067. Tiếng lòng của người quy y
Tiếng lòng của người quy y
🪷 Trải nghiệm của đệ tử mười phương
Văn tập: 067 Xuất bản: 11/1986 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam
Mục lục
Lời mở đầu
Truyền bá hạt giống bồ đề
Đây là hành trình hoằng pháp của tôi, quyển sách thứ 67, nấc thang thứ 67.
Quyển sách này có đôi chút khác biệt so với những quyển trước, nhan đề là "Tiếng lòng của người quy y", cũng chính là "Trải nghiệm của đệ tử mười phương". Quyển sách này là tóm tắt của toàn thể đệ tử, là sự bộc lộ tâm ý của đại chúng đệ tử.
Để cứu độ thêm nhiều chúng sinh, tôi đương nhiên coi trọng "quan hệ duyên khởi" của các đệ tử. Tiếng lòng của bất kì đệ tử nào cũng sẽ ảnh hưởng đến tiến trình độ thế. Tôi và các đệ tử có mối quan hệ mật thiết với nhau, nên những gì được ghi chép trong quyển sách này bao gồm muôn điều, không chỉ thấu hiểu chân lý nhân sinh, chỉ dạy thực hành, mà còn phân tích tâm đắc tu trì từ tương ứng đến vô thượng chính đẳng chính giác.
Trong sách, tôi sẽ dùng văn tự để dẫn dắt đại chúng đi trên con đường giác ngộ quang minh, tỏa ra ánh sáng vô hạn để soi rọi bóng tối trùng trùng của nhân gian.
Từ trong trải nghiệm của các đệ tử mười phương, tôi xác định được phương châm độ thế cần có, từ đó nắm bắt được phương hướng giác ngộ người đời, thể ngộ được tất cả điều chân chính thiện lành, làm sáng tỏ Phật lý đúng đắn. Cách viết như thế mới có thể thực sự phúc huệ song tu, giải hành tương ưng.
Trải nghiệm của đệ tử mười phương được trích từ thư gửi đến của nhiều đệ tử, chắt lọc những trải nghiệm và tâm tình quan trọng, biên tập thành sách. Mỗi bài tâm tình đều có thêm lời chú giải của tôi, cách viết như vậy khiến pháp không cô lập, có "tâm" có "tiếng", là một nhân duyên rất đặc biệt, cũng là một quyển sách rất hay.
Tôi mong rằng nhờ nhân duyên từ quyển sách "Tiếng lòng của người quy y" này, với phương tiện độ sinh của nó, có thể dẫn dắt đại chúng hướng thiện, không chỉ làm tịnh hóa tâm họ, mà còn khiến chúng sinh lần lượt quy y Chân Phật, ai ai cũng tu trì theo Chân Phật Mật Pháp, ai ai cũng thành tựu, ý nghĩa như vậy thật sâu xa biết bao!
Tôi tự cảm thấy, sau bao năm học Phật, bao năm viết văn, sau khi giác ngộ, tinh thần của một hành giả đã hoàn toàn hiển lộ. Hiện nay, tôi chỉ có tâm đại bồ đề, tâm đại bồ đề này bao hàm đại bi vô úy, đại trí vô tư, tất cả của tôi, dường như hoàn toàn "không vô", những gì tôi có, chỉ là hai chữ "bố thí".
Liên Sinh Hoạt Phật đương nhiên có Phật có pháp, nhưng tôi không phải đi sở hữu Phật pháp mà là đem Phật pháp ban cho chúng sinh khắp thiên hạ. Tôi là một hành giả chân chính, tôi sở hữu khí phách bao la vô biên, những bước chân vững chắc đi đến cảnh giới chân tri chân kiến, đối với việc độ hóa chúng sinh cũng có đại hạnh mang tính nguyên tắc, tất cả những điều này đều nhằm thực hiện sự truyền bá hạt giống bồ đề.
Đương nhiên, trong cuộc đời này, nỗi nhục của tôi cao như núi, lời phỉ báng sâu như biển, nhưng, tất cả những điều này đã khiến tôi sinh ra tâm trắc ẩn, sinh ra tâm đồng cảm, và hơn nữa là tâm bố thí. Trong tu hành cá nhân, tôi đã sớm chuyển hóa sự nhục nhã và phỉ báng thành pháp lạc của mình. Tôi sẽ thực hiện: Đại bi vô úy. Đại trí vô tư.
Qua trải nghiệm của đệ tử mười phương, tôi nhận ra rằng những nỗ lực khai phá và truyền pháp của mình thực sự đã có chút thành quả, hiển hiện trước đại chúng một cách thông suốt và khoáng đạt. Mặc dù vẫn còn nhiều trở ngại từ nhiều phía, nhưng tôi chỉ cảm thấy hành nguyện luôn ở trong tâm, không bao giờ nản lòng, chỉ cần "hành", không màng đến "danh".
Trong "Tiếng lòng của người quy y", những gì tôi viết ra đều dựa trên nền tảng đại bồ đề tâm. Tôi dạy các đệ tử, ai ai cũng học tập con đường trung đạo của hành giả. Không khúm núm nhưng cũng không kiêu ngạo, có cảnh giới chớ mừng, không cảnh giới chớ lo. Tâm chí khoáng đạt và rộng mở, không xa lánh người đời, nhưng cũng không nhập thế lẫn với bụi trần. Tất cả đều rõ ràng minh bạch, tất cả đều được ánh sáng bồ đề chiếu rọi.
Trên thế giới này, có vô vàn chuyện kỳ quái khác thường, chúng ta phải dùng tâm không phân biệt để nhìn nhận. Trên thế giới này, có rất nhiều chuyện oán thân yêu ghét, chúng ta phải dùng tâm bình đẳng để đối trị. Trên thế giới này, có rất nhiều phiền não được mất, chúng ta phải dùng tâm đại tự tại để đối trị. Nhìn thấu, buông bỏ, tự tại chính là "thiền".
Đương nhiên, Liên Sinh Hoạt Phật có mười hai vạn đệ tử, đạo tràng hoằng pháp trải khắp toàn thế giới, nhưng, những thành quả nhỏ bé này vẫn chưa đủ. Những hạt giống bồ đề tương lai này vẫn cần dựa vào sự hoằng dương truyền bá của tất cả đệ tử, tiếp tục phát triển, phát huy rạng rỡ.
Trải nghiệm của đệ tử mười phương cũng chính là trải nghiệm của "bạn, tôi và họ", mỗi người chúng ta đều đã đi qua những trải nghiệm này.......
Viết một bài kệ để ghi nhớ: Liên Sinh Hoạt Phật được người tin tưởng Đệ tử mười phương đầy khắp giang hồ Tiếng lòng tuôn chảy giữa muôn dòng chữ Nở ra hoa sen đắc được chân như.
Tháng 12 năm 1986 tại Chân Phật Mật Uyển, thành phố Redmond, bang Washington, Hoa Kỳ.
Thông tin liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th CT REDMOND WA 98052 U. S. A.
01. Truyền nhân của Mật pháp vô thượng
Ân sư tôn kính nhất!
Hôm qua trong cuộc điện thoại đường dài, được nghe giọng từ ái của ân sư, vì quá vui mừng, con lúng túng trong lời nói, kính mong ân sư đừng để tâm.
Từ khi từ biệt dung nhan từ bi của ân sư, con không lúc nào không nhớ đến, tâm tư luôn vương vấn, không giây phút nào không ở bên cạnh ân sư. Tất cả những gì ân sư và sư mẫu đã ban cho, con thực sự không thể dùng lời để diễn tả lòng biết ơn, chỉ xin hết đời này dùng thân khẩu ý nhất tâm cúng dường! Con tuyệt đối không phụ lòng mong đợi của ân sư.
Hôm qua ông Đắc Long đến Hồng Kông thăm và muốn trò chuyện với con. Sau cuộc nói chuyện, con vô tình nhận ra rằng cảnh giới của mình đã cao hơn nhiều, có thể phân biệt được thật giả, đúng sai, rõ ràng trong tâm, đây là trí tuệ mà ân sư đã ban cho! Con cũng đối xử với ông Đắc Long một cách viên dung, không bao giờ tranh cãi và luôn đối đãi lễ phép. Có lẽ ông ấy là một hòn đá thử vàng cho con! Qua sự so sánh thực tế này, con càng hiểu rõ trí tuệ mà ân sư ban cho cao siêu và quý báu đến nhường nào, không gì sánh được! Sau khi ông Đắc Long ra về, con xúc động không thể kiềm chế, rơi lệ tạ ơn ân sư... (Chúng sinh đáng thương, ai hiểu được cảnh giới của ân sư lại cao siêu tuyệt đối như vậy.)
Chúc mừng pháp hội truyền pháp của Kim Cang Đường ở New York viên mãn thù thắng, Phật quang của ân sư chiếu khắp! Một lần nữa đệ tử khấu đầu tạ ơn ân sư ban cho đại phúc huệ, thành tâm mong mỏi ân sư, sư mẫu và gia đình quang lâm Hồng Kông.
Xin viết hai bài kệ, cúi mong ân sư từ bi chỉ dạy.
(Một)
Thánh Tôn từ bi vĩ đại Sự khai thị của "tâm pháp vô thượng" Như thể đánh thức ký ức đã quên lãng của con! Hóa ra tất cả đều là những người quen cũ! A! Thì ra là vậy, thì ra là vậy Sau khi khai ngộ, buồn vui đan xen Bởi vì "con chính là Phật!"
(Hai)
Vui không phải vui, buồn không phải buồn Đâu còn phân biệt ta với người nơi cõi trần; Chẳng phải tĩnh, chẳng phải động Không có không gian cũng chẳng có thời gian.
Kính chúc: Pháp luân thường chuyển, Phật quang phổ chiếu. Đệ tử ngu muội Thượng sư Liên Hàn chí thành đảnh lễ. 09.08.1986.
🌟
Bức thư này do Thượng sư Liên Hàn viết.
Thượng sư Liên Hàn đã nhiều lần đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond để tu học. Tôi đã truyền dạy cho ông ấy "tâm pháp vô thượng" chân chính. Tâm pháp vô thượng này chính là pháp môn trực tiếp dẫn dắt hành giả Mật tông đạt đến tức thân thành Phật.
"Vô thượng" nghĩa là không có gì cao hơn pháp này nữa. Đây là từ "vô sinh nhẫn" đạt đến cảnh giới thực tướng hiện tiền, giác tính rộng lớn khắp mười phương, tiến vào "tịch diệt nhẫn", thấy mười phương Như Lai tràn đầy khắp hư không.
Ở phương diện hữu hình, tâm pháp vô thượng này hấp thu dòng pháp của tất cả Như Lai trong pháp giới từ đỉnh đầu, hiển hiện nguyệt luân thanh tịnh, bản thân trở thành pháp thân Như Lai nguyên sơ, tương ứng với nhất thiết trí trí.
Tên tổng thể của tâm pháp vô thượng là Đại Nhật. Tên Như Lai của tâm pháp vô thượng là Phổ Hiền.
Bí mật vô hình của tâm pháp vô thượng này cần được Liên Sinh Hoạt Phật trực tiếp truyền dạy, và vô cùng bí mật, đây chính là tâm ấn trực tiếp của Như Lai Thích Ca Mâu Ni.
Liên Sinh Hoạt Phật sở hữu tâm pháp vô thượng, sở hữu tâm ấn vô thượng của Phật Thích Ca Mâu Ni, bởi vì tôi là truyền nhân của Mật pháp vô thượng, người đạt được tâm pháp vô thượng này chính là truyền nhân của Mật pháp vô thượng.
Trên thế giới này, trong vô vàn chúng sinh, có nhiều pháp sư tự cho rằng pháp của mình là lớn nhất, pháp của mình là cao nhất, thực ra họ không hiểu được Mật pháp vô thượng.
Tôi muốn chúng sinh lĩnh hội được rằng "tự tâm" vốn đầy đủ vô lượng công đức, không bị mê hoặc bởi tất cả pháp sinh diệt. Nếu đạt đến cảnh giới như vậy thì có thể hiển hiện hư không tạng tính!
Một người thực sự đạt được hư không tạng tính chính là truyền nhân của Mật pháp vô thượng. Hôm nay tôi nhìn vô vàn chúng sinh, thực sự có lòng thương xót. Chúng sinh đáng thương ơi! Có bao nhiêu người có thể hiểu được?
02. Tư tưởng của quán vô ngã
Kính Liên Sinh Sư Tôn minh giám! Chào Sư Tôn, nhớ thầy nhiều! Đệ tử Liên Tư, Liên Tung chắp tay đảnh lễ Thượng sư. Om mani padme hum.
Chúng con dâng lên cúng dường tịnh tài tháng 8, thay mặt tất cả đệ tử tu pháp của Chân Phật Tông cúng dường Sư Tôn.
Thay mặt tất cả tổ tiên nhiều đời, chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ và vong linh không nơi nương tựa của các đệ tử Chân Phật Tông, đăng ký tham gia đại pháp hội siêu độ do Hoạt Phật chủ trì.
Chúng con không cầu công đức, nếu có công đức, chúng con xin hồi hướng tất cả công đức cho tổ tiên nhiều đời của Chân Phật Tông, chúng sinh trong sáu đường và các vong linh không nơi nương tựa.
Thưa Sư Tôn! Thời gian trôi qua nhanh như bóng câu qua khe cửa, nếu chúng sinh không thể dành một chút thời gian để tu pháp tu tâm, thì sống trên đời này còn ý nghĩa gì?
Om ah hum guru beh ahasasamaha liansheng siddhi hum. Kính chúc Phật an! Liên Tư - Liên Tung chắp tay. 26.07.1986.
🌟
Bức thư này được gửi từ Singapore. Hai đệ tử này thay mặt các đệ tử khác cúng dường, thay mặt tổ tiên của các đệ tử đăng ký tham gia pháp hội siêu độ. Họ nói không cầu công đức, không cầu bất cứ điều gì.
Đây là không vì bản thân, quên đi cái tôi của mình - vô ngã, trong đó có tư tưởng của quán vô ngã, phù hợp với một trong ba pháp ấn là "chư pháp vô ngã" ấn.
