẽ sản sinh ra ánh sáng, đó là tịnh quang. Bất cứ lúc nào bạn đi đến đâu cũng có ánh sáng đi theo đến đó. Bất cứ lúc nào, như khi bạn muốn gọi tới ý thức vũ trụ, nó sẽ tương ứng trả lời bạn. Vì vậy có rất nhiều đại thành tựu giả ở trong cuộc đời của họ, khi mà họ nhập diệt, cũng tức là lúc họ viên tịch, ở trên không trung đều xuất hiện cầu vồng. Đây là trời giáng dị tượng. Trời giáng dị tượng cầu vồng này là trên thân họ cũng có ánh sáng cầu vồng.

Trong Chân Phật Mật Pháp của Chân Phật Tông chúng ta, cầu vồng bất cứ lúc nào cũng có. Giả sử nếu bạn là một thành tựu giả, bạn có thể gọi được cầu vồng thì cũng sẽ có trời giáng dị tượng. Và tương lai bạn cũng có thể hợp nhất với ý thức của vũ trụ.

Hôm nay giảng về đại thành tựu thân cầu vồng này, khi mới bắt đầu giảng, bản thân tôi đã nhìn thấy Kim Cang Tát Đỏa. Kim Cang Tát Đỏa của hôm nay và Kim Cang Tát Đỏa của trước đây không giống nhau lắm. Ngài ấy tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang. Ngài ấy cầm chày kim cang thảy lên trên không trung như thế này, thậm chí chày kim cang cũng hóa thành ánh sáng cầu vồng rất lớn. Tôi hi vọng rằng có thể giảng pháp tu hành đại thành tựu thân cầu vồng này để cho tất cả những người tu hành đều biết, tất cả mọi người đều hiểu. Cũng để cho mọi người biết được thế nào là sự tu hành thanh tịnh. 

Trong nhân thế gian, tu hành là điều vô cùng quan trọng, vì vậy bạn có được một phương pháp tu hành thực sự cũng không phải dễ dàng. Vì vậy tôi hi vọng, mọi người đều sẽ trân trọng pháp thành tựu thân cầu vồng - một đại pháp vô thượng của tu hành Mật giáo. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

01/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì. 

### 001. Sự khác biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo

Sự khác biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo, thông thường mà nói thì ngoài sự khác biệt giữa lớp học và phòng thực nghiệm ra, vẫn còn có rất nhiều điểm khác nhau nữa. Hiển giáo chủ yếu là tu tâm, là tu cái “tâm”. Mật giáo thì còn phải tu thân nữa, “thân” của thân thể, cũng tức là thân – tâm đều phải hợp nhất để mà tu. Đây cũng là một trong những khác biệt giữa Hiển và Mật.

Mật giáo cực kì xem trọng phương diện tu thân. Chúng ta biết rằng, thứ tạo thành toàn bộ vũ trụ này là địa-thủy-hỏa-không, là đất, nước, lửa và không khí. Vậy thì cơ thể người chúng ta cũng như vậy, cũng là đất nước lửa không. Nếu cơ thể người có đất nước lửa không thì chúng ta có thể xem cơ thể người giống như là vũ trụ. Bạn từ sự tu hành của cơ thể người có thể tương ứng với đất nước lửa không của toàn bộ vũ trụ.

Đó là tại sao Mật giáo phải xem trọng sự tu hành của thân thể người. Vậy nên đại thành tựu thân cầu vồng chính là đem năng lượng bên trong cơ thể mình, dùng các phương pháp tu tập để thúc đẩy nó ra ngoài, và điều này có thể cảm nhận được thật sự, không giống như rất nhiều người, phần lớn khi nói đến cảm ứng thì họ đều không có. Trong sự tu hành của Mật giáo, bản thân nó là có cảm ứng, vì vậy sẽ sản sinh ra một loại năng lượng rất lớn, chúng ta gọi đó là một loại pháp lực. Mật giáo nói đến pháp lực. Pháp lực này là một điều rất thật. Từ bên trong cơ thể bạn có thể cảm ứng được, từ bên trong tâm cũng có thể cảm ứng được. Bản thân Mật giáo vì có quan hệ thực nghiệm nên cần phải tìm kiếm sự chứng thực chứ không phải là lí luận. Đây chính là một trong những khác biệt giữa Hiển và Mật. 

Vậy đại thành tựu thân cầu vồng mà Mật giáo nói đến là đánh thức năng lượng bên trong cơ thể con người, chúng ta gọi là “nội hỏa”, lửa này có thể sinh ra ánh sáng, từ lửa sinh ra ánh sáng khiến cho toàn thân bạn hóa thành lửa, toàn thân hóa thành ánh sáng. Khi toàn thân bạn đều là lửa, toàn thân đều là ánh sáng, bạn có thể kết nối với một loại năng lượng của ý thức bên trong vũ trụ. Đây là một khái niệm cơ bản về đại thành tựu thân cầu vồng. Cũng chính là chúng ta chú trọng sự tu hành của thân thể, và đương nhiên cũng có tâm pháp nữa. Có cả chú trọng tâm, không phải là hoàn toàn không chú trọng tâm. Sự tu hành thân tâm hợp nhất chính là Mật giáo.

Chúng ta cho rằng tách rời khỏi thân thì không có tâm, thế còn tách rời khỏi tâm thì cái thân này cũng là vô dụng. Tách rời khỏi thân thì không có tâm, vậy tách rời khỏi tâm thì thân này cũng vô dụng, cho nên cần phải thân-tâm hợp nhất. Vì vậy tôi cho rằng, bản thân Mật giáo là tương đối viên mãn. Vì nó không chỉ là nghe giảng ở trong lớp học, mà thậm chí còn làm thực nghiệm trong phòng thực nghiệm. Không chỉ nói những thứ vô hình mà còn nói những thứ hữu hình, cũng tức là vật chất và tinh thần hoàn toàn là một trạng thái hợp nhất chứ không tách rời, không phân li. Đây là sự tu hành của Mật giáo. Vậy nếu như bạn đem khí, mạch của toàn bộ cơ thể mình, cùng với năng lượng của mình đả thông hợp nhất với nhau thì có thể phát ra ánh sáng cầu vồng. Đương nhiên nếu bạn muốn tu đến trình độ này thì đòi hỏi có rất nhiều phương pháp. Và còn phải được bản thân Thượng sư truyền dạy cho bạn nữa.

Vậy bạn dựa theo cách này, tu từng bước một thì mới có thể đạt được đại thành tựu thân cầu vồng. Liên quan đến sự tu hành về khí-mạch-minh điểm trong Mật giáo là thuộc về phương diện bí mật, cho nên mới gọi là Mật giáo. Do vậy Mật giáo cũng nói rằng, bạn phải có khẩu quyết tu hành về phương diện Nội mật chứ không phải chỉ là lí thuyết suông, Mật giáo rất rõ ràng. Về mặt lí luận hiển bày lộ rõ ràng, gọi là Hiển. Còn sự tu hành liên quan đến Nội mật khí-mạch-minh điểm thì gọi là Mật.

Hiển chính là những gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói. Mật là những gì mà Đại Nhật Như Lai (Phật Tỳ Lô Giá Na) đã nói. Ứng dụng vào thân thể này và các loại kĩ xảo về khẩu và ý để khai phá phương pháp Nội mật, đạt được đại thành tựu thân cầu vồng. Đây chính là điều chủ yếu nhất, khi tôi cùng mọi người bắt đầu nói về đại thành tựu thân cầu vồng thì phải giải thích với mọi người về điều này. 

Đây cũng là một pháp thành tựu cao nhất trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta. Mỗi một người trong chúng ta, những người tu hành, có thể bước đi trên con đường này, cho đến lúc có thể hợp nhất với ý thức của vũ trụ, hiển hiện đại quang minh, tôi cho rằng đây là một điều có ý nghĩa nhất trong cuộc đời này. Một chuyện có ý nghĩa nhất. Chúng ta có thể suy nghĩ một chút xem, giá trị cuộc đời là cái gì? Ý nghĩa cuộc đời là cái gì? Sinh tử là cái gì? Thử nghĩ xem, mọi người sẽ biết ngay. Đi trên con đường tu hành này đích thực là sự nghiệp lớn nhất của đời người. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

01/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 002. Quán đảnh của Mật giáo (1)

Ngày hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về quán đảnh của Mật giáo. Bản thân việc quán đảnh là một nghi thức rất quan trọng trong Mật giáo. Bởi vì bạn muốn tu Mật pháp, một pháp vĩ đại như vậy, cho nên muốn bắt đầu thì phải có một nghi thức, nghi thức đó chính là quy y, nhận quán đảnh. 

Nghi thức quán đảnh trong Mật giáo thông thường mà nói rất long trọng và cũng rất tôn quý. Nó có rất nhiều ý nghĩa ở bên trong. Ý nghĩa đầu tiên cũng chính là thanh tịnh. Khi thượng sư cho bạn nhận quán đảnh, điều này mang ý nghĩa là từ giờ phút này trở đi bạn sẽ trở nên hoàn toàn thanh tịnh, bạn là một con người mới. Quán đảnh mang ý nghĩa là thanh tịnh, tức là giúp bạn tiêu trừ hết toàn bộ nghiệp chướng trong quá khứ của mình.

Ý nghĩa thứ hai cũng có thể nói đến là sự gia trì mà thượng sư dành cho bạn, chính là dùng pháp lực mà bản thân thượng sư tu hành được trút lên toàn thân của bạn. Đây là pháp lưu, có thể hiểu là một dạng dòng chảy pháp của ý thức vũ trụ truyền thừa cộng với pháp lực tu hành của bản thân thượng sư tập trung trút lên thân thể của bạn. Cái này hơi giống trong tiểu thuyết võ hiệp, giống với việc truyền công lực cho người khác, chính là đem công lực của bản thân truyền vào cơ thể người khác. Loáng một cái, bạn sẽ có ngay công lực 500 năm. Sức mạnh này đương nhiên rất là lớn. Pháp lực của thượng sư càng mạnh thì sức mạnh của bản thân thượng sư càng lớn. 

Quán đảnh cũng là một dạng thọ kí. Sự tu hành trong Mật giáo là từ quả đến nhân. Thông thường tu hành Hiển giáo là từ nhân đến quả, từ nhân đến quả có nghĩa là bạn bắt đầu tu hành từ phàm phu cho đến Thánh hiền, đây là từ nhân đến quả. Còn tu hành trong Mật giáo là từ quả đến nhân nhưng không phải là bắt đầu từ Thánh hiền tu đến phàm phu, không phải như vậy đâu. Mà có nghĩa là khi bạn nhận quán đảnh là bạn đã có được một quả vị rồi, đây chính là thọ kí. Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa, khi Phật Nhiên Đăng thọ kí cho ngài ấy, thọ kí rằng tương lai con sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Trong việc quán đảnh có một ý nghĩa là cho bạn nhận quán đảnh, đăng kí các Phật vị, Phật vị là bạn "sẽ" có vị trí giống như các vị Phật, chính là bạn lập tức có được quả vị đó, nhưng mà bạn vẫn phải tiếp tục tu cho quả vị đó thành thật. Có quả vị trước, sau đó mới tu quả này. Chính là ý nghĩa này.

Quán đảnh cũng giống như một sự trao quyền. Sự trao quyền là gì? Nói cách khác là sau khi thượng sư quán đảnh cho bạn xong rồi, bạn sẽ được tu pháp mà bạn đã nhận quán đảnh, truyền thụ cho bạn một loại pháp, bạn hãy tu hành pháp này cho tốt. Đây chính là một dạng trao quyền cho bạn cái quyền được tu pháp này. Không nhận được quán đảnh thì không được tu pháp. Đương nhiên là muốn tu vô thượng đại pháp, vô thượng Mật pháp nhất định phải có quy y, có quán đảnh. Tại sao nhất định phải có quy y? Bởi vì trong Mật giáo rất chú trọng sự truyền thừa. Nếu như không có thượng sư làm quán đảnh cho bạn, bạn không được tu pháp này. Vậy bản thân bạn muốn tu pháp, vì trong Mật pháp là phải triệu thỉnh Bổn tôn của mình, thượng sư của mình đến để gia trì cho mình, thỉnh các vị đến gia trì cho mình, vậy nếu bản thân bạn không quy y sư phụ vậy thì bạn làm sao có Căn bản Thượng sư của mình chứ? Vì vậy nhất định phải quy y có quy y rồi mới có sư phụ truyền pháp cho bạn. Và có quy y rồi, bạn mới có Căn bản Thượng sư trụ trên đỉnh đầu của mình, mới có tổ sư các đời trụ ở đỉnh đầu. 

Mật giáo là như thế đó. Từ vị tổ sư đầu tiên đến các vị tổ sư phía dưới, rồi đến sư phụ của bạn, xếp thành một hàng thẳng đứng như vậy tạo thành một loại sức mạnh gia trì quán đảnh. Ý nghĩa của việc quán đảnh là nằm ở đây. Điều quan trọng nhất là quán đảnh chính là cần đem ý thức, chủng tử của chính Phật đặt vào thân thể của bản thân người tu hành là bạn. Điều này không phải là tùy tiện đâu. Không thể nói là nhìn vào rất là hình thức hóa, chỉ là một nghi quỹ. Mà là thượng sư có pháp lực thật sự là có thể đem chủng tử của Bổn tôn hoàn toàn chuyển vào thân thể của người tu hành, để người đó có thể ở trong ruộng bát thức ở bên trong người đó trồng được chủng tử Phật vào đó, tương lai chủng tử này sẽ nảy mầm, sẽ mọc rễ, sẽ trưởng thành, sẽ trở thành một pháp khí tu hành thực sự, cuối cùng biến thành Bổn tôn. 

Giữa pháp với pháp có một khái niệm. Bản thân của việc quán đảnh chính là hiện tượng ý thức của vũ trụ, cùng với thượng sư, và đệ tử thọ nhận quán đảnh, ba thứ này hợp nhất với nhau, đó chính là quán đảnh. Vậy thì, sức mạnh của quán đảnh sau khi được sinh ra trong cơ thể sẽ sản sinh ra quán tượng (hiện tượng quán đảnh).

Không giống với những quy y thông thường, đôi khi bạn đi quy y Hiển giáo thông thường thì sẽ không sinh ra hiện tượng quy y. Nhưng nếu như bạn thật sự được nhận một quán đảnh thì sẽ sản sinh ra quán tượng, đây là hiện tượng của quán đảnh, sẽ rất nhanh cảm nhận được *power <span className="note-blue">[sức mạnh]</span>* đó, loại năng lượng đó đi vào trong cơ thể bạn. Bạn sẽ lập tức cảm thấy rất có sức mạnh. Giống như thủy thủ Popeye ăn rau chân vịt vậy đó. Vốn dĩ thủy thủ Popeye bị đánh đến gần chết rồi đột nhiên anh ta có rau chân vịt, ăn vào một cái liền biến thành có *muscle <span className="note-blue">[cơ bắp]</span>*, sức mạnh liền được sản sinh ra. Quán tượng sinh ra từ quán đảnh giống như là thủy thủ Popeye ăn rau chân vịt, khi bạn ăn được rau chân vịt bạn sẽ có sức mạnh. 

Mật giáo là nói đến có *power*, nói đến có pháp lực, nếu bạn thọ nhận quán đảnh thực sự từ thượng sư, bạn lập tức sẽ được gia tăng công lực, đây chính là quán tượng.

Hôm nay chúng ta nói đến đây thôi. Om mami padme hum!

01/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 003. Quán đảnh của Mật giáo (2)

Chúng ta sẽ tiếp tục nói về quán đảnh trong Mật giáo. Ở trong Chân Phật Tông của chúng ta, quán đảnh rốt cục có thứ tự thế nào? 

Có bốn thứ tự quán đảnh. Thông thường mà nói thì quán đảnh là từ nông đến sâu, cũng có nghĩa là giống như chúng ta đi học vậy, bắt đầu từ *kindergarten* *<span className="note-blue">[mẫu giáo]</span>*, sau đó đến tiểu học, trung học cơ cở, trung học phổ thông, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, theo một thứ tự từ thấp đến cao. Ở trong Mật giáo, trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta cũng phân ra bốn trình tự rất lớn rất quan trọng.

Thông thường mà nói, đầu tiên là quán đảnh Ngoại mật, tiếp theo là quán đảnh Nội mật, sau đó là quán đảnh Mật, cuối cùng là quán đảnh Mật mật. Mật giáo phân ra quán đảnh theo bốn trình tự này. Quán đảnh Ngoại mật đều là quán đảnh bình. Mọi người nhìn thấy thượng sư dùng cái bình quán đảnh, rồi rẩy nước cho mọi người, đây chính là sơ quán khi mới bắt đầu, là quán đảnh bình lần đầu tiên, cũng tức là Ngoại quán đảnh. 

Sau khi bạn tu thành rồi mới đi vào quán đảnh Nội mật, là quán đảnh ở tầng thứ hai, chính là quán đảnh tu khí-mạch-minh điểm. Lúc này khi quán đảnh là sẽ dùng hoa trắng và hoa đỏ làm quán đảnh. Chúng đều có tính tượng trưng, đỏ tượng trưng cho hồng bồ đề, trắng tượng trưng cho bạch bồ đề. Quán đảnh thứ nhất là quán đảnh bình tượng trưng cho sự thanh tịnh nên phải dùng nước. Quán đảnh thứ hai là hoa trắng và đỏ.

Tiếp tục đi sâu vào quán đảnh Vô thượng mật bộ thì gọi là quán đảnh Mật. Khi quán đảnh Mật, cái này trong Chân Phật Mật Pháp gọi là Xúc quán đảnh, xúc tức là dùng sự tiếp xúc, dùng bút để tiếp xúc, điểm vào luân xa của bạn, đây gọi là quán đảnh Mật. Đây là quán đảnh rất cao thâm.

Quán đảnh Mật mật cuối cùng chính là quán đảnh Đại viên mãn, đó chính là một quán đảnh rất lớn, là quán đảnh thọ kí thành Phật cuối cùng. Trong Mật giáo chia làm bốn loại, đó là Ngoại quán đảnh, Nội quán đảnh, quán đảnh Mật, và quán đảnh Mật mật. Đây là bốn loại được phân ra trong Chân Phật Mật giáo của chúng ta.

Vậy bản thân chúng ta mà nói, muốn tu chứng Ngoại quán đảnh, điều đầu tiên, nền tảng đầu tiên bạn đã tu chứng được và đã có được cái gọi là ấn chứng, có được ấn chứng rồi mới bước vào tầng tiếp theo để tiếp nhận sự quán đảnh của tầng thứ hai. Quán đảnh ở tầng thứ hai xong, có được ấn chứng lần nữa, mới bước vào quán đảnh của tầng thứ ba. Rồi có được ấn chứng trong quán đảnh của tầng thứ ba thì mới đi vào quán đảnh của tầng thứ tư. 

Quán đảnh cuối cùng này có thể nói là không có nghi thức gì cả. Giống như câu chuyện cầm hoa của Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa, Phật cầm một bông hoa, rồi ngài ấy mỉm cười một cái, Đại Ca Diếp ngồi ở phía dưới đã biết rõ, Đại Ca Diếp đã lĩnh hội rồi, mỉm cười rồi, điều này có nghĩa là gì? Đây chính là đã quán đảnh rồi. Quán đảnh này không câu nệ hình thức. Thế nên với một Kim cương Thượng sư thực sự, thì giống như một cái nhíu mắt, nhíu mắt lại một cái, hoặc là “hư” một tiếng, “ha” một tiếng... đều là một loại quán đảnh. Uống một ngụm trà, cũng là một loại quán đảnh. Quán đảnh thứ tư này không quan trọng hình thức, giống như nói một câu nói là bạn lĩnh hội được rồi. 

Cái này ở trong Thiền tông cũng có, gõ "bang" một cái, hét "hơ" một tiếng đều là một loại quán đảnh, trong Mật giáo mà nói đây là một loại quán đảnh không quan trọng hình thức để bạn có thể ngay lập tức có cái "tức tâm tức Phật". Lúc này thì tâm của bạn chính là Phật, có thể chuyển hóa thành Phật đại viên mãn, toàn bộ hiện tượng đều không còn chướng ngại. Đây chính là quán đảnh Đại viên mãn. Quán đảnh Đại viên mãn hoàn toàn không có kĩ thuật gì, cũng không có cái gì gọi là nghi quỹ. 

Kì thực Thiền tông là một cảnh giới rất cao. Nói chung, Mật giáo là từ hữu hình tu đến vô hình, nhưng mà Thiền tông thì là "trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật". Cái này là hoàn toàn trực tiếp đi tu "không", tu "vô". Có thể nói Thiền tông chính là Đại viên mãn trong Mật giáo.

Mật giáo trước tiên là bắt đầu từ nghi quỹ hữu hình tu đến Đại viên mãn vô hình. Thiền tông là "trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự". Đây là một giáo pháp rất đặc thù, phải là người đại căn khí mới tu được. Tuy Mật giáo cũng xưng là Đại thừa, nhưng mà trên thực tế cảnh giới cao nhất của Mật giáo là hợp nhất với Thiền tông. Cảnh giới cao nhất của Thiền tông đến cuối cùng cũng là không có hình thái nào để mà nói.

Có người nói Phật Thích Ca Mâu Ni cần gì phải cầm bông hoa chứ? Cần gì chứ, vì cầm hoa đã là hành động dư thừa rồi. Vậy Đại Ca Diếp hà tất phải mỉm cười chứ? Vì mỉm cười cũng là hành động dư thừa rồi. Chỉ cần trong tâm phát quang, tâm Phật Đà một khi đã phát quang thì trong tâm của Đại Ca Diếp cũng phóng quang. Quang quang tương chiếu, toàn bộ đều không lộ biểu hiện hành động, đây chính là Thiền tông. Phật Thích Ca Mâu Ni cầm hoa là đã để lộ biểu hiện hành động, cũng tức là lộ cái đuôi ra rồi. Vậy Đại Ca Diếp mỉm cười chính là bắt được cái đuôi đó, cái này chính là để lộ biểu hiện hành động rồi. Trên thực tế không cần biểu lộ hành động chính là Thiền. Lộ ra biểu hiện hành động đã là hàng nhị đẳng rồi. Vì vậy quán đảnh Đại viên mãn hoàn toàn là không lộ biểu hiện hành động, là một loại ấn chứng giữa Phật với Phật. Đây là cảnh giới rất cao. Tuy nhiên hành giả Mật tông chúng ta khi vừa mới bắt đầu vẫn nên tu từ Ngoại pháp trước, giống Hiển giáo thông thường cần tu thân khẩu ý thanh tịnh sau đó mới đi vào nhị quán. Nhị quán khí-mạch-minh điểm tương ứng rồi mới đi vào tam quán Vô thượng mật bộ, có thể đi vào Vô thượng mật bộ đồng nghĩa là đã tương ứng với hư không. Trong sự tương ứng hư không phát triển lên chính là Đại viên mãn, chính là thành Phật. 

Quán đảnh cũng giống như là một thứ tự từ nông đi đến sâu. Muốn tu Mật giáo nhất định phải quy y, nhận quán đảnh, đây cũng là điều cực kì quan trọng. Ý nghĩa của nó nằm ở đây. Mật giáo vô cùng phi phàm, là đại pháp xuất thế, chúng sinh nên biết trân trọng. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

02/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 004. Thiền tông - Tịnh độ tông - Mật giáo

Hôm nay chúng ta sẽ nói về Thiền tông, Mật giáo và Tịnh độ tông.

Lần trước chúng ta có nhắc đến Thiền tông. Bản thân tôi đối với Thiền tông vô cùng tôn sùng. Bởi vì Thiền tông ở Trung Quốc của chúng ta đã từng phát triển rực rỡ. Có thể nói Thiền tông chính là Phật giáo duy nhất được Trung Quốc sáng lập. Là Phật giáo duy nhất ở Trung Quốc được hoằng dương, phát triển rực rỡ, vô cùng lộng lẫy hoành tráng. Thiền có thể nói là rất trực tiếp đi thẳng vào tính Không. Điểm đặc biệt nhất của nó là rất trực tiếp. 

Đã từng có người đi hỏi Thiền sư: "Cái gì là Phật?" Câu trả lời của thiền sư như thế này: "Phật!" "Vậy cái gì là pháp?" Anh ta lại hỏi cái gì là pháp? Thiền sư cũng trả lời là: "Pháp!" Người này không hiểu gì cả, tôi hỏi ông về Phật, cái gì là Phật, ông ấy lại trả lời là Phật. Hỏi pháp, ông ấy trả lời là pháp. Nên anh ta lại hỏi thiền sư: "Thiền sư, thầy đang nói cái gì vậy?" Thiền sư liền trả lời: "Cái gì!" Ông ấy trả lời như vậy đó. 

Ông ấy lặp lại câu nói đó, hoàn toàn là một cách trực tiếp. Nhấn mạnh trực tiếp. Bởi vì Phật và pháp, đều không thể dùng ngôn từ để nói cho người khác hiểu, không phải dùng miệng để nói. Người đó không hiểu liền bỏ đi. Lúc sắp đi khỏi, thiền sư gọi lớn tiếng: "Đại đức!" Hai tiếng "Đại đức".  Anh ta liền dừng bước, là ai đang gọi mình vậy? Quay đầu lại, anh ta liền suy nghĩ. Thiền sư trực tiếp chỉ dạy anh ta khai ngộ như vậy đó. 

Vì vậy bản thân Thiền tông mà nói là rất trực tiếp, trực tiếp đi vào bên trong tính Không chính là Thiền. Thật ra Thiền không nhất định là bảo bạn mỗi ngày đều ở đó ngồi thiền, không phải đâu. Thiền tông có nhiều lúc không phải là bảo bạn trực tiếp ngồi ở đó, tôi ở đó ngày ngày ngồi thiền chính là thiền, không phải vậy đâu. Mà là trực tiếp đi sâu vào ngộ cảnh. Có thể nói là bảo bạn có thể siêu việt chính là một loại Thiền.

Vì vậy có người chủ trương mình chỉ được ngồi, không được ngủ. Nên có người viết một câu: "Lúc sống ngồi không nằm, chết rồi nằm không ngồi". Khi bạn chết rồi đương nhiên là chỉ có thể nằm, không thể ngồi. Giả sử như cái này cũng là một loại pháp thì pháp này cũng huyễn, không phải chân thực cho lắm. Có thể nói một câu nói thôi, thiền là "trực tiếp thâm nhập, kiến tính thành Phật", đó là Thiền tông, nhưng đây là người căn khí rất cao. Tôi rất tán dương Thiền tông này. 

Chúng ta sẽ tiếp tục nói về Tịnh độ tông, Tịnh độ tông đương nhiên là rất thịnh hành rồi. Mọi người tập hợp cùng nhau niệm bốn âm Phật, sáu âm Phật, A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật, sáu âm Phật, đều rất tốt. Tịnh độ tông là một phương tiện. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế đã giảng kinh A Di Đà, giảng Tam Kinh Nhất Luận. Như trong kinh Địa Tạng cũng có dạy mọi người niệm Phật. Tịnh độ tông chủ trương niệm Phật, chủ yếu nhất là phải niệm Phật. Niệm Phật trong Tịnh độ tông có thể nói là phương tiện của con người hiện đại thời nay. Tịnh độ tông nhấn mạnh hai chữ, chính là "phương tiện". Bạn ở trong xã hội hiện đại này, bảo bạn niệm Phật, có người đã cảm thấy rất khó, vì vậy bạn có thể niệm Phật đã là rất có cơ duyên với Phật rồi. Đặc biệt là Phật Đà khi xưa trong kinh điển thường hay nhấn mạnh rằng bạn chỉ cần niệm một câu kinh, một bài kệ, một câu một ý, bạn chỉ cần hiểu một câu nói thôi là có thể rất dễ dàng vãng sinh rồi. 

Lời dạy của Phật Đà là dùng kết hợp cả "quyền" và "thực", "quyền" trong từ quyền lực và "thực" sử dụng kết hợp, hai đế Thánh - Tục đều phải có. Thánh đế và Tục đế đều phải có. Một phương pháp độ chúng sinh như vậy, và Tịnh độ tông có thể nói là tiện lợi nhất, bạn chỉ cần niệm Phật, vậy thì niệm đến khi trong tâm của bạn có thể hợp nhất với Phật, có thể nhất tâm bất loạn thì sẽ vãng sinh. Vì vậy Tịnh độ tông thật ra cũng là rất tốt đó. 

Chúng ta đối với các tông phái đều có cùng một sự tôn sùng, có cùng một sự tôn kính. Vậy thì nói tiếp về Mật giáo. Bản thân Mật giáo chú trọng pháp thực tu, dạy các pháp thực tế để bạn tu hành. Còn tôi cho rằng bản thân Mật giáo nếu nói ra thì nó thuộc về tiệm tiến, cũng theo từng cái từng cái một, từ từ dẫn dắt bạn đi vào cánh cửa chứng ngộ. Thật ra khi chứng ngộ, có thể nói như thế này, bản thân Mật giáo là sự tổng hợp các phương pháp tu hành khác nhau của Hiển và Mật. Vậy nên có một nghi quỹ tu hành để bạn từng bước từng bước đi vào, cho đến khi chứng minh được tính Không cuối cùng. 

Vì vậy tôi nhận định như thế này, bản chất của Mật giáo là tương đối thực tế, tương đối thực tu. Điểm quan trọng là Mật giáo là một pháp môn thực tu. Giả sử bạn có thể bước vào cánh cửa Mật giáo là bạn đã có được Phật pháp một cách tương đối thực tế rồi. Tịnh độ tông niệm Phật, Thiền tông thì trực tiếp đi vào tính Không, những điều này đương nhiên đều rất tốt. Nhưng bản thân Mật giáo là bạn nắm giữ được Phật pháp thực tế. Bạn nắm giữ được Phật pháp thực tế là bạn có thể có được cảm nhận, cảm giác chân thực. Đây là cách nhìn nhận của tôi về ba tông phái này.

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

05/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 005. Nhìn nhận về Hiển giáo và các tông phái khác

Có người hỏi tôi đối với Hiển-Mật và tất cả các tông phái khác có cách nhìn nhận ra sao. Tôi cho rằng như thế này. Hiển giáo và Mật giáo là một cái vòng tròn, cũng có nghĩa là viên dung, hoàn toàn là một vòng tròn tròn đầy. Vậy thì đối với mỗi một tông phái, tôi cho rằng "tông tông bình đẳng". Mỗi một tông phái đều bình đẳng, mỗi tông phái đều có cái đặc sắc riêng. Tông tông bình đẳng, chúng ta đối với tất cả tông phái trong Phật giáo cũng đều nên tôn sùng, phải tôn trọng. Tông tông bình đẳng, mỗi tông mỗi đặc sắc. Bởi vì đều là những lời Phật thuyết, đều là những lời Như Lai thuyết, bởi vì mỗi tông phái đều là từ trong kinh điển của Phật Thích Ca Mâu Ni lấy ra một phần yếu nghĩa ở trong đó để phát dương. Vì vậy tính ra, nếu đã là cùng một truyền thừa của Phật Đà, của Phật Thích Ca Mâu Ni, vậy thì đều là bình đẳng cả, không có gì khác biệt. 

Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp nhiều năm như vậy thì kinh điển của ngài mỗi loại cũng có mỗi đặc sắc riêng. Chúng ta từ trong điểm đặc sắc này để thể hội yếu nghĩa của Phật pháp. Đây là một điểm quan trọng, vì vậy đều phải tôn kính, đều phải tôn trọng, đều phải tôn sùng. Còn Hiển giáo và Mật giáo thì tôi cũng đã nói rồi, Hiển giống như đang học ở trong lớp học, nó là lí thuyết, thiên về lí. Còn Mật giáo thì giống như ở trong phòng thực nghiệm, thiên về thực nghiệm, thực tế. Như vậy nó chính là lí thuyết và thực hành, một bên là về mặt lí luận, một bên là tu hành về mặt thực tế. 

Bản thân chúng ta nói là một đệ tử Phật nhất định phải Hiển Mật viên dung vì chúng ta cũng phải hiểu lí luận, vì hiểu lí luận rồi thì bạn mới có thể làm thực tế được. Và từ trong lúc thực hành sẽ sinh ra lí luận mới, từ trong lí luận lại có được một hiệu quả thực nghiệm. Hai cái này không thể nào tách rời được vì vậy Hiển và Mật cần phải hoàn toàn viên dung. Trên thực tế, tu hành trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta phần nhiều đều là trong Mật có Hiển, vậy thì trong Hiển cũng có Mật. Hiển-Mật chính là một sự tròn đầy.

Cũng có người hỏi tôi, vậy thì tu Hiển giáo, Mật giáo thì nên tu như thế nào? Tổ sư Tsongkhapa của Mật giáo đã từng nói rằng, thông thường muốn thành tựu là một thượng sư thực sự, ngài ấy tu Hiển giáo, học Phật lí mất 12 năm, tu Mật mất 8 năm, phải có đủ 20 năm công sức. Chúng ta cũng có thể tu Hiển giáo trước, tu Hiển pháp trước, để cho một số lí luận của Phật giáo thấu hiểu thông suốt hoàn toàn, sau này mới thực tu Mật giáo, thực tu Mật pháp sau, những cái này đều rất quan trọng. 

Lúc nãy chúng ta nói đến Thiền tông, Mật giáo, và Tịnh độ tông. Trong mắt tôi thấy thì Thiền tông là khó nhất. Tịnh độ tông là dễ dàng nhất. Vậy thì có thể nói Mật giáo là ở chính giữa. Vì vậy hôm nay chúng ta lựa chọn dùng Chân Phật Mật Pháp để tu là lựa chọn trung đạo. Chúng ta không chọn cái khó nhất, cũng không chọn cái dễ nhất. Chúng ta đi ở chính giữa, rất phù hợp với tư tưởng trung đạo của Phật Thích Ca Mâu Ni. Bất cứ một tông giáo nào, trong mắt tôi đánh giá thì đều là một một vấn đề thứ tự, cũng có nghĩa là cấp độ của bạn đến đâu, hoàn toàn là vấn đề về cấp độ. Vì vậy giữa các tông giáo với nhau đương nhiên là sẽ có một số công kích lẫn nhau, nảy sinh một số phỉ báng. Nhưng mà, nếu giả sử bạn là một người tu hành tới cảnh giới rất cao, thì trong mắt bạn thì thật ra chỉ là vấn đề cấp độ, cái này đều không thành vấn đề. Nên nếu bạn chỉ nghiên cứu lí luận của tông giáo, và phương pháp tu hành của tông giáo, bạn có đề xuất ra, làm một nghiên cứu sâu hơn về lí luận và phương pháp thực hành thì tốt, nhưng không nên phỉ báng. Trong hàng nghìn văn tự của Phật giáo là không nên có phỉ báng. Và giữa các tông giáo với nhau, cũng không nên có phỉ báng vì tất cả đều là vấn đề cấp độ mà thôi. 

Vì vậy chúng ta dùng học vấn, dùng tâm học hỏi để nghiên cứu tông giáo, chắc là bạn sẽ hiểu điều này. Khi học đại học, bạn học vi tích phân, phân tích hình học, phân tích hình học không gian. Những gì bạn học được bạn nói với trẻ con mẫu giáo thì chúng tuyệt đối chẳng hiểu, nhưng trẻ con học mẫu giáo cũng không thể phỉ báng vi tích phân, phân tích hình học. Trẻ mẫu giáo đương nhiên là không hiểu rồi. Nhưng giả sử bạn nói bạn học qua vi tích phân, phân tích hình học rồi, bạn cũng không thể phê bình hình tam giác, cũng không thể phê bình phương trình toán học, vì đây là một vấn đề về cấp độ. 

Khi bạn tu hành đến cảnh giới rất cao bạn nhìn những tông giáo khác, bạn sẽ hiểu ra nó là một dạng cấp độ. Vì vậy chúng ta vẫn nói một câu, đối với những người không biết về Chân Phật Mật giáo của chúng ta, những người không biết thì không nên tùy tiện phê bình, vì cấp độ của bạn vẫn chưa đạt đến đó, vì vậy không thể phê bình. Giả sử như bạn đã hiểu rõ rồi, hiểu rõ về Chân Phật Mật giáo rồi bạn có thể thực tu, hoặc là đề xuất những nghiên cứu của bạn về mặt lí luận, về phương pháp tu hành thực tu, điều này thì được. 

Vì vậy tôi cho rằng những người tu hành như chúng ta nhất định phải viên dung Hiển-Mật, tông tông bình đẳng, không có phân biệt. Đối với tất cả các tông phái như nhau, tất cả đều phải tôn kính, đều phải tôn sùng. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

05/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 006. Nói về “niệm” (1)

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về “niệm”, “niệm” trong từ “ý niệm”. 

Bản thân tôi nghiên cứu Phật pháp hơn 20 năm, đối với việc Phật Thích Ca Mâu Ni tại sao lại thành đạo, tôi cũng có sự thể hội tương đối sâu. Tôi hỏi mọi người một chút, Phật Thích Ca Mâu Ni dựa vào cái gì để thành đạo? Nhìn chung mà nói, có rất nhiều người học Phật rất nhiều, rất lâu rồi, khi hỏi anh ta về câu hỏi vô cùng trực tiếp này, anh ta sẽ rất khó để trả lời được. Phật Thích Ca Mâu Ni tại sao lại thành đạo? Vậy thì câu hỏi này rất khó trả lời. Có người nói đông, nói tây, nói nam, nói bắc. Thật ra chỉ có hai chữ thôi: Bát Nhã. Tư tưởng trung tâm của Phật Thích Ca Mâu Ni có thể nói là vô thượng Phật huệ - trí huệ Phật vô thượng, chính là bát nhã. Mọi người đọc các kinh điển truyền thừa của ngài đi, kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang, cho đến Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, đây chính là một hệ thống tư tưởng trung tâm về bát nhã của ngài. Phật Thích Ca Mâu Ni vì có vô thượng Phật huệ nên ngài đắc được bát nhã, vì vậy ngài trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni. Nếu bạn đắc được bát nhã thì bạn cũng có thể thành Phật giống như vậy. 

Nhưng làm sao đắc được bát nhã? Vô thượng Phật huệ nhất định phải do tự bạn đi “định” thì mới có được “huệ”. Vì vậy trong Phật giáo chúng ta có tam học Giới-Định-Huệ, phải giữ giới, rồi từ trong giới có được định, rồi từ trong định có được vô thượng Phật huệ. Phật Thích Ca Mâu Ni chính là nhờ bát nhã mà đạt được vô thượng chính đẳng chính giác. Nhất định phải có được định. 

Di Lặc Bồ Tát học về duy thức. Thế nào là duy thức? Chữ thức này là ý thức sâu nhất, một ý thức sâu nhất trong cơ thể. Bản thân ý thức sâu nhất này khi chuyển hóa ra lại biến thành ý thức, biểu hiện hóa thành mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Biểu hiện bên ngoài là mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, nhưng thật ra nó có ý thức sâu nhất, đây là hệ thống duy thức của Di Lặc Bồ Tát, là tư tưởng trung tâm của ngài. 

Nhưng nếu kết hợp duy thức và bát nhã, tôi nói để mọi người biết, đây chính là “tâm” mà bình thường chúng ta hay nói đến. “Tâm” chính là “thức”, “thức” chính là “tâm”. Những cái này đều là vô hình. Bạn nói bát nhã, bạn lấy bát nhã ra cho tôi xem nào. Không có, nó là vô hình. Bạn lấy thức ra cho tôi xem nào, nó cũng là vô hình. 

Làm sao để tu hai cái này? Có thể nói là hôm nay tôi sẽ nghiên cứu duy thức, nghiên cứu bát nhã. Nó là do “niệm” đi tìm cầu, do bên trong ý niệm của con người đi tìm kiếm bát nhã và tìm kiếm duy thức. Bạn muốn thành Phật là phải như vậy đó. Từ ý niệm mà đi tìm kiếm, bởi vì nhờ ý niệm của người mới có được định mà, từ ý niệm đi tìm bát nhã, đi tìm duy thức của bạn. 

Nói về các vị tổ sư của chúng ta thì, các vị thành Phật tại thế giới Ta Bà này, Phật quá khứ chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật tương lai chính là Di Lặc Bồ Tát, bạn biết được tư tưởng trung tâm của các vị ấy là bạn có thể nắm được chiếc chìa khóa để thành Phật. 

Hôm nay Lư Thắng Ngạn dám nói mình là Hoa Quang Tự Tại Phật, dám nói là bởi vì đã nắm được chiếc chìa khóa để thành Phật. Bạn có thể mở được cánh cửa để thành Phật này, có thể mở ra cánh cửa tiến vào Tì Lô Tính Hải. Tại sao bạn có thể vào được? Bởi vì bạn có chìa khóa của bát nhã, bạn có chìa khóa của duy thức. 

Hôm nay ở trong thế giới Ta Bà này, tôi là người truyền đại pháp. Tôi có thể nói như thế này, ở trên thế giới này, đương nhiên người có công phu cao thì rất nhiều, cao thủ nhiều như mây, không sai. Nhưng bạn nhắc đến Lư Thắng Ngạn, đương nhiên cũng là một cao thủ trong số các cao thủ, trong số người giỏi còn có người giỏi hơn, bên ngoài trời còn có trời, người này giỏi có người khác giỏi hơn, cũng được xem là cao thủ rồi. Người có thể thâm nhập vào trong để nghiên cứu Phật pháp như vậy, biết được bát nhã và duy thức, hai thứ này cộng lại chính là tâm, không tìm được nữa đâu. 

Nhưng nếu như muốn tìm, nhất định phải bắt đầu từ niệm của bạn. Tam học Giới-Định-Huệ, phần lớn những người học Phật chúng ta đều biết phải giữ giới, bởi vì giữ giới có thể sản sinh ra định, có thể kiến bạn trở thành “nhất”, trở thành “chuyên nhất”, phải giữ giới mới có thể trở nên chuyên nhất, “chuyên nhất” sẽ sản sinh ra một cảnh giới định. Và rồi từ bên trong định, bạn có thể đắc được bát nhã, mới có thể bước vào cánh cửa duy thức. Cánh cửa của duy tâm, duy thức là vào bằng cách như vậy đó. Bạn muốn thành Phật, thành Phật Thích Ca Mâu Ni, không phải là cứ tùy tiện ngồi ở đó, không phải là cứ ngồi ở dưới gốc cây Bồ Đề là đạt được. 

Vì vậy hôm nay bạn có thể có được Chân Phật Mật Pháp… Chân Phật Mật Pháp là gì ư? Là bát nhã, cũng là duy thức, nó có phương pháp, có trọn bộ phương pháp dạy cho bạn cách đi vào cánh cửa bát nhã, dạy bạn cách đi vào cánh cửa duy thức, dạy bạn cách đi lĩnh hội pháp vị. Ngày hôm nay bạn bắt đầu học từ đây, bạn sẽ có thể đạt được vô thượng chính đẳng chính giác, chân lí của vũ trụ nằm trong lòng bàn tay của bạn, bạn có thể nắm bắt được, điều này là rất đáng quý, đáng để trân trọng. 

Hôm nay tạm nói đến đây. Om mani padme hum!

08/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 007. Nói về “niệm” (2)

Có lẽ mọi người sẽ lấy làm lạ, bản thân Lư Thắng Ngạn nói rất to tát về bản thân, giống như câu “bên ngoài trời còn có trời”, ý là ông ấy chính là bầu trời đó, người này giỏi có người khác giỏi hơn, ý là ông ấy chính là cái người khác đó. Thật ra, điều này không kì lạ chút nào. Đây là Phật Thích Ca Mâu Ni nói, nếu người nào thực sự hợp nhất với Đạo thì người đó là lớn, không chỉ là lớn nhất, mà còn là vô thượng. Phật Thích Ca Mâu Ni nói “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”, nếu dám nói câu nói này, cho thấy rằng ngài và vũ trụ đã hợp nhất. 

Bạn là một người thành Phật rồi, đã khai ngộ rồi thì bạn có thể được nói như vậy, “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”, có thể được nói. Vì vậy điều này không xem là to tát, chỉ là một hiện tượng khi bạn và vũ trụ, bạn và Đạo hoàn toàn hợp lại làm một mà thôi, bởi vì bạn có được trí huệ vô thượng rồi, bạn có được chân lí rồi, chân lí chính là bạn, bạn chính là chân lí. Nếu như hiểu được điều này rồi thì sẽ không cảm thấy bản thân con người này là vô cùng cao ngạo, tự cao tự đại, sẽ không cảm thấy như vậy nữa. 

Vậy tôi sẽ nói ý niệm quan trọng như thế nào. Có rất nhiều người tu hành nói rằng chúng ta tu hành chính là tu sửa hành vi, vậy tu sửa hành vi là phải sửa từ chỗ nào? Là tu sửa từ ý niệm của bạn, tu sửa từ tâm của bạn. Vậy tại sao phải tu tâm? Bởi vì tâm điều khiển hành vi của bạn. Vậy tại sao phải tu niệm? Bởi vì tâm không có hình tướng, chủ yếu là niệm của bạn sản sinh ra, niệm chính là một hình tướng bên ngoài của tâm, vì vậy phải tu niệm này. Tu niệm này là vô cùng quan trọng. 

Ở trong Thiền tông có thể nói như thế này. Thiền Tông chủ yếu dạy bạn “chỉ”, là dừng lại, nghĩa là khi có một niệm không tốt khởi lên lập tức chặt đứt nó, đó là “chỉ”, chặt đứt nó chính là “chỉ”. Người bình thường muốn dừng mà không thể dừng được, vì vậy có một câu nói là “rút dao chém nước nước càng chảy mạnh, nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm”. Có thể chặt đứt được ý niệm thì mọi người ai cũng có thể thành Phật. 

Tôi đã từng nói rồi, ý niệm rất khó chặt đứt, tại sao ý niệm lại khó chặt đứt? Tôi cũng không thể chặt đứt. Bạn nhìn cái cây kia đi, cây đứng ở đó rất im lặng, nhưng cây cũng không thể dừng được, tại sao cây lại không thể dừng? Vì nó vẫn đang hút nước hút phân, vẫn đang nở hoa ở trên cây, lá đang mọc ra, nước vẫn đang lưu thông bên trong thân cây. Bạn lấy đại một cây kim nào đó đi đâm vào thân cây, thân cây vẫn chảy nhựa, nó vẫn còn ý niệm, nó lập tức cảm thấy đau, sẽ lập tức chảy máu. Cây cũng có cảm giác, cây không phải là không có cảm giác. Bạn hái đại một cái lá xuống, cái lá đó vẫn còn chảy nhựa ra, đó chính là có cảm giác, nếu nó không có cảm giác thì không chảy nhựa rồi. 

Vì vậy ý niệm rất khó dừng. Thiền tông chủ trương chặt đứt ý niệm chính là pháp “chỉ”, là cao minh bậc nhất, người đại căn khí mới làm được. Cũng có nói đến pháp túng niệm, pháp túng niệm tức là để mặc nó, để mặc ý niệm, để nó cứ thế mà trôi đi, không quản đến nó. Nhưng mà cái này cũng rất khó tu. Cái mà trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta nói đến chính là “lấy niệm dừng niệm”, cũng tức là dùng chính niệm để dừng lại tà niệm, nghĩa là dùng niệm để dừng niệm. Cách này theo cá nhân tôi nhận thấy, bản thân tôi cho rằng dùng phương pháp này là tốt nhất. Ý niệm rất khó chặt đứt, không thể chặt đứt thì phải làm sao? Bản thân bạn tự nghĩ ra một ý niệm tốt để ngăn chặn ý niệm không tốt, đây chính là tu hành, đây chính là quán tưởng trong Mật giáo chúng ta, là một trong ba yếu tố lớn của Mật giáo.

Tại sao trong Mật giáo phải dùng pháp quán tưởng? Bản thân việc quán tưởng chính là dùng chính niệm để thay thế tà niệm, chính là pháp quán tưởng. Đây chính là một phương pháp “lấy niệm dừng niệm” được sử dụng trong Mật giáo.

Mọi người thử nghĩ xem tại sao Tịnh độ tông lại niệm Phật? Niệm Phật chính là tập trung về mặt tinh thần, một lòng hướng về Phật, thật ra cũng là "lấy niệm dừng niệm”, dùng ý niệm của việc niệm Phật để ngăn chặn những ý niệm không tốt. Mật giáo dùng quán tưởng để ngăn chặn những ý niệm không tốt. Thiền tông trực tiếp dùng phương pháp tính Không để hóa giải những ý niệm không tốt, để cắt đứt những ý niệm không tốt, để cầu chữ “định” của sự chuyên nhất. 

Lúc nãy có nói rồi, chỉ có ở trong định mới có thể sinh ra trí huệ. Mọi người thử nghĩ đi, bạn từ sáng đến tối đều bận rộn lo toan, trong đầu nghĩ nhiều chuyện linh tinh, khi nào bạn mới có trí huệ chứ? Khó lắm đúng không? Bạn đi học, như thế nào mới có được kiến thức? Chính là bạn phải tập trung đó, khi tập trung bạn mới đi sâu vào trong kiến thức và có được hiểu biết về phương diện nào đó. Bạn nghiên cứu bất cứ một loại tư tưởng học thuật nào, quan trọng nhất là bạn phải chuyên chú, tìm hiểu rất sâu thì mới có thể đạt được nó. 

Hôm nay mọi người học Phật pháp cũng giống như vậy, trong đầu bạn suy nghĩ linh tinh, bận rộn lo toan, bạn làm sao có được chân lí của vũ trụ? Bạn vẫn phải thâm nhập một cách chuyên nhất giống như vậy mới có thể đạt được kết quả cốt tủy của Phật pháp, mới có thể đắc được bát nhã, mới có thể đắc được duy thức. Bạn có hai chiếc chìa khóa này rồi, kết hợp lại là bạn sẽ có thể mở được tâm của vũ trụ, bước vào bên trong chân tâm của vũ trụ bạn mới lấy được chân lí, đạt được vô thượng chính đẳng chính giác. 

Phật Thích Ca Mâu Ni làm thế nào để đạt được chân lí? Là từ kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang, kinh Tâm mà có được. Di Lặc Bồ Tát đạt được từ bên trong duy thức, tương lai Di Lặc Bồ Tát sẽ thành Phật. Sư Tôn làm thế nào để đạt được? Chính là vì tôi lấy được chìa khóa của bát nhã và duy thức. Vậy xin nói cho mọi người biết, tu hành của ngày hôm nay là phải tu niệm, tu chữ “niệm”. Bạn tu sửa được cái “niệm” này, bạn chuyên nhất rồi, bạn đắc được bát nhã, đắc được duy thức là bạn có thể thành Phật.

Hôm nay bạn không thể chuyên nhất, vậy thì bạn cứ bận rộn lo toan sống hết cuộc đời này đi. Vì vậy rất nhiều người học thiền định, tại sao nhất định phải học thiền định? Chính là vì bạn muốn đạt được những điều này đó. 

Hôm nay chúng ta nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

08/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 008. Làm sao nhập định (1)

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người đôi chút về phương pháp nhập định. 

Thông thường, định ở trong tiếng Phạn gọi là Samādhi (tam ma địa). Tôi cảm thấy là, muốn học Phật thành tựu, thật ra nói khó thì không khó, nhưng mà nói là dễ dàng thì thực sự là một chuyện không dễ dàng. Bởi vì bạn học Phật giả sử không có sư phụ chỉ dẫn bạn, dẫn dắt bạn, bạn phải tự mình đi tìm hiểu các kinh điển Phật giáo thì sẽ phải tiêu tốn rất nhiều năm thời gian. Hơn nữa bỏ ra nhiều thời gian như vậy cũng chưa chắc đã đạt được. Vì vậy nếu nói ra thì việc học Phật vẫn là rất khó khăn. 

Chúng ta nói đến Phật Thích Ca Mâu Ni sở dĩ có thể thành Phật là vì ngài đắc được bát nhã. Còn Di Lặc Bồ Tát tương lai thành Phật là vì ngài có được một loại đại thần biến của duy thức. Vậy thì bây giờ bạn đọc kinh điển Phật pháp, bạn có thể đọc thật kĩ kinh điển đó, bạn có thể biết được lí luận của nó. Từ trong Phật lí có thể đắc được bát nhã, bạn có thể biết được những lí luận này. Giống như chúng ta từ trong Tâm Kinh có thể lĩnh hội được tính Không, mối liên hệ giữa bát nhã và tính Không, từ trong Duy Thức Luận bạn có thể lĩnh hội được làm sao để diệt trừ các loại chấp trước, còn lại một ý thức sau cùng của Phật thức trí, bạn có thể hiểu rõ. 

Tuy rằng bạn hiểu hết những lí luận này, nhưng mà bạn vẫn không có cách để đi vào cánh cửa của bát nhã và duy thức. Tại sao vậy? Tại vì trong kinh điển không có ghi phương pháp của nó. Bạn biết được lí luận rồi, làm sao để đi vào tính Không bạn cũng biết rồi, làm sao có thể nắm lấy được duy thức bạn cũng hiểu luôn rồi, bạn cũng biết cách làm sao loại bỏ chấp trước, nhưng mà, bạn tu bằng cách nào đây? Thì kinh điển lại không nói đến. 

Rất nhiều người xem Phật pháp như một loại học thuật để nghiên cứu, giáo sư Phật học nói rất hay. Hỏi ông ấy có thực tu hay không, ông ấy nói: “Tôi là người nghiên cứu học thuật, tôi không có tu.” Điều này có nghĩa là ông ấy căn bản không có phương pháp thao tác. 

Bạn làm sao để sinh ra bát nhã, làm sao đắc được duy thức thực sự? Bạn không có phương pháp. Vì thế bạn đọc xong nghìn kinh vạn điển, bạn đều đọc đủ hết nhưng bạn chẳng khác gì một con số 0. Hôm nay, Lư Thắng Ngạn này thực sự có phương pháp hữu dụng một cách thực tế, không chỉ là biết về mặt lí luận, mà về mặt thực tu, bản thân tôi cũng có nhập môn, cũng có một phương pháp để bước vào cánh cửa lớn thâm thúy. 

Vì vậy không chỉ là biết về mặt lí luận, mà còn phải hiểu rõ về phương pháp. Ngoài ra thì sao? Bạn vẫn phải từ trong thực tu mà thật sự minh tâm kiến tính. Vậy là chúng ta hiểu rồi đó. Bạn muốn nghiên cứu mọi loại học vấn, vẫn cần phải định. Tại sao lại phải định? Bởi vì khi nước tĩnh lặng mới có thể hiển lộ vạn vật, khi nước chảy, không tĩnh lặng thì bất cứ thứ gì cũng không rõ ràng. 

Trong Phật pháp nói, trí huệ vô thượng được sinh ra từ trong định. Phật Thích Ca Mâu Ni từ trong định mới có thể lĩnh hội được chân lí của vũ trụ, thực sự thể hội được bát nhã và duy thức, mới có thể minh tâm kiến tính và khai ngộ. Sau khi khai ngộ rồi, toàn bộ hành vi cử chỉ và thần thông của ngài, tất cả mọi thứ đều hiển lộ ra hết. Sau khi đã khai ngộ rồi, ngài có thể dung nhập vào Tì Lô Tính Hải, biển đại quang minh, bình đẳng với Phật, có thể biết hết toàn bộ đạo lí của thế gian. Sau khi khai ngộ rồi, ngài có thể vận dụng những thần lực và đạo lực của Như Lai, sau đó đi độ hóa chúng sinh, tự mình giải thoát và có thể giúp chúng sinh giải thoát. 

Vậy thì phương pháp này vẫn phải bắt đầu từ trong định. Có rất nhiều loại định. Con đường mà bản thân tôi đi chính là đi từ trong Chân Phật Mật Pháp. Vì vậy trong “Hồng quang đại thành tựu” này, tôi chính là muốn dạy mọi người làm thế nào để thực tu Chân Phật Mật Pháp, làm thế nào để biết được các loại phương pháp thao tác của tu hành từ trong Chân Phật Mật Pháp. Giống như trong Chân Phật Mật Pháp chúng ta làm Hộ Ma vậy đó, toàn bộ nghi quỹ và phương pháp của Hộ Ma, bạn đều có thể được biết. 

Hôm nay nếu bạn muốn có được pháp môn của bát nhã và duy thức thì vẫn phải có phương pháp thao tác, vẫn phải có nghi quỹ. Bạn phải hiểu rõ nghi quỹ này bạn mới có thể nhập môn, và mới có thể thực tu. Bạn mới có thể thực sự nói "Được, tôi cũng giống như Phật, đi tìm một cái cây bồ đề, ngồi dưới cây, rồi vài ngày sau đó, bạn đứng lên nói “Tôi khai ngộ rồi!”. Bạn cần phải hiểu được một phương pháp thiền mà Đức Phật thực hành khi ngồi dưới gốc cây bồ đề, và quá trình của nó, bạn cũng phải biết, bạn mới có thể khai ngộ. Nếu không bạn thử đi ngồi đi, cho dù bạn ngồi cả đời bạn cũng không thể khai ngộ. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

09/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 009. Làm sao nhập định (2)

Nói đến định, chúng ta đều hiểu là phải dừng ý niệm. Pháp môn dừng ý niệm này ở trong Mật giáo gọi là *trekcho, trekcho* chính là dừng ý niệm. Nghĩa là bạn ngăn chặn những ý nghĩ không tốt. Dừng ý niệm thì có rất nhiều phương pháp, tôi đã có nói rồi, chính là dùng niệm để dừng niệm, dùng ý niệm này để dừng lại ý niệm kia. Cách này ở trong Mật giáo chúng ta gọi là quán tưởng. 

Bạn có thể dừng ý niệm là đã có thành tích rất lớn rồi, đây chính là định, có thể định tại một điểm thì gọi là tam ma địa. Từ bên trong định, bạn mới tiến thêm một bước để tu thân cầu vồng, pháp này, chính là *togal* được tu trong pháp Đại viên mãn của Mật giáo, chính là ở trong định mà tu ánh sáng, từ trong thiền định có thể tu ra được ánh sáng. 

Trước đây ở trong các tấm ảnh pháp của tôi, có rất nhiều người chụp ảnh của Sư Tôn, chụp ra là nhìn thấy ánh sáng, ánh sáng hình tròn. Ánh sáng khi vừa mới xuất hiện đó, chúng ta có thể gọi là minh điểm. Một người có thể tu ánh sáng trong định, hễ định là có thể nhìn thấy được cơ thể của mình thật ra có rất nhiều điểm ánh sáng nhỏ, ở bên trong cơ thể đang xoay vòng ở bên trong, chính là đang luân hồi ở trong đó. Đây chính là nhìn thấy “minh thể” <span className="note-blue">[thể ánh sáng]</span> của chính mình. 

Minh thể này của bạn càng tu càng lớn dần, xâu thành một chuỗi, bạn có thể nhìn thấy chuỗi hạt kim cương, đó chính là chuỗi hạt kim cương của Mật giáo. Ở bên trong chuỗi hạt kim cương, mọi minh thể còn hiển hiện ra toàn bộ Bổn tôn nữa, tất cả Phật và Bồ tát đều ở trong minh thể của bạn. Khi cao minh hơn nữa, toàn bộ pháp giới đều ở bên trong minh thể của bạn, đây chính là tu *togal*, chính là tu ánh sáng từ trong định, tu pháp quang minh. Đại thành tựu thân cầu vồng về sau chính là phải nói đến cái này. 

Vậy bây giờ chúng ta quay lại, quay lại nói về *trekcho*. Bản thân *trekcho* là phải dừng niệm, dừng niệm là nhập định như thế nào? Trước đây tôi từng nói rồi. Nhập định không thể quá căng, bạn quá căng thì không thể nhập được định, vì bạn quá dùng lực, nếu dùng lực bạn sẽ luôn nghĩ là “tôi phải nhập định, tôi phải nhập định”, thì bạn sẽ không định được, bởi vì quá căng. 

Nhưng cũng không thể quá lỏng, bạn thả lỏng không suy nghĩ gì cả, vô niệm là sẽ ngủ mất, thì thật sự sẽ nhập “tứ ma địa”, chúng ta nói nhập “tứ ma địa” tức là ngủ say, nghĩa là quá lỏng. Vì vậy nhập định là ở chính giữa căng và lỏng, chính giữa tỉnh táo và ngủ say. Chính giữa tỉnh táo và ngủ say, căng và lỏng, ở đây có đạo lí cân bằng. Bạn chỉ cần hiểu được sự cân bằng, hiểu được trung quán, hiểu được sự cân bằng, chính là ở trong đó. Khi có ý niệm không tốt sinh ra, bạn cần phải quán tưởng, dùng quán tưởng để ngăn chặn ý niệm đó, đây gọi là “dùng niệm dừng niệm”. 

Về mặt lí mà nói, từ bên trong não của bạn, bạn ứng dụng ý thức của mình, tạo ra một suy nghĩ đẹp đẽ nhất. Trong Mật giáo có quán tưởng “nhập ngã ngã nhập”, tức là trong hư không xuất hiện một vị Phật, di chuyển đến trên đỉnh đầu của bạn biến thành viên ngọc ánh sáng đi vào trung mạch của bạn, đi vào hoa sen nở trong tim bạn và ngồi ngay trong tim bạn. Sau đó vị Phật này biến to ra, to bằng thân thể của bạn, trong một sát-na bạn biến thành Phật, cách quán này gọi là quán tưởng “nhập ngã ngã nhập”.

Tôi cho rằng cách quán này là vô cùng tốt, cũng tức là quán tưởng Phật đi vào bên trong cơ thể tôi, rồi lại biến to ra hoàn toàn giống hệt với tôi, nghĩ tưởng chính mình trở thành một vị Phật trang nghiêm. Quá trình của cách nghĩ tưởng này là tuyệt hảo nhất, trang nghiêm nhất, và thần thánh nhất. Dùng cách nghĩ tưởng này có thể khắc chế tạp niệm của bản thân bạn, chính là lấy niệm để dừng niệm. 

Bản thân Mật giáo vốn dĩ có quán tưởng, có thủ ấn, có chú ngữ. Chú ngữ thì có liên quan đến hơi thở và tần số. Bạn thông qua phương pháp hít thở, tạo ra cách hít thở vi tế nhất, sử dụng tần số của chú ngữ, một loại tần số của âm thanh, để dung hòa với âm thanh vũ trụ, sử dụng thêm quán tưởng về mặt tư tưởng, dùng ba phương pháp thân-khẩu-ý thanh tịnh này, thâm nhập vào bên trong ý thức của vũ trụ, rồi để ý thức của vũ trụ đi vào bên trong cơ thể của bạn, hòa hợp với nhau làm một, là có thể tiến nhập vào định trong tam ma địa.

Hôm nay tôi cũng xem như là tóm lược một loại kinh nghiệm về tu tập trong nhiều năm qua của tôi để nói với mọi người. Sự vi tế của hơi thở và tần số của chú ngữ hòa nhập vào trong vũ trụ, dùng một sự quán tưởng về mặt tư tưởng của mình làm công phu vi tế nhất để nhập vào một loại định bên trong cảnh giới vi diệu nhất, tôi cho rằng đây là phương pháp nhập tam ma địa, nhập định tốt nhất.

Đương nhiên là tay cũng phải kết ấn, cũng phải trì chú, tần số của chú ngữ sẽ được sản sinh ra, loại tần số bí mật này tương thông với tần số của vũ trụ. Rồi dùng một loại quán tưởng tuyệt nhất, đẹp nhất, trang nghiêm nhất để thực hành một loại định, để tu hành *trekcho*, một công phu của định. 

Thế rồi ở trong định, bạn có thể bắt đầu tu ánh sáng, biến thành tu *togal*. Nhưng trong công phu *trekcho* này, bạn cần phải trải qua thời gian rất dài mới có thể thấy được ánh sáng từ trong định. Thấy được ánh sáng từ trong định giống như là xem tivi đen trắng vậy, khi tivi vừa mới bật lên, nó vẫn chưa được rõ ràng, toàn bộ màn hình đều là các chấm nhỏ, các chấm nhỏ lốm đốm hiện ra, từng chấm ánh sáng trắng, sau đó hình ảnh sẽ hiện ra, khi bạn chỉnh tiêu cự đến mức hợp lí nhất, đàn thành sẽ xuất hiện, Bổn tôn cũng xuất hiện, chuỗi hạt kim cương cũng xuất hiện, lúc này bạn có thể tu đạt đến toàn thân đều là ánh sáng, trong một sát-na bạn hóa thành ánh sáng, đây chính là đại thành tựu ánh sáng cầu vồng.

Từ sự tu hành của Mật giáo có thể đắc được bát nhã, và cũng có thể đắc được duy thức. Bản thân sự tu hành trong Mật giáo chính là một phương pháp thao tác bát nhã và duy thức. Đây chính công phu của biển ánh sáng của Tì Lô Giá Na trong kinh Hoa Nghiêm. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

09/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì

### 010. Thực tướng của bát nhã và duy thức (1)

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về một bí mật tu hành. Tu hành cũng có bí mật, vì vậy gọi là “mật hành”. Công khai bí mật này nhìn chung mà nói là rất hiếm có, là rất thù thắng. Trước đây có người hỏi tôi, anh ta nói: “Bát nhã và duy thức của Sư Tôn đã tu đến cảnh giới rất cao rồi, nhưng ngài làm sao lấy một thứ thực tế để tượng trưng cho bát nhã và duy thức?” Tức là dùng một hình ảnh trực tiếp thể hiện cái gì là bát nhã, cái gì là duy thức.

Chúng ta thường nhìn thấy biểu tượng của Phật giáo có một chữ “Vạn”. Chúng ta đọc là Vạn, nó giống hình chữ S, rất giống lá cờ của Đảng Nazi, giống kí hiệu của Nazi. Cái đó có thể tượng trưng cho bát nhã và duy thức không? Dựa theo nghiên cứu và tu trì trên thực tế của cá nhân tôi thì tôi dựa theo ba phương pháp để tu. Bát nhã có ba loại, một cái gọi là bát nhã văn tự, một cái gọi là bát nhã quán chiếu, một cái là bát nhã thực tướng, dựa theo ba loại này để tu trì. 

Biểu tượng của hình ảnh mà Sư Tôn nói ra không phải là cái chữ Vạn đó. Hình tướng thực sự là chữ Vạn xoay chuyển. Bạn phải biết là chữ Vạn vừa xoay chuyển là thực tướng của bát nhã liền được sinh ra ngay. Nó là một hình tròn, một cái đĩa tròn, chính giữa có một trung tâm, có một chấm.

Đây là điều mà chỉ có người thực sự có thể lĩnh hội được tinh hoa của bát nhã và duy thức mới có thể nói ra được. Cái vòng tròn đó là cái gì? Cái vòng tròn đó chính là bát nhã. Một chấm ở chính giữa là gì? Chính là “duy thức duy tâm”. 

Bạn phải biết chữ Vạn là cái biểu hiện bề ngoài thôi, nó đại diện cho pháp lực của Phật. Nhưng một khi đã xoay chuyển thì vô thượng chính đẳng chính giác đích thực sẽ sản sinh ra. Một cái vòng tròn, chính giữa có một chấm. 

Thế nào là “vô dư niết bàn”? Điểm chính giữa đó chính là “vô dư niết bàn”. Trong phạm vi của cái vòng tròn chính là “hữu dư niết bàn”. Một chấm ở giữa chính là Pháp thân Phật, toàn bộ xung quanh đều là Báo thân Phật và Ứng thân Phật.

Chúng ta thử nhìn biểu tượng của Đạo gia đi, biểu tượng của Đạo gia chẳng phải là một hình tròn sao? Chính giữa vẽ một chữ S, bên này một chấm, bên kia một chấm. Cái vòng tròn này là đại diện cho vũ trụ, chữ S ở chính giữa đại diện cho một cái đen một cái trắng. Cái chấm này là một âm một dương. Bản thân người Trung Quốc lấy thái cực của Đạo giáo để tượng trưng cho vũ trụ vạn vật, điều này thật không đơn giản chút nào.

Tư tưởng vốn có của người Trung Quốc là, “nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên”. Huyễn tượng của vũ trụ chính là thái cực, lưỡng nghi, một âm một dương chính là Đạo, đây là một điều tự nhiên, cũng là một hiện tượng của vũ trụ tự nhiên. Thái cực mà đạo gia Trung Quốc sử dụng chính là tự nhiên, bốn chữ “vũ trụ tự nhiên”, một âm một dương là Đạo, đen và trắng đối xứng. Nói một câu đơn giản dễ hiểu thì đây chính là “tương đối luận” của Đạo gia Trung Quốc. Đen-trắng, thiện-ác, âm-dương, Phật-ma, đều nằm trong đó, đây là đạo tự nhiên. 

Phật của ngày hôm nay mà Sư Tôn nghiên cứu ra là “tuyệt đối luận”. Một cái vòng tròn đại diện cho ý thức của vũ trụ, điểm chính giữa là Phật và ma nhất như, là tuyệt đối. Chỉ có một chấm thôi, không có hai cái chấm, hai cái chấm thì là “tương đối luận”, còn nếu có một chấm thì là “tuyệt đối luận”. Vì vậy một vị Phật thực sự sẽ nói về “tuyệt đối luận”, Phật và ma tập hợp tại một điểm, vậy bên trong đó chính là “vô dư niết bàn”, chính là “duy thức duy tâm”. Một chấm ở giữa chính là “duy thức luận”, một vòng tròn, một chấm chính là “tuyệt đối luận”. Đạo gia của Trung Quốc thì là “tương đối luận”. Trong này gồm có đạo lí của khoa học và triết học. 

Hôm nay tôi đem bí mật tu hành của bản thân mình nói ra, chữ Vạn xoay chuyển chính là bát nhã. Khi công lực tu hành của bạn đạt đến rất cao rồi, thân biến thành hiện tượng bát nhã, bản thân bạn chính là một bát nhã. Bạn dùng bát nhã của tự thân bạn hiển hiện thì sẽ hóa thành cầu vồng, hóa thành ánh sáng. Bạn sẽ đi vào được trong vô dư niết bàn, hữu dư niết bàn, bạn hóa thân làm Pháp thân Phật, Báo thân Phật, Ứng thân Phật. 

Một loại chính đẳng chính giác đích thực mà Phật Thích Ca Mâu Ni đạt được chính là Đạo của niết bàn tại cái chấm chính giữa đó, những cái khác đều là phương tiện. Phương tiện chính là quyền thuyết <span className="note-blue">[tùy cơ mà nói]</span>, cái chấm chính giữa chính là thực thuyết <span className="note-blue">[nói điều chân thực]</span>. Điểm chính giữa là Thánh đế, những phạm vi khác ở bên trong chính là tục đế. Vì vậy trong Phật pháp có cái gọi là Thánh đế, có cái gọi là tục đế. 

Khi bạn tu hành chứng minh mình nhìn thấy thực tướng bát nhã là một vòng tròn ánh sáng, mà chính giữa có một chấm, ở trong đó, chư Phật đều ở bên trong, tất cả Phật Bồ tát đều nằm trong cái vòng tròn đó, cái vòng tròn đó to lớn vô cùng. Và những gì có ở trong đó đều không có sự phân biệt về thời gian và không gian. Đây là một bí mật mà bản thân tôi tu hành lâu như vậy rồi, hôm nay mới dám công khai. Đây là tôi nói bí mật về thực tướng của bát nhã và thực tướng của duy thức. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

10/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 011. Thực tướng của bát nhã và duy thức (2)

Cũng có người hỏi tôi: “Ngài đắc thành tựu cầu vồng rồi, kết quả thế nào?” Xin nói với mọi người rằng, sau khi đắc đại thành tựu cầu vồng rồi, thật ra mỗi một người đến cuối cùng đều như nhau cả. Bạn có đắc đại thành tựu cầu vồng hay không, đến cuối cùng tất cả đều đi trên cùng một con đường, con đường này trong Phật giáo gọi là viên tịch, chính là Niết bàn, mọi người đều như nhau. Nhưng người có đại thành tựu cầu vồng thì bản thân anh ta có thể thị hiện ánh sáng cầu vồng, đây chính là điểm khác nhau. Có thể tự chủ, quan trọng nhất là tự chủ. 

Thế nào gọi là tự chủ? Tương lai tôi sẽ đi về đâu, tôi biết rõ, hơn nữa tôi còn biết đi bằng cách nào, cái này chính là tự chủ. Có rất nhiều người khi lâm chung, khi sắp viên tịch, họ không biết phải đi về đâu, không biết phải đi bằng cách nào, đây chính là điểm khác biệt giữa có tu và không tu. Bạn kiếm tiền từ sáng đến tối, phiền não những chuyện thế gian, mỗi ngày đều bận rộn lo toan đến hết đời, vậy thì tương lai bạn sẽ không biết đi bằng cách nào đâu. Hôm nay dạy cho bạn đại thành tựu cầu vồng này chính là giúp bạn trong tương lai sẽ biết đi bằng cách nào. 

Người đắc đại thành tựu cầu vồng, khi anh ta thành tựu, khi anh ta sắp ra đi, trên đỉnh đầu sẽ hiện ra ánh sáng cầu vồng, trong hư không cũng có ánh sáng cầu vồng. Khi anh ta vừa xuất hiện ánh sáng, cơ thể anh ta sẽ thu nhỏ lại, rồi lại hiện ra ánh sáng, tiếp tục sản sinh ánh sáng, cơ thể thu nhỏ đến cuối cùng chỉ còn lại da và lông, rồi chỉ còn móng tay và lông, ngay đến da cũng không còn, toàn bộ biến thành ánh sáng, chỉ còn lại một vệt ánh sáng. Trong hư không cũng có cầu vồng, vệt ánh sáng này sẽ đi vào cầu vồng trong hư không, vô cùng thù thắng trang nghiêm, đây là thành tựu vĩ đại nhất, đây gọi là “thân cầu vồng bất tử”. Cái gì cũng không còn nữa, chỉ còn lại lông tóc móng tay. Dạng này là đẳng cấp thứ nhất. 

Vậy còn đẳng cấp thứ hai thì sao? Cơ thể anh ta xuất hiện ánh sáng cầu vồng, đi vào trong hư không, thân thể thu nhỏ lại, nhưng mà cơ thể này biến thành xá lợi toàn thân. Toàn thân đều là hạt xá lợi, rất kiên cố, rất cứng chắc, giống như kim cương, giống như chày kim cang, đây cũng là đại thành tựu cầu vồng, nhưng đây là đẳng cấp thứ hai. Đẳng cấp thứ nhất là toàn thân đều biến mất, đẳng cấp thứ hai thì vẫn còn. 

Đẳng cấp thứ ba, chính là cơ thể không hiện cầu vồng, nhưng một khi hỏa táng cơ thể anh ta, toàn bộ đều là hạt xá lợi rất sáng, đây là đại thành tựu cầu vồng giai đoạn đầu. Hạt xá lợi này có hình tròn, chính là hạt kim cương có hình tròn, là như vậy đó. Cho nên đại thành tựu cầu vồng cũng có phân ra mấy đẳng cấp. 

Tu hành quan trọng nhất chính là có thể “tự chủ sinh tử”. Bạn phát nguyện tương lai bạn muốn chuyển thế thì bạn phải biết tương lai mình sẽ chuyển thế đến chỗ nào. Tôi có thể viết ra trước tương lai tôi sẽ chuyển thế đến chỗ nào, tu hành như vậy mới là có thành tựu. Hôm nay bạn không biết mình sẽ đi như thế nào, không biết sau khi chết mình sẽ đi về đâu. Đây chính là hiện tượng của phàm phu, hoàn toàn chính là người phàm.

Bạn tu hành có sự trưởng thành, vật chất sinh mạng của cơ thể bạn cũng sẽ có sự trưởng thành. Bạn nhìn tôi hôm nay xem, Lư Sư Tôn đã cạo sạch hết tóc. Sợi tóc này không còn chất dinh dưỡng nữa, không còn biến đổi nữa, cũng tức là sợi tóc này của bạn tự nó không còn dinh dưỡng nữa, sẽ không còn chất dinh dưỡng đi vào nó nữa, nói đơn giản là sẽ không mọc ra được nữa. Nhưng chỉ cần bạn lưu trữ được đúng cách, để ở đó, bạn niệm chú cho nó, thì những sợi tóc này của tôi vẫn sẽ mọc dài ra, mọc liên tục, mọc ra rất nhiều. Ban đầu chỉ có vài sợi, sẽ biến thành mấy nghìn, mấy trăm nghìn, mấy triệu sợi tóc, hơn nữa còn dài ra. Đây vốn dĩ là bản thân sự tu hành đang tăng trưởng. 

Duy thức và bát nhã mà bản thân tôi đang tu hành, bản thân nó đã dung nhập vào trong toàn bộ vũ trụ rồi. Tuy rằng chỉ là vài sợi tóc, nhưng nó vẫn đang tăng trưởng pháp lực của bản thân nó. Có rất nhiều đệ tử sưu tầm mấy sợi tóc của Sư Tôn, để tóc ở đó, bởi vì pháp lực của Sư Tôn vẫn đang tăng trưởng đầy ắp toàn bộ vũ trụ này, cho nên những sợi tóc đó vẫn đang mọc dài, vẫn đang gia tăng. Vì vậy đây chính là tượng trưng cho sự tăng trưởng pháp lực tu hành, một loại sức mạnh, một loại pháp lực. 

Tu đại thành tựu cầu vồng sẽ có rất nhiều lợi ích. Ngoài việc bản thân bạn có thể tự chủ sinh tử ra, bạn còn có thể hiểu rõ chân lí của vũ trụ, đây là một điểm quan trọng. Bạn hiểu được chân lí của vũ trụ, bạn sẽ hiểu được ý nghĩa con người sống ở trên đời này, bạn hiểu được triết học xuất thế. Có cái gọi là vũ trụ luận không nhỉ? Cái gọi là tương đối luận, cái gọi là duy thức luận, cái gọi là tuyệt đối luận, bạn đều có thể siêu việt, và có thể hiểu rõ. 

Nhìn chung, lấy điều này làm giá trị cao nhất của cuộc đời, những cái khác đều là giá trị về mặt vật chất, đều là dưới một bậc. Vì vậy hôm nay tôi hiểu được cái gì là thái cực, thái cực chính là vũ trụ tự nhiên. Vậy cái gì là bát quái, thiên, địa, lôi, phong, trạch, thủy, hỏa, sơn? Từ thái cực phân lưỡng nghi, lưỡng nghi biến thành tứ tượng, tứ tượng có thể biến ngũ hành, ngũ hành biến lục hợp, lục hợp biến thất chính, thất chính biến bát quái. 

Dạng biến hóa này của Đạo gia Trung Quốc: thiên, địa, lôi, phong, trạch, thủy, hỏa, sơn, bao gồm cả địa, thủy, hỏa, phong, không, đây không chỉ là một loại khoa học mà còn là một loại triết học, cũng là một loại huyền học. Vậy bạn nghiên cứu bát nhã và duy thức, bạn có thể hóa ra sự tượng trưng của bát nhã và duy thức. Đây cũng là bản thân bạn sau khi thâm nhập vào nghiên cứu và thực tu, bạn có thể hiểu được vô thượng chính đẳng chính giác là gì. Bản thân nó có một vật tượng trưng, bạn ở trong thực tướng của bát nhã bạn cũng có thể quán chiếu ra được, đây mới gọi là đắc chứng. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

10/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 012. Phương pháp ngăn chặn vọng niệm (1)

Hôm nay chúng ta sẽ nói về năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy phương pháp ngăn chặn vọng niệm thế nào, điều này cũng vô cùng quan trọng. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni dạy đệ tử, Ngài đã dùng rất nhiều cách. 

Đối với việc ngăn chặn vọng niệm, Ngài đã từng dạy cách đếm hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở chính là bạn tập trung tinh thần của mình hoàn toàn vào giữa hít vào thở ra. Thật ra cách đếm hơi thở này chúng ta cũng có thể nói một cách rất đơn giản. Khi bạn đếm hơi thở, bạn sẽ không có vọng niệm lung tung. 

Bạn đếm một hít vào một thở ra là một, rồi lại một hít vào một thở ra là hai, bạn rất chuyên chú làm quán tưởng đếm hơi thở này, bạn sẽ không sản sinh ra những ý nghĩ khác, vì ý nghĩ của bạn đã đầy rồi, cho nên những ý nghĩ khác sẽ không sản sinh ra nữa. Đây là lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni, là một phương pháp tốt nhất để chấm dứt vọng niệm.

Bản thân tôi trước đây cũng từng tu cách đếm hơi thở trong một khoảng thời gian rất dài, đây là phương pháp dùng để ngăn chặn vọng niệm mà Phật Đà đã dạy. Ngoài ra, Phật Đà nói với rất nhiều chúng sinh rằng, muốn dừng sắc tướng của bạn, phải dùng phương pháp bạch cốt quán, phương pháp quán xương trắng. Bạch cốt quán là như thế nào? Chính là xem một loại sắc tướng mà bạn bám chấp vào nó nhất là một bộ xương trắng.

Mọi người cũng biết là hình tướng bên ngoài, có một số là rất đẹp, nhưng khi bạn xem nó là một bộ xương trắng thì không còn đẹp nữa. Thật ra, khi chúng ta xem *televison*, khi xem ti vi, trong các bộ phim của Tây, thường có cảnh *kiss <span className="note-blue">[hôn]</span>*. Khi chúng tôi mới đến Mĩ, nhìn thấy những cảnh như vậy thì cảm thấy rất y*uck* *<span className="note-blue">[kinh]</span>*! Cảm thấy là eo ôi *yuck* quá. Trẻ con học tiếng Anh rất nhanh, câu đầu tiên sẽ nói là *yuck* quá… *yuck* quá…! 

Trên thực tế, mặc dù bạn cảm thấy rất đẹp, cảm nhận rất hay, cảm thấy là cảm giác hôn đó rất thích, nhưng giả sử đổi thành một bộ xương trắng thì sao? Răng của bạn chạm vào răng của nó, vừa nhìn đã thấy hai lỗ mắt, lại không có mũi, chỉ có một hình tam giác, cảm giác của bạn sẽ khác ngay. 

Vì vậy ý nghĩa của việc Phật Đà dạy chúng ta tu bạch cốt quán chính là để phá sắc tướng, phải phá sắc tướng. Tu bạch cốt quán, khi bạn thực hành quán tưởng, rất dễ dàng loại bỏ được sự bám chấp vào sắc tướng trong tâm của bạn. 

Trước đây tôi thường giảng kinh Viên Giác. Ở trong kinh Viên Giác, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng có nhắc đến phương pháp thực tu, chính là “chỉ quán song vận”.

Thiền tông nói về “chỉ”, chính là muốn bạn đoạn trừ vọng niệm, vọng niệm phải diệt trừ. Trong Mật giáo muốn diệt trừ vọng niệm thì hô một tiếng chú ngữ là “Pei”, âm “Pei” này là một âm thanh phá hoại. Thật ra nó cũng không chỉ là một âm thanh phá hoại, mà nó còn tiêu diệt toàn bộ vọng niệm, vọng nghiệp của bản thân bạn. “Pei”! Thế là dừng yên lại, vậy là nhập định, ở bên trong định.

Bất luận là quán đếm hơi thở, quán bạch cốt, hay là chỉ quán song vận, bạn muốn dừng nhưng không có cách nào dừng được thì bạn phải dùng quán tưởng để dừng. Đợi đến khi bạn quán tưởng đến một mức độ nào đó, thì lúc này bạn mới tiến nhập vào trạng thái dừng. Chỉ rồi quán, quán rồi chỉ, cứ tuần hoàn qua lại như vậy, chính là chỉ quán song vận, đây cũng là một phương pháp rất tốt. 

Thật ra tóm lại thì chỉ có một câu, chính là bạn phải tu đến cảnh giới có thể chuyên nhất, vô niệm. Trên thực tế là như vậy đó. Chúng sinh vọng niệm lung tung, nhưng khi bạn có thể chuyên chú vào một thứ, thì có thể biến tất cả vọng niệm thành một niệm, rồi từ một niệm biến thành thanh tịnh, chính là biến thành vô niệm. Khi thanh tịnh cũng là một trạng thái vô niệm, là lúc thanh tịnh nhất. 

Vào thời Phật Đà, rất nhiều A La Hán, đại tu hành giả, mười đại đệ tử, mỗi ngày họ đều thực hành công phu chuyên nhất. Sau đó đi vào trong vô niệm tam muội. Loại tu định này chủ yếu là thanh tịnh. Trong Mật giáo, trong “Đại thành tựu cầu vồng” của chúng ta nói đến thân-khẩu-ý thanh tịnh, chính là thân thể của bạn thanh tịnh giống như Phật, khẩu của bạn thanh tịnh giống như Phật, ý niệm của bạn thanh tịnh giống như Phật. 

Lúc này, từ tam nghiệp thân-khẩu-ý của bạn chuyển thành tam mật thân-khẩu-ý. Có sự chuyển đổi này, bạn sẽ có thể dễ dàng đi vào trong cảnh giới thanh tịnh. Đây chính là tu hành. Bản thân việc tu hành chính là phải thanh tịnh. Mà thanh tịnh chính là biến tất cả vọng niệm thành nhất niệm, rồi từ nhất niệm biến thành vô niệm thanh tịnh. Thân-khẩu-ý thanh tịnh chính là tam mật, thân-khẩu-ý không thanh tịnh thì sẽ biến thành nghiệp chướng của bạn, gọi là tam nghiệp. Vì vậy, tu hành chính là biến những vọng nghiệp của nghiệp chướng thành vô niệm thanh tịnh của Phật, đây chính là một loại công phu tu hành.

Vậy thì hôm nay, tôi muốn giảng cho mọi người biết, vào thời của Đức Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni thường xuyên dạy chúng ta đếm hơi thở, quán bạch cốt và cả chỉ quán song vận mà trong kinh Viên Giác có nói đến. Những cái này đều là phương pháp rất tốt. Tất nhiên là còn có rất nhiều rất nhiều phương pháp giúp bạn có thể tập trung tinh thần vào một thứ, có thể dừng niệm và có thể chuyên nhất.

Rất nhiều người tu hành hỏi tôi, họ nói: “Lư Sư Tôn! Xin ngài dạy tôi làm sao để tu hành.” Tôi nói: “Yếu tố thứ nhất, phải tinh thần thống nhất.” Tinh thần thống nhất là một yếu tố đầu tiên, chính là biến toàn bộ vọng niệm của bạn thành nhất niệm. Khi bạn chuyên chú vào một thứ thì bạn có thể tiến nhập tam ma địa. 

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

11/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 013. Phương pháp ngăn chặn vọng niệm (2)

Chúng ta sẽ nói tiếp về phương pháp dừng vọng niệm có liên quan đến “Đại thành tựu cầu vồng”.

Cũng có người hỏi tôi, anh ta nói: “Sao ngài lại biết rõ những phương pháp mà Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy như vậy?”

Tôi thành thật nói với mọi người như thế này, tôi là một người “siêu thời không” - vượt qua thời gian và không gian. Người ta sẽ hỏi: “Này, Lư Thắng Ngạn siêu thời không là sao vậy hả?”

Tôi nói: “Tôi là một cổ nhân”, người của thời cổ đại. “Ngài là người hiện đại, sao lại nói ngài là người của cổ đại chứ?” Đó là vì tôi biết được đời trước và đời sau của chính mình, tôi có thể biết được rất nhiều kiếp quá khứ, vì vậy tôi vừa là một cổ nhân, vừa là một người hiện đại. 

Vào thời của Phật Thích Ca Mâu Ni tôi cũng có mặt ở đó. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng nhiều kinh như vậy, tôi cũng được nghe. Nếu đã như vậy thì sao tôi lại không biết rõ những gì Phật nói chứ? Thật ra bản thân Phật Đà, vẻ bề ngoài thì giống như là không tu Mật pháp, mấy đại đệ tử của Ngài, mấy vị A La Hán đó đều không tu Mật pháp, bề ngoài thì là như vậy, trên thực tế thì là có tu. Sự thật là các vị có tu Mật giáo, chỉ là vào lúc đó Mật giáo không được đem ra bàn luận, không được phơi bày ra. 

Phật Thích Ca Mâu Ni có truyền Mật pháp hay không? Giả sử Phật Thích Ca Mâu Ni không truyền Mật pháp, thì các A La Hán thành tựu trong thời đó sẽ không có hỏa quang tam muội. Do đó, vào thời của Phật Thích Ca Mâu Ni vì đã có hỏa quang tam muội, cho nên có sự tồn tại của Mật pháp. 

Vì vậy phải nói là Phật Thích Ca Mâu Ni có truyền các pháp “Đại thủ ấn cầu vồng”, “Đại thành tựu cầu vồng”. Chứ không thể nói Phật Thích Ca Mâu Ni không truyền Mật pháp, Mật pháp toàn bộ đều là do Đại Nhật Như Lai thuyết, không hẳn là như vậy đâu. Vì vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni, lúc đó rất nhiều đại đệ tử đều đắc thành tựu về hỏa quang tam muội, đó chính là Mật pháp. 

Trong tu hành, trong vô hình đều luôn đi vào một loại thành tựu bí mật. Việc dạy pháp của Phật Đà thời đó là sau khi giảng pháp xong, mỗi một người sẽ đi về chỗ của mình để “an thiền”, ngồi thiền một cách yên tĩnh, đó chính là mỗi người đều tu phương pháp an thiền của mình. Thế rồi Phật Thích Ca Mâu Ni thỉnh thoảng lại đến dạy cho họ một chút, Ngài sẽ viết vài câu tặng cho đệ tử, những câu nói này sau này chính là kinh Pháp Cú. Kinh Pháp Cú chính là Phật viết vài chữ cho đệ tử, kêu đệ tử thả lỏng một chút, Ngài sẽ viết hai chữ “thả lỏng”, có nghĩa là anh quá căng thẳng rồi, có thể thả lỏng một chút. Và có một số người quá buông lỏng, Ngài sẽ dạy đệ tử đó phải căng một chút. Giống như có một số đệ tử thường ngủ gục thì phải căng một chút, phải uy nghi một chút. Ngài thường xuyên viết những câu nói ngắn như vậy đưa cho đệ tử, tức là Ngài đang dạy đệ tử phương pháp tu hành.

Thế còn bản thân “Đại thành tựu cầu vồng” rất chú trọng đến phương pháp nội tu. Pháp nội tu là gì?Pháp nội tu là luyện cho khí của toàn thân, khí của toàn bộ cơ thể của bạn được sung túc, yếu quyết thứ nhất là khí phải vô cùng sung túc. Bạn không thể nhìn vào giống như là có khí mà không có lực. Đầu tiên là khí của cơ thể bạn phải thật sung túc. Vậy thì pháp này trước đây tôi cũng có nói qua rồi, nó gọi là Bảo bình khí. Pháp Bảo bình khí, mọi người có thể xem băng video, tại Lôi Tạng Tự Seattle có chia sẻ băng video về pháp Bảo bình khí.

Ngoài ra pháp nội tu chính là pháp Linh nhiệt, cũng tức là pháp Chuyết hỏa, tại Seattle Lôi Tạng Tự cũng có chia sẻ băng video về pháp Chuyết hỏa, những giảng giải ở trong đó đều rất rõ ràng. Những gì tôi nói hôm nay là lời lặp lại, không những lặp lại mà còn phải nói rất lâu.

Vì vậy hôm nay tôi muốn nói với mọi người, bạn phải biết pháp Bảo bình khí, phải luyện Bảo bình khí trước để khí của bạn được sung túc, để khí ở bên trong cơ thể bạn tuần hoàn vô cùng thông thoáng, bạn sẽ là một người rất khỏe mạnh, rất kiên cố. Vì vậy phương pháp của Mật giáo không giống các phương pháp thông thường. Sau khi bạn tu Mật giáo rồi, có thể nói là bạn đã có hết toàn bộ khí công rồi, những pháp khí công được truyền ở bên ngoài bạn đều có hết, bởi vì Bảo bình khí chính là khí công hình cái bình, chính là cái bình hình hồ lô, khí công hình cái bình, không phải là cái ấm, tóm lại là khí công có hình dạng hồ lô. Bạn thật sự tu được khí sung túc rồi, khí vô cùng thông thoáng, đây là cơ sở đầu tiên.

Cái thứ hai mới tu linh nhiệt dẫn hỏa. Bên trong cơ thể của bạn vốn dĩ đã có đất nước lửa gió, lấy thủy hỏa để tu. Thủy ở thiên tâm chỗ này, hỏa ở dưới đan điền bốn lóng tay. Đầu tiên là dẫn hỏa lên, sau đó mới đưa thủy xuống, thủy hỏa hòa lẫn với nhau, ở bên trong cơ thể của bạn sẽ sản sinh ra một loại linh nhiệt, đây chính là pháp Chuyết hỏa.

Vào thời Phật Đà, các A La Hán thành tựu đều có hỏa quang tam muội. Phía trên xuất thủy, phía dưới xuất hỏa, đây chính là hỏa quang tam muội, ở trong Phật điển đều có hết, có thủy hỏa định, có thủy định, có hỏa định, đây chính là pháp trong Mật giáo.

Loại hiện tượng này, tôi nói với mọi người một cách đơn giản, chính là khí ở bên trong cơ thể bạn vô cùng sung túc, mạch ở bên trong cơ thể toàn bộ mở ra hết, toàn bộ tinh thần ở bên trong cơ thể đều tập trung, phát ra nhiệt, phát ra lửa, phát ra ánh sáng, loại ánh sáng này đốt cháy toàn thân bạn, trở thành một hiện tượng kim cang vô cùng kiên cố.

Tôi nói với mọi người một cách rất đơn giản, rất đại khái như vậy. Bản thân việc tu Mật giáo có hiệu ứng về mặt thực tế, thế nào gọi là hiệu ứng về mặt thực tế? Chính là nói bạn có thể cảm nhận được, bạn có thể cảm giác được, bạn có thể sản sinh pháp lực, bạn có thần thông, ít nhất thì cơ thể của bạn cũng vô cùng kiên cố. Chí ít có thể nói, sau khi bạn tu thành rồi thì trăm bệnh chẳng thể xâm phạm, bạn vô cùng kiên cố, cơ thể vô cùng cường tráng, vô cùng vững chắc, thân thể của bạn cũng giống như là *superman <span className="note-blue">[siêu nhân]</span>*. Nói một câu đơn giản là *superman.* Bạn có pháp lực, có thần thông, việc tu pháp này là việc tu pháp có cảm giác chân thực, không phải là nói ngoài miệng, không phải là hão huyền. 

Hôm nay tôi tạm nói với mọi người đến đây. Om mani padme hum!

11/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 014. Tam căn bản của Mật giáo

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về tam căn bản, cũng tức là ba căn bản của Mật giáo. Chúng ta tu hành Mật pháp, trước tiên nhất định phải quy y Thượng sư, cũng có nghĩa là có Thượng sư rồi mới có người chỉ dẫn bạn học Phật, mới có người quán đảnh cho bạn, và giảng dạy đạo lí Phật pháp cho bạn. 

Về căn bản mà nói, bản thân một vị Thượng sư cần phải chỉ dẫn được bạn một cách rất vi tế về khẩu quyết. Vậy thì, khi làm công việc truyền thụ cho đệ tử, làm một người đệ tử thì có thể nương dựa vào vị Thượng sư đó. Một vị Thượng sư, về bản chất mà nói, chính là sự gia trì căn bản rất quan trọng trong ba căn bản của Mật giáo. 

Thượng sư quán đảnh cho bạn, lần trước tôi đã nói rồi, giống như là Thượng sư đem một pháp truyền thụ cho bạn. Khi quán đảnh cho bạn giống như là truyền thụ hạt giống của pháp vào bên trong cơ thể thân thể bạn, điều này về cơ bản là rất quan trọng. Vì vậy, bản thân Thượng sư mà nói, chính là một căn bản của gia trì, đây là căn bản thứ nhất.

Còn căn bản thứ hai chính là Bổn tôn. Mỗi một hành giả tu tập ở trong Mật giáo đều cần phải có một Bổn tôn căn bản. Thế nào là Bổn tôn? Chính là sau này khi bạn tu hành, bạn phải đạt được thành tựu giống Bổn tôn của mình. Lấy một ví dụ để nói, ví dụ Bổn tôn của bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát, vậy tương lai sau khi bạn tu hành thành tựu rồi, bạn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, đây chính là thành tựu căn bản. Giả sử bản thân bạn đã tu đến tương ứng với Bổn tôn rồi, vậy thì bạn chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, giống nhau. 

Vì vậy trong Mật giáo nói đến Phật và chúng ta, tức là các hành giả chúng ta, vốn dĩ không có sự khác biệt quá lớn. Cũng có nghĩa là, tương lai bạn thành tựu rồi, bạn chính là Phật, bạn chính là Bồ tát, chứ không phải là khoảng cách quá xa. Sự tu hành thực sự trong Mật giáo chính là kéo khoảng cách giữa Phật và bạn lại với nhau, chứ không phải là ở khoảng cách xa.

Vì vậy đây không phải là một loại tín ngưỡng bình thường. Một số tín ngưỡng thông thường cho rằng Phật ở trên trời, bạn ở dưới mặt đất, khoảng cách vô cùng xa xôi. Và bạn có việc gì đều phải cầu thỉnh Phật. Tu hành trong Mật giáo không phải như vậy. Phật và bạn là hợp nhất, khi bạn thành tựu rồi, bạn chính là thành tựu Phật. Vì vậy Bổn tôn là rất quan trọng, có thể nói Bổn tôn chính là căn bản của thành tựu, đây là căn bản thứ hai. 

Thượng sư là gia trì căn bản, Bổn tôn là thành tựu căn bản. Vậy bạn muốn tìm kiếm Bổn tôn này, bạn phải tìm kiếm vị có duyên nhất, bạn cảm thấy đó là vị mà bạn có duyên nhất. Ví dụ như là bạn nói Quan Thế Âm Bồ Tát rất có duyên với tôi, vậy tương lai bạn sẽ tu hành đến cảnh địa của Quan Thế Âm Bồ Tát, chính là Bổn tôn có duyên với mình nhất. Mỗi người đều có một vị Bổn tôn, hành giả Mật giáo chính là như vậy.

Ngoài ra còn có vị thứ ba, chính là Hộ pháp. Hộ pháp chính là sự nghiệp căn bản. Vậy làm sao để nhận định Hộ pháp? Hiện nay có rất nhiều đệ tử viết thư đến cho Sư Tôn nói: “Thỉnh Lư Sư Tôn nói cho con biết Hộ pháp của con là ai?”

Cái này là do chính bản thân bạn tu thành. Bạn muốn xác nhận được Hộ pháp của bạn là vị nào, nói cách khác là bạn cảm ứng được Hộ pháp đến hộ trì cho bạn, bạn nhìn thấy được ở trong thiền định, bạn nhìn thấy ở trong giấc mơ, hoặc là bản thân bạn vào ban ngày cũng nhìn thấy được, mở mắt ra là nhìn thấy, đó chính là căn bản Hộ pháp của bạn. 

Đừng có hỏi tôi, bởi vì tôi đã bị hỏi đến nhức đầu chóng mặt luôn rồi. Hiện nay có bốn triệu đệ tử, cứ nhắc đến căn bản Hộ pháp là mỗi một người đều gửi thư đến hỏi tôi, tôi xác nhận cho từng người một như vậy thực sự là quá bận rộn, vì Hộ pháp có quá nhiều. Vì vậy, Hộ pháp đòi hỏi bạn phải như thế nào? Khi bạn tu hành đến một trình độ nào đó, từ trong hư không phái một vị Kim cang Hộ pháp đến, Không hành, chư Thiên, thậm chí là thiên long bát bộ gì đó, một trong các vị đó có duyên với bạn nhất, thích đến hộ trì bạn thì chính là căn bản Hộ pháp của bạn. Điều này cũng rất là quan trọng. 

Vậy thì Hộ pháp là gì? Hộ pháp là sự nghiệp căn bản. Bởi vì có rất nhiều việc trong quá trình bạn tu hành trở thành sự nghiệp lớn của bạn. Trong lúc tu hành có rất nhiều chuyện cần phải làm, có rất nhiều pháp vụ cần phải làm. Có rất nhiều chuyện đều cần Hộ pháp đến giúp bạn thành tựu, cái đó gọi là sự nghiệp căn bản.

Chúng ta tu hành Mật giáo có ba căn bản như vậy đó. Thượng sư là gia trì căn bản, Bổn tôn là thành tựu căn bản, Hộ pháp là sự nghiệp căn bản. Giữa ba thứ này chính là một samaya. Samaya chính là một lời thề. Một người tu hành không được xa rời căn bản Thượng sư của mình, không được xa rời căn bản Bổn tôn của mình, cũng không được xa rời căn bản Hộ pháp của mình. Một hành giả phải luôn luôn nghĩ tưởng đến Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp.

Bởi vì Thượng sư đang làm quán đảnh, gia trì cho bạn mọi lúc. Còn Bổn tôn, tương lai bạn phải thành tựu Bổn tôn, bất cứ lúc nào bạn cũng phải ở cùng với Bổn tôn. Hộ pháp cũng như vậy, bất cứ lúc nào cũng hộ trì bạn, làm các loại pháp vụ như tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục đều phải thỉnh Hộ pháp giúp bạn hoàn thành những sự nghiệp và pháp vụ.

Vì vậy ba điều này, giữa một hành giả và ba căn bản này là không thể tách rời. Cho nên tôi mới nói bạn muốn tu hành “Đại thành tựu cầu vồng” nhất định phải quy y. Quy y rồi bạn mới xuất hiện Thượng sư chỉ dẫn cho bạn, quán đảnh cho bạn, giảng dạy cho bạn, gia trì cho bạn. Sau đó mới theo nghi quỹ lựa chọn một vị Bổn tôn. Sau khi chọn lựa Bổn tôn của bạn rồi, bạn sẽ dựa theo Bổn tôn mà tu pháp, đi theo Bổn tôn, hợp nhất với Bổn tôn. Sau này bạn nhìn thấy ánh sáng trong thiền định, biết được Hộ pháp của mình là ai, biết được Hộ pháp của mình rồi thì ngài sẽ hiển hiện ra. Sau khi bạn tu hành có tương ứng rồi, Hộ pháp sẽ tự động hiển hiện. Mọi người phải hiểu rõ, đây chính là ba căn bản của Mật giáo. 

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

12/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 015. Nói về "tu mộng” (1)

Chúng ta vừa mới nói về ba căn bản, vậy bây giờ chúng ta nói đôi chút về “tu mộng”. Giấc mơ cũng cần phải tu ư, có rất nhiều người cảm thấy rất kì lạ. Trong Mật giáo đặc biệt là như vậy đó. Ban ngày cũng tu, ban ngày thì tu pháp, và buổi tối khi bạn đi ngủ bạn cũng phải tu pháp, cái này chính là tu mộng. 

Thông thường mà nói, Hiển giáo rất ít nghe nói đến tu mộng, bản thân họ cũng có tu nhưng tương đối ít. Nhưng Mật giáo thì có. Ba căn bản mà chúng ta vừa mới nói đến đó, bản thân Thượng sư có pháp lực gia trì, gia trì cho bạn một cái là bạn có ngay mấy trăm năm công lực. 

Bổn tôn cũng có pháp lực, pháp lực của Bổn tôn cũng rất mạnh, giống như Quan Thế Âm Bồ Tát mọi người đều biết bản thân Ngài có pháp lực rất lớn. Như Hộ pháp, thiên long bát bộ, Tứ Đại Thiên Vương, Ngũ Đại Kim Cang, tất cả Không hành mẫu, chư Thiên đều có pháp lực. Sức mạnh của những Hộ pháp này cũng rất lớn. Vì vậy tu hành trong Mật giáo chúng ta là tổng hợp rất nhiều sức mạnh lại với nhau để bản thân hành giả cũng sản sinh ra sức mạnh rất lớn. Còn có tự lực và tha lực kết hợp lại với nhau. 

Mật giáo có nói đến tự lực, tự lực chính là sức mạnh mà tự mình tu được. Tha lực chính là bao gồm sức mạnh của Thượng sư, Bổn tôn và tất cả Hộ pháp. Toàn bộ sức mạnh cộng lại với nhau chính là một loại samaya, một loại sức mạnh rất lớn, có thể chấn động toàn bộ vũ trụ. Vì vậy bản thân Mật giáo là nói đến pháp lực, thông thường Hiển giáo rất ít khi nói đến pháp lực, còn Mật giáo là luôn nói đến pháp lực.

Vậy thì trong tu hành, không chỉ ban ngày bạn tu pháp, ban đêm khi ngủ, khi nằm mơ, bạn cũng có thể tu pháp. Liên quan đến giấc mơ, trước đây tôi có nói đến pháp Miên quang. Pháp Miên quang có nghĩa là mỗi ngày trước khi bạn đi ngủ phải cầu nguyện Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp gia trì cho bạn, phải cầu nguyện để khi bạn nằm mơ sẽ vô cùng bình an. 

Vậy thì phải trì chú, bạn có thể trì Thượng sư tâm chú, hoặc trì chú ngữ của Bổn tôn cho đến khi đi vào giấc ngủ, cho đến khi ngủ say. Và lúc này bạn cũng phải quán tưởng. Về quán tưởng, bản thân chúng ta phải quán tưởng, trong hư không có một chữ “Hum” màu đỏ, sau đó từ cổ họng phát ra ánh sáng màu đỏ, chiếu vào trong hư không, sau đó chữ “Hum” phát ra ánh sáng màu đỏ chiếu vào bạn, ánh sáng biến thành một dạng bảo vệ, giống như một cái lọng chụp lấy bạn, để bạn trong khi ngủ giống như ngủ ở bên trong ánh sáng màu đỏ. Điểm này rất là quan trọng. Cổ họng phóng ánh sáng màu đỏ vào trong hư không, trong hư không có chú tự, sau khi nhận lấy ánh sáng của bạn rồi lại phóng ra ánh sáng màu đỏ chiếu vào bạn, biến thành một cái lọng, bạn ngủ ở bên trong cái lọng đó, bất cứ loại ma chướng nào cũng không thể xâm phạm bạn.

Chúng ta hiểu được pháp Miên quang chính là như vậy. Bạn tu pháp Miên quang đạt được thành tựu rồi, bạn là người chân tu, cũng tức bạn là một người tu hành chân chính, giấc mơ mà bạn có được đều là chính mộng, là giấc mơ tốt đẹp, chính xác, có linh nghiệm. Còn giấc mơ của người phàm bình thường chính là một loại mộng huyễn điên đảo, không thực tế, nhưng giấc mơ do một người chân tu sản sinh ra thì là một loại chính mộng. Vậy khi mơ chính mộng thì đều luôn ứng nghiệm. 

Giống như trước đây tôi tu hành, ngày hôm sau phải ra ngoài giúp người ta xem phong thủy, đêm hôm trước ở trong giấc mơ, Ngài nói với tôi là: “Ngày mai, lúc 3 giờ chiều sẽ có mưa, ra đường nhớ mang ô.” Ngài sẽ chỉ thị cho bạn rất rõ ràng. Nói xong câu nói đó sẽ hiển hiện một ánh sáng cho bạn thấy. Chiều hôm sau, khi tôi đi xem phong thủy cho người ta, tôi liền mang theo ô che mưa. Mọi người đều cười: “Trời nắng, mặt trời nóng như vậy, anh mang ô che mưa làm gì?” Nhưng tôi nói với mọi người là: “3 giờ chiều nay sẽ có mưa.” Mọi người đều cười ngặt nghẽo, một hạt mưa cũng không có. Nhưng khi đi lên đỉnh núi xem phong thủy, đến lúc 3 giờ, quả nhiên mưa to, chỉ có một mình tôi cầm ô che mưa. 

Điều này rất linh nghiệm, Hộ pháp rất linh nghiệm, ở trong mơ của bạn ngài chỉ thị cho bạn đều sẽ ứng nghiệm. Vì vậy bạn tu hành, tu đến lúc đạt chứng nghiệm này, tất cả mộng cảnh đều là chính mộng, cũng tức là giấc mơ linh nghiệm. Hộ pháp chỉ thị cho bạn, nói cho bạn biết, đều sẽ linh nghiệm.

Người tu hành bình thường nằm mơ, tôi không biết là họ mơ giấc mơ gì kì lạ cổ quái lắm, thần tiên đánh nhau, một đống các loại mơ linh tinh lộn xộn. Nhưng giấc mơ của một hành giả là vô cùng rõ ràng, vô cùng chính xác, vô cùng linh nghiệm, rất rõ ràng khiến bản thân bạn biết đây là một giấc mơ chứng nghiệm.

Hộ pháp luôn ở trong mơ chỉ điểm cho bạn, Thượng sư, Bổn tôn đều ở trong mơ gia trì cho bạn, bạn sẽ không mơ giấc mơ linh tinh lộn xộn. Một người tu hành khi tu đến cảnh giới này rồi là có thể tự mình đi con đường của mình, sẽ không sinh ra điên đảo hoang tưởng. Vì vậy tu mộng rất quan trọng. 

Tu “Đại thành tựu cầu vồng”, bạn muốn tu Mật giáo, tu mộng là vô cùng quan trọng. Bởi vì đời người có một nửa là ở trong mơ rồi. Bạn không tu trong mơ thì khi nào mới tu? Vì vậy “Đại thành tựu cầu vồng” có tu mộng, phải cầu nguyện Bổn tôn, Thượng sư, Hộ pháp, phải nằm tư thế cát tường. Thế nằm cát tường là một tư thế nằm nghiêng, tim ở phía trên. Chính là tư thế nằm nghiêng của Phật Thích Ca Mâu Ni khi niết bàn. Sau đó phải trì chú ngữ của Bổn tôn và Thượng sư, phải kết thủ ấn, phải quán tưởng Hộ pháp đến bảo hộ bạn.

Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi. Tu mộng là vô cùng quan trọng. Chính mộng là giấc mơ rõ ràng, linh nghiệm.

Om mani padme hum!

12/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 016. Nói về "tu mộng” (2)

Tuần trước, chúng ta đã nói đến tu mộng, bởi vì tu mộng vô cùng quan trọng cho nên hôm nay tôi sẽ nói tiếp với mọi người về tu mộng. 

Tại sao phải tu mộng? Bởi vì cuộc đời chúng ta hầu hết có một nửa là thuộc về thế giới của giấc mơ. Vì vậy nếu có thể tu mộng tức là bạn có thể làm ít được nhiều. Bạn không biết tu mộng thì có nhiều khi là công lao đổ biển, điều này là rất quan trọng.

Đặc biệt, trước đây sư phụ của tôi từng nói với tôi, sự khác biệt giữa người sống và người chết, giữa giấc mơ và cái chết có liên quan. Sư phụ tôi từng nói, khi con người chết đi rốt cuộc là cảnh giới như thế nào? Nó cực kì giống với giấc mơ, là một loại giấc mơ khác, con người chết đi chính là một loại giấc mơ khác. Vì vậy Mật giáo chủ trương tu mộng, nguyên nhân chủ yếu là vì nếu bạn có thể tu mộng tốt, bạn có thể tự chủ cái chết của mình.

Nếu như tu mộng không tốt, bạn không cần phải nói đến tự chủ sinh tử nữa, bạn sẽ không cách nào tự chủ được cái chết. Cho nên điểm chính yếu của nó là như vậy. Khi bạn đang mơ, bạn biết là mình đang mơ, đây là mơ, điểm này cho thấy bạn đã có được thành quả rồi. Hơn nữa, mỗi lần nằm mơ đều là chính mộng. Giấc mơ của bạn vô cùng thanh tịnh, là một loại giấc mơ của chính trí huệ, không phải giấc mơ điên đảo hoang tưởng, sự khác biệt này rất lớn. 

Ngoài ra, còn có một điều nữa, giấc mơ của bạn chắc chắn sẽ linh nghiệm, đó là nghiệm mộng. Một điều cuối cùng rất quan trọng, là một người tu hành bạn phải tự chủ được giấc mơ của mình. Cũng có nghĩa là ở trong giấc mơ, bạn giữ được tâm thanh tịnh, không bị ô nhiễm bởi giấc mơ. Bạn có thể siêu việt giấc mơ này, bạn có thể chuyển đổi giấc mơ này thành thế giới Phật thanh tịnh, bạn có năng lực này không hả? Nếu bạn có thể làm được, bạn có thể tự chủ giấc mơ thì có thể tự chủ được cái chết.

Trước đây sư phụ tôi có dạy: nếu giả sử nằm mơ mà không thể tự chủ, tương lai khi bạn chết, bạn cũng không thể tự chủ được cái chết của mình. Người tu hành chúng ta đương nhiên cũng có nằm mơ, chúng sinh người nào cũng đều nằm mơ hết. Nhưng mà, giấc mơ của chúng sinh, giấc mơ của mọi người, các bạn đều biết đó, đang trong mơ không biết là mơ, giấc mơ mà họ mơ là điên đảo hoang tưởng, linh tinh lộn xộn, không phải giấc mơ thanh tịnh, giấc mơ của họ cũng sẽ không linh nghiệm.

Giống như có người trong giấc mơ biết bay, bay lên trời, chui xuống đất, khi tỉnh dậy thì anh ta không làm được nữa, anh ta không có cách nào linh nghiệm cả. Đồng thời, anh ta đi theo giấc mơ, anh ta không cách nào giữ được tâm thanh tịnh để siêu việt, để tự chủ giấc mơ.

Mọi người thử nghĩ xem, người như vậy có thể nói là bản thân mình khai ngộ rồi không? Bạn là một người khai ngộ mà ngay đến giấc mơ của mình cũng không thể kiểm soát, vậy thì bạn không phải là người khai ngộ. Bạn nói bạn có thể vãng sinh Phật quốc, nhưng nếu để cho bạn mơ một giấc mơ nho nhỏ thôi, bạn cũng không thể vãng sinh. Bạn ở trong mơ đã bị ô nhiễm rồi, bạn làm sao vãng sinh Phật quốc chứ? 

Vì vậy Mật giáo xem trọng tu mộng, điều này là vô cùng quan trọng. Đồng thời tôi muốn bổ sung một câu. Chính là muốn nói, mỗi một hành giả chúng ta, khi nằm ngủ trên giường, phải niệm “Lang Yang Khang” (Ram Yam Kham), “Lang Yang Khang”, sau đó quán tưởng thân mình biến thành chày kim cang kiên cố nhất, chày kim cang bất hoại nằm ở trên giường, điều này rất có ích. 

Bởi vì cho thấy rằng lúc này ở trong mơ bản thân bạn vô cùng kiên cố, trăm thứ tà không thể xâm hại, bất cứ một nghiệp chướng, ma chướng nào cũng không thể gây trở ngại cho bạn trong mơ. Và ở không trung có cái lọng bảo vệ bạn, có ánh sáng màu đỏ chiếu trọn lấy bạn, lại có Bổn tôn, Hộ pháp và Thượng sư của bạn gia trì cho bạn, vì vậy pháp này gọi là pháp Miên quang, nghĩa là phương pháp ngủ trong ánh sáng, pháp này cũng vô cùng quan trọng.

Bản thân tôi ở Seattle Lôi Tạng Tự đã từng truyền thụ pháp Miên quang này rồi. Vậy hôm nay chúng ta đều biết rằng tu mộng là vô cùng quan trọng, vậy thì không được để giấc mơ lôi kéo mình đi. Chúng ta có thể tự chủ giấc mơ, đang ở trong mơ biết là mơ. Và cũng có thể mơ giấc mơ thanh tịnh, giấc mơ của bạn sẽ linh nghiệm. Còn nữa, bạn tự chủ giấc mơ của mình, như vậy là bạn có thể tự chủ sinh tử của mình rồi. Bởi vì lời của sư phụ tôi nói là vô cùng vô cùng vô cùng chính xác. “Cái chết của con người là một loại giấc mơ khác.”

Tôi hỏi mọi người nhé, cái chết của con người có giống một giấc mơ khác hay không? Mọi người đều rất mơ hồ, bởi vì đều chưa từng chết mà, mọi người đều không biết. Bởi vì đích thực là mọi người không biết cảnh giới của cái chết. Nhưng hành giả Mật giáo cho rằng cái chết của con người là đi vào một loại giấc mơ khác. Mọi người động não nghĩ thử xem, con người khi chết có phải là đi vào một giấc mơ khác không? Trong pháp dịch chuyển thần thức của Mật giáo đã từng nói đến cái này, vì vậy đây hoàn toàn là sự thật. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

15/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 017. Thiền tông và Mật giáo

Từng có đệ tử viết thư đến hỏi tôi: “Thiền tông là trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, vậy Thiền tông cũng có thể tức thân thành Phật. Nhưng tại sao Thiền tông không cần tu khí-mạch-minh điểm mà lại có thể trực tiếp thành Phật? Tại sao Mật giáo phải tu khí-mạch-minh điểm, phải tu thân cầu vồng mới có thể tức thân thành Phật?”

Vậy tôi sẽ trả lời câu hỏi này của anh ấy ở đây. Là như thế này: Trên thực tế là do căn cơ của mỗi người, có một số người tu hành rất có căn cơ, có một số người căn cơ tu hành tương đối kém, nhìn chung thì đều là trung bình, hầu hết đều là căn cơ hạng trung. Người có căn cơ rất tốt, bạn có thể trực tiếp đi tu Thiền tông, thật ra bản thân Thiền tông còn gọi là “Mật tông vô tướng”.

Tại sao lại nói như vậy? Bởi vì Thiền tông có hai yếu tố, yếu tố thứ nhất, Thiền tông là trực tiếp đi nhận biết Phật tính, rất trực tiếp chỉ ra Phật tính của bạn. Tiếp theo, bạn cần phải thực nghiệm. Sau khi biết được Phật tính rồi, phải đi thực thi Phật tính đó. Thông qua việc thức tỉnh, bạn biết được Phật tính rồi, phải đi thực thi Phật tính để ấn chứng lẫn nhau. Có được ấn chứng rồi, bạn sẽ có thể thành Phật. Đây chính là Thiền tông. 

Nhưng cái này nhất định phải là người có đại căn cơ mới có thể tu. Người bình thường là hữu tướng, Thiền tông là vô tướng. Bản thân Mật giáo là hữu tướng, sau đó mới từ từ đi vào vô tướng, cuối cùng sẽ giống với Thiền tông. Nhưng bản thân Mật giáo tiếp dẫn chúng sinh thì rất rộng, trước tiên là từ hữu tướng rồi đi vào vô tướng. Thật ra là giống nhau. 

Tại sao Thiền tông không cần tu khí-mạch-minh điểm, không cần tu pháp thân cầu vồng mà có thể trực tiếp thành Phật? Vì Thiền tông sử dụng một phương pháp, chính là trước tiên để bạn ấn chứng thời không, thời gian và không gian. Về mặt thời gian, trong Thiền tông có nói một câu: “Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc.” Quá khứ đã là cái đi qua rồi, đương nhiên là bất khả đắc, hiện tại đang dần dần biến thành quá khứ, cũng bất khả đắc. Tương lai thì không biết, vẫn chưa đến, ba cái tâm này đều bất khả đắc.

Cũng có nghĩa là về mặt thời gian, căn bản là bất khả đắc. Vậy thì đi ấn chứng cái Không về mặt thời gian, từ cái Không của thời gian chứng minh ngược lại cái Không của thế giới vật chất. Thời không đều bất khả đắc. Từ lí luận này đi thực nghiệm, tiến nhập tính Không. Thiền tông là rất khó tu.

Từng có một người đi hỏi thiền sư, anh ta đi gặp thiền sư nói rằng: “Tôi đã khai ngộ rồi!” “Khai ngộ thế nào?” “Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, tương lai cũng bất khả đắc. Tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm tương lai, tất cả đều bất khả đắc, tất cả đều là tính Không, đều là trống không.”

Thiền sư liền cầm một đồ vật gõ vào đầu anh ta “cốc” một cái. “Thiền sư, sao ngài lại đánh tôi? Ôi đau! Đau quá! Sao ngài lại đánh tôi?”

Thiền sư nói: “Anh nói cái gì cũng là không mà, sao tôi đánh anh thì anh lại chẳng thể “không” được?”

Ý nghĩa này rất rõ ràng, “không” về mặt lí luận không phải là “không” về mặt thực tế. Vì vậy về mặt lí luận sau khi bạn hiểu rõ tính không rồi, bạn còn phải đi thực hiện, phải thực nghiệm. Không phải là người đại căn khí thì rất khó mà hiểu được, một số người căn khí nhỏ thì không dễ gì hiểu được. Người tu Mật giáo đã được xem là người có căn khí lớn rồi mà cũng chưa chắc có thể tu chứng thành tựu.

Sau khi bạn thực sự lĩnh hội được tính Không rồi, nếu đem thân tâm của mình hoàn toàn hòa nhập với tính Không, bạn cũng vẫn có thể chứng đắc đại thành tựu cầu vồng. Đây chính là lí luận và thực tế hoàn toàn nhất trí. Bạn có thể để thân tâm của mình tương ứng với hư không, tự nhiên bạn cũng có thể chứng đắc.

Tôi từng nói về một sự thật, Thiền tông thực sự đi vào tọa vong, thân tâm đều quên, hòa nhập hư không, ”năng lượng” của vũ trụ tự nhiên sẽ đi vào bên trong cơ thể của bạn để hợp nhất với bạn. Trong Mật giáo có nói, khi bạn thực sự đi vào tam ma địa, nguyên tố sinh mạng của bạn toàn bộ chảy về chỗ thiên tâm. Khi thiền, bạn thực sự có thể tọa vong, khí mạch bên trong toàn thân bạn tự nhiên sẽ thông, bởi vì bạn đều đã “không” rồi, vật chất bên trong cơ thể của bạn khí-mạch-minh điểm đều hiện ra một trạng thái trống không và trong suốt, thì khí mạch của toàn thân bạn lúc này đều đã được thông. 

Cái này có thể nói là không thầy mà tự thông, không tu Mật nhưng thực tế đã chứng minh được Mật. Mật giáo trên thực tế là tu Mật, Thiền tông không tu Mật, nhưng lại chứng minh được Mật, bởi vì khí-mạch-minh điểm của bạn đều biến thành “không”. Vì vậy Thiền tông trực tiếp chứng minh một loại tính Không của Mật, tính Không của khí-mạch-minh điểm. Mật giáo là dùng cái có của khí-mạch-minh điểm đi chứng minh tính Không của khí-mạch-minh điểm trong tương lai. Đến cuối cùng cả hai đều là tương thông.

Sau khi mọi người hiểu được điểm này rồi sẽ biết được vì sao Thiền tông không cần tu khí-mạch-minh điểm mà vẫn có thể trực tiếp chứng được tức thân thành Phật, chứng được đại thành tựu cầu vồng. Mật giáo dựa vào ba thứ khí-mạch-minh điểm làm căn cứ để tu xuất cầu vồng, để chứng minh tính Không. Là trước tiên từ có thứ để thực nghiệm, để chứng minh, từ đó mà đắc được. Còn Thiền tông thì lại rất trực tiếp, ngay đến khí-mạch-minh điểm cũng biến thành “không”. Điều này là rất quan trọng.

Quá khứ bất khả đắc, tâm quá khứ thực sự là bất khả đắc, đã đi qua rồi. Hiện tại đang từ từ chuyển hướng đến quá khứ, cũng là bất khả đắc, mọi người đều biết. Chuyện tương lai thì vẫn chưa biết được, vì vậy cũng là bất khả đắc. Trên thực tế có thứ gì là có thể đắc đây? Vốn dĩ là không thể đắc. Bạn đi chứng minh rồi, đi thực nghiệm, bạn sẽ vô cùng siêu việt. Vì vậy, Thiền tông là một tông phái vô cùng siêu việt. Mật giáo đến cuối cùng cũng chứng minh Thiền tông. 

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

15/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 018. Quan niệm của Mật giáo

Hôm nay sẽ nói với mọi người về quan niệm của Mật giáo. Thông thường mà nói, nghiên cứu Phật pháp đều luôn có một sự khó khăn, bởi vì nó vô cùng rộng. Về Mật giáo mà nói, quan niệm của nó cũng không phải là dễ dàng để thấu hiểu. Nhưng mà tôi sẽ đem quan niệm của Mật giáo, nói một cách rất đơn giản, cũng tức là dùng nguyên lí và nguyên tắc đơn giản để biểu thị, để mọi người trong chốc lát có thể hiểu được bản thân Mật giáo là phải tu như thế nào.

Đầu tiên, thông thường mà nói, nghiên cứu về Phật giáo là dùng ba chữ để diễn đạt. Một là “thể”, thể chính là “bản thể”. Một cái nữa là “tướng”, là tướng biểu hiện ra bên ngoài. Một cái là “dụng”, làm sao để “ứng dụng”. Chúng ta cũng dựa theo phương diện thể, tướng, dụng để nói. 

Về mặt thể, thể ở trong Mật giáo là như thế này. Toàn bộ vũ trụ được cấu thành bởi sáu đại, đó chính là đất, nước, lửa, gió, không và thức. Chúng ta thường nói cơ thể người là một vũ trụ nhỏ. Toàn bộ vũ trụ là một vũ trụ lớn, nhưng con người chúng ta là một vũ trụ nhỏ, cơ thể của chúng ta cũng như vậy, có đất, nước, lửa, gió, không, thức. Về mặt bản thể là như vậy.

Về mặt bản thể thì đất là kiên cố, nó có đặc tính của nó chính là kiên cố. Nước thì ẩm ướt, đặc tính của nó là ẩm ướt. Đặc tính của lửa là nóng, nhiệt độ. Đặc tính của gió là chuyển động, nó là động. Vậy còn không, toàn bộ vũ trụ đều vô ngại, không có chướng ngại gì cả, đặc tính của không là không có chướng ngại. Đặc tính của thức là chân trí, cái trí chân chính, một trí huệ chân chính, đó là thức. Chúng đều có đặc tính. 

Trong cơ thể người của chúng ta cũng như vậy. Đất, nước, lửa, gió, không, thức. Đất chính là xương, thịt của bạn. Nước chính là máu, mồ hôi của bạn, đều là ẩm ướt. Lửa chính là nhiệt độ. Vậy còn gió? Gió chính là sự hô hấp. Không cũng chính là tâm của bạn, tâm là vô ngại. Còn thức của bạn chính là chân trí của bạn, linh thức của bạn, linh mệnh đích thực của bạn, đó là chân trí, trí huệ chân chính, là thức. Vì vậy tóm lại, đây chính là bản thể luận của Mật giáo.

Tướng của Mật giáo thì dùng cái gì để biểu thị? Chính là Mạn Đà La (mandala). Mọi người đều biết Mạn Đà La rồi, khi tôi giảng giải “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận” đã từng nhắc về Mạn Đà La. Thật ra toàn bộ “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận” chính là dùng tướng của Mạn Đà La để giải thích. Dùng tướng của Mạn Đà La để giải thích từ đầu đến cuối. Mật giáo là dùng tướng, tu Mạn Đà La để làm một cái tướng của Mật giáo.

Ngoài ra, nói về mặt tác dụng, tu hành của Mật giáo là ngoại tu thân-khẩu-ý, nội tu khí-mạch-minh điểm. Đây thuộc về phương diện tu pháp thân-khẩu-ý và khí-mạch-minh điểm. Tức là tu cho thân-khẩu-ý tức đạt đến thanh tịnh. Tu để chuyển hóa khí-mạch-minh điểm, chuyển hóa các bộ phận của cơ thể thành ánh sáng để ấn chứng sáu đại: đất, nước, lửa, gió, không, thức của ý thức vũ trụ. Như vậy trong Mật giáo, mọi tác dụng của việc tu hành là để vũ trụ nhỏ của cơ thể bạn và ý thức của vũ trụ lớn nhất cùng tương ứng và hợp nhất. 

Chúng ta đều biết bản thân Phật chính là tam mật. Tam mật của Phật chính là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh, một trạng thái hoàn toàn thanh tịnh. Vậy bản thân tu hành Mật giáo chính là chuyển hóa tam nghiệp thân-khẩu-ý vốn có của con người chúng ta thành tam mật thanh tịnh của Phật. Nhờ tam nghiệp chuyển hóa thành tam mật mà tức thân thành Phật. Rồi lại ứng dụng khí-mạch-minh điểm của thân thể, từ các loại vận hành của cơ thể và nội tâm mà đi ấn chứng sự hợp nhất của vũ trụ lớn. Cái này có thể được xem là dụng của Mật giáo.

Như vậy thì mọi người sẽ hiểu rõ, toàn bộ quan niệm của Mật giáo sẽ hiện ra trước mắt mọi người. Bản thể luận chính là sáu đại, còn biểu hiện ra tức là tướng của Mạn Đà La, và phương pháp ứng dụng chính là sự tu luyện thân-khẩu-ý và khí-mạch-minh điểm. Kết quả cuối cùng chính là dùng vũ trụ nhỏ của cơ thể người, cùng vũ trụ lớn của ý thức vũ trụ hợp nhất với nhau. Đây chính là quan niệm của Mật giáo.

Tôi cảm thấy bản thân sự tu hành của Mật giáo giống như có một cầu thang. Bạn có thể đi trên con đường này, bạn có thể nhìn thấy đường, rồi bạn sẽ đi ra sao, tức là có một phương hướng, có phương pháp, có pháp để tu, có cầu thang có thể đi. Có nền móng vững chắc để bạn có thể bước lên để tu, hơn nữa còn có thể đi vào tính Không. Có tu tâm, cũng có tu thân, cả hai cái đều có. Tương đối thực tế, có cảm giác tương đối thực tại, thì chính là Mật giáo.

Thông thường mà nói, tu hành mà Phật giáo nói đến hầu hết là tu tâm, rất ít tu thân. Vì vậy tôi cho rằng, quan niệm của Mật giáo có thể nói là một loại tu hành hợp nhất, hơn nữa còn có cảm giác rất thực tại, rất vững chắc, là một tông phái tu hành có cảm giác khá vững chắc. 

Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi. Om mani padme hum!

16/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 019. Phương pháp chuyển tam nghiệp thành tam mật

Sau đây tôi sẽ nói với mọi người về phương pháp tam nghiệp chuyển tam mật. Tu hành Mật giáo là dùng ba nguyên tố. Bạn tu pháp nhất định phải cần có nguyên tố này. Ba nguyên tố được sử dụng này hầu hết mọi người đều nghe quá quen rồi. Đó chính là dùng thủ ấn, Mật giáo tu hành là phải kết thủ ấn, rồi phải niệm chú ngữ, và dùng ý niệm để quán tưởng. Cái này chính là pháp.

Chú ngữ chính là sự thanh tịnh của khẩu. Còn thủ ấn đại diện cho sự thanh tịnh của thân thể bạn, thân thanh tịnh. Còn quán tưởng chính là sự thanh tịnh của ý niệm. Trong mỗi một pháp của Mật giáo đều là sử dụng ba nguyên liệu này để tiến hành. Ba nguyên liệu này chính là thân-khẩu-ý thanh tịnh. Dùng thủ ấn, quán tưởng, niệm chú, dùng ba nguyên liệu này để tiến hành tu luyện.

Tôi cảm thấy việc niệm chú, đương nhiên đối với  chúng ta mà nói niệm chú là một việc bí mật. Bản thân việc niệm chú vốn dĩ thuộc về tâm chân ngôn của Như Lai, cũng tức là âm thanh rất bí mật của nội tại, đây gọi là chú luân. Không thể nào phiên dịch được, cũng chính tâm chân ngôn rất bí mật. Nó là một loại âm thanh, dùng loại âm thanh này để cùng cộng hưởng với tâm của Như Lai, đây chính là chú ngữ.

Khi bạn đang niệm chú, tôi cảm thấy điều này thực sự là khẩu thanh tịnh, bởi vì khi bạn đang niệm chú, miệng của bạn sẽ không thể vọng ngữ, sẽ không hai lưỡi, sẽ không ác khẩu, sẽ không nói lời ong bướm, bạn sẽ không như vậy nữa. Khi bạn đang niệm chú đương nhiên là khẩu thanh tịnh rồi, vì khi bạn phát ra một âm thanh, bạn không thể đồng thời phát ra hai âm thanh, không thể đồng thời sản sinh ra khẩu nghiệp không tốt, vì vậy đương nhiên là khẩu thanh tịnh rồi. Vả lại cái bạn niệm là một loại ngôn ngữ tốt nhất, thiện lành nhất, đây chính là khẩu thanh tịnh.

Vậy còn thủ ấn, khi bạn kết thủ ấn là đại diện cho sự thanh tịnh của thân, cũng rất là có ý nghĩa. Khi bạn kết thủ ấn, tay của bạn hoàn toàn kết thành một loại kí hiệu, chính là một tư thế của Như Lai, đại diện cho sự thanh tịnh nhất, cũng chính là lời thệ nguyện của Như Lai, lời thệ nguyện mà bản thân Như Lai đưa ra, một loại kí hiệu. Lúc này, vì tay của bạn kết  thủ ấn, bạn không có *three hands <span className="note-blue">[ba cái tay]</span>*, không có cánh tay thứ ba. Bạn có hai tay thôi, đều kết thủ ấn hết, đại diện thân thanh tịnh. Lúc này, thân của bạn thực sự là thanh tịnh.

Còn cái quan trọng nhất chính là sự thanh tịnh của ý niệm. Mật giáo dạy bạn cách quán tưởng. Khi bạn đang quán tưởng, quán tưởng này thay thế cho vọng tưởng của bạn. Con người vốn dĩ khi không thực hành quán tưởng, vọng tưởng của họ đôi lúc là rất nhiều. Có người từng nói ý nghĩ của con người giống như sóng biển vậy, từng cơn từng cơn, không bao giờ dừng lại. Bạn để tâm mình yên tĩnh lại một chút, sau đó nghĩ về ý niệm của mình sẽ thấy vọng niệm của bạn thực sự là vô cùng tận, giống như sóng biển, từng cơn từng cơn.

Giả sử bạn có thể ứng dụng được phương pháp quán tưởng của Mật giáo thì khi đang quán tưởng, vọng niệm của bạn sẽ không sinh ra, vọng niệm đã được thay bằng quán tưởng, khi vọng niệm không sinh, ý niệm của bạn đương nhiên là thanh tịnh. 

Vì vậy tu hành Mật giáo có ba yếu tố: một cái là niệm chú ngữ, một cái là kết thủ ấn, một cái dùng quán tưởng. Sử dụng ba yếu tố này khiến bạn trong một sát-na, chính là vào khoảng thời gian tam mật, ba bí mật hợp nhất với nhau, là bạn được thân-khẩu-ý thanh tịnh. Trong một sát-na thân-khẩu-ý thanh tịnh, trong khoảnh khắc đó bạn cũng giống như Phật. 

Vậy kéo dài thời khắc đó ra, kéo dài trong cuộc sống ngày thường của bạn, đều ở trong sự tu hành thân-khẩu-ý thanh tịnh, vậy thì ngày hôm đó bạn sẽ biến thành Phật. Tiếp theo, cả một tháng đều làm như vậy thì cả một tháng đều là Phật, cả một năm bạn đều thân-khẩu-ý thanh tịnh thì một năm đó bạn đều là Phật. Năm nào bạn cũng như vậy thì năm nào bạn cũng là Phật. Bạn mãi mãi như vậy, bạn mãi mãi là Phật. Đây chính là đạo lí của tam mật.

Ngoại tướng là Phật, thế còn nội tâm thì sao? Ý niệm của bạn thanh tịnh, ý là vô hình, là thuộc về nội tâm. Trong các yếu tố của vũ trụ, đất, nước, lửa, gió là có tướng, không và thức là vô tướng. Bạn tu đất, nước, lửa, gió là tu thân thể của bạn. Bạn tu không và thức là tu tâm và thức của bạn, tâm và thức là vô tướng.

Vì vậy tu hành của Mật giáo là rất vững chắc, có cảm giác rất chắc chắn, là vì bạn tu cái thân của hữu hình, cũng tu tâm và thức của vô hình. Vì vậy cảm nhận mà bạn có được cũng không giống nhau. 

Trong đó chúng ta cần phải hiểu, thân-khẩu-ý tuy chia ra làm ba, nhưng thật ra cũng là một. Thân thể có nhiều lúc là đi theo ý thức. Ý thức của bạn muốn như thế nào, thân thể sẽ đi theo ý thức. Có nhiều lúc khẩu cũng là đi theo ý thức, ý niệm của bạn như thế nào thì miệng mới nói ra những lời như thế đó. Vì vậy ý tổng hợp thân, và cũng tổng hợp khẩu, phân ra là ba nghiệp, hợp lại thật ra là một nghiệp. Trên thực tế, thân nghiệp và khẩu nghiệp hữu hình thật ra là đến từ ý nghiệp vô hình. Cho nên trước đây chúng ta thường hay nói “vạn pháp duy tâm”, tất cả các pháp đều đến từ tâm, sản sinh ra từ tâm. Mà tâm vốn dĩ là vô hình. 

Sau khi mọi người đã hiểu rõ phương pháp tu hành của Mật giáo rồi, từ tam nghiệp chuyển thành tam mật, mọi người sẽ có thể từ từ hiểu rõ chỗ vĩ đại của Mật giáo. Giống như Kim Cang Tát Đỏa, Long Thụ Bồ Tát, liên tục truyền thừa xuống tất cả pháp mà Phật, Bồ tát đã dạy đều vô cùng cao thượng vĩ đại. Các Ngài cũng là dạy chúng ta từ trong nghiệp chướng tu ra được quả vị thanh tịnh, từ nghiệp chuyển thành mật, từ đời người ô uế biến thành hoa sen thanh tịnh. Đây là một phương pháp tu hành rất tốt.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

16/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 020. Mật giáo và niệm lực

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về niệm lực. Bản thân Mật giáo còn được gọi là Niệm lực tông, tại sao được gọi là Niệm lực tông? Tôi đã có nói về nguyên liệu tu Mật giáo là chân ngôn, là thủ ấn, ngoài ra còn có quán tưởng, ứng dụng quán tưởng về mặt ý niệm sẽ sản sinh ra một loại sức mạnh, sức mạnh này gọi là niệm lực.

Sau khi bạn tu hành niệm lực trong Mật giáo rồi sẽ có một loại sóng rất đặc thù được sản sinh ra, *power* *<span className="note-blue">[sức mạnh]</span>* này được sản sinh ra từ bên trong ý niệm của bạn. Trong Mật giáo có rất nhiều loại ấn, vì ấn là dùng để phối hợp với niệm lực của bạn. Sau khi bạn kết ấn rồi, nó sẽ thể hiện ra sức mạnh ý niệm của bạn là đang làm cái gì.

Mật giáo tại sao còn gọi là Niệm lực tông? Bởi vì nó từ niệm lực, từ quán tưởng sản sinh ra một loại sức mạnh để có được một kết quả, vì vậy mới gọi là Niệm lực tông.

Ví dụ, lấy chính bản thân tôi để nói, tôi từng nghĩ đến muốn đội một số mũ của Pháp Vương, ý nghĩ này vừa mới được sinh ra thì trong một pháp hội, tất cả đệ tử cúng dường, không có cúng dường gì khác, không hẹn mà giống nhau, đồng loạt cùng cúng dường 10 chiếc mũ Pháp Vương. Tôi cũng từng có một niệm lực, tôi nói là: “À, long bào của mình đã đem bán từ thiện gần hết rồi.” Niệm lực này vừa mới sinh ra, trong buổi pháp hội lần trước, họ làm một 100 cái long bào, các đệ tử không hẹn trước mà đều giống nhau, tặng 100 cái long bào cho tôi, tôi mặc không hết, bây giờ còn rất nhiều, vẫn còn dư, để ở bên trong phòng làm việc. Mũ cũng rất nhiều, mũ Pháp Vương cũng rất nhiều, nhiều đến không đếm hết.

Khi một hành giả Mật giáo sinh ra niệm lực, sức mạnh mà niệm lực này sản sinh ra là vô cùng hùng vĩ, rất vĩ đại. Tôi đã từng nghĩ như thế này, có một lần đệ tử mang một cái đồng hồ rất đẹp đến, tôi liền nghĩ: “Ồ, thì ra trên đời này có 10 loại đồng hồ cao cấp.” Tôi nghĩ về 10 cái đồng hồ cao cấp đó, không nghĩ thì thôi, vừa nghĩ 10 cái đồng hồ cao cấp, 10 đồng hồ cao cấp đều có đủ, bây giờ tôi đã có đủ 10 cái đồng hồ cao cấp. Nào là Vacheron Constantin, rồi đồng hồ Piaget, A.P gì đó, tất cả đều có hết, Parte Fer gì đó, 10 đồng hồ cao cấp của thế giới, bây giờ tất cả đều có. 

Vì vậy niệm lực của một thành tựu giả khi sản sinh ra, niệm lực ấy sẽ sản sinh ra một sức mạnh rất lớn, vì vậy không được nghĩ linh tinh, sau khi bạn thành tựu niệm lực rồi, niệm lực của bạn sẽ biến thành một cái móc câu, bạn nghĩ cái gì là nó sẽ móc được cái đó. Vì vậy là một hành giả, bạn chỉ có thể có ý nghĩ thanh tịnh, tu hành đến ý nghĩ thanh tịnh. Tuyệt đối không được có những ý nghĩ khác không tốt. Bởi vì vốn dĩ các hiện tượng tự nhiên trên đời này, chẳng phải tôi từng nói rồi sao? Là thái cực của Đạo gia, hai mặt trắng đen đều có. Khi bạn nghĩ về Phật, Phật sẽ bị bạn gọi đến, Bồ tát sẽ bị bạn gọi đến, khi bạn nghĩ đến Hộ pháp, Hộ pháp sẽ đi theo bạn. Nhưng nếu ý nghĩ không chân chính thì sẽ biến thành ma giới. Giả sử bạn có ý nghĩ về ma giới thì ma vẫn bị bạn dụ đến. Vì vậy mới nói tu thành Phật và tu thành ma vốn dĩ chỉ ở trong một niệm. Cho nên thường xuyên nghe người ta nói, thiện ác chỉ trong một niệm mà thôi. Thiện ác vốn dĩ chỉ trong một niệm, ma và Phật cũng là ở trong một niệm mà thành.

Mật giáo được gọi là Niệm lực tông là vì nó có làm pháp, pháp của nó là mượn niệm lực để phóng chiếu ra bên ngoài. Niệm lực này có thể xuyên thấu tam giới, dục giới, sắc giới, vô sắc giới, cho đến tận Phật giới. Bản thân niệm lực sau khi bạn tu thành rồi, nó sẽ rất mạnh. Và sẽ có nhiều sức mạnh đi theo bạn, sức mạnh của Thượng sư đi theo bạn, Bổn tôn đi theo bạn, sức mạnh của Hộ pháp đi theo bạn, ba loại sức mạnh này sẽ mãi đi theo bạn. Ba loại sức mạnh này và một hành giả Mật giáo vốn dĩ là không tách rời. Lúc này, niệm lực của bạn cần phải vô cùng thanh tịnh, nếu không bạn nghĩ cái gì là đến cái đó, đây là Niệm lực tông mà. 

Giống như bản thân Lư Sư Tôn nghĩ 10 cái đồng hồ cao cấp, một niệm lực bất chợt, không phải bản thân tôi tự đi mua, mà là đệ tử đem đến tặng. Cũng giống như mũ Pháp Vương là do đệ tử không hẹn trước mà lại rất trùng hợp, tặng cùng một lúc. Giống như long bào, hơn 100 cái đều là tặng cùng một lúc. Vì vậy, bây giờ tôi không thể có những ý nghĩ gì khác nữa. 

Tôi cũng từng nghĩ đến những tờ tiền 100 tệ, một xấp, biến thành một mặt phẳng, biến thành tờ 100 đô-la xếp thành hàng dài, toàn bộ đều là Franklin. Sư Tôn cũng có thể có được, tôi cũng có thể có được, vì niệm lực đó đã được sản sinh ra rồi, là bạn sẽ có thể đạt được.

Vì vậy Mật giáo là Niệm lực tông. Niệm lực chính là mượn sức mạnh của quán tưởng để thành tựu. Hôm nay khi bạn sản sinh ra niệm lực, niệm lực đó cũng có thể tạo thành một sức mạnh rất lớn ở trong hư không. Bởi vì hư không, thái cực giữa toàn bộ vũ trụ này, một cái là Phật giới, một cái là ma giới. Khi bạn có ý niệm thanh tịnh, Phật giới của bạn sẽ được tăng cường. Bạn có ý niệm tà ác, ma giới của bạn sẽ tăng cường. Thật ra ở bên trong tâm của bạn vẫn có Phật và ma đang đấu pháp. Trong hư không có hiện tượng như vậy, bên trong nội tâm của bạn cũng có như vậy. Sức mạnh nguyên thủy của bạn, cùng với sức mạnh của pháp lực mà bạn học được, cả hai cũng đang đấu pháp với nhau. Vì vậy hôm nay tôi giải thích niệm lực cũng là để cho mọi người biết, Mật giáo mượn sức mạnh của quán tưởng để sản sinh ra niệm lực, sức mạnh của nó to lớn vô cùng. Hi vọng mọi người cẩn trọng sử dụng niệm lực.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

16/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 021. Mật giáo và thần thông

Mật giáo ngoài tên gọi là Niệm lực tông ra còn có một tông danh khác gọi là Thần thông tông. Niệm lực và thần thông là vô cùng giống nhau, rất gần gũi. Vậy thì tôi cũng giải thích với mọi người một chút tại sao Mật giáo lại được gọi là Thần thông tông. 

Tôi từng nói rồi, Mật giáo có mấy loại sức mạnh: niệm lực do bản thân hành giả tu luyện mà thành, còn có Thượng sư lực, còn có Bổn tôn lực, còn có Hộ pháp lực. Ba sức mạnh vô hình trong hư không này đều đang giúp đỡ hành giả. Sức mạnh của Hộ pháp rất lớn, ngài có sức mạnh hộ trì hành giả. Còn sức mạnh của Bổn tôn, khi bạn và Bổn tôn tương ứng, pháp lực mà bạn sản sinh ra đều giống với Bổn tôn, là bất khả tư nghì. Sức mạnh mà Thượng sư và Bổn tôn gia trì vào trong người bạn cũng sẽ khiến pháp lực bên trong cơ thể bạn được tăng cường. Bổn tôn luôn luôn đi theo bạn, khi Bổn tôn và bạn hợp nhất, bạn sẽ sản sinh ra thần thông.

Mọi người cũng biết rồi, Phật có mười đại thần thông. Bản thân Bồ tát cũng có thần thông rất lớn. Kim cang Hộ pháp đều có thần thông, thậm chí quỷ thần cũng có thần thông. Khi bạn tu được niệm lực, bạn vừa nghĩ tưởng là Phật, Bồ tát, Bổn tôn, Hộ pháp đều đến giúp bạn, điều này sẽ tạo thành một hiện tượng thần thông. Có rất nhiều chuyện bạn vừa nghĩ là nó thành hiện thực ngay. Đây chính là thần thông. Bạn vừa nghĩ một cái là thành ngay. Vì vậy, tôi không thể tùy tiện nghĩ tưởng. 

Sư Tôn nghĩ đến người nào đó là người đó sẽ đến ngay. Khi bạn nghĩ đến người nào, người đó sẽ xuất hiện, vì vậy cũng không thể tùy tiện nghĩ tưởng. Bởi vì niệm lực của bạn có thể đi triệu gọi người đó, móc người đó đến với mình. Trong Mật giáo có một ấn móc câu, ấn móc kim cang. Móc một cái là đến ngay, vì là cái móc câu mà, nên sẽ móc bạn đến ngay.

Thần thông là sau khi bạn tu thành niệm lực rồi, khi niệm lực của bạn sản sinh, bạn dùng niệm lực của mình đi quan sát niệm lực của người khác, cái này sẽ biến thành tha tâm thông. Khi bạn tập trung niệm lực của bạn vào thiên nhãn sẽ biến thành thiên nhãn thông, tập trung niệm lực vào thiên nhĩ thì biến thành thiên nhĩ thông. Bạn có thể biết được túc mệnh của mình, cũng có thể biết về túc mệnh của người khác, chính là túc mệnh thông. Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mệnh thông, lậu tận thông. Thần túc thông cũng vậy, bạn có thể biết được sự việc ở rất xa, đi đến chỗ đó rất nhanh chóng. Bạn có thể tu chứng vô lậu, bao gồm trí huệ, bạn đều có thể biết hết tất cả, đây chính là lậu tận.

Vì vậy, những thần thông này trở thành nguyên nhân khiến Mật giáo được gọi là Thần thông tông, chính là vì bản thân bạn ở trong thiền định, tập trung sự quán tưởng, niệm lực của chính mình để tạo ra một loại pháp lực bất khả tư nghì, có thể có hiện tượng thần biến thì gọi là thần thông. Vậy thì khi thần thông sản sinh ra, người tu chứng một khi có thần thông, bản thân anh ta có thể ứng dụng thần thông của mình đi làm các pháp vụ. Pháp vụ chính là làm mấy nhiệm vụ hoằng pháp. Vì vậy Mật giáo mới được gọi là Thần thông tông.

Giống như Hộ pháp, chẳng phải tôi đã nói rồi sao? Trong hư không vốn dĩ có Phật giới, có ma giới. Ma này vốn dĩ muốn đến đối phó với bạn, khi gây chướng ngại cho bạn, Hộ pháp của bạn sẽ xuất hiện bảo vệ bạn. Trong hư không cũng có chiến tranh, là cuộc chiến tranh vô hình. Thật ra toàn bộ thế giới này, bạn nhìn lại lịch sử của Trung Quốc chúng ta xem, có lúc xuất hiện một quân vương nhân đức, có lúc xuất hiện một bạo quân, toàn bộ diễn biến trong lịch sử thật ra là trắng và đen, trắng đen trong hình đồ thái cực, phần trắng tăng trưởng thì xuất hiện một vị vua nhân đức, phần đen tăng trưởng thì xuất hiện một vị bạo quân. Một cái là sức mạnh sáng tạo, một cái là sức mạnh phá hoại. Vốn dĩ là sức mạnh của hai bên triệt tiêu và tăng trưởng lẫn nhau, không ngừng hình thành lịch sử, chúng luôn diễn biến. Toàn bộ thái cực, đương nhiên khi trắng đen cân bằng thì là trạng thái trung hòa, nếu không sẽ là triệt tiêu và tăng trưởng lẫn nhau.

Là một hành giả Mật giáo, bạn muốn đi vào Phật giới, ma giới đều là như vậy hết. Sau khi bạn tu chứng rồi, ý niệm của bạn thanh tịnh, tất cả Phật, Bồ tát đều đang ở phía sau gia trì cho bạn, hộ trì bạn. Khi bạn tu thành niệm lực của tà ác, toàn bộ quỷ thần của ma giới, a tu la, ma vương, thiên ma, địa ma, nhân ma, tất cả đều ở phía sau ủng hộ bạn, là như vậy đó.

Trong vũ trụ vốn dĩ cũng có chiến tranh. Khi ý niệm sinh ra, có nhiều lúc liền hình thành một trận chiến. Đây là điều mà người bình thường không thể hiểu được. Bạn xem, khi người tu hành vừa sinh ra niệm lực, ánh sáng tập trung sẽ rất mạnh, trong mắt của người thiên nhãn thông nhìn thấy người tu hành kia rất sáng, rất chói. Còn người bình thường nhìn đều có ánh sáng nhòe nhoẹt, loại ánh sáng mờ mờ, đó là ánh sáng của phàm phu.

Khi bạn có ánh sáng của nghiệp đen, có ánh sáng nghiệp chướng thì khí đen ngập tràn trong toàn thân của bạn. Chúng ta có thể nhìn thấy ánh sáng, vừa nhìn là biết ngay người này là chính, người kia là tà. Một người chính hoặc tà, nhìn ánh sáng là biết ngay. Khi nhìn ánh sáng của người mắc bệnh thần kinh, ánh sáng toàn thân của anh ta đều hỗn loạn, không có quy tắc.

Một hành giả Mật giáo tại sao có thể tu hành chứng được thần thông? Là vì niệm lực, định lực, cộng thêm các loại sức mạnh của vũ trụ được tổng hợp lại thì sẽ sản sinh ra thần thông. Mật giáo được gọi là Thần thông tông cũng là có nguyên nhân, vì bản thân Mật giáo tu niệm lực, tu định lực, và còn có tu Hộ pháp, tu Bổn tôn, còn phải tu Thượng sư tương ứng. Sau khi có được rất nhiều pháp lực, tự nhiên anh ta sẽ sản sinh ra thần thông, một cách rất tự nhiên, bất khả tư nghì. 

Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi. Om mani padme hum!

17/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 022. Tam đoạn pháp sinh

Hôm nay sẽ giới thiệu với mọi người về tam đoạn pháp sinh. Trong “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận” thường xuyên có nhắc đến quán tưởng có tam đoạn pháp sinh, đây là một quán tưởng rất quan trọng. Ngoài ra còn rất nhiều quán tưởng cũng đều rất quan trọng. Giống như quán chữ Ah rất nổi tiếng, còn có quán nguyệt luân, ngoài ra còn quán nhập ngã ngã nhập, còn có quán ngũ tướng thành thân, những quán tưởng này trong Mật giáo đều cần phải hiểu rõ hết toàn bộ, hơn nữa còn phải thường xuyên luyện tập quán tưởng đi quán tưởng lại.

Quán tưởng có nhiều lúc khá là thô tưởng, thô tưởng có nghĩa là không nhất định là rất rõ ràng, tương đối thô. Quán tưởng quan trọng nhất là bạn phải luyện tập cho đến khi biến thành một loại quán tưởng rất kĩ lưỡng, rất vi tế, rất vi diệu. Cũng tức là huấn luyện ý niệm của bạn thành một loại nghĩ tưởng chi tiết nhất, như vậy mới có thể phát ra một loại sức mạnh. Đương nhiên là lúc chúng ta đang quán tưởng cũng cần phải chuyên nhất, tinh thần phải tập trung. Quán tưởng trong Mật giáo có thể sản sinh ra pháp lực và ý niệm.

Tam đoạn pháp sinh là như thế này. Có nghĩa là quán không trước, quan trọng nhất khi bắt đầu một loại quán tưởng nhất định phải quán tưởng hư không, mà hư không thì không có cái gì cả. Cũng có nghĩa là dừng lại hết toàn bộ ý niệm của bạn, điều này đồng nghĩa với hư không. Có một câu chú quán không là: “Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.” Đây là một chú ngữ quán không.

Vậy trước khi quán tưởng, có nhiều lúc bạn phải kết thủ ấn, kết thủ ấn có nghĩa là bạn muốn quán tưởng vị nào thì kết thủ ấn của vị đó. Bổn tôn của bạn là vị nào? Ví dụ Bổn tôn của bạn là A Di Đà Phật thì bạn kết định ấn của Di Đà. Là Quan Thế Âm Bồ Tát thì bạn kết thủ ấn của Quan Thế Âm Bồ Tát. Là Chuẩn Đề Phật Mẫu thì bạn kết thủ ấn của Chuẩn Đề Phật Mẫu.

Sau khi niệm chú quán không xong rồi, bạn sẽ quán tưởng một miền hư không, làm biến mất hết một số tạp niệm của bạn. Tay bạn kết thủ ấn, rồi làm ý niệm quán tưởng, quán tưởng hư không. Từ hư không biến thành một nguyệt luân. Bản thân nguyệt luân này cũng chính là sự biến hóa của đoạn thứ nhất. Ban đầu không có gì cả, một miền hư không, sau đó sản sinh ra một nguyệt luân, một mặt trăng. Trong Mật giáo dùng mặt trăng để quán tưởng là bởi vì mặt trăng khá rõ ràng, khá trong trẻo, lại đại diện cho tính Không. Một miền hư không, sản sinh ra tính Không. Đây là quán tưởng của đoạn thứ nhất.

Rồi từ bên trong nguyệt luân sản sinh ra chú tự. Cái gọi là chú tự chính là chữ Phạn của chú ngữ, được sinh ra từ trung tâm của nguyệt luân. Chú tự này có liên quan đến Bổn tôn của bạn, chính là chủng tử tự của Bổn tôn, chủng tử tự của Bổn tôn được sinh ra từ trung tâm của nguyệt luân. Ví dụ chủng tử tự của Phật A Di Đà, chúng ta đọc là Seh (sê), chính là như vậy. Đây là quán tưởng đoạn thứ hai. 

Tại sao phải quán tưởng như vậy ư? Bởi vì chú tự, chủng tử tự đại diện cho sự sinh ra của Phật. Sự ra đời của một vị Phật là từ trong hư không sản sinh ra tính Không, từ trong tính Không sản sinh ra chủng tử của Phật, sau đó từ chủng tử mới sinh ra Bổn tôn. Mới từ chủng tự ở trước mặt, từ trong chủng tự hóa sinh ra Bổn tôn, từ trong trung tâm nguyệt luân sản sinh ra Bổn tôn.

Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, khi Bổn tôn được sinh ra, ví dụ Phật A Di Đà, bạn sẽ quán tưởng đầu, thân thể của Phật A Di Đà, thủ ấn mà Ngài kết, bao gồm liên hoa tọa của Ngài, tất cả đều sinh ra từ bên trong chủng tự. Đây chính là quán tưởng đoạn thứ ba.

Trong “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận” có nói đến, quán tưởng như vậy chính là tam đoạn pháp sinh. Vì vậy mọi người có một khái niệm rồi, bạn phải quán tưởng ra sao? Trước tiên quán không, rồi quán nguyệt luân, bên trong nguyệt luân có chủng tử tự, chủng tử tự của chú tự, bên trong chủng tử tự tiếp tục sinh ra Bổn tôn. Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta đều dạy mọi người như vậy.

Lúc này, bạn phải quán tưởng tam quang bao trùm. Tam quang bao trùm chính là từ vị trí thiên tâm của Phật A Di Đà phóng ánh sáng trắng chiếu vào thiên tâm của hành giả, từ Hầu luân của Phật A Di Đà phóng ánh sáng màu đỏ chiếu vào Hầu luân của hành giả, từ Tâm luân của Phật A Di Đà phóng ánh sáng màu xanh lam chiếu vào Tâm luân của hành giả. Tôi cũng từng giảng rồi, ánh sáng màu trắng, màu đỏ, màu xanh lam đại diện cho Phật Bồ tát phóng quang gia trì hành giả, khiến tam độc tham-sân-si của hành giả tu hành chúng ta, vì được ba ánh sáng chiếu vào mình, nên tham-sân-si đều bị tiêu diệt.

Cái này trong Chân Phật Mật Pháp cũng từng nói đến, Chân Phật Mật Pháp có một bộ nghi quỹ tu hành. Cái này tôi cũng từng nói qua rồi, cũng chính là một loại khẩu quyết tu hành Mật pháp rất chi tiết, cũng đã in thành một cuốn sách, cũng có bản video. Ở đây, tam đoạn pháp sinh đã nói vô cùng rõ ràng rồi, mọi người nếu muốn biết tường tận hơn, có thể xem sách, cũng có thể xem video. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

18/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 023. Quán nhập ngã ngã nhập

Giảng xong tam đoạn pháp sinh, tôi muốn nói tiếp với mọi người về quán nhập ngã ngã nhập. Kinh nghiệm của cá nhân tôi, giống như mỗi lần tôi tu Mật pháp, mỗi một đàn pháp đều bắt đầu từ tam đoạn pháp sinh, tiếp theo là nhập ngã ngã nhập. 

Tam đoạn pháp sinh là đầu tiên quán hư không, tiếp đến là tính Không, rồi đến chú tự, tiếp theo là Bổn tôn xuất hiện, tam quang gia hộ cho bạn. Vậy thì, khi bạn muốn nhập tam ma địa, bạn cần phải quán tưởng nhập ngã ngã nhập. Thực hành quán nhập ngã ngã nhập có lợi ích gì? Chính là khoảng cách giữa mình và Phật đã gần sát rồi, đã hợp nhất rồi, đây chính là quán nhập ngã ngã nhập. Nghĩa của nhập ngã tức là Phật đi vào bên trong ta. Nghĩa của ngã nhập tức là ta đi vào bên trong Phật.

Về pháp quán tưởng này, hình như trước đây tôi từng giới thiệu rồi. Hôm nay tôi tiếp tục nói chi tiết hơn với mọi người. Khi Bổn tôn của bạn, ví dụ khi Phật A Di Đà ở ngay trước mặt của bạn, bạn có thể quán tưởng Ngài thu nhỏ lại, sau khi tam quang bao trùm rồi thì thu nhỏ, thu nhỏ bằng một hạt gạo là được, một hạt gạo là rất nhỏ rồi, phóng ánh sáng nhỏ bằng một hạt gạo. 

Lúc này Phật A Di Đà sẽ di chuyển đến trên đỉnh đầu của bạn, di chuyển đến phía trên đỉnh huyệt của bạn. Lúc này bạn phải nghĩ là tâm mình, toàn thân của mình trong suốt như lưu ly. Có một đường trung mạch từ trên đỉnh huyệt xuyên qua tâm của bạn cho đến tận bên dưới. Ở vị trí luân xa tim tại trung mạch có bản tâm của bạn ở đó. Lúc này bạn phải quán tưởng bao bọc xung quanh trung mạch có một hoa sen đang nở, hoa sen tám cánh đang nở rộ. Ở chính giữa hoa sen vẫn có một nguyệt luân. Tại điểm trung tâm nguyệt luân vẫn có một chú tự, chính là chú tự Seh. Chú tự này phóng ánh sáng màu trắng đi theo trung mạch chạy thẳng lên trời. Điều này có ý nghĩa triệu thỉnh. Ánh sáng trắng chạy lên trên ba lần, đây là triệu thỉnh Bổn tôn của bạn. 

Lúc này Bổn tôn của bạn đã ở trên đỉnh đầu, thuận theo trung mạch đi xuống, đến hoa sen tại luân xa tim của bạn, sau khi Ngài đi xuống sẽ ngồi lên trên nguyệt luân trong hoa sen, đó giống như là vị trí vốn có của Ngài, Ngài vốn dĩ là ngồi tại chỗ đó, bây giờ bạn triệu thỉnh Ngài quay về  ngồi vào vị trí của Ngài. 

Sau khi ngồi vào rồi, vị Bổn tôn Phật A Di Đà nhỏ như hạt đậu, nhỏ như hạt gạo sẽ từ từ to trở lại. Đầu của Ngài cứ lớn dần, lớn đến khi hoàn toàn bằng với cái đầu của bạn, tay của Ngài lớn đến hoàn toàn bằng tay của bạn, chân to ra đến hoàn toàn bằng chân của bạn, lớn bằng toàn thân của bạn. Lúc này, chỉ trong một sát-na, chỉ trong một cái búng tay, bạn liền biến thành Phật A Di Đà. Đây gọi là nhập ngã, quán tưởng nhập ngã. Nhập ngã tức là Bổn tôn đi vào bên trong cơ thể bạn.

Còn về ngã nhập, chính là bản thân mình thu nhỏ, đi vào trong tim của Phật A Di Đà, thì chính là ngã nhập. Vậy nhập ngã là Phật A Di Đà thu nhỏ đi vào trong thân của bạn, sau đó biến to ra, hoàn toàn giống hệt bạn, như một không phải hai, cũng tức là một trạng thái hoàn toàn là một với bạn. Lúc này, bạn phải nghĩ bản thân mình đã là Phật A Di Đà rồi. 

Quán tưởng của lúc này là khuôn mặt của bạn chính là khuôn mặt của Phật A Di Đà. Có nhục kế, có Phật nhãn, có Phật nhĩ, tướng mạo của bạn vô cùng viên mãn, bạn cũng mặc y phục bách bảo, bạn cũng ngồi trên tòa hoa sen, vô cùng trang nghiêm. Đương nhiên cách nghĩ tưởng này, quán nhập ngã ngã nhập cũng là bắt đầu từ nghĩ tưởng thô nhất cho đến khi tinh tế nhất, cho đến nghĩ tưởng vi tế nhất. 

Mọi người cũng biết là thân phàm phu chúng ta trong Mật giáo gọi thân thô, thân thể rất thô. Bạn tu hành đến cuối cùng sẽ biến thành thân vi tế nhất. Tâm vốn dĩ là rất thô, đến cuối cùng biến thành tâm vi tế nhất. Ý niệm của bạn cũng là ý niệm thô, đến cuối cùng sẽ biến thành ý niệm vi tế nhất. Khi bạn tu hành đến tinh tế nhất, chuyên nhất nhất, bạn sẽ sản sinh niệm lực.

Mật giáo dạy bạn tu quán tưởng chính là như vậy đó. Phật vốn dĩ ban đầu là ở nơi rất xa, rồi sau đó tiếp cận bạn, sau đó là rất gần, cuối cùng, Ngài và bạn hoàn toàn gần gũi với nhau, đến trụ ở đỉnh đầu. Cuối cùng, ý niệm cuối cùng là bạn và Ngài hoàn toàn hợp nhất. Đây chính là Du già mà. Hai chữ Du già là gì ư? Du già? Yoga? Ý nghĩa của Du già chính là muốn nói đến tương ứng. Bạn và Ngài hợp nhất rồi, tương ứng rồi. 

Bản thân Mật giáo còn gọi là Du già, Du già có nghĩa là tương ứng. Thật ra, kiểu trạng thái Phật đi vào trong bạn, bạn đi vào trong Phật, giữa hai bên không có sự phân biệt thì gọi là Du già. Đây chính là quán nhập ngã ngã nhập, là hoàn toàn hợp nhất.

Vậy thì học Mật giáo tức là muốn bắt đầu học từ phàm phu cho đến khi hợp nhất với Phật, đây chính là Mật giáo. Ở trong trạng thái bạn có thể mãi mãi hợp nhất với Phật thì toàn bộ công đức của bạn hoàn toàn giống hệt với Phật, không có gì khác biệt cả. Vì vậy là “nhất như” chứ không phải “nhị như”. Mọi người cần hiểu rõ quan niệm này. Cho nên bạn thường xuyên quán tưởng vi tế như vậy, bạn sẽ sản sinh niệm lực. 

Kiểu quán tưởng này có rất nhiều trong Mật giáo, vả lại cũng rất quan trọng. Bạn chỉ cần biết đến quán chữ Ah, quán nguyệt luân, quán nhập ngã ngã nhập, ngoài ra còn quán ngũ tướng thành thân. Và còn quán từ chú tự cũng như vậy. Cái này trong Kim cương giới chính là quán ngũ tướng thành thân, trong Thai tạng giới chính là quán ngũ tự thành thân, quán năm chú tự hình thành thân thể. Những quán tưởng này đều vô cùng quan trọng. Vả lại phải thực hành thiền một cách kĩ lưỡng, là bạn có thể từ từ huấn luyện được. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

18/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 024. Tiền hành, chính hành và hậu hành

Hôm nay, tôi sẽ giải thích với mọi người về tu pháp trong Chân Phật Mật Pháp. Trước đây tôi thường xuyên nhắc đến “tu một đàn pháp” với mọi người. Trong Mật giáo thường xuyên nói đến tu pháp tu pháp. Vậy tu pháp rốt cuộc là như thế nào? Hôm nay tôi sẽ giảng giải với mọi người đôi chút thế nào là tu pháp.

Về mặt nguyên tắc mà nói, khi một hành giả đi vào trong mật đàn, từ đầu đến cuối bạn phải rất yên tĩnh dựa theo toàn bộ nghi quỹ để tiến hành, từ đầu đến cuối cứ như vậy cho đến lúc kết thúc thì được tính là tu một đàn pháp. Nội dung của pháp trong Mật giáo, trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, chia thành tu ngoại pháp và tu nội pháp. Ngoại pháp và nội pháp là hoàn toàn không giống nhau. Mật pháp cũng có rất nhiều, rất nhiều loại Mật pháp, nhưng tổng quy lại thì có ngoại pháp và nội pháp, và còn có rất nhiều thứ tự của tu pháp.

Về ngoại pháp mà nói, tôi đã từng liên tiếp mấy ngày giảng về nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh của Mật giáo rất chi tiết. Cũng đã xuất bản cuốn sách đó, và còn có cả video, vậy thì cũng đồng nghĩa là đã hoàn toàn giảng qua rồi. Ở đây tôi giải thích thêm với mọi người một cách đơn giản. Bởi vì, trong một pháp tu hoàn chỉnh, có pháp Tiền hành, rồi đến Chính hành, sau cùng còn có Hậu hành. Tiền hành là làm ở phần đầu, Chính hành chính là sự tinh mật của tu pháp, cùng với Hậu hành, ba cái hợp lại với nhau chính là nghi quỹ hoàn chỉnh của tu pháp.

Trong Tiền hành bao gồm đại lễ bái. Thông thường, chúng ta nhìn thấy hành giả Tạng mật thực hành đại lễ bái là kiểu lễ bái toàn thân nằm sụp xuống, đó là một kiểu đại lễ bái. Ngoài ra, còn có làm đại cúng dường, chính là cúng dường Mandala. Rồi thực hành pháp tứ quy y, tức là phải niệm chú tứ quy y. Ngoài ra, phải mặc bia giáp hộ thân, mỗi một đàn pháp đều có mặc giáp hộ thân, cái này chính là bảo vệ cho bạn trong quá trình tu pháp không bị hữu hình và vô hình quấy nhiễu.

Thông thường mà nói, Tiền hành là bạn cần phải triệu thỉnh, niệm chú thanh tịnh, sau đó làm đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, thậm chí tứ vô lượng tâm, mặc giáp hộ thân, còn phải tụng kinh. Đây đều là nằm trong phạm vi Tiền hành, đều là làm như vậy.

Vậy bên trong Chính hành, thế nào gọi là Chính hành? Có thể nói ý nghĩa của tu pháp nằm trong Chính hành, trọng điểm của nó nằm ở Chính hành. Khi làm Chính hành tức là phải thực hiện quán tưởng. Quán tưởng thì dùng ba nguyên liệu để tiến hành, khi quán tưởng phải kết thủ ấn, quán tưởng xong thì phải trì chú, trì chú xong rồi thì phải nhập tam ma địa. Đây chính là phạm vi của Chính hành trong tu Mật pháp. 

Quán tưởng thì tôi đã giảng rồi, khi quán tưởng phải kết ấn, sau đó để ý thanh tịnh, kết ấn làm thân thanh tịnh, trì chú là để khẩu thanh tịnh, cuối cùng là đi vào tam ma địa. Tam ma địa là gì ư? Chính là nhập tam muội, đi vào chính định. Bạn muốn đi vào trong thiền định, đi vào bên trong ý thức vi tế nhất, sâu nhất. Sau đó thủ nhất, giữ lấy định cảnh, ở trong trạng thái chuyên nhất bất loạn, chính là nhập tam ma địa. Thời gian để học tập cái này thì rất dài. Đây chính là phạm vi của Chính hành.

Cuối cùng bạn xuất định rồi thì phải làm Hậu hành. Vậy phạm vi của Hậu hành là gì? Hậu hành chính là hồi hướng và tán kệ. Tán chính là đọc lời tán thán hoặc đọc kệ, đều là một cách cảm tạ. Hồi hướng chính là đem lời phát nguyện hoặc nguyện vọng của bạn, hoặc là lời cầu nguyện của bản thân bạn, để tương lai bạn đạt đến cảnh giới nào đó, đều là nằm trong phạm vi hồi hướng.

Đây có thể nói là một quá trình của tu pháp. Có Tiền hành, Chính hành, và Hậu hành. Bạn thực hiện như vậy chính là toàn bộ nghi quỹ tu pháp Mật giáo, tất cả đều ở trong đó hết. Nhưng đây thuộc về phạm vi tu ngoại pháp. Nghi quỹ này phần lớn là thông qua sự điều chỉnh của tôi, Lư Sư Tôn đã điều chỉnh nó, rồi tiến hành giảng giải một cách rất chi tiết. 

Vậy thì về phương diện tu một đàn pháp có yếu quyết, hoặc khẩu quyết bí mật hay không? Có đó, bên trong có rất nhiều khẩu quyết bí mật, những khẩu quyết bí mật đó tôi đều đã giảng qua, trong cuốn sách “Chi tiết về nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh của Mật giáo” <span className="note-blue">[cuốn “Mật giáo đại quang hoa”]</span>, tôi đã giảng giải hết toàn bộ vô cùng rõ ràng rồi. Có thể nói những khẩu quyết đó cũng chính là khẩu quyết trong quá trình tu pháp của cá nhân tôi, tôi cảm thấy đó là tâm yếu của bản thân tôi. Tôi đem tất cả tâm yếu hoàn chỉnh trong cuốn sách đó và video, đều đã giảng giải rất rõ ràng. Nếu mọi người muốn tu một đàn pháp hoàn chỉnh thì nhất định phải quy y, nhất định phải nhận quán đảnh.

Vậy thì người được gọi là pháp sư chính là người sư phụ thực sự có pháp thì gọi là pháp sư. Chân Phật Tông chúng ta thực sự có trình tự tu pháp. Bạn muốn hiểu được sự truyền thụ của những khẩu quyết này thì cần phải có Thượng sư khẩu truyền, chính là nói bằng miệng, truyền thụ cho bạn, Thượng sư hoàn toàn không giữ lại những khẩu quyết tâm yếu của tu pháp mà truyền dạy để bạn có thể tiếp nhận. Vậy thì trong lúc bạn tu pháp, vì có khẩu quyết của người đi trước, bạn sẽ rất dễ dàng lĩnh hội, bạn sẽ nhanh chóng tu được tương ứng với Phật Bồ tát. Đây chính là sự quan trọng của khẩu quyết tâm yếu, điểm chính yếu nằm ở đây. 

Lần này chúng ta nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

19/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 025. Thứ tự tu tập Chân Phật Mật Pháp

Liên quan đến sách và video “Chi tiết nghi quỹ hoàn chỉnh của Mật giáo”, Seattle Lôi Tạng Tự vốn dĩ là có *share <span className="note-blue">[chia sẻ]</span>*, có chia sẻ rồi. Cái này là rất quan trọng, hy vọng mọi người có thể lĩnh hội được tâm yếu và khẩu quyết của tu pháp trong video và sách. Đây đều là tâm yếu, khẩu quyết mà những người đi trước và tôi trong quá trình tu pháp lĩnh hội được một cách rất chi tiết. Nếu bạn có thể biết những khẩu quyết tâm yếu đó, bạn sẽ nhanh chóng tiến đến trạng thái đó. Bằng không, chỉ tự mày mò quá trình tu pháp thực sự thì bạn sẽ phải mất thời gian rất nhiều năm.

Còn bây giờ chúng ta sẽ nói về thứ tự tu pháp trong Chân Phật Mật Pháp. Tu một đàn pháp mà chúng ta vừa nói lúc nãy là thuộc về ngoại pháp. Ngoại pháp cũng chia ra làm rất nhiều thứ tự. Nội pháp cũng chia ra làm nhiều thứ tự, và bên trong còn có những điều sâu hơn.

Trong thứ tự thực tế, có pháp Tứ gia hành. Có pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn, có pháp Bảo bình khí, có pháp Chuyết hỏa, có pháp Minh điểm, và pháp Vô lậu, ngoài ra còn có pháp Kim cang quyền. Cao hơn nữa có pháp Kim cang, có Vô thượng mật, cuối cùng là pháp Đại viên mãn. Đây là một thứ tự của tu pháp bắt đầu từ cơ bản cho đến viên mãn, đây là thứ tự tu tập Chân Phật Mật pháp.

Vậy trong phạm vi ngoại pháp, cái gì là pháp Tứ gia hành? Pháp Tứ gia hành có thể nói là cơ bản sau khi bạn bước vào Mật giáo. Cũng tức là làm đại lễ bái, làm đại cúng dường, niệm chú tứ quy y, tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, bốn pháp này gọi là pháp Tứ gia hành. Có thể nói là cơ bản của Mật giáo. Ví dụ bạn làm đại lễ bái, bạn phải làm 100.000 lần đại lễ bái, mỗi ngày đều làm như vậy, 10.000 lần, 20.000 lần, cứ như vậy cộng lại với nhau, đến khi đạt 100.000 lần đại lễ bái. Làm đại lễ bái cũng có thể rèn luyện thân thể của mình.

Làm đại cúng dường biểu thị sự lòng tôn kính của bạn đối với Phật Bồ tát, tôn kính Kim cang Hộ pháp, làm đại cúng dường phải làm bao nhiêu đàn? 100.000 đàn đại cúng dường.

Cũng như vậy, niệm chú tứ quy y là để kiên cố tín tâm của bạn đối với Thượng sư, Phật, pháp, tăng.  
“Nam mô gu-ru pây.  
Nam mô bút-đa yê.  
Nam mô đa-ma yê.  
Nam mô sang-ga yê.”

Ý nghĩa của việc niệm chú Tứ quy y này là muốn nói bản thân bạn và Thượng sư, Phật, pháp, tăng là hợp nhất với nhau. Bạn thường xuyên làm một loại quy y, niệm chú tứ quy y, đây cũng là một phương pháp giúp tín tâm vững chắc.

Niệm pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát là làm sám hối, ý nghĩa của nó rất sâu xa. Những cái này là pháp Tứ gia hành, pháp Tứ gia hành là cơ sở của Mật giáo.

Tiếp theo bạn tu pháp Thượng sư tương ứng, chính là bạn và Thượng sư hợp nhất, là Thượng sư Du già (Guru yoga), phương pháp hợp nhất với Căn bản Thượng sư của bạn. Tiếp theo là tu pháp Bổn tôn, phương pháp hợp nhất với Bổn tôn của mình.

Những cái vừa nói trên đều là ngoại pháp. Vì vậy chúng ta nói về nghi quỹ tu hành Mật giáo chính là đang nói đến tu Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn.

Nếu đi sâu hơn nữa thì thuộc về phạm vi nội pháp. Tu Bảo bình khí chính là nằm trong phạm vi nội pháp. Tu Chuyết hỏa ở bên trong cơ thể của bạn, đánh thức nguyên tố sinh mệnh ở bên trong cơ thể, chính là chuyết hỏa. Từ pháp Chuyết hỏa bạn có thể tu ra kim cang vô lậu, tu ra minh điểm của chính bản thân bạn. Vì vậy pháp Minh điểm, pháp Chuyết hỏa, và pháp Vô lậu, ba pháp này là hợp nhất.

Ở bên ngoài thì bạn phải tu Kim cang quyền. Kim cang quyền thuộc về phương pháp thân thể bạn phối hợp với chuyết hỏa bên trong cơ thể bạn. Nội là Chuyết hỏa, ngoại là Kim cang quyền, cái này có thể nói là phương pháp hợp tu dùng sự chỉ dẫn của thân thể, cộng với nguyên tố sinh mệnh bên trong bạn. Đây chính là nội pháp.

Tiếp theo là tu pháp Kim cang, có pháp của năm Đại Kim Cang, có pháp của tám Đại Minh Vương. Vào sâu hơn tu Vô thượng mật, Vô thượng mật là một phương pháp có thể song vận tu Không và Lạc, đây thuộc về Vô thượng mật bộ. Vô thượng mật bộ tiếp tục kéo dài thì chính là pháp Đại viên mãn. Pháp Đại viên mãn có thể nói là bạn đã tu đến quả vị của Phật, Như Lai.

Vì vậy trình tự tu pháp là: Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn, Bảo bình khí, Chuyết hỏa, Vô lậu, Minh điểm, Kim cang quyền, Kim cang pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn.  
Đây là một trình tự tu pháp hoàn chỉnh trong Chân Phật Mật Pháp, là như vậy, xếp hàng thành một trình tự tu pháp từ cơ bản cho đến Đại viên mãn.

Vậy bạn có thể biết rõ nghi quỹ tu pháp, lại biết trình tự tu pháp, lại hiểu được quán đảnh, hiểu về sơ quán, nhị quán, tam quán, tứ quán. Sơ quán chính là ngoại pháp. Nhị quán chính là nội pháp. Tam quán chính là Vô thượng mật. Tứ quán chính là Đại viên mãn. Trình tự của Mật giáo, bạn hầu như đều hiểu rõ toàn bộ.

Vậy bạn muốn thâm nhập vào bên trong thì bạn phải thực sự tu một cách thực tế, đây chính là một thứ tự tu hành rất hoàn chỉnh của Mật giáo.

Ngày nay trên thế giới này, có thể nói người có thể giảng dạy Mật giáo vô cùng chi tiết thì đều là Kim cương Thượng sư chân chính. Hôm nay, Lư Sư Tôn đối với việc tu pháp mà nói, nghi quỹ hoàn chỉnh của Mật giáo và thứ tự tu pháp tôi đều đã hoàn toàn trải qua hết rồi. Vì vậy tôi hiểu rõ thứ tự tu pháp này. Tôi hiểu rõ từ cơ bản cho đến Đại viên mãn. Vì vậy có thể nói tôi là pháp sư thực sự có pháp, là Thượng sư thực sự có thể đạt được chính đẳng chính giác, là Đại trì minh Kim cương Thượng sư đích thực. Người có thể biết pháp, tu pháp, nhờ thực tu mà khai ngộ, trên thực tế cũng là hiếm có và đáng quý.

Hôm nay chỉ nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

19/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 026. Cửu tiết Phật phong (1)

Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người về Cửu tiết Phật phong.

Thông thường mà nói, trước khi chúng ta nhập tam ma địa đều phải làm Cửu tiết Phật phong. Cửu tiết Phật phong thật ra chính là một công phu thổ-nạp. Thổ chính là thổ khí. Nạp chính là nạp khí. Tức là khí được hít vào (nạp) và khí được thở ra (thổ).

Trước khi tu Bảo bình khí, bạn phải thực hiện tốt phần cơ bản Cửu tiết Phật phong này. Cửu tiết Phật phong chính là phương pháp thổ nạp trong Mật giáo.

Trước đây sư phụ tôi từng nói không nên xem thường Cửu tiết Phật phong này. Bởi vì ý niệm của con người chúng ta có liên quan rất lớn đến sự hít thở của chúng ta, có mối liên quan rất lớn bên trong. Chúng ta thường nói một câu “tâm bình khí hòa”. Tâm của bạn có thể bình cho thấy khí của bạn rất thuận, rất dài, rất nhỏ thì tâm của bạn mới có thể bình được. Vì vậy điều khí cũng đồng nghĩa là điều tâm.

Trong “Áo Nghĩa Thư” của Ấn Độ có nói rất rõ ràng, bạn muốn điều tâm của mình thì phải điều khí của mình trước. Khí của bạn không bình thì tâm của bạn sẽ không cách nào bình được. Vì vậy tâm và khí của bạn có thể nói là rất gần gũi. Khi bạn điều khí của cơ thể mình đến độ vi tế nhất thì tâm của bạn cũng có thể bình nhất, yên tĩnh nhất, là lúc có thể định được nhất. Muốn nhập tam ma địa, bạn nhất định phải điều khí. Bạn điều khí không tốt thì không có cách nào nhập tam ma địa được. Vì vậy bạn điều khí được tốt thì sẽ có thể nhập vào trong định cảnh rất nhanh chóng.

Cửu tiết Phật phong của Mật giáo chính là nói đến điều khí. Mà điều khí cũng chính là điều tâm của bạn, có liên quan đến nhau. Cửu tiết Phật phong rất quan trọng. Nó chia làm chín tiết, cửu tiết, vậy làm ba lần thì 3 nhân 9 là 27. Bạn phải làm 27 lần trong trạng thái này thì bạn mới có thể định được bên trong cảnh giới này.

Đặc biệt là khí của bạn, bạn ở đó nghĩ tưởng về khí của mình đang vận động, thì lúc này bạn không có vọng niệm nữa, có thể nói là bạn đang tiêu trừ vọng niệm của mình. Trong lúc điều khí, bạn cũng tiêu trừ được vọng niệm của mình. Trong khi làm tiết này đến tiết khác, trong lúc đổi khí, đột nhiên bạn sẽ đoạn tuyệt được ý niệm của mình, đoạn tuyệt được tâm niệm của mình. Trong một sát-na đoạn tuyệt đó, bạn có thể nhập định, đây là một bí quyết.

Trước đây sư phụ tôi nói với tôi: “Con phải làm Cửu tiết Phật phong, điều khí là vô cùng quan trọng.”

Chúng ta trong lúc luyện tập Cửu tiết Phật phong, bạn luyện đến cuối cùng có thể khiến ý niệm của bạn và sự hô hấp của bạn tách rời ra. Con người trên thế giới này, phần lớn mà nói thì sự hô hấp của cơ thể bạn và ý niệm của bạn là có liên quan đến nhau. Vậy bạn điều khí đến cuối cùng, điều khí tốt rồi thì ý niệm và sự hô hấp của bạn có thể tách rời nhau. Có nghĩa là ý của bạn không bị can thiệp bởi hô hấp của bạn, điểm này vô cùng quan trọng. Bởi vì bạn muốn nhập định, con người luôn luôn có sự hít thở. Bạn điều khí đến hơi thở vi tế nhất thì vẫn có ý niệm vi tế nhất ở bên trong.

Ý niệm bên trong Cửu tiết Phật phong là trước tiên dùng ý để điều hơi thở của bạn. Vậy tương lai ý niệm của bạn cũng phải siêu việt khí này của bạn. Dùng ý, ý niệm của bạn phải vượt qua khí này. Điểm này vô cùng quan trọng. Hôm nay tôi giảng với mọi người về Cửu tiết Phật phong cũng là một khẩu quyết rất quan trọng, tuyệt đối không được bỏ sót.

Vậy trong chín tiết, sẽ nói về ba tiết trước, sau đó lặp lại cũng như vậy, tổng cộng có ba lần, đảo ngược lẫn nhau, chính là để luyện tập ý niệm của bản thân bạn, luyện tập sức tập trung của bạn. Sức tập trung này phối hợp với ý niệm của bạn, cùng sự hít thở của bạn, tuần hoàn vòng lặp, tổng cộng có 27 lần. Khi bạn làm tốt 27 lần rồi, khi bạn nhập định sẽ cảm thấy toàn bộ khí của mình bị chặt đứt, rất trống rỗng. Sau đó sẽ có dòng chảy pháp của vũ trụ đi vào trong cơ thể của bạn, lúc này cơ thể của bạn sẽ ngưng kết lại, sẽ cảm thấy có một loại sức mạnh đi vào trong cơ thể của bạn. 

Nếu như bạn làm tốt, bạn sẽ nhanh chóng chứng ngộ được một loại cảm giác gọi là ngưng kết. Thế nào gọi là ngưng kết? Có thể nói là bất động, thân thể cảm thấy bất động. Thứ hai là cảm thấy toàn bộ khí tràn đầy toàn thân bạn, một loại cảm giác rất sung túc. Tiếp theo sẽ sinh ra một loại cảm giác của ngưng kết kim cang.

Vì vậy bạn chỉ cần luyện Cửu tiết Phật phong đồng nghĩa là đang luyện khí, đang điều khí. Luyện khí công cũng là bắt đầu luyện từ Cửu tiết Phật phong. Ngày nay rất nhiều người thịnh hành luyện khí công. Bạn luyện Cửu tiết Phật phong, luyện lâu ngày, khí của bạn sẽ sung túc, bạn sẽ sản sinh ra sức mạnh của khí công đủ để có thể phát công. Vì vậy cái này là cái đơn giản nhất trong Mật giáo, cũng là một phương pháp bí mật rất quan trọng.

Tuyệt đối không được bỏ qua Cửu tiết Phật phong, không được lơ là. Còn về động tác của Cửu tiết Phật phong, tôi chỉ có thể nói vào lần sau, hôm nay chỉ nói đến đây thôi.

Om mani padme hum!

22/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 027. Cửu tiết Phật phong (2)

Bây giờ tôi sẽ làm mẫu động tác của Cửu tiết Phật phong. Mọi người kết thủ ấn như vậy trước, để một ngón út ra bên ngoài. Tay có thể đặt lên trên đùi. Làm động tác thứ nhất trước, ngón tay út ấn vào lỗ mũi bên phải, sau đó hít một hơi bằng lỗ mũi bên trái, đi theo kinh mạch bên trái xuống đến đan điền thì quay đầu, đi thẳng đến lỗ mũi bên phải. Rồi ấn vào lỗ mũi bên trái, lỗ mũi bên phải thổ khí (thở ra). Đây là một tiết.

Tiếp theo hít một hơi từ lỗ mũi bên phải, hít vào, quay lên, đến đan điền thì quay lên một vòng, tiếp theo, thổ khí từ lỗ mũi bên trái. Đây là tiết thứ hai.

Tiết thứ ba là hai lỗ mũi hít khí vào bên trong, đi qua đan điền, đi lên đỉnh đầu, sau đó mới đi xuống, rồi từ kinh mạch trái và kinh mạch phải thổ khí ra. Đây là tiết thứ ba.

Vậy thì mọi người thử nghĩ xem, lúc nãy là từ lỗ mũi bên trái hít khí vào trước, sau đây cũng giống vậy, hít khí vào từ lỗ mũi bên phải trước, đi vào, xoay một vòng rồi mới thổ khí ra ngoài. Làm liên tục động tác này, có thể nói là chín tiết. Chín tiết xong rồi, còn phải lặp lại lần thứ hai, lặp lại lần thứ ba.

Tôi làm lại động tác một lần nữa. Như vậy chính là ba tiết rồi. Nhưng trong khi bạn đang hít thở có một điểm quan trọng. Khí được hít vào, bạn phải quán tưởng là màu trắng. Khí thở ra, bạn phải quán tưởng là màu đen. Khí ở bên trong là màu đỏ. Ở đây lại có ba chi tiết, tức là ý niệm của bạn phải quán tưởng khí hít vào là ánh sáng trắng, ánh sáng trắng của toàn bộ vũ trụ đều bị bạn hít hết vào trong lỗ mũi, cho đến tận đan điền. Sau đó khí thở ra thì là màu đen. Khí ở bên trong thì là màu đỏ. Về mặt ý niệm là bạn phải quán tưởng như vậy.

Còn một điều quan trọng hơn, 9 tiết đầu tiên, hít vào nhẹ nhàng, thở ra nhẹ nhàng. 9 tiết tiếp theo, tức là từ tiết thứ 10 đến tiết thứ 18, bạn phải hít thật sâu, thở ra thật sâu. Từ sau tiết thứ 18 đến tiết thứ 27, ở khoảng thời gian này, còn cần phải hít khí vào đầy trong cơ thể, còn phải vặn vẹo người, vặn nhẹ người một cái, để khí chứa đầy trong toàn thân. Hít thở đoạn này tương đối nặng một chút, tức là hít thở từ nhẹ, sau đó là ở mức trung bình, cuối cùng là nặng.

Sau khi bạn hoàn thành Cửu tiết Phật phong rồi, bạn ngồi yên tĩnh một lúc. Cái này chính là một cách đổi khí, có nghĩa là bạn đã dừng làm Cửu tiết Phật phong, đổi khí trong khoảng thời gian đó. Đột nhiên có toàn bộ khí trong hư không đổ vào toàn thân của bạn. Đột nhiên bạn cảm thấy thân thể mình kiên cố như là kim cương. Khí tràn đầy rồi, sau đó bạn cảm thấy mình bất động, giống như một ngọn núi, không động lay, ngưng kết lại, ngập tràn khí rồi, chính là loại cảm giác này. Bạn sẽ có được cảm nhận này, sẽ ngay lập tức có được cảm giác này, là cảm giác mà cả đời này bạn chưa từng có.

Tôi nói như vậy là hy vọng bạn vận dụng ý niệm của mình, sự hô hấp đó đang chạy, bạn cũng phải đi theo ý niệm đó, dùng ý niệm đến đan điền. Khí được hít vào không chỉ đơn giản là đi đến phổi thôi. Sau khi hít vào nó sẽ từ kinh mạch của bạn đi qua đan điền, xoay một vòng. Vào từ kinh mạch phải thì ra từ kinh mạch trái. Vào từ kinh mạch trái thì ra từ kinh mạch phải. Vào từ hai kinh mạch, lên đỉnh đầu, sau đó đi ra từ hai kinh mạch trái phải, đây là ba tiết.

Thế rồi làm ngược lại. Lúc nãy khí đi vào từ kinh mạch phải, bây giờ đi vào từ kinh mạch trái. Cuối cùng tiết thứ ba cũng làm ngược, trước tiên vào từ hai kinh mạch trái phải, làm như vậy, 3 nhân 3 là 9, 3 nhân 9 là 27. Tổng cộng phải làm 27 lần. Sau khi bạn làm xong 27 lần này, đột nhiên khi bạn đổi thành hít thở bình thường, hít thở rất nhẹ nhàng, trong hư không sẽ có rất nhiều ánh sáng và khí đi vào bên trong cơ thể của bạn. Bạn sẽ có được ba loại cảm nhận: bất động, ngưng kết, kim cương. Ba loại cảm nhận này sẽ được sinh ra. Đây là khẩu quyết rất bí mật. 

Bạn luyện tập pháp thổ nạp này, luyện lâu ngày là bạn sẽ có khí công. Khí công của bạn sẽ được sinh ra. Khí trong cơ thể bạn rất sung mãn, bạn có thể phát khí, hơn nữa khí này của bạn sẽ ngập tràn. Trong việc hành thiền ngày thường của bạn, hành giả Mật giáo muốn nhập tam ma địa, bạn phải làm tốt Cửu tiết Phật phong. Luyện tập Cửu tiết Phật phong vô cùng trôi chảy, khí của bạn sẽ sung mãn, sau này mới từ Cửu tiết Phật phong đi vào Bảo bình khí.

Sau này tôi sẽ giới thiệu với mọi người về Bảo bình khí, nhưng mọi người cần phải luyện tập tốt Cửu tiết Phật phong. Bất cứ một loại khí công nào, giả sử bạn biết Cửu tiết Phật phong thì tức là đang luyện khí công. Vả lại Cửu tiết Phật phong vốn dĩ là huấn luyện ý niệm của bạn và đoạn diệt vọng niệm của bạn, tiếp theo là luyện tập hơi thở của bạn, điều khí của bạn, điều hòa hơi thở của bạn. Mục đích thực sự cuối cùng là điều tâm của bạn. Tâm của bạn được điều đến vô cùng tĩnh lặng, tâm không trồi lên, tâm niệm không bay lung tung, hoàn toàn tập trung vào một điểm, nhập vào bên trong tam ma địa.

Đây là một phương pháp rất tốt. Trong Mật giáo mà nói, dùng phương pháp này để nhập tam ma địa, chính là một phương pháp tốt nhất để điều khí, điều tâm, nhập định.

Hôm nay tôi đã đem khẩu quyết rất quan trọng nói ra luôn rồi, đặc biệt là dùng ý niệm của mình để ánh sáng trắng đi vào, ánh sáng đen đi ra, chính là đang tiêu trừ nghiệp chướng của bạn. Ánh sáng tốt đi vào, nghiệp đen đi ra.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

22/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 028. Cửu tiết Phật phong (3)

Hôm nay tôi sẽ giảng với mọi người về Cửu tiết Phật phong và pháp Bảo bình khí. Hai pháp này trong Mật giáo có thể nói là “Yoga gió”, chính là tu gió. Điểm quan trọng của pháp về khí nằm ở chỗ khí, mạch của chính cơ thể hành giả đều có thể thông suốt, điểm này rất quan trọng. Chỉ cần là người luyện khí công thì đều biết, nếu khí mạch của toàn bộ cơ thể bạn đều có thể thông suốt, thì khí của bạn sẽ rất đầy đủ.

Tu pháp này cũng cần có lòng kiên trì. Giống như Cửu tiết Phật phong, tổng cộng có 27 tiết, hàng ngày bạn đều phải tập luyện. Giống như pháp Bảo bình khí, hàng ngày bạn đều phải luyện, không có lòng kiên trì thì không làm được. Vì vậy lòng kiên trì có thể được xem là yếu tố đầu tiên trong tu hành.

Giống như bản thân Lư Sư Tôn cũng vậy, tôi từ năm 25 tuổi bắt đầu thông linh, đến hôm nay vừa hay đảo ngược lại, 52 tuổi. 25 và 52, khoảng cách trong đó là 27 năm dài. Công phu tu hành của tôi không gián đoạn một ngày nào, không có ngày nào là dừng lại. Nếu bạn muốn thành tựu thì nhất định phải như vậy. Chứ không phải là, à hôm nay luyện một chút, tôi vui tôi luyện một chút, rồi dừng lại, sau đó cách một tháng sau mới luyện một lần, để xem công phu có tốt hơn chút nào không. Tôi nghĩ là công phu kém đi một chút chứ không phải tốt hơn một chút. 

Việc tu hành nhất định cần phải lâu dài. Vì vậy trên người bạn sản sinh ra công lực cao thâm thì chắc chắc là bạn đã bỏ ra một công phu khổ cực. Nếu bạn có thể luyện tốt Cửu tiết Phật phong và pháp Bảo bình khí, chắc chắn bạn sẽ thông khí. Thông khí rất quan trọng, khí là phải thông. Khí ở trong cơ thể bạn, khí đi đến đâu là bạn đều phải biết. Bạn hít một hơi, sau đó dồn nó xuống, đi xuống, vận chuyển đến chân, sau đó thì quay đầu, đến chân trái, rồi đến tay trái, rồi đến tay phải, rồi quay lên đỉnh đầu. Thậm chí khí cũng có thể xông lên đỉnh đầu. Trong Mật giáo, khí xông đỉnh thì biến thành pháp Phowa, chính là phá ngói, khai đỉnh, đó là dùng khí để xông đỉnh. Vì vậy tương lai bạn tu khí thành công rồi, khai đỉnh rồi, sau này quay về (lúc vãng sinh) là quay về từ trên đỉnh đầu, sẽ không đọa vào ba ác đạo.

Giống như chúng ta nói về Cửu tiết Phật phong, tuy bạn dùng ý niệm của bạn để dẫn khí xuống đến đan điền, quay đầu, sau đó đi ra từ lỗ mũi trái, quay đầu, đi ra từ lỗ mũi phải. Đi vào từ hai lỗ mũi, xông đỉnh, đi ra từ hai lỗ mũi. Ý niệm đơn giản này thật ra là để cắt đứt suy nghĩ của bạn, trong quá trình ý niệm vận chuyển sẽ dừng dứt suy nghĩ của bạn. 

Ngoài ra là để luyện khí của bạn, bạn phải biết là khí của bạn đi đến đâu, điều này là rất quan trọng. Giống như bạn muốn vận khí lên bàn tay, khí lập tức ở trên bàn tay, nén xuống dưới, chìm xuống dưới, đưa lên trên, nâng lên đến đỉnh đầu, khí đều đang vận chuyển. Tay trái tay phải, chân trước chân sau, toàn thân đều đầy khí hết rồi, thân thể sẽ rất cường tráng. Bất kể là gì, bạn tu Cửu tiết Phật phong, tu pháp Bảo bình khí, bạn sẽ có cảm giác khí ngập tràn, có thể vận khí ra ngoài.

Vì vậy trong khí công có nói đến “cách sơn đả ngưu”, cách một ngọn núi vẫn đánh chết một con trâu. Đương nhiên câu này thì có hơi nói quá một chút, nhưng mà cũng có thể là “phách không chưởng” <span className="note-blue">[chưởng pháp đánh cách không từ xa trong Anh Hùng Xạ Điêu]</span>, không phải là không có khả năng đó. Bạn vận khí mà vận thành công, khí và thần của bạn tập hợp với nhau là có thể bay được. Thần và khí tập hợp với nhau, thần là nguyên tố sinh mệnh của bản thân bạn, có thể cưỡi trên luồng khí đó đi bất cứ đâu, là biến thành Thần túc thông, có thể bay lượn.

Vì vậy pháp tu khí này ở trong Mật giáo chúng ta là vô cùng quan trọng. Vì vậy không nên nghĩ là tôi giảng mấy chi tiết về Cửu tiết Phật phong, mọi người liền nghĩ: lỗ mũi trái vào, lỗ mũi phải ra, lỗ mũi phải vào, lỗ mũi trái ra, hai lỗ mũi vào, hai lỗ mũi ra, rồi đảo ngược lại, vận dụng 27 tiết như vậy, 3 lần 3 là 9, 3 lần 9 là 27, rồi quán tưởng ánh sáng trắng vào, ánh sáng đen ra, vận chuyển ở bên trong là ánh sáng màu đỏ… Thế là bạn cho rằng, ồ đơn giản quá.

Trên thực tế bạn tu đến cuối cùng, kinh mạch bên trái, kinh mạch bên phải, trung mạch của bạn đều biến thành trong suốt. Bạn nhìn vào là có thể nhìn thấy khí của mình đang đi, đây đều là công phu. Khí ở trên đỉnh, ở trên thượng đan điền, sau đó dùng ý niệm đè nén nó xuống, đi qua luân xa cổ họng, đi qua luân xa tim, đến luân xa rốn, đi qua trung đan điền đến hạ đan điền, bạn đều có thể vận chuyển vô cùng trôi chảy toàn bộ. Hơn nữa khí đi đến đâu là chỗ đó của bạn ngập tràn khí, bản thân bạn cũng có cảm nhận, cũng có cảm giác. Cái này không phải là rất đơn giản, không phải là bạn nói “Ôi chẳng có cảm giác gì cả!”, không phải như vậy đâu.

Vì vậy mọi người cần phải có tâm bền bỉ, nếu có lòng kiên trì để tu hành, khí của cơ thể bạn được sung túc, bạn tu luồng khí này, tương lai dùng để làm đề minh điểm, giáng minh điểm, đề minh điểm, trì minh điểm, tán minh điểm. Tất cả đều nằm ở công phu giáng-đề-trì-tán. Khí là công phu đầu tiên. 

Khởi động chuyết hỏa đi lên cũng cần có Yoga gió. Không có Yoga gió sẽ không có luồng khí nào có thể thổi được chuyết hỏa. Nếu không có chuyết hỏa, bạn cũng không thể làm tan chảy minh điểm ở Thiên đình. Ba thứ này phân ra thì thành ba, hợp lại thì là một. Khí, mạch, minh điểm hợp lại mới có thể vận chuyển được. Kinh mạch toàn thân của bạn muốn thông, bạn nhất định phải tu Yoga gió. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

23/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 029. Khẩu quyết về Bảo bình khí

Giới thiệu một chút với mọi người về Bảo bình khí. Mọi người hãy chú ý một chút về Bảo bình khí này. 

Thật ra Bảo bình khí rất đơn giản. Chỉ là thở khí ra, hít khí vào, giữ khí lại, sau đó thở khí ra. Tu pháp Bảo bình khí, trước tiên, phải thở ra uế khí bên trong cơ thể, đem khí ô uế trong cơ thể bạn thở ra ba hơi, sau đó hít vào một hơi khí thanh tịnh, hít vào trong, đưa khí này xuống đến vị trí đan điền. Sau đó nín thở, không hô hấp. 

Vậy phải nín thở khoảng bao lâu? Thể chất của mỗi người không giống nhau, nín thở đến lúc bạn không thể nín được nữa thì mới thở ra một hơi, mới thở ra ngoài, đây chính là Bảo bình khí. Có thể giữ khí đó ở bên trong cơ thể bạn càng lâu thì càng tốt. Nhớ là khí nhất định phải xuống đan điền, vị trí dưới rốn bốn lóng tay. Phải thở uế khí ra trước rồi mới hít một khí thanh tịnh vào, đóng khí lại. Sau đó quán tưởng khí và cơ thể của bạn đều là một bảo bình, hình dạng của một bảo bình, vì vậy mới gọi là Bảo bình khí.

Ở trong đây có một khẩu quyết quan trọng, luồng khí này không được thoát ra từ bên dưới, thoát ra ngoài thì sẽ biến thành “xì hơi thành gió”. Phải hơi thu người lại, thu người lại một chút, tức là nâng khí lên, khí dưới nâng lên trên, khí trên hạ xuống dưới, tập trung ở vị trí đan điền, đây chính là Bảo bình khí, rất đơn giản.

Ở đây có ba khẩu quyết: nhập-trụ-dung. Nhập là khí đi vào, trụ ở bên trong cơ thể hành giả, dung giải, làm nó tan ra.  
Thật ra bạn nói thổ khí là đến cuối cùng, kém nhất mới phải thổ khí. Bảo bình khí thực sự là đem luồng khí này đẩy vào bên trong trung mạch. Đem khí ở vị trí đan điền, sau đó lợi dụng sự lắc lư của cơ thể để nó đi vào trung mạch, thông trung mạch.

Khi muốn tán khí thì đem luồng khí này tiêu tán ra các lỗ chân lông ở khắp các bộ phận trên cơ thể. Một luồng khí cuối cùng, thực sự không thể nhịn được nữa, mới từ lỗ mũi hoặc miệng của bạn thở hắt ra ngoài, phun ra ngoài, vì lúc đó đã không thể nín thở được nữa, nên nhất định phải phun ra, hoặc thở hắt ra ngoài, là vậy đó.

Hít vào thì là nhập, ở bên trong thì là trụ, rồi mới dung, mới thổ khí, đây là mấy khẩu quyết quan trọng. Bạn tu thành công Bảo bình khí rồi, bạn tu đến khi có thể nín thở hai phút xem như thành công rồi. Lúc này bạn phải luyện tập nâng luồng khí này, dùng ý niệm của bạn để nâng luồng khí này, có rất nhiều tác dụng. Tương lai bạn có thể nâng minh điểm, có thể hạ minh điểm, có thể trì giữ, có thể tán minh điểm, đều nằm ở đây. Nếu bạn có thể vận dụng luồng khí này để tu luyện thì chính là Yoga gió thực sự.

Ngoài ra luồng khí này cũng có thể chữa bệnh. Nếu trên người bạn có luồng khí này, cơ thể bạn thường xuyên vận chuyển, khí thường xuyên chuyển động ở bên trong cơ thể bạn, tràn ngập, thì bạn sẽ không dễ dàng mắc bệnh. 

Không chỉ là bản thân bạn không dễ dàng mắc bệnh, bạn còn có thể tuần hoàn chu thiên, sẽ sản sinh ra bốn thứ: một cái là âm thanh, âm thanh mà bạn phát ra là do khí công của bạn phát ra. Cơ thể bạn sẽ sinh ra ánh sáng, có luồng khí này bạn sẽ tu thành ánh sáng, thần thái của bạn sáng bừng, nhìn bạn không giống như một người bệnh. Thần thái của bạn sáng bừng, sắc mặt của bạn rất tốt, trên người bạn có ánh sáng, có vô lượng quang, có khí quang vô hình sinh ra từ các lỗ chân của bạn. Trên người bạn có từ tính, bạn có nhân điện. 

Từ khí tu thành nhân điện, có luồng nhân điện này, bạn có thể chữa bệnh cho người khác. Trên người bạn có khí mà, luồng khí này có thể giúp đỡ người khác, có thể bổ sung khí của người khác. Khí của bạn rất đầy đủ, vậy nên loại từ lực mà cơ thể bạn sản sinh ra sẽ rất mạnh.

Ngày nay có rất nhiều y học nghiên cứu về từ, khi ngủ thì ngủ giường từ, đeo vòng tay từ, trên người mặc quần áo từ, đeo chuỗi hạt có từ tính, để điều chỉnh từ tính của cơ thể mình. Thật ra bạn luyện Cửu tiết Phật phong, luyện Bảo bình khí là từ lực trên cơ thể bạn sẽ rất mạnh, có thể giúp đỡ người khác. Những người bệnh chữa không khỏi, đến gần người bạn, đến bên cạnh bạn, nếu bạn gia trì cho người ta, bệnh của người ta, từ lực của họ sẽ tăng trưởng, trên người họ sẽ có điện. 

Bản thân bạn chính là điện, cơ thể bạn chính là nguồn điện. Âm thanh, ánh sáng, điện đều có hết, cơ thể bạn sẽ trở nên rất có năng lượng. Âm thanh đến từ khí, khí lại hóa thành ánh sáng trên cơ thể bạn, khí sắc của bạn sẽ khác biệt. Tiếp theo, nhân điện mà cơ thể bạn phát ra, bạn có thể đi giúp đỡ người khác. Cuối cùng, còn nữa, khí này còn có thể hợp nhất với thần, khí và thần, hợp nhất với nguyên tố sinh mệnh của bạn là bạn có thể tu thành tiên. Tuy là ở trong nhân gian, nhưng bạn không khác gì cảnh giới của thần tiên.

Cái mà trong Mật giáo nói đến là Yoga gió, Yoga gió có thể tu đến như vậy thì bạn có thể nhìn thấy khí trong cơ thể mình đang di chuyển, di chuyển đi đâu, di chuyển đến chỗ nào. Ở đây có bệnh, chỗ này nhức mỏi, có nghĩa là khí mạch ở chỗ này không thông. Bạn vận luồng khí đó qua, di chuyển vài vòng ở chỗ có bệnh này, tuần hoàn vài vòng là khí mạch ở đó sẽ thông, khí của toàn thân đều có thể thông.

Vì vậy sư phụ chân chính có nhiều lúc ngồi trên pháp tọa, cơ thể lắc lư một cái là ngài ấy đang luyện khí. Hít một hơi, hạ xuống, nâng lên, xoay vòng, phát công, đều làm được, rất như ý. Vậy bạn tu hành đến lúc có thành tựu rồi thì bạn đều có thể làm được.

Nhớ kĩ, nhất định phải bền lòng, bền lòng để tu Cửu tiết Phật phong và pháp Bảo bình khí. Phải nhớ khẩu quyết của Bảo bình khí: nhập, trụ, dung, thổ. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

23/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 030. Vì sao cần tu pháp? (1)

Tôi sẽ giảng với mọi người tại sao phải tu pháp. Có rất nhiều người có cùng một câu hỏi, đó là con người chúng ta sống ở trên đời tại sao phải tu hành? Tại sao phải tu pháp chứ? 

Một câu rất đơn giản thôi, tu hành và tu pháp có thể tăng cường trí huệ của bản thân, cũng có thể gia tăng phúc phần của mình. Năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni tại sao muốn xuất gia tu hành? Đương nhiên Ngài có nguyên nhân của Ngài. Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị vương tử rất tôn quý. Nói về tiền tài, Ngài là một vương tử, có cả một vương quốc. Nói về gia đình, Ngài có người vợ xinh đẹp, bản thân Ngài cũng có con nhỏ. Nói về thân thể, thân thể của Ngài cũng vô cùng khỏe mạnh, lại còn rất trẻ. Nói về sự nghiệp, cả một đất nước đều là sự nghiệp của Ngài. Tại sao Ngài muốn xuất gia, muốn bước vào con đường tu hành?

Ngài hiểu rõ được cái khổ, không và vô thường của đời người. Khổ, đời người rất khổ. Không, là vì tất cả những cái có đều biến thành không có, chính là không. Vô thường, sinh lão bệnh tử đều là vô thường. Hiện tượng của toàn bộ vũ trụ đều đang biến đổi, vì vậy địa vị vương tử đó của Ngài không chắc có thể mãi mãi giữ được, quốc gia không thể mãi mãi tồn tại, gia đình sẽ không giữ được sự viên mãn mãi mãi, thậm chí là con cái cũng sẽ thay đổi. Sinh tử đều đang biến đổi vô thường, mọi thứ đều đang thay đổi, đây là lý do vì sao năm xưa Phật Đà lại xuất gia.

Ngài cho rằng đời người đều là một loại huyễn hóa, là một giấc mơ, chi bằng Ngài đi theo đuổi chân lý của vũ trụ, có được một loại trí huệ vĩnh hằng. Vì vậy rất nhiều người xuất gia tu hành là vì đã nhìn thấu rồi, nhìn thấu cuộc đời, nhìn thấu các loại cảnh tượng, vô thường, biến hóa nhanh chóng của cuộc đời, nhìn thấu cảnh khổ của cuộc đời, vì vậy mới đi vào con đường xuất gia.

Hôm nay tôi ở đây nói như vậy, không phải là hy vọng tất cả mọi người đều đi xuất gia, không phải như vậy. “Hồng quang đại thành tựu” không nói là mỗi một người đều phải đi xuất gia mới có thể đắc được. Chỉ là xuất gia tương đối chuyên nhất hơn, còn cư sĩ tại gia vẫn có thể tu đại thành tựu cầu vồng. Bản thân Mật giáo mà nói, ví dụ Chân Phật Tông của chúng ta có tỳ kheo, tỳ kheo ni xuất gia, nhưng cũng có ưu bà tắc, ưu bà di tại gia, cư sĩ tại gia. Chân Phật Tông vẫn có đầy đủ tứ chúng. Tứ chúng tức là tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả đều có đủ.

Mọi người hiểu được tại sao phải tu hành? Chính là phải theo đuổi sự tăng trưởng của trí huệ, sự tăng trưởng của phúc phần, theo đuổi chân lý vĩnh hằng. Bạn muốn theo đuổi cuộc đời, được thôi, vậy bạn muốn theo đuổi cái gì của cuộc đời? Đời người thì mọi người biết rồi đó, đời người có rất nhiều đau khổ, rất nhiều vô thường. Bất kể là bạn theo đuổi được hay là không theo đuổi được, cuối cùng đều chuyển thành hư không, toàn bộ hóa thành hư không. Sau khi bạn nhận ra rõ ràng rồi, bạn mới nghĩ đến là mình phải đi con đường tu hành.

Tu hành có lợi ích gì ư? Cũng có rất nhiều người hỏi tôi: “Ngài tu Hồng quang đại thành tựu, rốt cuộc có lợi ích gì?” Bởi vì trí huệ của bạn sẽ được tăng trưởng, sức mạnh của trí huệ giúp bạn có được rất nhiều. Hơn nữa cái này thuộc về không biến hoại, thuộc về mãi mãi. Sau khi trí huệ tăng trưởng có thể giúp bạn giải thoát khỏi phiền não, có thể khiến bản thân bạn có được quang minh vĩnh hằng, ngoài ra còn có phúc phần lớn nhất, phúc phần lớn nhất đều dành cho bạn.

Ở trên đời này, chỉ có một thứ là không biến đổi. Các hành giả chúng ta, những người tu hành đều biết chỉ có một thứ là không biến đổi, đó chính là hư không bất biến, những cái khác đều là đang biến huyễn, đều đang biến đổi. Chúng ta có thể đạt được sức mạnh của trí huệ trong tu hành để siêu việt cuộc đời này. Trong cuộc đời có rất nhiều phiền não, không đếm hết được. Rất nhiều… rất nhiều phiền não khiến bạn buồn rầu, lo lắng, sợ hãi. Nhưng từ trong tu hành, trong tu pháp, bạn có thể đạt được một loại sức mạnh trí huệ. Loại sức mạnh trí huệ này vượt lên trên phiền não, và vượt lên trên mọi loại đau khổ.

Lúc này bạn chỉ cần vượt qua được phiền não, vượt qua mọi loại đau khổ thì bạn giống như thần tiên vậy, giống như thiên nhân ở trên thiên giới. Thiên nhân trên thiên giới được nhắc đến trong kinh Phật, những gì họ có, bạn là một người tu hành bạn cũng có thể có. Bạn không chỉ có sức mạnh trí huệ của thiên nhân trên thiên giới, bạn còn có thể siêu việt thiên nhân trên thiên giới cho đến tận Vô sắc giới, sau khi đi vào Vô sắc giới mới ra khỏi Vô sắc giới, đi đến tứ Thánh giới. Trí huệ của tứ Thánh giả là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, và cảnh giới viên mãn của tứ Thánh giả, bạn đều có thể đạt được hết.

Vậy thì, theo như Chân Phật Mật Pháp của chúng ta thì có thứ tự để tu hành. Bạn có thể có được chân lý vĩnh hằng, có thể có được sức mạnh của trí huệ, có thể giải thoát khỏi phiền não, có thể vượt lên trên đau khổ, đến cuối cùng có thể tự chủ sinh tử. Điều này so với tiên nhân ở trên trời thì còn siêu việt hơn. Vì vậy tôi cho rằng đây là điều có giá trị và ý nghĩa nhất của cuộc đời. Bản thân tôi nhận định như vậy, bản thân tôi cũng có thể cảm nhận được loại hỷ lạc đó, sự hỷ lạc đó là tồn tại vĩnh hằng. 

Hôm nay nói với mọi người đến đây thôi.

24/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 031. Vì sao cần tu pháp? (2)

Cũng có người hỏi tôi, ngài tu đại thành tựu cầu vồng, giảng về sự tăng trưởng của trí huệ, vượt lên trên phiền não, đau khổ, có được tất cả phúc phần, có phải chỉ có lý luận không? Chỉ là ở mặt lý luận, hay là ngài thực sự chứng được, ngài chứng minh được những điều này?

Hôm nay tôi thậc sự phải nói với mọi người, đây là một thực chứng. Cũng tức là về mặt thực tế, bạn có thể chứng minh được, có thể chứng đắc được.

Trong Phật giáo có Tứ thiền, bạn có thể đi chứng minh. Thứ nhất, khi bạn tu pháp đi vào Sơ thiền, bạn sẽ có được niềm hỷ lạc, hỷ lạc cũng có nghĩa là sự hoan hỷ, niềm hỷ lạc mãi mãi. Khi bạn bước vào Nhị thiền, bạn sẽ đạt được minh tịnh. Minh tịnh nghĩa là sao? Là quang minh và thanh tịnh. Đây là cảnh giới của Nhị thiền, là đặc tính của Nhị thiền. Khi bạn đạt đến Tam thiền, khi bước vào cảnh giới của Tam thiền, bạn sẽ đạt được tịch định, tịch là rất tịch diệt, định là an định. Khi bạn đi vào Tứ thiền, trong Tứ thiền có một đặc tính chính là bình đẳng, mọi thứ đều rất bình đẳng. Đây là đặc tính của Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền trong Phật giáo.

Riêng nói về sự hỷ lạc thôi, bạn ở trong tĩnh tọa, trong lúc ngồi thiền, khi khí của bạn vận chuyển khắp toàn thân, khi khí được nâng lên đi qua kinh mạch một cách nhẹ nhàng, cho dù bạn thông kinh mạch, khi khí ở toàn thân di chuyển vào kinh mạch, bạn sẽ sản sinh ra một niềm khoái lạc vô thượng. Trong Phật học thường được gọi là "khinh an”, bạn sẽ có pháp hỷ, có khinh an. 

Tôi thường xuyên hỏi rất nhiều người về pháp hỷ và khinh an. Anh nói anh có pháp hỷ, có khinh an. Là gì? Anh làm sao đạt được? Anh ta nói “không biết nữa”. Họ đều không biết, không cách nào giải thích, không cách nào diễn đạt, chỉ cảm thấy rất khoái lạc. Ở trong Mật giáo, trạng thái gọi là khinh an chính là khí của bạn đi vào trung mạch, ở bên trong trung mạch sản sinh ra một hiện tượng dễ chịu của ma sát, đây chính là cảm giác hỷ lạc. Niềm hỷ lạc này là vô cùng sung sướng. Sự sung sướng này phàm phu bình thường không thể nào có được. 

Loại khoái lạc mà phàm phu không có được thực sự là đại hỷ lạc, bạn có thể tìm thấy ở trên người của hành giả, có thể thấy ở hành giả tu pháp đại thành tựu cầu vồng. Bạn tu Chân Phật Tông, Chân Phật Mật Pháp là có thể đạt được loại đại hỷ lạc sung mãn. Cơ thể của chính mình có thể cảm nhận được, đây chính là khinh an đích thực, là pháp hỷ đích thực. 

Tôi có thể chứng minh, bởi vì tôi đã đi qua Sơ thiền rồi. Hôm nay bạn muốn có được hỷ lạc thì phải đi qua con đường của chúng tôi. Còn minh tịnh, quang minh thanh tịnh thì sao? Tương lai tôi sẽ giảng về tu pháp. Đi vào Nhị thiền, khi từ minh điểm chuyển thành chuyết hỏa, bạn sẽ đạt được quang minh, thân thể bạn sẽ ngập tràn ánh sáng. Bạn sẽ cảm nhận được toàn bộ ô uế đi ra khỏi người bạn, toàn bộ nghiệp chướng ra khỏi người bạn, bạn trở nên vô cùng thanh tịnh. 

Đây là quang minh và thanh tịnh, đi vào cảnh giới Nhị thiền, bạn có thân tâm quang minh thanh tịnh. Thân thể và tâm của bạn đều là quang minh thanh tịnh. Cái này đều là ở trên trời mới có. Bạn không thể tìm thấy ở thế giới Ta Bà. Ở thế giới Ta Bà bạn tu hành nhập vào Nhị thiền, bạn không khác nào nhập vào thiên giới. Quang minh và thanh tịnh hiển hiện ra ở trên người của bạn. Cơ thể của bạn phóng ánh sáng giống như thân lưu ly, mọi hành vi của bạn đều là thanh tịnh. Đây là cảm giác thật sự khi đi vào Nhị thiền, thật sự cảm nhận được thân tâm của mình đều là quang minh thanh tịnh. Đây chính là tiên nhân ở trên trời.

Tiếp theo là tịch định. Bạn đi vào cảnh giới bất động. Có thể thực sự định được tại một chỗ, hơn nữa còn có thể dung hợp với hư không. Bạn thể hội được hư không, bạn sẽ thể hội được chân lý “không” của vũ trụ. Người có tịch định, anh ta sẽ có tâm bất động. Bất cứ một trí huệ nào của anh ta trong tịch định đều tăng trưởng, rất nhanh chóng. Vốn dĩ là một loại siêu việt mà. Phiền não sẽ không đi vào cơ thể, thân tâm của bạn. Bạn đã đi vào cảnh giới bất động rồi. Tịch định, tịch diệt để có thể định tâm, nhất tâm bất loạn, lúc này bạn đã đắc đạo rồi, đây là sự tiến nhập cảnh giới của Tam thiền.

Mọi người suy nghĩ một chút xem, Sơ thiền là niềm hỷ lạc, Nhị thiền là minh tịnh, Tam thiền là tịch định, bạn có thể đạt được hết những cảnh giới này, như vậy đã là vượt lên trên phàm phu rồi, đã vượt qua một số người thế tục rồi. Có phải không? Ví dụ bạn trêu ghẹo phàm phu tục tử, anh ta liền nổi giận ngay. Nếu bạn là người có thể tịch định thì bạn như như bất động.

Tiếp theo, đi vào Tứ thiền thì là bình đẳng, trí huệ tăng trưởng. Đến cảnh giới của Tứ thiền, bạn nhìn chúng sinh trong thiên hạ, bạn sẽ cười phá lên. Tại sao vậy? Thì ra tất cả đều là bình đẳng. Bên trong cảnh giới này, không có ái hận tình thù gì cả, đều biến mất hết, đều bình đẳng. Hận, thật ra tại sao phải hận? Bởi vì không bình đẳng mà, nên bạn sinh ra hận. Bạn ở trong một tâm cảnh bình đẳng, siêu việt rồi thì bạn đâu còn có phiền não chứ? 

Trong cảnh giới bình đẳng là không có phiền não, thực sự là vượt lên trên phiền não. Chúng sinh nhất loạt bình đẳng, tất cả người, việc, vật chất, tất cả đều bình đẳng hết. Đây chính là một loại tâm cảnh rất đặc biệt, là một loại siêu việt. Vì vậy bạn đi vào Tứ thiền rồi, bạn sẽ biết được bình đẳng. Chúng sinh đều có Phật tính. Cái gọi là ái hận tình thù chỉ là bong bóng huyễn ảnh nhất thời mà thôi. Ở bên trong cảnh giới bình đẳng, bạn siêu việt mọi loại phiền não. Thật sự bạn sẽ sinh ra tâm cảnh này, huệ lực tăng trưởng, sức mạnh trí huệ của bạn tăng trưởng rất nhanh. Phải nói là bạn giống như đang đứng trong hư không nhìn chúng sinh vậy đó. Cảnh giới của Tứ thiền, bạn đều có thể đạt được.

Hồng quang đại thành tựu là một pháp rất vĩ đại, ở trong Mật giáo mà nói, thực sự là một loại siêu việt. Tương lai sẽ còn nói đến siêu việt bốn cảnh giới này để đến cảnh giới cao hơn, đều sẽ có. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

24/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 032. Vì sao Phật Đà muốn xuất gia?

Mấy hôm trước, chúng ta có nói đến vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni lại xuất gia? Hôm nay chúng ta sẽ bổ sung thêm một chút. Cá nhân tôi nghiên cứu như thế này, tôi cho rằng Phật Thích Ca Mâu Ni sở dĩ xuất gia là vì liên quan đến một triết học của phương Tây thời xưa, chính là chủ nghĩa tồn tại. Chủ nghĩa tồn tại này và việc Phật Đà xuất gia là có liên quan.

Chủ nghĩa tồn tại là do Descartes và Frank, mấy vị triết gia này đề xuất ra. Đây là một hiện tượng tâm lý. Phật Thích Ca Mâu Ni bản thân là vương tử, tương lai phải kế thừa vương vị, đương nhiên Ngài có rất nhiều tiền của. Hôn nhân của Ngài cũng vô cùng mỹ mãn, có người vợ rất xinh đẹp, có con trai. Vậy tại sao Ngài muốn xuất gia? 

Điều này liên quan đến một vấn đề gọi là chủ nghĩa tồn tại, nói về cảm giác trống rỗng trong sự tồn tại, cái này là vô hình. Có nghĩa là khi bạn có danh, cũng có lợi, khi mọi thứ của bạn đều rất viên mãn, bạn sẽ cảm thấy bên trong sự tồn tại của bạn có một hiện tượng trống rỗng. Sự trống rỗng này khiến bản thân người đó cứ chìm vào mãi, rơi mãi vào trong một vực thẳm rất sâu, không có cách nào đi ra khỏi vực thẳm đó, ở trong cái hố sâu thẳm đó, cái này gọi là tồn tại trống rỗng.

Có rất nhiều người, danh cũng có rồi, lợi cũng có rồi, khi mọi thứ đều viên mãn thì anh ta lại đi vào con đường tự sát. Ví dụ một số văn học gia đạt giải thưởng Nobel như Hemingway, Kawabata Yasunari, thậm chí là Tam Mao của Đài Loan chúng ta, tại sao họ phải tự sát? Bởi vì khi tất cả mọi thứ của họ đều viên mãn rồi, áp lực gì cũng không có nữa, ngược lại họ lại cảm thấy vô cùng trống rỗng, đây chính là tồn tại trống rỗng.

Trong giai đoạn này, có một điều rất quan trọng, có nghĩa là giả sử bạn có thể dùng sức mạnh của tôn giáo để làm giá trị tồn tại của bạn thăng hoa, nâng cao sự thăng hoa của tâm hồn trong con người bạn, thì bạn sẽ được cứu. Nếu không, sự trống rỗng này giống như một con vật khổng lồ nuốt chửng người đó.

Đây là một dạng tâm lý học, giữa sự sống và cái chết sẽ sản sinh ra một hiện tượng của tồn tại trống rỗng. Về phương diện giải cứu tâm linh là dùng sức mạnh của tôn giáo để giải cứu họ. Trong Mật giáo chúng ta mà nói chính là dùng sức mạnh của tu pháp để làm thăng hoa tâm linh của họ, sau đó bước vào thiên thượng giới.

Mọi thứ của Phật Thích Ca Mâu Ni đều viên mãn, vậy tại sao Ngài muốn xuất gia? Chính là có một vấn đề tồn tại trống rỗng, điều này mọi người cần phải hiểu. Người Trung Quốc chúng ta hay nói một câu là “cao xứ bất thắng hàn” <span className="note-blue">[cô đơn ở trên cao]</span>. Khi bạn đã lên đến tuyệt đỉnh rồi, không thể lên tiếp được nữa, bạn sẽ có một cảm giác thất vọng. Khi tồn tại trống rỗng lớn hơn cả giá trị tồn tại của bạn, lúc này tất cả tinh thần của bạn đều rơi rụng hết. Lúc này, phương pháp tốt nhất vẫn là dùng sức mạnh của tôn giáo để nâng cao tâm linh của bạn.

Chúng tôi ở Hồng Kông gặp được một người, cậu ấy còn rất trẻ, cậu ấy cũng kiếm được rất nhiều tiền. Mỗi ngày cậu ấy đều ra ngoài, đi mua món đồ đắt tiền nhất, sau khi mua xong, cậu ấy cũng tự cảm nhận được là mình không vui. Cho dù là bỏ ra rất nhiều tiền để mua về rất nhiều món đồ, bản thân cậu ấy cũng cảm thấy không vui. Thật ra đây là một vướng mắc về mặt tinh thần, cậu ấy đã bị mắc phải một căn bệnh hiện đại, chính là tồn tại trống rỗng. Vì vậy lúc này phải nâng cao giá trị tồn tại của cậu ấy. Khi bạn không tìm được giá trị của mình, bạn sẽ biến thành một loại trống rỗng, tâm hồn sẽ rơi xuống vực thẳm, không thể vùng vẫy để bò lên nữa.

Chủ nghĩa tồn tại là một hiện tượng thuộc về tâm lý. Các bác sĩ tâm lý hiện đại cũng phải nghiên cứu về phương diện này. Giống như một nhà văn của Nhật Bản năm xưa, tên là Kuriyagawa Hakuson, ông có một câu nói: “Văn học là tượng trưng của sự buồn khổ.” Văn học là tượng trưng của sự buồn khổ.

Tại sao bạn lại có sức mạnh để viết văn chương? Người viết văn chương chủ yếu vì bản thân cảm thấy rất khổ, rất buồn, bạn đang trút bỏ nỗi buồn khổ của mình, cho nên bạn tiếp tục bước đi trên văn học, rồi phát triển nó. Đây là một hình thức lấp đầy, bạn không viết không được, vì bạn đang tiếp tục ở trong buồn khổ, bạn cần phải trút bỏ buồn khổ ra ngoài. Khi bạn đạt đến đỉnh điểm, bạn sẽ biến thành một loại hiện tượng trống rỗng.

Vì vậy vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni, có rất nhiều vương tử theo Ngài xuất gia, tôi nghĩ chắc đều là bị ảnh hưởng bởi tồn tại trống rỗng, có liên quan đôi chút đến chủ nghĩa tồn tại. Họ đều là vương tử. Vào thời của Đức Phật, Ngài đã độ cho tám vị vương tử cùng nhau xuất gia, họ đều rất viên mãn, đều là vương tử tương lai phải kế thừa ngai vàng, tại sao phải xuất gia? Có danh có lợi, có gia đình viên mãn, đều là vì liên quan đến tồn tại trống rỗng, vì vậy họ theo đuổi một loại giá trị tồn tại, sau đó lợi dụng giá trị này để làm thăng hoa tâm linh của mình, như vậy đời người mới có ý nghĩa.

Hôm nay có rất nhiều đệ tử xuất gia, tôi nghĩ chắc là họ muốn theo đuổi giá trị tồn tại, có giá trị tồn tại rồi, tâm linh mới có thể thăng hoa. 

Nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

25/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 033. Nói về cõi Tứ thiền

Chúng ta đã từng nói đến cõi Tứ thiền, và cũng có đệ tử hỏi, tại sao lại không nói về cõi Dục giới? Ở đây có sự khác biệt. Bởi vì cõi Tứ thiền, Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền đều phải dựa vào thiền định để tu, sau đó mới dần dần, bạn ở trong số các cõi trời, mỗi một tầng cấp, từ tầng trời nào đi vào tầng trời nào, là như vậy. Cõi Tứ thiền đều phải dựa vào thiền định.

Còn cõi Dục giới không cần dùng thiền định cũng có thể đến cõi Dục giới. Dựa theo nghiên cứu Phật học của chúng ta, bạn chỉ cần giữ năm giới, làm mười điều thiện là bạn có thể đến cõi trời Dục giới rồi, vì vậy sáu tầng trời Dục giới bạn chỉ cần giữ năm giới, làm mười điều thiện là bạn có thể đến đó. Còn tầng trời của thiền, bạn cần phải thiền định thì bạn mới đến được.

Ngoài ra còn có điều này tôi chưa nói, Vô sắc giới có bốn tầng trời, Lư Sư Tôn cũng chưa giảng đến. Đúng là như vậy, vì cái này cũng cần dựa vào thiền định. Khi bạn ở trong 18 tầng trời Sắc giới đi vào cõi Vô sắc giới, bạn chỉ còn lại một cái thức, chính là thức của duy thức. Cái gì cũng không còn nữa, thân thể cũng không còn nữa, tâm cũng không còn nữa, chỉ còn lại một cái thức, sau đó mới có thể đi vào Vô sắc giới. Ở đó cũng không có dục vọng, cũng không có sắc giới, cho nên mới gọi là Vô sắc giới. Đó là thiền định sâu nhất, rất sâu, rất sâu. Đến tầng trời cao nhất chính là tầng trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Cho nên ba cõi giới được phân biệt như vậy. Có dục vọng thì là cõi Dục giới, không khác thế giới con người là mấy. Ở trong cõi Dục giới vẫn có kết hôn, có ăn uống, có dục lạc giữa nam nữ. Cõi Sắc giới thì vẫn còn có hình tướng vô cùng trang nghiêm. Đến cõi Vô sắc giới thì những cái đó đều không còn nữa, chỉ còn lại thức.

Tại sao tôi không giảng về cõi Dục giới? Bởi vì bạn chỉ cần giữ năm giới, làm mười điều thiện là có thể đến cõi Dục giới. Dục giới tổng cộng có sáu tầng trời. Con người hiện đại, rất nhiều người đã có thành tựu về danh lợi, cũng có rất nhiều tiền, họ thích làm việc thiện, đây cũng là một sức mạnh rất lớn, đây là bố thí mà. Trong Phật giáo cũng có nhắc đến bố thí trong lục độ, bố thí này cũng vậy, bạn cũng có thể lên được cõi Dục giới.

Ngày nay bố thí cũng rất phổ biến. Mọi người đều rất thích bố thí, làm một chút công đức, đây đều là chuyện tốt. Nhưng mà ở đây cũng có vấn đề của chủ nghĩa tồn tại, vì khi họ có tiền rồi, danh vọng của họ cũng rất lớn, họ cũng cảm thấy tâm linh rất trống rỗng, phải làm sao đây? Vậy được rồi, lúc này đột nhiên có người đến kêu gọi: “Này, hành thiện bố thí, phải làm công đức.” Anh ta nghĩ: “Ờ, cái này hay đó.” Điều này có thể nâng cao tâm linh. Bởi vì hành thiện là vui nhất, làm việc thiện là điều vui vẻ nhất. Lúc này bạn không vui vẻ thì lấy cái gì để bổ khuyết đây? Lấy hành thiện, bố thí để tăng cường niềm vui cho bạn, việc bổ khuyết lúc này là rất tốt, là làm việc thiện, là bố thí.

Khi bạn làm việc thiện, bạn sẽ tìm được một niềm vui, dùng niềm vui này để bổ sung sự trống rỗng về tâm linh của bạn. Bố thí vừa hay có thể bổ sung sự trống rỗng tâm linh của bạn. Vì vậy con người hiện đại rất thích hành thiện bố thí. Điều này là rất tốt để nâng cao tâm linh của bản thân mình, vô cùng phù hợp với giữ năm giới và làm mười điều thiện trong Phật giáo, rất phù hợp. Nhưng loại công lực này của bạn, có thể nói là công lực bạn hành thiện, bố thí chỉ có thể đến được cõi Dục giới, vẫn chưa có thành tựu của thiền định. 

Bạn bắt đầu từ Sơ thiền, khi thiền định có thành tựu, hoàn toàn là một loại ánh sáng. Chỉ có định mới có thể sản sinh ánh sáng. Không có định, bạn chỉ là có được một loại công đức. Vì vậy thiền định nhất định phải dựa vào sức mạnh trí huệ và định lực của bạn mới sinh ra được ánh sáng.

Vậy làm sao để phân biệt được bản thân bạn đã từ Sơ thiền đi vào Nhị thiền, Nhị thiền đi vào Tam thiền, Tam thiền đi vào Tứ thiền đây? Bởi vì có thể nói trong 18 cõi trời, mỗi cõi mỗi đặc tính. Tôi có nói rồi, khi nhập vào Sơ thiền, bạn ngập tràn niềm hỷ lạc. Khi vào Nhị thiền thì là quang minh thanh tịnh. Tam thiền là tịch diệt và định lực, tịch diệt rồi là định lực được sinh ra. Khi vào Tứ thiền, mọi thứ đều là cảnh giới bình đẳng. Lúc này Tứ thiền đã sinh ra bình đẳng tính trí. Bình đẳng tính trí là một trong năm đại trí huệ của Phật, trí huệ này ở trong Tứ thiền là đã được sinh ra rồi.

Bạn muốn phân biệt người nào đã tu đến cảnh giới nào thì nhìn ánh sáng trên người họ là biết. Khi bạn tu hành có định lực rồi, bạn có thể nhìn thấy ánh sáng trên người mình, nhưng ánh sáng trên người bạn vẫn giống như kim cương giả thôi, không sáng lấp lánh. Độ sáng ở đây cũng giống như giám định kim cương, công lực cao bao nhiêu thì độ sáng mạnh bấy nhiêu. Người thực sự có thể thiền định sâu xa, đạt đến cảnh giới bình đẳng thì ánh sáng đó sẽ vô cùng chói lọi, vô cùng đỉnh cao, loại ánh sáng đó sẽ được sản sinh ra.

Khi mới bắt đầu, bạn có chút ít định lực, bạn nhìn thấy tâm quang của mình, bạn thử nhìn vào ánh sáng trong tâm mình, dường như vẫn còn có một chút rối loạn, chỉ là một loại ánh sáng trắng sữa mà thôi chứ không phát ra độ sáng rất mãnh liệt. Chúng ta dựa vào độ sáng mà người kia phát ra để xác định tầng thiền của họ đã đến tầng thiền bao nhiêu.

Trên người chúng ta đều có độ sáng, có một số người tư tưởng hỗn loạn, ngày ngày đều nghĩ đến ân oán hận thù, người khác đang hại mình ra sao. Anh ta không những không có ánh sáng mà còn là một vũng nước đục. Thật đó, bên trong não anh ta vốn dĩ là vũng nước đục hỗn loạn, mỗi ngày đều nghĩ những chuyện rối loạn, quang khí của anh ta rối tung rối bời, lung tung lộn xộn, thực sự là hỗn tạp linh tinh. Thật vậy, thực sự là một vũng nước đục. Nếu bạn thực sự có thể sản sinh định lực, trên người chắc chắn có ánh sáng. Hơn nữa định lực của bạn càng sâu thì độ sáng càng mạnh, càng chói lọi. Có thể dùng độ sáng để phân biệt tầng thiền mà bạn đạt được. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

25/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 034. Ý nghĩa của trì chú

Tôi sẽ giảng với mọi người về trì chú. Mật giáo dùng trì chú, quán tưởng và thủ ấn để làm nguyên liệu tu hành. Trì chú còn gọi là trì minh. Trì minh có nghĩa là trì quang minh, càng trì thì nó càng sáng. Vậy tại sao gọi là chú? Chúng ta biết rằng chú này gọi là “ngữ bí mật”, ngôn ngữ bí mật, là âm thanh bí mật được phát ra từ bản thân Phật, Bồ tát sau khi tu hành rất lâu, gọi là ngữ bí mật.

Dựa vào những gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói, trong 49 năm thuyết pháp, ngài thường xuyên nhắc đến, chỉ cần bạn trì một kinh, một kệ, hoặc một câu nói, một bộ kinh, một mẩu một chữ, thì đều có công đức.

Vì vậy giới Phật giáo hiện nay, chủ trương pháp môn niệm Phật, pháp môn niệm Phật cũng là một chủ trương của Tịnh Độ tông. Cũng có pháp môn trì chú, pháp môn trì chú chính là pháp môn mà Mật giáo sử dụng. Ngoài ra còn có pháp môn trì tên kinh, chỉ niệm tên của một bộ kinh, ví dụ niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”. Nhật Liên tông chủ trương niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”. Tịnh Độ tông chủ trương niệm Phật, niệm Nam mô A Di Đà Phật. Mật giáo chủ trương niệm chú. 

Giữa những cái này không thể nói là cái nào tốt, cái nào không tốt, bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói rồi, một kinh, một kệ, một mẩu, một chữ đều là công đức. Phật Thích Ca Mâu Ni tùy thuận khéo léo độ chúng sinh. Ngài nói bất kể bạn ra sao, nếu bạn dựa theo Phật pháp mà làm, bạn làm rất thành tâm thì đều là công đức.

Theo “Mật Tông đạo thứ đệ quảng luận”, tổ sư Tsongkhapa có nói, pháp môn niệm Phật là niệm ngoại tướng của Phật, cũng tức là hình của Ngài, hình của Phật. Giống như chúng ta niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, chúng ta biết đây là danh hiệu của Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, niệm một danh xưng bên ngoài của Ngài. Vì vậy Tsongkhapa nói là niệm ngoại tướng, sắc tướng bên ngoài của Ngài.

Vậy niệm chú thì sao? Theo như tổ sư Tsongkhapa nói thì chính là niệm tâm của Phật. Vì là ngữ bí mật, là tâm chú, là âm thanh tuôn chảy ra từ bên trong tâm, cho nên niệm chú là niệm tâm của Phật. Cho nên, niệm Phật là niệm danh, sắc bên ngoài. Niệm chú là trực tiếp niệm vào tâm của Như Lai. Tổ sư Tsongkhapa nói như vậy.

Hiện nay Nhật Liên tông cũng chủ trương niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, niệm tên kinh cũng vẫn có công đức, nhưng niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” là niệm pháp, chính là niệm pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại. Một kinh một câu đều là có công đức, đây là Đức Phật nói.

Vậy đương nhiên là sau khi bạn niệm thuần thục rồi, bạn niệm ra được sức mạnh của Phật thì vẫn có pháp lực. Niệm Phật sẽ sinh ra Phật lực, niệm pháp sẽ sinh ra pháp lực, niệm chú cũng sinh ra chú lực. Những cái này đều có công đức, vì vậy chúng ta không thể nói chúng ta niệm chú, người niệm chú phê bình người niệm Phật, người niệm Phật phê bình người niệm tên kinh, người niệm tên kinh thì phê bình người niệm chú, điều này là không được. Đều có công đức như nhau.

Trong Mật giáo mà nói, trì chú được liệt vào trong Gia hành. Tứ gia hành của chúng ta là: đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, Kim Cang Tâm. Khi bạn muốn tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, bạn phải trì chú, phải trì đủ 100.000 biến. Phải trì chú gì ư? Bất cứ chú gì đều có thể trì. Bất cứ một loại chú nào cũng đều rất tốt, nhưng trong số các chú ngữ có vài bài chú là bạn cần phải trì tụng, ví dụ chú Kim Cang Tâm chính là Bách tự minh chú. 

Bách tự minh chú bạn phải trì đủ 100.000 biến. Tâm chú của Căn bản Thượng sư, bạn phải trì đủ 100.000 biến. Bạn dựa vào Bổn tôn nào để tu hành thì bạn cũng phải trì đủ 100.000 biến chú của Bổn tôn. Quyến thuộc bên cạnh Bổn tôn, bạn cũng phải trì đủ 100.000 biến. Ví dụ Bổn tôn của bạn là Phật A Di Đà, vậy tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát, vì Quan Thế Âm Bồ Tát là quyến thuộc của Phật A Di Đà, bạn cũng phải trì đủ 100.000 biến. Tâm chú của Đại Thế Chí Bồ Tát cũng phải trì đủ 100.000 biến, quyến thuộc có quan hệ với Phật A Di Đà đều phải trì đủ 100.000 biến.  
Trong phái Hồng giáo của Mật giáo, tức Nyingma của Tạng mật, tâm chú của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - tổ sư của phái Nyingma, bạn phải trì đủ 100.000 biến. Liên quan đến Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tâm chú của Lục Độ Mẫu cũng phải trì đủ 100.000 biến. 

Ở đây đều lấy 100.000 làm nền tảng, cũng có người trì đủ 500.000 biến, trì đủ 1 triệu biến, càng nhiều càng tốt. Trì chú vốn dĩ là giống như niệm Phật. Niệm Phật là niệm ngoại tướng của Phật, niệm sắc thân của Phật. Pháp môn niệm Phật cũng như vậy, niệm Phật càng nhiều càng tốt. Niệm chú cũng giống như vậy, phải càng nhiều càng tốt. Trì đủ 1 triệu biến, 10 triệu biến, cái đó là tùy bạn, bạn có thể trì càng nhiều càng tốt. Trì đến cuối cùng sẽ trở nên rất có sức mạnh, điều này sẽ sinh ra một loại chú lực. 

Tôi cảm thấy điểm tốt của trì chú là nó có thể trực tiếp đi vào tâm của Như Lai, bởi vì chú vốn dĩ là ngữ bí mật của Như Lai, là âm thanh tuôn chảy ra từ tâm của Như Lai, nếu bạn niệm chú tức là bạn làm xúc động đến tâm Như Lai, vì vậy có thể triệu thỉnh Như Lai giáng xuống.

Người niệm Phật nói bạn niệm tên của Phật cũng giống như là đang kêu gọi Phật vậy đó. Bạn trì chú trực tiếp đi vào tâm của Như Lai, điều này càng trực tiếp đi vào bên trong tâm của Như Lai hơn. Vì vậy nếu như bạn có thể niệm chú thật tốt, tự nhiên tất cả chư thiên đều cảm ứng được, toàn bộ đều cảm động, đều cảm ứng. Phật, Bồ tát, Kim cang, Hộ pháp, tất cả đều cảm ứng được. Ý nghĩa chủ yếu của việc trì chú là nằm ở đây.  
Nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

26/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 035. Phương pháp trì chú

Tiếp theo nói về phương pháp trì chú. Nói chung, người hiện đại chúng ta muốn tu một đàn pháp, thời gian đều rất ít. Bạn vừa mới bước vào cánh cửa của Mật giáo mà bảo bạn phải lập tức học cách tu một đàn pháp, hoặc là mỗi ngày đều tu mấy đàn pháp là điều rất khó khăn. Vì vậy tất cả thượng sư phần lớn đều là dạy mọi người trước tiên phải niệm chú, làm Tứ gia hành trước, niệm đủ 100.000 biến chú ngữ thì là một gia hành trong số đó.

Con người thời nay tu hành rất khó khăn, thời gian cũng rất ít, nên mới dạy bạn là trước tiên niệm 100.000 biến Thượng sư tâm chú, niệm 100.000 biến Bách tự minh chú trước, niệm 100.000 biến chú Bổn tôn trước, đều dạy bạn như vậy hết.

Niệm chú cũng có phương pháp của niệm chú, chúng ta niệm chú có rất nhiều kiểu, lấy đơn cử có cách niệm phát ra âm thanh, gọi là âm thanh niệm chú. Giống như tôi đang niệm “Ôm a-mi đê-wa sê” là tâm chú của Phật A Di Đà, đây là niệm ra thành tiếng. “Ôm ma-ni pê-mi hùm”, đây là niệm tâm chú của Quan Thế Âm Bồ Tát, khi niệm phát ra âm thanh thì là âm thanh niệm chú, thông thường đều là niệm âm thanh niệm chú.

Tiến sâu hơn là kim cang niệm chú, kim cang niệm chú là ngậm miệng lại, để đầu lưỡi động đậy ở bên trong, chỉ có lưỡi động đậy còn miệng thì ngậm lại, đây là kim cang niệm chú.

Sâu hơn một chút là tam ma địa niệm chú. Thế nào là tam ma địa niệm chú? Lưỡi cũng không động đậy nữa, miệng cũng không động đậy nữa, chỉ có bên trong tâm phát ra âm thanh thôi, bên trong tâm bạn cũng có thể phát ra âm thanh đó. Bạn nhắm mắt lại, thật ra bạn cũng không nhất định phải nhắm mắt, tóm lại bạn ngậm miệng lại, lưỡi không động đậy, nhưng bạn có một loại âm thanh phát ra từ trong tâm, cũng tức là phương pháp trì chú tam ma địa.

Ngoài ra, loại thứ tư, loại thâm sâu hơn, là chân thực niệm tụng. Phương pháp của chân thực niệm tụng là như thế này, bạn quán tưởng chú tự đều hiện ra trong hư không, những chú tự đều tưởng tượng ra hết, hơn nữa bạn còn hiểu được ý nghĩa của chú tự, đây chính là chân thực niệm tụng. Thậm chí còn tập hợp lại thành một chú luân, câu chú biến thành bánh xe pháp đang xoay vòng, đây gọi là chân thực niệm tụng.

Vì vậy niệm tụng cũng có âm thanh niệm tụng, kim cang niệm tụng, tam ma địa niệm tụng và chân thực niệm tụng.

Giả sử như bạn đang ngồi trên máy bay, đương nhiên là không thể làm âm thanh niệm tụng rồi, bạn ngồi ở đó liên tục “Om mani padme hum… Om mani padme hum..”, những người xung quanh sẽ nhìn bạn, vì vậy tốt nhất bạn nên dùng kim cang niệm tụng. Kim cang niệm tụng tức là bạn ngậm miệng lại, động đậy lưỡi là được. Nếu bạn thực sự có thể nhập định, bạn có thể dùng chân thực niệm tụng, tức là quán ra từng chú tự một, hiểu rõ ý nghĩa của nó, quán tưởng toàn bộ ý nghĩa của chú tự một cách rõ ràng, thậm chí có màu sắc, quán tưởng luôn cả màu sắc, đây chính là chân thực niệm tụng. Niệm tụng có cách của niệm tụng.

Vậy ở trong Mật giáo của chúng ta, khi niệm chú là phải dùng chuỗi hạt, phải có chuỗi hạt. Trong pháp khí của Mật giáo chúng ta có ba loại pháp khí quan trọng, một cái là chày kim cang, một cái là chuông kim cang, một cái là chuỗi hạt. Chuỗi hạt được dùng khi tụng niệm. Chuỗi hạt có 108 hạt, cần dùng chuỗi hạt này.

Chuỗi hạt cũng có chia nhiều loại. Bạn muốn niệm Phật thì dùng hạt bồ đề. Muốn niệm chú của Bồ tát thì dùng hạt sen, chuỗi hạt làm bằng hạt của hoa sen thì tốt hơn. Bạn muốn niệm các vị phẫn nộ thuộc Kim Cang bộ thì dùng hạt kim cương. Bạn muốn dùng để làm pháp, bạn tu một đàn pháp thì dùng tạp bảo, thông thường ví dụ như hổ phách, chuỗi hạt hổ phách, ví dụ mã não, chuỗi hạt mã não, ví dụ ngọc, chuỗi hạt bằng ngọc, những cái đó đều gọi là tạp bảo, tức là dùng tạp bảo, dùng làm pháp trong Yết Ma bộ.

Chuỗi hạt cũng có phân biệt. Chuỗi hạt bồ đề là tổng nhiếp tất cả, bạn niệm bất cứ loại nào cũng có thể dùng hạt bồ đề. Có thể nói là rất nhiều bộ như là: Kim Cang bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ, Yết Ma bộ, tổng nhiếp bốn bộ pháp, bạn đều có thể dùng hạt bồ đề. Những chuỗi hạt khác thì bạn phải phân biệt: Phật bộ là dùng hạt bồ đề, Liên Hoa bộ là dùng hạt sen, Kim Cang bộ là dùng hạt kim cương, Yết Ma bộ là dùng tạp bảo, bạn phải phân biệt ra như vậy. 

Tại sao phải phân ra như vậy? Vì để có được tương ứng. Hạt kim cương rất gần gũi với Kim Cang bộ, hạt sen gần gũi với Liên Hoa bộ, hạt bồ đề rất gần gũi với Phật bộ. Yoga Mật giáo nghĩa là phải có được tương ứng. Bạn càng gần gũi thì càng dễ dàng tương ứng, chính là đạo lý này.

Tay của bạn lần chuỗi hạt cũng cần phải có quán tưởng, không phải lần tùy tiện đâu. Khi niệm chú, bạn vừa lấy chuỗi hạt ra, bạn lập tức quán tưởng, tay phải của bạn cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, toàn bộ chuỗi hạt phát ra ánh sáng trắng, chính là ánh sáng của Kim Cang Tát Đỏa. Trong 108 hạt có bốn hạt giới, bốn hạt giới này bay ra ngoài biến thành Tứ Đại Thiên Vương ở bên cạnh canh giữ cho bạn niệm chú. Hạt Phật đầu biến thành tay Phật. Vừa cầm chuỗi hạt lên là bạn phải quán tưởng ngay, không phải tùy tiện cầm lên là niệm đâu. Lập tức quán tưởng chày kim cang, chuông kim cang, Tứ Đại Thiên Vương bay ra, chính giữa có ánh sáng của Kim Cang Tát Đỏa biến thành một chuỗi, sau đó quán tưởng tay Phật, như vậy bạn mới bắt đầu niệm chú.

Vì vậy trong Mật pháp có ba nguyên liệu quan trọng: chú, quán tưởng và thủ ấn. Bạn cầm lên như vậy tức là thủ ấn rồi, tuy động tác này không là gì cả, nhưng đây là thủ ấn lần chuỗi hạt mà bạn kết trước khi bạn muốn niệm chú, chính là như vậy.

Làm sao để tu Mật giáo? Chính là dùng ba nguyên liệu này để tu, chính là chú, thủ ấn và quán tưởng. Trong mỗi một bộ pháp đều có thủ ấn, đều có chú, và quán tưởng. Đây chính là Mật giáo.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

26/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 036. Pháp khí của Mật giáo

Hôm nay tôi sẽ tiếp tục giới thiệu với mọi người về pháp khí của Mật giáo. Lần trước chúng ta đã giới thiệu về chuỗi hạt. Pháp khí quan trọng nhất của Mật giáo gồm có chày kim cang và chuông kim cang. Chày kim cang và chuông kim cang, hành giả của Mật giáo đều phải sử dụng đến.

Cái chày này có một chấu, cũng có loại ba chấu và năm chấu, đều có khác biệt. Chày kim cang này có thể nói là một loại binh khí của Ấn Độ thời cổ đại. Mật giáo lấy cái này dùng làm pháp khí, nó có tính tượng trưng, bản thân nó tượng trưng cho hàng phục ma chướng và hàng phục phiền não của chính mình. Bản chất của chày kim cang là rất kiên cố, rất chắc chắn, tượng trưng cho kim cang bất hoại, dùng loại kim cang bất hoại này để hàng phục ma chướng và hàng phục phiền não của chính mình. Chày này cũng đại diện lòng từ bi.

Chuông kim cang tượng trưng cho một loại trí huệ. Lắc chuông này thể hiện trí huệ lan truyền. Âm thanh của trí huệ cũng giống như tiếng chuông, lan truyền đi rất xa. Có thể thực sự hoằng dương Phật pháp. Nghe được tiếng chuông này sẽ cảm thấy vô cùng vui tai, cảm thấy là một cảm ứng vô cùng tốt lành, giống như là một sự quán đảnh của trí huệ, trí huệ đó đi vào bên trong cơ thể mình, chuông kim cang cũng như vậy.

Chúng ta thấy một số Hoạt Phật ở Tây Tạng, tay cầm chày kim cang, lắc chuông kim cang, phần lớn họ đều chỉ cầm và lắc lắc như thế này mà thôi. Cầm chày kim cang và lắc chuông kim cang là biểu thị Kim Cang Tát Đỏa. Mọi người nhìn Kim Cang Tát Đỏa, tay phải của Ngài luôn cầm chày kim cang, tay trái của Ngài luôn cầm chuông kim cang. Còn cách cầm đặt chéo nhau thì gọi là bi-trí song vận.

Thông thường mà nói, trong Mật giáo, mọi người thấy Hoạt Phật Tây Tạng tay cầm chày kim cang, lắc chuông kim cang chỉ có như vậy thôi, ít rất khi thay đổi. Nhưng Chân Phật Tông chúng ta thì khác, bởi vì bản thân tôi đã từng được Kim Cang Tát Đỏa đưa vào trong hư không để truyền thụ đại pháp lắc chuông kim cang và chày kim cang. Sau khi học được rồi thì tôi quay trở về, vì vậy cách lắc chuông kim cang và chày kim cang trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta không giống với mọi người, khác với một số Mật giáo. Cho nên cách lắc chuông kim cang và chày kim cang của Chân Phật Tông chúng ta là thù thắng nhất. Cách lắc chuông kim cang và chày kim cang của Chân Phật Tông là vô cùng khác biệt, và còn là thù thắng nhất.

Có rất nhiều cách lắc khác nhau. (Sư Tôn thị phạm một loạt động tác lắc chuông chày.) Bạn xem cách lắc chuông chày kim cang này không phải là để chơi đùa, trong đây có rất nhiều tượng trưng. Khi chày và chuông rung chuyển tượng trưng pháp lực lan tỏa, pháp lực bi-trí song vận đang phát huy pháp lực ra bên ngoài, rồi chảy xuống giống như nước, lắc như thế này thì giống như nước đang chảy xuống. Nghĩa là sao ư? Đó chính là nước có thể rửa sạch mọi nghiệp chướng, chính là tiêu tai. Cách lắc như lúc nãy chính là tiêu tai. 

Còn chày và chuông tiếp xúc với nhau rồi xoay vòng là sao? Đây tượng trưng cho kính ái, hai cái này hợp lại với nhau, xoay vòng chính là kính ái. Vậy đưa lên thì nghĩa là gì? Chính là phẫn nộ, thủ ấn này gọi là phẫn nộ ấn, hai tay kết ấn phẫn nộ đại diện cho hàng phục, cái này chính là hàng phục. Ngoài ra, lắc trái phải, lắc trước lắc sau như vậy, đại diện cho tăng ích, gia tăng tất cả lợi ích. Khi hai tay bắt chéo chính là bi-trí song vận.

Vì vậy một hành giả Chân Phật Tông nhất định phải biết lắc chuông kim cang và chày kim cang. Lắc một cái thế này là hoằng dương Phật pháp ra bên ngoài, trí huệ vươn xa. Giơ chày kim cang lên, tất cả mọi thứ đều định. Chày kim cang này có cách cầm bằng ấn phẫn nộ để hàng phục. Cầm chày thế này là pháp của Kim Cang Tát Đỏa, cầm chày như thế này thì là Kim cang Yết Ma ấn, là pháp Yết Ma, pháp Yết Ma thì phải dùng Kim cang Yết Ma ấn. 

Ứng dụng của chày kim cang và chuông kim cang, mỗi một hành giả của Chân Phật Tông đều phải dùng đến. Bản thân hai pháp khí này tượng trưng cho pháp lực. Bản thân mỗi một vị Kim cương Thượng sư chính là tượng trưng cho Kim Cang Tát Đỏa. 

Hôm nay chỉ nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

29/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 037. Nói về thủ ấn

Tôi sẽ nói tiếp với mọi người về thủ ấn. Thủ ấn ở trong Mật giáo là rất quan trọng bởi vì nó đại diện cho bí mật của thân và sự thanh tịnh của thân - thân thanh tịnh. Đây là một trong ba nguyên liệu tu pháp của Mật giáo.

Thủ ấn có bí mật gì? Thủ ấn giống như là sự nhận diện của Phật, Bồ tát. Một sự nhận diện, một kí hiệu vô cùng quan trọng. Bạn kết thủ ấn của vị nào thì tượng trưng bạn chính là vị đó.

Năm đầu ngón tay của chúng ta đại diện đất, nước, lửa, gió, không. Vậy khi mở hai bàn tay ra thì là thập pháp giới, mười đầu ngón tay đại diện cho mười pháp giới, lại tượng trưng cho mười ba-la-mật. Bạn thấy đấy, một bàn tay có rất nhiều sự tượng trưng. Đất, nước, gió, lửa, không, mười pháp giới, mười ba-la-mật đều có ở trong đó.

Vì vậy mười đầu ngón tay là đại diện vũ trụ, vũ trụ chính là được cấu thành bởi đất, nước, lửa, gió, không mà. Vậy năm đầu ngón tay là đại diện cho vũ trụ, vì chính là đất, nước, lửa, gió, không mà. Mười pháp giới cũng là vũ trụ. Mười ba-la-mật là phương pháp đi đến bờ bên kia. Rất đơn giản, mọi người đã hiểu về thủ ấn rồi.

Thủ ấn chính là bí mật của thân Như Lai, có vô số, vô số ý nghĩa ở bên trong, vì vậy trong Mật giáo kết thủ ấn đại diện cho rất nhiều ý nghĩa, rất nhiều hàm nghĩa, cũng tượng trưng cho một vị nào đó. Khi kết ấn bạn chính là vị đó. Khi chuyển động thủ ấn là biểu thị pháp lực vẫn đang được tiến hành, chính là kí hiệu đại diện cho các vị. Các vị đang làm gì, Như Lai đang làm gì, Bồ tát đang làm gì. Đây là bí mật rất uyên thâm ở bên trong. Bạn tu hành tu đến lúc đạt pháp lực rồi, thủ ấn mà bạn kết sẽ vô cùng huyền diệu, đều có ý nghĩa của nó hết.

Vậy tôi sẽ kết vài thủ ấn đơn giản cho mọi người xem. Ngày thường khi chúng ta làm cúng dường, ngũ cúng chính là hoa, hoa nở rộ. Hương. Đèn, chính là cây nến. Trà, chính là nước. Quả, tức là các loại quả. Hoa, hương, đèn, trà, quả. Sau đó kết thủ ấn cúng dường, có nghĩa là bạn đã cúng dường rồi. Ở đây đều có rất nhiều ý nghĩa ở bên trong.

Ví dụ tám đại Bổn tôn của chúng ta đều có các thủ ấn khác nhau. Khi bạn kết thủ ấn đó rồi cầu nguyện, tượng trưng bản thân bạn dựa vào kí hiệu này, cộng với chú ngữ của bạn và ý niệm của bạn, trong trạng thái ba thứ hợp nhất với nhau, bạn mới tu pháp của Mật giáo.

Vì vậy thủ ấn là một trong ba nguyên liệu tu hành. Khi bạn kết thủ ấn phải triệu thỉnh Phật, Bồ tát. Chúng ta còn có ấn triệu thỉnh. Đây là cái móc, biểu thị dùng cái móc này để móc Bồ tát, móc có nghĩa là thỉnh Ngài đến, đây là cái móc, là móc kim cang, kim cang câu. Bình thường chúng ta thỉnh Phật, Bồ tát, thỉnh Phật đến thì kết thủ ấn Phật kham. Thỉnh Bồ tát đến là thủ ấn Liên hoa. Thỉnh Kim cang Hộ pháp đến là thủ ấn Kim cang. Thỉnh cầu các Ngài giáng xuống, các Ngài sẽ giáng xuống, sau khi giáng xuống, Phật, Bồ tát, Kim cang Hộ pháp đều phóng đại quang minh, đây là thủ ấn phóng đại quang minh. 

Có rất nhiều thứ khác mà bạn cần làm, ví dụ có rất nhiều kết giới mà bạn phải làm nữa. Kết giới là gì ư? Chính là phòng hộ. Vậy khi phòng hộ thì bạn phải biết kết giới. Đây là thủ ấn cọc kim cang, mở thủ ấn cọc kim cang ra, bốn cái cọc kim cang đều ở xung quanh bạn. Buông võng kim cang xuống, dựng lên tường kim cang, thắp lửa lên làm ngọn lửa. Cọc kim cang, võng kim cang, tường kim cang, thắp lửa lên làm ngọn lửa. Bản thân làm kết giới có rất nhiều thủ ấn khác nhau, thủ ấn của các vị Bổn tôn cũng nhiều vô kể.

Thủ ấn của hành giả Chân Phật Tông chúng ta không giống với thủ ấn của một số pháp sư ở bên ngoài mà bản thân họ học được. Xin nói với mọi người, thủ ấn của Lư Sư Tôn là do ý thức vũ trụ trong hư không trực tiếp truyền dạy. Năm xưa khi tôi kết thủ ấn là Phật, Bồ tát giáng xuống trực tiếp dạy tôi. 

Hai tay chắp lại với nhau, Ngài sẽ từ từ mở nó ra, di chuyển ra bên ngoài, sau đó hóa thành vô số thủ ấn rất mỹ miều. Vô số thủ ấn rất mỹ miều từ từ sinh ra. Sau khi hóa thành thủ ấn rồi, tôi ghi nhớ lại hết, rồi tự mình diễn biến, rồi thỉnh giáo Phật, Bồ tát, các thủ ấn này là dùng để làm gì. Sau đó tôi đem những thủ ấn này truyền lại cho đệ tử Chân Phật Tông. Đệ tử Chân Phật Tông có được thủ ấn này rồi cũng có nghĩa là có truyền thừa căn bản của ý thức vũ trụ trong hư không, không giống với các thủ ấn khác.

Vì vậy chuông kim cang, chày kim cang của Chân Phật Tông diễn hóa trong hư không, thủ ấn của Chân Phật Tông diễn hóa trong hư không, điều này rất phi phàm. Đích thực là ý thức vũ trụ giáng xuống dạy chúng ta, điều này là bất phàm, cũng có thể nói là không hề tầm thường.

Người hiểu về thủ ấn thì sẽ hiểu thủ ấn “tâm trong tâm”. Khi bạn không thỉnh được Phật, Bồ tát, bạn kết thủ ấn của Phật, Bồ tát, ví dụ kết ấn Chuẩn Đề, ok, kết xong ấn Chuẩn Đề. Ủa, thỉnh Chuẩn Đề Bồ Tát mà không thỉnh được Ngài đến thì phải làm sao? Thật ra là có điều huyền diệu, điều huyền diệu ở đây là gì ư? Chỉ cần trong ấn Chuẩn Đề Phật Mẫu, có một đầu ngón tay trong thủ ấn đó móc một cái, động đậy một cái, là sẽ làm xúc động được tâm của Chuẩn Đề Bồ Tát, khiến trong tâm Ngài rất cảm động, không phải là trong lòng rất cảm mạo đâu nhé. Là trong lòng rất cảm động, trong lòng Ngài cảm động rồi thì Ngài không đến không được, không giáng xuống không được. Tại sao vậy? Bởi vì bạn hiểu được ấn “tâm trong tâm” ở bên trong thủ ấn của Chuẩn Đề Bồ Tát. Ấn tâm trong tâm chính là một thủ ấn bí mật nhất. Bạn kết thủ ấn của Chuẩn Đề Bồ Tát, rồi làm xúc động tâm trong tâm của Ngài, Ngài nhất định sẽ giáng xuống.

Mỗi một vị Phật, Bồ tát đều có thủ ấn tâm trong tâm của riêng mình. Cái này phải truyền bí mật. Thủ ấn là vô cùng bí mật. Phải mật truyền, cho nên mọi người phải quy y.  
Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum!

29/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 038. Bốn trọng điểm tu Kim cương thừa (1)

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về bốn trọng điểm tu Kim cương thừa. Bây giờ mọi người đều biết Kim cương thừa là rất thù thắng. Tu pháp phải có phương pháp tu hành thực tế. Dòng chảy của toàn bộ Kim cương thừa là vô cùng sâu xa, thành tựu của các vị tổ sư Kim cương thừa đều rất vĩ đại. 

Lấy Chân Phật Tông để nói, Chân Phật Tông tuy là do bản thân tôi sáng lập, nhưng bản thân tôi lại là thực tu Mật pháp, thực sự đi vào bên trong tam muội của Kim cương thừa, cũng đã hòa nhập vào Tỳ Lô Tính Hải, vào bên trong Hoa Nghiêm Đại Quang Minh Hải, có thể nói tôi cũng là “tức thân thành tựu”, lúc này bản thân tôi đã được “tức thân thành tựu” rồi.

Tổ sư các đời của Chân Phật Tông chúng ta, ví dụ tổ sư của Bạch giáo Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16. Tổ sư Hoàng giáo Thượng sư Thubten Dhargye. Tổ sư Hồng giáo Liễu Minh Hòa Thượng. Tổ sư Hoa giáo Thượng sư Sakya Chứng Không. Các vị đều là các đại thành tựu giả.

Bản thân tôi cũng từng trực tiếp học pháp từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở trong định. Tôi từng kể rồi, tôi được Kim Cang Tát Đỏa đưa vào trong hư không, dạy cách lắc chuông chày. Tại thời điểm rất sớm, khi tôi vừa mới có thiên nhãn, cũng có Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh trực tiếp đến truyền thụ thủ ấn cho tôi. Vì vậy truyền thừa này cũng có thể nói là một truyền thừa đại viên mãn, có truyền thừa của hư không giới, cũng có truyền thừa của nhân gian.

Vì vậy trong Kim cương thừa của Mật giáo có nói đến, điểm trọng yếu thứ nhất chính là “bất động”. Bất động này không phải là nói về Bất Động Minh Vương, mà là dạy bạn có tín tâm bất động. Về căn bản, khi bạn bước vào Kim cương thừa, bước vào Chân Phật Tông, tín tâm của bản thân bạn phải vô cùng kiên cố, chính là phải bất động. Tại sao vậy? Vì Chân Phật Tông thực sự có nguyên liệu thực tu, thực sự có rất nhiều thành tựu giả.

Lấy Bạch giáo làm ví dụ, từ Kim Cương Trì truyền thụ cho Tilopa, Tilopa truyền cho Naropa, bản thân Naropa lại truyền cho Marpa, Marpa truyền cho Milarepa, Milarepa truyền cho Gampopa. Mọi người đã đọc “Truyền kỳ Milarepa” rồi, thành tựu của Milarepa là rất vĩ đại, ngài thực sự là đại thành tựu giả.

Trong Chân Phật Mật Pháp của Chân Phật Tông chúng ta, thực tế nếu tính ra chính là tinh hoa của toàn bộ Mật giáo. Tương lai bạn cũng có thể tu thành Milarepa, cũng có thể tu thành đại thành tựu, toàn bộ thần thông nhậm vận, toàn bộ kim cang tam muội, toàn bộ ánh sáng cầu vồng bạn đều có thể tu thành, đều có thể trở thành Bồ tát, trở thành Phật, trở thành Kim cang Hộ pháp, đây là một loại thành tựu rất lớn về mặt thực tế.

Một yếu quyết quan trọng của tu hành chính là phải định tâm, bất động có nghĩa là định tâm lại, bạn khéo léo đi trên con đường này, đây là một đại đạo đại thủ ấn quang minh. Một đại đạo đại thủ ấn quang minh vô cùng. Bước về trước là không sai, cần phải có lòng tin. Nhiều vị tổ sư như vậy đã chứng minh cho bạn thấy, Phật Bồ tát chứng minh cho bạn thấy, Đại Nhật Như Lai chứng minh cho bạn thấy.

Lấy Lư Sư Tôn làm ví dụ, truyền thừa trong hư không thực sự của Sư Tôn là Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, rồi truyền thừa đến tôi, truyền thừa hư không này là vô cùng trân quý. Tôi vừa có truyền thừa nhân gian, vừa có truyền thừa hư không. Đây là truyền thừa đại viên mãn. Chân Phật Tông chúng ta có truyền thừa lớn, truyền thừa đại viên mãn. Mọi người cần phải có tín tâm, bạn có niềm tin này rồi, sau khi bạn có được pháp rồi, bạn tinh tấn bước về phía trước thì chắc chắn sẽ thành tựu, tu hành chắc chắn sẽ viên mãn, tương lai bạn có thể có được rất nhiều chứng nghiệm, có được cảm nhận vô cùng tuyệt hảo.

Vì Mật pháp là vô cùng trân quý, và do thành tựu của các vị tổ sư đã chứng minh cho chúng ta thấy, cho nên mọi người càng phải có tín tâm bất động và tín niệm bất động.

Tiếp theo chúng ta nói về điểm quan trọng thứ hai, trọng điểm thứ hai là kinh nghiệm. Trong quá trình tu hành, bạn sẽ sinh ra một kinh nghiệm. Vì Mật giáo là phòng thí nghiệm, Mật giáo là nói về thực nghiệm chứ không phải nghe giảng bài. Nghe giảng bài thì phần lớn là Hiển giáo, ở trong phòng học nghe giảng bài, giáo viên giảng và bạn nghe, nhưng khi bạn thực sự thực hành thì sẽ sinh ra một kinh nghiệm, bởi vì tu hành sản sinh ra một loại kinh nghiệm là rất quan trọng.

Rất nhiều khẩu quyết tâm yếu của tổ sư truyền lại cho mọi người, nếu bạn lấy được khẩu quyết tâm yếu này đi tu hành sẽ sinh ra kinh nghiệm của bản thân bạn. Điều này rất quan trọng, bạn sẽ sản sinh khẩu quyết tâm yếu của chính mình. Bản thân bạn phải như thế nào mới có thể nhập định? Sau khi bản thân bạn trải qua rèn luyện, sau khi trải qua thực tu về mặt thực tế, bạn sẽ sinh ra kinh nghiệm của chính bản thân mình. Đây chính là khẩu quyết tâm yếu của riêng bạn.

Chúng ta có được khẩu quyết của Lư Sư Tôn, Lư Sư Tôn làm sao để nhập tam ma địa? Ông ấy đem kinh nghiệm của mình nói cho bạn nghe, sau khi bạn thực hành theo, vậy thì bạn cũng có thể từ trong đó hấp thụ kinh nghiệm của các tổ sư nhiều đời, sau đó sinh ra kinh nghiệm của mình, sau khi kế thừa sẽ biến thành kinh nghiệm của mình, đó là khẩu quyết tâm yếu của bạn. Điều này rất quan trọng, trọng điểm thứ hai chính là kinh nghiệm.

Kinh nghiệm khẩu quyết tâm yếu của một số người chưa chắc thích hợp với bạn. Vì vậy những gì mà giáo viên giảng trước đây, bạn ghi chép, học thuộc lòng, nhưng khi bạn về nhà tự thực hành thì phát hiện phương pháp của mình tốt hơn, vậy thì cái này biến thành khẩu quyết tâm yếu của bạn, chính là kinh nghiệm của bản thân bạn. Đây là điểm thứ hai, cái này rất quan trọng.

Điểm thứ nhất là tín tâm bất động, điểm thứ hai là bạn phải tự sản sinh khẩu quyết tâm yếu của mình. Từ khẩu quyết tâm yếu của tổ sư các đời, bạn cảm thấy bộ nào hợp với mình thì cái đó sẽ biến thành khẩu quyết tâm yếu của bạn. Đây là điểm thứ hai.  
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

30/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kì.

### 039. Bốn trọng điểm tu Kim cương thừa (2)

Điểm trọng yếu thứ ba trong bốn trọng điểm tu Kim cương thừa chính là quả vị. Quả vị không phải là nói bây giờ bạn đã đạt Phật gì đó, Bồ tát gì đó. Quả vị Phật, Bồ tát đúng là quả vị, không sai. Nhưng quả vị ở đây là dạy bạn nhận định rõ mình đã tu hành đến cảnh giới nào rồi. Điểm thứ ba này bạn phải luôn luôn chú ý.

Bạn là một hành giả tu hành, trong quá trình tu Kim cương thừa sẽ sản sinh ra nhiều cảm nhận. Những cảm nhận này khi sản sinh ra, bạn cần phải nhận định rõ ràng, cảm nhận này của bạn là ở cấp độ nào. Vì vậy phải chú ý, mọi người cần phải luôn luôn chú ý mình đã tu đến cảnh giới nào rồi. Hoặc là bạn vốn dĩ không có cảnh giới nào cả, nếu bạn đã không có cảnh giới nào cả thì bạn phải làm tốt Tứ gia hành của mình, trì chú cho thật tốt, công phu tu tập cao thâm rồi, cái gọi là du già chính là tương ứng, bạn có tương ứng rồi thì bạn sẽ biết cảnh giới của mình.

Có rất nhiều người hỏi Lư Sư Tôn là: “Bổn tôn của con là ai?” Khi bạn tu Bổn tôn của mình, bạn tu đến lúc tương ứng rồi, bạn sẽ biết ngay Bổn tôn của bạn là ai. Thậm chí là Phật, Bồ tát có duyên với bạn sẽ hiện ra trước mặt bạn, bạn sẽ biết Bổn tôn của mình là ai.

Có rất nhiều người viết thư hỏi tôi: “Hộ pháp của con là ai?”  
Đây là chuyện vô cùng kỳ lạ đó, bởi vì nếu Hộ pháp của bạn mà phải nhờ Sư Tôn tìm, cho thấy là bạn vẫn chưa tương ứng với Hộ pháp. Trong quá trình tu hành của bạn, Hộ pháp đột nhiên xuất hiện trước mặt bạn, bạn nhìn thấy Hộ pháp rồi, bạn sẽ biết Hộ pháp là ai.

Sư Tôn từng kể trong lúc Sư Tôn đang tu pháp, đột nhiên giống như đáy biển vậy, sóng to gió lớn, toàn bộ vũ trụ, toàn bộ nước đều đang xoay chuyển, chính giữa hiện ra một đại Hộ pháp, thì ra là Hộ pháp đang làm pháp. Tôi vừa nhìn, chà! Thì ra là Đại Uy Đức Kim Cang. Sau đó tôi coi Đại Uy Đức Kim Cang làm Hộ pháp của mình, sau đó cùng Ngài lập ra lời thề ước, tức là có thể phụng thỉnh Ngài bất cứ lúc nào, đây chính là nguồn gốc của Hộ pháp.

Trong quá trình tu pháp, tôi cảm nhận được Đại Uy Đức Kim Cang hiển hiện, ở dưới đáy biển nổi lên cơn sóng to gió lớn, một loại pháp lực, một loại sức mạnh được sinh ra, năng lượng đó gần như là làm chấn động cả trời đất. Đây chính là một cảnh giới. Đây chính là quả vị của bạn. Trong quá trình tu pháp, bạn đạt được cảnh giới nào đó, nghĩa là bạn đã đi vào quả vị nào đó. Điều này là trọng điểm thứ ba của Kim cương thừa. Bạn sẽ luôn luôn lĩnh hội được trọng điểm thứ ba này, phải thường xuyên nghĩ như vậy. Ví dụ, mấy hôm trước chúng ta có nói, bạn ở Sơ thiền. Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, tôi đều đã giảng rồi, tất cả đều có đặc trưng riêng. Khi bạn ở Sơ thiền, trải nghiệm đặc trưng của bạn là cái gì? Nhị thiền, điểm trọng yếu của nó là gì? Điểm trọng yếu của Tam thiền là gì? Điểm trọng yếu của Tứ thiền là gì?

Bạn thường xuyên cảm thấy niềm hỷ lạc ngập tràn, khi khí của bạn lưu thông sẽ xuất hiện niềm hỷ lạc, bạn sẽ biết mình đã đạt đến cảnh giới của Sơ thiền.

Bạn có thể nhìn thấy tịnh quang rồi, nhìn thấy ánh sáng rồi. Thanh tịnh, quang minh, bạn đều có thể nhìn thấy, bản thân bạn đã thanh tịnh rồi, thân thể có ánh sáng, là bạn đã đạt đến cảnh giới Nhị thiền.

Bạn đã không động tâm nữa, bất cứ chuyện gì xảy đến, bạn cũng đều bất động. Khi đạt đến cảnh giới bất động, có bất cứ hỷ, nộ, ái, lạc đến xâm phạm bạn, rất nhiều lo buồn, phiền não đến xâm phạm bạn, bạn đều bất động. Bạn đi vào bên trong bất động tam muội là bạn đã đạt cảnh giới của Tam thiền rồi, cõi Tam thiền. Thật là lợi hại đó, khi đắc Tam thiền là đã rất xuất sắc rồi!

Khi bạn đến Tứ thiền, bạn sẽ sản sinh “bình đẳng tính trí”. Bạn xem chúng sinh tất cả đều bình đẳng, không có tâm phân biệt tốt xấu. Người đời thường phân biệt con người, người này là người tốt, người kia là người xấu. Người này xấu muốn bỏ bùa tôi, người này tốt, khá có duyên với tôi, vậy thì bạn vẫn chưa đạt Tứ thiền. Người thực sự đến được cõi Tứ thiền sẽ bình đẳng tính trí, xem tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Bạn nhìn thấy người xấu chỉ có tội nghiệp và cảm thương họ, và bạn sẽ nghĩ cho họ, giúp đỡ họ. Bạn gặp được người tốt, bạn cũng sẽ mời họ tu pháp, tiếp tục làm việc thiện. Khi bạn dùng tâm bình đẳng để đối đãi chúng sinh nghĩa là bạn đã đến cõi Tứ thiền, đây là bình đẳng tính trí.

Bạn phải tự mình cảm nhận tâm của mình, phải là tâm bất thoái. Chứ không phải hôm nay vui vẻ, ngày mai u sầu, đây không phải niềm hỷ lạc. Ngày thường trong tâm bạn cảm thấy niềm hỷ lạc ngập tràn, bất thoái chuyển, đó chính là Sơ thiền.

Tôi nói cho mọi người biết, bạn muốn tu đến Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền đã là không dễ dàng rồi. Rất ít người có thể tu được cảnh giới đó, đã rất ít rồi. Tu hành có thể tu đến cõi Tứ thiền, mười tám tầng trời Tứ thiền, đến cõi Sắc cứu cánh cao nhất của Sắc giới, vào tiếp nữa là Vô sắc giới rồi. Người có thể tu đến cõi Tứ thiền, trên đời không còn mấy ai nữa. Nói cho mọi người biết, không còn mấy ai nữa đâu.

Chỉ riêng về Sơ thiền, bạn cần phải để khí lưu chuyển trong cơ thể, khiến ma sát giữa khí và kinh mạch của bạn sinh ra niềm hỷ lạc, niềm hỷ lạc này siêu việt tất cả, có thể giữ được niềm hỷ lạc này mãi mãi, chính là Sơ thiền thực sự. Loại pháp hỷ này rất tuyệt vời, có mấy ai làm được? Ngay đến Sơ thiền cũng không vào được thì cõi Sắc giới cũng không vào được, rất khó đó. Vì vậy trải nghiệm chi tiết trong cảnh giới tu hành của bạn chính là quả vị

Điểm thứ tư. Bạn thường xuyên phải nghĩ đến ba điểm nêu trên. Bất động, tâm bất động, khẩu quyết tâm yếu trong tu hành của bạn, cảnh giới tu hành hiện tại của bạn, quả vị là gì? Đến chỗ nào rồi? Thường xuyên nghĩ về ba điểm trên, chính là điểm thứ tư. Vì vậy nói là có bốn yếu điểm, thật ra là có ba điểm, nhưng điểm cuối cùng là bạn phải thường xuyên nghĩ đến ba điểm trên.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

30/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 040. Hàng phục và kết giới

Hôm nay chúng ta sẽ nói về ma. Trong Mật giáo rất chú trọng đến ma chướng. Ma là gì ư? Chúng ta phải biết rằng trong Phật giáo, nói đến ma là có bốn loại rất quan trọng: Một là phiền não ma, hai là tử ma, ba là âm ma, cuối cùng là thiên ma, là bốn ma này. 

Có một số ma là do nội tâm của mình sinh ra. Giống như âm ma, âm ma và phiền não ma đều là do bản thân mình tự sinh ra. Ở đây phải hàng phục tham, sân, si của chính mình. Có một số ma đến từ bên ngoài, giống như tử ma, thiên ma, đều là đến từ bên ngoài. Bản thân Mật giáo rất xem trọng pháp phòng ma, bởi vì xem trọng nên có rất nhiều pháp. Phương pháp phòng hộ, phương pháp kết giới đều là pháp phòng ma. Ví dụ kết giới, trong lúc chúng ta tu pháp, chúng ta thường xuyên phải kết giới, phải mặc giáp hộ thân, mặc giáp hộ thân và kết giới đều là phương pháp phòng hộ.

Ngoài ra trong Mật pháp còn có pháp trói, chính là trói ma lại, trói chặt lại. Cũng có pháp đóng đinh, pháp đóng đinh là rất lợi hại, tức là đóng chặt chúng lại, đóng chết chúng, cũng có pháp đóng đinh như vậy.

Nói đến chướng ngại của ma, bản thân ma sẽ gây chướng ngại cho người tu hành, cũng cắt đứt huệ mệnh của con người, cũng sẽ quấy nhiễu, cũng sẽ phá hoại, đây đều thuộc về ma.

Trước đây, một câu chuyện nổi tiếng về Lư Sư Tôn và ma là như thế này. Trước đây tôi gia trì cho người ta, cho người bệnh, kết quả ma bỏ chạy, bệnh nhân khỏi bệnh, nhưng mà ma đó ngược lại chạy đến tìm tôi. Cũng may là bản thân tôi biết cách phòng hộ. Khi tôi đi ngủ, nó đến tìm tôi là như thế này. Ví dụ khi tôi sắp ngủ say, nó sẽ đánh mấy cái vào ngực, hoặc là động mấy cái thế là bạn không thể ngủ được nữa. 

Bản thân tôi biết pháp phòng hộ, tôi đã biến chiếc giường của mình thành một đóa hoa sen từ trước rồi, biến hóa xung quanh chiếc giường thành nước, nước rất nhiều, trong đó có hoa sen, và tôi ngủ ở chính giữa hoa sen. Ma đó không có cách nào đến gần, nhưng con ma này rất lợi hại, nó biến thành một con rắn nước, rồi bơi bơi bơi, bơi đến bên cạnh hoa sen thì cắn vào chân của tôi. Vậy phải làm sao? Cũng may tôi có thể làm hỏa diễm. Hỏa diễm có nghĩa là có thể làm pháp nổi lửa, biến thành lửa kim cang giáng xuống, lửa kim cang xoay quanh đóa hoa sen. Đêm đó tôi ngủ rất ngon. 

Tôi thường hay nhắc đến chuyện này là muốn nói, vì sự việc vô cùng rõ ràng, lửa kim cang, hoa sen, kim cang hỏa diễm, xung quanh lại là nước, cho nên con rắn đó bị lửa thiêu xèo xèo, bị lửa đốt kêu xèo xèo. Vì vậy mà tôi ngủ rất ngon, giấc ngủ rất tốt.

Cho nên hành giả của Chân Phật Tông nhất định phải biết phòng hộ, mặc giáp hộ thân cơ bản nhất bạn đều phải biết, cái đó là cơ bản nhất, mỗi lần chúng ta tu pháp đều có mặc giáp hộ thân.

Chúng ta còn có rất nhiều phương pháp phòng hộ, như là pháp kết giới, như là pháp Quan Âm Thân Đàn Thành là pháp kết giới rất tốt. Ví dụ kết giới cọc kim cang, vậy thì xây tường kim cang trước, rồi làm ngọn lửa kim cang, trong hư không có võng kim cang, ở dưới đất còn có nền móng kim cang. Bốn tầng kết giới, có nền móng kim cang, võng kim cang, cọc kim cang xây tường kim cang, ngọn lửa kim cang, đây chính là pháp Tứ trùng kết giới.

Vì vậy trong Mật giáo rất xem trọng những pháp này. Ma vốn dĩ là rất lợi hại, nó có sức phá hoại, có thể làm đứt huệ mệnh của người khác, sẽ mang đến phiền não cho bạn, sẽ quấy nhiều bạn, cho nên cần phải làm kết giới và phòng hộ.

Còn có một pháp nữa, đó là của Đạo gia, trước đây tôi cũng từng nói đến, gọi là pháp Giếng vàng. Pháp Giếng vàng giống như giơ kiếm chỉ. “Nhất họa thành giang, nhị họa thành hà, tam họa tứ họa thành kim tỉnh, thử chỉ phi phàm, nãi thị Lư Sơn tú tài chỉ, chỉ thiên thiên thanh, chỉ địa địa linh, chỉ nhân trường sinh, chỉ quỷ diệt vong.” Đây chính là pháp Giếng vàng. 

Vẽ một nét thành sông, vẽ hai nét thành hồ, vẽ ba, bốn nét thành giếng vàng. Ngón tay này phi phàm, đó là ngón tay của tú tài Lư Sơn, chỉ trời trời xanh, chỉ đất đất linh, chỉ người trường sinh, chỉ quỷ diệt vong. Quỷ, ma mà gặp phải chỉ tay của bạn là chúng sẽ tiêu đời ngay, vì chỉ quỷ diệt vong mà. Đây là pháp của Đạo gia mà năm xưa sư phụ tôi truyền cho tôi.

Chúng ta biết là trong Mật giáo còn có pháp Cửu tự chân ngôn, là pháp trói. Ấn Tứ tung ngũ hoành: lâm, binh, đấu, giả, giai, trận, liệt, tại, tiền, đẩy ra một cái là cái lưới này sẽ đi về phía trước, ma ở trước mặt sẽ lập tức bị ấn Tứ tung ngũ hoành của Cửu tự chân ngôn nhốt lại, liền bị trói lại. Sau đó dùng chày kim cang đóng một cái vào ma ở bên trong Cửu tự chân ngôn, đóng một cái là nó chết ngay.

Pháp Cửu tự chân ngôn trong Mật giáo: lâm, binh, đấu, giả, giai, trần, liệt, tại, tiền, đẩy một cái, cái này rất lợi hại, cái lưới sẽ bay ra. Cửu tự chân ngôn cộng thêm ấn Tứ tung ngũ hoành, sẽ trói con ma đó lại, rồi dùng đinh pháp để đóng chết con ma đó.

Vì vậy ở trong Mật giáo, Đạo giáo đều có phương pháp phòng hộ và đóng đinh ma, cái này đều là rất quan trọng. Giả sử nếu muốn học, nhất định phải quy y, phải được quán đảnh, cái này không thể bỗng dưng truyền dạy được, bên trong nó còn có rất nhiều khẩu quyết quan trọng. Giả sử như mọi người lo sợ thì sau khi quy y rồi sẽ không còn sợ nữa. Vì bạn có pháp phòng ma, có pháp phòng hộ, kết giới, vậy bạn không có gì phải sợ nữa.  
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

31/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 041. Phương pháp khắc phục ma

Chúng ta sẽ nói tiếp quan niệm về ma. Trong “Truyền kỳ Milarepa” có viết như thế này. Khi Milarepa quay trở về hang động của mình, ngài tự cảm ứng được là bên trong hang động của mình có ma. Milarepa cũng biết rất nhiều phương pháp, ngài liền dùng phương pháp trị ma để trị con ma đó.

Thật ra con ma này có lai lịch rất lớn, giống như thiên ma của Đại Tự Tại Thiên, thiên ma của Ma Ê Thủ La Thiên, đều là thiên ma rất mạnh. Chính là thiên ma ở tầng trời thứ sáu của Dục giới, đều rất mạnh. Dùng phương pháp trị ma không thể nào trị được nó, vậy phải làm sao? Milarepa nhìn thấy là không thể trị được nó, ngài đổi thành phương pháp ca tụng, tán dương nó, hy vọng nó có thể vểnh đuôi lên và bỏ đi. Tán dương nhưng thiên ma cũng không chịu, nó nói: “Ngươi trị ta trị không được, đuổi ta đuổi không đi, bây giờ ngươi dùng lời tán dương để tán dương ta, ta cũng không đi.”

Chà, thiên ma này rất lợi hại. Milarepa dùng cách cứng rắn nó cũng không đi, dùng cách mềm mỏng nó cũng không đi, vậy đành phải để mặc nó. Không để ý đến nó nhưng nó vẫn ở trong hang động. Bạn xem, khi Milarepa gặp phải thiên ma, ngài dùng cách cứng rắn, dùng cách mềm mỏng, không để ý nó, nó vẫn vậy. Không để ý đến nó là như thế nào? Tạm thời không về hang động vậy, đi ra bên ngoài dạo chơi tản bộ, rồi quay về xem nó còn ở đó không. Kết quả thiên ma vẫn ở trong đó, vậy phải làm sao? 

Trong lúc không còn cách nào nữa, Milarepa nghĩ đến một quan niệm. Bản thân ma cũng là huyễn. Bạn phải biết là chân lý của vũ trụ suy diễn đến tận cùng thì toàn bộ thế giới cũng chỉ là một huyễn thân, bản thân bạn, bản thân Milarepa cũng là một huyễn thân, không hề có thực tính, không hề có thực thể. Bản thân ma cũng là huyễn hóa ra, cũng là không có thực thể.

Vừa nghĩ đến như vậy, Milarepa liền hóa mình thành vô ngã, trong trạng thái không có cái tôi để đi vào trong hang động, vừa bước vào thì ma cũng không còn nữa.

Đây là đạo lý gì? Ở đây có một quan niệm rất sâu xa ở bên trong, thật ra bản thân ma cũng là chúng sinh, bản thân ma cũng là huyễn, chữ huyễn trong huyễn giác, không có thực thể, không có cơ thể thật sự. Nếu ma muốn hại bạn, bạn nhất định phải có thực thể nó mới có thể hại bạn. Khi bạn biết được mình là huyễn hóa, ma cũng huyễn hóa thì sẽ hóa thành hư vô, sẽ hóa thành không có gì cả. Đây là một vấn đề về mặt quan niệm, nhìn chung rất khó để người bình thường có thể lĩnh hội được quan niệm này, rất ít người lĩnh hội được quan niệm này. 

Nhưng mà, một người tu hành cần phải biết, bản thân ma cũng là một trong những chúng sinh. Bạn là chúng sinh, ma cũng là chúng sinh. Ngoài ra, ma còn như thế nào nữa? Ma còn là một sự hóa hiện thâm mật của Bồ tát. Tại sao lại là sự hóa hiện thâm mật của Bồ tát? Một người tu hành phải trải qua mọi loại thử thách của ma thì mới có thể thành Phật. Bạn xem Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài ngồi dưới gốc cây bồ đề, trước khi ngài thành đạo, thiên ma cũng giáng xuống để thử thách ngài. Bởi vì con người có tham, sân, si, vậy nên thiên ma mới lợi dụng tham, sân, si của con người để thử thách bạn, bạn cần phải vượt qua được ma này thì bạn mới đạt được thành tựu.

Vì vậy ma cũng không phải chỉ có mặt xấu, nó còn có mặt tốt, nó đến là để thử thách người tu hành chúng ta, bạn phải có quan niệm này. Vì vậy không cần phải sợ ma, cũng tức là bạn cần phải tiếp nhận thử thách của ma, bạn phải chiến thắng ma và vượt qua ma chướng thì bạn mới có được thành tựu.

Vì vậy trong quan niệm của chúng ta đôi khi cần phải nhận thức rằng ma chính là sự hóa hiện thâm mật của Bồ tát. Ngài biến thành ma để đến thử thách đạo tâm của bạn, thử thách cảnh giới của bạn. Phương pháp phá ma công hiệu nhất của Milarepa chính là xem ma thành không và vô, là cảnh giới cao nhất. Ở cảnh giới cao nhất, bản thân ma cũng là huyễn, huyễn trong huyễn giác. Vì vậy bản thân nó không có thực tính ở bên trong. Khi bản thân bạn biến hóa mình thành vô ngã thì ma cũng không tồn tại nữa. Vì bạn đã không tồn tại nữa rồi thì ma còn tồn tại sao? Ma vì bạn mà khởi, nếu bạn không tồn tại thì ma cũng không tồn tại. Vì vậy khi Milarepa bước vào hang động, ma cũng không tồn tại nữa.

Đây là một phương pháp phá ma. Hành giả Mật giáo chúng ta cần phải biết kết giới, biết phòng hộ, và phải có quan niệm về ma. Nếu bạn có thể như vậy, bạn sẽ có thể siêu việt, bạn có thể vượt qua ma, bạn có thể nhảy khỏi những ma chướng này. Lấy tôi làm ví dụ, tôi xem ma như là “vô”, giống như không có, tất cả mọi ma chướng, tất cả chướng ngại, toàn bộ hóa thành hư vô. Vì tôi không xem phiền não là phiền não, tôi không xem chướng ngại là chướng ngại, tôi không xem ma là ma. Khi bạn không xem ma là ma thì ma sẽ không còn nữa. Nếu bạn không xem phiền não là phiền não thì phiền não cũng không còn nữa. Bạn không xem chướng ngại là chướng ngại thì chướng ngại cũng sẽ không còn nữa. Đây là một phương pháp tu hành, chính là một sự siêu việt, một phương pháp vượt qua phiền não, vượt qua chướng ngại, vượt qua ma. Vì vậy Milarepa xem ma thành huyễn, ma liền biến mất.

Có lẽ nói như vậy, các vị vẫn không thể hiểu rõ cho lắm, vậy sau này sẽ giảng giải rõ ràng hơn một chút.  
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

31/07/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 042. Cảm nhận về phong mạch ánh sáng

Hôm nay tôi sẽ nói tiếp với mọi người về phương diện cảm nhận. Chúng ta tu Kim cương thừa là có cảm ứng, có cảm nhận, cảm nhận có thể nói là bạn cảm thấy một loại cảm giác. Trước đây tôi từng nói về phương diện cảm nhận này rồi, có niềm hỷ lạc, có bình đẳng, có bất động, có thể nhìn thấy được ánh sáng thanh tịnh, có những cảm nhận như vậy.

Cũng có đệ tử hỏi: “Cảm nhận này, đến một trạng thái nào mới có thể cảm nhận được?”

Tôi đã nói qua rồi, ví dụ như về mặt hỷ lạc, có thể nói rất nhiều người đều nói cảm nhận về mặt lý luận, ví dụ cảm thấy cơ thể rất nhẹ nhàng, như thế gọi là khinh an, cảm giác rất khinh an. Có người cảm thấy rất mát mẻ, nói là học Phật cảm giác rất mát mẻ, rất thoải mái. Không khí rất mát mẻ, thật ra không phải là không khí mát mẻ mà là tâm mình cảm thấy rất mát mẻ. Có người về mặt lý luận cảm nhận được pháp hỷ. Sau khi tu hành, cảm thấy pháp hỷ ngập tràn, pháp hỷ cũng là một dạng của niềm hỷ lạc. Là bởi vì bạn tu pháp, bạn hợp với Phật pháp, về mặt tâm lý cảm thấy vô cùng vui thích, loại hiện tượng này thuộc về mặt lý luận.

