
Zhashi Lhamo niệm tụng pháp (Trát Cơ Lạp Mẫu)
Nghi quỹ
Trước tiên, thỉnh cầu căn bản truyền thừa gia trì:
Đầu tiên quán Không, sau đó quán tưởng Truyền thừa Chân Phật Tông: Nam mô Đại Nhật Như Lai, Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Liên Hoa Đồng Tử, Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật.
Quán tưởng Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật trụ ở đỉnh đầu phóng quang gia trì. Trì tâm chú Liên Hoa Đồng Tử 7 biến, cầu nguyện tu pháp viên mãn.
Văn cầu thỉnh Liên Sinh Hoạt Phật gia trì (1 biến)
Tiếp theo, làm quán tưởng tứ vô lượng tâm. Làm thủ ấn đánh thức (vỗ tay hai lần, bắt chéo hai tay, búng ngón tay).
-
Chú thanh tịnh.
-
Chú triệu thỉnh.
-
Đại lễ bái.
-
Đại cúng dường.
-
Tứ quy y.
-
Mặc giáp hộ thân.
-
Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 biến)
-
Chú vãng sinh. (7 biến)
-
Niệm kệ tứ vô lượng tâm. (1 biến)
-
Phát bồ đề tâm
Niệm văn phát bồ đề tâm (1 biến)
Niệm chân ngôn phát bồ đề tâm (3 biến)
-
Kim Cang Tâm (kệ sám hối và chú)
-
Căn bản Truyền thừa Thượng sư tâm chú:
Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến)
- Kết ấn và quán tưởng:

Kết ấn: Hai tay giống nhau, ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út dựng thẳng lên, ngón cái đè lên ngón út, hai tay tách ra đưa về phía trước ngang tầm ngực, lòng bàn tay hướng ra ngoài.

Chủng tử tự: chữ "Chiêu" (Tạng văn)
Quán tưởng: Đầu tiên quán Không, niệm chú quán Không: Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. (3 biến)
(1) Trong tính Không, trên hoa sen và nguyệt luân có chữ 'Chiêu' màu vàng, chữ 'Chiêu' xoay tròn, biến hóa thành Trát Cơ Lạp Mẫu (Zhashi Lhamo) với làn da màu vàng đen. Hai mắt trợn tròn. Hai lông mày nhíu chặt. Miệng lớn há to, lưỡi đỏ thè ra tận cằm.
(2) Đầu đội mũ năm đầu lâu. Chân là móng gà. Hai tay trước ngực nắm giữ mặt trời và mặt trăng. Hình tượng này thể hiện sức mạnh uy hiếp và hàng phục to lớn của ngài đối với các thế lực tà ác.
(3) Quán tưởng Thiên tâm của Trát Cơ Lạp Mẫu phóng ra một luồng ánh sáng trắng, chiếu thẳng vào Thiên tâm của hành giả; Hầu luân phóng ra một luồng ánh sáng đỏ, chiếu thẳng vào Hầu luân của hành giả; Tâm luân phóng ra một luồng ánh sáng xanh lam, chiếu thẳng vào Tâm luân của hành giả; ba luồng ánh sáng trắng, đỏ, xanh lam gia trì, hòa nhập vào thân tâm của hành giả.
(4) Tiếp tục quán tưởng chữ 'Chiêu' màu vàng trên đóa hoa sen nở rộ phóng ra ánh sáng, bay lên hư không, từ đỉnh khiếu của hành giả tiến vào Tâm luân, đóa hoa sen ở tâm nở ra, chữ 'Chiêu' trên hoa sen biến hóa thành Trát Cơ Lạp Mẫu. Trát Cơ Lạp Mẫu dần dần trở nên to bằng với cơ thể của hành giả, trong sát-na, hành giả biến hóa thành Trát Cơ Lạp Mẫu, không hai không khác.
- Trì tâm chú Trát Cơ Lạp Mẫu.
Chú ngữ: Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha. (108 biến)
-
Làm Cửu tiết Phật phong, nhập ngã ngã nhập, nhập Tam ma địa.
-
Xuất định.
-
Kệ tán thán.