Trong "Kinh Kim Cang" có nói: "Nếu Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát." "Bạch Thế Tôn, tại sao Bồ Tát không thọ nhận phúc đức? Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát tạo các phúc đức không nên tham đắm, vì thế nói là không thọ nhận phúc đức." "Này Tu Bồ Đề, nếu phúc đức là thật có, Như Lai đã không nói phúc đức nhiều. Chính vì phúc đức là không, nên Như Lai mới nói phúc đức nhiều."
Ba câu nói trên trong "Kinh Kim Cang" đáng cho tất cả đệ tử suy nghĩ kĩ, tôi xin giải thích ngắn gọn, súc tích ba điểm: Thứ nhất, làm một vị Bồ Tát, trước tiên phải học "vô ngã". Thứ hai, Bồ Tát không tham đắm phúc đức. Thứ ba, "không" của phúc đức, lớn hơn "có" của phúc đức. Phúc đức vốn "không", nếu "có", thì không phải là phúc đức.
Hành giả Mật tông cần biết rằng, tư tưởng quán vô ngã này chính là nguồn gốc của tu pháp, tôi có thể nói rằng, tất cả cảnh giới mầu nhiệm của "ranh giới không sinh" vốn phát sinh từ vô ngã. Tôi luôn nhấn mạnh, dòng pháp quang minh của mười phương Như Lai muốn đi vào thân hành giả, điểm then chốt để dòng pháp quang minh kết hợp với tự tính ẩn tướng chính là hai chữ "vô ngã". "Ngồi quên chính mình". "Không tự giác". "Không hình không tướng".
Hành giả Mật tông chỉ cần thực sự đạt đến cảnh giới vô ngã, tự nhiên sẽ có ánh sáng quang minh thù thắng đổ vào trong tự tính, và chúng ta có thể từ trong tình thức, hoàn toàn đưa ánh sáng này ra, làm cho nó trở nên rực rỡ, tự nhiên có thể hòa nhập vào biển ánh sáng pháp giới, gặp gỡ tất cả chư Phật trong ba đời mười phương.
Nói về Ngoại pháp, không cầu tất cả công đức, tất cả công đức hồi hướng cho chúng sinh. Nói về Nội pháp, cần buông bỏ tối đa tất cả trần lao tạp niệm, trong tự tính có một điểm ánh sáng tinh khiết, dần dần hình thành nguyệt luân sáng trong, dòng pháp quang minh của mười phương Như Lai đổ vào, hòa quyện với nhau, tự thành biển ánh sáng pháp giới.
Tôi cảm thấy vẫn còn rất nhiều đệ tử không hiểu được vô ngã, họ vẫn còn ích kỷ, chỉ làm việc vì phúc đức của chính mình. Pháp sự chỉ là vì tư lợi. Không thật sự độ chúng sinh. Những đệ tử như vậy, đương nhiên sẽ không bao giờ trở thành Bồ Tát, bởi vì "Kinh Kim Cang" đã chỉ rõ, Bồ Tát không thể có tướng ngã. Bồ Tát không tham đắm phúc đức.
Đệ tử mà tướng ngã nặng nề, tu pháp sẽ không đạt được tương ứng, bởi vì tâm tham lam nặng nề, trần cảnh tạp niệm quá nhiều, quá nhiều vọng tưởng, dòng pháp ánh sáng của mười phương Như Lai sẽ không đổ vào thân, như vậy rất khó có lúc tương ứng.
Tam Luận Tông của Phật giáo thực ra chính là "vô tướng tông", đây là pháp Đại thừa vô tướng, đạo lý trong "Kinh Bát Nhã" nói cũng bắt đầu từ tư tưởng quán vô ngã.
03. Tiếng lòng của người "thường nhìn lên trời"
Kính thưa Sư Tôn, Sư Mẫu. Sau khi đọc xong "Hình bóng Phật quang", con lại không nhịn được mà phải viết thư. Sư Tôn đã nhìn thấy "nguyệt quang luân" tại Lôi Tạng Tự vào ngày 22 tháng 3. Con cùng với Liên Hoa Lan Hương, Liên Hoa Bản Nguyên cũng đã nhìn thấy vầng hào quang của mặt trăng vào tháng 3 (con quên mất ngày), lúc 11 giờ đêm, mặt trăng sáng trong vô cùng, xung quanh là vòng hào quang bảy sắc (màu rất nhạt) giống như cầu vồng vậy. Con phải cảm ơn Sư Tôn đã dạy con "thường nhìn lên trời", một là giúp tâm hồn rộng mở, hai là còn được thấy những cảnh tượng kỳ diệu.
Con đã mang theo một bình nước Đại Bi từ Lôi Tạng Tự về Đài Loan cho gia đình và bạn bè uống. Kết quả là từ Seattle → Dallas → New Orleans → Dallas → Amarillo → Dallas → Los Angeles → San Francisco → Tokyo → Taipei. Ngày 13 tháng 3 trở về Đài Loan, trải qua 10 lần lên xuống máy bay, đều bị hải quan kiểm tra. Chồng con hỏi: "Họ có vấn đề gì vậy?" Họ nói: "Có phản ứng kim loại." Khiến cả người con bị kiểm tra, con vội vàng uống cho họ xem và nói với họ: "Chỉ là nước thôi!" Mười lần đều bị mở ra kiểm tra, làm cho nắp bình bị nứt. Về đến nhà, nghĩ rằng nước tốt như vậy nên chia cho nhiều người uống, con đã đổ một chai nhỏ vào Trang Nghiêm Đường và pha loãng thành một thùng lớn, để chia sẻ với các sư huynh sư tỷ.
Trong sách, Sư Tôn nói Liên Hoa Công Ích nghe thấy tiếng rồng ngâm, nghĩ lại con thật ngốc đến buồn cười, trong thời gian pháp hội, con ở ngay cạnh Long Thần, chỉ cần mở cửa sổ là có thể nhìn thấy Long Thần, vì trong phòng bật lò sưởi, cảm thấy ngột ngạt, muốn mở cửa sổ cho thoáng khí, vừa mở cửa sổ liền nghe thấy âm thanh rất lớn, "xiu xiu" như tiếng bão đi qua, nhưng nhìn kĩ thì lá cây hoàn toàn không động đậy, tất cả đều im lặng, hóa ra đó là tiếng rồng ngâm.
Pháp hội tháng 2, diện kiến Sư Tôn, con hỏi Sư Tôn: "Nghe nói Đài Loan sẽ có động đất lớn, có đúng không ạ?" Sư Tôn lập tức tính toán linh cơ, trả lời: "Cấp sáu, rất lớn đấy!" Sư Tôn còn bổ sung: "Không sao đâu, không có thiệt hại lớn." Quả nhiên vào tháng 5, liên tiếp xảy ra động đất lớn, cao nhất một lần là "cấp sáu", kết quả không có thiệt hại gì lớn. Trước đó con đã dặn dò người thân bạn bè, họ đồng loạt gọi điện nói "chuẩn quá". Các quốc gia khác động đất cấp năm, cấp bảy là có nhà cao tầng sập, con nghĩ chắc chắn là do Sư Tôn đã gia trì cho đất nước quê hương của mình.
Ngày mùng 7 tháng 7, Dagchen Rinpoche đến Đài Loan, trong ba ngày 7, 8, 9, con đã đưa ngài cùng với một vị hoạt Phật khác là Gyalsay Tulku (vị hoạt Phật đã sống ở Ấn Độ 23 năm) đi tham quan Cố Cung Đài Bắc, Ân Chủ Công, Đài tưởng niệm Trung Chính, Đài tưởng niệm Quốc Phụ. Trên xe taxi, con trò chuyện với tài xế, con nói: "Anh thật may mắn, có hoạt Phật ngồi trên xe anh." Sau đó con nói về một số chuyện tái sinh của các hoạt Phật, cuối cùng con nói với anh ấy rằng, các Hoạt Phật Tây Tạng cũng là đệ tử của Hoạt Phật Đài Loan chúng ta - Lư Thắng Ngạn. Anh ấy nói trước đây từng đọc sách của Lư Thắng Ngạn, con bảo anh ấy tiếp tục đọc, cũng có thể viết thư xin quy y. Khi xuống xe, anh ấy không lấy tiền, con kể chuyện "không lấy tiền" cho hai vị Hoạt Phật, hai vị Hoạt Phật vô cùng phấn khởi. Hai vị Hoạt Phật càng thêm kính yêu Sư Tôn.
Kính chúc cát tường! Liên Hộ chắp tay. 15.07.1986.
🌟
Đệ tử Liên Hộ chính là đệ tử Lâm Ngọc Trân ở Đài Loan. Bất Động Minh Vương hiển hiện kim thân chính là do máy ảnh của cô ấy chụp được. Tôi thường gọi cô ấy là "người thường nhìn lên trời".
Tại sao tôi lại gọi Liên Hộ là người thường nhìn lên trời? Bởi vì bản thân tôi cũng thường nhìn lên bầu trời xanh, tôi cho rằng việc thường nhìn lên bầu trời xanh chính là học hỏi tấm lòng của trời, tấm lòng của trời rộng lớn vô biên, có lúc quang đãng, cũng có lúc mưa gió u ám. Nhưng dù là trời đẹp hay trời xấu, phía trên tầng mây u ám kia vẫn luôn là "bầu trời xanh quang đãng".
Thường nhìn lên trời là một kiểu tham ngộ của thiền, tham ngộ về mây, tham ngộ về trời. Trong thế gian này, mọi việc đời không thể hoàn toàn như ý muốn, cũng có nhiều điều bất ngờ xảy ra. Hạnh phúc thực sự trong cuộc sống hóa ra chỉ là vấn đề của quan niệm, đẹp và xấu, thiện và ác, đúng và sai, tốt và xấu, cao và thấp, vui và buồn... Hóa ra tất cả đều là "hai mặt của một thể".
Thường nhìn lên trời có thể tham ngộ huyền cơ, có thể viên mãn mọi việc. Tôi nói với Liên Hộ rằng chúng ta nên thường xuyên nhìn lên trời, mọi việc ở nhân gian đều nhiều biến đổi, nhưng dù có thay đổi thế nào, dù may mắn hay không may mắn, chúng ta cần học cách có tâm hồn rộng mở, không để những điều đó tạo thành phiền não trong tâm trí mình. Trời chính là ta. Ta chính là trời. Thường nhìn lên trời này chính là một cảnh giới rất khoáng đạt, dù là trời âm u, là ngày mưa, tóm lại, đó vẫn là một bầu trời tuyệt diệu!
Tôi viết một bài thơ hiện đại "Bầu trời xanh": Trời vốn bất động Mây mưa hay nắng gió Ngẫm kĩ suy ra, Chính là muôn trạng của tâm hồn.
Trời xanh thật đẹp Trời âm u cũng đẹp Học cách quan sát sâu sắc Sẽ thấy "trời vốn bất động".
Tôi muốn mọi người thưởng thức bài thơ hiện đại mà tôi viết này, hãy cảm nhận ý nghĩa "trời vĩnh viễn bất động, ngày nào cũng là ngày đẹp trời, ngày nào cũng là ngày tốt lành".
Nước chú Đại Bi, vì sao lại có phản ứng kim loại? Đây thực sự là một phép màu kỳ diệu không thể tưởng tượng!
Cần biết rằng Liên Sinh Hoạt Phật tay trái nắm lấy góc áo cà sa, tay phải kết ấn tam cổ nhỏ, tụng một biến tâm chân ngôn chú Đại Bi, hướng về bình nước, tay phải làm bảy lần, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát lấy cành dương liễu nhúng vào nước trong bình tịnh thủy, từ không trung rải xuống ba lần, ánh sáng trắng nhập vào trong bình nước.
Quán chư tôn trong Phật bộ gia trì nước chú Đại Bi, nhanh chóng khiến hành giả Chân Phật thân nghiệp thanh tịnh, tội chướng tiêu diệt, phúc huệ tăng trưởng. Quán chư tôn trong Liên Hoa bộ gia trì nước chú Đại Bi, nhanh chóng khiến hành giả Chân Phật ngữ nghiệp thanh tịnh, mọi người thuyết pháp, độ hóa chúng sinh, âm thanh uyển chuyển. Quán chư tôn trong Kim Cang bộ gia trì nước chú Đại Bi, nhanh chóng khiến hành giả Chân Phật ý nghiệp thanh tịnh, chứng đắc khai ngộ, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, nhanh chóng giải thoát phiền não.
Khi tôi cầu nguyện nước chú Đại Bi, chư Phật Bồ Tát đã hiển hiện phép màu phóng quang vĩ đại, khiến trên trời dưới đất đều tỏa ánh sáng rực rỡ, chiếu khắp ba nghìn đại thiên thế giới.
Do nước chú Đại Bi này có năng lực gia trì như vậy, tự nhiên có thần lực mạnh mẽ, nước thường sau khi được gia trì không ngờ biến thành nước có phản ứng kim loại.
Những người uống nước chú Đại Bi sau đó nhận được hiệu quả tốt vô cùng nhiều. Đây là sự cung kính mười phương pháp giới, thanh tịnh tam nghiệp của chính mình, cũng có công năng bảo hộ, tất cả thiên ma, người ác, tà thuật, không có kẽ hở nào để quấy nhiễu, bệnh tật cũng có thể tiêu trừ.
Nước chú Đại Bi uy quang hiển hách.
04. Đại danh cũng là rỗng tuếch
Xin Thượng sư minh giám!
Nhiều vị Hoạt Phật Rinpoche từ Tây Tạng đến quy y Sư Tôn Hoạt Phật, con nghĩ rằng đây là điều tất yếu, bởi Thượng sư là hóa thân của Tổ sư Liên Hoa Sinh, đương nhiên khi họ gặp Thượng sư cũng giống như gặp được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vậy. Đồng thời Thượng sư là Bạch Liên Hoa Đồng Tử giáng trần, là vị Hoạt Phật chân chính, có lòng từ bi của Bồ Tát Quan Thế Âm, có sự cứu độ của Đức Phật A Di Đà, có đại trí tuệ của Bồ Tát Hư Không Tạng và Văn Thù, chứng đắc đại tự tại của Như Lai Phật Tổ, hơn nữa còn có tinh thần tự nguyện hy sinh để cứu độ chúng sinh, vì vậy là chủ nhân bí mật của cõi Kim Cang Chân Ngôn, là Pháp Vương, và hơn thế nữa là nơi nương tựa của người đời.