Còn niềm hỷ lạc mà Lư Sư Tôn nói thì khác, nó được phát ra từ bên trong, hôm trước tôi có nói rồi, tức là khí ở bên trong cơ thể bạn thông qua kinh mạch, bạn tự nhiên ở trong thiền định, do khí thông kinh mạch sản sinh ra một cảm giác vi diệu, loại cảm giác này là khởi nguồn của niềm hỷ lạc thực sự.

Tôi cho rằng thế này, không phải về mặt lý luận mà là về phương diện nội tu một cách thực tế sẽ sản sinh ra một cảm giác vi diệu của niềm hỷ lạc. Đây chính là cảm nhận về mặt thực tế, không phải là về mặt lý luận. Về mặt lý luận bạn nói là tôi cảm thấy pháp hỷ ngập tràn, nhưng cảm giác này của bạn là nói suông, pháp hỷ ngập tràn một cách nói suông. Pháp hỷ ngập tràn thực sự là từ khí ở bên trong cơ thể bạn khi thông qua trung mạch sản sinh ra một niềm hỷ lạc. Ở đây tôi nói khi ở trong thiền định, bạn cần phải làm được, đây là một điểm.

Ngoài ra, bạn nói bạn nhìn thấy ánh sáng, nhắm mắt lại tôi cũng nhìn thấy ánh sáng đỏ, cái này không phải là thực sự nhìn thấy ánh sáng, đây là một cảm giác của mắt về mặt thị giác của bạn thôi. Ánh sáng ở đây là ánh sáng nội tại, chứ không phải là bạn nhắm mắt lại rồi đột nhiên có chớp sáng, ơ đột nhiên tôi nhìn thấy một tia chớp sáng này, không phải là loại ánh sáng ngộ nhận nhìn bằng mắt này đâu, mà là ánh sáng chiếu ở bên trong, đây mới là tịnh quang thực sự. 

Đó là khí của cơ thể bạn đã thông đến luân xa tim, bên trong luân xa tim có một mạch ánh sáng, đây gọi là phong mạch ánh sáng. Bên trong luân xa tim của bạn có phong mạch ánh sáng. Khi mở luân xa tim ra bạn nhìn thấy ánh sáng nội tại, vô cùng sáng, loại ánh sáng chói lọi như một viên kim cương. Một loại ánh sáng lấp lánh ánh vàng, lấp lánh ánh trắng, đây mới là tịnh quang thực sự. Bạn thực sự có thể nhìn thấy, đây gọi là thanh tịnh. Thanh tịnh một thứ thì mọi thứ đều thanh tịnh, toàn thân đều phát ra ánh sáng, đó là ánh sáng nội tại. Đó là khi khí của bạn thông qua luân xa tim, mở luân xa tim ra sẽ nhìn thấy ánh sáng nội tại chứ không phải là mắt của bạn nhìn thấy, đừng nhầm lẫn nhé!

Có nhiều người cho rằng nhìn thấy ánh sáng, mắt tôi ti hí nhìn thấy một chút, không phải cái đó, mà là ánh sáng nội tại, tịnh quang ở bên trong. Là chứng nghiệm thực tế, là khí của bạn đi qua luân xa tim, mở luân xa tim ra mới hiển hiện ánh sáng này.

Bạn cũng có thể cho rằng mình đã bất động rồi, bao nhiêu phiền não đến, tám ngọn gió thế gian thổi bất động, bạn đã thiền định rồi, có thể vào được cảnh giới tịch tĩnh rồi, tham, sân, si gì đó, toàn bộ phiền não đều được quét sạch, bạn cho rằng, à đây là cảm nhận rất tốt, bạn đã tu đến bất động, nhưng đây là về mặt lý luận thôi.

Về mặt thực tế, tu hành thực tế trong Kim cương thừa Mật giáo của chúng ta là bạn đã thực sự đi vào, thời điểm mở luân xa bí mật của mình, thực sự mở Mật luân rồi bạn mới có thể hóa giải hết toàn bộ phiền não. Cái này rất khác biệt. Thật ra chúng ta mở Tâm luân, mở Mật luân, tại Mật luân có thể quét sạch hết toàn bộ phiền não, mọi tham sân si. Luân xa tim cũng có các mạch tham sân si, rất nhiều mạch phiền não ở xung quanh bám giữ bạn. Nếu thực sự có thể mở được năm luân xa, có thể nói là năm đại trí huệ của Như Lai bạn cũng có thể chứng được. Vì vậy Mật luân liên quan đến bất động và tịch tĩnh. Bạn mở ra Mật luân mới có thể thực sự đạt đến địa bất động. Đây là một khẩu quyết quan trọng.

Ngoài ra, khí của bạn thực sự có thể đi vào Tề luân, mở toàn bộ luân xa rốn ra, bạn mới có thể có được loại cảm giác bình đẳng nhất vị, vì khi bạn mở được luân xa rốn mới có thể đạt đến bình đẳng tính trí. Về mặt lý luận mà nói, bạn cũng có thể bình đẳng, bạn nói: “Chúng sinh đều có Phật tính mà, mọi người bình đẳng như nhau.” Đây là mặt về mặt lý luận. Về thực tế là bạn phải ở trong thiền định, ứng dụng khí và nội hỏa của bạn để mở luân xa rốn, khi mở ra rồi mới thực sự là lĩnh hội được bình đẳng tính trí.

Lý luận của bình đẳng tính trí rất hay. Tôi thường hay nói 50 năm sau bình đẳng như nhau. Nhưng cũng không chắc, có một số người vừa mới sinh ra thôi nên 50 năm sau họ vẫn còn sống. Là tôi đang nói đến cái tuổi tác của mình, 50 năm sau, tất cả bình đẳng, ân oán tình thù tất cả tiêu diệt. Tôi thường xuyên nghĩ về 50 năm sau, thực sự là 50 năm sau, 50 năm sau không còn sống nữa, bạn còn có gì mà không bình đẳng chứ? Tất cả bình đẳng, nhất loạt bình đẳng, đây là mặt lý luận thôi. Sự bình đẳng thực sự về mặt thực tế là mở luân xa rốn, lúc đó sẽ có cảm nhận bình đẳng nhất vị. 

Được rồi, hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

01/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 043. Tu pháp cần tương ứng ra sao?

Chúng ta biết là Kim cương thừa còn gọi là du già, du già tức là yoga. Ý nghĩa của yoga phiên dịch thành tiếng Trung của chúng ta tức là tương ứng. Tương ứng thật ra chính là muốn nói cá nhân bạn hợp nhất với đại ngã của vũ trụ, chính là tương ứng. Trong Kim cương thừa mà nói, giống như bạn tu Bổn tôn nào đó, bạn và Bổn tôn đó đã hợp nhất rồi, đó chính là tương ứng.

Vốn dĩ Phật và tôi là tách biệt, hôm nay Phật A Di Đà là Phật A Di Đà, Lư Thắng Ngạn là Lư Thắng Ngạn, là hai. Nhưng hôm nay bạn tu Kim cương thừa, có nghĩa là Phật A Di Đà và Lư Thắng Ngạn là hợp nhất, là một. Khi bạn hợp nhất tức là tương ứng.

Cái này rất đơn giản, tôi là người, Bồ tát chính là Bồ tát, hôm nay Bồ tát và tôi hợp nhất với nhau rồi, cái này chính là tương ứng. Vì vậy bạn tu hành chính là biến mình thành Bồ tát, rất đơn giản, là biến mình thành Phật. Đây chính là đạo lý của Kim cương thừa, nên du già chính là tương ứng.

Vậy thì muốn tương ứng đương nhiên phải trải qua một quá trình cố gắng, chứ không phải nói là hôm nay tôi tương ứng rồi, vâng, tôi chính là Bồ tát, chính là Phật, đó là chuyện không thể nào. Nhất định phải trải qua một quá trình tu hành rất dài.

Theo như những gì các vị tổ sư nói, bạn muốn nhanh chóng tương ứng với Phật, Bồ tát là phải có vài điều kiện. Điều kiện thứ nhất, ngài nói rằng pháp phải chính, pháp chính có nghĩa là hôm nay bạn học Mật pháp, ví dụ chính pháp của Chân Phật Mật Pháp, chính pháp tức là Mật pháp chân chính. Mật pháp chân chính tức là nói đến phương pháp mà hôm nay bạn có được là chính xác, chính là chính pháp. Đây là điều kiện đầu tiên.

Còn điều kiện thứ hai chính là phương pháp tu hành của bạn nghi quỹ phải viên mãn, không có khuyết điểm. Giống như chúng ta làm pháp, trong Mật giáo rất chú trọng nghi quỹ và thứ tự. Những chỗ không thể bỏ sót bạn không được bỏ sót. Bạn phải làm được hết tất cả các trọng điểm, mỗi một trọng điểm đều phải làm được. Bạn làm được tất cả trọng điểm, vậy thì nghi quỹ của bạn sẽ vô cùng viên mãn, phương pháp tu pháp của bạn sẽ vô cùng viên mãn. Vì vậy nghi quỹ phải viên mãn, không được có thiếu sót.

Vậy điều kiện thứ ba thì sao? Bạn phải giữ giới. Như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với chúng ta phải kính sư, phải trọng pháp, phải thực tu, Sự sư pháp ngũ thập tụng, tức là bạn phải giữ 50 quy tắc ứng xử đối với Căn bản Thượng sư của mình, phải giữ 14 đại giới của Mật giáo, bạn không giữ giới, làm loạn lung tung, vậy bạn làm sao tương ứng được? 

Nhất định phải giữ giới luật của Mật tông. Sự sư pháp ngũ thập tụng, 14 đại giới cơ bản, những giới luật này bạn đều phải giữ. Nếu bạn không giữ giới, làm sao có thể tương ứng chứ, vì bạn đã mất đi lực gia trì rồi, mất đi lực gia trì của Thượng sư, mất đi sức mạnh của Bổn tôn, mất đi sức mạnh của Hộ pháp, bạn làm sao tương ứng được, không thể nào tương ứng, đây là đạo lý cơ bản.

Ngoài ra, trong quá trình bạn tu pháp, đều sẽ có rất nhiều Hộ pháp đi theo bạn, thần Hộ pháp luôn luôn bảo vệ bạn. Bạn là một người giữ giới thì thần Hộ pháp sẽ đi theo bạn, thiên long bát bộ đều đi theo bạn, bảo vệ bạn. Quyến thuộc bên cạnh Bổn tôn của bạn, Hộ pháp quyến thuộc đều sẽ đi theo bạn. Quyến thuộc của Bổn tôn và Hộ pháp chính là các vị thần ở bên cạnh bảo vệ Bổn tôn, các vị thiện thần đó đều đi theo bạn.

Có Hộ pháp đi theo bạn, bạn sẽ không sợ ma, bạn tu pháp sẽ rất thuận lợi, rất nhiều chướng ngại, rất nhiều ma nạn ở bên trong đều được giảm thiểu. Vì vậy Hộ pháp rất quan trọng. Có thiên long bát bộ luôn đi theo bạn, ở cùng với bạn, bảo vệ sự tu hành của bạn. Vậy bản thân bạn phải thành tâm. Thành tâm là thành ý, bạn vô cùng có thành ý đến quy y, vô cùng thành ý tiếp nhận quán đảnh, vô cùng thành ý tu Chân Phật Mật Pháp. Vô cùng thành ý phục vụ Căn bản Thượng sư của mình. Vô cùng thành ý kính sư, trọng pháp, thực tu. Đây là thành tâm của bạn, bạn không được đánh mất thành tâm, bạn mất đi thành tâm rồi, bạn tu pháp sẽ không thành nữa. 

Vì vậy đối với Căn bản Thượng sư của mình là phải hoàn toàn, một trăm phần trăm, hoàn toàn là một sự tôn kính. Tôn kính không phải là chỉ nói miệng. Tôn kính cần phải có thực tế, bản thân bạn phải thể hiện ra điều đó. Cho nên về phương diện tu pháp, hay là lòng cung kính của bạn đối với sư phụ, đều không phải nói bằng miệng là xong. Thân thể, lời nói và ý niệm của bạn, ba thứ này phải hoàn toàn tôn kính sư phụ của mình.

Ngoài ra còn phải phát bồ đề tâm. Sau khi bản thân bạn đã tương ứng với Phật Bồ tát rồi, bạn còn phải phát bồ đề tâm. Phát bồ đề tâm là gì? Chính là đi giúp đỡ người khác, bạn vẫn phải phát tâm nguyện rất lớn, phát tâm quảng đại giống như tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả. Từ là mang đến niềm vui cho người khác. Bi là giải quyết đau khổ của người khác. Hỷ là mãi mãi hoan hỷ để làm. Xả là có thể đem tính mạng và thời gian của mình xả bỏ hết, đều có thể xả bỏ tất cả mọi thứ của mình. Đây chính là phát bồ đề tâm.

Bạn phải từ, bi, hỷ, xả. Tứ vô lượng tâm chính là bốn loại tâm hoàn toàn loại bỏ. Hoàn toàn có thể làm từ bi hỷ xả, một khi đã phát ra bồ đề tâm này thì bạn chính là Bồ tát. Bồ tát chính là từ bi hỷ xả. Bản thân Bồ tát chính là vị có lòng yêu thương, một lòng yêu thương vô lượng vô hạn để cứu độ chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh, mang niềm vui cho chúng sinh, để không những là bản thân mình được độ mà chúng sinh cũng có thể được độ.

Vì vậy Bồ tát có lúc hy sinh cái ngã nhỏ, ngài hy sinh tính mạng của mình, hy sinh thời gian của mình để làm công việc cứu độ chúng sinh từ bi hỷ xả. Vì vậy khi bạn có tâm quảng đại như vậy, người có lòng thành, Phật ắt cảm ứng, đây chính là nói về cảm ứng. Bản thân bạn có thể phát tâm từ bi quảng đại như vậy, Phật, Bồ tát đều biết hết. Các ngài sẽ cảm ứng với bạn. Bạn có thành tâm, có bồ đề tâm, có từ bi tâm, bạn lại giữ các loại giới luật của Mật giáo, có Kim cang Hộ pháp hộ trì bạn, pháp của bạn lại là chính pháp, nghi quỹ của bạn lại viên mãn, vậy chắc chắn sẽ có cảm ứng.

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

01/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 044. Bốn thứ tự của Đại thủ ấn (1)

Hôm nay tôi sẽ giới thiệu với mọi người về bốn thứ tự của Đại thủ ấn. Vậy Đại thủ ấn là gì? Cái này theo mặt chữ mà nói rất dễ khiến người khác hiểu lầm nó là một thủ ấn, kết tay lại như vậy là đại thủ ấn, thật ra không phải. Đại thủ ấn mà Mật giáo nói đến chính là quá trình tu hành từ một phàm phu đến thành Phật gọi là Đại thủ ấn.

Đại có nghĩa là viên mãn. Thủ chính là quá trình tu hành. Ấn có thể nói là một loại ấn chứng. Đây là quá trình từ phàm phu tu thành Phật quả thì gọi là Đại thủ ấn, chứ không phải kết thủ ấn.

Đại thủ ấn có bốn thứ tự, bốn cấp độ. Cấp độ thứ nhất chính là chuyên nhất. Có rất nhiều đệ tử thường xuyên hỏi tôi tu hành là phải tu như thế nào. Câu đầu tiên tôi trả lời họ luôn là: “Bạn phải chuyên nhất.” Tu hành tu như thế nào? Tôi đều trả lời hai chữ “chuyên nhất”.

Trên thực tế chuyên nhất là cơ sở đầu tiên của tu hành, cũng có thể nói là cấp độ thứ nhất. Tại sao vậy? Nếu bạn không chuyên nhất, bạn sẽ không tu được gì cả. Điều này là chắc chắn.

Trong Mật giáo mà nói, giống như chúng ta đang thu dọn suy nghĩ, vốn dĩ chúng ta có rất nhiều suy nghĩ, ý nghĩ đếm không hết. Nhưng gom hết toàn bộ ý nghĩ lại thành một, đây là điều đầu tiên phải làm được.

Tâm niệm của người tu hành không được càng lúc càng nhiều, càng lúc càng phức tạp. Ngoài mặt bạn nói tôi là một hành giả tu hành, nhưng trên thực tế, bạn càng tu càng phức tạp, càng tu càng phức tạp là không đúng rồi. Cũng giống như tâm trạng của bạn, tâm của bạn càng tu càng trong veo thì mới là đúng. Giả sử bạn nói càng tu càng đục, đục tức là rất nhơ, càng tu càng nhơ bẩn, vậy thì không đúng. Tính nóng của bạn phải càng tu càng không còn nóng tính nữa, càng dịu êm. Giả sử bạn là một hành giả mà càng tu càng nóng nảy, vậy thì là không đúng.

Vì vậy giữa đúng và không đúng là rất dễ nhận biết. Bạn càng tu càng phức tạp, tâm sự càng lúc càng loạn, vậy về cơ bản là không đúng. Cho nên tu hành là phải tu quy về một, bạn quy tất cả về một. Rất nhiều suy nghĩ biến thành một ý nghĩ, rất phức tạp biến thành rất đơn thuần, rất nóng nảy biến thành rất điềm tĩnh. Cái không rõ ràng biến thành cái rõ ràng. Đây chính là chuyên nhất. Mọi người cần phải làm được điều này trước rồi biến nó thành Chuyên nhất du già, cái này có thể nói là Chuyên nhất du già.

Cảm nhận của Chuyên nhất du già rất rõ ràng, rất minh bạch. Đối với bất cứ chuyện gì bạn đều hiểu rõ, không phải là mơ hồ không rõ ràng. Rất đơn thuần, rất thuần tịnh, rất kiên cố, đây đều là chuyên nhất. Bạn tu Chuyên nhất du già có thành tựu rồi, bạn sẽ cảm nhận được tâm mình rất bình lặng. Bạn cũng trở nên đơn thuần hơn, bạn cũng cảm thấy tương đối sáng trong. Tín tâm cũng rất kiên cố, đây là chuyên nhất, bạn chuyên nhất tu hành thì là như vậy. 

Như vậy đã được xem là sự thăng hoa về mặt nhân cách rồi. Bạn vốn dĩ là người tính khí nóng nảy, bạn trở nên vô cùng bình tĩnh. Suy nghĩ của bạn vô cùng rõ ràng, tín tâm vô cùng kiên cố, cách nhìn của bạn về mọi sự việc vô cùng rõ ràng. Đây là một cảm nhận và thành quả sau khi bạn tập Chuyên nhất du già.

Cấp độ thứ hai của Đại thủ ấn gọi là ly hí, Ly hí du già. Ly hí nghĩa là rời xa tất cả mọi hí luận. Những người thông thường như chúng ta, sau khi tu hành chuyên nhất, bạn có ý nghĩ xuất thế. Trong Mật giáo gọi là thứ tự viên mãn, thứ tự viên mãn chính là ly hí. Thứ tự sinh khởi vẫn không phải là ly hí, thứ tự viên mãn chính là Ly hí du già, rời xa tất cả hí luận. 

Vậy thì rời xa tất cả hí luận để làm gì? Để hoàn toàn làm công phu xuất thế, bạn chính là vì muốn bản thân mình đắc được quả, vì vậy bạn rời xa tất cả hí luận. Thế nào là rời xa tất cả hí luận? Ví dụ như là một số pháp phương tiện, tất cả bạn đều không có nữa. Có người nói cái này tiện lợi đó. Cái này thuộc về pháp phương tiện, không phải là pháp thật sự có thể chấm dứt sinh tử. Ở đây đã đi vào xuất thế rồi, mọi chuyện của nhập thế đều không làm nữa, như là tiêu tai, tăng ích, hàng phục, kính ái, những cái này bạn không làm nữa, như vậy là đã đạt đến ly hí.

Vậy khi Ly hí du già, thứ duy nhất của nó chính là tâm, nghĩa là tâm linh của bạn hoàn toàn thanh tịnh rồi. Bạn chỉ là tu minh tâm này mà thôi, những cái khác đều không có. Thoát ly tất cả lý luận, thoát ly mọi loại pháp nhập thế, pháp phương tiện, hoàn toàn trở thành một loại tu hành xuất thế thành rất minh tịnh về mặt tâm linh, chính là Ly hí du già.

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum!

02/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 045. Bốn thứ tự của Đại thủ ấn (2)

Chúng ta sẽ tiếp tục nói về bốn thứ tự của Đại thủ ấn. Nói về Ly hí du già, Ly hí du già có thể nói là bạn xuất gia rồi thì xem như là Ly hí du già. Người xuất gia không còn quan tâm chuyện của thế tục, chuyện của thế gian bạn không quan tâm nữa. Bạn hoàn toàn quan tâm chuyện xuất thế, đây chính là xuất gia. Chính là ra khỏi căn nhà của thế tục, đi vào căn nhà của Phật, đây mới là xuất gia.

Sau khi bạn xuất gia rồi, nếu tâm của bạn vẫn còn ở thế tục, vậy cái đó không được xem là xuất gia, vì bạn vẫn còn tục duyên thì không phải là xuất gia. Xuất gia là bạn sẽ ly hí, rời xa tất cả mọi hí luận, rời xa tất cả thế tục, hoàn toàn chuyên tâm vào chuyện giải thoát khỏi sinh tử.

Đại thủ ấn đi vào giai đoạn thứ ba chính là Nhất vị, Nhất vị du già. Thế nào là Nhất vị? Chính là hoàn toàn chỉ có một mùi vị. Nhất vị dựa vào mặt chữ mà nói là hoàn toàn chỉ có một mùi vị, không có mùi vị thứ hai. Ở đây bạn có thể nghĩ như thế này, bất luận là về mặt vật chất hay là về mặt tâm linh của bạn, tâm-vật hoàn toàn bình đẳng. Tâm và vật hoàn toàn bình đẳng. Bất luận là bạn làm sự việc gì đều là nhất vị, một mùi vị. Có lẽ tôi nói như vậy, nói hết nửa ngày trời, mọi người sẽ cảm thấy một mùi vị thì có gì tốt chứ?

Thật ra khi đi vào nhất vị, có thể nói như thế này, chính là bình đẳng, mọi thứ đều là bình đẳng. Ở đây một chính là nhiều, nhiều chính là một. Vậy mọi người thử nghĩ xem, nhiều làm sao lại là một, một làm sao lại là nhiều? Mọi người nhìn thế giới này chắc chắn là thấy rất nhiều. Nào là núi sông, mặt đất, rừng cây, cỏ cây, hoa trái… phải là thế giới có rất nhiều thứ. Có rất nhiều động vật, rất nhiều loài dưới nước, rất nhiều chim chóc thú rừng, phải là thế giới có rất nhiều thứ. Nhưng ở trong mắt của Phật, Bồ tát thì là nhất vị. Ở trong mắt của Phật một hạt gạo chứa đại thiên thế giới, bên trong một hạt gạo chính là một thế giới. Gạo này có phải là một hạt gạo hay không? Chính là một hạt, tức là nhất vị. Tuy rằng rất nhiều, rất nhiều, nhưng thật ra chứa trong một. Cho nên một cũng là nhiều, nhiều chính là một. Một và nhiều là trạng thái bình đẳng nhất vị, gọi là Nhất vị du già. 

Sau khi bạn đạt đến cảnh giới này rồi, bạn sẽ cảm thấy tất cả mọi chuyện của thế giới này ở trong mắt bạn đều là bình đẳng nhất vị. Lúc này tất cả mọi yêu, hận, tình, thù của bạn đều là bình đẳng nhất vị cả. Yêu cũng là nhất vị, hận cũng là nhất vị, trong trạng thái mọi thứ đều là nhất vị. Vì vậy ở trong trạng thái này, bạn sẽ bình tĩnh nhất, an định nhất, đã thâm nhập vào trong đại định, trong trạng thái trí huệ hoàn toàn hiển lộ. Cái này cũng là rất khó để lĩnh hội, rất khó để hiểu trạng thái nhất vị này.

Lúc này, cuộc sống của bạn hoàn toàn trong trạng thái dừng nghĩ, có thể nói là trạng thái vô niệm đã xuất hiện. Nói đúng ra là bạn vẫn còn có rất nhiều niệm, nhưng tất cả niệm đều là nhất vị, loại cảm nhận này không đơn giản chút nào.

Cuối cùng bước vào giai đoạn thứ tư của Đại thủ ấn chính là Vô tu du già. Mọi người sẽ cho rằng, chà, Vô tu du già, rất hay đó. Vì trước đây tôi gặp được một người, anh ta nói với tôi: “Tôi không cần phải tu cái gì nữa, vì tôi đã tu qua hết toàn bộ rồi, tôi đã ở trạng thái vô tu.” 

Tôi nói: “Woa... chúc mừng chúc mừng! Anh đã không cần tu nữa rồi.”

Thật ra không phải là thực sự không tu đâu. Mà không tu chính là tu. Đây chính là Vô tu du già. Không tu chính là tu nghĩa là sao? Bạn làm bất cứ chuyện gì cũng đều là đang tu. Chà cái này rất vĩ đại đó, đến cảnh giới này rồi thì tất cả mọi chấp trước đều hoàn toàn bị phá bỏ, căn bản là bạn không còn chấp trước.

Lúc này bạn có thể xuống núi, sống trong thành phố, đến thế giới phồn hoa. Bạn đến thế giới phồn hoa làm gì ư? Vì bạn đang ở trong vô tu, tất cả đều là đang tu hành. Bạn làm bất cứ chuyện gì cũng là đang tu hành. Bởi vì bất cứ chuyện gì, bất cứ thế giới phồn hoa nào cũng không thể ảnh hưởng đến bạn. Đây chính là tu hành ở trạng thái không tu. Đây là cảnh giới cao nhất. Làm bất cứ chuyện gì cũng đều là thanh tịnh, đây là không tu mà tu.

Nếu bạn làm bất cứ chuyện gì mà vẫn còn ô nhiễm thì đó không phải là cảnh giới cao nhất của Đại thủ ấn. Cảnh giới cao nhất của Đại thủ ấn tức là bạn làm bất cứ chuyện gì cũng đều là thanh tịnh, làm bất cứ chuyện gì cũng đều là đang tu hành. Tất cả mọi thứ không bám chấp. Chà! Điều này thật tuyệt vời! Đây là cảnh giới Đại thủ ấn thực sự đắc được Phật quả. Cái này mới gọi là không tu mà tu.

Bạn nói một câu nói, đó chính là chú ngữ, bạn tùy tiện vẫy tay một cái chính là thủ ấn. Ý niệm của bạn vừa khởi lên tức là pháp. Đây là trạng thái không tu mà tu. Loại cảnh giới này rất khó giải thích với mọi người. Làm bất cứ chuyện gì cũng đều là thanh tịnh, một chút ô nhiễm cũng không có. Đương nhiên, họ còn cần tu gì chứ? Nhưng họ làm bất cứ chuyện gì cũng chính là đang tu, cái này chính là không tu mà tu.

Nói về triết học thì triết học này phải là triết học cao nhất, cảnh giới cao nhất của đời người, Phật quả cao nhất chính là không tu mà tu. Điều này rất vĩ đại.

Trong Mật giáo thì Đại thủ ấn là một pháp rất viên mãn, là cao nhất, là cấp độ thứ tư. Lúc này, người đó không tu mà tu, người đó Vô tu du già, chúng ta không nên dựa vào hành vi của họ mà phán đoán công phu tu hành của họ. Bởi vì hành vi của họ nhìn vào thì rất điên loạn, trên thực tế họ đang ở cảnh giới cao nhất, một ý niệm chính là pháp, vẫy tay một cái chính là thủ ấn. Đọc một cái, tùy tiện nói một câu, chính là chú ngữ. Trong tâm họ hoàn toàn là ở trạng thái thanh tịnh vô vi. Mãi mãi tất cả mọi sự việc được làm từ tay, đi từ chân của họ toàn bộ đều là thanh tịnh. Đây là trạng thái không tu mà tu. Cấp độ thứ tư của Đại thủ ấn giới thiệu đến đây thôi.

Om mani padme hum!

02/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết tập 1)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-2.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 2
---

![image](/img/img_796aa3d06229454ded37d2bc306fd100.jpg)

## Hồng quang đại thành tựu - Tập 2

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">623</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">Năm 1996</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### 046. Phương pháp truyền pháp (1)

Hôm nay, chúng ta sẽ nói về phương pháp truyền pháp. Trong phương pháp truyền pháp thời xưa, đại khái được chia làm hai loại, một loại là “khẩu truyền”, loại còn lại là “không truyền”.

Khẩu truyền chính là nói bằng miệng, đối phương lắng nghe. Quan trọng là nói về trọng điểm, nói ra khẩu quyết quan trọng.

Ở trong Mật giáo, rất nhiều pháp đều cần phải được khẩu truyền, bởi vì bên trong có rất nhiều kỹ xảo, không phải là cứ nhìn chữ là có thể hiểu được, không phải như vậy. Vì vậy, bạn thực sự đọc sách để tìm hiểu cũng chưa chắc có thể hiểu hết được ý nghĩa của tác giả. Thực sự phải được nói ra từ miệng của sư phụ, và bạn thọ nhận khẩu quyết tâm yếu đó, đây chính là khẩu truyền. Nói một cách đơn giản, giống như Ngũ tổ Hoằng Nhẫn của Thiền tông gọi Lục tổ buổi tối đến chỗ của ngài, ngài giảng giải vài câu nói với Lục tổ, sau đó liền giao phó pháp, tức là giao phó vị trí của Lục tổ cho Huệ Năng, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn giao lại cho Lục tổ Huệ Năng. Sự truyền pháp này diễn ra trong thời gian rất ngắn, không phải quá lâu, chỉ là trong một đêm, rồi bảo Lục tổ rời đi. Vậy thì cách truyền pháp này gọi là khẩu truyền. Đem yếu điểm quan trọng giao lại cho Lục tổ.

Cách truyền pháp này cũng rất đơn giản, chính là mấy câu nói quan trọng ở trong kinh Kim Cang: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.”

Không chừng Ngũ tổ Hoằng Nhẫn cũng nói với Lục tổ như vậy, rất đơn giản. "Anh vào đây, tôi nói với anh cái này! Anh biết không? Không có tôi, không có anh, không có những người khác, không có thời gian. Được rồi, thuyết pháp xong rồi. Được rồi, anh chính là Lục tổ rồi, có thể đi được rồi.”

Cái này đòi hỏi khả năng lĩnh ngộ của đệ tử. Ngũ tổ nói với Lục tổ: “Anh hãy đi thực tiễn mấy câu nói mà tôi đã nói, anh chính là Lục tổ.” Nói xong là đi, đây chính là giao phó pháp, đem pháp phó thác cho Lục tổ. Lục tổ lĩnh ngộ mấy câu nói này thì liền rời khỏi, đi thực tiễn, tu mấy câu nói này cho thật tốt.

Mọi người có biết là trong mấy câu nói này rất là thâm sâu không? Bốn câu nói trong kinh Kim Cang này: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng.” Nếu bạn có thể từ trong mấy câu nói này mà lĩnh ngộ, thực hành, thì bạn chính là thánh hiền. Vài câu nói rất đơn giản mà thôi.

Lục tổ Huệ Năng sau này hiểu được rồi, người ta đến cầu pháp ở ngài, đến cầu pháp từ Lục tổ. Lục tổ chỉ nói hai câu, bốn câu nói biến thành hai câu, hoặc là đơn giản hơn. Bạn mà lĩnh hội được thì bạn chính là Thất tổ, Thất tổ của Thiền tông. Vì sau Lục tổ không có truyền nhân nữa, vì vậy bạn sẽ trở thành Thất tổ.

Lục tổ nói điều gì? “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác.” “Xong rồi, anh đã đắc pháp rồi, anh đi đi.”

Bạn lĩnh hội được “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” là chuyện không đơn giản.

Vì vậy Phật pháp không cần nói nhiều, thiên kinh vạn điển, có nhiều lúc bạn đọc… đọc… đọc… đọc đến cuối cùng, não của bạn cũng nổ tung luôn. Chỉ vài chữ thôi, nếu bạn có thể thực tiễn được, bạn chính là Thánh giả.

Chỉ riêng hai chữ “vô ngã” thôi, rồi “vô ngã tướng”, bạn có làm được không? Rất khó. Nếu bạn thực sự đạt được vô ngã tướng rồi, thế thì bạn đã là A La Hán, đã siêu xuất tam giới rồi, bạn đã là một A La Hán. Cái đó là tính Không mà.

“Vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả” chính là tính Không. “Không nghĩ thiện không nghĩ ác” chính là nhập Tam ma địa, đắc được tính Không. Không đi nghĩ tưởng cái tốt, không đi nghĩ tưởng cái xấu, không nghĩ tốt, không nghĩ xấu. Tất cả mọi thứ bạn đều không nghĩ tốt, không nghĩ xấu. Khi bạn đạt đến trạng thái này tức là vô niệm. Trong trạng thái vô niệm, tính Không sẽ hiển hiện, Phật tính tự nhiên hiển lộ. Bạn thực tiễn nó, rất khó đó. Chấp trước cũng không còn, mấy câu nói trên chính là “khử chấp”, diệt trừ toàn bộ bám chấp của bạn. Hai chữ “khử chấp”, diệt trừ chấp trước của mình.

Bạn tu hành mà đạt được tới cảnh giới “khử chấp”, không nghĩ thiện không nghĩ ác, thực sự mà nói là bạn ở trong trạng thái viên mãn, tâm quang phát lộ, ấn chứng tính Không. Bạn cần đi thực tiễn điều này.

Tổ sư của Mật giáo, rất nhiều vị cũng là khẩu truyền. Đem khẩu quyết nói cho anh nghe, anh phải làm sao để tu ra được chuyết hỏa, làm sao để phát quang, hóa thành ánh sáng, làm sao hợp nhất với ánh sáng này để lĩnh hội tính Không, sinh bồ đề tâm. Những cái này đều vô cùng quan trọng, đều có khẩu quyết ở bên trong. Bạn làm sao để thực tiễn mọi thứ đều là thanh tịnh? Đây là một loại thực tiễn mà, không phải lý luận. Nếu hôm nay chỉ nói về lý luận thôi thì mọi người ở trong Phật giáo, tất cả đều là người khai ngộ.

Mọi người đều biết Lục tổ nói “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. Bạn có thể chứng minh thì bạn chính là Thất tổ. Thiền tông vốn dĩ không có Thất tổ, nếu hôm nay bạn có thể lĩnh ngộ được lời của Lục tổ Huệ Năng thì bạn sẽ trở thành Thất tổ, hãy đi làm đi. Tiếp theo nữa sẽ là Bát tổ.

Bạn phát minh thêm một câu nói, Sư Tôn phát minh thêm một câu thì Sư Tôn chính là Thất tổ. Tôi nói hai chữ “khử chấp”, khử chấp là diệt trừ chấp trước.

Bạn đều cầu pháp, tôi nói với bạn là “khử chấp”. Rồi bạn đi về nghĩ “khử chấp”, cái gì là khử chấp vậy? Diệt trừ cái chấp của chấp trước. Hai chữ này bạn thực tiễn được rồi, vậy bạn chính là Bát tổ, bạn chính là Thiền tông Bát tổ. Tất nhiên là Lục tổ nói ngài không truyền nữa, vì ngài truyền mệt mỏi quá rồi. Bởi vì vấn đề truyền thừa này cũng có rất nhiều thị phi và phiền toái.

Đây chính là khẩu truyền. Đương nhiên khẩu truyền của Mật giáo thì có vô số các khẩu quyết tâm yếu ở bên trong. Có rất nhiều kỹ xảo cần phải được sư phụ truyền thụ cho bạn, đây là khẩu nhĩ tương truyền, đây là phương pháp truyền pháp, chính là khẩu truyền. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum!

05/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 047. Phương pháp truyền pháp (2)

Tôi sẽ giảng tiếp với mọi người về phương pháp truyền pháp. Vậy phương pháp của truyền pháp, thứ nhất chính là “khẩu truyền”, tiếp theo chính là “không truyền” - truyền thừa từ hư không.

Có một lần tôi về Đài Loan hoằng pháp, tại sân vân động Đào Viên, tôi hỏi tất cả mọi người: “Truyền thừa của Chân Phật Tông từ đâu mà có?”

Trong đó có một đệ tử nói rất to: ”Là Đại Nhật Như Lai… Là Đại Nhật Như Lai.” Anh ta hét rất to. Bởi vì Đại Nhật Như Lai là lớn nhất, là lớn nhất thì nhất định là đến từ đó rồi.

Lúc đó, tôi nói đến hai chữ, tôi nói: “Truyền thừa thực sự của Chân Phật Tông là hư không.”

Tôi không nói danh hiệu, thật ra nói Đại Nhật Như Lai cũng không sai, bởi vì Ngài đại diện cho Ngũ Phật, là Phật Tỳ Lô Giá Na đại diện cho Ngũ Phật. Nhưng tôi không xưng danh hiệu, tôi nói “hư không”. Hư không này như thế nào? Nó đã bao gồm toàn bộ vũ trụ, thập phương Phật, thập phương pháp, thập phương tăng, tất cả đều được bao gồm ở bên trong, chính là hư không, mọi người nghe thấy là "hư không”, thế là cảm thấy tâm cũng trống rỗng luôn rồi, thật ra đúng thật là hư không.

Mọi người có thể suy nghĩ một chút, rất đơn giản, tôi lấy một ví dụ cho mọi người nghĩ thử. Trái đất diễn biến, có người nói là mấy trăm triệu năm, một tỷ năm hoặc vài trăm triệu năm, thậm chí xa hơn nữa cũng có. Vậy thì mấy trăm triệu năm trước có trái đất hay không? Không có. Con người đương nhiên là cũng không có. Vì con người là dựa vào đất mà sinh ra, mới có con người, nếu đã không có con người, không có Phật pháp, lúc đó đương nhiên là cái gì cũng không có, đó không phải hư không thì là cái gì? Nguồn gốc đầu tiên nhất đều là hư không. Tất cả nguồn gốc đều là hư không mà. Bạn bảo còn có thứ gì đây? Ngay đến trái đất cũng không có, bạn nói xem còn có thứ gì có thể dựa vào? Vì vậy nói hai chữ “hư không” tuyệt đối không sai, đây là “không truyền”.

Phật pháp của Mật giáo là do Long Thụ Bồ Tát mở tháp sắt tại Nam Thiên Trúc, đích thân đến gặp Kim Cang Tát Đỏa, do Kim Cang Tát Đỏa truyền pháp cho Long Thụ Bồ Tát nên mới có Mật giáo. Vì vậy, hư không là Sơ tổ, Kim Cang Tát Đỏa là Nhị tổ, Long Thụ Bồ Tát là Tam tổ. Vậy Long Thụ Bồ Tát gặp Kim Cang Tát Đỏa là gặp như thế nào? Nói cho mọi người biết, không phải là tôi nhìn thấy anh, anh nhìn thấy tôi, anh thuyết pháp cho tôi nghe, không phải vậy. Là gặp ở trong thiền định. Kim Cang Tát Đỏa không phải là người, Ngài là một Bồ Tát, Long Thụ cảm ứng được Kim Cang Tát Đỏa truyền pháp, giao phó pháp cho mình, từ đó Long Thụ Bồ Tát chính là vị tổ đầu tiên của nhân gian, vị tổ đầu tiên của Mật giáo, chính là như vậy đó, cái này gọi là “không truyền”.

“Không truyền” của Phật pháp rất vĩ đại. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đem rất nhiều mật pháp, những mật pháp mà trước khi Ngài viên tịch, có một số để ở trong hư không, có một số giấu ở trong nước, có một số giấu ở trong lửa, có một số giấu ở trong đất. Ở trong đất, nước, lửa, gió, không, đều có mật pháp. Ở đây đều có thể nói là “không truyền”.

Bạn nói xem truyền thừa của Chân Phật Tông có phải là hư không không? Năm tôi 25 tuổi, tôi nhận truyền thừa trong hư không. Thủ ấn của tôi, bạn sẽ không thể tìm thấy ở trong tuyển tập thủ ấn của Mật giáo đâu. Tại sao vậy? Bởi vì là truyền thừa trong hư không, căn bản là vẫn chưa đưa ra thì tôi đã có rồi.

Tôi nói cho mọi người nghe, thủ ấn của tôi chính là lúc tôi đang ở trong thiền định tự động kết thành. Hôm nay có rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông cũng có trải nghiệm này, không phải chỉ có một mình tôi có trải nghiệm này đâu.

Sau khi bạn quy y Chân Phật Tông, bạn ở trong thiền định, tự động kết thủ ấn là nhiều vô kể, không phải chỉ có một mình tôi, rất nhiều người đều như vậy, cái này đều là từ trong hư không truyền cho bạn.

Truyền thụ pháp của ngày nay có “không truyền”. Kim Cang Tát Đỏa đưa tôi đến hư không giới, dạy tôi lắc chuông kim cang, chày kim cang, truyền ở trong hư không. Thế nào gọi là tiêu tai? Thế nào gọi là tăng ích? Thế nào gọi là hàng phục? Thế nào gọi là kính ái? Ngài dạy tôi nhiều cách lắc chuông để tượng trưng cho các pháp trên.

Loại truyền thừa này ở trong Tạng mật và trong Đông mật đều không có. Chỉ có Chân Phật Tông mới có. Đó là Kim Cang Tát Đỏa đích thân truyền cho tôi, cho nên cái này là “không truyền”.

Nguyên nhân mà Chân Phật Tông hiện nay vô cùng thù thắng, chính là vì có “không truyền” và “khẩu truyền”. Có truyền thừa của nhân gian, cũng có truyền thừa trong hư không. Vì vậy tôi dạy pháp cũng như vậy, bạn cũng có thể nhận được sự không truyền của Sư Tôn trong vô hình.

Bản thân Sư Tôn biết “không truyền”, cách không gian quán đảnh từ xa không phải là “không truyền” sao? Cái đó cũng là “không truyền”. Bản thân bạn không đến đây, nhưng tôi truyền cho bạn một chú ngữ, tôi ở trong hư không truyền cho bạn một chú ngữ là bạn sẽ biết đọc. Tôi ở trong hư không truyền cho bạn một thủ ấn. Bạn liền viết thư đến hỏi, vẽ một cái thủ ấn, hỏi tôi: “Sư Tôn trong giấc mơ, Ngài ở trong hư không truyền cho con một thủ ấn như vậy, là thủ ấn gì vậy?” Tôi còn phải giải đáp cho bạn biết đó là thủ ấn gì. Có nhiều lúc cái thủ ấn đó ngay đến tôi cũng không biết. Nhưng không phải là thật sự tôi không biết đâu, tôi suy nghĩ một chút là biết ngay đó là thủ ấn gì.

Tôi biết rất nhiều pháp, vì tôi được truyền trong hư không mà, pháp được truyền trong hư không thì bất cứ pháp nào bạn đều có thể biết, tại sao vậy? Vì khi tâm của bạn hoàn toàn dung hòa với hư không, thập phương Phật, thập phương pháp, thập phương tăng đều có thể đi vào trong tâm của bạn. Bạn cũng có thể đi vào trong tâm của thập phương Phật. Bất cứ Phật pháp nào, bạn vừa tiếp xúc, lập tức sẽ thông suốt tất cả. 

Máy tính, *computer* ngày nay có thể ấn chứng được. Bạn có một cái máy tính, bạn có thể giao lưu với mọi người trên toàn thế giới. Mạng máy tính, trong tâm tôi có mạng máy tính, tôi mở ra một cái là có thể nhận được thông tin của thập phương Phật, thập phương pháp, thập phương tăng ở trong tâm tôi. “Vạn pháp duy tâm”, pháp gì tôi cũng đều biết, bạn hỏi tôi pháp gì, pháp gì tôi cũng biết hết. Vạn pháp duy tâm mà. Trong tâm tôi chính là mạng máy tính, bạn nhấn nút một cái, toàn bộ đều hiện ra. 

Cái này truyền thế nào? Cái này là “không truyền”, vô cùng phù hợp với khoa học hiện đại. Những người hiểu được điều này, tương lai đều có thể ngộ đạo, đều có thể thành Phật. Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

05/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 048. Pháp Linh nhiệt (1)

Tôi sẽ giới thiệu với mọi người về sáu pháp đại thành tựu của Naropa Mật tông Tây Tạng. Vậy thì trước tiên phải bắt đầu từ pháp Linh nhiệt. Sau khi tôi nghiên cứu và thực tu Tạng mật, tôi biết được phương pháp tu hành của Mật giáo không những cần tu tâm mà còn cần tu thân nữa. Vậy tại sao phải tu cái thân này? Thật ra tu thân cũng chính là tu tâm, đều giống nhau. Tại sao vậy? Chúng ta lấy tâm để nói, tâm của toàn bộ vũ trụ này được cấu thành bởi đất, nước, lửa, gió, không. Và cơ thể của chúng ta cũng được cấu thành bởi đất, nước, lửa, gió, không. Bản thân vũ trụ và thân ta không có sự phân biệt.

Bạn tu thân nghĩa là đang tu tâm. Bạn muốn hợp nhất với ý thức vũ trụ thì vẫn phải tu từ cái thân này, nếu không thì tâm ở đâu chứ? Bạn nói tu tâm, vậy tâm ở đâu? Bạn từ con đường duy thức để đi vào. Về duy thức mà nói, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na, a-lại-da, am-ma-la, những thức này, rất khó, rất khó để nắm bắt được.

Tạng mật có điểm tốt, đó chính là tu từ thân thể của bạn. Vì vậy tôi biết cái này cần phải hợp với tâm của trời đất, là tu từ bên trong cơ thể của bạn mà thành.

Chúng ta biết là bên trong pháp Linh nhiệt có nước. Chỗ mi tâm này là nguồn nước, chỗ đan điền này là lửa, vị trí đan điền dưới rốn bốn lóng tay chính là lửa - nguồn lửa, chỗ mi tâm là nguồn nước.

Dựa vào khí của bạn tức là dựa vào gió. Kinh mạch bên trong cơ thể của bạn chính là đất. Ở trong thân thể này đã có đất, nước, lửa, gió. Nước ở mi tâm, lửa ở đan điền, hô hấp chính là gió, kinh mạch chính là đất. Từ đất, nước, lửa, gió đi chứng minh “không”, cái này chính là pháp tu thực sự của Tạng mật.

Về mặt lý luận mà nói, thân thể và vũ trụ đều tương thông với nhau. Phải hiểu được lý luận này để mà đi nghiên cứu tại sao phải tu pháp Linh nhiệt. Lý luận của nó nằm ở đâu? Chính là từ đất, nước, lửa, gió đi chứng minh tính Không. Đây là sự thật.

Ngày nay có rất nhiều đại sư, rất nhiều thượng sư, Lama đều không nói rõ ràng tại sao phải tu pháp Linh nhiệt. Thật ra chính là ứng dụng nguyên tố bên trong cơ thể của mình để ấn chứng tính Không. Đạo lý chính là nằm ở đây. Vì vậy hôm nay trước khi muốn giảng với mọi người về pháp Linh nhiệt thì phải giảng trước với mọi người tại sao cần phải tu pháp Linh nhiệt.

Ở trong đây, tại sao phải làm Tỳ Lô thất chi tọa? Bạn tu pháp Linh nhiệt nhất định phải làm Tỳ Lô thất chi tọa. Hai chân ngồi tư thế hoa sen, hai tay kết định ấn. Thu cằm lại, đè vào yết hầu, đầu lưỡi đặt lên hàm trên, phải nâng hậu môn lên, cột sống phía sau phải thẳng, hai vai phải bằng, tại sao vậy? Thật ra làm Tỳ Lô thất chi tọa là có lý do của nó.

Mọi người điêu khắc tượng Phật đều khắc… khắc…. khắc… khắc thành Tỳ Lô thất chi tọa, tại sao vậy? Vì có đạo lý của nó. Hai chân của bạn khoanh lại, bạn khoanh hai chân lại là vô tình bạn đã nâng hậu môn lên rồi. Giả sử bạn ngồi tùy tiện sẽ cảm thấy hình như không có gì cả. Khi bạn ngồi khoanh chân lại, liền cảm thấy, ồ, khí ở phía dưới đã tụ hợp lại.

Ngồi khoanh chân, nâng hậu môn, chính là muốn hạ hành khí <span className="note-blue">[khí đi từ dưới lên]</span> vào trung mạch. Hạ hành khí vào trung mạch tương đối đơn giản. Khi thu cằm lại, thượng hành khí <span className="note-blue">[khí đi từ trên xuống]</span> vào trung mạch. Đầu lưỡi chạm vào hàm trên, mệnh khí vào trung mạch. Hai vai để bằng, cột sống phía sau lưng thẳng tắp, chính là biến hành khí <span className="note-blue">[khí xung quanh]</span> vào trung mạch. Hai tay kết định ấn đặt ở dưới rốn chính là bình trụ khí <span className="note-blue">[khí ở khu vực đan điền]</span> vào trung mạch.

<span className="note-blue">[Năm khí căn bản là hạ hành khí, bình trụ khí, biến hành khí, thượng hành khí, mệnh căn khí.]</span>

Trong Mật tạng, trung mạch rất quan trọng. Một khi khí này đi vào trung mạch sẽ sản sinh ra pháp hỷ và khinh an, đây là một điểm quan trọng. Khí của bạn chạy khắp nơi tức là tán khí. Bạn phải làm cho khí này đi vào trung mạch thì mới sinh ra được tác dụng, mới có thể sản sinh linh nhiệt. Khí đi vào trung mạch chính là phương pháp sản sinh linh nhiệt. Vì vậy đây là một điểm quan trọng.

Hôm nay bạn làm Tỳ Lô thất chi tọa chủ yếu là đầu lưỡi chạm hàm trên, tức là mệnh khí. Cằm ấn xuống dưới là thượng hành khí. Khoanh chân lại là hạ hành khí. Hai vai bằng nhau, cột sống thẳng, ngồi ngay ngắn thì là biến hành khí. Và định ấn chính là bình trụ khí. Năm loại khí đều có hết, vì bạn ngồi tư thế Tỳ Lô thất chi tọa mới có thể khiến toàn bộ những khí này đi vào trung mạch. 

Còn có phương pháp lắc người mà tôi đã dạy mọi người nữa. Vì nếu bạn lắc thân thể, do trung mạch lắc lư khiến khí đổ vào trong trung mạch. Ngoài ra, khí vào trung mạch còn gì nữa? Trước đây khi tôi dạy mọi người, ví dụ dạy pháp Chuyết hỏa, dạy pháp Bảo bình khí, bạn muốn trung mạch thẳng, chẳng phải tôi đã dạy mọi người một kiểu vận động sao? Khoanh chân lại, thân thể lắc lư như thế này có thể khiến cột sống của bạn trở nên rất thẳng, toàn bộ trung mạch đều thẳng tắp.

Tỳ Lô thất chi tọa không phải là tùy tiện ngồi đại, cách ngồi này đều có ý nghĩa của nó ở bên trong. Nghĩa là bản thân nó có tác dụng khiến toàn bộ khí có thể đi vào trung mạch, sản sinh linh nhiệt.  
Nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

06/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 049. Tỳ Lô thất chi tọa

Cá nhân tôi nghiên cứu những tình huống của tọa thiền. Trong Phật giáo cũng dạy mọi người làm sao để ngồi thiền. Rất nhiều người hỏi tôi rằng, ngài dạy người ta Tỳ Lô thất chi tọa, vậy hai chân không cách nào khoanh tư thế hoa sen thì phải làm sao? Hai chân không cách nào ngồi kiết già thì phải làm sao? Vậy thì ngồi bán già cũng được, bạn khoanh một chân cũng được. Nếu khoanh một chân cũng không được thì ngồi tùy ý cũng được. 

Vậy ngồi tùy ý thì hạ hành khí làm sao đi vào trung mạch được? Vậy thì hết cách rồi, bạn phải nghĩ cách lót mông cao một chút, thậm chí là nhô lên một chút, để hậu môn nâng lên, có tác dụng nâng hậu môn lên là được.

Về tư thế ngồi, mọi người đều biết là có tư thế Bồ Tát, có khóa hạc tọa <span className="note-blue">[ngồi kiểu Nhật, mông ngồi trên hai chân]</span>, có như ý tọa, có bán già, có kiết già, tốt nhất vẫn là ngồi kiết già. Vì khi bạn ngồi kiết già sẽ có cảm giác rất vững chắc, hơn nữa khí sẽ được đưa lên, hậu môn sẽ được nâng lên, chính là nâng hậu môn, hậu môn được nâng lên tự nhiên, hạ hành khí sẽ tự động đi vào trung mạch.

Tại sao phải làm Tỳ Lô thất chi tọa? Nó có đạo lý của nó. Tôi chính là nghiên cứu cái này, tôi nghiên cứu tại sao phải ngồi Tỳ Lô thất chi tọa. Tôi ngồi nghiêng là được, ngồi xiêu vẹo, ngồi dựa lưng, ngồi lỏng lẻo không phải là rất tốt hay sao? Tại sao nhất định phải ngồi ngay ngắn như vậy? Ngồi ngay ngắn rất khó chịu. Ngồi kiểu dựa lưng, cách ngồi của người lười, chẳng phải càng thoải mái càng dễ nhập định hay sao? Thật ra là không được, vì chủ yếu là trung mạch, trung mạch nhất định phải thẳng. Khi bạn quán tưởng cũng phải quán tưởng trung mạch.

Khi giới thiệu về pháp Linh nhiệt, bạn nhất định phải biết về Cửu tiết Phật phong. Cửu tiết Phật phong và Bảo bình khí đã tu rất tốt rồi, bạn mới có thể tu linh nhiệt. Bởi vì Cửu tiết Phật phong chủ yếu là sự tuần hoàn của khí, hoàn toàn là sự tuần hoàn của hô hấp và khí.

Bảo bình khí chủ yếu là khí của bạn đã sinh ra năng lượng rồi, đã có khí công rồi. Bạn tu thành Bảo bình khí rồi là bạn sẽ có khí công.

Bạn chưa tu thành Bảo bình khí mà đã tu pháp Linh nhiệt thì gió từ hít thở của bạn không đủ sức mạnh thì bạn làm sao có thể quạt ra được lửa chứ? Không quạt ra lửa thì không thể nào thành tựu linh nhiệt.

Vì vậy Bảo bình khí và Cửu tiết Phật phong là cơ sở của Linh nhiệt. Nhất định phải tu được Bảo bình khí đã. Cửu tiết Phật phong là dẫn khí tuần hoàn, Bảo bình khí khiến cho khí của bạn sản sinh ra một loại sức mạnh. Loại sức mạnh rất lớn đó được sinh ra, có thể làm chấn động, có thể thổi bùng lửa đan điền của bạn. Sức mạnh đó được sinh ra thì bạn mới thành tựu được linh nhiệt.

Vì vậy bên trong có liên quan đến phương pháp hô hấp, bạn làm sao biến khí này trở nên có sức mạnh chính là nhờ vào phương pháp hô hấp. Cho nên có hơi thở chậm, có dẫn hơi thở, có hơi thở đầy, có hơi thở đều, có hơi thở hắt ra, chính là ở trong đây. Cái này liên quan đến phương pháp hô hấp. Vì phương pháp hô hấp có thể khiến khí của bạn có sức mạnh, có thể thổi bùng linh nhiệt.

Chúng ta biết là hành giả Tạng mật trong lúc tu bình khí, chỉ cần khí đi vào trung mạch, khí di chuyển trong trung mạch thì sẽ rất tuyệt vời. Lúc đó sẽ có cảm nhận về lạc của niềm hỷ lạc sẽ xuất hiện. Khi khí di chuyển trong trung mạch, cảm giác nhẹ nhõm đó, đạp gió cưỡi mây đó, giống như tiên bay trên trời vậy, loại cảm giác đạp gió cưỡi mây trên bầu trời, chính là vào lúc khí di chuyển bên trong trung mạch thì bạn đã cảm nhận được rồi.

Chúng ta hiểu là cảnh giới đó chính là tầng trời Dục giới, chính là loại cảnh giới đó. Tầng trời Dục giới, dục chính là dục của tham dục, bạn giống như là một thần tiên hưởng lạc, chính là ở trong trạng thái đó. Vì vậy, có rất nhiều người hỏi tôi: “Lư Sư Tôn, pháp vị là cái gì?”

Pháp vị à, pháp cũng có mùi vị, bạn uống một miếng nước, quân tử chi giao đạm nhược thủy <span className="note-blue">[mối kết giao của quân tử nhạt như nước lã]</span>. Uống một miếng nước, rất nhạt, không có mùi vị gì. Bạn ăn đường thì ngọt, ăn muối thì mặn. Nếu pha chế vị tốt thì vị rất ngon. Ở trong pháp có mùi vị chính là pháp vị.

Cá nhân tôi cho rằng, khí ở bên trong kinh mạch di chuyển như vậy, khi chuyển động sẽ sản sinh ra cảm giác khoái lạc đó, tôi cho rằng cái đó chính là pháp vị. Đã có pháp vị của sơ giác rồi, loại pháp vị của cảm giác ban đầu khi vừa mới bắt đầu đã có rồi.

Rất nhiều đại sư, hòa thượng, tỳ kheo, tỳ kheo ni xuất gia. Bạn hỏi họ có pháp vị gì? Họ nói là tâm hoan hỷ. Một lúc sau thì biến thành tâm đau khổ, là sẽ rơi nước mắt, cái đó không phải là pháp vị. Hoặc bạn cho rằng mình đã lĩnh ngộ, ồ! Thì ra tôi đọc kinh sách, ôi chao! Kinh điển này, ồ! Tôi nghĩ ra rồi, Đức Phật đang nói đến ý nghĩa gì, ồ! Tôi lĩnh ngộ rồi, ôi hoan hỷ quá! Cái này chính là pháp vị rồi. Thông thường mọi người đều là như vậy, cho rằng pháp vị chính là khi lĩnh ngộ những lời Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong kinh điển, thì chính là pháp vị. Tôi cho rằng những cái đó đều là pháp vị về mặt lý luận.

Giống như hôm nay, ôi tâm trạng rất nhẹ nhõm, ngắm phong cảnh, choa! Phong cảnh đẹp quá, sinh ra tâm hoan hỷ, ôi cái này tuyệt quá, vị ngon vô cùng. Ăn được món ăn ngon, choa… cái này tuyệt, mỹ vị vô cùng. Cảm thấy gió mát mơn man, sóng nước lăn tăn, cảm thấy phong cảnh vô cùng tuyệt đẹp, trong tâm niềm nở, hít thở sâu một cái, bản thân anh ta cho rằng đây là pháp vị. Không phải vậy. Cái này là vô hình rồi.

Pháp vị thực sự hữu hình là khí đang di chuyển trong trung mạch. Vì vậy tương lai khi tôi nói đến Vô thượng mật bộ, tôi sẽ giảng cho mọi người là khí trực tiếp đi vào trung mạch. Bạn đạt được cái đó liền cho rằng giá trị của đời người cũng gần như là thế này rồi, giá trị của cuộc đời là như vậy.

Thật ra theo như hành giả Mật giáo mà nói, tuy bạn đạt được cái này, bạn vẫn phải diệt trừ loại chấp trước này. Phải đi vào một tầng sâu hơn, còn có rất nhiều tầng khác. Vì vậy loại cảm nhận này, tuy là pháp vị, bạn biết được là được, còn phải đi vào một tầng sâu hơn nữa. Điều này là rất có lý, bởi vì giả sử nếu bạn cứ bám chấp vào loại cảm nhận hỷ lạc này thì không thể thực sự khai ngộ.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum!

06/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 050. Pháp Linh nhiệt (2)

Tôi sẽ giảng tiếp với mọi người về pháp Linh nhiệt. Pháp Linh nhiệt chính là pháp Chuyết hỏa. Chúng ta đã giảng về Tỳ Lô thất chi tọa. Trọng điểm của pháp Linh nhiệt nằm ở hô hấp hoàn toàn. Bản thân hô hấp chính là khí. Khí này tuần hoàn ở bên trong cơ thể, khí đến được đan điền thì chúng ta gọi là hô hấp hoàn toàn. Chỉ cần bạn dùng ý niệm quán tưởng khí đi đến đan điền, sau đó thở ra, loại khí này gọi là hô hấp hoàn toàn.

Dùng khí để khiến chuyết hỏa của chính cơ thể mình được sản sinh ra. Loại quán tưởng này rất quan trọng, cũng có nghĩa là cần phải quán tưởng trung mạch, quán tưởng mạch trái mạch phải. Vì khí của bạn cần đi từ mạch trái mạch phải đến đan điền, thổi vào điểm này, thổi vào điểm của chuyết hỏa. Điểm của chuyết hỏa chính là hình ㄎ ở bên cạnh chữ Ah, là một góc được cắt ra từ chữ Ah giống hình số 5, đặt ở cung sinh pháp.

Thế nào gọi là cung sinh pháp? Chính là vị trí dưới rốn bốn lóng tay, là cung sinh pháp có hình tam giác, đây là điểm bắt đầu của chuyết hỏa, điểm này vô cùng quan trọng. Buổi thuyết pháp ngày hôm nay cũng vô cùng quan trọng. Bởi vì bạn muốn tu khí-mạch-minh điểm, lấy pháp Chuyết hỏa - pháp Linh nhiệt làm nền tảng, nhất định phải làm bùng cháy được chuyết hỏa.

Hành giả Mật giáo quán tưởng trung mạch, mạch trái và phải, dùng hô hấp hoàn toàn, quán tưởng điểm của chuyết hỏa ở bên trong cung sinh pháp. Chữ này có vài hiện tượng:  
Thứ nhất, là rất quang minh, nó rất sáng chói.  
Thứ hai, bản thân nó rất nóng, có màu đỏ, rất nóng, nóng như là miếng thép nung đỏ.  
Thứ ba, nó rất mảnh, mảnh như cây kim.  
Chính là có ba đặc điểm này.

![image](/img/img_e04618839e280d81260b1e011b875fec.png)

Cách quán tưởng trung mạch thì mọi người đều đã biết rồi, có màu xanh lam, trung mạch to bằng ống hút.  
Chính giữa cung sinh pháp hình tam giác có điểm của chuyết hỏa, là một nửa của chữ Ah.  
Hô hấp hoàn toàn là lợi dụng khí hít vào thở ra của bạn đi vào đến vị trí đan điền, đây là hô hấp hoàn toàn. Sau đó thổi bùng điểm này, dùng phương pháp hít thở, phương pháp hô hấp hoàn toàn để thổi bùng điểm này, để điểm này càng sáng, càng nóng. Sau đó nó sẽ từ từ nổi lên.

Ở trong Mật pháp, cái này là trước kia sư phụ tôi dạy, cứ mười hơi thở thì thăng lên một điểm. Từ Mật luân đi lên Tề luân, khiến toàn bộ mạch xung quanh rốn biến thành ánh sáng, biến thành nhiệt, đây là điểm quan trọng. Sau đó tiếp tục đi lên đến Tâm luân, đến Hầu luân, đến Mi tâm luân, là như vậy đó.

Ở đây có nâng có hạ, có đi lên có đi xuống. Khi sản sinh ra hiện tượng ấm áp, đây là một điểm quan trọng, có sự ấm áp, toàn thân sẽ ấm áp. Và lửa này còn lan tỏa khắp cơ thể, còn chiếu ánh sáng ra ngoài. Vì nó có ánh sáng mà, có nhiệt mà. Đây là một điểm quan trọng. Ánh sáng và nhiệt ở khắp cơ thể.

Ngày xưa Lama của Tây Tạng tu chuyết hỏa này, đến ban đêm cũng quán tưởng chuyết hỏa. Họ tu được chuyết hỏa ở vị trí dưới rốn bốn lóng tay được dài khoảng ba lóng tay, tại đó phóng quang, phóng nhiệt. Ban đêm khi ngủ cũng quán tưởng chuyết hỏa như vậy. Như vậy rất ấm áp, toàn thân đều rất ấm áp. Cho dù bên cạnh có tuyết rơi, tuyết đó cũng bị tan chảy, cũng sẽ bị sự ấm áp trên cơ thể bạn làm cho tan chảy.

Pháp Chuyết hỏa, chỉ cần khi toàn thân bạn có sự ấm áp, có ánh sáng, thì đó là một loại định, chính là một trạng thái “hỏa quang đại định”. Trong trạng thái này, lửa này có thể thiêu đốt toàn thân bạn, thậm chí thiêu đốt đến tận hư không, toàn bộ thế giới hữu tình đều đang ở trong lửa. Những gì bạn chạm đến đều hóa thành thanh tịnh, những gì tiếp xúc với lửa của bạn toàn bộ hóa thành thanh tịnh. Bản thân bạn thanh tịnh, những gì tiếp xúc lửa đó cũng đều thanh tịnh.

Vào thời của Phật Thích Ca Mâu Ni, có rất nhiều đại đệ tử đều nhập hỏa quang tam muội này. Pháp này vô cùng quan trọng. Nhớ kĩ:  
Điểm của chuyết hỏa, phải sáng chói, phải nóng, phải mảnh như kim.  
Quán tưởng ba kinh mạch: quán tưởng trung mạch, mạch trái và phải.  
Ứng dụng hô hấp hoàn toàn để nó thổi bùng nhiệt, thổi bùng độ nóng, thổi bùng lửa, thổi bùng ánh sáng.  
Mười hơi thở, bạn có thể quán tưởng nó đi đến Tề luân, xung quanh rốn đều nóng lên. Đến Tâm luân, xung quanh tim đều nóng. Đến Hầu luân, xung quanh họng đều nóng. Đến Mi tâm luân, xung quanh trán đều nóng. Cái này là tứ Không. Vì khi nó nổi lên, sẽ có một loại “không” và “hỷ” được sinh ra, gọi là “tứ Hỷ tứ Không”. 

Tại sao là tứ Hỷ tứ Không? Hỷ và Không là như nhau, bình đẳng nhau, Hỷ tức là Không, Không tức là Hỷ. Trong Mật giáo, Không và Hỷ là như nhau. Chuyết hỏa nổi lên, chính là tứ Không, toàn thân đều là lửa, đều là thanh tịnh. Định ở trong lửa chính là hỏa quang tam muội đại định. Loại định này vô cùng tuyệt vời, tuyệt vời hơn bất cứ một loại thiền định nào.

Tại sao là tứ Hỷ tứ Không? Hỷ và Không là như nhau, bình đẳng nhau, Hỷ tức là Không, Không tức là Hỷ. Trong Mật giáo, Không và Hỷ là như nhau. Chuyết hỏa nổi lên, chính là tứ Không, toàn thân đều là lửa, đều là thanh tịnh. Định ở trong lửa chính là hỏa quang tam muội đại định. Loại định này vô cùng tuyệt vời, tuyệt vời hơn bất cứ một loại thiền định nào.

Bạn muốn chứng minh tính Không, thì tu từ chuyết hỏa sẽ có thể chứng minh tính Không, nhưng nhất định phải có sự bền lòng, tập pháp này cần phải có sự kiên trì thực tu một cách thực tế, lấy Bảo bình khí và Cửu tiết Phật phong làm cơ sở.  
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

06/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 051. Bồ đề tâm nguyệt dịch

Lúc nãy vừa giảng xong chuyết hỏa, vậy bây giờ chúng ta nói về bồ đề tâm nguyệt dịch. Bồ đề tâm nguyệt dịch nằm ở Mi tâm luân. Chữ này là chữ Hang (V), chữ Hang là một góc khác của chữ Ah.

Chữ Hang đó nằm ở đây. Một khi chuyết hỏa của bạn đi lên, tự nhiên nó sẽ làm tan chảy minh điểm. Minh điểm này giống như là dầu vậy. Tuy không phải là dầu, nhưng tôi ví nó như là dầu. Hễ tan chảy là chất lỏng sẽ rơi xuống phía dưới, rơi xuống một cái, rơi lên trên chuyết hỏa thì tiếp xúc lẫn nhau, ánh sáng và nhiệt được sinh ra sẽ càng thanh tịnh hơn, càng sáng chói hơn, càng nóng hơn. Có thể nói là đủ để làm các lỗ chân lông trên người mở ra, chiếu ra ánh sáng, toàn thân đều là ánh sáng.

Vậy thì bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống phía dưới, chuyết hỏa bốc lên trên. Bồ đề tâm nguyệt dịch rời khỏi Mi tâm luân, đến Hầu luân, cái này cũng gọi là sơ hỷ. Sơ hỷ, thắng hỷ, ly hỷ, cuối cùng là cụ sinh hỷ, bốn hỷ cơ bản này gọi là tứ Hỷ. Tối thắng hỷ. Cái này gọi là tứ Hỷ và tứ Không, đều được sinh ra như vậy, sản sinh rất nhiều hiện tượng hỷ lạc, vui thích.  
Khi chuyết hỏa nổi lên và bồ đề tâm nguyệt dịch chảy xuống đều sản sinh hỷ lạc, cũng sinh ra ánh sáng rất lớn, chỉ cần quang minh phong mạch được sản sinh ra là tịnh quang liền được sinh ra.

Vậy thì bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống phía dưới, chuyết hỏa bốc lên trên. Bồ đề tâm nguyệt dịch rời khỏi Mi tâm luân, đến Hầu luân, cái này cũng gọi là sơ hỷ. Sơ hỷ, thắng hỷ, ly hỷ, cuối cùng là cụ sinh hỷ, bốn hỷ cơ bản này gọi là tứ Hỷ. Tối thắng hỷ. Cái này gọi là tứ Hỷ và tứ Không, đều được sinh ra như vậy, sản sinh rất nhiều hiện tượng hỷ lạc, vui thích.  
Khi chuyết hỏa nổi lên và bồ đề tâm nguyệt dịch chảy xuống đều sản sinh hỷ lạc, cũng sinh ra ánh sáng rất lớn, chỉ cần quang minh phong mạch được sản sinh ra là tịnh quang liền được sinh ra.

Bồ đề tâm nguyệt dịch cũng tan chảy xuống phía dưới, đến Tâm luân kết hợp cùng với chuyết hỏa, từ chỗ này sinh ra ánh sáng và nhiệt, sản sinh tịnh quang phóng chiếu bốn phía. Đây là một sự tu hành rất vĩ đại. Đây là trạng thái thủy và hỏa dung hòa. Cái này là minh điểm. Thủy ở Mi tâm luân, hỏa ở Tề luân. Hỏa nổi lên, thủy chảy xuống, hai thứ dung hòa tại Tâm luân, khiến hoa sen trong tâm của bạn nở rộ, chủng tử thức ban đầu của bạn có thể tự phát lộ, Phật tính có thể hiển hiện ra. Từ chỗ này thông qua toàn thân đều là ánh sáng, nhiệt, thanh tịnh.

Bản thân dung hòa vào bên trong loại thiền định này, có thể nói là một đại định thủy hỏa đại an chỉ. Loại thiền định này rất lợi hại, là vĩ đại nhất. Loại thiền định này thực sự đi vào trong thủy hỏa đại định. Đây là một loại thiền định lớn nhất của hiện tượng vật chất bên trong cơ thể bạn cùng với nguyên tố sinh mệnh nâng lên hạ xuống, dung hòa với nhau. Một hành giả, một người tu đạo sau khi trải qua loại thiền định này, bạn có thể lĩnh hội được cái gì là niềm hỷ lạc, cái gì là tịnh quang, cái gì là tam muội ở bên trong thiền định này.

Bên trong còn có một pháp nâng minh điểm, tôi sẽ giảng giải đôi chút ở đây. Giả sử minh điểm liên tục rơi xuống dưới, rơi, rơi, rơi… mãi cho đến Mật luân, hành giả phải nắm chặt nắm đấm đặt trước ngực, phải hít mạnh một hơi, quán tưởng ở luân xa bí mật của bạn có một chữ Hum, chữ Hum rất thanh mát. Sau đó, bạn hít một hơi, lúc này phần bụng và phần lưng của bạn giống như dính vào nhau. Hít vào một hơi, từ từ thở ra, chữ Hum từ từ đi lên phía trên, trong miệng bạn cũng phải niệm “Hummmm…” . Tức là chữ Hum được nâng lên trên, nâng lên đến Mi tâm luân. “Hummmm!”, hai nhãn cầu nhìn lên trên. 

Nắm chặt nắm đấm, hít mạnh một hơi, phải quán tưởng và phải niệm chú, lại phải có thủ ấn, đây chính là Mật pháp. Làm như vậy đó. “Hummmm!” Khi bạn niệm Hum, chữ Hum ở Mật luân của bạn sẽ đi lên trên, nâng lên đến mi tâm. À, không được nâng ra ngoài nhé. Bạn nâng minh điểm ra bên ngoài là sẽ chết đó. Vì vậy lúc này lập tức quán tưởng chày kim cang chữ thập ấn giữ đỉnh đầu của bạn. Kết chày yết ma chữ thập, chính là chày kim cang chữ thập, ấn giữ đỉnh đầu của bạn, phong tỏa đỉnh đầu của bạn, không để minh điểm từ đầu trung mạch, từ đỉnh huyệt chạy ra ngoài, nếu chạy ra ngoài là bạn sẽ chết. Không chạy ra ngoài thì bạn vẫn sống, hơn nữa còn nâng lên rất tốt là nâng lên đến Mi tâm luân.

Bạn học được pháp này của tôi, hôm nay tôi dạy chữ Hum ở Mật luân nâng lên trên, có thủ ấn, có quán tưởng, có chú tự-chữ Hum dài, bạn chỉ cần học thành thạo rồi, rất quen thuộc rồi, trị giá một triệu đô la Mỹ. Hai mắt nhìn lên trên, nâng, hai tay nắm chặt, chữ Hum ở Mật luân đi lên trên, miệng bạn thở ra chữ Hum, hít mạnh một hơi, khi thở ra thì Hum… nâng lên trên. Chính là pháp này, đáng giá một triệu đô la Mỹ.

Một triệu đô la Mỹ, mọi người thấy thế một cái thì ô! Mau học thôi. Thật ra pháp này rất đơn giản nhưng nhất định phải thành thạo, bạn phải biết pháp nâng. Bên trong có pháp giáng xuống, pháp nâng lên, pháp giữ đều, pháp tán ra. Giáng, đề, trì, tán đều ở trong đây.

Pháp nâng vô cùng quan trọng, bạn học được pháp nâng thì bạn có thể cưới 108 người vợ, đây là cơ sở của pháp Vô lậu. Chữ Hum dài nâng lên trên, chày kim cang chữ thập chặn lại, nắm chặt tay, hít mạnh một hơi, từ từ thở ra, chữ Hum đi lên trên.  
Khẩu quyết này vô cùng quan trọng, đáng giá một triệu đô la. Om mani padme hum.

07/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 052. Pháp Chuyết hỏa

Mấy ngày hôm nay chúng ta có giới thiệu đến pháp Chuyết hỏa. Thật ra pháp Chuyết hỏa nhìn có vẻ đơn giản, nhưng mà lúc làm cũng tương đối khó khăn. Trong đó vấn đề về khí và vấn đề minh điểm rơi xuống, vấn đề chuyết hỏa nổi lên, vấn đề nâng, và còn vấn đề làm sao giữ được khí, vấn đề tán khí, đâu đâu cũng đều là vấn đề. Những cái này đều là khẩu quyết, bên trong cũng có tâm yếu rất quan trọng.

Giống hôm qua tôi có nói đến pháp nâng, cái này có thể nói là giá trị liên thành. Tôi nói là đáng giá một triệu đô la Mỹ. Nam nữ đều có thể tu. Nắm chặt nắm đấm, đặt ở trước ngực, hít mạnh một hơi, khi thở ra thì chữ Hum màu xanh lam được nâng lên trên đến mi tâm, hai mắt phải nhìn lên trên, miệng phải niệm “Hummmm!”, nâng chữ Hum này lên trên. Mấy khẩu quyết chủ yếu ở đây là: Nắm chặt tay đặt trước ngực, chữ Hum màu xanh lam ở Mật luân, trong miệng niệm Hummmm, chữ Hum dài. Từ từ nâng chữ Hum lên trên. Hai mắt nhìn lên trời. Toàn bộ thần đều nâng lên trên.

Nam giới nâng thì nam giới sẽ không bị chảy bạch bồ đề, nữ giới nâng thì không chảy hồng bồ đề. Đây là nền tảng của pháp Vô lậu. Từ lúc còn trẻ bạn đã tu rồi, giống như Đạo gia nói, tinh-khí-thần đều đầy đủ, không bị mất đi. Đây là khẩu quyết của pháp nâng. Tất cả đều có khẩu quyết. Giáng xuống, minh điểm rơi xuống dưới cũng có khẩu quyết. Minh điểm không dễ gì mà rơi xuống dưới, nguyên tố sinh mệnh thực sự của bạn không dễ gì rơi xuống dưới.

Cái gọi là minh điểm, loại minh điểm bị chảy đi mất là minh điểm vật chất, không phải là minh điểm sinh mệnh thực sự. Minh điểm sinh mệnh thực sự cố thủ ở chỗ này. Nó muốn giáng xuống không phải đơn giản, bởi vì nó ngưng kết rất chặt, làm sao hạ xuống chứ? Cái này có khẩu quyết. Khẩu quyết này không thể nói ra. Nói ra là tôi bị mất 1 triệu đô la. Vì vậy khẩu quyết của pháp giáng, tôi phải giữ lại, bạn phải quy y, phải nhận quán đảnh, rồi xem biểu hiện của bạn ra sao thì mới giảng giải, mới nói cho bạn nghe, cần phải khẩu truyền, phải nói bằng miệng, phải có động tác, lúc nãy tôi nói về pháp nâng đã có động tác rồi, nó có phương pháp.

Vậy pháp giáng đương nhiên cũng có khẩu quyết, bạn thử nghĩ xem, thủy muốn giáng xuống dưới, vốn dĩ nó ngưng kết rất chắc chắn, rất kiên cố, làm sao rơi xuống? Ngày thường chúng ta nhìn thấy món ăn ngon, oa! Đây là món ăn mà tôi thích ăn nhất đây, vừa nhìn… bạn liền chảy nước miếng, cái này chính là pháp giáng. Bạn nuốt nước miếng, nước miếng chảy ra. Bình thường bạn không chảy nước miếng, tại sao vậy? Vì bạn không nhìn thấy món ăn ngon thì làm sao chảy nước miếng? Chính là vì bạn nhìn thấy món ăn thích ăn nhất thì bạn mới liên tục chảy nước miếng. Cái này chính là pháp giáng. 

Tôi nói cho mọi người biết, tôi đã tiết lộ gần như là một nửa khẩu quyết rồi. Hôm nay minh điểm ở mi tâm của bạn muốn rơi xuống, hoàn toàn giống với đạo lý này, có cùng đạo lý giống với chảy nước miếng. Nhưng vẫn là không nên nói ra, vì tổn thất quá nhiều, việc kinh doanh này của tôi sẽ không làm được nữa. Đây là pháp giáng. 

Pháp trì giữ cũng có khẩu quyết, muốn bảo lưu khí ở bên trong cơ thể của bạn đều có khẩu quyết hết. Vậy pháp trì có khẩu quyết gì? Thượng áp và hạ đề <span className="note-blue">[trên ép xuống, dưới nâng lên]</span> là có thể giữ cân bằng, là có thể giữ được toàn bộ khí của Bảo bình khí. Cái gì là Bảo bình khí? Bạn phải biết pháp trì giữ, trì bình khí, chữ “trì” này vô cùng quan trọng. Thượng áp, bạn ép yết hầu xuống, chính là thượng áp. Đẩy lưỡi lên hàm trên, đè khí xuống dưới.  
Còn hạ đề, cái này chính là hạ đề rồi, thu bụng lại, dính vào phần lưng, nâng hậu môn lên, chính là hạ đề.

Thượng áp hạ đề là có thể giữ được khí, cái này gọi là trì bình khí. Bạn có thể giữ được khí, cái này cũng là phương pháp, đây chính là khẩu quyết. Khẩu quyết chính là giống như bạn luyện bảo bình khí, người ta hỏi bạn, anh có biết cách giữ không? Cái này chính là cách trì giữ, tôi đã giảng cho mọi người nghe rồi. Bảo bình khí là khi bạn hít một hơi vào giữ lại, thượng áp hạ đề, là có thể duy trì được bình khí này, duy trì càng lâu càng tốt.

Sau khi giữ xong rồi phải tán đi, bạn không biết cách tán khí đi thì phải làm sao? Thật ra tán có nội tán và ngoại tán.  
Tán từ bên trong trước, chính là đem toàn bộ khí này phân tán ra, di chuyển đến các lỗ chân lông, từ các lỗ chân lông thoát ra ngoài. Nếu di chuyển không thoát ra được thì xông lên đỉnh đầu, thoát ra từ đỉnh huyệt, bạn sẽ khai đỉnh, đỉnh môn của bạn sẽ mở ra. Cái này gọi là xạ khí.

Thông thường mà nói, một ngày bạn không nên xạ khí quá hai lần đến ba lần, vì rất dễ bị tổn thương, chỉ được xạ khí một lần. Tức là luồng khí này, không được thoát ra bằng lỗ mũi, phải phụt lên đỉnh đầu, lên trên, dùng ý niệm, từ trung mạch bắn thẳng lên đến đỉnh môn -đỉnh huyệt. Khí thoát ra từ đỉnh huyệt và các lỗ chân lông, gọi là nội tán. Còn thoát ra từ lỗ mũi chính là ngoại tán. Cuối cùng không còn cách nào mới thoát ra từ lỗ mũi. Đây là khẩu quyết của pháp tán khí.

Giáng, đề, trì, tán. Khẩu quyết của khí ở bên trong cơ thể bạn làm sao giáng, đề, trì, tán, trước đây tôi không nói đâu, bây giờ đã nói ba khẩu quyết rồi. Làm sao tán? Làm sao trì? Làm sao đề? Làm sao giáng? Chỉ có giáng là không nói. Vì phải giữ lại một chút, nếu không sẽ không kinh doanh được nữa. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

08/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 053. Thiền định

Vốn dĩ tôi định giới thiệu với mọi người về pháp Huyễn quán, pháp Linh nhiệt. Mở đầu của sáu pháp đại thành tựu là pháp Linh nhiệt, pháp thứ hai phải giới thiệu với mọi người là pháp Huyễn quán. Tuy nhiên ở đây phải giảng cho mọi người trước, bên trong pháp Huyễn quán cần phải thực hành thiền định chuyên chú. Thật ra tâm muốn định vốn dĩ là rất khó khăn, thực sự là không dễ dàng. Bạn muốn tâm của mình có thể yên định thực sự là rất khó.

Trước đây bạn chưa từng chú ý đến tâm của mình. Khi bạn chú ý được ý niệm, tâm niệm của mình, bạn mới biết thì ra tâm niệm của chính bản thân mình chạy loạn như vậy, không bắt giữ được nó.

Cả đời tôi có một cảm giác, giống như tôi đi đến một chỗ nào đó. Khi đi thì cảm thấy rất xa, trên đường đi luôn thấy rất xa. Nhưng khi từ chỗ đó muốn quay về nhà, liền cảm thấy sao mới một lúc đã về đến rồi, có cảm giác như vậy. Lúc đi cảm thấy rất xa, lúc về hình như nhanh hơn một chút. Thật ra không phải vậy đâu, khoảng cách bằng nhau, nhưng khi đi, bạn chú ý khoảng cách, chú ý đến cảnh sắc bên đường, luôn chú ý, đi như thế nào? Đến nơi chưa? Oa! Lâu như vậy. Nhưng khi quay về bạn không chú ý nữa, bạn thả lỏng, không chú ý nữa, thì sẽ cảm thấy rất nhanh.

Ý của tôi muốn nói là tâm cũng là như vậy. Bạn không chú ý đến nó thì sẽ không biết tâm mình chạy lung tung. Chú ý đến nó, bạn mới phát hiện bạn không nắm bắt được tâm mình.

Vì vậy phải tu pháp Huyễn quán. Trước tiên tâm phải định. Bạn có thể bắt đầu chú ý đến tâm mình, lúc này là “sơ trụ”, đúng lúc tâm vừa bắt đầu muốn trụ, muốn định, một lúc sau bạn liền không định được nữa. Sau khi không định nữa, bạn sẽ cảm thấy, ôi chao! Tâm mình chạy mất rồi, phải kéo nó quay trở lại, phải tập trung vào chỗ này, cái này gọi là “tục trụ”, để tâm tiếp tục trụ lại.

Nhưng mà tiếp tục không được lâu, tâm lại chạy, bạn lại kéo nó về, rồi từ từ đi vào trạng thái thứ ba, gọi là “hồi trụ”, kéo về lần nữa. Sơ trụ, tục trụ, hồi trụ. Sau đó sẽ vững bền hơn, có thể gọi là “ổn trụ”, có một chút ổn định, sự ổn định này cũng không giữ được quá lâu, nhiều nhất là 10 phút. Nếu bạn có thể chuyên chú vào một thứ gì đó 10 phút đã rất lợi hại rồi. 10 phút rất nhanh rồi không còn như vậy nữa.

Tôi nói thật với mọi người, bạn niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, bạn niệm một lúc là xong, khi nào bạn mới có thể coi là niệm hoàn chỉnh một biến Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh? Có nghĩa là mỗi một chữ bạn đều niệm rất rõ ràng, ý nghĩ đều đặt lên trên chữ, đều ở trong Phật hiệu. Tôi hỏi bạn, bạn đang niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, trong kinh văn ngắn như vậy, khi nào tâm của bạn hoàn toàn chuyên chú? Có phải là bạn thỉnh thoảng niệm đến chỗ này, tâm đột nhiên lại nghĩ về cái khác không? Bạn tự mình nghĩ xem, khi nào bạn niệm được một biến Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh hoàn chỉnh?

Bạn tưởng rằng chúng ta bái Đại Bi Sám, mọi người đều chuyên tâm giống nhau lễ bái sao? Nói cho mọi người biết, bạn có thể bái một trang đã là rất giỏi rồi, tuy bạn đang bái, nhưng tâm không biết đã đi đâu rồi. Khi bạn niệm kinh văn, rõ ràng là đã niệm qua rồi. Ủa? Bạn cũng quên mất là mình đã niệm hay là chưa, bởi vì tâm của bạn không ở đó.  
Vì vậy trụ tâm là vô cùng quan trọng. 

Đến cuối cùng còn phải đến trình độ nào? Bạn đạt đến cuối cùng gọi là “tịch trụ”. Có thể trụ một cách rất tịch tĩnh, khiến tâm của bạn trở nên rất tịch tĩnh và trụ lại, và không thể để nó có hiện tượng hôn trầm. Có rất nhiều người đạt đến tịch trụ, cho rằng chà! Tôi đã trụ rồi. Tại sao vậy? Bởi vì bạn đã ngủ say rồi, bạn đã đi vào trạng thái giấc ngủ rồi, nhưng mà bạn cho rằng đó là một loại thiền định.

Có rất nhiều người cho rằng như vậy. Ồ, tôi định lại một cái, tôi liền quên cả thời không, thời gian cũng quên rồi, không gian cũng quên rồi. Chà! Tôi đã đạt thiền định rồi, sau khi xuất định anh ta rất vui mừng, tôi đã thật sự đạt thiền định rồi. Thật ra bạn đã đánh mất tâm tỉnh giác, ngay đến tâm tỉnh giác cũng không còn nữa. Thật ra lúc nãy bạn đang ở trong thiền định cũng không sai, nhưng mà ngủ quên mất, không phải thiền định. Thế nhưng thời gian bạn ngủ say rất kỳ lạ, rõ ràng bạn chỉ ngủ có 5 phút, rõ ràng cảm thấy… 5 phút. Rõ ràng chỉ cảm thấy có 5 phút, nhưng bạn cảm thấy rất dài. Khi vừa tỉnh dậy, ủa, sao mới có 5 phút thôi? Tôi tưởng là ngủ nửa tiếng hoặc một tiếng rồi chứ. Đúng là có cảm giác này, nhưng đây không gọi là tịch trụ.

Cái gọi là tịch trụ thực sự là bạn giữ được tâm tỉnh giác của mình, không phải hôn trầm, cũng không phải trạo cử. Thực sự là loại trạng thái mà tâm định được thì rất khó để chộp lấy. Vì vậy hành giả tu hành như chúng ta, đối với vấn đề thiền định cần phải rất chú ý. Trạng thái của tâm tổng cộng có 9 thứ, 9 thứ tự trạng thái của tâm, tương đối khó. Bạn muốn thực sự đi vào bên trong đại định sâu nhất, lại có thể giữ được ý thức rõ ràng, không hôn trầm, cũng không trạo cử, hơn nữa tâm có thể chuyên chú vào một thứ, nhập tam ma địa như vậy thực sự không đơn giản.

Phàm phu thông thường không chú ý đến tâm của mình, ngay đến trụ cũng không có, tâm vốn dĩ là trôi nổi bồng bềnh, nhìn thấy cái này nghĩ đến cái nọ, vốn dĩ tâm chưa bao giờ dừng lại. Bạn có thể thực sự nghiên cứu tâm của mình, có thể an định, đã là sơ trụ rồi, xem như là bắt đầu rồi. Sơ trụ, tục trụ, hồi trụ, ổn trụ, cuối cùng đến tịch trụ, cuối cùng là vào bên trong ý thức sâu nhất.

Về sau sẽ phải giới thiệu pháp Huyễn quán, phải cần đến một loại thiền định chuyên nhất. Bạn tu pháp rất chú ý, rất chuyên nhất, chuyên nhất trong thiền định, sẽ sinh ra một loại sức mạnh.

Hôm nay chúng ta, bất kể là giảng về pháp gì, sáu pháp đại thành tựu của Naropa, chúng ta nói về pháp Chuyết hỏa, pháp Linh nhiệt, cũng phải nói về thiền định. Tiếp theo sẽ nói về pháp Huyễn quán, thiền định đó càng thâm sâu hơn. Được rồi, ngày mai tiếp tục giới thiệu. Om mani padme hum!

08/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 054. Pháp Huyễn quán

Hôm nay tôi sẽ giới thiệu về pháp Huyễn quán trong sáu pháp đại thành tựu của Naropa. Huyễn tức là mê huyễn. Quán tức là quán tưởng. Pháp là phương pháp, nên gọi là pháp Huyễn quán. Trong sáu pháp của Naropa, thông thường mà nói, pháp tu của nó tương đối rõ ràng, cũng có nghĩa là bạn sẽ rất dễ dàng làm được.

Nói về bày đàn tràng, bạn đặt lên bức tường của nhà mình một cái gương thật lớn. Bản thân bạn thì ngồi ở trước gương. Ở phía sau của bạn, trên đỉnh đầu của bạn, nếu có thể, dùng một hình ảnh, tức là hình ảnh vị Bổn tôn mà bạn đang tu, Bổn tôn ngồi ở trên đỉnh đầu của bạn. Bạn nhìn thẳng vào gương, bạn sẽ nhìn thấy bản thân mình, và Bổn tôn đang ngồi trên đỉnh đầu của mình. Đàn tràng chính là như vậy, rất đơn giản.

Cách tu pháp tức là bạn soi gương mỗi ngày. Mỗi ngày đều nhìn chính bản thân mình ở trong gương và Bổn tôn của mình. Bạn có thể nhìn thấy Bổn tôn của mình đang ngồi trên đầu mình. Phương pháp tu hành này gọi là pháp Huyễn quán.

Đương nhiên là mỗi ngày bạn đều phải nhìn, đều phải ngồi ở trước gương, quan sát bản thân mình và quan sát Bổn tôn. Mọi người sẽ nghĩ như vậy có gì đáng để tu chứ? Mỗi ngày nhìn mình và nhìn Bổn tôn của mình có gì đáng tu chứ? Thật ra cách tu pháp này rất vi diệu, rất huyền diệu.

Bạn xem tổ sư của Thiền tông, tổ sư Đạt Ma, ngài đi đến Trung Quốc, tại Thiếu Lâm Tự ngồi quay mặt vào tường, khi ngài ngồi mặt đối diện với vách tường ở trong hang động, quay mặt vào tường chính là ngồi đối diện với bức tường. Ngồi xuống một cái là ngài ngồi suốt 9 năm luôn. Mọi người thử nghĩ xem, đối diện với vách tường thì có gì đáng xem, quay mặt vào tường, đối diện bức tường có gì đáng xem chứ? Cái này chính là muốn dạy cho bạn từ thứ đơn giản nhất nhìn ra được chữ “huyễn” này.

Đầu tiên chúng ta hãy nghĩ đến cơ thể của chúng ta, cơ thể của bạn được cấu thành từ đất, nước, lửa, gió. Sau khi tứ đại tan rã thì cái gì cũng không còn nữa, máy móc trên cơ thể bạn có bộ phận nào đó gặp sự cố, máy móc đã hỏng rồi. Bây giờ có thể đổi cơ quan rồi, cơ quan trong cơ thể của bạn bị hư hỏng ở bộ phận nào thì có thể thay bộ phận mới.

Vậy khi hỏng đến không thể thay được nữa, không thể sử dụng thì sao? Vậy tức là tứ đại tan rã, tan rã một cái là không còn nữa. Cơ thể này là vỏ huyễn, cái vỏ huyễn ảo. Nghĩ xem toàn bộ sự vật của vũ trụ này đều là mộng huyễn, đều là huyễn ảo.

Ngày nay các báo cáo tin tức nói rằng sao Hỏa cũng có sinh vật. Sao Hỏa cách chúng ta quá xa, giống như nằm mơ vậy, bạn không thể tưởng tượng được ở đó có sinh vật gì. Ở đó cũng sẽ không thể tưởng tượng được trái đất xa xôi như vậy, lại có nhiều sinh vật đang sinh sống, giống như một giấc mơ.

Tôi thường hay nói với mọi người một câu. Giả sử bạn có kẻ thù, có những người mà bạn rất ghét, rất ghét, rất ghét. Tôi bảo mọi người phải thường xuyên nghĩ đến 50 năm sau sẽ ra sao đây?

Lấy tôi làm ví dụ, tôi 52 tuổi, 50 năm sau, chà 102 tuổi, 102 tuổi là rất thọ rồi, e là không sống được lâu như vậy. Còn có thù hận gì chứ? Đâu còn có thù hận gì nữa. 50 năm sau, đối phương không còn nữa, bạn cũng không còn nữa, thế giới này không biết đã thay đổi thành thế nào rồi. Phải suy nghĩ như vậy, bạn sẽ cảm thấy đời người giống như mộng huyễn vậy. Cho nên đừng suốt ngày để thù hận ở trong lòng. Nghĩ xem 50 năm sau, mối thù đó còn ở chỗ nào? Không còn nữa. Mọi thứ đều là “huyễn không” hết, giống như sương khói, đều tan biến hết. Vì vậy đừng đi chấp vào yêu, chấp vào hận, chấp vào thù, chấp vào tình. Bạn có chấp cũng vô ích. Những chuyện đã qua sẽ không quay lại nữa. Hiện tại cũng sẽ biến thành quá khứ. Tương lai cũng chưa biết là ở đâu nữa. Vì vậy gọi là ba tâm không thể đắc.

Hôm nay tôi dạy cho mọi người về quan niệm của huyễn, quan niệm của mộng huyễn. Bạn ngồi ở trước gương chính là dạy cho bạn quan niệm này. Cơ thể của con người chúng ta, yếu tố đất (địa) chính là cơ thể của bạn. Da, thịt, xương đều là đất. Yếu tố nước (thủy) là gì? Chính là huyết dịch của bạn. Còn yếu tố lửa (hỏa) chính là nhiệt độ cơ thể của bạn. Yếu tố gió (phong) tức là hô hấp của bạn, khí ở bên trong cơ thể bạn. Bốn cái này tan rã thì cái gì cũng không còn nữa. Nên cái thân thể này là vỏ huyễn.

Bạn ngồi ở trước gương chính là để bạn thấy cơ thể của mình là huyễn không. Không chỉ có cơ thể của bạn là huyễn không, mà bạn ở trong gương lại càng là huyễn không, cái hình ảnh đó vốn dĩ không có thực thể, là phản ánh bản thân bạn mà thôi, phản ánh bạn ở trong gương. Bổn tôn của bạn ngồi ở trên đầu bạn, cũng là ở trong gương, cũng là huyễn không. Pháp Huyễn quán chính là phải tu Bổn tôn của bạn và bạn ở trong gương, và bạn ở bên ngoài gương, ba người hợp nhất, hòa nhập làm một.

Bạn phải thường xuyên nghĩ: “Người ngoài gương là mình sao? Người ở bên trong gương là mình sao? Bổn tôn ngồi trên đỉnh đầu là mình sao?” Thường xuyên nghĩ như vậy, sau đó nhập vào tam ma địa của huyễn quán. Đây là một phương pháp tu hành.

Trước khi bạn muốn nhập vào, bạn có quan niệm về mộng huyễn, nhìn vào mình ở trong gương, nghĩ đến mình ở ngoài gương, rồi nghĩ đến Bổn tôn ở trên đỉnh đầu. Bạn liên tục quan sát như vậy, trong lúc nghĩ như vậy, chỉ trong một sát-na nhập Tam ma địa, hiện tượng ba người hợp nhất sẽ được sinh ra, chính là một phương pháp như vậy.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

09/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 055. Nói rõ về thành tựu pháp Huyễn quán

Chúng ta nói về pháp Huyễn quán, có lẽ mọi người vẫn chưa biết làm sao để tu. Vậy thì tiếp tục nói chi tiết về huyễn quán, nói kĩ hơn nữa.

Chúng ta mỗi ngày, mỗi người đều phải soi gương, ngày nào cũng soi. Vậy khi bạn nhìn vào bạn ở trong gương, bạn sẽ có một loại cảm giác, sẽ sinh ra một cảm giác. Hôm nay tâm trạng rất tốt, bạn ở trong gương là bộ mặt tươi cười, phản ánh ra một cảm giác rất hân hoan. Hôm nay tâm trạng không tốt, bộ mặt ấy sẽ dàu dàu, bản thân mình nhìn thấy cũng không thích. Cảm xúc của con người không phải mỗi ngày đều giữ được như nhau. Trong một ngày cũng biến đổi rất nhiều lần, giống như ông trời vậy, trời có lúc nắng, có lúc âm u, mây đen kéo đến, có lúc thì mưa xuống, có lúc thì nổi gió. Thời tiết mỗi ngày đều biến hóa, khuôn mặt của con người cũng như vậy.

Hôm nay tôi nói với mọi người, vườn hoa bên ngoài của chúng ta đang nở rộ, hoa cúc, hoa thược dược, nở rất đẹp, hoa thơm, hoa rất đẹp. Còn nữa, bữa trưa ở phòng ăn của chúng ta, cơm canh thơm ngon, đúng là ngon miệng, thực sự rất ngon. Các cô gái để tóc tu hành ở đây, họ xịt nước hoa, đánh son, đánh phấn má, mùi thơm của nước hoa ngửi cũng rất thích, rất thơm tho dịu nhẹ. Bạn xem, hương hoa, mùi thức ăn, mùi hương của con người, đều rất thơm, rất tốt đẹp.

Nhưng mà, sau khi bạn nghe được một tin tức xong, mặt của bạn liền nặng trĩu. Bạn nghe được một tin xấu, hôm nay vốn dĩ cho rằng mọi thứ đều tốt đẹp, đột nhiên có một cuộc điện thoại báo cho bạn một tin rất xấu. Đột nhiên có một tin rất xấu ở nơi khác được truyền đến cho bạn, mặt của bạn liền nặng trĩu xuống, ngay lập tức, rất nhanh chóng. Lúc này hoa cũng không thấy thơm, cơm canh cũng không thấy thơm, cho dù mỹ nữ đứng trước mặt bạn, bạn cũng cảm thấy rất chán ghét. Đây chính là một sự thay đổi. Cái này bạn cần phải ở trong pháp Huyễn quán để quan sát. Khuôn mặt hôm nay của bạn là khuôn mặt ra sao thì ở trong gương có thể biểu hiện ra hết. Nhìn kĩ mắt, lông mày, mũi, miệng, tai của bạn, toàn bộ khuôn mặt và thân thể của bạn, thậm chí là ánh sáng trên người bạn, sau đó đối chiếu với Bổn tôn trang nghiêm.

Mỗi ngày đều quan sát thật kĩ, bạn biến đôi mắt của mình thành đôi mắt của Bổn tôn, biến lông mày của mình thành lông mày của Bổn tôn, biến tai của mình thành tai của Bổn tôn, biến miệng của mình thành miệng của Bổn tôn, biến khuôn mặt của mình thành khuôn mặt của Bổn tôn. Vậy bạn sẽ nhìn như thế này, nhìn trên nhìn dưới, nhìn trên nhìn dưới, nhìn trên nhìn dưới, nhìn trên nhìn dưới, nhìn trên nhìn dưới… Phải đối chiếu. Sau đó biến đổi bản thân, tự mình nhìn mặt của mình, tự mình biến đổi. Biến khuôn mặt của mình, thân hình của mình, ánh sáng trên cơ thể mình thành ánh sáng của Bổn tôn. Sau đó bạn nhìn vào bản thân mình, trong một sát-na, bạn liền biến mình thành Bổn tôn. Điều này bạn nhất định phải học được. 

Cái gọi là pháp Huyễn quán chính là thay đổi hình tướng thế tục của bản thân, ở bên trong gương nhìn vào Bổn tôn, đối chiếu với nhau, từ từ cải chính, cải chính hình tướng của chính mình hoàn toàn biến thành hình tướng của Bổn tôn, giống hệt nhau. Sẽ biến ra như vậy. Chỉ búng tay một cái, trong lúc tinh thần của bạn vô cùng tập trung, chuyên chú quan sát, bạn đột nhiên phát hiện mình chính là Bổn tôn. Bạn và Bổn tôn hoàn toàn hợp nhất, Bổn tôn từ trên đỉnh đầu của bạn giáng xuống cơ thể của bạn, bạn và Bổn tôn hoàn toàn giống hệt nhau, phải quan sát được như vậy. Lúc này chính là hiện tượng Bổn tôn và bạn ở trong gương, với bạn ở ngoài gương, cả ba hợp nhất với nhau. Phương pháp này gọi là pháp Chú kính. Đây là pháp Chú kính của Đạo gia, cũng chính là pháp Huyễn quán trong sáu pháp của Naropa của Mật giáo.

Vốn dĩ cái này là hư huyễn, phương pháp tu hành này là hư huyễn, không phải chân thực. Nhưng ở trong hư huyễn, bạn có thể tìm được một loại hiện tượng cả ba hợp nhất với nhau. Lúc này trong sự quán chiếu của bạn từ trong gương mà đi vào Tam ma địa. Bạn sẽ nhìn thấy khói, nhìn thấy sương mù, sẽ thực sự hiển hiện ra Bổn tôn cho bạn thấy. Bạn còn có thể nghe thấy âm thanh nữa, nghe thấy Bổn tôn từ bên trong gương đi ra, sau đó dạy pháp cho bạn, tương ứng với bạn. Đây chính là thành tựu huyễn quán.

Phương pháp tu hành này gọi là pháp Huyễn quán. Tổ sư Đạt Ma quay mặt vào tường chín năm, tôi cho rằng pháp mà ngài tu chính là pháp Huyễn quán này. Nhị tổ Huệ Khả của Thiền tông cũng tu pháp Huyễn quán này, ngài cũng ngồi quay mặt vào tường như vậy.

Chúng ta cũng có thể thực hành bế quan, quay mặt vào tường, không phải là quay mặt vào tường suy ngẫm lỗi lầm, là ngồi quay mặt vào tường để soi gương, quan sát bản thân mình, quan sát Bổn tôn, cho đến khi cả ba hợp nhất, đây chính là thành tựu huyễn quán.

Trong lúc bạn đang quan sát, vì tinh thần của bạn rất tập trung, quan sát mắt, quan sát lông mày, quan sát mũi, quan sát miệng, quan sát tai, sau đó mới nhìn Bổn tôn, biến cái miệng của Bổn tôn thành cái miệng của bạn, mắt Bổn tôn biến thành mắt của bạn, lông mày Bổn tôn biến thành lông mày của bạn, tai Bổn tôn biến thành tai của bạn, quan sát rõ ràng từng cái một, di chuyển Bổn tôn xuống phía dưới, cả ba hợp nhất. Xoẹt một cái, là lập tức hợp nhất. Hợp nhất rồi, sinh ra sương mù, khói, sản sinh ra Bổn tôn xuất hiện, đây chính là tương ứng.

Phương pháp này cũng rất hay đó, rất dễ bày đàn tràng, vả lại, tôi nói cho bạn biết, phương pháp này có rất nhiều điều huyền diệu, bạn nhìn đến cuối cùng, ở bên trong gương sẽ có thế giới Cực Lạc. Bạn nhìn đến cuối cùng, ở bên trong gương sẽ xuất hiện tiên cảnh. Bạn nhìn đến cuối cùng, bản thân bạn sẽ đi vào bên trong gương. Bạn nhìn đến cuối cùng, bạn có thể ăn được bàn đào của Vương Mẫu Nương Nương, những điều đó sẽ hiện ra ở trong gương. Bạn nhìn đến cuối cùng, bên trong có rất nhiều mật pháp, bên trong gương sẽ xuất hiện rất nhiều chữ, rất nhiều mật pháp. Đây chính là thành tựu pháp Huyễn quán.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

09/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 056. Nói rõ về pháp thành tựu Mộng quán (1)

Tại đây, tôi sẽ tiếp tục giới thiệu với mọi người về pháp thành tựu Mộng quán trong sáu pháp của Naropa. Trong “Hồng quang đại thành tựu” tôi đã từng nhắc đến tu mộng, vậy ở đây giống như là nhắc lại thôi, pháp tu mộng này tương đương với pháp thành tựu Mộng quán trong sáu pháp của Naropa. Pháp thành tựu Mộng quán và tu mộng có sự trùng lặp. Vậy thì cũng không sao, tại đây tôi nhắc lại với mọi người một lần nữa.

Trạng thái của đời người chúng ta rất đặc biệt. Thật ra, nếu nói là đặc biệt thì cũng là rất bình thường, phi thường cũng giống như bình thường mà. Giống như trạng thái tỉnh táo của những người đang sống như chúng ta là một trạng thái. Khi ngủ cũng là một trạng thái, khi nằm mơ lại là một trạng thái. Người bình thường đều chỉ có ba trạng thái này. 

Nhưng người tu hành thì lại khác. Ngoài ba trạng thái trên, họ còn có một trạng thái siêu giác siêu nhiên không giống với thế tục. Có thể nói đó là trạng thái của Phật, Bồ Tát. Chính là trạng thái siêu giác.

Hôm nay chúng ta đừng sống trong cuộc sống của người bình thường nữa. Bạn muốn sống trong cuộc sống của người thường, vậy thì chỉ có ba trạng thái tỉnh táo, ngủ, và nằm mơ mà thôi.

Còn siêu giác thì cần phải tu pháp. Lúc tỉnh bạn cũng phải tu pháp. Vậy lúc bạn nằm mơ thì phải làm sao? Cũng nhất định phải tu pháp. Nằm mơ tu pháp là rất khó. Lúc bạn tỉnh, đi vào đàn thành tu một đàn pháp, ngồi xuống thật yên tĩnh, làm yên tĩnh tâm linh của mình, bạn có thể làm được. Trong mơ bạn làm sao làm được?

Vì vậy trong Mật giáo có tu mộng, chính là pháp thành tựu Mộng quán. Khi nằm mơ bạn cũng phải tu pháp. Bạn nằm mơ không tu pháp thì vọng tưởng điên đảo, vậy là không đúng rồi. Cho nên trong Mật giáo có dạy bạn khi nằm mơ cũng phải tu pháp.

Cái này đương nhiên là có trình tự của nó.

Điều đầu tiên bạn phải hiểu được “minh mộng”, hiểu rõ là mình đang nằm mơ. Người bình thường khi nằm mơ thì không biết nữa là mình đang nằm mơ. Rất đơn giản, không còn biết rõ là sẽ rối tung loạn xạ ngay thôi. Vì vậy bạn cần phải hiểu là đang nằm mơ. Đầu tiên phải biết là lúc này bạn đang nằm mơ.

Điều thứ hai là cần phải “nhận mộng”, bạn phải nhận ra giấc mơ này, phải ghi nhớ rất rõ ràng, biết được mình ở trong mơ làm những gì, không được vừa ngủ dậy là cái gì cũng quên hết, ngủ dậy là cái gì cũng không còn nữa. Phải nhận thức về giấc mơ này, hơn nữa phải biết giấc mơ này là hư huyễn.

Điều thứ ba là phải “chuyển mộng”, xoay chuyển. Con người trong giấc mơ thường hay có hành vi phạm vào ngũ giới. Bạn nhìn thấy có một món đồ quý trong giấc mơ, lúc bạn tỉnh bạn sẽ không lấy cắp, nhưng khi bạn nằm mơ bạn sẽ rất lợi hại, bạn sẽ đi lấy cắp. Lấy cắp cái này vẫn chưa là gì, còn đi lấy cắp cái khác nữa, lấy cắp cái khác càng nghiêm trọng hơn. Khi nằm mơ bạn mất đi năng lực tự chủ, bạn không có cách nào chuyển đổi. Phương pháp của Mật giáo dạy bạn chuyển mộng, chuyển đổi nó thành một loại chính mộng, giấc mộng có chính niệm. 

Tiếp theo, ở trong mơ bạn vẫn phải tu pháp. Tôi nói với mọi người: “Bạn ở trong mơ có thiền định không?”

Nói đùa à, nằm mơ mà còn thiền định? Ban ngày tôi còn không thể thiền định được, nằm mơ còn có thể ở đó tu pháp, ở đó thiền định, vậy chẳng phải là lừa người ta sao?

Sai rồi. Pháp của Mật giáo nói cho chúng ta biết thế này, khi bạn nằm mơ vẫn có thể biết tu pháp, vẫn còn thể thiền định ở trong mơ. Đây chính là chỗ vĩ đại của nó. Chỗ vĩ đại của Mật giáo chính là dạy bạn trong mơ cũng phải tu.

Trước đây tôi có nói rồi, lần trước khi tôi giảng về thành tựu mộng quán, tôi có nói, sư phụ từng nói: Khi nằm mơ, và khi chết đi không khác biệt là mấy. Khi con người chết và lúc nằm mơ cũng gần giống nhau.

Giả sử nếu bạn ở trong giấc mơ mà không thể chuyển mộng, không thể thiền định, vậy bạn thảm rồi. Bạn làm sao có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới? Bạn làm sao có thể tu hành thành tựu chứ? Vì giấc mơ cũng có thể chuyển đổi bạn mà. Lúc đó bạn không thể giữ được sự tỉnh táo, khi bạn chết đi, người ta kéo bạn xuống địa ngục, bạn liền đi theo, chẳng phải bạn liền đi theo sao? Bạn ở trong mơ chẳng phải rối tung loạn xạ phạm vào ngũ giới sao? Giới gì bạn cũng phạm nói gì đến năm giới chứ, có mà 108 giới. Bát giới, Trư Bát Giới mà chúng ta hay nói, bạn cũng đều phạm phải. Rất đơn giản thôi. 

Vì vậy giấc mơ nhất định phải rõ ràng, quan trọng là “rõ ràng”. Phải biết đó là giấc mơ, phải chuyển giấc mơ này, ở trong mơ có thể thiền định, tu pháp. Hơn nữa bạn ở trong mơ biết rõ đây là giấc mơ. Khi bạn chết đi, bạn cũng có thể biết là bây giờ mình chết rồi. Sau đó bạn có thể vãng sinh. Bạn có thể cầu nguyện Phật, đi theo Phật vãng sinh.

Vì vậy bất kể bạn là Hiển giáo hay Mật giáo, chỉ cần nếu ban đêm nằm mơ mà bạn rối tung loạn xạ, bạn sẽ không có thành tựu đâu, bất kể bạn thuộc tông giáo nào. Rất đơn giản mà có phải không? Ban đêm khi ngủ bạn rối tung loạn xạ, sau khi bạn chết chẳng phải vẫn rối tung loạn xạ sao? Vậy bạn cho rằng mình tu hành cao đến đâu chứ? Đến giấc mơ mà bạn cũng không thể tự chủ thì bạn tu hành cao đến đâu chứ?

Vì vậy bản thân Mật giáo có tu pháp trong giấc mơ. Những người tu Hiển giáo nhiều lúc nói: “Này, tôi có thể niệm Phật ở trong mơ.” Đây là hiện tượng tốt. Nhiều lúc trong mơ bạn vẫn giữ được ý thức: “À, tôi phải niệm Phật.” Gặp phải chuyện gì cũng: “Tôi phải niệm Phật, tôi không thể phạm giới.” Cái này chính là ở trong giấc mơ bạn cũng có thể tu.

Ngày nay muốn giữ được tâm cảnh giác là tương đối khó. Trong Mật giáo dựa vào vài phương pháp, lần trước có nói rồi. Nếu như người nào chưa nghe thì phải mua băng ghi hình, băng thu âm, đến Seattle Lôi Tạng Tự mua là có. Phải mua băng thu âm, băng ghi hình, vì tôi có giảng về pháp Miên quang, cái đó phải dựa vào lực gia trì của Thượng sư và Bổn tôn. Thượng sư và Bổn tôn đến gia trì cho bạn, sau đó trước khi ngủ bạn cũng phải tu pháp. Sau khi ngủ rồi cũng phải tu pháp. Sau đó phải kết giới, phải biết làm sao kết giới. Về kết giới thì phải dựa vào sức mạnh của Hộ pháp để bảo hộ cho bạn ngủ. Vừa phải kết giới, vừa phải tu pháp, vừa phải cầu nguyện Bổn tôn và Thượng sư gia trì cho bạn, phải dựa vào hạnh nguyện lực rất lớn thì mới có thể tu hành trong giấc mơ.

Đây là pháp rất vĩ đại trong Mật giáo, loại pháp này gọi là pháp thành tựu Mộng quán, là pháp thứ ba trong sáu pháp Naropa.

Hy vọng mọi người có thể thật tỉnh giác, ở trong giấc mơ cũng có thể tu hành.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum!

12/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 057. Nói rõ về pháp thành tựu Mộng quán (2)

Tôi sẽ nói với mọi người về ví dụ thực tế của pháp thành tựu Mộng quán.

Có một lần tôi đi Malaysia. Tại Malaysia có rất nhiều người dân tộc, người dân tộc ở đó - người Mã Lai, họ biết làm bùa ngải, biết nuôi quỷ, rất nhiều bùa ngải, Đông Nam Á nổi tiếng về bùa ngải, nuôi quỷ.

Khi tôi qua bên đó, mỗi đêm tôi đều tu pháp thành tựu Mộng quán. Trong đó có một thầy bùa ngải nuôi quỷ, ông ta sai phái những tiểu quỷ của ông ta đến.

Thông thường mà nói, người như Lư Sư Tôn, khi vừa bước vào một nơi nào đó, tôi chỉ cần hít thở không khí một cái, nhận ra mùi vị của không khí có chút khác lạ, đây chính là một loại siêu giác của người tu hành, loại cảm giác siêu nhiên đó gọi là siêu giác. Tôi liền biết ngay có thứ gì đó.

Đương nhiên là đêm hôm đó, tôi vẫn như thường lệ, nhất định phải tu pháp thành tựu Mộng quán, vậy là tu pháp thôi. Tôi tu như thế nào? Chính là tôi niệm tam tự minh chú ngữ là “Lang Yang Khang” <span className="note-blue">[Ram Yam Kham]</span> “Lang Yang Khang”, “Lang Yang Khang”, biến hóa bản thân thành một cái chày kim cang. Bên này là đầu Phật, đầu của Kim cang, ba mặt đều là đầu Phật. Chày kim cang này rất kiên cố nằm lên trên giường, sau đó dùng tam tự minh gia trì “Lang Yang Khang”, niệm đến chữ “Khang” thì biến, biến một cái thành ngay chày kim cang nằm ở trên giường.

Thầy bùa ngải nuôi quỷ đó sai khiến đám quỷ nhỏ của ông ta đến. Sau khi đi vào mấy con tiểu quỷ đó liền cắn vào cổ của tôi. Vừa cắn vào thì “rắc” một cái, oa! Mọi người sẽ cho rằng cổ của Lư Sư Tôn chắc là gãy rồi, hóa ra không phải. Thì ra là răng của tiểu quỷ đó bị gãy. Mọi người thử nghĩ xem, bản thân chày kim cang vốn dĩ là rất cứng. Răng của tiểu quỷ làm sao cứng bằng chày kim cang chứ? Vì vậy răng của tiểu quỷ này cần phải đi khám nha khoa rồi, tiểu quỷ đi khám nha sĩ để trám răng, vì bị gãy răng rồi, gãy rồi trám không được thì phải lắp răng giả. Đám tiểu quỷ mà thầy bùa ngải đó nuôi còn phải đi khám nha sĩ để lắp răng giả.

Vì vậy bạn tu pháp thành tựu Mộng quán sẽ có lợi ích to lớn, có thể biến hóa. Cơ thể bạn biến mất, biến thành một cái chày kim cang nằm thẳng ở trên giường. Trong hư không có ánh sáng màu đỏ chiếu vào bạn giống như một cái lọng. Trong hư không có Không hành Hộ pháp. Bạn phải hiểu rõ mộng. Bạn phải quán giữa hai chân mày của mình có một chấm màu trắng, giấc mơ của bạn sẽ vô cùng rõ ràng.

Mỗi ngày bạn có giấc ngủ ngon, tinh thần tràn trề, trước khi bước xuống giường thì làm Bảo bình khí 7 lần, cầu nguyện 11 lần, cảm tạ Căn bản Thượng sư, Bổn tôn của bạn đã gia trì cho bạn. Đây đều là khẩu quyết quan trọng.

Rất đơn giản, chỉ cần khi lên gường bạn niệm “Lang Yang Khang” rồi biến, niệm “Lang Yang Khang” 7 lần, biến bản thân thành chày kim cang. Bất kì loại quỷ quái nào đến trong giấc mơ của bạn để trộm khí của bạn cũng trộm không được, bạn sẽ trở nên vô cùng kiên cố.

Đây là pháp của Mật giáo, pháp này vô cùng tuyệt hảo. Nếu bạn dùng pháp này, thân tâm sẽ vô cùng kiên cố, sẽ có một giấc ngủ rất sâu. Tiếp theo, bạn nằm mơ đều là đang thiền định, đều là đang tu hành. Đây chính là khẩu quyết quan trọng của pháp thành tựu Mộng quán.

Ngoài ra, mọi người cần phải biết, bản thân giấc mơ ở trong Mật giáo cũng là một pháp giới, là một pháp giới được phản ánh ra trong bát thức điền.

Đương nhiên là bạn hiểu rồi, chúng ta nằm mơ, những người thường hay nằm mơ nói, ôi giấc mơ là giả mà, là huyễn mà, là huyễn giác, là mộng huyễn. Đúng thật là mộng huyễn, nhưng trong bát thức điền của bạn, giả sử bạn không điều chỉnh tốt giấc mơ, có phải là sẽ ảnh hưởng lúc bạn tỉnh táo không? Pháp giới này liệu có ảnh hưởng đến một pháp giới lúc tỉnh táo của bạn không? Vẫn sẽ ảnh hưởng.

Rất nhiều người ban đêm ngủ không được là sẽ ảnh hưởng đến ban ngày, nó sẽ gây ảnh hưởng đến tu hành của ban ngày. Ban ngày bạn tu hành rất tốt, ban đêm thì thần hồn điên đảo, vậy cũng không được. Đến một thế giới khác là bạn thần hồn điên đảo ngay. Vì vậy pháp thành tựu Mộng quán chính là liên kết sự tu hành giữa ban ngày và ban đêm lại với nhau, biến thành nhất quán. Giả sử hôm nay ban ngày bạn tu hành rất tốt, ban đêm là bạn rối tung loạn xạ, như vậy là bạn đã mất đi chính niệm. Vì vậy tu hành của ban ngày và giấc ngủ của ban đêm phải liên kết nhất quán với nhau. Đây là pháp thành tựu Mộng quán - pháp thứ ba trong sáu pháp của Naropa. Bạn chỉ cần liên kết nhất quán giữa tu hành của ban ngày và giấc ngủ của ban đêm, đều là đang tu hành, tu pháp trong chính niệm, thành tựu này rất vĩ đại.

Vì vậy phải làm sao để đảm bảo bạn có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới? Nói cho bạn biết, ban đêm bạn cũng có chính mộng, bạn biết được mộng là huyễn, bạn ở trong giấc mơ có thể thiền định tu hành, như vậy tôi sẽ tán dương bạn, bạn đã thành tựu. Có thể nói là bạn đã có được thành tựu bước đầu rồi, đảm bảo bạn có thể vãng sinh.

Giả sử nói tối hôm nay bạn nằm mơ mà cũng không biết là mơ, bạn khờ dại loạn mộng, mơ linh tinh lộn xộn, có nhiều lúc nó còn kéo bạn đi lung tung, kéo bạn đi khắp nơi, làm chuyện điên loạn. Vậy thì bạn tu hành vẫn chưa có thành tựu.

Mọi người có thể động não suy nghĩ một chút xem những lời như Lư Sư Tôn vừa nói có đúng hay không? Vì ban ngày bạn tu rất tốt, nhưng ban đêm thì thần hồn điên đảo, như vậy làm sao có thể nói là có thành tựu? Nhất định phải là nhất quán, tu hành nhất định phải là nhất quán. Bởi vì bạn đừng cho rằng ban đêm nằm mơ là huyễn, thật ra thật sự ở trong mắt Phật, trong cái nhìn Như Lai, bạn đang ngủ là huyễn, vậy lúc bạn tỉnh táo chẳng lẽ không phải là huyễn sao? Vẫn là một cái huyễn thôi. Đời người chẳng qua là một giấc mộng trăm năm mà thôi, đều là huyễn. Phải nhận rõ cái huyễn này. Trong huyễn tu huyễn, tu hành trong mộng huyễn, sau đó đắc chính giác chân chính, chính là trạng thái siêu giác trong bốn loại trạng thái. Cái này là vĩ đại nhất.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

12/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 058. Pháp thành tựu Tịnh quang (1)

Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người về pháp thứ tư trong sáu pháp của Naropa, cũng chính là pháp thành tựu Tịnh quang.

Pháp thành tựu Tịnh quang này vô cùng đặc biệt. Trước đây tôi đã từng nói, tu hành có nhiều giai đoạn. Tu hành của Mật giáo có thể ấn chứng chư thiên, từ trong trung mạch bạn có thể ấn chứng được đại hỷ lạc, khi đi vào cõi Sắc giới, bạn có thể ấn chứng tịnh quang.

Ở cõi Dục giới, bạn sinh ra đại hỷ lạc. Ở cõi Sắc giới có tịnh quang được sinh ra. Pháp thành tựu Tịnh quang cũng gần như là ở trong giai đoạn của cõi Sắc giới, lúc sản sinh ra tịnh quang.

Còn cõi Vô sắc giới thì rất khó để vào. Tôi từng loanh quanh ở xung quanh trong cõi Vô sắc giới. Cõi Vô sắc giới cái gì cũng không có. Bạn nói xem, không có thang, không có bậc thang, bạn làm sao lên được cõi trời này? Sau này tôi sẽ nói với mọi người về cõi Vô sắc giới, làm sao đi lên cõi Vô sắc giới.

Liên quan đến pháp thành tựu Tịnh quang, có rất nhiều cách nói khác nhau. Tổ sư các đời, lão tổ sư của nhiều đời có các cách nói cũng không giống nhau. Có người nói như thế này, ở trong Mật giáo, ở trong Tạng mật có nhắc đến, nói là: Bạn muốn sinh ra tịnh quang, bạn phải dừng được ý niệm của bạn. Vậy thì, ý niệm trước đã đi qua rồi, ý niệm ở phía sau vẫn chưa sinh ra, khoảng trống ở chính giữa sẽ sinh ra tịnh quang. Điều này không phải là tổ tiên nói, mà là tổ sư, là các lão tổ sư nói đó.

Ở đây nói là ý niệm ở phía trước của bạn đã đi qua rồi, ý niệm ở phía sau vẫn chưa sinh ra, khoảng trống ở giữa sẽ sinh ra tịnh quang. Các vị rất lợi hại, nghiên cứu vô cùng thấu triệt. Ở giữa niệm và niệm sinh ra tịnh quang. Nhưng tôi cho rằng cái này thuộc về mặt lý luận, về mặt lý luận thì nói như vậy, dù sao bạn cũng không biết khi nào tịnh quang được sinh ra mà.

Có một cách nói khác là như thế này. Bạn chỉ cần tu chứng được chuyết hỏa, chuyết hỏa đã xuất ra rồi, chuyết hỏa là nội hỏa của bạn, nó sẽ di chuyển bên trong cơ thể. Khi bạn tập trung chuyết hỏa lại với nhau, giống như ánh sáng mặt trời chiếu vào kính lúp, sau khi đi qua kính lúp, nó sẽ hội tụ thành một điểm, từ trong điểm này sinh ra lửa, lửa thì chắc chắn sẽ sinh ra ánh sáng, cái này cũng là do tổ sư nói, tổ sư nói như vậy đó.

Ngài nói, chuyết hỏa của bạn, trong lúc vận hành ở bên trong cơ thể, tự nhiên sẽ sinh ra ánh sáng. Nhưng mà, cái này đương nhiên cũng tồn tại đạo lý của nó, vì bạn biết đó, lửa sẽ sinh ra khói mà, cũng sinh ra ánh sáng, từ trong lửa sinh ra ánh sáng, cái này giống như một suy luận, rất phù hợp logic.

Nhưng mà tu hành, phải làm sao để hiển hiện ra ánh sáng thanh tịnh này? Chắc chắn là có cách tu của nó, vẫn nên để nó tự hiện ra. Giống như chuyết hỏa của bạn đã sinh ra rồi, chuyết hỏa thông trên dưới, thông trái phải, đi nghiêng, đi thẳng, đi lên, đi xuống, đi khắp nơi, đi đến cuối cùng, tự nhiên nó sinh ra lửa, nó sẽ sinh ra ánh sáng một cách tự nhiên. Có phải tịnh quang được sinh ra như vậy không? Tôi cũng từng nghĩ đến vấn đề này, và cũng từng nghiên cứu về vấn đề này.

Nhưng mà cuối cùng, bản thân tôi sau khi đi sâu vào nghiên cứu và thực tu, bản thân tôi mới phát hiện ra, khi bạn sinh ra chuyết hỏa, không sai, chuyết hỏa vận hành ở bên trong trung mạch. Khi bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, hòa tan ở luân xa tim, sẽ làm thả lỏng toàn bộ mạch ở xung quanh luân xa tim. Chủ yếu nhất là, luân xa tim của bạn sẽ biến thành hoa sen tám cánh, nở ra một đóa hoa sen.

Ngoài ra, vẫn còn một điểm quan trọng, khi hoa sen này nở ra, tại nhụy sen của hoa sen này, ở bên trong nhụy hoa có một sợi tơ. Tôi phát hiện sợi tơ đó có thể phát sáng, tôi đặt tên cho nó gọi là “ngũ thái tâm mạch” - tâm mạch ngũ sắc. Khi hoa sen tám cánh ở trong luân xa tim nở ra, ở chính giữa hoa có một sợi tâm mạch ngũ sắc, đây là nguồn sáng thực sự, nguồn sáng phát ra ánh sáng nằm ở đó.

Bởi vì bạn nâng chuyết hỏa lên, làm bồ đề tâm nguyệt dịch chảy xuống, hợp nhất tại luân xa tim, quả tim thịt sau khi sau tan chảy rồi sẽ nở ra, biến thành hoa sen tám cánh. Ở chính giữa hoa sen tám cánh có ngũ thái tâm mạch, ngũ thái tâm mạch này sẽ phát ra tịnh quang.

Ánh sáng đầu tiên nó phát ra là ánh sáng trắng mềm mại, màu trắng có hào quang hơi mềm. Sau này từ ngũ thái tâm mạch này mới biến thành “ngũ trí quang”, ánh sáng của năm loại trí huệ, sau cùng biến thành cầu vồng ngũ sắc, đây là một khẩu quyết quan trọng.

Cái này do bản thân tôi phát hiện ra, khi hoa sen tám cánh của bạn nở ra, có tâm mạch ngũ sắc, nó sẽ hóa ra ánh sáng cầu vồng ngũ sắc. Vì vậy phóng quang có rất nhiều loại, là ánh sáng đầu tiên trong luân xa tim của bạn phát ra, là ánh sáng thực sự trong luân xa tim của bạn, gọi là ánh sáng tâm mạch ngũ sắc, điều này do bản thân tôi phát hiện ra.

Vì vậy, có một số tổ sư nói, ở giữa ý niệm trước và ý niệm sau sẽ phát ra tịnh quang, đây là về mặt lý luận. Ngoài ra tổ sư khác nói, chuyết hỏa bốc lên, lửa bốc lên thì đương nhiên là có ánh sáng, nó phát ra một cách tự nhiên. Nhưng hôm nay, Lư Thắng Ngạn đang nói đến ánh sáng của tâm mạch ngũ sắc ở bên trong khi Tâm luân mở ra.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

13/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 059. Pháp thành tựu Tịnh quang (2)

Chúng ta sẽ nói tiếp về pháp thành tựu Tịnh quang. Ở trong các cõi trời của tam giới - Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, tôi cho rằng cần phân biệt như thế này: Ở Dục giới, người có phúc báo lớn có thể lên cõi Dục giới, cho nên người này thuộc về “phúc đại”, phúc khí rất lớn. Tại sao phúc khí rất lớn? Vì anh ta bố thí mà, anh ta làm công đức, cho nên phúc khí rất lớn, vì vậy anh ta đến cõi Dục giới để hưởng phúc.

Cõi Sắc giới, tôi cho rằng là “huệ đại”, không phải là hỏa đại <span className="note-blue">[nổi khùng]</span> đâu, là huệ, huệ của trí huệ. Bởi vì anh ta thiền định, dựa vào sức mạnh của thiền định mà đi vào bên trong sản sinh trí huệ, dựa vào gia tăng trí huệ lực mà từng bước từng bước đi lên cõi này, vì vậy nên thuộc về “huệ đại”.

Vậy cõi Vô sắc giới, tôi cho rằng là “không đại”. Không đại là gì? Bởi vì bản thân anh ta tu hư không, tu duy thức, tu vô tưởng, vô tưởng chính là không có suy tưởng, ngay cả không có suy tưởng cũng vứt bỏ thì tức là phi tưởng phi phi tưởng. Loại bỏ cả thức thì biến thành vô sở hữu. Vì vậy cái mà anh ta ấn chứng, tôi cho rằng ở trong cõi Vô sắc là thuộc “không đại”.

Vậy thì pháp thành tựu Tịnh quang, tôi cho rằng là ở cõi Vô sắc, ở cõi Vô sắc sẽ sinh ra tịnh quang. Vậy tịnh quang của tôi làm sao sinh ra được vậy? Thật ra tôi đã vận hành thủy hỏa dung hòa từ lâu rồi. Thủy chảy xuống dưới, hỏa bốc lên trên, mở luân xa tim ra. Vừa mở luân xa tim ra, tôi phát hiện có một điểm tuyệt diệu.

Ngày thường Chân Phật Tông chúng ta niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, giả sử bạn rất thận trọng, rất chuyên nhất để niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, bạn sẽ phát hiện ra trong kinh này toàn bộ là Phật hiệu và Bồ Tát hiệu của mười phương.

Về phương diện niệm Phật, niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh cũng như là niệm Phật mười phương, Bồ Tát mười phương. Bạn không tin, bạn đọc Đại Tạng Kinh, bên trong có giải thích Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, toàn bộ đều là Phật hiệu của Phật mười phương và Bồ Tát mười phương. Phật hiệu và Bồ Tát hiệu. Nếu bạn niệm một cách chuyên nhất, tương đương với niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát mười triệu, mười tỷ, vô số biến. Nếu bạn thực sự tập trung tinh thần mà niệm, Phật mười phương, Bồ Tát mười phương sẽ quán đảnh cho bạn. 

Tôi nói cho bạn biết về hiện tượng này, bạn niệm một biến cũng đồng nghĩa là đã tẩy sạch nghiệp chướng của bạn. Rất giống cái gì? Giống như giúp bạn lột bỏ nghiệp chướng, từng mảnh từng mảnh nghiệp chướng, giúp bạn lột bỏ. Luân xa tim mở ra, có nhiều lúc là dựa vào việc lột bỏ nghiệp chướng này, từng mảnh từng mảnh nghiệp chướng được lột bỏ như vậy. Sau đó kinh mạch của toàn thân, bạn biết là xung quanh luân xa tim có rất nhiều mạch phiền não, mạch phiền não rất đau khổ, bám giữ lấy nhau tại một chỗ. Cho nên người Đài Loan chúng ta nói là “tâm thắt nút”, tim bị thắt nút.

Hôm nay bạn tu khí mạch chính là nới lỏng nút thắt phiền não của bạn. Còn có thủy hỏa dung hòa, chính là để nới lỏng những nút thắt phiền não của tâm mạch. Sau khi mở ra rồi, hoa sen ở luân xa tim của bạn mới nở ra, mới gọi là hoa sen ở tâm nở ra.

Bạn niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, Phật và Bồ Tát ở hư không quán đảnh gia trì cho bạn. Phật, Bồ Tát mười phương quán đảnh gia trì cho bạn, lột sạch nghiệp chướng cho bạn, lột… lột.. lột... lột đến cuối cùng, hoa sen ở tim của bạn sẽ xuất hiện, sẽ nở rộ. Hoa sen ở luân xa tim sẽ nở ra, bên trong sẽ có ánh sáng, ánh sáng của tâm mạch ngũ sắc mới hiện ra, đây gọi là tâm quang phát lộ. Nguyên nhân của tâm quang phát lộ chính là ở đây. Thế nào gọi là tâm quang phát lộ? Cái này chính là tâm quang phát lộ.

Chúng ta nói ánh sáng mà chúng ta tự phát ra chính là Tử quang. Tử quang chính là ánh sáng của chính mình. Ánh sáng của ý thức vũ trụ cao nhất gọi là Mẫu quang, Mẫu tịnh quang. Tử tịnh quang và Mẫu tịnh quang. Bạn đưa ánh sáng lên để kết hợp với Mẫu tịnh quang, gọi là Quả tịnh quang, đây gọi là tam quang.

Tử tịnh quang là ánh sáng thanh tịnh do bản thân phát ra, ý thức của vũ trụ gọi là Mẫu tịnh quang, ánh sáng vốn có của ý thức vũ trụ. Hai loại ánh sáng Mẫu-Tử này tiếp xúc, gọi là Quả tịnh quang. Lúc này bạn sẽ có thể ấn chứng được Tỳ Lô tính hải.

Bạn sẽ bơi trong kho tàng ánh sáng rộng lớn của Tỳ Lô tính hải, bạn bắt đầu bơi lội trong biển ánh sáng, đảm bảo khi bơi sẽ không bị hụt hơi, sẽ không bị chìm xuống. Tắm ánh sáng đó là vô cùng thanh tịnh, khiến bạn cảm thấy ở đây cũng có niềm hỷ lạc lớn lao. Niềm hỷ lạc này gọi là đại hỷ lạc, vô thượng lạc, vô thượng đại lạc, thắng lạc diệu hỷ.

Trong kinh Phật thường xuyên nhắc đến một câu, gọi là “thường lạc ngã tịnh”, “thường lạc ngã tịnh” có thể nói là Tịnh Quang thế giới. Bạn đã đạt thành tựu tịnh quang rồi, đi vào Tỳ Lô tính hải, bơi lội trong biển ánh sáng, lúc này gọi là “thường lạc ngã tịnh”, một niềm khoái lạc vĩnh hằng mãi mãi, cái ngã là thanh tịnh mãi mãi. “Thường lạc ngã tịnh”, bốn chữ này chính là cảnh giới tổng hợp giữa cõi Dục giới và cõi Sắc giới, cảnh giới tổng hợp chính là “thường lạc ngã tịnh”.

Đạt đến “thường lạc ngã tịnh” đã là rất lợi hại rồi. Muốn thường lạc, làm gì có cách nào thường lạc? Bạn xem đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh, nơi nào có thường lạc? Đạo súc sinh vẫn có niềm vui ngắn ngủi, vẫn còn một chút, nếu không thì là tranh đấu, đạo a tu la chính là tranh đấu. Đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, mãi mãi đều là khổ. Đạo súc sinh mãi mãi đều là khổ, đây là thường khổ, không phải là thường lạc mà là thường khổ, “thường khổ ngã tạng” <span className="note-blue">[đau khổ thường hằng, cái ngã dơ bẩn]</span>, chính là như vậy.

Cảnh giới của “thường lạc ngã tịnh”, có thể nói chính là thành tựu tịnh quang. Bạn đến cõi Dục giới và cõi Sắc giới đều đạt thành tựu rồi, đã leo lên được tầng trời thứ hai. Bạn chỉ cần tu thành công pháp thành tựu Tịnh quang, phát ra tịnh quang, trong trạng thái Tử quang và Mẫu quang kết hợp biến thành Quả quang, bạn sẽ đạt “thường lạc ngã tịnh”, chính là thành tựu tịnh quang.

Phương pháp tu hành này vô cùng đặc biệt. Nhớ là nhất định phải niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, lột sạch hết toàn bộ nghiệp chướng của bạn, để toàn bộ phiền não xung quanh luân xa tim của bạn được tiêu trừ.  
Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

13/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 060. Pháp thành tựu Trung ấm (1)

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về pháp thứ năm trong sáu pháp của Naropa - pháp thành tựu Trung ấm. Đầu tiên là giải thích về trung ấm. Thật ra trung ấm chính là “linh hồn” theo cách gọi của người bình người. Trong Phật giáo gọi là “thức”, thức trong từ kiến thức. Ba cách gọi: thức, trung ấm, linh hồn, pháp thành tựu này cũng chính là pháp thành tựu linh hồn.

Linh hồn là sau khi con người chết đi mới xuất hiện. Cái xuất hiện trong lúc bạn còn nhục thể và chuyển thế thì gọi là trung ấm.

Pháp thành tựu này chính là muốn nói cho bạn biết làm sao để vãng sinh Phật giới thanh tịnh, không còn phải tiếp tục luân hồi trong lục đạo, cái này rất quan trọng.

Nhưng thông thường mà nói, nếu như bạn tu pháp cầu vồng có thành tựu, hoặc giả bạn đã tu hành đạt được công lực rồi, thì đều không cần phải đi qua trung ấm. Cũng có nghĩa là không còn giai đoạn linh hồn nữa. Vậy chỉ cần bạn còn xuất hiện linh hồn thì có thể nói là chưa đủ công lực. Vì công lực không đủ ở trong giai đoạn này cho nên vẫn cần phải có một phương pháp cứu độ khác để giải cứu bạn.

Thông thường mà nói, con người khi chết đi, có một yogi thực sự, một hành giả Mật giáo, giả sử đúng lúc gặp thời cơ khi trung ấm của bạn vừa mới xuất hiện, người đó lập tức sẽ chỉ dẫn trung ấm của bạn đi như thế nào, tức là linh hồn của bạn cần phải đi như thế nào, cái này gọi là cứu độ trung ấm.

Vậy thì có vài điểm quan trọng nhất tôi nói với mọi người trước. Hành giả du già của Mật giáo phải nói với người vừa mới chết: “Anh phải buông bỏ tất cả, xả bỏ tất cả.” Điểm này rất quan trọng.* *Bạn phải buông bỏ tất cả, xả bỏ tất cả.

Bạn phải để tâm mình được an định, tâm của bạn phải rất chuyên chú, rất yên tĩnh và an định. Điểm thứ hai này cũng rất quan trọng. Xả bỏ tất cả thì bạn mới có thể định tâm, tâm của bạn có thể dừng lại. Lúc này là bạn phải chú ý đó.

Chú ý điểm thứ ba, tâm được an định rồi, bạn phải để ánh sáng của tự thân xuất hiện, chính là loại tịnh quang mà ngày thường bạn tu hành phải biểu hiện ra. Tâm của bạn không định, bạn không thể xả bỏ tất cả, tịnh quang của bạn sẽ không xuất hiện, vì vậy pháp này có liên quan đến pháp thành tựu Tịnh quang.

Ngày thường bạn tu ra được tịnh quang, lúc này, tâm bạn vừa an định, tịnh quang sẽ xuất hiện. Khi tịnh quang vừa xuất hiện, bạn lập tức cầu nguyện Mẫu tịnh quang của ý thức vũ trụ mau chóng hiện ra. Bởi vì một khi Tử tịnh quang của bạn xuất hiện, Mẫu tịnh quang sẽ theo đó mà hiện ra. Lúc này bạn chỉ cần đem Tử tịnh quang của bạn đi vào trong Mẫu tịnh quang để an định, trụ vào trong Mẫu tịnh quang, bạn vẫn có thể vãng sinh.

Và linh hồn đi ra nhất định phải từ đỉnh huyệt, đi ra từ đỉnh đầu, ra bên ngoài là vãng sinh. Vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, Đông phương Lưu Ly thế giới, bất cứ một Phật giới nào bạn cũng có thể đi. Bạn có nguyện lực ra sao, lúc này bạn phát huy nguyện lực của mình, tôi nguyện đi đến đâu, ngày thường bạn hồi hướng đến chỗ nào, lúc này Mẫu tịnh quang sẽ xuất hiện. Đây là khẩu quyết quan trọng nhất trong cứu độ trung ấm của Mật giáo.

Vị yogi sẽ phải nhanh chóng dạy cho bạn, ở bên tai nói với bạn là: “Anh phải xả bỏ tất cả.” Lúc này bạn không được nghĩ tiền riêng của mình cất giấu ở đâu, không được nghĩ như vậy. “Tôi còn có rất nhiều trân bảo, châu báu, tôi còn có rất nhiều nhà vẫn chưa bán, tôi còn có đất đai, còn phải giao phó hậu sự.” Bạn nghĩ như vậy là tiêu đời.

Vì bạn có thể xả bỏ tất cả thì tâm mới có thể an, mới có thể định. Tử tịnh quang mà bản thân bạn tu hành được mới xuất hiện. Tử tịnh quang kéo theo Mẫu tịnh quang cùng xuất hiện.

Mật giáo chính là như vậy. Mật giáo chính là nói thành tựu tịnh quang và thành tựu trung ấm ở tại lúc này, trong chốc lát từ trên đỉnh đầu, Mẫu tịnh quang từ trên đỉnh huyệt đi xuống, đón Tử tịnh quang đi. Có rất nhiều tình huống không cần phải đi qua trung ấm, không cần đi qua linh hồn, đi qua linh hồn quá phiền phức. Ngày thường chúng ta tu hành có tịnh quang, chết đi, tịnh quang xuất hiện, trực tiếp đi vào Mẫu tịnh quang là đi luôn.

Ngày thường bạn đã tu hành rất có thành tựu rồi, Bổn tôn sẽ đến đón bạn. Khi tu pháp Bổn tôn có thành tựu, Bổn tôn và bạn tương ứng, khi bạn chết đi, Bổn tôn đương nhiên sẽ biết, Ngài đến đón bạn, đi ngay lập tức.

Tịnh Thổ tông niệm Phật, niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Bạn niệm đến thành tựu chuyên nhất rồi, Phật hiện ra trước mặt, lập tức đón bạn đi, cái này cũng không cần đi qua trung ấm, không cần đi qua linh hồn, chỉ là đón ánh sáng của bạn đi mà thôi. Vì vậy tu Mật giáo pháp Bổn tôn có thành tựu, Bổn tôn sẽ đón bạn đi. Tịnh Thổ tông niệm Phật có thành tựu, lập tức sẽ có Phật đón bạn đi, Phật A Di Đà sẽ đón bạn đi. Bạn tu Thiền tông đạt thành tựu, bạn lập tức nhập vào tính Không.

Hành giả chúng ta ngày thường tu hành, đặt Bổn tôn lên trên đỉnh đầu, ánh sáng trên người bạn trực tiếp đi qua trung mạch, từ đỉnh đầu thông với trung mạch của Bổn tôn, thế là bạn đi vào Bổn tôn, bạn liền “tức thân thành Phật”. Đây là công lực tu hành, loại công lực này phát ra vào lúc lâm chung là vô cùng quan trọng, vào lúc sắp chết, giai đoạn này là vô cùng quan trọng.

Vì vậy trong “Lâm Chung Chỉ Yếu” dạy chúng ta là nhất định phải an tâm, phải chuyên nhất, nhất định phải định. Bạn an tâm rồi, ánh sáng sẽ xuất hiện, tâm không an, ánh sáng sẽ không xuất hiện.

Vì vậy trung ấm, linh hồn của bạn, trong giai đoạn vãng sinh, thật ra chỉ có vài khẩu quyết quan trọng mà thôi. Xả tất cả, định tâm, ánh sáng xuất hiện, đi ra từ đỉnh đầu, cái này chính là khẩu quyết quan trọng của thành tựu linh hồn. Bạn không thông qua cái này thì chắc chắn vào lục đạo luân hồi. Nếu trung ấm mà bạn cũng không thể thành tựu thì chắc chắn là lục đạo luân hồi.

Vì vậy hôm nay giả sử có một vị yogi ở bên cạnh bạn, người đó có thể chỉ điểm cho bạn, điểm này rất quan trọng. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

14/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 061. Pháp thành tựu Trung ấm (2)

Trong pháp thành tựu Trung ấm cũng cho chúng ta biết, khi con người chết đi, không chắc là sẽ biết mình đã chết. Vì tôi đã từng nói, con người khi chết cũng gần giống như là nằm mơ. Khi bạn nằm mơ cũng không biết là mình đang nằm mơ, vậy bạn làm sao biết là mình đã chết? Vì vậy vấn đề ở đây muốn nói là, giấc mơ này của bạn rất dài, cảnh giới linh hồn của bạn rất dài.

Thông thường mà nói, có thể tỉnh dậy từ trong giấc mơ này, biết là mình đã chết, hầu hết là phải trên ba ngày bạn mới biết là mình đã chết.

Linh hồn của người bình thường không có năng lực tự chủ, không có công lực của tu hành, không có định lực, vậy họ sẽ xuất hiện rất nhiều cảnh giới. Những cảnh giới này đều gọi là huyễn, huyễn trong từ mộng huyễn. Vì vậy khi loại cảnh giới này xuất hiện, hành giả yogi, các hành giả của Mật giáo, sẽ nói với họ: “Tất cả cảnh giới xuất hiện đều là huyễn, quan trọng là anh phải nhận ra cái huyễn đó, khéo léo định tâm.”

Bởi vì khi chết, bạn sẽ rất hoảng sợ, tất cả oan thân trái chủ lúc này đều sẽ xuất hiện. Họ muốn đòi mạng đó! Bạn sát sinh mà, phải đòi mạng thôi. Bạn mắc nợ, chủ nợ đều đến hết, đều đòi nợ bạn. Nhưng bạn phải thấy những cái này đều là huyễn, đều là ảo giác. Bạn chỉ cần định tâm, những ảo huyễn đó đều biến mất. Rất quan trọng. 

Vì vậy mật pháp cứu độ trung ấm dạy cho bạn nhìn tất cả ác ma, ác quỷ sinh ra từ trong trung ấm đều thành huyễn cảnh. Phải phá cái huyễn cảnh này, tâm của bạn phải định được, và đi theo nguyện lực của bạn. Vì vậy bạn sẽ rơi vào vài cái vực sâu, rất khủng khiếp, vực sâu màu đen, vực sâu màu trắng, vực sâu màu đỏ, bạn sẽ rơi xuống đó. Sẽ có rất nhiều ác quỷ xuất hiện, bạn sẽ nghe thấy rất nhiều âm thanh khủng khiếp, lửa thiêu đốt bạn, nước thành sóng thần, núi đổ đất lở. Mặt đất thì là núi đổ đất lở, nước thì là sóng thần, lửa thì thành lửa thiêu đốt bạn, gió thì cứ gào thét như là gió bão. Những âm thanh rất khủng khiếp đều có, rất nhiều ác quỷ xuất hiện. Vì đây là một loại biến hóa khi đất, nước, lửa, gió của cơ thể bạn bị tan rã. Bạn phải xem đó là một loại huyễn cảnh. Nhớ là nhất định phải an định tâm, dựa vào nguyện lực của mình chú ý nhìn ánh sáng. Có sáu luồng ánh sáng màu nhạt không được đi vào. Ánh sáng trắng là ánh sáng của thiên đạo, là đi lên trời. Những ánh sáng khác là ánh sáng của lục đạo luân hồi, đều không được đi vào. Nhất định phải là ánh sáng tịnh quang cực kì thanh tịnh, cực kì quang minh thì bạn mới có thể đi theo, hoặc là Phật A Di Đà đến tiếp dẫn bạn.

Vì vậy nói cho mọi người biết yếu nghĩa căn bản, yếu nghĩa quan trọng nhất về mặt căn bản, chính là những hành giả của Mật giáo ở bên tai bạn nói với bạn: “Anh phải chú ý, tất cả huyễn cảnh xuất hiện đều là giả hết.”

Bạn nhìn thấy ác quỷ xuất hiện, chà... ác quỷ ở trước mặt, bạn không dám đi về phía trước, bạn sợ rồi. Bên cạnh có một hang động, hoặc một hốc cây, bạn liền trốn vào đó. Ồ! Một con chó cái đang sinh nở, chó cái đang đẻ chó con, bạn chui vào bên trong cái hang động đó, thế là bạn liền sinh ra thành một con chó, không phải *hot dog<span className="note-blue">[xúc xích]</span>,* mà là chó.

Vì vậy có rất nhiều cảnh giới ép bạn đi vào bên trong cảnh giới của lục đạo luân hồi. Vào lúc này hoàn toàn dựa vào định lực. Vì vậy ngày thường những người tu thiền định như chúng ta sẽ sinh ra định lực, ở đây có liên quan rất lớn.  Giống mộng quán, thành tựu trung ấm là bạn phải biết đây là giấc mơ, vậy bạn cũng phải biết đây là huyễn cảnh. Giả sử bạn không tu mộng quán, bạn sẽ không biết đây là huyễn cảnh, bạn sẽ sợ hãi, sẽ chạy trốn, sẽ trốn đi khắp nơi. Bạn trốn vào trong bào thai của người phụ nữ, ồ! Bạn biến thành một trẻ sơ sinh, sinh ra khóc oa oa… Sinh ra nhìn một cái, ồ, một thế giới khác rồi, một gia đình khác rồi, bạn được sinh ra rồi.

Vì vậy có rất nhiều cảnh giới, chẳng phải tôi nói rồi sao? Khiêng kiệu đến đón bạn, chà! Bạn liền vui mừng, bước lên trên kiệu, bạn liền biến thành con cua. Bạn nhìn thấy một chiếc tàu hỏa đến đón bạn, chà! Tuyệt quá! Bạn vừa ngồi vào tàu hỏa, chà! Bạn liền biến thành một con rắn. Bạn nhìn thấy máy bay, chà! Cái này tốt nhất rồi, máy bay đến rồi, bạn bước lên ngay, ồ, bạn liền biến thành chuồn chuồn, là biến thành chuồn chuồn.

Bất cứ loại hình tướng nào hóa hiện thành thứ mà bạn thích đến đón bạn, bạn đều không được đi. Chỉ có Phật mang tòa sen đến đón bạn thì bạn mới có thể đi theo.

Trong Mật giáo là nhìn tịnh quang. Mẫu quang tiếp cận bạn, hút bạn đi. Chúng ta xem trong phim ảnh, giống như đĩa bay trong vũ trụ bay lên, con người đứng trên mặt đất, chà! Bị hút lên trên, bị hút bay lên trên, có chút giống với hiện tượng Tử quang và Mẫu quang gặp nhau, biến thành Quả quang. Chính là Mẫu quang đến đón bạn đó.

Ở trong lục đạo luân hồi, bạn chú ý là chỉ có đi ra từ trên đỉnh huyệt mới là vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, và thiên đạo cũng là đi ra từ chỗ này, đi ra từ chỗ nào khác đều không phải là nơi tốt lành. Vì vậy đôi lúc có người sẽ biến thành cá, *fish*. Có người biến thành chim bay trên bầu trời, có người sinh làm người, có người sinh làm ngựa, có người sinh làm trâu, có người khi sinh ra, tùy tiện chui ra khỏi một cái hang, chà! Thật tồi tệ, biến thành lợn rồi.

Vì vậy bạn lúc này phải tu hành một loại định tâm, để tâm an định. Sự biến hóa của đất, nước, lửa, gió, bạn đều biết đây là huyễn cảnh của thân thể mình. Tất cả oan thân trái chủ xuất hiện gào thét, bạn đều biết đây chỉ là ảo giác, đây là do nghiệp chướng của bạn sinh ra. Nghiệp chướng sinh ra rồi, bạn phải nhanh chóng trì chú, niệm Phật để tiêu trừ chúng. Lúc này quan trọng nhất vẫn là phải trì chú, niệm Phật. Ngày thường bạn tu cái gì, bạn trì chú. Ngày thường bạn tu niệm Phật thì bạn cứ niệm Phật. Ngày thường bạn dùng định lực thì mau chóng dùng định lực để tiêu diệt hết những huyễn cảnh này. Đây chính là mật pháp cứu độ trung ấm.

Trong sáu pháp của Naropa, mật pháp cứu độ trung ấm cũng rất quan trọng. Cái này thuộc về mật pháp cứu độ trung cấp. Tại sao lại là trung cấp? Bởi vì bạn đọa vào linh hồn đã là thứ đẳng rồi. Bạn không thể trực tiếp thành Phật, trực tiếp lên Tây phương, bạn biến thành linh hồn cho nên chính là thứ đẳng rồi. Linh hồn cũng rất lợi hại, nó sử dụng ý niệm. Ý niệm có thể chuyển động, đi chỗ nào là đến chỗ đó, muốn đến chỗ nào là đến chỗ đó. Cảnh giới này có chút giống với thời khắc của hoàng hôn. “Trời chiều đẹp vô hạn, chỉ là sắp hoàng hôn.”

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

14/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 062. Pháp thành tựu Trung ấm (3)

Chúng ta sẽ nói tiếp về thành tựu trung ấm. Thành tựu trung ấm chính là nói con người khi chết đi, giả sử có một cao tăng đại đức biết pháp thành tựu trung ấm, vậy thì khi có người vừa mới viên tịch, ông ấy ở bên cạnh chỉ dẫn cho người chết, nghĩa là chỉ dẫn cho bạn phải đi con đường này. Vậy thì đây là một nhân duyên thiện lành vô cùng tốt.

Ngày thường bạn không thể nào tìm được cao tăng đại đức hoặc hành giả Mật giáo để chỉ dẫn bạn đi như thế nào, bạn cần phải có thường thức về phương diện này. Bạn phải biết rằng, tâm phải định được, không được nghĩ đến chuyện gì nữa.

Giống như khi bạn lâm chung, bạn đột nhiên nghĩ đến vợ của bạn có tái hôn hay không? Con trai của bạn vẫn chưa kết hôn, con gái của bạn phải làm sao? Nếu bạn nghĩ những điều này, thế thì tuyệt đối không có cách nào vãng sinh cả. Hoặc là nghĩ đến trong cuộc đời của bạn còn có rất nhiều người nợ bạn vẫn chưa trả, hoặc trong tâm vẫn có oán hận, những cái này đều không thể nghĩ đến.

Trong tâm bạn phải hoàn toàn tĩnh lặng, tâm có thể an, ánh sáng của bạn sẽ xuất hiện, bao gồm ánh sáng cao nhất ở vũ trụ đều xuất hiện. Điều này rất quan trọng, vì vậy, pháp môn an tâm, có thể nói toàn bộ Phật giáo đều cầu một cái “tâm an”. Bạn có thể an được tâm của mình, tất cả tự nhiên sẽ rất bình hòa, có thể vãng sinh. Đây là một điểm quan trọng.

Vậy thì yogi cao minh hoặc là hành giả của Mật giáo, họ còn có một pháp là Quang uẩn thiên thức. Quang uẩn thiên thức có nghĩa là yogi cao minh có thể dùng công lực của mình khiến người chết có thể vãng sinh tịnh thổ Phật quốc, pháp này gọi là pháp Quang uẩn thiên thức.

Nhưng mà bạn có thể gặp được người như vậy cũng là do nhân duyên thiện lành mà bạn tu mấy kiếp mới có thể gặp được, nếu không sẽ rất khó khăn. Vị yoyi có thể có thành tựu như vậy thì rất ít.

Cách làm pháp là như thế này. Bạn mời vị yogi như vậy đến nhà mình, ông ấy có thể dùng chữ Hum màu xanh lam mà ông ấy tu luyện được, hà một hơi vào chữ Hum màu xanh lam. Tức là ở trên đầu ngón tay này có chữ Hum màu xanh lam. Sau đó ông ấy dùng pháp bịt. Hum, Hum mắt lại, Hum hai lỗ mũi lại. Hum… Hum… Hum…Hum… Bao gồm cả luân xa rốn, Hum! Bao gồm hậu môn, cửa bài tiết của bạn. Bao gồm cả Mật luân, cửa bí mật, cửa tiểu tiện. Hai cửa đại tiện và tiểu tiện đều bịt lại hết, dùng chữ Hum. Hum! Chữ Hum màu xanh lam, nhưng cái này cần phải có công lực. Giả sử bạn không Hum ra được, Hum! Không có chữ Hum, bạn tùy tiện ấn loạn lên cũng không được. Cái này cần phải là hành giả du già, hành giả tu hành rất cao. Ông ấy lấy chữ Hum ở trong luân xa tim, nâng lên trên, đến đầu ngón tay, bịt hết toàn bộ cửa đi ra của bạn <span className="note-blue">[trung ấm]</span>, chỉ chừa lại một thiên khiếu, chính là lỗ đỉnh đầu, chỉ còn lại đỉnh khiếu này. Ngay đến cái cổng ở Mi tâm này cũng phải đóng lại. Vậy chắc chắn sẽ vãng sinh.

Nhưng bạn muốn mời được hành giả Mật giáo biết Quang uẩn thiên thức pháp như vậy, bạn đi đâu tìm chứ? Rất khó tìm được.

Vì vậy Thượng sư Liên Hoa Tùng Hùng gặp đúng lúc cơ duyên rất trùng hợp, có Sư Tôn ở đó, Sư Tôn chính là dùng pháp Quang uẩn thiên thức giúp ông ấy.

Rất nhiều người cho rằng:* *“Ôi! Có Sư Tôn chữa trị như vậy, ông ấy nhất định sẽ khỏe lại thôi.”

Thật ra tôi đã nhận ra từ trước là ông ấy đã không thể khỏe lại nữa rồi. Vậy nên đã dùng Quang uẩn thiên thức pháp, dùng chữ Hum màu xanh, đặt lên trên đầu ngón tay, ấn vào từng cái cửa trên người ông ấy.

Lúc đó cũng có rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông có mặt, nhìn thấy tôi đang làm, họ cho rằng: “Ôi! Sư Tôn trị bệnh cho ông ấy, ông ấy nhất định sẽ khỏe lại.”

Sau khi làm xong pháp Quang uẩn thiên thức cho ông ấy, ông ấy nói mình khỏe lại một nửa, ông ấy khỏe lại một nửa còn nhảy từ trên giường xuống. Ông ấy nói: “Ôi! Khỏe rồi”, liền nhảy xuống đảnh lễ Sư Tôn!

Lúc đó tôi nhìn thấy, đương nhiên là chữ Hum màu xanh lam vẫn có nhiều sức mạnh gia trì lên trên người ông ấy, khiến ông ấy vẫn còn có sức để bước xuống giường, nhưng không lâu, ông ấy đã vãng sinh. Thần thức của ông ấy chính là từ trên đỉnh đầu đi ra. Chỉ cần là từ đỉnh khiếu đi ra thì chắc chắn là vãng sinh Phật quốc.

Vì vậy điểm này rất quan trọng, công lực tu hành vô cùng quan trọng. Bạn biết pháp Quang uẩn thiên thức sẽ tốt hơn khi có người ở bên cạnh chỉ dẫn cho bạn phải đi như thế nào, gặp phải cảnh tượng gì phải đi như thế nào, gặp phải tình huống gì phải đi như thế nào, bạn phải nhanh chóng tâm an, bạn phải mau chóng không nghĩ gì hết, lúc này phải không nghĩ, bất kì ý nghĩ gì cũng không có, chuyên tâm nhất chí dựa theo nguyện lực của bạn đi vãng sinh.

Pháp thành tựu Trung ấm có thể giúp ích rất tốt, bất kể bạn là Hiển giáo hay Mật giáo đều là một loại chỉ dẫn quan trọng lúc lâm chung. Lúc lâm chung chỉ dẫn cho bạn một con đường chính quan trọng nhất. Cho dù bạn ở trong cảnh giới đó nhìn thấy cảnh sắc gì, bạn đều không được mê hoặc. Cảnh sắc có đẹp đến mấy bạn cũng không được mê hoặc, cảnh sắc có tuyệt đến mấy bạn cũng không được mê hoặc. Đặc biệt là người thân đến đón bạn, bạn cũng không được đi theo. Bạn cho rằng người thân rất thân, chà, tốt quá rồi, ông nội bạn đến tiếp dẫn bạn, bố bạn, mẹ bạn đến tiếp dẫn bạn đều không được đi theo. Chắc chắn sẽ rơi vào âm giới.

Vì vậy quan trọng nhất là an định ngay tại tâm, cầu nguyện tịnh quang của Phật, Bồ Tát xuất hiện tiếp dẫn cho bạn. Đây là mục đích quan trọng nhất. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

15/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 063. Pháp Phowa (1)

Chúng ta sẽ nói về pháp cuối cùng trong sáu pháp của Naropa, chính là pháp thứ sáu gọi là pháp Phowa. Pháp Phowa cũng chính là pháp khai đỉnh.

Pháp này ở trong Hiển giáo không có. Mật giáo có pháp khai đỉnh, cũng chính là mở cái lỗ ở trên đỉnh đầu này, đả thông cái đỉnh này, để thần thức có thể trực tiếp từ cái đỉnh này đi ra ngoài, thế là có thể vãng sinh Phật quốc thanh tịnh. Pháp này chỉ có ở trong Mật giáo, Hiển giáo không có khai đỉnh hay không khai đỉnh gì cả.

Vậy Mật giáo có khai đỉnh, dựa theo những gì sư phụ tôi nói trước đây thì pháp này là phương pháp vãng sinh nhanh nhất. Nhưng cũng có một điều cấm kỵ, chính là người quá trẻ không nên tu, người già tu thì sẽ tốt hơn. Người trẻ tuổi tu pháp Phowa này sẽ nhanh chóng vãng sinh. Mọi người vừa nghe nói nhanh chóng vãng sinh thì “Ôi! Thôi đi, thôi đi, không tu nữa.” Tại sao vậy? Vì chẳng bao lâu sẽ chết ngay.

Nhưng trên thực tế nó cũng có phương pháp. Vì bạn tu không tốt cho nên mới thực sự là nhanh chóng vãng sinh. Nhưng thử nghĩ ngược lại xem, mọi người thử nghĩ xem, bạn có thể vãng sinh Phật quốc thì đâu có sợ sớm hay là muộn chứ? Có gì phải sợ sớm hay muộn chứ, thật ra nhân gian có gì tốt đâu?

Tôi nhớ là họa sĩ Van Gogh có nói một câu: “Đời người chính là đau khổ, đau khổ chính là đời người.” Vậy bạn sống lâu, sống lâu như con rùa vậy, bạn nói xem làm rùa mà sống lâu thì có gì tốt đẹp? Làm người thường xuyên đau khổ thì bạn sống lâu có gì tốt chứ? Sống lâu cần phải có ý nghĩa của sống lâu, cũng có nghĩa là bạn sống lâu mà sống rất có ý nghĩa thì mới là sống lâu thực sự. Bằng không, sống ngắn mà có tinh hoa, có giá trị thì thọ mạng này tuy ngắn nhưng cũng là trường thọ.

Tôi cho rằng ngắn mà có tinh hoa, có giá trị thì chính là trường thọ. Bạn sống lâu nhưng càng già lại càng tà môn, càng già càng biến thành lão yêu quái, càng già càng trở nên khó ưa, càng già càng không hiền từ, sống lâu như vậy thì thà không có. Đây là kiến giải của bản thân tôi, quan điểm của bản thân tôi là như vậy.

Vậy giới thiệu pháp Phowa, pháp khai đỉnh, pháp này ở trong Mật giáo cũng là vô cùng trân quý. Tu thì rất đơn giản, thành tựu cũng rất nhanh, chứ không phải chết rất nhanh đâu. Sau khi bạn thành tựu rồi thì không tu nữa. Nghĩa là bạn phá xong đỉnh, khai đỉnh xong thì bạn không nên tu nữa. Một tháng tu một lần là được để duy trì khai đỉnh.

Nhưng bạn cần phải tu pháp Trường Thọ Phật, dùng nước cam lộ của Phật Trường Thọ để quán đảnh cho bạn, để làm gia tăng thọ mạng của mình, bạn sẽ không vãng sinh quá sớm. Pháp Phowa còn phải kết hợp với pháp Trường Thọ Phật cùng tu.

Ở chỗ tôi cũng có truyền dạy pháp Trường Thọ Phật, nhưng những pháp này đều nhất định phải nhận quán đảnh, quy y, nhận quán đảnh xong rồi mới có thể truyền thụ.

Còn về pháp khai đỉnh, pháp Phowa này, nhất định phải là bản thân tu hành có một chút thành tựu rồi mới làm được. Ít nhất bạn phải có nền tảng của Tứ gia hành rồi, Tứ gia hành đã có tương ứng rồi, đã có quy y rồi, nhận quán đảnh rồi, có nền tảng của Tứ gia hành, bản thân cũng tương ứng với Thượng sư rồi, lúc này mới tu pháp Phowa. Tôi cho rằng như vậy đã là đầy đủ. Pháp duyên có thể được xem là đầy đủ rồi.

Bởi vì bạn muốn tu pháp Phowa, bạn phải quán tưởng Căn bản Thượng sư trên đỉnh đầu. Căn bản Thượng sư chính là Kim Cương Trì, Kim Cang Tát Đỏa của bạn. Khi bạn quán tưởng, tay trái cần phải cầm thứ gì đó, tay phải cũng phải cầm. Giống như chúng ta ở đây, tay trái cầm chuông kim cang, tay phải cầm chày kim cang, phải quán tưởng Căn bản Thượng sư an trụ trên đỉnh đầu, bản thân biến hóa thành Kim Cang Hợi Mẫu.

Vị này chính là Kim Cang Hợi Mẫu. Bức hình phía tay trái của tôi chính là Kim Cang Hợi Mẫu, tay này của Ngài cầm một con dao lưỡi cong ngắn, tay này cầm thiên linh cái, và cả tư thế đứng nữa, bạn cần phải biến bản thân mình thành Kim Cang Hợi Mẫu. Dùng trung mạch của Kim Cang Hợi Mẫu thông trung mạch của Căn bản Thượng sư. Trung mạch này thông với trung mạch của Căn bản Thượng sư.

Trong luân xa tim của Kim Cang Hợi Mẫu, hoa sen nở ra, bên trong có chữ Hum màu trắng. Căn bản Thượng sư cũng như vậy, luân xa tim của ngài mở ra, bên trong có chữ Hum màu trắng. Có hai chú tự. Khi bạn quán tưởng hoàn chỉnh, bạn cần phải cầu nguyện trước, cầu nguyện Căn bản Thượng sư gia trì cho bạn, bạn khẩn thiết muốn vãng sinh Phật quốc thanh tịnh, cầu nguyện rất khẩn thiết. Có người nói là cầu nguyện là phải vô cùng khao khát, rất mong muốn, tôi nhất định phải đi, tôi không đi không được. Tôi phải lập tức đi. À không được nói đi ngay lập tức, đi ngay lập tức là chết luôn. Tôi nhất định phải đi, tôi không đi không được, tôi nhất định phải vãng sinh, nhất định phải đến Phật quốc.

Vậy khi niệm thì có hai chú tự, một chữ là "Hơ", nói lớn tiếng, vang to, làm chấn động chữ Hum của bạn từ trung mạch đi thẳng đến chữ Hum ở luân xa tim của Căn bản Thượng sư, hai chữ hợp lại với nhau, sau đó mới đi xuống, một lúc sau mới đi xuống, đi xuống là “Ka”, chữ “Ka”, “Ka…” đi xuống, đi xuống đến chỗ này của bạn, mới “Hơ” đi lên. “Ka” đi xuống.

Nhưng mà luồng khí rung chuyển lên trên này, cần phải dùng Bảo bình khí. Vì vậy bạn tu Bảo bình khí có thành tựu rồi, lúc này bạn vận dụng Bảo bình khí của chính mình, đưa chữ Hum màu trắng này thông từ trung mạch cho đến trên đỉnh huyệt đi vào luân xa tim của Căn bản Thượng sư, hợp nhất với Căn bản Thượng sư, sau đó mới “Ka” đi xuống. Một lên một xuống 21 lần. Người có thượng căn thực sự thì chỗ đỉnh đầu này sẽ lập tức tan chảy, có máu chảy ra, mở ra một cái lỗ. Rất nhanh chóng, có người rất nhanh, chỉ một ngày đã thành tựu. Có người thì chậm hơn, chậm nhất là 49 ngày sẽ thành tựu. Vì vậy người căn cơ cao, anh ta chỉ mất một ngày. “Hơ” một cái, là đi lên trên, “Ka” là đi xuống dưới. Ở đây phải quán tưởng chữ Hum màu trắng khi chấn động, đi lên trên, sau đó đi xuống, 21 lần, như vậy là có thể thành tựu rồi, cực kì không đơn giản.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

15/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 064. Pháp Phowa (2)

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người chi tiết hơn về pháp Phowa - khai đỉnh. Quan trọng nhất là muốn nói đây là phương pháp để cho linh hồn của bạn trực tiếp đi ra từ trên lỗ đỉnh đầu. Cũng tức là lúc bạn còn đang sống đã mở lỗ đỉnh đầu này của bạn ra. Chỉ có con đường này mới có thể dễ dàng để cho linh hồn của bạn đi ra từ lỗ đỉnh đầu. Phương pháp mở lỗ đỉnh đầu ra chính là pháp Phowa.

Pháp này có khẩu quyết quan trọng ở bên trong. Trước tiên biến mình thành Kim Cang Hợi Mẫu. Ngồi trên đầu bạn chính là Căn bản Thượng sư của bạn. Kim Cương Tổng Trì chính là Thượng sư của bạn, ở phía trên nữa là tổ sư các đời, từng vòng tròn cao dần lên trên. Sau đó tổ sư các đời toàn bộ biến thành các điểm ánh sáng giáng xuống, đi vào Kim Cương Tổng Trì, đại diện Bổn tôn truyền thừa của bạn, chính là Căn bản Thượng sư của bạn - Kim Cương Tổng Trì.

Tiếp theo quán tưởng một đường trung mạch từ Kim Cang Hợi Mẫu đến Kim Cương Tổng Trì, ở trong luân xa tim có hoa sen nở ra, trên hoa sen có chữ Hum. Ở đây có một yếu quyết, chữ Hum này đứng thẳng chứ không phải nằm ngang, nếu nằm ngang, bạn hô một tiếng, chú tự của bạn đi lên, nó sẽ nằm ngang bay lên. Phải là thẳng đứng bay lên sẽ dễ hơn, nằm ngang sẽ gặp trở ngại hơn.

Điều thứ hai, có người hỏi tôi: “Cái chữ Hum mà ngài nói là màu trắng.” Nhưng trước đây tôi có nói chữ Hum màu xanh lam, vậy rốt cuộc là màu trắng đúng hay màu xanh lam đúng? Hôm nay tôi muốn nói là cả hai đều đúng. Tôi quen dùng màu trắng, vì tôi là Bạch Liên Hoa Đồng Tử, cho nên là màu trắng. Còn những người khác có thể dùng chữ Hum màu xanh lam. Tôi quen dùng màu trắng. 

Ở trong đây vẫn còn một yếu quyết. Khi bạn muốn đẩy chữ Hum này từ Kim Cang Hợi Mẫu lên Kim Cương Tổng Trì, một yếu quyết chính là chữ Hum của Kim Cương Tổng Trì - chữ Hum trên hoa sen trong Tâm luân, phần đuôi chữ Hum có một cái móc, cái móc ấy đi xuống dưới, móc vào cái vòng tròn của chữ Hum tại luân xa tim của Kim Cang Hợi Mẫu. Cái này cũng là một yếu quyết, một khẩu quyết rất quan trọng. Quán tưởng chữ Hum của Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cương Tổng Trì, cái móc ở phía dưới chữ Hum từ trung mạch đi xuống móc vào cái vòng tròn của chữ Hum ở luân xa tim của Kim Cang Hợi Mẫu, vừa hay móc vào được. Mọi người có thể tượng tưởng ra được chữ Hum này có một cái móc đi xuống móc vào cái vòng tròn trên đầu chữ Hum kia.

Phải quán tưởng thật là rõ ràng, Hợi Mẫu, Kim Cương Tổng Trì, trung mạch, hoa sen luân xa tim, chữ Hum, sau đó chữ Hum đi xuống móc vào nhau, cầu nguyện vô cùng khẩn thiết, nhất định phải vãng sinh. “Hơ” lập tức móc lên trên, đưa luồng khí đó đi lên, lên đến luân xa tim của Kim Cương Tổng Trì, hợp lại với nhau một lúc, “Ka” lại đi xuống luân xa tim của chính mình. Nhớ kĩ, cái này là xông đỉnh, cũng tức là xạ đỉnh. Cái này từ trung mạch bắn lên đến đỉnh huyệt. Phải bắn 21 lần. Một lần tu pháp là 21 lần. Phải làm chỗ này bị sưng lên, có máu chảy ra, có một cái lỗ, có thể cắm cỏ cát tường vào đây để chứng nghiệm. Cái này chính là khai đỉnh.

Làm 21 lần. “Hơ”, “Ka”, “Hơ”, “Ka”, “Hơ”, “Ka”. Cứ như vậy vừa quán tưởng vừa hô hai chú tự này. Bạn sẽ cảm thấy chỗ này rất khác, bắt đầu ở trung mạch có một luồng khí xông lên đỉnh đầu, đi lên trên, cho đến khi xông ra ngoài, phải mở cái đỉnh huyệt này ra. Chỉ cần bạn khai đỉnh là được rồi. Sau này một tháng tu một lần là được. Còn phải niệm chú Trường Thọ Phật, tu pháp Trường Thọ Phật để bảo vệ bạn, nếu không chữ Hum của bạn đi ra ngoài không về được nữa, vậy là vãng sinh luôn. Ở thế giới Ta Bà này sẽ không nhìn thấy bạn nữa, người ta muốn tìm bạn cũng rất khó, vì bạn đã vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, đi vào tịnh thổ của Kim Cang Tát Đỏa.

Vì vậy thật sự mà nói, một hành giả tu xong pháp khai đỉnh pháp, pháp Phowa, bất kì lúc nào cũng có thể vãng sinh. Một cao nhân nói: “Bất kì khi nào tôi muốn đi là đi.” Ngày mai tôi muốn đi, rất đơn giản, ngày mai sẽ rất vui mừng, tắm rửa trước, mặc quần áo mới, gọi hết toàn bộ đệ tử của mình đến trước mặt, sau đó *say goodbye* *<span className="note-blue">[tạm biệt]</span>* với mọi người: “Ta phải đi rồi, ta phải đi đến tịnh thổ rồi, từ nay về sau sẽ không quay lại nữa.”

Tạm biệt mọi người một cách rất nhẹ nhàng, giao phó một số hậu sự. Sau đó “Hơ” một tiếng, chấn động một cái, thế là để thần thức ra ngoài, từ trên đỉnh này cho thần thức đi ra ngoài, không được quay về nữa. Sau đó không được thu về nữa, không “Ka” nữa. Bạn “Ka” nửa ngày trời là bạn không đi được nữa đâu. Lúc đó đám đệ tử nhìn bạn biểu diễn, bạn đang biểu diễn trò tử vong, làm nửa ngày trời mà sao sư phụ của mình vẫn chưa chết vậy? Cái lão già câng này tại sao vẫn chưa chết?

Cái này chính là để thần thức ra ngoài, rung chuyển một cái, đem thần thức của mình xông lên đỉnh đầu đi ra ngoài, không quay trở lại nữa, lập tức vãng sinh. Một luồng khí đẩy thần thức của mình lên đỉnh, bắn lên đỉnh, bắn ra ngoài, đi thẳng đến tịnh thổ, sẽ không quay về nữa.

Rất nhiều cao tăng có thể ăn mặc chỉnh tề, tắm rửa tịnh thân, sau đó ở trước mặt Phật mỉm cười rồi ra đi, sau đó, chính là vận hành thần thức của mình bay ra ngoài, thế rồi mỉm cười ra đi.

Năm xưa đệ tử Xá Lợi Phất của Phật chính là như vậy đó. Khi Xá Lợi Phất muốn chết, quay trở về quê hương của mình, *say goodbye* với mọi người, tinh thần rất vui vẻ, nhắm mắt ra đi, ở trong phòng cấm của mình, nhắm mắt một cái là ngài ra đi.

Cái này là công lực giỏi bậc nhất, nói khi nào chết là khi đó chết. Không giống như một số người cứ ở đó kéo dài tuổi già, kéo dài tuổi già đâu có ý nghĩa gì.

Vì vậy cao tăng đại đức thực sự, tu xong pháp này rồi là quyết định được vãng sinh. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum!

16/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 065. Truyền pháp chọn chính pháp khí (đúng người)

Có thể nói tôi đã giảng xong toàn bộ cả sáu pháp của Naropa, bắt đầu từ pháp Linh nhiệt cho đến pháp Phowa, tổng cộng là sáu pháp. Đây là đại pháp vô cùng trân quý do tổ sư truyền lại.

Thực tế mà nói, muốn tu thành toàn bộ sáu pháp này cũng rất là khó khăn, vì phải tốn rất nhiều thời gian, tu xong toàn bộ là vô cùng khó khăn. Hành giả chúng ta có thể lựa chọn pháp mà mình thích để tu.

Trong sáu pháp này, có một pháp khá quan trọng chính là pháp Linh nhiệt. Pháp Linh nhiệt tương đối quan trọng hơn, bởi vì bạn muốn học đại thành tựu cầu vồng thì nhất định phải học pháp Linh nhiệt. Có nhiệt trước, sau đó có nhiệt độ, có khói, có lửa, có ánh sáng. Nền tảng của sáu pháp này nếu tính ra cũng chính là pháp Linh nhiệt. Vì vậy nên tu pháp Linh nhiệt. Sau khi tu thành pháp Linh nhiệt rồi, năm pháp còn lại có thể nói là sẽ tu dễ dàng hơn.

Trong Mật giáo của chúng ta, về phương diện pháp Bổn tôn, chủ yếu là tu thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, cái này cũng gần giống với Hiển giáo thông thường. Nhưng trong Tạng mật có tu pháp về khí-mạch-minh điểm. Trong khí-mạch-minh điểm, khí chủ yếu nhất là Bảo bình khí, và Cửu tiết Phật phong làm cơ sở. Tiếp theo, bạn cần phải tu pháp Linh nhiệt, nhất định phải tu thành. Bạn có pháp Linh nhiệt mới có thể tu pháp Minh điểm, pháp Vô lậu, tiếp theo tu sáu pháp thành tựu, chính là sáu pháp thành tựu của Naropa.

Theo như trình tự mà tôi nói, bạn cần phải làm như vậy, tu như vậy mới được. Có nhiều pháp như thế, có sáu loại pháp, chẳng lẽ phải tu hết toàn bộ sao? Không nhất định phải vậy, không cần tu hết toàn bộ. Bạn chỉ cần thành tựu một pháp, rất có thể bạn thành một pháp là sẽ thông rất nhiều pháp. Bởi vì Huyễn quán, Tịnh quang, pháp Phowa, và pháp tu mộng, bên trong đều là có liên quan. Vì vậy bạn thông một pháp, rất dễ thông những pháp khác. 

Quan trọng nhất là phải tu được pháp Linh nhiệt. Bạn tu thành pháp Linh nhiệt rồi, luồng khí này của bạn có thể đi đến trung đan điền, đến thượng đan điền, có thể đi xuống đến trung đan điền, cũng có thể xuống đến hạ đan điền. Bạn có thể vận hành nhiệt đến khắp các bộ phận trong cơ thể của bạn. Bạn càng tu càng tinh thuần, tinh thần của bạn sẽ càng tốt, nền tảng tu pháp của bạn sẽ càng vững chắc. Cơ thể bạn sẽ không có tật bệnh, khí rất đầy đủ, hơn nữa có thể vận dụng khí này của bạn. Ở đây có thể nói, con người thời nay thường xuyên nói đến khí công, thật ra trong Mật giáo, Bảo bình khí và Cửu tiết Phật phong đều là khí công. Dùng khí này để tu hành, chúng ta chính là dùng khí công để tu Phật pháp.

Điều này để cho bạn hiểu, bạn thực sự có thể thành tựu vẫn phải dựa vào pháp Linh nhiệt, sau đó thông năm pháp còn lại. Sau đó bạn mới chọn một trong các pháp để tu, nhất định thành Phật, nhất định thành tựu. Tu hành nhất định phải có quyết tâm, bạn phải ghi nhớ trong lòng những gì sư phụ nói.

Vì vậy pháp khí có rất nhiều loại, có chính pháp khí, có phá pháp khí, còn có táng pháp khí.

Thế nào là chính pháp khí? Những lời Thượng sư nói, bạn nhớ hết toàn bộ. Bạn có thể nắm được ý quan trọng, có thể thực tu mỗi ngày, bạn phải tạo ra tâm đắc của chính mình, bản thân bạn thực sự có thành tựu, đó là chính pháp khí. Hơn nữa phải bền lòng, ghi nhớ khẩu quyết tâm yếu mà sư phụ nói, cái này là chính pháp khí.

Vậy thế nào là phá pháp khí? Bạn vốn dĩ không bền lòng, hôm nay nghe xong, chà! Hay quá! Pháp hay! Ngày mai ngủ dậy, bạn không làm, vốn dĩ pháp rất hay nhưng mà bạn không tu. Thậm chí hôm nay bạn nghe rất có tâm đắc lĩnh ngộ. Một tuần sau, bạn quên sạch toàn bộ, đây là phá pháp khí.

Thế nào là phá pháp khí? Trước kia ví dụ như thế này. Bạn cầm một cái bát, sư phụ đem pháp nhũ, sữa bò đổ vào trong cái bát của bạn. Nhưng mà cái bát này của bạn bị vỡ, làm sao đổ được đây? Vì sữa sẽ chảy hết ra ngoài. Cho nên gọi là phá pháp khí là như vậy. Không phải sư phụ không dạy bạn, sư phụ đem khẩu quyết tâm yếu của mình để dạy lại cho bạn rồi. Kết quả bạn cho rằng không quan trọng, vốn dĩ không có duyên để tu, hoặc là hôm nay tu rồi, dừng lại ba ngày không tu, tuần sau mới tu tiếp, tháng sau tu tiếp. Đây là phá pháp khí. Sữa đã rót vào trong bát cho bạn, kết quả toàn bộ bị chảy ra ngoài, đây là phá pháp khí, không còn cách nào khác. Vì vậy phá pháp khí rất khó thành tựu, chính pháp khí rất dễ thành tựu.

Còn có một loại là táng pháp khí. Đó là bạn đưa cái bát ra, tâm của bạn dơ bẩn, *it’s dirty, you are dirty people*, là người dơ bẩn, người dơ bẩn còn có tập đoàn của người dơ bẩn. Pháp nhũ của sư phụ là sữa bò, là rất tươi ngon, rất tinh khiết, hơn nữa rất nhiều dinh dưỡng, rất tốt, rót xuống cho bạn. Chà! Vì cái bát của bạn là bát bẩn, toàn bộ sữa bò đều biến thành dơ bẩn. 

Ở đây là tâm thuật của bạn bất chính, bạn học Phật pháp chỉ nghĩ đi kiếm tiền, đi lừa tiền. Học xong Phật pháp, đi lừa gạt, vì danh vì lợi, bất chấp thủ đoạn. Vì danh, nghĩ cho danh vọng của chính mình, nghĩ cho lợi ích của chính mình, không phải là thực sự đang tu tâm thanh tịnh. Đây là táng pháp khí. Sữa bò rất sạch, rất trắng sạch rót xuống, kết quả tâm của bạn là dơ bẩn, tạo nên một mớ lộn xộn, vậy thì thảm rồi. Đây chính là táng pháp khí.

Vì vậy Thượng sư truyền pháp phải chọn pháp khí để truyền thụ, lựa chọn pháp khí chân chính. Tâm của bạn đích thực là vô cùng thanh tịnh, bạn không phải vì danh vì lợi, không phải lừa người khác. Sư phụ sẽ xem, sẽ quan sát, không thể tùy tiện truyền pháp. Nếu truyền thì Phật pháp vốn dĩ rất tuyệt hảo đều bị bạn làm dơ bẩn. Gặp phải táng pháp khí mà truyền thì toàn bộ đều thê thảm, Phật pháp cũng bị ô uế. Gặp phải phá pháp khí mà truyền cho anh ta, anh ta để mất hết toàn bộ. Giảng “Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận”, giảng "Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, giảng muốn sống muốn chết, giảng đến khô cả miệng luôn rồi, đều đi tong. Giảng đến cạn kiệt sức lực, giảng hết lòng hết dạ, anh ta nghe từ tai này đi ra từ tai kia. Đây là phá pháp khí.

Vì vậy truyền pháp phải chọn chính pháp khí. Điều này cũng rất quan trọng. Om mani padme hum!

17/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 066. Nội dung quan trọng của tu hành (1)

Hôm nay tôi sẽ nói với mọi người về nội dung quan trọng của tu hành. 

Thế nào gọi là hành giả? Hành giả chính là người đang tu hành, người tu hành thì gọi là hành giả. Trước kia, trong truyện Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không chính là Tôn hành giả, người tu hành họ Tôn thì gọi là Tôn hành giả.

Các bạn thường nói mình là hành giả, rốt cục các bạn có hiểu nội dung quan trọng mà các bạn tu hành là gì không? Có một số người nói mình là người học Phật, nhưng mà tất cả hành vi và tư tưởng của chính mình thì lại cách Phật rất xa, Phật ở tận chân trời, còn bạn học Phật mãi mãi chẳng thể lên được đến trời.

Ở đây tôi nói về nội dung quan trọng của tu hành, chủ yếu nhất là muốn nói với các bạn về ý nghĩa sâu nhất ở đây là gì. 

Trong Mật giáo của chúng ta có bốn pháp: một là tức tai, một là tăng ích, một là kính ái, một là hàng phục. Thật ra trong nội dung quan trọng của một hành giả, một điểm quan trọng nhất là hàng phục. Mọi người vừa nghe đến hàng phục là cho rằng là hàng phục người khác, hoặc là hàng phục một số sự việc, để cho bản thân có thể thuận lợi, thật ra nghĩ như thế là sai rồi.

Trước đây có một triết học gia nói: “Kẻ địch lớn nhất là chính mình.” Hàng phục này chính là phải hàng phục chính mình, tu hành chủ yếu là đang hàng phục, và đối tượng của hàng phục là chính mình.

Chúng ta có thể nói thế này, nghiệp chướng mà mỗi cá nhân tích lũy lại qua nhiều kiếp là vô cùng nặng, cho nên chúng ta thường hay nói “nghiệp chướng rất nặng”, chính là nghiệp mà bạn tích lũy qua nhiều kiếp rất nặng. Còn nữa, không chỉ như vậy, những thói xấu của bạn, những thói quen không tốt của bạn rất nặng, những cái này đều cần phải hàng phục.

Cho nên hành giả phải hàng phục chủ yếu là hàng phục tham, sân, si của chính mình. Phật Đà thường nói “tam độc lục tặc”, tam độc chính là tham, sân, si, lục tặc chính là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của bản thân bạn chính là sáu tên giặc.

Bởi vì tham niệm của con người đôi khi là từ mỗi một bộ phận này mà sinh ra, ví dụ như mắt có thể tham sắc. Tai thích nghe những điệu nhạc đồi trụy, mũi thích ngửi, lưỡi thích nếm vị ngon. Thân thể không thanh tịnh, sự tiếp xúc và ý niệm đều không thanh tịnh, những cái này đều phải hàng phục.

Chúng ta hàng phục lục tặc của bản thân, chính là hàng phục mắt tai mũi lưỡi thân ý của mình, sắc thanh hương vị xúc pháp của mình, đây có thể gọi là một loại công phu duy thức. Bạn muốn hàng phục lục tặc, hàng phục tham sân si, vậy thì phải thiền định, phải học thiền định. Bởi vì từ trong thiền định, bạn mới có thể sinh ra trí huệ, dùng trí huệ để phá trừ tham sân si và lục tặc của thân mình. Bạn muốn đạt được thiền định rất sâu thì nhất định phải thanh tịnh mắt tai mũi lưỡi thân ý, đây chính là bạn đang làm công phu hàng phục.

Ngoài ra, nội dung quan trọng của tu hành chính là phải quy y. Đó là quy y một sư phụ thật sự có thể hiểu biết Phật lý. Các bạn cảm thấy quy y quá đơn giản ư? Thật ra quy y không đơn giản, bởi vì quy y đến tận cùng, quy y sâu nặng nhất là quy y chính mình. Hàng phục là hàng phục chính mình, quy y cũng là quy y chính mình.

Bởi vì khi bạn đã đến được bên trong duy thức, tức là vào trong ý thức thiền định sâu nhất, bạn sẽ phát hiện ra ý thức sâu nhất - thức thứ chín Am-ma-la thức. Am-ma-la thức là gì? Chúng ta gọi là Như Lai tạng, chính là Phật thức. Phật tính này, đến ý thức sâu nhất, bạn mới có thể phát hiện ra thì ra bản thân bạn cũng là Phật tính.

Bạn quy y Phật, thì ra là quy y ý thức sâu nhất của chính mình, cho nên đến cuối cùng trở thành quy y chính mình. Hàng phục là phải hàng phục chính mình, quy y cũng là quy y Phật tính của chính mình. Bởi vì Phật tính ở trong ý thức sâu nhất của chính mình là tương thông với Phật tính của ý thức vũ trụ tối cao. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni khai ngộ đã nói: “Thì ra chúng sinh đều có Phật tính.” Chúng sinh đều có Phật tính ở trong ý thức sâu nhất.

Vì thế bạn quy y đến cùng thì không phải là quy y sư phụ, mà là quy y Phật tính, cũng tương đương với quy y chính mình. Hai nội dung chủ yếu này rất quan trọng. Cho nên, Thiền tông thường nói “trực chỉ”, ý nghĩa của “trực chỉ” chính là muốn bạn tỉnh ngộ. Bạn phải thường nghĩ trong tâm mình có Phật tính, phải thắp lên ngọn đèn tâm của mình, chính là đánh thức Phật tính của mình.

Mật giáo cũng nói như vậy. Mật giáo cũng nói với bạn rất trực tiếp rằng bạn chính là Phật. Vì sao? Phật không phải nói đến hình tượng bên ngoài, mà là Phật tính ở bên trong ý thức sâu nhất của nội tại. 

Cho nên Lư Sư Tôn cũng có thể đảnh lễ chúng sinh. Tôi chẳng hề gì, tôi có thể đảnh lễ chúng sinh. Tôi đảnh lễ chính là đang đảnh lễ Phật tính của ý thức sâu nhất, cho nên việc hướng tới chúng sinh để đảnh lễ chẳng hề gì. Bởi vì ở đây là đảnh lễ Phật tính vốn có ở bên trong ý thức sâu nhất của bạn. 

Do vậy, mỗi người chúng ta đều phải tôn trọng bản thân, tôn trọng Phật tính ở bên trong ý thức sâu nhất của chính mình. Còn phải hàng phục chính mình, hàng phục tham sân si nhiều kiếp của mình, hàng phục lục tặc mắt tai mũi lưỡi thân ý của chính mình. Đây là nội dung quan trọng của hành giả, cũng chính là một nội dung quan trọng của tu hành. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum. 

18/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 067. Nội dung quan trọng của tu hành (2)

Chúng ta lại nói về nội dung quan trọng của tu hành. Có rất nhiều người hỏi: “Biết nội dung quan trọng của tu hành là phải hàng phục chính mình, cũng phải quy y chính mình, vậy tu hành rốt cuộc có mục đích gì? Ý nghĩa của nó nằm ở đâu?”

Hiện tại rất nhiều chúng sinh thế giới Ta Bà, đại bộ phận đều không biết cần phải tu hành. Họ nói là: “Ngày nào tôi cũng sống rất vui vẻ, vì sao tôi phải tu hành chứ? Tâm địa của tôi tốt là được.” Thật ra muốn nói “tâm địa tốt là được” cũng khó lắm, cũng rất khó khăn. Cho nên tu hành có ý nghĩa của tu hành.

Nhưng nói “tâm địa tốt”, câu nói này cũng rất khó nói, vì sao đây? Bởi vì chúng sinh Ta Bà bình thường trên đời này, ở trong sự mê hoặc họ thường không giữ vững được tâm mình, cho nên làm sao nói “tâm địa tốt” chứ? Điều này là rất khó khăn.

Nội dung quan trọng của tu hành, ý nghĩa chủ yếu nhất là nằm ở “minh giác”, bạn phải duy trì một sự “minh giác”, tức là rất tinh tường và hiểu biết. Sau khi bạn đi con đường này, bạn có thể đạt được minh giác thì bạn sẽ càng hiểu biết, sẽ không mơ hồ nữa. Bạn nói xem một người muốn tâm địa tốt, bạn cũng cần phải biết làm sao để tâm địa tốt, như thế nào mới là tâm địa tốt. Bạn biết phương pháp rồi thì chính là tu hành, chính là minh giác, là một loại cảm nhận rất rõ ràng, cảm nhận rõ ràng và tinh tường sẽ sinh ra. 

Ngoài ra bạn còn đạt được một niềm vui chân chính, một người tu hành có thể đạt được niềm vui chân chính, vậy thì phiền não của bạn sẽ có thể giải thoát. Bởi vì bạn đạt được niềm vui, phiền não sẽ ít đi, cũng không còn nữa, căn bản là không có phiền não, đây là một hiện tượng đại lạc chân chính.

Mọi người biết rằng, Phật Đà Thích Ca Mâu Ni Phật nói: “Đời người chính là khổ.” Bạn có thể giải thoát đau khổ mới có thể đạt được một loại trạng thái đại lạc. Bạn thực hành rồi, bạn làm rồi, bạn đạt được đại lạc rồi, trạng thái này sinh ra rồi, đây mới gọi là tu hành. Bằng không nhìn chung mà nói, con người đều sẽ có phiền não, phiền não là thứ không mất đi, vĩnh viễn là gánh nặng trên người bạn. Bạn không tu hành, vĩnh viễn không có cách nào giải trừ phiền não.

Ngoài ra, bạn sẽ đạt đến một ngộ cảnh, ngộ cảnh này chính là trí huệ của bạn không giống với trí huệ thế gian thông thường, loại trí huệ này của bạn đến từ ý thức vũ trụ. Bạn là một người siêu giác, một Thánh giả giác ngộ siêu nhiên, cho nên sự lĩnh ngộ của bạn, sự khai ngộ của bạn không giống với tri thức của thế gian, đây là một loại trí huệ Phật cao thâm nhất.

Lại là một điều khác biệt, loại trí huệ này là trí huệ mà chúng sinh thế giới Ta Bà bình thường tìm không được, cái này cũng phải tu hành mới có thể đạt được. Bạn tiến nhập cảnh giới thiền định rất sâu, rất cao thâm, thì mới có thể khai phá ra loại trí huệ này. Bạn không tiến vào thiền định rất sâu thì chẳng có cách nào khai phá ra loại trí huệ này, bạn chỉ có được tri thức cuộc sống phổ thông mà thôi.

Ngoài ra còn cần có tịnh quang, ánh sáng thanh tịnh sản sinh ra. Nói chung, người có ác niệm, dưới cái nhìn của người có thiên nhãn, nhìn một cái là thấy ngay cái người có suy nghĩ bất hảo. Bạn phải loại bỏ suy nghĩ xấu, phải sản sinh ra một loại trí huệ quang minh, sản sinh ánh sáng thanh tịnh, vậy là khác biệt rồi, cho nên nhất định phải tu hành, đây chính là ý nghĩa của tu hành.

Bởi vì ở trong thiền định, sau khi bạn mở mang thân tâm chính mình, bạn sẽ đạt được một dạng năng lực ứng biến, cái này cũng phải tu hành mới có thể đắc được. Năng lực ứng biến là cái gì? Trong Phật giáo nói rằng, năng lực ứng biến gọi là thần thông. Bạn sẽ có thần thông, thần thông chính là năng lực ứng biến. Bất kì sự việc gì bạn đều có thể nhậm vận, thần thông nhậm vận, rất tự nhiên, rất tự tại tùy ý vận dụng thần thông của bạn, giải quyết phiền não của chúng sinh. 

Tôi thường hay nói thần thông chính là “tâm tưởng sự thành”, trong lòng bạn muốn gì thì sự việc đó sẽ làm được, sẽ tốt. Mỗi lần chúng ta viết thư cho bạn bè, sau cùng đều viết là “chúc vui”, điều này biểu thị muốn nói rằng rất tự tại, rất vui vẻ, tâm của bạn sẽ rất tự do, vui vẻ. Chúc “tâm tưởng sự thành”, bốn chữ này chính là thần thông, đây là nguyện lực của bạn, một khi nguyện lực của bạn muốn thì sự việc sẽ đạt thành.

Cái này không phải là ma thuật, mà là thần thông tự tại. Bạn muốn cái gì sẽ có cái đó, bạn muốn giải quyết thế nào thì sẽ giải quyết như thế. Khi bạn tu hành đến cảnh giới rất cao thì có thể nhậm vận. Giống như Phật, giống như Tiên trên trời, các vị đều có thể thần thông nhậm vận, các vị nghĩ đến cái gì thì cái đó sẽ đến. 

Ví dụ bạn muốn ăn một chút gì đó, thoáng một cái là có thể biến ra, lập tức ăn một cách rất vui vẻ. Bạn không muốn nữa thì sẽ biến mất. Bạn muốn sống trong cung điện hào hoa nhất, to lớn nhất, nó liền biến ra. Bạn muốn ngửi mùi thơm hoa sen, lập tức biến ra được hoa sen, ngửi thấy ngay mùi thơm hoa sen. Cho nên đây gọi là “tâm tưởng sự thành”, thần thông biến hóa chính là ở đây, có thể tự do tự tại mà nhậm vận thần thông.

Nếu bạn có thần túc thông, “Tôi muốn đến Đài Loan, đi thăm một người bạn cũ.”, chớp mắt một cái là đến. Nghĩ đến châu Âu, muốn đi xem tháp Eiffel ở Paris, chớp mắt một cái cũng đến luôn, đây chính là thần thông nhậm vận. Bạn đã đạt tới cảnh giới tu hành rồi thì những việc này đều có được một cách dễ dàng, tiện lợi như lấy quả quýt ở trên bàn vậy. Bạn nói xem như vậy có tốt không? Đương nhiên là tốt rồi, nhưng mà cái này phải tu hành mới có thể đạt được.

Cho nên bạn nói thần thông nhậm vận, tự do du hý, mọi người đều nói Phật sướng, Thần Tiên sướng, hành giả phải nỗ lực thực hành mới có thể giúp chính bạn chứng được thần thông tự tại, thanh tịnh quang minh, đại lạc, chứng được minh giác, phiền não tiêu trừ, sinh tử tự chủ, đây chính là mục đích của tu hành. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

18/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 068. Cảnh giới của tương ứng (1)

Hôm nay tôi nói với mọi người về cảnh giới của tương ứng. Rất nhiều người hỏi: “Kim cương thừa du già đều nói về tương ứng, tương ứng sẽ sinh ra cảnh giới của tương ứng. Thế nào là một dạng cảnh giới của tương ứng?” Nhìn chung, có rất nhiều cảnh giới của tương ứng. Hôm nay tôi muốn nói về kiểu tương ứng tương đối chính xác, cũng tương đối chân thực mà bạn có thể ấn chứng. 

Lấy chính tôi làm một ví dụ. Ví dụ Bổn tôn của bạn là A Di Đà Phật, nhưng về mặt cảm giác, bạn luôn cảm thấy A Di Đà Phật cách bạn rất xa chứ không hề ở cùng với bạn, bạn không hề là A Di Đà Phật, điều này cho thấy bạn vẫn chưa đạt đến cảnh giới của tương ứng. Giả như bạn tương ứng rồi, trong lúc tu pháp bạn tương ứng với A Di Đà Phật rồi, bạn có thể nhìn thấy ngài. Bạn có thể kiến Phật, chính là nhìn thấy Phật.

Chúng ta đang tu thiền định, tu đại thành tựu cầu vồng, bạn ở trong mơ nhìn thấy A Di Đà Phật, tỉnh dậy rồi thấy rất vui! Bạn nói tôi thấy Phật trong mơ, cuối cùng ở trong mơ nhìn thấy Phật rồi, đây có thể nói là tương ứng sơ cấp, rất thô và nông. Bởi vì trong mơ bạn nhìn thấy không nhất định là thật, thỉnh thoảng ngài cho bạn có một giấc mơ, cho bạn vui mừng một chút mà thôi.

Thế giả dụ trong thiền định mà bạn nhìn thấy Phật thì sao? Cái này lại khác. Bạn ở trong thiền định không phải là ở trong mơ, Phật mà bạn nhìn thấy trong thiền định và Phật mà bạn thấy ở trong mơ là khác nhau. Ngài sẽ để bạn cảm giác thấy là bạn đích thực nhìn thấy Phật, ngài sẽ khiến bạn ấn tượng rất sâu sắc. Còn tốt hơn nữa đó là bạn không cần thiền định, bạn mở mắt ra cũng nhìn thấy Phật, mở mắt ra là thật sự nhìn thấy Phật, đây chính là tương ứng.

Thật ra kiểu hiện tượng của tương ứng này, bạn có thể có cảm nhận. Cảm nhận này rất đơn giản, bản thân bạn có thể phát ra ánh sáng, trên người có ánh sáng, có cầu vồng bảy sắc bao quanh bạn. Bạn sẽ cảm thấy A Di Đà Phật không phải ở chân trời, mà bạn chính là A Di Đà Phật.

“Phật mạn” sinh ra trong Mật giáo chính là hình tượng trang nghiêm của Như Lai, từng phút từng giây, hình tượng trang nghiêm của Phật và bạn hợp nhất chính là Phật mạn của Như Lai. Một khi đã sinh ra Phật mạn thì nhất ngôn nhất hành, nhất cử nhất động của bạn đều là Phật, cái này chính là cảnh giới tương ứng chân chính.

Có rất nhiều người nói: “Hây da! Tôi tương ứng rồi, tôi cảm thấy thân thể rất mát mẻ.” Thân thể anh ta mát mẻ giống như ăn kem vậy, như thế là tương ứng rồi. Có người nói: “Hây da! Hôm nay tôi tương ứng rồi.” Hỏi anh ta vì sao tương ứng, anh ta nói: “Tôi cảm thấy hôm nay tâm trạng rất tốt, rất dễ chịu, nhẹ nhõm, rất khinh an.” “Hây da! Cuối cùng tôi đã tương ứng rồi.” Ngày mai phiền não tới, thế là lại không tương ứng nữa, ngày mai lại không tương ứng rồi, lại thấy rất khổ. Đây không phải là tương ứng, tương ứng thật sự chính là một trạng thái hợp nhất sản sinh ra, một dạng Phật mạn. Thân thể cảm thấy xung quanh, không chỉ là cảm giác mà là thật sự phóng quang, cầu vồng bảy sắc quấn quanh bạn, mà còn có một điều rất quan trọng là Hộ pháp ở bên cạnh, không hề rời xa bạn, lúc nào cũng đều có Hộ pháp ở xung quanh bạn.

Giống như bản thân tôi, mỗi lần ăn cơm đều làm cúng dường, chắp tay cúng dường, niệm chú cúng dường, tôi đều biết Hộ pháp có đến hay không. Mỗi bữa cơm đều có Hộ pháp ở xung quanh bạn. Hộ pháp này còn rất thích bữa tối, thích bữa trưa, rất hoan hỷ tiếp nhận cúng dường. Đây không phải là cảm giác, đây là nhìn thấy thật, thật sự nhìn thấy Hộ pháp ở xung quanh bạn. Bạn có thể sai khiển Hộ pháp. Không hành, Hộ pháp đều ở quanh bạn.

Bạn nói: “Ôi chao! Tôi có một việc phiền não, xin Hộ pháp giúp tôi đi hoàn thành nó.” Cái này ở trong Đạo gia mà nói thì “xin ngài mau đi làm” chính là “cấp cấp như luật lệnh”. Ngài sẽ mau chóng nhấc chân lên, nhanh chóng đi giúp bạn làm việc. Bạn sẽ không cần lo lắng nữa, tất cả mọi việc tự nhiên có thể tâm tưởng sự thành.

Bạn thật sự là một Kim cương Thượng sư, là một yogi, thì lời bạn nói ra chính là cấp cấp như luật lệnh, chính là luật lệnh. Hộ pháp tiếp nhận luật lệnh rồi sẽ lập tức đi giúp bạn hoàn thành việc đó.

Bạn muốn một chiếc long bào, sao mà đệ tử vẫn chưa tặng nhỉ? Vừa nghĩ tới điều này thôi, Hộ pháp liền đi luôn, nói vào trong đầu của đệ tử rằng: “Này! Anh phải nhanh chóng làm một chiếc long bào tặng Sư Tôn đi!” Đệ tử lập tức đi đặt làm long bào. Lát sau đã làm hơn 200 chiếc tặng cho tôi, bây giờ tôi đều mặc không hết, hại tôi mỗi ngày đều phải mặc chiếc mới.

Có đôi khi “ý nghĩ” rất quan trọng, bởi vì một Kim cương Thượng sư chân chính, vừa nghĩ đến thôi là việc gì cũng đều làm xong. Hộ pháp có ở đó hay không, nhắm mắt lại, Hộ pháp liền ở trước mặt bạn. Bản thân bạn chính là Phật, là cảnh giới hợp nhất, tương ứng. Bạn thật sự đến được cảnh giới này rồi thì có thể nói là Bổn tôn và hành giả Mật giáo hoàn toàn là trạng thái hợp nhất, bạn sẽ sinh ra Phật mạn. Lúc này bạn đã không còn là phàm phu, từng phút từng giây bạn đều là Phật, hiện tượng này mới có thể gọi là tương ứng. 

Vậy thì có người sẽ nói, khi bạn đi vệ sinh thì phải làm sao?Lẽ nào Phật cũng làm việc đó sao? Đúng thế! Đây là nhất cử nhất động của đời sống thường ngày, bạn đang ăn cơm chính là Phật đang ăn cơm, bạn đi vệ sinh chính là Phật đang ngồi trên hoa sen, ngồi trên bệ xí chính là ngồi trên hoa sen, đều trang nghiêm như nhau. Như vậy cái này chính là tương ứng hợp nhất.

Bạn lúc nào cũng như vậy thì đây chính là Phật mạn phát khởi. Bạn đã phát khởi Phật mạn tương ứng với Bổn tôn của bạn, đây là một hiện tượng chính xác. Bạn không thể tách riêng ra khỏi ngài. Bạn không thể nào bây giờ là Phật, lát nữa thì không phải. Bất kể như thế nào, bạn ở trong Mật giáo, khi đến được Vô thượng mật bộ rồi thì mọi lúc bạn đều là Phật, đây mới là tương ứng thật sự. Đây chính là cảnh giới của tương ứng. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

19/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 069. Cảnh giới của tương ứng (2)

Chúng ta lại nói về cảnh giới của tương ứng, tương ứng này chính là yoga, tức là du già, cũng tức là Kim cương thừa. Vì sao gọi là Kim cương thừa? Hai chữ “kim cương” này đại diện cho sự kiên cố, rất kiên cố, một dạng sức mạnh ngưng đọng lại, sức mạnh rất lớn ngưng tụ lại chính là kim cương. 

Cái này là sức mạnh vô địch, nói cách khác là nó có thể giống như kim cương, bất kì thứ gì, mọi ác nghiệp đều có thể bị nó phá vỡ. Cảnh giới của tương ứng cũng hoàn toàn giống với Kim cương thừa, do vậy mới gọi là Kim cương thừa. Chữ “kim” này chính là không biến sắc. Bạn nhìn vàng xem, vĩnh viễn đều là như thế, không đổi màu, luôn là màu sắc đẹp đẽ nhất, là màu sắc tôn quý nhất. Không biến thể, hình dạng sẽ không thay đổi, vĩnh viễn cố định là như vậy. Nếu bạn không tin, lấy một cục vàng để ở chỗ tôi đây. Đặt cục vàng ở đây, bạn nói cục vàng này nặng bao nhiêu, bạn đặt ở đây sau vài năm, nó cũng vẫn y như thế, sẽ không biến đổi. Vậy thì không biến sắc, không biến thể chính là kim cương. Bạn tương ứng rồi, bạn chính là như thế.

Người học Phật ngày nay thay đổi tới thay đổi lui, lòng người vô thường, rất dễ biến động. Có rất nhiều đệ tử nói với tôi: “Hây da! Tôi đã tương ứng rồi, tôi đã tương ứng với Bổn tôn rồi, đã tương ứng với Thượng sư rồi.” Đã tương ứng với Thượng sư ư? Với Thượng sư nào? “Tôi đã tương ứng với Sư Tôn rồi!” Rất tốt! Rất tốt! Anh đã tương ứng rồi, như thế rất tốt, cực kì tốt. 

Chẳng bao lâu sau thì sao? Anh ta rút lại chứng thư quy y. Ô hay! Anh đã tương ứng rồi, sao còn rút lại chứng thư quy y chứ? Thế thì không đúng rồi, bởi vì sự tương ứng của anh ta là không chính xác.

Thế nào là tương ứng? Hôm nay tôi nói với mọi người, tâm bạn đã không còn biến động nữa, sẽ không dao động bất định. Thế nào gọi là “Thượng sư tương ứng pháp”? Tâm bạn đã giống hệt với tâm của Thượng sư rồi thì gọi là Thượng sư tương ứng pháp. Hôm nay bạn tu Thượng sư tương ứng pháp thì tâm của bạn sẽ hoàn toàn giống hệt với tâm Sư Tôn! Tâm của bạn chính là tâm Sư Tôn! Sư Tôn đang hoằng dương Phật pháp, quảng độ chúng sinh, bạn cũng cần làm như thế. Bạn đã tương ứng với tâm của Sư Tôn rồi, sao vẫn có thể thay lòng chứ? Tâm tâm tương ấn, sao vẫn còn có thể ly hôn chứ? Cái việc ly hôn này, các nước phương Tây, rất nhiều người ly hôn. Vì sao vẫn còn ly hôn? Bởi vì vẫn chưa có được tâm tâm tương ấn mà! Tâm tâm tương ấn thật sự thì sẽ không ly hôn đâu. <span className="note-blue">[Sư Tôn nói ly hôn ở đây nghĩa là rời bỏ nhau, đệ tử đã tương ứng với thầy rồi thì sẽ không có chuyện rời bỏ thầy nữa.]</span>

Cho nên pháp Thượng sư tương ứng nói rằng, bạn đã tu được pháp Thượng sư tương ứng rồi, bạn sẽ không ly hôn với Sư Tôn. Tâm bạn đã hoàn toàn kiên cố, cứng chắc như sắt thép rồi, rất chắc chắn rồi, vậy thì sẽ không thối lùi, vĩnh viễn sẽ không rút lui. Sẽ không nói là: “Hây da! Sau khi tôi tương ứng rồi, tôi còn phải tương ứng với người khác nữa.” Như thế là bạn ngoại tình rồi! Bạn đã tâm tâm tương ấn với tôi rồi, bạn còn đi tương ứng với người khác, bạn có mấy trái tim đây? Như thế thì sẽ có vấn đề rồi! Bạn ngoại tình rồi.

Bạn xem, hiện nay có rất nhiều đệ tử ngoại tình. Đệ tử ngoại tình nhìn thấy đằng kia có cô gái xinh đẹp liền chạy qua bên đó. Thấy anh chàng nào bảnh trai là chạy theo. Như thế thì không có chuyện tâm tâm tương ấn với Căn bản Thượng sư đâu, sao có thể gọi là tương ứng?

Mật giáo đầu tiên là phải tu bốn loại gia hành - pháp Tứ gia hành, có được nền móng vững chắc rồi mới tu pháp Thượng sư tương ứng, sau khi tương ứng với Thượng sư rồi mới tu pháp Bổn tôn, đây là một trình tự. Bạn tương ứng với Thượng sư rồi thì bạn sẽ không rời xa Sư Tôn. Hôm nay bạn rời xa Sư Tôn thì căn bản là bạn không hề tương ứng. Nói một cách đơn giản là không hề tương ứng, đúng không? Giả sử bạn tương ứng với Thượng sư rồi thì căn bản là bạn sẽ không rời xa.

Cho nên bạn đang tu, bạn đã quy y bao nhiêu năm rồi? Quy y 10 năm, 20 năm cũng không có tác dụng gì. Bạn mới quy y một lúc thôi nhưng đã tương ứng với Căn bản Thượng sư rồi, vậy là tâm bình đẳng rồi, lúc này gọi là “nhất vị”, hiện tượng nhất vị đã sản sinh ra rồi. Nhất vị chính là một loại mùi vị. Sư Tôn là ngọt thì đương nhiên bạn cũng là ngọt. Tôi là mặn thì bạn sẽ là mặn. Pháp tính của tôi như thế nào thì pháp tính của bạn sẽ như thế đó. Đây là hiện tượng nhất vị.

Bạn chỉ cần tương ứng với Sư Tôn thì thành tựu của Sư Tôn sẽ rất nhanh chóng chảy vào trong người bạn. Sẽ có cam lộ, truyền thừa của vũ trụ, truyền thừa của hư không chảy vào trong người bạn. Cho nên cam lộ của tôi cũng sẽ chảy trong người bạn, đó là một loại hương vị, hiện tượng của nhất vị sẽ sản sinh ra. Tương ứng rồi thì không thối lùi, không thể rút lui. Hễ có rút lui thì vẫn là chưa tương ứng. Cho nên bạn và Bổn tôn tương ứng cũng như thế. Bạn sẽ không rời xa Bổn tôn. Bổn tôn cũng sẽ không rời xa bạn.

Vì thế Mật giáo thông thường mà nói, cái gọi là samaya chính là nói bạn đã cùng với Bổn tôn, Hộ pháp, Căn bản Thượng sư, có một dạng sức mạnh ràng buộc. Khi bạn quay lưng với Căn bản Thượng sư, Căn bản Hộ pháp, Căn bản Bổn tôn, thì gọi là phá vỡ samaya. Về điểm này ở trong Mật giáo có ràng buộc, chính là giới luật.

Vì sao gọi là phá vỡ samaya? Phá vỡ samaya tức là đã rời bỏ sự ràng buộc rồi, là bạn không giữ giới luật Kim cương thừa thì bạn sẽ phá vỡ samaya. Cho nên bạn giữ giới samaya thì bạn sẽ không rời xa Căn bản Thượng sư, sẽ không rời xa Căn bản Bổn tôn, sẽ không rời xa Căn bản Hộ pháp, bốn đối tượng này sẽ vĩnh viễn kết hợp với nhau.

Khi bạn tương ứng, bản thân bạn chính là Bổn tôn, Hộ pháp ở xung quanh bạn, trên đầu bạn chính là Căn bản Thượng sư, chính là Kim Cương Trì, điều này rất dễ hiểu được. Trên đầu đội Căn bản Thượng sư, xung quanh là Hộ pháp, bạn chính là Bổn tôn, đây chính là một hiện tượng bạn đã tu trì tương ứng rồi, là một hiện tượng tương ứng chân chính. Còn một số những cảm ứng khác, cảm nhận khác, đều là thứ yếu thôi. Tương ứng chủ yếu chân chính là ở cái này. Lúc này, đương nhiên bạn sẽ không thối lùi đạo tâm. Cho nên tôi nói thối lùi đạo tâm, không có đạo tâm thì thối lùi cái gì? 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

19/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 070. Chuyên chú (1)

Hôm nay chúng ta nói về hai chữ “chuyên chú”. Chuyên chú tức là tinh thần thống nhất mà quá khứ tôi thường nói đến. Một hành giả muốn tu thành tựu, điều đầu tiên phải bắt đầu là nhất định phải rèn tinh thần thống nhất, phải chuyên chú. Cái này không chỉ ở trên phương diện tu hành, mà bất kì sự việc gì, nếu bạn muốn làm thành công thì bạn phải luôn đặt tinh thần tập trung vào đó, chuyên chú vào đó thì mới có thể thành công.

Chúng ta tu pháp, học Phật, quan trọng nhất vẫn là phải chuyên chú. Có rất nhiều người xuất gia, vì sao họ muốn xuất gia? Tì kheo, tì kheo ni vì sao muốn xuất gia? Bởi vì khi xuất gia, cuộc sống của họ sẽ trở nên đơn thuần, nguyên nhân của việc đơn thuần hóa này chính là nằm ở sự chuyên chú, chính là mong cầu sự chuyên chú.  
Bởi vì chúng ta biết rằng thế giới Ta Bà, chốn phồn hoa rất dễ mê hoặc người ta, vậy bạn muốn tu hành, xuất gia chính là muốn học một cuộc đời chuyên chú.

Thật ra Mật tông rất nghiêm, trước kia tôi nói vì sao Mật tông nghiêm khắc? Giới luật mà Phật Đà truyền xuống rất nghiêm ngặt, đối với việc tu hành của người xuất gia thì cực kì nghiêm ngặt. Mật tông thường xuyên nói về giới luật, bởi vì có giới luật ràng buộc cuộc sống của bạn, tâm bạn mới có thể không phân tán, như vậy mới có thể chuyên chú vào công phu tu hành, sinh ra một dạng sức mạnh. Xuất gia chính là vì mong cầu tinh thần thống nhất và chuyên chú, mọi người có thể ngẫm nghĩ rồi sẽ hiểu thôi.

Giới luật của người xuất gia rất nghiêm đó! Giới luật của Mật tông đặc biệt càng nghiêm hơn. Quy định tì kheo nam, người xuất gia nam, khi gặp phụ nữ phải giữ khoảng cách, khoảng cách là mấy bước, không được đứng quá gần, bởi vì đứng quá gần thì bạn sẽ ngửi thấy mùi thơm trên người của phụ nữ, tim bạn sẽ đập loạn, trái tim sẽ đập rộn ràng.

Đều có quy định cả. Nói chuyện không thể nói quá ba bốn câu. Người xuất gia không được nói chuyện với phụ nữ. Còn có một điểm rất quan trọng nữa, đó là người xuất gia giữ giới luật Mật tông khi nói chuyện với phụ nữ thì mắt của người xuất gia đều phải nhìn xuống đất trong khi nói chuyện, không được nhìn mặt. Bởi vì nếu nhìn mặt phụ nữ, một khi ánh mắt của người phụ nữ đó bắt gặp ánh mắt của bạn thì sẽ sinh ra điện đó. Nhìn như thế rất dễ có điện, phiền phức sẽ từ đây mà ra.

Bởi vì tình cảm của con người thường xuyên đặt ở trong ánh mắt, người kia đột nhiên phát ra một dạng sóng điện, bạn tiếp nhận lấy sóng điện này, giữa hai người mà có điện thì đó là chuyện rất phiền phức.

Cho nên Mật tông quy định nói chuyện với phụ nữ thì mắt nhất định phải nhìn xuống đất. Cho nên bạn đừng nghĩ là tì kheo này đang làm cái trò gì vậy nhỉ. Đôi mắt lúc nào cũng nhìn xuống đất nói chuyện với bạn, thật chẳng lịch sự gì cả. Nói chuyện với bạn mà cứ nhìn đất là bởi vì tì kheo đó đang giữ giới luật của Mật tông, không được nhìn mặt phụ nữ, nhất là không được nhìn vào mắt, nếu có điện là thôi xong, cho nên có rất nhiều quy định.

Ở đây chủ yếu nói rằng người xuất gia tu hành nhất định phải chuyên chú. Vì sao người xuất gia thường hay ở trong núi tu hành? Bởi vì ở trong núi sâu dễ chuyên chú. Vì sao người xuất gia, người tu hành muốn đóng cửa ở trong phòng để tu hành? Chúng ta biết rằng bế quan phải ở trong một căn phòng nhỏ, chỉ rộng có hai bình thôi <span className="note-blue">[khoảng 6,5 mét vuông]</span>. Ở trong căn phòng nhỏ đó và không được phép ra ngoài. Ở trong đó bạn không có việc gì để làm cả, chỉ có hai chữ chuyên chú, chuyên chú tu Phật pháp của bạn, đây gọi là bế quan, bế quan là để có thể chuyên chú.

Những thứ sẽ làm tâm bạn hỗn loạn, khiến tâm bạn dao động thì không được tiếp xúc, tuyệt đối không được tiếp xúc. “Biết rõ núi có hổ, thế mà vẫn đi vào”, đây là tự bạn muốn chuốc họa vào thân rồi. Bạn rõ ràng biết rằng trong núi có hổ, bạn cứ dấn thân vào, đi vào để cho hổ ăn thịt, đây là tự bạn thích thế, vậy thì đừng trách ai.

Có người nói định lực của tôi tốt. Vâng! Định lực của bạn tốt, định lực của bạn tốt tới mức nào? Sức mạnh của hổ lớn, hay là sức mạnh của bạn lớn? Trừ phi bạn là Võ Tòng trong truyện Thủy Hử, Võ Tòng đánh hổ cũng phải dựa vào “ba chai chưa say” đó, sau khi uống ba bát rượu rồi, dựa vào men rượu đó mà lên núi, cuối cùng đã đánh chết hổ. Thế giới Ta Bà của chúng ta có mấy người là Võ Tòng chứ?

Cho nên bạn tu hành, nhớ là phải cắt bỏ hết ngoại duyên, những thứ có thể khiến tâm bạn dao động thì bạn phải cắt bỏ hết, cái này chính là chuyên chú, đây chính là chuyên chú thật sự. Giống như người xuất gia chúng ta cạo trọc đầu, vì sao phải cạo trọc hết tóc chứ? Việc này tương đương với việc cắt bỏ hết tất cả việc thế tục, mọi việc thế tục của thế giới Ta Bà. Tiêu trừ hết phiền não rồi, diệt tận hết tục duyên rồi, tinh tấn đi trên con đường tu hành, đây là “đặt kì hạn chứng quả” đó!

“Đặt kì hạn chứng quả” tức là ở trong khoảng thời gian này, bạn phải đạt được ấn chứng, đạt được chứng nghiệm của khai ngộ. Điều này rất tích cực, không phải tiêu cực. Cho nên bạn nói người xuất gia rất tiêu cực, từ sáng tới tối chỉ có mỗi việc ăn cơm. Không phải đâu, họ rất tích cực. Người xuất gia rất tích cực, tinh thần thống nhất, đặt kì hạn tu hành chứng quả đó. Trong cuộc đời xuất gia ngắn ngủi này, nhất định phải đắc được một sự xác nhận, một ấn chứng.

Cho nên phải trân trọng cuộc đời xuất gia, trân trọng sự quý giá của thời gian, không thể lãng phí, không thể để cho ngoại duyên làm dao động mê hoặc tâm bạn, khiến tâm bạn ô nhiễm lại từ đầu, như vậy mới là người xuất gia chân chính. Đợi đến khi bạn tu hành có định lực đủ rồi, bạn mới có thể đi tiếp dẫn chúng sinh. Bằng không, bạn sẽ bị chúng sinh dẫn đi, đổi lại bạn xuất gia nhưng lại bị chúng sinh tiếp dẫn. Bởi vậy phải chuyên chú. 

Om mani padme hum.

20/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 071. Chuyên chú (2)

Chúng ta lại nói về chuyên chú. Mật giáo nói với chúng ta rằng, thứ mà chúng ta chuyên chú đó là chú ý đến khí, chú ý vào chữ “khí”. Hiển giáo thông thường chỉ chú trọng vào tu tâm, cho nên chuyên chú vào tâm. Còn Mật giáo chuyên chú vào khí. Nhưng mọi người thử nghĩ xem, chuyên chú vào tâm thì rất khó chuyên chú. Bạn nghĩ thử chữ tâm này, nghĩ đến cái tâm của bạn. Chúng ta thường hỏi tâm ở chỗ nào? Ôi! Bạn chẳng thể nào ngay lập tức tìm được cái tâm này. 

Tâm là một thứ vô hình, bản thân nó là một thứ vô hình. Muốn tìm tâm đều không tìm được, vậy bạn làm sao mà tu tâm chứ? Cho nên Mật giáo có một thứ rất hay, đó là chuyên chú vào khí. Mật giáo có một lý luận thế nào nhỉ? “Tâm khí nhất như”, điểm này rất đặc biệt.

Bạn biết bạn tu khí chính là đang tu tâm. Tôi lấy một ví dụ để nói, chúng ta thường nói tâm bình khí hòa, khi tâm bạn rất bình lặng thì cũng chính là khí của bạn đang rất ôn hòa. Tâm và khí là hợp lại, vốn dĩ chính là một. Người tu Mật giáo là biết rõ về “tâm khí nhất như” nhất. Bạn điều hòa khí chính là đang điều hòa tâm mình, thật ra khi bạn tu khí chính là đang tu tâm của bạn.

Lấy một ví dụ về mặt trời và ánh nắng mặt trời, mặt trời là mặt trời, ánh sáng là ánh sáng, hai thứ này nhìn có vẻ không phải là một thứ giống nhau. Nhưng thật ra không có mặt trời thì làm gì có ánh sáng? Sẽ chẳng thể có ánh sáng nữa. Không có ánh sáng mặt trời, vậy mặt trời có còn tồn tại không? Căn bản là không có mặt trời. Cho nên mặt trời và ánh nắng mặt trời vốn dĩ là một, là một thứ thôi. 

Bây giờ tâm và khí cũng giống như vậy, bởi vì tâm của bạn mà động thì khí sẽ động, khí mà động thì tâm sẽ động, cái này chính là tâm khí nhất như. Bạn biết đấy, tay của Sư Tôn đang cử động như thế này, đây là cái gì đang động? Đây là ý niệm của bạn, bộ não của bạn đang động,  

Vậy thì vì sao tay lại động? Đó là khí của bạn chạy đến tay thì tay mới động. Cho nên nói đúng ra thì khí là ngoại hình của tâm, chính là ánh nắng mặt trời. Tâm chính là ý niệm của bạn, ý niệm của bạn động thì ánh mặt trời của bạn, tức là khí của bạn sẽ động. 

Cho nên hành giả Mật giáo chúng ta khi điều hòa hô hấp, khi hoàn toàn chuyên chú vào khí thì chính là đang tu tâm của bạn đó. Vì thế bạn đang tu khí chính là đang tu ý, cũng tức là đang tu cái tâm của chính bạn.

Bạn xem bình thường chúng ta ngồi thiền hít thở, hơi thở cực kì mảnh, cực kì chậm, cực kì dài, tức là phải biến khí của thân thể bạn thành khí có trí huệ. Vậy thì loại khí trí huệ này sẽ biến thành tâm trí huệ. Khí của bạn có thể tu được định rồi thì tâm sẽ định.

Một khi cái tâm này chuyên chú rồi, khi tâm rất mảnh rồi, rất chuyên chú rồi, thì thể ánh sáng sẽ xuất hiện, Phật tính mới có thể xuất hiện, trọng điểm nằm ở đây. Tâm bạn rất thô thì khí sẽ thô. Khí rất nóng nảy thì tâm bạn chắc chắn sẽ nóng nảy. Tâm động rất ghê gớm thì khí sẽ động rất ghê gớm. Nếu khí chạy lung tung thì tâm cũng không tĩnh lại được.

Cho nên khi một người tức giận, tâm của họ ở đâu? Tâm của họ nhất định là đang nhảy tưng tưng, nhảy tưng tưng không dừng được, nhất định là anh ta sẽ giận như điên. Cho nên, bạn muốn gìn giữ tâm rất an tịnh, rất tĩnh lặng, thì khí của bạn cũng sẽ bình lặng và thư thái, bình lặng và thư thái nghĩa là tĩnh lặng xuống, lúc này thể ánh sáng, Phật tính của bạn mới có thể xuất hiện.

Sư Tôn tu hành làm quán tưởng, định tâm xuống để làm quán tưởng, quán tưởng chính mình thành không, quán tưởng trung mạch ra, quán tưởng nội hỏa của đan điền ra. Sau đó dùng hơi thở nhỏ, mảnh, chậm, dài để nuôi dưỡng lửa đan điền này. Việc bồi thêm lửa này chính là thủ đan. Dần dần, cái đan này vì liên hệ với hơi thở, cho nên nó cực kì ổn định, quán tưởng rất tĩnh, vận chuyển cái đan này lên lỗ đỉnh đầu, ở trong hư không cùng với ánh sáng của Phật Bồ Tát của hư không hợp lại cùng nhau.

Công phu này gọi là thổ nạp. Thổ nạp là cái gì? Chính là thổ khí, nạp khí, chính là giữ khí, sau đó dùng khối khí này để tu nội hỏa chân chính của bạn. Dùng khối khí này để giữ chắc cái tâm của bạn, chính là đang tu tâm đó! Công phu chuyên chú này, bạn có thể rất chuyên chú quán tưởng trung mạch, quán tưởng lửa của đan điền này, chuyên chú vào việc này, thì việc hít thở của bạn sẽ rất chuyên chú.

Vậy bạn chuyên chú vào hô hấp, chuyên chú vào lửa đan điền, có thể duy trì lâu dài mà tu như vậy thì chính là đang tu tâm. Đừng cho rằng bạn đang tu khí, bởi vì tâm khí là hợp nhất, trong Mật giáo nói rất rõ ràng, tâm khí là hợp nhất, lúc này bạn chính là đang tu tâm. Tâm của bạn hoàn toàn có thể định xuống, Phật tính mới có thể xuất hiện. Cho nên Hiển giáo nói tu tâm thật ra là tu tâm hướng khí, vô hình trung khí cũng được điều hòa tốt. Mật giáo nói tu khí, thật ra là tu khí hướng tâm đó. Vô hình trung, tâm cũng được điều hòa tốt.

Bởi vì tâm và khí là hợp nhất, không thể phân tách, giống như mặt trời và ánh nắng mặt trời vậy. Hôm nay Mật giáo chúng ta tu khí, mạch, minh điểm chính là công phu này, cũng là công phu tu tâm. 

Hôm nay giảng đến đây thôi. Om mani padme hum.

21/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 072. Nhậm vận (1)

Hôm nay chúng ta thảo luận một chút về hai chữ “nhậm vận”. Trong Mật giáo thường xuyên nhắc tới hai chữ “nhậm vận”, hai chữ này có tác dụng về mặt lý luận và cả thực tế. Về mặt lý luận có thể nói đây cũng xem là một triết học của cuộc đời chúng ta. Bản thân tôi cảm thấy hai chữ này rất giống quan điểm triết học của tôi.

Xưa kia ở Tây Tạng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ xây dựng ngôi chùa đầu tiên của Mật tông chính là chùa Nhậm Vận, tên tiếng Phạn là chùa Samye, có ý nghĩa là nhậm vận. Thế nào gọi là nhậm vận? Vì sao nó lại là triết học của cuộc đời? Tôi cho rằng nhậm vận là rất gần với tự nhiên, người học Phật chúng ta thường nói một câu là “mỗi ngày đều là ngày đẹp”, mỗi ngày đều là ngày tốt. Pháp sư trước kia cũng nói ngày nào cũng là ngày đẹp, bản thân tôi cũng cảm thấy như vậy, đây là quan điểm của chính tôi.

Ví dụ mùa xuân, bạn có thể thấy trăm hoa, trăm hoa đua nở đẹp vô cùng. Thế còn mùa hè thì có thể ra biển đi bơi, đều rất thích. Mùa thu thì sao? Bạn có thể đi xem lá phong, lá phong rất đẹp đó, hơn nữa, gió thu mưa thu tuy là khiến con người cảm thấy âu sầu, nhưng bạn có thể làm thơ mà! “Gió thu mưa thu buồn chết mất”, mùa thu tuy là rất thê lương, nhưng cũng có một mỹ cảm, cho nên cũng là rất hay.

Thế còn mùa đông thì sao? Tôi tự nói về chính mình, mùa đông có thể quây lò đốt lửa sưởi ấm, có thể làm *barbeque <span className="note-blue">[ăn món nướng ngoài trời]</span>,* có thể ăn lẩu, đốt lửa nói chuyện cả đêm, bạn có thể nói chuyện trên trời dưới đất. Bên ngoài tuy là gió lạnh thấu xương, tuyết rơi dày đặc, nhưng đốt lửa sưởi ấm tán gẫu chuyện thường ngày cũng là một sự hưởng thụ rất ấm áp, cái này chính là “mỗi ngày đều là ngày đẹp”. 

Tôi cho rằng bạn có thể dùng một góc độ khác để phù hợp với bất kì một ngày nào, như vậy chính là “nhậm vận”, về mặt lý luận thì là như vậy. Về việc người, rất nhiều người cho rằng những mối bất hòa về tình cảm thường sẽ gây ra phiền não. Việc người cũng thế, mà việc tình cảm cũng thế, sẽ đều có rất nhiều phiền não. Rất nhiều đệ tử đến hỏi việc đều là các vấn đề về mặt tình cảm, vấn đề về hôn nhân. Tôi cảm thấy tất cả đều tốt.

Quan điểm của tôi là thế nào? Thứ nhất, giả sử có bạn gái, chà! Rất tốt, thật ngọt ngào và ấm áp, cảm thấy sống trong tình cảm giữa hai người là một trạng thái vô cùng đẹp đẽ và mơn man như có gió thổi qua, vô cùng dễ chịu, rất tốt.

Giả sử là tạm xa nhau thì sao? Người bạn gái kia rời đi rồi, không hề gì! Tiểu biệt thắng tân hôn mà! <span className="note-blue">[Tạm thời xa cách sẽ làm tình cảm thêm nồng thắm.]</span> Xa nhau một thời gian sau đó quay trở lại, cảm thấy… chà! Lại có thêm hương vị mới mẻ, bạn biết là cảm giác mới mẻ đó rất khác. Cho nên là tiểu biệt thắng tân hôn, đây là cách so sánh của tôi thôi, không phải là tôi thật sự như vậy. Ở đây tôi nói về tình cảm giữa nam và nữ. 

Giả sử người bạn gái này chia tay rồi, cô ấy “đá” bạn rồi thì sao? Bạn cần phải nghĩ thế này, “người cũ không đi, người mới sẽ không đến”. Người ta thấy bên cạnh bạn lúc nào cũng có một người bạn gái thì ai muốn đến chứ? Chính là khi bạn không có ai thì người mới mới đến, cho nên đều tốt cả.

Bạn đừng cho rằng cái gì cũng sẽ có phiền não, đừng nghĩ như vậy. Cho nên gọi là nhậm vận, cái này chính là công phu nhậm vận. Bất kì sự việc gì, về mặt triết học của tu hành mà nói thì đều tốt cả.

Đôi khi Sư Tôn nghĩ: “Mật pháp của tôi tốt như vậy, vì sao bạn không theo tôi học chứ? Trước kia bạn theo tôi học, vì sao bây giờ bạn lại muốn bỏ tôi mà đi chứ?” Thế rồi tôi ngẫm nghĩ lại, tôi có thể nghĩ thế này: “Bởi vì khoản mà người ta nợ anh đã trả xong rồi, người ta cúng dường anh, cúng dường đã mấy năm rồi, đã đến lúc người ta rời khỏi Chân Phật Tông rồi.” Phúc báo của Sư Tôn với người ta có hạn, cúng dường của họ đến bây giờ đã kết thúc rồi. Thế nhưng tôi vẫn phải cảm tạ người ta đã cúng dường tôi mấy năm! Có điều cũng tương tự như trên, nếu người cũ không đi thì người mới cũng sẽ không đến!

Mỗi một đệ tử Chân Phật Tông chỉ cần một người rời đi thì sẽ có một trăm người khác đến, sẽ có một trăm đệ tử mới đến, cho nên thực tế là có tăng không giảm. Giả sử có một ngày Chân Phật Tông “sập tiệm”, là bởi vì việc làm ăn không phát đạt lắm, người đến nhiều mà không phục vụ nổi cho nên “sập tiệm”. Ví dụ trung tâm hồi đáp thư tín của chúng ta vì sao có thể sập tiệm? À! Hiện tại vẫn chưa sập tiệm, nhưng mà thư từ thật sự là quá nhiều, xử lý không kịp, đệ tử nhiều quá rồi.

Giống như hôm nay, chỉ riêng một phân đường đã quy y gần 200 người, bạn viết chứng thư quy y cũng không kịp viết, mà mới chỉ là một phân đường thôi đó! Cho nên cần như thế này, bạn phải luôn nghĩ về điều tốt, bất kì sự việc gì đều phải nghĩ về điều tốt.

Trước kia có một so sánh “Tái ông mất ngựa, chắc gì đã không phải là phúc”, mất đi con ngựa không nhất định không phải là cái phúc, nó lại đưa về một con ngựa khác. Đưa về một con ngựa khác không nhất định đã là cái phúc, bởi vì con ngựa đã làm gãy chân người ta. Người bị ngã gãy chân cũng không thể nói không phải là cái phúc, bởi vì không phải đi lính, chân bị gãy rồi thì không phải đi lính. Những người dân trong làng đi lính đều chết rồi, chỉ có một mình người này là không chết, cho nên cái phúc này cũng rất khó nói.

Công phu nhậm vận của hành giả chúng ta nói rằng, bạn có thể nghĩ về mặt tốt, thậm chí mở lòng rất thoáng, tâm bình thản, không vương vấn chút gì, lúc này ánh sáng mới có thể hiển hiện. Bạn không thể lúc nào cũng để phiền não ở trong lòng bạn được, mọi thứ đều tốt đẹp, đây chính là triết học cuộc sống của hành giả.

Om mani padme hum.

22/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 073. Nhậm vận (2)

Chúng ta lại nói về hai chữ “nhậm vận”. Tôi đã nói rằng nhậm vận tức là rất tự nhiên mà vậy, trong triết học của Lão Tử cũng từng nói về hai chữ “tự nhiên”. Vô vi mà làm chính là tự nhiên, làm không vì điều gì cả chính là nhậm vận. Khi một người tu hành đạt đến cảnh giới rất cao, có thể nói người đó hoàn toàn là một hóa thân ánh sáng, bất kì việc gì xảy đến đều như mây khói thoảng qua, chớp mắt một cái là trôi qua, giống như trăng thanh gió mát, giống như một cơn gió mát, trăng sáng chiếu rọi khắp nơi.

Tấm lòng bình thản thênh thang này chính là tấm lòng mà một hành giả nên có, không có phiền não gì, cũng không có việc gì, cũng không có suy nghĩ trù tính gì, không có bụng dạ gì, rất khoan khoái nhẹ nhàng như trăng thanh gió mát, rất trong sáng, rất khoáng đạt, cảnh giới này chính là một cảnh giới nhậm vận chân chính.

Người tu Mật pháp chúng ta cũng có thể tu nhậm vận, nhậm vận của Mật pháp cũng rất tự nhiên là thế. Chúng ta chỉ là tu một chút pháp, có rất nhiều sự việc chúng ta có thể chuyển biến, nhậm vận cũng có thể xem là một dạng biến hóa, một dạng biến hóa tự nhiên là thế. Bạn theo tôi học thì sẽ có rất nhiều Mật pháp có thể khiến cho bạn chuyển biến vận mệnh của chính mình, chính bạn có thể trở nên nhậm vận.

Ví dụ bạn muốn tiêu tai, loại bỏ những tai nạn, không cần phải đi thỉnh giáo người khác, tự mình có thể thỉnh Phật tới ngồi trên đỉnh đầu bạn, Phật thả xuống cam lộ giống như mưa, tất cả đều đi vào trong thân thể bạn làm cho bạn thanh tịnh, giống như nước rơi xuống rất mát mẻ. Nghiệp đen của toàn thân bạn sẽ từ các lỗ chân lông chảy ra, bạn chảy hết nghiệp chướng màu đen, những tai nạn của bạn sẽ đều bị loại bỏ. Cho nên, khi bạn loại bỏ được những tai nạn rồi, bạn có thể dùng Phật pháp để tu, rất đơn giản.

Bạn nói tôi làm kinh doanh không tốt, thiếu tiền, tôi hy vọng gia tăng của cải của tôi, gia tăng phúc báo của tôi. Bạn theo Sư Tôn học pháp, bạn có thể quán tưởng chuột nhả tài bảo há miệng ra, thế là có ngay một xấp tiền giấy loại 100 đô la Mỹ. Tiền giấy hiện nay được in cực kì đẹp, sẽ biến hóa thành những tờ tiền màu sắc đó, không chỉ là một xấp mà biến thành một hàng, một mặt, một khối luôn. Một điểm, một hàng, một mặt, một không gian đều có cả, biến thành thế giới ba chiều, thế giới bốn chiều, cả một đống. Két sắt của bạn sẽ không chứa được hết đâu.

Chuột nhả tài bảo há miệng ra! Mọi thứ đều có. Bạn trì thêm chú ngữ, bạn sẽ trở thành rất giàu có. Đây là pháp tu hành tăng ích. Cái này chính là nhậm vận, có thể chuyển biến. Bạn có tai nạn, bạn hãy dẹp yên tai nạn, bạn thiếu phúc báo thì hãy gia tăng phúc báo của bạn. Việc tu hành này có thể giúp bạn đạt được, bạn không tu thì đáng tiếc lắm. 100 đô la Mỹ đó! Chất cao như núi luôn, phúc báo này sẽ gia tăng, đây chính là pháp tăng ích. 

Đối với pháp kính ái, chúng ta cũng có phương pháp tu. Bạn bảo chuyện tình của bạn không thể viên mãn, bạn gái thì từ đầu tới cuối cứ lúc gần lúc xa, giống như là vừa muốn đến vừa muốn đi, cũng không thể mãi mãi cùng với bạn xây dựng một gia đình Phật tử. Không hề gì! Chúng ta có pháp kính ái, bạn có thể kéo dài cái mũi ra. Không phải là Kurama Tengu của Nhật Bản đâu, cái mũi của Kurama Tengu của Nhật rất dài. <span className="note-blue">[Kurama Tengu là thần Thiên Cẩu trong văn hóa dân gian Nhật Bản với mặt đỏ, mày chau, mũi rất dài, là vị thần bảo hộ mang đến phước lành.]</span> Kéo dài cái mũi ra xem cô ấy ở bao xa, bạn đều có thể đến đó. Sau đó dùng cái mũi dài này để quấn lấy bạn gái, rồi kéo cô ấy vào trong lòng bạn, không thể kéo về gần quá, kéo đến trước mặt là được rồi, thế là cô ấy mãi mãi ở bên bạn, người khác không cướp đi được, đây chính là tu hành pháp kính ái. 

Chúng ta dùng ánh sáng đỏ chiếu đến cô ấy, chiếu đến bạn gái của bạn. Rõ ràng trông bạn cũng rất xoàng thôi, nhưng cô ấy vừa nhìn thấy bạn thì mắt sáng lên. Đây là pháp kính ái. Giả sử trên người bạn có ánh sáng đỏ chiếu đến bạn, người khác nhìn bạn, mắt họ sẽ đều sáng lên, đây cũng là pháp kính ái. Bạn muốn học pháp này thì cũng phải quy y Chân Phật Tông, phải tu Chân Phật Mật Pháp, đều sẽ được gia đình viên mãn, hơn nữa các mối quan hệ bạn bè của bạn cũng sẽ rất thuận lợi. Cấp trên của bạn cũng sẽ tăng lương cho bạn, pháp này đều có lợi ích cả.

Trong Mật pháp có pháp hàng phục, pháp hàng phục là gì? Là hàng phục đối phương. Tôi từng nói pháp hàng phục cũng là hàng phục tham sân si của chính mình, điều này cũng rất quan trọng. Và hàng phục đối phương cũng rất quan trọng. Đối phương từ đầu tới cuối đều có ý xấu với bạn, có kẻ tiểu nhân có âm mưu với bạn, pháp hàng phục sẽ làm thế nào? Pháp hàng phục là trong lúc tu pháp dùng mãnh lợi túc, dùng cái chân dũng mãnh để làm gì? Dùng mãnh lợi túc để giẫm đạp là xong. Dù sao khí thế của bạn cũng rất mạnh, họ sẽ sợ bạn, bạn sẽ có thể sai khiến họ, đây chính là một loại pháp hàng phục.

Trong Mật pháp có cái gọi là “tức tăng hoài tru”, tức chính là tiêu tai, tăng tức là tăng ích, hoài tức là kính ái, tru tức là hàng phục. Cho nên trong Mật giáo, về mặt sự nghiệp <span className="note-blue">[hành động]</span> thì có các pháp tức tăng hoài tru này. Những pháp này bạn có thể nhậm vận, nhậm vận tức là chỉ cần bắt tay vào làm, đi tu pháp, là bạn có thể chuyển biến vận mệnh, chuyển biến tất cả thành lý tưởng hơn. Vốn dĩ về mặt lý luận mà nói, cái tâm nhậm vận này là tự nhiên, làm không vì điều gì cả, là trăng thanh gió mát, nhưng về mặt làm pháp thì có pháp Mật giáo như vậy. Người muốn học thì phải quy y. 

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

22/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 074. Pháp Bổn tôn

Hôm nay tôi nói với mọi người một chút về pháp Bổn tôn. Thật ra pháp Bổn tôn trong Mật giáo là cực kì quan trọng, bởi vì có người hỏi có phải pháp Bổn tôn chỉ thuộc về phạm vi của Ngoại mật hay không, thật ra không chỉ là phạm vi của Ngoại mật. Trước đây tôi từng nói, pháp Bổn tôn là pháp mà mỗi một hành giả Mật giáo đều phải tu trì lâu dài, hơn nữa không thể từ bỏ Bổn tôn, điểm này vô cùng quan trọng.

Chúng ta biết rằng Ngoại mật tu pháp Bổn tôn là:  
Thứ nhất, quán tưởng Bổn tôn ở trong hư không. (Cha)  
Thứ hai, Bổn tôn di chuyển đến trên đỉnh đầu. (Hum)  
Thứ ba, tiến nhập vào trong tâm bạn. (Ban)  
Thứ tư, Bổn tôn phóng to lên, sau đó hoàn toàn hợp nhất với bạn. (Ho)

Và trạng thái hợp nhất chính là “bạn chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là bạn”. Giả sử trong quá trình tu pháp Bổn tôn, bạn và Bổn tôn hoàn toàn hợp nhất rồi, vậy thì công đức của Bổn tôn chính là công đức của bạn, pháp lực của Bổn tôn cũng chính là pháp lực của bạn. Thành tựu này là cực kì tuyệt vời.

Do đó, pháp Bổn tôn tuy là thành tựu của Mật giáo Ngoại pháp, nhưng cần phải nói rằng, tu pháp này tương ứng rồi thì chắc chắn có thể vãng sinh. Pháp này cao thâm hơn niệm Phật của Hiển giáo. Vì thế, bạn tương ứng với pháp Bổn tôn của Mật giáo rồi thì có thể vãng sinh. Tôi bảo đảm với bạn, và còn có cả Phật Bồ Tát mười phương đều có thể bảo đảm với bạn điều này. 

Bởi vì trong quá trình bạn tu trì pháp Bổn tôn của Mật giáo, bạn đã phải thâm nhập hơn pháp môn niệm Phật thông thường. Pháp môn niệm Phật đã có thể vãng sinh, cho nên pháp Bổn tôn của Mật giáo mà bạn tu tương ứng rồi thì cũng chắc chắn có thể vãng sinh, điều này có thể bảo đảm.

Trong Nội mật mà nói, cho rằng không cần pháp Bổn tôn, đó cũng là một sai lầm. Quá trình chủ yếu nhất của Nội mật là như thế này:  
Giai đoạn thứ nhất, chủ yếu là khi mới bắt đầu thì dùng khí để thổi chuyết hỏa.  
Giai đoạn thứ hai, dùng chuyết hỏa để luyện minh điểm.  
Giai đoạn thứ ba, minh điểm chuyển hóa thành thần thức, cũng tức là minh điểm chuyển hóa thành thần thức ánh sáng.  
Giai đoạn thứ tư, chính mình từ minh điểm biến hóa thành Bổn tôn, thần biến hóa thành Bổn tôn, hoặc là do minh điểm đưa đến tịnh thổ của Bổn tôn, trực tiếp đi qua trung mạch đưa đến tịnh thổ của Bổn tôn. 

Về mặt tu pháp sẽ có việc này. Cho nên, do khí thổi ra chuyết hỏa, sau khi chuyết hỏa đi lên thì luyện minh điểm, minh điểm chuyển hóa thành thần thức ánh sáng, sau đó do thần thức ánh sáng trực tiếp thần biến thành Bổn tôn hoặc đưa đến tịnh thổ của Bổn tôn.

Cho nên đừng thấy Mật giáo nói Ngoại mật, nói Nội mật, đều cần có Bổn tôn, vì thế trong tu hành Mật giáo, pháp Bổn tôn là vô cùng quan trọng, điều này trong kinh Đại Nhật đều có nói. Trong kinh Đại Nhật từng nói đến một vị hoặc hai vị, thậm chí vô số vị đều đi vào trong thân của hành giả, toàn bộ đều đi vào bên trong thân thể của bạn. Hành giả và các vị hợp thành một, không có phân biệt, đây chính là nguyên lý của pháp Bổn tôn, cũng chính là nguyên lý thần biến của pháp Bổn tôn.

Chúng ta biết rằng trong Mật giáo pháp Bổn tôn vô cùng quan trọng, bất kể bạn tu Ngoại mật hay Nội mật đều cần Bổn tôn. Mật giáo có ba căn bản, Bổn tôn chính là một căn bản, Thượng sư là một căn bản, Hộ pháp là một căn bản, đây là ba căn bản của Mật giáo, tuyệt đối không thể quên mất ba căn bản.

Và sau khi bạn thành tựu pháp Bổn tôn, công lực của Bổn tôn của chính bạn sẽ sản sinh ra, hơn nữa còn phải triệu thỉnh tất cả quyến thuộc của Bổn tôn. Giả sử bạn tu Bổn tôn A Di Đà Phật, vậy thì Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát cũng có nhân duyên rất sâu với bạn. Lấy A Di Đà Phật là Bổn tôn, bạn biết A Di Đà Phật chính là “tự tính luân”. Còn “chính pháp luân” chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, “giáo lệnh luân” chính là Đại Uy Đức Kim Cang.

Vì thế hôm nay Bổn tôn của tôi là A Di Đà Phật, trước kia tôi cho rằng Hộ pháp của tôi là Bất Động Minh Vương, kết quả là tôi tu Bất Động Minh Vương, Bất Động Minh Vương mãi không đến. Cuối cùng, Đại Uy Đức Kim Cang không thỉnh mà tự đến. Tôi chẳng qua chỉ treo bức thangka Đại Uy Đức Kim Cang lên thôi. Vừa treo thangka lên thì Đại Uy Đức Kim Cang liền đến. Có thể nói Đại Uy Đức Kim Cang là biến hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, cũng chính là giáo lệnh luân của A Di Đà Phật. Vì lý do này, có những nhân duyên này mà Đại Uy Đức Kim Cang đã trở thành Hộ pháp của tôi.

Sau khi bạn tu trì tương ứng rồi, khi bạn lặng im tưởng niệm, Đại Uy Đức Kim Cang sẽ hiển hiện. Bạn lấy A Di Đà Phật làm Bổn tôn thì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Uy Đức Kim Cang tương lai sẽ có nhân duyên cực kì sâu với bạn. Bạn tu hành pháp Bổn tôn có thành tựu rồi, lúc nào cũng có thể cảm thấy được sự tồn tại của ngài, ngài ở cùng bạn, hợp làm một với bạn. Lúc nào bạn cũng có thể dùng công đức của Di Đà, công đức của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, công đức của Đại Uy Đức Kim Cang để phát huy pháp lực độ chúng sinh của mình. Điểm này chính là tầm quan trọng của pháp Bổn tôn, có thể nói là cực kì rõ ràng. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

23/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 075. Pháp Đoạt xá

Có người hỏi: “Hoạt Phật Tây Tạng chuyển thế rốt cục là thế nào?” Vấn đề Hoạt Phật chuyển thế này rất lớn. Rốt cục là trên người hành giả sẽ xảy ra chuyện gì? Đây là trọng điểm mà chúng ta nói đến ngày hôm nay. Bởi vì Hoạt Phật Tây Tạng nhận định rằng có một quy tắc, nhưng mà hôm nay chúng ta muốn nói đến phương pháp tu hành của Hoạt Phật chuyển thế.

Hoạt Phật nhất định phải có công lực, ông ấy biết bản thân muốn chuyển thế đến nơi nào, là “tự mình muốn” chứ không phải là “biết”, đây chính là tự chủ sinh tử. Khi tự chủ sinh tử, tôi muốn chuyển thế đến nơi nào, chuyển đến thân của người nào, đây là một trọng điểm, Hoạt Phật chuyển thế như vậy mới là Hoạt Phật Tây Tạng.

Khi ông ấy còn sống, ông ấy đã biết mình muốn chuyển thế đến nơi nào, chuyển thế đến thân của người nào. Vậy thì phương pháp này tu thế nào? Tôi nói để mọi người biết, bạn tu pháp Minh điểm là được rồi. Chẳng phải tôi đã nói với mọi người là dùng khí thổi chuyết hỏa, chuyết hỏa đi hòa tan minh điểm, minh điểm hóa thành ánh sáng, hóa thành thần thức, đem thần thức này đi, đem đi tới đâu? Đem tới trên người của người phụ nữ kia. Người phụ nữ đó mang thai, sau đó bạn trực tiếp đưa thần thức này vào trong bụng của cô ấy, đứa bé sinh ra chính là bạn, đây chính là chuyển thế. 

Vậy thì cái thần thức này chuyển thế nào? Ở đây rất huyền bí. Tôi nói để mọi người biết, phương pháp này gọi là pháp Đoạt xá, đoạt tức là đi vào, xá tức là ngôi nhà. Chúng ta gọi em bé trong bụng của người mẹ chính là cái nhà, chính là nhà của thần thức đó, thần thức đi vào trong cái nhà này ở trong đó gọi là pháp Đoạt xá.

Hoạt Phật Tây Tạng chân chính phải hiểu về pháp Đoạt xá. Trước tiên phải thu thần thức bên trong thân thể mình lại, nói cách khác là tập trung thần thức từ cốt nhục bên trong thân thể lại, biến thành một cái thần thức, tức là minh điểm tập trung lại. Sau đó phóng thần thức vào trong huyết dịch của chính mình, tức là tiến vào nước. Sau khi tuần hoàn thì thần thức sẽ đi vào bên trong lửa chuyển hóa thành nhiệt độ, biến thành lửa. Sau đó thần thức đi vào bên trong khí thì là gió, đi vào bên trong gió, tức là bên trong hơi thở của bạn. Sau đó thần thức đi ra từ trung mạch rồi tiến vào “không”.

Khi thần thức tiến vào “không”, phải ngắm chuẩn phương hướng, phải ngắm chuẩn vào em bé ở bên trong bụng người phụ nữ mà bạn sẽ đầu thai đó, sau khi tiến vào rồi thì bạn ở bên trong đó đợi đến lúc sinh ra. Trên di chúc mà bạn để lại ở kiếp trước sẽ viết là: Tôi sẽ sinh ra ở ngôi làng nào, ở trong gia đình họ tên là gì, khi sinh ra có đặc trưng gì, ngôi nhà đó có đặc trưng gì, gia đình có đặc trưng gì. Hoạt Phật Tây Tạng chuyển thế là đi chuyển thế như vậy.

Và họ phải vận dụng pháp mà tôi vừa mới nói, là tu pháp Minh điểm. Khí, chuyết hỏa, minh điểm, sau đó minh điểm hóa thành thần thức, thần thức quy về đất, sau đó lại tiến vào nước, rồi tiến vào lửa, rồi tiến vào gió, cuối cùng tiến vào hư không giới, từ hư không giới lại đầu thai, phương pháp đoạt xá này phải huấn luyện bí mật.

Tôi có pháp Đoạt xá. Pháp Đoạt xá đòi hỏi phải nhận ra màu sắc, chuyển thế như thế nào phải đi nhận ra được màu sắc đó, như vậy mới có thể thật sự đắc được chuyển thế. Đây là Hoạt Phật Tây Tạng mật truyền, bí mật truyền thụ, nếu bạn không có được pháp này, bạn không thể tự chủ sinh tử, bạn có pháp này mới có thể tự chủ sinh tử.

Cho nên người tu hành chúng ta khi đến một cảnh giới rất cao thì đã có thể tự chủ sinh tử. Cái gọi là tự chủ sinh tử là nói rằng tôi muốn sinh ra ở đâu thì có thể sinh ra ở đó. Hôm nay tôi muốn chuyển thế thành Hoạt Phật Tây Tạng thì tôi có thể chuyển thế. Hôm nay tôi muốn đến tịnh thổ của A Di Đà Phật thì tôi có thể đến tịnh thổ của A Di Đà Phật. Muốn đến tịnh thổ Đông phương Lưu Ly thì tôi sẽ đến được tịnh thổ Đông phương Lưu Ly. Muốn đến tịnh thổ Di Lặc thì tôi sẽ đến được tịnh thổ Di Lặc.

Bạn có thể tự mình quyết định cái chết của chính mình thì gọi là tự chủ sinh tử. Hôm nay bạn không thể tự chủ sinh tử thì hoàn toàn rơi vào trong tay của Diêm La Vương. Hôm nay khi bạn chết bạn rất sợ hãi, không biết sẽ đi về đâu, vậy thì làm gì có tự chủ sinh tử, ngay cả bạn cũng không biết mình sẽ đi về đâu, sao có thể tự chủ sinh tử chứ?

Con người khi chết sẽ sinh ra tâm lý sợ hãi, bởi vì họ không cách nào tự chủ sinh tử được. Hôm nay tôi không hề sợ chết, có gì đáng phải sợ chứ? Ai sợ gì ai, con rùa sợ cái búa, ai sợ ai chứ? Không cần phải sợ, vì sao? Bởi vì bản thân bạn biết phải đi đường thế nào, bạn muốn đi tới nơi nào bạn có thể tự mình làm chủ, vậy thì bạn không cần sợ hãi. Mỉm cười ra đi, cảm giác vô cùng tốt đẹp, rất thoải mái, một cái chết rất sảng khoái, rất vui vẻ, rất vi diệu, rất dễ chịu.

Đây cũng là một trong mười danh hiệu của Phật, gọi là Thiện Thệ. Con người phải tu hành được như vậy mới xem là thành tựu. Bạn không thể tự chủ sinh tử, khi đối mặt với cái chết còn sợ muốn chết, không biết sẽ đi về đâu, liệu có phải chịu hình phạt không, nghiệp chướng liệu có xuất hiện không, liệu có rất nhiều ma quỷ đến bắt bạn không? Bạn ở đó lo sợ muốn chết, lấy đâu ra tự chủ sinh tử?

Hoạt Phật Tây Tạng chuyển thế ngày nay chính là có thể tự chủ sinh tử. Hôm nay mọi người tu cho giỏi, sau này mỗi người, mỗi Thượng sư, pháp sư đều là các Rinpoche chuyển thế, đều là Hoạt Phật. Sư Tôn là Đại Hoạt Phật, các bạn là Tiểu Hoạt Phật, các bạn là *Little Rinpoche*, tôi là *Big Rinpoche*, tôi là *Big Light* *<span className="note-blue">[ánh sáng lớn]</span>*, các bạn là *Small Light* *<span className="note-blue">[ánh sáng nhỏ]</span>*. Đại quang và Tiểu quang, đây chính là tự chủ sinh tử. Tu hành nhất định là như vậy mới xem là thành tựu, nếu không thể tự chủ sinh tử thì đều không xem là Hoạt Phật. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

23/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 076. Pháp Tứ gia hành (1)

Hôm nay tôi nói với mọi người về pháp Tứ gia hành. Rất nhiều đệ tử khi mới quy y thường xuyên hỏi Lư Sư Tôn: “Chúng tôi vừa mới quy y, vậy thì nên tu pháp gì đây?” Tôi liền trả lời rằng: “Cần tu pháp Tứ gia hành.”

Có rất nhiều đệ tử thường cho rằng pháp Tứ gia hành là pháp cơ sở nhất, họ không muốn tu pháp cơ sở. Họ nói: “Không thể bắt đầu một cái là tu pháp cao nhất được à?” Tốt nhất là ngay từ đầu Sư Tôn truyền cho họ pháp Đại viên mãn, hoặc là pháp Đại Nhật Như Lai. Họ cho rằng Đại Nhật Như Lai là cao nhất rồi, hoặc là họ muốn học pháp Đại viên mãn cơ! Chính là pháp cao nhất của Mật giáo, truyền cho họ ngay lần đầu tiên, tốt nhất là sau vài ngày đã thành tựu rồi, mọi người đều như vậy. Rất ít người nói rằng: “Tôi nên tu từ pháp cơ sở nhất rồi từ từ cứ thế đi tới thành tựu.”

Tôi cho rằng Mật giáo cũng giống như chúng ta đi học vậy, vẫn phải bắt đầu từ lớp mẫu giáo, sau đó là tiểu học, cấp hai, cấp ba, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu sinh, cần phải như vậy. Không có ai bắt đầu học một cái đã làm nghiên cứu sinh được, vừa bắt đầu đã học tiến sĩ rồi, người như thế là rất đặc biệt. Muốn tìm được thần đồng đặc biệt như vậy đương nhiên là có, nhưng suy cho cùng cũng là thiểu số. 

Bây giờ tôi cũng đang tìm, ngày nào tôi cũng tìm, tôi hy vọng Chân Phật Tông chúng ta sẽ xuất hiện một thần đồng. Tôi cũng đang tìm, người đó buộc phải có phúc báo rất lớn mới có thể xuất hiện một cái là thu hút được rất nhiều chúng sinh. Trí huệ của người đó rất cao, nói một hiểu mười, nói mười hiểu nghìn, hiểu vạn! Chà, thế thì người này đúng là nhân tài.

Nhưng mà bạn biết đấy, đệ tử Chân Phật Tông chúng ta rất nhiều đều chỉ biết một mà không biết mười, điều này rất phiền phức. Khổng Tử từng nói một câu, có một loại người không thể dạy, “người chỉ biết một mà không biết mười, không thể dạy”. Có nghĩa là gì? Ví dụ Khổng Tử nói với đệ tử: “Này! Chỗ anh để cái chuông kim cang bị bẩn rồi, anh hãy lau đi!” Anh ta liền cầm miếng vải lau chỗ đó một lúc, anh ta không biết rằng bên này cũng phải lau, bên kia cũng phải lau, bởi vì cái bàn có bốn góc mà. 

Những người mà chỉ biết một góc và không biết những góc khác thì không thể dạy, đây là điều Khổng Tử nói. Cho nên phải học một biết mười, tức là bảo bạn lau chỗ bẩn đó thì bạn phải lau toàn bộ cái bàn, đây gọi là từ một mà suy ra ba. Bởi vậy Khổng Tử cũng hy vọng trong số các đệ tử của mình có nhân tài biết như vậy, đều phải biết cần làm như thế nào.

Nhân tài này phải có trí huệ rất cao, có phúc báo rất lớn, là nhân tài đốn ngộ chân chính. Nhưng mà rốt cục chúng sinh của thế giới Ta Bà này đều cần phải tiệm ngộ thì sẽ tốt hơn, bắt đầu dần dần từ cơ sở. Mật giáo cũng như thế, bắt đầu từ cơ sở cho đến đại pháp sâu nhất, cao nhất.

Tôi cảm thấy bản thân tôi cũng không phải là rất thông minh, mà là rất dốt, tôi tu pháp cũng là bắt đầu từ cơ sở. Pháp Tứ gia hành vô cùng quan trọng, mỗi một đệ tử quán đảnh quy y nhập môn trước tiên phải tu Tứ gia hành. Tứ gia hành này trong Mật giáo được gọi là Thứ tự sinh khởi.

Vậy thì Thứ tự sinh khởi làm cái gì? Ở đây có một so sánh. Ở trên đồng ruộng, chúng ta muốn cây sinh trưởng thì phải làm cái gì? Đầu tiên phải làm đất, phải xới lật đất lên, sau khi xới đất thì phải diệt cỏ, cỏ ở trên đất đều phải loại trừ hết, những loại cỏ rác không tốt đều phải loại trừ hết. Còn phải bón phân, phải lấy phân bón đem rải ra, như vậy tức là đã khiến cho thổ nhưỡng ban đầu không tốt trở thành thổ nhưỡng tốt rồi.

Vậy thì làm đất, xới đất, trừ cỏ, bón phân chính là công phu Tứ gia hành, so sánh này cực kì rõ ràng. Bạn không làm những việc này thì mảnh đất này không phải là đất tốt, sao có thể trồng được cây trái tốt chứ? Không thể nào. Vậy thì bạn xem pháp Tứ gia hành có quan trọng không?

Bởi thế lại nói rằng pháp Gia hành chính là nền móng của một tòa tháp. Bạn muốn xây một tòa tháp thì phải có cái móng tháp, bạn xây tháp không thể nào bắt đầu xây từ phía trên được, nhất định phải làm từ nền móng trước. Vì thế pháp Tứ gia hành là cơ sở của Mật giáo. Nhất định phải làm như vậy, phải làm vững chắc. Hiện nay Trung Quốc Đại Lục thường nói phải “đắp nền”, chính là phải rất vững chắc, rất chân thực, thiết thực, bạn làm tốt cái nền móng thì gọi là “đắp nền”. 

Pháp Tứ gia hành nói rằng khi bạn bắt đầu học Mật giáo, nhất định trước tiên phải luyện công phu này cho thật chắc chắn, sau đó cơ sở Mật giáo mà bạn xây dựng lên sẽ vô cùng vững chắc. Nếu bạn không làm vững chắc, cái tháp này sẽ nghiêng đổ, sẽ không kết được quả ngon, thổ nhưỡng xấu thì sẽ không thể trồng được quả ngon.

Rất nhiều đệ tử hỏi tôi nên tu cái gì trước? Tôi luôn nói là Tứ gia hành. Nhất định phải tu Tứ gia hành, bạn không thể một bước lên trời được. Mật giáo coi trọng thứ tự, đây chính là Thứ tự sinh khởi. Sau đó bạn tu đến Đại thủ ấn, Đại viên mãn, Đại viên thắng huệ, Đại uy đức, đây chính là Thứ tự viên mãn, đã viên mãn rồi.

Cái gọi là viên mãn tức là chấm dứt sinh tử, phương pháp mà bạn có thể chấm dứt sinh tử, phương pháp rất trực tiếp chấm dứt sinh tử gọi là Thứ tự viên mãn. Một so sánh chính là giống như bạn tốt nghiệp lấy bằng tiến sĩ, tiến sĩ này chính là Thứ tự viên mãn, việc học tập của bạn đã đạt đến cảnh giới viên mãn rồi. 

Hôm nay nói đến đây đã. Om mani padme hum.

26/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 077. Pháp Tứ gia hành (2)

Tôi lại nói với mọi người về pháp Tứ gia hành. Trong pháp Tứ gia hành của Mật giáo rốt cục là bao gồm cái gì? Nó bao gồm pháp Đại lễ bái, pháp Đại cúng dường, pháp Tứ quy y và pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Tu bốn pháp này tức là đang làm công phu Tứ gia hành.

Vì sao phải làm pháp Đại lễ bái? Quan trọng nhất của Đại lễ bái là muốn bạn kính lễ tất cả mười phương Phật, mười phương Pháp, mười phương Tăng, kính lễ Phật Bồ Tát trong hư không. Bạn phải thực tiễn thực hành đại lễ bái, có kiểu đại lễ bái toàn thân chạm đất, còn có kiểu lễ bái quỳ một nửa của Hiển giáo, còn có kiểu quán tưởng đại lễ bái của Chân Phật Tông chúng ta. Có rất nhiều phương pháp đại lễ bái.

Nhưng trên thực tế, pháp này có thể làm mềm dẻo thân thể bạn, khiến cho bạn trở nên vô cùng khỏe mạnh, khiến khí mạch của toàn thân bạn rung động. Còn có kiểu đại lễ bái toàn thân nằm hẳn xuống đất nữa. Chúng ta làm đại lễ bái này, mọi người cũng không được lười biếng, tốt nhất là bạn cũng đếm số lượng, tổng cộng cần phải làm mấy vạn biến, hoặc là mấy chục vạn biến, thậm chí là một trăm vạn biến đại lễ bái.

Việc này có thể bồi dưỡng thân thể bạn khỏe mạnh, rất có lợi đối với sự lưu thông của khí mạch, chẳng khác gì phương pháp vận động kiêm lạy Phật. Lạy Phật có thể bồi dưỡng tâm từ bi của bạn, khuất phục tâm ngạo mạn tự cao tự đại của bạn. Sau khi bạn lạy Phật, duyên của bạn và Phật sẽ tương đối gần gũi, đây cũng là một phương pháp rất tốt để kết duyên với Phật. Đó là pháp Đại lễ bái.

Pháp Đại cúng dường của Mật giáo chính là quán tưởng cúng dường, đem những thứ mà bạn yêu nhất, thích nhất ra để cúng dường Phật Bồ Tát. Dùng quán tưởng cúng dường chính là để huấn luyện sức quán tưởng của bạn, biến thứ này thành một hàng, biến thành một mặt phẳng, rồi lại biến thành một khối đầy ắp trong hư không. Làm quán tưởng cúng dường chính là đại cúng dường.

Cách cúng dường này trong Hiển giáo mà nói thì đương nhiên là hiếm, còn trong Mật giáo thì đều phải làm đại cúng dường, biểu thị cúng dường này là vô cùng vô tận, có thể khiến bạn có được phúc báo, phúc báo rất lớn. 

Chúng ta đem thứ mà mình thích nhất cúng dường Phật, cúng dường pháp, cúng dường tăng, cúng dường chúng sinh, chính là một dạng bố thí. Nhưng chúng ta làm đại cúng dường cũng phải đếm số lượng, bạn phải làm bao nhiêu biến đại cúng dường, mười vạn biến, trăm vạn biến, kiểu như vậy, tự bạn phải chăm chỉ tu tập. 

Tiếp theo là phải niệm chú Tứ quy y. Tứ quy y là làm gì? Chú Tứ quy y là biểu thị bạn và Phật, và pháp, và tăng, và Kim cương Thượng sư kết hợp chặt chẽ với nhau. Ý nghĩa của quy y là nương dựa, là nhờ cậy, là hợp nhất, cùng với Phật hợp nhất chính là ý nghĩa của quy y. Cho nên chúng ta thường xuyên cần niệm chú: “Na-mô gu-ru pây, na-mô pút-ta ya, na-mô ta-mô ya, na-mô sâng-kya ya.” Ý nghĩa chính là quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, đây gọi là chú Tứ quy y.

Khi bạn niệm chú Tứ quy y, tức là nói rằng bạn nương dựa vào Kim cương Thượng sư, Phật, pháp, tăng. Tăng ở đây là chỉ tăng Thánh hiền, quy y Thánh hiền. Bạn thường xuyên niệm chú này tức là biểu thị bạn và Phật pháp tăng kết duyên rất sâu sắc. Ngày ngày không quên, giờ giờ không quên đi nương dựa, đi nhờ cậy, đi hợp nhất chính là quy y. 

Cho nên bạn thường xuyên niệm chú quy y này cũng lấy cơ sở là làm mười vạn biến, trăm vạn biến. Tương lai bạn sẽ không rời xa Kim cương Thượng sư, rời xa Phật, rời xa pháp, rời xa tăng, vĩnh viễn ở cùng nhau, ý nghĩa chính là nằm ở đây. 

Bạn còn phải niệm rất nhiều chú ngữ khác nữa, chú ngữ của chúng ta đều rất có ý nghĩa, rất có pháp vị. Ví dụ Om Ah Hum cũng rất có ý nghĩa. Giả sử sau này bạn hiểu rõ ý nghĩa sâu nhất của chú ngữ này, bản thân bạn sẽ cảm thấy bạn đang niệm tâm của vũ trụ, tâm của toàn bộ ý thức vũ trụ. Nếu bạn niệm Om Ah Hum sẽ cảm thấy có một khối chân khí dội xuống đầu bạn, chú ngữ của Phật Bồ Tát đều là như vậy.

Vì thế phải niệm rất nhiều chú ngữ, phải niệm mười vạn biến, trăm vạn biến, chú ngữ của Bồ Tát có tương quan, chú ngữ của Thượng sư, chú ngữ của Bổn tôn bạn, tất cả đều phải niệm, điều này rất quan trọng, đều nằm trong phạm vi của gia hành.

Ngoài ra còn có Kim Cang Tâm Bồ Tát là làm gì? Bạn phải sám hối, những nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp của bạn trong đời quá khứ, đời hiện tại, đều phải loại bỏ hết sạch sẽ giống như diệt cỏ dại vậy. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là cảnh giới Không, tiêu trừ toàn bộ những ác nghiệp của quá khứ. Đây là một pháp sám hối rất tốt, tương đương với bạn đang làm sám hối. Bạn sám hối cái gì? Sám hối những nghiệp không tốt mà đời này bạn đã tạo ra, sám hối đời quá khứ, rất nhiều đời, mỗi đời đều sám hối hết, phải loại trừ sạch sẽ những cỏ dại không tốt này, biến thành một mảnh đất sạch sẽ. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát có tác dụng này, hơn nữa đây cũng là một pháp rất tốt.

Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát tương đương với khởi đầu tu pháp Mật giáo, có nghi quỹ hoàn chỉnh, còn bạn tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát cũng tương đương với làm sám hối. Thỉnh cầu Phật Bồ Tát ban cam lộ quán đỉnh, nghiệp chướng thân thể bạn được tiêu trừ, thật tốt làm sao! Đây là một pháp sám hối rất tốt, tương đương với việc diệt cỏ để biến thành một thổ nhưỡng sạch sẽ, tương lai bạn sẽ bắt đầu gieo hạt, bắt đầu thành cây, thành mầm, thành cành, thành lá, có được quả ngon, đây chính là Tứ gia hành.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum. 

26/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 078. Nói về thần thông (1)

Hôm nay chúng ta cần nói về thần thông. Chúng ta có thể nói về thần thông, chứ không phải là không được nói đến. Mật giáo còn được gọi là Thần thông tông, vì sao lại có hiện tượng thần thông? Bởi vì trong quá trình bạn tu Mật sẽ sinh ra một dạng sức mạnh, sự sinh ra pháp lực này chính là thần thông. 

Vì sao gọi là thần thông? Không thể nghĩ, không thể đoán, không thể dùng não của người bình thường để tưởng tượng được, không có cách nào đoán chừng được, sự biến hóa này, hiện tượng thần biến này đều có thể gọi là thần thông. Người học Mật đều biết, khi tinh thần tập trung lại sẽ sản sinh ra một loại sức mạnh, một loại pháp lực sẽ sản sinh ra, pháp lực này có thể có rất nhiều công dụng, thì gọi là sức mạnh của thần thông.

Chúng ta biết rằng có sáu thần thông. Với Phật mà nói thì Phật có sáu thần thông, vậy thì người bình thường vẫn chưa tu chứng thành Phật có thần thông không? Cũng có thể có thần thông. Từ đó kết luận rằng, chỉ cần bạn tu chứng, chứng minh rằng bạn là người khai ngộ, bạn nhất định sẽ có thần thông, nhưng người chưa khai ngộ trong quá trình tu pháp cũng có thể có thần thông. Điều này có thể nói rằng, người có thần thông không nhất định là người khai ngộ, nhưng người khai ngộ thì nhất định sẽ có thần thông. Đây là một kết luận về thần thông.

Vậy thì bản thân Lư Sư Tôn có thần thông không? Tạm thời là một dấu chấm hỏi. Thế nhưng trên thực tế, ở trong đại pháp hội tại sân bóng của chính phủ Hồng Kông, có một cháu bé đã ngồi xe lăn ba năm, khi ấy tôi nói rằng, buổi tối hôm nay sẽ làm cho người ngồi trên xe lăn đứng dậy được. Thế rồi cháu bé đã ba năm ngồi trên xe lăn đó không ngờ đã đứng dậy, khi ấy có rất nhiều phóng viên báo chí đều nhìn thấy.

Những phóng viên báo chí đó đều muốn phỏng vấn tôi, tôi nói với họ rằng pháp hội buổi tối ngày hôm nay có *power <span className="note-blue">[sức mạnh]</span>*, có pháp lực. Phóng viên đó liền nói với tôi: “Tôi đã thấy rồi, tôi thật sự nhìn thấy rồi, đúng là có *power*.” Bởi vì phóng viên đó ngồi ngay bên cạnh cháu bé ngồi trên xe lăn, cho nên anh ta cứ muốn phỏng vấn tôi.

Buổi tối hôm đó, một cháu bé người thân của Thượng sư Liên Mãn trên đầu có một cái nhọt được bế đến để tham gia pháp hội. Trên đầu có mọc một cái nhọt, cái nhọt tròn vo đó rất rõ ràng, ngày hôm sau, chưa cần tới mấy ngày, nó liền biến mất rồi, cái nhọt đó không còn nữa, hoàn toàn phẳng phiu. Buổi tối hôm đó chính là một pháp hội có *power*.

Nói một cách thẳng thừng ra thì đó là pháp hội thần thông. Bạn có thể đi tham dự một lần pháp hội thần thông kiểu này thì cực kì đó. Có người ngồi ở đó, vốn dĩ xương của họ bị cong vẹo, khi tham gia pháp hội, anh ta ngồi ở đó đột nhiên cảm thấy có một khối sức mạnh ùa tới, thế rồi xương cứ kêu khục khặc khục khặc, sau khi trở về thì xương hình chữ S này đã thẳng lại, thật sự là đã thẳng ra.

Tuy nhiên tôi nói rất thẳng thắn, pháp hội thần thông chữa bệnh giống như thế này rất khó gặp, vì pháp hội này mà tôi cũng nhịn ăn. Không phải là bản thân tôi không ăn, mà là Phật Bồ Tát bảo tôi không được ăn, thế là không thể ăn được. Liên tục mấy ngày liền tôi đều không thể ăn được, chỉ có uống nước ép dưa hấu. Đại pháp hội ở sân bóng chính phủ Hồng Kông đích thực là như vậy.

Bản thân tôi ba ngày ba đêm đều tu pháp, hơn nữa cả người tôi gần như ở trong trạng thái nửa hôn mê, bởi vì muốn phát huy sức mạnh của chính mình thì trước tiên chính mình phải tu rất nhiều pháp, phải cấm đoán chính mình, nghĩ cách để tinh thần phải thống nhất, phải lấy hết tất cả sức mạnh ra, vì thế mà sản sinh ra hiện tượng này.

Cho nên đại pháp hội lần đó thật sự rất kì diệu, rất nhiều sự tích cảm ứng, rất nhiều rất nhiều, đây chính là pháp hội thần thông, đây chính là thần thông. Còn có rất nhiều thần thông, các sự việc tương lai bạn đều có thể biết được, đây là một dạng năng lực của diệu quan sát. Bất kì sự việc gì bạn đều có thể thành tựu, trong lòng bạn nghĩ gì đều thành tựu. Trong lòng người khác nghĩ gì, bạn nhìn một cái là thấy ngay, những việc rất xa bạn cũng có thể nhìn thấy, âm thanh trong vũ trụ bạn đều nghe thấy, trong lòng người khác nghĩ gì bạn đều biết.

Quá khứ của bạn đều hiểu rõ hết, thậm chí bản thân bạn có thể thay hình đổi dạng đến một nơi khác. Mấy ngày trước tôi vừa đi đến một nơi khác, mấy ngày đó tôi trở về nói, tối hôm qua tôi đã tới đó đấy. Thế thì hay quá rồi. Không cần phải mua vé máy bay, thần túc là có thể đi rồi. Nhìn mọi thứ rất rõ ràng giống như nhìn lúc ban ngày vậy, ngay cả âm thanh mà người bên cạnh nói, bạn cũng đều nghe được họ đang nói cái gì. Bạn nói xem như vậy có rõ ràng hay không. Tôi nhìn thấy rõ cả quầy bán báo. Họ nói chuyện với tôi, tôi mua tờ báo của họ, đều cực kì rõ ràng, đây chính là thần túc thông.

Còn có lậu tận thông, thế nào gọi là lậu tận thông? Tất cả phiền não đều giải trừ, bạn không có phiền não gì, tất cả đều vô lậu rồi, bao gồm cả trí huệ của bạn cũng viên mãn, đây là Phật trí của Như Lai. Vô lậu, không có một khuyết điểm nào thì gọi là lậu tận thông, một chút phiền não đều không có, đều đã loại bỏ hết, trí huệ vô cùng viên mãn, hiện tượng tất cả đều vô lậu, thành tựu tất cả Phật quả viên mãn thì gọi là lậu tận thông. Có đầy đủ sáu thần thông thì chính là Phật.

Hôm nay tôi nói với mọi người đến đây. Om mani padme hum.

27/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 079. Nói về thần thông (2)

Tôi lại nói với mọi người một chút về thần thông. Rất nhiều người nói Sư Tôn chuyên môn nói thần thông, thật ra không phải là chuyên môn, là thỉnh thoảng nói một chút mà thôi. Chẳng qua là muốn cho mọi người có một quan niệm về thần thông: mục đích chủ yếu nhất của người học Phật chúng ta là chấm dứt sinh tử, là phải đoạn trừ phiền não, phải thành tựu quả vị Phật Bồ Tát, đây là mục tiêu của chính bạn. Thế còn thần thông chỉ là một sản phẩm phụ, từ bên cạnh nó sẽ tự nhiên sinh ra. Vì thế, người học Phật chúng ta đừng chạy theo thần thông, tôi thật sự muốn nói với mọi người về quan niệm này.

Giả sử bạn theo đuổi thần thông, vậy thì bạn sẽ chạy theo rẽ nhánh rồi, mục tiêu của bạn là thành tựu quả vị Phật Bồ Tát, là chấm dứt sinh tử, là đoạn trừ phiền não, chứ không phải là mưu cầu thần thông. Thần thông tự nó sẽ tự nhiên xuất hiện thôi, bạn không cần phải tìm cầu nó, nó sẽ tự đến, đây là một quan niệm rất quan trọng.

Vì thế ban đầu, Phật Thích Ca Mâu Ni đối với những hiện tượng thần thông không có ý nghĩa này, ngài không hy vọng các đệ tử của mình sẽ theo đuổi, có nghĩa là bạn có theo đuổi thần thông cũng không có ý nghĩa gì. Giống như có một kẻ ngoại đạo treo cái túi ở trên cây, một cái cây rất cao, rồi bảo đệ tử của Phật lấy xuống, trong đó có một vị La Hán liền nhẹ nhàng nhún người lên, nhẹ nhàng bay lên trên ngọn cây, lấy cái túi đó xuống. Phật Thích Ca Mâu Ni liền quở trách vị La Hán này, ngài nói: “Việc này chẳng có chút ý nghĩa nào.” Vì thế bạn sử dụng thần thông, đôi khi không cần tự mình làm, mà là nó sẽ xảy ra rất tự nhiên, không cần cố ý làm cũng tự nhiên có thần thông.

Vì thế trong những câu chuyện Phật giáo, trước kia vào thời đại của Phật Đà có rất nhiều sự tích thần thông. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng có rất nhiều sự tích thần thông, những điều này đều là tự nhiên bộc lộ, có ý nghĩa. Và thần thông cũng có mấy lợi ích, thứ nhất là nó có thể thu hút quần chúng, bởi vì bạn sản sinh ra hiện tượng thần thông sẽ khiến rất nhiều chúng sinh biết được mà đến. Thứ hai, nó có thể gia tăng lòng tin của đệ tử, lòng tin sẽ khá kiên cố. Phật lý đương nhiên có thể gia tăng lòng tin của chúng ta, nhưng trên thực tế thần thông cũng có thể gia tăng lòng tin của đệ tử. Bởi vậy tôi cho rằng thế này: bạn có thần thông có ý nghĩa tự tâm bộc lộ thì được, nhưng thần thông vô nghĩa thì không được nói bừa, không được nói về nó.

Chúng ta biết rằng thần thông có khi không nhất định là công lực của bản thân bạn, ví dụ chúng ta làm hỏa cúng, làm Hộ Ma, Bổn tôn của bạn sẽ trợ giúp bạn, Hộ pháp của bạn cũng sẽ đến, đều ở xung quanh bạn. Vậy khi bạn làm hỏa cúng, những Hộ pháp đều sẽ giúp đỡ bạn.

Có người này bị bệnh sỏi mật, bạn làm xong hỏa cúng, Hộ pháp sẽ đi đến chỗ của người bệnh đó, lấy sỏi ra khỏi mật của người bệnh đó, lấy hết ra. Tôi nói với người đó, một tháng sau hãy đi kiểm tra sức khỏe, chụp X-quang, xem xem trong mật có còn sỏi hay không. Kiểm tra xong, ấy, sỏi đã không còn nữa rồi.

Có người bị sỏi thận, bị sỏi bàng quang, sỏi cũng tiêu biến mất, khối u cũng không còn, ngay cả ung thư cũng không còn. Rất nhiều những căn bệnh kì quái một lúc sau đã biến mất tiêu. Chính là vì bạn làm hỏa cúng để tiêu tai, không phải là bạn đi lấy sỏi ra, khiến cho người ta khỏi bệnh. Mà là Bổn tôn và Hộ pháp xung quanh bạn đã đi làm việc này, trong Mật giáo có điều này.

Vì thế đôi khi chúng ta giúp người ta làm pháp tiêu tai đều là Hộ pháp đi giúp đỡ, Hộ pháp bay đi làm việc. Mỗi lần bạn nhìn thấy Sư Tôn làm cúng dường, thỉnh cầu mau mau đạt được nguyện vọng, sau đó đặt cúng phẩm này xuống, rồi Hộ pháp tiếp nhận cúng dường cũng giống như đã nhận pháp chỉ. Lập tức thỉnh cầu Hộ pháp nhanh chóng khiến cho nguyện vọng này đạt thành, và rồi Hộ pháp nghe xong, lập tức sẽ “cấp cấp như luật lệnh” mà rất nhanh chóng nhanh chân như thần, lập tức xuất phát để làm xong việc này.

Rất nhiều việc không thể nào đạt thành, có nghĩa là việc rất khó hoàn thành, bởi vì có Bổn tôn vô hình và Hộ pháp vô hình đi giúp bạn làm, thì tự nhiên sẽ thành, tự nhiên tất cả đều làm xong. Sự việc bất khả tư nghì kiểu này chính là thần thông.

Pháp lực mà bản thân bạn tu được chính là sức mạnh tự lực - sức mạnh của chính mình, thế còn pháp lực do Hộ pháp và Bổn tôn làm thì gọi là tha lực. Bởi vậy thần thông có tự lực, có tha lực.

Giống như những tấm ảnh phóng quang của Chân Phật Tông chúng ta, rất nhiều người nói những tấm ảnh phóng quang này là ngụy tạo. Nói thẳng ra, tôi chẳng có thời gian nhàn rỗi để mà đi làm giả những thứ đó để lừa người ta, mà cũng không cần. Nói thẳng ra, Sư Tôn cũng không cần phải làm giả những tấm ảnh phóng quang đó để lừa người, tôi cũng đã đủ bận rộn rồi, làm gì có thời gian để mà làm.

Việc đó đôi khi cũng không phải là tự lực phóng quang, mà là tự tâm bộc lộ, từ bên trong tâm bạn sản sinh ra một tia sáng, nó tự nhiên sẽ tỏa sáng, đây là tự lực tỏa sáng. Nhưng đôi khi cũng không nhất định là tôi tự lực phóng quang, khi chúng ta làm pháp hội, Phật Bồ Tát đến từ hư không, khi các vị gia trì cho bạn, khi các vị phóng một chút ánh sáng đến bạn, vừa hay máy chụp hình chụp được, đó cũng không phải là tôi phóng quang, đó là Phật Bồ Tát ở trong hư không phóng quang gia trì cho bạn. Rất nhiều Phật Bồ Tát, các vị đều tỏa ra rất nhiều ánh sáng, máy chụp ảnh sẽ chụp được những ánh sáng đó.

Bây giờ cũng không chỉ là Sư Tôn phóng quang, rất nhiều đệ tử cũng phóng quang, rất nhiều Thượng sư, pháp sư, họ cũng tỏa sáng. Không chỉ là con người chúng ta phóng quang, Quan Thế Âm Bồ Tát ở Biệt thự Cầu Vồng ngày ngày đều phóng quang, bạn đi chụp hình ngài, kì lạ thay, đều là hào quang, cho nên việc phóng quang này cũng là một kiểu thần thông.

Hôm nay nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

27/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 080. Sự kế thừa của Mật giáo (1)

Hôm nay chúng ta lại nói một chút về sự kế thừa của Mật giáo. Học Mật giáo buộc phải có sự kế thừa, tức là có truyền thừa. Nói chung, quy y là có truyền thừa, nhưng cũng chỉ là một cơ sở. Sau khi bạn nhận được một quán đảnh nào đó mới có thể tu một pháp nào đó, quy tắc là như vậy. Có một trật tự, một thứ tự.

Truyền thừa của Mật giáo vô cùng quan trọng, vì sao Mật giáo đặc biệt coi trọng sự kế thừa, truyền thừa? Bởi vì trọng điểm của Mật giáo nằm ở sự bí mật. Bởi vì nó có rất nhiều pháp là cực kì bí mật, hơn nữa những bí mật này đều là những bí mật rất sâu, không phải là pháp có tính bình thường, cũng không phải là có thể truyền tùy tiện. Người làm sư phụ phải xem căn khí của bạn mới có thể truyền pháp cho bạn. Bạn có căn khí có thể truyền thì thầy mới truyền thụ cho bạn.

Cho nên nói chung, Mật giáo là có quy tắc. Đệ tử là phi khí, không phải là pháp khí, bạn truyền pháp cho họ thì cũng xem là phạm lỗi. Vậy bản thân đệ tử là pháp khí chân chính mà bạn không truyền pháp cho họ thì cũng là phạm lỗi. Cho nên vấn đề chính là nằm ở đây, rốt cục bạn có phải là pháp khí không? Có thể truyền pháp không? Tầm quan trọng của truyền thừa Mật giáo chính là nằm ở đây. Đệ tử là pháp khí mà không truyền thì là phạm lỗi, đệ tử là phi pháp khí mà truyền thì cũng là phạm lỗi. Pháp bí mật sâu nhất không thể truyền bừa, tôi giải thích với mọi người một chút là mọi người sẽ hiểu rõ thôi.

Ví dụ chúng ta kết thủ ấn, đương nhiên bạn rất dễ dàng nhìn thấy thủ ấn mà tôi kết, đây là một thủ ấn, đây cũng là một thủ ấn (Sư Tôn thị phạm). Bạn nhìn thấy tôi kết thủ ấn này, a, dễ học quá, bạn lập tức học được những thủ ấn này. Nhưng mà trong thủ ấn này có bí mật, trong đó có một cái gọi là “ấn tâm trong tâm”, ấn tâm trong tâm chính là loại thủ ấn mà có thể làm xúc động tâm của Như Lai. Sư phụ sẽ dạy cho bạn, rồi bạn làm động tác đặc biệt đó thì đó gọi là ấn tâm trong tâm. 

Một khi đã làm thủ ấn tâm trong tâm, Phật Bồ Tát nhất định sẽ hạ giáng. Ví dụ ấn tâm trong tâm này, hôm nay giả sử tôi tùy tiện công khai cho mọi người biết, nếu có cháu nhỏ trở về đem thủ ấn tâm trong tâm này ra nghịch chơi, kết quả là Phật Bồ Tát lại đến, nhìn thì thấy, “Hả, chẳng có việc gì mà lại triệu thỉnh ta đến!”, điều này là không thể được. Giả sử bạn truyền thủ ấn tâm trong tâm ra ngoài, tất cả mọi người đều kết ấn tâm trong tâm, việc này sẽ làm loạn mười pháp giới. Tất cả mọi vũ trụ, ý thức tối thượng của vũ trụ sẽ làm bạn loạn hết cả.

Bởi vì có rất nhiều người có huệ lực (sức mạnh của trí huệ) không cao lắm, phiền phức nằm ở đây. Giả sử nhà bạn bị bệnh gà toi, gà chết hai, ba con, họ cũng làm ấn tâm trong tâm, thỉnh cầu Quan Thế Âm Bồ Tát đến, Quan Thế Âm Bồ Tát đến trông thấy, ui chà, thì ra là bệnh gà toi. Một việc nhỏ như vậy mà họ cho rằng là việc rất lớn.

Có khi bạn gái chia tay anh ta, anh ta cũng làm một ấn tâm trong tâm, triệu thỉnh Tứ Đại Thiên Vương giáng xuống. Toàn bộ Tứ Đại Thiên Vương đều đến, rất căng thẳng, cầm pháp khí, có chuyện gì vậy? Thế rồi thấy chỉ là bạn gái đã chạy mất thôi mà! Hoặc là vợ bạn đánh bạn, bạn cũng thỉnh Tứ Đại Thiên Vương đến, đúng là kêu Phật Bồ Tát lo chuyện bao đồng. Đây chính là nguyên nhân của việc không thể truyền bừa ra ngoài, một đạo lý rất đơn giản.

Mọi người nghĩ xem, thứ này không thể truyền bừa. Cho nên ấn tâm trong tâm là phải chọn người mà truyền, bạn thật sự đang làm pháp vụ, là một hành giả chân chính thì mới có thể truyền.

Ví dụ còn có pháp Kim cang quyền, cũng có rất nhiều kĩ xảo ở trong đó. Nếu bạn muốn học một bộ quyền thuật, nhất định phải bái sư phụ, bạn không thể chỉ đọc sách là có thể học được. Cho nên quyền pháp nhất định phải có sư phụ trực tiếp đối diện với bạn, dạy cho bạn từng đường quyền một thì bạn mới có thể học được. Trong quyền thuật có khẩu quyết, có tâm yếu, cho nên cái này nhất định phải có thầy dạy. 

Chúng ta biết rằng Kim cang quyền là dẫn dắt khí của thân thể bạn, là công cụ dẫn dắt. Nó sẽ làm luân xa của bạn nới lỏng ra, mở ra, phải vận minh điểm. Kim cang quyền tuy là vận động bên ngoài, nhưng trên thực tế khí mạch và minh điểm bên trong đều thuận theo quyền pháp mà vận động.

Bạn có thể làm cho chất lỏng ở Mi tâm luân giáng xuống, đi qua Hầu luân, khiến Tâm luân của bạn mở ra, khiến Tề luân của bạn đều nới lỏng ra, khiến Mật luân của bạn biến thành cực kì có lực, đây đều là kĩ xảo bí mật. Kim cang quyền không phải là có thể tùy tiện, không phải là đánh mấy bộ quyền thuật, vuốt mấy cái, xoay mấy cái là xong, không phải như vậy. Nhất định phải có sư phụ dạy, đó là Nội pháp, cũng xem như là công phu của Mật pháp.

Vì thế Mật giáo coi trọng quyền pháp - Kim cang quyền phải phối hợp với Nội pháp mới có thể khiến thân tâm của bạn đều hóa thành cầu vồng, đạt được đại thành tựu thành Phật, đây đều là bí mật. Pháp Kim cang quyền trong Mật pháp là bí mật, Nội pháp cũng là bí mật, nó có những công phu hạ xuống, nâng lên, giữ vững, thả lỏng… Trong đó có rất nhiều khẩu quyết bí mật, trên thực tế cũng cần phải có từng pháp, từng pháp, từng khẩu quyết, từng khẩu quyết, từng động tác, từng động tác, từng kĩ xảo, từng kĩ xảo, phải dạy như vậy mới biết được. Cũng phải dựa vào thời gian nữa, phải theo thời gian mà làm, lúc nào thì làm động tác nào, cái này cũng không thể nào học từ trong sách được. Cho nên đây chính là tầm quan trọng của sự kế thừa, tầm quan trọng của truyền thừa. 

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

28/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 081. Sự kế thừa của Mật giáo (2)

Lần trước tôi đã nói về tính quan trọng của truyền thừa Mật giáo rồi, hôm nay tôi tiếp tục nói về truyền thừa. Các bạn biết về tam căn bản của Mật giáo rồi đó. Chính là Căn bản Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, và Căn bản Hộ pháp.

Căn bản Thượng sư chính là gia trì cho cái gốc của bạn, sau khi bạn quy y Thượng sư Mật giáo rồi, bạn thường xuyên phải quán tưởng Căn bản Thượng sư gia trì cho bạn, Thượng sư trụ đỉnh và liên tục gia trì cho bạn, nhất định cần như vậy, cho nên tầm quan trọng của truyền thừa chính là ở đây.

