Pháp Thủy Cúng Chân Phật Tông

Giới thiệu pháp Thủy cúng
Pháp cúng dường lớn trong Mật giáo bao gồm Hỏa cúng (còn gọi là Hộ Ma), bắt nguồn từ nghi thức đốt lửa tế trời của đạo Bà-la-môn cổ xưa ở Ấn Độ, là cách thức đốt cúng phẩm trong lửa, nhờ Hỏa Thiên Thần chuyển các cúng phẩm lên chư Phật Bồ Tát và chư Thiên. Khói cúng là việc nghiền các hương liệu, thực phẩm thành bột, những vật quý giá, bột mì, tsampa (bột lúa mạch rang) thành một khối, khi đốt lên sẽ tạo ra khói, và lúc khói bốc lên, hành giả sẽ hướng về khói để cầu nguyện, thỉnh cầu, cúng dường và hồi hướng. (Chú thích: Năm 2008, Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn đã truyền thụ "Pháp Khói Cúng Chân Phật Tông".)
Một phương pháp cúng dường khác là pháp Thủy Cúng, là việc đặt phẩm vật vào nước và thông qua Thủy Thiên Thần để dâng lên. Pháp Thủy cúng của Chân Phật Tông được truyền xuống từ Diêu Trì Kim Mẫu (chú thích: do đó đây là bất cộng đại pháp của tông phái, khác với Thủy cúng thông thường trong Mật giáo). Pháp này là do Thánh Tôn từ bi để cho những đệ tử vì giới hạn về mặt bằng mà không thể tu trì Hỏa cúng cũng có thể tu trì đại pháp Thủy cúng tương đương với Hộ Ma.
Ngoài pháp Thủy cúng của Dao Trì Kim Mẫu, còn có thể làm Thủy cúng của các vị tôn khác. Như Thủy cúng Đại Uy Đức Kim Cang, Thủy cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, Thủy cúng A Di Đà Phật... v.v. (phần lớn chư tôn đều có thể trở thành chủ tôn của Thủy cúng). Công dụng đặc biệt của pháp Thủy cúng là vì có Cửu Phụng Bồ Tát hộ trì, nên có thể tiêu trừ bệnh ngoài da, và có thể tiêu trừ hỏa, thổ, phong, thủy và quỷ sát.
Pháp khí cần chuẩn bị cho Thủy cúng
Để tu tập Thủy cúng cần chuẩn bị một biểu tượng Thái Cực (đại diện cho tính Không), và dựng một tháp nước ba tầng hoặc năm tầng hình tam giác, đặt cờ lệnh năm màu xung quanh tháp nước, dùng dây ngũ sắc bao quanh tháp cúng để biểu thị kết giới, còn phải chuẩn bị lông công (đại diện cho Cửu Phụng Bồ Tát), đèn hoa sen ngũ sắc (đại diện cho Ngũ Phương Phật) và nước tinh khiết (đại diện cho nước thanh tịnh đại bi của hồ Diêu Trì).
Ba tầng của tháp nước tượng trưng cho Phật, Bồ Tát, Hộ pháp chư Thiên, tương ứng với cơ thể người là thân, khẩu, ý; thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu [đây là khái niệm Tam tiêu rất quan trọng trong Đông y, là một cách phân chia các vùng chức năng của cơ thể]; thiên quan, địa quan, thủy quan [ba cửa ải hoặc trung tâm năng lượng trong cơ thể con người, thường được đề cập trong các môn tu luyện nội công, khí công]. Ngoài ra, cờ lệnh tướng quân ngũ sắc đại diện cho lực gia trì của năm đức Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ của Ngũ Lão trong Đạo gia. Đối ứng với cơ thể người là đỏ-tim, vàng-rốn, đen-thận, trắng-phổi, xanh-gan. Biểu tượng Thái Cực là ánh sáng vô cực được chuyển hóa từ sự xoay chuyển âm dương Thái Cực, đại diện cho tính Không.
