Chuyển tới nội dung chính

054. Mật tông Yết Ma pháp

Mật tông Yết Ma pháp

🪷 Đại công khai Mật pháp cứu đời

Văn tập: 054 Xuất bản: 10/1984 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


Mục lục

Lời mở đầu

Nhân duyên tôi viết "Mật tông Yết Ma pháp"

Yết Ma - ý nghĩa của pháp. Yết Ma A Xà Lê là vị Thượng sư theo nghi quỹ Phật pháp để làm các pháp sự như thọ giới, sám hối. Ngoài ra, Yết Ma pháp chính là các pháp của Mật tông như tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, nhiếp triệu.

Khi bắt đầu viết cuốn sách này, trước tiên tôi giải thích hai chữ "Yết Ma" như trên. Việc viết cuốn sách này cũng có nhân duyên lớn. Sau khi viết xong cuốn "Giữa Phật và Ma", một đêm nọ, khi tôi đang ngồi thiền tại Chân Phật Các, nguyên thần của tôi từ từ bay lên, đến một vùng đất tôi chưa từng đặt chân đến, đó là Sri Lanka, nguyên thần của tôi đi vào một hang động trên vách núi.

Hang động này sâu thẳm tối tăm, bên trong quanh co uốn lượn với nhiều lối đi, nhưng điều thu hút tôi lại là một luồng ánh sáng tinh khiết như tia chớp. Nguyên thần của tôi đi vào tận cùng hang động, lúc này ánh sáng rực rỡ như mặt trời, gần như xuyên thấu cả vách đá, cả hang động sáng bừng, ánh sáng chiếu khắp vũ trụ, tràn ngập trời đất. Khi nhìn kĩ, tôi thấy nguồn sáng đó lại chính là một quyển sách, bìa sách rất cũ kĩ, chữ viết bên trong tôi không đọc được, tuy nhiên trong đầu tôi chợt lóe lên linh cảm, đây không phải chữ Phạn (tiếng Ấn Độ) mà là kinh Phật viết bằng tiếng Pali.

Nguyên thần của tôi lật mở ký ức kiếp trước về văn bản tiếng Pali, và nhanh chóng tôi đã hiểu được trọng tâm của quyển sách này. Văn tự trong sách này vốn rất thâm thúy khó lường, cũng không dễ hiểu, bởi vì đây là một trong những quyển Tạng kinh (Tạng kinh thời xưa nhất được chia thành tiếng Phạn và tiếng Pali), là kết tinh vĩ đại của tri thức nghìn đời.

Vì vậy, mỗi tối khi ngồi thiền, tôi đều bay đến hang động sâu thẳm ở Sri Lanka, tại nơi tĩnh lặng nhất tràn ngập ánh sáng, dưới những tia vàng rực rỡ, tôi chăm chú nghiên cứu quyển sách này. Điều kỳ diệu hơn nữa là quyển sách này có Kim Cang Thần bảo hộ, mỗi lần tôi đến, các vị Kim Cang Thần hộ pháp đều khác nhau, tất cả đều là những vị Kim Cang Lực Sĩ tay cầm chày kim cang. Khi thấy tôi đến, các Ngài đều lui sang một bên, ngày đêm cung kính bảo hộ, và tôi được an tâm đọc quyển kinh Pali này trong ánh hào quang rực rỡ. Tên của quyển sách này chính là "Yết Ma".

Thật là một điềm lành linh thiêng! Tôi đã học được tâm yếu trong sách, những bí pháp huyền diệu nhất, những giáo pháp thiêng liêng nhất, hiểu được cách sử dụng tất cả các pháp bí mật. Tôi không khỏi cảm thán! Làm sao người đời thế tục biết được rằng trên thế gian này vẫn còn tồn tại một pháp bảo như thế này chôn sâu trong hang động dưới lòng đất, đây quả thật là một pháp ích thuần tịnh!

Tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư - đặc biệt được mười phương chư Phật chiếu sáng, mang trong mình sứ mệnh cao cả, dựng cao cờ pháp, rải khắp mưa pháp cam lộ để cứu độ chúng sinh mười phương. Tông phái Chân Phật Tông của tôi quả thật là một pháp duyên thù thắng kỳ diệu, chứa đựng pháp lực vô cùng, là tông phái thiêng liêng tồn tại muôn đời, là pháp thí của đại trí huệ (bát nhã) thông suốt trời đất, là nơi chúng sinh nên quy y.

Yết Ma là đệ nhất nghĩa đế. Cũng là đại Mật pháp cứu độ thế gian.

Hôm nay, pháp mà tôi trình bày trong sách này chính là Yết Ma pháp, lấy Bất Không Thành Tựu Như Lai làm Bổn tôn. Bất Không Thành Tựu Như Lai là một trong Ngũ Phương Phật, chủ trì Yết Ma Bộ, là chủ tôn của nguyệt luân phương Bắc trong Mandala Kim Cương Giới, mật hiệu là Tất Địa Kim Cang và Thành Tựu Kim Cang.

Do việc tu pháp có thể giải trừ phiền não của chúng sinh, thành tựu tất cả đại nguyện, không bao giờ "không thành" nên mới gọi là Bất Không Thành Tựu Như Lai. Vị Như Lai này còn được gọi là Khai Phu Hoa Vương Như Lai, nhờ vào vạn hạnh đại bi của Ngài mà chúng sinh đều có thể đắc quả bồ đề. Pháp tướng của Bất Không Thành Tựu Như Lai là: "Tướng định tĩnh lặng, Pháp thân sắc vàng, một tay nắm góc y, tay kia kết ấn thí vô úy."

Yết Ma pháp có thể nói là con đường thoát khổ được vui, là chiếc bè báu dẫn đến giác ngộ. Khi tôi mở lại ký ức kiếp trước, bỗng nhiên hiểu được ý nghĩa thực sự của văn bản Pali, duyên pháp này quả thật quá sâu dày, chỉ trong một sát-na đã hiểu tất cả. Tôi mong rằng những hành giả tu tập hãy kiên định vĩnh hằng! Bất kì người tu hành nào, dù phải trải qua nghìn vạn thử thách của ma chướng, cũng đừng đánh mất đạo tâm, bởi vì Đạo là có thật, chỉ cần làm được việc khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn, nhất định sẽ chứng đắc bồ đề, có thể cứu độ chúng sinh.

Hôm nay, tôi là người đã đạt được đại chứng ngộ về "giải thoát quán". Tính thường hằng của tôi là bình đẳng và không tịch, tôi không vì danh lợi mà làm những việc điên đảo, tôi đã sớm thấu triệt tướng sinh diệt trong từng sát-na. Thần thái tâm an là tâm bồ đề thường hằng của tôi. Những gì tôi đạt được là cuộc đời có giá trị vô thượng, cảnh giới đó tự nhiên vượt trên cả khuôn vàng thước ngọc.

Yết Ma pháp trong sách này bao gồm các pháp lớn nhỏ, hoàn toàn liên quan mật thiết đến con người, đây là pháp cứu độ thế gian. Tuy khác với tông chỉ của Vô thượng mật và Đại thủ ấn, nhưng tu tập Yết Ma pháp cũng có thể đạt được thiện căn sâu dày, phúc báo cực thịnh, công đức cứu người lại vô cùng to lớn, cũng có thể từ đây mà nhập môn rồi đạt được những bí mật vô thượng.

Tôi viết một bài kệ: Đại nguyện thấu trời thuyết mọi pháp Thong dong nguyên thần quán Phật kinh Đi học Yết Ma muôn vạn dặm, Nghìn ma vạn ma tại đây dừng.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

**Sheng-yen Lu **17102 NE 40th Ct., Redmond, WA 98052 U. S. A.

01. Tâm yếu của năm pháp đại bí mật

Năm pháp đại bí mật của Mật tông tức là tiêu tai, tăng ích, kính ái, nhiếp triệu, hàng phục. Nghi quỹ trong những pháp này vô cùng phức tạp, tôi đặc biệt thuật lại những điểm quan trọng như sau: Thời gian tu pháp, tất cả đều hoàn thành bảy ngày tu, từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 8 tốt nhất là tu pháp tiêu tai, ngày mồng 9 đến ngày 15 nên tu pháp tăng ích, ngày 16 đến ngày 23 nên tu pháp kính ái và pháp nhiếp triệu, ngày 24 đến cuối tháng nên tu pháp hàng phục. [Ngày tháng ở đây thông thường sẽ theo Âm lịch.] Lên lịch thời gian như vậy dựa theo sự diễn hóa của mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao để sắp xếp, có liên quan tới thiên văn và lực từ trường.

Pháp tiêu tai: Người làm pháp quay mặt về hướng Bắc, còn Phật đàn quay mặt về hướng Nam, mặc pháp y màu trắng, khi mặt trời xuống núi thì mới làm pháp, hoa quả cúng cũng phải chọn màu trắng để cho phù hợp, quán tưởng Bổn tôn cũng là màu trắng, phóng ánh sáng cũng là màu trắng, dùng ánh mắt từ bi và tư thế ngồi để làm pháp, âm thanh niệm chú không chậm không nhanh, và tâm từ bi niệm chú, có nghĩa là âm thanh trong và đều đặn.

Pháp tăng ích: Người làm pháp quay mặt về hướng Đông, còn Phật đàn quay mặt về hướng Tây, mặc pháp y màu vàng, chọn một giờ cát tường là có thể làm pháp, hoa quả cúng tất cả đều phải chọn màu vàng, quán tưởng Bổn tôn cũng là màu vàng, phóng ánh sáng cũng là màu vàng, thời gian cũng chọn lúc mặt trăng mới mọc là tốt nhất, dùng mắt kim cang để nhìn xung quanh, khi tu pháp phải dùng tâm vui vẻ, tâm hân hoan, âm thanh trì chú ngắn gọn trong sáng.

Pháp kính ái, pháp nhiếp triệu: Người làm pháp quay mặt về hướng Tây, còn Phật đàn quay mặt về hướng Đông, mặc pháp y màu trắng, người tu pháp quỳ trên đầu gối, hai chân tựa vào nhau, mông không chạm đất, thời gian chọn giờ lành sau buổi đêm, có thể mặc pháp y màu vàng hoặc màu đỏ, hoa quả cúng đều dùng quả dưa tươi màu đỏ, quán tưởng Bổn tôn là màu đỏ, phóng ánh sáng cũng là màu đỏ, âm thanh niệm chú là từng chữ nhanh và dứt khoát, từng chữ đều có lực.

Pháp hàng phục: Người làm pháp quay mặt về hướng Nam, còn Phật đàn quay mặt về hướng Bắc, mặc pháp y màu xanh hoặc màu đen cũng được, hoa quả cúng là hoa quả màu xanh hoặc màu đen, thời gian tu pháp là chính giữa ngày [tức 12 giờ trưa] hoặc buổi tối khi trăng lên cao [tu dưới ánh trăng]. Pháp hàng phục này có hai kiểu thân ấn, một kiểu là chân phải đứng thẳng, chân trái đứng hơi cong, chân phải biểu thị chính mình, chân trái biểu thị đối phương; kiểu còn lại là dùng chân phải dẫm lên lưng chân trái, dùng tư thế ngồi xổm để tu pháp, mông không chạm đất, tương tự cũng có ý nghĩa là dẫm lên đối phương. Quán tưởng Phật và phóng quang là màu xanh đen, mặt thì nhướn mày và liếc mắt, răng cắn vào môi trên, làm thành tướng phẫn nộ, tương ứng với tâm phẫn nộ, âm thanh niệm chú là bật ra từng tiếng phẫn nộ.

Ở trong hang động tại Sri Lanka, tôi đã đọc được về Yết Ma bằng tiếng Pali, chuyên môn nói về năm pháp đại bí mật để cứu đời này. Đương nhiên chúng ta biết pháp tiêu tai có thể tránh được tất cả tai nạn ngoài ý muốn, ví dụ các tai họa về đất, nước, lửa, gió, hoặc lái xe đi lại, oán thù giữa người với người, thậm chí bệnh tật, đều có thể sử dụng pháp tiêu tai.

Công đức thượng phẩm của pháp tăng ích có thể ngao du đến thiên cung và trở thành tiên, công đức trung phẩm là có thể được trường thọ, tất cả đầy đủ sung túc, giống như vua ở nhân gian, công đức hạ phẩm là có thể đắc thành tựu, có thể được các điều lành, gia tăng của cải tài nguyên, tất cả đều đầy đủ, đây là lợi ích của pháp tăng ích.

Pháp kính ái, pháp nhiếp triệu có thể được người người kính ái, có thể thu hút triệu gọi thiên thần hạ phàm gian, có thể đắc cái nhìn bình đẳng, người tu trì pháp này giống như trăng sáng chiếu hồ nước, cũng giống như hoa sen không nhiễm bụi trần, khi công đức viên mãn tự nhiên thăng lên cõi trời, trí huệ của mỗi người đều viên mãn, quang minh thường chiếu, có Thần Phật bảo hộ, tương lai bồ đề viên mãn, tất cả thành tựu.

Pháp hàng phục có thể nói là hàng phục độc long, ác thú, thiên ma, tà quỷ, tà nhân, tà giáo, đệ tử xấu. Đây chính là pháp tru của Mật tông, hầu hết hễ tu pháp này thì đối phương nhất định sẽ cảm ứng, thân tâm bất an, hoặc gặp tai nạn, hoặc bệnh hoặc chết. Nhưng là Thượng sư chân chính thì không thể tu pháp này, chỉ là thỉnh thoảng dùng để cảnh cáo, khiến đối phương phát ra một chút thiện niệm hối cải, sau đó Thượng sư tu pháp tiêu tai để tiêu tai thay cho đối phương.

Người đọc được cuốn sách này của tôi đúng là có Phật duyên lớn như trời, các bạn phải đảnh lễ, đảnh lễ Thượng sư, Phật, pháp, tăng. Hôm nay tôi đem năm pháp đại bí mật này để thanh tịnh ba nghiệp (khẩu nghiệp, thân nghiệp, ý nghiệp) của chúng sinh, vì lợi ích của chúng sinh trong thiên hạ mà đem năm pháp đại bí mật này giảng giải kĩ càng tỉ mỉ hết toàn bộ.

Tôi ngồi trên tòa hoa sen được trăm loại báu vật trang sức, giảng giải chi tiết về năm pháp đại bí mật này để chúng sinh ai nấy đều được lợi ích, người người thành Phật. Tôi là bậc tôn giả thượng lạc đại tự tại, Đại Nhật Như Lai ở trên đỉnh đầu tôi, Ngũ Phật Đông Tây Nam Bắc đều hiện thân, đó là A Súc Phật dũng mãnh, là Bảo Sinh Phật thù thắng nhất, là A Di Đà Phật từ bi nhất, là Bất Không Thành Tựu Phật vô thượng pháp, đều là các vị vô thượng trên đỉnh đầu tôi.

Tôi biến hiện thành Kim Cang Tâm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Mã Đầu Minh Vương, Phật Nhãn Phật Mẫu, Hàng Tam Thế Minh Vương… Tôi nhập vào Tam ma địa của các thánh tôn, học được tất cả các pháp Yết Ma, có thể vận dụng tất cả pháp bí mật, tùy duyên độ chúng sinh, tâm tôi đã bất động, là làm Kim Cang Liên Hoa Tâm, đỉnh đầu tôi hiện ánh sáng rực rỡ là làm Kim Luân Nhất Tự Vương, tôi là bạch y tôn Liên Hoa Đồng Tử phóng hào quang.

Luôn luôn nhớ chúng sinh, luôn muốn độ chúng sinh, hoàn toàn dùng tâm đại từ bi để trụ thế thuyết pháp, tôi dùng năm pháp bí mật để diễn hóa ra vô lượng pháp đà-la-ni, mỗi pháp đều là mật pháp đại cứu thế. Có thể trừ tám vạn bốn nghìn loại phiền não, có thể diệt tâm trần tục của người thế tục trong thiên hạ, khiến người người đều là những ngôi sao tuyệt đẹp trên bầu trời.

Năm tâm pháp đại bí mật này có công năng vô cùng tận, hy vọng người người coi trọng.

Tôi viết một bài kệ: Năm đại mật pháp phóng Phật quang, Nhật nguyệt tinh huy quang sáng chói Nay có Liên Sinh đến giáo thị, Nhân gian tịnh thổ được bay lên.

02. Thành tựu vô thượng của Ngũ Phật

Tôi, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cang Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả, đã từng thọ nhận đại quán đảnh của năm dòng pháp trí huệ từ Ngũ Phật. Tôi đã nhập vào đại mandala Kim Cương Giới, đại mandala Kim Cương Giới này được giới thiệu như sau:

  1. Trung ương là Tỳ Lô Giá Na Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát, đó là Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, Bảo Ba La Mật Bồ Tát, Pháp Ba La Mật Bồ Tát, Nghiệp Ba La Mật Bồ Tát.
  2. Phương Tây (phương trên) là Quán Tự Tại Vương Phật tức A Di Đà Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát: Kim Cang Pháp, Kim Cang Nhân, Kim Cang Ngữ, Kim Cang Lợi.
  3. Phương Đông (phương dưới) là A Súc Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát: Kim Cang Thủ, Kim Cang Vương, Kim Cang Ái, Kim Cang Thiện Tai.
  4. Phương Bắc (phương phải) là Bất Không Thành Tựu Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát: Kim Cang Quyền, Kim Cang Hộ, Kim Cang Nha, Kim Cang Nghiệp.
  5. Phương Nam (phương trái) là Bảo Sinh Phật - xung quanh có bốn vị Bồ Tát: Kim Cang Tạng, Kim Cang Tràng, Kim Cang Quang, Kim Cang Tiếu.

Sự bố trí đại mandala Kim Cương Giới của năm vị Phật này chính là như vậy, thêm vào đó là Tứ Môn Kim Cang khóa, chuông, dây, móc câu, cùng với tám đại cúng dường hoa, hương, đèn, hương xoa, ca, vũ, tràng hoa, trò chơi, như vậy là hoàn chỉnh đại mandala Kim Cương Giới.

Tôi đã được đại quán đảnh của năm dòng pháp trí huệ, tức là đã đắc pháp trí thành tựu của tất cả Như Lai, có thể nói tất cả sự nghiệp của Như Lai đều thành tựu viên mãn không chướng ngại. Tôi đội mũ Ngũ Phật, khoác pháp y, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, trong thiền định, thần quang của tôi xuất hiện trên trán. Từ thần quang cầu làm tất cả pháp, đây là tâm pháp cực kì bí mật.

Lần thứ nhất, trước tiên kết ấn đại trí quyền, biến hiện Tỳ Lô Giá Na Phật, niệm chân ngôn: "Ôm pô-rư-la tua-tu-chung." Lần thứ hai, tiếp tục kết ấn xúc địa, biến hiện A Súc Phật, niệm chân ngôn: "Ôm a-chi-chu pi-yê." Lần thứ ba, tay phải kết ấn ban nguyện, biến hiện Bảo Sinh Phật, niệm chân ngôn: "Ôm la-tan-na sô-ha tan-lua." Lần thứ tư, hai tay kết ấn pháp giới định, biến hiện A Di Đà Phật, niệm chân ngôn: "Ôm lu-chi-sư-pô la-la-rưa chi-li." Lần thứ năm, tay phải kết ấn thí vô úy, biến hiện Bất Không Thành Tựu Phật, niệm chân ngôn: "Ôm a-mu-ka-xi-ti ưa."

Cần biết rằng, đây là pháp cực bí mật vô thượng, pháp Ngũ Phật này là Mật pháp vô thượng chỉ dành cho Kim cương Thượng sư tu học. Từ pháp Ngũ Phật này có thể đạt được thân kim cang, ngữ kim cang, tâm kim cang. Do sự hợp nhất của ba thanh tịnh thân, khẩu, ý, Kim cương Thượng sư liền ngồi trên tòa sen, biến thành Như Lai của Kim Cương Giới. Ta chính là Phật, Phật chính là ta, tất cả hào quang trang nghiêm chiếu sáng, tất cả Phật pháp đều có thể thành tựu.

Pháp Ngũ Phật này là mật pháp vô thượng đệ nhất của Yết Ma. Đại thần biến này còn gọi là trò chơi thần thông.

Hành giả tu pháp, tự thân nâng lên, cùng với tất cả chư Phật đều ngồi trên tòa sen để đạt đến cảnh giới hợp nhất, cảnh giới này chính là cảnh giới pháp giới đồng thể, lý sự vô ngại.

Người tu trì Ngũ Phật vô thượng mật, cuối cùng có thể đạt được chính giác, thân tâm không tán loạn, công đức viên mãn như ánh trăng rằm, không một chút khiếm khuyết hay thiếu sót, hành giả đạt được đại bồ đề mà thành Phật. Trì tụng chân ngôn của Ngũ Phật có thể đắc được trí huệ đại bồ đề bình đẳng quang minh, đạt được thân kim cang bất hoại, chứng đắc samaya thành tựu. Nhập vào tất cả kim cang Tam ma địa, có thể nhiếp thọ chúng sinh, tự thân trở thành bậc thầy của trời người, thậm chí đạt được vô lượng thọ bình đẳng quang minh, có thể vì chúng sinh mà thuyết pháp Đại thừa, lợi ích chúng sinh khắp thiên hạ, ban cho chúng sinh phúc lành cát tường.

Tôi biết rằng thành tựu vô thượng của Yết Ma chính là pháp Ngũ Phật. Hành giả tu pháp trước tiên phải chuyển thức thành trí, chuyển hóa tất cả những hạt giống hữu lậu trong A-lại-da thức thành Đại viên kính trí. Phải loại bỏ vọng chấp của thức thứ bảy. Những thứ như ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái của thức thứ bảy đều chuyển thành bình đẳng trí. Cần phải thanh tịnh thức trước, chuyển thành trí rồi, tu pháp Ngũ Phật này tự nhiên có thể tức thân thành Phật, đây chính là đại pháp chuyển ngũ thức thành ngũ trí để thành Phật.

Tất cả chi tiết của pháp này phải do Kim cương Thượng sư chân chính truyền thụ, đây chính là năm bộ đại pháp tâm truyền, chính là pháp Ngũ Phật. Hành giả nếu được thành tựu, ngay đời này sẽ là Kim cang Thượng sư.

Người tu trì năm bộ đại pháp tâm truyền mà đạt được thành tựu đã đến cảnh giới chân như, bên ngoài phóng quang chiếu soi chúng sinh không chướng ngại; bên trong gom tụ tâm tính của tất cả chúng sinh và Như Lai, trùm khắp mọi nơi, thành tựu vô thượng này có thể dùng mười hai chữ để giải thích: "Công đức viên mãn, thường trụ bất biến, thân tâm dung thông." Cái gọi là năm bộ chính là Phật bộ, Kim Cang bộ, Bảo bộ, Liên Hoa bộ, Yết Ma bộ, và pháp Ngũ Phật thống nhiếp tất cả Mật pháp của mười tám hội (Du Già thập bát hội), vì vậy tu trì pháp Ngũ Phật mà đạt được thành tựu tức là tương ứng với sự hòa hợp tụ tập của các pháp.

Hôm nay, tôi là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, vì sao vậy? Đó chính là sự tương ứng lớn của việc đắc năm bộ đại pháp tâm truyền. Tôi là chính giác thánh trí, dùng kim cang trí để ngồi trên tòa kim cang, đã nhập vào tất cả kim cang Tam ma địa, đã thông đạt tất cả giáo pháp của các bậc thánh hiền, nhưng vẫn trụ nơi tâm bồ đề và không xả bỏ việc chuyển pháp luân độ chúng sinh.

Tỳ Lô Giá Na Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, A Di Đà Phật, Bất Không Thành Tựu Phật đại diện cho năm dòng pháp trí huệ. Năm vị Phật này lại hóa hiện đủ loại thần thông biến hóa, riêng Tỳ Lô Giá Na Phật đã hóa sinh ba mươi bảy vị sứ giả xuất hiện, mỗi vị đều mang biểu tượng riêng để lợi ích cứu độ trời người. Tất cả các pháp chính là Yết Ma, xuất thế hay nhập thế đều là ánh sáng cát tường chiếu khắp.

Tôi viết kệ rằng: Năm bộ tâm truyền đại pháp sâu, Thần thông biến hóa bay trong mộng; Đèn pháp không tắt tôi trao truyền, Ghi chép kinh điển đến nghìn thu.

03. Bí mật kéo dài tuổi thọ của Hàng Tam Thế

Ngày xưa, có người hỏi tôi, có thể tính được tuổi thọ hay không? Tôi đáp: "Có thể." Người đó ngay tại chỗ yêu cầu tôi tính tuổi thọ của ông ta. "Phải không kinh sợ thì tôi mới trả lời." Người đó nói: "Tôi không sợ, ngài cứ nói thẳng đừng ngại, tôi không hề sợ hãi cái chết." Tôi đáp: "3 năm." Ông ta trở về nhà, buồn rầu chán nản, con cái ông hỏi ông lý do, ông nói tuổi thọ chỉ còn 3 năm, con cái nghe thấy vậy thì tức giận, đến chỗ tôi chỉ trích tôi dữ dội, tôi im bặt không biết nói gì. Từ đó, tôi không xem tuổi thọ cho người ta nữa. Chỉ là, đối với những người có tuổi thọ cực ngắn, tôi đều dạy họ pháp bí mật để kéo dài tuổi thọ.

Pháp này phải thờ cúng Hàng Tam Thế Minh Vương. Hàng Tam Thế Minh Vương là một trong năm đại Minh Vương, có ý kiến cho rằng ngài là hóa thân của Đông phương A Súc Phật, có ý kiến khác nói ngài là chủ thần của Bà La Môn giáo, là hóa thân của Shiva. Pháp tướng của Hàng Tam Thế Minh Vương là bốn mặt, tám tay, có tướng hung bạo màu đen đại phẫn nộ, thông thường chân trái dẫm lên Đại Tự Tại Thiên, chân phải dẫm lên Thiên Phi Ô Ma. Bốn mặt của ngài thì mặt trước màu xanh, mặt phải mặt vàng, mặt trái màu lục, mặt sau màu đỏ. Râu tóc ngài đều có màu đỏ, để lộ răng sắc nhọn. Cánh tay trái phải thứ nhất kết ấn Hàng Tam Thế Minh Vương giữ trước ngực, tay phải thứ hai cầm chày, tay phải thứ ba cầm mũi tên, tay phải thứ tư cầm kiếm. Tay trái thứ hai cầm chuông, tay trái thứ ba cầm cung, tay trái thứ tư cầm dây thừng.

Người tu pháp này phải kết thủ ấn Hàng Tam Thế Minh Vương.

image

Trong đầu quán tưởng pháp tướng của Hàng Tam Thế Minh Vương, đầu tiên ngồi kiết già, nhắm mắt, hai tay kết ấn đặt trước ngực, đầu tiên quán tưởng một nguyệt luân ở không trung, trong nguyệt luân hiện ra năm cái chày kim cang, và năm chày này càng biến càng to, sau đó biến thành Hàng Tam Thế Minh Vương. Quán tưởng lúc này phải sáng tỏ rõ ràng, đến khi tất cả mọi quán tưởng đều rõ ràng rồi thì lại trì chân ngôn kim cang thọ mệnh là: "Ôm pô-rư-la yu-sai sô-pô-ha." Phải trì chân ngôn này 1080 biến.

Niệm chú xong lại quán tưởng các lỗ chân lông khắp toàn thân Hàng Tam Thế Minh Vương chảy ra cam lộ, những cam lộ này từ trong khoảng không trước mặt rơi xuống, trút vào trong người của hành giả Mật tông, từ đỉnh đầu đi vào thân tâm, khiến thân tâm được chắc khỏe. Hành giả Mật tông lúc này giống như trạng thái nhập Tam ma địa.

Sau khi xuất định, dùng chắp tay kim cang (thủ ấn tam xoa xử) đặt trên đầu, niệm: "Ôm chân pô-rư-la yu" 7 biến. Ấn vào trán, họng, tim, vai trái, vai phải, đủ năm chỗ. Chắp tay kim cang trở về trán rồi giải ấn. Ngay khi giải ấn thì quán tưởng chính mình đã mặc áo giáp, giống như kim cương bất hoại, tất cả những tai nạn nguy hại đến sinh mạng đều rời bỏ mình mà đi, tất cả cái chết bất ngờ đều không xảy ra trên người mình.

Căn cứ theo trước tác của pháp sư Huệ Niên có nói: "Công đức chủ yếu của tu tập pháp Hàng Tam Thế Minh Vương là hàng phục. Đặc biệt là hàng phục thiên ma. Nếu trì tụng chân ngôn của vị Minh Vương này thì ma giới vô lượng vô biên lập tức sẽ khổ não ốm sốt, phàm là các quyến thuộc của các ma có ý định đến quấy nhiễu người tu hành, khi nghe được chân ngôn của vị Minh Vương này thì đều không thể tiếp tục gây trở ngại, hơn nữa còn trở thành tôi tớ cho người tu hành.

Ấn khế của vị Minh Vương này có uy lực giống như chân ngôn, mọi ma muốn gây chướng ngại, nếu nhìn thấy thủ ấn này thì sẽ lập tức tránh xa. Ngoài điều này ra, tu tập pháp của vị Minh Vương này còn có được những công đức như đánh thắng trận, trừ bệnh, được người ta kính yêu…"

Pháp sư thông thường đều biết Hàng Tam Thế Minh Vương là dùng để hàng phục, người tu pháp có thể đánh thắng trận, trừ bệnh, được người ta kính yêu, nhưng lại không biết Hàng Tam Thế Minh Vương có thể kéo dài tuổi thọ, bởi vì đánh thắng trận rồi, chắc chắn không chết, có thể trừ bệnh thì ắt có thể kéo dài tuổi thọ. Đây là bí mật lớn mà khi tôi tiến vào trong tâm của A Súc Phật đã biết được, thì ra Hàng Tam Thế Minh Vương có Tam ma địa của từ bi tam muội kim cương trường thọ.

Muốn được trường thọ, kéo dài tuổi thọ, tu pháp Hàng Tam Thế Minh Vương, chỉ cần tiến vào Tam ma địa kim cương trường thọ thì nhất định có thể kéo dài tuổi thọ, đắc kim cương bất hoại.

Trọng điểm của pháp này nằm ở cam lộ ánh sáng rơi ra từ xung quanh thân của Hàng Tam Thế Minh Vương, và hành giả Mật tông có được cam lộ ánh sáng này trút vào người, có thể tiêu trừ bách bệnh, có thể không còn tai nạn, trừ hết bệnh tật.

Khi cam lộ ánh sáng giống như mưa sao băng rơi xuống, hành giả Mật tông giống như được tắm trong ánh sáng Phật, có cảm giác hòa tan, có cảm giác vô cùng kiên cố, như thế là tương ứng.

Từ sớm tôi đã tu tập pháp Hàng Tam Thế Minh Vương, dùng lò Hộ Ma, đốt than trong lò, đốt hương hoa, dùng 21 thẻ gỗ Hộ Ma, tụng chân ngôn Hàng Tam Thế Minh Vương rồi lần lượt bỏ vào lò đốt, thế rồi tôi dùng pháp quán tưởng chữ Ah, phụng thỉnh Hàng Tam Thế Minh Vương đến nhận cúng dường lửa. Tôi dùng triệu thỉnh, khi tập trung niệm lực đến cực điểm, Thượng sư của tôi đã giúp tôi chụp một tấm ảnh "niệm lực hỏa", bỗng nhiên ở trên lửa Hộ Ma hóa ra một vị Hàng Tam Thế Minh Vương khá rõ nét, đây là một sự việc có thật khi tôi tu tập Hàng Tam Thế Minh Vương.

Pháp Hàng Tam Thế Minh Vương có thể kéo dài tuổi thọ, ít người biết, nhưng tôi thì biết. Đặc biệt là cách tu pháp Hàng Tam Thế Minh Vương, nếu có thể tu vào đúng sinh nhật của mình thì càng có thể đắc kim cương bất hoại, sẽ có linh nghiệm lớn.

Đề thêm một bài kệ để ghi nhớ: Pháp Hàng Tam Thế muốn tinh thông Quán tưởng cam lộ phải rõ ràng Hễ nhập trường thọ Tam ma địa Ma bệnh tai ương đều dẹp tan.

04. Bảo châu như ý của Bạch Y Đại Sĩ

Từ rất lâu trước đây, tôi đã tu luyện một thần chú, đó chính là thần chú Bạch Y Đại Sĩ được lưu truyền rộng rãi nhất, nguyên văn thần chú như sau: "Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Phật. Nam mô pháp. Nam mô tăng. Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát. Tan-chi-tô, ôm, ka-la-fat-tô, ka-la-fat-tô, ka-hua-fat-tô, la-ka-fat-tô, la-ka-fa-tô, sô-ha. Thiên la thần. Địa la thần. Nhân ly nạn. Nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần. Nam mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật."

Do tôi tin tưởng thần chú này nên đã kiên trì trì tụng và có vô số cảm ứng. Sau này khi tôi đi sâu vào mật pháp, tôi biết được Bạch Y Đại Sĩ trong Mật tông cũng có tôn hiệu rất lớn, đó là Liên Hoa Mẫu Tam Muội Thượng Thủ Minh Phi.

Tuy nhiên, chân ngôn Bạch Y Đại Sĩ trong Mật tông khác với chân ngôn Bạch Y Đại Sĩ thông thường, chân ngôn Bạch Y Đại Sĩ của Mật tông có một số điểm tương đồng với phần đầu của chú Đại Bi, tôi đặc biệt cung kính ghi lại như sau: "Na-mô la-ta-nam-ta la-yê-yê. Na-mô a-li-yê. Pô-lô-chê-ti sua-pô-lua-yê. Pu-thi-sa-tua-pô-yê. Mô-hưa-sa-tua-pô-yê. Mô-hưa-cha-lu ni-cha-yê. Ôm. Chê-chư-wây. Chê-chư-ni. Chê-chư-chê-chư-chê-chư. Chê-lu-cha-wây li-yê sô-ha."

Tuy hai thần chú này khác nhau, nhưng theo tôi biết, công lực thì như nhau. Tôi biết thệ nguyện của Quan Âm Bồ Tát quá sâu rộng, có thể nói là tùy cảm ứng hiện, theo tiếng cứu khổ. Thần chú của Quan Thế Âm Bồ Tát quá nhiều, hành giả có thể tùy ý chọn một trong số đó, tự nhiên đều có cảm ứng lớn, không thể phân biệt này kia.

Tôi nghiên cứu sâu về Bạch Y Đại Sĩ và phát hiện ra rằng chỉ riêng hình tượng Bạch Y Đại Sĩ và ấn khế đã có nhiều điểm khác nhau trong các kinh điển. Ví dụ có vị tay trái cầm hoa sen, tay phải kết ấn ban nguyện của Đại Bạch Y Quan Âm. Trong kinh "A Lợi Đa La Đà-la-ni", phẩm "A Lỗ Lực", Bạch Y Quan Âm tay trái cầm dây, tay phải cầm tráp bát nhã. Lại trong kinh "Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn", Bạch Y Quan Âm tay phải giơ cao lòng bàn tay, tay trái cầm hoa sen chưa nở. Trong kinh "Nhất Tự Đỉnh Luân Vương" thì có vị tay trái kết ấn ban nguyện, tay phải cầm bảo châu. Phổ biến nhất là vị tay phải cầm tịnh bình, tay trái cầm cành dương liễu.

Tôi biết rằng vị Bạch Y Quan Âm tay phải cầm tịnh bình, tay trái cầm cành dương liễu thì thiện xảo trong việc chữa bệnh, tầm thanh cứu khổ.

Tuy nhiên, vị Bạch Y Quan Âm tay phải cầm bảo châu, tay trái kết ấn nguyện lại là vị khiến cho người được như ý viên mãn.

Tôi đã từng nhập vào "Đại thừa vô biên liên hoa biến hóa kim cang Tam ma địa", tại nơi đó, tôi đã biết được Mật pháp bảo châu như ý của Bạch Y Đại Sĩ. Người tu trì pháp này, chỉ cần một tháng là có thể đạt được đại phú quý.

Trước tiên phải cúng dường Bạch Y Quan Âm tay phải cầm bảo châu, tay trái kết ấn ban nguyện, hành giả ngồi an tường trước tượng Bồ Tát. Dùng hai tay chắp lại, để mười đầu ngón tay không chạm vào nhau, hơi cong lại, như hình hoa sen. Ấn này có thể kết thành chắp tay hoa sen, chắp tay hoa sen này có thể đại diện cho Bồ Tát bộ.

image

Quán tưởng hình tướng của Bạch Y Đại Sĩ, trên đầu đội mũ miện hoa sen, thân khoác thiên y báu màu trắng, bảo châu như ý và ấn ban nguyện, hãy quán tưởng rõ ràng từng chi tiết. Lúc này, có thể vận dụng niệm lực, khiến cho bảo châu như ý phóng ra một tia hào quang màu vàng mạnh mẽ, chiếu vào lòng bàn tay chắp tay hoa sen của mình. Và tia hào quang vàng đó, trên thủ ấn của mình biến thành một viên bảo châu như ý màu vàng, tất cả mọi mong cầu về vàng bạc châu báu đều từ bảo châu hiện ra, mình muốn gì thì biến hiện ra thứ đó, vô cùng viên mãn, vô cùng phong phú và rõ ràng minh bạch. Khi kết thúc quán tưởng, lập tức trì tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ 108 biến, hoặc 21 biến, hoặc 49 biến đều được.

Điểm chính của pháp này: bảo châu như ý phóng ra ánh sáng màu vàng, thủ ấn của hành giả tiếp nhận ánh sáng vàng đó, biến thành bảo châu màu vàng, rồi biến hoá thành các loại châu báu. Đây là phần quán tưởng quan trọng nhất.

Pháp bảo châu như ý của Bạch Y Đại Sĩ này là do tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cang Thượng Sư nhập vào Tam ma địa của Bạch Y Đại Sĩ mới được biết, nên vô cùng quý giá. Tuy pháp tu nhìn qua rất đơn giản, nhưng nếu tôi không viết ra thì ai có thể biết được bí mật vô thượng ở trong đó.

Bạch Y Đại Sĩ là một trong nhiều hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, sự thị hiện của ngài vô cùng trang nghiêm và từ bi, khiến người nhìn thấy tự nhiên sinh tâm cung kính. Ngài khoác áo trắng, điểm tô châu báu, ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày vía của ngài, ngày 19 tháng 6 là ngày thành đạo, và ngày 19 tháng 9 là ngày xuất gia. Bồ Tát luôn quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ tất cả chúng sinh đang chịu khổ nạn. Tu pháp Bạch Y Đại Sĩ như ý bảo châu vào ba ngày này chắc chắn sẽ được cát tường như ý.

Ở đây, tôi muốn đặc biệt lưu ý độc giả rằng, tất cả mọi pháp tu của Kim cương thừa đều phải quy y với Thượng sư, và chỉ sau khi được Thượng sư quán đảnh chỉ dạy mới được tu trì. Hơn nữa, tất cả các pháp tu Kim cương thừa đều phải tụng tứ quy y, làm đại lễ bái, dâng đại cúng dường, tu mặc giáp hộ thân, tất cả các pháp lớn nhỏ đều phải thêm bốn phần hành trì tụng niệm này mới được.

Tứ quy y, đại lễ bái, đại cúng dường, mặc giáp hộ thân đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các sách tâm linh của tôi, mời độc giả tự tìm đọc.

Viết một bài kệ về Bạch Y Đại Sĩ: Bạch Y Đại Sĩ người tán dương Nghe tiếng cứu khổ độ thiện lương Mật pháp như ý thật vi diệu Trang nghiêm thần lực tỏa đàn tràng.

05. Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn được Phật xoa đầu

Tôi đã được Phật Thích Ca Mâu Ni xoa đầu thọ ký. Vì sao tôi được Phật Thích Ca Mâu Ni xoa đầu thọ ký? Bởi vì tôi đã tu trì Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn.

Ngày nay, hành giả Mật tông muốn được chư Phật quán đảnh xoa đầu thọ ký cần phải y theo phương pháp của tôi mà thực tu. Tôi xin thành thật nói với mọi người rằng, pháp Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Vương chân ngôn có thể khiến được Phật xoa đầu thọ ký.

Tuy nhiên, việc lập đàn tu trì pháp này rất đặc biệt và cũng rất khó, tôi đã từng nói qua một lần trong cuốn sách "Hắc Giáo Hắc Pháp", nay đặc biệt xin ghi chép lại: Cách xây dựng đàn tràng là hình bát giác, chu vi một trượng sáu thước, chọn nơi tàng phong tụ khí, đào sâu xuống đất năm thước, lấy đất ở độ sâu năm thước đó, trộn với chiên đàn hương, trầm hương, huân lục hương, phong chỉ hương, thanh mộc và các loại khác, hòa với nước, phết khắp mặt đất đàn tràng (để thanh tịnh đàn tràng).

Ở giữa đàn thành, dùng vàng, bạc, đồng, gỗ làm thành bốn đóa hoa sen, trong mỗi đóa sen đặt một bát, trong bát đựng nước sương tháng Tám. Trong nước có đặt cánh hoa. Ngoài ra lấy tám mặt gương tròn, đặt ở tám phương, chiếu soi lẫn nhau. Bên ngoài gương đặt mười sáu đóa hoa sen và mười sáu lư hương. (Cách bày trí hoa sen và lư hương.)

Trên tường xung quanh bên ngoài đàn thành, treo danh hiệu và thần chú của chư Phật Bồ Tát. Bên trong treo tất cả pháp tướng của mười phương ba đời chư Như Lai và thánh tượng của tất cả Bồ Tát, các tượng Phật Bồ Tát bao gồm Lô Xá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật, Di Đà Phật, Di Lặc Tôn Phật, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, cùng với tượng của các đại Bồ Tát. Ngoài ra bên trái phải an trí Kim Cang Tạng Bồ Tát, điểm này rất quan trọng. (Cách bày trí trang nghiêm pháp tướng.)

Ở cửa ra vào của đàn thành, hai bên trái phải an trí Hỏa Đầu Kim Cang, Thanh Diện Kim Cang, Tứ Đại Thiên Vương, Vi Đà Hộ Pháp, Bát Đại Kim Cang Minh Vương, Đế Thích Thiên Vương hoặc Sơ Thiền Thiên Chủ. Cuối cùng còn phải dùng tám mặt gương treo lên trên không, khiến gương trong đàn và gương trên không chiếu rọi lẫn nhau, tạo thành vô cùng vô tận. (Cách an trí Hộ Pháp Kim Cang và pháp thiên chuyển luân phản chiếu của gương.)

Hành giả Mật tông sau khi bày trí đàn tràng xong, phải học thuộc chú Lăng Nghiêm, tổng cộng 427 câu. Thần chú này được gọi là "chú vương", do Phật Thích Ca Mâu Ni vì cứu A Nan Tôn Giả mà từ nhục kế trên đỉnh đầu phóng ra ánh sáng vô úy trăm báu, trong ánh sáng xuất hiện hoa sen nghìn cánh, trên hoa sen có một vị Như Lai ngồi, vị hóa Phật này chính là Đế Thù La Thi. Lại xuất hiện vô số Bồ Tát nội mật và thần Kim Cang nhiều như cát sông Hằng, tràn đầy hư không. (Toàn văn chú Lăng Nghiêm rất dài, không đăng tải ở đây, xin tự tìm đến chùa để xin.)

Phương pháp tu trì như sau:

Tụng chú Lăng Nghiêm vào khoảng 4 giờ sáng. Vào 4 giờ sáng, tắm rửa thanh tịnh thân thể rồi vào đàn, đốt các loại danh hương, chí thành đảnh lễ chư Phật Bồ Tát, sau đó đi nhiễu quanh đàn tụng chú, trước tiên tụng một lần hoặc ba lần toàn văn chú Lăng Nghiêm, rồi tụng tiếp chú Lăng Nghiêm ngắn (tâm chú):

image

"Ta-chư-tha. Ôm. A-na-li. Pi-sưa-thi. Pinh-lua-pa tu-lua-thua-li. Ban-thua ban-thua-ni. Pa-tu-lua pang-ni-ban. U-…. - tâu-lu-uâng-ban. Sô-ha."

Có thể trì tụng chú ngắn 108 lần. Sau khi tụng chú xong, ngồi tĩnh tọa, kết ấn Bát Đại Phật Đảnh.

Lúc này quán tưởng nguyệt luân của thập phương chư Phật phóng ra bảo cái, từng bảo cái một chiếu rọi trong ánh gương, hình thành vô số tầng lớp tán lọng trắng lớn, di chuyển tán lọng trắng lớn này đến phía trên đỉnh đầu của mình, khiến thân tâm trở nên trong sáng như lưu ly. Phép quán tưởng này cần phải tu tập mỗi ngày, từng chi tiết phải rõ ràng minh bạch.

Tu tập pháp này trong 21 ngày, đến khi đạt được trạng thái "thân tâm trong sáng" nhập định, thập phương Như Lai sẽ đồng thời xuất hiện tại nơi gương chiếu giao hội, thập phương chư Phật sẽ hiện tay Phật, xoa đầu thọ ký cho hành giả Mật tông. Thậm chí người có nhân duyên lớn với Phật, người đời trước từng tu hành, người có căn khí lanh lợi, chỉ cần tu trì pháp này trong 100 ngày sẽ lập tức chứng đắc quả vị Tứ La Hán. Vì vậy pháp này cũng là một trong những đại pháp vô thượng mật.

Tu tập pháp này không chỉ được Phật xoa đầu thọ ký, mà còn khiến cho bất kì loại thiên ma nào cũng không thể đến hãm hại, vĩnh viễn không còn ma sự, bởi vì được bảo cái Đại Phật Đảnh hộ trì, tất cả đều được cát tường như ý, tất cả các độc cũng vĩnh viễn không thể xâm phạm, hành giả Mật tông có tám vạn bốn nghìn vị Kim Cang Thần thường xuyên bảo hộ.

Các pháp sư Hiển giáo không kết thủ ấn, không quán tưởng bảo cái xoa đầu, không nhập Tam ma địa, chỉ trì chân ngôn Đại Phật Đảnh Lăng Nghiêm Vương cũng đã có công đức rất lớn, cũng được chư thần hộ trì, huống chi là kết ấn, lại quán tưởng, nhập Tam ma địa, chắc chắn Phật sẽ đến xoa đầu thọ ký, tương lai nhất định thành Phật không nghi ngờ gì.

Tôi được chư Phật xoa đầu khai đỉnh, tôi có "trên đầu hóa tay Phật", nhận được sự phó thác của Phật, nhiều người tu đạo thấy vậy sinh tâm đố kỵ lớn, thực ra cũng không cần phải đố kỵ tôi, tôi dạy mọi người tu trì pháp Đại Phật Đảnh Lăng Nghiêm Vương chân ngôn, ai ai cũng sẽ được chư Phật đến xoa đầu thọ ký, chỉ cần thành tâm thực tu mật pháp tôi dạy, mười người tu, mười người thành, trăm người tu, trăm người thành, nghìn người tu, nghìn người đắc.

Điểm trọng yếu của Mật pháp này nằm ở việc bố đàn, đặc biệt là phần gương chiếu giao hội chính là bí mật của pháp thiên chuyển luân, hoa sen nghìn cánh. Nếu bày đàn đúng cách, chư Phật Bồ Tát chắc chắn sẽ giáng lâm đi dạo trong đàn khi hành giả cúng dường.

Tôi viết một bài kệ: Đàn thành bát quái như một đình Gương chiếu giao nhau Phật hiện hình Xoa đỉnh tâm linh cùng ứng hiện Thân như lưu ly lên thiên đình.

06. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật trừ bệnh quỷ thần

Danh hiệu tiếng Phạn của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật rất dài, tên Ngài là Bhaisajyaguru-Vaidury Aprabha-raja-tathagata). Đức Phật này là vị Đại Y Vương Phật, cõi tịnh thổ của Ngài là cõi Lưu Ly Quang, vô cùng vi diệu và trang nghiêm. Trong Kinh "Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức" có đoạn ghi: "Phật bảo Văn Thù Sư Lợi, từ đây đi về phương Đông, qua khỏi mười hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Tịnh Lưu Ly, Phật hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi còn hành đạo Bồ Tát, Ngài đã phát mười hai đại nguyện, khiến cho tất cả chúng sinh đều được như ý nguyện."

Đại nguyện thứ bảy của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật là: "Trừ tất cả bệnh tật cho chúng sinh, khiến thân tâm an lạc, chứng đắc vô thượng bồ đề." Do có đại nguyện này nên Dược Sư Phật có thể chữa lành mọi loại bệnh tật.