Thông thường, bạn quy y sư phụ Hiển giáo xong thì bạn trở về nhà tự mình tu. Trở về nhà tự mình đọc kinh, xem kinh điển, niệm Phật, đại khái là như vậy, biết được một ít Phật lý rồi cứ thế niệm Phật.

Mật giáo thì khác, bạn từng giờ từng phút phải quán tưởng Căn bản Thượng sư trụ đỉnh gia trì cho bạn. Tính quan trọng của truyền thừa nằm ở đây. 

Hôm qua tôi nói về quyền pháp Kim cang quyền, đối với thân thể thật sự rất quan trọng. Bởi vì khí của bạn đi như thế nào? Thượng hành khí đi tới đâu? Hạ hành khí đi tới đâu? Bình trụ khí đi tới đâu? Mệnh khí ở đâu? Biến hành khí ở đâu? Nó có một con đường nhất định. Bạn dùng ý để dẫn dắt, không được có sai sót, việc này cũng cần sư phụ nói với bạn kĩ càng. Khi có tình huống gì, sư phụ phải nói với bạn cần xử lý ra sao.

Thế nào gọi là khí kết? Khí của bạn kết chặt lại rồi, vậy phải làm thế nào để làm lỏng nó ra? Muốn hạ, muốn nâng, muốn giữ, muốn tán, đều có quyền pháp, có công phu của ý niệm. 

Sự sắp đặt đàn thành Mật giáo chúng ta cũng cần có sư phụ chỉ điểm kĩ lưỡng. Đặc biệt là có những đàn pháp không công khai lại càng cần có sư phụ chỉ dẫn mới có thể sắp đặt. Đàn pháp có cái gọi là “ngoại đàn” - là công khai, có thể để cho mọi người nhìn thấy. Còn có “nội đàn” - là không công khai. 

Bạn nói: “Này, tôi muốn xem nội đàn của anh!” “Tôi không công khai, làm sao mà anh có thể xem được?”  
”Nội đàn của tôi ở bên trong đó, không thể để cho anh xem.”

Nội đàn dùng để làm gì? Rất nhiều pháp bí mật nhất định phải tu ở trong nội đàn. Ví dụ pháp hàng phục là pháp bí mật. Giả sử bạn công khai pháp hàng phục, vâng, hôm nay tôi muốn hàng phục ai, tôi thấy là bạn còn chưa hàng phục được họ thì họ đã hàng phục bạn mất rồi. Pháp hàng phục là không công khai, hơn nữa cách bày đàn pháp của pháp hàng phục là cực kì đặc thù.

Mật giáo còn có Vô thượng mật bộ cũng là không công khai. Vì sao không thể công khai Vô thượng mật bộ? Bởi vì tu pháp của nó vô cùng đặc thù, là một loại bí mật trong bí mật. Vì thế, bản thân Mật giáo có samaya, chính là một loại lời thề. Bạn thâm nhập vào trong Mật pháp, tiến vào bên trong samaya, có rất nhiều bí mật không thể công khai thì bạn không được công khai. Bởi vì nếu có một ngày công khai thì sẽ không còn là bí mật nữa, đã không còn là bí mật tức là bạn đã không thể giữ samaya rồi. Mà đã không thể giữ samaya tức là đã phá vỡ samaya, nếu phá vỡ samaya, rất nhiều Hộ pháp sẽ không sinh ra tâm hoan hỷ nữa.

Chúng ta biết rằng Vô thượng mật bộ có pháp Thích Ca lục thế biến, có cái gọi là Minh phi cửu thức, những cái này đều là kĩ xảo, toàn bộ đều là kĩ xảo. Tôi đã nói rồi, kĩ xảo tức là vào khoảng thời gian nào nên vận dụng kĩ xảo nào, vào khoảng thời gian nào phải làm loại Kim cang quyền nào. Vào khoảng thời gian nào phải nắm bắt cực kì chuẩn. 

Nắm bắt tức là giống như trước đây chúng ta xào lươn phải đảo ba lần rưỡi, đảo một cái, hai cái, ba cái, rồi lửa bốc lên, rồi phải đảo thêm nửa cái nữa. Vì sao vậy? Bởi vì làm như vậy thì lươn mới có thể vừa chín tới, đúng lúc giòn tan. Đảo bốn cái thì bị quá chín rồi, quá chín thì sẽ bị nát mất, đảo ba lần thì vẫn còn sống, cho nên phải đảo ba lần rưỡi, xào cái thứ này phải ba lần rưỡi thì tức là nắm bắt rất chuẩn.

Nếu không có Căn bản Thượng sư dạy bạn những kĩ xảo này (chính là phương pháp kĩ thuật), bạn nắm bắt không chuẩn thì sẽ xuống địa ngục kim cang đó. Cho nên phép tắc rất nghiêm ngặt.

Khí của bạn đi tới đâu mà không thông, khí đến Hầu luân mà không thông, phải xoay như thế nào thì bạn mới thông được. Phải nắn chỉnh như thế nào? Cái này đều có phương pháp, kĩ thuật. Khí đến đâu? Khí đến chỗ này, nhưng bồ đề tâm nguyệt dịch này vì sao không hạ xuống? Cái này cần phải có Thượng sư dạy bạn, dạy bạn mau chóng làm quán tưởng gì thì chất lỏng sẽ giáng xuống. Khi nào thì phải nâng lên? Khi nào phải dùng Thích Ca lục thế biến? Vào thời khắc nào thì bạn phải nâng? Nếu như vào thời khắc đó bạn có thể nắm bắt được đúng lúc, nâng nó lên thì sẽ thành công. Vào thời khắc đó bạn không nâng lên, “Bùm!”, thế là toi rồi, sẽ rơi xuống nước, bạn sẽ chết chìm.

Ở trên phim bạn xem máy bay trực thăng cứu người rồi, đưa tay ra một cái, cái thang dây đúng lúc di chuyển tới, tay bạn vừa tóm chắc vào là người liền được kéo lên, đây chính là pháp nâng. Chính là lúc bạn rơi xuống nước, đột nhiên cái thang di chuyển tới, bạn túm chặt lấy, chính vào thời khắc đó, nếu bạn nắm bắt được chuẩn thì bạn sẽ sống. Bằng không, bạn sẽ rơi xuống nước. Mật giáo có pháp này.

Cho nên Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: “Bạn muốn tu Mật pháp của tôi cũng giống như lấy ngọc trong miệng rắn độc.” Vào thời khắc đó đúng lúc miệng con rắn mở ra, cái răng đúng lúc lệch qua một bên, bạn lập tức đưa tay vào lấy viên ngọc ra. Lúc nó sắp ngậm miệng lại mà bạn lại thò tay vào lấy ngọc thì bạn chết chắc rồi. Cho nên nắm bắt chuẩn xác là cực kì quan trọng.

Mật giáo chính là có loại pháp này, vào thời khắc nguy cấp giữa sống và chết, bạn được độ bằng Hồng quang đại thành tựu. Cái này nhất định phải có Thượng sư đích thân truyền, đích thân quán đảnh cho bạn, đích thân truyền cho bạn, đích thân dạy bạn, dạy bạn mọi nghi quỹ, kĩ xảo thì bạn mới biết được, không có Căn bản Thượng sư thì sẽ không thành. Tính quan trọng của truyền thừa Mật giáo chính là ở đây. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

28/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 082. Khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo (1)

Hôm nay tôi nói với mọi người về một khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo. Khẩu quyết này nói rằng: “Bạn chính là Phật, Phật cũng chính là bạn.” Bất kể nói như thế nào, bạn chính là Phật, Phật chính là bạn. Đây chính là một khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo.

Bản thân tôi nghiên cứu Phật pháp, phát hiện ra khẩu quyết này không chỉ trong Mật giáo có, thậm chí là phái khác cũng dùng khẩu quyết này. Tôi không nói có lẽ mọi người không biết, nói rồi các bạn sẽ hiểu rõ, khẩu quyết này vô cùng quan trọng.

Thật ra học Phật phân thành mấy hệ phái. Có phái gọi là Chân Như, người nói đến phái Chân Như sớm nhất có lẽ là Phật Nhiên Đăng. Phái Chân Như có thể nói là trực tiếp ấn tâm. Tâm của Phật và tâm của đệ tử trực tiếp tương ứng thì thuộc về phái Chân Như. Phái Chân Như là một chủ trương quan trọng nhất của Phật Nhiên Đăng. Trực tiếp ấn tâm cũng chính là nói rằng bạn chính là Phật, tôi là Phật, tôi ấn chứng bạn, cho nên bạn cũng là Phật, đây chính là phái Chân Như.

Còn có phái Bát Nhã, người nói về Bát Nhã chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni có thể nói là thuộc phái Bát Nhã. Phật Đà nói thế nào? Chúng ta biết về tứ Thánh đế, lục độ, lục ba la mật, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên, đều là Phật Đà nói. Sau cùng thì Phật Đà nói một câu, ở dưới cây bồ đề khi ngài khai ngộ, ngài đã nói một câu: “Thì ra chúng sinh đều có Phật tính.” Chính là câu này, ý nói rằng: “Bạn chính là Phật, Phật chính là bạn.”

Ý nghĩa của Bát Nhã là từ những lý luận Phật huệ như tứ Thánh pháp, lục độ, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên… (trí huệ của bản thân Phật) mà đi nhận ra “bản thân bạn chính là Phật”, đi khai phá, đi loại bỏ hết những chướng ngại đã che mờ trí huệ này, để hiển hiện Phật tính của mình. Như vậy là chứng minh được bạn chính là Phật, Phật chính là bạn. Phật Đà cũng nói chúng sinh đều có Phật tính, cái này thuộc về phái Bát Nhã.

Còn có phái Duy Thức, phái Duy Thức là chủ trương của Di Lặc Bồ Tát, từ sáu thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đến thức thứ bảy, thức thứ tám, thức thứ chín am-ma-la thức đều phải đi khai phá. Am-ma-la thức là gì? Chính là Phật thức. Từ ý thức đi khai phá ý thức. Bên trong chính bản thân bạn có rất nhiều thức, mắt tai mũi lưỡi thân ý đều là thức, đến thức thứ chín của ý thức sâu nhất, khai mở ra thức thứ chín bên trong chủng tử thức của bạn, bên trong ý thức sâu nhất phát hiện ra bạn chính là Phật, Phật chính là bạn. Khai mở Phật tính ra, bạn sẽ thành Phật. Đây là phái Duy Thức.

Còn có Mật giáo mà chúng ta đang tu. Mật giáo là thuộc về hệ phái gì? Mật giáo chính là Du Già - Yoga. Du già chính là nói về tương ứng. Vì sao du già tương ứng nói rằng bạn chính là Phật, Phật chính là bạn? Cái gọi là đạo tương ứng chính là Phật và bạn hợp nhất. Tương ứng chính là Phật và tôi hợp nhất, Phật và bạn hợp nhất. Mật giáo nói về tự thân thành Phật, hợp nhất rồi thì bạn lập tức biến thành Phật, trực tiếp đi vào bên trong cảnh giới của Phật, lập tức biến thành Phật. Phật ta hợp nhất - yoga - du già - tương ứng, chính là tự thân thành Phật, biến chính bạn thành Phật, bạn chính là Phật, Phật chính là bạn, đây chính là du già. 

Ở đây đã nói về bốn hệ phái rồi, bốn hệ phái là như vậy đó. Rồi còn có phái Trung Quán. Phái Trung Quán là ai chủ trương? Vừa rồi tôi nói phái Du Già là ai chủ trương? Chúng ta nói đó là tổ sư của Mật giáo, có thể xem là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chủ trương. Vào thời kì cuối của Phật giáo tại Ấn Độ, ngài đã sáng lập ra một tông phái là Mật giáo, nên có thể xem là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chủ trương. Thật ra ở đây còn có mấy nguồn gốc nữa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng không phải là người sáng lập duy nhất, còn có mấy người nữa, ví dụ Long Thụ Bồ Tát, A Nan, các vị cũng truyền đi như vậy.

Phái Trung Quán chính là Long Thụ Bồ Tát đề xuất, nghiên cứu hữu và vô, hữu và không, không và hữu. Nghiên cứu không quán, nghiên cứu giả quán, sau cùng sẽ sản sinh ra một trung quán, đây chính là phái Trung Quán. Hệ phái Trung Quán trong Phật giáo không thiên về hữu, cũng không thiên về không. Không là nói về tính Không, hết thảy vũ trụ đều là không, đương nhiên ý nghĩa này rất sâu, không phải là tôi tùy tiện nói. Cuối cùng nói đến “chân không diệu hữu”, trong “chân không” có “diệu hữu”, chính là trung quán. Phái Trung Quán không thiên về không, cũng không thiên về hữu, cái thứ rút ra duy nhất ở giữa chính là Phật tính, chính là bồ đề tâm. Điều rút ra ở đây cũng chính là “tôi chính là Phật, bạn cũng là Phật”.

Tôi phân tích một cách đơn giản như thế này, tổng cộng có năm hệ phái: phái Chân Như, phái Bát Nhã, phái Duy Thức, phái Du Già, phái Trung Quán. Năm hệ phái học Phật này, khẩu quyết lớn nhất rút ra được chính là “tôi chính là Phật, bạn chính là Phật”. 

Cho nên nếu bạn có quan niệm này, bạn cần làm hiển hiện Phật tính của mình, khai mở nó, đó chính là thành Phật. Bất kể bạn dùng phương pháp nào, dùng Chân Như, dùng Duy Thức, dùng Bát Nhã, dùng Du Già, dùng Trung Quán, bạn có đi nghiên cứu thế nào cũng đều phải khai phá ra Phật tính của bạn. Cho nên đây là khẩu quyết lớn nhất và cũng là hay nhất.

Om mani padme hum.

29/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 083. Khẩu quyết quan trọng nhất của Mật giáo (2)

Chúng ta đã biết một khẩu quyết lớn nhất như vậy rồi thì phải nói thế này: “Biết được khẩu quyết rồi thì phải đi thực hiện nó.” Thực hiện phải dựa vào bạn thực tu, tu hành trên thực tế, đi ấn chứng được điều đó.

Chúng ta biết Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Chúng sinh đều có Phật tính.” Lúc Phật Đà tại thế cũng từng nói với một quốc vương: “Ngài hỏi tôi cái gì là Phật pháp? Tôi nói với ngài, ngài chính là Phật.” Phật trực tiếp nói như vậy, quốc vương kia nghe xong lập tức khai ngộ, lập tức biến thành Phật.

Lúc này, thật ra là Phật trực tiếp xuyên thẳng vào bên trong nội tâm, lấy Phật tính của ông ấy ra, lập tức chuyển biến, từ đó về sau ông ấy thật sự đã bộc lộ Phật tính rồi, đây là lập tức khai ngộ.

Người có đại trí huệ chân chính, bạn nói với họ “anh chính là Phật”, anh ta nghe xong lập tức sẽ tiêu trừ hết mọi nghiệp chướng, Phật tính sẽ bộc lộ ra, ánh sáng tự tính sẽ hiển hiện ra, đây là người có căn khí lớn nhất.

Có rất nhiều người, bạn nói với họ anh chính là Phật. “Hả! Làm gì có chuyện đó!” Anh ta nói vậy. ”Tôi rõ ràng là một phàm phu thôi, sao có thể là Phật chứ?” Anh ta không tin. Nhưng rõ ràng Phật Đà đã nói rồi, chúng sinh đều có Phật tính, chỉ cần bạn đi thực tu, đi thực hiện thôi.

Chúng ta biết phương pháp của phái Du Già - bốn chữ “Cha Hum Ban Ho”. “Cha” chính là Phật ở trong hư không hiển hiện. Phật ở trong hư không ư? Phật ở đâu? Xa quá! Ngài đến rồi, ngài ở trong hư không.  
”Hum”, di chuyển ngài, dịch chuyển ngài đến trước mặt bạn. Chà! Thật rõ ràng. Phật ở trước mặt bạn rất rõ ràng.  
”Ban”, di chuyển đến trên đỉnh đầu bạn, có thể gia trì cho bạn, Phật trụ tại đỉnh đầu bạn, gia trì quán đảnh cho bạn.  
”Ho”, Phật tiến vào bên trong thân thể bạn, ẩn bên trong người bạn.  
Đây là Sự pháp của du già. 

Giờ đây mỗi ngày chúng ta làm công khóa, khi tu pháp du già - pháp tương ứng, chữ thứ nhất chính là “Cha”. Bạn ở cách Phật rất xa, khoảng cách rất xa. Phật ở rất xa, lúc này bạn tu, tu pháp “Cha”, thì Phật ở rất xa. “Hum”, Phật đến rồi, ngài đã đến, đến trước mặt bạn. “Ban”, ngài đến trên đầu bạn, đây là pháp thứ ba, tức là càng ngày càng gần, càng đến càng gần. Cuối cùng, “Ho”, ngài đi vào bên trong thân thể bạn. Đúng không? Phật đi vào bên trong thân thể bạn rồi, bạn sẽ cùng ngài hợp nhất, đây chính là tương ứng, chính là du già.

Lúc này, chúng ta biết ngài đã đi vào bên trong thân thể bạn, biến thành y hệt như bạn. Thật ra không phải là ngài biến thành giống hệt bạn, mà là bạn biến thành giống hệt ngài. Lúc này gọi là hợp nhất, hai người biến thành một người rồi. Không phải là như hai mà là như một. Lúc này chính là nhất như, chính là tương ứng rồi. Câu này đã chứng minh “Phật chính là bạn, bạn chính là Phật”. Tức là hai người đã tương ứng rồi, đây chính là du già. Phương pháp của du già là làm như vậy.

Vì thế hôm nay chúng ta học Mật giáo chính là thuộc về hệ phái Du Già, phương pháp Phật từ nơi rất xa tương ứng với bạn, mỗi ngày chúng ta làm công khóa chính là như vậy. Cho nên, trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” có cái gọi là “Sự bộ pháp”, “Hành bộ pháp”, “Du già pháp”, và “Vô thượng mật bộ pháp”. “Sự bộ pháp” thì mọi người đã biết rồi, Sự bộ pháp này thật ra ở nơi xa tiến lại gần, ở trên đỉnh đầu hợp nhất với bạn, đây chính là Sự bộ pháp. Khi bạn thật sự hợp nhất rồi thì cũng đại diện cho pháp Vô thượng mật bộ.

Tôi đã giảng “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” rồi, giảng từ đầu tới cuối, chưa từng có ai giảng, chỉ có tôi giảng. Cho nên toàn bộ “Du già bộ pháp”, các bạn đều biết hết cả rồi.

Mọi người đều biết Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp Bát Nhã, Di Lặc Bồ Tát giảng pháp Duy Thức, Phật Nhiên Đăng giảng pháp Chân Như, Long Thụ Bồ Tát giảng pháp Trung Quán. Bạn muốn học Phật ư? Những pháp này tôi đều biết cả! Xem bạn muốn học pháp gì, tôi đều hiểu, tôi đều biết. Muốn phân tích được tường tận như thế này, trên thế giới này đã rất hiếm có rồi, cái quan trọng nhất là bản thân bạn phải đi thực hiện. Pháp trong Mật giáo coi trọng thực tu, thực tu cũng không phải là trên lý luận, mà là đi chứng minh trên thực tế.

Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni nói tứ Thánh đế, đến cuối cùng, trong “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” ngài giảng “vô khổ tập diệt đạo”, đây chính là tính Không, chính là nói về tính Không. Đến cuối cùng thì lấy tính Không đó ra, phối hợp với tính Không để đi tu khổ tập diệt đạo, bạn có thể chứng minh bạn chính là Phật.

Tu lục độ ba la mật, bạn lấy tính Không ra phối hợp với lục độ ba la mật, bạn mới có thể chứng minh thành Phật, bởi vì “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” nói đến chính là tính Không. Còn vô khổ tập diệt đạo? Rõ ràng Phật Đà nói có khổ tập diệt đạo, vì sao “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” lại nói không có khổ tập diệt đạo? Chính là tính Không cần phối hợp với khổ tập diệt đạo để tu thì mới có thể chứng minh. 

Tính Không cần phối hợp với sáu ba la mật để tu, tính Không không phối hợp với sáu ba la mật để tu, bạn chỉ tu mỗi bố thí ba la mật thì chỉ có thể đạt được phúc trời, đi đến các cõi trời, có được phúc báo lớn nhất. Nếu bạn không phối hợp với tính Không thì không thể có thành tựu, đây chính là pháp Bát Nhã.

Nói với mọi người như vậy là bạn hiểu rồi, ở đây đều đang chứng minh “bạn chính là Phật, Phật chính là bạn”. Hy vọng mọi người hiểu được rõ ràng. “Bạn chính là Phật”, tự bạn đi chứng minh. “Tôi chính là Phật”, tự tôi chứng minh. 

Vâng, hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

29/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 084. Bảo bình khí

Hôm nay tôi lại nói với mọi người về Bảo bình khí, bởi vì có đệ tử hỏi: “Rốt cục tu Bảo bình khí vào lúc thì nào tốt?” Vấn đề này trước đây trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” tôi đã từng nhắc đến. Bởi vì khi nào tu pháp này cũng phân thành hai phe, một phe chủ trương sau khi tương ứng Ngoại pháp rồi, cũng tức là sau khi tương ứng Bổn tôn rồi, mới có thể tu Bảo bình khí. Một phe khác thì chủ trương khi tu Tứ gia hành đã có thể tu Bảo bình khí rồi, cũng tức là ngay khi bạn quy y và nhận quán đảnh xong là có thể tu Bảo bình khí.

Bản thân tôi nghĩ thế này, bởi vì Bảo bình khí có thể nói là một khởi đầu của Nội pháp, cũng là một nền tảng của Nội pháp, một điểm quan trọng nhất. Tôi thì tùy thuận mọi người, bạn muốn sau khi tương ứng pháp Bổn tôn xong mới tu cũng được, muốn sau khi quy y nhận quán đảnh xong thì bắt đầu tu Bảo bình khí luôn cũng được. Nhưng bạn nhất định phải nhận thức rõ ràng về pháp Bảo bình khí, bởi vì Bảo bình khí là cực kì quan trọng trong sự khởi đầu tu Nội pháp.

Trong khẩu quyết trọng yếu của Orgyen, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã nói: “Bình khí là quan trọng số một, tất cả công đức đến từ bình khí!” Điểm này cực kì quan trọng, cho nên nhất định phải tu bình khí.

Vì sao gọi là Bảo bình khí? Bởi vì phía bên dưới là nửa cái bình, bên trên lại có nửa cái bình đè xuống, cho nên gọi là bảo bình. 

Thật ra bảo bình khí có ba loại: một loại là bảo bình khí của Tề luân, một loại là bảo bình khí của Tâm luân, một loại là bảo bình khí của toàn thân.

Nhưng bảo bình khí ở Tâm luân rất dễ khiến cho tâm khí động, như thế sẽ sinh ra phiền phức. Còn bảo bình khí của toàn thân, trước khi tu bảo bình khí ở Tề luân thì cũng vẫn không được tu. Cho nên thứ chúng ta nói đến chỉ là nói đến bảo bình khí của Tề luân hạ đan điền.

Khẩu quyết quan trọng nhất của nó có bốn giai đoạn hơi thở: một là dẫn, chính là hít khí vào, hai là đầy, ba là tiêu, bốn là tán. 

Trước đây tôi từng dạy mọi người, hít một hơi khí, từ từ hít vào một hơi khí, cất giữ ở hạ đan điền. Sau khi khí đầy rồi, một ép chính là thượng khí ép xuống, một nâng chính là hạ khí nâng lên, chính là hai cái nắp. Ép xuống, giữ cho khí tồn tại ở chỗ đan điền, chính là pháp Bảo bình khí. Khẩu quyết quan trọng nhất là thượng khí nhất định phải ép xuống, hạ khí nhất định phải nâng lên, đan điền biến thành giống như một bảo bình, giữ khi ở đó, đây là yếu điểm quan trọng nhất.

Vì sao thượng khí ép xuống, hạ khí nâng lên? Bởi vì như thế thì khí mới có thể đi vào trung mạch, một khi khí đi vào trung mạch thì có thể sử dụng. Khí không đi vào trung mạch thì là khí bình thường, không phải là khí trí huệ mà còn là khí nghiệp chướng. Chúng ta tu pháp về khí, chủ yếu chính là phải biến khí nghiệp chướng thành khí trí huệ đi vào trung mạch. 

Khí không nhất định phải thở ra toàn bộ, nếu thở ra toàn bộ thì bạn không thể nào sử dụng, cho nên phải giữ lại một ít khí vẫn còn ở chỗ đan điền, bất kì lúc nào cũng có thể sử dụng, điểm này rất quan trọng.

Cách tu pháp Bảo bình khí cũng phân thành hai loại: có một loại là Bảo bình khí nhu hòa, một loại là Bảo bình khí cương mãnh. Bảo bình khí nhu hòa chủ yếu là khi hít vào thì rất chậm, rất mảnh, rất dài. Bảo bình khí cương mãnh chính là khí vào rất nhanh, rất ngắn, rất mạnh. Nhưng mà nhanh, ngắn, mạnh có hại, vì sao? Bởi vì dễ bị thương tổn. Trong lúc bạn thở nhanh, ngắn, mạnh còn có “xạ tức”, nếu mà phụt khí ra thì khí sẽ lập tức xung lên đỉnh đầu, mắt sẽ đỏ, răng sẽ đau, đầu cũng sẽ đau, còn bị chảy máu cam nữa, tuổi thọ cũng sẽ ngắn đi, tổn thương đến não, cho nên Bảo bình khí cương mãnh sau này chúng ta sẽ nói đến.

Còn chúng ta tu Bảo bình khí nhu hòa, khi nhu hòa, bạn giữ khí đầy rồi, sau khi giữ rồi thì từ từ tiêu tán. Phải tiêu như thế nào? Bạn phải dùng ý niệm để dẫn khí từ lỗ chân lông thoát ra, đây chính là cách tiêu khí thứ nhất. Cách thứ hai thì sao? Bạn dùng ý niệm để xung khí lên đỉnh, xung lên phía trên đỉnh đầu. Nếu không thành thì bạn lại thở khí ra từ mũi và miệng, thật sự là không nhịn thở được nữa rồi thì thở khí ra. Phần khí này rất quan trọng, cực kì quan trọng.

Khi khởi đầu tu luyện Nội pháp là phải luyện nín thở trước. Bạn phải giữ được khí ở bên trong hai phút. Khi mới bắt đầu thì đừng miễn cưỡng, khi mới bắt đầu bạn hãy luyện từ nửa phút, một phút, một phút rưỡi, đừng miễn cưỡng, từ từ luyện tập, luyện đến khi có thể nhịn thở được hai phút. Bạn có thể ứng dụng khối khí này để thực hiện sáu pháp thành tựu - Đại thành tựu cầu vồng. Chính là ứng dụng khối khí này để sinh ra chuyết hỏa, ứng dụng khối khí này và chuyển hóa để làm tan minh điểm. Cho nên khẩu quyết Orgyen quan trọng nhất của Liên Hoa Sinh Địa Sĩ là nói “Tất cả lấy bình khí làm công đức”, trọng điểm chính là nằm ở đây.

Vậy còn cách tiêu tán thì sao? Phải dẫn khí đi ra từ lỗ chân lông, phải dẫn khí ở đầy ắp trong thân từ lỗ chân lông đi ra. Dùng cách xạ khí xung đỉnh, phụt khí ra từ đỉnh đầu. Khi thật sự không nhịn thở được nữa thì mới thở mạnh ra từ mũi, miệng. Bảo bình khí nhu hòa vẫn cần phải chú ý một chút, đừng quá cương mãnh.

Khẩu quyết dùng khí, vận khí quan trọng nhất là “hạ đề”, khí bên dưới phải nâng lên, khí bên trên phải ép xuống, tạo nên một cái bảo bình. Biến cái khối khí này thành hình dạng như một cái bảo bình, làm rồi thì bạn sẽ biết, bởi vì bạn sẽ cảm giác thấy khí thật sự ở tại đan điền. Nếu có thể khiến cho nó đi vào trung mạch thì sẽ biến thành khí trí huệ, đây là một trọng điểm, rất quan trọng.

Bạn tu thành bảo bình khí rồi, chuyết hỏa mới có thể thành. Không tu thành bảo bình khí, chuyết hỏa của bạn sẽ rất khó tu thành, bởi vì bảo bình khí là cơ sở của tất cả Nội pháp, là nền tảng, là cực kì quan trọng.

Pháp Tứ gia hành là nền tảng của Ngoại pháp, Bảo bình khí là nền tảng của Nội pháp. Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

30/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 085. Pháp Bố đàn

Có người nói Lư Sư Tôn giảng Đại thành tựu cầu vồng, giảng nhiều như vậy, nhưng mà vì sao vẫn chưa nhắc tới pháp Bố đàn? Hôm nay đúng lúc phải nói đến pháp Bố đàn.

Pháp Bố đàn cũng chính là nơi mà bạn phải tu hành. Mật giáo có quy định công khóa, yêu cầu bạn làm “bài tập về nhà”. Học sinh đi học về làm bài tập về nhà. Mỗi khi chúng ta tu pháp đều phải ở tu trước đàn thành.

Pháp Bố đàn chính là phải bố trí một đàn thành Mật giáo rất đơn giản, rất trang nghiêm. Đàn thành là nơi vạn đức giao quy, là nơi rất thần thánh, để khi bạn bước vào trong đó thì sẽ sinh tâm hoan hỷ, nhìn thấy đàn thành là trong lòng bạn sẽ thấy vui sướng, vui thích với việc ngồi lâu. Rất vui sướng, rất thích thú ngồi ở trong đó, có thể yên tĩnh tu pháp của bạn, cho nên pháp Bố đàn của Mật giáo rất quan trọng.

Pháp Bố đàn đương nhiên là lấy Bổn tôn của bạn làm chủ, bạn tu Bổn tôn nào thì cần đặt Bổn tôn đó ở chính giữa. Ở lớp thứ hai xung quanh là quyến thuộc của Bổn tôn. Bổn tôn đều có quyến thuộc, ví dụ bên cạnh A Di Đà Phật chính là có Quan Âm, có Đại Thế Chí. Bạn tu Bổn tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, bên cạnh Dược Sư Phật chính là có Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, còn có mười hai Dược Xoa. Có Bổn tôn rồi, có quyến thuộc rồi, sau đó bên dưới mới bày Hộ pháp. Hộ pháp ở tầng thứ ba, Kim cang Hộ pháp, v.v… Những Hộ pháp này có thể bày ở tầng thứ ba, đó là cách bố đàn thông thường.

Lại có người nói bên phải đàn thành có thể bày tháp xá lợi, bên trái thì đặt kinh điển mà thường ngày ta hay tụng. Dùng cái gì để làm trang nghiêm đàn thành đây? Dùng thangka, rất tốt. Thangka là rất trang nghiêm, bạn hãy bày một vài tấm thangka, những thangka có liên quan đến Bổn tôn. Cũng có thể dùng ô lọng để làm trang nghiêm, lại có thể dùng cờ Phật để làm trang nghiêm, dùng tấm màn hoa để làm trang nghiêm. Dùng đèn để làm trang nghiêm, nhất định phải dùng đèn. Dùng hoa làm trang nghiêm, dùng lông chim công để làm trang nghiêm. Những thứ để làm trang nghiêm đàn thành này bạn đều phải làm.

Ngoài ra quan trọng nhất là bạn phải bày bát cúng. Mật giáo chủ trương dùng tám món cúng, Chân Phật Tông chúng ta cũng dùng bát cúng. Bát cúng có khi dùng hai hàng, hai hàng thì có một hàng là đồ cúng thật sự, một hàng là quán tưởng biến hóa. Bạn có thể dùng những món đồ ở hàng đó cầm lên để làm quán tưởng biến hóa.

Bát cúng là những thứ gì? Bát cúng là hoa, hương, đèn, trà, quả, trong đó trà có hai loại, một loại là nước sạch, một loại là nước mộc dục - nước mộc dục chính là nước tắm gội. Nước tắm gội tức là cho một chút xà bông vào để cho Phật Bồ Tát tắm gội, rửa mặt. *Wash hand <span className="note-blue">[rửa tay]</span>, wash face <span className="note-blue">[rửa mặt]</span>, wash body*, là dùng để tắm gội. Đây là ý nghĩa tượng trưng, ý nghĩa chính là chúng ta cúng dường cho các vị. Cũng không nhất định là ý nghĩa này, nhưng đây là cúng dường của chúng ta, là tâm ý của chúng ta, cúng dường chính là biểu thị tâm ý của chúng ta.

Ở trong bát cúng còn có hai loại hương: một loại là hương đốt, có thể đốt lên tạo thành mùi thơm, một loại là phấn thơm, chính là loại phấn thơm xoa lên người, gọi đây là phấn thơm. 

Trong đó còn có một vỏ ốc như ý, vỏ ốc như ý rất đặc biệt, vì sao phải cúng vỏ ốc như ý? Biểu thị là để cho Phật Bồ Tát vui vẻ, tất cả mọi thứ trong tâm đều vô cùng hài lòng, cũng tức là khiến cho hành giả (người tu hành) thấy hài lòng, cho nên gọi là ốc như ý.

Như vậy tổng cộng là tám loại, hoa hương đèn trà quả, trà có hai loại, hương có hai loại, rồi cộng thêm một cái vỏ ốc như ý, vừa đúng tám loại.

Cần phải hiểu quy tắc bố đàn của Mật giáo. Khi bạn tu pháp có rất nhiều quy tắc Mật giáo. Khi chúng ta tu pháp, có khi tu tiêu tai, có khi tu tăng ích, có khi tu hàng phục, có khi tu kính ái, cho nên pháp đàn cũng phải thay đổi. Pháp đàn cũng có quy tắc, đàn hình vuông, đàn hình tam giác, đàn hình tròn, đàn hình bán nguyệt, đều có quy định riêng. Vì sao phải làm như vậy? Bởi vì để giữ được đạo lý về ý nghĩa và sự tương ứng.

Ngoài ra, bố đàn cũng có màu sắc, khi làm tiêu tai thì dùng đàn màu trắng, dùng màu trắng tượng trưng cho thanh tịnh. Kính ái dùng đàn màu đỏ, tượng trưng cho sự nhiệt tình. Màu đỏ tượng trưng cho sự nồng nhiệt, đúng không? Hàng phục thì dùng màu lam, màu đen, tượng trưng cho sức mạnh của nó sẽ sinh ra. Thế còn tăng ích? Dùng màu vàng là tốt, vì sao dùng màu vàng? Bởi vì là vàng mà! Vàng thì giống màu vàng nhất rồi. Màu sắc của vàng, chà, bày màu sắc quý giá nhất đó ra. Tất cả đều là để có được tương ứng. 

Tiêu tai dùng màu trắng là rất tốt, bởi vì màu trắng là màu sắc thanh tịnh nhất, tượng trưng cho sự sạch sẽ nhất, dùng màu trắng để những thứ đen sẽ chạy mất, những thứ trắng sẽ đi vào. Cho nên chúng ta tu Cửu tiết Phật phong chính là hít vào là màu trắng, thở ra là màu đen. Hít trắng thở đen, trắng vào đen ra, đều là biểu thị ý nghĩa tiêu nghiệp chướng.

Cho nên bạn nhìn xem, pháp đàn tiêu tai rất có ý nghĩa, màu trắng rất thanh tịnh. Đàn kính ái dùng màu đỏ biểu thị nhiệt tình, người người khao khát. Đàn tăng ích, chà, vàng! Dùng màu vàng. Đàn hàng phục dùng màu đen biểu thị sức mạnh, màu đen, màu lam biểu thị có sức mạnh rất lớn sản sinh ra.

Nó đều có ý nghĩa riêng, có phương vị riêng. Khi bố trí bạn phải xem, địa điểm tốt nhất là ở nơi tương đối yên tĩnh. Nơi có tàng phong tụ khí, tức là khí ở nơi đó sẽ không chảy mất, tụ lại ở nơi đó. Nơi tàng phong tụ khí là nơi tốt nhất.

Khi tôi nói về phong thủy, tôi sẽ nói với mọi người một chút về thế nào là tàng phong tụ khí. Trước tiên bạn phải chọn một căn phòng tàng phong tụ khí, căn phòng tốt nhất, tốt nhất là nơi tàng phong tụ khí thì bạn mới có thể bố đàn. Phật Bồ Tát rất hoan hỷ, có thể giáng lâm tới nơi đó. Nơi này đại diện cho báo thân của Phật Bồ Tát, báo thân Phật ở nơi đó. Pháp thân Phật ở tại hư không, báo thân Phật ở tại đàn thành, bản thân bạn chính là ứng thân Phật. Ba thân pháp-báo-ứng đều có rồi, tu hành chính là như vậy.

Bạn hiểu pháp Bố đàn rồi thì hãy bày pháp đàn cho tốt, tu cho tốt, có sự kiên trì, có tâm bền bỉ, nhất định sẽ có thành tựu. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

30/08/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 086. Nói về quán tưởng (1)

Mạn đàm về quán tưởng, trong tu trì Mật giáo có chú, thủ ấn và quán tưởng, trong đó tương đối đặc thù chính là quán tưởng. Quán tưởng nói một cách đơn giản là dùng ý, cái này rất đặc thù. Đặc biệt là khi bạn đang dùng ý, bạn có thể ngăn chặn huyễn tưởng, ngăn chặn tạp niệm, rất nhiều huyễn tưởng, tạp niệm, vọng niệm thì trong lúc bạn dùng ý, bạn sẽ ngăn chặn được chúng sinh ra.

Trong pháp của Mật giáo, có rất nhiều loại phương pháp quán tưởng. Bày đàn thành rất quan trọng thì tôi đã giảng rồi. Bày đàn thành chính là một loại quán tưởng, đây gọi là quán đạo tràng. Khi nào thì có thể dùng quán đạo tràng? Khi bạn đi ra ngoài thì có thể dùng cách quán này. Bạn đi ra ngoài không ở trong nhà mình, không thể nào ở tại đàn thành trong nhà mình để tu pháp được, vậy bạn có thể dùng cách quán đạo tràng này. Đây là một phương pháp quán đạo tràng rất tốt.

Tôi thường nói hành giả Mật giáo chúng ta khi lên máy bay làm sao để cho bạn ở trên máy bay thấy yên tâm? Ở trên máy bay muốn có thể yên tâm thì bạn cần làm một loại quán tưởng. Sau khi bạn lên máy bay, bạn ngồi yên lặng, ngồi yên một chỗ, quán tưởng đàn thành và chư Phật ở trước mặt bạn, quán tưởng Bổn tôn ở trước mặt bạn, đây chính là quán đạo tràng.

Bạn đi ra ngoài tu pháp, bạn ở trong *hotel* khách sạn, bạn cũng có thể dùng quán đạo tràng. Bạn cảm thấy nơi này không thanh tịnh lắm, chúng ta nên làm thế nào? Bạn có thể quán tưởng khách sạn thành một đóa hoa sen lớn thanh tịnh. 

Giả sử bạn ngồi trên giường tu pháp, bạn hãy quán tưởng giường thành một đóa hoa sen lớn thanh tịnh, hành giả ngồi bên trên hoa sen, như vậy là cực kì trang nghiêm. Làm quán tưởng đạo tràng trước, sau đó quán tưởng giường mình - nơi không thanh tịnh, quán tưởng thành hoa sen thanh tịnh. Điều này rất quan trọng, quán tưởng xong rồi thì có thể tu pháp.

Ngồi trên máy bay bạn dùng cách quán đạo tràng, đàn thành của bạn sẽ xuất hiện. Sau đó bạn quán tưởng Bổn tôn từ nơi xa di chuyển đến trên đỉnh đầu bạn, ngồi trên đỉnh đầu bạn, lúc này bạn sẽ được yên tâm. Người ngồi trên máy bay nhưng trong lòng thì lại rất bình yên, bởi vì Bổn tôn ở cùng với bạn.

Vì thế khi tôi lên máy bay, tôi đều làm quán tưởng Bổn tôn, quán tưởng Bổn tôn trụ đỉnh, sau đó niệm chú Bổn tôn, trong lòng sẽ có được sự bình an. Không chỉ là như vậy, một khi Bổn tôn đã đến trên đỉnh đầu bạn, ngài sẽ bảo hộ bạn, toàn bộ máy bay đều nằm dưới sự bảo hộ của Bổn tôn, đây chính là một loại quán tưởng rất bình an. Tâm lý cực kì an tịnh, Bổn tôn ngồi trên đầu bạn, cùng bạn ngồi trên máy bay. Cho nên hành giả Mật giáo chúng ta đi tới đâu đều không tách rời Bổn tôn.

Ở trong đây có vài quán tưởng, trong Mật giáo rất quan trọng, quán đạo tràng rất quan trọng. Nếu bạn đi ra ngoài thì hãy dùng quán đạo tràng để tu hành. Ở trong nhà không có đàn thành cũng phải dùng quán đạo tràng để tu hành. Nếu không tiện bày đàn thành cũng có thể dùng quán đạo tràng để tu hành.

Tiếp theo còn có quán nguyệt luân, quán nguyệt luân là quán tưởng mặt trăng ngày mười lăm âm lịch rất tròn, trăng màu xanh rất tròn. Thông thường mà nói chúng ta quán tưởng như thế này là quán tưởng Thai tạng giới. Quán tưởng trong hư không vũ trụ mọc lên một vầng mặt trăng, mặt trăng này hình tròn, màu xanh, vô cùng trang nghiêm. 

Trên bầu trời chúng ta nhìn thấy mặt trời mặt trăng, vì sao lại chọn mặt trăng? Mặt trăng tương đối dịu mát, màu sắc thuần khiết, có một cảm giác của sự thanh tịnh. Bởi vì mặt trời không dễ để nhìn vào, bạn nhìn mặt trời thì mắt bạn sẽ chảy nước mắt, không dễ nhìn mặt trời. Mặt trăng ở trong hư không, mọc lên một mặt trăng, đây là một quán tưởng rất trang nghiêm, một tâm cảnh rất mát mẻ. 

Sau khi quán mặt trăng, cũng có quán chú tự. Chú tự là bình thường khi chư Phật sinh ra có một chữ, có một chữ là chủng tử tự của tất cả Phật Bồ Tát, chính là chữ Ah, là chủng tử tự của mọi vị Phật Bồ Tát, cho nên có một quán tưởng rất quan trọng chính là quán chữ Ah. 

Quán tưởng chữ Ah này là từ trong nguyệt luân có một chữ Ah xuất hiện. Vì sao quán chữ Ah lại tương đối quan trọng? Bởi vì Ah đại diện cho sự sinh ra của mọi vị Phật Bồ Tát, nguyệt luân đại diện cho Thai tạng.

Chúng ta thường niệm chú tam tự minh “Om ah hum”. Chữ Om này cũng rất vĩ đại. Om - duy nhất một chữ Om. Om đại diện cho vũ trụ, vô hình. Ah đại diện cho Phật sinh ra. Hum đại diện cho thành tựu. Ba chữ này cực kì có ý nghĩa.

Om chính là vũ trụ, Ah chính là Phật sinh ra, Hum chính là thành tựu. Ba chữ này gọi là chú tam tự minh, là một câu chú rất hay. Dùng chữ Ah đại diện cho sự sinh ra của chư Phật Bồ Tát, cho nên trong Mật giáo, chữ Ah vô cùng quan trọng. Có người quán tưởng chữ Ah này mà đã thành tựu. 

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

02/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 087. Nói về quán tưởng (2)

Chúng ta lại mạn đàm về quán tưởng. Đầu tiên có nguyệt luân, sau đó có chú tự, từ bên trong chú tự có thể xuất hiện Bổn tôn, đây là một thứ tự quán tưởng. Mọi người thử nghĩ xem, vì sao phải như vậy? Bởi vì Mật giáo nói rằng tất cả đều đến từ hư không, trước tiên hư không có Thai tạng nguyệt luân, bên trong nguyệt luân có chủng tử chữ Ah. Bổn tôn từ trong chủng tử sinh ra, tức là từ bên trong chữ Ah xuất hiện Bổn tôn của bạn. Đây là một trình tự, một trình tự sinh ra.

Cho nên tiếp theo sẽ là quán Bổn tôn, từ bên trong chủng tử sinh ra Bổn tôn, Bổn tôn chính là ở trong hư không. Từ Bổn tôn lại sinh ra quán nhập ngã ngã nhập, Bổn tôn và ta hợp nhất, như thế này sẽ trở thành Du già, chính là Kim cương thừa, chính là Mật giáo.

Vì thế, sau khi quán tưởng rõ ràng chủng tử rồi, từ trung tâm của chủng tử sẽ xuất hiện Bổn tôn, bởi vì Phật Bồ Tát từ Thai tạng chủng tử tự sinh ra Bổn tôn, Bổn tôn xuất hiện trong hư không, bạn có thể niệm chú Tứ nhiếp “Cha Hum Ban Ho”. Đây chính là chú Tứ nhiếp, tức là thỉnh Bổn tôn ở trong hư không (Cha), di chuyển đến trước mặt bạn (Hum), rồi ngồi trên đỉnh đầu bạn (Ban), sau đó đi vào bên trong thân thể bạn, hợp nhất với bạn (Ho). Quán tưởng này gọi là quán nhập ngã ngã nhập.

Mấy loại quán tưởng này đều rất quan trọng, đầu tiên có quán nguyệt luân, quán chủng tử tự, sau đó là quán Bổn tôn, cuối cùng chính là quán nhập ngã ngã nhập, Bổn tôn đi vào bên trong thân thể bạn hợp nhất với bạn. 

Trong sát-na, bạn đã hợp nhất với Bổn tôn rồi. Mật giáo dựa vào mấy quán tưởng quan trọng này để tu hành, từ bên trong quán tưởng của bạn cuối cùng biến thành chân thực, chính là Yoga tương ứng, đây là thứ tự tu pháp. Mấy quán tưởng này cực kì quan trọng, đó là quán đạo tràng, quán nguyệt luân, quán chủng tử tự, quán Bổn tôn và quán nhập ngã ngã nhập.

Chi tiết về quán nhập ngã ngã nhập, trước đây tôi đã giảng rồi. Cha - Bổn tôn xuất hiện tại hư không, Hum - di chuyển đến trước mặt bạn, ở ngay trước mặt, Ban - ngồi trên đỉnh đầu bạn, Ho - đi vào bên trong thân thể bạn, đây là chú Tứ nhiếp. Hành giả mỗi lần làm quán tưởng phải niệm 108 biến chú Bổn tôn, dùng chú ngữ, dùng thủ ấn và tưởng niệm để Bổn tôn và bạn hợp thành một, đây chính là tu hành của Mật giáo.

Chúng ta ngồi trên máy bay cũng có thể làm như vậy, Cha Hum Ban Ho, Bổn tôn đi vào bên trong thân thể bạn, bạn và Phật cùng ngồi trên máy bay. Máy bay này sẽ bay rất bình yên, trong lúc bay sẽ rất bình yên, rất như ý, rất cát tường. Sẽ không có sự việc gì xảy ra, cho dù có việc gì xảy ra thì cả người bạn cũng sẽ bay lên. Bay đến đâu đây? Bình an là được rồi, bình an chính là phúc. Hành giả chúng ta không cần sợ hãi, bởi vì Bổn tôn, Phật và bạn ở cùng nhau mà. Bạn chính là Phật, bạn đã biến thành Phật rồi.

Quán tưởng chi tiết, bạn phải quán tưởng và niệm chú rất kĩ càng, rất rõ ràng, ở trên máy bay cũng có thể tu như vậy. Ở trong khách sạn bạn cũng có thể tu như vậy. Về cơ bản, tu pháp của chúng ta chính là quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa, đây là Chính hành. Tu Chính hành trong nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp của chúng ta là quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa, nhập tam ma địa chính là ở trong định, biểu thị Phật và ta hợp nhất, định ở trong trạng thái là một đó chính là nhập tam ma địa.

Mọi người hãy suy nghĩ, sau khi trở về hãy luôn luôn ghi nhớ trong tâm năm pháp quán tưởng này, đối với cơ sở tu hành của Mật giáo, bạn có thể hiểu rõ tu pháp về mặt cơ bản, thì bạn sẽ hiểu được Mật giáo tu như thế nào.

Trong vũ trụ này có rất nhiều lực thần diệu, ví dụ lực của chân như, đó là một sự ấn tâm rất mạnh, ánh sáng xuất ra kết hợp với ánh sáng ở đối diện, chính là ấn tâm, chính là lực của chân như. 

Kiểu tương ứng giữa Thích Ca Như Lai và Đại Ca Diếp của Thiền tông gọi là “chân như tương ứng”, tương ứng chân như do ánh sáng và ánh sáng kết hợp với nhau. Bát nhã này là một vòng tròn, pháp Bát Nhã mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói là một vòng tròn ánh sáng cực kì viên mãn, đầy ắp trong hư không. 

Duy Thức mà Di Lặc Bồ Tát nói chính là lột bỏ từng lớp từng lớp, tiến vào bên trong ý thức sâu nhất, sâu nhất, phát hiện ra chân như, trên thực tế điểm ánh sáng của Phật tính đó chính là duy thức, ánh sáng của duy thức.

Pháp Du Già, thứ mà bây giờ chúng ta đang tu là pháp Du Già Mật giáo, còn gọi là pháp tương ứng. Pháp tương ứng chính là vũ trụ có một ánh sáng rất lớn, chính là ý thức vũ trụ. Bên trong thân thể chúng ta có ánh sáng nhỏ, dùng ánh sáng nhỏ tiến vào trong ánh sáng lớn của vũ trụ, chính là pháp Du Già. Pháp Du Già tối thắng chính là Tử quang tiến nhập vào bên trong Mẫu quang.

Trung Quán là thế nào? Trung Quán chính là một loại sóng của ánh sáng, nhưng trong sóng của ánh sáng, bạn phải tìm được con đường đạo thuộc về chính mình, đó chính là pháp Trung Quán. 

Những pháp này đều ở trong ánh sáng, đều rất vĩ đại. Là Lư Sư Tôn dùng các phương pháp để nhận thức, để tìm hiểu, để hiểu rõ, để thâm nhập. Phật giáo hiện tại chính là năm loại pháp tu hành: pháp Chân Như, pháp Bát Nhã, pháp Duy Thức, pháp Du Già, pháp Trung Quán. Hiện tại, những hướng dẫn của Phật giáo không rời xa năm loại pháp này.

Hôm nay tôi nói đến đây thôi. Om mani padme hum.

02/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 088. Sự trân quý của truyền thừa

Hôm nay tôi sẽ nói một chút về sự trân quý của truyền thừa. Vào thời hiện đại này mà nói, truyền thừa Chân Phật Tông là vô cùng trân quý. Chúng ta có truyền thừa của Hồng giáo, có truyền thừa của Bạch giáo, cũng có truyền thừa của Hoàng giáo, còn có truyền thừa của Hoa giáo. Dòng chảy pháp của bốn truyền thừa lớn này tập hợp lại với nhau, đây là hiện tượng rất hiếm có.

Mật pháp của chúng ta cũng là cao nhất, ví dụ pháp Đại viên mãn, pháp Đại thủ ấn, pháp Đại viên thắng huệ, pháp Đại Uy Đức Kim Cang, pháp này cũng là cao nhất. Chân Phật Tông chúng ta không chỉ có truyền thừa rất trân quý mà pháp cũng rất trân quý, quang vinh mà chúng ta đạt được cũng rất thù thắng.

Giống như lần này chúng ta làm pháp hội, Pháp Vương tối cao trong số các Hoạt Phật Tây Tạng - Pháp Vương Ganden Tripa, ngài đã đến chỗ của chúng ta ở đây, ngài đã tặng cho Sư Tôn những pháp khí mà ngài đã dùng qua. Chuông này, chày này, trống này, ngoài ra còn có pháp bảo trân quý, ví dụ pháp bào của Pháp Vương ngài cũng tặng cho tôi. Tặng pháp bào của Pháp Vương cho tôi có ý nghĩa cực kì lớn, đây chính là một sự trân quý của truyền thừa.

Trong Mật giáo mà nói, có nói đến ấn chứng, cho nên việc tặng pháp bào của Pháp Vương cho bạn có thể nói cũng là một sự ấn chứng. Chúng ta không chỉ có như vậy mà thôi, địa vị của Rinpoche Hoạt Phật Tây Tạng vốn dĩ rất cao quý, giống như lần này Uy Quang Lôi Tạng Tự ở Los Angeles làm pháp hội, có hai vị Rinpoche, tôi nói với họ: “Các vị không cần đến để tôi quán đảnh.”, nhưng họ nói: “Nhất định phải nhận quán đảnh của Liên Sinh Hoạt Phật thì mới cam tâm tình nguyện.” Tôi nói với họ: “Các vị đã là Rinpoche rồi, không cần đến nhận quán đảnh.” Nhưng họ cứ kiên trì muốn nhận quán đảnh, đây cũng là một sự ấn chứng.

Nhìn chung mà nói, Rinpoche còn cần nhận quán đảnh gì chứ, họ đã là Hoạt Phật rồi. Nhưng họ cho rằng, Sư Tôn còn cao hơn cả Rinpoche, cho nên vẫn phải trân quý. Hai chữ “trân quý” này, họ gọi là H.H <span className="note-blue">[His Holiness]</span> có thể nói đấy là “high high”, rất cao, cao nhất đó. Pháp Vương Ganden Tripa, vị Pháp Vương cao nhất trong số Hoạt Phật Tây Tạng, đã tặng áo bào của Pháp Vương cho tôi. Cho nên những Rinpoche đó đến đều là đến để nhận quán đảnh. Rinpoche đến quy y Chân Phật Tông chúng ta rất nhiều đó! Sớm nhất thì có Dacheng Rinpoche, gần đây có Thubten Gyatso, họ đều đến quy y Chân Phật Tông chúng ta. 

Vì thế, pháp lưu của Chân Phật Tông đã tỏa ra một loại hào quang, giống như đại thành tựu cầu vồng vậy. Người ta chỉ nhìn thấy tôi là sẽ sản sinh ra một sự biểu cảm vô cùng kinh ngạc, hơn nữa còn phát hiện ra ánh sáng chói lọi trên người tôi, trên người tôi có ánh sáng. Bởi vì trên người có ánh sáng rồi, họ sẽ thật lòng khâm phục, họ sẽ đến để nhận quán đảnh, quy y. Nguyên nhân chủ yếu chính là một dạng sức mạnh thu hút triệu gọi, sau khi một dạng hào quang phát ra, họ nhìn thấy và tự nhiên đến nhận quán đảnh, tự nhiên đến quy y, tự nhiên đem pháp bào của Pháp Vương tặng cho tôi. 

Sự việc kiểu này cũng không thể tùy tiện nói ra, tôi bảo họ không cần đến nhận quán đảnh, họ nói tôi nhất định phải đến nhận quán đảnh. Bảo họ không cần quy y, bạn đã là Rinpoche rồi, đều là Hoạt Phật rồi mà, nhưng họ nhất định phải đến nhận quán đảnh và quy y từ Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đây là việc mà mọi người đã tận mắt nhìn thấy.

Đẳng cấp của họ được phân rất rõ ràng, người nào ngồi ở vị trí cao, người nào ngồi ở vị trí thấp, phân biệt rất rõ ràng. Người ở vị trí cao cũng đến nhận quán đảnh của Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, sau đó để cho họ quy y, đây chính là sự thù thắng của pháp lưu Chân Phật Tông.

Cho nên sau này mỗi một vị Thượng sư, mỗi một vị pháp sư đi ra ngoài, trên mặt mọi người đều sẽ có ánh sáng, người ta hỏi về sư phụ của bạn, “A! Ông ấy là Hoạt Phật trong các Hoạt Phật, là Pháp Vương trong các Pháp Vương, là Thượng sư của Hoạt Phật, là sư phụ của Hoạt Phật.” Làm sao để tu được điều này? Có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Bên ngoài thì phải uy nghi và tỏa sáng, bên trong sau khi bạn tu thành, tự nhiên sự uy nghi và tỏa sáng bên ngoài của bạn sẽ hiển hiện ra sự uy nghiêm, hơn nữa còn hiện ra ánh sáng hào quang đó, sức mạnh nhiếp triệu đó.

Pháp lực của Mật giáo là vô cùng phi phàm, tương lai sự siêu thắng của Chân Phật Tông chúng ta là cực kì, không chỉ dừng lại ở bốn triệu đệ tử mà càng có nhiều chúng sinh hơn sẽ vì sự nhiếp triệu của tôi mà sau đó sẽ đến nương dựa vào tôi. 

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

17/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết tập 2)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-3.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 3
---

![image](/img/img_55db17156aa0e0bde520d311e76c43c9.jpg)

## Hồng quang đại thành tựu - Tập 3

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">624</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">Năm 1996</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### 089. Hữu tướng và vô tướng của Mật giáo

Hôm nay tôi nói về hữu tướng và vô tướng của Mật giáo. Có rất nhiều người đến đạo tràng Hiển giáo để xem, thấy đạo tràng Hiển giáo vô cùng thanh nhã, bố trí rất đơn giản, có đạo tràng chỉ có một vị Quan Âm màu trắng, những thứ khác đều rất thuần, đều trắng trơn. Họ cho rằng như thế này là vô tướng. Thế rồi đến đạo tràng Mật giáo để xem, chà, màu sắc sặc sỡ, màu sắc gì cũng có, nào là cờ Phật, màn che, ô lọng, cách bố đàn cũng rất nhiều màu sắc, họ hiểu nhầm rằng Mật giáo là hữu tướng.

Thật ra, nói chung Mật giáo có hữu tướng và cũng có vô tướng. Thế nào là hữu tướng? Đàn thành là hữu tướng, quá trình chúng ta tu hành cũng là hữu tướng, pháp cũng là hữu tướng. Mật giáo có bốn bộ: Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ, trong ba bộ đầu (Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ) đều là phạm vi của hữu tướng.

Khi chúng ta mới khởi đầu tu hành cũng cần phải bắt đầu từ hữu tướng. Nói một cách rất đơn giản, trước khi bạn tu pháp, đầu tiên phải triệu thỉnh, vỗ tay, bắt chéo tay và búng ngón tay, đây là để đánh thức, biểu thị bắt đầu tu pháp. Sau đó bạn kết thủ ấn câu triệu, chính là triệu thỉnh Phật Bồ Tát hạ giáng, bạn kết ấn xa luân, chính là để mời Phật Bồ Tát ngồi trên xe, ngồi trên Mercedes Benz, ngồi trên xe Rolls-Royce, bởi vì bạn kết ấn xa luân mà. Ấn xa luân này biểu thị rằng tôi đã lái xe tới đón các ngài. Những pháp này đều là hữu tướng.

Cuối cùng bạn tu xong pháp rồi còn phải “giải tán”, thế nào là giải tán? Tức là nói rằng đã tu pháp xong rồi, xin mời các vị trở về nhà nghỉ ngơi, về nhà đi ngủ. Bạn vỗ tay, bắt chéo tay rồi búng ngón tay, đây cũng là một loại ấn giải tán, tức là mời các vị trở về, đây đều là pháp hữu tướng. Đi triệu thỉnh các vị đến, dùng xe đi đón các vị đến, cuối cùng là tiễn các vị trở về, đây đều là phạm vi của Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ.

Đàn thành chính là hữu tướng, bạn quán tưởng làm một số pháp chính là hữu tướng. Nhưng đến Vô thượng mật bộ là lúc vô tướng, bạn thật sự tiến nhập vào trong cảnh giới cao nhất thì sẽ trở thành vô tướng. Lúc đó bạn chỉ cần có một ý niệm thì đó chính là đàn thành, căn bản không cần bày đàn thành. Một ý niệm chính là cúng dường, cho nên tôi nói bạn cầm một bông hoa, một ý niệm, bông hoa này chính là cúng dường mười phương Phật, mười phương pháp, mười phương tăng, cúng dường hết tất cả, chỉ dùng ý niệm để làm. Ở đây đã tiến vào vô tướng, cho nên đây gọi là Mật tông vô tướng.

Cảnh giới này đương nhiên là rất cao, mỗi người tu hành chúng ta trước tiên đều từ hữu tướng, sau đó tiến nhập vào cảnh giới vô tướng cao nhất. Cho nên chúng ta làm pháp, bạn xem ấn Cửu tự chân ngôn tứ tung ngũ hoành đó, tung ra thủ ấn này là thành một cái lưới, lưới tung ra tóm gọn lấy ma. Nhưng ở trong Mật tông vô tướng, một ý niệm của bạn đã có thể khiến hư không rơi xuống một cái lưới, căn bản là bạn không cần làm thủ ấn. 

Cho nên khi thật sự đến được cảnh giới cao nhất rồi, đàn thành cũng không còn nữa, thời gian tu pháp cũng ngắn, có khi thậm chí ngay cả thủ ấn cũng không cần kết, chỉ một ý niệm phát khởi là cả một tấm lưới buông xuống, thế là thiên la địa võng trói chặt lấy ma rồi.

Giống như chúng ta vẽ phù, vẽ phù của Đạo gia chính là hữu tướng, dùng bút, nước, mực, nghiên mực đều phải niệm chú, sau đó giấy cũng phải niệm chú, sau khi vẽ xong thì còn phải gia trì. Khi bạn thật sự đến được vô tướng rồi, im lặng cũng là một tiếng sấm, một sự trầm mặc, một ý niệm, một lá phù đã phóng đi rồi.

Cho nên, bạn không cần phải ở đó vẽ một tấm Ngũ Lôi phù, chà, phải vẽ năm hình sấm. Kim, mộc, thủy, hỏa, vẽ phù Vương Ngũ Lôi mất cả nửa ngày, rồi còn phải hà khí, phải hét một tiếng chấn động, còn phải áp ấn, sau đó còn phải đốt phù, như vậy mới có thể đẩy phù đi. Im lặng cũng là một tiếng sấm, chỉ cần ngồi yên là sấm sẽ nổi lên, đây chính là vô tướng.

Vì thế, khi Phật Bồ Tát đến cảnh giới cao nhất thì thuộc về vô tướng. Thật ra khi thế giới này mới khởi đầu thì đều là vô tướng, sau đó dần dần biến thành hữu tướng. Chúng ta tu hành đầu tiên từ hữu tướng sau đó tu vô tướng. Cho nên có người phê bình Mật tông, nói Mật giáo đều là hữu tướng, đây là một sai lầm. Bởi vì ba bộ đầu của Mật pháp - Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ đều là hữu tướng, nhưng Vô thượng mật bộ thì là vô tướng.

Một khi tiến nhập vô tướng, cũng tức là tất cả đều thanh tịnh. Bởi vì đến cảnh giới đó ma cũng không thể sinh ra được tác dụng của ma, không có trò ma nữa. Bạn tiến vào cảnh giới vô tướng, làm gì còn ma chứ? Ma cũng là vô tướng mà. Đã không còn ma nữa rồi.

Bạn tiến nhập cảnh giới vô tướng, còn phải làm pháp gì chứ? Tất cả pháp đều là vô pháp, trống rỗng, quy về không! Bạn thật sự vận dụng được sức mạnh của tính Không thì sẽ có thể nhậm vận tất cả pháp hữu tướng, cảnh giới này đương nhiên là rất cao, rất cực kì, là thật sự vô thượng. Ý nghĩa của vô thượng cũng chính là không có pháp nào cao hơn. 

Vì thế, bạn thật sự hiểu được điều này mới là Pháp Vương, bạn là Pháp Vương thì bạn phải hiểu Mật tông vô tướng. Bạn ở trong phạm vi của hữu tướng thì bạn vẫn chịu sự hạn chế, chỉ có tiến nhập vào trong phạm vi của vô tướng mới là thần thông nhậm vận, mới là khai ngộ chân chính, mới là vượt lên ba cõi, trải khắp mười phương. Theo chiều thẳng đứng thì vượt quá ba giới, theo chiều ngang thì trải khắp mười phương, khi bạn có thể lĩnh ngộ được cảnh giới này rồi thì mới gọi là khai ngộ.

Bạn đã khai ngộ rồi cũng tức là bạn có thể tùy ý đi tới bất kì nơi nào, tùy ý đi tới bất kì pháp giới nào, bạn tiến vào trong cảnh giới này mới là Phật chân chính, mới là viên mãn chân chính. Tất cả Rinpoche thấy bạn tiến vào cảnh giới này, họ sẽ tôn xưng bạn, bạn là Pháp Vương chân chính.

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

17/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 090. Nghi quỹ tu pháp phải chu toàn

Chúng ta lại nói về sự chu toàn của nghi quỹ tu pháp. Mật giáo có rất nhiều nghi quỹ tu pháp, nhưng nói một cách đại khái thì nghi quỹ tu hành không nằm ngoài sự phân tách thành Tiền hành, Chính hành, Hậu hành, tức là phân làm ba giai đoạn.

Thế còn nghi quỹ chu toàn tức là biểu thị trong quá trình bạn tu pháp không được bỏ sót các chi tiết liên quan đến phương diện niệm chú, phương diện quán tưởng, phương diện kết ấn, đều không được bỏ sót, hơn nữa còn phải rất tỉ mỉ. Nhưng bỏ sót rồi thì phải làm sao? Bỏ sót thì vẫn có một cách để sửa chữa. Chúng ta biết rằng khi bỏ sót thì phải niệm Kim Cang Tát Đỏa chân ngôn, chính là phải niệm 3 biến Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh chân ngôn. 

Vì sao chân ngôn Bách tự minh của Kim Cang Tát Đỏa này có thể bổ khuyết? Bởi vì nó hóa toàn bộ nghi quỹ thành tính Không, khi hóa tất cả thành tính Không thì bất kì một khiếm khuyết nào cũng đều có thể được sửa chữa. Cho nên có thể nói Bách tự minh chân ngôn chính là một tượng trưng của tính Không.

Chúng ta biết rằng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, thật ra kinh điển này cũng hoàn toàn là một chữ mà thôi, chữ này chính là “Không” - chữ Không. Cho nên trong số các kinh điển mà Phật đã giảng, cô đọng lại đến cuối cùng sẽ biến thành Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Tâm Kinh này nói về chữ Không. Thế còn Bách tự minh chân ngôn trong Mật giáo cũng nhấn mạnh vào chữ Không này, hóa tu hành của bạn thành Không, hóa pháp thành tính Không, trực tiếp dung nhập vào tính Không, thế là có thể sửa chữa cho bạn tất cả sai sót khi tu pháp, cho nên Bách tự minh rất quan trọng.

Chúng ta biết rằng phần Tiền hành trong Chân Phật Mật Pháp bao gồm đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, tứ vô lượng tâm. Chính hành thì nhấn mạnh vào ba mục: một là quán tưởng, một là trì chú, một là nhập tam ma địa. Mọi người biết, khi quán tưởng cũng phải kết thủ ấn, ở đây là tượng trưng cho sự thanh tịnh của ý niệm. Quán tưởng chính là sự thanh tịnh của ý niệm, kết thủ ấn đại diện cho sự thanh tịnh của thân, còn trì chú thì là sự thanh tịnh của khẩu. Nhập tam ma địa chính là sự thanh tịnh của tất cả hư không, cũng tức là tất cả thanh tịnh chính là tam ma địa, điều này rất ít người có thể nhận thấy được.

Khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh, ý thanh tịnh, còn phải tất cả thanh tịnh, tam ma địa chính là nói về nhập vào Không cảnh, có thể trụ trong trạng thái hư không hoàn toàn bất động thì tức là nhập tam ma địa.

Nghi quỹ tu hành phải chu toàn chính là như vậy, phải hiểu khẩu quyết thật sự của nó nằm ở đâu. Trong một pháp, bản thân nó có rất nhiều tâm yếu, hơn nữa có rất nhiều khẩu quyết. Bạn cho rằng tu hành rất đơn giản, cứ theo nghi quỹ mà làm một lần, trên thực tế bên trong có rất nhiều quán tưởng rất quan trọng, mỗi một phần đều phải quán tưởng.

Thế còn Hậu hành thì sao? Hậu hành chính là kệ tán thán, tán dương Bổn tôn trí huệ. Sau đó phải hồi hướng, hồi hướng tức là nói về hồi hướng công đức mà bản thân bạn có được khi tu pháp này. Còn có cầu nguyện, bạn tu pháp này, bạn có nguyện vọng gì, bạn đều phải nói ra. Phải cầu nguyện, phải hồi hướng, phải tụng kệ tán dương đó! Những mục này đều thuộc về phạm vi của Hậu hành.

Ví dụ trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, mỗi ngày chúng ta đều tu pháp này, xấp xỉ nửa tiếng là tu xong một đàn pháp. Nhưng mà trong Tạng mật chân chính, tôi nghe nói phải mất hai tiếng, bởi vì kinh và chú mà họ niệm rất dài, hơn nữa nghi quỹ mà họ làm rất phức tạp, trùng lặp rất nhiều, cho nên họ tu một đàn pháp phải mất hai tiếng.

Chúng ta tu một đàn pháp, tôi đã tinh giản thành nửa tiếng, nhưng công hiệu thì cũng như thế. Vì sao tôi nói công hiệu vẫn như vậy? Bởi vì niệm chú, mọi người biết chú ngữ có chú dài, rất dài, có chú ngắn, tương đối ngắn hơn một chút, còn có cả tâm chú, tâm chú thì càng ngắn nữa. Vì dụ chú ngữ của chư Thiên, chú của 12 Thiên, chú ngữ của họ chỉ có một chữ. Bạn biết là chữ nào không? “Hum”, chú của tất cả các cõi trời chỉ có một chữ chính là chữ “Hum”. Nhưng chữ này có *power <span className="note-blue">[sức mạnh]</span>* rất lớn. Chú có chú dài, chú vừa, chú ngắn, còn có tâm chú.

Hiện tại nghi quỹ mà Chân Phật Mật Pháp dùng, có thể nói tu một đàn pháp chính là một tâm pháp. Chúng ta đã cô đọng nó thành một pháp rất trọng yếu, một tâm pháp không thể sai sót. Chúng ta dựa theo đó mà tu thì nghi quỹ đó sẽ chu toàn, chúng ta đều đã loại bỏ một số kinh văn rườm rà và những chú ngữ trùng lặp, chúng ta tu tinh hoa.

Vì thế trong nghi quỹ tu hành, quan trọng nhất là phải chu toàn, không được sai sót. Về quán tưởng có sai sót, về thủ ấn có sai sót, về niệm chú có sai sót, trên các mục của nghi quỹ đều có sai sót, thì phải niệm Bách tự minh chú để bổ khuyết cho nó. 

Một khi bạn làm nghi quỹ chu toàn rồi, có thể nói là bạn sẽ sản sinh ra pháp lực, pháp lực của pháp này sẽ sản sinh ra. Nếu pháp lực xuất hiện, bạn tu hành tự nhiên sẽ có thành quả. Không có pháp lực này xuất hiện, pháp mà bạn tu cũng chẳng khác gì phí công vô ích. Cho nên mỗi lần bạn tu pháp đều có Bổn tôn trí huệ đến quán đảnh cho bạn, gia trì cho bạn, điều này vô cùng quan trọng. 

Hôm nay tôi giảng nghi quỹ chu toàn, giảng tới đây thôi.  
Om mani padme hum.

18/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 091. Nội pháp của Mật giáo

Chúng ta lại nói một chút về Nội pháp của Mật giáo. Ngoại pháp chính là nói về thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. Thế còn Nội pháp chính là tu khí, mạch và minh điểm.

Khí chủ yếu nhất là phải tu cho nó trở nên mạnh mẽ, tràn trề, thậm chí là khí của bạn và khí của vũ trụ chu thiên phải tương thông. Nói cách khác là, khí của bạn và khí của tiên thiên vũ trụ là thông với nhau. Ồ! Cái này rất cao sâu rồi, không chỉ là khí đủ mà thôi.

Còn nói về mạch của thân thể bạn, bản thân mạch phải thông, còn gì nữa? Chính là nguyên tố sinh mệnh của thân thể bạn, tức minh điểm, minh điểm này nhất định phải tu đến trình độ minh điểm vô lậu, những cái này chính là trọng điểm. Khí phải đủ, mạch phải thông, minh điểm phải không còn rò rỉ, đây chính là Tam Bảo mà trong Mật giáo phải quán tu. Ngoài thân khẩu ý thanh tịnh ra, quán tu khí, mạch, minh điểm của bạn nhất định phải tu thành. 

Thật ra mà nói Mật giáo chính là tu một Ngoại pháp, một Nội pháp, sau đó lại tiến lên Vô thượng mật bộ, đến Đại viên mãn, nói ra thì có vẻ rất đơn giản, nhưng những điểm mấu chốt trong đó thì rất phức tạp, sự ứng dụng của nó cực kì vi diệu. Bạn biết khí đủ rồi, khí có thể vô cùng tràn trề ở trong thân thể, thân thể bạn mới có thể khỏe mạnh.

Bạn phải có khí này, minh điểm của bạn không thể để rò rỉ mất, ba thứ khí, mạch, minh điểm đều là mấu chốt, chính là nguyên tố sinh mệnh của thân thể bạn, đều không được thất thoát ra ngoài.

Trong Mật giáo, muốn tu được minh điểm vô lậu cũng không phải đơn giản, đó đều là khẩu quyết rất bí mật. Có thể nói, bạn phải hiểu rằng đó là bí pháp tổ truyền của bạn: bạn có thể bán được nghìn vàng, vạn vàng.

Pháp này đương nhiên là đại pháp, bản thân pháp vô lậu này là đại pháp, có thể nuôi dưỡng tinh khí thần của bạn dồi dào. Trong Đạo gia gọi là tu tinh khí thần. Thực ra Đạo gia có rất nhiều pháp rất giống với pháp minh điểm, Đạo gia cũng nói về vô lậu. Tinh của bạn chạy đi đâu thì phải thu hồi về từ đó. Trong kinh điển Đạo giáo đã nói rất rõ ràng, thủy có thể không chảy ra bên ngoài, có thể thu hồi, đây chính là đại đạo đảo ngược. Đại đạo có thể đảo ngược, bạn có thể chứng minh được điều này thì bạn chính là Thần Tiên.

Đạo gia nói tinh khí thần không được rò rỉ ra ngoài, tự nhiên bạn sẽ có thể trường sinh, có thể đắc đạo tự nhiên, bạn còn có thể thu hồi. Bản thân Mật giáo mà nói là thu hồi, nó không những không chảy ra ngoài mà còn phải thu hồi về, sau khi thu hồi mới phải hóa thành thần, hóa thành quang, chính là tịnh quang đó.

Vì thế, Mật giáo nói về đại lạc, chỉ có vô lậu chân chính mới là đại lạc. Các pháp hữu lậu khác toàn bộ đều là tiểu lạc thôi. Bên trong thân thể của bạn, khi thủy và hỏa tan vào nhau, vận khí đầy khắp toàn thân, khi đả thông mọi mạch, thì cái khoái lạc đó là vĩnh hằng. Nói chung điều này chỉ có Mật giáo mới có, Hiển giáo bình thường sẽ không có thứ này. Hiển giáo không có thứ này cho nên bạn muốn học vô lậu thì rất khó. Bởi vì đây là khẩu quyết vô cùng bí mật trong Mật giáo, có rất nhiều pháp bí mật ở trong đó.

Nếu mạch của bạn có thể thông, toàn thân sẽ hóa thành thân thể ánh sáng trong suốt. Nếu mạch không thông, khắp nơi đều có chướng ngại. Phiền não, lo lắng, đau khổ của bạn toàn bộ đều vì mạch không thông mà sinh ra. Bên trong thân thể có bệnh, toàn bộ đều là vì mạch không thông. Nếu mạch đều thông thoáng toàn bộ, huyết dịch tuần hoàn, khí tuần hoàn đều thông thoáng, thì căn bản sẽ không có bệnh. Ở đâu có tắc nghẽn thì ở đó có bệnh.

Vì thế, khẩu quyết của Mật giáo là khí nhất định phải đủ, mạch nhất định phải thông, minh điểm nhất định phải không còn rò rỉ, đây là vệ sinh sinh lý. Nói chung, rất nhiều người bảo rằng: “Ôi chao! Liệu tu bên trong thân thể có phải là tu pháp ngoại đạo không?” Căn bản không hề là ngoại đạo, chính là sinh lý của bạn thôi. Bạn là người tu hành cần phải biết sức khỏe thân thể của bạn chứ, đây là sinh lý học đó. Sinh lý học làm sao lại là ngoại đạo chứ? Tôi thấy là nội đạo chứ chẳng phải ngoại đạo. Bạn có cái vốn rồi, có được thân thể khỏe mạnh thì mới có thể tu hành, thân thể không khỏe thì tu hành cái gì chứ? Bạn không có vốn thì bạn tu cái hành gì chứ?

Cho nên, tu khí mạch minh điểm có thể từ thân thể của bạn mà ấn chứng đại pháp thành Phật. Bản thân tôi cho rằng, thân thể và tâm đều quan trọng như nhau, không thể chỉ có tu tâm, thân thể cũng phải tu, thân, tâm cùng tu mới là chính đạo, thiên lệch về bên nào cũng là ngoại đạo. Bạn chỉ mỗi tu tâm, bạn không có thân thể thì lấy đâu ra tâm? Chỉ có tu thân mà không trọng tu tâm thì cũng không được, tâm này của bạn bất chính thì cũng không tu thành được. Vì thế, thân, tâm nhất định phải coi trọng.

Nội pháp của Mật giáo chính là tu khí, mạch, minh điểm, sau đó chuyển hóa nó thành tịnh quang. Không chỉ có đại lạc mà còn có ánh sáng thanh tịnh, kết hợp cái này lại, sau đó nếu tiến nhập vào tính Không thì bạn sẽ thành Phật, thành Bồ Tát rồi. Cho nên mới nói Dục thiên chính là Lạc thiên, Sắc giới thiên chính là Tịnh thiên (cõi trời thanh tịnh), Vô sắc giới thiên chính là Không thiên, ba cái kết hợp lại chính là Phật thiên, tức là thành tựu tứ Thánh giới. Đây chính là bí mật của Mật giáo.

Om mani padme hum.

18/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 092. Nội nghĩa của quán đảnh

Hôm nay chúng ta nói một chút về nội nghĩa của quán đảnh. Quán đảnh của Mật giáo có nội nghĩa rất sâu, có người cho rằng quán đảnh chỉ là một nghi thức, giống như quy y vậy, quy y cũng chỉ là một nghi thức mà thôi. Trên thực tế không phải vậy, nó có nội nghĩa rất sâu ở bên trong.

Mỗi một vị Kim cương Thượng sư quán đảnh, trước khi muốn làm quán đảnh, nhất định phải tu pháp quán đảnh. Bạn quán đảnh pháp gì thì buộc phải tu pháp đó, phối hợp với nhau. Vị thầy quán đảnh nhất định phải dùng ý niệm để triệu thỉnh Bổn tôn ở trong hư không, sau đó Bổn tôn còn phải đi vào bên trong vị thầy quán đảnh, vị thầy quán đảnh sẽ biến thành Bổn tôn trí huệ. 

Tiếp theo, pháp khí để quán đảnh nếu là bình kim cang thì vị thầy quán đảnh phải dùng ý niệm triệu thỉnh Bổn tôn trí huệ tiến vào bên trong bình, sau đó Bổn tôn trí huệ ở bên trong bình, từ các lỗ chân lông khắp toàn thân Bổn tôn chảy ra cam lộ. Sau khi chảy ra cam lộ thì biểu thị rằng thứ đựng bên trong bình này chính là cam lộ của Bổn tôn trí huệ, cái này mới có thể thực hành quán đảnh cho các đệ tử. Đây là nói về phía vị thầy quán đảnh.

Thế còn những đệ tử nhận quán đảnh cần phải biết là mình nhận quán đảnh gì. Trong miệng phải niệm chú của Bổn tôn trí huệ, tay phải kết thủ ấn của Bổn tôn trí huệ. Về phương diện quán tưởng tôi thường nói, phải quán tưởng Bổn tôn mà bạn muốn quán đảnh ngồi trên đỉnh đầu bạn, như vậy nhận quán đảnh sẽ rất có ý nghĩa, đây chính là nội nghĩa của quán đảnh.

Vị thầy quán đảnh phải làm đủ mọi triệu thỉnh bằng ý niệm, biến chính mình thành Bổn tôn, thậm chí dụng cụ quán đảnh cũng phải biến thành Bổn tôn. Đệ tử nhận quán đảnh phải biết niệm chú, phải quán tưởng Bổn tôn trụ đỉnh, còn phải kết thủ ấn nữa.

Rất nhiều đệ tử đến cầu Sư Tôn quán đảnh, họ nói muốn quán đảnh cái gì, tôi nói: “Được, vậy anh hãy niệm chú Bổn tôn đi!” Anh ta nói: “Con không biết niệm.” Thế thì không được rồi. Tôi nói anh kết thủ ấn đi! Anh ta nói muốn quán đảnh pháp Uy quang như ý, tôi nói: “Được, anh kết thủ ấn Uy quang như ý đi.” Anh ta nói: “Con không biết.” Tôi nói trước khi anh muốn nhận quán đảnh, anh phải thỉnh giáo chú ngữ này niệm thế nào, quán tưởng Bổn tôn ra sao, thủ ấn kết thế nào, tất cả đều phải rõ ràng, không phải là tùy tiện được.

Có một số đệ tử đến cầu quán đảnh, trên một tờ giấy viết ra mười quán đảnh cho một lần, tôi nói: “Toàn bộ mười quán đảnh này phải triệu thỉnh Bổn tôn trí huệ, anh dùng cái gì để triệu thỉnh?” Sư Tôn đương nhiên có thể dùng ý niệm để triệu thỉnh các vị đến, chẳng có vấn đề gì, bởi vì trước đó tôi đều cầu nguyện, trước đó tôi đều có cầu Phật Vương, Tiên Vương, Địa Vương - tam vương hộ trì. Sau đó ví dụ cầu Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến làm thân đàn thành, một khi triệu thỉnh thì rất nhanh chóng có thể triệu mời các vị đến. Nhưng là đệ tử thì phải có điều kiện nhận quán đảnh là: bạn có biết Bổn tôn, biết chú ngữ, biết thủ ấn không? Cái này chính là nội nghĩa của quán đảnh, rất quan trọng, nội nghĩa rất quan trọng của quán đảnh nằm ở đây.

Cho nên người nhận quán đảnh, vị thầy quán đảnh và pháp khí quán đảnh, ba thứ phải hợp nhất, bằng không quán đảnh này sẽ chẳng xuất hiện quán tướng gì. Nếu bạn có được ba thứ hợp nhất thì có thể sản sinh ra quán tướng của quán đảnh.

Nói đến quán tướng bên trong nội nghĩa của quán đảnh, rất nhiều người sau khi nhận quán đảnh, rất nhanh chóng nghiệp chướng của họ đã tiêu trừ. Vì thế, trước đây khi tôi làm quán đảnh rộng rãi cho cộng đồng, rất nhiều người xuất hiện kỳ tích. Vừa nhận quán đảnh xong là khối u trên đầu đã tiêu biến. Thân thể họ vốn dĩ có bệnh tật, vốn dĩ có bệnh lâu năm, vừa nhận quán đảnh xong thì những bệnh này không còn nữa, bệnh đã tiêu trừ rồi. Vừa nhận quán đảnh xong, nghiệp đen của người đó đã chảy đi, còn nghiệp thiện, nghiệp màu trắng liền tới. Dòng chảy pháp màu trắng, cam lộ màu trắng vừa tới thì nghiệp màu đen bị tiêu trừ hết, cho nên bệnh cũng không còn. 

Ví dụ có sỏi thận, sỏi mật, sỏi bàng quang, bỗng dưng khi đi chụp X-quang lại không thấy nữa. Thân thể lưng đau hông mỏi, hôm nay nhận quán đảnh xong, đột nhiên toàn bộ đều không còn đau nữa, đây chính là một loại quán tướng.

Ngoài ra vẫn còn nữa. Ngày hôm nay bạn nhận quán đảnh, buổi tối đó liền mơ thấy giấc mơ cực kì cát tường. Phật Bồ Tát phóng quang gia trì cho bạn, bạn nhìn thấy Phật Bồ Tát, nhìn thấy Bổn tôn, thế rồi bạn đi du lịch ở thiên thượng giới, bạn có thể cưỡi gió phi hành, ở trong hư không bay vút lên không, ở trên không đi tới đi lui như thế này. Chà! Bạn biết bay rồi.

Bạn ăn những thứ màu trắng, nôn ra những thứ màu đen, những nghiệp chướng bên trong thân thể bạn đều tiêu trừ hết. Còn có người sau khi quán đảnh, họ mơ thấy mình chải đầu thì thấy sâu rơi đầy mặt đất, đây chính là quán tướng. Vốn dĩ người đó có bệnh đau đầu đã ba mươi mấy năm rồi, sau khi được quán đảnh thì ngày hôm sau, căn bệnh đó từ nay trở về sau đã khỏi luôn rồi, hoàn toàn bình phục rồi, đây chính là quán tướng.

Cho nên quán đảnh có cảm nhận rất hay, điểm này bạn phải hiểu rõ ràng. Bởi vì quán đảnh của Mật giáo có nội nghĩa rất sâu, biểu thị một sự gia trì của pháp lực. Một loại dòng chảy pháp màu trắng tiến vào trong thân thể bạn, khiến cho những nghiệp đen của bạn có thể tiêu trừ, chứ không chỉ là một dạng nghi thức. Tôn giáo bình thường cử hành nghi thức này, cứ thế làm nghi thức, bề ngoài xem như là đã quy y quán đảnh rồi. Nhưng trên thực tế, nội nghĩa thậm thâm chân chính là phải có dòng chảy pháp màu trắng tiến vào thân thể bạn, tiêu trừ nghiệp đen của bạn.

Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

19/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 093. Nghĩa rộng của quán đảnh

Chúng ta lại nói một chút về nghĩa rộng của quán đảnh. Quán đảnh có ý nghĩa nội tại, đương nhiên cũng có ý nghĩa rộng khắp ở trong đó. Tôi từng nói, khi bạn quy y thì sẽ phải nhận quán đảnh, loại quán đảnh đó gọi là quán đảnh kết duyên, cũng tức là quán đảnh đầu tiên giữa sư phụ và đệ tử, chính là thuộc về quán đảnh kết duyên, biểu thị sư phụ và bạn có duyên với nhau.

Sau khi kết nhân duyên, lại tiến thêm một bước quán đảnh nữa, có thể nói là quán đảnh học pháp, bạn bắt đầu phải học pháp rồi. Rồi lại tiến thêm một bước nữa thì gọi là quán đảnh minh pháp, bạn đã hiểu rõ pháp rồi thì gọi là quán đảnh minh pháp. Và tầng thứ tự cao nhất gọi là quán đảnh truyền pháp, còn gọi là quán đảnh Thượng sư, tức là quán đảnh Acharya (giáo thọ sư). Khi bạn đã có tư cách có thể truyền pháp rồi thì gọi là quán đảnh Kim cương Thượng sư, tức là quán đảnh Acharya <span className="note-blue">[A-xà-lê]</span>. 

Cho nên dựa theo tác dụng mà nói, có quán đảnh kết duyên, có quán đảnh học pháp, thế rồi có quán đảnh minh pháp, cuối cùng là quán đảnh Kim cương Acharya. Quán đảnh có ý nghĩa rộng khắp, có thứ tự ở bên trong.

Trong Chân Phật Mật Pháp có phân thành bốn cấp quán đảnh. Bạn theo đuổi học tập Mật pháp thì có quán đảnh Ngoại pháp, có quán đảnh Nội pháp, còn có quán đảnh Vô thượng mật bộ, và quán đảnh Đại viên mãn, tổng cộng phân thành bốn cấp như vậy. Đến được quán đảnh Đại viên mãn rồi thì cảnh giới này đã rất cao rồi. 

Mật giáo thông thường gọi là Ngoại pháp, Nội pháp, Mật pháp, Bí mật pháp, cũng là phân thành bốn cấp. Rồi còn có rất nhiều quán đảnh chư tôn nữa. Quán đảnh chư tôn là gì? Chính là nói rằng bạn tu Bổn tôn nào thì bạn nhận quán đảnh Bổn tôn đó, đây chính là quán đảnh chư tôn. 

Còn có năm hạng mục quán đảnh, năm loại quán đảnh pháp khí quan trọng, chính là quán đảnh chuông kim cang, quán đảnh chày kim cang, quán đảnh bảo bình, quán đảnh mũ miện, còn có một cái nữa là quán đảnh tên. Năm quán đảnh này là Mật giáo thông thường thường dùng.

Ngoài ra, trong quán đảnh chư tôn, ví dụ bạn tu Bổn tôn Quan Âm, vậy thì dùng tượng của Quan Âm để làm quán đảnh cho bạn. Bạn tu Bổn tôn Di Đà thì dùng tượng A Di Đà Phật làm quán đảnh cho bạn. Xem xem bạn tu Bổn tôn nào thì dùng tượng của Bổn tôn đó để làm quán đảnh. 

Vì thế quán đảnh của Mật giáo có rất nhiều, nó có nội nghĩa, có nghĩa rộng, cho nên quán đảnh không phải là tùy tiện. Bạn thấy Kim cương Thượng sư đang làm quán đảnh, cảm thấy hình như ông ấy chẳng làm cái gì cả, thật ra ông ấy đang dùng ý niệm để làm, đó là cách dùng tâm lực - sức mạnh của tâm để biểu lộ. 

Biểu hiện bên ngoài của quán đảnh rất đơn giản, dường như chỉ là cầm một thứ lên rồi đặt lên đầu, chấm một cái là xong. Thế thì các bạn trở về có thể giúp người ta làm quán đảnh rồi, những ai nghe được pháp xong đều có thể giúp người khác làm quán đảnh. Bố nghe pháp xong thì có thể làm quán đảnh cho con, chị nghe pháp xong là giúp làm quán đảnh cho em gái, có vẻ rất đơn giản. Giả sử bạn không có cách nào triệu thỉnh Bổn tôn trí huệ đến làm quán đảnh thì đều chẳng có tác dụng gì, quán đảnh kiểu đó thì chẳng thể nào sinh ra được công hiệu.

Trong Chân Phật Tông chúng ta có cái gọi là quán đảnh từ xa. Thế nào là quán đảnh từ xa? Tức là bạn viết thư đến cầu quán đảnh, bất luận là thời gian nào, địa điểm nào, người bạn ở tại đâu, ở trước pháp đàn, trước đàn thành, tôi vẫn phải làm triệu thỉnh, tôi phải đọc tên của bạn lên, đọc địa chỉ của bạn lên, thỉnh cầu Hộ Pháp Không Hành, Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ, cầm nước quán đảnh bay đến chỗ của bạn để làm quán đảnh cho bạn. Kiểu quán đảnh này gọi là quán đảnh từ xa. 

Tức là cự ly khoảng cách rất xa cũng có thể làm quán đảnh được. Ví dụ bạn sống ở châu Âu, còn bây giờ tôi ở châu Mỹ, ở Seattle nước Mỹ, tôi có thể làm quán đảnh cho bạn. Tôi chấm vào nước và búng ra, trong hư không có Hộ Pháp Không Hành lập tức nhận lấy nước này, sau đó bay đến nơi ở của bạn, vẩy nước lên đầu bạn. Cái này chính là quán đảnh từ xa, cũng sẽ sản sinh ra quán tướng.

Vậy người được làm quán đảnh từ xa, buổi sáng quay mặt về phía mặt trời mọc, niệm “namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye”. Vừa niệm xong, anh ta nói: “Ôi! Vẫn còn sớm quá.” Thế là anh ta lại nằm xuống ngủ tiếp. Khi ngủ, anh ta liền nhìn thấy Không Hành Mẫu từ hư không trung đến thật sự vẩy nước lên đầu anh ta, anh ta cảm thấy toàn thân trở nên mát mẻ. Anh ta vốn dĩ thân thể có trăm bệnh phát tác, sau khi ngủ dậy thì cảm thấy vô cùng khỏe khoắn. Vốn dĩ là cụ già 70 tuổi, đột nhiên biến thành như người 30 tuổi, còn có thể nhảy xuống khỏi giường nữa. Việc này đều từng có.

Rất nhiều đệ tử gửi thư đến kể rằng đều sản sinh ra quán tướng, thậm chí là vào buổi sáng anh ta làm nghi thức quy y xong, nhận được quán đảnh từ xa, ngồi trên xe buýt đi làm, ngồi bên trong xe buýt, anh ta liền cảm thấy: “Ớ! Có gì đó khác khác!”, như có người ở trong không trung vẩy nước lên người anh ta, quần áo của anh ta đều bị ẩm rồi, “Trên xe buýt bị rò nước sao?” Đâu có, trời rất trong xanh. Trên người anh ta còn có giọt nước nữa, trên đầu cảm thấy rất mát mẻ. Đây là Không Hành Mẫu ở trong không trung vẩy nước quán đảnh cho anh ta, cái này chính là quán tướng.

Cho nên quán đảnh có nội nghĩa rất sâu, có thể nói quán đảnh chính là truyền bá dòng chảy pháp. Mỗi ngày chúng ta ngồi tại đàn thành tu pháp, giả sử bạn cho rằng không có cảm giác gì, vậy thì việc tu pháp của bạn cần phải cải tiến. Trong mỗi một đàn pháp, chỉ cần Bổn tôn trí huệ đến thì ngài đều sẽ gia trì cho bạn, quán đảnh cho bạn. Tu một đàn pháp tương đương với quán đảnh một lần. Bạn tu một đàn pháp thì tương đương Bổn tôn trí huệ, bản thân Thượng sư, Không Hành Hộ Pháp đều giáng lâm để quán đảnh cho bạn một lần.

Vì thế, trong Mật giáo nói rằng “dòng chảy pháp của quán đảnh vĩnh viễn không dứt”, ngày ngày nhận được quán đảnh, bạn đang tu pháp là đang nhận quán đảnh, nhận gia trì, tiêu trừ nghiệp đen của bạn, nghiệp trắng tăng trưởng, điều này rất quan trọng.

Bởi vậy, quán đảnh không phải là nghi thức biểu hiện bề ngoài mà thôi, bạn phải tu được dòng chảy pháp của Mật giáo ở trên người bạn, Bổn tôn và bạn hợp nhất, tiến hành quán đảnh sẽ có được *power <span className="note-blue">[sức mạnh]</span>*. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

19/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 094. Nói kĩ về Hộ Ma (1)

Hôm nay tôi nói kĩ với mọi người một chút về Hộ Ma. Trong Mật giáo, Hộ Ma chiếm một vị trí rất quan trọng. Pháp Hộ Ma này xét trên phương diện thành tựu thì được xếp vào một trong ba thành tựu. Trong Mật giáo có ba thành tựu lớn: một là thành tựu Trì minh, là thành tựu trên phương diện trì chú. Một cái nữa là thành tựu Tam ma địa, tức là định lực - thành tựu một loại sức mạnh sinh ra do thiền định. Còn có một thành tựu nữa chính là thành tựu Hộ Ma.

Hộ Ma là nói theo âm tiếng Phạn, trên thực tế nó chính là hỏa cúng. Trong Mật giáo nó là một thành tựu rất quan trọng, thuộc về thành tựu cúng dường.

Thành tựu đó với cá nhân tôi mà nói, tôi cảm thấy Hộ Ma hỏa cúng có thể thay đổi vận mệnh của một con người, không chỉ là thay đổi vận mệnh của một cá nhân mà khi thật sự làm Hộ Ma lớn, thậm chí có thể thay đổi vận mệnh của một đất nước. Mọi người thử nghĩ xem, vận mệnh của một đất nước, nếu dùng pháp lực Hộ Ma của Mật giáo mà còn có thể thay đổi được thì thành tựu pháp Hộ Ma này đúng là vô cùng vĩ đại và siêu thắng. Cho nên không thể coi thường Hộ Ma, cho rằng đây chỉ là một kiểu cúng dường, không phải đâu, nó cũng có nguyên lý rất cao sâu ở bên trong.

Từng có người làm Hộ Ma, dùng pháp Hộ Ma để thay đổi vận mệnh. Mọi người biết đại sư Không Hải, khi ngài xây dựng đập nước để ngăn nước lũ lan tràn, đã từng liên tục làm Hộ Ma, liên tục trì chú, khiến đập nước đó có thể hoàn thành đúng kỳ hạn, đây chính là sức mạnh của Hộ Ma.

Hộ Ma có thể cải biến vận mệnh, thậm chí có thể cải biến vận mệnh của quốc gia. Hộ Ma trong Mật giáo thật sự là khác biệt rất lớn với cúng dường thông thường. Vì thế, Hộ Ma trong Mật giáo không chỉ là một nghi thức, nó có nguyên lý rất cao sâu ở trong đó.

Hộ Ma có cái gọi là “ngoại Hộ Ma” và “nội Hộ Ma”. Cái gọi là “ngoại Hộ Ma” chính là đốt lửa cúng trời. Đốt những cúng phẩm, thức ăn, hoặc rất nhiều thứ khác đều có thể cho vào lò đốt để cúng dường chư Thiên, Phật Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp. Cũng có cái gọi là “nội Hộ Ma”, thế nào là “nội Hộ Ma”? Chính là mượn lửa này để đốt hết phiền não và nghiệp chướng bên trong thân thể mình. Dùng lửa để tiêu trừ hết sạch sẽ phiền não và nghiệp chướng bên trong thân thể mình, cái này gọi là “nội Hộ Ma”. 

“Nội Hộ Ma” thì rất cao sâu, nếu nghiệp chướng có thể tiêu trừ, phiền não có thể tiêu trừ, thì bạn chẳng khác gì thành Thánh, thành Bồ Tát, chẳng khác gì một hành giả vô cùng thanh tịnh, chẳng mấy chốc thân tâm bạn đều biến thành thanh tịnh rồi. Kiểu Hộ Ma này gọi là “nội Hộ Ma”.

“Ngoại Hộ Ma” chính là hỏa cúng, “nội Hộ Ma” chính là thanh tịnh nghiệp chướng của mình và phiền não của mình.

Tôi nhớ đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni đều có tu pháp Hỏa quang tam muội. Thật ra chính là phương pháp đốt lên ngọn lửa bên trong thân thể mình, để tiêu trừ phiền não và nghiệp chướng của mình. Kì thực nói ra nó chính là “nội Hộ Ma” của Mật giáo, gọi là Hỏa quang tam muội.

Bản thân Hộ Ma mà nói có “ngoại Hộ Ma”, đây là làm cúng dường. Có “nội Hộ Ma”, chính là Hỏa quang tam muội. Thời đại Phật Đà có rất nhiều hành giả tu thành tựu Hỏa quang tam muội, kiểu tu hành này thật sự là rất vĩ đại, cho nên không thể coi thường Hộ Ma, bởi vì nó thuộc về một trong ba thành tựu lớn. 

Nói chung, đàn thành Hộ Ma của Mật giáo, ở khu Biệt thự Cầu Vồng có đàn thành Hộ Ma của Mật giáo, rất trang nghiêm, đó là Mật tông Nhật Bản, thuộc về đàn hỏa cúng của Đông mật. Cũng có đàn hỏa cúng của Tạng mật, đàn hỏa cúng của Tạng mật thì làm tương đối thô ráp, là một đàn cúng được quây bằng gạch.

Phương thức hỏa cúng của Đông mật và phương thức hỏa cúng của Tạng mật không giống nhau lắm. Bên Đông mật bố trí tương đối trang nghiêm, còn cách làm pháp của Tạng mật thì chú trọng vào cách làm của nội tâm. Đông mật chú trọng sự trang nghiêm của đàn thành, đàn thành được sắp đặt cực kì trang nghiêm và đẹp đẽ.

Hỏa cúng của Chân Phật Tông chúng ta thì chọn kết hợp cả Tạng mật và Đông mật. Đàn thành cực kì trang nghiêm, nhưng cũng dùng cả tâm lực của mình - dùng sức mạnh của tâm để làm, kết hợp cả hai lại. Cho nên hỏa cúng Hộ Ma trong Chân Phật Tông chúng ta cực kì hay, cảm ứng cực kì thần tốc.

Làm hỏa cúng thường có rất nhiều ứng nghiệm kỳ lạ! Kỳ lạ ở chỗ chính là vận mệnh không thể thay đổi lại có thể xoay chuyển được. Bởi vậy Lư Sư Tôn tôi thường nói với đệ tử, có tai nạn gì xảy đến, bạn phải làm nhiều hỏa cúng. Bởi vì tôi cảm thấy, trên phương diện triệu thỉnh Phật Bồ Tát thì làm hỏa cúng các vị đều sẽ giáng lâm, bởi vì bạn đang làm cúng dường mà! Cúng dường này tốt hơn rất nhiều so với cúng dường của Hiển giáo. Hiển giáo cúng dường chẳng qua chỉ là đặt cúng phẩm lên bàn thờ Phật, lạy một cái, thắp hương một cái là kết thúc.

Cúng dường của Mật giáo chúng ta có nghi quỹ rất dài, phải niệm chú, phải quán tưởng, phải kết thủ ấn, làm như vậy rất dễ khiến Phật Bồ Tát, chư Thiên đều giáng xuống. Nếu bạn có thể dễ dàng triệu thỉnh Phật Bồ Tát, chư Thiên hạ giáng thì cúng dường này của bạn sẽ biến thành một dạng sức mạnh, có pháp lực.

Hôm nay tôi giới thiệu trước đến đây. Om mani padme hum.

20/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 095. Nói kĩ về Hộ Ma (2)

Chúng ta lại nói về hỏa cúng, cũng tức là lại nói về Hộ Ma. Cá nhân tôi làm Hộ Ma, mỗi lần làm Hộ Ma xong đều cảm thấy hộ pháp gia tăng mười lần. Bạn thử nghĩ xem, làm một đàn Hộ Ma, làm một đàn hỏa cúng, chư Thiên lập tức giáng xuống vây xung quanh bạn. Tôi thường nói, giả sử bình thường bên cạnh tôi có mười Hộ pháp, thế thì làm xong một đàn Hộ Ma hỏa cúng sẽ biến thành một trăm Hộ pháp ở bên cạnh tôi, tức là tăng lên mười lần, lập tức gia tăng mười lần sức mạnh. 

Tôi đều có thể cảm giác được, thân thể tôi đều có cảm ứng. Bởi vì bình thường khi tôi làm cúng dường, xung quanh có mười Hộ pháp đến tiếp nhận cúng dường. Hễ làm hỏa cúng xong, khi làm cúng dường, chà! Đã biến thành một trăm vị rồi, điều này biểu thị sức mạnh của Hộ pháp đã tăng lên mười lần. Vì thế, hỏa cúng có thể gia tăng pháp lực của bạn, sức mạnh của bạn sẽ sinh ra, lập tức tăng lên gấp mười lần, vì thế, hỏa cúng cực kì quan trọng.

Trong đó có ba nghi quỹ tương đối quan trọng. Khi làm hỏa cúng phải làm “chuyển châu minh”, thế nào là “chuyển châu minh”? Tức là thỉnh cầu Bổn tôn hỏa cúng phóng quang đến gia trì cho bạn. Gia trì là phải làm nghi thức, giống như chúng ta cầm chuỗi hạt lên để làm chuyển châu minh, đầu tiên tay phải cầm hạt Phật đầu, sau đó quấn một vòng vào tay trái, lại chuyển sang tay phải, sau đó xoay tròn, pháp luân thường chuyển. Sau đó thỉnh cầu Bổn tôn trí huệ gia trì cho chuỗi hạt. Tay nâng lên, mắt nhắm lại, nghĩ đến Bổn tôn trí huệ hiển hiện trong hư không, ngài phóng ánh sáng rực rỡ xoay tròn gia trì cho chuỗi hạt này, đây chính là thỉnh cầu gia trì chuỗi hạt.

Gia trì xong, cũng vẫn cầm chắc hạt Phật đầu, cũng quấn vào tay trái, sau đó chuyển sang tay phải, lại pháp luân thường chuyển, cái này để biểu thị điều gì? Chuỗi hạt này đã được Bổn tôn gia trì rồi, đã có tịnh quang ở trong đó rồi. Đầu tiên đặt vào tay trái, sau đó chuyển sang tay phải, biểu thị hai tay đều được tịnh quang gia trì rồi. Bởi vì làm Hộ Ma là phải dùng tay để làm mà! Sau đó lại chuyển sang tay trái, rồi lại xoay tròn, cũng là pháp luân thường chuyển. Tiếp theo là đeo lên người, đeo lên người có ý nghĩa gì? Chính là nói rằng, toàn thân bạn đều đã có được sự gia trì của Bổn tôn trí huệ. Hai tay đều được gia trì rồi, thân thể này cũng đã được gia trì rồi.

Khi bỏ những cúng phẩm vào lò, bạn cầm gỗ Hộ Ma lên, cọ một chút vào chuỗi hạt, biểu thị tịnh quang đã chuyển sang cúng phẩm, sau đó bỏ vào lò. Điều này đều rất có ý nghĩa, không phải là làm cho đẹp. Bạn nhìn Sư Tôn làm xong, cầm lên rồi niệm lầm rầm, không phải đâu, ở đây phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ phóng ánh sáng mạnh mẽ gia trì cho chuỗi hạt. Thủ ấn này chính là thủ ấn gia trì chuỗi hạt (Sư Tôn thị phạm). Làm như thế này biểu thị Bổn tôn trí huệ có thể gia trì cho chuỗi hạt.

Giống như gậy kim cang kết giới, cái này rất quan trọng, gõ vào bốn phía, đông tây nam bắc đều phải gõ bảy lần. Gõ vào miệng lò bảy lần, tức là thỉnh Hỏa Thiên Thần khai khẩu <span className="note-blue">[mở miệng]</span>. Bốn phía đông tây nam bắc phải gõ bảy cái, âm thanh này vang lên, biểu thị rằng xung quanh đàn Hộ Ma đều đã được kết giới rồi. Tóm lại, gõ vào miệng lò bảy lần, biểu thị miệng của Hỏa Thiên Thần đã mở rồi, vì miệng của Hỏa Thiên Thần đại diện cho khẩu của Phật và khẩu của Bồ Tát, chư Thiên, bạn bỏ cúng phẩm vào cũng giống như bỏ vào trong miệng. Ở đây đều có ý nghĩa của nó.

Còn có gia trì bằng chuông chày nữa (Sư Tôn thị phạm dùng chuông chày gia trì). Chuông chày gia trì là như vậy. Khi lắc ở trên phải quán tưởng có cái ô ở phía trên, cái ô rất to che kín cả đàn hỏa cúng, cái này là kết giới. Gõ vào bốn góc chuông thế này cũng là kết giới, ở đây có sự gia trì tiêu tai, có sự gia trì tăng ích, có sự gia trì hàng phục, có sự gia trì kính ái. Đây là gia trì.

Vì thế làm Hộ Ma phải làm rất nhiều nghi thức, cách cúng dường này rất khác, không hề giống Hiển giáo. Hộ Ma của Mật giáo cực kì thù thắng, hơn nữa tất cả cùng niệm chú triệu thỉnh, sức mạnh sản sinh ra là cực kì lớn. Như cúng phẩm bỏ vào lò đều phải trải qua nghi thức, phải cọ một chút, phải chấm mật, vì sao phải chấm mật? Đó là một thứ đồ ngọt, biểu thị tăng ích, như vậy sẽ có thể thay đổi vận mệnh của bạn. Khúc gỗ này đại diện cho nghiệp chướng, chấm vào mật tức là tiêu trừ nghiệp chướng này, sau đó bỏ vào lò, biểu thị đã tiêu tai xong thì lại tăng ích, lại có được kính ái. Có các loại tác dụng ở trong đây, không phải là chỉ rất đơn giản, vì sao phải chấm mật? Không chấm mật cũng được, cứ thế bỏ vào hết. 

Nghi quỹ Hộ Ma của Mật giáo cực kì trang nghiêm, âm thanh niệm chú phải chỉnh tề và hùng tráng, chư Thiên và Phật Bồ Tát nghe được thì đều rất hoan hỷ. Bạn bày đàn thành rất đẹp đẽ, sạch sẽ, lửa bốc lên rất mạnh, cúng phẩm lại cực kì thanh tịnh. Giả sử tôi là Phật Bồ Tát thì tôi cũng thích, quá tốt rồi. Nghi quỹ như vậy là rất chu toàn, chú âm lại đẹp đẽ vi diệu, mọi người cùng phát tâm, cầu nguyện, cực kì tốt, cho nên có thể thay đổi vận mệnh. 

Hộ Ma không những có thể gia tăng pháp lực, thay đổi vận mệnh mà còn có thể tiêu trừ các nghiệp chướng, pháp này là cực kì tuyệt vời. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

20/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 096. Nói kĩ về Hộ Ma (3)

Chúng ta nói về Hộ Ma tiết thứ ba. Chúng ta hiểu rằng Hộ Ma hỏa cúng trong Mật giáo vô cùng quan trọng. Khẩu quyết của nó chính là phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ trong hư không đến bên trong lửa, hơn nữa sau khi bản thân bạn đã biến thành Bổn tôn trí huệ thì chính bạn cũng phải đi vào trong lửa.

Lửa, Bổn tôn và hành giả hợp nhất với nhau cùng làm cúng dường lửa, đây là khẩu quyết rất quan trọng. Thật ra khẩu quyết trọng yếu này không tách rời sự tập trung tinh thần. Trong quá trình tu pháp Mật giáo, bất kì một pháp nào, bất kì một quán tưởng nào, bất kì một câu chú nào, bất kì một thủ ấn nào, toàn bộ đều phải tập trung tinh thần. Nếu tập trung tinh thần để làm Hộ Ma hỏa cúng thì bạn sẽ rất nhanh chóng có thể cảm ứng được, có thể giao tiếp với ý thức vũ trụ, giao tiếp với Bổn tôn.

Rất nhiều người hỏi tôi về bí quyết, khẩu quyết tu hành là gì? Tôi đều nói với người đó: “Bạn nhất định phải tập trung tinh thần để làm việc này.” Tu một đàn pháp, tu một đàn Hộ Ma đều phải cần tập trung tinh thần để làm. Cảm nhận, cảm giác và sự giao cảm lúc này đều khác, tuyệt đối không giống.

Bởi vậy mỗi lần tôi làm Hộ Ma hỏa cúng, hoặc tu pháp, đều phải tập trung tư tưởng, tập trung tinh thần lại để quán tưởng, kết thủ ấn, trì chú. Khi làm việc này, chỉ cần tinh thần tập trung lại thì rất nhanh chóng Bổn tôn trí huệ trong hư không sẽ giáng xuống người bạn.

Tôi từng có ba lần trong trạng thái nhập định, trong ba lần nhập định đó, trong thời gian rất ngắn đã cảm thấy Bổn tôn từ hư không giáng xuống bên trong thân thể tôi, hợp nhất với tôi. Trạng thái trời người hợp nhất này rất thù thắng, cảm nhận đó rất phi phàm, cực kì quang vinh, cực kì khoan khoái, cực kì đặc biệt. Cảm nhận đó thật sự không giống với tu hành thông thường, đó chính là một dạng du già, du già chính là trạng thái hợp nhất, bạn đã cùng với Bổn tôn hợp lại rồi.

Triết học Trung Quốc thường nhắc đến trời người hợp nhất, trời người hợp nhất không phải là một khẩu hiệu, cũng không phải là một lý luận, mà là trên thực tế bạn và ý thức vũ trụ toàn bộ hợp lại, biến thành một kiểu trạng thái của “một”. Tôi nhận thấy làm Hộ Ma là dễ đạt được điều này nhất, giả sử bạn làm rất cẩn thận, rất tỉ mỉ phân tích, rất tỉ mỉ quán tưởng Bổn tôn đi vào trong lửa, quán tưởng chính bạn đi vào trong lửa, lửa, Bổn tôn và bạn ở trong trạng thái kết hợp với nhau thì tức là trời người hợp nhất.

Từ Mật giáo thực tiễn trời người hợp nhất là rất dễ. Bạn xem Hiển giáo thông thường, ở trong chùa, mọi người làm cúng dường, hương, hoa, đèn, trà, quả cúng dường, châm hương, cầm hương lạy một cái rồi đem cắm hương, sau đó lạy một cái, lạy xong thì cũng đi luôn. Có khi chẳng đi đâu cả, mấy phút sau thì vội vàng thu dọn đĩa, hương, hoa, đèn, trà, quả về. Bởi vì nếu bạn không thu dọn về, lát sau người khác sẽ lấy nhầm, lấy hết cúng phẩm của bạn đi mất, thế thì bạn sẽ ở đó khóc luôn.

Mật giáo không như thế. Mật giáo là đốt hết những cúng dường của bạn, cúng dường lửa này chính là bỏ cúng phẩm vào trong lửa, tức là trực tiếp đốt hết. Điều này tương đương với Phật, Bồ Tát đã tiếp nhận cúng dường của bạn, và không có chuyện thu về, không phải là lấy về rồi sau đó ăn. Hơn nữa, bạn cần phải tập trung tinh thần đi làm cúng dường như vậy, đây chính là chỗ mà Mật giáo khác với Hiển giáo. Nói về Hiển giáo thì cúng dường xong là đi, là thu về, thế rồi chẳng có gì khác nữa. Đây chính là điểm khác biệt.

Mỗi lần khi tôi làm hỏa cúng, chắc chắn sẽ có cảm nhận, tức là chắc chắn có cảm ứng, cảm nhận về trời người hợp nhất, mỗi lần đều xuất hiện. Hơn nữa còn nhập định ba hồi, Bổn tôn và bạn hợp nhất chính là ba hồi. Vì thế, tôi cảm thấy chúng ta làm hỏa cúng là cực kì quan trọng, đệ tử Chân Phật Tông từ sau khi pháp Hộ Ma được truyền đi, mọi người đều rất nỗ lực học làm hỏa cúng. Tu pháp Hộ Ma nhận quán đảnh, toàn bộ nghi quỹ bạn đều hiểu rõ rồi, tập trung tinh thần để làm, bạn sẽ có được hiện tượng tương ứng rất tốt.

Đương nhiên hỏa cúng có ý nghĩa của nó, có thể đốt sạch những phiền não và nghiệp chướng của thân thể bạn. Ví dụ gỗ Hộ Ma chấm vào mật chính là biến đắng thành ngọt, từ đắng hóa thành ngọt, ý nghĩa của chấm mật là ở đây. Gia tăng lợi ích, gia tăng phúc phần, gia tăng trí huệ, đều có ý nghĩa ở trong đó. Ở trong đây có rất nhiều chi tiết và rất nhiều khẩu quyết, bạn phải lần lượt hiểu rõ. Mỗi đệ tử đều phải làm hỏa cúng cho tốt, đều sẽ có được cảm nhận tốt giống như Sư Tôn xuất hiện. Ánh sáng của lửa sẽ nâng cao bản thân bạn, khiến bạn có phúc phần hơn, có trí huệ hơn, nghiệp chướng tiêu trừ. Đây là phương pháp tu hành cực kì tốt.

Tôi cho rằng tổ sư Tsongkhapa nói: “Thành tựu Trì minh, thành tựu Tam ma địa, thành tựu Hộ Ma là ba thành tựu lớn của Mật giáo, và pháp Hộ Ma chính là một trong ba thành tựu lớn đó.

Hôm nay nói tới đây thôi. Om mani padme hum.

23/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 097. Nói kĩ về Hộ Ma (4)

Tôi lại nói thêm với mọi người về Hộ Ma. Đây là tiết thứ tư nói về Hộ Ma rồi. Lửa Hộ Ma này bập bùng ở bên trong lò đốt đều có tính tượng trưng và ý nghĩa ở trong đó. Lửa đại diện cho cái gì? Nó đại diện cho ánh sáng. Vì lửa có thể tỏa ra nhiệt và quang rất mạnh, cho nên nó đại diện cho ánh sáng.

Và lửa cũng tượng trưng cho thanh tịnh. Mọi người biết rằng tu hành Mật giáo chính là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. Khi lửa đang cháy sẽ hóa tất cả mọi thứ thành tro tàn, tương đương với hư không. Lửa đốt hết sạch nghiệp chướng, tức là thanh tịnh.

Lửa cũng có thể nói là trí huệ. Bạn xem khi lửa bập bùng cũng tương đương với trí huệ đang nhảy nhót. Lửa cũng là niệm lực, bạn tập trung suy nghĩ của mình vào ngọn lửa, các trạng thái mà ngọn lửa sản sinh ra lúc này chính là niệm lực của bạn tạo thành, khiến lửa nhảy nhót trong lò Hộ Ma. 

Lửa còn tượng trưng cho niết bàn. Bạn có biết thế nào gọi là niết bàn không? Niết bàn giống như là hỏa thiêu. Khi người xuất gia viên tịch, dùng lửa để thiêu, hóa thành không, quy về không. Họ đã tiến nhập tính Không, quy về ý thức vũ trụ, đến Tây phương Cực Lạc thế giới, họ đã bất động rồi. Hai chữ “bất động” này rất có ý nghĩa, họ đã bất động rồi. Quy về hư không chính là một trạng thái của niết bàn tịch tĩnh. Lửa cũng đại diện cho niết bàn, ý nghĩa của lửa có rất nhiều.

Nói đến phương diện thanh tịnh, tôi nói một chút về quán bạch cốt (xương trắng), quán bạch cốt chính là dùng lửa để tạo ra. Lợi dụng việc quán tưởng lửa để tu thành quán bạch cốt, tiến vào một trạng thái tịch diệt. Trước kia, Phật Đà dạy đệ tử, đối với người có dục vọng tương đối nặng, bảo họ phải tu quán bạch cốt. Tu pháp quán bạch cốt là như sau: đầu tiên quán tưởng ngón chân cái của mình thối rữa, chỉ còn lại một mẩu xương trắng. Thế rồi từng phân từng phân da thịt thối rữa ra. Tiếp theo là quán thân bất tịnh, quán tưởng thân thể mình chẳng hề sạch sẽ, bên trong toàn là phân niệu, tinh, huyết, thân thể của chính bạn không hề sạch sẽ.

Bạn xem xem, gỉ mắt, gỉ mũi, nước dãi, ráy tai, mồ hôi toát ra ở trên đầu. Nước tiểu, phân, máu dịch, máu tanh, các cơ quan, ngũ tạng, có thứ nào là sạch sẽ chứ? Sau đó, bạn quán khi thối rữa ra còn sinh dòi, toàn thân thối rữa sinh dòi, chẳng thể nào ưa thích nổi.

Bạn rất thích gái xinh, rất thích trai đẹp, một bộ xương người bày ra trước mặt bạn, bạn đi hôn nó, bạn chạy tới người đó và hôn. Thật ra thứ mà bạn hôn là lớp da thôi, bên trong là bộ xương rất đáng sợ. Nói ra chính là như vậy.

Bạn nói làn da này vừa trắng vừa mịn vừa mềm, thật ra bạn nên biết đó chỉ là một lớp da, lớp bề mặt này bạn phải quán tưởng nó không sạch sẽ, khi nó thành chảy mủ thì sẽ như thế nào, khi nó sinh ra dòi thì sẽ như thế nào.

Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni dạy quán bạch cốt là bắt đầu thối rữa từ ngón chân, sau đó toàn thân thối rữa, da thịt toàn thân thối rữa biến thành một bộ xương trắng. Sau đó lại quán tưởng tất cả chúng sinh toàn bộ đều thối rữa ra, rữa ra chỉ còn lại một bộ xương trắng. Sau đó dẫn nội hỏa của chính mình, đốm lửa vốn có để thiêu đốt chính mình. Thiêu cháy toàn bộ xương cốt thành tro tàn, sau đó ngọn lửa này lại dẫn tới chúng sinh, lại thiêu rụi toàn bộ chúng sinh, biến thành tro, toàn bộ đều quy về hư không. Đây chính là quán bạch cốt. 

Trước kia khi tôi thường xuyên xem phong thủy, giúp người ta “tiến kim”, tức là bày biện xương cốt của người rồi đặt vào trong đất. Bạn nhìn bộ xương trắng đó bạn có thích được không? Tôi nói với bạn chủ nhân của bộ xương trắng đó, khi còn sống là mỹ nữ tuyệt sắc, đôi khi trên tấm bia mộ còn có dán ảnh nữa. Chà! Xinh đẹp thế này, mái tóc dài đen óng ả, cặp mắt to long lanh. Bạn biết rằng khi những thứ này rơi rụng hết thì chỉ là một bộ xương trắng, rất đáng sợ.

Bạn thường xuyên quán tưởng mình thành một bộ xương trắng thì sẽ có thể dập tắt hết dục niệm, quán tưởng đối tượng của bạn thành xương trắng, bạn sẽ xuất gia đó. Quán tưởng tướng mạo tuyệt sắc của đối tượng mà bạn rất thích thành xương trắng, trong lòng sẽ cảm thấy đời người chẳng qua chỉ như thế này thôi, chính là một đống xương trắng.

Quán bạch cốt mà Phật Đà dạy là như thế này: quán tưởng chính mình thành xương trắng, quán tưởng chúng sinh thành xương trắng, nổi lửa lên là toàn bộ hóa thành tro tàn, cái gì cũng không còn.

Bởi vậy, đôi khi con người nghĩ về chính mình, đừng có luôn luôn nghĩ đến vẻ bề ngoài của mình, phải nghĩ đến tướng bên trong của mình, nghĩ đến tướng bên trong của chúng sinh, dập tắt dục vọng của chính mình. Người có dục vọng nặng phải tu quán bạch cốt. Thật ra chẳng hề có gì, thế giới này vốn dĩ chính là một hư không, bạn nghĩ như vậy thì dục vọng sẽ không còn nữa, tham niệm của bạn sẽ rơi rụng. Thường xuyên làm như vậy thì sẽ rất giúp ích cho việc tu hành của bạn.

Quán thân bất tịnh, quán tưởng thân thể mình không hề sạch sẽ, từ đó bạn sẽ biết ý nghĩa mà lửa Hộ Ma tượng trưng. Ánh sáng, trí huệ, thanh tịnh, niết bàn đều đại diện cho lửa.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

23/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 098. Nói kĩ về Hộ Ma (5)

Hôm nay chúng ta nói tiết thứ năm về Hộ Ma. Đàn Hộ Ma của Đông mật cực kì trang nghiêm, khi họ làm Hộ Ma thì sẽ kết những dải lụa màu, dụng cụ cúng đều dùng vàng bạc, có một số thứ thì mạ vàng, khi nhìn vào khiến tâm lý người ta cảm thấy vô cùng thích thú. Nói chung, chính vì thứ bạn thích và thứ mà Phật Bồ Tát thích sẽ hô ứng lẫn nhau. Đàn thành phải khiến cho chính bạn thích thú, thế thì trong lòng Phật Bồ Tát cũng sẽ ưa thích, như vậy là hô ứng với nhau. Du già chính là nói về sự cảm ứng lẫn nhau, đàn thành phải rất trang nghiêm, rất nghiêm túc, rất nho nhã, khi nhìn vào sẽ khiến tâm lý bạn thích thú, Phật Bồ Tát tự nhiên cũng sẽ ưa thích.

Tôi từng xem Hộ Ma của chùa Narita Đông mật ở Nhật Bản. Lò Hộ Ma của Đông mật được xây bằng gạch, dùng dải lụa màu để trang trí rất trang nghiêm. Về phía Tây Tạng, trước kia có một vị viện trưởng viện Phật học Tây Tạng là Ba Mễ Cường Ba Rinpoche, hiện tại ông ấy cũng là sư phụ của Panchen thứ 11, là một vị Hoạt Phật có địa vị cao nhất ở Tây Tạng, tôi từng cùng với ông ấy làm Hộ Ma.

Đàn Hộ Ma có quy tắc của nó, phải dùng màu sắc để bố đàn, như là dùng màu vàng, dùng màu trắng, dùng màu đỏ, màu đen. Bốn màu sắc này cũng có tính tượng trưng: màu trắng đại diện cho tiêu tai, màu vàng đại diện cho tăng ích, màu đỏ đại diện cho kính ái, màu đen đại diện cho hàng phục.

Ngoài ra, theo quy tắc thì đàn thành cũng có hình dạng khác nhau. Bạn muốn làm pháp hàng phục thì dùng đàn hình tam giác. Pháp tăng ích thì dùng đàn hình vuông. Pháp kính ái thì dùng đàn hình bán nguyệt. Tiêu tai thì dùng đàn hình tròn. Vì thế, đàn Hộ Ma trong Mật giáo cũng có sự phân biệt, đây là vì tác dụng tương ứng.

Cũng có đệ tử hỏi tôi là làm Hộ Ma ở Mỹ, ở bên ngoài đốt lửa không dễ. Lửa vừa bốc lên là xe cứu hỏa đến luôn, rất phiền phức. Hàng xóm cũng sẽ sang nói.

Có đệ tử nói: thế thì dùng lò sưởi của mình, *fire place*, rồi đốt Hộ Ma thì có được không? Theo quy tắc mà nói thì không được. Bởi vì làm Hộ Ma ở trong lò sưởi thì đương nhiên là tiện lợi, rất đơn giản, nhưng lại mất đi sự trang nghiêm. Vốn dĩ bạn đang làm hỏa cúng, phải thỉnh rất nhiều Phật, Bồ Tát giáng xuống, lẽ nào Phật, Bồ Tát lại từ ống khói đi xuống sao? Bạn đốt lò sưởi, rồi đốt một ít cúng phẩm trong lò sưởi, lửa sẽ bốc lên trên ống khói, vậy bạn muốn kêu Phật, Bồ Tát từ trong ống khói giáng xuống, biến thành đen sì sao. Hơn nữa lò sưởi có trang trí thế nào cũng không trang nghiêm, rất khó khởi lên tâm hoan hỷ. Đó là một điểm.

Ngoài ra còn có người phát minh ra lò Hộ Ma rất nhỏ, nhỏ chỉ bằng cái bát. Mọi người nghĩ xem, có một vấn đề rất đơn giản, gỗ Hộ Ma căn bản là không thể bỏ vào được. Khi bạn tĩnh tọa, vì lò Hộ Ma nhỏ, chẳng thể nào duy trì được ngọn lửa. Khi bạn nhập Tam ma địa thì ngọn lửa này đã tắt rồi, không còn dư ra nhiều thời gian để cho bạn nhập Tam ma địa. Lò Hộ Ma nhỏ, cho nên các vật để đốt ít, lửa không thể duy trì được lâu, làm sao bạn nhập Tam ma địa được? Có khi kết một cái thủ ấn, còn chưa kết xong thì lửa đã sắp tắt rồi, lại phải vội vàng ném thêm đồ vào. Cho nên cái này cũng không được.

Vì thế kích cỡ của một cái lò thông thường phải có quy tắc, nếu không sẽ mất đi sự trang nghiêm. Kích thước lớn nhỏ của lò Hộ Ma vẫn phải có quy tắc, chí ít là phải rộng bảy tấc <span className="note-blue">[khoảng 70cm]</span> thì mới có thể ném gỗ Hộ Ma vào được. Gỗ Hộ Ma cũng có quy tắc, độ dài của nó cũng có quy định, bạn không thể làm nhỏ như thế này.

Bạn phải cúng dường như biển mà, nói chung, cúng phẩm ví dụ như sữa cũng không thể chỉ bỏ vào một giọt. Vì thế, kích thước của lò Hộ Ma còn phải phù hợp với thân thể của con người. Bạn không thể nói là người tôi cao to thế này, còn lò Hộ Ma thì nhỏ thế này, chiếc lò bé tí đặt ở trước mặt bạn, nhỏ quá, Phật Bồ Tát nhìn thấy đều nói: “Làm trò gì thế này? Đại Phật ta đây giáng xuống, kết quả là nhìn thấy cái lò Hộ Ma bé xíu này.”

Bởi vậy lò cũng rất quan trọng, Chân Phật Tông chúng ta lựa chọn trung đạo, lò Hộ Ma không làm quá to, không cần to như cái hồ bơi, nhưng cũng không được nhỏ như cái bát. Hãy lấy thân thể người chúng ta để làm tỉ lệ mà làm lò Hộ Ma. Bởi vì lò Hộ Ma to quá thì tay cũng không với tới, nhỏ quá thì đụng bàn tay một cái là lật đổ luôn cái lò, thế thì cũng không được.

Tôi từng làm Hộ Ma cùng với Ba Mễ Cường Ba Lạc Châu, cũng từng làm Hộ Ma cùng với giáo chủ Hoa giáo là Đạt Khâm Rinpoche. Rất nhiều đại Hoạt Phật đã tham gia cùng với chúng ta, cùng dùng tâm lực của chúng ta để làm một số pháp sự, pháp vụ, mọi người cùng dùng tâm lực để hoàn thành chúng. Cho nên cứu độ chúng sinh, làm Hộ Ma là rất tốt, Hộ Ma sẽ sản sinh ra một loại pháp lực, Phật Bồ Tát sẽ giáng xuống, sẽ có cảm ứng đạo giao <span className="note-blue">[sự tương giao giữa cảm của chúng sinh và ứng của Phật]</span>. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

24/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 099. Nói kĩ về Hộ Ma (6)

Hôm nay là tiết thứ sáu nói về Hộ Ma. Bản thân Hộ Ma có cúng phẩm, rất nhiều đệ tử hỏi Sư Tôn: “Cúng phẩm gì là tốt nhất?” Tôi nói một câu rằng: “Thứ bạn thích là tốt!” Điều này rất vi diệu. Tôi nói, bạn thích thì Phật Bồ Tát cũng sẽ thích. Cho nên liên quan tới cúng phẩm, rất nhiều người nói là phải xem Phật Bồ Tát thích gì. Vậy thì Phật Bồ Tát thích cái gì? Cái đó thì không chắc. Nhìn chung mà nói, một câu rất đơn giản, bản thân Phật là vô tâm, cảnh giới của Phật rất cao rồi, ngài chẳng hề ưa thích hoa quả mà bạn cúng, cũng không ưa thích quần áo mà bạn mặc, cũng không chắc đã thích xe cộ, nhà cửa của bạn, cho nên dựa theo đạo lý của Mật giáo thì hãy dựa theo thứ mà bạn thích để cúng dường là đúng. 

Phật ở cảnh giới cao thật sự thì bản thân ngài chẳng có mong cầu gì, nhưng ngài muốn cảm ứng với bạn, tương ứng với bạn thì phải dựa vào thứ mà bạn thích nhất thì ngài sẽ sinh ra tâm hoan hỷ, đạo lý của Mật giáo là như vậy. Cho nên về phương diện cúng phẩm mà nói thì bạn hãy đem cúng dường thứ mà bạn thích nhất thì đó cũng sẽ là thứ mà Phật thích nhất.

Cúng phẩm của Hộ Ma, trong Mật giáo cũng có hai thứ rất đặc thù. Có người xem Chân Phật Tông chúng ta làm Hộ Ma có cúng rượu. Rượu không phải là một trong năm giới sao? Không được uống rượu là giới thứ năm, giới cấm thứ năm này là một giới tương đối nhẹ. Không sai! Bản thân Chân Phật Tông chúng ta mà nói thì cũng phải giữ năm giới, tốt nhất là bạn đừng uống rượu, nhưng giả sử bạn uống một chút xíu, uống một chút rượu thuốc, buổi tối trước khi đi ngủ uống một chút rượu thuốc, thì Sư Tôn cho rằng như vậy cũng có thể được.

Vì sao không được uống rượu? Bởi vì uống rượu có thể gây loạn tính, bạn sẽ đánh mất bản tính của mình, cho nên mới không được uống rượu. Giả sử bạn uống rượu là để thúc đẩy sự tuần hoàn máu và bạn không bị loạn tính thì bản thân điều này mà nói, bạn đã biến rượu thành cam lộ rồi. 

Những việc trên đời này không thể vơ đũa cả nắm, uống một chút rượu có lợi với thân tâm thì đó là cam lộ, uống rượu quá độ thì đó là thuốc độc. Cho nên ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni chế định ra giới luật này, giới cấm cuối cùng trong năm giới là không được uống rượu, đó là vì rất nhiều người vì uống rượu mà đánh mất bản tính.

Chúng ta cúng Kim Cang Thần phải cúng rượu, bởi vì rượu là cam lộ, Kim Cang Thần uống cam lộ xong thì tinh thần của ngài sẽ sục sôi, ngài hành tẩu rất nhanh, ngài sẽ làm việc với tốc độ rất nhanh. Cho nên mỗi lần chúng ta cúng dường rượu cho Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành, cúng dường rượu là ra lệnh cho Kim Cang Hộ Pháp, Không Hành có thể nhanh chóng hoàn thành việc mà chúng ta thỉnh cầu, và như thế thì các vị rất nhanh chóng sẽ hoàn thành những sự việc pháp vụ này. Bởi vậy nguyên nhân mà chúng ta làm Hộ Ma cũng cúng rượu là ở đây, là để cúng dường Kim Cang Hộ Pháp, bởi vì sau khi các vị có được cam lộ này rồi thì tinh thần trở nên hừng hực, và rồi sẽ chạy thật nhanh để hoàn thành công việc.

Hành giả Chân Phật Tông chúng ta tốt nhất là đừng uống rượu, bạn muốn uống thì uống chút chút, lượng sức mình mà uống, bạn uống quá lượng thì sẽ phạm giới, nếu không uống quá lượng thì không xem là phạm giới. Giới luật của Chân Phật Tông chúng ta là như vậy. Có cái gọi là sự “hỗ trợ”, bởi vì bạn uống một chút rượu thuốc thì được, rượu thuốc thúc đẩy sự tuần hoàn máu, để cho các vị thuốc chạy đến khắp nơi trong thân thể, điều này được cho phép. 

Rồi cúng nước hoa cũng vậy, rất nhiều người cảm thấy kỳ quái, sao chúng ta lại vẩy nước hoa? Mỗi lần Sư Tôn cúng nước hoa sẽ nói, dùng nước hoa này, lấy mùi thơm thanh tịnh này để cúng dường chư Thiên, Không Hành Mẫu, các thiên nữ, các vị sẽ sinh ra tâm hoan hỷ, vì nước hoa cũng khiến cho bạn sinh ra tâm hoan hỷ mà. Đôi khi nước hoa cũng khiến người ta cảm thấy vui thích, mà đã khiến cho con người cảm thấy vui thích thì cũng sẽ khiến cho chư Thiên cảm thấy vui thích, thế nên cũng cúng nước hoa.

Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta có hai thứ rất đặc thù như vậy. Những thứ khác như cúng nước, cúng sữa, các sản phẩm từ sữa không trực tiếp bỏ vào lò, bởi vì đây là lửa, bạn bỏ quá nhiều sữa vào lò thì sẽ làm lửa tắt, cho nên sữa này đặt ở bên cạnh lò. Còn có cả đại mạch, tiểu mạch, hạt cải, hạt vừng, sữa bò, hương, hoa, đèn, trà, quả, đều có thể cúng dường, thậm chí là quần áo, vải bạn cũng có thể cúng dường, đó là thiên y, bạn thích những tấm vải này, bạn đem ra đốt, đây là cúng trời. Tuy là những thứ này có tính tượng trưng, nhưng bạn dùng tâm để cúng thì sẽ biến thành chân thực. 

Cúng dường Phật, Bồ Tát, bởi vì bản thân bạn thích, cho nên Phật Bồ Tát cũng thích, điều này sẽ dẫn đến tương ứng.  
Cúng rượu — Kim Cang Hộ Pháp sẽ nhanh chóng đi hoàn thành pháp vụ.  
Cúng nước hoa — tượng trưng cho thanh tịnh.  
Cúng bột hương — đại diện cho trang nghiêm, có thể làm trang nghiêm Phật quốc.  
Cúng trà — đại diện cho pháp vị.  
Cúng bánh quy — đại diện cho tư lương, tư lương có thể khiến cho chúng sinh đều được no đủ.

Những thứ này đều có hai tầng ý nghĩa: cúng nước chính là để dập tai nạn, có thể thanh tịnh tâm chúng sinh; cúng gạo là để chúng sinh được no đủ; cúng trà là để chúng sinh có được pháp vị; cúng phấn thơm là để chúng sinh được thanh tịnh; cúng thiên y là để chúng sinh đều có quần áo mặc, chúng sinh đều được ăn mặc đủ đầy. 

Những cúng dường này đều rất tốt, có hai tầng ý nghĩa ở trong đó. Cúng dường như vậy, bạn dùng tâm cúng, tâm bạn và tâm Phật Bồ Tát tương thông. Xoạch! Búng tay một cái là tương ứng lẫn nhau rồi, giữa bạn và Phật Bồ Tát đã cảm ứng đạo giao rồi. 

Cho nên Hộ Ma là phương pháp tốt nhất để mời Phật, Bồ Tát giáng xuống. Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

24/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 100. Pháp môn an tâm

Lần này chúng ta nói về pháp môn an tâm. 

Có đệ tử hỏi tôi: “Tu hành Chân Phật Mật Pháp là pháp thế nào?” Tôi bèn trả lời người đó rằng: “An tâm.”

Phạm vi của pháp môn an tâm rất rộng, tuy nhiên tôi cần phải giải thích rõ một ý nghĩa chủ yếu nhất của nó. Thế nào là an tâm? Làm sao để đạt đến an tâm? Nói đến làm sao để đạt đến an tâm, cái này rất thâm sâu ảo diệu.

Trước kia vào thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, có một tì kheo ở trong rừng tĩnh tọa. Ông ấy đến nói với Phật Đà rằng tâm ông ấy không thể an, Phật Đà liền hỏi ông ấy: “Vì sao tâm ông không thể an?” Ông ấy nói khi ông ấy tĩnh tọa ở trong rừng, áo pháp của ông ấy bị rách, cho nên tâm không thể an được. Phật Đà lại hỏi ông ấy: “Trong rừng có lá cây rơi xuống không?” Ông ấy nói có. Phật Đà liền hỏi ông ấy: “Bây giờ tôi hỏi ông, lá cây này từ trên cây rơi xuống, tâm ông có an không?” Ông ấy nói có an. Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng cách đó để dạy tất cả các tì kheo, pháp môn an tâm chính là ở đây.

Vì sao áo pháp của mình bị rách thì tâm bạn không an? Vì sao khi bạn tĩnh tọa, ở bên cạnh lá cây rơi xuống thì tâm bạn có thể an? Điều này nằm ở một chữ “ngã”. Áo pháp khoác trên người ta thì có liên quan đến ta, có liên quan tới hình tượng của bạn, cho nên tâm bạn mới bất an. Lá cây rơi xuống chẳng hề liên quan gì đến bạn, cho nên tâm bạn có thể an, đây chính là vấn đề của ngã chấp. Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng vì sự việc như vậy mà dạy bảo các tì kheo.

Mọi người hãy dùng suy nghĩ của bạn mà ngẫm nghĩ một chút, bây giờ Sư Tôn đang mặc áo pháp này, chiếc áo pháp này chính là áo bào Pháp Vương, là áo mà Pháp Vương Ganden Tripa mặc, ngài ấy trao cho tôi để cho tôi mặc. Ồ, mặc chiếc áo này lên thì cảm giác khác hẳn, dường như chính mình đã biến thành Pháp Vương rồi, cảm giác chẳng hề giống bình thường. Chiếc áo này đích xác là của ngài ấy, pháp bào này đã rất cũ rồi, cũng có chỗ rách rồi, bên dưới cũng đã phải sửa rồi, tôi mặc vào cảm thấy kì kì, thế là nhờ pháp sư Bích Trân khâu lại, bên dưới đã phải khâu lại một chút. Tôi cũng nghĩ tới việc cầm đi giặt khô, bởi vì có khả năng nó đã được mặc mấy trăm năm rồi chưa giặt, đây là chiếc pháp bào Pháp Vương truyền thừa, đời này truyền cho đời khác, pháp bào truyền thừa từ đời này sang đời khác, nhưng tôi chưa giặt bao giờ. Chiếc áo bào này vẫn y nguyên là chiếc áo bào lấy từ chỗ của Ganden Tripa, cứ thế mặc trên người, đến bây giờ vẫn chưa từng giặt.

Phật Đà lấy ví dụ này nói với mọi người: “Việc không liên quan đến ta thì bỏ, việc liên quan đến ta thì loạn.” Người tu hành trước tiên đạt đến vô ngã, vô ngã là một điều kiện, là một trí huệ rất quan trọng, rất trọng yếu, rất cao thâm. Đó là pháp môn an tâm. Trên đời có phiền não chính là vì còn có cái chữ “ngã” này nên mới có phiền não. Khi cảnh giới tu hành của bạn cao rồi, thật sự có thể lĩnh hội được vô ngã, bạn sẽ không thể có phiền não nữa, đây gọi là an tâm, tâm bạn mới có thể an được.

Giống như Sư Tôn nhìn sinh lão bệnh tử của thế giới Ta Bà, đủ loại bệnh, đủ loại tai nạn, đủ kiểu ân ái tình thù, tôi chỉ cười xòa. Ngày hôm nay bạn để ở trong tâm thì chắc chắn sẽ có phiền não, hơn nữa chắc chắn không thoát được. Tôi nói một lời tương đối nghiêm trọng: hôm nay bạn tu hành, nếu bạn không loại bỏ được ngã chấp, bạn lúc cười lúc khóc, thì bạn sẽ dở khóc dở cười, bạn sẽ vĩnh viễn gánh chịu nghiệp chướng tích lũy nhiều kiếp, vĩnh viễn không có cách nào giải thoát được chính mình. Bởi vì bạn đều vì chính mình mà.

Mình được thì cười, mình mất thì khóc, hôm nay cười, ngày mai khóc, đúng là dở khóc dở cười. Trên thực tế chính là như vậy, đời người chẳng có gì đáng nói. Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ, từ vợ chồng, hôn nhân, sự nghiệp, tình cảm, con cái, học hành, có được mấy thứ đâu, chỉ vài thứ này thôi, đã khiến tất cả mọi người đều mệt mỏi rồi.

Hôm nay bạn đi trên con đường tu hành Chân Phật Mật Pháp chính là vì an tâm. Vì sao bạn quan tâm đến tâm mình thì lại loạn, là việc của người khác thì tâm bạn có loạn không? Đương nhiên tâm bạn sẽ không loạn rồi, bởi vì không liên quan gì đến bạn mà. Đây vẫn là do một chữ “ngã” gây ra mà thôi.

Phật pháp rất thâm sâu ảo diệu. Hôm nay bạn muốn giải thoát phiền não, giải thoát đau khổ của bạn, phương pháp duy nhất là bạn phải có trí huệ vô ngã. Tôi nói với bạn nhé, bạn nói định lực của bạn rất cao, định lực rất mạnh, không sai, định lực chính là hòn đá đè cỏ, định lực của bạn giống như hòn đá, cỏ bị bạn đè bẹp, nhưng chẳng qua chỉ là miễn cưỡng đè phiền não xuống mà thôi. Hôm nay định lực của bạn mất đi thì cỏ lập tức sống lại, bạn lại có phiền não. Phải từ trong định lực đi thâm nhập trí huệ, sau khi có được trí huệ của vũ trụ đó, bạn mới có thể thật sự giải thoát phiền não, mới có thể thật sự an được tâm bạn. 

Bạn vì chuyện tình cảm mà phiền não, vì hôn nhân mà phiền não, vì tên tuổi mà phiền não, vì lợi ích mà phiền não, vì con cái mà phiền não, vì sự nghiệp mà phiền não, đủ thứ phiền não, chỉ vì liên quan tới mình mà thôi. Hôm nay bạn coi mình thành vô tướng giống như hư không thì phiền não làm sao còn.

Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

25/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 101. Pháp giới an lập

Chúng ta nói về pháp giới an lập. Có thể nói toàn bộ ý thức vũ trụ đều là pháp giới. Trong Phật giáo nói đến pháp giới chính là mười pháp giới, bốn Thánh giới và sáu đạo, cộng lại chính là mười pháp giới.

Pháp giới an lập, trong Mật giáo, có hai đồ hình: một là Mandala Kim cương giới, một là Mandala Thai tạng giới. Trước kia tôi từng giảng, Kim cương giới biểu thị Phật Bồ Tát quả địa, Thai tạng giới biểu thị Phật Bồ Tát nhân địa. Khi mới bắt đầu tu hành, đó là Phật Bồ Tát nhân địa, đến khi đắc thành Phật Bồ Tát quả địa thì là Kim cương giới, đây là sự phân biệt Kim cương giới và Thai tạng giới.

Rất nhiều người hỏi tôi: Lư Sư Tôn dạy người ta quán tưởng hít thở thì phải hít vào ánh sáng trắng, thở ra khí đen. Hít vào phải hít ánh sáng trắng, khí đen phải thở ra. Vậy thì ánh sáng trắng từ đâu tới? Thật ra ánh sáng trắng đến từ ý thức vũ trụ, đến từ hư không, nhưng bạn chẳng có cách nào quán tưởng được. Rất nhiều nggười đều như vậy, nhất định phải có vật gì đó để họ nhìn thấy thì họ mới có thể nghĩ được là ồ, thì ra ánh sáng trắng là từ nơi đó đi vào trong mũi ta, sau đó lại thở ra khí đen, khí đen của toàn thân tiêu tan theo cách đó.

Rất nhiều người hỏi: “Thứ gì có thể tượng trưng cho ánh sáng trắng đó?” Trong Mật giáo chính là dùng mandala để làm vật tượng trưng cho ánh sáng. Bản thân Tsongkhapa giảng “Mật tông đạo thứ đệ quảng luận”, hoàn toàn là đang xây dựng mandala — từ đầu đến cuối. Trong khi giảng bốn bộ pháp, hoàn toàn giảng bắt đầu từ kiến lập mandala, cũng chính là pháp giới an lập. Trước tiên là phân tích cực kì rõ ràng về pháp giới của toàn bộ ý thức vũ trụ.

Ý của ngài ấy là như thế này, mandala chính là đại diện cho sự an lập của pháp giới. Bên trong mỗi một mandala đều có chủ tôn, cũng tương đương là có Bổn tôn, bên cạnh Bổn tôn lại có quyến thuộc, bên cạnh quyến thuộc lại có Hộ pháp, pháp giới chính là an lập như vậy.

Tương lai mỗi hành giả Chân Phật khi tu hành có thể an lập một mandala, hoặc là một đàn thành, chính là tượng trưng ánh sáng trắng từ nơi đó đi vào. Khi bạn quán tưởng, nhắm mắt lại, ánh sáng trắng từ mandala đi vào lỗ mũi bạn, đi xuống xoay chuyển một vòng, bạn làm Cửu tiết Phật phong là thở ra khí màu đen, chính là nghiệp đen trên thân thể bạn, đẩy hết ra ngoài, hít vào ánh sáng của pháp giới - tịnh quang đi vào. Cho nên hít vào trắng thở ra đen chính là đang làm công việc tiêu trừ nghiệp chướng của bạn. Một khi nghiệp chướng tiêu trừ thì tâm bạn cũng sẽ có thể an. Nghiệp chướng chưa trừ thì tâm bạn vĩnh viễn bất an, tâm sẽ khó mà an được. 

Trên thực tế chúng ta tu hành pháp môn an tâm, sau khi pháp giới an lập, bạn hãy chăm chỉ tu pháp môn an tâm của bạn.

Mandala Kim cương giới và Mandala Thai tạng giới, trong Mật giáo chính là hai bộ đại mandala. Có rất nhiều truyền thuyết liên quan đến mandala, có thuyết thì nói rằng hai bộ đều là do chính Long Thụ Bồ Tát sáng tạo ra, cũng có thuyết nói rằng Mandala Thai tạng giới là do Thiện Vô Úy tạo ra, còn Kim cương giới là do Kim Cương Trí sáng tạo ra. Cách nói thông thường là như vậy.

Như trong Mật giáo Tây Tạng có rất nhiều thangka, cái gọi là thangka thật ra chính là mandala, cũng có một vị, cũng bao gồm quyến thuộc, Hộ pháp. Những mandala lớn lại càng nhiều hơn, rất nhiều vị đều tập trung lại, đều gọi là đại mandala. Lại có cả pháp mandala, tức là dùng ký hiệu, mandala dùng ký hiệu để biểu thị. Cũng có văn tự mandala, tức là trên mandala chỉ có Phạn văn. Có rất nhiều loại mandala, cũng có tam muội mandala, đủ loại mandala đều có thể gọi là pháp giới an lập.

Vậy chúng ta tu hành phải dựa vào bạn có duyên với vị nào nhất thì lấy vị đó làm Bổn tôn, rồi thờ cúng đàn thành đó và loại mandala đó. Bởi vì bạn là vị đó, cho nên bản địa của bạn là ở đó, Hộ pháp của bạn là ai, quyến thuộc của bạn là ai, tất cả đều sẽ hiển hiện trong pháp giới. 

Bởi vậy khi mới bắt đầu tu Mật giáo, phải lựa chọn Bổn tôn có duyên với mình nhất, có thể nói là tự mình lựa chọn pháp giới cho chính mình. Bạn cầm bông hoa, tung bông hoa, hoa rơi lên vị nào thì bạn hãy chọn vị đó làm Bổn tôn, tức là bạn có duyên với Bổn tôn đó, có duyên với quyến thuộc đó, có duyên với Hộ pháp đó, tất cả đều có rồi, lúc đó sẽ biến thành tam muội da của pháp giới, samaya được an lập sẽ sản sinh ra.

Pháp Vương Ganden Tripa đến Lôi Tạng Tự của chúng ta, ngài tung khăn khata dâng lên chư tôn. Khi tung ra, nói ra cũng lạ, mỗi chiếc khăn khata đều tung lên trên tay của mỗi vị. Ngài ấy nói rằng Phật Bồ Tát ở Seattle Lôi Tạng Tự và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đều rất linh, mỗi vị đều hiện ra dùng tay nhận lấy khăn khata của ngài ấy rồi móc lên cánh tay. Theo như họ kể thì trong số mười chiếc khăn khata tung lên, đại đa số trúng được ba chiếc khăn khata lên tay đã là cực kì rồi, không ngờ mười chiếc khăn tung lên, cả mười chiếc đều rơi trúng lên tay. 

Thế nên các vị ở Seattle Lôi Tạng Tự và Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đều rất “sống”, là Phật Bồ Tát sống, thật sự là Phật sống, đều là Rinpoche, cho nên khi Ganden Tripa tung khăn lên rơi trúng tay thì biểu thị là có duyên, đúng lúc Phật Bồ Tát dùng tay để bắt lấy, cực kì có duyên. 

Bạn cũng phải lựa chọn Bổn tôn mà bạn có duyên nhất, bạn chăm chỉ tu là có thể an lập trong pháp giới, pháp giới tuy là hư không, nhưng cũng vẫn phải an lập. 

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

25/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 102. Pháp giới định ấn (1)

Hôm nay chúng ta sẽ nói về một thủ ấn, thủ ấn này chính là pháp giới định ấn. Đây là một thủ ấn rất phổ biến, mỗi người chúng ta đi đến chùa Phật, nhìn thấy thủ ấn mà A Di Đà Phật kết, đó chính là pháp giới định ấn, cũng chính là Di Đà định ấn. Định ấn kết như thế này (Sư Tôn thị phạm).

Có người hỏi tôi: “Vì sao pháp giới định ấn lại là tay phải ở trên, tay trái ở dưới?” Thế rồi cũng có người nói là lẽ ra phải là tay trái ở trên, tay phải ở dưới. Vậy rốt cục là thế nào? Bởi vậy hôm nay tôi giải thích với mọi người một chút về pháp giới định ấn.

Mười ngón tay của con người chúng ta đại diện cho mười pháp giới, cũng đại diện cho ý thức vũ trụ. Chúng ta biết rằng đây gọi là đất, nước, lửa, gió, không (thị phạm thủ ấn). Trong Mật giáo, đất, nước, lửa, gió, không gọi là ngũ đại, ý thức vũ trụ cũng chính là do ngũ đại tổ hợp lại, không tách rời đất nước lửa gió không.

Đất là sao? Rất đơn giản! Chính là mặt đất. Nước - là biển, hồ, sông. Lửa - là nhiệt độ, địa nhiệt, mặt trời, nóng lạnh. Gió - là không khí. Không - toàn bộ hư không giới phân bố khắp trong vũ trụ đều gọi là không. Chúng ta biết rằng bản thân vũ trụ có đất nước lửa gió không. Bản thân con người mà nói cũng có đất nước lửa gió không, da thịt chính là đất; nước chính là máu, mồ hôi, nước tiểu; lửa chính là nhiệt độ; gió là khí vận hành của sự hô hấp; không chính là ý thức sâu nhất của bản thân bạn. Con người có đất nước lửa gió không, vũ trụ cũng là đất nước lửa gió không, pháp giới định ấn này là sự kết hợp như vậy.

Trong Mật giáo, pháp giới định ấn là tay phải đè lên tay trái, ngón cái chạm vào nhau, ngón trỏ cong lại thành vòng tròn, đây chính là pháp giới định ấn (thị phạm). Vì sao tay phải đè lên tay trái? Trong Mật giáo nói thế này, tay phải là đại diện cho Phật, tay trái là đại diện cho chúng sinh, không được lầm lẫn trái phải. 

Trước kia Sư Tôn thường nhầm lẫn trái phải, cho nên, trước đây có người dạy tôi là, khi người ta gọi anh, cái tay mà anh giơ lên chính là bên phải, cho nên người ta gọi tôi, “Có!”, cái tay này chính là tay phải, bây giờ nói chung tôi đã nhớ được rồi. Trước đây chúng tôi ở trong quân đội, mọi người xếp thành một hàng, người chỉ huy nói: "Bên phải, quay!” Mọi người quay sang bên phải, còn tôi thì quay sang bên trái, rồi bước đi, càng đi càng xa. Ở trong quân đội chúng tôi thường xuyên phải quay trái, quay phải, tôi thường xuyên nhầm lẫn không rõ là trái hay là phải, bây giờ cuối cùng tôi cũng đã làm rõ rồi, phải chính là cái tay này, quay bên phải chính là quay về bên này. Trước kia thì cứ quay về bên trái, rồi bước đi, thế là càng đi càng xa.

Mật giáo là tay phải đè lên tay trái, đặt Phật ở trên, chúng sinh ở dưới. Ngón cái này chạm vào nhau là ý nghĩa gì? Biểu thị Phật và chúng sinh tương thông. Cũng tức là Phật và chúng sinh liên kết lại với nhau, đó là tương thông. Ngũ đại của Phật và ngũ đại của chúng sinh chồng lên nhau và tương thông nhau, đây là định ấn, định tâm lại (thị phạm thủ ấn). 

Ý nghĩa của nó cực kì rõ ràng, thật ra có rất nhiều Phật đến thế giới Ta Bà độ chúng sinh, đây là từ quả hướng về nhân, từ quả địa đi đến nhân địa để độ chúng sinh, đây là Phật Bồ Tát từ bi quay ngược con thuyền từ bi, đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh. Phật cũng sẽ biến thành chúng sinh, vậy chúng sinh chúng ta tu hành là đi từ nhân địa hướng đến quả địa, chính là đi lên trên, vì muốn thành Phật đắc quả vị, chính là từ nhân địa đi về phía quả địa.

Vì thế giữa chúng sinh và Phật không có sự phân biệt lẫn nhau, một đằng là tu lên trên, một đằng là đi xuống độ chúng sinh, rất nhiều Hoạt Phật (Rinpoche) đều đang độ chúng sinh, có rất nhiều Phật Bồ Tát cũng hóa hiện ở trong chúng sinh.

Có một truyền thuyết như thế này: bạn trai tăng (trai tăng tức là cúng dường tăng nhân), trong số năm trăm người xuất gia hoặc một nghìn người xuất gia mà bạn trai tăng thì sẽ có một La Hán đến hóa hiện. Vì vậy mà công đức trai tăng rất lớn. Bởi vì trong đó chắc chắn có một chân thân La Hán đến hóa hiện tiếp nhận cúng dường của bạn, cho nên cúng tăng, trai tăng vô cùng quan trọng.

Bây giờ mọi người đã hiểu thế nào là pháp giới định ấn rồi. Phật, chúng sinh tương thông với nhau, ngũ đại của Phật nối liền với ngũ đại của chúng sinh, hai bên là như nhau. Có một câu nói rằng, “tâm, Phật, chúng sinh không khác biệt”. Khi bạn thật sự đạt đến khai ngộ rồi, bạn sẽ chẳng có khác biệt gì, cho nên chúng sinh đừng coi thường chính mình, đừng đánh giá thấp chính mình, bởi vì bản thân bạn cũng là Phật, chỉ là bạn có phiền não, bạn có nghiệp chướng mà thôi. Bạn chỉ cần loại bỏ hết phiền não và nghiệp chướng, bạn và Phật căn bản là không có khác biệt gì. Tâm, Phật, chúng sinh không khác biệt, căn bản không có phân biệt. Phật và chúng sinh hợp lại với nhau, hơn nữa còn liên kết lại, liên kết lại cùng nhau, không chỉ là tương thông, mà còn liên kết lại với nhau. 

Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

26/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 103. Pháp giới định ấn (2)

Chúng ta lại nói về pháp giới định ấn. Ở đây có một nghi vấn, có người hỏi: “Vì sao tay phải đè lên tay trái?” Cũng có người nói phải là tay trái đè lên tay phải. Rốt cục là thế nào?

Điều này lại có một cách giải thích khác như thế này. Chúng ta biết rằng trong cách so sánh nói tay phải biểu thị trí huệ, tay trái biểu thị thiền định, hai tay này mỗi tay đều có tính tượng trưng. Có hành giả chủ trương phải là tay trái đè lên tay phải, chủ trương này cho rằng thế này: bởi vì tay trái là thiền định, cho nên lấy thiền định đặt ở trên để đè những suy nghĩ vọng tưởng xuống, ý là như vậy, cho nên có người chủ trương tay trái đè tay phải. 

Tôi nghĩ rằng cả hai cách nói này đều đúng, đều có thể thông qua, nói theo Mật giáo thì tay phải đè lên tay trái, thế còn một số người lại chủ trương tay trái đè lên tay phải, bởi vì tay trái đại diện cho định, định thì phải là ở trên, bạn kết pháp giới định ấn thì định phải ở trên đè tay phải xuống, cách nói này cũng tương đối đặc biệt một chút.

Tôi từng nói về định lực, rất nhiều hành giả, người tu hành đại bộ phận đều sẽ sản sinh ra định lực, bởi vì bạn học định thì sẽ sản sinh định lực, nhưng cũng có người nói định lực không đáng tin cậy. Định lực giống như tảng đá lớn đè cỏ, bạn có đủ định lực không sai, chính là tảng đá đè những cỏ dại xuống, đè những vọng tưởng xuống. Nhưng khi có một ngày bạn bỏ định lực này ra, cỏ dại sẽ mọc lên, cỏ lại sống lại. Vì thế, lửa hoang vẫn cháy mãi, gió xuân thổi lại bùng. Bạn chẳng thể nhổ hết được cỏ dại. Vọng niệm cũng giống như cỏ dại, tuy rằng bạn có tảng đá định lực to như vậy, đè lên cỏ dại, nhưng có một ngày tảng đá này bị cần cẩu cẩu đi thì sao? Những cỏ dại đó vẫn sẽ lại sống lại.

Cách nói này rất hay, bởi vậy trí huệ rất quan trọng. Tay phải còn đại diện cho trí huệ, bởi vì duy có trí huệ mới có thể hoàn toàn nhìn thấu được phiền não và nghiệp chướng. Người tu định chúng ta đều có định lực, các bạn biết rằng người tu chính định có định lực, ví dụ học thiền định của Như Lai, bạn sẽ sản sinh ra định lực, bạn học thiền định của ngoại đạo, giống như Đạo gia cũng có thiền định. Không phải tôi chỉ ngoại đạo là Đạo gia, tuyệt đối đừng hiểu lầm. Nói cách khác là một dạng thiền định để thỉnh cầu cái khác, theo đuổi cái khác, không phải là dạng thiền định rốt ráo, cũng sẽ sản sinh ra định lực, hơn nữa định lực cũng rất sâu. Rất nhiều đại tu hành giả, bạn đừng thấy họ học tập thiền định khác, công phu thiền định đó cũng sẽ sản sinh ra, định lực rất cao rất sâu cũng sẽ sản sinh ra, nhưng định lực sản sinh ra không hề biểu thị rằng họ đã đạt đến thành quả cuối cùng.

Cho nên mới có tam học giới-định-huệ. Bạn cần phải giữ giới, giữ năm giới và làm mười điều thiện, sau đó lại học tập định lực, sau khi có định lực rồi thì bạn sẽ cảm giác phiền não, nghiệp chướng hình như đã giải thoát rồi. Trên thực tế đôi khi định lực của bạn mất đi, phiền não của bạn sẽ lại một lần nữa khởi lên. Cuối cùng, thứ thâm sâu nhất chính là bát nhã, bạn tiến vào bên trong bát nhã, dùng bát nhã để nhìn thấu phiền não và nghiệp chướng. Trên thực tế, định lực chỉ là đè nghiệp chướng và phiền não của bạn xuống, bạn vẫn còn có chúng. Chỉ có dùng trí huệ mới có thể hóa giải hoàn toàn nghiệp chướng và phiền não.

Bởi vậy có rất nhiều đệ tử đến chỗ tôi, họ nói với Lư Sư Tôn: “Seattle ở Mỹ thật tốt quá! Không khí tốt, cỏ cây tốt, hồ nước đẹp, cái gì cũng tốt, hoàn cảnh sống cũng tốt.” Nhưng họ sống ở Seattle Lôi Tạng Tự một khoảng thời gian thì bảo: “Tôi phải đi đây.” “Vì sao?” Anh ta nói: “Là vì việc người không tốt. Có người, có chuyện, rất nhiều người cứ “cạp cạp” nói chuyện thị phi, như vậy không tốt.”

Tôi nói với đệ tử đó: “Nơi nào có người thì sẽ có thị phi, trên thế giới này anh không tìm được cõi vui thanh tịnh đâu, không có đâu! Bất kì đoàn thể nào cũng đều có thị phi, tôi chưa từng thấy đoàn thể nào không có thị phi.”

Anh nói Seattle không tốt. Được thôi! Anh đi đi, anh đi tới Vancouver, cũng có người từ Vancouver đến, sau đó anh đến Los Angeles, Los Angeles cũng có phiền não! Anh đến New York, New York cũng có phiền não. Bạn đến Đài Loan, Đài Loan cũng có phiền não. Singapore có phiền não của Singapore. Indonesia có phiền não của Indonesia. Đến Philippines, đến châu Âu, đến Thụy Sĩ xem núi tuyết. Chà! Đây là núi tuyết, bạn ở đó thiền định, lạnh muốn chết, cũng có phiền não. Bạn đến Ấn Độ, đến Nepal, đến Tây Tạng, cũng thế thôi! Bạn đến Nhật Bản, cũng thế. Được rồi! Bây giờ bạn đến Điếu Ngư Đài vậy! <span className="note-blue">[Điếu Ngư Đài là khu nhà khách chính phủ của Trung Quốc, nơi tiếp đãi các nguyên thủ quốc gia các nước.]</span> Thế thì phiền phức càng lớn rồi, nơi không có người thì phiền phức càng nhiều. Tôi nói với bạn nhé. Chỗ an tâm thật sự nằm ở trí huệ của nội tâm, trí huệ của tâm bạn sinh ra thì bạn mới có thể an tâm, phiền não, nghiệp chướng mới có thể giải thoát, không có một nơi nào là không có thị phi.

Có đệ tử chạy khắp các đạo tràng các nơi, cho rằng Chân Phật Tông không tốt, tôi đi sang tông phái khác đây, ở trong tông phái khác anh ta lại lăn đi, bởi vì vẫn có thị phi. Anh ta đã chạy tới rất nhiều nơi, mỗi đạo tràng đều đã chạy tới, sau đó lại trở về, bởi vì đều như nhau cả. Thế giới này chỗ nào cũng thế.

Bạn thật sự tu được định lực, từ trong định có được bát nhã, bạn dựa vào phương pháp của bát nhã để nhìn thấu nghiệp chướng, phiền não vốn dĩ luôn có, nhưng bạn phải làm sao để chúng không động tới chân tâm của bạn, tâm của bạn mới là chỗ để bạn an tâm, đây mới là pháp môn an tâm chân chính.

Bạn chạy khắp các đạo tràng, chạy khắp thế giới, tu đủ loại pháp, đều không thể an được tâm bạn, chỉ có sau khi bạn thật sự có được bát nhã, bởi vì tất cả nghiệp chướng, phiền não vốn dĩ luôn có, nhưng nó không cách nào quấy rầy bát nhã của bạn, tâm của bạn được. Lúc này tâm của bạn, Phật tính mới thật sự hiển hiện. 

Bởi vậy tôi nói là nhìn thấu, tất cả nghiệp chướng, phiền não duy có dùng bát nhã để nhìn thấu, bạn phá được nghiệp chướng, phiền não thì cũng giống như là không còn nghiệp chướng, phiền não. Thật ra nghiệp chướng, phiền não này vẫn ở đó, chỉ là vì bạn đã nhìn thấu rồi, đây là pháp môn an tâm chân chính.

Om mani padme hum.

26/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 104. Bí quyết tu pháp (1)

Hôm nay nói về bí quyết tu pháp.

Pháp của Mật giáo có đủ loại bí quyết, bí quyết mà tôi sẽ nói đến ở đây chẳng qua chỉ là một trong số đó. Giải thích bí quyết như thế nào đây? Tôi đã nghĩ rất lâu rồi, có một so sánh, tôi so sánh như thế này: giống như là thân thể chúng ta ngứa ở chỗ nào thì bạn sẽ cảm thấy được, bạn đưa tay ra gãi, vừa khéo gãi vào đúng chỗ ngứa đó, đây chính là bí quyết.

Cái gọi là bí quyết chính là nói rằng bạn đưa tay ra là gãi được chỗ ngứa. Vậy giả sử bạn nói, đầu tôi đang ngứa, nhưng bạn đưa tay ra lại gãi cái chân, vậy thì chẳng thể nào hết ngứa được, như vậy tức là không nắm được bí quyết. Đây là so sánh mà cá nhân tôi nói ra. Chân bạn đang ngứa, bạn lại gãi vào mông, vậy thì về cơ bản là bạn đang tu pháp có vấn đề.

Cái gọi là bí quyết chính là vừa khéo, chính là bí quyết.

Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều khẩu quyết, khẩu quyết này chính là bạn túm được cái chỗ tài tình. Như thế thì bạn tu pháp sẽ rất dễ cảm ứng, rất dễ tương ứng với Phật Bồ Tát. Bí quyết này nhất định cần có sư phụ dạy, bởi vì bản thân sư phụ đã hiểu được một tâm yếu đặc biệt quan trọng trong tu hành, bạn có thể trực tiếp đi thẳng vào, lập tức có thể ấn chứng, đây chính là bí quyết.

Vì thế, tu hành đôi khi tự bạn đi mò mẫm. Ôi! Tôi chẳng cần bái sư phụ, tôi không cần bái thầy, tôi tự mình đi mò mẫm. Nói chung thì có sư phụ dạy, bạn sẽ nhanh chóng có thể nắm bắt được bí quyết. Thế không có sư phụ dạy thì sao? Có lẽ lần mò 20 năm, 50 năm bạn vẫn không biết được khẩu quyết nằm ở đâu. Vì thế chạm đúng chỗ ngứa, vừa khéo, chính là một bí quyết.

Trước đây khi tôi thuyết pháp thường nói, tại âm gian địa ngục tạo ra một “địa ngục ngứa ngáy”. Ý của tôi là thế này, ở âm gian, giả sử có một địa ngục khiến những chúng sinh u minh phạm tội phải đến âm gian toàn thân ngứa ngáy, không cần phải toàn thân ngứa, chỉ cần một chỗ ngứa là được rồi, nhưng tay họ lại không chạm tới được, tay chẳng có cách nào gãi được chỗ ngứa đó, như thế là cũng chịu đủ khổ rồi.

Tự bạn thử nghĩ xem: buổi tối bạn đi ngủ, nằm trên giường ngủ, lưng bạn ngứa, lưng rất ngứa rất ngứa, nhưng tay bạn không thể nào gãi được cái chỗ ngứa đó, tay không đủ dài, vậy phải làm sao? Lúc đó thì rất đau khổ. Tôi cảm thấy trong địa ngục nên phát minh ra một “địa ngục ngứa ngáy”, địa ngục này chuyên môn phạt phạm nhân khiến cho phạm nhân vào đó thì ngứa muốn chết, hình phạt này cũng đủ lợi hại rồi, so với chặt đầu, lột da thì cũng không thua kém gì! Tôi cảm thấy khi một người không gãi được chỗ ngứa thì cũng rất đau khổ. 

Vậy bí quyết tu pháp rốt cục nằm ở đâu? Nói chung thì có lẽ bạn cần chú ý một chút đến hoằng nguyện của Phật Bồ Tát Bổn tôn. Mỗi một vị Phật Bồ Tát đều có phát nguyện, đều đưa ra nguyện vọng. Vậy khi bạn tu Bổn tôn của mình, bạn tu vị Phật nào, vị Bồ Tát nào, bạn phải dựa theo lời nguyện của vị Phật, vị Bồ Tát đó để làm, để thực hành, sẽ trở thành hành nguyện. Làm được như vậy thì rất dễ tương ứng. Vì thế, bạn tu Bổn tôn Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Hiền có mười lời nguyện, mỗi ngày bạn đều phải niệm Phổ Hiền thập nguyện, dựa theo các nguyện vọng của mười lời nguyện Phổ Hiền này để mà làm thì tức là bạn đang tu Bổn tôn.

Hoằng nguyện rất quan trọng. Bạn xem A Di Đà Phật có 48 đại nguyện, bạn tu A Di Đà Phật thì bạn phải dựa theo 48 đại nguyện của A Di Đà Phật để mà tu, cho nên hoằng nguyện chính là như vậy.

Nói một cách rất đơn giản, bạn muốn vào Hoa Tạng thế giới, bạn dựa vào cái gì để vào được Hoa Tạng thế giới? Dựa theo kinh Hoa Nghiêm để tu thì bạn có thể vào được Hoa Tạng thế giới.

Thế còn bạn tu chư Thiên, bạn tu Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên, bạn dựa vào cái gì để tu? Bạn dựa vào kinh A Hàm để tu thì bạn có thể tiến vào trong các cõi trời.

Cho nên bạn đọc các kinh điển mà bản thân Phật Đà đã giảng, có thể nói là nghìn kinh vạn điển, rất nhiều kinh điển, mỗi quyển trong đó đều có nguyện lực chân chính của nó, nguyện lực chân chính của nó nằm ở đâu? Cảnh giới của nó nằm ở đâu, bạn phải nắm bắt được, rồi bạn tu theo như thế, rất dễ tương ứng.

Nguyện vọng của mỗi vị Phật Bồ Tát Bổn tôn, chính bạn phải biết. Biết được nguyện vọng của Phật Bồ Tát Bổn tôn rồi, bạn đi theo nguyện vọng đó, đây chính là một bí quyết. Bạn tu Quan Thế Âm Bồ Tát, bạn phải biết Quan Thế Âm Bồ Tát rất từ bi, vậy bạn phải học tập lòng từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát! Bạn không thể lúc nào cũng rất hà khắc, rất hẹp hòi. Bạn vừa hẹp hòi, vừa hà khắc, vừa không từ bi, bạn tu Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát làm sao mà tương ứng được?

Vì thế, chỉ cần là bạn tu Quan Thế Âm Bồ Tát thì bạn cúng dường phải hào phóng. Vì ngài từ bi mà! Ngài cũng bố thí mà! Tâm lượng của bạn phải mở rộng ra. Tâm phải rộng rãi.

Quan Thế Âm Bồ Tát là từ bi nhất, tâm lượng của ngài cũng quảng đại nhất. Bạn là Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng tâm lượng của bạn rất nhỏ, làm sao có thể là Quan Thế Âm Bồ Tát được? Quan Thế Âm Bồ Tát làm gì có vị nào gọi là “tiểu lượng Quan Thế Âm” đâu? Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định phải là đại lượng Quan Thế Âm, làm gì có tiểu lượng Quan Thế Âm chứ?

Vì thế phải hiểu hoằng nguyện của bản thân Phật Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát xả tất cả, hỷ tất cả, từ tất cả, bi tất cả, từ bi hỷ xả đều vô lượng.

Bạn biết hoằng nguyện của bản thân mỗi vị Phật, Bồ Tát, Bổn tôn, bạn nắm chắc hoằng nguyện này thì nhất định có thể tương ứng với Bổn tôn, Phật, Bồ Tát. Điều này vô cùng quan trọng. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

27/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 105. Bí quyết tu pháp (2)

Chúng ta lại nói về bí quyết tu pháp. Trong Mật giáo, không chỉ là tu Phật, Bồ Tát, mà còn tất cả tứ Thánh giới, chư thiên giới, thiên long bát bộ đều tu, bởi vì chủ yếu là các vị phải hộ trì chúng sinh.

Mật giáo làm cúng dường, đó không chỉ là cúng Phật, cúng Bồ Tát, cúng Hộ Pháp, cúng thiên long bát bộ, không chỉ là như vậy mà thôi. Khi bạn tu đại pháp, tất cả thổ địa, thần núi, thần đất, thần nước, thần cây, thần mùa màng ở trong vùng, tất cả chư thiên, bạn đều phải cúng dường.

Không chỉ cúng dường có vậy, còn phải cúng dường tổ sư các đời, cúng dường các A La Hán trụ thế vẫn còn ở thế giới Ta Bà, cúng dường các hành giả thanh tịnh sống ở nơi núi sâu sông lớn, tất cả đều phải triệu thỉnh đến để cúng dường, còn phải cúng dường tổ sư các đời, còn phải cúng dường Căn bản Thượng sư của chính bạn.

Cúng dường này tổng cộng có tám loại, thứ nhất là đem cúng phẩm ra, liên tục cúng, cúng Phật, cúng Bồ Tát, cúng chư Thiên, cúng Hộ Pháp, cúng Không Hành Mẫu, cúng Không Hành Dũng Phụ, cúng thần núi, thần đất, thần nước, thần mùa màng, tất cả Hộ Pháp, toàn bộ đều phải cúng, cúng Thượng sư, cúng tổ sư các đời. Cúng dường của Mật giáo rất nhiều.

Trong khi chúng ta tu pháp, cũng có tu thiên long bát bộ, tu Hộ Pháp Thần. Vậy bạn tu Long Thần, trong thiên long bát bộ có Thiên Long, chư Thiên và Long Vương đều có trong số đó. Bạn tu pháp Long Vương bảo bình thì phải biết khẩu quyết của ngài. Long Vương một lòng muốn thành Phật, cho nên khi bạn tu pháp Long Vương bảo bình, bạn phải khuyên thỉnh Long Vương thành Phật, phải quán tưởng Long Vương được thăng lên trở thành Thượng tôn Long Vương Phật.

Quán tưởng ngài thành Phật thì tâm rồng của ngài sẽ rất vui mừng, tâm rồng sẽ rất hoan hỷ, vì bạn quán tưởng ngài thành Phật mà. Khuyên thỉnh ngài thành Phật, đây chính là điều mà trong lòng ngài muốn, là điều ngài thích nhất, ngài sẽ ban cho bạn tài phúc. Bởi vì bạn đã nói trúng tâm ngài, bạn nói đến điều mà ngài thích, cho nên đương nhiên ngài sẽ ban tặng tài phúc cho bạn, bí quyết quan trọng của tu pháp cũng nằm ở đây.

Bạn tu pháp Long Vương bảo bình, tu pháp Long Vương thì nhất định phải khuyên thỉnh Long Vương thành Phật. Thế còn bạn tu Đa Văn Thiên Vương Hoàng Tài Thần, mọi người biết ngón chân cái của ngài thường xuyên rất đau, tôi cũng không biết vì sao ngón chân cái của ngài lại thường xuyên đau. Thế nhưng đối với Đa Văn Thiên Vương thì điều khổ não duy nhất của ngài chính là đây. Vậy thì bạn cần thỉnh Ngũ Phật trụ tại đỉnh đầu của Hoàng Tài Thần, phóng ánh sáng ngũ sắc gia trì cho ngón chân cái của Hoàng Tài Thần, ngón chân cái này sẽ bớt sưng, tự nhiên tất cả phiền não của ngài được giải trừ, đương nhiên ngài sẽ ban tặng tài phúc cho bạn rồi. 

Tu Hoàng Tài Thần phải biết bí quyết của ngài - Ngũ Phật phóng quang gia trì, khiến ngón chân cái của Hoàng Tài Thần hết sưng, đây chính là bí quyết của ngài.

Mọi người biết Kỵ Long Bạch Tài Thần, trong Mật giáo, tiếng tăm của Bạch Tài Thần rất lớn. Ngài thích nhất thứ gì thì bạn hãy dùng thứ đó để cúng dường. Bạch Tài Thần vì sao gọi là Bạch Tài Thần? Khả năng là vì ngài thích tắm, tắm đến mức da dẻ rất trắng, cho nên mới gọi là Bạch Tài Thần. Bạn cúng dường Bạch Tài Thần thì nhất định phải dùng nước tắm, bởi vì ngài thích mà. Để cho ngài đi vào trong nước tắm đó, bạn chấm vào nước tắm, còn phải liếm một cái nữa, rồi phải búng tay, búng đi, quán tưởng tất cả tài bảo từ trong hư không rơi xuống. Đây chính là chỗ thần kỳ của pháp Mật giáo. 

Thần, chư Thiên đều có thứ mà họ thích. Bạn phải cúng dường thứ mà họ thích. Bạch Tài Thần thích tắm, bạn cúng dường nước tắm, bí quyết chính là nằm ở đây.

Thế còn Hồng Tài Thần (Thần Tài Đầu Voi), ngài có một lời thề, ngài cũng muốn ban tài bảo cho mọi người. Thần Tài Đầu Voi thì bạn phải quán tưởng chày kim cang hoặc trực tiếp cầm chày kim cang đè lên đầu ngài, ấn một cái, đừng ấn mạnh quá, dùng chày kim cang ấn lên đỉnh đầu ngài, ngài sẽ ban tài bảo.

Bởi vì Hồng Tài Thần từng nói rằng: “Chỉ cần chày kim cang của Kim Cang Tát Đỏa để lên đỉnh đầu tôi, nguyện vọng của tôi là sẽ ban phúc cho chúng sinh.” Ngài có lời thề như vậy đó! Cho nên khi bạn tu Hồng Tài Thần, tuyệt đối phải ghi nhớ, đặt chày kim cang lên đầu của Hồng Tài Thần, ngài sẽ ban tài bảo cho bạn. Có hiệu quả hay không chính là nằm ở đây, chày kim cang của bạn không đặt lên đầu ngài thì làm sao ngài ban tài bảo cho bạn được? Cái này chính là bí quyết tu pháp.

Hôm nay nói bí quyết này, có một số thứ là bản thân các vị Tài Thần ưa thích, có một số thứ cũng là nguyện vọng của bản thân các ngài.

Bạn nói tu pháp hàng phục, vậy thì rất bí mật. Đầu nhọn của hình tam giác trong pháp hàng phục nhất định phải chĩa về phía đối phương (dùng cách thức quán tưởng), hơn nữa hình tam giác này phải sinh ra lửa phẫn nộ, đây là một bí mật rất lớn của pháp hàng phục. (Ý nghĩa của hàng phục là hàng phục tham niệm, sân niệm, si niệm, chuyển thành ý niệm thanh tịnh). Bởi vậy đây cũng là khẩu quyết. Có một số người tu pháp hàng phục, dùng hình tam giác phẳng đè lên tim của đối phương, giống như đắp chăn bông vậy, chẳng có cảm giác gì, lấy đâu ra hiệu quả? Cái này phải biết khẩu quyết, khẩu quyết chính là ở đây.

Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều mật pháp, muốn tu trì tương ứng, bạn phải tu trì khẩu quyết tương ứng. Bạn tu tiêu tai, trừ bỏ hết tai nạn, chúng ta thỉnh Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát là từ bi nhất, ngài dùng cành dương liễu tịnh thủy sẽ chảy ra cam lộ, loại trừ hết mọi nghiệp chướng và tai nạn của bạn.

Pháp tiêu tai, chúng ta phụng thỉnh Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Thế còn siêu độ thì sao? Bạn muốn độ vong, chúng ta phụng thỉnh Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát trong số tám đại Bổn tôn, bởi vì chúng sinh u minh, thập điện Diêm Vương đều là Địa Tạng Bồ Tát quản. Vậy thì lấy Địa Tạng Vương Bồ Tát để độ chúng sinh u minh là rất tốt, chúng ta làm siêu độ thì phụng thỉnh Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Quan hệ của bạn cần phải tìm đúng người chứ! Trực tiếp tìm Địa Tạng Vương Bồ Tát là được rồi, bạn tìm Quan Thế Âm Bồ Tát cũng được, nhưng Quan Thế Âm Bồ Tát lại phải đi tìm Địa Tạng Vương Bồ Tát đúng không? Như thế thì khá phiền toái, chúng ta trực tiếp tìm đúng người, bí quyết thật sự của tu pháp nằm ở đây.

Làm hàng phục thì thỉnh Đại Uy Đức Kim Cang, làm kính ái thì thỉnh Kurukulle Phật Mẫu, đúng không? Bí quyết tu pháp thật sự có thể tương ứng nằm ở đây. 

Om mani padme hum.

27/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 106. Làm pháp của Mật giáo

Hôm nay chúng ta nói một chút về làm pháp của Mật giáo. Nhìn chung mà nói, trong Phật giáo nếu có làm pháp thì chỉ có Mật giáo, Hiển giáo thông thường không nói làm pháp này pháp kia, tương đối ít nghe thấy, nhưng bản thân Mật giáo thì thật sự có làm pháp. 

Làm pháp cần có điều kiện, chúng ta làm pháp nhất định cần phải làm pháp sao cho viên mãn, pháp có thể có thành tựu, pháp làm ra phải có ứng nghiệm, điểm này rất quan trọng. Mọi người đều biết trong Mật giáo có làm rất nhiều pháp, giả sử làm pháp không có cảm ứng, không có ứng nghiệm, thế thì làm cũng như không, chi bằng không làm.

Cho nên làm pháp muốn ứng nghiệm, muốn có cảm ứng, chắc chắn có điều kiện ở trong đó. Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta có làm pháp rất nhiều, mỗi người tu pháp khi làm pháp, điều kiện đầu tiên là đòi hỏi bản thân phải có công đức. Nói một cách rất đơn giản, nếu cơ bản là bạn không có một chút công đức nào, thế thì làm sao bạn làm pháp được? Bắt buộc chính mình phải có công đức.

Giống như là có rất nhiều đệ tử đến hỏi: “Tôi có thể giúp người ta làm Hộ Ma hỏa cúng không?” Vậy trước tiên đừng hỏi Sư Tôn, trước tiên phải hỏi chính các bạn, tự mình nghĩ xem bạn có đủ điều kiện không? Bạn cho rằng mình đã tu hành rất thanh tịnh rồi, tôi đã tương ứng với Phật Bồ Tát rồi, tôi cho rằng bản thân mình đã làm rất nhiều việc thiện rồi, rất có công đức rồi, bản thân đã rất từ bi rồi, vậy thì đương nhiên bạn có thể làm pháp. Giả sử nghiệp chướng của bạn rất nặng, tự mình còn chưa thể cứu được mình, bạn bán mạng đi làm pháp cho người ta, tự bạn nghĩ thử xem! Bản thân bạn còn chưa tương ứng, làm sao bạn giúp người ta làm pháp chứ?

Vì thế, muốn giúp người ta làm pháp, trước tiên tự hỏi chính mình, đừng hỏi Sư Tôn. Bạn hỏi chính mình xem liệu đã có công đức chưa, xem liệu nghiệp chướng của chính mình đã hết chưa, liệu bạn đã tu hành thanh tịnh chưa, đây chính là điều kiện. 

Thật ra, bản thân việc làm pháp phải có sự chuẩn bị đầy đủ, thứ nhất là bản thân hành giả đã có năng lực tương ứng; thứ hai, bởi vì có năng lực tương ứng, bạn có thể triệu thỉnh được Bổn tôn, Hộ pháp, Thượng sư đến, Bổn tôn đến phóng quang gia trì cho bạn, Hộ pháp đến phóng quang gia trì cho bạn, Thượng sư có thể đến gia trì cho bạn, lúc này bạn mới có thể sản sinh ra sức mạnh, mới có pháp lực. Nếu pháp lực của bạn sản sinh ra thì việc làm pháp này của bạn mới có thể ứng nghiệm. Đạo lý này nằm ở đây.

Không sai! Hành giả Mật giáo chúng ta khi làm pháp dựa vào hai loại sức mạnh: một là chú lực, niệm chú, bạn phải trì chú, trong lúc làm pháp liên tục trì chú; hai là cầu nguyện lực, bạn cầu khẩn, cầu nguyện là có sức mạnh. Bạn xem, những người theo Cơ Đốc giáo chính là dựa vào sức mạnh cầu nguyện. Họ phải cầu nguyện, tức là cầu khẩn thiên đường, cầu Thiên Chúa, Jehovah, và Jesus. Họ dựa vào một dạng sức mạnh cầu nguyện.

Trong Mật giáo, ngoài niệm chú ra, bạn cần dựa vào văn thỉnh cầu, chính là sức mạnh của cầu nguyện, là một nghi quỹ cầu khẩn. Ngoài ra, nghi quỹ đó phải chu toàn, mọi nghi quỹ làm pháp cần thiết phải chu toàn. Tất cả dụng cụ phải chu toàn, nghi quỹ từ khi bắt đầu cầu nguyện cho đến khi kết thúc, Tiền hành, Chính hành, Hậu hành, nghi quỹ phải chu toàn. Ngoài ra, chính là bản thân bạn phải có đầy đủ điều kiện, tức là bạn là một hành giả thanh tịnh, quan trọng nhất chính là sức mạnh tương ứng, sức mạnh tương ứng này chính là bạn cầu nguyện chư Thiên giúp đỡ bạn, rồi chư Thiên giáng xuống ban ánh sáng cho bạn, vậy thì pháp này sẽ có pháp lực. Khi bạn thỉnh cầu Phật hạ giáng, Phật đã đến rồi, ngài sẽ phóng quang cho bạn, thế thì pháp đó sẽ có sức mạnh. Khi bạn thỉnh Bồ Tát đến, vị Bồ Tát này hạ giáng phóng quang bao trùm, vậy thì pháp này sẽ có sức mạnh. Vậy thỉnh Hộ pháp tới, thiên long bát bộ đều đến, thiên long bát bộ dùng pháp lực rất lớn giúp bạn, vậy thì pháp này của bạn sẽ sinh ra sức mạnh, việc làm pháp đó sẽ có cảm ứng, sẽ ứng nghiệm.

Làm pháp Mật giáo, điều kiện duy nhất chính là Phật, Bồ Tát, chư Thiên, Hộ pháp giáng xuống để giúp bạn, thế là bạn thành công. Ngày hôm nay, ví dụ tôi làm pháp, tôi đã làm rồi, y theo nghi quỹ, cái gì cũng làm hết, điều kiện gì cũng đều có đủ, cúng phẩm cũng đủ, cái gì cũng tốt, tất cả đều bày ra toàn bộ, bạn cũng bắt đầu tu pháp, cũng niệm chú, cũng cầu nguyện, chỉ có một mình bạn làm. Thế nhưng mà Phật Bồ Tát chư Thiên, Hộ pháp, tất cả đều không đến, vậy thì pháp này đương nhiên không hề có hiệu quả. Vì sao các vị không đến? Bởi vì bản thân bạn rất bẩn, bạn không phát bồ đề tâm, bạn không phải là một hành giả thanh tịnh, bạn không có công đức, toàn thân bạn đều là nghiệp chướng, làm sao Phật Bồ Tát cảm ứng với bạn được chứ? Ngài không xuống, vì sao không xuống? Bởi vì bạn rất bẩn, *you are dirty too*, bạn là một người bẩn, vậy thì hết cách.

Bởi vậy làm một hành giả Mật giáo, đầu tiên phải thanh tịnh chính mình, cũng chính là trước tiên tự mình có thể loại bỏ hết nghiệp chướng của mình, tự mình đã sinh ra ánh sáng, tự nhiên có thể triệu thỉnh ánh sáng của vũ trụ giáng xuống. Cho nên khi bạn làm pháp, chà, nhất hô bách ứng <span className="note-blue">[hô một tiếng là trăm người làm theo]</span>. Bạn thỉnh vị nào thì vị đó đến. Thiên long bát bộ cũng đến, Không Hành Mẫu cũng đến, Bồ Tát cũng đến, thỉnh Phật Phật cũng đến, chư Thiên đều giáng xuống, các vị rất vui mừng đến phụ họa. Thế thì bạn thỉnh cầu cái gì, cầu khẩn điều gì sẽ đều ứng nghiệm. Đây chính là một điều kiện thật sự của việc làm pháp. Điều kiện quan trọng nhất chính là ở đây. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

30/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 107. Chịu thay khi làm pháp

Chịu thay khi làm pháp, vấn đề này rất nhiều người đến hỏi tôi. Chúng ta biết rằng Mật giáo làm pháp là để giúp chính mình tiêu tai, cũng giúp người khác tiêu tai. Chính mình tăng ích, cũng giúp người khác tăng ích, gia tăng lợi ích. Chính mình tu kính ái, cũng giúp người ta tu gia đình viên mãn. Chính mình hàng phục tham sân si của mình, cũng giúp người khác hàng phục tham sân si của người khác. Tu pháp hàng phục có thể giúp người khác giải quyết rất nhiều khó khăn. 

Thế nhưng ở đây lại phát sinh một vấn đề, chính là sau khi giúp người khác làm pháp xong, tai nạn của người ta đã được giải trừ rồi, kết quả là tai nạn của mình lại tăng lên, vấn đề này gặp rất nhiều. Rất nhiều hành giả giúp người ta chữa bệnh, kết quả là bệnh của người khác thì khỏi rồi, nhưng chính mình thì toàn thân lại có bệnh. Giúp người ta giải trừ được kiện cáo nhưng lại dẫn đến rất nhiều việc kiện cáo cho bản thân. Giúp người ta giải trừ rất nhiều tai nạn, nhưng bản thân lại phát sinh rất nhiều tai nạn. Chuyện này là thế nào? Cho nên rất nhiều đệ tử hỏi tôi điều này. Đó là chịu thay.

Chịu thay khổ của chúng sinh, chịu thay vẫn là tốt, vốn dĩ chẳng có gì, hành giả vốn dĩ là nên chịu thay mà! Chịu thay khổ của chúng sinh, có gì chứ? Nhưng tai nạn này, có đôi khi lại rất đau khổ, bản thân bạn cũng không thể chịu nổi. Nhất là những bệnh quỷ thần, có linh ám trên thân người bệnh, là một u linh sống trên người đó. Được thôi, bạn giúp người ta tiêu tai, mời cái linh đó đi, kết quả là cái linh đó chạy lên người bạn, nó không đi! Nó rời khỏi thân thể của người bệnh kia, người ta khỏi bệnh, nhưng kết quả là cái linh chạy lên người bạn, pháp lực của bạn không đủ mà! Ngày ngày vướng víu với cái linh đó, chính bạn sẽ có phiền phức, đây là chịu thay.

Vậy làm sao để giải quyết vấn đề chịu thay khi làm pháp? Theo như sư phụ dạy tôi trước đây thì có hai phương pháp. Một là phóng thích. Chúng ta có ấn phóng thích, ấn phóng thích tức là vỗ tay, búng ngón tay (Sư Tôn thị phạm: vỗ tay hai lần, sau đó búng ngón tay một lần). Đây là một kiểu phóng thích. Triệu thỉnh cũng như thế này, phóng thích cũng thế. Ngoài ra một cách nữa là độ hóa. Dùng cửu phẩm liên hoa hóa thành thuyền pháp để độ hóa u linh này. Hai phương pháp này là tốt nhất: một là phóng thích, một là độ hóa.

Nhưng đôi khi, năng lực phóng thích của bạn không đủ, tự mình phải tu hành, phải tu pháp, chính là nói rằng sau khi giúp người khác giải trừ nghiệp chướng xong, bạn phải đem công đức giải trừ trả về hư không, trong khi tu pháp, khi Bổn tôn giáng xuống bạn phải nói với Bổn tôn: “Thỉnh cầu Bổn tôn giúp tiếp dẫn nghiệp linh bám trên thân của người bệnh, trả về hư không.” Đây chính là phóng thích.

Vì thế nhất định phải tu pháp, bạn giúp người ta làm pháp xong, buổi tối khi bản thân bạn thiền định, thỉnh cầu Bổn tôn trụ đỉnh, đưa những nghiệp linh mà bạn đã thu nhận tiến nhập vào trong thân của Bổn tôn, trả về hư không, vậy thì bạn sẽ không phải chịu thay, trở thành Bổn tôn chịu thay. Nhưng Bổn tôn là hư không mà, cho nên hễ nhập vào hư không thì nghiệp chướng của bạn cũng không còn, nghiệp chướng của người khác cũng không còn. Cho nên điểm này rất quan trọng.

Hành giả Chân Phật chúng ta giúp người khác làm pháp, nhất định phải đem những nghiệp đen mà chúng ta đã thu nhận trả về cho Bổn tôn, tiến nhập vào trong hư không. Đây chính là trao trả. Nếu không thì bạn làm pháp siêu độ cho những linh hồn có nghiệp chướng này, tu pháp siêu độ cửu phẩm liên hoa sinh, cửu phẩm có thượng phẩm thượng sinh, trung phẩm trung sinh, hạ phẩm hạ sinh… Những cái này đều có thủ ấn, dùng thủ ấn cửu phẩm liên hoa hoặc dùng ấn đại hải siêu độ hóa thành thuyền pháp để đưa họ đi, siêu độ những nghiệp linh này, những linh hồn có nghiệp chướng này đều sẽ đi hết.

Rất nhiều người hỏi, nếu chịu thay rồi thì phải làm sao? Chịu thay rồi, vậy tôi sẽ dạy bạn một phương pháp, nếu bạn không muốn chịu thay, trong Mật giáo có tu pháp, dùng một chữ giếng, quán tưởng những nghiệp linh này đi vào trong giếng, sau đó bạn liên tục niệm chú, liên tục phóng quang gia trì cho những linh này, để những nghiệp linh này sản sinh tâm từ bi, cuối cùng bạn loại bỏ cái giếng này đi, những nghiệp linh đó sẽ tự bỏ đi. Bởi vì chỉ cần họ sinh ra tâm từ bi, họ sẽ không tìm đến bạn nữa, cũng sẽ không tìm đến người bệnh ban đầu, họ sẽ tự động rời đi, đây là tác dụng của giáo hóa.  

Bạn dạy dỗ những nghiệp linh này, bạn đi độ những nghiệp linh này, dùng chày kim cang vẽ thành chữ giếng <span className="note-blue">[井]</span>, phải vẽ chữ giếng này trong hư không, sau đó bạn quán tưởng những nghiệp linh này toàn bộ đều tập trung ở trong giếng, không đi đâu cả, không bỏ đi. Sau đó, bạn trì chú cho họ, lệnh cho họ phát bồ đề tâm, sau đó hóa giải chữ giếng này, để họ đi. Đây cũng là một phương pháp, đây là một cách giáo hóa.

Ngoài trao trả và phải siêu độ ra, còn phải giáo hóa những nghiệp linh này, giống như trong lúc chúng ta làm pháp cũng có làm như vậy, tập trung những linh này lại, rồi niệm kinh cho họ nghe, rồi khai thị cho họ nghe, sau đó lại cho họ ăn một bữa cơm, tiếp đó là phóng thích, rồi mời họ rời đi, lệnh cho họ quy y, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư, họ cũng là đệ tử Phật thọ giới, đó là giới u minh, chúng ta cũng có cách làm như vậy.

Bởi vậy trong toàn bộ vũ trụ đều có rất nhiều pháp bí mật, những linh này có thể được dạy dỗ, bạn hãy dạy họ tứ quy y. Vậy giả sử những linh này không chịu sự dạy dỗ, bạn hãy trao trả cho Bổn tôn. Vẫn không được thì sao? Dùng pháp siêu độ của Mật giáo để siêu độ họ, để ánh sáng thanh tịnh chiếu đến họ, khiến nghiệp chướng của họ tiêu trừ.

Những pháp này đều rất tốt, vì thế trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, bản thân bạn hiểu pháp thì sẽ không phải chịu thay, bạn không hiểu pháp thì sẽ bị chịu thay. Cho nên pháp của Mật giáo chúng ta vô cùng thù thắng, có thể không phải chịu thay. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

30/09/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 108. Tự tâm bộc lộ (1)

Hôm nay chúng ta nói một chút về tự tâm bộc lộ.  
Tự tâm bộc lộ có mối liên hệ hệ với thiên nhãn thông. Chúng ta học Phật vốn chính là đang tu tâm, bạn toàn tâm toàn ý học Phật, tâm quang của bạn sẽ phát lộ, khi tâm quang của bạn phát lộ thì cũng chính là khi tự tâm bộc lộ.

Trong Mật giáo, chúng ta tu hành không chỉ là tu cái tâm vô hình, từ mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp, liên tục cho đến a-lại-da thức, am-ma-la thức sâu nhất, không chỉ tu cái tâm của ý thức vô hình này mà còn phải tu cái tâm hữu hình.

Tâm hữu hình là tâm thế nào? Có thể nói đó là quả tim thịt ở bên trong vùng tim trung mạch của bạn, tuy rằng quả tim này hữu hình, nhưng trên thực tế nó cũng là một cái tâm hoa sen vô hình. Ở trong cái tâm hoa sen này, có một phong mạch ánh sáng. Tâm mạch ngũ sắc này, nó sẽ phóng ra một dạng tịnh quang, điều này lúc trước tôi giảng “Hồng quang đại thành tựu” đã từng đề cập đến.

Mắt của bạn không nhất định là hướng ra ngoài nhìn ánh sáng, còn phải nhìn vào bên trong, đây gọi là pháp Nội thị, phải hướng vào bên trong thân thể bạn để nhìn tịnh quang. Khi tịnh thổ bên trong phong mạch ánh sáng (tâm mạch ngũ sắc) của bạn hiển hiện, bạn sẽ nhìn thấy thể ánh sáng, cái này chính là minh thể. Lúc này, mắt bạn nhắm lại, nhìn vào bên trong, nhìn thấy bên trong có những chấm sáng, chúng ta gọi là minh thể. 

Nhìn thấy những minh thể nhỏ này liên kết thành sợi, từng sợi từng sợi, nhìn xem có mấy sợi, có sợi ngang, có sợi dọc, sau đó sẽ biến thành một sợi xích ánh sáng, chính là xích kim cang. Xích kim cang màu trắng này sẽ hiển hiện bên trong thân thể bạn, xích không ở bên trong cũng không ở bên ngoài, nó là vô hình.

Từ trong sợi xích kim cang này, bạn có thể hiển hiện cảnh tượng, cái này chính là thiên nhãn thông. Rất nhiều người không biết thiên nhãn thông là gì, thiên nhãn thông tu thế nào. Rất nhiều người nói, tôi tập trung ý thức tinh thần đến con mắt nhìn ra ngoài là nhìn thấy. Căn bản là anh ta không biết đây là pháp Nội thị, là phải nhìn vào bên trong.

Tu hành Mật giáo chân chính là tìm cầu ở bên trong, cho nên Phật pháp không phải là tìm cầu ở bên ngoài, Phật pháp là tìm cầu ở bên trong, tìm cầu ở bên trong tự tâm bạn, không hướng ra ngoài để đi tìm cầu. Không phải là như các bà già đi tới chùa lạy lạy, đi cầu phúc cầu thọ, cầu con trai con gái, cầu cha cầu mẹ đâu. Mà là tìm cầu bên trong, Phật pháp chân chính là tìm cầu ở bên trong nội tâm của chính bạn.

Hoa sen trong tâm bạn chỉ cần nở ra thì sẽ có tịnh quang sản sinh, bạn sẽ nhìn thấy minh thể, từng chấm từng chấm minh điểm liên kết thành sợi, biến thành một mặt ánh sáng, ý niệm của bạn đặt ở trong đó sẽ hiển hiện ra ở trong ánh sáng, đây chính là thiên nhãn thông.

Cho nên ở bên ngoài nói luyện thiên nhãn thông cái gì đó, cái gì mà nhìn ra ngoài, hoặc là nhìn thế nào đó, những điều đó có thể nói đều là ngoại đạo. Chỉ có hướng vào bên trong nhìn ánh sáng, ánh sáng này không ở trong không ở ngoài, là vô hình, mới là chính đạo.

Cái này cũng rất có liên quan đến truyền hình của chúng ta. Bạn biết truyền hình là dùng điểm ánh sáng liên kết thành sợi, sau đó dùng sợi ánh sáng này dệt thành một mặt phẳng ánh sáng, vì thế ở đây rất hợp với khoa học. Truyền hình chẳng phải là do các điểm ánh sáng tổ hợp thành sao? Bạn mở ti vi lên, lúc hình ảnh chưa hiện lên, đầu tiên sẽ sản sinh ra từng điểm từng điểm ánh sáng, cái đó chính là điểm sáng. Còn gì nữa? Bản thân truyền hình là do huyễn ảnh tổ hợp thành, từ những sợi dọc, những sợi ngang tổ hợp thành, tạo nên một mặt phẳng ánh sáng, hoàn toàn là sự tổ hợp của bản thân điểm, sợi và mặt phẳng. 

Trong Mật giáo, bạn xem, cũng hợp với khoa học, đầu tiên có điểm minh thể, sau đó có chuỗi kim cang, sau đó có mặt phẳng ánh sáng, bạn sẽ có được thiên nhãn thông. Bạn muốn nhìn cái gì, nhìn vào bên trong, ý niệm hiển hiện ra thì trong ánh sáng sẽ hiện ảnh, bạn muốn đen trắng, có ảnh đen trắng, bạn muốn nhìn màu sắc, tiết mục tổng hợp, bên trong đều có cả, bên trong nội tâm của bạn sẽ có. Đây chính là tự tâm bộc lộ.

Thế nên, thiên nhãn thông luyện thế nào? Quan trọng nhất là hoa sen trong tâm của trung mạch nở ra, sản sinh tịnh quang thì bạn sẽ có thể luyện được thiên nhãn thông, bạn sẽ có thể tự tâm bộc lộ.

Chân Phật Kinh làm sao mà có? Chính là hoa sen trong tâm tôi nở ra, từ màn hình ti vi ở trong tâm tuôn chảy ra những con chữ, từng chữ từng chữ hiển hiện ở bên trong cái màn hình ti vi trong hoa sen tâm đó. Vì thế mà tôi liền viết ra Chân Phật Kinh. Chân Phật Kinh được viết ra như vậy thì gọi là Chân Phật Kinh tự tâm bộc lộ. Mọi người nghe xong thì hiểu ra ngay, ồ, hóa ra thiên nhãn thông là như thế này, tự tâm bộc lộ là như thế này.

Khi bạn tu hành cũng phải tập trung tinh thần. Bởi vì tập trung tinh thần, dồn toàn bộ tâm trí thì bạn mới có thể tu được tự tâm bộc lộ. Bạn không có sự tập trung tinh thần, bạn không dốc hết toàn bộ tâm lực của mình vào trong đó thì bạn không có cách nào có được thiên nhãn thông, bạn cũng không có cách nào Nội thị. Nội thị tức là nhìn vào bên trong, nhìn tâm của chính mình. Bạn nghĩ rằng nhìn vào bên trong, thế thì nhìn vào bên trong, chẳng nhìn thấy cái gì, tối tăm mù mịt. 

Vì thế Mật giáo tu khí, mạch, minh điểm, mạch của bạn thông rồi, hoa sen nở ra rồi, tịnh quang sản sinh ra thì nhất định đắc được tự tâm bộc lộ. 

Hôm nay nói tới đây thôi. Om mani padme hum.

01/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 109. Tự tâm bộc lộ (2)

Chúng ta lại nói tiếp về tự tâm bộc lộ. Tự tâm bộc lộ đúng là vô cùng vi diệu. Chúng ta tu hành hoàn toàn nằm ở dùng tâm và không dùng tâm. Trên thực tế, bạn tu pháp đếm hơi thở, đếm hít thở của chính mình, hít vào, sau đó thở ra, như vậy là một lần. Rồi lại hít vào, lại thở ra, như thế là hai lần. Bạn còn phải chú ý hơi thở của bạn lúc thở ra thì đi bao xa, lúc hít vào thì dài bao nhiêu. Bạn luyện pháp đếm hơi thở, tác dụng của nó chính là nằm ở sự tập trung tinh thần, phải dùng tâm. Tức là phải dùng tâm lực của chính bản thân bạn.

Nếu bình thường không chú ý việc hít thở, bạn không biết chính bạn đang hít thở. Bình thường bạn có rất nhiều vọng niệm, suy nghĩ lung tung rất nhiều, bạn không chú ý thấy vọng niệm của mình rất nhiều, nhưng khi bạn đếm hơi thở, bạn sẽ biết ngay. Có khi bạn đang đếm hơi thở, đếm một, hai, ba, bốn, đếm tới mười mấy thì đột nhiên có một ý nghĩ xen vào, thế là loạn hết cả việc đếm hơi thở này.

Cho nên bạn có thể đếm đến bao nhiêu đều không phải là rất đơn giản đâu. Thật sự nếu bạn có thể tĩnh lại và đếm hơi thở đến một trăm đã là rất không đơn giản rồi. Bởi vì khả năng khi bạn đếm tới bốn mươi chín thì bỗng dưng có một vọng niệm xen vào, bạn liền quên luôn, ơ, vừa nãy đếm tới đâu rồi nhỉ? Không đúng rồi. Con số này đã bị ngắt quãng rồi, ý nghĩ rất lợi hại đó, lập tức giống như là truyền hình bị ngắt quãng, có thứ khác đã chiếm mất đường truyền, không có cách nào truyền được xong hoàn toàn. Bởi vậy nói chung bản thân con người, dùng tâm và không dùng tâm rất quan trọng. Bạn phải tu đến khi hoàn toàn chuyên tâm nhất trí, tự tâm bộc lộ là cực kì không dễ dàng.

Tôi lấy một ví dụ để chứng minh cho việc dùng tâm và không dùng tâm khi tu hành. Giống như là bây giờ niệm Phật rất tiện, miệng niệm niệm “Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật” rất hay, bạn có dùng tâm để niệm không? Dùng tâm, hai câu tôi vừa mới niệm là dùng tâm, “Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật” là tôi dùng tâm để niệm, từng chữ từng chữ đi qua tai tôi vào bên trong, in vào trong tâm, tôi dùng tâm để niệm, niệm Phật như thế này thì có hiệu quả. Rất nhiều người ở trong nhà mở băng nhạc, bốn chữ Phật, sáu chữ Phật, chà, băng nhạc niệm rất hay. “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”, chà, niệm hay quá, nghe rất thoải mái, tinh thần dễ chịu. Nghe hồi lâu, bạn không dùng tâm, bạn không có tâm, cảm thấy có nghe hay không nghe đều giống như nhau. Bạn lắng nghe thì là có dùng tâm. Băng nhạc ở đằng kia mở lên, còn bạn đang ăn cơm, bạn không đặt tâm trên băng nhạc đó, băng nhạc đó niệm mấy trăm tiếng Phật, mấy vạn tiếng Phật nhưng đều chẳng có tâm. 

Chúng ta niệm Phật, dùng tâm của mình để niệm thì sẽ sinh ra tâm lực, sức mạnh của tâm sẽ sản sinh ra. Băng nhạc của bạn bật lên ở đó, niệm mấy nghìn tiếng Phật, mấy vạn tiếng Phật, vô ích, cái đó không xem là công đức. Vì thế khi hỏi: “Hôm nay anh có làm công khóa không?” “Có chứ! Tôi có niệm Phật đó!” “Anh niệm thế nào?” “Tôi mở một băng nhạc, nó niệm Phật từ sáng tới tối.” Mọi người đều biết cái này không có công đức, bởi vì không có tâm lực. 

Bởi vậy đặt tâm lực vào đó, bạn đi niệm Phật, niệm kinh thì sẽ có công đức. Bạn không đặt tâm lực vào đó thì không có công đức, không có sức mạnh, không có pháp lực có thể sản sinh ra. Hôm nay giả sử chỉ cần có âm thanh, không cần dùng tâm lực để niệm Phật, thế thì tôi mua một băng nhạc về mở mỗi ngày, thế là tôi đang tu hành rồi. Mọi người thử nghĩ xem là có thể hiểu được thôi.

Ngoài ra có một số người nói, kinh A Di Đà có công đức rất lớn, kinh Kim Cang có công đức rất lớn, kinh Bát Nhã có công đức rất lớn, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh có công đức rất lớn, Cao Vương Kinh có công đức rất lớn, kinh Hoa Nghiêm có công đức rất lớn, kinh Lăng Nghiêm có công đức rất lớn, những bộ Đại Tạng Kinh của Phật giáo này bạn đều mua về hết, bày ở trên tủ sách, xem xem nó có công đức gì, mỗi ngày đều đi nhìn xem công đức của nó đã xuất hiện hay chưa. Sẽ chẳng có công đức đâu! Bạn đừng cho rằng mua một bộ Đại Tạng Kinh về đặt ở trên tủ sách là sẽ có công đức. 

Kinh Lăng Nghiêm có pháp lực, kinh Hoa Nghiêm có pháp lực, kinh Bát Nhã có pháp lực, Đại Trí Độ Luận có pháp lực, Cao Vương Kinh có pháp lực, bạn liền đặt chúng trên tủ sách, mỗi ngày đều đi tới xem nó khi nào mới hiển hiện pháp lực. Không có đâu, tất cả như nhau, hoàn toàn không có pháp lực. Có pháp lực là bạn dùng tâm để niệm, dùng tâm để niệm mới có pháp lực đó. Bạn cầm kinh điển đó lên, bạn đọc, bạn niệm kinh A Di Đà, khi bạn niệm thì tập trung tinh thần, dùng tâm của bạn để hiểu ý nghĩa của kinh, và đi làm ước nguyện đó, thực hành bốn mươi tám nguyện của Di Đà, dùng tâm lực đi làm những ý nguyện đó. Mỗi một bộ kinh bạn lấy ra để tụng niệm, bạn sao chép, sao chép cũng tốt, niệm cũng tốt, bạn dùng tâm lực để làm, như vậy mới sản sinh ra pháp lực.

Cho nên có khi bạn niệm kinh, không dùng tâm lực của bạn để niệm, niệm thế này… “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, “Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”… cứ thế niệm niệm niệm… cứ thế niệm từ đầu cho đến cuối. Niệm cái gì vậy? Tôi niệm xong rồi nhưng quên mất rồi. Đó là vì bạn không hề dùng tâm lực để niệm. Giống hệt như một cái máy photocopy, trong nhà bày một chiếc máy photocopy, bạn liền copy kinh điển này qua, nhưng bạn không hề thâm nhập kinh tạng, trọng điểm nằm ở thâm nhập. Bạn không hề thâm nhập để hiểu sức mạnh của bộ kinh, cho thấy bạn không hề dùng tâm lực. Mà nếu đã không dùng tâm lực thì sẽ không có tâm lực, không có tâm lực thì không có pháp lực, việc niệm này cũng như không. 

Hôm nay chúng ta tu Mật pháp, quan trọng nhất là dùng tâm lực của bạn, bạn bỏ tâm lực vào đó, tinh thần bạn thống nhất, bạn sẽ sản sinh ra pháp lực, bạn sẽ cảm ứng đạo giao đó! Cùng với các cao linh trong vũ trụ có cảm ứng đạo giao, có tương ứng rồi. Tôi nói tương ứng này là quan trọng nhất, chính là yoga (du già), tương ứng là quan trọng nhất, trong Mật giáo nói về tương ứng, bởi vì bạn dùng tâm lực của bạn, thế rồi tâm của vũ trụ và tâm của cá nhân bạn tương thông lẫn nhau. Bất kể bạn trì chú cũng được, niệm kinh cũng được, niệm danh hiệu Phật cũng được, một khi tương ứng rồi thì chính là tự tâm bộc lộ.

Bởi vậy tôi giải thích tự tâm bộc lộ là cực kì quan trọng. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

01/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 110. Thuần mật và tạp mật (1)

Hôm nay chúng ta giảng về tạp mật. Từ tên đoán ý, ngược lại của tạp mật chính là thuần mật. Làm sao để phân biệt đây? Thuần mật có thể nói là Mật pháp tu hành thanh tịnh thì gọi là thuần mật, tức là Mật tông đơn thuần. Tạp mật tức là tương đối phức tạp, tương đối mang phương diện nhập thế thì gọi là tạp mật.

Tôi lấy một ví dụ để nói. Trong Mật giáo có rất nhiều pháp thuộc về pháp thế gian, phổ biến dùng tại thế gian, không có quan hệ gì với tu hành cả. Ví dụ niệm kinh Cầu Mưa để cầu mưa, bởi vì rất lâu rồi trời không mưa cho nên tập hợp tất cả các Lama lại cùng nhau niệm kinh Cầu Mưa, kết thủ ấn, quán tưởng, niệm chú cầu mưa thì trời sẽ đổ mưa. Chà! Thật sự là mưa rồi. Đây chính là tạp mật. Cái này không có quan hệ gì với tu hành. Không có liên quan gì đến bạn tu hành thanh tịnh cả, bởi vì kinh mà bạn niệm, chú mà bạn niệm, thủ ấn mà bạn kết là cho mục đích cầu mưa, kết quả là trời thật sự đã mưa. Đây chính là tạp mật.

Tuyết rơi rất dày. Chà! Rơi mãi không ngừng. Sắp sửa thành tai họa rồi. Vậy thì trong Mật giáo cũng có kinh Dừng Tuyết để khiến cho tuyết ngừng rơi, kết một thủ ấn, thế là tuyết dừng, hơn nữa còn phải niệm kinh, còn phải trì chú, đây cũng là tạp mật.

Tổ sư của Bạch giáo có Tilopa, Naropa, Marpa, truyền đến Milarepa, Milarepa lại truyền cho Gampopa. Tổ sư Milarepa rất nổi tiếng, trước khi ngài thật sự học thuần mật thì ngài cũng học tạp mật, cho nên tổ sư của ngài gọi ngài là Đại Lực, tức là ngài có sức mạnh rất lớn. Đại lực là làm cái gì vậy? Ngài có thể cầu mưa đá. Mưa đá ư? Quái lạ, mưa đá để làm gì? Cái này nhất định là không tốt rồi, mưa đá sẽ đánh trúng người ta, sẽ đánh trúng động vật, sẽ đánh chết thực vật.

Khi Milarepa còn chưa học thuần mật, ngài từng học tạp mật. Ví dụ như là người ở ngôi làng kia không thích ngài, đuổi ngài đi, Milarepa rất tức giận bèn tu thuật giáng mưa đá, vừa tu một cái thì trên trời đều trút mưa đá. Ôi chao, nào là lúa mạch, nào là cây nông nghiệp, tất cả đều bị phá nát, thế là người ta không thể nào thu hoạch được. Có loại pháp như thế, loại pháp này gọi là tạp mật.

Ngoài ra ở đây còn có pháp tương đối sai khác, pháp không tốt cũng có, đó thuộc về phạm vi của tạp mật. Milarepa cũng từng tu loại pháp này. Người thân thích của ngài chiếm mất tài sản của Milarepa, Milarepa liền ở trong hang động tu tạp mật, đây thuộc về một loại của pháp hàng phục. Người thân của ngài đang làm hôn lễ, Milarepa tu pháp, đương nhiên là thỉnh các quỷ thần có sức mạnh lớn đến, bọn họ liền đi. Người ta đang ở trong nhà cử hành hôn lễ, đột nhiên, các cột trụ trong nhà gãy luôn, ngôi nhà sụp xuống, đè chết mấy người. Mọi người đọc Truyện Milarepa là có thể đọc được thôi.

Thật ra ngài tu pháp hàng phục cũng sẽ làm bị thương người khác, Milarepa trước khi tu pháp thanh tịnh, ngài đã tạo ra không hề ít nghiệp đen, sau này tu mật pháp thanh tịnh thì biến thành nghiệp trắng. Nghiệp trắng đã bù đắp cho nghiệp đen. 

Trong khi chúng ta tu pháp, hành giả Mật giáo có phải là cần tu tạp mật không? Về phương diện nhập thế, chúng ta cũng có thể giúp người. Ví dụ cầu trời mưa, nếu bạn biết pháp đó có thể giúp người. Dừng tuyết rơi nhiều cũng có thể giúp người. Người ta gặp mưa đá, bạn có thể dừng mưa đá, khiến mưa đá ngừng lại. Mật giáo chính phái của chúng ta tuy rằng tu tạp mật, nhưng chúng ta tu là để giúp người thì nói chung là được, cái này thuộc về phạm vi của tạp mật. 

Tạp mật cũng có thể cầu gió, bạn có biết pháp cầu gió không? Trung Quốc chúng ta có bát quái, thiên, địa, lôi, phong, trạch, thủy, hỏa, sơn. Bạn ở phương vị của gió, bạn biết nơi nào là phương vị của gió, bạn hít vào một hơi khí, thổi về bên đó, thổi đi, sẽ có một trận gió lớn nổi lên. Nhưng mà bạn nhất định phải kết ấn, kết ấn thỉnh cầu Thần Gió đến. Hướng về phương vị của gió hít vào một hơi khí, sau đó phả khí ra thì sẽ nổi lên một trận gió lớn. Cái này trên phương diện tạp mật cũng có.

Trong tạp mật cũng có pháp chữa bệnh, cũng có pháp tử vi, cắt lành dữ của con người, có phong thủy, giúp người ta giải trừ tai nạn, những cái này đều là tạp mật. Cũng có pháp chuyên môn giải độc, có người bị rắn độc cắn thì phải làm sao? Mau chóng niệm kinh, niệm kinh giải độc. Có kinh Giải Độc, chú giải độc, còn có ấn giải độc, uống viên cam lộ. Ớ! Độc tố đó chẳng hề gì nữa. Chúng ta biết Khổng Tước Minh Vương có thể giải độc, cũng có kinh Giải Độc, chú giải độc. Cũng có pháp chuyên môn chữa bệnh. Những cái này đều là phạm vi của tạp mật.

Tôi cảm thấy pháp nhập thế tạp mật tương đối nhiều, chúng ta học pháp nhập thế chủ yếu là muốn giúp đỡ chúng sinh. Tôi cho rằng sự phân biệt giữa nhập thế và xuất thế là, xuất thế tức là tu hành thanh tịnh. Còn nhập thế có rất nhiều bộ phận thuộc về tạp mật. Vậy thì giữa nhập thế và xuất thế tuy rằng có sự phân biệt, nhưng tôi cho rằng nên bình đẳng. Muốn cứu độ chúng sinh thì nên dùng pháp nhập thế, đợi đến khi họ nhập thế thành thục rồi, họ lại tu Phạm hạnh xuất thế thanh tịnh. 

Bởi vậy trước tiên cần có thứ tự sinh khởi, sau đó mới có thứ tự viên mãn. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

02/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 111. Thuần mật và tạp mật (2)

Chúng ta lại nói về tạp mật. Tạp mật có đôi khi cũng rất thú vị. Tuy rằng là pháp nhập thế, bạn học rồi cũng có lợi ích. 

Tôi nhớ có một câu chuyện như thế này. Có một Lama đạo hạnh rất cao, khi ông ấy đi qua Đường Cổ Lạt Sơn (Đường Cổ Lạt Sơn là một ngọn núi thần rất nổi tiếng ở vùng phụ cận Tây Tạng), đột nhiên mặt đất nổi cuồng phong. Chà! Cuồng phong thổi qua, ban đầu có đội mũ, mặc áo choàng, chà, cái áo choàng này bị thổi bay mất, mũ cũng bị thổi bay mất. Suy cho cùng, ông ấy cũng là một cao tăng có đạo hạnh, ông ấy lập tức nhắm mắt lại và quan sát thì biết Thần Núi cố ý đến trêu chọc ông ấy. Thần Núi thỉnh thoảng thổi một hơi khí, thổi một hơi khí thì mặt đất liền nổi cuồng phong, thổi cho Lama có đạo đó lảo đảo xiêu vẹo. Lama lập tức kết ấn dừng gió, niệm chú dừng gió, nhưng cũng không có hiệu quả, bởi vì đây là do Thần Núi làm. Ông ấy biết là Thần Núi đang trêu mình, thế là liền cầm một ít bánh tsamba mang theo mình, ấn một cái vào trán để lập tức làm cúng dường, cúng dường cho Thần Núi Đường Cổ Lạt Sơn. Vừa cúng dường một cái thì Thần Núi liền cười vang ha ha, gió lập tức dừng lại. Có đôi khi pháp nhập thế cũng rất hiệu quả. 

Hôm nay khi chúng ta đồng tu, tôi hỏi: “Hôm nay các bạn cúng dường cái gì?” “Cúng dường bánh bao.” Bánh bao rất giống bánh tsamba của họ, cũng dùng bột mì để làm. Kể ra cũng lạ. Hôm nay khi kết thủ ấn cúng dường để làm cúng dường, tôi biến hóa bánh bao thành một đống bánh bao giống như ngọn núi, xếp thành một hàng, biến thành một mặt phẳng, đầy ắp cả hư không. Biến hóa xong thì lập tức phát hiện ra trong hư không có rất nhiều cánh tay, tay vừa thò ra thì bánh bao đều bị tranh giành hết sạch. Không biết ai đã cúng bánh bao, hôm nay rất có phúc đấy. 

Tôi phát hiện ra việc cúng dường này khiến chư Thiên hoan hỷ, họ vô cùng hoan hỷ tiếp nhận cúng dường bánh bao, và cũng đã lấy hết toàn bộ. Cảm ứng hôm nay vô cùng thù thắng, rất khó gặp, bởi vì chư thiên đã lấy hết sạch bánh bao đi rồi.

Trong Mật giáo, cúng dường là cực kì quan trọng. Chư Thiên, Hộ pháp tiếp nhận cúng dường thì cảm ứng của bạn sẽ rất nhanh chóng. Giống như Lama có đạo kia, làm cúng dường một cái là gió lập tức ngừng thổi, đây chính là hiện tượng cảm ứng rất nhanh. Thần Núi của Đường Cổ Lạt Sơn tiếp nhận cúng dường của ông ấy, Thần Núi chẳng qua chỉ là thổi một trận gió để trêu đùa Lama có đạo kia mà thôi. 

Nói đến nhập thế và xuất thế, trong tạp mật, pháp nhập thế là tạp mật tương đối nhiều. Nhưng chúng ta vì độ chúng sinh, cho nên bạn cũng cần tu tạp mật, cũng cần hiểu, cũng cần biết, đây là một dạng phương tiện. Tu hành chân chính đến cảnh giới cao nhất hoàn toàn là tâm xuất ly. Có tâm xuất ly rồi bạn mới có thể thoát ly khỏi thế gian này, mới có thể phát hiện ra pháp nhập thế và thế giới Ta Bà chẳng qua chỉ là mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện, chỉ trong khoảng thời gian điện quang đá lửa, trong giây lát đã không còn gì nữa.

Cho nên đối với pháp nhập thế, bạn đừng quá bám chấp, bạn phải học, bạn phải biết, nhưng bạn không thể cả đời tu pháp nhập thế, bạn phải hiểu pháp xuất thế, tu thứ tự viên mãn, điểm này cũng rất quan trọng. Bởi vì linh mà pháp nhập thế thỉnh đến, thứ bậc của họ không chắc là rất cao. Khi bạn đến được pháp xuất thế, Phật Bồ Tát và cao linh chân chính sẽ giáng xuống để giúp bạn tu hành. Khi bạn ở trong giai đoạn của pháp nhập thế thì đều là một vài chư Thiên, chư Thiên giáng xuống để giúp bạn thì cũng là rất cao rồi, có một số chỉ là la sát, hoặc là thần núi, thần nước, thần cây, thần mầm mạ, thần cửa, bao gồm cả thần giường, tuy rằng là tiểu thần nhưng cũng có linh lực.

Vì thế trong khi chúng ta tu hành, nếu quá chấp mê vào pháp nhập thế, cấp độ linh giới của bạn sẽ không cao lắm, bạn tu hành sẽ không có được chứng quả gì. Có đôi khi bạn còn đi vào trong bàng môn rồi mà bản thân cũng không biết. Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói rằng: tử vi, chiêm bốc đều thuộc ngoại pháp, đều thuộc bàng môn, không phải là chính đạo. Thật ra chính đạo chân chính là tu thứ tự viên mãn và có đủ tâm xuất ly. Ngày xưa Phật Đà xuất gia tu hành chính là sinh tâm xuất ly thế giới Ta Bà.

Thật ra thọ mạng của con người rất ngắn ngủi, hiện nay thọ mạng trung bình là bảy mươi, tám mươi tuổi thì xem là tốt rồi, chỉ trong khoảng thời gian điện quang đá lửa mà thôi, như “kính trung ảnh”, như bóng ảnh bên trong chiếc gương, như “thủy trung nguyệt”, giống như mặt trăng trong nước, đều là mộng huyễn bóng ảnh, rất nhanh chóng sẽ qua đi. Nhi đồng, thanh niên, tráng niên, tiếp sau đó là lão niên, sau đó là cái chết. Từ lúc nhỏ cho đến khi già, thời gian rất nhanh. Vì thế pháp nhập thế không được quá bám chấp, chúng ta vẫn phải tu pháp xuất thế làm trọng. 

Hiện nay có người chủ trương Phật giáo nhân gian, chủ trương xây dựng thế giới Cực Lạc tại nhân gian, truyền bá Phật pháp tại nhân gian. Thứ truyền tại nhân gian là Phật giáo Nhân thừa, cái này thì hơi đi chệch rồi. Bởi vì chúng ta biết rằng nhân gian như mộng, mộng huyễn bào ảnh, những công đức làm được chẳng qua là công đức trong mộng mà thôi. Thế giới Ta Bà giống như mộng huyễn, cho nên Phật Đà muốn chúng ta có tâm xuất ly.

Tuy rằng nhập thế và xuất thế, hai cái đều quan trọng như nhau, nhưng khi chúng ta thật sự đến được cảnh giới cao nhất, nhất định phải đi về hướng xuất thế, phải có tâm xuất ly. Nhất định phải thật sự rời xa thế gian, Phật giáo nhân gian chỉ là một cái tên đẹp đẽ thôi, công đức mộng huyễn mà thôi.

Tâm xuất ly đối với một người tu hành là rất quan trọng. Những người chúng ta hiện đang ngồi đây phần lớn là người xuất gia, mọi người đều có tâm xuất ly cho nên bản thân mới xuất gia. Vì thế đối với thứ tự sinh khởi, trên phương diện pháp nhập thế, tạp mật cần tu, nhưng quan trọng nhất, sau cùng, chung kết nhất, vẫn là phải tu pháp xuất thế - thứ tự viên mãn, phải tu thuần mật. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

02/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 112. Nói về đại sư Hoằng Pháp

Trong tương lai gần, chúng ta sẽ phải nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) của Nhật Bản. Vì sao phải giảng “Thập Trụ Tâm Luận”? Bởi vì tôi cho rằng mười loại tâm mà đại sư Hoằng Pháp nói có liên quan đến thứ tự tu hành của đại thành tựu cầu vồng của chúng ta. Cũng có thể nói là thứ tự của triệu thỉnh, và thứ tự của Bổn tôn, cho nên phải giảng “Thập Trụ Tâm Luận”.

Trước khi giảng về phần đó, chúng ta nói về đại sư Hoằng Pháp trước. Thật ra ngọn nguồn của Đông mật là do đại sư Hoằng Pháp khai mở. Nguồn gốc sớm nhất của Mật giáo là ở Ấn Độ - Thiên Trúc, nó lưu truyền đến Tây Tạng thì trở thành Tạng mật, truyền đến Trung Quốc thì biến thành Trung mật, truyền đến Nhật Bản thì thành Đông mật. Tổ sư cao nhất của Đông mật cũng chính là đại sư Hoằng Pháp - Không Hải. Ngài là tổ sư cao nhất của Mật tông Nhật Bản. Mật giáo Nhật Bản là từ bên Trung Quốc, Mật giáo của Trung Quốc lại là từ Ấn Độ (Thiên Trúc), Mật giáo Tây Tạng cũng là đến từ Ấn Độ Thiên Trúc. 

Đại sư Hoằng Pháp sáng lập Mật giáo Chân Ngôn Tông, hiện nay tại Nhật Bản vẫn rất thịnh hành. Tại Nhật Bản có rất nhiều dòng phái, ví dụ phái Narita, phái Joenji, phái Koyasan đều là dòng phái của Mật giáo Nhật Bản. Mọi người xem ảnh của đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) đều biết ngài đã đến chùa Thanh Long ở Tây An, Trung Quốc để bái kiến hòa thượng Huệ Quả, ngài ở bên đó học tập Mật giáo. Bản thân Sư Tôn cũng đã đến chùa Thanh Long, cũng đã lên tháp Vọng Hải, đó chính là ngọn tháp nhìn ra biển mà hòa thượng Huệ Quả và các hòa thượng khác đã xây dựng để sau này tưởng nhớ Không Hải. Kì thực tại Tây An thì không thể nhìn ra biển được, cho nên tên gọi Vọng Hải là một nguồn gốc, ý nghĩa là nhìn “Không Hải”. 

Lão hòa thượng Huệ Quả truyền pháp cho đại sư Hoằng Pháp xong, Mật giáo Trung Quốc không còn nữa. Truyền thừa của lão hòa thượng Huệ Quả lẽ ra là thuộc về tăng nhân Thiên Trúc là Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy, Bất Không, ba người họ truyền thừa xuống. 

Thế còn khi tôi đến chùa Thanh Long chính là nơi Không Hải học tập Mật giáo. Sau khi Không Hải trở về Nhật Bản, tại nơi lên bờ đầu tiên, ngài đã xây lên một ngôi chùa, tôi cũng đã đến đó, chính là Thiền Môn của tỉnh Yamaguchi. Chân Phật Tông của chúng ta có một phân đường ở đó, gọi là Đạt Kiến Đường - Darumi. Tôi từng đi tới đó thăm ngôi chùa đầu tiên mà Không Hải xây dựng. Tôi cũng đã đến Koyasan nơi mai táng Không Hải. Khi đến Koyasan, ở đó tôi cũng cảm ứng thấy giữa tôi và Không Hải có một cảm ứng rất sâu rất sâu, tôi đã từng viết trong sách.

Sau khi Không Hải qua đời, ngài có một đặc trưng, điều này được lưu truyền rộng rãi tại Nhật Bản, bạn chỉ cần có một chút xíu tóc (xá lợi tóc) của Không Hải, tóc đó sẽ dài ra, hơn nữa còn nhiều lên. 

Điều này rất ít người biết, tóc của Không Hải sau khi ngài viên tịch có thể sinh trưởng, còn có thể tăng thêm, đây là điểm mà tôi và ngài giống nhau. Hôm nay Lư Sư Tôn còn ngồi đây thuyết pháp, nhưng bạn thỉnh xá lợi tóc của tôi về, niệm chú xá lợi tóc, niệm chú xá lợi tử, tóc đó sẽ dài ra và sẽ nhiều thêm. Còn có rất nhiều đệ tử thỉnh xá lợi tóc của Sư Tôn về thờ cúng, ban đầu chỉ có mấy sợi bé xíu mà thôi, sau đó toàn bộ tháp xá lợi đều đầy. Đây là điểm giống nhau giữa đại sư Không Hải và Sư Tôn. Tóc của ngài sau khi chết có thể dài ra, có thể tăng thêm. Khi tôi còn sống, người ta lưu giữ tóc của tôi, tóc của tôi cũng mọc dài ra, có thể tăng thêm. 

Còn có người nhìn thấy đại sư Không Hải dẫn họ đến trong hư không, rất cao, ở trên tầng trời thứ chín, đột nhiên, bản thân Không Hải biến thành mặt của Sư Tôn, còn lấy cả trang phục Lama của Chân Phật Tông đưa cho họ mặc, có chuyện như vậy. 

Cho nên những tin lan truyền hiện tại, chúng chỉ là những tin đồn, tức là nói rằng giữa Sư Tôn và Không Hải có một mối quan hệ thân mật, mối quan hệ thân mật này không phải là mối quan hệ xấu xa mờ ám, tóm lại có quan hệ tức là có quan hệ.

Bởi vì kỳ lạ lắm! Tóc của Không Hải sau khi chết có thể dài ra. Có thể biến thành nhiều! Khi Sư Tôn tại thế, tức là ngay tại thời điểm hiện tại này, tóc của tôi có thể dài ra, cũng có thể biến thành nhiều, đây chính là điểm giống nhau.

Nhưng trên thực tế, rất nhiều người nhìn thấy mặt của Không Hải biến thành mặt của Sư Tôn. Trong ký ức của tôi, tôi từng có một kiếp chuyển sinh tại Nhật Bản, nhưng tôi có phải là đại sư Không Hải không? Tôi thật không dám nói, cũng không thể nói, cho nên dứt khoát là không nói. Chính là nhân duyên này. Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum. 

03/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 113. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm của động vật (1)

Chúng ta lại nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Trong quá khứ khi tôi ở trong rất nhiều đạo tràng Mật giáo của Chân Ngôn Tông Nhật Bản, tôi phát hiện ra có một hiện tượng rất đặc biệt. Bên cạnh mỗi ngôi chùa của họ đều có một đàn thành rất nhỏ rất nhỏ, bên trong đàn thành và xung quanh đàn thành đều có cúng rất nhiều con hồ ly nhỏ bằng sứ. Điều này sẽ khiến người ta sinh ra tâm tò mò. 

Vì sao bên trong rất nhiều đạo tràng Chân Ngôn Tông của Nhật Bản đều cúng hồ ly? Ở miền Bắc Trung Quốc Đại Lục, nghe nói cũng có hồ tiên, cũng thờ hồ ly, lẽ nào người Nhật Bản cũng thờ hồ tiên sao? Điều này rất kỳ lạ.

Lời đồn là như thế này. Đại sư Hoằng Pháp trong khi hoằng pháp từng đi vào trong núi sâu để tìm đạo tràng. Vào núi thì thường xuyên có thể lạc đường. Chúng ta biết rằng đi vào trong núi thì không có la bàn, bạn đi vào trong đó thì không ra được nữa, hơn nữa trời cũng đã tối rồi, vừa đói vừa rét. Lúc này, đột nhiên, trước mặt xuất hiện hai ánh sáng xanh lục, trong ánh sáng có hai con hồ ly, đại sư Hoằng Pháp nhìn thấy là hồ ly hiển hiện hai vầng ánh sáng xanh lục, thế rồi ánh sáng xanh lục đi ở phía trước, đại sư Hoằng Pháp đi theo ánh sáng xanh lục ở phía sau.

Kết quả là nhờ có hai ánh sáng hồ ly xanh này mà đại sư Hoằng Pháp được dẫn ra khỏi núi, đến một nơi có dân cư. Sau đó, đại sư Hoằng Pháp rất cảm kích hai con hồ ly này, vì thế trong đạo tràng Chân Ngôn Tông của ngài có thờ hồ ly. Lời đồn đại tôi nghe được là như vậy.

Rất nhiều đạo tràng ở Nhật Bản thờ hồ ly, bản thân hồ ly vì sao lại có năng lực? Vì sao lại có sức mạnh của linh? Trong con mắt của tôi, bản thân linh của tất cả động vật đã chết đều có năng lực. Mọi người đừng coi thường linh động vật, bởi vì tôi phát hiện ra trong vũ trụ này, linh động vật chiếm tỉ lệ tương đối cao.

Trong con mắt nhìn của Lư Sư Tôn, đừng cho rằng chỉ có linh của Phật Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, đừng chỉ có nhìn thấy linh của chư Thiên, của Thần, thật ra còn có rất nhiều linh động vật.

Cho nên trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp, nhắc đến đầu tiên chính là tâm của động vật. Chúng ta đừng cho rằng động vật thì toàn bộ đều xấu, đều là không tốt, đương nhiên có loài xấu, có loài trung tính, có loài lương thiện.  

Tôi lấy ba ví dụ. Loài xấu, lấy rắn làm đại diện, chúng ta nhìn thấy đều sợ, đây là loài động vật tương đối xấu, chúng có thể làm hại các động vật khác, lại còn có thể hại người. Loài trung tính, tương đối tốt một chút, lấy cái gì làm đại diện nhỉ? Lấy chim bồ câu làm đại diện đi. Động vật tốt thì sao? Lấy mèo, chó làm đại diện. Loài chó đôi khi rất có nghĩa khí, có chuyện chó trung thành cứu chủ, chúng giúp người, giúp bạn trông nhà, còn giúp tìm kiếm bọn buôn lậu… Giống như ở hải quan dùng cái mũi nhạy bén của chó để giúp nhân viên hải quan, nó có thể bảo vệ nữa. Có rất nhiều sự việc về những con chó trung thành. Trong số linh động vật, không nhất định tất cả đều là xấu. 

“Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp nhắc đến đầu tiên chính là tâm của động vật. Trong đó ngài nói rằng, bạn có thể chiêu cảm linh của động vật, bạn chỉ cần cúng dường thức ăn cho động vật, bạn chỉ cần học một cách cúng dường là bạn có thể triệu thỉnh được linh động vật. Bởi vì động vật chỉ có hai thứ gần như là cực kì đặc trưng của chúng: thứ nhất chính là thực - ăn, thứ hai chính là sắc - dâm, hai thứ này có thể rất nhanh chóng chiêu cảm linh động vật. Cho nên bạn chỉ cần học cách cúng dường, bạn không cần học gì khác, bạn vẫn có thể triệu thỉnh được linh động vật. 

Trên thế giới này, Khổng Phu Tử nói rồi: “Thực, sắc, tính.” Đó là chỉ con người, bản thân con người mà nói cũng thuộc một trong số động vật. Nhưng linh tính của bản thân con người chúng ta thì tương đối cao một chút, cho nên trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp nhắc đến tâm động vật đầu tiên, chứ không phải là nhắc tới con người. Ngài chỉ nhắc đến động vật.

Bạn chỉ cần học được cách cúng dường, bạn chắc chắn có thể triệu thỉnh được linh động vật. Giả sử linh động vật này đến nhà bạn, đàn thành trong nhà bạn toàn bộ đều là động vật. Vậy giả sử bạn không biết, rồi nếu cứ thế tu tiếp, vậy thì hai thứ kia của bạn cũng sẽ tăng trưởng, thứ nhất là ăn, thứ hai là sắc.

Điểm đặc thù của linh động vật là ăn và sắc, là hai thứ này. Ngoài ra còn có giết chóc nữa, có nghĩa là tâm địa của chúng không phải là rất tốt, bạn tu tâm của động vật thì sẽ không tốt đâu.

Bạn xem lũ động vật đó, thường xuyên tàn sát lẫn nhau, tàn sát tới tàn sát lui. Và động vật thì ưa thích ăn, dâm và giết mà thôi. Thế giới của linh động vật thuộc về ba đặc trưng này. Hôm nay tôi giảng tới đây. Om mani padme hum.

03/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 114. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm của động vật (2)

Chúng ta lại tiếp tục nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. 

“Thập Trụ Tâm Luận” này nhìn chung là cũng đang nói về một dạng tương ứng, tức là nói bản thân bạn thuộc về cái trụ tâm nào thì bạn sẽ chiêu cảm cái dạng linh đó. Giả sử bạn thuộc về tâm của động vật, thế thì linh mà bạn triệu thỉnh đến chính là linh của động vật. 

“Thập Trụ Tâm Luận” này không chỉ là chỉ cái hữu hình. Về hữu hình, bản thân con người chúng ta có thể tu hành mười pháp giới, tâm của mười pháp giới con người đều có thể biến tới biến lui. Phật giáo nói “tất cả do tâm tạo”, đại sư Hoằng Pháp nói “Thập Trụ Tâm Luận”, chính là nói tâm của chính bạn có thể biến thành một loại tâm bất kì, sau đó nếu dùng cái loại tâm này của bạn để triệu thỉnh, để tu pháp tu luyện, thì rất có khả năng linh đến chính là cái linh tương ứng với bạn đó. Cái này dựa theo mười trụ tâm này để mà phân biệt. Đạo lý “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp là ở đây, đạo lý này cũng chính là vật họp theo loài.

Hôm qua chúng ta nói về tâm của động vật có hai đặc trưng, một cái là thực, một cái là sắc. Vì thế nói chung, chúng ta muốn triệu thỉnh linh của động vật thì cực kì đơn giản, mọi lúc mọi nơi đều có thể triệu thỉnh. Bạn xem, khi chúng ta còn nhỏ chơi trò triệu thỉnh thần ếch. Lúc nhỏ tôi cũng từng chơi, tức là mấy đứa trẻ con quây lại với nhau, sau đó thắp hương. Vào ngày nào là tốt nhất? Vào ngày 15, ví dụ ngày 15 tháng 8 là tốt nhất, bởi vì trăng tròn nhất, tất cả các linh đều đi ra để ngắm trăng.

Khi đó tất cả lũ trẻ con đều thắp hương, khi đó chưa hiểu chuyện, học theo người ta, bảo bạn niệm cái gì, dùng Đài ngữ để niệm, cầm hương lên rồi lắc lư: “Thần bốn chân, linh linh linh, thỉnh thần 15 tháng 8 đến đây!” Chính là như vậy, vừa hát vừa lắc, một đứa trẻ trong số đó nằm phục trên mặt đất giả vờ là ếch, đầu của nó chúi thấp xuống mặt đất, mông thì chổng lên cao cao, giả vờ bộ dạng của con ếch. Những đứa trẻ khác ở bên cạnh thì cùng nhau hát: “Thần bốn chân, linh linh linh, thỉnh thần 15 tháng 8 đến đây! Thần bốn chân,…”

Bạn đừng coi thường trò này nhé! Đây chính là triệu thỉnh linh động vật. Bạn cứ tiếp tục hát liên tục hát như thế, tinh thần sẽ chiêu cảm con ếch, linh của con ếch sẽ “chíuuu…”, thế là sẽ nhập vào người đứa bé kia. Lập tức đứa bé kia sẽ bị thần trí hôn mê, sẽ nhảy tưng tưng, sẽ bắt đầu nhảy kiểu ếch, còn kêu tiếng ếch nữa.

Ếch kêu âm thanh thế nào? Tóm lại là đứa bé sẽ kêu tiếng ếch, rồi còn biết nhảy kiểu ếch, nhảy không ngừng, rồi sẽ bị ốm. Đôi khi nếu linh nhập vào không đi thì thật sự sẽ sinh bệnh đó! Đây chính là triệu thỉnh linh của động vật.

Bạn đừng cho rằng trẻ con chúng tôi chơi như vậy thì mới có thể thỉnh được linh động vật, thật ra rất nhiều người lớn cũng thỉnh linh động vật. Ví dụ người thổ dân da đỏ, họ thích nhất là thỉnh linh động vật, thỉnh linh của một số loài rắn, chim ưng là họ thích thỉnh nhất. Bạn xem những vật tổ mà họ điêu khắc, khắc lên cái cột nhà, miệng diều hâu, mắt diều hâu, hình cáo, hình rắn, đều khắc trên các vật tổ. Vì sao vậy? Bởi vì họ chiêu cảm. 

Khi làm cúng dường, họ thỉnh đến rất nhiều linh của các động vật ở trong rừng sâu, vì thế, bạn xem họ điêu khắc, cứ khắc ra thì sẽ là chim ưng, rắn, cáo, những động vật như thế, khắc ở trên vật tổ. Bọn chúng không phải là không có pháp lực, linh động vật cũng có pháp lực, cho nên thầy phù thủy của thổ dân da đỏ, đừng cho là họ không có pháp lực, thật ra cũng có pháp lực đó, bởi vì linh mà họ chiêu cảm chính là linh động vật.

Rồi cả tượng nhân sư của Ai Cập, đạo Shaman của châu Phi nữa, những linh thỉnh đến phần nhiều đều là linh động vật. Giống như lúc nhỏ chúng ta chơi trò tiên đĩa, linh động vật cũng sẽ đến. Bạn xem cái đĩa kia ở đó tự nó chạy rồi chạy. Thật ra chẳng làm gì nó cả, chỉ có nói: “Xin mời đến!” “Thỉnh tiên đĩa đến!” Ba người vịn vào, im lặng thỉnh tiên đĩa đến. Đến rồi thì cũng không có mời gì, bảo họ uống một cốc nước, họ liền chạy đến nước để uống nước. Bảo họ ăn một viên đường, họ liền chạy đến chỗ viên đường ăn một viên. Đây cũng rất có khả năng là linh của động vật, cũng có khả năng không phải, cái này phải xem tâm tính của hành giả. Bạn là hành giả mà không có gì cả, lại còn ham ăn, háo sắc, thói xấu này không sửa, thế thì vĩnh viễn bạn chỉ thỉnh được linh động vật.

“Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp nói rằng con người sẽ đọa lạc vào trong tam ác đạo là bởi vì mười điều ác nên mới đọa lạc, mười ác cũng chính là giết, cướp, dâm, nói dối, ác khẩu, hai lưỡi, nói lời tục tĩu, tham, sân, si. Bạn phạm vào mười ác này thì bạn sẽ trụ tâm ở bên trong động vật. Kiếp sau chuyển thế, chẳng có gì để nói, bạn sẽ biến thành động vật.

Cho nên ở đây phải xem trụ tâm của bạn, mười trụ tâm của đại sư Hoằng Pháp cũng tương đương với mười pháp giới. Bạn đọa lạc đến tam ác đạo, đó là vì sao? Bởi vì bạn phạm vào mười điều ác này, thế thì đương nhiên bạn sẽ đọa lạc đến tam ác đạo. Bạn học pháp mà không tu tâm, đương nhiên bạn sẽ triệu thỉnh được linh động vật. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

03/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 115. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm của con người

Chúng ta lại giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. 

Bây giờ đi vào loại tâm thứ hai - tâm của con người. Tâm của động vật đã giảng xong rồi, bây giờ nói về tâm của con người. Rời khỏi tâm động vật này, tâm của con người cao cấp hơn tâm động vật một chút. Bạn sinh ra làm một con người, bản thân bạn đã là không tệ rồi, xem ra cũng là tốt rồi.

Con người là linh của vạn vật, căn cứ theo điều nói đến trong kinh Phật, bạn muốn chuyển thế làm một con người cũng không đơn giản, cho nên chí ít, bạn cần hiểu về luân lý làm người. Luân lý làm người là cái gì? Chính là tam cương ngũ thường mà trước đây chúng ta vẫn nói. Tam cương là nói về mối quan hệ vua tôi, quan hệ cha con, quan hệ vợ chồng. Bạn xem trong các loài động vật, quan hệ vợ chồng của bản thân con người tương đối nghiêm một chút. Những động vật bình thường đương nhiên cũng có kiểu quan hệ vợ chồng này, nhưng quan hệ vợ chồng của chúng tương đối nông cạn, quan hệ giữa vợ chồng của con người thì tương đối chặt chẽ. Vua tôi, cha con là một loại quan niệm luân lý, cái này ở con người mới có. Cho nên bản thân con người là linh của vạn vật, nguyên nhân chính là ở đây.

Thế còn ngũ thường? Chính là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Có thể nói là con người hay nói đạo lý, còn biết nói một vài lý lẽ. Động vật thì chẳng có cái lý gì để mà nói, hoàn toàn mạnh hiếp yếu. Sư Tôn từng xem một bộ phim về đáy biển, tôi từng nghĩ là: “Hầy! Làm cá cũng không tệ nhỉ! Cá thật tự do, thật tiêu dao!” Nhưng mà sau khi xem xong bộ phim về đáy biển đó thì tôi: "Thôi, không muốn làm cá.”

Ở dưới biển, những con cá mập rất lợi hại, còn có rất nhiều loại cá đều tàn sát lẫn nhau. Ví dụ chúng ta nói cá ngừ đại dương, hình như gọi là *tuna*, tiếng Anh hình như nói là *tuna*, con *tuna* đó đang bơi dưới biển, cá mập xuất hiện, nó thích nhất là ăn *tuna*. Đột nhiên bơi đến, liền “oa” lên, cắn một cái, con *tuna l*ập tức biến thành hai nửa, máu chảy ra, cả đáy biển đều nhuộm màu đỏ. Vì thế, đây là thế giới mà cá lớn nuốt cá bé rất khủng bố.

Bởi vậy đó là thế giới của động vật, hầu hết với động vật mà nói thì chúng chẳng nói đạo lý, chúng chỉ nói về kẻ mạnh và kẻ yếu. Cho nên sinh tồn dưới đáy đại dương không dễ dàng. Trước kia tôi nghĩ: làm cá là tự do nhất! Tự do tự tại bơi lội dưới biển, tốt biết bao! Không ngờ thế giới dưới đáy biển cũng rất hung tàn, rất tàn nhẫn.

Lại xem thế giới không trung. “Í, làm chim thật tốt! Rất tự do, còn có thể bay nữa, có thể bay thật tốt!” Không ngờ thế giới không trung này cũng thế. Có con chim ưng, nó nhìn thấy kẻ yếu thì cũng như thế. Bạn nói xem, những động vật bò trên mặt đất chúng ta thì lại càng giống như thế.

Vì thế mới nói, con người mới là linh của vạn vật. Vì sao là linh của vạn vật? Bởi vì con người vẫn còn có lý tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Có thể nói bản thân con người vẫn còn nói đạo lý, vẫn còn muốn nói một chút đạo lý, cho nên có cái lý tính này. Bởi vì có lý tính, có giữ luân lý làm người, nên mới trở thành con người.

Chúng ta làm một con người, giả sử nói là bạn giữ tam cương ngũ thường, hơn nữa không phá hoại quy tắc của con người thì tương lai bạn chuyển thế vẫn có thể làm người. Bạn làm trái tam cương ngũ thường thì bạn sẽ tiến vào tâm động vật. Nếu bạn làm mười ác, giết, cướp, dâm, nói dối, ác khẩu, hai lưỡi, nói lời tục tĩu, tham, sân, si, thì sẽ đọa vào tâm động vật thấp kém. Vậy bạn giữ tam cương ngũ thường thì bạn có thể nói là chính nhân quân tử, đời sau bạn chuyển thế cũng sẽ không luân hồi đến nơi không tốt là tam ác đạo, chí ít bạn còn là một con người. 

Bởi vì bạn là một con người, cho nên nếu bạn dùng tâm của người để làm triệu thỉnh, bạn có thể triệu thỉnh được ma, cũng tức là triệu thỉnh được người đó. Nhưng mà người này là vô hình, đây gọi là “phi nhân”. Trong kinh Phật chúng ta thường nhắc đến phi nhân, nhân phi nhân, ý nghĩa chính là nói về người vô hình. Trong tâm bạn nghĩ, dùng tâm của con người để triệu thỉnh thì bạn sẽ cảm ứng được phi nhân.

Trước đây, trong cuốn sách “Pháp thuật của Mật giáo” tôi có viết rồi, có pháp gọi là Linh đồng nhĩ báo, pháp thuật này có thể triệu thỉnh được linh đồng nhĩ báo, năng lực của họ cũng rất lớn.

Bạn chỉ cần cúng tiểu đồng tử, dùng vật chất tinh thần trên thân của đứa bé đó, biết ngày mất của đứa bé đó, sau đó bạn niệm chú triệu thỉnh, cúng dường, chỉ cần linh của đứa bé đó đến, sau khi tiếp nhận cúng dường của bạn, bạn sẽ trở nên rất linh. Đứa bé đó là vô hình, sẽ thường xuyên nói chuyện với bạn ở bên tai bạn.

Người làm pháp sư thường xuyên làm pháp Linh đồng nhĩ báo hoặc tu pháp này, ở Đông Nam Á cũng rất nhiều, pháp này gọi là nuôi quỷ, tức là nuôi linh của trẻ con. Vậy nuôi linh trẻ con có lợi ích gì? Bởi vì chúng có thể giúp đỡ pháp sư, có thể dự đoán, có thể giúp người ta đoán mệnh, có thể dự đoán lành dữ, nhưng linh lực của chúng vẫn là có hạn.

Nếu dùng tâm của con người để tu pháp có thể triệu thỉnh được nhân phi nhân, đây chính là một đạo lý tương ứng. Vì thế, đại sư Hoằng Pháp giảng “Thập Trụ Tâm Luận”, thật ra chính là đang nói về yoga, cũng chính là nói về tương ứng, bởi vì bạn là một con người, cho nên bạn cũng sẽ triệu thỉnh được con người. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

04/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 116. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm động vật và tâm người (1)

Hôm nay chúng ta tiếp tục giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Chúng ta đã biết trụ tâm thứ nhất là tâm động vật, trụ tâm thứ hai là tâm con người. Hai trụ tâm này muốn triệu thỉnh linh động vật và phi nhân thì đều rất đơn giản. 

Mọi người biết rằng ở thế giới phương Tây có những “nhà ngoại cảm”, họ muốn triệu thỉnh người đã chết đến, rất đơn giản, họ duỗi tay ra như thế này, mấy người ở bên cạnh ngồi thành vòng tròn, nắm lấy tay nhau, cùng nghĩ về người này, miệng thì niệm tên của người này là được.

Vì sao phải nắm tay nhau? Ở đây có một mấu chốt, bản thân tôi phát hiện ra rằng, vì bản thân mỗi cá nhân đều có linh thể, vậy chỉ cần tập hợp linh thể của vài người tập hợp lại với nhau thì sẽ sản sinh ra một dạng sức mạnh. Nhờ vào dạng sức mạnh này, rất nhanh chóng có thể tiến vào linh giới, linh giới lập tức sẽ biết ngay là có mấy người đang triệu thỉnh một linh nào đó, linh đó nhanh chóng sẽ đến, đây là cách làm pháp của nhà ngoại cảm ở nhân gian.

Tay của họ như thế này, đặt chéo nhau và nắm lấy tay của người bên cạnh, tạo thành một vòng tròn, sau đó nghĩ đến một người, niệm tên của họ. Chà! Người đó rất nhanh chóng xuất hiện, trên thực tế là thật sự xuất hiện.

Trước kia ở Đài Loan rất thịnh hành trò bói đĩa, ba người vịn vào cái đĩa, thật ra chỉ cần tĩnh tâm lại, linh khí này sẽ thông qua ngón tay tiến vào bên trong cái đĩa, bản thân cái đĩa sẽ phát ra một dạng sức mạnh. Chỉ cần linh khí sinh ra trên cái đĩa này, linh giới xung quanh biết được thì sẽ nhập vào cái đĩa, nó sẽ có thể di động, đây chính là tiên đĩa.

Ví dụ như tôi mà nói, giả sử tôi muốn vịn vào thứ này, tôi không cần ba người, một mình tôi là có thể vịn được rồi. Một người sờ vào vành của đĩa, chuyên tâm nhất trí, đợi một lát nó sẽ tự chạy, sẽ chuyển động. Cũng có người chơi trò bói tiền, bói tiền tức là một đồng tiền mà thôi, tay chạm vào mặt trên của đồng tiền, tự nó sẽ di động, nhưng liệu có linh cảm không? Chính vì linh tại linh giới chỉ là linh động vật, phi nhân, chỉ là ma, cho nên linh lực của chúng không phải là rất lớn. Bạn hỏi họ sự việc, họ cũng có thể tùy tiện trả lời. Cho nên chuẩn hay không chuẩn, đó lại là một chuyện khác.

Nếu thỉnh linh động vật và phi nhân đến, thật sự là quá đơn giản, chỉ cần bạn dùng ý niệm để thỉnh, cúng dường một chút đồ, chuyên tâm nhất trí, tĩnh tâm lại là có thể thỉnh được.

Tôi nhớ lúc trước tôi học cấp ba cũng chơi trò bói đĩa, chúng tôi rất dễ dàng thỉnh được phi nhân đến. Ba người vừa chạm vào, tập trung tinh thần một cái là linh giới lập tức biết được. Họ đến rồi thì rất kỳ lạ. Hỏi họ: “Từ đâu đến?” Họ liền chạy chạy chạy, đáp án: “Hồ Nhật Nguyệt.” 

Sau đó lại hỏi: “Vì sao lại ở hồ Nhật Nguyệt?” Họ lại chạy chạy chạy, đáp án: “Tự sát.” Thì ra là nhảy hồ Nhật Nguyệt tự sát. “Thế vì sao mà tự sát?” Họ nói: “Khốn đốn vì tình.” Khốn đốn vì tình thì đúng là rất đau khổ rồi! Vì thế họ đi nhảy hồ Nhật Nguyệt tự sát. Họ đến thật đó! Chúng tôi không hề có ý đi thỉnh linh tự sát ở hồ Nhật Nguyệt đến, nhưng thật sự họ đã đến rồi! Sau đó chúng tôi hỏi họ: “Thế đến đây, có yêu cầu gì không?” Họ lại chạy chạy chạy, đáp án: “Tìm người kết hôn.” Họ muốn cưới! Bạn có biết không? Họ muốn kết hôn đó! Chúng tôi hỏi: “Tìm ai?” Họ nói: “Tìm cậu đó!” Úi! Chúng tôi đều không dám chơi nữa. Rất nhiều sự việc thật sự là như vậy.

Bạn có biết không, chơi trò bói đĩa cũng sẽ sinh bệnh đó. Trước kia, khi tôi ở Đài Loan giúp người ta hỏi chuyện, có một cô gái tinh thần rất hoảng hốt, một cánh tay thì như thế này (Sư Tôn làm bộ dạng chơi bói đĩa). Bố mẹ cô đưa cô đến hỏi: “Vì sao lại như vậy?” Chính là do cô ấy chơi bói đĩa, linh mà cô ấy triệu thỉnh tới đã kết hôn với cô gái rồi, kết quả là biến thành hiện tượng này.

Cho nên bản thân linh có thể quấy nhiễu, có thể chiếm nhà. Cái gọi là chiếm nhà tức là đi vào bên trong thân thể của một người. Nếu linh đi vào bên trong thân thể của người đó thì sẽ biến thành “vật trung gian của linh”. Ở Đài Loan gọi là kê đồng. Đôi khi bạn sẽ bị phi nhân chiếm nhà, nghiêm trọng một chút là bạn sẽ biến thành *crazy <span className="note-blue">[điên]</span>*, sẽ phải vào bệnh viện tâm thần. 

Cho nên nếu linh động vật và linh của phi nhân quấy nhiễu, thân thể con người bị chiếm đoạt, người đó sẽ biến thành hai dạng nhân cách. Đàn ông khi nói chuyện đột nhiên biến thành giọng nữ, phụ nữ khi nói chuyện đột nhiên biến thành giọng nam. Cô gái còn rất trẻ đột nhiên biến thành giọng của người già, đó chính là bị phi nhân chiếm nhà. Hiện tượng này rất nhiều. Vì thế nói chung, tu hành trong linh giới phải tránh linh động vật và linh của phi nhân đi vào quấy rối bạn.

Bản thân Sư Tôn mà nói, trên phương diện triệu thỉnh linh, tôi có năng lực rất cao. Chỉ cần một ý niệm là tôi đã có thể triệu thỉnh đến, chỉ cần một ý niệm là tôi làm xong rồi. Còn nữa, tôi còn có một năng lực, hôm nay tôi muốn mơ thấy ai, buổi tối hôm đó tôi liền có thể mơ thấy người đó. Bạn cũng không chắc có thể làm được là ban ngày nghĩ gì thì tối mơ thấy cái đó. 

Hay! Nói hay lắm! Hôm nay tôi nghĩ, nghĩ, nghĩ đến người đó, nhưng khi bạn đi ngủ, bạn chưa chắc đã mơ thấy người đó đâu. Nhưng hôm nay tôi có năng lực này, Sư Tôn thật sự có bản lĩnh này! Muốn mơ thấy người đó là liền mơ thấy người đó.

Tôi cũng có thuật cầu nguyện của tôi, tôi có phương pháp của tôi để nhiếp triệu người này đi vào trong giấc mơ của tôi, thế là buổi tối tôi có thể mơ thấy. Đây cũng là một dạng công lực tu hành. Giả sử ý niệm của bạn rất mạnh, bạn sẽ có thể nhiếp triệu được phi nhân. Thậm chí người còn sống ở dương thế cũng có thể đi vào trong giấc mơ của bạn.

Vì thế tu hành, bạn phải tu đến một cảnh giới nào đó, khi năng lực của bạn rất cao, chỉ cần nghĩ đến là tất cả mọi việc đều có thể làm được. Ví dụ tôi nghĩ đến một người ở nơi rất xa cũng được. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

07/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 117. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm động vật và tâm người (2)

Chúng ta lại nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp, trong đó nói đến triệu thỉnh chư Thiên, Phật, Bồ Tát. Quan trọng nhất tức là nói rằng cảnh giới tu hành của chính bạn càng cao thì cao linh mà bạn triệu thỉnh càng cao, cảnh giới của bạn càng thấp thì linh triệu thỉnh đến càng thấp. Cho nên mới nói linh động vật và phi nhân đều cực kì dễ triệu thỉnh.

Có một số đứa trẻ tùy tiện nặn mấy hình người bằng đất, học người lớn bái thần, trẻ con chơi trò gia đình, dùng những người đất này làm người, thế rồi mấy đứa bé cũng bái lạy. Học theo mẹ của chúng, học theo dì của chúng lạy thần. Bạn đừng coi thường trò này nhé. Lạy một cái là lập tức có linh nhập vào thân. Mấy đứa bé này nhìn thấy thì cảm thấy rất lạ lùng kì quái: “Sao lại thế? Làm sao mà nhập vào thân được?”

Thật ra muốn nhập vào thân rất đơn giản, bạn gõ trống: “Tùng, tùng tùng! Tùng, tùng tùng!” Bạn thử liên tục gõ trống mà xem, tiếng gõ trống này vang lên, nhịp trống đều nhau sẽ đi vào trong linh giới, linh giới lập tức biết được có người gõ trống triệu linh, linh thật sự sẽ đến. Cả một đám, cả một bầy, tất cả kê đồng đều nhảy nhót, đều đứng dậy hết.

Sư Tôn khi triệu thỉnh thì rất nhanh, tôi mà biểu diễn thì nhanh lắm. Tôi cầm một cây gậy lên, hát một bài kệ triệu thỉnh, trước đây tôi từng hát rồi: “Các nội cảnh trong người, ba vạn sáu nghìn thần, nguyện thân ta tự tại, thường trụ trong Tam Bảo.” Thần lập tức có thể viết chữ trên bàn, lập tức linh động. Việc triệu thỉnh này của tôi rất nhanh, một ý niệm xuất hiện, vừa nãy ngài viết gì thế? Tôi không nhìn rõ.

Nhưng ở trên bàn cát có thể hiển chữ: Tôi là người nào, hoặc tôi là thần nào, lập tức sẽ đến. Đây không phải là tôi dọa bạn đâu, không phải là tôi đang ở đây kể chuyện cười, không phải là mở miệng ra nói bừa, mà là nói căn cứ theo những gì được nói trong sách, nói trong kinh điển. Hát một bài hát triệu thỉnh, thần lập tức giáng xuống. Thế là xuống rồi, không phải là nói đùa đâu, linh cũng như thế. Linh giới và bản thân con người chúng ta là tương thông.

Giống như tôi và linh giới căn bản là thông. Tôi chỉ cần một suy nghĩ, linh đó sẽ đến. Cho nên mọi người xem Sư Tôn hỏi việc, làm thế nào vậy? Tôi còn chưa hỏi, họ đã nói rồi. Còn chưa hỏi đã trả lời rồi. Nhanh lắm. Rất nhanh, rất nguy hiểm! Căn bản là có đôi khi, tôi không cần hát bài hát triệu thỉnh đó, ví dụ vừa nãy cái bài hát triệu thỉnh đó mới hát được một nửa thì linh đã đến rồi, linh đã biết tôi muốn biểu diễn rồi! Trên thực tế chính là như vậy, linh luôn ở xung quanh.

Bởi vậy, bạn là một người thông linh chân chính thì linh giới của bản thân bạn sẽ ở xung quanh bạn, rất nhanh chóng có thể mở ra cánh cửa tâm linh, có thể giao tiếp với nhau. Vừa rồi tôi làm như thế chính là lên đồng viết chữ, hát một bài, triệu thỉnh, nhanh chóng cầm bút lên, lập tức sẽ viết chữ trên cát. Đương nhiên, tôi cũng sẽ bị nhập. Tôi cũng có thể bị nhập lên người. Tôi chắp tay một cái là linh cũng giáng xuống, lập tức sẽ biến thành một âm thanh, lập tức tạo thành một tư thế, nói: “Tôi là cái gì đến đây.” Sau đó lập tức kết thủ ấn, thế là đến.

Là một người thông linh thì bạn sẽ có được năng lực này để đi làm các việc. Vì thế, cảnh giới bạn tu mà càng cao thì linh đến sẽ càng cao, cảnh giới của bạn thấp, gần như về cơ bản bạn không có tu hành gì, thì ma bình thường sẽ đến nhập vào người bạn. Ma cũng có ngũ thông mà. Họ cũng có thần thông, không phải là không có, họ là vô hình, hơn nữa họ đến đi rất nhanh. Linh động vật cũng rất lợi hại, bạn xem những người thổ dân da đỏ đó, một đám người quây quanh đám lửa và nhảy, nhảy một cái là mỗi người đều bị nhập. Đạo Shaman ở châu Phi, mọi người nhảy múa, đánh một loại trống, thế là có thể tiến vào linh giới. Nhịp trống đó vang lên là linh giới sẽ biết, toàn bộ đều đến, toàn bộ đều nhập vào thân.

Kê đồng của Đài Loan, gõ trống, liên tục “tùng tùng, keng… tùng tùng, keng.” Liên tục gõ liên tục gõ, linh lập tức sẽ đến. Vì thế, hành giả chúng ta phải chú ý, linh bạn triệu thỉnh nhất định phải là thế giới thượng tầng (thiên thượng giới), đừng để bị phi nhân và linh động vật lợi dụng.

Hôm nay giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp, quan trọng nhất chính là nói rằng, bạn tu hành phải hiểu cách tránh được linh động vật và linh của phi nhân. Nói chung, trong bệnh viện tâm thần có rất nhiều người có hai loại nhân cách, những người này thật sự là bị phi nhân và linh động vật chiếm thân rồi. Họ cứ một lúc thì tỉnh táo, con người rất tốt, đối với người khác rất lịch sự, một lát sau nếu linh nhập tỉnh dậy thì, vốn là một cô gái thôi, nhưng mà năm, sáu người đàn ông cũng không bắt được cô ấy, cô ấy cực kì khỏe. Cơ bản là cô ấy đã bị linh nhập, linh đó là linh gì? Là *crazy cow*, con bò điên đó. Chà, thảm rồi, linh của bò điên nhập lên người đó.

Bởi vậy hôm nay giảng “Thập Trụ Tâm Luận”, quan trọng nhất là chúng ta tuy thông linh, nhưng phải biết phân biệt mười loại trụ tâm. Bản thân bạn phải giữ năm giới, làm mười thiện, tự mình phải biết tu tâm, tâm mình biến thành tâm của cõi trên, thế thì bạn sẽ triệu thỉnh được linh của cõi trên. Tâm của bạn chảy xuống tầng thấp thì sẽ giống tâm của động vật, tức là có hai đặc trưng thực, sắc.

Giống tâm con người chính là tam cương ngũ thường, đó là tâm con người. Giả sử bạn không tu hành, thế thì bạn chẳng qua là ở giữa hai cảnh giới mà thôi. Bạn có tu hành, sắp tới tôi sẽ nói về tâm cao hơn, sâu hơn một chút, bạn sẽ có thể triệu thỉnh được Phật Bồ Tát.

Vì thế tâm của Phật Bồ Tát là quảng đại vô biên, không phải là keo kiệt hẹp hòi. Quan Thế Âm Bồ Tát đó, không có Quan Thế Âm nhỏ mọn, làm gì có Nam mô nhỏ mọn Quan Thế Âm chứ? Tâm lượng rất nhỏ hẹp thì làm sao làm Quan Thế Âm Bồ Tát được? Quan Thế Âm Bồ Tát là đại từ đại bi mà.

Cho nên chúng ta làm một con người, tuyệt đối không thể hẹp hòi, cũng không thể nhỏ mọn. Tấm lòng phải rộng lớn, bạn sẽ có thể triệu thỉnh được thiên thượng giới. Tâm lượng bạn hẹp hòi, thôi xong! Bạn tuyệt đối không triệu thỉnh được thiên thượng giới đâu, bởi vì linh động vật chính là nhỏ hẹp. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

07/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 118. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm Atula (1)

Chúng ta lại giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Hôm nay chúng ta giảng tâm thứ ba là tâm của Atula. Trong Phật giáo có nhắc đến Atula, bản thân Atula mà nói, so với lực của con người thì cao hơn (lực ở đây là chỉ một dạng pháp lực).

Ở bên trong cảnh giới của Atula, họ đã biết tu hành, trong cảnh giới của con người thì vẫn chưa biết tu hành, chỉ giữ luân lý làm người bình thường mà thôi. Bản thân Atula có tu hành, nhưng vì sao lại biến thành Atula?

Chính là vì cảnh giới tu hành của bản thân họ vẫn chưa thể mở cái tâm ra, vẫn chưa thể hoàn toàn biến tâm thành rất quảng đại, chỉ là một dạng tu hành rất nhỏ hẹp, rất hẹp hòi. Chúng ta biết rằng, Atula từng cùng với Đế Thích Thiên thường xuyên có chiến tranh. Trong linh giới, chư Thiên cùng Atula Vương từng có chiến tranh, có hai truyền thuyết:

Truyền thuyết thứ nhất là nói rằng, Thiên Đế chính là Đế Thích Thiên (Nhân Đà La, Thích Đề Hoàn Nhân), ngài lấy công chúa của Atula làm vợ, ở trong cõi Dục giới vẫn có quan hệ vợ chồng. Vì thế, Nhân Đà La Thiên Đế đã lấy công chúa của Atula.

Công chúa Atula của Thiên Đế rất xinh đẹp, nhưng xinh đẹp cũng không phải là mãi mãi, bất kì thứ gì nhìn lâu thì cũng giống như gặm cây mía vậy, ban đầu thì ngọt, sau cùng chỉ còn lại bã mía thôi! Vì thế, xinh đẹp cũng không phải là vĩnh viễn. Giống như ăn kẹo cao su vậy, ban đầu thì ngọt, sau cùng thì chỉ còn lại bã kẹo cao su, tương tự chỉ muốn nhổ đi.

Cho nên Thiên Đế đó, đại khái là Dục giới thiên cũng có kiểu tâm lý này, công chúa của Atula Vương tuy rằng rất xinh đẹp, nhưng lâu ngày thì cũng không còn cảm giác nữa. Thiên Đế ở trong vườn hoa lại để mắt đến người khác, Atula Vương liền rất tức giận, xuất binh đánh nhau với Đế Thích Thiên. Đây là truyền thuyết thứ nhất.

Truyền thuyết thứ hai là nói rằng, Thiên Đế đi chơi, Đế Thích Thiên dẫn đầu tất cả quyến thuộc đi trong hư không. Atula Vương đang ở dưới đáy biển mở *party <span className="note-blue">[tiệc]</span>,* chắc là *birthday <span className="note-blue">[sinh nhật]</span>* của Atula Vương, ông ta đang ở đó mở tiệc. Đột nhiên ngẩng đầu lên nhìn, chà! Đế Thích Thiên dẫn đầu quyến thuộc, xe ngựa như vậy đi qua trên đầu ông ấy. Ông ấy nhìn thấy thế thì nghĩ… Ta đang mở *party*, ông lại bay qua trên đầu ta, đúng là bất kính với lão già ta, vì thế xuất binh tấn công Đế Thích Thiên.

Đây là một truyền thuyết nữa giữa Atula Vương và Thích Đề Hoàn Nhân. Vì sao giữa hai người Atula Vương và Đế Thích Thiên lại sứt mẻ tình cảm, tấn công lẫn nhau? Muốn tu thành Atula, không phải là tôi dạy mọi người tu thành Atula đâu, ý tôi muốn nói là rất nhiều người tu hành đều tu thành Atula. Là nguyên nhân gì mà lại tu thành Atula? Chính là vì tâm lượng của bản thân bạn không rộng mở.

Tâm lượng của một hành giả không rộng mở, thì cho dù pháp lực của anh ta có mạnh, cũng chẳng qua chỉ là Atula thôi. Bởi vì tâm lượng của anh ta rất hẹp hòi. Atula có hai đặc trưng: một là đố kỵ, hai là tranh đấu. Đố kỵ và tranh đấu sẽ khiến bản thân bạn biến thành Atula. Ngoài ra, Atula Vương còn có một biểu hiện bề ngoài nữa, chính là tự cao ngạo mạn. Hiện nay rất nhiều người tu hành đều như vậy. 

Trước kia nhóm múa rối Hoàng Tuấn Hùng, trong vở múa rối của họ có lão hòa thượng Lục Nguyên, cuộc nói chuyện của họ đầy ý vị thiền. Có người nói ông ấy: “Ôi chao! Võ công của ông là số một!” Lão hòa thượng Lục Nguyên liền nói: “Đến giờ mới biết à!” Thế rồi một người khác lại nói: “Chẳng ai bằng được ông!” Hòa thượng Lục Nguyên nói thế này: “Đúng là chẳng ai bì được với tôi.”

Tôi nói với bạn nhé, người tu hành ngày nay chính là như vậy. Không ai bì nổi với họ, võ công của họ là cao cường số một. Gần như mỗi người đều như vậy, bạn nói: “Ai đọ ai? Ai sợ ai chứ? Rùa sợ dùi sắt, gián sợ giầy rơm.” Ai cũng đều đang so bì cao thấp. Giống như tiểu thuyết võ hiệp, cũng đều là so bì cao thấp.

Làm một người tu hành, không nên giống những nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp, toàn là so bì cao thấp. So bì cao thấp sẽ tu thành Atula, bạn là người võ công cao nhất sẽ biến thành Atula Vương, còn phổ thông thì sẽ biến thành Atula quyến thuộc. Rất đơn giản, bạn đi vào trong cái tâm hẹp hòi này thì sẽ biến thành Atula. Tâm lượng đó rất nhỏ, cho nên khi cái tâm tranh đấu này sinh ra, bản thân hành giả phải tự mình cảnh giác, không được có cái tâm này.

Một khi cái tâm tranh đấu này sinh ra, hành giả cũng phải cảnh giác, không thể có tâm tranh đấu, phải có tâm rộng lượng. Người có tâm lượng hẹp hòi thì đừng nói tu hành! Có những người đôi khi tâm lượng thật sự là quá nhỏ hẹp, quá “tiểu lượng”, tính toán chi li, cho dù một cái kim cũng không bỏ qua. Thậm chí một câu nói, thế là không ra gì! Một cái nhìn, thế là không ra gì! Vì thế, đôi khi giống như những sự việc gây thị phi kia, chỉ một cái nhìn thôi thế là be bét!

Tôi thường đọc trên báo thấy nói, ví dụ ở trong nhà hàng ăn cơm, một người vô ý ngẩng đầu lên nhìn người khác một cái, người kia liền cảm thấy không thoải mái, gây ra họa giết người. Chỉ vì một cái nhìn, thế là thôi, giống như thế thì chính là Atula.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

08/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 119. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm Atula (2)

Một người tu hành, không thể tu thành cái tâm Atula trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Nhưng vẫn cứ có rất nhiều hành giả đi vào con đường này, trong con mắt của người thông linh thì rất dễ có thể nhìn ra.

Chúng ta rất dễ nhìn ra bản thân người này có phải là Atula không, bởi vì ở xung quanh người này, Hộ pháp mà họ thu hút tới nhất định là Atula ở xung quanh họ. Bạn nhìn một cái, nhìn thấy những Atula này là biết ngay, a, người này đã tu vào đạo Atula rồi, cũng tức là đã đi vào bên trong con đường tự cao ngạo mạn, đố kỵ, tranh đấu rồi.

Điều này là phải tránh, mỗi một hành giả chúng ta đều phải tránh, bạn nhìn một người tu hành, một người tu hành chân chính đều mang theo một sự biết ơn, vì thế chúng ta thường nói “trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ”. “Trên báo bốn ơn sâu” tức là phải báo ơn, bất kì một hành giả nào đều phải báo ơn, đều phải có cái tâm biết ơn. Ơn chúng sinh cũng là một trong số đó. Vì thế không thể tự cao ngạo mạn.

Ví dụ lấy Sư Tôn để nói, trước kia tôi… bây giờ cũng như thế, tôi cho rằng người lớn tuổi hơn tôi, người tu hành lâu hơn tôi, hoặc là chúng sinh, tôi đều có thể đảnh lễ họ. Tôi cũng có thể đảnh lễ trước mọi người, có thể đảnh lễ tất cả chúng sinh, bởi vì đều có ơn.

Nếu nói về ơn thì gần như mỗi một đệ tử đều là tư lương chủ của bản thân Sư Tôn. Sao lại nói như vậy? Tư lương chủ tức là nói rằng, tư lương của bản thân Sư Tôn đều đến từ đệ tử, bình thường họ cúng dường Sư Tôn, bất kể là hai đồng tiền Malay cũng tốt, hai đồng tiền Canada cũng tốt, một đồng đô-la Mỹ cũng tốt, nhiều và ít là như nhau, không có phân biệt, đều là tư lương chủ. Vì thế đối với chúng sinh cũng cần cảm ơn, đối với bản thân đệ tử cũng cần cảm ơn. 

Trước đây tôi đi gặp một số đại hòa thượng, hoặc gặp sư phụ của mình, tôi đều đảnh lễ các vị. Tôi nhìn thấy sư phụ của mình tôi cũng đảnh lễ, nhìn thấy trưởng bối cũng đảnh lễ, không hề vì bản thân mình đã tu trì, đã thông linh rồi, đã có tư cách của Phật rồi, có tư cách của Bồ Tát rồi, đã đều có thể xuất nhập mười phương pháp giới rồi mà có thể vứt đi cái tâm biết ơn này.

Nhưng bây giờ mọi người hãy mở mắt ra nhìn xem, người kia đã tự cho rằng mình là đại sư rồi, mà đã là đại sư thì anh ta có còn đảnh lễ chúng sinh không? Thế thì có vấn đề mất, bởi vì anh ta đã rất to rồi, cho nên không thể nào đảnh lễ được. Bạn nói xem, có khi anh ta tự xưng là thượng nhân, thượng nhân thì tức là đã ở trên người khác rồi, có thể nào anh ta lại biến thành “hạ nhân” sao? Không thể nào. Vì thế, anh ta sẽ không đảnh lễ chúng sinh. Bạn nói xem, là đại sư thì anh ta đã rất to rồi, anh ta có thể biến thành “tiểu sư” sao? Không thể nào có chuyện đó, anh ta cũng sẽ không đảnh lễ chúng sinh.

Hành giả ngày nay phải biết, tâm phải mềm mại, phải có tâm từ bi, phải tự hạ mình xuống mới là một hành giả chân chính. Vì thế, tự cao ngạo mạn rất dễ đi vào đạo Atula, vậy thì sẽ không tốt.

Đạo Atula cũng sẽ thường xuyên đấu tranh với người ta, chúng ta là một người thông linh chân chính, khi ta nhìn thấy xung quanh hành giả này, Hộ pháp của người đó đều là Atula, chúng ta liền biết ngay, không cần nói gì cả, cũng không cần thảo luận gì với người đó, chắc chắn họ tự coi mình là trung tâm, không thể chấp nhận người nào khác, ngôn luận của bất kì người nào cũng không có cách nào đi vào trong họ, họ cũng không thể thay đổi được hành vi của mình, loại người này đã đi vào bên trong thế giới của đạo Atula.

Bản thân Atula mà nói, đương nhiên họ cao hơn linh động vật, cao hơn linh của phi nhân, bởi vì bản thân họ mà nói, họ cũng biết hành thiện, họ cũng giữ năm giới, làm mười thiện, họ cũng tu pháp, chỉ là tâm lượng của họ không rộng mở mà thôi, bởi vì tâm lượng không rộng mở cho nên mới đi vào đạo Atula.

Hôm nay không chỉ là con người đi vào đạo Atula, không chỉ là hành giả đi vào đạo Atula, rất nhiều tôn giáo cũng có hành vi của Atula. Bạn xem các tôn giáo trên thế giới hiện tại bây giờ, tôn giáo nào không nói họ là tốt nhất, trừ tôi là chính ra thì các phái khác đều là tà. Trừ họ là chính giáo ra thì các giáo phái khác đều là tà. Tôi không dám nói là tôn giáo nào, dù sao trừ thần của tôi ra, các thần khác đều là ma quỷ. Tương tự thế, những người khác cũng thế, ngoài tôi ra, những người khác đều là ma quỷ, vậy rốt cục ai là ma quỷ đây?

Ở đây đại sư Hoằng Pháp chỉ là đang luận bàn về tâm, nếu bạn có cái tâm đố kỵ, tranh đấu và tự cao ngạo mạn, đó chính là Atula, người có tâm lượng nhỏ hẹp chính là Atula. Phật chân chính, tâm lượng rất quảng đại, có thể dung nạp tất cả tôn giáo, có thể dung nạp tất cả chúng sinh, toàn bộ đều có thể bao dung hết, vậy mới gọi là Phật. Giả sử dùng quan niệm hẹp hòi, nhỏ mọn mà nói thì rất nhiều tông phái đều nằm bên trong thế giới Atula, không hề thoát ra khỏi tâm của Atula. Cho nên sau này mọi người phải nhớ, nhất định phải bồi dưỡng tấm lòng rộng lượng.

Cái “ngã” này tuyệt đối không phải là cái “tiểu ngã” ngạo mạn, mà là cái “đại ngã” của không gian vũ trụ. Tuy rằng bạn làm đại sư, hoặc là thượng nhân, bạn phải có thể đặt mình xuống thấp, cũng không phải bảo bạn làm tiểu nhân, mà là làm tiểu sư, bạn cũng có thể làm tiểu sư, cũng có thể làm đại sư. Đại sư chân chính là người hợp với đạo là lớn, nếu bạn hợp với chân lý vũ trụ, bạn mới là lớn, những cái khác không thể xem là lớn. 

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

08/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 120. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm duy uẩn vô ngã (1)

Chúng ta lại nói về “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm thứ tư: tâm duy uẩn vô ngã.

Có thể nói loại tâm này đã dần dần tiến vào cửa Phật rồi, đã mở cánh cửa Phật rồi, tiến vào trong tâm này thì tương đối có mùi vị triết học và Phật học ở trong đó rồi.

Tâm Atula chưa có cái này, bản thân tâm Atula là tâm lượng nhỏ, đố kỵ, tranh đấu, cái này thuộc về tính cách của động vật thông thường. 

Tiến vào tâm duy uẩn vô ngã có thể nói là mở cánh cửa Phật, đây là loại tâm thứ tư. “Uẩn” là chỉ ngũ uẩn, là như trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của Quan Thế Âm Bồ Tát đã viết: “Quán tự tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Ngũ uẩn này chính là tâm duy uẩn vô ngã ở đây.

Ngũ uẩn là cái gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chính là ngũ uẩn. Mọi người đừng coi thường Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, đó là một chân ngôn khai ngộ, là pháp khai ngộ, là một bản kinh khai ngộ thật sự. Trước kia tôi nói: kinh Đại Bát Nhã rút gọn lại một chút là biến thành kinh Kim Cang, kinh Kim Cang lại rút gọn một chút chính là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, kinh Tâm thật ra là tâm chân ngôn, cũng có thể nói là chân ngôn khai ngộ.

Điều đầu tiên nói đến là năm uẩn đều không: sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là không. Tôi nói với mọi người về sắc, sắc được nói đến ở đây, mọi người nghe xong đừng cho rằng là sắc trong từ háo sắc, sắc nói đến ở đây là chỉ vật chất, tất cả vật chất có hình tướng đều gọi là sắc. Bởi vì có cái sắc đó nên mắt bạn có thể nhìn thấy được, cho nên mới gọi là sắc. Vật chất hữu hình đều gọi là sắc.

Sắc là cái gì? Chính là giống như bong bóng, thật ra thế giới vật chất đều sẽ hư hoại. Bạn nói xây một ngôi nhà rất kiên cố. Tôi từng đi xem một ngôi nhà rất kiên cố, rất đẹp đẽ, khi người ta giới thiệu ngôi nhà đó nói, vật liệu xây dựng ngôi nhà này có thể trụ được hai trăm năm. Chà! Thật vững chắc, có thể trụ được hai trăm năm. Người mua nhà nghe xong, chà! Hai trăm năm là rất dài, nhưng sau hai trăm năm thì sao? Vẫn sẽ hư hoại.

Giữa trời đất này, những thứ vật chất đều sẽ hư hoại, cho nên gọi là bong bóng, là những bọt xà phòng tụ lại mà thôi. Chỉ cần là những thứ có hình tượng, những thứ vật chất, có thứ nào sẽ không hư hoại chứ? Đều sẽ hư hoại cả.

Chúng ta biết rằng đậu phụ là dễ hỏng nhất, đậu phụ không bỏ vào trong tủ lạnh để giữ lạnh mà để ở ngoài, một lát sau sẽ hỏng, hỏng rất nhanh. Con người chúng ta cũng có hình tượng, cũng sẽ hư hoại. Tất cả động vật đều có tuổi thọ, đều sẽ hoại diệt, vật sống đều sẽ hoại diệt, vật không sống đều sẽ hoại diệt, như nhau. Cây cũng thế, sẽ có một ngày nó già, sẽ chết. Những thứ có sinh mệnh đều sẽ hoại diệt, kể cả những thứ không có sinh mệnh cũng sẽ hoại diệt, ngay cả đá cũng sẽ bị gió bào mòn, cũng hoại diệt. Sắc là chỉ sự dài ngắn của thọ mệnh, giống như bong bóng, sẽ hoại diệt bất kì lúc nào.

Lại nói về giác thọ, cảm giác chính là giác thọ, tôi hỏi bạn: “Hôm nay *are you happy*?” <span className="note-blue">[Bạn có vui không?]</span> Bạn nói: “*Happy!*” Tốt. Bạn *happy*, thế *happy* ra sao? Vui như thế nào? Bạn nói với tôi xem bạn vui như thế nào? Không nói được! Đó chính là một loại cảm giác: về mặt cảm giác thì tôi thấy rất tốt, nhưng anh bảo tôi nói ra, tôi không nói được, đây chính là một loại cảm nhận. Cảm nhận cũng giống như bong bóng, giống như bóng nước ở trên mặt nước, nổi lên trên bề mặt, chính là cảm nhận.

Đôi khi người ta nói: “Ui chao! Tôi thật sự vui quá!” “Tốt rồi! Anh vui thế nào?” Không nói ra được, bạn thật sự không nói ra được, không phải là bạn nói dối, mà bởi vì cái thứ “vui vẻ” này không thể lấy ra được như một thứ trên thực tế, chỉ là một loại cảm giác được biểu hiện ra bề ngoài, đây chính là “thọ”. 

Tiếp theo là “tưởng” đầy mùi vị triết học, tưởng trong ngũ uẩn chính là ý nghĩ của bạn, ý nghĩ của con người giống như con ngựa hoang nhảy tưng tưng. Bạn đọc kinh, bạn nói tôi đọc kinh Kim Cang, đọc từ đầu đến cuối. Phật Bồ Tát kiểm tra bạn, bạn chỉ đọc được một phần ba, bởi vì hai phần ba khi bạn đọc, ý nghĩ của bạn không đặt vào trong kinh Kim Cang.

Tôi tuyệt đối không lừa bạn đâu. Bạn đọc một bộ kinh Kim Cang, nói rằng ý nghĩ của bạn liên tục đặt vào trong việc niệm kinh Kim Cang, đây là chuyện không thể nào, bởi vì sẽ rất nhanh chóng có ý nghĩ khác xen vào, rất nhanh chóng chiếm chỗ ý nghĩ đang đọc kinh Kim Cang của bạn. Ý nghĩ giống như con ngựa hoang, trong nháy mắt sinh ra, trong nháy mắt biến mất. Đọc một bộ kinh điển ngắn ngủn bạn đã không thể đọc nổi rồi, cái uẩn thứ ba trong số năm uẩn, đó là ý nghĩ một chốc sinh ra, một chốc lại mất đi. 

Tiếp theo nói về hành vi, hành vi giống cái gì? Giống quả chuối hột. Trong kinh Phật nói, hành vi giống quả chuối hột, chuối hột là cái gì? Ở giữa quả chuối hột là rỗng. Thấy cảnh là khởi lên hành vi tham sân si, tất cả đều là những hành vi rỗng.

Cuối cùng trong số năm uẩn là nói đến thức, thức trong từ ý thức. Thức trong từ ý thức là cái gì? Là huyễn. Ý thức sâu nhất nằm ở đâu? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na thức, a-lại-da thức (chú thích: mạt-na có nghĩa là ngã chấp, chấp vào cái tôi; còn a-lại-da tức là cái mà mạt-na chấp vào cho rằng là tôi, ý nghĩa của nó là tạng, có thể ẩn giấu tất cả pháp), còn có am-ma-la thức (chú thích: am-ma-la thức còn gọi là thức thanh tịnh, thức vô cấu, thức chân như, Kinh Kim Cang Tam Muội nói: “Chư Phật Như Lai thường lấy một giác mà chuyển thành các thức, nhập vào am-ma-la thức. Bạn có thể lấy ra được ý thức sâu nhất không? Đó chỉ là một dạng huyễn, biến huyễn rất nhanh chóng, là không, chỉ là một dạng huyễn cảnh.

Chúng ta nói về ngũ uẩn, nói tới đây thôi. Om mani padme hum.

09/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 121. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm duy uẩn vô ngã (2)

Chúng ta lại nói về tâm duy uẩn vô ngã. Đây là loại tâm thứ tư trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp. Loại tâm thứ tư này đã có mùi vị Phật pháp ở trong đó rồi.

Bạn tu hành nhìn từ ngũ uẩn, bạn sẽ phát hiện ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hiện tượng sinh khởi và tịch diệt của chúng là cực kì rõ ràng hiển nhiên. Từ đây bạn sẽ hiểu được làm sao để vận dụng, làm sao để thích ứng, làm sao để từ ngũ uẩn này mà tu, từ trong ngũ uẩn này mà lĩnh hội tính Không.

Chúng ta tu trì đại thành tựu cầu vồng cũng có thể dùng các phương pháp để tu. 

Ở đây nói đến vô ngã, đây là một lập luận của bản thân Phật, là một trong ba pháp ấn. Bây giờ nói về vô ngã, lấy một người làm đại diện, người này là “tôi”. Ok! Được rồi! “Tôi” ở đâu? Bạn phải nghĩ cái “tôi” này ở đâu? “Tôi” đương nhiên là ở đây rồi, nhưng “tôi” có phải là ở đầu không? Không phải ở đầu. Bởi vì còn có sự tồn tại của cái thân. ”Tôi” ở trong thân sao? Cũng không đúng. Ở tay à? Ở chân à? Phân tách đầu, tay, chân, thân thể của bạn ra, hỏi bạn, “tôi” ở đâu? Rốt cục ở đầu, ở thân, ở chân, hay ở tay? So sánh như vậy mọi người đều có thể biết được rằng bản thân cái “tôi” này mà nói, căn bản chính là một dạng không huyễn, khi bạn phân tách đầu, tay, thân, chân ra, rốt cục “tôi” ở đâu? Không có.

Trước kia Thiền tông nói, một con giun, chặt ra, biến nó thành hai nửa, nửa bên này cũng ngọ nguậy, nửa bên này cũng ngọ nguậy, sư phụ liền hỏi: “Sinh mạng của con giun này ở đâu? Ở bên nào?” Đây chính là một triết học rất vi diệu, để bạn suy nghĩ sinh mệnh ở đâu.

Vốn dĩ sau khi phân tách cái “tôi” này ra thì cái gì cũng không có, bản thân cái “tôi” này không còn nữa, đây chính là “vô ngã” mà Phật Đà đã đưa ra, đây chính là pháp ấn thứ nhất. Mà nếu đã vô ngã rồi thì ngay cả bạn cũng không có, không có người ta, sau đó phát triển đến cuối cùng thì không có chúng sinh, chúng sinh làm gì có chứ? Đều là một hiện tượng sinh diệt mà thôi. Khi bạn đến được bước này rồi thì hoàn toàn giải thoát khỏi phiền não, đây chính là tâm duy uẩn vô ngã. Tiến vào bên trong tâm này, phiền não giải thoát, bạn chính là đang trụ tâm vào tâm duy uẩn vô ngã.

Vì sao phiền não của bạn có thể giải thoát? Bởi vì phiền não của chúng sinh đều là do cái “tôi” sinh ra, do cái “tôi” so sánh với người khác thì sẽ sản sinh ra phiền não, do cái “tôi” đi tranh đấu, đi đố kỵ, do cái “tôi” mà sản sinh ra đủ loại tâm, như vậy sẽ sinh ra đủ loại phiền não. Bạn không có cái “tôi” này, thế thì tất cả tâm đều không có, lấy đâu ra phiền não? Vì thế lúc này sẽ sinh ra tâm quảng đại vô lượng, lúc này bạn có thể buông bỏ, có thể bố thí. 

Chúng ta muốn bố thí, muốn buông bỏ, trước tiên đều phải mở cái “tôi” ra, nghĩ cái này là của tôi thì sẽ sinh ra phiền não. Hôm nay giả sử nói cái này không phải của tôi, là của chúng sinh, thế thì không có phiền não. Bạn còn có “của tôi” thì chắc chắn còn có phiền não, bởi vì bạn cứ giữ chặt lấy cái “tôi” này. Giả sử bạn vì chúng sinh, không vì cái tôi này, vậy phiền não ở đâu? Bởi vậy muốn loại trừ phiền não thì phải loại trừ ngã chấp, nhất định phải loại bỏ chấp vào cái tôi, thế thì phiền não tuyệt đối không còn nữa. Vì thế có thể tiến vào cái tâm thứ tư này, tôi cảm thấy đã là rất vĩ đại rồi. Ngày nay muốn làm được điều này đã là rất khó rồi.

Bạn có tình yêu, vì cái tình yêu này thì đã có phiền não rồi, bạn có thể buông bỏ cái tình yêu này thì căn bản sẽ không có phiền não, không có sự tồn tại của ngã chấp thì làm gì còn phiền não gì!

Vì thế, tông phái Chân Phật Tông rất lớn, phân đường rất nhiều, Lôi Tạng Tự rất nhiều, phân đường này có vấn đề, ngôi chùa này có vấn đề, bất kể là vấn đề gì thì đều là vấn đề của “ngã chấp”, bạn vì chúng sinh thì bạn tuyệt đối sẽ không có cái phiền não này, bạn vì chính mình thì chắc chắn sẽ có phiền não.

Sau khi tiến vào cái tâm này, bạn sẽ biến thành một cái tâm quảng đại, hoàn toàn tương phản với cái tâm của Atula. Mỗi một người đều cần loại bỏ ngã chấp.

Bạn đừng cho rằng Sư Tôn vĩnh viễn trông như thế này, khi tôi già đi có khả năng vừa xấu vừa khó coi. Bạn đừng cho rằng chồng bạn mãi mãi trẻ trung như vậy, cũng đừng cho rằng vợ bạn mãi mãi xinh đẹp trẻ trung như vậy, trải qua một cơn bệnh, tất cả đều biến thành bong bóng, giống như bong bóng xà phòng nổi lên, chỉ là thứ bề ngoài mà thôi.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thật ra đều là không huyễn, đều là bóng ảnh, cái “tôi” này cũng là một bóng ảnh. Rất nhiều người muốn lấy ảnh của Sư Tôn, đều bảo là lúc này trông tuyệt nhất. Tôi nói: “Làm gì có chuyện lúc này là tuyệt nhất? Khi tôi còn trẻ mới phong độ nhất đó!” Đúng thế không?

Khi tôi còn trẻ hai mươi mấy ba mươi tuổi, chính là lúc trông đẹp trai nhất, khi ấy trông hơi ngốc một chút. Khi còn trẻ tôi chụp một bức ảnh rất đẹp trai, giống như minh tinh điện ảnh vậy, tiếc là bức ảnh đó mất rồi, bức ảnh không còn nữa, tấm phim cũng không còn nữa, bởi vì bức ảnh đó có người ở bên cạnh, cho nên bức ảnh đó không còn nữa. Tôi cho rằng bức ảnh đó là đẹp nhất. Các bạn chụp ảnh Sư Tôn, sao không lấy bức ảnh lúc tôi còn trẻ đó, hoặc là bức ảnh khi tôi mới ra đời không mặc quần đó? Bức ảnh đó cũng không tệ đâu! Trông mũm mĩm.

Con người sẽ biến đổi, càng già chắc chắn là càng xấu. Tôi hy vọng càng già càng từ bi, nhìn trông hiền từ là được, khi già không thể nói là đẹp trai ngời ngời được, không thể nói như vậy, nhất định phải là hiền từ.

Bởi vậy thân thể của con người giống như bong bóng, đều là bề ngoài. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cũng toàn là bề ngoài, là hư huyễn, cái “tôi” này của bạn cũng sẽ biến đổi, đến khi phân tách ra thì đều là vô ngã, không có tôi, không có anh, không có người khác, không có chúng sinh, phiền não tự nhiên sẽ giải thoát.