Ma Ma thiên nữ huyễn hóa thân, Thoa Cát Bốc Chi ma nữ tôn, Mẹ của nghĩa giới La Sát Nữ, Cùng xưng tụng những danh hiệu này. Giữa trưa vui cười Kim Cương Mẫu, Bình minh gương sáng Không Hành Mẫu, Đêm về uy mãnh Tự Tại Mẫu, Thoa Cát Bốc Chi tài phú tôn. Nghiệp lực nguyện lực từ thuở xưa, Đến nay thành thục trọn lời thề, Thiết tha vang vọng gọi tên ngài, Nguyện xin mau chóng giáng lâm đây.
[Thoa Cát Bốc Chi là tên phiên âm theo tiếng Trung của Zakiram, là một danh xưng khác của Zhashi Lhamo.]
-
Trì thêm những tâm chú khác.
-
Niệm Phật. (3 biến)
-
Trì thêm văn cầu nguyện thỉnh Phật trụ thế.
-
Hồi hướng.
-
Bách tự minh chú. (3 biến)
-
Đại lễ bái.
-
Xuất đàn, niệm chú viên mãn.
Ôm bu-lin. (3 biến) Ôm ma-ni pê-mi hùm.
Làm thủ ấn giải tán: vỗ tay hai lần, bắt chéo tay, búng ngón tay. Tu pháp viên mãn. Như ý cát tường.
- Chưa nhận quán đảnh, xin đừng tu pháp.
Lưu ý:
- Trích từ văn tập thứ 307 "Truyện Ma Hồn Quỷ" của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, Liên Sinh Hoạt Phật khai thị cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu có vài điểm cần chú ý:
Trát Cơ Lạp Mẫu đặc biệt thích uống rượu, cần cúng dường ba chai rượu trắng, hơn nữa phải cúng dường ba tuần rượu, rót rượu ba lần. Có thể cúng dường ngải cứu, lá thông. Khăn Khata màu trắng. Bơ và tsampa. (Tsampa là bột lúa mì thanh khoa, thức ăn chính của người Tạng). Chúng ta có thể dùng bánh mì trắng hoặc bột mì trắng và các thức ăn màu trắng thông thường để thay thế. Khi tu pháp, đặt hai tấm gương sáng, là tượng trưng cho mặt trời và mặt trăng nắm ở trong tay. (Trát Cơ Lạp Mẫu là thần Hộ pháp, chí tâm tu pháp cầu nguyện, ngoài việc nhanh chóng phát tài ra, thì sức khỏe, trường thọ, bình an, cũng sẽ nhận được sự gia trì, thù thắng cát tường, ngài cũng bảo vệ cho những lữ khách đi xa.)
- Xin tham khảo: Thông cáo pháp vụ của Tông Ủy Hội - Tông Pháp Tự - Thông cáo Mật pháp số 028 "Pháp Trát Cơ Lạp Mẫu - Những điều cần biết về cúng dường khi tu pháp":
Mỗi lần tu pháp, trước tiên chuẩn bị chín chén rượu trắng, mang ý nghĩa kính rượu đủ ba tuần, sau khi tu pháp xong vẩy trước tượng Trát Cơ Lạp Mẫu, (nếu khu vực đàn thành không thích hợp vẩy nước rượu, có thể dùng một vật chứa để hứng lấy nước rượu), cầm chén rượu vẩy ra theo vòng tròn thuận chiều kim đồng hồ, niệm: "Phát tiền phát cho tròn tròn, chúc cho năm nay phát tài lớn."
Có thể cúng dường ngải cứu, lá thông, bơ và tsampa. Tsampa là bột thanh khoa, có thể dùng bột mì trắng và các thức ăn màu trắng thông thường để thay thế.
-
Xin tham khảo: Khai thị trong lần đầu tiên Liên Sinh Hoạt Phật truyền pháp Trát Cơ Lạp Mẫu vào ngày 20 tháng 9 năm 2025.
-
Chú ngữ có ba phiên bản, phiên bản được niệm khi truyền pháp: Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha.
Hai phiên bản còn lại, tự mình quyết định: Ôm ma-mố na-mố thung-thung-thung cha-cha-cha sô-ha. Ôm ma-mố na-mố thung-thung-thung cha-cha hùm-hùm pây-pây sô-ha.