Kết giới
Thủy cúng sử dụng chuông chày kim cang và cờ lệnh tướng quân ngũ sắc để kết giới. Pháp kết giới bằng chuông chày kim cang giống với pháp thông thường, còn pháp kết giới của cờ lệnh tướng quân ngũ sắc được tóm tắt như sau: Cờ lệnh đỏ phát ánh sáng đỏ lên trên để tạo kết giới ở trời, đại diện cho Thiên La Thần; cờ lệnh vàng phát ánh sáng vàng xuống mặt đất để tạo kết giới ở đất, đại diện cho Địa La Thần; cờ lệnh đen, cờ lệnh trắng, cờ lệnh xanh lá phát ánh sáng về ba phương để chiếu sáng kết giới, quán tưởng kết giới xa đến đâu thì ánh sáng chiếu tới đó. Kết giới bằng cờ lệnh ngũ sắc đã bao trùm toàn diện trời đất bốn phương.
Hướng dẫn Thủy cúng
Khi nghi quỹ bước vào phần Chính hành (Thủy cúng), giống như phần mở đầu của các pháp tu thông thường, hành giả vỗ tay và búng ngón tay, thanh tịnh hóa tràng hạt (phương pháp có thể tham khảo nghi thức Hộ Ma do Thánh Tôn thị phạm), đeo tràng hạt đã thanh tịnh lên người, thân cũng theo đó mà thanh tịnh. Tiếp theo là thỉnh triệu, trước tiên kết ấn Chuẩn Đề Phật Mẫu (ấn tổng) tượng trưng cho ý thức vũ trụ để thỉnh triệu ý thức vũ trụ, sau đó kết ấn chủ tôn và chư tôn để thỉnh triệu chư vị (khi làm Thủy cúng nhất định phải thỉnh triệu Thủy Thiên Thần), tiếp đến kết ấn hoa hương đèn trà quả, sau đó là ấn cúng dường, cuối cùng là bốn lớp kết giới phòng ma.
Khi dâng cúng phẩm, hành giả cần phải hợp nhất với chủ tôn, và sau khi thanh tịnh tất cả cúng phẩm bằng tràng hạt, dùng hai tay nâng lên, quán tưởng vô lượng vô biên rồi mới thả vào nước. Mỗi loại cúng phẩm đều có ba phần, nên phải thực hiện ba lần cúng dường. Sau khi cúng xong một phần cần nhập định, rồi mới tiến hành vòng cúng dường tiếp theo. Trong lần nhập định cuối cùng, hành giả diễn hóa thủ ấn tức-tăng-hoài-tru.
Khẩu quyết nhập định
Khẩu quyết khi nhập định, hành giả phải quán tưởng bản thân, chủ tôn và chư tôn đi vào trong biển nước thơm cam lộ, cả ba hòa quyện vào nhau, tất cả nghiệp đen và tội nghiệp của hành giả đều được rửa sạch, được cam lộ mát mẻ thấm nhuần, phúc huệ tăng trưởng.
Nước sau khi hoàn thành pháp Thủy cúng có thể dùng để rảy tịnh, kết giới, tắm rửa, chữa bệnh và uống.
Hỏi - Đáp về pháp Thủy cúng

Pháp Thủy cúng có cần được quán đảnh từ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn không?
Có thể thỉnh cầu quán đảnh từ Căn bản Thượng sư hoặc các Thượng sư trong tông phái đại diện cho Căn bản Thượng sư để quán đảnh đều được, nhưng pháp này không thiết lập quán đảnh từ xa. Theo lời dạy của Căn bản Thượng sư, nếu đã được quán đảnh pháp Diêu Trì Kim Mẫu thì có thể tu trì pháp Thủy cúng Kim Mẫu. (Bởi vì Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn ban tổng quán đảnh các pháp Kim Mẫu đã bao gồm pháp Thủy cúng.)
Sự khác biệt lớn nhất giữa Thủy cúng và Hỏa cúng là gì?
Hỏa cúng sử dụng phương thức lửa Hộ Ma để chuyển cúng phẩm thông qua Hỏa Thiên Thần lên chủ tôn và chư Thiên, trong khi Thủy cúng khác biệt ở chỗ sử dụng phương thức nước thông qua Thủy Thiên Thần (Căn bản Thượng sư đã từng nói, Thủy Thiên Thần chính là Vũ Lâu Na Long Vương [Varuna], để đưa cúng phẩm chảy vào các biển, dâng lên chủ tôn và chư Thiên. Mặc dù hình thức có khác nhau đôi chút, nhưng cùng đích đến giống nhau, công hiệu tương đồng.