Hành giả chúng ta tu từ ngũ uẩn, tiến vào tâm duy uẩn vô ngã, đây là một cái tâm rất quảng đại vô lượng, lúc này có thể rộng rãi làm việc bố thí, có thể xả bỏ tất cả. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

09/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 122. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp (1)

Hôm nay chúng ta giảng tâm thứ năm trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp.

Trước kia có người nói “nhân chi sơ, tính bản thiện”, con người khi mới sinh ra là tính thiện. Cũng có người nói “nhân chi sơ, tính bản ác”, khi con người sinh ra, bản tính của họ là ác. Thế là có người đến hỏi Sư Tôn: “Rốt cuộc người nào nói đúng?” Câu trả lời của tôi là như thế này: “Nhân chi sơ, sau đó là một dấu chấm hỏi.” Nói cách khác là, căn bản không có câu trả lời. Vì sao? Bởi vì mỗi người đều khác nhau, không thể dùng một kiểu chung để nói được.

Đạo lý này rất đơn giản. Khi bạn sinh ra, ngũ quan của bạn trông như thế nào, có phải là mỗi người đều giống nhau không? Trên thực tế là mỗi người đều khác nhau. Khi sinh ra, bạn sẽ nặng mấy cân, nặng bao nhiêu, mỗi người đều khác nhau.

Dựa theo đạo lý này mà suy ra, có nghĩa là khi sinh ra, bạn thuộc về bản tính thiện hay là bản tính ác thì cũng là mỗi người đều khác nhau. Con người tuy là nói tổng quát về một người, trên thực tế, người người đều khác nhau. Tương tự, bề ngoài khác nhau, bản thân nội tại cũng khác nhau. Nội tại là con người này sinh ra khá thông minh hay là khá ngu độn, xinh đẹp hay là xấu xí, cá tính đều khác nhau, không có người nào giống nhau. 

Bởi vậy không thể nói “nhân chi sơ tính bản thiện”, cũng không thể nói “nhân chi sơ tính bản ác”, thiện ác hoàn toàn dựa vào nghiệp duyên mà ra. Tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp mà đại sư Hoằng Pháp nói chính là dựa theo điều mà tôi vừa mới nói.

Dựa theo nhân nghiệp của chính bạn, sau đó tạo thành quả của đời này, ở đây nói về nhân quả, nói về nhân duyên. Nói cách khác là nhân kiếp trước của bạn chính là quả của kiếp này, quả của kiếp này lại là nhân của kiếp sau, nhân quả ba đời như vậy. Đây chính là bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề đã thiền định, suy ngẫm về mười hai nhân duyên, từ mười hai nhân duyên này mà đạt đến ngộ cảnh gọi là “duyên giác”. Trước đây gọi đó là cảnh giới của Bích Chi Phật, chính là nhờ thiền định về mười hai nhân duyên mà đạt đến khai ngộ Duyên Giác. 

Ở dưới cây bồ đề, Phật Thích Ca Mâu Ni liên tục nghĩ về đạo lý của nhân duyên, cho nên khi con người sinh ra, nghiệp chướng mà bạn mang theo bao nhiêu, phúc báo mang theo bao nhiêu, trí huệ mang theo bao nhiêu, có thể nói là từ kiếp trước mà có, Phật giáo mới có thể giải thích rõ ràng, người bình thường không có cách nào hiểu được. Người bình thường cho rằng lúc ban đầu mọi người đều có xuất phát điểm bình đẳng, nhưng bạn không biết rằng trong con mắt của Phật, đây căn bản chính là do nghiệp chướng mà chuyển kiếp.

Bởi vậy thấy là, có người là ma quỷ đến chuyển thế, có người là thiên ma chuyển thế, có người là Atula chuyển thế. Người đó mang theo nghiệp chướng kiếp trước đến. Phải hiểu đạo lý này, muốn nhổ bỏ nghiệp này, nhổ bỏ nhân này, nhổ bỏ hạt giống này, loại tâm này gọi là trụ tâm trong cái tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp. 

Cái này là đã tiến vào tương đối cao sâu rồi, nói đến kiếp trước, hiện tại, vị lai, đã có ba đời, đã luận bàn về thời gian rồi. Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề nghĩ đến vô minh, chúng ta nói đến vô thủy vô minh, cái gọi là vô thủy vô minh chính là tổng hợp của tất cả nghiệp chướng kiếp trước, khiến bạn về cơ bản không cách nào hiểu được đủ loại nghiệp chướng rất sâu.

Tiếp theo, cái thứ hai chính là hành, hành là cái gì? Dựa theo nghiệp thiện ác của quá khứ, tương lai con đường mà bạn đi ra sao đều do bạn tự trải. Nghiệp thiện ác của quá khứ tạo thành hành động của bản thân bạn. 

Cái thứ ba là thức, cũng chính là chủng tử của đủ loại sự việc mà bạn làm trong đời quá khứ, các hạt giống của bạn, bản thân bạn mang hạt giống gì. Cho nên đôi khi Sư Tôn nhìn thấy người này phúc báo rất lớn, phúc báo mà họ hiện ra rất lớn, người này trí huệ rất cao, họ hiện ra trí huệ rất cao. Đôi khi nhìn một đứa trẻ, ôi là nghiệp chướng đến, thảm rồi. Chính là những nhân quả này, đây chính là thức (hạt giống), trên người bạn vốn dĩ đã có những hạt giống này rồi.

Sắc chính là hình tượng, bạn dựa theo hạt giống của đời quá khứ mà biến thành hình tượng của bạn, bạn nói xem, có người nào khuôn mặt giống nhau? Bây giờ người nào có khuôn mặt giống nhau? Khuôn mặt mỗi người đều khác nhau. Cùng là con người, cùng có ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), đều có lông mày, đôi mắt, cái mũi, miệng, tai, do những thứ này tổ hợp lại mà thành, chỉ có mấy thứ này thôi. Thế mà trên đời này làm gì có người nào giống nhau hoàn toàn. Bạn thấy con người đều khác nhau, đây là cái gì? Chính là sắc, cũng tức là hình tượng. Sắc là do cái gì tạo thành? Là do đời quá khứ tạo thành.

Tiếp theo là lục xúc, tức là lục căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi mới sinh ra, bạn chưa hiểu mọi thứ là thế nào, chỉ có thể dùng cách sờ để cảm nhận, đây chính là xúc. Bởi vậy Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng lúc hai tuổi, ba tuổi là dùng tay để sờ, để cảm nhận.

Thọ, lúc 6 đến 7 tuổi thì đã có cảm nhận rồi, đây là điều Phật Đà nói, không phải tôi nói. Điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã thiền định là: khi còn nhỏ thì dùng cách tiếp xúc để cảm nhận, được mẹ ôm ấp trong lòng thì cảm giác rất ấm áp, người khác mà ôm thì lại không được, bởi vì cảm nhận về sự tiếp xúc đó khác nhau. Khi bạn 6, 7 tuổi thì bạn có cảm giác về sự cảm nhận.

Ở Ấn Độ, 14 đến 15 tuổi là đã bắt đầu có cảm giác yêu, bởi vì người Ấn Độ trưởng thành sớm, có những cô gái 14 tuổi đã gả cho người ta rồi, đã kết hôn rồi. Đây là nói đến ở Ấn Độ, bởi vì Phật Đà sống ở Ấn Độ mà! Cho nên ngài cũng có cảm giác thấy, 14 tuổi, 15 tuổi là đã có dục vọng rồi. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

10/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 123. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp (2)

Chúng ta lại nói về tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp, đây là loại tâm thứ năm trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp.

Chúng ta lại nói đến “thủ” trong số mười hai nhân duyên, thủ này tức là sau khi con người thành niên, lớn lên rồi, 14 tuổi, 15 tuổi thì đã có dục vọng. Sau đó lớn lên thêm chút nữa thì bắt đầu có cái tâm ham muốn đối với danh phận, địa vị, tiền bạc, gia đình. Hy vọng có danh, hy vọng có lợi, hy vọng có gia đình tốt, hy vọng có được cái gì đó, đây chính là “thủ”. 

Sau khi sinh ra cái tâm “thủ” này thì tiếp theo là “hữu”. Hữu là cái gì? Hữu là vì bạn đã sinh ra cái tâm “thủ” này rồi, đã có hành vi muốn có được đó rồi, cho nên mới có cái “hữu” này xuất hiện. 

Khi bạn đi giành lấy những thứ này, các loại tâm mà bạn dùng có phải là thuộc về những cái tâm tham, sân, si để mà giành được không? Bạn lại có được cái gì? Là lại có được nghiệp chướng, lại tạo nghiệp.

Cái “hữu” này đại diện rằng bạn lại tạo nghiệp rồi, sau đó sẽ như thế nào đây? Sẽ lại “thọ sinh”, tiếp theo lại là một sự sinh ra, sau khi bạn có cái nghiệp chướng này rồi, tập hợp lại thì lại thọ sinh, lại sinh ra, nghiệp chướng này đã lại hiện ra rồi.

Cái cuối cùng trong mười hai nhân duyên là “lão tử”, lão tử tức là già rồi, là chết rồi, rồi lại biến thành kiếp sau, khi đến kiếp sau thì lại phải già, phải chết, mười hai nhân duyên chính là cứ liên tục luân hồi như thế. 

Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cây bồ đề thiền định chính là nghĩ về kiếp trước, kiếp này, rồi già và chết, rồi lại sinh ra.

Chính vì bạn muốn yêu, muốn giành được, bạn lại sinh ra rất nhiều nghiệp chướng. Nghiệp chướng lại một lần nữa đi vào thức thứ hai, lại có sinh ra lại có già chết. Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây bồ đề cứ liên tục suy tưởng như vậy, nghĩ làm sao để giải thoát mười hai nhân duyên này đây? Những nhân duyên này phải làm sao đây? Vô thủy vô minh phải làm sao đây? Thế rồi Phật Đà liền nghĩ ra bốn chữ, cũng chính là bốn chân đế, tứ Thánh đế cũng là do ngài nghĩ ra, đó tức là khổ-tập-diệt-đạo, bốn Thánh đế.

Trên nguyên tắc mà nói, mười hai nhân duyên đều là khổ. Bạn xem thế giới hữu hình, đủ loại phiền não của chúng sinh đều là khổ, cho nên ngài cho rằng chúng sinh đều là khổ, tất cả hành vi đều là không, tất cả hiện tượng đều là vô thường, rồi biến thành khổ, không, vô thường.

Bởi vì bạn tập hợp lại nguyên nhân của khổ, nghiệp của khổ, tập hợp mọi khổ, những nghiệp này tập hợp lại tạo thành mọi khổ, vậy phải làm thế nào? Phải nghĩ cách để “diệt”. Diệt cái gì? Chính là diệt mọi nghiệp, khiến cho những nhân nghiệp không còn nữa, đi trên con đường giải thoát. Dùng phương pháp giải thoát phiền não chân chính chính là “đạo”, để mà diệt hết các loại nghiệp. Đây chính là hàm nghĩa quan trọng của bốn chữ khổ-tập-diệt-đạo này. Có thể nói, bốn chữ này đều là chân lý.

Khổ chính là chân lý, bởi vì chúng sinh đều là khổ.  
Tập, vì sao có khổ? Chính là tập hợp các nghiệp lại mới có khổ, cho nên tập cũng là một chân lý.  
Diệt, bạn phải diệt toàn bộ mọi nghiệp thì bạn mới có thể đạt đến đạo của sự giải thoát.  
Cái này cũng là chân lý, cái này chính là điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói, đạo lý của khổ-tập-diệt-đạo chính là ở đây.

Trong quá trình bạn tu hành, bạn có thể hiểu được cách nhổ bỏ hạt giống nghiệp, nhổ bỏ nghiệp chướng, nhổ bỏ nhân, nhổ bỏ cái hạt giống này, cái thức này, trụ tâm ở đây thì gọi là tâm nhổ bỏ hạt giống nghiệp. Như vậy mọi người đại khái có thể hiểu được trụ tâm thứ năm, chính là phải loại trừ sạch sẽ tất cả nhân, thức và nghiệp. 

Giống như Mật giáo chúng ta tu thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, có thể nói là đang nhổ bỏ nghiệp, nhổ bỏ nhân, nhổ bỏ thức, tiêu trừ hết các hạt giống của nghiệp chướng. Chúng ta mỗi ngày tu một đàn pháp là làm cái gì? Không phải là cứ ngồi không ở đó, làm công khóa xong là xong, không phải đâu! Là bạn đang nhổ bỏ nghiệp chướng của bạn, đang tiêu trừ hết nghiệp chướng của bạn đó.

Chúng ta làm Hộ Ma để đốt tâm phiền não, chính là phải tiêu trừ hết phiền não. Khi bạn thật sự đến được cảnh giới rất cao, nghiệp chướng của bạn càng nhẹ, quả phẩm của bạn, phẩm vị của bạn sẽ càng cao. Nghiệp chướng tiêu trừ thì bạn sẽ càng lên tầng cao, tâm linh sẽ thăng hoa, bay lên trên cao. Nghiệp của bạn càng nặng thì bạn sẽ rơi vào tam ác đạo, đến đạo súc sinh, đạo ác quỷ, đạo địa ngục. Càng không có nghiệp, nghiệp hoàn toàn thanh tịnh rồi thì tức là thành tựu rồi.

Bởi vậy hôm nay chúng ta tu hành, chủ yếu nhất chính là tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu trừ phiền não, tiêu trừ chủng tử thức, bởi vì bạn vô thủy vô minh để lại rất nhiều chủng tử thức, bạn đừng cho rằng không có, vừa sinh ra là đã có rồi, ở ngay trên người bạn đó. Trên thực tế mỗi người đều khác nhau, có một số người khi vừa sinh ra nghiệp chướng đã hiển hiện ngay trên thân họ rồi. Cho nên điếc, tàn tật, câm, có người sinh ra tai đã không nghe được, có người sinh ra mắt đã không nhìn thấy được, đã bị tàn tật rồi. Vì thế sinh ra cũng không thể xem là bình đẳng.

Bởi vì dựa theo Phật giáo mà nói, đó chính là nhân của kiếp trước, quả của kiếp này lại là nhân của kiếp sau, lại là quả của kiếp sau, cứ như vậy mà nhân quả ba đời luân hồi.

Phật Đà ở dưới cây bồ đề sau khi ngộ được những chân lý này, ngài liền mở thiên nhãn, nhìn thấy những ngôi sao trên trời, thật ra những ngôi sao mà ngài nhìn thấy chính là thể ánh sáng, lúc này ngài đã giác ngộ rồi.

Cho nên chúng ta cũng có thể tu từ mười hai nhân duyên. Om mani padme hum.

10/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 124. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm tha duyên Đại thừa (1)

Hôm nay chúng ta nói về cái tâm thứ sáu - tâm tha duyên Đại thừa trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp.

Tâm tha duyên Đại thừa, thật ra hai chữ “tha duyên” này có thể nói là “vô duyên”. Vô duyên theo cách giải thích thông thường khác với cách giải thích trong kinh Phật. Ở trong kinh Phật thì giải thích vô duyên tức là những chúng sinh không có quan hệ gì với bạn.

Trong kinh Phật có một câu là “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”. Ý nghĩa của “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” là nói rằng, tuy những chúng sinh này không có quan hệ gì với bạn, nhưng bạn vẫn từ bi những chúng sinh này, đây gọi là vô duyên đại từ. Cảnh giới này đã là một cảnh giới rất cao rồi, vì thế gọi là tâm Đại thừa. Lập tâm ở đây đã là phát tâm bồ đề rồi.

Những tâm đã nói ở trước là thuộc về tâm Tiểu thừa, còn tâm nói đến bây giờ là tiến vào Đại thừa rồi.

Trong Phật giáo phân thành Tiểu thừa, Đại thừa, còn có Kim cương thừa. Mọi người biết rằng trước đây tôi từng nói về Tiểu thừa, ý nghĩa của chữ “thừa” chính là cỗ xe, cho nên ở đây là cỗ xe nhỏ, cỗ xe lớn, cỗ xe kim cương. Ý nghĩa của cỗ xe nhỏ là nói rằng người mà bản thân họ độ được là tương đối ít. Người mà Đại thừa độ là tương đối nhiều, còn người mà Kim cương thừa độ được thì tương đối nhanh chóng thành Phật rồi, vì thế mà gọi là Kim cương thừa. Ba thừa nói đến trong Phật giáo là như vậy.

Đại bộ phận Tiểu thừa đều là chỉ lo thân mình, tự mình tu cho mình. Đại thừa không những tu cho mình mà còn độ rất nhiều người tu.

Tâm tha duyên Đại thừa nói đến ở đây chính là phát bồ đề tâm, muốn đi độ chúng sinh rộng lớn. Lập tâm tại đây thì tâm địa đã rất quảng đại vô lượng rồi.

Thật ra tăng nhân Tiểu thừa trong Phật giáo tuy là chú trọng tự mình tu hành, nhưng họ vẫn có tâm độ chúng sinh, không phải là hoàn toàn không có, chỉ là họ thiên về tự độ và độ người khác thì tương đối ít. Trên thực tế cũng có, có một số người là như vậy, trước tiên tự độ có thể thoát sinh tử, sau đó lại độ người khác.

Trước kia Phật giáo trong thời đại của Phật Đà, đại bộ phận chú trọng vào Thanh Văn thừa, tức là Tiểu thừa. Các quốc gia Đông Nam Á hiện nay cũng thịnh hành Tiểu thừa, ví dụ Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Cambodia, Lào, những quốc gia này đại bộ phận đều là Tiểu thừa, tăng nhân tương đối nhiều, còn Đại thừa thì tương đối ít.

Trước đây vào thời đại Phật Đà có Tân Đầu Lư Phả La Đọa (Pindolabharadvaja) rất nổi tiếng, ngài ấy cũng là Thanh Văn, nhưng cũng phát tâm bồ đề quảng đại muốn độ chúng sinh. Đại thừa độ chúng sinh có thể nói là lấy Tiểu thừa làm cơ sở, sau đó phát bồ đề tâm quảng độ chúng sinh, cho nên chúng ta học Phật không phải là chỉ chú trọng vào Đại thừa, bản thân chúng ta cũng phải tự độ, tự mình không tu hành thì bạn làm sao mà đi độ hóa người khác được chứ? Cho nên Tiểu thừa là một cơ sở, sau đó phát bồ đề tâm đi quảng độ chúng sinh.

Chúng ta đối với Tiểu thừa, Đại thừa, Kim cương thừa không khởi tâm phân biệt. Tâm tha duyên Đại thừa có thể nói là phát tâm bồ đề, loại tâm này, về phương diện triệu thỉnh Phật Bồ Tát mà nói, Phật Bồ Tát của tứ Thánh giới đều sẽ hạ giáng, bởi vì loại tâm này là bình đẳng nhất, có thể nói bạn và tôi là những người không có duyên, nhưng tôi vẫn từ bi bạn, chính là không có tâm phân biệt, phát loại tâm bồ đề này là quảng đại vô biên, là vĩ đại nhất. Giống như Địa Tạng Bồ Tát, “địa ngục chưa trống thề không thành Phật”, ngài lập tâm ở trong địa ngục, đây chính là tâm tha duyên Đại thừa. 

Địa Tạng Bồ Tát và chúng sinh địa ngục có quan hệ thân thích gì không? Không có! Phần lớn chúng ta, tâm cứu người của mỗi người đều là cứu người thân của mình trước, cha mẹ, vợ con là cứu trước, sau đó là cứu người thân, sau đó mới là cứu hàng xóm, sau đó nữa mới là cứu ông chủ của mình, sau đó là cứu đất nước của mình. Ở trong tâm tha duyên Đại thừa thì không như thế, nhất luật bình đẳng, gặp ai trước thì cứu người đó trước. Địa Tạng Bồ Tát phát tâm chính là tâm tha duyên Đại thừa này, chúng sinh trong địa ngục và Địa Tạng Bồ Tát chẳng hề có một chút quan hệ nào, một số về cơ bản là chẳng hề có liên quan gì, nhưng ngài đều muốn độ hóa họ thành Phật hết, sau đó chính mình mới thành Phật.

Giống như bản thân tôi phát nguyện cũng là tâm tha duyên Đại thừa, “không bỏ rơi một chúng sinh nào” chính là tâm tha duyên Đại thừa, tôi đã lập tâm tại đây. Thật ra chúng sinh này và bạn có quan hệ gì, họ cũng chẳng phải là chú của bạn, chẳng phải là bác của bạn, cũng chẳng phải là mẹ nuôi của bạn, cũng chẳng phải là bố nuôi của bạn, chẳng là gì cả. Không bỏ rơi một chúng sinh nào tức là đối với người phỉ báng bạn, người rất căm thù bạn, người ghét bạn đến tận xương tủy, thì vẫn đều cần độ hóa họ.

Lập tâm tại đây chính là vĩ đại nhất. Đối với chúng sinh không ghét, chỉ có từ bi, không thể sinh ra một chút gì ý không ưa, chỉ có tâm từ bi bộc lộ ra. Người hoàn toàn không có duyên gì với bạn, bạn cũng vẫn từ bi họ, cũng đi độ hóa họ. Thậm chí họ phỉ báng bạn, căm thù bạn, muốn làm hại bạn, chúng ta đều cần từ bi họ, đây mới là không bỏ rơi một chúng sinh nào. Lập tâm như thế này thì gọi là tâm tha duyên Đại thừa.

Om mani padme hum.

Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 125. Thập Trụ Tâm Luận - Tâm tha duyên Đại thừa (2)

Trước kia tôi từng nói về một câu nói của Mạnh Tử: “Lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu.” Ý nghĩa của câu nói này tức là trước tiên chăm sóc tốt cho người thân của mình, sau đó mở rộng ra chăm sóc người thân của người khác, trước tiên chăm sóc tốt cho con cái của mình, sau đó mở rộng ra chăm sóc con cái của người khác. Nhưng cái này không phải là tâm tha duyên Đại thừa, đây có thể nói là tâm “hữu duyên Đại thừa”, trước tiên chăm sóc tốt người có duyên với ta, sau đó là giúp đỡ những người không có duyên.

Tôi nói về tâm tha duyên Đại thừa là: “Tôn kính người thân của ta, không phân biệt người thân của ta, không phân biệt người thân của người khác. Nuôi dưỡng con trẻ, không phân biệt con trẻ của ta, không phân biệt con trẻ của người khác.” Cái tâm không phân biệt này mới là tâm tha duyên Đại thừa, sự khác biệt nằm ở đây, khác với “hữu duyên Đại thừa”, không giống nhau.

Ví dụ rất đơn giản, trẻ A đánh trẻ B, trẻ B chắc chắn sẽ tức giận. Nhưng cha mẹ của trẻ C nói chẳng có liên quan gì tới tôi, bởi vì người ta không hề đánh con của mình, đây chính là một vấn đề giữa duyên và duyên. Giả sử trẻ A đánh trẻ C, thế thì cha mẹ của C chắc chắn sẽ đứng ra, cái duyên là như vậy. 

Nhưng trong tâm Đại thừa của Phật giáo thì không phân biệt như vậy, đều yêu thương như nhau, trẻ A đánh trẻ B, cha mẹ của C vẫn đứng ra, vẫn phải giảng giải cho trẻ A, vì sao? Bởi vì thật sự là trẻ đó đã sai rồi, cái tâm này là không phân biệt.

Thông thường mà nói, ai đánh con ta, ta nhất định sẽ tức giận. Nhưng không phải vậy, ở đây dùng lý lẽ để phân tích, sau khi phân tích xong còn phải thấy là trẻ A làm như vậy là tốt. Trẻ A đánh con mình mà vẫn cảm thấy như vậy là tốt. Cha mẹ bình thường không như vậy. Vì thế, mọi người hãy suy nghĩ một chút, cái gọi là tâm tha duyên Đại thừa làm sao để tu được? Tôi thường nói bạn muốn tu tâm quảng đại vô lượng, bạn hãy đi ngắm sông núi nhiều hơn. Con người đứng trước ngọn núi sẽ cảm giác thấy ngọn núi vô cùng rộng lớn, có thể bồi dưỡng tâm linh của bạn trở nên rộng mở. Hãy ngắm biển nhiều hơn, con người ở trước biển sẽ cảm thấy con người vô cùng nhỏ bé, biển thì vô cùng rộng lớn, đây cũng có thể bồi dưỡng tâm linh bạn trở nên phóng khoáng.

Bạn có thể nghĩ thử: “Chúng sinh vô lượng, tính cho đến hôm nay có bao nhiêu chúng sinh? Vô số vô lượng, quảng đại vô lượng chúng sinh, chúng ta tính toán cái gì chứ?” “Không cần đi so đo!” Trung Quốc có văn hóa năm nghìn năm, có người nào có được cái gì, có người nào mất đi cái gì? “Vạn lý trường thành nay còn đó, Tần Thủy Hoàng xưa có thấy chăng?” Tần Thủy Hoàng có được cái gì? Mất đi cái gì? Các thời đại vương triều có được cái gì? Và cũng mất đi cái gì chứ?

Chúng ta có thể lấy ví dụ về con người thời cận đại. Bạn nói xem Mao Trạch Đông có được cái gì? Ông ấy mất đi cái gì? Tưởng Giới Thạch có được cái gì? Ông ấy mất đi cái gì? Từ đó khi nghĩ về chính mình, bạn có được cái gì? Bạn từng mất đi cái gì? Suy nghĩ như vậy có thể bồi dưỡng tâm quảng đại vô biên của bạn, tấm lòng bạn sẽ rộng mở, quảng đại.

Trung Quốc đã trải qua năm nghìn năm lịch sử lưu truyền tới nay, người nào có được cái gì? Người nào mất đi cái gì? Thời gian vô lượng, còn có vô lượng lớn hơn nữa, bạn biết thời gian dài bao lâu không? Dựa theo nghiên cứu của các nhà khoa học mà nói thì sự hình thành của toàn bộ vũ trụ đã có mấy trăm triệu năm rồi, trái đất không biết đã thành trụ hoại không mấy lần rồi, bao nhiêu lần diệt xong rồi lại sinh, sinh xong rồi lại diệt. Có người nào có được cái gì chứ? Nghĩ đến đây, tấm lòng bạn tự nhiên sẽ rộng mở, cho nên phải thường xuyên nghĩ như vậy.

Bạn tranh giành một bức tường với hàng xóm, bức tường nhà anh chiếm đất nhà tôi một thước, tôi sẽ tranh, tranh đến cùng. Đưa ra tòa, kiện kiện kiện, kiện đến tòa án cao nhất, bởi vì bức tường của anh ta đã lấn chiếm một thước vào đất nhà tôi, tranh tranh tranh, sao bạn không đến mặt trăng mà tranh? Bạn có thể dựa vào trí tưởng tượng của bạn mà nói, mặt trăng là của tôi, tôi nói sao Hỏa là của tôi, cho anh sao Diêm Vương, cho người kia sao Hải Vương, bạn tranh cái gì mà tranh?

Vũ trụ rộng lớn như vậy, không gian rộng lớn như vậy, ấy thế mà bạn lại đi tranh bức tường của nhà bạn! Không cần phải tranh! Đều không phải là của ai, trái đất chính là của trái đất, sao Hỏa chính là của sao Hỏa, mặt trăng chính là của mặt trăng, bạn nghĩ được như vậy thì tấm lòng bạn sẽ rộng mở, bạn tranh cái gì đây, bởi vì chẳng ai có được cái gì, cũng không ai mất đi cái gì.

Hôm nay mọi người vẫn đang tranh nhau, bạn xem tin tức, ngày nào cũng tranh nhau, tôi không dám nói tranh cái gì, nhưng tóm lại là ngày ngày đang tranh giành cái này cái kia. Cái gì là của nhà họ chứ, là của trái đất đó! Trái đất khi chưa có nhân loại, rốt cục nó là của ai? Bởi vậy tấm lòng phải rộng mở, trên thế giới ngày nay, giữa quốc gia và quốc gia tấm lòng rất nhỏ hẹp, còn con người thì càng hẹp hòi hơn.

Cho nên lập trường của bạn khi tu hành là tâm tha duyên Đại thừa, bạn đứng trên lập trường này thì bạn đã là Bồ Tát rồi, đã rất vĩ đại rồi, trụ tâm thứ sáu đã là rất vĩ đại rồi. 

Phật Bồ Tát độ chúng sinh là đứng trên lập trường của tâm tha duyên Đại thừa. Miệng nói ra thì rất dễ, tôi không từ bỏ một chúng sinh nào, tôi phải phát bồ đề tâm. Nhưng đến khi tranh chấp, bạn lại là “Tiểu lượng Quan Thế Âm”, bạn làm gì có đại lượng, lòng từ bi của bạn đã chạy đi đâu mất rồi?

Bình thường chúng ta phải nghĩ như vậy, tôi nói với mọi người một phương pháp suy nghĩ, chính là nghĩ như thế này, thời gian vô lượng, không gian vô lượng, chúng sinh vô lượng, không được không mất, bạn nghĩ như vậy thì tấm lòng bạn tự nhiên sẽ rộng mở, và cũng sẽ đứng trên lập trường của tâm tha duyên Đại thừa. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

11/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết tập 3)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-4.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 4
---

![image](/img/img_ad6047bb4177529921f98c295814c85a.jpg)

## Hồng quang đại thành tựu

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">625</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">Năm 1993</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### 126. Thập Trụ Tâm Luận - Giác tâm không sinh (1)

Hôm nay chúng ta lại giảng “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm thứ bảy: tâm giác tâm không sinh. Chữ “giác” này là cảm giác, cũng tức là cái tâm của cảm giác hoàn toàn không sinh ra. 

Lập trường này rất kỳ quái, rất nhiều người không có cách nào hiểu được loại trụ tâm thứ bảy mà đại sư Hoằng Pháp nói đến. Giống như A La Hán, có một kiểu A La Hán gọi là “vô sinh”. Ý nghĩa của “vô sinh” là nói rằng trong thiền định có một cảnh giới rất cao, trong cảnh giới này, tất cả cảm giác đều không có, mọi cảm nhận đều không có, kiểu cảnh giới này gọi là “tâm giác tâm không sinh”, tức là cái loại tâm của cảm giác hoàn toàn không sinh ra. 

Trước đây tôi từng kể lão hòa thượng Hư Vân thiền định, ngài đã đến cảnh giới này. Ngài có một lần đang luộc khoai sọ thì thiền định một chút, không ngờ lần thiền định này, đến khi mở mắt ra xuất định thì nhìn nồi khoai sọ trước mặt, lửa đã tắt, không chỉ không có lửa, mà ngay cả khoai sọ cũng lên mốc cả rồi.

Bạn thử nghĩ xem: ngài đã thiền định bao lâu? Ngài nhập định một cái, cho rằng chỉ nhập định một chút thôi, không ngờ nhập định một cái thì ôi chao, khoai sọ của ngài không ngờ mốc meo cả. Như vậy là phải mấy ngày đó! Ngài nhập vào trong định, tuyết rơi mấy ngày, bên ngoài gian nhà cỏ của ngài đã ngập tuyết, không thể nào đi ra được. Ở trong định cảnh này hoàn toàn không còn cảm giác gì cả, có thể nói là tâm cảm giác hoàn toàn không sinh ra, đây là cảnh giới thiền định rất cao thâm.

Nói chung, thiền định này là tiến nhập vào trong một dạng “không tướng”, bất kì một loại cảm giác nào cũng đều không có, điều này rất giống với cái gì? Rất giống với trạng thái của niết bàn. Giả sử khi bạn tu thiền định có trạng thái này, có thể nói với bếp ăn là tôi không cần ăn cơm, tôi đã có thể thiền định rất lâu, có thể thiền định mấy ngày liền. Chà! Thế thì chúng ta có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền thức ăn. Hy vọng mọi người có thể tinh tấn tiến nhập kiểu thiền định này, nhà bếp của chúng ta sẽ không cần phải nấu nữa, tổ nấu ăn cũng không cần nấu cơm, mọi người đều tiến vào trong thiền định này, chà, rất tốt, có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền.

Vì sao Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Không Vương Phật? Chính là vì bản thân ngài có thể nhìn thấu tất cả. Vì sao Phật Đà xuất gia? Xuất gia đòi hỏi phải nhìn thấu tất cả, nhìn thấu rất nhiều thứ. Xuất gia được gọi là sa môn, còn gọi là không môn, cho nên Phật Đà được gọi là Không Vương Phật chính là vì ngài đã nhận ra tất cả đều là không.

Còn như phụ thân của Phật Đà (vua Tịnh Phạn) muốn truyền ngôi vua cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Đà không muốn ngồi trên ngôi vua đó, giả sử Phật Đà ngồi lên ngôi vua mà vua Tịnh Phạn truyền lại cho mình thì sẽ đến lúc bị vua Lưu Ly diệt. 

Bởi vậy đó là một sự vô thường, ngài đã nhìn thấu cái ngôi vua này, vương vị không phải là vĩnh viễn. Nghĩ mà xem Ấn Độ hiện nay, vương quốc mà vua Tịnh Phạn xưa kia để lại nay ở đâu? Không có, trống không, bao gồm cả nước Xá Vệ, nước Xá Vệ cũng không có, bây giờ cái gì cũng không còn, tất cả thành đống hoang tàn rồi.

Vương vị vốn dĩ là không, chỉ có người không biết mới đi tranh giành cái ngôi vua đó.

Và bạn cần phải làm một Không Vương, tiến vào không môn phải xuất gia, phải nhìn thấu vợ con. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng nhìn thấu, Yasodara là thê tử của ngài, ngài cũng nhìn thấu, ngài cũng nhìn thấu con cái, nhìn thấu đứa con trai La Hầu La của mình. Ngài rời bỏ vương vị, rời bỏ mọi hưởng thụ vật chất, rời bỏ thê tử, con trai, rời bỏ mọi tài sản của vương thất, không cần danh, cũng không cần tiền, vợ cũng không cần, con cái cũng không cần, hôn nhân cũng không cần, thế rồi tiến vào không môn, cũng tức là xuất gia. Phật Thích Ca Mâu Ni đã đi tìm hiểu đại đạo như vậy.

Giả sử bạn vẫn còn quyến luyến những điều này thì tức là bạn đã sinh tâm, nếu có thể nhìn thấu những điều này thì tức là bạn không sinh tâm, cái tâm này không hề phát ra.

Những điều trên đều mang nhiều ý vị, đến được trụ tâm thứ bảy rồi - tâm giác tâm không sinh, là rất khó đạt đến. Chúng ta nhìn mỗi một thứ đều muốn sinh tâm, sưu tầm những tác phẩm nghệ thuật đều vẫn nằm trong phạm vi sinh tâm. Bạn nhìn tác phẩm nghệ thuật, a, cái này là đồ cổ, thế là bạn đã sinh tâm rồi. Cho đến khi với tất cả mọi thứ, bạn hoàn toàn không có trạng thái cảm giác gì, đây mới là tâm giác tâm không sinh.

Cảnh giới này là định vào một, không chỉ là định vào một mà ngay cả một cũng không có, thì sẽ tiến vào cảnh giới tính Không hoàn toàn. Đạt đến được cảnh giới này rồi, bạn có thể triệu thỉnh được rất nhiều Phật Bồ Tát, trong cảnh giới này có thể nói một cách rất đơn giản là tính Không của bạn đã bộc lộ, là hiện tượng một vùng không gian vũ trụ rộng lớn hoàn toàn. Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Không Vương Phật, có thể tiến vào cảnh giới này mới xem là giải thoát tột cùng. 

Nếu với bất kì việc gì bạn đều sinh tâm thì bạn sẽ có vấn vương, nếu không sinh tâm thì sẽ không có vấn vương. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

14/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 127. Thập Trụ Tâm Luận - Giác tâm không sinh (2)

Chúng ta lại nói về tâm giác tâm không sinh, loại trụ tâm thứ bảy của đại sư Hoằng Pháp. 

Bên trong cảnh giới rất sâu này, phải đạt đến ngũ uẩn đều không. Chúng ta từng nói về ngũ uẩn đều không, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, những thứ này đều đã không còn gì, không còn một chút cảm giác nào. Không những sắc, thọ, tưởng, hành, thức đã không còn, mà phải cả mười hai nhân duyên cũng không còn. Ngay cả mười hai nhân duyên cũng không còn thì mới có thể tiến vào cảnh giới này.

Mọi người biết rằng, một khi sinh tâm thì sẽ có nhân, loại bỏ rồi, không sinh tâm nữa thì ngay cả nhân cũng không còn. Còn nói về nhân duyên thì chắc chắn là bạn đã sinh tâm rồi thì mới sinh ra duyên, mới có thể kết quả. Bởi vậy nhân quả nhất định là vì đã sinh tâm, tâm ở trong đó mới sinh ra kết quả, mới sinh ra nhân quả. Giả sử bạn không sinh tâm, thì về phương diện nhân quả mà nói, sẽ là trạng thái vô sinh, trạng thái trống rỗng hoàn toàn.

Chúng ta hãy thử nhìn hư không vũ trụ, cho đến nay, các nhà khoa học vẫn không thể chứng minh được biên giới của vũ trụ ở đâu. Nhân loại chúng ta nghiên cứu hư không rộng bao nhiêu, xa bao nhiêu, sâu bao nhiêu, tàu vũ trụ bay đi rồi lại bay về, còn những nhà nghiên cứu thì đều đã chết hết cả rồi, bởi vì vũ trụ này quá rộng lớn, vô biên mà! Đúng là đại không!

Tàu vũ trụ bay đi, có lẽ là hàng năm, hàng tháng tiến hành tìm tòi vũ trụ, rốt cục vũ trụ lớn tới mức nào? Bay đi, mới bay được một vòng mà thôi, bay trở về, ôi, những nhà nghiên cứu đều đã chết cả, cho nên bạn nói xem làm sao để biết vũ trụ rộng lớn vô biên đến thế nào?

Cho đến tận bây giờ, nhân loại cũng không có cách nào hiểu được trong hệ mặt trời có mấy hành tinh là thật sự có thể đổ bộ lên bề mặt của chúng. Bạn nói mặt trăng là gần nhất, đổ bộ lên rồi, còn những hành tinh khác, làm sao bạn đổ bộ lên đây? Ngay cả tình hình của chúng cũng không biết. Huống hồ các nhà khoa học thường nói rằng, trong toàn bộ vũ trụ có năm trăm hệ mặt trời, một hệ mặt trời bạn còn chưa hiểu được, huống hồ có năm trăm hệ mặt trời, đúng là đại không, vô biên vô hạn. Nghĩ mà xem, nhân loại đúng là nhỏ bé.

Các thế giới được nói đến trong kinh Phật, Phật thường nói rằng: không thể nghĩ, không thể bàn, những nơi có khoảng cách xa phải đi qua mấy trăm triệu Phật quốc thì mới đến được một Phật quốc khác, điều này chỉ có trong kinh Phật mới nhắc đến.

Ấn Độ có sông Hằng, cát sông Hằng là vô số, lấy số cát đó tượng trưng cho toàn bộ vũ trụ thật sự là đúng.

Bạn đọc Kinh Thánh của Cơ Đốc giáo, Kinh Koran của Hồi giáo, Kinh Hoa Hồng của Thiên Chúa giáo, đều chẳng thể viết được những điều như trong kinh Phật, có vô lượng Phật quốc nhiều như số cát sông Hằng.

Những điều ngày xưa Phật Thích Ca Mâu Ni nói, ghi chép lại, những ấn chứng của ngài tương đối gần với khoa học, căn bản là không thể nào đếm được các thế giới.

Phật Đà biết rằng phải thành tựu Không Vương Phật, tiến vào cảnh giới của đại không hoàn toàn, phải nhìn thấu tất cả, giống như năm uẩn đều không, mười hai nhân duyên đều không, còn phải hiểu sinh không tức là chúng sinh không. 

Trong cái gọi là ba không, không thứ nhất chính là sinh không, bởi vì tôi không, bạn không, người khác không, cho nên chúng sinh là không, trong logic này có thể nói chúng sinh đều là không. Còn có pháp không, tất cả hiện tượng vật chất cuối cùng sẽ quy về không, đây chính là pháp không. Còn có một cái nữa là ngã pháp đều không, bao gồm ngã không còn, bao gồm hiện tượng vật chất không còn, tức là ngã pháp đều không, đây gọi là ba không.

Có thể đạt đến cảnh giới ba không tức là có thể tiến vào ba giải thoát (ba loại cảnh giới giải thoát), cái này trong Phật điển gọi là tam tam muội.

Trong Mật giáo cũng có tam tam muội, cảnh giới này rất cao, cảnh giới này chính là:  
Vô tướng — tất cả đều không có hình tướng.  
Vô tác — không có hành vi gì, căn bản là một chút hành động cũng không có.  
Vô nguyện — vì bạn đã vô tướng vô tác, vậy thì còn có mong muốn gì chứ, cho nên ngay cả nguyện vọng cũng không có.

Thật ra vô nguyện chính là không sinh tâm, không sinh tâm tức là vô nguyện, bạn sinh tâm rồi thì sẽ sinh nguyện, có nguyện vọng thì sẽ sinh ra sức mạnh. Tôi nhận thấy có người chủ trương đừng có mong muốn, đừng sinh ra nguyện vọng, người ta nói điều này không sai. Nhưng tôi cho rằng, mỗi hành giả đều phải trải qua một sự nỗ lực mới có thể đạt đến ba giải thoát, không phải là vừa bắt đầu một cái là bạn đã vô tướng, vô tác, vô nguyện, đây là việc không thể nào. Bạn phải trải qua một sự rèn luyện, từ có rồi đi đến không, bạn không thể nói: tôi bắt đầu học Phật, tôi thiền định một cái thì đã có tâm giác tâm không sinh rồi, thế thì “khủng” quá, cảnh giới này của bạn, việc tu hành này của bạn đúng là quá xuất sắc, người nào có thể đạt đến tâm giác tâm không sinh chứ?

Lập trường thứ bảy của đại sư Hoằng Pháp là tâm giác tâm không sinh, tâm này rất cao thâm, nghĩa đế rất thâm sâu. Nói về chúng sinh, mọi người biết rằng tôi có tồn tại không? Bây giờ tôi đang giảng kinh thuyết pháp, cho nên hẳn là tôi tồn tại, nhưng đây cũng là hiện tượng nhất thời. 52 năm trước đây của tôi, vốn dĩ chẳng có Lư Thắng Ngạn cái con người này. 50 năm sau, tôi viết giấy cam đoan với bạn rằng 50 năm sau sẽ không có Lư Thắng Ngạn cái con người này, khả năng là chẳng đến 50 năm đã không còn Lư Thắng Ngạn rồi, sự tồn tại của tôi chỉ là hiện tượng nhất thời, cái này gọi là ngã không.

Chúng sinh cũng như thế, chúng sinh của 5.000 năm nay ở đâu, đây chẳng phải là chúng sinh không sao?  
Pháp không, tất cả hiện tượng vật chất cũng sẽ quy về không.  
Ngã pháp đều không, như vậy mới có thể tiến vào không định chân chính.  
Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

14/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 128. Thập Trụ Tâm Luận - Đạo vô vi tâm (1)

Hôm nay chúng ta giảng trụ tâm thứ tám trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm đạo vô vi.

Nói đến cảnh giới trụ tâm lúc này đã là vô cùng cao rồi, thật sự đến được cảnh giới rất cao này có thể nói là đã hô ứng với tính Không rồi, hơn nữa đều thuộc về pháp môn giải thoát chân chính, đã tiến vào Thánh giới rồi.

Cái gọi là tam tam muội “tam giải thoát môn” là nói về vô tướng, vô tác, vô nguyện. Ý nghĩa chân chính của tâm vô vi này, sự khác biệt giữa hữu vi và vô vi phải phân tách rất tỉ mỉ mới có thể phân biệt được.

Rất tỉ mỉ tiến vào bên trong cảnh giới rất vi diệu mới có thể lĩnh hội được rằng chúng sinh thế giới Ta Bà chúng ta đều là hữu vi, không có người nào là vô vi, chỉ có Thánh nhân mới vô vi. Nhìn chung mà nói, mọi người tự mình có thể ngẫm nghĩ xem bạn có phải là hữu vi không. Tất cả chúng sinh của thế giới Ta Bà chúng ta hiện nay, mọi người đều là hữu vi. Ví dụ hôm nay bạn đi học là hữu vi, vì sao? Sau này muốn lấy được học vị cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, như vậy là bản thân bạn đã hữu vi rồi, phải lấy được cái danh phận này tức là hữu vi rồi.

Bây giờ bạn làm việc là vì cái gì? Rất đơn giản, *money*, là vì tiền. Bạn kiếm tiền đương nhiên cũng là hy vọng làm việc chăm chỉ, có được công trạng tốt, có thể nâng lương, đây là hữu vi. Giả sử nói về sự nghiệp của bạn, đương nhiên bạn hy vọng mỗi năm đều cứ thế phát triển trở thành một sự nghiệp rất to lớn, đây là hữu vi.

Tâm vô vi đối với thế nhân mà nói thì rất khó, rất khó để thấy là bạn thật sự có tâm vô vi. Nhưng cảnh giới trụ tâm của tâm vô vi như thế này chính là điều được nhắc đến trong kinh Kim Cang: “Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy.” Đây chính là tâm vô vi.

Hôm nay chúng ta học Phật muốn đạt đến tâm vô vi, đương nhiên đây là đi vào một dạng cảnh giới trụ tâm rất vi diệu rồi, rất vi diệu rất vi diệu, rất khó rất khó, đây là cảnh giới của Thánh nhân, có thể nói là cảnh giới hoàn toàn bất động, hoàn toàn giải thoát. 

“Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy” của kinh Kim Cang là nói về tam luân thể không, ví dụ như là bây giờ chúng ta làm một việc thiện, tôi không hề nghĩ làm việc thiện này là vì nêu cao tên tuổi, cũng không phải nghĩ làm việc thiện này để có được một vài lợi ích nào đó, hoặc là giành được sự tín phục của người ta, sự tôn kính của người ta nên mới làm việc thiện này.

Không có người làm tức là bạn không hề cảm thấy bạn đang làm việc thiện, không có người nhận tức là bạn không cảm thấy vì bạn làm việc thiện nên gia tăng phúc lợi cho người khác, bạn không cảm thấy bạn ban ơn cho người khác, không cảm thấy chính bạn đang làm việc thiện, không có quá trình làm việc thiện này, đây gọi là tam luân thể không. 

Không có người làm, không có người nhận, không có vật việc được làm, đây gọi là tam luân thể không. Bạn không vì điều gì mà làm việc thiện này, tức là “nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy”, đây là tâm vô vi - làm mà không vì gì cả.

Trước kia tôi thường nghĩ đạo lý “không làm mà lại là làm” là thế nào? Bạn không làm mà lại là có làm. Hôm nay tôi đã giảng rất rõ ràng: Tôi không vì cái gì cả mà làm, nhưng tôi đã làm, đây gọi là vô vi mà làm. Trên thế giới này rất ít người có thể đạt đến cảnh giới này, đã rất ít rất ít rồi. Bạn chỉ cần vô vi mà làm thì bạn đã là Thánh nhân rồi.

Cho nên cảnh giới của tâm đạo vô vi căn bản chính là làm không vì gì cả, bạn phát tâm bồ đề, nhưng không vì cái gì, không vì muốn thành Phật, cũng không vì muốn thành Bồ Tát. Không vì cái gì mà bạn vẫn phát tâm bồ đề, đây là rất cao cấp, cao hơn một cấp so với tâm giác tâm không sinh.

Tâm giác tâm không sinh tức là ba giải thoát, hoàn toàn giải thoát rồi. Vô tướng, trên thế giới này cái gì cũng đều không có! Vô vi, tôi cũng không làm tất cả mọi việc. Vô nguyện, không có chút nguyện vọng nào cả. Đây chính là ba cửa giải thoát.

Bạn có thể đạt đến hoàn toàn thanh tịnh, cảnh giới hoàn toàn không có gì cả thì là tâm giác tâm không sinh, nhưng vì sao lại sinh tâm chứ? Là tâm đạo vô vi, làm không vì gì cả, chúng ta phát tâm bồ đề, nhưng không gì cái gì cả mà phát tâm bồ đề, cảnh giới này là tuyệt vời!

Bạn tu hành có thể đạt đến cảnh giới này, căn bản là hoàn toàn giải thoát, không có phiền não, không có lo âu, không có một chút tạp chất nào lẫn trong tư duy của bạn, ý niệm của bạn là một dạng minh thể sáng chói hoàn toàn thanh tịnh. 

“Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp càng giảng thì càng cao thâm, tiến vào cảnh giới vô vi mà làm, tâm đạo vô vi, tam luân thể không, tam luân thể không căn bản chính là trụ mà không trụ. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

16/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 129. Thập Trụ Tâm Luận - Đạo vô vi tâm (2)

Người học Phật chúng ta khi thật sự tiến vào tâm đạo vô vi, có thể nói là trăng thanh gió mát rồi. Vì sao là trăng thanh gió mát? Tức là gió thổi đến đâu, ý của bạn sẽ đi đến đó. Rất khó để giải thích, gió mát có ý nghĩa là rất nhậm vận, gió mát nhậm vận, thổi thế nào thì có thể tùy ý đi đến nơi đó, thổi tới thổi lui, sang trái sang phải, tiến trước lùi sau, lên trên xuống dưới, gió mát tùy ý chuyển động. Trăng thanh là ý gì? Nó có biến hóa, nhưng lại là nhất như, bất kể là biến thế nào thì vẫn là biến trở về như ban đầu. Khi có thể đến được tâm cảnh trăng thanh gió mát này rồi thì có thể được gọi là tâm vô vi.

Đôi khi con người phải học tập tự nhiên, tự nhiên cũng là một dạng nhậm vận. Bạn đạt đến được tâm cảnh trăng thanh gió mát cũng có thể gọi là tự tại, hoặc gọi là “trụ mà không trụ”. Mặt trăng thì không phải lúc nào cũng tròn, có khi nó bị khuyết, nhưng sau đó nó lại tròn, tròn rồi lại khuyết, gió mát thì thổi khắp nơi, đây gọi là một cảnh giới của sự tự tại nhậm vận, tâm đạo vô vi chính là như vậy.

Bản thân tôi lĩnh hội được một tư tưởng, Lư Thắng Ngạn có một tư tưởng, rất nhiều người biết, tư tưởng của Lư Thắng Ngạn chính là tư tưởng “không hề gì”. Thế nào là tư tưởng “không hề gì”? Cũng tức là bất kì sự việc gì, bất kể là việc lớn hay việc nhỏ, việc thô hay việc tinh, bất kì sự việc gì đều là vô sự. 

Giả sử như thế này, tôi lấy một so sánh, có một ngày Chân Phật Tông không tồn tại trên đời nữa, thì với tôi cũng không hề gì. Bởi vì vốn dĩ là không có, ban đầu không có Chân Phật Tông, sau này lại biến thành không có, lại trở về nguyên bản, không hề gì! Cho nên có người cho rằng, ồ, nếu Chân Phật Tông không còn nữa, Lư Thắng Ngạn nhất định là sẽ rất đau lòng, rất u sầu. Thật ra không phải, bởi vì tôi có tư tưởng không hề gì, cái này chính là tâm đạo vô vi.

Tôi không phải là chúng sinh thế tục bình thường, hôm nay có một chúng sinh thế tục, anh ta nói một câu: anh ta kỳ vọng tổ chức của mình trở thành tổ chức lớn số một thế giới. Đây là câu nói của ai? Mọi người đều biết đây tức là tâm hữu vi. Anh ta muốn làm cho tổ chức của mình thành tổ chức số một trên toàn thế giới, nhưng hôm nay Chân Phật Tông không làm như vậy, có hay không đều như nhau, chúng ta thuận theo tự nhiên. Đây chính là tâm đạo vô vi của bản thân Lư Thắng Ngạn, chính là tâm không hề gì. Hôm nay không trở thành tổ chức lớn số một thế giới, mà là trở thành tổ chức biến mất trên thế giới, Chân Phật Tông biến mất khỏi thế giới này rồi, không có nữa, Lư Thắng Ngạn cũng không tồn tại, Chân Phật Tông cũng không có, thì tôi vẫn là ba chữ: không hề gì. Đây chính là tâm vô vi.

Tôi dốc hết sức làm, tôi không hề nói rằng không muốn Chân Phật Tông tốt, đương nhiên tôi hy vọng Chân Phật Tông tốt, đối với việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp tôi đã tận lực rồi, dốc hết sức làm rồi, tôi cũng không tính toán thành bại gì cả. Đây là tâm gì? Tam luân thể không.

Hôm nay Chân Phật Tông không phải muốn xây dựng tòa thánh giống như Thiên Chúa giáo, Lư Thắng Ngạn phải làm Giáo Hoàng, bên dưới có các giáo chủ, hồng y giáo chủ, giáo chủ gì gì đó, mỗi nước đều có. Không hề như vậy, tôi chỉ là trong sự hoàn toàn tự nhiên làm mà không vì gì cả, đây gọi là tâm đạo vô vi. Hôm nay Lư Thắng Ngạn giả sử có tai nạn gì, có tai nạn rất lớn xảy đến. Thật khủng khiếp, xảy ra sự việc rất lớn, đại tai nạn đến rồi, cũng không hề gì! Bất kì nơi nào tôi đều có thể đi, bất kì nơi nào cũng đều là đạo tràng của tôi. Ví dụ mắc bệnh nặng, hoặc là gặp phải tai nạn lớn, các kiểu cảnh ngộ, chỉ ba chữ thôi: không hề gì.

Bạn có thể tu đến cảnh giới này thì bạn có thể lĩnh hội được đạo lý của sự giải thoát, lúc này chính là thật sự giải thoát rồi. Hôm nay giả sử có một sự việc khiến bạn lo lắng, khiến bạn phiền não, khiến tâm bạn bất an, trong lòng bạn không yên, trong lòng bạn vướng mắc, trong lòng rất nặng nề, giống như đá đè lên tâm bạn vậy, thế thì nói chung, căn bản là bạn chưa đạt đến cảnh giới không hề gì.

Còn tư tưởng của Sư Tôn là tư tưởng không hề gì, đã là tư tưởng không hề gì rồi thì tức là tâm vô vi mà làm, đây cũng là tâm đạo vô vi giải thoát rất hay. Bởi vì tôi đã lĩnh ngộ được trên thế giới này, cuối cùng là quy về không, Phật Đà nói “thành trụ hoại không”, sau này đều quy về không. Tất cả những gì tôi làm cũng là vô vi, tuy rằng tôi có nguyện vọng rất lớn, nguyện vọng của Sư Tôn là phân thân xả cốt độ chúng sinh, thậm chí không bỏ rơi một chúng sinh nào, nhưng trên thực tế đến cuối cùng thì cũng là vô nguyện, không có nguyện vọng gì, bởi vì tôi là vô vi mà làm. Vô vi mà làm là cái gì? Là tâm đạo vô vi. 

Đây là trụ tâm thứ tám, đã là cảnh giới rất cao rồi, triết học này gọi là triết học vô ngại, chính là triết học vô ngại mà lúc còn trẻ khi viết văn chương tôi đã từng nói đến, cũng tức là triết học không có chướng ngại. Đến cảnh giới này, có thể nói là đã hợp lại biến thành một, một lại tiến vào không.

Trong lòng Sư Tôn coi chúng sinh là bình đẳng, cảnh giới này chính là sự giải thích hay nhất về tâm đạo vô vi. Om mani padme hum.

16/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 130. Thập Trụ Tâm Luận - Cực vô tự tính tâm (1)

Hôm nay chúng ta giảng tâm thứ chín trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm cực vô tự tính. Đến được cảnh giới như vậy có thể nói là “bất khả thuyết”. Vừa rồi tự tôi cảm thấy: giả sử nói thì sẽ không trúng, không nói thì trúng. Cho nên muốn giảng tâm cực vô tự tính là vô cùng khó, bởi vì chỉ có người đã đến được cảnh giới này thì bản thân họ mới có thể lĩnh hội được, mới có thể hiểu được, cũng mới có thể thâm nhập được nghĩa đế của nó.

Thế nào là không có tự tính? Thật ra trên thế giới có rất nhiều thứ đều không có tự tính. Tâm cực vô tự tính giống cái gì nhỉ? Giống nước. Chúng ta nói về nước, bản thân nước là không có tự tính, nó theo duyên mà biến đổi, dựa theo nhân duyên mà sinh ra rất nhiều biến hóa, nó không hề có hình dạng cố định, hơn nữa cũng không có một thể cố định, thậm chí không có tính chất cố định. Chúng ta thường nói “thủy tính dương hoa” <span className="note-blue">[thành ngữ này có ý  nghĩa dễ dàng thay đổi như dòng nước, lả lướt nhẹ nhàng như hoa dương]</span>, cũng tức là chỉ không có tự tính. Bạn biết rằng nước này, nếu bạn đun nóng quá mức nó sẽ biến thành hơi nước, hơi nước và nước là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Hơi nước và nước có quan hệ gì đây? Thật ra nó là theo nhân duyên mà biến hóa, khi hơi nước bốc lên cao thì biến thành mây. Mây, hơi nước, nước, cái gì cũng thay đổi, đây chính là không có tự tính!

Bạn biết rằng mây trong không trung khi nhiều và nặng rồi, theo nhân duyên sẽ rơi xuống và lại biến thành nước, đôi khi sẽ là tuyết rơi, dựa theo nhân duyên, khi có nhân duyên thành tuyết thì nó sẽ biến thành tuyết, tổ chức của nó hoàn toàn thay đổi hết, không giống nhau một chút nào. Rồi nước còn biến thành băng nữa, bạn để nước dưới 0 độ nước sẽ đóng băng, băng và nước cũng lại khác nhau. Nước cũng có thể biến thành mưa đá, đây chính là những ví dụ thực tế về việc bản thân nước không có tự tính.

Mọi người hiểu vô tự tính là dựa theo nhân duyên mà biến hóa, bạn xem giới tự nhiên rất nhiều thứ là vô tự tính. Lửa cũng thế, bản thân lửa có sinh mệnh không? Mọi người biết một tia lửa nhỏ có thể lan ra thành một đám cháy rừng, chỉ một đốm lửa mà thôi có thể biến thành đám cháy rất to. Sự sinh diệt của lửa nằm ở đâu? Thật ra sinh diệt cũng là dựa theo nhân duyên, chúng ta làm Hộ Ma thì biết, lửa một chốc thì cháy bên này, một chốc lại cháy bên kia, lúc thì ở trên, lúc thì ở dưới, nó luôn dựa theo nhân duyên mà biến hóa, bởi vậy nói rằng lửa cũng không có tự tính.

Lại nói về gió, gió có tự tính không? Bất luận là gió thổi thế nào, bạn đều không bắt được nó. Gió thổi qua rừng trúc thưa, bạn luôn nghe thấy tiếng gió vang lên, nhưng trúc cũng không bắt được gió, không có thứ gì có thể chặn được gió. Bản thân gió chính là không có tự tính, Đông Tây Nam Bắc trên trên dưới dưới chỗ nào cũng có, đây chính là vô tự tính.

Lại nói về đất, mọi người nhất định cho rằng đất có tự tính, bạn xem bản thân đất chính là một cục to, nó bất động, nhưng bạn đừng cho rằng đất có tự tính, thật ra đất cũng là vô tự tính. Mọi người chưa từng nghĩ rằng Sư Tôn từng học địa chất học, địa lý học, tôi biết vỏ trái đất có thể biến đổi. Ví dụ như trước kia hòn đảo Đài Loan này nối liền với tỉnh Phúc Kiến, là vì vỏ trái đất biến động nên phân tách ra, sau đó mới biến thành một hòn đảo biệt lập. Châu Phi và châu Âu ban đầu là liền với nhau, cũng là vì vỏ trái đất biến đổi nên mới phân thành châu Phi và châu Âu. Còn có những vận động tạo núi, bên này sụt một cái, bên kia lại trồi lên mấy cái, thế là biến thành mấy ngọn núi, đây là vận động tạo núi. Bởi vậy nói rằng, bản thân đất cũng là không có tự tính, hoàn toàn dựa vào nhân duyên mà biến hóa.

Bạn xem đất thay đổi nhiều thế nào. Vàng là từ đất biến thành, kim cương cũng là từ đất biến thành, bạch kim, đá quý, thạch anh tím, thạch anh xanh, thạnh anh đỏ, ngọc bích, ngọc lục bảo, hồng ngọc, đá topaz (hoàng ngọc), bất kì loại đá quý nào, toàn bộ đều là do bản thân đất biến hóa ra. Cho nên đất không có tự tính, và vì nó không có tự tính cho nên đây gọi là cực vô tự tính. Sau khi tôi giải thích, dần dần bạn sẽ hiểu thế nào gọi là vô tự tính.

Bởi vậy Phật Đà quan sát rất sâu, ngài phát hiện ra pháp không có tự tính, tất cả pháp nhân duyên là tùy theo nhân duyên mà sinh diệt, căn bản không có tự tính. Tất cả pháp nhân duyên đều không có tự tính, vạn vật trong thiên hạ đều dựa theo nhân duyên mà biến hóa, đây là một chân lý giữa vũ trụ, là điều mà bản thân Phật Đà quan sát thấy.

Khi bạn đã hiểu được tất cả pháp nhân duyên là cực vô tự tính, khi pháp vô tự tính, bạn đã lĩnh ngộ được rồi, hơn nữa chính bạn cũng thực tiễn làm được rồi, thì điểm đặt chân của bạn là tâm cực vô tự tính. Lúc này, sự lĩnh ngộ của bạn là không sinh không diệt, không sinh không tử. Tiến vào trong nhận thức này tức là như đến như đi, không đến không đi tức là Như Lai. Ở đây là bản thân bạn đã lĩnh ngộ được tâm cực vô tự tính, sau đó bạn đi ấn chứng, bạn sẽ đắc được tâm này.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

17/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 131. Thập Trụ Tâm Luận - Cực vô tự tính tâm (2)

Chúng ta lại nói về tâm cực vô tự tính.

Đây là cảnh giới rất cao, tại cảnh giới này quan sát thấy vốn dĩ tất cả pháp vô tự tính, điều này đòi hỏi bạn phải đi thực tiễn, sau khi bạn thực tiễn tất cả pháp vô tự tính rồi, tiến vào cảnh giới này, bạn mới có thể đạt đến khai ngộ. Bạn sẽ có được cái gì? “Không sinh không diệt, như đến như đi, không đến không đi”, bạn đến được cảnh giới này rồi thì căn bản là vô trụ.

Trong cảnh giới này có thể nói là không có một điểm cố định, vì không có điểm cố định như vậy mới là đại viên mãn. Nhưng cái này đòi hỏi phải đi thực tiễn, không thể chỉ nói miệng, cái này ai cũng biết, bạn phải thực tiễn được nó thì mới là xuất sắc! Có thể nói là bạn không vương dù chỉ một sợi tơ, căn bản trên người bạn không có phiền não. Tôi nói rồi, tất cả phiền não về cơ bản là vô trụ, sẽ không để trong tâm bạn, đều giống như nước chảy, một chốc là chảy đi mất rồi.

Có một ví dụ rất hay nói về tâm của Thánh nhân giống như mặt hồ thanh tịnh, giống như một tấm gương khi có con chim nhạn bay qua mặt hồ đó. Khi chim nhạn đến, mặt hồ sẽ hiện bóng của con chim nhạn, nhưng khi nó bay qua rồi, chim nhạn không còn nữa, “nhạn đi không lưu ảnh”, ngay cả cái bóng ảnh cũng không lưu lại, đây là theo duyên mà sinh ra, theo duyên mà diệt, nhưng bản tính của nó, thứ ban đầu là không biến hóa. 

Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói ngài không hề thuyết pháp. Phật Đà nói, ta thuyết pháp 49 năm, nhưng không hề có thuyết pháp. Mọi người sẽ cảm thấy rất kỳ quái, rõ ràng ngài nói rằng thuyết pháp 49 năm, đột nhiên lại nói căn bản không có thuyết pháp. Phật Đà nói, giả như có ai nói ta thuyết pháp thì tức là phỉ báng ta. Lời này rất kỳ lạ.

Thật ra Phật Đà thật sự biết tâm cực vô tự tính, thật sự đã tiến vào cảnh giới này, thuyết pháp là theo duyên mà thuyết, pháp vốn là không, không có, có thuyết cũng như không thuyết, có nói cũng như không nói, cho nên không xem là thuyết pháp. Giống tôi Lư Thắng Ngạn hôm nay ở đây thuyết pháp khai thị, hôm nay giả như có người nói tôi đang thuyết pháp khai thị thì tức là phỉ báng tôi. Bởi vì vốn dĩ sự tồn tại của pháp này cũng là không vô, nói cũng như không nói, cho nên không xem là nói. Triết học chính là kỳ quái như vậy, có đạo lý rất thâm sâu ảo diệu ở trong đó, bạn không ở trong cảnh giới ấy thì không có cách nào hiểu được.

Cho nên tôi nói quá khứ làm gì có Lư Thắng Ngạn. 52 năm trước ai là Lư Thắng Ngạn? 50 năm sau ai là Lư Thắng Ngạn? Lư Thắng Ngạn chẳng qua chỉ là một hình ảnh ngẫu nhiên bay qua trong vũ trụ mà thôi, giống như hình ảnh của con chim nhạn ngẫu nhiên bay qua mà thôi, bay qua rồi thì không có nữa. Cảnh giới này tức là căn bản không có đến, căn bản cũng không có đi, đến được cảnh giới này mới gọi là quảng đại viên mãn.

Bạn có thể lĩnh ngộ được cảnh giới này thì bạn còn phiền não cái gì? Có gì đáng phiền não? Bạn còn chưa khai ngộ, sau khi bạn khai ngộ rồi mới gọi là tâm cực vô tự tính. Sau khi bạn khai ngộ giải thoát rồi, bạn còn có gì có thể sợ hãi chứ? Không có gì đáng sợ cả, bởi vì tất cả pháp đều vô tự tính, tâm bạn cũng là vô trụ. Tâm hoàn toàn là vô trụ, đó là tâm rất quảng đại. Tương lai bạn muốn thành Phật, thành Phật thế nào? Chính là một giọt nước rơi vào trong biển lớn, chính là thành Phật.

Thật sự tôi rất muốn nói rõ ràng với mọi người, nhưng mọi người phải hiểu, vạn vật trên đời toàn bộ đều không có tự tính, tất cả con người, tất cả chúng sinh cũng đều không có tự tính. Trong con mắt của Phật chân chính thì không nhìn thấy có chúng sinh, lấy đâu ra chúng sinh? Không có chúng sinh, bởi vì chúng sinh chẳng qua chỉ là một hình ảnh nhất thời mà thôi.

Bạn có thể hiểu được điều này thì bạn còn tranh cái gì? Tranh danh à? Tranh lợi à? Bạn còn muốn đi kết hôn, đi viên mãn gia đình à? Tranh đất đai à? Hay là muốn tranh cái gì đó, có cái gì đáng để tranh chứ?

Đến khi lĩnh ngộ được cực vô tự tính rồi thì cảnh giới hoàn toàn tuyệt đối như như bất động sẽ sản sinh. Tuy nhiên, đòi hỏi tự mình sau khi hiểu lý luận rồi phải đi thực tiễn nó.

Bản thân Lục Tổ Huệ Năng cũng đi thực tiễn, sau khi ngài được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền pháp, Ngũ Tổ nói với Lục Tổ: “Anh đi thực tiễn điều đó, anh sẽ là Lục Tổ.” Hôm nay giảng đạo lý này cho mọi người, bạn đi thực tiễn nó, bạn sẽ khai ngộ, sẽ đắc đạo. Bạn không đi thực tiễn nó, bạn chỉ hiểu lý luận suông thì bạn vẫn là phàm phu. Bởi vì trong tâm bạn vẫn có vướng mắc, trong tâm của Thánh nhân chân chính thì căn bản không có vướng mắc, không vương một sợi tơ, cho dù phiền não có to bằng trời, “Thái Sơn phía trước sụp, mặt cũng không biến sắc”, cho dù núi Thái Sơn ở trước mặt có đổ sụp xuống thì mặt bạn cũng sẽ không đổi sắc. Đây chính là bất động, như như bất động, một cảnh giới không vướng dù một sợi tơ.

Những Bồ Tát ở trên địa thứ tám, tức địa thứ chín, địa thứ mười không cần dụng công, bởi vì chỉ cần các vị dựa theo duyên mà làm thì đều khế hợp với chân như, hợp nhất với chân như. Đó chính là một trạng thái vô tu vô trụ, không cần tu đã ở trong chân như rồi. Vô trụ, không cần trụ cũng đã ở trong chân như rồi. Cảnh giới này có thể nói hoàn toàn tuyệt đối là một cảnh giới của Như Lai chân như. Cảnh giới này chỉ có Phật Thích Ca Mâu Ni lĩnh hội được, đây là cách giải thích hay nhất về tâm cực vô tự tính. Om mani padme hum. 

17/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 132. Thập Trụ Tâm Luận - Bí mật trang nghiêm tâm

Hôm nay giảng tâm thứ mười trong “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp - tâm bí mật trang nghiêm.

Tâm bí mật trang nghiêm là dựa theo một điểm đứng mà bản thân ta lập tâm trong Mật giáo. Thật ra tâm thứ tám, tâm thứ chín, tâm thứ mười, ba tâm này là bình đẳng, cũng tức là tâm thứ tám thuộc về cứu cánh của Thiên Thai tông, tâm thứ chín là cứu cánh của Hoa Nghiêm tông, tâm thứ mười là cứu cánh của Mật tông. Có thể nói điểm đứng của tâm thứ tám, thứ chín, thứ mười là bình đẳng.

Thế nào là tâm bí mật trang nghiêm? Hai chữ “bí mật” này có liên quan đến Mật giáo. Bí mật mà bản thân Mật giáo nói đến nằm ở thân khẩu ý của Đại Nhật Như Lai, cũng tức là bí mật của thân, bí mật của khẩu, bí mật của ý, được gọi là tam mật. Đây là tam mật của Đại Nhật Như Lai, vậy tam mật này là cái gì? Là thân, khẩu, ý thanh tịnh. Mật giáo dựa vào điều này mà tu tức là tâm của mỗi người chúng ta, giả sử thân khẩu ý của bạn cũng thanh tịnh như thế thì bạn chính là Đại Nhật Như Lai rồi. Tâm của chúng sinh với tâm của Đại Nhật Như Lai, nếu có thân khẩu ý hoàn toàn như nhau, tương đương bản thân bạn chính là đã biến thành Đại Nhật Như Lai.

Mọi người hiểu rằng, Đại Nhật Như Lai rất trang nghiêm, có thể nói ngài là Trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật (Đại Nhật Như Lai) trong số Ngũ Phương Phật, cũng có thể nói ngài là giáo chủ của bản thân Mật giáo. Giáo chủ của bản thân Mật giáo, tướng trang nghiêm của ngài là vô cùng thù thắng. Khi bạn ấn chứng được thân khẩu ý thanh tịnh, tức là bạn đã biến thân thành Đại Nhật Như Lai trang nghiêm như vậy. Bạn có năm đại trí huệ, hơn nữa thân khẩu ý đều là thanh tịnh. Vào lúc này, sự lập tâm của bạn chính là Đại Nhật Như Lai, cũng tức là tâm bí mật trang nghiêm. 

Hành giả Mật giáo có thể nói là dùng một phương pháp của yoga, đi theo phương pháp tương ứng, tu từng bước từng bước, nếu bạn muốn tu khẩu thanh tịnh thì bạn liên tục trì chú, liên tục trì niệm chú ngữ; nếu bạn muốn tu thân thanh tịnh thì phải giữ giới, dùng thân thể của bạn để làm đại thủ ấn, thân đại thủ ấn, khiến thân bạn thanh tịnh; thế còn ý niệm của bạn muốn thanh tịnh, bạn phải tu thế nào? Phải tu quán tưởng, phải tu quán, sau đó từ quán tiến nhập vào tu khí mạch điểm. Bản thân việc tu hành khí mạch điểm cũng tương đương với tu hành thân khẩu ý, hoàn toàn là như nhau. Bản thân tu hành thân khẩu ý và khí mạch điểm là tương thông.

Sau khi tu hành khí mạch điểm thì dùng khí mạch điểm của chính bạn đi chứng minh tính Không của vũ trụ này, khi đạt đến thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, thì giữa bạn và vũ trụ chính là yoga (tương ứng) lẫn nhau. Hễ tương ứng là sẽ biến thân. Biến thân là gì? Là “tức thân thành Phật”. Đây chính là lập luận của tâm bí mật trang nghiêm, lý luận của nó chính là ở đây. Thực tu tức là phải dựa vào chúng ta tu thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, tu khí mạch điểm để chứng minh tính Không, đạt đến cảnh giới của tính Không.

Trong Mật giáo có cái gọi là Ngoại pháp — thân khẩu ý thanh tịnh, Nội pháp — tu hành khí mạch minh điểm. Sau đó có Vô thượng mật, Vô thượng mật chính là một dạng tu hành cao cấp hơn để tiêu trừ dục vọng của nhục thân của bạn. Sau cùng đạt đến Đại viên mãn, chứng minh được tính Không.

Trong Mật giáo, chúng ta thường nói “lập đoạn” và “nhậm vận”, đây là cảnh giới của Đại viên mãn. Thế nào gọi là lập đoạn? Lập tức đoạn trừ thân khẩu ý phàm phu của bạn, thân khẩu ý của phàm phu lập tức cắt bỏ. Còn nhậm vận tức là bạn lập tức đầy ắp toàn bộ vũ trụ.

Thật ra phương pháp của Thiền tông cũng có thể nói là lập đoạn, có suy nghĩ không tốt, hoặc có tạp niệm kéo đến, lập tức cắt đứt nó, tức là lập đoạn. Còn nhậm vận? Bản thân nhậm vận tức là đầy ắp cả vũ trụ, bạn chính là Phật, Thiền tông cũng chỉ thẳng như vậy. Đại viên mãn trong Mật giáo gọi là Togal và Trekcho, tức là lập đoạn và nhậm vận. Đương nhiên muốn đến được cảnh giới như vậy là rất khó, nhưng mọi người có thể từ từ mà tu.

Bản thân chúng ta khi tu pháp của Mật giáo, yêu cầu bạn phải quán Không, quán Không tức là khiến thân tâm của bạn đều hóa thành không, toàn bộ thế giới hữu sắc, toàn bộ thế giới vật chất, đều biến thành không.

“Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng” - Đây là chú quán Không. Bạn phải niệm chú quán Không, niệm xong sau đó hóa thân thể của mình thành không, tâm của bạn hóa thành không, biến tất cả thế giới hữu hình, tất cả thế giới vật chất có hình tượng đều biến thành không, lúc này, bạn và vũ trụ đã tan nhập vào nhau.

Tôi luôn luôn hình dung dòng chảy pháp của vũ trụ đi vào, hoàn hoàn dung hợp với mình, nước và sữa hòa vào nhau, bạn phải chứng minh bạn chính là Phật, tức là phải đạt đến cảnh giới của tâm bí mật trang nghiêm. 

Bạn muốn tiến vào bên trong tâm của vũ trụ thì phải hóa chính mình thành không. Dòng chảy pháp của vũ trụ phải đi vào thân thể của bạn. Bạn phải hóa thành không, giống như bạn là một cốc nước, dòng chảy pháp đổ vào một cái là đầy ắp, đây chính là một cảnh giới tương ứng. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

18/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 133. Ý nghĩa của Thập Trụ Tâm Luận

Hôm nay chúng ta giảng ý nghĩa của “Thập Trụ Tâm Luận”. 

Đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) đã phân tâm thành mười loại, từ loại thứ nhất là tâm của động vật cho đến tâm bí mật trang nghiêm, điều này tương đương với pháp giới được phân thành mười pháp giới. Ngài cũng phân tâm thành mười loại, thật ra tâm có bao nhiêu loại? Rất nhiều rất nhiều loại, chỉ là chủ yếu phân thành mười loại, xấp xỉ thuộc về mười loại này. Trên thực tế, chúng ta dùng con mắt để nhìn thế giới Ta Bà này, Phật pháp nói một câu “tất cả do tâm tạo”, rất có mùi vị triết học, rất sâu rất sâu, hơn nữa rất vi diệu, tất cả do tâm tạo.

Trên thực tế mỗi một người chúng ta hoặc tất cả động vật, khi làm bất kì một hành vi nào, hoàn toàn do ý niệm chi phối, do ý thức của họ chi phối hành vi của họ, sau đó trong ý thức này không chỉ là ý thức ở bề ngoài mà thôi, còn có ý thức rất sâu tiềm ẩn bên trong. Thậm chí còn có ý thức rất sâu không thể nào đo lường được, sâu đến mức độ nào? Tôi cũng không biết. Tóm lại, bạn nghiên cứu ý thức đến bên trong cảnh giới sâu nhất, bạn phát hiện ra bên trong vô cùng sâu rộng, cực kì sâu. Cái này chính là chủng tử, chủng tử nguyên thủy nhất sâu nhất của tâm. Đây là một triết học vô cùng tuyệt vời ở trong Phật pháp. 

Thông thường nghiên cứu và thảo luận Phật pháp, tuy rằng bạn biết tâm, nhưng tâm thật sự là cái gì? Chính là một dạng biến hóa của đủ loại chủng tử nguyên thủy của bạn, cái này thuộc về phạm vi của duy thức học. Trong Phật pháp, duy thức học được nói như vậy, lập luận ở trong chủng tử của bản thân duy thức sản sinh ra ý thức bề ngoài, từ ý thức bề ngoài mà khống chế hành vi của bản thân con người. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là ý thức bề ngoài, thật ra cái mà phát ra từ chủng tử thức bên trong nguyên thủy mới là tâm thật sự.

Bản thân “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp tuy phân thành mười, chúng ta biết, bạn tu hành chính là bắt đầu từ tâm của động vật, liên tục cho đến khi thăng hoa cao nhất trở thành tâm bí mật trang nghiêm, đây chính là tu hành.

Giả sử bạn từ tâm bí mật trang nghiêm cao nhất mà rơi xuống thì tức là đọa lạc. Một đằng là thăng hoa, một đằng là đọa lạc. Một đằng là tứ Thánh giới, bốn Thánh giới cao nhất, một đằng là giới địa ngục, tam ác đạo. 

Hôm nay chúng ta tu hành chính là phải kéo lên, khiến tâm mình thăng hoa đến tứ Thánh giới, trực tiếp thành Phật, đi lĩnh ngộ toàn bộ đạo lý của vũ trụ. Cho nên “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp rất hữu ích đối với chúng ta. Bây giờ bạn đã hiểu bạn tu hành là làm cái gì rồi. Bản thân bạn cũng hiểu cảnh giới của các loại tâm, bạn cũng biết thì ra đủ thứ trong đời quá khứ của bạn đều đã biến thành chủng tử trong ý thức của bạn. Bạn phải tiêu trừ mọi vô minh từ vô thủy, phải tiêu trừ những chủng tử của thói quen xấu trong quá khứ trước đây, tịnh hóa chúng, biến thành Phật thức (chủng thức của Như Lai) thanh tịnh, phải hiển hiện được nó ra, phải hiển hiện Phật tính ra, đây chính là mục đích của tu hành thành Phật.

Phật tính của bạn hiển hiện ra tức là khai ngộ. Bạn bị che mờ thì bạn chính là động vật, bạn chính là con người, bạn chính là atula, bạn chính là địa ngục, là ngạ quỷ. Tập tính của bạn vẫn còn, Phật tính bị che lấp, toàn bộ đều ở trong tam ác đạo. Nhưng sau khi bạn thanh tịnh rồi, sau khi hiển lộ Phật thức của bạn rồi, thì tức là bạn thành tựu rồi.

Trong kinh Phật chúng ta thường xuyên đọc thấy tâm có thể tạo ra thiên đường, tâm cũng có thể tạo ra địa ngục. Thật ra “tất cả do tâm tạo”, thiên đường không phải là làm ra một cái thiên đường có sẵn rồi mọi người cùng đến đó, mọi người cùng đi lên thiên đường, có thiên đường là vì tâm bạn thanh tịnh bạn mới có thể đi vào cảnh giới đó. Tâm của bạn không thanh tịnh thì làm sao bạn đi vào thiên đường chứ? Cho nên địa ngục cũng là cho chính bạn tạo ra, là vì cái tâm của bạn cho nên bạn mới xuống địa ngục, không phải là bất kì ai cũng có thể cứu bạn được đâu.

Vì thế, bản thân giảng pháp của Phật giáo, giáo hóa của Như Lai, ngài nói như thế nào? Ngài nói: “Tự mình cứu chính mình.” Nói rằng phải tự cứu, không ai có thể kéo bạn ra được, không ai có thể cứu bạn được, tất cả do tâm tạo, cái tâm này là tự tâm, tâm của chính mình tạo ra.

Bởi vậy, thiên đường địa ngục đều là do tâm của bạn tạo ra. Muốn đi vào thiên đường, không phải là nói Sư Tôn đến độ hóa bạn, bạn quy y tôi, gửi Sư Tôn một chút cúng dường là bạn có thể vào thiên đường, không có chuyện đó đâu! Bản thân bạn không tu tâm của mình, tu hạnh của chính mình thì bạn vĩnh viễn không đến được thiên đường. Cảnh giới đó là tự mình tạo ra.

Địa ngục cũng như thế, bạn phải xuống địa ngục, bạn nói ôi ai cứu tôi với. Bạn không dựa vào Phật pháp mà tu hành, tu cái tâm của bạn, làm sao bạn có thể thoát khỏi địa ngục? Đây là lập luận của Phật giáo, có một chút khác với tôn giáo khác. Không thể ỷ lại, không có chuyện nhờ vả, hoàn toàn dựa vào tâm của chính bạn tạo ra. Ý nghĩa của bản thân “Thập Trụ Tâm Luận” của đại sư Hoằng Pháp chính là ở đây. 

Tiếp đó, bạn phải hiểu tâm của động vật và tâm của con người chúng ta, và tâm của Như Lai là “nhất như”. Thế nào là nhất như? Tâm của Như Lai cũng có thể biến thành tâm của động vật, tâm của động vật cũng có thể biến thành tâm của Như Lai, nói cách khác là, chỉ cần bạn tu hành thì nhất định có thể thành Phật. Bởi vậy mới nói “tức tâm thành Phật”, tâm của bạn chính là Phật. Cũng có thể nói “tâm tức là Phật”, bạn đã đến được cảnh giới rồi, tâm bạn thanh tịnh rồi thì tâm bạn chính là Phật rồi đó!

Đây hoàn toàn là đạo lý thanh tịnh và bất tịnh, tịnh và ô nhiễm. Và trong con mắt của Phật (Như Lai) thì “vô tịnh vô cấu”, chuyện này là thế nào? Đây chính là cảnh giới của đại viên mãn, thật sự là bí mật trang nghiêm.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

18/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 134. Nói về chú tạng

Hôm nay chúng ta nói một chút về chú tạng và phù tạng. Chúng ta biết rằng, bản thân Phật giáo mà nói có Tam Tạng Thập Nhị Bộ. Tam Tạng Thập Nhị Bộ tức là: kinh tạng, luật tạng, luận tạng. 

Kinh — chính là lời Phật Đà (Phật Thích Ca Mâu Ni) đã nói, sau khi tập hợp lại thì gọi là kinh.  
Luật — chính là những giới luật đã được đặt ra vào thời đại của Phật Đà, gọi là luật tạng.  
Luận — chính là ngoài Phật Đà ra, còn có rất nhiều tổ sư khác, là tổ sư các đời của Phật giáo giải thích chi tiết đạo lý của Phật Đà thì được gọi là luận tạng.  
Ba cái này hợp lại chính là Kinh-Luật-Luận Tam Tạng Thập Nhị Bộ. 

Những điều này đều được ghi chép trong sách cổ, tức là trong Đại Tạng Kinh có ghi, mọi người giở ra đọc sẽ thấy rất rõ ràng, cái này thuộc về bộ phận của Hiển giáo. Chú tạng trong đó thì thuộc về bộ phận của Mật giáo, chú tạng thì không nằm trong Tam Tạng.

Chúng ta đọc Phật điển, trong kinh Phật, thường đọc thấy ở phần cuối của kinh có đưa ra chú ngữ, liệt kê ra rất nhiều chú ngữ. Phần sau của kinh điển có chú ngữ, tập hợp toàn bộ những chú ngữ này lại, giải thích chi tiết về chúng, sắp xếp chúng, thì sẽ hình thành nên một bộ tạng khác, chính là chú tạng.

Chúng ta biết rằng chú có nghĩa bí mật, tức là khá bí mật. Bởi vì trước kia tôi từng nói, khi chúng ta niệm chú tức là đang niệm tâm của Phật Bồ Tát. Bạn xưng niệm “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, đây là niệm tên của Phật Bồ Tát, hoặc là niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát”, đây đều là niệm tên của Phật Bồ Tát.

Thế còn chú là niệm tâm của ngài, ví dụ niệm “Ôm a-mi-đê-wa sê” chính là niệm tâm của A Di Đà Phật, niệm “Ôm ma-ni pát-mi hùm” chính là niệm tâm của Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Hai cái này không giống nhau, một cái là niệm bên trong, một cái là niệm bên ngoài, cho nên trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận”, Tổ sư Tsongkhapa nói, bạn niệm tên Phật tức là đang niệm sắc thân của Phật, sắc thân tức là hình tướng của ngài; thế còn niệm chú của ngài tức là làm xúc động tâm của Như Lai. Hai cái này là khác nhau.

Bản thân chú mà nói, tâm là vô hình, cho nên có nghĩa bí mật của nó ở trong đó. Trong Mật giáo dùng trì minh (trì chú) làm cơ sở, trì minh (trì chú) chính là nghĩa bí mật, nghĩa bí mật thì gọi là Mật tông.

Mọi người có hiểu vì sao Mật giáo được gọi là Mật giáo không? Bởi vì cái mà Mật giáo niệm là vô hình, có nghĩa bí mật vô hình. Dùng chú để hoằng dương chính là Mật giáo. Chúng ta biết chú có rất nhiều, nếu mà sắp xếp lại thì thật sự là cực kì đó. Ví dụ mỗi vị Phật đều có chú của vị Phật đó, mỗi một Bồ Tát lại có chú của Bồ Tát đó. Theo như tôi biết, không chỉ là Phật Bồ Tát có chú, tất cả Kim Cang Thần cũng có chú của Kim Cang Thần, tất cả Hộ Pháp đều có chú, bao gồm tất cả chư Thiên đều có chú. Cho nên có 20 thiên, 12 thiên, 8 thiên, 28 thiên, tất cả chư Thiên đều có chú ngữ của chính họ, thậm chí rất nhiều thần cũng có chú ngữ của riêng mình.

Cho nên nếu chỉnh lý chú tạng, thật sự sắp xếp toàn bộ chú ngữ lại thì cũng cần rất nhiều sách. Muốn nói rõ nghĩa bí mật của chúng cũng cần rất nhiều sách, tập hợp lại thành một kho tàng, gọi là chú tạng. 

Chúng ta biết Mật giáo tu hành có thành tựu trì minh. Thành tựu trì minh thật ra giống với đạo lý niệm Phật. Tịnh Thổ tông niệm Phật đến khi nhất tâm bất loạn, Phật đến tiếp dẫn; trì danh niệm Phật đã có sức mạnh lớn như vậy rồi, chỉ mỗi niệm tên của ngài mà đã có sức mạnh lớn đến vậy rồi, thậm chí có vị cổ đức nói, niệm tên Phật đã có thể tiêu trừ rất nhiều nghiệp chướng nhiều kiếp rồi. 

Bạn trì tâm chú của ngài, cũng như thế, khi bạn thành tựu trì minh rồi, bạn liên tục trì chú ngữ của Phật Bồ Tát, trì đến khi nhất tâm bất loạn, đương nhiên bạn sẽ xúc động tâm của Như Lai, xúc động tâm của Bồ Tát, ngài nhất định sẽ đến tiếp dẫn bạn. Bạn không chỉ niệm tên bề ngoài của ngài mà thôi, bạn còn xúc động tâm ngài, ngài sẽ cảm động, ngài nhất định sẽ đến tiếp dẫn bạn.

Bởi vậy khi thành tựu trì minh rồi, cảm ứng (tương ứng) khi ấy là cực kì tốt. Niệm Phật đã có thể cảm ứng, cho nên bạn niệm chú thì càng có cảm ứng, ví dụ người học Phật chúng ta, tuy rằng rất nhiều người học Hiển giáo, nhưng họ cũng niệm chú, ví dụ chú Đại Bi, chúng ta biết rằng trưởng lão Ngộ Minh cả đời đều trì chú Đại Bi. Mặc dù ông ấy học Hiển, học Thiền, nhưng bản thân ông ấy cũng niệm chú, không hề nói rằng tôi học Hiển giáo thì tôi sẽ không niệm chú ngữ. Giống như là trong các cuốn khóa tụng của khóa tu buổi sáng, khóa tu buổi tối thì vẫn phải trì mười chú nhỏ, niệm biến thực chân ngôn. 

Thứ mà họ học đều là của Hiển giáo, nhưng thật sự lúc làm pháp lại có dùng chú ngữ, khi làm lễ cúng lớn trước Phật thì phải niệm chú, niệm kinh, niệm Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, niệm đến sau cùng thì phải niệm chú Đại Bi, bạn niệm Cao Vương Kinh thì sẽ phải niệm Thất Phật diệt tội chân ngôn, phía sau đều có thêm chú ngữ bạn sẽ cần niệm. Khi bạn làm cúng dường cũng không phải là niệm chú ngữ theo tiếng Quốc ngữ, không phải Quốc ngữ, mà là một vài chú ngữ tiếng Phạn, bạn vẫn phải niệm. 

Vì thế thật ra nói chung, Phật giáo cho đến hiện tại thì cũng giống như là “trong Hiển có Mật”, tuy bạn học Hiển nhưng bên trong có Mật, “trong Mật có Hiển”, trong Mật cũng có đạo lý của Hiển giáo, thật ra Hiển - Mật nên viên dung. Ví dụ nói về du già diễm khẩu, trong du già diễm khẩu toàn bộ đều là các thứ của Mật giáo. 

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum. 

19/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 135. Nói về phù tạng

Chúng ta lại nói về phù tạng. Phù tức là chữ phù trong vẽ phù. Khi tôi nói đến cái này, nhất định có rất nhiều người nói, trong Phật giáo có vẽ phù sao? Nhưng trong Mật giáo thì có phù, bạn xem trong pháp bản của Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật, có rất nhiều phù ở trong đó, không phải là không có phù, chỉ là người bình thường không thật sự biết rằng trong Phật giáo cũng có phù.

Bạn xem những chữ Phạn kia, chữ Phạn chính là văn tự của Thiên Trúc, căn bản đó chính là phù, họ nói rằng vốn dĩ chữ Phạn này là do Đại Phạm Thiên Vương sáng tạo ra, là từ cõi trời xuống, nó có một biểu tượng, lấy ví dụ đơn giản một chữ “Hàn” - “Na-mô san-man-tô wa-zư-la hàn”, chữ “Hàn” này khi vẽ ra giống như một con người, giống một vị Bất Động Minh Vương cầm kiếm. Bản thân chữ Phạn chính là một loại phù thức. Người khác không nghĩ thế, nhưng tôi cho rằng đây là phù.

Trong pháp Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật có rất nhiều phù thức, bởi vậy trong Mật giáo nói không có phù, thật ra là vẫn có phù, tôi cho rằng tập hợp toàn bộ phù lại thì sẽ thành phù tạng. 

Phù này là cái thứ gì? Thật ra so với chú ngữ chỉ là dị thức đồng công <span className="note-blue">[hình thức khác nhau nhưng công hiệu như nhau]</span>, chú là dùng âm thanh để biểu hiện, phù là dùng kiểu chữ để biểu hiện; phù phải dùng cách viết, còn chú phải dùng cách phát ra thanh âm; một cái là âm, một cái là hình, cho nên phù và chú vốn dĩ là không tách nhau.

Trước kia tôi vẽ phù, bản thân nó có trên, giữa, dưới, phía trên gọi là tam dương khai thái, danh hiệu của Phật, ở giữa là sắc lệnh việc gì đó, ở dưới là ấn của Phật Bồ Tát, chữ “Cang” đó là ấn của Phật Bồ Tát, in ở đó, có người gọi là ruột phù.

Vẽ phù cũng phân ra trên, giữa, dưới, Phật nào đó sắc lệnh việc gì đó thành công, áp ấn cang sẽ thành phù. Hình thức phù thông thường là như vậy. Phù và chú đều có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh, vì sao có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh? Bởi vì trong kiểu chữ của bản thân phù có danh hiệu của Phật Bồ Tát ở trong đó, có ấn bí mật của ngài ở trong đó, vì thế có thể sinh ra một dạng sức mạnh.

Chúng ta niệm chú ngữ là có thể sinh ra sức mạnh, ví dụ bạn chỉ mỗi niệm Phật cũng có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh, trì chú cũng có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh. Bản thân phù có danh hiệu Phật Bồ Tát, có nghĩa bí mật của Phật Bồ Tát, ấn bí mật ở bên trong, cho nên nó cũng có thể sinh ra sức mạnh.

Còn có một điểm quan trọng nhất chính là, bạn là người học Mật pháp, bạn phải biết thỉnh cầu Bổn tôn của chính mình hạ giáng để bố quang, tức là tập trung ánh sáng trên lá phù đó, tập trung ở trên lá phù thì có thể sản sinh ra một dạng sức mạnh. Nói cách khác là một tờ giấy rất bình thường, sau khi vẽ chữ lên, sau khi viết vài chữ lên đó, nhờ thỉnh Phật Bồ Tát đến phóng quang gia trì lên tờ giấy này, một khi có phóng quang gia trì lên tờ giấy thì sẽ sản sinh ra sức mạnh, sản sinh pháp lực, cái này chính là công hiệu của phù. Giả sử không có Phật Bồ Tát phóng quang gia trì lên tờ giấy đó thì tờ giấy này vẫn chỉ là giấy. Cho nên sự khác biệt giữa giấy và phù nằm ở đây.

Tôi nói với mọi người, cầu pháp nước chú Đại Bi, trước đây tôi luôn luôn nói rằng, nước chú Đại Bi là chúng ta lấy một cốc nước, chính là một cốc nước bình thường, dựa theo cách làm pháp của Mật giáo, đầu tiên thỉnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến, thỉnh cầu Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hạ giáng, từ trong hư không giáng xuống. Bạn thỉnh cầu ngài thì phải quán tưởng thế nào? Kết thủ ấn Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, niệm tâm chú của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, đây là ba yếu tố của Mật giáo.

Phải tưởng tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến, niệm chú của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, kết thủ ấn của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, quán tưởng ngài ở trong hư không hiển hiện, sau đó Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát phóng quang vào trong cốc nước, điểm này rất quan trọng, đây chính là đang bố quang!

Chỉ cần ánh sáng đi vào trong nước, vốn dĩ chỉ là một cốc nước bình thường mà thôi, nhưng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát cầm cành dương liễu, vẩy cam lộ một cái, chà! Cam lộ sẽ rơi vào trong nước. Bạn đều phải quán tưởng rất rõ ràng, sau đó bạn chắp tay trì chú Đại Bi, bạn niệm 49 biến chú Đại Bi, hoặc là 21 biến chú Đại Bi đều được. Tóm lại, bạn niệm đến khi cảm ứng, niệm đến khi cảm thấy Quan Thế Âm Bồ Tát thật sự cầm cành dương liễu vẩy tịnh thủy vào trong cốc nước bình thường, 21 biến, 49 biến chú Đại Bi, hoặc bạn muốn niệm nhiều hơn cũng được, càng nhiều càng tốt, niệm 108 biến chú Đại Bi, liên tục niệm, niệm đến khi chính mình cảm ứng.

Rất nhiều người có cảm ứng, không phải là chỉ có vài người, rất nhiều người có thể cảm ứng được Phật Bồ Tát giáng lâm, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đích thực giáng lâm, ánh sáng của ngài chiếu khắp và đi vào trong nước, lúc này cốc nước này chính là nước chú Đại Bi.

Cho nên rất nhiều người đến hỏi tôi, cầu nước chú Đại Bi như thế nào. Tôi dạy cho bạn biết, nước bình thường đặt tại Phật đàn, bạn quán tưởng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát đến, kết thủ ấn Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, trì chú Đại Bi, liên tục trì, trì đến khi bạn có cảm ứng, trì đến khi bạn cảm ứng thấy Quan Thế Âm Bồ Tát Đến, phóng quang vào trong nước, cốc nước này chính là nước chú Đại Bi. Bởi vậy trì chú có công lực như vậy.

Thế còn phù, bạn vẽ xong phù của nước chú Đại Bi, làm pháp tương tự, nước và phù thật ra cách làm pháp như nhau, quán tưởng như nhau, trì chú như nhau, kết thủ ấn như nhau, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát phóng quang gia trì lên phù, lá phù này đốt thành tro rồi bỏ vào trong nước, nước này sẽ thành nước chú Đại Bi, giống nhau. Vì thế phù chú như nhau, nó có pháp lực và tác dụng của bản thân nó. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

19/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 136. Ba yếu tố của Mật giáo Yết ma pháp (1)

Hôm nay chúng ta nói một chút về ba yếu tố của pháp Yết ma. 

Nhìn chung mà nói, trong Mật giáo cũng có pháp xuất thế và pháp nhập thế, pháp xuất thế chính là tu pháp bình thường của chúng ta, tu pháp là vì chấm dứt sinh tử, minh tâm kiến tính, pháp như vậy gọi là pháp xuất thế. Thế còn pháp nhập thế gọi là pháp Yết ma, tức là tác pháp, ví dụ như giúp người ta tiêu tai, làm tăng ích, kính ái, làm hàng phục, đây gọi là pháp Yết ma.

Trong Mật pháp phân ra pháp xuất thế và pháp nhập thế, pháp Yết ma có ba yếu tố quan trọng, chúng ta gọi là Bổn tôn, người làm pháp, người cầu pháp, có thể nói đây chính là ba yếu tố. 

Ba yếu tố này, bản thân chúng có ý nghĩa quan trọng ở bên trong. Ví dụ như mấy hôm trước tôi nói, nếu bạn muốn một pháp thành công thì nhất định phải có Bổn tôn giáng lâm, Bổn tôn giáng lâm để bố quang, thế thì pháp này sẽ có thể thành. Bổn tôn không giáng lâm để bố quang thì giống như bạn đang diễn trò thôi, thế nào là diễn trò? Tức là diễn một trò chơi của pháp, nhưng trên thực tế chẳng có hiệu quả gì. Chỉ có Bổn tôn vô hình giáng lâm phóng quang gia trì thì pháp này mới là pháp thành công.

Trong Mật giáo có nói rất kĩ càng, chỉ có Phật Bồ Tát vô hình phóng quang gia trì cho bạn, tu pháp như vậy mới xem là pháp có thành tựu. Thiếu điều này thì chỉ là đang diễn trò múa rối, lắc lắc mấy cái rồi đi vào, thế là kết thúc, nhưng trên thực tế không có hiệu quả gì. Người cầu pháp kia cũng không có được cảm ứng gì, bản thân người làm pháp là bạn mà nói thì bạn cũng chưa chắc cảm ứng được để mà nói pháp này là pháp thành công.

Điểm này rất quan trọng, trong ba yếu tố cũng vẫn là có Bổn tôn. Vậy muốn thỉnh Bổn tôn đến thì có rất nhiều kỹ xảo, trước kia sư phụ Mật giáo từng nói, quán tưởng của bạn phải cực kì rõ ràng, nhất định phải có sức mạnh. Sư phụ cũng từng nói với tôi, anh nghĩ đến cái gì, ví dụ anh muốn thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát đến, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát ở trong hư không. Sau đó, anh phải quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát mặc thiên y bay bay, ngài liên tục di động tiến về phía trước, quán tưởng váy thiên y của ngài tung bay, quán tưởng ngài đeo khuyên tai, hoặc trên tay đeo vòng, tất cả đều lay động. Phải quán tưởng rất rõ ràng, biểu thị tinh thần của bạn rất tập trung, ý niệm vô cùng rõ ràng, một lòng phụng thỉnh ngài đến. Ngay cả váy thiên y của ngài cũng lay động. Sư phụ tôi nói đây là một khẩu quyết. 

Sư phụ Mật giáo nói rằng bản thân cái này chính là khẩu quyết, hơn nữa chân của ngài còn phải cử động nữa, liên tục bước đi về phía trước, còn phải quán tưởng chân ngài chuyển động chứ không phải là đứng trơ trơ ra trong hư không. 

Tôi nói với mọi người một bí mật, mỗi một lần tôi làm nước cam lộ để sái tịnh, hoặc làm cam lộ hóa thực, tôi đều quán tưởng tịnh bình có cành liễu của Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát hơi lay động tịnh bình, tức là hơi nghiêng một chút, thế rồi cành dương liễu có nước nhỏ xuống, trên tay tôi cầm một tịnh bình, nước đó sẽ rơi vào trong tịnh bình của tôi, đây chính là khẩu quyết của bản thân tôi. 

Bản thân tôi mỗi buổi sáng đều làm sái tịnh, khi làm cam lộ thí thực, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát ở tại hư không, trên tay ngài cầm tịnh bình, dương liễu tịnh thủy, nghiêng một cái là cành liễu vẩy tịnh thủy sẽ nhỏ cam lộ vào trong tịnh bình của tôi, sau đó tôi lại chấm vào tịnh bình này để vẩy nước đi.

Đây là một khẩu quyết rất quan trọng, quán tưởng phải vô cùng rõ ràng, trên thực tế cũng cảm ứng được Quan Thế Âm Bồ Tát đến, đây chính là một khẩu quyết rất quan trọng. Vì thế, khi chúng ta làm quán tưởng, nhất định phải tưởng tượng rất rõ ràng, biểu thị tinh thần của bạn rất thống nhất, có thể thỉnh được Quan Thế Âm Bồ Tát. 

Rồi còn gì nữa? Bạn muốn thỉnh Bổn tôn đến thì còn phải biết làm thủ ấn câu triệu. Bạn quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát hiển hiện trong hư không, quán tưởng chân ngài dẫm lên mây, sau đó cái móc này biến to ra, biến thành rất dài, rất lớn, một cái móc kéo dài đến tận hư không, và cái móc phải móc vào đám mây của ngài để cho ngài không thể bay đi nơi khác, mây đã bị bạn móc chặt lại rồi, thế thì Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định phải đến.

Trước kia còn có đệ tử nói như thế thì sẽ làm cho ngài ngã nhào mất, ngã nhào tức là khi bạn móc vào đám mây thì Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ đứng không vững, ngài nhất định phải hạ xuống, như thế này thì cũng là nghĩ hơi quá mức rồi. Quan Thế Âm Bồ Tát từ trên mây rơi xuống, không cẩn thận một cái là ngài ngã trẹo chân luôn. Đây là nghĩ thái quá rồi, thật ra chỉ cần móc vào đám mây của ngài là được rồi. Thế rồi quán tưởng ngài phóng quang gia trì, là như vậy.

Còn gì nữa? Bạn biết ấn “tâm trong tâm”, khi bạn muốn quán tưởng vị Phật Bồ Tát nào thì bạn kết thủ ấn của vị Phật Bồ Tát đó. Hơn nữa ấn tâm trong tâm động một cái, một khi đã động, vừa nghĩ đến ngài, rồi cử động ấn tâm trong tâm, thì sẽ làm xúc động tâm của Phật Bồ Tát, hễ xúc động tâm của Phật Bồ Tát thì ngài nhất định phải đến, cho nên ấn tâm trong tâm là mật truyền, không thể nói ra được.

Trong Mật giáo có rất nhiều bí mật kiểu này, rất nhiều khẩu quyết, nếu tùy tiện nói ra ấn tâm trong tâm, mọi người biết được rồi thì sẽ tùy tiện kết ấn tâm trong tâm, thế thì hại Phật Bồ Tát trong hư không phải chạy loạn lên khắp nơi. Phật Bồ Tát chạy loạn khắp nơi, đành chịu thôi vì bạn đã cử động ấn tâm trong tâm rồi, ngài không đến không được. Nhưng đến một cái thì phát hiện ra, việc nhỏ như hạt vừng! “Vì sao con mèo của tôi không chịu ăn cơm?…” Bạn cũng dùng ấn tâm trong tâm, thế thì quá đáng rồi. 

Đối với rất nhiều sự việc, chúng ta thật sự phải giữ đạo trung quán, trung quán tức là với bất kì sự việc gì thì bạn đều phải phù hợp với trung quán, đây là yếu quyết về Bổn tôn, yếu tố thứ nhất. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

19/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 137. Ba yếu tố của Mật giáo Yết ma pháp (2)

Hôm qua chúng ta đề cập đến Bổn tôn giáng lâm là rất quan trọng, nhưng điều kiện chủ yếu để Bổn tôn giáng lâm nằm ở đâu? Thật ra nằm ở người làm pháp, tức là người tu pháp, điều này rất quan trọng. Bổn tôn đến hay không đến, trọng điểm nằm ở chính người đó.

Vậy người làm pháp phải làm sao? Tức là tất cả đồ cúng dường của bạn phải chu toàn, phải viên mãn, những thứ trong khi bạn tu pháp phải cực kì thanh tịnh viên mãn. Bạn là người làm pháp, bản thân bạn mà nói phải nhất tâm, nhất tâm đi làm pháp đó, không có nhị tâm, không thể nói vừa làm pháp, vừa bóc trái cây, vừa ăn chuối, như thế thì không được rồi, như thế là đã nhị tâm rồi! Bạn vừa làm pháp, vừa lấy bánh quy để ăn, như thế là không được!

Vì thế khi tu pháp phải hoàn toàn nhất tâm, đồ cúng phải đầy đủ, tất cả đồ cúng phải thanh tịnh, phải chu toàn, giả sử bạn cẩn thận hơn thì bạn còn phải mộc dục, mộc dục tức là nói rằng bạn bạn phải đi tắm trước. Thế rồi cẩn thận hơn nữa là bạn phải trai giới, khi tôi muốn làm một pháp này, tôi thanh tịnh chính mình, trước tiên là trai giới, rồi tắm gội, rồi đánh răng, dùng chỉ nha khoa, kem đánh răng, súc miệng…, tất cả đều làm cho sạch, bằng không khi bạn niệm chú, khí mà bạn thở ra đều bẩn.

Tịnh khẩu, tịnh thân, còn cả ý niệm cũng phải thanh tịnh, còn gì nữa? Tất cả nghi quỹ bạn đều phải hiểu rõ ràng, hoàn toàn không được bỏ sót, tức là bạn làm đại cúng dường, cũng phải làm đại lễ bái, cũng phải niệm chú tứ quy y, bạn cũng phải làm mặc giáp hộ thân. Rồi trong quá trình bạn làm pháp, thỉnh cầu, bạn đều không được bỏ sót. Tất cả tu hành - phát tâm thế nào, hồi hướng ra sao, trì chú thế nào, niệm kinh ra sao, tất cả đều phải rất đầy đủ. Nếu làm pháp như vậy thì Bổn tôn sẽ giáng lâm.

Vì thế người làm pháp, bản thân người đang tu, cũng rất quan trọng. Nếu người tu mà sơ suất thì sẽ phạm vào tội xem thường, tội xem thường tức là không hề coi trọng pháp này mà lại xem nhẹ. Vậy giả sử bạn nói, sợ rằng trong lúc làm pháp bạn có khuyết điểm, vậy thì bạn phải niệm Bách tự minh chú, sau cùng còn phải niệm chân ngôn, niệm Bách tự minh chú để bù đắp lại.

Ý ở đây nói rằng, trong quá trình tôi tu pháp, có suy nghĩ không cung kính với Phật Bồ Tát, hoặc là đối với bản thân Phật Bồ Tát không đầy đủ lễ phép, hoặc là trong nghi quỹ bạn làm có khuyết điểm, vậy thì niệm ba biến Bách tự minh chú để sửa chữa khuyết điểm. Cái này giống như bổ sung, bù đắp. Bổ khuyết xong thì sẽ tốt, sẽ không nghiêm trọng nữa, nói cách khác là pháp này của bạn đã rất chu toàn rồi. Người làm pháp rất quan trọng, phải nhất tâm đi làm pháp này. 

Ngoài ra, ba yếu tố tu hành pháp Yết ma thì cái thứ ba là người cầu pháp. Bổn tôn cũng giáng lâm rồi, bản thân bạn cũng làm pháp rất chu toàn rồi, nhưng người cầu pháp thì qua loa đại khái, cái này cũng không được. Ngày nay cũng có rất nhiều người cầu pháp như vậy, tình huống này cũng có.

Ví dụ có người cầu Sư Tôn làm một đàn Hộ Ma, người ta hỏi: “Vì sao anh muốn làm Hộ Ma?”  
”Nghe nói Hộ Ma rất hữu hiệu, cho nên muốn thử xem.” Bạn không thể nói câu “thử xem” này, trong lòng cũng không được nghĩ thế. Phật Bồ Tát đến đây phóng quang gia trì cho bạn mà còn phải để cho bạn thử ư? Phật thần thánh như vậy, Bồ Tát thần thánh như vậy xuống đàn để phóng quang gia trì cho bạn, kết quả là người cầu pháp lại nói: “Tôi thử xem thế nào.” Thế này thì sai quá rồi!

Người cầu pháp nhất định phải kiền kính, kiền kính tức là kiền thành và cung kính, tốt nhất là nhất định phải đến. Bản thân người cầu một đàn pháp phải đến, như vậy mới tốt, mới được tính. Trước kia có người như thế này, “Ồ! Sư Tôn đang làm Hộ Ma à, hầy tốt quá, tôi cũng muốn báo danh tham gia, giúp tôi báo danh thỉnh cầu, cứ ứng trước cho tôi một khoản tiền đi!” Tùy ý thôi, không hề quy định bạn phải đưa bao nhiêu tiền.

Tùy ý là được, nhưng mà khẩu khí của bạn là nói rằng, cứ tùy ý giúp tôi đi, tùy ý giúp tôi một chút đi, tôi cũng tham gia một phần. “Thế anh cầu cái gì?” “Để tôi nghĩ thử xem tôi muốn cầu cái gì!” Như thế là đã mất sự kiền kính rồi.

Bạn phải rất kiền kính, phải có tâm rất cung kính, cầu Phật Bồ Tát giáng quang, cầu Thượng sư làm cho bạn một đàn pháp, ba tâm này phải hợp nhất, tức là tâm của Bổn tôn, tâm của người làm pháp, tâm của người cầu pháp phải hợp nhất, điểm này rất quan trọng.

Vì thế trước đây có người cầu Sư Tôn vẽ phù cho họ, tôi nói: “Anh muốn vẽ mấy lá?” Anh ta nói: “Càng nhiều càng tốt!” Tôi nói: “Cái gì mà càng nhiều càng tốt chứ?” Anh ta nói: “Để dành khi cần đến. Có khi hàng xóm xung quanh cần, hoặc có bệnh thì tôi sẽ cho họ, hoặc là thế nào đó…” Thế chẳng phải là đã biến thành công ty phù lục sao? Điều này không được! Cầu cũng không thể nói là tôi cầu 100 lá, tôi muốn cầu 200 lá, tốt nhất là vẽ toàn bộ phù trong cuốn sách đó cho tôi đi, mỗi loại phù cho tôi năm lá. Không phải là kiểu cầu pháp này!

Người cầu phù đó phải thật sự viết sớ văn, biểu thị sự kiền thành và cung kính của anh ta. Phải khởi bẩm để trời nghe, phải để cho thứ này của anh ta lên đến thiên đình, để Phật Bồ Tát biết bạn rất kiền thành cung kính đến cầu, chứ không phải là rất tùy tiện.

Bởi vậy người cầu pháp bây giờ rất tùy tiện! Đúng kiểu như vậy! “Giúp tôi cầu đi, được không, tôi không biết đâu, thôi thì cứ tùy ý mà giúp tôi cầu đi!” Người như thế thì không được. Nhất định là người có việc cũng phải có mặt, hơn nữa phải rất kiền thành, rất cung kính, phải cùng trì chú, như vậy mới tốt. Đó chính là một đàn pháp Yết ma rất hoàn mỹ. Yêu cầu người cầu pháp, người làm pháp, Bổn tôn giáng lâm, cả ba hợp nhất, đây chính là ba yếu tố tu hành pháp Yết ma. 

Mọi người đã hiểu rồi nhỉ, cho nên cầu pháp không thể cầu thay, cũng không thể tùy tiện cầu, cũng không thể đánh mất sự cung kính. Sư Tôn thì đang ở bên này làm pháp mà anh ta ở bên kia liên tục gãi chân, như thế cũng không được. Vì thế phải chú ý, bản thân người cầu pháp tốt nhất cũng phải tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

20/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 138. Đại viên kính trí (1)

Hôm nay chúng ta nói về Đại viên kính trí.  
Trong Mật giáo, có thể nói tổ sư là Kim Cang Tổng Trì, Ngũ Phương Phật chính là Đại Nhật Như Lai, A Súc Phật, A Di Đà Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, đều được gọi là bậc Kim Cang Tổng Trì, tất cả đều được gọi là Kim Cang Tổng Trì. Vị cao nhất chính là Kim Cang Tổng Trì, sau đó ở dưới chính là Ngũ Phương Phật, Ngũ Phương Phật lại hóa sinh ra Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, gọi là Kim Cang Tát Đỏa. 

Thật ra, Kim Cang Tát Đỏa cũng có thể gọi là Kim Cang Trì Tôn Giả. Kim Cang Tát Đỏa lại có ba thân — như là Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Kim Cang Tâm Bồ Tát, tức là một vị là Pháp thân, một vị là Báo thân, một vị là Ứng thân. Kim Cang Tâm, Kim Cang Thủ, Kim Cang Tát Đỏa là cùng một vị Bồ Tát. 

Ngũ Phương Phật đại diện cho năm trí huệ của bản thân Phật (Kim Cang Tổng Trì), năm trí huệ rất lớn. Trong đó, Đông Phương A Súc Như Lai, trí huệ mà ngài tượng trưng là Đại viên kính trí - trí huệ giống như chiếc gương tròn lớn. Còn như trong “Duy Thức Luận” có nói thì đây là trí huệ thuộc về thức thứ tám khai phá ra, gọi là Đại viên kính trí.

Từ cách đây rất lâu đã có người hỏi tôi thế nào gọi là Đại viên kính trí. Gần đây, cũng có pháp sư Liên Kiêm hỏi tôi thế nào là Đại viên kính trí. Bây giờ tôi sẽ nói với mọi người thế nào là Đại viên kính trí. Thật ra, bản thức của Đại viên kính trí, ý nghĩa của vốn có chính là nói về bản thức thanh tịnh, tức là biểu thị một sự thanh tịnh rất viên mãn, cái thức này là sự thanh tịnh rất viên mãn, hoàn toàn không bị ô nhiễm, cái này chính là Đại viên kính trí. Bản thức hoàn toàn thanh tịnh không có ô nhiễm chính là Đại viên kính trí. 

Cũng có cách nói như thế này, các loại hình thái thiện ác của phàm phu, bạn đều có thể hiểu cực kì rõ ràng minh bạch. Phàm là đủ kiểu sự tình thiện ác trên thế giới này, nghìn thứ vạn thứ, muôn hình muôn vẻ, các loại thế giới hữu sắc, các loại hình tượng của thế giới vật chất, nếu bạn đều có thể hiểu được rõ ràng, thì có thể nói đây cũng là Đại viên kính trí. 

Người tu hành chúng ta muốn tu đến cảnh giới này thì cũng rất khó khăn. Bởi vì thiện ác thị phi đôi khi là chồng chéo lên nhau, khiến cho bạn không phân biệt được. Thế nào là hợp pháp? Thế nào là không hợp pháp? Cái gì là thuộc về thiện? Cái gì là thuộc về ác? Đôi khi, giữa hai suy nghĩ này, đột nhiên đan xen vào nhau, trong chốc lát bạn trở nên mơ hồ, thế thì bạn sẽ không phân biệt rõ được nữa.

Đôi khi bạn hỏi người ta, được, anh nói là thiện, vậy định nghĩa của thiện là gì? Trong chốc lát bạn mơ hồ luôn, định nghĩa của thiện là gì? Bạn không có cách nào đưa ra một định nghĩa, bởi vậy đạo lý, chữ lý này, chúng ta thường xuyên nói, ông nói ông có lý, bà nói bà có lý, rốt cuộc cái lý nào mới là đúng đây?

Đôi khi, nhân gian chúng ta có rất nhiều thị phi, ví dụ có một số người, đứng trên lập trường của Chân Phật Tông chúng ta mà nói, có một số đệ tử Chân Phật Tông, họ cho rằng, ôi chao, Sư Tôn nói về sự việc này vô cùng công chính, rất hay. Nhưng đứng trên góc độ khác để nhìn nhận, xem cách Sư Tôn xử lý sự việc này, cũng có rất nhiều người sẽ phê bình, sự việc này không nhất định là hoàn toàn mười phân vẹn mười. Giống như trong tông phái chúng ta, đôi khi thông báo một sự việc ra ngoài, sự việc này phải làm như thế nào, cũng có người có ý kiến, đúng không?

Ví dụ Kurukulle Phật Mẫu. Chúng ta tu pháp kính ái, chà, kết quả là đệ tử lợi dụng pháp của Kurukulle Phật Mẫu đi làm thành một loại bột kính ái, mọi người có biết không? Nói cách khác là, loại bột kính ái này có thể tăng cường sự kính yêu lẫn nhau. Kurukulle Phật Mẫu là Bổn tôn kính ái, pháp này vốn dĩ là rất hay, nhưng bây giờ đã có bán cả bột kính ái rồi, có người muốn bán bột kính ái, nói rằng mua về sử dụng cho gia đình mình, có thể khiến gia đình viên mãn. Cái này rất hay, đưa cho người yêu mình, khiến cho người yêu của mình càng yêu mình hơn, đeo một gói ở trên người, ai ai cũng yêu kính, đây đều là việc tốt.

Nhưng đứng từ một góc độ khác mà nói, người ta nói rằng giả sử để cho lưu manh mua được bột kính ái của Chân Phật Tông chúng ta, hắn cho mỗi cô gái ăn một chút, họ đều sẽ nảy sinh tình yêu với hắn. Ơ, bạn không nghĩ đến phương diện này à, bạn nói xem, vấn đề này đã phát sinh rồi. Tên lưu manh kia bôi đầy bột kính ái lên người, các cô gái nhìn thấy hắn đều nói rằng hắn tốt, thật ra hắn là kẻ đồi bại đó. Các cô gái đều yêu thích hắn, đều bị bột kính ái của hắn dẫn dụ. Đây là vì pháp lực của Kurukulle Phật Mẫu, vì thế, ở đây sẽ nảy sinh một vấn đề.

Bởi vậy mới nói, nếu bạn có thể dùng gương sáng trong tim mình đi chiếu hiện đủ loại thiện ác thị phi trên thế gian, hơn nữa còn có thể phân biệt được rõ ràng, loại trí huệ này gọi là Đại viên kính trí. Như vậy là bạn đại khái có thể hiểu được rồi, Đại viên kính trí nói rằng, bạn phân biệt rõ ràng cảnh giới của phàm phu, đồng thời, ý thức của bản thân bạn cũng là bản thức vô cùng thanh tịnh, bản thân bạn đã khai phát thức thứ tám, trong tim giống như gương sáng chiếu hiện, lúc này, bạn chính là Bao Thanh Thiên.

Bởi vì bạn nhìn tất cả mọi thứ trên đời, bạn đều rõ ràng, bạn xử án vô cùng chính xác, tỉ mỉ kĩ lưỡng, bạn chính là Bao Thanh Thiên, tuyệt đối không phải là Bao Hắc Thiên. Bầu trời này là trong veo, Đại viên kính trí chính là chiếc gương trong veo, bản thức thanh tịnh một chút ô nhiễm cũng không có, đây chính là Đại viên kính trí.

Cho nên hàng ngày tôi viết văn, mỗi lần đều phải quan sát rất rõ ràng, ví dụ tôi viết “Chân Phật Luận Kiếm” là phải quan sát rõ ràng, ở đây chính là dùng Đại viên kính trí để quán chiếu.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

21/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 139. Đại viên kính trí (2)

Chúng ta lại nói về Đại viên kính trí.  
Đại viên kính trí là khai phát thức thứ tám trong “Duy Thức Luận” sẽ sản sinh ra một dạng trí huệ vô cùng thanh tịnh viên mãn. Vậy thì cũng có người hỏi tôi, ngài biết Đại viên kính trí, vậy Đại viên kính trí tu như thế nào? Đây là một câu hỏi rất lớn, Đại viên kính trí có liên quan đến kính đàn huyễn quán, huyễn này là huyễn trong huyễn giác, quán là quán trong quán sát, cũng chính là pháp Huyễn quán.

Khi bạn tu Đại viên kính trí, trong Ấn Độ cổ đại và Tạng mật đều có dạy người ta cách tu ra sao. Họ dùng kính đàn, tức là dùng gương soi để bố đàn, ở trong phòng mình bố trí một đàn pháp bằng gương, những chiếc gương phải sắp đặt chiếu lẫn nhau. Hiệu ứng sinh ra sẽ như thế nào? Khi bạn ngồi trong kính đàn, nhìn về phía trước, có vô số bạn xuất hiện. Bên phải cũng có vô số bạn, bên trái cũng có vô số bạn, phía trước cũng có vô số bạn, phía sau cũng có vô số bạn. Nếu một mình bạn ngồi đó, chà, sẽ hiện ra nghìn nghìn vạn vạn bạn, đây là kính đàn.

Bạn có thể mời thợ kính đến để thiết kế kính đàn cho bạn. Bạn ngồi ở giữa, vừa nhìn thì thấy, chà, nghìn nghìn vạn vạn bạn ngồi trước mặt bạn, bên trái cũng có, bên phải cũng có, trước mặt cũng có, sau lưng cũng có, đây gọi là kính đàn.

Thế rồi cũng đặt Bổn tôn ở bên trong kính đàn, tương tự cũng sẽ hiển hiện nghìn nghìn vạn vạn Bổn tôn ở trên đỉnh đầu bạn. Trước kia trong khi tu hành, có sư phụ, tổ sư nói thế này: ở trong đàn thành này, bạn chỉ cần tu một đàn pháp thì tương đương với tu nghìn nghìn vạn vạn đàn pháp. Bởi vậy, pháp Thiên chuyển luân chính là từ trong pháp kính đàn này mà diễn biến ra.

Bạn thử nghĩ mà xem! Một mình bạn ngồi trong đó tu một đàn pháp, vốn dĩ bạn chỉ có một người đang tu, bạn ngồi trong kính đàn có nghìn nghìn vạn vạn bạn, lúc này bạn tu một đàn pháp chẳng phải là chuyển thành một nghìn đàn pháp sao? Một nghìn bạn tức là một nghìn đàn pháp, một vạn bạn chính là một vạn đàn pháp. Chà! Đây là pháp môn tiện lợi, các bạn ngồi bên trong làm một đàn Hộ Ma, tức là một nghìn đàn, chỉ cần tu một đàn tức là đã tu một nghìn đàn rồi! Chà! Lời quá rồi! Cái này chính là pháp Thiên chuyển luân, bằng cách này mà huyễn hóa ra.

Mọi người biết pháp Thiên chuyển luân, vậy thì bạn quán tưởng một nghìn bạn ở trong hư không, cùng niệm một tiếng Phật hiệu, một chú ngữ, tức là niệm một nghìn tiếng Phật hiệu, một nghìn tiếng chú ngữ, đây gọi là pháp Thiên chuyển luân. Điều này trong Mật pháp mới có, Hiển giáo bình thường không hề nói rằng, này, bạn niệm một biến tương đương với một nghìn biến, niệm một biến tương đương với một vạn biến, hoặc vô số vạn biến. Dùng pháp kính đàn để tu trì có lợi ích như vậy. Tổ sư nói rồi, bạn ở trong kính đàn tu hành có công đức rất lớn, công đức vô lượng vô số sản sinh ra từ trong kính đàn.

Đại viên kính trí tu như thế nào? Tức là bạn ngồi trước kính đàn, nhìn vào Bổn tôn, nhìn vào chính mình, giữa hai người đối chiếu lẫn nhau, giữa sự trang nghiêm của Bổn tôn và bạn đối chiếu lẫn nhau, cứ thế quan sát. Từ trong sự quán chiếu này, đột nhiên, Bổn tôn đi vào bên trong thân thể bạn, trong sát-na, Bổn tôn tiến vào bên trong thân thể bạn, bạn nhìn lâu là sẽ mơ hồ ngay! Nhìn rồi lại nhìn, quan sát rồi lại quan sát, liên tục quan sát Bổn tôn, nhìn lâu rồi sẽ trở nên mơ hồ… Ơ, làm sao thế nhỉ? Mình biến thành Bổn tôn rồi! Đây chính là Bổn tôn đi vào bên trong bạn, trong sát-na sản sinh ra một dạng biến hóa, hai bên hợp nhất, cũng tức là Bổn tôn, bạn, bạn trong gương, trong sát-na, khi có một dạng tương ứng của sự hợp nhất chính là lúc bản thân Đại viên kính trí hiển hiện, cũng tức là hợp nhất rồi. Bổn tôn, bạn, còn có cả bạn ở trong gương, ba người đột nhiên hợp lại. Phương pháp tu hành này chính là Đại viên kính trí kính đàn tu trì pháp, thật ra là có liên quan đến pháp Huyễn quán.

Có người có thể mượn phương pháp này để tu hành, thứ nhất đây vừa là pháp Thiên chuyển luân, thứ hai đây cũng là pháp kính đàn của Đại viên kính trí, hai điều này đều cực kì tốt. Bởi vậy phương pháp tu hành này tôi cảm thấy rất hay. Chúng ta thường xuyên quan sát chính mình, từ trong gương quan sát chính mình, quan sát nghìn nghìn vạn vạn mình, sau đó khiến cho thân khẩu ý của chính mình và thân khẩu ý của Bổn tôn hoàn toàn thanh tịnh giống hệt nhau. Chỉ cần sự thanh tịnh của Bổn tôn và sự thanh tịnh của hành giả có thể hợp nhất thì gọi là Đại viên kính trí, chính là hợp nhất rồi.

Trước kia tôi cũng từng nói, cách tu hành này, đôi khi bạn soi gương, trong gương sẽ xuất hiện khói, trong gương sẽ xuất hiện Bổn tôn, thậm chí sẽ xuất hiện ánh sáng, sau đó Phật quốc xuất hiện, Phật quốc ở ngay trong gương, sau đó chính bạn cũng tiến vào Phật quốc.

Trước kia tôi từng nói, khi bạn tu pháp huyễn quán này, khi tu pháp kính đàn này, đến Tây phương Cực Lạc thế giới, đến chỗ của Vương Mẫu Nương Nương, bạn còn có thể ăn được đào tiên. Khi xuất hiện khói, còn có thể nhìn thấy cảnh tượng của khói. Nhìn thấy ánh sáng, nhìn thấy lửa, thế rồi tự mình có cảm ứng, Phật quốc xuất hiện, Bổn tôn ở trong gương, những cái này đều là hiện tượng của sự cảm ứng.

Nhưng cần chú ý một chút, bạn không thể đi tìm kiếm cái gì đó. Có người ở trong tình huống này muốn tìm kiếm đại thần thông hoặc là thế nào đó, vậy thì cũng có người sẽ đi vào bàng môn.

Đây là một phương pháp tu hành rất hay, nhưng tâm tu hành nhất định phải rất định, phải rất tĩnh, phải hoàn toàn có thể giữ được sự tự chủ đối với tâm cảnh chính mình, điểm này rất quan trọng. Không thể để cho chính mình đi vào bàng môn, đi vào bàng môn cũng sẽ sản sinh ra hiện tượng không tốt. Đây chính là tu hành pháp kính đàn của Đại viên kính trí.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

21/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 140. Tính Không (1)

Hôm nay chúng ta nói về tính Không. 

Hai chữ tính Không này rất khó giảng, rất khó nói. Nó chính là tên gọi khác của chân như. Bản thân tính Không mà nói chính là chân như. Còn chân như cũng chính là tính Không.

Rất nhiều người khi nói về tính Không, họ đều sẽ nói như thế này, họ nói: “Tính Không chẳng có gì để mà nói, bởi vì tất cả đều là không.” Bản thân câu nói này không phải là rất chính xác. Nói tất cả đều không tức là tính Không, thế thì câu nói này không đúng rồi.

Cái gọi là tính Không tức là dựa vào trong cái Không mà hiện ra thực tính của nó. Đây mới là chính xác. Dựa vào trong cái Không mà hiện ra thực tính của nó mới gọi là tính Không.

Thế còn muốn tu tính Không này, tu cho chân như này hiển hiện ra là như thế này, có một phương pháp tu hành, ở trong trí huệ bát nhã, có một phương pháp là lìa bỏ ngã chấp, lìa bỏ pháp chấp, thì sẽ có thể dung nhập tính Không và tiến vào tính Không. 

Trước kia tôi từng giảng rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp lâu như vậy, thật ra là ngài đều đang nói về chân như này, cũng là đều đi xung quanh tính Không này, nói về điều đó. Thế nhưng, nếu bạn muốn thật sự đi vào trong tính Không thì đó thật sự là cực kì khó khăn. Lìa bỏ ngã chấp, mọi người biết rồi, lìa bỏ ngã chấp chính là tất cả mọi sự bám chấp vào cái tôi này đều không còn. Ta vốn dĩ chính là không, tôi từng nói thân thể một con người là từ đất nước lửa gió tổ hợp lại mà thành. Vậy thì sau khi phân tách thân thể con người ra thì cái tôi này không còn tồn tại nữa.

Mọi người cho rằng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn này, Lư Thắng Ngạn chính là Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn chính là tôi, trên thực tế Lư Thắng Ngạn chỉ là một mã hiệu mà thôi. Bản thân Liên Sinh Hoạt Phật mà nói cũng là một mã hiệu, có tính tượng trưng. Vậy Lư Thắng Ngạn chân chính là ai? Mọi người sẽ chỉ ra, chính là cái người đang ở đây thuyết pháp này. OK! Vậy bạn chỉ chỗ nào là tôi? Đầu là tôi sao? Không đúng! Hẳn là toàn thân đều là tôi, nhưng trên thực tế, toàn thân đều là tôi, là bốn thứ đất nước lửa gió tổ hợp lại mà thành.

Chúng ta biết rằng lửa ở đây chính là nhiệt độ; gió chính là không khí hô hấp; nước chính là máu và những dịch thể trong người bạn, tất cả đều thuộc về nước; đất chính là xương, thịt, da, lông, đều thuộc về đất. Khi tứ đại phân tách ra, cái tôi này sẽ không tồn tại nữa. Bốn thứ này tổ hợp lại thì sẽ hình thành một cái tôi, phân tách ra rồi thì không còn nữa.

Đây chính là một phương pháp loại bỏ ngã chấp. Muốn loại bỏ ngã chấp, bạn phải thường xuyên nghĩ như vậy. Bạn nhìn một cái bàn, chúng ta biết rằng đây là một cái bàn, cái bàn này có thể phân tách ra, biến thành mặt bàn, biến thành như vậy. Một khi tách ra thì không còn là một cái bàn nữa. Đạo lý tương tự. Bạn nói cái này tuy rằng không phải là cái bàn, nhưng nói chung là một tấm gỗ. Được thôi, là một tấm gỗ, bạn phân tách nó ra, cưa nó ra thì sẽ biến thành mùn rồi. Dùng phương pháp khoa học để phân tách nó ra, đốt nó thì sẽ không còn nữa, sẽ hóa thành khí, không còn gì cả, trên thực tế cũng là không. Đây chính là phương pháp loại bỏ ngã chấp.

Còn nữa, phải làm sao để loại bỏ pháp chấp? Pháp chấp được nói đến ở đây là, thế giới có hình sắc đều là pháp chấp. Thế giới có hình sắc, thế thì quá rộng lớn. Chúng ta nói về hành tinh là được rồi. Bạn có biết không, hành tinh này, trong kinh Phật có nói - Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Niệm vô biên xứ, ngoài ra còn có Tưởng vô biên xứ, tất cả đều là vô tận vô biên. Bạn nhìn xem hành tinh của vũ trụ này, thật sự là không có biên giới. Đến bây giờ, các nhà khoa học đều vẫn không thể nói cái biên của thế giới này nằm ở đâu, đều không có cách nào nói được.

Vì thế, Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói một câu, bạn nói đến chữ Không này, dùng đầu óc của phàm phu bình thường để mà nghĩ về chữ Không này thì sẽ phát điên. Thế nào là phát điên? Tức là về cơ bản không có cách nào suy lường được. Đối với Không, không có cách nào để đo lường. Phật Đà từng nói, lấy phàm phu để mà đo lường cảnh giới của Phật, cảnh giới của Không, thì sẽ phát điên. Căn bản là không cách nào đo lường được! Cũng chẳng có cách nào đi suy nghĩ cảnh giới đó ở chỗ nào! Vì thế, loại bỏ pháp chấp là vô cùng khó. Vô cùng khó, cực kì khó.

Nghĩ mà xem, có bao nhiêu ngôi sao? Có bao nhiêu thế giới của những ngôi sao này? Có bao nhiêu thế giới to hơn trái đất? Ngoài hệ mặt trời thì sao? Bạn không cách nào dùng não của mình để nghĩ về thế giới, quá rộng lớn, quá trống rỗng! Suy nghĩ như vậy cũng có thể khiến bạn dung nhập vào cảnh giới này.

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể nghĩ như thế này: kiến có thế giới của kiến, mức độ nhỏ thì là thế giới của loài kiến. Nhỏ đến mức như ốc sên, trước kia tôi thường nói về ốc sên, hai cái vòi của ốc sên, ở trên đó cũng có thế giới của chúng, nghe nói có mấy nghìn triệu vi trùng ở trên cái vòi của ốc sên, đó cũng là một địa cầu đó! Ở trên cái vòi của nó có hai địa cầu, đôi khi nó sẽ cuộn lại để đánh nhau. Nó cũng có chiến tranh giữa các vì sao đó, bởi vì hai cái vòi của nó sẽ đánh lẫn nhau, nó cũng có chiến tranh giữa các vì sao.

Nhỏ thì có thể nhỏ đến mức như vậy, to thì có thể to đến mức vô biên. Nếu nghĩ như vậy, bạn có thể loại bỏ được pháp chấp này. Đối với tất cả thế giới hữu hình sẽ loại bỏ hết. Như vậy thì rất dễ tiến nhập tính Không, loại bỏ ngã chấp, sau đó loại bỏ pháp chấp, rất dễ tiến vào trong thế giới của tính Không, đi ngộ nhập thế giới chân như. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

21/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 141. Tính Không (2)

Chúng ta lại nói về tính Không.

Mọi người biết rằng, tính Không rất khó dùng suy nghĩ của bạn để mà đo lường, bởi vì rất khó đo lường sự vô biên vô tế của nó, cho nên rất dễ khiến cho người ta phát điên. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, nói về chân như, là dùng trí huệ bát nhã để đi đo lường duy thức. Duy thức là nhỏ nhất, tính Không là lớn nhất, còn chân như lại bao gồm toàn bộ. Thật sự là để cho bạn đi suy ngẫm về điều này thì đều chẳng có cách nào nghĩ được. Vì thế, có người nói, tất cả đều không là cũng không đúng. Bởi vì cái gọi là tính Không là từ trong hư không hiện ra thực tính của nó.

Thiên Thai tông có “Thiên Thai tam quán” như thế này. Phương pháp của nó nói rằng, tất cả thứ hữu tướng, tất cả mọi thứ có hình tướng đều là Không, đây là quán Không thứ nhất. Thế giới của vô tướng chính là Không, thế giới của hữu tướng cũng là Không. Tất cả những thứ có hình tượng đều là giả.

Gần đây tôi đọc sách, chúng ta biết vườn Cấp Cô Độc, trước kia có trưởng giả Cấp Cô Độc xây cho Phật Thích Ca Mâu Ni một khu vườn Cấp Cô Độc. Bên trong vườn Cấp Cô Độc có một tinh xá, tinh xá đó tên là gì? Là tinh xá Kỳ Viên đúng không? (Đệ tử trả lời.) Sao mọi người lại nói nhỏ như vậy, là tinh xá gì? (Đệ tử trả lời.) Phải nói to như vậy thì tôi mới nghe được, tôi mới có thể nói ra được chứ!

Thật ra là tôi biết, nhưng mà cái chữ đầu tiên tôi luôn phát âm sai, trước kia tôi luôn nói là tinh xá Kỵ Viên, thật ra là Kỳ Viên đó!  
Tinh xá Kỳ Viên đó là nhà lầu bảy tầng, khi xưa rất đẹp đẽ, mọi người biết trưởng giả Cấp Cô Độc mua cho Phật Đà khu vườn Cấp Cô Độc đó là dùng vàng để phủ lên mặt đất. Vị Vương Tử kia nói rằng vốn dĩ anh ta không bán, sau cùng trưởng giả Cấp Cô Độc nhất định muốn mua, anh ta nói vậy thì như thế này, ông dùng vàng để phủ đầy vườn Cấp Cô Độc thì tôi sẽ bán cho ông. Kết quả là ông ấy thật sự đã dùng vàng để phủ đầy khu vườn Cấp Cô Độc. Đó là người rất giàu có thì mới có cách, vì thế, khi phủ vàng xong thì ông ấy xây lên tinh xá Kỳ Viên.

Tinh xá này cao bảy tầng, vào thời đó mà nói thì là nơi hào hoa nhất. Bây giờ bạn đi tới đó xem, nhà lầu bảy tầng - một đống tro tàn! Chẳng còn gì cả! Đã trải qua hơn 2.500 năm rồi, thứ này không còn nữa, cho nên nhà lầu cũng không còn.

Bạn nói nước Xá Vệ, khi xưa thành Xá Vệ là một *big city* đó, là một thành phố lớn, ở trong kinh điển nói rằng thành Xá Vệ này có bản nghìn vạn nhân khẩu, bạn nói xem bảy nghìn vạn nhân khẩu có lớn không? Trong thành Xá Vệ có bảy nghìn vạn nhân khẩu, bây giờ Tokyo mới có mấy nghìn vạn, hai nghìn vạn nhân khẩu <span className="note-blue">[20 triệu người]</span>, thành Xá Vệ có bảy nghìn vạn nhân khẩu. Bây giờ thì sao? Thành Xá Vệ chẳng còn cái gì cả! À vẫn còn! Một ít gạch! Một ít ngói! Còn có một số người sống ở đó, không còn nhiều người như xưa nữa.

Điều này đã chứng minh cái gì? Chứng minh rằng thế giới hữu hình đều rất giả, nó sẽ tiêu biến, nó sẽ hóa thành không, nó sẽ giải tán, nó sẽ phân tách, nó sẽ thành, trụ, hoại, không.

Đây chính là một dạng giả quán. Giống như con người chúng ta, tôi nói rồi, đất, nước, lửa, gió, không phân tách ra, con người bạn sẽ ở đâu? Lư Thắng Ngạn ở đâu? Trước khi chưa sinh ra ở đâu? Sau khi chết đi rồi ở đâu? Lư Thắng Ngạn trước khi sinh ra ở đâu? Sau khi chết rồi ở đâu? Còn không phải là giả ư, phân tách ra rồi thì sẽ là giả, tất cả quy về không, không có nữa. Cho nên cái này gọi là không quán, giả quán.

Ngoài ra, từ trong không và giả sinh ra một loại quán gọi là trung quán. Đây là một phái nhánh trong Phật giáo gọi là phái Trung Quán, đây là Thiên Thai tam quán — không, giả, trung. Tức là từ trong không và giả hiển hiện ra thực tính, gọi là trung quán thì gọi là phái Trung Quán, thuộc về một phái nhánh trong Phật giáo. Cho nên, các bạn đi nghiên cứu về Thiên Thai tam quán này là có thể biết được.

Sau này chúng ta sẽ đi Ấn Độ, sau đó đi thăm thành Xá Vệ, vườn Lâm Tỳ Ni, xem cây bồ đề, xem sông Hằng, xem Đại học Nalanda, xem Linh Sơn. Bây giờ người ta đi xem về xong nói rằng chỉ còn lại một ít đá, đá đen, đá trắng, đá xám, sau đó họ liền nhặt một hòn đá lên, bỏ vào trong túi rồi mang về lưu niệm. Họ nói đi lấy cát sông Hằng về để làm kỷ niệm. Toàn bộ đều đã biến thành những bức tường đổ, biến thành một bãi đất hoang. Có thể nói, thế giới hữu hình sau cùng đều quy về không!

Thế giới hữu hình đều là giả, nhưng cái chân lý vẫn còn tồn tại của nó, chân như còn tồn tại của nó chính là thực tính của nó thì vẫn có. Bản thân Phật tính vẫn có. Nếu bạn lấy được thực tính và Phật tính của nó ra thì đây gọi là phái Trung Quán.

Ví dụ: Chúng ta ở trong thiền định tất cả đều không, tiến vào Không định bên trong thiền định. Tâm vô lượng, quảng đại vô biên, cảnh giới này chính là cảnh giới của Không định. Tất cả chẳng có gì, tất cả không có biên giới, ngay cả suy tưởng cũng không có, đây gọi là Phi tưởng thiên, ngay cả suy tưởng cũng không có, ngay cả thức cũng không có, tiến vào cảnh giới này thì là Không định rồi. Nhưng bạn ở trong đây nhất định phải hiển hiện ra Phật tính của nó, một khi hiện ra Phật tính của nó thì sẽ là thế giới chân như. Vì thế chúng ta nói, muốn phát bồ đề tâm, bạn muốn hiển hiện bồ đề tâm này, muốn hiển hiện Phật tính, chính là tính Không. Phật tính, tính Không, chân như, bát nhã, duy thức, du già, là từ bên trong bồ đề tâm, bên trong Phật tính hiển hiện ra, cái này chính là phái Trung Quán.

Chúng ta nói về tính Không này đương nhiên là rất khó nói, rất khó để thể hội, nhưng giáo pháp của Phật Đà và giáo pháp của Thiền tông, Thiền tông dạy bạn “cắt đứt”, đưa mọi suy nghĩ dung nhập vào trong tính Không, hiển hiện Phật tính, chỉ thẳng Phật tính, Thiền tông dạy như vậy.

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

23/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 142. Nói về bệnh lý (1)

Hôm nay tôi nói với mọi người một chút về bệnh lý. 

Bản thân tôi không phải là bác sĩ, nhưng mà sao? Bởi vì có rất nhiều đệ tử đến hỏi tôi về bệnh lý, cho nên về phương diện bệnh lý, tôi cũng có một chút hiểu biết. Trong nhận thức của bản thân tôi, tôi cảm thấy bệnh tật là việc rất đau khổ. Có thể nói, điều khổ nhất của đời người cũng chính là bệnh, tôi cho rằng như vậy.

Rất nhiều người cái gì cũng không sợ, nhưng hễ nghe đến bệnh tật là họ sợ. Trước kia chẳng phải là có Khổng Minh sao? Trương Phi kia rất uy vũ, ông ta cưỡi ngựa nói: “Ta đây chẳng sợ việc gì hết!” Anh hùng hảo hán việc gì cũng không sợ. Khổng Minh nói: “Nói một chữ sẽ khiến ngươi sợ ngay!” Trương Phi nói: “Là cái gì?” Ông ta vẫn rất uy vũ! Khổng Minh chỉ nhẹ nhàng nói một chữ “bệnh”, Trương Phi liền từ trên ngựa rơi xuống. Thật sự là sợ rồi!

Vì thế khi chúng sinh khỏe mạnh, bạn là một con rồng, khi có bệnh thì bạn là một con sâu, trong chốc lát bạn đã biến thành một con sâu. Bất kể bạn là anh hùng hào kiệt, vĩ nhân, thánh nhân gì, nếu bị bệnh thì sẽ rất thảm. Bởi vậy nói đến bệnh là biến sắc.

Nói đến bệnh lý, thật ra bệnh của chúng sinh có rất nhiều nhân tố. Chúng ta biết rằng tứ đại không điều hòa thì người ta sẽ sinh bệnh. Địa, thủy, hỏa, phong mà điều hòa không tốt tức là có bệnh! Hỏa quá nhiều, dương khí của họ quá vượng, đây là bị bệnh quá nóng. Thủy quá nhiều thì là âm thịnh, bệnh của âm khí. Còn bản thân thổ mà phân liệt thì xương thịt của bạn đều có bệnh. Còn hô hấp, là phong, nếu điều hòa không tốt cũng là bệnh. Vì thế, đây gọi là tứ đại không điều hòa.

Nói chung, đây thuộc về bệnh của phàm phu, tức là một loại bệnh mà chúng sinh bình thường biểu hiện ra. Bệnh thông thường, bạn vẫn có thể đi khám bác sĩ, vẫn chữa được, còn có thuốc để chữa. Giả sử là bệnh nhân quả thì bạn không có thuốc nào chữa được! Có một số bệnh thuộc về bệnh nhân quả, có một số người sinh ra đã bị mắc bệnh viêm não rồi. Có những người vừa sinh ra đã bị bệnh bại liệt trẻ em rồi. Vừa sinh ra đã yếu ớt, bị câm, điếc, tàn tật, nói cách khác là những bệnh trên người họ ngay khi sinh ra đã có rồi, là bệnh bẩm sinh. Còn có rất nhiều bệnh hiểm nghèo.

Đây không phải là nói rằng bạn đã phạm vào tội lỗi gì mà bạn mới bị bệnh này. Hoặc là trong cuộc đời của bạn, căn bản là bạn không hề phạm lỗi gì, căn bản là bạn chỉ vừa sinh ra thôi, vì sao đã có bệnh rồi? Ở đây phải nói đến nhân quả, về nhân quả mà nói thì đó là do bạn mang từ kiếp trước đến. Vì thế những loại bệnh này chúng ta gọi là bệnh nhân quả.

Còn có một loại là bệnh quỷ thần, quỷ thần vô hình đó đến gây chướng ngại, bạn xung phạm đến quỷ, xung phạm đến thần, bạn dính phải sát khí, vô hình trung những quấy nhiễu đó khiến bạn có bệnh, chúng ta gọi là bệnh quỷ thần. 

Vì thế nói về bệnh thì bệnh mà bác sĩ nhìn ra chỉ là bệnh thông thường. Bệnh lý mà người học Phật tu hành chúng ta biết đến chính là bao gồm bệnh thông thường, còn có bệnh nhân quả, sâu hơn nữa còn có bệnh quỷ thần. Bệnh quỷ thần và bệnh nhân quả này phải dùng Phật pháp để chữa trị, để xử lý.

Bệnh bình thường bạn phải đi tìm bác sĩ, đi khám bác sĩ của bạn. Chúng tôi ở Mỹ đại bộ phận mà nói đều có bác sĩ gia đình, bạn đi khám bác sĩ gia đình trước, sau khi bác sĩ gia đình khám cho bạn xong, nhận thấy bệnh của bạn bác sĩ gia đình không thể chữa trị được thì sau đó sẽ phân loại, giới thiệu bạn đi gặp bác sĩ chuyên môn cao hơn. Bệnh thông thường, bạn đi khám bác sĩ của mình, sau đó lại đi khám bác sĩ chuyên khoa giỏi hơn được bác sĩ gia đình của bạn giới thiệu. Bệnh thông thường còn có thể chữa được, nhưng trong số những bệnh thông thường cũng có những bệnh hiểm nghèo, bệnh hiểm nghèo thì cũng hết cách!

Còn như bệnh nhân quả, rất nhiều đều là bệnh hiểm nghèo. Với bệnh quỷ thần, bệnh nhân quả, chúng ta đều dùng Phật pháp để xử lý. Vì sao lại có bệnh nhân quả và bệnh quỷ thần? Nguyên nhân bệnh, nguồn gốc bắt đầu nằm ở bản thân con người, bệnh của họ đều đến từ chính bản thân người đó mà ra.

Nói chung, người bình thường sẽ có ba thứ độc, ba thứ độc này là tham, sân, si. Vì thế chúng ta nói, một người tu hành, bạn sẽ tương đối không bị bệnh tật làm rầy rà. Thế khi bạn không là người tu hành, bạn là người bình thường, thì bạn sẽ dễ mắc các bệnh nhân quả và bệnh quỷ thần, bởi vì liên quan đến tham, sân, si của bạn sẽ sản sinh ra đủ loại quấy nhiễu của quỷ thần, và sự tồn tại của nhân quả mà sản sinh ra những bệnh tật này.

Chính bạn phải làm thế nào để trị tham sân si này? Tham sân si là cái thứ gì?

Tham — chính là tham niệm của chính bản thân bạn, suy nghĩ rất tham lam, thể hiện ra ở hành vi.  
Sân — là không cách nào kiểm soát được tâm trạng của chính mình.  
Si — là vô minh, là vô tri.

Trọng điểm đều nằm trên chữ tham. Giả sử một người có thể tâm như nước lặng, không có tham niệm, tu dưỡng lâu dài thân tâm chính mình, có thể điều dưỡng rất tốt tứ đại của mình, tâm bình khí hòa, đối với sự tình gì cũng đều giữ đạo trung hòa và không tham, như vậy là bạn đã hiểu được đạo dưỡng sinh rồi. Người hiểu được đạo dưỡng sinh, người đó sẽ tương đối ít bệnh, ít phiền não. Bệnh tương đối ít, phiền não cũng tương đối ít, tất cả đều rất thanh tịnh, điềm đạm và bình thản sống cuộc đời của chính mình. 

Bởi vậy, hành giả của chúng ta hôm nay đều tu hành thanh tịnh tức là phải sống cuộc đời của bạn một cách thanh tịnh, không ưu phiền, không bệnh tật, phải điều dưỡng thân tâm của bạn. Khi điều hòa được tâm rồi, thân thể của chính bạn cũng sẽ tốt thôi. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

24/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 143. Nói về bệnh lý (2)

Hôm nay chúng ta cùng nói tiếp về về bệnh lý. 

Rất nhiều người hỏi: “Tham sân si làm sao lại mắc bệnh chứ?” Đương nhiên sẽ mắc bệnh rồi! Mọi người dùng não mà nghĩ thử một chút xem, tôi nói một việc rất đơn giản thôi. Tham sắc, đạo lý rất đơn giản, buông thả quá độ, bạn sẽ biến thành gấu trúc, đôi mắt thâm đen. Chức năng thận của bạn sẽ không tốt, bởi vì bạn đã tham hoa đẹp tới mức quá nhiều rồi.

Trước kia, tôi từng đọc một cuốn sách, tham sắc rồi thì cái gì cũng không kiềm chế được, nếu bạn quá tham, mắt sẽ chảy nước mắt, mũi cũng chảy nước mũi không dừng được, chỗ nào cũng sẽ chảy nước, bạn sẽ không nhịn được. Đến lúc đó thì thân thể của bạn chỗ này bệnh, chỗ kia bệnh, hông nhức, lưng đau, mọi bệnh đều kéo đến. 

Bạn tham tiền, tham tiền sẽ phát điên! Tâm quá tham lam thì trong lòng bạn cũng không bình tịnh, cũng sẽ bị cao huyết áp, cũng sẽ có bệnh. Ngoài ra, bạn tham danh, quá lao lực thì cũng sẽ mất ngủ. Quá trọng sự nghiệp, quá tham danh, quá tham lợi, quá tham bất kì cái gì, đều sẽ sinh ra bệnh mất ngủ. Quá tham ăn, bây giờ bạn biết rồi, cholesterol quá cao, đường huyết quá cao, tim sẽ không khỏe, cơ tim tắc nghẽn, trúng phong, những bệnh này đều sẽ đến. 

Nói chung, bản thân cái tham sẽ dẫn đến rất nhiều bệnh, sân cũng như thế, si tức là vô minh, vô tri, thứ không nên ăn bạn đều ăn. Đây chính là một loại bệnh. 

Phương pháp để chúng ta đối trị tham, sân, si chính là giới, định, huệ trong Phật pháp. Chúng ta biết rằng giới, định, huệ chính là để dừng tham, sân, si.

Giới — tức là giữ năm giới, làm mười thiện.  
Định — tức là phải nhất tâm bất loạn, dừng lại vọng niệm của bạn, đừng có ngông cuồng với những suy nghĩ vọng tưởng hão huyền, nhất tâm bất loạn chính là định.  
Huệ — chính là đối với mọi đạo lý, bạn phải nhìn ra một cách cực kì rõ ràng, đối với với mọi lý lẽ, bạn phải quan sát vô cùng rõ ràng minh bạch, bạn biết dùng phương pháp để đối trị, đây chính là trí huệ.

Giữ năm giới, làm mười thiện thì sẽ không tham lam. Bạn có thể định thì bạn sẽ không sân hận. Bạn có trí huệ thì sẽ không ngu si, sẽ không vô minh, sẽ không vô tri. Vì thế, giới định huệ của Phật pháp rất tốt để đối trị tham sân si.

Trong Phật pháp cũng nói, giới định huệ, bạn muốn làm được vừa đủ tốt thì cũng không đơn giản. Bạn giữ giới thái quá thì sẽ biến thành chấp vào giới, bị giới giữ chặt, sẽ không còn là giữ giới mà là bị “giới giữ”. Điều này nói thế nào nhỉ? Tức là khi bạn giữ giới mà quá cố chấp, cuộc sống sẽ biến thành hà khắc, quá máy móc, thông thái rởm, không hiểu sự linh hoạt, thì sẽ biến thành bị giới giữ. 

Cho nên bản thân giữ giới mà nói cũng có cái gọi là khai giải, khai giải nói rằng, mặc dù có giới này, nhưng trong một trường hợp nào đó, bạn có thể thay đổi linh hoạt một chút, đây gọi là khai giải. Vì thế, người giữ giới chúng ta không thể biến thành kiểu người thông thái rởm, cố chấp không thông, không biết linh hoạt. 

Người ta kể một câu chuyện cười, “thân trần truồng ngồi trên ghế dài”, ý nghĩa là gì? Đoán một câu thành ngữ, chính là “cứng nhắc máy móc”, nghĩa là con người bạn quá thông thái rởm, cứng nhắc máy móc không biết linh hoạt. Tuy rằng bạn giữ giới, nhưng giữ giới theo kiểu như vậy cũng không tốt. Giữ giới mà thành ra như vậy thì cũng không được.

Vì thế, người giữ giới chúng ta, tuy phải giữ năm giới làm mười thiện, nhưng tuyệt đối không được cứng nhắc máy móc! Phải linh hoạt ứng dụng, bằng không giữ giới cũng sẽ biến thành bệnh đó! Gọi là giới bệnh.

Được rồi, bảo bạn định, bạn định một cái là định đến Không cảnh, bạn cho rằng, ôi chao, tất cả đều không, thế là rơi vào ngoan không <span className="note-blue">[ngoan cố chấp vào cái không]</span>. Thế rồi sau khi rơi vào ngoan không, có khả năng sẽ sinh ra tình hình thế nào? Vì tất cả đều không rồi, thế thì tôi không cần làm gì cả, sự nghiệp cũng không làm, cái gì cũng không làm, tắm cũng không tắm, sẽ biến thành *hippie* <span className="note-blue">[người theo văn hóa phản kháng, có lối sống và văn hóa trái ngược với xã hội, lập dị nổi loạn]</span>, sau cùng sẽ biến thành vô lại, cái này gọi là thiền bệnh! Bệnh sinh ra sau khi thiền định này chính là thiền bệnh, ngồi thiền cũng sẽ sinh ra bệnh. Bởi vì sau khi định vào ngoan không thì đột nhiên tư tưởng bạn thay đổi rồi, sẽ biến thành lười nhác, buông thả. Cho nên, thế nào là đạo trung quán của định, đi con đường trung đạo của nó cũng rất quan trọng.

Vì thế, thiền định cũng sẽ sinh ra bệnh. Chúng ta biết rằng đây gọi là thiền bệnh. Sau khi rơi vào thiền bệnh thì cũng rất thảm. Đôi khi ngồi thiền cũng sẽ sinh ra bệnh quỷ thần. Bởi vì bạn sinh ra vọng niệm, bạn cũng sẽ đi đến bàng môn, khi có những vọng niệm khác, có những bám chấp khác, cũng sẽ sinh ra bệnh.

Vừa nãy nói đến huệ — trí huệ. Trí huệ cũng sẽ sinh ra bệnh, bệnh này gọi là gì? Gọi là “trí cuồng”. Bởi vì sau khi bạn quan sát lý sự vô cùng rõ ràng, bạn cảm thấy: mình là thiên hạ đệ nhất, không ai bì được với mình. Khi bạn có được rất nhiều trí huệ, bạn nhìn đời bằng nửa con mắt, trên thế giới chỉ có một mình bạn, người khác đều không phải là người. Cho rằng người khác đều không phải là người, bạn sẽ sinh ra tâm tự cao ngạo mạn, một khi tâm tự cao ngạo mạn sinh ra thì sẽ biến thành trí cuồng. Điên cuồng, khinh người, ngạo mạn, tất cả đều xuất hiện. Thiên hạ đệ nhất cao thủ, có ai có thể thắng được người đó chứ? Họ hiểu về “quỳ hoa bảo điển”, “hấp tinh đại pháp” <span className="note-blue">[tên các môn võ công thượng thừa trong tiểu thuyết Kim Dung]</span>. Chà! Quá khủng! Thiên hạ đệ nhất cao thủ, mỗi người đều tranh bí kíp võ lâm đệ nhất thiên hạ, nếu lấy được thì chính là thiên hạ đệ nhất cao thủ, sẽ sinh ra tự cao ngạo mạn.

Với người biết rất nhiều trí huệ, có một việc rất quan trọng, đó sẽ là sinh ra một dạng điên, đây cũng là một loại bệnh. Vì thế, giới có bệnh, thiền định cũng có bệnh, bản thân hiểu biết quá nhiều cũng sẽ sinh ra một loại bệnh cuồng ngạo, đều là bệnh.

Vì thế người tu hành chúng ta hôm nay phải rất chú ý, trong Phật pháp có nói, Phật pháp giống như đánh đàn, quá căng thì sẽ đứt, quá lỏng thì sẽ không có âm thanh. Vì thế, tinh thần trung đạo chính là tinh thần chủ yếu nhất mà Phật Đà nói. 

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum. 

25/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 144. Khẩu quyết trọng yếu của thiền định - Vô sự, vô tâm (1)

Hôm nay chúng ta sẽ giảng về hai khẩu quyết quan trọng khi thiền định, chúng ta đều biết đây là vô sự và vô tâm.

Có một câu nói rằng: “No news is good news.” Không có tin gì tức là tin tốt. Thật ra cái này chính là vô sự.

Chúng ta học thiền định, giả sử bạn có chuyện vướng ở trong đầu, bạn sẽ không thể nào nhập định, vì thế ở đây có một khẩu quyết rất quan trọng — khi tâm cảnh của bạn vô cùng bình lặng, khi không có việc gì quấy nhiễu bạn thì dễ nhập định nhất. Vào lúc thư thái nhất (chính là rất thoải mái, rất nhẹ nhõm, rất bình thản) là lúc dễ nhập định nhất. Ngược lại, khi bạn có rất nhiều việc đang quẫy nhiễu bạn, đó là lúc khó nhập thiền định nhất. 

Lần này, Pháp Vương Ganden Tripa - vị Pháp Vương cao nhất của Hoàng giáo, đến Seattle Lôi Tạng Tự, ngài tặng cho tôi một thứ, thứ này không phải là viên thuốc trường thọ, cũng không phải là viên đại bổ, ngài nói với tôi rằng thứ này chính là viên thuốc thiền định. Viên thuốc thiền định cũng có màu đen.

Ngài nói không được nhìn thấy ánh sáng, khi bạn uống viên thuốc này thì phải đóng chặt cửa sổ, cửa đi cũng phải đóng lại, đèn đóm gì, ánh sáng gì cũng không được có. Ở trong bóng tối mở cái thuốc đó ra, sau đó nuốt viên thuốc thiền định đó xuống. Ngài nói, lúc đó thiền định sẽ rất tốt. Ngài nói, viên thuốc này của họ rất trân quý, viên thuốc thiền định rất quý giá, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa uống!

Tôi nghĩ: vì sao lại có kiểu thuốc viên thiền định này chứ? Vì sao phải uống viên thuốc thiền định này chứ? Thật ra chỉ có một đạo lý, đó là khi bạn uống viên thuốc đó xong, vào lúc đó bạn sẽ chuyển toàn bộ những ưu tư, lo âu của thế tục thành không, tức là quên hết.

Bởi vậy Đạo gia có một câu nói rằng, khi bạn tu định, quan trọng nhất là phải tọa vong. Ngồi xuống, quên hết. Hai chữ tọa vong này rất có ý nghĩa ở trong đó. Thật ra tọa vong, quên hết rồi thì tức là vô sự.

Thiền định, bạn muốn tiến vào bên trong định cảnh, nhất định phải vô sự. Không có vô sự này thì bạn không nhập định được. Tôi tin rằng Pháp Vương Ganden Tripa, viên thuốc mà vị Rinpoche này tặng cho tôi, chắc chắn là sau khi uống vào, toàn bộ cả người đều trống rỗng. Ngài nói, cái này nhập định rất tốt, cái này rất quý giá! Cái này rất hiếm có! Đến bây giờ tôi vẫn chưa uống, chính là vì bản thân tôi về mặt định lực mà nói, tôi muốn nhập định thì rất dễ. Về mặt thu tâm, thu cái tâm về, quên hết tất cả mọi việc, bản thân tôi làm việc này rất dễ, cho nên không cần mượn loại thuốc kia để nhập vào thiền định. Tôi cất viên thuốc thiền định của ngài ấy rất cẩn thận, giữ lại làm kỷ niệm.

Khẩu quyết của thiền định nhất định phải vô sự vô tâm. Vô sự này trong tiếng Đài Loan là “không việc gì”. “Có việc gì đâu.” “Không có việc gì cả.” Vì thế, khi lão hòa thượng Quảng Khâm sắp viên tịch, ngài đã nói một câu: “Không đến không đi, có việc gì đâu.” Câu nói này bình thường nói lên rất bình thường, không có đến, không có đi, không có việc gì hết. Thật ra, câu nói này của ngài ấy là một câu nói chứng ngộ đó! Điều này cho thấy ngài ấy không hề đến thế giới Ta Bà này, cũng không hề rời khỏi thế giới Ta Bà, đây chính là lời nói đầy ắp cả vũ trụ. Không có đến, không có đi chính là Như Lai, “Không đến không đi, có việc gì đâu.” — Vô lai vô khứ vô sự.

Ngài ấy chứng ngộ nói ra lời này, “không đến không đi” là Như Lai, cũng biểu thị bản thân ngài ấy đầy ắp cả trong vũ trụ. Căn bản không có đến, cũng không có đi, vô sự. Vô sự — căn bản không có việc gì xảy ra cả! Vì thế, với ngài ấy mà nói, sinh tử đều phá bỏ rồi, chết cũng không phải là chết, sống cũng không phải là sống, không sống cũng không chết, đây là lời khai ngộ.

Khi bạn thiền định cũng có thể không đến không đi, không việc gì, vô sự, thì bạn thành Phật rồi. Sau này mọi người khi sắp viên tịch cũng có thể nói một câu: “Không đến không đi không việc gì.” Mọi người đều không có việc gì. Bạn có thể nói ra, hơn nữa còn có thể làm được trên thực tế thì bạn chính là Như Lai, chính là Phật.

Cho nên khi Phật độ chúng sinh, có đôi khi về mặt thánh đế mà nói thì không phải là độ chúng sinh, về mặt tục đế mà nói thì là đang độ chúng sinh. Thật sự đã đến được cảnh giới rất cao thì căn bản không có chúng sinh nào có thể độ. Bởi vì tất cả chúng sinh đều là do bản thân Như Lai hóa ra, hóa ra ở thế giới Ta Bà để làm cái gì? Ở tại thế giới Ta Bà để chơi. Chỉ là một cảnh tướng, vậy thì làm gì có chúng sinh có thể độ, chúng sinh trở về nơi ban đầu rồi thì mọi người đều là Như Lai mà, đều là Phật mà, chỉ là lúc này hiển hiện ra, nhận lấy ánh sáng chiếu trên thân thể một người thì sẽ hiển hiện ra.

Bây giờ vì sao tôi lại dễ nhập định như vậy? Tôi có một khẩu quyết: “Đều sẽ qua đi.” Mọi người ghi nhớ câu này rồi thì rất dễ nhập định. Giả sử trong lòng bạn có việc gì, bạn hãy nghĩ: “Đều sẽ qua đi.”

Giống như trước đây trong tông phái chúng ta phát sinh một sự việc rất lớn, vì sao Sư Tôn lại không phiền não? Bởi vì tôi nghĩ: “Đều sẽ qua đi.” Một năm sau cũng không còn nữa, năm năm sau cũng không còn nữa, mười năm thì sao? Vẫn còn lưu lại đến mười năm sao? Đều sẽ qua đi, đây chính là khẩu quyết trọng yếu của thiền định.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

26/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 145. Khẩu quyết trọng yếu của thiền định - Vô sự, vô tâm (2)

Chúng ta lại nói về hai khẩu quyết trọng yếu của thiền định, chính là vô sự và vô tâm.

Bạn tu thiền định nhất định phải vô sự, cũng phải vô tâm. Và có thể nói rằng vô sự và vô tâm là tương thông. Tâm hoàn toàn giống như gương sáng, không vướng víu một chút sự tình, không một việc nào bận lòng thì là vô sự và vô tâm.

Ở trong cảnh giới không vương một sợi tơ, bởi vì bạn đã trống rỗng tất cả, thì hễ bạn định xuống, giữa thân thể của bạn và vũ trụ, có thể nói là trạng thái trời người hợp nhất. Bởi vì thân thể bạn chính là vũ trụ rồi, và vũ trụ cũng chính là thân thể của bạn. 

Chỉ có hai khẩu quyết rất quan trọng là vô sự và vô tâm mới có thể tiến vào bên trong thiền định sâu nhất, khai phá ý thức sâu nhất của chính bản thân bạn. 

Vì thế trong nghi quỹ của Mật giáo, khi học đến lúc phải nhập Tam ma địa, đều sẽ phải học vô sự vô tâm, sau đó mới nhập Tam ma địa. Nhưng mọi người biết rằng, muốn vô sự là rất khó. Bởi vì mỗi người đều có rất nhiều chuyện phiền não, khi bạn muốn nhập định, mọi việc sẽ nổi lên trên bề mặt, toàn bộ đều trồi lên trên bề mặt. Chỉ trong một suy nghĩ mà thay đổi trong nháy mắt, tất cả mọi việc đều nổi lên, khiến bạn lăn lộn trong suy nghĩ đủ kiểu phiền não giữa cõi đời này, căn bản là bạn chẳng thể nào nhập định được.

Vì thế, trong Mật giáo đầu tiên dạy bạn pháp Nhất duyên thiền định. Pháp Nhất duyên thiền định tức là yêu cầu bạn chuyên chú, hoàn toàn tập trung vào một thứ, khiến cho tâm bạn định vào một, đây chính là pháp Nhất duyên thiền định. Sau đó từ một hóa thành vô sự vô tâm. Một này chính là quán tưởng mà bình thường trong Mật giáo nói đến, đây là một phương pháp, một pháp môn thuận tiện.

Không có việc gì tức là vô sự. Mọi người cũng biết khẩu quyết của Sư Tôn rồi, khẩu quyết của tôi chính là: “Việc gì cũng đều qua đi.” Trước kia phiền não của tôi nhiều lắm, trước kia khi còn là học sinh, phiền não của tôi chính là thi cử - *test*. Mỗi lần thi cử, ôi, rất đau khổ, rất khổ sở. Làm học sinh đương nhiên rất tốt, học sinh không cần phải lo lắng cái gì cả, sợ nhất chính là thi cử. Sau khi học Phật rồi, rất nhiều sự việc tôi đều nhìn được thông suốt, nghĩ thoáng rồi. Bởi vì tôi biết mọi thứ đều sẽ qua đi, thời học sinh cho đến bây giờ đã cách tôi rất xa rồi. Đôi khi bây giờ nghĩ lại, nhận thấy phiền não khi đó căn bản là quá thừa, cũng không cần phải đi phiền não về những chuyện thi cử đó.

Thế còn tương lai cũng không cần phải phiền não, cảnh ngộ đã gặp phải hiện tại cũng sẽ qua đi thôi! Cho nên, khẩu quyết của tôi, nguyên nhân mà những điều này biến thành vô sự là: “Đều sẽ qua đi.”

Tông phái chúng ta - Chân Phật Tông, cũng có rất nhiều xung đột, phê phán, đôi khi là đến từ bên ngoài, những phê bình đến từ bên ngoài, xung đột đến từ bên trong, đều sẽ có. Bên trong cũng có thể xung kích bạn. Bản thân một số đệ tử mà nói, giống như thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, rất nhiều đệ tử lén lút chạy đến chỗ của đệ tử phản nghịch Đề Bà Đạt Đa. Tương tự, đệ tử của tông phái chúng ta cũng lăn qua lộn lại, nhưng vì sao tôi không phiền não, nguyên nhân tôi có thể nhập định là tôi nghĩ đến câu nói: “Đều sẽ qua đi.”

“Đều sẽ qua đi”, phiền não này sẽ không tồn tại mãi mãi, chỉ là hiện lên trên bề mặt cho bạn nhìn thấy, khiến trong lòng bạn ưu phiền. Thật ra nó sẽ rất nhanh, trong vòng nửa năm là không còn nữa rồi, hoặc là một năm là không còn nữa, năm năm còn không? Mười năm còn không? Chẳng tiếp tục lâu như vậy đâu, tất cả đều sẽ qua đi.

Vì thế, khi các bạn gặp phải rất nhiều phiền não, khi rất nhiều sự việc quấy rầy bạn, hãy nhớ một câu nói của Lư Sư Tôn: “Đều sẽ qua đi.” Cũng sẽ không tồn tại nữa. Cho nên mọi người thử nghĩ đi, tôi thì nghĩ như thế này, giống như bệnh trên thân thể bạn, thân thể có bệnh, tôi cũng nghĩ như vậy, cũng sẽ qua đi. Thậm chí bao gồm chính thân thể của bạn cũng sẽ qua đi, qua đi cái gì? “Không đến không đi, không có việc gì cả.”

Tôi thường nghĩ đến phiền não phải chuyển nhà, ôi chao, sách của tôi quá nhiều! Gay to! Chuyển thế nào đây? Cả một nhà sách! Chuyển nhà là một việc rất khổ sở, tôi nghĩ: “Ôi chao, phiền não quá! Không muốn chuyển nhà nữa. Bây giờ đồ đạc trong nhà nhiều như thế này, phải chuyển thế nào? Gọi ai đến chuyển đây, tự mình chuyển ư? Tự mình chuyển thì phải chuyển rất lâu. Mời các pháp sư đến giúp chuyển, thế thì bí mật của mình đều sẽ bị họ biết hết.” (Sư Tôn cười) Đúng không? Đôi khi có một số thứ chỉ có chính tôi chuyển thôi, không thể cái gì cũng để cho pháp sư chuyển được, đều chuyển về nhà hết cho tôi, tôi phải làm sao? Ôi! Trong lòng rất ưu phiền.

Đôi khi tôi nghĩ đến việc chuyển nhà, trong lòng rất phiền não. Nhưng bạn phải nghĩ thế này, cuối cùng tôi đã khai ngộ rồi. Chuyển nhà chân chính, lần chuyển nhà chân chính sau cùng, không có ai giúp bạn chuyển, chỉ có mình bạn chuyển thôi, hơn nữa cũng không cần chuyển thứ gì cả, đều không mang theo được. 

Mọi người nghĩ xem: “Lần chuyển nhà cuối cùng là một mình bạn tự chuyển, nhưng không có thứ gì để bạn chuyển cả, chỉ có bạn chuyển thôi.” Cho nên có cái gì đáng để bận tâm? Lần chuyển nhà cuối cùng là “*only you*” <span className="note-blue">[chỉ bạn thôi]</span>, hơn nữa không cần chuyển. 

Tất cả sự việc trên đời, nói chung, bạn đều không đem đi được, bạn còn phiền não cái gì chứ? Vô sự vô tâm chính là ở đây đó! Bạn thật sự có thể vô sự vô tâm thì hễ ngồi thiền là cực kì đó! Tiến nhập bên trong ý thức rất sâu, khai mở Phật tính, Phật tính của bạn hiển lộ, bạn đã khai ngộ rồi.

Giống như bản thân Milarepa không xây chùa, chỉ là sống ở trong hang đá, ngài nói: “Tôi thiền định cũng có thể độ chúng sinh, thiền định cũng là đang độ chúng sinh.” Tôi lĩnh ngộ được câu nói này, bởi vì sau khi bạn thiền định, tinh thần của bạn đầy ắp cả vũ trụ như dòng chảy ánh sáng, đương nhiên bạn có thể độ chúng sinh rồi. Tất cả chúng sinh đều được ánh sáng của bạn chiếu tới, ánh sáng của bạn chiếu tới tức là bạn đang độ chúng sinh. Không nhất định phải xây chùa, không nhất định phải xây miếu, ở trong hang động thiền định cũng là độ chúng sinh. Chỉ cần bạn hiển hiện ánh sáng Phật tính của bạn, bạn tu chứng rồi tức là đang độ chúng sinh, trọng điểm vẫn nằm ở vô sự vô tâm. 

Om mani padme hum.

27/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 146. Trọng yếu của thực tu (1)

Hôm nay chúng ta giảng về hai chữ “thực tu”. Trong Mật giáo mà nói, Mật giáo rất coi trọng thực tu, ví dụ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, lời di chúc của ngài, khi ngài rời khỏi thế giới Ta Bà, ngài liền nói sáu chữ “kính sư, trọng pháp, thực tu”. 

Nói chung Mật giáo là phái thực tu, cũng có thể nói bản thân nó chú trọng vào sự hành trì trên thực tế, thực hành trên thực tế là thuộc về Mật giáo. Chúng ta biết rằng trong Phật pháp có nói lý thuyết, có lý pháp và sự pháp, cái gọi là lý pháp chính là nói về Phật lý — đạo lý của Phật; sự pháp chính là thực tu. 

Cái này phân biệt như thế nào? Thật ra chúng ta cũng có thể nói một ví dụ rất đơn giản, tôi nói với mọi người một chút, ví dụ các nhà dinh dưỡng của chúng ta, họ nghiên cứu mỗi một thứ, ví dụ trong nước gồm có thứ gì. Chúng ta biết nước là H₂O, hai cái H và một cái O. Đôi khi, chúng ta không nhất định phải biết trong nước có thứ gì, dù sao chúng ta khát nước thì uống nước thôi. Nói nước là H₂O tức là nói về lý, nói khát nước thì uống nước tức là thực tu.

Các nhà dinh dưỡng, họ có thể phối hợp thức ăn, họ nói cái này có bao nhiêu tinh bột, cái này có bao nhiêu protein, có bao nhiêu chất béo, có bao nhiêu năng lượng, có bao nhiêu đường, có bao nhiêu carbohydrate, đây là nói về lý. Thế còn thực tu thì sao? Ăn các thứ vào, thế là tất cả đều đi xuống. Căn bản là không biết bên trong có carbohydrate gì, protein gì, chất béo, năng lượng, đường, đều không biết.

Mật giáo căn bản nói về thực tu, đôi khi là trực tiếp xuyên thẳng vào, về mặt lý luận có rất nhiều người có thể nói, nhưng trên thực tế nếu không có thực tu thì không được. Nói cho đúng là, lý luận phải biết, và thực tu cũng phải biết, cả hai cùng tiến hành, như vậy là tốt nhất. 

Vì sao Mật giáo lại thiên về thực tu? Tôi biết gần đây giới Phật giáo có cái gọi là *test* - kỳ thi, Phật học hội khảo. Phật học hội khảo là thuộc về cái gì? Có phải là thực tu không? Không phải thực tu. Đó là lý luận. Sao lại nói vậy? Ví dụ, họ sẽ đưa ra một đề mục để hỏi bạn: Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ngày mấy tháng mấy? Được! Chúng ta trả lời: Phật giáo Nam truyền thì ngày Vesak là 8/2, Phật giáo Bắc truyền thì đại bộ phận lấy ngày sinh là 8/4. Bởi vì ngày sinh không biết chắc, ngày sinh không biết đã trải qua bao lâu rồi, mọi người làm sinh nhật thì cứ làm một ngày 8/2 là Vesak, một ngày là 8/4. 

Lại hỏi tiếp: *Mother* của Phật Thích Ca Mâu Ni là ai? Mẹ của ngài là ai? Chúng ta liền trả lời: Phu nhân Maya. *Father* của ngài là ai? Là vua Tịnh Phạn. Dì của ngài là ai? Bạn phải trả lời dì của ngài là ai. Chính là người dì xuất gia sau cùng, là phu nhân Mahaprajapati. Đây đều là bài thi Phật học.

Bài thi Phật học sẽ hỏi bạn cái này, Phật Thích Ca Mâu Ni có mấy đệ tử, đại đệ tử của ngài là ai? Tên của mười đại đệ tử là gì? Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra ở đâu? Vườn Lâm Tỳ Ni. Lần chuyển pháp luân đầu tiên là ở đâu? Ở vườn Lộc Dã. Hỏi những câu như vậy. Xong rồi lại hỏi tiếp: Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên chuyển pháp luân là chuyển cái gì? Là tứ Thánh đế. Lần chuyển pháp luân sau cùng là chuyển cái gì? Cũng là tứ Thánh đế. Bát nhã của ngài là bao hàm cái gì? Tứ Thánh đế, lục độ, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên. Lý luận về bát nhã của ngài đều phải nói ra được hết.

Lý luận về phương diện này, tôi từng nói, giáo sư đại học, tiến sĩ Phật học đều biết, nhưng còn thiền định của họ, bây giờ bạn hỏi xem, ông thiền định khai mở duy thức đến cái thứ mấy rồi? Hả cái gì cơ? Thiền định khai phá duy thức đến cái thứ mấy à? Ông ấy không biết gì cả. Ông ấy chẳng thể nào trả lời, bởi vì phương diện này là thuộc về phương diện thực tu. Bản thân ông đã chứng nghiệm được cái gì, ông chứng nghiệm được lạc chưa? Ông chứng thực được tịnh quang chưa? Ông chứng nghiệm được Không chưa? Ông chứng nghiệm đến địa thứ mấy của Bồ Tát rồi? Phương diện này không còn là lý luận nữa. Phương diện này thuộc về bộ phận thực tu. Cho nên Phật pháp phân thành lý luận và thực tu. Bản thân Mật giáo mà nói là coi trọng thực tu.

Nhưng lý luận cũng phải hiểu, bạn phải biết đạo lý. Bạn phải có lý luận trước, sau khi bạn nói được lý luận rồi thì chính bạn phải đi thực tu. Giống như chúng ta mỗi ngày tu một đàn pháp. Mỗi một người xuất gia, buổi sáng họ cũng phải tu pháp, buổi trưa cũng phải tu pháp, buổi tối cũng phải tu pháp, trước khi đi ngủ cũng phải tu pháp. 

Trong “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” có nói, một ngày phải tu bốn đàn pháp, phải tu bốn tọa. Mọi người sẽ nói: “Ôi chao! Tu bốn tọa cơ à?” Thật ghê gớm, thật sự là… Tôi quy định như thế này: bạn là đệ tử Chân Phật Tông, mỗi ngày tối thiểu phải mỗi ngày một tu, bận thế nào cũng phải mỗi ngày một tu. Bạn tu một đàn pháp, tu Bổn tôn, như vậy là bạn đang làm bộ phận thực tu.

Không chỉ pháp Bổn tôn là bộ phận thực tu, Nội pháp cũng là bộ phận thực tu. Bốn quán đảnh của Mật giáo là: Ngoại pháp - Bổn tôn, Nội pháp - khí mạch minh điểm, Tam quán - Vô thượng mật, Tứ quán - Đại viên mãn. Bốn loại quán đảnh này, từng tầng từng tầng, đều là chiếu theo thực tu. Nhưng bạn cũng phải hiểu một số lý luận, thế nào là Tứ gia hành? Thế nào là Thượng sư tương ứng? Thế nào là Bổn tôn? Và cả lý luận về khí mạch minh điểm, bạn đều phải biết hết. Làm sao để chuyển ngũ luân? Làm sao để khai phát ngũ luân? Làm sao khiến tịnh quang xuất hiện? Làm sao để dung nhập? Làm sao để vận hành khí mạch minh điểm của bạn, đến sau cùng biến thành đại viên mãn? Cái này đều cần sự phối hợp giữa lý luận và thực tu. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

29/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 147. Trọng yếu của thực tu (2)

Hôm nay chúng ta cũng nói về thực tu. 

Cá nhân tôi là người thực tu. Đương nhiên về phương diện Phật lý, bản thân tôi cũng rất chăm chỉ đi tìm tòi nghiên cứu. Nhưng tôi thuộc về phái thực nghiệm. Tôi từng nói rồi, phái lý luận là ở trong lớp học, thầy giáo giảng, học sinh ghi chép, đây là lý luận. Nhưng sự pháp — bộ phận thực tu là phòng thực nghiệm. Sau khi bạn biết lý luận rồi, bạn phải đi thực nghiệm. Bản thân tôi đã hiểu lý luận rồi, tôi cũng phải đi thực nghiệm. Cho nên tôi thật sự là đã tự mình đi qua con đường này.

Giống như tu pháp Bổn tôn, tôi đích thực là mỗi ngày đều tu, tức là tôi y theo nghi quỹ của pháp Bổn tôn để mà tu pháp lần này tới lần khác, không phải chỉ nói miệng không. Không phải nói rằng, tôi dạy mọi người tu hành, còn bản thân lại không tu, như vậy thì không đúng. Tôi dạy mọi người tu hành, còn bản thân trên thực tế cũng phải nỗ lực thực hiện, bản thân phải làm trên thực tế, đây chính là thực tu.

Thế tôi tu khí mạch minh điểm thì sao? Mọi người cũng tu khí mạch minh điểm giống như tôi. Tôi cũng dạy mọi người tu Bảo bình khí ra sao, tôi biết khẩu quyết của Bảo bình khí là nâng lên ép xuống, nâng khí lên tạo thành cái nắp ở bên dưới bình, ở trên ép khí hít vào xuống dưới, lại tạo thành một cái nắp nữa. Hai cái nắp hợp lại thế là thành một cái bảo bình. 

Trên thực tế tôi cũng làm, tôi cũng thực tu Bảo bình khí, sau khi khí của bạn đủ rồi, bạn tu chuyết hỏa, tôi cũng thực tu chuyết hỏa. Thực tu chuyết hỏa, thắp lửa lên, phải quán tưởng minh điểm, phải quán tưởng Không, phải quán tưởng nhiệt, phải quán tưởng ánh sáng, chuyết hỏa đó sinh ra như thế nào, vận chuyển như thế nào đều phải thực hiện trên thực tế, không phải là biết lý luận là xong.

Bạn tu được chuyết hỏa rồi, khí cũng tu được rồi, bạn phải hiểu cách thông mạch, hiểu cách mở năm luân xa, khí và hỏa của bạn khi vận hành trong trung mạch, bạn sản sinh ra một cảm giác vui sướng, cảm giác vui sướng này, cái đại lạc này không phải là thứ mà phàm phu thế tục có thể biết được. Cho nên nói chung, sau khi bạn tu thành công rồi, bạn đã chứng minh được Dục giới thiên này là như thế nào.

Sau đó nhờ thông mạch mà sản sinh tịnh quang, khai phá năm luân xa, sau khi sản sinh tịnh quang, bạn sẽ có thể nhìn thấy minh điểm, bạn có thể nhìn thấy được minh điểm của tịnh quang, sẽ sản sinh ra. Đây cũng không phải là tùy miệng nói khơi khơi. 

Với người bình thường thì: “Chà! Lần này tôi đi tham gia pháp hội, pháp hỷ tràn đầy, tôi đã có được pháp vị rồi.” Nhưng khi tâm trạng bạn không tốt, khi đi tham gia pháp hội, không có pháp hỷ, ngay cả pháp vị cũng không có, đây chỉ là một loại cảm giác hư huyễn. Nhưng người thực tu Mật giáo, cảm nhận về cái lạc chân chính, cái pháp vị đó, bạn sẽ có một sự trải nghiệm đích thực, một sự lĩnh hội thật sự, tuyệt đối không phải hư giả, không phải hư huyễn.

Nói một cách đơn giản, trong Nội pháp có pháp chuyết hỏa, có pháp vô lậu, có pháp minh điểm. Nói về pháp minh điểm là được rồi, pháp minh điểm vận hành như thế nào? Cơ sở của pháp minh điểm là vô lậu, vô lậu cũng không phải là tùy miệng mà nói khơi khơi, bạn phải có được sự thể nghiệm của chính mình, phải đi thực hiện đi chứng minh, cái này không thể nào nói dối. Bạn nói: “Tôi đã chứng minh vô lậu rồi.” Đây chỉ là nói mồm, nói ngoài miệng, nhưng trên thực tế là bạn ngày ngày đều lậu, đây chính là vọng ngữ. Cái này ở trong ngũ giới là bạn đã phạm vào giới vọng ngữ. Bạn nói tôi đã tu chứng vô lậu rồi, được, đã nói ra câu này rồi. Nhưng trên thực tế thì sao? Không phải như vậy, thế thì đã phạm vào ngũ giới rồi.

Hôm nay bạn là người tu chứng vô lậu, bạn phải đưa ra được sự thật để chứng minh. Đây là kết tinh, là thành quả do bạn thực tu mà có được. Bạn phải có được bằng chứng, có được chứng nghiệm. Bởi vậy phải thực tu mới có chứng nghiệm, giả sử bạn chỉ dựa vào lý luận thì không có tác dụng gì.

Chúng ta tu pháp vô lậu chuyển thành pháp minh điểm, bạn tu pháp vô lậu như thế nào? Đó là một khẩu quyết rất bí mật. Rất bí mật đó, trước kia sư phụ truyền xuống khẩu quyết, sau khi bạn có được rồi, bạn mới có thể ứng dụng pháp nâng trong thân thể mình. Có quán tưởng, có chú ngữ, có các loại kim cang quyền để phối hợp. Cái này nhất định phải đi chứng nghiệm trên thực tế, chứ không phải là lý luận Phật học mà thôi!

Nghiên cứu lý luận Phật học, những người có được học vị tiến sĩ thông thường gần như đều có bệnh, bởi vì Đại Tạng Kinh quá nhiều, họ đọc xong thì cũng hoa cả mắt. Sau đó thì sao? Ít nhất là họ cũng đã đọc rồi, nghiên cứu xong thì đã mắc chứng khí hư rồi, khí đã rất hư, thân thể đã vô cùng hư nhược rồi. Ôi… những người như vậy, phần lớn đều đã bị kiểu như vậy rồi. Bạn bảo họ thực tu. Ôi! Đời này tôi chẳng có cách nào thực tu được, đời này tôi nghiên cứu Phật lý thôi, ôi… là như thế này. Họ nghiên cứu Phật lý là như vậy đó.

Đòi hỏi bạn phải đi chứng minh Phật lý trên thực tế đó! Cho nên Mật giáo là giáo phái thực hiện Phật lý, không phải là chỉ ở đó mà nghiên cứu. Chao! Họ viết văn chương rất hay, Phật lý đúng là rất kĩ càng tỉ mỉ, nhưng thân thể thì yếu sắp chết rồi. Thật đó, lại còn viêm phổi, còn viêm gan, còn viêm dạ dày, còn viêm ruột, rồi viêm thận, rồi viêm não, bệnh viêm gì cũng có. Phật lý của họ rất tinh xảo, không hề sai, nhưng chỉ là trên lý luận, còn khí mạch minh điểm thực tế của bạn, thân thể của bạn không tu cho tốt, bạn có thể chứng minh tinh thần của bạn và vũ trụ là trời người hợp nhất không, khí trên thân thể bạn có cách nào dung hợp với pháp lưu ánh sáng vũ trụ không? Bạn có thể là kim cương bất hoại không?

Mật giáo là nói về kim cương bất hoại, khí nhất định phải đủ, mạch nhất định phải thông, minh điểm nhất định phải vận chuyển, phải nhìn thấy minh điểm tịnh quang của chính mình, dung nhập vào trong đại quang minh trong vũ trụ, cái này nhất định phải thực tu. Vì thế, phái Chân Phật Tông chúng ta là tông phái thực tu. Chân Phật Mật Pháp là Mật pháp thực tu, không phải là chỉ nói mỗi Phật lý. 

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

29/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 148. Nói về điều tâm

Hôm nay chúng ta nói một chút về điều tâm. 

Nhìn chung mà nói, mỗi một hành giả chúng ta, trong quá trình tu hành đều phải thanh tịnh tâm của chính mình. Hơn nữa, muốn để cho tâm mình vô cùng cân bằng, có nghĩa là tâm bạn vô cùng tĩnh, thì đây chính là công phu điều tâm. Bạn muốn nhập Tam ma địa thì cũng phải điều tâm của bạn. 

Khi chúng ta muốn nhập định, nhất định phải điều chỉnh hơi thở của mình. Khi bạn ngồi thiền nhất định phải rất an tịnh, sau đó bạn hít thở phải vô cùng cân bằng, tức là thời gian một hít vào và một thở ra phải bằng nhau. Không phải là hít vào thì dài mà thở ra thì lại ngắn hoặc là thở ra thì dài mà hít vào thì ngắn, đều không phải. Nghĩa là khi hít thở đã cực kì đều đặn rồi, tâm bạn sẽ có thể vô cùng cân bằng. Vì thế, chúng ta thường hay nói, tâm và hơi thở ở cùng nhau, việc hít thở và tâm bạn là thường xuyên ở cùng nhau. Vì thế, chúng ta điều hòa hơi thở chính là đang điều hòa tâm của chúng ta, là như nhau.

Điều tâm nói đến ở đây là như vậy. Một người muốn có thể thật sự điều tâm là rất khó. Bởi vì mỗi người đều có phiền não nhỏ, đau khổ lớn, đau khổ nhỏ, phiền não lớn, khi nào bạn mới có thể thật sự điều hòa được cái tâm này đến mức độ vô cùng đều đặn đây? Bây giờ tôi hỏi mọi người: “Khi nào bạn có thể thật sự điều hòa tâm mình đến mức vô cùng bình tịnh không nổi sóng, giống như trạng thái mặt nước hồ hoàn toàn không có gió thổi qua, giống như gương sáng không gợn sóng, đến khi nào đây?”

Nói thật là rất khó. Bởi vì những hình sắc mà bạn tiếp xúc mỗi ngày đều là phiền não nhỏ đau khổ lớn. Có một câu mà tôi thường nói, phải đi nhìn núi nhìn sông, bạn có đau khổ gì, có phiền não gì, hãy đi vào trong núi sâu, nói cho núi nghe. Đó là một kiểu công phu điều tâm, nói cho núi nghe, nói cho sông nước nghe, bởi vì bạn gửi tình vào trong núi sông, tâm linh của bạn sẽ có thể điều hòa, có thể chữa lành những vết thương của bạn.

Cho nên tôi hy vọng mỗi hành giả phải đi nhìn núi nhìn sông nhiều hơn, phải đi sâu vào đại tự nhiên, hòa mình với tự nhiên. Bạn từ từ đi thể hội tâm của tự nhiên, bạn có thể điều hòa tâm chính mình, điều hòa tâm mình đến mức rất bình, rất mềm, rất tĩnh. 

Xã hội hiện đại hình hình sắc sắc, thị thị phi phi, phiền phiền não não, ưu ưu sầu sầu liên tục không dừng, bạn thật sự muốn tìm được một phút tĩnh tâm như nước cũng rất khó. Người ta nói bừa một câu là bạn đã đau lòng ghê gớm rồi, bạn đã đau lòng tới mấy ngày rồi, không phải là một ngày là có thể lắng xuống được. Người ta nói bừa một câu là bạn đã đau lòng mất mấy ngày, đến khi tâm bạn từ từ bình phục rồi thì lại có một câu nói khác, phát sinh một số sự việc, tâm trạng bạn lúc cao lúc thấp, ngày ngày buồn bực.

Thật ra tâm của con người, có một câu nói rất hay: “Tâm con người giống như sóng thủy triều.” Những con sóng trên biển căn bản là không có lúc nào dừng lại, mỗi ngày đều ầm ào, một cơn sóng qua đi lại nổi lên một cơn sóng khác, không dừng lại, vĩnh viễn không dừng dứt. Vì thế, hôm nay chúng ta tu hành là đang điều tâm, điều hòa cái tâm của chính mình. Bạn thể hội được đại tự nhiên, tan vào đại tự nhiên, bạn điều chỉnh tâm chính mình, rất quan trọng. Cho nên có lúc người tu hành chúng ta, cư sĩ tại gia, đột ngột bị thất tình, oa, thảm rồi, sẽ trở nên vô cùng trầm cảm. Oa, thất tình rồi, muốn bù đắp tâm linh của họ là không dễ dàng.

Trong quân đội chúng tôi thường lưu truyền một câu nói: “Chân trời cỏ thơm đâu chẳng có, hà tất lưu luyến một nhành hoa.” Đây là một dạng chuyển biến về tâm linh, câu nói này cũng có một tác dụng điều tâm. Điều hòa tâm mình được rồi, sau đó bạn thay đổi tâm mình, có thể chuyển hướng tâm mình sang mặt tốt. 

Ngày nay hành giả chúng ta cũng phải như vậy, bất kì sự việc gì ngăn trở hãy coi như một sự khảo nghiệm, là đang *test* bạn, đang kiểm tra bạn. Bất kì một phiền não nào đều xem như không có việc gì. Bất kì một tin vịt phỉ báng nào cộng với những sự hãm hại lên bản thân bạn, đều dùng vô tâm để hóa giải nó, thế là bạn có thể tự tại sống giữa trời đất, vĩnh viễn có thể an tâm. Giả sử bạn không như vậy, thế thì bạn chính là ngày ngày tâm trạng lúc cao lúc thấp, lúc trồi lúc sụt, vĩnh viễn chẳng có cách nào, giống như sóng biển vậy. Như vậy thì bạn chính là một phàm phu.

Điều tâm mà Phật Đà nói, tâm chúng ta không được quá căng, không được tính toán chi li bất kì sự việc nào, như thế là quá căng. Nhưng cũng không được quá lỏng, cái gì cũng chẳng sao cả, như thế thì quá buông thả rồi. Cho nên khi quá lỏng bạn phải điều chỉnh căng lên một chút, khi quá căng phải điều chỉnh cho lỏng ra một chút. Đây là điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói, giữa căng và lỏng bạn phải điều hòa cho vừa khéo, đó chính là điều tâm.

Có thể sống một cách vô cùng đẹp đẽ, giữ được tâm linh hết sức bình hòa, đây là tâm thái của một hành giả. Bạn tính toán mọi thứ thì sẽ là quá căng, nhưng phàm chuyện gì cũng không hề gì thì là quá lỏng. Phải điều chỉnh giữa hai cái này sao cho vừa khéo, dùng tâm pháp không hề gì để đi làm những việc tu hành của bạn, đây chính là công phu điều tâm.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

30/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 149. Nói về từ bi hỷ xả - Tứ vô lượng tâm

Hôm nay chúng ta nói về vô lượng tâm. Tứ vô lượng tâm được nói đến trong Chân Phật Mật Pháp, trong mỗi nghi quỹ Mật pháp của chúng ta có nhắc đến, mỗi hành giả phải phát tứ vô lượng tâm. Tứ vô lượng tâm chính là từ bi hỷ xả.

Từ — tức là cho người khác sự vui vẻ.  
Bi — tức là giải trừ đau khổ của người khác.  
Hỷ — hoan hỷ vui vẻ tận lực đi làm.  
Xả — có thể đem thời gian của mình, sinh mạng của mình, tiền bạc của mình, tất cả đều có thể thí xả toàn bộ.

Đây là tứ vô lượng tâm, chính là bốn tâm vô lượng của Bồ Tát — từ bi hỷ xả.

Mỗi hành giả chúng ta nếu muốn bồi dưỡng tứ vô lượng tâm, nghĩa là biến thân mình thành quảng đại vô lượng, tâm tiểu ngã là tâm tính toán so đo. Tâm đắc tu hành của bản thân tôi, tôi nói như thế này, giả sử mỗi người vì một cái tôi thì khắp nơi đều có phiền não, giả như bạn không vì cái tôi thì trong lòng của bạn sẽ không có đau khổ. Bạn vì chúng sinh thiên hạ, nếu bạn có thể hoàn toàn thí xả thì bạn sẽ không có phiền não. 

Người người có phiền não là do người người vì cái tôi nên mới có phiền não. Nếu người người vì người khác, Nếu người người vì người khác thì lấy đâu ra phiền não. Chỉ cần người khác tốt, còn chính mình thì không hề gì, thế thì bạn sẽ không có đau khổ, sẽ không có phiền não. Cho nên người tu hành chúng ta là bồi dưỡng tâm vô lượng, tâm quảng đại vô lượng, cho nên phải từ bi hỷ xả.

Chúng ta biết điều Phật Đà nói, quá căng tức là nói rằng nếu bạn lúc nào cũng tính toán so đo việc rất nhỏ, như thế là quá căng. Nếu nghe được một câu nói bạn đã khởi phiền não rồi tức là quá căng. Cho nên Phật Đà dạy bạn lỏng ra một chút, thư giãn ra, không có việc gì cả, cứ để nó qua đi, tức là thả lỏng. Thế nhưng quá lỏng thì phải điều chỉnh căng lên một chút, giống như tu hành Chân Phật Mật Pháp của chúng ta hôm nay, giả sử có đệ tử tu hành là, thức dậy tu một đàn, ăn sáng lại tu một đàn, giữa bữa sáng và bữa trưa lại tu một đàn, bữa trưa lại cũng tu một đàn, sau đó ở giữa lại tu lại tu, tức là từ sáng đến tối đều tu hành, như thế thì quá căng rồi. Một ngày từ sáng đến tối đều tu một cách rất căng trong Mật pháp thì đôi khi cũng sẽ sinh bệnh đó.

Bạn biết đấy, có người làm công khóa, lần nào cũng phải giành được vị trí số một, anh ta rất chăm chỉ làm công khóa, nhưng nếu có một lần giành được vị trí số hai thì sẽ suy sụp ngay, tinh thần sẽ thất thường. Đây là nguyên nhân gì? Là quá căng. Vì thế, bạn làm sao để điều hòa chính mình, điều hòa cho tốt thước đo cuộc sống của chính mình, điều này là vô cùng quan trọng. Bạn không chỉ cần làm tốt công khóa mà bạn còn phải hiểu cách thả lỏng. Bởi vậy nói thật lòng, khi bạn đi học thì phải chuyên tâm nhất chí đi học, khi chơi thì cũng phải thả lỏng hết mình mà chơi. Sau đó khi học hành, bạn lại thu tâm về. Khi đi ra ngoài chơi, tâm lại thoải mái ra để đi chơi, để cho nó chạy băng băng trên thảo nguyên rộng lớn, đừng căng thẳng. Đây chính là một tác dụng điều tâm. Bạn phải điều chỉnh tâm mình trở nên quảng đại vô lượng, tâm từ bi hỷ xả thì sẽ không có phiền não.

Có một số người tu hành nghe đến tu hành Mật giáo thì, chà, cực kì tốt, thế là từ buổi sáng cho đến buổi trưa, cho đến buổi tối, đến đêm khuya, thậm chí không ngủ không nghỉ để tu hành, như thế cũng sẽ sinh bệnh, đây là quá căng, cho nên sẽ sinh bệnh. Thế còn lỏng thì sao? Bạn lại nói: Ái chà, Sư Tôn bảo chúng ta đừng quá căng, vậy thì dứt khoát là tốt, chúng ta ăn ba bữa, còn ngủ giấc buổi trưa, rồi nghỉ ngơi sớm, buổi sáng ngủ dậy muộn, buổi tối lại đi ngủ sớm, sau đó lại ăn vặt, rồi đọc báo, còn có thời gian đi cafe, lại uống cafe, lại ăn bánh. Khi vẽ phù lại còn ăn bánh quy, lúc này lại còn có thời gian để vận động, buổi sáng cũng phải vận động, Sư Tôn của chúng ta nói mỗi ngày phải vận động, tối thiểu phải nửa tiếng đồng hồ, buổi sáng phải vận động nửa tiếng, buổi trưa phải vận động nửa tiếng, buổi tối cũng vận động nửa tiếng. Ối, bạn nói xem, có tu một đàn pháp nào đâu, không hề có! Như thế là quá lỏng rồi. Bởi vậy, bạn phân phối thời gian như thế nào là rất quan trọng. 

Bồi dưỡng tâm vô lượng cũng rất quan trọng, vì chúng sinh, không vì chính mình, thế thì sẽ biến thành đại ngã. Tâm đại ngã — là vì chúng sinh, không vì chính mình; tâm tiểu ngã — là vì chính mình, chúng sinh kệ họ! Mặc kệ người khác, người khác cho dù thế nào thì cũng mặc kệ hết, chỉ cần chính mình tốt là được, đó là tâm tiểu ngã. Bạn bồi dưỡng chính mình thành tâm đại ngã, bạn và ý thức vũ trụ có thể dung hợp, bởi vì bản thân ý thức vũ trụ mà nói chính là tâm đại ngã.

Giống như Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, giống như Đại Nhật Như Lai trong hư không, cái gọi là biến chiếu của các vị tức là không chỗ nào không chiếu đến, ý nghĩa này nói rằng: Đối với tất cả chúng sinh đều nhất loạt bình đẳng cứu tế. Cái này thuộc về tâm đại ngã.

Chúng ta muốn dung nhập vào trong ý thức vũ trụ, nhất định phải học tâm đại ngã. Bạn muốn độ chúng sinh cũng phải học tâm đại ngã. Bạn muốn chính mình không có phiền não cũng cần tâm đại ngã. Bạn muốn vô vi mà làm thì cũng phải có tâm đại ngã. Điều này vô cùng quan trọng. Vì thế tứ vô lượng tâm chính là tâm đại ngã. Bốn loại tâm vô lượng từ bi hỷ xả, toàn bộ đều là tâm đại ngã.

Học Phật, bạn có tâm đại ngã rồi mới có thể tự độ mình và cũng có thể đi độ người khác, không có tâm đại ngã thì không phải là tu hành.

Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

30/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 150. Đối trị (1)

Hôm nay chúng ta nói về đối trị. Trước kia từng có một người phụ nữ đến Seattle Lôi Tạng Tự tham gia đồng tu với chúng ta ở Mật Uyển. Sau khi xem vài lần, bà ấy nói: “8 giờ tối thứ bảy hàng tuần mọi người đồng tu, ở trong Mật Uyển vào lúc 4 giờ hàng ngày cũng đồng tu, trong khi đồng tu, mọi người niệm chú ngữ, kết thủ ấn, làm xong cái này lẽ nào có thể thành Phật sao?” Bà ấy đã có một thắc mắc là lẽ nào đồng tu xong thì bạn rất dễ thành Phật sao?

Thật ra muốn thành Phật không hề dễ, nhưng trong tu pháp Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, trên thực tế là đang làm một công phu đối trị. Bản thân việc thành Phật mà nói không dễ dàng, nhưng bạn theo cách này mà tu thì tối thiểu nó sẽ sinh ra một sự đối trị. Điều nói đến ở đây chính là đối trị. 

Nói chung, phần lớn mọi người đều sẽ có thắc mắc. “Anh ngồi đó thiền định thì có thể thành Phật sao?” “Anh niệm niệm Phật là có thể thành Phật sao?” “Anh trì chú là có thể thành Phật sao?” “Anh kết thủ ấn là có thể thành Phật sao?” “Anh tiêu tốn nhiều thời gian vào việc tu pháp, như vậy có thể thành Phật sao?”

Đương nhiên thành Phật không dễ, nhưng trên thực tế là bạn đang làm công phu đối trị, từng bước từng bước đi trên con đường đạo để thành Phật. 

Chúng ta nói trong Chân Phật Mật Pháp có cái gọi là triệu thỉnh, triệu thỉnh tức là chúng ta kết một thủ ấn để triệu mời Phật đến. Kết ấn cái móc để triệu thỉnh, có hàm ý bên trong, cái gọi là triệu thỉnh chính là đang đối trị khoảng cách quá xa giữa bạn và Phật. Ý nghĩa của triệu thỉnh là hy vọng Phật có thể đến gần bạn, bạn có thể đến gần Phật, thậm chí hợp nhất với Phật, triệu thỉnh này là đối trị việc bạn và Phật không thân thiết, cho nên mới phải làm triệu thỉnh. Giả sử bạn ngày ngày đều ở cùng Phật, hợp nhất với Phật, thế thì căn bản là không cần triệu thỉnh, điều này rất đơn giản. Hôm nay chúng ta tu pháp chính là vì bạn và Phật không thân cận, cho nên mới phải dùng cách triệu thỉnh, đây là một cách đối trị. Từ đây chúng ta có thể biết tu pháp là đang mang dụng ý gì, nghĩa là hy vọng bạn và Phật hợp nhất nên mới làm triệu thỉnh.

Trong việc học Phật có một câu nói: “Học Phật một năm Phật ở trước mặt, học Phật ba năm Phật ở chân trời, học Phật mười năm Phật không thấy nữa.” Vì sao lại như vậy? Bởi vì ban đầu bạn sẽ cảm thấy học Phật rất dễ, cho nên ngày ngày có cảm ứng, rất dễ có cảm ứng. Nhưng trên thực tế, bạn thâm nhập kinh tạng rồi thì sẽ phát hiện ra không hề có chuyện dễ dàng như thế, Phật lý ở trong đó vô cùng tỉ mỉ, đạo lý cực kì sâu, học đến cuối cùng, sau 10 năm bạn học sẽ nhận ra, chà, thì ra Phật pháp sâu xa như vậy, ngược lại, bạn cảm thấy mình cách xa Phật, sẽ không còn thấy Phật nữa.

Người bình thường mới phát tâm thì rất nhiệt tình, khi mới bắt đầu, mới phát tâm thì rất tốt, sau đó chưa tới vài năm sau, bạn sẽ dần dần “mất hút”, đầu hổ đuôi chuột, cái đầu con hổ rất to, đuôi chuột thì rất nhỏ, tức là mất hút luôn. Có thể duy trì được tâm lâu dài đúng là rất ít người. Trong khi tu pháp chúng ta thường làm triệu thỉnh, hy vọng Phật và bạn rất gần nhau. Tứ tự minh “Cha Hum Ban Ho”, Cha — là Phật xuất hiện, Hum — là Phật di chuyển đến trước mặt bạn, Ban — là Phật trụ trên đầu, Ho — là Phật đi vào bên trong bạn, hợp nhất với bạn rồi, tứ tự minh chú này chính là như vậy. Triệu thỉnh là để đối trị bạn và Phật không thân cận.

Vì sao chúng ta phải có đàn thành? Tu hành vì sao phải có đàn thành? Đàn thành vô cùng trang nghiêm, đàn thành vô cùng thanh tịnh, tức là để sau khi bạn nhìn thấy đàn thành, bạn cảm thấy bản thân bạn không thanh tịnh, đàn thành là để đối trị sự không thanh tịnh của bạn. Bạn nhìn thấy đàn thành thì sinh tâm hoan hỷ, tức là để đối trị sự không thanh tịnh của bản thân bạn. Đàn thành rất trang nghiêm, đôi khi bạn nhìn thấy sự trang nghiêm của đàn thành, cảm thấy bản thân mình cần phải trang nghiêm giống như Phật Bồ Tát. Đây là để đối trị chính bạn, cũng là một sự đối trị.

Chúng ta thường phải quán Không, trong tu pháp có yêu cầu bạn quán Không, trước khi bạn muốn nhập Tam ma địa cũng phải quán Không. Vì sao phải quán Không? Bởi vì bản thân bạn chưa Không mà! Quán Không tức là bạn đã hoàn toàn hóa tâm mình thành vô tâm, tiêu trừ hết tất cả vọng niệm, buông bỏ hết tất cả phiền não, đây mới gọi là quán Không đó! Đạo lý của quán Không là như vậy. Bởi vì trong khi tu pháp mà bạn có phiền não, có rất nhiều việc linh tinh, có rất nhiều vọng niệm ở trong lòng, như thế mà tu thì không tốt, không thể nhập Tam ma địa được. Cho nên trong tu pháp trước khi nhập Tam ma địa, bạn phải quán Không trước, nghĩa là để đối trị cái sự chưa Không của bản thân bạn. Bạn có quá nhiều thứ, bên trong thân bạn có quá nhiều thứ quá phức tạp, không hoàn toàn thanh tịnh. Cho nên quán Không là muốn bạn hoàn toàn biến thành trạng thái Không thì bạn mới có thể dẫn Phật Bồ Tát vào trong tâm của bạn. Bên trong thân thể bạn quá bẩn, trong nhà kho của bạn có quá nhiều mạng nhện, bẩn muốn chết, Phật Bồ Tát có muốn đi vào trong thân thể bạn không? Bạn là người bẩn mà! Bên trong thân thể bạn có mạng nhện mà còn muốn mời Phật Bồ Tát đi vào bên trong thân thể bạn. Vì thế, ý nghĩa của quán Không là chuẩn bị vị trí để Phật Bồ Tát có thể đi vào, gọi là quán Không, để đối trị sự chưa Không.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

31/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 151. Đối trị (2)

Chúng ta lại nói một chút về đối trị. Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều nghi quỹ, mỗi nghi quỹ đều là đối trị, nghĩa là giúp bạn điều chỉnh tâm của chính mình, điều chỉnh khẩu của chính mình, điều chỉnh ý niệm của chính mình, đều là đang làm công phu này. Vì thế đừng nói: “Trong khi đồng tu, kết thủ ấn này, niệm chú này, rồi quán tưởng này, thế là bạn có thể thành Phật rồi!” Nhanh như thế ư? Lấy đâu ra mà nhanh như vậy? Trên thực tế không hề nhanh, nhưng trên thực tế là bạn đang điều chỉnh, điều chỉnh khẩu của bạn, điều chỉnh ý niệm của bạn, điều chỉnh thân thể của bạn, đều là đang điều chỉnh.

Giống như giới định huệ, giới định huệ là để đối trị tham sân si. Chúng ta từng nói giới định huệ là đối trị tham sân si, hôm nay trong đồng tu của chúng ta cũng là đang đối trị, trong đồng tu của chúng ta có một nghi quỹ, gọi là tam quang bao trùm, thỉnh cầu Bổn tôn hiển hiện trong hư không, sau đó ngài phóng một đường ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm của bạn, một đường ánh sáng đỏ chiếu đến họng của bạn, một đường ánh sáng lam chiếu đến tim của bạn, ba ánh sáng bao trùm. Vì sao cần có ba ánh sáng bao trùm? Đây là biểu thị thân khẩu ý của bạn không thanh tịnh, không thanh tịnh nên mới cần ba ánh sáng gia trì.

Thỉnh cầu Phật Bồ Tát xuất hiện, ba đường ánh sáng chiếu đến bạn, bạn phải quán tưởng ba đường ánh sáng chiếu đến bạn, vì sao phải chiếu đến bạn? Bởi vì trong đầu bạn toàn là nòng nọc, cho nên ngài phải dùng ánh sáng màu trắng để cho ý niệm của bạn, những suy nghĩ của bạn biến thành ánh sáng màu trắng. Bởi vì miệng của bạn toàn những lời nói dối, thường xuyên khoác lác, cho nên ánh sáng đỏ chiếu đến họng bạn là để thanh tịnh những lời nói dối này của bạn. Nói dối, nói khoác, nói lời tục tĩu, nói hai lưỡi, ác khẩu, chửi tam tự kinh. Không phải là tam tự kinh “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, là tam tự kinh kiểu kia cơ <span className="note-blue">[ý nói chửi thề]</span>. Ánh sáng đỏ này chiếu đến bạn, khiến cho khẩu của bạn thanh tịnh. Ánh sáng lam chiếu đến tim bạn, chính là khiến cho thân thể bạn, toàn thân tay chân, bao gồm cả thân thể, toàn thân đều thanh tịnh, thân thể thanh tịnh. Chúng ta cầu nguyện ba ánh sáng bao trùm chính là vì thân thể bạn vốn bất tịnh, khẩu bất tịnh, ý niệm bất tịnh, nên mới cầu ba ánh sáng gia trì, đây là đối trị đó! Đều là đang đối trị sự không thanh tịnh của thân thể bạn, thân khẩu ý không thanh tịnh. Chính là một sự đối trị đó!

Khi chúng ta tu pháp, tu đến đây mọi người đều tùy miệng nói: Bây giờ bắt đầu nhé, tam quang gia trì! Nào thì tam quang gia trì, ánh sáng trắng, ánh sáng đỏ, ánh sáng lam, chẳng có cảm giác gì cả. Đây là đối trị thân thể bạn không có ánh sáng đó! Thân thể bạn căn bản không có ánh sáng, thân thể bạn không thanh tịnh, làm gì có ánh sáng chứ? Cho nên cầu Phật Bồ Tát phóng ba ánh sáng gia trì cho bạn, đây đều có ý nghĩa cả, có công phu đối trị, không phải là tùy tiện.

Còn nữa, chúng ta phải quán tưởng chủng tử tự, có không? Khi Bổn tôn của bạn còn chưa xuất hiện, chúng ta phải quán tưởng chủng tử chữ Seh, chủng tử tự của A Di Đà Phật xuất hiện. Chữ Ah - phải quán tưởng chữ Ah này, đều phải quán tưởng chủng tử tự để làm gì? Chủng tử này chính là một cái nhân, chúng ta nói đây là nhân, chữ nhân trong nhân quả. Chúng ta quán tưởng chủng tử tự biểu thị cái nguyên thủy nhất, bạn học cái ý thức nguyên thủy nhất của Phật ở trong đó, bạn muốn học Phật thì trước tiên phải quán tưởng chủng tử tự, đây gọi là nhân địa chân thực - nhân địa rất thật. Ý nghĩa của quán tưởng chủng tử tự này là đối trị nhân địa của bạn không thật, chính từ trong ý thức chân thực nhất đối trị sự không chân thực của chính bản thân bạn.

Giống như lúc nhỏ Sư Tôn đi nhà thờ, nhà thờ của đạo Cơ Đốc, việc đi nhà thờ của tôi là nhân địa không thật, vì sao lại là nhân địa không thật? Bởi vì tôi đi nhà thờ Cơ Đốc không hề vì thật sự tin Chúa Jesus, mà là vì bạn gái tôi ở đó. Đi tới đó thì sẽ gần bạn gái hơn một chút, dễ nói chuyện, nhìn thấy thôi cũng tốt rồi, giống như là nói thêm vài câu để liên kết tình cảm. Đây chính là nhân địa không thật.

Hôm nay bạn học Phật bạn đi đến chùa của chúng tôi, bạn nhìn ngó quan sát, nhìn để tìm bạn, tìm đối tượng, người Đại Lục nói là “tăm tia đối tượng”. Bạn đến để tăm tia đối tượng, không phải là thật sự đến để tu pháp. Bạn không phải thật sự đến để thực tu, đến để học Phật, như vậy tức là nhân địa không thật. Xuất phát điểm của bạn không đúng.

Bởi vậy Mật giáo bảo bạn quán tưởng chủng tử tự, quán tưởng chữ Seh chủng tử tự của A Di Đà Phật. Quán tưởng chủng tử tự chung của chư Phật Bồ Tát - chữ Ah, ý nghĩa là ở đây, chính là muốn bạn nhân địa phải chân thực, bạn thật sự đến để học Phật. Không thể nói làm một pháp sư mà tu pháp thì qua loa đại khái, hỏi vì sao xuất gia, lại bảo: “Bởi vì tôi thất nghiệp rồi. Tôi không nghề nghiệp, cho nên tôi xuất gia.” Ôi, đùa à? Bạn như thế là nhân địa không thật. Muốn học Phật cho nên mới xuất gia, nhân địa như thế là thật. Giả sử vì bạn chẳng còn đường nào, cho nên mới xuất gia cho xong, dù sao cũng có cơm ăn, có chốn ngủ, có nơi để ngồi xổm, đây tức là nhân địa không thật. Vì thế phải yêu cầu bạn quán tưởng chủng tử tự, thâm nhập bên trong ý thức của Phật, đều có ý nghĩa.

Chúng ta tu pháp có làm hồi hướng, hồi hướng là đối trị cái gì? Hồi hướng có thể nói là đối trị tâm lỏng lẻo của bạn, sự tán loạn của bạn, hồi hướng là một sự tổng kết việc bạn tu pháp là làm cái gì. Chính là một sự tổng kết, một sự hướng về. Hôm nay trong khi tu pháp, giả sử bạn tùy tiện qua loa, nhưng khi bạn nói đến hồi hướng, bạn cũng sẽ cảnh tỉnh chính mình. Ôi chà, vừa rồi mình tu pháp tán loạn quá, bây giờ hồi hướng thì cảm thấy rất hổ thẹn, bởi vì bạn tu pháp là muốn vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, bạn muốn thành Phật cơ, nhưng bạn dùng cái tâm tán loạn như vậy để tu, chẳng phải là quá hời hợt sao? Cho nên hồi hướng tương đương một sự tổng kết, là đối trị sự tán loạn của chính bạn.

Giống như chúng ta làm tứ quy y, phải niệm “Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye.” là để đối trị tâm bạn không nằm ở Kim cương Thượng sư, không nằm ở Phật pháp tăng, đây đều là một sự đối trị. Vì thế nghi quỹ tu pháp hoàn toàn là bỏ công sức để làm việc đối trị, lâu ngày thành thục thì có thể thành Phật.

Om mani padme hum.

31/10/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 152. Thể tướng dụng (1)

Hôm nay tôi giới thiệu với mọi người ba chữ “thể tướng dụng”. Người nghiên cứu Phật pháp thông thường biết dùng ba chữ thể, tướng, dụng. Giả sử nếu coi Phật pháp thành triết học để nghiên cứu thì ba chữ này cũng rất quan trọng, đây là một phương pháp nghiên cứu về phương diện triết học.  
Thể — có thể nói là bản thể.  
Tướng — chính là tượng trưng bên ngoài.  
Dụng — chính là tác dụng.

Lấy một ví dụ để nói, giống như cái chuông trong chùa, chuông dùng đồng để làm cái thể của nó, nó được đúc bằng đồng, nhưng cái tướng bên ngoài của nó giống một cái chuông, một cái chuông rất to, tác dụng của nó là cái gì? Gõ vào nó thì sẽ “boong”, nó sẽ kêu, có thể phát ra âm thanh “boong” chính là tác dụng của nó.

Người nghiên cứu Phật pháp thường xuyên dùng ba chữ này để phân tích Phật pháp. Chúng ta đánh trống cũng thế, bản thân trống là: thể là da, tướng của nó là cái trống, có hình tròn tròn, gõ lên thì “tùng, tùng, tùng”… đây chính là tác dụng của nó. 

Có rất nhiều ví dụ về thể tướng dụng, rất nhiều thứ đều có thể dùng để làm ví dụ. Giống như xây nhà, rất nhiều ngôi nhà ở Mỹ đều làm bằng gỗ, nhà ở Đài Loan đa phần đều làm bằng xi-măng. Xi-măng dùng để xây nhà, thể của nó chính là đất, tướng bên ngoài giống như cát, tác dụng của xi-măng là ở đâu? Nó sẽ đông cứng lại, đây chính là tác dụng của nó.

Cho nên chúng ta nghiên cứu một thứ, bạn đưa thể tướng dụng vào để phân tích thì sẽ rất dễ hiểu. Ví dụ cái bàn này, thể của nó chúng ta nhìn một cái là biết nó là gỗ, tướng của nó là một cái bàn, tác dụng của nó thì mọi người đều biết, có thể ngồi viết trên bàn, còn có ngăn kéo để dùng, đây chính là tác dụng của nó.

Tôi giới thiệu đơn giản về thể tướng dụng, mọi người đã tương đối hiểu được thế nào là thể, thế nào là tướng, thế nào là dụng rồi.

Thật ra ba chữ này dùng trong Phật pháp rất hữu ích. Chúng ta thường nói Phật có ba thân - Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Pháp thân chính là thể, Báo thân chính là tướng, Ứng thân chính là dụng. Bây giờ mọi người đã hiểu rồi, Pháp thân là nguyên tố của Phật, Như Lai, Chân Như. Khi ngài muốn hiển hiện thành một vị Phật, ví dụ A Di Đà Phật của Tây phương Cực Lạc thế giới thì đó chính là Báo thân, ngài hiển hiện ra hình tượng của A Di Đà Phật, vậy thì đây chính là Báo thân Phật. A Di Đà Phật lại chuyển thế đến nhân gian, đây chính là tác dụng, tức là ngài bắt đầu thuyết pháp, đây chính là Ứng thân Phật.

Pháp thân Phật, Báo thân Phật, Ứng thân Phật nói theo cách này thì rất dễ hiểu rõ ràng. Vì thế, tôi thường nói, Đại Nhật Như Lai ở thiên thượng giới chính là Pháp thân Phật, ngài hóa thành Liên Hoa Đồng Tử chính là Báo thân Phật, thế rồi Liên Hoa Đồng Tử hạ sinh thành Lư Thắng Ngạn chính là Ứng thân Phật, hiện tại ở thế giới Ta Bà đang sản sinh ra một tác dụng, tác dụng của ngài đã xuất hiện rồi, đây chính là Ứng thân Phật.

Chúng ta lại lấy một ví dụ, cái thể của đèn huỳnh quang là gì? Điện chính là thể của nó, không có điện thì tất cả đều miễn bàn, đèn điện thì nhất định phải có điện, không có điện thì bóng đèn điện đó chẳng có tác dụng gì, cho nên điện chính là thể của nó. Bây giờ đèn huỳnh quang này ở đây, cái này chính là tướng của nó, ánh sáng phát ra chính là tác dụng của nó, đây là thể tướng dụng.

Bởi vậy chúng ta làm Hộ Ma, cần nói về thể tướng dụng của Hộ Ma nằm ở đâu? Thể chính là Bổn tôn, bạn phải thỉnh mời Bổn tôn đến, bạn làm Hộ Ma tức là cúng dường Bổn tôn. Lò Hộ Ma, cúng phẩm của Hộ Ma chính là tướng, sau khi bạn làm xong một đàn Hộ Ma, tác dụng tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục sinh ra sau khi hỏa cúng chính là dụng.

Dùng thể tướng dụng của triết học để phân tích Phật pháp đều có tồn tại đạo lý của nó. Chúng ta triệu thỉnh Bổn tôn đến, Bổn tôn là thể, ngài là cái thể vô hình. Bạn ở đây đốt Hộ Ma, đây chính là tướng. Tác dụng tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục sản sinh ra chính là dụng của nó.

Bạn nghiên cứu mỗi kinh điển Phật nói, bạn phải dùng ba chữ này để nghiên cứu, cái gì là thể của bản kinh này, cái gì là tướng của bản kinh này, tác dụng của bản kinh này là gì. Cho nên nghiên cứu Phật pháp thì chắc chắn dùng đến thể tướng dụng.

Bây giờ mọi người đã có một chút khái niệm về nghiên cứu rồi, thế nào là bản thể, thế nào là ngoại tướng, thế nào là tác dụng. Bạn dùng phương pháp này để đi nghiên cứu Phật pháp, nó vô cùng hữu dụng.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

01/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 153. Thể tướng dụng (2)

Hôm nay tiếp tục giới thiệu về thể tướng dụng. Bạn biết ứng dụng của thể tướng dụng rồi thì bạn có thể sẽ biết Phật Bồ Tát là gì. Đôi khi có người hỏi: "Phật là gì?” Thiền tông chỉ nói “Phật chính là Phật”. “Pháp là gì?” “Pháp chính là pháp.” Chẳng hề giải thích, chỉ lặp lại một câu, là để nhấn mạnh thêm, cũng là rất hay.

Trên thực tế, bạn muốn giải thích chữ Phật này cũng vô cùng khó. Đôi khi bạn nói Bồ Tát là gì, trong chốc lát không thể nghĩ được gì. Thật ra có thể nói như thế này, bồ đề tâm là thể của ngài, bản thân Bồ Tát có bồ đề tâm, người phát bồ đề tâm chính là Bồ Tát. Vậy tướng của Bồ Tát là gì? Người có bồ đề tâm hiển hiện ra chính là Bồ Tát, cho nên đừng nghĩ Bồ Tát nhất định phải thành như thế nào đó.

Ví dụ trong kinh điển nói Thanh Văn đều là đầu trọc, Bồ Tát đều có tóc, có búi tóc, đội mũ, tướng mạo rất trang nghiêm, hai tai hai mắt rất hiền từ, cái mũi, cái miệng đều rất đẹp, ngũ quan rất thanh tú, đó chính là Bồ Tát. Không phải như vậy đâu, chỉ cần là người phát bồ đề tâm thì đều là Bồ Tát hết, có thể nói người đã thọ Bồ Tát giới thì đều là Bồ Tát hết, cái này chính là tướng của Bồ Tát.

Tác dụng của ngài là gì? Từ bi hỷ xả cứu độ chúng sinh, dùng lục độ vạn hành để đi cứu độ chúng sinh, đây chính là tác dụng. Vì thế, chúng ta nghiên cứu danh từ của Phật học cũng có thể dùng thể tướng dụng.

Mọi người thử nghĩ xem, tam tự minh chú Om Ah Hum, ba chữ này trong Mật giáo rất quan trọng. Om — vũ trụ, Ah — Phật, Hùm — thành tựu, đây chính là thể tướng dụng. Om chính là bản thể, bản thể của vũ trụ, Ah chính là Phật Bồ Tát xuất hiện, Hum chính là thành tựu tất cả. Thể tướng dụng đều có ở đây. Om — bản thể, Ah — tướng, Hum — tác dụng, thành tựu tất cả chính là tác dụng. Vì thế, dùng thể tướng dụng để giải thích đều rất rõ ràng.

Bây giờ tôi dạy mọi người một pháp thanh tịnh, chúng ta dùng chữ Hum màu xanh lam đứng thẳng ở trong hoa sen Tâm luân. Hum một tiếng, lỗ mũi bên phải có một chữ Hum đi ra, ở trước mặt bạn. Hum hum hum…, từ chữ Hum mẹ này sinh ra một vài chữ Hum con, rồi biến thành một đống chữ Hum bao bọc lấy bạn, bao vây toàn bộ ngôi nhà, đầy ắp cả ba nghìn đại thiên thế giới, toàn bộ đều là chữ Hum màu lam.

Lúc này, bạn phải niệm chú Hum hum hum… liên tục niệm thành tiếng, chữ Hum đó từ lỗ mũi của bạn giống như một tấm màn chú, nghĩa là chữ nọ móc vào chữ kia, đầy ắp cả đại thiên thế giới, trở thành một chữ Hum lớn màu lam. Lúc này bạn có thể quán tưởng toàn bộ vũ trụ đều bị chữ Hum này lấp đầy.

Sau đó bạn dùng lỗ mũi trái để hít những chữ Hum này vào, hít vào chữ Hum màu lam, Hum hum hum…, đi vào thân thể bạn, bao gồm cả ngón tay, ngón chân, cả những nơi vi tế nhất, toàn bộ đều đầy ắp chữ Hum màu lam. Sau cùng bản thân biến thành một chữ Hum lớn màu lam. 

Trì chú và quán tưởng như vậy, đây là một pháp thanh tịnh rất vi diệu. Nói cách khác là lúc này toàn bộ thân tâm bạn đã hoàn toàn thanh tịnh, bản thân biến thành chữ Hum, toàn bộ vũ trụ biến thành Hum, một trạng thái Hum và Hum hợp nhất.

Chữ Hum này có tác dụng lớn, nó có thể thanh trừ tất cả nghiệp chướng. Bạn chỉ mỗi niệm chữ Hum này cũng chính là một chú ngữ, một chú ngữ rất vĩ đại. Bạn biết không? Hai mươi cõi trời trong các cõi trời, chú ngữ của họ chính là một chữ Hum này mà thôi, chính là chữ Hum này, đây gọi là pháp thanh tịnh vi diệu nhất. Chỉ tu mỗi chữ này, nếu bạn tu thành rồi thì cực kì đó, tu thành rồi tức là hợp nhất rồi, Phật Bồ Tát đều có thể hợp nhất với bạn.

Pháp của Mật giáo rất vi diệu, chỉ tu mỗi chữ Hum này đã có tác dụng cực kì rồi, tác dụng mà nó sản sinh ra đã có thể tiêu trừ rất nhiều nghiệp chướng, tất cả nghiệp chướng đều tiêu trừ hết. Bản thân bạn hóa thành chữ Hum màu lam thanh tịnh. Chữ Hum màu lam của vũ trụ và bạn hoàn toàn hợp nhất. Pháp này cũng có thể trị bệnh, cũng có thể tiêu nghiệp chướng, tăng gia phúc phần, cũng có thể thành Phật, đến lúc đó bạn “Hum” một cái, toàn bộ vũ trụ vỡ vụn, bạn thành Phật rồi — Hum!

Đây chính là Nhất tự thanh tịnh pháp.

Om mani padme hum.

01/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 154. Cảm nhận của thiền định (1)

Hôm nay sẽ nói với mọi người về cảm nhận của thiền định. Cảm nhận của thiền định không nhất định là mỗi người đều giống nhau, đây là kinh nghiệm của chính tôi. Tôi đã có một quãng thời gian rất dài rất dài tu hành thiền định rồi, ở đây bản thân tôi có một vài cảm nhận.

Thiền định trong Mật giáo mà nói cũng chính là thành tựu Tam ma địa. Chúng ta tu định đại bộ phận đều bắt đầu tu từ thiền định, bởi vì cho đến thời điểm này vẫn chưa có phương pháp nào tốt hơn ngồi thiền. Vì thế, ba đại thành tựu của Mật giáo là thành tựu trì chú, thành tựu Hộ Ma, thành tựu thiền định, cũng chỉ có từ trong thiền định mới có thể thâm nhập thân tâm của bạn, đi khai phá ý thức của bạn, tiến vào trong cảnh giới sâu nhất. Đây là khai phá tự ngã, tương đương với khai phá vũ trụ.

Đừng coi thường thân thể nhỏ bé của chúng ta, thật ra bên trong có bí ẩn vô cùng sâu xa. Không chỉ là thân thể mà thôi, gồm cả tâm của bạn, ý thức sâu nhất của bạn, đều có thể khai phá ra từ trong định.

Cảm nhận của thiền định không nhất định mỗi người đều giống nhau. Một cảm nhận sớm nhất của tôi chính là nhận ra toàn bộ người mình đông cứng lại. Trước kia tôi có làm một so sánh, giống như chúng ta xây nhà. Nền móng phải trải xi-măng trước, cát, xi-măng kết hợp lại với nhau sau đó trải xong thì nó sẽ từ từ đông cứng lại.

Cảm giác đầu tiên của tôi chính là, ồ, sao trong hư không lại có một khối khí rất đặc biệt - *special air* từ trong hư không đi xuống, sau đó đi vào trong đầu tôi, lúc này toàn bộ đầu tôi đông cứng lại, khí đó từ từ đi vào sau đó liền đông cứng lại. Sau đó đến họng, rồi đến nửa thân trên đều đông cứng lại. Đến nửa thân dưới cũng đông cứng lại, ngay cả tay chân cũng đều đông cứng lại, toàn thân bất động. Cảm giác đó giống như chính mình đã biến thành tảng đá rất kiên cố rồi, chính mình đã biến thành kiểu tảng đá mà búa đập cũng không vỡ rồi. Đó là cảm giác đầu tiên của tôi, tuy vậy thời gian của cảm giác này cũng tương đối dài.

Cảm giác của lần đầu tiên là vị trí thiên tâm và đầu đông cứng lại mà thôi, sau đó tôi hỏi sư phụ thế này thì phải làm sao. Ngài nói: “Con phải di chuyển khối khí đông cứng này xuống phía dưới, di chuyển đến Hầu luân, đến Tâm luân, đến Tề luân, đến Hải để luân, lúc này toàn thân sẽ hoàn toàn đông cứng.”

Sư phụ còn dạy tôi quán tưởng chính mình thành núi Tu Di, nghĩa là một ngọn núi cao lớn nhất, trong Phật điển thường nói núi Tu Di chính là một ngọn núi cao chạm tới trời, lúc này quán tưởng chính mình thành một ngọn núi. Chà! Đúng là bất động như sơn.

Ngồi tư thế Tỳ Lô thất chi tọa rất vững chắc, chính mình biến thành giống như ngọn núi, vững chắc bất động như núi. Cảm nhận này đến như thế nào? Có thể nói như thế này, tôi có một so sánh, khi bạn thả lỏng chính mình, bạn khiến thân tâm mình hoàn toàn trống rỗng, rất nhanh chóng, khối khí của dòng chảy pháp của vũ trụ sẽ “ào” một cái, đi vào bên trong thân thể bạn. Thân tâm bạn đều đầy ắp dòng chảy pháp của vũ trụ, sự kiên cố đó là tột bậc!

Bởi vậy tôi từng nói, trước kia khi tôi ngồi thiền, quán tưởng chính mình trống rỗng, sau đó đột nhiên dòng chảy pháp của vũ trụ sẽ đi vào, toàn bộ thân thể đầy ắp khí. Lúc này lại quán tưởng chính mình trở thành núi Tu Di cao lớn như vậy. Trong cảm ứng của tôi có hai con ma đi đến bên cạnh ngọn núi, chúng nói: “Ơ! Sao ở đây đột nhiên lại xuất hiện một ngọn núi lớn nhỉ? Trước kia chúng ta đi qua đâu có nhìn thấy.” Kết quả là chúng phải đi vòng qua ngọn núi này mất vài năm mới có thể đi qua được ngọn núi.

Đây cũng là một cảm nhận rất vi diệu. Bạn xem, hai con ma đó khi gặp phải ngọn núi là bạn thì cũng chẳng có cách nào, chúng chỉ có cách đi vòng quanh núi, kết quả là phải đi thời gian rất lâu rất lâu mới có thể đi qua được, cảnh giới tu hành này đích thực là bất khả tư nghì.

Đây là cảm nhận đầu tiên của tôi, cho nên đôi khi đối với người tinh thần không ổn định lắm, tôi thường nói với họ thế này: Hãy quán tưởng chính mình là một ngọn núi lớn, sau đó niệm chú gia trì cho nó biến thành một ngọn núi lớn, lúc này vạn linh không thể xâm nhập, vạn tà không thể xâm nhập. Bất kì một tà ma, tà linh, yêu ma quỷ quái nào cũng đều không dám bắt nạt bạn, bởi vì bạn bất động như núi. Điểm này cũng vô cùng quan trọng.

Tôi thường dạy người ta, thường xuyên bị trộm khí hoặc bị linh bắt nạt, người bị tinh thần không ổn định, tôi đều bảo họ quán tưởng bản thân là một ngọn núi, sau đó niệm tâm chú kim cang: “Ôm mu-ti sô-ha.” Ngoài ra còn một câu nữa là: "Ôm u-luân-ni sô-ha.” Tôi bảo họ niệm chú này, sau đó dùng chú này để gia trì chính mình biến thành một ngọn núi Tu Di.

Cảm nhận đầu tiên khi thiền định của tôi có được là như thế, bản thân phải trống rỗng thì mới có thể có dòng chảy pháp của vũ trụ đi vào bên trong thân thể bạn, sau đó khí đầy ắp toàn thân, sau đó hóa khí này thành núi Tu Di trang nghiêm.

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

04/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 155. Cảm nhận của thiền định (2)

Chúng ta lại nói về cảm nhận của thiền định. Mọi người nghe tôi nói cảm nhận đầu tiên của thiền định là đông cứng bất động như núi, cái này phải tu như thế nào? Làm sao để thân tâm của mình trống rỗng là một vấn đề. Trong Mật giáo, tôi từng dạy phải tu Kim cang tụng và Bảo bình khí, đây là một phương pháp dưỡng khí, dưỡng chính khí của trời đất.

Bảo bình khí và Kim cang tụng có thể cùng tu, chúng ta biết rằng trong Mật giáo có tam tự minh chú “Om Ah Hum”. Bảo bình khí chính là đưa khí hít vào giữ ở hạ đan điền, trên ép dưới nâng, biến thành một cái bảo bình, bế khí ở bên trong, nhịn thở đến khi thật sự không thể nhịn được nữa thì mới thở khí ra. 

Kim cang tụng là cái gì? Khi bạn hít khí vào, đầu tiên quán tưởng hít chữ Om màu trắng vào, đi vào hạ đan điền biến thành chữ Ah màu đỏ, sau đó hòa tan, biến khối khí này thành bảo bình đè lên hạ đan điền của bạn, sau một khoảng thời gian thì thở ra, biến thành chữ Hum màu lam. Đây chính là hợp tu Kim cang tụng và Bảo bình khí, cái này rất đơn giản.

Chữ Om màu trắng đi vào, biến thành chữ Ah màu đỏ ở hạ đan điền, sau đó lại thở ra biến thành chữ Hum màu lam đi ra, cứ tuần hoàn như vậy, đây chính là Bảo bình khí và Kim cang tụng. Sau đó bạn dùng phương pháp này để tu đi tu lại, tu Bảo bình khí một ngày đừng tu quá 21 lần, làm xong sau một khoảng thời gian, bạn hãy làm trống rỗng thân tâm mình.

Có một diệu pháp trong Mật giáo thường xuyên nhắc đến, bất kể là luyện Kim cang quyền hay tu Bảo bình khí, Kim cang tụng, đều có một câu nói là “tâm khế bản nhiên”, đưa tâm của bạn quy về tính Không nguyên thủy thì gọi là tâm khế bản nhiên, có nghĩa là thả lỏng thân tâm của bạn. Bạn không nghĩ gì cả, không làm gì cả, trong trạng thái hợp với tự nhiên này thì gọi là tâm khế bản nhiên.

Bạn luyện Kim cang quyền sau một khoảng thời gian cũng phải tâm khế bản nhiên, đây là một tác dụng điều hòa. Tôi nói với mọi người, khi tâm bạn khế hợp với bản nhiên, thân tâm thả lỏng, làm trống rỗng tất cả, vọng niệm không khởi, dưới trạng thái thân tâm đều không tồn tại, “ào” một tiếng, dòng chảy pháp vũ trụ lập tức đi vào bên trong thân thể bạn, hoàn toàn hợp nhất với bạn. Đây chính là trạng thái hợp nhất.

Vì thế, “đông cứng thành núi Tu Di” mà tôi nói xảy đến bằng cách nào? Bạn phải luyện khí, sau khi luyện xong khí, trong sát-na thân tâm trống rỗng, đột nhiên cảm nhận được trạng thái dòng chảy pháp của vũ trụ tiến vào thân thể bạn hoàn toàn hợp nhất với bạn. 

Người khác sẽ không nói điều này, rất nhiều pháp sư không trải nghiệm được điều này. Trước kia có người hỏi pháp sư: “Ông thiền định có cảm nhận gì?” Pháp sư kia nói: “Tôi ngồi rất lâu, có ngồi hay không ngồi cũng đều như nhau, đều không có cảm giác gì cả, lấy đâu ra cảm nhận gì?”

Có rất nhiều người ngồi rất lâu, đều không có cảm nhận gì cả, có một lần họ hỏi một pháp sư: “Ông thiền định có cảm nhận gì?” Ông ấy nói: “Đầu óc tôi rất thanh.” Đầu óc ông ấy trở nên rất thanh, nghĩa là khá minh mẫn, như thế đã là không tệ rồi.

Vẫn có người hỏi: “Ông thiền định có cảm nhận gì?” Ông ấy nói: “Cuối cùng tôi đã nhớ ra tôi đã giấu tiền ở đâu.” Cuối cùng ông ấy đã nhớ ra rồi, khi đầu óc rất thanh, có rất nhiều sự việc ông ấy đều có thể nhớ ra.

Nhưng thiền định không phải là mục đích như thế này. Trong Mật giáo nói du già tức là tương ứng, tức là hợp nhất. Tương ứng là có cảm nhận chứ không phải hoàn toàn không có cảm giác gì cả. Khi thân tâm của bạn trống rỗng, tâm khế bản nhiên, thân tâm thả lỏng, hoàn toàn không nghĩ, khi không có vọng niệm, bạn sẽ cảm thấy thân thể mình đã tràn đầy khí, giống như một ngọn núi sẽ như như bất động, đây là điều chắc chắn sẽ có.

Trong cảm nhận khi thiền định của tôi, cảm giác đầu tiên chính là đông cứng, phương pháp đông cứng không phải là nói rằng ngồi một lúc, được, thân tâm thả lỏng thế là đông cứng rồi, không phải, mà là phải lâu dài, bạn luyện Bảo bình khí, luyện Kim cang tụng, sau đó tâm khế bản nhiên thì mới có cảm nhận đó.

Giống như khi nãy chúng ta tu pháp, tôi đã làm Bảo bình khí và Kim cang tụng, tôi chỉ làm hai lần Bảo bình khí và Kim cang tụng, sau khi làm xong tôi liền thả lỏng thân tâm, không nghĩ gì cả, thân thể lập tức đông cứng giống như một ngọn núi.

Tôi tuyệt đối không khoác lác và nói dối, chính là như vậy. Hôm nay giả sử Lư Thắng Ngạn không có cảm giác gì mà tôi lại nói rằng tôi bất động như núi, như thế tức là tôi nói dối, đó là tôi khoác lác, tôi chính là tên đại bịp số một trong trời đất này. 

Ở trong thiền định tôi đích thực chính xác là bất động như núi, đích thực chính xác là có cảm nhận, đích thực chính xác là dòng chảy pháp vũ trụ trút xuống đầu tôi, thân tâm của tôi toàn bộ đều đầy ắp. Tôi tin rằng trong các đệ tử của tôi, có rất nhiều người đều đã có cảm nhận này, không phải là hoàn toàn không có. Đây là cảm nhận đầu tiên của tôi — đông cứng, bất động như núi. 

Om mani padme hum.

04/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 156. Cảm nhận của thiền định (3)

Chúng ta lại nói một chút về cảm nhận của thiền định.

Thiền cũng có khía cạnh lý luận, về mặt lý luận thì dạy bạn rằng thân thể phải ngồi thế Tỳ Lô thất chi tọa, điều này chúng ta đã biết. Thế còn tâm phải như thế nào? Tâm phải vô sự vô tâm.

Vô tâm là trạng thái thế nào? Đừng nghĩ về quá khứ, đừng nghĩ về tương lai, đừng chấp vào hiện tại, tức là vô tâm, tâm không biết ở đâu tức là vô tâm. Vô tâm thì không còn suy nghĩ gì cả, trống rỗng tất cả, tâm phải như vậy, đây là về mặt lý luận, rất khó làm được như vậy, rất khó!

Thế còn mắt phải như thế nào? Mắt phải đặt vào đâu? Mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, tim lại phải vô tâm. Trong Mật giáo nói “như mặt biển phẳng lặng”, tâm không có quá khứ, không có tương lai, không chấp vào hiện tại, để làm trống rỗng cái tâm này. Thân phải ngồi thế Tỳ Lô thất chi tọa, giống như núi Tu Di vậy. 

Thế còn hành động rốt cục phải làm thế nào? Đừng sửa sang, đừng chỉnh sửa, tức là nhậm vận, cái này tương đối thâm sâu ảo diệu, là một lý luận về thiền định tương đối khó.

Tôi lại nói với mọi người, ngoài cảm nhận đông cứng đầu tiên ra, cảm nhận thứ hai của tôi là tôi có được pháp hỷ chưa từng có trước đây. Mọi người đều biết nói rằng “pháp hỷ tràn đầy”, tham gia một buổi pháp hội, chà, pháp hỷ đầy ắp tâm hồn, nhẹ lâng lâng, cảm thấy vô cùng dễ chịu, rất vui sướng giống như gió xuân thổi lướt trên mặt, gió xuân thổi nhẹ trên mặt bạn, cảm thấy tham gia pháp hội trở về, đi trên đường cũng rất nhẹ, thế là gọi đây là pháp hỷ đầy ắp.

Pháp hỷ mà tôi nói đến không phải là pháp hỷ này. Pháp hỷ mà tôi có được khác với người bình thường. Với người bình thường là cảm giác đến từ bên ngoài, cảm thấy pháp hỷ tràn đầy, còn tôi là dạng pháp hỷ từ bên trong phát ra, từ bên trong thân thể tỏa ra.

Tôi tu Bảo bình khí, sau đó lợi dụng bảo bình khí để sinh ra chuyết hỏa. Pháp của Nhị quán trong Mật giáo phải tu chuyết hỏa, khí mạch, minh điểm, khi lửa ở đan điền sinh ra, hạ đan điền sẽ nóng, rất ấm, xuất hiện rất nhiều trạng thái, sẽ xuất hiện rất nhiều cảm nhận.

Chúng ta biết trong pháp Chuyết hỏa phải đưa lửa ở đan điền đi lên, khiến cho bồ đề tâm nguyệt dịch ở Mi tâm luân này rơi xuống. Đây là trạng thái gì? Tôi nói thẳng với mọi người, đây chính là giọt dầu rơi vào trong lửa đó. Bùm! Lửa và nước, bồ đề tâm nguyệt dịch và chuyết hỏa giống như dầu và lửa cùng cháy, hiện tượng này sẽ sinh ra một loại lực rất lớn.

Khi cháy lên, mạch trong toàn thân chúng ta vì có chuyết hỏa đi qua mà sản sinh ra một khoái cảm vô cùng dễ chịu. Chúng ta biết rằng ở vị trí Mi tâm luân, Hầu luân, Tâm luân, Tề luân, Mật luân, Hải để luân đều có rất nhiều mạch tập trung, khi nước rơi vào trong lửa, sau đó đốt cháy lên, ánh sáng và nhiệt đó, minh điểm đó xuyên qua mạch, khi tất cả mạch đều thông thì bạn sẽ có được pháp hỷ đó, chỉ có thân thể bạn mới có thể cảm giác được.

Khi hòa tan điểm đó (minh điểm trắng), điểm đó nhỏ ra rơi vào trong lửa sẽ đốt cháy, khi cháy thì sẽ có một sự vận động đi vào bên trong các mạch, sự ma sát này sẽ khiến bạn có được thiên hạ đệ nhất đại lạc, cảm nhận đó sẽ xuất hiện.

Cảm nhận đó người tu hành bình thường rất ít người có được, rất ít, rất ít. Trong cuốn “Giải thích về thiền định” tôi có viết, pháp vị mà tôi có được chính là thứ này. Điều mà tôi đã viết ở trong sách là muốn nói rằng, khi khí đi qua mạch, sự ma sát sinh ra đó chính là pháp vị. Khi chuyết hỏa đi qua mạch, đại lạc sản sinh ra do ma sát chính là pháp vị. 

Đây là chú thích mà tôi viết ra, tôi cho rằng cảm nhận thứ hai trong thiền định của tôi chính là cảm nhận về đại lạc, pháp hỷ tràn đầy là chỉ chính là cái này, chứ không phải là cái sự vui vẻ bề ngoài, mà là một sự vui vẻ của nội tại.

Vì thế tôi tu hành không phải là chỉ nói mà không làm, không phải là tùy tiện nói ra. Không phải nói rằng tôi đọc xong kinh này, ồ, tôi đọc xong thấy rất thoải mái, khi đọc kinh rất dễ chịu, ồ, cuối cùng tôi đã hiểu rồi, cảm thấy hình như tâm trạng rất nhẹ nhõm, rất vui vẻ. Cái này đương nhiên cũng là pháp hỷ, nhưng đây là biểu hiện bề ngoài, không phải là sinh ra từ nội tại.

Pháp hỷ và pháp vị mà hôm nay chúng ta nói đến là vì khi khí của bạn và chuyết hỏa của bạn thông mạch bên trong thân thể bạn sẽ sản sinh ra một loại cảm giác vô cùng dễ chịu. Tôi đã trải nghiệm được nó, vì thế tôi tu chứng pháp Vô lậu, tu chứng pháp Minh điểm, tu chứng pháp Chuyết hỏa không phải là chém gió. Gió không phải là để chém, bão không phải là để chém, bạn phải nói ra được trải nghiệm này của chính mình thì mới cho thấy đích thực là bạn có công lực.

Bảo bình khí, Kim cang tụng bạn học được rồi thì sẽ đông cứng, làm trống rỗng thân tâm thì bạn tuyệt đối sẽ đông cứng. Khí của bạn đầy đủ, khi lợi dụng khối khí này để thông mạch thì bạn sẽ có được pháp hỷ, đây là tu bên trong chứ không phải là đến từ bên ngoài, hoàn toàn là cảm nhận chân thực mà bạn có được trong thiền định, cảm nhận về đại lạc là ở đây.

Bạn làm được điều này rồi thì bạn sẽ hiểu cách hòa tan điểm, làm cho điểm tan ra và rơi xuống, rơi vào trong chuyết hỏa, như thế chuyết hỏa của bạn có thể càng ngày càng vượng, càng ngày càng lên cao, bạn lợi dụng chuyết hỏa thì có thể mở ra năm luân xa của thân thể bạn.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

04/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 157. Cảm nhận của thiền định (4)

Chúng ta lại nói về cảm nhận của thiền định. Tôi nói đến có được pháp vị, vậy pháp vị đến bằng cách nào? Bản thân tôi nhận thấy có hai kiểu:

1. Khi bạn vận dụng khí của thân thể bạn đang thông mạch là đã có được pháp vị rồi, đã có được cảm nhận thích thú sản sinh ra rồi, hơn nữa càng lâu càng rõ ràng.

2. Đặc biệt là khi chuyết hỏa đang thông mạch thì càng rõ ràng hơn. Khí thông mạch sẽ có pháp lạc sinh ra, khi chuyết hỏa đang thông mạch thì có pháp lạc lớn hơn.

Trong Mật giáo có nhắc đến tứ Hỷ tứ Không, chữ Hỷ này là sơ hỷ, nhị hỷ, tam hỷ, tứ hỷ, tứ Hỷ chuyển thành Không thì chính là tứ Không. Hỷ tức là hỷ lạc, thật ra tôi cho rằng đây là bốn loại pháp vị rất đặc biệt.

Tôi từng nói giữa trời đất này cái lạc chân chính là cái gì. Tôi cho rằng cái lạc tu ra được từ bên trong con người mới là đại lạc chân chính, mới là trường cửu. Phàm phu thế tục cũng có lạc chứ không phải không có. Phàm phu thế tục cũng hòa tan điểm, giữa nam nữ thế tục khi làm “chuyện vui” cũng sẽ hòa tan điểm, nhưng đó là điểm thô tục, tức là minh điểm tầm thường.

Bất kể thế nào, khi minh điểm thô tục đi qua mạch cũng sẽ sản sinh ra một cảm giác sướng, đây chính là cái ham muốn lớn giữa nam và nữ, dục vọng chính là từ trong cái sướng của thế tục này mà sinh ra. 

Họ cũng có cảm nhận sướng, nhưng minh điểm của họ là minh điểm thế tục. Họ cũng có hòa tan điểm, không sai, nhưng đây là cái lạc giữa nam nữ thế tục, nam nữ thế gian đều mê đắm vào cái sướng của nam nữ thế tục.

Nhưng đại lạc mà người tu hành có được và cái này hoàn toàn khác nhau, hoàn toàn là cảm nhận sung sướng sinh ra khi khí thông minh điểm trong thân thể chính mình, và chuyết hỏa đốt cháy minh điểm, cái lạc sinh ra khi minh điểm rơi xuống hòa tan vào cùng thông mạch, kiểu này thuộc về đại lạc của hành giả. Thời gian này còn dài, hơn nữa cảm nhận sung sướng còn lớn hơn, cảm nhận còn thích hơn, rõ ràng hơn, rõ rệt hơn, dài hơn, vì thế mới gọi là đại lạc.

Cái lạc của nam nữ thế tục chẳng qua chỉ là mấy giây, mấy phút là kết thúc rồi, nhất là đàn ông, cái sung sướng của đàn ông trong chốc lát từ điểm cao nhất rơi xuống điểm thấp nhất, loáng một cái đã hết rồi, một lúc đã kết thúc rồi. Phụ nữ thì đỡ hơn một chút, nghe nói phụ nữ có thể sướng vài lần, vài lần liên tục như thế, hơn nữa thời gian dài hơn một chút, nhưng đây chỉ là cái sướng thế tục mà thôi.

Cái sướng của hành giả hoàn toàn khác, hoàn toàn là khí thông mạch, cảm giác này tương đối khác một chút, sự thông mạch của chuyết hỏa và minh điểm càng tuyệt vời hơn. Thứ mà tôi tu chính là công lực chuyết hỏa đi thông minh điểm, thông mạch. Tôi đã tu chứng pháp Vô lậu, tu chứng pháp Vô lậu thì sẽ không còn cái lạc của thế tục nữa, cái lạc mà tôi có là một dạng pháp vị do thân tâm hoạt động bên trong thân thể chính mình, đây chính là đại lạc chân chính.

Vì thế, khi hành giả Mật giáo đã chứng minh được rồi thì họ sẽ giữ được mãi đại lạc đó, vĩnh viễn có thể bảo trì được đại lạc này, sẽ không mất đi. Cái lạc của thế tục chỉ vài giây, vài phút là chết luôn, giống như tôi nói “khi lên là một con rồng, khi xuống là một con giun”. Chi bằng bạn theo tôi tu hành, tôi sẽ dạy cho bạn bí quyết. 

Bởi pháp này không thể tùy tiện dạy, tôi dạy cho bạn bí quyết, bạn có thể tu chứng vô lậu. Tôi dạy bạn bí quyết, bạn có thể tự thân có âm dương, có thể sản sinh đại lạc. Trong thân thể bạn có mạch, tự mình có chuyết hỏa, có thủy hỏa âm dương, thủy hỏa âm dương của bạn có thể tan vào nhau, bạn không cần đi tìm khoái lạc của thế tục, bản thân bạn có thể sản sinh đại lạc thì bạn còn phải đi tìm khoái lạc thế tục làm cái gì chứ?

Khi người tu hành đến được cảnh giới này, cảm nhận về lạc của họ chính là pháp vị của họ. Tôi dám nói ra điều này, tôi viết trong sách, tôi cứ thế viết ra, người khác không làm được điều đó. Tôi nói với bạn, bạn tìm pháp sư khác, không có đâu! Không tìm được pháp này đâu! Đây là bí mật nghìn vàng vạn vàng cũng không truyền. Tát già lục thế biến, kim cang quyền, giáng đề trì tán, kim cang quyền 16 kỹ xảo, 16 loại phương pháp tu hành, bạn tu thế nào? Làm sao để nâng bạch bồ đề lên? Không chỉ nâng lên mà còn phải bay qua núi Tu Di, pháp này là cực kì đó, đây là sư phụ dạy tôi, tôi cho rằng pháp này có vạn vàng cũng không mua được, trừ phi bạn thật sự thực tu, là đệ tử kính sư, trọng pháp, thực tu thì tôi có thể truyền cho bạn.

Pháp này phải truyền thụ mặt đối mặt, pháp này không thể truyền qua sáu tai, tức là truyền qua bốn tai mà thôi, tức là chỉ hai người. Tương lai tôi nhất định sẽ dạy, nhất định phải dạy cho mọi người. Nếu bạn thật sự đích thực là đệ tử thực tu, tôi chắc chắn sẽ truyền. Tôi sẽ dạy bạn làm sao để nâng, nó có phương pháp. 

Ở chỗ này của Phật sẽ có nhục kế, Mật luân của Phật vì sao lại khác? Ngài có bí mật của ngài, cái này đều có đạo lý, không phải là nói một cách tùy tiện. Sau này tôi dạy bạn, bạn sẽ biết thôi, bây giờ không thể nói.

Cái lạc này vô cùng tuyệt vời, là thiên hạ đệ nhất, là thứ hay nhất. Bạn tu đạo có thể tu được cái này đã là rất tốt rồi, bản thân tôi cho rằng là rất tốt.  
Sau này tôi lại nói về cảm nhận cho mọi người nghe. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

04/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 158. Cảm nhận của thiền định (5)

Hôm nay chúng ta vẫn nói về cảm nhận của thiền định, mấy ngày qua đều nói về cảm nhận của thiền định. Cũng có người hỏi, ở trong thiền định, đôi khi thân thể sẽ đột ngột rung lắc, tay sẽ cử động, thân thể sẽ lắc lư về phía trước phía sau, đầu sẽ gật tới gật lui, anh ta hỏi cảm nhận này của thiền định là thế nào. Tôi nói với mọi người, đây là khí động, tức là khi khí trong thân thể bạn lưu động thì sẽ sản sinh ra sự chuyển động này.

Hiện tượng linh động này thật ra cũng là một trong những cảm nhận của thiền định. Ngoại đan công, khởi linh, tự phát động công rất phổ biến ngày nay đều là một kiểu trong cảm nhận của thiền định, chính là trạng thái khí đang động.

Giả sử có linh bên ngoài đi vào thì sẽ khiến cho khí bạn động, cũng tức là linh động. Còn có rất nhiều kiểu, cũng có khi thiền định dường như có kiến đang bò trên đầu, hoặc là toàn thân đều cảm thấy ngứa, đó cũng là một kiểu khí động. Tức là khí đó đặc biệt đang di chuyển ở bộ phận nào đó, hoặc là một hiện tượng di động ở trên mặt, đó cũng là cảm nhận của thiền định.

Cảm nhận của thiền định có rất nhiều kiểu, cảm giác của mỗi người là không giống nhau. Có người cảm thấy lạnh, trong lúc thiền định cảm thấy toàn thân giống như đang ở trong kho lạnh, đó là do thủy đại trong thân thể sản sinh ra tác dụng thì sẽ cảm thấy lạnh. Ngược lại, cũng có người cảm thấy nóng, cái nóng này là tác dụng của hỏa đại.

Ngoài ra còn có người cảm thấy rất nặng. Chẳng phải tôi từng nói rằng đông cứng lại giống như một ngọn núi Tu Di rất nặng, đây là một cảm nhận về nặng, cảm nhận đầu tiên của tôi chính là cái cảm giác nặng giống như núi Tu Di vậy.

Xuất hiện trong thiền định cũng sẽ có cảm giác trơn và ráp, cảm thấy da dẻ rất trơn, rất thô, thô và trơn là như nhau, đều là cảm giác ở trên da. Ngoài ra còn có tự mình cảm thấy thân thể rất nhẹ, bay lên, cứ thế bay đi, ở trong thiền định liên tục bay đi, bay lên không trung, đây cũng là một trong những cảm nhận của thiền định.

Những cái này đều không quan trọng lắm, đừng cảm thấy rằng, ôi chao, có chuyện gì thế này, có phải là sắp xảy ra chuyện gì không, thật ra không phải. Cảm giác của địa đại chính là như núi Tu Di, rất nặng, cảm giác của phong đại chính là linh động, ngứa, còn có thân thể nhẹ, đều thuộc về cảm giác của phong đại. Cảm thấy lạnh là cảm giác của thủy đại. Cảm thấy nóng chính là cảm giác của hỏa đại. Vì thế, bản thể do tứ đại địa thủy hỏa phong tổ hợp thành sẽ khiến cho bạn ở trong thiền định sinh ra nhiều kiểu cảm nhận, cho nên những cái này đều sẽ có. Đôi khi sẽ biến thành rất to, bạn cảm thấy thân thể sẽ biến thành rất lớn, lớn giống như núi Tu Di, đôi khi lại biến thành rất nhỏ, thu nhỏ lại giống như một hạt đậu.

Kinh nghiệm của cá nhân tôi là, trước tiên tôi đông cứng, đầu tiên có khí đi vào, dòng chảy pháp của vũ trụ đi vào, thân thể liền đông cứng lại giống như núi Tu Di. Cảm giác đó vô cùng rõ rệt, không phải là huyễn giác, hoàn toàn là một kiểu cảm giác khí ở trong thân thể đang lưu thông, cực kì rõ nét.

Sau khi có cảm giác đông cứng rồi lại có khí động, nhờ sự dồi dào của khí mà lại tu chuyết hỏa. Trong chuyết hỏa sẽ sinh ra một cảm nhận về lạc, đó là một cảm nhận cao siêu hơn dục lạc định thông thường. Chuyết hỏa đi lên làm tan chảy minh điểm, khi chuyết hỏa và minh điểm hòa tan vận động ở trong mạch sẽ sản sinh tứ Hỷ tứ Không, tứ Hỷ tứ Không này chính là một cảm nhận của đại lạc.

Chuyết hỏa và minh điểm tan ra thì sẽ giống cái gì? Sẽ giống như dầu rơi vào trong lửa. Bùng! Hiện tượng bốc cháy sẽ sinh ra, hiện tượng bốc cháy này làm thông mạch của toàn thân, cái này gọi là “đại lạc vĩnh trì”, cảnh giới đại lạc duy trì mãi mãi này sẽ sinh ra. Sau đó lợi dụng hiện tượng chuyết hỏa và minh điểm tan ra để mà tháo lỏng năm luân xa Mi tâm luân, Hầu luân, Tâm luân, Tề luân và Mật luân ở bên trong thân thể, tức là mở toàn bộ ngũ luân ra, một khi ngũ luân này mở ra thì minh điểm sẽ hiển hiện, sẽ sản sinh ánh sáng.

Đặc biệt trong Mật giáo của chúng ta nhắc đến, trong Tâm luân có tâm mạch ngũ sắc, có một ống dẫn đặc biệt, giống như đèn huỳnh quang, có tâm mạch năm màu sắc ở trong Tâm luân của bạn. Khi quả tim thịt của bạn mở ra, tâm mạch ngũ sắc sẽ phóng quang, sẽ sản sinh ra cảm nhận của ánh sáng. Bạn phải dùng pháp nội thị, mắt không phải là nhìn ra ngoài, mà là nhìn vào bên trong, dùng pháp nội thị để nhìn tâm bạn, nhìn quả tim thịt của bạn mở ra sinh ra tâm mạch ngũ sắc.

Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

05/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 159. Cảm nhận của thiền định (6)

Chúng ta lại nói về cảm nhận của thiền định. 

Kinh nghiệm của cá nhân tôi là đầu tiên đông cứng bất động như núi, sau đó sản sinh ra một cảm nhận về lạc, do minh điểm tan ra và rơi vào chuyết hỏa, chuyết hỏa bùng cháy mở ra năm luân xa, khi năm luân xa mở ra thì nhờ pháp nội thị, bạn có thể nhìn thấy ánh sáng nội tại, nhìn thấy minh điểm của chính bạn. Điểm ánh sáng này, một điểm, một điểm, tức là nhìn thấy ánh sáng.

Từ các điểm này, ánh sáng của từng điểm tập trung lại, trong Mật giáo gọi là nhìn thấy dây xích kim cang, ánh sáng giống như sợi dây xích. Khi bạn nhìn thấy xích kim cang thì đây là cấp độ thứ hai. Nhìn thấy ánh sáng ở cấp độ thứ ba tức là có thể từ bên trong xích kim cang nhìn thấy cõi Phật, cảnh giới của Phật quốc sẽ hiển hiện ra. Tiến vào giai đoạn thứ tư, bạn sẽ có thể nhìn thấy Phật.

Vì thế nhìn thấy ánh sáng có bốn giai đoạn:  
Thứ nhất — nhìn thấy ánh sáng của minh điểm.  
Thứ hai — nhìn thấy ánh sáng của xích kim cang.  
Thứ ba — nhìn thấy ánh sáng của Phật quốc.  
Thứ tư — nhìn thấy Phật, nhìn thấy Bổn tôn của mình.

Nhưng lúc này, nếu bạn lại tiến thêm một bước nữa, nếu từ thiền định nhìn thấy cảnh giới của tịnh quang rồi tiến thêm một bước nữa, tiến vào ý thức sâu nhất, bạn sẽ biết những cảnh giới này có đôi khi là từ bên trong thân thể bạn mà nhìn thấy, có nghĩa là do thân thể bạn biến hóa ra. 

Sau khi bạn hiểu rồi, bạn sẽ tiến vào Không cảnh, ví dụ Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Tưởng vô biên xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên, bốn cõi trời này bạn đều biết hết. Khi tiến vào cảnh giới này, bạn đã vượt qua cảnh giới của tịnh quang để tiến vào Không cảnh.

Ở trong Không cảnh, chính bạn có thể nhậm vận. Thế rồi bạn phát bồ đề tâm, ánh sáng của bồ đề tâm phát ra, bạn sẽ tiến vào tứ Thánh giới. Đây là kinh nghiệm thiền định của tôi, ở trong đây rất vi diệu.

Bạn xem, nhìn ánh sáng đó, pháp nội thị là nhìn vào bên trong, không phải nhìn ra bên ngoài. Bởi vì chuyết hỏa của bạn đang cháy, minh điểm đang tan ra, minh điểm là vật liệu, hễ đi vào trong lửa thì sẽ sản sinh ra ánh sáng lớn hơn, giống như bùng nổ, sản sinh ra ánh sáng càng lớn. 

Bạn biết đổ dầu vào trong lửa rồi, bùng, hiện tượng đó sẽ xảy ra. Bởi vì chuyết hỏa cháy lên, minh điểm tan ra thì sẽ rơi vào trong lửa, bùng, thế là bốc cháy. Sau đó bạn chỉ dẫn cho chuyết hỏa của mình đi mở Mi tâm luân, mở Hầu luân, mở Tâm luân, mở Tề luân, mở Mật luân, mở ra xong thì tức là năm đại trí huệ, năm đại trí của Như Lai đều sản sinh ánh sáng.

Bạn nhìn vào bên trong sẽ nhìn thấy tịnh quang, ánh sáng đó là ánh sáng của minh điểm. Tôi nói rõ với mọi người đó là ánh sáng của minh điểm, ánh sáng của minh điểm tập hợp lại thì là xích kim cang. Xích kim cang giống như màn hình tivi, hình ảnh chiếu trên màn hình đó chính là Phật quốc tịnh thổ. Thậm chí bạn muốn nhìn thấy Phật, rất đơn giản chỉ cần vận dụng ý niệm của bạn là bạn có thể nhìn thấy Phật, điều này hợp với khoa học.

Tôi nói rằng màn hình tivi cũng là từng điểm từng điểm tập hợp lại, điểm biến thành sợi, sợi biến thành mặt phẳng, mặt phẳng đó chính là xích kim cang, điểm đó chính là minh điểm, từ đó mà nhìn. Thiên nhãn thông tu như thế nào? Chính là tu như thế này.

Ngoài ra còn có một pháp tu thiên nhãn thông nữa, đó là thu nhật quang, nguyệt quang, tinh quang của vũ trụ vào trong hai mắt bạn. Nhắm mắt lại, thu nhật quang, nguyệt quang, tinh quang vào trong hai mắt, tan vào trong hai mắt bạn, mở mắt ra là có ánh sáng, đây là một phương pháp khác để tu luyện thiên nhãn thông. 

Nhưng trên thực tế, phương pháp tu luyện thiên nhãn thông mà tôi biết là chỉ dẫn chuyết hỏa mở năm luân xa thì sẽ sản sinh tịnh quang, dùng pháp nội thị để nhìn tịnh quang này thì sẽ nhìn thấy bên trong xích kim cang hiện ra thứ mà bạn muốn nhìn thấy. Bạn muốn nhìn thấy cái gì thì đều có thể từ bên trong chuỗi kim cang nhìn ra được, đó chính là thiên nhãn chân chính.

Cảnh giới của tịnh quang thật ra cũng là từ thế giới của chính bạn mà hiển hiện ra. Sau khi bạn hiểu được điều này rồi, bạn sẽ tiến vào Không cảnh, rồi từ bên trong Không cảnh mà phát bồ đề tâm, bạn sẽ vượt ra khỏi tứ Thánh giới, tức là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn.

Trong quá trình bạn tu chuyết hỏa có một cái gọi là dục lạc định, tức là một kiểu thiền định dùng dục vọng của chính mình để sản sinh khoái lạc. Nhưng cái này đòi hỏi nhờ sự tu hành của chính mình để vượt qua, vượt qua cái dục niệm này. Bạn vượt qua được dục niệm rồi, từ trong dục niệm sản sinh ra thiền định, pháp định này gọi là dục lạc định, cái này trong Mật giáo là có. Nhưng pháp này chỉ có hành giả Mật giáo có đạo hạnh rất cao mới có thể tu. 

Vậy dục lạc định có tác dụng gì? Nó có thể khiến cho minh điểm tan chảy, tan ra xong thì rơi vào trong chuyết hỏa, có thể biến tục khí trên người mình thành khí trí huệ. Dùng phương pháp này có thể mở trung mạch, mở ngũ luân, sản sinh trí huệ rất cao, một loại trí huệ mà chính bạn siêu việt, đây cũng là một phương pháp.

Bất luận thế nào, hành giả chúng ta phải tu Bảo bình khí, Kim cang tụng trước, sau đó tu Chuyết hỏa, sau đó tan minh điểm, rồi mở năm luân xa, đây chính là một cảm nhận tối thượng thừa chân chính tốt nhất trong thiền định của chúng ta. 

Om mani padme hum.

05/11/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 160. Tương ứng cầu vồng (1)

Hôm nay tôi nói với mọi người về tương ứng cầu vồng.

Gần đây tôi đã đi Ấn Độ và Nepal. Đến Ấn Độ thì cũng đến Dharamshala, tức là chỗ của Dalai Lama. Lúc gặp mặt có nói đến vấn đề tương ứng cầu vồng. Dalai Lama hỏi bốn cảnh giới của Đại thủ ấn, cũng hỏi phương pháp tu trì của Đại viên mãn. Đây đều là những thứ bình thường tôi vẫn nói, cho nên đương nhiên tôi trả lời trôi chảy.

Trong Đại thủ ấn của Bạch giáo có bốn cấp độ tu trì: từ Chuyên nhất du già, Ly hý du già, Nhất vị du già đến Vô tu du già. Đây là bốn cấp độ tu trì, nhưng cũng có kiến địa của nó. Kiến địa của nó đầu tiên phải nhìn thấy ánh sáng của minh điểm, thứ hai phải nhìn thấy xích kim cang, thứ ba phải nhìn thấy Bổn tôn, thứ tư là hiện ra cõi Phật. Nếu một tu hành giả ở trong cảnh giới của Đại thủ ấn lúc nào cũng ở trong cõi Phật, nhất định có thể chuyển hóa. Nếu bảo trì được mãi mãi cảnh giới của Bổn tôn và cõi Phật thì chắc chắn là vãng sinh. Vì thế cảnh giới của Đại thủ ấn, Dalai Lama nghe tôi nói thì liên tục gật đầu.

Ngoài ra, ngài ấy còn hỏi về Đại viên mãn. Cảnh giới của Đại viên mãn là tâm tủy của Hồng giáo, chính là tâm trong tâm. Hai phương pháp tu trì, một là Trekcho, một là Togal. Trekcho tức là đốn siêu. Tu trì của bạn ở trong cảnh giới đó chính là đốn siêu, mỗi sự việc bạn đều có thể vượt lên trên. Togal chính là nhậm vận.

Khi ấy, Dalai Lama liền hỏi tôi về pháp Togal, tôi nói là vô tu, ở trong trạng thái của nhậm vận tức là vô tu. Dalai Lama bổ sung một câu, đó là tự nhiên. Thật ra nhậm vận chính là tự nhiên, sau khi đốn siêu rồi thì biến thành tự nhiên. Cảnh giới của vô tu là cao nhất, đây không phải là cái mà người phổ thông tu. 

Có thể thấy trong màn đối đáp của tôi và Dalai Lama giống như tương ứng cầu vồng, trong sự đối đáp lẫn nhau này chính là một sự ấn chứng cảnh giới. Người phiên dịch của Dalai Lama không biết xích kim cang là cái gì. Trong Đại thủ ấn phải nhìn thấy ánh sáng của minh điểm, ánh sáng của minh điểm tụ tập lại thành xích kim cang. Xích kim cang hiển hiện Bổn tôn, Bổn tôn xuất hiện xong thì lại hiện lên cõi Phật, tịnh thổ của Phật. Vừa nói ra cảnh giới này, Dalai Lama liền biết hành giả đến đây đã đạt đến cảnh giới thế nào. Bởi vì Đại thủ ấn và Đại viên mãn đều là cảnh giới cao nhất. Pháp cao nhất của Bạch giáo chính là Đại thủ ấn, pháp cao nhất của Hồng giáo chính là Đại viên mãn. Cái này phải ấn chứng, phải nói ra với nhau. 

Ví dụ nói về Đại viên mãn, đốn siêu thế nào? Bạn chỉ nói đốn siêu không thì chẳng có tác dụng gì. Đốn siêu tức là một dạng thăng hoa, bất kì một việc gì, bất kì một tình huống nào, bạn đều có thể thăng hoa. Sau khi thăng hoa, phiền não mới có thể giải thoát, tịnh quang mới có thể xuất hiện.

Hơn nữa phải dừng lại, khi suy nghĩ, vọng niệm rất nhiều thì bạn phải dừng lại được. Phương pháp dừng lại chính là một dạng đốn siêu.

Phải siêu việt, phải thăng hoa thì bạn mới có thể dừng vọng niệm, chuyển hóa vọng niệm thành cầu vồng. Đây là tu hành của Trekcho, rất cao thâm, không phải là pháp mà người bình thường có thể tu.

Tu Đại thủ ấn phải từng bước từng bước, Đại viên mãn lập tức dừng lại, tức là phải đốn siêu, sau đó tiến vào trạng thái vô tu của nhậm vận. Trạng thái vô tu có thể nói là không đi sửa sang, không đi chỉnh đốn, hoàn toàn là một kiểu trạng thái tự nhiên nhậm vận. Đây là pháp Đại viên mãn cao nhất.

Trong khi tôi trả lời, Dalai Lama liên tục gật đầu, tôi ứng đối như nước chảy, đây là ấn chứng cầu vồng, tương ứng cầu vồng. Hôm nay giả sử tôi không thâm nhập kinh tạng, không thực tu Mật pháp thì sẽ không thể trả lời tỉ mỉ như vậy, không thể tóm gọn để lập tức giải đáp vấn đề đó được.

Chúng tôi còn nói với nhau rất nhiều, nói đến Tam Luận của Long Thụ Bồ Tát, còn có một vài luận tác của các tổ sư, ví dụ “Bách Pháp Danh Môn Luận”, “Trung Luận”, “Thập Nhị Môn Luận”. Còn nói đến rất nhiều nghi quỹ Mật giáo, đây đều có thể nói là tương ứng cầu vồng.

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

02/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 161. Tương ứng cầu vồng (2)

Lần này đến Ấn Độ, Nepal có bốn điểm quan trọng:  
Điểm thứ nhất chính là đến Dharamshala gặp mặt Dalai Lama.  
Điểm thứ hai chính là ở tu viện Drepung tại Ấn Độ, tôi đã lên pháp tọa, đối diện với hai nghìn vị Lama để khai thị thuyết pháp. Mọi người biết ba ngôi chùa lớn của Tây Tạng là tu viện Ganden, tu viện Drepung và tu viện Sera. Tôi đã đến tu viện Ganden, cũng đã đến tu viện Drepung.  
Còn có một điểm quan trọng nữa chính là tôi đã đi đến tám đại thánh địa của Phật Đà.  
Điểm quan trọng thứ tư chính là tôi đã tọa sàng tại tu viện Karma Lekshey Ling của Bạch giáo. Tọa sàng là một nghi thức, ngồi trên giường của Pháp Vương. Kachen Rinpoche đã giúp tôi trải chỗ ngồi trên giường, mời tôi ngồi lên giường của Pháp Vương. Đó là ngôi chùa ở Nepal. Có mấy điểm quan trọng này. 

Tôi đi ra ngoài đều thỉnh cầu Hộ pháp theo bên mình, vì thế đến mỗi một địa phương, Hộ pháp sẽ nói cho tôi biết những việc sắp xảy ra, đây chính là tương ứng cầu vồng. 

Khi bạn tu hành đến một cảnh giới nào đó sẽ đều có Hộ pháp theo thân, Hộ pháp sẽ nói cho bạn biết những việc sắp xảy ra. Tôi còn chưa đến Ấn Độ, Nepal thì Hộ pháp đã nói trước việc với tôi, tôi sẽ lần lượt gặp những việc gì, lần lượt đều ứng nghiệm. Trước khi xảy ra tôi đều đã biết sẽ xảy ra chuyện gì, vì thế đều có sự chuẩn bị từ trước, cho nên mọi việc đều có thể cát tường viên mãn. Tashi delek (Tạng ngữ - cát tường viên mãn). 

Khi đến vườn Lộc Dã, Phật nhãn của Phật Đà liền hiển hiện trên tháp Phật (stupa), tròng mắt ở giữa còn di động nữa, biểu thị Phật Đà vẫn đang quan tâm đến những chúng sinh trên mặt đất, chúng sinh của thế giới Ta Bà, lúc nào cũng quan tâm chúng ta.

Chúng tôi đã đến Bodh Gaya, tức là dưới cây bồ đề, ở nơi đó Phật Đà còn đưa tay ra cầm bình cam lộ làm quán đảnh cho mỗi đệ tử chúng tôi.

Đến vườn Lâm Tỳ Ni ở Nepal, linh khí ở nơi đó rất mạnh, kim quang tỏa bốn phía, đúng là ánh sáng màu vàng kim sáng chói lọi, khắp trời khắp đất đều là ánh sáng vàng kim, ở đó linh khí mạnh nhất. 

Có người sẽ hỏi chúng tôi sao đi ra ngoài thì cảm ứng lại nhiều như vậy? Thật ra là Hộ pháp đã thông báo trước. Bởi vì người tu hành có chứng nghiệm rồi thì Hộ pháp mọi lúc đều sẽ chỉ thị. Bạn đi đến đâu Hộ pháp sẽ chuẩn bị trước mọi thứ, bạn đến đó một cái là lập tức cảm ứng sẽ đến, lập tức tương ứng, đây là tương ứng cầu vồng.

Hôm nay người tu hành là bạn giả sử đã tu đến cảnh giới này rồi, việc ngày mai sắp xảy ra, việc sẽ xảy ra về sau, đời quá khứ, túc mệnh thông đều sẽ có. Những nút thắt bạn không cởi được thì đều có thể giúp bạn tháo gỡ. Vì sao bạn gặp phải nhân quả này? Vì sao lại có nhân quả như vậy? Thì ra trong đời quá khứ có nguyên nhân, Hộ pháp lập tức nói cho bạn biết.

Giống như tôi đến Dharamshala, chỗ của Dalai Lama, buổi tối hôm đó Hộ pháp còn đến giải thích với tôi về địa lý của Dharamshala. Tôi không khoác lác, cũng không giấu giếm, tôi chưa từng nghe nói đến huyệt ở Dharamshala là huyệt gì, ngài nói với tôi đó là huyệt Lão Công Khanh, còn giải thích với tôi về địa lý nữa! Bạn xem, Hộ pháp cũng hiểu địa lý, ngài giải thích rất rõ ràng.

Đến chỗ của Dalai Lama, Hộ pháp cũng ở đó, ngài nói cho tôi biết sẽ xảy ra chuyện gì, cần phải làm thế nào, tôi làm theo y như thế. Vì thế, chúng tôi thật sự đã thắng lợi khải hoàn, đã đánh một trận biết mình biết người. Bạn không biết mình không biết người thì không thể đánh trận. Binh Pháp Tôn Tử nói biết mình biết người mới có thể đánh thắng. Không hiểu gì về đối phương thì bạn đánh trận kiểu gì?

Trước khi xảy ra sự việc Hộ pháp đã nói cho tôi biết sẽ phát sinh chuyện gì, tôi phải làm thế nào, không tổn thất một chút nào, bảo đảm còn kiếm lời. Đó chính là Hộ pháp, bằng không Hộ pháp để làm cái gì chứ? Sau khi sự việc xong rồi, bạn cảm thấy bạn chịu thiệt, chà, thế thì Hộ pháp của bạn còn làm Hộ pháp cái gì chứ? Hộ pháp tức là phải hộ trì hành giả, đây chính là tương ứng cầu vồng, cầu vồng luôn luôn đi cùng Sư Tôn.

Bạn xem Phật nhãn ở vườn Lộc Dã, bình cam lộ và tay của Phật Đà ở Bodh Gaya, kim quang ở vườn Lâm Tỳ Ni, những cảm ứng này vô cùng thù thắng, hơn nữa đều hết sức chân thực. Lần này ở tu viện Drepung lên ghế thuyết pháp cũng là một sự kiện đáng kỷ niệm trong lịch sử Chân Phật Tông. Tu viện Drepung là một trong ba ngôi đại tự đó! Có mấy vị Rinpoche có thể đăng tọa thuyết pháp tại tu viện Drepung chứ? Sau này tấm ảnh đó phóng to một chút rồi treo nó lên, treo ở Lôi Tạng Tự. Còn có tọa sàng nữa, làm một tấm ảnh to rồi treo lên. Tấm ảnh ấn chứng cùng Dalai Lama cũng phóng to lên rồi treo nó lên.

Đây là cái gì? Đây là sau khi bạn tu hành chứng minh được cầu vồng rồi, tự nhiên bạn sẽ có cảm ứng thôi, cái này chính là đại thành tựu cầu vồng.

Om mani padme hum.

02/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 162. Tương ứng cầu vồng (3)

Hôm nay chúng ta lại nói về tương ứng cầu vồng phần 3. Hai lần trước tôi có nhắc đến ở Ấn Độ và Nepal đều có Hộ pháp đi theo, đến chỗ của Dalai Lama mới được cát tường viên mãn như vậy. Đến tu viện Drepung đăng tọa thuyết pháp, cảnh tượng ở đó cũng vô cùng long trọng, cũng rất trang nghiêm. Đến tu viện Karma Lekshey Ling, ngôi chùa của Bạch giáo, cũng tọa sàng.

Cái gọi là tọa sàng là một nghi thức, biểu thị bạn ngồi lên tòa Pháp Vương. Nghi thức tọa sàng đều là Rinpoche, Hoạt Phật, Pháp Vương mới có. Tại Nepal tọa sàng, tại tu viện Drepung lên ghế nói pháp, gặp mặt Dalai Lama, tất cả đều vô cùng viên mãn cát tường. Đây chính là sự tương ứng của Hộ pháp.

Sau khi bạn tu được thành tựu cầu vồng, bất kì sự việc gì cũng đều cát tường mọi thứ. Còn nữa, tôi cũng có cảm ứng với các đệ tử của mình. Vốn dĩ lần này chúng tôi đi Ấn Độ, Nepal, là “mật hành tôn giả”, tức là bí mật hành động. Cái gọi là “mật hành” tức là khi xuất phát không thông báo với bất kì người nào. Tại Hồng Kông không thông báo với ai, Ấn Độ cũng không, Nepal cũng không, đệ tử tự nhiên không biết để mà đi đón tại sân bay.

Kết quả là, ở Hồng Kông tự nhiên có đệ tử xuất hiện, đệ tử đột ngột xuất hiện này là nhân viên cao cấp của hãng Hàng Không Ấn Độ <span className="note-blue">[Air India]</span>, là một đệ tử nữ, không hẹn mà tình cờ gặp mặt. Không hề hẹn mà cô ấy lại xuất hiện, nhưng mà cô ấy đã xuất hiện để gặp mặt Sư Tôn. Bất ngờ cô ấy nhìn thấy Sư Tôn, cô ấy cũng rất kinh ngạc.

Chúng tôi từ Hồng Kông đến Delhi Ấn Độ là đi máy bay của hãng Hàng Không Ấn Độ, đệ tử đến đó chính là nhân viên cao cấp của Hàng Không Ấn Độ. Bạn nói xem trên thế giới này có sự việc trùng hợp như thế không? Tôi cũng không biết là ở hãng Hàng Không Ấn Độ có một đệ tử của mình nữa. Gặp mặt ở cửa khách sạn, cô ấy liền sắp xếp gửi hành lý với Hàng Không Ấn Độ, thậm chí khi chúng tôi lên máy bay, cô ấy cũng sắp xếp chỗ ngồi, cô ấy thậm chí đi vào bên trong khoang máy bay để phục vụ tôi.

Đây cũng là một dạng tương ứng, bởi vì chúng tôi muốn ngồi máy bay của hàng Hàng Không Ấn Độ. Giả sử Hộ pháp tìm một người của Hàng Không Thái Lan đến thì không đúng rồi. Hoặc là tìm một người của Hàng Không Trung Quốc đến thì cũng không đúng. Bởi vì chúng tôi đi máy bay của hãng Hàng Không Ấn Độ, cho nên Hộ pháp liền tìm một đệ tử của Hàng Không Ấn Độ đến.

Khi ấy, mỗi Thượng sư, pháp sư tham gia chuyến du lịch đều vô cùng kinh ngạc. Chúng tôi ngồi máy bay của hãng Hàng Không Ấn Độ, Hộ pháp liền phái một người phục vụ của Hàng Không Ấn Độ đến giúp chúng tôi. Chúng tôi trở về thì đi máy bay hãng Hàng Không Tây Bắc <span className="note-blue">[Northwest Airlines]</span>, tại Hồng Kông, Hộ pháp liền phái một nhân viên của Hàng Không Tây Bắc đến giúp đỡ, để “nâng hạng” cho chúng tôi, ban đầu là hạng Business thì biến thành First Class. Ban đầu là ngồi khoang thương gia, thế rồi biến thành khoang hạng nhất, đệ tử đó đã sắp xếp ổn thỏa cho chúng tôi.

Có Hộ pháp ở bên giống như được ăn cơm miễn phí vậy, rất nhiều sự việc ngài đều sẽ giúp đỡ. Vì thế, bạn tu được cầu vồng, tu được Hộ pháp thì cũng sẽ như thế, mọi việc đều sẽ giúp bạn sắp xếp một cách cát tường viên mãn.

Đến Dharamshala, đó là một nơi rất hoang vu hẻo lánh. Ở Bắc Ấn Độ mà, ở nơi đó lấy đâu ra đệ tử chứ? Núi cao, đường cụt, chỉ có hai con đường. Kết quả là không ngờ có người Tạng sinh ra ở Thanh Hải Trung Quốc sống ở đó, là đệ tử Chân Phật Tông. Đúng lúc tối hôm đó anh ta đi loanh quanh bên ngoài, ở Dharamshala trên núi chỉ có hai con đường, anh ta nhìn thấy trên túi hương đeo sau lưng của Thượng sư Thường Nhân có in logo Chân Phật Tông, giật mình sửng sốt, lập tức đuổi theo hỏi.

Khi Thượng sư Thường Nhân nói với anh ta là Sư Tôn đang ở Dharamshala, suýt chút nữa thì anh ta ngất xỉu. Anh ta cho rằng đang nằm mơ. Anh ta nói sao Sư Tôn lại có thể ở Dharamshala chứ? Đó là sự việc chúng tôi gặp ở Ấn Độ. Hộ pháp nói với đệ tử đó: “Đi ra ngoài đi!” Ở trên núi cao hoang vu đó, trên đỉnh núi còn có đệ tử Chân Phật Tông, hơn nữa còn là người Tây Tạng, người Tây Tạng sinh ra ở Thanh Hải.

Tại đó, Sư Tôn đã gặp mặt đệ tử, giống như một trò đùa vậy. Anh ta đã đến tiệm ăn từ rất sớm để đợi cuộc gặp mặt đầu tiên, việc này rất vi diệu. 

Đến Nepal cũng gặp một đệ tử ở Pháp, anh ta còn đến sân bay đón máy bay nữa. Anh ta rảnh rỗi đi dạo trong tiệm bán thangka, ông chủ tiệm bán thangka nói: “Ơ, sư phụ của anh sẽ đến Nepal đó.” Đệ tử nghe xong liền vội vàng đến sân bay đón máy bay. Vì thế bất kì nơi nào cũng đều có Hộ pháp.

Ngoài ra, đệ tử đó còn nói, không chỉ có ông chủ của tiệm thangka nói với anh ta, ở trong mơ Sư Tôn cũng nói với anh ta là sắp đến Nepal, thế là anh liền đi tìm. Khi người chủ tiệm thangka nói với anh rằng Sư Tôn sắp đến Nepal, anh liền vội vàng đi đón máy bay. Vì thế, Hộ pháp Không hành đầy ắp hư không, các vị đều sẽ đi thông báo cho đệ tử của tôi biết để đến gặp mặt tôi.

Khi tôi đi trên đường ở Nepal, còn có ông chủ của tiệm thangka vội vàng cầm một bức tượng Phật tặng tôi, đây là một việc vô cùng ảo diệu. Gặp được người cũng rất vi diệu, cái duyên rất vi diệu, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Đây đều là Hộ pháp an bài. Sức mạnh của Hộ pháp lớn như vậy, mọi người phải tu pháp cho tốt, tu được cầu vồng, tự nhiên tất cả đều sẽ cát tường viên mãn.

Om mani padme hum.

03/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 163. Tương ứng cầu vồng (4)

Chúng ta lại nói về tương ứng cầu vồng phần 4. Đến Ấn Độ và Nepal, mọi người đều biết, thức ăn và nước uống ở đó đều có vấn đề. Tôi từng lấy một ví dụ, người Seattle đến Ấn Độ, lỗ mũi ban đầu rất sạch sẽ, đến Ấn Độ một ngày, lỗ mũi liền đen như mực, chảy nước mũi đều là nước đen. Không khí thì như vậy, nước thì càng nghiêm trọng hơn, chạm cũng không muốn chạm vào, đồ ăn cũng như vậy.

Khi chúng tôi đi thì mang theo rất nhiều nước suối, cả vali gần như đều là nước suối để đảm bảo nước dùng trong một tháng. Ngay cả đánh răng cũng phải dùng nước suối của mình, chỉ có rửa mặt là dùng nước của người ta, còn những việc khác đều dùng nước của mình.

Vậy Hộ pháp giúp như thế nào? Nói ra thì cũng rất kỳ diệu. Đến đó chúng tôi ăn các thứ, Sư Tôn không sợ thứ gì cả, người khác thì cái gì cũng sợ. Người khác thì tiêm chỗ này, tiêm chỗ kia, tiêm vào mông, giống như nhảy Macarena vậy, chỗ nào cũng tiêm. Tôi không tiêm, chỉ có mỗi mình tôi không tiêm, tôi thỉnh Hộ pháp hộ trì.

Khi đi ra ngoài, mỗi lần ăn đồ ăn, tôi đều cúng dường Hộ pháp trước, Hộ pháp đến thì yên tâm mà ăn. Mọi người đều nhìn tôi, mọi người thấy tôi ăn thì mới liều mạng mà ăn. Giả sử Sư Tôn do dự một lúc thì mọi người đều không dám ăn.

Bạn biết ở Ấn Độ, rất nhiều thứ đều có vấn đề. Nói một ví dụ về trứng thôi, tôi lấy một quả trứng luộc, vừa bóc ra, ôi mẹ ơi, bên trong có lông gà, còn có cả mắt nữa, nó đã sắp nở thành gà con rồi mà họ còn làm thành trứng luộc chứ! Nước ở đó không thể uống được, vừa mở nước máy ra thì bên trong đều là các chấm trắng, đều là vi khuẩn.

Có một lần ở trong tiệm ăn, ở cái nơi mà “vào xong là đi”, tức là thành phố Varanaxi ở bên bờ sông Hằng <span className="note-blue">[chơi chữ, biến đổi tên gọi Varanaxi thành “vào xong là đi”, tức là ăn vào là sẽ bị tiêu chảy]</span>, rất dễ nhớ. “Vào xong là đi”, thành phố đó ở bên bờ sông Hằng, chúng tôi ở đó ăn cơm. Họ đem ra món cá tẩm bột chiên, tôi làm cúng dường, khi cúng dường lần đầu Hộ pháp không đến, tôi dừng lại một lúc. Tôi lại cúng dường lần thứ hai, ngài đến rồi, tôi cho rằng Hộ pháp đến để tiếp nhận cúng dường, nhất định là có thể ăn được, tôi liền ăn. 

Sau khi ăn một đĩa lớn, bản thân tôi có một cảm giác khi nãy Hộ pháp đến chậm một lúc là có ý gì. Thì ra món cá đó bị hỏng rồi, đã hỏng chảy nước rồi, hơn nữa còn có mùi nữa. 

Thượng sư Thường Trí lấy rất nhiều cá cho tôi, nhưng ông ấy không ăn. Ông ấy biết là hỏng rồi, ông ấy không ăn, ông ấy ngửi thấy mùi bị hỏng rồi, cuối cùng khi ông ấy quay đầu lại định nói với tôi thì nhìn thấy tôi đã ăn hết sạch rồi, vì thế ông ấy không nói gì. Rất nhiều người đã ăn rồi, rất nhiều người nhìn Sư Tôn cúng dường xong thì họ cũng đã ăn hết rồi. Tốt rồi, “vào xong là đi”. Kể từ ngày hôm đó liên tiếp mấy người đều “vào xong là đi”. 

Thế Sư Tôn có “vào xong là đi” không? Không có, Hộ pháp hộ trì. Tôi còn có một mẹo, chính là sau khi ăn phải những thứ không tốt thì uống một chút rượu cồn, rượu cồn uống vào sẽ giết vi khuẩn, chính là như vậy.

Tôi đến Ấn Độ và Nepal, mỗi lần cúng dường đều mời Hộ pháp. Hộ pháp hễ đến muộn hoặc không đến là tôi không dám ăn. Không dám ăn thì phải làm sao? Sẽ bị đói bụng. Nếu Hộ pháp chậm đến nhận cúng dường thì tức là thức ăn có vấn đề, đây chính là sự tương ứng của Hộ pháp, cũng là tương ứng cầu vồng.

Chúng ta biết Hộ pháp nhận cúng dường, khi ngài rất vui mừng nhận cúng dường thì thứ này nhất định là tốt, ngài đến chậm một lúc tức là biểu thị đồ ăn có vấn đề. Nước cũng thế, chúng tôi ở Ấn Độ uống nước đều là nước suối, nước uống, nước súc miệng, nước rửa mặt, toàn bộ đều dùng nước suối. Hộ pháp hộ trì, bạn lĩnh hội ý tứ của Hộ pháp, như thế sẽ hiểu được thức ăn này có thể dùng hay không.

Lần này chúng tôi đi có 18 người, chỉ có một mình Sư Tôn là từ đầu tới cuối không gặp chuyện gì cả. 17 người khác đều tiêm phòng hết, không bảo họ đi tiêm họ cũng đi tiêm, thế nhưng hầu hết đều gặp vấn đề, chỉ là lớn hay nhỏ mà thôi. Còn có người miệng nôn trôn tháo, người bị rất nặng cũng có. Hộ pháp hiển hiện hộ trì, khiến cho tôi đi và về đều không có một chút bệnh tình nào, hơn nữa tôi luôn ăn hết đồ ăn, không bữa nào để thừa lại một hạt cơm nào, đây chính là sức mạnh của Hộ pháp.

Bạn nghĩ mà xem, đi ra ngoài muốn bình an thì phải có Hộ pháp. Hễ đi trên đường thì xe xóc lên xóc xuống, xe chạy trên đường nhựa mà lắc lư giống như đang ngồi trên thuyền vậy, lắc lư cả bảy, tám tiếng đồng hồ, mỗi lần tôi thấy lắc dữ dội quá thì tôi cật lực niệm chú. Mọi người đều ngủ hết, chỉ có mình tôi tỉnh táo trì chú, mọi người đều ngủ chỉ mình tôi tỉnh. Lắc ghê gớm như vậy mà họ vẫn có thể ngủ được sao? Họ cho rằng lắc là để ru ngủ đó! Chỉ có một mình tôi là bán mạng niệm chú, thỉnh cầu Hộ pháp hộ trì cho xe không lật.

Mọi người thử nghĩ xem, chúng tôi thật sự đã nhìn thấy xe khách bị lật đổ trên đường, có mấy chiếc xe khách đã bị lật đổ xuống núi, rơi xuống ruộng, rơi xuống hào nước đều có. Nhưng có thể bình an đi, bình an trở về, đều là công lao của Hộ pháp. Kể cả sự bình an của thân thể bạn cũng là Hộ pháp đang trợ giúp. 

Cảm ứng kiểu này vô cùng sâu sắc, chính là tương ứng cầu vồng. Chúng tôi chắp tay lại, cầu nguyện Hộ pháp đến nhận cúng dường, ngài đến muộn là bạn biết ngay. Cảm ứng nhanh chóng như vậy, sâu sắc như vậy. Ngài hoan hỷ tiếp nhận cúng dường cho thấy đồ ăn đều không có vấn đề gì, chậm trễ tức là có vấn đề, đừng ngửi mùi hoặc ăn, tất cả đều cát tường viên mãn. 

Om mani padme hum. 

03/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 164. Tương ứng cầu vồng (5)

Chúng ta lại nói về tương ứng cầu vồng phần 5. Lần này đến Ấn Độ và Nepal, chúng tôi cũng đến hang động tu hành của tổ sư Mật giáo, tức là hang động của tổ sư Naropa. Sau khi tham quan hang động tu hành của tổ sư thì có một cảm giác: linh khí của nó rất dày, là một nhân tố về địa linh.

Lần này chúng tôi đến Ấn Độ đi xem hang động tu hành của Naropa, tại Nepal chúng tôi đi xem hang núi tu hành của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đây đều là nơi có địa lý.