Giới thiệu pháp tướng Trát Cơ Lạp Mẫu
Hai mắt mở to, thân màu vàng, chau mày há miệng, le lưỡi đỏ, mũ năm sọ người, chân móng gà, hai tay trước ngực cầm nhật nguyệt. Màu sắc của Trát Cơ Lạp Mẫu là màu vàng và màu đen, hoặc màu xanh lam. Trát Cơ Lạp Mẫu của Chân Phật Tông chúng ta chủ yếu là màu vàng. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta muốn nhanh chóng phát tài. Màu xanh lam của ngài, mang sắc thái của thần Hộ pháp; màu vàng mang sắc thái của sự ban phúc. Hai mắt ngài mở to, đôi mày nhíu chặt, miệng há ra, chiếc lưỡi màu đỏ thè dài xuống tận cằm, đến trước ngực, trên đầu đội mũ năm sọ người, chân của ngài là chân gà, móng vuốt gà. Hai tay đặt trước ngực, một tay nắm lấy mặt trời, một tay nắm lấy mặt trăng. Hình tượng này thể hiện sức mạnh răn đe và năng lực hàng phục to lớn của ngài đối với các thế lực tà ác. Là thần Hộ pháp, nhưng cũng là Thần Tài. Câu nói quan trọng nhất có thể dành cho mọi người, chính là nhanh chóng phát tài!
Lai lịch thù thắng và khẩu quyết tu pháp Trát Cơ Lạp Mẫu
Nhập Tam ma địa, tương ứng Trát Cơ Lạp Mẫu Có thể khỏe mạnh, bình an, cát tường, như ý, nhanh chóng phát tài.
Nhập Tam ma địa, cầu thỉnh Trát Cơ Lạp Mẫu giáng lâm, thiền định nhất tâm, nhập ngã ngã nhập, bạn tương ứng với Trát Cơ Lạp Mẫu thì tuyệt đối có thể khỏe mạnh, bình an, cát tường, như ý, nhanh chóng phát tài!
Kệ tán thán của ngài:
Ma Ma thiên nữ huyễn hóa thân, Thoa Cát Bốc Chi ma nữ tôn, Mẹ của nghĩa giới La Sát Nữ, Cùng xưng tụng những danh hiệu này. Giữa trưa vui cười Kim Cương Mẫu, Bình minh gương sáng Không Hành Mẫu, Đêm về uy mãnh Tự Tại Mẫu, Thoa Cát Bốc Chi tài phú tôn. Nghiệp lực nguyện lực từ thuở xưa, Đến nay thành thục trọn lời thề, Thiết tha vang vọng gọi tên ngài, Nguyện xin mau chóng giáng lâm đây.
Tâm chú của ngài: "Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Niệm càng nhiều càng tốt.
Tiền hành, Hậu hành giống như tu pháp thông thường Phương pháp tu trì ở trên là chỉ cho Chính hành: quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa. Còn về Tiền hành và Hậu hành, thì giống với tu pháp thông thường. Tiền hành là đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, tứ vô lượng tâm. Hậu hành là hồi hướng, tán kệ, Kim Cang Tâm bách tự minh. Nếu tu pháp có chỗ thiếu sót, sẽ dùng chú trăm âm để bù đắp sự thiếu sót đó.
Về phương diện đại cúng dường, có vài điểm cần chú ý, điểm đặc biệt khác thường của ngài Trát Cơ Lạp Mẫu là: Ngài thích uống rượu trắng, phải cúng dường ba bình rượu trắng, hơn nữa phải cúng dường ba tuần rượu, tức là rót rượu ba lần. Cũng có thể cúng dường ngải cứu và lá thông, khăn khata màu trắng.
Ngoài ra, ở Tây Tạng người ta dùng trà bơ và tsampa, tsampa chính là bột thanh khoa, ở Tây Tạng người ta không dùng bột mì, mà là bột thanh khoa, đó là lương thực chính yếu của người Tây Tạng. Có thể dùng bột màu trắng hoặc bánh mì màu trắng, cùng các loại thức ăn thông thường để cúng dường cũng được. Khi tu pháp, phải đặt hai tấm gương sáng, một tấm gương đại diện cho mặt trời trên tay ngài; một tấm gương đại diện cho mặt trăng trên tay ngài.