Gần đây, đệ tử trong lúc thiền định đã nhìn thấy đại danh của Sư Tôn được liệt kê trong danh sách những vĩ nhân thế giới, và cũng thấy Sư Tôn xuất hiện trên các đài phát thanh và truyền hình để thuyết pháp. Con biết Sư Tôn không cần danh tiếng, càng không thích phô trương, nhưng Phật pháp đã lan tỏa rộng khắp đến mọi nơi trên thế giới. Danh hiệu Thượng sư, Hoạt Phật, Pháp Vương tự nhiên đã theo đại pháp lực mà thấm sâu vào lòng mọi người, điều này là tự nhiên, không phải nhờ vào danh tiếng của ngôi sao hay tổng thống mà có được, mà là từ ánh hào quang của Phật pháp sinh ra, là sự tỏa sáng tự nhiên của ánh sáng.
Về mặt tu trì, con đã đạt được tương ứng Tứ gia hành và tương ứng pháp tương ứng Thượng sư, được thấy Thượng sư cùng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cùng đến phóng quang gia trì và truyền dạy Mật pháp.
Gần đây, ngoài việc tu pháp Bổn tôn, đệ tử còn song song tu pháp nội hỏa minh điểm, sử dụng phương pháp hô hấp hoàn toàn để hấp thu năng lượng sống từ không khí và ánh sáng của chư Phật Bồ Tát để thổi bùng điểm lửa đỏ nhỏ của mình. Mỗi khi hít vào một hơi thở, điểm lửa đỏ nhỏ này dần dần phình to như quả cầu lửa, lớn như mặt trời, đan điền và những nơi quả cầu lửa đi qua đều bừng bừng đỏ rực, vật chất trong cơ thể bị đốt cháy và nổ tung. Ban đầu hơi sợ hãi, nhưng rất nhanh chóng, những khí đen bị nổ tung đều được thở ra ngoài cơ thể, và lúc này những gì con hít vào lại là năng lượng ánh sáng từ toàn bộ dải ngân hà đổ vào. Khi quả cầu lửa lên đến thiên tâm và luân xa đỉnh đầu, sự bùng nổ không còn nữa. Lúc này, ánh sáng đỏ và ánh sáng trắng lóe sáng từ thiên tâm, chiếu vào trong dải ngân hà bao la. Điểm lửa đỏ nhỏ này biến thành lửa mặt trời, thật huyền diệu không thể nghĩ bàn.
Vào tối thứ Bảy tuần trước, anh trai con là Dương Dụ Hà, con và một số bạn bè đã dùng bữa tối tại một nhà hàng ở Chicago, chúng con ngồi quanh bàn tròn lớn và trò chuyện về Phật pháp, trong đó nhiều người rất tò mò về Thượng sư. Đệ tử đã kể về cách Thượng sư gặp được duyên kỳ lạ, từ một người Cơ Đốc hữu bình thường mà bước vào con đường đạo Phật. Và cũng kể về việc Thượng sư đã phải đối mặt với những kẻ đố kỵ, thiếu trí tuệ, tham lam và mất trí như thế nào khi họ phỉ báng, vu khống và hãm hại Người.
Tiếp đó, con đã kể về việc mình đã đến diện kiến Thượng sư và chính thức quy y Chân Phật Tông như thế nào. Con nói rằng con biết chắc chắn Thượng sư Lư là một vị Thượng sư đã thực sự chứng đắc, không chỉ vậy, vào thời điểm đó (năm 1984) con đã biết rằng Thượng sư Lư là một vị Hoạt Phật chân chính từ cõi trời giáng trần, vì thế con muốn quy y thầy, và rồi vào tháng Giêng năm 1985, con đã được Thượng sư đích thân ban quán đảnh, chính thức trở thành đệ tử của Chân Phật Tông. Ngay sau khi quán đảnh, con đã đạt được quán đảnh tương ứng.
Sau buổi trò chuyện này, mọi người đều mong muốn được gặp Thượng sư Hoạt Phật. Thượng sư hiện đã thành lập Kim Cang Đường ở miền Đông New York và tại khu vực miền Trung Hoa Kỳ ở Chicago này, con tin rằng cũng có không ít đệ tử Chân Phật Tông. Nếu tại miền Trung Chicago có một phân đường, không chỉ các đệ tử có thể cùng nhau tu tập, mà đồng thời cũng có thể tập trung sức mạnh để hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, không biết ý kiến của Thượng sư thế nào?
Con đã viết lộn xộn vài điều, thực ra còn nhiều vấn đề về tu pháp chưa được thỉnh giáo, nhưng lại e ngại chiếm dụng quá nhiều thời gian quý báu của Thượng sư, nên xin dừng bút tại đây, sẽ trình bày sau.
Kính chúc Phật an! Liên Yêu chắp tay. 28.07.1986.
🌟
Đệ tử Liên Yêu là một lưu học sinh thời kỳ đầu, hiện đang sinh sống tại Chicago.
Tôi rất thẳng thắn nói với đệ tử của tôi rằng: Danh tiếng cũng chỉ là hư không. Bản thân tôi tự thấy mình không phải thánh hiền, và tôi rất ngu muội, tôi chỉ là một phàm phu rất nhỏ bé mà thôi. Như danh xưng Hoạt Phật là do các đệ tử tôn kính đặt cho tôi. Pháp Vương cũng là danh xưng do các đệ tử dành tặng cho tôi. Thượng sư là do chư Phật Bồ Tát ban tặng, và cũng là sự ban tặng đặc biệt của các bậc thầy trên thế gian. Thực ra, tôi chẳng có gì cả.
Đệ tử Liên Yêu thấy nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật, tên của thầy được liệt kê trong danh sách những vĩ nhân thế giới, và nhiều tôn hiệu được gắn cho thầy, cho rằng đó là thực chất xứng danh.
Tôi thành thật nói với mọi người rằng, tôi thực sự là một người rất ngốc nghếch, đôi khi phản ứng rất chậm chạp, không làm tốt được việc gì, có rất nhiều việc tôi đều không thể đảm đương nổi. Tôi không phải là một bậc trí giả mà là một kẻ ngu dốt chính hiệu, tôi có bản tính chất phác thật thà. Chỉ là khi tôi bắt đầu bí mật tu trì Mật pháp, tôi chỉ biết thực hành từng bước một, tu tập mỗi ngày, không bao giờ gián đoạn, giống như cách tôi viết văn vậy (dù việc viết văn vẫn có lúc gián đoạn), nhưng việc tu tập Mật pháp chưa từng bị gián đoạn, tôi chỉ là một hành giả chân chất như vậy.
Sau này, tôi đã ngộ ra rằng, "một pháp chính là nhiều pháp, nhiều pháp chính là một pháp", hiểu được rằng Mật pháp không cốt ở số lượng nhiều, mà điều quan trọng là có thể thực hành hay không. Từ sự tu hành một pháp, tôi đã tương ứng sâu sắc, khai ngộ trí tuệ của một pháp, từ đó có thể đại triệt đại ngộ, khiến thân khẩu ý thanh tịnh, và lập tức hiểu được ý nghĩa của nhiều pháp.
Tôi hiểu rằng khi tôi biến hóa thủ ấn, thủ ấn của tôi đã biến thành thủ ấn của chư tôn, đi vào dòng chảy pháp của vũ trụ, hư không không thể đo lường được.
Tôi thầm mỉm cười, những danh vị như Hoạt Phật, Pháp Vương, Thượng sư, đều có thể bỏ qua một cách nhẹ nhàng, thậm chí tông chủ, tôi cũng có thể khạc nhổ vào nó. Quả vị đều chỉ là một cái tên rỗng tuếch.
Tôi hoàn toàn không muốn xuất hiện trên đài phát thanh hay đài truyền hình. Tôi - một hành giả Mật tông khờ dại này, thực sự không hề mong muốn nổi danh lừng lẫy trong cõi người. Tất cả những điều này đến một cách tự nhiên, rồi cũng sẽ đi một cách tự nhiên, tất cả đều trở về hư không, tôi tự biết rằng danh tiếng lớn cũng chỉ là hư vô mà thôi!
Trong quan niệm của tôi, tôi đã vượt qua danh vị, tôi nhìn chúng sinh bằng cái nhìn bình đẳng, thậm chí tôi xem động vật và thực vật cũng bình đẳng như tôi. Bất kể tôi ở nơi đâu, tất cả đều bình đẳng và viên mãn, tôi không có những khát vọng thái quá. Tôi mong tất cả đệ tử hiểu được tâm cảnh của tôi, tôi chỉ là một người khờ khạo, chỉ hiểu được một pháp, hàng ngày tu tập theo pháp, dần dần loại bỏ mọi che chướng trong tâm, một phàm phu nhỏ bé mà thôi.
Đệ tử Liên Yêu học tập pháp minh điểm nội hỏa, thu năng lượng ánh sáng từ ngân hà, cần hiểu rõ pháp tâm vô lượng, phải dùng tâm thanh tịnh tối đa để nhận được dòng pháp quang minh của Như Lai Tạng gia trì công đức lực tam mật thân khẩu ý, đồng thời phải nguyện cho tất cả chúng sinh hữu tình cũng đều nhận được dòng pháp quang minh của Như Lai Tạng. Không chỉ bản thân thọ dụng, mà cũng mong người khác được thọ dụng.
Đệ tử Liên Yêu trong tương lai cứu độ chúng sinh, khuyên nhủ độ hóa chúng sinh quy y Chân Phật phải từ bi đối với sự vô minh của tất cả chúng sinh hữu tình, bởi vì họ đang chìm đắm trong biển sinh tử mà không tỉnh ngộ, hoàn toàn do tâm vọng sinh phân biệt, nên khi độ chúng sinh phải có tâm từ bi, trước tiên cần tự mình giác ngộ, tự mình không mê hoặc, không mê lầm đối với tất cả pháp sinh diệt, như vậy mới có thể hiển lộ được hư không tạng tính của chính mình.
Viết một bài kệ ghi lại: Danh tiếng vốn dĩ là hư không Nên nhìn tất cả đều bình đẳng Thủ ấn viên mãn hay pháp quý Tiến tới hay lùi đều tự nhiên Nội hỏa minh điểm ngộ tự tính Chính là từ bi hư không tạng.
05. Phóng quang và gia trì
Kính thưa Sư Tôn và Sư Mẫu: Om mani padme hum. Đệ tử Liên Hoa Tùng Hùng nhờ Thượng sư Vưu Ngân Thọ mang thư này, kính chào Sư Tôn và Sư Mẫu.
Trước tiên, xin Sư Tôn và Sư Mẫu nhận đảnh lễ ba lạy từ cả gia đình đệ tử. Cảm tạ Sư Tôn phóng quang gia trì, giúp đệ tử trong quá trình tu pháp đều được như nguyện, viên mãn cát tường. Cảm tạ Sư Tôn gửi giấy chứng nhận quy y cho phu nhân của đệ tử, cảm tạ Sư Tôn phóng quang gia trì, giúp con trai thứ hai của đệ tử là Thái Trấn Long năm nay thi đỗ vào trường học mong muốn như nguyện.
Có một vài điểm cảm ứng, kính mong Sư Tôn khai thị:
-
Trong ngày con trai thứ hai của đệ tử tham gia kỳ thi tuyển, đệ tử đã đi cùng đến trường thi. Khi đang trì chú tâm chú Thượng sư, đệ tử bỗng nhiên nhìn thấy Sư Tôn ngự trong không trung, đầu đội mũ Ngũ Phật, ngồi trên đài sen, phóng ra một luồng ánh sáng trắng chiếu vào phòng thi của con trai đệ tử. Đệ tử vô cùng hoan hỷ, nghĩ rằng với sự phóng quang gia trì của Sư Tôn trong kỳ thi này, con trai nhất định sẽ đỗ, và quả nhiên đã như nguyện.
-
Trong pháp hội siêu độ tại Tổng đường Đài Trung, Đài Loan năm nay, đệ tử trì niệm thánh hiệu A Di Đà Phật, bỗng nhiên nhìn thấy A Di Đà Phật giáng lâm, thân tỏa ánh hào quang bách bảo, ánh sáng đỏ tràn ngập khắp trời đất. Đức Phật đứng trên đài sen trắng, viền có ánh sáng tím, thật đẹp đẽ, thật trang nghiêm. Bên trái có Quan Thế Âm Bồ Tát đứng, toàn thân tỏa ánh sáng trắng. Sau đó con nhìn thấy ông nội của con, không nói gì, chỉ mỉm cười nhẹ, ngồi trên một đóa sen trắng nhỏ, theo A Di Đà Phật từ từ bay lên trời cao.
Rõ ràng hơn, Sư Tôn xuất hiện trên không trung trước mặt đệ tử, Sư Tôn hiện tướng xuất gia, trang trọng và nghiêm trang, khiến đệ tử vô cùng vui mừng. Pháp hội này dưới sự hướng dẫn của Thượng sư Vưu Ngân Thọ và Thượng sư Liêu Ngọc Tồn diễn ra rất suôn sẻ, đặc biệt là Sư Mẫu quang lâm đàn tràng, khiến các đệ tử đều tràn đầy pháp hỷ.
Hiện tại cả gia đình đều muốn quy y Sư Tôn, kính xin Sư Tôn ban cho chứng thư. Kính chúc cát tường viên mãn! Đệ tử Liên Hoa Tùng Hùng chắp tay. 15.08.1986.
🌟
Liên Hoa Tùng Hùng sống tại Đài Bắc, Đài Loan.
Nhiều người thích hỏi tôi, tại sao Thượng sư Hoạt Phật có thể tùy cơ ứng hiện? Tôi thường giải thích như sau: hành giả Mật tông, nhắm mắt lắng tâm, tự tâm sẽ có một điểm linh tính trong sáng tỏa ra ánh sáng trắng, ánh sáng trắng này có thể hình thành một vầng trăng, khi vầng trăng đã thành sẽ có một nguồn lực chân thật chứa đựng trong ánh sáng trắng đó.
Ánh sáng trắng này theo tác dụng giao lưu, từ tâm điểm tỏa ra khắp lỗ chân lông trên cơ thể, khiến mười phương đều hiển hiện ánh sáng lớn, nếu ánh sáng lớn này có pháp tính tương đồng với ánh sáng lớn của chư Như Lai trong mười phương, sẽ làm kinh động chư Như Lai mười phương, không khác gì với Phật.