Hang động của tổ sư Naropa ở bên đường, rất gần đường, sát với suối, có tiếng nước chảy rất lớn, hang động nằm ngay bên cạnh suối, cái này tức là “giới thủy chỉ lai long”, tức là nơi mà dòng nước đã chặn ngay long khí lại ở đó, thì gọi là “giới thủy chỉ lai long”. 

Hang động đó còn có thạch nhũ, nước nhỏ xuống biến thành thạch nhũ. Bên trong vô cùng mát mẻ, nếu bạn tu hành ở bên trong thì đông ấm hè mát. Đi vào bên trong cảm thấy không khí rất trong lành, hơn nữa linh khí rất dày.

Chúng ta biết rằng lựa chọn địa lý rất quan trọng đối với tu hành. Nơi có khí phối hợp với khí của thân thể bạn, tu hành sẽ tương đối có thể có thành tựu. Người tu khí phải phối hợp với địa khí, cái gọi là thiên thời, địa lợi, nhân hòa, ba thứ thiên-địa-nhân hợp nhất, tu hành sẽ tương đối có thể nhanh chóng thành tựu. Vì thế, các tổ sư khi bế quan tu hành vẫn sẽ chọn nơi có địa lý. 

Tôi quan sát một lúc, hang núi mà Naropa tu hành là huyệt Mao Giải, cũng tức là huyệt “con cua”. Hai cái càng giơ ra, có một cái đầu, nơi có cái miệng nhả ra nước, nhả nước trên núi ra. Nước ở đó rất trong, rất khó thấy được nước trong như vậy. Hang động đó ở một nơi không xa dưới chân núi Dharamshala, ở ngay bên đường. 

Địa lý phải nhìn lai long <span className="note-blue">[long mạch]</span>, có lai long, có kết huyệt, có sa thủ, có thủy, dòng nước này còn phải bao quanh, phương hướng phải chính xác, đây là năm yếu tố rất quan trọng. 

Chúng ta biết rằng tổ sư Naropa là tổ sư của sáu pháp Naropa. Truyền thừa là Tilopa truyền cho Naropa, Naropa truyền cho Marpa, Marpa truyền cho Milarepa, Milarepa truyền cho Gampopa, đây chính là truyền thừa của tổ sư Bạch giáo.

Tổ sư Naropa nổi tiếng nhất với sáu pháp Naropa, trong đó pháp rất quan trọng là pháp Chuyết hỏa. Sáu pháp Naropa trong “Hồng Quang Đại Thành Tựu” tôi đều đã giảng rồi, tu thành tựu bất kì một pháp nào thì chính là A La Hán. Đặc biệt là tu hành pháp Chuyết hỏa, dẫn nội hỏa, phối hợp vừa vặn với địa linh ở nơi đó, cực kì tốt. Tôi vừa đi vào đã cảm thấy vô cùng mát mẻ, lúc đó đốt cháy chuyết hỏa lên, phối hợp với khí mát mẻ, toàn bộ dung hợp với nhau chính là “thủy hỏa ký tế”. 

Bên ngoài hang động của Naropa còn có một chỗ vuông vắn nhỏ nhắn để Thượng sư đốt lửa. Tôi nghĩ nhất định là ngài ấy làm hỏa cúng. Ở phía trước chỗ ngồi của ngài ấy có một chỗ để đốt lửa, là để làm hỏa cúng. Thời tiết lạnh thì có thể chống rét, lại có thể làm hỏa cúng, thậm chí có thể đun nước, còn có thể nấu cơm, có thể xào rau, một cái bếp lò có rất nhiều công dụng.

Mỗi người chúng tôi đều ngồi vào chỗ mà tổ sư Naropa đã từng ngồi, mọi người đều ngồi ở đó. Tôi cũng hy vọng mỗi đệ tử từng ngồi vào đó đều tu thành tựu giống như tổ sư Naropa, như vậy thì tốt.

Nghe được tiếng nước chảy cũng tốt, vì sao? Âm thanh niệm chú của bạn giống như tiếng nước chảy, không gián đoạn. Không chỉ như vậy, chú âm còn phải thắng cả tiếng nước, bạn phải nghe được chú âm của chính mình. Cho dù lúc bạn không trì chú, bạn nghe thấy tiếng nước chảy đó cũng là chú âm, đó là sự miên man không dừng. Nước này còn có thể cổ vũ bạn tu trì, bạn nghe tiếng nước chảy không bao giờ ngừng, biểu thị tinh thần phi phàm của nó, chú âm miên man không dứt.

Một hành giả bình thường trì chú, ổn thôi, nhưng khi không trì chú, đừng cho rằng là không trì chú. Bình thường miệng đang trì chú, tâm cũng đang trì chú, lúc sau miệng không trì chú nữa, tâm vẫn phải chuyển chú, đây là sự xoay chuyển không ngừng, sự tinh tấn này là xoay chuyển không ngừng.

Vì thế, tôi tin rằng khi tổ sư Naropa ở trong hang động tu hành, ngài đã hòa hợp vào nước. Thường ngày ngài niệm chú, âm thanh lớn hơn cả tiếng nước suối, sau đó lại in chú âm vào trong nước suối, nghe âm thanh nước suối giống như chính mình đang niệm chú. Đây chính là tu hành hợp nhất ba thứ thiên-địa-nhân. Bạn chỉ cần tu được công phu này, nghe được bất kì âm thanh gì đều là đang trì chú.

Vừa nãy khi chúng ta tu xong pháp, đột nhiên nổi lên một cơn gió mạnh, tiếng rất vang, cửa cũng động, cửa sổ cũng động, cây bên ngoài đều lay động, phát ra âm thanh. Mọi người thắc mắc cái gì đến thế nhỉ? Là Hộ pháp đến đó. Vừa tu pháp xong thì Hộ pháp liền giáng lâm, âm thanh đó hòa nhập vào trong người bạn, tự thân bạn biến thành Hộ pháp.

Vì thế tâm hành giả phải hòa hợp cùng với tự nhiên. Bạn hòa tan vào cùng tiếng nước, tiếng nước chảy chính là chú âm. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

04/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 165. Tương ứng cầu vồng (6)

Chúng ta lại nói về tương ứng cầu vồng phần 6. Tại Ấn Độ chúng tôi đã đi xem hang động tu hành của Naropa, bạn sẽ có thể hiểu được con người và địa khí là tương thông. Tại Nepal, chúng tôi đã tới thăm hang núi mà tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ bế quan tu hành. Hang núi tu hành của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tương đối cao, nhưng cũng là nơi “giới thủy chỉ lai long”. 

Bởi vì long khí đến hang động thì dừng lại, tuy rằng không có nước, trên thực tế nó cũng là “giới thủy chỉ lai long”. Vì về địa lý mà nói, “cao một tấc chính là núi, thấp một tấc chính là nước”. Cho nên đây cũng là “giới thủy chỉ lai long”, long mạch vừa hay đến chỗ đó thì dừng lại, dừng ở ngay đó.

Khi tôi đi lên núi, ở bên cạnh núi nhìn lên, long mạch ở ngay bên cạnh hang động, bên dưới thì không còn nữa. Như thế là khí không chảy đi. Ở dưới chân núi không nhìn được địa thế, đi vào trong hang núi, từ cửa hang nhìn ra ngoài, đúng là có một vòng tròn bao quanh, một viên ngọc hình tròn ở nơi rất xa đối diện với cửa hang, hai bên có hai vòng cát vây quanh, chính là “rồng xanh cướp ngọc”. 

Pháp sư Liên Liêm hỏi tôi hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là địa thế gì, là huyệt gì? Tôi còn chưa lên tới nơi để xem thì ông ấy đã hỏi tôi rồi. Tôi nói tôi không biết. Đợi đến lúc đi lên nhìn thì biết là “rồng xanh cướp ngọc”. Một con rồng xanh bay xuống vừa hay chạm mặt với một viên ngọc, ngọn đồi tròn đó chính là viên ngọc, hai bên còn có vòng cát ôm vào, cực kì đẹp đẽ.

Đi vào bên trong cũng cảm thấy rất mát mẻ. Tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ rất phi phàm, hang động mà ngài tu hành cũng rất phi thường. Tổ sư khi tu hành sau khi có được pháp thì đều nhanh chóng bế quan. Thời gian bế quan rất dài, có người thì một năm, hai năm, ba năm, bốn năm, năm năm, tu pháp đến khi tương ứng mới dừng.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là người xứ Orgyen, bản thân ngài là tổ sư Hồng giáo, tức tổ sư phái Nyingma. Ngài cũng từng ở trong thiền định tiếp dẫn tôi đến Nepal tu hành. Vì thế, ở Ấn Độ và Nepal rất nhiều người nhìn thấy tôi đều nói với tôi: “Này, sao bây giờ ngài mới đến?” Ba năm trước họ đã nhìn thấy tôi, có người thì một năm trước nhìn thấy tôi, có người thì mấy năm trước đã nhìn thấy tôi. Tại Bodh Gaya, tại Nepal, ở rất nhiều nơi đều có người gặp tôi thì nói “Tôi từng thấy ông rồi”. Tôi cũng nói thẳng với mọi người, Nepal mà tôi nhìn thấy trong hư không hoàn toàn giống với Nepal mà tôi tận mắt nhìn thấy.

Hang động tu hành của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mà chúng tôi đi xem có hai nơi, một nơi là hang động ở trên đỉnh núi, một nơi là dưới núi. Khi tôi đến hang động dưới núi thì phát hiện ra đây cũng là “giới thủy chỉ lai long”. Bạn xem, có một dòng suối rất trong chảy ra, hơn nữa còn có một hồ nước, nước rất trong. Còn có rất nhiều cá bơi ở dưới, hơn nữa không ai biết nước suối này từ đâu chảy tới.

Nghe nói hang trên núi và hang dưới núi là thông nhau, đều là nơi có địa khí. Khi ở trên núi nóng thì ngài xuống hang động ở dưới núi tu, dưới núi quá lạnh thì ngài lại đến hang động trên núi tu. Hoán đổi giữa hai hang động.

Đến nơi đó tôi đã nhìn thấy hang động của hai vị tổ sư đều có địa khí cực kì dày đặc, long, huyệt, sa, thủy, hướng, đều có đủ cả.

Bởi vậy, sau này các bạn tu hành cũng cần như vậy, đi tìm nơi bế quan, địa khí của nơi bế quan cũng phải dày như vậy thì mới có thể thành tựu. Bạn không thể tìm đến nơi tan hoang, nơi không có địa khí, vì như thế sẽ làm nhiều được ít. Giả sử bạn tìm được nơi có địa khí thì sẽ làm ít được nhiều. Vì thế, địa lý rất quan trọng, tôi cảm thấy đây cũng là tương ứng cầu vồng. Hang động mà tổ sư tìm đều có địa lý, tuyệt đối không phải là nơi không có địa lý tốt, địa lý không tốt thì tương đương với người này sẽ không có thành tựu.

Giống như Cầu Vồng Sơn Trang của Chân Phật Tông, cũng là nơi thất tinh lạc địa (bảy ngọn núi lớn), đều có địa khí rất hùng hậu. Bạn ở trong phòng bế quan ở Cầu Vồng Sơn Trang để thiền định, linh khí đó cũng rất khác, bạn sẽ cảm thấy giống như đang ở thiên thượng giới. Tu hành phải ở nơi có địa linh, bạn xem Liên Sư ở hang động dưới núi cũng có tiếng nước chảy, có tiếng suối.

Có thể nói thế này, nước và lửa của thân thể phối hợp, tan hợp vào nhau là thủy hỏa ký tế. Trong Mật giáo nói chuyết hỏa đi lên, bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, hoàn toàn chính là thủy hỏa ký tế, dùng thủy hỏa để luyện. Dùng phong để gia trì, dùng nguyên liệu thủy hỏa để luyện, sau đó thân thể của chính bạn chính là địa. Như thế là tổng hợp địa thủy hỏa phong, đây đều là yếu tố của tu hành. 

Mọi người đã hiểu tầm quan trọng của đất rồi. Các bạn cũng có thể quan sát mảnh đất nào có địa khí, mảnh đất nào không có địa khí, thế rồi các bạn có thể bế quan tu hành cho tốt, sau này người người đều biến thành tổ sư Naropa và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

04/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 166. Ứng dụng Phật pháp vào đạo xử thế (1)

Hôm nay nói về ứng dụng Phật pháp vào đạo xử thế. 

Chúng ta nghiên cứu Phật pháp thường xuyên dùng ba chữ thể-tướng-dụng để giảng giải Phật pháp. Trước kia tôi đã nói cái “thể” này chính là bản thể, “tướng” chính là ngoại tướng, còn “dụng” có thể nói là ứng dụng.

Ví dụ chúng ta gõ chuông, bản thể của chuông chính là đồng, dùng đồng để đúc. Tướng bên ngoài của nó chính là hình cái chuông, tác dụng của nó là gõ vào thì sẽ phát ra âm thanh. Vì thế, rất nhiều người nghiên cứu Phật học dùng ba chữ thể-tướng-dụng để giải thích Phật học. 

Rất đơn giản, bất kì thứ gì bạn đều có thể dùng thể tướng dụng để phân tích. Ví dụ nói về cái bàn, bản thể của nó là gỗ, ngoại tướng của nó là một cái bàn, còn ứng dụng của nó chính là đặt các thứ lên trên, viết, làm việc. Vì thế, nghiên cứu rất nhiều kinh Phật, bạn chỉ cần nghĩ đến thể tướng dụng của chúng là có thể xem qua là hiểu ngay. Đây là một phương pháp nghiên cứu Phật học.

Giống như chúng ta thường nói ba thân Phật: Pháp thân chính là bản thể của Phật, Báo thân chính là tướng của Phật, Ứng thân chính là ứng dụng của Phật, mọi người nghĩ như thế thì sẽ rất rõ ràng. Vậy thì bạn sẽ biết tượng ở đàn thành là gì. Tượng mà bạn đặt trên đàn thành chính là Báo thân. Ứng thân là gì đây? Những người đang ngồi đây đều là Ứng thân. Những người có thể hoạt động, có thể đi hoằng dương Phật pháp đều là Ứng thân của Phật. Giống như A Di Đà Phật của thế giới Cực Lạc vẫn là Báo thân Phật. Bản thể là gì? Chính là hư không, ý thức vũ trụ, Đại Nhật Như Lai (Tỳ Lô Giá Na). Bên dưới Ngũ Phật lại ứng hóa ra chính là Ứng thân. Pháp-Báo-Ứng cần phải như vậy, phân tích như vậy, bạn sẽ rất rõ ràng.

Vì thế, về mặt ứng dụng, Phật pháp đều dùng thể tướng dụng. Ở đây tôi cần nhắc đến vấn đề xử thế của Phật pháp. Phật pháp ứng dụng tại thế giới Ta Bà, phải dùng phương pháp gì đây? Chúng ta thường nghe pháp sư nói rằng phải tiêu trừ ba thứ độc tham, sân, si. Bạn loại bỏ hết tham sân si, bạn sẽ thành Phật thành Thánh, thế giới Ta Bà sẽ biến thành nhân gian tịnh thổ. Nhưng muốn loại bỏ rất khó, vì thế về mặt ứng dụng lại có ba cách: một là dừng, chính là cách mà cha của Đại Vũ dùng để trị thủy, chính là cách chặn. Khi tham đến thì chặn nó lại, sân đến thì chặn nó lại, đây chính là cách dừng. Hệ tiêu hóa của bạn không tốt, dùng cái nút của chai rượu vang bịt nó lại, cái nút làm sao mà bịt chặt được? Rất khó đó. Vì thế, cha của Đại Vũ trị thủy thất bại chính là vì đã dùng cách chặn.

Sau đó thì sao? Đại Vũ trị thủy đã dùng cách khơi thông. Cách khơi thông là thế nào? Là cách chuyển. Chính là chuyển hóa tham sân si.

Tu hành Phật pháp ứng dụng vào xử thế có cách dừng, có cách chuyển, ngoài ra cách cao siêu nhất chúng ta gọi là cách đi theo, đi theo nó, đi theo nó là cách cao minh nhất. Thật ra pháp Đại viên mãn trong Mật giáo chính là nói về cách đi theo. Ở đây có cách dừng, có cách chuyển, có cách đi theo, là ba cách.

Thiền tông cũng có ý vị của cách đi theo, tức là đi theo tham sân si. Đi theo tham sân si rất khó, pháp vị ở đây cực kì sâu, không phải là người có căn khí thượng đẳng thì không cách nào học được. Đại Vũ trị thủy dùng cách khơi thông, chính là cách chuyển. Khơi thông tham sân si để cho nó đi, đây là cách chuyển.

Bởi vậy tôi cho rằng giống như chúng ta tu hành, bạn phải hiểu thế nào là cách dừng. Pháp sư thông thường đều nói “Không được tham nhé! Không được sân nhé! Không được si nhé!” Nhưng lại cứ tham sân si, bạn có cách gì đây? Bạn dùng cái nút bịt chúng lại sao? Đương nhiên là bịt không được. Đôi khi còn đột ngột nổ “bụp”. Chà, tung tóe đầy trên đất, rất khủng khiếp. Đây chính là nát bét không thể cứu vãn, ngược lại càng nghiêm trọng. Đôi khi, không dừng được, ngược lại còn nát bét không thể cứu vãn.

Đại sư Phật pháp trước kia từng nói, tham sân si giống như cỏ, bạn dùng tảng đá to đè nó, đương nhiên nó không mọc. Có một ngày bạn nhấc tảng đá lên, cỏ sẽ lại mọc như cũ. Đây không phải là biện pháp cơ bản, biện pháp cơ bản thật sự vẫn là phải chuyển hóa, chuyển hóa tham sân si, đây chính là một kiểu khơi thông.

Còn cách đi theo thì càng cao siêu hơn, nó vượt lên trên tham sân si. Trong pháp Đại viên mãn của Mật giáo là Trekcho, vượt lên tham sân si. Sau đó đi nhậm vận, đi theo tham sân si mà nhậm vận. Đây là Mật giáo Đại viên mãn, là đại pháp tối cao của phái Nyingma.

Pháp Đại thủ ấn của Kagyu thì vẫn là có thứ tự dần dần. Đại viên mãn tâm trong tâm, cốt tủy của Đại viên mãn chính là nói về đốn siêu và nhậm vận, cái này chính là cách đi theo.

Ba phương pháp này cũng rất vi diệu. Trong xử thế, bạn ứng dụng ba phương pháp này, cách dừng, dừng không được thì dùng cách khơi thông, khơi thông không được thì dùng cách đi theo. Ba phương pháp này cũng phải vận dụng một cách linh hoạt.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

05/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 167. Ứng dụng Phật pháp vào đạo xử thế (2)

Hôm nay chúng ta nói về ứng dụng Phật pháp vào đạo xử thế. 

Phật Đà giảng tinh thần trung đạo vô cùng hay, vô cùng vi diệu. Sau khi bạn thâm nhập nghiên cứu Phật pháp, bạn sẽ hiểu mỗi một thứ đều có thể vận dụng được một cách hợp lý. Lấy ví dụ tham sân si để nói, vô thủy vô minh là nói về bản tính của nhân loại, nghiệp cơ bản mà họ mang theo khi đầu thai qua các đời là rất nặng, bạn rất khó để xoay chuyển nó, rất khó để thay đổi. Nhưng khi bạn phải thay đổi nó, dùng cách chuyển thì tương đối dễ, dùng cách dừng thì tương đối khó. Cách đi theo đương nhiên là rất dễ, nhưng trí huệ của bạn phải rất cao thì mới có thể vượt lên trên tham sân si, mới có thể ứng dụng hiệu quả.

Những điều này đều thuộc về triết học trong Phật pháp. Lấy tham để nói, bạn bảo mọi người không được tham, như thế là không đúng, nhưng bảo mọi người hãy tham đi thì cũng không đúng. Vậy phải tham như thế nào? Phải tham một cách thỏa đáng. Bạn bảo người làm kinh doanh lẽ nào không được tham sao? Nhưng cái gì thuộc về mình đáng có thì bạn có thể có được, cái mình không đáng có được thì không cần phải đi chiếm lấy, như thế tức là thỏa đáng. Bạn đem những gì bạn có được vận dụng trên phương diện từ bi, đem đi vận dụng trên phương diện Phật pháp, đem đi vận dụng trên phương diện cứu người, thì đó là xác đáng.

Bởi vậy, rất nhiều sự việc bạn phải đi trên trung đạo, cái này rất vi diệu. Vượt qua trung đạo, vượt quá hoặc chưa tới đều không tốt. Phật Đà từng giảng rất rõ ràng rồi, dây đàn căng quá thì sẽ đứt, dây đàn chùng quá thì không có được âm thanh đẹp đẽ, vì thế, vừa đúng mức chính là trung đạo. Ngày nay Phật pháp ứng dụng trên thế gian này chính là phải đi trên trung đạo rất vi diệu.

Sân không nhất định là không tốt, bạn tranh luận chính đáng vì công lý thì đó là tốt. Bạn rất nghiêm túc tranh luận vì chính nghĩa thì cái sự sân này lại là tốt. Bạn là Hộ pháp, khi hộ trì Phật pháp, bạn phải dùng thanh kiếm của chính nghĩa để đi hộ trì Phật pháp. Vì thế bạn xem Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Phật đều có Hộ pháp ở bên cạnh, những Hộ pháp này chính là chuyển hóa sân thành việc bảo hộ Phật pháp.

Tham chuyển hóa thành từ bi, sân chuyển hóa thành kim cang, si cũng có thể chuyển hóa. Đối với rất nhiều việc vô lý áp bức lên bạn, bạn không nói gì, thể hiện ra bộ dạng rất ngu si để tránh khỏi những tranh chấp, đây là lúc bạn biểu hiện cái si. Không muốn đi tạo ra những tranh chấp không cần thiết, bạn giả vờ cực kì ngu si, cái này là “đại trí giả ngu”, có rất nhiều điều bạn không muốn nói.

Vì thế Phật Đà và Jesus Christ, khi những đệ tử vô lý chất vấn các ngài, các ngài liền nói: “Ta chẳng có gì để nói.” Phật Đà nói “bất khả thuyết”, Jesus thì cơ bản chẳng nói một câu nào. Các ngài đều là đại trí giả ngu, tránh được rất nhiều tranh chấp.

Đề Bà Đạt Đa phản bội, khi thăm dò Phật Đà, Phật Đà ngồi ở đó chẳng nói một câu nào. Khi có rất nhiều người chất vấn Jesus Christ, Jesus Christ cũng không nói một câu nào. Vì sao vậy? Bởi vì nói ra thì ngược lại, sẽ dẫn đến rất nhiều tranh chấp. Lúc này chính là lúc phải biểu hiện cái si của tham sân si. Cứ là đại trí giả ngu, chẳng nói gì cả. Vì thế, xử thế cũng có rất nhiều cách.

Tham không nhất định là không tốt, bạn tham một cách thỏa đáng, dùng vào việc từ thiện, thì tức là đại từ đại bi. Bạn sân một cách thỏa đáng, dùng vào việc hộ pháp, tức là Kim cang. Bạn si một cách thỏa đáng, nỗ lực làm việc nhưng không nói, chính là sự chuyển hóa của si. Trong việc đối nhân xử thế, bạn phải làm cho vừa phải hợp lý thì tức là đang đi trên trung đạo của Phật Đà.

Hôm nay có người nói trang phục của chúng ta nhìn chẳng giống trang phục xuất gia của Hiển giáo, cũng chẳng giống trang phục xuất gia của Mật giáo. Vì sao? Bởi vì chúng ta đi trên trung đạo, chúng ta gồm cả Hiển và Mật. Về Hiển, chúng ta có tượng trưng của Hiển giáo, đó là tay áo dài, màu sắc đậm, vì thế Chân Phật Tông chúng ta là Hiển Mật cùng nhau. Trang phục là con người thiết kế ra, chỉ cần trang nghiêm là được.

Vì thế con đường chúng ta đi là trung đạo, lệch về Hiển, lệch về Mật đều không tốt. Bạn chỉ học Mật thì không được, bởi vì bạn không có cơ sở của Hiển giáo. Bạn hoàn toàn học Hiển cũng không được, bởi vì trong Mật giáo rốt cục có “tâm trong tâm”, có rất nhiều bí mật trong đó. 

Hôm nay Chân Phật Tông chúng ta chủ trương Hiển Mật phải viên dung, học Hiển trước sau đó học Mật, tiến vào “tâm trong tâm” của Phật pháp. Bạn học Phật thì dùng cách dừng trước, cách dừng nhưng không dừng được thì dùng cách chuyển, chuyển xong thì tiến vào cách đi theo, càng đốn siêu hơn, đây chính là xử thế của Phật pháp.

Om mani padme hum.

05/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết tập 4)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-5-het.md
# Title: Hồng quang đại thành tựu - Tập 5 (Hết)
---

![image](/img/img_52a489bc2edac95b66de6afb4ec56f67.jpg)

## Hồng quang đại thành tựu

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">626</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">Năm 1996</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### 168. Thường lạc ngã tịnh (1)

Hôm nay chúng ta nói về “thường lạc ngã tịnh”. Mỗi lần chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, trong mỗi pháp Bổn tôn, chúng ta đều niệm thêm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, trong kinh văn có bốn chữ, bốn chữ này chính là “thường lạc ngã tịnh”, lần nào cũng đọc bốn chữ này.  
”Thường lạc ngã tịnh” có ý nghĩa gì? Có thể nói đó là một cảnh giới rất cao siêu, cảnh giới này đòi hỏi phải tu đến một trình độ nhất định mới có thể thật sự tiến vào “thường lạc ngã tịnh”. 

Trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh có bốn chữ này, có thể thấy bộ kinh này đã đạt đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” rồi. Chúng ta đọc kinh điển thì phải thâm nhập kinh tạng, biết ý nghĩa của bản thân từng chữ.

Tiếp theo chúng ta nói đến ba phương pháp của “thường lạc ngã tịnh”. Thật ra trong Mật giáo cũng dạy ba phương pháp này, hôm qua chúng ta cũng nói đến ba phương pháp.  
Thứ nhất là dừng — ý nghĩa của dừng chính là dừng dứt những suy nghĩ không tốt, thậm chí cũng đều phải dừng dứt tất cả những hành vi không thỏa đáng của bạn. Đây là một phương pháp tu hành.

Thứ hai là chuyển — tức là chuyển hóa hết những suy nghĩ không tốt.

Thứ ba là đi theo — thế nào gọi là đi theo? Có một ví dụ rất hay, chính là trẻ em xem tranh. Trẻ em đi đến thư viện hoặc viện bảo tàng để xem tranh, rất nhiều bức tranh, chúng chỉ đi qua nhìn những bức tranh đó, trong lòng không có suy nghĩ gì khác, vì thế nói trẻ em xem tranh tức là đi theo.

Giống như chúng ta nhìn dòng sông đang chảy, dòng chảy của nước sông đang chảy đó đại diện cho đủ thứ vọng niệm, bản thân bạn ở bên ngoài dòng chảy, bạn nhìn nó, còn vọng niệm thì đang chảy ở phía trước, đây cũng là đi theo. Cách đi theo này rất cao siêu, tôi đã nói rồi, pháp Đại viên mãn chính là pháp đi theo, Thiền tông chính là pháp đi theo.

Bạn có thể nhìn rõ ràng vọng niệm đang chảy ở trước mặt mà không đi sâu vào trong đó, đây chính là đốn siêu, vượt qua mọi vọng niệm và phiền não. Muốn đạt đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh”, có thể dùng cách dừng, khi bạn biết dừng hết vọng niệm và phiền não thì sẽ sinh ra cảnh giới như thế nào? Cảnh giới này gọi là Không — cảnh giới trống rỗng, hễ dừng lại là không còn. Vọng niệm dừng lại chẳng phải biến thành không sao? Từ trong hư không này mới có thể sản sinh ra một dạng khoái lạc, đây là một phương pháp tu hành.

Ngoài ra còn có một phương pháp chuyển, trong Mật giáo dạy bạn dùng quán tưởng, chính là chuyển hóa, trước kia tôi từng nói lấy niệm để dừng niệm, lấy chính niệm thay thế cho vọng niệm của bạn, đây chính là chuyển. 

Vì thế hành giả chúng ta đôi khi phải đi ngắm núi, ngắm sông, đưa các bạn đi ra ngoại ô chơi, không phải bảo các bạn đi *barbecue*, đi dã ngoại, đi chơi, là muốn chuyển hóa tâm hồn bị giam cầm của bạn. Ngắm núi non hùng vĩ, ngắm rừng cây xanh thẳm, ngắm dòng nước sông xanh biếc, ngắm gió thổi tung tay áo, non xanh nước biếc có thể gột rửa tâm linh của con người, đây chính là một dạng chuyển hóa, có tác dụng thay đổi một cách vô thức. Bạn đi ngắm biển sẽ nhìn thấy tấm lòng của trái đất, tấm lòng của bạn cũng sẽ rộng mở; ngắm núi, đi học tập chí lớn của núi, đó là một ý chí vĩ đại; bạn nhìn hư không, tự nhiên sẽ tiến vào Không cảnh.

Vì thế, tu Đại viên mãn, đôi khi phải đi vào nơi núi sâu đỉnh cao, ngồi dưới một bầu trời xanh ngắt, bạn sẽ biến thành một cái chấm. Lúc này, bạn chú ý đến hư không, hòa nhập vào hư không, dừng hết mọi vọng niệm, tất cả phiền não đều sẽ tiêu trừ, đây là một phương pháp tu hành.

Vì sao chúng ta phải đi đến nơi núi sâu đỉnh cao để tu Đại viên mãn? Bởi vì ở trong hoàn cảnh đó, bạn có thể biết thế nào là đại viên mãn, bên dưới cả bầu trời xanh chỉ còn lại bạn là một cái chấm, mọi lo lắng thế tục đều ở dưới núi, rặng núi mênh mông bát ngát, bầu trời mênh mông bát ngát, lúc này bạn muốn dừng mọi lo âu thế tục thì tương đối đơn giản, đây là một phương pháp.  
Bởi vậy tu pháp Đại viên mãn là phải ở nơi núi sâu đỉnh cao, tách biệt khỏi mọi lo lắng thế tục, ý nghĩa của nó chính là ở đây.

Quán tức là chuyển hóa, bình thường chúng ta ở trong nhà tu, chỉ có thể dùng phương pháp quán tưởng để làm. Vậy thì dừng và quán tưởng có lợi ích gì? Phiền não trên thế giới đều đến từ sự tương đối, còn trong sự tuyệt đối thì chỉ có bốn chữ “thường lạc ngã tịnh”. Thanh tịnh nhất là cái gì? Không. Hư không là thanh tịnh nhất, từ trong sự thanh tịnh bạn mới có thể trải nghiệm được niềm vui vĩnh viễn, muốn đạt đến cảnh giới này thì phải hiểu chân lý là tuyệt đối chứ không phải tương đối.

Vì thế, ở trong cảnh giới “thường lạc ngã tịnh”, không có đúng sai, không có tốt xấu. Nếu bạn có quan niệm tốt xấu, có quan niệm đúng sai, có quan niệm thiện ác sinh ra thì bạn chắc chắn sẽ có phiền não. Khi bạn tiến vào hư không tuyệt đối, khi lĩnh hội được trí huệ đại viên mãn của Phật Bồ Tát, khi ấy mới là “thường lạc ngã tịnh” đại viên mãn.

“Thường lạc ngã tịnh” khiến bạn cảm giác giống như là một lý luận, nhưng bạn cũng có thể tu đạt đến như vậy, mỗi người đều có thể tu đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” này, cảnh giới này vô cùng vi diệu. Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum. 

06/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 169. Thường lạc ngã tịnh (2)

Chúng ta lại nói về “thường lạc ngã tịnh”.  
”Thường lạc ngã tịnh” cũng có thể có phương pháp thực tu, không chỉ là lý luận mà thôi.

Tôi sẽ nói về chính bản thân tôi làm sao để dừng, làm sao để chuyển, làm sao để đi theo. Ví dụ tôi nghe thấy một tin tức nói rằng đệ tử của tôi tự lập phái riêng, tự lập phái riêng là ý gì? Tức là anh ta muốn độc lập, anh ta muốn rời khỏi đất nước của chúng ta, anh ta muốn thành lập một đất nước nhỏ, anh ta muốn đứng riêng một mình. 

Độc lập ư? Độc lập ư? Chúng ta liền nghĩ, chà, sao cơ? Đệ tử lại muốn rời bỏ, muốn sáng lập đất nước của riêng mình, vì sao muốn làm như vậy nhỉ? Chúng ta chẳng phải rất tốt sao? Tu hành như vậy không phải rất tốt sao? Mọi người phải biết, thương trường cạnh tranh luôn luôn là như vậy, người làm thuê học được kỹ thuật của chủ rồi sẽ mở một cửa hàng ở đối diện, sau đó kéo tất cả khách hàng của ông chủ về chỗ mình, đây là việc thường thấy. Chúng ta cứ nghĩ đây là việc rất bình thường, anh ta muốn độc lập thì cũng là việc bình thường thôi.

Sau đó, ngẫm nghĩ lại, trước kia khi tôi xuất đạo, ngay cả một đệ tử cũng không có, bây giờ có nhiều đệ tử như vậy, cũng nên hài lòng thỏa mãn rồi, mấy người bỏ đi cũng chẳng sao cả, nghĩ đến “Tái Ông mất ngựa, sao biết chẳng phải là phúc”, thế là tâm lý yên ổn.

Khi bạn còn chưa yên ổn, bạn có thể nghĩ lại, quán lại. Tôi lại nghe thấy một đệ tử ngày mai phải mổ tim, nghe nói ngày mai phải mổ, hôm nay tôi liền cảm thấy phiền não, tôi lại nghĩ, tôi sẽ dùng phương pháp quán, quán tưởng đệ tử đó thành chính mình, ngày mai tôi phải mổ tim, vậy thì bạn có còn phiền não chuyện đệ tử muốn độc lập không? Sẽ chẳng còn phiền não, việc của ngày mai quan trọng hơn, ngày mai phải mổ tim quan trọng hơn.

Tôi vừa nghĩ đến đệ tử ngày mai phải mổ tim, tôi cầu nguyện cho anh ta, cũng nghĩ đến đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, tôi biến thành anh ta, ngày mai tôi phải mổ tim rồi, thế thì có còn phiền muộn chuyện đệ tử muốn độc lập không? Đương nhiên là không rồi. Vì thế, tôi liền yên tâm thoải mái cảm thấy: “Ôi dào, có gì đâu!”

Thật ra khi bạn nghĩ về chuyện trước đây, bạn có thể trở về trước đây, cái lúc về cơ bản ngay cả một đệ tử cũng không có, bạn sẽ không có tâm được mất, tâm được mất này sẽ không có nữa. Một khi không còn tâm được mất thì sẽ “thường lạc ngã tịnh”. Muốn như vậy, tôi nói với bạn đây chính là phương pháp thực tu, phương pháp chuyển hóa, rất vi diệu.

Bạn có thể thường xuyên đặt mình vào hoàn cảnh của người khác như vậy mà nghĩ cho họ, luôn luôn đặt mình vào hoàn cảnh của người khác mà chuyển hóa, bạn có thể đạt đến “thường lạc ngã tịnh”. “Thường lạc ngã tịnh” có thể căn cứ vào lý luận để đi làm nó, có thể dùng phương pháp quán tưởng để chuyển hóa, không có được mất gì cả, không có tốt xấu gì cả, tuyệt đối “thường lạc ngã tịnh”.

Nói đến Mục Liên Thượng Nhân - người sáng lập Mục Liên tông, trong cuốn “Ngự Bổn Tôn” của ông ấy có viết về Phật Thích Ca Mâu Ni, viết về Đề Bà Đạt Đa, có người cho rằng: “Ôi, sao lại đặt Phật Thích Ca Mâu Ni ngang hàng với Đề Bà Đạt Đa chứ?” Tôi cho rằng quan niệm của ông ấy chính là không có tốt và xấu.

Bạn có biết bên trong cuốn “Ngự Bổn Tôn” còn viết cái gì không? Ngoài Phật ra, ông ấy còn viết về Thiên Vương thứ sáu - Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương, tức là Ma. Trong “Ngự Bổn Tôn” sao lại có ma chứ? Sao lại có Đề Bà Đạt Đa? Tôi cho rằng đây chính là cảnh giới của Mục Liên Thượng Nhân.

Người bình thường chúng ta cho rằng đây là không phân biệt tốt xấu, Phật và Đề Bà Đạt Đa sao có thể ở cùng nhau? Nhưng bạn có biết không, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đạt đến cảnh giới này. Bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thọ ký Đề Bà Đạt Đa thành Phật, nói sau này ông ta sẽ thành Phật, Phật hiệu của ông ta là Thiên Vương Như Lai, cho ông ta một tên hiệu, gọi là Thiên Vương Phật, Thiên Vương Như Lai, là Đề Bà Đạt Đa đó!

Hôm nay viết tên của Đề Bà Đạt Đa, mặc dù ông ta là đệ tử hãm hại Phật, nhưng tương lai ông ta thành Phật, gọi là Thiên Vương Như Lai, đây chính là cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mục Liên Thượng Nhân viết tên của Thiên Ma trong cuốn “Ngự Bổn Tôn”, đây chính là cảnh giới “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, ma là đến khảo nghiệm bạn, là giáo viên kiểm tra việc bạn thành Phật. Điều này nói một cách đơn giản, trong cảnh giới nhất như, hoàn toàn là đại viên mãn, Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác thì bạn có thể thành Phật.” Đây là Lục Tổ của Thiền tông nói, đạo lý chính là ở đây, là cảnh giới nhất như, tuyệt đối không phải nhị như.

Cho nên trước kia có người nói, Lư Thắng Ngạn không được, người này là xấu, người này là ma đó, vậy thì bản thân họ chính là nhị như rồi, người này đã rơi vào nhị như rồi! Nhất như chân chính là đại viên mãn. Đây là cảnh giới rất cao, vì thế hôm nay dạy mọi người “thường lạc ngã tịnh”, bạn phải chăm chỉ đi thực tu, đi trải nghiệm, đi rèn luyện. Chăm chỉ trải nghiệm lời tôi nói, sau đó đi rèn luyện, tự bạn tôi luyện chính mình trở thành đại viên mãn, biến thành nhất như. 

Bạn đọc trong cuốn “Ngự Bổn Tôn”, Đại Tự Tại Thiên Ma đặt cùng với tất cả Phật hiệu, Phật Thích Ca Mâu Ni đặt cùng với Đề Bà Đạt Đa, đây chính là cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” của Mục Liên Thượng Nhân. Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa là Thiên Vương Như Lai, đây chính là “thường lạc ngã tịnh”.

Hôm nay tôi xem tất cả chúng sinh là chính mình, cho dù bạn rời khỏi Chân Phật Tông, rời khỏi Sư Tôn, cũng là chính mình, đệ tử không hiểu tâm của Sư Tôn, nhưng Sư Tôn hiểu tâm của chúng sinh, đây chính là nhất như, bởi vì đệ tử không biết, cho nên bạn là nhị như, còn bản thân Sư Tôn là nhất như.  
Lời giảng ngày hôm nay, mọi người phải nhận thức cho cẩn thận. Om mani padme hum.

06/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 170. Pháp giới nhất như (1)

Hôm nay chúng ta nói về pháp giới nhất như.  
Người học Phật đều biết danh từ: pháp giới nhất như, mặc dù mọi người đều biết pháp giới nhất như nhưng chưa chắc đã thâm nhập cảnh giới này, cũng không có cách nào thâm nhập vào trong ý nghĩa của bản thân nó.

Lần này tôi đến Ấn Độ và Nepal, tại Dharamshala ở Ấn Độ, trong cuộc đối đáp giữa tôi và Dalai Lama, Dalai Lama có nhắc đến vấn đề “sắc” và “không”. 

Chúng ta biết rằng vấn đề sắc, không, trong kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang và kinh Tâm đều nhắc đến. Rất nhiều người đều biết đọc “sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc”, đây chính là “sắc không bất nhị”, cũng tức là “sắc không nhất như”, sắc chính là không, không chính là sắc, sắc không khác không, không không khác sắc, mọi người đều biết.

Nhưng điều mà Dalai Lama hỏi, ngoài kinh Kim Cang, kinh Tâm có giải thích sắc, không ra, trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” đã nói sắc và không như thế nào? Có cách giải thích khác nhau, cách giảng giải khác nhau. Geshe Thiên Thanh thì nói, quán tưởng Bổn tôn trí huệ ở trong hư không, do Bổn tôn trí huệ Thời Luân Kim Cang tiến vào trong tâm hành giả, hóa nghiệp chướng của hành giả thành nước đen chảy ra, tự thân hành giả biến hóa thành Thời Luân Kim Cang, đây chính là sắc không bất nhị, đây là câu trả lời của Geshe Thiên Thanh.

Nhưng tôi cảm thấy câu trả lời này không đủ thấu triệt, tôi trả lời Dalai Lama, tôi chỉ nói hai chữ “song vận”. Ý nghĩa song vận mà tôi nói nằm ở đâu? Ý nghĩa tôi nói song vận chính là nói rằng “sắc và không là song vận, song vận tức là trở thành nhất như”. Bạn phải biết rằng bồ đề tâm nguyệt dịch trong thân thể người khi rơi xuống sẽ đi qua năm luân xa, trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” có nói, đi qua năm luân xa sẽ có hiện tượng Tứ hỷ sinh ra. Sơ hỷ, thắng hỷ, ly hỷ, câu sinh hỷ, hiện tượng Tứ hỷ sinh ra, Tứ hỷ này chuyển hóa thành Tứ không. Bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, đi qua năm luân xa sẽ sản sinh ra Tứ hỷ, Tứ hỷ ban đầu chính là Tứ không, chuyển hóa thành Không cảnh. 

Mỗi cá nhân chúng ta đều là thân thể vật chất, sau khi tu song vận dần dần sẽ hóa hết vật chất, hóa đến sau cùng, ngay cả bạch bồ đề và hồng bồ đề cũng không còn, đều hóa thành không. Sau khi hóa thành không thì hiện tượng vật chất đều không còn, biến thành một dải cầu vồng, chính là đại thành tựu cầu vồng.

Tôi nói cái này có trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”, là một cách giải thích hóa sắc thành không, một cách giảng giải, không phải là Bổn tôn trí huệ đi vào bên trong thân thể bạn, nghiệp chướng của bản thân con người tiêu trừ, chính mình biến thành Bổn tôn trí huệ, như vậy chính là sắc không bất nhị, chính là sắc không.

Sắc, không chân chính, thật ra là trong pháp tướng của Thời Luân Kim Cang, cái hiển hiện ra chính là sắc và không, chính là song vận. Vậy thì vì sao song vận gọi là sắc không? Giải thích thế nào đây? Chính là điều tôi vừa mới nói, bởi vì sẽ sản sinh Tứ hỷ, rồi Tứ hỷ đó chuyển hóa thành Tứ không.

Tứ hỷ chính là sắc, còn Tứ không thì sao? Chính là không đó! Kết quả cuối cùng là vật chất đều hóa hết, bạch bồ đề, hồng bồ đề toàn bộ hóa hết, biến thành một dải cầu vồng, chính là đại thành tựu cầu vồng, đây chính là cách giải thích về sắc và không được nói đến trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”. 

Câu hỏi của Dalai Lama, chúng ta ở đây trong chốc lát đã giải quyết được nó rồi, đây là một giải thích đúng đắn. Bổn tôn trí huệ đi vào trong tâm, nghiệp chướng của hành giả tiêu trừ, chính mình biến thành Thời Luân Kim Cang, đây là sắc không bất nhị. Điều này trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” tuy rằng có nói, nhưng pháp Bổn tôn thông thường cũng tu như vậy, đây chính là một dạng quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập, rất quan trọng.

Nhưng quán Nhập ngã - Ngã nhập không thể thay thế cho sắc, không trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”, mà phải dựa vào điều mà bản thân Sư Tôn đã nói. Sắc, không trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” cần phải là chuyển hóa toàn bộ sắc vật chất thành một dạng sắc không rỗng hết thì mới là sắc không của “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”. Nói như vậy là mọi người hiểu được rồi.

Từ đây có thể ấn chứng pháp giới nhất như, pháp giới nhất như là gì? Sắc không nhất như cũng chính là pháp giới nhất như. Từ sắc, không có thể ấn chứng pháp giới, sắc chính là không, không chính là sắc, sắc không khác không, không không khác sắc, thật ra điều này chính là nói đến nhất như.

Hình tượng của tất cả vật chất thật ra toàn bộ đều quy về không, hiện tượng của tất cả vật chất cũng từ trong không mà sinh ra, cái này gọi là pháp giới nhất như. Vì thế tất cả hiện tượng vốn dĩ không có hiện tượng, tất cả hiện tượng là từ ban đầu không có đến hiện tượng sinh ra, cho nên Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn cõi, cõi tịnh thổ cao nhất gọi là Thường Tịch Quang, đó chính là cảnh giới của cầu vồng.

Cõi Phàm Thánh Đồng Cư vẫn còn có hiện tượng vật chất, cái đó là hóa sinh, còn tịnh thổ chân chính vẫn là ở cõi Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang cũng chính là đại thành tựu cầu vồng.  
Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum. 

09/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 171. Pháp giới nhất như (2)

Chúng ta lại nói về pháp giới nhất như. Tôi thường nhắc đến chúng ta học Phật là đang phá trừ phiền não, trên thực tế, tại thế giới Ta Bà của chúng ta có rất nhiều phiền não, đếm cũng không đếm xuể, mỗi chúng sinh đều có phiền não. Rồi tôi cũng từng nói một câu, muốn phá trừ phiền não, bạn phải tu đến vô ngã, vô ngã mới có thể phá trừ phiền não.

Giả sử đã đến cảnh giới vô ngã rồi, vậy đó là cảnh giới như thế nào? Thật ra chính là lúc pháp giới nhất như mới có thể thật sự phá trừ phiền não, không đến được cảnh giới pháp giới nhất như thì không cách nào phá trừ được phiền não.

Bởi vậy có rất nhiều hành giả nói, tôi đã không còn phiền não, trên thực tế là vẫn còn hay là không còn? Có lẽ là vẫn còn, vẫn có một chút chút, một xíu xíu, so với người khác thì bạn đã vô tư rồi, nhưng vẫn có những lúc chưa hoàn toàn vô tư, vì thế vẫn còn một chút chút. 

Phiền não giống như nước chảy, cứ chảy đi như vậy. Trong dòng nước chảy vẫn còn vài thứ không chảy, ví dụ như bị tảng đá chặn lại, hoặc là chảy đến nơi dòng chảy không được nhanh lắm, nước sẽ hơi đọng lại ở đó một chút, vẫn là bị dừng lại. Thật sự khi đạt đến pháp giới nhất như thì mới có thể hoàn toàn không có phiền não.

Đây là điều tôi đặc biệt chỉ rõ, thật sự muốn phá trừ phiền não thì chỉ có đạt đến cảnh giới nhất như mới có thể phá trừ phiền não. Bạn thật sự có thể trải nghiệm được “sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc” không? Giả sử khi hiện tượng sắc không là như nhau sản sinh ra, phiền não của bạn tự nhiên sẽ không còn nữa, đây chính là nhất như được nói đến trong kinh Kim Cang. Chỉ có nhất như mới có thể thật sự phá trừ phiền não, cái này thuộc về một dạng trí huệ Phật cao nhất.

Chúng ta biết rằng ma là đến để quấy nhiễu người tu hành, ma đem đến cho bạn rất nhiều đau khổ, ví dụ như đau khổ vì bệnh tật, đau khổ vì tiền bạc, đau khổ vì địa vị, đau khổ vì tình cảm, đau khổ vì gia đình, đau khổ vì con cái, đau khổ vì việc người, đủ loại đau khổ đều đổ lên đầu bạn, dùng đủ mọi cách thức để phá hoại việc tu hành của hành giả. Nhưng bạn phải nhìn thấu những điều này, bạn phải dùng phương pháp vô ngã để nhìn thấu, sau đó nếu đạt đến nhất như thì đó mới có thể phá trừ phiền não thật sự.

Vậy thì ma là cái gì? Ma chân chính là ở trong cảnh giới của Bồ Tát địa rất sâu. Bạn nói nhất như đúng không, pháp giới nhất như, ma cũng ở trong nhất như, bạn muốn có thể đạt đến Không cảnh, khi hiểu rõ được tính Không, bạn mới có thể nhận thức được ma.

Một khi đạt đến cảnh giới này rồi thì bạn mới có thể tháo gỡ toàn bộ, bằng không bạn vẫn có một loại tâm đối địch nhau. Cái tâm đối địch lẫn nhau đó vẫn còn, cho thấy rằng phiền não của bạn vẫn chưa giải trừ. Còn có quan niệm kẻ thù và ta thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm yêu và ghét thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm nhiều và ít thì phiền não cũng vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm giàu và nghèo thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, nếu còn có quan niệm về cao và thấp thì phiền não cũng chưa được giải trừ. Điều này rất đơn giản.

Vì thế, phải phá trừ những quan niệm tương quan tốt, xấu, đúng, sai, thiện, ác, phải, trái,… biến thành hiện tượng nhất như thì phiền não mới có thể thật sự lắng xuống. Đương nhiên đây là trí huệ Như Lai tương đối cao sâu, nhưng giả sử bạn có thể tu từ từ, phá trừ các loại vô minh, thật sự có thể sắc không bất nhị thì bạn có thể tự tại nhậm vận.

Tự tại chính là ở trong một tâm trạng rất cân bằng, có thể sâu sắc hiểu rõ tính Không, nếu từ đầu tới cuối bạn đều sống trong tính Không, bạn có thể tự tại nhậm vận, bạn có thể đạt đến trí huệ của Như Lai, cảnh giới này chính là cảnh giới được gọi là pháp giới nhất như.

Đương nhiên nếu có thể ở trong tu pháp tiến vào bên trong cảnh giới pháp giới nhất như thì bạn có thể thật sự ở trong Tam ma địa sâu nhất, rất sâu mà đắc được định. Pháp này là ý thức rất sâu, chúng ta nói các cấp địa của Bồ Tát, những cảnh giới này có thể phân thành mười địa, thậm chí là mười ba địa, mười sáu địa. Khi bạn có thể tiến vào pháp giới nhất như, có thể nói bạn chính là địa thứ mười sáu, thật sự có thể hiểu rõ trí huệ của Như Lai, thế thì bạn chính là Phật rồi.

Tất cả những thứ khác đều thuộc về nhánh bên, những thứ bên cạnh. Tất cả việc tu pháp đến được đây thì chính là đại viên mãn chân chính, vậy thì đã là một dạng siêu việt rồi, vì thế gọi là đốn siêu. Trong chốc lát bạn đã siêu việt rồi, đạt đến cảnh giới cao nhất viên mãn nhất, chính là cảnh giới như một. Cái này rất sâu, cũng rất vi diệu, rất khó tưởng tượng, cũng là không thể tưởng tượng được. Phật chính là ở bên trong cảnh giới này.

Như Lai chính là ở bên trong cảnh giới này, tất cả các cấp địa Bồ Tát còn chưa đến được đây, muốn thành Phật thì nhất định phải đến được bên trong cảnh giới nhất như, vì thế đây cũng là một xưng hiệu khác của Phật, xưng hiệu khác này chính là Chân Như.

Chân Như chính là tính Không, tính Không cũng chính là Phật, đều là một biệt danh của Phật. Thế còn nhất như thì sao? Cũng chính là Chân Như. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

09/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 172. Nói về “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” (1)

Hôm nay chúng ta nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. Hình như trước kia tôi cũng đã từng nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” rồi, đây là câu nói của Thiền tông Lục Tổ. Muốn thành Phật, ngài ấy có một khẩu quyết, khẩu quyết này chính là “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. 

Hồi đầu khi tôi đọc được khẩu quyết này thì rất ngạc nhiên, “không nghĩ thiện” ư? Bảo chúng ta đừng nghĩ về điều thiện, vậy thì nói ngược lại tức là bảo chúng ta nghĩ về điều ác rồi! Nhưng vế sau ngài ấy lại bổ sung một câu nữa là “không nghĩ ác”, tức là ngay cả điều ác cũng không nghĩ về nó, đây chính là một triết lý rất vi diệu, rất cao sâu: “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”.

Chúng ta nói một chút về Thiền tông Ngũ Tổ, ngài nói một bài kệ trong kinh Kim Cang, chính là không có bốn tướng, bỏ hết bốn tướng: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, không có tôi, không có bạn, không có chúng sinh, không có thọ giả (tức là phá bỏ quan niệm về thời gian). 

Thế thì tới lượt tôi, Ngũ Tổ cũng nói, Lục Tổ cũng nói, bây giờ tới lượt Thất Tổ, thật ra Thiền tông không có Thất Tổ, bởi vì sau Lục Tổ thì Thiền tông đã phân thành mấy tông khác nhau, một hoa nở năm cánh, tức là đã phân nhánh rồi, phân thành rất nhiều tông phái, nên không còn có Thất Tổ nữa. Chỉ là tôi cũng nói hai chữ “bỏ chấp”, loại bỏ bám chấp, là hai chữ “bỏ chấp”.

Muốn thành Phật, phải bỏ chấp. Lục Tổ nói “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, bài kệ trong kinh Kim Cang, Ngũ Tổ nói: “Vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả.” Những cái này đều là một dạng triết lý rất thâm sâu, rất ảo diệu.

Mật giáo dạy chúng ta cảnh giới huyền diệu bất khả tư nghì cao nhất sâu nhất chân chính là cảnh giới gì? Chân Phật Tông chúng ta có các quyền pháp như là pháp Kim cang quyền, Hợi Mẫu quyền, kỹ xảo Đại lạc,… Bạn luyện Kim cang quyền, sau cùng đều có một mục đó là “tâm khế bản nhiên”, tức là tâm phải trụ trong cái ban đầu, ở trong trạng thái tự nhiên vốn có thì chính là tâm khế bản nhiên.

Cảnh giới này là cảnh giới gì? Lúc này, thân thể của bạn giải thích thế nào đây? Tổ sư Mật giáo nói, con người vốn dĩ bị trói buộc, bị dây thừng trói chặt, khi bạn thật sự tâm khế bản nhiên thì những sợi dây thừng này không thấy nữa, đây là một công phu, thân thể của bạn không còn thứ gì trói buộc bạn nữa.

Khẩu thì sao? Miệng của bạn thì sao? Thì giống như dây đàn đứt, dây đàn đã đứt rồi, không còn âm thanh. Miệng không có âm thanh, đây là ngôn ngữ đạo đoạn của Thiền tông. Thân thể không có dây thừng trói buộc bạn, dây đàn của miệng đã đứt rồi, giống như dây đàn đứt, không phát ra âm thanh, ngôn ngữ đạo đoạn.

Thế còn ý thì sao? Ý ở đâu? Vô niệm, vô tâm, không còn tâm, tâm không ở ngoài, cũng không ở trong, không ở bất kì nơi nào, ở trong trạng thái hoàn toàn vô niệm gọi là tâm khế bản nhiên.

Giả sử bạn đã học được thân khẩu ý như vậy, thân thể không có thứ gì trói buộc bạn, khẩu cũng giống như dây đàn đã đứt, ý niệm cũng là vô niệm vô tâm, đây gọi là tâm khế bản nhiên, hoàn toàn tâm trụ trong một trạng thái tự nhiên vốn có. Giả sử bạn học được trạng thái này tức là đã khế hợp với điều mà Ngũ Tổ, Lục Tổ và Sư Tôn nói đến - bỏ chấp, không còn bám chấp.

Bản thân con người chúng ta rất bám chấp, nói rằng tôi hoàn toàn không còn bám chấp, sau cùng lại bổ sung thêm một điểm, tôi chính là chấp vào cái này, rất nhiều người đều nói như vậy. Tôi đã tu cũng ổn rồi, chỉ còn lại cái này, cái này chính là bám chấp. Vì thế trước kia có người thường xuyên nói “người tranh một hơi thở, Phật tranh một que hương”, đây chính là bám chấp, thật ra là bạn đang tranh hơi thở này. Rất nhiều người nói, mọi thứ tôi đều nhìn thấu rồi, nhưng tôi lại tranh một hơi thở này, thật ra chính là một hơi thở này vẫn còn chưa nhìn thấu, bạn tranh một hơi thở chính là bám chấp. 

Vì thế chúng ta nghĩ, lão tổ sư viết một chữ “tử” ở đầu giường, đây là để nhắc nhở chính mình, cảnh giác chính mình, chữ “tử” ở phía trước, phải bỏ chấp đi! Bỏ hết mọi bám chấp, bạn còn chấp cái gì chứ?

Đôi khi, chính tôi cũng nghĩ, đệ tử này có bệnh, lấy bệnh đó ra để cho sư phụ đảm đương, vậy thì sự bám chấp của tôi sẽ rất dễ loại bỏ, vì sao? Đây là cách rất hay để bỏ chấp. Khi bạn bỏ được chấp rồi, hoàn toàn không còn bám chấp nữa, tâm khế bản nhiên sẽ xuất hiện, một cách tự nhiên bạn có thể nhập định, nhập Tam ma địa, bạn có thể trở về hư không.

Điều này thật sự là số một, không phải số hai, là số một, cảnh giới cao nhất là như vậy. Vì thế tôi lĩnh hội được lời của Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. Cuối cùng đã hiểu rồi, thế nào là không nghĩ thiện, thế nào là không nghĩ ác.  
Om mani padme hum. 

10/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 173. Nói về “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” (2)

Chúng ta lại nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, đây là lời Lục Tổ nói. Khi tôi học Phật đã có người tặng tôi một cuốn kinh Lục Tổ Đàn, tôi đọc xong không hiểu lắm, đặc biệt là đối với câu “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” này thì càng không hiểu. 

Tôi nói, ác thì đương nhiên không nghĩ đến rồi, bởi vì là ác mà, thế nhưng thiện thì sao? Sao lại có thể không nghĩ chứ? Điều này chẳng có lý, như thế là bảo chúng ta làm gì? “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”? Bảo chúng ta nghĩ cái gì đây?

Ngày xưa khi tôi đọc xong kinh Lục Tổ Đàn, tôi cảm thấy điều này có vấn đề, nhất định phải nói rõ ràng với sư phụ của mình, vì sao cần có câu này, bảo chúng ta không nghĩ thiện, thế thì không đúng rồi, phải là cần nghĩ thiện. Chính vì vấn đề này mà hôm nay tôi sẽ nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. 

Ý của nó là như thế này, giả sử bạn còn chấp vào mỗi sự việc thì bạn sẽ không có cách nào nhập định, không có cách nào thâm nhập vào trong đó, cũng không có cách nào đạt đến chân lý tối cao, bạn sẽ chỉ rơi vào một bên.

Vì thế Phật pháp là không rơi vào hai bên, là tự nhiên nhậm vận. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính là tự nhiên nhậm vận. Trong sách tôi đã viết, giống như con người sống trong không khí, không khí vốn dĩ luôn tồn tại, nhưng bạn sẽ không cảm thấy không khí tồn tại. Bạn không sai đâu! Ngày ngày bạn làm việc thiện, mỗi ngày đều làm việc thiện, nhưng bạn đừng chấp rằng những việc tôi làm đều là việc thiện, tôi rất có công đức, đừng chấp vào đó. Nếu bạn không chấp thì sẽ rất dễ định lại, ý của Lục Tổ nói chính là như vậy.

Giống như cá và nước, nước đối với cá mà nói thì là thiện, không khí đối với chúng ta mà nói thì là thiện. Nhưng bạn đừng đi cảm giác về sự tồn tại của thiện, đừng đi nghĩ về nó, đừng đi tóm lấy nó. Nếu coi nó như một sự tự nhiên mà vậy thì bạn có thể thâm nhập vào trong đó.

Thiền tông cũng nói ngôn ngữ đạo đoạn, đó là khẩu mật, trong Mật giáo gọi là bí mật của khẩu. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thường nói “bất khả thuyết, không thể nói”, vì sao lại không thể nói đây? Bởi vì nói ra thì sẽ rơi vào một bên, bạn chỉ cần nói ra thì sẽ rơi vào một bên. Bất khả thuyết! Chính là ở giữa, chính là trung đạo, đây là sâu không thể đo lường.

Hôm nay rất nhiều hành giả, giả sử để lộ dấu vết, để lộ ra dấu vết hành động, hoặc nếu chấp vào việc phải xây một ngôi chùa rất to, thì đây cũng là bám chấp! Bạn chấp rằng tôi phải đi cứu bao nhiêu người, đi cứu độ bao nhiêu chúng sinh, cái này là chấp. Bạn chấp rằng tôi phải làm ba nghìn việc thiện (ba nghìn công hành), đây là chấp. Bạn đi làm các thứ thì không sao cả, nhưng đừng nghĩ bao nhiêu nghìn công hành, bao nhiêu vạn công đức, đừng nghĩ về nó, tất cả đều không được nghĩ.

Khi bạn không bám chấp thì sẽ không để lộ dấu tích, thật ra cái này chính là cảnh giới bất khả thuyết. Phật Thích Ca Mâu Ni nói bất khả thuyết chính là cái này.

Thật ra vẫn không thể bao hàm toàn bộ, tôi nói hai chữ “bỏ chấp”, đừng bám chấp thì có thể lập tức giải thoát, lập tức thành Phật, giải thoát tức thì, thành Phật tức thì. Tôi nói chữ “tử”, trên thực tế là như thế này, tử thì không chấp vào cái gì, chữ “tử” đó là để bảo bạn đừng chấp đó! Bạn xem, lão tổ sư viết một chữ “tử” dán trên đầu giường mình là để dạy mình hai chữ “không chấp”. 

Đừng bám chấp, người ta phê bình bạn cái gì, bạn nói ngày mai tôi chết rồi, mặc kệ anh phê bình tôi! Người ta chửi bạn cái gì, người ta cướp đi của bạn cái gì, lấy trộm của bạn cái gì, làm hại bạn cái gì, ngày mai đều phải chết rồi, bạn còn quan tâm đến họ ư, đừng chấp! Người ta lấy trộm đồ của bạn, cướp đồ của bạn, vốn dĩ rất xúc phạm bạn, danh dự cũng chịu tổn thất, nhưng bạn nghĩ đến ngày mai là chết rồi, bạn còn chấp không?

Chết là rất tốt, thật ra chết chính là muốn dạy bạn hai chữ “không chấp”, chính là “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” mà Lục Tổ nói, chính là không chấp, chính là “vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả” mà Ngũ Tổ nói.

Hôm nay tôi có thể nói, cảnh giới tu hành của Lư Thắng Ngạn có cần nói ra không? Vẫn là không cần nói ra, bất khả thuyết! Vẫn là không thể nói. Không thể nói tức là sâu không thể đo lường, bạn nói tôi đã tu đến tầng trời thứ mấy rồi, hay là Vô sắc giới thiên, hay là tu đến đâu rồi, như thế vẫn là còn thấp, đều vẫn còn chấp vào cõi trời đó, vẫn chưa đến điểm tận cùng đâu!

Bạn nói ra thì bạn đã để lộ dấu vết, bạn nói một câu bất khả thuyết, tức là sâu không thể đo lường, không ai có thể biết được lý lịch của bạn, bạn cũng là vô tận. Kho tàng vô tận là kho tàng hư không, kho tàng hư không là cái gì? Chính là kho tàng vô tận. Đảo qua đảo lại thì vẫn đều không thể nói, kho tàng hư không là bất khả thuyết, kho tàng vô tận cũng là bất khả thuyết, ý vô tận cũng là bất khả thuyết, toàn bộ đều là bất khả thuyết. 

Vì thế, Phật Đà đã khai ngộ điều gì? “Bất khả thuyết!” Ngày nay điều Lục Tổ nói, Ngũ Tổ nói, tôi nói, tôi không phải là Thất Tổ, bởi vì sau Lục Tổ thì không có ai nữa. Phải chú ý, thân thể giống như không có dây thừng trói buộc bạn, miệng phải giống như dây đàn đứt, tâm quy về bản nhiên, ý niệm phải ở trong trạng thái vô niệm vô trụ, đây chính là thiền định. Một khẩu quyết hay nhất khiến bạn có thể định được, phương pháp của nó chính là như thế này.

Bạn có thể định, trí huệ Phật tự nhiên sẽ sinh ra, bạn sẽ có thể khai ngộ, một khi bạn khai ngộ thì: phiền não giải thoát, sinh tử thành tựu rồi. Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum. 

10/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 174. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (1)

Hôm nay chúng ta nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Cá nhân tôi tương đối chủ trương phương pháp tu hành tự nhiên, tôi cảm thấy người tu hành chúng ta càng hợp với tự nhiên càng tốt. Toàn bộ quá trình tu hành và đời sống thường ngày phối hợp lại, hoàn toàn dung hợp với nhau.

Rất nhiều người cho rằng tu hành là trái với tự nhiên, trên thực tế, những hành giả này trước kia cũng có rất nhiều người tu hành trái với tự nhiên. Về phương diện này, rất nhiều người có kiến giải khác nhau, phái Chân Phật Tông chúng ta tương đối gần với tự nhiên, không trái tự nhiên, hợp với tự nhiên, thuận theo tự nhiên.

Tôi nhớ trước đây khi chúng ta đọc kinh Phật, thấy việc tu hành của bản thân Đức Phật, ngài có một khoảng thời gian cũng tu khổ hạnh. Chúng tôi đến Ấn Độ đã nhìn thấy tượng điêu khắc Phật Đà đói đến mức chỉ còn trơ mấy cái xương sườn, căn bản không hề có bụng, chỉ còn da bọc xương mà thôi. Phật từng có sắc tướng ấy, đó là bản thân Phật Đà đã thực hành bỏ đói mình, tức là phương pháp tu hành tự bỏ đói mình.

Ở Ấn Độ còn có rất nhiều người đang dùng phương pháp này để tu hành, ví dụ ngày ăn một bữa, một ngày họ chỉ ăn một bữa cơm. Nhưng phương pháp ngày ăn một bữa này với chúng ta mà nói thì không phải là không được, mà là bạn cần phải duy trì thể lực của bản thân mình, nếu dinh dưỡng của một bữa cơm bạn ăn đủ để duy trì cho nhu cầu sống một ngày đêm thì tôi cho rằng như thế này có thể được.

Nhưng nếu dinh dưỡng không đủ, hoặc thể lực của bạn không chịu được, thì đều không thể được, đó là phản tự nhiên. Phật Thích Ca Mâu Ni từng đói đến mức chỉ còn lại da bọc xương, sau cùng thể lực không chịu đựng được, lúc ấy có một thiếu nữ có sữa dê đã cúng dường cho ngài sữa dê. Sau khi ngài ăn uống một chút thì thể lực dần dần hồi phục, như thế thân thể mới có thể tiếp tục tu hành.

Tu hành theo cách nhịn đói nói đúng ra là phản tự nhiên, chí ít những thứ bạn ăn phải vừa đủ để có thể phù hợp với thể lực trên người bạn, tôi cho rằng như vậy mới là đúng. Điều này cũng tương đối hợp với khoa học hiện đại. Hôm nay chúng ta nói về tu hành hợp với tự nhiên, tông phái chúng ta đều hợp với tự nhiên, không phản tự nhiên, với người hiện đại mà nói, về mặt sinh lý, về mặt y học, bạn phải chú trọng sinh lý và y học phối hợp với tu hành, bởi vì cuộc sống hiện đại và cổ đại khác nhau.

Ở Ấn Độ cũng có một kiểu tu hành của ngoại đạo, gọi là ngoại đạo lõa thể, bất kể là thời tiết rất nóng hay là thời tiết rất lạnh thì cũng đều lõa thể hết, thậm chí lúc có tuyết rơi cũng vẫn lõa thể, đây cũng là phản tự nhiên. Nhất là nếu có người tu ngoại đạo lõa thể, tu hành là lõa thể, liền chạy ra đường, như thế thì làm hại thuần phong mỹ tục, vào thời nay căn bản là không thể được, ngày nay là không thể được.

Chân Phật Tông chúng ta cũng không lưu hành ngoại đạo lõa thể, cũng không đề xướng, bạn muốn lõa thể thì bạn ở trong phòng mình lõa thể thì được. Thế rồi có một số ngoại đạo lõa thể chủ trương như thế này, họ nói con người khi sinh ra là lõa thể, chỉ có con người mới mặc quần áo, những động vật khác trên thế giới đâu có mặc quần áo, muốn hợp với tự nhiên thì phải là lõa thể mới đúng.

Nghe thì thấy họ nói cũng có lý, họ nói họ lễ Phật Bồ Tát cũng lõa thể, biểu thị bản thân mình là thanh bạch, không vương một sợi tơ, không có gì có thể khiến người ta phải che đậy, không cần phải che đậy. Bản thân họ tu ngoại đạo lõa thể, tu cho bản thân rất có khả năng thích ứng với hoàn cảnh của đại tự nhiên, ngày tuyết rơi họ cũng vẫn lõa thể, không sợ lạnh, họ cũng có đạo lý của họ.

Nhưng lý luận theo kiểu này thì vẫn không hợp với thời hiện đại, và cũng không nhất định là chúng ta mặc quần áo là cho thấy đang che đậy chính mình, hoặc mặc quần áo là biểu thị sự giả dối, mặc quần áo là biểu thị bản thân mình có ô uế nên buộc phải che đậy, hoàn toàn không phải thế. Mặc quần áo là hợp với hiện đại, mà thời cổ đại cũng mặc quần áo đó thôi, chỉ là bạn là người tu hành đột nhiên chế ra kiểu lý luận này, đó là phản tự nhiên. Bởi vì con người trên toàn thế giới bây giờ đều mặc quần áo mà. Giả sử con người trên toàn thế giới đều không mặc quần áo thì tôi cũng có thể không cần mặc quần áo, giống nhau mà! Đó chính là một dạng tự nhiên.

Ngày nay thì cần nói rằng bạn không mặc quần áo mà tu hành thì đó là phản tự nhiên, Chân Phật Tông chúng ta không lưu hành cái này, phải nhớ kĩ đó! Không thể nói Chân Phật Tông chúng ta có lưu hành, đó là sai rồi! Vì thế phải hợp với hiện đại, hợp với tự nhiên. 

Thiền tông có một câu nói “đói thì ăn”, bụng bạn đói rồi thì bạn hãy ăn; “lạnh thì mặc”, thời tiết lạnh rồi thì bạn hãy mặc quần áo, đây mới là tự nhiên. Bạn cảm thấy lạnh thì bạn mặc quần áo, bụng bạn đói rồi thì bạn ăn. “Buồn ngủ thì ngủ”, thân thể bạn mệt rồi, rất muốn ngủ, vậy thì bạn đi ngủ, cái này tương đối hợp với tu hành tự nhiên. 

Hôm nay chúng ta nói đến đây. Om mani padme hum. 

11/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 175. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (2)

Chúng ta lại nói đến phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Vào thời cổ đại, những hành giả (người tu hành) này thích sống trong khu mồ mả, sống trong khu mồ mả tức là ở nơi có những ngôi mộ để tu hành, hoặc là ngồi dưới rừng cây, ngủ ở trong khu mộ, hành giả thời cổ đại là như vậy.

Vào thời đại Phật Đà, ví dụ tôn giả Đại Ca Diếp cũng từng thích tu hành kiểu đầu đà. Ở Ấn Độ chúng ta nhìn thấy rất nhiều hành giả rất tùy ý, họ rất thích ngồi bên cạnh đống rác, ngồi bên cạnh rãnh nước hôi thối, họ đều như vậy, buổi tối thì đi đến khu mộ để ngủ. 

Tu hành thời hiện đại đương nhiên không đòi hỏi bạn phải sống một cách bần hàn như vậy, không hề yêu cầu phải ngồi dưới cây, phải đi đến mồ mả để ngủ. Người tu hành chúng ta chỉ cần có túp lều tranh, một chỗ rất đơn giản để ở, có thể tránh gió, tránh mưa, không nhất định phải ngủ trên giường tốt, chỉ cần bạn có thể ngủ một cách quang minh, ngủ một cách rất thanh tịnh, có thể ngăn gió, ngăn mưa là được rồi, bởi vì nếu bạn không ngăn gió ngăn mưa, bị ốm thì sẽ là một sự tổn hại đến nhục thể của chính mình, cũng là một sự tổn hại đến việc tu hành của chính mình, không nhất định là có lợi.”!

Vì thế chúng ta phải hợp với tu hành của chính mình, tu hành rất tự nhiên, nơi bạn ở phải che gió, che mưa, phải hợp vệ sinh. Ví dụ như ở trong đống rác, ở khu mồ mả, ở trên cây đôi khi sẽ có sâu róm rơi xuống, ở khu mồ mả không chắc đã hợp vệ sinh, cái này đều ảnh hưởng đến tu hành, cho nên vẫn là hợp với hiện đại, tu hành tự nhiên thì sẽ tốt hơn. 

Nói đến giới sẹo, đó chỉ có hòa thượng Trung Quốc mới có, trên thế giới bất kì một tín đồ Phật giáo nào, bất kì một người xuất gia tu hành nào cũng không có điểm giới sẹo, chỉ có Trung Quốc mới có, là người Trung Quốc phát minh ra, đốt giới sẹo, cái này có hơi tàn bạo với chính mình, tức là bạn phải tự đốt mình cho thật đau để làm một ký hiệu.

Có người chỉ đốt ba cái, có người thì đốt nhiều hơn, cũng có người đốt toàn thân, họ cởi hết áo ra, ôi trời, toàn thân đều là sẹo, trên lưng cũng có, trên tay cũng có, trên chân cũng có. Đây cũng là một phương pháp để tự mình biết giới luật, hễ phạm giới một lần thì lập tức chấm một cái, phạm một lần giới thì lập tức chấm một cái. Cho nên, tôi nghe nói có một pháp sư toàn thân đều là giới sẹo, đây vẫn còn là chuyện nhỏ, còn có dùng lửa đốt toàn thân nữa cơ.

Còn có đốt ngón tay cúng Phật, cái này thì lợi hại hơn một chút, họ nói đốt ngón tay cúng Phật là như thế này. Ngón tay duỗi ra, dùng vải buộc lên, tẩm xăng vào vải, đốt xăng, vừa châm lửa là đốt ngón tay, nói rằng ngón tay này là để cúng Phật, sau đó dùng cái kẹp cắt bỏ thịt, chỉ còn lại xương. Oa! Ngay cả xương cũng cắt đứt, thế này thì rất đau, rất đau đấy!

Đốt ngón tay cúng Phật không thịnh hành trong Mật giáo chúng ta. Trước kia trong Hiển giáo, ở Trung Quốc Đại Lục cũng có đốt ngón tay cúng Phật. Thế còn trong Mật giáo, nếu bạn đốt ngón tay, oa, nếu cắt đứt rồi thì bạn làm sao mà kết thủ ấn? Sẽ không thể kết thủ ấn được nữa!

Trước kia Trung Quốc Đại Lục có đốt ngón tay cúng Phật, đây là tàn bạo với chính mình, cũng là phản tự nhiên. Bạn biết rằng cắt đứt một ngón tay, sau này cầm đồ vật cũng không tiện, làm việc gì cũng bất tiện, cho nên việc này không được.

Càng nghiêm trọng hơn, làm theo kiểu của ngoại đạo thì còn có đốt cháy toàn thân cúng Phật, tự thiêu.

Với một hành giả, sinh mệnh cũng rất quan trọng. Chúng ta biết rằng sinh mệnh có hai loại, một loại là sinh mệnh của thân thể, một loại là huệ mệnh của trí huệ, hai loại sinh mệnh. Sinh mệnh của trí huệ đến từ sinh mệnh của thân thể, sinh mệnh của thân thể là cái gốc của tu hành, bạn không có thân thể này thì lấy đâu ra trí huệ?

Vì thế chúng ta coi trọng tu hành thân thể, trong Mật giáo coi trọng tu hành thân thể, thân thể rất quý giá, điều dưỡng thân thể cũng rất quan trọng, bởi vì chúng ta tu khí nhất định phải dựa vào thân thể, tu khí chính là tu tâm, tâm khí không hai.

Bạn phải điều hòa khí cho tốt, bạn phải chú ý thân thể của chính mình, cho nên Chân Phật Tông chúng ta là “tâm vật hợp nhất luận”, tâm vật là hàm nhất, thân tâm là hợp nhất, thân thể rất quan trọng, sao có thể tùy tiện cắt đứt ngón tay chứ! Cắt đứt ngón tay rồi nói là cúng Phật. Lại còn đốt cháy ngón tay để cúng Phật, cái này cũng không được.

Đến cuối cùng thì diễn biến thành thiêu thân cúng Phật, đốt hết toàn bộ thân thể mình để cúng Phật, cái này đã đi theo hướng tương đối cực đoan rồi. Về phương diện này, chúng ta là tu hành hợp với tự nhiên, đừng đi theo kiểu con đường cực đoan này.

Ngoài ra còn có phương pháp tu hành ném mình xuống vực, thế nào gọi là ném mình xuống vực? Trước kia ở Trung Quốc Đại Lục chẳng phải còn cắm một tấm bảng gọi là “Vực Xả Thân” sao? Vì sao gọi là Vực Xả Thân? Tức là bảo bạn nhảy xuống là thân thể này đã cúng dường Phật Bồ Tát. Vì thế, hễ bạn nhảy xuống vách núi cao và dốc là có thể đi thành Phật, thành Tiên rồi. Cái này cũng là phản khoa học.

Không có một kiểu tu hành nào bảo bạn vứt bỏ sinh mệnh của mình. Tuy nhiên trong thời đại Phật Đà có điển cố Phật xả thân làm thức ăn cho hổ, con hổ đói quá, Phật liền khởi lên tâm bồ đề, liền để mình làm thức ăn cho hổ, nhưng đó là thời cổ đại! Tinh thần ấy đương nhiên có thể xem là rất tốt, nhưng khi bạn còn chưa tu thành chính quả mà đã vứt bỏ đi sinh mạng của mình như vậy thì có đúng không? Bởi thế không thể làm những việc ngu ngốc, bạn không thể nói tôi muốn xả thân, xả thân cho hổ ăn, hoặc xả thân nhảy xuống vách núi, như vậy bạn có thể thành Phật sao?

Cái này là ngay trong tư tưởng đã đi về hướng cực đoan rồi, về phương diện này mà nói là phản tự nhiên, bởi vì chúng ta cho rằng sinh mệnh là cái gốc của tu hành, sinh mệnh vô cùng quý giá, bạn phải giữ được sinh mệnh này thì bạn mới có thể tu hành, không phải là nói bạn vứt bỏ sinh mệnh là có thể thành Phật. Giả sử bạn vì chúng sinh mà xả thân, vì một đất nước, một dân tộc, vì chúng sinh mà xả thân thì còn có ý nghĩa một chút, những cái khác thì không thể được.

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum. 

11/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 176. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (3)

Chúng ta lại nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Lần trước chúng ta đã nói, tu hành không nhất định phải dùng phương pháp nhịn đói, Phật Đà từng nhịn đói đến mức chỉ còn lại da bọc xương, suýt chút nữa chưa tu thành cái gì, còn phải ăn sau đó mới có sức mạnh tiếp tục tu hành.

Cũng không nhất định phải lõa thể đi tu, Ấn Độ có ngoại đạo lõa thể, họ chủ trương lõa thể, cho rằng như thế mới là thanh tịnh, nhưng thời hiện đại thì không được làm thế, bạn muốn lõa thể cũng được thôi, vào lúc đi tắm hãy lõa thể.

Tối hôm qua chúng ta cũng nói rồi, không nhất thiết phải ngủ ở mồ mả. Trước kia ở Ấn Độ, hành giả xưa nay đều chủ trương ngồi dưới cây, ngủ ở mồ mả, cũng không chắc đã hợp vệ sinh. 

Giống như cúng Phật, không nhất định phải đốt ngón tay cúng Phật. Bạn cúng Phật những thứ quý báu đều có thể được, nhưng không nhất định phải lấy thân thể mình ra để cúng Phật. Ví dụ có người thiêu thân, tự đốt thân thể mình để cúng Phật, đạo hạnh của bạn còn chưa tới, thành quả tu hành còn chưa đạt đến tột cùng, kết quả là không còn sinh mạng nữa, những việc này đều không đúng.

Còn có chích máu viết kinh, cái này rất nhiều người làm. Trước kia ở Trung Quốc, có rất nhiều người cho rằng tín tâm của bản thân họ rất kiên cố, cho nên họ phát nguyện chích máu viết kinh. Ngoài ra, dùng cách phát nguyện chích máu viết kinh còn hy vọng có thể giúp người nhà báo hiếu, hoặc dùng công đức này để làm việc gì đó. Chích máu viết kinh là có, ở Đài Loan trước kia có pháp sư Chấn Quang ở chùa Từ Thiện, ông ấy chính là người đã cắt ngón tay út, máu chảy ra là ông ấy chấm vào để viết kinh. Tôi đã nhìn thấy ngón tay của ông ấy thật sự đã bị cắt. Có rất nhiều người chích máu viết kinh, nhưng tôi cho rằng, nếu bạn làm tổn thương thân thể của chính mình, hoặc không cẩn thận để cho ngón tay bị hỏng, sau này sẽ rất bất tiện, nhất là trong Mật giáo có kết thủ ấn thì lại càng bất tiện. Hơn nữa máu cũng là một loại minh điểm, trong tu hành Mật giáo, bạn không thể mất máu quá nhiều, cũng sẽ rất nguy hiểm, cho nên vẫn là không làm thì tốt hơn.

Ngoài ra trên phương diện tu hành còn có thực hành không nói. Không nói tức là không nói chuyện, một câu cũng không nói, cả năm đều không nói, cả đời đều không nói, đây cũng là một pháp phi thường, không phải là một phương pháp tu hành bình thường, đều tương đối phản tự nhiên. Bởi vì bản thân con người vẫn cần phải nói chuyện, nếu so với người thế tục bình thường thì hành giả chúng ta nên nói ít một chút, ngoài ra thì giữ không vọng ngữ, không ác khẩu, không hai lưỡi, không nói tục là được rồi, điều gì nên nói thì bạn vẫn cần nói. Hoàn toàn không nói gì hết thì cũng là cách không bình thường.

Còn có một phương pháp tu hành thời Ấn Độ cổ là học theo động vật, không những chịu giới luật của trâu bò và giới luật của chó, mà hành vi của họ còn hoàn toàn giống với trâu bò và chó. Không làm việc, thích chạy long nhong ngoài đường, không tắm rửa giống như trâu chó, bởi vì trâu không tắm, chó cũng không tắm, đều không tắm hết, cái này không hợp vệ sinh.

Ở Ấn Độ chúng tôi còn nhìn thấy có một người ngồi xổm ở một chỗ để đi “ấy”, chúng tôi ngồi trên xe du lịch đi qua, nhìn thấy “vàng thoi” đang tuôn ra, có một con chó ở phía sau dùng lưỡi liếm “vàng thoi”, ông ta xả ra còn con chó thì ở phía sau ăn. 

Người chịu giới kiểu này không đi xin ăn, tức là ở trên mặt đất có cái gì thì ăn cái đó, người tu hành chịu giới trâu giới chó sẽ giống như trâu chó, tức là học theo cách sinh hoạt của chúng. Không tắm gội, trên mặt đất có gì thì ăn cái đó, hoặc nhặt những thứ từ trong đống rác ra ăn. Trong thời hiện đại mà nói thì đây cũng xem là một pháp khổ hạnh phi thường, nhưng mà không hợp vệ sinh, trong Chân Phật Tông chúng ta không yêu cầu điều này.

Ngoài ra còn có người thực hành ngồi chứ không nằm, ngồi chứ không nằm chính là bất đảo đan <span className="note-blue">[không rời chỗ ngồi]</span>, hàng ngày đi ngủ thì cứ ngồi chứ không nằm, đây cũng là pháp phi thường, không phải phương pháp bình thường. Nếu bạn cảm thấy mình thích hợp thì bạn có thể thực hành, nhưng có một số người không thích hợp, người không thích hợp thì không cần thực hành. 

Ở đây có mấy trọng điểm:  
Chích máu viết kinh nếu không ảnh hưởng đến tình hình sức khỏe của bạn, bạn biết cách chăm sóc thân thể mình, chỉ là dùng một cây kim để chích ra một ít máu, sau đó bạn chấm để viết kinh, tôi cho rằng như thế này cũng được, bởi vì không làm tổn hại đến thân thể bạn. Nhưng bạn phải chú ý đến bệnh uốn ván, sau khi bạn chích máu, bạn phải dùng cồn để lau, đừng để cho nó bị uốn ván, đừng để vi khuẩn đi vào, chú ý vệ sinh sinh lý một chút.

Trong phạm vi không ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn, phát nguyện chích máu viết kinh cũng có thể được, nhưng giả sử bạn cắt đứt ngón tay, để cho máu chảy ra, dùng ngón tay để viết, thế thì không được, như thế thì không tốt, bởi vì cái này có khả năng bị uốn ván, theo y học hiện đại mà nói thì không hợp vệ sinh sinh lý.

Tôi cảm thấy pháp có thường pháp và phi thường pháp. Thường pháp tức là tu hành hợp với tự nhiên, bản thân Chân Phật Tông đề xướng thường pháp, là tu hành hợp với tự nhiên, đừng có phi thường pháp.

Nhưng mà giả sử bản thân bạn nghĩ rằng bạn muốn thực hiện phi thường pháp, bạn buộc phải suy ngẫm đến sức khỏe của chính mình có thể chịu được không, suy ngẫm ý nghĩa của việc mà thân thể bạn đang làm nằm ở đâu. Phải suy nghĩ đến hiệu quả, hiệu ứng của chính bản thân bạn, làm như vậy có giúp ích gì cho bạn không. 

Đây là sự phân biệt giữa thường pháp và phi thường pháp. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum. 

12/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 177. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (4)

Chúng ta lại nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Nhắc đến thường pháp là nói đến phương pháp tu hành bình thường. Còn phi thường pháp là phương pháp tu hành tương đối phản tự nhiên.

Phương pháp tu hành bao gồm cả phi thường pháp, đương nhiên là có, nhưng cần phải xem giá trị và ý nghĩa của nó, và xem khả năng chịu đựng của thân thể chúng ta. Có một số người muốn dùng phi thường pháp để tu hành thì cũng được, nhưng phải chú ý một chút, đừng làm tổn hại đến thân thể của chính mình, phải có người chăm sóc bạn. 

Ví dụ bạn tu chỉ ngồi không nằm, bạn cảm thấy tu bất đảo đan thì tinh thần tốt hơn, hơn nữa không ảnh hưởng đến làm việc và nghỉ ngơi ban ngày, thể lực của bạn vẫn rất tốt, tinh thần rất dồi dào, vậy thì bạn có thể làm, đây là sự khác biệt về thể chất của mỗi người. 

Thể chất của mỗi người không giống nhau, có một số người ngày ăn một bữa là được, nhưng có một số người một bữa ăn phải ăn năm, sáu bát cơm, bạn lại bảo họ ngày ăn một bữa, vậy chẳng phải muốn anh ta chết đói sao? Thể chất của mỗi người không nhất định là giống nhau, có một số người ăn rất ít, họ nói buổi trưa ăn một bữa cơm là có thể cả ngày đều ổn, vậy thì bạn có thể thực hành không ăn sau giờ Ngọ. Ngày ăn một bữa thuộc về phi thường pháp, phải xem thể chất của cá nhân để mà thích ứng, ở đây có liên quan đến vấn đề thích ứng. 

Đương nhiên, giống như đốt ngón tay cúng Phật, cái này thì đừng làm, thiêu thân cúng Phật cũng đừng làm. Bạn ném mình xuống vực xả thân, bạn quăng mình xuống vách núi cao dốc, nói rằng như thế là có thể vãng sinh, việc này tuyệt đối đừng làm. Xả thân cho hổ ăn cũng đừng làm. Thượng sư Liên Bảo nói: “Người hiện đại thì có chỗ nào mà xả thân cho hổ ăn, là xả thân cho “hổ cái” ăn thôi.” Việc này cũng đừng làm, người xuất gia chúng ta đương nhiên không thể xả thân cho “hổ cái” ăn rồi, còn người tại gia có xả thân hay không thì tôi không biết. 

Cũng có một phi thường pháp nữa gọi là “ban chu tam muội”, pháp ban chu tam muội xuất phát từ Ban Chu Tam Muội Kinh. Trong kinh nói như thế này, chỉ đứng không ngồi, cũng không nằm, đây cũng là pháp phi thường, tức là nói rằng một hành giả ở trong một căn phòng, anh ta chỉ đứng, hoàn toàn không nằm, cũng không ngồi xuống, đứng và đi bộ, cứ liên tục đi, một, hai, một, hai, cứ như thế liên tục đi về phía trước, khi đi thì niệm Phật.

Theo trong kinh điển có viết, đi như thế này thì phải đi bao lâu? Ở trong một căn phòng, phải đi 90 ngày. Oa! 90 ngày là quá lâu đó, nhưng cũng có thời gian 7 ngày, cũng có thời gian 9 ngày, cũng có thời gian 10 ngày, tức là đứng và đi, không ngừng niệm Phật. Thế có ngủ không? Nói đúng ra là không ngủ, pháp này gọi là làm pháp ban chu tam muội. 

Đại bộ phận người thực hành pháp này là nhốt mình không ra ngoài, chỉ ở bên trong đi lại, cứ thế đi, niệm A Di Đà Phật, cứ thế niệm, vừa đi vừa niệm, chỉ ở trong phòng thôi, cũng không đi ra ngoài, trong thời gian 7 ngày, không hề ngồi xuống, cũng không nằm xuống. Tôi nghĩ cần phải ăn các thứ, ăn một chút đồ ăn là việc cần thiết, nhưng ăn thì làm sao có thể không ngồi xuống chứ? Đây cũng là một vấn đề, nhưng trong kinh điển viết như thế, tôi chỉ là chiếu theo kinh điển mà nói thôi. 

Hiệu quả của việc làm thế này ra sao? Trong quá khứ, người đã thực hành ban chu tam muội, chỉ đứng và đi, tinh tấn không dừng, bạn có thể nhìn thấy tất cả Phật xuất hiện, giống như sao trên trời vậy. Đứng dậy bước đi niệm Phật chính là ban chu tam muội, thời gian là 7 ngày, bạn có thể nhìn thấy cảnh tượng khác lạ, nhưng cũng không dễ dàng duy trì, không dễ dàng làm được điều này, vì sao? Bởi vì giả sử một người cứ liên tục đi không dừng, nếu không ngủ thì một ngày còn có thể duy trì được, hai ngày cũng có thể duy trì được, ba ngày cũng miễn cưỡng duy trì được, nhưng đến ngày thứ tư khả năng sẽ xuất hiện huyễn giác, tức là sẽ có hiện tượng ảo giác xuất hiện. 

Vì thế cũng có người nghiên cứu pháp ban chu tam muội này, cho rằng pháp ban chu tam muội vào ngày thứ ba, thứ tư có thể nhìn thấy Phật, có khả năng bản thân Phật đó là Phật huyễn, bởi vì trong tâm bạn nghĩ đến Phật, miệng niệm Phật, liên tục không ngủ thì chắc chắn sẽ sinh ra ảo giác. Hiện tượng sinh ra ảo giác tức là tất cả Phật Bồ Tát sẽ trôi trong hư không, giả sử định lực của bạn đủ, bạn có thể nhìn thấy Phật, có thể có thành tựu, đây là chứng đắc có kỳ hạn, nhưng giả sử bản thân bạn định lực không đủ, nói không chừng khi ảo giác sinh ra, sau này bạn sẽ bị huyễn thị và huyễn thính. 

Là huyễn thính chứ không phải là nhà ăn để ăn cơm đâu, là nghe thấy rất nhiều âm thanh khó hiểu; huyễn thị là nhìn thấy rất nhiều thứ kỳ quặc, hai thứ này đều do ảo giác của bạn sinh ra. Huyễn thị và huyễn thính chính là bệnh tâm thần, sẽ bị tâm thần phân liệt, cho nên thực hành phi thường pháp đôi khi sẽ liên quan đến tâm thần, sinh ra chứng tâm thần phân liệt chính là ở chỗ này. Vì thế, chúng ta dùng thường pháp để tu hành, mặc dù tương đối chậm, thời gian tương đối dài một chút, nhưng sẽ không sinh bệnh, còn phi thường pháp rất dễ sinh bệnh.

Cho nên hôm nay chúng ta học Phật, tôi cho rằng chúng ta vẫn nên tu một cách tự nhiên, như thế tương đối tốt hơn, ví dụ bạn trì Bảo bình khí, bạn đừng khăng khăng là phải giữ được bao lâu, bạn nhịn thở không được nữa thì bạn nhanh chóng hít thở, bởi vì chỉ cần bạn miễn cưỡng là chắc chắn sẽ sinh bệnh, khí sẽ đi sang đường rẽ, khí sẽ chạy tới đường rẽ, khí này sẽ chạy lung tung thì thân thể sẽ sản sinh ra các bệnh liên quan đến tu khí. Vì thế, tu Bảo bình khí cũng phải tự nhiên mà làm, bạn có thể giữ được bao lâu thì giữ bấy lâu, đừng miễn cưỡng, đến lúc cần phải thở ra thì bạn hãy thở ra, cần hít vào thì bạn hãy hít vào. Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum. 

12/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 178. Nói về vô ngại (1)

Hôm nay tôi nói với mọi người về vô ngại.

Vô ngại - chữ ngại này là ngại trong từ chướng ngại. Từ hồi đầu rất lâu trước đây tôi có viết một cuốn sách, chính là nói về “triết học vô ngại”. Ý của tôi là thế này, một người giả sử có thể hoàn toàn không có trói buộc tức là đã đạt đến cảnh giới vô ngại, viết về triết học vô ngại tức là đang giải thích về một cuộc sống không có chướng ngại.

Trong Phật pháp cũng nhắc đến vô ngại, ý là không có chướng ngại. Phật pháp khi đạt đến cảnh giới rất cao rồi thì cũng là vô ngại, không còn chướng ngại gì cả.

Tôi lấy vài ví dụ đơn giản để nói với mọi người. Ví dụ lần này chúng tôi đến Ấn Độ, Nepal, trước khi đi Ấn Độ, mọi người đều có tìm hiểu trước, bởi vì chất lượng cuộc sống và điều kiện sống của Ấn Độ khác với nước Mỹ. Nước ở đó cũng không thể dùng để uống, không giống Seattle, nước máy ở Seattle chỉ cần mở ra là có thể uống được, ở Ấn Độ thì nước đó không thể uống được, cho nên mọi người đều mang theo nước suối. 

Điều kiện sinh hoạt ở đó rất bẩn, nghe nói có bệnh sốt rét, thổ tả, đủ loại bệnh kinh dị. Những người muốn đi không ai bảo ai mà 17 trong số 18 người đều đi tìm bác sĩ để tiêm phòng, tiêm sáu mũi, bao gồm uốn ván, bạch hầu, dịch hạch, nói chung cái gì cũng tiêm hết, mỗi người đều tiêm sáu mũi, chỉ có một người không tiêm, người đó chính là Sư Tôn.

Sư Tôn không tiêm, vì sao tôi không tiêm nhỉ? Có phải là vô ngại không? Có phải là không có chướng ngại gì, ngay cả bệnh cũng không thể gây chướng ngại cho tôi, có phải là như vậy không?

Thật ra trong lòng tôi cũng cảm thấy lo lắng, rất muốn đi tiêm. Tôi rất muốn đi tiêm, nhưng tôi bình sinh có một căn bệnh, đó là tôi không thích tiêm, trong đời tôi tôi từng phải tiêm chính là lúc làm lính, kiểm tra sức khỏe thì phải tiêm. Mỗi khi tôi ốm thì hầu hết là đều không tiêm. Khi có bệnh gì đang phổ biến tôi cũng không tiêm. 

Có phải là vì có cách nghĩ này cho nên mới không tiêm không? Không phải, mà là tôi có cách nghĩ về vô ngại, cộng thêm tôi không thích tiêm, cho nên tôi mới không đi tiêm. Trong số tất cả mọi người chỉ có một người không tiêm, chính là tôi. Và cũng chỉ có một người không bị ốm, cũng là tôi. Những người khác hầu hết đều gặp sự cố lớn nhỏ, chỉ có một mình tôi là không sao cả, đây có phải là vô ngại không? Thật lòng mà nói thì cũng không phải là vì vô ngại.

Tôi có một cách nghĩ: giả sử bị ốm ở Ấn Độ, ở Nepal, thật sự mắc phải bệnh gì đó, cách nghĩ của tôi khác với mọi người, thật sự bệnh đến thì tôi cho rằng đây cũng là tu hành, bởi vì khi có bệnh trên người, bạn có thể từ bệnh này mà quan sát, cho thấy thân thể bạn vẫn còn có nghiệp chướng, là nghiệp chướng của bản thân bạn.

Hơn nữa trong quan niệm của tôi, bệnh cũng có điểm tốt, bệnh không hoàn toàn là xấu. Bệnh có điểm tốt gì? Khi một người mắc bệnh, tâm trí của họ sẽ tương đối định. Khi một người không có bệnh, khi thân thể khỏe mạnh, tâm trí của họ giống như ngựa chạy, tối nay tôi muốn đi đâu, ngày mai tôi có kế hoạch làm việc gì, sau đó là muốn đạt được lợi gì, danh gì, ham muốn rất cao. Khi bạn bị bệnh rồi, những ham muốn của bạn sẽ hoàn toàn lắng xuống, bởi vì bạn còn không thể cử động được, bạn còn có thể có ham muốn gì đây?

Khi ham muốn lắng xuống, trong lòng bạn sẽ định, bạn sẽ suy ngẫm cái gì mới là thứ bạn cần làm, cái gì mới là việc thật sự có ý nghĩa lúc này mới hiển hiện ra. Khi một người mắc bệnh nặng, ham muốn của người đó cũng bằng 0, chẳng còn ham muốn gì, sống như một Thánh hiền. Bởi vì bạn mắc bệnh nặng, rơi vào hoàn cảnh không thể bước nổi một bước, không thể đi làm việc xấu, thân thể thật sự là thanh tịnh, khẩu cũng thanh tịnh, những điều nói ra cũng là lời hay ý đẹp.

Bởi vậy nói rằng, khi thân thật sự thanh tịnh là khi nào? Là khi bạn nằm viện, lúc này khẩu đương nhiên cũng thanh tịnh, hơn nữa ý niệm của bạn có thể rất định, lúc này chú ngữ mà bạn niệm, kinh Phật mà bạn niệm thật sự có thể đi vào nội tâm bạn, chính là vào lúc này. 

Vì thế, bệnh đến không chỉ là tiêu nghiệp chướng, mà còn là để cho bạn thật sự nhận thức được về tu hành. Tôi nghĩ như vậy cho nên mới vô úy, vô ngại, có bệnh cũng không sao cả, bệnh đến tức là muốn tôi tu hành, tức là tiêu nghiệp chướng của tôi, là để cho tôi tiến vào trong cảnh giới càng “định” hơn. Sự giày vò của nhục thể có đôi khi là như vậy, để tâm bạn càng thêm kiên định, thật sự thân khẩu ý thanh tịnh, đây chính là triết học vô ngại của tôi. 

Om mani padme hum. 

13/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 179. Nói về vô ngại (2)

Chúng ta lại nói về vô ngại. 

Ngay từ sớm tôi đã viết ra “triết học vô ngại”, đây là một kiểu tư tưởng của bản thân cuộc đời con người, cũng là tư tưởng của tôi.  
Chúng ta lại lấy ví dụ: khi chúng tôi đến Ấn Độ, Nepal, bầu trời Ấn Độ có hai chiếc máy bay, một cái thì muốn cất cánh, một cái thì muốn hạ cánh. Bầu trời rộng lớn như vậy, nhưng đúng là oan gia ngõ hẹp, chúng lại đâm vào nhau. Bạn nói xem, xe chạy trên đường bằng đâm vào nhau, chẳng qua xe sẽ bị hỏng, người có khi vẫn ổn cả, còn máy bay trên bầu trời hễ đâm vào nhau thì người rơi xuống, trừ phi trên người bạn có đeo sẵn dù, bằng không thì sẽ nát bét hết cả, thịt nát xương tan, toàn bộ đều chết hết.

Người ta hỏi tôi: “Có sợ không?” Khi ấy chúng tôi cũng rất căng thẳng, chúng tôi ở New Delhi, trong khi trên đường từ Jammu trở về Delhi, Thượng sư Liên Ninh đọc báo thì giật thót mình, suýt chút nữa là nhảy dựng lên, đúng lúc máy bay của chúng tôi phải bay trở về New Delhi. Oa! Rất nhiều người rất căng thẳng, người nhà của Thượng sư Cao ở Malaysia vừa đọc báo xong thì lập tức gọi điện thoại để kiểm tra, điện thoại từ Malaysia gọi đến để kiểm tra danh sách hành khách, rất căng thẳng. Khi ấy mỗi người chúng tôi đều đang ở trên máy bay. 

Triết học vô ngại là như thế này: cuộc đời có rất nhiều tai nạn lớn nhỏ, đếm không xuể, những tai nạn đều là đột ngột, chớp mắt một cái đã xảy ra rồi, như là máy bay đâm nhau, bạn có cách gì không? Cho dù có sức mạnh lớn đến đâu bạn cũng đều chẳng có cách. Vận mệnh của máy bay và những nhân viên phục vụ, bạn ngồi trong đó bạn chịu theo vận mệnh của máy bay, bạn chẳng có cách nào kiểm soát được.

Đối với những việc bất ngờ, trong triết học vô ngại nói rằng cũng không cần căng thẳng. Ví dụ lấy Sư Tôn để nói, người học Phật, tự mình đã nắm chắc việc vãng sinh rồi, trong chớp mắt là vãng sinh, rất nhanh đúng không! Quá thoải mái phải không? Đều sẽ không trải qua bệnh khổ, cũng không phải trải qua thế nào đó, chớp mắt một cái là hết rồi, là vãng sinh rồi, quá tốt. *Good! Problem is ok.* Như thế này là tốt nhất, là nhanh nhất. Có đau khổ không? Vài giây là xong hết! Chớp mắt một cái, giống như tiêm, thế là xong, thế là kết thúc rồi. Thế này là tốt mà! Kiểu tai nạn này, tôi cho rằng trong triết học vô ngại của chúng ta nói, Phật Bồ Tát Bổn tôn luôn luôn trụ đỉnh, trong chớp mắt, việc ngoài ý muốn xảy ra, lập tức tiếp nhận, lập tức vãng sinh, tôi không sợ, không căng thẳng.

Trong cách nghĩ của tôi, tôi không lo lắng hay sợ hãi, có người hễ lên máy bay là bị chứng sợ máy bay, nhìn xung quanh xem những người kia có bộ mặt nguy hiểm không, xem những hành khách khác có xui xẻo giống mình không, nhìn một hồi lâu, dường như họ cũng có vẻ may mắn, mới yên tâm ngồi xuống, còn hễ nhìn thấy khuôn mặt nào tái xanh là bắt đầu giống như họ, đây là chứng sợ máy bay. 

Tôi nói với kiểu người này rằng “ngày ngày đi máy bay”, đi cho đến khi không sợ nữa, việc gì càng sợ thì bạn càng phải làm, sau cùng bạn sẽ không sợ nữa. Có một cách ngược lại, đi máy bay mãi thì bạn sẽ không sợ nữa, giống như ngồi trong chiếc nôi vậy, sẽ chẳng sao cả.

Triết học vô ngại là thế này, xảy ra tai nạn bất ngờ, mau chóng vãng sinh. Tôi vừa lên máy bay là lập tức niệm Phật, quán tưởng Phật trụ đỉnh, trì chú, biểu thị Phật và tôi hợp nhất, làm quán tưởng như vậy xong thì tôi trì chú, đã kiên cố rồi thì bạn còn sợ cái gì nữa? Đi thì đi thôi. Số đã định rồi thì có sao đâu, đây chính là vô ngại, không có chướng ngại gì cả.

Ấy, có người muốn hại tôi, trên thế giới này chuyện hại tới hại lui rất nhiều, có người nói: “Có người muốn hại Sư Tôn, nói không chừng Sư Tôn sẽ gặp họa tù tội, phải trừ khử hắn ta đi.” Ngại gì! Chúng ta xem nơi đó là phòng bế quan, đây cũng là triết học vô ngại. Giả sử bạn có chướng ngại, rất nhiều nơi bạn không thể đi, còn hôm nay bạn đã vô ngại rồi thì bất kì nơi nào bạn đều có thể đi.

Bế quan, đóng cửa ở trong phạm vi nhỏ, đây là một kiểu tu hành rất tốt, có thể khiến cho thân, khẩu, ý thanh tịnh. Ở trong nhà lao, thân thể không thể đi làm việc xấu, chân không thể bước ra cửa, giữ được mồm miệng tránh khẩu nghiệp, ý niệm thanh tịnh, không có những thứ hình sắc bên ngoài lôi kéo bạn, coi như bế quan luôn, đây cũng là tu hành.

Bạn có được cách suy nghĩ này thì chính là vô ngại, không có chướng ngại gì cả, bạn sẽ quan sát được mọi thứ vô cùng rõ ràng, minh bạch, cuộc sống của bạn có thể tự chủ nhậm vận, đây chính là vô ngại. Học Phật học đến cảnh giới rất cao rồi, tự nhiên bạn sẽ đạt đến cảnh giới vô ngại.

Đến được cảnh giới vô ngại rồi, bạn sẽ có thể tự chủ, có thể nhậm vận, tất cả đều không hề gì, tất cả đều là tùy bạn làm, bất kể như thế nào bạn cứ đi là sẽ đúng, hơn nữa, đối với tất cả sự vật trên thế gian, bạn nhìn rất rõ ràng minh bạch, bạn có thể tự chủ, nhậm vận hành vi của mình, đây chính là triết học vô ngại.

Đây chính là một thành tựu trên con đường tu hành của bạn, lúc này bạn đã siêu việt thế tục thông thường, hoàn toàn siêu việt, mọi người hãy lĩnh hội điều này cho thật tốt.

Om mani padme hum. 

13/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 180. Nói về tu pháp (1)

Hôm nay nói về tu pháp.  
Tu pháp Mật giáo có một bộ nghi quỹ thực tu, thời gian thì có nghi quỹ dài, có nghi quỹ ngắn, nếu bạn làm từ tốn thì thời gian sẽ dài, giả sử bạn làm một cách tinh giản thì thời gian mất khoảng nửa tiếng. Cho nên lấy Chân Phật Mật Pháp của chúng ta để nói, ví dụ lần này chúng tôi đi đến Thượng Mật Viện ở Dharamshala Ấn Độ xem người ta tu pháp, họ tu một đàn pháp, chúng tôi hỏi họ thời gian bao lâu, họ nói bảy tiếng đồng hồ, *seven hours*, còn một đàn pháp của chúng ta chỉ có nửa tiếng. 

Bạn xem họ làm triệu thỉnh, hoặc phát bồ đề tâm, họ làm rất kĩ rất chi tiết, chỉ riêng triệu thỉnh thì niệm văn triệu thỉnh bảy lần, không chỉ niệm văn triệu thỉnh mà còn phải đứng dậy, trì chú kết thủ ấn, làm quán tưởng, rất nghiêm chỉnh thỉnh Phật Bồ Tát đến, chỉ riêng triệu thỉnh thôi họ đã làm hết cả nửa tiếng rồi, tương đương với Chân Phật Mật Pháp của chúng ta tu một đàn pháp.

Phát bồ đề tâm, không phải là niệm xong văn phát bồ đề tâm là phát bồ đề tâm xong, không những phải niệm văn phát bồ đề tâm mà còn có chú ngữ, có văn, phải niệm, cứ thế niệm, niệm, tốn thời gian rất dài, còn có rất nhiều nghi quỹ, bất kì bước nào cũng đều rất dài, niệm kinh văn lại càng dài hơn.

Lúc này chúng tôi cũng rất hiếu kỳ hỏi họ: “Tu pháp bảy tiếng đồng hồ, giả sử có một số người không nhịn được thì phải làm sao?” Trong khi làm pháp hội bảy tiếng đồng hồ, có người chưa đến nửa tiếng đã đứng dậy đi *restroom* <span className="note-blue">[nhà vệ sinh]</span>, ngồi xuống chưa được bao lâu lại bắt đầu thấy “mót”, lại đi *restroom*, vậy họ phải làm sao?

Geshe Thiên Thanh nói thế nào, ông ấy nói: “Gạch bỏ tên, không có tư cách tham gia pháp hội tu pháp thì gạch bỏ tên. Nói chung, Lama hòa thượng trong khi làm pháp hội không có chuyện đi vệ sinh, tinh thần tập trung vào việc tu pháp thì bạn sẽ quên hết tất cả, căn bản là không nghĩ đến việc đi tới nơi đó, sẽ không nghĩ đến nó.”

Nghe ông ấy nói vậy, bạn có thể thử nghĩ một chút: nhìn chung mà nói, người trẻ tuổi tương đối không có sự phiền toái này, người cao tuổi có khi một đêm phải dậy một lần là điều rất bình thường, cũng có khi hai lần, ba lần. Bình thường vì sao buổi tối không cần phải đi tiểu? Chủ yếu cũng là vì sự tập trung vào giấc ngủ, chỉ một chốc là sáu, bảy tiếng đồng hồ đã trôi qua, cho nên không cần đi tiểu.

Giả sử bạn học được cách tập trung tinh thần, bạn cũng có thể tập trung vào kinh điển nên sẽ quên mất nhu cầu đi tiểu, vì thế trong Mật giáo, các Lama hòa thượng làm pháp hội bảy tiếng đồng hồ, mỗi người đều học công phu nhịn tiểu. Trên thực tế chúng ta cũng có thể làm như vậy, đây là một cách luyện tinh thần rất chuyên nhất, đừng nghĩ đến cái gì khác, bạn sẽ quên hết tất cả. Giả sử bạn không thể tập trung tinh thần, bạn sẽ nghĩ đến một số chuyện gì đó thì bạn sẽ gặp phải hiện tượng “mót”, vậy thì bạn nhất định phải đi.

Bởi vậy giả sử mọi người học Tạng mật, đến Dharamshala, đến Nam Ấn Độ, đến Tây Tạng, đầu tiên phải học được công phu nhịn tiểu, một khi đã vào pháp hội bạn không thể tùy tiện đứng lên. Chúng ta bây giờ chỉ có nửa tiếng là rất *easy*, rất đơn giản, tương đối hợp với thời đại hóa. Tu pháp đương nhiên pháp ở mỗi địa phương là khác nhau, nhưng cũng không tách rời mấy thứ, ví dụ làm cúng dường, vì sao phải làm cúng dường? Cúng dường chính là cung kính, biểu thị tâm ý của bạn. Có đôi khi bạn sẽ mất đi tâm cung kính, bạn làm cúng dường chính là vì không để cho tâm cung kính của mình bị mất đi.

Trong Mật giáo làm cúng dường, ví dụ chúng ta niệm chú thì tương đối đơn giản, tương đối ngắn, chúng ta kết ấn cúng dường, niệm chú cúng dường, dùng quán tưởng biến hóa. Họ ở Thượng Mật Viện làm cúng dường, tôi tin rằng cũng mất một tiếng đồng hồ, làm một phần cúng dường đã mất một tiếng đồng hồ rồi, mỗi loại cúng dường đều rất kĩ, ví dụ bát cúng, làm đại cúng dường ba mươi bảy món cúng, mỗi một loại cúng dường đều chậm rãi quán tưởng, chậm rãi niệm chú, chậm rãi kết ấn, cho nên thời gian của nó sẽ kéo ra rất dài. Ba mươi bảy món cúng đều phải quán tưởng, đều phải niệm chú.

Hôm nay chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp là may mắn cho mọi người. Trong Tạng mật, mỗi thủ ấn đều phải quán tưởng ra, mỗi chú ngữ đều phải biến hóa thành. Đây cũng là chỗ hợp với thời hiện đại của Chân Phật Mật Pháp.

Hôm nay giảng tới đây.

16/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 181. Nói về tu pháp (2)

Chúng ta lại nói về tu pháp.

Trong nghi quỹ tu pháp, không chỉ có cúng dường mà còn có lễ bái, triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát đến để lễ bái. Lễ bái thể hiện sự vô cùng cung kính đối với chư Phật Bồ Tát, đồng thời thể hiện sự khiêm nhường cung kính của bản thân, biểu hiện một sự cầu nguyện vô cùng thành kính, một sự phát bồ đề tâm.

Chân Phật Mật Pháp đại lễ bái dùng quán tưởng đại lễ bái, dùng phương pháp quán tưởng để thực hiện, bởi vì mọi người cùng tu nên dùng quán tưởng; ở Thượng Mật Viện Dharamsala làm đại lễ bái, không chỉ có ba lạy. Thỉnh một vị đến, bạn niệm: "Ôm a-ra-pa-cha-na-đi" thỉnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến, rồi quán tưởng ngài tiến vào, lên pháp tọa, sau đó bắt đầu làm đại lễ bái đối với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, làm xong lại xếp hàng, lại triệu thỉnh.

Thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát, "Ôm ma-ni pê-mi hùm" tụng tụng tụng... tụng xong, tốt! Quan Thế Âm Bồ Tát được thỉnh lên pháp tọa, lại làm đại lễ bái... Thỉnh Đại Thế Chí Bồ Tát, thỉnh Vô Tận Ý Bồ Tát, mỗi lần thỉnh một vị đều làm đại lễ bái, cho nên một loại đại lễ bái cũng mất một tiếng đồng hồ, thời gian cũng rất dài như vậy, hơn nữa tỉ mỉ cẩn thận, không bỏ sót điều gì, các vị Phật Bồ Tát liên quan đều được thỉnh, một lần thỉnh là rất nhiều vị, bạn lạy đến choáng váng hoa mắt, vì vậy một đại lễ bái mất một tiếng đồng hồ, đây cũng là một biểu hiện của sự cung kính, ngưỡng mộ, tự đặt mình ở vị trí thấp kém, trong nghi quỹ đều có.

Khi tất cả chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành đều đã được thỉnh đến, đã triệu thỉnh xong, cũng đã làm đại lễ bái và cúng dường xong, lúc này phải niệm chú tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta ya. Na-mô ta-mô ya. Na-mô sâng-kya ya." Ý nghĩa của việc niệm chú này là gì? Chính là quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư, quy y tất cả.

Trong tu pháp cần phải niệm chú tứ quy y, bởi vì chúng ta thường hay quên mất việc quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư. Bình thường khi không tu hành tức là đã vi phạm ý chỉ của Phật, vi phạm Phật pháp, vi phạm thân phận của người xuất gia, vi phạm sự cung kính Kim cương Thượng sư. Vì vậy niệm chú tứ quy y chính là để thường xuyên nhắc nhở bạn rằng bạn là người quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư. Điều này nhất định phải làm.

Khi tôi cùng làm pháp hội với Ba Mễ Cường Ba <span className="note-blue">[Bomi Rinpoche]</span>, Thố Như Thứ Lãng <span className="note-blue">[Khro-ru Tshe-rnam]</span> Rinpoche và các vị khác, trong mỗi đàn pháp họ đều thực hiện pháp mặc giáp hộ thân và pháp phòng ma. Họ dùng đầu lâu người, tay cầm chày kim cang, việc kết giới cũng đều phải làm.

Có người nói rằng: "Tôi không cần làm mặc giáp hộ thân, tôi chính là Phật." Họ cho rằng mình đã thành Phật rồi, tôi chính là Phật tính. Đương nhiên ý nghĩa sâu xa nhất của điều này không sai, khi Phật tính vốn có của bạn hiển lộ, bạn chính là Phật. Nhưng khi Phật tính của bạn chưa hiển lộ, khi bạn chưa khai ngộ, bạn vẫn còn là phàm phu! Bạn nhất định phải làm pháp phòng ma và mặc giáp hộ thân.

Mặc giáp hộ thân không chỉ làm lúc tu pháp, ngay cả khi đi vệ sinh cũng phải búng tay, tại sao phải búng tay? Để biểu thị rằng tôi muốn đi vệ sinh, bên trong có những thứ xin mời ra ngoài, hành giả sắp vào nhà vệ sinh rồi, búng một cái tay là có ý nghĩa như vậy, cho nên đi vệ sinh có chú ngữ nhà vệ sinh, đi đâu cũng có chú ngữ.

Khi hành giả đi ngủ cũng phải kết giới, khi tu pháp phải mặc giáp hộ thân, khi đi xa phải cầu xin Hộ pháp đi theo bên mình, khi đến bệnh viện thăm bệnh nhân, khi đi giúp người tụng kinh làm công đức, đều phải mặc giáp hộ thân, không thể nói không cần mặc giáp hộ thân, bạn tưởng rằng mình đã cao siêu lắm rồi, kiêu ngạo tự mãn, không được đâu, bởi vì Phật tính của bạn vẫn chưa hiển lộ. Nếu Phật tính của bạn đã hiển lộ, xung quanh bạn đều là Hộ pháp, tự nhiên sẽ phòng ma rồi. Vì vậy, vẫn phải mặc giáp hộ thân.

Chúng ta biết rằng, khi tu pháp cần phải trì tụng chú ngữ, phải quán tưởng, và cũng phải nhập Tam ma địa. Nhập Tam ma địa chính là thống nhất tinh thần, chính là định, từ định mới có thể đạt được trí tuệ Như Lai, Phật huệ mới hiển hiện ánh sáng nơi thân bạn, sẽ khai mở chủng tử thức của chính bạn, khai mở Phật thức của bạn, vì vậy, nhập Tam ma địa là rất quan trọng, đây thuộc về phần chính hành. Những phần trước đều thuộc về tiền hành; trì chú, quán tưởng, nhập Tam ma địa đều là chính hành.

Vừa rồi chúng ta cũng đã tu một đàn pháp, trong quá trình tu pháp, nếu bạn có quên mất nghi quỹ nào, hoặc tinh thần không được thống nhất, vọng niệm phiền phức, nghĩ đến nơi khác, đây chính là có sự thiếu sót. Lúc này bạn cần niệm chân ngôn Kim Cang Tát Đỏa, tất cả những sai sót của bạn, bởi vì bạn đã niệm Bách tự minh chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa, tất cả đều được bù đắp lại, tất cả công đức tu hành quy về tính Không, vì vậy chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa chính là một loại chân ngôn bổ khuyết, nó có thể bù đắp những thiếu sót của bạn.

Chúng ta tu tập như vậy mỗi ngày, tất cả đều có ý nghĩa, phải phát tâm bồ đề, phải cung kính, phải cúng dường, phải làm đại lễ bái, phải niệm tứ quy y, phải làm pháp mặc giáp hộ thân, phải đầy đủ tứ vô lượng tâm, tất cả đều có ý nghĩa của nó.

Còn Tam ma địa chính là thống nhất tinh thần, từ định mà cầu được trí huệ Như Lai, đó chính là mục đích tu pháp của chúng ta. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum. 

16/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 182. Quán tự tại (1)

Hôm nay chúng ta nói về quán tự tại. Đây là ba chữ đầu tiên trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không".

Ba chữ "quán tự tại" này có cả phần lý thuyết và phần thực hành. Quán tự tại nói ra chính là diệu quan sát, diệu quan sát thuộc về phần lý thuyết.

Hai chữ "tự tại" rất dễ hiểu nhưng lại rất khó thực hiện, rất dễ nắm bắt nhưng rất khó thực hành. Tự tại mà tôi đề cập đến nên thuộc về hai loại tự tại:

Một loại là "Không tính tự tại", khi cảnh giới của bạn đạt đến một mức độ nào đó, bước vào Không tính, trong đó không có sự phân biệt, không có sự khác biệt, cảnh giới không có thứ bậc, tất cả đều bình đẳng. Lúc này chính là Không tính tự tại, cũng chính là không có khổ lạc, khổ tức là lạc, lạc tức là khổ, trong cảnh giới khổ lạc đều bình đẳng như nhau thì gọi là Không tính tự tại.

Một loại là "Pháp tính tự tại", Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân; trong đó Pháp thân có thể tự tại, Báo thân không nhất định được tự tại, Ứng thân càng không thể tự tại. Tại sao Pháp thân có thể tự tại? Bởi vì Pháp thân và Không tính là một, cho nên bình đẳng không có sự phân biệt, vì vậy có thể tự tại.

Trong Mật giáo khi nhìn vào Báo thân Phật, tất cả chư Phật trong đàn thành đều là Báo thân Phật. Khi đến Ấn Độ, Nepal xem nhiều tượng Phật, đều thấy đứt tay, đứt chân, không có mũi, đó là Báo thân Phật đấy! Tại sao lại đứt tay, đứt chân, không có mũi? Bởi vì sau khi người ngoại đạo vào Ấn Độ, họ đã phá hủy tượng Phật, tượng thờ, ngay cả tượng điêu khắc cũng không thoát khỏi.

Trong Mật giáo khi nhìn vào mandala, cũng được xem là đàn thành Báo thân. Tại Thượng Mật Viện Dharamsala, chúng tôi đã được thấy mandala cát Mật Tích Kim Cang. Đức Dalai Lama đã truyền pháp tại đó, truyền Mật Tích Kim Cang, mandala cát được tạo nên từ cát nhiều màu sắc.

Mật Tích Kim Cang mandala là thứ không cho người khác xem, rất thiêng liêng, được đặt trong tủ kính bốn mặt, xung quanh được phủ kín bằng nhiều lớp vải. Chúng tôi vì là khách đặc biệt nên được mở ra cho xem mandala cát Mật Tích Kim Cang.

Phương pháp của họ là như thế này: triệu thỉnh Pháp thân của tính Không vũ trụ vào mandala cát Mật Tích Kim Cang, Kim cương Thượng sư dùng pháp của chính mandala để quán đảnh cho tất cả mọi người. Khi Ứng thân Phật, Báo thân Phật, Pháp thân Phật hợp nhất thì mới làm quán đảnh, Pháp thân nhập vào Báo thân, Báo thân và Pháp thân nhập vào Ứng thân, từ Ứng thân để làm quán đảnh cho mọi người.

Mandala cát chính là Báo thân, sau khi làm quán đảnh xong, mandala cát được cúng dường cho Long thần, tức là đổ mandala cát xuống biển, thỉnh mời vào biển dâng cho Long tộc.

Cho nên vì sao mandala cát không được tự tại? Bởi vì có thành, có trụ, có hoại, có không, nên sẽ không tự tại. Báo thân không tự tại, Ứng thân càng không tự tại, Ứng thân nếu bị cảm cúm, nghẹt mũi thì làm Bảo bình khí không tự tại; Ứng thân Phật nếu bị trẹo chân thì đi đứng cũng không tự tại; họng bị khàn thì không thể thuyết pháp.

Ứng thân cũng không tự tại, cho nên có cái "thân" đều không tự tại, duy nhất tự tại chính là thuộc về tự tại của "Không tính" và tự tại của "Pháp tính", những thân khác rất khó đạt được tự tại, điều này nói ra thuộc về phần lý thuyết.

Quán Tự Tại Bồ Tát nên bao gồm một cái là "quán" - diệu quan sát, một cái là "chiếu" - chính là thực tu, thực hành.

Hai chữ "quán chiếu" thường thấy trong kinh điển Phật giáo, quán chính là diệu quan sát, chiếu chính là thực hành, cũng có thể nói là phóng quang.

Rất nhiều người nói về Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh, phần lớn mọi người đều dịch thành Quán Thế Âm Bồ Tát, cũng có người nói là Quán Tự Tại Bồ Tát, tôi cho rằng đây nên là danh xưng chung cho tất cả các vị Bồ Tát có thể tự mình quán chiếu tự tại, các ngài đều đã chứng ngộ năm uẩn đều không.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chính là "ngũ uẩn"; "giai không" chỉ tất cả đều biến hóa quy về Không tính, thân người có ngũ uẩn - sắc, thọ, tưởng, hành, thức, trong sự diệu quan sát chân chính và phóng quang, ngũ uẩn đều là không.

Đây đều là về mặt lý thuyết, trong kinh điển Phật giáo đều nói rất rõ ràng về mặt lý thuyết: Không tính là gì, Pháp thân là gì, tự tại là gì, đều rất rõ ràng, hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

17/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 183. Quán tự tại (2)

Chúng ta hãy nói thêm về quán tự tại.

Quán tự tại có cả phần lý thuyết và phần thực hành. Về mặt lý thuyết chính là diệu quan sát. Nhiều người đều có thể giảng về lý thuyết, chỉ cần là những vị Tiến sĩ Phật học, Giáo sư Phật học nghiên cứu Phật pháp, họ đều có thể giảng về lý thuyết, nhiều vị đại pháp sư đều giảng giải Tâm Kinh rất hay.

Bởi vì Tâm Kinh là một bộ kinh điển khai ngộ, về mặt lý thuyết, mọi người chỉ cần hiểu được Tâm Kinh là đã khai ngộ, trên lý thuyết là đã khai ngộ.

Nhưng trong sự quán chiếu thực tế, "chiếu" phải là phóng quang, nếu không thể phóng "quang", chỉ có lý thuyết về quang thì vô dụng, chỉ khi nào bạn có thể phóng quang mới có thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không.

Cho nên, dù bạn có thể quan sát tự tại, nhưng nếu không thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không thì cũng vô dụng, vì vậy chữ "chiếu" phải là thực tiễn và thực tu, tức là phải thực hành.

Trước đây sư phụ dạy tôi một pháp gọi là “tương ứng hư không”, muốn vào được tính Không thì phải hiểu phương pháp tu hành. Đây là phương pháp thực tu, tôi thường nói, khi tu pháp bạn hãy lên đỉnh núi cao, nhìn vào hư không màu xanh, trong thời tiết không một gợn mây, ngồi trên đỉnh núi cô đơn, hư không như một vòng tròn màu xanh. Trong trạng thái bầu trời quang đãng không mây, hãy đưa tâm về với hư không, đừng nghĩ ngợi gì cả, cảnh bên ngoài chính là hư không, tâm không còn ý niệm gì, sau đó hai mắt nhìn vào bầu trời trong xanh không mây, tâm tự nhiên hòa vào bầu trời không mây, đây là một phương pháp tu hành quán ngoại cảnh.

Còn bên trong thì sao? Bên trong do ảnh hưởng của ngoại cảnh, khi đưa tâm về với không, rất dễ khiến nội tâm của bạn phát sinh quang minh, điều này có ghi chép trong kinh điển. Trong “Quảng Bản Mật Tục” có đề cập, khi ngoại cảnh hoàn toàn hóa thành hư không, tâm bạn về với hư không, lúc đó ánh sáng nội tâm của bạn sẽ phát sinh.

Kinh điển Mật giáo có đề cập điểm này: bên trong phóng quang ở đâu? Chính là bạch mạch tâm quang, tức là ánh sáng Tâm luân.

Tâm quang sẽ phát sinh, bình thường chúng ta tu pháp, trong ngũ luân, nâng lửa lên, đưa bồ đề tâm nguyệt dịch xuống Tâm luân, cùng chuyết hỏa dung hợp với nhau, khi tâm của bạn khai mở, bạch mạch tâm quang sẽ hiện ra, đây là một trọng điểm.

Bình thường bạn có tu tập, kết hợp với việc lên đỉnh núi cao, đưa tâm về với hư không, tâm quang lại hiển lộ, chính là chuyết hỏa thăng lên, bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống, dung hợp khai mở Tâm luân, khiến ánh sáng màu trắng hiện ra, điểm này rất quan trọng.

Thường ngày có tu tập, sự kết hợp của ánh sáng bên ngoài và bên trong chính là Mật, vậy Mật là gì? Có bốn hiện tượng:

Một hiện tượng là "định" - khi tu pháp trên đỉnh núi phải ngưng thần, tâm phải định, định vào hư không, tinh thần tập trung chính là định.

Tiếp theo là "rộng" - bạn phải cảm nhận được vũ trụ rộng lớn vô tận vô biên, không bị thân thể của mình ràng buộc, thân thể không thể trói buộc bạn, như thể bạn đã hòa vào hư không.

Tâm ở trong hư không, thân thể cũng ở trong hư không, không có bất kỳ chướng ngại ràng buộc nào, vừa phải rộng, lại phải lỏng.

“Lỏng” là gì? Lúc này đừng vì tập trung tinh thần và ngưng thần mà cảm thấy căng thẳng, phải rất thư thái, thản nhiên thả lỏng, cần đạt được trạng thái vừa ngưng thần vừa thả lỏng, điều này cần phải điều chỉnh cho vừa phải, vừa rộng, vừa lỏng, lại vừa rất định.

Bí quyết cuối cùng là "hiển" - hiển lộ ánh sáng của bạn, khi tâm quang của bạn phát lộ, chính là phải tương ứng với hư không, ở bên ngoài, ở tâm, ở hư không, ở bên trong, ánh sáng ở Tâm luân của bạn tự nhiên hiển lộ ra.

Trong Mật giáo có thể nói bốn chữ là: "định", "rộng", "lỏng", "hiển". Pháp tu này, nhìn bề ngoài thì không có gì, chỉ là ngồi trên đỉnh núi thôi! Vận chuyển chuyết hỏa và bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống, rồi khế hợp với bốn bí quyết này, chỉ đơn giản vậy thôi.

Nhưng bạn không biết rằng việc chuyết hỏa thăng lên, bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống đã phải tốn rất nhiều công phu rồi, việc đưa tâm lên đặt vào hư không cũng phải tốn rất nhiều công phu.

Khi kết hợp phần một và phần hai lại với nhau cũng là một công phu, nhìn bề ngoài thì có vẻ rất dễ dàng, rất đơn giản, nhưng thực ra đây là một pháp Đại Viên Mãn.

Phương pháp tu hành Đại Viên Mãn là như thế này - tâm ở trong hư không, ánh sáng nội tâm hiển lộ, hai phần này kết hợp chặt chẽ với nhau, ngay lập tức bạn hiển hiện ra cảnh giới đốn siêu, đó chính là Đại Viên Mãn.

Lúc đó, sự lĩnh ngộ của bạn là vô biên vô tận, sự thực tu quán tự tại chính là như vậy.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

17/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 184. Phẩm vị của hành giả (1)

Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về "phẩm vị của người tu hành".

Hai chữ "phẩm vị" hiện nay rất thịnh hành, ai cũng đề cao phẩm vị, và những người tu hành chúng ta cũng có phẩm vị của người tu hành. Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, mặc dù một hành giả sống cuộc sống thanh tịnh, nhưng trong việc tu hành hàng ngày của họ thì nhìn có vẻ rất khô khan.

Ví dụ như ở tu viện Drepung ở Nam Ấn Độ, khi quan sát cuộc sống tu hành của các vị Lama, họ đều có thời khóa biểu cụ thể: ăn sáng lúc 6 giờ 30, ăn trưa lúc 11 giờ 30, ăn tối lúc 5 giờ 30. Thức ăn rất đơn giản, bữa sáng chỉ có bánh mì Ấn Độ và trà Ấn Độ, hoặc trà bơ và bánh mì Ấn Độ. Bữa tối chỉ có một bát cơm một món ăn, thức ăn vô cùng đạm bạc.

Cuộc sống tu hành, như đọc kinh điển, bàn luận kinh điển và tụng kinh trong giảng đường, ngày nào cũng như vậy, nhìn có vẻ rất khô khan vô vị. Vậy phẩm vị của các vị Lama như thế nào? Tôi không rõ lắm, bởi vì phẩm vị của mỗi người mỗi khác.

Còn bản thân tôi thì sao? Buổi sáng đến Mật Uyển viết một bài văn, trọng tâm là viết một bài văn. Buổi chiều thì sao? Đọc thư và trả lời những câu hỏi trong thư. Bốn giờ chiều cùng mọi người tu tập, khai thị, trong thời gian đó tôi cũng tụng kinh, mỗi ngày tôi đều phải tụng kinh. Tối về nhà trọng tâm là vẽ một bức tranh, đề thơ lên tranh, sau đó là đi ngủ (sleep on bed) ngủ trên giường, đó là một ngày của tôi.

Mỗi ngày đều sống cùng một cuộc sống như vậy, cứ thế đã trải qua mười bốn năm ở Mỹ, bạn nói hương vị nằm ở đâu? Viết văn, trả lời thư, tu pháp, khai thị, vẽ tranh, (everyday is the same) giống nhau như vậy, nhưng bạn phải tìm ra phẩm vị từ trong đó.

Phẩm vị của người tu hành, trong việc đọc kinh, xem kinh, tụng kinh đều có phẩm vị của nó. Ví dụ như việc viết văn, khi mỗi ngày viết một bài văn, những câu văn trong đó sẽ sinh ra hương vị, khi bạn viết một bài văn, sẽ có một sự cảm nhận, một cảm giác. Văn chương cần phải tín, đạt, nhã, phải có hương vị, có ý nghĩa của nó, phải có tác dụng giáo dục và khai phát, đó chính là hương vị.

Văn chương có khi rất đẹp, khi bạn cảm thấy đẹp, cảm nhận trong tâm là khác biệt, cho nên khi tôi viết được một bài văn hay, tôi rất hoan hỷ, trong lòng rất vui mừng.

Như hôm nay tôi viết "Mây trắng xứ Thiên Trúc", viết về phần kết thúc của Nam Ấn Độ, bài viết hôm nay là về thiền định trên tàu hỏa, từ Munger ngồi tàu đến một thành phố lớn, trong suốt quá trình đó tôi cứ suy nghĩ, và bài văn này cũng có hương vị riêng, đó chính là một loại phẩm vị!

Những liên tưởng trong toa tàu, thiền định trên tàu, đó là một loại hương vị, viết bài văn hôm nay chính là đang thưởng thức lại hương vị, hồi tưởng lại tình huống khi lên tàu ở Munger, từ những suy nghĩ lúc đó để cảm ngộ nhân sinh.

Nói về hội họa, bạn biết đấy, đôi khi bức tranh rất đẹp, và trong tranh cũng sẽ sinh ra hương vị của tranh, màu sắc của nó, ý cảnh của nó, cách thể hiện của nó, tất cả đều có hương vị riêng.

Khi chúng ta là người tu hành vẽ tranh, cũng có những điều sẽ hiển lộ ra, trong tranh còn có tranh, gọi là "họa trung hữu họa"; không phải là trong lời nói của tôi lại có ý khác. Tất nhiên khi khai thị thuyết pháp, đôi khi cũng có "thoại trung hữu thoại", nhưng ở đây là tranh vẽ. Trong tranh lại có tranh, đó chính là hương vị.

Viết thơ, đề từ: "Rêu trơn không vì mưa, thông reo chẳng cần gió". Bậc thềm trơn trượt không liên quan đến mưa, âm thanh của cây thông phát ra không liên quan đến gió, vậy liên quan đến cái gì? Lục Tổ nói rằng liên quan đến tâm, đó là do tâm bạn cảm nhận được.

Con người làm mọi việc đều dùng tâm, vậy tâm ở đâu? Ở trong văn chương, trong hội họa, tâm cảm nhận được bậc thềm trơn, tâm cảm nhận được tiếng thông reo, đó chính là phẩm vị của hành giả.

Nếu hành giả có thể hiểu được cách thưởng thức hương vị của vạn vật trong thế gian, bạn sẽ đạt được pháp vị trùng trùng, chứ không phải cuộc sống khô khan. Bạn thấy đấy, cuộc sống của tôi tuy đều đặn như vậy, nhưng bên trong đều có pháp vị.

Hôm nay nói đến đây.

18/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 185. Phẩm vị của hành giả (2)

Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục nói về phẩm vị của hành giả.

Cuộc sống của người tu hành rất có quy củ, sống một cuộc sống thanh tịnh, trọng tâm là: tụng kinh, đọc kinh, nghiên cứu kinh điển, tu pháp. Còn về Mật giáo thì có tu Chân Phật Mật Pháp, mọi người thấy tu Chân Phật Mật Pháp chỉ là kết ấn, trì chú, tụng kinh văn giống nhau, trì chú cũng vậy, chẳng có gì mới mẻ, quán tưởng cũng thế, sau khi học xong, ngày nào cũng làm công việc giống nhau thấy rất khô khan, làm lâu rồi, mệt mỏi rồi, đổi Bổn tôn đi! Có người còn muốn đổi cái khác! Đổi một kiểu mới đi! Cái này có hương vị gì? Trong pháp tu có hương vị gì?

Có người nói rằng, cứ kết ấn như vậy, trì chú như vậy, quán tưởng như vậy là có thể thành Phật, như vậy không phải là đùa sao? Nhiều người nói như vậy, nhưng họ không biết rằng, trong đó có hương vị, đó chính là phẩm vị của hành giả, bạn không biết rằng khi cảnh giới của bạn được nâng cao, bạn và vũ trụ thực sự là một, bạn sẽ cảm nhận được pháp vị trong tu pháp.

Nếu bạn ngồi không yên, đó chính là vì pháp vị của bạn chưa sinh khởi, bạn không thể cảm nhận được hương vị trong tu pháp. Như tôi chẳng hạn, ở Seattle Hoa Kỳ mười bốn năm, ngày nào cũng tu pháp, ngày nào cũng tĩnh tọa, ngày nào cũng trì chú, quán tưởng, nhập Tam ma địa, ngày nào cũng thiền định.

Bạn không biết rằng khi ở trong thiền định, khi dòng chảy pháp vũ trụ chảy vào thân thể bạn, bạn sẽ cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng, an lạc. Khi bạn phá vỡ ranh giới trong ngoài, bên trong và bên ngoài hoàn toàn hòa hợp làm một, lúc này cảm thọ là tối thượng, là niềm hoan hỷ, hạnh phúc không thể diễn tả được bằng lời. Điều này giống như uống nước, nóng lạnh tự biết.

Khi tu pháp mà sinh ra được pháp vị, dòng chảy pháp vũ trụ sẽ quán đảnh cho bạn, nghĩa là mỗi ngày trong lúc tu pháp, nó đều quán đảnh cho bạn, cho bạn thưởng thức một tách trà ấm áp nhất, một tách cà phê đậm đà, thơm ngon nhất.

Khi tu pháp mà sinh ra được hương vị, đó chính là một bữa ăn ngon, một bữa tiệc thịnh soạn! Một bữa tiệc thực sự! Bữa tiệc ở đây chính là bữa tiệc của pháp vị, chính là ở đây, vậy thì làm sao có thể khô khan? Làm sao có thể là phiền toái? Làm sao có thể là gánh nặng?

Vậy nên khi chúng ta tu pháp mỗi ngày, vừa ngồi xuống thân như núi, thân liền biến thành núi, rất kiên cố. "Bất động như núi, pháp lưu như nước", dòng chảy pháp quán đảnh của vũ trụ như nước chảy vào, thanh tịnh thân tâm của bạn, toàn thân bạn tràn đầy cam lộ, toàn thân đều là mỹ vị, đều là cam lộ, thân tâm bạn nhẹ nhàng như đang ở trong hư không.

Vào lúc này không khổ không vui, không có gì đau khổ, không có gì vui sướng, hoàn toàn không có ràng buộc, không có chấp trước, ngay lúc này đây bạn đang ở trong trạng thái ý thức nguyên sơ của vũ trụ. Cảnh giới nhập định ấy, sự thông đạt rộng lớn ấy, không phải người thế tục bình thường có thể cảm nhận được.

Vì vậy pháp tu của Mật giáo, tự thân nó có pháp vị trùng trùng, khi bạn nhất tâm tu pháp, bạn tự cảm nhận thân tâm mình hoàn toàn hòa nhập vào trong vũ trụ, đây là phẩm vị tối thượng.

Mỗi hành giả có hương vị riêng của mình, mỗi ngôi nhà có hương vị riêng của nó, kể cả trong vũ trụ, bạn đi đến đâu, hít thở một chút, mỗi nơi đều có hương vị không khí riêng của nơi đó.

Núi có hương vị của núi, hồ có hương vị của hồ (nước hồ có hương vị của nước hồ), gió có hương vị của gió, mưa có hương vị của mưa, vẽ tranh có hương vị của hội họa, tu pháp lại càng có pháp vị, đó chính là phẩm vị của người tu hành.

Khi bạn hiểu được phẩm vị của người tu hành, cuộc sống của bạn sẽ không còn khô khan. Chúng ta là hành giả tu hành ở đây, sống cuộc sống thanh tịnh, sống cuộc sống có quy củ, tất cả đều có hương vị, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống này vô cùng tuyệt diệu, rất phong phú, rất cao thượng, rất thanh tịnh.

Chúng ta cũng là người giữ giới, giữ giới luật thanh tịnh, giữ ngũ giới, bát quan trai giới, cũng có thể giữ Bồ Tát giới, có thể giữ xuất gia giới, tì kheo tì kheo ni giới, từ trong việc giữ giới cũng biết được trong giới cũng có hương vị. Khi bạn đạt được thanh tịnh, suối ngọt, cam lộ thực sự tuôn chảy ra từ sự thanh tịnh, đó chính là pháp vị.

Việc học Phật pháp không phải là khô khan, cũng không phải là phiền não. Khi đọc kinh, hãy đi vào trong kinh để thưởng thức ý nghĩa của kinh điển, bạn sẽ biết được trong kinh điển có hương vị của Phật kinh, rất thiêng liêng.

Đối với người tu hành, làm bất cứ việc gì cũng đều thanh tịnh, đều có hương vị, làm việc có quy củ, vừa có giác ngộ vừa có hương vị, đó chính là phẩm vị của người tu hành chúng ta.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

18/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 186. Điều kiện để làm Kim cương Thượng sư (1)

Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về "những điều kiện để trở thành một vị Thượng sư giỏi".

Mọi người đều biết, Mật giáo rất sâu rộng, để trở thành một Kim cương Thượng sư cần phải có rất nhiều điều kiện ưu tú. Ở đây tôi chỉ đề cập đến ba điều kiện, những điều kiện này không bao gồm tất cả, nhưng lại là những điều kiện cơ bản cần thiết. Mỗi vị Kim cương Thượng sư giỏi đều phải có đủ ba điều này, có thể nói ba điều này là nền tảng của một Kim cương Thượng sư.

Điều đầu tiên là phải uyên bác, làm một vị Thượng sư nhất định phải uyên bác, phải có kiến thức rộng rãi, cũng có nghĩa là bác học. Bởi vì một vị Kim cương Thượng sư phải dạy dỗ rất nhiều đệ tử, tùy theo căn cơ mà giáo hóa. Mỗi đệ tử có những đặc điểm riêng, bạn phải dùng phương pháp phù hợp để dạy họ, chứ không phải chỉ dạy một kiểu, vì vậy Kim cương Thượng sư nhất định phải rất uyên bác.

Ví dụ: Lần này tôi đến Ấn Độ và Nepal, đi thăm các vị tăng Lama tăng, tại Tu viện Drepung và nhiều tu viện khác, họ đều biểu diễn cho Sư Tôn xem việc biện kinh (tranh luận kinh điển), một người đứng, một người ngồi, người đứng hỏi, người ngồi trả lời.

Các vị tăng Lama học kinh bắt đầu từ Hiển giáo, không nhất thiết ngay từ đầu đã tu Mật pháp, muốn tu Mật pháp phải đến Thượng Mật Viện, Hạ Mật Viện mới học được Mật giáo, ở các tu viện thông thường học kinh là học kinh điển Hiển giáo.

Họ dùng phương pháp biện kinh để ghi nhớ và học rộng, trước tiên họ học năm bộ đại luận: “Nhập Trung Luận”, “Hiện Quán Trang Nghiêm Luận” ..., và các bộ luận khác, tất cả đều phải thuộc lòng, bởi vì biện kinh là phải khiến bạn nhớ được, nhất định phải ghi nhớ thật kĩ. Một người hỏi, cách hỏi của họ là làm một tư thế, vừa hỏi xong, người ngồi phải trả lời ngay lập tức, trả lời sai cũng không được, đó gọi là biện kinh.

Ồ! Khi họ biện kinh thì thật là hoành tráng, hàng trăm, hàng nghìn người hỏi đáp qua lại, âm thanh rất lớn. Có một thời gian, tôi nghe nói Đức Dalai Lama muốn bãi bỏ viện biện kinh, nhưng cho đến nay vẫn còn biện kinh, chưa bị bãi bỏ.

Tại sao lại muốn bãi bỏ viện biện kinh? Bởi vì biện luận đến cuối cùng hai người đánh nhau. Khi thua cuộc, nổi nóng, đứng dậy túm lấy nhau đánh nhau, biện kinh cuối cùng biến thành "đánh kinh". Người này nói mình đúng, người kia nói người đó sai, thậm chí biện luận đến nỗi nổi giận đùng đùng, điều này cũng là chuyện khó tránh khỏi.

Giống như khi tôi đến gặp Đức Dalai Lama tại Dharamsala, những câu hỏi ngài đặt ra đều là những vấn đề cao siêu và thâm sâu nhất, ngài hỏi về đại pháp Thời Luân Kim Cang. Đại pháp Thời Luân Kim Cang là sở trường của Đức Dalai Lama, vì vậy ngài thường xuyên truyền đại pháp hội Thời Luân Kim Cang, do đó đại pháp Thời Luân Kim Cang sở học của ngài. Nếu hôm nay Sư Tôn chưa từng nghiên cứu "Thời Luân Kim Cang Bản Tục", thì khi đến đó, khi ngài hỏi về đại pháp Thời Luân Kim Cang, tôi coi như "tắt điện".

Năm bộ Kim Cang đại pháp, tôi đều đã đọc qua, có "Thời Luân Kim Cang đại pháp", "Mật Tích Kim Cang đại pháp", "Hỷ Kim Cang đại pháp", "Thắng Lạc Kim Cang đại pháp", "Đại Uy Đức Kim Cang đại pháp".

May mà tôi đã nghiên cứu năm bộ Kim Cang Mật Tục, nên khi ngài hỏi về Thời Luân Kim Cang đại pháp, ngài có thể hỏi thì tôi đều có thể trả lời. Đây chính là ý nghĩa của chữ "uyên bác".

Đại pháp của bốn truyền thống Hoàng giáo, Hồng giáo, Bạch giáo và Hoa giáo, Đại Viên Mãn, Đại Thủ Ấn, Đại Viên Thắng Huệ, Đại Uy Đức, may mắn thay tôi đều đã nghiên cứu và đi sâu vào.

Vì vậy khi được hỏi về Đại Viên Mãn, hai phương pháp tu trì "trekcho" và "togal"; khi được hỏi về bốn loại cảnh giới, tôi đều có thể trả lời một cách viên mãn. Đây đều là những mật pháp cao nhất, thâm sâu nhất. Khi được hỏi về Thập Nhị Môn Luận, Trung Luận của Long Thụ và Bách Luận của Đề Bà, tôi cũng đều có thể trả lời một cách viên mãn.

Nếu bạn không học những điều này thì làm sao trả lời được? Và ngài còn hỏi tôi học Đại Thủ Ấn từ ai? Tôi chỉ trả lời hai chữ là ngài gật đầu, tôi nói: "Wentz".

Wentz là ai? Tôi xin nói cho bạn biết, Wentz là một Tiến sĩ, là người Mỹ, sau khi học Đại Thủ Ấn xong, ông ấy trở về Mỹ và viết ra Đại Thủ Ấn, ở Trung Quốc có người đã dịch tác phẩm của Wentz. Sau khi được dịch ra, tôi nhận được truyền thừa Đại Thủ Ấn, rồi dựa vào tác phẩm Đại Thủ Ấn của Tiến sĩ Wentz để học tập và tham khảo.

Tất cả những điều này đều phải "uyên bác", nếu bạn không uyên bác, nếu một Kim cương Thượng sư mà không uyên bác, khi ra ngoài người ta hỏi, bạn sẽ lập tức "bay màu", lập tức bị lộ tẩy.

Nếu hôm nay bạn không hiểu Phật học, không hiểu biết tất cả về Đức Phật, không hiểu về Phật giáo Nguyên thủy và các bộ phái, không hiểu kinh điển của Hiển giáo và Mật giáo, Kinh - Luật - Luận, cũng như tất cả các Mật tục, mà hôm nay làm một Kim cương Thượng sư, thì thật là xấu hổ.

Một vị Kim cương Thượng sư cần ít nhất tám năm đến mười hai năm để nắm vững nền tảng Hiển giáo, và ít nhất tám năm cho nền tảng Mật giáo, tổng cộng phải mất hai mươi năm. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nghiên cứu kinh điển mỗi ngày, thâm nhập kinh tạng, chưa có ngày nào lãng phí, chưa có ngày nào không đọc kinh.

Vì vậy Kinh - Luật - Luận đều phải đọc, sách nào cũng phải xem, có thể thấy chữ "bác" (uyên bác) vô cùng quan trọng, đây cũng là điều kiện đầu tiên của một Kim cương Thượng sư. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

19/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 187. Điều kiện để làm Kim cương Thượng sư (2)

Chúng ta lại nói về điều kiện để làm Kim cương Thượng sư. Chúng ta đã nói rằng một Kim cương Thượng sư phải uyên bác, không được để bị đánh trượt khi bị kiểm tra, dù người ta kiểm tra bạn như thế nào, bạn cũng không được ngã.

Giống như khi Đức Dalai Lama hỏi tôi về những điều trong "Thời Luân Kim Cang Bản Tục", nếu bạn chưa từng đọc qua, chắc chắn sẽ trượt khi được hỏi; khi người ta hỏi bạn về "Hỷ Kim Cang Bản Tục", nếu chưa đọc qua cũng sẽ trượt; khi được hỏi về "truyền thừa Đại Thủ Ấn", bạn phải trả lời được; khi được hỏi về "truyền thừa Đại Viên Mãn", bạn cũng phải trả lời được. Tất cả những điều này đều là học vấn.

Vì vậy sau này bạn phải đọc nhiều kinh điển, học hỏi nhiều, nghiên cứu nhiều, thâm nhập nhiều. Nếu muốn làm một pháp sư, không nói đến Kim cương Thượng sư, chỉ nói đến việc làm một pháp sư thôi, vậy pháp sư là gì? "Có pháp mới là thầy", vị thầy có pháp mới gọi là pháp sư. Hôm nay nếu bạn không phải là vị thầy có pháp, trong người không có Phật học, Phật pháp mà tự xưng là pháp sư thì rất mất mặt.

Nếu trong lòng bạn không có Phật pháp, làm sao có thể gọi là pháp sư được? Pháp sư là người có pháp, có Phật pháp trong tâm mới được gọi là pháp sư. Không phải cứ xuất gia, cạo đầu là trông giống pháp sư, nhận giới xuất gia là thành pháp sư, danh xưng pháp sư đó quá dễ dãi, không thể gọi là pháp sư được. Không có Phật pháp chân chính thì không đủ tư cách để được gọi là pháp sư.

Kim cương Thượng sư lại càng khác biệt, Kim cương Thượng sư là Guru, chính là một vị giáo thọ sư, chính là Acharya, sau khi có được những pháp đó rồi, thực tu phải thâm nhập.

Điều thứ hai gọi là "thâm". Sau khi có được tất cả Phật pháp rồi, còn phải thâm nhập vào trong đó, phải nói ra lý luận tinh tế, còn phải sáng tạo phương pháp tu hành của riêng mình. Bạn phải tự mình sáng tạo pháp khai ngộ thuộc về chính mình, đây chính là phải thâm. Phải uyên bác, còn phải thâm sâu, khi người ta hỏi bạn, chỉ cần nghe lý luận của bạn là biết bạn có sâu hay không, chỉ cần nghe là biết.

Khi người ta hỏi bạn rằng nhậm vận là gì? Nhậm vận nghĩa là gì? Có thể nói đó là gần gũi với tự nhiên, là tự tại, là thần thông, là một loại trò chơi thần thông, đó chính là nhậm vận. Phải giải thích được nhậm vận là gì: còn phải nói sâu hơn nữa, đó là những đạo lý cốt yếu được thể nghiệm từ bản thân mình, cũng có thể nói đó là những yếu nghĩa thâm sâu.

Có thể tuôn trào từ trong tâm, từ miệng nói ra, khiến người nghe một lần là thu phục được đại chúng, không giống như nhiều pháp sư lên đài thuyết pháp: "Chúng ta làm người, mọi người phải làm việc thiện nhé, phải làm người tốt nhé, mỗi ngày phải làm một việc thiện." Xong rồi! Hết.

Họ ngày nào cũng lên đài truyền hình, ngày nào cũng giảng điều này, họ chẳng biết gì cả, chỉ bảo mọi người làm việc thiện. Điều này rất tốt không sai, nhưng đó là chuyện tăng ni thường nói, ai mà không biết? Ai cũng biết, nhưng làm không được.

Vì vậy bạn phải giảng những đạo lý sâu sắc hơn, phải có khả năng thu phục đại chúng, khiến chúng sinh vừa nghe đã biết đây là tâm yếu của bản thân mình, điểm này là quan trọng nhất.

Cho nên, điều thứ hai là trong vô số Phật pháp, bạn phải có khả năng tự mình thể hội tâm yếu của nó, nắm bắt được tâm yếu của nó.

Vì thế, trong cuộc đối thoại với Đức Dalai Lama, điều ngài muốn, ngài đã nói một câu rằng, ngài muốn những điều "tinh hoa". Tinh hoa rất quan trọng, bạn phải tìm ra những điều tinh hoa, hấp thụ để trở thành của chính mình.

Hôm nay bạn nghiên cứu Phật học, nếu chỉ uyên bác thôi thì cũng vô dụng, nhất định phải thâm nhập nắm bắt tâm yếu, làm thành khẩu quyết tâm yếu tu hành của chính mình. Đây mới là điểm trọng yếu.

Vì vậy một Kim cương Thượng sư phải thâm nhập vào trong đó, phải thực tu, phải khai ngộ, nhất định phải có tinh yếu.

Vậy tiếp theo thì sao? Để làm một Kim cương Thượng sư, như vừa nói, phải dùng tư duy của mình để suy nghĩ sâu sắc. Tiếp đến cuối cùng là "tinh hoa", tinh hoa là gì? Chính là sau khi suy nghĩ sâu sắc, bạn nắm bắt tâm yếu làm căn bản cho việc tu hành khai ngộ.

Khi nghiên cứu Phật học, tôi luôn dùng trí óc để suy nghĩ, để tư duy, rồi phát triển ý thức của mình để thực tu, tìm ra trọng điểm để thực sự tu tập. Tuy nhiên việc tu hành cũng phải tự nhiên, không nên miễn cưỡng bản thân, phải phù hợp với thân tâm của mình, không cần gượng ép, mà hãy rất tự nhiên tu học, sau đó bạn sẽ đạt được tinh hoa.

Vì vậy tu hành có ba điều cần thiết - cần uyên bác, cần tư duy thấu đáo, cần đạt được tinh hoa.

Tinh hoa này từ đâu mà có? Có thể nói rằng bạn phải thực nghiệm, phải thực hành, thì mới có thể đạt được.

Vì vậy tôi biết cách đi vào cánh cửa của Thời Luân Kim Cang như thế nào, khi vào được cánh cửa này còn có nhiều cánh cửa khác, vậy cảnh giới của Thời Luân Kim Cang là gì? Hiện tượng sắc-không của nó là gì? Thực ra chỉ cần bạn bước vào cánh cửa này, hiện tượng sắc-không sẽ tự nhiên hiển hiện.

Chúng ta thường nói "sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc", sắc và không là cùng một thứ, nhưng trong bánh xe thời gian nó sẽ tự nhiên hiển hiện, tự nhiên thành tựu, vô tu mà tu chính là từ trạng thái này mà ra, căn bản không cần phải tu.

Tất cả thế giới vật chất, bạn cho rằng nó không tồn tại, sau khi tu hành thành tựu, bạn cho rằng nó không tồn tại, nhưng thực ra nó vẫn tồn tại. Sơn hà đại địa vẫn là sơn hà đại địa, dù bản thân bạn chứng được quả A La Hán, tu đến mức thân đã diệt, tâm cũng diệt, nhưng sơn hà đại địa vẫn còn đó. Đây chính là tự nhiên, sắc-không bất nhị, điều này được đề cập trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

19/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 188. Nói về Phật Đà (1)

Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về Phật Đà. Phật Đà chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng chính là giáo chủ của Phật giáo. Trước đây tôi đã từng xuất nguyên thần đến Nepal, và cũng đã thực sự đến tận nơi.

Trong sách của tôi trước đây có ghi lại, bay đến Nepal, đó là linh thể đi. Lần này thực sự cũng đến Nepal, và tại ngôi chùa Karma Lekshey, có tổ chức một nghi lễ, đó là nghi lễ tọa sàng.

Cử hành nghi lễ tọa sàng này là, trụ trì ôm một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cùng khăn khata buộc lại, dâng tặng cho bạn, trụ trì Gyaltsen Rinpoche cầm một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cùng khăn khata buộc lại, trao cho Sư Tôn.

Tôi ngồi ở đó, ngài trao tượng Phật cho tôi, đây cũng là một nghi thức, nghi thức này chính là trao truyền thừa của Phật Đà vào tay của bạn.

Thông thường trong nghi thức tọa sàng của các vị Hoạt Phật Tây Tạng, điều này biểu thị rằng bạn là một vị Rinpoche tái sinh, tức là một vị Hoạt Phật tái sinh, bạn là một người lại đến, lúc này chính là sự truy nhận, công nhận và xác định rằng bạn là một vị Rinpoche, là một vị Hoạt Phật.

Tượng Phật được bọc trong khăn khata, do trụ trì Gyaltsen Rinpoche trao tận tay cho bạn, có thể nói rằng sau khi trao vào tay, điều này biểu thị rằng bạn đã có truyền thừa của Phật trong thân. Khi bạn đã có truyền thừa của Phật trong thân, lúc này phải làm sao? Có thể nói rằng, tất cả các vị Lama, Rinpoche đều phải đến chúc phúc cho bạn.

Nghi thức tọa sàng gồm có: chúc phúc, dâng cúng dường, và còn phải tụng một số bài tán thán, đây chính là nghi thức tọa sàng. Nói chung nghi thức của các vị Hoạt Phật Tây Tạng không thể thiếu điều này. Vị Hoạt Phật chuyển thế ngồi trên tòa, tiếp nhận nhiều vị Rinpoche, Lama đến chúc mừng, tụng tán, dâng cúng dường, dâng quả như vậy.

Nghi thức này chính là xác nhận rằng bạn là một vị Hoạt Phật chuyển thế, có truyền thừa của Phật, bạn phải đi hoằng dương Phật pháp, quan trọng nhất là trao tượng Phật vào tay vị Rinpoche.

Hôm nay chúng ta vừa hay nói về Phật Đà, nên tôi sẽ giảng về nghi thức tọa sàng của các vị Hoạt Phật Tây Tạng. Trong tương lai, khi Chân Phật Tông nhận ra các vị Rinpoche, nhận ra nhiều vị Rinpoche xuất hiện, chúng ta cũng sẽ tổ chức nghi thức tọa sàng cho họ, cũng sẽ làm như vậy.

Trong tương lai, đệ tử Chân Phật Tông ngày càng nhiều, người xuất gia cũng nhiều, trách nhiệm hoằng dương Phật pháp nằm trên vai chúng ta. Nhiều vị chuyển thế, những người tái lai, đều xuất hiện trong tông phái chúng ta. Chúng ta cần nhận ra từng vị một, họ đều có dấu hiệu như: dấu hiệu trên lòng bàn tay, dấu hiệu trên chân, dấu hiệu trên tai, dấu hiệu trên mắt, dấu hiệu trên mặt, đều có những dấu hiệu này tồn tại.

Trên thân có pháp loa, tức là người đã từng hoằng dương Phật pháp, sẽ xuất hiện pháp loa. Trên thân có vằn da hổ chính là Dorje, là Kim Cang. Vằn da hổ tức là váy da hổ, bên trong có một số dấu hiệu. Trên lòng bàn tay có..., điều này không thể nói quá rõ, nếu không mọi người sẽ bắt đầu nhận diện.

Bản thân Rinpoche có đôi tai cũng khác biệt, đôi mắt, phước báu, trí tuệ của ngài, tất cả đều khác biệt. Ngài có rất nhiều dấu hiệu, trên mắt, tai, tướng mạo, vân tay, chân đều có dấu hiệu. Điều này cần được nhận diện, phải ghi chép rõ ràng những dấu hiệu nào, đó chính là người tái sinh trở lại, mới có thể nhận ra đây chính là vị Hoạt Phật chuyển thế.

Sau khi nhận diện và xác định là Hoạt Phật, trong tương lai phải học pháp và tiếp nhận giáo dục thật tốt. Trong tương lai khi đi hoằng pháp, vị Rinpoche này chưa chắc đã hữu dụng, người tái sinh trở lại vẫn phải học tập thật tốt và phải thi cử.

Đôi khi Rinpoche, như chúng ta biết những vị Rinpoche ở tu viện Drepung ở Nam Ấn Độ, sau đó đến những vị Rinpoche ở tu viện Ganden, chúng ta đều rất quen thuộc với họ, họ nói rằng Rinpoche vẫn phải tiếp tục học tập, hơn nữa còn phải học nhiều hơn người khác, họ còn phải thi Geshe, chỉ khi thi đỗ Geshe mới là một Rinpoche hữu dụng; nếu Rinpoche không thi đỗ Geshe, làm sao có thể đại diện cho truyền thừa của Phật Đà? Làm sao có thể đi hoằng pháp?

Vì vậy ngài phải nghiên cứu rất nhiều kinh điển, chỉ khi thi đỗ học vị mới thực sự là một Rinpoche kiêm Geshe, như vậy mới hữu dụng, mới có thể hoằng dương Phật pháp.

Hôm nay chúng ta nói về Phật Đà, điều quan trọng nhất là nói về sự cống hiến cả đời của Ngài, có thể nói Ngài đã dành cả cuộc đời để hoằng dương Phật pháp. Vì vậy nếu bạn là một vị Hoạt Phật tái sinh, bạn cũng phải học tập Phật pháp thật tốt, nhất định phải có học vị Geshe.

Rinpoche cộng với Geshe mới thực sự là một Rinpoche tái sinh chân chính; những vị Hoạt Phật tái sinh chỉ có danh xưng Rinpoche mà không có học vị Geshe, người ta sẽ coi thường loại Rinpoche (Hoạt Phật) đó.

Những vị Rinpoche trẻ vừa được công nhận, mỗi vị đều học tập rất nghiêm túc, rất chăm chỉ học kinh điển, rất chuyên tâm học Phật pháp, và tất cả họ đều đang chuẩn bị thi học vị Geshe.

Tôi nói với họ rằng các vị có thể đến Seattle, họ trả lời bây giờ không thể được, tôi vẫn chưa thi đỗ học vị, đợi khi tôi đạt được học vị rồi, tôi sẽ đến Lôi Tạng Tự ở Seattle.

Nhất định phải thi đỗ học vị, họ nói rằng nếu không có học vị sẽ bị người khác coi thường, dù bạn là một Rinpoche, nhưng nếu không có học vị thì không được, vì vậy để đảm nhận truyền thừa của Như Lai, nhất định phải có học vị Geshe.

Hôm nay chúng ta nói đến đây.

Om mani padme hum.

20/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 189. Nói về Phật Đà (2)

Chúng ta hãy nói thêm về Phật Đà.

Phật Đà chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng là giáo chủ của Phật giáo. Cả cuộc đời của Đức Phật hoàn toàn dành cho việc hoằng dương Phật pháp, Ngài đã giảng kinh thuyết pháp, truyền đạt lại toàn bộ những điều chứng ngộ, những điều thấu hiểu trong tâm và quá trình tu tập của mình, Ngài đã sống trọn cuộc đời như vậy.

Nơi chuyển Pháp luân đầu tiên chính là vườn Lộc Dã, một địa điểm gần thành Varanasi. Trong tất cả tám đại thánh địa, tôi cảm thấy môi trường của vườn Lộc Dã được bảo quản rất tốt, nhìn rất xanh tươi. Đức Phật đã chuyển pháp luân lần đầu tiên tại đây, chính là nơi độ năm vị tì kheo, nơi giảng về Tứ Diệu Đế, từ đó bắt đầu hoằng dương Phật pháp. Suốt cuộc đời của Đức Phật, Ngài đều thuyết pháp tại tám đại thánh địa.

Hôm nay tất cả mọi người đều là Kim cương Thượng sư hoặc là pháp sư, thực ra bản thân mỗi người đều đang gánh vác sự nghiệp giáo hóa của Như Lai, trên vai mang trọng trách hoằng dương Phật pháp. Chúng ta học tập tinh thần của Đức Phật, chính là học tập việc Ngài suốt cả cuộc đời gánh vác sự nghiệp giáo hóa của Như Lai. Chúng ta đã nhận được truyền thừa của Ngài (Phật), cũng phải có tinh thần giống như Phật vậy, làm sự nghiệp cứu độ chúng sinh, đây chính là tự giác giác tha, cũng là tự lợi lợi tha.

Khi tôi ở vườn Lộc Dã, trong lúc chúng tôi làm lễ, rất cung kính đảnh lễ tháp Phật, vào lúc đó, khi đi vào trạng thái thiền định rất sâu, Sư Tôn đã nhìn thấy Phật nhãn (mắt của Đức Phật), thực sự nhìn thấy Phật nhãn, và còn thấy được nhãn cầu di chuyển qua lại.

Lúc đó tôi nhìn thấy rất rõ ràng, tôi nói Phật nhãn ở đây, thường ngày quán chiếu chúng sinh, đang quan sát, đang phóng quang, đang phổ chiếu tâm chúng sinh, chí nguyện để lại của Đức Phật phải do chúng ta gánh vác, tất cả Kim cương Thượng sư, pháp sư đều phải gánh vác nguyện vọng của Đức Phật, phải luôn ghi nhớ từng giờ từng khắc không được quên.

Sau khi nhìn thấy Phật nhãn trở về, tôi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", trong sách có nói về vườn Lộc Dã, hóa ra ngôi tháp đó có tên là Pháp Nhãn Tháp. Khi tôi ở vườn Lộc Dã, tôi không biết tháp đó chính là Pháp Nhãn Tháp, tôi không biết điều đó, tôi cũng là người rất thẳng thắn, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết.

Tôi không biết tháp ở vườn Lộc Dã gọi là gì, chỉ biết tháp đó gọi là Stupa, Stupa chính là tháp xá lợi, chúng tôi không biết! Chúng tôi đặt một nghìn ngọn nến ở đó, thắp lên một nghìn ngọn nến, còn mua rất nhiều phẩm vật cúng dường, có hương hoa đèn trà quả và rất nhiều bánh quy để cúng dường.

Chúng tôi niệm kinh, tụng tán, cung kính đảnh lễ và thiền định ở đó, bất ngờ Phật nhãn hiện ra cho chúng tôi thấy, rất rõ ràng, và nhãn cầu còn chuyển động, tất cả đều thấy rất rõ ràng. Cho đến hôm nay khi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", thấy trong sách ghi chép về vườn Lộc Dã, mới phát hiện ra ngôi Stupa đó được gọi là Pháp Nhãn Tháp. Mà Pháp nhãn chẳng phải là Phật nhãn sao? Pháp nhãn chính là Phật nhãn! Đây chính là sự tương ứng.

Theo ghi chép trong lịch sử và văn hiến, ngôi tháp xá lợi đó được gọi là Pháp Nhãn Tháp, và tôi đã thực sự nhìn thấy Phật nhãn tại ngôi tháp đó. Trước đó tôi không biết đó là Pháp Nhãn Tháp, mãi đến sau này tôi mới biết. Ôi chao! Đúng là Pháp Nhãn Tháp, vậy thì con mắt mà tôi nhìn thấy là hoàn toàn chân thật, rất thật sự, đây chính là sự tương ứng.

Đó thực sự là Phật nhãn của chính Đức Phật, luôn luôn nhìn chúng ta, quan tâm chăm sóc chúng ta, vì vậy tôi nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Phật Đà) luôn luôn quan tâm đến chúng sinh, Ngài đã phái rất nhiều bậc thánh đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh. Ngài không hề nhập Niết Bàn! Phật nhãn vẫn còn đây! Làm sao có thể nhập Niết Bàn? Cho nên nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không nhập Niết Bàn, Phật nhãn của Ngài vẫn đang quan tâm chăm sóc chúng sinh, Ngài không hề nhập Niết Bàn!

Vì vậy rất nhiều pháp sư, Rinpoche cho rằng, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập Niết Bàn từ hơn hai nghìn năm trăm năm trước, sẽ không còn xuất hiện nữa, nhưng Phật nhãn vẫn còn đây, điều này chứng minh bản thân Đức Phật không nhập Niết Bàn, Ngài vẫn đang độ chúng sinh, Ngài đã trao gánh nặng độ chúng sinh vào tay chúng ta, không thể nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập Niết Bàn. Bởi vì tôi đã thực sự nhìn thấy Phật nhãn! Tôi chính là một người chứng minh.

Không những thế, bên cạnh Pháp nhãn còn thấy rất nhiều vị mặc áo trắng, áo đỏ, rất nhiều vị tăng (người xuất gia) mặc nhiều màu sắc khác nhau, các vị tăng Thanh Văn, có rất nhiều thánh chúng xuất gia cùng giáng xuống, họ đến cùng với nhau. Điều này cho thấy những vị thánh chúng này cũng chính là ước nguyện của Đức Phật, mong muốn họ độ thêm nhiều chúng sinh ở thế giới Ta Bà, có thể truyền bá Phật pháp khắp toàn thế giới, đây có thể nói chính là sự nghiệp của tất cả các vị Kim cương Thượng sư và pháp sư chúng ta.

Chúng ta không cầu mong điều gì ở thế giới Ta Bà, điều quan trọng nhất là hoằng dương Phật pháp, giống như Đức Phật vậy, rồi giải thoát phiền não, không chỉ bản thân giải thoát phiền não, mà còn giúp chúng sinh giải thoát phiền não, biến nhân gian thành cõi lạc. Nếu có thể làm được như vậy thì toàn thế giới mới được thanh tịnh, mới là cõi lạc, mới là cực lạc, mới đúng với ý nghĩa chân chính của Đức Phật, và Phật giáo mới có thể hưng thịnh mãi mãi.

Om mani padme hum.

20/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 190. Nói về Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

Hôm nay chúng ta nói về Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là một vị Bồ Tát rất cao quý, vì vậy đôi khi chúng ta gọi Ngài là Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi, thể hiện rằng trong các vị Bồ Tát, Ngài là trưởng tử của Đức Phật. Trong tất cả các kinh điển, có thể nói Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi còn là thầy của Đức Phật, hơn nữa Ngài cũng là một vị cổ Phật chuyển thế hóa thân thành Bồ Tát, bản thân Ngài vốn có lai lịch là Phật.

Trong Mật giáo chúng ta rất coi trọng nghi quỹ tu trì của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi có rất nhiều pháp tu, như: pháp Văn Thù Sư Lợi khiếp kiếm quán, pháp Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi vãng sinh, pháp Bổn tôn Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và cả pháp Ngũ Kế Đồng Tử Văn Thù Sư Lợi..., có rất nhiều nghi quỹ tu trì.

Trong Mật giáo rất coi trọng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, bởi vì bản thân những hóa thân của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cũng rất vĩ đại, thậm chí Đại Uy Đức Kim Cang cũng là hóa thân của chính Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Trong việc hộ giáo hộ pháp, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đã phát huy sức mạnh rất lớn.

Lần này chúng tôi đến Nepal và Ấn Độ, có một truyền thuyết như sau: Thủ đô Kathmandu của Nepal nguyên là một hồ nước, một cái hồ rất lớn, chứa rất nhiều nước. Theo truyền thuyết, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi từ hư không giáng xuống, dùng bảo kiếm của Ngài chém một nhát vào giữa ngọn núi, tạo thành một khe nứt rất rõ ràng, như thể dùng kiếm chém xuống vậy, chém thành một đường nứt, nước hồ theo đó chảy đi, sau đó mới xuất hiện một thung lũng. Vậy thung lũng đó là gì? Chính là thủ đô Kathmandu của Nepal. Đó chính là nguồn gốc của truyền thuyết về Kathmandu.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi giáng xuống, chém thành một khe núi, sau khi nước chảy đi, mới hình thành một thủ đô. Truyền thuyết này tất nhiên hơi thần kỳ một chút, nhưng qua đó có thể thấy rằng rất nhiều Phật tử đều rất cung kính Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Bản thân tôi cũng đã từng đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, đó thực sự là đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Mỗi ngôi chùa đều thờ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, có rất nhiều hình tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi khác nhau, thậm chí còn có điện Vạn Phật (Vạn Phật Bảo Điện) của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, tất cả đều thờ phụng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, đạo tràng đó cũng rất thù thắng, rất trang nghiêm.

Khi chúng tôi đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, tôi cũng nhớ đến Hòa thượng Hư Vân, từ núi Phổ Đà đã đi lễ lạy suốt đường đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây. Khi tôi đến núi Ngũ Đài, tôi nhận ra từ chùa Thái Nguyên đến núi Ngũ Đài phải mất năm đến sáu tiếng đi xe. Vậy mà Hòa thượng Hư Vân đã đi từ núi Phổ Đà ở Chiết Giang đến tận núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, nơi có những ngọn núi cao và hùng vĩ, mùa đông nào cũng phủ đầy tuyết. Nghĩ đến tấm lòng thành kính lễ Phật như vậy, thật khiến người ta cảm phục.

Khi lễ núi, tôi lạy từ chân núi Ngũ Đài lên đỉnh, tôi đã thấy rất khó, huống chi là lạy từ núi Phổ Đà đến núi Ngũ Đài. Trong quá trình đó còn xảy ra một câu chuyện rất kỳ diệu, Hòa thượng Hư Vân bị bệnh ở chân núi Ngũ Đài, rất vất vả, thân thể vô cùng suy yếu, có một cụ già ăn xin đến giúp đỡ Hòa thượng Hư Vân, cho ngài uống thuốc và chăm sóc ngài. Hòa thượng Hư Vân rất cảm kích, bèn hỏi tên của ông, ông nói người ở núi Ngũ Đài ai cũng biết tôi, tôi tên là Văn Cát.

Vị hòa thượng già lên núi Ngũ Đài tìm khắp nơi, hỏi mọi người có ai tên Văn Cát không, kết quả không ai biết cả. Văn Cát nói rằng ai cũng biết ông, nhưng cuối cùng chẳng ai biết người tên Văn Cát này.

Cuối cùng, Hòa thượng Hư Vân mới chợt nghĩ ra, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi chẳng phải là Văn Thù Bồ Tát Diệu Cát Tường sao? Văn Thù Bồ Tát Diệu Cát Tường chẳng phải chính là Văn Cát sao? Vì vậy có thể thấy, Bồ Tát độ hóa chúng sinh thật vi diệu. Ông ấy nói mình là Văn Cát, hóa ra chính là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Diệu Cát Tường.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là một vị Bồ Tát vĩ đại, Ngài tượng trưng cho trí tuệ, là biểu tượng của trí tuệ. Bồ Tát Văn Thù độ hóa chúng sinh, trong Mật giáo Ngài còn hóa hiện thành Tổ sư Tsongkhapa, Tổ sư Tsongkhapa chính là hóa thân của Văn Thù. Bồ Tát Văn Thù có rất nhiều hóa thân, trong số nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng, mọi người đều rất thích nói rằng họ là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù.

Về phần trí tuệ của bản thân Tổ sư Tsongkhapa, Ngài đã học tập và tập trung được trí tuệ của nhiều tông phái Mật giáo, có thể nói, Ngài đã hội tụ tất cả kiến thức, sáng lập ra Hoàng giáo, cũng có thể nói là nhà cải cách của Mật tông Tây Tạng. Vì vậy, mọi người cũng thích nói rằng bản thân Ngài là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù.

Khi tôi giảng "Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận", Tổ sư Tsongkhapa cũng hiện pháp tướng, hiện tướng gia trì, thấy rất rõ ràng. Phía trên Tổ sư Tsongkhapa lại có Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và phía trên vị Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang mà tôi tu cũng là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, vì vậy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thật sự có duyên với chúng ta.

Nếu mọi người muốn đi sâu vào kinh tạng, hãy cầu xin Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi gia hộ. Bản thân tôi cũng thường quán tưởng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rất dễ quán tưởng, Ngài luôn cầm bảo kiếm ở tay phải. Hôm nay xin nói đến đây.

Om mani padme hum.

23/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 191. Nói về trí huệ

Vì vừa nói về Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là biểu tượng của trí huệ, nên hôm nay chúng ta sẽ bàn về "trí huệ".

Hai chữ "trí huệ" có rất nhiều cách giải thích, và cũng rất khó có thể diễn đạt đầy đủ về trí huệ chỉ trong một câu. Đôi khi người ta hỏi thẳng bạn trí huệ là gì? Nếu suy nghĩ kỹ về hai chữ trí huệ, không nhất định có thể trả lời ngay được.

Khi người ta hỏi bạn trí huệ là gì? Câu trả lời hay nhất là trí huệ chính là trí huệ, câu trả lời này chắc chắn là đúng. Trí huệ chính là trí huệ thôi, bởi vì rất khó để phân định ranh giới của trí huệ. Trí huệ cũng là thứ sâu không lường được, không có cách nào đo lường được. Bởi vì nó vô biên vô tận, nên bạn muốn nói ngay trí huệ là gì, thì không có cách nào nói được. Cách trực tiếp nhất là trí huệ chính là trí huệ, đó là cách trực tiếp nhất.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi được xem là biểu tượng của trí huệ, vì vậy bản thân Ngài là một vị Bồ Tát vĩ đại. Trong Lục độ, trí huệ và thiền định là vô cùng quan trọng. Thiền định cần dựa vào trí huệ, và từ thiền định lại sinh ra trí huệ. Từ định có thể cầu huệ, nhưng chính từ huệ mới sinh ra định, giống như đôi cánh của chim vậy, thiếu một bên đều không được.

Trí huệ có thể sinh định, chúng ta đều biết về giới, định, huệ mà, từ định có thể sinh huệ, nhưng từ huệ cũng có thể sinh ra định, nếu không có trí huệ thì rất khó đạt được thiền định.

Cho nên chúng ta là những người học Phật thông thường, học hỏi Phật huệ, trí huệ của Như Lai. Trong Mật giáo, hoặc trong pháp môn Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, chúng ta thường nói đến năm loại trí huệ lớn, đây đều là Phật huệ.

Năm đại trí huệ chính là "Chân như", "Bát nhã", "Duy thức", "Trung quán", "Du già", đây là năm loại Phật huệ mà tôi thường giảng. Năm loại Phật huệ này có thể nói là tri kiến chân thật của Phật (Như Lai), đây đều là trí huệ chân chính.  
"Chân như" - hai chữ này cũng là vô cùng vô tận.  
"Bát nhã" - tất cả giáo lý của Đức Phật đều là Bát nhã.  
"Duy thức" - là pháp thần biến của Bồ Tát Di Lặc, đi vào khai phát chủng tử thức, ý thức sâu thẳm nhất trong tâm con người, đây chính là Duy thức.

Trong tương lai Bồ Tát Di Lặc sẽ độ chúng sinh như thế nào? Bồ Tát Di Lặc sẽ giáng xuống trong Long Hoa Tam Hội để thành Phật độ chúng sinh, độ bằng cách nào? Ngài sử dụng phương pháp thần biến Duy thức để độ chúng sinh, chỉ có phương pháp này mới có thể độ hết thảy chúng sinh. Việc hoằng pháp độ chúng sinh thông thường, tai phải vào tai trái ra, làm sao độ được? Có người còn hoàn toàn không tin, tôi không tin Phật pháp thì làm sao độ được?

Phật không thể độ người vô duyên, vậy làm sao Bồ Tát Di Lặc độ hết tất cả chúng sinh trong Long Hoa Tam Hội? Phương pháp duy nhất là "Duy thức", dùng ý thức của chính Ngài lan tỏa khắp thế giới, dùng Duy thức của Bồ Tát Di Lặc đi vào tâm chúng sinh, khai mở tất cả Duy thức trong tâm của mọi chúng sinh.

Nói một điều kỳ diệu hơn, đó là Bồ Tát Di Lặc phóng quang, phóng ra ánh sáng Duy thức, ánh sáng này chiếu vào tâm từng chúng sinh một, khai mở hoàn toàn tâm họ, khiến họ thấy được Phật tính của chính mình, trong một sát-na, tất cả chúng sinh đều thành Phật. Chỉ có phương pháp này mới có thể độ tận chúng sinh, đây chính là đại thần biến Duy thức.

"Trung quán" là pháp trung quán của trí huệ, chính là điều Phật Đà dạy về không chấp trước, không chấp vào hai bên để đi vào trung đạo, đây là một phương pháp thành Phật.

"Du già" là điều mà Mật giáo giảng dạy, là phương pháp tương ứng giữa Phật và chính bạn, đó chính là Du già; cũng là "pháp quả" của thành Phật.

Năm loại trí huệ lớn này đều là tri thức chân thật, đều là tri kiến chân chính, tất cả đều là trí huệ chân thật. Cũng có trí huệ giả, vậy trí huệ giả là gì? Đó là chấp vào hai bên, lấy phần nhỏ che lấp toàn thể, giống như người mù sờ voi, đây chính là trí huệ giả. Khi sờ vào thân voi thì nói: "Ôi! Con voi này giống như bức tường", sờ vào đuôi voi thì nói voi giống như con rắn, sờ vào tai voi thì nói voi giống như cái quạt, cho nên câu chuyện người mù sờ voi nói lên rằng, bản thân nó là lấy một phần để khái quát toàn thể, chấp chặt vào một bên, đây đều là trí huệ giả.

Trí huệ chân chính được gọi là "thông suốt", nghĩa là khi mắt bạn nhìn thấy mọi thứ đều rõ ràng, minh bạch, đó mới là trí huệ chân chính. Chỉ khi nào có thể chiếu sáng hoàn toàn, hiển hiện trọn vẹn, mới là trí huệ chân chính. Nếu bạn chỉ sáng một bên tối một bên, đó không phải là trí huệ chân chính, mà là trí huệ giả.

Ngoài ra còn có trí huệ hỗn loạn, thế nào gọi là trí huệ hỗn loạn? Những thứ bạn tạo ra khiến thế giới này càng thêm rối loạn, loại trí huệ này không tốt. Tôi từng thấy một quyển sách dạy người ta đủ loại phương pháp tự tử, bạn nói đó là trí huệ gì chứ! Dạy người ta tự tử, trăm phương pháp tự tử, trong một trăm cách tự tử đó cách nào là tốt nhất, đó là trí huệ gì chứ!

Tôi cũng từng thấy một quyển sách dạy người ta làm sao để trở thành "ba tay" - kẻ móc túi, họ cũng có trí huệ của họ, họ luyện tập mỗi sáng thức dậy, hai người đi đối diện nhau, thân thể chạm nhau một cái, cái ví của người này chạy qua bên kia, cái ví của người kia chạy qua bên này, mỗi ngày luyện tập, rất giỏi, loại trí huệ này chính là trí huệ hỗn loạn, thuộc về trí huệ không chính đáng.

Vì vậy, người học Phật chúng ta cần phải nhận biết: thế nào là trí huệ chân thật? Thế nào là trí huệ giả? Thế nào là trí huệ hỗn loạn? Thế nào là trí huệ chấp trước? Không thể học tập loại trí huệ chấp trước, mà phải học tập trí huệ chân chính.

Muốn thành Phật, bạn phải từ Bát nhã mà học trí huệ của Phật Đà, học Duy thức của Bồ Tát Di Lặc, học Du già tương ứng của Mật giáo, học Trung quán của Phật Đà, học Chân như - trí huệ viên mãn, có như vậy mới có thể thành tựu. Nếu bạn học được trí huệ giả, sẽ không thể thành tựu, còn trí huệ hỗn loạn thì thật là rối loạn. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

23/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 192. Nói về cây bồ đề (1)

Hôm nay chúng ta nói về cây bồ đề. Khi chúng tôi đến Ấn Độ, có một địa danh gọi là Bodh Gaya, mục đích chính là để chiêm ngưỡng cây bồ đề này. Tại sao cây bồ đề lại nổi tiếng như vậy? Bởi vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng thành tựu Chính Đẳng Chính Giác dưới gốc cây bồ đề.

Trong tám đại thánh địa, cá nhân tôi nghĩ như thế này: Bodh Gaya là thánh địa quan trọng nhất trong tám đại thánh địa, nếu không có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề, thì tất cả các thánh địa khác đều trở nên vô nghĩa. Dù là vườn Lâm Tỳ Ni nơi Đức Phật đản sinh, vườn Lộc Dã nơi chuyển Pháp luân đầu tiên, núi Linh Thứu nơi thuyết pháp, tinh xá Kỳ Viên, vườn Cấp Cô Độc, tất cả đều không còn ý nghĩa gì.

Tất cả những điều này trở nên có ý nghĩa là bởi vì Đức Phật đã đắc chính giác dưới cội bồ đề, do đó tất cả dấu tích của Đức Phật đều trở nên rất có ý nghĩa và trở thành thánh địa. Vì vậy, khi hành hương Ấn Độ, Bồ Đề Đạo Tràng là thánh địa quan trọng nhất.

Cá nhân tôi nghĩ như vậy, dĩ nhiên khi chúng ta đi xem cây bồ đề đó, nó không còn là cây bồ đề nguyên thủy thời Đức Phật ngồi thiền nơi đó nữa. Có nhiều truyền thuyết cho rằng cây bồ đề hiện tại được di thực từ Sri Lanka sang, nhưng tất cả chúng ta vẫn đảnh lễ, tụng kinh và lễ bái trước cây bồ đề này.

Tại Bodh Gaya, chúng tôi đầu tiên đến chùa Đại Bồ Đề, đây là một *temple*, ở tầng hai, nơi thường không cho phép người vào, nhưng vì mối quan hệ đặc biệt của chúng tôi nên họ đã cho phép chúng tôi vào. Ở đó có Báo thân Phật của Đức Phật, chúng tôi đã thực hiện công khóa, làm đại lễ bái, tụng chú Tứ quy y, làm đại cúng dường, tụng kinh Cao Vương, kết giới bằng chuông chày kim cang, và nhập định. Chúng tôi cũng tụng niệm Thanh Tịnh Pháp Thân Phật và văn cầu gia trì.

Trong sự tĩnh lặng, rất nhanh chóng, tôi nhìn thấy bàn tay của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni duỗi dài ra, cánh tay vươn rất dài, tay cầm bình cam lộ để làm lễ quán đảnh cam lộ cho tất cả đệ tử đi cùng.

Lúc đó tôi đã nói ngay tại hiện trường rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang duỗi tay làm lễ quán đảnh cam lộ cho tất cả các Thượng sư, pháp sư đi cùng. Cảnh tượng này hiện ra rất rõ ràng. Thượng sư Liên Từ cảm nhận được những mưa hoa mát lạnh từ trên rơi xuống, cảm thấy toàn thân mát mẻ, bà ấy cảm ứng được sự quán đảnh cam lộ này, và còn nhiều Thượng sư, pháp sư khác cũng có cùng cảm ứng như vậy, đều cảm nhận được sự quán đảnh cam lộ, có những giọt nước mát lạnh từ trên trời rơi xuống. Ôi! Phía trên không hề có mưa, phía trên là mái nhà, không thể nào có nước mưa được, vì vậy có thể nói cảm ứng này thật là thù thắng!

Sau khi lễ Phật xong, chúng tôi đi đảnh lễ cây bồ đề, rồi đi thăm các đạo tràng gần Bồ Đề Đạo Tràng. Xung quanh đạo tràng có rất nhiều điểm tham quan, còn có cả hồ sen. Sau khi trở về, tôi tra cứu sách "Đại Đường Tây Vực Ký" - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề, vậy cây bồ đề là loại cây như thế nào?

Hóa ra, việc Đức Phật đạt được Chính Giác dưới cội bồ đề không phải là một phương pháp tu hành đặc biệt của riêng Ngài. Từ xưa đã có rất nhiều hành giả Ấn Độ (các yogi), mỗi người đều ngồi thiền dưới gốc cây, và họ chọn cây vả (cây sung) làm nơi tu tập, mà cây vả chính là cây bồ đề. Cây này được gọi là cây bồ đề là vì sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc bồ đề, người ta mới đổi tên cây vả thành cây bồ đề, và từ đó mọi người mới gọi nó là cây bồ đề.

Ở Ấn Độ, loại cây này chính là cây vả. Rất nhiều hành giả rất thích, thậm chí theo phong tục của họ đều ngồi thiền dưới gốc cây vả, không phải chỉ có Đức Phật mới ngồi thiền dưới cội bồ đề đâu, không phải vậy! Cho nên, đây là một phong tục của Ấn Độ, họ rất thích ngồi thiền dưới gốc cây.

Thế rồi, tôi lại tra cứu trong "Đại Đường Tây Vực Ký", cây vả này, các hành giả gọi nó là gì? Họ gọi là "cây cam lộ bất tử"! Cây cam lộ bất tử! Cho nên khi tôi nhìn thấy, ôi, cam lộ bất tử! Vậy thì tại Bodh Gaya, việc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quán đảnh cho chúng tôi cũng là quán đảnh cam lộ, Đức Phật dùng bình cam lộ để quán đảnh cho chúng ta, chẳng phải đó chính là "nước cam lộ bất tử" sao?

Vừa hay đó là cây bồ đề, tại Bồ Đề Đạo Tràng, vừa hay những gì hiển hiện cho chúng ta cũng là quán đảnh cam lộ, và cây đó lại chính là cây cam lộ bất tử! Vì vậy khi tôi nhìn thấy, ôi! Thật là tương ứng!

Tại Vườn Lộc Dã tôi nhìn thấy Phật nhãn, sau khi tra cứu sách mới biết đó là tháp Pháp Nhãn; tại Bodh Gaya, làm lễ quán đảnh cam lộ, tra cứu sách mới biết cây bồ đề còn được gọi là cây cam lộ bất tử, thật là tương ứng! Tôi thực sự không biết cây bồ đề được gọi là cây vả, cũng không biết trong mắt các hành giả, cây vả chính là cây cam lộ bất tử, vậy đây có phải là sự trùng hợp? Nếu bạn nói đó là trùng hợp thì đó là trùng hợp; nếu bạn nói đó là tương ứng thì đó chính là tương ứng. Sau khi về, tôi tra cứu sách mới biết, ôi! Đó là cây bồ đề, cây vả, cây cam lộ bất tử, tôi giật mình! Ôi! Quán đảnh cam lộ, đây chính là thánh tích cây bồ đề ở Ấn Độ.

Om mani padme hum.

24/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 193. Nói về cây bồ đề (2)

Hôm nay chúng ta tiếp tục nói về "cây bồ đề". Vì sau khi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", tôi phát hiện bản thân cây bồ đề này có rất nhiều truyền thuyết.

Lần này khi chúng tôi đến Bodh Gaya ở Ấn Độ, cây bồ đề mà chúng tôi nhìn thấy đã không còn là cây mà Đức Phật ngồi thiền chứng ngộ ngày xưa nữa rồi! Cây bồ đề này là như thế này, là vì cây bồ đề nguyên thủy đã được chiết nhánh đem đến Sri Lanka, sau đó lại được chiết nhánh từ Sri Lanka và ghép trở lại Bodh Gaya.

Trong "Đại Đường Tây Vực Ký" có ghi chép nhiều truyền thuyết về cây bồ đề. Vào thời vua A Dục, lúc ban đầu, ông vốn là người diệt Phật, ông tin theo ngoại đạo, tức là tin theo các tôn giáo khác.

Khi ông bắt đầu diệt Phật, ông đã chặt hết tất cả các cây bồ đề, kể cả cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng - nơi Đức Phật đã từng ngồi thiền. Ông cho chặt hết lá, cành, thân cây, sau khi chặt xong, ông giao cho các đạo sĩ thờ lửa để làm Hộ Ma, lấy cây đó để làm Hộ Ma, đốt nó đi, chỉ một ngọn lửa là cháy hết!

Ban đầu vua A Dục cũng là người diệt Phật, khi cây vừa bị đốt, thật kỳ lạ, các cành cây tách ra và từ bên trong mọc lên hai cây bồ đề xanh tươi, mọc ra hai gốc. Ngay khi lửa đang cháy, cành cây bỗng tách ra và từ bên trong lại mọc ra cây mới.

Vì vậy, vua A Dục nhìn thấy vậy rất xúc động, cảm thấy thật không thể nghĩ bàn! Từ đó về sau, ông rất cung kính cây bồ đề.

Mặc dù ông đã tin Phật, nhưng hoàng hậu của ông không tin, hoàng hậu không tin, bà cũng theo ngoại đạo, cũng là người dị giáo, bà đã lén ra lệnh chặt cây bồ đề, cây tuy bị chặt, vua A Dục đã dùng sữa bò để tưới nó, chỉ trong một ngày nó đã mọc lại. Đây đều là truyền thuyết!

Rồi hoàng hậu lại sai người lén lút chặt cây vào nửa đêm, hôm sau vua A Dục đến xem, ôi, cây lại đổ rồi! Kết quả là từ chỗ cây đổ lại mọc ra những chồi non, vua A Dục vẫn dùng sữa từ một nghìn con bò để tưới nó. Chẳng bao lâu sau, nó lại mọc thành một cây lớn.

Cây bồ đề đó đã trải qua nhiều tai nạn. Sau khi vua A Dục qua đời, một vị vua ngoại đạo khác lại chặt cây này xuống. Sau khi cây bị chặt, một vị vua khác là hậu duệ của vua A Dục nhìn thấy vậy, cũng dùng nhiều phương pháp để phục hồi nó, và cây bồ đề lại mọc lên. Sau đó người ta dùng dây leo và đá để xây tường bao quanh cây bồ đề này, xây rất cao.

Mọi người hãy nghĩ xem, sau khi đọc những ghi chép này, tôi cảm thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni độ sinh thật vất vả! Thật vậy, độ chúng sinh quá vất vả! Cái cây này có liên quan gì đến những người ngoại đạo đâu? Chỉ vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cây bồ đề này một lần, kết quả là cây bồ đề này trở nên nổi tiếng. Nhưng nổi tiếng cũng không tốt! Cây càng cao gió càng mạnh, mỗi người ngoại đạo đều muốn chặt cây này, không biết đã bị chặt bao nhiêu lần rồi!

Cuối cùng vẫn có một vị đầu đà, một bậc tu hành cao thâm, ngài đã đến Sri Lanka để hoằng pháp và truyền giới. Theo thông lệ, khi truyền giới phải có sự hiện diện của Giáo chủ - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, phải có một vật để tượng trưng cho giới pháp từ Đức Phật, vậy thì lấy gì làm biểu tượng tốt nhất? Cây bồ đề là tốt nhất. Vị ấy đã trực tiếp thỉnh mạch nguồn, đem cành cây bồ đề trồng tại Sri Lanka. Sau đó dùng làm pháp khí truyền giới, và cây bồ đề đã phát triển tại Sri Lanka như vậy.

Cây bồ đề hiện nay ở Bodh Gaya là được chiết nhánh từ Sri Lanka và trồng lại, trong quá trình đó, theo ghi chép trong "Đại Đường Tây Vực Ký", cây bồ đề này thực sự đã trải qua muôn vàn gian khổ. Đức Phật đã làm cho nó nổi tiếng, trở thành cây giác ngộ nổi tiếng nhất - cây bồ đề. Nhưng nó đã bị những người ngoại đạo và dị giáo chặt phá không biết bao nhiêu lần! Đốt thì đốt, chặt thì chặt! Những lần được ghi chép lại đã có ba lần rồi. Vua A Dục một lần, hoàng hậu của vua A Dục một lần, một vị vua khác một lần, ngoài ra còn có những người ngoại đạo leo tường vào chặt trộm, không biết bao nhiêu lần nữa?

Lý do Phật pháp không thể tồn tại ở Ấn Độ là vì thế lực của các ngoại đạo quá mạnh. Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Bà La Môn giáo, họ có thế lực bám rễ sâu xa quá mạnh mẽ, Phật pháp được hoằng dương vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bị xem là tôn giáo mới nổi, vừa mới xuất hiện. Vừa mới xuất hiện thì chắc chắn sẽ bị văn hóa truyền thống và tôn giáo vốn có chặt phá.

Vì vậy từ việc quan sát một cây bồ đề, chúng ta có thể thấy được, một tôn giáo mới muốn đứng vững ở một nơi nào đó thì thật là khó khăn.

Cho nên nói về Phật pháp, việc Phật giáo rút lui khỏi Ấn Độ và bị tiêu diệt ở Ấn Độ không phải là không có lý do. Bạn thấy đó, Đức Phật đã không còn nữa, chỉ còn lại một cây bồ đề, vậy mà ngay cả cây bồ đề cũng có nhiều người muốn chặt nó! Bạn nói xem cây bồ đề có tội tình gì? Cây bồ đề có tội gì chứ?

Một cái cây thì có tội tình gì? Nhưng mà cái cây đó, vẫn có nhiều người muốn chặt đầu nó! Hãy nghĩ xem, đây chính là một tính xấu vốn có của con người, một thói quen xấu vốn có của con người!

Phật pháp do Đức Phật sáng tạo và hoằng dương, Đức Phật chỉ thành tựu dưới gốc cây mà thôi, có liên quan gì đến cây này đâu? Vậy mà có nhiều người ngoại đạo như vậy căm ghét cái cây đó, ngày nào cũng chặt phá nó, điều này nói theo tâm lý học gọi là "giận cá chém thớt", họ đã trút cơn giận của mình lên cái cây đó.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

24/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 194. Nói về Quan Thế Âm Bồ Tát

Hôm nay chúng ta nói về Bồ Tát Quan Thế Âm. Mọi người đều biết, Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị đại Bồ Tát, nói về người Trung Quốc chúng ta, có thể nói là "nhà nhà có Di Đà, nhà nhà có Quan Âm". Cho nên có thể nói Bồ Tát Quan Thế Âm và chúng sinh trong thế giới Ta Bà chúng ta có duyên sâu đậm nhất!

Khi tôi bắt đầu lễ Phật, vị đầu tiên tôi thờ phụng chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Tôi đã đến tòa nhà Tổng Hợp ở Đài Trung mua một tượng Quan Thế Âm bằng sứ, đó là pho tượng đầu tiên tôi thờ phụng. Lúc đó, nơi tôi thờ phụng là trên cửa sổ phòng ký túc của mình, đặt thờ trên cửa sổ, vì lúc đó không biết gì cả nên cứ thờ ở cửa sổ.

Ôi! Thật kỳ lạ, vừa thờ phụng xong, ngay tối hôm đó Ngài đã hiển linh, tôi đã từng viết điều này trong sách. Đêm đó Ngài thực sự hiển hiện, tôi thấy Ngài ngồi trên một đóa sen nổi trên mặt biển, Bồ Tát Quan Thế Âm ngồi trên đóa sen trên mặt biển, hình ảnh rất rõ ràng.

Cảm ứng của Quan Âm thật không thể nghĩ bàn! Khi tôi bắt đầu học Phật, tôi tụng bất cứ thứ gì tôi tìm thấy. Thần chú đầu tiên tôi tụng là thần chú Bạch Y Đại Sĩ. Lúc đó tôi chưa biết tụng chú Đại Bi, tôi chỉ tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ thôi. Khi tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ này, Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát đã hiển hiện để chữa bệnh cho tôi (chú thích: bệnh viêm mắt đỏ).

Vì vậy rất nhiều người hỏi tôi, trì chú nào là tốt nhất? Tôi không có cách nào trả lời, không phải là không có cách trả lời, mà tôi cho rằng, chú nào phù hợp với chính mình, đó chính là chú tốt nhất. Bạn tự cảm thấy khi tụng chú đó, có cảm ứng, có tương ứng thì đó chính là tốt nhất.

Tôi không cho rằng chú nào là tốt nhất, như tôi tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ, đã rất tốt rồi. Sau này tôi cũng tự tụng thất Phật diệt tội chân ngôn, cũng tụng chú Đại Bi, cũng tụng mười chú nhỏ, cũng tụng chú Lăng Nghiêm. Về sau tụng nhiều chú, nhưng ban đầu nhất, vẫn là thần chú Bạch Y Đại Sĩ, tụng đến khi có cảm ứng.

Sự linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm, nói về bản thân tôi, có thể nói là rất sâu sắc trong những lần cảm ứng, vì thế Bồ Tát Quan Thế Âm đã từng cứu tôi khỏi tai nạn, cũng đã từng chữa bệnh cho tôi.

Sự hiển hiện của Bồ Tát Quan Thế Âm với tôi, vị Bồ Tát đầu tiên đến cảm ứng cũng chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Bởi vì trước đây tôi sống ở hợp tác Thôn Mới, đối diện hợp tác Thôn Mới có người thờ Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát, từ khi tôi học được cách thông linh, rồi khi cầu nguyện tại nhà mình, vị đầu tiên đến cảm ứng chính là Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát từ nhà người ta đến nhà tôi, rất rõ ràng.

Thế là tôi nói với chị dâu Vạn Cát ở nhà trước mặt rằng Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị thường xuyên đến nhà tôi. Chị ấy rất không vui, nói rằng đó là Bồ Tát nhà chị, sao lại thường xuyên đến nhà tôi được? Cuối cùng, thật kỳ lạ, Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị ấy thực sự thường xuyên đến nhà tôi.

Có một lần chị ấy rất không vui, đến nhà tôi, tôi nói với chị rằng Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị thường xuyên đến nhà tôi, chị ấy liền nổi giận, nói làm gì có chuyện đó! Câu nói chưa dứt lời, Bồ Tát Quan Thế Âm liền nhập vào người chị ấy, chị ấy lập tức quỳ xuống và bò, cứ bò mãi đến bàn thờ nhà tôi để lạy, lạy không ngừng, Ngài nói chị ấy đã nói sai, lập tức miệng chị ấy bị méo, miệng bị méo ngay lập tức!

Lúc đó cảm ứng thật là mạnh mẽ! Có một người không tin, vào đến đàn thành nhà tôi, nhìn đàn thành và hỏi, tượng này là gì? Tượng kia là gì? Rồi chỉ trỏ lung tung! (Sư Tôn giơ tay minh họa) Tôi nói đây là Bồ Tát đó! Phải cung kính, phải chắp tay! Vậy mà người đó dám dùng tay chỉ trỏ như thế, chỉ đến cuối cùng bàn tay đó...! Ôi! Tay anh ta bắt đầu run rẩy dữ dội, hai tay tự động chắp lại lạy không ngừng, mức độ cảm ứng thuở ban đầu đó, ngay cả ngón tay cũng không thể tùy tiện chỉ trỏ.

Bồ Tát rất linh thiêng. Chị dâu Vạn Cát đến nhà tôi, vừa nghe nói Bồ Tát Quan Thế Âm đến nhà tôi, chị ấy cảm thấy rất không vui, lập tức bị nhập và quỳ xuống. Cũng có một người không tin, đó là vợ của Nhan Vân Bằng, tùy tiện dùng ngón tay chỉ vào Bồ Tát Quan Thế Âm, lập tức hai tay chắp lại, lạy không ngừng.

Sự hiển linh lúc ban đầu thật là phi thường! Bây giờ ít hơn, tại sao bây giờ lại ít hơn? Bởi vì tín tâm đã vững chắc rồi. Khi lòng tin của bạn chưa vững chắc, Ngài liên tục hiển linh cho bạn thấy. Sự linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm thật sự là phi thường!

Tôi cho rằng hai chữ "Quan Âm", chữ "Âm" chính là chú, nhìn vào chú, Quan Âm nghĩa là quán chiếu chú ngữ. Bạn thấy đó, toàn bộ Tây Tạng đều là đạo tràng của Tứ Thủ Quan Âm. Bạn thấy thần chú "Om mani padme hum", tâm chú của Bồ Tát Quan Thế Âm, toàn bộ Tây Tạng đều tụng! Toàn bộ Tạng mật đều tụng "Om mani padme hum", đó là đạo tràng của Tứ Thủ Quan Âm. Những chữ "Om mani padme hum" này, chỉ cần bạn có thể quán chiếu được, Bồ Tát Quan Thế Âm sẽ có thể duỗi bàn tay từ bi của Ngài ra để hộ trì cho bạn! Có thể thấy sức mạnh của thần chú này là rất lớn.

Lòng từ bi của Bồ Tát Quan Thế Âm, ngoài việc dùng âm thanh của Ngài để cứu độ chúng sinh, Ngài còn tìm đến tiếng kêu để cứu khổ, hơn nữa Ngài còn dùng đủ loại phương pháp để thị hiện độ hóa chúng sinh. Vì vậy vị Bồ Tát này thật là vĩ đại!

Vị Bồ Tát này thật phi thường! Ngài trước đây cũng là Phật, Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật chính là tiền thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, Chính Pháp Minh Như Lai cũng là đời trước của Bồ Tát Quan Thế Âm, danh hiệu của Ngài rất nhiều. Ngài đời trước là Phật, quay ngược con thuyền từ bi hóa thành Bồ Tát, thậm chí ứng thân trong chúng sinh để độ hóa chúng sinh!

Vì vậy Bồ Tát Quan Thế Âm cũng là một trong Bát Đại Bổn Tôn của Chân Phật Tông chúng ta, chúng ta đặc biệt tôn sùng Bồ Tát Quan Thế Âm. Trước đây ở mật đàn tại nhà tôi, Bồ Tát Quan Thế Âm nhiều nhất, toàn là Bồ Tát Quan Thế Âm! Bất kể là Quan Âm nào, hễ tôi nhìn thấy Quan Âm là tôi thỉnh về, thậm chí ngay cả tượng Quan Âm nhà chị dâu Vạn Cát, dù chị ấy không thể tặng cho tôi, tôi cũng đi tìm, tìm được một tượng Bồ Tát Quan Thế Âm giống hệt như ở nhà chị ấy, hiện vẫn còn thờ ở mật đàn của tôi tại Đài Loan, y hệt như vậy. Cho nên nói rằng, sự linh cảm của Bồ Tát, thật sự là bất khả tư nghì!

Om mani padme hum.

26/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 195. Làm sao độ chúng sinh

Chúng ta đã nói về cây bồ đề, từ cây bồ đề có thể liên tưởng đến việc làm thế nào để độ chúng sinh, đây là một vấn đề rất lớn.

Pháp môn bát nhã của chính Phật Đà là một pháp môn Hiển giáo, tùy thuận tất cả chúng sinh, có duyên thì độ, không duyên thì Phật cũng không thể độ! Vì thế Phật có ba điều không thể! Trong đó, nếu bạn không có duyên, Phật cũng không có cách nào độ hóa bạn được. Đây chính là tùy thuận độ chúng sinh.

Vì vậy Phật pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại cho đến nay đã lan truyền đến Thái Lan, Tây Tạng, Trung Quốc, bán đảo Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ giới hạn trong phạm vi này, còn các quốc gia khác chỉ có rất ít người có thể nghe được Phật pháp.

Chúng sinh bao giờ mới độ hết được đây? Tôi thật sự lo lắng cho Địa Tạng Vương Bồ Tát, địa ngục chưa trống, thề không thành Phật, Ngài mãi mãi “bất không”, thật sự đã thành Bất Không Thành Tựu Phật rồi! Không thể làm trống được! Địa ngục vẫn mãi tồn tại!

Tập khí của chúng sinh không hề được cải thiện hoàn toàn dù có sự tịnh hóa của Phật pháp, hơn nữa còn có xu hướng ngày càng đi xuống, vì vậy việc độ chúng sinh, tôi cảm thấy thật là vất vả!

Mặc dù chúng ta tu học Phật pháp với lòng tin rất kiên cố, nhưng những người có đạo tâm không vững vàng thì nhiều vô kể! Chỉ cần một câu nói không đúng, họ liền thoái lui đạo tâm, chỉ một chút khó khăn trắc trở, họ liền thoái lui đạo tâm, nhân sự không hòa hợp, họ cũng thoái lui đạo tâm. Đây đều là những nghịch cảnh trong việc độ chúng sinh.

Khi nào chúng sinh mới có thể độ hết được? Tôi cũng lo lắng thay cho Bồ Tát Di Lặc, Ngài phải độ rộng khắp chúng sinh trong ba hội Long Hoa, mỗi lần phải độ đến vài ức chúng sinh. Chỉ trong ba hội Long Hoa, phải độ hết tất cả chúng sinh trên địa cầu, độ hết tất cả chúng sinh trong cõi Ta Bà. Kinh điển Phật ghi chép như vậy, nhưng làm sao độ? Làm thế nào để độ đây?

Tôi sẽ nói với Bồ Tát Di Lặc rằng, không dùng pháp đặc biệt thì không thể được, Ngài không thể tùy thuận chúng sinh, Ngài thành đạo dưới cội Long Hoa, không phải dưới cội bồ đề, cần phải hóa toàn thân thành ánh sáng, biến hóa thành hàng nghìn tỷ tia sáng, chiếu thẳng vào tâm chúng sinh, dùng phương pháp duy thức đại thần biến, hóa thành đại quang minh, đi vào tâm của hàng nghìn tỷ chúng sinh, lấy ra toàn bộ Phật thức của họ, dùng Phật thức của Như Lai để khai mở Phật thức của chúng sinh.

Dùng duy thức để chuyển hóa duy thức, để chúng sinh hiển lộ Phật tính từ tầng thức sâu nhất của họ, rồi tự thành quang minh, toàn thân họ đều biến mất, hóa thành Phật quang, trong một khoảnh khắc tất cả chúng sinh đều được thăng hoa lên thế giới Hoa Nghiêm.

Bồ Tát Di Lặc cần ba hội Long Hoa để làm gì? Ba hội ư? Không cần đâu! Một hội là đủ rồi. Dùng phương pháp duy thức đại thần biến này, một hội là được, nghĩa là, Bồ Tát Di Lặc phóng quang, hóa thành hàng nghìn tỷ tia sáng, đi vào tâm chúng sinh, khai mở Phật thức từ tầng thức sâu nhất của chúng sinh, khiến Phật tính hoàn toàn hiển lộ.

Tất cả chúng sinh trên địa cầu, Phật tính hoàn toàn hiển lộ, không một ai thoát khỏi! Tiếp dẫn toàn bộ địa cầu về thế giới Hoa Nghiêm! Đây thật sự gọi là "gà chó lên trời", gà và chó đều được khai mở hoàn toàn, trong chớp mắt nó nhận ra mình không phải là chó, mà là Phật! Trong chớp mắt nó phát hiện mình không phải là gà, mà là Phật! Chỉ cần khai mở Phật tính của chúng sinh, thì tất cả gà chó đều có thể lên trời.

Phương pháp độ chúng sinh này chính là duy thức đại thần biến của Bồ Tát Di Lặc, đây là phương pháp độ chúng sinh duy nhất của Ngài. Nếu Ngài vẫn dùng pháp môn bát nhã, được thôi! Chúng ta đều đến tin Phật, tín ngưỡng Phật, đến học Phật, bắt đầu đọc kinh, xem kinh điển, nhưng bạn chưa xem xong thì đã chết mất rồi.

Bạn có biết Bồ Tát Long Thụ đến long cung để xem Kinh Hoa Nghiêm và mang Kinh Hoa Nghiêm ra, riêng bản thân Kinh Hoa Nghiêm đã rất nhiều rồi, nhiều đến không đếm xuể, theo lời Bồ Tát Long Thụ nói, Kinh Hoa Nghiêm mà Ngài mang ra chỉ là một phần vạn của Kinh Hoa Nghiêm trong long cung mà thôi! Một phần vạn đó, Kinh Hoa Nghiêm đã khiến bạn xem không hết rồi, còn muốn đợi bạn đọc xong kinh Phật thì nhiều đời cũng đọc không hết! Cho nên pháp môn bát nhã độ chúng sinh, người có duyên thì được độ, đối với người vô duyên thì rất khó!

Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh, tôi bảo Ngài rằng, một hội Long Hoa là đủ, không cần đến ba hội Long Hoa, bởi vì ba hội Long Hoa có thể quá phiền phức. Tại sao phải cần đến ba hội Long Hoa? Điều này tôi không thể hiểu được, hội Long Hoa thứ nhất độ bao nhiêu người, hội Long Hoa thứ hai độ bao nhiêu người, hội Long Hoa thứ ba độ hết tất cả.

Tại sao phải chia làm ba lần? Chẳng lẽ còn phải chia thành bữa sáng, bữa trưa, bữa tối, chia ra ba lần để ăn sao? Phóng quang một lần độ hết là đủ rồi, chẳng lẽ một lần triệu tập không thể tập hợp tất cả mọi người lại với nhau, ánh sáng đó không thể đạt đến bảy vòng rưỡi trái đất sao? Nếu có thể đạt đến bảy vòng rưỡi, ồ, không còn nữa, không còn một người nào nữa, tất cả chúng sinh đều đã thành Phật cả rồi.

Vì vậy tôi cảm thấy, từ việc nói về cây bồ đề đến độ chúng sinh, thật quá khó khăn, ngay cả cái cây mà Phật Đà ngồi dưới gốc để khai ngộ, chúng sinh cũng muốn đốn nó đi. Cho nên Bồ Tát Di Lặc sau này độ chúng sinh, tuyệt đối không thể học theo cách độ chúng sinh của Phật Đà nữa, phải trực tiếp khai mở Phật thức, trực tiếp khiến chúng sinh thành Phật!

Tôi nghĩ như vậy đó, lúc đó! Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ được giải thoát rồi. Không còn địa ngục nữa, địa ngục đều trống không, chúng sinh trong địa ngục nhìn thấy, ồ, ta cũng là Phật! Tất cả đều thành Phật. Tôi nghĩ nên như vậy, nếu không, không còn cách nào tốt hơn nữa.

Hôm nay nói đến đây thôi.

Om mani padme hum.

26/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 196. Những điều thấy nghe ở Bodh Gaya (1)

Hôm nay tôi vẫn tiếp tục chia sẻ với mọi người về những điều thấy nghe ở Bodh Gaya.

Điểm quan trọng nhất ở Bodh Gaya là có một cây bồ đề, chính là cây bồ đề nơi Đức Phật đã giác ngộ trên tòa kim cang. Phía trước cây bồ đề có một ngôi tháp rất lớn, được chia thành hai tầng, được chạm khắc nhiều tượng Phật. Xung quanh đạo tràng bồ đề có tường bao quanh, và chung quanh có rất nhiều chùa chiền.

Theo quan điểm của tôi, nơi Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề này là địa điểm quan trọng nhất trong số tám thánh địa. Nếu không có sự thành đạo của Đức Phật, có thể nói rằng các thánh địa khác sẽ không tồn tại. Vì vậy, nơi đây quy tụ các ngôi chùa từ nhiều quốc gia, có chùa Hàn Quốc, chùa Trung Quốc, chùa Myanmar, và còn có chùa Bhutan, chùa Nepal, rất nhiều ngôi chùa đều tập trung xung quanh đạo tràng bồ đề này.

Trong tám thánh địa, nơi có nhiều chùa chiền nhất, theo tôi thấy chính là Bodh Gaya này. Không chỉ vậy, có rất nhiều hành giả tu học Phật pháp cũng tập trung tại Bodh Gaya. Khi chúng tôi đến đó, thấy rất nhiều vị Lama Tây Tạng đang đảnh lễ trước tháp bồ đề, đại bồ đề tự và cây bồ đề. Một số người trong họ phát nguyện đảnh lễ trước cây bồ đề, mỗi lần lễ là vài vạn lạy, vài trăm vạn lạy, ngày nào cũng đến lễ.

Chúng tôi cũng thấy các vị xuất gia Hiển giáo đang thiền định ở đó. Họ có mặt ở khắp nơi, dưới mỗi gốc cây đều có, dưới cây bồ đề cũng có, dưới các cây khác cũng có.

Ngoài ra còn có rất nhiều bia đá, tháp, và nhiều người vội vã đến đó như thể để giành chỗ. Có người làm đại lễ, có người tụng kinh, có người trì chú, có người thiền định, có người làm cúng dường.

Chúng tôi đã đến thăm các vị xuất gia, không phân biệt Hiển giáo hay Mật giáo, có cả các vị tăng từ Thái Lan, từ Trung Quốc, từ Đài Loan và nhiều nơi khác đến. Có thể nói đây là nơi quy tụ cuối cùng của các Phật tử. Khi bạn đến đây, bạn sẽ thấy rất nhiều hành giả tu học Phật pháp ở nơi này. Trong số đó có một vị đến từ Vụ Xã, Đài Loan, hình như Vụ Xã nằm ở Nam Đầu phải không? Chúng tôi hỏi thăm mới biết vị ấy đến từ Vụ Xã.

Tôi cũng quan sát các hành giả ở đó, thấy họ đang tụng niệm và đọc kinh điển. Khi tôi đi ngang qua, họ nhìn tôi (Sư Tôn minh họa ánh mắt) một cái, rồi nhìn nhau, chỉ cần nhìn ánh mắt đó, chúng ta đã biết họ đang nghĩ gì.

Trong ánh mắt đó không thể nhìn thấy cảm xúc, không còn tình cảm như ngày xưa nữa, rất lạnh lùng. Bạn không thể thấy được tình cảm ngày xưa của họ, không thấy được cảm xúc, hoàn toàn là một loại ánh mắt rất lạnh nhạt! Bên ngoài không thể quấy nhiễu họ được, họ không còn thuộc về trần thế, không thuộc về hồng trần phồn hoa nữa, mà thuộc về một thế giới khác.

Những hành giả ở đó đều như vậy. Khi chúng ta nhìn vào tâm họ, thực ra họ đều đang chờ đợi, họ ở đó làm đại lễ, cúng dường, tụng kinh, trì chú, có người đi nhiễu tháp, các ni cô tụ thành từng nhóm đi nhiễu tháp và niệm Phật không ngừng, có các hành giả Mật giáo vừa đi vừa lần tràng hạt và trì chú, có người thì ngồi thiền. Nhìn vào ánh mắt của họ, dường như tất cả đều đang mong chờ được thấy "viên ngọc phương Đông".

Thực ra, mọi người đến đó đều muốn học Phật và mong được thành Phật. Trong tâm họ đều mong được giống như Phật Đà, được giác ngộ và chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề. Ai mà chẳng muốn đạt được Chính Giác? Ai cũng muốn cả! Mọi người đến đó đều mong mỏi, hy vọng có được cơ duyên, cũng được thấy viên ngọc phương Đông! Khi nhìn thấy ngôi sao phương Đông lấp lánh, cuối cùng họ đã giác ngộ! Họ chính là Phật.

Có thể nói rằng, thật ra Phật Đà là một danh xưng phổ biến, chỉ cần bạn đạt được Chính Giác, bạn chính là Phật Đà. Chỉ cần thành tựu Chính Đẳng Giác, bản thân bạn chính là Phật Đà. Vì vậy, mọi người ở đó tu hành, tôi thấy ai cũng rất thành kính, ngồi như thế này (Sư Tôn minh họa), tuy họ liếc nhìn chúng tôi một cái, nhưng thực ra, trong lòng họ đang nghĩ: "Những người này đang làm gì vậy? Đi tới đi lui, làm phiền việc tu hành của tôi."

Mặc dù cây bồ đề có hàng rào bao quanh, nhưng chúng tôi có thể vào trong, tại sao? Bởi vì chúng tôi có mối quan hệ đặc biệt, nên được phép vào. Khi vào bên trong, cũng có rất nhiều người ngồi ở đó, dưới cội bồ đề ai cũng chiếm một chỗ, mọi người chen chúc dưới gốc cây, hy vọng được giống như Đức Phật.

Thực ra, chúng ta có thể nhận thấy rõ sự mong đợi đó, nó hoàn toàn là sự bộc lộ từ nội tâm, họ muốn đạt được Chính Đẳng Chính Giác.

Đối với mỗi hành giả, kỳ vọng cao nhất chính là đạt được Chính Đẳng Giác, trần thế chẳng là gì cả, họ một lòng một dạ chỉ đi theo con đường tu hành, mong muốn đạt được Chính Đẳng Chính Giác. Họ muốn học Phật, muốn tu hành, muốn sống cuộc đời của một hành giả thanh tịnh.

Tại nơi đây, những gì chúng tôi nhìn thấy thực sự là một bầu không khí tu hành thanh tịnh lan tỏa khắp nơi. Mỗi người đều tinh tấn, thực hiện đại lễ, mỗi lần lễ là vài trăm vạn lạy, ngày nào cũng làm như vậy để tiêu trừ nghiệp chướng.

Cảnh tượng chúng tôi thấy ở Bodh Gaya thật sự rất cảm động.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

27/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 197. Những điều thấy nghe ở Bodh Gaya (2)

Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục nói về những điều thấy nghe ở Bodh Gaya.

Mọi người đều biết, ngoài cây bồ đề và đại bồ đề tự ra, sông Ni Liên Thiền <span className="note-blue">[Phalgu]</span>- nơi Phật Đà từng tắm gội - cũng ở gần đó. Nhìn thẳng từ sông Ni Liên Thiền về phía trước là núi Chính Giác. Tại sao gọi là núi Chính Giác? Ở một nơi rất xa có một ngọn núi, vào thời Đức Phật, có lẽ được gọi là Tuyết Sơn, đó chính là khu rừng khổ hạnh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tu khổ hạnh trong rừng suốt sáu năm, sau sáu năm khổ hạnh, Ngài mới từ núi Chính Giác đi xuống, đến sông Ni Liên Thiền để tắm. Khi tu khổ hạnh đến mức không chịu nổi, Ngài thậm chí không thể đến sông Ni Liên Thiền để tắm rửa, muốn đến bờ sông uống nước cũng không được.

Vì vậy có thể nói rằng ở Bodh Gaya có cây bồ đề, có sông Ni Liên Thiền, lại có núi Chính Giác, mọi người đều có thể nhìn thấy.

Vì vậy, ở đó chúng ta có thể thấy rất nhiều hành giả từ khắp nơi trên thế giới tập trung về tu hành. Trong lòng tôi cũng nghĩ rằng: ai cũng muốn "ăn theo" Đức Phật, bởi vì Ngài đã chứng đắc Chính Đẳng Chính Giác ở đây! Mọi người nghĩ rằng, vì Đức Phật đã giác ngộ ở nơi này, chắc chắn vẫn còn luồng khí giác ngộ lưu chuyển, đến đây hít thở vài hơi, có lẽ sẽ đắc Chính Giác sớm hơn một chút.

Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đắc Chính Giác tại nơi đây. Có lẽ bạn đến ngồi một lát, ôi! Chỉ vài phút là bạn cũng đắc Chính Giác! Hít vài hơi là đủ rồi. Mọi người đều có suy nghĩ như vậy, vì thế các Phật tử phần lớn đều tập trung ở đó. Các thánh địa khác thì ít người hơn một chút, nhưng ở Bodh Gaya thì đông nhất.

Mọi người đều tu tập rất nghiêm túc ở Bodh Gaya, có thể bình thường họ không nghiêm túc đến vậy, nhưng khi đến đó thì trở nên rất tinh tấn. Khi đến nơi, họ nghĩ: "Đây là nơi Đức Phật đã chứng đắc Chính Giác, đến đây nhất định phải nghiêm túc." Nếu bạn đến đó mà vẫn còn lơ là, thì không còn cách nào cứu được! Phải không? Đã đến Bodh Gaya, dưới cội bồ đề, nơi Đức Phật chứng đắc Chính Giác mà vẫn còn qua loa đại khái, thì thực sự là vô phương cứu chữa.

Vì vậy chúng tôi đã thấy và cũng suy nghĩ làm thế nào để đạt được Chính Giác? Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt được Chính Giác như thế nào? Ngài thiền định về: "Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh". Ngài suy nghĩ về vấn đề này. Sau đó, Ngài lại nghĩ: "Cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt". Cuối cùng Ngài nghĩ: "Sinh và diệt là bình đẳng, Phật và chúng sinh không có sự khác biệt". Ngài giác ngộ rằng Phật và chúng sinh không có sự khác biệt, sinh và diệt cũng bình đẳng, từ đó Ngài nương theo Thập Nhị Nhân Duyên mà khai ngộ, ngôi sao trong tâm hiển hiện, và Ngài đã nhìn thấy ngôi sao phương Đông.

Để khiến ánh sáng trong tâm hiển hiện, để Phật tính tự hiển lộ, đều có phương pháp.

Mật giáo của chúng ta cũng có phương pháp tu hành, có một số khẩu quyết quan trọng cần chia sẻ với mọi người. Trong tu hành Mật giáo, tư thế thân phải ngay thẳng; khi thân ngay thẳng thì mạch mới thẳng; khi mạch thẳng thì khí mới chính; khi khí chính thì tâm mới chính.

Vì vậy khi tu hành cũng phải chú ý đến thân thể, tư thế thân phải ngay thẳng, tư thế ngồi là Tỳ Lô thất chi, bạn phải hiểu rõ các tư thế ngồi khác nhau như tọa pháp sư tử, tọa pháp voi, tọa pháp tiên nhân, ba phương pháp này đều rất quan trọng. Tư thế ngồi phải ngay thẳng, tọa pháp Tỳ Lô thất chi, khi bạn đã điều chỉnh tư thế thân thể đúng, trong Mật giáo nói về trung mạch, khí mạch, minh điểm, lúc đó mạch của bạn mới thẳng. Nếu thân thể nghiêng lệch, mạch sẽ không thẳng; thân ngay thì mạch thẳng; mạch thẳng thì khí ra vào mới chính. Nói cho bạn biết, khi khí ra vào được thuận, được chính, thì ý niệm của bạn mới chính, tức là tâm của bạn mới chính.

Mật giáo nói về sự hợp nhất của tâm và khí, tâm và khí của bạn là một, không phải hai, cho nên nếu nói rằng, khi khí dao động thì tâm cũng sẽ dao động; khi khí của bạn bình ổn thì tâm cũng sẽ định. Điều này rất quan trọng.

Thân ngay thì mạch mới thẳng, mạch thẳng thì khí mới chính, khí chính thì tâm mới chính. Đây là phương pháp tu hành của Mật giáo, bởi vì Mật giáo tu về khí mạch minh điểm.

Vậy thì, làm sao để thân khẩu ý được thanh tịnh?

Về sự thanh tịnh của thân, chỉ cần thân ngay thẳng thì thân thể sẽ thanh tịnh.

Về sự thanh tịnh của khẩu - chỉ cần giữ miệng đóng lại, im lặng như người câm, giống như người câm vậy, thì khẩu của bạn sẽ thanh tịnh, bởi vì bạn không nói chuyện, không nói lung tung, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói đâm thọc, không nói lời ác độc, không xúi giục thị phi.

Nói nhiều quá cũng không tốt, với những người hay nói nhiều, tôi xin nói cho bạn biết, tốt nhất là tìm một nơi hoang vu trên núi sâu để nói lung tung, đến bên sông cứ nói mãi nói mãi theo dòng nước chảy, nói đến cuối cùng bạn sẽ thấy mệt mỏi, bạn sẽ không muốn nói nữa. Vì vậy, tốt nhất là bạn hãy đi vào núi sâu hoang vu để nói.

Còn về ý niệm, làm thế nào để được thanh tịnh? Hãy an trụ tâm trong hư không, khi tâm của bạn an trụ trong hư không, thân thể bạn sẽ tự phóng quang, Phật tính sẽ dần dần hiển lộ.

Bạn có biết không? Khi tâm bạn gửi gắm vào hư không, ánh sáng bên trong bạn sẽ tự nhiên hiển hiện. Có một bộ kinh gọi là "Phổ Minh Kinh", trong đó có viết rằng, khi tâm bạn an trụ trong đại không bên ngoài, ánh sáng bên trong bạn sẽ hiển hiện.

Trên đây là phương pháp thanh tịnh thân khẩu ý.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 198. Nói về Phổ Hiền Vương Như Lai

Hôm nay chúng ta nói về Phổ Hiền Vương Như Lai.

Nói về Phổ Hiền Vương Như Lai, Ngài là một vị cổ Phật, cũng có thể nói là một vị Phật nguyên thủy, là một vị Phật từ rất rất xa xưa.

Chúng ta biết rằng, Bồ Tát Long Thụ đã tìm được kinh điển trong long cung, bởi vì rất nhiều kinh điển cuối cùng đều được cất giữ trong cung điện của rồng, và theo như truyền thuyết, kinh điển ở cõi Ta Bà này chưa đến một phần vạn của số kinh điển đó.

Trước đây, khi Bồ Tát Long Thụ học Phật, sau vài năm tu học, Ngài bắt đầu cảm thấy kiêu mạn. Sự kiêu mạn này thể hiện qua ý nghĩ: "Ôi! Tôi mới học có vài năm mà đã hiểu hết tất cả kinh điển của Đức Phật chỉ sau một lần đọc, và điều này khiến tâm tôi trở nên rất kiêu ngạo." Ngài nghĩ rằng học Phật chỉ đơn giản có vậy thôi, và Ngài đã học hết tất cả rồi.

Khi vào long cung rồi Ngài mới nhận ra rằng kinh điển ở cõi Ta Bà này chưa đến một phần vạn kho tàng của rồng. Vì vậy Ngài đến long cung để tìm kiếm kho tàng, tức là đến long cung để lấy ra kinh tạng, trong đó có một bộ là Kinh Hoa Nghiêm.

Bồ Tát Long Thụ ở trong long cung một đêm, đọc Kinh Hoa Nghiêm, tuy nhiên theo như truyền thuyết, Kinh Hoa Nghiêm mà Bồ Tát Long Thụ đã đọc và mang ra, cũng chỉ là một phần vạn mà thôi, có thể thấy Phật pháp thật sự như biển cả mênh mông vậy.

Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến "một vị Bồ Tát", chính là Phổ Hiền Vương Như Lai. Vậy thì Phổ Hiền Vương Như Lai cũng chính là "có một Bồ Tát" mà chúng ta thường nhắc đến trong mỗi lần sám hối, mỗi lần đều nhắc đến có một vị Bồ Tát, đó chính là Phổ Hiền Vương Như Lai.

Tôi đã từng suy nghĩ về một vấn đề: Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến một cõi tịnh thổ, đó là Hoa Tạng thế giới; vậy thì Hoa Tạng thế giới và Cực Lạc thế giới có gì khác nhau? Tôi đã từng nghĩ về vấn đề này.

Hoa Tạng thế giới và Cực Lạc thế giới có gì khác nhau? Câu hỏi này rất khó trả lời, mọi người có thể suy nghĩ về điều này, bây giờ tôi chưa nói đáp án cho mọi người. Các bạn có thể tra cứu một số kinh điển, nghiên cứu xem tại sao cõi tịnh thổ này được gọi là Hoa Tạng thế giới? Tại sao tịnh thổ của Đức Phật A Di Đà được gọi là Cực Lạc thế giới? Có gì khác nhau?

Phổ Hiền Vương Như Lai có một phương pháp tu trì vĩ đại nhất, gọi là "tịch diệt thần biến Tam ma địa". Nếu bạn có thể nhập vào Tam ma địa này, bạn sẽ có thể đến được Hoa Tạng thế giới, và khi vào được Hoa Tạng thế giới, bạn sẽ đạt được bốn đại thành tựu.

Bốn thành tựu vĩ đại này là gì?

Thành tựu thứ nhất là "tất cả nghiệp chướng đều được tiêu trừ", nghĩa là đoạn trừ hết tất cả nhân của luân hồi. Khi nhân của lục đạo luân hồi hoàn toàn bị đoạn trừ, thì không còn phải luân hồi nữa, không còn luân hồi nữa! Khi không còn luân hồi, tất cả nghiệp đều tiêu diệt, hoàn toàn không còn nghiệp chướng. Đây là điều tốt nhất.

Thành tựu thứ hai là "thành tựu tất cả pháp", tất cả Phật pháp đều được thành tựu. Tịch diệt thần biến Tam ma địa có năng lực này, bạn có thể thành tựu tất cả Phật pháp, thành tựu quả vị Phật, tức là đầy đủ trí tuệ đại viên mãn, tất cả đều viên mãn.

Thành tựu thứ ba là "thành tựu tất cả chư Phật". Ồ! Không chỉ là một vị Phật mà thôi, mà là thành tựu tất cả chư Phật! Tất cả chư Phật đều thành tựu. Có thể thấy Phật nguyên thủy Phổ Hiền Vương Như Lai thật sự là một vị Phật nguyên thủy, là vị Phật sớm nhất. Trong Mật giáo Hồng giáo, A Nhĩ Đạt Ma Phật chính là Phật nguyên thủy, chính là Bà Tiên Như Lai, chính là Phổ Hiền Vương Như Lai. Điều này thật vĩ đại, có thể thành tựu tất cả chư Phật.

Thành tựu thứ tư là "độ hết tất cả chúng sinh". Khi bạn có thể thành tựu Tịch diệt thần biến Tam ma địa, bạn sẽ có thể độ hết tất cả chúng sinh.

Như tôi đã nói lần trước, trong tương lai khi Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh, Ngài chỉ cần dùng duy thức đại thần biến của mình, phóng ánh sáng đi va chạm với chủng tử thức của chúng sinh, khai mở chủng tử thức của chúng sinh, hiển lộ Phật tính, cùng nhau thành Phật! Chỉ có độ chúng sinh theo cách này mới có thể độ hết tất cả chúng sinh, nếu không việc độ tận chúng sinh sẽ rất khó khăn.

Trong tương lai, khi Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh tại ba hội Long Hoa, tôi đề xuất như thế này, chỉ có thể dùng duy thức đại thần biến, giống như nguyên tử học vậy, tức là sử dụng một loại ánh sáng phát ra từ bản thân nguyên tử, sau đó đi vào trong tâm của mỗi chúng sinh, va chạm với Phật tính vốn có của họ, khiến nó hiển hiện, từng va chạm một, giống như sự phân tách của bom nguyên tử vậy, đến một lúc nào đó, tất cả đều hoàn toàn phân tách.

Nghĩa là bản thân duy thức của Bồ Tát Di Lặc trước tiên sẽ phân tách, sau đó dùng phương pháp ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, giống như lưới ngọc của vua Đế Thích, lần lượt phân tách Phật tính của chúng sinh, rồi tất cả đều phân tách thành ánh sáng, cùng nhau thành tựu.

Tôi nghĩ rằng tịch diệt thần biến Tam ma địa của Phổ Hiền Vương Như Lai cũng có hai chữ "thần biến", chắc chắn có thể biến hóa thành rất nhiều ánh sáng, chỉ cần chiếu một lần là tất cả chúng sinh đều thành tựu. Trong mắt Phật, trái đất giống như một hạt cát vậy, chỉ cần nhìn một cái, tất cả đều thành tựu, đúng là như vậy đó.

Trong tương lai chỉ có thể độ chúng sinh theo cách này, không thể lần lượt xuất hiện để truyền pháp, tôi lại giảng cho bạn nghe, rồi bạn lại tu, tu đến bao lâu cũng không biết tu được như thế nào, trải qua mấy đại kiếp cũng không thể độ hết chúng sinh. Phương pháp duy nhất chính là dùng phương pháp phân tách hạt nhân, mới có thể độ tận chúng sinh.

Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 199. Nói về Không Hành Mẫu

Hãy nói về ba chữ "Không Hành Mẫu". Trong Mật giáo, chúng ta thường nhắc đến Không Hành Mẫu. Không Hành Mẫu là những vị Hộ pháp nữ trong không gian giúp đỡ hành giả tu tập, thuộc về hệ mẫu hệ, hiển hiện thành dạng nữ tính, đều gọi là Không Hành Mẫu. Bản chất chính của các vị là hộ trì hành giả tu tập, có thể nói là Không Hành Hộ Pháp, tất cả các vị Hộ pháp nữ trong không gian đều được gọi là Không Hành Mẫu.

Trong Mật giáo có nói đến sáu loại Không Hành Mẫu, loại thứ nhất gọi là Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu.

Chúng ta biết Mật giáo có ba căn bản: một là Căn bản Thượng sư là sự gia trì gốc; một là Căn bản Bổn tôn, chính là thành tựu gốc; một là Căn bản Hộ pháp, chính là sự nghiệp gốc.

Trong quá trình tu hành, bạn có thể cảm ứng được Bổn tôn, cũng có thể cảm ứng được Hộ pháp, Hộ pháp luôn ở xung quanh hành giả để hộ trì bạn. Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, Hộ pháp của nam giới là Không Hành Dũng Phụ, Hộ pháp của nữ giới là Không Hành Mẫu. Còn Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu xuất hiện là do bạn tu hành đạt đến một cảnh giới, cảnh giới này là khi thân bạn đã sinh ra tịnh quang, lúc đó Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ đến bảo vệ bạn.

Chúng ta biết Pháp Vương Karmapa thứ 16, trong mỗi bức ảnh của Ngài Karmapa, khi đội mũ miện đen, Ngài luôn phải dùng một tay giữ chiếc mũ miện đen đó, chiếc mũ miện này khá nhỏ, dường như chỉ đội đến đây thôi (Sư Tôn thị phạm), vì đầu Ngài khá to nên khi đội mũ miện trông có vẻ rất nhỏ.

Bản thân chiếc mũ miện này có một truyền thuyết, tại sao phải dùng tay giữ mũ miện đen? Truyền thuyết kể rằng: Chiếc mũ miện này được dệt từ tóc của mười vạn Không Hành Mẫu, vì bản thân các vị Hộ Pháp Không Hành có thể bay trong hư không, nên mỗi lần đội mũ miện đều phải dùng tay giữ lại.

Chiếc mũ miện này được dệt bởi Không Hành Mẫu, tóc của các vị tự thân có thể bay được, nếu không dùng tay giữ chiếc mũ miện này, nó sẽ bay vào hư không và không bao giờ quay lại nữa, nghĩa là một khi mũ miện bay đi, nó sẽ bay mất luôn, không quay về. Vì vậy bạn thấy Đại Bảo Pháp Vương luôn phải dùng tay giữ chiếc mũ miện đen. Chúng ta hy vọng có một lần Ngài thả tay ra xem thử, liệu nó có bay đi không? Liệu nó có bay về hư không không?

Bởi vì theo truyền thuyết, tất cả sợi chỉ của chiếc mũ miện đen này đều được dệt từ tóc của chính Không Hành Mẫu, nên Ngài phải giữ chặt mũ miện đen, còn những chiếc mũ miện khác thì không cần phải giữ. Các bạn đội mũ Ngũ Phật không cần phải bắt chước giữ chặt như vậy đâu.

Nói về bản thân Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, vì sau khi bạn tu tập sinh ra tịnh quang, bạn sẽ tự cảm ứng được Ngài. Khi bạn vừa sinh ra tịnh quang, thực ra sẽ có một hiện tượng rất đặc biệt, khi một người thiền định thành tựu, sẽ có mười vạn Không Hành Mẫu trong hư không gọi tên bạn.

Ví như khi bạn thành tựu, trong lúc thiền định, đột nhiên tâm quang hiển lộ, trong hư không gió nổi mây vần, tất cả Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ tụ họp, gọi tên bạn. Hiện tượng thành tựu này, có thể nói giống như gió nổi mây vần vậy, là cố ý cho bạn biết, biểu thị ý nghĩa chúc mừng, ăn mừng.

Vì vậy, một hành giả chân chính sẽ có được sự cảm ứng này, có một trạng thái như cánh cửa được mở hoàn toàn, thấu suốt rõ ràng tất cả mọi việc. Do đó, việc có khai ngộ hay không, bản thân phải tự biết, không phải là kiểu dường như có, dường như không. "Có khai ngộ không?" "Hình như có." Hỏi lại lần nữa, "Có khai ngộ không?" "Hình như không." Không phải là hình như đâu! Mà là cánh cửa đã được mở ra, tất cả Hộ pháp trong hư không đều hoan hô! Đều sẽ gọi tên bạn.

Giống như trước đây khi tôi thần du đến Tây phương Cực Lạc, các vị Hộ Pháp Không Hành đều gọi tên tôi, họ gọi: "Liên Hoa Đồng Tử!" Gọi rất to, bạn sẽ nhớ rất rõ ràng, khi âm thanh đó vào tai bạn, in vào tâm bạn, sẽ không bao giờ mất đi.

Hiện tượng lúc đó của tôi rất rõ ràng, không phải là đang nằm mơ đâu! Trước đây chưa từng có bốn chữ "Liên Hoa Đồng Tử" in trong tâm tôi, hoàn toàn không có, tôi chưa từng nghĩ đến, nhưng họ sẽ gọi tên bạn, sẽ gọi danh hiệu của bạn, để bạn mãi mãi ghi nhớ.

Vì vậy, khi bạn khai ngộ, trong hư không sẽ gió nổi mây vần, tất cả Hộ pháp đều đến, cùng nhau gọi tên bạn, lúc đó, bạn cũng đột nhiên biết được danh hiệu của mình là gì, lúc này bạn đã được ấn chứng.

Được ấn chứng rồi, trong Đạo giáo gọi là "thụ lục", nghĩa là đã có vị trí rồi. Khi đến đó, họ sẽ thụ lục cho bạn, bạn được gọi là gì, bạn được gọi là gì, bạn được gọi là Hoa Quang Như Lai, bạn được gọi là Như Lai gì đó, lúc đó chính là một danh hiệu, một ấn kí, ban cho bạn thọ ký, trong Đạo gia gọi là "thụ lục".

Hiện tượng này là có thật, hoàn toàn có thật, khi tâm quang vừa phát lộ, tịnh quang vừa hiển hiện, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ gọi tên bạn trong hư không, đó chính là lúc tất cả Hộ pháp đều hiển hiện.

Trong Mật giáo, dù là Không Hành Mẫu hay Không Hành Dũng Phụ đều là những vị hộ trì hành giả, khi bạn có được Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, bất cứ việc gì, chỉ cần giao cho Hộ pháp làm là được, không cần bạn phải tự mình làm. Hộ pháp sẽ giống như trong lễ quán đảnh từ xa vậy, Kim Cương Thượng sư gọi Hộ pháp, Hộ pháp cầm bình quán đảnh, đến quốc gia của bạn, đến đỉnh đầu của người quy y đó, rắc cam lộ quán đảnh cho họ.

Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 200. Nói về Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu

Chúng ta hãy nói thêm về Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu. Đối với mỗi hành giả Mật giáo, trong quá trình tu pháp, nếu có hiện tượng tương ứng, chắc chắn sẽ có Hộ pháp đến giúp đỡ. Trong các vị Hộ pháp có Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, việc chiêu cảm được Hộ pháp giáng lâm là do bản thân bạn tu hành đạt được tương ứng hoặc chứng ngộ, lúc đó các Ngài mới đến hộ trì bạn, giống như bản thân bạn đã tu thành một khối nam châm, có từ tính, những miếng sắt xung quanh tự nhiên sẽ vì từ tính bạn tạo ra mà đến gần bạn, hộ trì bạn, đây chỉ là một ví dụ để giải thích đạo lý.

Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu là một vị Không Hành Mẫu rất vĩ đại, bạn nhất định phải ấn chứng được tịnh quang, nghĩa là bản thân bạn phải phát quang, sinh ra ánh sáng, Ngài mới đến hộ trì bạn, Ngài mới đến bảo hộ bạn. Nếu bản thân bạn chưa sinh ra tịnh quang, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ không giáng lâm, đây là một đạo lý tương ứng qua lại.

Bây giờ tôi sẽ dạy mọi người về một yếu nghĩa và khẩu quyết của pháp minh điểm và phương pháp hòa tan điểm. Có rất nhiều phương pháp để sinh ra tịnh quang. Thông thường, về phương diện nội tu chuyết hỏa, tôi đã giảng qua rồi, đó là đưa chuyết hỏa lên, khi lên đến đỉnh, vì lửa tự nó làm tan chảy minh điểm này, minh điểm nhỏ giọt xuống, lửa và nước hòa hợp với nhau ở Tâm luân, dung hợp với nhau, dần dần mở Tâm luân ra, mới có thể sinh ra tịnh quang. Đây là một phương pháp nội tu, tức là chuyết hỏa dâng lên chạm vào minh điểm của chữ "Han", từ chữ "Han" hòa tan điểm đến Tâm luân, Tâm luân dần dần mở ra sinh ra tịnh quang.

Ngoài ra còn có một phương pháp, đó là Đại Viên Mãn khán quang, Đại Viên Mãn khán quang phải được thực hiện vào lúc mặt trời mới mọc, phương pháp tu hành này được gọi là khán hỏa kính, "nhật" đại diện cho tấm gương lửa.

Khi mặt trời mới mọc thì khán hỏa kính, đó là dẫn ánh sáng mặt trời vào trong cơ thể, đặt ở Tâm luân, giữ ở Tâm luân, tức là dẫn ánh sáng vào trong cơ thể bạn đặt ở Tâm luân, biến thành một mặt trời ở Tâm luân, dùng năng lượng này để mở Tâm luân của bạn.

Cũng có cách nhìn "thủy kính", ban ngày nhìn kính lửa, ban đêm nhìn trăng, ánh sáng trăng được gọi là thủy kính. Khi nhìn thủy kính, cũng giữ ánh trăng ở Tâm luân, dùng năng lượng ánh trăng này để mở Tâm luân. Lúc bình thường thì nhìn ánh sáng gì? Thông thường là nhìn ánh đèn, khi không có mặt trời, cũng không có trăng thì nhìn gì? Có thể dẫn ánh sáng đèn vào trong cơ thể bạn.

Tuy nhiên, việc nhìn ánh sáng có khẩu quyết riêng, bản thân việc nhìn ánh sáng có khẩu quyết rất quan trọng, không được nhìn trực tiếp vào mặt trời, cũng không được nhìn trực tiếp vào mặt trăng, cũng không được nhìn trực tiếp vào ánh đèn, phải nhìn vào hào quang của nó, tức là ánh sáng xung quanh, ánh sáng xung quanh mặt trời, ánh sáng xung quanh mặt trăng, ánh sáng xung quanh đèn, không phải nhìn trực tiếp mà là nhìn "ánh sáng viền".

Vì vậy, trong Mật pháp Đại Viên Mãn có dạy mọi người: có cách nhìn lên, cách nhìn xuống, cách nhìn trái, cách nhìn phải, mắt nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải đều có phương pháp riêng, chứ không phải là bạn nhìn thẳng vào mặt trời, nhìn thẳng vào mặt trăng, nhìn thẳng vào ánh đèn: không phải vậy!

Khi bạn thường xuyên thực hành như vậy, nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải vào ánh sáng viền, hãy đưa ánh sáng viền vào trong cơ thể, hít một hơi, quán tưởng ánh sáng đi vào trong cơ thể, sau đó đặt tất cả ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng đèn vào Tâm luân, dần dần để Tâm luân mở ra, sinh ra tịnh quang.

Lúc này không chỉ khi mở mắt mới có thể thấy ánh sáng, mà sau cùng không cần mở mắt cũng có thể thấy được ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng kính lửa, ánh sáng kính nước, không phải mở mắt để nhìn, mà là quán chiếu bản thân, nhìn vào bên trong, thấy được Tâm luân của mình phát ra ánh sáng mặt trời, thấy được màu sắc của ánh sáng.

Ở đây sẽ có năm loại màu sắc. Nếu thấy ánh sáng trắng, điều đó có nghĩa là nghiệp chướng của bản thân đã được thanh tịnh, không còn ô uế. Nếu thấy ánh sáng màu vàng thì đại diện cho sự viên mãn, tu pháp đã rất viên mãn. Thấy ánh sáng màu xanh lục là bảo quang. Thấy ánh sáng màu đỏ là phúc đức quang. Thấy ánh sáng màu xanh lam là bất động quang. Khi nhìn ánh sáng tốt nhất là không nên di chuyển, và tốt nhất là cả năm loại ánh sáng đều xuất hiện đồng đều, rất đồng đều, không phải chỉ thấy một loại.

Trong "Hồng Quang Đại Thành Tựu" dạy bạn cách nhìn ánh sáng, nhìn kính lửa, nhìn kính nước, nhìn đèn, có thể nhìn phía trên, nhìn phía dưới, nhìn bên trái, nhìn bên phải, nhìn ánh sáng xung quanh, sau đó quán tưởng vào Tâm luân, hít một hơi quán tưởng tịnh quang vào Tâm luân. Khi bạn có thể nhìn vào bên trong thấy được ánh sáng, đó là đã nắm chắc sự khai ngộ, thực sự nhìn vào bên trong thấy được ánh sáng, nhìn thấy được năm màu sắc này, điều chỉnh cho đều, điều chỉnh năm màu sắc đều như ánh sáng cầu vồng, thì có thể đạt được thành tựu. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

31/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 201. Khẩu quyết nhìn ánh sáng

Hôm nay tôi sẽ dạy mọi người khẩu quyết nhìn ánh sáng. Từ nội tu, tu chuyết hỏa, rồi chuyết hỏa lại bùng lên để hòa tan minh điểm, đây là một khẩu quyết rất quan trọng. Trong Mật giáo, chúng ta biết khí, mạch, minh điểm là những yếu tố rất quan trọng trong tu hành, chuyết hỏa dâng lên, hòa tan minh điểm chữ "Han" của hoa sen nghìn cánh, khẩu quyết này rất quan trọng.

Tiếp theo, bản thân sẽ sinh ra tịnh quang minh điểm, cũng chính là điểm hòa tan. Thường ngày sử dụng cách nhìn ánh sáng, nhìn ánh sáng kính lửa (ánh sáng mặt trời), ánh sáng kính nước (ánh sáng mặt trăng), ánh sáng đèn, khi quán tưởng ánh sáng đi vào cơ thể mình, cũng cần phải hòa tan điểm.

"Điểm hòa tan" là gì? Bởi vì khi điểm hòa tan nhỏ xuống Tâm luân, nhờ vào năng lượng của ánh sáng mặt trời, mặt trăng và ánh đèn, khi minh điểm tan chảy, ánh sáng minh điểm sẽ hiện ra.

Khẩu quyết nhìn ánh sáng không phải là nhìn trực tiếp vào ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, mà là nhìn ánh sáng xung quanh, cần nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải; trong quá trình nhìn, mắt sẽ tự nhiên chuyển động.

Khi quán chiếu nội tại, nhắm mắt lại, do đã quen với việc nhìn ánh sáng thường ngày, khi nhắm mắt nhìn vào bên trong, bạn có thể thấy được mặt trời sinh ra ánh sáng trong tâm mình, năm loại màu sắc sẽ hiện ra, có màu trắng, màu vàng, màu đỏ, màu xanh lục, màu xanh lam.

Tốt nhất là những ánh sáng đó không nên chớp động, nghĩa là ánh sáng phải đứng yên, không chớp nháy. Loại ánh sáng này rất đặc biệt, không phải là màu sắc ánh sáng được tưởng tượng ra bằng ý niệm ép buộc, mà là cực kỳ đặc biệt, có thể khiến bạn cảm nhận được loại ánh sáng thanh tịnh quang minh đó, đây mới chính là tịnh quang chân thật.

Khi nội quán có thể thấy được ánh sáng, có thể nói là đã nắm chắc được sự ấn chứng thành công. Khi năm loại ánh sáng hiện ra đầy đủ, một quầng ánh sáng tròn hiện ra như cầu vồng, lúc này ánh sáng được gọi là "viên không quang".

Khi bạn thấy năm màu ánh sáng ổn định bất động ở đó, đây gọi là viên không quang. Khi một viên không quang xuất hiện, sẽ tiếp tục hiện ra hai, ba, bốn, năm, sáu viên không quang, cứ thế hiện ra liên tục.

Nếu ánh sáng hiện ra được nối liền như đuôi ngựa, ở giữa có một viên không quang kết nối lại, thứ này được gọi là "kim cang luyện". Viên không quang được nối liền như đuôi ngựa chính là chuỗi kim cang. Lúc này, chỉ cần nhắm mắt lại là có thể thấy được tịnh quang chuỗi kim cang ổn định sinh ra.

Khi viên không quang sinh ra, tịnh quang đã được sinh ra. Khi nhìn thấy kim cang luyện là bước vào giai đoạn thứ hai, lúc này bản thân sẽ hòa nhập vào tính Không, và sẽ sinh ra trí huệ, lúc này huệ lực (sức mạnh của trí huệ) sẽ tự nhiên tăng trưởng không ngừng, hoàn toàn khác với bình thường trước đây, đối với mọi việc đều "thông suốt".

"Thông suốt" nghĩa là gì? Đó là khi bạn nhìn thấy mọi thứ đều rất rõ ràng, đối với mọi sự việc của chúng sinh trong thế giới Ta Bà, đều có thể hiểu biết tường tận, tức là trí huệ tăng trưởng, không còn mơ mơ hồ hồ nữa, không còn phân vân giữa đúng sai, cũng không bị người khác chi phối, không bị một câu nói nào đó tác động, bởi vì trí huệ của bạn đã trở nên siêu việt, đã trở nên xuất chúng, đã trở nên vô thượng.

Khi bạn nhìn thấy lúc này, ánh sáng trí huệ sẽ hiển hiện, chuỗi kim cang của viên không quang còn được gọi là trí huệ quang. Lúc này, không chỉ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu giáng xuống hộ trì, mà còn có một vị Không Hành Mẫu khác xuất hiện, đó là Trí Huệ Không Hành Mẫu, bởi vì bạn đã sinh ra trí huệ lực rồi!

Giống như trước đây khi tôi đọc kinh sách, tôi vừa nhìn vào, ồ, sao sâu sắc quá! Khó quá! Trước đây khi tôi đọc sách cổ điển Trung Quốc, như khi cầm quyển "Liêu Trai Chí Dị" lên xem, trời ơi! Người xưa viết những thứ này thật khó đọc quá, nhìn mà chẳng hiểu gì cả.

Trước đây khi tôi cầm những sách cổ văn lên, tôi cũng không hiểu gì cả. Than ôi! Sao lại thế này! Những thứ này tôi đều không hiểu! Tại sao không viết bằng ngôn ngữ nói? Tại sao lại cố tình viết văn cổ để hành hạ chúng ta? Thực ra không phải hành hạ bạn đâu, thời xưa viết văn chương đều viết bằng văn cổ, thứ văn chương viết ngắn gọn nhưng hàm nghĩa sâu sắc. Tuy nhiên nội dung của nó trong thời hiện đại rất khó hiểu, những chữ đó không phải là chữ thông thường, mà đều là những chữ rất thâm thúy, rất khó hiểu.

Những chữ như vậy không hiểu thì cứ để đó đừng đọc. Gần đây thì tôi khác rồi, bởi vì trí huệ lực đã tăng trưởng, sau này cầm những sách văn cổ này lên, cầm Đại Tạng Kinh lên, vừa mở ra, rất đơn giản! Tất cả đều có thể hiểu ngay lập tức, đọc hết tất cả sách cổ. Những câu văn ngôn, cầm lên vừa lật, đều hiểu hết.

Khi bạn sinh ra loại ánh sáng trí huệ của chuỗi kim cang này, tất cả những việc trước đây không thể lý giải được, giờ đều sẽ lý giải được hết. Loại trí huệ đó sinh ra rất kỳ lạ, rất tự nhiên, chứ không phải là bạn cố gắng tìm cầu rằng, tôi nhất định phải hiểu kinh điển này, không phải vậy, dù sao cứ cầm kinh điển lên là hiểu được.

Những gì trước đây không hiểu, bây giờ chỉ cần cầm lên xem qua, những sách triết học đó, có rất nhiều điều thâm sâu, dù là triết học Tây phương, hay triết học Đông phương, triết học Trung Quốc, trước đây không hiểu được; nội dung đều rất khó khăn, bây giờ cầm lên vừa xem, lập tức hiểu ngay, đang nói những gì, lập tức rõ ràng.

Bởi vì trí huệ lực tăng trưởng, khi tâm quang vừa sinh ra, Thắng Nghĩa Tịnh Quang Không Hành Mẫu giáng xuống: Trí Huệ Không Hành Mẫu giáng xuống, hộ trì cho trí huệ lực của bạn tăng trưởng, rất nhanh chóng, những điều trước đây bạn không hiểu, tất cả đều có thể giải quyết dễ dàng, không còn chút mơ hồ nào, mà còn rõ ràng minh bạch, sự lý phân minh, khả năng phán đoán tăng cường, khả năng lý giải cũng tăng cường, tất cả trí huệ lực đều cùng nhau tăng trưởng.

Vì vậy tu hành có thể tu đến cảnh giới này.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

31/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 202. Từ Không Hành Mẫu nói đến viên không quang (1)

Từ Không Hành Mẫu, chúng ta nói đến viên không quang. Về sự sinh khởi của viên không quang, với người bình thường mà nói, người ta nghĩ rằng họ nhìn thấy viên không quang bên ngoài, nhưng thực tế nó có liên quan đến kinh mạch bên trong của chính mình. Chỉ khi kinh mạch của mình sinh ra ánh sáng thì mới có thể nhìn thấy viên không quang bên ngoài.

Trên thực tế, có thể nói bên trong và bên ngoài là một. Có người cho rằng đó là bên ngoài, nhưng thực tế là nhìn thấy bên trong, cũng đừng hoàn toàn cho rằng đó là bên trong của mình, bởi vì trong ngoài là như nhau.

Khi nhìn thấy viên không quang, điểm sáng ban đầu rất nhỏ, giống như một hạt đậu, chỉ là một điểm nhỏ, nhưng khi ánh sáng tăng trưởng, nó sẽ trở nên rất lớn. Tôi nói giống như chuỗi kim cang, đó là do nhiều viên không quang nhỏ kết nối lại với nhau thành chuỗi kim cang. Sau đó khi chuỗi kim cang trở nên lớn hơn, kết hợp lại thành viên không quang lớn, nói chung đó chính là mandala, và mandala sẽ xuất hiện.

Khi chuỗi kim cang kết hợp lại, sẽ biến thành năm viên không quang lớn, có thể nói đây chính là mandala Ngũ Phật xuất hiện. Mọi người đều biết, khi viên không quang xuất hiện, nhất định phải do chính bản thân dùng chuyết hỏa để đốt cháy minh điểm thì mới có thể xuất hiện được.

Tôi đã từng nói, hãy nhìn kính lửa (mặt trời), nhìn kính nước (mặt trăng), nhìn đèn, đem tất cả ánh sáng này đặt vào luân xa tim, hấp thu nó vào luân xa tim, cộng thêm chuyết hỏa của bản thân để đốt cháy minh điểm, khai mở luân xa tim, kinh mạch sẽ sinh ra ánh sáng, lúc này nhìn ánh sáng, sẽ thấy được viên không quang.

Không những có thể nhìn thấy viên không quang, mà khi kinh mạch đã sáng rõ, tự nhiên sẽ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu giáng xuống, lúc này sẽ sinh ra một số hiện tượng. Nói chung, nhất định là định lực sẽ tăng trưởng, định lực tức là thời gian ngồi thiền của bạn sẽ dài, lúc nào cũng có thể nhập định, không bị mất định, và trí huệ cũng sẽ tăng trưởng.

Tại sao trí huệ lại tăng trưởng? Bởi vì kinh mạch trong cơ thể bắt đầu có ánh sáng, sẽ có một loại lực giống như thấu kính, tạo ra một sức mạnh thấu suốt đối với mọi sự vật, vì vậy trí huệ sẽ tăng trưởng, và phiền não sẽ giảm bớt. Thông thường, phiền não nhiều là do nghiệp đen của bạn nhiều, nghiệp chướng nhiều thì phiền não sẽ nhiều, khi kinh mạch của bạn sinh ra ánh sáng, toàn thân đều trở nên trong suốt, đã trong suốt rồi thì tất cả nghiệp đen sẽ được tiêu trừ, tự nhiên phiền não sẽ ít đi. Lúc này, dục vọng sẽ không sinh khởi, những ý niệm như dục niệm, vọng niệm, tạp niệm sẽ rất ít.

Thông thường, các vị Thượng sư, những vị Kim cương Thượng sư chân chính khi giúp đệ tử nhìn thấy viên không quang, họ sẽ chỉ dạy cho đệ tử, vậy họ sẽ dạy như thế nào?

Đó là dùng định lực của chính mình, an trụ bản thân trong viên không quang bất động, đem tất cả ý niệm, thân tâm an trụ trong viên không quang bất động, đây là khẩu quyết vô cùng quan trọng.

Khi an trụ trong viên không quang, sẽ sinh ra ba hiện tượng: một là đạt được đại lạc, đạt được quang minh, và đạt được vô niệm, cả ba đều xuất hiện. Lúc này Không Hành Mẫu giáng xuống, không chỉ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, vì trí huệ tăng trưởng nên Trí Huệ Không Hành Mẫu cũng đến giúp bạn.

Còn nữa, vì phiền não đã giảm bớt, phiền não không còn, đã đoạn trừ được nhân của lục đạo luân hồi, lúc này, Giải Thoát Không Hành Mẫu sẽ đến, và bạn sẽ cảm nhận được trạng thái đại lạc trong vô niệm.

Trong sáu vị Không Hành Mẫu thì bốn vị Không Hành Mẫu đã đến. Bốn vị Không Hành Mẫu đó là ai? Đại Lạc Không Hành Mẫu, Giải Thoát Không Hành Mẫu, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, Trí Huệ Không Hành Mẫu, cả bốn vị Không Hành Mẫu đều đến.

Mọi người có thể suy nghĩ một chút, điều quan trọng là phải sinh khởi chuyết hỏa, làm tan chảy minh điểm nguyên tố sinh mệnh trong cơ thể: sau đó khai mở Tâm luân, vận dụng ánh sáng từ bên ngoài như ánh mặt trời, ánh trăng, ánh đèn, an trụ trong tâm mình, khiến cho kinh mạch của mình sinh ra ánh sáng, khi kinh mạch vừa sinh ra ánh sáng, lập tức Không Hành Mẫu sẽ giáng xuống, trong khi nhìn ánh sáng sẽ sinh ra ánh sáng minh điểm, từng điểm từng điểm sáng xuất hiện.

Trong ánh sáng, đôi khi có những thứ xuất hiện cho bạn thấy, những người tu học Phật pháp như chúng ta đều có thể nhìn thấy những ánh sáng này, nhìn thấy trong ánh sáng có tháp, đôi khi xuất hiện tháp, xuất hiện chuỗi vòng của chư Phật Bồ Tát, đôi khi còn thấy trong viên không quang có cung điện.

Lúc này khi nhìn thấy viên không quang, có thể nói là thiên nhãn đã bắt đầu khai mở, lúc này thiên nhãn dần dần được khai mở. Người thường không hiểu được hiện tượng này, họ hoàn toàn không thể hiểu được, nhưng khi bạn đã khai mở thiên nhãn thì bạn sẽ biết, cái gọi là khai mở thiên nhãn chính là nhìn thấy được cảnh tượng bên trong viên không quang. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

02/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 203. Từ Không Hành Mẫu nói đến viên không quang (2)

Hôm nay chúng ta lại từ Không Hành Mẫu nói về viên không quang. Trước đây tôi đã giảng, nhưng chưa giảng chi tiết như vậy, bây giờ sẽ giảng rất chi tiết, đây đều là những khẩu quyết rất quan trọng.

Trước đây tôi đã giảng về bốn cảnh giới khi nhìn ánh sáng:  
Thứ nhất là nhìn thấy ánh sáng minh điểm.  
Thứ hai là nhìn thấy chuỗi kim cang.  
Thứ ba là nhìn thấy Phật trong ánh sáng.  
Thứ tư là nhìn thấy Phật và cõi Phật.

Tôi đã từng nhìn thấy tất cả những điều này. Tôi giảng về bốn giai đoạn này, bây giờ sẽ giảng chi tiết hơn. Ánh sáng minh điểm chính là viên không quang. Trong viên không quang có thể nhìn thấy tháp, nhìn thấy chuỗi vòng, nhìn thấy cung điện. Khi nối các viên không quang nhỏ lại với nhau, nối thành hình giống như đuôi ngựa, đó chính là chuỗi kim cang. Chuỗi kim cang này sau đó chuyển hóa thành viên không quang lớn, biến thành viên không quang lớn, lúc đó có thể nhìn thấy được mandala. Việc nhìn thấy mandala trong hư không, thực ra chính là do kinh mạch bên trong sinh ra ánh sáng, và có thể nhìn thấy được.

Trong mandala xuất hiện tượng Phật, lúc này đã bước vào giai đoạn thứ ba. Nói chung, khi chúng ta nhìn thấy chuỗi kim cang là giai đoạn thứ hai, khi nhìn thấy trong mandala có Ngũ phương Ngũ Phật, đó là giai đoạn thứ ba. Những vị Phật được nhìn thấy không nhất thiết phải là đơn thân, đôi khi có song thân, cả Phật song thân và cõi Phật đều được nhìn thấy cùng lúc.

Đến lúc này có thể nói, trí huệ của bạn tăng trưởng rất nhanh, không những trí huệ tăng trưởng, mà định lực cũng đủ, có thể thiền định trong thời gian rất lâu.

Trí huệ tăng trưởng rất nhanh chóng, trí huệ trước đây giống như đi xe đạp, bây giờ trí huệ giống như đi máy bay, đi tàu vũ trụ vậy, đó chính là trí huệ tăng trưởng rất nhanh. Những kinh văn trước đây không hiểu, bây giờ vừa mở ra, vừa nhìn là hiểu hết, bởi vì ánh sáng trong bản thân bạn đã hiển hiện, tất cả nghiệp đã tiêu tận, hoàn toàn an trụ trong quang minh.

Vì vậy tôi nói rằng, lúc này Kim Cang Thượng sư sẽ nói với bạn, bạn chỉ cần an trụ trong viên không quang, đi đến đâu toàn thân đều tỏa sáng, tuy rằng mắt thường không thể nhìn thấy ánh sáng của bạn, nhưng các bậc thánh hiền có thể nhìn thấy ánh sáng trên thân bạn, tất cả chư Phật Bồ Tát đều có thể nhìn thấy ánh sáng trên thân bạn. Mặc dù phàm phu tục tử không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng thực tế, bạn đi đến đâu, nơi đó đều tỏa sáng.

Lúc này, bạn an trụ trong viên không quang, thực sự có thể tăng trưởng trí huệ, tăng trưởng định lực, ánh sáng trong suốt, thanh tịnh vô song. Lúc này còn phiền não gì nữa? Tất cả phiền não đều không còn.

Vì vậy Giải Thoát Không Hành Mẫu hiện diện, Đại Lạc Không Hành Mẫu hiện diện, Trí Huệ Quang Minh Không Hành Mẫu hiện diện, hầu như tất cả các vị Không Hành Mẫu đều sẽ đến, đều sẽ đến giúp bạn.

Tôi đã từng nói với mọi người, khi nhìn ánh sáng, tuyệt đối không được nhìn thẳng vào mặt trời, cũng không được nhìn thẳng vào mặt trăng, chỉ nhìn vào ánh sáng quanh viền của nó, nhìn lên nhìn xuống, nhìn trái nhìn phải. Trước đây tôi cũng đã nói với mọi người, phải xoay nhãn cầu, đó chính là để khai mở thiên nhãn.

Có một khẩu quyết để khai mở thiên nhãn, đó là xoay nhãn cầu, nhãn cầu phải chuyển động, nghĩa là khi nhắm mắt lại, nhãn cầu xoay trái phải, nhìn lên xuống, rồi còn xoay tròn, khi bạn vừa xoay, lập tức sẽ có ánh sáng sinh ra, đây là một bí quyết.

Khi bạn vừa xoay, ánh sáng sẽ sinh ra, bên trong sẽ có ánh sáng, ánh sáng bên trong này không phải là ánh sáng đen, không phải là ánh sáng của nghiệp đen, mà là ánh sáng được quán tưởng vào bên trong, quán tưởng trong tâm bạn, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng đèn đều ở trong tâm mạch của bạn.

Định rất quan trọng, chuyết hỏa cũng rất quan trọng, việc hòa tan minh điểm này, tất cả những điều này đều rất quan trọng, kết hợp chuyết hỏa với minh điểm ở Tâm luân, khai mở Tâm luân, đây đều là những khẩu quyết rất quan trọng.

Về việc khai mở thiên nhãn, có một đệ tử viết thư cho tôi, anh ấy nói có người giúp anh khai mở thiên nhãn, sau khi thiên nhãn được khai mở, không biết tại sao, nhìn thấy toàn một màu đen. Tôi nói thiên nhãn phải tu như thế nào? Hôm nay tôi giảng về viên không quang này, chính là pháp tu thiên nhãn.

Cuối cùng, giai đoạn thứ tư, giai đoạn cao nhất là như thế nào? Thân tâm bạn hoàn toàn tỏa sáng, vĩnh viễn an trụ trong ánh sáng thanh tịnh, tay vừa đưa ra đã là ánh sáng, toàn thân đều là ánh sáng, bởi vì bạn đang an trụ trong viên không quang! Ở giai đoạn đó, bạn và thể đại minh chân chính của vũ trụ, đại quang minh đều hợp nhất, có thể hoàn toàn giải thoát sinh tử phiền não. Điều này vô cùng quan trọng.

Ngày nay chúng ta học Phật chính là để học điều này. Trong trạng thái đó, vĩnh viễn là đại lạc, vĩnh viễn là quang minh, vĩnh viễn là giải thoát, tất cả hình thức đều trang nghiêm. Lúc này Trang Nghiêm Không Hành Mẫu sẽ đến, làm gì còn tạp niệm nào nữa?

Tạp niệm đã không còn, dục vọng cũng không sinh khởi, những dục niệm thường sinh ra trong thân thể chúng sinh ở cõi Ta Bà đều không còn, hoàn toàn an trụ trong quang minh, đại lạc vĩnh tồn, quang minh vĩnh tại, vô niệm - không còn tạp niệm nào, không còn dục vọng nào, giải thoát tất cả phiền não, sinh tử đã đoạn. Phương pháp tu hành như vậy mà bạn không muốn, vậy bạn còn muốn gì nữa?

Lúc này, bạn còn muốn gì nữa? Muốn danh tiếng, lợi lộc, tiền bạc, dục vọng, còn muốn thứ gì khác? Lúc này, bạn đã sở hữu tất cả rồi, tất cả đều không có, cũng chính là tất cả đều có, dù là bậc cao tăng đại đức tu hành cao thâm đến đâu, khi đạt đến cảnh giới này, cũng đều có tất cả.

Yếu nghĩa chân chính của tu hành "Hồng quang đại thành tựu" chính là ở đây. Lúc này bạn có thể tùy ý độ chúng sinh, có Trang Nghiêm Không Hành Mẫu hộ trì bạn, Độ Sinh Không Hành Mẫu cũng hiện diện, đây chính là sáu Không Hành Mẫu. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

02/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 204. Bài kệ về thiền định (1)

Hôm nay chúng ta sẽ nói đến "Lời kệ về thiền định".

Kệ về thiền định được nói như sau: "Một người tu, nhiều người đạt; nhiều người tu, một người đạt; tu tập ở thấp đạt nơi cao, tu tập từ từ đạt nhanh chóng." Đây là một bài kệ.

Tôi cũng đã từng giải thích về bài kệ này, nói chung, khi mọi người đọc bài kệ này, đôi khi có thể không hiểu rõ lắm, nhưng khi được giải thích, bạn sẽ có thể hiểu được.

Mặc dù đây là một bài kệ về thiền định, nhưng cũng có thể nói rằng, đây là điều mà mỗi hành giả đều sẽ trải qua. Tôi đã từng nói, một người tu hành thì khí trên thân họ sẽ khác, đồng thời, nếu họ tu hành có thành tựu thì khí thể hiện trên thân họ càng khác biệt hơn nữa, khác hẳn với người thường.

Rất nhiều người đến chỗ tôi để hỏi chuyện, vừa nhìn là tôi biết ngay người này là một hành giả, vừa nhìn là có thể thấy được ngay, còn người này vốn là một phàm phu, cũng có thể nhìn ra được; nếu có khí của bậc thánh hiền trên thân người đó, hoặc là khí tức của phàm phu trên thân họ, đều có thể biết được.

Giống như khi chúng ta nhìn tướng chúng sinh, người này nặng mùi tiền bạc, người làm kinh doanh nặng mùi tiền bạc, vừa nhìn là biết ngay, rõ như ban ngày. Nói chung những người biết xem tướng đều nhìn ra được, người có tu dưỡng, vừa nhìn là biết họ có tu dưỡng; người thô tục, vừa nhìn là thấy rõ.

Vì vậy, khi người ta nhìn vào hành giả chúng ta, họ sẽ thấy một luồng khí trong sạch, một loại khí rất thanh khiết và tinh khôi trên thân. Bạn cần phải trải qua một thời gian dài sống trong cô tịch, một mình sống đời tu hành, thì mới có thể thu phục được đại chúng, mới có thể thu hút được nhiều chúng sinh theo mình. Vì thế câu đầu tiên mới nói rằng "Một người tu, nhiều người đạt".

Khi tu hành, bạn sống một cuộc đời thanh tịnh một mình, nhưng khi đến lúc hoằng pháp độ sinh, bạn có thể độ được rất nhiều chúng sinh, rất nhiều chúng sinh sẽ nương tựa vào bạn. Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni ở Bodh Gaya, một mình tĩnh tọa thiền định dưới cội bồ đề, đây là tu hành đơn độc; nhưng sau khi Ngài thành tựu, đi đến đâu, Ngài cũng có một sức thu hút mạnh mẽ, hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn người theo Ngài.

Cho đến hiện nay, theo ước tính, có hơn 200 triệu Phật tử, trên báo chí đăng tin có 200 triệu người là Phật tử, điều này chưa chắc đã chính xác. Ban đầu khi Ngài chứng ngộ chỉ có một mình tu hành đơn độc, nhưng sau khi Ngài thành tựu, có rất nhiều người nương tựa vào Ngài, đây chính là "nhiều người đạt".

Điều này rất đơn giản, bài kệ này là như vậy, tu hành đơn độc sống cuộc đời thanh tịnh, lúc này trên gương mặt tự nhiên toát ra ánh sáng của người tu hành, nhiều người sẽ đến nương tựa vào bạn. "Một người tu, nhiều người đạt", có thể giải thích như vậy.

Tại chùa Hầu Vương <span className="note-blue">[Swayambhunath]</span> ở Nepal, có một vị Lama gặp tôi, hôm nay ông ấy vừa gửi thư đến, nói rằng tôi là hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Vị Lama này là Lama Uông, Lama họ Uông, một vị Lama có râu, hôm nay ông ấy gửi thư đến nói rằng tôi là hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tôi không dám nói mình là hóa thân của ai, tóm lại đó là lời ông ấy nói, không phải tôi nói.

Đây chính là một loại quang khí, khiến người khác nhìn vào bạn sẽ cảm thấy khác biệt, ánh sáng của một hành giả tự nhiên tỏa ra. Đừng xem thường người tu hành, như tôi đã từng nói, rất nhiều vị vua và tổng thống đều là những hành giả chuyển thế. Ban đầu họ thanh tịnh khổ hạnh, thanh tịnh tu hành trong núi sâu, sau đó họ chuyển hóa thành người được nhiều người đến với, mọi người tin phục họ, bầu họ làm tổng thống, vì vậy bây giờ tôi cũng không tiện nói vị tổng thống nào của quốc gia nào là Phật sống Tây Tạng chuyển thế.

Xưa kia họ cũng tu hành như vậy, nhưng họ thực hiện cúng dường rộng lớn, trong tương lai tất cả chúng sinh đều quy phục quang khí của họ, họ tự nhiên sinh làm vua và tổng thống, họ có thể nhiếp phục đại chúng, thu phục tất cả chúng sinh. Đây chính là điều mà câu đầu tiên muốn nói, hãy tu hành thanh tịnh thật tốt, khi có quang khí trên thân, bạn sẽ có thể nhiếp phục đại chúng, rất nhiều người sẽ nương tựa vào bạn.

Lần này tôi ra ngoài, đi đến Ấn Độ, Nepal một chuyến, khi gặp gỡ mọi người, họ đều ca ngợi, khen ngợi, tán dương, bạn sẽ không nói những điều như vậy với một người vô duyên vô cớ.

Quang khí tỏa ra từ người tu hành tự nhiên có thể giống như một nam châm, thu hút rất nhiều người đến theo bạn, đây chính là ý nghĩa của câu đầu tiên "Một người tu, nhiều người đạt".

Ngoài ra còn có một lời giải thích khác là khi một người tu hành, tất cả các vị Hộ pháp đều đến, các vị Hộ pháp kết giới, tất cả các vị thần Hộ pháp, thậm chí Bổn tôn của bạn cũng đến, dù là vô hình, đây cũng chính là "Một người tu, nhiều người đạt". Đừng nghĩ rằng chỉ có một mình bạn đang ngồi thiền ở đó, không phải vậy, trong hư không còn có rất nhiều vị Hộ pháp đang theo bạn.

Khi xưa Phật Đà giác ngộ dưới cội bồ đề, không phải chỉ có một mình Ngài, mà vẫn có rất nhiều chư thiên Hộ pháp, vô lượng chư thiên Hộ pháp đang vây quanh bảo hộ Ngài. Đây cũng là một cách giải thích cho câu "Một người tu, nhiều người đạt". Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

03/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 205. Bài kệ về thiền định (2)

Chúng ta lại nói tiếp về bài kệ thiền định.

Câu thứ hai nói rằng: "Nhiều người tu, một người đạt", điều này có người khó hiểu. Câu "Một người tu, nhiều người đạt" thì tôi đã nói rồi, các vị Hộ pháp đều đến, khi bạn tu thành tựu, họ sẽ nương tựa vào bạn.

"Nhiều người tu, một người đạt", đối với tôi rất dễ giải thích, ví dụ tăng đoàn của chùa Lôi Tạng Seattle chúng ta là nhiều người tu hành, trong Chân Phật Tông có bốn triệu đệ tử, cũng có thể nói là nhiều người tu hành, nhưng người thực sự thành tựu là "một người đạt". Không phải nói trong bốn triệu đệ tử chỉ có một người có thể thành tựu, không phải vậy, mà là chỉ sự thành tựu thực sự, chính là bản thân người đó, không liên quan đến người khác.

Có nghĩa là, khi nhiều người cùng tu tập, sự thành tựu thực sự là ở cá nhân, đây gọi là một người đạt, không liên quan gì đến người khác.

Cho nên có câu nói rằng, "ông tu ông đắc, bà tu bà đắc", việc tu hành giống như uống nước, nóng lạnh tự biết, bạn thành tựu đến mức độ nào, bạn thực sự có thành tựu không đều là tự hỏi chính mình, đây chính là một người đạt; không thể hai người đạt, ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chồng tu chồng đắc, vợ tu vợ đắc, không có liên quan gì. "Nhiều người tu một người đạt" chính là ý nghĩa này.

Giống như ở đạo tràng Bodh Gaya, tôi đã từng nói, mọi người đều muốn đến đó hít thở vài hơi linh khí, vì Đức Phật đã thành đạo ở đó, không khí nơi ấy chắc chắn là linh khí, mặt đất ấn xuống còn có thể bật lên, có lẽ có linh tính, cát ở đó có lẽ đặc biệt thơm, lá cây ở đó đặc biệt đẹp, cỏ mọc xanh tươi hơn, nếu đi bộ, có thể sẽ mọc lên một đóa sen, bởi vì có linh khí.

Phật Đà đã giác ngộ ở nơi đó, thu hút rất nhiều hành giả, tất cả đều đổ về đó, họ làm lễ cúng dường, lễ bái, tu pháp, nghiêm túc trì chú, niệm Phật, đi nhiễu Phật không ngừng nghỉ, rất nhiều người tu tập ở đó, nhưng sự giác ngộ lại nằm ở chính bản thân mỗi người, chỉ có một mình mà thôi! Sự giác ngộ cũng nằm ở chính bạn, không liên quan đến người khác, không phải cứ đến Bodh Gaya đi dạo một vòng, hít vài hơi thở là ai cũng giác ngộ được, không phải vậy đâu, vẫn phải xem tâm của chính mình.

Khi tu tập ở đó, bạn không nên nhìn người khác, nghĩ rằng: "Ồ, người ta tu tập thế nào nhỉ, mình phải theo kịp họ, được rồi! Mình phải vượt qua họ!" Việc có thành tựu hay không không liên quan gì đến người khác, dù nhiều người cùng tu tập với nhau, thực tế, tất cả đều phụ thuộc vào sự chuyển hóa trong tâm của chính mình.

Thiền định cũng vậy, khi bạn tu tập pháp thiền định nhất duyên, hãy đặt một hạt gạo trước mặt, nhìn vào hạt gạo đó và định tâm vào hạt gạo. Còn có một phương pháp khác như thế này: trong phòng, tắt hết đèn, sau đó thắp một nén nhang, bạn nhìn vào điểm lửa đỏ trên đầu nhang, đặt tâm vào ngọn lửa, tập trung tinh thần. Bởi vì bạn chưa hiểu cách buông bỏ nên phải dùng phương pháp "một thứ" này để dạy bạn. Nếu bạn có thể hiểu được cách buông bỏ, vừa ngồi xuống là thân tâm đều trống rỗng, tâm an trú trong hư không, đó chính là thiền định bậc nhất.

Nếu bạn thực sự không thể buông bỏ thân tâm, tôi đành phải dạy bạn phương pháp thiền định nhất duyên: thắp một nén nhang và đặt tâm vào điểm đỏ trên đầu nhang. Khi tu tập thiền định nhất duyên, nếu vẫn còn bị quấy nhiễu, vọng niệm vẫn còn sinh khởi, Mật giáo sẽ dạy bạn dùng quán tưởng (niệm lực), sử dụng phương pháp tưởng nhớ, quán tưởng mắt Phật, đây gọi là "tồn tưởng".

Tồn tưởng nghĩa là tâm bạn tồn tại trong suy nghĩ, giống như tôi dạy mọi người nhìn kính lửa, kính nước, nhìn đèn, tất cả đều là tồn tưởng, đều là dùng phương pháp quán tưởng, đem khí tồn tưởng vào trong tâm, những điều này đều là thiền định nhất duyên.

Thiền định cao nhất thực sự chính là "thân tâm buông bỏ, nhập vào hư không", đây là giai đoạn thứ tư, thân tâm hoàn toàn có thể buông bỏ, hoàn toàn đi vào trong hư không, ánh sáng bên trong cơ thể tự nhiên hiển hiện, Phật quang tự nhiên hiển hiện, chân như bản tính của Như Lai tự nhiên sẽ hiển hiện, tất cả những điều này đều là việc rất tự nhiên.

Nhưng thiền định nhất duyên cũng khó, đừng nghĩ rằng thiền định nhất duyên rất dễ dàng. Khi thắp một nén nhang và đặt nó ở đó, mắt nhìn vào nén nhang, chỉ trong chốc lát, tâm đã không còn ở trên nén nhang nữa, thoáng cái đã chạy đến nơi khác rồi - nghĩ về người này, việc kia, chuyện nhân tình thế thái, tranh chấp, phiền não - không biết đã chạy đi đâu xa. Đến khi cảm thấy không đúng, nhắc nhở bản thân rằng tâm không còn ở trên nén nhang nữa, mới kéo nó quay về, lại nhìn vào nén nhang, rồi chỉ trong chốc lát, lại không biết nó đã chạy đi đâu mất. Thực tế là như vậy đó. Vì thế phải học, học cho đến khi tinh thần có thể tập trung vào "một điểm", tiếp theo có thể buông bỏ, đặt tâm vào hư không.

Thần thông ở đâu? Có người thường xuyên nói về thần thông, khi tinh thần của bạn được thống nhất, sóng não sẽ tự hạ xuống và một loại năng lực sẽ phát sinh. Khi tinh thần thống nhất, trong não sẽ có một màn hình huỳnh quang, bạn có biết không? Ngón tay có thể đọc chữ, ngón tay có thể hiểu chữ, chỉ cần chạm tay vào vật này, không cần nhìn, đã biết bên trong viết gì, bởi vì trong não có màn hình huỳnh quang, nên khi dùng tay chạm vào vật, trong não lập tức hiện ra hình ảnh của nó, đây gọi là công năng đặc biệt.

Công năng đặc biệt chính là thần thông, loại từ trường và sóng từ đó có thể di chuyển vật thể, đây đều là cảnh giới "nhiều người tu một người đạt", hoàn toàn dựa vào tâm lực. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

03/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 206. Bài kệ về thiền định (3)

Hôm nay chúng ta sẽ nói tiếp về một bài kệ thiền định. Bài kệ này là "Một người tu tập nhiều người đạt, nhiều người tu tập một người đạt, tu tập ở thấp đạt nơi cao, tu tập từ từ đạt nhanh chóng." Hai câu đầu đã được giảng, bây giờ chúng ta sẽ nói về "tu tập ở thấp đạt nơi cao".

Thực ra, việc tu hành của chúng ta là "ông tu ông đắc, bà tu bà đắc", không có sự thay thế, không thể nào tôi tu tập mà người khác đạt được chính quả, họ đạt được chính quả còn tôi không đạt được chính quả, ngược lại là họ đạt được chính quả; hoặc là họ tu tập mà tôi đạt được chính quả, đó hoàn toàn là điều không thể. Vì vậy đây chính là ý nghĩa của câu "nhiều người tu tập một người đạt".

Trước đây có đệ tử nói với tôi rằng: "Thưa Sư Tôn! Con chỉ cần nương tựa vào thầy, quy y với thầy, dựa vào thầy, xin Sư Tôn nhớ kỹ, đến lúc đó kéo con một tay nhé!" Đến lúc đó kéo anh ta một tay, rồi tu hành bay lên, giống như tôi tu hành ngồi trên đỉnh núi, tu, tu, tu, tu thành chính quả, khi bay vào hư không, vẫn còn phải nhớ đến anh ta!

Trước đây có đệ tử nói với tôi như vậy, khi bay lên thì kéo anh ta một tay, tôi còn phải đến nhà anh ta nữa, rồi dù anh ta đang làm gì, tôi vẫn phải kéo anh ta lên, điều này là không thể được!

Chúng ta đừng nghĩ có thể tiện lợi như vậy. Thưa Sư Tôn! Con sẽ mãi mãi nương tựa vào thầy, mãi mãi tin tưởng thầy, khi thầy đạt được thành tựu, đừng quên con nhé, khi bay lên, dù thế nào cũng thuận tay kéo con một cái, điều này thật sự không dễ dàng chút nào!

Giống như khi tôi đi thuyền ở Mexico, ngồi trên loại thuyền chuối, kết quả là thuyền bị lật, rất nhiều người ngồi trên thuyền, tất cả đều rơi xuống nước, từng người một trèo lên, tôi là người cuối cùng, không, là người áp chót lên thuyền, leo lên thuyền và bám chặt, còn một người nữa muốn lên, chỉ còn lại một mình bà ấy, tôi đưa tay kéo bà ấy lên, không ngờ tên của bà ấy không được hay lắm, tên bà ấy là Trần Truyền Phương: đọc ngược lại thành "thuyền lật chìm", đọc hai chữ thành "chìm thuyền", ba chữ thành "chìm thuyền lật". <span className="note-blue">[Ở đây đều là đồng âm khác nghĩa.]</span>

Họ của bà ấy là "Trần", chữ "Truyền" là chữ "Truyền" trong "tuyên truyền", chữ "Phương" là chữ "Phương" trong "thơm phức", tức là Trần Truyền Phương. Tôi đưa tay kéo bà ấy một cái, không ngờ vừa kéo, thuyền nghiêng hẳn và lại hỏng chuyện. Cuối cùng không còn cách nào khác, mọi người đều đã kiệt sức, đành phải bơi vào bờ, bơi khoảng hai trăm mét.

Nghĩ lại khi ở ngoài biển, dù có đưa tay kéo bà ấy cũng không thể cứu được. Mọi người thử nghĩ xem, nhân quả tự mình gánh! Tên của bà ấy đọc là "chìm thuyền lật", đọc hai chữ thành "chìm thuyền", đọc từ sau lên thành "lật thuyền", cho nên kéo cũng vô ích, cũng không có chuyện thay thế được. Đây thực sự là một ví dụ điển hình nhất cho câu "nhiều người tu tập một người đạt".

"Tu tập ở thấp đạt nơi cao", trong quá trình tu hành, để đạt được quả vị, cảnh giới của chư Phật Bồ Tát rất cao, cao đến không thể nghĩ bàn, nhưng bất kể cảnh giới cao đến đâu, bạn vẫn có thể đạt đến điểm cao nhất.

Mặc dù xét về bản chất con người, chúng ta không khác mấy so với động vật, chỉ là có linh trí, linh lực và trí tuệ cao hơn động vật thông thường. Thực tế, con người có rất nhiều hành vi không thoát khỏi bản năng động vật.

Mặc dù con người chúng ta vốn cũng ở trong tầng lớp rất thấp, trong mười pháp giới, không phải là cao lắm - Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác là bốn Thánh giới; chư thiên, rồi mới đến con người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh - con người được xem là ở vị trí thấp. Tuy ở vị trí thấp, nhưng chỉ cần bạn tu tập, chỉ cần hiểu được cách tu hành, bạn vẫn có thể đạt đến nơi cao, đó chính là ý nghĩa của câu "tu tập ở thấp đạt nơi cao". Cảnh giới đạt được qua tu tập có thể rất cao, đừng bao giờ xem thường bản thân.

Mặc dù con người có tham, sân, si, mạn, nghi và đủ loại nghiệp, chỉ cần thực sự giữ thân khẩu ý thanh tịnh, có thể thực tu Chân Phật Mật Pháp, có thể đối trị tham sân si mạn nghi, chuyển hóa bản thân thành ánh sáng, trở thành một loại ánh sáng thanh tịnh, hành vi của bạn ở đâu cũng có ánh sáng thanh tịnh đi theo, đó chính là "hạnh".

"Hạnh" có thể nói rằng, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, ăn, mặc, ở, đi lại, tất cả đều thuộc về hạnh. Trong hạnh có ánh sáng thanh tịnh đi cùng; về mặt tu tập, có thể đối trị tham sân si, thậm chí bản thân đã chuyển hóa, căn bản không cần phải đối trị tham sân si nữa, mà có thể tự nhiên chuyển hóa tham sân si, và có thể nhậm vận.

Mặc dù đang ở trong cõi người thấp nhất, nhưng đó cũng là cảnh giới cao nhất trong tứ Thánh giới. Giống như đang ở trong tứ Thánh giới vậy, đây là một niềm hạnh phúc phi thường! Không phải người phàm tục bình thường có thể so sánh được.

Cho nên nói về bản thân một người, nếu họ hiểu được phương pháp tu hành, có thể thực tu, nghiêm túc hành trì, cảnh giới của họ tự nhiên sẽ càng ngày càng cao, tâm cảnh cũng sẽ càng ngày càng khác biệt, đây chính là ý nghĩa của "tu tập ở thấp đạt nơi cao".

Hôm nay nói đến đây.

### 207. Bài kệ về thiền định (4)

Chúng ta tiếp tục nói về bài kệ thiền định, cuối cùng bàn về câu "Tu tập từ từ đạt nhanh chóng". Ý nghĩa của câu này rất sâu sắc, "tu tập từ từ" nghĩa là phải tu tập một cách tỉ mỉ, thực tế và thiết thực; "đạt nhanh chóng" có nghĩa là, nếu bạn làm theo cách này, bạn sẽ nhanh chóng đạt đến cảnh giới.

Nói chung, người hiện đại thường sao nhãng điều này, họ mong muốn nhanh chóng đạt được kết quả, ai cũng muốn nhanh, nhưng nếu không tu tập từ từ thì càng vội vàng càng không đạt được. Muốn nhanh chóng đạt đến cảnh giới, thực tế phải thực hiện nghiêm túc việc tu trì.

Phương pháp tu trì trong Mật giáo, thiền định nhập Tam ma địa, có rất nhiều khẩu quyết, cần phải lĩnh hội một cách tỉ mỉ, như việc hít thở chẳng hạn, nhất định phải rất mảnh, rất chậm, rất dài. Tại sao thiền định cần phải "mảnh, chậm, dài"? Bởi vì tâm phải bất động, nếu tâm bất động thì ánh sáng mới định, ánh sáng hiển hiện ra là định; tâm hễ động thì ánh sáng nhất định sẽ chớp động.

Ví dụ như khi chúng ta nhìn ánh sáng: khi nhắm mắt lại để nhìn ánh sáng, nếu tâm động thì ánh sáng chắc chắn sẽ động, chỉ khi tâm bất động thì ánh sáng mới bất động. Vì vậy, khẩu quyết của thiền định là phải giữ cho thân thể bất động, giống như thế nào? Giống như tử thi, giống như xác chết vậy, hoàn toàn bất động. Miệng cũng không động, giống như thế nào? Giống như "người câm" vậy, trong Mật giáo gọi là "dây đứt", dây đứt tức là không phát ra âm thanh, chính là câm. Tiếp đến, ý không động, tức là tâm không động, giống như thế nào? Giống như bầu trời không mây, giống như bầu trời quang đãng không một gợn mây vậy, đó chính là tâm bất động.

Dưới ba trạng thái bất động này, khi thiền định, ánh sáng mới hiển hiện, khi ánh sáng vừa hiển hiện, ánh sáng cũng bất động, nhưng chỉ cần tâm hơi động một chút, ánh sáng đó sẽ động theo, khẩu quyết này rất khó thực hiện được, nhưng cần phải thường xuyên luyện tập.

Khi chúng ta ngồi thiền, thường có hiện tượng hôn trầm. Khi chúng ta nhập Tam ma địa tu pháp, tôi thường thấy có người khi nhập Tam ma địa, có người nghiêng đầu bên này, có người nghiêng đầu bên kia, tôi rất lo thiết bị quay phim bị đổ. Một người ngã đầu bên này, một người ngã đầu bên kia, suýt va vào máy quay phim, máy quay video gần bị đụng trúng, rất nguy hiểm! Nếu làm hỏng thì phải đền!

Khi hôn trầm thì phải làm sao? Khi cứ buồn ngủ thì phải làm sao? Cần phải giữ cho cơ thể không cử động, đồng thời phải ngồi thẳng lưng, ấn vào yết hầu, tinh thần phấn chấn một chút, có thể chống lại cơn buồn ngủ, hai mắt nhìn lên trên, cũng có thể chống lại buồn ngủ, mặc dù hai mắt nửa nhắm nửa mở, nhưng hai mắt nhìn lên trên, điều này có thể chống lại buồn ngủ. Không được buồn ngủ! Ngồi một lúc mà đều ngủ gục hết thì làm sao nhập Tam ma địa? Họ nói là nhập tứ ma địa, ai cũng ngủ gục cả.

Vì vậy, khi thiền định không được hôn trầm, nhưng cũng không được trạo cử. Trạo cử là gì? Trong sách tôi có viết, không được có hôn trầm và trạo cử. Trạo cử là khi tinh thần quá phấn chấn. Lúc nhập định, tinh thần rất tốt, nhập định với tinh thần quá tốt, vọng niệm dấy khởi, lúc nghĩ cái này, lúc nghĩ cái kia, cứ liên tục nghĩ, tôi phải nhập định, tôi phải nhập định, tôi phải nhập định, tinh thần tôi rất tốt, muốn nhập định, kết quả ngược lại không thể nhập định được, đây gọi là trạo cử.

Làm thế nào để đối phó với trạo cử? Chính là phải hơi hôn trầm một chút, đây chính là cách đối trị! Hai mắt nhìn xuống dưới, cơ thể thả lỏng một chút, toàn thân để nó thả lỏng, hai mắt nhìn xuống dưới, nhìn về phía dưới, cố gắng thả lỏng, dùng cách này để đối trị trạo cử.

Có rất nhiều khẩu quyết về việc này, khi vọng niệm sinh khởi thì phải làm sao? Lập tức dùng một vọng niệm khác để đuổi theo vọng niệm đó, niệm này đuổi theo niệm kia, tại sao lại có vọng niệm này? Từ đâu sinh ra? Từ đâu diệt đi? Vốn không sinh, vốn không diệt, khi thông suốt rồi thì có thể điều chỉnh lại, trở thành vô niệm.

Vọng niệm giống như sóng vậy, lúc đầu cần phải đối trị vọng niệm, sau này không cần đối trị nữa, sau này chỉ cần quan sát vọng niệm. Quan sát vọng niệm, khi đã hiểu được bản chất của vọng niệm rồi, sẽ có thể sinh ra hiện tượng vô niệm, bản thân không phải là đối trị vọng niệm nữa, mà là ở trong vọng niệm, rất nhanh chóng, khi tạp niệm vừa sinh khởi, có thể nhanh chóng dập tắt, rồi dần dần luyện tập ý niệm bất động, luyện tập tâm bất động, cách luyện tập rất tỉ mỉ, rất chậm, rất lâu dài như vậy, sẽ có thể nhanh chóng đạt đến cảnh giới cao nhất, đây chính là ý nghĩa thực sự của "tu tập từ từ đạt nhanh chóng".

Nhất định phải thực hiện nghiêm túc việc tu tập thiền định nhập Tam ma địa này, cảnh giới của bạn sẽ tự nhiên nhanh chóng đạt đến cảnh giới cao. Không thể nói rằng, hôm nay tôi ngồi thiền, hôm nay sẽ đắc quả, không có chuyện đó đâu! Ba tháng tu tập tinh tấn, bảo đảm đắc quả, điều này cũng không thể nào! Vì vậy nhất định phải tu tập từ từ, mới có thể nhanh chóng đạt được. Tu pháp phải nghiêm túc đầy đủ mới có thể thành tựu.

Om mani padme hum.