Trát Cơ Lạp Mẫu là thần Hộ pháp, chí tâm tu pháp cầu nguyện, ngoài việc nhanh chóng phát tài ra, sức khỏe, trường thọ, bình an cũng sẽ nhận được sự gia trì, thù thắng cát tường. Ngài cũng bảo vệ những lữ khách đi xa, cũng có nghĩa là, bạn đi ra ngoài du lịch, ngài có thể bảo vệ bạn mọi bề bình an. Thực ra, Trát Cơ Lạp Mẫu ngoài việc có một ngôi chùa Trát Cơ ở bên ngoài chùa Sắc Lạp ở Lhasa, ở Thành Đô cũng có người cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu; ngoài ra ở Ninh Hạ cũng có người cúng dường; ngoài ra bên trong chùa Pháp Luân ở Thẩm Dương có cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu, ở chùa Chính Khiết tại Đại Khánh đều có cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu.
Tu pháp của Trát Cơ Lạp Mẫu, quan trọng nhất là điều này: ở nhân gian bạn cũng có phúc phần, trên trời cũng có phúc phần.
Liên Sinh Hoạt Phật khai thị tâm yếu khẩu quyết
Trát Cơ Lạp Mẫu có pháp tu trì của ngài. Đương nhiên chúng ta chủ yếu nhất là quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa, là thuộc về chính hành. Về mặt quán tưởng, màu sắc của Trát Cơ Lạp Mẫu là màu vàng và màu đen, hoặc là màu xanh lam. Trát Cơ Lạp Mẫu của Chân Phật Tông chúng ta trọng điểm là màu vàng. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta muốn làm giàu nhanh, đây là mạnh nhất! Màu xanh lam của ngài là mang hương vị của Hộ pháp thần; màu vàng là mang hương vị của ban phúc.
Hai mắt của ngài trợn tròn, đôi mày nhíu chặt, miệng há to, chiếc lưỡi đỏ lè ra mãi đến tận cằm, đến trước ngực, trên đầu đội mũ năm đầu lâu, chân của ngài là chân gà, móng gà. Hai tay đặt trước ngực, một tay nắm lấy mặt trời; một tay nắm lấy mặt trăng. Hình tượng này cho thấy sức mạnh uy nhiếp và hàng phục to lớn của ngài đối với các thế lực tà ác. Là Hộ pháp thần, nhưng cũng là Tài thần. Câu nói quan trọng nhất có thể giúp người ta, chính là làm giàu nhanh! Hôm nay mọi người đều vì làm giàu nhanh mà đến, tôi hy vọng sau pháp hội của chúng ta, sau khi quán đảnh xong, mỗi người đều được làm giàu nhanh to lớn.
"Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Chú ngữ của ngài, chúng ta phải trì chú ngữ của ngài: "Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Đây là chú ngữ của ngài. Phải trì 108 biến, hoặc càng nhiều càng tốt.
Nhập Tam ma địa, cầu thỉnh Trát Cơ Lạp Mẫu giáng lâm, thiền định nhất tâm, nhập ngã ngã nhập, bạn tương ứng với Trát Cơ Lạp Mẫu rồi thì tuyệt đối có thể khỏe mạnh, bình an, cát tường, như ý, làm giàu nhanh! Kệ tán thán của ngài:
"Ma Ma thiên nữ huyễn hóa thân, Thoa Cát Bốc Chi ma nữ tôn, Mẹ của nghĩa giới La Sát Nữ, Cùng xưng tụng những danh hiệu này. Giữa trưa vui cười Kim Cương Mẫu, Bình minh gương sáng Không Hành Mẫu, Đêm về uy mãnh Tự Tại Mẫu, Thoa Cát Bốc Chi tài phú tôn. Nghiệp lực nguyện lực từ thuở xưa, Đến nay thành thục trọn lời thề, Thiết tha vang vọng gọi tên ngài, Nguyện xin mau chóng giáng lâm đây."
Tâm chú của ngài: "Ôm ma-mố na-mố thung-thung cha-cha sô-ha." Niệm càng nhiều càng tốt.
Pháp tu trì ở trên là chỉ Chính hành: quán tưởng, trì chú, nhập Tam ma địa. Còn về Tiền hành và Hậu hành thì giống với các pháp tu thông thường. Tiền hành là đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, tứ vô lượng tâm. Hậu hành là hồi hướng, tán kệ, Kim Cang Tâm bách tự minh. Nếu tu pháp có thiếu sót, dùng Bách tự minh chú để bù đắp những phần chưa đủ.