Sự khác biệt giữa nghi quỹ Thủy cúng và Hỏa cúng là gì?
Nghi quỹ Tiền hành của Thủy cúng và Hỏa cúng về cơ bản là giống nhau, chỉ khác là thêm vào nghi quỹ dâng cúng tám phẩm vật. Sau đó quán tưởng chủ tôn gia trì nước và cúng phẩm trong tháp nước. Chính hành là dâng cúng phẩm vào tháp nước, đồng thời quán tưởng cúng phẩm biến hóa thành vô số vô lượng, lần lượt cúng dường chủ tôn, Căn bản Thượng sư và chư thánh hiền tăng, chư Thiên, và cúng dường xuống cho chúng sinh trong sáu cõi.
Công đức và hiệu lực của Hỏa cúng và Thủy cúng có giống nhau không?
Theo lời dạy của Căn bản Thượng sư, công đức và hiệu lực của Hỏa cúng và Thủy cúng là ngang bằng nhau.
Thực hành Thủy cúng có thuận tiện hơn Hỏa cúng không?
Xét về việc sử dụng không gian, Thủy cúng tiết kiệm được nhiều diện tích hơn. Và ưu điểm lớn nhất là không có khói, nên không cần thiết bị hút khói, có thể thực hành ở bất kỳ địa điểm nào, dù trong nhà hay ngoài trời.
Chất liệu của tháp Thủy cúng?
Bất kỳ chất liệu nào có thể chịu được trọng lượng của nước đều có thể sử dụng. Thông thường, thủy tinh hoặc mica trong suốt được sử dụng làm chính. Trụ đỡ có thể làm bằng cùng chất liệu hoặc bằng cột thép. Cổng vòm cầu vồng phía trên có kích thước tùy ý, thường thì khi tự tu tập chỉ cần dùng loại nhỏ là đủ.
Tháp Thủy cúng có hình tam giác, vậy khi thực hành thì phần đỉnh nhọn nên hướng về đâu?
Khi tu tập cá nhân, đỉnh nhọn hướng về phía mình. Khi Thượng sư của Tông phái chủ trì pháp hội, đỉnh nhọn hướng về phía đại chúng, nhưng tốt nhất là không nên có người ngồi ở ngay phía trước đỉnh nhọn.
Hình Thái Cực ở dưới cùng của tháp Thủy cúng có ý nghĩa gì? Và xin giải thích cách kết giới bằng năm lá cờ lệnh tướng quân.
Âm dương Thái Cực xoay chuyển hóa thành ánh sáng vô cực, đại diện cho tính Không.
Phương pháp kết giới bằng năm lá cờ lệnh tướng quân: cờ lệnh đỏ phóng ánh sáng đỏ lên trên để kết giới bầu trời, đại diện cho Thiên La Thần; cờ lệnh vàng phóng ánh sáng vàng xuống mặt đất để kết giới đất, đại diện cho Địa La Thần; cờ lệnh đen, cờ lệnh trắng và cờ lệnh xanh lá phóng ánh sáng theo ba phương của lá cờ để chiếu sáng kết giới, quán tưởng xa đến đâu thì kết giới đến đó. Kết giới bằng năm lá cờ lệnh đã bao trùm toàn diện trời đất bốn phương.
Ngoài ra có thể sử dụng phất trần để kết giới, phất trần thanh tịnh nghiệp trần của chúng sinh, chỉ cần quán tưởng ánh sáng trắng bao phủ là được. Nói chung, tất cả phương pháp kết giới được truyền từ Căn bản Thượng sư đều có thể áp dụng.
Năm tướng quân lệnh năm màu có phải là Ngũ Đức Tinh Quân không?
Năm tướng quân lệnh năm màu là hóa thân của Ngũ Đức Tôn Giả trong Đạo giáo.
Cách cắm cờ lệnh ngũ sắc và cách quấn dây ngũ sắc như thế nào?