Dược Sư Phật có rất nhiều hình tượng, trong Kinh "Nghi Quỹ Trì Tụng Dược Sư": "Như Lai tay trái cầm bình thuốc, tên là ngọc vô giá, tay phải kết bảo ấn, thân khoác áo cà sa, ngồi kiết già an tọa trên đài sen." Khi tôi ở trong nước đã thấy nhiều tượng Phật, có vị cầm ngọc vô giá, có vị cầm bảo tháp ngũ sắc, có vị cầm bình thuốc.

Pháp lớn nhất của Dược Sư Phật là "Thất Phật Dược Sư Ngũ Đàn Tu Pháp", là một trong bốn đại pháp của Mật tông Đài Loan, bản thân tôi hiểu biết về pháp bí mật vô thượng này.

Tôi cảm thấy rằng trong cuộc sống con người, sinh, lão, bệnh, tử, khổ là điều không thể tránh khỏi. Ngày nay dù khoa học phát triển, y học tiến bộ, nhưng bệnh viện vẫn mọc lên khắp nơi, số lượng bệnh nhân không những không giảm mà các căn bệnh lạ còn ngày càng nhiều, khiến các bác sĩ bó tay. Tất cả đều do nhân quả nghiệp duyên trói buộc. Trong đó, xuất hiện rất nhiều "bệnh quỷ thần", tức là những căn bệnh không thể chẩn đoán, bác sĩ không thể chữa trị, trăm thầy không khỏi. Vì những căn bệnh vô hình này (bệnh quỷ thần), tôi đặc biệt dạy mọi người tu trì pháp chân ngôn quán đảnh Dược Sư.

Pháp chân ngôn quán đảnh Dược Sư chuyên trị "bệnh quỷ thần". Tôi đã từng áp dụng pháp này và thấy hiệu quả rõ rệt. Nay tôi xin công khai đại pháp Mật tông này như sau: Trước tiên, trong Phật đường ở nhà mình, thờ một tôn tượng Dược Sư Phật, làm một bức tràng phan dài 49 thước, may bằng vải ngũ sắc, viết lên đó "Đông Phương Tịnh Lưu Ly Thế Giới Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật", treo bên phải Dược Sư Phật.

Trước khi tu pháp, phóng sinh 49 sinh vật, như 49 con chim, hoặc 49 con cá, hoặc 49 con rùa, hoặc 49 con bất kì loài sinh vật nào. Lấy 49 cây nến, xếp thành bảy tầng, thắp sáng, cúng dường trước Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, dâng lễ phẩm chay, đảnh lễ, trong lễ phẩm đặc biệt cúng dường sợi chỉ ngũ sắc, sợi dây ngũ sắc này phải hơ qua khói hương 49 lần. Sau đó cúng trước Phật. Ngồi yên trước Dược Sư Phật, kết ấn Dược Sư pháp giới định ấn.

image

Kết định ấn này dưới rốn. Sau đó quán tưởng, quán tưởng pháp tượng trang nghiêm của Dược Sư Phật đứng ở phía trước mặt, bình thuốc trên tay, hoặc ngọc vô giá, hoặc bảo tháp ngũ sắc, phóng ra ánh sáng ngũ sắc. Năm màu sắc này là đỏ, vàng, trắng, xanh dương, xanh lá, từng tia sáng một chiếu vào sợi chỉ ngũ sắc đang cúng dường, từng tia sáng một chiếu rọi lên sợi chỉ ngũ sắc. Điểm quán tưởng này cần phải rõ ràng sáng tỏ.

Khi tất cả quán tưởng đã rõ ràng, lấy một sợi chỉ ngũ sắc, trì tụng Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật quán đảnh chân ngôn một biến. Tổng cộng lấy 49 sợi chỉ ngũ sắc, mỗi sợi trì tụng 49 biến, mỗi lần trì tụng một biến thì thắt một nút, tổng cộng có 49 nút. Dược Sư quán đảnh chân ngôn như sau: "Na-mô ba-ga-fa-ti. Pinh-sa-sưa. Chuy-lu-pi liêu-li. Pô-la-pô. Hưa-lua-tu-yê. Pinh-sa-sư. Pinh-sa-sư. Pinh-sa-sưa. San-mây-chê-ti. Sô-ha."

Sau khi làm xong pháp này, buộc chỉ ngũ sắc lên thân bệnh nhân, nếu ở tay thì buộc vào tay, nếu ở chân thì buộc vào chân, hoặc các vị trí khác, hoặc không rõ bệnh ở đâu thì có thể đeo như đeo bùa hộ thân vậy.

Mỗi ngày trước Dược Sư Phật, tụng "Kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức" một hoặc ba lần, tụng đến 49 lần. Tất cả bệnh tật và tội chướng đều được tiêu trừ. Khi pháp này được thực hành, trí tuệ sẽ tăng trưởng, thọ mạng được kéo dài, không gặp tai ương, thân tâm thường được an ổn, các bệnh do quỷ thần gây ra lập tức được đoạn trừ.

Ngoài ra, do mười hai đại nguyện của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Ngài hóa hiện mười hai vị Yết Ma Thần. Mười hai vị thần tướng này được gọi là Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng, tượng trưng cho sự hộ trì trong mười hai thời khắc ngày đêm, nên trên đầu các vị đều đội mũ 12 chi. Mười hai vị thần tướng của Dược Sư Như Lai này vây quanh Dược Sư Phật theo mười hai phương hướng, cùng với hai vị thị giả của Dược Sư Như Lai là Nhật Quang Bồ Tát và Nguyệt Quang Bồ Tát, khi thỉnh mời cũng phải niệm danh hiệu của các ngài.

Bản thân tôi đã dựa vào pháp này để cứu độ rất nhiều chúng sinh mắc bệnh vô danh (bệnh quỷ thần), quả thật pháp đến thì bệnh trừ. Ngoài ra, khi uống thuốc theo toa bác sĩ, có thể cúng dường thuốc trước Dược Sư Phật, tu pháp tương tự, dùng ánh sáng ngũ sắc chiếu vào thuốc là được, sau đó uống vào sẽ có hiệu quả.

Trên thế giới này, dù y dược có phát triển, bác sĩ có đông đến mấy, con người vẫn phải khuất phục trước bệnh ma. Nếu ai mắc phải bệnh do nhân quả, bệnh vô hình, bệnh quỷ thần, bệnh không thể chữa, bệnh không thể chẩn đoán, hãy thành tâm cầu nguyện Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật! Trọng điểm của pháp này nằm ở quán tưởng ánh sáng ngũ sắc chiếu rọi.

Đông phương Lưu Ly tôi từng đến Mật pháp chỉ dạy hết u mê Danh hiệu Dược Sư trấn tự nghiêm Pháp này vừa xuất chúng sinh cầu.

07. Ma Lợi Chi Thiên trừ buồn ngủ

Rất nhiều rất nhiều đệ tử nói với tôi họ không thể nào ngồi thiền được, mỗi lần ngồi thiền là cơn buồn ngủ ập tới, ngồi thiền thành ngủ gật. Cơn buồn ngủ này rất lợi hại, đầu gục xuống, mí mắt không mở ra được, toàn thân mềm nhũn, thậm chí miệng còn ngáy, miễn cưỡng xốc tinh thần lên một chút nhưng chẳng được mấy giây đã lại mơ mơ màng màng rồi.

Tôi dạy họ ưỡn thẳng lưng, uy mãnh một chút, ngồi thẳng một chút, nhưng chẳng mấy chốc con sâu ngủ đã bò lên người, toàn thân lại mềm nhũn ra. Tôi lại dạy họ hãy ngủ một giấc trước, tỉnh dậy thì ngồi thiền, nhưng có người vẫn không làm được, tỉnh dậy ngồi thiền nhưng vừa ngồi thiền đã lại muốn ngủ, chính là cảm giác ngày hè mê man chỉ muốn ngủ, dường như là ngủ mãi cũng không đủ. Ngồi thiền ngủ gật, căn bệnh này thật sự quá lớn.

Tôi dạy một người ngồi thiền, anh ấy ngồi rất lâu, tôi nghĩ công phu của anh ấy rất sâu, có thành công lớn. Anh ấy ra khỏi chỗ ngồi, tôi hỏi anh ấy có cảm nhận thế nào. Anh ấy rất xấu hổ, mặt đỏ lựng, ngại ngùng nói: "Tôi ngủ mất rồi."

Bây giờ tôi chỉ còn cách dạy mọi người một phương pháp loại trừ cơn buồn ngủ, pháp này chính là Ma Lợi Chi Thiên trừ buồn ngủ. Người tu trì thờ tượng Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát. Hình tượng của ngài có hai tay, sáu tay, tám tay. Hình tượng hai tay như sau: "Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát có hình dáng như thiên nữ, ngồi trên tòa hoa sen, hoặc đứng hoặc ngồi, đủ thứ trang nghiêm cực kì đoan chính. Tay trái cầm một chiếc quạt trời, tay phải buông xuống, mở năm ngón tay ra thành ấn ban nguyện."

Tướng ba mặt sáu tay như sau: "Tướng Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát thân màu vàng kim như diêm phù đàn, sáng như mặt trời, đầu đội mũ miện bảo tháp, trong mũ miện có một vị Phật là Tỳ Lô Giá Na Phật, mặc thiên y màu đỏ, tất cả vòng tay, khuyên tai, đai báu, chuỗi ngọc hết sức trang nghiêm. Có tám tay ba mặt ba mắt, tay trái cầm cuộn thừng, cung, nhánh cây vô ưu, sợi dây; tay phải cầm chày kim cang, trâm, móc, tên. Khuôn mặt chính giữa là tướng thiện, mỉm cười, màu vàng sẫm, mở mắt, môi đỏ như son, dũng mãnh tự tại; khuôn mặt trái là tướng lợn, xấu xí và phẫn nộ, miệng nhe răng nanh, mặt màu xanh, nhíu mày, thè lưỡi, ai nhìn thấy cũng khiếp sợ; khuôn mặt phải màu đỏ sẫm, đứng hoặc ngồi trên xe lợn vàng, "ngựa" kéo xe cũng là lợn vàng."

Vị Ma Lợi Chi Thiên này đã xuất hiện rất nhiều trong sách tôi viết. Tôi cảm thấy vị Bồ Tát này có tồn tại nhân duyên lớn với Chân Phật Tông, Bồ Tát này có sức mạnh đại thần thông tự do ẩn hình. Ngài vốn là quyến thuộc của Đế Thích Thiên, thường đi theo mặt trời, chạy trước mặt trời nhanh như tên, đi tuần tra khắp thiên hạ, hộ trì tất cả đệ tử Phật.

Bà La Môn giáo cũng tôn sùng Ma Lợi Chi Thiên, gọi là Ma Lợi Chi Đề Bà, tâm chú của ngài là: "Nam-mô san-man-tô mô-thua-nam ôm ma-li-chi sô-ha."

Bồ Tát này là một vị thần đại chiến đấu. Người tu trì pháp Ma Lợi Chi Thiên có thể đánh thắng trận, có thể giống như vua sư tử tất thắng, dũng mãnh vô địch, cho nên cũng có thể khắc phục được cơn buồn ngủ vặt vãnh, tôi xưng tán Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát là một vị Dương Uy Kim Cang, đây là tôn xưng mà tôi dành cho Bồ Tát.

Người tu trì tay kết ấn Ma Lợi Chi Thiên hộ trì.

image

Tức là hai tay chắp lại, hai ngón cái đưa vào trong lòng bàn tay của hai tay. Trước tiên niệm tâm chú Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát 7 biến, ấn vào năm vị trí trán, họng, tim, vai trái, vai phải, thủ ấn trở về đến trán, chưa buông thủ ấn.

Lúc này lập tức quán tưởng hình tượng của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, sau khi hình tượng rõ ràng thì biến thành ánh sáng của mặt trời chiếu đến trán nơi mình đang giữ thủ ấn, chính mình cảm nhận được sự phổ chiếu của ánh sáng mặt trời, biến thành uy vũ như một chiến sĩ xuất chinh, cũng tức là Dương Uy Kim Cang hoà quyện với ánh sáng.

Lúc này thủ ấn chạm vào trán xong thì giải ấn. Sau đó niệm tụng chân ngôn Ma Lợi Chi Thiên trừ buồn ngủ 108 biến: "Tan-chi-tha yi-ti-mi-ti chi-ti-pi-cha-na tan-di-pô-thô-chi sô-ha". Tu trì pháp này chỉ cần bảy lần thì hiện tượng ngồi thiền ngủ gật sẽ dần dần giảm bớt, từ đây về sau ngồi thiền cũng sẽ không buồn ngủ nữa, đây chính là Mật pháp trừ buồn ngủ của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát.

Pháp này chính là mượn ánh sáng của Đại Nhật Như Lai để chiếu vào trong lỗ đỉnh đầu của mình, khiến cho hình thần của chính mình cũng có uy vũ sáng ngời của Đại Nhật Như Lai, khiến tất cả hiện tượng hôn trầm đều quy về không, còn chính mình cũng biến thành Dương Uy Kim Cang.

Người tu trì theo pháp này không những có thể loại trừ buồn ngủ mà người thông thường dùng thuật nguyền rủa hoặc bùa ngải để hại bạn cũng sẽ bị mất tác dụng, người khác không những không hại được đến bạn mà cũng không thể lừa gạt bạn, tất cả oan gia không thể thừa cơ lợi dụng. Người tu trì pháp này có được lợi ích lớn như vậy.

Đệ tử của Chân Phật Tông có rất nhiều người tu mật pháp Ma Lợi Chi Thiên ẩn hình, mật pháp ẩn hình và mật pháp trừ buồn ngủ tuy khác nhau nhưng đều có công dụng tuyệt vời như nhau, đều là sức mạnh mật pháp của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát. Tôi cảm thấy Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát và chúng ta có nhân duyên lớn, tôi có sự ưa thích với vị Bồ Tát này. Tu pháp Ma Lợi Chi Thiên, cộng thêm tu mười nghiệp thiện, muốn sinh về cõi trời này thì sẽ sinh về cõi trời Ma Lợi Chi Thiên.

Xin chớ coi thường cõi trời Ma Lợi Chi Thiên, cõi trời này cũng là thiên giới bất hoại, là thiên giới bất nhị được diễn hoá từ thập kim cang tâm nhập vào Thánh vực không biến đổi.

Tôi viết bài kệ như sau: Một lòng sinh về Ma Lợi Thiên Ánh sáng uy vũ không giới hạn Mật pháp tan trong cảnh u tịch Pháp nhãn chỉ thấy khói cát tường.

08. Chú thuật của Hạ Lợi Đế Mẫu

[Chú thích của người dịch: Hạ Lợi Đế Mẫu chính là Hariti. Trong các văn bản khác trong Chân Phật Tông còn được dịch là Ha Lê Đế Mẫu, Ha Lợi Đế Mẫu. Có những tên gọi khác nhau là vì việc dùng Hán tự đồng âm khác nhau để phiên âm chữ Hariti, các Hán tự đồng âm này lại có chữ Hán Việt khác nhau.]

Pháp này, tôi cho rằng là một trong những pháp của Hắc giáo (Bon giáo), bởi vì tu trì chú thuật Hạ Lợi Đế Mẫu tuy có lợi ích rất lớn trong đời này, nhưng đối với việc thành Phật thì hoàn toàn vô ích.

Người tu pháp này có thể thỏa mãn mọi ước nguyện trong đời này, ví dụ như tài phú, danh lợi, mỹ nữ, v.v... Tuy nhiên, chỉ cần quay về với thiện đạo thì ở đời sau vẫn có thể tu trì Vô thượng mật, pháp này là một bí mật tối thượng trong các pháp nhập thế. Hôm nay, tôi viết ra pháp này không phải để người ta tu trì, mà là để cho mọi người biết có một Mật pháp như vậy.

Hạ Lợi Đế Mẫu còn được gọi là Quỷ Xanh hoặc Hoan Hỷ Mẫu, hay Ái Tử Mẫu. Nguyên là một người nữ tu luyện thành Độc Giác [một mình giác ngộ] từ thời cổ, có năm trăm người con, chuyên ăn tinh khí của chúng sinh. Dung mạo của bà đẹp như tiên nữ, nhưng bản tính vốn là một nữ quỷ vô cùng hung ác đáng sợ. Hạ Lợi Đế Mẫu chuyên ăn tinh khí của chúng sinh. Để giáo hóa bà, Phật Đà đã tốn không ít công sức, đem đứa con út của bà giấu dưới bát sắt, đến khi Hạ Lợi Đế Mẫu trở về, không thấy con yêu dấu, kinh hoàng điên loạn. Lúc này, Phật mới giáo hóa bà: "Ngươi có năm trăm đứa con, còn thương tiếc một đứa con nhỏ này, trong khi người đời chỉ có một vài đứa con, ngươi ăn tinh khí của họ, người đời sẽ ra sao?" Như vậy, Hạ Lợi Đế Mẫu chợt tỉnh ngộ lỗi lầm trước đây, mới cải tà quy chính.

Hình tướng của Hạ Lợi Đế Mẫu là dáng thiên nữ, vô cùng xinh đẹp, thân màu trắng hồng, mặc thiên y bảo phục, đầu đội vương miện có đeo hoa tai, đeo vòng tay bằng xà cừ trắng, dùng các loại chuỗi vòng trang nghiêm thân thể, ngồi trên đài báu, chân phải buông xuống, bên cạnh đài báu có thể vẽ hai đứa trẻ đứng hai bên, tay trái ẵm một đứa trẻ trong lòng, tay phải cầm quả cát tường.

Tại sao tôi khuyên mọi người đừng tu pháp này là bởi vì khi tu pháp này phải hết sức cẩn thận, Hạ Lợi Đế Mẫu sẽ hiện thân trong mộng, sau khi hiện thân vài lần mới có thể xem như quan hệ mẹ con hoặc anh em với bà, nữ tu thì xem như mẹ con hoặc chị em. Nhưng nam giới tu pháp này thường bị sắc đẹp của Hạ Lợi Đế Mẫu mê hoặc, nếu hành giả bị Hạ Lợi Đế Mẫu mê hoặc, trong mộng có ý đồ không trong sạch, Hạ Lợi Đế Mẫu cũng không từ chối, như vậy vị hành giả Mật tông này đời sau ắt sinh vào nhà của Hạ Lợi Đế Mẫu, trở thành một lính quỷ.

Do vì Hạ Lợi Đế Mẫu quá xinh đẹp, hành giả nam tu pháp này khó tránh khỏi việc động tâm, một khi trở thành lính quỷ thì rất khó thoát ra, hơn nữa người tu trì pháp này không được tu trì các Kim Cang pháp khác, bởi vì tu Kim Cang pháp sẽ phá vỡ chú thuật của Hạ Lợi Đế Mẫu, từ đó chú thuật của Hạ Lợi Đế Mẫu sẽ không còn linh nghiệm nữa. Trọng điểm của pháp này là ở chỗ thề nguyện với nhau, nếu kết làm mẹ con thì khi con gặp khó khăn, mẹ ắt sẽ giúp đỡ. Nếu kết làm chị em thì cũng vậy, tất cả mọi cầu nguyện đều được như ý, lợi ích đời này vô cùng phong phú. Tà pháp của Hắc giáo, có người chuyên tu chú thuật của Hạ Lợi Đế Mẫu vì sẽ được danh lợi, lại được mỹ nữ vui vẻ yêu mến, ở nhân gian sẽ đạt được tất cả những gì mình muốn, đó chính là lợi ích của việc tu pháp này.

Hành giả cúng pháp tượng của Hạ Lợi Đế Mẫu ở phương Tây, còn người tu pháp thì hướng mặt về phương Đông, mỗi ngày ba thời dâng cúng hương hoa thực phẩm thượng hạng, ba thời là chỉ sáng, trưa, tối. Hành giả kết ấn triệu thỉnh Hạ Lợi Đế Mẫu.

image

Lòng bàn tay phải ôm mu bàn tay trái, ngón trỏ tay phải dựng thẳng, dùng ngón cái và ba ngón còn lại ôm lấy bàn tay trái. Như vậy là ấn đã kết thành.

Hành giả quán tưởng thân mình biến thành một đứa con trong lòng Hạ Lợi Đế Mẫu, trước tiên quán tưởng Hạ Lợi Đế Mẫu xuất hiện, rồi toàn thân mình hóa thành những điểm sáng, đi vào trong đứa bé của Hạ Lợi Đế Mẫu, đứa bé này tên là Bili. Quán tưởng như vậy là được Hạ Lợi Đế Mẫu ôm ấp trong lòng. Hành giả nam của Mật tông thì Billi là nam, hành giả nữ của Mật tông thì Bili là nữ. Sự quán tưởng này là hết sức quan trọng.

Sau khi mọi quán tưởng đã rõ ràng, hành giả xả ấn, tay lần tràng hạt, tụng tâm chú của Hạ Lợi Đế Mẫu: "Ôm nu-nu-ma-li ha-ri-ti sô-ha." Chú này tụng 1080 biến. Nếu cúng dường đúng pháp, quán tưởng đúng pháp, trì chú đúng pháp, chỉ cần tụng đến 100.000 biến chú ngữ, vị tiên nữ Hạ Lợi Đế Mẫu này sẽ hiện thân trong mộng, sau khi hiện thân khoảng mười lần, hành giả Mật tông sẽ kết thành mẹ-con trai hoặc chị-em trai với Hạ Lợi Đế Mẫu (nếu là nữ thì kết thành mẹ-con gái hoặc chị-em gái).

Mỗi khi cầu nguyện một điều, chỉ cần thỉnh mời tu pháp một lần, Hạ Lợi Đế Mẫu sẽ ban cho như nguyện. Pháp gia trì này rất đơn giản, ví dụ như lấy một ly nước, tụng 108 biến chân ngôn vào nước, cầu nguyện được yêu thương, cho đối phương nữ uống, đối phương nữ sẽ sinh lòng yêu mến. Vật được gia trì bao gồm quần áo, trái cây, nước lọc, đồ uống v.v... Người tu trì pháp này có thể giúp người khác làm việc, cầu phúc cho người, vợ chồng cũng được viên mãn, còn có thể giải trừ kiện tụng thị phi, sinh con trai con gái đều được như ý, có thể trừ ác mộng, cũng có thể chữa bệnh v.v...

Người tà tu Hắc giáo, nếu tu trì chú thuật Hạ Lợi Đế Mẫu, nam giới sẽ có rất nhiều mỹ nữ vây quanh, đây là do sự tương hút lẫn nhau, đây là hiện tượng đặc biệt nhất của việc tu pháp này, nữ giới tu pháp cũng sẽ có nhiều nam thanh niên tuấn tú vây quanh. Còn về tài bảo có được thì phải tiêu xài hết, nam nữ tốt nhất không nên kết hôn, bởi vì người đã kết hôn, Hạ Lợi Đế Mẫu sẽ không hiện thân, người tích trữ tiền bạc ắt sẽ mất thành tựu. Quan trọng hơn nữa là, người tu pháp này không được nói cho ai biết, đây là pháp nhập thế bí mật.

Pháp nhập thế này kỳ diệu thay Nhưng cách cõi Phật xa vời vợi Trọng điểm nằm ở lời thề nguyện Không sai một ly mới mong thành.

09. Hạt giống trí huệ của Hư Không Tạng Bồ Tát

Người tu tập Mật tông là người có căn cơ lớn, trí tuệ của họ chắc chắn phi phàm. Tuy nhiên, có nhiều người căn cơ chậm lụt, mới bước vào cửa Mật, không thể nhanh chóng lĩnh hội được ý nghĩa bí mật, muốn tu trì mà không biết bắt đầu từ đâu, lại không nắm được trọng điểm. Những người này do nghiệp chướng đời trước, nên trí tuệ không thể sâu rộng, tu pháp gặp nhiều khó khăn.

Khi gặp những đệ tử như vậy, tôi dạy họ tu tập "Pháp trí tuệ Hư Không Tạng", trước hết giúp bản thân khai mở trí tuệ, tăng cường trí nhớ, nghe được kinh văn thì chỉ cần qua tai mắt một lần là có thể ghi nhớ trong tâm, vĩnh viễn không quên.

Mật hiệu của Hư Không Tạng Bồ Tát là Khố Tạng Kim Cang. Vị đại Bồ Tát này thường trú ở Hương Tích thế giới. Hư Không Tạng nghĩa là trí tuệ sâu rộng, bao la như hư không. Ngài trú ở cõi hư không, không những thấu đạt tất cả nghĩa bí mật, mà còn dùng tâm đại bi cứu độ chúng sinh.

Vị Hư Không Tạng Bồ Tát này trong Kim Cương giới và Thai Tạng giới, ở trong mandala Kim Cương giới chính là Kim Cương Bảo Bồ Tát, là một trong mười sáu vị của Hiền kiếp, được xếp ở hành lang ngoài phương Nam. Trong mandala Thai Tạng giới, ngài đứng đầu Viện Hư Không Tạng.

Kinh Hư Không Tạng có nói: "Nếu có người muốn đạt được trí tuệ, muốn được mọi người kính yêu, muốn có giọng hát hay, muốn đạt được địa vị đế vương và bách quan, muốn có đủ loại tài sản và quyến thuộc viên mãn, đồng thời sau khi làm điều thiện, có thể nổi danh thiên hạ, thì phải thường xuyên niệm danh hiệu của vị này, nhất định sẽ được như nguyện."

Hình tượng của Hư Không Tạng Bồ Tát: "Đầu đội mũ Ngũ Phật, tay phải cong lại, cầm kiếm, kiếm tỏa hào quang, tay trái đặt bên hông, nắm tay cầm hoa sen, trên hoa sen có bảo vật như viên ngọc. Hư Không Tạng Bồ Tát có thân màu trắng, ngồi trên đài sen màu xanh.

Người tu trì pháp này, trước tiên cúng dường Hư Không Tạng Bồ Tát, đầu tiên ở trước tượng Bồ Tát, trì văn trì chân ngôn của Hư Không Tạng Bồ Tát: "Na-mô a-ka-sa-ga-ba-ya ôm a-li ka-ma-li mô-li sô-ha." Chú này thường ngày trì tụng trước tượng, cần trì đủ 1 triệu biến.

Sau đó, chú ý ngày nhật thực hoặc nguyệt thực, nếu gặp ngày nhật thực hoặc nguyệt thực, lấy hương hoa và thức ăn cúng dường Hư Không Tạng Bồ Tát, lại dùng một ly nước lọc cúng dường, ngồi yên trước tượng, tay kết ấn Hư Không Tạng: Hai ngón trỏ dựng thẳng lên, chạm vào nhau tạo thành hình bảo châu, hai ngón cái tựa vào nhau, các ngón còn lại đan chéo vào nhau.

image

Quán tưởng: Hãy hết sức tỉ mỉ quán tưởng hình tượng của Hư Không Tạng hiện ra trong không trung phía trước mặt. Tiếp đó quán tưởng hào quang (màu trắng) từ bảo kiếm của Hư Không Tạng, bùng cháy như ngọn lửa dữ dội, phóng ra một luồng kiếm hỏa, tạo thành hình cầu vồng, bay vào trong nước cúng dường.

Rồi quán tưởng trên hoa sen có viên bảo châu, cũng tỏa ra một luồng hào quang trắng, luồng hào quang này cũng bắn vào trong ly nước.

Hào quang từ bảo kiếm chính là "ánh sáng kiếm trí huệ" để phá trừ nghiệp chướng ngu muội từ nhiều đời, chặt đứt mọi ràng buộc của nghiệp đen. Còn hào quang của bảo châu chính là "ánh sáng quả trí huệ" để tăng thêm hào quang trí huệ cho hành giả Mật tông, có ý nghĩa "vững chắc không quên".

Kết thúc quán tưởng hai ánh sáng này.

Tiếp tục trì tụng chân ngôn Văn Trì của Hư Không Tạng Bồ Tát: "Na-mô a-ka-sa-ga-ba-ya ôm a-li ka-ma-li mô-li sô-ha." Trì chú này 108 biến.

Sau khi trì chú xong, lấy nước cúng dường, quán tưởng hình ảnh nhật thực nguyệt thực vào trong nước, điều này tượng trưng trong nước có ánh sáng kiếm trí huệ, ánh sáng quả trí huệ, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, sau đó uống một hơi. Rồi cầu nguyện hợp nhất với Hư Không Tạng Bồ Tát.

Trong quá khứ, có một người trực tiếp đến gặp tôi, phủ phục xuống đất ba ngày, cầu xin tôi truyền dạy mật pháp. Tôi quan sát thấy tâm thành của anh ta là đủ, nhưng trí tuệ không đủ, vẻ mặt đần độn, nói năng thì ấp úng, thậm chí lộn xộn không đầu không đuôi. Tuy nhiên, thương xót lòng thành kính của anh ta, nên tôi cũng nhận làm đệ tử.

Tôi dạy anh ta chú Hư Không Tạng từng chữ một, anh ta vừa đọc vừa quên, phải mất nguyên hai tuần mới thuộc được câu chú này. Thế là, tôi dạy anh ta mỗi ngày trì tụng 1000 biến. Anh ta không hề lười biếng, mỗi ngày trì từ 3000 đến 5000 biến không chừng, cho đến khi đủ 1 triệu biến. Cuối cùng tôi mới dạy anh ta thủ ấn, quán tưởng và những điều khác. Bí mật dặn dò anh ta tu pháp để chứng đắc.

Thật lạ kỳ, sau khi anh ta tu trì pháp hạt giống trí tuệ của Hư Không Tạng Bồ Tát, tổng cộng tu được bảy đàn, vẻ đần độn trên gương mặt hoàn toàn biến mất, đôi mắt vốn không có thần thái bỗng trở nên sáng ngời, tướng ngu muội không còn nữa, thay vào đó là tướng mạo thông tuệ, điều kỳ lạ nhất là nói năng không còn ấp úng nữa, trở nên rõ ràng mạch lạc, đặc biệt là trí nhớ tốt đến mức như một phép màu tái sinh.

Tôi biết, trên đời có rất nhiều người bị chứng mất trí nhớ (suy giảm trí nhớ), nhiều người bẩm sinh đã đần độn, dù cố gắng học hành chăm chỉ, nhưng khả năng hiểu và nhớ đều không đủ, học đến chết mệt mà hiệu quả chẳng được bao nhiêu, thời gian quý báu cứ thế trôi đi, vậy mà vẫn không học được tốt. Vì những người này, xin mọi người hãy tu trì pháp hạt giống trí tuệ của Hư Không Tạng Bồ Tát để tăng trưởng tuệ căn.

Xin viết một bài kệ, ghi rằng: Căn cơ Mật pháp chẳng tầm thường, Trí tuệ rạng ngời mới đắc thành Cần có kiếm quang nhật nguyệt hiện, Một ngọn đèn soi tỏa ánh dương.

10. Đồ Cát Ni thề nguyện kỳ lạ nhất

Khi viết "Mật tông Yết Ma pháp" đến phần về tôn giả Đồ Cát Ni, tôi chợt nhớ về lời thề nguyện kỳ lạ của vị tôn giả này.

Thực ra tôn giả Đồ Cát Ni không phải là Phật, cũng không phải là Bồ Tát, càng không phải là bậc Độc Giác, mà là một loại quỷ vật vô cùng hung ác. Ngài có bốn vị thị giả, tất cả đều là quỷ đại hung ác. Ngài du hành khắp mười phương thế giới, thức ăn của Ngài chính là người, Ngài là ác quỷ chuyên ăn thịt người gặm xương, số người Ngài đã ăn nhiều đến nỗi chất thành một ngọn núi lớn.

Vào thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Đồ Cát Ni hung bạo nhất trong việc ăn thịt người. Phật Đà đã mời một vị Kim Cang hộ pháp của Phật môn, cũng là một đại ác quỷ (đã bỏ ác theo thiện), đến bắt Ngài. Sau một trận chiến, Đồ Cát Ni bị đưa đến trước mặt Phật Đà. Phật Đà dạy bảo Ngài một hồi, bảo từ nay về sau không được ăn thịt người nữa. Nhưng vì Đồ Cát Ni đã quen thói ăn thịt người, không thể thay đổi được, cuối cùng Phật Đà đành phải đồng ý cho Ngài chỉ được ăn người đã chết, không được ăn người còn sống.

Tôn giả Đồ Cát Ni, từ khi được Phật Đà giáo hóa, đã cải tà quy chính, hộ trì Phật pháp. Tôn giả có một túi vải đeo trên lưng, bên trong chứa rất nhiều vàng bạc châu báu là của đi khắp thiên hạ trộm được. Vì vậy vị tôn giả này là Đại Phú Quý Tôn Giả. Những ai trì pháp Đồ Cát Ni, khi Đại Phú Quý Tôn Giả vừa mở túi ra, vàng bạc châu báu liền được trao cho hành giả. Do đó, tu pháp Đồ Cát Ni là con đường tắt nhanh nhất để đạt được phú quý.

Do có quá khứ như vậy nên khi tu pháp Đồ Cát Ni, điểm trọng yếu nằm ở thệ nguyện, tức là mỗi lần tu pháp đều phải hồi hướng: "Tôn giả Đồ Cát Ni! Xin hãy nhanh chóng từ trên trời ban xuống tài phú cho tôi, tôi nguyện sau khi chết sẽ hiến dâng thân thể của mình cho ngài thọ dụng, bao gồm cả não tủy và máu huyết."

Khi tôn giả Đồ Cát Ni nhận được sự cúng dường và hiểu rõ thệ nguyện của bạn, theo nguyên tắc có qua có lại, ngài sẽ ra lệnh cho bốn vị thị giả mang của cải đến cho bạn. Dĩ nhiên, bạn có thể trúng được đua ngựa, thắng lớn khi đánh bạc, trúng vé số, hoặc nhặt được tiền, được người khác tặng tiền, gặp cơ duyên tốt phát tài lớn, tiền chính đáng lẫn tiền bất ngờ đều đến. Nhưng đừng quên rằng, thệ nguyện của bạn là sau khi chết sẽ hoàn toàn hiến dâng thân thể của mình, hiến dâng cho Đồ Cát Ni thọ dụng.

Tu trì pháp Đồ Cát Ni không phải dễ dàng, bởi vì người tu pháp, nếu phụng sự tôn giả đúng cách, sẽ được đại phú quý, nhưng nếu phụng sự không đúng cách, ngược lại sẽ gặp đại họa. Theo tôi thấy, với chư Phật Bồ Tát, người thường có chút thất lễ, chư Phật Bồ Tát thương xót chúng sinh vô tri, sẽ không trách phạt. Nhưng phụng sự Đồ Cát Ni thì khác, nếu có một chút bất kính nào, tai họa sẽ giáng xuống ngay, đây là điều cấm kỵ nhất của người tu pháp, thệ nguyện không bền thì phú quý cũng không bền, đây là điểm đặc biệt nhất của pháp này, người không có lòng kiên trì, tuyệt đối không nên làm.

Tu trì pháp Đồ Cát Ni, trước tiên phải cúng dường một tôn tượng Đồ Cát Ni và bốn vị thị giả. Đồ Cát Ni có mặt xanh nanh nhọn, bốn vị thị giả có mặt đỏ nanh nhọn. Đồ Cát Ni hai tay trái phải đều cầm bàn tay người và chân người, đứng trên tảng đá, tư thế bay lên, trên lưng đeo một túi phú quý. Bốn vị thị giả đứng hai bên, tay trái mỗi người cầm một đĩa đựng máu người, lè lưỡi ra như đang liếm máu. Tay phải mỗi người đều nắm một túi phú quý.

Khi cúng dường tu pháp, mỗi lần đều phải có rượu, tay kết ấn Đồ Cát Ni.

image

Ấn này rất đơn giản nhưng cũng rất đặc biệt, đó là đưa tay trái ra như đang nâng đĩa, sau đó lè lưỡi liếm một cái vào lòng bàn tay, biểu thị ý nghĩa liếm máu. Khi kết ấn và lè lưỡi liếm máu, lập tức quán tưởng rằng thứ mình đang liếm chính là máu.

Sau đó, ngồi yên quán tưởng miệng túi phú quý của tôn giả Đồ Cát Ni mở ra, bên trong có rất nhiều vàng bạc châu báu đổ ra, một phần đổ vào tay bạn, một phần đổ phía trước bạn, biểu thị sự vô cùng phong phú. Bạn muốn gì thì quán tưởng túi phú quý đổ ra thứ đó.

Sau khi quán tưởng xong, tay cầm tràng hạt, trì tâm chú Đồ Cát Ni: "Ôm thu-chi-ni xi-li hùm." Chú này tụng 108 biến hoặc 1080 biến. Tụng xong, hồi hướng phát nguyện: "Nhờ ơn đại gia hộ của tôn giả Đồ Cát Ni, được tất cả tài sản chính đáng và bất ngờ, được tất cả đại phú quý. Nguyện sau khi thân này qua đời, não tủy và máu cùng toàn thân, xin cúng dường tôn giả."

Theo tôi được biết, trong Mật tông Yết Ma pháp, để cầu tài lộc thì pháp của tôn giả Đồ Cát Ni là đặc biệt nhất, cảm ứng cũng nhanh chóng nhất, hơi giống như pháp "ngũ quỷ vận tài", thông qua mọi cơ duyên để ban cho đại tài phú. Nhưng Đồ Cát Ni vốn là do đại ác quỷ biến hiện, luôn hành động theo thệ nguyện, nếu cúng dường không đúng phép thì sẽ gặp tai ương, Ngài chẳng quan tâm hành giả Mật tông là nhân vật thế nào.

Tôi đích thân hiểu rõ tất cả bí mật cúng dường của Mật pháp Đồ Cát Ni này, đặc biệt tuyên bố như sau: Pháp này tu học không hề đơn giản, cách cúng dường rất đặc biệt, nếu không có Kim cương Thượng sư chân chính chỉ dạy, xin đừng tùy tiện thực hành, nếu làm bừa sẽ gặp đại họa. Ngoài ra xin tuyên bố thêm: "Tất cả mọi Mật pháp đều phải quy y Thượng sư, thọ nhận quán đảnh chân chính từ Thượng sư. Nếu không quy y, cũng không được quán đảnh thì không được học Mật pháp một cách vọng động. Không những uổng công mà còn mắc tội. Điểm này phải ghi nhớ kĩ càng, mọi người hãy đi tìm một vị Thượng sư chân chính để quy y!"

Viết một bài kệ dâng tôn giả Đồ Cát Ni: Pháp Đồ Cát Ni ban hữu duyên Thệ nguyện lạ kỳ bậc nhất tiên Cúng dường bền chí chăm tu trì Tài lộc bất ngờ đến tự nhiên.

11. Pháp La Hán thường được thanh tịnh

Tôi luôn cảm thấy rằng, mọi thứ trên thế gian này đều gắn liền với phiền não. Chết yểu là phiền não, sống lâu cũng là phiền não, không có con là phiền não, có con cũng phiền não, không tiền thì phiền não lớn, có tiền cũng phiền não như vậy, không quyền lực là phiền não, có quyền lực cũng là khổ, tất cả bệnh tật càng là khổ, còn quan hệ giữa người với người, không có gì là không phiền não lo âu.

Nếu có người giác ngộ rằng tất cả mọi thứ trên đời đều là khổ, tất cả đều là phiền não, muốn tu hành một mình, cùng với tất cả chúng sinh trên đời đoạn tuyệt mọi nguồn gốc phiền não, muốn tiêu diệt hết thảy nghiệp tội, nhập tam muội kim cang đại định, đắc quả bồ đề, đạt được đại trí tuệ có thể thực sự nhìn thấu thế gian, có đại uy đức, vĩnh viễn được giải thoát, được thọ ký từ mười phương chư Phật, người như vậy có thể tu pháp La Hán.

Thật ra La Hán, tên tiếng Phạn là Arhat, có nghĩa là hoàn toàn diệt trừ phiền não. La Hán được xếp vào hàng Tứ Thánh, có tư cách nhận sự cúng dường cao nhất của chư thiên và nhân loại. Tu hành đến quả vị La Hán thì không còn bị phiền não của sinh tử nữa. Trong kinh Phật có nói: "Tiếng Phạn A La Hán, dịch là Vô Học, nghĩa là đã đoạn tận sinh tử, không còn gì để học, Vô Sinh là đoạn tận mê hoặc của thấy và nghĩ, không cần phải luân hồi trong tam giới nữa, được chư thiên và nhân loại cúng dường, có thể trừ hết tất cả phiền não, đắc tam minh lục thông, có vô lượng công đức, nhờ tu pháp thần thông có thể tự kéo dài tuổi thọ, có thể trụ ở nhân gian, hộ trì chính pháp."

Hôm nay, tác giả truyền dạy pháp La Hán, có thể tu trì pháp một vị La Hán, cũng có thể tu trì mười sáu vị hoặc mười tám vị hoặc năm trăm vị, tùy theo ý nguyện của hành giả Mật tông, nhưng công đức đều như nhau.

Tôi xin trình bày pháp tu trì của tôn giả Ba Cổ Lạp:

Tôn giả Ba Cổ Lạp có tám trăm vị La Hán thuộc hạ, trú tại Nam Chiêm Bộ Châu, hộ trì Phật pháp tại vùng đất này.

Hành giả cúng dường tượng La Hán, ngồi trên tảng đá, tay phải nắm quyền đánh một con hổ, hoặc tay phải đè một con hổ, đầu tròn, trên đỉnh đầu có vầng trăng, mặc y phục La Hán, để hở ngực. Cũng có người nói tôn giả Ba Cổ Lạp này chính là Phục Hổ La Hán, tôi khẳng định đúng là Phục Hổ La Hán.

Tu trì tất cả Mật pháp, không quên tứ quy y, đại cúng dường, đại lễ bái, mặc giáp hộ thân. Thắp hương danh hương. Kết ấn La Hán tinh tấn: Hai tay ôm vào nhau, chỉ có ngón trỏ tay phải dựng đứng, chỉ lên không trung.

image

Quán tưởng: Kim thân và thần thái của La Hán Phục Hổ, trong tim ngài có một điểm, hóa thành một điểm ánh sáng xanh lam, chiếu vào tim mình. Do ánh sáng xanh chiếu rọi, toàn thân mình trở nên trong suốt màu xanh, như thủy tinh xanh vậy. Lại quán tưởng toàn thân màu xanh của mình hóa thành một điểm sáng, bay lên, bay lên, dần dần bị ánh sáng xanh từ tim La Hán hút vào trong tim ngài, rồi dừng lại. Phương pháp quán tưởng này gọi là quán tưởng "ngã nhập", tức là tự thân hóa thành ánh sáng, đi vào trong tim La Hán.

Do quán tưởng "ngã nhập" và kết ấn tinh tấn, tức là "phản nhiễm hoàn tịnh". An trú trong tâm La Hán thì sẽ có vô lượng vô biên công đức không thể nghĩ bàn. Nói một cách đơn giản, một hành giả Mật tông thường trú trong tâm La Hán, không những tự tiêu trừ nghiệp chướng của mình, diệt sạch tất cả tai nạn bệnh tật sinh ra từ địa thủy hỏa phong không, mà còn có thể hàng long phục hổ, chế ngự các ngoại đạo, tiêu diệt yêu ma, tất cả quỷ thần đều đến quy phục.

Thường trú trong tâm La Hán chính là thường được thanh tịnh.

Sau khi xuất định, tiếp tục trì chú La Hán: "Tê-ya-tha. Ôm. Mô-ni mô-ni ma-ha-mô-ni. Sa-wa-sâng-kya. Pa-lia-pu-la-ka. Sô-ha." Trì chú này 108 biến hoặc 1080 biến. Tu trì pháp La Hán cũng có thể cúng dường và tu theo pháp tướng của mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, bởi vì mười đại đệ tử cũng chính là mười vị La Hán, danh hiệu tôn quý của mười đại đệ tử như sau:

Thứ nhất, Đại Ca Diếp — Đệ nhất về khổ hạnh. Thứ hai, A Nan Đà — Đệ nhất về đa văn. Thứ ba, Xá Lợi Phất — Đệ nhất về trí tuệ. Thứ tư, Tu Bồ Đề — Đệ nhất về thấu hiểu tính không. Thứ năm, Phú Lâu Na — Đệ nhất về thuyết pháp. Thứ sáu, Mục Kiền Liên — Đệ nhất về thần thông. Thứ bảy, Ca Chiên Diên — Đệ nhất về luận nghị. Thứ tám, A Na Luật — Đệ nhất về thiên nhãn. Thứ chín, Ưu Ba Ly — Đệ nhất về trì giới. Thứ mười, La Hầu La — Đệ nhất về mật hành.

Tu trì pháp La Hán là một trong những pháp tu trí tuệ, có tác dụng đối trị phiền não và ngu si. Tất nhiên, khi thường xuyên thực hành quán tưởng "ngã nhập" như vậy, dần dần khi giác ngộ, sẽ tự hiểu được chân lý viên mãn thường hằng, vốn dĩ tất cả đều thanh tịnh, Phật và chúng sinh không có gì khác biệt, chỉ là sự phân biệt giữa nhiễm ô và thanh tịnh mà thôi. Nếu chấp trước vào phiền não thì trong Phật pháp, đó là điều đáng thương nhất.

Hơn nữa, để đạt được công phu "ngã nhập", đây là thiền công thượng thừa, có thể tham khảo trong sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn". Pháp "ngã nhập" này chính là Như Lai thanh tịnh thiền, có thể gọi là "nhất hạnh tam muội", đây là tâm yếu đại pháp, không thể xem thường, đây là cảnh giới tối thượng của tất cả căn bản tam muội. Hôm nay tôi đem pháp La Hán này kết hợp với "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn" giảng giải, cũng chính là hy vọng chúng sinh có thể lĩnh ngộ được tự tâm vốn thanh tịnh.

Thường được thanh tịnh, xin viết một bài kệ hay: Phải biết chốn nào là cố hương Muốn trừ phiền não chẳng tầm thường Phật và Bồ Tát ban cho chỗ, Mật pháp diệu hành mời nếm ngay.

12. Hỏa Đầu Kim Cang giải uế khí

Tôi biết có nhiều người sau khi tham gia tang lễ trở về nhà liền bị xung phạm, hoặc đã trúng tà, có người thì ngay tại chỗ đã bị từng cơn nóng lạnh, nghiêm trọng hơn là có người bị ngất ngay tại chỗ. Thậm chí không cần tham gia tang lễ, tham gia tiệc cưới cũng có hiện tượng này, người như vậy thì tang sự hay hỷ sự đều kiêng dè, không dám tham gia.

Càng tồi tệ hơn là có một số người, không tham gia đám cưới đám tang, nhưng vô ý đang đi trên đường thì có đội rước đám ma đi qua, nhìn thấy một cái là chóng mặt, chân bủn rủn, trở về nhà thì đổ bệnh. Loại người này không chỉ như vậy, ngay cả nhìn thấy máu cũng bị như thế, cũng không thể vào phòng sinh đẻ, cũng không thể đến bệnh viện, những điều cấm kỵ của họ nhiều lắm lắm.

Những vị nghiên cứu tướng mệnh tử vi đẩu số gọi những người này là có bát tự thấp, tức là sức chống cự của pháp lực không đủ kiên cường, hễ có uế khí xâm phạm là trúng tà ngay.

Người bị xung phạm nhẹ thì bị ốm mấy ngày rồi sẽ không sao, người bị xung phạm nặng thì có người thân thể hư thoát, thảm hơn nữa là bị âm linh để mắt đến, khiến họ nói năng lảm nhảm, tinh thần thất thường, đều có cả.

Vì sao tang sự hỷ sự, đám ma đám cưới lại tương đối dễ xung phạm, tôi nói để mọi người biết đạo lý này, bởi vì khi một người chết đi, người thân ở cõi âm sẽ đến đón linh hồn của người chết này, tức là âm linh tụ họp, cho nên đây là lý do mà nơi có tang lễ thì có khí âm nhơ bẩn rất nặng.

Với đạo lý tương tự, nam nữ kết thành vợ chồng, đây là việc lớn của đời người, âm linh của tổ tiên ở âm gian hầu hết đều biết con hoặc cháu của họ đã kết hôn rồi, cũng sẽ tụ tập đến chúc mừng một phen. Ở dương gian, đây là ngày đại hỷ của đôi bên nam nữ, tương tự, linh hồn của tổ tiên họ cũng sẽ về nhà để chúc mừng, cũng là ngày tụ hội lớn của âm linh.

Người như vậy phải tu một pháp, pháp này chính là pháp Hỏa Đầu Kim Cang giải uế khí, bình thường tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang giải uế khí, hễ gặp xung phạm, tay kết ấn Hỏa Đầu Kim Cang.

image

Miệng niệm chú, thì sẽ nhanh chóng giải được xung phạm. Người tu pháp này, bất kì nơi nào cũng có thể đi, không có một chút cấm kỵ nào, đi lại không gặp trở ngại, thậm chí ma quỷ thông thường đụng phải bạn thì đều sẽ tránh xa bạn. Bởi vì Hỏa Đầu Kim Cang là vị Đại Kim Cang Thần quét sạch bất tịnh.