Trong pháp giới, bản thể và tha thể, mỗi cái đều khởi lên sự giao lưu, liên tục không ngừng, đây chính là cảnh giới thực tướng thấu triệt nguồn cội, tự nhiên có thể lan tỏa khắp trời đất.
Trong pháp giới, bản thể và tha thể không còn phân biệt, tức là đột phá tất cả mọi kiến giải về nội ngoại, ta và người không khác, chỉ cần cầu nguyện liền có thể tương ứng ngay với Thượng sư Hoạt Phật.
Trong pháp giới, Thượng sư Hoạt Phật do đã chứng đắc tâm Niết bàn, thấu suốt vạn pháp, nhập vào biển ánh sáng Tỳ Lô Giá Na, tự có thể tùy cơ ứng hiện, chiếu sáng khắp tất cả.
Sự phóng quang của Thượng sư Hoạt Phật là: "Hào quang rực rỡ, tràn ngập khắp trời, có thể trừ mọi chướng ngại, mọi bệnh tật, mọi khổ não của chúng sinh, giúp đệ tử nhanh chóng chứng đắc bồ đề."
Sự gia trì của Thượng sư Hoạt Phật là: "Dùng tâm thanh tịnh gia trì tất cả chúng sinh hữu tình, khiến pháp tính vốn thanh tịnh của chúng sinh như hoa sen không nhiễm ô, tự hiển lộ công đức lực tam mật."
Viết một bài kệ: Tùy hỷ công đức bách bảo quang Tùy duyên ứng cảm liên hoa tạng Tự tâm chúng sinh vận thanh tịnh Tự tại tương ứng đều thấm nhuần.
Có người nói, khi bước vào biển Phật pháp, phải lấy niềm tin làm gốc; khi vượt qua biển khổ sinh tử, phải lấy giới làm bè tre. Khả năng phóng quang và gia trì của tôi đều có niềm tin và có bằng chứng. Bất kì đệ tử nào, chỉ cần chuẩn bị tâm thanh tịnh, bước vào cảnh giới quên mình hoàn toàn, tự nhiên sẽ nhận được sự phóng quang gia trì của Thượng sư Hoạt Phật. Cảnh giới này còn được gọi là tam muội, vượt thoát thời gian và không gian. Một kỳ thi nhỏ, Thượng sư Hoạt Phật cũng phóng quang gia trì. Một pháp hội lớn, Thượng sư Hoạt Phật cũng phóng quang gia trì.
Tôi xin nói với mọi người, biển lớn không từ chối dòng nước nhỏ, vì thế mà có thể trở nên vĩ đại. Sự phóng quang gia trì của Thượng sư Hoạt Phật không có phân biệt lớn nhỏ, cao thấp; những vương công quý tộc sống trong cung điện nguy nga có thể nhận được ánh sáng của Thượng sư thì tất nhiên những đệ tử sống trong ngõ hẻm nhà tranh, ăn uống đạm bạc cũng đều nhận được ánh sáng của Thượng sư.
Pháp hội siêu độ tại Tổng đường Đài Loan đã nhận được sự gia trì của Thượng sư Hoạt Phật, tràn đầy pháp hỷ, cảm ứng liên tục. Lá thư này chỉ là một trong nhiều lá thư của các đệ tử gửi đến, đặc biệt được chọn ra để làm minh chứng. Trong tương lai, khi Tổng đường Đài Loan được xây dựng, sẽ tỏa ra hào quang rực rỡ, chiếu sáng khắp thế giới.
06. Thượng sư vẫy phất trần
Kính gửi Liên Sinh Hoạt Phật!
Con sợ chiếm dụng quá nhiều thời gian quý báu của Hoạt Phật nên cố gắng viết ngắn gọn. Mục đích con viết thư này là để đệ tử Liên Hoa Hồng Tài cùng phu nhân Liên Hoa Lệ Âm đặc biệt kính tạ ơn sâu dày gấp mười hai vạn lần của ân sư, tấm lòng từ bi và Phật pháp vô biên.
Ngày 16 tháng 6 năm 1986, đệ tử bị đột quỵ tim. Dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ, đệ tử được nhanh chóng đưa vào phòng cấp cứu của một bệnh viện Công giáo ở Buffalo tiểu bang New York. Bác sĩ trực ngay khi nhìn thấy kết quả điện tâm đồ từ bệnh viện tư nhân của con lập tức tiến hành các biện pháp cấp cứu khẩn cấp. Lý do là theo chẩn đoán của nhiều bác sĩ, con bị bệnh tim đột phát, có thể ngừng thở và tử vong bất cứ lúc nào.
Điều phi thường kỳ diệu đã xảy ra sau mười hai giờ con nhập viện. Lúc 1 giờ 40 phút đêm ngày 17, con nhìn thấy rõ ràng minh bạch Liên Sinh Hoạt Phật và Thượng sư Liên Đĩnh đang hội ý với chư Phật Bồ Tát cõi trời, quyết định việc "đi" hay "ở" của đệ tử Liên Hoa Hồng Tài.
Chư Phật Bồ Tát chỉ định thời điểm tử vong là 4 giờ đêm ngày 17, nhưng hai vị Thượng sư đã xuất hiện cứu giúp, chỉ ra rằng con là đệ tử quy y của Liên Sinh Hoạt Phật, vì thế, Quan Thế Âm Bồ Tát mới đồng ý cho con được tiếp tục sống.
Đây là những điều con thấy nghe rõ ràng trong trạng thái hấp hối. Đúng 4 giờ, trên giường bệnh, con cảm nhận được toàn thân rung động.
Đúng 6 giờ, con nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật đội mũ tăng hình tam giác, trên đỉnh mũ có vòng hào quang trắng tỏa ra, thân mặc pháp y màu vàng, tay phải cầm phất trần, tay trái cầm chày kim cang, từ xa đã vẫy phất trần, rải nước màu vàng, đi đến bên giường con. Đồng thời, Thượng sư Liên Đĩnh cũng xuất hiện, thân mặc pháp y màu vàng, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, pháp khí tỏa ánh sáng trắng, theo sau Hoạt Phật.
Trải qua sự chăm sóc tận tình của hai vị Thượng sư, bệnh tim của con bắt đầu biến mất vô hình. Mặc dù con ở trong phòng cấp cứu suốt ba ngày, dưới sự chăm sóc đặc biệt 24 giờ, sau ngày thứ năm, dưới ánh mắt kinh ngạc của bác sĩ và y tá, con đã rời khỏi bệnh viện mà không còn bất kì triệu chứng bệnh nào. Đây là sự thật không thể chối cãi, đội ngũ y tế làm sao có thể hiểu được rằng đây chính là lòng từ bi của hai vị Thượng sư tôn quý vĩ đại và chư Phật Bồ Tát.
Trong lúc bệnh, con đã có rất nhiều điều thấy nghe và cảm ứng, con sẽ trình bày đầy đủ tại Tịnh Tâm Đường ở Toronto trong buổi pháp hội đồng tu ngày Chủ nhật, để kể cho các huynh tỷ đồng môn nghe, chứng minh sự linh hiển của Liên Sinh Hoạt Phật và chư Phật Bồ Tát cùng Phật pháp vô biên.
Kính xin được một lòng cảm tạ. Kính chúc Hoạt Phật Phật an! Đệ tử Liên Hoa Hồng Tài - Liên Hoa Lệ Âm cùng khấu đầu.
🌟
Đệ tử này là Liên Hoa Hồng Tài của Tịnh Tâm Đường Toronto, Canada.
Liên Sinh Hoạt Phật từng nói thế nào là Hoạt Phật? Hoạt Phật chính là "nhập Phật tam muội da". "Nhập Phật tam muội da" là một cảnh giới vô cùng kỳ diệu, cảnh giới này về căn bản không có hình tướng, đó chính là điều tôi thường giải thích là cảnh giới kết hợp giữa tự tính và pháp lưu của chư Như Lai mười phương. Hoạt Phật là bản tính và Phật tính tương hợp. Chúng sinh là bản tính và tình cảm tương hợp.
Đệ tử quy y Liên Sinh Hoạt Phật thực sự có những cảm ứng đặc biệt. Phần lớn đệ tử sau một thời gian tu tập bắt đầu có sự tự nhận thức, và khi đạt đến trạng thái tương ứng với Thượng sư mới có thể chứng minh triệt để sự vĩ đại vô biên của Mật pháp.
Như từ "điểm sáng" chuyển hóa thành "nguyệt luân", cảnh giới "nguyệt luân" được biểu thị bằng thủ ấn, được tụng bằng chân ngôn, được giữ vững bằng ý, dùng công đức lực của tam mật để nuôi dưỡng căn bản. Chỉ cần phát tỏa ra bên ngoài thân thể là cảnh giới phóng quang, đây cũng chính là cảnh giới cảm ứng ban đầu của Tỳ Lô Giá Na Như Lai.
Chúng ta cần hiểu rằng, thể tính hoàn hảo của một Hoạt Phật được tôi luyện hoàn toàn từ sự chịu đựng và lao nhọc, Liên Sinh Hoạt Phật luôn hết mức khoan dung đệ tử, hết lòng cứu độ đệ tử, nhẫn nhịn mọi khuyết điểm của đệ tử, luôn giơ cao phất trần để xóa tan nghiệp chướng và trần cấu của tất cả đệ tử, nhờ vậy mà Chân Phật Tông mới ngày càng thuần mỹ.
Tôi là một vị Thượng sư vẫy phất trần, việc cứu độ Liên Hoa Hồng Tài có lẽ là một sự kiện tình cảm, nhưng giữa thầy trò ẩn chứa lý tính và Phật pháp. Sự nghi ngờ của thế nhân là không thể tránh khỏi, nhưng chúng ta phải nhận rõ sự thật và phải có lòng thành thực sự.
Trong thời gian sắp tới, tôi sẽ phóng đại quang minh chiếu soi thế gian, thường xuyên xuất hiện để độ hóa chúng sinh.
Liên Sinh Hoạt Phật chính là Tỳ Lô Giá Na Đại Như Lai, là Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, dòng truyền thừa Chân Phật Tông này sâu xa và vĩ đại, sự truyền thừa tôn quý vĩ đại của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sẽ mãi mãi phổ hiện trong thế gian, tỏa ra ánh hào quang vĩ đại khắp thế giới.
07. Sự bất động của Bất Động Minh Vương
Sư Tôn Liên Sinh, Om mani padme hum!
Đệ tử Liên Hoa Cơ Diệu vừa trở về từ đoàn hành hương Vancouver, chuyến đi đến Phật địa kéo dài năm ngày, mục đích của đệ tử là đi lễ Phật và tìm hiểu thủ tục xuất gia. Sau đây là trải nghiệm của đệ tử.
Trước khi khởi hành, Sư Tôn đến Vancouver hoằng pháp, và con đã có một giấc mơ. Trong mơ, Sư Tôn và một nhóm đệ tử chúng con đang ở cùng nhau, bỗng nhiên Sư Tôn bước vào một căn phòng để tìm một người nào đó. Khi mở cửa, có một vị lão hòa thượng lao ra, tay cầm dao, như muốn giết hại Sư Tôn. Các đệ tử nhìn nhau ngơ ngác, không ai tiến lên bảo vệ Sư Tôn. Sư Tôn chỉ cười lớn đối diện với vị hòa thượng đó, hòa thượng liền bỏ dao xuống và bỏ chạy mất.
Đệ tử cảm thấy rất áy náy trong lòng, tại sao con lại không bảo vệ Sư Tôn? Giấc mơ này có ý nghĩa gì? Giấc mơ này con chỉ kể cho Thượng sư Liên Trí nghe mà thôi.
Vài ngày sau, con đi hành hương đến Phật địa, vị trụ trì đến đón nhóm chúng con, tổng cộng mười bốn người, chỉ có con là trẻ nhất, vị trụ trì tìm đến con đầu tiên và hỏi: "Con tên là gì?" "Lư Cơ Diệu." - Con trả lời. Thầy hỏi tiếp: "Có phải chữ 'Lư' của Lư Thắng Ngạn không?"
Con không trả lời. Trong lòng nghĩ, hóa ra vị sư trụ trì đã biết Sư Tôn của con. Nhưng con nhớ lại Thượng sư Liên Trí ở Vancouver đã dặn con rằng, khi đến Phật địa hành hương, đừng nhắc đến ba chữ Lư Thắng Ngạn. Sau đó vị pháp sư lại hỏi con về tuổi tác, công việc, đến từ đâu, ông ấy cứ nhìn con rất lâu, còn những người bạn đồng hành khác thì ông ta hoàn toàn không hỏi han gì.
Tối đó, trong buổi nghe kinh đầu tiên, vị trụ trì lại một lần nữa nhắc đến tên của Sư Tôn, nói rằng Sư Tôn là người tự xưng Pháp Vương, tự xưng Hoạt Phật, thực ra chỉ là một tiểu ma, là con quỷ bị Không hành mẫu khống chế, giống như Milarepa vậy, ông ta còn nói rằng ông Tam Sơn Cửu Hầu là Monkey Demon (quỷ khỉ).
Con vừa nghe kinh vừa cảm thấy lo lắng, tâm trí rối bời. Tại sao vị trụ trì lại chỉ trích Sư Tôn như vậy? Con chỉ đến đây để hành hương lễ Phật, không hề có ác ý nào với nơi này. Con chỉ là đệ tử của Sư Tôn, và con còn phải ở đây thêm vài ngày nữa. Lúc này con niệm "Om mani padme hum" trong tâm, nhớ đến ngọn đèn dầu trong bát cúng khi tu pháp tượng trưng cho nhẫn nhục, nên con đã chuyển hóa những lời chỉ trích về Sư Tôn thành sự nhẫn nhục, dâng cúng lên chư Phật Bồ Tát.
Bài học đầu tiên của con là học nhẫn nhục. Con không những không có ác ý với vị trụ trì, mà còn học được nhẫn nhục từ ngài. Ngài là người xuất gia lạy Phật, Sư Tôn con cũng là người lễ bái cùng một vị Phật. Vũ trụ này bao la vô tận, đương nhiên có thể dung chứa cả vị trụ trì và Sư Tôn Liên Sinh.