Cách cắm cờ lệnh: Thông thường tháp thủy cúng có ba tầng, trước tiên đặt phần nhọn hướng về phía mình, cắm cờ lệnh màu đỏ vào đỉnh nhọn của tầng trên cùng, cắm cờ lệnh màu vàng vào đỉnh nhọn của tầng giữa, cắm cờ lệnh màu đen vào đỉnh nhọn của tầng dưới, cắm cờ lệnh màu xanh lá vào góc phải của tầng dưới, cắm cờ lệnh màu trắng vào góc trái của tầng dưới. Cách quấn dây ngũ sắc: Đầu tiên buộc một đầu của dây ngũ sắc vào cờ lệnh màu xanh lá, sau đó lần lượt theo thứ tự "xanh lá -> đỏ -> trắng -> vàng -> xanh lá -> đen -> trắng -> xanh lá". (Có thể tham khảo hình ảnh và bản vẽ tháp thủy cúng trong bài viết này.)
Chất lượng nước dùng cho Thủy cúng có yêu cầu đặc biệt gì không?
Chỉ cần sử dụng nước sạch thông thường là được.
Cúng phẩm trong Thủy cúng là gì?
Giống như cúng phẩm trong Hộ Ma (Hỏa cúng), phạm vi rất rộng, chỉ cần là thực phẩm hoặc vật dụng có ý nghĩa đều có thể dâng cúng. Nhưng việc chuẩn bị cúng phẩm cần phải phù hợp với nguyện lực của hành giả. Pháp tiêu tai: chủ yếu là màu trắng. Nếu là chữa bệnh, có thể cúng dường thuốc. Pháp kính ái: chủ yếu là màu đỏ. Pháp tăng ích: chủ yếu là màu vàng. Pháp hàng phục: chủ yếu là màu đen. Ngoài ra còn có các cúng phẩm cơ bản như hoa, hương, đèn, trà, quả, đậu ngũ sắc, dược liệu, đường, gạo, sữa, mật ong, ngũ hành (nấm kim châm, mộc nhĩ, miến, váng đậu và nấm hương), sơn hào hải vị (được đại diện bằng muối và gừng) và tất cả các thực phẩm và vật phẩm quý giá và yêu thích.
Ngoài ra, cúng dường Pháp giới (chư Phật Bồ Tát) nên là những vật thanh tịnh, như long bào, khăn khata, thất trân bát bảo...; phẩm vật cúng dường Báo giới (chư Thiên) có thể dùng dược liệu, nước hoa...; phẩm vật cúng dường Ứng giới (Kim cang Hộ pháp) có thể dâng thực phẩm như thịt, rượu, đồ uống, ngũ cốc...
Làm thế nào để thanh tịnh cúng phẩm?
Có thể giống như khi tu Hộ Ma, sử dụng cách chuyển châu minh gia trì hoặc dùng lông chim công nhúng vào nước cam lộ (tức là nước sạch thông thường, dĩ nhiên nếu dùng nước chú Đại Bi thì càng tốt), rảy lên nước và cúng phẩm trong tháp Thủy cúng để đạt được tác dụng thanh tịnh.
Cách sắp xếp đèn ngũ sắc?
Từ trái sang phải theo hướng hành giả đối diện với đàn thành, lần lượt là: vàng, xanh lam, trắng, đỏ, xanh lá.
Có giới hạn về số lượng lông chim công cắm vào các lỗ của tháp không?
Lông chim công chủ yếu là để trang nghiêm, số lượng không có giới hạn, cũng không nhất thiết phải là số chẵn hay số lẻ.
Sớ văn của Thủy cúng như thế nào?
Về cơ bản, định dạng sớ văn giống như Hộ Ma, chỉ cần thay đổi một số từ trong đó, như Hộ Ma, Hỏa cúng thành Thủy cúng, và Hỏa Thiên Thần thành Thủy Thiên Thần mà thôi.
Làm thế nào để dâng cúng phẩm vật trong tháp Thủy cúng ba tầng?