Hỏa Đầu Kim Cang là một trong năm vị Đại Kim Cang của Đài mật, tên tiếng Phạn của ngài là Ucchusma, không những có thể quét sạch bất tịnh mà còn có thể loại bỏ yêu tinh, ác quỷ, rắn độc, v.v… làm hại. Nơi có loài rắn hay ra vào, tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang rồi thì rắn không dám vào. Ngoài ra người tu pháp này, vì khí dương cương đầy đủ, người mang thai tu pháp này sẽ chuyển thai nữ thành thai nam, cho nên người tu pháp Kim Cang có sinh đẻ thì đều là bé trai.

Hỏa Đầu Kim Cang là dựa vào quán tưởng nội hỏa toàn thân, thần quang ngưng tụ bên trong, hình thành lửa trí huệ, dùng phương pháp hỏa quang tam muội để đắc chứng, thành tựu Kim Cang Thần. Người tu trì phải thờ cúng Hỏa Đầu Kim Cang, vị Kim Cang Thần này có tượng hai tay, tượng bốn tay, tượng sáu tay, tượng tám tay. Tượng của ngài có hình đại phẫn nộ, mắt đỏ, toàn thân màu xanh đen, tỏa ra ngọn lửa. Tượng bốn tay thì tay phải ở trên cầm kiếm, tay phải ở dưới cầm cuộn thừng, tay trái ở trên cầm gậy, tay trái ở dưới cầm chày ba cổ, pháp khí đều phóng ra ánh sáng của ngọn lửa lớn.

Người tu trì nhập đàn, kết ấn Hỏa Đầu Kim Cang, quán tưởng Hỏa Đầu Kim Cang toàn thân là ánh lửa, ánh lửa ở trên đầu kết thành ánh sáng của tam muội chân hỏa. Sau đó, ngọn lửa sáng chói này cháy về hướng chính mình, chính mình giống như đặt ở trong tam muội của ánh lửa sáng rực. Lúc này đặc biệt nghĩ đến khí tà uế của chính mình bị hỏa quang tam muội đốt cháy, hóa thành khí đen, từ các lỗ chân lông trên khắp toàn thân thoát ra, bản thân trở nên vô cùng nhẹ nhõm và thanh tịnh.

Quán tưởng xong xuôi, tay cầm chuỗi hạt, niệm: "Xiêu-li xiêu-li ma-ma-li-ma-li xiêu-xiêu-li sô-ha." Câu chú này tổng cộng niệm 108 biến hoặc 1080 biến. (Ngày tốt nhất để tu pháp có thể chọn ngày "thất xích".)

Theo như tôi biết, tu trì pháp này rồi thì hễ gặp tà uế, miệng tụng 3 biến hoặc 7 biến chân ngôn, tay kết ấn Hỏa Đầu Kim Cang, chạm ấn vào trán một cái là có thể bảo vệ được bản thân. Nếu là đuổi tà thì tung ấn về phía trước, đánh ra, chân phải dậm một cái, âm khí sẽ tản ra chạy trốn.

Trọng điểm của tu tập pháp này cũng nằm ở quán tưởng, hỏa quang tam muội đốt thân mình, đốt tất cả khí âm uế thành khói đen, từ các lỗ chân lông bài trừ ra ngoài. Chú thích thêm là pháp này cũng là một Mật pháp để hóa trừ dâm niệm, con người có dâm niệm thì tịnh thân nhập đàn, tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang trừ uế, quán tưởng lửa trí huệ nổi lên đi vào, đốt cháy dâm niệm thành khói đen và bài trừ ra ngoài. Thật ra dâm niệm cũng là một trong những suy nghĩ tà uế, nếu phối hợp pháp này với sự kiểm soát hô hấp, thì sau khoảng 10 hơi thở, hóa dâm niệm thành khói đen và bay tản đi.

Nếu thường sinh con gái, muốn có con trai, tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang trừ uế là tốt nhất, bởi vì một khi loại bỏ được khí âm ám muội thì sẽ trở thành khí dương cương, hồn nữ bị nhiễm tạp âm khí không dám đầu thai, tự nhiên sẽ sinh nở bé trai. Nhưng nếu đã mang thai 5 tháng mà tu pháp này thì không còn kịp nữa, bởi vì khi đó thai nhi đã định hình rồi. Người tu pháp này cũng có tác dụng bảo vệ thai, đây là mật pháp vô cùng hữu dụng.

Tôi viết một bài kệ ca ngợi Hỏa Đầu Kim Cang: *Ánh sáng lửa này rất mát lành Trí huệ trừ uế được quang minh Loại bỏ vết nhơ có thể định Người tu pháp ấy hóa hữu tình. *

13. Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang

Ngày trước tôi đến một nhà hàng để ăn cơm, nhà hàng đó là một đệ tử của tôi mở. Đệ tử của tôi làm một thống kê, mỗi lần tôi đến ăn cơm ở đó thì lợi nhuận thu được của ngày hôm đó tăng gấp ba lần so với ngày thường. Đệ tử đó của tôi không tin, liên tục thống kê mười lần, kết quả là hết sức kỳ diệu, lần nào cũng tăng gấp ba, cuối cùng anh ấy mới thán phục. Tóm lại, tôi đi đến nhà hàng của anh ấy ăn cơm, khách hàng của ngày hôm đó nhất định sẽ ngồi kín chỗ, thu nhập tăng gấp ba, không giả một chút nào.

Hiện tượng này không chỉ ở nhà hàng mà bất kì nơi kinh doanh nào mà tôi đến thì việc kinh doanh chắc chắn sẽ đặc biệt tốt, hơn nữa còn tốt cực kì, chủ tiệm chỉ có ngoác miệng cười ha ha.

Hơn mười năm trước, tôi có một biệt hiệu là "Tặng Tiền Đồng Tử". Những người làm kinh doanh hễ nhìn thấy tôi đến là liền kêu lên "Tặng Tiền Đồng Tử" đến rồi. Thật ra, đối với những đệ tử dựa vào tôi, đương nhiên tôi bình đẳng chúc phúc họ, đây là duyên phận giữa người với người, không miễn cưỡng một chút nào, muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, tất cả tùy ý đến, tất cả tùy ý đi.

Một Thượng sư chứng đắc thì xung quanh sẽ có rất nhiều thiên long bát bộ và rất nhiều quỷ thần bảo hộ, từng lời nói từng hành động của họ đều có Hộ pháp hộ trì. Bản thân Liên Hoa Đồng Tử Lư Thắng Ngạn Kim cương Thượng sư ở nhân gian đã có đại phúc như vậy để đi giúp đỡ con người, huống chi là Pháp thân tự tại Liên Hoa Đồng Tử Tôn Giả ở Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, vì thế tu trì Liên Hoa Đồng Tử kim cương pháp tự nhiên cũng có thể có được tăng ích, cho nên Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang.

Liên Hoa Đồng Tử kim cương tương ứng pháp cũng chính là Thượng sư tương ứng pháp, Thượng sư cùng tất cả pháp giới chư Phật là một thể, Thượng sư là thể tính thân khẩu ý hợp nhất của thập phương tam thế chư Phật, là nguồn gốc của tám vạn bốn nghìn loại pháp. Đệ tử Chân Phật Tông là quy y một vị Thượng sư có đầy đủ truyền thừa, căn bản, phẩm đức. Người quy y đều có phúc báo rất lớn, vì Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang.

Người tu trì pháp này, đầu tiên là thờ phụng tượng Thượng sư. Nhập đàn, kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử. Tay trái là ấn cầm hoa sen, tay phải là ấn thuyết pháp.

image

Tĩnh tọa điều hòa hơi thở, quán tưởng Mi tâm của Liên Sinh Kim cương Thượng sư phóng ánh sáng trắng chiếu đến Mi tâm của chính mình, sau đó họng phóng ánh sáng đỏ chiếu đến họng của chính mình, tim phóng ánh sáng lam chiếu đến tim của chính mình. Sau khi ba ánh sáng chiếu xong, đặc biệt quán tưởng chuông kim cang và chày kim cang trên tay Thượng sư toàn là ánh sáng vàng kim lấp lánh, tự cảm thấy chuông kim cang và chày kim cang của Thượng sư lắc rung, phóng ra ánh sáng báu màu vàng kim. Và ánh sáng báu này chiếu lên thân của mình, khiến toàn thân mình cũng tỏa ra ánh sáng báu màu vàng kim, giống như quanh thân Phật Thích Ca Mâu Ni tỏa ra hào quang bách bảo vô úy màu vàng kim. Lúc này, người quán tưởng có thể nghĩ đến tay trái mình kết ấn cầm hoa sen và hoa sen này là một đóa hoa sen màu vàng kim, trên hoa sen hóa hiện ra thứ mà mình muốn, những thứ như vàng bạc tài bảo.

Tất cả quán tưởng xong, tay cầm chuỗi hạt, niệm tâm chú căn bản của Liên Hoa Đồng Tử: "Ôm ah hùm gu-ru-pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-sâng sit-đi hùm." [Om ah hum guru beh ahasasamaha liansheng siddhi hum] Mỗi lần tu thì niệm tâm chú này 108 biến hoặc 1080 biến, hoặc cố gắng tụng nhiều. Tụng đến khi chủng tử của chú [chữ Hum] nở hoa thì nhất định có cảm ứng.

Hôm nay, tôi đặc biệt vì những đệ tử quy y cầu pháp mà lập ra pháp tiện lợi để quán đảnh quy y cách không từ xa.

Chọn ngày mồng 1 hoặc 15 Âm lịch. Vào sáng sớm, quay mặt về hướng Đông (hướng mặt trời mọc), chắp tay cúi ba lạy, niệm: "Na-mô gu-ru pây. Lư Thắng Ngạn Thượng sư chỉ dẫn. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Niệm 3 biến.

Gửi họ tên, tuổi, địa chỉ, gồm cả cúng dường quy y (tùy ý) đến địa chỉ liên lạc ở Mỹ của Lư Thắng Ngạn Kim cương Thượng sư. Sau khi Thượng sư nhận được thư nhất định sẽ tiến hành quy y, sẽ gửi chứng thư quy y, thế là có thể dựa vào Kim cương Thượng sư chân chính để tu trì Phật pháp, trở thành đệ tử Phật chân chính, tương lai nhất định thành Phật. Đệ tử của Chân Phật Tông ở phân đường trên toàn thế giới là đông nhất, đây là: Liên Hoa Đồng Tử giàu có nhất, Chúng sinh quy y chẳng ồn ào. Đời này Phật pháp tuyệt diệu nhất. Các môn ngoại đạo cùng hướng về.

14. Sự kỳ diệu của Già Văn Đồ [Camunda]

Trước đây, tôi từng đọc một bài viết kể về một dị nhân trong giang hồ có thể thi triển một loại kỳ thuật. Ví dụ có một người bị u bướu ở cổ, vị dị nhân này chỉ cầm một vật, hướng về cái u, lẩm bẩm niệm chú, vẽ vài đường. Sau đó đi đến một cái cây bên cạnh, cũng lẩm bẩm niệm chú với cái cây, vẽ vài đường. Lạ thay, người bị u bướu kia, cái u của họ dần dần co nhỏ lại và biến mất. Điều kỳ lạ là, cái cây đó lại nhô lên một cục, như hình cái u.

Pháp này gọi là pháp chuyển di.

Trong Kinh Thánh của Cơ Đốc giáo cũng ghi chép một sự kiện kỳ lạ, Chúa Jesus chữa bệnh cho một người bệnh tâm thần, trong thân thể người bệnh ấy có ẩn chứa một con quỷ. Chúa Jesus ra lệnh cho con quỷ phải đi ra, con quỷ không còn cách nào khác đành phải ra, rất nhanh chóng, quỷ từ thân thể người bệnh tâm thần đi ra, nhập vào một đàn heo, đàn heo liền phát điên, chạy nhảy xuống vực thẳm mà chết, còn người bệnh tâm thần thì được khỏi bệnh.

Cách chữa bệnh như vậy, thực ra cũng là pháp chuyển di.

Tôi đã từng nói, dùng pháp chuyển di để chữa bệnh, hiệu quả rất to lớn, người biết được pháp chuyển di không nhiều, đặc biệt là những người có niệm lực, khi áp dụng pháp chuyển di, trăm lần đều hiệu nghiệm. Pháp chuyển di có hiệu quả đối với bệnh tâm thần, đối với u bướu, độc tố, những khối bất thường và bệnh ngoài da còn hiệu quả hơn nữa. Bản thân tôi đã từng dùng pháp chuyển di để chữa bệnh cho nhiều người, kết quả là vừa làm pháp thì bệnh liền khỏi, hiện tượng này giống như phép màu vậy.

Trong pháp Yết Ma bằng tiếng Pali có pháp chuyển di, Mật pháp này gọi là pháp Già Văn Đồ, tôi xin trình bày chi tiết như sau:

Để tu trì pháp Già Văn Đồ, chỉ cần thờ phụng tượng Phật là được. Bảy ngày trước khi tu pháp, phải ăn chay, kiêng tất cả đồ mặn, tức là giữ trai giới bảy ngày, đốt trầm hương cúng Phật trước bàn thờ. Sau đó kết ấn, ấn này chính là ấn Già Văn Đồ:

image

Ấn Già Văn Đồ rất đơn giản, chỉ cần đưa tay trái ra, hơi cong năm ngón tay như đang nâng một vật, đặt trước ngực, và vật được nâng đó chính là đầu lâu. Thông thường người tu pháp hay dùng sọ người để làm pháp, nếu không có sọ người thì dùng bất kì xương nào cũng được, đặt xương đó lên trên ấn Già Văn Đồ.

Khi quán tưởng, tưởng tượng đầu lâu hoặc xương trong tay biến thành khối u của bệnh nhân, hoặc bướu, hoặc dị vật, hoặc bệnh ngoài da, v.v… Sự quán tưởng này phải thật rõ ràng minh bạch. Sau khi quán tưởng xong, trì chân ngôn: "Ôm chưa-wân-thu i-li-mi-li sô-ha." Trì chú này 21 biến, hành giả gõ răng 21 lần, rồi kim cang niệm [niệm thầm] âm "Sát" 21 lần. Lúc này bệnh nhân tiến lên phía trước, nếu bệnh nhân là nam, hành giả Mật tông dùng tay trái cầm xương, chạm vào chỗ bệnh một lần, nếu bệnh nhân là nữ, hành giả Mật tông dùng tay phải cầm xương, chạm vào chỗ bệnh một lần. Hành giả Mật tông miệng không ngừng kim cang niệm âm "Sát", sau đó đem xương này chôn vào đất sạch, hoặc cầm xương vẽ vài đường lên thân cây. Cách trước là chuyển khối u vào lòng đất, cách sau là chuyển khối u vào thân cây. Như vậy, khối u của bệnh nhân sẽ tiêu mất, ngày qua ngày co nhỏ lại rồi biến mất.

Một trong những điểm quan trọng của pháp này là trước mỗi lần hành pháp, hành giả Mật tông phải cúng dường trầm hương chìm nước trước Phật trong bảy ngày, tức là mỗi ngày đốt trầm hương chìm nước cúng Phật ba thời sáng trưa tối, trong bảy ngày. Hành giả Mật tông cũng phải giữ trai giới bảy ngày.

Lấy đầu lâu là tốt nhất, nếu không có thì các xương khác cũng được. Dĩ nhiên xương người không dễ tìm, có thể thương lượng với thân nhân của người quá cố để mượn, hoặc thương lượng mượn từ các chùa có linh cốt tháp. Cứu người khỏi bệnh khổ còn hơn xây tháp bảy tầng. Nếu không có xương người thì có thể dùng xương động vật khác thay thế cũng được.

Điểm quan trọng thứ hai của pháp này là, quán tưởng với xương là biến linh vật của xương thành khối u của bệnh nhân, nghĩa là quán tưởng khối u của bệnh nhân chuyển lên trên xương, đây chính là sự chuyển di của niệm lực. Sau khi chuyển di rõ ràng rồi, tiếp tục trì chân ngôn chuyển di của Già Văn Đồ.

Điểm quan trọng thứ ba của pháp này là, trì chân ngôn chuyển di 21 biến, rồi tiếp tục niệm âm "Sát" không ngừng, chỉ cần niệm trong miệng, không cần phát ra tiếng, dùng xương chạm vào chỗ bệnh, nam bên trái nữ bên phải, giữ âm "Sát" không ngừng, nhanh chóng chôn xuống đất hoặc chuyển qua thân cây, như vậy là hoàn tất, pháp này có hiệu nghiệm rất thần kỳ.

Bản thân tôi đã biết pháp bí mật này từ lâu, và cũng từng dùng pháp này để chữa bệnh cho người khác. Điều kỳ lạ là pháp này có hiệu quả 100%. Khi pháp này đạt đến mức linh nghiệm nhất, thậm chí có thể mở khóa, điều này nghe còn thần kỳ hơn nữa, thực ra là dùng niệm lực để mở khóa. Hành giả Mật tông quán tưởng một chìa khóa, đặt vào lỗ khóa, miệng trì chú Già Văn Đồ 21 biến, dùng tay đẩy cửa, thầm niệm chữ "Khai", cửa sẽ tự động mở ra, đây là pháp niệm lực mở khóa.

Thông thường khi tu luyện thành công pháp chuyển di, công dụng rất lớn, cả đời không gặp tai họa, không có loại nguyền rủa nào có thể xâm nhập, người khác dùng bùa ngải cũng không hại được, bởi vì hành giả Mật tông có thể chuyển đi chuyển lại, không ai có thể nắm bắt được nguyên thần thật của họ, mà không nắm bắt được nguyên thần thật thì vĩnh viễn không thể hại được họ.

Viết một bài kệ để ghi nhớ pháp này: Pháp Già Văn Đồ bệnh hóa cầu vồng Bảy đại cúng dường là thần công Đều nhờ niệm lực cùng linh vật U bướu tiêu tan thành nắng trong.

15. Văn Thù vãng sinh pháp

Đối với vấn đề chay mặn, có rất nhiều người từng đến hỏi tôi, cũng sôi nổi có ý kiến. Có người chủ trương người tu Phật pháp nhất định phải ăn chay, phái ăn chay này tổng kết lại có ba điểm quan trọng:

  1. Thịt động vật chính là thịt chúng sinh, ăn thịt là ăn chúng sinh, không từ bi.
  2. Thịt động vật mang ý thức độc, ăn vào sẽ làm ô nhiễm tâm thức, cũng sẽ sinh ra dục niệm.
  3. Uống rượu ăn thịt là hạt giống của địa ngục, không thể vãng sinh.

Những thứ mặn bao gồm tất cả động vật và thực vật ngũ tân [năm loại cây gia vị], ngũ tân này tức là: tỏi, hành lá, hẹ, hành tím, hành tây. Người học Phật không chỉ bỏ ăn mặn mà còn phải bỏ ăn ngũ tân, bởi vì trong ngũ tân có rất nhiều kích thích tố, thức ăn đó sẽ khiến cho con người không ngừng nổi lửa dâm, ăn sống cũng thế. Có dâm niệm rồi thì càng ngu dốt làm bừa, tạo các nghiệp ác.

Thế nhưng trong các đệ tử Phật cũng có người chủ trương không kiêng kị chay mặn. Ví dụ Mật tông dùng rượt thịt để cúng Phật, hơn nữa hành giả Mật tông không kiêng chay mặn. Người theo phái này chủ trương như sau:

  1. Trong miệng dù ăn thịt, trong tâm không hẳn là ăn thịt. Tuy uống rượu ăn thịt, nhưng tâm thường thanh tịnh.
  2. Người ăn chay, ăn cơm ăn rau uống nước, trong đó cũng có vô lượng sinh mệnh, chúng sinh nhỏ bé, cũng khó tránh nghiệp tội.
  3. Mật pháp có pháp đặc thù để độ động vật vãng sinh, làm pháp rồi thì tức là từ bi, hồn quy về hồn, thịt quy về thịt.

Rất nhiều đệ tử của tôi hỏi tôi, chủ trương của Lư Sư Tôn thế nào? Tôi đáp: Đây là duyên phận thôi! Cư sĩ tại gia học Phật, đối với những người phải đi làm ăn ở bên ngoài mà muốn hoàn toàn giữ trai giới thật sự là có rất nhiều bất tiện. Trai giới và không trai giới cần phải xem người này phát tâm hay chưa phát tâm, phải xem duyên phận của cá nhân. Có người phát tâm giữ trai giới, ăn chay cả đời, tôi không phản đối. Có người chủ trương ăn thịt không hề gì, tôi cũng không phản đối. Có người khi đến lúc thì sẽ từ từ giảm bớt thịt, trước tiên nhịn ăn thịt bò, sau đó nhịn ăn thịt cừu, cuối cùng ngay cả thịt bình thường cũng không ăn, đây là tự động nhịn ăn, đây cũng là duyên phận.

Trong pháp Yết ma tiếng Pali, có một pháp rất đặc thù, đây là pháp bí mật độ súc sinh vãng sinh của Mật tông. Tôi từng nói, Thượng sư Mật tông ăn cơm chính là Hộ Ma, Thượng sư ăn cơm trước tiên quán tưởng, phàm là thức ăn thể rắn, quán tưởng chúng lớn như núi Tu Di, phàm là thức ăn thể lỏng, quán tưởng chúng sâu như biển lớn. Đây là trên cúng thập phương tam thế chư Phật, dưới cúng từ bi lục đạo chúng sinh.

Nếu trên bàn có món ăn mặn thì trước tiên tu pháp độ những linh hồn sinh vật này vãng sinh, để không khiến người khác thấy kỳ quái mà đánh giá, hành giả Mật tông có thể không kết thủ ấn, nhưng thủ ấn giải thoát vãng sinh này như sau:

image

Trước tiên trong đầu quán tưởng kết thủ ấn. Quán tưởng kết thủ ấn xong rồi lại quán tưởng trong tim mình có chủng tử chữ Hum phóng ra ánh sáng trắng, chiếu đến thịt súc sinh, hoàn toàn tiêu trừ nghiệp chướng của súc sinh này, khiến chúng thoát khổ được vui. Sau đó tiếp tục quán tưởng thịt này tụ thành một hình, nếu là thịt bò thì thành hình con bò, thịt cừu thành hình con cừu, thịt gà thành hình con gà, thịt cá thành hình con cá, lần lượt gà vịt bò cừu cá đều vì đã được tiêu trừ nghiệp chướng mà linh hồn bay vào không trung, vãng sinh thế giới Cực Lạc.

Lúc này hành giả Mật tông dùng kim cang niệm tụng chú Văn Thù vãng sinh: "Ôm a-pây-la-hùm khan-cha-la sô-ha." Tổng cộng trì chú này 7 biến. Như vậy là hoàn tất tu pháp, có thể cầm đũa mà ăn thịt súc sinh này.

Tôi biết có một số người ăn chay, ăn chay lâu ngày sẽ coi thường người ăn mặn, tâm lý này bắt nguồn từ tư tưởng "ăn chay vô tội, ăn mặn có tội". Bản thân mình ăn chay sẽ thường chê cười người ăn mặn, như vậy dần dần sẽ sinh tâm ngạo mạn. Vì thế người ăn chay trường, tự mình ăn chay nhưng không được phê bình người khác ăn mặn, đó là để dừng cái tâm ngạo mạn.

Cá nhân tôi không phản đối ăn chay trường, nhưng cũng không phản đối ăn mặn. Thượng sư chân chính có năng lực giết chết động vật, lại có năng lực đưa linh hồn của động vật đã giết chết đến tây phương Cực Lạc thế giới, có một số việc sát sinh là giết mà không vì chính mình, mà là vì cứu người mà giết, như vậy thì không có tội.

Ở New York có một đệ tử làm việc trong bếp của một nhà hàng gửi thư đến kể với tôi, mỗi ngày anh ta phải cắt rất nhiều sinh vật để nấu xào rán, cứ sát sinh không ngừng như vậy thì phải làm sao? Tôi dạy anh ta pháp Văn Thù vãng sinh này, lợi dụng quán tưởng, thủ ấn, chú ngữ để siêu độ những sinh vật này trước rồi sẽ tính tiếp. Đệ tử này ngoài kỹ năng làm việc trong nhà bếp ra thì không thể làm công việc gì khác.

Tuy nhiên, nếu mang tâm tư lợi mà sát sinh thì đó là phạm giới, đây cũng là giới lớn của Mật tông. Sát sinh và không sát sinh, ăn chay và ăn mặn này, đạo lý trong đó đều là sự khác biệt rất nhỏ, giả sử có thể phân biệt được thì cũng xem là có một ngộ cảnh rồi. Ngoài ra, người tu chứng khai ngộ và người chưa tu chứng khai ngộ, giữa hai người này cũng có sự khác biệt, những điều này cũng rất quan trọng.

Viết bài kệ để ghi nhớ bài viết này: Sắc thái chay mặn khá hỗn mờ Ông nói bà nói đều có lý Nay tôi thuật lại vãng sinh pháp Độ hóa tất cả đến Tây phương.

16. Pháp Lục Độ Mẫu dễ tương ứng

Lục Cứu Độ Mẫu, trong Mật tông Tây Tạng, là một vị Đại Bồ Tát cứu độ thế gian. Những người tu theo Mật tông Tây Tạng, đặc biệt là nhiều hành giả nữ, đều tu trì pháp Lục Độ Mẫu. Ngài ngự trên tòa sen trắng, theo lời thề gốc của ngài, là hóa thân từ giọt nước mắt bi mẫn của Quan Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara) khi ngài thương xót chúng sinh, vì vậy ngài là hiện thân của lòng từ bi tột cùng.

Pháp tướng của Lục Độ Mẫu là một mặt hai tay, hai tay đều cầm hoa sen, thân màu ngọc bích, thanh tú tuyệt trần. Chân phải của ngài duỗi xuống, biểu thị sẵn sàng ứng cơ cứu độ chúng sinh, pháp tướng của ngài như người mẹ hiền, luôn sẵn sàng cứu độ con cái của mình. Tay phải của ngài tựa trên đầu gối phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài, kết ấn ban nguyện và cầm hoa sen, biểu thị nguyện ước ban tặng hoa sen cho khắp thiên hạ.

Tay trái cầm hoa sen nở rộ, trên đó lại có hai đóa sen, một đóa chưa nở, một đóa nở một nửa, tất cả đều biểu thị sự nương tựa vào lời nguyện của Phật pháp trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Lục Độ Mẫu đội vương miện Ngũ Phật nhỏ trên đầu, được trang hoàng bằng châu báu, toát lên vẻ cao quý trang nghiêm phi thường, thân tỏa ánh hào quang cầu vồng, đẹp đẽ phi thường.

Trong Mật tông Tây Tạng, Lục Độ Mẫu có 21 hóa thân. Bạch Độ Mẫu và Lục Độ Mẫu được gọi là chị em. Ngài là một vị Đại Bồ Tát đáng được người tu Mật tông tôn kính, là vị dễ thân cận nhất, cũng dễ được tương ứng nhất. Có người cả đời chuyên tu pháp Lục Độ Mẫu và đạt được trí tuệ lớn. Chúng sinh chỉ cần chí thành chí kính niệm danh hiệu của ngài, trì tâm chú Lục Độ Mẫu, tu hành tự nhiên sẽ đắc quả.

Người tu Mật pháp không được quên tứ quy y, mặc giáp hộ thân, tứ vô lượng tâm, đại lễ bái, đại cúng dường, đây là những điều phải làm hoặc tụng niệm trong mỗi lần tu pháp. Sau khi vào mật đàn, làm xong những điều trên, có thể kết thủ ấn, tay phải lòng bàn tay hướng ra ngoài là ấn ban nguyện, tay trái lòng bàn tay hướng vào trong là ấn cầm sen.

image

Khi quán tưởng, trước tiên quán tưởng tòa sen màu trắng, di chuyển đến đỉnh đầu của mình tại Phạn huyệt, phóng tỏa ánh sáng trắng vào khắp thân thể, trừ khử tất cả bệnh tật nghiệp chướng từ vô thủy đến nay, tất cả ma nạn chướng ngại đều được tiêu trừ không còn sót lại, đó chính là ánh sáng trắng của Bổn tôn Lục Độ Mẫu, tiêu trừ hết nghiệp chướng nhiều đời, dù là xuất thế gian hay nhập thế gian, tất cả trí tuệ thần thông, phúc lộc thọ v.v... đều có thể đạt được, tất cả đều thành tựu.

Tiếp đến quán tưởng Lục Độ Mẫu hóa thành một điểm ánh sáng thanh tịnh, từ huyệt đỉnh đầu đi vào, đến tâm của mình (trên hoa sen trong tâm). Cuối cùng quán tưởng Lục Độ Mẫu ngồi trên hoa sen trong tâm mình, bản thân hợp nhất với Bổn tôn, đạt đến ý nghĩa "nhập ngã" hòa nhập, mình trở thành Bổn tôn, nhập vào Tam ma địa của Bổn tôn.

Sau khi quán tưởng xong, tay lần tràng hạt, tụng tâm chú Lục Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha" 108 biến hoặc càng nhiều càng tốt.

Cuối cùng, dùng pháp minh điểm nội hỏa, khiến Lục Độ Mẫu trong tâm mình phóng ra ánh hào quang cầu vồng, hào quang này được tạo thành từ sự bùng cháy của nội hỏa, đạt đến trạng thái hợp nhất Tam ma địa. Lúc này trong đại định tĩnh tọa, nếu đạt đến cảnh giới hợp nhất, chính là nhập Tam ma địa, đây tức là trở lại biến thành Bổn tôn, tướng đẹp quang minh.

Pháp Lục Độ Mẫu vốn là pháp từ bi nhất, thì ra là pháp dễ tương ứng nhất, bản nguyện của ngài lấy lợi tha làm trọng, vì vậy hai tay đều cầm hoa sen, trong đó có hoa sen chưa nở, nở một nửa và nở toàn bộ, biểu thị rằng ai ai cũng có thể thân cận và tu học pháp này. Nếu tu học theo pháp này, thì lục độ vạn hành, tất cả nhân quả đều được bao hàm trọn vẹn, tất cả Phật pháp thông một là thông tất cả.

Tu trì pháp Lục Độ Mẫu có ba điều thù thắng sau:

  1. Chuyển hóa tự tâm, đạt đến tâm từ bi cứu độ thế gian, chuyển thành tâm bồ đề bất sinh bất diệt.
  2. Từ đây minh tâm kiến tianh, tịnh độ chính là cõi Thường Tịch Quang.
  3. Tất cả phúc huệ thế gian đều có thể thành tựu, trước nương vào tướng mà được phúc báo thế gian, sau lìa tướng mà được tịnh độ xuất thế gian.

Tôi cho rằng, chư Phật Bồ Tát đều phổ độ chúng sinh, tu bất kì pháp nào cũng có công đức như nhau, nhưng nguyện lực của Lục Độ Mẫu là một pháp từ bi đặc biệt. Vị Bồ Tát đại từ bi này, những kẻ làm điều ác (ngoại trừ phản thầy là đại nghịch bất đạo), đều có thể quy y học pháp này, và đều được cứu độ. Nói chung, ngoại trừ kẻ phản bội thầy và những người nghiệp chướng quá nặng không thể cứu độ, những người khác đều được cứu độ, đây chính là nguyện lực của Lục Độ Mẫu.

Người tu pháp Lục Độ Mẫu, cuối cùng sẽ được mật hiệu là Chính Pháp Kim Cang và Thanh Tịnh Kim Cang. Nguyên do là vì đã quán sát các pháp, được tự do tự tại, ban tặng tất cả công đức cho chúng sinh, giúp nhiều người thoát khỏi biển khổ, đạt được an lạc, tu pháp đến cực điểm, tỏa sáng vô cùng đẹp đẽ.

Ở đây còn có một điều bí mật, những ai muốn kiếp sau được xinh đẹp, tu pháp Lục Độ Mẫu sẽ được xinh đẹp. Chúng ta có thể quán tưởng thân vô lượng quang của Lục Độ Mẫu, tướng bạch hào giữa chân mày, đủ bảy màu báu, tỏa ra tám vạn bốn nghìn loại ánh sáng, ngồi trên hoa sen trắng, tay cầm hoa sen đỏ, dung nhan trang nghiêm đẹp đẽ như vậy, thật hiếm có trên đời.

Xin viết một bài kệ: Thân xanh như ngọc trong như băng Nghìn sen tỏa sáng thoảng hương lắng Pháp thân rạng rỡ đẹp nghiêm trang Tu pháp này thông ba cõi thăng.

17. Đại Phạm Thiên Vương có bí mật có con

Thái Lan có một vị thần rất nổi tiếng, đứng tại trung tâm thành phố Bangkok, chính là Thần Bốn Mặt. Và vị Thần Bốn Mặt này và vị Phật Bốn Mặt chính là Đại Phạm Thiên Vương.

Chủ ý của Đại Phạm Thiên là thanh tịnh, ngài là chủ thần trong Bà-la-môn giáo, cũng là chúa tể sáng tạo ra trời đất. Trong Phật giáo, Đại Phạm Thiên Vương này chính là thiên chủ của cõi Sơ thiền Sắc giới thiên. Thần Bốn Mặt của Thái Lan nổi tiếng thiên hạ, thật ra cũng chính là Đại Phạm Thiên Vương nổi tiếng thiên hạ.

Đệ tử của tôi là cư sĩ Lâm Trung Bôi đi Thái Lan cũng đặc biệt thỉnh về một bức pháp tướng của vị Đại Phạm Thiên Vương này, thờ cúng ở trong mật đàn của tôi. Nói chung, Đại Phạm Thiên là chủ của thiên giới, có thể nói là cha của chúng sinh, khi vị trời này vui, thế giới loài người sẽ cực kì yên ổn, khi vị trời này tức giận, thế giới sẽ có rối loạn, chúng sinh cũng sẽ không yên. Nghe nói Đại Phạm Thiên Vương lúc vui lúc giận chi phối những biến động và tai nạn lớn của đời người.

Trong kinh Đại Nhật có ghi chép pháp tướng của ngài là: "Đại Phạm Thiên Vương đội mũ miện, ngồi trên bảy cỗ xe, bốn mặt bốn tay. Tay phải thứ nhất cầm hoa sen, tay phải thứ hai cầm chuỗi hạt, tay trái thứ nhất cầm gậy, tay trái thứ hai làm ấn chữ Om (tức là ấn cát tường)."

Nhưng hình tượng của vị Phật Bốn Mặt của Thái Lan là bốn mặt tám tay, pháp tọa cũng hơi khác. Vị mà tôi thờ cúng trong nhà ngồi trên pháp đài, một chân buông xuống, còn pháp tọa của Phật Bốn Mặt thì cũng có khi là cưỡi voi, không cố định giống nhau.

Trong pháp Yết ma bằng tiếng Pali, tôi đọc được một bí mật, điều bí mật này là: "Chúng sinh vốn được hóa sinh ra từ một ý nghĩ một hơi thở của Đại Phạm Thiên Vương, ngài là cha của chúng sinh, vì thế, phàm là người cầu con trai con gái, phải tu trì pháp của Đại Phạm Thiên Vương, trì chân ngôn Đại Phạm Thiên Vương, quán tưởng Đại Phạm Thiên Vương, kết thủ ấn Đại Phạm Thiên Vương thì sẽ có được con."

Theo như tôi biết, Đại Phạm Thiên Vương có 15 vị quỷ vương, chuyên môn hộ trì pháp này, danh xưng của các vị đó như sau: 1. Di Thù Ca Quỷ; 2. Di Già Vương Quỷ; 3. Khiên Đà Quỷ; 4. A Ba Tất Ma La Quỷ; 5. Ma Chí Ca Quỷ; 6. Ma Tri Ca Quỷ; 7. Diêm Mê Ca Quỷ; 8. Ca Mê Ni Quỷ; 9. Ly Bà Địa Quỷ; 10. Phú Đa Na Quỷ; 11. Man Đa Nan Đề Quỷ; 12. Xá Cửu Ni Quỷ; 13. Kiến Thứ Ba Ni Quỷ; 14. Mục Khư Man Đồ Quỷ; 15. Lam Ba Quỷ.

Tu trì pháp này cần thờ cúng Đại Phạm Thiên Vương, và viết tên của 15 vị quỷ vương ở xung quanh Đại Phạm Thiên Vương, dâng lên món ăn ngon, hoa thơm tươi đẹp, đèn quang minh và sữa để cúng dường. Trong đó, người cầu con phải cúng hạt cải.

Tu pháp như sau: Tu trì pháp này tốt nhất là vào giờ Tý ngày 15 tháng 8 âm lịch hoặc ngày 15 của các tháng âm lịch khác. Phụ nữ phải tắm gội thay quần áo, dâng lên tất cả cúng dường, lễ bái Đại Phạm Thiên Vương, xưng niệm tên của Đại Phạm Thiên Vương 15 vị quỷ vương, mỗi vị xưng 3 lần. Người tu trì nhập đàn, tay kết ấn Đại Phạm Thiên Vương.

Ấn Đại Phạm Thiên Vương là:

image

Tức là tay trái ngón cái và ngón trỏ làm thành vòng tròn, các ngón tay khác thì giơ thẳng, giữ thủ ấn cao hơn vai mình. Tay phải cầm vài hạt cải để lên đỉnh đầu mình ở trong tóc.

Lúc này lập tức quán tưởng pháp tướng của Đại Phạm Thiên Vương, tướng mạo trang nghiêm như Phật, mỗi tay trái phải đều cầm pháp khí, biểu thị dựa theo pháp của ngài có thể đắc thành tựu viên mãn, có thể được như ý nguyện.

Lại quán tưởng tim của Đại Phạm Thiên Vương phóng ra ánh sáng màu lam rất mạnh chiếu vào những hạt cải, hạt cải biến thành một bé trai hoặc bé gái mà mình kỳ vọng. Và bé trai hoặc bé gái này hóa thành ánh sáng màu lam, lại đi đến trên hạt cải trên đỉnh đầu mình, từ lỗ đỉnh đầu đi vào trong thân thể mình. Quán tưởng này cực kì quan trọng.

Quán tưởng xong xuôi thì lập tức thôi kết thủ ấn, niệm: "Tan-chi-tha. A-ka-lua. Ka-ninh-na. Ka-ka-ninh. Bô-lâu-li-chư-li. Ka-bô-li. Bô-li-bô-li. Pu-li-pu-li. Lua-cha-mi. Xiêu-lua-pi. Chưa-lua-pi. Bô-thua-ni. Sha-ni. Bô-lua-hưa. Na-yi. Mi-na-yi. Sô-ha." Niệm chú này 49 biến.

Tu trì pháp này, nam nữ không có con cầu con thì đều được như ý nguyện.

Thật ra Đại Phạm Thiên Vương cũng là một vị thiên thần mãn nguyện tài phúc, một người có thể giành được sự yêu thích của Đại Phạm Thiên Vương thì chắc chắn sẽ được Đại Phạm Thiên Vương ban phúc, may mắn cũng sẽ lớn giống như của cõi trời.

Phật Bốn Mặt Đại Phạm Thiên Vương của Thái Lan nổi tiếng thế giới, chủ yếu nằm ở linh cảm của ngài. Như hiện tại, thành phố sòng bài Las Vegas ở Mỹ có một sòng bài đặc biệt đặt một vị Đại Phạm Thiên Vương Bốn Mặt đến đến trấn thủ cổng chính của sòng bài, cho rằng Đại Phạm Thiên Vương có thể ban may mắn cho họ.

Thế nhưng đó là sự vô tri của con người thế tục, sòng bài thờ phụng Đại Phạm Thiên Vương, giả sử Đại Phạm Thiên Vương tức giận thì Las Vegas kia coi như xong rồi. Người thế tục không cách nào hiểu được mục đích của Đại Phạm Thiên Vương - thiên chủ của Sơ thiền này.

Để tôi viết một bài kệ tặng Đại Phạm Thiên Vương: Phạm Vương Bốn Mặt ở Thái Lan Sơ thiền thiên chủ pháp thành tựu Tiên cảnh mỹ cảnh người vui sướng Có pháp cầu con khỏi buồn phiền.

18. Phật Thích Ca Mâu Ni là Bổn tôn tiêu nghiệp

Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của Phật giáo. Bốn chữ "Thích Ca Mâu Ni" có nghĩa là bậc thánh sinh ra trong dòng họ Thích Ca, ngài đản sinh vào ngày mồng 8 tháng 4 dưới cây Vô Ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni.

Phật Thích Ca Mâu Ni, tên là Tất Đạt Đa [Siddhartha]. Khi thành đạo ngài 35 tuổi, trước tiên độ cho năm anh em Kiều Trần Như, sau đó độ cho ba anh em Ca Diếp, rồi tiếp tục độ cho nhiều vị quốc vương và đệ tử khác. Ngài thường qua lại thuyết pháp giữa các nước Ma Kiệt Đà, Câu Tát La và Tỳ Xá Ly. Vào khoảng 80 tuổi, ngài nhập Niết bàn dưới hai cây sa la bên bờ sông Bạt Đề.

Trong Yết Ma pháp bằng tiếng Pali, tôi được biết Phật Thích Ca Mâu Ni vốn là vị Vua Công Đức Bạc Già Phạm Ứng Chính Đẳng Giác, tức là giáo chủ của thế giới Ta Bà. Trong Mật pháp, Phật Thích Ca Mâu Ni lại chính là Bổn tôn sám hối tội chướng tiêu nghiệp chướng, đây là điều bí mật mà nhiều đệ tử Phật môn không biết.

Có rất nhiều người xuất gia và đệ tử Phật môn biết nhiều phương pháp tiêu nghiệp chướng, nhưng họ không biết rằng thần chú của Phật Thích Ca Mâu Ni lại chính là bí mật lớn để tiêu trừ nghiệp tội cực nặng. Phần lớn đệ tử chỉ biết giáo chủ Phật giáo khi còn tại thế đã truyền lại Phật pháp kết tập thành mười hai bộ Tam Tạng kinh điển, là kho tàng văn hóa phương Đông, mà không biết đến bí mật lớn này.

Phật Thích Ca Mâu Ni, trong hai bộ mandala của Mật giáo, ở Thai Tạng Giới lấy Thích Ca Mâu Ni làm chủ tôn, còn ở Kim Cương Giới thì đứng cùng với Bất Không Thành Tựu Phật. Theo "Kinh Đại Nhật" có viết: "Thích Ca Mâu Ni, toàn thân màu vàng ròng, đầy đủ hào quang của ba mươi hai tướng tốt, khoác cà sa màu kiền-đà, ngồi trên hoa sen trắng, Ứng thân thuyết pháp."

Trong Yết Ma pháp bằng tiếng Pali, tôi được biết Phật Thích Ca Mâu Ni có rất nhiều pháp bí mật, trong đó bí mật lớn nhất chính là tiêu nghiệp chướng. Có rất nhiều người hỏi tôi phương pháp nào tiêu nghiệp chướng tốt nhất, vì có quá nhiều pháp tiêu nghiệp chướng nên rất khó trả lời ngay được, thế nên tôi đành trả lời thẳng là tu pháp Thích Ca Mâu Ni Công Đức Vương!

Pháp này, tôi xin trình bày chi tiết như sau:

Hai tay kết ấn Phật Thích Ca Mâu Ni: Ngón cái, ngón giữa và ngón út dựng thẳng lên trên không. Ngón trỏ và ngón áp út cong vào lòng bàn tay, hai tay chắp lại.

image

Vào đàn, ngồi yên kết ấn quán tưởng. Phật Thích Ca Mâu Ni ngự tại chính giữa phía trước, thân sắc vàng ròng, tay phải ấn đất, tay trái kết định ấn, trên định ấn nâng bát chứa đầy cam lộ, thân khoác tam y của người xuất gia, tướng mạo viên mãn trang nghiêm, hào quang trong suốt, thân thể như lưu ly, ngồi trên tòa sen trắng trong ánh sáng cát tường nhập định.

Lúc này quán tưởng nước cam lộ trong bát cam lộ hóa thành một luồng ánh sáng trắng, bay lên không trung, tạo thành một vòng cung rồi hạ xuống nơi mình đang tĩnh tọa, ánh sáng trắng từ đỉnh đầu rót vào, khiến mình ngồi yên trong vùng ánh sáng trắng bao phủ.

Do được ánh sáng trắng quán đảnh, nghiệp chướng màu đen từ khắp thân thể tuôn ra, tan biến vào không khí, quán tưởng như vậy có thể tiêu trừ tội chướng của vạn kiếp trong quá khứ.

Kết thúc quán tưởng. Sau đó trì tụng đại chân ngôn tiêu nghiệp của Phật Thích Ca Mâu Ni 108 biến.

Chân ngôn như sau: "Na-mô na-ta-la-sư-chi-ni. Ta-tha-ưa-tô-yê. A-la-hưa-ti san-meo-chi san-mây-thua-yê. Ta-ninh-tha. Ôm la-ta-ni la-ta-ni. Su-la-ta-ni. La-ta-nu-na pô-wây-mô-hưa. La-ta-na chư-la-ni. La-ta-na san-pô-wây. Sô-ha."

Mỗi khi tu pháp này, tụng 49 biến hoặc 108 biến. Tu pháp như vậy có thể tiêu trừ tội chướng của vạn kiếp.

Ngoài ra, có nhiều người thích nhờ tôi xem nhân quả ba đời, muốn hỏi để biết rõ về tiền kiếp của mình. Tuy nhiên, tôi xin nói với mọi người rằng, người tu trì pháp Thích Ca Mâu Ni Công Đức Vương này, chẳng bao lâu có thể đạt được túc mệnh thông, những tiền kiếp của mình sẽ hiện ra rõ ràng trước mắt, như xem phim vậy, lập tức hiểu rõ nhân quả tiền kiếp, nhờ tu pháp này mà tiền kiếp của mình sẽ sáng tỏ.

Chúng ta là đệ tử Phật, hiểu về Phật Thích Ca Mâu Ni như sau: "Phật hiệu còn có Nhân Tịch Mặc, là thái tử của nước Ca Tỳ La Vệ [Kapilvastu] thời Ấn Độ cổ đại, phụ thân tên là Tịnh Phạn [Śuddhodana], mẫu thân tên là Ma Da [Maya Devi], vì cầu chân đạo mà xuất gia. Ngài đản sinh vào năm 623 trước Công Nguyên, xuất gia năm 29 tuổi, thành đạo năm 35 tuổi, thuyết pháp khoảng 45 năm, giảng kinh hơn 300 hội, độ vô số trời người, nhập diệt khoảng năm 543 trước Công Nguyên, thọ 80 tuổi."

Người xuất gia ngày nay, do đã từ bỏ gia đình thế tục nên đã bước vào nhà của Pháp Vương, từ bỏ họ tục để mang họ Thích của Đức Thế Tôn. Đây là điều mà pháp sư Đạo An thời nhà Tấn đã đề xướng, và trong "Kinh A Hàm" cũng có nói: "Bốn dòng sông đổ về biển, không còn tên sông nữa; bốn họ xuất gia, đều gọi là dòng họ Thích." Đây chính là lý do vì sao đệ tử của Phật Thích Ca đều đổi sang họ Thích.

Điểm trọng yếu của pháp này nằm ở ánh sáng trắng của nước cam lộ, tương đương với sự quán đảnh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Dùng ý nghĩa tối thượng của Phật quả, từ đỉnh đầu đi vào thân mình, có thể khiến công đức trở thành viên mãn. Đây đương nhiên là pháp bí mật tiêu trừ nghiệp chướng lớn nhất.

Tôi viết bài kệ: Nghiệp chướng còn vương kiếp hiện tiền Khiến lòng nhân thế lạnh như băng Dạy tu Mật pháp Thích Ca Phật Nguyện ước luân hồi thảy viên thành.

19. Pháp chân ngôn Nhân Vương hộ quốc

Khi tôi còn ở trong nước, Thượng sư của tôi từng chủ trì pháp hội Nhân Vương hộ quốc tiêu tai, và tôi đã từng ở bên cạnh phụ giúp. Thượng sư của tôi phụ trách bộ Mật đàn, nên tôi hiểu rất rõ về pháp này.