Từ trước đến nay, con đọc sách của Sư Tôn, đã khám phá nhiều chân lý và pháp môn tu hành, con đã học được rất nhiều, trong lòng luôn biết ơn lòng đại từ bi và sự gia trì vô hình của Sư Tôn. (Viết đến đây, nước mắt con đã tuôn rơi, mỗi khi nghĩ đến Sư Tôn, mắt con đều ướt đẫm.)
Ở lại vài ngày, không có gì bất thường, chỉ là thường xuyên có người giám sát, không cho con đi lại tự do, bắt con mỗi ngày phải đến đại Phật đường tụng kinh, từ 4 giờ sáng đến 10 giờ tối, ngoài thời gian ăn cơm và nghe kinh ra, đều là niệm Phật, còn con tự đọc "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh", tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh", buổi tối quán tưởng thủ ấn tu Mật pháp, con không muốn để người khác biết con tu Mật tông.
Mỗi tối sau khi tu pháp xong, con cũng tu pháp mặc giáp hộ thân, quán tưởng bản thân ngủ trên tòa sen trong trái tim của A Di Đà Phật, và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ bình an. Mỗi ngày con đều gặp vị pháp sư trụ trì, con vẫn chắp tay đảnh lễ ngài, trong tâm niệm chân ngôn Lục tự đại minh. (Ở Phật địa, Sư Tôn đã nhiều lần đột ngột xuất hiện trong tâm của đệ tử.)
Nói đến đây lại là một nhân duyên khác, hai vị đệ tử của pháp sư trụ trì đến Canada thuyết pháp, chúng con - đệ tử Chân Phật Tông, đã bỏ tiền bỏ sức để tổ chức pháp hội cho họ, con còn tự làm phiên dịch cho họ và thu tiền cúng dường từ những người đến nghe pháp để cúng dường họ. Con nghĩ lúc đó, tất cả các đệ tử Chân Phật Tông đều không biết rằng thầy của hai vị pháp sư này lại chính là người phỉ báng Sư Tôn của chúng con, thật là một tội lớn, một trò cười lớn trong vũ trụ nhân gian.
Trong lần cuối cùng nghe pháp sư trụ trì giảng pháp, ngài đã viết lên bảng một câu "Nhẫn nhục chính là chính pháp của Phật", con đã đối lại câu trên là "Tự quán ánh sáng phá trừ hồng trần". Chuyến hành hương này, con đã học được không ít điều.
Con nhớ lại giấc mơ trước khi hành hương, vị lão hòa thượng trong mơ chẳng phải chính là sự việc pháp sư trụ trì phỉ báng Sư Tôn sao (trong mơ vị lão hòa thượng muốn dùng dao sát hại Sư Tôn), thật là kỳ diệu!
Kính chúc viên mãn cát tường! Đệ tử Liên Hoa Cơ Diệu ba lạy đảnh lễ.
🌟
Bức thư của Liên Hoa Cơ Diệu rất dài, tôi cố gắng tóm tắt nó, và đã ẩn tên của pháp sư trụ trì, ẩn tên chùa, ẩn tất cả. Đoạn trải nghiệm này, tất nhiên không chỉ là trải nghiệm của Liên Hoa Cơ Diệu mà còn là trải nghiệm của nhiều đệ tử khác, thậm chí là trải nghiệm của nhiều đệ tử khi đến các ngôi chùa khác nhau. Liên Hoa Cơ Diệu ở Canada.
Bức thư này khiến tôi nhớ đến một câu nói: "Khi người ta hiểu lý sẽ không nổi giận, khi không hiểu lý thường hay nổi giận."
Tôi thường suy nghĩ về những đạo lý này, tôi là người thường xuyên bị người khác hiểu lầm, tuy nhiên, tôi luôn đối diện với thực tế, từng bước tự xét lại mình, tìm ra lý do, sự hiểu lầm của người khác đối với tôi tất nhiên có nguyên nhân của nó, và tôi nỗ lực để gột rửa những oan ức của mình. Nhưng, đối với những lời phỉ báng vô lý của người khác, tôi không quan tâm.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Một người thực sự giác ngộ thì khen chê vinh nhục sẽ không làm lay động tâm họ!"
Tôi ngưỡng mộ bài kệ quý báu của Bất Động Minh Vương: "Chữ Phạn trên tâm nguyệt, biến thành lửa đại trí, phiền não sở tri chướng, thiêu đốt khiến tận diệt, thành lửa sinh tam muội, chướng hết lửa cũng tắt, vầng trăng sáng trong trẻo, trên đó quán chữ Phạn, chữ biến thành kiếm trí, kiếm biến Bất Động tôn, phấn chấn tính phẫn nộ, trùm khắp cả pháp giới, lưỡi kiếm mang lửa trí, phá tan tất cả ma, quỷ Tỳ Na Dạ Ca, đều đau đớn ngất lịm, chúng sinh nghe tiếng này, hoảng sợ mà chạy trốn, quy y nơi Tam Bảo, lửa độc ác bất thiện, bị dập tắt không còn, lại triệu tập tam thừa, như thiên long bát bộ, trừ bỏ tâm phân biệt, lệnh biến thành một thể, cùng trụ trong tam muội, trong tâm mình tự đốt, các pháp do duyên sinh, mười phương thế giới Phật, tiến thành đại hỏa tụ, uy nộ thắng công đức, dũng mãnh không ai sánh, vô biên chư Như Lai, phụng sự thân Bổn tôn, lại có sáu mươi vạn, hằng sa câu chi Phật, nhờ Bổn tôn chỉ dạy, thành vô thượng bồ đề, vô lượng các loài rồng, thường cúng dường hầu hạ, hành giả vừa nhớ đến, tính công đức Bổn tôn, những kẻ gây chướng ngại, không ai không bị phá, nơi hành giả cư trú, ma quỷ đều tránh xa, Bổn tôn lại hiện thân, phụng như Bạc Già Phạm, đắc thành Tam ma địa, đại Bồ Tát cùng trụ."
Trong bài kệ này, "phiền não sở tri chướng, thiêu đốt khiến tận diệt", đây là công dụng của lửa đại trí, tôi hiểu rõ chân lý của Đại Thánh Bất Động Minh Vương, sự bất động của Bất Động Minh Vương, và "dũng mãnh không ai sánh" đều là điều tôi nỗ lực học tập, đây là điều vô cùng vĩ đại, vô cùng quý báu.
Tôi thường nghĩ, lửa đại trí của Bất Động Minh Vương đang cháy bừng, và những lời phỉ báng của người đời giống như thêm củi vào lửa đại trí, khiến ngọn lửa này càng thêm mạnh mẽ. Những lời phỉ báng này, tôi đã bất động tâm. Không chỉ bất động, mà còn giúp cho bản thân tinh tấn hơn.
Hoằng pháp độ chúng sinh, bất kể làm việc gì, một khi gặp phải lời phỉ báng, không thể tự thương hại, tự than thở, tôi tự nhận thấy chỉ cần mình đã dốc toàn lực, dù lời phỉ báng cao như núi, sâu như biển, tôi biết rằng điều này cũng có ý nghĩa, là điều đáng giá.
Bởi vì, tôi thấu hiểu sâu sắc tâm bất động của Bất Động Minh Vương.
08. Nhận thức rõ Chân Phật đến quy y
Kính thưa Thượng sư Lư. Con xin thỉnh cầu Thượng sư làm lễ quán đảnh quy y cho con. Họ tên: Tiêu Vĩ Minh. Địa chỉ: 2744 Alice Ct. Fremont, CA 94539 Tuổi: 37 tuổi.
Con từng theo học với một vị đại sư nọ, nhiều điều trong giáo lý của ngài khiến người ta khó hiểu. Nhìn những bạn học cùng lớp đều là những người có trình độ học vấn cao, và những đồ trang trí trong các cửa hiệu của người Trung Quốc đều là Mật pháp do vị ấy truyền. Tại sao Thượng sư không đứng ra khai ngộ cho những người vô tội này, phải chăng là vì duyên pháp chưa đến?
Con nhận ra rằng việc theo học vị ấy, cộng với sự tìm tòi của bản thân, chỉ là những Mật pháp bề ngoài. Muốn hiểu được những bí ẩn bên trong, có lẽ con đã đi không đúng đường. Con đã đọc tác phẩm của Thượng sư từ lâu, hôm nay là một cơ hội, con xin thỉnh cầu sự chỉ dẫn của Thượng sư, xin quy y Chân Phật Tông để giải tỏa nghi vấn của mình, từ đó thức tỉnh những người vô tội tương tự khác. Đệ tử cầu xin quy y Tiêu Vĩ Minh kính bái. 21.07.1986.
🌟
Bức thư này được gửi từ bang California, Hoa Kỳ. Đây là một trong những lá thư đại diện của đệ tử của một vị đại sư nọ, xin quy y Liên Sinh Hoạt Phật. Số người rời bỏ vị đại sư nọ rồi đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật đã không thể đếm xuể, nhiều không đếm xuể.
Tất cả những ai từ vị đại sư nọ đến quy y Chân Phật Tông, tôi đều dạy họ trước tiên tu pháp Yoga sám hối bảy chi của Thai Tạng giới. Bước vào mật đàn. Quỳ xuống cung kính niệm: Từ vô thủy đến nay. Trôi lăn trong sinh tử. Phóng túng thân khẩu ý. Tạo tác các ác nghiệp. Nay trước đại thánh tôn. Tận tâm mà sám hối. Nguyện rủ lòng gia trì. Ta người đều thanh tịnh. (3 lần)
Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật hiện thân trong không gian, ngồi trên hoa sen trắng, tỏa ánh sáng trắng, chiếu rọi vào bản thân. Và từ các lỗ chân lông của mình tỏa ra khí đen rồi tan biến. Kết ấn thoa phấn thơm. Quán tưởng thân mình trang nghiêm như chư Phật Bồ Tát Kim Cang. Định tâm tĩnh tọa, nhập tam muội chính định.
Đây chính là bước vào tổng thể pháp giới chân chính, vô chất vô hình, hoàn toàn loại bỏ sạch sẽ tất cả những pháp giả hỗn tạp đã học trong quá khứ. Yoga sám hối này vốn là một luồng tịnh khí của Liên Sinh Hoạt Phật, trên kết nối với trí quang của Đại Nhật Như Lai, dưới thông với bản tính của tất cả chúng sinh, trở thành nền tảng nơi Chân Phật nương tựa.
Yoga sám hối này làm ba lần, tự nhiên thanh tịnh quang minh, vượt thoát trần tướng, hoàn toàn tiêu trừ luồng khí đen trong thân từ quá khứ, tất cả vô minh cũng sẽ biến mất, thoát khỏi sự bao phủ của khí đen, hiển lộ trí quang chân chính. Loại bỏ chướng ngại của khí đen trước. Sau đó tu pháp Tứ gia hành của Chân Phật Tông.
Cần biết rằng, ánh sáng trắng tinh khiết vốn là ánh sáng trong suốt của Liên Sinh Hoạt Phật, hoàn toàn không chướng ngại, tràn đầy mười phương, danh xưng này chính là "pháp giới sinh thân". Hành giả mới quy y, khi nhập định, tay có thể kết ấn Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng mình đội mũ miện Ngũ Phật, trang nghiêm với chuỗi vòng ngọc và tràng hoa, thân khoác pháp y thanh tịnh sáng rỡ, ngồi trên tòa sen, đó chính là "pháp giới sinh thân".
Ở đây, tôi thực sự có Mật pháp chân chính, tôi đến đi tự tại, không đến cũng không đi, tâm pháp vô thượng nằm trong tâm tôi. Tất nhiên, tôi biết rằng trên thế giới này cũng có nhiều người đang mượn danh Mật tông để truyền bá những Mật pháp giả. Tuy nhiên, bất kể người đó có danh tiếng lớn thế nào, địa vị cao ra sao, tài sản nhiều ra sao, chỉ cần nền tảng của họ là giả thì không thể tồn tại mãi được, sớm muộn gì người ta cũng sẽ nhìn thấy bộ mặt thật của họ.
Thế giới loài người này vốn là thế giới mê hoặc, tôi mong mọi người đều có lý trí và trí tuệ. Thật vậy, nếu chúng ta không dùng lý trí để suy xét, thực tế chúng ta đã vô tình bị lừa dối mọi lúc mọi nơi. Cuộc sống con người rất ngắn ngủi, thời gian vô cùng quý giá, nếu bản thân lại bị lừa gạt bởi Mật pháp giả, truyền thừa giả, thì đó thực sự là một điều vô cùng đau buồn. Đôi khi, Liên Sinh Hoạt Phật thường rơi lệ, khóc thương cho sự vô minh của chúng sinh trên thế gian.
Tính đối lập giữa thật và giả là có thể nhìn ra dễ dàng. Chúng ta có nghi thức quán đảnh quy y chân chính, Liên Sinh Hoạt Phật cũng có nhiều sư phụ quy y chân chính, bao gồm cả Hiển giáo và Mật giáo, đây là truyền thừa chân chính. Hơn nữa, còn có nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật.
Vì vậy, chúng sinh cần có nhận thức sâu sắc, phát huy tối đa lý trí của mình, nhận rõ Chân Phật để quy y. Chân Phật Tông có Mật pháp chân chính, chỉ cần bạn nỗ lực tu tập, chắc chắn sẽ có thành quả, tương lai Chân Phật Tông sẽ nở rộ như cành lá hoa đơm.
09. Cùng bước lên con đường giác ngộ đến quy y
Kim cương Thượng sư Lư Thắng Ngạn!
Kính chào thầy. Xin thầy thứ lỗi vì con đã nhiều lần làm phiền đến sự tu hành thanh tịnh của thầy. Con thực sự là một trong những độc giả trung thành của các sách tâm linh của thầy. Những vài chục cuốn sách tâm linh mà thầy đã viết, con hầu như đã sở hữu tất cả. Lúc rảnh rỗi, con thường xuyên đọc đi đọc lại, càng đọc càng thấy thú vị, đọc trăm lần vẫn không chán, nói chung là yêu thích không muốn rời tay, và con còn ghi chép, sao lại những điểm tinh túy trong sách vào sổ tay. Thượng sư đã khai mở trí tuệ vô thượng cho con, công khai chỉ ra những phương pháp bí mật nghìn đời không truyền, thực sự là vị cứu thế vĩ đại trong thời mạt pháp, độ hàng nghìn hàng vạn chúng sinh u mê trên thế gian, công đức vô lượng vô biên, như Phật Thích Ca Mâu Ni tái thế. Từ lâu con đã khâm phục sâu sắc trong lòng, xúc động rơi lệ, năm vóc sát đất cúi đầu đảnh lễ thầy.