Về cơ bản, có thể dâng cúng bất kỳ cúng phẩm gì ở mỗi tầng. Có thể dâng cúng những vật quý giá như ngọc trai, mã não, các loại hạt vừng, ngũ cốc, sữa bò và các vật phẩm thanh tịnh khác, cũng như thịt và các thực phẩm mặn. Tuy nhiên, nên tránh dâng cúng những thứ quá nhiều dầu mỡ. Khi dâng cúng, có thể kết ấn cúng dường, cũng có thể kết ấn ngũ cúng. Khi cúng dường chư Thiên, phải có hoa thơm và nước hoa; khi cúng dường long thiên hộ pháp, phải có rượu và thịt cùng dâng cúng. Khi cúng dường, có thể quán tưởng ánh sáng nhiều màu gia trì. Đôi khi dâng cúng dược liệu có thể cầu nguyện gia trì cho hành giả khí huyết thông suốt, phần báo cáo này cần phải rõ ràng minh bạch. Khi hành giả kết thúc cúng dường cũng có thể diễn hóa các thủ ấn cơ bản (ấn Bổn tôn, ấn cúng dường và ấn ngũ cúng).
Cúng phẩm của tám món cúng có được thả vào tháp nước không?
Cúng phẩm của bát cúng không được đưa vào nước. Nếu muốn dâng cúng xuống nước, cần chuẩn bị thêm một phần riêng.
Cúng phẩm sau khi Thủy cúng nên xử lý như thế nào?
Nhược điểm duy nhất của Thủy cúng là không thể hóa tất cả cúng phẩm thành tro như Hỏa cúng và Khói cúng, nên công việc xử lý sau khi tu pháp sẽ nhiều hơn. Phần lớn cúng phẩm sau khi cúng không thể dùng để cúng lại. Một số vật như quần áo, trang sức và đồ trang trí có thể giữ lại. Một số vật có thể đốt được, sau khi khô có thể đem hóa. Một số thực phẩm và nguyên liệu thực phẩm sau khi cúng có thể dùng để nấu ăn. Ngoài ra, trong tám món cúng, vỏ ốc, hương thoa và nước hoa có thể tiếp tục sử dụng (mặc dù hầu hết phẩm vật sau khi cúng không được dùng lại, nhưng tám món cúng có thể tái sử dụng). Đèn có thể thắp hoặc không thắp. Rượu cúng, nếu không uống, có thể đổ đi. Nước tinh khiết sau Thủy cúng có thể giữ lại để rảy tịnh hoặc tịnh thân. Dược liệu có thể nấu để ăn. Các cúng phẩm ở tầng dưới khác có thể lọc qua lưới lọc trước khi xử lý.
Làm thế nào để xử lý nước sau khi Thủy cúng?
Nước Thủy cúng có thể được dùng để tắm gội tiêu trừ nghiệp chướng, hoặc rảy tịnh kết giới. Cũng có thể lấy một lượng nhỏ để uống, cầu xin Kim Mẫu gia trì tiêu trừ bệnh nghiệp.
Những thứ gì không thể cúng?
Khi Bổn tôn là chư Phật Bồ Tát, bất kỳ vật phẩm thanh tịnh nào mà bạn thích đều có thể dâng cúng. Nếu Bổn tôn là Tài Thần, Kim cang Hộ pháp, có thể cúng dường các món như thịt, thức ăn mặn (sống hoặc chín đều được), rượu mạnh, v.v… Khi hành giả tu pháp với lòng thành kính và tâm chuyên nhất, tự nhiên sẽ đạt được cảm ứng.
Tại sao khi tu pháp Thủy cúng, mỗi lần nên chọn cùng một Bổn tôn?
Mỗi lần tu Thủy cúng, nếu cố định cùng một Bổn tôn, hành giả sẽ liên tục kết duyên với vị tôn này, từ đó hình thành một mạng lưới hộ trì từ Bổn tôn và Hộ pháp, đạt được sự tương ứng tốt nhất. Khi tu pháp Hộ Ma Hỏa cúng cũng tương tự như vậy.
Nước Thủy cúng có thể dùng để rảy tịnh kết giới, vậy có thể dùng thay thế cho nước chú Đại Bi không?
Có thể thay thế cho nước chú Đại Bi, bởi vì trong nghi quỹ đã có trì chú Đại Bi gia trì.
Có người tu thực hành cả Hỏa cúng và Thủy cúng, cho rằng sức tiêu tai của Thủy cúng lớn hơn, vậy thực tế có sự khác biệt không?