Thượng sư nói: "Pháp hội Nhân Vương hộ quốc tiêu tai là Mật pháp của Phật pháp để hộ trì quốc độ. Bởi kinh Phật có dạy rằng, nếu đời sau có các quốc vương kiến lập chính pháp, hộ trì Tam Bảo, tu pháp hội Nhân Vương hộ quốc tiêu tai, thì Pháp Vương sẽ khiến năm phương Bồ Tát - tức là Đông phương Kim Cang Thủ Bồ Tát, Nam phương Kim Cang Bảo Bồ Tát, Tây phương Kim Cang Lợi Bồ Tát, Bắc phương Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, Trung ương Kim Cang Ba La Mật Đa Bồ Tát - giáng lâm hộ trì quốc độ, khiến tất cả tai nạn đều xa lìa."

Thượng sư lại nói: "Ban đầu, vào thời nhà Đường, Bất Không Tam Tạng tụng chân ngôn Nhân Vương hộ quốc, từng khiến người đương thời nhìn thấy Tỳ Sa Môn Thiên Vương dẫn đầu thiên binh giáng hạ. Vào thời đó, hoàng đế đã hạ lệnh, trên mỗi tòa thành lầu đều thờ phụng pháp tướng của Thiên Vương, dạy người dân dâng hương lễ bái."

Thượng sư lúc đó bảo tôi: "Pháp này là đại pháp hộ thế, khi quán tưởng, cần biến thân mình thành Kim Cang Ba La Mật Đa Bồ Tát, ngồi trên hoa sen trắng, thân màu vàng kim, các chuỗi dây đeo quý báu trang nghiêm khắp thân, đầu đội mũ báu Ngũ Phật, ấn tướng là hai lòng bàn tay đối nhau, hai ngón út co vào lòng bàn tay, hai ngón cái mỗi bên đè lên hai ngón trỏ thành vòng tròn. Thủ ấn đặt trước ngực."

image

Khi đã biến thân mình thành Kim Cang Ba La Mật Đa Bồ Tát, liền triệu thỉnh ngũ phương Bồ Tát giáng lâm. Trước đàn, đặt bản đồ quốc gia, năm vị Bồ Tát hóa thành năm đám mây ngũ sắc, bảo hộ quốc độ, phương Đông là mây xanh, phương Nam là mây đỏ, phương Tây là mây trắng, phương Bắc là mây đen, trung ương là mây vàng, năm đám mây cát tường này bảo hộ trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia." Thủ ấn và quán tưởng được thực hiện đồng thời. Khi xả ấn thì tụng chân ngôn Nhân Vương hộ quốc:

"Na-mô la-ta-na ta-la-yê-yê. Na-mô a-li-yê phây-lu-chưa-na-yê. Ta-tha-pua-tô-yê a-la-hưa-tưa. San-meo-san-mây-thua-yê. Na-mô a-li-yê. San-man-tô pa-la-na-yê. Mu-tơ sa-ta-pô-yê. Mô-hưa-sa ta-pô-yê. Mô-hưa-ka-lu-ni-ka-yê. Ta-ni-yê-tha. Chư-rang-na pô-la-ni-bi. Ưa-cha-yê-chuy-sư. Pô-la-ti pô-na-pô-ti. Sa-pô mây-thua pô-lu-chư-tơ. Uy-ua pa-li-ni sư-pa-ninh. Zen-pi-la nu-la-pô-ưa-xi. Ti-li yê-thưa-pô. Pa-li-ni sư-pa-ninh. Mu-tơ-chư-tua san-rưa-na-ni. Sa-pô-pi sai-ka bi-sưa-chi-tơ. Ta-mô sua-ưa-la san-pu-tơ. A-mu-ka sư-la-pô-ninh. Mô-hưa san-man-tô pa-na-la-pu-mi. Niê-li-yê-tơ. Wây-yê-chê-la-nu. Pa-li-pô la-pô-ni. Sa-pô-xi-thua. Na-mô sai-chi-li-ti. Sa-pô-mu-tơ sa-ta-pô. San-rưa-na-ni. Pô-ưa pô-tơ. Mây-thua-mơ-tơ. A-la-nai ka-la-nai. A-la-nu ka-lai-nai. Mô-hưa-pô-la. Chư-rang. Pô-la-mi-tơ sô-ha."

Theo cách thực hành pháp này, tất cả nghi quỹ đều trang nghiêm long trọng. Vị Thượng sư hành pháp trước khi thực hiện cần tắm rửa thay y phục, mặc pháp y mới, và phải ăn chay giữ giới bảy ngày. Nghiêm khắc hơn nữa, toàn quốc đều phải ăn chay một tuần. Tâm của Thượng sư là khởi tâm đại bi nguyện độ thoát vô biên chúng sinh.

Đặc biệt các vật phẩm cúng dường phải thanh tịnh thơm tho. Trước tiên tụng "Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", sau đó kết thủ ấn quán tưởng, cuối cùng mới trì chân ngôn. Chân ngôn phải tụng 108 biến.

Thượng sư của tôi đặc biệt dặn dò như sau: Mật đàn của pháp hội Nhân Vương hộ quốc tiêu tai, ngoài việc thờ phụng Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát ở chính giữa, bên trái phải thờ Đế Thích Thiên (Ngọc Hoàng Đại Đế), bên phải là Phạm Ma Thiên. Ngoài ra ở bốn mặt, phối cúng mười sáu vị thiện thần.

Tên của mười sáu vị thiện thần là: Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Tồi Phục Độc Hại Thiện Thần, Tăng Ích Thiện Thần, Sư Tử Uy Mãnh Thiện Thần, Dũng Mãnh Tâm Địa Thiện Thần, Nhiếp Phục Chư Ma Thiện Thần, Năng Cứu Chư Hữu Thiện Thần, Ly Nhất Thiết Bố Úy Thiện Thần, Cứu Hộ Nhất Thiết Thiện Thần, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Bạt Trừ Tội Khổ Thiện Thần, Năng Nhẫn Thiện Thần, Hoan Hỷ Thiện Thần, Trừ Nhất Thiết Chướng Nạn Thiện Thần.

Điểm trọng yếu thứ nhất của pháp này là thường tu kết hợp cả Hiển và Mật. Về phần Hiển giáo là tụng đọc "Kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa", còn phần Mật giáo thì cần quán tưởng quốc thổ cùng với năm đám mây cát tường, đồng thời kết ấn Nhân Vương hộ quốc. Có thể thỉnh 108 vị pháp sư Hiển giáo, còn Thượng sư Mật giáo thì ba vị hoặc năm đến bảy vị.

Điểm trọng yếu thứ hai là pháp này thường được tu tập theo nhóm, hiếm khi tu một mình. Khi trì chú, cần chú ý những chỗ cần nhấn mạnh, phải tụng với âm cao ở những chỗ cần nhấn mạnh như "chống ngoại xâm", "phát ra sấm sét". Còn những chỗ cần tụng trầm thì phải tụng với âm thấp như "tiêu tai giải nạn", "hóa thành bình an".

Pháp Đại Du Già trong Mật pháp không chỉ tu tập phước báu nhỏ nhoi cho cá nhân, mà là để đạt được đại tự tại, vượt thoát sông sinh tử. Không những thế, còn có thể cứu quốc độ dân, nhiếp hóa chúng sinh trong cõi Ta Bà. Đại Mật pháp vô thượng như vậy mới thực sự là báu vật kim cương, mới chính là đại bi nguyện cứu quốc độ dân.

Để tôi viết thêm một bài kệ: Thập lục thiện thần hộ thánh thành Kim Cang Ba La độ nhân gian Pháp này đại mật hợp chúng lực Núi sông lãnh thổ thề trả hoàn.

20. Dược Xoa Đại Tướng ẩn thiên nhãn

Trong Yết ma pháp bí mật, có một phương pháp chuyên tu luyện thiên nhãn thông, đây là một pháp môn vô cùng giá trị, được gọi là pháp thần thông thiên nhãn của Dược Xoa Đại Tướng. Trước đây, nhiều người đã hỏi tôi làm thế nào để tu luyện thiên nhãn thông? Tôi chưa từng chính thức trả lời, hôm nay gặp được nhân duyên lớn, tôi sẽ công khai hoàn toàn pháp môn bí mật này trong cuốn sách này.

Theo đó, có mười hai vị Dược Xoa Đại Tướng, là những vị Yết ma thần được hóa hiện để đáp ứng mười hai đại nguyện của Dược Sư Như Lai. Mười hai vị Yết ma thần này có pháp lực thần thông không thể nghĩ bàn, và lời thề nguyện năm xưa là:

"Bạch Thế Tôn, chúng con nay nhờ oai lực của Phật Đà, được nghe danh hiệu Dược Sư Như Lai, không còn sợ hãi đường ác. Chúng con cùng nhau, đồng một tâm nguyện, cho đến trọn đời, quy y Tam Bảo, thề nguyện gánh vác tất cả chúng sinh, tạo lợi ích an vui."

Các đệ tử Phật thông thường đều biết rằng mười hai vị Dược Sư Thần Tướng là những vị hộ pháp thần của mười hai thời trong ngày đêm, trên đầu đội mũ mười hai chi, là những vị thần tướng cứu độ nhân gian. Nhưng tôi lại biết rằng, Dược Xoa Đại Tướng tuần du thiên hạ, thần thông biến hóa vô cùng to lớn, đặc biệt người tu thiên nhãn thông cần phải biết bản địa của Dược Xoa Đại Tướng chính là mười hai vị Đại Bồ Tát, tu thiên nhãn theo cách này dễ thành tựu nhất.

Muốn tu pháp này, cần phải cúng dường tượng Dược Xoa Đại Tướng, không cần phải cúng dường cả mười hai vị, chỉ cần cúng một vị, tay cầm pháp khí là mâu thương. Trước tượng Dược Xoa Đại Tướng này, thiết lập đàn tràng vuông vức, trên đàn cúng bốn bình mật ong, cùng với các cúng phẩm như hương thoa, hương bột, hương đốt và các phẩm vật khác.

Ở phía trước đàn vuông bốn hướng, đặt thêm một lò Hộ Ma, trong lò đặt than củi, đốt các loại hương liệu danh tiếng trong đó, rồi lại bỏ hạt cải vào lò đốt để cúng dường.

Khi ngồi thiền quán tưởng, tay phải kết ấn Dược Xoa Đại Tướng: Tay phải nắm lại thành quyền, ngón cái cong vào lòng bàn tay, bị ngón giữa, ngón áp út và ngón út đè lên, còn ngón trỏ thì uốn cong như móc câu, đây chính là thủ ấn của Dược Xoa Đại Tướng.

image

Sau khi kết thủ ấn thì quán tưởng, mâu thương mà Dược Xoa Thần Tướng cầm trong tay phóng ra một đạo hào quang trắng, lấp lánh như rắn, chớp như điện quang, chiếu thẳng vào con mắt thứ ba của mình, tức là vị trí thiên tâm. Đạo hào quang này lóe sáng liên tiếp mười hai lần, mỗi lần đều như tia chớp xuyên vào con mắt thứ ba của mình.

Ý nghĩa của sự quán tưởng này là dùng pháp khí mâu thương để khai mở con mắt thứ ba của mình, đây chính là pháp khai thiên nhãn.

Sau khi quán tưởng như vậy xong, liền tụng chú: "Na-mô put-ta-yê. Na-mô ta-mô-yê. Na-mô sâng-kya-yê. Na-mô pa-la-han mô-yê. Na-mô yin-ta-la-yê. Na-mô chưa-chu-nan. Mô-hưa-la-tu-nan. Ta-chư-tha. Sư-li-sư-li. Mi-li mi-li chi-li. Mô-hưa-chi-li. Chien-thua-li. Mô-hưa chien-thua-li ta-lua-mi-chư. Mô-hưa ta-lua-mi-chư. Tan-thu chuy-choen-ti. Ha-ha-ha-ha-ha. Sư-sư-sư-sư-sư. Hu-hu-hu-hu-hu. Han-luy-tan-mi chuy-than-mi. Chưa-chưa-chưa-chưa. Chư-chư-chư-chư. Chu-chu-chu-chu. Chan-thu-sưa-pô-lua. Sư-chê-la. Sư-chê-la. Wa-ti-sưa-tha-sư. Pao-ka-fan sâng-sân-ơ-yê. Sô-ha."

Trì tụng thần chú này 108 biến, mỗi lần tụng xong một biến trước lò Hộ Ma thì đốt một hạt cải, tụng đủ 108 biến thì đốt 108 hạt cải.

Pháp này có cách tu tập bao gồm cúng dường nước và cúng dường lửa. Về cúng dường lửa Hộ Ma, cần phải có Thượng sư chân chính hướng dẫn vì nghi thức Hộ Ma khá phức tạp. Nếu có thể thành tâm kiên trì tu trì pháp này, cho đến khi Dược Xoa Đại Tướng hiện thân. Bất kể Ngài hiện thân như thế nào, Dược Xoa Đại Tướng đều sẽ hỏi hành giả Mật tông: "Ngươi cần gì?". Hành giả Mật tông không nên cầu xin điều gì khác, chỉ cầu xin con mắt thứ ba là đủ. Dược Xoa Đại Tướng sẽ đưa tay xoa nhẹ thiên tâm của bạn, bạn sẽ đột nhiên cảm thấy có một tia sáng như điện chiếu vào, lúc đó là đã thành tựu con mắt thứ ba.

Nếu thiên nhãn đã khai mở, sẽ vô cùng lợi ích cho việc tu tập về sau, vì có thể thấy được những điều người khác không thể thấy. Thấy được tất cả quỷ thần, biết được mọi cử chỉ hành động của người khác, không việc gì có thể giấu được thiên nhãn. Khi tu thiên nhãn đến mức vi diệu nhất, có thể thấy được tất cả thiên cung, thậm chí cả những cảnh tuyệt diệu của Tây phương Cực Lạc thế giới đều thu vào tầm mắt.

Hành giả Mật tông khi đắc thiên nhãn, có thể nói là tự tại vô ngại, đoạn trừ phiền não của thế gian, đã được giải thoát, đạt đại thành tựu, bởi vì đã có được con mắt sáng suốt, tất cả đều rõ ràng minh bạch.

Khi viết bộ Yết ma pháp này, tôi đã nhận được sự ủng hộ lớn lao từ chư Phật Bồ Tát, đây là một nhân duyên lớn để Bạch Liên Hoa Đồng Tử cứu độ thế gian, có thể nói là đã gieo trồng một thiện căn to lớn như vậy cho chúng sinh hữu tình nơi trăm nghìn cõi Phật. Trong tất cả Mật pháp mà tôi giảng dạy đều không rời ba pháp "Ấn - Chú - Quán", nhưng điều quan trọng hơn là người tu phải thực hành để chứng đắc. Tất cả các pháp đều cần có lòng kiên trì, tất cả các pháp đều cần có Thượng sư chỉ dạy, từng bước thấu hiểu, từng bước hành trì theo nghi quỹ. Tu tập như vậy, chắc chắn sẽ có chư Phật Bồ Tát và Dược Xoa Minh Vương hiện thân, có thể đạt được thần thông tự tại giải thoát.

Yếu nghĩa của Mật pháp này không rời ba điểm chính: Thứ nhất, phải hiểu rõ nghi thức và nghi quỹ cung thỉnh. Thứ hai, phải hiểu rõ mục đích tu pháp là để chấm dứt sinh tử. Thứ ba, phải hiểu rõ có những lợi ích gì, tập trung vào một mục tiêu.

Tôi viết kệ rằng: Dược Xoa Đại Tướng được lưu ly Thiên nhãn chiếu hiện Yết ma kỳ Tu pháp tại điện hoa rực rỡ Sớm tối hiện thân đến hỏi thăm.

21. Bí quyết của pháp hàng phục

Trong pháp Yết ma văn bản tiếng Pali có giải thích tỉ mỉ kĩ càng rất nhiều bí quyết của pháp hàng phục, nhưng tôi đã ngẫm nghĩ rất lâu rất lâu, những pháp hàng phục này thật sự không tiện công khai trên sách. Pháp hàng phục này tôi chỉ truyền dạy cho Kim cương Thượng sư của Chân Phật Tông, các đệ tử quy y khác chưa đạt đến cảnh giới của Thượng sư thì không tiện học, cũng không tiện truyền.

Hiện nay, Chân Phật Tông đã có nhiều vị Kim cương Thượng sư đứng ra truyền pháp, tương lai Thượng sư Chân Phật Tông sẽ càng nhiều, sẽ có trên 200 vị Kim cương Thượng sư. Các vị Kim cương Thượng sư này là do tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, trao chứng thư Acharya, ở bên ngoài đảm đương trọng trách truyền pháp.

Do e sợ pháp hàng phục bị lưu manh lợi dụng, cho nên tôi không tiện truyền ra ngoài, nhưng trong bản văn này, tôi giới thiệu sơ lược một chút: "Pháp hàng phục, hành giả quay mặt về hướng Nam, còn Kim Cang Thần quay mặt về hướng Bắc. Thân ấn thông thường là chân phải đứng thẳng, chân trái hơi cong, chân phải đại diện cho chính mình, chân trái tượng trưng cho đối phương. Còn thân ấn thứ hai chính là dùng chân phải dẫm lên chân trái, thế ngồi xổm, quán tưởng chân phải là chính mình, quán tưởng chân trái là đối phương."

Ở trước tượng Bổn tôn Kim Cang Thần, thiết lập đàn thành hình tam giác nhọn, mặc pháp y màu xanh đen, dâng hoa quả màu xanh đen. Người tu pháp dùng tướng phẫn nộ để tu pháp, tức là môi dưới bặm lên môi trên, mắt liếc xéo và giương uy phẫn nộ, tu pháp từ ngày 24 cho đến cuối tháng, mỗi kỳ tu là bảy ngày. Tu pháp hàng phục thật ra không phải là hại người, mà là hàng phục độc long ác thú và hạng người xấu thầy xấu, rồi sau khi những người này hàng phục rồi, Thượng sư Mật tông lại tu pháp tiêu tai. Chú âm của pháp hàng phục là âm phá hoại "Hùm. Pan. Cha."

Tôi giới thiệu một loại thủ ấn nhập đàn như sau, đây là ấn hàng phục thôi phục.

image

Tay trái túm vào mép áo cà sa, tay phải đè lên mặt đất, đây là ấn hàng phục thôi phục, còn gọi là xúc địa kỳ khắc ấn, đây là một thủ ấn bí mật mà năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni dùng để hàng phục ba nữ thiên ma.

Quán tưởng pháp này là khi tay trái túm vào áo cà sa, tay trái túm vào áo cà sa tức là đại diện cho pháp chỉ quyền uy, còn tay phải duỗi năm ngón tay, hành giả Mật tông quán tưởng đối phương bị niệm lực nhiếp triệu đến trước mặt, sau đó thu nhỏ đối phương lại thành người tí hon, nhỏ như cây đinh dài ba đốt ngón tay, nằm bên dưới lòng bàn tay ở trước pháp đàn. Hành giả Mật tông đối diện với đối phương bằng vẻ mặt phẫn nộ, sau đó dùng sức mạnh vỗ bàn tay phải xuống, giống như là đập đối phương đã bị lôi đến trước mặt cho đến chết. Năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng xúc địa kỳ khắc ấn để mà đập như vậy, tức là đã đập cho ba nữ thiên ma ngã lăn ra đất không dậy nổi, không bò nổi.

Bí quyết của pháp hàng phục có ba:

  1. Chú âm. Từng chữ của chú âm đều là âm thanh phá hoại, người niệm phải dùng tâm phẫn nộ để niệm tụng, phải giống như cuồng phong bão táp, vừa nhanh vừa tức giận, gây chấn động. Âm thanh phải là bán âm, tức là vừa nhanh vừa sắc, như là "Hùm hùm hùm. Pan pan pan. Cha cha cha. Uân uân uân". Tôi không truyền toàn bộ câu chú, đợi đệ tử Chân Phật tu trì đến cảnh giới Thượng sư thì tôi sẽ truyền toàn bộ câu chú.

  2. Quán tưởng. Quán tưởng của pháp hàng phục, đầu tiên là biến chính mình thành Kim Cang Thần Tướng. Thứ hai là nhiếp triệu đối phương đến trước mặt mình, biến đối phương thành người tí hon như cây đinh dài ba đốt ngón tay. Thứ ba mới là dùng pháp để khắc phục họ. Quán tưởng này đều là dùng niệm lực để làm. Chính mình là Bổn tôn Kim cang, nhiếp triệu đối phương đến, một bàn tay đập cho đối phương bị thương hoặc chết. Hàng phục ác long ác thú là dùng pháp này, đối phó với ác nhân chỉ cần khiến cho họ bị thương nhẹ mà thôi.

  3. Thủ ấn. Hai loại thân ấn và một loại thủ ấn đòi hỏi phối hợp quán tưởng và thủ ấn. Với thân ấn mà nói, tự mình quán tưởng chân phải dẫm lên chân trái, tức là chính mình áp đảo đối phương. Chân phải đứng, chân trái cong, là chân phải khuất phục chân trái, có nghĩa là chính mình khuất đối phương. Đại bộ phận Kim Cang Thần đều là chân dẫm lên kẻ địch, đè cho kẻ địch không thể thở được, thế là xong. Còn bàn tay kết ấn thôi phục đập xuống đất, khi đập xuống thì đừng quá mạnh, vì đối phương nhận được cú đập này có khả năng sẽ bị đập chết, dùng pháp phải cẩn thận.

Ngoài ra, pháp hàng phục có rất nhiều mật pháp của pháp khí, ví dụ: pháp chày Yết ma, pháp chày chữ thập, pháp móc lưỡi rìu, pháp kim cang, pháp gậy, pháp kích ba chấu, pháp ngọn giáo, pháp khóa, pháp kiếm kim cang, pháp thừng kim cang, pháp lửa kim cang, pháp quyền kim cang, v.v… Những pháp khí Mật giáo với dụng cụ đặc biệt này đều có pháp đặc thù, hầu hết đều dùng để hàng phục thôi phục, một vị Kim cương Thượng sư chân chính nhất định phải hiểu rõ.

Trong cuốn sách này, tôi đều đã giấu đi chú dài, chú ngắn, tâm chú của pháp hàng phục, bởi vì tôi sợ rằng kẻ lưu manh có được pháp này sẽ đi ứng dụng. Đương nhiên Kim Cang Thần Tướng không thể dựa theo pháp chỉ để đi giúp đỡ kẻ ác làm pháp, nhưng có rất nhiều người học tà pháp, ví dụ Hắc giáo (đạo Bon), thì sẽ rất dễ dàng mời yêu ma quỷ quái đến hại người. Yêu ma quỷ quái đến hại người, đối với người bình thường mà nói, đã đủ nhiều rồi. Thế giới này là thời đại đen trắng đảo điên, vàng thau lẫn lộn, Hắc giáo bị Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hàng phục nhưng hiện tại lại tự xưng là Mật tông. Chao ôi! Buồn thay!

Viết một bài kệ vậy! Chính tà đen trắng lắm thị phi, Phật Tổ Thiên Ma trắng và xám, Thượng sư hàng phục may có pháp Chỉ mong tà ma biết thuận quy.

22. Hoa sen hiện trong Song Liên Trì

Một buổi chiều nọ, sau khi rửa chân, tắm rửa sạch sẽ, tôi thắp đàn hương và trang nghiêm ngồi trước tượng Phật Bồ Tát. Rất nhanh chóng tôi đi vào một trạng thái vi diệu, có một vầng nhật luân từ không trung hạ xuống, tôi cảm thấy niềm hoan hỷ tràn ngập khắp thân, từ thân phóng ra ánh sáng vàng vi diệu như lưới.

Ánh sáng của vầng nhật luân này hút tôi vào trong đó, và tôi ngồi trong vầng nhật luân, như thể nhật luân và tôi hợp làm một, tôi an tọa trong một vùng ánh sáng, diệu tướng biến khắp thân, hành trì Phật pháp thậm thâm. Trong thiền định, nhờ vào sức mạnh của ánh sáng vàng, tôi được đưa đến thế giới Ma Ha Song Liên Trì bên ngoài tam thiên đại thiên thế giới. Nơi ấy vô cùng rộng lớn và thanh tịnh, có vô số châu báu kỳ diệu trang nghiêm cõi giới đó, muôn loại hương hoa tỏa khắp nơi. Bạch Liên Hoa Đồng Tử ngự trên tòa cao, treo tán lọng, hương thơm ngào ngạt, chung quanh có thiên long hộ pháp, chư thiên rải hoa mandala đến cúng dường.

Lúc này, chư thiên thấy Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư đến, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, cùng nhau dâng hoa trời cúng dường. Trăm nghìn nhạc trời đồng thời tấu lên. Lúc này, trên không hiện ra các cõi Phật trong mười phương, từ mỗi cõi Phật trong mười phương hiện ra trăm nghìn ức đại từ tôn, đại từ tôn phát ra âm thanh lớn: "Nguyện Liên Sinh Kim cương Thượng sư, tại thế giới Ta Bà, độ hóa khắp tất cả chúng sinh đau khổ, đều khởi tâm từ bi bình đẳng, lấy chúng sinh làm niệm, diễn thuyết diệu pháp, nói diệu quang minh."

Lúc này, tại Ma Ha Song Liên Trì có mười tám đóa đại liên hoa nở rộ, và bên cạnh mỗi đóa đại liên hoa lại có năm trăm đóa sen, trên mỗi đóa sen có một đồng tử đứng, trong tay đồng tử lại cầm hoa sen. Trong cõi hoa sen này, có một đóa sen đỏ được thiên long dẫn đường, đến trước mặt tôi, đứng yên bất động, đồng tử trên hoa sen mặt như trăng rằm, chắp tay cung kính lễ tôi, nói rằng: "Sẽ đến phụ tá Bạch Liên Hoa Đồng Tử."

Thấy và nghe được như vậy, tâm tôi vô cùng hoan hỷ, bèn đáp: "Ngài là Hồng Liên Hoa Thượng Sư."

Vào lúc đó, tất cả chư Phật Bồ Tát, mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử, cùng tất cả thiên long đại chúng đều vô cùng hoan hỷ, tán thán chưa từng có. Họ cho rằng mười tám vị Đại Liên Hoa Đồng Tử ở cõi trời, với thân ứng báo của các ngài, cũng cùng nhau cứu độ chúng sinh ở cõi người, khiến cho chúng sinh đều đắc chính giác; khiến chúng sinh đều cầu chính pháp; khiến chúng sinh đều có thiện hữu; khiến cõi người có đạo tràng trang nghiêm; khiến chúng sinh đều được tương ứng; khiến từng chúng sinh thành Phật, cùng quy về Liên Sinh Phật địa.

Khi tôi từ Ma Ha Song Liên Trì xuất ra, từ nhật luân hạ tọa, xuất định, trong vòng một tuần sau đó, Hồng Liên Hoa Thượng Sư tìm đến, vừa gặp mặt như gặp người quen vậy. Tôi truyền dạy cho ngài đủ loại Mật pháp, ngài vừa học liền hiểu, vừa học liền thông, tương lai ngài sẽ trở thành một trong những vị Thượng sư, đây là một điềm báo lớn. Chân Phật Tông sẽ có 200 vị Thượng sư, những vị Thượng sư này đều đến từ cõi hoa sen ở Ma Ha Song Liên Trì.

Tôi cảm thấy, để đảm nhận vị trí một vị Thượng sư không phải là chuyện dễ dàng. Thứ nhất phải hiểu rõ túc mệnh của mình, phải tái hiện tất cả những gì đã tu học trong đời trước. Thứ hai phải tầm cầu chính pháp trong đời này. Thứ ba phải cầu pháp và thông đạt pháp; cuối cùng mới là chuyển pháp luân truyền pháp.

Hôm nay, Chân Phật Tông do Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư chuyển pháp luân trước tiên, các vị Thượng sư khác lần lượt theo sau. Những người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử là những chúng sinh có duyên phúc lớn, họ cung kính tu trì chính pháp, tin sâu cảnh giới Ma Ha Song Liên Trì, cúng dường Thượng sư, tôn trọng chính pháp, nhờ thiện căn ấy sẽ được sinh về thế giới Ma Ha Song Liên Trì.

Người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử sẽ được Kim Cang Dược Xoa cùng năm trăm quyến thuộc chư đại Bồ Tát thường xuyên đến hộ trì.

Người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử sẽ được thượng thủ Biện Tài Thiên, vô lượng chư thiên, Đại Cát Tường Thiên Nữ và chư quyến thuộc, cùng thần trên mặt đất, thần hoa quả, thần rừng, thần cây, thần sông núi, v.v... đều đến thủ hộ.

Người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử thậm chí tất cả quỷ thần đều đến ủng hộ, như quỷ tóc vàng, quỷ hút tinh khí, quỷ dũng mãnh, quỷ vai rộng, quỷ chuột sói, quỷ mương nhỏ, quỷ tức tối, quỷ tuần đêm, hết thảy các quỷ không những không làm hại hành giả, mà còn đến thủ hộ hành giả, khiến hành giả không gặp tai nạn nào khác.

Người tu trì pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử uy đức như mặt trời mọc, hành giả thường có đại quang minh chiếu sáng khắp nơi, không chỉ như đại nhật xuất hiện, đồng thời hồ sen lớn ở thế giới Tây phương Cực Lạc cũng tỏa ánh sáng vi diệu như mặt trời, tất cả hoa sen đều nở rộ.

Pháp tương ứng Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử của Chân Phật Tông cần được truyền bá rộng rãi trong thế gian này. Tất cả các vị Thượng sư và đệ tử đã quy y và thọ quán đảnh nên biết rằng nếu tu trì pháp này lâu dài sẽ có thể khai mở và diễn giảng các pháp môn khác, có thể tự lợi và lợi tha. Pháp này là đại pháp công đức vô biên, có thể tiêu trừ tất cả tội nghiệp, trừ các ác mộng, tất cả tà đạo yêu quái đều xa lánh, trong đời này tương ứng nhanh nhất.

Pháp Kim Cang Liên Hoa Đồng Tử được giải thích chi tiết trong sách "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp". Hành giả cần chú ý đến thủ ấn, chú ngữ và quán tưởng. Người tu pháp phải loại bỏ tạp niệm, chú tâm lắng nghe và hoằng pháp. Khi thấy Thượng sư diễn thuyết đại pháp tối thắng quang minh này, hãy xem như Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư đang an tọa nơi đây, sẽ được tất cả thiện báo, thảy đều viên mãn.

Viết một bài kệ về "Hoa sen hiện trong Song Liên Trì": Tây phương Cực Lạc còn có cõi Ma Ha Song Liên càng siêu việt Liên Hoa Đồng Tử đại pháp cứu Tu trì phổ biến vạn vạn năm.

23. Cát Tường Thiên Nữ đại cát tường

Theo mô tả của pháp sư Tính Khoan về cảnh tượng của Cát Tường Thiên như sau: "Vị thiên này được dịch sang tiếng Hán là Ma Ha Thất Lợi, Cát Tường Thiên Nữ, Công Đức Thiên, Bảo Tạng Thiên Nữ, v.v... Đây là một nữ thần có khả năng ban phúc đức cho chúng sinh. Theo "Kinh Kim Quang Minh" phẩm "Công Đức Thiên" ghi lại, Cát Tường Thiên trong đời quá khứ, vào thời Bảo Hoa Công Đức Hải Lưu Ly Kim Sơn Chiếu Minh Như Lai, đã gieo trồng các căn lành. Vì vậy, hiện nay ngài có thể khiến cho vô lượng trăm nghìn chúng sinh nhận được niềm vui ở bất kì nơi nào ngài nghĩ đến, nhìn đến hay đi đến. Nếu tín đồ có thể trì tụng Kinh Kim Quang Minh, cúng dường chư Phật, và dùng hương hoa, hương thơm, mỹ vị để cúng dường Cát Tường Thiên, đồng thời trì niệm danh hiệu của ngài và cúng dường đúng pháp, thì tín đồ đó sẽ được phúc báo về của cải vật báu."

Theo "Kinh Danh Hiệu Đại Cát Tường Thiên Nữ" có ghi: "Vị thiên này có mười hai danh hiệu là: Cát Khánh, Cát Tường, Liên Hoa, Nghiêm Sức, Cụ Tài, Bạch Sắc, Đại Danh Xưng Liên Hoa Nhãn, Đại Quang Diệu, Thí Thực Giả, Thí Ẩm Giả, Bảo Quang, Đại Cát Tường."

Theo truyền thuyết, cha của ngài là Long Vương Đức Xoa Ca, mẹ là Ha Lợi Đế Mẫu, và Tỳ Sa Môn Thiên được cho là anh trai của Cát Tường Thiên Nữ. Ngài có dung mạo tuyệt đẹp, thường trú tại Tối Thắng Quốc, ban phúc đức cho tất cả chúng sinh. Cát Tường Thiên Nữ bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, ở thành Hữu Tài của Bắc phương Tỳ Sa Môn Thiên Vương, cách thành không xa có một nước tên là Diệu Hoa Phúc Quang, trong đó có một cung điện thù thắng được tạo thành từ bảy báu, bạch Thế Tôn, con thường trú tại nơi đó."

Thì ra, Cát Tường Thiên Nữ đã từng phát lời nguyện rằng: "Phàm ai cung kính Thế Tôn và thường niệm đến ta, ta sẽ hồi hướng cho họ, khiến tất cả chúng sinh đều được an vui, đối với y phục, vật dụng sinh hoạt, vàng bạc, thất bảo, trân châu, lưu ly, san hô, hổ phách, bích ngọc v.v... đều không lo thiếu thốn."

Hình tướng của vị thiên này thân hình đoan chính, màu đỏ trắng, có hai tay và đeo các chuỗi vòng ngọc, vòng xuyến, bông tai, thiên y, mũ báu. Tay trái cầm báu vật như ý, tay phải kết ấn ban nguyện, hoặc ngồi hoặc đứng. Vị thiên này ở trong mandala Thai Tạng Giới, trong viện Hư Không Tạng, hầu cận bên cạnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Để tu trì pháp này, trước tiên lấy một tấm lụa do người con gái chưa lập gia đình dệt ra, dài một trượng bốn thước [khoảng 4,25m]. Ở giữa vẽ tướng Cát Tường Thiên Nữ, bên trái vẽ tướng Phạm Ma Thiên tay cầm gương báu, bên phải vẽ tướng Đế Thích Thiên, phía sau vẽ núi báu, trên trời vẽ mây năm màu cát tường, trên mây vẽ voi trắng sáu ngà, vòi voi phun ra các loại báu vật, rót xuống không trung phía trên Cát Tường Thiên Nữ.

Người tu trì pháp này, trước tiên cúng dường Cát Tường Thiên Nữ, dùng bát cúng, ngũ cúng để cúng dường, mật đàn cần phải thanh tịnh. Khi tu pháp phải tắm rửa sạch sẽ rồi vào đàn, dâng lễ cúng dường, ngồi thẳng lưng, tay kết ấn Cát Tường Thiên: Hai tay chắp lại, để rỗng lòng bàn tay, duỗi thẳng hai ngón trỏ và ngón giữa, hai ngón áp út hơi cong, hai ngón cái và hai ngón út dựng thẳng và chạm vào nhau.

image

Kết ấn Cát Tường Thiên, nếu muốn cầu tiền bạc châu báu, chỉ cần quán tưởng các báu vật từ vòi voi rơi vào lòng bàn tay mình. Nếu muốn trừ mọi tai họa, lấy 1080 cành lựu quết mật ong, mỗi cành trì một biến chú, dùng lửa vàng mã đốt, trì 1080 biến cho đến khi 1080 cành cháy hết thì tai họa được trừ, không cần kết ấn. Cầu châu báu và trừ tai họa đều phải trì chú.

Chú ngữ như sau: "Pô-li fu-lâu-na. Chưa-li san-man-tô. Ta-sưa-ni. Mô-hưa bi-hưa lua-ka-ti. San-man-tô. Bi-tô-ni na-ka-ti. Mô-hưa ka-li-pô-ti. Pô-bô-mi sa-bô-tua-hâu. San-man-tô. Xiêu-pô-li-fu-li. A-yê-na ta-mô-ti. Mô-hưa bi-gu-pi-ti. Mô-hưa mi-lưa pô-sâng-chi-ti. Xi-ti-xi. San-pô chi-xi-ti. San-man-tô a-tô. A-nâu pô-lô-ni." Cầu châu báu, tụng chú 108 biến; cầu trừ tai họa, tụng chú 1080 biến.

[Lưu ý: sau này Sư Tôn đã truyền thụ tâm chú của Cát Tường Thiên Nữ như sau: Ôm ma-ha sê-li-ya sô-ha.]

Tôi nghĩ rằng việc cầu xin Đại Cát Tường Thiên Nữ ban phước lành không phải là điều khó, bởi vì Đại Cát Tường Thiên ở bên cạnh Tỳ Sa Môn Thiên ở phương Bắc, rất gần với thế giới loài người, nên dễ dàng được cảm ứng. Một điều đặc biệt khác là Đại Cát Tường Thiên Nữ rất yêu thích sự thanh tịnh, mật đàn của ngài phải thật sạch sẽ, không được có bất kì vật dơ bẩn nào, pháp tướng và pháp khí không được ô uế, ngay cả vải vẽ tượng cũng phải do người con gái chưa lập gia đình dệt ra, thì mới có thể "bố quang", bố quang nghĩa là giáng xuống.

Tôi nghĩ rằng Đại Cát Tường Thiên Nữ phù hợp hơn cho phụ nữ tu trì, không thực sự phù hợp với nam giới, bởi vì vị thiên nữ này hiện thân là nữ giới, có dung mạo phi phàm và tâm thanh tịnh, nam giới tu pháp dễ phạm giới. Tôi giải thích đặc biệt như vậy là vì những người tiếp nhận đạo pháp, mỗi người nên tu pháp theo căn cơ của mình, và pháp Đại Cát Tường Thiên Nữ phù hợp hơn cho phụ nữ tu trì. Sau khi tu trì pháp này, dung mạo sẽ vượt trội hơn nghìn vạn người, đây là pháp tốt đẹp, không chỉ có châu báu, mà còn được dung mạo xinh đẹp, cả đời không gặp tai họa, đây chẳng phải là pháp có lợi ích lớn hay sao?

Pháp môn bí mật nhanh chóng này, khi người nữ tu trì pháp Đại Cát Tường Thiên Nữ, tất cả đều được tốt lành. Tôi cũng có một phương pháp có thể biến vải lụa thông thường thành vải thanh tịnh nhất. Bởi vì người thời nay rất khó tìm được tấm lụa do người con gái chưa lập gia đình dệt ra, nên Cát Tường Thiên Nữ đã truyền dạy cho tôi một mật pháp, có thể biến vải bình thường thành vải thanh tịnh, sau đó mới thỉnh họa sĩ vẽ lên để cúng dường.

Pháp này vừa là pháp tăng ích vừa là pháp tiêu tai, Đại Cát Tường Thiên Nữ vốn là nữ thần đắc đạo rất sớm, từng theo Chiếu Minh Như Lai học Phật pháp, có công đức lớn, nên Cát Tường Thiên còn được gọi là Công Đức Thiên.

Tôi viết một bài kệ tán thán: Cầu tài làm thiện thêm công đức Thiên nữ thiên y đẹp rạng ngời Như tranh cúng dường tùy ý nguyện Nữ nhân tu hành gặp nữ tiên.

24. Tôi thường dạy chú vãng sinh

Bác gái của tôi là người xuất gia, khi còn sống, bác đã xuất gia tại Thiên Tự ở Tân Hóa, Đài Nam. Bác rất chăm chỉ trì chú vãng sinh, bởi vì bác tin rằng trì chú vãng sinh chắc chắn sẽ vãng sinh.

Trong Phật giáo lan truyền rộng rãi một câu chuyện. Vào thời kỳ Thiên Gia, núi Lư Sơn có một vị là Trân thiền sư, khi nhập định, ông đã nhìn thấy mấy trăm người cùng lên một chiếc thuyền pháp đi về phía Tây, Trân thiền sư yêu cầu những người ở trên thuyền pháp thất bảo nhân tiện chở ông ấy đến Tây phương. Nhưng người trên thuyền nói Trân thiền sư tuy đã giảng được Kinh Niết Bàn, có định lực bất khả tư nghì, nhưng Trân thiền sư lại chưa trì tụng Kinh A Di Đà và chú vãng sinh, cho nên không thể chở ông ấy cùng về Tây phương được.

Vị Trân thiền sư này nghe vậy, sau khi xuất định, lập tức dừng giảng kinh, ngày đêm chuyên tụng Kinh Di Đà và niệm chú vãng sinh. Khi niệm chú vãng sinh được 20.000 biến thì trong thiền định nhìn thấy thần nhân gửi đến một tòa hoa sen màu trắng, đồng thời còn nói rằng, nếu pháp sư thọ chung viên tịch thì hãy ngồi trên tòa sen này vãng sinh đến nước Tây phương Cực Lạc A Di Đà Phật. Trân thiền sư liền biết công lực của Kinh A Di Đà và chú vãng sinh lớn như vậy, quyết định vãng sinh.

Vào lúc Trân thiền sư thọ chung, mọi người cũng nghe thấy trong không trung có thiên nhạc vang lên, khắp phòng tỏa hương thơm, mấy tháng không hết, Trân thiền sư đã vãng sinh rồi.

Chú vãng sinh có lợi ích gì? Nếu có người thường niệm chú vãng sinh, tụng đủ 200.000 biến, thì sẽ có hạt mầm của Phật sinh ra trong tim, nếu trì 300.000 biến, A Di Đà Phật sẽ thường trụ trên đầu người đó, ngày đêm đều bảo vệ người đó được an ổn, lúc lâm chung tự nhiên vãng sinh Phật quốc.

Cá nhân tôi khi tu trì Mật pháp độ âm, triệu thỉnh linh hồn người ngoại quốc đến trước đàn cúng của tôi, tôi thường trì chú vãng sinh, rồi thường dạy u linh niệm chú vãng sinh. Những u linh này niệm chú vãng sinh rồi nhất định sẽ cảm động A Di Đà Phật đến tương ứng, sẽ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới.

Tu trì pháp vãng sinh, tôi dạy mọi người như sau: Trước tiên thờ cúng Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, pháp tướng của ngài tốt nhất là một tay cầm hoa sen. A Di Đà Phật trong Kim Cương Giới là vị Phật của phương Tây, trong Mật giáo, ngài là một trong ngũ trí thuộc hệ Đại Nhật Như Lai, trú trong tam muội Tây phương Diệu quan sát trí. Trong Thai Tạng Giới ngài ở phía Tây của viện Trung Đài Bát Diệp. Bốn đại Bồ Tát của ngài là Kim Cang Pháp, Kim Cang Lợi, Kim Cang Nhân, Kim Cang Ngữ. Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn tịnh thổ lớn, cửu phẩm liên hoa sinh, có cảnh hai mươi lăm Bồ Tát đến nghênh đón, là một Phật quốc tịnh thổ rất thù thắng.

Tôi dạy người ta tu pháp vãng sinh vô cùng giản tiện, mọi người có thể tay kết thủ ấn mãn nguyện, tức là tay trái nắm vào áo cà sa, tay phải duỗi thẳng, lòng bàn tay ngửa lên trời.

image

Hành giả Mật tông trước tiên quán tưởng bảo tướng trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, sau đó tinh thần tập trung vào đài hoa sen trên tay của A Di Đà Phật. Nếu bạn thích đài hoa sen màu đỏ thì quán tưởng đài hoa sen màu đỏ phóng quang; nếu thích đài hoa sen màu trắng thì quán tưởng đài hoa sen màu trắng phóng quang; nếu thích đài hoa sen màu vàng thì quán tưởng đài hoa sen màu vàng phóng quang, dựa theo màu sắc hoa sen mà mình thích để quán tưởng.

Sau đó tiếp tục quán tưởng đài hoa sen đó bay lên không, từ trên tay của A Di Đà Phật bay đến trên tay phải của mình, trở thành hoa sen tương lai của chính mình, và đài hoa sen trên tay mình phóng quang.

Quán tưởng hoàn tất, liền sau đó trì chú vãng sinh: "Na-mô a-mi-tô-pô-yê tô-tha-ga-tô-yê. Tô-tây-ya-tha. A-mi-ni-tô pô-pi. A-mi-ni-tô si-tam pô-pi. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tê. A-mi-ni-tô pi-ka-ran-tô. Ka-mi-ni ka-ka-na. Chê-tô ka-ni sô-ha." Tổng cộng trì chú 108 biến. Sau đó là nhập thiền định.

Tôi cảm thấy nếu có người tu trì pháp này, một ngày hai lần hoặc một lần, liên tục và không gián đoạn, tất cả chúng sinh nhất định có thể vãng sinh đến nước A Di Đà Phật. Nếu muốn quy mệnh A Di Đà Phật, phải thường niệm danh hiệu hoặc trì tâm chú của A Di Đà Phật, hoặc tu Di Đà đại pháp, hoặc tu đại mật pháp chú vãng sinh mà tôi viết ra. Y theo thề nguyện của Phật thì rất dễ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới tịnh thổ.

Tôi cảm thán, A Di Đà Phật có pháp đại thuận tiện như vậy, một người tu một người đi, vạn người tu vạn người đi, tiếc thay chúng sinh sao lại không tin. Hôm nay tôi - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư ở tại đây, thay Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật làm một minh chứng lớn, Di Đà đại pháp, Di Đà vãng sinh pháp, Di Đà cưỡi hoa sen pháp đều là những pháp rất có công lực. Một người tu Mật, chỉ tu Tứ gia hành, sau đó tu Thượng sư tương ứng, cuối cùng tu Di Đà vãng sinh pháp, duy trì một ngày tu pháp một lần, vào ngày họ mệnh chung, chắc chắn vãng sinh, nếu không vãng sinh, Thượng sư Lư Thắng Ngạn tôi đây chịu trách nhiệm. Tôi đã liều mình đưa ra lời thề nguyện phân thân xả cốt mà nói như vậy, lẽ nào chúng sinh không tin sao?

Trí tính của A Di Đà Phật không sinh không diệt, bên trong chiếu bảo tướng của các pháp, bên ngoài chiếu căn cơ của chúng sinh, công đức của ngài vô lượng vô biên, ban lợi ích cho tất cả chúng sinh.

Viết một bài kệ: Tây phương Cực Lạc hồ hoa sen, Trí huệ vô biên như biển lớn, Pháp bao tiện lợi người ngợi khen Chuyên tu vững chắc là chính đạo.

25. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (1)

Nhiều người hỏi tôi: "Trong thế giới hiện tại, đâu là thật đâu là giả? Kể cả việc tu hành cũng vậy, có những người tự nhận mình đắc đạo, nhưng thực ra họ chưa thấu đạo, không hiểu đạo, và đa số người đời đều mù quáng tin theo. Một số người khác lại xem những tướng giả của mới khởi linh như là chân đạo, như vậy vừa hại mình hại người, phải làm sao đây? Lại có những người không hiểu rõ phương pháp tu hành, vậy làm sao họ có thể tu tập? Do đó chúng tôi xin hỏi Liên Sinh Thượng sư, tu hành đến trình độ nào mới được gọi là chứng đắc?"

Bản thân tôi biết rằng, trong thế giới này có rất nhiều bậc cao nhân, nhiều người tu luyện đã đạt đến cảnh giới rất cao, và mỗi người tu đạo đều có phương pháp tu luyện khác nhau. Chỉ riêng Phật pháp đã có tám vạn bốn nghìn pháp môn mà vẫn chưa bao quát hết, còn có nhiều pháp môn khác mà người đời không biết đến. Tuy nhiên, bất kể là phương pháp tu hành nào, nhất định phải tu luyện đến mức thật sự có thể tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính mới được gọi là đắc đạo. Thế nào là tự chủ sinh tử? Đó là tự tại như như, muốn sinh thì sinh, muốn tử thì tử, muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, đó chính là Như Lai "bất lai bất khứ". Thế nào là minh tâm kiến tính? Đó là khi chân tâm của mình hiển hiện, thấu tỏ tất cả, thực sự chứng ngộ chân tính, chứ không phải là giả tính của ý thức.

Tôi cũng cho rằng, một người tu đạo, có chứng đắc hay không, chỉ cần soi xét lương tri lương năng của mình là biết được. Cái tâm mà bạn tu luyện được đã ấn chứng với thiên tâm, ánh sáng mà bạn tu luyện được đã đi vào trong ánh sáng của bản thức vũ trụ, hòa nhập với nhau, ấn chứng lẫn nhau, hợp thành một thể. Đây chính là điều mà Phật pháp gọi là "nhập Tỳ Lô tính hải, nhập các hội ánh sáng chư Phật, được ánh sáng của mười phương chư Phật và của chính mình hòa hợp làm một". Điểm này vô cùng quan trọng. Tử quang mà bạn tu luyện được đi vào trong Mẫu quang, sự tương ứng này chính là sự ấn chứng vô lượng vô biên, hoàn toàn rõ ràng minh bạch trong tâm của chính mình.