Chúng sinh đau khổ ở khắp nơi trong thời mạt pháp, được gặp minh sư như thầy đến thuyết pháp trực tiếp, chỉ rõ con đường cho người mê lạc, cùng bước lên con đường giác ngộ, thật là phúc báu ba đời. Con đã lầm vào tà giáo mười năm trước, sau khi đọc sách của thầy, con đã giác ngộ ngay lập tức, lập tức thoát ra, quy y Phật môn, đến nay đã được mười năm. Thường ngày con sáng tối lễ Phật tại nhà, vào các dịp Phật đản, con đến chùa tham gia lễ Phật tụng kinh sám hối, năm 1979 đã thăm Phật Quang Sơn, năm 1983 thăm Thánh địa.
Gần đây, con đã ghi lại những hiểu biết về nghiên cứu Phật lý của mình, một phần tham khảo từ kinh Phật, một phần lấy từ lời dạy trong sách của thầy, và đã thu âm trực tiếp vào băng ghi âm, mỗi bộ có năm, sáu cuốn, tổng cộng ghi được năm, sáu mươi cuốn, và đã phân phát cho các ngôi chùa như một hình thức bố thí pháp. Gần đây, con còn tổ chức Hội Niệm Phật Liên Trì tại chùa Triều Giác ở địa phương, sau khi niệm Phật xong, con giảng về Phật lý. Con cũng in thuyền pháp A Di Đà Phật tổng cộng mười triệu tờ, cúng dường cho các chùa, cố gắng khuyên mọi người niệm Phật.
Con đã từng tu tập pháp khởi linh, chỉ mười phút đã có kết quả, khi học phù lục phi hồng pháp cũng đã thành công. Nếu không có sự chỉ dạy Chân Phật Mật Pháp của Thượng sư, con vẫn còn là người ngu dốt. Ân đức lớn lao của Thượng sư khiến con ghi nhớ mãi không quên, từ lâu con đã có ý muốn quy y Thượng sư Hoạt Phật, nhưng không có duyên.
Tối nay tại chùa Triều Giác, con gặp nhiều bạn đạo, họ nói rằng Thượng sư đã cho họ quán đảnh quy y và thu nhận làm đệ tử. Trước đây con thường cho những người này mượn sách của Thượng sư để đọc, khai ngộ cho họ, giờ đây họ đã trở thành đệ tử của Thượng sư, thật đáng hổ thẹn khi bản thân con đến nay vẫn chưa được Thượng sư quán đảnh quy y, thật vô cùng tiếc nuối!
Con tha thiết mong Thượng sư thấu hiểu tấm lòng thành khẩn của con, có thể ban quán đảnh cho con, con nguyện chân thành quy y Thượng sư làm thầy, và kính xin Thượng sư ban tặng một bức pháp tướng để con thờ phụng theo đúng pháp, nghìn lần mong Thượng sư không phụ lòng mong đợi của con.
Họ tên: Trần Tiên Nga. Sinh nhật: năm Kỷ Mùi. Địa chỉ: Indonesia, đảo Java, thành phố Cirebon, đường Bắc Thái Địa An, số 49.
Kính thư cùng kính chúc Phật quang phổ chiếu, thánh thọ vô cương. Đệ tử Trần Tiên Nga thành kính chắp tay. Đêm 06.08.1986
🌟
Lá thư này được viết bởi một Phật tử người Indonesia 68 tuổi, bà là một vị Bồ Tát thường xuyên bố thí pháp và tài.
Vị lão Bồ Tát này đã 68 tuổi, nếu theo câu "người sống đến bảy mươi xưa nay hiếm", thì bà đã ở tuổi xế chiều! Nhưng bà vẫn đến xin quy y quán đảnh, điều này cho thấy bà có duyên lớn với Chân Phật Tông.
Tôi thường nói, cuộc đời con người là ngắn ngủi và hư ảo, nếu muốn đời này không trôi qua vô ích, nhất định phải quy y tu hành, nỗ lực tinh tấn.
Có một bài thơ rất hay: Cát múc lên bằng tay sẽ chảy qua kẽ ngón, Thời gian quý báu cũng vậy, Nó lặng lẽ trôi đi khỏi thân ta, Vì vậy, bạn phải tận dụng tốt thời gian quý báu còn lại.
Đối với người tu hành, tinh tấn tất nhiên là quan trọng, nhưng việc tu tập pháp mặc giáp hộ thân cũng rất quan trọng, bởi vì khi một lòng chuyên tâm dụng công vào pháp thân, ta thường lơ là việc bảo vệ nhục thân, và các loại ma ở cõi trời hoặc cõi đất sẽ nhân cơ hội này tấn công nhục thân. (Thiên ma và địa ma đều có thần thông con mắt thứ ba.)
Tôi rất coi trọng pháp mặc giáp hộ thân, người tu pháp phải khoác áo giáp kim cang lên thân, sau đó dùng thủ ấn kim cang ấn vào năm vị trí, quán tưởng thân mình phát ra lửa, khi giải ấn lại quán tưởng Kim Cang Thần đứng ở bốn phương trước sau trái phải bảo vệ hành giả Mật tông tu pháp. Nhờ vậy, tất cả thiên ma địa ma vốn muốn quấy phá, nhìn thấy đều kinh hãi và bỏ chạy tán loạn. (Pháp mặc giáp hộ thân, tham khảo cuốn "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".)
Trong thời đại ngày nay, có người ca ngợi tôi là Phật Thích Ca Mâu Ni tái thế, nhưng cũng có người chỉ trích "Lư Thắng Ngạn này thật sự đáng ghét quá".
Tuy nhiên, tôi hiểu rằng, ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni với nhân cách siêu việt cũng từng phải chịu nhiều ma nạn và vu khống. Vì vậy, một vị Bồ Tát chân chính phải nhẫn nhịn tất cả nghịch cảnh, đối với chúng sinh giữ tâm bình đẳng không lay động, như đại địa.
Đệ tử quy y cần ghi nhớ luôn luôn phải tu tập pháp mặc giáp hộ thân phòng ma, học cách giữ thân tâm bất động.
10. Ánh sáng ngũ sắc cát tường cứu hộ
Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu. A Di Đà Phật! Cảm tạ Sư Phật đại lực cứu hộ, hiển hiện sức mạnh thần thông to lớn bất khả tư nghì mà lại không để lộ dấu tích.
Hôm trước, vợ đệ tử là Liên Đồng đã sinh nở, hạ sinh một bé gái, đột nhiên băng huyết, máu chảy ồ ạt, nhau thai trôi ra ngoài, tình trạng nguy kịch khiến các bác sĩ, y tá hốt hoảng.
Lúc này Liên Đồng rất bình thản, cô ấy quán tưởng Liên Hoa Đồng Tử, và trong lòng niệm: "Đệ tử Liên Đồng có nạn, cúi mong sư phụ khẩn cấp cứu hộ." Trong sát-na, máu chảy chậm lại và ngừng chảy, bác sĩ và y tá cũng cho rằng đã cấp cứu thành công và rất vui mừng.
Em bé được đưa ra khỏi phòng đẻ, y tá yêu cầu đệ tử đi theo cô ấy lên tầng năm, đồng thời còn nói cho đệ tử biết là em bé bị chân dài chân ngắn, phải điền vào đơn khuyết tật.
Đệ tử nghe xong thì rất khó chấp nhận sự thật này, bởi vì một tháng trước khi em bé ra đời, khi Liên Đồng cung kính tụng tâm chú Liên Hoa Đồng Tử, từng nhìn thấy một đường ánh sáng trắng từ trên cao chiếu vào bên trong tháp xá lợi. Ngoài ra, trên đỉnh bức pháp tướng của Sư Phật còn phóng tỏa năm tia sáng cát tường chiếu đến hành giả. Con gái đệ tử là Từ Khiêm, Từ Ưu cũng nhìn thấy ngọn đèn cúng màu đỏ biến thành màu hồng, điềm lành liên miên.
Điềm lành như vậy, sao mà em bé vừa ra đời, suýt chút nữa đã lấy mất mạng của Liên Đồng, lại là một em bé bị chân dài chân ngắn bẩm sinh, thật sự khiến trong lòng đệ tử rất buồn, nghĩ thế nào cũng không thể hiểu nổi. Vì thế đệ tử trở về nhà thắp hương bẩm báo với Sư Tôn, cầu nguyện Sư Tôn phù hộ cứu giúp.
Đến ngày thứ tám, đưa Từ Hương trở về nhà, so sánh hai chân thì hai chân dài như nhau, không hề có sự khác biệt nào. Lẽ nào y tá phụ sản đều không có mắt, đệ tử nghĩ mãi mà không thông, cuối cùng, đệ tử tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh thần thông không để lộ dấu tích của Sư Phật, quá từ bi, quá thần kỳ rồi! Đôi chân khuyết tật không ngờ đã biến thành bình thường. Khó tưởng tượng một cách không thể tưởng tượng nổi!
Đệ tử tu pháp của Sư Phật, khí chạy trong người, có thể đánh được một bài quyền thuật, đã đánh cho huấn luyện viên trưởng Trần Nam Quang của Thái Cực Quyền của Trần phái xem. Hơn nữa dùng khối chân khí này không ngờ có thể giúp người ta chữa trị tâm linh, và đã ba lần hiệu nghiệm.
Tu pháp của Sư Phật sao lại có cảm ứng đến vậy. Giờ đây đệ tử cầu nguyện vãng sinh tịnh thổ, còn quyền thuật và chữa trị tâm linh chỉ là phương tiện độ người mà thôi, cúi mong Sư Phật khai thị.
Kính chúc pháp an. Đệ tử Liên Hữu khấu đầu cúi lạy. 14.08.1986.
🌟
Bà xã của Liên Hữu là Liên Đồng sinh đẻ bị băng huyết, nhưng lập tức dừng chảy máu. Em bé chân dài chân ngắn, cũng đã điền vào đơn khuyết tật rồi, khi đưa về nhà thì chân lại bình thường. Những việc này đều phải cảm kích Phật Bồ Tát thường xuyên cứu giúp.
Nhìn thấy ánh sáng trắng từ phía trên chiếu vào trong tháp xá lợi, đây là một loại pháp ấn minh. Phần đông hành giả Mật tông, khi ở tại pháp giới sinh tâm, thường quán tự thân mình có ánh sáng trắng, tinh khiết và sáng sủa, lần lượt quán ánh sáng từ tâm tỏa hướng về tứ chi, tỏa đi khắp mười phương pháp giới. Còn một đường ánh sáng trắng chiếu vào bên trong tháp xá lợi chính là ánh sáng từ trong tâm chính mình tuôn ra khắp mọi nơi, chiếu vào bên trong tháp xá lợi.
Ánh sáng cát tường ngũ sắc là bạch quang, hồng quang, lam quang, hoàng quang, lục quang. Đây cũng là hành giả Mật tông ở trong pháp giới định, tay kết ấn móc Như Lai, ấn móc Như Lai là hai tay đan nội phộc, ngón trỏ tay phải giơ ra tạo thành hình cái móc. Trước tiên quán tưởng ánh sáng tự tâm - tịnh quang màu trắng, từ đỉnh đầu tuôn ra, ánh sáng tuôn ra khắp mười phương.
Niệm chú nhiếp triệu: "Na-mô san-man-tô mô-thua-nam. A-sa-mô-ta-la. Pô-la-ti-hưa-ti. Ta-tha-ưa-tang-chuy-sưa. Mao-ti-chua-li-yê. Pô-li-pu-la-ka. Sô-ha." Dùng thủ ấn móc ba cái.
Thế rồi Ngũ Như Lai lập tức xuất hiện trong hư không, cũng tức là trên đỉnh của bức tượng Thượng sư sẽ xuất hiện năm đường ánh sáng, năm đường ánh sáng này bay lên hư không sẽ hóa thành Ngũ Phương Như Lai, Ngũ Phương Như Lai ở trong hư không biến thành ánh sáng cát tường ngũ sắc, tức là trắng đỏ lam vàng lục. Nếu ánh sáng cát tường ngũ sắc có thể hút vào trong thân mình, đó là nhiếp triệu Như Lai tính quang chảy về tâm mình, tâm mình và Như Lai tính quang hòa làm một thể.
Trong mấy bài viết, tôi đều nhiều lần nói rõ về ánh sáng phóng ra, đó là vì muốn tất cả đệ tử hiểu được tầm quan trọng của quán tưởng ánh sáng. Chỉ cần hành giả Mật tông làm quán tưởng ánh sáng, tự mình trong lúc nguy cấp tĩnh tâm quán tưởng, Sư Tôn hoặc Ngũ Phương Phật có thể lập tức hiển hiện trong hư không, cũng tương đương với nghe được lời cầu nguyện của bạn, lập tức sẽ đưa tay cứu hộ, ánh sáng cát tường ngũ sắc lập tức chiếu đến.
(Trong thủ ấn Mật tông, năm ngón tay đều có tên riêng, ngón út gọi là địa, ngón áp út gọi là thủy, ngón giữa gọi là hỏa, ngón trỏ gọi là phong, ngón cái gọi là không.)
Liên Sinh Hoạt Phật nói với mọi người, thủ ấn cũng có thể phóng quang, phóng tỏa khắp mười phương, nếu gặp chướng ngại, lập tức dùng niệm lực phối hợp với ánh sáng để phá bỏ, cũng tức là hiện ra ánh lửa rực cháy xuyên thấu, đây chính là sức mạnh hàng phục vĩ đại của Mật tông.
Người có thể nhìn thấy dòng chảy ánh sáng thì chắc chắn có điều huyền diệu sẽ xảy ra.
11. Cảm ngộ thọ giới Bồ Tát
Thượng sư kính yêu!