Hỏa cúng và Thủy cúng đều là pháp tiêu tai lớn với công đức bình đẳng không phân biệt, có thể đạt được phước lực vi diệu vô thượng, chỉ là do duyên phận của mỗi người khác nhau, điều quan trọng nhất là phải kiên trì thực hành liên tục.
Hỏa cúng có thể quán tưởng đặt vị trí bệnh của bệnh nhân lên lửa để đốt, vậy Thủy cúng nên quán tưởng như thế nào?
Quán tưởng nước rửa sạch nghiệp đen ở vùng bệnh, chuyển hóa thành ánh sáng thanh tịnh, nghiệp bệnh được tiêu trừ.
Chúng ta biết pháp Thủy cúng được truyền từ Diêu Trì Kim Mẫu, vậy điều này có ý nghĩa đặc biệt gì không?
Bởi vì bản địa của Diêu Trì Kim Mẫu có liên quan đến nước, cảnh giới Diêu Trì thường được hiểu là hồ thiên nhiên thanh tịnh nhất, chỉ cần nhập vào nước là có thể tiêu trừ nghiệp chướng, đạt được sự thanh tịnh tối đa. Vì vậy, việc truyền pháp Thủy cúng này phù hợp với đặc tính của Bổn tôn. Căn bản Thượng sư từng nói rằng, nước trong cơ thể con người và nước trong pháp Thủy cúng của Kim Mẫu hoàn toàn có cùng một bản chất, nên mượn Thủy cúng để thanh tịnh chính mình.
Pháp Thủy cúng nên lấy ai làm Bổn tôn? Nếu thực hành Thủy cúng, phải tu đủ 200 đàn với Diêu Trì Kim Mẫu hay Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn phải không?
Thông thường, Thủy cúng đều lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm Bổn tôn, vì vậy bạn vẫn nên tu Diêu Trì Kim Mẫu làm Thủy cúng, theo đúng quy tắc là 200 đàn với Diêu Trì Kim Mẫu làm Bổn tôn. —— Trích từ bài khai thị ngày 26 tháng 12 năm 2021 của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tại đại pháp hội Hộ Ma Bất Không Quyến Sách Quan Âm và bài giảng thứ 45 về "Kinh Kim Cang" tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Thủy cúng có lợi ích gì cho việc tu tập và tích lũy công đức không?
Về mối quan hệ địa lý, trong nhà bạn không thể tu Hỏa cúng được. Trừ khi ra ban công, nhưng nếu ở ban công, hàng xóm nhìn thấy cũng là một vấn đề, và khói cũng là một rắc rối, khi ấy bạn có thể tu Thủy cúng, dùng Thủy cúng thay thế Hỏa cúng. Khi tu Hỏa cúng bạn phải thỉnh Hỏa Thiên Thần, khi tu Thủy cúng bạn phải thỉnh Thủy Thiên Thần, nhờ Thủy Thiên Thần chuyển cúng phẩm lên chư tôn, Bổn tôn mà bạn tu, Bổn tôn của Thủy cúng. Bổn tôn của Hỏa cúng cũng tương tự, nhờ Hỏa Thiên Thần chuyển cúng phẩm lên Bổn tôn của bạn, Bổn tôn của Hỏa cúng. ~ Trích từ bài khai thị ngày 12 tháng 6 năm 2021, Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chủ trì pháp hội đồng tu Bổn tôn Hoàng Tài Thần tại Seattle Lôi Tạng Tự và bài giảng thứ 407 về "Đạo Quả"
Thủy cúng với những Bổn tôn khác có gì khác với Thủy cúng Diêu Trì Kim Mẫu?
Về cơ bản, ngay cả khi Bổn tôn khác nhau, nghi quỹ vẫn giống nhau, chỉ khác ở phần thỉnh mời Bổn tôn và quán tưởng trong phần Chính hành mà thôi.
Trong nghi quỹ Thủy cúng do Sư Tôn viết, có một đoạn cuối cùng là "vũ cúng", xin hỏi đoạn nghi quỹ này có cần thiết không?