Bản thân tôi chính là "Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê trong hải hội chư Phật". Khi tôi đi vào trong biển ánh sáng của chư Phật Bồ Tát, tất cả đều rõ ràng minh bạch, quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả đều thông suốt, cũng có nghĩa là tâm đã hoàn toàn thấu tỏ, đây chính là minh tâm kiến tính, đây chính là tự chủ sinh tử, đây chính là sự chứng đắc thấu suốt tất cả, chứng đắc này không phải chỉ có một chút cảm ứng nhỏ là có thể gọi là chứng đắc.

Chứng đắc nghĩa là bạn đã thành Phật, bạn chính là Phật, Phật chính là bạn, sự đại triệt đại ngộ này không phải là tự cao tự đại, mà là điều xác thực. Thực ra, người đạt được ấn chứng như vậy mới đủ tư cách làm Thượng sư, cũng chính là Hoạt Phật, nếu chưa đạt đến cảnh giới này thì không thể tự xưng là Hoạt Phật.

Hiện nay trong đời thường có nhiều Thượng sư chưa đạt đến cảnh giới này, vậy tại sao họ lại tự xưng là Thượng sư? Nếu vị Thượng sư đó hiểu được phương pháp tu hành, thông đạt nghi quỹ Mật tông chân ngôn, nhiệt tâm hoằng dương Phật pháp, biết rõ tất cả nghi quỹ truyền pháp, đôi khi, vị Đại Trì Minh Kim Cương Thượng sư đã chứng đắc có thể truyền quán đảnh cho người như vậy làm Thượng sư, vì thế Thượng sư được chia thành bốn cấp bậc:

  1. A Xà Lê - biết nghi quỹ, hành trì theo niềm tin, nhưng chưa thấu hiểu sự dung nhập.
  2. Đại A Xà Lê Da - đã thấu hiểu giáo lý.
  3. Kim Cương A Xà Lê - dùng trí tuệ để thành tựu tất cả Phật sự.
  4. Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê Da - nhập Tỳ Lô tính hải, đắc vô thượng trí, hoàn toàn đắc tâm kim cương.

Vì vậy, Thượng sư có người được Thượng sư nhân gian sắc phong, có người tự mình nhập Tỳ Lô tính hải được chư Phật hải hội quán đảnh sắc phong, hai loại này đều có sự khác biệt.

Hòa thượng Lư Thắng Ngạn Liên Sinh - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư là bậc đã thực sự nhập vào Tỳ Lô tính hải "Thái Hư Thanh Không Quang Minh Hải", hoàn toàn đạt được minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, và thanh tịnh vô nhiễm. Do đó, Thượng sư Lư Thắng Ngạn với tư cách là Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê, là một vị Kim cương Thượng sư chân chính, đã đắc được tâm pháp đại bí mật của tất cả chân ngôn mật tạng, không phải người thường có thể đo lường được, cũng không phải người trí tuệ kém cỏi có thể dò biết được. Vì vậy, Chân Phật Tông do Liên Sinh Thượng sư truyền thừa ngày nay là đại chính pháp, đại chính tông, đại chính phái duy nhất trên thế giới, cũng chính là đại minh pháp, vô thượng tông, vô đẳng đẳng phái.

Số chúng sinh đã được Liên Sinh Thượng sư truyền pháp quán đảnh không thể đếm xuể, và sau khi được Liên Sinh Thượng sư truyền thụ Mật pháp, cũng có rất nhiều vị được truyền quán đảnh Thượng sư. Chân Phật Tông có chứng chỉ Thượng sư, đã cấp phát cho rất nhiều vị, họ có thể truyền tất cả Mật pháp, truyền giới luật, giải thích tất cả giáo tướng và sự tướng Hiển Mật. Những vị Thượng sư này đã được quán đảnh A Xà Lê.

Trên thế gian này, quả thật có rất nhiều người tu đạo giả, và một số người tu đạo giả cũng tự xưng là đắc chứng, nhưng mắt cá với ngọc trai rất dễ phân biệt, kim cương thật với kim cương giả cũng rất dễ nhận ra, vàng thật với vàng giả đều rất dễ phân biệt. Như một vị Thượng sư chân chính nhất định phải thông hiểu các nghi quỹ rộng lớn, và bản thân đã đắc chứng, được truyền thừa chính thống, tất cả pháp sự đều tương ứng. Nếu là người giả đắc chứng, Thượng sư giả, chỉ cần vài ba câu là bị nhận ra ngay, dù có cố che giấu đuôi cáo thế nào cũng không giấu được.

Tôi mong rằng các độc giả hãy phân biệt kĩ càng giữa Thượng sư thật và giả, mọi người cũng cần phải chú ý đến những kẻ lừa đảo tiền bạc và sắc dục, những kẻ này thường mạo danh tông phái, dùng tên giả, lừa gạt mọi người quay như chong chóng, lãng phí thời gian tu hành một cách vô ích, hoặc dùng các pháp ma quỷ để lừa người, tất cả những điều này đều phải đặc biệt chú ý, đừng để bị mắc lừa.

Cần phải tìm một vị Kim cương Thượng sư chân chính, được truyền thừa chính thống, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh A Xà Lê chính là một vị Thượng sư đã đắc chứng, chúng sinh nương tựa suốt đời sẽ có hy vọng thành Phật.

26. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (2)

Có người hỏi, sự khác biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo là gì? Tại sao Mật giáo lại đặc biệt thù thắng như vậy?

Nói một cách đơn giản, Phật giáo Đại thừa có thể chia thành Hiển giáo và Mật giáo. Theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni, giáo pháp có lớn nhỏ nông sâu, dựa vào giáo pháp mà khởi hành, những lời dạy hiển lộ rõ ràng gọi là Hiển giáo. Còn theo lời Đại Nhật Như Lai, giáo pháp tức thân thành Phật, chỉ rõ chân ngôn, được bí mật truyền thụ trong đời sau, không ghi chép trong kinh điển, đó chính là Mật giáo.

Từ rất lâu về trước, Bồ Tát Di Lặc hỏi Phật: "Ngoài giáo pháp của ba thừa ra, còn có pháp nào khác không?" Thế Tôn đáp rằng: "Ta có Nội pháp bí mật của đại tam muội da, nương theo pháp bí mật này tu hành, có thể khiến hành giả Đại thừa mau chóng thành Phật." Vì vậy, pháp môn bí mật này chính là chỉ các pháp của Mật giáo.

Theo như tôi được biết, Mật tông thực ra chính là tông phái tu luyện Yoga, lịch sử của nó có từ trước thời Phật Thích Ca Mâu Ni, khoảng 6000 năm rồi. Những tông phái Yoga này cũng chia thành nhiều phái, khá phức tạp, trong đó có Yoga Chân ngôn, Yoga Kiền thành, Yoga Đại trí, Yoga Dung nhập, Yoga Luyện thân, Yoga Quân Đồ Lợi. Còn kinh "Du Già Thập Bát Hội" toàn bộ do Phật Tỳ Lô Giá Na thuyết giảng, Bồ Tát Kim Cang Thủ đích thân được truyền thừa, sau đó truyền pháp cho Long Mãnh, rồi truyền pháp cho Long Trí. Vào thời Khai Nguyên nhà Đường, ba vị Đại A Xà Lê là Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy, Bất Không đã hoằng dương hơn 1600 quyển kinh Mật tông.

Mục đích chính của Mật tông chính là nương theo pháp môn Đà-la-ni chân ngôn khẩu mật trong tam mật, tu trì diệu hành của ngũ tướng tam mật. Muốn thấu hiểu sâu sắc giáo tướng của Mật tông, có thể nghiên cứu kĩ các kinh điển sau: "Đại Nhật Kinh", "Đại Nhật Kinh Sớ", "Đại Nhật Kinh Nghĩa", "Kim Cương Đỉnh Kinh", "Kim Cương Đỉnh Kinh Nghĩa Quyết", "Kim Cương Đỉnh Kinh Phát Bồ Đề Tâm Luận", "Vô Úy Thiền Yếu", "Thập Trụ Tâm Luận", "Biện Hiển Mật Nhị Giáo Luận".

Vì sao Mật tông thù thắng nhất? Bởi vì mười tám hội của Yoga Bí mật vốn là đại pháp vi tế khó lường, căn bản không thể đo đếm được. Trong đó có "Vô tướng pháp", "Mật ấn pháp", "Hộ Ma lư đàn pháp", "Thiên Phật pháp luân pháp". Chỉ cần nương theo thân khẩu ý tam mật tinh tấn tu hành thì có thể đắc thành tựu, đó là nhân sâu quả xa vậy.

Trong "Phật Đỉnh Kinh" có nói rằng: "Từ Đà-la-ni này, sinh ra tất cả chư Phật trong mười phương, hàng phục các ma, chế ngự ngoại đạo, ngồi trên hoa sen báu, chuyển đại pháp luân trong vi trần, có thể sờ đầu thọ ký trong mười phương." Điều này nói rõ sự thù thắng của chân ngôn, lại nói: "Vô thượng Pháp Vương có đại Đà-la-ni, tên là Viên Giác, tuôn chảy ra tất cả thanh tịnh chân như, bồ đề, niết bàn và ba-la-mật, để giáo hóa chư Bồ Tát." Đây chính là sự thù thắng của đại Đà-la-ni.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni đang trong thời kỳ độ chúng sinh, Ngài đến gặp một vị vua và khuyên vua học Phật. Vua đáp rằng: "Học Phật pháp quá khổ, nếu có pháp môn nào có thể tức thân thành Phật thì mới muốn học." Phật Thích Ca Mâu Ni đã biết vua là người có căn cơ Mật tông, nên truyền Mật pháp cho vua. Vua lập tức minh tâm kiến tính và thành Phật. Lúc đó, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy đại chúng rằng: "Căn cơ Hiển giáo và căn cơ Mật giáo là khác nhau, đây là sự khác biệt lớn về nhân duyên." Phật độ chúng sinh tùy theo căn cơ, tùy duyên ứng hóa, nghĩa là tùy theo nhân duyên của mỗi người mà truyền pháp khác nhau. Tuy nhiên trong tất cả các pháp môn, đương nhiên Mật pháp thù thắng nhất là đại Mật pháp vô thượng.

Về nguyên tắc, Mật tông được chia thành ba loại chính là Trung mật, Đông mật và Tạng mật. Trung mật là dòng truyền thừa của ba vị Đại A Xà Lê Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy và Bất Không khi các ngài truyền Mật pháp tại Trung Hoa. Đông mật là khi Đại sư Không Hải của Nhật Bản sang Trung Quốc học pháp với A Xà Lê Huệ Quả, rồi trở về Nhật Bản hoằng dương Mật pháp tại núi Cao Dã [Koya], đây là dòng truyền thừa Đông mật. Còn về Tạng mật, đó là chỉ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hoằng dương Mật pháp tại Ấn Độ. Sau đó ngài được vua Tây Tạng thỉnh mời đến Tây Tạng, hoằng dương Mật pháp, phá trừ đạo Bon vốn có ở Tây Tạng, tức là Hắc giáo, từ đó Mật tông mới từ Ấn Độ truyền sang Tây Tạng. Mật tông Tây Tạng chia thành bốn tông phái lớn là Hồng giáo, Bạch giáo, Hoàng giáo và Hoa giáo. Pháp của Hồng giáo lấy pháp Đại Viên Mãn làm thù thắng nhất, pháp của Bạch giáo lấy pháp Đại Thủ Ấn làm thù thắng nhất, pháp của Hoàng giáo lấy pháp Đại Uy Đức Kim Cang làm thù thắng nhất, pháp của Hoa giáo lấy pháp Đại Viên Thắng Huệ làm thù thắng nhất.

Về nguyên tắc, "chân ngôn bí tạng" vốn là do chư Phật truyền thừa cho nhau, không phải người thường có thể hiểu được. Muốn học được pháp này, nhất định phải quy y một vị Kim cương Thượng sư chân chính, được trực tiếp truyền thừa, mới có thể nhận được ấn chứng "liên hoa bồ đề". Thời đại hoằng dương tôn giáo đã đến, hiện nay chúng sinh cũng rộng cầu Mật pháp, đây là thời đại hoằng dương Mật pháp. Tuy nhiên khi tôn giáo muốn hoằng dương, tà pháp nhất định sẽ xuất hiện quấy phá, vì vậy Hắc pháp lại xuất hiện. Người học Mật pháp ngày nay cần phải nghiên cứu phân biệt đại đạo chính tà, phân biệt được Mật tông chân chính và Hắc giáo giả mạo, để người học Mật về sau không lạc vào đường tà.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ năm xưa đã phá trừ Hắc giáo ở Tây Tạng, ngày nay Hắc giáo lại mạo danh Mật tông. Dù cho Tu La Ma Vương có thần thông dời núi lật biển cũng không thể thay đổi được lịch sử Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phá trừ Hắc giáo ở Tây Tạng năm xưa. Đặc biệt là vị Thượng sư minh nhãn Kim Cương Thượng Sư Hồng Quán Thánh Miện, diễn bày đại Mật pháp, không nói nhị thừa, dùng ngòi bút chính nghĩa vạch trần sự tà ác của Hắc giáo (đạo Bon). Chúng sinh có muốn mê tín mà không tìm về chính đạo chăng?

Kim Cương Thượng Sư Hồng Quán Thánh Miện Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Tôn Giả hiện nay thị hiện thân kim cang trượng lục [Trượng lục, trong Phật giáo, là chỉ chiều cao tiêu chuẩn của thân hóa Phật, khoảng một trượng sáu thước, quy đổi sang đơn vị đo lường hiện đại khoảng 5,33 mét. Thuật ngữ này cũng thường được dùng để chỉ tượng Phật hoặc thân Phật.] an tọa trên biển tính kim cang, hóa thân trên đài sen bách bảo, thị hiện nghìn tay nghìn pháp, chuyển đại pháp luân Vô thượng mật và Đại thủ ấn, hiện nay pháp Đại thừa đã truyền xuống, thiên hạ đều kinh động, thế nhân đều đến quy y, quần ma cũng nhảy múa, pháp môn Yoga tam mật qua sự tuyên thuyết của tôi như vậy, hy vọng một số người học Tiểu thừa hôm nay sẽ phát lộ sám hối, người học tà pháp Hắc giáo sẽ phát lộ sám hối. Đây là đại tương ứng của pháp đại vi diệu, tôi là người truyền ngọn đèn pháp mạch của Yoga đại giáo.

27. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (3)

Rất nhiều người hỏi tôi, tu theo Chân Phật Tông thì cách bày đàn như thế nào, phương pháp bày đàn của Mật tông là gì? Nhiều người muốn thiết lập mật đàn, nhưng không biết cách bố trí?

Tôi xin trả lời như sau: Mật đàn tốt nhất nên đặt trong phòng nhỏ thanh tịnh, nên chọn nơi tàng phong tụ khí để thiết lập đàn. Cái gọi là nơi tàng phong tụ khí là nơi có hai bức tường làm "sa thủ", bức tường đối diện với đàn thành không được có cửa sổ hay cửa ra vào, bức tường đặt đàn phải vững chắc, phía trên không có lỗ hổng, phía dưới cũng không có lỗ hổng, như vậy khí sẽ không bị thất thoát.

Tượng Phật trên mật đàn, đương nhiên lấy Bổn tôn của mình làm chính, ví dụ nếu tu pháp Quan Âm, thì lấy Quan Thế Âm Bồ Tát làm chủ tôn của mật đàn, nếu tu pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, thì có thể thờ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm chủ tôn. Tượng Phật có thể được chạm khắc bằng gỗ, đất, vàng, đồng đều được, nếu dùng tranh giấy cũng được, dùng tranh vẽ hải hội của chư Phật Bồ Tát cũng rất tốt.

Có một số cách thờ cúng trên mật đàn hơi khác nhau: Có người thờ cúng chú ngữ (chú luân), đây gọi là pháp Mandala. Có người thờ cúng thủ ấn và pháp bảo, đây gọi là Samaya Mandala. Có người thờ cúng tượng Bổn tôn Phật hoặc Bổn tôn Kim Cang, đây gọi là Yết Ma Mandala. Có người thờ cúng nhiều hơn, là tranh vẽ hải hội của chư Phật Bồ Tát, tất cả Kim Cang, đây gọi là đại Mandala.

Cá nhân tôi cho rằng, về mặt thờ cúng nên lấy Bổn tôn của mình làm chủ tôn. Ở bên phải có thể thờ tượng của Thượng sư truyền thừa của mình, ở bên trái có thể thờ một vị Kim cang Hộ pháp, như vậy vừa đủ ba vị. Số lượng Phật Bồ Tát thờ cúng nên dùng số dương tốt hơn, như một, ba, năm, bảy vị. Bên phải mật đàn có thể đặt kinh điển, còn bên trái có thể đặt tháp.

Về cúng phẩm được chia thành ngũ cúng và bát cúng. Ngũ cúng chính là hoa, hương, đèn, trà, quả. Bát cúng là dùng tám bát hoặc cốc, bày trước tượng Phật, từ phải sang trái. Bát thứ nhất đặt một vỏ ốc biển; bát thứ hai đặt một quả; bát thứ ba đặt bột hương; bát thứ tư đặt một ngọn nến; bát thứ năm cắm ba nén trầm hương không đốt; bát thứ sáu, nếu theo Hồng giáo, đặt năm bông hoa trắng, nếu theo Bạch giáo, đặt năm bông hoa đỏ (có thể dùng hoa thật hoặc hoa nhựa); bát thứ bảy đựng nước thơm (nước tắm, tức là nước sạch thêm bột xà phòng); bát thứ tám đựng nước sạch hoặc nước sôi.

Bát cúng có thể bày thành một hàng hoặc hai hàng. Nếu bày hai hàng, hàng trước dùng để cúng Phật Bồ Tát, hàng sau dùng cho hành giả quán tưởng biến hóa. Hoa, trầm hương, vỏ ốc biển nếu không đặt ngay ngắn, có thể đặt gạo ở dưới bát. Cúng phẩm cần thay hàng ngày là: trái cây, nước thơm, nước sạch hoặc nước sôi. Các cúng phẩm khác có thể thay khi nào muốn thay cũng được. Phía trước bát cúng, đặt thêm lư hương và lư đốt trầm hương, hai bên đặt đèn.

Nói chung, tình hình bày trí mật đàn cơ bản như vậy.

Thượng sư Mật tông giải thích ý nghĩa của bát cúng: hai loại nước tượng trưng cho nước công đức; hoa tượng trưng cho bố thí; hương tượng trưng cho trì giới; đèn tượng trưng cho nhẫn nhục; bột hương tượng trưng cho tinh tấn; quả tượng trưng cho thiền định; vỏ ốc biển tượng trưng cho như ý; hương đứng tượng trưng cho trí tuệ.

Khi cúng dường, điều quan trọng nhất cũng là quán tưởng. Hãy biến một hàng cúng phẩm thành một mặt phẳng, rồi biến thành nhiều như núi, tràn đầy khắp vũ trụ mười phương. Bài tán cúng dường là: Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật Trân quý kỳ diệu bao công đức Nguyện cùng chúng sinh chứng bồ đề.

Sau khi hoàn tất quán tưởng cúng dường, tụng chú gia trì: "Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi."

Theo hiểu biết của tôi, một người muốn cầu đời sau giàu sang, chỉ cần biết cách thiết lập mật đàn, biết cách quán tưởng cúng dường, tụng chú cúng dường, người đó đời sau chắc chắn sẽ được giàu sang, đây là nhân quả của đầy đủ tám cúng phẩm, bởi vì chỉ cần có cúng dường, chắc chắn sẽ được giàu sang.

Ngoài ra có người hỏi tôi, ngoài tám cúng phẩm này, còn cần cúng dường gì nữa không? Điều này tùy thuộc vào từng vùng khác nhau. Trước đây, Mật giáo còn cúng dường sữa, sữa đặc, bơ sống, bơ chín, bơ tinh chế, mật ong, v.v… Còn nếu chúng ta muốn thể hiện sự tôn kính đặc biệt, có thể cúng dường mật ong, sữa bò, bánh, kẹo, v.v… Đôi khi có thể dâng cúng những món quý giá mà mình ưa thích, không chỉ là thức ăn, thậm chí cả những đồ trang sức quý giá mà mình ưa thích, đều có thể cúng dường.

Sự cúng dường mà các Thượng sư Mật tông coi trọng nhất là cúng dường tâm và cúng dường sinh mạng. Dâng hiến trọn vẹn trái tim và thời gian sống của cả một đời mình cho chư Phật Bồ Tát, đó là sự cúng dường quý giá nhất.

Các Thượng sư của Mật tông đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời của mình. Vì độ chúng sinh, các ngài từ bỏ những niềm vui riêng, chịu đựng mọi khổ đau, giúp tất cả chúng sinh đạt được an lạc và định tâm, xóa bỏ phiền não của chúng sinh, trừ nghiệp chướng cho chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh trong thiên hạ đều được giải thoát, nhanh chóng chứng đắc quả vị Phật Bồ Tát. Đây là sự cúng dường sinh mạng thù thắng nhất, là sự cúng dường tâm vĩ đại nhất.

Người tu trì pháp cúng dường sẽ đạt được thành tựu vĩ đại như thế, đây là đại pháp thù thắng nhất của Mật tông. Dòng truyền thừa Chân Phật Tông có rất nhiều bí mật vô thượng, có thể thực sự cứu độ chúng sinh, điều này đã được các Thượng sư bảo chứng. Chỉ cần mọi người tu tập theo từng bước, đạt được tương ứng, chứng nhập Tam ma địa, bảo đảm tu tập vững vàng sẽ thành tựu vững vàng, có thể tức thân thành Phật!

Mọi người hãy thực tu theo thứ tự, tôi bảo đảm rằng tất cả sẽ đạt được thành tựu, nhất định không uổng công.

28. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (4)

Tại sao phải tu tập pháp tương ứng Thượng sư? Tu tập pháp tương ứng Thượng sư sẽ mang lại những công đức gì? Pháp tương ứng Thượng sư có quan trọng không? Pháp tương ứng Thượng sư có lợi ích gì?

Tôi đã từng nói, tu hành của Chân Phật Tông bắt đầu từ bốn pháp gia hành, tiếp theo là pháp tương ứng Thượng sư, sau đó tu pháp Bổn tôn, rồi tu pháp Kim cang, cuối cùng mới tu Vô thượng mật, đây là thứ tự thành tựu trong tu tập. Vì tu tập theo trình tự như vậy mới là phương pháp tối ưu, nếu không sẽ là vượt cấp. Việc vượt cấp, ngoại trừ những người có căn cơ đặc biệt lớn, tất nhiên sẽ đánh mất tính nguyên tắc của pháp tu, một khi đánh mất tính nguyên tắc, đương nhiên không thể đi sâu, tự nhiên sẽ không thể tu thành tựu được.

Mười bốn giới luật chính của Mật tông, điều thứ nhất là không tôn kính thân khẩu ý của Thượng sư. Tôi giải thích như sau: Vì Thượng sư đại diện cho Phật truyền pháp, là Tam Bảo hợp nhất, Mật giáo coi Thượng sư là quy y đầu tiên, thường ngày xem Thượng sư như Phật. Vì vậy, đệ tử trước khi quy y, cần phải tìm hiểu kĩ về Thượng sư, tránh trường hợp quy y rồi lại hối hận, dẫn đến không tôn kính thân khẩu ý của Thượng sư. Đã quy y rồi thì phải tôn kính, coi trọng Thượng sư, như vậy mới có công đức, mới có thành tựu trong Phật pháp. Nếu phỉ báng, sẽ phạm vào điều thứ nhất trong "Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo", sẽ đọa vào địa ngục kim cang.

Mật tông đặc biệt coi trọng dòng truyền thừa và rất coi trọng Thượng sư, đặc biệt là khi Thượng sư đã có gia trì, tất cả đệ tử nhờ nhận được sự gia trì của Thượng sư mới có thể đạt được đại thành tựu. Vì bản thân Thượng sư là một vị thầy đã chứng đắc, nên sự gia trì của Thượng sư giống như sự gia trì của Phật. Mục đích của việc tu tập pháp tương ứng Thượng sư là để nhận được lực gia trì của Thượng sư, lực gia trì của Thượng sư chính là lực gia trì của Phật, không có sự phân biệt nào giữa hai lực này.

Chính vì vậy, mỗi hành giả Mật tông đều phải tôn kính Thượng sư của mình, có niềm tin vào Thượng sư của mình, chỉ có tu tập như vậy mới được tương ứng. Nếu có lòng nghi ngờ, thì ngay từ khi quy y đã là sai lầm, đó là do không hiểu tầm quan trọng của sự truyền thừa trong Chân Phật Tông, do không hiểu biết về Mật tông, đây là phạm vào giới luật đầu tiên, vô cùng quan trọng, vô cùng quan trọng.

Người sáng lập và là Căn bản Thượng sư của Chân Phật Tông chính là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh A Xà Lê, vốn là hóa thân của Bạch Y Chủ Tôn Liên Hoa Đồng Tử từ Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc giáng sinh xuống trần gian, là vị Bồ Tát tái sinh theo nguyện lực để độ chúng sinh. Pháp thân của Liên Sinh Thượng sư chính là Bạch Y Chủ Tôn Liên Hoa Đồng Tử, về căn bản không có sự phân biệt. Các đệ tử tu pháp tương ứng Thượng sư nếu muốn vãng sinh Tây phương, hãy hồi hướng vãng sinh Tây phương, khi mạng chung chắc chắn sẽ được sinh về Tây phương, bởi vì Ma Ha Song Liên Trì chính là Tây phương Cực Lạc. Muốn sinh về Tây phương, tu trì pháp tương ứng Thượng sư chắc chắn sẽ vãng sinh Tây phương. Liên Sinh Thượng sư và Tây phương A Di Đà Phật về căn bản có nhân duyên chặt chẽ sâu sắc, không có sự khác biệt.

Tu tập pháp tương ứng Thượng sư sẽ mang lại công đức vô lượng! Không chỉ nhận được sự gia trì từ linh quang của Thượng sư mà còn có thể vãng sinh về Tây phương Cực Lạc, đây chẳng phải là công đức không thể nghĩ bàn, vô lượng vô biên hay sao? Về nguyên tắc, Liên Sinh Thượng sư đã tu trì chứng đắc, bình đẳng không hai với Phật, Liên Hoa Đồng Tử còn thị hiện vô lượng vô biên ứng hóa thân, thông suốt tất cả Vô thượng mật của Mật tông, thấu hiểu tất cả đại trí tuệ nhập thế gian và xuất thế gian, có thể nói là đã viên thông cả Hiển giáo lẫn Mật giáo. Vì vậy, tu pháp tương ứng Thượng sư, chỉ cần đạt được tương ứng với Thượng sư, nhất định sẽ khai mở trí tuệ ngay lập tức, nhất định có thể biện tài vô ngại như Thượng sư, thành tựu thân kim cang bất hoại, đầy đủ đại quyền năng và đại thần thông giống như Thượng sư. Người tu pháp chỉ cần tương ứng với Thượng sư, đương nhiên tất cả tai nạn sẽ được tiêu trừ, mọi nhu cầu về ăn mặc đều đầy đủ, ra ngoài luôn bình an tốt lành, thường được thiện thần ủng hộ, thậm chí có thể biết trước mọi điềm lành dữ sắp xảy ra, tất cả tai ương và bệnh tật đều xa lánh. Đây là lợi ích của việc tu pháp tương ứng Thượng sư.

Tu tập pháp tương ứng Thượng sư, cầu tiêu trừ tai nạn thì tai nạn được tiêu trừ, cầu trường thọ thì được trường thọ, cầu con cái thì có con cái, cầu tài lộc thì được tài lộc (xem bài viết "Liên Hoa Đồng Tử là Đại Phúc Kim Cang"), có thể nói, tất cả lợi ích thế gian đều có thể đạt được. Tu tập pháp tương ứng Thượng sư, tất cả quỷ thần khi nhìn thấy như thấy chính Thượng sư vậy, đều kính trọng hành giả Mật tông đang tu pháp, bởi vì tất cả quỷ thần đều tôn kính Thượng sư.

Tại sao công đức và lợi ích của Liên Sinh Kim cương Thượng sư lại lớn như vậy? Bởi vì Liên Sinh Kim cương Thượng sư nhận lệnh từ Phật Tỳ Lô Giá Na, đáp ứng sứ mệnh quan trọng của Phật A Di Đà ở Tây phương Cực Lạc, giáng sinh xuống nhân gian. Ngài khai mở pháp môn phương tiện Hiển-Mật, sáng lập pháp thành tựu bồ đề của Chân Phật Tông, công bố pháp Vô thượng mật và Đại thủ ấn cho thế gian, tùy duyên ứng cơ, phổ độ chúng sinh.

Do đã chứng ngộ nhân quả của đời trước, khai mở con đường lớn, đầy đủ mọi thần thông trí tuệ, không chỉ hàng phục ma quỷ yêu tinh, mà còn có thể truyền bá rộng rãi pháp Vô thượng mật, đây chính là sự chứng ngộ chân thực của Liên Sinh Thượng sư, và cũng vì điều này mà thu hút người xuất gia khắp thiên hạ cùng đến quy y.

Đệ tử cung kính Thượng sư và cúng dường Thượng sư đều là điều cần thiết. Bởi vì ý nghĩa của Thượng sư chính là bậc thầy vô thượng, cũng chính là vị Hoạt Phật đã minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, Thượng sư chính là danh xưng của Hoạt Phật vậy. Đệ tử kim cương tán thán Thượng sư: "Tự tính tam thân vốn viên thành, phi hữu phi vô vô sở trụ, pháp nhĩ thường hằng như hư không, Liên Sinh Thượng sư con lễ tán."

Bất kì đệ tử nào của Chân Phật Tông đều phải tu trì pháp tương ứng Thượng sư, đều phải thờ cúng tượng của Thượng sư. Bởi vì Liên Sinh Thượng sư là vị Kim cương Thượng sư đã thực sự tu chứng, cũng là Phật bản lai của Liên Hoa Đồng Tử. Ngài là đại bi tùy duyên khắp pháp giới, là tâm quang biến hiện không chướng ngại, quảng đại viên mãn đắc tự tại, và còn là vô sinh vô diệt thường tịch quang.

29. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (5)

Từng có nhiều đệ tử hỏi tôi, trước đây khi đọc kinh Phật, kinh Phật đều dạy người ta phải nhẫn nhục, nhẫn nhục cũng là ba la mật, ngày nay đến quy y Chân Phật Tông, thấy Thượng sư độ chúng sinh, tận tâm khuyên bảo, từ bi hỷ xả, phát đại nguyện Bồ Tát. Nhưng đôi khi, thấy Thượng sư viết bài, lại như sấm sét nổi lên, lại như "Kim Cang nộ mục", đối với bọn tiểu nhân xấu xa không hề nhân nhượng, lần lượt vạch trần tất cả, khiến bọn tiểu nhân kinh hãi, từ đó đám tiểu nhân vây quanh công kích Thượng sư, thực là vô cùng hỗn loạn, tại sao Thượng sư phải để ý đến những kẻ vô tri nhỏ nhen này?

Đối với câu hỏi này, tôi xin trả lời như sau: Các tông phái Phật giáo, nếu tu trì theo Hiển giáo, chỉ có khuyên bảo chúng sinh, đối với những kẻ tiểu nhân xấu xa như vậy, nhiều nhất chỉ là tránh xa họ, không để ý đến họ, lánh xa họ, tất cả sự sỉ nhục đều không quan tâm. Công phu nhẫn nhục đã đến mức thuần thục, có thể để nước bọt người khác phun vào mặt mình tự khô, người ta nhổ nước bọt vào mặt, vẫn để nó tự khô, thậm chí công phu nhẫn nhục của Phật giáo khi đã thuần thục, xả thân nuôi hổ, cắt thịt cho chim ưng ăn đều là chuyện bình thường.

Tu trì theo Hiển giáo, lấy nhẫn nhục làm đầu, dù sao kẻ ác không tin, pháp sư chỉ mỉm cười bỏ qua, có kẻ ác đến bắt nạt, thì hãy nhẫn nhịn! Cười nhạo, chế giễu, đánh giết, cứ để họ làm. Đây chính là quan điểm nhất quán của Hiển giáo Phật môn, dù bị bắt nạt lớn đến đâu, cứ nhẫn nhục là xong.

Tuy nhiên, Mật tông Phật giáo khác, bởi vì Mật tông có pháp môn hàng phục, đối với chúng sinh lương thiện, vui vẻ đi độ hóa họ, nhưng nếu có những người nửa tin nửa ngờ, thì dùng thần thông kỹ pháp để cảm hóa họ tin Phật, đương nhiên gặp những kẻ không nói lý lẽ, thì dùng pháp hàng phục để chế ngự họ, và khi gặp những pháp sư tà ác, bọn thần côn hung bạo, thì phải hiện ra tướng phẫn nộ "Kim Cang nộ mục" để độ họ.

Trong quá khứ, khi tôi chưa khai ngộ, tôi viết các bài với tâm "nhẫn nhục" thuần túy, chịu đựng những sự sỉ nhục lớn nhất thiên hạ mà không hề lên tiếng. Nhưng sau khi khai ngộ thông qua Mật pháp, con người tôi hoàn toàn thay đổi, trở thành người có thể dùng sức mạnh Kim cang tương xứng để hàng phục và độ thoát đối phương tùy theo mức độ ma lực của họ, giúp họ từ mê quay về giác ngộ. Tôi đã hiểu thấu đáo về tướng chúng sinh. Những kẻ đại ác này, chỉ dùng khuyên bảo thì không thể nào khiến họ nghe theo được, có những kẻ hung ác nếu không dùng sự phẫn nộ và quở trách thì không thể độ hóa được họ. Pháp hàng phục này chỉ có trong đại Mật pháp, hoàn toàn xuất phát từ tâm từ bi, tuân theo lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni, rất có lợi ích đối với những kẻ tà ác nhỏ nhen, tuyệt đối không phải là sự biến hóa của tâm thích ghét cá nhân của Thượng sư.

Lòng từ bi độ chúng sinh và phát nộ quở trách độ chúng sinh, nhìn qua có vẻ là hai việc khác nhau, nhưng thực ra là cùng một đạo lý lớn. Tuy nhiên, tuyệt đối không được sử dụng một cách bừa bãi, có người chưa khai ngộ, hành xử bừa bãi, dùng cảm xúc làm việc, đây chính là phát tâm sân hận, một niệm tức giận, cũng là tà đạo. Nếu là phát nộ quở trách mà nguyên do là để chúng sinh tin phục, thì điều này có công đức. Tức giận phát nộ và từ bi phát nộ, hai điều này khác nhau, điểm này cần phải đặc biệt chú ý.

Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư độ tất cả chúng sinh, dùng ba pháp: Thứ nhất, là pháp "Tự tính" — Bản thân tôi tu tập bắt đầu từ tất cả nền tảng cơ bản, tức là bắt đầu từ con số 0. Chứng đắc của tôi không phải tự nhiên mà có. Độc giả hoặc đệ tử đọc sách của tôi sẽ biết được quá khứ, hiện tại, tương lai của tôi. Tôi đã từng bước thực tu mà đến. Đời quá khứ của tôi, mặc dù có một số căn cơ, nhưng vẫn luôn làm gương, đây là giáo pháp "Tự tính" của tôi, khiến đệ tử của mình học theo tấm gương của tôi. Năm xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh xuống nhân gian, cũng là pháp "thân giáo Tự tính", từ xuất gia tu đạo đến thành đạo, cũng trải qua muôn vàn gian khổ. Đức Phật ở nhân gian, cũng dùng pháp "thân giáo Tự tính" để làm tấm gương cho đệ tử Phật.

Thứ hai, là pháp "Từ bi" — Nhiều đệ tử đều biết, tôi thường rơi lệ vì chúng sinh trong thiên hạ, khi diễn thuyết tại Viện Lập Pháp cũng rơi lệ, nước mắt tôi rơi không biết bao nhiêu lần, thường khi ở mật đàn, niềm bi thương dâng lên từ tận đáy lòng, nước mắt tuôn rơi như mưa, khóc cho đệ tử của mình hoặc chúng sinh. Tôi viết ra những quyển sách chân thực, thành tâm thành ý không ngại phiền hà mà chỉ dạy lặp đi lặp lại, đây là cách thuyết pháp độ chúng sinh của Hiển giáo, như người mẹ hiền, hiện tướng Bồ Tát, tự mình thuyết pháp giáo hóa, cho đến khi đệ tử khai ngộ mới thôi, đây là giáo pháp từ bi của tôi.

Thứ ba, là pháp "Kim cang" — Trong pháp Mật tông, có pháp Kim cang thần, pháp Kim cang Minh vương, pháp Phẫn Nộ Minh Vương. Bởi vì trong chúng sinh, có những kẻ cứng đầu khó độ, tính cách cương cường, đặc biệt là những pháp sư sở hữu ma lực tà pháp, họ là những người khó độ và cứng đầu nhất. Nhưng những chúng sinh cứng đầu khó độ này không thể bỏ mặc, những kẻ ác này cũng là một phần của chúng sinh! Vì vậy, chư Phật Bồ Tát vì loại chúng sinh này, đành phải hiện ra tướng đại phẫn nộ để độ hóa họ, đối phương hung dữ, ta còn hung dữ hơn đối phương, loại mật pháp độ chúng sinh này chính là pháp Kim cang.

Như đại thiên ma, tà thần, ác quỷ, bạn đối xử với chúng bằng lòng từ bi, chúng sẽ không thèm để ý đến bạn, thậm chí còn gây rối lớn cho bạn. Phương pháp duy nhất chính là Kim cang hàng phục, có được pháp Kim cang mới có thể độ được những kẻ cực kỳ hung ác, chính vì đạo lý này, tôi cầm bút để hàng phục.

Đây chính là, mưa pháp từ trời rơi xuống một cách không thiên vị, không riêng tư, người thiện cần độ hóa, kẻ ác cũng cần độ hóa, trong đó không bỏ sót một chúng sinh nào. Đối với người thiện, dùng từ bi; đối với kẻ ác, dùng hàng phục, như vậy mới phù hợp với diệu lý của Phật. Trong Phật pháp có hàng nghìn hàng vạn vị Kim cang thần tướng, đều là những vị hộ pháp lớn của Phật môn, bản tính Kim cang là uy mãnh, các loại tà ma thấy đều bỏ chạy, không ai không bị hàng phục.

Bản thân tôi tu tập pháp Kim cang khai ngộ, vì vậy dùng pháp Kim cang độ chúng sinh, phúc lành mà chúng sinh nhận được nên bình đẳng, đây chính là nhìn chúng sinh một cách bình đẳng. Nếu tôi chỉ độ người thiện mà không độ hóa kẻ ác, để mặc kẻ ác chửi mắng, thì tôi còn được gọi là Kim cương Thượng sư gì nữa!

30. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (6)

Phạm vi của Vô Thượng Mật là gì? Xin thỉnh Thượng sư giải thích về Vô Thượng Mật được không?

Cái gọi là Vô Thượng Mật chính là cảnh giới vô thượng nhất khi tu tập Mật tông. Xét về mặt tín ngưỡng, nó không nằm ở các hình thức nghi lễ bên ngoài, mà nằm ở pháp bí mật trong tự thân. Tất cả các nghi thức chỉ được gọi là Ngoại Hộ Ma. Vô Thượng Mật được gọi là Nội Hộ Ma.

Mật tông là một tông phái coi trọng Ngoại Hộ Ma và Nội Hộ Ma. Vì vậy, nói chung các Thượng sư Mật tông sẽ không truyền dạy Nội Hộ Ma ngay lập tức cho một đệ tử mới quy y, mà nhất định phải từng bước một, trước tiên dạy cách lễ Phật, cách cúng dường, cách quán tưởng, cách trì chú, cách gia trì, và khi cúng dường phải theo mọi nghi quỹ, cách tu pháp Hỏa cúng (pháp Hộ Ma), đây đều là những nghi quỹ tu tập Mật tông.

Có Hoạt Phật dạy đệ tử mỗi lần tu trì, chỉ riêng việc tụng chú đã phải mất hơn ba tiếng đồng hồ, chuyên dạy cách nhóm lửa, cách dùng thủ ấn để đặt nhiên liệu hoặc gỗ Hộ Ma. Có rất nhiều hành giả Mật tông, pháp môn tu tập hàng ngày chỉ là pháp Ngoại Hộ Ma, tức là tất cả các nghi quỹ lớn nhỏ bề ngoài mà thôi. Mỗi ngày tu pháp, chỉ là tu trì những thứ này, mà đối với Vô Thượng Mật thực sự thì không hề biết đến.

Vô Thượng Mật thực sự không phải là sự tu trì bề ngoài, mà là bí mật về việc tức thân thành Phật, nghĩa là làm thông suốt hoàn toàn ba mạch trong cơ thể - mạch trái, mạch phải và mạch giữa, biết được phương pháp vận chuyển khí trong ba mạch của cơ thể, sử dụng minh điểm nội hỏa để khơi dậy chuyết hỏa trong cơ thể. Khi chuyết hỏa này lần lượt đi qua bảy luân xa, lên đến luân xa cao nhất ở đỉnh đầu, thậm chí khi chuyết hỏa này đi vào vũ trụ, đạt được sự tương ứng lớn với chư Phật Bồ Tát, phương pháp này được gọi là Nội Hộ Ma, tức là nội hỏa. Người có thể đạt được pháp nội hỏa chính là đã bước vào phạm vi của Vô Thượng Mật. Cái gọi là yoga bảy luân xa thực chất là các đám rối thần kinh và nơi tiết ra hormone trong cơ thể con người. Khi nội hỏa đi qua các luân xa, sẽ sinh ra những cảnh giới rất kỳ diệu.

Khi nội hỏa đi lên, đi qua bảy luân xa, nó sẽ tạo ra một tác động nhất định ở từng vùng cụ thể. Trong đó, luân xa có tác dụng Pháp thân được gọi là luân xa Pháp thân; luân xa có tác dụng báo thân được gọi là luân xa Báo thân; luân xa có tác dụng Hóa thân được gọi là luân xa Hóa thân; luân xa có tác dụng thượng lạc được gọi là luân xa Thượng lạc. Người tu tập Vô Thượng Mật là người hiểu được bí mật của pháp Vô Thượng Mật, người đạt được ấn chứng của Vô Thượng Mật chính là Hoạt Phật. Bất kì hành giả Mật tông nào, sau khi hoàn thiện tất cả các pháp tu Ngoại Hộ Ma, đều có thể tu tập Vô Thượng Mật. Điều này giống như sự rèn luyện của người lính, đi từ ngoài vào trong.

Tôi đã viết cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn", trong sách này, tôi nhấn mạnh thiền định để sinh ra minh điểm nội hỏa, rồi giải thích làm thế nào để phối hợp chú và hơi thở trong quá trình vận chuyển. Sử dụng phương pháp chỉ quán để đạt đến thượng lạc, bao gồm các phương pháp tu tập như bất động, quang minh, ly xá, mộng du, trung ấm, khai đỉnh, phá mê, thường lạc ngã tịnh, v.v…, những phương pháp này chính là tâm đắc trong quá trình tu tập Vô Thượng Mật của tôi.

Thực ra, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Tôn Giả đến cứu độ thế gian có nhân duyên nhất định, gánh vác sứ mệnh thiêng liêng làm rạng rỡ truyền thống Mật thừa vô thượng. Cần biết rằng trong thời đại hiện nay, tinh hoa của Hiển giáo đã dần dần giảm xuống chỉ còn lại cặn bã, Phật pháp không còn thu hút sự chú ý của người đời, phong tục tập quán ngày càng thực dụng, con người cá lớn nuốt cá bé, các quốc gia đấu tranh lẫn nhau, hành vi phá hủy chùa chiền và tượng Phật liên tiếp xảy ra, thiên tai và biến động địa lý ngày càng nhiều, có thể nói vận trời đã bất thường, mưa nắng không phân biệt, những căn bệnh kỳ lạ ngày càng nhiều. Tranh chấp giữa con người trở nên vô lý, lúc này, ma quỷ khắp thiên hạ xuất hiện, thế gian trở thành thiên hạ của ma giáo, đen bị nói thành trắng, trắng bị nói thành đen, yêu ma quỷ quái hoành hành khắp nơi, người xuất gia không còn giống người xuất gia, phụ nữ cũng không giữ đạo làm vợ, khi lạnh không lạnh, khi nóng không nóng. Và chính vào lúc này, tôi gánh vác trọng trách lớn lao phát dương Mật giáo, muốn Mật giáo hưng thịnh để cứu đời.

Khi tôi mới chứng đắc, có người thấy Chân Phật Tông hóa thành ngọn lửa, đỏ rực cả bầu trời, cũng có người thấy thiên thần giáng xuống cúng dường Thượng sư. Khi Thượng sư thuyết pháp, đỉnh đầu hiện ánh sáng vàng, trên trời có hoa tươi rơi xuống, và trên không xuất hiện ánh cầu vồng ngũ sắc, có nhiều thiên thần và hộ pháp đứng lắng nghe. Khi ngồi thiền định, nhiều người thấy xung quanh Thượng sư có cờ phướn, lọng che, có nhiều thiên nhân vui vẻ ca múa dưới những tràng phan đó.

Nhiều người bị bệnh được Thượng sư gia trì đều khỏi hẳn; người gặp hoạn nạn được Thượng sư gia trì đều giải thoát khỏi mọi tai ương; tất cả những điều chưa biết đều được giải đáp tường tận. Thượng sư là hóa thân của Như Lai ba đời, tất cả kinh giáo đều thông hiểu tường tận, và đều có thể truyền dạy, tất cả thần thông trí tuệ đều vô thượng, được tất cả Như Lai khen ngợi, vì vậy tất cả hiền nhân trong cõi người đều năm vóc sát đất kính lễ Thượng sư.

Trên thế giới hiện nay, không có nhiều người hiểu được Vô Thượng Mật, còn tôi là người thực sự đạt được, và là người nói lời chân thật. Mật pháp nằm trong tay tôi, bất kể là Nội Hộ Ma hay Ngoại Hộ Ma, tất cả Mật pháp đều chứa trong lòng tôi. Người đời ngày nay muốn tìm một vị Thượng sư chân chính, cần phải mở to mắt, đừng nhìn trắng thành đen, đen thành trắng. Như Hắc giáo độc ác ở Tây Tạng, những pháp tà ác cũng mạo danh là Mật tông, trong khi Mật tông và Hắc giáo vốn như nước với lửa, làm sao có thể để giáo pháp tà ác đó lẫn lộn vào được.

Thượng sư kế thừa sau Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, là vị Kim Cang Phẫn Nộ thứ hai phá trừ Hắc giáo.

31. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (7)

Mối quan hệ giữa Kim Cang Đại Uy Đức và Thần Trâu của Hắc giáo là gì? Đại Uy Đức Kim Cang có oai lực và công đức gì? Làm thế nào để tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang?

Đại Uy Đức Kim Cang là một trong năm Đại Kim Cang, tên tiếng Phạn là Yamantaka, có nghĩa là hàng phục các loài ma, các tên gọi khác là Địch Trị Tử Vong, Thánh Yamantaka Uy Nộ Vương, Hàng Phục Diêm Ma Tôn, và nhiều tên gọi khác.

Đại Uy Đức Kim Cang thường thấy ở Nhật Bản có sáu mặt, sáu tay, sáu chân, cưỡi trâu nước màu xanh. Một hình tượng khác có ba mươi hai đầu, ba mươi sáu tay, được gọi là Đại Uy Đức Kim Cang thập tam tôn.

Mật hiệu của Đại Uy Đức Kim Cang là Uy Đức Kim Cang, là hóa thân phẫn nộ của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Do toàn thân có màu xanh đen, thân hình đặc biệt to lớn và toàn thân bốc lửa, mang hình tướng cực kỳ phẫn nộ, nên có thể hàng phục tất cả ác ma độc long, đoạn trừ mọi chướng ngại, khiến tất cả ác ma nhìn thấy đều sinh lòng sợ hãi. Vị này trong Mandala Thai Tạng Giới được đặt ở bên trái Bồ Tát Bát Nhã trong viện Trì Minh.