06/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 209. Nghịch tăng thượng duyên (1)

Hôm nay chúng ta nói về nghịch tăng thượng duyên. Trong chuyến đi Ấn Độ và Nepal vừa rồi, tại Bodh Gaya, chúng ta đã thấy cây bồ đề - biểu tượng cho sự giác ngộ của Phật Đà. Phật Thích Ca Mâu Ni đã giác ngộ dưới cây bồ đề, và có một câu chuyện rất huyền thoại, rất đặc biệt, đó là lúc bấy giờ Thiên Ma đã giáng xuống để thử thách Phật Thích Ca Mâu Ni.

Khi chúng tôi nhìn thấy cây bồ đề, chúng tôi cũng nghĩ đến câu chuyện về Thiên Ma giáng xuống thử thách Phật Đà. Thiên Ma không chỉ có một vị, theo kinh điển ghi chép: có rất nhiều ma, nên gọi là ma quân, giống như một đội quân ma đông đảo, dùng đủ mọi phương cách để thử thách Đức Phật. Ví như ba ma nữ đến thử thách Phật Thích Ca Mâu Ni, đây là sự thử thách về sắc dục, thử thách về danh vị, thử thách về lợi lộc, và nhiều sự thử thách khác.

Trong Thiên Ma có thể phân thành tử ma, phiền não ma, danh lợi ma, và các loại ma cảnh khác nhau, giống như những biến hóa của tâm ma. Khi phương pháp dụ dỗ một cách hòa bình không hiệu quả, họ dùng phương pháp bạo lực để thử thách Ngài. Nhưng vì Đức Phật đã giác ngộ, đương nhiên Ngài không hề dao động, nên có thể chiến thắng Thiên Ma, và từ đó Ngài đã giác ngộ.

Nói đến nghịch tăng thượng duyên, nhiều người tu hành cũng có kinh nghiệm này. Có người khi mới bắt đầu tin Phật, được Phật lực gia trì, bản thân nghiệp chướng ít, những việc gặp phải đều rất như ý, lòng tin rất kiên định.

Tuy nhiên trên thực tế, cũng có một số người do nghiệp chướng nặng nề hơn, nghiệp lực lớn hơn, khi mới bắt đầu tin Phật, nghiệp chướng liền bắt đầu hiển hiện, vì vậy ngược lại làm chướng ngại con đường tu hành của họ. Đôi khi là tu hành nhưng tính khí lại trở nên nóng nảy hơn. Điều này là do sự nâng cao tu hành, khiến tham, sân, si và toàn bộ nghiệp chướng đều hiển hiện ra. Trong số những người tu hành mà chúng ta thường thấy, hoặc những hành giả tu Mật tông, cũng thường xuyên xuất hiện hiện tượng này.

Khi nghịch duyên đến với mỗi người, tất cả đều phải vượt qua khó khăn này, phải có khả năng tiến bộ ngay trong nghịch cảnh, tức là phải vượt qua được nghịch cảnh. Tu hành như vậy mới có thể chứng quả giống như Đức Phật, nếu không việc tu hành của bạn sẽ bị bỏ dở giữa chừng, đạo tâm của bạn sẽ không vững chắc.

Khi nghiệp lực này đến, tự nhiên sẽ sinh ra nghịch tăng thượng duyên, sẽ có những việc không như ý xảy ra. Vậy tại sao khi nghịch duyên đến lại có thể tăng tiến? Điều này giống như lướt sóng vậy, như tôi đã từng nói, ở Hawaii có rất nhiều người chơi lướt sóng, sóng càng lớn càng tốt, ván lướt sóng càng bay cao. Lướt sóng rất kích thích, sóng đến từng đợt từng đợt, cứ thế vươn lên cao hơn, đây gọi là tăng tiến. Nghĩa là bạn vượt qua tất cả nghiệp chướng, rồi tự mình có thể tiến lên. Phật Đà cũng vậy, khi Thiên Ma giáng xuống thử thách Ngài, Ngài vẫn có thể bất động, vượt qua nghiệp chướng này, và đạt được tăng thượng duyên.

Vì vậy tại Bodh Gaya, khi nhìn thấy cây bồ đề, tôi nghĩ đến những thử thách mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã trải qua thuở ban đầu. Mỗi hành giả chúng ta đều phải trải qua những thử thách như vậy. Cho dù bạn tu hành rất tốt trên núi cao, mắt không nhìn thấy sắc, nhưng khi vừa xuống núi, mắt vừa chạm sắc, ngay lập tức thử thách sẽ đến.

Hơn nữa, rất đơn giản thôi, bạn sẽ gặp những thử thách này bất cứ lúc nào. Hành giả Mật tông vốn có năng lực rất cao, họ luôn hợp nhất với Bổn tôn của mình, hợp nhất ngay trong thân thể, lúc nào cũng là Bổn tôn, là bậc thánh, tâm họ bất động trong mọi hoàn cảnh, đó chính là sự siêu việt.

Vì vậy, hành giả trong bất kì hoàn cảnh nào, nếu bạn có thể giữ được tâm thanh tịnh, đó mới thực sự là bậc hành giả vĩ đại, chứ không phải nói rằng trong môi trường tốt thì bạn rất thanh tịnh; còn trong môi trường xấu thì bạn lại bị ô nhiễm. Trong môi trường xấu, gọi là nghịch tăng thượng duyên, ở trong nghịch cảnh thì gọi là tăng thượng duyên.

Vì vậy, một hành giả phải làm được "đi qua rừng hoa mà không dính một cánh hoa". Nghĩa là khi bạn đi qua trước mặt nhiều mỹ nữ, phải học cách không để thân tâm bị ô nhiễm, đó mới thực sự là công phu. Khi bạn đi qua bụi cây khô héo mà không dính một cành, đó không phải là công phu, bởi vì tất cả đều xấu xí, đương nhiên bạn không bị dính mắc. Nhưng khi đi qua trước mỹ nữ mà không bị dính mắc, đó mới thực sự là bậc cao thủ.

Khi tu hành, chắc chắn phải chấp nhận thử thách. Khi nghịch tăng thượng duyên đến, nếu bạn vẫn giữ được sự thanh tịnh, đó mới thực sự là bậc nhất, là người có công lực. Trong thuận cảnh, bạn nói đạo tâm của mình kiên cố, điều đó không có gì đáng kể; trong nghịch cảnh, nếu bạn có thể thực sự giữ vững đạo tâm, đó mới là bậc cao thủ hạng nhất, có thể phá trừ mọi sắc tướng hiển hiện, đó mới thực sự là tăng thượng duyên. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

07/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 209. Nghịch tăng thượng duyên (2)

Hôm nay chúng ta tiếp tục nói về nghịch tăng thượng duyên. Nhiều đệ tử mới quy y, khi học trì chú, học quán tưởng, học nhập Tam ma địa (thiền định), cũng có trải nghiệm như thế này: khi họ đang trì chú "Om mani padme hum", "Om mani padme hum", vừa niệm được một lúc, trong vô thức bỗng nhiên lại thốt ra những lời thô tục. Họ nói rằng mình đang muốn trì chú, muốn niệm Phật, vậy mà tại sao trong tâm lại tuôn ra toàn những lời thô tục như vậy, đó chính là nghiệp chướng hiện tiền.

Thật sự có đệ tử viết thư cho tôi nói như vậy, khi họ đi lễ Phật, rõ ràng Phật rất trang nghiêm, tượng Phật được đặt rất trang nghiêm phía trước, họ cung kính chắp tay lễ lạy, nhưng trong tâm lại trào dâng những lời thô tục. Họ hỏi phải làm sao, vì trong lòng cảm thấy mình đã bị ô nhiễm.

Chúng ta thấy trong những lá thư, có rất nhiều hiện tượng như vậy, khi vào mật đàn để tu pháp, bỗng nhiên lại trào dâng những lời thô tục chửi tất cả chư Phật Bồ Tát, đây chính là tâm ma hiển hiện.

Có rất nhiều chướng ngại như vậy, khi những chướng ngại này xuất hiện thì phải làm sao? Bạn đừng xem những lời thô tục đó là sự xúc phạm, là sự phỉ báng hay là sự ô nhiễm. Hãy xem những lời thô tục đó là thiêng liêng, là siêu việt, hãy vượt qua nó, đừng để ý đến nó, bạn cứ tiếp tục trì chú, đại lễ bái, làm công khóa của mình, đừng quan tâm đến nó; không quan tâm đến nó, không bị nó quấy nhiễu, phải vượt qua nó, đó mới chính là nghịch tăng thượng duyên.

Nếu trong lòng bạn cảm thấy sợ hãi, nghĩ rằng sao mình lại có thể khởi lên những ý niệm thô tục đối với chư Phật Bồ Tát, nếu bạn để tâm đến nó, càng vướng mắc càng chặt, đến mức bạn không dám tu pháp, không dám vào điện Phật, đây chính là một loại chướng ngại.

Khi nghiệp chướng phát sinh, lúc này phương pháp duy nhất chính là "bất động", không để ý đến nó, tiếp tục tu trì, sau đó đừng xem những ác niệm đó là xấu, ngược lại hãy nghĩ rằng như vậy cũng tốt, cũng là thiện, hoàn toàn không để ý đến nó, lâu dần, nó sẽ trở nên bình thường.

Đây là phương pháp mà Thượng sư của tôi đã dạy trước đây. Bởi vì những ý niệm này khi sinh khởi rất mạnh mẽ, thường xuyên sẽ chướng ngại thánh đạo, khiến bạn không thể tiếp tục tu hành. Thậm chí có người còn khởi ác niệm, những lời chửi thề ba chữ chỉ là chuyện nhỏ, có người vào điện Phật vừa chắp tay, nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, liền khởi lên ý niệm muốn giết các ngài.

Thực sự có chuyện như vậy, có đệ tử viết thư kể rằng: Quan Thế Âm Bồ Tát vốn rất trang nghiêm, vậy mà khi nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, họ lại sinh khởi ác niệm, muốn chém một nhát vào Bồ Tát, đây chính là một loại chướng ngại trong tu hành.

Khi những ý niệm này vừa sinh khởi, thật là không hay chút nào, nhưng phương pháp duy nhất là "bất động", cũng đừng để tâm đến nó, cứ tiếp tục công phu tu hành, nếu bạn không để ý đến nó, tự nhiên nó sẽ dần dần rời xa; còn nếu bạn để ý đến nó, nó sẽ trói buộc bạn, khiến bạn không còn dám tu pháp nữa, mãi mãi không dám làm như vậy nữa.

Trong thư của đệ tử có đề cập đến việc sinh khởi những hiện tượng như vậy, đây đều là những hiện tượng nghiệp chướng hiện tiền, những việc không như ý cũng sẽ phát sinh, cũng là nghiệp chướng hiện tiền, bởi vì nghiệp lực của bạn tương đối nặng. Vì vậy, lúc này phải dùng "tịnh tưởng", "tịnh tưởng" có nghĩa là bất kì một ý niệm nào cũng đều thanh tịnh, đều là hư vô, tất cả mọi ý niệm đều là "thanh tịnh" và "hư vô".

Niệm cũng chính là vô niệm, đừng có cảm giác tội lỗi, bạn sẽ có thể tiếp tục trì chú niệm Phật, thanh tịnh chính mình, trải qua một thời gian dài, nó sẽ tự động biến mất, đó chính là nghịch tăng thượng duyên của bạn.

Bất kì nghịch tăng thượng duyên nào đến, vẫn phải tiếp tục tiến lên, có một ngày ác niệm sẽ tiêu mất, chuyển thành thiện niệm hiện tiền.

Có đệ tử khi quán tưởng cũng sinh khởi nghịch duyên, khi tu pháp Quan Âm, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát hiện ra trước mặt, nhưng kết quả là Quan Thế Âm Bồ Tát hiện ra đều không phải chính diện, mà toàn là mặt sau, hơn nữa là phần mông. Dù cố gắng quán tưởng thế nào, vừa nhắm mắt lại, vừa nghĩ đến Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài liền xoay lưng lại, phần mông hướng về phía họ, bất kể thế nào cũng đều là ý niệm như vậy.

Ban đầu tôi cũng nghĩ như vậy, đừng có ý niệm xấu, nhưng khi bạn sinh khởi ý niệm xấu, không sao cả, cũng đừng nghĩ đó là ý niệm xấu, đây chính là nghịch tăng thượng duyên của bạn, hãy xem cái mông đó là tốt, nghĩ nó là tốt cũng được, đó cũng là một phần của Quan Thế Âm Bồ Tát, có gì không tốt đâu?

Họ phải quán tưởng như vậy, không còn cách nào khác, lúc này bạn chỉ có thể thay thế bằng quán tưởng tốt đẹp, không sao cả, dần dần sẽ sinh khởi tịnh tưởng, sinh khởi thánh tưởng, vượt qua được thì sẽ trở thành nghịch tăng thượng duyên.

Đây chính là tâm ma, bạn muốn tu hành tốt, nhưng nó lại không để yên, khiến quán tưởng của bạn sinh ra cảnh tượng không tốt, khiến ý nghĩ của bạn sinh ra ác niệm, khiến trong lòng bạn thốt ra những lời thô tục để phá hoại bạn. Thiên ma đến phá hoại bạn, tâm ma đến hại bạn, nhưng không sao cả, đừng nghĩ đó là ma, đừng cho rằng đó là ma, hãy xem nó như là nghịch tăng thượng duyên.

Nếu bạn xem nó như là nghịch tăng thượng duyên, không để ý đến nó, trong tâm bất động, tiếp tục tu hành, bạn sẽ đạt được thành tựu; nếu bạn để ý đến nó, cho rằng nghiệp này là không thanh tịnh, sau này bạn dần dần không dám tu pháp, không dám đụng đến pháp tướng của Mật giáo, thậm chí niệm Phật cũng không dám niệm, trì chú cũng không dám trì, đại lễ bái cũng không dám làm, không dám làm gì cả, lui về vị trí phàm phu, như vậy chính là ma thắng, ma đã chiến thắng rồi.

Vì vậy, một bậc thánh thực sự vĩ đại chắc chắn sẽ có nghịch tăng thượng duyên, khi ở trong nghịch cảnh, bất kì thử thách nào cũng phải bất động, thanh tịnh, vượt qua được điều này thì sẽ thành tựu. Như bản thân tôi mà nói, đã xuất đạo hai mươi bảy năm, có thể nói là từ trên núi xuống, dấn thân vào giang hồ hai mươi bảy năm, nơi nào mà chẳng có thử thách, nhiều vô kể! Đủ loại thử thách nhiều vô kể, tất cả đều vượt qua hết, nội tâm như như bất động, nghĩ rằng trong thế giới này tất cả đều yên bình, đều thanh tịnh. Phải suy nghĩ như vậy.

Om mani padme hum.

07/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 210. Sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ (1)

Hôm nay chúng ta nói về sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ. Nói chung, người học Phật đối với nhiều cảnh giới còn chưa chắc hiểu rõ hoàn toàn, huống chi là người ngoài càng không hiểu. Đặc biệt khi bạn sống ở Mỹ - một quốc gia phương Tây, nơi có rất nhiều người phương Tây, họ cũng hoàn toàn không rõ thiên đường và Tây phương Cực Lạc thế giới có gì khác biệt, họ cứ nghĩ rằng Tây phương Cực Lạc thế giới chính là thiên đường của người phương Tây, lẫn lộn với nhau không phân biệt được.

Đặc biệt là người phương Tây không thể hiểu được ý nghĩa sâu xa hơn của Phật giáo. "Phật giáo là gì?" Đôi khi người phương Tây hỏi bạn như vậy, bạn không thể trả lời ngay được. Nếu bạn nói với họ rằng Phật giáo là giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu bạn trả lời như vậy, họ vẫn không hiểu rõ, và nếu bạn muốn giảng giải tất cả kinh Phật cho họ nghe, họ sẽ càng bối rối hơn, vì vậy cần phải phân biệt rõ một số điểm chính.

Sinh về thiên đường được đề cập trong nhiều tôn giáo, như Hồi giáo, Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo, nhiều tông phái đều nói về việc sinh về thiên đường. Trong Phật giáo, sinh về thiên đường chỉ là một thiên thừa, thiên thừa cũng có thể nói là một cảnh giới, một cảnh giới của cõi trời.

Trong Phật pháp, giáo lý được phân chia rất rõ ràng, giáo hóa của Như Lai (Phật Đà) được chia thành năm cảnh giới: một là cảnh giới của người, gọi là nhân thừa, việc làm người cũng không đơn giản, cần phải tu trì mới có thể trở thành một con người; cao hơn một chút gọi là thiên thừa, thiên thừa chính là thiên đường mà người ta thường nói; cao hơn nữa chúng ta gọi là La Hán thừa; trên La Hán thừa, chúng ta gọi là Bồ Tát thừa; cao nhất chính là Phật thừa. Nói như vậy thì giáo hóa của Phật có năm cảnh giới, từ Phật thừa đến nhân thừa.

Mỗi phương pháp tu hành đều khác nhau, về việc vãng sinh Tây phương cũng có nhiều điểm khác biệt, đây là một cảnh giới đặc biệt được đề cập trong Kinh A Di Đà. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Kinh A Di Đà, Ngài đã nói đây là một cảnh giới đặc biệt, được hình thành bởi nguyện lực. Nguyện lực là gì? Chính là Phật A Di Đà đã phát đại nguyện, chỉ cần trì danh hiệu của Ngài, trì danh trong bảy ngày nhất tâm bất loạn thì có thể vãng sinh về Tây phương Tịnh thổ - một cõi được thành tựu bởi nguyện lực, điều này cần phải phân biệt rõ.

Nếu một người phương Tây hỏi bạn rằng: "Cảnh giới mà người học Phật hướng đến là cảnh giới nào?", bạn có thể giải thích cho họ về năm cảnh giới (ngũ thừa). Nếu họ hỏi: "Tu hành như thế nào?", bạn có thể trả lời rằng: "Muốn làm người, cần phải giữ năm giới. Nếu bạn giữ năm giới, trong tương lai khi luân hồi trong sáu nẻo, bạn sẽ ở trong cảnh giới của người. Bạn có thể giảng cho người phương Tây về năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu - đó chính là năm giới. Nếu bạn giữ năm giới không phạm, bạn sẽ được tái sinh làm người."

Nói chung các tôn giáo đều dạy bạn giữ một số giới luật, như Cơ Đốc giáo có một số giới luật, Hồi giáo cũng có một số giới luật, họ cũng phải giữ một số giới luật như vậy, sau đó họ nói về việc sinh lên thiên đường, tiếp đến là họ thực hành mười thiện, không chỉ giữ giới mà còn phải thực hành mười thiện, mười thiện chính là làm việc thiện, tạo nghiệp lành.

Trong Phật giáo, việc tạo nghiệp lành được gọi là nghiệp trắng, tức là nghiệp thanh tịnh, khi bạn thực hành mười thiện thì sẽ được sinh lên cõi trời. Tất cả các tôn giáo đều giống nhau ở giai đoạn này, trong Phật giáo cũng có thiên thừa, nếu bạn giữ năm giới và thực hành mười thiện thì sẽ được sinh lên cõi trời. Đây chính là thiên thừa.

Trong Phật giáo có một bài kệ, khi người ta hỏi bạn Phật giáo là gì? Bạn có thể đọc: "Mọi ác không làm, hãy làm mọi thiện, tự tịnh ý mình, là điều Phật dạy", Phật giáo có thể giảng như vậy.

"Mọi ác không làm" chính là giữ năm giới, "hãy làm mọi thiện" chính là thực hành mười thiện, vậy còn "tự tịnh ý mình" thì sao? Điều này sâu xa hơn một chút, tự tịnh ý mình có thể nói là ý thanh tịnh, ý thanh tịnh cũng có nghĩa là thân khẩu ý thanh tịnh, đây chính là tam mật của Mật giáo. Nếu hiểu được tự tịnh ý mình, bạn sẽ bước vào La Hán thừa. Tôi nghĩ như vậy, tự tịnh ý mình chính là thân khẩu ý thanh tịnh, đây là điều rất quan trọng nếu muốn bước vào La Hán thừa.

Vì vậy bạn cần giữ năm giới, thực hành mười thiện, tự tịnh ý mình. Tự tịnh ý mình chính là thân khẩu ý thanh tịnh. Nếu ý có thể thanh tịnh thì thân và khẩu cũng sẽ thanh tịnh. Phạm vi của ý thức tương đối rộng lớn hơn. Nếu tự tịnh ý mình rồi thì sẽ bước vào La Hán thừa. La Hán là gì? Có thể nói đó là tự tịnh ý mình, ý niệm thanh tịnh, hiểu rõ về vô sinh và sinh tử hoàn toàn chấm dứt rồi, đó chính là La Hán thừa.

Hiểu rõ về vô sinh và chấm dứt sinh tử, cảnh giới này cao hơn việc thực hành mười thiện. Trong Phật giáo còn đề cập đến cảnh giới cao hơn nữa, trên La Hán gọi là Bồ Tát thừa. Bồ Tát thừa là gì? Chính là phát tâm bồ đề, thực hành lục độ vạn hành. Ngoài việc tự tịnh ý mình, bạn còn phát tâm bồ đề để độ chúng sinh rộng khắp, thực hành lục độ vạn hành, đó chính là Bồ Tát, đây là giai đoạn thứ tư.

Trong Phật giáo ngoài nhân thừa, thiên thừa, La Hán thừa, còn có Bồ Tát thừa. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

08/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

### 211. Sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ (2)

Chúng ta tiếp tục bàn về sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ. Bởi vì trong các tôn giáo phương Tây, họ chỉ biết đến cõi trời mà thôi, họ không hiểu về các cảnh giới khác. Tất nhiên cũng có một số ít người nghiên cứu sâu về tôn giáo, họ hiểu rõ, nhưng thực tế thì số người không hiểu nhiều hơn.

Khi chúng ta nói về ngũ thừa trong Phật giáo, nhân thừa là giữ năm giới; thiên thừa là thực hành mười thiện; La Hán thừa là tự tịnh ý mình và chấm dứt sinh tử; Bồ Tát thừa thì thêm vào đó là phát tâm bồ đề và thực hành lục độ vạn hành.

Cao nhất là Phật thừa, đó là giác hành viên mãn, trí huệ vô lậu, trí huệ không có một chút thiếu sót nào, đó chính là thành Phật, là một bậc Đại Giác Kim Tiên đã giác ngộ. Khi đạt đến Phật thừa như vậy thì hoàn toàn viên mãn, không có một chút thiếu sót nào, đó chính là cái gọi là Phật thừa.

Trong Phật giáo, khi bạn hiểu rõ điều này, nếu có người phương Tây hỏi bạn, bạn có thể giảng cho họ nghe, Phật giáo chia thành năm thừa, có năm cảnh giới, họ mới có thể hiểu rõ. Bởi vì tôi nhận thấy, Phật pháp ở phương Tây, việc độ người phương Tây thật sự rất khó khăn, vì trong đầu họ chỉ có thiên đường mà thôi, những điều khác, họ đều không có khái niệm.

Ngoài việc tin vào sự cứu độ của Thượng đế, những điều khác rất khó thâm nhập vào tâm trí của họ. Với những định kiến có sẵn, họ thường từ chối tất cả các tôn giáo khác.

Do đó, họ không thể chấp nhận các tôn giáo khác. Hễ là tôn giáo khác, họ đều cho là ma quỷ. Họ hoàn toàn không thể tiếp nhận những giáo lý sâu sắc hơn, vì thế cảnh giới của họ chỉ dừng lại ở cõi trời mà thôi.

Vì vậy, để truyền bá Phật pháp đến phương Tây, thực sự còn một chặng đường rất dài phía trước. Hiện nay, Phật giáo chỉ có thể lan truyền từ Ấn Độ đến Tây Tạng, đến Thái Lan, đến Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ trong phạm vi đó thôi, những nơi khác rất ít. Đối với phương Tây mà nói, đây là một thiếu sót rất lớn, bởi vì nhận thức của họ chỉ dừng lại ở mức độ như vậy.

Như chúng ta đã nói, Tây phương Cực Lạc thế giới là một cõi giới do nguyện lực của chính Phật A Di Đà tạo thành. Tây phương Cực Lạc thế giới này khác với việc sinh lên cõi trời, không giống nhau, vì sinh lên cõi trời chỉ cần thực hành mười thiện mà thôi. Vậy sinh về Tây phương thì sao? Bạn phải nương vào nguyện lực của mình, bởi vì Phật A Di Đà đã phát nguyện, chỉ cần bạn trì niệm danh hiệu của Ngài, bạn sẽ được vãng sinh về cõi Tịnh thổ của Ngài.

Vì vậy, bản thân Ngài có nguyện lực này, tương đương với việc có lực gia trì trên tất cả chúng sinh trong cõi Ta Bà, tất cả chúng sinh nương vào lực gia trì của chính Phật A Di Đà, chỉ cần bạn có nguyện vọng trì danh hiệu của Ngài, bạn sẽ được vãng sinh, điều này khác với việc sinh lên cõi trời.

Khi bạn đến được Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, bạn vẫn có thể tiếp tục tu hành, lúc đó bạn cần tự tịnh ý mình, bạn cũng có thể phát huy Phật tính của chính mình, dưới ánh sáng chiếu soi của chư Phật Bồ Tát, bạn có thể lĩnh hội được chân ý của Phật.

Nếu thân khẩu ý của bạn thanh tịnh, bạn có thể nhanh chóng thành tựu quả Phật, vì vậy đây là một pháp môn rất thuận tiện. Do đó, vãng sinh về Tây phương tương đối dễ dàng, nhưng trong đó còn có một yếu nghĩa quan trọng là phải "nhất tâm bất loạn", bởi vì sau khi bạn có nguyện vọng này rồi, bạn vẫn phải giữ nhất tâm bất loạn, nếu bạn có nhiều tâm thì không được, đây cũng là một điểm trọng yếu.

Phải nhất tâm cầu vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, nếu bạn nhất tâm bất loạn trì danh hiệu, có nguyện lực như vậy thì sẽ được Phật A Di Đà tiếp dẫn, đây là một khẩu quyết rất quan trọng.

Trong Kinh A Di Đà có đề cập từ một đến bảy ngày, nếu bạn nhất tâm bất loạn thì có thể vãng sinh, đây chính là đại nguyện lực của Phật A Di Đà.

Vì vậy trong Phật giáo, người tin theo Phật A Di Đà rất nhiều, bởi vì nguyện lực của Ngài là lớn nhất.

Bây giờ chúng ta đã hiểu rõ thế nào là sinh lên cõi trời, thế nào là sinh về Tây phương, và bạn cũng đã hiểu rõ về năm cảnh giới trong Phật giáo, cần phải tu trì như thế nào để đạt được năm cảnh giới đó.

Bạn thấy đó, những người phương Tây mà chúng ta gặp ở Mỹ, bản thân họ chỉ dừng lại ở cảnh giới sinh lên cõi trời mà thôi. Cuộc sống thường ngày của họ là đi nhà thờ vào chủ nhật, nghe giảng đạo, hát thánh ca, cầu nguyện, họ cũng làm việc thiện, cúng dường cho nhà thờ, đóng góp cho xã hội, cũng là thực hành mười thiện, chỉ có vậy thôi. Nói đến tự tịnh ý của La Hán thừa, họ hoàn toàn không biết thế nào là tự tịnh ý, thế nào là thân khẩu ý thanh tịnh, họ cũng không hiểu.

Họ cho rằng tham sân si của thân khẩu ý là điều đương nhiên, vì vậy họ không thể tự tịnh ý được, họ chỉ có thể đạt đến thiên thừa là cùng.

Vì vậy ngày nay Phật pháp cần phải được truyền bá ở phương Tây, đây là trách nhiệm của chúng ta những người đang sống ở phương Tây, chúng ta phải giảng giải thật rõ ràng để họ có thể hiểu rõ, nếu không họ sẽ hiểu lầm chúng ta, khi nhìn thấy TEMPLE (chùa) của chúng ta họ liền bài xích, hễ thấy hình tượng Phật là họ vội vàng mang thập tự giá đến chùa đi một vòng.

Không có cách nào khác, bởi vì quan niệm của họ là như vậy. Khi bạn thấy họ làm như thế, bạn sẽ cảm thấy họ rất ngây thơ, vì vậy chúng ta cần phải giáo hóa họ, đây là trách nhiệm của chúng ta. Hôm nay chúng ta nói đến đây.

Om mani padme hum.

08/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

**(Hết tập 5 - Trọn bộ)**

---
# File: kinh-luat-luan/giang-luan/index.md
# Title: Giảng luận
---

# Giảng luận

- [Giảng thuyết Chân Phật Kinh](/kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-chan-phat-kinh)
- [Giảng thuyết Cao Vương Kinh](/kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-cao-vuong-kinh)
- [Giảng thuyết Kinh A Di Đà - Cửu phẩm liên hoa sinh](/kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-a-di-da-cuu-pham-lien-hoa-sinh)
- [Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 1](/kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-1)
- [Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 2](/kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-2)
- [Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 3](/kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-3)
- [Giảng thuyết Kinh Kim Cang - Tập 4 (Hết)](/kinh-luat-luan/giang-luan/giang-thuyet-kinh-kim-cang-tap-4-het)
- [Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 1](/kinh-luat-luan/giang-luan/dai-vien-man-cuu-thu-de-tap-1)
- [Đại Viên Mãn cửu thứ đệ - Tập 2](/kinh-luat-luan/giang-luan/dai-vien-man-cuu-thu-de-tap-2)
- [Hồng quang đại thành tựu - Tập 1](/kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-1)
- [Hồng quang đại thành tựu - Tập 2](/kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-2)
- [Hồng quang đại thành tựu - Tập 3](/kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-3)
- [Hồng quang đại thành tựu - Tập 4](/kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-4)
- [Hồng quang đại thành tựu - Tập 5 (Hết)](/kinh-luat-luan/giang-luan/hong-quang-dai-thanh-tuu-tap-5-het)

---
# File: kinh-luat-luan/index.mdx
# Title: Gallery Kinh Luật Luận
---

import KinhLuatLuanGallery from '@site/src/components/KinhLuatLuanGallery';

## Gallery Kinh Luật Luận

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

---

<KinhLuatLuanGallery />

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/cao-vuong-kinh.md
# Title: Cao Vương Kinh
---

![image](/img/img_d0085e2899da9ae578a74ea3fd0a3f3a.jpg)

## Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">06/04/2019</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Niệm **Cao Vương Kinh - Việt nghĩa** hoặc **Cao Vương Kinh - Hán Việt** hoặc **Cao Vương Kinh - Tiếng Trung** đều có hiệu lực như nhau. (Vào 13h ngày 06/04/2019, dưới sự thỉnh cầu của đệ tử tại Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân gia trì cho hiệu lực trên.)

### Chuẩn bị

Đại lễ bái  
Một lễ bái chư Phật mười phương.  
Hai lễ bái chư Bồ Tát.  
Ba lễ bái Hộ Pháp Kim Cang.  
Bốn bái Bình đẳng một cúi đầu.

**Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn**  
Ôm, su-ri, su-ri, ma-ha-su-ri, su-su-ri, sô-ha  <span className="note-blue">[Om suri suri mahasuri susuri soha]</span>

Tịnh thân nghiệp chân ngôn  
Ôm, su-đô-ri, su-đô-ri, su-mô-li, su-mô-li, sô-ha  <span className="note-blue">[Om sudori sudori sumoli sumoli soha]</span>

Tịnh ý nghiệp chân ngôn  
Ôm, va-zờ-ra-đam, hô-hô-hùm  <span className="note-blue">[Om vajradam ho ho hum]</span>

Hương tán  
Lư hương sạ nhiệt. Pháp giới mông huân.  
Chân Phật hải hội tất diêu văn. Tùy xứ kết tường vân.  
Thành ý phương ân. Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)  
Nam mô Chân Phật hội thượng chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

**Khai kinh kệ**

Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.  
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.  
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.  
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

### Cao Vương Kinh - Việt nghĩa

Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát  
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.  
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.  
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.  
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú.  
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú.  
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú.  
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Niệm danh hiệu Phật sáu phương  
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.  
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.  
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.  
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.  
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.  
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.  
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.  
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau:  
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Mười phương Quan Thế Âm. Hết thảy chư Bồ Tát.  
Đã thề cứu chúng sinh. Xướng danh tất giải thoát.

Nếu gặp người trí tuệ. Ân cần mà giảng nói.  
Lại có đủ nhân duyên. Đọc tụng không ngơi nghỉ.  
Tụng kinh tròn nghìn biến. Niệm niệm tâm không dừng.  
Gặp lửa cháy chẳng sao. Việc đao binh cũng thoát.  
Nóng giận thành vui vẻ. Chết rồi hóa sống vui.  
Đừng nghĩ rằng không đúng. Chư Phật chẳng nói chơi.  
Cao Vương Quan Thế Âm. Cứu được hết khổ nạn.  
Lúc khó khăn nguy cấp. Người chết còn thành sống.  
Chư Phật chẳng nói đùa. Vì vậy nên đảnh lễ.  
Niệm tụng trọn nghìn lần. Tội nặng đều tiêu diệt.  
Người có phúc tín tâm. Hãy chuyên tâm đọc tụng.

Nguyện mang công đức này. Gửi tới hết chúng sinh.  
Tụng tròn một nghìn biến. Tội nặng đều tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (Hết)!

Hồi hướng kệ  
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh độ.  
Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ.  
Nếu có kẻ thấy nghe, đều phát lòng bồ đề.  
Hết một báo thân này, đồng sinh cõi Cực Lạc.

### Cao Vương Kinh - Hán Việt

Phụng thỉnh bát đại Bồ Tát  
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát.  
Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng.  
Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân.  
Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.

Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại thần chú.  
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị đại minh chú.  
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô thượng chú.  
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Thị vô đẳng đẳng chú.

Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ - thất Phật. Vị lai hiền kiếp - thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.

Lục phương lục Phật danh hiệu:  
Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật.  
Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật.  
Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật.  
Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật.  
Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật.  
Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật.  
Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật.  
Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.

Trung ương nhất thiết chúng sinh. Tại Phật thế giới trung giả. Hành trụ ư địa thượng. Cập tại hư không trung. Từ ưu ư nhất thiết chúng sinh. Các lệnh an ổn hưu tức. Trú dạ tu trì. Tâm thường cầu tụng thử kinh. Năng diệt sinh tử khổ. Tiêu trừ chư độc hại.

Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.

Niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn. Tức thuyết chú viết:  
“Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)

Thập phương Quan Thế Âm. Nhất thiết chư Bồ Tát.  
Thệ nguyện cứu chúng sinh. Xưng danh tất giải thoát.  
Nhược hữu trí tuệ giả. Ân cần vị giải thuyết.  
Đãn thị hữu nhân duyên. Độc tụng khẩu bất xuyết.  
Tụng kinh mãn thiên biến. Niệm niệm tâm bất tuyệt.  
Hỏa diễm bất năng thương. Đao binh lập tồi chiết.  
Khuể nộ sinh hoan hỉ. Tử giả biến thành hoạt.  
Mạc ngôn thử thị hư. Chư Phật bất vọng thuyết.  
Cao Vương Quan Thế Âm. Năng cứu chư khổ ách.  
Lâm nguy cấp nan trung. Tử giả biến thành hoạt.  
Chư Phật ngữ bất hư. Thị cố ưng đính lễ.  
Trì tụng mãn thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.  
Hậu phúc kiên tín giả. Chuyên công thọ trì kinh.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết.  
Tụng mãn nhất thiên biến. Trọng tội giai tiêu diệt.

Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (chung)!

**Hồi hướng kệ**  
Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh thổ.  
Thượng báo tứ trùng ân, hạ tế tam đồ khổ.  
Nhược hữu kiến văn giả, tất phát bồ đề tâm.  
Tận thử nhất báo thân, đồng sinh Cực lạc quốc.

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/chan-phat-kinh.md
# Title: Chân Phật Kinh
---

![image](/img/img_b4fe904f57745707c1baf3baa8391e20.jpg)

## Chân Phật Kinh

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">06/04/2019</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Niệm **Chân Phật Kinh - Việt nghĩa** hoặc **Chân Phật Kinh - Hán Việt** hoặc **Chân Phật Kinh - Tiếng Trung** đều có hiệu lực như nhau. (Vào 13h ngày 06/04/2019, dưới sự thỉnh cầu của đệ tử tại Đài Loan, Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân gia trì cho hiệu lực trên.)

## Chuẩn bị

Đại lễ bái  
Một lễ bái chư Phật mười phương.  
Hai lễ bái chư Bồ Tát.  
Ba lễ bái Hộ Pháp Kim Cang.  
Bốn bái Bình đẳng một cúi đầu.

**Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn**  
Ôm, su-ri, su-ri, ma-ha-su-ri, su-su-ri, sô-ha  <span className="note-blue">[Om suri suri mahasuri susuri soha]</span>

Tịnh thân nghiệp chân ngôn  
Ôm, su-đô-ri, su-đô-ri, su-mô-li, su-mô-li, sô-ha  <span className="note-blue">[Om sudori sudori sumoli sumoli soha]</span>

Tịnh ý nghiệp chân ngôn  
Ôm, va-zờ-ra-đam, hô-hô-hùm  <span className="note-blue">[Om vajradam ho ho hum]</span>

### Niệm văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì

Ôm A Hùm <span className="note-blue">[Om Ah Hum]</span>  
Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh.  
Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.

Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh.  
Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân.  
Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật.  
Ba thân không khác, đại Phật ân.

Cung kính Chân Phật đại truyền thừa.  
Thần thông ban trải đầy thế giới.  
Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời.  
Hóa hiện không ngừng chứng nhất như.  
Đệ tử tha thiết thường cầu tới.  
Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.

Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca.  
Phó thác ân cần, A Di Đà.  
Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán.  
Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền.  
Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện.  
Cứu độ chúng sinh chúng con đây.  
Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ.  
Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.

Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật.  
Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu.  
Nam mô Liên Hoa Đồng Tử.  
Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.  
Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

**Niệm thánh cáo (3 lần)**  
Tây phương Liên Trì hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, thập bát đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông. Lư Thắng Ngạn mật hành tôn giả.

Hương tán  
Lư hương sạ nhiệt. Pháp giới mông huân.  
Chân Phật hải hội tất diêu văn. Tùy xứ kết tường vân.  
Thành ý phương ân. Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)  
Nam mô Chân Phật hội thượng chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

Phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát  
Nam mô Pháp Giới Tối Thắng Cung Tỳ Lô Giá Na Phật.  
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.  
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Nam mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

### Khai kinh kệ

Phật pháp rộng sâu rất nhiệm màu.  
Trăm nghìn vạn kiếp khó tìm cầu.  
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng.  
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm sâu.

## Chân Phật Kinh - Việt nghĩa

Tôi nghe như vầy.  
Một thời, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì, ngồi trên pháp tọa hoa sen lớn màu trắng, xung quanh là mười bảy đóa hoa sen lớn khác.

Hoa màu xanh phát ánh sáng xanh.  
Hoa màu vàng phát ánh sáng vàng.  
Hoa màu đỏ phát ánh sáng đỏ.  
Hoa màu tím phát ánh sáng tím.  
Mỗi đóa hoa sen tỏa ra hương thơm tinh khiết vi diệu.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử âm thầm vận thần thông làm Ma Ha Song Liên Trì biến hóa thành ánh sáng vàng kim chói lọi. Tất cả hương hoa tỏa mạnh ra thơm ngát. Tiên thảo cũng tỏa ngát hương thơm. Chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, chim Ca lăng tần già, chim Cộng mạng, đều hóa màu vàng kim, cùng hót lên âm thanh hòa nhã của cõi trời.

Trong hư không xuất hiện ánh sáng vàng kim cùng âm thanh cõi trời thanh tịnh vi diệu. Có hương thơm nồng tỏa trong các thế giới, có tầng các bằng vàng trên không trung, tất cả cùng phát hào quang hoa rực rỡ. Mọi chốn nở đầy hoa sen vàng kim và hoa trời bay phấp phới khắp hư không.

Lúc bấy giờ,  
Ma Ha Song Liên Trì chấn động mạnh mẽ. Vô lượng chư Thiên đều cảm nhận được, chư Phật, chư Bồ Tát cùng chư Thanh Văn cũng đều cảm nhận được, tất cả liền đi đến Ma Ha Song Liên Trì. Ba mươi ba vị thiên chủ cõi trời cũng vội đến Ma Ha Song Liên Trì. Tập hợp liền hai mươi tám loại thiên chúng, Đế Thích, Phạm Vương, bát bộ, tứ chúng. Rộng giảng nói pháp yếu.

Lúc bấy giờ:  
Kim Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đại trí huệ.  
Bạch Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Pháp giới.  
Lục Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Vạn bảo.  
Hắc Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hàng phục.  
Hồng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Hạnh nguyện.  
Tử Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đoan nghiêm.  
Lam Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Quả đức.  
Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Phúc túc.  
Tranh Liên Hoa Đồng Tử hóa hiện ra ánh sáng Đồng chân. 

Chư Thiên thấy vậy cảm thấy kinh ngạc lạ kỳ. Thế là Đế Thích từ trong chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu hướng về Bạch Liên Hoa Đồng Tử mà thưa rằng: "Thánh Tôn, thật hy hữu hiếm có. Ma Ha Song Liên Trì do nhân duyên nào mà xuất hiện ánh sáng đại quang hoa rực rỡ này?"

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói: "Đó là vì để thuyết giảng cho các ông vậy."  
Đế Thích nói: "Thánh Tôn uy quyền tối tôn. Chỉ mong Thánh Tôn vì chúng sinh mà tuyên thuyết. Tất cả trời người sẽ đều biết phải hướng quay về."

Lúc bấy giờ Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với Đế Thích cùng các đại chúng: "Lành thay lành thay. Nay ta vì các ông và chúng sinh đời mạt thế, cùng những người hữu duyên trong đời tương lai, giảng cho tất cả đều biết đạo lý chân thực Phật pháp và tiêu tai ban phúc."

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử liền nói tiếp:  
"Chư Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Có:  
Tối Thắng thế giới,  
Diệu Bảo thế giới,  
Viên Châu thế giới,  
Vô Ưu thế giới,  
Tịnh Trú thế giới,  
Pháp Ý thế giới,  
Mãn Nguyệt thế giới,  
Diệu Hỷ thế giới,  
Diệu Viên thế giới,  
Hoa Tạng thế giới,  
Chân Như thế giới,  
Viên Thông thế giới.  
Bây giờ sẽ có Chân Phật thế giới."

Thế là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng chư Thánh chúng nghe Thánh Tôn khai diễn Chân Phật thế giới.  
Biết được sự cát tường, thiện thệ, đại bi, nhân quả của quá khứ - hiện tại - vị lai, là do Thánh Tôn vì chúng sinh hóa thân thị hiện, ai nấy hoan hỷ chưa từng có, cúi đầu tán thán mà hát lên bài kệ:  
*Thánh Tôn đại từ bi.  
Vô thượng bí mật tôn.  
Quá khứ sớm tu chứng.  
Giới siêu phàm thoát tục.  
Nay lập Chân Phật giới.  
Xót thương chư chúng sinh.  
Hóa thân làm giáo chủ.  
Hạ giáng cõi Ta Bà.  
Lành thay hiệu Liên Sinh.  
Vì chúng sinh quảng thuyết.  
Chúng con đều đã nghe.  
Nguyện sẽ đại hộ trì.*

Lúc bấy giờ, Thánh Tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử nói với đại chúng:  
"Tu hành lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo. Lấy thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh làm Pháp bảo. Lấy Chân Phật Thượng sư làm Tăng bảo."

Thánh Tôn nói với đại chúng:  
"Nếu có thiện nam tử, tín nữ tử vào ngày 18 tháng 5 hàng năm, tắm rửa trai giới, mặc y phục sạch sẽ, hoặc vào ngày 18 hàng tháng, hoặc ngày sinh thần của mình ở trước mật đàn, phụng thỉnh hai Phật tám Bồ Tát, tụng "Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh" thì cầu gì tùy tâm, sẽ có cảm ứng. Có thể cúng dường hương, hoa, đèn, trà, quả, chí thành cầu nguyện, đều được như ý."

Thánh Tôn nói với đại chúng:  
"Những vị quan chức, quý nhân, sa môn, cư sĩ, người tu đạo, phàm tục trong thế gian, nếu nghe kinh này, thêm thọ trì tụng niệm thì những người này bổng lộc chức vị tối thắng, thọ mệnh kéo dài, cầu trai được trai, cầu gái được gái, có được phúc nhiều vô lượng, là đại phúc bảo kinh tăng ích.  
Những vong linh, oan thân trái chủ chưa được cứu độ mà còn ở trong chốn u minh, nếu có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì người chết sẽ được lên trời, oan gia trái chủ sẽ bỏ đi, hiện tại còn gặt hái được phúc đức.  
Những người nam, người nữ nào hoặc bị tà ma xâm phạm, hoặc bị quỷ thần hãm hại, hoặc có ác mộng hỗn loạn, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tà ma sẽ bỏ chạy. Họ lập tức sẽ được an lạc.  
Những ai có bệnh tật đeo bám, phải trả nhân quả nghiệp báo của kiếp trước hoặc có các bệnh do quỷ thần, nếu thọ trì kinh này, ấn tống kinh này thì tai ương sẽ được cứu, bệnh tật sẽ tiêu trừ.  
Những ai có ác vận, dính phải kiện tụng, bị giam cầm tù tội nhưng có thể trì tụng kinh này, ấn tống kinh này thì tai họa sẽ được giải trừ, điều hung sẽ hóa thành cát tường.  
Nếu hai nước xảy ra chiến tranh, có thể trì tụng kinh này, lập tượng cúng dường, sẽ được gia tăng uy lực, chiến thắng chắc chắn.  
Người đọc tụng, người ấn tống, người bố thí, tất cả sẽ được cát tường như ý viên mãn, tiêu trừ các độc hại, có thể diệt sinh tử khổ."

Tây phương Chân Phật hải hội, tại Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử đều ở trong đó mà nói chú rằng:  
“Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hum” <span className="note-blue">[Om guru liansheng siddhi hum]</span> (vô số lần)

Thánh Tôn khi giảng xong kinh này, Đế Thích cùng chư đại chúng, Thiên long, Bát bộ, Tứ chúng cung kính hành lễ, tín thọ phụng hành.  
Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh (Hết!)

Hồi hướng kệ  
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật tịnh độ.  
Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ.  
Nếu có kẻ thấy nghe, đều phát lòng bồ đề.  
Hết một báo thân này, đồng sinh cõi Cực Lạc.

**Mục chú giải**

Ma Ha Song Liên Trì: Hai hồ sen lớn.

Kim Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu vàng kim.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu trắng.

Lục Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu xanh lá.

Hắc Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu đen.

Hồng Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu đỏ.

Tử Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu tím.

Lam Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu xanh lam.

Hoàng Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu vàng.

Tranh Liên Hoa Đồng Tử: Liên Hoa Đồng Tử màu cam.

Chốn u minh: Âm gian, cõi âm.

Ấn tống: In và phát tặng kinh sách. 

Tín thọ phụng hành: Tin, hiểu và làm theo.

## Chân Phật Kinh - Hán Việt

Như thị ngã văn.  
Nhất thời,  
Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tại Ma Ha Song Liên Trì, tọa ư Đại Bạch Liên Hoa pháp tọa chi thượng. Chu vi thập thất đóa đại liên hoa.

Thanh sắc thanh quang.  
Hoàng sắc hoàng quang.  
Xích sắc xích quang.  
Tử sắc tử quang.  
Các đóa liên hoa, vi diệu hương khiết.

Bạch Liên Hoa Đồng Tử, mặc vận thần thông, tương nhất cá Ma Ha Song Liên Trì, biến hóa đắc cách ngoại kim quang xán lạn. Sở hữu hương hoa toàn bộ nộ phóng. Thụy thảo phóng xuất hương tức. Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng chi điểu, quân hóa kim sắc, xuất hòa nhã thiên âm.

Không trung kim sắc quang. Hữu tịnh diệu thiên âm lai tự hư không. Chư thế giới hương khí phân phức. Không trung kim các. Toàn sinh quang hoa. Biến phu kim liên. Hư không chi trung thiên hoa phiêu tán.

Nhĩ thời,  
Ma Ha Song Liên Trì đại đại chấn động. Vô lượng chư thiên giai cảm thọ chi. Phật, Bồ Tát, Thanh văn giai cảm thọ chi, quân chí Ma Ha Song Liên Trì. Tam thập tam thiên chủ quân cản phó Ma Ha Song Liên Trì. Tập chư nhị thập bát Thiên chúng, Đế Thích, Phạm vương, Bát bộ, Tứ chúng, quảng thuyết pháp yếu.

Nhĩ thời,  
Kim Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Đại tuệ quang.  
Bạch Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Pháp giới quang.  
Lục Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Vạn bảo quang.  
Hắc Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Giáng phục quang.  
Hồng Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Hành nguyện quang.  
Tử Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Đoan nghiêm quang.  
Lam Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Quả đức quang.  
Hoàng Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Phúc túc quang.  
Tranh Liên Hoa Đồng Tử hiện xuất Đồng chân quang.

Chư Thiên kiến chi, đại cảm kinh dị. Ư thị Đế Thích thung tọa nhi khởi, kê thủ hướng tiền, đối Bạch Liên Hoa Đồng Tử nhi thuyết: “Hy hữu Thánh tôn, Ma Ha Song Liên Trì dĩ hà nhân duyên hiện thử đại quang hoa?”

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử thuyết: “Đương vị nhữ đẳng tế thuyết.”  
Đế Thích thuyết: “Thánh tôn uy quyền tối tôn. Duy nguyện Thánh tôn vị chúng tuyên thuyết, nhất thiết Nhân, Thiên hàm tri quy hướng."

Nhĩ thời,  
Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử cáo Đế Thích cập chư đại chúng thuyết: “Thiện tai, thiện tai. Ngô kim vị nhữ cập mạt thế chúng sinh, hữu duyên giả ư đương lai chi thế, hàm cộng tri chi Chân Thực Phật Pháp Cập Tức Tai Tứ Phúc chi lý.”

Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử tức thuyết:  
“Chư Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh, hữu:  
Tối Thắng thế giới,  
Diệu Bảo thế giới,  
Viên Châu thế giới,  
Vô Ưu thế giới,  
Tịnh Trú thế giới,  
Pháp Ý thế giới,  
Mãn Nguyệt thế giới,  
Diệu Hỷ thế giới,  
Diệu Viên thế giới,  
Hoa Tàng thế giới,  
Chân Như thế giới,  
Viên Thông thế giới.  
Như kim, tương hữu Chân Phật thế giới.”

Ư thị Phật, Bồ Tát, Thanh văn, Duyên giác, cập chư Thiên chúng văn Thánh tôn khai diễn Chân Phật thế giới.

Tri thị Quá khứ - Hiện tại – Vị lai chi cát tường Thiện thệ đại bi nhân quả. Thị Thánh tôn vị chúng sinh hóa thân kỳ hiện. Các các hoan hỷ đắc vị tằng hữu, kê thủ xưng tán nhi thuyết kệ ngôn:  
*Thánh tôn đại từ bi,  
Vô thượng bí mật tôn.  
Quá khứ tảo tu chứng,  
Ly dục siêu phàm gian.  
Kim sáng Chân Phật giới,  
Liên mẫn chư quần hữu.  
Hóa thân vi giáo chủ,  
Hạ giáng chí Ta bà.  
Thiện tai hiệu Liên Sinh,  
Vị chúng quảng tuyên thuyết.  
Ngã đẳng quân dĩ văn  
Đương vi đại hộ trì.*

Nhĩ thời,  
Thánh tôn Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử cáo đại chúng:  
“Tu hành dĩ vô niệm vi Chính giác Phật bảo, thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh vi Pháp bảo. Y Chân Phật thượng sư vi Tăng bảo.”

Thánh tôn cáo đại chúng:  
“Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư mỗi niên ngũ nguyệt thập bát nhật, mộc dục trai giới, trước tân tịnh y phục, hoặc ư mỗi nguyệt thập bát nhật, hoặc bản mệnh sinh thần nhật, tại mật đàn tiền, phụng thỉnh nhị Phật, bát Bồ Tát, phụng tụng Chân Thực Phật Pháp Tức Tai Tứ Phúc Kinh, tùy tâm sở cầu, tự hữu cảm ứng. Canh năng cung dưỡng hương, hoa, đăng, trà, quả, kiền thành kỳ đảo, hàm đắc như ý.”

Thánh tôn cáo đại chúng:  
“Thế gian cao quan, quý nhân, sa môn, cư sĩ, tu đạo, tục nhân đẳng, nhược văn thử kinh, thọ trì độc tụng. Như thị chi nhân, lộc vị tối tôn, thọ mệnh duyên trưởng, cầu tử đắc tử, cầu nữ đắc nữ, hoạch phúc tối thị vô lượng. Thị tăng ích đích đại phúc bảo kinh.  
Nhược hữu tiên vong, oán thân trái chủ, vị năng đắc độ, trệ tiết u minh, nhược năng trì tụng bản kinh, ấn tống bản kinh, vong giả thăng thiên, oán thân thoái tán, hiện tồn hoạnh phúc.  
Nhược hữu nam tử, nữ nhân, hoặc bị tà ma sở xâm, quỷ thần vi hại, ác mộng hôn loạn, thọ trì bản kinh, thí ấn bản kinh, tà quỷ thoái tàng, tức đắc an lạc.  
Nhược hữu tật ách triền thân, tiền thế nhân quả nghiệp báo, quỷ thần bệnh đẳng, thọ trì bản kinh, ấn thí bản kinh, tức đắc tai ách tiêu trừ, bệnh nguyên lập giải.  
Nhược hữu ác vận, quan tụng khiên triền, tù cấm ngục hệ, đãn năng trì tụng bản kinh, ấn thí bản kinh, tức đắc giải trừ, hung ương điễn diệt, hóa vi cát tường.  
Nhược lưỡng quốc tranh chiến, năng trì thử kinh, lập tượng cung dưỡng, tức đắc gia uy, chiến vô bất thắng.  
Tụng giả, ấn giả, thí giả, năng nhất thiết cát tường như ý viên mãn, tiêu trừ chư độc hại, năng diệt sinh tử khổ."

Tây phương Chân Phật hải hội, Ma Ha Song Liên Trì, Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, tức ư kỳ trung, nhi thuyết chú viết:  
“Ôm, gu-ru, lién-sâng, sít-đi, hum” <span className="note-blue">[Om guru liansheng siddhi hum]</span> (vô số biến)

Thánh tôn thuyết thử kinh dĩ, Đế Thích cập chư đại chúng, Thiên long, Bát bộ, Tứ chúng, cung kính tác lệ, tín thọ phụng hành.  
Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Tứ Phúc Kinh (Chung!)

Hồi hướng kệ  
Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh thổ.  
Thượng báo tứ trùng ân, hạ tế tam đồ khổ.  
Nhược hữu kiến văn giả, tất phát bồ đề tâm.  
Tận thử nhất báo thân, đồng sinh Cực lạc quốc.

**(Hết)**

## Chân Phật Kinh - Tiếng Trung - Bính âm

### 祈請蓮生活佛加持文

Qí qǐng lián shēng huó fó jiā chí wén

嗡。啞。吽。  
om a hong.

敬以清淨身口意。供養毘盧遮那尊。  
jìng yǐ qīng jìng shēn kǒu yì. gòng yǎng pí lú zhē nà zūn

法身佛眼佛母聖。報身蓮花童子身。  
fǎ shēn fó yǎn fó mǔ shèng. bào shēn lián huā tóng zǐ shēn.

應身教主蓮生佛。三身無別大佛恩。  
yīng shēn jiào zhǔ lián shēng fó. sān shēn wú bié dà fó ēn.

恭敬真佛大傳承。具足神通彌六合。  
gōng jìng zhēn fó dà chuán chéng. jù zú shén tōng mí liù hé.

放光遍照於三際。一如無間能現證。  
fàng guāng biàn zhào yú sān jì. yī rú wú jiàn néng xiàn zhèng.

佛子時時常哀請。光明注照福慧增。  
fó zǐ shí shí cháng āi qǐng. guāng míng zhù zhào fu huì zēng.

昔日釋迦來授記。阿彌陀佛殷付託。  
xī rì shì jiā lái shòu jì. ah mí tuó fó yīn fù tuō.

彌勒菩薩戴紅冠。蓮華大士授密法。  
mí lè pú sà dài hóng guān. lián huá dà shì shòu mì fǎ.

祈請不捨弘誓願。救度我等諸眾生。  
qí qǐng bù shě hóng shì yuàn. jiù dù wǒ děng zhū zhòng shēng.

如是護念而攝受。祈請加持速成就。  
rú shì hù niàn ér shè shòu. qí qǐng jiā chí sù chéng jiù.

南摩毘盧遮那佛。  
ná mó pí lú zhē nà fó.

南摩佛眼佛母。  
ná mó fó yǎn fó mǔ.

南摩蓮花童子。  
ná mó lián huā tóng zǐ.

南摩蓮生活佛。  
ná mó lián shēng huó fó.

南摩真佛海會十方三世諸佛菩薩摩訶薩。(三稱）  
ná mó zhēn fo hǎi huì shí fāng sān shì zhū fo pú sà mó hē sà.(sān chēng)

**唸聖誥三遍 niàn shèng gào sān biàn**

西方蓮池海會。摩訶雙蓮池。  
xī fāng lián chí hǎi huì. mó hē shuāng lián chí.

十八大蓮花童子。白衣聖尊。  
shí bā dà lián huā tóng zǐ. bái yī shèng zūn.

紅冠聖冕金剛上師。  
hóng guān shèng miǎn jīn gāng shàng shī.

主金剛真言界秘密主。  
zhǔ jīn gāng zhēn yán jiè mì mì zhǔ.

大持明第一世靈仙真佛宗。  
dà chí míng dì yī shì líng xiān zhēn fó zōng.

盧勝彥密行尊者。  
lú shèng yàn mì xíng zūn zhě.

**香讚**  
**xiāng zàn**

爐香乍熱。法界蒙熏。真佛海會悉遙聞。  
lú xiāng zhà rè fǎ jiè méng xūn zhēn fó hǎi huì xī yáo wén.

隨處結祥雲。誠意方殷。諸佛現全身。  
suí chù jié xiáng yún chéng yì fāng yīn zhū fú xiàn quán shēn.

南無香雲蓋菩薩摩訶薩 (三遍)  
ná mó xiāng yún gài pú sà mó hē sà (sān biàn).

南無真佛會上諸佛菩薩摩訶薩 (三遍)  
ná mó zhēn fó huì shàng zhū fo pú sà mó hē sà (sān biàn).

**奉請二佛八菩薩 fèng qǐng èr fó bā pú sà**

南摩法界最勝宮毘盧遮那佛。  
ná mó fǎ jiè zuì shèng gōng pí lú zhē nà fó.

南摩西方極樂世界阿彌陀佛。  
ná mó xī fāng jí lè shì jiè ah mí tuó fó.

南摩觀世音菩薩摩訶薩。  
ná mó guān shì yīn pú sà mó hē sà.

南摩彌勒菩薩摩訶薩。  
ná mó mí lè pú sà mó hē sà.

南摩虛空藏菩薩摩訶薩。  
ná mó xū kōng záng pú sà mó hē sà.

南摩普賢菩薩摩訶薩。  
ná mó pǔ xián pú sà mó hē sà.

南摩金剛手菩薩摩訶薩。  
ná mó jīn gāng shǒu pú sà mó hē sà.

南摩妙吉祥菩薩摩訶薩。  
ná mó miào jí xiáng pú sà mó hē sà.

南摩除蓋障菩薩摩訶薩。  
ná mó chú gài zhàng pú sà mó hē sà.

南摩地藏王菩薩摩訶薩。  
ná mó di zàng wáng pú sà mó hē sà.

南摩諸尊菩薩摩訶薩。  
ná mó zhū zūn pú sà mó hē sà.

### 開經偈

kāi jīng jì

無上甚深微妙法。  
wú shàng shèn shēn wéi miào fǎ.

百千萬劫難遭遇。  
bǎi qiān wàn jié nàn zāo yù.

我今見聞得受持。  
wǒ jīn jiàn wén dé shòu chí.

願解如來真實義。  
yuàn jiě rú lái zhēn shí yì.

### 蓮生活佛說「真實佛法息災賜福經」

lián shēng huó fó shuō 「zhēn shí fó fǎ xī zāi cì fú jīng」

如是我聞。一時大白蓮花童子。在摩訶雙蓮池。  
rú shì wǒ wén. yī shí dà bái lián huā tóng zǐ. zài mó hē shuāng lián chí.

坐於大白蓮花法座之上。周圍十七朵大蓮花。  
zuò yú dà bái lián huā fǎ zuò zhī shàng. zhōu wéi shí qī duǒ dà lián huā.

青色青光。黃色黃光。赤色赤光。  
qīng sè qīng guāng. huáng sè huáng guāng. chi sè chì guāng.

紫色紫光。各朵蓮花。微妙香潔。  
zǐ sè zǐ guāng. gè duǒ lián huā. wéi miào xiāng jié.

白蓮花童子。默運神通。將一個摩訶雙蓮池。變化得格外金光燦爛。  
bái lián huā tóng zǐ. mò yùn shén tōng. jiāng yī gè mó hē shuāng lián chí. biàn huà dé gé wài jīn guāng càn làn.

所有香花全部怒放。瑞草放出香息。  
suǒ yǒu xiāng huā quán bù nù fàng. ruì cǎo fàng chū xiāng xī.

白鶴。孔雀。鸚鵡。舍利。  
bái hè. kǒng què. yīng wǔ. shè lì.

迦陵頻迦。共命之鳥。均化金色。出和雅天音。  
jiā líng pín jiā. gòng mìng zhī niǎo. jūn huà jīn sè. chū hé yǎ tiān yīn.

空中金色光。有淨妙天音來自虛空。  
kōng zhōng jīn sè guāng. yǒu jìng miào tiān yīn lái zì xū kōng.

諸世界香氣芬馥。空中金閣。全生光華。遍敷金蓮。虛空之中天花 飄散。  
zhū shì jiè xiāng qì fēn fù. kōng zhōng jīn gé. quán shēng guāng huá. biàn fū jīn lián. xū kōng zhī zhōng tiān huā piāo sàn.

爾時。摩訶雙蓮池。大大震動。無量諸天皆感受之。  
ěr shí. mó hē shuāng lián chí. dà dà zhèn dòng. wú liàng zhū tiān jiē gǎn shòu zhī.

佛菩薩聲聞皆感受之。均至摩訶雙蓮池。  
fo pú sà shēng wén jiē gǎn shòu zhī jūn zhì mó hē shuāng lián chí.

三十三天主均趕赴摩訶雙蓮池。  
sān shí sān tiān zhǔ jūn gǎn fù mó hē shuāng lián chí.

集諸二十八天眾。帝釋。梵王。  
jí zhū èr shí bā tiān zhòng. dì shì. fàn wáng.

八部四眾。廣說法要。  
bā bù sì zhòng. guǎng shuō fǎ yào.

爾時。金蓮花童子現出大慧光。  
ěr shí. jīn lián huā tóng zǐ xiàn chū dà huì guāng.

白蓮花童子現出法界光。  
bái lián huā tóng zǐ xiàn chū fǎ jiè guāng.

綠蓮花童子現出萬寶光。  
lǜ lián huā tóng zǐ xiàn chū wàn bǎo guāng.

黑蓮花童子現出降伏光。  
hēi lián huā tóng zǐ xiàn chū xiáng fú guāng.

紅蓮花童子現出行願光。  
hóng lián huā tóng zǐ xiàn chū xíng yuàn guāng.

紫蓮花童子現出端嚴光。  
zǐ lián huā tóng zǐ xiàn chū duān yán guāng.

藍蓮花童子現出果德光。  
lán lián huā tóng zǐ xiàn chū guǒ dé guāng.

黃蓮花童子現出福足光。  
huáng lián huā tóng zǐ xiàn chū fú zú guāng.

橙蓮花童子現出童真光。  
chéng lián huā tóng zǐ xiàn chū tóng zhēn guāng.

諸天見之。大感驚異。  
zhū tiān jiàn zhī. dà gǎn jīng yì.

於是帝釋從座而起。稽首向前對白蓮花童子而說。  
yú shì dì shì cóng zuò ér qǐ. qǐ shǒu xiàng qián duì bái lián huā tóng zǐ ér shuō.

稀有聖尊。摩訶雙蓮池。以何因緣。現此大光華。  
xī yǒu shèng zūn. mó hē shuāng lián chí. yǐ hé yīn yuán. xiàn cǐ dà guāng huá.

大白蓮花童子說。當為汝等細說。帝釋說。  
dà bái lián huā tóng zǐ shuō. dāng wèi rǔ děng xì shuō. dì shì shuō.

聖尊威權最尊。惟願聖尊為眾宣說。一切人天咸知皈向。  
shèng zūn wēi quán zuì zūn. wéi yuàn shèng zūn wèi zhòng xuān shuō. yī qiè rén tiān xián zhī guī xiàng.

爾時。大白蓮花童子告帝釋及諸大眾說。  
ěr shí. dà bái lián huā tóng zǐ gào dì shì jí zhū dà zhòng shuō.

善哉善哉。吾今為汝及末世眾生。  
shàn zāi shàn zāi. wú jīn wéi rǔ jí wèi shì zhòng shēng.

有緣者於當來之世。咸共知之真實佛法及息災賜福之理。  
yǒu yuán zhě yú dāng lái zhī shì. xián gòng zhī zhī zhēn shí fó fǎ jí xī zāi cì fú zhī lǐ.

大白蓮花童子即說。諸佛菩薩救度眾生。  
dà bái lián huā tóng zǐ jí shuō. zhū fó pú sà jiù dù zhòng shēng.

有最勝世界。妙寶世界。圓珠世界。  
yǒu zuì shèng shìj iè. miào bǎo shì jiè. yuán zhū shì jiè.

無憂世界。淨住世界。法意世界。滿月世界。  
wú yōu shì jiè. jìng zhù shì jiè. fǎ yì shì jiè. mǎn yuè shì jiè.

妙喜世界。妙圓世界。華藏世界。  
miào xǐ shì jiè. miào yuán shì jiè. huá záng shì jiè.

真如世界。圓通世界。如今。將有真佛世界。  
zhēn rú shì jiè. yuán tōng shì jiè. rú jīn. jiāng yǒu zhēn fó shì jiè.

於是佛菩薩聲聞緣覺及諸天眾聞聖尊開演真佛世界。  
yú shì fó pú sà shēng wén yuán jué jí zhū tiān zhòng wén shèng zūn kāi yǎn zhēn fó shì jiè.

知是過去現在未來之吉祥善逝大悲因果。是聖尊為眾生化身示現。  
zhī shì guò qù xiàn zài wèi lái zhī jí xiáng shàn shì dà bēi yīn guǒ. shì shèng zūn wèi zhòng shēng huà shēn shì xiàn.

各各歡喜得未曾有。稽首稱讚而說偈言。  
gè gè huān xǐ dé wèi céng yǒu. qǐ shǒu chēng zàn ér shuō jì yán.

聖尊大慈悲。無上秘密尊。  
shèng zūn dà cí bēi. wú shàng mì mì zūn.

過去早修證。離欲超凡間。  
guò qù zǎo xiū zhèng. lí yù chāo fán jiān.

今創真佛界。憐愍諸群有。  
jīn chuàng zhēn fó jiè. lián mǐn zhū qún yǒu.

化身為教主。下降至娑婆。  
huà shēn wèi jiào zhǔ. xià jiàng zhì suō pó.

善哉號蓮生。為眾廣宣說。  
shàn zāi hào lián shēng. wèi zhòng guǎng xuān shuō.

我等均已聞。當為大護持。  
wǒ děng jūn yǐ wén. dāng wéi dà hù chí.

爾時。聖尊大白蓮花童子告大眾。  
ěr shí. shèng zūn dà bái lián huā tóng zǐ gào dà zhòng.

修行以無念為正覺佛寶。  
xiū xíng yǐ wú niàn wèi zhèng jué fó bǎo.

身清淨。口清淨。意清淨為法寶。依真佛上師為僧寶。  
shēn qīng jìng. kǒu qīng jìng. yì qīng jìng wèi fǎ bǎo. yī zhēn fó shàng shī wèi sēng bǎo.

聖尊告大眾。若有善男子。善女人。於每年五月十八日。  
shèng zūn gào dà zhòng. ruò yǒu shàn nán zǐ. shàn nǚ rén. yú měi nián wǔ yuè shí bā rì.

沐浴齋戒。著新淨衣服。  
mù yù zhāi jiè. zhuo xīn jìng yī fú.

或於每月十八日。或本命生辰日。  
huò yú měi yuè shí bā rì. huò běn mìng shēng chén rì.

在密壇前。奉請二佛八菩薩。奉誦「真實佛法息災賜福經」。隨心所求。自有感應。  
zài mì tán qián. fèng qǐng èr fo bā pú sà. fèng sòng `zhēn shí fó fǎ xī zāi cì fú jīng’ suí xīn suǒ qiú. zì yǒu gǎn yìng.

更能供養香花燈茶果。虔誠祈禱。咸得如意。  
gèng néng gòng yǎng xiāng huā dēng chá guǒ. qián chéng qí dǎo. xián dé rú yì.

聖尊告大眾。世間高官貴人  
shèng zūn gào dà zhòng. shì jiān gāo guān guì rén.

沙門居士修道俗人等。若聞此經。受持讀誦。  
shā mén jū shì xiū dào sú rén děng. ruò wén cǐ jīng. shòu chí dú sòng.

如是之人祿位最尊。壽命延長。  
rú shì zhī rén lù wèi zuì zūn. shòu mìng yán cháng.

求子得子。求女得女。獲福最是無量。是增益的大福寶經。  
qiú zi dé zi. qiú nǚ dé nǚ. huò fú zuì shì wú liàng. shì zēng yì de dà fú bǎo jīng.

若有先亡。怨親債主。未能得度。滯泄幽冥。  
ruò yǒu xiān wáng. yuàn qīn zhài zhǔ. wèi néng dé dù. zhì xiè yōu míng.

若能持誦本經。印送本經。亡者昇天。怨親退散。現存獲福。  
ruò néng chí sòng běn jīng. yìn sòng běn jīng. wáng zhě shēng tiān. yuàn qīn tuì sàn. xiàn cún huò fú.

若有男子女人。或被邪魔所侵。鬼神為害。惡夢昏亂。  
ruò yǒu nán zǐ nǚ rén. huò bèi xié mó suǒ qīn. guǐ shén wéi hài. è mèng hūn luàn.

受持本經。施印本經。邪鬼退藏。即得安樂。  
shòu chí běn jīng. shī yìn běn jīng xié guǐ tuì cáng. jí dé ān lè.

若有疾厄纏身。前世因果業報。鬼神病等。  
ruò yǒu jí è chán shēn. qián shì yīn guǒ yè bào. guǐ shén bìng děng.

受持本經。印施本經。即得災厄消除。病源立解。  
shòu chí běn jīng. yìn shī běn jīng. jí dé zāi’è xiāo chú. bìng yuán lì jiě.

若有惡運。官訟牽纏。囚禁獄繫但能持誦本經。印施本經。即得解除。  
ruò yǒu è yùn. guān sòng qiān chán. qiú jìn yù xì dàn néng chí sòng běn jīng. yìn shī běn jīng. jí dé jiě chú.

凶殃殄滅。化為吉祥。  
xiōng yāng tiǎn miè. huà wéi jí xiáng.

若兩國爭戰。能持此經。立像供養。  
ruò liǎng guó zhēng zhàn. néng chí cǐ jīng. lì xiàng gòng yǎng.

即得加威。戰無不勝。  
jí dé jiā wēi. zhàn wú bù shèng.

誦者。印者。施者。能一切吉祥如意圓滿。  
sòng zhě. yìn zhě. shī zhě. néng yī qiè jí xiáng rú yì yuán mǎn.

消除諸毒害。能滅生死苦。  
xiāo chú zhū dú hài. néng miè shēng sǐ kǔ.

西方真佛海會。摩訶雙蓮池。  
xī fāng zhēn fó hǎi huì. mó hē shuāng lián chí.

大白蓮花童子。即於其中。而說咒曰：  
dà bái lián huā tóng zǐ. jí yú qí zhōng. ér shuō zhòu yuē:

「嗡。古魯。蓮生悉地。吽。」(無數遍）  
“om. gǔ lǔ. lián shēng xī di. hōng.” (wú shù biàn)  
“Om, guru, lian-sheng siddhi, hum.”

聖尊說此經已。帝釋及諸大眾。  
shèng zūn shuō cǐ jīng yǐ. dì shì jí zhū dà zhòng.

天龍八部四眾。恭敬作禮。信受奉行。  
tiān lóng bā bù sì zhòng. gōng jìng zuò lǐ. xìn shòu fèng xíng.

真實佛法息災賜福經終。  
zhēn shí fó fǎ xī zāi cì fú jīng zhōng.

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/dieu-tri-kim-mau-duong-chinh-chan-kinh.md
# Title: Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh
---

![image](/img/img_0fe5085843d5015bbb3c81f92aba5e64.png)

## Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Bản tiếng Trung theo Mạng Chân Phật Toàn Cầu TBSN  
Biên dịch: Nhóm Upala

---

## Phần 1. Niệm chú thanh tịnh

Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha.  
Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha.  
Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm.  
An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

## Phần 2. Diêu Trì Kim Mẫu Dưỡng Chính Chân Kinh

### Cung thỉnh

Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu bảo cáo. Chí tâm quy mệnh lễ. (3 lần)

Thiên địa khai thái. Vô Cực Thánh Mẫu. Long Hoa thắng hội yến tiệc Diêu Trì. Vạn linh thống lĩnh truyền giáo chỉ.  
Chư Tiên hiến thọ. Chư Thánh chúc rượu. Công cao đức trọng. Điều phối quyền hành. Tiên chủ Đạo tông.  
Ba nghìn thị nữ. Sinh hoàng tấu lên thiên nhạc <span className="note-blue">[sinh hoàng: một dụng cụ âm nhạc như chiếc khèn]</span>. Bàn đào trăm năm <span className="note-blue">[bàn đào: loại đào dẹt, trong truyền thuyết đây là loại đào dành cho thần tiên]</span>. Mở linh viên kim bích. Cứu khổ nạn chúng sinh. Rắc cam lộ xuống cõi trần.  
Đại bi đại nguyện. Đại thánh đại từ.  
Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. (Xưng danh hiệu 3 lần, khấu đầu 12 lạy.)

### Khai kinh kệ

Nhất khí khai thiên địa. Nay đã sáu vạn năm.  
Mây mưa cùng sương gió. Cỏ cây cùng núi sông.  
Đạo khí đều thấm đẫm. Thần quang chiếu khắp nơi.  
Người tu được chính pháp. Tự đắc thành Chân Tiên.

### Chương 1. Tu thân

Dưỡng tính tu thân, là điều căn bản của con người.  
Chính tâm thành ý, là cái gốc sâu xa của ta.  
Mọi động tĩnh cần thường xuyên kiểm điểm, tu trì hành vi mỗi ngày.  
Công ơn cha mẹ lớn như trời đất, cần hiếu thuận không được thiếu sót.  
Tổ tiên ban lộc cho con cháu, cần tôn kính không được thất lễ.  
Biết nghĩ về nguồn cội, bản thân chịu trách nhiệm báo đáp.  
Có thể sửa chữa lỗi sai, cần tu công đức.  
Rời khỏi con đường mê lầm, đi vào con đường giác ngộ.  
Lên được bến bờ bên kia, tiến vào cánh cửa tính Không.  
Khóa chặt tâm ngựa ý vượn, như như bất động.  
Luyện cho chân linh chính khí, luôn luôn thường tồn.  
Ba thứ quý giá tinh, khí, thần cần giữ lâu dài.  
Thất tình lục dục yêu ghét ham muốn cần diệt trừ vĩnh viễn.  
Bồi dưỡng bát đức, tôn trọng Thánh hiền.  
Gìn giữ tam cương, trị quốc trị gia.  
Trên hiểu đạo trời có đức hiếu sinh, dưới xót thương sinh mệnh vạn vật mà đừng sát hại.  
Học sự khiêm tốn của quân tử, luôn thận trọng cần cù.  
Pháp của Thánh nhân cần cung kính cẩn thận, kiến tính minh tâm.  
Thấy sắc đẹp như thấy hổ dữ, có được đức hạnh tài năng cũng như có được kho báu quý giá.  
Không ham phú quý, cần phải biết Sắc là Không, Không là Sắc,.  
Trong cảnh nghèo khó cũng nên vui vẻ, cần biết không thể thật sự có được cái gì, Có cũng là Không.  
Nhà giàu cần giúp đỡ người thân, có tài đức cần giáo hóa những người ngu muội.  
Tích lũy đạo đức vô hình, tu luyện tinh thần bất lão.  
Rời xa con đường mê lầm, tự đắc tai tiêu họa diệt.  
Tâm gần chính đạo, sẽ được quỷ thần nể phục ngưỡng mộ.  
Phát đại từ bi, cứu người cứu ta, tạo lập thiện nguyện lớn, cứu giúp người nghèo khổ.  
Luyện đạo thành chân, trên báo bốn ơn sâu.  
Siêu phàm nhập Thánh, dưới giúp khổ tam đồ.  
Lấy nhân đức làm điều quý giá nhất của bản thân, lấy từ bi làm đại cương của Phật.  
Tâm trong veo như trăng dưới nước, tỏa sáng phá tan u tối. Tính sáng sủa như những vì sao mới có thể uyên bác thông thiên đạt địa.  
Tu nhiều âm đức, để lại phúc ấm cho cháu con.  
Tích lũy thiện nhân, công đức hồi hướng siêu độ tổ tông.  
Giúp tăng nhân quảng truyền đạo pháp, tự nhiên kết duyên cửa Phật.  
Lễ Phật tham thiền, xứng đáng chứng ngộ bảo địa.

### Chương 2. Tham huyền luyện đạo

Con người là linh của vạn vật, cần biết học đạo.  
Tâm làm chủ thân này, phải ngộ ra điều ấy mà tìm hiểu sâu xa.  
Thân người quý giá, quý ở chỗ biết tu.  
Thiên tính tròn sáng, sáng ở chỗ biết hiểu.  
Thường thanh thường tịnh, tự thấy được bản ngã Như Lai. Không thấy không nghe, cần phải quên sắc tướng thân người.  
Loại bỏ bốn tướng để nhập hư vô.  
Chấm dứt ba tâm quy về thanh tịnh.  
Tính mệnh song tu, ngoại công đầy đủ mà nội quả viên mãn. Tinh thần cùng luyện, đại lạc thơm mà chân đan kết.  
Luyện khí thuần dương, khí hóa thành thần.  
Nung đan bất lão, đan thành làm Phật.  
Quên hết hoàn cảnh, như si như say.  
Tâm thân đều định, như có như không.  
Mài kiếm trí huệ để thường sắc bén, chém đứt tình dục.  
Lau dọn tâm linh để không cáu bẩn, chiếu hiện sao trời.  
Ở cõi trần, đừng mang theo cái nhà lục căn.  
Xuất thế gian, đừng dắt theo cái lưới ngũ uẩn.  
Sống ở nơi phúc địa động thiên, tiêu dao tự tại.  
Đi đến tận cùng huyền môn đạo cảnh, cảnh tượng thanh tịnh đẹp đẽ.  
Từ đây thoát con đường luân hồi, theo đó bước ra khỏi cánh cửa sinh tử.

### Chương 3. Siêu phàm nhập Thánh

Hồng trần cuồn cuộn, chôn vùi bao kẻ tục tử.  
Ô trọc sóng xô, trầm luân vô số phàm phu.  
Vạn kiếp luân hồi, vẫn chẳng thể phản bản hoàn nguyên.  
Đời này đọa lạc, sao có thể lìa trần xuất thế.  
Muốn lên núi Tiên, cần biết tìm sự buông bỏ chân thực.  
Muốn về đạo cảnh, cần luôn thành thật loại bỏ hoang tưởng. Tìm kiếm đại đạo tiên thiên vốn có, khám phá đạo lý chân thực trường tồn.  
Một lòng thanh tịnh, quét sạch tình duyên đừng mê muội.  
Loại bỏ ngũ uẩn, tu tính mệnh đến vô cùng.  
Nếu không đắc trí huệ vẹn toàn thì cũng đắc thân tâm an lạc.  
Công phu đạt đến trình độ, tự đặt tên mình trong hàng ngũ thần tiên.  
Tu được huyền diệu, sẽ chứng được quả thiên cung.  
Bước vào pháp môn Đại thừa, cửa mở ra phương tiện.  
Đi trên Thánh đạo trung dung, đường mở ra khang trang.  
Độ chúng sinh trong biển khổ, thoát khỏi vạn kiếp lạc đường. Một lòng từ bi, tế tử siêu sinh.  
Công đức trường tồn, sánh ngang trời đất.  
Vui niềm vui chốn linh sơn, nhàn cái nhàn nơi tịnh thổ.

### Chương 4. Phản bản hoàn nguyên

Đạo tồn tại trong đạo đức đời sống.  
Không giữ được đạo thì chẳng có gì mà tu.  
Lúc thiền ngộ, minh tâm tính.  
Có thể ngộ, tự đắc thiền.  
Thiên đạo ích khiêm, khiêm tốn tự nhiên hưởng lợi.  
Nhân tình hại mãn, tự mãn tự chiêu tổn hại.  
Bỏ ý tham lam, không sân không hận.  
Cái tâm chấp giới, chớ muội chớ mê.  
Giữ tâm bình đẳng, luôn luôn độ lượng ung dung.  
Hồi tính viên minh, nơi nơi tinh thần thư thái.  
Không vì của cải mà say đắm, không vì tình duyên mà loạn chí.  
Sảy chân sẽ thành nỗi ân hận nghìn năm, quay đầu sẽ là may mắn ba đời.  
Tồn tại trên đời, phải sớm tu chân học đạo.  
Sống tại nhân gian, đừng muộn dốc hết sức mình.  
Pháp tĩnh thần, thử quán nước lặng mây dừng.  
Công dưỡng khí, cần xem linh quy dã hạc.  
Bắt chước giữ thần giữ khí, đồng thời quên hết ưu phiền.  
Thân dù ở trần gian, nhưng bụi trần không nhiễm.  
Tâm có thể thoát tục, và tục chẳng thể xâm nhập.  
Tinh khí thần, ba thứ căn bản phải giữ vững chắc.  
Thân tâm ý, trăm thứ dơ bẩn phải quét sạch tinh.  
Trên quan sát diều hâu bay, tinh thần hoạt bát.  
Dưới xem nước sâu cá nhảy, linh tính tiêu dao.  
Điều hòa hai khí, âm dương trong thân luôn hòa hợp.  
Nhất linh tự tại, trí huệ trong tâm chẳng xa rời.  
Sắc tướng đều không, tự thấy Như Lai bản tính.  
Tình duyên hết rồi, có thể quay về tự tại Linh Sơn.

### Chương 5. Xuất mê nhập ngộ

Khổ hải mênh mông, khuyên người quay đầu là bờ.  
Mê lộ mờ mịt, dựa vào ai để rút chân thoát ra.  
Trong ánh điện lửa đá, bể dâu đã mấy lần biến đổi.  
Trong sương sớm mùa xuân, tháng năm cũng đã đổi thay.  
Sinh tử khép lại, người nào có thể thoát ra.  
Con đường luân hồi, mấy ai có thể rời khỏi.  
Đại đạo không tu, nghìn đời chịu nạn.  
Huyền môn không vào, vạn kiếp lang thang.  
Mong muốn xuất mê nhập ngộ, cần phải tu trì tâm tính.  
Nếu muốn thoát tục siêu phàm, cần phải cắt đứt tình duyên.  
Buông bỏ thân giả mà luyện pháp thân, duy trì chân tính mà tu thiên tính.  
Cửa vào hiếm khi phẳng lặng, không thấy nghe ở thanh sắc. Con đường đạo lý huyền diệu, đắc tự tại vì tiêu dao.  
Nhất linh giữ nơi vũ trụ, vạn vật nhỏ như vi trần.  
Cần hiểu sắc thân là huyễn, tâm ngộ chân không.  
Đừng nên mê đắm trọc thế, chí tu đại đạo.

### Thu kinh kệ

Tụng dưỡng chính chân kính. Quần sinh được khai sáng.  
Tu tâm sáng đại đạo. Luyện tính ngộ huyền công.  
Mạt kiếp độ bách tính. Chân thành tạo hóa thông.  
Con thuyền vượt biển khổ. Ơn phổ tế vô cùng.

### Kết thúc kinh kệ

Chân kinh giác thế. Dưỡng chính khai mông. Quần sinh học đạo ngộ tu công.  
Nhất khiếu tự nhiên thông. Con thuyền từ bi trên biển khổ. Trong ánh sáng ân từ phổ chiếu. 

Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. (Xưng danh hiệu 3 lần, khấu đầu 12 lạy.)

Diêu Trì Kim Mẫu Dưỡng Chính Chân Kinh. 

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/dieu-tri-kim-mau-pho-do-thu-vien-dinh-hue-giai-thoat-chan-kinh.md
# Title: Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh
---

![image](/img/img_5c382dc7cabc4529e4395030e74146eb.png)

## Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Bản tiếng Trung theo Mạng Chân Phật Toàn Cầu TBSN  
Biên dịch: Nhóm Upala

---

### Cung thỉnh

Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu bảo cáo. Chí tâm quy mệnh lễ. (3 lần)

Thiên địa khai thái. Vô Cực Thánh Mẫu. Long Hoa thắng hội yến tiệc Diêu Trì. Vạn linh thống lĩnh truyền giáo chỉ.  
Chư Tiên hiến thọ. Chư Thánh chúc rượu. Công cao đức trọng. Điều phối quyền hành. Tiên chủ Đạo tông.  
Ba nghìn thị nữ. Sinh hoàng tấu lên thiên nhạc. Bàn đào trăm năm. Mở linh viên kim bích. Cứu khổ nạn chúng sinh. Rắc cam lộ xuống cõi trần.  
Đại bi đại nguyện. Đại thánh đại từ.  
Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn. (Xưng danh hiệu 3 lần, khấu đầu 12 lạy.) 

### Kinh văn

Một thời. Diêu Trì Kim Mẫu ở trong vô cực quang. Lệnh cho thái nữ Đổng Song Thành tiên cô cung kính truyền lời kinh.

Kim Mẫu nói rằng, thầy của ta từ xưa tới nay. Huyền Huyền Thượng Nhân. Truyền đạo cho Mộc Công. Mộc Công truyền đạo cho ta. Sau đó là khẩu khẩu tương truyền. Không ghi lại văn tự. 

Giờ đây. Thiên khai hoành đạo. Phổ độ Đông Lâm. <span className="note-blue">[Đông Lâm: chỉ khu vực Trung Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á. Cũng có thuyết cho rằng Đông Lâm là chỉ khu vực Hoa Liên ở Đài Loan, nơi Diêu Trì Kim Mẫu ngự giá, thiết lập tổng đường Từ Huệ Đường.]</span>  
Mong thế nhân sớm tìm cầu minh sư, hiểu thấu đáo tâm tính. Tiếc rằng hồng trần như nhà cháy, đọa vào rất dễ mà thoát ra rất khó. Nếu không có huệ lực thì sao có thể giải thoát. Muốn cầu giải thoát, trước hết cần định huệ.

Thế là, Từ Hàng Đại Sĩ chắp tay cung kính mà thưa với Mẫu rằng. Mong Mẫu mở cánh cửa phương tiện, thuyết đạo giải thoát. Cái may mắn của chúng sinh cũng là may mắn của Từ Hàng.

Khi ấy. Khuôn mặt hiền từ của Kim Mẫu vui mừng nói với Từ Hàng Đại Sĩ rằng. Ngươi dùng đại bi tâm, hiển hóa ở Đông Thổ. Nay nhờ giải thoát mà thỉnh cầu. Ngươi hãy yên lặng lắng nghe ta tuyên thuyết Phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh.

Lúc đó. Trời phóng ánh sáng cát tường, mây ngũ sắc bao quanh. Chim loan chim hạc thị vệ. Cờ phướn khắp không trung. Kim Mẫu cưỡi trên cỗ xe cửu phụng, kéo theo mây ngũ sắc. Trong chốc lát. Tam giáo Thánh hiền đều đến ủng hộ. Hoa trời rực rỡ. Tiên nhạc nhịp nhàng. Thế rồi, Kim Mẫu thương xót nam nữ Đông Lâm, phóng ra ánh sáng vô cực. Rồi ngài ở trong ánh sáng ấy mà tuyên thuyết.

Trời từ trong vô cực mở ra. Thái cực nhật nguyệt tam đài. Nhật nguyệt âm dương vận chuyển. Con người từ âm dương mà phôi thai. Là nam hay là nữ. Đều từ vô cực mà ra. Chỉ vì thái cực vận chuyển. Chớp mắt đọa lạc hồng trần. Rơi vào ngũ trọc ác thế. Tham luyến tửu sắc khí tài. Vì thế luân hồi loanh quanh. Sóng tình biển dục tai họa. Xót xa máu loãng chảy quanh. Bi ai thi hài rơi rụng. Lão Mẫu nói kinh đến đây. Nước mắt không ngừng tuôn rơi.

Khi ấy. Từ Hàng tôn giả chắp tay cung kính thỉnh rằng. Đệ tử nghe lời Kim Mẫu. Vô cực thì sinh thái cực. Lưỡng nghi lại phân tam gia. Vạn vật từ đó sinh ra. Rồi lại từ đây diệt mất. Sao không khiến họ không sinh không diệt. Tránh cho máu chảy tràn mặt đất, xương chất cao như núi. Chẳng phải là may mắn cho thiên hạ vạn vật hay sao.

Kim Mẫu nói. Thái cực phân chia. Thiên địa sinh tâm của vạn vật. Máu chảy tràn mặt đất, xương chất cao như núi. Vạn vật tự gây tội mà thôi. Nay ngươi hỏi điều này. Chỉ có đạo không sinh không diệt. Chẳng có lý không sinh không diệt. 

Khi ấy. Từ Hàng tôn giả quỳ xuống phía trước. Khẩn cầu tuyên thuyết đạo không sinh không diệt.

Kim Mẫu xoa ngực rất lâu, nói rằng. Vì thương xót nam nữ Đông Lâm. Ta mới nói với ngươi. Đạo nằm ở chỗ trả về bản lai diện mục. Vạn vật đều có gốc. Từ gốc mà sinh cành. Từ cành mà sinh lá. Từ lá mà sinh hoa. Từ hoa mà kết quả. Con người và vạn vật. Không đồng chất thì cũng đồng lý. Cái gốc đã lập ra thì rễ sinh ra. Rễ sinh ra thì cành lá um tùm. Gốc khô thì rễ mục. Rễ mục thì cành lá lưa thưa. Vì thế tu đạo cần làm chắc cái gốc. Thế nào là làm chắc cái gốc? Con người lấy hiếu đễ làm gốc. Đạo lấy tinh thần làm gốc. Có hiếu đễ thì con người không hổ thẹn. Tinh thần dồi dào thì đạo có thể tu. Tu đạo không phải gì khác. Vẫn là diện mạo vốn có mà thôi. Tinh thần từ đâu tản mát. Thì cần từ đó thu về. 

Từ Hàng tôn giả nghe lời Mẫu nói. Trong tâm đại ngộ. Lại rập đầu thỉnh rằng. Đệ tử có duyên sâu. May gặp được Kim Mẫu làm sáng tỏ đạo này. Khấu đầu cảm tạ từ bi. Lại khẩn thỉnh giải thích đạo giải thoát có được chăng?

Kim Mẫu rằng. Giải thoát không khó. Khó ở định huệ. Thân tâm đại định. Liền sinh trí huệ. Trí huệ đã sinh. Giải thoát rất dễ. Muốn hiểu giải thoát. Trước trừ lục tặc. Tai không nghe tiếng. Mắt không nhìn sắc. Thân không chạm bẩn. Ý không chấp vật. Mũi không ngửi bừa. Miệng không tham ăn. Lục tặc trống rỗng. Ngũ uẩn hiển minh. Thọ tưởng hành thức. Như gương thấy ảnh. Ngũ uẩn đã sáng. Tam gia hội hợp. Tinh khí và thần. Trưởng dưỡng hoạt bát. Trên dưới lưu thông. Giải thoát khó gì.

Từ Hàng tôn giả nghe lời Mẫu nói. Trong tâm tỉnh ngộ. Mừng rỡ rập đầu ca ngợi rằng:

*Từ khi vô cực sinh thái cực.  
Hoặc làm con người hoặc làm vật.  
Luân hồi sinh tử vạn**nghìn lần**.  
Nguồn gốc đọa lạc khó giải thoát.  
Không hiểu vững gốc để tu thân.  
Lại như cây khô không cành lá.  
Diêu Trì Lão Mẫu phát từ bi.  
Tự cưỡi mây trắng trao lá bối.  
Trước nói đạo quả hợp tam gia.  
Sau thuyết trí huệ cần định lực.  
Quét sạch lục tặc ngũ uẩn không.  
Phản bản hoàn nguyên là thượng sách.*

Diêu Trì hầu giá thái nữ tiên cô ca ngợi rằng:

*Từ Hàng đạo nhân đại từ bi.  
Hết ba bốn bận cầu giải thoát.  
Gặp được Kim Mẫu nói rõ ràng.  
Chỉ ra thiên cơ chân diệu quyết.*

Đại Thành Chí Thánh và Nho Trị Thế Thiên Tôn ca ngợi rằng:

*Con người lấy hiếu đễ làm gốc.  
Tinh thần là diệu dược của đạo.  
Lập được gốc rồi đạo tự sinh.  
Thành Tiên thành Phật do ta cả.*

Thái Thượng Lão Quân Chưởng Giáo Thiên Tôn ca ngợi rằng:

*Đúng là bệnh lâu gặp lương y.  
Lại như trời xanh hiện bạch hạc.  
Khẩn thiết ghi tạc triều ngũ khí.  
Tam hoa tụ đỉnh năng thoát xác.*

Thích Ca Mâu Ni Cổ Phật Thiên Tôn ca ngợi rằng:

*Lão Mẫu chân ngôn chẳng giấu kín  
Lời lời đều là ba la mật  
Giải thoát định huệ đại công phu  
Ở cùng chúng sinh làm thuyền chở.*

Thánh chúng ca ngợi đã xong. Lão Mẫu thuyết kinh đã dứt. Thái nữ thị vệ. Cỗ xe bay lên. Khi ấy. Tam giáo Thánh hiền. Thập phương chư Phật. Cung kính đảnh lễ. Tín thọ phụng hành. Lưu truyền kinh này độ thế. Thu được định huệ viên mãn. Nam nữ hồng trần. Sớm tối tụng niệm. Miệng nói tâm ứng. Tâm niệm chẳng rời. 

Lão Mẫu sẽ tự phái thần hộ vệ đến bảo hộ. Thân không bị ma khảo. Nhà có được bình an. Đất nước được thái bình. Ngày niệm kinh này. Được bảo hộ an ninh. Đêm niệm kinh này. Trong mơ không kinh sợ. Đi đường niệm kinh này. Thổ Địa thần linh bảo vệ. Đi tàu xe niệm kinh này. Có được chuyến đi bình an. Niệm niệm đều thanh tịnh. Lời lời đều siêu thăng.

Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh.

**(Hết)**

### Kệ hồi hướng

Nguyện đem công đức này  
Trang nghiêm Phật tịnh độ  
Trên báo bốn ơn sâu  
Dưới cứu khổ tam đồ  
Nếu có người thấy nghe  
Đều phát tâm bồ đề  
Hết một báo thân này  
Cùng sinh cõi Cực Lạc.

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/index.md
# Title: Kinh điển
---

# Kinh điển

- [Kim Cang Kinh](/kinh-luat-luan/kinh-dien/kim-cang-kinh)
- [Chân Phật Kinh](/kinh-luat-luan/kinh-dien/chan-phat-kinh)
- [Cao Vương Kinh](/kinh-luat-luan/kinh-dien/cao-vuong-kinh)
- [Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật](/kinh-luat-luan/kinh-dien/kinh-dai-thong-phuong-quang-sam-hoi-diet-toi-trang-nghiem-thanh-phat)
- [Phật thuyết Ma Lợi Chi Thiên kinh (Marici)](/kinh-luat-luan/kinh-dien/phat-thuyet-ma-loi-chi-thien-kinh-marici)
- [Phật Thuyết A Di Đà Kinh (kinh văn)](/kinh-luat-luan/kinh-dien/phat-thuyet-a-di-da-kinh-kinh-van)
- [Diêu Trì Kim Mẫu dưỡng chính chân kinh](/kinh-luat-luan/kinh-dien/dieu-tri-kim-mau-duong-chinh-chan-kinh)
- [Diêu Trì Kim Mẫu phổ độ thu viên định huệ giải thoát chân kinh](/kinh-luat-luan/kinh-dien/dieu-tri-kim-mau-pho-do-thu-vien-dinh-hue-giai-thoat-chan-kinh)
- [Kinh Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni](/kinh-luat-luan/kinh-dien/kinh-nhat-thiet-nhu-lai-tam-bi-mat-toan-than-xa-loi-bao-khiep-an-da-la-ni)
- [Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà-la-ni Kinh](/kinh-luat-luan/kinh-dien/phat-thuyet-that-cau-chi-phat-mau-tam-dai-chuan-de-da-la-ni-kinh)
- [Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Ứng Hóa Nhân Duyên Kinh](/kinh-luat-luan/kinh-dien/lien-hoa-sinh-dai-si-ung-hoa-nhan-duyen-kinh)
- [Kinh Công Đức Tắm Phật](/kinh-luat-luan/kinh-dien/kinh-cong-duc-tam-phat)
- [Phật Học Tổng Thuyết](/kinh-luat-luan/kinh-dien/phat-hoc-tong-thuyet)

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/kim-cang-kinh.md
# Title: Kim Cang Kinh
---

## Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Đời Hậu Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch ra Hán văn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

*Đời Hậu Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch*

### Phần 01. Nguyên do của pháp hội

Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Xá Vệ trong vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại tì kheo. Hôm ấy, gần đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y cầm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Ở trong thành, ngài lần lượt khất thực rồi trở về nơi ở của mình. Ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân rồi bày chỗ để ngồi.

### Phần 02. Thiện Hiện thưa hỏi

Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, để lộ vai phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Thật hiếm có! Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm chư Bồ Tát, khéo dặn dò chư Bồ Tát. Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì nên sống ra sao? Nên hàng phục tâm ra sao?"  
Phật nói: "Lành thay, lành thay. Tu Bồ Đề! Đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sống thế nào, nên hàng phục tâm ra sao."  
"Vâng thưa Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe."

### Phần 03. Đại thừa chính tông

Phật bảo Tu Bồ Đề: "Chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục tâm như thế này! Cần nghĩ tất cả các loài chúng sinh hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc biến hóa mà sinh ra, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc không phải hữu tưởng không phải vô tưởng, ta đều cho vào Vô dư niết bàn mà diệt độ. Như vậy, diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào được diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì không phải là Bồ Tát.

### Phần 04. Diệu hạnh vô trụ

"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Trong pháp, Bồ Tát nên vô sở trụ mà làm việc bố thí, gọi là không bám vào sắc tướng mà bố thí, không bám vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên bố thí như vậy, đừng trụ vào tướng. Vì sao như vậy? Nếu Bồ Tát không trụ vào tướng mà bố thí thì phúc đức ấy bất khả tư lượng."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Hư không phương đông có thể đoán chừng được không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn!"  
"Tu Bồ Đề! Hư không phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên phương dưới có thể đoán chừng được không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn!"  
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí mà không bám trụ vào tướng thì phúc đức cũng bất khả tư lượng như vậy. Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm theo như điều đã dạy."

### Phần 05. Thấy lẽ thật đúng lí

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào thân tướng mà thấy Như Lai không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào thân tướng mà thấy được Như Lai. Là vì sao? Thân tướng mà Như Lai nói đến cũng tức không phải thân tướng."  
Phật nói với Tu Bồ Đề:  
"Phàm tất cả mọi tướng đều là hư vọng. Nếu thấy mọi tướng không phải tướng tức là thấy Như Lai."

### Phần 06. Hiếm người có được chính tín

Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn, liệu có chúng sinh nào nghe được những lời dạy này mà sinh lòng tin thật sự không?"  
Phật bảo Tu Bồ Đề: "Đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người giữ giới tu phúc, với những lời dạy này có thể sinh tín tâm, coi những lời này là chân thật, nên biết là người ấy không chỉ gieo thiện căn ở một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật, mà là đã gieo thiện căn ở vô lượng nghìn vạn vị Phật. Thậm chí là người nghe được những lời này chỉ một niệm cũng sinh niềm tin thanh tịnh thì Tu Bồ Đề, Như Lai đều biết đều thấy rằng những chúng sinh ấy có được vô lượng phúc đức. Vì sao vậy? Vì các chúng sinh ấy không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng."  
"Không còn pháp tướng, cũng không còn phi pháp tướng, là cớ vì sao? Vì các chúng sinh nếu tâm bám vào tướng thì tức là mắc vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả."  
"Nếu còn bám vào pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Là vì sao? Nếu còn bám vào phi pháp tướng, tức là chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Vì thế, đừng nên chấp pháp, đừng nên chấp phi pháp. Vì ý nghĩa này, Như Lai thường nói: tì kheo các ông nên biết pháp mà ta thuyết giảng như cái bè trên sông, pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải là pháp."

### Phần 07. Vô đắc vô thuyết

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Như con hiểu ý nghĩa mà Phật nói, không có pháp nhất định gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng không có pháp nhất định mà Như Lai có thể nói. Là vì sao? Là vì pháp mà Như Lai nói đều không thể lấy, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao như thế? Vì tất cả Thánh Hiền đều dựa vào pháp vô vi mà có sự khác biệt."

### Phần 08. Y pháp xuất sinh

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, thì phúc đức người đó được nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Thưa Thế Tôn, rất nhiều! Là vì sao? Vì phúc đức ấy cũng tức không phải tính phúc đức, do đó Như Lai nói là phúc đức nhiều."  
"Nếu lại có người, nếu thọ trì kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc của người này còn hơn cả bố thí. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Hết thảy chư Phật và pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Tu Bồ Đề! Cái gọi là Phật, pháp, cũng tức không phải Phật, pháp."

### Phần 09. Nhất tướng vô tướng

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tu Đà Hoàn có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn" không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tu Đà Hoàn còn được gọi là Nhập Lưu, nhưng không có chỗ nào mà nhập vào, không nhập vào sắc - thanh - hương - vị - xúc - pháp thì gọi là Tu Đà Hoàn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị Tư Đà Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả Tư Đà Hàm" không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Tư Đà Hàm còn gọi là Nhất Vãng Lai, nhưng thật ra không hề có sự đến đi, thì gọi là Tư Đà Hàm."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A Na Hàm có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc quả A Na Hàm" không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? A Na Hàm còn gọi là Bất Lai, mà thật sự không có không đến thì gọi là A Na Hàm."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Một vị A La Hán có thể có suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Thật ra không có pháp danh là A La Hán. Thưa Thế Tôn! Nếu A La Hán có suy nghĩ: "Ta đã đắc đạo A La Hán", tức là đã chấp vào ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Thế Tôn! Phật nói con đã đắc Vô Tránh Tam Muội, là đệ nhất trong số con người, là A La Hán bậc nhất đã lìa bỏ tham dục. Thưa Thế Tôn! Con không khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán". Thế Tôn! Nếu con khởi suy nghĩ "Ta đã đắc đạo A La Hán" thì Thế Tôn đã chẳng nói rằng Tu Bồ Đề là hành giả ưa thích hạnh A Lan Na. Do Tu Bồ Đề thật sự vô sở hạnh, nên nói là Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A Lan Na."
<span className="note-blue">[A Lan Na chỉ nơi yên tĩnh, thanh tịnh cho tì kheo sống để chuyên tâm tu tập.]</span>

### Phần 10. Tịnh thổ trang nghiêm

Phật hỏi Tu Bồ Đề:  
"Ý ông thế nào? Xưa kia Như Lai ở chỗ của Phật Nhiên Đăng, có đạt được điều gì về pháp không?"  
"Không có, thưa Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không đạt được điều gì về pháp."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Bồ Tát có làm trang nghiêm Phật thổ không?"  
"Không có, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Người làm trang nghiêm cõi Phật tức không trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm."  
"Vì thế Tu Bồ Đề, các Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà sinh tâm thanh tịnh, không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh - hương - vị - xúc - pháp mà sinh tâm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy."  
"Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân to như núi Tu Di, ý ông thế nào, là thân ấy rất to lớn chăng?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất lớn, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Phật nói không phải thân, thì gọi là thân lớn."

### Phần 11. Phúc vô vi là hơn hết

"Tu Bồ Đề! Giống như tất cả số cát có trong sông Hằng, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu sông Hằng, ý ông thế nào, số cát trong tất cả số sông Hằng ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Chỉ riêng số sông Hằng đã nhiều vô số huống chi là cát!"  
"Tu Bồ Đề! Nay ta nói lời thật cho ông nghe: nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thất bảo nhiều bằng tất cả số cát sông Hằng trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí thì phúc ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Nếu có thiện nam, thiện nữ, cho dù chỉ niệm bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà thuyết giảng, thì phúc đức ấy còn hơn cả phúc đức nói ở trên."

### Phần 12. Tôn trọng chính giáo

"Lại nữa, Tu Bồ Đề, nói theo kinh này, cho dù chỉ bốn câu kệ, nên biết nơi này, tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, ví như chùa tháp Phật, huống hồ có người hết sức thọ trì đọc tụng. Tu Bồ Đề! Nên biết rằng người này thành tựu pháp tối thượng đệ nhất hi hữu. Những nơi nào có kinh điển này thì xem như có Phật hoặc đệ tử đáng tôn trọng."

### Phần 13. Thọ trì đúng như pháp

Lúc này, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì? Chúng con phụng trì ra sao?"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Kinh này tên gọi là "Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật", các ông nên dựa vào tên này mà phụng trì. Vì sao như vậy? Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có từng thuyết pháp không?"  
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Như Lai không thuyết pháp."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"  
"Tu Bồ Đề! Các vi trần ấy, Như Lai nói rằng chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần. Như Lai nói thế giới chẳng phải là thế giới thì gọi là thế giới."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai không?"  
"Không thể, thưa Thế Tôn! Không thể dựa vào ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, do vậy gọi là ba mươi hai tướng."  
"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ, dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, nếu lại có người cho dù chỉ thọ trì bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc ấy rất nhiều!"

### Phần 14. Lìa tướng tịch diệt

Khi ấy, Tu Bồ Đề đã nghe giảng kinh này, hiểu sâu ý nghĩa, rớt nước mắt mà bạch Phật rằng:  
"Thật hiếm có, thưa Thế Tôn! Phật nói kinh điển thâm sâu như vậy, huệ nhãn của con từ xưa tới nay chưa từng thấy kinh điển như vậy. Thế Tôn! Nếu lại có người nghe được kinh này, tín tâm thanh tịnh, liền sinh thực tướng, nên biết người này thành tựu công đức hi hữu đệ nhất. Thế Tôn! Thực tướng ấy tức chẳng phải tướng, vì thế Như Lai nói là thực tướng. Thưa Thế Tôn! Nay con nghe được kinh điển này, tin hiểu thọ trì cũng không khó gì. Nhưng nếu đời sau, năm trăm năm sau, có chúng sinh nghe được kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người ấy cũng là bậc nhất hiếm có. Là vì sao? Vì người này vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thế rồi thì sao? Ngã tướng tức chẳng phải tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng. Là vì sao? Lìa bỏ tất cả mọi tướng thì gọi là chư Phật."

Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Đúng vậy! Đúng vậy! Nếu lại có người, nghe được kinh này, không kinh, không hãi, không sợ, nên biết rằng người này rất hiếm có. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói: đệ nhất Ba la mật, tức chẳng phải đệ nhất Ba la mật, thì gọi là đệ nhất Ba la mật. Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói chẳng phải là nhẫn nhục Ba la mật, thì gọi là nhẫn nhục Ba la mật. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Như khi xưa ta bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Là vì sao? Ngày xưa khi ta bị cắt ra từng phần, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì ắt sinh lòng sân hận. Tu Bồ Đề! Lại nhớ năm trăm kiếp quá khứ ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thời ấy, không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Thế nên, Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả mọi tướng, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, không nên trụ trong sắc mà sinh tâm, không nên trụ trong thanh hương vị xúc pháp mà sinh tâm, nên sinh tâm vô sở trụ. Nếu tâm có nơi trụ cũng tức là không phải trụ."  
"Thế nên Phật nói: tâm Bồ Tát không nên trụ trong sắc mà bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà bố thí như vậy. Như Lai nói: tất cả mọi tướng tức chẳng phải tướng. Lại nói: tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh. Tu Bồ Đề! Như Lai nói lời chân chính, đúng thật, như nghĩa, không nói dối, không nói lời sai khác."  
"Tu Bồ Đề! Pháp mà Như Lai có được, pháp này không thực không hư. Tu Bồ Đề! Nếu tâm Bồ Tát trụ vào pháp mà làm việc bố thí, thì giống như người đi vào chỗ tối, cũng chẳng thấy gì. Nếu tâm Bồ Tát không trụ vào pháp mà làm việc bố thí thì giống như người có mắt, nhờ ánh sáng chiếu soi mà thấy đủ mọi sắc tướng."  
"Tu Bồ Đề! Vào các đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì xem như Như Lai dùng trí huệ Phật mà đều biết người ấy, đều thấy người ấy đều đạt thành tựu công đức vô lượng vô biên."

### Phần 15. Công đức trì kinh

"Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ vào đầu ngày mới dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, vào giữa ngày dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, vào cuối ngày dùng thân nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, cứ như thế trong vô lượng trăm nghìn vạn ức kiếp dùng thân mà bố thí; nếu lại có người nghe kinh điển này, tín tâm thuận theo, thì phúc còn hơn cả công đức bố thí kia, huống chi là chép viết, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết."  
"Tu Bồ Đề! Lời quan trọng nhất là kinh này có công đức vô biên bất khả tư nghì, không thể đo lường. Như Lai vì những người phát tâm Đại thừa mà nói, vì những người phát tâm Tối thượng thừa mà nói. Nếu có người có thể thọ trì đọc tụng, vì người khác mà rộng rãi giảng thuyết, thì Như Lai đều biết người này, đều thấy người này đạt thành tựu công đức không thể đo lường, không thể cân tính, không có biên giới, không thể nghĩ bàn. Những người như thế tức là gánh vác A nậu đa la tam miệu tam bồ đề của Như Lai. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu người nào yêu thích pháp nhỏ, chấp vào ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì đối với kinh này không thể nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết."  
"Tu Bồ Đề! Bất kì nơi nào có kinh này, thì tất cả thế gian, Trời, Người, Atula, đều nên cúng dường, nên biết nơi này tức là tháp, đều nên cung kính, làm lễ nhiễu quanh, dùng mọi hoa thơm mà rải khắp nơi ấy."

### Phần 16. Có thể làm sạch nghiệp chướng

"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khác khinh chê, thì người này do nghiệp kiếp trước đáng lẽ phải đọa ác đạo, thì đời này do bị người khinh chê mà nghiệp tội kiếp trước bị tiêu diệt, sẽ đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."  
"Tu Bồ Đề! Ta nhớ quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp trước thời Đức Phật Nhiên Đăng, ta được gặp tám trăm bốn nghìn vạn ức na-do-tha chư Phật, ta đều cúng dường cung kính phụng sự không bỏ sót vị nào. Nếu lại có người, vào thời mạt pháp sau này, có thể thọ trì đọc tụng kinh này, thì công đức người ấy có được so với công đức cúng dường chư Phật của ta nhiều hơn bội phần, trăm phần ta không bằng một phần họ, nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được."  
"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ vào thời mạt pháp, có thọ trì đọc tụng kinh này thì công đức người đó có được, dù ta nói ra đầy đủ thì có lẽ có người nghe thấy tâm sẽ cuồng loạn, nghi ngờ không tin. Tu Bồ Đề! Nên biết nghĩa kinh này bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì."

### Phần 17. Vô ngã tột cùng

Khi ấy, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thưa Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên trụ tâm thế nào? Làm sao hàng phục tâm ấy?"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Thiện nam, thiện nữ phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nên sinh tâm thế này: ta nên diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ hết thảy chúng sinh rồi nhưng không có một chúng sinh nào thật sự diệt độ. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức chẳng phải Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Vì thật không có pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không?"  
"Không có, thưa Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật nói, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có được pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."  
Phật nói:  
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì Phật Nhiên Đăng ắt không thọ kí cho ta rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Vì thật không có pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kí cho ta mà nói rằng: "Vào đời sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Là vì sao? Vì Như Lai tức là mọi pháp đều như nghĩa."  
"Nếu có người nói: Như Lai đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! A nậu đa la tam miệu tam bồ đề mà Như Lai có được trong ấy không thật không hư. Vì thế Như Lai nói: tất cả mọi pháp đều là Phật pháp. Tu Bồ Đề! Nói là tất cả mọi pháp tức chẳng phải tất cả mọi pháp, thế nên gọi là tất cả mọi pháp."  
"Tu Bồ Đề! Ví dụ như nói thân người cao lớn."  
Tu Bồ Đề nói:  
"Thế Tôn! Như Lai nói: thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn, thì gọi là thân lớn."  
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế. Nếu nói rằng "Ta đang diệt độ vô lượng chúng sinh" thì không gọi là Bồ Tát. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Thế nên Phật nói: mọi pháp vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói rằng "Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật" thì không gọi là Bồ Tát. Là vì sao? Như Lai nói: trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, thì gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã thì Như Lai nói đó đúng là Bồ Tát."

### Phần 18. Nhất thể đồng quán

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có nhục nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có nhục nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có thiên nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có thiên nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có huệ nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có huệ nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có pháp nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có pháp nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như Lai có Phật nhãn không?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai có Phật nhãn."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như cát có trong sông Hằng, Phật nói đó là cát chăng?"  
"Thưa Thế Tôn, đúng vậy! Như Lai nói là cát."  
"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát lại có bấy nhiêu sông Hằng nhiều bằng số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều bằng tất cả cát của tất cả sông Hằng ấy, như thế có nhiều không?"  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"  
Phật bảo Tu Bồ Đề:  
"Trong tất cả quốc thổ ấy, tất cả chúng sinh có bao nhiêu loại tâm, Như Lai đều biết. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tâm đều chẳng phải tâm, thì gọi là tâm. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc, tâm vị lai không thể đắc."

### Phần 19. Pháp giới thông suốt không ngăn trở

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Nếu có người dùng thất bảo tràn đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy vì nhân duyên này có được phúc nhiều không?"  
"Đúng thế, thưa Thế Tôn! Người này do nhân duyên ấy mà có phúc rất nhiều."  
"Tu Bồ Đề! Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói có được phúc đức nhiều, vì phúc đức là không, nên Như Lai nói có được phúc đức nhiều."

### Phần 20. Lìa sắc lìa tướng

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Phật không?"  
"Không được, thưa Thế Tôn! Không nên dựa vào sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Là vì sao? Như Lai nói: mọi tướng đầy đủ tức chẳng đầy đủ, thì gọi là mọi tướng đầy đủ."

### Phần 21. Không nói điều đã nói

"Tu Bồ Đề! Ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói "Ta đang thuyết pháp ở mức độ nào đó". Đừng nghĩ như thế, là vì sao? Nếu có người nói Như Lai có thuyết pháp ở mức độ nào đó thì tức là phỉ báng Phật, không thể hiểu được điều ta nói. Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó, không có pháp nào có thể thuyết, thì gọi là thuyết pháp."  
Khi ấy, Huệ Mệnh Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Sẽ lại có chúng sinh ở đời vị lai nghe pháp này mà sinh tín tâm sao?"  
Phật nói:  
"Tu Bồ Đề! Đó chẳng phải chúng sinh, chẳng phải không phải chúng sinh. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Chúng sinh đó, Như Lai nói không phải chúng sinh, thì gọi là chúng sinh."

### Phần 22. Không pháp nào có thể đắc

Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là không phải có được sao?"  
Phật nói:  
"Đúng thế, đúng thế. Tu Bồ Đề! Ta đối với A nậu đa la tam miệu tam bồ đề thậm chí không có một chút pháp nào có thể có được, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."

### Phần 23. Tịnh tâm hành thiện

"Tiếp nữa, Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng, không có cao thấp, thì gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nhờ vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu tất cả pháp thiện, tức là đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Pháp thiện đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp thiện, thì gọi là pháp thiện."

### Phần 24. Phúc trí không gì sánh bằng

"Tu Bồ Đề! Nếu tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới, có người dùng thất bảo tích tụ nhiều như số núi ấy mà bố thí, hoặc có người thọ trì đọc tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức của người bố thí so với người trì kinh trăm phần không bằng một phần, trăm nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được."

### Phần 25. Hóa vô sở hóa

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Các ông đừng bảo rằng Như Lai có ý nói: "Ta đang độ chúng sinh". Tu Bồ Đề! Đừng nghĩ như thế. Là vì sao? Thật không có chúng sinh nào được Như Lai độ. Nếu có chúng sinh nào được Như Lai độ thì Như Lai ắt có ngã - nhân - chúng sinh - thọ giả. Tu Bồ Đề! Như Lai nói: "Có ngã, tức chẳng phải có ngã, nhưng kẻ phàm phu cho là có ngã." Tu Bồ Đề! Phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu, thì gọi là phàm phu."

### Phần 26. Pháp thân phi tướng

"Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Có thể dựa vào ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Đúng thế! Đúng thế! Dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."  
Phật nói:  
"Tu Bồ Đề! Nếu dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai."  
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thưa Thế Tôn! Theo con hiểu nghĩa Phật nói, không nên dựa vào ba mươi hai tướng mà quán Như Lai."  
Khi ấy, Thế Tôn bèn nói bài kệ:  
*Nếu do sắc thấy ta  
Do âm thanh cầu ta  
Người ấy hành tà đạo  
Không thể thấy Như Lai.* 

### Phần 27. Không đoạn không diệt

"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng: vì Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Chớ nghĩ rằng: Như Lai chẳng dựa vào các tướng đầy đủ mà đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."  
"Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng, người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nói mọi pháp đoạn diệt. Đừng nghĩ như vậy! Là vì sao? Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đối với pháp không nói tướng đoạn diệt."

### Phần 28. Không thọ không tham

"Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát đem thất bảo đầy trong thế giới nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, nếu lại có người biết tất cả pháp là vô ngã nên thành tựu pháp nhẫn, thì công đức của Bồ Tát này có được còn hơn cả công đức của Bồ Tát trước. Là vì sao? Tu Bồ Đề! Là vì các Bồ Tát không nhận phúc đức."  
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:  
"Thế Tôn! Vì sao nói Bồ Tát không nhận phúc đức?"  
"Tu Bồ Đề! Bồ Tát không nên tham chấp vào phúc đức có được nên mới nói là không nhận phúc đức."

### Phần 29. Uy nghi tịch tĩnh

"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc ngồi hoặc nằm, thì người đó không hiểu nghĩa ta nói. Là vì sao? Vì Như Lai đó chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai."

### Phần 30. Lí lẽ về một hợp tướng

"Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ nghiền nát tam thiên đại thiên thế giới thành vi trần, ý ông thế nào? Vi trần ấy có nhiều không?"  
Tu Bồ Đề nói:  
"Rất nhiều, thưa Thế Tôn! Là vì sao? Nếu những vi trần là thật có thì Phật ắt không nói là vi trần. Vì sao như thế? Phật nói: vi trần tức chẳng phải vi trần, thì gọi là vi trần. Thế Tôn! Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới tức chẳng phải thế giới, thì gọi là thế giới. Là vì sao? Nếu thế giới thật có thì ắt là một hợp tướng. Như Lai nói: một hợp tướng, tức chẳng phải một hợp tướng, thì gọi là một hợp tướng."  
"Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó ắt không thể nói, chỉ có người phàm phu tham chấp vào việc đó."

### Phần 31. Tri kiến chẳng sinh

"Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Người đó có hiểu nghĩa ta nói không?"  
"Không hiểu, thưa Thế Tôn! Là người ấy không hiểu nghĩa Như Lai nói. Là vì sao? Thế Tôn nói: ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, tức chẳng phải ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, thì gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến."  
"Tu Bồ Đề! Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đối với tất cả các pháp, nên biết như vậy, nên thấy như vậy, nên tin hiểu như vậy, không sinh pháp tướng. Tu Bồ Đề! Pháp tướng đã nói đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp tướng, thì gọi là pháp tướng."

### Phần 32. Ứng hóa không phải thật

"Tu Bồ Đề! Nếu có người dùng thất bảo đầy khắp vô lượng a-tăng-kỳ thế giới để bố thí, nếu có thiện nam, thiện nữ phát tâm bồ đề, trì bản kinh này cho dù chỉ bốn câu kệ, thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng thuyết rộng rãi, thì phúc của người này còn hơn cả người cúng dường kia. Thế nào gọi là người diễn thuyết? Không giữ vào tướng, như như bất động. Là vì sao?"

"Tất cả pháp hữu vi  
Như mộng huyễn bào ảnh  
Như sương cũng như điện  
Nên quán thấy như vậy."

Phật nói kinh đã xong, trưởng lão Tu Bồ Đề và các tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả thế giới, Trời, Người, Atula nghe điều Phật nói đều vô cùng hoan hỉ, tín thọ phụng hành.

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/kinh-cong-duc-tam-phat.md
# Title: Kinh Công Đức Tắm Phật
---

![image](/img/img_12d5a966e51d608a4d739d8d1d08c23b.jpg)

## Kinh Công Đức Tắm Phật

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Tôi nghe như vầy. 

Một thời, Thế Tôn ở trên đỉnh núi Linh Thứu thuộc thành Vương Xá, cùng với các đại tỳ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị, lại có vô lượng vô biên các đại Bồ Tát, cùng thiên long, bát bộ đều vân tập đông đủ.

Bấy giờ, Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ đang ngồi trong đại chúng, vì thương xót các hữu tình mà khởi ý nghĩ rằng: Chư Phật, Như Lai lấy nhân duyên gì mà được thân thanh tịnh, đủ tướng tốt trang nghiêm?

Lại nghĩ: Các loài hữu tình, nếu được gặp Như Lai, thân cận cúng dường, thì phước báo nhận được vô lượng vô biên. Không biết sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, các chúng sinh ấy phải làm gì để cúng dường, tu công đức gì để khiến thiện căn của họ chóng được viên mãn Vô thượng Bồ đề?

Nghĩ như vậy rồi, Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, để hở vai áo bên phải, đảnh lễ chân Phật, quỳ dài chắp tay bạch Phật rằng: Thế Tôn! Con muốn thưa hỏi, nguyện xin Ngài từ bi cho phép.

Phật dạy: Thiện nam tử! Cứ tùy điều ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà nói.

Bấy giờ, Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ bạch Phật rằng: Chư Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Chính Đẳng Chính Giác lấy nhân duyên gì mà được thân thanh tịnh, đủ tướng tốt trang nghiêm? Còn các chúng sinh nếu được gặp Như Lai, thân cận cúng dường, thì phước báo nhận được vô lượng vô biên. Nhưng sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, các chúng sinh ấy nên làm gì để cúng dường, tu công đức gì, để thiện căn của họ chóng được viên mãn Vô thượng Bồ đề?

Khi ấy, Thế Tôn bảo Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ rằng: Lành thay, lành thay! Ông có thể vì hàng chúng sinh vị lai mà phát ra câu hỏi như thế, nay ông hãy lắng nghe kỹ, khéo suy nghĩ và ghi nhớ, như lời nói mà tu hành. Ta sẽ vì ông giảng giải rõ ràng.

Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ thưa: Vâng, bạch Thế Tôn! Con rất vui lòng muốn được nghe.

Phật bảo Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ rằng: Thiện nam tử! Nên biết bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, suy ngẫm, trí tuệ, từ, bi, hỷ, xả, giải thoát, giải thoát tri kiến, lực, vô úy, tất cả Phật pháp, tất cả chủng trí đều thanh tịnh, cho nên Như Lai thanh tịnh.

Nếu đối với chư Phật, Như Lai mà dùng tâm thanh tịnh làm các thứ cúng dường hương, hoa, chuỗi vòng, phướn, lọng, đồ trải ngồi nằm, bày đặt trước Phật, dùng đủ mọi thứ trang nghiêm; lại lấy nước thơm tuyệt diệu tắm rửa tôn dung, đốt hương xông khắp, vận tâm cùng khắp pháp giới; lại dùng thức ăn, âm nhạc, đàn ca, tán tụng công đức bất cộng của Như Lai, phát nguyện thù thắng, hồi hướng về biển trí nhất thiết vô thượng, thì công đức sinh ra vô lượng vô biên, cho đến Bồ đề thường nối tiếp không dứt. Vì sao vậy? Vì phước và trí của Như Lai là không thể nghĩ bàn, không thể tính đếm, không ai sánh kịp. Thiện nam tử! Chư Phật, Thế Tôn có đủ ba thân, tức là Pháp thân, Thọ dụng thân và Hóa thân. Sau khi Ta nhập Niết-bàn, nếu muốn cúng dường ba thân ấy thì nên cúng dường xá lợi. Xá lợi lại có hai loại: một là xá lợi xương thân, hai là xá lợi pháp tụng.

Bấy giờ, Phật nói kệ rằng:  
Chư pháp từ duyên khởi  
Như Lai nói là nhân  
Pháp ấy nhân duyên hết  
Ấy lời Đại Sa Môn.

Nếu nam tử, nữ nhân, tỳ kheo cùng năm chúng tạo tượng Phật, nếu không đủ sức, thì thấp nhất chỉ cần làm lớn bằng hạt lúa mạch, tạo hình tháp như quả táo nhỏ, trụ phướn như cây kim, lọng như mảnh cám, xá lợi như hạt cải, hoặc chép pháp tụng rồi an trí bên trong. Đem các thứ trân quý như trên mà cúng dường, tùy theo sức mình có, chí thành và cung kính, thì như cúng dường chính thân Ta hiện tại, không khác chút nào.

Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh có thể làm cúng dường thù thắng như thế, thì thành tựu mười lăm công đức thù thắng để tự trang nghiêm:
1. Thường thấy hổ thẹn.
2. Phát tâm tịnh tín.
3. Tâm mình chính trực.
4. Thân cận thiện hữu.
5. Vào trí vô lậu.
6. Thường thấy chư Phật.
7. Hằng trì chính pháp.
8. Có thể như lời nói mà làm.
9. Tùy ý được sinh về cõi Phật thanh tịnh.
10. Nếu sinh trong loài người, sẽ sinh vào đại tộc tôn quý, được người kính trọng, sinh tâm hoan hỷ.
11. Sinh trong loài người, tự nhiên niệm Phật.
12. Các ma quân không thể làm tổn hại.
13. Có thể ở thời mạt thế hộ trì chính pháp.
14. Được mười phương chư Phật gia hộ.
15. Chóng thành tựu năm phần Pháp thân.

Bấy giờ, Thế Tôn liền nói bài kệ rằng:  
Ta sau khi Niết-bàn  
Ai cúng dường xá lợi  
Hoặc tạo tháp Phật Đà  
Và hình tượng Như Lai  
Tại chỗ tượng tháp ấy  
Quét tẩy làm đàn tràng  
Dùng đủ thứ hương hoa  
Rải bày lên trên đó  
Lấy nước thơm thanh diệu  
Tắm rửa thân tượng Phật  
Các thức ăn thượng vị  
Hết lòng đem cúng dường  
Tán thán đức Như Lai  
Vô lượng khó nghĩ bàn  
Phương tiện trí thần thông  
Chóng đến bờ bên kia  
Được thân kim cương ấy  
Đủ ba mươi hai tướng  
Cùng tám mươi vẻ đẹp  
Độ thoát các quần sinh.

Khi ấy, Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ nghe bài kệ này xong, bạch Phật rằng: Chúng sinh vị lai làm sao tắm tượng?

Phật bảo Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ rằng: Các ông nên khởi tâm chính niệm đối với Như Lai, chớ chấp hai bên, đừng mê lầm nơi không và có; đối với các thiện phẩm thì khát khao kính ngưỡng không chán; khéo tu ba giải thoát môn, thường cầu xuất ly, chớ trụ nơi sinh tử; đối với các chúng sinh, khởi đại từ bi, nguyện chóng thành tựu ba thân ấy.

Thiện nam tử! Ta đã vì ông nói về bốn Thánh Đế, mười hai Nhân Duyên, sáu Ba-la-mật, nay lại vì ông và các quốc vương, vương tử, đại thần, hậu cung phi hậu, thiên long, người, quỷ mà nói pháp tắm tượng. Đây là pháp cúng dường số một trong tất cả cúng dường, thắng hơn cả bố thí bảy báu đầy như cát sông Hằng. Khi tắm tượng, nên dùng chiên đàn Ngưu Đầu, bạch đàn, tử đàn, trầm thủy, huân lục, uất kim hương, long não hương, linh lăng, hoắc hương v.v… nghiền trên đá sạch thành hương nhão, dùng làm nước thơm, đặt trong vật sạch. Ở nơi thanh tịnh, dùng đất tốt làm đàn, hoặc vuông hoặc tròn, tùy theo lớn nhỏ, trên đặt tòa tắm, giữa an tượng Phật, rưới nước thơm, tắm rửa sạch sẽ, lại dội nước trong cho tươi mát. Nước dùng để tắm phải đều lọc sạch, chớ để làm hại côn trùng. Nước tắm tượng, dùng hai ngón tay nhúng lấy nước, đặt nơi đỉnh đầu, gọi là nước cát tường, rồi đổ xuống đất sạch, chớ để chân dẫm lên. Dùng khăn mềm lau tượng cho sạch, đốt các thứ danh hương, hương thơm lan khắp, rồi an trí tượng về chỗ cũ.

Thiện nam tử! Do làm pháp tắm tượng Phật như thế, nên khiến các ông, đại chúng trời người hiện được giàu vui, không bệnh, kéo dài tuổi thọ, những điều nguyện cầu đều được như ý, quyến thuộc thân hữu đều an ổn, thường xa lìa tám nạn, vĩnh viễn ra khỏi nguồn khổ, không thọ thân nữ, chóng thành Chính Giác. Sau khi an trí xong, lại đốt các thứ hương, tự đối trước tượng, chí thành chắp tay mà nói bài tán thán rằng:

Con nay tắm gội Đức Như Lai  
Bậc trí trang nghiêm công đức đầy  
Chúng sinh ngũ trọc lìa uế nhiễm  
Cùng chứng Như Lai tịnh Pháp thân.  
Giới định huệ giải hương tri kiến  
Khắp mười phương cõi thường thơm ngát  
Nguyện làn hương này cũng như thế  
Vô lượng vô biên làm Phật sự.  
Lại nguyện ba đường khổ luân dứt  
Đều khiến trừ nóng được mát lành  
Đều phát tâm Vô thượng Bồ đề  
Mãi lìa sông ái lên bờ giác.

Phật nói kinh này rồi, khi ấy trong đại chúng có vô lượng vô biên Bồ Tát chứng đắc Vô cấu tam muội, vô lượng chư thiên được Bất thoái trí, các hàng Thanh Văn nguyện cầu Phật quả, tám vạn bốn nghìn chúng sinh đều phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác.

Bấy giờ, Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! May nhờ bậc Đại Sư thương xót chúng con, dạy pháp tắm tượng. Nay con xin khuyên hóa quốc vương, đại thần và tất cả người có lòng tin, ưa làm công đức, nên hằng ngày tắm gội tôn tượng, sẽ được lợi ích lớn. Xin thường kính nhận, hoan hỷ phụng hành!

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/kinh-dai-thong-phuong-quang-sam-hoi-diet-toi-trang-nghiem-thanh-phat.md
# Title: Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật
---

![image](/img/img_b1c0ebe1b5784a6c3164b03de0605202.jpg)

## Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Đây là bản kinh được sử dụng và lưu truyền trong Chân Phật Tông. 

Biên dịch: Nhóm Upala

(Dịch từ nguyên bản tiếng Trung trong Phật Đệ Tử Văn Khố - Đài Loan)

---

### Quyển Thượng

Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật ở thành Vương Xá, cùng với tám vạn đại tì kheo, các Bồ Tát ba vạn sáu nghìn người. Trong một đời đã rời xa tất cả cái chướng. Ở trước Như Lai. Khuyên thỉnh tuyên thuyết. Phương tiện mật ý. Làm thành Phật địa. Đều được thanh tịnh. Sự nghiệp Như Lai. Nhậm vận thành tựu. Nhờ uy đức của chư Phật mà kiến lập. Để bảo hộ pháp khí. Thọ trì Đại thừa. Như sư tử gầm. Chấn đại pháp lôi. Mười phương nghe tiếng. Đức ấy cao lớn. Như núi Tu Di. Trí năng sâu rộng. Tựa như biển lớn. Hàng phục chúng ma. Hút các ngoại đạo. Khiến họ thanh tịnh. Có đủ mọi lực. Vô ngại giải thoát. An trụ bất động. Niệm định tổng trì. Vui thuyết biện tài. Tứ đẳng lục độ. Vô lượng phương tiện. Tất cả pháp nghĩa. Đều có đầy đủ. Tùy thuận chúng sinh. Chuyển bất thối luân. Chỉ trí hữu-vô. Khéo giải pháp tướng. Hiện vào ba cõi. Năm mắt thấy biết. Căn của chúng sinh. Uy đức vô lượng. Chở che đại chúng. Thiền định trí năng. Để tu tâm ấy. Tướng đẹp nghiêm thân. Mọi tướng đệ nhất. Tâm như hư không. Xả mọi sắc đẹp ở trong thế gian. Đạt mọi pháp tính. Trí năng vô ngại. Khéo biết chúng sinh. Vãng lai các cõi. Đủ mọi tam muội. Gần vô đẳng đẳng. Trồng căn lành lâu. Đắc được trí năng tự tại của Phật. Có đủ mười lực. Bốn không sợ hãi. Mười tám bất cộng pháp. Thông đạt các cõi lành. Đóng mọi cửa ác đạo. Xem chúng sinh bình đẳng. Coi như con của mình. Thị hiện sinh thân. Ở trong năm cõi. Muốn độ chúng sinh. Làm đại y vương. Sống trong sinh tử. Khéo biết các bệnh. Cho thuốc đúng bệnh. Bảo họ uống vào. Mãi lìa sinh tử. Có ai nghe được. Đều được giải thoát. Có được đầy đủ công đức vô lượng. Đã từng cúng dường, trong kiếp quá khứ, vô lượng chư Phật. Thấy rõ Phật tính. Như các Như Lai. Thường nói chúng sinh. Đều có Phật tính.

Các vị ấy là:  
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Định Quang Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Long Thụ Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Dược Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Dược Thượng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Sư Tử Hống Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Đà La Ni Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Bảo Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Bất Hưu Tức Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Tín Tướng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Vô Thắng Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát.  
Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát như thế có ba vạn sáu nghìn người.

Lại có tám mươi vạn ức chư thiên uy lực. Và các tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, trời, rồng, dạ xoa, người, loài không phải người... Vua Thích Đề Hoàn Nhân và vô lượng thiên nhân. Ở tại không trung. Mưa báu hoa trời. Vô lượng thiên nhạc. Tự nhiên tạo ra. Phạm Ma Tam Bát Thiên. Đốt hương trời vi diệu. Cung dường các Như Lai. Hương khói khắp thập phương, trải vô lượng thế giới. Nguyện đều cúng dường khắp, tất cả Phật mười phương. Cúng dường mười phương tất cả mọi pháp. Cúng dường mười phương tất cả các đại Bồ Tát. Các chư thiên này. Vì lợi như thế. Cúng dường chư Phật. Để cầu Đại thừa. Tức đạo vô thượng.

Bấy giờ Thế Tôn. Cùng vô lượng vô biên đại chúng như vậy vây quanh trước sau. Đi về phía rừng cây sa la. Vào ngày 15 tháng 2. Lúc sắp nhập niết bàn. Dùng thần lực Phật. Đại bi che chở. Thu nhận chúng sinh. Phát âm thanh lớn. Âm thanh đầy ắp. Tất cả mười phương. Tùy tiếng mỗi loài. Để bảo chúng sinh. Hôm nay Như Lai Ứng Chính Biến Tri. Thương xót chúng sinh, che chở chúng sinh, thu nhận chúng sinh. Đều coi bình đẳng. Như con của mình. Người không nơi nương dựa, ta làm nơi nương dựa. Người chưa thấy Phật tính, ta cho thấy Phật tính. Người chưa rời phiền não, ta cho rời phiền não. Người chưa được yên ổn, ta cho được yên ổn. Người chưa được giải thoát, ta cho được giải thoát. Người chưa được an lạc, ta cho được an lạc. Người chưa lìa nghi hoặc, ta cho lìa nghi hoặc. Người chưa được sám hối, ta cho được sám hối. Người chưa được niết bàn, ta cho được niết bàn.

Khi ấy bên đường. Sạch sẽ bằng phẳng. Đất lành may mắn. Ngang dọc ngay ngắn. Mười nghìn do tuần. Phật thấy đất này. Sạch sẽ bằng phẳng. Liền dừng chân nghỉ. Bảo các tì kheo. Nay ở tại đây. Có thể thuyết pháp. 

Khi ấy. Tì kheo A Nan bạch Phật rằng. Thế Tôn! Như Lai Thế Tôn, xưa thường thích núi. Có suối thanh tịnh. Vườn cây hoa trái. Nay ở chỗ này. Không có suối chảy. Cũng chẳng có cây. Cũng không làng mạc, quốc thổ nhân dân. Hôm nay Như Lai. An cư thuyết pháp. Người từ xa đến. Đói lả mệt nhoài. Tính mạng không ổn. Có ăn có mạng. Có mạng có thân. Có thân có đạo. Không ăn không mạng. Không mạng không thân. Không thân không đạo. Nay ở nơi này. Không có những việc phù hợp như vậy. Làm sao Thế Tôn, ở đây thuyết pháp?

Khi ấy, bậc đại trí Xá Lợi Phất. Dùng trí lực Phật. Bảo A Nan rằng. Trước nên vì pháp. Không cần nghĩ nhiều. Như Lai Thế Tôn. Không chỉ mười lực. Bốn không sợ hãi. Như Lai Thế Tôn. Có sức mạnh vô lượng. Tất cả không lo ngại. Trí năng vô lượng. Uy thần vô lượng. Người không nơi nương dựa, cho có nơi nương dựa. Người chưa thấy Phật tính, lệnh cho thấy Phật tính. Người chưa rời phiền não, lệnh cho rời phiền não. Người chưa được yên ổn, lệnh cho được yên ổn. Người chưa được giải thoát, lệnh cho được giải thoát. Người chưa được an lạc, lệnh cho được an lạc. Người chưa lìa nghi hoặc, lệnh cho lìa nghi hoặc. Người chưa được sám hối, lệnh cho được sám hối. Người chưa được niết bàn, lệnh cho được niết bàn. Như Lai Thế Tôn. Có thần lực vô lượng như vậy. Lo gì Như Lai. Mà không tự nhiên. Tôi nhớ ngày xưa. Duy Ma Đại Sĩ. Vì chúng sinh thuyết pháp. Bồ Tát phương khác. Thanh Văn Duyên Giác. Chư Thiên uy lực. Long Thần đại chúng. Tụ tập trong nhà. Chưa từng có ăn. Khi ấy tôi nghĩ. Các thiên chúng này. Lấy gì mà ăn. Đại Sĩ Duy Ma. Liền bảo tôi rằng. Thanh Văn thiếu trí. Nên nhớ chính pháp. Nói phải thấy rằng. Cơm áo ghế giường. Là làm hại mạng. Duy Ma Đại Sĩ. Khi nói lời ấy. Thiên nhân đắc đạo. Còn tôi hổ thẹn. Nay điều ông nghĩ. Cũng lại như thế.

Khi ấy Như Lai. Liền bảo A Nan. Thật đúng như lời đại trí Xá Lợi Phất nói. Nên nghĩ Đại thừa. Chớ nghĩ an thân. Nói xong lời ấy. Liền nhập tam muội. Dùng uy thần lực. Ngay trên mặt đất. Có bông hoa vàng. Từ đất mọc lên. Hoa ấy vươn cao. Bốn mươi vạn do tuần. Phủ khắp ba nghìn đại thiên thế giới. Lưới võng lưu ly, phủ trên hoa vàng. Bên dưới hoa vàng, có hồ bơi quý, ngang hàng với hoa, tên là nước tám loại công đức. Nước thơm tràn đầy. Xung quanh hồ nước có đủ loại hoa. Có hoa upala. Có hoa kumuda. Có hoa paduma. Có hoa pundari. Các loài hoa như thế. Vô lượng đủ loại danh hoa. Trang nghiêm hồ quý. Nếu nhìn hoa vàng hồ quý như vậy. Đắc pháp nhãn tịnh. Huống chi xuống nước, tắm ở trong hồ. Nếu được tắm gội, sẽ đắc thanh tịnh vô sinh pháp nhẫn. Bên dưới hoa vàng. Có bảo tọa sư tử. Sư tử tọa này. Cao trăm do tuần.

Khi ấy Như Lai. Ngồi trên bảo tọa. Các lỗ chân lông. Toàn thân trên dưới. Phóng đại quang minh. Ánh vàng của Như Lai. Cùng sắc với hoa vàng. Xung quanh hoa quý. Ánh vàng tuôn ra. Chiếu khắp mười phương, tất cả Phật thổ. Hoa vàng ánh Phật. Chiếu đến nơi nào. Sơn cốc lãnh thổ. Cao thấp bằng phẳng. Đều thành kim sắc. Không còn nhơ bẩn. Địa ngục ngừng lại. Ngạ quỷ giải thoát. Trừ Nhất-xiển-đề <span className="note-blue">[Icchantika - hạng người không có lòng tin]</span>. Báng kinh Phương Đẳng. Với thần lực Phật. Các quốc thổ khác. Và cả cõi này. Đều là ngang hàng. Không có khác biệt. Thập phương chư Phật. Thấy ánh sáng ấy. Đồng loạt cất lời. Tán thán Thích Ca. Lành thay lành thay. Thế Tôn đại từ. Nay phóng quang minh. Khác ánh sáng thường. Ngày xưa phóng quang. Chiếu phương đông trước. Ngày nay phóng quang. Cùng lúc bốn phương. Chiếu khắp mười phương. Nên biết ánh sáng này, muốn độ tất cả chúng sinh khổ não. Ra ngoài ba cõi. Đến đại niết bàn. 

Khi ấy. Chư Phật mười phương. Dị khẩu đồng thanh. Bảo các thị giả. Các đại Bồ Tát. Các thiện nam tử. Các người nên biết. Hôm nay trong nước thế giới Ta Bà. Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Phóng đại quang minh. Tất nói diệu pháp. Độ chúng sinh khổ. Giờ đây các người. Nên sang nước đó. Cúng dường Phật ấy. Xin giải mối nghi. Nghe kinh nhận pháp. Chúng sinh nước ấy. Trước nay cương ác. Giả dối không thật. Không tin một thừa. Thích Ca đại từ. Vạn phương tiện khéo. Để mở ba thừa. Độ thoát ba cõi. Tuy nói ba thừa. Thượng ngữ cũng khéo. Trung ngữ cũng khéo. Hạ ngữ cũng khéo. Nghĩa vị thậm thâm. Đầy đủ thuần khiết. Phật Thế Tôn ấy. Trăm nghìn vạn kiếp. Cũng chẳng gặp được. Kinh pháp nói ra. Chẳng dễ được nghe. Đại chúng nước ấy. Chẳng dễ gặp thời. Nơi Thích Ca sinh. Kim hoa kỳ diệu. Chẳng dễ được thấy. Vì thế các người. Nay qua nước ấy. Gặp được Phật ấy. Thỉnh hỏi điều nghi. Mình được lợi ích. Lợi cả chúng sinh. 

Lời ấy nói xong. Mười phương cõi Phật. Mỗi cõi đều có. Mười ức Bồ Tát. Lập tức đứng dậy. Để làm lễ Phật. Rồi cùng đi đến. Mỗi một Bồ Tát. Đều có trăm nghìn âm nhạc. Mưa báu diệu hoa. Đi đến chốn Phật. Khi tới nơi rồi. Nhiễu Phật bảy vòng. Lễ dưới chân Phật. Lui ngồi một bên. Cùng nhau nói ra. Dị khẩu đồng thanh. Mà bạch Phật rằng. Thế Tôn. Chúng con hôm nay. Có điều nghi vấn. Cúi mong Thế Tôn. Vì chúng con nói. Lợi ích chúng sinh.

Khi ấy. Phật bảo các Bồ Tát Ma Ha Tát đến đó rằng. Các thiện nam tử. Nếu có điều nghi. Nay đều hỏi được. Ta sẽ vì ngươi. Quyết định nói rõ. 

Khi ấy. Các Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Như Lai nước con. Chỉ nói một thừa. Cớ sao Như Lai. Lại nói ba thừa. 

Khi ấy Thế Tôn. Dùng trí vô ngại. Bảo các Bồ Tát. Hôm nay các người. Vì lợi chúng sinh. Hỏi ta nghĩa đó. Vậy hãy lắng nghe. Các thiện nam tử. Ví dụ một người. Lại có ba tên. Khi nhỏ gọi thiếu niên. Hai mươi gọi trung niên. Quá tám mươi gọi lão niên. Nay ta nói ba thừa. Cũng là vì như thế. Với người Thanh Văn, tâm còn sơ bé, ta nói Tiểu thừa. Với người Duyên Giác, tâm ở mức trung, ta nói Trung thừa. Với người Bồ Tát, có đạo tâm lớn, ta nói Đại thừa. Các thiện nam tử. Hãy nghe cho kĩ. Lý vô nhị biên. Đồng quy một chốn. Tách ra khác luật. Chung quy nhất quán. Lý là một thừa. Phân thành ba thừa. Thanh Văn Duyên Giác thừa. Đều nhập Đại Thừa. Như Đại thừa đó. Tức là Phật thừa. Cho nên ba thừa. Tức là một thừa.

Khi thuyết pháp này. Trong hội tất cả. Mười nghìn Bồ Tát. Đắc vô sinh nhẫn. Tám trăm tì kheo. Đắc quả La Hán. Hai vạn thiên nhân. Đắc pháp nhãn tịnh. Tám trăm vạn người. Phát tâm bồ đề.

Khi đó Bồ Tát. Đến từ mười phương. Cùng nhau chắp tay. Mà bạch Phật rằng. Chúng con hôm nay. Nhờ lực Phật kia. Mà đến nước này. Được thấy Thế Tôn. Được nghe Đại thừa. Mong cho chúng con. Thọ trì kinh này. Sau khi Phật diệt. Ở quốc độ này. Và những nơi khác. Dưới cây núi rừng. Nơi thần tiên ngụ. Thành thị làng mạc. Đồng hoang mộ địa. Dưới cây đất trống. Tháp chùa tăng phường. Các hội giảng pháp. Nơi người tục ở. Nhà nhà người người. Lan truyền rộng rãi. Khiến kinh còn mãi. Là vì cớ sao. Kinh này tồn tại. Khiến cho đường ác. Cắt đứt lâu dài. Sở dĩ như thế. Từng nghe Phật nói. Địa ngục chẳng nhàn. Nếu tụng một câu. Chư Thiên hoan hỷ. Thường đến thân cận. Tự nhiên tu thiện. Nếu có người nào. Nghe kinh Phương Quảng. Vui mừng kính tín. Viết chép đọc tụng. Thọ trì lễ bái. Xưng niệm trong kinh. Một danh hiệu Phật. Một tên Bồ Tát. Người ấy đời này. Được sống yên ổn. Không thấy cái ác. Đến khi mệnh hết. Bồ Tát chúng tôi. Đến trước người đó. Dẫn về nước tôi. Cùng sinh một nơi. Là duyên cớ gì. Là vì người đó. Thọ trì kinh này. Người thọ trì kinh. Tức giữ thân Phật. Người giữ thân Phật. Nên biết người ấy. Tức là Bồ Tát. Vì thế người này. Bạn học cùng tôi. Ấy là nhân duyên. Thọ trì kinh này. Nguyện sinh một chốn. Không lìa bỏ nhau. 

Khi ấy lại có. Các quỷ thần vương. Đại Phạm Thiên Vương. Ba mươi ba thiên. Hộ thế Tứ Thiên Vương. Kim Cang Mật Tích. Các quỷ thần vương. Tán Chỉ Đại Tướng. Na La Long Vương. Nan Đà Long Vương. Bà Nan Đà Long Vương. A Tu La Vương. Ca Lâu La Vương. Đại Biện Thiên Vương. Quỷ Tử Mẫu Thiên Vương. Quỷ thần thần vương các núi. Thụ Thần Vương. Hà Thần Vương. Hải Thần Vương. Địa Thần Vương. Thủy Thần Vương. Hỏa Thần Vương. Phong Thần Vương. Thế rồi vô lượng vô biên các thần vương. Và đại chư Thiên. Đứng dậy khỏi chỗ. Cúi dưới chân Phật. Chắp tay cung kính. Mà bạch Phật rằng. Thế Tôn. Từ nay chúng con. Thường thường hộ trì. Lời Thế Tôn nói. Kinh Phương Quảng này. Nơi nào có kinh. Thần vương chúng con. Thường ở trước kinh. Mà làm thanh tịnh. Nếu ở trong tháp. Hoặc ở trong đền. Tại nhà cư sĩ. Hoặc nơi trống trải. Nếu có người nào. Dùng tay bất tịnh. Cầm lấy kinh này. Hoặc chẳng cung kính. Đọc tụng kinh này. Con khiến kẻ đó. Đi đứng ngồi nằm. Thân tâm bất an. Khắp nơi sợ hãi. Vướng mắc việc ác. Thân này không yên. Chết vào địa ngục. Nếu người cung kính. Thân tâm thanh tịnh. Cầm vào kinh này. Tắm gội thắp hương. Thọ trì đọc tụng. Hoặc là viết chép. Ghi nhớ không quên. Nhớ kinh điển này. Không làm việc ác. Nếu được như thế. Thần vương chúng con. Vì kinh điển này. Bảo hộ người ấy. Người ấy nếu nằm. Thì đứng phía trước. Không cho thấy ác. Và cũng không cho. Ác nhân ác quỷ. Làm hại người ấy. Hoặc nơi họ sống. Bảo vệ nhà ở. Nếu muốn đi lại. Thần vương chúng con. Đi trước người đó. Để mà mở đường. Muốn gì cho nấy. Đi lại bốn phương. Chẳng hề chướng ngại. Thường thấy việc lành. Tới khi mệnh chung. Sinh lên cõi trời. Nhờ đó gặp Phật. Không mất Đại thừa.

Khi đó Thế Tôn. Bảo các Bồ Tát. Và thần vương rằng. Đúng vậy đúng vậy. Điều các người nói. Như kinh điển này. Không thể được nghe. Huống hồ nhìn thấy. Nếu muốn thọ trì. Đọc tụng kinh này. Thường tắm gội sạch. Mặc quần áo mới. Quét sạch nhà cửa. Treo lên cờ lọng. Trang nghiêm trong nhà. Thắp mọi hương thơm. Chiên đàn hương. Bột hương. Các loại phấn thơm. Lễ bái. Sáu thời như thế. Ban đầu một ngày. Cho đến bảy ngày. Trong thời gian đó. Đọc tụng kinh này. Chính tâm chính ý. Chính niệm chính quán. Chính tư duy. Chính tư nghì. Chính thọ trì. Chính dụng hành. Chính giáo hóa. Ngày đêm sáu thời. Lễ bái trong kinh. Chư Phật Bồ Tát. Mười hai bộ kinh. Nếu mà có thể. Lễ bái đọc tụng. Cung kính tin theo. Tội nặng được nói. Ở trong kinh này. Đều diệt trừ hết. Chẳng có nghi ngờ. Là cớ vì sao. Kinh Đại Phương Quảng. Mười phương chư Phật. Theo đó tu hành. Theo đó hộ trì. Là mẹ chư Phật. Là vua các kinh. Kho tàng diệu nghĩa. Là đạo Bồ Tát. Kinh điển Đại thừa. Rộng sâu vi diệu. Cũng như thế gian. Có đủ sáu đại. Không thể nghĩ bàn. Sáu đại là gì. Một là đại địa. Hai là đại thủy. Ba là đại hỏa. Bốn là đại phong. Năm là đại nhật. Sáu là đại không. Kinh như đại địa. Chứa đựng tất cả. Sạch bẩn tốt xấu. Kinh như đại thủy. Tẩy trừ uế ác. Mọi thứ bất tịnh. Kinh như đại hỏa. Đốt cháy tất cả. Phiền não uế ác. Mọi thứ bất tịnh. Kinh như đại phong. Thổi bay tất cả. Bất tịnh uế ác. Kinh như đại nhật. Phổ chiếu tất cả. Những chỗ tối tăm. Kinh như đại không. Có thể dung nạp. Tất cả tốt xấu. Kinh Phương Quảng này. Là kinh Đại thừa. Quảng đại vô đối. Cao đến Bồ Tát. Vừa đến Thanh Văn. Thấp đến hữu tình. Đều dung nạp hết. Vì thế các người. Thọ trì kinh này. Lưu truyền kinh này. Tín kính kinh này. Sẽ khiến các người. Và các Bồ Tát. Nhập trí huệ Phật. Thấy rõ Phật tính. Sẽ khiến các người. Chư thiên thần vương. Và người thọ trì. Thường được thấy ta. Và thấy tất cả. Chư Phật vị lai. Chuyển đại pháp luân. Ngồi tại đạo tràng. 

Đại chúng khi ấy. Có một Bồ Tát. Tên là Tín Tướng. Từ trong đại chúng. Đứng khỏi chỗ mình. Sửa sang y phục. Lễ dưới chân Phật. Và bạch Phật rằng. Thế Tôn. Nay chúng con đây. Có điều muốn hỏi. Kính mong Thế Tôn. Vì con mà nói. Lời Thế Tôn nói. Có lợi ích lớn. Vô lượng chúng sinh.

Khi ấy. Phật bảo Tín Tướng Bồ Tát. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Nếu có điều hỏi. Tùy ý hỏi đi. Ta sẽ vì ngươi. Mà giải thích rõ. Điều ngươi muốn hỏi. Cũng lợi ích lớn. Vô lượng chúng sinh.

Tín Tướng Bồ Tát. Bèn bạch Phật rằng. Thế Tôn! Con nhớ ngày xưa. Quá khứ xa lắm. Vô lượng đời trước. Có Phật Thế Tôn. Tên là Bảo Thắng. Người nghe tên Phật. Đều sinh về trời. Sau đó không lâu. Ở tại vương quốc Thiên Tự Tại Quang. Trong đồng cỏ hoang. Có một hồ lớn. Nước đã cạn khô. Ở trong hồ có. Mười nghìn cá lớn. Bị phơi dưới nắng. Sắp vào cửa tử. Có một đại sĩ. Tên là Lưu Thủy. Nhìn thấy cá lớn. Sinh lòng từ bi. Cho nước thức ăn. Sống thêm ít ngày. Biết mạng cá ngắn. Nên xưng ba lần. Tên Phật Bảo Thắng. Cá nghe thấy được. Lập tức chết cả. Sinh về Đao Lợi. Vì nhân duyên này. Nay mong Thế Tôn. Vì đại chúng đây. Và các chúng sinh. Ở đời tương lai. Nói tên chư Phật. Và nghe danh hiệu. Thích Ca Thế Tôn. Cũng được lợi ích. Vô lượng vô biên. Vô biên công đức. Thường sống ở nơi. Giàu có vui vẻ. Đã thấy Phật tính. Nhờ nhân duyên này. Nên xin thỉnh cầu. Mong nguyện nói rõ. Độ thoát trọng tội. Do những giới cấm. Mê hoặc chúng sinh. 

Khi ấy Phật bảo Tín Tướng Bồ Tát Ma Ha Tát. Thiện nam tử. Nếu ta quảng thuyết tất cả danh hiệu chư Phật mười phương. Trăm nghìn vạn kiếp. Cũng chẳng nói hết. Tất cả thứ nước. Đếm được số giọt. Cũng không biết hết. Danh hiệu chư Phật. Các núi Tu Di. Biết được cân lạng. Cũng không biết hết. Danh hiệu chư Phật. Tất cả mặt đất. Đếm được hạt bụi. Cũng không biết hết. Danh hiệu chư Phật. Thế giới hư không. Biết được ranh giới. Cũng không biết hết. Danh hiệu chư Phật. Ta vì các người. Lược nói ba đời. Danh hiệu chư Phật. Nếu ai nghe được. Qua tai một lần. Tới lúc mạng hết. Cũng sinh về trời. Nghe rồi tín kính. Lại còn cố gắng. Ra sức chép viết. Xưng tên lễ bái. Diệt được vô lượng. Trọng tội sinh tử. Được phúc vô lượng. Người ấy mệnh chung. Mười phương thế giới. Tùy ý vãng sinh. Cũng được thấy ta. Và thấy vị lai. Hiền kiếp chư Phật. 

Thế Tôn khi ấy. Nói với đại chúng. Các người phải nên. Sửa sang y phục. Chính tâm chính thân. Chính ý chính niệm chính quán. Người muốn nghe pháp. Một lòng phải kính lễ Tu Di Đăng Vương Phật. Kính lễ Bảo Vương Phật. Kính lễ Bảo Thắng Phật. Kính lễ A Di Đà Phật. Kính lễ Tỳ Bà Thi Phật. Kính lễ Đa Bảo Phật. Kính lễ Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính lễ tất cả pháp nhiếp trì. Kính lễ quá số lượng. Kính lễ vô lượng loại. Kính lễ vô biên pháp. Kính lễ nan tư nghì. Kính lễ trụ lực, lực trung lực. Kính lễ mười lực không kinh sợ. Kính lễ tam giới tôn. Kính lễ tất cả đại đạo sư. Kính lễ các vị có thể cắt đứt trói buộc. Kính lễ các vị đã đến được bỉ ngạn. Kính lễ các vị đã vượt qua mọi thế gian. Kính lễ các vị đã vĩnh viễn rời khỏi đạo sinh tử. Kính lễ tam muội đắc giải thoát. Kính lễ hư không không nương dựa. Kính lễ đại pháp vương trong đại chúng. Kính lễ các vị phá hoại bốn ma. Kính lễ các bậc đại từ phụ. Chỉ mong đời đời gặp chư Phật. Thấy rõ Phật tính. Đến đại niết bàn. Là vì sao? Tất cả hữu hình. Đều có Phật tính. Thế là đại chúng. Chắp tay mười ngón. Một lòng lắng nghe. Một lòng cúng dường.

Nghe ta nói ba đời. Tên chư Phật mười phương. Cho đến năm vô gián.  
Phải sinh tướng giải thoát, nếu người không căn lành, ta cũng sẽ nói cho.  
Tự họ không thể hiểu, hạt cháy tự mất đi, chỉ còn lại chân thực.  
Trừ bỏ tướng Tiểu thừa, chỉ còn lại Đại thừa, trừ bỏ hai thừa ấy.  
Chỉ còn lại một thừa, nếu người không căn lành, không nghe được tiếng đó.  
Từng cúng vô lượng Phật, nay được nghe tên Phật, nên biết cần thọ trì.  
Người thiếu phần giải thoát, an trụ đất thanh tịnh, nay ở trong pháp ta  
Kinh hành làm Phật sự, thọ trì và đọc tụng, lễ bái danh hiệu Phật  
Rời bỏ các việc ma, diệt trừ bốn trọng cấm, vô gián Nhất-xiển-đề.  
Người ấy đời vị lai, chắc chắn thành Phật đạo.  
Người không sinh lòng tin, tam ác đạo đọa chắc.  
Tin rồi chăm lễ bái, sẽ thấy vô lượng Phật.  
Phải nên nhất tâm lễ, nguyện trừ vô lượng tội, cho nên nay kính lễ.

Tất cả đại chúng, chắp tay lắng nghe, thu về thân tâm, không cho động chuyển. Cúi rạp xuống đất. Một lòng lắng nghe.

Khi ấy Thế Tôn. Xưng danh xướng rằng.  
Nam mô quá khứ vô lượng chư Phật.  
Nam mô Nhị vạn Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật,  
Nam mô Tam vạn Nhiên Đăng Phật.  
Nam mô Đại Thông Trí Thắng Phật.  
Nam mô Thập lục Tử Phật.  
Nam mô Không Vương Phật.  
Nam mô Đa Bảo Phật.  
Nam mô Vân Tự Tại Đăng Vương Phật.  
Nam mô Uy Âm Vương Phật.  
Nam mô Vô Số Quang Phật.  
Nam mô Tư Thiện Phật.  
Nam mô Phân Thân Chư Phật.  
Nam mô Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật.  
Nam mô Tịnh Hoa Túc Vương Phật.  
Nam mô Tịnh Trang Nghiêm Vương Phật.  
Nam mô Long Tôn Vương Phật.  
Nam mô Vân Lôi Âm Vương Phật.  
Nam mô Vân Lôi Túc Chủ Hoa Trí Phật.  
Nam mô Bảo Vương Phật.  
Nam mô Sa La Thụ Vương Phật.  
Nam mô Thượng Uy Đức Bảo Vương Phật.  
Nam mô Quang Minh Vương Phật.  
Nam mô Bách Ức Định Quang Phật.  
Nam mô Quang Viễn Phật.  
Nam mô Nguyệt Quang Phật.  
Nam mô Chiên Đàn Hương Phật.  
Nam mô Thiện Sơn Vương Phật.  
Nam mô Tu Di Thiên Quan Phật.  
Nam mô Tu Di Đẳng Diệu Phật.  
Nam mô Nguyệt Sắc Phật.  
Nam mô Chính Niệm Phật.  
Nam mô Ly Cấu Phật.  
Nam mô Vô Trược Phật.  
Nam mô Long Thiên Phật.  
Nam mô Bất Động Địa Phật.  
Nam mô Lưu Ly Diệu Hoa Phật.  
Nam mô Lưu Ly Kim Sắc Phật.  
Nam mô Kim Tạng Phật.  
Nam mô Viêm Quang Phật  
Nam mô Viêm Căn Phật.  
Nam mô Địa Chưởng Phật.  
Nam mô Nguyệt Tượng Phật.  
Nam mô Nhật Âm Phật.  
Nam mô Giải Thoát Hoa Phật.  
Nam mô Trang Nghiêm Quang Minh Phật.  
Nam mô Hải Giác Thần Thông Phật.  
Nam mô Thủy Quang Phật.  
Nam mô Đại Hương Phật.  
Nam mô Ly Hư Cấu Phật.  
Nam mô Xả Yếm Ý Phật.  
Nam mô Bảo Viêm Phật.  
Nam mô Diệu Đính Phật.  
Nam mô Dũng Lập Phật.  
Nam mô Công Đức Trí Tuệ Phật.  
Nam mô Tế Nhật Nguyệt Phật.  
Nam mô Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang Phật.  
Nam mô Vô Thượng Lưu Ly Quang Phật.  
Nam mô Tối Thượng Thủ Phật.  
Nam mô Bồ Đề Hoa Phật.  
Nam mô Nguyệt Minh Phật.  
Nam mô Nhật Quang Phật.  
Nam mô Hoa Sắc Vương Phật.  
Nam mô Thủy Nguyệt Quang Phật.  
Nam mô Trừ Nghi Minh Phật.  
Nam mô Độ Khổ Hạnh Phật.  
Nam mô Tịnh Tín Phật.  
Nam mô Thiện Túc Phật.  
Nam mô Uy Thần Phật.  
Nam mô Pháp Tuệ Phật.  
Nam mô Loan Âm Phật.  
Nam mô Sư Tử Âm Phật.  
Nam mô Long Âm Phật.  
Nam mô Xứ Thế Phật.  
Nam mô Tự Tại Phật.  
Nam mô Vô Lượng Thọ Phật.  
Nam mô Vô Lượng Quang Phật.  
Nam mô Vô Biên Quang Phật.  
Nam mô Vô Ngại Quang Phật.  
Nam mô Vô Đối Quang Phật.  
Nam mô Quang Viêm Vương Phật.  
Nam mô Thanh Tịnh Quang Phật.  
Nam mô Hoan Hỷ Quang Phật.  
Nam mô Trí Tuệ Quang Phật.  
Nam mô Bất Đoạn Quang Phật.  
Nam mô Nan Tư Quang Phật.  
Nam mô Vô Xưng Quang Phật.  
Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.  
Nam mô Tướng Hảo Tử Quang Phật.  
Nam mô Viễn Chiếu Phật.  
Nam mô Bảo Tạng Phật.  
Nam mô Vô Lượng Âm Phật.  
Nam mô Cam Lộ Vị Phật.  
Nam mô Long Thắng Phật.  
Nam mô Thắng Lực Phật.  
Nam mô Sư Tử Âm Phật.  
Nam mô Ly Cấu Quang Phật.  
Nam mô Đức Thủ Phật.  
Nam mô Diệu Đức Sơn Phật.  
Nam mô Nhân Vương Phật.  
Nam mô Vô Thượng Hoa Phật.  
Nam mô Úy Lực Vương Phật.  
Nam mô Long Tự Tại Vương Phật.  
Nam mô Sư Tử Y Vương Phật.  
Nam mô Tự Tại Vương Phật.  
Nam mô Phổ Quang Phật.  
Nam mô Phổ Minh Phật.  
Nam mô Chiên Đàn Hương Quang Phật.  
Nam mô Đa La Ma Bạt Chiên Đàn Hương Phật.  
Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bảo Tích Phật.  
Nam mô Thượng Đại Tinh Tiến Phật.  
Nam mô Phổ Tịnh Phật.  
Nam mô Ma Ni Tràng Phật.  
Nam mô Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật.  
Nam mô Huệ Cự Chiếu Phật.  
Nam mô Hải Đức Quang Minh Phật.  
Nam mô Kim Cương Lao Cường Phật.  
Nam mô Phổ Tán Kim Quang Phật.  
Nam mô Đại Cường Tinh Tiến Dũng Mãnh Phật.  
Nam mô Dũng Mãnh Phật.  
Nam mô Bi Quang Phật.  
Nam mô Từ Lực Vương Phật.  
Nam mô Từ Tạng Phật.  
Nam mô Chiên Đàn Hốt Trang Nghiêm Thắng Phật.  
Nam mô Hiền Thiện Thủ Phật.  
Nam mô Thiện Giác Phật.  
Nam mô Trang Nghiêm Vương Phật.  
Nam mô Kim Sơn Bảo Cái Phật.  
Nam mô Kim Hoa Viêm Quang Tướng Phật.  
Nam mô Đại Cự Quang Minh Phật.  
Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật.  
Nam mô Kim Hoa Quang Phật.  
Nam mô Hư Không Bảo Hoa Quang Phật.  
Nam mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật.  
Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật.  
Nam mô Bất Động Quang Phật.  
Nam mô Hàng Phục Chúng Ma Vương Phật.  
Nam mô Thiên Quang Minh Phật.  
Nam mô Từ Huệ Thắng Phật.  
Nam mô Di Lặc Tiên Quang Phật.  
Nam mô Thế Tịnh Quang Phật.  
Nam mô Thiện Tịch Nguyệt Âm Phật.  
Nam mô Diệu Tôn Trí Vương Phật.  
Nam mô Bảo Cái Đăng Vương Phật.  
Nam mô Long Chủng Thượng Trí Tôn Vương Phật.  
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Phật.  
Nam mô Nhật Nguyệt Châu Quang Phật.  
Nam mô Huệ Phan Thắng Trang Nghiêm Vương Phật.  
Nam mô Vô Cấu Tạng Phật.  
Nam mô Quang Minh Tướng Phật.  
Nam mô Kim Viêm Quang Minh Phật.  
Nam mô Kim Diệm Quang Minh Tạng Phật.  
Nam mô Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật.  
Nam mô Diệu Âm Thắng Phật.  
Nam mô Thường Quang Tràng Phật.  
Nam mô Quan Thế Đăng Vương Phật.  
Nam mô Huệ Y Đăng Vương Phật.  
Nam mô Pháp Thường Thắng Vương Phật.  
Nam mô Tu Di Quang Phật.  
Nam mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật.  
Nam mô Ưu Bát La Hoa Quang Phật.  
Nam mô Cường Thắng Lực Vương Phật.  
Nam mô Huệ Lực Vương Phật.  
Nam mô A Sơ Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật.  
Nam mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật.  
Nam mô Tài Quang Phật.  
Nam mô Kim Hải Quang Phật.  
Nam mô Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Phật.  
Nam mô Đại Thông Quang Phật.  
Nam mô Nhất Thiết Pháp Thường Mãn Vương Phật.  
Nam mô Hiện Vô Ngu Phật.  
Nam mô quá khứ vô lượng phân thân chư Phật.  
Nam mô quá khứ nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.  
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, na do tha, hằng hà sa, vô lượng a tăng kỳ Phật.  
Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu chư Phật đời quá khứ, người đó được tám mươi vạn kiếp không phải đọa địa ngục khổ, vì thế nay kính lễ.

Có người vì lễ bái  
Chư Phật đời quá khứ  
Diệt tội đắc bản tâm  
Lại không tạo mười ác  
Và cả năm nghịch tội  
Thường được nghe chính pháp  
Đầy đủ đạo Đại thừa  
Cho nên nay kính lễ.  
Chỉ trừ hai hạng người  
Một, báng kinh Phương Đẳng  
Hai là Nhất-xiển-đề  
Nếu người tâm thanh tịnh  
Không phải Nhất-xiển-đề,  
Thường thấy vô lượng Phật  
Cho nên nay kính lễ.  
Nếu có phạm trọng tội  
Và năm tội vô gián  
Mà lòng tin thanh tịnh  
Cũng được như pháp trụ  
Đều vì do kính lễ  
Diệt trừ mười ác nghiệp  
Đều đắc giới Đại thừa  
Cho nên nay kính lễ.

Khi Phật nói danh hiệu chư Phật đời quá khứ, có mười nghìn Bồ Tát đắc vô sinh nhẫn. Tám trăm Thanh Văn phát thiếu phân tâm. Năm nghìn tì kheo đắc đạo A La Hán. Một ức thiên nhân đắc pháp nhãn tịnh.

Nam mô hiện tại vô lượng chư Phật.  
Nam mô Thập ức Vương Minh Chư Phật.  
Nam mô Ly Cấu Tử Kim Sa Phật.  
Nam mô Vô Lượng Minh Phật.  
Nam mô Nhật Chuyển Quang Minh Vương Phật.  
Nam mô Hương Tích Phật.  
Nam mô Sư Tử Ức Tượng Phật.  
Nam mô Sư Tử Du Hý Phật.  
Nam mô Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật.  
Nam mô Thiên Trụ Công Đức Bảo Vương Phật.  
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Vương Phật.  
Nam mô Nan Thắng Phật.  
Nam mô Tu Di Tướng Phật.  
Nam mô Tu Di Đăng Vương Phật.  
Nam mô Bảo Đức Phật.  
Nam mô Bảo Nguyệt Phật.  
Nam mô Bảo Viêm Phật.  
Nam mô Bảo Nghiêm Phật.  
Nam mô Nan Thắng Sư Tử Vương Phật.  
Nam mô Đại Quang Vương Phật.  
Nam mô Bất Động Phật.  
Nam mô Dược Vương Phật.  
Nam mô Trang Nghiêm Phật.  
Nam mô Lâu Chí Phật.  
Nam mô Nguyệt Cái Phật.  
Nam mô Phổ Quang Phật.  
Nam mô Bảo Vương Phật.  
Nam mô Duy Vệ Phật.  
Nam mô Thức Vương Phật.  
Nam mô Tùy Diếp Phật.  
Nam mô Câu Lâu Tần Phật.  
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật.  
Nam mô Ca Diếp Phật.  
Nam mô Lôi Âm Vương Phật.  
Nam mô Ký Pháp Tạng Phật.  
Nam mô Chiên Đàn Hoa Phật.  
Nam mô Chiên Đàn Diếp Phật.  
Nam mô Diệu Ý Phật.  
Nam mô Vô Thượng Thắng Phật.  
Nam mô Cam Lộ Cổ Phật.  
Nam mô Tỳ Bà Thi Phật.  
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh Phật.  
Nam mô Vô Thắng Phật.  
Nam mô Cụ Túc Trang Nghiêm Vương Phật.  
Nam mô Quang Minh Biến Chiếu Công Đức Vương Phật.  
Nam mô Phá Hoại Tứ Ma Sư Tử Hống Vương Phật.  
Nam mô Kim Cương Bất Hoại Phật.  
Nam mô Lưu Ly Quang Phật.  
Nam mô Tu Di Sơn Vương Phật.  
Nam mô Tịnh Quang Minh Vương Phật.  
Nam mô Thiện Đức Phật.  
Nam mô Vô Lượng Quang Minh Phật.  
Nam mô Đà La Ni Du Hý Phật.  
Nam mô Thủ Lăng Nghiêm Định Tam Muội Lực Vương Phật.  
Nam mô Thiện Kiến Định Tự Tại Vương Phật.  
Nam mô Vô Thượng Công Đức Phật.  
Nam mô Thần Thông Tự Tại Phật.  
Nam mô Vô Sắc Tướng Phật.  
Nam mô Vô Thanh Tướng Phật.  
Nam mô Vô Hương Tướng Phật.  
Nam mô Vô Vị Tướng Phật.  
Nam mô Vô Súc Tướng Phật.  
Nam mô Tam Muội Định Tự Tại Phật.  
Nam mô Tuệ Định Tự Tại Phật.  
Nam mô Tướng Giác Tự Tại Phật.  
Nam mô Phổ Nhiếp Phật.  
Nam mô Báo Đức Phổ Quang Phật.  
Nam mô Thi Khí Phật.  
Nam mô Tỳ Xá Phù Phật.  
Nam mô Ca La Cưu Tôn Đại Phật.  
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật.  
Nam mô Ca Diếp Phật.  
Nam mô Ý Lạc Mỹ Âm Phật.  
Nam mô Hoan Hỷ Phật.  
Nam mô A Súc Phật.  
Nam mô Tu Di Tướng Phật.  
Nam mô Tu Di Đỉnh Phật.  
Nam mô Sư Tử Âm Phật.  
Nam mô Sư Tử Tướng Phật.  
Nam mô Hư Không Trụ Phật.  
Nam mô Vân Lôi Tự Tại Phật.  
Nam mô Thường Diệt Phật.  
Nam mô Đế Tướng Phật.  
Nam mô Bất Phạm Tướng Phật.  
Nam mô A Di Đà Phật.  
Nam mô Phạm Tướng Phật.  
Nam mô Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não Phật.  
Nam mô Đa La Ma Bạt Chiên Đàn Hương Phật.  
Nam mô Tu Di Tướng Phật.  
Nam mô Vân Tự Tại Vương Phật.  
Nam mô Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy Phật,  
Nam mô bách ức ngã Thích Ca Mâu Ni Phật.  
Nam mô hiện tại nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp tới nay.  
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, na do tha hằng hà sa đẳng vô lượng a tăng kỳ Phật.

Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu Phật đời hiện tại, người ấy sáu mươi vạn kiếp chẳng phải đọa vào địa ngục khổ, vì thế nay kính lễ.

Có người vì lễ bái  
Chư Phật đời hiện tại  
Độ thoát các ác nghiệp  
Diệt trừ năm nghịch tội  
Thường ở đất thanh tịnh  
An trú pháp Thích Ca  
Mãi rời tam ác đạo  
Được thấy Phật Di Lặc  
Và cả nghìn vị Phật  
Vì thế nay kính lễ  
Lại thấy Phật mười phương  
Thường sinh cõi thanh tịnh  
Được nghe đệ nhất nghĩa  
Biết rõ Như Lai thường.

Khi Phật nói danh hiệu chư Phật đời hiện tại, hai hằng hà sa số Bồ Tát được nhập môn đà-la-ni. Bốn mươi hai ức chư Thiên và người đều phát tâm bồ đề vô thượng.

Nam mô vị lai hiền kiếp vô lượng chư Phật.  
Nam mô Di lặc Phật.  
Nam mô Tịnh Thân Phật.  
Nam mô Hoa Quang Phật.  
Nam mô Quang Minh Phật.  
Nam mô Hoa Túc Phật.  
Nam mô Danh Tướng Phật.  
Nam mô Diêm Phù Na Đề Kim Quang Phật.  
Nam mô Pháp Minh Phật.  
Nam mô Bảo Minh Phật.  
Nam mô Phổ Minh Phật.  
Nam mô Phổ Tướng Phật.  
Nam mô Phổ Quang Phật.  
Nam mô Sơn Hải Huệ Phật.  
Nam mô Mục Tại Thông Vương Phật.  
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Phật.  
Nam mô Phất Sa Phật.  
Nam mô bách ức Tự Tại Đăng Vương Phật.  
Nam mô Bảo Tướng Phật.  
Nam mô Hỷ Kiến Phật.  
Nam mô nhị vạn quang tướng trang nghiêm Phật.  
Nam mô tam vạn đồng hiệu Phổ Đức Phật.  
Nam mô Vân Lôi Âm Vương Phật.  
Nam mô tứ vạn bát thiên Định Quang Phật.  
Nam mô Bảo Nguyệt Vương Phật.  
Nam mô Ly Cấu Quang Phật.  
Nam mô Diệu Sắc Phật.  
Nam mô Diệu Sắc Quang Minh Phật.  
Nam mô Phá Nhất Thiết Chúng Nan Phật.  
Nam mô chúng Hương Phật.  
Nam mô chúng Thanh Phật.  
Nam mô thập thiên quang minh trang nghiêm Phật.  
Nam mô bát thiên ức trang nghiêm quang minh Phật.  
Nam mô Bảo Hoa Trang Nghiêm Phật.  
Nam mô Thượng Thủ Đức Vương Phật.  
Nam mô Tử Kim Quang Minh Phật.  
Nam mô Ngũ Bách Thụ Ký Hoa Quang Phật.  
Nam mô Na La Duyên Bất Hoại Phật.  
Nam mô Hảo Hoa Trang Nghiêm Phật,  
Nam mô Kim Cương Định Tự Tại Phật.  
Nam mô vị lai nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp tới nay.  
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức na do tha hằng hà sa vô lượng a tăng kỳ Phật.

Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu Phật đời vị lai, người ấy sáu mươi vạn kiếp chẳng phải đọa vào địa ngục khổ, vì thế nay kính lễ.

Có người vì lễ bái  
Chư Phật đời vị lai  
Ba chướng và năm nghịch  
Trừ hạng Nhất-xiển-đề  
Đều sẽ được trừ diệt  
An trú trong pháp Phật  
Được thấy vô lượng  
Thường được nghe chính pháp  
Vì thế nay kính lễ.

Có người vì lễ bái  
Tam thế thập phương Phật  
Diệt trừ tội quá khứ  
Vị lai và hiện tại  
Mười nghiệp ác đã tạo  
Giờ đây được trừ diệt  
Tương lai thấy Phật tính  
Vì thế nên tin tưởng  
Viết chép đọc tụng kinh  
Đời đời chốn sinh ra  
Không sinh ác tà kiến  
Thường chính đắc giải thoát  
Không sinh nơi biên địa  
Không sinh vào ác quốc  
Không gặp ác quốc vương  
Trong bốn ức vạn kiếp  
Không đọa địa ngục khổ  
Vì thế nay kính lễ.  
Diệt trừ mười ác nghiệp  
Đắc đại đà-la-ni.

Khi Phật nói danh hiệu chư Phật đời vị lai, năm vạn Bồ Tát trụ bất thối địa. Bảy trăm tì kheo ni đắc đạo A La Hán. Sáu mươi hai ức chư Thiên và người dân đắc pháp nhãn tịnh.

Nam mô tổng trì đại đà-la-ni. Thập nhị bộ kinh: tu đa la, kỳ dạ, thọ ký, già đà na, ưu đà na, ni đà na, a ba đà na, y đế viết đa già, sà đà già, tỳ phật lược, a phù đà đạt ma, ưu ba đề xá. Tất cả đại tạng. Các ba la mật. Có người nghe được. Mười hai bộ kinh. Các Ba la mật. Đọc tụng lễ bái. Tin vui thọ trì. Thế thì người đó. Hai mươi vạn kiếp. Không đọa địa ngục khổ. Đắc túc mạng trí. Vì thế nay kính lễ.

Khi Phật nói tên mười hai bộ kinh, tám vạn năm nghìn Bồ Tát đắc kim cương tam muội. Mười ức Thanh Văn phát tâm Đại thừa. Mười nghìn tì kheo, tì kheo ni đắc đạo A La Hán, vô lượng trời người đắc pháp nhãn tịnh.

Nam mô thập phương vô lượng chư đại Bồ Tát.  
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.  
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.  
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.  
Nam mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát.  
Nam mô Bất Hưu Tức Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Chưởng Bồ Tát.  
Nam mô Dược Vương Bồ Tát.  
Nam mô Dược Thượng Bồ Tát.  
Nam mô Dũng Thí Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Nguyệt Bồ Tát.  
Nam mô Nguyệt Quang Bồ Tát.  
Nam mô Mãn Nguyệt Bồ Tát.  
Nam mô Đại Lực Bồ Tát.  
Nam mô Vô Lượng Lực Bồ Tát.  
Nam mô Việt Tam Giới Bồ Tát.  
Nam mô Bạt Đà Bà La Bồ Tát.  
Nam mô Di Lặc Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Tích Bồ Tát.  
Nam mô Đạo Sư Bồ Tát.  
Nam mô Đức Tạng Bồ Tát.  
Nam mô Lạc Thuyết Bồ Tát.  
Nam mô Long Thụ Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Đàn Hoa Bồ Tát.  
Nam mô Thượng Hạnh Bồ Tát.  
Nam mô Vô Biên Hạnh Bồ Tát.  
Nam mô An Lập Hạnh Bồ Tát.  
Nam mô Tịnh Hạnh Bồ Tát.  
Nam mô Đà La Ni Bồ Tát.  
Nam mô Kim Cương Na La Diên Bồ Tát.  
Nam mô Thường Bất Khinh Bồ Tát.  
Nam mô Túc Vương Hoa Bồ Tát.  
Nam mô Hỷ Kiến Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Âm Bồ Tát.  
Nam mô Đức Cần Tinh Tấn Lực Bồ Tát.  
Nam mô Vô Tận Ý Bồ Tát.  
Nam mô Tịnh Tạng Bồ Tát.  
Nam mô Tịnh Nhãn Bồ Tát.  
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Đức Bồ Tát.  
Nam mô Từ Thị Bồ Tát.  
Nam mô Thiện Tư Nghị Bồ Tát.  
Nam mô Không Vô Bồ Tát.  
Nam mô Thần Thông Hoa Bồ Tát.  
Nam mô Quang Anh Bồ Tát.  
Nam mô Quang Minh Bồ Tát.  
Nam mô Huệ Thượng Bồ Tát.  
Nam mô Huệ Quang Minh Bồ Tát.  
Nam mô Trí Tràng Bồ Tát.  
Nam mô Tịch Căn Bồ Tát.  
Nam mô Nguyện Huệ Bồ Tát.  
Nam mô Hương Tượng Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Anh Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Minh Bồ Tát.  
Nam mô Trung Trụ Bồ Tát.  
Nam mô Chế Hạnh Bồ Tát.  
Nam mô Giải Thoát Bồ Tát.  
Nam mô Pháp Tạng Bồ Tát.  
Nam mô Đẳng Quán Bồ Tát.  
Nam mô Bất Đẳng Quán Bồ Tát.  
Nam mô Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ Tát.  
Nam mô Định Tự Tại Vương Bồ Tát.  
Nam mô Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát.  
Nam mô Pháp Tướng Bồ Tát.  
Nam mô Quang Tướng Bồ Tát.  
Nam mô Quang Nghiêm Bồ Tát.  
Nam mô Đại Nghiêm Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Tích Bồ Tát.  
Nam mô Biện Tích Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Chưởng Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Ấn Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Thường Cử Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Thường Hạ Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Thường Thảm Bồ Tát.  
Nam mô Hỷ Căn Bồ Tát.  
Nam mô Hỷ Vương Bồ Tát.  
Nam mô Biện Âm Bồ Tát.  
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát.  
Nam mô Nhiếp Bảo Cự Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Dũng Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Kiến Bồ Tát.  
Nam mô Đế Võng Bồ Tát.  
Nam mô Minh Võng Bồ Tát.  
Nam mô Vô Duyên Quán Bồ Tát.  
Nam mô Huệ Tích Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Thắng Bồ Tát.  
Nam mô Thiên Vương Bồ Tát.  
Nam mô Hoại Ma Bồ Tát.  
Nam mô Điện Đức Bồ Tát.  
Nam mô Tự Tại Vương Bồ Tát.  
Nam mô Công Đức Tướng Nghiêm Bồ Tát.  
Nam mô Sư Tử Hống Bồ Tát.  
Nam mô Lôi Âm Bồ Tát.  
Nam mô Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát.  
Nam mô Hương Tượng Bồ Tát.  
Nam mô Bạch Hương Tượng Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Sinh Bồ Tát.  
Nam mô Hoa Nghiêm Bồ Tát.  
Nam mô Phạm Võng Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Trượng Bồ Tát.  
Nam mô Vô Thắng Bồ Tát.  
Nam mô Nghiêm Thổ Bồ Tát.  
Nam mô Kim Kế Bồ Tát.  
Nam mô Châu Kế Bồ Tát.  
Nam mô Quang Nghiêm Đồng Tử Bồ Tát.  
Nam mô Trì Thế Bồ Tát.  
Nam mô Thiện Đức Bồ Tát.  
Nam mô Nan Thắng Bồ Tát.  
Nam mô Chiếu Minh Bồ Tát.  
Nam mô Hoa Quang Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Đàn Hoa Bồ Tát.  
Nam mô Tát Đà Ba Luân Bồ Tát.  
Nam mô Đàm Vô Kiệt Bồ Tát.  
Nam mô Pháp Tự Tại Bồ Tát.  
Nam mô Đức Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Bất Thuấn Bồ Tát.  
Nam mô Đức Đính Bồ Tát.  
Nam mô Thiện Tú Bồ Tát.  
Nam mô Thiện Nhãn Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Tý Bồ Tát.  
Nam mô Phất Sa Bồ Tát.  
Nam mô Sư Tử Bồ Tát.  
Nam mô Sư Tử Ý Bồ Tát.  
Nam mô Phù Giải Bồ Tát.  
Nam mô Na La Diên Bồ Tát.  
Nam mô Thiện Ý Bồ Tát.  
Nam mô Hiện Kiến Bồ Tát.  
Nam mô Phổ Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Điện Quang Bồ Tát.  
Nam mô Hỷ Kiến Bồ Tát.  
Nam mô Minh Tướng Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Ý Bồ Tát.  
Nam mô Vô Tận Ý Bồ Tát.  
Nam mô Thâm Huệ Bồ Tát.  
Nam mô Tịnh Căn Bồ Tát.  
Nam mô Vô Ngại Bồ Tát.  
Nam mô Thượng Thiện Bồ Tát.  
Nam mô Phúc Điền Bồ Tát.  
Nam mô Hoa Nghiêm Bồ Tát.  
Nam mô Đức Tạng Bồ Tát.  
Nam mô Nguyệt Thượng Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Ấn Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Châu Đính Vương Bồ Tát.  
Nam mô Lạc Thực Bồ Tát.  
Nam mô Lạc Đế Bồ Tát.  
Nam mô Huệ Kiến Bồ Tát.  
Nam mô Đăng Vương Bồ Tát.  
Nam mô Thâm Vương Bồ Tát.  
Nam mô Hoa Vương Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Sắc Bồ Tát.  
Nam mô Thiện Vấn Bồ Tát.  
Nam mô Thiện Đáp Bồ Tát.  
Nam mô Liễu Tướng Bồ Tát.  
Nam mô Định Tướng Bồ Tát.  
Nam mô Phát Hỷ Bồ Tát.  
Nam mô An Trụ Bồ Tát.  
Nam mô Bố Ma Bồ Tát.  
Nam mô Huệ Thí Bồ Tát.  
Nam mô Cứu Thoát Bồ Tát.  
Nam mô Huệ Đăng Bồ Tát.  
Nam mô Dũng Thí Bồ Tát.  
Nam mô Trí Đạo Bồ Tát.  
Nam mô Nguyện Huệ Bồ Tát.  
Nam mô Tứ Nhiếp Bồ Tát.  
Nam mô Giáo Âm Bồ Tát.  
Nam mô Hải Diệu Bồ Tát.  
Nam mô Pháp Hỷ Bồ Tát.  
Nam mô Đạo Phẩm Bồ Tát.  
Nam mô Tổng Trì Bồ Tát.  
Nam mô Từ Vương Bồ Tát.  
Nam mô Đại Tự Tại Bồ Tát.  
Nam mô Phạm Âm Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Sắc Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Đàn Lâm Bồ Tát.  
Nam mô Sư Tử Âm Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Thanh Bồ Tát.  
Nam mô Diệu Sắc Hình Bồ Tát.  
Nam mô Chủng Chủng Trang Nghiêm Bồ Tát.  
Nam mô Thích Tràng Bồ Tát.  
Nam mô Đính Sinh Bồ Tát.  
Nam mô Minh Vương Bồ Tát.  
Nam mô Đại Quang Bồ Tát.  
Nam mô Xa Đề Bồ Tát.  
Nam mô Vô Úy Bồ Tát.  
Nam mô Mật Tích Bồ Tát.  
Nam mô Hoa Thiểm Bồ Tát.  
Nam mô Thượng Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Bồ Tát.  
Nam mô Thần Thông Bồ Tát.  
Nam mô Hải Đức Bồ Tát.  
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.  
Nam mô Y Vương Tự Tại Bồ Tát.  
Nam mô Ca Diếp Bồ Tát.  
Nam mô Vô Cấu Tạng Vương Bồ Tát.  
Nam mô Trì Nhất Thiết Bồ Tát.  
Nam mô Cao Quý Đức Vương Bồ Tát.  
Nam mô Lưu Ly Quang Bồ Tát.  
Nam mô Vô Úy Bồ Tát.  
Nam mô Hải Vương Bồ Tát.  
Nam mô Sư Tử Hống Bồ Tát.  
Nam mô Đà La Ni Bồ Tát.  
Nam mô Na La Diên Bồ Tát.  
Nam mô Tín Tướng Bồ Tát.  
Nam mô Trì Địa Bồ Tát.  
Nam mô Quang Nghiêm Bồ Tát.  
Nam mô Quang Minh Bồ Tát.  
Nam mô Đại Biện Bồ Tát.  
Nam mô Từ Lực Bồ Tát.  
Nam mô Đại Bi Bồ Tát.  
Nam mô Y Vương Bồ Tát.  
Nam mô Y Lực Bồ Tát.  
Nam mô Y Đức Bồ Tát.  
Nam mô Phổ Tế Bồ Tát.  
Nam mô Phổ Nhiếp Bồ Tát.  
Nam mô Định Quang Bồ Tát.  
Nam mô Phổ Quang Bồ Tát.  
Nam mô Chân Quang Bồ Tát.  
Nam mô Câu Lâu Bồ Tát.  
Nam mô Thiên Quang Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Vương Bồ Tát.  
Nam mô Di Quang Bồ Tát.  
Nam mô Giáo Đạo Bồ Tát.  
Nam mô Đạo Sư Bồ Tát.  
Nam mô Đại Nhẫn Bồ Tát.  
Nam mô Hoa Vương Bồ Tát.  
Nam mô Hoa Tích Bồ Tát.  
Nam mô Tuệ Quang Bồ Tát.  
Nam mô Hải Tuệ Bồ Tát.  
Nam mô Kiên Ý Bồ Tát.  
Nam mô Thích Ma Nam Bồ Tát.  
Nam mô Kim Quang Minh Bồ Tát.  
Nam mô Kim Tạng Bồ Tát.  
Nam mô Thường Bi Bồ Tát.  
Nam mô Pháp Thượng Bồ Tát.  
Nam mô Tài Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Sơn Quang Bồ Tát.  
Nam mô Sơn Huệ Bồ Tát.  
Nam mô Đại Minh Bồ Tát.  
Nam mô Tổng Trì Bồ Tát.  
Nam mô Sơn Vương Bồ Tát.  
Nam mô Đăng Vương Bồ Tát.  
Nam mô Sơn Đính Bồ Tát.  
Nam mô Sơn Tràng Bồ Tát.  
Nam mô Sơn Vương Bồ Tát.  
Nam mô Phục Ma Bồ Tát.  
Nam mô Lôi Âm Bồ Tát.  
Nam mô Vũ Vương Bồ Tát.  
Nam mô Lôi Vương Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Luân Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Anh Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Thủ Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Tạng Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Minh Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Định Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Ấn Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Tràng Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Nghiêm Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Thủy Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Quang Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Đăng Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Hiện Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Tạo Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Tác Bồ Tát.  
Nam mô Lạc Pháp Bồ Tát.  
Nam mô Tịnh Vương Bồ Tát.  
Nam mô Đính Tướng Bồ Tát.  
Nam mô Kim Quang Bồ Tát.  
Nam mô Bảo Kế Bồ Tát.  
Nam mô Thiên Quang Bồ Tát.  
Nam mô Nguyên Hiểm Bồ Tát,  
Nam mô Thanh Tịnh Bồ Tát.  
Nam mô Chiếu Vị Bồ Tát.  
Nam mô Trí Năng Bồ Tát.  
Nam mô Nguyệt Biện Bồ Tát.  
Nam mô Nguyệt Quang Bồ Tát.  
Nam mô Pháp Luân Bồ Tát.  
Nam mô Quang Tịnh Bồ Tát.  
Nam mô Thường Thí Bồ Tát.  
Nam mô Phổ Đức Bồ Tát.  
Nam mô Phổ Minh Bồ Tát.  
Nam mô Thắng Tràng Bồ Tát.  
Nam mô Nhu Âm Bồ Tát.  
Nam mô Đức Viêm Bồ Tát.  
Nam mô Tướng Quang Bồ Tát.  
Nam mô Hải Nguyệt Bồ Tát.  
Nam mô Hải Tạng Bồ Tát.  
Nam mô Thắng Nguyệt Bồ Tát.  
Nam mô Tịnh Huệ Bồ Tát.  
Nam mô Siêu Quang Bồ Tát.  
Nam mô Nguyệt Đức Bồ Tát.  
Nam mô Nhật Quang Bồ Tát.  
Nam mô Kim Cương Bồ Tát.  
Nam mô Viêm Tràng Bồ Tát.  
Nam mô Tôn Đức Bồ Tát.  
Nam mô Hải Minh Bồ Tát.  
Nam mô Hải Quảng Bồ Tát.  
Nam mô Chiếu Cảnh Bồ Tát.  
Nam mô Huệ Minh Bồ Tát.  
Nam mô Công Đức Bồ Tát.  
Nam mô Minh Đạt Bồ Tát.  
Nam mô Mật Giáo Bồ Tát.  
Nam mô Tu Na Bồ Tát.  
Nam mô Bố Thí Bồ Tát.  
Nam mô Sắc Lực Bồ Tát.  
Nam mô Điều Phục Bồ Tát.  
Nam mô Ẩn Thân Bồ Tát.  
Nam mô nhất Bồ Tát. Nam mô thập Bồ Tát. Nam mô bách Bồ Tát. Nam mô thiên Bồ Tát. Nam mô vạn Bồ Tát. Nam mô nhất bách vạn Bồ Tát. Nhị bách vạn, tam bách vạn, tứ bách vạn, ngũ bách vạn, lục bách vạn, thất bách vạn, bát bách vạn, cửu bách vạn, thiên thiên vạn chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.  
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức. Nam mô vạn vạn ức chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.  
Nam mô nhất na do tha, thập na do tha, bách na do tha, thiên na do tha, vạn na do tha. Nam mô vạn vạn na do tha chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.

Nam mô nhất hằng hà sa. Nam mô nhị hằng hà sa. Nam mô tam hằng hà sa. Nam mô tứ hằng hà sa. Nam mô ngũ hằng hà sa. Nam mô lục hằng hà sa. Nam mô thất hằng hà sa. Nam mô bát hằng hà sa. Nam mô cửu hằng hà sa. Nam mô thập hằng hà sa. Nam mô bách hằng hà sa. Nam mô bách ức vô lượng hằng hà sa chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Có thể trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay.

Nếu người nào được nghe tên Đại Sĩ, các vị đại Bồ Tát Ma Ha Tát, thì người đó trong bốn mươi nghìn kiếp không đọa địa ngục khổ. Không thuộc ngục tam giới. Thường thuộc giải thoát vương.

Không sinh biên địa  
Không sinh ác quốc  
Không chịu ác thân  
Không sinh tà kiến  
Không sinh hạ tính  
Không sinh ngoại đạo  
Thân căn đầy đủ  
Thường nghe chính pháp  
Không chịu cấm giới  
Thường được đầy đủ  
Đại thừa oai nghi  
Thường thấy Phật tính  
Cho nên nay kính lễ  
An trú trong Phật pháp  
Đời sau thành Phật đạo.

Khi nói xong tên các đại Bồ Tát, có tám mươi tám ức tín nam nữ thanh tịnh ngộ quả A Na Hàm. Chín mươi tư ức chư Thiên đắc quả Tư Đà Hàm. Bảy nghìn tám ức tì kheo đánh mất tâm lại có được bản tâm, và ngộ quả A La Hán. Mười ức Bồ Tát đắc đại đà-la-ni. Đời vị lai thành Phật đạo.

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

**Quyển Thượng hết.**

### Quyển Trung

Khi ấy, Phật bảo Tín Tướng Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Thiện nam tử. Như ngươi tự nói. Quá khứ có Phật. Tên là Bảo Thắng. Chúng sinh khổ não. Nghe được tên Phật. Chết sinh về trời. Nay lại thỉnh ta. Nói tên chư Phật. Để các chúng sinh. Lìa khổ xuất thế. Nay ta vì người. Và cả đại chúng. Nói đủ tam bảo. Lý là một bảo. Tùy thuận nói ba. Nếu người nào nghe. Chí tâm nhớ nghĩ. Vào lúc lâm chung. Được thiện tri thức. Dạy cho xưng tên. Tam Bảo ba lần. Nói như thế này.  
Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng. Xướng lên như thế. Người ấy mệnh chung. Không đến tam đồ. Tùy ý mà vui. Mười phương thế giới. Đều được vãng sinh. Nên phụng chư Phật. Thấy chư Bồ Tát. Văn Thù Phổ Hiền. Tuyên thuyết Đại thừa Đại Thông Phương Quảng. Khi nghe pháp xong. Lập tức đạt được. Vô sinh pháp nhẫn. Thiện nam tử. Nếu có người trong muôn kiếp. Rộng rãi tu các hành. Trồng xuống thiện căn. Nay được nghe thấy. Tên của Tam Bảo.

Khi ấy. Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Vì sao gọi là Tam Bảo? Một tướng ư. Hai tướng ư. Ba tướng ư. Nếu là một tướng. Tức là một quy. Nếu là ba tướng. Tức là ba quy. Nếu là ba quy. Phật pháp khác biệt. Tăng cũng như thế. Nếu là ba quy. Chúng sinh thấy ba ức kiếp hành đạo. Không thể một thừa. Chỉ mong Thế Tôn. Lợi ích chúng sinh. Vì con mà nói. Con nghe xong rồi. Cũng vì chúng sinh. Mà giải thích rõ. Sau khi Phật diệt. Nếu có người nghe. Cũng được an trú. Ba bồ đề đạo.

Khi ấy. Phật ca ngợi Tín Tướng Bồ Tát. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Tất cả chúng sinh. Muôn kiếp đến nay. Vô minh che mờ. Lao tù tam giới. Lưu chuyển sinh tử. Cùng bao sợ hãi. Lục đạo vãng lai. Không nơi nương dựa. Bởi vậy quy mệnh thiên thần. Dấn thân ngoại đạo. Tự trói chân tay. Hại sinh cầu mệnh. Tránh sao khỏi hoạn. Tránh lửa gặp vực. Hoạn không thể né. Vì thế Đại Thánh Như Lai. Xót thương chúng mê. Mà rời khỏi định. Khai diễn Tam Bảo. Làm nơi nương dựa. Ban đầu vì người mới học mà nói hai thừa. Nói Tam Bảo ba thể phân biệt theo cấp. Sau vì Đại Sĩ phạm hạnh tu hành lâu ngày. Nói Tam Bảo một thể rốt ráo. Trong một Phật bảo. Đã có pháp tăng. Thiện nam tử. Vì sao gọi là bảo? Giống như thất bảo của thế gian. Có thể cứu mạng. Cho nên Tam Bảo tại thế. Đạo dưỡng pháp thân. Hành giả có thể kế thừa. Có đủ trí năng thân mệnh. Cũng gọi là bảo. Tam Bảo ba tướng khác biệt. Phật hiện vương cung. Hai thân ứng-pháp. Gọi là Bồ Tát. Vì độ chúng sinh. Tu hành khổ hạnh. Đạo tràng dưới cây. Hiện thành chính giác. Tự giác giác tha. Nên gọi là Phật. Phật là Giác Giả. Tăng là thụ hóa. Đệ tử nhờ được dạy mà đắc được lý. Vì thế gọi là tăng.  Tăng có hai loại. Một là hòa hợp. Được gọi là tăng. Hai là vô vi. Cũng gọi là tăng. Người đắc vô vi. Nhờ chân không giải huệ. Tính Không vô vi. Mê hoặc tương tục. Chứng kết vô tận. Vì đã diệt mọi kết. Thánh chúng cùng trụ. Hòa hợp không tranh. Vì hai nghĩa này. Mà gọi là tăng. Thiện nam tử. Pháp là tất cả pháp thiện ác. Hữu vi vô vi. Đạo lý chư Phật. Ác pháp thì lìa. Thiện pháp thì kính. Vì tâm mẫu mực. Đều là pháp bảo. Vì thế có Nhị Bảo Phật - tăng. Con người dị thể. Pháp và tăng Phật. Đồng thể khó tách. Vì sao khó tách? Nếu có người nói. Phật - tăng Nhị Bảo. Nhưng chỉ là người tu hành lấy tên giả. Năm phần pháp thân mà người tu hành có được. Các thiện công đức. Chia thành pháp bảo. Không phải nghĩa này. Là cớ vì sao. Nay vì lấy những thiện công đức này. Được làm con người. Không ai lìa pháp. Mà thành người khác. Nên là Nhị Bảo. Nay giải thích người và pháp. Có giống có khác. Nhờ pháp thành người. Pháp thuộc về người. Nên nói như thế. Năm phần pháp thân. Mười lực vô úy. Ba mươi hai tướng. Tám mươi vẻ đẹp. Các ba la mật. Vô lượng tam muội. Lấy làm Phật bảo. Tiểu thừa năm phần. Nói là tăng bảo. Các công đức này. Hữu vi vô vi. Pháp tướng đạo lý. Làm thành quy củ. Gọi là pháp dụng. Điều này đồng thể. Tuy nói hai nghĩa. Cũng có pháp thể. Khác Phật pháp tăng. Vì thế pháp bảo. Đã nói ba điều. Chúng sinh quy y. Tránh khỏi tam giới. Sợ hãi sinh tử. Tất cả hành nhân. Tuy tránh phần thô. Nhưng khổ vi tế. Vẫn chưa diệt hết. Vì thế nói rằng. Tột cùng Tam Bảo. Cần hiểu rõ rằng. Ngày xưa Tam Bảo. Nói Phật có khổ. Pháp là vô thường. Tăng cũng vô thường. Khổ này. Không phải nơi nương dựa chân thực. Nay nói hành giả thường trụ. Nhận ra pháp tính lý không. Vĩnh viễn rời bỏ tám điên đảo. Không có sinh diệt. Không khổ mong cầu. Làm nơi nương dựa chân thực. Gọi là Phật bảo. Pháp thường có được. Quy củ tột cùng. Gọi là pháp bảo chân thực. Hành giả thường trụ. Biết pháp tính chân thực. Chứng thường trụ vô vi. Vì thế gọi là tăng. Cũng nhờ vĩnh viễn diệt tận tám điên đảo. Cùng với chín Thánh chúng. Tất cả hòa hợp. Mãi không tranh tụng. Vì thế gọi là tăng bảo. Ngày xưa Tam Bảo. Người khác pháp khác. Tam Bảo giờ đây. Tại một Phật một thể. Phân làm pháp tăng. Chính vì nghĩa này. Ta vì pháp nói. Một tướng Tam Bảo. Nay các chúng sinh. Hướng về một thừa. 

Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Nên quán việc gì. Để cầu Đại thừa. Phật nói. Thiện nam tử. Nên quán tam giới vô thường. Để cầu Đại thừa. 

Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng. Vì sao gọi là. Quán tại vô thường. Phật nói. Muốn quán vô thường. Loại trừ phiền não. Nên hành chính niệm. Từ bi đứng đầu. Thuyết pháp độ người. Mà không cần chứng. Gọi là Bồ Tát. Không bỏ chúng sinh. Vì cầu Đại thừa. Thiện nam tử. Ví như một thành. Rộng một do tuần. Có rất nhiều cửa. Đường hiểm hắc ám. Cực kì đáng sợ. Vào được thành này. Nhận được sướng vui. Lại có một người. Chỉ có một con. Yêu thương hết mực. Nghe tiếng thành này. Được sướng vô cùng. Lập tức bỏ con. Muốn vào thành ấy. Người này khéo léo. Qua được đường hiểm. Đến cửa thành kia. Một chân đã vào. Chưa nhấc chân kia. Liền nhớ đến con. Thế là nghĩ đến. Đứa con duy nhất. Sau này ra sao. Nếu ta không đến. Ai sẽ chăm nom. Để lìa mọi khổ. Bỏ ngay lạc thành. Trở về chỗ con. Thiện nam tử. Bồ Tát từ bi. Cũng làm như thế. Vì nỗi thương xót. Tu tập ngũ thông. Đã tu tập xong. Rủ lòng ban hết. Mà không cần chứng. Là cớ vì sao. Vì xót chúng sinh. Xả hết ngũ thông. Thậm chí sống ở. Trong đất phàm phu. Thiện nam tử. Thành kia. Được ví như niềm vui đại giải thoát. Nhiều cửa đi vào. Được ví như tám vạn bốn nghìn tam muội. Đường hiểm gian nan. Ví như ma đạo. Đến được cửa thành. Ví như ngũ thông. Một chân bước vào. Ví như trí năng. Một chân chưa vào. Ví như đại Bồ Tát chưa chứng giải thoát. Nói một đứa con. Ví như tất cả chúng sinh năm đạo. Thương nhớ đứa con. Ví như tâm đại từ. Trở về chỗ con. Ví như điều chuyển chúng sinh. Thật đắc giải thoát. Không giành chứng đắc. Tức là phương tiện. Thiện nam tử. Vì thế Bồ Tát Ma Ha Tát. Đại từ đại bi. Cứu hộ không bỏ. Không thể nghĩ bàn. Một lần nữa. Thiện nam tử. Bồ Tát Đại Sĩ. Từ mới phát tâm. Tất đến bồ đề. Thường vì chúng sinh. Dạy mười pháp thiện. Thế nào là mười. Một không sát sinh. Hai không trộm cắp. Ba không tà dâm. Bốn không vọng ngữ. Năm không hai lưỡi. Sáu không ác khẩu. Bảy không nói lời vô nghĩa. Tám không tham lam đố kỵ. Chín không sân hận buồn bực. Mười không tà kiến. Bồ Tát như vậy. Có đủ từ bi. Từ năng dạy thiện. Nhìn đời mà vui. Bi năng cứu khổ. Độ thoát địa ngục. Thấy các chúng sinh. Cầu cửa niết bàn. Lại không biết chỗ. Bồ Tát cần phải. Ở nơi chúng sinh. Tu tập bi tâm. Chính vì bi tâm. Mà vì chúng sinh. Mở cửa niết bàn. Hiển thị chốn yên ổn. Cho đắc quả Đại thừa. Nên gọi là hạnh Bồ Tát Ma Ha Tát.

Tín Tướng Bồ Tát lại bạch Phật rằng. Thế Tôn. Thế nào là chính niệm. Nên làm pháp bất sinh bất diệt. Thế Tôn. Pháp nào bất sinh. Pháp nào bất diệt.

Thiện nam tử. Khiến ác pháp không sinh. Còn thiện pháp không diệt. Nếu tu hạnh này. Đi trong tam giới. Thanh tập ngũ dục. Không thể làm bẩn. Thiện nam tử. Muốn hành tam giới. Cứu độ chúng sinh. Nên dùng mười pháp. Đi trong tam giới. Theo văn tự thế tục. Nói là có ba đời. Vô thượng bồ đề. Không ở ba đời. Cứu cánh bồ đề. Không đọa số đông. Huống hồ trong chúng sinh ba cõi ba đời. Cái gì là mười. Một là dù được khen ngợi hay phỉ báng, tâm không tăng giảm. Hai là nếu nghe thấy thiện ác, tâm không phân biệt. Ba là ở trong ngu dốt hay trí huệ, tâm từ bi bình đẳng. Bốn là nhìn chúng sinh cao thấp, ý luôn bình đẳng. Năm là với sự khinh thường hay cúng dường, tâm cũng không đổi. Sáu là trước khiếm khuyết của người khác, đừng thấy cái lỗi của họ. Bảy là thấy mọi thừa là một thừa. Tám là nếu nghe ba điều ác, cũng đừng kinh sợ. Chín là ở trước các Bồ Tát, hãy nghĩ đến Như Lai. Mười là Phật thoát khỏi ngũ trọc, hãy nghĩ đó là rất hiếm có. Bồ Tát như thế. Có đủ mười pháp. Đoạn trừ ngu si. Phiền não kết tập. Không gì cản trở. Bồ Tát Đại Sĩ. Đi trong tam giới. Lấy đại bi làm gốc. Sống ở nơi phàm tục. Như ánh sáng không bụi. Gọi là khó nghĩ bàn. Nếu người ở tịnh quốc. Trì giới đủ một kiếp. Hễ gặp lúc nhàn rỗi. Hành từ và đại bi. Thân ngữ và ý nghiệp. Đều đạt được thanh tịnh. Đời này đã loại trừ. Nghiệp đọa tam ác đạo. Bồ Tát sinh cõi ấy. Không nên lo sợ hoài. Có tội ở ác đạo. Đau đầu sẽ được trừ. Bởi vậy nên thế nào. Nếu muốn cắt trói buộc. Diệt trừ các phiền não. Tuy sinh vào cõi ác. Hộ pháp tăng trí năng. Ức kiếp ở tịnh thổ. Thường thọ tịnh giới hành. Không bằng sinh cõi này. Từ sớm đến hôm sau. Ta thấy cõi của A Súc Phật. Cõi Tây phương Cực Lạc. Hai cõi nước ấy rất thanh tịnh. Cũng không có khổ não. Tại đây làm công đức. Cũng không có gì lạ. Nếu người ở cõi này. Nhẫn nhịn việc không thể. Cũng dạy người khác nhẫn. Thì phúc ấy tối thắng. Vì thế các Bồ Tát. Hành động tại cõi ác. Cứu độ các chúng sinh. Đừng lo âu phiền não. Kiên cố bồ đề tâm. Ắt đắc đạo vô thượng. 

Khi ấy. Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Nay chúng con đây. Muốn hỏi nhân duyên bồ đề của Bồ Tát. Nếu Phật bằng lòng nghe. Con sẽ xin được hỏi. Phật nói. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Ngươi tại vô lượng kiếp. Có trăm nghìn Phật. Trồng mọi thiện căn. Lâu thành Bồ Tát. Phương tiện đã làm. Thành các Bồ Tát. Hỏi về đạo bồ đề kiên cố. Tùy ý mà hỏi. Ta sẽ vì ngươi. Phân biệt giải thích. 

Khi Hư Không Tạng Bồ Tát nhận được sự cho phép thì bạch Phật rằng. Thế Tôn. Sao gọi là Bồ Tát. Tâm họ kiên cố. Và không mệt mỏi. Sao gọi là Bồ Tát. Lời đã quyết định. Thì không hối hận. Sao gọi là Bồ Tát. Tăng trưởng thiện căn. Sao gọi là Bồ Tát. Không có sợ hãi. Uy nghi không chuyển. Sao gọi là Bồ Tát. Thành tựu pháp thiện. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo biết từ một địa. Cho đến địa thứ mười. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo biết mọi phương tiện. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo giáo hóa chúng sinh. Sao gọi là Bồ Tát. Đời đời không mất. Cái tâm bồ đề. Sao gọi là Bồ Tát. Có thể một lòng, không chạy lung tung. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo cầu pháp bảo. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo thoát khỏi tội phá giới phạm cấm. Sao gọi là Bồ Tát. Có thể ngăn chặn phiền não. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo có thể tùy thuận. Đi vào trong đại chúng. Sao gọi là Bồ Tát. Khéo mở ra pháp môn. Sao gọi là Bồ Tát. Có được sức mạnh nhân duyên đầu tiên, không để mất thiện căn. Sao gọi là Bồ Tát. Không do người khác dạy, mà có thể tự thực hành sáu ba la mật. Sao gọi là Bồ Tát. Có thể xả thiền định. Hiện sinh cõi Dục giới. Sao gọi là Bồ Tát. Ở trước các pháp Phật. Đắc tâm bất thối chuyển. Sao gọi là Bồ Tát. Đi trong tam giới. Giáo hóa chúng sinh. Khiến tăng thiện căn. Không đứt Phật tính.

Khi ấy Thế Tôn ca ngợi Hư Không Tạng Bồ Tát. Lành thay lành thay. Có thể hỏi Như Lai. Về việc của Bồ Tát. Nay người hãy lắng nghe. Rồi khéo mà suy nghĩ. Thưa Thế Tôn. Con nguyện lắng nghe. Xin nhận lời chỉ dạy. 

Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát. Lại có bốn pháp. Kiên cố tâm ấy. Mà không mệt mỏi. Thế nào là bốn. Một là, ở trước chúng sinh khởi tâm đại bi. Hai là tinh tấn không lơ là. Ba là sinh tử như mộng. Bốn là chính ý tư duy về trí năng của Phật. Bồ Tát có bốn pháp này. Kiên cố tâm ấy. Mà không mệt mỏi. 

Lại có bốn pháp. Lời đã quyết định. Thì không hối hận. Thế nào là bốn. Một là quyết định thuyết pháp. Hiểu rõ vô ngã. Hai là quyết định nói các nơi sinh. Không thể có tướng vui. Ba là quyết định thường ca ngợi Đại thừa. Bốn là quyết định nói nghiệp tội nghiệp phúc. Không đánh mất quả báo. Đây gọi là bốn pháp.

Lại có bốn pháp. Tăng trưởng thiện căn. Thế nào là bốn. Một là giữ giới. Hai là nghe nhiều. Ba là bố thí. Bốn là xuất gia. Thì gọi là bốn.

Bồ Tát lại có bốn pháp. Để không lo sợ. Uy nghi không chuyển. Thế nào là bốn. Một là thất bại. Hai là tiếng xấu. Ba là phỉ báng. Bốn là khổ não. Thì gọi là bốn.

Bồ Tát lại có bốn pháp. Thành tựu pháp trắng. Thế nào là bốn. Một là dạy người để họ tin vào tội phúc. Hai là bố thí không cầu quả báo. Ba là bảo hộ chính pháp. Bốn là dùng đại trí năng dạy các Bồ Tát. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo hiểu biết một địa. Cho đến cả mười địa. Một là trồng thiện căn lâu ngày. Hai là lìa bỏ các sai lầm. Ba là khéo biết phương tiện. Bốn là siêng làm tinh tấn. Hồi hướng bồ đề. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo biết phương tiện. Thế nào là bốn. Một là thuận theo ý chúng sinh. Hai là trước công đức của họ thì khởi tâm tùy hỷ. Ba là có tội thì sám hối tội. Bốn là khuyên thỉnh chư Phật chuyển đại pháp luân. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo giáo hóa chúng sinh. Thế nào là bốn. Một là thường cầu lợi làm yên chúng sinh. Hai là tự hy sinh niềm vui của mình. Ba là mềm mỏng nhẫn nhục. Bốn là có thể loại bỏ tính cao ngạo. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Có thể đời đời không mất đi tâm bồ đề. Thế nào là bốn. Một là thường nghĩ nhớ về tất cả chư Phật mười phương. Hai là những công đức làm được thì bố thí cho tất cả chúng sinh, thường làm bồ đề. Ba là gần gũi thiện tri thức. Bốn là tán dương Đại thừa. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Có thể nhất tâm. Không chạy lung tung. Thế nào là bốn. Một là lìa tâm Thanh Văn. Hai là lìa tâm Bích Chi Phật. Ba là cầu pháp không biết chán. Bốn là những pháp nghe được thì rộng rãi nói cho người khác. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo cầu pháp bảo. Thế nào là bốn. Một là ở trong đại pháp sinh bảo tưởng, vì khó có được. Hai là ở trong đại pháp, sinh cứu dược tưởng, vì trị bệnh của chúng sinh. Ba là ở trong đại pháp, sinh tài lợi tưởng, vì để không mất. Bốn là ở trong đại pháp, sinh diệt khổ tưởng, vì đến niết bàn. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo thoát khỏi tội phá giới phạm cấm. Thế nào là bốn. Một là đắc vô sinh pháp nhẫn, vì chư pháp vô lai. Hai là đắc vô diệt nhẫn, vì chư pháp vô khứ. Ba là đắc nhân duyên nhẫn, biết mọi pháp do nhân duyên sinh. Bốn là đắc trụ nhẫn, vì không có dị tâm tương tục. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo ngăn phiền não. Thế nào là bốn. Một là bốn hồi tưởng. Hai là ngăn mọi căn. Ba là nhờ khả năng đắc thiện pháp lực. Bốn là nhờ sống một mình tách biệt. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo có thể tùy thuận. Đi vào trong đại chúng. Thế nào là bốn. Một là do cầu pháp không cầu thắng. Hai là thường sinh cung kính, tâm không ngạo mạn. Ba là duy cầu pháp lợi, không tự hiển hiện. Bốn là dạy người khác về pháp thiện, không cầu danh lợi. Thì gọi là bốn. 

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Khéo mở ra pháp thí. Thế nào là bốn. Một là thủ hộ chính pháp. Hai là tự ích trí năng và cũng ích lợi cho tiền nhân. Ba là thường hành pháp thiện nhân. Bốn là không chỉ cho người ta pháp phân biệt sạch bẩn. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Có được sức mạnh nhân duyên đầu tiên, không để mất thiện căn. Thế nào là bốn. Một là thấy người ta sai thì không cho là ngu. Hai là ở trước người sân hận tức giận phải thường tu từ tâm. Ba là thường nói các pháp nhân duyên. Bốn là thường niệm vô thượng bồ đề. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Không do người khác dạy, mà có thể tự thực hành sáu ba la mật. Thế nào là bốn. Một là thường bố thí pháp, cho người ta những lời hướng dẫn. Hai là không nói tội phá giới cấm của người ta. Ba là khéo biết pháp thu nhận, giáo hóa chúng sinh. Bốn là thông đạt pháp sâu sắc. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Có thể xả thiền định. Hiện sinh cõi Dục giới. Thế nào là bốn. Một là tâm ấy mềm mại. Hai là khả năng có được sức của các căn lành. Ba là không bỏ tất cả chúng sinh. Bốn là thường có thể khéo tu sức mạnh trí năng phương tiện. Thì gọi là bốn. 

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Ở trong pháp Phật đắc tâm bất thối chuyển. Một là ở trong vô số sinh tử không sinh lòng chán ghét và rời bỏ pháp. Hai là thường siêng cúng dường vô lượng chư Phật. Ba là tu hành từ tâm vô lượng. Bốn là tín giải vô lượng Phật huệ. Thì gọi là bốn.

Thiện nam tử. Lại có bốn pháp. Không đoạn Phật tính. Thế nào là bốn. Một là vì các chúng sinh, không thối lui bản nguyện. Hai là tin tưởng thọ trì, thực hành bố thí. Ba là ham muốn tinh tấn. Bốn là thường siêng làm Phật đạo với tâm sâu sắc. Thì gọi là bốn. Bồ Tát Ma Ha Tát. Du hành tam giới. Làm đủ mọi hạnh. Lợi ích chúng sinh. Thường tu xuất thế. Không đoạn Phật tính. 

Khi Phật nói bốn pháp Đại thừa. Bốn vạn Thiên nhân đều phát ba bồ đề tâm. Hai vạn năm nghìn người đắc vô sinh pháp nhẫn. Bốn vạn tám nghìn Bồ Tát được đạt đến pháp giới nhẫn. Khéo nhập Phật huệ.

Bấy giờ Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Nay ngươi hãy nên. Thọ trì kinh này. Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn! Tên gọi là gì? Phụng trì ra sao?

Phật nói. Kinh này tên là. Đại Thông Phương Quảng. Năng phá ma cảnh. Hoại quân ngoại đạo. Tiêu trừ phiền não. Năng giải ngũ dục tà kiến trói buộc. Phá ngục ba cõi. Tháo mọi sinh tử. Hướng về niết bàn. Hạt giống chân chính. Khô héo lâu ngày. Thấm nhuần lợi ích. Mưa nhân duyên lớn. Mưa pháp lục độ. Tăng trưởng chúng sinh mầm hoa Tam thừa. Thành tựu Nhất thừa bồ đề cực quả. Thiện nam tử. Ngươi hỏi tên kinh. Ta nói như thế. Người nên thọ trì.

Khi ấy. Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn! Con từ quá khứ. Nơi vô lượng Phật. Nơi vô lượng hội. Trong vô lượng chúng. Nghe các loại pháp. Các loại việc. Các loại tướng. Các loại thừa. Chưa từng nghe thấy. Pháp hy hữu này. Việc hy hữu này. Tướng hy hữu này. Đại thừa hiếm có. Con thường thọ trì. Khiến không đoạn tuyệt. Thế Tôn. Như Lai thường trụ. Pháp tăng không diệt. Chúng sinh ba cõi. Tự sinh tự diệt. Không thấy Như Lai. Và theo pháp tăng. Xướng lời diệt độ. Chúng con giờ đây. Nhờ uy thần Phật. Du hành ba cõi. Thuận theo thời nghi. Giả nói diệt độ. Thế Tôn. Chúng con giờ đây. Sau khi Phật diệt. Cùng với tám vạn pháp thân Đại Sĩ thông đạt Phật huệ đã lâu. Lưu thông kinh này. Khiến chúng sinh trong pháp giới. Thọ trì đọc tụng. Tu hành đúng thuyết. Nhất thời thành Phật. Không dám buông xả. Thế Tôn. Nếu thiện nam tử. Thiện nữ nhân. Sau khi Phật diệt. Trong đời trọc ác. Nếu có thọ trì đọc tụng. Viết chép quyển kinh. Đắc bao nhiêu phúc.

Phật nói. Thiện nam tử. Nếu người nào đem trân bảo đầy ba nghìn đại thiên thế giới. Dùng để bố thí. Không bằng nghe được tên kinh này. Phúc còn hơn cả phúc bố thí kia. Cũng việc như thế. Nếu người nào đem trân bảo đầy ba nghìn đại thiên thế giới. Dùng để bố thí. Không bằng có người. Nhiếp trì kinh này. Phúc nhiều hơn thế. Cũng việc như thế. Nếu người nào đem trân bảo đầy ba nghìn đại thiên thế giới. Dùng để bố thí. Không bằng có người. Viết chép kinh điển Đại thừa Phương Quảng. Cho dù một chữ một câu. Hoặc một bài kệ. Phúc nhiều hơn thế. Cũng việc như thế. Tuy rằng bố thí trân bảo của vô lượng cõi nước. Không bằng chí tâm đọc tụng một bài kệ. Cũng việc như thế. Tuy rằng bố thí mạng chúng sinh đầy cả mười nghìn thế giới. Không bằng chí tâm giải nghĩa một câu. Vì người khác mà nói nghĩa của một bài kệ. Phúc này còn hơn cả phúc kia. Ấy là vì sao? Bố thí tài thực. Là thế gian bố thí. Nuôi dưỡng tính mạng. Không xuất thế gian. Thí pháp Đại thừa. Nuôi dưỡng chúng sinh. Đạo căn bồ đề. Tiếp nối tam thừa. Trí năng thường mệnh. Thiện nam tử. Người đọc trì kinh này. Vốn là người ác. Nay là người lành. Vốn là người khổ. Nay là người vui. Vốn bị trói buộc. Nay được giải thoát. Vốn chưa được độ. Nay đã được độ. Vốn là vô trí. Nay là luận sư. Vốn là hữu lậu. Nay là vô lậu. Vốn là phàm hạnh. Nay là Thánh hạnh. Vốn là mất đạo. Nay nhập Thánh đạo. Đọc trì kinh này. Trí như Thánh huệ. Cùng Phật Như Lai. Cùng có niết bàn.

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Như Phật đã nói. Vốn là phàm hạnh. Nay là Thánh hạnh. Vốn là phiền não. Đọc trì kinh này. Cùng Phật Như Lai. Cùng có niết bàn. Phá giới ngũ nghịch. Phỉ báng chính pháp. Đọc trì kinh này. Đoạn trừ phiền não. Cùng đắc niết bàn. Nghĩa này khó hiểu. Cúi mong Thế Tôn. Vì con nói rõ. 

Phật nói. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Ngươi đã hỏi hay. Ta sẽ đáp hay. Vì các chúng sinh. Không được gặp Phật. Tà kiến phạm giới. Phỉ báng chính pháp. Nếu Phật tại thế. Chung quy không phạm giới. Không phỉ báng chính pháp. Là vì sao? Ví như trưởng giả. Chỉ có một con. Yêu thương rất nhiều. Nếu cha còn sống. Ngày đêm dạy bảo. Mọi việc đều theo. Đứa con hiếu thuận. Nghe lời cha dạy. Nên không phạm lỗi. Nếu cha đi xa. Không hẹn ngày về. Đứa con quên mất. Phạm nhiều lỗi lầm. Không rõ ngày về. Tưởng rằng đã chết. Bi thương kêu khóc. Lại khởi tâm hư. Sầu não hồ đồ. Quên lời cha dạy. Ví dụ không theo. Và phỉ báng pháp. Một thời gian lâu. Cha trở về nhà. Đứa con vui mừng. Nhớ lời cha dạy. Thọ trì không phạm. Nhờ được thấy cha. Tin rằng chưa chết. Không gọi đọa nghịch. Giữ lời cha dạy. Thuận theo mà làm. Không gọi phỉ báng. Thiện nam tử. Trưởng giả tức là Như Lai. Đứa con tức là tất cả chúng sinh. Lệnh cha tức là giáo giới. Đi xa tức là đi nơi khác giáo hóa. Vì không thấy cha nên nói là đã diệt. Vì sầu não nên đã bị che chắn. Vì không giữ nên là phạm giới. Vì nói đã diệt nên là nghịch tội. Vì mê lầm nên là phỉ báng. Như Lai Thế Tôn. Giáo hóa nơi khác trở về. Chúng sinh thấy vậy. Liền sinh tín tâm. Biết Phật không diệt. Phật vì thuyết pháp. Trả lại bản tâm. Không gọi phạm giới. Vì biết không diệt. Không gọi đọa nghịch. Thuận theo lời dạy mà làm. Làm đúng lý sẽ đắc giải ngộ. Không gọi là phỉ báng pháp.

Thiện nam tử. Người đọc trì kinh này. Tức có thể tiêu trừ tội phiền não trọng ác trong vô lượng sinh tử. Nghe tên kinh này. Tức được nghe Phật. Người thấy kinh này. Tức được thấy Phật. Người giữ kinh này. Tức giữ thân Phật. Người làm kinh này. Tức làm Phật sự. Người nói kinh này. Tức nói việc Phật. Người giải kinh này. Tức giải nghĩa Phật. Nếu làm việc Phật. Khéo giải nghĩa Phật. Con người như thế. Mãi không phiền não. Cớ là vì sao. Có được kinh này. Đoạn trừ phiền não. 

Thiện nam tử. Nếu tám vạn kiếp, xem là một ngày. Lấy ba mươi ngày, làm thành một tháng. Lấy mười hai tháng, làm thành một năm. Lấy số năm ấy. Qua trăm nghìn vạn ức kiếp. Gặp được một vị Phật. Lại qua từng ấy số năm. Gặp được một vị Phật. Kinh này khó gặp. Lại qua số năm nói trên. Gặp được kinh này. Tức là gặp được thập phương tam thế chư Phật. Vì thế người trí. Thọ trì đọc tụng. Viết chép giảng nói. Có thể trừ được trọng tội tà kiến vô minh phiền não kết lậu. Sống trong ruộng phúc. Có thể trừ được vô lượng cúng dường của thế gian.

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Bích Chi Phật còn không thể tiêu trừ hết cúng dường thế gian. Huống hồ phàm phu lại tiêu trừ được cúng dường.

Phật nói. Thiện nam tử. Bích Chi Phật không tiêu trừ được cúng dường. Không có lẽ ấy. Tuy không thể thuyết pháp độ người. Nhập định tam muội. Từ tam muội khởi. Hiện đại thần thông. 

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Trong kinh có nói. Tà kiến phá giới. Không được sống trong cùng một cõi nước. Uống nước chung một dòng sông. Nói giới Bồ Tát. Sám hối buông thả. Người này gọi là. Đánh mất Thánh đạo. Không nhập số đông. Cớ sao lại nói. Tiêu được cúng dường. Nếu tiêu cúng dường. Tức cùng chư Phật. Cùng nhận ứng cúng. Hơn cả La Hán. Và Bích Chi Phật. Chỉ mong Thế Tôn. Phân biệt nói rõ. Con nghe xong rồi. Cũng vì chúng sinh. Giải thích như Phật. Khiến cho chúng sinh. Cũng được độ thoát.

Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Nay như các người. Từ bi có đủ. Thương xót chúng sinh. Mà hỏi việc này. Lắng nghe cho kĩ. Khéo mà nghĩ nhớ. Ta sẽ vì ngươi. Phân biệt giải thích. Thiện nam tử. Cảnh giới kinh này. Chẳng phải Thanh Văn Duyên Giác đều biết được. Cũng chẳng phải cảnh giới mà các ma ngoại đạo hay phàm phu hiểu được. Duy Phật hay biết. Ngươi cũng được biết. Thiện nam tử. Ta thường vì người hành đạo Bồ Tát mà giảng thuyết, bố thí và tán thán. Không quán tốt xấu. Thành tựu phúc điền. 

Và nói lời này. Bố thí súc sinh. Được trăm phúc báo. Bố thí xiển-đề. Được nghìn phúc báo. Thiện nam tử. Người đoạn thiện căn. Chết thành xiển-đề. Người không hổ thẹn. Chết làm súc sinh. Súc sinh xiền-đề. Quả báo chín muồi. Được nhận cúng dường. Trồng ruộng phúc của người. Huống chi người ấy. Vì lấy nghĩa này. Từ kinh Đại thừa. Đại Thông Phương Quảng. Lực uy đức lớn. Không thể nghĩ bàn. Có thể khiến người. Phá giới ngũ nghịch. Phỉ báng chính pháp. Tà kiến phiền não. Đều được trừ diệt. Được nhận cúng dường.

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Chư Phật Như Lai. Bất khả tư nghì. Đại Thông Phương Quảng. Sức mạnh uy thần. Cũng bất khả tư nghì. Người thọ trì kinh. Công đức người ấy. Cũng bất khả tư nghì. Phật nói. Đúng vậy đúng vậy. Như ngươi đã nói. Đắc công đức vô biên không thể nghĩ bàn.

Khi ấy Thế Tôn bảo Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Thiện nam tử. Ta nhớ thuở xưa. Quá khứ có kiếp. Gọi là Thanh Tịnh. Ta ở kiếp ấy. Cúng dường chín mươi hai ức na do tha chư Phật Như Lai. Do hành Tiểu thừa. Mắc nhiều tội lỗi. Phạm giới vô lượng. Nên không thấy được. Các Như Lai ấy. Thọ ký cho ta. Lại qua kiếp này. Đến kiếp Lạc Kiến. Ta ở kiếp này. Cúng dường bốn mươi hai ức chư Phật Như Lai. Cũng không thấy được. Các Như Lai này. Thọ ký cho ta. Lại qua kiếp này. Đến kiếp Phạm Âm. Ta ở kiếp này. Cúng dường hai mươi hai ức chư Phật Như Lai. Cũng không thấy được. Các Như Lai này. Thọ ký cho ta. Lại qua kiếp này. Đến kiếp Tâm Hỷ. Ta ở kiếp này. Cúng dường tám vạn bốn nghìn chư Phật Như Lai. Cũng không thấy được. Các Như Lai này. Thọ ký cho ta. Lại qua kiếp này. Đến kiếp Cứu Khổ. Cõi nước Trang Nghiêm. Phật hiệu Đại Thí Như Lai Ứng Cúng Chính Biến Tri. Mười hiệu đủ cả. Ta ở kiếp ấy. Cúng dường bốn mươi ức chư Phật Như Lai. Được nghe kinh này. Trừ hết phiền não. Vẫn chưa tự thấy. Ta vào lúc ấy. Đều đem tất cả. Món đồ cúng dường. Bất khả tư nghì. Mà đem dâng cúng. Các Như Lai ấy. Cũng không thấy thọ ký cho ta. Thiện nam tử. Thuở xưa ta ở trong ngần ấy kiếp. Cúng dường ngần ấy chư Phật Như Lai. Tôn trọng tán thán. Được trừ phiền não. Có đủ cấm giới uy nghi của Thanh Văn. Tịnh tu phạm hạnh. Học làm bố thí. Tất cả giữ giới và hạnh đầu đà. Lìa bỏ kiêu ngạo sân hận ngu si. Từ tâm nhẫn nhục. Năng nói điều đã được nghe. Chăm làm tinh tấn. Mọi điều được nghe. Thọ trì không quên. Độc cư nơi xa. Nhập các thiền định. Khi xuất định rồi. Theo điều đã nghe. Đọc tụng suy ngẫm. Các Như Lai ấy. Cũng không thấy thọ ký cho ta. Là cớ vì sao. Là vì vi phạm phá hỏng nhiều cấm giới đã nhận. Vì chấp sâu vào Thanh Văn hạnh nhị thừa. Vì không nghe kinh Đại thừa Phương Quảng. Bởi vì nghĩa đó. Nếu là hàng các Bồ Tát Ma Ha Tát. Nên rời xa hạnh nhị thừa. Tu tập kinh điển Đại thừa Phương Quảng. Thì được thọ ký. Nếu ta từ một kiếp này đến một kiếp khác. Nói danh hiệu Phật. Không thể nói hết. Thiện nam tử. Qua thời đó về sau. Ta được gặp Định Quang Phật. Vì vô lượng đại chúng. Thuyết kinh Đại thừa Đại Thông Phương Quảng này. Ta vào lúc ấy. Được nghe được thấy điều Phật đó nói. Thọ trì đọc tụng. Tư duy ý nghĩa. Liền đắc vô sinh pháp nhẫn. Định Quang Như Lai. Liền thọ ký ta. Ngươi vào đời sau. Sẽ được làm Phật. Hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chính Biến Tri. Vì thế. Thiện nam tử. Thọ trì kinh này. Chóng đến Phật địa. Huống chi tiêu trừ. Cúng dường thế gian. Của hạng trời người. Thiện nam tử. Vì thế. Sức mạnh của kinh điển Đại thừa thí kho báu không thể nghĩ bàn. Thí ân huệ cho kẻ phá giới bần cùng nương dựa pháp này như có bảo châu. 

Thiện nam tử. Đại thừa như biển lớn. Tiểu thừa như nước đọng trong vết chân trâu. Đại thừa như Tu Di. Tiểu thừa như tổ kiến. Đại thừa như nhật nguyệt. Tiểu thừa như đánh mất sao. Thừa này gọi Đại thừa. Thừa không thể nghĩ bàn. Dung nạp các chúng sinh. Giống như trong hư không. Trong tất cả các thừa. Thừa này là hạng nhất. Đại thừa này như vậy. Vượt qua mọi thừa khác. Tiểu thừa có hạn lượng. Không thể độ tất cả. Duy thừa vô thượng này. Độ hết thảy chúng sinh. Nếu làm vô lượng này. Đại thừa của hư không. Hư không không có lượng. Cũng không có hình sắc. Đại thừa cũng như thế. Không lượng không chướng ngại. Tất cả các chúng sinh. Đi trên Đại thừa này. Nên quán tướng thừa này. Mà dung nạp rộng rãi. Nếu tại vô lượng kiếp. Nói công đức Đại thừa. Và đi theo thừa này. Không thể đạt cùng tận. Trong tất cả các thừa. Đại thừa là tối thắng. Chí tâm nhận Đại thừa. Được tới cây bồ đề. Không chướng ngại trói buộc. Nay thừa vô thượng này. Thắng mọi thừa thấp kém. Ngồi bên dưới cây đạo. Quán mười hai nhân duyên. Vì thương xót chúng sinh. Mà nói kinh Đại thừa. Các chúng sinh mười phương. Nếu đi theo Đại thừa. Cũng lại không tăng giảm. Dung nạp như hư không. Đại thừa chẳng nghĩ bàn. Thần thông đại trí năng. Vì thế các chúng sinh. Nên chăm chỉ tu tập. Tất cả các thiên chúng. Thiên ma và ngoại đạo. Muốn trừ phiền não trói. Quy y nơi Đại thừa. Có đủ sáu thần thông. Cửa tam minh tam đạt. Phá được ma ngoại đạo. Và các loại tà kiến. Đại thừa tối quan trọng. Phá được các phiền não. Có đầy đủ căn lành. Vì thế sức Đại thừa. Thật sự khó nghĩ bàn. Tất cả pháp thế gian. Và cả pháp xuất thế. Pháp hữu học vô học. Thu vào trong Đại thừa. Nếu có chúng sinh hành ác đạo. Thân cận thiện tri thức tà kiến. Tránh xa và quy về Đại thừa. Nếu ai không thích cầu Đại thừa. Không thể phá hoại phiền não kết. Muốn cầu giải thoát học Đại thừa. Nếu có người lớn giải việc lớn. Nghe nói Đại thừa tâm hoan hỷ. Cần biết tức là người Đại thừa. Đắc tâm tịch tĩnh có thần thông. Đều nhờ Đại thừa tự trang nghiêm. Nếu người có thể hành đại hạnh. Hạt giống Tam Bảo sẽ không đứt. Nếu ai thích thú theo Đại thừa. Người này tức được vô lượng phúc. Đến được mười phương các thế giới. Cúng dường mười phương vô lượng Phật. Như thế Đại thừa kinh Phương Quảng. Các thừa thế gian không thể thắng. Đầy đủ uy đức phá sinh tử. Vì thế Đại thừa khó nghĩ bàn. Được ở trong sắc đắc tự tại. Đầy đủ thành tựu pháp thân thường. 

Nếu có người theo Đại thừa này. Người ấy nhận được vô thượng lạc. Xả thân tự thí tu từ bi. Vì thế đắc thừa vô thượng này. Giữ giới tinh tấn tu phạm hạnh. Năng dùng thần thông che nhật nguyệt. Đều vì tu lâu hạnh Đại thừa. Tự tâm siêng tu thường tinh tấn. Người này liền đắc trong Đại thừa. Phải nhận vô lượng khổ não báo. Tu tập Đại thừa được trừ diệt. Nếu năng an trụ kinh Đại thừa. Hưởng lạc dài lâu như chư Phật. Đầy đủ chính niệm siêng tinh tấn. Được bốn như ý thần thông lực. Nương dựa chính pháp và chân nghĩa. Đều nhờ tu lâu kinh Đại thừa. Đầy đủ mười lực không sợ hãi. Ba mươi hai tướng đẹp trang nghiêm. Kim cương tam muội tất cả trí. Đều nhờ từ lâu tu Đại thừa.

Thiện nam tử. Nếu có trì kinh điển Đại thừa này. Một chữ một câu cho đến một bài kệ. Mãi thoát các khổ nạn. Sau không đọa ác đạo. Được đến chốn an lạc. Sau này thời ác thế. Người có được kinh này. Ta đều sẽ thọ ký. Sau cùng thành Phật đạo. Người trì giữ kinh này. Phật thường gần người ấy. Người ấy thường gần Phật. Người ấy được Phật pháp. Chư Phật hộ người đó. Được đại thần thông huệ. Năng chuyển đại pháp luân. Độ các cõi sinh tử. Năng phá hoại ma quân. Ở chỗ Định Quang Phật. Ta nghe kinh phương tiện. Trụ nhẫn được thọ ký. Hiệu Thích Ca Mâu Ni. Sau khi ta diệt độ. Nếu ai học kinh này. Ta cũng ban thọ ký. Nếu đời sau có người. Giải được nghĩa kinh này. Vì người ngu mà nói. Tuy Phật không tại thế. Không đoạn nơi Tam Bảo. Cũng như Phật hiện tại. Bởi thế cho nên. Ta từ vô lượng Phật. Thọ trì kinh điển này. Ở trong thời mạt kiếp. Vì người mà quảng thuyết. Nhờ đó mà có được. Ba mươi hai tướng tốt. 

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Tất cả chư Phật đều cùng nói ba mươi hai tướng này. Nay Phật cũng lại nói ba mươi hai tướng. Là do nghiệp duyên gì mà được thành tựu. Chỉ mong Thế Tôn. Vì con mà nói. 

Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát rằng. Thiện nam tử. Như Lai thành tựu vô lượng công đức. Nhờ đó đắc ba mươi hai tướng. Nếu ta quảng thuyết. Hết kiếp chẳng hết. Nay ta vì ngươi. Mà nói sơ lược. Thiện nam tử. Như Lai chí tâm hộ trì tịnh giới nên được tướng lòng bàn chân bằng. Vì tu hết thảy bố thí ân huệ nên được tướng tay chân có nghìn vòng xoáy. Không lừa tất cả chúng sinh nên được tướng gót chân đầy đặn. Vì hộ chính pháp nên được tướng ngón tay thon dài. Không phá hoại người nên được tướng giữa các ngón tay có lớp màng lụa. Vì đem y phục tuyệt diệu dâng cúng và bố thí nên được tướng tay chân mềm mại. Vì lấy đồ ăn thanh tịnh bố thí nên được tướng bảy chỗ đầy đặn. Vì tu mười pháp thiện nên được tướng thân trên như vua sư tử. Vì thường lấy thiện pháp giáo hóa chúng sinh nên được tướng đầy đặn tròn trịa. Vì thường cứu giúp người khỏi sợ hãi nên được tướng cánh tay khuỷu tay tròn trịa. Vì thấy người khác tạo nghiệp Tam Bảo thì vui vẻ trợ giúp nên được tướng tay dài chấm gối. Vì thường tu vạn pháp thiện nên được tướng thân thanh tịnh. Vì thường thí thuốc cho người bệnh nên được tướng những thứ ăn vào đều hiện lên vị ngon. Vì thường đúng hẹn nói pháp thiện nên được tướng gò má sư tử. Vì ở trước chúng sinh có tâm bình đẳng nên được tướng bốn mươi hai răng. Vì thích hòa hợp không tranh tụng nên được tướng răng khít. Vì lấy trân bảo bố thí nên được tướng răng thẳng đều. Vì thân khẩu ý thanh tịnh nên được tướng hai răng trắng. Vì bảo vệ được bốn họa miệng nên được tướng lưỡi rộng dài. Vì thành tựu vô lượng công đức nên được tướng thượng vị trong các vị. Vì thường nói lời dịu dàng với chúng sinh nên được tướng Phạm âm. Vì tu tập từ tâm nên được tướng mắt mỏng dài. Vì chí tâm cầu vô thượng bồ đề nên được tướng lông mi như vua trâu. Vì tán thán mọi công đức của người khác nên được tướng bạch hào. Vì cung kính cúng dường cha mẹ, hòa thượng, a-xà-lê nên được tướng nhục kế. Vì vui thích nói pháp Đại thừa nên được tướng thân mềm mại. Vì thích bố thí đồ bôi trét nên được tướng ánh sáng vàng kim. Vì xa lìa tụ tập nói chuyện thế gian nên được tướng từng lỗ chân lông đều xoay về bên phải. Vì thích nhận lời dạy của sư trưởng bạn tốt nên được tướng tất cả lông tơ trên tay chân đều xoáy lên trên. Vì không lấy việc xấu gán cho chúng sinh nên được tướng tóc khỏe mượt. Vì thường khuyên chúng sinh tu tam muội nên được viên mãn như Ni Câu Đà. Vì ở nơi sinh sống thích làm tượng Phật nên được tướng sức lực như Na La Diên. Thiện nam tử. Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu công đức vô lượng như vậy. Sẽ có được ba mươi hai tướng như thế. 

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Con quán các pháp. Đều không tướng mạo. Lại quán Như Lai. Không có hạnh đó. Vì sao Phật nói. Quảng tu mọi hạnh. Con quán chư Phật pháp tăng. Khổ tập diệt đạo. Ngũ ấm lục nhập thập pháp giới. Thập nhị nhân duyên. Các ba la mật. Nhân quả trong ngoài. Không, vô, tướng, nguyện. Không thấy sinh ra. Không thấy diệt mất. Như huyễn như hóa. Như bóng ảnh tiếng vang. Như trăng trong nước. Lông rùa sừng thỏ. Như hoa trong hư không. Như con của người đá. Như mặc áo bóng. Cưỡi voi tưởng tượng. Như có như không. Và lấy có không. Chẳng có chẳng không. Chẳng thường chẳng đoạn. Chẳng sinh chẳng diệt. Chẳng trong chẳng ngoài. Chẳng thấy chẳng biết. Cũng như hư không. Cớ sao lại nói. Con tu các pháp. Con quán Như Lai. Cũng không phải chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu. Cũng không phải mắt, không phải sắc, không phải sắc tướng hành mà mắt thấy. Cũng không phải tai, không phải âm thanh, không phải thanh tướng hành mà tai nghe thấy. Không phải mũi, không phải mùi, không phải hương tướng hành mà mũi ngửi thấy. Không phải thân, không phải xúc chạm, không phải xúc tướng hành mà thân chạm thấy. Không phải ý, không phải pháp, không phải pháp tướng hành mà ý nghĩ thấy. Không phải thức, không phải sắc, không phải sắc tướng hành mà thức nhận thấy. Không phải sắc, không phải khổ, không phải khổ tướng hành mà sắc biểu lộ. Chẳng ngã chẳng nguyện. Chẳng hành chẳng uẩn. Chẳng thực chẳng hư. Chẳng tụ chẳng tán. Chẳng xuất chẳng nhập. Thọ tưởng hành thức. Cũng lại như thế. Chẳng đến chẳng đi. Không có nơi trụ. Không có tâm ý ý thức. Không có thân khẩu ý nghiệp. Chẳng một chẳng hai. Chẳng quá khứ vị lai hiện tại. Chẳng sạch chẳng bẩn. Chẳng ta, chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu. Chẳng thường chẳng đoạn. Không sinh không diệt. Không tu không hành. Không xả không nhận. Rốt ráo thường trụ. Cớ sao lại nói. Quảng tu các hạnh.

Khi ấy. Phật ca ngợi Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Ngươi trong đời quá khứ. Đã từng cúng dường. Vô lượng chư Phật. Đã thấu đạt lâu. Không nghĩa vô thượng. Của đạo Đại thừa. Hiểu rõ vạn pháp. Đều là không tịch. Cũng biết Như Lai. Rốt ráo thường trụ. Thiện nam tử. Ví như bảo châu lưu ly thanh tịnh. Tuy ở trong bùn. Trải qua nghìn năm. Tính nó thường sạch. Thoát bùn vẫn thế. Nay như các người. Cũng giống như thế. Thấu hiểu pháp tướng. Bản tính thanh tịnh. Nay như các người. Dù tại ba cõi. Trong bùn ngũ trọc. Giúp Phật hoằng dương giáo hóa. Cũng không bị bùn làm bẩn. Vì không nhiễm bẩn. Mới hỏi nghĩa này. Thiện nam tử. Nay ngươi nghe kĩ. Ta sẽ nói cho. Tất cả vạn pháp. Thật không tướng mạo. Vì có văn tự. Nên có nói pháp. Trong pháp không chữ. Trong chữ không pháp. Vì do lưu truyền. Nói có văn tự. Ở trong văn tự. Không có bồ đề. Ở trong bồ đề. Không có văn tự. Đệ nhất nghĩa đế. Tuy không văn tự. Trong đạo thế tục. Nói có văn tự. Chúng sinh Phật tính. Vô thượng bồ đề. Không lìa văn tự. Thiện nam tử. Đúng như đã nói. Như Lai vô tận vô sinh. Không tu không hành. Lìa mọi tu hành. Không nhập chính vị. Cũng không thối chuyển. Một đời không sinh vào Đâu Suất Đà Thiên. Không từ trời xuống. Không ở thai đời. Trong tất cả pháp. Tâm không trụ lại. Cũng không nói rằng. Ta đã đi qua sinh lão bệnh tử. Cũng không ở trong bốn phương, mỗi phương đi bảy bước. Cũng không tự nói. Ta là bậc vô thượng ở thế gian. Chẳng ở trong cung, chọn gái tiêu khiển. Không tập những việc kỹ nhạc thế gian. Cũng không học tranh tài cưỡi ngựa. Vì muốn độ chúng sinh nhập niết bàn. Thị hiện tướng già để hoại tham thân. Thị hiện tướng bệnh để hoại tham thọ. Thị hiện tướng chết để hoại tham dục, tham ngã vào thứ mà ta sở hữu. Thị hiện tướng sa môn vì khiến chúng sinh không cầu thân làm Phạm Thiên Đế Thích. Siêng cầu pháp xuất thế vô thượng. Bước ra khỏi hoàng cung thị hiện xuất ly ba cõi lao ngục. Và biểu lộ vì đây không phải quả cuối cùng nên thị hiện không yêu ghét. Vì thế được ba mươi hai tướng làm trang nghiêm thân ấy. Vì chỉ cho chúng sinh ruộng phúc tốt lành, cắt bỏ lưới vây, quẳng bỏ chuỗi ngọc. Phái ngựa lệnh trở về, hoàn trả phóng thả xiển-đà-la <span className="note-blue">[xiển-đà-la, hay chiên-đà-la, hạng người bị coi là hạ tiện nhất ở thời Đức Phật]</span>, thị hiện xa rời tất cả phiền não. Hiện cạo nhẵn râu tóc thị hiện không tham tất cả pháp. Thọ trì thân phận thầy tu thị hiện điều phục chúng sinh. 

Ở bên Uất-đà-già-la <span className="note-blue">[Uất-đà-già-la, còn gọi là Uất-đầu-lam-phất, là vị đại sư mà Đức Phật theo học]</span>, thăm hỏi nhận pháp, thị hiện phá hoại tâm tự cao. Sáu năm khổ hạnh để điều phục ngoại đạo. Hiện nhận ăn uống theo pháp thế tục. Hiện nhận cỏ khô cho thấy đã biết đủ. Ngồi trên đệm cỏ cho thấy phá bỏ kiêu ngạo. Chư thiên long thần tán thán cung kính cho thấy quả báo công đức trang nghiêm. Hàng phục ngoại đạo cho thấy sức mạnh dũng mãnh. Tay phải chỉ đất cho thấy sức mạnh làm phúc. Vì mặt đất chấn động biểu thị báo ơn. Nguyện tu vô tướng. Được đắc đạo vô thượng bồ đề. Thị hiện biết hết tất cả pháp tướng. Quán pháp bình đẳng. Tên gọi là Phật. Trí năng của Phật. Không ai thắng nổi. Pháp yếu nói ra. Biết Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì theo nghĩa ấy. Gọi là Như Lai. Thấy biết tất cả. Việc trong ba đời. Pháp thiện bất thiện. Gọi Tát Bà Nhã. Vì lời chân thật. Gọi thiên nhân sư. Nếu có người học. Quán được như vậy. Gọi là Bồ Tát. Nếu quán khác đi. Không gọi Bồ Tát. Mà là lừa gạt. Tất cả chư Phật. Thiện nam tử. Tất cả chư Phật. Không xuất không nhập. Không sinh không diệt. Vì độ chúng sinh. Xướng ngôn xuất thế. Vì độ chúng sinh. Xướng ngôn diệt độ. 

Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Con thật biết lâu. Pháp tướng lý không. Chư Phật Như Lai. Không xuất không diệt. Không sinh vương cung. Không diệt dưới cây. Chung quy thường trụ. Vì độ chúng sinh. Tu mọi khổ hạnh. Mà nhập niết bàn. Thực không động chuyển. Chư Phật Như Lai. Chân thực thường tồn. Ứng thân ba cõi. Hiện năm loại pháp thân. Thế nào là năm. Một là pháp thân thực tướng. Hai là pháp thân công đức. Ba là pháp thân pháp tính. Bốn là pháp thân ứng hóa. Năm là pháp thân hư không. Sở dĩ gọi là pháp thân thực tướng. Siêu việt thắng quả thực tướng. Hằng trụ pháp giới. Vì thế gọi là pháp thân thực tướng. Sở dĩ gọi là pháp thân công đức. Vì độ chúng sinh. Thí công tích hành. Vạn thiện đầy đủ. Vì thế gọi là pháp thân công đức. Pháp thân pháp tính. Đạt ngộ tất cả pháp tướng. Cùng tận mọi lẽ. Từ cảnh giải tỏ nghĩa không. Giải nghĩa không đầy đủ. Từ cảnh được tên. Gọi là pháp thân pháp tính. Vì sao gọi là pháp thân ứng hóa. Như Lai xuất thế. Ứng đủ năm đạo. Thiện ác đều hiện. Cứu hết mọi vật. Từ hóa vật được tên. Nên gọi là pháp thân ứng hóa. Sở dĩ lại gọi là pháp thân hư không. Hư không vô biên. Pháp thân vô biên. Hư không không thể đo lường. Pháp thân cũng không thể đo lường. Thân của Như Lai. Cũng như thái hư. Vì độ chúng sinh. Ứng thân năm phần. Nên biết Như Lai. Vô sinh vô diệt. Các pháp cũng thế. Vì độ chúng sinh. Mà Phật hiện pháp. 

Khi ấy. Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát rằng. Thiện nam tử. Ngươi và Như Lai. Cùng giải pháp tướng. Tất cả cảnh giới. Vô chướng vô ngại. Thiện nam tử. Tương lai có kiếp. Tên gọi Thanh Tịnh. Cõi nước Khoái Lạc. Nước ấy đều lấy các đại Bồ Tát luận nghĩa Đại thừa. Từ đầu không nghe tên nhị thừa. Huống chi ác đạo. Ngươi vào kiếp ấy. Sẽ được làm Phật. Hiệu là Thanh Tịnh Trang Nghiêm Như Lai Ứng Cúng Chính Biến Tri. Các phương lớn khác. Đều đến nước ấy. Nghe nhận kinh Đại thừa Đại Thông Phương Quảng. Vì thế tất cả chúng sinh. Nếu nghe tên Hư Không Tạng Bồ Tát. Lễ bái cúng dường. Đều được sinh về thế giới Khoái Lạc ấy. Nếu có chúng sinh. Cầu nơi Đại thừa. Chưa đắc vô sinh. Thọ trì kinh này. Cần biết người này. Không quá mười Phật. Khiến được thọ ký. 

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

**Quyển Trung hết.**

### Quyển Hạ

Khi ấy. Phật Thích Ca Mâu Ni vì Tín Tướng Bồ Tát. Vì tất cả chúng sinh và bản thân mình. Hỏi danh hiệu chư Phật. Phật nói thập phương tam thế chư Phật, mười hai bộ kinh, và đại Bồ Tát tăng đã xong. Lại muốn đại sư tử hống. Sư tử hống này. Là quyết định thuyết. Quyết định thuyết này. Vì biết rõ Như Lai. Thường trụ không diệt. Và nói chúng sinh. Đều có Phật tính. Các ma sợ hãi. Ngoại đạo quy phục. Nên gọi là sư tử hống. Hiển thuyết như vậy đã xong. Phật lộ tướng lưỡi rộng dài phủ khắp ba nghìn đại thiên thế giới. Tất cả thế giới. Sáu loại chấn động. Sáu loại chấn động này. Đông trồi tây sụt. Tây trồi đông sụt. Nam trồi bắc sụt. Bắc trồi nam sụt. Ở giữa trồi ngoài rìa sụt. Ngoài rìa trồi ở giữa sụt. Gọi là sáu loại chấn động trên mặt đất. Lưỡi phóng đại quang minh. Ánh sáng phổ chiếu. Ánh sáng phổ chiếu này. Chuyển vô thường thành thường. Chuyển bất tịnh thành tịnh. Chuyển khổ thành vui. Chuyển vô minh thành minh. Khi ấy, chỗ mà Phật quang chiếu đến. Núi rừng quốc thổ. Sông hồ biển lớn. Sông núi Thiết Vy. Tất cả địa ngục. Cao thấp ngay ngắn. Đều được thanh tịnh. Không còn dơ bẩn. Giống như Đông phương thanh tịnh trang nghiêm Mãn Nguyệt thế giới. 

Khi ấy. Thích Ca phân thân chư Phật. Từ trên không hóa xuống dưới. Giống như mưa hoa. Từ đất hóa ra. Giống như mây mọc. Đầy ắp hư không. Không một chỗ hở. Lúc này các vị hóa Phật. Dị khẩu đồng âm. Đều nói Như Lai. Thường tính bất diệt. Nói các chúng sinh. Đều có Phật tính. Còn nói các pháp. Đều quy về không. Nhân quả vạn hành. Đều quy một thừa. Chúng sinh nhìn thấy. Lời vừa nói xong. Bỗng nhiên biến mất. Chỉ thấy Thích Ca. Ở trên bản tọa. Đúng vào lúc ấy. Tất cả đại chúng. Đều thấy hóa Phật. Cho nên điều thấy. Đều là Thích Ca. Sức mạnh uy thần. Từ phụ Thích Ca. Khi hiện sức mạnh thần thông uy đức này. Trong đại chúng khi ấy. Bốn mươi hằng hà sa Bồ Tát đắc vô sinh pháp nhẫn. Tám vạn Thanh Văn phát tâm Đại thừa. Mười nghìn tì kheo đắc đạo A La Hán. Một vạn tám nghìn tì kheo ni đắc đạo A Na Hàm. Bốn ức ưu bà tắc đắc đạo Tư Đà Hàm. Mười ức ưu bà di đắc đạo Tu Đà Hoàn. Vô lượng trời người đắc pháp nhãn tịnh. Tự biết số mệnh. Biết pháp hữu vi. Đều là vô thường. 

Trong đại chúng ấy. Có Sư Tử Hống Bồ Tát Ma Ha Tát. Đứng dậy khỏi chỗ. Sửa sang y phục. Cúi dưới chân Phật. Và bạch Phật rằng. Thế Tôn. Như nói ở trên. Nghe danh hiệu Phật. Cũng diệt được tội. Nghe tên của pháp. Cũng diệt được tội. Nghe tên của tăng. Cũng diệt được tội. Vì sức mạnh Phật. Vì sức mạnh pháp. Vì sức mạnh tăng. Như Phật lực ấy nên cầu Phật. Như pháp lực ấy nên cầu pháp. Như tăng lực ấy nên cầu tăng. Sao phải cầu ba. Như nói ở trên. Duy có một thừa. Chúng sinh thấy ba. Phật tự nói ba. Huống chi chúng sinh. 

Phật bảo Sư Tử Hống Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Lành thay lành thay. Thiện nam tử. Mau hỏi nghĩa này. Lợi ích chúng sinh. Hãy nghe cho kĩ. Nay ta vì ngươi. Phân biệt giải thích. Không chỉ Phật lực. Không chỉ pháp lực. Không chỉ tăng lực.   Cũng là chúng lực. Phật là cha mẹ nơi chúng sinh trở về. Bồ Tát tăng là chứng minh tri thức. Đứa con mê là chúng sinh. Nếu có tỉnh ngộ. Tự sinh chán lìa. Vì niệm lực nhiều. Cầu xuất tam giới. Biển cả phiền não. Kinh điển Phương Quảng. Làm con thuyền lớn. Thiện nam tử. Phật tức là pháp. Pháp tức là tăng. Tăng tức vô vi. Vô vi là không. Vô vi không. Hữu vi không. Nội không ngoại không. Đại không tiểu không. Đều quy một không. Không chẳng khác biệt. Thiện nam tử. Điều mà ngươi hỏi. Cần nên cầu một. Đâu cần cầu ba. Thiện nam tử. Ví như có người. Sợ hãi hư không. Du hành khắp nơi. Tìm chỗ ẩn thân. Chẳng thoát hư không. Thiện nam tử. Thập phương Phật nói. Và điều ta nói. Vạn nhân duyên lành. Tam Bảo tam thừa. Chẳng qua có một. Vì để khéo hợp. Các sơ, trung, hậu. Tất cả chúng sinh. Phân biệt nói ba. Cho nên gọi là. Một tướng Tam Bảo. 

Sư Tử Hống Bồ Tát nói. Lành thay lành thay. Thật như Thánh giáo. Con biết từ lâu. Vì các chúng sinh. Hỏi việc như vậy.

Sư Tử Hống Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Như Phật đã nói. Chẳng hai chẳng ba. Vì kinh Phương Quảng. Là mẹ chư Phật. Bồ Tát đại đạo. Con mắt học giả. Thu về tà kiến. Cứu hộ tâm thất lạc. Đoạn trừ ba ác đạo. Mở cánh cửa vô thượng bồ đề. Đưa các Thanh Văn. Đi tới Đại thừa. Con sẽ lấy đại đà-la-ni chú. Để bảo vệ họ. Tịnh trì giới hạnh. Tu học kinh này. Cũng sẽ bảo vệ. Hoặc lại có người. Kính trọng kinh này. Tu hành bảy ngày. Hoặc có ác ma. Muốn đến quấy nhiễu. Khiến các ác ma. Không thể thừa cơ. Thế Tôn. Con sẽ bảo hộ. Cho kinh điển này. Ở đời thật lâu. Tận bồ đề tính. 

Phật nói. Thiện nam tử. Ngươi hộ kinh này. Tức hộ Tam Bảo. Cũng hộ người hành giáo. 

Khi ấy. Sư Tử Hống Bồ Tát. Ở tại trước Phật. Mà nói chú rằng:

Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng.  
A-tan-ti. Thô-lô-ni. Tua-thua. Ha-a-ka-tu-ni. Pô-pi.  
Sa-pô-ta-mô-ni. Pô-pi. I-sưa-mô-thua.  
Pi-pô-sưa-na. Pi-mo-la-xiêu-pô-li.  
Ta-mô-ni. Chuy-na. Pô-lô-ni-cha-yê.  
Tô-mô-li-chưa-li. Hô-lô-hô-lô. Sư-pinh-ti.  
Man-thua-lua-man-thua-lua. Sô-ha. 

Mỗi lần trăm biến. Nhiễu phải bảy vòng. Bảy ngày như thế. Một ngày ba thời. Trong bảy ngày đó. Không niệm kinh khác. Tâm nghĩ Phương Quảng. Không cảnh gì khác. Thế Tôn. Chú đà-la-ni này. Tám trăm vạn ức chư Phật đã nói. Nay con nói ra. Nếu có người phỉ báng chú này. Tức là phỉ báng các Phật Như Lai ấy. Người đã phỉ báng chú này. Đời đời không thành đạo. Không thoát ba cõi. Là cớ vì sao? Chú này có thể khiến người đánh mất tâm có được tâm gốc. Là chú đà-la-ni. Một lần qua tai. Nghe rồi viết chép. Không uống rượu thịt. Tự giữ trai giới. Xa rời hý luận. Không vào quán chợ. Thường làm đại từ. Quý việc tọa thiền. Người đó hoặc từ vô lượng kiếp đến nay. Tam chướng trọng tội. Nghe chú này rồi. Chí tâm thọ trì. Ngày ngày đọc tụng. Thường niệm không quên. Người này cho đến khi đắc đạo bồ đề. Không đọa tam đồ.

Phật bảo Sư Tử Hống Bồ Tát rằng. Lành thay lành thay. Năng hộ Tam Bảo. Nghĩ thương chúng sinh. Lệnh xuất tam hữu. Nói chú như thế. Làm lợi ích lớn. Vô lượng người học. Mở mang đạo giáo. Cắt các tà kiến. Thiện nam tử. Tất cả chúng sinh. Nghe thấy tên ngươi. Và âm thanh chú. Tin kính không phỉ. Người ấy đời này an ổn. Và khi mệnh chung. Thường thấy chư Phật. Cũng được thấy ta. Cũng thấy thân ngươi. Và các Bồ Tát. Tự biết được làm Phật. Chắc chắn không nghi ngờ. Tất cả thấy Phật tính. Nhờ niềm tin thanh tịnh. Vạn thiện thành Phật đạo. Sẽ xả tất cả ác. Phật nói. Nếu có thiện nam tử. Thiện nữ nhân. Sau khi ta diệt độ. Hoặc một ngày. Hoặc một đêm. Hoặc một giờ. Hoặc một niệm. Lễ bái chư Phật mười phương ba đời. Mười hai bộ kinh. Các đại Bồ Tát. Tâm nhớ Đại thừa. Nghĩ đệ nhất nghĩa. Người đó một niệm. Trong cái búng tay. Thập ác ngũ nghịch. Phỉ báng Phương Đẳng. Tất cả ác nghiệp. Đều được diệt trừ. Không còn mảy may. Nếu có tì kheo. Tì kheo ni. Hoặc Bồ Tát. Hoặc sa di. Hoặc sa di ni. Hoặc người mất bản tâm. Thân phạm bốn tội nặng. Bát cấm lục trọng. Thập ác ngũ nghịch. Phỉ báng Phương Đẳng. Nay sinh lòng tin. Lễ bái danh hiệu chư Phật mười phương ba đời. Ác nghiệp như thế. Đều được diệt trừ. Không còn mảy may. 

Lời vừa nói xong. Khi ấy. Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Ở thời Định Quang Phật. Bất ngờ phút chốc. Đến chỗ của Phật. Lễ dưới chân Phật. Đồng thanh bạch Phật rằng. Thế Tôn. Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp đến nay. Ác nghiệp đã tạo. Không thể nói hết. Hoặc phạm mười ác. Hoặc phạm năm nghịch. Hoặc báng Phương Đẳng. Hoặc tạo vô lượng a tăng kỳ tội. Cầu dựa Như Lai. Mười hai bộ kinh. Các Bồ Tát chúng. Phát lộ sám hối. Mong nhận chúng con. Phật nói. Muốn sám mười ác. Muốn sám năm nghịch. Thậm chí Nhất-xiển-đề. Người muốn thấy Phật tính. Nên làm như vậy. Tùy ý mà nói.

Khi ấy ba nghìn người. Nghe từ âm của Phật. Chỉnh đốn lại y phục. Chắp tay và làm lễ. Trễ áo bên vai phải. Gối phải quỳ xuống đất. Rồi nói như thế này. Thế Tôn. Chúng con hôm nay. Quy mệnh mười phương Phật. Quy mệnh mười phương pháp. Quy mệnh mười phương tăng. Tiếp đó quy mệnh cúi lạy Đông phương A Súc Phật. Cũng quy mệnh Nam phương Bảo Tướng Phật. Cúi lạy Tây phương A Di Đà Phật. Cũng lại quy mệnh Bắc phương Thắng Diệu Phật. Cúi lạy Thượng phương Hương Tích Như Lai. Cũng quy mệnh Hạ phương Ức Tượng Như Lai. Cúi lạy Đông phương Phổ Hiền Đại Sĩ. Cũng quy mệnh Nam phương Trì Thế. Cúi lạy Tây phương Quan Âm Đại Sĩ. Cũng quy mệnh Bắc phương Mãn Nguyệt. Cúi lạy Thượng phương Hư Không Tạng Đại Sĩ. Cũng quy mệnh Hạ phương Kiên Đức Đại Sĩ. Cúi lạy Bổn Sư Định Quang Như Lai. Cũng quy mệnh Phật tính vị lai. Cúi lạy phân thân Hóa Phật các phương khác. Quy mệnh thầy Thích Ca của con ngày nay. Cúi lạy Đại Sĩ Duy Ma Văn Thù. Cũng quy mệnh A Nan Ca Diếp. Cúi lạy Thánh nhân xuất hiện ở bốn đạo. Cũng quy mệnh những vị mới phát tâm dạy dỗ. Cúi lạy Đại Tạng mười hai bộ kinh Phương Đẳng chính điển. Cũng quy mệnh các kinh pháp khác. Cúi lạy tám phần xá lợi hình tượng. Cũng quy mệnh chư Phật hiện tại. Tứ Vương bốn phương Sơ-Lợi-Thích-Phạn. Ba mươi ba Thiên. Hư không trên trời. Trên đất dưới đất. Rừng núi dưới cây. Tất cả thần tiên. Người có đại thần túc. Người có thiên nhãn. Người có thiên nhĩ. Mong đều nghe biết. Và chứng minh cho. Nguyện tất cả chúng sinh. Hoặc người chưa sám hối. Đều được diệt hết tội. Nói lời như thế này. Chúng con hoặc từ vô thủy thế giới cho đến thân ác ngày nay. Tâm loạn cuồng điên. Vô lượng đảo kiến. Phiền não ác nghiệp. Không thể kể hết. Các tội đã làm. Không tự nhận biết. Phát tâm mãnh liệt. Không thấy đời sau. Chỉ thấy đời này. Thích thói phiền não. Xa rời thiện căn. Ác nghiệp ngăn trở. Gần ác tri thức. Ở bên tì kheo, tì kheo ni làm việc phi pháp. Ở bên cha mẹ làm việc phi pháp. Hoặc tự do dùng đồ vật của tăng. Ở bên năm bộ tăng làm việc thị phi. Hoặc nói vô lượng ác nghiệp của thế gian. Hoặc giết chúng sinh có thiện căn bồ đề. Hoặc phỉ báng pháp sư. Nói pháp là phi pháp. Phi pháp nói là pháp. Nói Như Lai vô thường, chính pháp vô thường, tăng bảo vô thường. Không thích huệ thí. Tín thọ tà pháp. Vì thế ngày nay. Vô lượng sợ hãi. Vô lượng hổ thẹn. Quy y Tam Bảo. Chư Phật từ bi. Phương Đẳng phụ mẫu. Bồ Tát tri thức. Cho phép chúng con. Phát lộ sám hối. Mong trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay. Nguyện sau không tạo tác. 

Lại nữa Thế Tôn. Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp đến nay tạo tác ngũ nghịch. Hoặc phạm các giới cấm của chư Phật quá khứ vị lai hiện tại. Làm hạng Nhất-xiển-đề. Nói ra lời thô ác. Phỉ báng chính pháp. Tạo nghiệp nặng này. Chưa từng hối cải. Tâm không hổ thẹn. Hoặc phạm các tội thập ác ngũ nghịch. Tự biết chắc chắn đã phạm việc nặng như thế. Bản tâm ban đầu không sợ hãi hổ thẹn. Lén nhận cúng dường. Chưa từng để lộ. Đối với chính pháp. Không có tâm trân trọng hộ trì. Trong thời gian ấy. Phỉ báng khinh chê. Nói nhiều tội ác. Hoặc lại nói rằng. Không có Phật pháp tăng, không có thập ác ngũ nghịch, trọng tội vô gián đã tạo như thế. Vì thế hôm nay. Vô lượng sợ hãi. Vô lượng hổ thẹn. Quy y Tam Bảo. Chư Phật từ bi. Phương Đẳng phụ mẫu. Bồ Tát tri thức. Cho phép chúng con. Phát lộ sám hối. Mong trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp tới nay. Nguyện sau không tạo tác. 

Lại nữa Thế Tôn. Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp đến nay. Hoặc bốn đảo kiến. Hay bốn pháp trọng. Nói điều thô ác. Đại tội ô trọc. Nói là bốn trọng. Phạm nói không phạm. Không phạm nói phạm. Tội nhẹ nói nặng. Tội nặng nói nhẹ. Sạch nói không sạch. Không sạch nói sạch. Hoặc lại tà kiến. Ca ngợi sách đời. Bất kính kinh Phật. Các luận nghĩa xấu. Nuôi tám bất tịnh. Đúng là lời Phật. Lại bảo lời ma. Đúng là lời ma. Lại bảo lời Phật. Hoặc lại tín thọ. Thuyết của sáu thầy. Hoặc nói thế này. Như Lai hôm nay. Rốt cục niết bàn. Tam Bảo vô thường. Thân tâm nghi hoặc. Vô lượng đảo kiến. Vì thế hôm nay. Vô lượng sợ hãi. Vô lượng hổ thẹn. Quy y Tam Bảo. Chư Phật từ bi. Phương Đẳng phụ mẫu. Bồ Tát tri thức. Cho phép chúng con. Phát lộ sám hối. Mong trừ trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp tới nay. Nguyện sau không tạo tác.

Lại nữa Thế Tôn. Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp đến nay. Đến thân hình này. Hoặc phạm tội lấy đồ của tăng. Hoặc phạm vào đồ của mười phương tăng. Hoặc phạm vào đồ của tăng hiện tại. Hoặc phạm vào đồ của ngũ bộ tăng. Thậm chí đồ của một tì kheo. Đồ của tất cả thí chủ. Hoặc lại tự xưng. Ta đắc chính pháp. Tứ thiền tứ quả. Bởi vì ác nghiệp. Nhân duyên bất thiện. Hoặc vốn xuất gia. Tạo bốn trọng tội. Tám cấm sáu trọng. Mười ba tội tăng. Hai pháp bất định. Ba mươi xả đọa. Chín mốt tội đọa. Bốn pháp sám hối. Rất nhiều học pháp. Bảy pháp diệt tránh. Hoặc phạm lần lượt. Các giới như thế. Từ đột-cát-la <span className="note-blue">[những giới nhỏ nhặt nhất trong giới luật của vị tì kheo]</span>. Đến bốn tội nặng. Hoặc năm nghịch tội. Phỉ báng chính pháp kinh điển thâm sâu. Tạo hạnh Nhất-xiển-đề. Lại giấu không hối. Ngày đêm tăng trưởng. Từng nghe Phật nói. Nếu phạm bốn trọng. Cho đến năm nghịch. Hoặc báng chính pháp. Nếu không phát lộ. Đọa chắc địa ngục. Chư Phật Bồ Tát. Thanh Văn Duyên Giác. Không thể cứu hộ. Sư tăng phụ mẫu. Chư thiên thế nhân. Cũng không thể cứu. Vì thế hôm nay. Vô lượng sợ hãi. Vô lượng hổ thẹn. Vì thế hôm nay. Quy y Tam Bảo. Quá khứ Đa Bảo. Vị lai Thiên Phật. Hiện tại phân thân chư Phật Thích Ca. Chư Phật từ bi. Phương Đẳng phụ mẫu.  Bồ Tát tri thức. Cho phép chúng con. Phát lộ sám hối. Mong trừ vô lượng kiếp tới nay. Phiền não chướng. Nghiệp chướng. Báo chướng. Bốn tội vô gián. Mười tội trọng ác. 

Lại nữa Thế Tôn. Chúng con hôm nay. Vì các chúng sinh. Và bản thân mình. Trước mười phương Phật. Nay xin sám hối. Tất cả chúng sinh. Từ vô lượng kiếp. Không biết chư Phật. Và ơn cha mẹ. Không hiểu pháp thiện. Tạo các pháp ác. Tự cậy tên tuổi. Và nhiều tài bảo. Tuổi trẻ phóng túng. Làm các nghiệp ác. Tùy ý làm bừa. Không nhìn thấy họa. Phàm phu vô tri. Làm hạnh ngu si. Gần gũi bạn xấu. Phiền não loạn tâm. Vì năm dục vọng. Tâm sinh oán hận. Không biết thỏa mãn. Làm bao điều ác. Gần kẻ bất chính. Ghen ghét bủn xỉn. Vì cảnh bần cùng. Mà làm việc ác. Và dùng nữ sắc. Làm trò gian ác. Lệ thuộc người khác. Nên thường sợ hãi. Không được tự do. Kết bao phiền não. Tham dục ngu si. Nhiễu động tâm trí. Khát tình dồn ép. Tạo tác ác nghiệp. Thân khẩu ý ác. Ba nghiệp tích tập. Các tội như thế. Nay đều sám hối. Hoặc không cung kính. Phật pháp thánh tăng. Các tội như vậy. Nay đều sám hối. Hoặc không cung kính. Bồ Tát Duyên Giác. Các tội như vậy. Nay đều sám hối. Bởi vì vô trí. Phỉ báng chính pháp. Không biết cung kính. Cha mẹ sư trưởng. Các tội như vậy. Nay đều sám hối. Mê muội che mờ. Kiêu mạn phóng túng. Vì tham sân si. Tạo bao điều ác. Các tội như vậy. Nay đều sám hối. Nay con cúng dường. Chư Phật mười phương. Mong các chúng sinh. Trụ nơi mười địa. Đều được đầy đủ. Như Lai chính giác.

Khi ấy. Phật bảo Thiện Kiến Vương Tử. Lành thay lành thay. Đại sĩ đại sĩ. Tự quan sát mình. Ác nghiệp bất thiện. Sinh lòng sợ hãi. Giãi bày ác tội. Lại vì chúng sinh. Sám hối các tội. Vì thế gọi ngươi. Là chân đại sĩ. Tự lìa mọi ác. Lại khiến chúng sinh. Rời xa mọi ác. Vì thế gọi ngươi. Là chân đại sĩ. Không mong cho mình. Lại mong chúng sinh. Đắc thành chính giác. Vì thế gọi ngươi. Là chân đại sĩ. 

Khi ấy, Thiện Kiến Vương tử cùng với ba nghìn người sám hối xong, đọc bài kệ tán thán Phật rằng:

Duy Phật một người bậc đệ nhất  
Tam giới phụ mẫu nhất thiết trí  
Hết thảy các hàng không sánh bằng  
Cúi lạy Thế Tôn bậc hiếm có  
Người phàm làm ơn vì lợi mình  
Thí tiền vì mong nhận phúc báo  
Phật đại nhân từ không như vậy  
Oán thân ghét yêu lợi cho đều  
Bậc đại tinh tấn con quy mệnh  
Phật Nhị Túc tối thượng tôn kính <span className="note-blue">[Nhị Túc là một tôn hiệu của Phật Đà, chỉ Phật là bậc viên mãn hai thứ phúc và trí, nên còn gọi là Nhị Túc Tôn.]</span>  
Trí năng nhìn người đều thấy biết  
Chư Thiên không hiểu trí năng này  
Quá khứ vị lai chư Phật nay  
Tất cả con đều rập đầu lễ  
Như vậy nay con quy mệnh Phật  
Cũng như cung kính ba Thế Tôn.

Khi ấy. Chư Phật mười phương. Liền vì Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Mà nói bài kệ dạy rằng:  
*Nếu muốn cầu Phật đạo  
Thường theo người đa văn  
Làm theo lời thầy tốt  
Thành Phật cũng chẳng lâu  
Nếu giữ giới thanh tịnh  
Gọi là tì kheo thật  
Nếu có thể quán không  
Gọi là đắc tam muội  
Nếu có thể tinh tấn  
Gọi là người hành đạo  
Nếu có đắc niết bàn  
Gọi là vì thực lạc  
Trì giới đại sa môn  
Đại giới thanh tịnh ni  
Nửa tháng thường bố tát <span className="note-blue">[Bố tát: ngày tụng giới, nghi thức sám hối sớm nhất của Phật giáo.]</span>  
Kết tịnh hành khất thực  
Thân khoác tăng già lê <span className="note-blue">[Tăng già lê: một trong ba y phục của tăng.]</span>  
Y bát mang theo mình  
Chư Thiên đều hoan hỷ  
Cung kính chắp tay lễ  
Ta khiến các thiên nhân  
Làm người theo hầu hạ  
Cũng như các tiểu thiên  
Phụng sự Thiên Đế Thích  
Ngày nay được hiện báo  
Vị lai không thể lường  
Xuất gia giữ giới cấm  
Gọi là báo ơn Phật  
Lại nữa Thiện Kiến Vương  
Trừ ta và Bồ Tát  
Tất cả người thế gian  
Tâm sinh thanh tịnh tín  
Biết hết mười phương Phật  
Thường trụ không niết bàn  
Pháp tăng cũng như vậy  
Những hạng người như thế  
Gọi là báo ơn Phật.  
Lại nữa Thiện Kiến Vương  
Tất cả người thế gian  
Tâm không phân biệt tướng  
Biết rõ đạo một thừa  
Quá khứ và vị lai  
Mười phương và hiện tại  
Duy có một Phật thừa  
Không hai cũng không ba  
Nếu phát được ý này  
Tâm không phân biệt tướng  
Các hạng người như vậy  
Gọi là báo ơn Phật.  
Lại nữa Thiện Kiến Vương  
Nếu lại có một người  
Sau khi ta diệt độ  
Tâm thường sinh tín giải  
Đều nói các chúng sinh  
Đều có Như Lai tính  
Các hạng người như vậy  
Cũng gọi báo ơn Phật  
Nếu tu một niệm lành  
Không cầu quả báo trời  
Hướng thẳng đạo vô thượng  
Cũng gọi báo ơn Phật  
Lại nữa Thiện Kiến Vương  
Sau khi ta diệt độ  
Nếu lại có một người  
Có lúc đọc kinh này  
Kính trọng Phật pháp tăng  
Hiếu thuận cúng dường thầy  
Các hạng người như vậy  
Cũng gọi báo ơn Phật  
Nếu có người bỏ tiền  
Thức ăn và quần áo  
Phổ thí cho đại chúng  
Cũng gọi báo ơn Phật  
Lại nữa Thiện Kiến Vương  
Trong thời mạt pháp ta  
Nếu có hóa một người  
Chốc lát nghe kinh này  
Hơn mọi cúng dường khác  
Trăm ức Bồ Tát chúng  
Vì thế kinh Đại thừa  
Mẹ chư Phật Bồ Tát  
Niệm Phật kính kinh này  
Và các Bồ Tát chúng  
Tâm ngay không này nọ  
Gọi là báo ơn Phật  
Lại nữa Thiện Kiến Vương  
Ai trong thời mạt pháp  
Nếu muốn báo ơn Phật  
Một niệm trong thiền định  
Thắng tất cả con người  
Sống trong ba nghìn cõi  
Hạng phỉ báng thiền định  
Như giết tất cả người  
Và các loài chúng sinh  
Đầy trong ba nghìn cõi  
Hạng hủy hoại thiền định  
Tội ấy cũng như thế  
Nếu người thấy tu thiện  
Phỉ báng không chịu tin  
Đoạn diệt giống Tam Bảo  
Không gọi báo ơn Phật.*

Khi ấy. Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Được Phật dạy như thế. Hoan hỷ đảnh lễ nhận. Lại nói bài kệ rằng. 

Chúng con ngày nay  
Cúi lạy quá khứ  
Vị lai hiện tại  
Chư Phật ba đời  
Cũng lại quy mệnh  
Thích Ca Văn Phật  
Cúi lạy tám vạn  
Bốn nghìn pháp tạng  
Cũng lại quy mệnh  
Các kinh pháp khác  
Cúi lạy quá khứ  
Duy Ma Văn Thù  
Cũng lại quy mệnh  
Đa văn đại trí  
A Nan Xá Lợi  
Cúi lạy vô học  
Năm phần pháp thân  
Cũng lại quy mệnh  
Thủy học sơ nhân  
Cúi lạy vừa xong  
Lại thuyết kệ rằng  
Chư Phật nói gì thật  
Cái gì là không thật  
Thật và cả không thật  
Hai việc không thể đắc  
Vì thế tướng chân thật  
Không đùa nơi các pháp  
Vì thương xót chúng sinh  
Phương tiện chuyển pháp luân  
Các thánh trước đến giờ  
Phật đã đến như vậy  
Thực tướng và nơi đi  
Phật cũng thế không khác  
Các thánh nói sự thật  
Phật cũng nói sự thật  
Vì thế gọi là Phật  
Là Ta Tha Ga Ta <span className="note-blue">[Tathagata: Đấng Như Lai]</span>  
Tâm nhẫn chắc như giáp  
Sức tinh tấn như cung  
Trí sắc nhọn như tên  
Phá các giặc ngạo mạn  
Hợp nhận thiên thế nhân  
Tất cả mọi cúng dường  
Vì thế gọi là Phật  
Lấy hiệu A La Hán  
Biết đúng thực tướng khổ  
Cũng thực biết nhân khổ  
Biết thực tướng khổ tận  
Cũng biết đạo khổ tận  
Chân chính giải bốn đế  
Định thực bất khả biến  
Cho nên trong mười phương  
Hiệu Tam Miểu Tam Phật  
Đắc tam minh vi diệu  
Hạnh thanh tịnh cũng đủ  
Vì thế hiệu Thế Tôn  
Bỉ Xà Già La Na  
Hiểu biết tất cả pháp  
Tự đắc diệu đạo pháp  
Hoặc lúc thuận tiện nói  
Vì thương xót tất cả  
Diệt trừ lão bệnh tử  
Cho đến nơi yên ổn  
Vì thế gọi là Phật  
Lấy hiệu Tu Già Đà  
Biết đời trước tới nay  
Cũng biết đời tận đạo  
Vì thế gọi là Phật  
Hiệu Lộ Già Bỉ Đà  
Giới định huệ đẳng nhãn  
Luôn xuất hiện đúng lúc  
Vì thế gọi là Phật  
Hiệu A Nậu Đa La  
Đại bi độ chúng sinh  
Khéo léo dạy điều chuyển  
Vì thế gọi là Phật  
Phú Lâu Sa Đàm Miểu  
Trí năng không phiền não  
Nói giải thoát tối thượng  
Vì thế gọi là Phật  
Đề Bà Ma Thiểu Xá  
Tam thế động bất động  
Tận và bất tận pháp  
Dưới cây đạo đều biết  
Vì thế gọi là Phật.

Khi ấy. Chư Phật mười phương nhập thần thông tam muội. Và tự nhấc mình. Ở tại không trung. Dị khẩu đồng thanh. Xướng lời như vậy. Thiện Kiến Đại Sĩ và ba nghìn người. Tội tính các người. Không ở ngoài. Không ở trong. Không ở giữa. Vì tâm thật nên thiện lực thật. Vì tâm giải nên tội tính giải. Vì không huệ nên tội tính không. Vì tín lực nên phúc lực nhiều. Nếu người có thể sám hối như vậy. Thì vì mình thấy ta. Cũng thấy Đa Bảo Phật và các phân thân. Sám hối diệt tội. Vì thường thấy ta ngày nay giáo hóa các Bồ Tát. Người sám hối như thế. Khiến ta và phân thân. Diệt độ Đa Bảo Phật. Tất thảy đều hoan hỷ. Mười phương hiện tại Phật. Và quá khứ vị lai. Cũng thấy cũng cúng dường. Cũng khiến được hoan hỷ. Theo kinh Đại thừa này. Được vào cửa bồ đề.

Phật bảo các đệ tử. Có tội muốn sám hối. Cần như Thiện Kiến Vương. Lễ chư Phật ba đời. Mười hai bộ kinh quý. Các đại Bồ Tát tăng. Lần lượt một lòng lễ. Cũng như gặp thân ta. Gặp tướng ta. Thấy tướng ta. Thấy một tướng Phật. Hai tướng Phật. Mười tướng Phật. Thấy trăm tướng Phật. Nghìn tướng Phật. Vạn tướng Phật. Cũng như thấy vô lượng tướng Phật. Lần lượt một lòng lễ như vậy. Người này phúc đức vô lượng. Diệt trừ trọng tội sinh tử. Trong a tăng kỳ kiếp. Không đọa ba ác đạo. An trú nơi Phật đạo. Chắc chắn không nghi ngờ. Vì thế hối các tội. Chí tâm tin đạo lý. Chắc chắn được diệt tội. 

Khi ấy. Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Đều đồng thanh nói. Dùng kệ tán Phật. 

Thế Tôn đại từ bi  
Đại Pháp Vương họ Thích  
Tiếng như sư tử gầm  
Thu nhận mọi chúng sinh  
Coi như một người con  
Cũng không hề này khác  
Nhờ thấy bậc vô thượng  
Cho nên nay kính lễ. 

Khi ấy. Phật bảo Thiện Kiến Vương Tử và ba nghìn người. Nếu hay phát lộ. Sám hối như thế. Không che giấu tội. Là Bồ Tát thật. Người vào đời sau. Ắt được làm Phật. Lại nữa thiện nam tử. Sau khi ta diệt. Nếu có người thành tâm lễ mười phương chư Phật. Mười hai bộ kinh. Các Bồ Tát tăng. Thì gọi là báo ơn Tam Bảo. Tức diệt ngay được tội thập ác ngũ nghịch và báng kinh Phương Đẳng. Diệt xong tội này. Người được độ hợp với Tu Đà Hoàn. Thì ban cho quả Tu Đà Hoàn. Người được độ hợp với Tư Đà Hàm. Thì ban cho quả Tư Đà Hàm. Người được độ hợp với A Na Hàm. Thì ban cho quả A Na Hàm. Người được độ hợp với A La Hán. Thì ban cho quả A La Hán. Người được độ hợp với Bích Chi Phật. Thì ban cho quả Bích Chi Phật. Người được độ hợp với Bồ Tát. Thì ban cho quả Bồ Tát. Nay trong kinh này các đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Đắc nhất sinh thực tướng. Đều do lễ thập phương tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc nhị sinh pháp giới. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc trí tột cùng. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc ngộ đệ nhất nghĩa đế. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc thủ lăng nghiêm tam muội. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc hư không tam muội. Trí ấn tam muội. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc bất thối nhẫn. Như pháp nhẫn, như pháp giới nhẫn. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc đà-la-ni. Đại niệm tâm vô vô ngại trí. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc sư tử hống tam muội. Kim cương tam muội. Ngũ trí ấn tam muội. Đều do lễ tam thế chư Phật. Hoặc có Bồ Tát đắc bình đẳng tam muội. Đại từ đại bi A nậu đa la tam miểu tam bồ đề Phật hạnh. Đều do lễ tam thế chư Phật.

Khi ấy. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Tất cả chúng sinh. Tâm loạn cuồng mê. Tạo tác ác nghịch. Làm sao tự biết. Mà được diệt tội. 

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi. Như trên đã nói. Nếu có người nghe kinh điển Phương Quảng này. Và nghe danh hiệu chư Phật mười phương ba đời. Mười hai bộ kinh. Các đại Bồ Tát. Tâm sinh hoan hỷ. Vô lượng tín kính. Viết chép thọ trì. Đọc tụng trôi chảy. Ở nơi thanh tịnh. Dọn dẹp một phòng. Phấn thơm phủ sàn. Lấy cờ phướn tốt. Trang nghiêm bên trong. Trước tiên thắp hương. Sau đó thỉnh Phật. Không kể nhiều ít. Xịt nước hoa trước. Mặc quần áo sạch. Hễ đi vệ sinh. Lại một lần tắm. Bố trí bảo tọa. Tu lâu kinh này. Biết rõ pháp tướng. Không nhân ngã kiến. Thỉnh mệnh lệnh trên. Phân biệt ca ngợi. Thắp lên hương quý. Nhất tâm bất loạn. Chính ý chính niệm. Nhất tâm niệm Phật. Thì những người này. Hòa hợp với trên. Nếu không hòa hợp. Sân hận tranh tụng. Không gọi là hối. Ôm lòng sân hận. Tức trái với đạo. Nhớ đến Đại thừa. Nghĩ đệ nhất nghĩa. Bảy ngày bảy đêm. Không được nằm ngủ. Một ngày ba thời. Đọc tụng kinh này. Ngày đêm sáu thời. Thắp hương cúng dường. Lễ bái sám hối. Xưng chư Phật Bồ Tát trong kinh này. Danh hiệu mười hai bộ kinh. Tâm tâm bất loạn. Tâm tâm không rối. Tâm tâm không khác. Giờ giờ tinh tấn. Ngày ngày tinh tấn. Tâm sinh tín niệm. Tâm sinh hoan hỷ. Tâm tâm thứ lớp. Tâm tâm tương tục. Tâm tâm thâm trọng. Tâm tâm không lìa. Tâm tâm nghĩ tội. Tâm tâm niệm Phật. Tâm tâm niệm pháp. Tâm tâm niệm tăng. Tâm tâm niệm giới. Tâm tâm niệm xả. Tâm tâm niệm thiên. Người này đọc tụng như thế. Lễ bái như thế. Chí tâm như thế. Sám hối như thế. Từ ngày thứ nhất. Đến ngày thứ sáu. Lại lấy phấn thơm phủ sàn. Lại dùng nước thơm tắm gội. Lại đốt các loại hương quý. Thâm tâm cúng dường. Với thành tâm này. Người ấy sám hối. Chấn động mười phương. Ta lúc bấy giờ. Cùng vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật. Vô lượng vô biên hằng hà sa Bồ Tát. Theo âm thanh đó. Đi vào trong phòng. Chứng nhận cho họ. Bảy ngày như thế. Nhất định diệt tội. Tịnh trừ nghiệp tội. Chắn chắn không ngờ. Cho nên biết rằng. Hạng kẻ phàm phu. Chưa hợp chân đế. Cần lấy tướng mộng. Nếu thấy một mộng. Tức diệt một tội. Thấy năm giấc mộng. Tức diệt năm tội. Người đó ban đêm. Mơ thấy thân mình. Muốn qua sông lớn. Đi trên cầu lớn. Cần biết người ấy. Nhất định độ thoát. Hoặc khi người ấy. Mơ thấy thân mình. Người được tắm gội. Trời mưa xuống mình. Cần biết người ấy. Sẽ được thanh tịnh. Hoặc khi người ấy. Mơ thấy thân mình. Đi vào trong đại hội của sa môn. Vào rồi ngồi xuống. Cần biết người ấy. Chân Phật đệ tử. Hoặc khi người ấy. Mơ thấy thân mình. Đi vào chùa tháp. Nhìn thấy tượng lớn. Và thấy Bồ Tát. Cần biết người ấy. Đã đắc chính môn. Hoặc khi người ấy. Mơ thấy thân mình. Tự có được quả. Rồi lại tự ăn. Cần biết người ấy. Còn được quả báo.

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi. Nếu có tì kheo. Tì kheo ni. Bồ Tát. Nam nữ tịnh tín. Sa môn. Sa môn ni. Mất tâm tán loạn. Thân phạm giới cấm. Đã nói ở trên. Sám hối như thế. Sẽ chẳng có lý. Không được diệt tội. Trừ những kẻ không chí tâm sám hối. 

Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật rằng. Thế Tôn. Khi hành pháp này. Nhiều người được không. Phật nói. Một người trở lên. Hai mươi người trở xuống. Khi hành pháp này. Cũng đừng niệm thêm kinh điển khác. Từ khi sám hối. Sau chớ tái phạm. Gọi là pháp hối. Nên nghĩ thế này. Chúng ta từ nay. Như chết sống lại. Ta nên giữ giới. Ta nên tinh tấn. Ta nên đọc tụng. Đại thừa Phương Đẳng. Khi ấy người này. Nên nghĩ như sau. Kể từ hôm nay. Kiên trì giới cấm. Nguyện như kim cương. Khi người đó nghĩ như thế. Duy Ma Đại Sĩ. Lại cùng vô lượng Bồ Tát. Đứng trước người đó. Để mà làm chứng. Đại Đức Phổ Hiền. Sẽ làm Yết ma. Đại Đức Ca Diếp. Cho họ nương dựa. Phật bảo Văn Thù. Đó là diệt tội. Đó là giải thoát. Đó là cụ giới. Đó là đắc trụ. 

Khi ấy Thế Tôn. Lại bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Nếu có phạm vào bốn trọng tám cấm. Sáu pháp mười giới. Ba quy năm giới. Tám cấm mười thiện. Từng điều giới luật. Cho đến ngũ nghịch. Phỉ báng Phương Đẳng. Trừ Nhất-xiển-đề. Nếu không sám hối. Giãi bày các tội. Người ấy mệnh chung. Chắc chắn bị đọa. Địa ngục A Tì. 

Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng. Thế Tôn. Thế nào gọi là. Địa ngục A tì. Chỉ mong Như Lai. Vì các chúng sinh. Nói nhân duyên ấy. Hình trạng lớn nhỏ. Khổ vui thọ báo. Kiếp số bao nhiêu. 

Phật bảo Văn Thù. Vui thay vui thay. Mau hỏi nghĩa này. Hãy nghe cho kĩ. Và các đại chúng. Hãy khéo nghĩ suy. Ta sẽ vì ngươi. Mở mang phân biệt. Vì sao gọi là. Địa ngục A tì. A nghĩa là vô. Tì nghĩa là gián. Gián thì chẳng vui. Nên gọi vô gián. A tức là vô. Tì tức là che. A tức là vô. Tì tức là cứu. A tức là vô. Tì tức bất động. A là cực nóng. Tì là cực phiền. A là không nhàn. Tì là không trụ. Không trụ không nhàn. Gọi ngục A tì. A là đại hỏa. Tì là cực nóng. Mãnh hỏa nhập tâm. Gọi ngục A tì. 