Về mặt đại cúng dường, có vài điểm cần chú ý, điểm đặc biệt khác thường của Trát Cơ Lạp Mẫu: Ngài thích uống rượu trắng, phải cúng dường ba chai rượu trắng, hơn nữa phải cúng dường ba tuần, cũng tức là rót rượu ba lần. Đây là rượu trắng (trên bàn pháp), tôi uống thử xem, rượu trắng này có chút mùi thơm, uống ba ngụm. Cũng có thể cúng dường lá ngải cứu và lá thông, khăn khata màu trắng, khăn khata màu trắng phải dùng để cúng dường.
Ngoài ra, ở Tây Tạng thì dùng trà bơ và tsampa, tsampa chính là bột thanh khoa, ở Tây Tạng không dùng bột mì, mà là bột thanh khoa, đó là thức ăn chính của người Tây Tạng. Tôi từng ăn tsampa, cho tsampa vào trong hồng trà, sau đó dùng tay nặn nó, nặn một chút rồi chấm lên ăn. Chúng ta có thể dùng bột màu trắng hoặc bánh mì trắng, và các thức ăn thông thường để cúng dường cũng được. Khi tu pháp, phải đặt hai tấm gương sáng, một tấm gương tượng trưng cho mặt trời trên tay ngài; một tấm gương tượng trưng cho mặt trăng trên tay ngài.
Trát Cơ Lạp Mẫu là Hộ pháp thần, chí tâm tu pháp cầu nguyện, ngoài làm giàu nhanh ra, sức khỏe, trường thọ, bình an, cũng sẽ nhận được sự gia trì, thù thắng cát tường. Ngài cũng bảo vệ những lữ khách đi xa, cũng tức là nói, bạn đi ra ngoài du lịch, ngài có thể bảo vệ bạn mọi bề bình an. Thực ra, Trát Cơ Lạp Mẫu ngoài việc bên ngoài chùa Sera có một ngôi chùa Trát Cơ; ở Thành Đô cũng có người cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu; ngoài ra ở Ninh Hạ cũng có người cúng dường; ngoài ra trong chùa Pháp Luân ở Thẩm Dương có cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu, ở chùa Chính Khiết tại Đại Khánh đều có cúng dường Trát Cơ Lạp Mẫu.
Đệ tử của tôi là Liên Tôn đã viết truyền thuyết về Trát Cơ Lạp Mẫu, thực ra truyền thuyết về Trát Cơ Lạp Mẫu có rất nhiều, anh ấy chủ yếu viết hai câu chuyện. Bởi vì Trát Cơ Lạp Mẫu nhất tâm tu hành, do ngài khá xinh đẹp liền vấp phải sự ghen ghét. Lại có tà thần hạ độc hãm hại ngài, nhưng cảnh giới tu hành của Trát Cơ Lạp Mẫu rất cao, đã ép chất độc ra đầu lưỡi, nhưng lưỡi lại không thể rụt vào được, cho nên lưỡi của ngài cứ thè dài đến trước ngực. Tà thần thấy không có cách nào hạ độc ngài liền chặt đứt đôi chân của ngài, kết quả chân của Trát Cơ Lạp Mẫu lại mọc ra, có ba ngón giống như gà, chính là thủ ấn của chúng ta. Thủ ấn ba ngón tay chính là tượng trưng cho bàn chân của ngài, nó giống hệt như chân gà. Do hình tượng này, bản thân ngài có đại pháp lực giải độc, cũng tượng trưng cho việc có thể giải trừ chất độc trong nội tâm chúng sinh.
Về truyền thuyết của Trát Cơ Lạp Mẫu, còn có một truyền thuyết nữa mà tôi khá coi trọng. Bản thân ngài vốn là một cô gái vùng đất Hán hội tụ đủ vẻ vô cùng xinh đẹp, trẻ trung, lương thiện, rất được hoàng đế Càn Long yêu mến, trở thành phi tử được sủng ái của ông. Chính vì sự xinh đẹp và lương thiện của ngài, do những mối quan hệ chốn hậu cung, ngài đã phải bỏ mạng, ngài bị người ta hãm hại đến chết. Sau khi bản thân bị hại, ngài không cam tâm rời đi, sự oán hận trong lòng khiến ngài mất đi sự thuần chân vốn có, một lòng chỉ muốn báo thù. Sự báo thù này không giống với "làm giàu nhanh" kia. Thế là mỗi ngày ngài đều lảng vảng trong hoàng cung, khiến những người bên trong cung đình rất đỗi sợ hãi.