Kinh Phật ghi lại như sau: "Toàn thân màu xanh đen, tóc dựng đứng bốc lửa, mang hình tướng phẫn nộ, khuôn mặt chính phía trước, há miệng cười lớn, bốn nanh đều lộ ra, bên trái và phải mỗi bên một mặt, trên đỉnh đầu có ba mặt, răng trên cắn xuống dưới, sáu tay sáu chân, hai tay chính phía trước, bắt chéo vào trong, ngón giữa chụm thẳng lên; một tay bên phải khuỷu mở, cầm gậy buông xuống nghiêng về phía phải, một tay giơ lên, khuỷu tay thẳng, cầm kiếm hướng vào thân; một tay bên trái khuỷu mở và buông thẳng xuống, cầm bánh xe nghiêng về phía trái; một tay giơ lên cầm đinh ba hướng vào thân. Mặc lụa màu xanh, hai đầu bay lên, váy da báo, không đội mũ, ngồi trên tòa đá hoặc ngồi trên trâu xanh hoặc đứng, ba chân bên phải buông xuống, chân đeo vòng, đầu gối và ống chân đều lộ ra, tai đeo vòng ngọc." Đây là hình tượng của Đại Uy Đức Kim Cang.

Hơn nữa, trong "A Tì Già Lỗ Ca Nghi Quỹ Kinh" viết: "Tượng Yamantaka, sáu mặt sáu tay chân, thân đen bụng như sói, phẫn nộ cầm đầu lâu tóc, mặc váy da hổ, cầm nhiều loại binh khí, trông vô cùng đáng sợ, mắt đỏ hình dạng hung ác, ba mắt làm đặc điểm, tóc dựng đứng như ngọn lửa, hoặc có màu khói đen, cưỡi trâu nước."

Tượng Đại Uy Đức Kim Cang mà tôi từng thấy là pháp tướng của Mật tông Tây Tạng, đầu mọc hai sừng trâu lớn, toàn thân đeo đầu lâu, hình tượng đứng, nhiều tay nhiều đầu, vô cùng phẫn nộ và uy vũ.

Do sự kiện Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng truyền Mật pháp, trong khi trước đó Tây Tạng vốn tin theo tà pháp Hắc giáo, nên Mật giáo và Hắc giáo vốn như nước với lửa. Điểm này có thể đọc trong "Lược sử Ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ" trang 43: "Vua mời Đại Sĩ tranh luận với Hắc giáo, Hắc giáo không thể thắng. Vì thế Hắc giáo đã bị dập tắt...". Trong "Lược sử Ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ" đã trình bày rất chi tiết về việc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã phá trừ Hắc giáo như thế nào.

Hơn nữa, do người dân Tây Tạng mê tín Hắc giáo rất sâu, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chỉ có thể tận dụng tâm lý mê tín Thần Trâu của người Tây Tạng, hóa hiện Đại Uy Đức Kim Cang để thu hút tâm lý tôn thờ Thần Trâu của dân Tạng, mà Đại Uy Đức Kim Cang thực ra không phải là Thần Trâu của Hắc giáo, đây là một trong những phương pháp ứng biến tùy thuận của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Vì người Tây Tạng tin thờ Thần Trâu và Hắc giáo, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã sử dụng hình dạng trâu của Đại Uy Đức Kim Cang để thu hút tín đồ Hắc giáo chuyển sang tu Mật tông, đây thật là một dụng tâm sâu sắc.

"Lược sử Ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ" ghi chép chi tiết việc Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đại chiến với Hộ pháp đại ác của Hắc giáo là Gia Ô Nạp Trát, khiến sứ giả đại ác của Hắc giáo quy y Mật giáo, Đại Sĩ ban pháp danh Đóa Kiết Hữu Uy.

Vua Tây Tạng thời đó đã cung thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Bả Đắc Tát Đỏa để phá trừ Hắc giáo, trước tiên mở trường quốc học, khiến người Tạng học tiếng Phạn và Hiển giáo. Cuối cùng, việc phá trừ Hắc giáo thành công, Vua Trisong Detsen tuyên bố: "Hắc giáo là ngoại đạo, ra lệnh trục xuất ra khỏi biên giới, quân dân không được học tập, ai vi phạm lệnh này sẽ bị trừng phạt ngay lập tức." Đoạn văn này được đăng tải ở trang 40 của "Lược sử Ứng hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ".

Vì vậy, Hắc giáo và Mật tông hoàn toàn như nước với lửa. Hắc giáo hoàn toàn không phải là Mật tông.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở Tây Tạng, đã dùng hình tượng Đại Uy Đức Kim Cang để chuyển hóa niềm tin vào Thần Trâu của Hắc giáo của người Tây Tạng, đây chính là mối liên hệ nhỏ giữa Đại Uy Đức Kim Cang và Hắc giáo.

Người tu pháp Đại Uy Đức Kim Cang, nên trước tiên tu pháp Văn Thù Bồ Tát, bởi vì Văn Thù là căn bản của Đại Uy Đức Kim Cang, đây là một tâm hai hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, là cách dễ thành tựu hơn. Nếu tu pháp Văn Thù đến mức thuần thục, lúc này vì "gốc vững đạo sinh", tự nhiên sẽ có duyên phận rất lớn với Đại Uy Đức Kim Cang, khi tu tiếp pháp Kim Cang, tự nhiên sẽ nhanh chóng có được sự tương ứng.

Để tu trì pháp này, cần học "chuyển pháp", tức kết ấn giáo lệnh luân của Đại Uy Đức Kim Cang, chân phải đứng, chân trái co nâng lên xoay tròn, từ tâm phẫn nộ biến thành tướng phẫn nộ. Công đức của pháp này rất lớn, khiến mọi kẻ thù người ác không thể làm hại, tất cả quỷ thần đều phải nghe lệnh.

Nói chung, việc thi triển pháp Kim Cang đều nhằm hàng ma trừ ác, khiến kẻ thù người ác không thể làm hại, đặc biệt thần lực của pháp Đại Uy Đức Kim Cang khiến các ma sợ hãi, pháp lực và giáo lệnh của pháp này được xem là đệ nhất. Người tu pháp này cũng nhất định thành Phật, vì vậy phái Hoàng giáo xem pháp Đại Uy Đức Kim Cang là pháp tối thượng.

Tôi viết một bài kệ, tán rằng: Uy đức như trời cao xanh thẳm Phẫn nộ tóc đỏ ngọn lửa dài Giáo lệnh vừa ban oai nghiêm mạnh Mật pháp cửa Phật được tung bay.

32. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (8)

Có rất nhiều người tu theo Hiển giáo, trước khi quy y với tôi, đều hỏi tôi rằng, họ đã niệm Phật nhiều năm, mong được vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới của Đức Phật A Di Đà, bây giờ họ muốn quy y theo Chân Phật Tông của tôi, không biết có xung đột không, liệu môn phái Chân Phật Tông của Thượng sư có thể vãng sinh về cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà không?

Tôi nói, Chân Phật Tông cũng có đại pháp vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, pháp này gọi là "Di Đà Mật pháp"; Di Đà Mật pháp là pháp mà cả Hiển giáo và Mật giáo đều tu trì, hoàn toàn chú trọng vào nhất tâm bất loạn, về phương diện này, vẫn vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới. Ngoài ra, nói thẳng thắn, "Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp" nếu tu trì đến thành tựu, cũng vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới. Bởi vì thế giới của Liên Hoa Đồng Tử chính là Ma Ha Song Liên Trì của Tây phương Cực Lạc thế giới, vốn nằm trong Tây phương Cực Lạc thế giới. Liên Hoa Đồng Tử này đến từ Phật quốc của Phật A Di Đà ở Tây phương, và cõi Phật tối hậu của ngài vẫn là Tây phương Cực Lạc thế giới.

Pháp tu vãng sinh, giống nhiều khác ít, có người nhất tâm trì niệm thánh danh, nhất tâm là có thể vãng sinh, Phật A Di Đà sẽ đến tiếp dẫn khi lâm chung.

Pháp tu của Thiền tông cũng dựa vào nhất tâm bất loạn, chú trọng vào tu thiền định, cầu minh tâm kiến tính, tự tâm sáng tỏ hoặc tự quán bản tính Di Đà, ta chính là Di Đà, Di Đà chính là ta, tâm này là Phật, Phật chính là tâm này, cũng có thể đạt được thành tựu.

Ngoài ra, người tu tập Vô thượng mật, nhờ vào sự biến hóa của tự tâm hòa nhập với Phật quang, đó chính là đại pháp tức thân thành Phật.

Có nhiều người hỏi tôi, vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới cũng có những cảnh giới khác nhau sao? Tôi nói đương nhiên là có, vì trình độ tu tập khác nhau nên cảnh giới vãng sinh cũng khác nhau. Tôi đặc biệt liệt kê như sau:

  1. Phàm Thánh Đồng Cư — Hoàn toàn dựa vào niệm Phật, được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh, đây là cảnh giới mang nghiệp vãng sinh.
  2. Phương Tiện Hữu Dư — Đã niệm Phật và tịnh hóa nghiệp, được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh, đây là cảnh giới tịnh nghiệp vãng sinh.
  3. Thực Báo Trang Nghiêm — Đã niệm Phật và tu thiền định, đây là cảnh giới kiến tính phát quang, thấu hiểu tự tính.
  4. Thường Tịch Quang — Đã tu trì Vô thượng mật, đạt đến cảnh giới tức thân thành Phật, thật sự thành tựu Phật tính.

Vì vậy, việc tu trì mật pháp của Chân Phật Tông và Hiển giáo hoàn toàn không xung đột, không có sự phân biệt nào. Chân Phật Tông của chúng ta không chỉ có thể niệm Phật, cầu nhất tâm bất loạn, mà còn có thể niệm Phật tịnh nghiệp, hơn nữa còn có thể tu trì thiền định, phát khởi ánh sáng trí tuệ. Thêm vào đó là sự tu luyện Vô thượng mật, có thể tức thân thành Phật, dễ dàng đạt được thượng phẩm thượng sinh ở Tây phương Cực Lạc thế giới, và không cần phải ở trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư nữa.

Sự tiếp dẫn của Tây phương Cực Lạc thế giới được chia thành bốn cõi, chín phẩm liên hoa sinh. Điều này là do căn cơ của chúng sinh, mỗi người khác nhau, có người căn cơ lanh lợi, có thể tu Vô thượng mật, có người căn cơ chậm lụt, chỉ có thể dạy pháp niệm Phật đơn giản. Tuy nhiên, niệm Phật tự nhiên cũng là một trong những phương tiện tu trì, và mục đích cuối cùng vẫn là Vô thượng mật để thành Phật, đây mới là niết bàn rốt ráo chân chính.

Tuy nhiên, các phương pháp tu tập của Chân Phật Tông cũng có những cảnh giới riêng, mỗi pháp đều khác nhau, hoàn toàn tùy thuộc vào tâm nguyện bổn tôn của mỗi người mà đạt được những thành tựu khác nhau.

Ví dụ, có người chuyên tu Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp", không tu bất kì pháp nào khác, khi người đó lâm chung, nhất tâm bất loạn, chắc chắn sẽ vãng sinh về Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới, thành tựu quả vị Liên Hoa Bồ Tát, đây là chuyên tâm thành nhất niệm, nhất niệm thành nhất tâm, nhất tâm vãng sinh, nhất định thành tựu, Ma Ha Song Liên Trì đã nở ra một đóa sen, bạn tu tập theo phương pháp này sẽ đạt được quả vị vĩ đại như vậy.

Nếu có người chỉ muốn tu pháp Yết Ma thì người đó sẽ đạt được thành tựu Yết Ma, có thể giúp đỡ người khác, có thể cứu người, tu tất cả các pháp đều có cảm ứng, được mọi người kính trọng, như đã mô tả trong sách này, đủ loại Yết Ma pháp, vừa tu liền thành, vừa tu liền tương ứng, giúp đỡ được nhiều người, nhận được phúc báo lớn.

Nếu có người chỉ tu pháp chư Thiên, chư Thiên có lời thề riêng của chư Thiên, dựa vào lời thề gốc này, cũng có thể vãng sinh về cõi chư Thiên, khi lâm chung, sẽ là thăng thiên thành tiên, tiên nhân đều dựa vào lời thề gốc mà thăng thiên, mỗi một thiên cung có lời thề và đặc tính riêng của thiên cung đó, tu pháp chư Thiên sẽ có đặc tính này.

Về việc tu pháp Bổn tôn, thực chất là dựa vào đặc tính của chính bạn để tìm kiếm đặc tính của Bổn tôn phù hợp. Khi đặc tính của bạn và đặc tính của Bổn tôn hòa hợp, tự nhiên sẽ dễ dàng thành tựu tương ứng, có thể vãng sinh về cõi tịnh thổ của Bổn tôn. Điều này tùy thuộc vào căn duyên của bạn từ đâu đến, mà tu luyện Bổn tôn tương ứng, với mong muốn trở về nơi căn duyên của mình. Vì vậy, pháp Bổn tôn là yếu tố hàng đầu trong việc tu hành của hành giả Mật tông, dù tu thêm bất kì pháp nào khác, pháp Bổn tôn không thể ngừng lại, đây là pháp tu không được từ bỏ trong suốt cuộc đời, nhằm thành tựu cõi tịnh thổ của Bổn tôn.

Khi đạt đến cảnh giới hóa quang, có thể tu luyện để du hành khắp mười phương cõi Phật, đây chính là trú ở mười phương cõi Phật. Cảnh giới tu luyện này là cảnh giới của bậc Thượng sư, có duyên với mười phương chư Phật, có thể đến bất kì cõi Phật nào tùy ý, tự do tự tại, muốn đến đâu thì đến đó.

Cảnh giới cao nhất là "tức thân thành Phật", tự mình đã thành Phật, hoàn toàn không bị ràng buộc, như như bất động, trong cảnh giới này là điều không thể nghĩ bàn, không thể nói, cũng là bất khả tư nghì, không phải con người có thể tưởng tượng được, thậm chí bản thân có thể biến thành một cõi Phật tịnh thổ, điều không thể nói này tôi lại đã nói ra một chút rồi.

Người tu tập Hiển giáo, sau đó tu Chân Phật Tông, hoàn toàn không có điểm nào không hợp nhau, không chỉ vậy, còn hiểu rõ mọi tình cảnh của Tây phương Cực Lạc thế giới, dễ dàng vãng sinh hơn, và cảnh giới vãng sinh còn cao hơn. Chân Phật Tông của tôi có thể khiến người căn cơ lanh lợi lẫn chậm lụt đều được thân tâm an lạc, vì vậy trong tất cả các giáo phái là giáo phái số một, đây là pháp duyên thù thắng nhất trong đời này.

33. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (9)

Tại sao Chân Phật Tông là thù thắng nhất? Tại sao Chân Phật Tông đáng để chúng sinh quy y và tu trì? Chân Phật Tông đại diện cho điều gì?

Tôi nói, Phật giáo chia thành hai giáo: Hiển giáo và Mật giáo. Trong Hiển giáo, lại có sự phân chia giữa Đại thừa và Tiểu thừa. Phật giáo Tiểu thừa chỉ Câu Xá Tông và Thành Thật Tông. Các tông phái của Đại thừa có Tịnh Độ Tông, Luật Tông, Hoa Nghiêm Tông, Duy Thức Tông, Bát Nhã Tông, Thiền Tông, Pháp Hoa Tông.

Mật giáo là một nhánh của Phật giáo Đại thừa, Mật tông Tây Tạng lại chia thành bốn giáo: Hồng giáo (phái Nyingma), Bạch giáo (phái Kagyu), Hoàng giáo (phái Gelug), Hoa giáo (phái Sakya). Mật giáo được hoằng dương ở núi Thiên Thai chính là Thai mật hoặc Đường mật. Mật giáo được Không Hải thượng nhân - Hoằng Pháp đại sư hoằng dương tại Nhật Bản là Đông mật.

Những tông phái Đại thừa và Tiểu thừa này của Phật giáo, vào thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni, không có sự phân biệt tông phái như vậy, mà đến sau này, người truyền pháp thiên về việc tuyên dương một pháp nào đó, đặc biệt chú trọng vào pháp đó, hình thành nên hình thức tông phái, như Thiền Tông thiên về thiền, Luật Tông thiên về giới luật, chỉ đơn giản như vậy thôi.

Hôm nay tôi hoằng dương Chân Phật Tông, điều này có ý nghĩa đặc biệt, vì bản thân tôi đã tu hành hơn mười năm, đã bái nhiều vị thầy, Phật Thích Ca Mâu Ni đã xuất hiện trong thiền định, ban cho tôi quán đảnh thọ ký, nói rằng trong tương lai nhất định sẽ thành Phật. Tôi cũng đã thăng lên cõi trời Đâu Suất, gặp Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Di Lặc và chư vị tổ sư đã ban tặng mũ miện đỏ thiêng liêng, tôi trở thành "Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Mật Hành Tôn Giả". Tông phái của tôi được Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Phật Bồ Tát phó thác, nghĩa là được trực tiếp phó thác bởi chư Phật Bồ Tát. Với sự thọ ký trực tiếp từ Phật Thích Ca Mâu Ni và việc được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mũ miện đỏ, tôi đã trực tiếp thừa kế từ cõi Phật, chuyển thế từ hoa sen, đến khắp thế giới để hoằng dương giáo pháp cứu độ. Vì có mối quan hệ đặc biệt này, Chân Phật Tông đương nhiên là thù thắng nhất.

Trong thế giới hiện nay, Chân Phật Tông xứng đáng để chúng sinh quy y, học pháp, không chỉ vì pháp duyên thù thắng nhất, mà còn có những đặc điểm riêng biệt: "Chân" — là tối thượng, là sự tổng hợp của tất cả các tông phái, là sự xuất hiện của tự tính và hợp nhất với cái tối thượng. "Phật" — là chính giác, là sự giác ngộ và giải thoát cao nhất của tam muội, là tâm pháp tối thượng của Mật tông Phật giáo.

Tông phái của tôi không phải là tông phái của số ít người, nó mang lòng thành kính của Cơ Đốc giáo, lời dạy về hành thiện của Đạo giáo, phương pháp tu luyện tự tính, để đạt đến chính giác của Phật. Vì thế, Chân Phật Tông trong toàn thế giới, là bao dung, là sự truyền dạy đặc biệt của đại pháp, không phải tầm thường, là ngọn đèn sáng của thế kỷ này.

Chư Phật Bồ Tát ca ngợi Chân Phật Tông, công nhận là đệ nhất trong các giáo pháp, năng lực độ hóa vô lượng vô biên, là Phật pháp vừa phương tiện vừa thâm sâu, là con đường chân lý vĩ đại dẫn đến cõi Phật thanh tịnh. Tông phái này có thể giải thoát tai kiếp và phiền não, chuyển hóa tất cả pháp hữu lậu thành vô lậu, chuyên trừ ba độc tham, sân, si; và Chân Phật Tông còn có pháp Yết Ma vi diệu, có cầu ắt có ứng, mọi điều cầu nguyện đều như ý. Người học và tu trì Chân Phật Tông, cao nhất có thể thành Phật, thấp nhất cũng được lên cõi trời, đạt quả vị và tuổi thọ dài lâu như cõi trời. Vì là "tức thân thành Phật" nên không cần đến cõi Phàm Thánh Đồng Cư để tu luyện, mà lập tức thành Phật, chân thật không sai, nhất định thành tựu.

Chân Phật Tông là pháp môn huyền diệu như vậy, nên mọi người hãy tìm đến minh sư, quy y Thượng sư, lấy pháp của Chân Phật Tông làm pháp, lấy Thượng sư của Chân Phật Tông làm Thượng sư nương dựa, trước tiên học nghi quỹ, sau đó tụng chân ngôn, cuối cùng học pháp Nội tu.

Chúng sinh trong thế giới hiện tại đều rất đau khổ, vừa tham lam, vừa sân hận, vừa ngu si, tâm vọng cùng với vọng niệm, những gì tự mình làm không ngoài tội lỗi, không ngoài nghiệp chướng, bản thân không có phúc đức nhưng lại oán trách chư Phật Bồ Tát không từ bi. Không chỉ vậy, tự mình không có pháp, lại tự cho mình là giỏi, tự nhận là sáng suốt, mở miệng liền phỉ báng. Phước báu mỏng manh, phỉ báng lại nhiều, những người như vậy cần phải mau chóng tỉnh ngộ sám hối, nhanh chóng buông đao đồ tể xuống, vẫn có thể lập tức thành Phật, chỉ cần quy y Chân Phật Tông, nhận được quán đảnh gia trì của Thượng sư, nghiệp chướng từ nhiều đời sẽ được tiêu trừ, cũng sẽ mở được tuệ nhãn, phước báu cũng tăng thêm, tu pháp được đại thành tựu.

Hôm nay, tôi thiết lập Chân Phật Tông là trực tiếp thừa kế từ Phật Thích Ca Mâu Ni, có trí tuệ Mật pháp vô thượng rất sâu sắc. Công đức của tông phái này là vĩ đại nhất, có đại trí tuệ, hoàn toàn là sự tu luyện lý trí, sự hoằng dương trong tương lai sẽ chiếu sáng như mặt trời, tất cả đệ tử quy y đều là Pháp Vương tử, Phật tử. Chân Phật Tông này như tiếng sấm pháp của mặt trời đã vang lên, làm cho mầm mống trong tâm người trưởng thành. Pháp môn của tôi chính là vô lượng pháp môn, nghĩa của tôi chính là vô lượng nghĩa. Chỉ khi nương tựa vào pháp môn vĩ đại như vậy, chúng sinh mới đạt được chân đế.

Chân Phật Tông của tôi nguyên là một pháp môn Phật pháp thiện xảo cứu thế đạt đến sự thâm sâu trong thời kỳ Phật pháp suy hoại. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi khai thị cho hậu thế, đã từng tiên tri và ghi lại tên của tông phái này cùng danh hiệu của vị Kim Cương Thượng sư, cất giấu ở nhiều nơi trong đất, nước, lửa, gió, không. Đây là nhân duyên ứng hóa xuất thế của vị Thượng sư cứu thế, đây là nhân duyên, cũng là định mệnh từ kiếp trước.

Ngày nay, Chân Phật Tông và Thượng sư Lư Thắng Ngạn đã hoàn toàn thấu hiểu nguồn gốc kinh điển nghi quỹ của hai giáo, cùng câu chuyện gốc của chư vị Bồ Tát Mật thừa, đã sớm hợp nhất với đấng tối cao, đã thực sự chứng đắc. Từ nay về sau, vị Maha Pandhita này sẽ chu du bốn biển, để giáo hóa, phổ độ chúng sinh.

34. Liên Sinh Thượng sư khai thị tâm yếu (10)

Có rất nhiều đệ tử không thể tĩnh tâm trong lúc ngồi thiền, khi tu pháp, vọng niệm bay đầy trời, ai cũng hỏi tôi phải làm sao? Câu trả lời của tôi là: "Đừng quan tâm đến nó, hãy buông bỏ tất cả, chỉ khi buông bỏ mới có thể nhập thiền."

Tuy nhiên, câu nói "đừng quan tâm đến nó", "buông bỏ tất cả" của tôi quá sâu sắc, tôi cần phải giải thích rõ hơn.

Lấy tôi làm ví dụ. Khi tôi muốn nhập vào trạng thái trong lúc tĩnh tọa, chỉ trong một sát-na là có thể làm được, tính bằng giây thôi, trong một sát-na một ý niệm, linh thức của tôi đã trụ vào cảnh không, đi vào bản thức của vũ trụ, nhận được đại quán đảnh từ chư Phật mười phương, đây là niềm hỷ lạc vĩnh hằng. Trong một sát-na, thế giới người và cõi Phật đã thông nhau, vì vậy tôi là người "tức thân thành Phật".

Tại sao tôi có thể làm được như vậy, vì tôi đã "buông bỏ" tất cả.

Tôi thành thật, chân thành nói với mọi người rằng, tôi của ngày hôm nay không còn là tôi của ngày xưa nữa, tôi của ngày hôm nay đã là Phật đã thành tựu. Phật này đã hiểu rõ tất cả, tự do tự tại, không đến cũng không đi. Trong khoảng trời đất này, không có một chút phiền não nào, cũng không có một chút lo lắng nào, không có một chút đau khổ nào, cũng không có một chút hoang mang nào, đó chính là sự buông bỏ hoàn toàn.

Tất cả những thứ bên ngoài thân đều đã buông bỏ, ví dụ như ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, giải trí của tôi. Những quyền lực, địa vị, danh tiếng, tiền bạc của tôi, tôi đều bình thản, tự do để chúng đến, tự do để chúng đi. Tôi đối với sinh mệnh cũng như vậy, nếu ngày mai tôi chết, hôm nay tôi cũng không hoảng hốt, tôi đã giữ thái độ rằng sự tồn tại của sinh mệnh không quan trọng đối với tôi.

Nói thẳng thắn hơn, cho dù ngày mai, những người thân thiết nhất của tôi đều chết sạch, ngày mai, tôi cũng qua đời, hôm nay tôi cũng không hoảng hốt, cho dù hiện tại đang sống, phút sau đã chết, tôi vẫn cười hề hề. Đây chính là tôi đã phá vỡ và buông bỏ hoàn toàn cửa ải sinh tử. Thiên tai địa biến, người thân đều chết hết, kể cả bản thân tôi cũng kết thúc, tôi cũng không nhíu mày. Tôi tu luyện đến nay, không chỉ buông bỏ vật ngoài thân, mà ngay cả vật trong thân cũng buông bỏ như nhau. Ha ha!

Có người nghĩ rằng, phỉ báng Lư Thắng Ngạn, thậm chí kiện Lư Thắng Ngạn, chà đạp Lư Thắng Ngạn, ông ấy chắc chắn sẽ bất an, nhưng họ đã sai, bởi vì một người buông bỏ tất cả, ngay cả sinh mạng còn không quan trọng, thì danh dự là gì, danh dự danh dự, còn không bằng mây khói thoáng qua. Tôi tu hành đến mức độ này, nếu có kẻ xấu, ép tôi ăn phân, tôi cũng sẽ ăn một cách ngon lành.

Một hành giả chân chính, khi tu luyện đến mức thấu triệt, tư tưởng "mọi sự như như" sẽ xuất hiện. Tôi hiện giờ cũng vậy, đánh tôi cũng tốt, mắng tôi cũng tốt, giết tôi càng tốt, đã buông bỏ tận gốc rồi, tôi chẳng cần gì nữa, giữa trời đất này căn bản không có chuyện gì đáng sợ, đáng e ngại, đáng khiếp hãi, đáng phiền não.

Buông bỏ này là gì? Chính là "không để một sợi tơ nào vướng trong tâm".

Tôi nói với mọi người, chúng sinh khi tĩnh tọa, tại sao tạp niệm bay đầy trời, vọng niệm không ngừng, đó chính là vì không buông được. Không buông được nên tạp niệm vọng tưởng không dứt, tham thiền như vậy sẽ không thể nhập vào trạng thái đúng đắn.

Đệ tử của tôi thường xuyên viết thư kể về phiền não của họ, những phiền não này đến từ chính bản thân họ hoặc người thân của họ. Có người phiền não vì nghèo khó, không có tiền; có người phiền não vì không có con cái hoặc con cái không ngoan; có người phiền não vì thân thể có bệnh tật, không bình an; có người phiền não vì gia đình không viên mãn; có người phiền não vì nghề nghiệp; có người phiền não vì danh lợi địa vị, v.v. Những người có loại phiền não này, nếu học tham thiền tĩnh tọa, vừa ngồi xuống, nỗi khổ não liền khởi lên, cắt không đứt, càng gỡ càng rối, đây chính là căn bệnh chung của phàm phu thế tục.

Người có phiền não chính là người không thể nhìn thấu, không thể hiểu thấu, không thể buông bỏ. Trước tiên phải học cách nhìn thấu, hiểu thấu, buông bỏ, ngay cả một ý niệm cũng không nên giữ lại. Một số người nói rằng môi trường tĩnh tọa không tốt, quá ồn ào, không có chỗ, đây cũng là không buông bỏ được. Người tu hành chân chính, ngay cả trên xe buýt cũng có thể nhập thiền định, đi bộ trong chợ cũng có thể nhập thiền định, bởi vì họ đã hiểu thấu tất cả, mọi môi trường đều trở nên Không.

Có những người còn ngu si hơn, bản thân không tin nhân quả, cũng không tin Phật, lại ngu muội vô tri, hoang mang không định hướng, thấy người khác ngồi thiền cũng muốn ngồi thiền, họ chỉ muốn thử một lần, nhưng khi thử thì rắc rối lớn xảy ra, bị nhập ma, kêu trời gọi đất cũng vô ích. Những người này thật tệ hại nhất, vì họ thậm chí không biết một chút đạo lý về tu hành thiền định mà đã bắt đầu bắt chước, kiểu ngồi thiền như vậy đương nhiên sẽ bị nhập ma.

Buông bỏ là gì? Đó chính là không để bất kì sự việc nào làm động tâm, cũng chính là cảnh giới như như bất động. Tôi biết rằng, đây là một điều rất khó khăn, nhưng trong thứ tự và giai đoạn tu hành, trước tiên phải buông bỏ môi trường bên ngoài, sau đó buông bỏ cái tôi bên trong. Trước hết, hãy cô lập bản thân về mặt thời gian, sau đó là hòa hợp hoàn toàn về mặt không gian, không trụ tâm vào quá khứ, không trụ tâm vào tương lai. Không gian hoàn toàn bị phá vỡ, ngã kiến cũng biến mất, môi trường biến mất, thân thể biến mất, khi tất cả đều được buông bỏ, tự tính sáng suốt rộng lớn sẽ hiện ra, đưa ta vào một cảnh giới cao hơn trong giai đoạn tu hành.

Muốn đắc đạo, muốn chứng chân, cần phải buông bỏ. Hôm nay, tôi - Thượng sư Lư Thắng Ngạn - hoàn toàn không vướng bận, tự tại thong dong, dù cho khoảnh khắc tiếp theo có là cái chết, cũng không sợ hãi, không e ngại, dù cho trời sập, đất nứt, Thái Sơn sụp đổ trước mặt, vẫn cười hề hề, hoàn toàn không sợ, hoàn toàn không e ngại.

Muốn tĩnh tọa tham thiền, trước tiên phải học buông bỏ. Buông được thì tạp niệm vọng tưởng sẽ không còn, buông không được thì vẫn là phàm phu thế tục, chỉ đơn giản vậy thôi.

35. Từ cảm ứng Phật thất đến đồng tu Mật pháp

Sống tại số 245 đường Trung Sơn, thành phố Gia Nghĩa, Lại Bách Toàn là một Phật tử thuần thành, pháp danh Đức Giới. Ông đã quy y Chân Phật Tông. Trước đây, ông đã tham gia nhiều lần "Phật thất" và có nhiều cảm ứng. Nay tôi tiết lộ thư của ông và bình luận thêm. Lại Bách Toàn là kỹ sư tại Cục Điện Tín Gia Nghĩa.

Thượng sư Lư huệ nhãn minh giám!

Đã cách biệt nhiều năm, từng được Thượng sư từ bi chỉ dạy, đến nay chưa dám quên dù chỉ một khoảnh khắc. Hân hoan được biết Thượng sư đã chứng đắc Phật trí, thâm nhập biển Phật tính, diễn thuyết đại pháp âm. Niềm vui và cảm giác thân thuộc tự nhiên dâng trào trong tâm, giống như Thượng sư đã từng đến thăm nhà chúng con, đến tận Phật đường của kẻ hèn này, và từ bi hơn nữa là đã chọn đất mai táng cho người cha quá cố, tất cả những trải nghiệm này thật sống động và gần gũi, vững vàng và chân thật, tự nhiên mà không gượng ép.

Anh em nhà kẻ hèn này, may mắn được kết pháp duyên với Thượng sư, chẳng phải là duyên từ kiếp trước sao! Cả gia đình chúng con tin Phật, học Phật, niệm Phật, trên con đường cầu pháp, cùng nhau khuyến khích, thảo luận, trao đổi, chia sẻ tâm đắc. Từ trí tuệ bát nhã của Hiển giáo đi vào, từ chỉ - quán -giới - định - huệ khởi hành, rồi quay về ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày, và làm thế nào để tỉnh thức phát tâm lớn thực hành cuộc sống trung đạo theo tinh thần Trung Quán, để hợp thời hợp lẽ, viên dung cả thế gian và xuất thế gian. Vì thế mà có thể nhanh chóng lĩnh hội yếu chỉ tinh túy của Phật pháp.

Nói thẳng ra, những cuốn sách tâm linh mà Thượng sư viết cách đây bảy, tám năm vẫn chưa thể khiến chúng con tâm phục! (Từ góc độ Phật lý mà nói, thực sự có một phần không hòa hợp. Bởi vì, giữa đó có pha trộn và đề cập đến các lý thuyết khác như Đạo gia, mệnh lý, phong thủy địa lý), Phật lý được nói đến cũng khá đơn giản và có phần mơ hồ không rõ ràng (chỉ thuần dùng ý thức thông linh làm ví dụ, có dấu hiệu rơi vào vòng lẩn quẩn của thức thần trong cảnh thức mang chất liệu và ý thức độc ảnh). Nhưng, cho đến nay sau khi đọc liên tiếp nhiều tác phẩm lớn của Thượng sư: "Tọa Thiền Thông Minh Pháp", "Hành Giả ở Seattle", "Phục Ma Bình Yêu Truyện", "Sự Chứng Ngộ của Thượng Sư", "Hắc Giáo Hắc Pháp", "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp", đặc biệt khi đọc "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp", kẻ hèn thực sự phải trợn mắt kinh ngạc trước sự đột phá và tiến bộ thần tốc của Thượng sư! Cách diễn đạt và truyền tải ý nghĩa tâm linh trong sách (thấm nhuần văn tự bát nhã), âm hưởng của lòng từ bi và đại nguyện ẩn giữa dòng chữ (chứng đắc Bình đẳng tính trí nhập Đại viên kính trí của thực tướng bát nhã pháp ý) hiện rõ trên trang giấy, khiến kẻ hèn cảm động phấn khích không thể kìm nén, không thể không thốt lên lời tán thán và đảnh lễ Thượng sư. Ngưỡng mong sự từ bi và che chở của Thượng sư, sự rưới tắm của cam lộ ngày càng tăng không giảm.

Kẻ hèn tài sơ học cạn, lại mang nghiệp tội sâu nặng. Từ khi bắt đầu tin Phật đến nay, tuy thường có nhiều cảm ứng linh nghiệm, và từng trong vài lần pháp hội Phật thất, đã tận mắt nhìn thấy cõi liên hoa thanh tịnh với hoa sen to như bánh xe, du ngoạn qua ao bảy báu, vượt qua cầu chín khúc, và trong thiền quán niệm Phật, cảm nhận được sự xoa đầu từ bi của Phật A Di Đà và Quan Âm Thiên Thủ trên đài sen vàng, nhờ đó mà được Sám Công thượng nhân từ bi khen ngợi, đích thân truyền Ngũ giới. Từ đó, càng thêm dũng mãnh tinh tấn, vào tháng 12 năm 70, cũng thọ giới Bồ Tát tại gia, trong thời gian đó, sự đột phá trong việc tìm hiểu và tư duy quán chiếu Phật lý, có thể nói đã thưởng thức sâu sắc niềm pháp hỷ của thiền duyệt thâm sâu.

Nhưng tập khí sâu dày khó trừ, nghiệp nặng chướng sâu, đến nay, vẫn y như xưa, không có chút thành tựu nào. Tuy biết rằng tất cả các pháp hữu vi đều như mộng huyễn bóng ảnh, không nên chấp vết trụ tướng mà khởi tâm phiền não. Nhưng vẫn tự cảm thấy lãng phí thời gian, và có hiện tượng tâm đạo thoái chuyển. Từng có lúc cảnh giới "linh minh vũ trụ", "tịnh thổ quang minh" ấy đã không còn xuất hiện nữa.

Tự vấn lòng mình, con hoàn toàn tự tin có ý chí chiến đấu như một sư tử chúa, cùng với định lực và lòng kiên trì vững chắc, và cũng có sự thể ngộ trực tiếp về Như Lai tạng tính giống như tất cả chúng sinh. Nhưng tiếc thay vẫn còn những tình cảm thế gian khó buông bỏ (tự làm tự chịu), và không có tấm lòng triệt để quên mình vì pháp mà buông bỏ tất cả. Nên thường tự nhủ "chí không đạt được, là do không nghĩ đến vô thường", đau lòng xót xa, ngẩng mặt nhìn trời rơi lệ. Con hổ thẹn tự trách, gắng sức cầm bút, táo bạo tự tiến cử mình với Thượng sư, không lượng sức mình, ngưỡng mong Thượng sư thấu rõ tấm lòng thành khẩn của chúng con! Chỉ cầu xin Thượng sư từ bi thương xót mà ban cho quán đảnh quy y, gia trì thần lực, chỉ dạy con đường sáng của chính tri kiến trong việc tu hành. Con như kẻ hành giả què quặt đi không vững, khát khao sự nâng đỡ từ bi và gia hộ của Thượng sư; cũng như đất khô hạn mong mỏi mây mưa, tâm tình bày tỏ với Thượng sư trong lá thư này tuôn trào không thể kìm nén, phải chăng đây cũng là pháp duyên từ đời trước!

Con xin dùng trạng thái tĩnh định, quán không của cảnh giới tâm linh thanh tịnh để chờ đợi sự quán đảnh gia trì từ Thượng sư. Con cũng xin với tấm lòng khẩn thiết chân thành, cầu xin Thượng sư ban cho tâm pháp, mong Thượng sư đừng xem thường kẻ hèn này. Con sẽ càng tinh tấn dũng mãnh hơn để đạt được thành tựu về sự, thành tựu về lý, thành tựu viên dung vô ngại giữa sự và lý, để báo đáp chúng sinh, ân sư và chư Phật dù chỉ một phần nhỏ. Nghìn lời vạn ý, hóa thành một sức mạnh vững chắc của pháp ý lực, kính xin Thượng sư mãi vì chúng sinh mà trụ thế, thường chuyển pháp luân, và không nhập vào biển niết bàn tịch tĩnh!

Nam Mô A Di Đà Phật Hành giả thường hổ thẹn Lại Đức Giới kính bái.

Lá thư "xin quán đảnh quy y" này tràn đầy tâm tình của hành giả, có thể xem là sự bộc lộ tiếng lòng. Tôi đã từng nói trước đây, sách tôi viết giống như việc đào kênh đào, dùng phương pháp dẫn dắt, bắt đầu từ nền tảng căn bản nhất là khởi linh, dần dần hướng người ta vào chính tín. Cách viết này, trước là lớp sơ cấp, lớp trung cấp, cuối cùng mới là lớp cao cấp thành Phật. Bản thân tôi có sự kiên nhẫn bền bỉ này, từng bước một, không đạt mục đích thì không bao giờ dừng lại, đây là tâm ý khổ tâm độ hóa chúng sinh của tôi.

Lại Bách Toàn đã tham gia nhiều lần Phật thất, mỗi lần Phật thất đều có cảm ứng, nhìn thấy thánh cảnh của cõi liên hoa, và được Thiên Thủ Quan Âm xoa đầu, đây đều là những cảnh giới thù thắng tuyệt vời. Một người có được cảnh giới như vậy, có thể thấy duyên Phật của anh ấy sâu dày như thế nào, đã sớm nhận được tâm tương ứng do cõi Phật ban cho.

Phật thất, còn gọi là đả Phật thất. Thông thường, các chùa thiết lập đạo tràng, làm Phật sự trong bảy ngày, trong bảy ngày này chuyên tâm niệm A Di Đà Phật, có người niệm một cây hương, có người niệm nhiều cây hương, có hương đi kinh hành, có hương giữ im lặng, sinh hoạt rất quy củ, đều gọi là Phật thất. Còn có loại chuyên tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát gọi là Quan Âm thất, chuyên tâm niệm chú Vãng sinh gọi là Vãng sinh thất, tất cả những pháp hội này đều có thể gọi là Phật thất.

Phật thất có công năng "đắc minh chứng trong kỳ hạn", thường trong bảy ngày chuyên tâm niệm Phật, mỗi người tham gia, do tinh thần tập trung, sẽ xuất hiện những điềm lành cảm ứng, nhiều hiện tượng huyền diệu không thể tưởng tượng sẽ xuất hiện.

Có những người tham gia, trong tiếng niệm Phật, được tiếp dẫn đến thế giới Tây phương Cực Lạc, đạo tràng Phật thất biến thành hải hội nơi hồ sen Tây phương, được trực tiếp nghe Phật khai thị.

Có những người tham gia, trong tiếng niệm Phật, nhìn thấy nhiều hoa sen, từng đóa một hiện ra, to như bánh xe, như trong Kinh A Di Đà đã mô tả.

Có những người tham gia, trong tiếng niệm Phật, nhận thức rõ ràng minh bạch rằng chư Phật Bồ Tát thực sự đã đích thân đến đạo tràng, và để lại dấu ấn, thậm chí còn xoa đầu thọ ký cho những người tu hành chân thành, việc xoa đầu thọ ký này đều rõ ràng minh bạch.

Có những người tham gia, trong tiếng niệm Phật, đột nhiên hiểu ra chân lý của cuộc đời, cảnh giới ngộ sâu sắc, có cảm giác tâm khai ngộ sáng tỏ.

Trước đây, một người bạn đạo của tôi, vào ngày cuối cùng của khóa Phật thất, đang đứng niệm Phật, ông ấy đã cao tuổi, bỗng nhiên thấy A Di Đà Phật trước mặt trở nên sống động, ném đài sen vàng trong tay ra, và người bạn đạo hét lớn: "Phật đã đến, đài sen đến đón tôi rồi." Trong khoảnh khắc, ông đứng yên mà viên tịch. Ngay trong tiếng niệm Phật của ngày cuối cùng mà vãng sinh, ai nấy đều nói phước báu thật lớn, trong tiếng niệm Phật, đứng yên mà ra đi, đây là cách vãng sinh phi thường nhất, là cái chết bậc nhất.

Tham gia Phật thất là sự quy chuẩn hóa việc tu hành, về hình thức bên ngoài có một sức ràng buộc, bảo bạn trong bảy ngày này không nghĩ đến điều gì khác, hãy chuyên tâm niệm Phật tu hành! Do sự chuyên chú, những hiện tượng huyền diệu cảm ứng sẽ xuất hiện, đây là đạo lý tất yếu.

Chư Phật Bồ Tát hiển hiện trong Phật thất cũng là tùy thuận theo tâm của người niệm Phật mà thị hiện các loại thân, khiến chúng sinh thấy được thân Phật. Đạo lý là, khi chúng sinh giảm bớt vọng niệm riêng tư, tâm thanh tịnh như nước, Phật liền hiện ra trong đó. Có người không thấy được Phật là vì tâm tư dục quá nặng, vô minh quá sâu, nên trí tuệ không thể hiện tiền, tâm ô trược, dù có Phật Bồ Tát cũng không thể hiện ra được.

Vô minh mà Phật giáo nói đến, thực ra vô minh chính là tư dục hỗn độn, tư dục hỗn độn chính là bóng tối. Trí tuệ chính là ánh sáng, ánh sáng chính là cảnh giới giác ngộ, cảnh giới giác ngộ chính là tâm thanh tịnh. Có rất nhiều người không thể thấy được Phật vì họ có vô minh, khi có vô minh, phiền não liền nhiều lên, do phiền não mà trở nên si mê hơn. Quá nhiều si mê thì không có trí tuệ, mãi mãi không thể đạt được tương ứng, muốn thấy Phật, phải học thanh tịnh tâm, dừng hết tham sân si, như vậy mới có thể thấy được.

Việc lễ Phật, niệm Phật trong Phật thất chính là loại bỏ từng suy nghĩ hỗn loạn trong tâm trí. Trong thời gian này, không tiếp xúc điều gì cả, không đọc báo, không xem ti vi, không gặp người thân bạn bè, cấm nói chuyện, cấm phát ra tiếng, không xuống núi, thậm chí tất cả công việc riêng tư, nhớ nhung người thân, hoài niệm quá khứ, hồi ức tốt xấu, vọng niệm muôn hình vạn trạng, tất cả đều biến mất.

Như vậy, thân tâm hàng phục, bên ngoài kềm chế thân, bên trong kiềm chế tâm, một khi tâm thần tĩnh lặng, tất cả hiện tượng huyền diệu sẽ xuất hiện, đây chính là tương ứng.

Lá thư này của Lại Đức Giới khiến tôi cảm thấy Chân Phật Tông trong tương lai cũng cần phải có những thời khắc đồng tu Mật pháp. Chúng ta cần tìm ra một khoảng thời gian để cùng nhau tu tập Mật pháp, không phải chỉ một người tu trì, mà là tập hợp nhiều đệ tử cùng tu trì, sức mạnh tập thể của "chúng niệm" này mạnh hơn sức mạnh tu trì của một người. Ví dụ như tập trung quán tưởng một vật, đây là một loại huấn luyện đặc biệt, giúp mọi người tập trung sức mạnh ý niệm, khiến "vật" đó có thể nhanh chóng hiện ra trong quán tưởng.

Chúng ta cùng trì chú, khiến thần lực của chú đạt đến cõi Phật, thấm vào tâm chúng sinh, thấm vào ý thức chung của chúng sinh, chuyển thức thành trí, và sức mạnh tập thể của chú lực sẽ mạnh mẽ hơn, tất cả điều cầu nguyện sẽ lần lượt hiển hiện như ý.

Chúng ta kết ấn chung, hợp nhất tất cả thân thành một đại thân, trở thành ấn chính xác nhất, giúp khế nhập cõi Phật, đạt được ấn thân Phật.

Đồng tu Mật pháp cũng rất quan trọng, Chân Phật Tông trong tương lai phải nỗ lực thực hành theo hướng này, điều này rất có ý nghĩa. Đó là tập hợp thân của mọi người thành một thân, tập hợp ý niệm của mọi người thành một niệm, tập hợp ấn của mọi người thành một ấn, giúp tất cả chúng sinh cùng lên bờ giác, cũng giúp các đệ tử có thể đắc chứng đúng kỳ hạn, chứng minh đạt được nguồn đại đạo này.

Tôi viết một bài kệ: Thay Phật tập hợp cùng tu trì Tất cả bí mật hóa nhân luân Sớm đến bờ giác thành một nhà Chúng sinh hóa độ đạt vô biên.

36. Kỹ sư điện nói như vầy

Đây là một bức thư từ học giả kỹ sư, ông ấy đưa ra một số quan điểm, mong rằng độc giả cùng nghiên cứu.

Thượng sư Lư minh giám!

Viết thư này làm phiền Thượng sư, cảm thấy rất đường đột, trong lòng càng thêm bất an, nhưng ước muốn viết thư cho Thượng sư đã vấn vương trong tâm trí hơn ba năm qua, bên cạnh lời xin lỗi, chỉ mong được thông cảm! Nếu Thượng sư cho rằng giữa tôi và ngài chưa có duyên kết nối, xin đừng bận tâm, gác bỏ bức thư này cũng được. Tôi sẽ tiếp tục sớm tối thắp hương cầu nguyện trước Quan Âm Bồ Tát. Đến khi duyên phận đã đến, sẽ lại cầu xin Thượng sư chỉ dạy.

Hơn ba năm trước, tôi đã đọc được tác phẩm về linh học của Thượng sư tại hiệu sách, sau đó luôn để ý đến việc xuất bản các tác phẩm của Thượng sư, và đọc rất kĩ lưỡng. Nhờ được Thượng sư khai thị, khiến quan niệm nhân sinh của tôi trong hai ba năm qua đã thay đổi rất lớn, ngay cả đồng nghiệp trong công ty, bạn bè, thậm chí vợ tôi đều cảm thấy tôi đã thay đổi. Đúng vậy, đối với sinh tử, vật chất, tiền bạc danh lợi đều nhìn nhận nhạt nhòa hơn, đối với nhân tính trong xã hội hiện nay - đặc biệt là thế hệ trẻ, thực sự cảm thấy chán nản và buồn bã.

Mặc dù tôi là kỹ sư điện tử và đã làm việc trong ngành hơn mười năm, nhưng tôi chưa bao giờ mù quáng tin vào khoa học, tôi luôn thích phân tích và nghiên cứu mọi hiện tượng trong tự nhiên. Vài tháng trước, tại một hội thảo của "Hiệp hội Kỹ sư Năng lượng", một nhà khoa học đã đề cập đến vấn đề "năng lượng âm" trong bài thuyết trình chuyên đề của ông. Ông gọi tất cả vật chất trên trái đất và trong vũ trụ là năng lượng dương, và gọi cõi linh giới, cảnh giới của thần tiên Phật Tổ là năng lượng âm.

Năng lượng dương có cơ sở trong vật lý học, bởi vì tất cả vật chất đều được cấu tạo từ nguyên tử, và proton cùng electron trong nguyên tử ở trạng thái cân bằng không biểu hiện năng lượng, nhưng một khi bị tác động bởi ngoại lực thì có thể giải phóng năng lượng. Ông nói rằng, khi năng lượng âm bị năng lượng dương va chạm, nó sẽ nhảy vào ranh giới của năng lượng dương. Do đó, chúng ta có thể thấy một số hiện tượng từ cõi linh giới, như những thứ thuộc loại ma quỷ, thần linh. Sự tồn tại của thế giới thần linh là hoàn toàn khoa học, chứ không phải mê tín.