Vũ cúng [cúng dường ca múa] là đặc điểm của pháp Thủy cúng, là cúng dường lớn qua thân khẩu ý, có thể thỉnh triệu chư Phật Bồ Tát hoan hỷ giáng lâm, có thể nhiếp thọ chúng sinh pháp hỷ sung mãn. Khi tự tu, vũ cúng có thể bỏ qua, tùy theo nhân duyên cá nhân mà quyết định.
Vũ cúng cũng có thể quán tưởng cúng dường, nhưng tốt nhất vẫn là cúng dường thực tế, cũng có thể tự biên đạo múa quyền hoặc các điệu múa cúng khác mà mình thích.
Còn về việc nên múa điệu gì, Căn bản Thượng sư đã từng nói, vũ cúng vốn lấy Kim cang vũ làm chính thống, nhưng khi cá nhân thực hành Thủy cúng, cũng có thể tự do phát huy.
Kinh nghiệm tu tập pháp Thủy cúng?
Niềm hưởng thụ lớn nhất khi tu tập pháp Thủy cúng là nghi quỹ tỉ mỉ trang nghiêm, hành giả lại quán tưởng hợp nhất với Bổn tôn đi vào biển nước thơm, đạt được sự hòa hợp và thanh tịnh mát mẻ tối đa, toàn thân sẽ cảm nhận được sự gia trì của Thủy Đức.
Nghi quỹ pháp Thủy cúng cho cá nhân tu trì
**⚠ **Mật pháp quan trọng nhất là truyền thừa, vui lòng nhận quán đảnh pháp Thủy cúng trước khi bắt đầu tu tập. ⚠
(Dựng tháp nước ba tầng hoặc năm tầng hình tam giác, xung quanh tháp nước cắm cờ lệnh năm màu.)
Vào đàn thành tháp nước để tu pháp.
Trước tiên cầu nguyện gia trì từ căn bản truyền thừa: Đầu tiên quán Không, sau đó quán tưởng Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ trên đỉnh đầu phóng hào quang gia trì, trì tâm chú Căn bản Thượng sư 7 lần, cầu nguyện tu pháp viên mãn.
Sau đó thực hiện quán Tứ vô lượng tâm. Kết ấn thức tỉnh: Vỗ tay hai lần, sau đó bắt chéo búng ngón tay.
-
Trì tụng chú thanh tịnh.
-
Kết giới bằng chuông chày kim cang.
-
Tụng An thổ địa chân ngôn 108 lần.
-
Tụng chú Kiên Lao Địa Thần 7 lần. Chú Kiên Lao Địa Thần: "Tan-chi-tha chi-li chi-li chu-lu chu-lu chuy-lu chuy-lu chuy-chu chuy-chu tu-chu tu-chu pô-hưa pô-hưa fa-xia fa-xia sô-ha."
-
Chú triệu thỉnh. (Triệu thỉnh Bổn tôn (3 lần), Thủy Thiên Thần và chư tôn.)
-
Đại lễ bái.
-
Tuyên đọc sớ văn. Gia trì sớ văn. Hóa đốt sớ văn.
-
Cúng dường đại mandala.
-
Chú tứ quy y chú 3 lần.
-
Mặc giáp hộ thân.
-
Tụng văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì:
Ôm A Hùm [Om Ah Hum] Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh. Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn.
Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh. Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân. Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật. Ba thân không khác, đại Phật ân.
Cung kính Chân Phật đại truyền thừa. Thần thông ban trải đầy thế giới. Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời. Hóa hiện không ngừng chứng nhất như. Đệ tử tha thiết thường cầu tới. Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng.
Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca. Phó thác ân cần, A Di Đà. Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán. Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền. Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện. Cứu độ chúng sinh chúng con đây. Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ. Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì.
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu. Nam mô Liên Hoa Đồng Tử. Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật. Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.
- Sám hối nghiệp chướng
Con xưa đã tạo các ác nghiệp. Đều do vô thủy tham sân si. Từ thân khẩu ý mà sinh ra. Đã phạm thập ác ngũ vô gián. Tam muội da giới cùng nghiệp tội. Vô lượng vô biên các trọng tội. Con nay phát lộ đều sám hối.
-
Trì Bách tự minh chú 3 lần.
-
Trì Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh 1 lần.
-
Trì chú vãng sinh 7 lần.