Hoàng đế Càn Long sau khi biết chuyện, ông đã thỉnh Lama Cường Ba Mẫn Lãng của chùa Sera ở Tây Tạng, thực ra là hy vọng vị Lama có thể an ủi Trát Cơ Lạp Mẫu, an định lòng người. Sau khi Lama Cường Ba của chùa Sera đến, nhìn thấy một người phụ nữ đang khóc trên xà nhà, liền trò chuyện cùng ngài. Sau đó mới biết ngài vốn là phi tử của Càn Long, bị người ta hãm hại, cho nên ngài mới không muốn rời đi. Lama Cường Ba đem ngọn nguồn sự việc kể lại đúng sự thật cho hoàng đế Càn Long, hoàng đế Càn Long sau khi biết chuyện liền đem toàn bộ những kẻ hãm hại ngài ra xử tội theo pháp. Rồi thỉnh cao tăng Tây Tạng siêu độ cho vị phi tử này, hy vọng ngài có thể sớm ngày thoát khỏi bể khổ. Sau khi mọi chuyện xong xuôi, cao tăng liền rời khỏi đất Hán. Trên đường trở về Tây Tạng, ông phát hiện Trát Cơ Lạp Mẫu vẫn chưa rời đi, cứ đi theo ông, không muốn rời đi. Lúc này Lama liền hỏi Trát Cơ Lạp Mẫu, Trát Cơ Lạp Mẫu trả lời: ngài quyết định nhất tâm hướng Phật, quy y cửa Phật, hơn nữa ngài muốn đi theo ông cùng nhau tu hành. Đại sư khuyên ngài rằng: Ngài không cần phải vất vả như vậy, ngài vẫn là nên quay về đi! Nhưng ngài từ đầu đến cuối không muốn quay về, cứ đi theo Lama Tây Tạng về đến chùa Sera. Thế nhưng ngài không thể vào được chùa Sera, bởi vì ngài là nữ, toàn bộ chùa Sera đều là nam, ngài không thể vào được. Lama Tây Tạng liền nói: Ta ở bên ngoài chùa Sera giúp ngài xây một ngôi chùa, tiếp nhận sự cúng dường của mọi người. Trát Cơ Lạp Mẫu liền đồng ý, bèn ở lại chùa Zhashi bên ngoài chùa Sera. Xây dựng chùa Trát Cơ là để cho ngài làm nơi tu hành.
Sau này ngài tu hành trở thành Hộ pháp của Phật giáo, cũng là Hộ pháp của nhân gian. Ngôi chùa Trát Cơ này vốn dĩ thuộc về một nơi bên ngoài chùa Sera, người qua lại rất đông, lúc này những người đến chùa Trát Cơ lễ bái đều nhận được cảm ứng. Cảm ứng vô cùng mãnh liệt, hơn nữa cảm ứng vô cùng chuẩn xác, vô cùng có sức mạnh. Ngài có thể hộ pháp, có thể hộ trì, đồng thời cũng có thể bảo hộ mọi người, nói chung làm bất cứ việc buôn bán gì, bạn đến cầu ngài liền thành công; muốn kiếm tiền gì, cầu ngài cũng thành, chính tài, hoạnh tài, thiên tài, nói chung bất cứ loại tài lộc nào cũng đều có thể có được. Cho nên ngài liền ngày càng nổi tiếng, cứ thế truyền ra ngoài, chính là làm giàu nhanh lớn, làm giàu nhanh vừa, làm giàu nhanh nhỏ! Hôm nay chúng ta thỉnh Trát Cơ Lạp Mẫu ban tài lộc đến đây, ban cho mỗi người chúng ta đều được làm giàu nhanh! Thực ra trong quá trình tu hành, ngài cũng có chứng đạo. Theo Đạo gia mà nói, ngài chính là ma tiên. Tiên có rất nhiều loại, lớn nhất chính là Kim Tiên, Đại La Kim Tiên là lớn nhất, giống như Diêu Trì Kim Mẫu, Đông Hoa Đế Quân chính là thuộc về Đại La Kim Tiên, thuộc về Kim Tiên. Trát Cơ Lạp Mẫu là thuộc về ma tiên, không phải là ma, mà là từ ma tu thành tiên nhân, đây là ma tiên. Ngài không phải là ma, ngài trước kia là ma, ma cũng có thể tu hành, đúng không? Không phải chỉ có con người mới có thể tu hành; thần cũng có thể tu hành, ngài cũng có thể có được thành tựu.