Con mong đợi được gặp Liên Dung, tưởng rằng chị ấy sẽ đến, không ngờ chị ấy lại không đến, cảm thấy không khỏi tiếc nuối. Ngày đặt vé máy bay cũng rất khó thay đổi, kết quả là con chỉ có thể ngày ngày ở lại Lôi Tạng Tự, gần như ăn hết đồ trong chùa. Những ngày còn lại này, thực sự cảm thấy một ngày dài như một năm. Hiện tại Lôi Tạng Tự, người đi nhà trống, càng ngày càng vắng vẻ, may mắn là con có thể tận dụng tốt khoảng thời gian trống trước khi rời đi này để tự suy ngẫm và xem xét lại bản thân.
Năm ngoái trước khi chia tay, Thượng sư đã tự mình tiễn chúng con, khi xe vừa rẽ lên con đường bên sườn đồi của Lôi Tạng Tự, chúng con có thể nhìn thấy bóng lưng của Thượng sư đang chậm rãi bước lên bậc thang, quay trở lại cổng chùa, lúc đó khóe mắt không biết từ lúc nào đã ướt đẫm. Cảm giác năm nay giống như đang mơ, đến như trong mơ, rồi lại trở về như trong mơ, nhìn thấy Thượng sư cũng như đang lâng lâng vậy, tuy nhiên, rõ ràng biết tất cả đều là hư không, vậy tại sao vẫn còn cảm giác buồn bã!
Con kiểm điểm hành vi của mình trong một năm qua, lòng dạ vẫn còn đang học cách mở rộng, việc tu tập pháp chưa hoàn toàn tinh tấn, đối với người vẫn còn tâm phân biệt, làm việc thiện chưa thể triệt để hoàn toàn... Tóm lại, con đánh giá điểm hạnh kiểm của mình còn thấp, giờ đây con xin bày tỏ sám hối với Thượng sư, vẫn cố gắng khích lệ bản thân, mong rằng trong tương lai, mình có thể từng bước từng bước cải thiện.
Lần này tham dự pháp hội, điều khiến con đặc biệt vui mừng xúc động là được cùng với nhiều sư huynh sư tỷ đồng môn cùng nhau thọ giới Bồ Tát từ Liên Sinh Hoạt Phật. Con luôn hướng đến việc noi gương hạnh nguyện từ bi tự lợi lợi tha của Bồ Tát, cũng rất sẵn lòng tuân thủ giới luật nghiêm ngặt của Bồ Tát, suốt đời thực hành không đổi thay. Trong đó, đối với những thiếu sót của bản thân, con nhấn mạnh việc chú trọng vào giới đại vọng ngữ thứ ba, giới nói lỗi tứ chúng thứ sáu và các phương diện tu trì này, luôn nhắc nhở bản thân:
Luôn giữ tâm khiêm tốn, nếu có ai đánh mắng, vẫn an nhiên không sân hận, còn dùng tâm từ bi hồi hướng công đức để tu nhẫn nhục. Không dùng sở trường của mình để khoe khoang, không dùng điều thiện của mình để phô trương, không dùng tài năng của mình để kiêu ngạo với người. Thấy lỗi lầm của người nên bao dung và giữ thể diện cho họ, thấy người có chút sở trường đáng học, điều thiện nhỏ đáng ghi nhận, hãy buông bỏ cái tôi mà noi theo, và còn ca ngợi rộng rãi. Lễ kính đồng môn, rộng kết thiện duyên.
Đệ tử chân thành cảm tạ Liên Sinh Hoạt Phật đã truyền dạy giới Bồ Tát, để không phụ lòng ân đức của Thượng sư, Liên Hoàn nguyện suốt đời giữ gìn giới luật, bảo vệ không quên, nêu gương mẫu cư sĩ tại gia trong cửa Phật.
Đệ tử tự đặt kỳ vọng cao cho bản thân, nguyện noi theo hạnh nguyện từ bi của chư Bồ Tát, không sợ lao khổ, không tránh khó khăn, tu tập lục độ vạn hành, lấy bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định năm độ làm phương tiện, lấy trí tuệ làm cứu cánh. Trong đó, lợi tha không tham là bố thí, điều phục thân tâm cầu thanh tịnh là trì giới, thường ở vị trí khiêm tốn không chấp ngã là nhẫn nhục, thấu hiểu nghĩa pháp sâu xa không gián đoạn là tinh tấn, vọng tâm không khởi là thiền định, không chấp không đắm tất cả tướng là trí tuệ. Từ bi hỷ xả, tùy duyên cứu giúp chúng sinh, nỗ lực hết mình vì lợi ích chúng sinh. "Nguyện bản thân tu trì không ngừng nghỉ, cuối cùng thông đạt được tính không, bi trí song vận, chứng quả bồ đề chân chính." Trạng thái đó giống như Hư Không Tạng Bồ Tát với "trí huệ như hư không, trí huệ như cát sông Hằng, tinh tấn dũng mãnh, như gió lốc... an trú nhẫn nhục vững như núi Tu Di vậy.
Liên Hoàn viết một đống chữ dài, mục đích chỉ là để bày tỏ với Thượng sư lòng thành kính và niềm vui khi thọ giới.
Con không thể đích thân đến gặp Thượng sư để chào tạm biệt, xin Thầy thứ lỗi! Xin cho con được từ biệt thầy qua lá thư này!
Kính chúc Phật an! Đệ tử Liên Hoàn cung kính chắp tay. 05.09.1986.
🌟
Liên Hoàn chính là Thẩm Diệu Quyên, sau khi gửi lá thư này, cô đã bay từ Seattle trở về Alaska, chính là vùng đất Alaska quanh năm bị tuyết phủ, núi đóng băng!
Liên Hoàn đã tham gia vào lễ truyền thụ giới Bồ Tát của Chân Phật Tông, và đích thân nhận được sự truyền giới từ Thượng sư. Giới Bồ Tát này vốn là giới luật dành cho hành giả phát tâm lớn, tu hạnh lớn. Theo "Phạm Võng Kinh" phẩm "Tâm địa Bồ Tát", giới tướng gồm mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh, đây là giới Bồ Tát xuất gia; nếu theo "Ưu Bà Tắc Giới Kinh" phẩm "Thọ giới" thì gồm sáu giới trọng và hai mươi tám giới khinh, đây là giới Bồ Tát tại gia.
Những gì Liên Sinh Hoạt Phật truyền trao chính là "Bồ Tát Giới Ưu Bà Tắc Kinh Giới Bản", sáu giới trọng là:
- Giới sát sinh.
- Giới trộm cắp.
- Giới đại vọng ngữ.
- Giới tà dâm.
- Giới mua bán rượu.
- Giới nói lỗi tứ chúng. Hai mươi tám giới khinh khác, xem trang 172 trong "Phật Quang Lược Ảnh" (do nhà xuất bản Học Hải phát hành).
Ý nghĩa của giới là ngăn sai ngừa ác, điểm ba vết giới trên thân chính là để thường xuyên cảnh tỉnh bản thân, không chỉ việc ác không được làm mà ngay cả ý nghĩ xấu cũng không được phép có. Có giới không chỉ có thể ngăn ác làm thiện, hành giả trong tâm bình an, ngẩng lên cúi xuống không hổ thẹn, có thể tu hành trong tâm trong sáng.
Giới luật của Chân Phật Tông, trước hết phải giữ: Mười đại giới căn bản của Mật giáo. Sự sư pháp ngũ thập tụng. [50 điều về cách hành xử giữa thầy và trò] Năm giới.
Nếu bản thân cho rằng mình đã nghiêm túc tuân thủ giới luật, giới hạnh trang nghiêm, giới đức thơm ngát, thì có thể tiến thêm một bước thọ trì giới Bồ Tát, và có thể đến Lôi Tạng Tự để đích thân thọ giới Bồ Tát. Giới Bồ Tát là giới luật của Đại thừa, cần giảng giới, có nghi thức thọ giới chính thức, cần đốt hương để điểm giới, vì vậy đệ tử Chân Phật Tông muốn thọ giới, nhất định phải đích thân đến để trực tiếp thọ nhận.
Những đệ tử không thể đích thân đến Mỹ để thọ giới có thể đợi sau vài năm, khi Liên Sinh Hoạt Phật chu du khắp thế giới, vân du bốn biển, gặp mặt rồi sẽ được đích thân truyền thụ.
Giới luật của Chân Phật Tông chúng ta cũng giống như giới luật của Đức Phật, lấy thiện căn trì giới để trang nghiêm thân người của hành giả, mỗi người đều như viên bảo châu trong suốt trắng ngần. Do giới ngăn chặn ác hành nên có thể định tâm vào một chỗ, do định tâm vào một chỗ nên mới có thể phá vọng chứng chân. Đó chính là trì giới thanh tịnh, tâm an được định, quán chiếu rõ ràng, đây chính là tam học giới định huệ.
Đệ tử Chân Phật Tông chúng ta, không chỉ giữ giới luật, mà còn phải thực hành mười thiện, sau khi làm việc thiện đều phải hồi hướng, khi hồi hướng có thể tụng: Tất cả thiện nghiệp đã tu được, lợi ích tất cả các chúng sinh Nay con xin đem hồi hướng hết, trừ khổ sinh tử đến bồ đề.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, có lẽ chúng ta có thể che giấu lời nói và hành động của mình trước mắt người thường, nhưng không thể che giấu trước lương tâm mình và đôi mắt của thiên thần. Bởi vì trên thân người, do sự suy nghĩ mà sinh ra quang khí, người có nhân cách kép có thể lừa gạt được người thường nhưng không thể lừa gạt được đôi mắt thiên thần. Quang khí trong trắng được ban cho đệ tử có giới hạnh thanh tịnh, quang khí đục ngầu dành cho hành giả không giữ giới đúng đắn. Người chỉ chú trọng vẻ bề ngoài hoặc giả vờ làm ra vẻ không phải là người thật sự giữ giới.
Trước khi thọ giới Bồ Tát, chúng ta cần suy nghĩ thật kĩ, nên suy xét cẩn thận về việc mình có thể giữ được giới điều nào và không thể giữ được giới điều nào, hãy tự nhìn lại quá khứ của mình, chỉ cần thực sự giữ giới, không giả tạo, thì mới có thể tham gia vào tất cả nghi lễ thọ giới Bồ Tát.
Khi đã thọ giới Bồ Tát, chính là đại Bồ Tát.
Liên Sinh Hoạt Phật, vào lúc nửa đêm, đích thân đốt hương điểm giới cho các giới tử, chúng ta tụng "Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật", chư Phật Bồ Tát chứng giám, chúng ta đều là Phật, đều là Bồ Tát, được ban giới điệp, giữ giới sẽ chứng quả.
12. Sự biến hóa của đất nước lửa gió không
Kính thưa Thượng sư Lư tôn kính nhất! Xin chào thầy. Đệ tử ít học, viết thư không được trôi chảy, lại làm phiền đến việc thanh tu của Thượng sư, xin thầy thứ lỗi.
Đệ tử quy y Thượng sư chưa đầy một tháng, lần đầu tiên tu trì đã thấy ánh sáng màu cam, lần thứ hai thấy ánh sáng màu tím, sau khi tu trì vài đàn, thân thể như bị điện giật, cảm thấy linh khí tràn đầy.
Vào buổi tối ngày Đức Phật đản sinh (lễ Vesak), trong lúc tu trì, bắt đầu thấy nhiều điểm sáng của chư Bồ Tát bay qua. Thấy Thượng sư ngồi trên đài sen, giữa những đám mây.
Đột nhiên lũ quét bùng phát, nước và đá bay khắp trời, dường như đã trôi qua rất lâu, lũ quét biến thành một hồ nước tĩnh lặng, trong hồ có ba ngọn núi rất cao, Thượng sư ngồi trên đài sen ở đỉnh ngọn núi giữa, đang thuyết pháp giảng kinh. Hoa sen và cá vàng trong hồ đang lắng nghe kinh, tất cả đều an bình.
Tiếp đến, đài sen của Thượng sư từ từ bay lên bầu trời, vào trong mây, lúc này đệ tử đứng trước mặt Thượng sư, Thượng sư tỏa ra ánh sáng vàng rực rỡ, chiếu rọi đệ tử, luân xa tim của đệ tử tỏa sáng, ánh sáng của Thượng sư chiếu vào con, trong tim con có Thượng sư.
Kết quả là đài sen của Thượng sư bay đến trước mặt đệ tử, đệ tử thấy Thượng sư đội mũ Ngũ Phật, năm vị Phật tỏa ra những tia sáng vàng, Ngũ Phật biến thành ánh sáng màu vàng kim rực rỡ, sau khi đệ tử đảnh lễ Ngũ Phật, Thượng sư bỗng nhiên biến thành một vị Bồ Tát thân vàng, vị Bồ Tát thân vàng này càng lúc càng lớn, bao trùm cả hư không, chính là Đại Nhật Như Lai với tay kết ấn ngũ trí.
Ít lâu sau, đệ tử nghĩ rằng đêm đã khuya rồi nên mới xuất định, nhưng thân thể vẫn ngồi yên không lay động, thân thể tràn đầy linh khí, như bị điện giật, cứ như vậy suốt 45 phút, thân thể rất nóng, cổ họng hơi khàn, nhưng tất cả đều tỉnh táo tự nhiên, cảnh giới trong định hiện ra rõ ràng từng chi tiết.
Cầu xin Thượng sư Hoạt Phật khai thị. Đệ tử Liên Hoa Quán Thăng đảnh lễ. 17.06.1986
🌟
Thư của Liên Hoa Quán Thăng được gửi từ Malaysia.
Lần đầu tiên thấy ánh sáng màu cam - là ánh sáng của lớp thấp nhất trong tam muội của Tỳ Lô Giá Na Như Lai tầng dưới.
Lần thứ hai thấy ánh sáng màu tím - là ánh sáng của lớp cao nhất trong tam muội của Tỳ Lô Giá Na Như Lai tầng trên.
Thấy Thượng sư ngồi trên đài sen, giữa những đám mây, đột nhiên lũ quét bùng phát - đây là biểu tượng cho động lực của pháp luân được truyền thụ giữa Thượng sư và hành giả, lũ quét bùng phát, nước và đá bay khắp trời chính là một dạng vận chuyển, và sự truyền dẫn này chính là "phong đại".