-
Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 108 lần. (Nếu chủ tôn không phải là Liên Hoa Đồng Tử thì cần phải trì thêm tâm chú Liên Hoa Đồng Tử.)
-
Trì kinh điển của chủ tôn hoặc Chân Phật Kinh. (Ví dụ: nếu chủ tôn là Diêu Trì Kim Mẫu, có thể trì "Diêu Trì Kim Mẫu Định Huệ Giải Thoát Chân Kinh", chú Đại Bi; nếu chủ tôn là Liên Hoa Đồng Tử có thể trì Chân Phật Kinh.)
-
Quán tưởng chủ tôn tam đoạn pháp sinh. Sau đó quán tưởng chủ tôn phóng ánh sáng trắng gia trì nước trong tháp nước. Tay kết ấn của chủ tôn. Miệng trì Om Ah Hum. Nước trong tháp nước hóa thành biển nước thơm cam lộ.
-
Quán tưởng cờ lệnh ngũ sắc phóng ngũ sắc quang hộ đàn. Tạo bốn lớp kết giới.
-
Trì tâm chú chủ tôn.
Dâng tám món cúng dường và các cúng phẩm khác vào tháp nước.
Diễn hóa thủ ấn (đồng môn có thể sử dụng thủ ấn ngũ cúng, ấn Liên Hoa Đồng Tử, ấn chủ tôn Thủy cúng, ấn tám đại Bổn tôn, ấn Kim Mẫu là được. Thượng sư thì diễn hóa thêm ấn tiêu tai, ấn cầu phúc, ấn siêu độ.)
A-can sô-ha ôm ah hum. (nước) Pa-tang sô-ha ôm ah hum. (nước tắm) Pu-pê sô-ha ôm ah hum. (hoa) Tu-pê sô-ha ôm ah hum. (hương) A-lô-cây sô-ha ôm ah hum. (đèn) Can-tia sô-ha ôm ah hum. (phấn) Ni-wây-tia sô-ha ôm ah hum. (quả) Ka-ta sô-ha ôm ah hum. (nhạc)
- Nhập định.
Quán tưởng thân mình đi vào biển nước thơm cam lộ, tẩy sạch mọi nghiệp chướng đen tối, khôi phục bản tính, thân thể hoàn toàn trong suốt, hợp nhất với nước, được cam lộ mát mẻ thấm nhuần, phúc huệ tăng trưởng. (Hoàn toàn nhập vào định của đại không.)
- Tụng tán
Hum Hum Hum. Ba thân tự tính nơi cõi Phật Thượng sư Bổn tôn Không hành mẫu Hộ pháp phát lời thề bảo vệ Cầu thỉnh giáng lâm nạp hội cúng Liên Sinh Hoạt Phật Đại Thượng sư Liên Hoa Đồng Tử ứng hóa tôn Ngũ phương Ngũ Phật đại đàn thành Bát đại Bồ Tát mãn tâm hỷ Hộ pháp Không hành nhiễu như biển Âm nhạc bảo sức xuất nhã âm Lời ca điệu múa đầy tiêu dao Biến khắp hư không và mặt đất Cầu ban gia trì diệu hội cúng Hành giả du già tâm kiền thành Với cúng dường mây vi diệu này Hoan hỷ tụ tập nội minh đường Thành tâm sám hối mọi phá giới Thanh tịnh viên mãn nội minh cung Liên Sinh Hoạt Phật trường trụ thế Chân Phật Mật thừa pháp luân chuyển Nay con chí thành xin khởi thỉnh Nguyện ban đại bi thường hộ niệm Tiêu tai trừ chướng tăng giác thọ Cúng hết mọi cõi ban viên mãn.
-
Trì tâm chú tám đại Bổn tôn, niệm Phật.
-
Hồi hướng:
Như thế đủ đầy nước tắm thơm. Vô thượng đại bi tự tính thủy. Nhờ đây gia trì đại trí huệ. Đại bi thủy cúng diệu phúc lực. Cầu ban sở nguyện đạt thành tựu. Chúng con phúc huệ đều đầy đủ.
-
Trì Bách tự minh chú. (3 lần)
-
Quán tưởng đại lễ bái.
-
Trì chú viên mãn. (3 lần)
Om mani padme hum. Cát tường viên mãn.