Cho nên Phật, tiên, ma, thánh đều có thể tu hành. Từ ma tu thành tiên thì gọi là ma tiên; từ thánh tu thành tiên chính là thánh tiên. Tu đến cuối cùng chính là Kim Tiên, giống như Phật Thích Ca Mâu Ni chúng ta gọi ngài là Kim Tiên, chúng ta cũng gọi là Kim Tiên; Diêu Trì Kim Mẫu chúng ta cũng gọi là Kim Tiên. Những vị tu hành được xưng thần này, có vị là trung thần liệt sĩ, có vị là thánh hiền hào kiệt. Giống như Khổng Tử là Văn Thánh, ngài cũng có Khổng miếu, ngài thuộc về việc chỉ dạy chúng ta đạo lý đối nhân xử thế, ngài là thánh hiền, bản thân ngài cũng có miếu thờ.
Trát Cơ Lạp Mẫu vốn dĩ là hồn ma, thế nhưng sau khi ngài học Phật, ngài cũng chăm chỉ tu hành, cũng trở thành ma tiên. Ma tiên vô cùng linh nghiệm, cho nên liền truyền ra ngoài, sức mạnh của bản thân ngài là rất lớn. Truyền thuyết về bản thân Trát Cơ Lạp Mẫu có rất nhiều, có thuyết nói là Hộ pháp thần của đất Tạng, có thuyết nói là hóa thân của Cát Tường Thiên. Tại sao lại là hóa thân của Cát Tường Thiên? Bởi vì Trát Cơ Lạp Mẫu, Lạp Mẫu chính là tên của Cát Tường Thiên, ở Tây Tạng có một Lạp Mẫu Lạp Thác, thác chính là hồ. Tuy là thác, nhưng biểu thị ý nghĩa của nó là hồ, Lạp Mẫu Lạp Thác chính là hồ của Cát Tường Thiên Nữ. Ngài có hai chữ Lạp Mẫu, cho nên truyền thuyết nói ngài là hóa thân của Cát Tường Thiên.
Lạp Mẫu Lạp Thác, chính là hồ của Cát Tường Thiên Nữ. Tất cả các Hoạt Phật được chứng nhận, đều phải đi đến Lạp Mẫu Lạp Thác, để xem hồ của Cát Tường Thiên, cảnh hồ hiện ra, sau khi xem, xem xem hồ đó hiện ra những gì, vị Hoạt Phật này chuyển thế đến đâu? Chính là từ trong hồ đó nhìn ra được: trong nhà ngài ấy có những ai, hình dáng ngôi nhà, có mấy cái cây, phía trước có thứ gì, phía sau có thứ gì? Ở trong hồ đều có thể hiển hiện ra. Bản thân Cát Tường Thiên mà nói, ngài là vị bói toán lợi hại đệ nhất, cũng tức là thần toán lợi hại đệ nhất. Hồ của ngài chính là Lạp Mẫu Lạp Thác. Trát Cơ Lạp Mẫu bởi vì có cái tên Lạp Mẫu, liền trở thành hóa thân của Cát Tường Thiên Nữ. Cũng có người nói ngài là thân phẫn nộ của Diệu Âm Thiên Nữ. Bản thân tôi cho rằng truyền thuyết về phi tử của hoàng đế Càn Long là câu chuyện truyền kỳ nhất. Cho dù nói thế nào, sự linh nghiệm của ngài là một trăm phần trăm, danh tiếng vang xa, người đến triều bái nườm nượp không ngớt. Người đi bái chùa Trát Cơ nườm nượp không ngớt; người đi chùa Sera rất ít, mọi người đều đi bái chùa Zhashi.