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát rằng. Thiện nam tử. A tì địa ngục. Ngang dọc bằng nhau. Tám vạn do tuần. Trên bảy lớp tường sắt. Có bảy lớp lưới sắt. Dưới có mười tám vạc. Vòng xung quanh bảy lớp. Đều là rừng dao. Trong bảy lớp tường thành. Lại có rừng kiếm. Dưới có mười tám vạc. Từng cái vạc ấy. Tám vạn bốn nghìn lớp. Ở bốn góc của nó. Lại có bốn con chó lớn bằng đồng. Thân nó cao lớn. Bốn mươi do tuần. Mắt như ánh điện. Nanh như cây kiếm. Răng như núi dao. Lưỡi như móc sắt. Vuốt như xiên sắt. Đuôi như rắn sắt. Tất cả chân lông. Đều phun ra lửa. Khói ấy hôi thối. Vật hôi ở đời. Chẳng thể sánh bằng. Ngục ấy bốn cửa. Mỗi một bên cửa. Lại có mười tám lính ngục. Đầu như đầu la sát. Miệng như miệng la sát. Trên đầu mười tám sừng. Tay chân như xiên sắt. Trong bảy lớp tường thành. Có vô số cờ sắt. Đỉnh cờ phun ra lửa. Như dòng suối sục sôi. Tuôn sắt chảy thành dòng. Đầy trong thành A tì. Bốn cửa thành A tì. Trên mỗi một cửa ấy. Lại có mười tám nồi đồng. Phun trào ra sắt. Chảy tràn bốn cửa. Đầy thành A tì. Giữa từng cái vạc. Lại có tám vạn bốn nghìn mãng xà lớn bằng sắt. Nhả độc phun lửa. Đầy khắp trong thành. Tiếng rắn gào thét. Như trời nổi sấm. Mưa trút sắt viên. Đầy thành A tì. Việc khổ trong thành. Tám vạn ức thiên. Cái khổ trong khổ. Cái phiền trong phiền. Đều tập hợp trong. Địa ngục A tì. Bốn hướng có cửa. Bên ngoài mỗi cửa. Lửa cháy hừng hực. Đông tây nam bắc. Giao nhau thông suốt. Tám vạn do tuần. Tường sắt vòng quanh. Lưới sắt che kín. Đất cũng bằng sắt. Lửa táp xuống dưới. Bốn bề trên dưới. Cùng lúc xung quanh. Cùng khởi việc khổ. Như trên đã nói. Bốn trọng tám cấm. Phạm giới ngũ nghịch. Phỉ báng Phương Đẳng. Nếu không sám hối như trong kinh này. Và không hổ thẹn. Người ấy mệnh chung. Như đại tráng sĩ. Gập mình ngoặt tay. Rơi vào trong ngục. Tràn đầy trong thân. Nhiệt não cấp bách. Miệng ngậm không nói. Chỉ có mở mắt ngậm miệng. Ngậm miệng mở mắt. Người ấy chịu tội. Vạn ức đao luân. Từ trên rơi xuống. Xuyên vào từ đầu. Bay ra từ chân. Tất cả việc khổ. Gấp trăm nghìn vạn. Điều nói ở trên. 

Nếu có người phạm bốn trọng. Chịu đại khổ não. Đủ năm đại kiếp. Tám cấm gấp bội. Năm nghịch gấp bội. Phỉ báng Phương Đẳng gấp bội. Phỉ báng Tam Bảo. Trộm đồ của tăng. Làm ô uế tịnh hạnh tì kheo. Làm ô uế tì kheo ni. Kẻ báng sư hại thầy. Gian dâm phụ nữ. Hạng người như thế. Tội tăng gấp bội. Trừ Nhất-xiển-đề. Đoạn tuyệt thiện căn. Không thoát A tì. Hạng tội nhân ấy. Trong khi chịu khổ. Mãnh hỏa nhập tâm. Nóng nực mà chết. Lính quỷ la sát. Cầm xiên sắt đập xuống đất. Quát cho sống dậy. Nghe tiếng liền sống. Một ngày một đêm. Chết đi sống lại. Vạn lần như thế. Chịu đại khổ não. Như nói ở trên. Người ấy ra khỏi địa ngục A tì. Vì nhân duyên phá giới. Ăn không của bố thí của tín chúng. Lại vào mười tám địa ngục nhỏ. Được gọi là địa ngục băng lạnh. Địa ngục hắc ám. Địa ngục nóng bỏng. Địa ngục bánh xe dao. Địa ngục bánh xe kiếm. Địa ngục xe lửa. Địa ngục phân sôi. Địa ngục nước sôi. Địa ngục sông vôi. Địa ngục rừng kiếm. Địa ngục giường sắt. Địa ngục cột đồng. Địa ngục máy sắt. Địa ngục bánh xe sắt. Địa ngục hầm sắt. Địa ngục viên sắt. Địa ngục đá nhọn. Địa ngục uống đồng. Cứ tám trăm vạn năm. Mới được thoát ra. Thường sinh nơi thấp. Trong năm trăm đời. Không biết Tam Bảo. Gặp thiện tri thức. Được phát bồ đề. Không gặp tri thức. Lại đọa địa ngục. Phạm tội đột-cát-la. Nếu không sám hối. Chịu khổ địa ngục. Tám trăm vạn năm theo ngày tháng của Tứ Thiên Vương. Phạm tội ba-dạ-đề thì lại chịu gấp hai lần. <span className="note-blue">[Tội ba-dạ-đề, hoặc ba-dật-đề: tiếng Phạn là pāyattika, một trong các giới cụ túc của tì kheo, tì kheo ni, một trong các tội nhẹ.]</span> Tội tăng tàn lại chịu gấp hai lần. <span className="note-blue">[Tội tăng tàn: tiếng Phạn là sanghāvasesa là trọng tội ở mức độ thấp hơn bốn trọng tội giết-trộm-dâm-dối.]</span> Các tội nhân này. Khi phải chịu khổ. Chẳng nói gì khác. Chỉ kêu lên rằng. A ba ba. A cha cha. A la la. A bà bà. Vì thế có tội. Cần mau sám hối. Quy về Tam Bảo. 

Lại nữa. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu có người muốn mau chóng diệt tội. Như trong kinh này. Phát lộ sám hối. Hành đạo bảy ngày. Ngày ăn một bữa. Tư duy chính quán. Nhớ đến khi Như Lai thành Phật. Đại nhân tướng. Giác nhân tướng. Bất động nhân tướng. Giải thoát nhân tướng. Quang minh nhân tướng. Mãn trí năng nhân tướng. Đầy đủ các tướng ba la mật. Các tam muội hải tướng như hàng thủ lăng nghiêm. Bồ Tát Ma Ha Tát. Từ thắng ý từ tam muội khởi nhập diệt ý định. Từ diệt ý định khởi hoàn nhập thủ lăng nghiêm định. Từ thủ lăng nghiêm định khởi nhập huệ cực tam muội. Từ huệ cực tam muội khởi nhập các pháp tướng tam muội. Từ các pháp tướng tam muội khởi nhập quang minh tướng tam muội. Từ quang minh tướng tam muội khởi nhập sử tử âm thanh tam muội. Từ sư tử âm thanh tam muội khởi nhập sư tử phấn tấn tam muội. Từ sư tử phấn tấn tam muội khởi nhập sư tử chấn động tam muội. Từ sư tử chấn động tam muội khởi nhập hải ý tam muội. Từ hải ý tam muội khởi nhập phổ trí tam muội. Từ phổ trí tam muội khởi nhập đà-la-ni ấn tam muội. Từ đà-la-ni ấn tam muội khởi nhập phổ hiện sắc thân tam muội. Từ phổ hiện sắc thân tam muội khởi nhập pháp giới tính tam muội. Từ pháp giới tính tam muội khởi nhập sư tử vương tam muội. Từ sư tử vương tam muội khởi nhập diệt các ma tướng tam muội. Từ diệt các ma tướng tam muội khởi nhập không huệ tam muội. Từ không huệ tam muội khởi nhập giải không tướng tam muội. Từ giải không tướng tam muội khởi nhập đại không trí tam muội. Từ đại không trí tam muội khởi nhập biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội. Từ biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội khởi nhập biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội. Từ biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội khởi nhập quán tâm tướng tam muội. Từ quán tâm tướng tam muội khởi nhập Bồ Tát Ma Ha Tát kim cương tướng tam muội. Từ Bồ Tát Ma Ha Tát kim cương tướng tam muội khởi nhập kim cương đỉnh tam muội. Từ kim cương đỉnh tam muội khởi nhập tất cả hải tam muội. Từ tất cả hải tam muội khởi nhập tất cả đà-la-ni hải tam muội. Từ tất cả đà-la-ni hải tam muội khởi nhập tất cả Phật cảnh giới hải tam muội. Từ tất cả Phật cảnh giới hải tam muội khởi nhập tất cả chư Phật giải thoát giải thoát tri kiến hải tam muội. Từ tất cả chư Phật giải thoát giải thoát tri kiến hải tam muội trở dậy, sau đó nhập vào vô lượng vô biên các tam muội hải môn. Từ các tam muội hải môn khởi nhập tịch ý diệt ý tam muội. Từ tịch ý diệt ý tam muội khởi nhập kim cương dụ định đại giải thoát tam muội môn. 

Phật bảo Văn Thù. Sau khi ta diệt. Nếu có thiện nam tử. Thiện nữ nhân. Sinh một niệm tín tâm. Nếu có thể viết chép đọc tụng một bài kệ. Niệm tướng này. Nhớ tướng này. Quán tướng này. Tín tâm thành tựu. Chỉ trong một niệm. Mãi lìa ám chướng. Biết rõ Như Lai. Thường trụ bất diệt.

Khi ấy Thế Tôn. Vì các đại chúng. Lại nói bài kệ. 

Các quỷ thần lực sĩ  
Súc sinh Tượng Vương ác  
Dâm nữ và ác long  
Vô lượng các kẻ ác  
Bà Tẩu, A Xà Thế  
Đề Bà, Ương Quật Ma  
Thân tâm khởi tội nghịch  
Phải đọa ngục A tì  
Ba đời sinh tín lễ  
Mười phương vô lượng Phật  
Thích Ca lâm niết bàn  
Vì trụ vô lượng kiếp  
Người nước Ma Già Đà,  
Đều phát bồ đề tâm  
Đều do cung kính lễ  
Thập phương tam thế Phật,  
A Nhã Kiều Trần Như  
Năm trăm hàng Thanh Văn  
Đời sau thành Phật đạo  
Đều do cung kính lễ  
Thập phương tam thế Phật  
Ngoại đạo Bà la môn  
Thập tiên Đại Phạm Chí  
Nay đắc A La Hán  
Vì xưa đời quá khứ  
Đều do cung kính lễ  
Thập phương tam thế Phật  
Tự ngộ đệ nhất nghĩa  
Trong mười phương Phật thổ  
Tất cả Bồ Tát chúng  
Vãng sinh vô lượng thọ  
Đều do cung kính lễ  
Thập phương tam thế Phật  
Lại nữa Thiện Kiến Vương  
Ta xưa làm quốc vương  
Tên là Đại Tiên Dự  
Ngày còn chưa thành Phật  
Cúng dường người xuất gia  
Năm trăm Bà la môn  
Thực phẩm và y phục  
Nhà ở và chỗ ngủ  
Đầy đủ hai mươi năm  
Khi đó ta nói rằng  
Các thầy phát bồ đề  
Là các Bà la môn  
Tuy luôn nhận cúng dường  
Lại không tin Tam Bảo  
Các thầy đáp ta rằng  
Thế gian không bồ đề  
Và cũng không giải thoát  
Chúng ta nghe lời ấy  
Vì hộ kinh Phương Đẳng  
Đoạn lìa Bà la môn  
Mạng căn năm trăm người  
Người đó mạng đã hết  
Liền đọa ngục A tì  
Vì đã đọa địa ngục  
Khi ấy phát ba niệm  
Kính lễ Phật ba đời  
Kính tín kinh Phương Đẳng  
Đại Sĩ Bồ Tát tăng  
Khi phát ba niệm xong  
Liền thoát khỏi địa ngục  
Vãng sinh Cam Lộ Cổ  
Thọ mạng mười tiểu kiếp  
Đều do sinh tín tâm  
Kính lễ mười phương Phật  
Các vị Bà la môn  
Ban đầu phỉ báng kinh  
Nên đọa vào địa ngục  
Sau tin liền được thoát  
Huống chi ngươi Bồ Tát  
Có đủ tâm hổ thẹn  
Vốn mình thực không tội  
Là vì các chúng sinh  
Sám hối bốn cấm trọng  
Và năm tội vô gián  
Ngay cả Nhất-xiển-đề  
Nếu có kẻ phàm phu  
Thân phạm tội như thế  
Nếu theo đây sám hối  
Trừ diệt bốn cấm trọng  
Ngũ nghịch Nhất-xiển-đề  
Tất đắc thành Phật đạo  
Chỉ trừ kẻ không tin  
Nếu có tâm tín giải  
Cung kính lễ chư Phật  
Chẳng có lý không thành  
Khi ấy Thiện Kiến Vương  
Cùng cả ba nghìn người  
Đồng thanh bạch Phật rằng  
Nếu chúng con thành Phật  
Nguyện vượt dòng sinh tử  
Chỉ mong thiên nhân tôn  
Vì con mà nói rõ  
Nếu có người thọ trì  
Viết chép và đọc tụng  
Công đức được ra sao  
Phật nói Thiện Kiến Vương  
Các người nghe cho khéo  
Ta vì ngươi mà nói  
Nếu ai dùng thất bảo  
Cúng dường nghìn thế giới  
Thí cho tất cả chúng  
Lại năng khéo thuyết pháp  
Đắc được quả La Hán  
Không bằng có một người  
Nghe tên chư Phật này  
Thậm chí một niệm tín  
Hoặc lại lễ một thời  
Phúc ấy hơn phúc kia  
Huống hồ đọc tụng viết  
Người kính tín lễ bái  
Công đức không thể lường  
Nếu người năng viết chép  
Thọ trì và đọc tụng  
Phát tâm thời lễ bái  
Còn hơn xây chùa tháp  
Trong khắp nghìn thế giới  
Khi ấy Đại Ca Diếp  
A Nan, Xá Lợi Phất  
Hộ tháp Kim Cương sĩ  
Các Phạm và Đế Thích  
Chuyển Luân Tứ Thiên Vương  
Cúi đầu lễ chân Phật  
Đồng thanh bạch Phật rằng  
Như Lai tạ thế rồi  
Chúng con sẽ lưu truyền  
Giáo hóa các chúng sinh  
Hộ niệm người lễ bái  
Được tâm thường an ổn  
Hoặc phạm phá trọng cấm  
Ngũ nghịch báng Phương Đẳng  
Khiến được nghe tên Phật  
An trú đất thanh tịnh  
Cũng như Thiện Kiến Vương  
Đời sau thấy Phật tính. 

Khi ấy. Phật Thích Ca Mâu Ni bảo các đại chúng. Các người nghe kĩ. Nay ta vì ngươi. Nói nhân duyên gốc. Ta ở thời xưa. Quá vô lượng kiếp. Nơi Diệu Quang Phật. Nghe danh thập phương tam thế Phật. Tâm sinh hoan hỷ. Chắp tay nghe nhận. Nơi nơi chốn chốn. Giáo hóa vô lượng vô biên chúng sinh. Nghe tên chư Phật. Khi ấy trong chúng. Duy có ba nghìn người. Cùng pháp nghĩa ta. Sinh vô lượng tín tâm. Theo ta lễ bái. Danh hiệu chư Phật. Nay thấy mười phương đều thành chính giác.

Phật bảo đại chúng. Các thiện nam tử. Muốn diệt bốn trọng. Trọng tội vô gián. Phỉ báng Phương Đẳng. Tội Nhất-xiển-đề. Đều do tín tâm. Lại nữa thiện nam tử. Nếu ai không tin. Khinh thường bất kính. Liền vì phỉ báng mười hai bộ kinh này. Và vì phỉ báng sắc thân kim cương. Và vì phỉ báng Đại Sĩ Văn Thù Sư Lợi. Và vì phỉ báng chư Phật mười phương. Người này chắc chắn đọa địa ngục là điều chẳng hề giả. Là vì sao. Là vì bất tín. Phỉ báng chính pháp. Phỉ báng thượng nhân. Phỉ báng tất cả thập phương tam thế Phật. Đọa chắc địa ngục. Tin danh hiệu Phật. Chí tâm lễ bái. Thì không có lý. Không trừ diệt được. Thập ác ngũ nghịch. Và báng Phương Đẳng. Chỉ trừ kẻ không tin. Đoạn thiện căn của người. Thành kẻ Nhất-xiển-đề. Các thiện nam tử. Trăm ức Thích Ca. Lần lượt phân thân. Phật quốc giáo hóa. Thích Ca sau cùng. Tức là thân ta. 

Ba nghìn người khi ấy. Nay đều thành Phật. Nghìn người đầu tiên. Hoa Quang đứng đầu. Nghìn người tiếp theo. Lâu Chí đứng đầu. Nghìn người sau cùng. Di Lặc đứng đầu. Vì thế các người. Cần nên kính lễ danh hiệu thập phương tam thế chư Phật. Ngươi vào đời sau. Nên vì đại chúng. Khai xiển đạo giáo. Rộng cứu người mù. Được rời tam giới. Yên lặng nhàn cư. Sống yên đạo tràng. Như ta không khác. 

Khi ấy Đà La Ni Bồ Tát. Lập tức đứng dậy. Sửa sang y phục. Chắp tay cung kính. Và bạch Phật rằng. Thế Tôn. Kinh này tên gọi là gì. Phụng trì ra sao. Tu hành thế nào.

Phật bảo Ngài Đà La Ni Bồ Tát rằng. Thiện nam tử. Tên kinh này là Đại Thông Phương Quảng. Cũng gọi là sám hối trừ tội được phúc. Thọ trì như thế. Cũng gọi là kinh ba nghìn người trang nghiêm thành Phật. Thọ trì như thế. Quảng đại vô đối. Thọ trì như thế. Phổ nhiếp tất cả. Thọ trì như thế. Vô lượng tạng môn. Thọ trì như thế. Kim cương bảo tạng. Giúp các cấm trọng. Thọ trì như thế.

Đà La Ni Bồ Tát bạch Phật rằng. Thế Tôn. Theo như Phật nói. Kinh này như vậy. Duy đại lợi ích. Vô lượng chúng sinh. Diệt tội thành Phật. Kinh này tức là. Mẹ của chư Phật. Đạo của Bồ Tát. Mắt của Thanh Văn. Nhà của thiên nhân. Có những sự việc. Không thể nghĩ bàn. Con nên thọ trì. Thiên thượng nhân gian. Nơi nơi chốn chốn. Tuyên truyền quảng bá. Khiến cho không đoạn. Khiến trụ lâu dài.

Phật nói. Lành thay lành thay. Đại Sĩ như thế. Tổng trì vô lượng. Tất cả đại tạng. Ở đời mai sau. Ngồi chỗ ta ngồi. Đi chốn ta đi. 

Khi Phật nói kinh này. Vô lượng Bồ Tát trụ bất thối bất động địa. Tám vạn Thanh Văn phát tâm Đại thừa. Mười nghìn tì kheo đắc quả A La Hán. Tám vạn bốn nghìn thiên nhân đắc pháp nhãn tịnh. Trăm nghìn chúng sinh phát tâm A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. 

Phật nói xong kinh này. Hoa vàng hồ quý. Bỗng nhiên biến mất. Phật thu ánh sáng. Thế giới Ta Bà. Cao thấp bất tịnh. Uế ác như cũ. Vì người làm ác. Địa ngục như cũ. Thuyết xong kinh này. Về rừng sa la. Tất cả đại chúng. Hoan hỷ phụng hành. 

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

**Quyển Hạ hết.**

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/kinh-nhat-thiet-nhu-lai-tam-bi-mat-toan-than-xa-loi-bao-khiep-an-da-la-ni.md
# Title: Kinh Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni
---

## Kinh Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Tôi nghe như vầy.

Một thời, Đức Phật ở tại nước Ma Già Đà, trong vườn Vô Cấu, hồ Bảo Quang Minh, cùng đại Bồ Tát và đại Thanh Văn, Thiên long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và loài không phải người… vô lượng trăm nghìn đại chúng đi nhiễu xung quanh.

Lúc bấy giờ, trong chúng hội có một đại Bà la môn tên là Vô Cấu Diệu Quang, hiểu biết sâu rộng, thông minh, được mọi người yêu mến, thường làm mười điều thiện, tin theo và quy y Tam Bảo, thiện tâm sâu nặng, trí huệ tinh tế, thường muốn khiến tất cả chúng sinh được đầy đủ tốt lành, giàu có sung túc.

Bấy giờ Bà la môn Vô Cấu Diệu Quang rời chỗ ngồi đứng dậy đi đến trước Đức Phật, nhiễu quanh bảy vòng, dâng lên Thế Tôn các loại hoa thơm, diệu y vô giá, chuỗi vòng châu ngọc, đảnh lễ dưới hai chân Phật rồi lui về một bên mà thưa rằng:

“Chỉ mong Thế Tôn và chư đại chúng, buổi sáng ngày mai đến nhà con nhận cúng dường của con.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn im lặng bằng lòng.

Khi ấy, Bà la môn biết Đức Phật đã nhận lời, bèn trở về nhà, ngay trong đêm đó sửa soạn bày biện cơm canh thịt cá trăm vị món ăn, quét dọn điện đường, treo lên cờ phướn ô lọng, đến sáng sớm tự mình cùng với người nhà cầm hương hoa cùng ban nhạc đến chỗ Như Lai mà bạch rằng đã đến giờ, cúi mong Ngài giáng lâm.

Lúc bấy giờ Thế Tôn nhẹ nhàng an ủi Bà la môn Vô Cấu Diệu Quang, và tuyên bố với khắp đại chúng rằng:

“Mọi người đều nên đến nhà Bà la môn kia để nhận cúng dường để cho ông ấy nhận được lợi ích lớn.”

Sau đó Thế Tôn liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vừa đứng dậy thì từ thân Phật phóng ra đủ loại ánh sáng, màu sắc tuyệt diệu đan xen nhau chiếu khắp mười phương, ai nấy đều kinh động, sau đó đầy hứng thú lên đường.

Lúc ấy Bà la môn với tâm cung kính cầm hoa thơm tuyệt diệu, cùng quyến thuộc và Thiên long bát bộ, Thích Phạm Tứ Vương đi trước sửa sang đường sá phụng dẫn Như Lai.

Bấy giờ Thế Tôn lên đường chưa được bao xa, đến một khu vườn tên là Phong Tài. Trong khu vườn có một ngôi tháp cũ đổ nát tơi tả, những bụi gai và cỏ dại mọc đầy, che khuất cửa đi, gạch ngói vụn chất đống như gò đất. Bấy giờ Thế Tôn đi về phía ngôi tháp. Trên tháp bỗng tỏa ánh sáng rực rỡ, trong gò đất phát ra tiếng khen rằng:

“Lành thay! Lành thay! Hôm nay Thích Ca Mâu Ni đã đi tới được cảnh giới cực thiện. Còn Bà la môn hôm nay cũng thu hoạch được lợi ích cực thiện.”

Bấy giờ Thế Tôn đảnh lễ ngôi tháp mục nát, nhiễu quanh ba vòng, cởi y áo trên người phủ lên tháp, nước mắt lã chã rơi xuống. Khóc xong Ngài mỉm cười. Mười phương chư Phật khi ấy đều thấy, cũng đều rơi nước mắt và phóng quang chiếu sáng tháp ấy. Thấy thế, đại chúng kinh ngạc biến sắc, cùng nhau cầu Phật giải thích điều này.

Bấy giờ, Kim Cương Thủ Bồ Tát cũng rơi lệ, ngọn lửa uy mãnh cháy hừng hực, cầm chày xoay tròn, đi đến chỗ đức Phật và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà hiện tướng hào quang này? Cớ sao Như Lai rơi lệ như vậy? Cớ sao mười phương chư Phật cũng hiện tướng ánh sáng tốt lành như vậy? Cúi mong Như Lai giải thích điều nghi hoặc cho đại chúng.”

Bấy giờ Phật bảo: 

“Này Kim Cương Thủ! Đại xá lợi toàn thân của Như Lai tích chứa trong bảo tháp này. Vô lượng câu-chi tâm đà-la-ni mật ấn pháp của tất cả Như Lai nay cũng ở trong ấy.

Này Kim Cương Thủ! Vì có pháp yếu này ở trong đó, cho nên tháp này biến thành trùng điệp ken dày như đống hạt vừng, câu-chi trăm nghìn thân Như Lai. Phải biết cũng như đống hạt vừng, trăm nghìn câu-chi xá lợi toàn thân của Như Lai tụ lại trong đó. Thậm chí tám vạn bốn nghìn kinh điển chính pháp cũng tích chứa trong đó. Chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai đỉnh tướng cũng ở trong đó. Do sự thần diệu ấy, tháp này có đại thần thông màu nhiệm thù thắng uy đức, có thể ban phát mọi sự tốt lành cho toàn cõi thế gian.”

Bấy giờ, đại chúng nghe điều Phật nói đều xa lìa được bụi trần, cắt đứt các phiền não, đắc pháp nhãn thanh tịnh, đồng thời lợi ích mà đại chúng có được cũng khác biệt. Có người chứng quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, có người nhập Bồ Tát đạo A-bệ-bạt-trí <span className="note-blue">[bất thối chuyển]</span>, hoặc chứng đắc sơ địa, nhị địa, thậm chí thập địa hoặc có vị được đầy đủ sáu Ba-la-mật. Bà la môn kia cũng lìa cõi trần nhơ bẩn, đắc năm thần thông.

Bấy giờ Kim Cương Thủ thấy việc đặc biệt hiếm có này, bạch Thế Tôn rằng: 

“Thật là kỳ diệu lạ lùng thay! Chỉ nghe việc này mà đã thu hoạch được công đức thù thắng như thế, huống chi được nghe thâm nghĩa, chí tâm khởi lòng tin thì được biết bao là công đức!” 

Đức Phật nói Kim Cương Thủ hãy lắng nghe:

“Đời sau nếu có tín nam tín nữ cùng bốn nhóm đệ tử của ta phát tâm chép một cuốn kinh này, tức là bằng chép chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi tất cả kinh điển của Như Lai đã nói, tức là vượt hơn thiện căn của chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi mà Như Lai đã trồng, và cũng được tất cả các Như Lai gia trì, che chở, nhớ thương như yêu đôi mắt, cũng như mẹ hiền thương con thơ.

Nếu người đọc tụng một quyển kinh này, tức bằng đọc tụng tất cả kinh điển quá khứ, hiện tại, vị lai mà chư Phật đã thuyết. Vì lý do đó, chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi tất cả Như Lai đáp ứng chính đẳng giác, đã đến trùng điệp dày kín không chỗ hổng như hạt vừng, ngày đêm hiện thân gia trì cho người đó. Như thế, tất cả Phật Như Lai như vô số cát sông Hằng, số trước tụ tập chưa đi, số sau đã trùng trùng lại đến, trong phút chốc đã quay trở lại giống như cát mịn trong dòng nước cuồn cuộn không lúc nào ngừng xoay chuyển.

Nếu có người đem hoa thơm, phấn thơm, tràng hoa hay y phục tuyệt diệu trang nghiêm đầy đủ cúng dường kinh này thì cũng như dâng hương hoa cõi trời, y phục trang nghiêm đầy đủ thất bảo, chất cao như núi Tu Di để cúng dường trước mười phương chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai, cũng trồng nên thiện căn giống như vậy.

Lúc bấy giờ Thiên long bát bộ, người và loài không phải người nghe nói như vậy, ai ai cũng đều cho là hiếm có lạ thường, cùng thốt lên rằng:

“Lạ thay uy đức lại là đống đất mục nát này, nhờ được thần lực Như Lai gia trì mà có thần biến.”

Kim Cương Thủ lại bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà tháp thất bảo nay lại thành đống đất?”

Phật bảo Kim Cương Thủ:

“Đây không phải là đống đất mà là đại bảo tháp rất vi diệu. Do nghiệp quả của các chúng sinh yếu kém cho nên ẩn khuất không hiện. Nhờ tháp che giấu nên toàn thân Như Lai không thể hủy hoại, làm gì có kim cương tạng thân của Như Lai lại có thể hoại chứ? Sau khi ta diệt độ, đời mạt pháp gặp lúc bức bách, ví như có chúng sinh làm chuyện phi pháp phải đọa địa ngục, không tin Tam Bảo, không trồng căn lành, vì nhân duyên đó Phật pháp nên ẩn đi. Tuy thế, tháp vẫn kiên cố không hoại diệt, được tất cả thần lực của Như Lai giữ vững. Chúng sinh không có trí tuệ bị chướng ngại mê hoặc che lấp, có trân bảo quý giá mà không biết sử dụng. Vì thế ta rơi lệ, các Như Lai kia cũng đều rơi lệ.”

Một lần nữa, Phật bảo Kim Cương Thủ:

“Nếu có chúng sinh chép kinh này để trong tháp, tháp đó chính là bảo tháp kim cương tạng thân của tất cả Như Lai, cũng là bảo tháp của tất cả Như Lai tâm đà-la-ni bí mật gia trì, cũng là bảo tháp của chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai, cũng là bảo tháp của tất cả Như Lai Phật đỉnh Phật nhãn. Tức là được tất cả thần lực của Như Lai bảo hộ.

Nếu trong tượng Phật, trong tháp có bố trí kinh này tức là tượng đó giống như do thất bảo làm thành, linh nghiệm ứng tâm, không có ước nguyện gì mà không viên mãn. Tháp ấy dùng ô che, hoặc lưới che, hoặc đặt trên vòng bánh xe, trên khay, hoặc treo như chuông dưới mái hiên, bày biện trên bậc thềm nhà, tùy khả năng mà làm bằng đất hoặc bằng gỗ đá hoặc gạch nung. Do uy lực của kinh này mà tượng hay tháp ấy tự trở thành thất bảo. Tất cả Như Lai lấy kinh này gia tăng uy lực cho tháp kia, dùng lời chân thật gia trì không ngừng nghỉ.

Nếu có hữu tình nào đối với tháp này dùng một hương một hoa lễ bái cúng dường, thì tám mươi ức kiếp sinh tử trọng tội trong chốc lát đều tiêu diệt, sống tránh khỏi tai ương, chết sinh về nhà Phật. 

Nếu có hữu tình nào đáng đọa địa ngục Vô gián, nếu một lần lễ bái hoặc một lần nhiễu quanh tháp này theo chiều bên phải, cửa địa ngục sẽ đóng lại, đường bồ đề mở ra. 

Nơi có tháp và hình tượng tháp, thần lực của tất cả Như Lai sẽ bảo hộ, nơi ấy sẽ không bị bão tố sấm chớp làm hại, không bị rắn độc, sâu bọ bò cạp, độc trùng độc thú làm tổn hại, không bị sư tử, voi điên, hổ sói hoang dã, ong nhện làm hại. Cũng không bị Da xoa, La sát, quỷ dữ đến nhà, tránh được nỗi lo sợ yêu ma quỷ quái. Cũng không bị nhiễm tất cả các bệnh nóng lạnh, ghẻ lở, u nhọt. 

Nếu có người thoáng thấy tháp này cũng có thể trừ tất cả tai nạn. Nơi đó cũng không có người ngựa, sáu loại gia súc, trẻ con trai gái bị nhiễm dịch bệnh. Không bị chết oan chết yểu. Không bị dao gậy nước lửa làm tổn thương. Không bị trộm cướp oán thù xâm hại. Cũng không bị nỗi lo đói kém mất mùa, nghèo túng. Trù ếm bùa ngải cũng không thể thừa cơ hãm hại. Tứ Đại Thiên Vương cùng các quyến thuộc ngày đêm bảo vệ. Hai mươi tám bộ đại Dược xoa tướng, nhật nguyệt ngũ tinh, cờ mây, sao chổi ngày đêm bảo vệ. Tất cả Long vương cho thêm tinh khí, thuận thời cho mưa. Tất cả chư Thiên cùng Đao Lợi Thiên ba thời giáng xuống để cúng dường.

Tất cả chư tiên ba thời đến tụ tập, ngâm vịnh tán dương đi nhiễu vòng quanh, chiêm ngưỡng lễ tạ. Thích đề hoàn nhân cùng các thiên nữ, ngày đêm ba thời giáng xuống cúng dường. Nơi đó được tất cả Như Lai hộ niệm gia trì. Vì trong tháp để kinh này nên được như thế.

Nếu có người xây tháp, lấy đất đá gỗ vàng bạc đồng chì, chép thần chú này bố trí trong tháp, vừa bố trí xong, tháp ấy lập tức biến thành thất bảo, trên dưới bậc thềm bày khay và ô lọng, chuông linh và vòng bánh xe thuần là thất bảo. Tháp đó chính là hình tướng của bốn phương Như Lai.

Do pháp yếu đó, tất cả Như Lai kiên cố trú ngụ, hộ trì ngày đêm không rời. Tháp thất bảo đó là kho tàng vi diệu của xá lợi toàn thân, dùng uy lực của thần chú mà cao vút lên, cao đến cung trời Sắc cứu cánh. Các cõi trời mà tháp xuyên qua ngày đêm chiêm ngưỡng, bảo vệ và cúng dường.”

Kim Cương Thủ bạch Phật rằng: 

“Vì nhân duyên gì mà tháp này có công đức thù thắng như thế?”

Phật nói:

“Phải biết là nhờ thần lực của Bảo khiếp ấn đà-la-ni này.”

Kim Cương Thủ bạch rằng:

“Cúi mong Như Lai thương xót chúng con mà nói đà-la-ni ấy.”

Phật nói hãy chăm chú lắng nghe, nghĩ nhớ đừng quên!

“Tất cả phân thân ánh sáng của tất cả Như Lai hiện tại vị lai, xá lợi toàn thân của chư Phật trong quá khứ, tất cả đều ở tại Bảo khiếp ấn đà-la-ni này. Ba thân của các Như Lai cũng ở trong ấy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền tuyên thuyết thần chú:

Na-ma sờ-tri đờ-vi ka-nam, sa-va  
Ta-tha-ga-ta-nam, ôm, bu-vi-ba va-đa-va-ri  
Va-cha-ri va-cha-tai, su-ru su-ru đa-ra đa-ra, sa-va  
Ta-tha-ga-ta đa-tu-đa-ri  
Pat-ma-ba-va-ti ja-ya-va-ri, mu-đờ-ri sờ-ma-ra ta-tha-ga-ta  
Đa-ma cha-kra, pờ-ra-vat-ta-na va-jri  
Bô-đi pa-na, rum-ka-ra rum-kri-ti  
Sa-va ta-tha-ga-ta dis-ti-tê, bô-đa-ya  
Bô-đa-ya bô-đi bô-đi, bút-đa-ya bút-đa-ya, sam-bô-đa-ni  
Sam-bô-đa-ya, cha-la cha-la cha-lam-tu  
Sa-va va-ra-na-ni, sa-va pa-pa-vi-ga-tê, hu-ru hu-ru  
Sa-va su-kha-vi-ga-ti, sa-va ta-tha-ga-ta ha-ri-da-ya va-jra-ni  
Sam-ba-ra sam-ba-ra  
Sa-va ta-tha-ga-ta su-ha-ya  
Đà-ra-ni mu-đờ-ri, bút-đi su-bút-đi, sa-va ta-tha-ga-ta dis-ti-ta  
Đa-tu ga-bê sa-va  
Sa-ma-ya dis-ti-tê sa-va  
Sa-va ta-tha-ga-ta ha-ri-đa-ya, đa-tu mu-đờ-ri sa-va  
Su-pờ-ra ti-si-ta sờ-tu-bê  
Ta-tha-ga-ta đis-ti-tê, hu-ru hu-ru hùm hùm sô-ha.  
Ôm sa-va ta-tha-ga-ta u-sờ-ni-sa  
Đa-tu mu-đờ-ra-ni, sa-va ta-tha-ga-tam sa-đa  
Tu-vi-bu-si-ta, dis-ti-tê hùm hùm sô-ha.

[Namah stryi dhvi kanam, sarva  
Tathagatanam, om bhuvibha vadhavari  
Vachari vachatai, suru suru dhara dhara, sarva  
Tathagata dhatudhari  
Padmabhavati jayavari, mudri smara tathagata  
Dharma chakra, pravarttana vajri  
Bodhi pana, rumkara rumkriti,  
Sarva tathagata dhistite, bodhaya  
Bodhaya bodhi bodhi, buddhaya buddhaya, sambodhani  
Samboddhaya, chala chala chalamtu,  
Sarva varanani, sarva papavigate, huru huru  
Sarva sukhavigati, sarva tathagata haridaya vajrani,  
Sambhara sambhra,  
Sarva tathagata suhaya,  
Dharani mudri, buddhi subuddhi, sarva tathagata dhistita,  
Dhatu garbhe svaha,  
Samaya dhistite svaha,  
Sarva tathagata haridaya, dhatu mudri svaha,  
Supra tishita stubhe  
Tathagata dhistite, huru huru hum hum svaha.  
Om sarva tathagata usnisa,  
Dhatu mudrani, sarva tathagatam sadha  
Tuvibhusita, dhistite hum hum svaha.]

Lúc bấy giờ Phật đã nói xong chú này. Chư Phật Như Lai từ trong đống đất phát lời khen rằng:

“Lành thay! Lành thay! Thích Ca Thế Tôn, vì lợi ích chúng sinh không nơi nương tựa mà đã xuất thế trong đời ác trọc này để diễn thuyết pháp thâm diệu, như thế pháp yếu sẽ trường tồn ở thế gian, lợi ích rộng lớn, an ổn vui vẻ.”

Bấy giờ Phật bảo Kim Cương Thủ rằng:

“Hãy chăm chú lắng nghe pháp yếu này, thần lực vô cùng, lợi ích vô biên, ví như trên cờ treo như ý bảo châu sẽ thường có mưa trân bảo thỏa mãn tất cả mong cầu. Nay ta mới chỉ nói sơ lược một phần trong vạn phần. Ông nên nhớ giữ gìn vì lợi ích tất cả.

Nếu có người ác chết đọa vào địa ngục, nhận lấy khổ vô gián không ngày thoát ra, nếu có con cháu của người ấy xưng tên của người chết, tụng thần chú nói trên, dù chỉ bảy biến, thì ở địa ngục nước đồng sôi sắt nóng bỗng biến thành ao nước tám công đức, hoa sen nâng chân, ô báu che đầu. Cửa địa ngục bị phá, đường bồ đề mở ra, hoa sen kia sẽ bay thẳng về cõi Cực Lạc. Tất cả các loại trí huệ tự nhiên hiện phát, có thể nói là vui sướng vô cùng, được ngôi vị Bổ Xứ.

Lại có chúng sinh tội báo sâu nặng, trăm bệnh tập trung trên người, đau khổ bức bách, tụng thần chú này hai mươi mốt biến, trăm bệnh vạn phiền trong chốc lát sẽ tiêu diệt, thọ mạng lâu dài, phúc đức vô tận. 

Hoặc lại có người vì nghiệp tham lam bủn xỉn mà sinh vào nhà nghèo khó, áo không đủ mặc cơm không đủ ăn, gầy gò thấp hèn. Người ấy tủi hổ vào núi hái hoa rừng vô chủ hoặc mài gỗ mục làm hương, mang đến tháp để kinh này lễ bái cúng dường, nhiễu quanh bảy vòng rơi lệ hối lỗi. Nhờ sức mạnh của thần chú và uy đức của tháp này mà diệt được quả báo nghèo khó, phúc báo giàu sang bỗng chốc đến, thất bảo chắc chắn sẽ trút xuống như mưa. Khi ấy chỉ nên cúng dường Phật pháp, bố thí cho người nghèo, nếu còn tham lam hà tiện thì tài bảo sẽ lại nhanh chóng biến mất.

Nếu có người vì muốn trồng căn lành, tùy theo khả năng mà xây tháp hoặc xây bằng đất hoặc bằng gạch, kích thước to cao bằng bốn ngón tay cũng được. Ghi chép thần chú bố trí trong tháp, dâng hương hoa lễ bái cúng dường. Nhờ chú lực và tín tâm, từ trong tháp nhỏ tỏa ra khói hương ngào ngạt, hương thơm lan tỏa như mây khắp các pháp giới, lan tỏa rộng khắp làm việc Phật, sẽ thu được các công đức đã nói ở trên. Nói tóm lại, không có ước nguyện nào mà không thỏa mãn.

Nếu trong đời mạt pháp, bốn chúng đệ tử thiện nam thiện nữ, vì đạo vô thượng mà tận lực làm tháp bố trí thần chú, công đức tạo được là vô tận. Nếu có người cầu phúc đến trước tháp đó, đem một cành hoa một nén hương đến lễ bái cúng dường, nhiễu quanh theo chiều bên phải, do công đức ấy, địa vị vinh hiển không cầu mà tự đến, sống lâu giàu có không mong cầu mà sẽ tự gia tăng, oan gia trộm cướp không đánh mà tự tan, oán niệm trù ếm tự trở về nơi xuất phát. Bệnh dịch tà khí không lánh mà tự tránh, chồng hiền vợ thảo chẳng cầu mà tự được, trai hiền gái đẹp chẳng cầu mà tự sinh ra. Tất cả ước nguyện đều được thỏa mãn.

Nếu những loài chim quạ, công, cú, bồ câu, hưu lưu, chó sói, thú hoang, ruồi muỗi, kiến, dế, chạm đến bóng tháp hoặc dẫm lên nền cỏ của tháp, liền phá được các chướng ngại mê hoặc, giác ngộ vô minh, liền nhập vào gia đình Phật gia hưởng pháp tài. Huống chi những người hoặc thấy hình tháp hoặc nghe tiếng chuông khua, hoặc nghe danh tháp đó, tất cả tội chướng của người đó đều tiêu diệt cầu gì được nấy, đời này yên ổn, đời sau sinh về cõi Cực Lạc.

Hoặc có người tùy sức lấy một hòn đất đắp tường tháp bị hỏng, hoặc nhặt đá kê tháp bị nghiêng, do công đức này mà tăng phúc tăng thọ, khi kết thúc mạng này được tái sinh thành Chuyển Luân Vương.

Sau khi ta diệt độ, bốn nhóm đệ tử, nếu muốn cứu giúp cõi khổ này, thì nên ở trước tháp cúng dường hương hoa, thành tâm phát nguyện tụng niệm thần chú, từng chữ từng câu phóng tỏa ánh sáng, chiếu đến ba đường khổ, khổ não liền tan, chúng sinh thoát khổ, hạt giống Phật liền nảy mầm, tùy ý vãng sinh mười phương tịnh thổ. 

Nếu có người lên đỉnh núi cao chí tâm tụng chú, phóng tầm mắt nhìn ra thế giới xa gần, núi non thung lũng, rừng cây cánh đồng, sông ngòi hồ biển, tất cả những loài có lông, có cánh, có vảy, có mai trong đó đều được tiêu tan chướng ngại mê hoặc, giác ngộ vô minh, hiển hiện ba loại Phật tính vốn có, cuối cùng an trú trong đại niết bàn. Hoặc đi qua con đường mà người này đã đi, hoặc chạm vào gió tạo ra bởi quần áo người này, hoặc dẫm lên trên dấu chân người này, hoặc chỉ thấy mặt hoặc thăm hỏi chốc lát, tất cả những người như thế trọng tội được tiêu diệt, thành tựu viên mãn.”

Lúc bấy giờ Phật bảo Kim Cương Thủ rằng:

“Nay kinh điển thần chú bí mật này giao cho các ông. Hãy tôn trọng gìn giữ, truyền bá khắp thế gian, để việc truyền bá đến chúng sinh không bị gián đoạn.”

Kim Cương Thủ bạch rằng:

“Con nay may mắn được Thế Tôn giao phó, chúng con nguyện báo ân đức sâu nặng của Thế Tôn, ngày đêm hộ trì truyền bá, tuyên dương cho tất cả thế gian. Nếu có chúng sinh biên chép thọ trì, không ngừng nghĩ đến, chúng con sẽ chỉ huy Thích Phạm Tứ Vương, long thần bát bộ, ngày đêm bảo vệ không rời bỏ.”

Phật nói:  
”Lành thay Kim Cương Thủ! Ông vì tất cả chúng sinh đời vị lai mà làm ích lợi lớn, hộ trì để pháp này không đứt đoạn.”

Bấy giờ Thế Tôn thuyết Bảo khiếp ấn đà-la-ni, làm Phật sự rộng khắp. Sau đó qua nhà Bà la môn nhận các món cúng dường, khiến trời người bấy giờ thu hoạch được phúc lợi lớn rồi trở về nơi ở.

Bấy giờ đại chúng tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, Thiên long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và loài không phải người v.v... đều rất hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

Kinh nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni.

**(Hết)**

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/lien-hoa-sinh-dai-si-ung-hoa-nhan-duyen-kinh.md
# Title: Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Ứng Hóa Nhân Duyên Kinh
---

![image](/img/img_d2fb595683386aacd1e8061d8a14ceeb.png)

## Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Ứng Hóa Nhân Duyên Kinh

---

**Xuất bản:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">N/A</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

Kinh Nhân Duyên Ứng Hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.  
Do Kim cương Thượng sư Norlha Hutuktu Bất Không Hải khẩu truyền.  
Samaya giới Kim cương A Xà Lê Liên Hoa Chính Giác ghi chép.

🪷🪷🪷

Nam mô Pháp thân thường trụ, tam thế nhất như, Liên Hoa Sinh Thượng sư.  
Nam mô Báo thân thanh tịnh, tướng hảo vô luân, Liên Hoa Sinh Thượng sư.  
Nam mô Hóa thân biến hiện, sự nghiệp vô lượng, Liên Hoa Sinh Thượng sư .

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là ứng hóa thân kim cang của ba mật thân, khẩu, ý của A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát và Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Để độ cho những chúng sinh ác tính xiển đề và ngoại đạo, khiến họ sinh khởi chính tín, cũng như vì chúng sinh trong lục đạo, ngài hiện thân kim cang trong sáu cõi, giúp mỗi chúng sinh đạt được giải thoát ngay trong đời này, nên ngài đã xuất hiện trên thế gian. Theo lời tiên tri của Đức Phật, tám năm sau khi Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, vào ngày mùng 10 tháng 7 theo Hạ lịch <span className="note-blue">[một loại lịch âm dương kết hợp cả chu kỳ của Mặt Trăng (âm lịch) và chu kỳ của Mặt Trời (dương lịch), còn gọi là lịch Trung Quốc]</span>, ngài hóa sinh từ hoa sen năm màu giữa biển Đạt Lạt Quách Khiếu ở Tây Ấn Độ. Sinh ra đã thành Phật, được cam lộ từ trời tắm gội thân thể, ngài liền truyền pháp cho nữ thần biển. Vua Indrabhuti của Tây Ấn Độ đích thân đến bế ngài từ đóa sen giữa biển, lập ngài làm thái tử, chọn công chúa Văn Xương Lung làm phi tần. Sau đó, nhà vua nhường ngôi cho ngài.

Trong khi đương vị, Đại Sĩ được phúc báu bảy báu của một vị Chuyển Luân Vương. Sau đó, Kim Cang Tát Đỏa hiện thân trên không trung và nói: "Ngài là bậc Giáo chủ, thực không phải là vị vua trị vì." Vì vậy, ngài nhường ngôi và xuất gia, theo phụng sự tôn giả A Nan, thọ nhận giáo pháp mà Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã dự báo và truyền trao: nhiều kinh điển Hiển giáo và Mật giáo, thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của giáo pháp, và thâm đắc tâm ấn khẩu quyết của Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Khi tôn giả A Nan giảng giới luật cho ngài, Trì Địa Phật Mẫu đến cúng dường áo cà sa, chư Phật mười phương hiện thân gia trì, cùng tán thán lành thay. Ngài lại khiêm cung tu khổ hạnh, từng tham học với nhiều bậc thầy, tinh thông Ngũ Minh, thiên văn, địa lý và các học thuật khác. Tại Ấn Độ, Nepal, và những thánh địa cổ tịch của Tây Tạng cổ đại, ngài tinh cần tu thiền định, đạt được samyoga <span className="note-blue">[sự hợp nhất, hội tụ]</span>. 

Đại Sĩ thọ nhận từ Bí Mật Chủ Kim Cang Thủ, Kim Cang Phật Mẫu, các vị Phật A Đạt Nhĩ Mã, tâm truyền pháp môn Vô thượng mật của Năm bộ, cùng với ấn khế Già Ma, pháp môn tổng trì Đan Bồ Khiển tức thân thành Phật <span className="note-blue">[ở đây có lẽ nói đến: Pháp môn Tổng trì giúp đạt được giác ngộ tự nhiên thông qua năng lực của Không Hành Nữ (Dakini)]</span>, đạt được thành tựu vô thượng của Vô Lượng Thọ Như Lai. Lúc bấy giờ, Đại Sĩ cầu xin Kim Cang Phật Mẫu truyền tất cả pháp yếu Nội-Ngoại mật. Phật Mẫu nói: "Pháp mật không có thầy truyền, không được học tràn lan, nên thọ quán đảnh trước." Đại Sĩ liền cầu tất cả chư Phật hiện thân quán đảnh. Phật Mẫu phát ra tiếng "ha ha" và nói: "Rất tốt." rồi quán đảnh cho ngài. Đại Sĩ tự thấy tất cả chư Phật nhập vào thân mình, toàn thân biến thành chữ Hum, thành tựu Hóa thân Quan Âm. Lại thọ quán đảnh Mahamudra <span className="note-blue">[Đại Thủ Ấn]</span>, tất cả nghĩa lý đều hiển lộ, thành tựu Báo thân Quan Âm. Lại thọ quán đảnh Mã Vương Phật, tam nghiệp thanh tịnh, từ bi hiện tiền, phiền não vi tế hoàn toàn không thể có, thành tựu Pháp thân Quan Âm. Ngài lại thọ quán đảnh Kim Cang A Xà Lê từ Kim Cang Đại Tổng Trì Thế Tôn, thành tựu tám loại Ngoại mật của Hóa thân thuyết pháp, tám loại Nội mật của Báo thân thọ dụng, tám loại Mật mật của Pháp thân căn bản, tất cả đều viên mãn. Tuy nhiên, tất cả đều là sự thị hiện khéo léo, Đại Sĩ từ lâu đã chứng ngộ năm trí Phật, Pháp thân rốt ráo, không có gì khác biệt với A Đạt Nhĩ Mã Như Lai.

Để điều phục tất cả chúng sinh cứng cỏi và khó độ, Đại Sĩ đã hiện tướng oai mãnh, khiến tất cả thiên ma ngoại đạo nghe danh đều khiếp phục. Ngài truyền pháp độ sinh tại Ấn Độ và Nepal trong hơn 900 năm. Với trí tuệ và lòng từ bi song hành, uy đức vang khắp, vô lượng chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp của ngài mà nhanh chóng đạt đến thập địa, trực tiếp chứng quả Phật. Sau đó, ngài đáp ứng lời mời của vua Tây Tạng Trisong Detsen, từ Ấn Độ đến Tây Tạng hoằng pháp, trở thành vị tổ đời thứ nhất của Mật tông Tây Tạng. Khi vua băng hà, thái tử còn nhỏ, Đại Sĩ đã nhiếp chính giúp đỡ triều đình hơn 10 năm, chính sách và giáo pháp trong nước rực rỡ như mặt trời giữa trưa, Phật giáo vùng Khang-Tạng đến nay vẫn không suy thoái, được thế gian tôn kính, thực sự nhờ vào sự hoằng dương gia trì của Đại Sĩ mà đặt nền tảng vĩ đại này. Sau đó, khi thái tử đã trưởng thành, và duyên với đất Tạng đã hết, ngài báo trước sẽ nhập diệt. Lúc bấy giờ, vua Tây Tạng, các bậc đại thần và tứ chúng trưởng lão tha thiết khẩn cầu ngài ở lại. Đại Sĩ nói: "Ta không có đến đi, chỉ cần người nào tin ta, ta sẽ hiện ra trước người đó mà thuyết pháp. Vào ngày mùng 10 mỗi tháng, ta sẽ tự đến thăm các đệ tử."

Khi kết thúc lời nói, miệng ngài tụng âm thanh "Hum Hum", Tứ Thiên Vương từ hư không đưa xuống một thiên mã, Đại Sĩ liền cưỡi lên, bay vút lên không trung và thị tịch. Quốc thổ của Đại Sĩ nằm ở phía Tây của thế giới này, gọi là Bối Ma Lạc Tra. Cõi nước trang nghiêm đó tương đương với Hoa Tạng. Đại Sĩ cư trú tại đó, mặt thường hướng về phía Đông, với tâm từ bi, nhiếp hóa chúng sinh. Nếu có ai lễ bái, tưởng nhớ đến ngài, ánh sáng sẽ lập tức đến, che chở thân họ. Những ai thâm tâm nương tựa, lĩnh hội được pháp yếu của ngài, không ai là không được giải thoát. Uy thần công đức và sự nghiệp độ sinh của ngài, dù tăng một kiếp hay giảm một kiếp cũng không thể nói hết được.

Lúc bấy giờ, Vương phi của vua Tây Tạng kính cẩn thỉnh cầu Đại Sĩ khai thị pháp môn thiết yếu để đạt được giác ngộ ngay trong đời này. Đại Sĩ bảo với Vương phi rằng: "Nhân quả nghiệp báo, phải tin không hư dối. Sinh tử là việc lớn, vô thường nhanh chóng, nên cầu giải thoát. Trước tiên phải tìm và chọn một vị Kim Cang Lạt Ma để nương tựa. Thành tâm tụng Tứ quy y, phát nguyện không thối chuyển. Phát tâm bồ đề lớn, quảng độ chúng sinh. Nghiêm trì giới luật thanh tịnh, để lập nền tảng. Thường quán mười hai nhân duyên, hiểu rõ gốc rễ của sinh tử. Kế đến tu tập thiền định, quán xét tâm mình, vốn tự thanh tịnh. Tu tập Bát Nhã Ba La Mật thâm sâu, biết rõ các pháp như mộng huyễn. Tâm không chấp trước, thân tùy sở an. Khi vọng niệm khởi lên, không theo không ngăn. Đối với cảnh duyên thuận nghịch, bóng trần đẹp xấu, không khởi yêu ghét. Chỉ thường giác chiếu, mà quên giác chiếu. Phật tâm tự tâm, vốn tự như như. Ngã kiến phá hết. Tâm nhất cảnh tính, chính là thành Phật."

Giáo pháp của Đại Sĩ dẫn dắt từng bước, đơn giản dễ hiểu, tùy theo căn cơ chúng sinh, tiếp nhận tất cả. Bất kể nghiệp chướng nặng nhẹ, duyên xưa sâu cạn, người gặp được giáo pháp này, chắc chắn sẽ thành Phật.

Trong Đại Liên Hoa Kinh, Đại Sĩ dự báo về sự thịnh suy, tồn vong của chính pháp, tóm tắt như sau: "Giáo pháp của Đức Phật Thích Ca tại Nam Diêm Phù Đề vốn có duyên tồn tại 5500 năm. Do độ người nữ nên giảm đi 500 năm. Khi Đức Phật Thích Ca xuất thế, tuổi thọ con người là 80 tuổi, sau đó cứ mỗi trăm năm, tuổi thọ giảm một tuổi, đến khi tuổi thọ con người còn 50 tuổi, chiến tranh liên tiếp nổi lên, phong tục suy đồi, kinh điển Phật dạy bị hủy hoại, tháp miếu, chùa chiền, thành quách, pháo đài cũng nhiều nơi bị phá hủy. Thiên ma ác thần, thế lực mạnh mẽ. Thiên vận vô thường, mưa nắng thất thường. Ngũ cốc thất thu, người chết đói khắp nơi. Dịch bệnh thường xuyên bùng phát, con người không tự chủ được. Anh em kiện tụng lẫn nhau, mẹ con nghi kỵ lẫn nhau. Phụ nữ phần nhiều không chung thủy, trẻ nhỏ không chịu kiềm chế. Lúc sống không theo đạo chính, sau khi chết phần nhiều đọa vào đường ác. Có nhiều Phật tử thân tuy xuất gia nhưng tâm không nhập đạo. Vào thời điểm đó, Mật thừa vô thượng mới thấy phát triển. Tiếp sau đó, năm tháng ngày giờ dần thay đổi, tinh hoa dần giảm, chỉ còn lại cặn bã, khi tuổi thọ con người còn 10 tuổi, pháp liền ẩn mất. Trải qua thời kiếp lâu dài, Đức Phật Di Lặc xuất hiện, Mật thừa mới lại hưng thịnh trên thế gian."

Hiện tại là thời mạt pháp, chúng sinh nghiệp nặng, ngoại ma mạnh mẽ, Mật thừa chính là pháp môn thích hợp. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Pháp Vương của Mật thừa tại thế giới Ta Bà, trong mười phương cõi Phật, không nơi nào ngài không hiện thân. Vì chúng sinh phương Đông cơ duyên Mật thừa dần chín muồi, nên ngài đã ứng theo thời tiết nhân duyên mà đến. Các bậc tăng ni và cư sĩ nếu phát tâm tạo tượng cúng dường, tu trì pháp của ngài, có thể tiêu trừ tất cả tai nạn ma chướng, được tài sản tăng trưởng, quyền lực, không bệnh sống lâu. Lăng Nghiêm tam muội, trí tuệ thâm sâu, cho đến vô thượng bồ đề, đều nhanh chóng được thành tựu viên mãn. Đại Sĩ thương xót chúng sinh đời sau bám chấp tình cảm sâu nặng, vọng tưởng phân biệt, không thể hiển lộ được tự tính thanh tịnh vi diệu bồ đề. Cần phải dùng pháp môn Đà-la-ni tổng trì mà chư Phật đã chứng ngộ, chỉ dạy phụng trì, khiến ba nghiệp thân khẩu ý đồng với ba mật của Phật, không trải qua vô số kiếp, đoạn trừ vô số phiền não, chứng được pháp tính thân. Vì thế, ngài nói ra pháp tổng trì tự chứng, và truyền thụ các chân ngôn của Quan Thế Âm Bồ Tát, A Di Đà Phật, Lục Đạo Kim Cang, như các chân ngôn sau đây. Những chân ngôn này, những pháp tổng trì này có công đức và uy lực không thể nghĩ bàn. Trì tụng một chân ngôn tương đương với trì tụng tất cả kinh điển. Nếu phát nguyện rộng sâu, làm lợi ích chúng sinh, lấy đó làm sự niệm tụng, thì cảm ứng nhanh chóng, vi diệu khó nghĩ bàn. Các loại thành tựu thế gian và xuất thế gian, tùy theo nguyện vọng, đều được thành tựu.

Lúc bấy giờ, Đại Sĩ sắp nhập diệt, Phật Mẫu Mandarava hiện thân trong không trung, tán thán ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp phụ và nhiều công đức khác của Đại Sĩ. Bà lại bảo đại chúng rằng: "Người đời sau thọ trì kinh pháp của Đại Sĩ, tất cả bốn pháp Tức (bình an), Tăng (phát triển), Hoài (thu phục) và Tru (hàng phục), đều được thành tựu. Mọi tai nạn từ đất, nước, lửa, gió, không, đều được tiêu trừ. Như viên ngọc như ý, có thể mãn nguyện tất cả. Hành giả nên biết, danh hiệu của Đại Sĩ rất khó được nghe. Kinh này càng khó gặp hơn nữa. Nơi nào có kinh này, nơi đó chính là có Phật, tất cả trời người nên cúng dường. Nếu tự mình đọc tụng, biên chép, hoặc khuyên người khác đọc tụng, biên chép kinh này, thường được Đại Sĩ và tất cả chư Phật hộ niệm, nhanh chóng tiêu diệt tội chướng cực nặng, thành tựu các thần thông, đạt đến địa vị quán đảnh; đời hiện tại được phúc đức trí tuệ làm trang nghiêm; nếu phát nguyện vãng sinh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, hoặc cõi Phật của Đại Sĩ, khi mệnh chung, chắc chắn được vãng sinh; cũng được tùy nguyện vãng sinh các cõi Phật ở mười phương; nếu không có các nghi ngờ do dự, lập tức thấy Phật nghe pháp, chứng vô sinh nhẫn; các Ba-la-mật, tam muội, tổng trì, lần lượt đầy đủ, nhanh chóng thành tựu Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác."

---
# File: kinh-luat-luan/kinh-dien/phat-hoc-tong-thuyet.md
# Title: Phật Học Tổng Thuyết
---

![image](/img/img_0d164fb29d7e9dd91c877f4210949a63.png)

## Phật Học Tổng Thuyết

---

**Cuốn số:** <span className="note-blue">675</span>  
**Xuất bản:** <span className="note-blue">1991</span>  
**Địa điểm:** <span className="note-blue">Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ</span>  
**Tác giả:** <span className="note-blue">Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn</span>  
**Biên dịch:** <span className="note-blue">Nhóm Upala</span>  

---

### Lời mở đầu

Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người!  
Hôm nay là lần giảng dạy thứ hai ở Cầu Vồng Sơn Trang, chủ đề giảng dạy là Phật Học Tổng Thuyết. Phạm vi của chủ đề này cực kì rộng, có thể nói là rất dễ giảng, bởi vì phạm vi rộng cho nên giảng thế nào cũng đều đúng cả. Nhưng mà cũng có thể nói là rất khó giảng, bởi vì phải từ trong biển Phật học rộng mênh mông lấy ra mọi điều tinh yếu, chắt lọc ra những trọng điểm để thuyết pháp một cách rất có hệ thống, rất có thứ tự, cũng là điều vô cùng khó. Vừa rất dễ giảng, lại vừa rất khó giảng, bất kể là như thế nào thì cũng vẫn phải giảng thôi. (Sư Tôn cười)

Mọi người biết rằng Phật học giống như biển rộng, giống như đại dương, bản thân tôi học Phật tuy đã nhiều năm như vậy, cũng đã bái rất nhiều sư phụ, đồng thời cũng có thể nói là đã thâm nhập kinh tạng, nhưng trong khoảng thời gian rất ngắn mà phải giảng một cách vô cùng viên mãn thì trên thực tế cũng phải suy ngẫm rất kĩ càng, đòi hỏi định lực rất sâu. Rồi phải dùng một cách nói rất tinh túy vi diệu mới có thể giảng một cách trọn vẹn.

Hy vọng trong lần thuyết pháp này, mọi người có thể thấm nhuần mọi ý, hơn nữa còn đạt được những điều bổ ích, tương lai mọi người chăm chỉ tu hành, mọi người đều đắc được thành tựu, như vậy thì việc thuyết pháp lần này sẽ vô cùng có ý nghĩa.

### 01. Đại thừa, Tiểu thừa, Kim Cương thừa

Hôm nay bắt đầu ngày đầu tiên của Phật Học Tổng Thuyết tại Cầu Vồng Sơn Trang. Trước tiên chúng ta nói về "thừa" của Phật giáo. Trong Phật pháp có cái gọi là Đại thừa, cũng có cái gọi là Tiểu thừa, còn có cả Kim Cương thừa, chính là Mật giáo. Thật ra khi Phật Đà tại thế, ngài không nói Đại thừa gì cả, cũng không nói Tiểu thừa gì cả, cũng không nói Kim Cương thừa, đây đều là người đời sau phân ra. Phật không nói về thừa nào cả, ngài chính là Chân Phật — vị Phật chân chính, cho nên chỉ có hai chữ Chân Phật mới là thừa chân chính, không có thừa gì khác, thừa này là do người đời sau nói.

Hôm nay chúng ta thuyết pháp cũng cần nói về thừa, vì sao? Bởi vì đây là các bậc tiền nhân, các vị cổ đức đã truyền xuống, thật ra Chân Phật chân chính là một thừa, đã bao gồm cả Đại thừa, Tiểu thừa, Kim Cương thừa, tất cả đều bao gồm hết. Bạn chỉ nói một thừa thì không đúng, giống như một con người, nói về con người mà chỉ nói về cái đầu thì không thành một con người đâu! Nói về thân thể của họ cũng thì là một bộ phận, cũng không đúng. Thế còn nói về tứ chi, trên thực tế cũng không đúng. Cần phải nói về tất cả các bộ phận gồm đầu, thân và tứ chi mới xem là Phật pháp chân chính. Vì thế, Chân Phật là bao gồm Đại thừa, Tiểu thừa và Kim Cương thừa, toàn bộ đều bao gồm hết. Trên thực tế là nói về một thừa.

Trong Phật pháp, Đại thừa nói về cái gì? Có thể nói thế này, Đại thừa chính là nói về độ chúng sinh, nói về việc quảng độ chúng sinh chính là Đại thừa. Phát bồ đề tâm muốn cứu độ tất cả chúng sinh, đây là phát tâm Đại thừa.

Vậy thế nào là Tiểu thừa? Tiểu thừa chính là chỉ độ chính mình, chủ yếu nhất là nói về tu chính mình, tức là chú trọng vào tu chính mình, đó là Tiểu thừa.

Thế còn Kim Cương thừa? Chính là Mật thừa, là dùng phương pháp tu hành bí mật để tu trì chính mình, rất nhanh chóng sau khi bản thân mình đắc được khai ngộ, thì sau đó sẽ giống như Đại thừa là đi quảng độ chúng sinh. Pháp Kim Cương thừa gọi là phương pháp tức thân thành Phật, bởi vì nó dùng phương pháp nội chứng, đi từ tu hành thực tế, khiến cho thân khẩu ý của chính mình và thân khẩu ý của Như Lai hoàn toàn hợp nhất, phương pháp nội chứng này chính là Kim Cương thừa.

Phật pháp đã bao hàm nghĩa lớn của ba thừa ở trong đó. Nhưng trên thực tế, Đại thừa, Tiểu thừa, Kim cương thừa cũng có hiện tượng không thể dung hợp lẫn nhau. Tiểu thừa thích phê bình Đại thừa là không có công phu tu hành thực tế mà đã muốn đi ra ngoài độ chúng sinh, hoàn toàn là không hoa thủy nguyệt, không thực tế. Hơn nữa Tiểu thừa thích nói Đại thừa là tinh thần Đại thừa của Phật giáo không phải là điều Như Lai nói. Đại thừa cũng phê bình Tiểu thừa là chỉ mỗi tu hành cho chính mình, không độ chúng sinh, không phát bồ đề tâm, chỉ có tu riêng mình, hoàn toàn chính là một A La Hán, chỉ là A La Hán Tiểu thừa cứu độ thân tâm chính mình mà thôi, cho nên không thể thành Phật. Có cách nói như vậy.

Thế còn Mật giáo thì sao? Lại phân thành Tạng mật, Đông mật, lại có cả Trung mật, có cả Đài mật. Trong Mật giáo cũng có rất nhiều thuyết, đơn cử Vô thượng mật bộ của Tạng mật đã thường xuyên bị người ta phê bình rồi. Trong Đông mật cũng có phê bình, nói rằng Mật pháp của ba bộ sau không có pháp Vô thượng mật chân chính. Thế còn trong Trung mật, Đài mật thì sao? Cũng bị chỉ trích, cho rằng thuộc về chú trọng nghi thức, không có nội chứng chân chính.

Cho nên trong Mật giáo mà nói, cần phải dung hợp với tất cả Hiển giáo, cũng cần phải trải qua thời gian rất dài mới có thể thật sự làm được. Vì thế, Đại thừa, Tiểu thừa và Kim cương thừa, trên thực tế, trong ba bộ pháp này, đều không thể nào hoàn toàn dung hợp lại với nhau.

### 02. Tin

Vì sao chúng ta bắt đầu học Phật? Khi mới bắt đầu đều có một cơ duyên mới có thể bắt đầu học Phật. 

**Kiến chứng chân thực của Liên Sinh Hoạt Phật**

Nhân duyên khiến các vị bắt đầu học Phật có rất nhiều, còn bản thân tôi bắt đầu học Phật chính là vì một nhân duyên rất kỳ diệu, vì thế tôi mới bắt đầu học Phật.

Mọi người đều biết rồi, bởi vì tôi ở tại thế giới Ta Bà được đưa đến Ma Ha Song Liên Trì, khi đến được cảnh giới đó, tôi nhìn thấy tiền kiếp của chính mình, là một vị Liên Hoa Đồng Tử màu trắng rất quang minh, đây là tôi tận mắt nhìn thấy tận tai nghe thấy. Tận tai nghe thấy tức là nghe thấy nói rằng tôi là Liên Hoa Đồng Tử, còn tận mắt nhìn thấy là nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử màu trắng tỏa sáng rực rỡ. Đều hết sức chân thực! Nói cách khác là, trải nghiệm này của tôi là việc nhìn thấy và nghe thấy vô cùng chân thực, và chính bản thân tôi cũng đã đến nơi đó. 

Trải nghiệm này chính là cơ duyên đầu tiên trong quá trình học Phật của tôi. Các vị đang ngồi đây, đương nhiên đều đã đọc trong sách tôi miêu tả như vậy, và các vị cũng đã sản sinh ra lòng tin, cũng đã đi theo bước chân mà tôi đã đi qua.

Trên thực tế Liên Hoa Đồng Tử này, bản thân ngài là từ Đại Nhật Như Lai, đến Phật Nhãn Phật Mẫu, thế rồi ở trong hai hồ sen của Phật Nhãn Phật Mẫu mà hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, tức là Báo thân Phật đang ở tại Ma Ha Song Liên Trì thuyết pháp chính là Liên Hoa Đồng Tử. Thế còn hôm nay tôi đang ở đây thuyết pháp chính là Ứng thân Phật thuyết pháp, ở tại Ma Ha Song Liên Trì là Báo thân Phật thuyết pháp, ở chỗ của Đại Nhật Như Lai là Pháp thân Phật đang thuyết pháp. Pháp thân chính là Đại Nhật Như Lai, Báo thân chính là Liên Hoa Đồng Tử, Ứng thân chính là tôi hiện tại.

**Liên Hoa Đồng Tử ở trong thành Hỷ Kiến diễn pháp yếu**

Tối hôm qua có một đệ tử ở trong giấc mơ đã được đưa đến thiên thượng giới. Anh ấy đã đến một nơi, nơi đó gọi là thành Hỷ Kiến, nghe thấy ở trong thành có rất nhiều rất nhiều thiên nhân nói phải đi nghe pháp. Anh ấy rất hiếu kỳ liền hỏi: "Mọi người đi nghe ai thuyết pháp thế?" Họ nói: "Đi nghe Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp." Anh ấy nói: "Ủa, Liên Hoa Đồng Tử chẳng phải là Lư Thắng Ngạn sao? Lư Thắng Ngạn chẳng phải ngày mai sẽ thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang sao? Từ khi nào đã đến thành Hỷ Kiến thuyết pháp thế?" Họ nói: "Liên Hoa Đồng Tử ở thành Hỷ Kiến đã thuyết pháp ở thành Hỷ Kiến gần hai tháng rồi." Anh ấy nói: "Không đúng đâu! Bởi vì Sư Tôn Lư Thắng Ngạn của chúng tôi hôm nay mới khai giảng ngày đầu tiên, mới bắt đầu thuyết pháp ngày đầu tiên, sao mà ngài ấy đã ở thành Hỷ Kiến thuyết pháp hai tháng được chứ?"

Sau đó anh ấy đi nghe pháp, anh ấy vào trong phòng giảng pháp, ở bên dưới pháp tọa ngẩng đầu lên nhìn, vị Liên Hoa Đồng Tử đó chính là Sư Tôn. Nhưng anh ấy nghĩ: "Sao có thể chứ? Rõ ràng Sư Tôn Lư Thắng Ngạn hiện tại đang ở Seattle, chẳng hề ở thành Hỷ Kiến, làm sao có thể ở thành Hỷ Kiến chứ? Tất cả thiên nhân đang ở đó, thuyết pháp ở trước mặt nhiều người như vậy, hơn nữa còn đã thuyết pháp hai tháng rồi?" Sáng hôm nay anh ấy đến kể với tôi, anh ấy nói ở thành Hỷ Kiến đã nghe thấy Liên Hoa Đồng Tử Lư Thắng Ngạn đang thuyết pháp, chủ đề giảng là "Nhập Trung Luận".

**Liên Hoa Đồng Tử hóa thân vô cùng tận**

Thế là sáng hôm nay anh ấy hỏi tôi: "Sao lại có hai Lư Thắng Ngạn chứ? Sao mà ở thành Hỷ Kiến có một Lư Thắng Ngạn, ở Seattle lại có một Lư Thắng Ngạn chứ?" Tôi nói với anh ấy: "Nơi nào cũng đều có Lư Thắng Ngạn, không chỉ Seattle có Lư Thắng Ngạn, hiện tại cũng thế, tại rất nhiều thiên quốc ở thiên thượng giới, ở rất nhiều cõi Phật, đều có Liên Hoa Đồng Tử đang thuyết pháp." Cái này chính là phân thân, phân thân trăm nghìn vạn triệu, đủ loại phân thân, đủ loại hình tượng, điều này bất khả tư nghì không thể nào tưởng tượng, không có cách nào nói ra được.

Chúng ta biết rằng Pháp thân Phật phân bố khắp thế giới khắp vũ trụ; Báo thân Phật ở tại Phật quốc, bất kì Phật quốc nào cũng đều có thể biến hóa, diễn hóa; Ứng thân Phật giống như là từng vị Phật ở trên trong mỗi lỗ chân lông phân ra. Sự vĩ đại của Phật pháp chính là chỗ này, ba thân Pháp - Báo - Ứng vô cùng vô tận, vì thế thiên thượng giới vẫn có Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp, thế giới Ta Bà cũng có Liên Hoa Đồng Tử thuyết pháp. Cho nên mọi người không được có tâm nghi hoặc, nghe hiểu Phật pháp, Phật pháp bất khả tư nghì khó tưởng tượng, những thứ bạn không nhìn thấy, không nghe thấy là vô cùng vô cùng nhiều.

Phật pháp là bắt đầu từ tin, không phải bắt đầu từ nghi, vì thế trong kinh Phật có nói một câu: "Biển lớn Phật pháp, chỉ có tin mới có thể đi vào." Chỉ có tin mới có thể đi vào cánh cửa này.

**Quý trọng pháp bảo**

Giống như tôi giảng "Nghi quỹ tu trì Mật giáo hoàn chỉnh" (tức cuốn "Mật Giáo Đại Quang Hoa - Chi tiết về nghi quỹ tu pháp Mật giáo hoàn chỉnh"), đây là tôi đem toàn bộ tâm huyết tu trì của mình đều nói ra hết, các bạn rất dễ dàng có được. Máy ghi hình ở đây đang ghi lại, các bạn mua băng về, nghe nói có băng là 1500 tệ, có băng là 2000 tệ. Bạn nói cái băng hơn 2000 tệ kia: "Đắt quá, tôi muốn mua loại 1500 thôi." Bạn không biết là tâm huyết cả cuộc đời tôi mà chỉ đáng giá 2000 Đài tệ sao? Băng 1500 Đài tệ, rẻ hơn mấy trăm tệ.

Xưa nay tôi đều công khai băng ghi hình, các bạn muốn mua băng ghi hình của ai cũng là công khai. Các bạn mua được băng tốt nhất lại rẻ nhất thì đương nhiên các bạn sẽ thích rồi. Nhưng ý nghĩa mà tôi nói không nằm ở đây. Ý nghĩa mà hôm nay tôi thuyết pháp không phải là bảo bạn mua của ai, đi mua băng nào rẻ hơn, mua băng nào không tốt bằng. Không phải! Các bạn mua băng ghi hình là ý muốn tự do, ý thích của các bạn là tự do, các bạn thích mua cái nào thì mua cái đó, thích mua của ai thì mua của người đó.

Ý tôi muốn nói rằng, "Chi tiết về nghi quỹ tu pháp Mật giáo hoàn chỉnh" ("Mật giáo đại quang hoa") là tâm huyết của tôi hai mươi mấy năm nay. Ngày xưa khi tôi cầu pháp từ sư phụ là trăm cay nghìn đắng, cúng dường mà tôi cúng là tiền lương hàng tháng của bộ đội. Thế nhưng ở đây tôi thuyết pháp cả một tuần đều ghi băng lại hết. Tôi đã phải nghiên cứu rất lâu, cuối cùng đã tập trung hết những thứ này lại, có thể nói hết trong một tuần lễ. Thật ra những thứ này là vô giá!

Các bạn xem xong thì sao? Có rất nhiều người có thể tin điều Sư Tôn nói, những chi tiết trong này rất có đạo lý, rất có thể hợp với tâm của bạn, bạn có thể thật sự dùng ý niệm đi tu hành, điều này rất có giá trị, điều này là vô giá. Tín tâm này của các bạn, sự phát tâm này chính là tôi có được báu vật vô giá.

Thế còn các bạn xem xong băng ghi hình, thậm chí là đến đây nghe pháp xong, trở về nhà, giả sử các bạn nói với tôi một câu là: "Tôi không thích Chân Phật Tông, tôi muốn rời khỏi Chân Phật Tông." Bạn nói xem tôi có đau lòng không? Tôi đã đem toàn bộ tâm và huyết của tôi vẩy lên mặt đất rồi, để mặc cho chúng sinh giẫm lên.

Nhưng tôi đã dốc hết tâm huyết rồi, bạn theo đó mà chăm chỉ tu hành, bạn sẽ có thể thành Phật. Trong đó, giả sử có đệ tử nói với tôi: "Tôi không thích Chân Phật Tông, tôi muốn rời khỏi Chân Phật Tông, tôi muốn thoát ly khỏi Chân Phật Tông." Như thế là chân bạn đã giẫm đạp lên trái tim tôi, nghiền nát nó rồi! Bạn nói xem tôi có đau lòng đến chảy nước mắt không?

Tôi đã đem những thứ tốt nhất trên thế giới cho mọi người rồi, đã móc cả tim và gan của mình ra cho chúng sinh rồi. Vì thế, có hành giả nói, khi chưa khai ngộ, họ sống qua ngày một cách bi thảm. Khi khai ngộ rồi, vẫn sống qua ngày một cách bi thảm.

Cái bi thảm đầu tiên là vì vẫn chưa đạt được chân lý của vũ trụ. Cái bi thảm thứ hai là vì sau khi đạt được rồi, đem những thứ quý giá này cho người ta, người ta vẫn không muốn, đó là hai tầng bi thảm.

Vì thế, giả sử có đệ tử sau này muốn rời khỏi Chân Phật Tông, có thể nói với Sư Tôn, đến trước mặt tôi, tôi sẽ đảnh lễ người đó. Vì sao? Vì sao tôi lại đảnh lễ người đó?  
Nguyên nhân đầu tiên mà tôi đảnh lễ người đó là vì tôi tôn trọng họ.  
Nguyên nhân thứ hai mà tôi đảnh lễ người đó là tôi đã xả bỏ tất cả mọi thứ của tôi rồi.  
Chân Phật Tông không bỏ rơi một chúng sinh nào, vì bạn muốn bỏ đi, tôi nhất định phải đảnh lễ bạn, biểu thị tôi tôn trọng bạn, thứ hai là biểu thị tôi đã xả bỏ tất cả rồi.  
Không biết mọi người có hiểu ý nghĩa việc tôi đảnh lễ này không?

**Rèn luyện lòng tin**

Học Phật chỉ có tin mới có thể vào, Phật pháp chỉ có tin mới có thể vào. Vì sao tôi có lòng tin kiên định như vậy? Thật ra bất kể là bạn ở trong Chân Phật Tông hay là rời khỏi Chân Phật Tông, thì bạn vẫn ở trong Chân Phật Tông. Bạn cần hiểu được câu nói này, tuy rằng rời khỏi Chân Phật Tông, bạn vẫn tin Phật, đúng không? Bạn vẫn tin Phật mà! Vì còn tin Phật thì vẫn là còn ở trong Chân Phật Tông, trừ phi bạn không tin Phật nữa. Bởi vì Chân Phật của chúng ta chính là Phật chân chính mà! Ở trong đây có công lực thiền định rất sâu đó! Có Phật pháp rất sâu xa, có trí huệ vô thượng, bạn có đi thế nào thì vẫn ở trong trí huệ vô thượng này mà! Làm gì có chuyện rời khỏi Chân Phật Tông chứ?

Năm xưa khi Phật Đà dạy chúng ta, ngài chẳng hề dạy nhiều như vậy. Bạn gia nhập, ngài dạy bạn phát bồ đề tâm, phải phát bồ đề tâm đó! Phải giữ giới, mọi người phải giữ giới, giữ phép tắc ở đây. Khi đến giờ, mọi người đi ra ngoài hóa duyên. Khi trở về, trong thời gian này các bạn phải chăm chỉ tĩnh tọa, đi tu định, đi tu định lực của bạn, Phật đã dạy chúng ta như vậy.

Ở đây dạy bạn ăn là đi hóa duyên, mặc là mặc quần áo, ở là nhập định tu hành, đi là dạy bạn đi theo mọi người, một tăng đoàn, mọi người thành một đoàn thể cùng đi, cùng trở về. Giữ giới chính là thực hành, phát bồ đề tâm chính là thực hành. Như Lai đã dạy chúng ta điều này, Phật Đà đã dạy chúng ta điều này. Làm cái gì? Hãy tu định đi! Bạn cần có định. Vì sao cần có định? Trong định sẽ sản sinh ra tín, nhất định sẽ sinh ra sức mạnh của niềm tin, một dạng tín tâm, một dạng sức mạnh.

Hôm nay mọi người đang cùng nhau tu định, tu được định lực, chắc chắn có lòng tin, tâm bạn sẽ không điên đảo. Bạn nói muốn thoát ly Chân Phật Tông, thế thì bạn không còn định nữa! Căn bản là hoàn toàn không có định lực! Như thế làm sao được? Cho nên ngày xưa Phật Đà muốn chúng ta có một chữ quan trọng nhất, chính là phải định.

Phật pháp, tóm lại, nói về một chữ, cũng là chữ định này, rất quan trọng, bởi vì định sẽ sinh ra tín tâm. Ngay từ đầu có được cơ duyên, sinh ra lòng tin rồi vẫn chưa đủ. Đó chỉ là một dạng lòng tin khi cơ duyên mới bắt đầu, phải trải qua muôn vàn thử thách trong thời gian rất dài cơ!

**Mê tín, chính tín và trí tín**

Chúng ta biết rằng chữ tín này phân ra rất nhiều loại, có cái gọi là mê tín, không có được chính kiến, là một dạng tín ngưỡng mù quáng, đây chính là mê tín. Bất kể thế nào, Phật học luôn bắt đầu từ chữ tín, và trong chữ tín này có phân thành mê tín.

Chúng ta học Phật thì không mê tín, học Phật chân chính là chính tín, là trí tín. Chính tín tức là chính tri, bạn đã nghĩ rằng việc học Phật là một dạng lý niệm đúng đắn, một dạng kiến giải chính xác, nhìn thấy được chân diện mục của Phật học rồi, tín ngưỡng này mới gọi là chính tín. Thế còn trí tín? Dùng trí tuệ để huấn luyện trí tuệ của bạn, đạt đến một dạng tín ngưỡng của trí huệ vô thượng, tín ngưỡng này gọi là trí tín. Là chính tín và trí tín, chứ không phải là mê tín.

Hôm nay mọi người ở đây nghe tôi thuyết Phật pháp này, có rất nhiều người nói đừng quá mê tín, người bên ngoài nói đừng quá mê tín, cũng đừng mê tín thần thông, cũng đừng mê tín những thứ hư vô như có như không, phải nhìn thấy mới tin, phải nghe thấy mới tin, phải thật sự có thể đạt đến chính kiến mới tin, vậy thì dạng tín này rất hiếm.

Người có thể thật sự đạt đến chính tín đối với Phật học có lẽ chẳng có được mấy người, người có thể đạt đến trí huệ vô thượng - trí tín, cũng chẳng có được mấy người. Tỉ lệ trong tâm bạn, bạn mê tín bao nhiêu? Chính tín bao nhiêu? Tín ngưỡng trí huệ được bao nhiêu? Các bạn có thể từ từ suy tính.

Bạn có cầu Phật Bồ Tát không? Hay là cầu phúc? Cầu thọ? Cầu con cái? Cầu hôn nhân? Có phải hy vọng Phật Bồ Tát có thể cho bạn phúc phần không? Có phải đang cầu thành Phật không? Hay là bạn không cầu thành Phật, mà muốn tự mình tu hành thành Phật, bạn không hề cầu nhưng bạn tu chính mình.

Học Phật là vì cái gì? Một mục tiêu lớn nhất chính là muốn giải thoát phiền não, phiền não giải thoát, sinh tử tự chủ. Có phải là bạn đang theo đuổi giải thoát phiền não và tự chủ sinh tử không? Có mấy người đang thật sự theo đuổi điều này? Giả sử bạn không theo đuổi điều này, không rèn luyện chính mình hướng về con đường giải thoát phiền não, tự chủ sinh tử này, vậy thì bạn có phải là thuộc về mê tín không, là người tin mù quáng vào một phía không? Vì thế, mọi người hãy suy nghĩ một chút, con đường mà bạn đi có đúng đắn không? Hay là không đúng?

Phật học và học Phật chính là muốn tự chủ sinh tử, muốn minh tâm kiến tính, muốn giải thoát phiền não. Hôm nay giả sử các bạn lệch hướng rồi, vậy thì sẽ có khả năng mê tín, có khả năng mù quáng, bản thân có chỗ không đúng. Vì thế có người như thế này, họ muốn học Phật, thế là nói hôm nay muốn đi quy y, họ muốn đến quy y, thế rồi có lẽ vừa nghe nói muốn quy y thì quá vui mừng, đi cầu thang ba bậc thành một bậc, thế là ngã cầu thang, ngã gãy chân, họ liền nói: "A! Điều này không may mắn, không đi quy y nữa."

Ngoài ra có rất nhiều đệ tử học Phật pháp rồi, cũng tu pháp rồi, muốn cầu Long Vương ban cho tiền, chuột nhả báu vật của Hoàng Tài Thần, miệng há ra, cho họ money <span className="note-blue">[tiền]</span>. Còn có Hồng Tài Thần, vị Hồng Tài Thần này đúc nhiều tượng nhất, vì nhiều người thỉnh nhất, bởi vì ngài từng hiển hiện, cho nên mọi người ra sức cầu ngài, bởi vì ngài từng nói: "Có cầu tất ứng!" Mọi người không biết, "có cầu tất ứng" này là ngài nói với Sư Tôn, ngài nói với Sư Tôn: "Ngài cầu tôi, có cầu tất ứng!" Thế rồi tôi nói với mọi người, Hồng Tài Thần nói với tôi là có cầu tất ứng. Oa! Mọi người bán mạng đi cầu ngài, thế là thành ra cầu đến mức này. 

Mọi người không nghĩ kĩ một chút đi! Ngài nói với tôi, chứ không nói với bạn! Vì thế tôi cầu thì sẽ có cầu tất ứng, các bạn cầu thì không chắc sẽ có cầu tất ứng đâu. Nhưng tôi nghĩ chắc hẳn ngài cũng sẽ có một chút đồng cảm, bạn cầu ngài đến mức như vậy cơ mà! Ngài hẳn là sẽ có cầu tất ứng. Có người cầu thì không ứng, thế là trả lại chứng thư quy y, vậy tôi không biết phải nói gì nữa.

Vì thế, chúng ta học Phật có một thứ rất lớn, rất cao quý, rất lý tưởng, cũng là thứ mà trong cuộc đời bạn rất khó có được, chính là phải tự mình giải thoát phiền não, phải tự chủ sinh tử, phải minh tâm kiến tính, đây mới là chính tín.

**Một miếng ăn miếng uống đều là định trước**

Bây giờ tôi rất sợ! Tôi thường xuyên cầu mà! Hy vọng các bạn làm kinh doanh tốt, đừng sập tiệm, bởi vì nếu bạn sập tiệm hoặc thế nào đó, chịu tai ương thì chắc chắn là đổ lỗi do Phật Bồ Tát.

Trên thực tế, phúc phần của mỗi người, theo như tôi biết, một miếng ăn miếng uống đều có định số. Bạn ăn bao nhiêu gạo, uống bao nhiêu nước, thậm chí có thể ăn bao nhiêu đồ ăn vặt, đều có định số. Cái này là phúc phần của bạn, bạn kiếm được bao nhiêu tiền đều có định số. Tu pháp có thể cái thiện, không sai. Nhưng không hề nhanh như vậy. Cũng không thể nói lúc nào cũng như vậy, có khi cũng có thể rất nhanh đó. Nếu tôi nói với bạn là chẳng hề nhanh, các bạn sẽ không tu nữa. Vì thế phải nói rằng, đôi khi có cơ duyên tốt thì cũng sẽ rất nhanh.

Vì thế chính tín rất quan trọng, vận mệnh là có, Phật giáo không nói vận mệnh, nhưng vận mệnh thực tế là có, bởi vì Phật giáo nói về phá vận mệnh, tức là phá vỡ vận mệnh của bạn, dùng Phật pháp để hóa giải vận mệnh. Nhưng vận mệnh có hay không? Bởi vì có nên mới phải phá, không có vận mệnh thì không phải phá, đây đều là một dạng lý niệm, một dạng trí huệ, một dạng tín ngưỡng của trí huệ. Có vận mệnh, phá vận mệnh cũng là một dạng tín ngưỡng của trí huệ.

Lấy một ví dụ rất đơn giản, trước kia tôi từng nói rồi. Trước kia tôi ăn mọi thứ, chỉ có hai thứ không ăn, một là kim cương, hai là vàng. Vàng là bởi vì nó quá cứng, không ăn nổi, còn kim cương thì đắt quá, cũng không ăn nổi, những thứ khác tôi đều ăn. Nhưng một miếng ăn một miếng uống đều có định số, đến ngoài 40 tuổi, ngoài 50 tuổi, có một số thứ không thể ăn được nữa, vì thế tôi từ một người cái gì cũng ăn được đã biến thành chẳng thể ăn được cái gì. 

Rất đơn giản, đây chính là định số đó! Bạn không thể ăn nhiều đường, bởi vì ăn đường sẽ mắc bệnh tiểu đường; bạn không thể ăn muối, bởi vì ăn muối sẽ mắc bệnh cao huyết áp; bạn không thể ăn chất béo, bởi vì chất béo quá nhiều sẽ làm sao? (Đệ tử trả lời: Bệnh tim.) À, tim sẽ bị tắc nghẽn, sẽ có bệnh hẹp van tim, hoặc là quả tim này sẽ rất phiền phức, sẽ có bệnh tim. Ví dụ nói về mực, mẹ tôi nói: "Mực có cholesterol cao nhất." Nó có thể khiến mạch máu của bạn tắc nghẽn, cholesterol cao sẽ bị tắc mạch máu. Thế rồi bạn không thể ăn rất nhiều thứ, có những thứ sẽ gây bệnh ung thư, có thứ sẽ gây ra u, có thứ sẽ gây ra bài tiết không tốt, hoặc là thế nào đó. Thế là có vấn đề rồi.

**Sinh khởi chính tín và trí tín**

Vậy thì sao? Cái gọi là một miếng ăn miếng uống đều có định số cũng là tất nhiên, một định số trong vận mệnh, đây là một loại tín ngưỡng của trí huệ, gọi là trí tín.

Học Phật chính là phải hiểu có trí huệ, thế rồi học Phật phải hiểu chính tín, bạn học Phật có trí huệ rồi, có chính tín rồi mới có thể ở trên con đường thành Phật này mà tỏa sáng, đạt đến thành tựu, bằng không sẽ giống như phàm phu thế tục, không có gì khác biệt.

Bạn hoàn toàn giống một phàm phu thế tục, chẳng qua chỉ thờ thần, cầu phúc, cầu thọ, cầu con cái, cầu hôn nhân, cầu danh, cầu lợi. Nếu cầu không được, bạn không thờ nữa, thế chẳng phải là phàm phu thế tục sao? Vì thế, học Phật không giống với thờ thần thông thường, bởi vì thờ thần thuộc về cầu phúc, tương đối thiên về mê tín, là phạm vi thế tục. Hôm nay bạn học Phật là hướng về con đường của trí huệ, là muốn đạt đến trí huệ vô thượng, muốn giải thoát sinh tử của chính mình, hiểu rõ ý nghĩa của đời người, minh tâm kiến tính, giải thoát mọi phiền não.

Hôm nay mọi người đến nghe "Phật Học Tổng Thuyết", cần hiểu thế nào là chính tín, thế nào là trí tín, phải đi trên con đường của chính tín, đi trên con đường của tín ngưỡng trí huệ, thì sẽ không sai. Hôm nay giả sử tín ngưỡng mù quáng, hoặc là đi theo tín ngưỡng cầu phúc, cầu thọ, cầu con cái, cầu hôn nhân, cầu danh lợi, thì sẽ là một dạng mê tín của thế tục.

Điều mà tôi muốn nhấn mạnh với mọi người hôm nay là, một chữ "tin" là một sự bắt đầu, khởi niềm tin chính là vì muốn hiểu đạo lý của cuộc đời, muốn giải thoát, muốn đắc trí huệ vô thượng, thế rồi bạn bước vào cửa Phật, bắt đầu có tín ngưỡng, đây là khởi tín.

**Vô thường**

Bắt đầu từ khởi tín, chúng ta cần nói về vô thường. Hôm nay, bài giảng đầu tiên nên nói về tín, rồi sau đó nói về vô thường, tín và vô thường. Thế giới này là vô thường, không chỉ thế giới này là vô thường, mà toàn bộ con người chúng ta đều vô thường. Chúng ta đã nói rất nhiều về vô thường, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ muốn chúng ta thể nghiệm vô thường, và khi thể nghiệm vô thường bạn phải biết rằng, thời gian con người sống trên thế gian này rất ngắn ngủi. Hôm nay chúng ta tụ họp ở đây, thời gian rất ngắn ngủi, và nhân duyên cũng rất vi diệu; rất nhanh tụ họp lại với nhau, rồi cũng rất nhanh sẽ giải tán. Vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói rất rõ về vô thường này, có sinh ắt có tử. Sống ắt sẽ đi đến cái chết; khỏe mạnh ắt sẽ trở nên suy tàn.

Khi Phật Đà già đi, thân thể của Ngài rất không khỏe, thân thể vốn rất khỏe mạnh cũng trở nên suy yếu. Những người tụ họp với nhau rồi cũng sẽ chia ly, có sinh ắt có tử, có khỏe mạnh ắt có suy tàn, có tụ họp ắt có chia ly. Hôm nay chúng ta tụ họp với nhau, pháp duyên thù thắng, nhưng qua vài ngày nữa lại chia ly. Cơ hội tụ họp ở Cầu Vồng Sơn Trang này không nhiều, có lẽ một năm chỉ có một, hai lần. Vậy thì Cầu Vồng Sơn Trang sau này thì sao? Có thể chỉ giảng Nội pháp, nghĩa là chỉ có thể chứa 40 người, 50 người, nhiều nhất là 100 người.

Bài giảng lần này mang tính phổ biến hơn, nhưng lần giảng tới chỉ có 40 người, hoặc 50 người, 100 người mà thôi. Vậy thì, có thể nói đây là buổi giảng dạy phổ cập lần thứ hai, một kiểu khai giảng công khai, cũng là lần cuối cùng, sau này tất cả đều phải nộp luận văn.

Như vậy cơ duyên này cũng chỉ thoáng qua là không còn. Cho nên đây là có hợp có tan, đã có tụ họp thì ắt sẽ có phân tán, đó chính là vô thường.

Ví dụ mà tôi vừa nêu, trước đây tôi ăn được tất cả mọi thứ, tôi rất thích ăn đồ ngọt, như bánh mochi! Còn có bánh của Nhật nữa. Cái đó gọi là gì nhỉ? Bánh cuộn của Đài Loan (tiếng Đài), bánh "bị lừa" (chơi chữ âm tiếng Đài), bánh quy cuộn! Những loại bánh của Nhật đó, rồi còn bánh mochi, bánh đậu đỏ, và bánh cưới Đài Nam, bánh to, loại tròn tròn đó tôi thích nhất.

Trước đây, khi Sư Mẫu thấy tôi ăn uống ngấu nghiến, chỉ trong chốc lát đã ăn hết một miếng to, bà ấy nói: "Không được ăn nữa!" Mỗi khi bà nói "Không được ăn nữa", tôi lập tức ăn thêm hai miếng nữa. (Mọi người cười) Tôi là người không thích bị người khác sai bảo, tôi có tính cách tự chủ mà! Ai nói gì với tôi, tôi cố tình ăn nhiều hơn một chút.

Chúng ta biết khi được mời đi ăn bên ngoài, món cuối cùng luôn là chè ngọt, cũng có trái cây, bánh kem, đồ tráng miệng, khi chè ngọt được dọn ra, trước đây mỗi lần tôi ăn xong một bát, nhất định phải lấy thêm bát thứ hai... Khi Sư Mẫu đứng bên cạnh thấy vậy, bà nói: "Sao ông ăn tới hai bát?" Tôi nhất định phải lấy thêm một bát nữa! (Mọi người cười)

Nhưng mà này! Phải biết rằng, ăn nhiều đồ ngọt quá, vô thường sẽ đến! Này! Vô thường gọi bạn đến đấy. Bạn đến đây, khi vô thường gọi bạn một tiếng, bạn không thể ăn nữa, đường huyết cao mà! Không được ăn nữa, phải cấm hẳn rồi, không thể ăn món này nữa.

Tôi nói cho mọi người biết, đừng có "cứng đầu" nhé! Thật đấy. Khi bạn ăn đã đủ rồi, vô thường bảo bạn không được ăn nữa, thì phải ngoan ngoãn nghe lời. Không được! Tôi nghĩ không xong, có chuyện này, nhất định tôi phải bắt đầu luyện công, rồi tôi bắt đầu chống lại nó, tôi luyện công. May mắn thay, chư Phật Bồ Tát rất thương tôi, các Ngài bảo tôi luyện công là được rồi.

**Tâm từ bi lớn nhất là chịu thay**

Nói chung, nhiều người mắc bệnh, Sư Tôn cũng bị bệnh, Sư Tôn cũng có rất nhiều bệnh đấy! Các bạn cứ nói ra không sao cả, tôi không sợ người khác nói đâu, nhiều người tu hành bảo rằng không được có bệnh, có bệnh thì cứ như là không có công lực vậy. Thực ra tôi có rất nhiều bệnh, có tiểu đường, có bệnh tim, có cao huyết áp, còn có bệnh ngoài da, còn có cả ung thư nữa. (Cười) Ung thư xương đấy! Ghê lắm!

Còn gì nữa không? Tôi nhớ trước đây có nhiều thứ lắm, giờ kể hết ra luôn. Tôi bị nấm chân, cái đó là chuyện ngày xưa! Những gì tôi đang kể đều là chuyện ngày xưa cả! Bị nấm chân, bị đau thấp khớp. Nhớ hồi nhỏ có một thời gian tôi bị bại liệt. Thật đấy! Hồi học tiểu học, tôi phải đi học với dáng đi khập khiễng, tôi vẫn còn nhớ! Rồi còn bệnh ngoài da nữa, hai bàn chân giống như đá bào đậu đỏ vậy, nổi từng chấm một như hạt đậu đỏ trong đá bào vậy, đó là bệnh về da.

Ngoài ra tôi còn bị viêm khớp, đau khớp ở đây này. Còn bị đau lưng, suy thận, bàng quang yếu. Bàng quang yếu tức là "són tiểu" (tiếng Đài) đấy! (Mọi người cười) Chính là chứng tiểu không tự chủ đấy! (Cười) Ngoài ra còn có gai xương, đau lưng, đau dạ dày, bệnh về dạ dày cũng nhiều lắm.

Phổi thì hô hấp cũng không tốt, khí quản viêm, không phải là "vợ quản nghiêm" đâu <span className="note-blue">[chơi chữ đồng âm]</span>, mà là thực sự bị viêm khí quản, mũi mẫn cảm, bây giờ gọi là allergy, viêm xoang.

Mắt đỏ, viêm mắt đỏ. Chứng viêm mắt đỏ là do Quan Thế Âm Bồ Tát chữa lành cho tôi, điều này tôi nhớ rất rõ.

Ráy tai, bây giờ cứ ba tháng tôi phải thông tai một lần, phải rửa tai. Đây là thật đấy! Cho nên tôi rất thích về Đài Loan, chính là vì ở Đài Loan có dịch vụ lấy ráy tai, lấy ráy tai ấy, cứ ba tháng phải về một lần, chính là vì về để lấy ráy tai, cái tai này thường xuyên phải làm.

Huyệt thái dương bên này sưng đau, phần não này! Tiểu não không phát triển lắm, sau này có thể bị chứng sa sút trí tuệ ở người già. (Mọi người cười) Chứng sa sút trí tuệ là do não bị teo lại.

Đôi khi chỗ này bị viêm, bên mép miệng, chỗ này bị viêm, miệng bị nứt nẻ, lưỡi thường xuyên bị lở loét, ăn uống rất khó khăn.

Chảy máu mũi, còn bị chảy máu mũi nữa! Khi tôi mới đến Mỹ, bị chảy máu mũi rất nặng, cũng phải dùng phương pháp điều trị. Da thì bị viêm và dị ứng.

Thượng sư Thường Nhân đâu rồi? Mọi người có nhận thấy gần đây thầy ấy béo ra rất nhiều không? Tại sao thầy ấy lại béo vậy? Là vì thầy ấy bị ngộ độc đấy. (Mọi người cười) Thầy ấy uống thuốc cảm, uống nhiều loại thuốc cùng lúc, khi các loại thuốc trộn lẫn vào nhau, ôi chao! Da của thầy ấy, từ đầu xuống tới chân; từ đầu này! Bên này đều đỏ ửng, toàn thân đều đỏ ửng. Nhưng bây giờ vết đỏ đã giảm bớt rồi, mặt vẫn còn sưng, toàn thân vẫn còn sưng, đó chính là bị ngộ độc.

Tại sao tôi lại béo như vậy? Trước đây tôi rất gầy, rất mảnh mai, vậy tại sao bây giờ lại hơi béo ra? Chính là vì tôi uống thuốc bổ Tam Hải hiệu Thần Ưng do em gái tôi bán, sau khi uống vào, tôi rất thích ăn cơm, nhưng mà cái thuốc đó cũng có tác dụng như một chất kích thích nội tiết, làm thay đổi toàn bộ cấu trúc cơ thể, bị ngộ độc luôn, sau khi bị ngộ độc thì béo ra.

Cho nên béo có mấy nguyên nhân! Một là phù nề, hai là ngộ độc, còn một nguyên nhân nữa là do bản thân họ ăn quá nhiều, giống như Tam Nguyên (Thượng sư Chân Tam Nguyên), tôi nghĩ thầy ấy không phải bị phù nề, cũng không phải bị ngộ độc, có lẽ là do ăn quá nhiều thôi. (Mọi người cười)

Tôi có bị u không? Cơ thể tôi có u không? Có! Nói cho mọi người biết, có đấy. Tôi chữa khỏi một cái u to cho người ta, thì trên người tôi lại mọc lên một cái u nhỏ. Đó là chịu thay mà! Tôi chữa khỏi u cho mấy người, thì trên người tôi lại mọc lên mấy cái u nhỏ, nhưng rồi tôi lại phải vận công để làm tiêu những cái u nhỏ đó đi.

Tôi chữa khỏi ung thư cho người ta thì bản thân tôi lại bị ung thư, cho nên trên người tôi có rất nhiều ung thư. Tôi bị ung thư xương! Điều này các đệ tử thân cận đều biết cả, rồi tôi lại vận công làm tiêu ung thư xương đi. Tôi chữa khỏi gai xương cho người ta, thì trên người tôi lại có gai xương, tôi bị đau, tôi lại phải tập công để mài mòn gai xương đi. Tôi bị ung thư dạ dày, ung thư xương, đủ loại ung thư, chỉ có mỗi ung thư tử cung là không có thôi. (Mọi người cười)

Khi tôi ở đại pháp hội Hồng Kông, trong vòng ba ngày, hàng trăm hàng nghìn căn bệnh đổ xuống người tôi, các bạn nói đó có phải là phép màu không? Mọi người đều tận mắt chứng kiến. Tôi mê man bất tỉnh suốt ba ngày ba đêm, không ăn được một miếng nào. Mọi người đều rất ngạc nhiên! Sư Tôn vốn rất thích ăn, vậy mà không ăn được một miếng nào, như vậy chẳng phải là tự bỏ đói mình sao? Không phải là đang biểu diễn thần thông đâu! Tôi không phải đang biểu diễn thần thông, mà là thực sự không thể ăn được gì.

Chỉ uống nước, ba ngày ba đêm làm "chịu thay", chỉ có như vậy mới có thể khiến người bị bại liệt, người bị teo cơ đứng dậy được từ xe lăn, mới có thể chữa lành cột sống cho người ta. Cột sống bị xốp, trong tiếng Đài chỉ có thể nói là "xốp giòn" thôi! Cột sống bị "xốp giòn". Rất nhiều bệnh, những khối u đó mới có thể biến mất, phải mất ba ngày ba đêm, chịu hàng trăm hàng nghìn căn bệnh nhập vào người để thay thế.

Cuộc đời này là vô thường, thực tế, vốn dĩ đã là vô thường rồi. Bạn nói có thường, thì cái gì là thường? Cái gì là cái gọi là trạng thái thường hằng? Đúng không? Tôi đã nói rồi, những người làm quan lớn, tại sao họ lại phải tin Phật? Những vị tướng quân, tại sao họ phải tin Phật? Tướng quân rất oai phong, nhưng đến lúc về già lại nhìn thấy bóng ma, những người bị họ giết đều hiện về, họ không thể không tin Phật.

**Kiến giải đúng đắn**

Phật Quang Tự, không phải là Phật Quang Sơn, mà là Phật Quang Tự, Phật Quang Tự ở Quan Âm Sơn, Phổ Lý, có ai từng đến chưa? Có mấy người Đài Loan đã từng đến. Đó là nơi ở của sư phụ truyền quy y cho tôi, pháp danh của tôi là Đạo Ngạn, Sư Mẫu có pháp danh là Đạo Hoa, trong tiếng Đài gọi là Đậu Hoa (mọi người cười), đó là đạo tràng của lão pháp sư Lạc Quả, là sư phụ Hiển giáo mà tôi quy y. Khi tôi đến đó, bên trong toàn là tướng quân, toàn là những vị tướng quân đã giải ngũ xuất gia ở đó, tập khí của họ cũng rất nặng, trước đây đều là quan chức lớn, đều là tướng quân, sau khi về hưu thì học Phật, xuất gia.

Tại sao vậy? Vô thường. Bởi vì con người, dù bạn có làm đến chức vị nào rồi cũng phải từ chức, làm tổng thống rồi cũng phải từ chức. Đó là chức vị cao nhất rồi! Người giữ chức vị cao nhất cũng phải rời đi, huống chi là những quan chức nhỏ như hạt mè. Người giàu có thể trở thành người nghèo, người nghèo cũng có thể trở thành người giàu, đó chính là vô thường.

Những quan chức lớn kia! Sau khi về hưu tập trung ở đó xuất gia tu hành, có người tập khí vẫn không thay đổi. Những vị tướng quân khi ăn cơm, đi chợ mua đồ ăn, không có ớt là mọi người đập bàn. "Cộp cộp cộp..." Tại sao vậy? Vì không có ớt. Những người lính của họ đều phải ăn ớt, không mua ớt thì họ không thoải mái, không lật bàn là may lắm rồi. Ông ấy trước đây là tướng quân mà!

Chùa Phật Quang này có phong thủy không tốt lắm, thường xảy ra cảnh chư tăng đánh nhau, thậm chí còn có tăng đánh chết ni cô. (Cười) Lão pháp sư Lạc Quả không biết về phong thủy, tôi đã đi xem, mảnh đất đó gọi là "long hỏa tinh", rất nóng! Bên trong có khí rất nóng, cho nên khó tránh khỏi hiện tượng tính khí rất nóng nảy, đó là vô thường.

Những người làm quan lớn, họ xuống chức; những người làm tướng quân, họ về hưu, họ muốn học Phật; rồi có rất nhiều người giàu có, khi về già cũng muốn học Phật; người có thân thể khỏe mạnh cũng muốn học Phật. Tại sao vậy? Bởi vì khi vô thường đến, họ cũng phải học Phật. Nhiều cặp vợ chồng cùng xuất gia, cũng phải học Phật.

Duyên phận này, bạn nghĩ rằng duyên phận là mãi mãi sao? Là thường hằng sao? Không chắc đâu. Lúc mới cưới thì đương nhiên rất yêu thương nhau, nhưng có những duyên còn ngắn hơn, chỉ một tuần họ đã đánh nhau; sáng còn gọi nhau "cục cưng ơi", tối đã ly hôn rồi, tất cả đều là hiện tượng vô thường.

**Thể nghiệm vô thường**

Vì vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy chúng ta "thể hội vô thường, thể niệm vô thường", khi bạn thường xuyên nghĩ đến vô thường, bạn sẽ sinh khởi tín tâm, có được niềm tin kiên cố. Tại sao hôm nay Lư Thắng Ngạn có thể giải thoát phiền não? Là bởi vì tôi thường xuyên thể niệm vô thường, trong cuộc đời này tôi đã trải qua rất nhiều thăng trầm; những thăng trầm đó, khó khăn chồng chất, lời phỉ báng từ bên ngoài cũng rất nhiều, nhưng tại sao tôi có thể giải thoát khỏi phiền não? Bởi vì tôi thể niệm vô thường.

Trước đây tôi rất khỏe mạnh, biết đâu một ngày nào đó thân thể tôi sẽ suy yếu; hiện giờ cuộc sống của tôi rất tốt, biết đâu một ngày nào đó cuộc sống sẽ rất bi thảm; Chân Phật Tông của chúng ta hiện nay rất hưng thịnh, biết đâu một ngày nào đó... Bạn thấy đó, chính Như Lai đã nói, Phật pháp tồn tại ở Ấn Độ chỉ có 500 năm, đây chính là vô thường. Phật pháp tốt đẹp như vậy, tại sao ở Ấn Độ chỉ hưng thịnh được 500 năm? Đây chính là vô thường.

Vô thường của thân thể, vô thường của địa vị, vô thường của tiền bạc, vô thường của bệnh tật, vô thường của giàu nghèo, vô thường của duyên phận, tất cả đều khiến con người thể hội được sự vô thường của thế gian. Chính vì tôi thường xuyên thể hội được vô thường, nên từ trong vô thường sinh khởi tín tâm. Sau khi thể hội sâu sắc về vô thường, mới nhận ra toàn bộ hiện tượng của vũ trụ này đều là cảnh giới không; nhờ vào việc bước vào cảnh giới không, bạn mới có thể cảm thấy tâm an. Vốn dĩ đã là vô thường rồi! Làm sao bạn còn phiền não được?

Một ngày nào đó, khi người vốn giàu có trở thành người nghèo, đương nhiên sẽ có phiền não, nhưng chỉ cần thể hội vô thường thì sẽ không còn phiền não; thân thể bạn vốn rất khỏe mạnh, đột nhiên mắc bệnh nặng, hãy thể hội vô thường, bạn sẽ không còn phiền não; vốn là chủ tịch hội đồng quản trị, nhưng bây giờ mất chức vị đó rồi, nếu bạn thể hội vô thường, bạn sẽ không quá đau buồn.

Phải biết rằng tất cả mọi sự vật trong thế gian đều nằm trong vô thường, khi thâm nhập vào vô thường để thể hội vô thường, bạn sẽ không còn vướng bận chuyện được mất, phải hiểu được đạo lý này thì mới có thể giải thoát phiền não; chính vì vô thường mà chúng ta phải tìm cầu trí tuệ vô thượng, đây chính là ý nghĩa cuộc đời của chúng ta.

Mọi người nghĩ Phật học này, tại sao phải học Phật? Chính là vì vô thường! Chính vì vô thường nên chúng ta phải tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời. Việc có ý nghĩa nhất trong đời người chính là học Phật, chính là tu hành; ngoài điều này ra, bạn và tôi đều ở trong vô thường, có gì đáng để so sánh, để kiêu ngạo? Có gì đáng để tự đại? Tất cả đều ở trong vô thường.

Người Đài Loan chúng ta thường nói: Không ai giàu ba đời! Không chỉ không thể vượt qua ba đời, có khi ngay cả một đời cũng không giữ được, có thể chỉ một hoặc hai đời là hết sạch, thậm chí có người chỉ một đời đã mất hết. Bạn tưởng tiền bạc mình kiếm được sao? Bạn tưởng mình xây cao ốc sao? Hôm trước chẳng phải tôi đã nói sao? Người phá tòa nhà đã đến rồi. Khi ông ta xây xong tòa cao ốc, tòa nhà hoàn thành rồi. Ồ! Xây được một tòa cao ốc, vui sướng biết bao! Kết quả là vợ ông sinh một đứa con trong đó, đứa trẻ này chính là người sẽ phá hủy tòa nhà, nó đã sẵn sàng để phá hủy tòa cao ốc của ông rồi. Đây chính là vô thường!

Vì thế, đừng quá vui mừng khi xây được tòa cao ốc, cũng đừng buồn phiền khi nó sụp đổ; đừng mừng vui khi Phật giáo của Đức Phật hưng thịnh, cũng đừng đau buồn khi nó suy tàn; tương lai Chân Phật Tông này, dù có hàng triệu, hàng chục triệu đệ tử quy y, cũng đừng vui mừng, và khi không còn một ai nữa, cũng đừng đau lòng.

Những gì tôi vừa nói có chút buồn bã, nhưng thực ra không cần phải buồn, tôi chỉ đang bày tỏ tâm ý của mình như vậy thôi. Như tôi đã nói lúc đầu, tôi đã bỏ ra nhiều tâm huyết, đem những điều tốt đẹp nhất cho người khác, nhưng người ta không cần, tôi chỉ đang miêu tả nỗi buồn đó. Thực ra, người thực sự giác ngộ sẽ không còn chấp trước được mất, trở nên tự tại và biết đủ.

**Chỉ nghĩ về vô thường**

Vì vậy Phật học giảng về vô thường, bạn thể nghiệm vô thường, vô thường, vô thường, liên tục dạy bạn thể nghiệm, chính là để bạn có thể giải thoát phiền não; nếu không thể nghiệm hai chữ này, bạn sẽ không sinh khởi tín tâm, không thể giải thoát phiền não. Vì thế Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi và tất cả các đệ tử Mật giáo phải thấu hiểu sâu sắc về vô thường, để sinh khởi niềm tin kiên định. Sinh khởi tín tâm, chỉ có suy nghĩ về vô thường mới có thể thực sự sinh khởi tín tâm, và chỉ khi thực sự thể nghiệm vô thường, bạn mới không còn vướng bận chuyện được mất.

Hôm nay có nhiều người phỉ báng bạn, sỉ nhục bạn, bắt nạt bạn, đó là vô thường! Phải không? Bạn không nghĩ như vậy sao? Thế giới này vốn dĩ là vô thường mà! Không có gì là thường hằng cả! Bạn phải giữ tâm bình khí hòa, đó chính là giác ngộ rồi, bạn thực sự có thể giải thoát phiền não rồi, nếu không làm sao bạn giải thoát phiền não được? Xin hỏi ngược lại: "Nếu bạn không thể nghiệm vô thường, làm sao giải thoát phiền não?" Bạn sẽ mãi mãi có phiền não, mãi mãi không thoát ra được, mãi mãi không hết khổ! "Khổ liên miên!" (tiếng Đài)

Vì vậy, tôi cảm thấy như hôm nay mình có thể tự chủ, tự tại, rất hài lòng với thế giới này, tương lai còn đời đời kiếp kiếp trong cõi Ta Bà, chính là vì tôi có tâm vô thường. Hôm nay bạn có tâm vô thường, sẽ không lo không sợ; hôm nay bạn không có tâm vô thường, sẽ mãi mãi có phiền não. Đây là dạy các bạn Phật pháp làm thế nào để giải thoát phiền não.

Hãy nhìn Đại sư Liên Trì, ở đầu giường ngài viết một chữ "Tử". Chết nghĩa là die/all die, tất cả đều chết. Tôi không phải đang nguyền rủa mọi người đều phải chết đâu, nhưng có một quy luật tuyệt đối không thể phá vỡ, đó là mọi người đều phải chết; tôi chết, bạn chết, họ chết, tất cả đều chết. Qua một trăm năm nữa, tất cả đều chết thôi! Bạn có thể sống lâu đến thế sao? Bạn có thể sống lâu hơn rùa không? Phải không? Bạn có thể giống như những cây tùng ở Cầu Vồng Sơn Trang này, đứng sừng sững ở đây hàng nghìn năm không? Tuổi thọ của một hòn đá bình thường, tuổi thọ của một cây, đều dài hơn chúng ta! Hãy thể hội vô thường ở đây.

Đại sư Liên Trì viết một chữ "Tử", mỗi ngày tự nhắc nhở mình ngày mai sẽ chết, để tinh tấn tu trì Phật pháp. Sinh khởi tín tâm, đó chính là "chỉ nghĩ về vô thường". Làm sao để tiến bộ trong Phật pháp? Bắt đầu từ "tín". Làm sao để có lòng tin? Chỉ nghĩ về vô thường! Phải không? Sinh lão bệnh tử khổ, tất cả đều là vô thường, đừng chỉ nghĩ đến kiếm tiền, hãy nghĩ đến chân lý nữa.

Tôi nói với mọi người, có rất nhiều người thoái đạo tâm đều là do tiền hại chết. Một chữ tiền, một chữ danh, danh và lợi đã khiến những người này thoái lui. Đừng chấp trước vào danh, đừng chấp trước vào lợi. Như Lai đã dạy, Đức Phật nói: "Tiền bạc là rắn độc." Ngày xưa Ngài dạy chúng ta: "Mắt đừng nhìn người đẹp, tay đừng chạm vào tiền." Người thời nay không phải là không chạm vào tiền đâu! Mà là ôm chầm lấy tiền đấy! Một khi bị tiền trói buộc thì thật là thảm.

Tôi đã từng nói, trên thế giới này có hai sức mạnh rất lớn, sức mạnh thứ nhất chính là đạo, chính là Phật, chính là chân như, chính là Phật tính; đây là điều vĩ đại nhất, bao trùm khắp vũ trụ, đó là điều thứ nhất. Sức mạnh thứ hai chính là tiền, nhưng bạn tuyệt đối đừng để địa vị của tiền vượt qua chân như, vượt qua đạo, vượt qua Phật, vượt qua Phật tính, nếu không bạn sẽ chấp trước, không thể giải thoát; muốn giải thoát, phải đặt chân như Phật tính lên hàng đầu.

Vậy nên quan niệm về tiền bạc của người hiện đại vẫn nên thanh đạm, hợp lý, như vậy sẽ tốt hơn một chút. Tuyệt đối đừng cưỡng đoạt chiếm hữu, cũng tuyệt đối đừng lừa gạt, đừng lừa dối. Bảo bạn thể nghiệm vô thường chính là để bạn thể nghiệm điều này. Bởi vì nhiều tiền không phải là phúc đâu! Không phải là phúc phần đâu! Nhiều tiền đôi khi sẽ mang đến gánh nặng, đồng thời nếu bạn không vận dụng tốt, sẽ mang đến tội ác, trở thành nghiệp chướng của chính mình. Không có tiền ngược lại không có nghiệp chướng, càng nhiều tiền, càng nhiều nghiệp chướng.

Phật Đà ngày xưa cũng từng dạy, tiền giống như rắn độc vậy, tai họa nó mang đến cũng giống như vậy. Không có tiền, sẽ chẳng ai động đến bạn đâu! Hôm nay bạn có tiền, sẽ tăng thêm nguy hiểm cho sinh mạng, người ta sẽ nhắm đến bạn, tiền này chính là con rắn bên cạnh bạn đấy! Bạn tự nghĩ xem, lời Phật dạy có đúng không? Bởi vì có tiền, người ta mới nhắm đến bạn! Hôm nay không có tiền, ai thèm nhắm đến bạn chứ? Họ chạy còn không kịp. Tôi nói cho bạn biết, ngay cả ma quỷ cũng sợ người nghèo. (cười, mọi người cười)

Khi chúng ta học Phật, phải thâm nhập kinh tạng, nhưng việc bảo bạn đọc Tam tạng kinh điển và Thập nhị bộ kinh là điều gần như không thể. Thời gian sống của mỗi người chúng ta trên thế gian này đều rất có hạn, trừ phi người đó chuyên tâm tu hành thì mới có thể đọc hết tất cả kinh Phật. Nhưng dù bạn đọc hết, chưa chắc đã hiểu, chưa chắc đã thấu triệt; cho dù bạn đọc một lượt "Tam tạng Thập nhị bộ kinh", đọc xong đầu óc vẫn trống rỗng, chẳng có ích gì. Vì vậy hôm nay tôi giảng "Phật Học Tổng Thuyết" cho các bạn, chính là để nêu ra những điểm chính yếu, trích ra những trọng điểm quan trọng.

### 03. Giải

"Tín" và "vô thường", một khi đã có "tín" rồi, bước tiếp theo cần làm là "giải". Sau khi có "tín" rồi thì phải làm gì? Phải "giải". Thực ra "giải" chính là suy nghĩ, phân tích, lĩnh ngộ, thấu hiểu, đó chính là "giải".

**Đọc kinh và chuyển kinh**

Bạn đi đọc kinh, người xuất gia thường nói: "Bạn hãy xem kinh đi! Bạn hãy đọc kinh đi! Bạn hãy chuyển kinh đi!" Có tác dụng không? Tất nhiên là có tác dụng. Nhiều người đọc kinh đến cuối cùng, ồ, mở kinh điển ra, đều thấy Phật Thích Ca Mâu Ni hiện ra trong kinh điển, mở kinh điển ra đều thấy Bồ Tát Quan Thế Âm hiện ra trong kinh điển, đó chính là đã thâm nhập rồi.

Kinh chính là Như Lai thuyết pháp cho bạn, chính là Phật Đà thuyết pháp cho bạn. Có rất nhiều người đọc kinh, qua loa đại khái! Đọc cho xong! Đọc thôi! Tụng Kinh Kim Cang, tụng Kinh A Di Đà, tụng Phẩm Phổ Môn, tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, kinh gì cũng đọc, cũng tụng; hỏi bạn, bạn có biết trọng điểm của kinh ở đâu không? Không biết! *I don't know!* (cười) Tôi chỉ đọc thôi! Đó giống như cái đĩa nhạc vậy! (cười) Đĩa nhạc là gì? Quay một vòng, chẳng có tâm gì cả, tâm bạn chẳng lĩnh hội được kinh.

Lĩnh hội kinh điển chính là giải, gọi là giác trí; chúng ta hôm nay đọc kinh chính là để hiểu kinh này. Thâm nhập kinh tạng không phải là đọc qua loa bề mặt, mà là giải, chính là giải kinh, thậm chí là chuyển kinh. Chuyển kinh là gì? Lấy kinh điển lên xoay một vòng là gọi là chuyển kinh sao? Hoặc là giống như các vị Lama Tạng truyền kia, lắc tay chuyển kinh như vậy, tay xoay, xoay, xoay, xoay một vòng, tụng một tụng, xoay một vòng, bên trong đặt kinh điển rồi tay xoay như vậy, gọi là chuyển kinh sao? Không phải vậy.

Ý nghĩa thực sự của chuyển kinh là vận dụng linh hoạt kinh điển, biến nó thành trạng thái hợp nhất với cuộc sống hàng ngày, đó gọi là chuyển kinh. Bạn biết không, có một số người tu hành có công lực rất lớn! Họ thực sự đi vào trong kinh điển, khi tuyết rơi bên ngoài, họ ngồi trên tuyết, bay lơ lửng theo những bông tuyết; khi khát nước, họ trốn trong nhụy hoa để uống nước từ trong đó. Bạn biết đấy, khi hoa đung đưa theo gió, họ trốn trong nhụy hoa để uống nước từ bên trong; họ có thể ngồi trên những bông tuyết, bay lơ lửng theo chúng như thế.

Khi đọc kinh, họ đọc đến mức có thể thân tâm hòa làm một với gió, cứ thế trôi theo gió, có thể bay lơ lửng lên xuống như gió vậy, đó là một cảnh giới vô cùng tự tại. Đọc kinh có thể đọc đến mức thâm nhập kinh tạng, giải kinh, thậm chí chuyển kinh, thân và kinh hợp nhất làm một, giống như kinh vậy, khơi gợi tầng ý thức sâu thẳm hơn trong bản thân mình, có thể tiêu dao tự tại như thiên nhiên vậy, đó mới gọi là "thâm nhập kinh tạng", đó mới gọi là "giải".

**Chân đế của "giải" - nghe, nghĩ**

Sau khi chúng ta đã có niềm tin vào Phật, vậy chúng ta tin vào ai? Chính là giáo pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại, rồi từ đó thâm nhập kinh tạng, đi sâu vào trong tạng kinh của Ngài để tiếp nhận sự giáo hóa của Như Lai. Sau khi được Như Lai giáo hóa thì sao? Thân thể và hành vi hợp nhất với Như Lai, có thần thông tự tại như Như Lai vậy, như thế chẳng phải đã thành Phật rồi sao? Khi bạn có thần thông tự tại như Như Lai, đó chính là Phật rồi, đây là một cách hiểu về việc học Phật.

Vậy chúng ta phải đi nghe pháp, các bạn đến đây nghe Sư Tôn thuyết pháp, thân cận thiện tri thức, đạt được Phật pháp chân chính, ý nghĩa của việc nghe pháp là ở đó. Khi bạn nghe và lĩnh hội được trong tâm, nó sẽ trở thành của bạn. Các bạn xem qua "Nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh của Mật giáo" ("Mật Giáo Đại Quang Hoa"), nó sẽ trở thành của chính các bạn.

Các bạn chỉ cần bỏ ra 1500, 2000 Đài tệ là có được rồi, sau đó các bạn thực sự đi tu tập, đó chính là "hành chứng", đi sâu vào bên trong gọi là "giải"; cho nên các bạn cần đi nghe pháp, đi đọc kinh, đi tư duy, đây chính là nghe - nghĩ - tu trong Phật pháp. Đi nghe, đi tư duy, cuối cùng là đi hành chứng, hành chứng chính là tu. Khi bạn có thể tư duy, lĩnh hội ý nghĩa trong đó, đạt được trí tuệ của nó, nói một cách đơn giản, đó chính là "giải".

Bài giảng đầu tiên của tôi trong "Phật Học Tổng Thuyết", và trong bài giảng đầu tiên này, tôi sẽ nói về "tín", về "vô thường", và về "giải". Về phần "giải", điều quan trọng là phải thường xuyên lắng nghe lời dạy của pháp sư và thiện tri thức. Chúng ta cần đọc kinh, xem kinh Phật, thâm nhập kinh tạng, phải đi sâu và tư duy; suy nghĩ thấu đáo, chiêm nghiệm, và khi đạt được sự lĩnh ngộ thần diệu, đó chính là "giải", trong đó bao hàm hai chữ "nghe nghĩ".

Trong những ngày này, tôi muốn trình bày tổng quan về toàn bộ tinh yếu của Phật học, giảng giải cho mọi người tại Cầu Vồng Sơn Trang trong những ngày này. Việc thuyết pháp trong những ngày này rất quan trọng, đây là những điều tôi thu nhận được từ kiến thức Phật học, là những gì tôi tự phân tích, và cũng là những điều tôi đã lĩnh ngộ được.

Trong quá trình thuyết pháp, các bạn hãy từ từ thể hội những lời pháp này, tự nhiên sẽ có thể tương ứng với Phật học; sau khi đã tương ứng rồi, hãy theo đúng phương pháp "hành chứng" này mà tu tập, sẽ nhận được nhiều gia trì của chư Phật Bồ Tát, nâng cao tâm linh của các bạn, ai ai cũng đạt được thành tựu lớn.

Đây là bài khai thị đơn giản ngày đầu tiên của tôi.

**Kiến giải chính xác**

Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào buổi trưa mọi người!

Hôm nay là ngày thứ hai của "Phật Học Tổng Thuyết". Tôi xin nhắc lại một chút về những gì đã giảng hôm qua. Hôm qua chúng ta đã bàn về vấn đề "tín", vấn đề "giải", và vấn đề "vô thường". Về phần "tín" thì có người nói rằng "mê tín" còn tốt hơn "không tin", và "chính tín" thì tốt hơn "mê tín".

Điều đáng sợ nhất khi học Phật chính là không tin, tức là hoàn toàn không tin bất cứ điều gì, điều này rất phiền phức. Có mê tín ban đầu cũng là điều tốt, bởi vì sau khi dần dần hiểu được, sẽ hướng về chính tín. Vì vậy, về vấn đề "tín", mê tín vẫn tốt hơn không tin, chính tín lại tốt hơn mê tín, điều đáng sợ nhất chính là không tin.

Có người nói họ không tin bất cứ điều gì, nhưng nếu bạn hỏi họ: "Chắc chắn anh phải có một thứ để tin chứ." Họ sẽ hỏi lại: "Tôi phải tin vào cái gì?" Tôi nói: "Tiền." Họ chắc chắn sẽ đáp: "À! Anh nói đúng tâm lý của tôi rồi." Tiền bạc là thứ mà ai cũng tin tưởng, bởi vì chân như, chân lý thì không thể nhìn thấy được, còn tiền thì nhìn thấy được. Người đời đều mê đắm trong thế giới vật chất này; còn về mặt tâm linh, những điều vô hình và siêu hình, họ không hiểu được. Vì vậy khi học Phật, điều quan trọng nhất là phải có chính tín, có niềm tin từ trí tuệ, đây là điều quan trọng nhất.

Nói về việc "giải", bạn cần thân cận thiện tri thức, cần đi nghe pháp, cần thâm nhập kinh tạng, cần dựa vào tư duy của mình, cần nghe, cần suy nghĩ, đó chính là "giải". Điều quan trọng nhất của "giải" là phải có "chính giải", không thể hiểu sai lệch, hiểu sai lệch là không được. Vì vậy chúng ta phải dựa theo giáo pháp của Như Lai truyền lại để có sự hiểu biết đúng đắn, tích cực, điều này là rất tốt.

Nếu bạn hiểu sai về Phật pháp thì cũng rất phiền phức. Có nhiều người chỉ hiểu nửa vời về Phật pháp, vì vậy mọi người đến nghe tôi thuyết pháp là để có được chính kiến về Phật pháp; khi các bạn đã tiếp nhận được chính kiến Phật pháp từ thánh giáo của Như Lai, thì kiến giải của các bạn sẽ vô cùng chính xác.

Mặc dù tông phái của chúng ta bị nhiều người bên ngoài công kích, nhưng thực tế, những gì họ công kích chỉ là quần áo của tôi (mọi người cười), công kích xe của tôi, công kích nhà của tôi, họ không thể nào công kích được Chân Phật Mật Pháp. Đúng không? Chưa từng có ai dám chỉ ra Chân Phật Mật Pháp sai ở chỗ này, sai ở chỗ kia cả. Tại sao vậy? Bởi vì đó là chính giải! Đó chính là điều chân chính!

Pháp môn dạy bạn tu tập, chứ không dạy bạn mặc loại quần áo gì, mua xe gì, hay làm những việc gì khác, không hề dạy bạn những điều đó. Vì vậy những người bên ngoài công kích, chỉ là công kích bề ngoài thôi, còn về nội hàm thực sự của Chân Phật Mật Pháp, không ai dám bàn luận, bởi vì đây là giáo pháp do tổ sư truyền xuống, là Phật pháp do thánh giáo Như Lai truyền lại. Các bạn tu theo Chân Phật Mật Pháp sẽ đạt được chính quả.

Bạn việc gì phải quan tâm thầy của bạn làm gì, đi xe gì? Bạn việc gì phải quan tâm thầy mặc quần áo gì, phải không? Thầy ăn cơm gì? Ăn cơm thường! Ăn cơm Nhật! Ăn gạo Thái! Bạn quan tâm thầy ăn gì làm gì? Điều đó chẳng liên quan gì đến bạn! Dù sao khi bạn đã được pháp vị thì bạn đã no đủ rồi, bạn đã đạt được chính quả rồi.

Vì vậy khi mọi người có được niềm tin từ trí tuệ này, có được niềm tin từ lý trí này, có được chính tín, có được kiến giải chính xác thì sẽ rất dễ dàng lĩnh hội, các bạn sẽ hiểu được những pháp vị này.

**Một bước xoay mình nghiền nát hư không**

Có người vì mối quan hệ nhân sự không hòa hợp, thực ra đây chỉ là mối quan hệ giữa người với người, chẳng liên quan gì đến Phật pháp cả. Vốn dĩ con người với nhau đã không hợp rồi! Có mấy ai thực sự hợp nhau đâu? Nhưng chuyện này không cần bận tâm.

Trước đây, Liễu Minh Hòa Thượng đã bảo tôi: "Một bước xoay mình là nghiền nát hư không." Câu này giải thích thế nào? Nghĩa là, những thứ lộn xộn trong quá khứ của bạn, những lời đàm tiếu, những thứ này nọ, những lời đã nói, người ta đã đối xử với bạn thế nào, hợp với người này, không hợp với người kia, chỉ cần một bước xoay mình là quét sạch tất cả; ngủ một giấc, chuyện hôm qua thuộc về hôm qua, chuyện hôm nay thuộc về hôm nay, tất cả đều bắt đầu lại từ đầu. Người tu hành phải có khí phách như vậy!

Sư phụ Liễu Minh Hòa Thượng của tôi cũng từng mắng tôi, khiến tôi rất khó chịu. Sư Tôn cũng nổi giận, tôi nói: "Con sẽ không cúng dường thầy nữa!" (mọi người cười). Vài ngày sau, nghĩ lại lời thầy: "Một bước xoay mình, nghiền nát hư không." Thầy dạy rằng, chuyện hôm qua thuộc về hôm qua, hôm nay chúng ta vẫn là bạn tốt, vẫn là thầy trò; tôi vẫn học pháp của thầy, thầy vẫn dạy pháp cho tôi, mọi chuyện quá khứ đều quên hết.

Người tu hành phải có khí phách như vậy! Nhờ đó bạn mới có thể đạt được pháp vị. Ôi chao! Tuyệt quá! Bạn có thể quên được chuyện hôm qua không? Không chỉ chuyện hôm qua, mà tất cả quá khứ đều buông bỏ, hôm nay bạn chính là Phật, là vị Phật tự tại; nếu không quên được, bạn sẽ mãi bị ràng buộc, vướng bận. Mọi người hãy từ đây mà hiểu, mà tin.

**Suy ngẫm về vô thường và cầu giải thoát**

Vậy hãy suy ngẫm về vô thường, vô thường như đã nói hôm qua. Vốn dĩ đã là vô thường rồi! Mẹ tôi ngồi đây, trước đây tôi thấy mẹ rất trẻ, không biết bây giờ mẹ có còn thấy tôi như một đứa trẻ không. Bây giờ mẹ tôi đã thay đổi như thế này, nhưng thực ra vẫn rất đẹp! Thực sự vẫn rất đẹp. Tôi nghe nói mẹ mua quần áo, vẫn toàn mua những bộ dành cho người hai mươi mấy tuổi. (mọi người cười)

Đây chính là vô thường! Thời gian thật đáng sợ, từ lúc còn bé, còn là baby, rồi thiếu niên, thanh niên, trung niên, cao niên, rồi nằm xuống, già đi, và không còn nữa; đây là một quá trình, một quá trình của đời người. Thánh giáo Như Lai dạy chúng ta như vậy đó, thời gian rất ngắn ngủi, phải nhanh chóng suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát.

Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế, Ngài đã dạy chúng ta như vậy, hãy nhanh chóng suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát; như vậy rất nhanh, bạn sẽ đi được trên con đường này. Con đường đời người sẽ rất có giá trị, bạn đã nắm được những điều có giá trị nhất.

Bạn muốn học tiến sĩ ư, được thôi! Bạn muốn học tiến sĩ? Đã lãng phí hơn hai mươi năm rồi đấy. (cười) Bạn biết khi tốt nghiệp tiến sĩ thì bao nhiêu tuổi rồi không? Còn phải kết hôn, sinh con, nuôi con nữa, rồi bạn sẽ tốn rất nhiều thời gian cho sự nghiệp, hôn nhân, con cái, sắp không còn kịp nữa đâu! Vì vậy Như Lai dạy chúng ta phải suy ngẫm về vô thường, hướng tâm cầu giải thoát, điều này rất quan trọng. Đây chính là ý nghĩa bài thuyết pháp hôm qua của tôi.

### 04. Hành

Hôm nay, tôi sẽ nói với mọi người về hai chữ "hành" và "chứng" trong bốn chữ "tín, giải, hành, chứng".

Khi bạn đã có được chính tín, bạn cũng có thể có được kiến giải chính xác, có thể thâm nhập kinh tạng, nhưng tất cả những điều này chỉ là lý thuyết. Giống như có một bữa ăn ngon được bày ra trước mặt, đúng là rất ngon, nhưng nếu không ăn thì bạn sẽ không no. Dù bạn biết món ăn đó được mua và nấu như thế nào, hiểu rõ cách làm, b ỏ bao nhiêu muối, bao nhiêu đường, bao nhiêu bột ngọt, bao nhiêu nước tương để làm ra món ăn ngon như vậy, nhưng nếu bạn không ăn, thì đó chính là không có "hành". Vì vậy hôm nay chúng ta sẽ bàn về vấn đề "hành", "hành" này rất quan trọng, trong phương diện "hành" chia làm hai phần lớn, tức là trong phương diện thực tu chia làm hai phần lớn.

**Nội học và ngoại học**

Phật học còn được gọi là nội học. Vậy nội học là gì? Rất đơn giản, nội học chính là môn học về ý niệm của bạn, môn học về ý niệm bên trong thân thể được gọi là nội học. Trước đây, khi Phật học truyền vào Trung Quốc, người Trung Quốc đã gọi nó là nội học. Chúng ta biết đến Chi Na Nội Học Viện rất nổi tiếng; Âu Dương Cảnh Vô, Lữ Trừng đều là viện chủ của Chi Na Nội Học Viện. Vậy thì Chi Na Nội Học Viện, cái gọi là nội học chính là Phật học. Nội học là gì? Chính là môn học về ý niệm, không phải nói về ngoại học.

Tuy nhiên Phật pháp cũng có nói về ngoại học, vậy ngoại học là gì? Ngoại học chính là giới luật. Trong phương diện hành này cần phải giữ gìn hai phần, cả trong lẫn ngoài đều phải giữ, đều phải thực hành, phần hành về ngoài chính là giới, phần hành về trong chính là ý niệm. Phần "ngoại" này khá dễ, phần "nội" thì khó hơn, tuy nói như vậy nhưng thực ra cũng không dễ.

**Bàn về Ngũ Giới**

Chúng ta biết rằng đối với Phật tử, giới đầu tiên cần phải giữ chính là Ngũ Giới. Sát - không sát sinh, đạo - không trộm cắp, dâm - không tà dâm, vọng - không nói dối, tửu - không uống rượu. Đây chính là năm giới, mọi người sẽ nghĩ, Sư Tôn lại giảng về Ngũ Giới rồi, mỗi lần nói đến Ngũ Giới, mọi người trong lòng đều cười, vị Sư Tôn này vẫn uống rượu mà! (cười) Chữ "tửu" này ông ấy không giữ giới, nhưng tôi xin thưa với mọi người: "Đã giữ giới rồi!" (mọi người cười) Là thật sự giữ giới, không phải giả.

Nhiều người rất ngạc nhiên, như Sư Mẫu cũng rất ngạc nhiên: "Ông có thể nói bỏ là bỏ được luôn sao?" Trước đây tôi đã từng nói một câu: "Tôi học Phật bao nhiêu năm nay, tôi không có sở thích gì cả, bây giờ lại bắt tôi bỏ rượu nữa thì tôi sống còn có ý nghĩa gì? Mỗi ngày được nếm một chút, tối ngủ rất ngon, chỉ nhấp một ngụm thôi, tuyệt làm sao!" (mọi người cười) Nhưng, lạ thay! Tôi có thể giữ giới, nói bỏ là bỏ được. Đây chính là định lực, là nghị lực của một con người.

Đã rất lâu rồi tôi không uống rượu, kể từ lần pháp hội trước khi tôi uống rượu với các đệ tử ở Los Angeles, từ lần đó đến nay, một giọt rượu cũng không động đến! Ủa? Sao không ai vỗ tay? (mọi người cười, vỗ tay) Đây là điều rất vĩ đại! (mọi người cười) Thật sự rất vĩ đại. Bắt một người nghiện rượu cai rượu, thật sự là chuyện rất khó! (mọi người cười) Thật sự là một giọt rượu cũng không chạm đến, đã cai hoàn toàn rồi. Cho nên sau này các bạn cúng rượu thì cúng cho Hoàng Tài Thần, Hồng Tài Thần, không cần cúng cho Sư Tôn nữa. (mọi người cười) Những loại rượu này..., nào là X.O.! Những loại rượu bổ này! Tất cả đều không còn nữa.

Nói dối thì rất khó giữ giới, thật sự rất khó giữ, tôi cũng biết giới không nói dối rất khó giữ. Nói thật lòng, chạm vào lương tâm mà nói, hễ nhắc đến nói dối là tự mình cũng sợ. (mọi người cười) Chỉ cần không cẩn thận một chút là đã nói dối rồi. Nhưng người học Phật không được nói dối. Tôi nhớ hình như có báo chí và tạp chí đăng một đoạn văn ngắn như vậy, đọc ra e sẽ làm tổn thương lòng nhiều người. Tôi chỉ nói vài câu thôi. Trên đó viết chữ rất to: "Kẻ nói dối bẩm sinh..." Ừm! Không dám nói tiếp... (mọi người cười) Đây là nói về mặt trái của đàn ông, mặt trái của đàn ông... (mọi người cười) Tôi không nói đâu nhé! Tôi không nói đâu nhé! (mọi người cười)

Vì vậy, hãy nhớ không được nói dối, giữ giới không nói dối rất khó; không chỉ phụ nữ, đàn ông cũng vậy, họ cũng nói dối như nhau. Đặc biệt là người làm kinh doanh, rõ ràng món hàng sắp hỏng rồi mà lại nói là còn tươi mới, bởi vì nếu nói là sắp hỏng thì ai mua? Họ buộc phải nói dối. Rõ ràng là rất đắt, lại nói là rẻ.

Người làm kinh doanh càng dễ nói dối, không nói khuyết điểm gì cả, chỉ toàn nói ưu điểm. Căn nhà có rất nhiều khuyết điểm, nhưng không nói khuyết điểm nào, chỉ nói toàn ưu điểm của căn nhà, như mấy người bán hàng, mấy người môi giới ấy, phải không? Giống như Thượng sư Triệu làm bất động sản (mọi người cười), chưa bao giờ nói bất kì bất động sản nào là xấu cả, ông ấy toàn nói tốt không thôi, cho nên hễ Sư Tôn gặp ông ấy là mua liền. (mọi người cười)

Tôi không mua bất động sản gì cả, đừng hiểu lầm. (mọi người cười) Chỉ mua đất của Bồ Đề Lôi Tạng Tự và đất để xây tòa nhà Chân Phật Báo. Lần nào ông ấy cũng chỉ nói điều tốt, chưa bao giờ nói điều xấu, bởi vì cái xấu thì không ai mua.

Còn về chữ "dâm", khi chúng ta nói về chữ dâm này, đây cũng là một giới. Chúng ta biết rằng trong cuộc đời con người có hai loại dục vọng là "ăn" và "sắc", đây là lời Khổng Tử nói. Chữ "dâm" này khó tránh khỏi việc nhiều người sẽ sa ngã, còn tôi chỉ đi trên bờ vực thôi, tôi không rơi xuống. Tuy nhiên tôi có thò một chân xuống (mọi người cười), may mà kịp rút chân lên, không sao!

Trước đây có một đệ tử nói với tôi như thế này! Cô ấy nói cô ấy đi Trung Quốc Đại Lục, về kể với tôi rằng đã làm rất nhiều việc tốt. Tôi hỏi việc tốt gì vậy? Kể tôi nghe thử. Cô ấy nói cô ấy đi bố thí, tôi hỏi cô bố thí thế nào? Cô ấy kể rằng, cô ấy đã lên giường với một chàng trai họ Hà, rồi cũng lên giường với người họ Ngô, lên giường với em rể của cô ấy, và còn lên giường với một người mà thực sự không thể nói ra. Tôi hỏi sao cô lại làm như vậy? Cô ấy nói: "Thầy không phải bảo con đi bố thí sao?" (mọi người cười) Tôi nói: "Làm sao có thể gọi đây là bố thí được?" Cô ấy nói: "Tứ vô lượng tâm không phải có viết đó sao? Cho người khác niềm vui. (mọi người cười) Thứ nhất, trong từ bi hỷ xả, chữ 'từ' không phải là cho người khác niềm vui sao?" Tôi nhất thời nghẹn lời!

Các bạn biết không? Miệng không thể nói ra được, cái miệng mở ra mà không biết nói sao. Nói rằng cô ấy làm vậy là cho người khác niềm vui! Là bố thí! May mà tôi là người học Phật, hôm nay tôi giảng "Phật Học Tổng Thuyết" này, ít nhất phải hiểu rõ đạo lý Phật pháp mới có thể giảng được! Tôi nói: "Không đúng! Đức Phật đã từng dạy, những gì làm tăng thêm dục vọng của người khác, làm tổn hại người khác, giết chết huệ mệnh của người ta, thì không được bố thí. Cô làm như vậy là làm tăng thêm dục vọng của người khác."

Có một số thứ không được phép bố thí; những thứ làm tăng dục vọng của người khác, thuốc độc không được bố thí, hung khí cũng không được bố thí, dao không được bố thí, súng cũng không được bố thí. Đây là lời Đức Phật dạy, tôi đã nói lại cho cô ấy nghe. Tôi không biết cô ấy có nghe vào tai không. Cho nên việc này là phạm giới dâm, là không được phép. Bởi vì theo pháp luật hiện nay, là một vợ một chồng, người cư sĩ tại gia là một vợ một chồng; người xuất gia thì không còn loại dục vọng đó nữa, phải tu pháp để chuyển hóa nó, chuyển hóa loại dục vọng này, chuyển hóa tâm tham này.

Người phụ nữ đó rất giỏi nói lý lẽ quanh co, cô ta nói ra rất nhiều lý lẽ quanh co khiến bạn không chịu nổi. Sư Tôn nói, chân suýt chút nữa đã lún xuống! Rồi rút lên được! Tôi nói cho các bạn nghe chuyện này. Rất rõ ràng! Không phải tôi đến phòng cô ta! Mà là cô ta mặc đồ ngủ đến phòng tôi.

Tôi có thể giữ được "bình tĩnh tự tại" đã là rất giỏi rồi! "Bình tĩnh tự tại" nghĩa là tôi không bị sa ngã; chỉ ngồi đó nghe cô ấy kể chuyện, kể xong rồi tiễn cô ấy về, chỉ vậy thôi, đúng là như vậy. Tôi vẫn mặc nguyên quần áo chỉnh tề, một cái nút áo cũng không cởi! (mọi người cười)

Cuộc đời là như vậy đấy, cho nên thời Phật Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng bị tiếng xấu lan truyền. Thời Phật Đà, lúc thì người phụ nữ này gây rắc rối cho Phật, lúc thì mấy người phụ nữ kia gây rắc rối cho Phật. Tại sao vậy? Bởi vì họ thấy các nhà sư, người tu hành dễ bắt nạt. Cho nên trong đó mới có một giới "dâm", chính là vì vậy.

Một giới nữa là trộm cắp. Trong giáo dục ở nước ngoài hay phương Tây, việc rèn luyện nhân cách còn nhiều thiếu sót. Ở phương Đông, việc rèn luyện nhân cách cho trẻ em rất tốt; đặc biệt là ở Nhật Bản, về mặt trộm cắp, họ thực sự rất nghiêm khắc. Bởi vì từ nhỏ họ đã được dạy rằng: "Những gì không phải của mình thì không phải của mình, hễ lấy đi là đánh mất tư cách làm người." Trong giới luật của Như Lai, tội trộm cắp này được xem là một tội rất nặng trong ngũ giới.

Tiếp đến là sát sinh, chúng ta đều không sát sinh, Chân Phật Tông cũng dạy mọi người không sát sinh; không những không sát sinh mà còn phải phóng sinh. Còn về việc ăn chay hay ăn mặn, đó là một vấn đề khác; điều quan trọng nhất là bạn không đi sát sinh. Đây chính là hình tướng bên ngoài của ngũ giới.

**Sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp**

Về phương diện tu hành, trong Chân Phật Tông chúng ta có Chân Phật Mật Pháp, đây là phương pháp tu hành nội tâm, là phương pháp tu tập để thanh tịnh ý niệm; dạy bạn làm đại lễ bái, dạy bạn làm đại cúng dường, dạy bạn làm pháp mặc giáp hộ thân, dạy bạn làm pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát, dạy bạn niệm Tứ quy y, tụng kinh, trì chú, kết thủ ấn, nhập Tam ma địa, tất cả đều là để rèn luyện ý niệm thanh tịnh của bạn.

Sự thanh tịnh của ý niệm là vô cùng quan trọng, bởi vì Phật Đà đã dạy: "Mọi ác đừng làm, hãy làm mọi thiện, tự tịnh ý mình, là chư Phật dạy." Hai câu đầu là hình tướng bên ngoài, hai câu sau là nội học, là thực tu. Chân Phật Mật Pháp bạn đến đâu để tìm?

Ngày nay Hiển giáo tu hành, tôi thấy họ đồng tu, họ đăng tải ra nghi quỹ đồng tu, "niệm Phật, nhiễu Phật, lễ Phật, tọa thiền", chỉ có bốn việc này, họ không thoát ra khỏi bốn việc này. Dù bạn là Thiền tông cũng vậy, họ cũng làm y như thế, niệm Phật, nhiễu Phật, lễ bái, tọa thiền, chỉ có bốn việc này. Trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, nội dung còn thâm sâu hơn, rộng lớn hơn, vi diệu hơn, và càng thêm nhiều pháp vị.

**Luận bàn về việc quy định giới**

Bạn nói Chân Phật Mật Pháp tìm ở đâu? Hiện nay các vị pháp sư bên ngoài đều là những vị pháp sư về "tín" và "giải", còn pháp sư về "hành" và "chứng" thì rất hiếm. Cho nên ngày nay Chân Phật Tông của chúng ta dạy mọi người tu tập công phu về "hành" này, là điều rất tuyệt vời. (mọi người vỗ tay)

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài dạy chúng ta về A La Hán, ban đầu giới luật không có nhiều như vậy, nguyên nhân giới luật ngày càng nhiều là vì ngày càng nhiều người phạm giới, nên Ngài mới có thêm nhiều giới luật như vậy. Ban đầu, Ngài chỉ dạy bốn điều, mọi người hãy nghe cho rõ, các bạn học được bốn điều này cũng đã là rất giỏi rồi. Ngài dạy chúng ta, đừng đi ra ngoài, đừng đi tiếp xúc với người đời, hãy ở một mình trong một phạm vi nhỏ trên núi, giống như ở Cầu Vồng Sơn Trang vậy, bạn cứ ở đây, không ra khỏi tường rào bên ngoài, bạn cứ ở trong tường rào, mỗi ngày đều ở bên trong này, đây gọi là "trụ sơn".

Trước đây, pháp sư Huệ Viễn, người sáng lập Tịnh Độ tông, đã sống như vậy. Ngài không bao giờ đi qua con suối đó, chỉ tiễn khách đến bờ suối rồi quay về, không bước ra ngoài. Rất nhiều hành giả đều như vậy. "Trụ sơn" nghĩa là ở lại trên núi 30 năm, 40 năm, 50 năm; không xuống núi, như vậy dễ đạt được sự thanh tịnh. Vì thế Phật Đà dạy chúng ta trụ sơn, tự lập một tăng đoàn, cùng sống với nhau. Khi đi khất thực, phải đi cùng nhau, không được nhìn ngang nhìn dọc; phải rất nghiêm trang, xếp hàng một như đi quân sự vậy, không được nhìn trước nhìn sau, không được nhìn qua nhìn lại, vì nhìn náo nhiệt như vậy tâm sẽ tán loạn. Cho nên "trụ sơn", tâm của bạn sẽ ở trên núi, điều thứ nhất chính là sống trên núi.

Điều thứ hai là "không được nhìn", như Khổng Tử đã dạy "không nhìn khiếm nhã", nam không nhìn nữ, nữ không nhìn nam; không được nhìn, ngay cả liếc qua cũng không được. Vì thế ban đầu Đức Phật không cho phép phụ nữ xuất gia, chỉ toàn là nam giới, đều là tỳ kheo. A Nan này! Ngài vốn có thiện cảm với phụ nữ, Ngài cứ xin xin xin, ba vị phản đối Ngài mạnh mẽ nhất là Đại Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, đều cho rằng không thể được.

Nhưng không còn cách nào khác, phụ nữ đã được xuất gia, kết quả là Phật pháp ở thế gian, ở Thiên Trúc đã giảm mất 500 năm; chính pháp vốn ở Thiên Trúc, ban đầu Phật nói sẽ tồn tại 1000 năm, chính vì phụ nữ xuất gia mà giảm mất 500 năm. Bạn xem! "Có phải là hại chết không? Đúng là hại chết!" (tiếng Đài) (mọi người cười)

Còn có một điều Phật Đà dạy là "đừng động vào tiền"; Phật dạy chúng ta tuyệt đối không được chạm vào tiền, người tu hành một khi đụng vào tiền thì danh tiếng sẽ rất không tốt. Hiện nay cũng có nhiều người khổ hạnh, họ không chạm tiền; khi họ đi khất thực, người ta cho tiền, họ dùng đũa gắp. "Tay không chạm tiền, dùng đũa gắp thì được chứ?" (mọi người cười) Thực ra cũng không được.

Tay không chạm tiền thì lòng tham của bạn sẽ không còn; cuộc sống của bạn có người cúng dường là được rồi! Chỉ cần có người cúng dường thức ăn! Những thứ khác không có gì nhiều! Quần áo mặc rất đơn giản, chỗ ở cũng rất đơn giản. Thời đó ngài Đại Ca Diếp sống dưới gốc cây, ở dưới tán cây, sống ở mộ địa, tức là ở giữa các ngôi mộ, hoàn toàn không có nhà cửa đẹp đẽ gì để ở, đó đều là những lời dạy của chính Đức Phật.

Điều tiếp theo là "không uống rượu", vì rượu có thể làm rối loạn tâm tính, người bình thường nhút nhát, uống rượu vào lại trở nên táo bạo. Tóm lại không biết tại sao, rượu vừa vào là nói, cái gì cũng nói, từ Ngọc Hoàng Đại Đế trên trời cho đến tám đời tổ tiên đều được mời đến, cho nên rượu rất dễ tạo nghiệp, nó sẽ tạo ra rất nhiều nghiệp. Tôi thì rất tốt! Trước đây tôi uống rượu, chưa từng một lần mất kiểm soát, một lần cũng không có.

Tôi càng uống càng say thì càng im lặng (mọi người cười), thôi thì không nói luôn, càng uống nhiều càng không nói. Cả đời say có ba lần, lần đầu tiên là ở trường Trắc Lượng, trèo tường ra ngoài uống rượu cao lương, sáng hôm sau, lúc điểm danh, cả đơn vị vẫn còn... "Ôi! Mùi rượu nồng quá." Lần thứ hai là ở nhà La Ngọc Cầm ở Phong Nguyên, cũng say rượu. Lần thứ ba, là uống rượu thi với người ta; không phải tôi thi với họ, mà là hai người thi với nhau, thì tôi nói với họ: "Ai thắng hay thua, tôi đều uống hết." (mọi người cười) Thế thì đương nhiên là say rồi!

Đó là ba lần say rượu trong đời, sau đó không bao giờ say nữa. Tôi vẫn giữ được phong thái bình tĩnh khi uống rượu như vậy cho đến tận bây giờ. Và tất nhiên, Sư Tôn cũng đã cai rượu rồi.

**Hành giả Du Già và cô gái chăn cừu**

Ở Thiên Trúc, tức là Ấn Độ, có lưu truyền câu chuyện như thế này......

Một hành giả tu hành sống trong núi sâu, người dân trong làng đều biết trên núi có một người tu hành. Họ rất thích cúng dường cho hành giả, nên họ mang thức ăn, đồ dùng đến cúng dường, chủ động cúng dường cho vị hành giả này. Vị hành giả này là người trụ sơn, ông không muốn người dân trong làng đến quá gần mình, nên đã vẽ một ranh giới. Ông nói: "Những thứ các vị muốn cúng dường cho tôi, cứ đặt ở đây là được." Đặt trong một phạm vi, cách khoảng 50 thước, đặt ở đó không được đến gần người tu hành này. Có một cô gái, mỗi lần cúng dường sữa bò hoặc sữa dê, đều đặt ở chỗ cách 50 thước đó.

Đã cúng dường như vậy trong một thời gian dài, vị hành giả này cũng biết có một cô gái, mỗi lần đều cúng dường cho ông sữa bò, sữa dê rất tươi và ngon. Một ngày nọ, cô gái nói với hành giả rằng, cô hy vọng được chiêm ngưỡng người tu hành này; cô đã cúng dường rất lâu nhưng vẫn chỉ nhìn thấy hành giả từ xa, không rõ, cô hy vọng được nhìn thấy hành giả. Đó là sau một thời gian rất dài cúng dường, gần như cả năm rồi. Vị hành giả có chút động lòng, ông nói: "Được rồi! Cô có thể đến gần khoảng 10 thước để nhìn." Cô gái rất xinh đẹp, liền đến chiêm ngưỡng vị hành giả. Vị hành giả nhìn cô một cái không nói gì, rồi nhập định.

Từ đó về sau, mỗi khi cô gái mang sữa đến, trong khi những người khác đặt ở khoảng cách 50 thước, cô được đặc biệt đến gần 10 thước. Cứ thế, hai người nhìn nhau. Khi đang nhìn nhau, cô gái đứng ở khoảng cách 10 thước và nói: "Nghe nói những hành giả du già khi tu hành, lòng bàn tay của họ rất nóng, và còn bốc ra một thứ giống như khói vậy, chỉ cần vận khí thì lòng bàn tay sẽ trở nên rất nóng." Cô hỏi để xác nhận với hành giả: "Thầy có biết không, hành giả du già tu hành, lòng bàn tay không phải rất nóng sao? Vậy có thể cho tôi xem lòng bàn tay của thầy không?"

Vị hành giả này nghĩ rằng, đã cho cô ấy đến gần 10 thước thì cho cô ấy xem lòng bàn tay có gì đâu? Thế là ông đưa tay ra cho cô xem. Cô gái không chỉ dừng lại ở khoảng cách 10 thước nữa, mà bò đến gần hơn một chút, xem lòng bàn tay của ông, sờ thử xem có nóng không! Vừa chạm vào, ôi! Như có luồng điện chạy qua. (cười, mọi người cười) Điện giật rồi, mắt đã nhìn nhau, tay lại chạm tay. Rồi sau đó thì sao? Sau đó, vị hành giả này cuối cùng đã đi chăn bò và chăn cừu. (cười, mọi người cười) Ông không cần tu hành nữa, chỉ đi chăn bò và chăn cừu; còn cô gái chăn cừu ngày xưa, giờ đang cho con bú và bế con.

Cho nên Đức Phật dạy, giới luật ban đầu là như vậy đó, mắt không được nhìn; bởi vì khi mắt nhìn, sẽ có một loại điện vô hình; khi tay chạm nhau, sẽ có điện hữu hình, khi điện này và điện kia tiếp xúc với nhau, chính là âm dương hòa hợp. Đây là chuyện rất phiền phức, không có định lực, lập tức hoàn tục, cho nên nói đến "sát, đạo, dâm, vọng, tửu", năm giới này đều phải giữ, không thể qua loa được.

Phật Đà dạy chúng ta trụ sơn, mắt không được nhìn, không được chạm vào tiền, phải cai hết rượu, dĩ nhiên hôm nay tôi nói bốn điều này là nói về thời xưa. Người thời nay có lẽ định lực tốt hơn, mọi người đều có định lực đủ mạnh, cho nên người thời nay tu hành khác với người xưa tu hành. Tuy nhiên, năm giới, về mặt hình tướng bên ngoài vẫn phải giữ.

**Thực tu**

Cái gọi là "hành" - nội học, chính là thực tu Chân Phật Mật Pháp. Như tôi đã giảng về "Nghi quỹ tu pháp hoàn chỉnh chi tiết" (trong sách "Mật Giáo Đại Quang Hoa"), khi bạn tu tập đến tương ứng rồi, còn có Nội mật pháp, còn có Mật mật pháp, còn có Mật pháp, từ đó phân ra. Sơ quán là Bổn tôn, Nhị quán là Nội pháp, Tam quán là Vô thượng mật, Tứ quán là Đại viên mãn. Bốn quán đảnh này rất quan trọng. Vậy nên, bạn phải tu theo phương pháp tu hành của Mật giáo này, đó chính là hành nội học.

Vậy Hiển giáo tu như thế nào? Tôi cũng biết Hiển giáo tu ra sao, về phương diện niệm Phật, có vẻ như là "một câu Phật hiệu, một niệm thanh tịnh", khi bạn đang niệm Phật "Nam Mô A Di Đà Phật", tức là niệm một câu Phật hiệu một niệm thanh tịnh, khi bạn niệm câu này, trong tâm sẽ sinh ra một niệm thanh tịnh. Vậy còn đả thiền thất thì sao? <span className="note-blue">[Đả thiền thất là hạn kỳ tu hành trong vòng bảy ngày để cầu chứng ngộ.]</span> Thiền thất này chính là trong đó, bạn hoàn toàn dùng tư tưởng "không vô" để đi vào trạng thái thanh tịnh này, thiền hoàn toàn thanh tịnh. Đây đều thuộc phạm vi của "hành", trong Hiển giáo là làm như vậy.

Trong Mật giáo của chúng ta, trước tiên tu tập Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn, đều thuộc về Sơ quán đảnh. Nhị quán đảnh Nội mật là tu Bảo bình khí, tu thông trung mạch, tu khai ngũ luân. Đến Tam quán đảnh, tức là Vô thượng mật bộ, tu Lạc-không đại định. Đến Tứ quán đảnh là Đại viên mãn, hoàn toàn đi vào tính Không, đó chính là thực tu. Tông phái của chúng ta ngày nay là một tông phái rất thực tu, dạy bạn cách tu hành. Hiển giáo rất đơn giản, "một câu Phật hiệu, một niệm thanh tịnh", tọa thiền quán "không", quán "vô", đi vào tính Không, đó chính là cách làm của Thiền tông.

**Kinh thật hòa thượng giả và kinh giả hòa thượng thật**

Về những điều được truyền ra bên ngoài, tức là về mặt danh tiếng của tôi, dĩ nhiên mọi người đều biết, Sư Tôn Lư Thắng Ngạn này, danh tiếng của ngài, "lời đồn", hiện nay mọi người đều nói rằng lời đồn này không tốt lắm. Rất nhiều đệ tử viết thư cho tôi, nói rằng: "Sao lại thế này? Lời đồn của Lư Thắng Ngạn rất không tốt!" Khi tôi nhìn thấy hai chữ "lời đồn", như thể là lời đánh giá theo chiều gió, những lời phê bình mà gió mang đến, thực ra đó chỉ là những lời đồn đại bên ngoài mà thôi!

Tôi không để tâm đâu! Nhưng vì có người đang nói, nên tôi đem ra nói một chút. Có người nói: "Sư Tôn là người không giữ giới." Nói tôi không giữ giới, lời đồn không tốt tức là không giữ giới. Thực ra tôi đang giữ giới đây! Giới mà tôi giữ còn nghiêm ngặt hơn cả những vị xuất gia khác.

Các vị có biết về các Lama Tây Tạng không? Trước đây Phật giáo Tây Tạng ở vùng đất Tạng được gọi là "kinh thật hòa thượng giả". "Kinh thật hòa thượng giả" nghĩa là gì? Những kinh điển Phật giáo từ Thiên Trúc truyền sang Tây Tạng đều là thật; tiếng Ấn Độ và tiếng Tây Tạng rất gần nhau, được dịch trực tiếp từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Pali, rồi sang tiếng Tây Tạng; đây là kinh thật, nên tụng kinh này có hiệu quả. Tại sao nói là hòa thượng giả? Bởi vì họ ăn thịt, uống rượu, lại còn "song vận", cho nên những vị hòa thượng này là giả. Trước đây giới Phật giáo phê bình như vậy đó.

Còn ở Trung Quốc Đại Lục, vùng đất Trung Quốc Đại Lục và Đài Loan này là "kinh giả hòa thượng thật", tại sao vậy? Bởi vì khi dịch từ tiếng Pali của Thiên Trúc sang tiếng Hán, đã pha trộn tư tưởng của người Trung Quốc vào trong kinh điển, chẳng hạn như phải ăn chay, phải làm gì đó, đều đã được thêm vào rồi. Sau khi pha trộn như vậy, kinh điển này tụng lên không còn linh nghiệm nữa, nên gọi là "kinh giả".

Thế nào là hòa thượng thật? Hòa thượng Trung Quốc thì ăn chay, không uống rượu, giữ ngũ giới, giữ giới luật, không kết hôn. Nhiều Lama Tây Tạng thì lại kết hôn, cho nên những vị hòa thượng đó là "giả", còn hòa thượng của Chân Phật Tông chúng ta đều là thật. (cười) Cho nên mới có những lời đồn đại như vậy.

Bên ngoài có lời đồn rằng: "Lư Sư Tôn này không giữ giới luật." Tôi giữ giới rất nghiêm ngặt đấy! Tôi thực sự rất ngoan. Seattle có gì hay ho đâu chứ? Có người phê bình tôi khiêu vũ, nhưng đã lâu lắm rồi tôi không khiêu vũ, lâu lắm rồi, lâu lắm rồi. Thật sự không còn nữa! Các vị nói Lư Sư Tôn hát, đó là do các vị ép tôi đấy. Có khi nào tôi ở nhà một mình mà hát? Cũng chỉ vì đáp ứng yêu cầu của khán giả thôi, đúng không? Là đáp ứng yêu cầu của mọi người mà! Tôi mới miễn cưỡng làm vậy. Nghe nói hát có tính gần gũi hơn, có sự gần gũi mộc mạc, nên vì sự gần gũi đó mà tôi mới hát cho mọi người nghe. Có bao giờ tôi ở nhà mà hát đâu? Không ca, không múa, đó mới là lý do thật sự tôi xuất gia. (mọi người vỗ tay) Sao cái này cũng vỗ tay? (cười, mọi người cười)

Nhưng mà tôi nói thật, tuyệt đối không nói dối. Tôi giữ ngũ giới. Sát sinh, tôi chưa bao giờ dám; trộm cắp, không có; dâm, không có, tôi là người giữ giới đấy! Vọng, nói dối, các vị thấy đấy tôi toàn nói thật mà! Tôi nói hết mọi điều, tôi viết hết mọi chuyện lên sách, đó chính là không nói dối. Rượu, đã cai rồi. Các vị hỏi tôi có giữ ngũ giới không? Có giữ chứ! Tôi giữ cho các vị thấy đây! (cười, mọi người vỗ tay) Các vị cũng hãy giữ theo.

**Tất cả tùy ý**

Tin đồn bên ngoài rất không tốt, nào là lừa đảo tiền bạc, nói quy y với tôi phải tốn bao nhiêu tiền! Làm pháp sự gì cũng phải trả bao nhiêu tiền! Sau này mỗi người hàng tháng còn phải cúng dường hàng tháng nữa! Làm gì có chuyện đó! Tôi là người tất cả đều tùy ý, đã nói rõ từ lâu rồi! Tôi có bao giờ mở miệng đòi các vị bao nhiêu tiền đâu? Các vị cứ đến nói với tôi, tôi sẽ hoàn trả gấp trăm lần!

Sư phụ tôi đã từng nói với tôi: "Sau này con hành tẩu giang hồ, xuống núi đi hành tẩu giang hồ, tất cả đều tùy ý người ta." Tôi vẫn luôn tuân thủ lời dạy của sư phụ, cho đến tận hôm nay, vẫn luôn theo hai chữ "tùy ý".

Trừ phi là chuyện mua bán, ví dụ như bạn đi mua thứ gì đó với ai, món đồ này bao nhiêu tiền? Chuyện mua bán thì dĩ nhiên không có gì để bàn. Còn về mặt Phật pháp, những việc liên quan đến Phật pháp như tiêu tai, siêu độ, cúng dường, quy y, cầu phúc, an vị bài vị tổ tiên, đèn quang minh, cúng Thái Tuế, đều là tùy ý.

Là người ta đến lừa tiền của tôi, chứ không phải tôi đi lừa tiền của người ta. Phải nhớ rằng, chính Sư Tôn đang thực hành bố thí, ban tài cho người ta; những gì các bạn cho tôi chỉ như những giọt nhỏ, giống như một bệnh nhân đang truyền dịch vậy, từng giọt một nhỏ xuống như thế, còn tôi cho người ta cả một chai glucose. (mọi người vỗ tay) Làm gì có chuyện lừa đảo tiền bạc? Cho nên chữ "tài" này, hãy dẹp đi! Dù những tạp chí bên ngoài đăng thế nào đi nữa, chúng ta đều biết, tất cả đều là lời nói dối.

Nói về chuyện lừa tình, mọi người đều nghĩ, dù sao khi nhắc đến thầy tu giả mạo thì nhất định là "lừa tiền" và "lừa tình", hai thứ cộng lại, chỉ có tiền và tình mà thôi! Còn có thể là gì nữa chứ? Nói về chuyện lừa sắc! Nghĩ lại không biết có hay không... Chỉ có một lần, mà không phải tôi đi lừa cô ta, mà là cô ta đến lừa tôi. (mọi người cười) Là người ta đến lừa tình tôi nhưng không lừa được, rồi lại nói tôi lừa tình cô ta, làm gì có chuyện đó! Người tu hành như chúng tôi cũng có tiêu chuẩn rất cao đấy! (mọi người cười) Nói vậy thì hơi ngại quá... (cười, mọi người cười) Đúng không? Chỉ cần suy xét một chút là có thể biết được mà!

**Nội chứng tịnh quang và định lực**

Một hành giả tu tập, muốn có công phu, nhất định phải luyện khí. Chúng ta tu tập Nội pháp, tu "khí, mạch, điểm". Người thực sự có nội chứng, tự thân họ có năng lượng (power), có năng lực, và chứng lượng sẽ hiển lộ, họ không cần phải lừa tình ai cả. Nói đến chuyện lừa tình! Tuyệt đối không phải Sư Tôn đi lừa tình người khác, mà chắc chắn là người khác đến lừa tình Sư Tôn. (mọi người vỗ tay)

Sư Mẫu đã từng nói một câu: "Sư Tôn! Nếu một ngày nào đó thầy công khai tuyên bố là Sư Tôn bây giờ muốn có bạn gái, lập tức sẽ có người xếp hàng dài như đi vệ sinh vậy." Là Sư Mẫu nói đấy, không phải tôi nói. Tôi không dám nói những lời to tát như vậy. (mọi người cười) Bản thân tôi không dám nói những lời to tát như vậy, đó là Sư Mẫu nói mà! Bà ấy nói, nếu công khai tuyên bố: "Được rồi! Ném quả cầu thêu đây!" Cũng sẽ có người đến. Đây chính là công phu nội chứng của bạn, khi bạn đã chứng ngộ nội tâm, bạn sẽ tỏa ra ánh sáng, sẽ có hào quang, bạn sẽ có năng lượng (power) đó, vô hình trung bạn sẽ tạo ra năng lượng đó. Nhiều người sẽ ngưỡng mộ bạn, đến gần gũi với bạn, cả nam lẫn nữ đều có; và trong đó vì lòng tôn kính thầy, vì sự tôn kính với sư phụ, họ cũng sẽ nảy sinh một tâm lý ngưỡng mộ, điều này là khó tránh khỏi.

Vì vậy, người có nội chứng thường bị người khác đến quyến rũ. Khi hành giả tu tập đến giai đoạn quan trọng, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni dưới cội bồ đề, như những gì Ngài đã trải qua; những người phụ nữ như Tôn Đà Lợi, Chiến Già, họ đều ngưỡng mộ Đức Phật, và tự nhiên sẽ tìm cách đến gần Ngài. Không phải Phật đi lừa họ, mà là họ đến lừa Phật. Do đó hiện tượng này sẽ xảy ra, nhưng hành giả phải có định lực.

Về phương diện tiền bạc, bạn nhất định phải có định lực; về phương diện nữ sắc, bạn phải có định lực. Có thì có! Không có thì không có! Sau khi đạt được định lực, bạn sẽ tỏa ra hào quang, đây chính là kết quả của việc thực tu, bạn sẽ chứng được tịnh quang như vậy.

### 05. Chứng

Nói về phương diện "hành", nói chung Hiển giáo là một niệm thanh tịnh, tức là tự tịnh ý mình. Còn trong Mật giáo, với những câu thần chú miên mật không ngừng, sự gia trì không ngừng của thần chú, việc thanh tịnh thân tâm không ngừng, công phu nhập Tam ma địa, đó chính là một loại "hành", tức là thực tu. Khi bạn thực tu rồi, sẽ tiến đến một chữ khác, đó là "chứng".

Chứng là gì? Có thể nói đó chính là khai ngộ. Chứng tức là khai ngộ, trong quá trình thực tu, bạn sẽ đi đến cảnh giới khai ngộ, đây là điều cuối cùng. "Tín", "Giải", "Hành", "Chứng", đó chính là chữ cuối cùng.

Có người tu hành rất lâu, thậm chí 30 năm, 50 năm, mà vẫn không chứng ngộ được. Không có gì cả, hoàn toàn không có gì. Khi họ giảng pháp cho người khác, chỉ dựa theo kinh điển mà giảng, mở kinh ra, Phật Đà nói gì thì họ giảng như vậy, họ đọc cho mọi người nghe, rồi thỉnh thoảng thêm vào lời giải thích của mình, đó chính là "giải". Họ dạy mọi người về "tín", "Các bạn phải tin Phật nhé! Các bạn phải hiểu nhé!" rồi giải thích kinh điển cho mọi người nghe, họ đọc kinh Phật, đọc cho mọi người nghe, rồi giải thích. Ồ! Các bạn nghe cũng thấy hiểu, nhưng có thực tu không? Không! Những vị pháp sư như vậy rất nhiều.

Như hôm kia và hôm nay, tôi thấy trên trời có rất nhiều mây, tất cả đều che khuất ánh sáng, không nhìn thấy gì cả, không thấy được mặt trời, vậy thì tôi đổi tên mới là Đại sư Hắc Vân. (mọi người cười) Cũng hay đấy! Mây đen này rất linh cảm, Đại sư Hắc Vân, mây đen to lắm. Mây đen có to không? Ôi! Cả Seattle, cả tiểu bang Washington đều bị phủ kín, mưa rơi, mây đen, rất hay! Đại sư Hắc Vân, sau này các bạn cứ gọi tôi là Đại sư Hắc Vân nhé. (cười, mọi người cười)

Hoặc là gọi tôi là... Tôi thấy chúng sinh đều ồn ào náo nhiệt, một mình tôi thanh tịnh cũng không hay, tôi cũng muốn ồn ào náo nhiệt, sau này tôi sẽ tên là Thượng nhân Huyên Náo. (cười, mọi người cười) (mọi người vỗ tay) Dù sao cũng hòa mình vào với mọi người mà! Đúng không? Hòa quang đồng trần, lúc thì là Đại sư Hắc Vân, lúc thì là Thượng nhân Huyên Náo.

Tôi còn nghĩ ra một cái tên hay hơn nữa. Mọi người đều biết, ở Los Angeles ai cũng biết, Đông Hải Vô Thượng Sư. Chúng ta đều biết vị Long Vương này! Đông Hải Long Vương là lớn nhất! Đúng không? Đông Hải Long Vương - Ngao Quảng, Tây Hải Long Vương, Nam Hải Long Vương, Bắc Hải Long Vương. Đông Hải Long Vương, còn Thanh Hải chỉ là một cái ao nhỏ nội địa thôi. (mọi người cười) Tôi là Đông Hải Vô Thượng Sư được rồi!

Sau này các bạn viết thư cho tôi có thể đề "Kính gửi Đại sư Hắc Vân", "Thượng nhân Huyên Náo", "Đông Hải Vô Thượng Sư", đều là biệt hiệu của tôi cả. (mọi người cười, mọi người vỗ tay)

**Giảm một phần ô nhiễm, được một phần quang minh**

Điều này cần phải có "chứng", có chứng ngộ! Chữ "chứng" này là một điều khác biệt đấy! Người không có chứng ngộ, họ không biết thuyết pháp, họ không có pháp vị; người có chứng ngộ, khi họ thuyết pháp sẽ có pháp vị. Người có chứng ngộ có khác biệt; khác biệt chính là khác biệt, không giống nhau chính là không giống nhau. Hôm nay nếu bạn gặp một người chưa chứng ngộ, họ giảng kinh, bên trong chẳng có pháp vị gì cả. Hôm nay nếu bạn gặp một người đã khai ngộ, họ chỉ cần thể hiện một chút chứng ngộ của mình, các bạn sẽ biết ngay pháp vị đó ở đâu, đây chính là ngôn ngữ Bát Nhã. Ngôn ngữ Bát Nhã, văn tự Bát Nhã, quán tướng Bát Nhã và thật tướng Bát Nhã, trí tuệ sẽ được sinh ra từ đó.

Thiền tông có rất nhiều công án thiền ngữ, đều là ngôn ngữ Bát Nhã. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn gặp Lục Tổ hỏi: "Ngươi từ đâu đến?" "Con từ Đài Loan đến." Lục Tổ đáp: "Con từ Đài Loan đến." "Người Đài Loan làm sao thành Phật được? Người Đài Loan làm sao có tư cách thành Phật?" Lục Tổ đáp: "Có người Đài Loan, người Tây phương, người Đông phương, mọi người tuy khác nhau, nhưng Phật tính như nhau, Phật tính đều giống nhau." Ngũ Tổ nghe xong, ồ, ngươi đã chứng được Phật tính "bình đẳng không phân biệt". Cách nói này rất sắc bén, người có pháp vị, mở miệng nói ra đã khác.

"Ngươi từ đâu đến?" "Tôi từ Los Angeles đến." "Gà rơi nước" mãi mãi là "gà rơi nước"! <span className="note-blue">[chơi chữ đồng âm]</span> (mọi người cười) Những nơi khác đều phát triển hưng thịnh, "gà rơi nước" vẫn cứ là "gà rơi nước"; làm sao một kẻ "gà rơi nước" có thể thành Phật được? Các bạn trả lời rằng: "Ôi! Thưa Sư Tôn! Con người tuy có phân biệt Los Angeles, San Francisco, Seattle, chỗ ở tuy khác nhau, nhưng Phật tính đều như nhau." Đạo lý là như vậy, đây chính là có pháp vị trong đó. Cho nên Ngũ Tổ vừa nghe câu này, liền nhận định Lục Tổ là bậc đại căn khí sắc bén. Đây chính là sự chứng ngộ thể hiện qua lời thiền.

Tính Không của Lục Tổ hiển hiện, thật là vĩ đại, trong năm trí huệ của Phật có "bình đẳng tính trí", vừa mở miệng ra nói đã trúng rồi, làm sao Ngũ Tổ không nhìn ra? Ngài đương nhiên nhìn ra được. Trong năm đặc tính của Như Lai, Lục Tổ đã có được Bình đẳng tính trí rồi.

Chữ "chứng" này chính là giảm đi một phần ô nhiễm, đạt được một phần quang minh. Tu hành của chúng ta hiện nay chính là như vậy, mỗi lần tu pháp, trong lần tu pháp đó, bạn đạt được thanh tịnh, chính là giảm đi một phần ô nhiễm, đạt được một phần thanh tịnh. Gộp tất cả những thanh tịnh này lại, liên tục không ngừng, chính là Phật tính, đây chính là chứng ngộ.

Trí tuệ này có cái gọi là ngôn ngữ Bát Nhã, văn tự Bát Nhã, quán tướng Bát Nhã và thật tướng Bát Nhã. Trong Thiền tông nói rằng, chính là bất lập văn tự; không lập bất kì văn tự nào, không viết. "Bất lập văn tự, kiến tính thành Phật." Nói thẳng với bạn rằng, thấy được Phật tính vốn có của mình thì có thể thành Phật, không nói gì khác.

Trong Mật giáo thì đó chính là "gia trì thành Phật". Nhờ có sự gia trì quán đảnh của Thượng sư trên thân bạn, khiến bạn chuyển hóa thành Phật, đây chính là sự gia trì của Như Lai. Thượng sư có chứng lượng ban cho bạn gia trì quán đảnh, giúp bạn nhanh chóng tức thân thành Phật, đây là Mật giáo. Đây chính là một bí mật của thần chú, một bí mật của chú ngữ. Các bạn thấy Sư Tôn có khai ngộ không? (các đệ tử đáp: "Có!") (mọi người vỗ tay) Các bạn nói tôi khai ngộ, tôi đương nhiên rất vui! Đâu thể tỏ ra buồn bã được. (mọi người cười)

**Một câu chuyện thần kỳ**

Gần đây có một vài chuyện, tôi cũng xin kể sơ qua với mọi người. Một người đã khai ngộ, trong cuộc sống của họ có những điểm đặc biệt, nhưng cũng có những điểm hoàn toàn giống như người bình thường.

Gần đây tại Chân Phật Mật Uyển, vì có nhiều người đến giúp trả lời thư, nên số người ăn cơm cũng tăng lên; trưa và tối đều khoảng 20 người, nhiều nhất có khi lên đến 30 người ăn cơm. Hai sư phụ Bích Trân và Bích Yến phụ trách nấu nướng trong bếp, họ thường kêu lên với chúng tôi: "Hết đồ ăn rồi!" Hết đồ ăn ư? Vậy thì phải đi mua thôi! Với 20, 30 người như vậy mà bảo một mình Sư Mẫu đi mua đồ ăn thì quá vất vả, nên mấy tháng gần đây, tối nào tôi cũng đi mua đồ ăn. (cười, mọi người cười)

Uwajimaya, Safeway, QFC, Larry's Market, tôi đều đi mua. Đi mua đồ ăn chỉ cần một chỗ là được rồi, sao phải nhiều chỗ như vậy? Còn có nhiều cửa hàng khác nữa đấy! Thỉnh thoảng tôi chạy đến Safeway này, có khi lại chạy đến Safeway kia; bởi vì bên cạnh tôi có rất nhiều vị Bồ Tát nhỏ đi theo, đều là những vị rất nhỏ, rất nhỏ; ở trên đỉnh đầu, ở tai, khắp thân thể đều có rất nhiều vị Bồ Tát nhỏ đi theo. Khi tôi đến chợ, các ngài vui nhất. (cười, mọi người cười)

Khi tôi đến đó, chỉ cần vỗ tay một cái (âm thanh "bốp bốp" hai tiếng vỗ tay), "Các ngài hãy đến đây!" Ồ! Những vị Bồ Tát nhỏ này đều được ăn miễn phí! (cười, mọi người cười lớn)

Vậy hôm nay đã ăn miễn phí ở chỗ này rồi, ngày mai chắc chắn phải đổi chỗ khác thôi? Vì chỗ này đã ăn hết sạch rồi mà! (cười, mọi người cười lớn) Cho nên lúc thì chạy đến Safeway bên Redmond, lúc thì phải chạy đến Safeway bên Bellevue, lúc thì chạy đến Larry's Market, ngoài ra còn thường xuyên đến QFC kia, phía trước còn có mấy chỗ market nữa, mỗi ngày đều phải đổi một chỗ. Các ngài đều đi theo tôi cả.

Tôi nói với Sư Mẫu: "Đến rồi!" Cả một đám lớn, vù! Giống như một cơn gió thổi qua vậy, tất cả đều đến. Tôi không nên ví von như vậy nhỉ? (cười) Giống như những con châu chấu ở Trung Quốc đại lục ngày xưa, từ trên trời đen kịt một mảng bay xuống, đột nhiên bay xuống; chỉ trong vài phút thôi, chỉ cần vài phút thôi. Những cây ngô đó liền biến mất sạch sẽ. (cười, mọi người cười) Giống như một đám mây đen hạ xuống, chỉ trong vài phút, cả cánh đồng ngô đều bị quét sạch.

Khi tôi bước vào đó, tôi nói: "Các ngài đã đến." Cửa tự động "vù!" mở ra, rồi "vù!" đóng lại. Ừm! Những người nước ngoài đều nhìn ngơ ngác. Sao không thấy ai đi vào mà cửa tự động mở ra, rồi tự động đóng lại vậy? (mọi người cười) Tôi sống trong cảnh giới như thế đấy, có rất nhiều vị Bồ Tát đi theo Sư Tôn, điều này hoàn toàn không phải nói dối. (mọi người vỗ tay)

**Phương pháp đọc báo kỳ diệu**

Sáng nay, tôi đọc báo. Ủa? Các bạn nghe đến việc đọc báo đều cảm thấy rất lạ, thực ra khi xưa chúng tôi làm quân nhân, trong quân đội đều có đọc báo, ngoài ra ở trường Trắc Lượng cũng có đọc báo; tức là cử một đại diện trong số học sinh, viết ra những điểm chính trong báo hôm nay, đọc cho mọi người nghe. Bởi vì báo không phải ai cũng có một tờ, nên mới có chương trình đọc báo này; buổi sáng trước tiên đọc qua báo một chút, đọc qua thời sự và những điểm chính trong báo, đó gọi là "đọc báo".

Sáng nay tôi cũng đọc báo. Ai đọc báo cho Sư Tôn? Chư Phật Bồ Tát đọc báo cho tôi. Tôi đã thấy, có một mẩu tin tức, viết rằng "Chùa XX hóa thành tro bụi", tức là đã bị cháy rụi. Ngôi chùa này trước đây có chút liên quan với Chân Phật Tông chúng ta, bây giờ thì không. Tôi nói với mọi người, hy vọng sau này có thể kiểm chứng tin tức này.

Dĩ nhiên chuyện này vẫn chưa xảy ra, nhưng tôi đã đọc được trên báo rồi! (mọi người cười) Tôi đã đọc được báo, Ngài cho tôi xem; việc "hóa thành tro bụi" này, bị cháy rụi, một mẩu báo như vậy cho tôi xem, tôi đã biết được chuyện này.

Có rất nhiều chuyện tôi đều đọc báo trước. Như hồi trước khi tôi ở Đài Loan, tôi đọc báo, Ngài cho tôi xem báo. Ồ! Tờ XX Thời Báo! Trên đó viết "XX Thời Báo", tờ báo đó cho tôi xem, đột nhiên "XX Thời Báo" biến mất, trở thành "XX Nhật Báo". Chuyện gì vậy? XX Thời Báo sẽ biến mất sao? Thôi tôi không nói nữa. Chuyện này liên quan đến quốc gia, tôi không thể nói nữa, nói ra thì không hay lắm.

Khi chúng tôi đọc báo, tôi đều biết trước. Tôi có khả năng thần toán, Sư Tôn biết đoán trước đấy! Tờ báo tôi đọc là báo của mười năm sau, còn báo các bạn đọc là báo mới in từ nhà in hôm nay, về những chuyện xảy ra hôm nay. Đôi khi Ngài đưa cho tôi xem báo của mười năm sau. Báo mười năm sau còn chưa ra, tôi đã đọc trước rồi.

Thực ra khi có ai muốn phê bình Sư Tôn, các vị Phật Bồ Tát đều đưa cho tôi xem trước, Ngài đọc báo cho tôi nghe trước. Mấy chữ "Lư Thắng Ngạn" to đùng, "xấu quá đi"! (cười, mọi người cười lớn) Khi họ in sách, tôi đã thấy trước rồi, làm sao không biết được chứ? Thực ra khi nhà đệ tử bị hỏa hoạn, tôi cũng thấy trước, những gì xuất hiện trên báo, tôi đều thấy trước. Nhưng tôi biết nói sao đây? Có nhiều chuyện không thể nói. Nói ra biết rồi thì có ích gì?

Các bạn thử nghĩ xem, chuyện gì sắp xảy ra với tôi, làm sao tôi lại không biết chứ? Tôi đều biết cả. Nhưng tôi nói thế nào đây? Tôi nói với ai đây? Tôi đâu thể đăng lên báo được! Cho nên tôi nói với mấy người thân cận cũng chẳng có ích gì! Họ đều giữ kín như bưng, họ lại không lan truyền tin đồn. Nhưng những người đáng lẽ nên tạo tin đồn thì họ lại không tạo, còn những người không nên tạo tin đồn thì họ lại cứ tạo ra. (mọi người cười)

Có nhiều chuyện có thể biết trước, tôi thấy không hay. Nhưng chư Phật Bồ Tát cũng nói với tôi rằng: "Chỉ báo tin vui không báo tin buồn cũng không tốt." Mà chỉ báo tin buồn không báo tin vui cũng không tốt. Các Ngài cũng không biết phải làm sao. Tôi bèn nói: "Ôi! Kệ vậy!" Kệ vậy! Dù sao các Ngài vui lòng đưa cái gì cho tôi xem thì tôi xem cái đó. (cười) Cho nên tôi thấy được, thực ra, những lời người ta sẽ chửi tôi vài năm sau, Ngài đã đưa cho tôi xem trước rồi. Vừa xem xong, tôi lại phải buồn thêm mấy năm nữa. Chẳng có ý nghĩa gì! Đến lúc đó mới buồn cũng được mà! Phải không? Cần gì phải buồn sớm chứ! (mọi người cười)

Cho nên đôi khi biết trước vận mệnh chưa chắc đã tốt! Lo lắng sợ hãi. Đôi khi Ngài không muốn cho tôi biết, để tôi phải lo lắng sợ hãi trước. Vì vậy con người tôi cũng chỉ nói: "Ôi! Tùy duyên thôi!" Đó là tự tại! "Đi đến đâu tính đến đó." Vận mệnh là như vậy đó, đi đến đâu tính đến đó. Thế nào thì cũng phải tự tại.

**Giác hành viên mãn**

Sư Phật Thubten Dhargye ban cho tôi pháp hiệu là "Thổ Đăng Tự Như".

"Thổ lộ bài ca hộ Phạm giáo, Đăng lên Lư Sơn đạo quang minh, Tự trí chúng sinh đều chữ Hum, Như pháp chính tri tụng cát tường". (mọi người vỗ tay) Ngài dạy tôi phải "tự như"!

Ý nghĩa câu đầu tiên, "Thổ lộ bài ca hộ Phạm giáo", tức là truyền bá Phật pháp khắp nơi, hoằng dương chính pháp do Đức Phật Thiên Trúc truyền xuống, để hộ trì chính pháp của Đức Phật; "Đăng lên Lư Sơn đạo quang minh", tức là bảo tôi phải tu hành, bước lên thế giới Tịnh Quang cao nhất; "Tự trí chúng sinh đều chữ Hum", chúng sinh đều bình đẳng, đều từ chữ Hum mà sinh ra; "Như pháp chính tri tụng cát tường", trong Mật giáo cũng đều là trí huệ của Phật, dùng trí huệ của Phật để đạt được mục đích cát tường cho chúng sinh. Đây là điều Ngài ban cho tôi, "Thổ Đăng Tự Như", cho nên phải tự tự như như.

Cho nên tôi biết trước, nếu như tôi dạy phương pháp này cho mọi người, dạy cho các bạn pháp nhãn báo, pháp nhĩ báo, pháp này pháp kia, là làm cho các bạn khổ sở. Thật sự là khổ sở! Biết trước có ích gì? Chẳng phải là đau khổ sớm hơn thôi sao? Tuy có thể giúp đỡ người khác hay làm gì đó, nhưng bạn có thể giúp được bao nhiêu? Đôi khi vận mệnh đã định sẵn rồi, bạn có thể giúp được bao nhiêu? Chi bằng tu Phật pháp, thực tu Phật pháp; lấy "hành" làm trọng, "chứng" tự nhiên sẽ đến.

Người học Phật chúng ta, học đến cuối cùng, chính là tự mình giác ngộ, tự mình khai ngộ. Bạn đã hiểu được chân lý tối thượng của vũ trụ, đó chính là "tự giác"; bạn đã tự mình giác ngộ rồi, đem phương pháp giác ngộ truyền cho người khác là "giác tha"; tức là cũng đi giúp người khác giác ngộ, cho đến khi tự giác và giác tha đều viên mãn, đó chính là "giác hành viên mãn"! Như vậy "tự giác giác tha, giác hành viên mãn", chính là Phật.

Thực tu của chúng ta chính là để khai ngộ, khi đã khai ngộ rồi, thì có thể viên mãn giác hành của mình. Bạn có thể tự giác, có thể giác tha, như vậy mọi hành vi của bạn trong cõi nhân gian này đều rất có giá trị, bởi vì bạn là một vị Phật hoàn toàn viên mãn.

Vậy làm sao để chứng ngộ? Chính là phải thực tu, thể hội chân lý tối thượng của vũ trụ. Điều này tôi sẽ trình bày từng điểm một trong những buổi giảng những ngày tới, tức là nói về cách thể hội từng tầng từng lớp pháp vị này. 

**Thực chứng và thần thông**

Thế thì có người hỏi: "Sau khi chứng đắc rồi, ông có thần thông không?" Còn cần phải nói nữa sao? Chính bản thân bạn có thể tiếp xúc được, có thể chạm được, giống như sờ vào điện vậy, biết là có. Nếu bạn chưa chứng đắc, bạn hoàn toàn như một vật cách điện, không biết gì cả.

Khi bạn hiểu được nhân quả, hiểu được túc mệnh, thì túc mệnh thông sẽ xuất hiện. Như những chuyện đã xảy ra với tôi trước đây, tôi đã kể rồi, mọi người cũng đã nghe rồi! Kiếp trước tôi là một vị đại Lama ở cung điện Potala Tây Tạng, không phải tiểu Lama. Trước đây cũng có người phỉ báng tôi, người phỉ báng đó chính là bà chủ tiệm kim khí ở phố Bát Giác, Tây Tạng. Thì kiếp này, bà ấy cũng vậy, cũng làm những hành động tương tự. Đây chính là nhân quả, vốn dĩ phải như vậy, bạn có trốn cũng không thoát được. Ý chỉ của chư Phật Bồ Tát là như vậy: "Đã như vậy thì cứ như vậy, không có cách nào cả!" (mọi người cười) Cho nên đây là có quan hệ nhân quả.

Có một kiếp tôi làm trụ trì chùa Kim Sơn ở Trung Quốc Đại Lục, là một vị đại hòa thượng. Còn Thượng sư Thịnh Pháp, lúc đó ông ấy làm giám viện, lúc đó ông có pháp danh là Quảng Diệu - Pháp sư Quảng Diệu, bây giờ Ngài là Thượng sư Thịnh Pháp. Điều kỳ diệu chính là ở chỗ này, có duyên sẽ đến với nhau, tụ họp cùng nhau, có duyên thì sẽ ở bên nhau. Sau khi tôi đi rồi, thì ông ấy làm trụ trì. Ông ấy đá tôi đi rồi. (mọi người cười)

Không phải vậy! Đó là vô thường, là vô thường. Trên đời làm gì có trụ trì vĩnh viễn, phải không? Trên đời làm gì có chủ tịch vĩnh viễn? Trên đời không có cái gọi là hai chữ "vĩnh viễn", chỉ có A La Hán thành Phật, không sinh cũng không tử. A La Hán, không sinh không tử; Bồ Tát, không sinh không tử; Phật, không sinh không tử. Chỉ có điều này mới là vĩnh hằng.

Khi túc mệnh thông đã khai thông, mười phương rộng lớn vô biên - đây là chỉ không gian; ba đời lưu thông vô tận - đây là chỉ thời gian. Bạn đều hiểu hết! Túc mệnh của bạn, bạn đều thấu tỏ. Ồ! Thì ra là như vậy, rõ ràng minh bạch, tất cả đều có nhân quả, có luân hồi, không thể trốn tránh; cái gì phải đến thì sẽ đến, cái gì phải đi thì sẽ đi, nhân duyên tụ hợp, cứ thế luân hồi.

Có gì đáng để chấp trước? Học Phật đến mức này, bạn đã chứng ngộ rồi, đã viên mãn rồi, có gì đáng để chấp trước? Có gì đáng để vui sướng? Có gì đáng để bi thương? Học đến lúc này, bạn đã có thể tự như, đó là "tự như" mà Thượng sư Thubten Dhargye ban cho. Các bạn có muốn tự như không? Muốn tự như thì phải hành trì cho tốt, phải lĩnh hội được pháp vị, sẽ không còn phiền não; các bạn không muốn tự như, thì sẽ có phiền não, sẽ có sinh tử, có đoạn diệt. Đây là điều có giá trị nhất trong đời người đấy!

Bạn nói thứ có giá trị nhất trong cuộc đời là đồ cổ. Đồ cổ ư? Tôi cũng có, tôi cũng có đấy! (mọi người cười) Ai đã tặng cho tôi nhỉ, cô Điền đó, tôi đang tìm cô ấy, không biết cô ấy trốn ở đâu? Ồ! Ở đây này. Cô ấy có rất nhiều đồ cổ đấy! Đó là di vật của chồng cô ấy để lại. Vậy nên cô ấy tặng cho tôi, bây giờ cô ấy tặng cho tôi, sau này tôi cũng sẽ tặng cho người khác, phải không? Những món đồ cổ có giá trị này, không phải một người có thể giữ mãi! Sau này nó nhất định phải được truyền từ đời này sang đời khác, cứ thế mà tiếp tục! Bạn không thể sở hữu mãi mãi được.

Cho nên Đức Phật đã nói rất rõ ràng rồi, cái gì là của bạn? Không có thứ gì là của bạn cả, chỉ có nghiệp theo mình, nghiệp chướng đi theo bạn. Bạn tưởng đồ cổ là có giá trị sao? Bạn tưởng tiền là có giá trị sao? Kiếp này bạn cứ cố mà làm việc đi! Đi đi! Dù sao bạn cũng bận rộn không ngớt, ngày nào cũng bận, ngay cả Chủ nhật cũng bận. Có ngày thứ tám không? (tiếng cười) Không có đâu.

"Cho tôi ngày thứ tám thì tốt quá, tôi sẽ có thể bận rộn tám ngày: người ta bận bảy ngày, tôi bận tám ngày." Không có chuyện tốt đẹp như vậy đâu, một tuần là một tuần thôi, không có thêm ngày nào cả. Ngày nào cũng bận rộn, cuối cùng bận đến hai tay trắng, bận rộn vô ích! Cái gì là có giá trị? Tiền bạc ư? Đồ cổ ư? Nhà lầu ư? Xe hơi ư? Tất cả đều là bận rộn vô ích!

Cái gì là có giá trị nhất? "Tự như". Khi bạn đã chứng đắc, tín-giải-hành-chứng, bạn đã khai ngộ, bạn đã hiểu được chân lý tối thượng của vũ trụ, đây mới là điều có giá trị nhất. Hôm nay mọi người không đi con đường này, vậy đi con đường nào? Con đường bạn đang đi là... thôi không nói nữa... đường cụt! (mọi người cười) Phải không? Đó là điểm đến cuối cùng của đời người mà! Điểm đến cuối cùng của đời người chẳng phải là đường cụt sao?

### 06. Tứ Thánh đế

Vì vậy tôi cảm thấy kiếp này của mình rất có ý nghĩa, có thể tự tại như vậy, dù thế nào đi nữa, luôn có một trạng thái pháp hỷ tràn đầy giác ngộ, được chư Phật gia trì, tự thân tỏa sáng. (mọi người vỗ tay)

Thuở xưa Phật Thích Ca Mâu Ni, thực ra khi Ngài bắt đầu thuyết giảng, mọi người đều biết, chính là bốn Thánh đế, gọi là "Khổ Tập Diệt Đạo"; khi tôi giảng Tâm Kinh cũng đề cập đến "Khổ Tập Diệt Đạo" này, "Vô Khổ Tập Diệt Đạo". Thực ra, mấy chữ này đã bị sắp xếp sai, phải là "Tập Khổ Đạo Diệt", "Tập Khổ Đạo Diệt" mới đúng, "Khổ Tập Diệt Đạo" là sai. Có lẽ khi dịch, người ta hoa mắt nên đảo lộn các chữ. (mọi người cười) "Tập Khổ Đạo Diệt" mới đúng, không phải "Khổ Tập Diệt Đạo".

Phật Đà giảng bốn Thánh đế này, lúc đầu giảng là bốn Thánh đế, khi sắp viên tịch cũng là bốn Thánh đế. "Tập" là tích tụ tất cả "Khổ", nhanh chóng tu "Đạo", để nhập "Niết bàn", ý nghĩa của bốn chữ này là như vậy.

Đời người là khổ, rất khổ, bởi vì vô thường tự thân đã là khổ rồi, người thường không chịu nổi vô thường. Trong mắt người đã khai ngộ, họ có thể chấp nhận, bởi vì vốn dĩ đã như vậy; nhưng trong mắt người khác, "Sao lại thế nhỉ? Người này hôm qua còn ở bên cạnh mình, sao ngày mai đã không thấy nữa? Sao lại thế nhỉ?" Đó chính là vô thường. Trong đạo lý nhân quả luân hồi, trong Phật pháp, điều này là tồn tại, là có nhân quả đang luân hồi ở đó.

"Khổ" là tất cả mọi nỗi khổ, hết thảy khổ đau; "Tập" là nghĩ về khổ, "Diệt" là Niết bàn, "Đạo" chính là tu đạo, đây là bốn Thánh đế mà Như Lai Phật Đà đã thuyết giảng. Sau này, khi bốn Thánh đế này chuyển hóa, khi bạn khai ngộ, nó sẽ biến thành "Thường, Lạc, Ngã, Tịnh".

Thế nào là "Thường"? Đó là tự tại. Thế nào là "Lạc"? Đó là tự như. Thế nào là "Ngã"? Là quảng đại, cái "Ngã" này không phải tiểu ngã, mà là "Ngã" quảng đại. Thế nào là "Tịnh"? Đó là "thanh tịnh". Thường xuyên được tự tại, tự như an lạc, trong cõi quảng đại vô biên, thần thông du hý, thanh tịnh tự như, đây chính là "Thường, Lạc, Ngã, Tịnh", đây chính là bốn Thánh đế.

Trong Phật pháp, điều đầu tiên mà Như Lai, Đức Phật dạy chúng ta chính là bốn Thánh đế. Trong bốn Thánh đế bao hàm vô thường. Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn", chữ "ngã" này có nghĩa là quảng đại, chính là ý thức vũ trụ bao la, cũng chính là nói về "chân như"; "Thiên thượng địa hạ, duy chân như độc tôn." Không phải chỉ nói về một người, điều này mọi người cần phải ghi nhớ.

Thật ra bốn Thánh đế "Khổ Tập Diệt Đạo" chuyển hóa thành "Thường Lạc Ngã Tịnh", đó chính là ý nghĩa quan trọng nhất của bốn Thánh đế. Từ đó nảy sinh vấn đề về chính kiến, cũng chính là Phật pháp chia thành ba thừa. Vậy Tiểu thừa lấy gì làm chính kiến? Chính là lấy "vô thường" và "xuất ly" làm chính kiến.

Vậy Đại thừa thì sao? Lấy gì làm chính kiến? Chính là lấy "vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả" làm chính kiến. Mặc dù Kinh Kim Cang đã giảng về tứ vô, tứ vô tướng, phi tứ tướng, nhưng kinh còn giảng thêm về sáu ba-la-mật. Tư tưởng Đại thừa vì có sáu ba-la-mật nên trở thành tư tưởng Đại thừa. Tiểu thừa chỉ có vô thường và xuất ly, còn Đại thừa thì có "vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả" cộng thêm sáu ba-la-mật.

Vậy Mật giáo thì sao? Lấy Phật và ta là một làm chính kiến, "bạn chính là Phật, tôi chính là Phật", đây là nhất như; "quang quang hợp nhất", tử quang và mẫu quang làm một, tương ứng, đây là chính kiến của Mật giáo. Vì vậy người tu Mật giáo có phương tiện gia trì, bạn chính là Phật, tôi chính là Phật, quang quang hợp nhất, đây chính là chính kiến của Mật giáo.

Chính kiến của Đại thừa là sáu ba-la-mật, chính kiến của Tiểu thừa là xuất ly và vô thường.

Thời gian đã gần hết, hôm nay chúng ta đã giảng về "Hành, Chứng" và "Tứ Thánh đế". Hôm qua chúng ta đã giảng về "Tín, Giải, Vô thường", hôm nay giảng về "Hành, Chứng" và "Tứ Thánh đế", mong rằng mọi người có thể lĩnh hội.

Om mani padme hum.

**Ngắm núi ngắm sông**

Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người!

Hôm nay là ngày thứ ba giảng "Phật Học Tổng Thuyết", ngày đầu tiên chúng ta giảng về "Tín" và "Giải", ngày thứ hai giảng về "Hành" và "Chứng". Có thể nói hai ngày qua chúng ta đã trình bày toàn bộ thứ tự tu tập của Phật Học Tổng Thuyết, từ "Tín" cho đến "Chứng", bốn chữ này đã bao hàm tất cả, có thể nói bốn giai đoạn này đã giảng xong. Và khi đã giảng xong rồi, thời tiết đẹp thế này, chúng ta thực sự có thể đi dã ngoại, hoặc leo núi.

Tuy nhiên Phật Học Tổng Thuyết rất quan trọng, quả thật thời gian của đời người rất ngắn ngủi, chúng ta thường ngày phải chú ý đến những hoạt động có lợi cho thân tâm khỏe mạnh, nhưng đối với Phật pháp quý báu càng phải trân quý hơn. Thường ngày tôi mong mọi người hãy ngắm nhìn thiên nhiên, thế giới tự nhiên, "ngắm núi, ngắm sông, thấu hiểu cuộc đời". Từ trong sông núi, cũng có thể lĩnh hội được Phật pháp, không phải Phật pháp nhất định phải đọc kinh, niệm Phật, ăn chay, giữ giới.

**Lấy Phật pháp làm thể, lấy cuộc sống làm dụng**

Đôi khi, cần phải ứng dụng Phật pháp vào toàn bộ cuộc sống, có thể nói tất cả đều là Phật pháp. Tín, Giải, Hành, Chứng đều có thể xuất hiện trong cuộc sống của bạn. Điểm này cũng rất quan trọng, vì vậy khi học Phật chúng ta không thể càng học tâm càng hẹp hòi, mà phải càng học càng rộng mở, đem tất cả lời nói việc làm, mọi khía cạnh của cuộc sống hòa nhập vào trong Phật pháp, đây mới gọi là "thể" và "dụng". Thế nào là "thể"? Lấy Phật pháp làm thể. Thế nào là "dụng"? Chính là lấy cuộc sống làm dụng. Vì vậy học Phật nếu càng học tâm càng rộng mở, nó sẽ càng hiển lộ ánh sáng; nếu càng học tâm càng hẹp hòi, sẽ trở nên tăm tối. Cho nên rất dễ đi lệch, khi bạn học được cái lệch lạc, và học được những điều tà vạy, không phải chính kiến Phật pháp, sẽ dễ phạm sai lầm.

Vì vậy khi chúng ta học Phật, tôi nói theo cách thông thường, mỗi tối thứ Bảy lúc 8 giờ chúng ta đồng tu, còn Chủ nhật thì leo núi, leo núi Cầu Vồng. Ngọn núi Cầu Vồng phía sau này, đảm bảo sẽ khiến bạn thở hổn hển. (mọi người cười) Theo cách nói của người Đài Loan là "biết thổi gà mà không biết thổi lửa" (tiếng Đài), khi lên đến đỉnh núi chắc chắn sẽ thở không ra hơi, đây là một dạng rèn luyện, leo núi cũng là một cách rèn luyện sức khỏe. Khi bạn ngắm nhìn ngọn núi hùng vĩ, ngắm nhìn đất trời, ngắm nhìn dòng nước chảy, không chỉ có thi tình họa ý, mà trong đó còn chứa đựng hương vị Phật pháp.

### 07. Nhập Phật môn

Hai cửa Lý và Sự

Đã giảng về "Tín, Giải, Hành, Chứng" rồi, vậy làm sao để vào cửa Phật? Cửa ấy rốt cuộc ở đâu? Nhiều người có ý kiến không giống nhau, khác biệt nhau.

Có người nói nên từ "Lý" mà vào; "Lý" là Phật lý, cần phải hiểu Phật lý trước. Phật lý, mọi người đều biết Phật lý rất thâm sâu, từ "Lý" mà vào thì tốt hơn, bởi vì vào từ Lý chính là vào tri kiến Phật.

Có người cho rằng cần phải thực tu; khi bước vào học Phật nên thực tu trước, thực tu chính là "Sự pháp". Giống như chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, cần phải thực sự tu hành, giữ giới, giữ tâm ý thanh tịnh, như vậy mới được. Điều này được chia thành hai cửa, một là "cửa Lý", một là "cửa Sự". Vậy rốt cuộc nên học Phật Lý trước là đúng? Hay là nên từ Sự pháp mà tu trước là đúng? Mọi người có ý kiến gì không?

Người Trung Quốc rất giỏi nói đến chuyện "tiến hành đồng thời". Nhớ lại ngày xưa khi đi học chúng ta đã từng học: "Biết khó làm dễ, biết dễ làm khó, tri hành hợp nhất." Đúng không? Bây giờ ai cũng hiểu phải "tri hành hợp nhất". Nhưng thời Phật Đà, Ngài dạy chúng ta như thế này, có rất nhiều kinh điển đều đề cập đến; ý của Phật là Ngài muốn từ "Sự" mà vào, rất nhiều kinh điển đều đề cập đến điều này đấy!

"Nghe nhiều không bằng thực tu", rất nhiều kinh điển đều đề cập đến điều này; bạn đi nghe Phật lý, nghe rất nhiều, nhưng mà sao? Nếu không thực tu thì giống như tôi đã nói hôm qua, về căn bản bạn chưa ăn món đó! Bạn biết đấy, làm nhiều món ăn, bạn hiểu đạo lý đó, nhưng bạn không thể no bụng với nó, căn bản là không thể có được pháp vị. Vì vậy trong giáo huấn của Như Lai, Ngài dạy rằng, "thực tu là số một".

Nhưng tôi cho rằng, chúng ta cần để Lý và Sự song hành với nhau, phải cùng tiến. Tuy Phật Đà rất nhấn mạnh việc thực tu, nhưng thuở ban đầu khi Phật dạy chúng ta, Ngài chỉ nói, sau khi các con khất thực về, nghe pháp xong, được rồi! Mọi người giải tán. Có người chạy lên đỉnh núi, có người ở lưng chừng núi, có người ở chân núi, có người dưới gốc cây, đều ngồi thiền tĩnh tọa ở đó.

Mọi người đều đi tu tập. Đến giờ, một tiếng gọi vang lên, mọi người lại đi ra ngoài, tiếp tục đi khất thực, tiếp tục đi xin ăn, cuộc sống đều như thế. Điều Phật Đà dạy từ thuở ban đầu chính là bảo bạn đi tĩnh tọa, đi thiền định. Tĩnh tọa và thiền định là vô cùng quan trọng, trong toàn bộ quá trình Phật học của Như Lai, "định" chính là mắt xích quan trọng nhất.

"Lý nhập" chính là nhập tri kiến Phật, hiểu được ý thú, thấu hiểu ý nghĩa và lý thú trong kinh điển, lĩnh hội lý thú đó; từ trong Phật kinh Phật lý này, thể hội được pháp vị, và cuối cùng thì sao? Tâm địa của bạn sẽ đạt được quang minh, đây là phương diện "Lý nhập".

Có người đọc kinh, trì tụng kinh, thâm nhập kinh tạng, khi thực sự hợp nhất với kinh điển, mở kinh ra thậm chí còn thấy được Bồ Tát. Mở những lá kinh bối diệp ra đều có thể thấy Bồ Tát. Vì vậy trong kinh điển cũng chứa đựng vô tận diệu vị, khi bạn đọc kinh đến chỗ uyên thâm, lĩnh hội được sự uyên thâm đó, không chỉ gật đầu tán thưởng, mà thậm chí tâm thần của bạn cũng sẽ tỏa sáng. Đây mới là điểm then chốt của việc đọc kinh.

Ở Trung Quốc, sau thời nhà Tống, đã biên soạn rất nhiều sám bản. Sám bản là sau thời nhà Tống, nhiều vị pháp sư, đại đức, như Lương Vũ Đế chẳng hạn! Họ biên soạn ra những sám bản này. Sám bản đương nhiên cũng có điểm tốt, không phải là không có, dạy bạn sám hối, và sám hối chính là dạy bạn đọc kinh, trì tụng kinh. Xem kinh điển, rồi trì tụng, niệm tụng, sau đó lễ bái, lạy Phật.

Thực ra sám hối chính là "lễ bái" và "đọc kinh" kết hợp với nhau thành bái sám. Ý nghĩa lớn nhất của sám hối là ở chỗ bạn đang sám hối điều gì, bạn thật sự hiểu được việc sám hối, chứ không phải chỉ là lạy theo và tụng kinh theo mà thôi, mà phải hiểu được ý nghĩa bên trong sám bản, đây mới là điểm then chốt. Vì vậy mọi người cần hiểu rằng bái sám chỉ là bề mặt của Phật pháp. Pháp môn sám hối có thể nói là đơn giản nhất, chỉ là đọc kinh và lễ bái; đến cuối cùng, những pháp môn Phật pháp này đều trở nên rất đơn giản, chỉ còn là một pháp môn sám hối.

Còn với pháp môn niệm Phật, hiện nay việc niệm Phật chỉ còn là "trì danh niệm Phật"; một câu danh hiệu Phật đã bao hàm cả Tam tạng kinh điển, diễn biến đến nay đã trở nên ngày càng đơn giản. Bởi vì người thời nay thích nhàn ghét khó, cho rằng càng đơn giản càng tốt. Họ nghĩ chỉ cần niệm Phật là được, niệm "Nam mô A Di Đà Phật" là có thể thành Phật, diễn biến đến nay, ngay cả "Thập lục quán" trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh cũng không còn; "Quán tướng niệm Phật" cũng không còn, chỉ còn lại "trì danh niệm Phật", một câu "Nam mô A Di Đà Phật" đã bao hàm cả Tam tạng kinh điển. Nếu nói như vậy thì chi bằng bỏ hết Tam tạng kinh điển đi, chỉ viết "Nam mô A Di Đà Phật" là đủ. Cho nên Phật pháp trong mắt người hiện đại đã biến đổi như thế.

Thiền tông ngày xưa là pháp môn viên đốn nhất, còn chứa đựng nhiều diệu lý thâm sâu, nhưng đến thời hiện đại, chỉ còn lại thiền ngôn thiền ngữ, toàn là nói suông, cứ lật đi lật lại những gì của các bậc đại đức Thiền tông thời xưa, chỉ bàn luận những điều đó. Cho nên không lạ gì mà thời nay có rất nhiều pháp sư, thiền sư, đại sư "tâm thiền chưa sáng", rất ít người thực sự có thể khai mở tâm thiền. Vì vậy Thiền tông không chỉ là thiền ngôn suông, còn có rất nhiều pháp thiền, rất nhiều diệu pháp tham thiền, nay đã thất truyền, chỉ còn lại thiền ngôn suông, chỉ là biểu diễn trên ti vi, trong khi thuyết pháp nói qua nói lại! Thiền chỉ còn lại có thế.

Cho nên Phật pháp đến nay, pháp môn chân chính ở đâu? Nhiều người học Phật, chạy nhiều đạo tràng, nhưng bản thân các vị, đã tìm được cửa chưa?

Chân Phật Mật Pháp mà chúng ta đang học ngày nay chính là cửa vào của Sự pháp. Những người đang đi nhiều đạo tràng như các vị, đến khắp các đạo tràng Phật giáo trên thế giới, chắc chắn không thể tìm thấy một giáo pháp tinh tế như Chân Phật Mật Pháp. Các vị thấy đó, bên trong bao gồm tất cả mọi thứ, dạy bạn nhập Tam ma địa, dạy bạn chú ngữ, dạy bạn thủ ấn, dạy bạn quán tưởng, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ vô lượng tâm, mặc giáp hộ thân, Kim Cang Tâm Bồ Tát, Tứ quy y..., một bộ phương pháp hoàn chỉnh như vậy, hơn nữa còn giảng giải tỉ mỉ cho bạn, bạn đi khắp thế giới tìm ở đâu ra?

Đa phần các pháp sư Phật giáo, bạn hỏi họ về Phật lý, họ bảo bạn "đi đọc kinh Phật đi"; bạn hỏi họ làm sao tu tập, họ nói "đi niệm Phật đi"; bạn hỏi họ làm sao ngồi thiền, họ nói "từ từ". "Tại sao phải từ từ?" "Bởi vì cái này không thể nhanh được." "Làm sao để thiền định?" "Cái này không đơn giản đâu." Có khi vị lão pháp sư đó cả đời chỉ trì danh niệm Phật mà thôi, bạn hỏi ông về thiền định, ôi, ông chỉ còn cách nói: "Từ từ đã, sau này sẽ nói cho biết." Sau này... sau này thì ông viên tịch mất rồi, chưa kịp nói cho bạn biết thì đã đi đời rồi.

Ông ta không dạy cho bạn gì cả, ông ta không thể giảng được. Tại sao không nói được? Bởi vì ông ta chưa bao giờ nhập định! Tam ma địa không dễ đạt được đâu. Hôm nay các vị đến nghe tôi giảng, các vị đã tìm đúng người rồi. Tôi có kinh nghiệm này, tôi đã từng trải qua, cho nên nghe tôi giảng là đúng rồi.

Các vị đi hỏi các vị lão hòa thượng, có người tu "bất đảo đơn", các vị biết bất đảo đơn chứ. Chúng ta không tu bất đảo đơn, chúng ta tu "nhất tự thiền". Bất đảo đơn là gì? Bất đảo đơn là ban đêm ngồi ngủ, giống như bây giờ các vị ở đây đều ngồi ngủ cả, bây giờ không còn nhất tự thiền, các vị ngồi đây bây giờ đều như vậy, đều là bất đảo đơn. Ngồi thế này, nhưng đến nửa đêm thì cứ thế này (đầu gục xuống nghiêng một bên), nước miếng chảy ra. Cái đó không gọi là thiền định. Rất vất vả! Ngồi ngủ rất vất vả. Cưỡng ép bản thân như vậy là không đúng.

Thiền định của chúng ta không phải ở chỗ lâu hay mau, mà ở chỗ có định hay không. Các vị có biết ai ngồi thiền lâu nhất không? Lão hòa thượng Hư Vân ngồi lâu nhất, ngài ở trên núi của mình, nấu khoai sọ, trước khi nấu ngài ngồi thiền, đến khi tỉnh lại thì khoai đã mọc nấm hết rồi. Các vị xem ngài ngồi lâu không? Ngài là người ngồi lâu nhất. Cách ngồi này gọi là "tọa vong", quên hết tất cả, thời gian cũng không còn, vừa ngồi là không còn gì nữa; công lực thiền định này rất sâu.

Nhưng thiền định chân chính có phải như vậy không? Đúng ra là khi vào thiền thì không còn gì, nhưng tâm vẫn sáng suốt, tâm vẫn tỉnh táo, đây gọi là thiền tâm minh, tham thiền tâm minh. Bạn có định không? Cái "tâm minh" này mới gọi là "định".

Có lúc có người không mơ, có người ban đêm không nằm mơ, những người không nằm mơ, họ có phải đang thiền định không? Họ vừa nằm xuống, vừa mở mắt ra thì trời đã sáng. Tôi còn không biết mình có ngủ không nữa, sao lại thế? Loáng một cái là trời sáng. Họ lên giường lúc 11 giờ tối, nhắm mắt rồi mở mắt ra, trời đã sáng. Ôi! Công phu thiền định của tôi thâm sâu quá! (cười) Nhìn lịch thì thấy, tôi ngủ từ mùng 1, sao bây giờ đã 30 rồi? Tôi ngủ cả tháng rồi! (cười, mọi người cười) Đây gọi là công phu thiền định thâm sâu, nhưng mà cái này gọi là ngủ quên, quên mất thời gian, trong thời gian đó họ không hề nằm mơ.

Các bạn có biết trong Đạo giáo có một người tên Trần Hy Di - Trần Bá lão tổ, ông ta ngủ mấy năm liền, công phu ngủ này ghê thật! Nếu tôi mà ngủ được mấy năm liền thì cũng hay. Trần Hy Di, Trần Bá lão tổ. Thiền định của lão hòa thượng Hư Vân rất tốt, nhưng đó là tọa vong, quên mất thời gian, ngài ngồi ở Thái Lan, ngồi luôn hơn mười ngày, ngay cả vua Thái cũng đến đảnh lễ ngài.

Công lực của ngài rất tốt, nhưng đó là tọa vong, ngày nay chúng ta không nói về thời gian dài hay ngắn, chúng ta nói về việc bạn có định hay không? Thời gian ngắn không sao cả, thời gian ngồi thiền ngắn cũng không sao. Điều quan trọng nhất là bạn có định không? Nếu bạn có định, pháp vị sẽ xuất hiện, nếu bạn không định, sẽ không có pháp vị.

### 08. Cửa Lý

Chúng ta biết rằng trong Phật Học Tổng Thuyết này có "Lý nhập", Lý nhập là học từ kinh điển, học kinh. Rồi có "Sự nhập", tức là học tập Sự pháp, đây là phương pháp thực tu. Và Chân Phật Mật Pháp của chúng ta chính là phương pháp thực tu, hai cửa này đều có thể vào, không nên phân biệt. Tôi hy vọng mọi người, nếu các vị có duyên với việc học kinh, chuyển kinh, đọc kinh thì các vị đi cửa này, được! Các vị thích thực tu thì đi cửa Sự cũng được.

**"Đất dưới móng tay" và "Đất đại địa"**

Ở đây, tôi xin đưa ra một vài kiến giải như sau. Việc hiểu được Lý đôi khi rất khó, "Tam tạng thập nhị bộ kinh" rất rộng lớn. Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng, không phải tôi nói đâu, chính Phật Đà đã nói. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, pháp mà Ngài đã thuyết giống như "đất dưới móng tay". Đức Phật dạy: "Pháp ta đã thuyết giảng chỉ như đất dưới móng tay, pháp ta chưa thuyết giảng thì như đất đại địa." Các bạn có hiểu ý nghĩa này không? Ngài thường xuyên nói câu này, nghĩa là Phật lý, kinh Phật nhiều như đất đại địa, chân lý nhiều như đất đại địa; Phật thuyết pháp trong 49 năm, Ngài nói: "Chẳng qua chỉ như dùng tay vốc lên vài hạt cát mà thôi".

Hôm nay tôi thuyết pháp, chẳng lẽ tôi thổi một cái (Sư Tôn làm động tác thổi) là hết sao? (cười, mọi người cười) Còn Đức Phật thuyết pháp 49 năm, chỉ như Ngài dùng móng tay vốc lên một chút đất từ đại địa; vậy thì những gì chúng ta giảng bấy lâu nay chẳng phải chỉ bằng một hạt bụi thôi sao? Có khi còn chẳng bằng một hạt bụi, nhìn còn chẳng thấy; giống như một hạt cát trên đầu kim vậy.

Cho nên các vị biết không, Phật pháp là gì? Phật học là gì? Phật học như đất đại địa, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, Tam tạng thập nhị bộ kinh chỉ như là "một móng tay đất", vậy làm sao mà học hết?

Cho nên Lý rất nhiều, cửa "Lý nhập" này rất khó, vào bằng "Sự pháp" dễ hơn, về mặt lý thuyết thì khó hơn.

**Giống như việc hiểu về cơ thể**

Giả sử bạn lập luận rằng "Lý thì đơn giản hơn mà! Phật lý đơn giản hơn." Không đơn giản đâu! Trước hết hãy tự hỏi bản thân, làm sao mắt bạn có thể nhìn thấy được vật? Tôi hỏi bạn: "Làm sao mắt bạn có thể nhìn thấy vật?" Bạn có thể trả lời một cách đơn giản: "Tôi chỉ cần mở mắt ra là nhìn thấy vật." Này! Đâu có đơn giản vậy! Tôi đang hỏi bạn về nguyên lý cơ đấy.

Vật ở đó, đi vào mắt bạn, bạn dùng cái gì để cảm nhận? Phải đi qua những dây thần kinh gì trong nhãn cầu của bạn, phản xạ, khúc xạ, đủ thứ xạ, vô số thứ, đi vào mắt bạn, đến thần kinh thị giác, rồi truyền đến não bộ, truyền đến đâu đó, đột nhiên ở đó dùng một hình ảnh cho bạn thấy, cho bạn cảm nhận, ồ, bạn mới biết vật này có hình dạng gì. Điều này bạn không hiểu đâu, đạo lý bên trong rất sâu xa.

Đạo lý về việc tay tôi đang vẫy ở đây rất sâu xa đấy. Ồ! Bạn thấy đó, tay của Sư Tôn đang vẫy, vẫy như thế nào? Phải hỏi bạn, tại sao lại vẫy như vậy? Có ý nghĩa gì? Tại sao tay lại có thể vẫy như thế? Đó là miệng bạn nói tay phải vẫy, thần kinh não của bạn không biết phần nào... Tôi hỏi bạn là phần nào? (mọi người cười) Y học phát triển đến thế, đến giờ vẫn chưa biết rõ đại não, tiểu não, não gì gì đó, dù sao thì "phiền não" có đủ cả! (cười, mọi người cười)

Phần nào tiếp nhận âm thanh từ tai nghe vào qua lời nói của bạn, từ ý thức đẩy lên não bộ, từ phần thần kinh nào của não bộ chỉ huy gân, xương, máu, thịt của bạn, tất cả phải chuyển động mới có thể vẫy được? Bạn có biết không? Tiếng Nhật gọi là: "Zenzen wakaranai." Tiếng phổ thông gọi là "hoàn toàn không biết". (cười, mọi người cười) Không đơn giản đâu! Chỉ là hỏi bạn về những thứ bên trong cơ thể mình thôi.

Chúng ta biết khi ăn cơm, miệng mở ra, hai đũa, xúc xúc xúc xúc xúc, cơm vào trong. Đừng có nhầm lẫn, vào khí quản thì khổ lắm! Nó tự động, một bên là khí quản, một bên là thực quản, xúc xúc, thức ăn đi qua thực quản vào trong, không vào khí quản. Nếu phản ứng không nhanh nhạy, vào khí quản một cái là bạn sặc ngay. (mọi người cười)

Được rồi, vào đến thực quản, đến dạ dày rồi, cái dạ dày đó! Dạ dày đang làm gì ở đó? Dạ dày ở đó "bùm chát chát, bùm chát chát, bùm chát chát". (mọi người cười) Nó không phải đang nhảy múa đâu! Nó thực sự đang nghiền nát những thứ bạn ăn vào đấy. Bạn có biết nó chuyển động thế nào không? Nó quay thuận chiều hay ngược chiều? Quay trái hay quay phải? Tại sao nó nghiền nát đồ ăn của bạn? Bạn chưa nghiên cứu đấy! Thực ra không biết đâu, cứ ăn vào là được rồi. Chẳng biết gì cả, đi qua tá tràng đến đại tràng... à không, đến tiểu tràng trước! Rồi mới đến đại tràng. Nếu đến đại tràng trước thì khổ rồi! Đến đại tràng trước thì ra luôn rồi! (cười, mọi người cười)

Điều này bạn không hiểu đâu. Thành dạ dày sẽ hấp thụ cho bạn, dạ dày đấy! Nó sẽ hấp thụ, sẽ giải phóng; ruột non cũng sẽ hấp thụ mọi thứ cho bạn, còn ruột già thì còn có nhu động nữa. Ruột già chuyển động thế nào? Bạn chỉ biết ăn lòng mà không biết ruột già chuyển động ra sao à? Nó sẽ co bóp, co bóp như thế này, liên tục đẩy, đẩy, đẩy, đẩy cái thứ đó xuống đến hậu môn. (mọi người cười)

Trong quá trình đó bạn không hề biết gì. Bạn chỉ việc xúc cơm vào miệng, nói về toàn bộ các cơ quan, những cơ quan tiếp nhận thức ăn như vậy, cho đến khi thải ra ngoài, quá trình này trải qua muôn vàn biến đổi, bạn không nghiên cứu đâu. Ai có thể hiểu rõ được? Chất dinh dưỡng vận chuyển thế nào? Nước phân chia ra sao? Nó còn phải phân tách ra nhiều loại khác nhau, phân đường, phân muối, phân nước, biến đổi thành chất dinh dưỡng, nó còn đưa thêm các thứ vào, rồi lại biến đổi những chất dinh dưỡng đó, trong đó còn có sự trao đổi chất, có vận chuyển, có lưu thông, có động mạch chủ, có tiểu động mạch, có tĩnh mạch, có mao mạch, còn có những tế bào vi tế nhất.

Bạn biết tế bào, tất cả chúng ta đều biết! Tế bào là thành phần cấu tạo nên cơ thể con người. Được rồi, tôi hỏi bạn: "Bên trong tế bào có gì?" Ai có thể trả lời được? Bên trong tế bào có những gì? Nó chứa những gì bên trong? (Có người trả lời: "Sự sống.") Tôi cũng biết là sự sống. Anh ấy biết là sự sống, tất nhiên trong tế bào có sự sống rồi. Có lẽ bác sĩ, y tá thì họ hiểu rõ hơn về mặt này. Thực ra, tôi nói cho bạn biết, đừng cảm thấy xấu hổ, thực ra tôi cũng không biết. (cười, mọi người cười)

Ý tôi muốn nói là: Lý đấy! Phật lý khó hiểu lắm. Chính bản thân mình mà bạn còn chẳng hiểu được, bạn chỉ biết đưa cơm vào miệng, những thứ khác bạn chẳng quan tâm. Nhưng thực ra, trong đó có rất nhiều quá trình vi diệu, đạo lý này bạn không hiểu rõ. Phật lý cũng vậy đó! Chân lý cũng vậy đó! Bạn rất khó hiểu được nó. Nhưng khi bạn thực tu, bạn sẽ hiểu được; khi bạn bắt đầu thực tu, bạn trải nghiệm rồi, dần dần bạn sẽ biết được hương vị của nó ở đâu, điểm vi diệu của nó ở đâu, những điểm vi diệu của Phật lý, bạn và Phật lý tương ứng với nhau, lúc đó bạn mới thực sự hiểu rõ.

**Đọc kinh không nếm được pháp vị**

Trong kinh Phật có rất nhiều người giảng lý lẽ, rất nhiều Phật lý, nhưng họ chưa chắc đã được nếm pháp vị; dù họ có hiểu pháp vị ở đâu, họ cũng không thể nếm được. Điều quan trọng nhất chính là "nếm". Khi bạn hiểu được "tại sao tay tôi lại cử động", "tại sao mắt tôi lại nhìn thấy", hiểu được quá trình vi diệu của "thức ăn từ lúc ăn vào cho đến lúc thải ra", mà bạn vẫn chưa nếm thì bạn đã chết đói rồi, bạn đã chết đói rồi.

Cho nên Tam tạng thập nhị bộ, khi bạn đã thông hết; tôi nói: "Tôi đã xem hết Tam tạng thập nhị bộ, hôm nay tôi đã thông suốt hết Phật lý rồi." Không biết là chuyện của bao nhiêu kiếp sau. Không phải kiếp này bạn đã có thể thông được. Kiếp này bạn có thể đọc hết Tam tạng thập nhị bộ một lần, được! Có thể! Đọc ba lần bạn cũng có thể; ngày nào cũng đọc kinh ở đó, được! Bạn đọc một trăm lần cũng được; ngày nào cũng đọc ở đó, từ nhỏ đọc đến lớn, đọc đến già, đọc đến chết. Bạn vẫn chưa nếm được pháp vị! Bạn vẫn chưa bắt đầu thực tu! Bạn vẫn chưa thông Lý mà! Đến khi bạn thông Phật lý rồi thì chết! Bạn vẫn chưa nếm được! Cho nên chúng ta phải nếm trước, không cần biết món ăn được nấu thế nào, chúng ta cứ nếm trước, làm trước.

**Một lần tu hơn nhiều lần nghe**

Như Lai Phật Đà cũng dạy như vậy, Phật Đà dạy chúng ta: "Một lần tu hơn nhiều lần nghe". "Đệ nhất đa văn" chính là Tôn giả A Nan đó, Ngài nghe nhiều nhất, nhưng mãi về sau mới thành tựu.

Đại Ca Diếp rất ghét Ngài, Đại Ca Diếp tính tình không tốt, trong tất cả đệ tử Phật, Ngài là người có tâm sân nặng nhất, gương mặt góc cạnh. Gầy, nhiều góc cạnh, tính tình không tốt, nóng nảy, tâm sân nặng nhất. Lời Phật dạy, trước mặt Phật thì Ngài vẫn tỏ vẻ rất cung kính, nhưng khi Phật đi rồi thì Ngài không nghe lời; có khi Phật dạy điều gì, Ngài cũng không nghe.

Phật Đà dạy: "Ông đừng đi xa quá! Thỉnh thoảng hãy về ở tại tinh xá Trúc Lâm một thời gian!" Nhưng Ngài không nghe, Ngài kiên quyết, kiên quyết giữ ý chí của mình; Ngài có ý chí rất mạnh mẽ, kiên trì khổ hạnh, tu hạnh đầu-đà. Như Lai bảo: "Này! Ông hãy ăn chút gì ngon bổ, bồi dưỡng sức khỏe đi!" Nhưng Ngài không chịu ăn.

Ngài thấy Tôn giả A Nan là nổi giận liền! Ngài giận lắm: "Người này tham lam nhất!" A Nan kìa! Tham quá! Trong số đệ tử Phật, A Nan là người tham lam nhất. Ngài tham cái gì? Thích ăn ngon, thích mặc đẹp. Y phục của Phật rất tốt, rất đẹp, Ngài vừa thấy là lén lấy mặc liền. Khi Phật vắng mặt, Ngài còn ngồi lên pháp tọa nữa ; mặc y phục đẹp đẽ như thế, rồi ngồi trên ghế của Phật răn dạy hàng hậu học. Ngài không chỉ thích thế thôi, Ngài còn thích phụ nữ nữa, cho nên tâm tham của Ngài nặng nhất.

Nhưng thật ra, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng rất khen ngợi Đại Ca Diếp. Mặc dù Ngài là người có tâm sân nặng nhất, không thường xuyên ở bên cạnh Phật Đà, nhưng Phật Đà vẫn rất khen ngợi Ngài, cho rằng Ngài là đệ nhất về thực tu, thành tựu của Ngài cũng là đệ nhất, thành tựu của Đại Ca Diếp quả thật là đệ nhất.

Còn A Nan thì sao? Cuối cùng! A Nan không chỉ bị một người ghét, mà rất nhiều người đều ghét Ngài. Bởi vì Ngài làm thị giả cho Phật lâu như vậy, phải không? Ở bên cạnh Phật Đà, mọi người nhìn thấy đều rất khó chịu. Đây là tranh sủng, vẫn là tranh sủng. (cười)

### 09. Cửa Sự

Vậy khi bạn bước vào cửa Sự thì sao? Đó là để dạy bạn tu thân khẩu ý thanh tịnh, dạy bạn minh tâm kiến tính, dạy bạn tu tập thân thể, rồi chứng tính Không. Cuối cùng thì sao? Hóa thân cầu vồng.

Thật ra! Chỉ cần bạn thành Phật, đạt được tịnh quang, chứng được tính Không, thì bạn sẽ hiểu Phật lý. Sau khi bạn thực sự chứng được tính Không, Phật lý này, bạn không cần nghiên cứu, không cần đọc kinh, không cần nghiên cứu, bạn cũng đạt được, bạn đã hiểu được Phật lý rồi. Lục Tổ Huệ Năng không học nhiều, nhưng sau khi Ngài thực tu rồi thì sao? Ngài nói ra điều gì cũng là Phật lý, miệng Ngài nói thế nào cũng là Phật lý. Bạn nói đúng không?

Đó là bởi vì Ngài thực tu! Ngài thực tu ở đâu? Sau khi có được khẩu quyết của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Ngài đã ở giữa những người thợ săn thực tu hơn 10 năm, để thể nghiệm khẩu quyết của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Sau khi Ngài đạt được rồi, những lời Ngài nói ra đều là Phật lý; cho nên không nhất định phải là người có học thức cao mới hiểu được Phật lý, không nhất định. Cho nên nếu bạn thực sự có thể thâm nhập một pháp, thì sẽ hiểu được.

**Thâm nhập một pháp**

Cho nên ở đây nói đến "pháp" này, trong Phật Học Tổng Thuyết này đề cập đến pháp này; rốt cuộc là học nhiều pháp tốt, hay là học một pháp tốt? Phải học một pháp tốt hơn, học nhiều pháp chẳng phải giống như đa văn sao! Học thâm nhập một pháp, tương lai bạn thông một pháp rồi thì mọi pháp đều thông, chỉ cần bạn thực tu khai ngộ rồi, bạn sẽ hiểu được Phật lý. Cho nên Lý, Sự, vào bằng cửa Lý hay là vào bằng cửa Sự? Đạo lý là ở chỗ này.

Ngày nay có rất nhiều bậc tiền bối trong giới Phật giáo rất thông Lý. Khi bạn nói về Lý với họ, họ có thể giảng giải cho bạn kinh này nói thế này, kinh kia nói thế kia, nói rất nhiều; nhưng khi nói đến thực tu, chứng nghiệm thì họ nói không có, đây chính là cái hại của "nghe nhiều". Việc học nhiều pháp cũng có rất nhiều điều bất lợi.

Giống như bài viết tôi mới đăng trên Chân Phật Báo gần đây. À! Hôm nay không có mây đen... (mọi người cười) Tóm lại ông ấy nói rằng "thiền tâm chưa sáng"; chúng ta biết ông ấy học thiền nhưng "thiền tâm chưa sáng". Rồi "tịnh thổ chưa hiện", "không tương ứng với tịnh thổ và Di Đà"! Không tương ứng với Phật A Di Đà; việc niệm Phật của ông ấy trong Tịnh Độ tông cũng không có thành tựu.

Rồi "Mật giáo cũng không tương ứng", ông ấy cũng học Mật; thực ra ông ấy không phải học Mật, mà chỉ đi theo người ta tụng chú Đại Bi, mười tiểu chú. Chú Đại Bi, mười tiểu chú có trong sách khóa tụng, đó là những thứ người học Phật ai cũng biết chú Đại Bi, mười tiểu chú, người học Phật ai cũng biết, điều đó cũng không đơn giản chút nào.

Bạn xem, Mật giáo kiểu như vậy, ông ấy cũng không tương ứng, điều này là không đúng rồi. Có người nói: "Này! Tông phái của chúng tôi là tông phái hợp nhất của tám đại tông phái." "Ồ! Tám đại tông phái hợp thành một tông, vậy chắc chắn là vĩ đại lắm!" Đừng nghĩ như vậy! Bạn vào đó là sẽ rối loạn ngay.

Lúc thì tông này, lúc thì tông kia; lúc thì bảo bạn niệm Phật, lúc thì bảo bạn học Thiền, lúc thì bảo bạn học Mật, lúc thì bảo bạn học Luật, Thiền, Tịnh, Mật, Luật; lúc thì bảo bạn học Tam Luận, Duy Thức; rồi lại Thiên Thai, rồi lại Pháp Hoa, rồi lại Hoa Nghiêm..., bạn sẽ rối tung lên thôi!

Thâm nhập một pháp mới tốt, nếu không đến 60, 70 tuổi rồi mà chẳng có gì cả. Nếu là tôi, tôi sẽ xấu hổ chết mất!

Thật đấy, tôi sẽ cảm thấy rất xấu hổ! Tịnh thổ chưa hiện, thiền tâm chưa sáng, Mật giáo chưa tương ứng, vậy thì bạn học pháp môn gì? Bạn học môn tiền bạc, môn quyền lực, môn thế lực, Phật giáo đâu có những môn này? Đây là những việc người đời trong thế giới Ta Bà làm, bạn là người tu hành mà làm những việc này, bạn sai rồi! Cho nên, học Phật điều quan trọng nhất là - thâm nhập một pháp. 

Như đã nói trước đây, khi còn trẻ, nghe nhiều cũng không sao, bạn đi nhiều đạo tràng cũng không sao; đến trung niên thì phải thâm nhập một pháp; đến tuổi già thì chỉ cầu vãng sinh. Không còn kịp nữa, nếu bạn không cầu vãng sinh thì còn làm gì nữa? Tuổi đã cao rồi, bạn phải nhanh lên! Có thể vãng sinh là tốt rồi. Những điều này đều rất quan trọng. Cho nên thâm nhập một pháp, thực tế là tốt hơn học nhiều pháp.

Ví như có một đệ tử gửi đến 100 đô la Mỹ, 1 đô la xin một lễ quán đảnh, 100 đô la tức là 100 lễ quán đảnh; dù sao những gì có trong sách của tôi, anh ấy đều muốn. Quán đảnh kiểu này cũng không đúng! Bạn muốn tu pháp nào thì quán đảnh pháp đó, trừ phi bạn là Thượng sư. Bạn nghĩ: "Tôi là Thượng sư, tôi nhận nhiều quán đảnh, sau khi được quán đảnh rồi, tôi mới có thể quán đảnh cho người khác." Điều này thì đúng. Nếu không thì đối với đệ tử bình thường chúng ta, thâm nhập một pháp là tốt rồi, chỉ cần bạn tương ứng với một pháp, tâm này vừa khai mở! Lập tức có thể thấy được ánh sáng, thấy được Phật lý, ánh sáng Phật lý này, tất cả bạn đều hiểu rõ.

Trước đây bạn đọc kinh không hiểu, tôi cũng thẳng thắn nói với mọi người rằng, trí tuệ của tôi không cao, trước đây khi đọc Kinh Kim Cang, tôi không hiểu được, toàn là mâu thuẫn, sao lại thế nhỉ? Toàn là mâu thuẫn. Cứ mâu thuẫn qua mâu thuẫn lại, lấy cái mâu công kích cái thuẫn, lấy cái thuẫn công kích cái mâu. (mọi người cười) Kinh Kim Cang này đang nói gì vậy? Tôi thực sự không hiểu. Nhưng hôm nay! Khi tôi mở Kinh Kim Cang ra, tôi có thể thâm nhập kinh tạng, hiểu được ý nghĩa của nó. Bây giờ bất kì quyển kinh nào tôi mở ra, tôi đều hiểu rõ.

Cho nên "tín, giải, hành, chứng", khi bạn đạt được chữ "chứng" này, ba chữ trước đó đều bao gồm trong đó cả rồi, bao gồm hết rồi. Vậy thì bạn từ "Lý nhập" hay từ "Sự nhập", cả hai cửa đều được; chỉ là cửa Sự tốt hơn cửa Lý, bạn thông Lý chưa chắc đã thông Sự, nhưng bạn thông Sự thì chắc chắn sẽ thông Lý. (mọi người vỗ tay)

**Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày**

Có rất nhiều đệ tử đến học pháp với tôi, có người đã học được vài năm rồi. Có người hỏi họ: "Bạn học Phật với Lư Sư Tôn, ngài dạy bạn những gì?" Lư Sư Tôn dạy bạn những gì? Thế là họ trả lời: "Ngài chẳng dạy tôi gì cả." Nghĩa là tôi chẳng dạy gì cho họ. Khi nghe vậy, trong lòng tôi không thấy buồn sao?

Tôi xin lấy một ví dụ, ngày xưa có Thiền sư Điểu Sào, có một đệ tử theo học với ngài rất nhiều năm. Một ngày nọ, người đệ tử thu dọn hành lý, từ biệt sư phụ và nói: "Sư phụ! Con sẽ đi." "Con định đi đâu?" "Con sẽ đi tìm sư phụ khác." "Tại sao con lại muốn đi tìm sư phụ khác? Ở đây với ta không tốt sao?" Người đệ tử nói: "Sư phụ chưa từng dạy con Phật pháp, con ở đây bao nhiêu năm rồi mà sư phụ chẳng dạy con Phật pháp gì cả." Thiền sư Điểu Sào liền đưa chân ra và nhổ một sợi lông chân. (mọi người cười) Tôi không có lông chân! (mọi người cười) Ngài nhổ một sợi lông chân và nói: "Đây chính là Phật pháp! Sợi lông chân này chính là Phật pháp đây. Con hiểu chưa?" Ngay lúc đó, người đệ tử mới bừng tỉnh ngộ ra thế nào là Phật pháp.

Ví như có đệ tử theo tôi học Phật, học mãi học mãi, rồi người ta hỏi: "Lư Sư Tôn dạy anh pháp gì?" Anh ấy trả lời: "Ngài chẳng dạy tôi gì cả." Khi anh thu dọn hành lý định đi, tôi sẽ nhổ một sợi râu. (mọi người cười) Những sợi râu dưới cổ này, chỗ này có râu, nhổ một sợi râu: "Đây chính là Phật pháp, anh hiểu chưa?" Phật pháp nằm trong cuộc sống hàng ngày, phải khéo thể hội. Khi thật sự giảng pháp, bạn nghe xong về nhà là quên hết, bạn phải thực hiện trong cuộc sống của mình, đó mới là Phật pháp; cho nên bạn xem, mỗi cử chỉ hành động, mỗi lời nói việc làm của sư phụ đều là đang thuyết pháp. (mọi người vỗ tay)

Những câu đầu tiên trong Kinh Kim Cang của Đức Phật đều là Phật pháp. "Trải tọa cụ ngồi", cái ghế này, "trải tọa cụ ngồi". "Kinh hành", rồi đi khất thực, đây là nói về đi; đi, đứng, nằm, ngồi đều là Phật pháp, trong đó có rất nhiều nghi quỹ.

Nhiều người học Phật không biết rằng, học Phật chính là Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày, không phải cố ý dạy cho bạn một pháp đặc biệt nào đó. Chỉ truyền cho một mình bạn, không cho người khác biết, đó chính là để nhận "phong bì" đấy. "Chỉ truyền cho một mình bạn thôi! Không ai khác có đâu!" Phải xem lễ vật của bạn hậu hĩnh không, phải xem nặng hay nhẹ mới truyền pháp đặc biệt, đúng không? (mọi người cười) Không phải như vậy.

Bên ngoài có rất nhiều người như vậy, có rất nhiều vị Thượng sư như vậy, rất nhiều. Không phải nói về các Thượng sư của chúng ta đâu, đừng hiểu lầm. "Tôi truyền cho bạn pháp này, không một ai biết đâu, tôi chỉ truyền cho một mình bạn thôi!" Vậy thì bạn phải thể hiện một chút! Chỉ truyền cho một mình bạn, đó không phải là quán đảnh bình thường. Ôi! Chỉ truyền cho một mình bạn, ghê gớm thật. Đây là cái mà chúng ta gọi là gì nhỉ? "Bình thường không buôn bán, một khi mở tiệm là ăn được ba năm", đây là pháp đặc biệt đấy. Cái này đôi khi là giả, không nhất định là thật đâu, đôi khi là giả.

Bên ngoài có rất nhiều người truyền Phật pháp cũng làm như vậy: "Tôi dạy cho bạn điều đặc biệt này, thế này thế kia, tóm lại là bạn phải đưa cho tôi bao nhiêu tiền thì tôi mới dạy." Họ đều lợi dụng phương thức bí mật này để truyền dạy kiếm tiền. Vào thời Như Lai, thời Phật Đà, việc này bị cấm, Ngài nghiêm cấm việc này.

**Thấy núi không phải là núi**

Chúng ta biết rằng, khi bạn bước vào cửa, bước vào cửa Phật pháp, vừa bước vào là bạn sẽ cảm thấy khác biệt. Trước đây có một thiền sư nói như thế này. Khi ông chưa nhập môn, "nhìn núi là núi, nhìn nước là nước"; khi vừa bước vào Phật pháp, "nhìn núi không phải là núi, nhìn nước không phải là nước"; đến khi trải qua một thời gian, ông khai ngộ rồi, "nhìn núi lại là núi, nhìn nước lại là nước". Điều này các bạn phải thật sự lĩnh hội được. Tại sao lại như vậy?

Gần đây tôi học vẽ tranh, tôi học vẽ với cô giáo Chu Mộ Lan. Cô Chu Mộ Lan ở San Francisco, trước đây cô ấy từng theo học Triệu Thiếu Ngang, là họa sĩ phái Lĩnh Nam, cô ấy đã theo học rất nhiều thầy và vẽ rất đẹp. Tôi học vẽ một chút với cô Chu Mộ Lan. Già rồi không có việc gì làm nên tôi đi học vẽ! (mọi người cười) Tôi chuẩn bị học hai thứ: một là âm nhạc, hai là hội họa. Âm nhạc thì chỉ để tự đàn tự vui thôi, không bán được tiền. Vẽ tranh thì tốt, tôi có thể mở triển lãm. Đúng không? Có thể xuất bản album tranh, mở triển lãm và xuất bản album tranh. Thế là cô ấy đến dạy một tuần, tôi bắt đầu học vẽ.

Học vẽ tranh, như chúng ta đã biết, thấy núi, thấy nước, nhìn núi là hình dáng của núi, nhìn nước là hình dáng của nước. Bây giờ tôi vẽ rồi, ồ, tôi phát hiện "núi không phải là núi, nước không phải là nước" đấy! (mọi người cười) Nước có thể vẽ thành núi, núi cũng có thể vẽ thành nước. Thế thì mọi người sẽ nói, trâu có thể vẽ thành ngựa, ngựa cũng có thể vẽ thành trâu. Trong đó có sự biến hóa đấy! Bên trong có sự biến hóa của tâm linh trong đó.

Khi bước vào cửa đã khác rồi, cho nên bây giờ tôi không học công bút, công bút là vẽ tỉ mỉ, vẽ từ từ. Tôi học ý bút, chữ "ý" trong ý niệm; khi ý niệm vừa xuất hiện, vẽ ra thứ gì đó, tuy không giống lắm, nhưng tinh thần của nó ở trong đó. Cái này trở thành gì? Đây gọi là dùng ý niệm để vẽ tranh, dùng ý niệm của bạn để vẽ.

Bạn nói phải vẽ cho giống chứ, vậy cần gì phải học vẽ? Học chụp ảnh là được rồi, chụp ra rất giống mà! Còn giống hơn vẽ nữa! Tại sao bạn phải vẽ cho giống như vậy? Cái giống đó không có tinh thần. Cho nên khi bạn vẽ một vật là để thể hiện tinh thần đặc biệt của vật đó, một hương vị vô hình bên trong, đó mới là bức tranh hay thật sự, bức tranh hay thật sự là như vậy đó. Tôi học vẽ của cô giáo Chu Mộ Lan là học cách vận bút của cô ấy, xem màu sắc đậm nhạt của cô ấy, xem cách cô ấy phác họa; như cách di chuyển bút, nét vẽ, toàn bộ cách vận dụng, và cả kỹ thuật của cô ấy nữa. Sau này, mong mọi người ủng hộ. (mọi người vỗ tay)

Tranh tâm linh, đôi khi chỉ một nét, vài nét, rất đơn giản, nhưng đã thể hiện được ý vị của nó, tất cả đều hiện ra. Học Phật cũng vậy, khi chúng ta chưa nhập môn, chúng ta thấy núi là núi, thấy nước là nước. Chúng ta biết rằng, núi là bất động, nước là động. Nhưng mà sao? Khi bạn vẽ ra, "núi là động, nước là tĩnh", điều này đã khác rồi. Học Phật cũng vậy, khi bạn đã nhập môn, có một thời gian, bạn thấy núi không còn là núi nữa, thấy nước cũng không còn là nước nữa. Tại sao? Bởi vì tinh thần của nó đã hiện ra, tinh thần vô hình của nó đã hiện ra.

Một ngày nọ, tôi xem một quyển album tranh của họa sĩ Dương Thiện Sâm. Tôi đã xem kĩ từng trang một rồi đưa cho Sư Mẫu xem. Sau khi xem xong, Sư Mẫu nói với tôi: "Tranh của ông ấy chẳng bằng ăn một miếng bánh mì nướng." Ý là nói, tôi đi mua một cái bánh sừng bò hay bánh mì gì đó, ăn vào còn có vị; còn xem tranh của ông ấy thì chẳng có vị gì cả. Đây là vì bà ấy không hiểu về hội họa, chúng ta không thể trách bà ấy được. Nếu Dương Thiện Sâm nghe được hay xem được đoạn video này, cũng đừng trách bà ấy, bởi vì bà ấy thực sự không hiểu. Tranh ông ấy có tinh thần của ông ấy trong đó, nhưng những thứ ông ấy vẽ ra, bên trong có cả "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước"; nhưng cũng có "thấy núi là núi, thấy nước là nước".

Nhưng với một họa sĩ kỳ cựu công lực thâm hậu như vậy, sao lại thế này? Những gì ông ấy vẽ ra trông cũng giống như tranh tôi vẽ hồi mẫu giáo. (mọi người cười) Tôi có vài bức tập vẽ, vẽ rất xấu, vẽ... "Ôi! Phiền thật! Sao lại thế này? Sao tôi vẽ tệ thế nhỉ?" Rồi tôi lấy mực chấm vài nét, xóa đi, rồi bôi bậy vài cái. Nhìn album tranh của ông ấy, tôi phát hiện ra những nét bôi bậy của tôi giống y như của ông ấy! (mọi người cười)

Tôi nói: "Ô! Mấy bức vẽ bôi bậy này đừng vứt đi." (mọi người cười) Tôi phát hiện ra mấy bức này cũng rất quý giá, trong album của ông ấy cũng có những bức như vậy. (mọi người cười) Pháp sư Liên Đăng nói với tôi một câu. Tôi nói: "Lạ thật, Dương Thiện Sâm là một họa sĩ lớn, sao trong album của ông ấy lại có những thứ này, nhìn chỉ là vài nét phác thô sơ, hoặc là đổ mực xuống, để nó khô, chỉ có vậy thôi." (mọi người cười) Pháp sư Liên Đăng quả là có con mắt tinh đời! Ông ấy nói: "Đây chính là khi chứng ngộ đến tận cùng, thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước." (cười, mọi người cười) (mọi người vỗ tay)

Ở đây còn có Thượng sư Liên Nhuận đến từ Indonesia, cô ấy cũng là một họa sĩ vẽ tranh thủy mặc. Cô ấy vẽ tôm, vẽ cua, vẽ chim nhạn, vẽ tùng, và cả hạc đậu trên cành tùng, vẽ hoa, chim, nhà tôi có tất cả những bức tranh này của cô ấy; hoa, chim, tùng, hạc, chim én, tôm, cua, cô ấy đều vẽ được. Vẽ rất đẹp, và cũng đã từng đoạt giải.

Mỗi lần cô ấy muốn vẽ gì đều phải quan sát trước. Ví dụ như muốn vẽ tôm, vẽ cua, phải mua thật nhiều cua về, quan sát cách chúng bò, rồi mới vẽ như vậy. Có lần chồng cô ấy nói với cô: "May mà em không vẽ hổ (cười, mọi người cười), nếu mua một con hổ về nhà thì chúng ta khốn đốn rồi."

Dù bạn đi vào bằng lý luận hay bằng sự pháp, bạn đều sẽ đạt đến cảnh giới này; cảnh giới cuối cùng chính là tự nhiên. Khi nhập môn sẽ có biến hóa, sau đó diễn biến thành tự tại và tự nhiên; khi đạt đến trạng thái tính Không đó, bạn sẽ có một hiện tượng vẽ một cách tự nhiên, và bản lai diện mục sẽ hiển lộ ra; đây gọi là "chân tính diện mục" hiển hiện trong hội họa.

Phật lý này, việc học Phật và hội họa có mối liên hệ rất sâu sắc. Bạn có biết cái gọi là "thiền họa" không? Thiền sư vẽ tranh cũng như vậy, hoàn toàn cần đến tâm linh và ý niệm, hoàn toàn thanh tịnh, vô tâm mà vẽ, loại tranh vẽ ra với ý cảnh như vậy là cực kì siêu nhiên, hoàn toàn là tác phẩm thượng thừa của hội họa tâm linh.

Tu học Phật pháp cũng phải như vậy, khi thật sự đạt đến trạng thái ý niệm thanh tịnh, thật sự đạt đến trạng thái tự tại tự nhiên, mỗi lời nói việc làm của các bạn thể hiện ra đều là phong thái của Phật Tổ, là phong thái của Tổ sư; tất cả đều có thể hiển hiện nơi thân các bạn. Lúc này, ánh sáng đó là một loại hào quang rất tự nhiên, không phải thế tục; không phải chùa ai to nhất, ai có nhiều đệ tử nhất, không phải ai có nhiều tiền nhất, ai kiểm soát được nhiều người nhất, không phải như vậy, mà là cảnh giới của thần tiên và Phật Tổ hoàn toàn siêu thoát khỏi thế tục. (mọi người vỗ tay)

**Mật ngữ Chân Phật - Thấy núi không phải là núi**

"Thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước." Cuối cùng lại là "thấy núi là núi, thấy nước là nước". Có người nghe xong vẫn không hiểu, họ không biết nghĩa là gì. Bây giờ tôi sẽ giải thích cho mọi người bằng một cách khác, các bạn sẽ hiểu.

Điều này được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là khi còn phàm phu, giai đoạn thứ hai là trong quá trình tu hành, giai đoạn thứ ba là sau khi giác ngộ. Cứ nói núi với nói nước hoài! Chưa chắc đã rõ! Thực ra ví dụ hay nhất nên nói về người tu hành và phụ nữ, ví dụ này tôi rất thích nói, sẽ rất rõ ràng, các bạn sẽ hiểu ngay.

Thứ nhất, một người tu hành, khi chưa tu hành, anh ta nhìn thấy một cô gái xinh đẹp, lập tức cảm thấy, thấy cô gái xinh đẹp chính là cô gái xinh đẹp, anh ta lập tức bị mê hoặc. Đây chính là cảnh giới thứ nhất, "thấy núi là núi, thấy nước là nước". Thấy cô gái xinh đẹp, bạn lập tức bị mê hoặc. Vậy nên thấy cô gái xinh đẹp như thế, thì đúng là một cô gái xinh đẹp như thế.

Thứ hai, khi bạn đã tu hành rồi, bạn tu quán bạch cốt. Cảnh giới thứ hai là "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước"; vị tu hành này vì đã tu quán bạch cốt, khi nhìn thấy cô gái xinh đẹp, "Ôi! Biến thành bộ xương trắng." Tất cả những cô gái xinh đẹp đều biến thành bộ xương trắng, người tu hành này sau khi vào cửa đạo, cảm nhận thứ hai của anh ta là, những cô gái này đều là bộ xương, từng người một đều là những bộ xương với khuôn mặt phấn son, đây là cảnh giới thứ hai, thể hiện rằng anh ta đã tách biệt với phụ nữ rồi. "Thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", anh ta nhìn thấy núi này, nhìn thấy nước này, đều không cho rằng đó là núi, không cho rằng đó là nước, tất cả đều biến thành xương trắng.

Đến cảnh giới thứ ba, chính là khai ngộ rồi, anh ta đã khai ngộ rồi, khi khai ngộ, "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước", nghĩa là gì? Lúc này khi bạn nhìn thấy cô gái xinh đẹp, vẫn là cô gái xinh đẹp. Nhưng tâm anh ta đã không còn xao động nữa, người tu hành này đã khai ngộ rồi. Nhìn thấy cô gái xinh đẹp, đúng là cô gái xinh đẹp không sai, nhưng tôi đã không còn bị mê hoặc bởi cô nữa. Đó chính là "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước". (mọi người vỗ tay)

Bởi vì tôi nói núi! Nói nước! Người ta cứ nghe mãi không hiểu, không biết chuyện gì đang xảy ra, tại sao lúc đầu là "thấy núi là núi, thấy nước là nước", lần thứ hai lại "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", đến lần thứ ba thì sao? "Thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước"? Họ không thể hiểu được ý nghĩa của "sơn thủy" này nằm ở đâu, vậy nên tôi dùng ví dụ về một cô gái và một người tu hành, thì bạn sẽ "À!" hiểu ngay!

Thứ nhất khi bạn nhìn thấy cô ấy, ôi, bị mê hoặc luôn, đây là một cô gái xinh đẹp. Còn thứ hai, khi bạn đã tu quán bạch cốt, đã vào cửa đạo rồi, ôi! Tất cả đều là những bộ xương phấn son, nhìn cô gái không còn là cô gái nữa. Khi bạn khai ngộ, bạn không còn bị ảnh hưởng bởi cô gái này, bạn nhìn cô ấy vẫn là cô gái xinh đẹp, nhưng không còn bị ảnh hưởng. Ba cảnh giới này, các bạn chỉ cần qua ba ví dụ đơn giản này là có thể lĩnh hội được.

Thực ra ví dụ thứ nhất, trạng thái thứ nhất, chính là "môi trường giết tâm". Phàm phu đều bị ảnh hưởng bởi môi trường, đó là "cảnh giết tâm", bạn đều bị ảnh hưởng bởi môi trường mà! Hôm nay thời tiết hơi âm u, trời mưa, tâm trạng bạn liền không tốt, trời nắng thì tâm trạng lại rạng rỡ, điều này hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi môi trường, chính là môi trường đã giết chết bạn.

Cảnh giới thứ hai, bạn đã vào cửa đạo rồi, bạn bắt đầu tách biệt với môi trường. Điều này có nghĩa là tâm bạn và môi trường đã tách rời, bạn cố gắng tránh để môi trường ảnh hưởng đến mình, bạn trốn vào trong núi sâu để tu hành, cố gắng không nhìn thấy, không nghe thấy, không bị ảnh hưởng. Đây chính là tâm đã tách biệt với môi trường, đây chính là cảnh giới thứ hai.

Cảnh giới thứ ba, chính là tâm giết chết môi trường, dù trời tốt hay xấu, dù trời mưa hay nắng đẹp, tâm cảnh của bạn luôn luôn sáng sủa. (mọi người vỗ tay)

Khi tu hành đến cảnh giới thứ ba, dù áp lực bên ngoài có lớn đến đâu, dù bên ngoài có nhiều tiếng hoan hô hay nhiều lời phỉ báng, dù có nhiều áp lực đè nặng lên người bạn, tâm cảnh của bạn vẫn luôn như một, đây chính là tâm cảnh khai ngộ thứ ba, đây chính là "tâm giết cảnh".

Thứ nhất là "cảnh giết tâm" của phàm phu, thứ hai là trong quá trình tu hành, tâm tách biệt với môi trường. Thứ ba là tâm tu hành của bạn đã có thể giết sạch mọi môi trường. Đây chính là "thấy núi là núi, thấy nước là nước", "thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước", "thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước".

Lời giải thích của tôi đã rất rõ ràng rồi. Nhiều người nghe xong nói với tôi rằng họ vẫn không hiểu, thế thì không còn cách nào khác! Tôi chỉ cần đưa ra ví dụ về nam và nữ, các bạn liền hiểu ngay, đây là cách đơn giản nhất, như vậy các bạn đã rõ chưa? (mọi người vỗ tay) Vậy hôm nay tôi khai thị với mọi người đến đây.

Om mani padme hum.

### 10. Hiểu rõ chúng sinh khổ, sinh ra tâm xuất ly

Sau khi chúng ta đã nhập môn, đương nhiên chúng ta phải hiểu về Phật pháp, cần phải hiểu rõ tứ Thánh, lục phàm, thập pháp giới; phải biết được nỗi khổ của chúng sinh trong lục đạo, hiểu rõ nỗi khổ của chúng sinh trong lục đạo. Cõi trời cũng là khổ; từ cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, ba ác đạo đều rất khổ. Cõi người cũng là khổ, trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tất cả đều rất khổ. Những cảnh giới này các bạn đều phải hiểu rõ, sau đó tìm cầu xuất ly. Khi đã hiểu được vô thường, hiểu được xuất ly, thêm vào đó là vô ngã, lúc này, bạn chính là A La Hán. A La Hán là gì? Chính là khi bạn hiểu được vô thường, hiểu được xuất ly, tu chứng vô ngã, bạn chính là A La Hán.

Nỗi khổ của lục đạo luân hồi thực ra đang hiển hiện rất rõ ràng ngay tại đây, các bạn nhìn xem bệnh viện này, thấy người ta xây bệnh viện, xây to lớn, làm việc thiện lớn, thực ra nếu tôi đề tựa cho nó! Sau này tôi đề tựa cho nó, tôi sẽ đề như thế này: "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát phân viện Đại học Đài Loan", nghĩa là gì? "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát U Minh Giới Địa Ngục Đạo phân viện Tổng Y viện Vinh Dân", "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát U Minh Giới Địa Ngục Đạo phân viện Từ Tế", tôi sẽ viết như vậy.

Bệnh viện chính là địa ngục, nói cho mọi người biết, đó là cách nhìn của tôi; các bạn nhìn thấy, bệnh viện chỉ là bệnh viện, trong đó có rất nhiều thiên thần, thiên thần áo trắng. Tất cả đều là ác quỷ, dạ xoa, ở đó hành hạ người ta! Toàn cầm dao kéo, mổ xẻ, cắt chém như thế. Địa ngục mổ não, địa ngục thay thận, địa ngục mổ gan, địa ngục móc mắt, đều ở đó cả! Thật sự bệnh viện là như vậy đấy.

Tôi đã từng xuống địa ngục, tôi nói thật với các bạn; tôi đã xuống địa ngục và nhìn thấy một đệ tử, hai chân của người đệ tử đó bị đóng đinh. Tôi đã rất lâu không có tin tức gì của người đệ tử này. Khi tôi nhìn thấy anh ấy, anh ấy thấy tôi đến liền khóc. Tôi hỏi: "Sao anh lại ở đây? Chẳng lẽ anh đã chết rồi sao?" Tôi hỏi anh ấy đấy! Tôi nói: "Anh đã chết rồi à?" phải không? Không phải nói tiếng Indonesia, tiếng Indonesia là "Selamat pagi". "Selamat pagi" là chào buổi sáng hay chào buổi trưa? Chào buổi sáng à? "Selamat pagi" Tôi nói: "Anh đã chết rồi à?" Selamat pagi!

Ôi! Người đệ tử đó lắc đầu với tôi, tôi hỏi: "Sao anh lại ở đây?" Anh ấy nói: "Con đang ở địa ngục." Anh ấy nói với tôi như vậy, anh ấy đang ở địa ngục, anh ấy lắc đầu với tôi. Cuối cùng tôi đi tìm hiểu về anh ấy, sau khi trở về tôi điều tra và phát hiện ra anh ấy đã nhập viện. Không biết hai chân bị làm sao, bị chuột rút! Cả hai chân đều bị chuột rút, đột nhiên bị teo cơ, co giật, không thể đi lại được, giống như bị đóng đinh vậy, đau đớn lắm! Anh ấy vẫn còn sống! Chỉ là hai chân bị teo cơ, như thể bị đóng đinh vậy, toàn bộ chân không thể cử động được, phải nhập viện, đột nhiên trở nên như vậy.

Khi tôi xuống cõi địa ngục, tôi thấy hai chân của anh ấy bị đóng đinh; người vẫn chưa chết, nhưng thực ra đã đang chịu hình phạt ở địa ngục rồi. Các bạn nói xem bệnh viện có phải là địa ngục không?

**Hiểu rõ nhân quả**

Chúng ta cần phải hiểu rõ nhân quả, hiểu rõ đạo lý luân hồi; nhân quả và luân hồi là một tư tưởng chủ đạo của Phật giáo. Chúng ta đã làm nhiều việc sai trái, đừng nghĩ rằng không có báo ứng, không phải đợi đến khi xuống địa ngục mới bị trừng phạt, mà ngay tại dương gian này, chúng ta đã đang chịu hình phạt của địa ngục rồi. Những căn bệnh trong cơ thể của bạn, thực ra chính là đang chịu hình phạt của địa ngục, đó là nghiệp chướng của bạn, nghiệp chướng hiện tiền. Đừng nghĩ rằng không có địa ngục, thực ra bạn đã đang chịu hình phạt rồi.

Vì vậy đừng nghĩ rằng địa ngục là không có thật, căn bản không có chuyện đó, là do người ta bịa ra để khuyên người ta làm việc thiện! Nhân quả ở đâu? Khi bạn phẫu thuật não, là bạn đã vào địa ngục phẫu thuật não rồi; khi bạn bị xơ gan, phải cắt bỏ một quả thận, khi cơ thể bạn có vấn đề gì đó, nghiệp chướng nhiều đời đã hiện ra trên thân thể bạn, điều này rất đáng sợ.

**Giới**

Vì vậy Phật Đà ban đầu dạy chúng ta điều đơn giản nhất, Phật pháp đơn giản nhất: "Đừng làm các điều ác, siêng làm các việc lành", đơn giản vậy thôi. "Đừng làm các điều ác" là tiêu cực, "siêng làm các việc lành" là tích cực. "Đừng làm các điều ác" chính là "giới" đấy! Chính là bảo bạn giữ giới, bạn phải giữ giới. Đúng không?

Ban đầu không có nhiều giới luật được quy định, chỉ có mấy câu này thôi. "Đừng làm các điều ác", đó chính là giới, bảo bạn không được làm việc xấu; "Siêng làm các việc lành", bảo bạn tích cực làm việc thiện; "Tự thanh tịnh ý", bảo bạn ngồi thiền dưới gốc cây, thanh tịnh tâm ý của mình; "Đó là lời Phật dạy". Giới luật ban đầu là như vậy đó. Phật Đà ban cho chúng ta giới luật, về sau có thêm rất nhiều giới, là vì nguyên nhân gì? Bởi vì đệ tử phạm một điều sai trái nào đó, Ngài lập ra một giới; đệ tử phạm một điều sai trái khác, Ngài lại lập thêm một giới, thế là giới luật càng ngày càng nhiều.

Tại sao phải giữ giới? Bởi vì khi giữ giới, bạn phải thu nhiếp tâm mình, có vậy tâm mới được thu nhiếp! Không có giới luật, tâm bạn sẽ buông lỏng. Để thu nhiếp tâm về một mối, để tâm thành một, để phát sinh định lực, nên mới cần giới luật. Nếu bạn có thể tự do thu phóng, hoàn toàn có thể định tâm, thì những giới luật này đối với bạn không còn cần thiết nữa, bởi vì trong cuộc sống của bạn, một cách tự nhiên bạn đã hoàn toàn giữ giới rồi.

Vì vậy "giới, định, huệ" tam học, là ba môn học vô lậu, khi chúng ta bước vào Phật pháp, bước vào Phật học, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ tam học "giới, định, huệ". Chúng ta trước tiên phải giữ giới, như đã nói về "giới" hôm qua.

### 11. Định

Hôm nay chúng ta sẽ nói về định, làm thế nào để phát sinh định? Ngày mai tôi sẽ giảng cho mọi người một số kỹ thuật thiền định.

Như mọi người đã biết, từ giới sẽ sinh ra định, từ định mới có thể sinh ra huệ. Chỉ có định mà không có trí huệ, điều này gọi là ngu; ngu nghĩa là bạn chỉ biết học định mà không có trí huệ, như vậy chẳng phải là ngu sao? Còn nếu bạn chỉ học trí huệ, bạn biện tài vô ngại, trí huệ rất cao, nhưng bạn không có định, thì sẽ trở thành cuồng, chính là chữ cuồng trong ngông cuồng.

Trí huệ của bạn rất cao, nhưng không thể định được, thì bạn là cuồng; bạn học định, nhưng không có trí huệ thì là ngu, chữ ngu trong ngu độn. Vì vậy khi chúng ta học định, tiếp theo là phải sinh ra huệ, rồi từ trí huệ quay lại tham học định, vừa hay là định và huệ song tu, định huệ có thể song tu. Như vậy giới, định, huệ được gọi là tam vô lậu học.

Dù bạn học Hiển giáo, học Mật giáo hay học Phật học, chữ định là điều quan trọng nhất. Công phu thiền định công sâu thì có thể thành Phật, không học định thì học Phật cái gì? Cho nên việc học định theo chúng tôi, dù bạn học Hiển giáo hay Mật giáo, đều như nhau cả, đều phải học định. Không có chữ định này thì không thể sinh ra sức mạnh; không có chữ định này thì trí huệ chân lý, bạn không thể đạt được; không có chữ định này thì trong suốt cuộc đời của bạn, tuyệt đối không thể đạt được pháp vị.

Dù bạn từ Lý mà vào, cuối cùng cũng phải trở thành định hợp nhất với kinh; còn nếu bạn từ Sự mà vào, cũng phải giống như Phật vậy, Phật với bạn hợp nhất, cũng là một chữ định. Cho nên học định chính là một điểm then chốt vô cùng quan trọng trong Phật học của chúng ta. Tam học giới, định, huệ chính là một điểm then chốt của Phật học, mọi người chú ý nhé.

**Tính Không không phải là tất cả đều không**

Vậy tu định, muốn đi vào định thực sự, như tôi vừa nói về thiền định. Về việc học định, tôi đã từng đề cập trong sách này, trước hết phải thu nhiếp tất cả ý niệm về một, rồi chuyển một thành không, một lại phải biến thành không. Trước đây nhiều người hỏi về điều này, thu nhiếp về một, vậy một quy về đâu? Một chính là quy về không. Vậy không là gì? Không có phải là trống rỗng không? Nói về cái "không" này, không chưa hẳn là trống rỗng. Không có thể nói là một loại tính Không, là một trạng thái vận chuyển tự nhiên, tự tại, không phải là loại không - quét sạch tất cả, loại không đó là "ngoan không" <span className="note-blue">[ngoan cố chấp vào không]</span>! Mà là một trạng thái rất tự nhiên, tự tại, mới gọi là "không".

Phật giáo nói về "không", không phải là tất cả đều không, không phải là cái gì cũng không, cái gì cũng không thì sẽ trở thành ngoan không. Có thể nói là tự tính không, vậy tự tính không là một trạng thái tự như tự tại, điều này rất khó giải thích bằng ngôn ngữ, rất khó giải thích cho rõ ràng, rất khó! Nhưng theo tôi giải thích thì cái gọi là tính Không, chính là tự nhiên, tự tại, tự như, thần thông tự tại, một trạng thái như thế.

Về phương diện định, ngày mai tôi sẽ thảo luận chi tiết hơn với mọi người về phương pháp thiền định. Hôm nay chúng ta cần hiểu rằng: vào từ cửa Sự tốt hơn cửa Lý, thực hành một pháp tốt hơn nghe biết nhiều; nghĩa là đi sâu vào một pháp tốt hơn học nhiều pháp. Về vấn đề cảnh giới, cần phải rất siêu việt, Phật học cũng rất siêu việt; tuy siêu việt, nhưng lại nằm trong thể dụng, thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của bạn, biểu hiện phong thái của nhà Phật. Khi bạn đạt được tự tại, tự như, bạn đã ấn chứng những điều được đề cập trong kinh Phật. Cái gọi là ấn chứng các pháp chính là tất cả đều được bao hàm trong Phật pháp.

**Vấn đề quy y**

Các bạn học Phật cũng đề cập đến vấn đề quy y này, có người hỏi tôi, nên quy y vào lúc nào? Có phải nên hiểu biết Phật pháp trước rồi mới quy y không?

Quy y đối với các bạn, có vẻ rất đơn giản, muốn quy y thì cứ quy y thôi! Thực ra không đơn giản đâu! Khi quy y, việc lựa chọn không hề đơn giản, bạn phải chọn một vị thầy! Nếu bạn chọn một vị thầy có tâm sân hận nặng, bạn có thể bị đánh chết đấy. (cười) Nếu bạn chọn một vị thầy tham lam, tiền bạc của bạn chẳng phải sẽ bị vơ vét sạch sao? Nếu bạn chọn một vị thầy si mê, một vị thầy ngu muội, vậy chẳng phải bạn sẽ không học được Phật pháp sao? Cho nên hai chữ "quy y" không hề đơn giản. Điều mà các bạn thấy đơn giản nhất là: "Vị thầy đó bảo chúng ta quy y! Được thôi!" Điền vào tờ đăng ký quy y, điền xong, bạn còn chưa hiểu gì về thầy mà đã quy y rồi. Đúng không?

Vậy khi nào bạn nên quy y? Có người nói: "Tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo, tôi có thể quy y không?" Đây cũng là một vấn đề. Họ là tín đồ Cơ Đốc giáo, họ hoàn toàn không biết gì về Phật học. Có người nói: "Tôi vừa mới bắt đầu thờ cúng thần linh, tôi có thể quy y không?" Họ vừa mới bắt đầu mê tín thôi. Đây cũng là một vấn đề, họ nghĩ rằng đến đây quy y, tôi sẽ cho họ tiền, ban phúc cho họ, tai nạn gì cũng không có! Lái xe đảm bảo bình an, mọi việc đều được bình an. Cũng là một vấn đề. Vậy khi nào mới là lúc quy y? Cho nên điều này trở thành một vấn đề lớn.

Bạn quy y với ai? Chúng ta biết "quy y Phật" là quy y giáo pháp của Phật, giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni; "quy y pháp" là quy y kinh điển Tam tạng, tất cả những giáo pháp mà Đức Phật đã truyền dạy; "quy y tăng" là quy y tất cả các bậc thánh hiền tăng đại diện cho Đức Phật, các vị thầy đang truyền pháp hiện nay.

Còn về Kim Cương thừa thì có Tứ quy y, tức là "quy y Kim cương Thượng sư". Các bạn phải hiểu rõ điều này, Kim cương Thượng sư là tổng trì của Tam Bảo, Tam Bảo do ngài truyền dạy, nên gọi là tổng trì của Tam Bảo. Các bạn phải nhận rõ vị thầy này. Đến khi các bạn nhận rõ rồi, có khi các bạn lại muốn trả lại giấy chứng nhận quy y. Bởi vì vị Kim cương Thượng sư mà bạn quy y không phải như vậy, không nhất định là tốt. Đây là vấn đề "lấy" và "bỏ" của bạn, giữa việc lấy và bỏ, giữa quy y và không quy y, đều là một vấn đề.

Cánh cửa tông phái của chúng ta rộng mở đón nhận mười phương. Khi bạn khởi tâm quy y, tôi đều tiếp nhận, tôi là như vậy đó. Bất kì ai, dù bạn là tín đồ Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo hay bất kì tôn giáo nào, khi bạn khởi tâm quy y, đó chính là có duyên, bạn đều có thể quy y. Quy y chính là kết duyên, nhưng tôi phải nói cho các bạn biết, Lư Sư Tôn này bảo đảm rằng tôi là người thông hiểu Phật học, là người thực tu Phật học, là người thực sự "hành" và "chứng". Tôi bảo đảm với bạn như vậy. (mọi người vỗ tay)

Vậy bạn có thể quy y thêm với người khác được không? Sư Tôn nói: "Được." nhưng nói hơi nhỏ tiếng. (cười, mọi người cười) Các bạn muốn quy y Chân Phật Tông để học Phật pháp, tôi đã nói với các bạn rồi mà! Thông hiểu Phật học, thực tu Phật học, hành chứng Phật học, khai ngộ Phật học, tất cả những điều này đã được bày ra trước mắt rồi, để cho bạn thấy, để cho bạn biết, để cho bạn thể hội, để cho bạn lĩnh ngộ quy y như vậy là không sai!

Nếu bạn đi quy y với một vị thầy khác, một số vị thầy khác cũng rất tốt! Tôi không thể nói rằng các vị thầy khác là không được! Hoặc thế này thế kia! "Trên đời này chỉ có mình tôi là giỏi nhất, những người khác đều không tốt!" - điều này không thể nói được. Trong số đó cũng có rất nhiều bậc cao nhân, nhưng khi bạn đi quy y, trước hết phải nhận rõ vị thầy đó, phải hiểu rõ vị thầy đó, như vậy mới không có sai sót.

Tuy nhiên tôi nói cho bạn biết, tôi thường nói với mọi người như thế này: "Khi bạn đã quy y một vị thầy rồi, tốt nhất đừng phỉ báng vị thầy đó." Bạn đã quy y rồi, đã tôn người làm thầy rồi, bạn tôn kính người là một vị thầy là được rồi. Nếu Phật học của thầy không viên mãn, không đầy đủ, thầy chưa chứng ngộ, đó là việc của thầy, bạn vẫn phải tôn kính thầy. Ít nhất thầy cũng có vài ưu điểm, bạn học những ưu điểm của thầy, đừng nhìn vào khuyết điểm. Cho nên điều quan trọng nhất của đệ tử đối với thầy là phải nhìn vào ưu điểm của thầy, đừng nhìn vào khuyết điểm. Nếu bạn nhìn vào khuyết điểm của thầy, bạn tuyệt đối không thể nhận được lực gia trì của dòng truyền thừa, vĩnh viễn không có! Học pháp không thành. Bởi vì bạn nhìn vào khuyết điểm của thầy, sẽ không tôn trọng pháp mà thầy truyền dạy! Bạn chỉ nhìn vào khuyết điểm của thầy, bạn sẽ không tôn kính thầy! Bạn chỉ nhìn vào khuyết điểm của thầy, làm sao bạn có thể tôn trọng pháp của thầy? Đây là đạo lý rất đơn giản, rất đơn giản.

Cho nên khi bạn theo một vị thầy, tuyệt đối đừng nhìn vào khuyết điểm của thầy, chỉ nhìn vào ưu điểm của thầy, học những ưu điểm đó, như vậy là đủ rồi. Những gì có thể làm tư lương tu hành cho cả đời bạn chính là Phật học mà thầy truyền dạy cho bạn. Ngoài những Phật học này, tất cả những ưu điểm của thầy, tinh thần học tập của thầy, những biểu hiện xuất sắc của thầy, đều là những điểm tinh xảo mà bạn cần phải học hỏi.

Cho nên, việc các bạn quy y Chân Phật Tông là không sai. Thứ nhất, như tôi vừa nói rõ với mọi người, Phật học viên mãn, thực tu viên mãn, chứng ngộ viên mãn, các bạn đạt được ba điều này là đã quá đủ rồi. Còn nếu bạn muốn đi tìm kiếm thêm điều gì khác, đó là việc của bạn. "Tôi muốn đi tìm thầy khác để tu! Muốn đi con đường khác!" - đó là việc của bạn. Nếu bạn đi học rồi nói rằng bên đó tốt hơn, vui hơn, hay thú vị hơn, điều đó cũng được thôi, đó là duyên phận của mỗi người.

Cho nên khi quy y, phải quy y với một vị thầy có tâm rộng lớn vô lượng, có trí huệ vô biên, có định lực vô biên, có chứng ngộ vô biên, có pháp vô biên, có vô biên các loại, đây chính là "rộng lớn vô lượng". Các bạn phải nhận rõ thầy của mình, quy y với một vị Kim cương Thượng sư chân chính, như vậy lực truyền thừa mà các bạn nhận được sẽ rất thực tế, tu pháp tự nhiên thành tựu.

### 12. Định và huệ

Thưa các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người!

Hôm nay là ngày thứ tư của "Phật Học Tổng Thuyết". Ba ngày trước chúng ta đã nói về "tín, giải, hành, chứng", ngoài ra còn có "Lý nhập" và "Sự nhập", cũng chính là nói về "tam vô lậu học". "Vô lậu" có nghĩa là giải thoát phiền não; "hữu lậu" là có phiền não, "vô lậu" là không có phiền não. Vậy "lậu tận" là gì? Chính là đã giải thoát khỏi phiền não.

"Tam vô lậu học" có thể nói là một trọng điểm của Phật học, sau vô lậu học là gì? Chính là lục độ, tiếp đến là thất bồ đề phần, bát chính đạo, cuối cùng chứng đắc thập lực của Như Lai. Mười loại năng lực siêu việt của Như Lai, gọi là thập lực, đây là một thứ tự của Phật học; vậy tam vô lậu học, tứ diệu đế, ngũ căn ngũ lực, lục độ, thất bồ đề phần, bát chính đạo, cho đến thập lực, đây chính là một thứ tự của Phật học.

Nếu các bạn thường xuyên đọc kinh, sẽ hiểu được rằng trong rất nhiều thuật ngữ Phật học, trọng điểm chính là "định" và "huệ" mà chúng ta sẽ nói đến hôm nay.

Định, huệ - muốn thành Phật cần phải có định và huệ, đây là hai cánh của việc thành Phật, nên gọi là "định huệ song tu". Bởi vì có được đôi cánh này mới có thể thăng lên tứ Thánh giới, cho nên có thể nói thiền định và trí huệ là trọng điểm của toàn bộ Phật học.

Nhớ lại thời Phật Đà, có một đệ tử quy y Phật, tên là A Xà Bá Sĩ, khi dịch sang tiếng Trung thì trở thành tỳ kheo Mã Thắng. Người này học Phật và nghe pháp từ Phật Thích Ca Mâu Ni, ông chỉ nghe được hai câu, hai câu gì? Đó là "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt". Và thế là A Xà Bá Sĩ vừa đi trên đường vừa niệm hai câu này. Để hiểu được hai câu này thật sự rất sâu sắc.

**Gà có trước hay trứng có trước?**

Tôi nhớ lúc còn nhỏ, thầy giáo đưa ra một vấn đề cho chúng tôi tranh luận, mọi người tranh cãi như người ngã ngựa đổ. Tranh luận gì vậy? Tôi tin rằng khi tôi nói ra, các bạn đều biết, đó là "Gà có trước hay trứng có trước?" Chúng ta đều biết rằng, trứng nở ra thành gà, rồi gà lại đẻ trứng, đây là một vòng tuần hoàn.

Đây là một vòng tuần hoàn rất đơn giản, một điều rất đơn giản, vậy mà thầy giáo cũng hỏi chúng ta! Bạn nói gà có trước ư? Không có gà thì làm sao đẻ trứng? Chắc chắn là gà có trước rồi! Nhưng gà lại nở ra từ trứng! Vậy chắc chắn trứng có trước rồi! Bây giờ mọi người trả lời thế nào? (đệ tử đáp: "Luân hồi!") Luân hồi? Anh ấy nói luân hồi. Phật giáo vốn dĩ nói về luân hồi mà. (Lại có người đáp: "Cái nào nói trước thì đúng.") Ồ! Nói trước là đúng hả? (cười, mọi người cười)

**Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt**

Trong số các đệ tử của Phật thuở xưa, có một vị là Xá Lợi Phất, chúng ta đều biết. Bản thân ngài Xá Lợi Phất đang suy nghĩ về một vấn đề, cũng tương tự như vấn đề này. Bản thân ngài đã học rất nhiều nghi quỹ tu hành, bởi vì cha của ngài là một học giả nổi tiếng của đạo Bà La Môn, từ nhỏ ngài đã học rất nhiều kinh điển và nghi quỹ của đạo Bà La Môn, ngài đều thông thuộc.

Chúng ta biết rằng theo lý thuyết của Bà La Môn Ấn Độ, vũ trụ được cai quản bởi Đại Phạm Thiên, và loài người được Đại Phạm Thiên tạo ra. Xá Lợi Phất biết về những luận thuyết được đề cập trong kinh điển này. Ngài không nghi ngờ điều đó, nhưng ngài đang thảo luận một vấn đề: "Đại Phạm Thiên đã tạo ra tất cả mọi người, vậy ai là người đã tạo ra Đại Phạm Thiên?" Ngài suy nghĩ mãi mà không tìm ra câu trả lời.

Chúng ta biết rằng trong Cơ Đốc giáo, con người được Chúa tạo ra, phải không? Chúa tạo ra con người! Tạo ra Adam! Tạo ra Eva! Ngài cũng có một thiên đường! Vậy thì ai đã tạo ra Chúa? Cho nên, mọi việc khi bạn tìm hiểu đến tận cùng đều không có câu trả lời. Xá Lợi Phất là người có trí tuệ rất cao, ngài thường xuyên suy ngẫm về vấn đề này nhưng không tìm được lời giải đáp.

"Gà có trước hay trứng có trước?" "Con người do Thượng đế tạo ra, vậy ai là người tạo ra Thượng đế?" Đại Phạm Thiên mà chúng ta đang nói đến, cũng chính là Allah của Hồi giáo, là Jehovah của Cơ Đốc giáo, là Ngọc Hoàng Đại Đế của Đạo giáo, là Đại Phạm Thiên của Bà La Môn giáo, tất cả đều là một, đều giống nhau. Câu đầu tiên trong Kinh Thánh viết "Ban đầu Thượng đế tạo ra trời đất", vậy thì "Ai là người tạo ra Thượng đế?" Xá Lợi Phất cứ suy nghĩ về vấn đề này.

Tỳ kheo Mã Thắng lắc đầu lắc tai đi ngang qua: "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", cứ thế mà nói đi nói lại. Xá Lợi Phất vừa nghe thấy: "Ồ! Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt!" Mọi người thử nghĩ xem, các bạn có khai ngộ không? Xá Lợi Phất vừa nghe xong, ngài đã khai ngộ!

Gà có trước hay trứng có trước? Không phải gà có trước, cũng không phải trứng có trước, mà là do nhân duyên sinh, nhân duyên diệt, hoàn toàn do nhân duyên mà sinh ra. Vậy thì Đại Phạm Thiên từ đâu mà có? Cũng là từ nhân duyên mà ra; con người từ đâu mà có? Cũng là từ nhân duyên mà ra, nhân duyên chính là một câu trả lời.

Thật ra nhân duyên chính là một câu trả lời rất lớn. Dù sao thì câu trả lời này một khi đưa ra thì tất cả đều đúng cả. Đúng vậy! Đây chính là câu trả lời! Đừng có cố chấp nữa! Dù sao cũng là do nhân duyên sinh mà! Gà cũng là do nhân duyên sinh! Trứng cũng là do nhân duyên sinh! Đại Phạm Thiên cũng là do nhân duyên sinh! Phải không? Con người cũng là do nhân duyên sinh! Vạn sự vạn vật đều do nhân duyên sinh. Do nhân duyên sinh ra, cho nên "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt".

Sau khi có được câu trả lời này, Xá Lợi Phất lập tức đến tinh xá Trúc Lâm tìm Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài cùng với Mục Kiền Liên đi tìm Phật Thích Ca Mâu Ni, và cả hai cùng quy y. Phật Đà ghé vào tai Xá Lợi Phất nói một câu: "Chân lý vũ trụ mà ta đã chứng ngộ, hôm nay cuối cùng đã có người hiểu được." Các bạn chưa từng nghe câu này đâu nhỉ! (Sư Tôn cười, mọi người cười) Phật ghé vào tai Ngài nói: "Chân lý vũ trụ mà ta đã chứng ngộ, hôm nay cuối cùng đã có người hiểu được." Cho nên nói một cách đơn giản, trong mười đại đệ tử, Xá Lợi Phất được xếp vào vị trí đầu tiên, là vị đại đệ tử số một, chính là vì Ngài có thể hiểu được hai chữ "nhân duyên".

Từ thuở ban đầu, điều mà Phật Đà đã lĩnh ngộ dưới cội bồ đề cũng chính là hai chữ "nhân duyên". Phật Đà ngồi dưới cội bồ đề, chính là dựa vào mười hai nhân duyên để thiền định, quán chiếu về mười hai nhân duyên này, rồi sau đó đến khi khai ngộ. Vì vậy, người có thể hiểu được "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt" chính là người đã hiểu được Đức Phật, đã ngộ được chân lý. Do đó, việc Xá Lợi Phất được tôn xưng là "trí huệ đệ nhất" cũng có đạo lý của nó.

### 13. Chỉ quán

Tu định, tu thiền định này có hai loại khác nhau, tu định trong Hiển giáo và tu định trong Mật giáo có sự khác biệt, nhưng đến cuối cùng đều giống nhau.

Trong Hiển giáo, tu định đều dùng "lục diệu môn". Vậy "lục diệu môn" là gì? Thứ nhất là đếm hơi thở, thứ hai là đi theo hơi thở, thứ ba là chỉ - dừng, thứ tư là quán, tiếp đến là hoàn, rồi đến tịnh, đây là sáu môn kỳ diệu, đây là điều phải học khi học định trong Hiển giáo.

Còn trong Mật giáo thì dùng quán, dùng quán tưởng để tu định. Có rất nhiều loại quán tưởng, tôi cũng đã từng giải thích rất chi tiết trong "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh" về các loại quán tưởng để nhập Tam ma địa của Mật giáo Chân Phật Tông chúng ta, giảng giải kỹ thuật quán tưởng một cách rất rõ ràng.

Thiền tông khi dạy người ta về "chỉ" và "quán", sư phụ đều xem căn cơ mà dạy. Có một lần, một vị lão thiền sư dẫn một vị thiền sư trẻ ra ngoài, ở nơi hoang vắng thấy một bầy nhạn bay qua bầu trời; vị lão thiền sư này, khi dạy đệ tử đều là tùy cơ, nghĩa là gặp thời cơ thì mới dạy. Ngài liền hỏi đệ tử: "Con thấy gì?" Người đệ tử ngẩng đầu nhìn "Ồ! Có con nhạn đang bay." Anh ta thấy con nhạn đang bay. Lão thiền sư liền nổi giận, "Con thấy con nhạn đang bay sao?" Ngài bóp mũi người đệ tử, bóp cho đau, rồi hỏi lại: "Con thấy gì?" Đệ tử đáp: "À! Bay qua mất rồi." "Ồ! Con nhạn bay qua mất rồi." Rồi ngài lại đánh anh ta, lão thiền sư giơ tay lên, "bốp"! Đánh một cái lên đầu anh ta.

Bạn biết đấy, họ rất nghiêm khắc, những vị thiền sư này có đánh có hét, cầm gậy gõ vào mặt như thế, vừa đánh bằng gậy, vừa hét lên, đánh một cái là hét một tiếng, tiếng rống sư tử, nếu không nghe lời thì lấy gậy ra, đánh ngay lên đầu, tất nhiên là khai ngộ thôi, ngất đi luôn rồi. Ngài đánh vào đầu đệ tử, hỏi: "Con lại thấy gì?" Đệ tử đáp: "Bây giờ chẳng có gì cả, không còn gì nữa, bây giờ chỉ thấy đau thôi!" (mọi người cười) Mũi đau quá! Đầu cũng bị đánh đau. Thiền sư bảo anh ta về suy nghĩ lại. Vị thiền sư này đang dạy pháp, ngài kích thích anh ta, dùng phương pháp kích thích để đánh, ép buộc, đá, mắng, cách này khiến tư tưởng của anh ta nhanh chóng tóe ra tia lửa.

Ý của ngài là, khi đánh bạn là để cho bạn nhìn, bạn thấy con nhạn bay, hiện tại chính là hiện tại, bạn đang thấy con nhạn đang bay. Tương lai sẽ là bay qua mất, trong đó bao hàm hai thứ, cho thấy bạn vẫn còn vọng niệm, người học thiền phải học "chỉ", phải dừng lại. Bảo bạn nhìn, thấy gì? Bạn phải trả lời thế nào, ồ! (Có đệ tử đáp, chẳng thấy gì cả.) Đó là thông minh đấy, nhưng lúc đó ngài cũng sẽ đánh bạn đấy! Bởi vì "Anh nói dối!", rõ ràng con chim đang bay mà anh lại nói dối! Cho nên trong cách dạy pháp của họ, phần nhiều là đánh tới đánh lui như thế đó (mọi người cười).

Vị lão sư phụ này! "Bốp"! Đánh đệ tử một cái, "Con thấy gì?" Anh ta nhìn thầy, rồi đánh lại thầy một cái. Nói cho các bạn biết, vị lão sư phụ này liền vui mừng. "Ừm! Tương ứng rồi!" (mọi người cười vỗ tay) Các bạn thấy hai vị thiền sư ở đó, tôi đá ông một cái, ông đá tôi một cái, tôi đấm ông một cái, ông đấm tôi một cái, thế là đúng rồi đấy. (mọi người cười)

Thực tế là như vậy đó, tôi đánh bạn một bạt tai, bạn đánh tôi một bạt tai, hai người ở đó lĩnh ngộ! Ở đó suy nghĩ, ở đó lĩnh ngộ, chẳng có gì để nói cả, đó chính là "chỉ". Bảo bạn dừng hết tất cả vọng niệm lại, công phu học định đầu tiên chính là "chỉ".

"Tại sao thầy đánh con một bạt tai?" Bởi vì đã lĩnh ngộ được "chẳng có gì để nói"; như vừa nói đó, chẳng có gì cả, nói không thấy gì là giả dối, chẳng có gì để nói, đừng có bất kì vọng niệm nào. Người học Phật chúng ta phải dừng vọng niệm này lại, không thể dừng ở hiện tại - chim đang bay, quá khứ - chim bay qua rồi; hiện tại - đau quá"!

Thiền trong các vị thiền sư! Lý do dùng gậy đánh và hét chính là ở đây. Trong đó có thiền cơ. Thiền cơ là gì? Thiền là "thèm ăn", cơ là "đói bụng", thế thì gọi là "thèm đói" rồi! (mọi người cười)

Tu tập định là để dạy mọi người, việc đầu tiên là phải dừng vọng niệm lại. Con người chúng ta vọng niệm không ngừng, không dứt, những ý niệm này cứ xoay vòng mỗi ngày, xoay mãi không dừng; khi bạn tĩnh lại một chút để suy nghĩ, ôi chao, thật là phiền não quá. Trong số quý vị đang ngồi đây, ai là người không có phiền não, hãy giơ tay lên? Ai cũng có phiền não cả. Vừa rồi chỉ có mình tôi giơ tay. (mọi người vỗ tay)

Thực ra không phải là không có chuyện gì, mà là có rất nhiều chuyện, không phải là không có việc gì, Sư Tôn có rất nhiều việc, có một bài hát tên là "Tâm sự ai biết được", "Tâm sự ai người biết" (tiếng Đài), rồi lại có câu "Trong lòng nghìn mối", trái tim này có nút thắt. Tối hôm qua thấy trời mưa, lại nhớ đến câu "đêm nay lại sắp mưa rồi". (tiếng Đài)

Đúng là có chuyện phiền não! Không phải là không có đâu, rất nhiều chuyện. Chúng sinh ai cũng có phiền não, bất kì ai cũng có phiền não. Dù làm tổng thống một nước cũng có phiền não, từ người bán hàng rong đến quan chức quyền quý, ai ai cũng có phiền não, chỉ là đem phiền não xem như không có gì, đó mới gọi là giải thoát phiền não.