Đồng thời, nhà khoa học này gọi thần tiên là "con người" thế hệ thứ nhất trong vũ trụ, và loài người hiện nay trên Trái đất là thế hệ thứ hai được tạo ra bởi thế hệ thứ nhất, và tất cả quy luật trong tự nhiên là những chương trình được viết bởi thế hệ thứ nhất. Con người thế hệ thứ hai, dưới sự hướng dẫn của thế hệ thứ nhất, có thể sẽ tạo ra con người thế hệ thứ ba. Sự phát triển của khoa học hiện nay, sự phát minh của máy tính, việc sử dụng và cải tiến người máy chính là một khởi đầu......

Lập luận của nhà khoa học này khiến các kỹ sư có mặt cảm thấy rất thoải mái, một số người chỉ xem đó như câu chuyện giải trí. Nhưng trong lòng tôi lại nhen nhóm khát khao tìm hiểu, liên tục suy nghĩ, tìm kiếm bằng chứng và câu trả lời. Tôi luôn tin vào khả năng siêu việt của Thượng sư, tất cả những gì Thượng sư đã chứng nghiệm về cõi linh giới, nhưng tôi không thể chứng minh sự tồn tại của nó thuộc dạng năng lượng âm hay trạng thái khác. Nếu có thể dùng thực nghiệm để chứng minh rằng hình thức năng lượng âm chính là hình thức tồn tại của cõi linh giới, vậy thì nghiên cứu về linh học chẳng phải sẽ gần hơn với phương thức nghiên cứu hiện đại sao? Chẳng phải sẽ dễ dàng hơn để phá vỡ những tư tưởng mê tín khoa học sao? Giúp mọi người có nhận thức đúng đắn về cõi linh giới, chắc chắn sẽ tạo tác động tích cực đến sự thay đổi bản chất con người. Thế giới vật chất - phương diện năng lượng dương, và cõi linh giới - phương diện năng lượng âm hỗ trợ lẫn nhau, phối hợp hài hòa, địa ngục sẽ có ngày trống rỗng! Về điều này, Thượng sư có thể cho ý kiến không?

Kính chúc Phật an! Chu Thu Diệu kính bái. Địa chỉ: Phòng 531, Lầu 6, Tòa 25, Vịnh Dầu Đường, Cửu Long, Hồng Kông.

Bức thư này được viết bởi một kỹ sư điện tử, những người quan tâm nghiên cứu về năng lượng âm hoặc những ai đang nghiên cứu lĩnh vực này, có thể liên hệ với kỹ sư Chu để cùng nghiên cứu. Có lẽ trong tương lai không xa, con người sẽ dùng kiến thức khoa học thực sự để chứng minh nguồn gốc của sức mạnh vô song - năng lượng âm. Nghiên cứu này được gửi gắm cho tập thể trí tuệ nhân loại, cùng nhau đoàn kết, tiến về con đường rộng lớn dẫn đến một cõi tịnh thổ.

Con người ngày nay, do trào lưu khoa học và sự cạnh tranh khoa học dữ dội, tôi đã nhận thấy hiểm họa. Bởi vì nhân loại đang đứng trước nguy cơ bị khoa học lật đổ! Hướng nghiên cứu khoa học đang ẩn chứa một làn sóng ngầm hủy diệt nhân loại, giữa hai thế lực cực mạnh, bề ngoài tưởng chừng đã dẹp yên sóng gió, nhưng thực tế khó lòng dự đoán được cuộc khủng hoảng nhân loại hiện tại. Khoa học càng phát triển, vũ khí hủy diệt nhân loại càng nhiều, khi xung đột gay gắt đến mức không thể cùng tồn tại, đó chính là lúc toàn thể nhân loại bị đẩy vào cảnh diệt vong.

Ngày nay khoa học đã tạo ra những gì? Tạo ra những điều "vi phạm tự nhiên", dù đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho nhân loại, nhưng lợi hại đều hiện rõ, những sai lầm nghiêm trọng hiện tại đã đến mức nguy hiểm nhất, khiến lòng người khắp thế giới bất an không thể yên ổn. Bởi vì sức mạnh khoa học, những vũ khí có thể hủy diệt Trái đất như bom nguyên tử, bom hạt nhân, bom neutron đã được chế tạo từ lâu, chỉ là chưa có ai nhấn nút kích hoạt mà thôi.

Tập thể trí tuệ khoa học đã phát triển đến mức đặt cược vận mệnh và hạnh phúc của toàn nhân loại vào canh bạc lớn nhất, liệu đây có thể gọi là lý trí không? Có thể gọi là khoa học không? Trào lưu tư tưởng của nhân loại cần phải coi trọng cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tự nhiên, bước đi trên con đường chân lý phát triển cân bằng. Sự phát triển của văn minh tâm lý cũng cần được tiến hành đồng thời, một chiếc chìa khóa tâm linh có thể mở ra cánh cửa chân lý. Nghiên cứu khoa học vật chất cần có định hướng đúng đắn, nếu không toàn thể nhân loại sẽ bị hủy diệt bởi bàn tay ma quỷ của khoa học!

37. Người thân nơi đất khách

—— Ghi lại chuyến thăm của bảy vị Chủ tịch tỉnh và thành phố

Khi bảy vị Chủ tịch tỉnh và thành phố đến thành phố Seattle và vừa xuống máy bay, thư ký Hội Điều phối Sự vụ Bắc Mỹ Cố Trúc Sơn tiến lên phía trước, hỏi Chủ tịch tỉnh Gia Nghĩa Đồ Đức Kỳ: "Chủ tịch có biết Thượng sư Lư Thắng Ngạn không?" "Biết chứ, đương nhiên là biết, ông ấy là thầy của tôi mà!" - Chủ tịch Đồ trả lời đầy phấn khích. Thư ký Cố đưa số điện thoại của tôi cho Chủ tịch Đồ Đức Kỳ.

Sáng sớm ngày hôm sau, Chủ tịch Đồ đã gọi điện thoại đến. Tôi nói: "Tôi là Lư Thắng Ngạn." "A! Tôi là Đồ Đức Kỳ, đã lâu lắm rồi không được nghe giọng nói của thầy, thật tốt khi được nghe giọng nói của thầy, thật tốt khi được nghe giọng nói thầy."

Chủ tịch Đồ lặp đi lặp lại những lời như vậy khiến tôi vô cùng xúc động, tôi không thể nói nên lời. Chủ tịch Đồ nói với tôi qua điện thoại rằng chuyến đi Mỹ lần này là để tham dự hội nghị thị trưởng thế giới, nước chúng tôi cử bảy vị chủ tịch tỉnh và thành phố tham dự, nhân tiện thăm hỏi kiều bào. Ngoài ra, cả bảy vị chủ tịch đều biết Thượng sư, và muốn cùng đến nhà tôi để trò chuyện.

Lúc này, tôi nghĩ trong lòng, tôi chưa từng đến thăm bảy vị chủ tịch tỉnh và thành phố, đặc biệt là họ đến từ xa, khách từ phương xa đến, lại là những người bạn cũ, họ lại không quen thuộc với Seattle, làm sao có thể để các vị chủ tịch phải tự mình đến. Vì vậy, chúng tôi hẹn nhau, tôi sẽ đến khách sạn Sheraton nơi họ đang lưu trú.

Tôi đến khách sạn Sheraton, không phải một mình, mà cùng với mẹ tôi (mẹ tôi vừa đến chơi), vợ tôi Lư Lệ Hương, Thượng sư Trần Tước Viên, Trần Sâm Long, Trần Sâm Hà, chúng tôi lái một chiếc Lincoln và một chiếc Chevrolet, rầm rộ đến gặp đoàn các vị chủ tịch.

Tại tầng trệt khách sạn Sheraton, các vị chủ tịch đang đợi chúng tôi, chúng tôi bắt tay nhau thật chặt. Ôi, đã bao lâu không gặp nhau? Có chút thay đổi rồi, dạo này thế nào? Chúng tôi gặp nhau như người thân trong gia đình, và Chủ tịch Đồ khi nhìn thấy tôi, liên tục gọi "thầy ơi, thầy ơi".

Điều này khiến tôi nhớ lại những ngày xa xưa, rất lâu rồi, khi đó Chủ tịch Đồ vẫn chưa trở thành chủ tịch! Một buổi tối, tại nhà của Phó Chủ tịch Đảng bộ tỉnh Quách Triết, hôm đó trời rất lạnh, mọi người quây quần ăn lẩu, tôi từng thở dài nói: "Bây giờ chúng ta quây quần ăn lẩu, nhưng mười năm sau, người làm chủ tịch sẽ làm chủ tịch, người làm quan to sẽ làm quan to, còn tôi, có thể sẽ phiêu bạt tới chân trời góc biển." Quách Triết cười: "Không sao, góc biển cũng là thiên đường, hữu duyên vẫn sẽ gặp lại nhau."

Tối đó chúng tôi uống rượu mạnh, mỗi người đều tràn đầy tình cảm nồng ấm. Mà quả thật, giữa người với người chính là duyên phận, ngay cả ở xứ người đất khách, cũng có thể gặp được người thân, chúng tôi thích gọi Chủ tịch Đồ Đức Kỳ là "Huyện lão gia", Huyện lão gia tuần du đến Mỹ giống như Thành hoàng Gia Nghĩa đi tuần vậy.

Chủ tịch thành phố Cao Hùng Hứa Thủy Đức có bàn tay rộng, bắt tay rất chặt, diện mạo thông minh và oai vệ.

Thị trưởng thành phố Gia Nghĩa Trương Bác Nhã là một nữ thị trưởng, bà nói: "Tôi đã đọc rất nhiều sách của thầy, tôi là độc giả của thầy." Trương Bác Nhã rất trẻ, mặc trang phục màu nhạt, toát lên vẻ thanh lịch và quý phái.

Chủ tịch tỉnh Đài Đông mang nụ cười trên khuôn mặt, thuộc tuýp người điềm đạm.

Tôi cũng bắt tay với các vị chủ tịch tỉnh và thành phố khác, và chúng tôi đều trao đổi vài câu thăm hỏi.

Tôi đã trò chuyện riêng với Chủ tịch Đồ Đức Kỳ đến tận hai giờ sáng. Khi chúng tôi định ra về vì đã khuya, chủ nhà nói rằng ông không hề mệt và liên tục mời chúng tôi ngồi lại thêm, nói rằng: "Hiếm có mà! Hiếm có dịp được gặp nhau." Tôi biết họ phải tham dự nhiều cuộc họp, như Hiệp hội Trung Quốc Tự do, Hiệp hội Kỹ sư Trung Quốc, tiệc đón tiếp của Hoa kiều, các buổi tiệc quảng bá ở hải ngoại, và họ hiếm khi có thời gian nghỉ ngơi.

Trong cuộc trò chuyện, tôi cảm nhận được sự khoáng đạt của Chủ tịch Đồ. Ông vẫn rất giỏi ăn nói và có cái nhìn rất thấu đáo về cuộc đời. Ông nói: "Cảnh giới của cuộc đời, chỉ cần dùng một tâm thái khác để hòa hợp với thế gian, sẽ có một cảnh giới và ý nghĩa khác biệt. Tâm thái khác biệt này chính là hai chữ 'Vân Thủy' [mây nước]."

Thực ra tôi chính là một người sống cuộc đời "vân thủy", mây không ngăn nước, nước không ngăn mây, cuộc sống của tôi là "nhẹ nhàng dễ dàng, thuận theo tự nhiên", dù ở trong nước hay nước ngoài, tôi vẫn sống những ngày tháng hạnh phúc của mình, bất kì việc gì, vật gì đều không ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi, tôi trở nên hoàn toàn tự do tự tại. Sự tự nhiên như nước của tôi chính là biểu hiện rõ ràng của sự sống động, cuộc sống chính là tu hành, mang theo ý nghĩa của sự dạy dỗ bằng hành động.

Chúng tôi đã xây dựng đạo tràng Chân Phật Tông tại Seattle, Hoa Kỳ. Chủ tịch Đồ cho rằng điều này có ý nghĩa to lớn.

Trong lần gặp gỡ người thân nơi hải ngoại này, chúng tôi cảm nhận được rằng "vạn sự đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi, tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh, mọi sự vật trong thế gian này đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi." Sự thấu hiểu này chính là nơi đạt đến giác ngộ, cũng chính là nơi đạt đến chứng ngộ!

Chủ tịch Đồ tặng cho mỗi người một chiếc cà vạt, chúng tôi không có gì để tặng cho Chủ tịch Đồ, chỉ mang theo vài món quà lưu niệm từ Seattle để tặng ông.

Sự gặp gỡ giữa người với người là để rồi chia xa. Những người đã chia tay, chắc chắn sẽ gặp lại nhau. Tôi nói, chỉ cần có duyên, những người có duyên với nhau nhất định sẽ gặp lại.

38. Người không giữ chữ tín thì không có chỗ đứng

Ngày 13 tháng 6 năm 1984, tôi nhận được một lá thư gửi từ San Francisco, Hoa Kỳ. Người này có tên tiếng Anh là "SANNY LAM". Dưới đây là nội dung bức thư của cô ấy:

Kính gửi Thượng sư Lư,

Tôi là người Quảng Đông, sinh ra ở Hồng Kông, đã sống ở Mỹ hơn 16 năm. Trình độ tiếng Trung của tôi còn hạn chế, văn phong không được trôi chảy, mong Thầy thông cảm.

Tôi bắt đầu đọc tác phẩm của Thầy từ ba năm trước, khi được một nhà tướng số nổi tiếng giới thiệu. Lúc đó tôi mới biết Thượng sư là bậc cao nhân, và sau khi đọc sách của Thầy, tôi càng kinh ngạc nhận ra Thầy như một vị thần tiên. Cách đây bốn, năm năm, tôi từng tham gia lớp học phong thủy của một vị thầy nọ, trong đó chín trên mười học viên là những người giàu có từ Đài Loan sang Mỹ, thậm chí có cả người nổi tiếng như Thang Lan Hoa cũng tham gia lớp học.

Về mặt này, cách đối xử tất nhiên là khác nhau. Đối với những người nổi tiếng và giàu có cầu xin chỉ giáo, chỉ trong hai ba ngày là vị thầy đó đã đến tận nơi quan sát phong thủy, xem tướng, truyền động lực, và dạy các phương pháp tránh tà khí, truyền thụ tất cả. Tuy nhiên, tại buổi tiệc cảm ơn thầy, tôi đã trúng giải nhất trong trò rút thăm may mắn. Giải nhất là "đặc quyền được mời vị thầy đến nhà xem phong thủy, chỉ điểm miễn phí". Nhưng sau buổi tiệc, mỗi lần tôi đặt lịch hẹn đều bị từ chối với lý do bận việc. Tôi đã đặt lịch nhiều lần, chờ đợi hơn ba năm, đến nay tôi đã bán nhà rồi mà vẫn chưa có may mắn được vị thầy đó ban cho một buổi xem phong thủy.

Tôi biết Thượng sư Lư sớm tối chăm chỉ tu tập Mật pháp nên hiếm khi rảnh rỗi, nhưng vì việc của tôi khẩn cấp nên đã viết thư làm phiền Thầy, kính mong Thầy thông cảm. ..................... Kính chúc bình an!
Lâm Nhạn Linh chắp tay.

Cô Lâm Nhạn Linh này cũng là người trong giới truyền hình, trước đây cô ấy cũng từng làm việc trong lĩnh vực truyền hình. Về tính xác thực của lá thư này như thế nào, có nhân vật, có thời gian, có địa điểm, có diễn biến sự việc, các bạn đọc có thể cảm nhận từ nội dung bức thư, tôi cũng không cần phải chú thích thêm, mọi người đọc xong sẽ tự hiểu.

Tuy nhiên, trong bài viết ngắn này, tôi muốn giải thích sơ qua về câu "người không có chữ tín thì không có chỗ đứng". Tôi nhớ từ rất lâu về trước, sư phụ của tôi đã nói với tôi rằng, phải biết rằng con người muốn đứng vững giữa trời đất, hoàn toàn chỉ dựa vào một chữ tín mà thôi, trời đất và con người đều phải giữ chữ tín.

Sư phụ của tôi giải thích như sau: "Trời là nói về chữ tín. Tín của trời là sự tuần hoàn của bốn mùa xuân hạ thu đông, là sự luân chuyển qua lại giữa ngày và đêm, là mặt trời mặt trăng lên xuống đối nhau, là sự đối lưu của không khí, là 365 ngày một năm, có trật tự có mực thước, đó chính là tín của trời. Còn tín của đất, núi sông đại địa đều có quy luật vận hành riêng, nước chảy trong khe, cây mọc trên núi, núi sông quấn quýt, đất đai có sự nuôi dưỡng của nó, trồng đậu thì mọc đậu, trồng dưa thì mọc dưa, trồng gì được nấy, trong đất có dầu, đào lên được dầu, trong đất có khoáng sản, đào lên được khoáng sản, trong đất có nước, đào lên được nước, nên giếng dầu ra dầu, giếng nước ra nước, trong sa mạc cũng có ốc đảo xanh tươi. Đó chính là tín của đất. Còn về con người, nếu không có chữ tín, vạn sự không thành, người không có chữ tín thì không đứng vững được, sự nghiệp gia đình cũng không thành. Tín là chủ của ngũ thường, tín thuộc hành Thổ trong Ngũ Hành, Thổ là nền tảng của Ngũ Hành, không có Thổ thì Kim Mộc Thủy Hỏa đều không tồn tại. Còn người học Phật tu đạo, nếu không biết giữ chữ tín, tâm sẽ không định, ý khó giữ được, tuy muốn học đạo nhưng đạo nhất định không thành tựu, cho nên làm người, tuyệt đối không thể thiếu chữ tín."

Mặc dù "tín" chỉ là nền tảng của đạo làm người, nhưng người không có chữ tín thì không có chỗ đứng. Chúng ta là người tu đạo, lấy sự vững vàng của nhân đạo để phù hợp với thiên đạo, lấy thiên đạo để phù hợp với Phật đạo. Nếu ngay cả nhân đạo còn không vững, thì Phật đạo chắc chắn không thành. Dù miệng nói hay đến đâu, vẫn chỉ là hư vọng, vẫn chỉ là giả dối.

Một người không có chữ tín, nếu không quyết tâm thay đổi cách sống của mình, dù tài trí thông minh đến đâu, miệng nói hay ho đến mấy, vẫn chỉ là lâu đài trên cát, không có năng lực thực sự. Sự lừa dối này cũng chỉ là hiện tượng nhất thời mà thôi. Lâu dần, sơ hở sẽ lộ ra hết, đuôi cáo cũng không thể thu vào được nữa. Dù ăn nói như hoa sen nở cũng chỉ là hư vọng mà thôi!

Khi nói về chữ tín với người khác, chúng ta không nên phân biệt đối xử, dù là với người có địa vị cao, với đại gia giàu có, với người dân thường, hay với những người lao động bình dân, đều phải đối xử công bằng như nhau. Bởi vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính, mỗi người đều là Phật tử của Tây Thiên, không thể thiên vị người này, coi nhẹ người kia, làm mất đi nền tảng của chữ tín.

Về việc vị đại sư nọ không giữ chữ tín, tôi không muốn tốn công bút mực để chỉ trích phê bình việc này, nhưng đây là một cơ hội giáo dục tốt. Tín là mẹ của tất cả công đức, đạo cần có tín mới thành, người cần có tín mới đứng vững, tất cả đệ tử của Chân Phật Tông cần ghi nhớ điều này! Hãy ghi nhớ.

39. Các kiểu cúng dường

Người tu Mật tông cần biết phương pháp cúng dường. Người học Mật pháp, tay kết ấn, miệng thầm niệm "Om Ah Hum", cúi người lạy xuống, chính là dùng thân, khẩu, ý tam nghiệp để cúng dường Thượng sư và chư Phật Bồ Tát.

Cúng dường trong Mật tông có nhiều loại:

  1. Nội cúng dường, sử dụng pháp Kapala để cúng dường.
  2. Ngoại cúng dường, ngũ cúng, lục cúng, thất cúng, bát cúng, thập lục cúng, tam thập thất cúng, mandala cúng, v.v... đều thuộc loại này.
  3. Mật cúng dường, còn gọi là tâm cúng dường, làm việc thiện để cúng dường, công đức cúng dường, cúng dường qua hành vi của Bổn tôn.
  4. Tài cúng dường, tức là tài thí (bố thí của cải), người cúng dường, thượng sư, tài vật, thấu hiểu nghĩa Không mà cúng dường.
  5. Cúng dường lửa, dùng hương thơm đốt gỗ Hộ Ma, là phương pháp cúng dường để tiêu trừ nghiệp lực và phiền não.
  6. Cúng dường bằng nước, dùng nước trong để thanh tịnh nghiệp, là phương pháp cúng dường để tiêu trừ nghiệp lực và phiền não.

Cúng dường mang ý nghĩa thể hiện lòng chân thành, đồng thời thể hiện khả năng buông bỏ và bố thí, biểu thị sự coi trọng pháp của Thượng sư, nhờ công đức này, việc tu pháp mới được tương ứng.

Về phương diện cúng dường, có một lá thư đã khiến tôi vô cùng xúc động.

Kính thưa ân sư tôn kính, chào Thầy. Đã nhận được chỉ dạy của Thầy.

Con xin cảm ơn ân sư vì những kỳ vọng sâu xa đối với Tín Pháp Đường, khiến đệ tử vô cùng hổ thẹn. Vì năng lực của đệ tử quá thấp kém, nghiệp chướng quá nặng, tiến bộ quá chậm, lòng thì muốn mà sức không đủ, e rằng sẽ làm phụ lòng mong đợi. Nhưng dù thế nào, đệ tử cũng sẽ tận tâm tận lực cống hiến trọn đời mình để báo đáp ân sư và chư Phật Bồ Tát.

Con cảm ơn ân sư đã ban cho đệ tử bài kệ về pháp tu "nhiệt tức", giúp đệ tử hiểu được một số chân lý. Đệ tử sẽ trân trọng, và khẩn cầu ân sư trong tương lai khi thích hợp ban cho chỉ dẫn kịp thời, để đệ tử sớm thành tựu, sớm thực hiện tự độ độ tha, đó là nguyện vọng lớn nhất!

Các đệ tử ở đây vô cùng mong mỏi ân sư có thể đến Hồng Kông để kỷ niệm sinh nhật, chúng con sẽ vô cùng vinh hạnh và hạnh phúc! Hiện tại, các sư huynh ở đây đã tự nguyện phát tâm cúng dường ân sư đến Hồng Kông hoằng pháp với số tiền hơn 13 nghìn đồng, dùng cho tất cả chi phí ăn ở và thuê địa điểm pháp hội trong thời gian ân sư đến Hồng Kông. Các sư huynh tự nguyện phát tâm cúng dường ân sư đến hoằng pháp với lòng thành kính sâu sắc. Đã xuất hiện một số trường hợp vô cùng cảm động:

Như sư huynh Chu Quan Sâm (Liên Thiên), khoảng 50 tuổi, độc thân, làm tạp vụ trong ngành xây dựng, lương tháng chỉ có 1.300 đô la Hong Kong (mỗi tháng sau khi trả tiền thuê nhà đắt đỏ và tiền ăn uống, hầu như không còn gì). Lần này để cúng dường ân sư đến Hong Kong hoằng pháp, anh tự nguyện đóng góp 1.000 đô la. Đệ tử đã nói với anh ấy rằng Thượng sư rất quan tâm đến đời sống kinh tế của các đệ tử, và bảo anh không nên quá gượng ép bản thân. Anh ấy nói: "Mỗi tháng ngoài việc gửi tiền về cho mẹ ở Đại Lục, tôi luôn nhớ đến Thượng sư, tôi muốn cúng dường hết sức mình! Bởi vì 'không có mẹ, làm sao có thân mạng'? 'Không có Thượng sư, làm sao có huệ mạng'?" Câu nói này của anh ấy thật cảm động, khiến đệ tử vô cùng khâm phục! (Sư huynh Liên Thiên ăn chay nhiều năm, làm việc chân tay vất vả nhưng tinh thần rất tốt.) Lại như Giản Mạn Diễm (Liên Sĩ), Thái Kiện Minh (Liên Dĩ), Thái Kiện Huy (Liên Nhân) là ba mẹ con, Liên Dĩ và Liên Nhân đều đang học trung học, cả gia đình chỉ dựa vào một mình Liên Sĩ làm công việc lao công để nuôi sống gia đình và chi trả học phí cho hai con. Tiền lương ít ỏi, gánh nặng rất lớn, phải thuê một căn phòng nhỏ để ở (chỉ đủ chỗ cho một chiếc giường nhỏ hai tầng và một cái bàn học) thực sự là "nhà vỏ ốc" vậy, chỉ cách nhà hàng xóm bằng một tấm ván gỗ!

Ngoài việc thường ngày cúng dường Thượng sư, lần này để cúng dường Thượng sư đến Hong Kong hoằng pháp, họ đã tự nguyện đưa ra tới 3.000 đô la! Khiến đệ tử vô cùng cảm động, chị ấy nói: "Từ khi ba mẹ con chúng tôi quy y Thượng sư vào tháng 6 năm ngoái, chúng tôi đã bắt đầu tích góp số tiền này, mong Thượng sư đến Hong Kong cứu độ chúng sinh!" Đệ tử đã từng vì câu nói này mà cảm động đến nỗi phải lẻn đi khóc thầm, đây cũng chính là tâm nguyện của đệ tử! Về sau, dù đệ tử và vợ đã nhiều lần can ngăn Liên Sĩ (chúng con không dám nhận tiền của chị ấy) nhưng đều không thành. Sau đó đệ tử đồng ý nhận hộ 500 đồng, nhưng chị ấy vẫn không chịu, nhất định phải nhận hết, sau nhiều lần "đùn đẩy", cuối cùng chị ấy đồng ý để đệ tử nhận hộ 1.000 đồng, mới tạm giải quyết được. (Liên Sĩ nghèo khó, thường hay đau ốm, đều không có nhiều tiền để chữa trị. Đệ tử vốn không có quyền ngăn cản các sư huynh cúng dường Thượng sư, đây là công đức của họ. Nhưng trường hợp này hơi đặc biệt, đệ tử không dám nhận hộ nhiều tiền như vậy mà không có sự đồng ý của ân sư. Nhưng ngược lại, đệ tử can ngăn chị ấy mà không xin phép ân sư trước, cũng không biết đúng hay sai? Nếu lần này làm không đúng, xin ân sư chỉ ra và tha thứ!)

Từ những ví dụ trên, có thể thấy việc ân sư đến Hong Kong hoằng pháp là niềm phấn chấn và khích lệ to lớn đối với các sư huynh Chân Phật Tông ở Hồng Kông, đủ thấy sự vĩ đại của ân sư và tình cảm sâu sắc mà thầy mang lại. ............. Kính chúc Phật quang phổ chiếu! Đệ tử Liên Hàn chắp tay.

Nhận được lá thư này, tôi cũng cảm thấy vô cùng xúc động. Cần biết rằng mục đích lớn nhất của việc cúng dường Thượng sư là để đối trị lòng keo kiệt, tham lam. Cúng dường Thượng sư, nhận được sự gia trì của Thượng sư là một phương pháp tu phước. Có một bài kệ nói rằng: "Người bố thí, đối tượng nhận bố thí và vật bố thí, trong ba đời không có gì để được, chúng ta an trụ trong tâm tối thắng, cúng dường tất cả chư Phật mười phương."

Nếu một người có thể bình đẳng cúng dường lên trên và bố thí xuống dưới, đây là công đức đệ nhất của cúng dường bố thí. Nếu cảm nhận kĩ, một người phát tâm cúng Phật một ngọn đèn, một ly nước, một nén hương, một bữa cơm, công đức này tuy nhỏ nhưng tâm bồ đề phát ra là chân thành, điều này sẽ trở thành "nhân nhỏ quả lớn". Phải biết rằng ý niệm cúng dường xuất phát từ tâm, đây là sự liên kết giữa nhân quả, tâm cúng dường này nhất định sẽ nảy mầm, trở thành mầm đạo, sẽ phát triển, và kết quả, trở thành quả Phật.

Vì vậy, phát tâm cúng dường là quan trọng nhất, phát tâm chân thành, chính là "cúng dường bằng tâm".

Cá nhân tôi rất quan tâm đến đời sống kinh tế của tất cả các đệ tử. Trong số đệ tử của tôi, có những người là tỷ phú, nói họ giàu có sánh ngang một quốc gia cũng không quá đáng, có đảo riêng, có tàu, có máy bay, doanh nghiệp trải khắp toàn cầu. Tuy nhiên, trong số đệ tử của tôi cũng có những người rất nghèo khó, mỗi ngày lo lắng ba bữa ăn, không trả nổi tiền thuê nhà, nghèo đến mức không có áo che thân, có nữ đệ tử thậm chí phải bán thân để sinh sống. Tôi quan tâm đến cuộc sống của các đệ tử của mình, tôi mong muốn các đệ tử của tôi có thu nhập chính đáng, mọi người đều thoát khỏi thân phận nghèo, không bị tiền bạc làm phiền não. Tôi ngày ngày thời thời cầu nguyện cho đệ tử của mình, hy vọng các đệ tử được an lạc, giải thoát khỏi mọi đau khổ và phiền muộn.

Khi đệ tử cúng dường theo lòng thành, tôi luôn không tính toán. Cúng dường nhiều, tôi không tỏ vẻ vui mừng; cúng dường ít, tôi không hiện sự giận dữ. Cuộc đời tôi chỉ có hai chữ "tùy ý", nghĩa là tùy theo ý của mọi người. Trong đời này, tôi chưa từng quy định số tiền cụ thể, khi tôi giúp đỡ người khác, hoặc khi họ đến quy y với tôi, tôi chưa bao giờ ấn định mức phí. Pháp hội cầu phúc, pháp hội siêu độ, đăng ký tham dự, tất cả đều tùy ý.

Đối với người giàu có, khi bố thí tài vật, nên giữ tâm cứu độ, tâm cứu giúp thế gian, không nên mang tâm danh lợi. Bố thí như vậy là bố thí từ bi, là thực hành bố thí vô úy, vì đã bố thí, tự nhiên sự giàu có sẽ trở lại, công đức rất lớn. Người nghèo khó, dù tiền bố thí ít, nhưng dù nhiều hay ít tiền, tâm thành kính phát ra là như nhau, công đức cũng lớn như nhau, không có sự phân biệt, điều này là quan trọng nhất. Vì vậy, Thượng sư hy vọng sau này khi đệ tử làm việc thiện, không phân biệt tiền nhiều hay ít, chỉ xem tâm phát ra có chân thành hay không mà thôi.

Đệ tử ở Hồng Kông, người tuy nghèo nhưng chí không nghèo, thậm chí nghèo mà vẫn có thể bố thí, thật đáng khâm phục, đây là an trụ tâm tối thắng, chư Phật Bồ Tát chắc chắn sẽ ban phúc, phát tâm bồ đề, có công đức lớn. Tuy nhiên, tôi mong rằng, tất cả đệ tử hãy lượng sức mà làm, lượng sức mà cúng dường, đừng miễn cưỡng bản thân, bởi vì miễn cưỡng bản thân, làm khổ chính mình, cũng không phải là điều Thượng sư mong muốn, mọi người nên hiểu rõ tâm ý của tôi.

Ý định của tôi là: Người giàu có thể bố thí lớn. Cúng dường lớn. Người bình thường bố thí bình thường. Cúng dường nhỏ. Người nghèo bố thí bằng tâm ý. Cúng dường bằng ý. Tất cả đều có công đức.

40. Tiếng lòng của người cầu quy y

🌟 Thứ nhất:

Kim cương Thượng sư Lư Thắng Ngạn trên cao minh giám!

Kẻ hèn Ngũ Quốc Hiền, có duyên đọc tác phẩm "Siêu giác của linh hồn" của thầy tại Hồng Kông cách đây 6 năm. Sau khi đọc, tôi cảm thấy lòng dâng trào cảm xúc, đây thực sự là tác phẩm hiếm có từ xưa đến nay, tâm trạng phấn khởi, thán phục rằng trên đời lại có cuốn sách kỳ diệu như vậy. Sau đó, tôi đã sưu tầm sách của Thượng sư, và hiện nay tôi có hơn 30 quyển.

3 năm trước, tôi có duyên du lịch Đài Loan và đã hy vọng được gặp Thượng sư một lần, nhưng tiếc là không có duyên gặp được, lòng cảm thấy nuối tiếc.

Mấy năm trước, cả gia đình tôi đã chuyển đến Vancouver, Canada. Mới đây, khi đến thư viện của Hội Phật giáo Thế giới ở Vancouver, tôi vui mừng phát hiện nhiều sách mới của Thượng sư đã được xuất bản. Trong cuốn "Thế giới của con mắt thứ ba", tôi được biết Thượng sư Lư đã chuyển đến Seattle, Hoa Kỳ. Tôi vui mừng khôn xiết khi biết nơi ở của Thượng sư chỉ cách Vancouver có 3 giờ lái xe. Lần này tôi nhất định sẽ đến kết duyên, để thỏa nguyện ước bao năm qua.

Bản thân tôi không giỏi khen ngợi, nhưng đối với các sách tâm linh của Thượng sư, tôi chỉ có thể nói một câu: khiến tôi khâm phục, kính trọng đến mức năm vóc sát đất. Đối với cảnh giới siêu việt, khí phách vô úy, và sự thấu hiểu Phật lý của Thượng sư, tôi càng thêm kính ngưỡng từ tận đáy lòng. Trên trời dưới đất, chỉ có duy nhất Thượng sư mà thôi.

Hiện nay, tôi cũng có một câu chuyện kỳ lạ, vô cùng xác thực, đó là về cha vợ tôi, ông Trương Chương.

Cha vợ tôi, ông Trương Chương, sinh tại Huệ Châu, Quảng Đông, vào ngày 23 tháng 10 năm Kỷ Hợi, năm nay đã 86 tuổi. Suốt đời ông hiếm khi đau ốm, luôn tràn đầy sinh lực, ông có khả năng quan sát thiên văn, xem địa lý, trong nhà thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát. Truyền thuyết khi ông chào đời là cửa nhà đóng kín, chỉ có mẹ ông và ông lúc mới sinh, không có bà đỡ, ngay khi ông vừa chào đời, mẹ ông đã ăn chay trường.

Khi còn trẻ, ông thường ngủ trên tảng đá ở vùng quê, mỗi lần thức dậy, ông đều bị một sức mạnh vô hình di chuyển đến nơi khác để ngủ. Có lần ông lên núi khảo sát địa hình, tình cờ nghỉ ngơi trong hang, một con hổ đi vào, nằm cùng, họ sưởi ấm cho nhau, hổ không làm hại ông. Ông biết rõ quá khứ và tương lai của bất kì ai, có thể cho người khác biết thời điểm sinh tử của họ, mỗi khi ông ngủ, nhiều người nhìn thấy ánh sáng tỏa ra từ cơ thể ông, khả năng chữa bệnh của ông cũng rất xuất chúng. Linh hồn ông thường xuyên du hành, từng đến nơi Quan Thế Âm ở Nam Hải, từng lên thiên đình, và từng du hành khắp địa ngục.

Tôi từng mang sách tâm linh của Thượng sư đến hỏi cha vợ tôi về sự tích của Thượng sư, ông ấy nói lai lịch của Thượng sư có nền tảng sâu dày, là bậc đại trí tuệ chân chính, những điều viết trong sách đều là sự thật. Thượng sư mang trọng trách, đã công khai bí mật của thế giới linh tiên, là người đến để cứu độ chúng sinh.

Kẻ hèn này tài mọn, căn cơ nông cạn, đạo hạnh chưa đủ, sống mơ hồ trên đời. Hiện nay nhờ duyên may hội tụ, đã tìm được bậc minh sư hiếm có trong thiên hạ, tất nhiên không cam tâm đứng sau người khác, kính cẩn lo sợ, viết thư cầu xin Thượng sư mở lòng từ bi. Xin thương xót nhìn xuống, thu nhận làm đệ tử của Chân Phật Tông.

Kẻ hèn tự biết việc này là quá cao đối với mình, nhưng mong Phật độ người có duyên. Tự biết mình thấp kém, nhưng may mắn tự nhận thấy mình làm người thật thà, còn có một tấm lòng chân thành theo đuổi chân lý vũ trụ. Tôi sinh tại huyện Vân Phù, Quảng Đông, tốt nghiệp ngành Xây dựng Dân dụng tại Đại học Bách khoa Hồng Kông, làm thanh tra ông trình.

Kính chúc Phật đạo ngày càng thịnh vượng, Chân Phật Tông sớm được phát huy rạng rỡ tại Mỹ và Canada.

Ngũ Quốc Hiền chắp tay.

🌟  Thứ hai:

Thượng sư Lư Thắng Ngạn, chào thầy!

Trước tiên cho phép tôi kính chúc Thượng sư sức khỏe dồi dào, tâm trạng vui vẻ.

Tôi tên Lưu Quốc Cẩn, sinh năm Quý Mùi tại Indonesia. Nhìn lại chặng đường dài của cuộc đời, tôi đã đi được hơn nửa hành trình, nhưng luôn cảm thấy bận rộn vì mưu sinh. Đúng lúc tôi đang hoang mang, may mắn thay tác phẩm lớn của Thượng sư đã đến tay tôi, nhờ đó, cuộc sống của tôi có được phương hướng cũng như niềm tin, và con đường đời trở nên có ý nghĩa để theo đuổi.

Gia đình tôi cũng là một gia đình điển hình tin Phật thờ thần. Nhớ lại thời thơ ấu, tôi thường thay mẹ thờ cúng, trong nhà có một bàn thờ Phật nhỏ. Mẹ cũng cho tôi biết, ngay khi tôi vừa chào đời đã được dâng cho Quan Thế Âm Bồ Tát. Tuy trong lòng tin vào sự hiện hữu của Thần Phật, nhưng trên thực tế, tôi chưa từng cảm nhận được sự có mặt hay vắng mặt của Thần Phật, tôi nghĩ đây là duyên phận.

Sau đó, vào năm 1980, tôi quen biết một vị sư phụ Đạo giáo tên là Viên Thiên Phong. Ông là một Đạo trưởng của Hội Đạo Giáo, từng giảng dạy Đạo pháp ở các khu vực Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Viên Thiên Phong tự nhận mình có quan hệ thân thiết với Trương Thiên Sư đời thứ 64.

Sư phụ Viên dạy tôi học một loại pháp, chính là pháp "Người tung xúc xắc tôi gọi điểm" trong tác phẩm "Linh Tiên Phi Hồng Pháp" của Thượng sư (trang 125). Học pháp này cần phải tu luyện trong 3 năm mới thành. Mỗi ngày trước khi đi ngủ phải bắt ấn và tụng chú bảy lần, tu luyện được khoảng 2 năm thì lấy bùa chú ra thử dùng.

Pháp được thực hiện trên một chiếc bàn dài khoảng 3 mét, sư phụ Viên và tôi ngồi đối diện nhau, ông tự lắc xúc xắc, rồi đặt lên mặt bàn, tôi thầm tụng chú một lần, sau đó trong tâm nghĩ đến số điểm mình cần, không cần nói ra. Kết quả thử 10 lần, có 9 lần đúng, 1 lần sai. Đến năm thứ ba, lại thử lần nữa, cũng được 9 lần đúng, 1 lần sai.

Không lâu sau đó, sư phụ Viên mắc bệnh và qua đời tại bệnh viện, việc tu luyện pháp phù của tôi chỉ đạt đến trình độ 9 đúng 1 sai, rồi không tiến triển thêm.

Tuy nhiên, từ khi tiếp xúc với sư phụ Viên, tôi mới thực sự nhận ra rằng pháp lực chắc chắn tồn tại, và khi có pháp lực, tất nhiên phải có sự hiện diện của Thần Phật, đây là mối quan hệ nhân quả. Bởi vì những hiện tượng phát sinh từ việc sử dụng pháp lực hoàn toàn không thể giải thích bằng lý thuyết duy vật, mà chỉ có thể giải thích bằng huyền học.

Ví dụ, sư phụ Viên có pháp di chuyển vật, hai người mỗi người cầm một quân mạt chược, mặt quân mạt chược khác nhau, sau khi ông tụng chú, mở tay hai người ra xem, thì hai quân mạt chược trong tay đã được hoán đổi cho nhau. Ông có thể dùng tờ 100 đồng đi mua đồ, ông đọc "chú che mắt", đối phương sẽ nhìn tờ 100 đồng thành tờ 1.000 đồng, và còn thối lại cho ông hơn 900 đồng. Sư phụ Viên cười hề hề, bảo đối phương nhìn kĩ xem là bao nhiêu tiền, đối phương nhìn lại, vẫn thấy là tờ 1.000 đồng, đến khi sư phụ Viên thu "chú che mắt" lại, tờ tiền mới biến trở lại thành 100 đồng, khiến người bán hàng cũng cảm thấy khó hiểu.

Tôi đã tận mắt chứng kiến rất nhiều pháp thuật của sư phụ Viên, từ đó mới thực sự nhận thức được rằng sự tồn tại của Thần Phật là có thật. Nay đọc được tác phẩm lớn của Thượng sư Lư, cùng với phiên bản hải ngoại "Tuyển tập Kim Cang Nộ Mục", trong lòng tôi đã sớm tìm kiếm pháp Mật tông, muốn quy y Chân Phật Tông. Tôi muốn tu pháp kim cang Tứ Thiên Vương, không biết tôi có duyên tu pháp này hay không.

Thượng sư Lư, trong lá thư này, tôi tự xưng là "tôi", bởi vì tôi chưa quy y Thượng sư, nên không thể tự xưng là "đệ tử". Việc tôn xưng "Thượng sư Lư" là vì tác phẩm vĩ đại của Thượng sư đang hướng dẫn tôi bước những bước lớn, tiến về phía trước trên con đường hướng Phật, hướng Đạo.

Kính chúc Phật an. Lưu Quốc Cẩn kính thư.

🌟  Thứ ba:

Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Lư Thắng Ngạn Thượng Sư tôn kính! Chào thầy!

Trước tiên, xin hãy tha thứ cho sự quấy rầy đường đột của kẻ hậu sinh. Kẻ hậu sinh là một hành giả tu tập rất chăm chỉ và tinh tấn. Khi đọc xong những tác phẩm vĩ đại mới xuất bản của Thượng sư như "Thế giới con mắt thứ ba", "Hàng ma bình yêu truyện", "Tọa thiền thông minh pháp", "Hành giả ở Seattle" và nhiều tác phẩm khác một cách say mê quên ăn quên ngủ, lòng tôi vô cùng xúc động, đặc biệt như sóng trào dâng mãnh liệt. Trong tâm có một tiếng gọi mạnh mẽ và khẩn thiết thúc giục bản thân: hãy mau cầm bút, hãy mau viết thư, vị đại minh sư mà bạn tìm kiếm nhiều năm qua đang ở trước mắt, xin đừng chờ đợi nữa, xin đừng do dự nữa, đại pháp đã được nghe, thiên thư đã được đọc, cơ duyên đã đến, sao không mau mau quy y. Thưa Thượng sư Lư, dù Ngài ở tận bờ Tây Thái Bình Dương, tận Seattle nước Mỹ, còn kẻ hậu sinh ở bờ Đông Thái Bình Dương, nhưng tâm con đã sớm bay đến bên cạnh tâm Ngài, mong mỏi được Ngài chỉ dạy và dẫn dắt.

Thượng sư Lư, từ nhỏ kẻ hậu sinh này đã có cảm giác thân thiết sâu sắc với Phật pháp. Con đã tự ngồi kiết già từ khi còn nhỏ, với tư thế ngồi tự nhiên, cảm nhận tự tính, và trong đời này nhất định phải tu thành chính giác, đoạn tuyệt luân hồi, độ khắp chúng sinh. Điều kỳ lạ hơn là, trong giấc mơ, con đọc được những kinh văn Phạn ngữ mà bình thường không hiểu, một số chú ngữ đều đọc lên trôi chảy. Ngoài ra, khi tọa thiền, tay con cũng tự động kết ấn, và trong lúc ngồi yên, thân thể cũng hơi bay lên, đây là những cảm ứng nhỏ của con.

Bởi vì muốn độ tất cả chúng sinh, muốn chúng sinh cùng đến cõi Phật, việc này đâu phải dễ dàng! Nếu bản thân chưa thể chứng đắc quả vị Thập địa Bồ tát, chưa đoạn tất cả phiền não, chưa đạt được sáu căn thanh tịnh, chưa thông tất cả pháp môn, chưa đạt được biện tài lớn, thì căn bản không có tư cách nói đến việc độ chúng sinh. Vì vậy, để thực hiện đại nguyện của Đức Thế Tôn Như Lai Phật Tổ, độ hết thảy chúng sinh vãng sinh thế giới Phật quốc, chúng con là những đệ tử, trước tiên phải tu thành chính giác, và việc tu thành chính giác này nhất định phải có sự chỉ dạy của Thượng sư.

Con thành tâm hy vọng Thượng sư không chê con thô thiển mà chấp nhận cho con được quy y, chấp nhận kẻ hậu sinh này làm đệ tử nhập thất của Ngài, chấp nhận kẻ hậu sinh này trở thành đệ tử truyền thừa của Chân Phật Tông. Trong lòng kẻ hậu sinh vô cùng xúc động, dưới tâm trạng phấn khởi, đã viết lá thư này gửi đến vị Thượng sư mà con kính trọng nhất - Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, thành tâm hy vọng Thượng sư sẽ không từ chối kẻ hậu sinh này, dù cách xa nghìn dặm, mà ban cho đệ tử sự gia trì và quán đảnh không ngừng.

Kính tặng Thượng sư một bài kệ: Nhập thế xuất thế chuyển pháp luân Biển khổ từ hàng luôn dẫn lối Nghìn xưa khai mật lập pháp điển, Vạn đời truyền tụng từ bi tâm.

Kẻ hậu sinh Âu Dương Kiện Minh chắp tay.

41. Bồ Đề Đường ở Canada giảng kinh

Ngày 29 tháng 7 năm 1984, tôi được mời đến phân đường Bồ Đề Đường của Chân Phật Tông tại Vancouver, Canada, để chủ trì lễ khai quang và buổi giảng kinh.

Tên đầy đủ của phân đường này là LING SHEN JEN FOO CHUNG POO TEE TOWN, được thành lập vào tháng 5 năm 1984. Trụ trì của Bồ Đề Đường là cư sĩ Lại Văn Ngôn, tại Vancouver, Canada, cư sĩ Lại là đệ tử quy y đầu tiên, ông đã đến Đài Loan quy y cách đây vài năm, khi tôi chưa xuất ngoại. Sau khi tôi đến Seattle, Hoa Kỳ, cư sĩ Lại thường xuyên dẫn tín đồ đến quy y và nhận quán đảnh.

Do diện tích lãnh thổ Canada rất lớn, đệ tử khắp Canada cũng rất đông, phân bố rải rác, nên việc tập trung rất khó khăn. Ở phía Đông, tại Toronto, cũng có rất nhiều đệ tử, trong tương lai Toronto cũng cần có một phân đường, mỗi tuần tổ chức một buổi pháp hội đồng tu, để tất cả đệ tử có thể giao lưu học hỏi và kết nối với nhau, giúp ích cho việc hoằng dương Phật pháp.

Tại Bồ Đề Đường Vancouver này đã quy tụ không ít đệ tử, có nhiều đệ tử từng đến Seattle nghe tôi giảng về "Tâm yếu tu trì Mật pháp", vì vậy họ đã có khái niệm rất sâu sắc về pháp Mật tông, và cũng đang tu trì hàng ngày.

Đầu tiên, tôi nói với các đệ tử của mình rằng hai chữ "Bồ Đề" chính là "Giác Đạo", Giác là giác ngộ, Đạo là Phật đạo, khi giác ngộ được đạo lý chân chính của Phật, thì gọi là bồ đề. Người tu trì Mật pháp của Chân Phật Tông chính là phát tâm cầu đạt đạo chính giác thành Phật.

Ngoài ra, trong Phật pháp có "bồ đề phần", là ba mươi bảy pháp môn tu tập thánh đạo cơ bản mà Đức Phật đã khai thị từ Đạo đế trong bốn đế, pháp môn này là ba mươi bảy đạo phẩm, tức pháp Ba mươi bảy bồ đề phần. Vì vậy, Thượng sư có kỳ vọng rất lớn đối với Bồ Đề Đường ở Canada.

Tôi thuyết pháp tại Bồ Đề Đường, hy vọng rằng pháp duyên tối thượng và thù thắng này sẽ được lan tỏa rộng rãi, khiến tất cả đệ tử có niềm tin kiên định bất biến để tu tập mỗi ngày, dưới đại nguyện nhiệm màu của chư Phật Bồ Tát, luôn là thiện hữu của nhau và không chán bỏ. Mọi người hãy nỗ lực, trước tiên hãy tiêu trừ tất cả nghiệp chướng đời trước, xóa bỏ hoàn toàn mọi khổ đau sinh lão bệnh tử của nhân gian, sau đó xa lìa tất cả tai ương và hoạn nạn, khiến bản thân trở thành tướng đẹp trang nghiêm. Ba độc không còn, năm trí tuệ tràn đầy, viên mãn tất cả ba la mật, kết quả cuối cùng là minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, đạt được tự tại hoàn toàn, đầy đủ ngũ nhãn lục thông, chứng đắc vô thượng chính đẳng chính giác.

Tôi giảng kinh tại Bồ Đề Đường ở Canada, trước tiên tôi giảng về pháp bát cúng. Các ý nghĩa của tám loại cúng dường, pháp đầu tiên được truyền tại Bồ Đề Đường là pháp ốc báu như ý, pháp ốc báu như ý này là một Mật pháp rất kỳ lạ và đặc biệt, hiện nay trên thế gian không nhiều người biết đến, các đại hòa thượng xuất gia và các Thượng sư Mật giáo đều không biết về kho báu Mật pháp vi diệu này.

Pháp ốc báu như ý này vốn là một pháp bí mật cực kì quan trọng của Phật Thích Ca Mâu Ni, được Phật Thích Ca Mâu Ni trực tiếp truyền cho Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư, và chỉ có Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Mật Hành Tôn Giả mới có pháp ốc báu như ý này. Đây là pháp bí mật lớn mà không vị pháp sư hay Thượng sư nào biết đến.

Các đệ tử của Bồ Đề Đường được nhận pháp bí mật lớn này là một phúc phần vô cùng to lớn, ai nấy đều hân hoan nhảy múa, vui mừng khôn xiết, họ cho rằng hôm nay lần đầu tiên nghe kinh mà đã nhận được "báu vật Mật tông" như vậy. Từ giờ, cuộc đời đã có giá trị và ý nghĩa, đây là điều nghìn vàng khó mua, vạn bạc khó cầu.

Tôi nói, pháp vô thượng tối cao tối thượng này trong thiên hạ vốn rất khó cầu, muốn kiến tính thành Phật, nhập thẳng vào biển tính Tỳ Lô là điều vô cùng quý giá và khó nghe được, và Thượng sư của tôi thuyết đại Mật pháp trong thế gian, thời gian cũng không dài lắm, tuổi đời con người rất nhanh sẽ hết, hôm nay tôi đã 40 tuổi rồi, đời người có được bao nhiêu lần 40 tuổi, nhìn thì rực rỡ huy hoàng, nhưng cơ hội thực sự khó gặp, tất cả đệ tử phải nắm bắt cơ hội, trân quý thời gian, nếu không sẽ không kịp nữa. Hôm nay đánh mất cơ hội nghe Mật pháp, kiếp sau phải trải qua trăm nghìn vạn triệu kiếp, e rằng cơ hội sẽ rất hiếm hoi.

Ở giữa Bồ Đề Đường thờ phụng mandala 53 vị Phật, 53 vị Phật này chính là từ "Kinh Quán Dược Vương Dược Thượng Nhị Bồ Tát". Phía trước mandala là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Quan Thế Âm, ngoài ra còn có tượng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề và tượng Hoàng Tài Thần, cùng với tượng Thượng sư, v.v…, tất cả đều vô cùng trang nghiêm.

Các đệ tử tín đồ của Bồ Đề Đường Canada, một số đệ tử đã có những chứng nghiệm khá lớn, có người đã biết chuyện đời trước, có người nhìn thấy chư Phật Bồ Tát, có người tiền kiếp là thánh tăng tái thế, có người khi thiền định biết thân mình bay bổng, có người khi tu trì ngửi thấy từng đợt hương thơm kỳ lạ, có người nhìn thấy nhiều loại ánh sáng, những hiện tượng này đều rất tốt, có thể xem như một sự thúc đẩy và khích lệ.

Trong ngày thuyết pháp đó, tôi nhìn thấy trên không trung cũng có "ánh hào quang từ đỉnh đầu Phật tụ hội", có Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát hiện đến, có A Di Đà Phật từ không trung giáng xuống, có sơn thần, địa thần, thủy thần, không thần đến nghe pháp, tất cả đều vô cùng hoan hỷ, cung kính phụng hành, có sức uy thần lớn lao.

Tôi nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tôi là Thượng sư của chúng sinh có duyên, vì tôi đã chứng biết, nên sẽ đem tất cả kiến thức truyền đi tiếp, tôi là Phật đã thành, các bạn là Phật chưa thành, chư Phật quá khứ cũng tu như vậy, ngộ như vậy. Vì thế, ngày nay đệ tử Chân Phật Tông cũng phải tu như vậy, ngộ như vậy. Tương lai sẽ thành Phật, người người thành Phật, người người chứng đắc.

42. Đại pháp hội tại Philippines

Thượng sư Trần Tước Viên và tôi, khi đến sân bay Manila Philippines, bên trong sân bay đã có đường chủ Liên Quang Đường ở Philippines đang đợi, người đi cùng chúng tôi từ Hồng Kông đến Philippines là Trần Thiến Di (Liên Cung). Vừa ra khỏi hải quan Manila, bên ngoài sân bay lại là hàng nghìn hàng vạn người chào đón, họ cầm những dải vải đỏ, trên đó viết chữ vàng thể hiện ý chào mừng, rồi lập tức tặng hoa, cổ Thượng sư Trần Tước Viên và tôi đều đeo đầy những vòng hoa.

Tôi cảm thấy Philippines rất nồng nhiệt, và tình cảm nồng hậu của người Philippines cũng rất nồng nhiệt. Trên đại lộ Hoàng Hôn ở thủ đô Manila này, chúng tôi nhìn thấy hoàng hôn rất đẹp và rực đỏ, những xe hoa đầy đường phố, đây lại là một lần nữa chứng kiến đặc trưng của đất nước này.

Tại Manila, bên cạnh phố người Hoa có Liên Quang Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá, tôi đã thuyết ba thời pháp tại đây, mỗi thời đều chật kín người, ngay cả hành lang cũng đứng đầy người. Tôi truyền đầu tiên là "Đại tâm yếu thành Phật của Mật tông", tiếp theo truyền "Nghi quỹ tu trì hàng ngày", thứ ba truyền "Vận động bảy luân xa". Trước mỗi lần truyền pháp, tôi đều quán đảnh gia trì cho những người muốn quy y.

Trụ trì Liên Quang Đường, đệ tử Liên Thủ Liêu Hiền An, là hành giả tu Mật nhiều năm, trong Phật đường thờ toàn là chư Phật Bồ Tát Mật tông. Mỗi lần có Hoạt Phật đến Philippines đều do Liên Thủ tiếp đón, ông cũng là đệ tử quy y đầu tiên của Thượng sư Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 tại Philippines. Đệ tử Liên Thủ còn mời một họa sĩ vẽ tranh sơn dầu vẽ cho tôi một bức tranh sơn dầu, thật là chân thực sống động, vẽ rất tuyệt.

Tại Liên Quang Đường tôi đã thuyết ba thời pháp, người quy y rất đông, có nhiều người từ thành phố Baguio đi xe đến, xa hơn nữa có người từ thành phố Cebu đi máy bay đến, tất cả họ đều là nhìn thấy tin đăng trên báo mà tìm đến.

Điều đáng nói là, bảy đệ tử từ Viên Âm Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá ở quốc gia Brunei mới độc lập, do Liên Văn Ngụy Sĩ Cường dẫn đầu đã đáp máy bay đến Philippines. Họ cũng tham gia pháp hội tại Liên Quang Đường. Các đệ tử Brunei vội vã đến Philippines để gặp tôi, đây là một cảnh tượng cảm động. Họ không quản vất vả bay ba tiếng đồng hồ đến Philippines, mang theo những lời tâm sự ghi âm của tất cả đệ tử Brunei, khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi cũng mong mỏi họ mỗi người hàng ngày tu trì, đúng kỳ hạn chứng đắc, làm một Phật tử chân chính. Tôi khuyến khích các đệ tử Brunei rằng tôi chắc chắn sẽ đến Brunei, và tôi tuyệt đối không bỏ rơi các đệ tử ở quốc gia Brunei. Các đệ tử Brunei rất chân thành, thành kính và có thực tu.

Lần này tôi đến Philippines cũng vì điện mới xây của Đại Đạo Huyền Đàn mà đến, là để xem phong thủy cho Đại Đạo Huyền Đàn, bởi vì Bảo Sinh Đại Đế khi cầu cơ đã yêu cầu mời tôi đến.

Ghi chép bài thơ cầu cơ của Bảo Sinh Đại Đế như sau: Đại điện báo trước hai mươi năm Đạo nơi đất linh có thâm uyên Mau mời Liên Sinh tôn giả đến Người thần đều là trời định duyên.

Bảo Sinh Đại Đế ở Philippines đã cho ra văn cầu cơ, yêu cầu tôi đến Philippines khảo sát phong thủy địa lý của Đại Đạo Huyền Đàn, đây cũng là một lý do mà tôi không thể từ chối. Vì vậy, ngoài việc khảo sát địa lý, tôi cũng đã thuyết pháp một lần tại giảng đường mới xây của Đại Đạo Huyền Đàn. Pháp hội lần này đã tập hợp hơn 100 tín đồ, chủ đề của tôi là "Linh và Đạo", từ việc khởi linh nói đến đạo của Tam Thanh Tổ Sư, người nghe pháp đều vô cùng xúc động, họ nói rằng: "Chúng tôi đã tin Đạo cả đời, nhưng chưa từng được nghe pháp cao sâu và khéo léo như vậy."

Sau khi thuyết pháp tại Đại Đạo Huyền Đàn, đám đông không giải tán, họ vây quanh tôi, mọi người đều xin chỉ dạy về yếu nghĩa của pháp chân thật, một số người hy vọng tôi giúp họ giải thoát khỏi bệnh tật trong cơ thể. Ngay tại chỗ, tôi chắp tay lạy trời, trong khoảnh khắc, trời đất rung chuyển, trên không trung xuất hiện một con rồng xanh, rồng xanh há miệng phun ra một chậu nước, tôi bảo mọi người mang nước ra ngoài, khiến những người uống "nước rồng xanh", người bệnh nhẹ lập tức khỏi hẳn, người bệnh nặng ngay lập tức giảm nhẹ, trong chốc lát, mọi người đều chắp tay lạy trời, tạ ơn trời. Mọi người đều quy y.

Đại Đạo Huyền Đàn là một đàn tràng Đạo giáo, khi vào cổng chính là Điện Tam Thanh Tổ Sư - Ngọc Thanh, Thái Thanh, Thượng Thanh, phía trên là điện thờ Tổ sư, trên cùng là Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn. Do sự hoằng pháp của Đại Đạo Huyền Đàn, chùa Quan Âm Philippines và miếu Diêu Trì Kim Mẫu Philippines đều cử người đến mời tôi đến các ngôi chùa này thuyết pháp, nhưng vì thời gian có hạn nên tôi chỉ nhận lời mời của một ngôi chùa Mật tông, đó là Từ Uy Mật Uyển, trụ trì ban đầu là Dương Mai Sinh, là đạo tràng do Thượng sư Từ Uy để lại.

Thượng sư Từ Uy là truyền thừa Hồng giáo của Mật tông, Từ Uy Mật Uyển thờ phụng pháp tướng của Thượng sư Norlha thuộc Hồng giáo, lấy Quan Âm Tứ Thủ, Lục Độ Mẫu và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm ba Bổn tôn. Điểm đặc biệt nhất của Từ Uy Mật Uyển là trong toàn bộ Mật Uyển thờ phụng pháp tướng của 21 Độ Mẫu, tổng cộng có 21 tôn tượng, mỗi tôn tượng đều trang nghiêm, tượng điêu khắc tinh xảo, vô cùng thu hút.

Tại Từ Uy Mật Uyển, tôi đã lên pháp tọa, tất cả đệ tử truyền thừa Hồng giáo đều đến quy y và cầu quán đảnh, mỗi người đều cung kính đảnh lễ, nước quán đảnh từ đầu đến tay, mọi người đều hứng lấy "tam Hum thủy", dùng miệng hút vào, đây là một khoảnh khắc vô cùng vĩ đại, tất cả các đệ tử của Từ Uy Mật Uyển đều quy y Chân Phật Tông. Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả, tại Từ Uy Mật Uyển Philippines, đã thu nhận hàng trăm đệ tử cùng một lúc, nếu tính cả các đệ tử của Liên Quang Đường và Đại Đạo Huyền Đàn, riêng tại Philippines, đã có vô số đệ tử của Chân Phật Tông.

Tại Từ Uy Mật Uyển khi truyền quán đảnh tứ quy y đã là 9 giờ tối, nhưng theo yêu cầu của các đệ tử, tôi đã lập tức khai thị về "Mặc giáp hộ thân khi mặc quần áo" và "Mặc giáp hộ thân trong giấc mơ" của Mật tông, khiến các đệ tử nghe pháp ngay lập tức nhận được lợi ích lớn, những lợi ích này là vô cùng thù thắng chưa từng có, mọi người đều cúi đầu đảnh lễ.

Trong thời gian tôi hoằng pháp tại Philippines, điện thoại của Liên Quang Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá liên tục đổ chuông không ngừng, trụ trì Liên Thủ nói: "Chúng tôi đều không dám nhấc máy, vì ai cũng muốn mời Thượng sư, tất cả chùa miếu đạo tràng khắp Philippines đều muốn Thượng sư đến thuyết pháp, nhưng thời gian của Thượng sư có hạn, không thể sắp xếp đến được, nên chúng tôi đành không nghe điện thoại, hy vọng lần sau Thượng sư đến, thời gian sắp xếp dài hơn, để tín đồ Philippines đều có thể cùng nhận được lợi ích của pháp, đây là mong mỏi của các đệ tử Philippines."

Tôi đã nói, học tập Mật pháp của Chân Phật Tông chính là tức thân thành Phật, nhưng tất cả phải nương tựa vào Thượng sư mới có thể đạt được thành tựu lớn, bởi vì Thượng sư có vô lượng đại uy thần lực. Ngày nay, pháp của Chân Phật Tông là pháp do Thượng sư ban cho, khi đã quy y Thượng sư, cần phải tu trì Liên Hoa Đồng Tử Kim Cang tương ứng, như vậy việc học Phật tự nhiên sẽ có thành tựu lớn.

Pháp duyên ở Philippines rất thù thắng, pháp hội đồng tu của các đệ tử Philippines cũng rất thù thắng. Dù là Đạo, Hiển hay Mật, pháp pháp đều bình đẳng, nơi nơi đều có thể thấy tính, cũng nơi nơi đều có thể thành Phật. Trong tương lai không xa, Chân Phật Tông sẽ là một tông phái lớn trên toàn thế giới. Ngày nay chúng sinh có duyên mới có được pháp duyên thù thắng như vậy, hy vọng các đệ tử cùng nhau cố gắng.

Đại sư Linh học Lư Thắng Ngạn

Lịch trình hoằng pháp tại Philippines hôm nay

【Thông tin từ Liên Quang Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá tại thành phố này】: Vị sáng lập Chân Phật Tông, Thượng sư Lư Thắng Ngạn đã khởi hành từ Linh Tiên Tinh Xá tại Seattle, Hoa Kỳ vào ngày mùng 4 tháng này, đến Nhật Bản lúc 5 giờ 45 phút chiều. Ngài sẽ lưu lại Nhật Bản 5 ngày và sẽ gặp Thủ tướng Nhật Bản Nakasone Yasuhiro, sau đó rời Nhật qua Hồng Kông, dự kiến đến Philippines vào lúc 6 giờ chiều hôm nay (ngày 11) bằng chuyến bay của hãng hàng không Cathay Pacific.

Thượng sư Lư Thắng Ngạn sinh năm 34 Dân Quốc (1945) tại huyện Gia Nghĩa, Đài Loan. Ngài tốt nghiệp kỹ sư ngành Địa chất tại Học viện Công nghệ Trung Chính. Ngài là một nhân vật kỳ lạ đã chuyển từ Cơ Đốc giáo sang Đạo giáo rồi Phật giáo, với các tác phẩm gây tiếng vang trong và ngoài nước như: "Mạn đàm linh cơ thần toán", "Khởi linh học", "Siêu giác của linh hồn", "Thông linh bí pháp thư".

Các tác phẩm hiện nay của Ngài chú trọng vào thực hành tu chứng, như "Tọa thiền thông minh pháp", "Chứng ngộ của Thượng sư", "Linh Tiên kim cang đại pháp", "Vô thượng Mật và Đại thủ ấn", "Một chút thiền vị", "Mật tông Yết Ma pháp"... và nhiều tác phẩm khác đang được viết và sẽ tiếp tục xuất bản. Tác phẩm "Địa linh dấu tiên" của tác giả là một học thuật phong thủy chân thực, trình độ phong thủy học của Ngài vô cùng thâm sâu khó lường do được truyền thụ chân truyền từ Đạo trưởng Thanh Chân thuộc phái Thanh Thành. Lần hoằng pháp tại Philippines này có thể nói là một duyên phận đặc biệt sâu sắc.

(Đăng trên Nhật báo Liên Hợp, Philippines)

Thượng sư Lư Thắng Ngạn đến Philippines

Thông báo lịch trình đại pháp hội

【Thông tin từ Đại Đạo Huyền Đàn Philippines】: Vị sáng lập Chân Phật Tông, Thượng sư Lư Thắng Ngạn, sinh năm 34 Dân Quốc tại huyện Gia Nghĩa, Đài Loan, tốt nghiệp kỹ sư ngành Địa chất tại Học viện Công nghệ Trung Chính. Ngài vốn là tín đồ Cơ Đốc giáo nhiệt thành, sau chuyển sang Đạo giáo, nhờ được truyền thụ chân truyền môn phong thủy từ Đạo trưởng Thanh Chân thuộc phái Thanh Thành, đã viết tác phẩm "Địa linh dấu tiên", với nhiều chứng tích thực tế đáng tin cậy. Hiện nay Ngài đã trở thành một nhân vật kỳ lạ trong Phật giáo, đang sống tại Seattle, Hoa Kỳ, nơi Ngài đã xây dựng Linh Tiên Tinh Xá, một đạo tràng trang nghiêm, chuyên tâm tu pháp tại thành phố (REDMOND). Mặc dù Ngài sống ẩn danh, nhưng đã được chư Phật Bồ Tát ban tặng mũ miện đỏ, trở thành Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Mật Hành Tôn Giả. Lần này, theo lời mời của Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị đạo tràng là ông bà Trương Giác Thịnh, Ngài đến Philippines hoằng pháp, đã khởi hành từ Linh Tiên Tinh Xá ở Seattle, Hoa Kỳ vào ngày 4 tháng 7, trước tiên đến Nhật Bản và gặp Thủ tướng Nakasone Yasuhiro, sau đó qua Hồng Kông, đã đến Philippines vào lúc 6 giờ chiều ngày 11 tháng 7 bằng chuyến bay của hãng Cathay Pacific, và đã gặp gỡ toàn thể đạo hữu của Liên Quang Đường thuộc Linh Tiên Tinh Xá tại đây. Thượng sư Lư Thắng Ngạn hiện đã ấn định vào ngày 14 tháng 7 (thứ Bảy), lúc 2 giờ chiều, tại Đại lễ đường của Đại Đạo Huyền Đàn mới, sẽ tổ chức đại pháp hội hoằng pháp, kính mời các giới kiều bào đến tham dự.

(Đăng trên Nhật báo Liên Hợp, Philippines)

43. Thuyết pháp tại Tín Pháp Đường Hồng Kông

Thượng sư Trần Tước Viên và tôi cuối cùng đã đến Hồng Kông, đó là vào giữa tháng 7 năm 1984. Do vấn đề visa Hồng Kông nên chúng tôi chỉ có thể quá cảnh Hồng Kông, mà quá cảnh Hồng Kông nghĩa là phải rời đi trong vòng 48 giờ.

Ở Hồng Kông, Chân Phật Tông có vạn đệ tử, có một Tín Pháp Đường, tuy nhiên, trong 48 giờ này, thật khó khăn cho vị đường chủ, ông không thể thông báo tin tức về việc tôi đã đến Hồng Kông. Đường chủ cùng vài người thân cận đã đến sân bay đón, đặc biệt giải thích với tôi rằng, trong vòng 48 giờ, thực sự không thể sắp xếp cả thuyết pháp lẫn tổ chức pháp hội được.

Ở đây, tôi xin gửi lời xin lỗi đặc biệt đến tất cả các đệ tử đang mong đợi. Do phải khởi hành gấp rút, tôi không kịp làm visa Hồng Kông, tôi chỉ có hộ chiếu thường trú nhân Mỹ (bìa trắng), chỉ có visa quá cảnh, nên thời gian lưu lại Hồng Kông chỉ có hai ngày, trừ đi thời gian ngủ nghỉ, chỉ còn lại vài giờ đồng hồ mà thôi. Tuy nhiên, vẫn có hai đệ tử từ Đài Loan đã bay đến Hồng Kông để gặp tôi, một người là ông Trần Chính Hùng, một người là ông Hứa Thanh Tuấn.

Lần này đến Hồng Kông, có một việc đặc biệt quan trọng cần làm, tôi đã chọn một đệ tử tại Hồng Kông để trao vị Kim Cương A Xà Lê, đó là Thượng sư Lưu Dị Vinh, Thượng sư Lưu là đường chủ Tín Pháp Đường Hồng Kông, ông cũng là một người có căn cơ, thường ngày nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu pháp, làm việc nghiêm túc, nỗ lực tinh tấn trong việc đắc chứng trong kỳ hạn. Ông luôn khiêm tốn, có nhiều tâm đắc về quán Không và dung nhập, người có thể dung nhập tức là đạt Tam ma địa, ông đã có thể nghiệm về dung nhập, tôi đã đặc biệt truyền dạy pháp bí mật cho ông, giúp ông chứng ngộ trực tiếp, vì vậy đã trao cho ông vị trí Kim Cương A Xà Lê.

Tôi và Thượng sư Trần Tước Viên đến Hồng Kông, và ngay tại pháp đường này, đã làm lễ quán đảnh cho vị tân Thượng sư.

Tại Tín Pháp Đường, tôi đã thuyết một bài pháp. Tôi nói: "Con người sống trên đời này, tất cả đều là khổ, danh lợi địa vị quyền lực đều là phù du biến ảo, sinh tử là việc lớn nhất, cái chết vô thường đến rất nhanh chóng. Là một hành giả Mật tông, phải tinh tấn tu trì theo thứ tự tu hành của Mật tông, đầu tiên phải quy y, kế đến là phát tâm bồ đề, rồi nương vào pháp Bổn tôn, tu trì thiền định nội tâm, cuối cùng tâm không còn ràng buộc, thân cũng an định, mọi cái thấy của ta đều là cái thấy của Phật, như như bất động, nhất tâm bất loạn, trong sự quán chiếu tâm thanh tịnh, tất cả đều là tự tính của Phật."

Tôi nói, tâm yếu của Mật tông, sự tu trì hiện diện trong ăn, mặc, ở, đi lại, tắm rửa, ngủ nghỉ, nghĩa là trong mọi công việc hàng ngày, đều không rời bỏ sự tu trì, ngay cả khi đi ngủ vào ban đêm, cũng giữ vững tâm mình không lỏng lẻo, chỉ cần thời cơ chín muồi, sẽ đạt được đại giải thoát.

Trong bài thuyết pháp, tôi đã nói với tất cả các đệ tử về phương pháp tu luyện trong ăn, mặc, ở, đi lại, tắm rửa, ngủ nghỉ, những pháp này đều là những phương pháp thiện xảo nhất. Trong Mật pháp có cái gọi là Hoan hỷ pháp, Phẫn nộ pháp, Cầu tài pháp, Đắc quyền pháp, Hàng ma pháp, Y bệnh pháp, Trường thọ pháp, Cúng dường pháp, những pháp nhập thế này, cũng không gì khác hơn là phương tiện thiện xảo để độ người và khơi dậy niềm tin mà thôi.

Tôi nói, khi đã làm Thượng sư, tự biết thân ta chính là thân Phật, tâm ta chính là tâm Phật, đối với những lời phỉ báng của người đời, phải biết rằng pháp này vốn là tâm thế gian, không thể đi cảm nhận nó, ngược lại phải đi cứu độ họ, thương xót họ. Bởi vì họ tự chuốc lấy khổ đau, muốn được lợi ích, ngược lại gặp phải tổn hại, chúng ta phải xem như chưa thấy, nghe như chưa nghe, ngược lại phải đi cứu giúp độ hóa họ.

Về nguyên tắc, Phật pháp đều là lợi ích cho chúng sinh, có thể nói tùy duyên mà thuyết pháp, thuyết giáo. Đối với người có căn cơ nông cạn nhất, thị hiện tượng pháp của bản thân Phật để thu hút họ; nếu là người có căn cơ trung bình, liền thuyết giảng pháp Hiển giáo, dạy về từ bi, năm giới, mười thiện, sáu ba la mật; nếu là người có căn cơ lớn, liền thuyết đại bí mật vô thượng; đối với người ác, liền hiện Kim Cang phẫn nộ tướng, dùng để điều phục người ác; nếu là người thiện, liền là Bồ Tát hiện tướng đoan chính trang nghiêm, đây cũng là các tướng khác nhau được thị hiện của Phật pháp để độ thế.

Tôi nói, nội hỏa minh điểm là quan trọng nhất, cầu pháp trong thân là cốt yếu, tĩnh tọa thiền định đều nằm trong nội hỏa minh điểm này, đặc biệt là hồng điểm hóa thành nội hỏa, từ nội hỏa phát ra ánh sáng, từ ánh sáng thoát ra thiên khiếu, tử quang gặp mẫu quang, chính là nhập vào biển tính Tỳ Lô, nhập vào Tam ma địa, lúc này như bánh xe, biểu thị quả đức viên mãn vậy.

Thân là thân Phật, tâm là tâm Phật, trong cuộc sống hàng ngày luôn luôn quán như vậy, Phật vốn không hai, đây là đại bí mật quan trọng để thành Phật.

Tại Tín Pháp Đường ở Hồng Kông, tôi đã vận dụng pháp Mãn Nguyện Đồng Tử để ban cho tất cả các đệ tử có mặt ai ai cũng có thể thỏa mãn tâm nguyện của mình, mỗi người cầu xin một tâm nguyện, được Thượng sư đích thân gia trì quán đảnh, giúp tất cả các đệ tử có mặt đều có thể hoàn thành tâm nguyện của mình.

Lúc này, tôi quan sát trên không trung, trên không xuất hiện năm đóa sen, phương Đông là sen màu xanh, phương Tây là sen màu vàng kim, phương Nam là sen màu đỏ, phương Bắc là sen màu trắng, trung tâm là sen màu vàng. Những đóa sen này an trụ bất động, tướng đẹp quang minh, hình tướng của hoa sen như cầu vồng, tỏa ra năm màu ánh sáng, trên không có âm thanh như tiếng Phạm âm.

Và ở trên đóa sen màu vàng ở chính giữa, có một đồng tử ngồi. Tôi nhìn kĩ, hóa ra đó chính là Mãn Nguyện Đồng Tử. Mãn Nguyện Đồng Tử là con út của Ha Lợi Đế Mẫu, lời thề nguyện của ngài là ban phúc bảo hộ, phụ giúp mẫu thân Ha Lợi Đế Mẫu ban phúc cho tất cả chúng sinh khắp thiên hạ. Hóa ra trong tâm tôi đã triệu thỉnh Mãn Nguyện Đồng Tử, dùng tâm mình biến hóa thành mười vạn đóa hoa hồng để cúng dường Mãn Nguyện Đồng Tử ở cõi trời, và Mãn Nguyện Đồng Tử đã đến.

Mãn Nguyện Đồng Tử tướng đẹp viên mãn, trên đầu búi ba búi tóc, dùng các loại chuỗi vòng ngọc trang nghiêm thân thể, trang nghiêm ngồi trên tòa sen, lòng bàn tay trái cầm quả cát tường, bàn tay phải buông xuống, đó là ấn Mãn Nguyện. Tôi thấy thế vô cùng hoan hỷ.

Tôi cúi đầu đảnh lễ Mãn Nguyện Đồng Tử, dùng bình quán đảnh, quán đảnh cho từng đệ tử đến tiếp nhận quán đảnh, sau đó dùng bàn tay phải gia trì ban cho đại mãn nguyện. Lúc này trên không trung cũng xuất hiện Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu hiển hiện hào quang lớn, mưa hoa rơi xuống khắp nơi, hào quang chiếu soi từng chúng sinh.

Lúc này tất cả các đệ tử đều vô cùng xúc động, ai nấy đều nước mắt đầm đìa, khóc nức nở, và tiếng khóc này là sự chân thành đan xen giữa buồn và vui, là sự bộc lộ của con tim. Diêu Trì Kim Mẫu đã đến, mọi người đều khóc, linh khí tràn ngập Tín Pháp Đường, ánh nước mắt của mọi người hòa quyện, đan xen tạo thành một khung cảnh hết sức cảm động, giữa người và thần, người và Phật, thầy và trò, đều là một sự xúc động lớn lao.

Tôi viết một bài kệ để ghi nhớ: Tâm cúng hồng hoa mười vạn vạn, Mãn Nguyện Đồng Tử nguyện mở lòng Người nghèo ban phúc đại cát tường Người bệnh chữa lành đại chấn động Giữa Tín Pháp Đường Kim Mẫu giáng, Tâm linh hóa sen ánh lung linh.

Ghi chú: Tín Pháp Đường Hồng Kông đã đổi tên thành Hồng Kông Lôi Tạng Tự Địa chỉ: Lầu 31, Tân Bảo Trung Tâm, số 10 đường Ngũ Phương, Tân Bồ Cương, Cửu Long, Hồng Kông Điện thoại: 23888987

44. Tu luyện ở đền Minh Nhật Hương tại núi Thiển Gian

Ngày 8 tháng 7 năm 1984, tôi đến thăm Đền Minh Nhật Hương [Asuka Jingu] ở núi Thiển Gian [Asama], Nhật Bản. Người mời tôi chính là chủ tịch Kadokawa Haruki, và Đền Minh Nhật Hương là ngôi đền do một mình Kadokawa Haruki tự bỏ tiền xây dựng, gồm bảy điện lớn, bao gồm ngự tọa phòng, đại điện, thần điện, lục giác đình, v.v…

Núi Thiển Gian ở Nhật Bản cách Tokyo khoảng 4 giờ đi xe, có thể đi tàu đến Karuizawa rồi chuyển sang xe hơi để đến nơi. Khu vực này là cao nguyên Thiển Gian, một vùng núi suối nước nóng nổi tiếng, cũng là khu biệt thự nổi tiếng của người giàu có. Tại Nhật Bản, đây là khu biệt thự phong cảnh hàng đầu, với độ cao 1.100m, chân núi phần lớn là rừng cây lá kim.

Tôi đi bộ trên những con đường nhỏ giữa núi non, nhận thấy tên đường rất độc đáo và thú vị, có Đường Không, Đường Nguyệt, Đường Tinh, Đường Hoa, Đường Điểu, Đường Lâm, Đường Hồng, v.v… Từ đó có thể thấy núi Thiển Gian là một nơi đẹp đẽ và tinh tế đến nhường nào, sự tĩnh lặng và tiếng chim hót nơi đây đã để lại ấn tượng sâu sắc cho tôi.

Và tôi bình lặng ở tại Đền Minh Nhật Hương, tôi không biết tiếng Nhật, và trong thời gian này, ngoài chủ tịch Kadokawa Haruki, tôi còn quen biết thêm Sagawa Koji, Tokutome Yoshiaki, Ikeda Takeshi, Kumorin Masatsugu, Osugi Akihiko, Uchino Hideo. Trong số đó, Uchino Hideo đã từng học tiếng Trung Quốc, vì vậy, về mặt ngôn ngữ, Uchino Hideo đảm nhận vai trò phiên dịch.

Chủ tịch Kadokawa Haruki mời tôi lên núi Thiển Gian đến Đền Minh Nhật Hương, không nói cho tôi biết mục đích của ông là gì, tuy nhiên ngay khi tôi đến Đền, tôi đã hiểu tất cả.

Ngày đầu tiên, tôi tĩnh tâm ngồi thiền trước một tảng đá lớn trên đỉnh núi. Tôi ngồi thiền trong thời gian dài, và nhìn thấy nhiều ánh sao trên bầu trời, ánh sáng tỏa xuống trần gian. Tôi nhìn thấy nhiều binh sĩ kỵ mã thời cổ đại Nhật Bản mặc áo giáp, đó là những hồn ma của các chiến binh đã khuất, họ tụ tập trong thung lũng và khe núi. Trong cảnh thiền định, các vị thần trời đứng trên không trung, còn dưới trần gian nơi núi xanh thung lũng sâu, các chiến binh âm hồn tụ tập. Tôi tĩnh tâm ngồi thiền và kể lại tất cả những gì mình nhìn thấy cho chủ tịch Kadokawa, ông ấy nói: "Cái nhìn của Thượng sư hoàn toàn chính xác, bởi vì ngày mai chính là buổi lễ cầu siêu cho các âm hồn."

Vào ngày thứ hai, lễ tế thần rất trang nghiêm, lễ cầu siêu cũng vô cùng long trọng. Việc triệu thỉnh thần linh và các âm hồn đều dùng chuông lắc, và dùng phất trần làm bằng giấy quét ba lần ở bên trái và bên phải. Tôi chú ý quan sát các lễ vật, có cá, rượu, trái cây, gạo, hoa. Trình tự của buổi lễ gồm triệu thỉnh, tụng niệm, thanh tịnh, dâng cúng, múa kiếm, và dùng lá cây buộc giấy trắng để cầu nguyện. Tôi ngồi thiền ở hàng ghế đầu tiên, có thể thấy rõ mồn một mọi sự đến đi của thần linh và hồn ma.

Tôi nhìn thấy một vị tướng cưỡi ngựa, trên lưng đeo tên, tay cầm cung, vươn tay rút ra một mũi tên, đặt tên lên dây cung, bắn ra một mũi tên lấp lánh ánh vàng. Vị tướng đó rất uy vũ, tôi nhìn thấy bốn chữ lớn "Võ Điền Tín Huyền" [Takeda Shingen] trên lá cờ của các tướng khác.

Sau buổi lễ, tôi đã đề cập với chủ tịch Kadokawa về bốn chữ "Võ Điền Tín Huyền". Chủ tịch Kadokawa Haruki vô cùng kinh ngạc, và đã xác nhận những gì tôi nhìn thấy. Ông nói: "Thượng sư Lư Thắng Ngạn quả xứng đáng là một vị tiên nhân hiện đại của Trung Quốc, cũng chính là vị tiên nhân vĩ đại nhất thế giới, bởi vì những người được cúng tế hôm nay chính là các tướng sĩ đã khuất dưới trướng của tướng quân Takeda Shingen." Lúc đó, tất cả người Nhật có mặt tại hiện trường đều vô cùng khâm phục khi tôi nói ra tên Takeda Shingen, ai nấy đều kinh ngạc.

Vào buổi tối hôm đó, chủ tịch Kadokawa và tôi cùng nhau đi vào Lục Giác Đình, tĩnh tâm ngồi thiền. Trong trạng thái thiền định, tôi nhìn thấy Thần Vũ Thiên Hoàng, Nhật Bản Vũ Tôn, Thiên Vũ Thiên Hoàng, và Thanh Long. Khi tôi nói ra những cái tên này, Kadokawa Haruki lập tức sững sờ, bởi vì tất cả những cái tên này đều có liên quan đến ông. Ông tiết lộ với tôi một bí mật rằng những cái tên này chính là những cái tên đã xuất hiện hết lần này đến lần khác trong giấc mơ của ông. Chủ tịch Kadokawa Haruki đã nói với mọi người: "Việc mời được Thượng sư Lư chính là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời tôi."

Vào một buổi chiều, tôi cùng với chủ tịch Kadokawa bước vào một ngôi đền thờ thần. Ngôi đền này chưa từng được mở cửa và không cho phép người khác vào, chỉ có tôi và chủ tịch Kadokawa là những người duy nhất được vào đền. Khi vừa bước vào, bên trong tối đen như mực, cuối cùng chúng tôi mới nhìn thấy bên trong đền chỉ có một chiếc hộp gỗ. Tôi nhắm mắt lại để thiền định, và nhìn thấy dải Ngân Hà, thấy các vị thần của Ngân Hà đều là những vì sao lấp lánh xếp thành hàng, và cả Ngân Hà cùng các vì sao đều nằm trong chiếc hộp gỗ đó. Từ đó tôi cuối cùng đã hiểu ra, thần của Đền Minh Nhật Hương thực ra là thần của hệ Ngân Hà, và là mối liên hệ rất trực tiếp. Ngôi đền Minh Nhật Hương kết nối trực tiếp với hệ Ngân Hà, có nghĩa là thần của hệ Ngân Hà trực tiếp cai quản Đền Minh Nhật Hương.

Mỗi đêm tôi đều thiền định tại Lục Giác Đình, một tòa đình lục giác được xây dựng ở giữa hồ nước, có sáu góc, nước hồ rất trong lành. Khi trăng lên, ánh trăng chiếu xuống mặt hồ, lấp lánh lung linh. Tôi đã tu luyện tại Lục Giác Đình ở Đền Minh Nhật Hương trên núi Thiển Gian, tại đó, tôi cảm nhận được sự mát lạnh của đêm như nước, vẻ đẹp thanh thoát của không gian, sự trầm tư của đền thờ Nhật Bản, cùng một cảm giác siêu nhiên đặc biệt.

Tôi đã giúp chủ tịch Kadokawa giám định một bức tượng Quan Âm làm bằng đá, phần trên cùng là hình rồng, có hai vị nữ thần phi thiên, bên phải là Bà Số tiên nhân, bên trái là tiên nhân cầm phất trần, ở giữa là tượng Quan Âm, và phần đế bên dưới là năm vị Kim Cang Thần dùng tay nâng đỡ tòa sen. Tôi nói rằng đây là sản phẩm của Mông Cổ và Cam Túc, từng được một vị Lama cúng dường, ngôi chùa của vị này có tên gọi là Tháp Tháp Mộc.

Điều kỳ lạ là, những lời tôi nói đã được chứng thực bởi nghiên cứu của một chuyên gia về đá, vị chuyên gia đó cũng đã nói rằng, đá khắc tượng Phật này có xuất xứ từ vùng Mông Cổ và Cam Túc. Bản thân tôi chưa từng nghiên cứu về đá, nhưng với khả năng thông linh, tôi có thể nói ra ngay lập tức, khiến tất cả người Nhật có mặt đều kinh ngạc đến mức lè lưỡi ra mà không thể thu lại được. Chủ tịch Kadokawa Haruki đã nói với mọi người rằng, cho đến nay trên thế giới, chỉ có Thượng sư Lư mới có thuật thông linh thần kỳ như vậy, thật không thể tưởng tượng được.

Tại Đền Minh Nhật Hương ở núi Thiển Gian, Nhật Bản, tôi đã cẩn thận truyền thụ bí pháp Cửu tiết Phật phong cho chủ tịch Kadokawa Haruki và những người Nhật khác. Họ đều rất vui mừng và nghiêm túc tu luyện. Trong số đó, có vài người đã nhanh chóng đạt được đại tương ứng, khiến tất cả đều cảm thấy kỳ diệu. Đặc biệt có một cô gái tên Eiko đã lập tức khai mở khả năng thông linh.

Tôi rất thích môi trường tự nhiên của núi Thiển Gian, đặc biệt là ngọn núi ấy, hùng vĩ giống như núi Phú Sĩ, với sương sớm trắng xóa đan dệt những giấc mộng huyền ảo, tiếng chim hoang dã, âm thanh róc rách của dòng nước, không khí trong lành, cùng những cây du, cây thông và cây bạch dương xanh tươi đến mức đáng kinh ngạc.

Tôi thấy trong các dòng suối ở núi Thiển Gian có rất nhiều cá, và điều đáng ngạc nhiên là những con cá này là cá hồi. Dòng suối tràn đầy linh khí, cá cũng tràn đầy linh tính, và Đền Minh Nhật Hương núi Thiển Gian được xây dựng giữa khung cảnh đó. Người Nhật có thói quen thờ cúng thần linh là trước tiên cúi người chào, sau đó vỗ tay hai tiếng, rồi lại cúi người. Trước khi thờ cúng, họ dùng nước suối núi rửa tay, sau đó súc miệng. Bên trong đền không có tượng thần mà có một tấm gương tròn. Khi làm lễ cúng tế, trước tiên phải đánh trống, mọi người đều mặc trang phục màu trắng, người chủ lễ đều đội mũ tăng (giống như chiếc mũ của các võ sĩ thời xưa).

Tôi nhận thấy linh khí ở nơi đó đặc biệt mạnh mẽ. Tên gốc của núi Thiển Gian là Thiển Gian Bạch Căn Hỏa Sơn. Trong quá khứ, núi lửa đã từng phun trào, nuốt chửng toàn bộ các làng mạc xung quanh. Có một địa điểm tên là "Quỷ Áp Xuất" [Công viên núi lửa Onioshidashi], nơi vẫn còn lưu giữ các hóa thạch của ngôi làng bị chôn vùi sau vụ phun trào núi lửa. Khu vực danh thắng có suối nước nóng Kusatsu, phố cổ Karuizawa Ginza và khu trượt tuyết Sugadaira Kogen - những cảnh đẹp và khu vui chơi nổi tiếng.

Linh khí hùng mạnh của Đền Minh Nhật Hương núi Thiển Gian ở Nhật Bản thực chất là đạo tràng nhân gian của các vị thần Ngân Hà. Chính tôi đã tiết lộ bí mật lớn này. Trong tương lai gần, chủ tịch Kadokawa Haruki sẽ đến thăm Seattle, Hoa Kỳ, và hai bên sẽ có cuộc giao lưu lớn. Giữa chúng tôi có một sự nhận thức và đột phá to lớn - từ rất rất lâu trong tiền kiếp, chúng tôi đã là những người bạn thân thiết không thể tách rời.

45. Lý tưởng và tinh thần của Chân Phật Tông

Tôi đã đến Mỹ hơn 2 năm, 2 năm qua, giống như đã trải qua 20 năm vậy, Chân Phật Tông phát triển rất nhanh chóng, nhưng cũng rất gian khổ. May mắn nhận được sự gia hộ của chư Phật Bồ Tát, vượt qua mọi chông gai, cuối cùng đã có thành quả, hiện ra trước mắt thế nhân, đây là điều đáng mừng đáng vui.

Seattle Lôi Tạng Tự của Chân Phật Tông tại Mỹ, sau hơn bảy lần điều trần, cuối cùng đã được phép thành lập. Chúng tôi đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức hết lần này đến lần khác, vượt qua hết lần này đến lần khác, sự kỳ thị của người khác đạo, sự chối bỏ của các mục sư, sự cố tình gây khó dễ của luật sư đối phương, những phiền toái và khó khăn thực tế khi xây dựng một ngôi chùa Chân Phật Tông tại xứ người, thực sự không thể nói cho người ngoài hiểu được, nhưng chúng tôi không bao giờ nản lòng, mang theo lý tưởng và tinh thần, cuối cùng đã thực hiện được công việc xây dựng chùa đầy thách thức này.

Giờ đây, chúng tôi càng có thêm niềm tin, càng có thêm triển vọng, người khác đạo không còn kỳ thị, các mục sư không còn chối bỏ, ngay cả luật sư đối phương cũng ngưỡng mộ chúng tôi và thậm chí còn chúc mừng. Chúng tôi thấm thía một câu nói rằng: khó khăn là mẹ đẻ của thành công đối với những người có chí hướng. Tương lai hoằng dương Phật pháp rất tươi sáng, chúng tôi cần có sự gánh vác lớn lao.

Bản thân tôi, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Tôn Giả, là tông chủ của Chân Phật Tông, là vị Thượng sư hướng dẫn. Những ai đã đọc sách của tôi đều hiểu rằng tôi là một Kim cương Thượng sư đã tập hợp các tôn giáo khác nhau và rèn luyện trong một lò lớn để đạt được chứng ngộ. Chân Phật Tông là tông phái mới nhất, không nhằm thay đổi Đạo giáo hay Phật giáo, mà là tông phái phù hợp cho người hiện đại tiếp thu và thực hành. Ngược lại, chúng tôi là sự tiếp nối của Phật giáo, là người phát triển Phật giáo, nghiên cứu Phật pháp và chứng minh Phật pháp, dùng Phật pháp để giải thích đạo. Chúng tôi đứng trên lập trường của sự hiểu biết để tìm ra ý nghĩa thực sự của đời người.

Về tinh thần, chúng tôi dạy con người loại bỏ phiền não vô minh, loại bỏ sự mê vọng của cuộc sống. Chúng tôi nhấn mạnh sự phản tỉnh nội tâm và làm thiện ở bên ngoài. Làm thiện ở bên ngoài chính là không làm các điều ác, thực hành tất cả điều thiện, sự phản tỉnh nội tâm chính là sự tu luyện của Mật tông, kết hợp tự lực với tha lực, để đạt được lý tưởng thành Phật, và lý tưởng thành Phật này chính là trụ cột tinh thần vĩnh cửu của Chân Phật Tông.

Chúng ta đều biết, trong lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni thường đề cập, sau khi Phật nhập diệt 1500 năm sẽ là thời đại mạt pháp, thời đại mạt pháp ma mạnh pháp yếu. Tuy nhiên, để hộ trì chính pháp, nhất định phải có người có tâm đại bi, người có sự gánh vác lớn, mới có thể trong thời kỳ mạt pháp phục hưng điều suy thoái. Ngày nay, Chân Phật Tông chính là dùng hương vị pháp Đại thừa vô thượng để cứu vãn chính pháp không bị đọa lạc, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư chính là người thực hành thành Phật, dùng tâm vô úy để độ chúng sinh.

Để thực hiện lý tưởng này, tất nhiên là vô cùng khó khăn. Một mặt, thời kỳ mạt pháp này là thời kỳ của chủ nghĩa thực dụng, ánh mắt của người đời đều hướng ra bên ngoài, mọi người đều theo đuổi danh lợi, địa vị, tiền bạc, còn người phản tỉnh nội tâm thì ít. Mặt khác, có người chỉ tuyên truyền Phật pháp mà không có sự nương tựa chân thật, không thể khởi lên niềm tin. Vì vậy, tôi bắt đầu từ việc tu tập thực tế, chuyên tâm dạy tất cả mọi người thực tu thực chứng, sử dụng thực tu thực chứng để chứng minh rằng Phật là niềm tin lý trí chứ không phải mê tín. Từ đó, sẽ có nhiều người hơn đến quy y cửa Phật, nghiêm túc tu trì, và cuối cùng chứng đắc quả Phật.

Tôi cảm thấy trách nhiệm cá nhân của mình vô cùng to lớn, gánh nặng cũng rất nặng nề. Bản thân tôi không có nền tảng gì, cũng không có sự hỗ trợ của tập đoàn tài chính nào, nhưng lý tưởng và tinh thần mà tôi nương tựa chính là lý tưởng và tinh thần của chư Phật Bồ Tát. Tôi không có tham vọng gì, tôi chỉ học pháp, tu pháp, đạt được Tam ma địa của sự hòa nhập, đã đạt được sự chứng ngộ tương ứng, kiến chứng Phật pháp, và thực sự có được thành tựu.

Chân Phật Tông và Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư kết hợp thành một thể thống nhất, lời dặn dò của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ "kính sư, trọng pháp, thực tu" chính là chủ trương và bước đi nhất quán. Tôi muốn thế nhân hiểu rằng, tu pháp là điều có lợi cho nhân loại, người tu pháp là người có tầm nhìn xa trông rộng.

Tôi mong mỏi các đệ tử Chân Phật Tông hãy gánh vác trách nhiệm, mỗi người đều là Pháp Vương tử, nhận thức giá trị của việc quy y Thượng sư và tu pháp, để Phật pháp có thể đóng góp to lớn nhất trong việc chuyển hóa nhân tâm, đây là con đường tốt nhất để độ chúng sinh.

(Hết.)


Mục lục