Hôm nay bạn đem tất cả phiền não ra xem như có thật, cứ vướng mắc mãi, giải quyết xong chuyện này lại đến chuyện khác, xong chuyện kia lại đến chuyện nọ, phiền não cứ nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Bạn phải dừng lại, chặt đứt ngay lập tức, dùng thanh kiếm trí tuệ của mình, "đoạn" chính là dừng. Chặt đứt phiền não chính là đại trí huệ. Người có trí tuệ cao nhất, họ có thể dứt khoát, lập tức chặt đứt, phiền não đến đây là hết, vọng niệm từ đây không còn, như thế mới được tự tại. 

Vậy dạy bạn dừng vọng niệm, nếu vọng niệm không dừng thì sao? Bạn nói khi bạn tọa thiền, giống như chúng ta học thiền quán, tĩnh tọa này, "tôi phải đoạn trừ phiền não, tôi phải đoạn trừ phiền não", ngày nào cũng niệm như thế, "tôi phải đoạn trừ phiền não", cái "tôi phải đoạn trừ phiền não" này cũng chính là phiền não, phải làm sao đây?

Thực ra quán tưởng trong Mật giáo, có những cái thực sự quá phức tạp, quá phiền! Quán tưởng trong Chân Phật Mật Pháp của chúng ta sử dụng cách đơn giản nhất, càng đơn thuần càng tốt. Thực ra quán cũng vậy, càng đơn thuần càng tốt, đừng tưởng rằng quán rất dễ dàng. "Quán tưởng rất dễ mà! Dù quán tưởng phức tạp đến đâu, tôi cũng có thể quán ra được." Bạn thử quán mặt trăng xem, mặt trăng có thể tưởng tượng ra được mà! Mặt trăng rất đẹp, tròn tròn nhé! Nó màu xanh, bên cạnh có một chút mây, quán ra được, bạn muốn tưởng tượng màu xanh này, có người phải mất rất lâu, không tưởng tượng ra được màu xanh lam. Bạn có từng trải qua không, bạn muốn tưởng tượng ra màu đó, màu đó bạn đều không tưởng tượng ra được.

Có một đệ tử đến nói với tôi rằng anh ta thực sự không thể hình dung ra màu sắc, bởi vì trong đó tiêu tai là màu trắng, ban phúc là màu đỏ, hàng phục là màu xanh lam, tăng ích là màu vàng, anh ta không thể hình dung ra được. Tôi hỏi anh ta: "Sao anh không thể hình dung ra được? Anh hãy nhìn nhiều vào những màu sắc đó!" Anh ta nói anh ta bị mù màu.

Nói đến mù màu thì đương nhiên là không thể hình dung ra màu sắc rồi! Ah! Anh ta nhìn thấy đèn đỏ thì cứ thế mà chạy qua! Anh ta nhìn thành màu xanh, màu xanh lại thành màu đỏ, cho nên đôi khi màu sắc cũng rất khó quán tưởng.

Một vầng trăng, pháp quán tưởng Mật giáo của chúng ta ngày hôm nay, tôi dùng cách đơn giản nhất, trước tiên quán một nguyệt luân, sau đó quán chữ chú, rồi chữ chú xoay tròn, biến thành Bổn tôn, Bổn tôn di chuyển, thực hiện pháp quán tưởng "nhập ngã ngã nhập". Tại sao phải thực hiện pháp quán tưởng Mật giáo này? Chỉ vì một đạo lý, đó là "dùng niệm để dừng niệm", dùng cách quán tưởng đơn giản nhất để ngăn chặn vọng niệm của bạn, đây chính là một phương pháp, một kỹ thuật.

Nếu bạn không thể dừng, không có cách nào dừng vọng niệm, thì hãy dùng quán, khi quán đến mức rất rõ ràng, sẽ chuyển thành chỉ, tiến vào vô niệm. Khi đến trạng thái vô niệm, lại có tạp niệm sinh khởi, bạn lại quay về quán, hiện tượng này gọi là "trong chỉ có quán", "trong quán có chỉ". Đây chính là nhập định đó! Chỉ - quán là phương pháp tốt nhất.

Tôi đã từng giảng về quán đếm hơi thở, đếm "một hai ba bốn, một hai ba bốn", hoặc là dùng "Om Ah Hum", hít vào là Om, dừng lại một chút bên trong. Khi khí trụ trong cơ thể thì dùng Ah, thở ra là Hum. Om Ah Hum, Om vào, dừng lại là Ah, ra là Hum, đây chính là đếm hơi thở.

Như vậy chúng ta đếm "một hai ba bốn năm sáu" cứ tiếp tục như thế, cách đếm hơi thở này gọi là đếm hơi thở. Đếm hơi thở cũng rất dễ, bởi vì phương pháp của nó rất đơn giản, và có thể nhanh chóng dừng vọng niệm, vì thế có rất nhiều người dùng phương pháp đếm hơi thở, dùng phương pháp này để thiền định là rất tốt.

Còn Hiển giáo thì dùng lục diệu môn, đó là đếm hơi thở và đi theo hơi thở, để tâm niệm đi theo hơi thở chính là theo hơi thở; tiếp đến dùng "chỉ", chính là phương pháp Thiền tông vừa nói dùng cách dừng lại; dùng "quán", quán tưởng; dùng "hoàn", hoàn là gì? Hoàn và tịnh, điều này sau sẽ nói với mọi người, tịnh chính là thanh tịnh, hoàn chính là hoàn nguyên, đây là phương pháp của Hiển giáo. Trong đó, tôi cho rằng chỉ-quán là quan trọng nhất.

Chỉ-quán trong tu thiền định của chúng ta mà nói, rất là thú vị, hơn nữa Mật giáo của chúng ta, trong đó có rất nhiều phương pháp liên quan đến chỉ-quán. Thậm chí trong pháp chỉ-quán, có cái gọi là Đại chỉ-quán, Tiểu chỉ-quán. Đây là do ai nghĩ ra? Do Thiên Thai đại sư Trí Giả nghĩ ra phương pháp này. Đại chỉ-quán, Tiểu chỉ-quán, cho nên cũng có cách nói là Thiên Thai chỉ-quán. Chỉ chính là dừng vọng niệm, Quán chính là quán chiếu; đặc biệt là khi bạn đang quán chiếu, trí tuệ sẽ sinh khởi.

Trong Mật giáo có tu hỏa quang tam muội, ngoài ra còn có tu quán bạch cốt, quán bất tịnh, và còn có một loại "không-lạc định".

**Thiền Mật - dị lộ đồng quy**

Như tôi đã từng nói, trong khi tọa thiền, Thiền tông tuy không có phương pháp tu thân, tức là phương pháp tu mệnh; trong tu hành có một loại gọi là tu tính, chữ "tính" trong tu tính này, là hoàn toàn tu từ tâm linh, thuộc về Thiền tông. Còn Mật giáo thì sao? Tu tính, nhưng cũng tu mệnh. Mệnh là gì? Chính là thân thể của bạn. Nói đơn giản, dùng thân thể của bạn để tu, đây là của Mật giáo, nhưng cuối cùng sẽ dị lộ đồng quy, có nghĩa là, người tu Thiền tông và người tu Mật giáo, tuy là hai con đường khác nhau nhưng cuối cùng sẽ quy về cùng một con đường.

Dù thế nào đi nữa, khi Thiền tông tu về "không" (tính Không) và "vô", do họ hoàn toàn đưa tâm linh của mình vào trong tính Không, khi niệm dừng lại, khí trong toàn thân tự nhiên sẽ hoàn nguyên, sẽ trở về nơi ban đầu.

Chúng ta trước đây có một phương pháp như thế này, ở vị trí Thiên tâm có một điểm, khi bạn hoàn toàn tĩnh lặng, nước của toàn thân, nước và khí trong cơ thể bạn, tinh khí thần hoàn toàn tập trung, hoàn nguyên về nơi ban đầu; tự nhiên, không cần bạn vận hành, đây là một hiện tượng rất tự nhiên. Cho nên khi tinh khí thần trong toàn thân tập trung vào một điểm, lúc này sẽ tương ứng với bản chất của Mật giáo.

Bởi vì phương pháp tu của Mật giáo cũng theo cách như vậy, dùng chức năng này của cơ thể để tu hành, trước tiên tu khí, sau đó tu hỏa, rồi thông trung mạch, sau đó lại phải tập trung tất cả các điểm, chẳng phải giống hệt như khi Thiền tông thực sự tọa vong, sự vận hành của cơ thể họ hoàn toàn giống nhau sao? Tuy Thiền tông không nói về khí mạch điểm, nhưng khi họ hoàn toàn dừng lại, khí trong toàn thân của họ cũng hoàn nguyên như vậy, điều này trở thành Mật.

**Đại định hỏa quang tam muội và những pháp khác**

Phật Đà dạy chúng ta tọa thiền, trầm tư. Ngài dạy chúng ta phương pháp Hỏa quang tam muội, Bạch cốt quán, để nhập vào Hỏa quang tam muội; đốt lên ngọn lửa bên trong của mình, thiêu đốt chính mình, nhập vào Hỏa quang tam muội. Hỏa quang tam muội này là cảnh giới của tứ quả A La Hán.

Trong giáo pháp ban đầu của Đức Phật, Ngài truyền cho chúng ta rất nhiều pháp. Trong tất cả giáo pháp của Phật, hầu như tất cả đệ tử, tất cả các vị A La Hán đều lấy đại định Hỏa quang tam muội làm cao nhất. Vì vậy, đại định của bản thân A La Hán lấy Hỏa quang tam muội làm pháp tu chính yếu; đó là trước tiên dẫn khởi nội hỏa, sau đó nội hỏa sinh khởi thiêu đốt toàn thân, đốt sạch tất cả phiền não trong toàn thân, đốt sạch những khí xấu trong toàn thân, đốt sạch phiền não, cho đến khi đạt được cảnh giới hoàn toàn thanh tịnh. Từ việc nội hỏa thiêu đốt, dẫn mình vào tính Không, chứng ngộ tính Không, cảnh giới này gọi là đại định Hỏa quang tam muội, tứ quả A La Hán.

Chúng ta biết về "dừng tại một", lúc mới bắt đầu chúng ta không thể "dừng tại không", mà đều là "dừng tại một". Vậy "dừng tại một" là như thế nào? Đó chính là pháp "nhất duyên thiền định". "Nhất duyên thiền định" trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn" của tôi có viết về phương pháp "nhất duyên thiền định", phương pháp này càng đơn thuần càng tốt, tránh cho bạn không thể quán tưởng được. Cần phải rõ ràng, phải phân minh, phải trở thành một điểm, đừng quá phân tán, hãy trở thành một điểm.

Trong đó có cái gọi là phương pháp "nhất duyên thiền định", có phương pháp niệm chú, dùng phương pháp Kim cang niệm. Có Bảo bình khí, chúng ta tu Bảo bình khí, dùng Bảo bình khí để nhập định, đây cũng là một phương pháp. Dùng chỉ-quán là một phương pháp. Ngoài ra, dùng "bất tục duyên", "bất tục duyên" chính là tùy tán, giống như khi bạn vừa ngồi xuống, không nghĩ gì cả, cũng không nghĩ về một điểm nào, cứ để tâm tán đi, ngồi trong toàn thể địa cầu, trong đại địa, trong gió, trong vũ trụ, trong bầu khí quyển, đây là phương pháp mà chỉ những người có trí tuệ cao mới có thể làm được, vừa ngồi là ở trong hư không, những phương pháp này đều là cách để nhập thiền định.

### 14. Vô ngã mới có thể nhập định

Tại sao tôi lại nhắc đến hai câu kệ liễu ngộ của Xá Lợi Phất? "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt", thực ra điều cốt lõi nhất của hai câu kệ này chính là vô ngã.

A La Hán có thể đạt được giác ngộ là bởi vì các Ngài quán chiếu về vô thường, về xuất ly, rồi sau đó đến cảnh giới vô ngã, điều thứ ba chính là vô ngã. Trong câu "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt" này đều hàm chứa tư tưởng vô ngã.

Ngày nay ai cũng có phiền não, Sư Tôn cũng có, nhưng Sư Tôn xem tất cả những phiền não đó như không có gì, nguyên nhân là ở đâu? Chính là vì có tư tưởng vô ngã trong "Chư pháp nhân duyên sinh, chư pháp nhân duyên diệt" này.

Bây giờ tôi muốn nói với mọi người về tư tưởng vô ngã này. Khi học thiền định, bạn nhất định phải có tư tưởng vô ngã, không có vô ngã thì bạn không thể nào nhập định được. Mọi người hãy nghĩ xem, có phải vậy không? Khi bạn thiền định, vừa ngồi xuống, chưa nhập định, ý niệm đã bắt đầu khởi lên, một ý niệm khởi lên; ý niệm đó là "ai nợ tiền mình", bạn đã nghĩ đến tiền rồi.

**Phiền não suốt ngày có, nhìn thông suốt tự nhiên không**

Có những người không thể nhập định được, vừa nhập định đã nghĩ "hôm qua ai mắng mình, ai chửi mình" liền xuất hiện! Điều này rất đơn giản thôi. Chúng ta nói về hôm qua, mặt trời hôm qua và mặt trời hôm nay đều giống nhau, đều rất sáng, rất chói, phải không? Vậy hôm qua các bạn có gặp chuyện phiền não gì không?

Tôi có đấy! Hôm qua khi về nhà, lúc ra ngoài thì trời mưa. Xe của tôi đang sạch sẽ. Sao lại mưa vào lúc này chứ? Mưa thế này là xe bị ướt rồi. Ôi, xe bị mưa rồi. Khi xe chạy như thế này, nước bắn tung tóe. Xe người khác cán vào vũng nước, nước sẽ bắn lên xe mình. Anh ta lái xe phía trước tôi, lái rất chậm. Tôi thì lái nhanh hơn, nước từ bánh xe sau của anh ta bắn lên, văng vào cửa sổ xe tôi. Xe tôi bẩn hết rồi. Nghĩ đến việc phải rửa xe, thật là phiền phức.

Rồi hôm qua, khi tôi thuyết pháp, trong lúc thuyết pháp thì cũng không có gì! Cảm thấy mình thuyết pháp trong ba ngày cũng rất suôn sẻ. Nhưng khi viết bài cho hôm nay, nghĩ xem hôm nay sẽ giảng những gì? Hôm nay phải giảng về thiền định. Mà giảng về thiền định thì trước đây chẳng phải đã giảng rồi sao? Nhập Tam ma địa này, những điều này đều đã giảng qua rồi. Tôi lại không thể lặp lại. Vậy phải giảng cái mới. Nhưng cái mới thì lại không nghĩ ra được. Vậy đây cũng là phiền não. Tôi phải đối diện với mọi người. Đúng không? Tôi lại phiền não rồi.

Rồi tôi lại nghĩ: Hôm qua ấy! Mọi người biết đấy, hôm qua tôi có một mảnh giấy nhỏ cầm trên tay. Tôi ghi những điểm chính, tại sao vậy? Bởi vì hôm qua cửa sổ mở rất rộng. Gió thổi từ bên đó vào. Mảnh giấy này ở đây phất phơ, phất phơ bay qua bay lại. Đúng không? Mảnh giấy nhỏ cứ bay phất phơ, nên tôi phải cầm trên tay; khi cầm trên tay, có lúc tôi nói chuyện cần phải dùng tay diễn tả, thế là một tay tôi không thể cử động. Vừa cử động là người ta thấy ngay là mình cầm phao.

Tôi nghĩ, vậy ngày mai thuyết pháp thì sao? Tôi phải để ở đâu, mảnh giấy này phải để ở đâu? Hồi xưa khi tôi gian lận thi cử, tôi thường giấu sách dưới mông, còn phao thì chép vào thước kẻ tam giác. Bây giờ mảnh giấy này rất mỏng, nhưng lại không có thước tam giác, thì phải làm sao... May mà hôm nay không có gió thổi vào, nên hai tay đều có thể cử động. Tôi cũng nghĩ đến vấn đề này đấy!

Tôi cũng nghĩ, mấy tối liền, khi đi ngủ vào lúc 11 giờ, Sư Mẫu đều nấu mì, như là một tô mì trắng đơn giản; không phải loại mì gì khác, chỉ là mì trắng đơn giản, ăn xong rồi đi ngủ. Đã cho tôi ăn mì 4 ngày liền rồi, 4 ngày toàn mì trắng. Bà ấy cũng không làm gì mới mẻ cả. Đây là điều tôi đang phiền não đây. Sao tối nay ăn khuya lại là mì nữa? May mà lúc về, bà ấy biết mang theo canh thịt nấu ở nhà. Cho canh thịt vào mì thì cũng có chút vị. Chứ không thì toàn là mì trắng như tuyết, cứ một màu như vậy.

Thế nên tối hôm qua tôi nghĩ phải thay đổi thôi, ăn mì như vậy không tốt. Vào khoảng hơn 11 giờ, tôi đi với Sư Mẫu đến QFC. Tôi chỉ mua vài thứ thôi, rất đơn giản, ở Mỹ có loại hỗn hợp 10 loại đậu được đóng gói sẵn, mỗi gói có 10 loại đậu. Tôi mua 4 gói đậu, và còn mua nước dùng gà để hầm. Nước dùng gà, mua một gói nước dùng gà. Trước đó bà ấy thấy một gói nước dùng gà, cả gói thịt gà, cả gói thịt gà giá bao nhiêu? Gói đầu tiên là 4 đô, tôi đứng bên cạnh nhìn. Bà ấy cầm lên, Sư Mẫu nói: "4 đô Mỹ, con gà này 4 đô. Đắt quá!" Đắt quá, tiếc tiền không mua, lại để nó lại chỗ cũ.

Lúc đó tôi có một nỗi phiền não. Chẳng lẽ tôi không đáng giá tới 4 đô sao? Một gói thịt gà có 4 đô mà bà ấy chê đắt rồi bỏ lại. Còn gói thứ hai giá bao nhiêu, bà nói thật đi! Gói thứ hai là 3 đô, chỉ chênh nhau có 1 đô, bà ấy lấy gói thứ hai. Trong lòng tôi có một nỗi phiền não: "Tại sao bà ấy lại mua cái rẻ cho tôi? Chẳng phải tôi là 'Thượng sư tôn quý' sao?"

Sau đó chúng tôi đi mua bánh mì, ở nhà có ba quả chuối, vốn có ba quả chuối, nhưng cả ba quả đều đã chuyển sang màu đen, ba quả chuối đen. Tôi đi mua vài quả chuối xanh, chuối màu xanh. Vừa về đến nhà tôi bóc một quả chuối xanh, ăn một tô mì với một quả chuối, rồi bà ấy nói bên cạnh: "Chuối xanh thế kia sao lại ăn?" Bà ấy chỉ nói với tôi một câu như vậy, trong lòng tôi lại phiền não. Ở với tôi bao nhiêu năm rồi, chẳng lẽ không biết tôi thích ăn chuối xanh sao? Đúng không? Tôi ăn chuối không thích ăn loại chín mềm. Bà ấy nói: "Loại đó thơm hơn." Còn chuối xanh, tôi nói: "Chuối xanh ăn vào giòn hơn." Chữ "giòn" tôi không biết nói thế nào. Tóm lại là giòn. Tôi thích như vậy đấy, tôi không thích mùi chuối chín quá, tôi chỉ thích loại hơi xanh một chút, rồi còn nhiều thứ nữa.

Chỉ trong một buổi tối thôi mà đã có rất nhiều suy nghĩ phiền não như vậy cứ quẩn quanh trong đầu. Bạn thử nghĩ xem, làm sao mà không có phiền não được? Chúng ta, với tư cách là một hành giả, những điều vừa nói đều là những việc nhỏ nhặt. Nói ra thì toàn là chuyện vặt vãnh không đáng kể. Nhưng bạn có biết không? Những chuyện vặt vãnh này đôi khi lại gây ra những mâu thuẫn không thể hòa giải! Vợ chồng cứ vì những chuyện nhỏ nhặt này mà không buông bỏ được, không buông bỏ được thì hai người sẽ cãi nhau. Cãi nhau chỉ vì cái vỏ chuối.

Bạn nói xem, cãi nhau vì một cái vỏ chuối thì có gì hay? Có người lại cãi nhau vì một chút rác nhỏ. Vốn dĩ đều là những việc nhỏ, nhỏ đến không thể nhỏ hơn được nữa, những điều này đều phải buông bỏ hết, bạn phải học cách buông bỏ hết những việc nhỏ, những việc lớn cũng phải buông bỏ hết, thế giới này chẳng có gì là ghê gớm cả. "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt"! Tất cả đều là không, bạn phải hiểu điều đó, chẳng có gì đáng để bận tâm cả.

Các bạn có biết biển số xe của tôi không? Chiếc Mercedes-Benz mới này, tôi không dám mua loại 600, vì sợ phiền phức. Tôi mua loại 500. Người ta hỏi tôi: "Mercedes-Benz mà thầy đang lái là loại bao nhiêu vậy? Có phải 600 không?" Tôi nói "Không! Không phải 600." Không dám mua. Bởi vì lái chiếc Rolls-Royce đó đã bị người ta chê trách suốt 5 năm rồi, nguyên 5 năm. Mercedes-Benz 600 tất nhiên là rất tốt, nhưng không dám mua. Người ta hỏi: "Vậy thầy lái loại nào?" "Không phải 600, là 500." "Ừm! 500, tạm được." Vì còn có 600 tốt hơn 500 mà! Đúng không? Người ta sẽ không chê trách tôi nữa. Từ đó tôi được yên ổn. Điều này cũng có cái hay của nó.

Nhưng rồi phiền não lại đến. Bởi vì biển số xe cấp cho tôi, các bạn có biết số mấy không? "546 - Tôi chết rồi" <span className="note-blue">[chơi chữ]</span>. "Tôi chết rồi". Biển số cấp cho tôi là "546", khiến tôi nổi da gà. Như chúng ta thường nói "Lạnh run cả chân tay". Đúng vậy! Khi nhận được biển số này, bạn phải làm sao? Tôi nói cho bạn biết, hãy nghĩ theo cách khác "Không có chuyện gì đâu" <span className="note-blue">[chơi chữ]</span>. Nhiều việc, nếu bạn nghĩ là có vấn đề thì bạn đang tự chuốc lấy phiền phức, hôm nay bạn nghĩ rằng vô sự, thì sẽ yên ổn thôi!

**Vô sự, vô tâm, vô ngã**

Cho nên hôm nay khi học Phật chúng ta muốn nhập định, tôi đã giảng hai khẩu quyết rất quan trọng: vô sự - loại bỏ hết mọi việc thì bạn mới có thể nhập định được; hôm nay nếu trong lòng bạn còn vướng bận việc gì, làm sao bạn nhập định được? Chắc chắn là không thể nhập định được. Vô tâm - không những bạn phải vô sự, mà bạn còn phải để tâm mình hoàn toàn trống rỗng. Vô tâm - bạn mới có thể nếm được pháp vị, lúc này tinh thần sẽ trở về với bản tính thanh tịnh. Khẩu quyết thiền định quan trọng nhất là vô sự, vô tâm thì mới có thể nhập định được, nếu bạn còn việc, còn tâm thì tuyệt đối không thể nhập định được.

Thuở xưa, Phật Đà đã dạy chúng ta như vậy: muốn giải thoát phiền não, muốn thành A La Hán, mỗi người phải tu đến vô ngã. Ngã chính là cội nguồn của phiền não! Tất cả phiền não của chúng sinh đều do có ngã mới sinh ra phiền não, hôm nay Lư Thắng Ngạn không phải là Lư Thắng Ngạn, Liên Sinh không phải là Liên Sinh, thân thể ta đều không có, không thân cũng không tâm, thì phiền não ở đâu? Phiền não từ đâu mà sinh? Chính vì bạn cứ để ý đến cái thể diện của Lư Thắng Ngạn, cái thể diện của Liên Sinh, nên bạn mới có phiền não.

Nói một cách đơn giản, khi bạn đã nhìn thấu chính mình, trở nên trong suốt, cái ngã của bạn đã trống rỗng, tự tính đã không, thì phiền não từ đâu mà có? Hôm nay vì bạn chưa khai ngộ nên đương nhiên có phiền não, bạn muốn giành lại thể diện. "Thể diện của tôi ở đâu?" Bạn nhất định phải tranh giành, thì bạn sẽ có phiền não. Hôm nay, sự khai ngộ về lý chính là "không cần có cái tôi", cái tự ngã của bạn không cần nữa! Cái tôi không cần nữa! Tự tính của tôi đã trống rỗng rồi! Tôi vô sự rồi! Cũng vô tâm rồi! Đúng vậy, bạn có nhiều điều ấm ức, Sư Tôn cũng có nhiều điều ấm ức, ai cũng có những nỗi ấm ức của riêng mình.

Có rất nhiều người, như những người làm bảo vệ ở đây, những người làm việc ở đây, những người quét dọn nhà vệ sinh, mỗi ngày đều dọn dẹp nhà vệ sinh, sau khi các bạn về, có rất nhiều người ở lại để lau chùi nhà vệ sinh, nhặt rác, hút bụi sàn nhà, làm công việc dọn dẹp. Những người này, Sư Tôn không nhìn thấy, trong lòng họ nghĩ: "Thuyết pháp bốn ngày rồi! Mà vẫn chưa có một lời an ủi chúng tôi. Không làm nữa! Tôi không làm nữa! Tôi không làm nữa! Sư Tôn còn chưa từng đến nói với tôi: công việc của anh vất vả quá! Rất nhọc nhằn! Ít nhất cũng phải nói một câu, khen ngợi một chút chứ. Rằng đây là những người làm công âm thầm."

Thực ra khi chúng ta tổ chức một pháp hội, có rất nhiều người làm rất nhiều việc, chia thành đủ loại ban ngành, mỗi người đều rất vất vả, nếu không nói một lời an ủi, họ sẽ nghĩ: "Lần sau không làm nữa! Lần sau thôi không làm. Chẳng nói gì cả, Sư Tôn cũng không biết tôi làm!" Điều này rất đơn giản, khiến mọi người ấm ức. Trong Chân Phật Tông, có rất nhiều công việc, có rất nhiều anh hùng vô danh, mọi người đều đang làm việc; nhiều người chịu ấm ức, đã làm lại còn bị mắng, thậm chí còn bị hiểu lầm, bị phỉ báng! Đều có cả. Nhưng mà bạn phải vô ngã chứ! Vô ngã thì có thể giải thoát phiền não! Nếu không bạn sẽ ấm ức, sẽ khóc, sẽ rơi lệ, sẽ tự đánh mình, sẽ đập đầu vào tường!

Đôi khi tôi cũng nghĩ như vậy! Rất đơn giản, chúng ta làm người sẽ có lúc nghĩ như vậy. Cả đời tôi chẳng có hưởng thụ gì, chỉ viết văn, hoằng pháp, tu hành, thực sự chẳng có hưởng lạc gì, cứ sống qua ngày như vậy, rất nỗ lực giúp đỡ Phật Đà, tại sao phải chịu nhiều chỉ trích phỉ báng đến thế!

Tôi không thiết sống nữa! Tôi không muốn sống nữa! Tôi cũng không làm nữa! Tôi đi làm lính đây! Tôi làm quân nhân chuyên nghiệp, đi đo đạc, tôi còn về Đài Loan chuẩn bị phục chức! Tôi sẽ nộp đơn lên Bộ Quốc phòng xin được về làm Trung tá. Tôi không làm nữa! Những gì tôi làm trước đây, xóa sạch hết! Tôi làm việc vất vả như vậy mà người ta nói "Làm vã mồ hôi, bị chê đến chảy nước miếng!" Chỉ toàn bị người ta mắng, mắng rất nặng lời. Chuyện này rất bình thường thôi.

Tôi nghĩ về những chuyện này, tôi nghĩ: Ôi! Tất cả đều rất bình thường, chẳng có gì, đừng chấp chặt vào cái tôi! Đó là công lao của người khác mà! Dù là tôi làm, công lao thuộc về người khác cũng tốt thôi! Phải không? Rất tốt! Tuy là tôi làm, công lao bị người khác giành mất, tốt thôi! Cũng như nhau thôi! Bởi vì tôi tu vô ngã mà! Tôi không tranh danh phận của mình, chẳng có gì cả! Tất cả đều là của chung! Thành quả tốt đẹp mọi người cùng hưởng, công lao không cần thuộc về tôi, đó chính là vô ngã.

Học Phật chính là học điều này, nếu bạn nói tôi làm được việc và công lao là của tôi, đó là hữu ngã, đó không phải là học Phật, đó là học cách xử thế, học danh tiếng, học những điều thế tục thông thường, không phải học Phật, học Phật phải là vô ngã. Cho nên điều đầu tiên mà A La Hán chứng đắc chính là vô ngã, nếu muốn nhập thiền định, không có bí quyết gì cả, chỉ cần vô sự, vô tâm, vô ngã, bạn sẽ nhập thiền, không có những điều này thì không thể thiền được. Nếu bạn không có quyết tâm học vô ngã, thì không thể đạt đến tứ Thánh giới, tuyệt đối không thể đạt được.

Cho nên hôm nay tôi có thể nói một câu: "Tôi, Lư Thắng Ngạn, không bỏ một chúng sinh nào." Đó là tâm gì? Đó chính là tâm vô ngã! Chính là biến cái tiểu ngã này thành đại ngã, tất cả chúng sinh đều là "tôi"! Chúng sinh tốt thì tôi cũng tốt. Chúng sinh không tốt thì tôi có trách nhiệm. Mỗi một chúng sinh đều là tôi, những gì tôi làm, miễn là chúng sinh đạt được, thì cũng như tôi đạt được vậy, không có phân biệt. (Mọi người vỗ tay)

Đừng tranh đấu vì tiểu ngã, đừng tranh đấu vì cái ta nhỏ bé này, "các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", tất cả rồi sẽ trở thành không. Đó chính là đạo lý về tính Không! Giáo lý tối thượng của Như Lai về Chính đẳng Chính giác, từ vô ngã, vô pháp, từ vô ngã bắt đầu tiến vào vô pháp, "vô nhân ngã, vô chúng sinh", "không bỏ một chúng sinh nào" chính là vì xem cái ta này là chúng sinh. Dù sao thì người khác có danh có vị cũng như ta có, bạn hoàn toàn hiến dâng cho người khác hưởng lạc, cũng như chúng ta cùng có, cái ngã này là đại ngã, tuyệt đối không phải là tiểu ngã của cá nhân, nghìn vạn người học Phật chính là để học điều này.

Tư tưởng Phật giáo của người phương Đông truyền bá rất rộng, khác với tư tưởng thần ngã của phương Tây, hoàn toàn không giống nhau. Cho nên tư tưởng của Đại Phạm Thiên và tư tưởng của Đức Phật là khác nhau. Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, và nhiều tôn giáo khác đều là tư tưởng thần ngã của Đại Phạm Thiên. Còn tư tưởng của Phật Đà hoàn toàn là tư tưởng siêu việt về "vô nhân, vô ngã, vô pháp". Cho nên Phật ghé vào tai ngài Xá Lợi Phất nói: "Chân lý mà ta đã ngộ được, chỉ từ ông bắt đầu, ông hiểu được chân lý của vũ trụ." Chính là câu nói này.

Thiền định phải từ một trở về không, trở về Không tính. Lúc mới bắt đầu tu định, từ thô, dần dần tu đến tế, đến cực tế, đến trụ nơi cực tế, đến hóa thành vô, đó là một cảnh giới.

Trí tuệ tối cao của A La Hán, Chính đẳng Chính giác của ngài có thể nói chính là vô ngã, cũng chính là tam pháp ấn của Như Lai, thứ nhất là "chư hành vô thường", thứ hai là "chư pháp vô ngã", thứ ba là "niết bàn tịch tĩnh", hợp lại thành nhất thực tướng ấn.

Trong Mật giáo chúng ta quán tưởng nguyệt luân, quán tưởng chủng tự, quán tưởng chữ này từ dưới biến mất đi, dần dần không còn, không còn đến đỉnh thì nhập vào Không tính. Những chữ Phạn và chữ Tạng này từ dưới bắt đầu biến mất không còn, cho đến khi biến mất hoàn toàn ở trên đỉnh, hóa thành Không tính. Đây là một loại quán tưởng, là quán tưởng chủng tự vi tế nhất, là quán tưởng vi tế nhất.

### 15. Pháp linh nhiệt và Bảo bình khí

Trong Mật giáo chúng ta còn có pháp linh nhiệt, chính là pháp nội hỏa, phương pháp nội hỏa, cũng gọi là hỏa quang tam muội. Hỏa quang tam muội, phương pháp nội hỏa, tôi sẽ giảng sau. Về phương pháp nội hỏa, trong đó có bí quyết về thân thể, bởi vì trung mạch là một đường như vậy nằm ở giữa thân thể, khi đến đỉnh đầu, ở giữa đó, cổ họng và Thiên tâm, ở đây có một thứ cần phải nối lại, đây là một bí quyết, không nói cho người chưa tu luyện biết; còn từ Tề luân đến Hải để luân, ở giữa này lại có một đoạn bị đứt, cần phải nối nó lại, cho nên trên cũng nối, dưới cũng nối, mới thành một đường trung mạch hoàn chỉnh, mới là một đường trung mạch trọn vẹn, điều này tôi sẽ dạy sau.

Chúng ta nhớ pháp linh nhiệt có khẩu quyết về trung mạch, minh điểm phải tập trung, tập trung tất cả tinh hoa của cơ thể bạn vào hai điểm, đó chính là minh điểm phải tập trung; quán tưởng phải rõ ràng, trong khi quán tưởng bạn phải hết sức rõ ràng, phải minh bạch.

Khí trong cơ thể bạn phải có lực, phải tu luyện để khí này trở thành khí trí tuệ. Thực ra khí này, tất cả chúng ta đều có khí. Đánh bạn một cái, bạn sẽ tức khí, đó chính là có khí; khi nhìn thấy cô gái mặt đỏ lên, đó chính là khí của bạn chạy lên mặt, đó chính là khí; khi tức khí thì máu dồn lên não, cái đó cũng là khí phải không? Chúng ta ai cũng có trong người. Nhưng khí này chỉ là khí thế tục, không phải khí trí tuệ; trong Mật giáo chúng ta nói về khí trí tuệ, vậy khí trí tuệ là gì? Khí đó phải có lực, cái gọi là trí tuệ là có thể điều khiển theo ý niệm của bạn, phải luyện ra được luồng khí này.

Hơi thở của bạn cũng có khí! Khi tôi hít vào, toàn thân tràn đầy khí, thở ra, gọi là xì hơi, xẹp hơi (cười). Thực ra khí bạn có thể hít vào thở ra, bạn có thể cảm nhận được khí trong cơ thể đang vận hành. Khi chưa có nội hỏa, khí này của bạn có thể được điều khiển theo ý niệm, muốn đi đến đâu thì đến đó, khí này gọi là khí trí tuệ, cho nên phải bồi dưỡng khí.

Vì vậy dạy mọi người luyện Bảo bình khí là như thế này, phải quán tưởng bản thân trở thành một bảo bình, sau đó hít khí vào, rồi hòa tan nó vào từng bộ phận trong cơ thể, trong tất cả các mao mạch, bao gồm tất cả các tế bào, bề mặt da đều tràn đầy khí, toàn thân đều tràn đầy, giống như một bảo bình vậy, bảo bình khí bao phủ nó lại, để nó hòa tan, làm cho nó tan chảy trở thành nhiệt, tràn đầy toàn thân, đây gọi là Bảo bình khí.

**Minh điểm và ngũ luân**

Khi bạn có khí, dẫn khí vào tay này thì có thể vận khí, dẫn khí vào tay kia thì có thể vận khí ra, dẫn khí vào cả hai tay thì có thể vận khí ra, bạn đưa luồng khí trong người lên đỉnh, ép xuống dưới, có thể đến ngón tay, ngón chân, bất kì chỗ nào bạn đều có thể đến được, đây gọi là luyện khí. (Sư Tôn thị phạm, mọi người vỗ tay) Khí có thể đến Hầu luân, đến Mi tâm, đến đỉnh đầu, đến bất kì chỗ nào đều có.

Khí là gì? Khí trí tuệ này chính là biến thành chiếc truck của bạn, truck chính là xe container phải không! Đúng không? Đúng rồi! Tôi thường bị trẻ con cười là tiếng Anh không giỏi, tôi cứ tưởng mình lại nói sai rồi. (cười) Chính là chiếc xe container trong cơ thể bạn, là chiếc xe container để vận chuyển minh điểm. Vậy đường giao thông là gì? Freeway là gì? Chính là trung mạch. Khí chính là truck, trung mạch chính là freeway, tinh hoa sự sống trong cơ thể bạn được đặt trong chiếc truck đó để vận chuyển.

Mạch trong cơ thể chúng ta không chỉ có một trung mạch, còn có rất nhiều mạch khác, có ngũ luân, có năm con đường giao thông chính; ngũ luân này chính là các trạm dừng chân trên freeway trong cơ thể bạn, là những thành phố rất lớn.

Trong phương pháp tu hành Mật giáo này, trước tiên bạn phải bồi dưỡng khí, khi đã có freeway, trung mạch đã thông, điều đó có nghĩa là freeway của bạn thông suốt không ngăn trở, nhưng nếu không có truck, không có khí thì bạn không thể vận chuyển được gì cả. Vì vậy nhất định phải có khí, cho nên trước tiên hãy tu luyện khí!

Tu luyện khí, bạn dùng nội hỏa để sấy minh điểm của mình, vậy nội hỏa làm sao để sinh ra, nội hỏa chính là do thiền định sinh ra, sau khi thiền định sinh ra nội hỏa, bạn dùng nội hỏa để đốt minh điểm, khi đó tinh hoa sinh mệnh trong cơ thể bạn sẽ xuất hiện, bạn đem tinh hoa sinh mệnh này nâng cao lên, chính là thành Phật. Minh điểm vật chất của phàm phu được nâng cao lên đến cuối cùng thì sẽ thực sự biến thành bảo tính của Như Lai, đây chính là phương pháp tu hành khí mạch minh điểm của Mật giáo.

Khí hành này phải tỏa ra khắp nơi, khí này của bạn phải vận hành khắp toàn thân, sẽ không bệnh tật, thân thể bạn mới cường tráng. Nếu bạn dùng nội hỏa và khí cùng vận hành khắp toàn thân, tất cả phiền não và chướng ngại của bạn đều được tiêu trừ hoàn toàn. Trung mạch này của bạn sẽ trở nên quang minh, thành đại đạo quang minh, sẽ sinh ra tịnh quang, bạn sẽ thấy được tịnh quang. Bạn dùng truck, đưa tinh hoa sinh mệnh từ trung mạch thông qua đến Phật tính, bạn tu hành đạt được vô lậu, minh điểm vô lậu.

**Song thân và song vận**

Tôi nói cho các bạn biết, có rất nhiều đệ tử Mật giáo tu tập song vận, song thân. Trong tông phái chúng ta có hay không, tôi không dám nói, họ bảo họ có thể tu song vận, tu đến cuối cùng, đương nhiên song vận đã tu rồi, con cái cũng sinh ra luôn. My God! Đây là kiểu song vận gì chứ! Đây là vợ chồng mà! Làm gì có cái gọi là song vận? Đúng không? Cái này tính là tu hành gì chứ? Đây không phải là kết hôn sao? Cái họ gọi là song vận chính là kết hôn, là vào động phòng mà! Bạn hiểu sai rồi! Làm sao song vận lại có con nhỏ được? Đúng không? Đây chính là minh điểm hữu lậu của họ, là phạm giới đấy, phải đọa vào địa ngục Kim Cang.

Trong Kim Cương thừa quả thật có đề cập đến tu song vận, trước đây Tạng mật có Vô thượng mật bộ, có pháp song vận, chúng ta không thể phủ nhận rằng không có điều này, là có thật; nhưng vì tất cả các Lama đều làm bừa, ai cũng thích song vận, tất cả đều tu song vận, chả trách mà Lama lại nhiều như vậy. Ở đây chúng ta, tại bang Washington, cũng có một vị đại Lama, ông ta tu song vận với một cô gái ngoại quốc, sinh ra một tiểu Lama! Bây giờ tiểu Lama đã đến Nepal làm tiểu Lama rồi! Quả thật có, có chuyện này thật, nhưng điều này là sai lầm. Đây là phạm giới Kim Cương thừa, là điều rất nghiêm trọng.

**Nói kĩ về Không và Lạc**

Tối thiểu, điều đầu tiên là bạn phải luyện ra khí của mình, nghĩa là có được chiếc truck; đem minh điểm của bạn nâng lên, đặt vào trong truck, tập trung vào Tâm luân, tập trung vào tất cả ngũ luân, đều tập trung ở đó. Khi Hải để luân thực sự của bạn, Mật luân thực sự của bạn không còn minh điểm nữa, bạn có thể tu song vận, đó chính là một loại định, gọi là Không-Lạc đại định.

Thế nào gọi là Không-Lạc đại định? Đây là một phương pháp tu hành. Bản thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có năm vị Phật Mẫu, Ngài dùng phương pháp Không-Lạc đại định để tu, cũng chính là song vận. Trong quá trình tu tập, Ngài hoàn toàn đặt mình vào trong hư không, trong toàn bộ hư không, biến thành một trạng thái không, ngay trong song vận đi vào Không định, điều này gọi là Lạc-Không đại định; Lạc cũng là Không, Không cũng là Lạc, loại định có thể chuyển Lạc thành Không này, gọi là Lạc-Không đại định. (Mọi người cười)

Điều này có lợi cho cả hai bên. Trong quá trình tu tập pháp này, hoàn toàn là khí đang vận chuyển, không có minh điểm, hoàn toàn là khí đang vận chuyển ở đó, dùng sự vận chuyển của khí để thăng hoa thành Không, biến Lạc thăng hoa thành Không; nhưng hoàn toàn Không cũng không được, dần dần hình thành một hiện tượng Lạc; khi Lạc đến cực điểm lại chuyển thành Không, rồi lại chuyển thành Lạc, chuyển thành Không, chuyển thành Lạc, cứ thế tuần hoàn; trong quá trình tuần hoàn Lạc-Không, đạt được một trạng thái định, gọi là Lạc-Không đại định, đó chính là song vận của Tạng mật. Người có thể hiểu được kỹ thuật trong đó, có thể nói là không có mấy ai, không có mấy ai có thể hiểu được kỹ thuật trong đó. Tất nhiên là có, nhưng rất rất ít, người đủ tư cách tu loại Lạc-Không đại định này của song vận cũng không có nhiều.

Vì vậy, những người mượn cớ tu song vận rồi sinh con, hãy nhớ, tuyệt đối không được tin. Hiện nay vẫn còn người mượn cớ nói là tu song vận kiểu này, những trường hợp giả mạo như vậy vẫn còn rất nhiều, nhưng tuyệt đối không được tin, bởi vì chẳng có mấy ai thực sự biết cách tu. Bản thân khí của họ! Chúng ta là người sáng mắt, chỉ nhìn một cái là biết ngay khí của họ đã không đủ rồi, họ còn chẳng biết vận khí! Trung mạch của họ cũng chưa thông, không có truck, minh điểm của họ đã rò rỉ hết, tu song vận gì nữa? Hoàn toàn không đủ tư cách.

Hôm nay tôi nói cho mọi người rất rõ ràng, trong Không-Lạc đại định, điều đầu tiên là khí của bạn phải đủ, bạn có thể vận khí, công phu khí của bạn tu luyện rất tốt, nói vận khí là có thể vận (thị phạm), có thể nâng lên, có thể hạ xuống, bạn đều hiểu rõ, bạn hiểu được những phương pháp này, trong người có truck rồi, bạn có thể nâng minh điểm lên.

Có rất nhiều kỹ thuật, phải xoay chuyển, thân thể phải xoay chuyển; đầu cũng phải xoay, chân cũng phải xoay, khi cần nâng thân thể lên thì phải như thế nào, tất cả đều có công pháp, do sư phụ đích thân chỉ dạy, sư phụ ở bên cạnh chỉ bảo. Không phải tự mình làm bừa đâu! Ồ! Tự mình làm bừa, chính là tự mình làm truck, làm truck không thành xe, thì lại tự mình làm con, sinh ra con luôn.

Cho nên Phật học và thế tục, chính là khác nhau ở chỗ này, bạn không hiểu được Không tính, không hiểu được vô ngã, làm sao bạn có thể chứng nhập Không tính? Bạn chỉ có Lạc thôi! Lấy đâu ra Không? Vấn đề là ở chỗ này. Cho nên người tu hành phải hiểu được Không, Không-Lạc phối hợp với nhau mới gọi là song vận, mới có thể đạt được định. Vì vậy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói pháp này là "lấy ngọc từ miệng rắn độc".

Hiện nay có rất nhiều người nói thông trung mạch: "Đến đây, tôi sẽ giúp bạn thông trung mạch, đưa cho tôi bao nhiêu tiền, trung mạch của bạn sẽ được thông, và freeway này sẽ có thể chạy xe". Khắp nơi đều thông trung mạch! Ngày xưa Phật Đà có nói như vậy không? Trung mạch có thể để người khác giúp bạn thông được sao? Phải tự mình thông chứ! Trung mạch ở trong thân thể của chính bạn, không phải ở trong thân thể người khác! Người khác dựa vào đâu mà giúp bạn thông trung mạch? Sao mà ngốc thế? Giúp bạn một chút khí thì được, khí thì tôi có thể gia trì cho bạn, giúp bạn, nhưng bạn vẫn phải tự mình vận chuyển luồng khí này để biến thành khí trí tuệ của mình, đây mới là trọng điểm, vẫn phải tự mình tu.

### 16. Trí huệ vô thượng

Khi tu tập đến cảnh giới "vô ngã", tâm sẽ trở nên rộng mở, rất bao la, rất nhẹ nhàng, an nhiên, không còn cảm thấy bất kì trọng lượng nào, ý niệm sẽ dừng lại, thân và tâm có thể trở nên rộng lớn vô cùng, cũng có thể trở nên nhỏ bé. Như tôi đã nói hôm trước, có thể bay theo bông tuyết, theo gió ẩn mình trong nhụy hoa, đều có thể làm được. Bạn có thể đến những nơi rất xa, trong chớp mắt đã vượt nghìn dặm vạn dặm, rất tự tại, hoàn toàn vô sự vô tâm, điều này rất quan trọng.

Khi tu tập đến mức nhập định, bạn sẽ thể nghiệm được những điều này, có thể biến lớn biến nhỏ, bạn sẽ cảm nhận được bản thân rất khinh an, đạt được pháp vị. Bạn có thể trong chớp mắt đi nghìn dặm vạn dặm - Thần túc thông; bạn sẽ biết được nhiều đời nhiều kiếp - Túc mệnh thông; bạn có thể nhìn thấy rất xa - Thiên nhãn thông; bạn có thể nghe được rất xa - Thiên nhĩ thông; bạn có thể biết được mọi sự vật trong vũ trụ - Tha tâm thông; khi tu hành thực sự đạt đến minh điểm vô lậu, phiền não vô lậu - Lậu tận thông. Đầy đủ lục thông, nếu không phải là Phật thì là gì?

Vì vậy bây giờ mọi người hãy nâng cao và tu tập tốt nguồn khí quý báu trong cơ thể mình, bởi vì sau này khi tôi thuyết pháp sẽ dạy Nội pháp, nếu trong người không có nguồn khí này thì không được. Trước tiên phải cho các bạn luyện khí, luyện khí cho tốt, sấy nội hỏa cho tốt, dùng nội hỏa để đốt minh điểm thành kết tinh. Dùng truck chạy trên freeway, đưa đến ngũ luân, khiến cho ngũ luân của bạn đều mở ra thành Ngũ Kim Cang, lúc này bạn sẽ bước vào Vô thượng mật, Đại viên mãn.

Chúng ta nói về trí huệ, thiền định này là dạy mọi người có thể dùng đếm hơi thở, chỉ-quán, dùng các pháp quán tưởng của Mật giáo chúng ta, từ thô làm đến vi tế, cho đến khi bước vào vô niệm; trong quá trình này vì tinh thần tập trung, bạn có thể dẫn nội hỏa, đạt được hỏa quang tam muội, thậm chí quán bạch cốt, quán bất tịnh, các loại quán tưởng, quán nhập ngã ngã nhập, quán Không, đều có thể từ đây bước vào cửa thiền định.

Trí huệ là từ định mà ra, từ giới có thể sinh định, từ định có thể sinh huệ. Thế nào là trí? Chiếu kiến chính là trí, khi ánh sáng của bạn chiếu rọi đó chính là một loại trí. Thế nào là huệ? Huệ chính là hiểu biết. Khi bạn đã có thể hiểu rồi, thì sẽ sinh ra một loại huệ.

Trí huệ là một thứ vô hình, một thứ bạn không thể nhìn thấy, nhưng bạn có thể cảm nhận được. Nó có pháp vị của thiền định, trong trí huệ có pháp vị của thiền định. Nó có thể biến thành kiếm, có thể dứt khoát quyết đoán, dứt khoát quyết đoán sẽ không bị vướng mắc. Mỗi việc bạn làm, hãy dùng trí huệ của bạn như một thanh bảo kiếm để dứt khoát quyết đoán, đó chính là trí huệ của bạn.

Vì vậy trong chỉ-quán này, phần chỉ chính là dùng bảo kiếm trí huệ để chặt đứt tất cả phiền não. Bạn sẽ đạt được một loại diệu quả viên mãn. Diệu quả viên mãn, cảm thấy điều này rất vi diệu, khi bạn có thể xử lý mọi việc một cách vừa khéo, đó chính là một loại diệu quả.

Trong đó, trí huệ được nói đến trong Phật học là trí huệ vô thượng, không phải trí huệ thế tục. Trí huệ thế tục là trí huệ mưu sinh, tức là các bạn đi làm ăn kinh doanh kiếm tiền! Các bạn dùng trí óc để phát triển phần mềm máy tính! Đó là trí huệ thế tục. Trí huệ vô thượng của Phật học là chính đẳng chính giác, chính là ý nghĩa chân thật của sinh mệnh, là trí huệ về chân lý vũ trụ - đó mới là trí huệ vô thượng.

**Như Lai ngũ trí**

Chúng ta biết năm trí huệ lớn của Như Lai, năm trí của Phật là:  
Thứ nhất là Pháp giới thể tính trí, chính là các thể tính của pháp giới, là cảnh giới của pháp vị, chúng ta gọi là Pháp giới thể tính trí.

Trí huệ thứ hai là Đại viên kính trí, biểu thị loại trí huệ này giống như một tấm gương tròn lớn, có thể quán chiếu, có thể viên mãn - đây là Đại viên kính trí, đây là trí huệ thứ hai của Như Lai.

Trí huệ thứ ba là Bình đẳng tính trí, như tôi đã nói, khi Đức Phật ngồi dưới cội bồ đề, câu đầu tiên Ngài nói khi giác ngộ chính là Bình đẳng tính trí, nghĩa là: "tất cả chúng sinh đều có Phật tính", tất cả đều có Phật tính, chỉ vì bị ô nhiễm, bị chướng ngại nên Phật tính mới không hiển lộ, thực ra tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đây chính là Bình đẳng tính trí.

Trí huệ thứ tư là Diệu quan sát trí, bạn có biết trí huệ từ đâu mà có không? Trí huệ chính là từ quan sát mà có, bạn đi quan sát thì sẽ có được, điều này rất vi diệu, trí huệ sinh ra từ quan sát gọi là Diệu quan sát trí.

Trí huệ thứ năm của Như Lai là Thành sở tác trí, Thành sở tác trí chính là tất cả các pháp Yết ma, bạn có thể thành tựu, giống như sự nghiệp độ chúng sinh bạn có thể thành tựu, bạn có thể diễn pháp, bạn có thể phát huy pháp lực của mình, tất cả sự nghiệp độ chúng sinh đều có thể viên mãn.

Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí, đây là năm trí huệ lớn của Như Lai.

Trí huệ này không phải là thứ chúng ta có thể diễn tả bằng ngôn ngữ, cũng không phải là thứ chúng ta có thể diễn tả bằng ngôn ngữ cơ thể, cũng không phải là thứ chúng ta có thể thể hiện hoàn toàn trong cách làm người xử thế; nhưng thực tế, nó đã hòa nhập vào thân tâm của tất cả hành giả chúng ta, trong mỗi cử chỉ hành động, mỗi lời nói việc làm đều có trí huệ ẩn chứa bên trong, nó là vô hình.

Học định phải có trí huệ để phân biệt, trong khi tu định phải có trí huệ, và khi học huệ cũng phải có định, cho nên định huệ là song tu, tức là vừa phải tu định vừa phải tu huệ, hai điều này đi đôi với nhau, không thể tách rời.

Người xưa đã nói, định giống như bóng đèn điện phát sáng, trí huệ giống như dòng điện, không có trí huệ thì không thể định được; muốn phát sáng thì phải có trí huệ, nhưng khi bạn định, tạo thành ánh sáng này, tạo thành định này, không có bóng đèn cũng không được, không có định cũng không thể phát sáng; cho nên định và huệ là hai hợp làm một.

Trong lục độ có thiền định và trí huệ, thiền định và trí huệ là hai điều Như Lai coi trọng nhất. Trong lục độ, bốn độ còn lại có thể nói là thuộc về tướng bên ngoài, còn hai độ này thuộc về tướng bên trong, là tu tập nội tâm, đây chính là Tam vô lậu học.

Về phương diện pháp linh nhiệt, khẩu quyết của nó tất nhiên cũng nằm ở định, tức là ở tinh thần thống nhất; còn về kỹ thuật, bao gồm kỹ thuật tâm linh, kỹ thuật quán tưởng, ngoài ra còn có kỹ thuật thể vị. Thể vị không phải là mùi của thân thể mà là vị trí của thân thể, thể vị của bạn phải như thế nào mới có thể đốt được minh điểm, mới có thể thực sự đốt được nội hỏa, mới có thể thực sự thiêu đốt minh điểm, đó chính là thể vị.

Về thể vị trước đây sư phụ có dạy, ngài quy định rằng, khi Liễu Minh Hòa Thượng dạy tôi, ngài nói "Khi con truyền Nội pháp thì mới truyền thể vị này, mới dạy thể vị. Còn những người chưa được dạy Nội pháp, con chỉ dạy tất cả nghi quỹ tu hành của Mật giáo."

Vì Nội pháp chưa được truyền, nên tôi nói rằng, những người sau này muốn học Nội pháp, trước tiên phải tu khí. Còn phải dạy họ tu khí, sau đó tu thắp nội hỏa, sau khi thắp được nội hỏa, phải khai mở trung mạch, sau khi khai mở trung mạch thì khai mở ngũ luân, sau khi khai mở ngũ luân sẽ đạt đến Vô thượng mật bộ, đến Đại viên mãn, là thành Phật. Ngũ luân chính là Ngũ Kim Cang, đây đều là những điều rất quan trọng.

**Thiên nhãn chân thực**

Hôm nay tôi giảng giải rõ ràng cho mọi người, giống như freeway, truck, city này! Ngũ luân này giống như những thành phố lớn vậy, nói như vậy thì các bạn có thể hiểu rất rõ ràng. Như hôm nay có thể giảng Mật pháp và Phật pháp rõ ràng như vậy cũng rất hiếm có.

Các bạn thấy đó, hiện nay có rất nhiều đại pháp sư, đại hòa thượng, thực ra tôi có thể quan sát được họ, tôi chỉ cần nhập định là biết được họ từ đâu đến. Tại sao họ có được năng lực lớn như vậy? Tôi vừa nhập định: "Ồ! Thì ra là có Đại Phạm Thiên ở phía sau ủng hộ." Tại sao người đó lại có năng lực lớn như vậy? "Ồ! Thì ra trước đây họ từng làm thiên thần, không lạ gì mà có năng lực lớn như vậy." Tôi đều có thể nhìn thấy được.

Giống như nhiều người hỏi tôi: "Tổ tiên của họ đã đi đâu rồi?" Tôi nhập định, tôi đi xuống địa ngục tìm kiếm: "Ồ! Thì ra tổ tiên của anh đã làm những việc này việc kia, hiện giờ đang ở trong địa ngục." Điều này là có thật đấy! Trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, Quang Mục nữ có hỏi một vị A La Hán, vị A La Hán nói với cô ấy rằng: "Mẹ cô đã làm những việc như thế, hiện giờ vẫn đang chịu khổ trong địa ngục." Quang Mục Nữ chính là tiền thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát, những điều này đều có thật, phải không?

Nhìn xem, có vị Phật Bồ Tát nào phía sau là giả không, mỗi một vị đều hiện diện! Khi bạn khai mở Phật tính, mỗi một vị đều là thật. Khi bạn chưa khai mở Phật tính, bạn nhìn Ngài, Ngài nhìn bạn! Thật đấy.

Một đêm nọ, một mình tôi đến đây, tôi đánh trống mõ, thỉnh tất cả chư vị. Bắt đầu tụng từ Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, cứ tụng mãi, tụng từ bên đó sang Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Già Lam Tôn Giả, Nam mô Dương Tiễn Tôn Giả, từ dưới cùng, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Tứ Thủ Quan Âm, Lục Độ Mẫu, Văn Thù Sư Lợi, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thỉnh tất cả mỗi một vị.

Tiếp xuống, ở giữa là Địa Tạng Vương Bồ Tát, từ bên Hoàng Tài Thần thỉnh qua, bên này Uế Tích Kim Cang, bên này Chuẩn Đề Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Bất Động Minh Vương, bên này Hồng Tài Thần, Tứ Thiên Vương, thỉnh tất cả, từ trên xuống dưới; ngoài ra còn có Đại Thế Chí Bồ Tát, còn có Địa Mẫu, còn có Cát Tường Thiên Nữ, thỉnh tất cả.

Sau khi thỉnh và tụng xong, tôi lên lầu đi ngủ. Ôi! Một vị Thổ Địa Công chạy đến. Ông ấy nói: "Ngài chưa niệm đến tôi." Ông ấy nói với tôi rằng tôi chưa niệm đến ông ấy! Được rồi, sáng hôm sau tôi thức dậy, đi xuống, tụng lại một lần nữa, thỉnh tất cả; tụng đến Thổ Địa Công, niệm đến ông ấy rồi, ông ấy cảm thấy rất vui vẻ trong lòng.

Không có vị nào là giả đâu! Mỗi một vị đều là sống động đấy! Tôi có thể thấy Phật không? Thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát không? Có thể thấy Thích Ca Mâu Ni Phật không? Người hiểu rõ Thích Ca Mâu Ni Phật nhất chính là tôi đây! Đúng không? Tôi có thể đi vào một cảnh giới, là có thể gặp được Ngài rồi, làm sao mà không thể gặp được Thích Ca Mâu Ni Phật chứ?

Tôi có thể gặp được rất nhiều vị Phật Bồ Tát, tôi chỉ cần thiền định, vô ngã, đi vào Không tính, ý niệm của tôi triệu thỉnh là có thể gặp được. Tương lai các bạn cũng có thể, các bạn chỉ cần vận dụng trí huệ của mình, đi vào thiền định chân chính, công phu thiền định sâu, các bạn cũng chính là Phật, tương lai mọi người đều là Phật! 

### 17. Lục độ vạn hành

Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người!

Hôm nay là ngày thứ năm giảng dạy Phật Học Tổng Thuyết, hôm nay sẽ giảng về Lục độ vạn hành. Mấy ngày trước, chúng ta đã nói về Tứ diệu đế, thực ra Đức Phật giảng Tứ diệu đế rất là sâu sắc vi diệu. Từ lúc bắt đầu giảng là giảng Tứ diệu đế, cho đến cuối cùng cũng là Tứ diệu đế.

Tứ diệu đế này là gì? Chúng ta nói đó là khổ tập diệt đạo, thực ra là tập khổ đạo diệt. Tập là gì? Ý nghĩa chủ yếu là tích tập tất cả nghiệp chướng và vô minh từ nhiều đời, đó gọi là tập, đây là nhân. Còn quả là gì? Chính là tất cả khổ của chúng ta, sau khi thể hội được tập nhân và khổ quả, thì phải tu đạo. Tu đạo thành công rồi thì đạt đến Niết bàn, chính là diệt, cũng tức là cái gọi là diệt tận; tận có nghĩa là diệt sạch tất cả phiền não khổ đau. Diệt chính là ý nghĩa của tận, đạo chính là tu đạo.

Đạo lý khổ tập diệt đạo này thoạt nhìn rất đơn giản, nhưng thực ra ý nghĩa của nó vô cùng sâu rộng, tuy cũng có thể giải thích một cách đơn giản dễ hiểu; khi Phật thuyết pháp, yếu chỉ chính của Ngài nằm ở bốn chữ "tập khổ đạo diệt". Ban đầu khi dạy pháp, Ngài dạy mọi người ngồi thiền tĩnh tọa; phải quán vô thường, phải hiểu được sự xuất ly, tiến tới đạt đến cảnh giới vô ngã, từ đó thành A La Hán, đắc quả A La Hán.

Hôm nay chúng ta nói về Lục độ vạn hành, Lục độ vạn hành chính là hành hạnh Bồ Tát, không chỉ dừng lại ở quả vị A La Hán, mà còn tiến thêm một bước nữa là cứu độ chúng sinh. Thực ra "Phật Học Tổng Thuyết" này có thứ tự, nó có một thứ tự tồn tại, tức là có một trình tự. Trong cuộc đời này, tôi đã sắp xếp nó thành "tín, giải, hành, chứng", đây chính là thứ tự thực hành.

Ban đầu nhắc đến số hai, hai là gì? Hai là "nhị nhập", làm sao để nhập môn? Từ Lý nhập hay từ Sự nhập, sự - thực tu. Ba là gì? Chính là tam vô lậu học - giới, định, huệ. Bốn là gì? Chính là tứ thánh đế tập, khổ, đạo, diệt. Vậy nói đến năm là gì? Chính là ngũ căn, ngũ lực. Nói đến sáu là gì? Chính là sáu ba-la-mật, tức là lục độ! Nói đến bảy là gì? Chính là thất bồ đề phần. Nói đến tám là gì? Chính là bát chính đạo. Nói đến mười là gì? Chính là mười loại lực của Như Lai - thập lực sau khi Như Lai chứng đắc. Nói đến mười hai là gì? Chính là thập nhị nhân duyên.

Như vậy thì trí óc của các bạn sẽ dễ nhớ hơn một chút, từ một đến mười hai, ngoại trừ chín và mười một không có, các bạn đều có thể nhớ như vậy. Có thể nói, "Phật Học Tổng Thuyết" đều bao hàm trong đó. Hôm nay chúng ta nói về lục độ. Độ là độ hóa, cũng có thể nói là phà độ <span className="note-blue">[thuyền chở]</span>, ba-la-mật nghĩa là đến bờ bên kia, lục ba-la-mật, sáu phương pháp có thể đến bờ bên kia.

Thực ra trong thất bồ đề phần, lục độ, bát chính đạo, một số điều đã được bàn đến rồi, như lục độ đã bao gồm giới định huệ, trong đó có ba độ chính là tam vô lậu học, trì giới, thiền định, bát nhã, bát nhã chính là trí huệ. Lục độ này chỉ còn lại ba độ, hôm nay giảng ba điều là đủ sáu độ rồi, bởi vì trì giới, thiền định, bát nhã đã giảng qua rồi.

Trong thất bồ đề phần cũng có nhiều "giác chi", một loại giác ngộ, trong đó cũng hơi tương tự với lục độ. Như Lai thuyết pháp, một đời giáo hóa, Ngài có thể giảng như vậy, thời gian thuyết pháp của Ngài rất dài, riêng bộ "Đại Bát Nhã Kinh" Ngài đã giảng rất lâu rồi. Giảng suốt hơn hai mươi năm, cho nên có một bài kệ viết như sau: "Hoa Nghiêm hai mươi mốt ngày đầu tiên, A Hàm mười hai Phương Đẳng tám, hai mươi hai năm nói Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn nói sau cùng."

Bài kệ này nói rằng, khi Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu thuyết pháp, Ngài giảng Kinh Hoa Nghiêm trước tiên, sau đó giảng Tiểu thừa - tức là Kinh A Hàm thuộc Phật giáo nguyên thủy, tiếp đến giảng Kinh Phương Đẳng, rồi đến Kinh Đại Bát Nhã, giảng trong hai mươi hai năm, trong đó có rất nhiều kinh điển; cuối cùng giảng Kinh Pháp Hoa và Kinh Niết Bàn. Đây là bài kệ tóm tắt cả cuộc đời thuyết pháp của Đức Phật.

Hôm nay chúng ta nói về lục độ vạn hành, ai cũng biết lục độ gồm có: thứ nhất là bố thí, thứ hai là trì giới, thứ ba là nhẫn nhục, thứ tư là tinh tấn, thứ năm là thiền định, thứ sáu là bát nhã.

Sáu độ này là để đối trị, hoàn toàn đối trị mỗi một người chúng ta. Thực ra kẻ thù lớn nhất trên thế gian này là ai, mọi người đều biết rồi! Không cần tôi phải nói. Thực ra kẻ thù lớn nhất trên thế gian này chính là bản thân mình, lục độ này hoàn toàn cũng là để độ chính mình, chúng ta học Phật đều là tự độ mà! Sau khi độ được mình rồi mới độ người khác. Đều là tự giác mà! Sau khi giác ngộ rồi mới giác tha.

Bố thí là để đối trị lòng tham của chính mình. Trì giới là để đối trị sự phá giới của chính mình. Nhẫn nhục là để đối trị sân hận, phẫn nộ của chính mình. Tinh tấn là để đối trị sự lười biếng, phóng túng của chính mình. Thiền định là để đối trị sự tán loạn của chính mình. Bát nhã là để đối trị sự ngu si của chính mình, đó chính là lục độ.

### 18. Bố thí

Trước tiên chúng ta hãy nói về bố thí. Bố thí ai cũng đều rõ, có tài thí, pháp thí, vô úy thí. Thực ra về bố thí, có một câu nói rất hay: "Cái gì là của bạn?" Nhiều thiền sư rất thích hỏi câu này: "Cái gì là của bạn?" Hả? Phải trả lời đi! "Cái gì là của bạn?" (đệ tử đáp: tất cả đều là của tôi) Tất cả đều là của bạn sao? Ồ! Câu trả lời rất chuẩn, bởi vì tất cả không phải của bạn, cũng chính là tất cả đều là của bạn. Đây là câu trả lời rất chuẩn, là đã có ngộ đạo rồi.

Bởi vì người thường, bạn biết người học Phật, khi được hỏi những điều này, bạn thử nghĩ xem: "Sư phụ thường dạy chúng ta, 'không có gì là của bạn cả', không có một thứ gì là của bạn." Nhưng ngược lại mà nói, mọi thứ đều là của tôi. Đây chính là ngộ đạo rồi, bởi vì bạn đắc đạo rồi mới cảm thấy vạn vật trong thiên hạ đều hoàn toàn giống như bạn. Đồ vật của người khác chính là đồ vật của bạn! Nhưng mà bạn không thể lấy đi được!

Đúng vậy, mọi thứ đều là của bạn, khi bạn ngộ đạo, sẽ có ý niệm này sinh ra, đây cũng được tính là chính niệm, người học Phật thông thường, sư phụ dạy các bạn: "Không có gì là của bạn cả, kể cả bản thân bạn." Trước đây tôi cũng chưa hiểu được đạo lý này.

Tôi có một người bạn bác sĩ tên là Châu Di Thọ, làm việc tại Bệnh viện Khánh Thọ ở Đài Trung. Ông ấy chính là vị bác sĩ đã chữa khỏi chứng viêm ruột cho Phật Kỳ. Mỗi lần gặp tôi, ông ấy đều nói cùng một câu, và cũng thích rủ tôi đi uống bia, rồi đến quán Sushi Bar Nhật Bản ở Đài Trung, ăn thật nhiều món và uống bia.

Mỗi lần như vậy! Vừa uống bia ông ấy vừa nói: "Những gì ăn được, dùng được, mới thực sự là của mình." Ông ấy luôn nói như thế, và bảo rằng: "Nếu bạn không ăn, món này tôi ăn thì là của tôi, bạn ăn thì là của bạn." Ừm! Ông ấy đang dạy chúng ta đấy. Tôi có một sự lĩnh hội, ông ấy nói rằng chỉ có những thứ bạn ăn vào mới là của bạn, những thứ bạn sử dụng mới là của bạn, còn lại những thứ khác đều không phải của bạn.

Tất nhiên quan niệm của ông ấy như vậy cũng đã rất tốt rồi, không giống như người học Phật chúng ta nói: "Không có gì là của bạn cả." Người học Phật chúng ta nói: "Không có gì là của bạn cả." Nhưng ông ấy lại nói: "Chỉ có những thứ ăn vào mới là của bạn, những thứ bạn sử dụng mới là của bạn." Lúc đầu tôi chưa hiểu được câu nói này của ông ấy, nhưng bây giờ nghĩ lại, đó là một câu nói rất chân thật, đối với người bình thường mà nói, như vậy đã là đủ rồi.

Có rất nhiều đại gia, rất nhiều người giàu có, họ tích lũy được rất nhiều của cải trong cuộc đời. Tôi đã gặp rất nhiều người giàu có. Sư Tôn xem phong thủy cho người ta, nên đã đến rất nhiều nơi, đến rất nhiều nhà giàu có, tôi đều đã từng đến. Nhưng mà sao? Họ chẳng dùng đến số tiền đó, cũng chẳng có những hưởng thụ gì đặc biệt, thậm chí có người còn sống mức sống thấp hơn chúng ta hiện nay, mức sống vật chất còn thấp hơn nữa.

Mặc dù họ rất giàu có, là người giàu, nhưng lại có "số ăn mày": "Đại gia giàu có nhưng lại có số ăn mày", có rất nhiều đại gia như vậy. Chúng ta biết rằng, tuy bề ngoài họ có tiền, nhưng thực chất họ là một kẻ ăn mày. Những đại gia như vậy rất nhiều, rất nhiều.

Tiền không dùng thì chỉ là tờ giấy. Đạo lý là như vậy đó. Tiền không dùng thì cũng chỉ như tờ giấy. Mỗi ngày bạn chỉ nhìn vào sổ tiết kiệm ngân hàng, nếu phía sau sổ tiết kiệm ngân hàng có thêm một số 0, tâm hồn họ sẽ phấn chấn lên một chút, bay bổng lên một chút, chỉ có vậy thôi. Thử nghĩ xem! Bạn không đi dùng tiền, mà là bị tiền lừa gạt.

Vì vậy lời nói của bác sĩ Châu Di Thọ rất có lý: "Những thứ ăn vào được, dùng được, mới thực sự là của bạn." Những thứ bạn không thể ăn được, không dùng được, đều không phải của bạn, dù bạn có nhiều tiền đến đâu cũng vô ích.

Người học Phật chúng ta ngày nay khác. Người học Phật chúng ta nói rằng: "Không có gì là của bạn cả." Từ đó mà sinh ra bố thí trong lục độ. Đã không có gì là của mình, sao không đem ra cho chúng sinh sử dụng. Đó chính là bố thí. Giống như các bạn bây giờ đem tất cả cho chúng sinh sử dụng, có một số người trong các bạn vẫn không nỡ.

Rất nhiều người không nỡ, cái gọi là bố thí chính là nói về xả bỏ, nói về hành thiện, nói về làm việc thiện. Nếu bạn có thể xả bỏ, cũng là bước vào vô ngã, đây là một biểu hiện của vô ngã.

**Sự khai sáng từ việc ăn vụng cơm hộp**

Tôi nhớ hồi nhỏ, tôi có một chuyện như thế này. Khi học tiểu học tôi chạy 100 mét, các bạn cũng đã từng chạy 100 mét. Các bạn chạy bao nhiêu giây? Tam Nguyên chạy bao nhiêu giây? Anh chạy hơn 12 giây à? Vậy bây giờ anh chạy trông chẳng khác nào quả bóng lăn sao? Cũng không tệ! Chạy hơn 12 giây. Ngày xưa tôi chạy 100 mét mất 12 giây, còn bây giờ chạy bao nhiêu giây thì tôi không biết nữa! Một ngày nào đó chúng ta cũng làm một cuộc chạy 100 mét, mọi người thi xem sao.

100 mét rất nhanh thôi! Ngày xưa tôi thật sự chạy 12 giây, lúc đó tôi là người nhỏ con nhất, thấp nhất trong lớp, tôi chạy đầu tiên, chạy xong là về lớp ngay. Lúc đó mọi người đều mang cơm hộp đi học, khi còn nhỏ, bụng rất dễ đói. Ngày xưa chúng tôi thích nhất là ăn vụng cơm hộp, thầy giáo đang giảng bài trên bảng, thầy vừa quay lưng đi, chúng tôi liền lấy cơm hộp ra bên dưới múc một miếng, bỏ một miếng vào miệng; thầy vừa quay lại, chúng tôi lập tức ngậm miệng nhai.

Ngay khi vừa về đến lớp, tôi đã muốn ăn vụng cơm. Các bạn biết đấy, tất cả chúng tôi đều thích như vậy, mới đến tiết học thứ hai mà đã ăn no rồi, thực ra phải đến tiết thứ tư mới được ra chơi, vậy mà đến tiết hai đã ăn gần hết cơm rồi. Sau khi chạy xong tôi về lớp đầu tiên, vừa về đến lớp đã muốn ăn cơm hộp của mình, nhưng lúc đó tôi nhìn thấy rất nhiều cơm hộp của bạn khác để trong ngăn bàn. Tôi có một bạn học, cậu ta rất cao, hay bắt nạt tôi, tên là Chu Quốc Cường. Tôi nhớ rõ tên cậu ta, đến bây giờ tôi vẫn nhớ rõ khuôn mặt cậu ta. Tôi nghĩ: "Ừm! Xem trong hộp cơm của cậu ta có gì?" rồi mở ra xem. "Ồ! Trong này có trứng kho!" - loại có nhiều cholesterol nhất đấy. Cậu ta có trứng kho.

Tôi tự nhủ thế này, cơm hộp của mình để đến 12 giờ, tức là sau tiết thứ tư mới ăn, bây giờ trong lớp không có ai, tôi tiếc không muốn ăn phần của mình, để dành ăn sau, ăn phần của cậu ta trước. Tôi liền bỏ một miếng trứng kho vào miệng, trong hộp cơm còn có rất nhiều món ăn khác, như dưa chua ngon lành gì đó, tôi ăn sạch tất cả, rồi và thêm vài đũa cơm nữa, sau đó đặt hộp cơm lại y nguyên chỗ cũ.

Đến khi mọi người đã quay về lớp học và ngồi yên vị, lúc đó tôi rất vui, tâm trạng rất phấn khởi, bởi vì cơm của mình có thể để dành đến tiết thứ tư mới ăn mà! Đúng không? Phần của cậu ta đã bị tôi ăn mất một nửa rồi! Đến tiết thứ ba, chỉ nghe thấy một tiếng kêu thất thanh, Chu Quốc Cường kêu lên một tiếng. Nói thật lòng, khi nghe thấy tiếng kêu đó, trong lòng tôi cảm thấy rất sướng, tiếng kêu thảm thiết của cậu ta, đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ.

Nói về chuyện này, thành thật mà nói, đây chính là tâm của người chưa tu tập, chưa có tu hành. Nói chung những người chưa tu hành, họ thường làm những việc như vậy đấy. Cái của mình thì tiếc không nỡ, còn cái của người khác thì chắc chắn là xả được! Đúng không? Ai cũng chỉ vì bản thân mình thôi! Trước tiên là nghĩ cho mình, sau đó mới nghĩ đến người khác, thậm chí có khi còn chẳng đếm xỉa gì đến người khác: xâm phạm đồ của người khác trước, còn đồ của mình thì giữ chặt, đây chính là không có tâm Bồ Tát! Bồ Tát thì khác, Bồ Tát biết cách bố thí như thế nào, chúng ta người thường đều là tư lợi, chỉ có Bồ Tát là chí công vô tư, hoàn toàn thực hành hạnh Bồ Tát.

Hạnh Bồ Tát không chỉ là đem cho người khác, Ngài có thể buông xả tất cả, đó chính là điểm khác biệt. Cho nên người học Phật chúng ta không thể có tư lợi, chữ "tư" này vô cùng quan trọng. Hôm nay sau khi học Phật rồi, khi nhìn chúng sinh sẽ khác hẳn! Bởi vì vừa nhìn là biết ngay, người nào là tư, người nào là công? Người nào vì bản thân? Họ có bao nhiêu phần vì công? Bao nhiêu phần vì bản thân? Bạn có thể rất nhanh chóng, bởi vì sau khi học về bố thí, lập tức nhận ra được; tất cả các tướng của chúng sinh, tất cả nghiệp của chúng sinh, bạn đều dễ dàng nhận ra, bạn sẽ không a dua theo.

Thông thường người chưa học Phật, tôi ăn cơm hộp của bạn, rất bình thường mà! Lại còn là một việc rất vui vẻ. Dĩ nhiên lúc đó tôi thật sự rất vui! Trước đây toàn thấy tôi kêu thảm thiết, đúng không? Bây giờ tôi nghe thấy tiếng kêu thảm thiết của cậu ta. Ôi! Tâm trạng đó khác hẳn.

Nhưng hôm nay khác rồi, hôm nay bạn đã học Phật, chỉ có thể có một tấm lòng vì chúng sinh, không thể có một chút xíu nào vì bản thân. Bạn có thể tự cân nhắc, chúng ta thường xuyên cân nhắc làm những việc này, cân nhắc bản thân giữ lại bao nhiêu, dành cho chúng sinh bao nhiêu, phải ngày ngày cân nhắc như vậy mới có thể sinh khởi tâm bố thí.

**Hạnh Bồ Tát của Xá Lợi Phất**

Mọi người biết rằng cách đây sáu mươi tiểu kiếp, Ngài Xá Lợi Phất vẫn chưa gặp Phật Thích Ca Mâu Ni; trong kiếp trước của Ngài, Ngài cũng đã tu tập hạnh Bồ Tát. Tuy đây chỉ là một câu chuyện truyền miệng, một câu chuyện về tiền kiếp của Ngài đã được hư cấu hóa, nhưng chúng ta vẫn có thể kể cho mọi người nghe để hiểu thêm, có lẽ mọi người cũng đã từng nghe qua câu chuyện này.

Ngài phát tâm làm một vị Bồ Tát, muốn độ chúng sinh, Ngài muốn xả bỏ tất cả, Ngài đã phát khởi tâm nguyện như vậy. Chư Thiên trên trời biết được tâm nguyện của Ngài, biết được rất nhanh, liền đến để thử thách Ngài, hóa thành một chàng trai trẻ, khóc lóc bên đường. Xá Lợi Phất đi ngang qua, vừa thấy anh ta đang khóc, liền hỏi: "Tại sao anh khóc vậy?" Anh ta đáp: "Mẹ tôi bệnh rất nặng!" "Bà bị bệnh gì vậy? Làm sao để chữa? Có cần tiền không?" Anh ta nói: "Không phải, nhất định phải có con mắt của một người tu hành, ăn vào mới khỏi được."

Ôi! Thử thách đến ngay lập tức; vừa mới phát tâm, thử thách đã đến ngay. Ngài vốn là một người tu hành, hơn nữa phải là người trẻ, chỉ có mắt của người tu hành trẻ tuổi ăn vào mới khỏi bệnh. Xá Lợi Phất lúc đó đã phát tâm như vậy, "Được! Ta cho ngươi một con mắt, ta còn giữ lại một con." Rất nhanh chóng, động tác rất nhanh, lập tức móc một con mắt ra, đưa cho chàng trai trẻ. Chàng trai trẻ vừa nhận được con mắt, liền dậm chân tại chỗ, anh ta nói: "Ngài móc nhầm rồi, tôi cần mắt phải, ngài móc mắt trái."

Ôi! Thử thách thứ hai, cho cả hai mắt thì chẳng phải sẽ bị mù sao? Nhưng Xá Lợi Phất nghĩ rằng, đã phát tâm Bồ Tát thì phải xả bỏ hoàn toàn. Được rồi! Cho nốt, lại móc con mắt phải ra, thế là bị mù. Nhưng chàng trai trẻ nhận được con mắt, còn đưa lên mũi ngửi ngửi, anh ta nói: "Con mắt của người tu hành, sao lại thế này? Mùi khó chịu quá, tôi nghĩ ngài không phải là một hành giả chân chính, không phải là một người tu hành chân chính." Rồi ném con mắt xuống đất, lấy chân giẫm lên. Xá Lợi Phất tuy hai mắt không thể nhìn thấy, nhưng Ngài vẫn nghe thấy tiếng chàng trai trẻ giẫm đạp lên mắt của mình, tiếng lép bép như vậy.

Lúc đó Xá Lợi Phất thở dài, Ngài nói: "Hạnh Bồ Tát thật khó thực hành, quá khó! Ta nghĩ thà làm một vị A La Hán chỉ lo tu thân mình còn hơn, không làm Bồ Tát nữa." Khi tâm niệm này vừa khởi lên, chư Thiên trên trời liền cất tiếng nói với Ngài: "Xá Lợi Phất, ông cứ tiếp tục hạnh Bồ Tát của mình đi! Đây chỉ là chư Thiên đang thử thách ông, thử thách đạo tâm của ông thôi."

Tuy đây chỉ là một câu chuyện đơn giản, nhưng đã nói lên rất rõ ràng rồi. Để trở thành một vị Bồ Tát, thật quá khó! Ngay từ việc bố thí đầu tiên đã rất khó rồi. Bạn có thể xả được không? Việc xả bỏ vừa rồi, bạn có làm được không? Cho nên đây chính là một bài thử thách dành cho chúng ta.

Bố thí không phải là chuyện dễ dàng đâu, điều này đã được thể hiện rõ qua câu chuyện nhỏ này rồi. Trong thế giới này, có rất nhiều chuyện như vậy. Nếu bạn muốn làm một vị Bồ Tát, những thử thách dành cho bạn còn cao hơn núi, sâu hơn biển, cho nên điều đầu tiên, chúng ta phải hiểu được cách xả bỏ.

Ở đây có một bức thangka của Mã Cát Lạp Tôn, Ngài là vị Tổ sư nữ của phái Giác Vũ Tây Tạng, pháp xả thân chính là pháp môn chủ yếu của Ngài. Mật tông Tây Tạng có cái gọi là pháp xả thân, pháp xả thân chính là để dạy mọi người bố thí.

**Bàn về từ thiện**

Hiện nay trong số đệ tử của chúng ta, cũng đều hy vọng Sư Tôn có thể thành lập một tổ chức từ thiện, tổ chức từ thiện là để làm việc bố thí. Thực ra hiện nay rất nhiều tổ chức từ thiện đều có vấn đề, người sáng suốt như chúng ta có thể nhìn ra được. Có người xin phép Sư Tôn để thành lập một tổ chức từ thiện, tôi nói: "Anh muốn làm từ thiện gì? Anh nói cho tôi nghe quy trình của anh xem." Việc đầu tiên của anh ta, bởi vì hiện giờ anh ta thất nghiệp, cho nên đối tượng từ thiện đầu tiên của anh ta chính là bản thân; bởi vì anh ta thất nghiệp mà! Không có việc làm, không có thu nhập, cho nên anh ta lập một cơ quan từ thiện, để từ thiện cho chính mình trước. Thế thì tôi cũng làm được! Quan niệm này đều là không đúng.

Có người nói với Sư Tôn: "Sư Tôn có thể lập một tổ chức từ thiện, rất lớn, không cần phải tốn một đồng nào cả, chỉ cần đệ tử phát tâm, chúng sinh phát tâm là được rồi." Điều này cũng không đúng! Tại sao bản thân không bỏ ra một đồng nào? Danh xưng này phải gọi là: "Công ty môi giới từ thiện." Mọi người nghĩ xem, có đúng không? Anh chỉ là môi giới thôi! Anh làm từ thiện ở chỗ nào? Anh bố thí ở đâu? Anh chẳng qua chỉ là làm mai mối thôi! Ai muốn làm việc thiện, được, anh đến đây, tôi giúp anh làm, công đức này là của ai? Công đức này là của người bỏ tiền. Còn anh, anh có công đức gì?

Anh là người mở công ty môi giới, công ty làm trung gian giới thiệu này, anh không cần bỏ ra gì cả, điều này không được, cái này không thể gọi là từ thiện; từ thiện thực sự là phải bỏ công sức, còn phải đem tất cả những gì mình có ra, đó mới gọi là từ thiện.

Hiện nay nhờ có Hội Từ Thiện Từ Tế, họ làm rất tốt, làm rất xuất sắc, làm rất hiệu quả. Thế nên trong xã hội có nhiều người học theo tấm gương của họ, mọi người đều muốn mở ra. Cái này cũng là từ thiện, cái kia cũng là từ thiện, ai cũng chỉ đợi người khác đến làm từ thiện, còn bản thân thì không chịu làm.

Từ thiện là lấy của công trả về cho công, làm trung gian như vậy thì còn được. Lấy của công mà đem về tư thì thật là thảm! Đó chính là tham lam, sẽ bị đọa địa ngục. Nhiều tổ chức từ thiện đã trở thành: "Được rồi! Tôi đứng ra kêu gọi, mọi người chuyển tiền đến đây, chuyển mười đồng, tôi giữ lại bảy đồng, ba đồng làm từ thiện." Vấn đề là ở chỗ đó. "Bạn đem mười đồng đến đây, tôi bù thêm hai đồng thành mười hai đồng, rồi đem đi làm công ích." Đây mới gọi là công ích, đây mới là bố thí; người ta đưa cho bạn mười đồng, bạn thêm hai đồng thành mười hai đồng, đem đi làm công ích, đây mới gọi là từ thiện, mới gọi là bố thí.

Hiện nay trong xã hội có rất nhiều tổ chức như vậy, người ta đem mười đồng đến, tôi giữ lại bảy đồng; đó là tâm khá xấu, giữ lại ba đồng thì tâm đã tốt hơn rồi. Vì vậy có rất nhiều việc từ thiện mang danh từ thiện nhưng thực chất là tham lam. Đây không phải là bố thí! Cho nên muốn thực sự bố thí, là khi có mười đồng vào thì bỏ thêm hai đồng, đem đi làm công ích.

Trong tông phái chúng ta cũng có thể làm như vậy, cũng có thể làm từ thiện, nhưng tôi hy vọng mọi người làm với tâm như thế này, đó là tâm hoàn toàn xả bỏ, đây mới là bố thí thực sự. Không phải nói tôi không cần bỏ ra một xu nào, dù sao cũng là tiền người khác đưa đến, tôi đem xây chùa cho riêng mình, như vậy là không đúng rồi! Đây không phải là sự nghiệp công ích. Có rất nhiều việc là sự nghiệp tư ích, không phải sự nghiệp công ích, điều này đã bị hiểu sai rồi. Nhiều người nói: "Anh đưa tiền đến đây, tôi xây chùa của riêng tôi." Sai rồi! Tình huống này có vấn đề rồi. Cho nên sự nghiệp công ích mới là từ thiện thực sự, sự nghiệp tư ích thì biến thành tham lam, chỉ cách nhau một đường mỏng manh.

Bố thí rất quan trọng, "Cái gì là của bạn?" Bí quyết của bố thí nằm ở chỗ này. Chúng ta hãy suy nghĩ xem, người học Phật đều biết, không có gì là của mình cả, vậy thì mọi thứ đều là của mình; khi bạn đạt đến trạng thái hoàn toàn vô ngã, không có gì là của bạn, nhưng cũng có nghĩa là mọi thứ đều là của bạn; khi bạn thực sự có thể vô ngã, bạn đi bố thí, đi làm việc thiện, đó mới chính là từ thiện thực sự.

### 19. Trì giới và nhẫn nhục

**Trì giới**

Thứ hai trong lục độ là trì giới, chúng ta đã nói qua rồi. Trì giới chính là thực hành bồ đề, hướng về phía Phật; trì giới chính là đi theo Phật, học theo giáo pháp của Như Lai, giữ gìn giới luật của Ngài, là hướng về phía Phật, hòa trong cõi trần nhưng không quay lưng với giác ngộ.

**Nhẫn nhục**

Thứ ba, chúng ta bàn về nhẫn nhục. Về nhẫn nhục, tôi có một câu nói: "Ai đang phỉ báng bạn? Lại có ai phỉ báng bạn chứ?" Đây là cảnh giới cao nhất, bạn thường phải suy nghĩ như vậy. "Có ai đang phỉ báng tôi chứ?" Bạn sẽ nói: "Hàng xóm mắng tôi, Sư Tôn mắng tôi, vợ mắng tôi, con cái mắng tôi." Trẻ con cũng phản kháng, chúng cũng biết mắng đấy; không chỉ người trên mắng bạn, người dưới cũng mắng bạn, trên đe dưới búa, bạn trở thành "bánh mì kẹp", tiếng Nhật gọi là "san-đô-it-chi", tiếng Anh gọi là "sandwich".

Trước đây tôi học tiếng Nhật khá lâu, có một lần tôi đến Pizza Hut, tôi nói: "Give me サンドイッチ (san-đô-it-chi)." "Give me サンドイッチ" anh ta không hiểu. Tiếng Anh của người Nhật rất cứng nhắc, "san-đô-it-chi" là bánh mì kẹp.

Nếu mỗi chúng ta không biết nhẫn nhục, thì hằng ngày bạn sẽ là bánh mì kẹp, bởi vì trên thế giới này, người nói lời hay rất ít. Hãy chú ý nghe này! Người nói lời hay rất ít, người nói lời xấu thì nhiều. "Chuyện phiếm đừng bàn lỗi người", thực ra là "chuyện phiếm thích bàn lỗi người". Không ai nói mình không tốt, chỉ toàn nói người khác không tốt.

Như người ta thường nói trong tiếng Đài Loan - "Mười miệng thì chín mông", "Mười cái miệng thì chín cái mông" nghĩa là sao? Bởi vì cái mông thối, chín trong mười cái miệng là miệng thối, không phải là hôi miệng đâu, không phải bệnh nướu răng đâu, mà là nói toàn những lời khó nghe, lời khen thì ít mà lời chê thì nhiều, toàn nói chuyện thị phi của người khác; nghĩa là cứ mười người thì có đến chín người chuyên đi nói xấu người khác. Khi có nhiều chuyện thị phi phỉ báng như vậy xuất hiện cùng lúc, bạn không phải là bánh mì kẹp thì là gì?

Vì vậy người học Phật phải biết nhẫn nhục, phải biết nhẫn nại! Phải biết chịu đựng những lời sỉ nhục, tất cả đều phải nhẫn. Học điều này rất khó, như Sư Tôn đã từng dạy, phải tự hỏi: "Có ai đang phỉ báng ta chăng? Có ai đang mắng ta chăng?" Đây chính là để học được hai chữ "vô ngã".

Tôi của quá khứ ở đâu? Không còn nữa, đã qua rồi. Tôi của hiện tại ở đâu? Đang thuyết pháp tại Cầu Vồng Sơn Trang. Tôi của hiện tại này, chẳng phải sẽ trở thành quá khứ sao? Câu trả lời chắc chắn là có! Vậy thì tôi của quá khứ đã không còn, tôi của hiện tại rồi cũng sẽ trở thành quá khứ và cũng sẽ không còn nữa. Còn tôi của tương lai thì sao? Vẫn chưa đến. Vậy thì ai đang phỉ báng bạn chứ? Phải thường xuyên suy nghĩ như vậy, những lời phỉ báng đó rồi sẽ qua đi.

Bạn có biết không? Những lời phỉ báng rồi sẽ không còn, rồi sẽ biến mất, bởi vì chính bạn cũng sẽ không còn mà! Lời phỉ báng làm sao tồn tại được? Người phỉ báng bạn cũng sẽ biến mất; qua năm mươi năm, một trăm năm sau đều không còn nữa, vậy thì ai phỉ báng bạn? Phải thường xuyên suy nghĩ như vậy, nghĩ như vậy thì sẽ không tự tử. Tôi thường xuyên suy nghĩ như vậy, nếu không thì tôi đã tự tử từ lâu rồi. Phải suy nghĩ như vậy đấy!

Tôi nghĩ rằng, trước khi Lư Thắng Ngạn chưa sinh ra, ông ấy ở đâu? Không tồn tại. Bây giờ Lư Thắng Ngạn đã được sinh ra, có người mắng Lư Thắng Ngạn, vậy liệu Lư Thắng Ngạn này có trở thành không còn nữa trong tương lai không? Có, bởi vì Tần Thủy Hoàng giờ cũng không còn nữa, Khổng Tử cũng không còn nữa, Trang Tử cũng không còn nữa, Lão Tử cũng không còn nữa, ngay cả Tôn Trung Sơn cũng không còn nữa, cả Tưởng Giới Thạch cũng không còn nữa, vậy thì Lư Thắng Ngạn sớm muộn gì cũng sẽ không còn nữa! Đúng không? Vậy những người mắng ông ấy có còn không? Cũng không còn nữa, tất cả đều cùng nhau không còn nữa. Đã như vậy thì ai là người phỉ báng bạn?

Quá khứ không còn nữa, hiện tại rồi sẽ trở thành quá khứ, tương lai thì vẫn chưa đến! Tôi thường xuyên suy nghĩ như vậy, đây chính là nhẫn nhục, sẽ trở thành "nhẫn sự vô nhẫn", không cần phải nhẫn, dù sao cũng đều như nhau. Đôi khi nghĩ lại, rất cảm ơn họ, rất cảm ơn đối phương, họ làm những việc này, tôi rất khâm phục tâm ý của họ, rất tôn trọng sự cần cù chịu khó của họ, rất khâm phục tinh thần cao cả của họ. Điều này ngược lại trở thành một sự biết ơn, một sự cảm tạ. Không cần phải nhẫn, cảnh giới cao nhất của nhẫn nhục là "không cần phải nhẫn, vốn dĩ không có gì cả".

Giống như người ta nói về những bức ảnh phóng quang, nhiều lần ảnh phóng quang của Sư Tôn được công bố, người ta nói là giả, vậy có cần phải đi tranh luận với họ làm gì? Thứ nhất là tôi không có máy ảnh, tôi chưa từng chụp ảnh, tôi có chụp ảnh nhưng là chụp cho người khác, tôi không có camera, tôi không có phòng tối, cũng không phải tôi rửa phim, tôi không tự rửa ảnh; tất cả đều là đệ tử, rất nhiều đệ tử gửi đến những bức ảnh phóng quang này. Rất nhiều người nói rằng, tất cả đệ tử của ông vì muốn làm ông vui lòng nên đã làm giả những hiện tượng phóng quang này, tôi nói muốn làm tôi vui lòng, không phải một hai người, mà là hàng nghìn người, hàng nghìn đệ tử đều gửi những bức ảnh phóng quang này, làm sao có thể là giả được?

Người khác muốn nói gì là việc của họ, chúng ta nghe những lời này cũng không cần phải tức giận, bởi vì thực tế không phải chúng ta cố tình làm giả; đặc biệt là với tôi, nếu bạn cố tình làm những thứ này cho tôi, tôi cảm thấy đó là điều rất đáng xấu hổ, bởi vì Chân Phật Tông nhấn mạnh chữ "Chân". Bạn làm giả, bản thân đó là một tâm lý lừa dối, đó là phạm giới; cho nên đừng làm giả, đưa những thứ giả cho Sư Tôn là một sự lừa dối, đó là phạm giới. Tôi cho rằng đó là điều đáng xấu hổ. Vì vậy hãy để nó tự nhiên, có phóng quang thì tốt. Không có cũng không sao. Nhưng khi chúng ta nghe những điều này cũng không cần tức giận, đó là nhẫn nhục.

**Ví dụ về sự cứng đầu**

Nói tiếp về Chân Phật Mật Pháp. Tôi nhớ trước đây có một đệ tử, trong khi chúng tôi đang tu tập Chân Phật Mật Pháp, anh ta đã nói một câu: "Trong mật đàn chỉ cần tùy tiện kết thủ ấn, niệm chú là có thể thành Phật sao?" Bạn nghĩ xem, đó là lời của chính đệ tử mình nói đấy! Anh ta nói: "Thầy chỉ cần ở đó tùy tiện kết thủ ấn một chút, niệm vài câu thần chú, như vậy là có thể thành Phật sao?" Nhưng đây là tâm huyết đấy! Đây là tâm huyết tu tập hơn 20 năm của tôi, vậy mà anh ta xem qua một chút rồi nói: "Hừ! Đơn giản thế này, tôi cũng biết làm!" Có những người đọc qua "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh", sau khi đọc một lượt liền nói: "Ồ! Tôi hiểu rồi." Tất nhiên là bạn hiểu rồi, bạn đọc qua thì bạn hiểu; nhưng khi chưa đọc bạn có hiểu không? Trong đó có rất nhiều tinh tế, nhiều điều huyền diệu, là những tâm đắc tôi đã tu tập hơn 20 năm mới có được. Vậy mà bạn đọc qua một lượt là bạn hiểu được, bạn biết tu rồi, đối với bạn thì rất đơn giản, nhưng nếu không chỉ dạy cho bạn như vậy, liệu bạn có hiểu không?

Vì vậy người giang hồ có một câu nói: "Một bí quyết giang hồ, nói ra chẳng đáng tiền, không nói ra thì phải nghĩ ba năm." Ảo thuật gia lấy một vật ra, anh ta nói bên này trống không, bạn thấy không có gì! Bên kia cũng không có gì! Đúng không? Bên này không có, bên kia cũng không có! Biến ra là có liền! Ảo thuật chỉ là một bí quyết thôi, một khẩu quyết.

Khi còn nhỏ, tôi bị ảo thuật gia lừa "ngờ nghệch cứ thế mà bị lừa", tôi chạy theo ảo thuật gia đó, "Làm ơn dạy cho em với!". Anh ta hỏi: "Em muốn học gì?" Tôi nói: "Anh chỉ cần dạy cho em một thứ thôi là em mãn nguyện rồi." Tôi van nài anh ấy! Anh ta hỏi: "Em rốt cuộc muốn học gì?" Tôi nói với anh ta: "Em chỉ cần học được cách biến ra tiền là được rồi." Nếu anh ta có thể biến ra tiền thì đã không phải đi lang thang giang hồ rồi, đó chỉ là một mẹo thôi.

Những điều tôi giảng trong "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Mật giáo hoàn chỉnh" chính là những khẩu quyết về quán tưởng, thủ ấn, trì chú, toàn bộ giảng thuyết tỉ mỉ đều nói về các khẩu quyết. Người mới tiếp xúc thì nghĩ chẳng có gì, nhưng đệ tử tu học nhiều năm vừa nhìn đã biết trong đó có nhiều điều tinh diệu. 20 năm tâm huyết, vậy mà bạn chỉ nói một câu: "Tùy tiện kết thủ ấn một chút, niệm vài câu chú là có thể thành Phật sao?" Đây là lời rất tổn thương lòng người, nghe được những lời này phải nhẫn nhục, chúng ta nghe xong chỉ có thể nhẫn.

Tôi vẫn phải giải thích cho anh ta, giải thích rất lâu, rất lâu. Anh ta nói với tôi một câu: "Thành Phật để làm gì?" Cuối cùng anh ta nói với tôi: "Thành Phật để làm gì?" Tôi nói: "Vậy anh quy y để làm gì?" Anh ta nói: "Tôi thấy người ta quy y nên tôi cũng quy y thôi!" "Ồ! Thì ra anh chỉ là tùy thuận tùy hỷ!" Tôi nói: "Quả vị Phật rất tốt đấy, đó là một trạng thái rất an tường, an nhiên, là một thế giới Cực Lạc rất tốt đẹp; tâm hồn rất bình an, mọi thứ đều vô cùng viên mãn." Anh ta nói: "Tôi không đi." Hả? Anh ta không đi. "Vậy anh muốn làm gì?" "Tôi muốn làm chó." Anh ta muốn làm chó. Ôi trời ơi! Tôi gặp phải đệ tử kiểu này, tôi thật là khổ quá.

Anh ta nói muốn làm chó, bảo rằng làm chó rất tốt. Bạn thấy đấy, ở Mỹ, các siêu thị như Safeway, QFC, Uwajimaya, Larry's Market đều có bán Dog Food, thức ăn cho chó; thức ăn cho chó bày bán rất nhiều. Khi du học sinh đến, những du học sinh nghèo đến, họ nói: "Ồ! Cái này rẻ quá." Lúc đó tiếng Anh của anh ta còn chưa giỏi lắm, anh ta vừa mới đến, bạn biết không? Ôm một đống đồ hộp thức ăn chó về nhà ăn.

Ở Mỹ, chó sống rất sung sướng, được lên giường ngủ cạnh chủ! Ngủ ngon lành, mỗi ngày được chủ bảo vệ, tắm rửa, sấy lông; trời đông lạnh còn may quần áo cho mặc, được bế đi dạo khắp nơi, đi công viên tản bộ. Con người còn không được sướng như vậy. Làm chó không phải đi làm, lại có cái ăn. Anh ta nói: "Thế này tốt quá." Tôi nói: "Anh chưa gặp người Quảng Đông đấy." Đây là sự thật đấy! Thực ra cái gì cũng có mặt tốt mặt xấu của nó.

**Giữ gìn giới samaya**

Cả cuộc đời tôi đều nghiên cứu Mật pháp. Trong đời này, tôi đã hoàn toàn dấn thân, hoàn toàn hòa mình vào Mật pháp. Vì vậy khi bạn đem những điều mình có ra mà người ta vẫn chê trách, nhất định phải nhẫn nhục, phải nhẫn. Trong số đệ tử có những người như vậy, đó cũng là một cách tu nhẫn.

Ngoài ra, các bạn đừng nhìn vào địa vị tôn quý của Thượng sư mà tôi có hiện nay. À! Người sáng lập Chân Phật Tông. Ồ! Thật to lớn, một triệu rưỡi đệ tử, ai gặp cũng đảnh lễ. Tôi vẫn còn có sư phụ đấy! Có mấy vị sư phụ, họ đều đã ra đi rồi. Có nhiều sư phụ đều đã say goodbye, đã đi rồi. Các bạn không biết đâu, ngày xưa tôi từng bị sư phụ mắng rất thậm tệ. Làm gì cũng sai.

Không nói về những vị sư phụ trước đây, vị sư phụ gần đây nhất, ở Hồng Kông, là Thượng sư Thubten Dhargye. Lần này tôi đến gặp ngài, trước mặt tất cả các vị Thượng sư, tôi cũng ngồi ở đó. Sư phụ ngồi phía trên, ngài ngồi ngang hàng với tôi, nhưng ngài lót hai cái đệm, còn tôi lót một cái đệm. Ngài là sư phụ mà! Dưới mông ngài phải lót hai lớp, làm đệ tử chỉ được lót một lớp, còn các vị Thượng sư khác thì xếp hàng phía dưới tôi, mọi người đều ngồi ngay ngắn. Ngài hỏi tôi một câu, ngài nói: "Ta sẽ mắng con đấy!" Ngài nói ngài sẽ mắng tôi. Cũng phải giữ chút thể diện cho tôi chứ, đúng không? Có nhiều đệ tử ở đó như vậy, tôi là người sáng lập Chân Phật Tông mà! Là Thượng sư tôn quý, là Liên Sinh Hoạt Phật, còn là Hoa Quang Tự Tại Phật. Ngài muốn mắng tôi.

Ngài hỏi tôi: "Chúng ta là quan hệ thầy trò hay là quan hệ bạn bè?" Tôi nói: "Là quan hệ thầy trò." Trời ơi! "Quan hệ thầy trò. Rất tốt! Lần trước ta dặn con làm việc, sao lại làm thành ra thế này?" Nói ra rồi! Tôi thực sự không biết chuyện gì, thầy dặn dò tôi, tôi lại dặn dò xuống dưới, tôi có dặn lại các Thượng sư, đường chủ bên dưới. Vì thầy gọi điện đến, tôi nhận được liền, lập tức dặn xuống dưới, việc này phải xử lý ngay.

Chuyện này là sau khi làm xong, các Thượng sư và đệ tử của chúng tôi không xử lý nhanh, còn ngài thì tính rất nóng vội, không nhanh chóng hoàn thành được, chậm mất hai tháng. Trong khi đó, người khác đã hoàn thành sớm hơn khoảng một tháng, ngài đã giao cho họ làm, họ đã hoàn thành và báo cáo lại cho ngài trong vòng một tháng, còn chúng ta phải đến hai tháng sau mới báo cáo, tức là chúng ta làm chậm hơn, người ta làm nhanh hơn.

Ngài nói ngài đã không vui trong suốt mười ngày, mười ngày, ban đầu ngài định phế bỏ tôi. Phế bỏ, các bạn biết không? Như trong tiểu thuyết kiếm hiệp ấy: "Phế bỏ võ công!" Phế bỏ tôi, ngài đã cân nhắc có nên phế bỏ tôi hay không. May mắn thay, may mắn là ngài đã nằm mơ. Ngài không kể giấc mơ gì, không nói, chỉ nói là đã nằm mơ. Sau đó thì sao? Ngài nói: "Thôi được, vẫn công nhận con là đệ tử của ta." Vẫn công nhận tôi là đệ tử của ngài, nếu không thì tôi đã sớm bị ngài phế bỏ rồi, mất hết võ công rồi!

Trong vòng mười ngày, ngài đã có một giấc mơ, sư phụ đã nằm mơ. Giấc mơ này ngài không kể cho tôi! Nhưng giấc mơ này đã thay đổi ý định muốn phế bỏ tôi của ngài. Ý ngài là như thế này, có một vị Bồ Tát đến nói với ngài: "Ngài không thể phế bỏ Lư Thắng Ngạn đâu! Trong lòng cậu ấy vẫn rất tôn kính ngài đấy!" Có lẽ vị Bồ Tát đó đã "đặc biệt chỉ điểm" cho ngài! Bảo ngài đừng làm vậy, mười ngày sau ngài mới thay đổi. Nhưng ngài nghĩ, khi tôi đến gặp ngài, ngài sẽ phải dạy dỗ tôi một trận cho ra trò.

Ngài đưa một vật cho tôi, tôi dùng hai tay đón nhận, ngài hỏi tôi: "Chỉ thế thôi sao?" Không phải là mặt cười đâu! Không phải nói nhỏ nhẹ đâu, không phải đâu! "Chỉ thế thôi sao?" Phải làm gì đây? "Quỳ xuống!" Thế là ngoan ngoãn quỳ xuống. Các bạn biết không, Thượng sư tôn quý đấy! Là Liên Sinh Hoạt Phật đấy! Là người sáng lập Chân Phật Tông đấy! Là Hoa Quang Tự Tại Phật đấy! Bảo quỳ là quỳ, tôi cứ thế mà quỳ xuống. Tôi vừa quỳ xuống, may mắn thay, tôi thấy các vị Thượng sư, đệ tử, mọi người đều đứng dậy cùng quỳ xuống.

Phải hoàn toàn tâm phục khẩu phục với sư phụ của mình, không cần lý do gì cả. Bạn muốn nói lý do gì với thầy? Không có lý do nào cả, tôi chẳng có lý do gì để nói. Tôi không thể nói với thầy rằng: "Con đã giao việc xuống cho người khác rồi, con có làm gì sai đâu! Con đã giao việc cho mọi người làm rồi, đó là chuyện không thể tránh khỏi." Thực ra chẳng có lý do nào cả, không thể nói lý do, đừng nói bất kì lý do gì, tôi chẳng có lý do nào để nói cả.

Ngày xưa khi sư phụ mắng tôi, tôi chỉ có một cách, đó là quỳ xuống, sám hối, tôi chưa bao giờ nói lý do; bởi vì dù có nói lý do gì thì sư phụ cũng không nghe đâu, bất kì lý do gì sư phụ cũng không nghe đâu, sư phụ nghĩ thế nào thì là như thế.

Ngày xưa khi theo học pháp với sư phụ, thật là khổ sở, sư phụ đánh rất mạnh, một tay đánh qua đây, bạn né sang bên kia, ngài lại đưa tay kia đánh tới, đánh còn mạnh hơn. Bây giờ thì sư phụ thích mắng tôi, ngài cứ mắng tôi, ngài đã mắng tôi suốt mười năm rồi mà vẫn chưa chán, phải ngoan ngoãn chịu mắng thôi. Chỉ một câu: "Ngài là sư phụ."

Lúc đó! Nói thật, tôi có thể nói gì đây? Tôi không thể nói bất cứ điều gì, tôi không thể nói: "Này! Nếu thầy cứ mắng con như vậy, con sẽ bỏ đi đấy!" Tôi không thể nói vậy, Mật giáo là mối quan hệ một thầy một trò, Mật giáo là nói về giới samaya, là giới samaya. Giới samaya là gì? Khi quy y bạn đã phát nguyện rồi, một khi rời bỏ là đã phạm giới samaya. Bình thường thì được, nhưng Mật giáo thì không được! Giới samaya là giới luật nghiêm trọng nhất, là giới luật nghiêm trọng nhất trong Phật giáo, là một loại giới luật hoàn toàn thẳng tắp trong định giữa bản thân với chư Phật Bồ Tát và với sư phụ.

Khi ở bên sư phụ, ngài bảo quỳ là quỳ, ngài bảo mắng là mắng, ngài muốn thế nào thì phải thế ấy, tôi phải một lòng, không thể hai lòng, đối với sư phụ phải như vậy đấy. Trong lòng bạn chỉ cần nảy sinh một chút phản cảm, cảm thấy hơi không hợp với sư phụ này, thì làm sao còn là "một đối một" nữa? Cái "một" của bạn đã không còn rồi! Đã trở thành "một đối không" rồi! Bạn sẽ không nhận được lực gia trì truyền thừa nữa!

Được rồi, tôi lại lên lầu, lên tiếp, ngài viết cho tôi một chú tự bằng tiếng Tạng, ngài muốn tôi làm người truyền thừa của ngài. Đây là thử thách dành cho tôi đấy! Ngài đang thử thách tôi, trước tiên đá tôi ra, làm tổn thương tôi, xem tôi còn chịu đựng được không; trước tiên giết chết tôi, xem tôi có thể nhẫn nhịn không. Anh vẫn quay về, thế là tốt. "Ta truyền thừa cho con." Mấy vị sư phụ của tôi đều như vậy cả, học Mật giáo là thế! Phải nhẫn nhịn. Đối với sư phụ của mình phải biết nhẫn nhịn, không có lý do nào để nói cả, còn nghiêm khắc hơn cả giáo dục quân đội, đừng có nói lý do với ngài.

**Câu chuyện của Milarepa**

Ngày xưa, Đại sư Marpa đánh đá Milarepa túi bụi, bảo ngài xây nhà hình nhọn, nhà hình tam giác nhọn, rồi lại bảo xây nhà hình tròn, nhà hình vuông, sau đó lại xây một ngôi nhà kỳ dị lung tung, nhà hình bán nguyệt, xây xong lại phá. Phải nhẫn nhục biết bao! Da thịt đã trầy trụa, chân cẳng đã mỏi nhừ, nhà xây xong ngài lại bảo phá đi; đó chính là đang dạy ngài pháp môn "tức, tăng, hoài, tru".

Nhà hình nhọn chính là pháp tru <span className="note-blue">[hàng phục, trừ chướng]</span>; nhà hình vuông chính là pháp tăng ích; nhà hình tròn là pháp tiêu tai; nhà hình bán nguyệt là kính ái. Ngài đã dạy pháp cho Milarepa rồi đấy, bảo xây nhà rồi phá nhà chính là đang dạy pháp cho ngài. Làm đệ tử không biết được dụng tâm khổ cực của sư phụ nằm ở đâu, sao lại bảo con xây nhà rồi lại phá nhà? Thật vô lý! Thực ra là đang dạy pháp cho ngài, đang tiêu nghiệp cho ngài.

**Kinh nghiệm cầu pháp của Liên Sinh Hoạt Phật**

Tôi đã gặp một vị sư phụ còn nghiêm khắc hơn, vị sư phụ này mắng tôi, bắt tôi quỳ, bắt tôi bò, sau đó mới dẫn tôi đi, rồi truyền pháp cho tôi.

Mật pháp là học như thế đấy, bạn đã quy y với thầy rồi, trong Mật giáo không có chuyện rút lui, trong Hiển giáo bạn muốn đi thế nào, muốn rút lui thế nào cũng được, nhưng Mật giáo là giới samaya, rút lui là vào địa ngục Kim Cang! Không có lựa chọn thứ hai. Làm sao tôi dám rút lui? Với bao nhiêu sư phụ như vậy. Ngài Sakya Chứng Không Thượng sư này! Ngài dạy tôi cũng rất nghiêm khắc. Hòa Thượng Liễu Minh, tôi đã từng bị đánh; hiện giờ ở Hong Kong, Thượng sư Thubten Dhargye đã mắng tôi suốt mười năm. Chữ "rút lui", một nửa, một chút thôi tôi cũng không dám nói. Giới samaya đấy! Không phải nói đùa đâu.

Cho nên Mật giáo là như vậy đấy, là để dạy bạn nhẫn nhục, thầy trị bạn trước, xem bạn có tâm nhẫn nhục không, khi bạn thực sự có được, đạo tâm rất kiên cố, thầy mới truyền cho bạn chân pháp.

Khi ở bên sư phụ, ở chỗ Lama Sakya Chứng Không, tôi đã nhận được rất nhiều quán đảnh, ngài đã cho tôi rất nhiều thử thách. Ở chỗ Hòa Thượng Liễu Minh, tôi nhận rất nhiều sự sỉ nhục, không, không nên nói là sỉ nhục! Nhận rất nhiều sự quở trách, nhưng ngài đã nói một câu: "Con càng nhận nhiều quở trách, tai nạn càng nhiều, thành tựu càng lớn."

Tôi không thể giữ thể diện này, tôi bị mắng trước mặt tất cả đệ tử, tôi còn thể diện gì nữa? Tôi không quan tâm đến thể diện này, người học Phật còn thể diện gì? Ngày hôm đó trước mặt Thượng sư Thubten Dhargye, tất cả đệ tử, hơn mười vị Thượng sư và pháp sư đều có mặt, phải không? Người có mặt giơ tay. Các vị thấy đó, có nhiều người như vậy, còn những người hiện không có đây, phải không? Có mấy người không ở đây. Phía sau cũng có, có bao nhiêu Thượng sư và pháp sư có mặt. Vì cái thể diện này, khi ngài mắng tôi, khi ngài quở trách tôi, nếu tôi đứng dậy nói tôi không làm nữa, tôi bỏ đi, sẽ là phạm giới đấy! Phạm giới đấy! Bạn chưa học được nhẫn nhục, bạn còn phạm giới samaya nữa.

Khi đã quy y với thầy, bạn phải giữ chặt giới samaya của sự quy y này, dù có bị thầy đánh chết cũng là đáng đời. Hôm nay tôi giữ tâm như vậy đấy! Nếu tôi bị thầy đánh chết, tôi đáng đời thôi, bị đánh chết là thầy đang siêu độ tôi, tôi được vãng sinh, thầy đang thành tựu cho tôi, cho nên đánh chết tôi, tôi sống ở thế giới này có ích gì? Đời sau tôi sẽ trở lại, trở lại độ chúng sinh. Thầy giúp tôi giải thoát sớm, cho tôi vãng sinh về Tây phương Cực Lạc!

Ngày nay chúng ta học Phật là học ưu điểm của thầy; thầy có ưu điểm, chúng ta học ưu điểm của thầy. Sau này khi các bạn trở thành thầy của người khác, khi các bạn thu nhận đệ tử, khi các bạn làm thầy của người khác, các bạn không thể nói những cái khác không học được, chỉ học được mỗi cái cách của thầy tôi thôi, như vậy thì đệ tử dưới trướng sẽ khổ lắm.

Tuy nhiên, tôi có lòng tin vào sư phụ của mình, một khi tôi đã quy y với ngài, tôi xem ngài như Phật, ngài chính là Phật, ngài có thể sửa chữa tôi, có thể mắng tôi, có thể thành tựu cho tôi, thậm chí có thể đánh chết tôi, đó mới chính là đệ tử Mật giáo. Nếu không thì đừng quy y. Nói cho các bạn biết, nếu bạn muốn quy y Mật giáo, khi đã quy y với thầy, bạn phải hoàn toàn tin phục, tin phục một trăm phần trăm, không được có tâm ý khác, như vậy bạn mới không phạm giới samaya, không phá giới nhẫn nhục, bạn đã tu được rồi.

### 20. Tinh tấn

Chúng ta hãy nói về tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là "không tiến ắt lùi", nếu không tiến thì chắc chắn sẽ lùi; như thuyền ngược dòng, không tiến ắt lùi. Về tinh tấn, chúng ta cũng phải thường xuyên nghĩ đến câu hỏi "Có ai có thể giữ mãi được tâm ban đầu?" Có ai không? Vậy nên bạn phải nghĩ đến bản thân, tự mình phải giữ gìn tâm ban đầu của mình.

Khi đi đường, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi con đường này? Tại sao vậy?" Khi ở nhà, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đang ở căn nhà này? Mình ở đây vì điều gì?" Khi ngồi, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại ngồi ở đây?" Khi nằm, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại nằm ở đây?" Ý nghĩa của việc bảo bạn phải suy nghĩ là vậy đó, trong mọi việc, đều phải nghĩ đến tu hành.

Giống như tối nay bạn nói: "Được rồi! Hôm nay thư giãn đi! Ngày mai là thứ Bảy, ngày mai là thứ Bảy, ngày kia là Chủ nhật, cuối tuần đi chơi, nướng BBQ và đi bất cứ đâu, xem phim, muốn đi đâu cũng được." Bạn sẽ tự nghĩ. Nhưng khi bạn đến rạp chiếu phim, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi con đường này?" Khi đang nướng thịt, bạn phải tự hỏi: "Tại sao mình lại đi nướng thịt?" Khi leo núi dã ngoại bạn cũng phải suy nghĩ như vậy, đây là sự quán chiếu trong hành động.

Đôi khi bạn đi sai đường, ôi, tối thứ Sáu, vui quá, chúng ta có thể đi xem. Đi xem gì? Topless. Hả! Bạn đi xem múa thoát y, topless chính là múa thoát y, tiếng Nhật gọi là "トップレス (toppuresu)". Mẹ tôi gật đầu. Tôi thường thích đùa giỡn.

Ở đây chúng ta có hai vị Hoạt Phật, tên của họ rất gần nhau, một vị là Topless Rinpoche, một vị là Chocolate Rinpoche, tôi thích nói đùa như vậy.

Cho nên khi bạn thư giãn, khi bạn đi trên con đường đó, bạn phải nghĩ: "Hôm nay tại sao mình lại đi con đường này?" "Tại sao mình lại đi xem múa thoát y?" Đây chính là để bạn tinh tấn. Khi bạn chợt nhận ra: "Ôi! Con đường này không đúng!" "Con đường này đi ngược với đạo, không phải chính đạo, không được đi!" Thông thường, bạn đi xem một bộ phim để thư giãn thì được; nhưng đi xem múa thoát y, làm tăng thêm dục vọng, là đi ngược với đạo, không được! Đây chính là tinh tấn trong hành động.

Khi bạn nghĩ đến tinh tấn, bạn sẽ nói: "Ồ! Con đường này không thể đi được." Rồi khi bạn đi, bạn cũng phải vừa đi vừa niệm Phật. Khi dừng lại cũng vậy, quá nhàn rỗi, hoặc bất kể bạn ở đâu, bạn đều phải suy nghĩ.

Vì vậy khi đi, đứng, nằm, ngồi, bạn đều phải nghĩ đến tinh tấn, khi nằm bạn cũng có thể niệm Phật, có thể cầu xin Bổn tôn, Thượng sư gia trì, để bạn ngủ ngon, đạt được ánh sáng trong giấc ngủ, trong lúc ngủ có quang minh; trong khi nằm mơ, bạn sẽ không đi vào những giấc mơ không tốt. Cầu xin Thượng sư, Bổn tôn gia trì cho bạn. Cho nên làm bất cứ việc gì, bạn đều phải nghĩ đến tinh tấn, đây là một phương pháp tinh tấn.

**Yếu lĩnh đọc kinh**

Tinh tấn đôi khi thực sự có thể tạo ra những điều tốt đẹp, viên mãn, giống như Chân Phật Mật Pháp chính là tâm đắc mà Sư Tôn đã đạt được nhờ tinh tấn học Mật pháp.

Đôi khi khi tôi đọc kinh, đọc những kinh Phật này, tôi luôn cầm bút để ghi chú bên lề; nghĩa là, khi đọc đến chỗ vi diệu, tôi lập tức đánh dấu lại, viết ra tâm đắc của mình, rồi gạch chân những điểm quan trọng nhiều lần, đánh dấu lại. Sách nào tôi đọc qua cũng đều như vậy. Khi đọc sách của các bậc cổ đức, kinh sách của chư Bồ Tát, tôi đều đánh dấu như thế. Tôi gạch chân, viết vào đó, vừa viết vừa nghĩ: Những người viết sách này, những người viết kinh này, nếu biết trong tương lai, có một người tên Lư Thắng Ngạn đọc sách theo cách này, họ sẽ từ trong kinh bước ra và nói với tôi: "Anh đúng là tri kỷ của tôi."

Sư phụ của các bạn là như vậy đó, tôi đọc kinh rất tỉ mỉ từng quyển một, đọc từ đầu đến cuối toàn bộ như thế, còn ghi chú bên lề, không phải đọc qua rồi thôi, đều gạch lại, còn ghi tâm đắc nữa, đọc kinh phải như vậy đó. Tôi tin rằng những người viết kinh, thậm chí người tạo kinh, tất cả những người giảng kinh, những bậc cổ đức, những vị Bồ Tát, họ sẽ hiện thân trước mặt tôi, nói một câu như thế này: "Cuối cùng cũng có một người rất tỉ mỉ, đọc tác phẩm của ta rất kĩ lưỡng và còn ghi chú bên lề." Tôi tinh tấn là như vậy đó.

Vì vậy nhiều người, người bên ngoài không biết, thực ra tôi rất tinh tấn; trong tu hành, trong tu pháp, mọi người đều biết, tôi rất tinh tấn. Tôi viết sách rất tinh tấn, đã hoàn thành 105 quyển sách, bây giờ đang viết quyển 106. Mọi người chê trách Lư Thắng Ngạn, họ không biết tôi rất tinh tấn, tôi làm việc ở bàn mỗi ngày, không có ngày nào nghỉ cả. Dù những ngày này tôi thuyết pháp, sáng nào tôi cũng viết bài, chưa từng dừng lại, cho nên một người muốn có thành tựu, nhất định phải tinh tấn, phải hoàn toàn hòa nhập vào!

Các bạn nghĩ "Lư Thắng Ngạn, người ta đồn là thầy phù thủy, là kẻ lừa đảo", nhưng làm kẻ lừa đảo có dễ không? Kẻ lừa đảo thông thường lừa xong là ôm tiền chạy mất, hôm nay lừa bạn, ngày mai đã biến mất rồi. Tôi là kẻ lừa đảo mà viết được 106 quyển sách, mỗi sáng đều ngồi đó mài công viết! Trên đời này có kẻ lừa đảo nào như vậy không? Đây là dồn hết tinh thần, cả cuộc đời, có thể nói là tâm huyết và toàn bộ sinh mệnh của một đời người dành cho Phật học, cho Phật pháp, là sự dấn thân toàn tâm toàn ý, đây chính là tinh tấn, đây chính là lục độ.

Mọi người rất tinh tấn, nhiều đệ tử rất tinh tấn, tôi biết họ mỗi ngày trì chú, ôi! Trì, trì, trì, trì, trì, Thượng sư Cao giao công khóa cho họ; Thượng sư Liên Cảnh, Cao An Dân giao công khóa cho họ, "Bạn phải trì chú mấy vạn biến." "Bạn phải đại lễ bái bao nhiêu lần." Đây là công khóa mà Thượng sư Cao đã giao.

Ngoài ra, Thượng sư Liên Hoa Lệ Huệ ở Tử Liên Đường, cô ấy cũng thường xuyên giao công khóa cho tất cả đệ tử, "Bạn phải làm bao nhiêu." "Cái gì phải làm bao nhiêu, việc thiện phải làm bao nhiêu, in kinh sách bao nhiêu, làm cái gì bao nhiêu." Ôi! Đau đầu quá! Phải, mọi người đều đang tinh tấn.

Nhưng trong số đó có nhiều đệ tử không làm được như vậy, sau khi quy y xong, thỉnh thoảng đến đồng tu, tu pháp một chút rồi về nhà lại quên hết, đây gọi là lười nhác. Họ không tu pháp, xem việc tu pháp như một công việc, không xem như một niềm vui, mà xem như một công việc, xem như một gánh nặng.

"Ôi! Lúc đầu không quy y thì tốt rồi, một khi quy y rồi khổ quá! Mỗi ngày còn phải tìm thời gian, phải vào mật đàn, đến đó tu pháp một lần." "Làm sao mà được?" "Thôi! Chi bằng đi uống rượu còn hơn." Có phải không? Suy nghĩ kiểu này! Như vậy sẽ không có thành tựu đâu, tu hành như vậy sẽ không có thành tựu đâu.

Tinh tấn, chính là toàn tâm toàn ý dấn thân. Có nhiều người phát tâm rất tốt, vừa mới phát tâm ban đầu! Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến phát tâm ban đầu, "Chỉ cần giữ được tâm ban đầu, bạn sẽ thành Phật."

Có rất nhiều người khi mới bắt đầu bái Phật, nói rằng: "Con nhất định sẽ hộ trì Chân Phật Tông, phát nguyện với chư Phật Bồ Tát, con nhất định sẽ hộ trì Sư Tôn." "Con xin cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi." Phát tâm ban đầu rất tốt, "Con nhất định sẽ học Phật pháp thật tốt, cho đến hết đời này." "Con xin đời đời kiếp kiếp theo Sư Tôn." Ôi! Mới được vài năm đã bỏ đi rồi. Chưa được mấy năm đã thôi. Phát tâm ban đầu đều rất tốt, cho nên nói rằng, nếu giữ được tâm ban đầu, nhất định sẽ thành Phật. Bởi vì bạn tinh tấn mà!

Tuy nhiên, phát tâm ban đầu còn phải đi kèm với tâm dài lâu, thời gian này, tinh thần tinh tấn của phát tâm ban đầu phải kéo dài, phải xa thẳm, mới có thể thành tựu được. Cho nên phát tâm ban đầu rất dũng mãnh, nhưng đầu voi đuôi chuột. Không phải chỉ đệ tử mới như vậy, nhiều Thượng sư cũng vậy; mới đầu, ôi, tinh thần sẵn sàng vứt bỏ đầu óc, đổ máu nóng. "Sư Tôn, con hộ trì thầy, một đời một kiếp, mãi mãi đời đời kiếp kiếp theo thầy." "Con đảnh lễ thầy, con hộ trì Chân Phật Mật Pháp. Con sẽ làm thế này, làm thế kia." Nói, nói, nói. Tôi bảo: "Từ từ đã nào, để tôi quan sát thêm một thời gian! Để tôi xem thêm một thời gian nữa." Quả bóng này đã xì hơi rồi.

Phát tâm ban đầu thì không sai! Nhưng không có tâm dài lâu, đây là tật xấu của con người, là tật xấu của chúng sinh. Tôi hỏi anh ta: "Tại sao bây giờ lại thế này?" Anh ta nói: "Con đã bị bệnh rồi." Tôi hỏi: "Bệnh gì vậy?" Anh ta nói: "Bệnh nan y." Ôi! Anh ta đã mắc bệnh nan y rồi, tâm đã chết rồi, tâm ban đầu không còn nữa. Cái tâm đó! Chỉ mới phát khởi, vừa phát thì "vù", đã mất tiêu rồi. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói rất rõ ràng, giữ được tâm ban đầu, có tâm dài lâu, nhất định sẽ thành Phật. Đây chính là tinh tấn, tinh tấn này rất quan trọng, chúng ta hiểu rằng, mọi thành tựu đều phải dựa vào tinh tấn.

Vậy thứ năm là gì? Đó là thiền định, thiền định chúng ta đã nói qua hôm qua rồi. Thứ sáu là bát nhã, bát nhã chúng ta cũng đã nói qua hôm qua rồi.

Lục độ vạn hành, khi phát huy lục độ này ra, sẽ trở thành vạn hành.

Thứ nhất là bố thí, thứ hai là trì giới, thứ ba là nhẫn nhục, thứ tư là tinh tấn, thứ năm là thiền định, thứ sáu là bát nhã, đây chính là lục độ vạn hành.

Người học Phật chúng ta, khi đã hiểu được tứ diệu đế, đạt được quả vị A La Hán, rồi từ A La Hán chuyển thành Bồ Tát, đều phải dựa vào lục độ này; lục độ thuộc về việc làm của Bồ Tát Đại thừa, tư tưởng Đại thừa là điều mà chính Đức Phật đã giảng dạy trong giai đoạn giữa, nói về rất nhiều kinh điển Đại thừa. Lúc đầu và cuối cùng, đều giảng về tứ thánh đế, giai đoạn giữa Ngài có đề cập đến tư tưởng Bồ Tát Đại thừa này.

Theo sự chỉ dạy của Phật Đà mà chúng ta biết được, người học Phật, khi bạn học Phật, tuân thủ giới luật của Phật, dùng tâm Bồ Tát lục độ của Phật, hiểu được đạo lý vô thường, biết cách xuất ly, hoặc bạn làm một cư sĩ tại gia cũng có thể tu hành được.

Xuất gia và tại gia đều có diệu pháp tuyệt diệu của nó, đều có thể đạt được thành tựu như nhau. Sau khi học được lục độ, bạn sẽ trở thành Bồ Tát, từ quả vị A La Hán chuyển thành Bồ Tát, rồi tự giác giác tha, giác hành viên mãn, thành tựu Phật quả, đây là một trọng điểm của Phật pháp.

Tam vô lậu học, lục độ, hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

### 21. Thất bồ đề phần

Hôm nay là ngày thứ sáu giảng dạy "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về thất bồ đề phần và bát chính đạo.

Thực ra, khi tôi giảng về bát chính đạo trong "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", lúc nói đến chữ "đạo" trong tập khổ đạo diệt, nếu các vị lắng nghe kĩ sẽ hiểu rằng chữ đạo đó chính là nói về bát chính đạo. "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" đã được giảng xong hoàn toàn cách đây hai tuần, thời gian giảng khoảng hơn một năm. Sau này khi các vị tìm hiểu kĩ về bát chính đạo, có thể xem bài giảng "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" của tôi, trong đó có giảng về bát chính đạo.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về thất bồ đề phần. Thất bồ đề phần là gì? Đó chính là bảy loại giác, chúng ta gọi là giác chi, giống như một cột trụ vậy. Giác chính là một sự lĩnh hội, trụ cột hỗ trợ cho sự lĩnh hội, gọi là giác chi. Trong Phật pháp, thất giác chi, thất bồ đề phần nói về việc lĩnh hội bảy loại trí tuệ to lớn.

Thực ra thất bồ đề phần có ở đâu? Trong Kinh A Di Đà đã có đề cập, những người đến được Tây phương Cực Lạc vẫn đang thực hành công phu thất bồ đề phần, ở đó có hàng cây bảy báu, xung quanh có những cây báu, chim ca lăng tần già, chim cộng mạng, chúng giúp cho bạn có thể lĩnh hội thất bồ đề phần.

Thất bồ đề phần là gì? Nó bao gồm thứ nhất là trạch pháp giác chi, trạch pháp giác chi nghĩa là sự lĩnh hội về việc chọn lựa pháp. Một loại là tinh tấn giác chi, tinh tấn chúng ta đã nói qua trong lục độ rồi. Một loại là hỷ giác chi, một loại là niệm giác chi, một loại là khinh an giác chi. Rồi định giác chi chúng ta cũng đã nói qua rồi. Thứ bảy là xả giác chi, chữ "xả" trong từ "từ bi hỷ xả", nhưng mà chữ "xả" này có chút khác biệt so với chữ "xả" trong việc xả bỏ tất cả sinh mệnh để thực hành từ bi hỷ xả.

### 22. Trạch pháp giác chi

Hôm nay điều quan trọng nhất cần giảng thuộc về trạch pháp giác chi, trạch pháp giác chi vô cùng quan trọng; trạch pháp giác chi nghĩa là trong quá trình học Phật pháp, bạn không thể học hết tất cả Phật pháp, chúng ta biết rằng Phật học như biển cả mênh mông, bạn không thể nào học hết tất cả được, dù dành cả cuộc đời để học cũng không thể nào thông thạo hết Phật học, cho nên bạn cần phải trạch pháp, tức là chọn lựa Phật pháp. Do có trạch pháp giác chi, nên trong Phật pháp mới phân ra thành nhiều tông nhiều phái, điều này là bởi vì Phật pháp quá nhiều.

Có một số pháp sư chọn một bộ kinh điển, cho rằng bộ kinh điển này rất hay, bản thân học được tâm đắc, liền từ bộ kinh này sáng lập ra một tông phái, vì vậy mới diễn biến thành mười tông phái. Mười tông phái phổ biến nhất, mỗi tông phái đều có một hướng nhấn mạnh riêng, mười tông phái đó là:

Thứ nhất là Câu Xá Tông, Câu Xá Tông là giảng về vô ngã, đại nghĩa bên trong bàn luận về vô ngã.

Thứ hai là tông phái Thành Thật Tông, dựa theo Thành Thật Luận mà hình thành nên tông phái gọi là Thành Thật Tông, Thành Thật Tông giảng rằng ngã và pháp đều là không.

Trong đó có nhiều tông phái có những quan điểm lý luận trái ngược nhau. Theo như tôi được biết, như Câu Xá Tông giảng về "trung ấm thực có", nghĩa là trong Câu Xá Tông, họ cho rằng linh hồn là có thật, linh hồn này tồn tại, hiện hữu dưới dạng âm hình, có trung ấm; còn Thành Thật Tông đặc biệt nhấn mạnh không có trung ấm, không có linh hồn. Hai tông phái này rất mâu thuẫn với nhau, một bên nói có linh hồn, một bên nói không có linh hồn.

Vậy các tông phái Đại thừa giải thích về linh hồn như thế nào? Họ nói rằng "có cái có, có cái không có". Điều này rất khó để lĩnh hội, làm sao trong cùng một Phật pháp, trong Phật học, có người nói "có linh hồn", có người nói "không có linh hồn", có người nói "có cái có, có cái không có"? Làm sao mọi người có thể chấp nhận tông phái nào mới là đúng?

Ý nghĩa của Đại Thừa Tông, họ nói đối với những người đại thiện, những người tu trì thành tựu, căn bản không cần phải trải qua trung ấm, không cần qua trung ấm để thành Phật, có thể trực tiếp thành Phật. Như vậy không có trung ấm! Không có linh hồn nữa. Như tôi chẳng hạn, một ngày nào đó tôi sẽ viên tịch! Sau khi viên tịch thì sao? Trực tiếp hóa thành cầu vồng, thành Phật luôn! Không cần trải qua thủ tục linh hồn. Ý nghĩa của Đại Thừa Tông là không có linh hồn.

Còn những người làm điều đại ác cũng không có linh hồn, họ cũng không trải qua trung ấm, nghiệp chướng của họ rất nặng, thế nên một khi chết đi, cả con người họ không cần trải qua thủ tục linh hồn, trực tiếp biến thành ngạ quỷ; theo cách giảng này thì không có hiện tượng âm hình, đây là quan điểm của Đại Thừa Tông. Ba tông phái có quan điểm khác nhau, vì vậy điều này cần các bạn tự mình lĩnh hội và lựa chọn.

Vậy thì có Câu Xá Tông và Thành Thật Tông, cũng có Thiền Tông, Thiền Tông giảng về điều gì? Giảng về "kiến tính thành Phật", khi thấy được bản tính của mình thì bạn thành Phật; không giảng gì khác, hoàn toàn chỉ là khi thấy được Phật tính của mình, bạn liền thành Phật, chỉ là công phu tu tập để thấy được bản tính.

Còn Thiên Thai Tông thì sao? Tông này giảng về "nhất tâm tam quán". Tam quán là gì? Đó là "không quán, giả quán, trung quán", đó chính là tam quán; Thiên Thai Tông chuyên giảng về "nhất tâm tam quán".

Hoa Nghiêm Tông giảng về "thập huyền lục tướng", tức là mười loại huyền bí và sáu tướng. Thập huyền lục tướng này, chữ tướng ở đây là pháp tướng. Về thập huyền, sau này có cơ hội, tôi sẽ nói chuyện với mọi người về phương pháp tu trì của từng tông phái, để mọi người có thể lựa chọn.

Ngoài ra còn có Pháp Tướng Tông, Pháp Tướng Tông giảng về "vạn pháp duy thức", tức là giảng về duy thức, cũng chính là Duy Thức Tông.

Tiếp theo là Tịnh Độ Tông, hiện nay Tịnh Độ Tông là phổ biến nhất, bởi vì đây là pháp môn thuận tiện nhất, chỉ giảng về niệm Phật, nhất tâm bất loạn niệm Phật, khi niệm Phật đến mức thấy được Phật! Cũng như thấy được bản tính, cũng có thể thành Phật, đây là pháp môn giảng về niệm Phật. Cho nên Tịnh Độ Tông chuyên giảng về niệm Phật.

Ngoài ra còn có Luật Tông, Luật Tông là tông phái giảng về giới luật, lấy Tứ Phần Luật làm chủ đạo, giảng rằng trước tiên phải giữ giới, sau đó mới đạt được định, khi đã đạt được định thì sẽ có được trí huệ, đến khi công phu thiền định sâu dày, hành giả cũng sẽ thành Phật. Như vậy Luật Tông là tông phái chuyên giảng về giới luật.

Còn có Tam Luận Tông, Tam Luận Tông là tông phái giảng về ba bộ luận, đó là Trung Luận, Bách Luận và Thập Nhị Môn Luận, ba bộ luận này hợp lại gọi là Tam Luận Tông. Tam Luận Tông giảng về Không tính, giảng về tính Không, hoàn toàn giảng về tự tính vốn không.

Vừa rồi chúng ta nói về Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ Tông có "tam kinh nhất luận", ba bộ kinh đó là Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà và Vãng Sinh Luận, dựa theo ba Kinh một Luận này mà diễn biến thành Tịnh Độ Tông.

Tiếp theo là Mật Tông, hiện nay chúng ta đang tu chính là Mật Tông, Mật Tông lấy Kinh Kim Cương Đỉnh và Kinh Đại Nhật làm chủ đạo. Mật Tông là bên ngoài tu thân khẩu ý thanh tịnh, bên trong tu khí, mạch, minh điểm, tam mật hợp nhất, kiến tính thành Phật. Đây là Mật Tông, như vậy đã nói đủ mười tông.

Vậy thì bạn phải lựa chọn thôi! Có mười tông phái, xem bạn chọn thế nào? Giống như có mười cửa hàng, một dãy toàn là tiệm bán mì; có mười cửa hàng, tiệm nào cũng nói mình tốt, không có tiệm nào nói mình không tốt cả, tôi chưa từng thấy tiệm nào nói mình không tốt, tiệm nào cũng nói hàng tốt giá rẻ, hàng thật giá thật, giá cả phải chăng.

Có người thì đi theo duyên may, nhìn xem tiệm nào, mười tiệm mì ở đây, tiệm nào cũng có thể no bụng, xem bạn có duyên với tiệm nào thì vào tiệm đó. Học Phật cũng có rất nhiều đường lối! Có rất nhiều tông phái, mỗi tông phái đều nhấn mạnh tông phái của mình là số một.

Như trong Kinh Lăng Nghiêm, có hai mươi lăm vị Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi họ tu tập như thế nào? Các phương pháp họ sử dụng, có vị dùng lửa để tu chứng hỏa quang tam muội; có vị dùng nước, dùng phương pháp quán nước để chứng đắc thủy quán tam muội. Còn Bồ Tát Quan Thế Âm cuối cùng nói về nhĩ căn viên thông của Ngài, hiện nay cũng có người dùng phương pháp lắng nghe âm thanh nội tại, quán chiếu ánh sáng nội tại; đây chính là pháp nhĩ căn viên thông của Bồ Tát Quan Thế Âm trong Kinh Lăng Nghiêm, có rất nhiều phương pháp.

Thật ra khi Đức Phật còn tại thế, Ngài dạy chúng ta nhiều nhất chính là hỏa quang tam muội. Pháp tứ thánh đế, A La Hán, tứ quả A La Hán đều là hỏa quang tam muội. Còn rất nhiều vị Đại Bồ Tát khác, phương pháp tu chứng của các Ngài đều có thể thành Phật; các bạn muốn tìm đến tông phái nào thì cứ tìm đến, tông phái nào tốt, tông phái nào mình có duyên nhất, đó chính là cái gốc học Phật của chính mình, đây gọi là trạch pháp giác chi.

Các bạn phải lựa chọn! Hôm nay các bạn chọn tông phái nào? (Mọi người nói: Chân Phật Tông). Các bạn đã chọn đúng rồi. Đây chính là trạch pháp giác chi. Khi các bạn chọn Phật học Phật pháp, nhất định phải dùng con mắt của mình để nhìn để chọn lựa. Không phải là tùy tiện bịt một miếng vải lên mắt, như các bạn nói, giống như bệnh nhân bây giờ trông như gấu trúc vậy, giống gấu trúc ở Đại Lục vậy, hai mắt đều đen thui; bịt một miếng vải, giống như "Hiệp Sĩ Ong Xanh" hay hiệp sĩ gì đó, đều như vậy cả. Rồi cứ thế xông bừa, xông bừa, đụng phải tông phái nào thì vào tông phái đó, đó chính là số phận của mình. Số phận này chưa chắc đã tốt, bởi vì đó là lựa chọn mù quáng.

Cái gọi là trạch pháp giác chi là bạn dùng trí tuệ của chính mình để phán đoán, để lựa chọn pháp, đây gọi là sự lĩnh ngộ về chọn lựa pháp. Các bạn quy y sư phụ cũng vậy, các bạn phải dùng mắt mình để nhìn, dùng trí tuệ để phán đoán, đây mới chính là trạch pháp giác chi! Nếu không thì bạn chọn cái gì? Cứ xông bừa thôi. Bạn xông vào một tiệm đen, bạn sẽ biến thành bánh bao nhân thịt người.

Bạn có biết không! Trong Thủy Hử Truyện đó, họ bán cái gì? Bánh bao nhân thịt người. Bạn xông vào tiệm đen, bị giết mất, không biết đó là tiệm đen, bạn cứ tùy tiện đi vào, bạn muốn ăn chút gì đó, họ gói ra toàn bánh bao nhân thịt người. Rồi nhìn bạn béo béo, trắng trẻo mịn màng, mỡ nhiều thế này, vừa hay họ cũng đang thiếu nguyên liệu, thế là bạn bị giết mất.

Cho nên trong Phật pháp vẫn còn rất nhiều tiệm đen. Mọi người hãy chú ý một chút, đừng bước lên thuyền cướp, đừng đi vào tiệm đen. Bạn tưởng mình được ăn no, nhưng lại biến thành món ăn cho người khác. Đây chính là trạch pháp giác chi.

**Sự thù thắng của Chân Phật Tông**

Tại sao lại chọn Chân Phật Tông? Chân Phật Tông có điểm thù thắng nào? Nhất định phải nói ra. Các bạn đều chọn Chân Phật Tông, tôi nghĩ đầu óc các bạn rất tốt, trí tuệ của các bạn là vô thượng.

Có điểm thù thắng nào không? Bạn phải nói ra được! Là nước dùng ngon chăng? Là nguyên liệu thật chăng? Không phải bỏ bột ngọt, bây giờ tôi rất sợ bột ngọt. Nước dùng ngon, nguyên liệu thật, đã được tinh luyện. Nước dùng đó dùng xương gì để ninh? Là nước dùng hầm lửa nhỏ, từ từ hầm, hầm nhiều giờ, hầm ba ngày ba đêm, những thứ được hầm ra, nước dùng như vậy mới ngon.

Còn dùng những món sơn hào hải vị. Còn có màu sắc nữa! Trên còn bỏ thêm chút hành, tỏi! Còn thêm chút củ cải đỏ. Khiến bạn nhìn thấy, màu sắc đẹp, mùi vị thơm, lại ngon miệng; khiến bạn vừa no vừa đói, còn muốn ăn nữa, không để bạn ăn no ngay lập tức. No ngay lập tức thì bạn sẽ không quay lại nữa. Để bạn ăn nửa bát, rồi bạn quay lại mua tiếp, như vậy lại đãi bạn. Sắc, hương, vị đều đầy đủ cả, đó chính là điểm thù thắng.

**Căn bản Truyền thừa Thượng sư thù thắng**

Hôm nay chúng ta nói về sự thù thắng của Chân Phật Tông, đầu tiên là sự thù thắng của Căn bản Thượng sư. Đúng không? Đây là tự mình dán vàng lên mặt mình! Bây giờ tôi đã biến thành kim thân. Thực tế đúng là như vậy, quả thật là sự thật.

Bây giờ bạn đi hỏi tất cả các pháp sư, rất nhiều vị Thượng sư bên ngoài, các vị Hoạt Phật của Mật giáo! Bạn hỏi họ: "Thầy đã từng đến Tây phương Cực Lạc chưa? Thầy đã từng đi chưa?" Những vị pháp sư đó đã từng đến Tây phương Cực Lạc thế giới chưa? Họ đều không dám nói "có", rất ít người nói rằng họ đã từng đến thế giới Tây phương Cực Lạc.

Có lẽ rất ít, họ chưa từng đến đó, chỉ dựa vào những mô tả trong Kinh A Di Đà để tưởng tượng ra thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào. Con đường này họ vẫn chưa đi qua. À có, có nhiều pháp sư đã từng đến. Có chứ, nhưng không quay về. Họ là một đi không trở lại, họ không thể quay về nữa. Đúng không?

Họ không thể nói được! Họ không thể nói được thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào, có những địa danh nào? Có những xe cộ gì đang chạy? Đúng không? Có bao nhiêu người ở đó? Cõi Phật đó lớn đến mức nào? Họ không thể nói được! Phải là vị Thượng sư đã đến đó và có thể quay về, mới có thể nói về con đường tu hành này, bạn đã thực sự đi qua rồi, bạn đã thực sự trải nghiệm rồi, hôm nay quay về dẫn người khác đi, sẽ không bị lạc đường.

Đây là một đạo lý rất đơn giản, nơi bạn đã từng đến thì bạn biết đi như thế nào, thành phố đó ra sao, bạn đều biết. Hôm nay nếu bạn không biết, bạn chỉ xem "Cẩm nang Du lịch", tôi xem "Cẩm nang Du lịch" xem đi như thế nào. Tôi đã biết rồi! Ở đó có những gì, có những công trình kiến trúc gì, có những tác phẩm điêu khắc gì, có những bảo tàng gì, tất cả đều là bạn xem từ "Cẩm nang Du lịch". Đây là kém một bậc!

Cho nên vị Căn bản Thượng sư của Chân Phật Tông là "Ichiban" (tiếng Nhật: hạng nhất)! Các vị pháp sư khác cũng không tệ, nhưng các vị pháp sư khác là "Niban" (tiếng Nhật: hạng nhì). Họ chỉ dựa theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni, những gì Phật đã giảng trong Kinh A Di Đà về thế giới Tây phương Cực Lạc như thế nào. "Hoa sen to như bánh xe". Ủa! To như bánh xe? Bạn phải động não một chút. Thời Phật Đà, bánh xe mà Ngài nói là bánh xe gì? Không phải bánh xe Jeep đâu, vậy là bánh xe gì? Bạn hãy suy nghĩ xem. Kinh A Di Đà nói như vậy, đúng không? Cho nên những vị pháp sư bên ngoài kia giảng "to như bánh xe", được! Bánh xe Jeep, bánh xe bò, bánh xe ngựa, đều là bánh xe cả! Rốt cuộc to đến mức nào? Điều này phải là người đã đến đó, đã xem qua và quay về mới nói được.

Bên trong hoa sen đó có thể ngồi được bao nhiêu người? Có người nói tôi biết rồi, "một người". "Mọi người đều thấy đó, Tam Bảo Phật, mỗi người đều ngồi một đóa sen mà! Chắc chắn là một người". Không đúng! Có đóa ngồi một người, cũng có đóa ngồi cả chục người, cho nên điểm này những vị pháp sư bên ngoài kia không thể nói được. Tôi hỏi họ tòa sen ngồi được mấy người? Một đóa sen ngồi được mấy người? Họ lập tức bảo "tôi chưa từng thấy". Đương nhiên họ không trả lời được rồi! Căn bản Thượng sư đã từng đến đó, đây chính là điểm thù thắng.

Tất cả chúng ta tu tập, chứng nghiệm và chứng minh một cách thực tế như vậy về tình hình của thế giới Tây phương Cực Lạc, bạn sẽ thấy rõ ràng tường tận, sự hiểu biết này không phải đến từ sách vở. Các vị pháp sư bên ngoài hoàn toàn dựa vào sách vở, bản thân họ chưa từng đến đó, cho nên họ không có sự chứng nghiệm. Đây chính là sự thù thắng của Căn bản Thượng sư, sự thù thắng của Chân Phật Tông, điều thù thắng thứ nhất. 

**Sự thù thắng của quả vị quán đảnh**

Điều thù thắng thứ hai chính là sự thù thắng của quán đảnh. 

Các tông phái khác không có cái gọi là quán đảnh! Có, bây giờ các pháp sư Hiển giáo cũng bắt đầu quán đảnh; mọi người đều biết, họ cũng làm nước cam lộ, rồi rảy một chút! Nước của họ từ đâu ra vậy? Bây giờ rất tiện, chỉ cần lấy một cái bình đến chỗ nước máy hứng một lúc là có rồi! Các bạn về nhà quán đảnh cho con trai, quán đảnh cho cháu, các bạn chỉ dùng nước máy, dùng một vật gì đó rảy một cái, rảy, rảy, rảy, thực ra cho tiện thì mua một cây súng nước, mua một cây súng nước dài một chút, loại chứa được nhiều nước ấy. Đến một người, xoẹt! Bắn một cái, ồ! Quán đảnh.

Quán đảnh không phải như vậy! Phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ đi vào trong bình quán đảnh này, Phật trụ trong hư không, thỉnh Bổn tôn trí huệ từ hư không vào trong nước của bình này, rồi quán tưởng Bổn tôn trí huệ khác ngồi trên đỉnh đầu mình, rồi đi vào trong tâm mình, rồi tự mình biến thành Bổn tôn trí huệ, sau đó dùng nước pháp của Bổn tôn này để quán đảnh cho người khác, như vậy mới hợp với quán đảnh của Mật giáo.

Thực ra quán đảnh của Mật giáo, nhìn từ bên ngoài có vẻ rất đơn giản. Cầm nước lên rồi rảy! Thế là những vị pháp sư Hiển giáo kia vừa thấy thế liền bảo "Tốt quá! Cái này còn hay hơn tụng tam quy y của chúng ta nhiều". Rồi họ cũng làm theo, rảy, rảy như vậy, nhưng đó không phải là rảy tịnh! Quán đảnh không phải là rảy tịnh, không phải vậy. Phải quán tưởng, phải trì chú, phải hợp nhất với Bổn tôn trí huệ; phải làm tất cả cùng lúc mới hợp với nghi quỹ Mật giáo.

Nếu bạn muốn quán đảnh cho người khác, bản thân bạn trước hết phải được thọ quán đảnh, đây là một kiến thức căn bản nhất. Xin nói với mọi người, Thượng sư muốn quán đảnh cho người khác, trước khi quán đảnh pháp này, phải được Căn bản Thượng sư quán đảnh cho mình trước, sau khi được quán đảnh rồi mới có thể quán đảnh cho người khác.

Nói một cách đơn giản, vị pháp sư đó không hề có truyền thừa Mật giáo, ông ta chỉ là thỉnh thoảng trì một vài câu chú, chưa từng được ai quán đảnh cho. Vốn dĩ ông ta chỉ học Hiển giáo mà thôi! Ông ta chưa từng học Mật giáo! Ông ta cũng không có Căn bản Thượng sư Mật giáo! Việc ông ta quán đảnh cho người khác là sai lầm, bởi vì ông ta chưa từng được thọ nhận bất kì quán đảnh nào, không thể dùng thứ này để quán đảnh cho người khác.

Cho nên truyền thừa là như vậy đó, người này truyền cho người kia, rồi lại truyền tiếp cho người khác, đây gọi là "dòng pháp truyền thừa", nó phải có nguồn gốc; chứ không phải đột nhiên xuất hiện và nói "tôi quán đảnh cho bạn", nhưng chưa từng được bất kì Thượng sư nào quán đảnh cho mình mà đã đi quán đảnh cho người khác, điều này là sai lầm.

Quán đảnh này, như đã từng nói trước đây, trong Mật giáo một khi bạn được quán đảnh, bạn sẽ trở thành Pháp Vương Tử, bạn là vị Phật dự bị, nghĩa là tương lai bạn sẽ thành Phật, cho bạn quán đảnh trước, điều này biểu thị rằng hiện tại bạn là Pháp Vương Tử của Ngũ Phật, đây chính là phương tiện của quả vị, là điểm thù thắng của quán đảnh quả vị.

Có người đến hỏi thiền sư Bách Trượng: "Bách Trượng ơi! Phật là gì vậy?" Bách Trượng trả lời thế nào? Có ai đã đọc công án này chưa? "Phật là gì?" Có người đến hỏi Bách Trượng: "Phật là gì vậy?" Bách Trượng trả lời, câu trả lời của ngài rất hay, câu nói này là khai ngộ, ngài lập tức đáp: "Ông là gì vậy?" Người kia hỏi Ngài: "Phật là gì vậy?" Ngài hỏi ngược lại: "Ông là gì vậy?" "Ông là gì vậy?" Ông chính là Phật! Ông còn hỏi ta, ta còn phải hỏi ông đấy! Đúng không? Ông hỏi ta: "Phật là gì?" Ta hỏi ngược lại: "Ông là gì vậy?"

Trước đây có đệ tử hỏi tôi: "Sư Tôn ơi! Thầy có phải là Phật không?" Tôi nói: "Anh mới là Phật đó!" Đây là một câu hỏi rất đơn giản, nhưng đôi khi lại khiến con người không nghĩ ra. Mật giáo rất thẳng thắn, tôi quán đảnh cho bạn, bạn chính là Phật rồi, tuy hiện tại bạn chưa phải là Phật, nhưng bạn là Phật dự bị.

Ngày xưa chúng ta đi thi, thi đại học, đậu chưa? "Đậu mà không đậu". Chuyện gì vậy? Đậu là đậu, không đậu là không đậu, làm gì có "đậu mà không đậu"? Hỏi kĩ lại thì người đó nói: "Dự bị". Nghĩa là dự bị trúng tuyển. Kiểu như nếu có người không nhập học thì mình sẽ được chuyển thành chính thức. Cho nên các bạn đều là "dự bị", hiện tại là Phật dự bị.

"Các bạn là Phật gì vậy?" "Phật dự bị." Dự bị chính là dự phòng mà! Một khi được quán đảnh, bạn liền thành Phật dự bị. Quán đảnh thù thắng này có sự huyền diệu bên trong, nó chính là như vậy đó. Cho nên Mật giáo một khi quán đảnh cho bạn, bạn liền thành Phật dự bị, bạn không thể xem thường chính mình. Tương lai bạn nhất định sẽ thành Phật.

**Tịnh thổ thù thắng**

Những vị pháp sư thông thường này, "tịnh thổ chưa hiện", tịnh thổ của họ chưa xuất hiện, họ không biết tương lai sẽ đi về đâu. Họ chỉ nói: "Tôi niệm Phật là để về Tây phương Cực Lạc thế giới." Như vậy tương lai chắc chắn vãng sinh về Tây phương.

Trong tông phái của chúng ta, chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng, cung điện của các bạn, phòng ốc của các bạn đều đã được xây dựng xong. Đúng không? Thậm chí những thị giả của các bạn đều đang chờ đợi các bạn ở cõi trời. Đây chính là Ma Ha Song Liên Trì của chúng ta, tịnh thổ Song Liên Trì vĩ đại đã xuất hiện rồi. Tất cả đều đã được chuẩn bị sẵn sàng cho các bạn, cung điện ở cõi trời, tất cả đều đã viên mãn, đều đã xây dựng xong, chỉ đợi các bạn đến. Waiting for you! Đây chính là tịnh thổ của chúng ta. Tôi nói tịnh thổ đã hiện ra rồi, là tịnh thổ do Căn bản Thượng sư an bài, ở Ma Ha Song Liên Trì thuộc cõi Thường Tịch Quang tại Tây phương Cực Lạc thế giới; tương lai các đệ tử Chân Phật Tông đều có thể đến nơi đó, tất cả đều có sẵn, có ngay lập tức, tất cả đều đã được chuẩn bị sẵn sàng.

Thật ra các pháp sư hiện nay nói rằng: "Ôi! Các vị hãy đi đi! Các vị hãy về Tây phương Cực Lạc thế giới đi!" Vậy các vị đến đó tìm ai? Đúng không? Các bạn không có mục tiêu gì cả! Họ nói: "Tìm Phật A Di Đà." Ồ! Đúng là có Phật A Di Đà, về Tây phương Cực Lạc thế giới là không sai, nhưng các vị phải quen biết người ta chứ.

Hôm nay khi các bạn đến Tây phương Cực Lạc thế giới, tịnh thổ của các bạn ở đâu? Ở Ma Ha Song Liên Trì thuộc cõi Thường Tịch Quang. Phật A Di Đà sẽ lập tức phân phối cho các bạn, tốt! Các bạn có thể đi ngay bây giờ, Ngài biết các bạn là đệ tử Chân Phật Tông. Nếu các bạn không nói được là Ma Ha Song Liên Trì, Ngài sẽ hỏi các vị là tông phái nào? Còn phải hỏi nhiều lắm, còn phải "điều tra hộ khẩu" nữa! Hỏi các vị tu gì? Họ sẽ hỏi bạn cả ngày mà các bạn vẫn không trả lời được gì cả. "Thôi! Thôi! Các bạn hãy đến biên địa của Tây phương Cực Lạc thế giới này chờ vậy!" Cho nên tịnh thổ của Chân Phật Tông chúng ta đã hiện ra, là cảnh giới tịnh thổ hiện tiền, đây chính là điểm thù thắng của tịnh thổ.

**Mật pháp thù thắng**

Mật pháp của tông phái chúng ta, như tôi đã từng nói, Chân Phật Mật Pháp, các bạn đi tìm thử đi, không có đâu. Đã không còn nữa rồi. Trong những Phật pháp trên thế giới này, nếu các bạn muốn tìm tương tự Chân Phật Mật Pháp, các vị nói: "Ôi! Có một vị pháp sư, ông ấy cũng giảng Chân Phật Mật Pháp của chúng ta! Những gì ông ấy giảng, hoàn toàn giống với những gì Sư Tôn chúng ta giảng." Tôi nói: "Ồ! Lạ thật? Pháp sư này ở đâu nhỉ? Tôi đi tìm xem sao." Kết quả điều tra ra, thì ra ông ấy là đồ tôn của chúng ta.

Đồ tôn là gì? Chính là đệ tử của đệ tử chúng ta, lấy băng hình Chân Phật Mật Pháp của chúng ta đưa cho ông ấy xem, ông ấy lén lút học trong phòng, học rất nghiêm túc, sau này đi thuyết pháp, cũng giảng Chân Phật Mật Pháp của chúng ta. Vị pháp sư này không phải là đồ tôn thì là gì? Bây giờ ông ấy cũng kết ấn thuyết pháp nữa. Ông ấy nói: "Ôi! Tôi phải kết ấn này, ấn này hay quá." Tôi nhìn thấy, trời ơi! Sao lại thế này? Xuất hiện nhiều đồ tôn quá! Thật đấy! Hiện nay có rất nhiều pháp sư đang lén lút học Chân Phật Mật Pháp.

Bởi vì các pháp sư hiện nay khi thuyết pháp đều nhìn vào kinh điển, không phải là nhìn vào tài liệu tham khảo đâu! Họ hoàn toàn lấy kinh điển ra xem, rồi đọc xong thì cứ theo từng chữ trong kinh điển này mà giải thích, cứ giải thích rồi lại giải thích. Một ngày nọ, bạn lấy quyển sách chú giải của họ, đợi lúc họ không để ý, bạn dùng ba ngón tay nhấc lên như thế này, giả vờ không biết gì. Họ vừa lên bục sờ tìm, ôi chao, thảm rồi! Thảm quá! "Hôm nay phải giảng gì đây?" 

Nói cho bạn biết, vị pháp sư đó khi thuyết pháp, quyển sổ quý báu của ông ấy, các bạn để ý một chút, trước khi ông ấy lấy ra, bạn lấy trộm nó đi. Ông ấy vừa lên pháp tọa, mở túi ra, "Ôi trời! Tìm không thấy!" "Thảm rồi!" Không giảng được, ông ấy không thể giảng được, mặt ông ấy lập tức tái xanh. Không có quyển sổ cũ rích đó, món bảo bối mà ông ấy đã giảng hơn 40 năm rồi, không có quyển bảo bối đó thì ông ấy không thể giảng được, ông ấy không có kinh nghiệm mà! Ông ấy không thực sự thể nghiệm Phật pháp, ông ấy chỉ dựa vào sách vở mà! Cho nên khi bạn lấy đi, ông ấy chẳng còn gì, không còn gì hết.

Trước đây, tôi ngại không muốn nói, ở khoa Trắc Lượng của trường đại học chúng tôi có một giáo sư vật lý, ông ấy cũng là giáo sư của trường đại học Phùng Giáp, quyển sổ của ông ấy cầm lên toàn mùi quẩy. Quẩy, rất nhiều dầu! Có lẽ là khi ông ấy ăn sáng, ăn cháo quẩy, bánh bao, đậu nành, đã làm nhỏ giọt dầu mỡ đầy cả quyển sách. Có một lần chúng tôi lấy trộm quyển sổ đó của ông ấy, ông ấy đã không đến dạy học cả tuần, chúng tôi toàn được tự học. Tự học nghĩa là chơi đùa thôi, cuối cùng chúng tôi thấy ông ấy tội nghiệp quá, nên đã trả lại quyển sổ cho ông ấy; lúc đó tôi là trưởng khoa, tôi là trưởng khoa Địa Chất, chuyện này tôi biết rất rõ.

Tông phái của chúng ta có Thượng sư thù thắng, có quán đảnh thù thắng, có quả vị thù thắng, có tịnh thổ quang minh thù thắng, và điều quan trọng nhất là Chân Phật Mật Pháp thực sự thù thắng.

Khi học Phật, chúng ta phải học được chỗ khéo léo, chỗ vi diệu của nó. Phật học có những chỗ vi diệu, không phải học tất cả, học tất cả thì không thể nào học được. Cho nên chỉ cần chuyên tâm tu tập những chỗ vi diệu, thâm nhập kinh tạng, đi vào bên trong, không chỉ là học rộng; chúng ta biết học Phật có rộng, rộng là học nhiều, học sâu, đạt được chỗ khéo léo của nó thì sẽ thành tựu. Nói về điều này cũng giống như nói về tinh tấn vậy!

Trước đây khi học bắn súng, lúc tôi ở trong quân đội, tôi học súng trường bán tự động M1, tôi đã học qua súng tiểu liên làm mát bằng nước, học qua súng carbine, súng tiểu liên, còn có súng máy nhẹ, súng máy hạng nặng, súng cối, tôi được gọi là "xạ thủ thần kỳ". Thực ra học những thứ này chính là tinh tấn, khi bạn có thể tinh tấn, có thể tỉ mỉ nắm bắt được chỗ vi diệu của nó thì bạn sẽ thành công.

Giống như ngày xưa có một người học bắn cung, sư phụ của anh ta nói: "Con đến đây học, ta sẽ dạy con một phương pháp. Con hãy về bắt một con nhện, con nhện nhỏ nhất có thể, treo nó ở cửa sổ, mỗi ngày nhìn con nhện đó." Anh ta hỏi sư phụ phải nhìn bao lâu. Sư phụ nói: "Con nhìn ba năm." Cứ nhìn một con nhện suốt ba năm. Học bắn cung kiểu gì vậy? Bảo anh ta nhìn con nhện suốt ba năm? Nhưng anh ta thật sự rất tinh tấn nhìn con nhện đó suốt ba năm.

Bạn có biết sau ba năm thì thế nào không? Con nhện to như bánh xe, vừa nãy nói hoa sen to như bánh xe, bây giờ là nhện to như bánh xe, nhìn mãi thì cuối cùng thì con nhện to bằng bánh xe. Anh ta đến tìm sư phụ, sư phụ nói: "Con đã học được rồi." Đơn giản vậy thôi, học bắn cung là như vậy đó. Anh ta hỏi: "Vậy bước tiếp theo là gì?" "Bước tiếp theo con cầm tên bắn vào con nhện đó là được." Anh ta về nhà cầm tên nhìn con nhện, ồ! Con nhện to như bánh xe, anh ta bắn một phát, ôi! Thật sự trúng ngay bụng con nhện; mũi tên đôi khi còn to hơn cả con nhện, vậy mà lại có thể bắn trúng con nhện nhỏ xíu như vậy, đây chính là "tinh thần chuyên nhất" đấy! Khi bạn chuyên tâm vào một việc thì sẽ đi rất sâu, có thể nắm được chỗ vi diệu của nó.

Trước đây tôi học bắn súng như thế nào? Khi học bắn súng, trước tiên phải điều chỉnh đường ngắm, bởi vì mỗi người có tính cách khác nhau, khẩu súng cũng khác nhau, cách điều chỉnh súng cũng khác nhau. Đường ngắm và ống ngắm của bạn, mỗi người có thói quen khác nhau, vì vậy việc đầu tiên là ngắm một điểm, sau đó lần thứ hai ngắm lại điểm đó, bạn sẽ thấy có sự chênh lệch, lúc đó bạn điều chỉnh đường ngắm theo độ chênh lệch cho đến khi trùng khớp, đó chính là cách điều chỉnh đường ngắm.

Mỗi khẩu súng, vì mỗi người có cách nhìn khác nhau, nên đường ngắm và ống ngắm đều sẽ khác nhau, khi bạn đã quen với đường ngắm do chính mình điều chỉnh, bắn theo thói quen của mình thì mới chuẩn xác, đây là một điểm tinh tế. Dùng súng của người khác thì bạn sẽ bắn không chuẩn, dùng khẩu súng mà bạn đã quen thì bạn sẽ bắn chuẩn, bởi vì bạn đã điều chỉnh đường ngắm đó, đây là một bí quyết.

Bí quyết thứ hai, khi bắn súng, súng phải được giữ cố định, không được rung lắc. Còn về đường ngắm, phải ngắm hơi thấp dưới vòng tròn một chút, bởi vì khi bạn bóp cò, súng sẽ có một lực bật lên trên, khi bật lên sẽ vừa khớp trúng tâm. Khi tôi ngắm, tôi bắt đầu từ dưới, rồi từ từ nâng lên, nâng lên, đến khi ngắm được điểm phía dưới thì mới bóp cò, khi bóp cò, khẩu súng hơi bật lên một chút là vừa khớp bắn trúng điểm giữa.

Nó có bí quyết đấy, và bạn phải cầm súng thật chắc chắn, giống như tư thế cầm súng phải thật vững vàng. Ngoài ra còn một điểm nữa, tay phải duỗi thẳng, phải duỗi thẳng tay, nếu là súng M1 thông thường, phải điều chỉnh dây đeo, phải xoay vòng, siết chặt, và phải cân bằng, phải giữ cân bằng; bên này là cân bằng, bên kia là điểm tựa hình tam giác, làm như vậy đấy.

Khi bóp cò súng, nó cũng có cả một nghệ thuật, không phải kiểu "ồ, tôi sắp bắn đây"; nếu bạn nghĩ "tôi sắp bắn rồi" thì sẽ không chuẩn, bởi vì khi bạn sắp bóp cò, tim sẽ đập nhanh hơn, hơi thở sẽ gấp gáp, lúc này khẩu súng sẽ di chuyển, sẽ bật lên trên. Khi bóp cò, bạn phải bóp trong vô thức, nghĩa là khi bạn đang tập trung cao độ, bạn bóp cò trong vô thức; khi hơi thở của bạn ổn định nhất, lúc đó bóp cò mới chuẩn được. Tất cả những điều này đều có chỗ vi diệu của nó!

Giờ tôi nói mãi như thế này giống như biến thành huấn luyện viên quân sự rồi, không phải đang giảng Phật pháp, nhưng thực ra điều này có liên quan đến Phật pháp đấy! Các bạn đừng tưởng Sư Tôn đang dạy các bạn sát sinh, không phải vậy, tôi đang dạy các bạn rằng bất cứ việc gì cũng đều có chỗ vi diệu của nó, chỉ cần nắm được chỗ vi diệu đó, bạn sẽ trăm phát trăm trúng, trăm trận trăm thắng, bạn sẽ đạt được thành tựu.

Nó có nguyên lý về sự cân bằng, có quy luật về sự cân bằng, có quy luật về việc bật lên. Khi bóp cò, súng sẽ bật lên và bắn vào điểm giữa. Bạn phải đặt đường ngắm ở phía dưới, rồi trong vô thức, khi hơi thở đã ổn định, thậm chí bạn không cảm thấy mình đang bóp cò, bạn bóp cò trong tiềm thức chứ không phải cố ý bóp cò. Nếu bạn cố ý bóp cò thì sẽ không chuẩn, chính là trong vô thức bạn bóp cò thì mới bắn trúng.

Trong Chân Phật Mật Pháp có rất nhiều điều vi diệu bên trong, đó là kho báu! Là kho báu chân chính ở bên trong. Bạn hãy xem kĩ những đoạn video đó, những điều bên trong hoàn toàn là tinh hoa, đã được tinh luyện, đã được rèn giũa nghìn lần, đây là điều mà các pháp sư thông thường không có. Đây chính là trạch pháp giác chi đó!

### 23. Tinh tấn giác chi

Bây giờ chúng ta nói về tinh tấn giác chi, nó cũng giống như tập bắn cung vậy, đó là một dạng tinh tấn giác chi, tôi tập vẽ tranh cũng là một dạng tinh tấn giác chi.

Khi tôi tập vẽ tranh, tôi thường xuyên đi xem tranh, đứng trước bức tranh, cứ nhìn bức tranh đó, nhìn mãi, quan sát nét bút của nó, xem thần thái của nó ở đâu, chỗ nào có thần, điểm nhấn của nó ở đâu. Đôi khi chúng ta tùy ý lấy một vật, chấm một nét lên, cái chấm đó liền tạo ra hương vị của nó. Chỉ một nét bút tùy ý, một nét vẽ như thế, đã vẽ ra được hương vị đó, thần thái đã ở ngay đó.

Vì vậy khi bạn tinh tấn, bạn phải thường xuyên dụng tâm. Đã học vẽ thì phải đi xem tranh, xem những bức tranh đó, rồi bản thân phải động tay, tâm cũng phải đến; tâm đến, ý đến, tay đến, thì những gì bạn vẽ ra mới có thần. Học bất cứ điều gì, đừng làm qua loa, học Phật pháp cũng vậy, khi bạn đã đến được tất cả, bạn nhất định sẽ có thành tựu, đây chính là tinh tấn giác chi; tinh tấn giác chi tức là nỗ lực tinh tấn, rất chăm chỉ học tập.

### 24. Hỷ giác chi

Bây giờ nói về hỷ giác chi.

Nói chung, giải thích về hỷ giác chi chỉ đơn giản là khi trong tâm bạn đạt được Phật pháp tốt đẹp như vậy, tâm bạn sẽ sinh ra hoan hỷ, bạn duy trì sự hoan hỷ đó, đó chính là hỷ giác chi. Điều này nghe thì rất dễ nói, tất nhiên bạn sẽ cho rằng Phật pháp rất tốt. Thật vậy! Sau khi nhìn thấy Phật pháp, bạn sẽ cảm thấy: "Ôi! Trên thế gian này còn có gì quan trọng hơn Phật học không? Phật học đương nhiên là quan trọng nhất, tu hành đương nhiên là quan trọng nhất." Nhưng khi bạn chưa đạt được sự vi diệu của Phật pháp, bạn sẽ không sinh ra tâm hoan hỷ sâu sắc; chỉ khi bạn đạt được pháp vị vi diệu, bạn mới có tâm hoan hỷ, mới vui thích ngồi thiền.

Tôi biết có nhiều đệ tử đôi khi, Sư Tôn dạy về việc tu tập mỗi ngày một lần, họ thực sự không tìm ra được thời gian để tu trong ngày, ngay cả khi có thời gian thì cũng lười không muốn vào tu. "Phim truyền hình này đang hay quá!" Cứ đúng lúc phim hay thì cũng lười không muốn vào tu. Tu tập mỗi ngày một lần trở thành gánh nặng! "Ôi! Thật khổ quá, Sư Tôn bảo chúng ta phải tu tập mỗi ngày một lần, thật là khổ sở." Nhưng mới bắt đầu vài ngày đầu thì còn cố gắng được, vài ngày không sao, nhưng sau đó thì sao? Không còn nữa. Đó là vì bạn chưa đạt được pháp vị nên mới như vậy. Nếu bạn đã đạt được pháp vị rồi, bạn sẽ đạt được hỷ giác chi, cảm giác hoan hỷ thấu hiểu sẽ tự nhiên xuất hiện.

Như tôi chẳng hạn, nếu một ngày không tu pháp, thực ra tôi ngày nào cũng tu pháp, giờ giờ phút phút đều tu pháp, không phải nhất định phải cố định vào một thời điểm nào đó mới tu pháp, không phải vậy. Bạn sẽ có một cảm giác, cảm giác đó là pháp hỷ vô cùng, giống như bây giờ tôi đang thuyết pháp ở đây, tôi cảm thấy rất hoan hỷ, tôi không nghĩ rằng: "Ah! Đây là công việc của tôi, tôi mệt quá." Thực ra khi tôi đang thuyết pháp ở đây, tôi đã đang vận khí, luồng khí đó đang luân chuyển trong cơ thể, đang vận hành. Và trong quá trình vận khí đó, sẽ sinh ra một cảm giác rất thư thái, đó chính là pháp vị.

Khi bạn vào đàn thành tu pháp, bạn sẽ đạt được sự kiên cố, dòng pháp lưu đó sẽ quán đảnh cho bạn, toàn thân bạn tràn đầy pháp lưu thanh tịnh, rất kiên cố và vô cùng rõ ràng, vừa kiên cố vừa rõ ràng, có một loại lực lượng, một sức mạnh sinh ra, cảm giác đó vô cùng thư thái, cũng chính là vô cùng hỷ lạc; khi bạn đạt được loại hỷ giác này, bạn sẽ rất thích thú tu pháp.

Các bạn nhất định phải tu để đạt được điều này, khi pháp lưu quán đảnh cho bạn, bạn cảm thấy rất nhẹ nhàng, giống như đang... như thế nào nhỉ? Đung đưa trên xích đu vậy. Cách giải thích này không được hay lắm. Đung đưa trên xích đu... Có cách giải thích nào hay hơn không nhỉ? Mắt đang ăn kem, cũng không giống. Linh hồn ngồi ghế sofa, cũng không giống. Ôi! Không có cách nào giải thích được. Không thể diễn tả!

Dù sao thì khí của toàn thân bạn cứ luân chuyển, vận hành mà cảm thấy vô cùng thoải mái, đây chính là hỷ giác chi, chính là pháp vị.

Trong Mật giáo có cái gọi là "tứ hỷ", thực ra nói đến chính là pháp vị, thiên đình thủy của bạn, hoa sen nghìn cánh ở Mi tâm luân, Phật gia Mật giáo gọi là "bồ đề tâm nguyệt dịch", Đạo gia gọi là "thiên đình thủy", nước này nhỏ xuống, ồ, nhỏ xuống, khi đi qua khí mạch toàn thân, sinh ra một loại hỷ lạc, đây chính là pháp vị, cho nên "tứ hỷ" cũng có thể nói chính là pháp vị.

Thiền tông thông thường cũng có loại pháp vị này, trong công án Thiền tông có rất nhiều loại pháp vị như vậy. Như Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn nói với Lục Tổ: "Ngươi từ đâu đến?" "Con từ Lĩnh Nam đến." "Lĩnh Nam sao lại có người tài có tri thức cao có thể thành Phật như vậy?" "Người có phân Nam Bắc, Phật tính không có phân Nam Bắc." Đây chính là pháp vị. Sau khi Lục Tổ đạt được điều này, Ngài cũng rất thích hỏi người khác: "Ngươi từ đâu đến?" Mỗi lần đệ tử đến chỗ Ngài, "Ngươi từ đâu đến?", đệ tử phải trả lời, để xem ngươi có pháp vị hay không.

Bây giờ tôi hỏi mọi người: "Bạn từ đâu đến?" "Ồ! Từ Đài Loan đến." "Con không trả lời được câu hỏi của thầy." Phải trả lời: "Từ gần đây đến." Chữ "gần" này, pháp vị nằm ở chữ "gần" này. Rõ ràng bạn từ rất xa đến, từ Đài Loan đến, tại sao bạn lại nói "từ gần đây đến"? Tôi biết bạn từ Đài Loan đến, nhưng khi bạn trả lời tôi, lại nói "từ gần đây đến." Điều này không đúng! Nhưng nghĩ lại, ồ, đã lĩnh ngộ, điều này có pháp vị.

Bởi vì điều gì là gần gũi nhất với bạn? Phật tính gần gũi nhất với tôi, tôi chính là Phật mà! Phật tính và tôi là một, đương nhiên là từ nơi gần nhất đến! Điều này thể hiện bạn đã hiểu được Phật tính, Phật tính luôn ở cùng với bạn, "tôi từ gần đây đến" thể hiện tôi đã hiểu được tính. Tâm à, kiến tính, tôi từ trong tính mà đến, chính là từ trong tâm tôi mà đến, là gần nhất. Câu trả lời này được 90 điểm, có pháp vị, được rồi.

Rồi Ngài lại hỏi, hỏi vị đệ tử thứ hai: "Ngươi từ đâu đến?" (Có đệ tử đáp: "Từ hư không đến.") Từ hư không đến ư? Xa quá! Hư không rộng lớn vô biên! Ngươi bảo ta làm sao mà nghĩ được? Câu trả lời của ngươi quá rộng lớn vô biên, ta không thể lĩnh hội được. Vị đệ tử này trả lời: "Con không từ đâu đến." Câu này mới có pháp vị, Lục Tổ hỏi: "Ngươi từ đâu đến?" "Con không từ đâu đến." Câu này có pháp vị, thể hiện người ấy không còn phân biệt với Phật tính.

Cái "ngã" này! "Đại ngã" và "tiểu ngã" là một, ta là người kiến tính, ta đến đâu thì Phật tính đến đó! Ta vốn không từ đâu đến cả! Lục Tổ vừa nghe, "Hay! Người này được! Người này đã đạt được sự truyền thừa của ta." Rồi lại có người được hỏi, Lục Tổ thường hay hỏi câu này với nhiều đệ tử. "Ngươi từ đâu đến?" "Đến và đi với con đều như nhau." Ồ! Người này cũng kiến tính, đây chính là "không đến không đi"! Phải không? Không đến không đi, đây chẳng phải là Như Lai sao? Đây chính là Phật, đây chính là lời kiến tính.

Thiền tông của họ là như vậy đấy, trong vấn đáp đối đáp mà đạt được pháp vị, ta hỏi ngươi đáp. Ta nghĩ một chút, ồ! Có pháp vị, ngươi liền đạt được hỷ. Ôi! Hỷ giác chi, đạt được pháp hỷ, lập tức có thể lĩnh ngộ được Phật tính, kiến tính thành Phật. Trong những vấn đáp này, có pháp vị, có ngộ tính; họ từ trong đó đạt được pháp hỷ, đạt được lĩnh ngộ và khai ngộ, cho nên phương pháp của Thiền tông rất đặc biệt.

Cho nên hỷ giác chi này trong Mật giáo mà nói, là rất rõ ràng, không phải từ ngôn ngữ. Khai thông trung mạch, bạn đạt được tịnh quang; khai thông ngũ luân, bạn liền thông ngũ kim cang. Tâm luân vừa mở, lập tức đạt được Báo thân Phật; Hầu luân vừa mở, Ứng thân Phật liền đạt được; Mi tâm luân vừa mở, Pháp thân Phật bạn liền đạt được. Ít nhất là, khi bạn ở trong đàn thành tu pháp, bạn đạt được kiên cố rõ ràng, vô cùng kiên cố, vô cùng rõ ràng.

Ngày xưa có một vị Tổ sư Mật giáo, Ngài tu đến cảnh giới "vách Đông đánh vách Tây", thế nào gọi là "vách Đông đánh vách Tây"? Khi Ngài ngồi thiền, nhìn thấy cái này..., chúng ta biết, bên kia là phía Đông, bên này là phía Tây, Seattle này là phía Tây, Spokane này là phía Đông, vách Đông đánh vách Tây; chính là chư Phật Tổ ở đây đều đánh qua bên kia, đánh đến chỗ Liên Hoa Đồng Tử. Vốn dĩ là có khoảng cách, nhưng khi bạn ngồi thiền ở đây, phát hiện họ hòa hợp làm một. Đây là cảnh giới gì? Sự hòa hợp làm một này, chính là không còn không gian nữa; không gian không còn, thân thể của chính bạn cũng không còn. "Vách Đông đánh vách Tây", vách Đông và vách Tây hợp làm một, trở thành "nhất vị", một mùi vị, biểu thị hiện tượng bản thân bạn với Phật tính, hoàn toàn hòa hợp làm một, sẽ sinh ra như vậy.

Cho nên phải hiểu những điều này! Bạn phải biết cách hiểu thế nào, thế nào gọi là "vách Đông đánh vách Tây"? Vách tường phía Đông làm sao có thể đánh đến vách tường phía Tây? Đó chính là biểu thị "nhất vị", là tiểu ngã của bạn đã hòa hợp với Phật tính, không còn không gian nữa, đây đều là hỷ giác chi, là hiện tượng đạt được pháp hỷ.

### 25. Niệm giác chi và khinh an giác chi

Vậy niệm giác chi là gì? Chính là chỉ-quán.

Ngoài ra còn có khinh an giác chi, khinh an giác chi cần phải nói một chút, những người học Phật chúng ta, tâm sẽ trong sáng ý sẽ rõ ràng. Tâm giống như nước vậy, rất trong suốt, nhìn thấy rất rõ ràng, ý niệm rất thông thoáng. Khi học Phật, nghìn vạn lần đừng càng học càng đi vào ngõ cụt, ngày nào cũng buồn bã như vậy, tâm trạng rất u uất, không thể mở được nút thắt trong lòng.

Tâm trong ý sáng, tư duy phải thông suốt; dòng suy nghĩ của bạn phải rất thông suốt, rất rõ ràng và trong sáng. Ba mạch và bảy luân xa trong cơ thể bạn đều được khai thông, học Phật phải học đến mức độ này, đây mới chính là khinh an giác chi, bạn không thể lúc nào cũng u uất, u uất chính là đã trói buộc tâm bạn lại.

Ngày xưa có một người đi hỏi một vị pháp sư, anh ta nói rằng mình rất phiền não, rất không vui, cảm thấy bản thân rất u uất, vị pháp sư chỉ trả lời một câu: "Ai trói buộc ngươi vậy?" Hôm nay mọi người hãy nhớ câu nói này: "Ai trói buộc bạn vậy?" (Đệ tử đáp: "Chính mình"). Đúng rồi! Đều là tự mình trói buộc chính mình, thực ra chẳng có ai trói buộc bạn cả! Hai chân bạn vẫn tốt đấy thôi! Thân thể bạn vẫn rất tự do đấy thôi! Ai trói buộc bạn chứ?

Hôm nay tại sao bạn không vui, ai trói buộc bạn, chẳng có ai trói buộc bạn cả! Thực ra bạn có thể vui vẻ mà, bạn có thể không u uất mà. Tại sao bạn phải u uất chứ? Tại sao không vui vẻ đi? Bạn là tự do mà! Hôm nay chúng ta là người học Phật, học để làm người tự do, mọi người đều tự do cả, chẳng có ai đến trói buộc chúng ta, chúng ta đều đạt được khinh an, bạn phải luôn luôn học Phật trong trạng thái khinh an này.

### 26. Định giác chi và xả giác chi

Định giác chi chính là nhất tâm bất loạn, trong Hiển giáo gọi là nhất tâm bất loạn, trong Mật giáo gọi là thiền định, nhập Tam ma địa, thành Phật. Ồ! Dùng ý thức cao nhất để đạt được Phật tính, Không tính, rồi thành tựu, đây chính là định giác chi.

Xả giác chi là gì? Theo lời Phật dạy, xả giác chi là như thế này, trong "Kinh Kim Cang", Phật Đà từng dạy rằng: "Pháp ta nói ra, ví như chiếc bè, pháp còn phải bỏ, huống chi không phải là pháp." Ý nghĩa câu này là nói, Phật pháp cũng giống như một chiếc thuyền vậy, chỉ cần bạn đã đến được bờ bên kia thì có thể buông bỏ chiếc thuyền này, không cần nữa, đây chính là xả giác chi; nghĩa là trong quá trình tu hành của các bạn, có những pháp cần phải xả bỏ, có những pháp không thể xả bỏ, điều này cần phải dùng trí tuệ của chính mình để lựa chọn.

Vì vậy, để cầu được gia trì, pháp tương ứng Thượng sư là không thể xả bỏ. Để đạt được thành tựu một Bổn tôn này, pháp Bổn tôn là không thể xả bỏ. Để đạt được thành tựu Yết Ma do Không hành Hộ pháp ban cho bạn, nghĩa là, bạn cần đạt được thành tựu sự nghiệp thông thường, thì pháp Yết Ma là không thể xả bỏ. Vậy những pháp khác có thể xả bỏ hay không? Bạn phải dùng trí tuệ của chính mình, bởi vì sau khi bạn đạt được tương ứng trong một phần nào đó, cái nào cần tăng thêm, cái nào cần giảm bớt, pháp nào cần tăng thêm, pháp nào cần phải xả bỏ, bạn phải tự mình biết cách lựa chọn. Đây gọi là xả giác chi.

Cái gọi là xả giác chi có cách giảng sâu hơn một chút, nghĩa là trong quá trình tu hành của bạn, có lúc sau khi bạn đã tương ứng với một pháp, muốn tiến vào tầng thứ hai sâu hơn, nhưng lại không buông bỏ được pháp thứ nhất. Giống như khi bạn tu Tứ gia hành, bạn tu đến mức rất có pháp vị, thực sự tương ứng rồi, bạn vẫn cứ muốn tu Tứ gia hành, không muốn tu những pháp khác. Vậy thì phải dùng trí tuệ để lựa chọn, bạn có nên tiến thêm một bước nữa không? Còn những pháp khác phải thích ứng như thế nào? Trong những pháp mới tu của bạn, giữa pháp và pháp phải có giữ, phải có bỏ, phải có tăng thêm, phải có giảm bớt. Nhất thiết phải hoàn toàn dùng trí tuệ của bạn để lựa chọn. Cho nên Như Lai nói "Pháp ta nói ra, ví như chiếc bè, pháp còn phải bỏ, huống chi không phải là pháp."

**Giới là sống động**

Ở đây chúng ta nói về vấn đề giới, có rất nhiều giới luật, khi mới bắt đầu chúng ta đều phải tuân thủ những giới luật này, phải giữ tất cả; nhưng giới cũng là linh hoạt, giới không phải là chết cứng, việc bạn vận dụng những giới pháp này như thế nào, điểm này rất quan trọng. Cho nên những điều này đều là trí tuệ vô thượng, đều phải linh hoạt vận dụng, tuyệt đối không phải dạy bạn giữ giới một cách cứng nhắc.

Có người nói rằng: "Không sát sinh." Được rồi! Không sát sinh. Không sai! Bạn cứ giữ như vậy. "Tôi tuyệt đối không thể sát sinh, tôi ngay cả một con kiến cũng không giết." Hôm nay tôi thấy trong phòng mình có một con ong, tôi đang nghĩ: "Tôi có nên giết nó không?" Không giết nó, lát nữa tôi đang viết văn mà nó bay đến chích tôi một cái; hôm nay tôi đang thuyết pháp có quay phim đấy! Tôi sưng một bên mặt thế này. Ừm! Suy nghĩ rất lâu rồi mở cửa sổ, đuổi nó ra ngoài, tôi cũng dùng trí tuệ vô thượng của mình để phán đoán.

Giết nó ngay lập tức thì rất dễ! Nhưng không giết nó, nó sẽ gây phiền phức cho tôi, phải không? Nó sẽ chích tôi một cái, rồi đột nhiên vào ngày thuyết pháp thứ sáu lại sưng một cục, môi bị chích một cái, người ta sẽ nói: "Ủa? Sư Tôn có vấn đề gì vậy? Môi sưng một cục, không biết bị ai cắn vậy?" (mọi người cười) Những chuyện oan uổng như vậy sẽ xảy ra, phải không? Đôi khi cũng phải để ý, suy nghĩ rất lâu, cuối cùng vẫn mở cửa sổ ra, rồi đuổi nó ra ngoài. Việc gì cũng phải lựa chọn như vậy.

Về việc không sát sinh, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng gặp phải! Trên một con thuyền, có tên cướp muốn giết người, muốn giết năm trăm thương nhân, Đức Phật vì cứu năm trăm thương nhân này, Ngài đã giết chết tên cướp; Ngài vì cứu năm trăm người mà giết tên cướp đó. Trong "Bản Sinh Kinh" của Phật có đoạn chuyện này, mọi người đều biết. Phật Đà có từng giết người không? Có! Ngài đã phạm giới sát sinh, Ngài vì cứu năm trăm người mà giết chết tên cướp.

Điều này cần phải dùng trí tuệ để phán đoán, giả sử bạn nói "Tôi không sát sinh", khi tên cướp đang giết người, bạn nói "Tôi không sát sinh, anh cứ giết đi." Như vậy là không đúng rồi. Bạn có khả năng ngăn cản tên cướp giết người, trong hoàn cảnh đó, bạn phải lập tức phán đoán "nên giết hay không nên giết". Vì cứu năm trăm người mà Phật Đà cũng phải sát sinh; cho nên giới sát sinh không phải là chết cứng, tuyệt đối không phải là chết cứng. Các bạn cho rằng nó là chết cứng, thực ra nó là sống động, điều này là sống động.

Giống như không uống rượu, bạn cứ khư khư giữ không uống rượu, người ta nấu một tô gà nấu dầu mè; gà nấu dầu mè có cho rượu vào, bạn nói: "Tôi không uống rượu, tôi không thể ăn gà nấu dầu mè." Mọi người đều ăn, chỉ mình bạn không ăn! "Kỳ quặc!" "Người lập dị!" Cái người lập dị này, bạn phải biết "đồng sự" chứ! Phật không từng nói sao? Trong tứ nhiếp pháp có một pháp là đồng sự, cùng làm một việc; người ta đang ăn gà nấu dầu mè, mọi người rất vui vẻ, một mình bạn không ăn, cũng đừng biểu lộ sự ghét bỏ khi người khác ăn chứ! Bạn giữ giới không uống rượu, bạn cũng không thể như vậy được! Còn khóc nữa chứ! 

Thực ra bạn phải đồng sự, vì muốn độ họ nên cùng ăn với họ, sau đó giảng một chút đạo lý nhà Phật cho họ nghe: "Vì giữ giới nên tôi chia gà nấu dầu mè này cho mọi người." Như vậy là được, bạn vui vẻ: "Mọi người có thể ăn mà! Không có vấn đề gì đâu." Bạn có thể nói với mọi người: "Vì các bạn chưa thọ giới này, còn tôi đã thọ giới rồi." Còn nếu là tôi thì sao? Tôi sẽ ăn luôn. Cần gì phải quan tâm nhiều thế! Phải không? Trong tứ nhiếp pháp có một pháp là đồng sự, mọi người cùng làm một việc.

Cho nên các bạn bảo Sư Tôn hát, thực ra tôi hát không hay lắm, nhưng cũng phải hát. Giống như trước đây có nhiều vũ nữ quy y Chân Phật Tông, chẳng phải do tôi đi độ họ sao? Đúng không? Bảo Sư Tôn lên trời thì tôi lên trời cho các bạn xem. Đúng không? Bảo xuống biển thì tôi bơi thôi! Đúng không?

Thật ra làm Sư Tôn cũng không dễ, tôi thấy người ta tập xà đôi, tôi cũng phải leo lên làm vài cái. Người ta nói: "Sư Tôn là người luyện khí công, xem thử ông ấy có khí không?" "Lần này ông ấy sẽ lộ tẩy!" Tôi leo lên đong đưa vài vòng, các bạn nói: "Ông ấy 50 tuổi rồi đấy! 50 tuổi rồi mà vẫn còn khá phết."

Bạn xem sư phụ Hoàng ở võ đường Anh Quốc, còn có đệ tử ở Alaska nữa, họ đều là người dạy võ công mà! Sư Tôn cũng phải hạ công phu một chút. Họ đánh quyền bọ ngựa, còn tôi đánh quyền cua. Đây chính là đồng sự. Thế nào gọi là đồng sự? Chính là cùng làm một việc.

Thực ra ở đây, về mặt giới luật là linh hoạt. Như hôm qua leo núi Cầu Vồng có nói "không được bước lên bóng của sư phụ" (có ghi trong "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng"), nếu chân bước lên bóng của Sư Tôn, giống như phá tháp, tội này rất nặng. Hôm qua lên núi có nhiều người như vậy, gần cả nghìn người, ai mà không bước phải? Bước phải là tiêu rồi! Cho nên tôi nói: "Lúc đó không có chuyện đó." Mọi người chen chúc nhau chết đi được. Việc lên núi xuống núi này, ở chỗ đó, nếu bạn không bước lên bóng của Sư Tôn thì không ai có thể, đây không phải là đồng sự nữa, điều này đã tạo ra khoảng cách rồi.

Đúng vậy, Sư Tôn là tôn quý, tất nhiên đừng mất lễ độ trong những chi tiết nhỏ. Có những chỗ thất lễ cần phải chú ý một chút, nhưng khi thực sự đông người, chân bạn nhất định sẽ bước lên bóng của Sư Tôn; vì người đông chen lấn qua lại, bạn không muốn bước nhưng bị người ta đẩy qua là bước phải rồi. Không phải bạn cố ý bước, không phải cố tình giẫm lên như thế này. (lấy chân giẫm) Cho nên tôi nói "giới luật là linh hoạt", đây là chữ "xả". Cho nên "không" trong Phật pháp là tất cả đều là không tướng, khi thực sự đạt đến cảnh giới viên mãn, bạn làm việc gì cũng đều hợp với giới luật; thực sự đạt đến cảnh giới viên mãn, bạn đều được tự tại tự nhiên, hoàn toàn là một trạng thái hoan hỷ khinh an, rất mỹ mãn, thần thông. Loại thần thông này cũng là tự nhiên, từ trong tâm tuôn ra, không phải cố ý tạo tác.

Nhiều người nói: "Chân Phật Tông các người chuyên nói về thần thông." Làm gì có chuyện đó? Có thông gì đâu? Ăn đậu thì tất nhiên là thông rồi! Ăn đậu thì nó sẽ phát ra tiếng thôi! Cái đó gọi là "khí thông", khí nó thông đấy. Thần thông gì chứ? Đó là chuyện tự nhiên thôi.

Khi chữa bệnh cho người ta, tôi quán tưởng dòng chảy pháp gia trì cho họ, bệnh của họ khỏi, pháp lưu tự nhiên chảy vào thân thể họ, tôi không hề cố ý tạo tác, cái gì tạo tác ra thì mất đi tự nhiên rồi. Cho nên bên ngoài đồn rằng: "Chân Phật Tông chuyên nói về thần thông, Lư Thắng Ngạn chuyên nói về thần thông." Không có chuyện đó đâu! Chỉ là sống một cách tự nhiên thôi, đi đến đâu, cần gì thì nó tự nhiên xuất hiện, muốn thông thế nào thì tự nhiên thông. Thần thông chẳng liên quan gì đến tôi cả.

Tính Không trong Phật pháp chính là trạng thái tự nhiên như vậy, đó là "vô trụ". Như vừa nói, "Từ đâu đến?" "Từ hư không đến." Câu trả lời này rất đúng. Hư không có mặt khắp nơi, nơi nào cũng là hư không, Phật tính vốn là hư không. Hỏi: "Ông ở đâu?" "Tôi ở trong hư không." Ồ! Cách nói này chỉ có bậc đã chứng ngộ, chỉ có Như Lai mới có cách nói như vậy.

Thành tựu vĩ đại nhất thực sự là "y không an trụ". Y không an trụ nghĩa là an nhiên cư trú trong hư không, một trạng thái tự tại như vậy, tâm của bạn cũng y không an trụ. Khi giới luật đạt đến trạng thái "y không an trụ", nó sẽ hóa thành vô hình, luôn luôn giữ giới, không có chút sai sót nào. Cũng không thể phạm giới.

**Sự thù thắng của truyền thừa**

Điểm thù thắng của tông phái chúng ta còn có truyền thừa, truyền thừa là thù thắng. Các bạn xem hôm qua chúng ta đi leo núi, khi xuống thấy được cầu vồng mặt trời. Thực ra khi khai quang Bồ Đề Lôi Tạng Tự cũng có cầu vồng mặt trời, đều giống nhau cả, hiển hiện điềm lành trên không trung. Tôi có nói với mặt trời "nhờ ông tạo một vòng hoa bên cạnh" đâu. Tôi có làm vậy đâu? Đúng không? Muốn gió thì có gió, muốn mưa thì có mưa; trời muốn tạo cầu vồng mặt trời, người khác nói với tôi, tôi mới ra xem, không phải tôi chỉ cho các bạn xem đâu, nó tự nhiên hiển hiện. Điềm lành trên bầu trời này chứng minh Chân Phật Tông chúng ta là vô cùng thù thắng.

Chúng ta vốn đều đến từ Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai ở trong hư không vô trụ, từ trong đó xuất hiện Phật Nhãn Phật Mẫu, từ Đại Nhật Như Lai xuất hiện Phật Nhãn Phật Mẫu, rồi đôi mắt của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là cõi Thường Tịch Quang. Các bạn biết cõi Thường Tịch Quang chính là ở đây mà! Hai con mắt chẳng phải giống như Thường Tịch Quang Thổ sao! Đôi mắt ấy hóa thành Ma Ha Song Liên Trì. Rồi trong Song Liên Trì hóa sinh ra Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử giáng xuống nhân gian, trở thành Lư Thắng Ngạn.

Thực ra không phải chỉ một mình tôi đến, mà có rất nhiều Liên Hoa Đồng Tử đến, tất cả các bạn đều có duyên với Liên Hoa Đồng Tử, và cũng đều là Liên Hoa Đồng Tử. Trong tương lai, mọi người sẽ trở về Ma Ha Song Liên Trì, đến chỗ của Phật Nhãn Phật Mẫu, tương đương với việc trở về nơi của Đại Nhật Như Lai, tất cả đều là Liên Hoa Đồng Tử.

Vì vậy truyền thừa chân chính của Chân Phật Tông là:  
Đại Nhật Như Lai — Phật Nhãn Phật Mẫu — Liên Hoa Đồng Tử.  
Truyền thừa này là chính xác một trăm phần trăm. 

### 27. Bát chính đạo

Tiếp theo chúng ta nói về bát chính đạo. Bát chính đạo đã được rất nhiều pháp sư giảng dạy rồi, trong Kinh "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" tôi nói về "khổ tập diệt đạo", chữ "đạo" này chính là nói về bát chính đạo, sau này các bạn có thể tự mình thấu hiểu.

Hiện nay bát chính đạo bao gồm: Chính kiến - tri kiến chân chính; Chính tư duy - tư duy chân chính; Chính ngữ - lời nói chân chính; Chính nghiệp - nghề nghiệp chân chính; Chính mệnh - hành vi chân chính; Chính tinh tấn - nỗ lực chân chính; Chính niệm - quan niệm chân chính; Chính định - thiền định chân chính; đây là nói sơ lược về bát chính đạo.

Nhiều người học Phật đều biết về bát chính đạo, những người học Phật chúng ta đều phải đi theo con đường bát chính đạo này, bởi vì nếu bạn đi theo bát chính đạo thì sẽ không bị lệch lạc, không đi vào tà đạo, không rơi vào cạm bẫy. Bát chính đạo chính là tám phương pháp tu hành thành Phật đúng đắn do Như Lai chỉ dạy.

Những điều chúng ta đã bàn đến hôm nay, tôi xin nhắc lại một lần nữa. Thất bồ đề phần gồm có trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, niệm giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Còn bát chính đạo là chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Chúng ta học Phật, những thứ tự chính yếu trong việc học Phật đã được giảng xong.

Trong Phật học có rất nhiều điều. Như mười tông phái, mỗi tông phái đều có rất nhiều luận thuyết và tác phẩm, sau khi các bạn đã chọn được, trạch pháp giác chi, các bạn đã chọn xong rồi thì hãy hướng về một mục tiêu mà tiến bước. Đối với những tông phái khác có liên quan, chỉ cần hiểu sơ qua là được. Giống như khi bạn học Mật, thì hãy chuyên sâu về Mật tông, còn chín tông phái lớn khác, bạn chỉ cần hiểu qua là được. Bởi vì khi bạn khai ngộ, bạn ngộ được Sự pháp thì Lý pháp cũng tự nhiên thông suốt. Giống như trước đây tôi đọc văn ngôn rất vất vả. Kinh Phật rất hay, không sâu như văn ngôn; văn ngôn thời xưa như "Liêu Trai", trong "Liêu Trai Chí Dị" câu văn tương đối sâu hơn.

Ngoài ra tôi đọc rất nhiều sách cổ văn cổ thư; những gì tôi không hiểu thì để sang một bên, tôi đọc những thứ khác trước, đọc xong những thứ khác, rất tinh tấn nỗ lực. Điều này cũng lạ, khi bạn đã học thông những thứ khác, hôm nay bạn cầm "Liêu Trai" lên đọc lại, ồ! tất cả đều thông suốt, không cần phải dùng văn viết hiện đại giải thích. Tôi có thể đọc văn ngôn, có thể đọc cổ văn, những cổ văn rất thâm sâu, chỉ một chữ tôi đã có thể hiểu được ý nghĩa rất sâu xa bên trong. Đây là chuyện gì vậy? Đây chính là: một pháp thông, pháp pháp thông.

Trước đây khi tôi cầm kinh Phật lên đọc, tôi không hiểu được, như Kinh Kim Cang, tôi không hiểu, trước đây tôi thực sự không hiểu, như câu vừa rồi: "Ví như chiếc bè, pháp còn phải xả bỏ, huống chi không phải pháp!" Câu này tôi không hiểu. Như Lai còn nói: "Nếu người nói Như Lai có thuyết pháp tức là phỉ báng Phật." Ngài thuyết pháp 49 năm, lại nói Ngài không thuyết pháp, nếu nói Ngài có thuyết pháp thì là phỉ báng Phật.

Sau này tôi cũng có thể nói với bạn: "Tôi chưa từng thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang, các bạn nói tôi có thuyết pháp ở Cầu Vồng Sơn Trang là phỉ báng tôi." Có đơn giản như vậy không? Không đơn giản đâu! Sau khi bạn đọc những điều này bạn mới hiểu được, bạn sẽ lĩnh hội được, pháp vị sẽ xuất hiện, pháp vị nằm trong đó, chỗ vi diệu của nó nằm trong đó.

Vì vậy bây giờ khi tôi đọc kinh Phật, mỗi một bộ kinh, trước đây không hiểu lắm, nhưng bây giờ hiểu hết, bây giờ đọc là hiểu ngay. Khi cầm một bộ kinh điển lên, bộ kinh điển này trước đây rất thâm sâu, có thể tôi không hiểu được, không ngờ bây giờ mở ra đều hiểu hết, vừa đọc là thông suốt, tôi hiểu được Như Lai là gì. Tại sao vậy? Tại sao lại như thế? Bởi vì bây giờ tâm cảnh đã khác, bây giờ là một loại tâm cảnh khai ngộ, tôi từ Mật pháp đi sâu vào, thâm nhập một pháp là đã khai mở tâm này, tôi dùng tâm khai ngộ của mình để ấn chứng, tất cả kinh Phật, vừa ấn là tương ứng ngay.

Bạn muốn đọc hết tất cả kinh điển, đọc qua tất cả, nghiên cứu hết tất cả lý luận Phật học rồi mới đi sâu vào một pháp sao? Đến khi bạn đọc hết tất cả, bạn đã trải qua mấy kiếp rồi, mấy đời rồi, đã thành người của mấy kiếp rồi.

Trước đây, Hồ Thích nghiên cứu thiền học, nhưng không có tác dụng gì, bởi vì ông ấy không đi sâu, không đi sâu vào một pháp nào cả, ông ấy chỉ đạt được kiến thức về thiền, chứ không phải là sự khai ngộ thực sự; khi bạn đã đạt được khai ngộ, bất kì kinh điển nào trước mặt bạn đều tương ứng với bạn.

Cho nên "một pháp tương ứng, vạn pháp đều tương ứng", từ một môn đi sâu vào, bạn sẽ đạt được thành tựu lớn; Phật học không nằm ở chỗ "nhiều, rộng" mà nằm ở chỗ "sâu"; Như Lai cũng nói như vậy, thuở xưa Đức Phật cũng dạy: "Đa văn không bằng thực tu", "Thực tu không bằng một pháp", "Nhiều pháp không bằng một pháp".

Vừa rồi cũng có người nói: "Một chính là nhiều." Cho nên anh ta chỉ xà đơn một cái thôi, xà kép cũng chỉ một cái. Chúng ta hỏi anh ta: "Tại sao chỉ có một cái?" "Một chính là nhiều!" Bó tay với anh! Đúng là hết cách.

Mọi người hãy hiểu rõ đạo lý này, bởi vì một khi bạn đã khai ngộ, bất cứ điều gì ở trước mặt bạn, bạn đều có thể hiểu rõ ràng minh bạch. Nếu bạn chưa khai ngộ, dù cho học nhiều pháp đến mấy, vẫn chỉ là "số 0", cho nên chi bằng đi sâu vào một pháp. Đây chính là hương vị của Phật học, tinh túy nằm ở chỗ này.

Om mani padme hum.

### 28. Có ba loại khai ngộ

Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người. Hôm nay là ngày thứ bảy giảng dạy "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang.

**Thế nào là khai ngộ?**

Hôm nay chúng ta sẽ bàn về thập lực của Như Lai, đó là mười loại lực của Như Lai, cũng có thể nói là những năng lực phát xuất từ trí huệ, đây chính là năng lực trí huệ của bậc giác ngộ.

Những ngày trước chúng ta cũng đã đề cập đến thế nào là khai ngộ. Khai ngộ chính là bậc giác giả, chính là người đã giác ngộ rồi; vậy bậc giác giả sẽ có những năng lực trí huệ như thế nào? Đó chính là điều chúng ta sẽ giảng hôm nay.

Thực ra việc khai ngộ không phải là chuyện dễ dàng, khi chúng ta nói đến khai ngộ, ai cũng cảm thấy đó là một chuyện rất thâm sâu, rất xa vời, không phải dễ dàng chút nào.

Cho nên nếu có người nói: "Đời này tôi có thể giải thoát, tôi sẽ khai ngộ ngay tức khắc." Lời tuyên bố như vậy thật là vĩ đại, và sức thu hút của lời tuyên bố như vậy quả thật rất mạnh mẽ.

Giả sử hôm nay tôi nói: "Tôi sẽ giúp các bạn khai ngộ trong một giây, giải thoát trong ba giây." Tôi tin chắc sẽ có nhiều người đến quy y hơn. "Ba giây giải thoát", "một giây khai ngộ", cái này không cần kiểm tra, cũng không cần thi cử gì cả. Tuy nhiên cũng có thể được, tôi chỉ cần chuẩn bị một cây gậy gỗ lớn là được rồi. Đánh bạn một cái là khai ngộ! Đánh ba cái là xong luôn! Là thực sự giải thoát rồi. Tôi thấy ngoài cách này có thể giúp bạn "một giây khai ngộ, ba giây giải thoát" ra thì những cách khác đều là chuyện rất khó khăn.

Thực ra đừng tưởng rằng những ngày qua tôi toàn nói về khai ngộ, mọi người nghe khai ngộ đã quen rồi, hỏi bạn: "Đã khai ngộ chưa?" "Khai ngộ rồi!" Đúng vậy! Các bạn đã khai ngộ về Lý, đã hiểu được đạo lý; tôi giảng như vậy bảy ngày, những đạo lý này các bạn đều đã biết cả. Vô thường mà! Xuất ly mà! Vô ngã mà! Thế là thành A La Hán rồi. A La Hán là sự khai ngộ của Tiểu thừa, đã là rất tốt rồi. Thuở xưa mười đại đệ tử năm trăm vị A La Hán, không biết bao nhiêu vị A La Hán tu trì thành tựu, chỉ dựa vào ba điều này mà khai ngộ. Sau này mọi người ra ngoài, người ta hỏi "Bạn học Phật, học được gì?" "Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh." Ồ! Khai ngộ rồi.

Bây giờ Phật tử có một câu cửa miệng, vừa ra ngoài người ta hỏi: "Bạn học Phật, học được thế nào?" "Vô ngã." Ồ! Tốt quá! Vô ngã. Tôi đánh bạn một cái, bạn lập tức biến thành "hữu ngã". Bởi vì bạn liền nổi giận ngay! "Vô ngã" của bạn đi đâu mất rồi? Cho nên có nhiều người nói khai ngộ, đôi khi có đệ tử gọi điện cho Sư Tôn, đệ tử nói: "Con đã khai ngộ rồi." Chà! Tôi vừa nghe hai chữ "khai ngộ" là vô cùng hoảng sợ.

Tại sao lại vô cùng hoảng sợ? Tôi sợ rằng họ khai ngộ đến mức có vấn đề, là sự khai ngộ có vấn đề. Vài ngày sau họ lại gọi điện đến: "Con lại không khai ngộ nữa rồi." Khai ngộ không phải là chuyện dễ dàng như vậy, cho nên tôi vẫn luôn chia khai ngộ thành ba loại.

Khai ngộ có ba loại sao? Mọi người sẽ cảm thấy kỳ lạ, khai ngộ chẳng phải chỉ có một loại thôi sao? Khai ngộ là khai ngộ, sao khai ngộ lại có đến ba loại? Để tôi nói cho mọi người nghe.

**Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa đảo**

Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa gạt người khác, là kẻ lừa gạt. Họ lợi dụng cái "khai ngộ" này với mục đích riêng, có âm mưu, có dương mưu, có âm dương mưu. Họ nói với mọi người như thế này: "Tôi đã khai ngộ rồi, tôi đã thành Phật rồi." Ồ! Thế là nhiều người đến lễ bái. "Đây là Phật mà! Phật là bậc siêu việt thế gian, cảnh giới của Phật rất cao, có pháp lực rất lớn, chúng ta đến lễ bái Ngài, cúng dường Ngài, có thể nhận được gia trì của Phật." Vậy là bạn nghĩ rằng sau khi nhận được gia trì của Phật này, mọi việc sẽ như ý cát tường, tiền tài cuồn cuộn. Nhưng khi bạn chưa kịp "cuồn cuộn" thì vị Phật "khai ngộ" này đã "cuốn gói" đi mất rồi. Vấn đề là ở chỗ này, bởi vì họ chỉ cần tự xưng là khai ngộ, thì đó chính là "Om money coming home". Cái này là lừa tiền.

Loại khai ngộ này cũng có kẻ lừa gạt tình, làm sao lừa tình? "Tôi là Phật mà! Trên người tôi có mùi hương của Phật, bạn phải tiếp nhận Phật khí của tôi. Bạn biết không, Phật khí của tôi truyền cho bạn, đúng là có phương pháp này, nhưng mà không phải kiểu như thế. Bạn sờ tôi một cái, ồ, thế là nhận được Phật khí rồi, huống chi là ôm tôi một cái! Nếu bạn ôm một cái thì khí sẽ hoàn toàn trở thành của bạn, bạn sẽ thành Phật, còn tôi sẽ trở thành người thường. Thế nên tôi phải tu luyện lại, tu xong rồi sẽ đến lần thứ hai." Những kẻ lừa tiền gạt sắc là như vậy đó.

Hắn rất gian xảo, hắn nói: "Tôi đã khai ngộ rồi." Hắn nói sẽ khai thông trung mạch cho bạn, khai thông kiểu gì? Hắn nói: "Đưa tiền đây, tôi lấy cây chổi khai thông cho." Khai thông kiểu gì chứ? Tôi học Phật bao lâu nay, còn chưa biết dùng cái gì để khai thông! Bạn nói tôi có khí, tôi gia trì cho bạn, dùng khí để gia trì cho bạn, để khí của bạn cũng có thể tuần hoàn, cái này thì được. Nhưng làm sao khai thông trung mạch trong người bạn? Dùng cái bơm xe đạp ấy, ấn vào mông, bơm khí vào cho bạn, tôi thấy chỉ có cách đó mới thông thôi! Đúng không? Cho nên cái kiểu "Lập tức khai thông trung mạch cho bạn!" Được rồi, thông xong rồi, bạn vui vẻ, bạn về nhà, một ngày nọ bạn sẽ nói: "Sao thế này, sau khi khai thông trung mạch xong, lúc đầu cảm thấy trong người có một luồng khí, sao bây giờ lại không còn nữa?" Vị thầy đó sẽ gọi bạn quay lại: "Mỗi tháng phải thông một lần, không thông thì ống cống sẽ tắc mất!" Một tháng phải thông ống cống một lần, bạn nghe hắn nói cũng có lý, đây chính là "Om money coming home", là ôm tiền về nhà.

Vì vậy tu hành là phải tự mình nỗ lực, tuyệt đối đừng nghĩ rằng người khác sẽ ban cho mình điều gì, ngay cả Sư Tôn cũng chỉ truyền pháp cho bạn thôi, bạn vẫn phải tự tu. Cho nên đối với những người "khai ngộ" đó, bạn có thể phân biệt được họ có thực sự khai ngộ hay không, rất đơn giản, bạn có thể nhận ra ngay, đây là một bài kiểm tra rất đơn giản. Chỉ cần người "khai ngộ" đó mở miệng xin tiền người khác, bạn phải cảnh giác ngay! Tại sao vậy? Bởi vì người khai ngộ thực sự họ hiểu rằng, toàn bộ vũ trụ hư không đều là của họ, họ không cần phải đòi hỏi gì từ bạn cả, không cần phải xin xỏ, không cần phải lấy tiền. Hôm nay nếu có người "khai ngộ" mở miệng nói với bạn "Tôi cần bao nhiêu tiền mới có thể gia trì cho bạn, mới có thể dạy bạn mật pháp gì đó." Những người này đều có vấn đề cả.

Cho nên trong số những người khai ngộ, có những kẻ là lừa đảo, mọi người phải cẩn thận một chút, nghĩa là phải thận trọng. Cần biết người đó có tham hay không, người có lòng tham chứng tỏ họ vẫn chưa thể buông xả. Người khai ngộ là từ bi hỷ xả, họ đã có lòng tham thì làm sao là người khai ngộ được? Người khai ngộ, tâm rộng lớn như hư không, vạn vật trong vũ trụ đều là của họ, họ không cần phải lấy tiền từ người khác nữa. Người ta tự động cúng dường họ như thế đã đủ rồi. Cho nên những kẻ mở miệng xin tiền người khác, cái "khai ngộ" này chắc chắn có vấn đề, họ vẫn chưa đoạn trừ được lòng tham.

Ngoài ra, đạo đức của họ, bạn hãy để ý đến đạo đức của họ, khi không nên nóng giận mà họ lại nóng giận, bạn nói: "Kim Cang Thần cũng nóng giận mà!" Đúng vậy, nhưng Ngài có lý do của Ngài, lý do mà Ngài dùng phải hợp lý, phải phù hợp với đạo lý, Ngài phải nói ra được một đạo lý; còn nóng giận vô lý và những hiện tượng thất thường như vậy là không được phép, không thể có.

Sư phụ đôi khi cũng sẽ thử thách bạn đấy, giống như có những vị sư phụ sẽ thử thách đệ tử của mình, khi gặp một đệ tử đến, đệ tử đó nói: "Con đã tu hành đến mức vô ngã rồi." "Tốt! Con đã tu hành đến mức vô ngã rồi, vậy con có muốn lấy thầy không?" Sư phụ nói đấy! "Con có muốn lấy thầy không?" Đệ tử đó nói: "Sao sư phụ có thể nói như vậy? Làm sao con có thể lấy thầy được?" Sư phụ tuổi đã cao như vậy, gương mặt nhăn nheo như vỏ quýt, vỏ quýt đấy! Nhăn nheo như thế, già như vậy. "Con mới chỉ mười mấy tuổi, làm sao con có thể lấy thầy được?" "Con không phải nói là đã tu hành đến mức vô ngã rồi sao?" Thực ra sư phụ chưa chắc đã thực sự muốn cưới bạn đâu, thầy chỉ muốn thử thách bạn thôi, bạn nói là "vô ngã" mà! "Vô ngã" nên thầy mới nói ra câu đó. Cho nên nếu vẫn còn ba chữ "tham sân si" này thì chưa phải là thực sự khai ngộ.

Chúng ta đều biết, người khai ngộ khi mở miệng nói năng đều có pháp vị, đều có trí tuệ của họ. Nếu một người ở đâu cũng thể hiện không có chút trí tuệ nào, hành xử điên đảo, sân hận rất nặng thì… Tuy nhiên, các bạn cũng phải phân biệt cẩn thận, giống như Sư Tôn đây, đôi khi cũng nói những lời ngớ ngẩn, đó là vì "đại trí giả ngu" đấy! Hoặc đôi khi cũng nói những lời ngược lại, nói trái ngược.

Rõ ràng không có tư tâm, nhưng lại nói những lời rất có tư tâm; rõ ràng tu dưỡng rất tốt, nhưng đôi khi lại nổi giận dữ dội. Đó là đôi khi đang giáo dục bạn, đang kiểm tra bạn, phải làm như vậy đấy. Lúc đó các bạn phải dùng con mắt trí tuệ để phân biệt, bởi vì các bạn biết đấy, bậc đại trí huệ, đôi khi biểu hiện của họ hoàn toàn giống như người bình thường, chỉ là thỉnh thoảng họ sẽ để lộ ra trí huệ và pháp vị của mình, điểm này, những người học Phật các bạn phải phân biệt thật cẩn thận mới có thể hiểu rõ được.

Giả sử người khai ngộ đó có lòng tham vô tận, sân hận vô tận, si mê vô tận thì sao? Nếu bạn đã quy y với họ rồi thì hãy lặng lẽ rút lui, cũng đừng phỉ báng họ, cho nên người học Phật chúng ta khi quy y một vị thầy phải hết sức thận trọng. Sau khi quy y thì bạn học những điều hay của thầy, không học những điểm yếu, và mọi hành vi của bạn phải phù hợp với sự tôn kính thầy. Nếu bạn có thể học được điều gì đó từ họ, học được Phật pháp thì tốt nhất. Không học được Phật pháp thì bạn có thể đến nơi khác học, đi cầu học. Sau đó chọn một pháp và đi sâu vào pháp đó. Cho nên trong lời nói của họ có phù hợp với Phật pháp không? Trong ngôn hành của họ có phù hợp với Phật pháp không? Những điều này đều phải dùng trí tuệ để phân biệt. Nếu không thì tiền mất tật mang, thời gian cũng lãng phí.

Giống như Sư Tôn giảng ra bộ "Giảng thuyết tỉ mỉ về nghi quỹ tu trì Chân Phật Mật Pháp hoàn chỉnh" này, nếu bạn không nghiên cứu sâu, nếu họ bảo bạn đến quy y một cách vô căn cứ, bảo bạn đến học mà chẳng có gì để cho bạn, thì bạn biết đó là kẻ lừa đảo rồi. Hôm nay có Phật pháp để cho các bạn, có pháp vị vi diệu, có những điều tốt đẹp bên trong, các bạn có thể cảm nhận được, thực ra đó chính là có trí tuệ.

**Loại khai ngộ thứ hai là kẻ điên**

Vậy loại khai ngộ thứ hai là gì? Bây giờ chúng ta nói về loại khai ngộ thứ hai. Loại khai ngộ thứ nhất là kẻ lừa đảo, loại khai ngộ thứ hai là kẻ điên, kẻ điên chính là người bệnh tâm thần.

Hành vi của kẻ điên các bạn có thể nhận ra được, có một loại điên là thực sự điên, thực sự điên đấy! Nhưng cũng có một loại điên là giả điên, điều này các bạn cũng phải nhận ra được. Giống như Tế Công Hoạt Phật, Ngài là kẻ giả điên, nhưng Ngài là bậc khai ngộ chân chính. Một số hành vi của Ngài cũng điên điên khùng khùng, nhưng trong sự điên khùng đó, Ngài vẫn thuyết giảng được Phật lý.

Ngài từng bắt con bọ chét, con rận! Sau khi bắt được con rận ở phía trước ngực, vì Ngài không sát sinh mà! Nên Ngài thả nó ra phía sau lưng, rồi khi bắt được con rận ở phía sau lưng, lại thả ra phía trước. Thế là có người hỏi Ngài: "Sao thầy cứ bắt con rận từ chỗ này sang chỗ kia mà không giết nó đi?" Ngài nói: "Đây là không sát sinh." Ngài giữ giới không sát sinh. Nhưng tại sao lại bắt con ở phía trước thả ra sau, bắt con ở phía sau thả ra trước vậy? Ngài nói: "Làm như vậy chúng sẽ không quen thổ nhưỡng." Nhưng mà các bạn phải nghe lời của Tế Công Hoạt Phật nói này! Thực ra trong đó có đạo lý của Ngài, Ngài đang dạy người ta phải giữ giới không sát sinh; nhưng mà, có thể dùng phương tiện thiện xảo, khiến cho chúng không quen thổ nhưỡng là được rồi.

Giống như ở Cầu Vồng Sơn Trang của chúng ta cũng phát hiện có chuột, có vài con chuột không biết từ đâu di cư đến, tôi không biết, sau đó chúng tôi dạy pháp sư Hiểu Quang dùng một cái thùng nhựa 5 gallon, vì nó rất trơn mà! Sau đó bỏ lạc vào trong, dựng sát vào tường để nó có thể trèo vào; nó ngửi thấy mùi lạc, leo lên, "tõm", rơi xuống, vào bên trong ăn lạc, ăn xong nhảy không ra được. Sau đó pháp sư Hiểu Quang lái xe chở nó đến một nơi rất xa, để cho nó không quen thổ nhưỡng.

Đây là điều mà Tế Công Hoạt Phật dạy chúng ta, trong đó có đạo lý của Ngài; bạn thấy Ngài điên điên khùng khùng, nhưng Ngài có lý do của mình. Ngài vác tượng Vi Đà ở chùa Linh Ẩn trên lưng rồi chạy đi. Người ta hỏi Ngài: "Ủa! Thầy ơi! Sao lại thế này? Sao lại vác tượng Vi Đà chạy khắp phố vậy?" Ngài nói: "À! Chùa chúng tôi đang chuyển nhà." Ừm! Ngài đang chuyển nhà! Mọi người nói: "Có lý đấy! Ngài vác Bồ Tát Vi Đà chạy khắp nơi." Thực ra Ngài vác tượng Vi Đà là để đi bắt yêu quái, Ngài đặt tượng ở nhà viên ngoại, Vi Đà sẽ hiển linh và bắt yêu quái. Ngài có lý do của mình. Chúng ta thấy Ngài có vẻ điên điên khùng khùng, nhưng thực ra đó là sự điên khùng có lý do.

Nhưng nếu là người khai ngộ mà nói năng không rõ ràng, tâm niệm không chân chính, hành vi lệch lạc, thì đó không phải là hành vi của người khai ngộ! Giống như hành vi của Tế Công Hoạt Phật, đôi khi Ngài không giống người bình thường; nhưng tất cả đều có lý do, đều có lý niệm của Ngài. Tâm niệm của Ngài đều là chính niệm, mọi hành vi đều vì chính niệm mà làm, chỉ là biểu hiện khác với người thường, đó mới là người khai ngộ. Nếu tâm niệm không chân chính, nói năng không rõ ràng, đó chính là kẻ điên.

Tôi nhớ có một vị đại hòa thượng, là một vị hòa thượng rất lớn, rất nổi tiếng! Ngài mắc phải chứng bệnh gì vậy? Tôi không biết Ngài mắc phải chứng bệnh gì, tóm lại là đầu óc không được tỉnh táo. Nghe nói là ở trong bệnh viện, tôi nghe người ta nói vậy thôi, không chắc là đúng. Lúc đó cũng có nhiều người nhìn thấy mà! Dù sao thì Ngài đang nằm trong bệnh viện, một y tá xinh đẹp đi vào, cô y tá này định tiêm thuốc cho Ngài thì bàn tay quái dị của Ngài liền xuất hiện. Bàn tay quái dị xuất hiện.

Sờ chỗ nào của người ta ư? Thật ngại không dám nói. Bàn tay quái dị của Ngài xuất hiện đấy!

Còn nữa? Khi y tá xinh đẹp đi vào, hoặc là đệ tử nữ vào thăm Ngài, Ngài liền kéo quần xuống. Thế là nhiều thị giả bên cạnh và các đệ tử theo Ngài đều nói: "Sư phụ khai ngộ rồi!" Nói rằng sư phụ khai ngộ rồi.

Cái khai ngộ mà họ nói là khai ngộ kiểu gì vậy? Họ nói: "Sư phụ đã không còn tâm phân biệt nữa." Ngài thể hiện một trạng thái khai ngộ. Thấy phụ nữ đến là kéo quần xuống, thấy y tá xinh đẹp đến tiêm thuốc là bàn tay quái dị liền xuất hiện. Hành vi như vậy sao gọi là khai ngộ được?

Vậy bây giờ thì sao? Hiện tại người ta đã nhốt Ngài lại rồi, không ai được gặp Ngài nữa, bởi vì đó không phải là khai ngộ. Ngài muốn biểu đạt điều gì vậy? Là tâm không phân biệt sao? Vậy thì tại sao khi bác sĩ nam vào, Ngài lại không xuất hiện bàn tay quái dị? Khi đệ tử nam vào, tại sao Ngài lại không kéo quần xuống? Phải gặp ai cũng kéo xuống chứ! Như vậy mới gọi là không phân biệt chứ! Ngài có phải bị chứng đãng trí không? Nếu bị chứng đãng trí thì sao Ngài còn phân biệt được nam nữ? Điều này quả thật có vấn đề.

Vì vậy tôi cho rằng đó không phải là khai ngộ, mà là vị đại hòa thượng này đã kìm nén bản thân quá lâu, Ngài đã kìm nén dục vọng của mình! Từ khi còn rất nhỏ Ngài đã kìm nén rồi, bên ngoài Ngài tỏ ra rất trang nghiêm. Ừm! Là đại hòa thượng, suốt ngày cứ làm ra vẻ rất thần thánh, một bộ dạng thần thánh không ai xâm phạm được, Ngài đã kìm nén dục vọng đó, kìm nén quá lâu rồi, đến một ngày kia, đầu óc Ngài đã bị trúng độc, Ngài không thể kiểm soát được hành vi của mình nữa, lúc đó Ngài đã để cho dục vọng của mình hoàn toàn bộc lộ ra hết, điều này không phải là khai ngộ, người khai ngộ không phải như vậy, cho nên đây là kẻ điên.

Cũng có rất nhiều người điên! Ở bệnh viện tâm thần đâu đâu cũng thấy! Bạn thử vào bệnh viện tâm thần mà xem, trong bệnh viện tâm thần, tất cả đều là người nhìn thấy thần thánh nhìn thấy ma quỷ. Mỗi người ở đó đều rất căng thẳng, ai đó đang đuổi theo họ, họ bỏ chạy. Họ nói: "Có người đuổi theo tôi." Chúng ta nhìn chẳng thấy ai cả. Người kia nói: "Đức Mẹ Maria đến rồi." Họ quỳ xuống trước mặt mọi người cầu nguyện, toàn thân run rẩy. Có người nói "Chúa Jesus đến rồi", có người nói "Đức Phật đến rồi", có người nói "Ma Tổ đến rồi", ai đó đến rồi, ngày nào cũng có nhiều khách đến tìm họ như vậy, khách thăm của họ đặc biệt nhiều, suốt ngày cứ ở đó nói chuyện với ai đó.

Tôi nói cho bạn biết, những người này đều là người khai ngộ đấy. Có nhiều người khai ngộ như vậy, bạn phải cẩn thận đấy! Nếu bạn khai ngộ kiểu như vậy, tôi thà không khai ngộ còn hơn. Ồ! Nếu tôi trở thành người khai ngộ kiểu này, tôi sẽ phải "bay qua tổ chim cúc cu" (ý nói: vào viện tâm thần). Họ đều có thiên nhãn, có nhĩ thông, có nhãn thông, thông cái gì cũng có, chỉ là không thể kiểm soát được bản thân, đây không phải là người khai ngộ.

**Loại thứ ba, người thực sự khai ngộ là Phật tử**

Người thực sự khai ngộ là như thế nào? Ngoài kẻ lừa đảo, kẻ điên ra, họ là người có đạo.

Người có đạo là điều tôi nói. Người khai ngộ này rất tự nhiên, tất cả hành vi của họ đều phù hợp với tự nhiên, tất cả ngôn hành của họ đều rất tự tại, rất thư thái, rất tự tại; họ sống trong tự nhiên và tự tại, họ rất tự nhiên, nghĩa là bất kì sự việc nào đến trước mặt họ, họ đều có thể không quá vui mừng cũng không quá bi thương. Trước mặt họ không có việc gì quá lớn lao, cũng như là không có việc gì; nghĩa là họ có thể vận dụng trí tuệ của mình một cách tự nhiên.

Họ có đức tính vi diệu, họ thể hiện ra một loại đức tính rất vi diệu, không phải tự mình tạo tác, không phải cố ý làm ra, một loại đức tính vi diệu hiển lộ trên thân họ, tâm linh của họ thanh tịnh, không ô nhiễm, trong suốt, không che giấu, điểm này rất quan trọng.

Tâm này là thanh tịnh, cảnh giới khai ngộ này có người nói là "vạn dặm trời trong", trạng thái trời quang; chính là thời tiết rất trong sáng, trong suốt, vô tận đến vạn dặm. Trạng thái hoàn toàn trong suốt đó là tâm cảnh của bậc khai ngộ, là diệu lạc vô cùng; không phải nói là rất u uất, mà là họ có niềm vui của họ, sống trong pháp vị là một loại niềm vui rất vi diệu. Không phải là loại dục lạc của người đời, đây là một yếu tố vốn có của bậc khai ngộ.

Đây là gì vậy? Chính là "thường, lạc, ngã, tịnh" trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh mà chúng ta tụng đọc. "Thường" này có thể nói chính là tự nhiên, tự nhiên, tự tại, tự như chính là "thường". "Lạc" là gì? Chính là diệu lạc vô cùng, pháp vị diệu lạc vô cùng, không có phiền não. Còn "Ngã" thì sao? Ngã này là đại ngã, diệu đức của vũ trụ, tất cả đức tính của vũ trụ, địa thủy hỏa phong không, tất cả đức chính là ngã này. Còn "Tịnh" thì sao? Chính là hoàn toàn thanh tịnh.

Lần thuyết pháp này tại Cầu Vồng Sơn Trang, về chữ "ngã" này, có người nói rằng "địa thủy hỏa phong" đều đã đến. Về "địa" này, các vị mỗi ngày phải chạy rất xa, đều là đi trên mặt đất! Các vị đâu phải bay mà đến, cho nên là "địa". Các vị ma sát với mặt đất, bánh xe ma sát với mặt đất, ma sát 40 phút đến đây, rồi lại ma sát 40 phút để về, đây là "địa".

Còn "thủy" thì sao? Trời mưa. Mây đen vừa kéo đến thì mưa liền xuống, cho nên có nước, trời liền mưa.

Còn "hỏa" thì sao? Chiều hôm qua bỗng nhiên rất nóng, rất ngột ngạt, thời tiết cũng rất nóng, nhiệt độ tăng cao, đó chính là "hỏa".

Còn "phong" thì sao? Sáng hôm qua gió rất to, đã thổi bay mất một cái lều. "Địa thủy hỏa phong" đều đã đến, nhưng không sao cả, vũ trụ này và thân thể chúng ta đều là sự kết hợp của "địa thủy hỏa phong", toàn bộ vũ trụ, toàn bộ con người chúng ta đều là sự kết hợp của "địa thủy hỏa phong", đó chính là "ngã".

Bạn sống giữa vũ trụ này, tùy thuận với địa thủy hỏa phong để điều phục địa thủy hỏa phong trong cơ thể mình, nếu bạn điều hòa tứ đại tốt thì sẽ không bị cảm cúm. 

Trước khi tôi thuyết pháp lần này, có rất nhiều đệ tử đến, trong đó cũng có người bị cảm. Tôi cũng rất sợ! Trong số các bạn có một người ho một tiếng về phía tôi, đúng lúc tôi hít vào, thế là có mấy nghìn con vi khuẩn vào cơ thể tôi. Tôi là người luyện khí, nếu không có sức đề kháng, thì bảy ngày, tám ngày, chín ngày, mười ngày, tôi sẽ ở đây ho.

Nếu cổ họng tôi có vấn đề thì làm sao tôi thuyết pháp? Thế thì không tự tại rồi! Cho nên trong mấy ngày này, khi các bạn ho về phía tôi, tôi liền mau mau mặc giáp hộ thân, luyện khí! Tôi không thể ho được! Nếu tôi ho, quay video lại, ôi, thảm rồi! Ho liên tục như vậy, trông giống người khai ngộ không? Người ta nhìn tôi: "Đúng là tên nghiện Đông Á!" "Đâu phải là người khai ngộ?" "Người luyện khí cái gì chứ?"

Ngày xưa chúng ta xem hát bội, "Người luyện khí ở lều bí đỏ", người luyện khí này thật ra cũng có đạo lý của nó, chúng ta học Phật, học Mật đều là luyện khí, cho nên gọi là người luyện khí, hành giả yoga. Hành giả yoga chính là đang luyện khí, khai thông kinh mạch, nâng cao minh điểm. Luyện khí này làm cho thể lực tốt hơn, sau đó có sức đề kháng, trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại.

Hôm nay tu chính là tu để trăm bệnh không nhiễm kim cương bất hoại, nhưng không thể nói khoác, bởi vì ở đây cũng có vận mệnh, có lúc bệnh ma tìm đến bạn, có lúc vận mệnh của bạn đã định sẵn phải mắc một trận bệnh nặng, tôi cũng không có cách nào. Tôi không dám nói to tát đâu, mỗi lần tôi vừa nói to tát là xong luôn.

Cái "thường lạc ngã tịnh" này, "thường" chính là tự nhiên, con người bạn rất tự nhiên, rất tùy duyên, tùy tục tùy hỷ, tự nhiên, nhìn không thấy có gì cả, nhưng trong tâm có diệu lạc vô cùng, đạt được pháp vị rất lớn. Còn "ngã" này thì sao? Là địa thủy hỏa phong không của vũ trụ tương hỗ điều ngự, tương hỗ qua lại, tương hỗ dung hợp dung nhập, còn "tịnh" này là một loại thanh tịnh hoàn toàn, đây mới là bậc khai ngộ.

Bậc khai ngộ là người có đạo, chính là Pháp Vương Tử, chính là Phật tử, không phải là kẻ điên, khác với kẻ điên, cũng khác với kẻ lừa đảo, các bạn phải phân biệt rõ ba loại này, tất cả đều rất giống nhau, có một số bậc khai ngộ thật sự có vẻ điên điên khùng khùng. Chẳng phải tôi đã viết một bài "Pháp Vương điên Lư Thắng Ngạn" sao? Tuy ông ấy điên điên khùng khùng, nhưng điên có đạo lý, điên tự tại, điên tự nhiên, điên tự như. Ngoài ra, phải cẩn thận, cũng có những kẻ dựa vào Phật pháp để lừa gạt chúng sinh, thường xuyên tự xưng là khai ngộ, rất nhiều.

Về mặt Lý, các bạn đều đã biết rồi, có thể nói về mặt lý thuyết các bạn đều đã hiểu, đều đã khai ngộ, nhưng về thực tu chưa chắc đã chứng ngộ đến cảnh giới khai ngộ. Có người cũng nói với tôi: "Con đã khai ngộ rồi, con có một việc rất quan trọng muốn thưa với Sư Tôn." Tôi nói: "Việc quan trọng gì vậy?" Vị khai ngộ này lại nói: "Muốn hỏi việc." Hỏi cả nửa ngày cũng chỉ là muốn hỏi tại sao gà nhà họ không chịu ăn gạo? "Gà nhà anh không ăn gạo thì liên quan gì đến tôi?" Tôi cũng không biết.

Cho nên người khai ngộ, lời nói của họ phải có trí tuệ, bản thân họ phải có trí tuệ, họ không thể để lộ ra ba độc tham sân si. Các bạn hãy chú ý điều này. Đối với bậc khai ngộ, các bạn phải có sự lựa chọn sáng suốt. Ví dụ như họ có thể giảng giải Phật lý, họ có Phật pháp hợp lý, như Chân Phật Mật Pháp, nếu không phải là người đã thâm nhập và nghiên cứu trong thời gian dài thì không thể giảng giải được.

### 29. Mười lực Như Lai

1. Biết trước tất cả sự vật

Hôm nay chúng ta bàn về mười lực Như Lai, Như Lai chính là bậc giác ngộ. Thứ nhất, Ngài biết tất cả sự vật, điều được đề cập ở đây là sự thấu hiểu tường tận, rõ ràng minh bạch, Như Lai Phật biết tất cả sự vật. Khi một người đến trước mặt Ngài, Ngài nhanh chóng biết được mọi ngọn ngành của tất cả sự việc, biết được lai lịch của người đó, điều này nói lên điều gì? Đối với đạo lý của toàn thể vũ trụ, tất cả những đạo lý giữa vũ trụ này, Ngài đều thấu tỏ, biết được tất cả sự vật, như tôi thường đề cập trong những lần trò chuyện, đối với mọi việc, tất cả mọi thứ Ngài đều thấu hiểu tường tận, rõ ràng minh bạch, hiện tượng này chính là một trong những lực trí huệ của Phật.

2. Hiểu rõ nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh

Thứ hai, biết nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh. Điều này có thể nói là sự tiếp nối của điều thứ nhất, biết được nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh. Làm sao biết được? Bởi vì trên thân của bạn đều có dấu ấn, mỗi người đều mang dấu ấn, tiền kiếp của bạn là gì, vị lai sẽ ra sao? Chỉ cần đạt được trí huệ Như Lai, họ đều biết được, bởi vì trên thân bạn có dấu ấn.

Tôi đã từng nói, tôi thấy mọi người đều là đồ cổ, bạn ở thế gian này cùng lắm có người sống được bốn mươi mấy tuổi, có người năm mươi mấy tuổi, có người mới hai mươi mấy tuổi, ba mươi mấy tuổi, chưa tính là đồ cổ phải không! Nhưng mà tôi biết tiền kiếp của bạn, bạn đến gặp tôi, tôi sẽ nói, nhưng không thể nói bừa. Tiền kiếp bạn làm gì, kiếp này trên thân bạn đều mang dấu ấn của tiền kiếp.

Tại sao gọi các bạn là đồ cổ? Bởi vì bề ngoài các bạn chỉ sống được hai mươi mấy tuổi, ba mươi tuổi trong kiếp này, nhưng thực tế tiền kiếp các bạn đã sống đến chín mươi tuổi, cộng lại đã là một trăm hai mươi tuổi, thế thì đã là đồ cổ rồi. Nếu tính thêm kiếp trước, kiếp trước nữa thì sao? Không chừng các bạn đã sống được mấy nghìn tuổi rồi! Đúng không? Các bạn đã sống cả nghìn tuổi, vạn tuổi, không phải đồ cổ thì là gì?

Cho nên một bậc khai ngộ với trí huệ Như Lai, Ngài biết được nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh, trên người các bạn đều mang dấu ấn; nhìn thấy dấu ấn đó, liền biết được tiền kiếp các bạn làm gì, có bao nhiêu nghiệp chướng, làm được bao nhiêu việc thiện, có bao nhiêu phúc báo, có bao nhiêu nghiệp báo, tất cả đều có dấu ấn trên thân các bạn.

3. Biết phương pháp giải thoát phiền não

Trong trí huệ Như Lai, Ngài biết về giải thoát, tri giải thoát. Tri giải thoát là gì? Như tôi đã nói, muốn giải thoát bản thân, các bạn phải quán chiếu thế gian vô thường, phải nhanh chóng cầu xuất ly, phải nhanh chóng tu thành vô ngã, giải thoát tất cả phiền não; quy trình này, thứ tự này được giảng giải rõ ràng, tường tận, đây chính là trí huệ của Như Lai, biết được phương pháp giải thoát. Vậy nên hiện giờ đang dạy mọi người cách giải thoát, đây chính là tri giải thoát.

4. Biết được ưu khuyết của chúng sinh

Tiếp theo là biết được ưu khuyết của chúng sinh. Điều này có thể nói như thế này, biết được ưu khuyết của chúng sinh; ưu là mặt tốt, khuyết là mặt xấu. Mặt tốt bạn có thể vận dụng sở trường của mình, mặt xấu thì phải loại bỏ nó đi, đây là tập tính của con người, là nói về tập tính vốn có của con người.

Trong Mật giáo, tiền kiếp của bạn, ồ, giả sử là chicken, là gà, thì đời này lòng tham của bạn rất nặng, đời này lòng tham sẽ rất nặng, bởi vì người ta thấy được tiền kiếp của bạn là một con gà mà! Gà thì tham dục rất nặng. Nếu thấy tiền kiếp của bạn là một con snake (rắn), thì đời này tâm sân của bạn sẽ rất nặng, gặp người là muốn cắn người, là một con rắn, tâm sân của nó rất nặng. Nếu tiền kiếp là một con pig, là một con lợn, thì đời này, tâm si của người đó sẽ đặc biệt nặng, ngu si. Cho nên ba con vật này đại diện cho tham, sân, si.

Chúng ta phân biệt chúng sinh như vậy, không phải là phân biệt đối xử với chúng sinh, mà chỉ là biết được tập tính vốn có của người đó, làm sư phụ thì dễ dàng dạy họ hơn, dạy theo tập tính của họ.

Thời Đức Phật, Ngài có hai đệ tử, vị tỳ kheo nam là Ca Lưu Đà Di, Ca Lưu Đà Di có tập tính khá nặng, tính xấu của ông là gì? Tính xấu của ông là hay phạm đào hoa.

Hoa đào rất đẹp, tại sao lại phạm đào hoa? Chuyện là như thế này, mỗi lần Phật Thích Ca Mâu Ni muốn độ các nữ chúng sinh, Ngài đều sai ông đi. Bởi vì ông hay phạm đào hoa, phụ nữ nhìn thấy ông đều sinh lòng hoan hỷ, nên ông nói gì họ cũng nghe, vì vậy Phật Đà đặc biệt sai ông đi làm công tác ngoại giao với nữ giới. Tập tính của ông rất nặng, lại thích phụ nữ; không giống như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, họ chẳng bao giờ đụng chạm đến phụ nữ.

Ca Lưu Đà Di này, ông có tập tính nặng về phụ nữ; cuối cùng ông cũng bị người ta sát hại, nguyên nhân chính là vì ông quá gần gũi với thế tục, quá gần gũi với các gia đình thế gian. Người tu hành đôi khi cần phải tránh quá gần gũi với gia tộc người khác, tránh quá nhập thế.

Trước đây thầy tôi có một giới luật dạy tôi: "Nếu không ai mời, con không được tự tiện đến nhà người khác." Hôm nay các vị mời tôi đến nhà, tôi mới đến, nếu không ai mời, tôi không được tự tiện đến nhà người khác chơi, không thể được, bởi vì sợ bị ô nhiễm bởi thế tục.

Ngày xưa Ca Lưu Đà Di thường xuyên tự tiện đến nhà người khác chơi, nên đã bị người ta sát hại, đó là do tập tính của ông ấy quá nặng.

Còn người thứ hai có tập tính nặng hơn, đó là Đa Lan Nan Đà, một vị tỳ kheo ni, bà là một "mụ phàm phu", bà rất ghét Đại Ca Diếp, bởi vì Đại Ca Diếp rất nghiêm túc, ngài không bao giờ nhìn phụ nữ. Đa Lan Nan Đà này sáng sớm vừa ra khỏi cửa đã gặp Đại Ca Diếp, liền mắng: "Xui xẻo quá! Vừa sáng sớm đã gặp gã ngoại đạo này." Rồi bà bắt đầu chửi.

Bà ấy rất ương ngạnh, trong giáo pháp của Phật Đà có "bát kính pháp", là tám phương pháp mà tỳ kheo ni phải tôn kính tỳ kheo, nhưng bà không tuân thủ điều nào cả; với thân phận một tỳ kheo ni, bà lại dám mắng một vị tỳ kheo nam, một đại đệ tử của Phật như vậy.

Tuy nhiên Phật Đà biết được tập tính của bà, nên đã dùng nhiều phương pháp để giáo hóa bà, chứ không đuổi bà ra khỏi tăng đoàn. Cho nên ngay từ đầu, Phật Đà dạy các đệ tử đều tùy theo căn cơ mà giáo hóa. Vì tính bà hung hăng mà, cho nên Ngài sai bà đi đối phó với những kẻ bên ngoài xúc phạm, những sự sỉ nhục từ bên ngoài, cứ phái bà ra đối phó.

Đôi khi một người đàn bà ương ngạnh như vậy cũng có điểm tốt, người ta chưa kịp mở miệng, bà đã như súng liên thanh, bắn liên tục quét ngã tất cả mọi người.

Nếu bạn phái một vị tỳ kheo ni hiền lành, hoặc một vị tỳ kheo ni nói năng nhã nhặn đi thì không được đâu! Cãi nhau được gì với người ta? Nhất định phải phái những người đàn bà ương ngạnh này, đội quân của những người đàn bà ương ngạnh.

5. Biết được cấp độ giải thoát của chúng sinh

Thứ năm là gì? Cần phải biết được cấp độ giải thoát của chúng sinh, phải có khả năng biết được trí huệ giải thoát của mỗi chúng sinh; đây cũng là tùy căn cơ mà giáo hóa.

Chúng ta biết rằng khi Như Lai mở miệng nói, trong hư không liền hóa thành pháp âm, pháp âm này phân thành vạn loại, vang đến tận nơi xa xôi. Ngài Mục Kiền Liên đã từng bay đến Phật quốc ở phương Đông để nghe Như Lai thuyết pháp, ở đó vẫn có thể nghe được Như Lai thuyết pháp, cho nên pháp âm này cũng rất vi diệu. Đôi khi Như Lai thuyết pháp, một âm diễn hóa vạn pháp, một loại âm thanh khi nói ra biến thành vạn loại âm thanh, độ vạn loại chúng sinh, đây là sức mạnh nhiếp triệu của Như Lai.

Phật Đà đã từng mất tích trong tăng đoàn, mất tích mất mấy tháng. Mất tích rồi, không thấy đâu. Phật Đà đi đâu rồi, không ai biết, hóa ra Ngài đã dùng thần túc mà đi. Thần túc đi đâu vậy? Đến cung trời Đao Lợi giảng "Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện" cho phu nhân Maya nghe.

Ngài thuyết pháp trên thiên giới ba tháng, ai là người phát hiện ra? Đó là A Na Luật. Tôn giả A Na Luật dùng thiên nhãn quan sát và nói rằng: "Đức Phật đã đến cung trời Đao Lợi, đến đó thuyết giảng "Kinh Địa Tạng Vương Bồ Tát Bản Nguyện" cho phu nhân Maya nghe; khoảng ba tháng sau Ngài mới trở về."

Đức Phật có thể biến mất như vậy, đó là thần thông gì? Đó chính là thần túc thông. Thần túc thông này không phải là xuất nguyên thần, mà là cả thân xác lẫn thần thức cùng bay lên.

Gần đây tôi đang luyện công, rất kỳ lạ, hai tay đều dang ra như thế này, ồ, cứ cố gắng bay! Giống như chim đang bay vậy. Tôi nghĩ sau này có một ngày, tôi cũng sẽ mang cả thân xác bay lên, bay lên thiên giới để thuyết pháp.

6. Biết tất cả các cảnh giới

Thần lực của Như Lai, trong mười loại lực của Ngài, bao gồm loại thứ sáu là tri cảnh giới, tức là biết các loại cảnh giới. Là người học Phật, cảnh giới của bạn đã đạt đến đâu, chứng lượng của bạn được bao nhiêu, chứng phần của bạn được bao nhiêu, khả năng của bạn được bao nhiêu, lực của bạn được bao nhiêu, trí tuệ của bạn cao đến đâu, đều phải được phân biệt rõ, tức là phải biết cảnh giới của bạn đã đến đâu rồi. Bạn đã đạt đến cảnh giới A La Hán? Đến cảnh giới Bồ Tát? Đến cảnh giới Phật? Cảnh giới Duyên Giác? Cảnh giới Thanh Văn? Cảnh giới Hậu Bổ Phật? Tất cả những điều này đều nằm trong thập lực của Như Lai, Ngài có thể dùng trí huệ của Như Lai để quan sát ra.

Phật Đà đã từng đến cung trời Đao Lợi thuyết pháp, cũng đã từng đến long cung thuyết pháp. Nếu như tôi cũng biểu diễn mất tích: "Sư Tôn mất tích rồi, không thấy đâu, không ai biết ngài đi đâu?" Rồi một ngày đột nhiên xuất hiện: "Đi đâu vậy?" "Tôi đi đánh cờ với Đại Ca Diếp." Sự mất tích này phải rất bí mật, nếu để lộ tung tích thì thật là tệ.

Những người tu luyện khí như chúng ta, muốn đạt được thần túc thông thì phải nhiều khí ít thịt; khi bạn tu luyện được khí này, có thể hòa nhập với vũ trụ, những phàm thịt trên thân thể bạn, những dục vọng, những thịt mang tính phàm tục này, những dục vọng này phải rất ít, thì mới có thể lên trời, xuống đất, muốn đi đâu, có được oai thần lực là có thể đi.

Nói về việc xuống địa ngục, Quang Mục Nữ hỏi Vô Độc Quỷ Vương: "Ai có thể xuống địa ngục?" Ngài đáp: "Chỉ có hai loại, một là nghiệp chướng hiện tiền, nghiệp lực dẫn dắt xuống địa ngục; hai là có oai thần lực thì có thể xuống địa ngục."

Hôm nay thập lực của Như Lai có thể xuống địa ngục, lực gì vậy? Oai thần lực! Tôi muốn xuống địa ngục! Tôi muốn đi thăm đệ tử! Đệ tử này ở trong địa ngục quá khổ sở, tôi dạy y Chân Phật Mật Pháp mà y không chịu tu, ngày nào cũng uống rượu, đúng không? Bề ngoài thì nói với Sư Tôn: "Con không có cách nào! Con phải đi giao tế xã giao." Giao tế xã giao mà bên ngoài nuôi hai bồ nhí? Toàn là những chuyện dơ bẩn đầy dục vọng trong đầu.

Ngày nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện kiếm tiền, kiếm tiền cho ai? Cho chính mình à! Tôi thấy ngay cả bản thân ông cũng chẳng tiêu được, để lại cho con cháu ư? "Vì ai vất vả, vì ai bận rộn?" Con cháu chúng không biết ăn sao? Chúng không biết làm việc sao? Con cháu tự có phúc của con cháu, ông vất vả như vậy để làm gì? Cho nên, tu hành mới là quan trọng. Không còn kịp nữa rồi, có người nói: "Sang năm tôi sẽ tu!" Còn bao nhiêu cái sang năm nữa? Ông còn được bao nhiêu cái sang năm? Biết đâu nửa năm nữa ông đã ra đi rồi, còn sang năm tu nữa? Không còn kịp nữa! Cho nên có những đệ tử đến giờ vẫn chưa từng tu pháp, cũng chẳng tu tập gì, họ nói "Tôi đã quy y rồi!" "Tôi có trì chú mà!" "Những thứ tốt đẹp từ từ rồi sẽ tới!" Đây chính là rắc rối.

Cho nên bạn phải hiểu được cảnh giới, thần túc thông là "nhiều khí, ít thịt", khí nhiều thịt ít thì bay lên, khí ít thịt nhiều thì rơi xuống, rất đơn giản, tôi đã nói với mọi người rồi. Thịt của bạn quá nhiều, khí quá ít, thế thì xuống địa ngục. Bạn muốn lên thiên đường thì khí nhiều thịt ít, bạn sẽ có thể bay lên.

7. Biết nhân quả của tất cả đạo hạnh

Thứ bảy là biết nhân quả của đạo hạnh, tức là biết nhân quả, gieo nhân nào, gặt quả nấy. Tôi nhớ Thượng sư Liên Trí có kể, trong bệnh viện có một tấm biển: Ăn gì thì sẽ trở thành người như thế. Tấm biển trong bệnh viện là như vậy đấy! Ăn gì thì sẽ trở thành người như thế.

Đó là nhân quả! Câu nói này rất đơn giản, chính là nhân quả. Bạn ăn gì là nhân, bạn trở thành người như thế nào là quả, bạn không ăn gì thì làm sao có quả đó? Đúng không? Trong đó đều có nhân quả, cho nên mới nói trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, gieo thiện gặt thiện, gieo ác gặt ác, điều này phải hiểu rõ nhân quả.

Trong thập lực của Như Lai có nói đến biết tất cả nhân quả của đạo hạnh, Ngài đều hiểu rõ ràng. Nhân quả của bạn là gì? Làm sao tránh những quả báo này? Bạn đã gieo những nhân này thì làm sao hóa giải? Làm sao để giải? Làm sao biết cách giải thoát? Đây chính là một trong mười lực của Như Lai. 

8. Thiên nhãn thông

Chúng ta vừa đề cập đến thứ tám là thiên nhãn. Trong số đệ tử của Phật Đà, có một vị được gọi là thiên nhãn đệ nhất, đó là A Na Luật. Tôn giả A Na Luật là bậc thiên nhãn đệ nhất, Ngài có thể dùng thiên nhãn nhìn thấy Phật Đà thuyết pháp ở cung trời Đao Lợi, đó chính là A Na Luật.

Tại sao A Na Luật lại trở thành thiên nhãn đệ nhất? Trong chúng ta có rất nhiều A Na Luật, ở đây có rất nhiều A Na Luật. Thiên nhãn đệ nhất, tốt lắm! Thực ra Ngài là người thích ngủ gật nhất, trước kia khi nghe Phật thuyết pháp, tinh thần của A Na Luật không thể nào tỉnh táo nổi, lần nào Ngài cũng như thế này (Sư Tôn làm động tác ngủ gật), cầm chuỗi hạt, lần chuỗi "Ôm a-mi-tê-wa sê, Ôm a-mi-tê-wa sê, Ôm… " (Sư Tôn làm động tác ngủ gật). Đức Phật ở trên nhìn xuống, "Đệ tử này, ôi! Thật là tệ." Phật biết nhân quả, Ngài nói với A Na Luật rằng "Nếu ông cứ tiếp tục như vậy, ông sẽ đọa xuống long cung đấy." "Long cung? Long cung cũng tốt mà! Theo hầu Long Vương!" "Không tốt đâu, làm con sò bên cạnh long cung ấy."

Con sò là gì? Vỏ sò, con sò đấy! Chính là con sò. Bởi vì ông cứ ngủ! Ông trốn trong vỏ sò đó, mãi mãi ở trong đó không thấy ánh mặt trời, cái vỏ sò đó che kín ông lại, ông mãi mãi ngủ trong đó. Đức Phật biết nhân quả đấy! Ngài nói với A Na Luật rằng: "Nếu ông cứ tiếp tục như vậy thì không xong đâu, ông sẽ đọa xuống long cung làm con sò, không phải để hưởng thụ đâu, mà là làm con sò dưới đáy biển. Con sò đó không thấy ánh mặt trời, dùng cái vỏ để che kín mình lại, thường xuyên ngủ trong đó, một giấc ngủ cả mấy nghìn năm."

Tôi đã từng nói rồi, nếu như khi chúng ta đang tu pháp, lúc nhập Tam ma địa mà các bạn lại nhập "tứ ma địa" <span className="note-blue">[ngủ gật]</span>, phương pháp đối trị là trước tiên phải mở mắt ra, mắt phải mở ra; bởi vì nhắm mắt rất dễ bị hôn trầm, các bạn phải mở mắt ra. Nếu vẫn không được, hai tay đan vào nhau, dùng lực đẩy, tạo ra sức mạnh, tạo ra lực để làm cho tinh thần phấn chấn một chút. Nếu vẫn không được, ưỡn ngực, thu cằm, mắt nhìn thẳng, đây là kiểu bộ đội đấy! Các anh lính nói, thu cằm, ưỡn ngực, mắt nhìn thẳng, nhìn về phía trước, chính là để làm cho tinh thần phấn chấn lên một chút. Nếu vẫn không được thì đứng dậy trì chú, kinh hành. Kinh hành chính là trì chú, niệm Phật! Cứ thế đứng dậy đi động.

Thực ra, nếu bạn không được khỏe, bị cảm cúm, điều đó có thể tha thứ được, vì bạn đang bệnh; hoặc bạn từ nơi xa đến, từ Đài Loan đến, từ Đông Nam Á đến, có sự chênh lệch múi giờ, trong những ngày đầu tiên đó, chênh lệch múi giờ thật sự không thể tránh khỏi, đến giờ ngủ là phải ngủ, điều đó cũng có thể thông cảm được. Nhưng bình thường thì không thể 365 ngày, thậm chí 366 ngày, mỗi lần tu pháp nhập Tam ma địa đều ngủ gật được. Đức Phật đã nói rằng, thôi thì ông xuống long cung đi, ta không thể dạy ông được nữa, để Long Vương dạy ông pháp vậy.

Vì thế, sau khi Phật Đà nói những điều này với A Na Luật, từ đó A Na Luật không nhắm mắt nữa, nghĩa là hai mắt luôn mở to, Ngài phát nguyện với Phật vĩnh viễn không nhắm mắt lại, luôn nỗ lực, tinh tấn tu tập. Tu đến cuối cùng, vì Ngài không ngủ mà, không ngủ nên mắt hỏng mất, sau khi hỏng thì sao? Đức Phật dạy Ngài cách khai mở thiên nhãn, tuy hai mắt thịt của Ngài đã hỏng, nhưng Ngài đã đạt được thiên nhãn. Cho nên, Tôn giả A Na Luật đạt được thiên nhãn là như vậy đó. Con người phải có quyết tâm, có nghị lực, phải tinh tấn mới có thể đạt được thành tựu lớn.

Đặc biệt trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" có viết rằng, khi Sư Tôn thuyết pháp, khi đang thuyết pháp ở đây, mà bạn cứ lắc lư qua lại như thế, giống như khi Sư Tôn giảng pháp, bạn cứ lắc đầu "No, No". Bạn không phải đang trêu chọc tôi sao? Đúng không? Tôi giảng pháp thế nào bạn cũng lắc đầu. Bạn đang khinh thường tôi đấy! Điều này không được phép. Cho nên, hình ảnh của tông phái chúng ta cũng rất quan trọng. Chưa nói đến việc khi chúng ta làm pháp hội, mỗi vị Thượng sư đều đội mũ Ngũ Phật, kết quả là mũ sắp rơi xuống rồi.

Thực ra khi tôi đang thuyết pháp ở trên đó, giả sử tôi đang nhập Tam ma địa, tôi cũng gật gù như thế này, tôi còn có thể giải thích rằng tôi đang đàm đạo với Như Lai mà! "Ồ! Thế à! Phải! Phải! (gật đầu) OK, I know." Đây là Phật đang nói chuyện với tôi, tôi đang nói chuyện với Ngài, cứ nói qua nói lại; talk, speak, chính là đang đàm đạo với Phật, điều này tôi còn có thể giải thích được. Còn các ông ngồi ở bên cạnh, mũ Ngũ Phật sắp rơi xuống rồi! Ôi! Đây đúng là một vấn đề. Cho nên hy vọng những người thích ngủ gật, tinh thần không phấn chấn, phải luyện khí, khí đủ rồi thì tinh thần sẽ đủ.

Khi khí đủ đầy rồi thì giống như xe tải trên xa lộ freeway vậy, bạn mới có thể xuất phát như một đội "quyết tử thần phong". Chúng ta đều phải như vậy, người tu hành phải có tinh thần sung mãn, không thể ủ rũ không có sức sống, nếu ủ rũ thì không giống người tu hành.

9. Túc mệnh thông

Thứ chín là túc mệnh thông, nghĩa là bạn hiểu được tất cả túc mệnh. Túc mệnh cũng có nhân quả, bạn tạo nhân gì sẽ kết quả đó. Bạn biết được bao nhiêu đời kiếp, những điều này nằm trong băng ký ức trong não chúng ta, không cần phải lên kho trời để lấy. Người ta nói rằng trên trời có một kho báu, lưu giữ tất cả những đoạn phim về tiền kiếp của mọi người. Một ngày nào đó, nếu bạn lên đến kho trời và nói: "Tôi muốn tìm cuộn băng về tiền kiếp của mình." Khi đó thiên quan sẽ chiếu cho bạn xem, bạn sẽ: "Ồ! Thì ra tiền kiếp của tôi là như vậy." Bạn sẽ hiểu ra, đó chính là túc mệnh.

Thực ra cuộn băng này nằm trong tâm trí của bạn, chỉ cần bạn khai mở đến cảnh giới Pháp thân Phật của "bánh xe nghìn cánh", là có thể đạt được túc mệnh thông, toàn bộ túc mệnh bạn sẽ biết hết. Trong mười lực của Như Lai, Ngài đi vào trong hoa sen nghìn cánh của Pháp thân Phật của chính mình, biết được đủ loại quá khứ của mình, năm trăm đời trước, năm trăm đời sau đều rõ ràng minh bạch.

Cho nên trong mười lực của Như Lai có như vậy đó, Ngài không chỉ biết túc mệnh của chính mình, mà còn biết được túc mệnh của người khác nữa. Tôi còn biết túc mệnh của rất nhiều pháp sư đấy! Có nhiều pháp sư bây giờ làm kiểu gì mà đệ tử của họ đông đảo như vậy? Chùa chiền xây to như vậy, tại sao họ có thể hoằng dương được như thế? Tại sao tiếng tăm của họ lớn như vậy? Cánh tay của họ to lớn thế! "Cánh tay to!" Cánh tay to không phải là "Đại thủ ấn", tại sao họ có cánh tay to lớn như vậy? Chúng ta nhìn thử, ồ, thì ra phía sau họ là Đại Phạm Thiên Vương. À! Đại Phạm Thiên Vương đang ủng hộ họ từ phía sau. Chúng ta có thể từ lý niệm thuyết pháp của họ mà nhìn ra họ là ai. Chúng ta có thể qua cách thuyết pháp của họ, qua lý niệm của họ mà biết được vị thiên thần phía sau họ là ai.

Thực ra trên thế gian này, rất nhiều vị xuất gia có lai lịch đều có nguồn gốc của họ, vậy nên chúng ta biết được túc mệnh của những vị pháp sư này, chỉ cần bạn có được mười lực của Như Lai, bạn đều hiểu rõ. Sau này khi các bạn khai ngộ rồi, các bạn cũng sẽ hiểu ra. Ồ! Thì ra đằng sau vị đại pháp sư này là vị thiên thần nào đang ủng hộ. Ồ! Thì ra đằng sau vị đại sư phụ này là vị thiên vương nào đang ủng hộ. Bạn có thể hiểu rõ ràng tất cả, đó chính là đã có túc mệnh thông rồi, hiểu hết tất cả; không chỉ túc mệnh của chính mình, mà túc mệnh của người khác bạn cũng đều hiểu rõ.

1. Vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh

Thứ mười là gì? Là vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh. Vô sinh, vốn dĩ bản thân A La Hán đã là vô sinh rồi; "vĩnh viễn đoạn trừ vô sinh" có thể nói là Niết bàn tịch tĩnh, sau khi đạt được mười thần lực của Như Lai bạn sẽ biết được đời hiện tại của bạn cũng là vô sinh, đời quá khứ của bạn cũng là vô sinh, đời tương lai của bạn cũng là vô sinh, bạn hòa hợp trong ý thức vũ trụ này, bạn có thể Niết bàn. Khi bạn xuất hiện chính là Báo thân, Ứng thân, khi đi vào chính là Pháp thân của bạn, đi vào trong cảnh giới Pháp thân. Cảnh giới này, trạng thái này gọi là vô sinh, bạn hiểu được điều này thì không còn sợ hãi điên đảo nữa.

Hôm nay bỗng nhiên có người báo cho bạn một tin: "Thảm rồi, tờ báo lớn nhất của một quốc gia đăng tên bạn và chỉ trích bạn một trận." Không sợ hãi! "Thảm rồi, khắp thế giới đều có những cuốn sách nhỏ phỉ báng bạn." Không sợ hãi! "Thảm rồi, người ta sắp kiện bạn, nói bạn thế này thế kia..." Không sợ hãi! "Ôi! Bạn không biết đâu, có mấy người đang âm mưu hãm hại bạn, bạn phải cẩn thận khi ra ngoài đấy!" Không sợ hãi! Tại sao lại không sợ hãi? Bởi vì bạn đã chứng ngộ quá khứ vô sinh, hiện tại vô sinh, tương lai vô sinh, bạn là một vị thánh Niết bàn tịch tĩnh, một vị thánh hoàn toàn như như bất động, không có gì có thể lay động được bạn, đó gọi là không còn sợ hãi điên đảo. 

Cho nên một bậc đại tu hành, dù biết rõ phía trước có người muốn hãm hại mình, vẫn có thể thản nhiên tự tại chấp nhận cho họ hãm hại. Điều này chứng minh điều gì? "Không còn sợ hãi điên đảo". Trong mệnh số của bạn định sẵn là sẽ bị người hãm hại, giống như Tôn giả Mục Kiền Liên, Ngài không phải là không biết, Ngài đều biết cả, nhưng Ngài sẵn sàng trả những nghiệp báo này, bởi vì nghiệp báo hiện tiền, Ngài liền trả nghiệp báo đó. Đã có nghiệp báo này thì phải trả nghiệp báo này, có sao đâu! Tâm này chính là tâm vô sinh, quá khứ vô sinh, hiện tại vô sinh, tương lai vô sinh, là ý thức hòa nhập với toàn thể vũ trụ, đây chính là mười lực của Như Lai.

Vì vậy hôm nay tôi giảng về mười lực của Như Lai, thứ nhất là biết tất cả sự vật; thứ hai là biết nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh; thứ ba là biết sự giải thoát; thứ tư là biết sự giỏi kém của chúng sinh; thứ năm là biết trí lực giải thoát của chúng sinh; thứ sáu là biết cảnh giới; thứ bảy là biết nhân quả hành đạo; thứ tám là thiên nhãn; thứ chín là túc mệnh; thứ mười chính là vĩnh viễn đoạn vô sinh.

Tôi đã từng giảng về biết tất cả sự vật, điểm thứ nhất là biết tất cả sự vật, mỗi người chúng ta đều có địa thủy hỏa phong, vũ trụ cũng có địa thủy hỏa phong, những nguyên tố trong thân thể con người và những nguyên tố của vũ trụ đều thông với nhau; nếu có thể hiểu được đạo lý này, bạn hãy để địa thủy hỏa phong trong cơ thể mình hòa hợp với địa thủy hỏa phong của vũ trụ, sau đó lại dùng địa thủy hỏa phong của vũ trụ để ấn chứng với tất cả vạn sự vạn vật trong thế gian, bạn sẽ hiểu rõ tất cả mọi sự vật, sẽ có thể thấu hiểu tường tận, điều này rất quan trọng.

Bởi vì trời và người, khí mạch đều thông với nhau, việc bạn có thể trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại, chính là nhờ để địa thủy hỏa phong trong cơ thể hòa hợp với địa thủy hỏa phong của vũ trụ, mới có thể trăm bệnh không nhiễm, kim cương bất hoại.

### 30. 10 xưng hiệu của Phật

Phật là gì? Phật có mười danh hiệu.

Thứ nhất là Như Lai, thật ra Như Lai là gì? Không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, đó chính là Như Lai. Như đến như không đến, những lời này đều khá thâm sâu. Như lai như bất lai, không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, đây là Phật, đây là danh hiệu, một trong mười danh hiệu của Phật.

Thứ hai là Ứng Cúng, Ứng Cúng là gì? Khi bạn thực sự gặp được một bậc giác ngộ, một vị Phật, bạn nên cúng dường Ngài, đó chính là Ứng Cúng, nên cúng dường; bởi vì dù bạn không muốn cúng dường Ngài, bạn cũng sẽ tự động cúng dường Ngài, tại sao? Bởi vì trong Ngài có ý thức vũ trụ, Ngài có một loại lực nhiếp thọ tỏa ra, trong tâm bạn sẽ tự nhiên sinh khởi lòng tôn kính, tự nhiên sẽ cúng dường. Nên cúng dường, đây là danh hiệu thứ hai của Như Lai.

Thứ ba là Chính Biến Tri. Chính Biến Tri là gì? Tức là biết tất cả sự vật, như vừa mới nói. Như Lai là quang minh, nhưng ánh sáng của Ngài cũng chiếu rọi vào bóng tối, đó gọi là Chính Biến Tri. Là chính tri, có sự hiểu biết chân chính, thấu tỏ tất cả mọi sự vật, đó là biết tất cả, đó gọi là Chính Biến Tri.

Danh hiệu thứ tư gọi là Minh Hạnh Túc, là thấu hiểu con đường tu hành phải đi. Minh Hạnh Túc chính là hiểu rõ phương pháp và thứ tự giải thoát, biết phải đi như thế nào. Đây là danh hiệu thứ tư của Phật.

Thứ năm, Thiện Thệ. Thiện Thệ, chính là Như Lai! Muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, muốn sinh thế nào thì sinh thế ấy, muốn diệt thế nào thì diệt thế ấy, đó gọi là Thiện Thệ. Thiện là tốt đẹp, Thệ là biến mất và xuất hiện. Cho nên Phật, Như Lai đều là trò chơi thần thông. Ngài cao hứng lên đi thì Ngài đi; Ngài cao hứng lên muốn đến thì Ngài đến, hoàn toàn là một trò chơi, một thần thông.

"Hmm! Kiếp sau tôi muốn sinh ra ở đâu nhỉ?" Tôi thường suy nghĩ về vấn đề này, "Kiếp sau làm người gì thì tốt?" Kiếp sau tôi làm người phương Tây chăng? Tôi không thích lắm, thật đấy. Vậy kiếp sau làm người Trung Quốc chăng? Ồ! Ý tôi là Trung Quốc Đại Lục.

Như chúng ta đã biết, ngày xưa người Đài Loan bị người Hồng Kông bắt nạt, người Hồng Kông là kẻ lừa đảo; ngày xưa người Hồng Kông chuyên bắt nạt người Đài Loan, tôi nhận thấy người Đài Loan bị người Hồng Kông bắt nạt, nhưng người Hồng Kông lại bị người Đại Lục bắt nạt.

Người Đài Loan thì quê mùa hơn! Tính tình quê mùa nặng hơn, nên chúng ta gọi là "khoai lang". Người Đại Lục thông minh hơn, nên chúng ta gọi là "khoai môn". Khoai lang thì quê mùa hơn! Khoai môn thì có vẻ cao quý hơn một chút. Có sự phân biệt như vậy đấy.

Đây là vấn đề phong thủy! Như người Đài Loan, bạn biết đấy, các cô gái Đài Loan, gương mặt trông rất giống "khoai lang", khá quê mùa. Các cô gái từ Đại Lục đến, thực sự có một cái chất đặc biệt khác biệt đấy! Họ chính là "khoai môn", khí chất của họ khác; đó là do phong thủy, không có gì phải bàn cãi, mỗi nơi sinh ra đều khác nhau. Giống như người Tây Tạng, ví dụ người dân tộc miền núi ở Đài Loan, tộc A Mi, như người thổ dân da đỏ ở Mỹ, khí chất của họ khác với người bản địa, có thể nhìn thấy được.

"Vậy tôi sẽ sinh ra ở đâu đây?" Nếu tôi sinh ở Thái Lan, đó là một đất nước Phật giáo, nhưng đó là nước theo Tiểu thừa, tầm nhìn không rộng. Còn ở Sri Lanka, mặc dù họ dùng tiếng Pali, thời Đức Phật cũng dùng tiếng Pali, là nơi có Phật giáo nguyên thủy, nhưng tri thức của họ bị bế tắc. Nếu tôi sinh ở Ấn Độ thì lại có Bà La Môn giáo, có đạo Sikh, vừa nghèo nàn, vừa lạc hậu. Thôi vậy! Sinh ở Trung Quốc thì tôi lại sợ chủ nghĩa đó. Sinh ở Đài Loan thì lại là khoai lang. Sinh ở Hồng Kông, nói thật, tôi rất ghét tiếng Quảng Đông, cái giọng cứng ngắc ấy, trời ơi! Khó nghe quá!

Nói thật, tiếng Quảng Đông thực sự rất khó nghe! Thật đấy, đừng biến văn phòng của chúng ta thành "Tiểu Hồng Kông" chứ! Trung tâm hồi đáp thư tín của tôi bây giờ đã biến thành "Tiểu Hồng Kông" rồi, mở miệng ra là tiếng Quảng Đông, khó nghe quá, nghe như đang cãi nhau ấy!

Phương Tây thì không đến, phương Đông cũng không đi, vậy đi đâu đây? Đến giờ vẫn chưa có câu trả lời.

Cho nên cần phải Thiện Thệ, Thiện Thệ là đến tốt, đi tốt, đến tốt đi tốt. Như Lai là như vậy đó, Ngài thiện thệ, sự ứng hóa của Ngài rất vi diệu, rất tốt đẹp, Ngài là trò chơi thần thông, là tự tại, cho nên Ngài có thể tự chủ sinh tử. Hôm nay dạy mọi người tu hành, có thể tự chủ sinh tử chính là phải có được cái ý vị này, phải thiện thệ.

Còn có một xưng hiệu là Thế Gian Giải, thế gian giải là gì? Là hiểu biết tất cả kiến thức của thế gian. Trong Phật học cũng có môn học Ngũ Minh, môn Ngũ Minh chính là thế gian giải. Khi bạn đã hiểu rõ, bạn phải biết cách chữa bệnh cho người khác, đó chính là thế gian giải. Hiểu được công xảo minh, bạn biết quay phim, biết điêu khắc, biết vẽ tranh, biết làm thơ, trong đó có công xảo minh. Môn học Ngũ Minh này chính là những điều thuộc về thế gian giải, là hiểu biết tất cả kiến thức của thế gian. Như Lai là bậc thấu hiểu điều này, cho nên đây cũng là một trong những danh hiệu của Ngài.

Vô Thượng Sĩ, thế nào gọi là Vô Thượng Sĩ? Hiện nay có người gọi là Vô Thượng Sư, Vô Thượng Sư thực ra chính là Vô Thượng Sĩ! Cũng là một trong những danh hiệu của Phật. Có nghĩa là, trong thế giới này không có ai cao hơn ta nữa, Ngài là đệ nhất. Giống như Như Lai là đệ nhất, không có đệ nhị.

Vậy còn năm vị Phật thì sao? Trong năm vị Như Lai ai là đệ nhất? Đại Nhật Như Lai nói ta là đệ nhất, vậy A Di Đà Phật là đệ nhị rồi! Bất Không Thành Tựu Phật là đệ tam rồi! A Súc Phật là đệ tứ rồi! Bảo Sinh Phật là đệ ngũ rồi. Không phải như vậy đâu! Tất cả đều là đệ nhất! Chúng ta chỉ có thể nói Đại Nhật Như Lai là đệ nhất, A Di Đà Phật là đệ nhất thứ nhất, Bất Không Thành Tựu Phật là đệ nhất thứ hai, như vậy được, dù sao cũng đều là đệ nhất mà! Đó gọi là Vô Thượng Sĩ, không có ai cao hơn nữa, chỉ cần chứng đắc Như Lai thì là đệ nhất rồi, không có ai cao hơn nữa.

Điều Ngự Trượng Phu, thế nào gọi là Điều Ngự Trượng Phu? Đó là Ngài hoàn toàn làm công việc điều phục chúng sinh ở thế gian. Trượng phu là một vị đại nhân, không phải là tôi là chồng của bạn, bạn là vợ của tôi, không phải giải thích theo kiểu đó, không phải giải thích theo từng chữ. Thế nào là Trượng phu? Phật Thích Ca Mâu Ni là trượng phu của ai? Da Du Đà La ư? Đó là Điều Ngự Trượng Phu. Trượng phu chính là một vị đại nhân, là một bậc vĩ nhân. Còn điều ngự có nghĩa là: chỗ nào cần cao hơn một chút, chỗ nào cần thấp hơn một chút, cần phải cân bằng. Ngài làm công việc này ở thế gian; đối với tâm linh con người, chỗ nào lệch lạc, Ngài điều chỉnh lại, chỗ nào quá căng, Ngài làm cho nới lỏng, chỗ nào quá lỏng, Ngài làm cho chặt lại, Ngài là kỹ sư vĩ đại của tâm linh, đó là Điều Ngự Trượng Phu.

Nói về Phật, Phật cũng là một danh hiệu của Ngài, Phật chính là bậc giác ngộ, bậc giác ngộ chính là Phật.

Còn Thế Tôn, Thế Tôn là gì? Là bậc được thế gian tôn kính.

Mười danh hiệu của Phật, tôi đọc lại một lần nữa: Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Phật, Thế Tôn. Cũng có người đổi Phật thành Thiên Nhân Sư, Thiên Nhân Sư chính là đạo sư của trời và người, là đạo sư của tất cả chúng sinh và tất cả cõi trời, đó là cách nói như vậy. Đây là mười danh hiệu của Như Lai.

Mười lực của Như Lai chúng ta đã giảng rồi, mười danh hiệu của Như Lai chúng ta cũng đã giảng rồi, vậy giác ngộ là gì? Chúng ta cũng đã giảng rồi. Phật Học Tổng Thuyết này, thực ra hôm nay tôi giảng Phật Học Tổng Thuyết nên gọi là Phật Học Điểm Thuyết mới đúng, điểm thuyết chính là giảng giải các trọng điểm, không thể gọi là tổng thuyết, bởi vì tổng thuyết là rất rộng, giảng mãi cũng không hết, chỉ riêng việc Phật Đà thuyết pháp 49 năm, chúng ta ở đây giảng bảy ngày, tám ngày, chín ngày mà có thể giảng hết được sao? Đó là điều không thể.

Vậy nên hôm nay những gì chúng ta giảng là trích ra những trọng điểm Phật học, đem tất cả những điểm trọng yếu này chắt lọc ra để chia sẻ với mọi người, để mọi người có thể có được một nền tảng.

Một là gì? Tín giải hành chứng, bắt đầu theo thứ tự.

Hai chính là làm sao để nhập môn, vào hai cửa nào? Một là cửa Lý, một là cửa Sự, "Lý Sự nhị môn" bạn vào như thế nào, bạn chọn lựa ra sao.

Ba là gì? Tam vô lậu học- giới, định, huệ.

Bốn chính là tứ thánh đế. Là điều rất quan trọng trong giáo pháp của Như Lai, bốn thánh đế này - khổ, tập, diệt, đạo, tập là nhân, khổ là quả, đạo là nhân, diệt là quả. Tứ đế này, nếu bạn hiểu được thì rất tốt, bạn có thể từ đây mà bước vào cửa, đây chính là phương pháp tứ thánh đế mà Đức Phật đã ứng dụng sớm nhất khi dạy chúng ta lúc ban đầu.

Năm là gì? Chính là ngũ căn, ngũ lực, bạn dùng năm loại lực để tu hành thì có thể trừ bỏ được các khuyết điểm của ngũ căn, điều này rất quan trọng.

Sáu là gì? Chính là lục độ, lục độ là chính bản thân đại Bồ Tát dùng lục độ vạn hành để độ chúng sinh, Ngài phát bồ đề tâm, muốn độ chúng sinh. Bồ Tát phát tâm là vô cùng vĩ đại, dù bản thân chưa khai ngộ, nhưng Ngài có thể dạy và học cùng tiến; cho nên pháp sư hiện nay, chúng ta cũng phải tôn kính họ, không phải vì họ chưa khai ngộ mà không tôn kính. Thực ra họ cũng đang dạy, vừa dạy vừa học, đó chính là dạy và học cùng tiến. Đó là lục độ.

Bảy là gì? Chính là thất bồ đề phần.

Tám là gì? Chính là bát chính đạo.

Mười là gì? Chính là thập lực của Như Lai.

Hiện nay Phật giáo có mười tông phái, Hiện nay Phật giáo có mười tông phái.

Mười hai là gì? Chính là thập nhị nhân duyên. Mười hai nhân duyên lần này tôi không giảng, nhưng trước đây trong sách tôi đã bàn rất nhiều về thập nhị nhân duyên. Bát chính đạo này cũng không giải thích chi tiết. Nhưng thực ra, khi giảng về bát chính đạo trong "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", tôi đã giảng giải toàn bộ về chữ đạo. Vậy các bạn đã có một khái niệm như vậy, một trình tự học pháp.

Thực ra, nếu bạn thực sự có thể hiểu rõ Phật học từ một đến mười hai nhân duyên, bạn thông suốt được tất cả. Đây chính là Phật học điểm thuyết, đã chỉ ra những điểm cốt yếu rồi. Ngoài ra bạn cần hiểu các phương pháp tu hành của mười tông phái, như nhất tâm tam quán, không giả trung tam quán, như chỉ quán, đại chỉ quán, tiểu chỉ quán, maha chỉ quán, giáo lý của hòa thượng Đỗ Thuận, cảnh giới trong Hoa Nghiêm, Duy Thức, Tam Luận, Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận! Nếu bạn muốn hiểu rõ tất cả cũng được, các vị làm Thượng sư thì bắt buộc phải hiểu rõ tất cả những điều của mười tông phái này.

Trong tương lai khi người thuộc các tông phái khác đến hỏi, bạn có thể trình bày những gì mình biết và đã nghiên cứu, bạn sẽ không rơi vào tình trạng "hoàn toàn mù tịt", bạn sẽ hiểu rõ tất cả những điều của bất kì tông phái nào, chúng ta đều có kiến thức cơ bản, bạn đều có thể giảng, có thể nói, và còn có thể đi sâu vào. Nếu bạn ứng dụng được Chân Phật Mật Pháp, bạn sẽ hiểu rõ tất cả Phật pháp, như vậy "Phật học điểm thuyết" cũng sẽ trở thành "Phật học tổng thuyết", là như nhau vậy.

Được rồi! Chúng ta giảng "Phật Học Tổng Thuyết" đến đây là kết thúc. Vậy ngày mai thì sao? Sẽ là phần cho mọi người đặt câu hỏi, các bạn viết câu hỏi vào giấy rồi nộp lên, tôi sẽ giải đáp tại đây, đừng hỏi những vấn đề cá nhân, mà hãy hỏi về Phật pháp, đây mới là điều quan trọng.

Ngày mai sẽ giải đáp cho mọi người, những ai lần này đến nghe pháp, có điều gì thắc mắc, các bạn có thể viết ra để hỏi.

Còn ngày kia thì sao? Chính là quán đảnh. Các bạn muốn quán đảnh pháp nào, các bạn có thể thảo luận với nhau, sẽ chia ra từng phần một, giống như là quán đảnh pháp này, quán đảnh pháp kia, sẽ làm tất cả các quán đảnh, cả buổi chiều sẽ dành để quán đảnh cho các bạn, còn ngày mai thì cả buổi chiều sẽ dành để giải đáp câu hỏi cho các bạn.

Lần này "Phật Học Tổng Thuyết" của chúng ta cuối cùng đã viên mãn kết thúc, cảm ơn mọi người đã đến.

Om mani padme hum.

### 31. Giải đáp thắc mắc (108 câu)

Các vị Thượng sư, các vị đồng tu, chào mọi người! 

Hôm nay là ngày thứ tám thuyết giảng "Phật Học Tổng Thuyết" tại Cầu Vồng Sơn Trang, hôm nay là phần giải đáp thắc mắc, nghĩa là những ai có thắc mắc gì, các bạn viết vào giấy rồi đặt ở đây, Sư Tôn sẽ giải đáp những vấn đề này cho mọi người.

Vừa rồi tôi đã xem qua sơ bộ, mỗi người đều viết rất nhiều câu hỏi, tôi sợ không thể giảng hết được, đôi khi, sẽ giải đáp cho mỗi người một hai câu hỏi như vậy, nếu viết nhiều thì hy vọng có thể trả lời hết. Cảm ơn mọi người.

【Hỏi】

Khi Sư Tôn giảng dạy hôm đó có nói đến "Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", nhưng đệ tử ngu muội vẫn chưa hiểu rõ. Xin hỏi Sư Tôn nhân duyên từ đâu mà sinh ra? Khoảng thời gian luân hồi được phân biệt như thế nào? Tại sao có những linh hồn lưu lại ở nhân gian hơn 20 năm? Chẳng lẽ họ không cần đi luân hồi sao?

Con người là gì? Tại sao con người lại thực hiện một hành động nào đó? Tại sao con người lại có ý niệm? Và ý niệm đó lại từ cái gì mà sinh ra?

【Đáp】

Người này không viết tên, chỉ ghi là đệ tử. Điều này rất tốt, bởi vì nếu để tôi biết đó là ai, tôi sẽ đánh anh ta ba gậy. Bởi vì câu hỏi này là câu hỏi để thử thách người khác, là một bài kiểm tra, là test, là một dạng kiểm tra rất nghiêm khắc.

Khi Như Lai đề cập đến "các pháp do nhân duyên sinh" và "các pháp do nhân duyên diệt", tất cả đều nói về nhân duyên. Ngài không chỉ ra đó là loại nhân duyên nào. Nhưng Ngài có dạy rằng, trong thập nhị nhân duyên, nhân duyên đầu tiên chính là vô minh, vì có vô minh mới có sinh; nếu không có vô minh thì sẽ là vô sinh. Trong quan điểm Phật học, nhân duyên đầu tiên trong thập nhị nhân duyên, nhân duyên sớm nhất chính là vô minh, vậy nên tôi chỉ có thể nói như vậy.

Tại sao bạn sẽ sinh ra? Đó là vì có mây đen nên mới có mưa, không có mây đen thì tuyệt đối không thể có mưa. Vậy mây đen từ đâu mà có? Là từ hơi nước mà có. Vậy hơi nước từ đâu mà có? Là từ nước mà có. Vậy nước từ đâu mà có? Là từ mưa mà có. Đây chính là nhân duyên đang luân hồi. Vậy bạn lại hỏi, nhân duyên sinh ra từ đâu? Điều đầu tiên Đức Phật dạy chính là vô minh, cho nên chúng ta cần phải giải thoát khỏi vô minh này thì mới có thể chấm dứt cái sinh này, đây là câu trả lời thứ nhất.

Thời gian luân hồi được phân biệt như thế nào? Tại sao có những linh hồn lưu lại ở nhân gian hơn 20 năm? Tại sao họ không cần đi luân hồi? Không chỉ có linh hồn trung ấm lưu lại nhân gian hai mươi mấy năm, con người tồn tại trên thế giới này đã rất nhiều năm, còn lâu hơn họ nữa. Điều này chẳng có gì lạ cả. Chúng ta tồn tại trên thế giới này, có người không chỉ hai mươi mấy năm! Đúng không? Hiện nay tuổi thọ trung bình của con người là 70, 80 tuổi, bạn còn lưu lại lâu hơn cả linh hồn đó, tại sao họ không thể mà bạn lại có thể?

Con người là gì? Câu hỏi này rất nghiêm trọng. Tôi có thể giảng Phật là gì, nhưng lại không thể giảng con người là gì. Câu hỏi của bạn: "Tại sao con người lại thực hiện một hành động nào đó, tại sao con người lại có ý niệm? Và những ý niệm đó lại từ cái gì mà sinh ra?" Đây chính là những điều tôi đã giảng trong bảy, tám ngày qua. Đây chính là Lý, nếu muốn đi vào từ cửa Lý thì phải nghiên cứu những điều này.

May mà hiện nay chúng ta tu theo Chân Phật Tông là từ Sự pháp mà vào, tức là từ thực tu mà vào. Cái Lý này chúng ta tạm thời gác sang một bên nhé! Nếu tôi giảng hết cái Lý này cho bạn, chỉ riêng câu hỏi của bạn thôi, tôi có thể giảng cả ngày.

【Hỏi】

Khi tu pháp có nên chuyển đổi khuôn mặt tượng Liên Hoa Đồng Tử được thờ trên đàn thành bằng khuôn mặt của Sư Tôn không? Hay là trực tiếp quán tưởng theo khuôn mặt của tượng thì tốt hơn? Đây là câu hỏi thứ nhất.

【Đáp】

Vậy tôi xin trả lời câu hỏi này trước. Là theo tượng đó, bởi vì khuôn mặt của Sư Tôn sẽ thay đổi. Tôi đã nói rồi! Tôi cho các bạn xem khuôn mặt mới sinh của tôi, khuôn mặt búng ra sữa, chụp ảnh lúc đó, lúc khỏa thân chụp ảnh, không còn cách nào khác, là nằm sấp chụp, khuôn mặt hướng như thế này, gương mặt trẻ thơ. Còn khuôn mặt bây giờ là khuôn mặt trung niên, sắp bước vào tuổi già rồi. Vậy đến lúc khuôn mặt già của tôi lại khác nữa! Hoàn toàn khác! Vậy thì các bạn chẳng phải phải như thế này sao? Cho nên cứ theo khuôn mặt của tượng để quán tưởng là được rồi.

【Hỏi】

Sư Tôn đã từng nói rằng, mỗi đàn thành đều có chư Phật Bồ Tát thường trú, vậy khi tu pháp thỉnh mời chư Phật Bồ Tát, có cần phải áp dụng phương pháp móc kim cang để đảm bảo chư Phật Bồ Tát giáng xuống phóng quang không? Và như trong một đàn thành cùng tu có nhiều vị chủ tôn, có thể quán tưởng đồng thời nhiều móc kim cang bay lên, cùng lúc thỉnh mời xuống được không?

【Đáp】

Ồ! Các bạn biết biến hóa rồi đấy! Điều này là đúng. Chúng ta phải quán tưởng Bổn tôn trí huệ như vậy, khi chúng ta ở đàn thành thường ngày, Bổn tôn trí huệ ở trong hư không, cần phải quán tưởng trong hư không. Vì vậy móc kim cang đều hướng về hư không. Chúng ta biết rằng cái gọi là Pháp thân Phật chính là trụ trong hư không. Từ trong hư không hiện ra chính là Báo thân Phật, đến trong đàn thành này chính là Ứng thân Phật. Phải có quan niệm này. Pháp thân Phật vĩnh viễn trụ trong hư không, từ trong hư không hiện ra chính là Báo thân Phật, thường trú trong đàn thành của bạn chính là Ứng thân Phật. Khi bạn có quan niệm này rồi thì việc thỉnh mời sẽ rất tốt.

【Hỏi】

Làm thế nào để vận dụng kim cang? Khi tu pháp thỉnh mời chư Phật Bồ Tát giáng lâm, kim thân của chư Phật Bồ Tát trên đàn thành, chủng tử tự xoay chuyển hiện ra chủ tôn, có cần phải quán tưởng cả ba hợp nhất, rồi quán tưởng tam quang từ sự hợp nhất này phóng ra từ chủ tôn không? Hay chỉ cần quán tưởng chủng tử tự sinh ra là được, tức là quán tưởng tam quang từ Bổn tôn do chủng tử tự sinh ra chiếu đến hành giả?

【Đáp】

Điều này rất phức tạp, bạn viết cũng phức tạp, tôi nghĩ cũng phức tạp. Ý của bạn có lẽ là nói: "Có cần phải quán tưởng chủ tôn trong hư không và chủ tôn trên đàn thành của bạn hợp nhất, rồi tam quang chiếu đến bạn không?" Bạn có thể quán tưởng chủ tôn trong hư không, chủ tôn trong hư không từ chủ tôn ở dưới này bay lên, chủ tôn trên đàn thành bay lên hư không hợp nhất với chủ tôn trong hư không, sau đó phóng quang chiếu đến bạn, làm như vậy là được.

【Hỏi】

Sau khi đệ tử thông thường đã được quán đảnh pháp Hộ Ma và trở về, có thể giúp người khác làm Hộ Ma không? Sau khi trở về có thể làm pháp hội Hộ Ma không?

【Đáp】

Ồ! Đây là chủ trì pháp hội!.. Đây là tranh khách hàng!

Là như thế này, trong Mật giáo có một quy định, pháp Hộ Ma thuộc ba bộ sau, trong Mật giáo là rất quan trọng, mỗi đệ tử, đệ tử Mật giáo thông thường phải làm 200 đàn, có nghĩa là sau khi làm xong 200 đàn, có được sự thuần thục trong việc làm Hộ Ma, lửa - Bổn tôn - hành giả tam thể hợp nhất, khi tu Hộ Ma trong tình trạng hoàn toàn không sai sót thì mới có thể giúp người khác.

Nhưng nếu bạn muốn làm pháp hội Hộ Ma, tốt nhất là để Thượng sư làm, tốt nhất là do các vị Thượng sư làm. Đường chủ cũng có thể làm, nhưng phải đợi đến khi tu học pháp Hộ Ma đến mức không còn sai sót mới được làm. Trước tiên là tự giúp mình, giúp gia đình tiêu nghiệp chướng, tạm thời chưa nên làm pháp hội Hộ Ma; giúp người khác thì phải đợi đến khi bạn tu trì pháp Hộ Ma hoàn toàn không còn sai sót mới được.

【Hỏi】

Sau khi đường chủ phân đường được quán đảnh pháp Hộ Ma rồi, về có thể làm pháp hội Hộ Ma không? Có thể công khai cho mọi người đăng ký tham gia không?

【Đáp】

Câu hỏi này tôi vừa trả lời rồi.

【Hỏi】

Nếu đệ tử chưa được quán đảnh pháp Hộ Ma từ Căn bản Truyền thừa Thượng sư, có thể tự mình làm Hộ Ma được không?

【Đáp】

Điều này là không được. Bởi vì trong Mật giáo nói đến chính là truyền thừa, trong bảy, tám ngày qua tôi thuyết pháp đã đề cập đến rồi, bạn được quán đảnh pháp nào thì mới được tu pháp đó, chưa được quán đảnh Hộ Ma thì không được làm pháp Hộ Ma.

【Hỏi】

Quán đảnh pháp Hộ Ma, có thể xin quán đảnh từ xa không?

【Đáp】

Tốt nhất là quán đảnh trực tiếp, quán đảnh thực tế là tốt nhất, đích thân đến nhận quán đảnh từ Căn bản Thượng sư mới tốt.

【Hỏi】

Phật là bậc giác ngộ, là người vô niệm. Chúng sinh đều có Phật tính, cho nên cần mọi người không phân biệt, tất cả đều bình đẳng. Tu pháp là quán tưởng Tử quang và Mẫu quang hợp nhất, Tiểu ngã và Đại ngã hợp nhất; nói chung, tu Phật pháp là quay về bản tính, trở về bộ mặt vốn có ban đầu.

Nhưng vấn đề chính là ở chỗ này, nếu tất cả đều xuất phát từ cùng một nguồn gốc, vậy thì sự khởi đầu ban sơ chẳng lẽ là do Phật tạo ra nhân quả sao? Tại sao vậy? Chẳng phải là vô niệm sao? Cuối cùng đều là tự mình cứu mình. Ví dụ như Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử của Sư Tôn, từ trong tâm xoay chuyển biến hóa ra những Liên Hoa Đồng Tử khác - chính là chúng ta hiện nay, kết quả việc làm vẫn là để giải thoát chính mình, như vậy tại sao phải làm thêm điều thừa thãi này?

【Đáp】

Ồ! Rất hay, đây là một bài kiểm tra, đây chính là trò chơi thần thông của Như Lai, bởi vì quá nhàm chán, Như Lai một mình ở đó rất buồn chán, muốn chơi đùa một chút, thế nên tìm một số quân cờ để đánh cờ, Ngài biến ra rất 