Thấy lũ quét biến thành một hồ nước tĩnh lặng, hoa sen và cá vàng trong hồ đang lắng nghe kinh - đây là Thượng sư đang triển khai truyền pháp, đây là khai pháp tướng nghĩa, nếu thiếu pháp tướng nghĩa này thì vạn sinh vạn vật không thể sinh sôi, hồ này chính là biểu tượng cho "thủy đại".
Thấy trong hồ có ba ngọn núi rất cao, Thượng sư ngồi trên đài sen ở đỉnh ngọn núi giữa - đây là biểu tượng cho nền móng của các pháp, ba ngọn núi này chính là đại địa, cũng chính là nền tảng nâng đỡ chúng sinh, nếu không có nền móng này, tất cả chúng sinh và các pháp sẽ không sinh khởi, đây là biểu tượng cho "địa đại".
Thấy Thượng sư tỏa ra ánh sáng vàng rực rỡ, chiếu rọi đệ tử, luân xa tim của đệ tử tỏa sáng — đây tượng trưng cho sức mạnh ánh sáng thanh tịnh hoàn toàn sắc tướng, ánh sáng quét sạch mọi chướng ngại và nghiệp đen, từng lớp bụi bặm của sắc tướng được loại bỏ, khiến luân xa tim tỏa sáng, đây là ẩn dụ cho "hỏa đại".
Thấy Thượng sư bỗng nhiên biến thành một vị Bồ Tát thân vàng, vị Bồ Tát thân vàng này càng lúc càng lớn, bao trùm cả hư không, chính là Đại Nhật Như Lai với tay kết ấn ngũ trí — điều này tượng trưng cho thân thọ dụng của Thượng sư đã thành tựu Tỳ Lô Giá Na Như Lai, tay kết ấn ngũ trí, toàn thân màu vàng, ngồi kiết già trên đài sen, đầu đội mũ Ngũ Phật, mặc thiên y trắng, trang nghiêm với chuỗi vòng ngọc, oai nghi đầy đủ, xung quanh có vô lượng vô tận quyến thuộc vây quanh bốn phía. Điều này tương đương với hư không, chính là bao hàm địa thủy hỏa phong, vạn hữu cùng tồn tại, không chướng ngại lẫn nhau, tính không này cũng là nơi nương tựa cuối cùng của địa thủy hỏa phong, vì vậy được ví như "không đại".
Samaya Tam ma địa của Liên Hoa Quán Thăng có thứ tự như sau: Phong đại — Chuyển pháp luân — Cửu tiết Phật phong. Thủy đại — Dẫn dắt ban đầu để thông pháp — Tam muội nhập pháp. Địa đại — Pháp giới sinh — Đắc hữu bí mật. Hỏa đại — Quang quang tương chiếu — Dung nhập bình đẳng. Không đại — Diệu tướng trang nghiêm — Đắc vô bí mật.
Liên Sinh Hoạt Phật giải thích và phân tích những điều này nhằm giúp hành giả Mật tông hiểu rõ diệu tướng và diệu hạnh của ngũ đại, học hỏi bí quyết nhập Tam ma địa. Trước hết phải buông bỏ tâm thức, chính là "trong không một vật ẩn chứa vô tận", những ý nghĩa này đều rất sâu sắc.
Đối với hành giả Mật tông, khi đối diện với sự hành trì chân chính, điều quan trọng nhất là thực hành nghiêm túc, phải loại bỏ mọi chướng ngại, thực sự đi vào trong đó. Trong quá trình này có sự biến hóa của địa thủy hỏa phong không, khi bạn có thể cảm nhận được, dù nhỏ bé như chúng ta cũng có thể rộng lớn như bầu trời.
Khi hành giả Mật tông đạt đến trạng thái vô hạn, trời còn gì để nói nữa!
13. Quy y tôn giả Đại Giác
Kim cương Thượng sư Lư Thắng Ngạn, kính chào thầy!
Bởi vì biết rằng trên thế giới này đã xuất hiện bậc Đại Giác, nếu không quy y bậc Đại Giác thì quy y ai?
Bản thân con từ nhỏ đã có duyên sâu với Phật, và đã nghiên cứu Phật lý cho đến nay. Con vô cùng kính ngưỡng tinh thần và nghị lực viết sách dạy pháp của Thượng sư.
Trước đây, khi chưa đọc sách của Thượng sư, con đã giảng kinh tại nhiều chùa chiền, tự viện. Sau khi đọc tác phẩm của Thượng sư, con cảm thấy những điều con giảng rất hợp với những điều Thượng sư viết, khiến tâm con vô cùng hoan hỷ.
Trong thiền định, con đã từng thấy sự tương ứng khi Thượng sư xuất hiện, con tự cảm nhận mình có duyên "không tịch" với Thượng sư, nay con tha thiết cầu xin Thượng sư ban cho con quán đảnh quy y, để có mối duyên chân thật giữa thầy và trò.
Vài năm trước, con đã đến nhiều thành phố lớn ở Mỹ để truyền pháp, Phật pháp con giảng dạy là kiến thức có được từ sách vở của Thượng sư. Khi đó ở Mỹ, con dạy Mật pháp Tứ Diện Phật, vừa tịnh tu vừa giảng dạy Mật pháp Tứ Diện Phật, đi khắp nước Mỹ.
Hiện nay con đang ở bang Johor, Malaysia, đã xây dựng một tịnh thất tu hành, mặt hướng Đông tọa Tây, là một công trình độc lập, không gian rất rộng rãi, con có rất nhiều học trò, tịnh thất của con có tên là "Nội Nghiêm Công Đức Thánh Đường". Con ước mong tịnh thất này có duyên được đón Liên Sinh Hoạt Phật, Tông chủ Chân Phật Tông thế giới đến chỉ dạy.
Con chỉ học Phật pháp sơ sài, tự biết thân người khó được, nên suốt hành trình tìm kiếm chân lý, con mong Hoạt Phật luôn tỏa sáng, nếu không có thầy chỉ dạy, tâm sẽ uổng công lao nhọc.
Đệ tử viết thư này cầu xin quy y, trong tương lai con sẽ đích thân đến Mỹ đảnh lễ Liên Sinh Hoạt Phật, cầu xin khai thị.
Kính chúc độ chúng sinh vô lượng! Đệ tử Trương Chứng Kiều kính bút. 23.07.1986.
🌟
Đại đức Trương Chứng Kiều này là trụ trì của "Nội Nghiêm Công Đức Thánh Đường". Ông có rất nhiều đệ tử, là một cư sĩ đại đức giảng kinh. Nhưng ông nói: "Trên thế giới đã xuất hiện bậc Đại Giác, nếu không quy y bậc Đại Giác thì quy y ai?"
Ngày nay, có rất nhiều trụ trì chùa viện đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật, đây là sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, pháp duyên này như chiếc lọng trắng lớn che chở toàn thế giới.
Vậy "Nội Nghiêm Công Đức" là gì? Tôi nói đó là: "Công đức viên mãn của sự trang nghiêm nội tâm."
Trong Chân Phật Mật Pháp được giải thích như sau: Cúng hoa — Tâm chư Phật giống như đóa hoa đang nở, đóa hoa nở này tượng trưng cho "vạn đức mật vận", là công đức viên mãn của chư Phật. Dùng hoa cúng dường Như Lai chính là trang nghiêm tâm của chính mình.
Cúng hương — Hương là một loại tính giới của thể, dùng hương cúng dường Như Lai là trang nghiêm "giới thể" của chính mình, thể hiện sự trang nghiêm của tướng bên ngoài. Sự trang nghiêm bên ngoài dẫn đến sự trang nghiêm bên trong, trong ngoài hợp nhất, đạt được "năm phần pháp thân trang nghiêm".
Cúng đèn — Ánh sáng của chư Phật chính là trí tuệ trong tâm, dâng tất cả ánh sáng cúng dường Như Lai sẽ nhận được sự chiếu sáng khắp nơi, ánh sáng giao lưu với nhau, thực sự chiếu rọi bờ bên kia của trí tuệ, bản tính trí tuệ vốn có sẽ hiện ra, bộc lộ "công đức trang nghiêm của trí tuệ nội tâm".
Cúng trà — Trà vốn là nước thanh tịnh, thể hiện sự nuôi dưỡng, là pháp tính. Dâng trà cúng Phật chính là mười phương Như Lai ứng hóa vào thân ta, dùng nước thanh tịnh của pháp tính để gột rửa khí bất tịnh của chính mình, trở thành pháp tính thân, vô cấu thân, đó chính là trang nghiêm pháp tính.
Cúng quả — Dùng sự viên mãn rộng lớn của thực phẩm vi diệu thể hiện một sự viên thành. Đây là thắng vị thiền ý, trong đó có nghĩa lý rất sâu sắc. Bố thí thực phẩm và quy y chư Phật, đạt được thiện quả đều nằm trong đó, tượng trưng cho sự viên thành vô hạn của vị pháp nuôi dưỡng, là một loại quả của công đức trang nghiêm nội tâm.
Năm loại cúng dường này có thể tham khảo pháp đại cúng dường được mô tả trong cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp" để tu học. Năm cúng dường thực chất là năm ba-la-mật, tu tập lâu dài, sự tướng sẽ chuyển hóa thành lý tướng, trở thành pháp tính thanh tịnh của "nội nghiêm công đức".
Liên Sinh Hoạt Phật có vô lượng "nội nghiêm công đức". Đó là: Công đức lực vốn có từ tiền kiếp. Nguyên lực của pháp giới vũ trụ. Lực gia trì của chư Như Lai mười phương. Ba lực này hợp nhất, hoàn toàn dung hợp, không phân biệt, chính là biển Phật trang nghiêm vô lượng của dòng pháp mười phương, chính là pháp lực của Tỳ Lô Giá Na.
Sự giác ngộ này, chính là: tôn giả Đại Giác, tất cả vô ngại, diệu dụng vô tận.
14. Phân biệt chính tà đến quy y
Kính bạch Liên Sinh Thượng sư:
Xin Thượng sư tha thứ cho sự ngu muội của đệ tử, đã chần chừ mãi đến hôm nay mới quyết tâm xin quy y. Thực ra, cách đây hơn hai năm, khi đệ tử thờ phụng pháp tướng của Thượng sư đã nhận được cảm ứng ngay, lẽ ra phải không chút do dự làm thủ tục quy y mới đúng. Con nghĩ, có lẽ vì anh em đệ tử nghiệp chướng sâu nặng, hoặc duyên với Thượng sư chưa đến, nên trong hơn hai năm qua, vẫn luôn là đệ tử chưa bước vào cửa của Thượng sư. Trong hai năm này, con đã đọc nhiều tác phẩm ghi lại những sự kiện thị hiện kỳ diệu của Thượng sư khi hoằng dương Phật pháp ở hải ngoại, trong lòng vô cùng xúc động và chấn động, quyết tâm không còn do dự nữa, chỉ có Mật pháp của Thượng sư mới là chính pháp, mới thực sự là đại đạo có thể cứu độ vô số chúng sinh trên thế gian.
Mười năm trước, sau khi đệ tử trải qua một biến cố không may, con cảm thấy cuộc sống trở nên vô vị. Sau vài năm chịu đựng sự dằn vặt đau đớn, vận mệnh của đệ tử đã có bước ngoặt. Trong một cơ duyên tình cờ, dưới sự dẫn dắt của người thân, con đã quy y vào một môn phái Đạo giáo. Giáo phái này, khi Thượng sư còn ở Đài Loan, chắc hẳn đã từng nghe nói đến. Họ đưa ra khẩu hiệu "Cứu độ chúng sinh thiên hạ...", người lãnh đạo tự xưng là "...". Đệ tử phải quỳ lạy, dập đầu hành đại lễ với sư tôn, sư mẫu, và thần linh mà họ tôn thờ là "Đấng Chí Tôn của vũ trụ...". Sau khi quy y vào môn phái này, đệ tử đã cống hiến toàn tâm, toàn thân để phụng sự, thậm chí không tiếc dâng hiến rất nhiều tiền bạc, và còn bị người thân, bạn bè xem như người khác biệt mà cắt đứt quan hệ.
Sau đó, mỗi ngày đệ tử đều kiền thành tọa thiền, tụng kinh theo phương pháp được truyền dạy, nhưng không hề có một chút cảm ứng nào. Đệ tử cứ nghĩ là do mình căn cơ kém cỏi, phải cố gắng nhiều hơn. Cứ thế trải qua ba năm tu đạo như một tín đồ thuần thành, đệ tử bắt đầu nảy sinh nghi ngờ, nhưng không ai có thể giải đáp thắc mắc trong lòng con. Mặc dù nhiều đệ tử cũng sinh lòng nghi vấn, nhưng hoàn toàn không ai dám đặt câu hỏi, vì mọi người đều thực sự tin rằng bên cạnh mỗi tín đồ đều có "đồng tử giám sát", báo cáo từng lời nói việc làm của mình cho người lãnh đạo.
Hai anh em đệ tử trong giáo phái vừa xử lý công việc giáo vụ, vừa được phân công chăm sóc đời sống sinh hoạt của sư tôn, sư mẫu, từ sáng đến tối, hết sức thận trọng, không có việc gì là không tận tâm tận lực, không dám chút lơ là (trở thành những người gần gũi nhất). Nhưng một ngày, đã xảy ra một sự việc khiến đệ tử như sét đánh giữa trời quang.
Đệ tử đã đem khoản phụ cấp hàng tháng bỏ vào hòm cúng dường trong điện thờ, đây là lời thề của đệ tử, thần Phật đều chứng giám.
Đệ tử cũng tin rằng "đồng tử giám sát" ắt biết được hành động của đệ tử, và sư tôn chắc chắn cũng biết.
Sau một thời gian dài, đệ tử trong một lúc vô tình đã nghe được cuộc đối thoại giữa sư tôn và sư mẫu, họ hoàn toàn không tin rằng đệ tử đã bỏ toàn bộ khoản phụ cấp thêm vào hòm cúng dường.
Khi ấy, sự chấn động của đệ tử không phải là nhỏ. Không ngờ một tấm lòng chân thành lại đổi lấy sự sỉ nhục. Sư tôn có tha tâm thông, sao lại không tin đây là sự thật? Lúc đó, trái tim đệ tử như bị vạn mũi kim đâm, cả người như rơi vào hầm băng.
Sau nhiều lần suy nghĩ, đệ tử hiểu rằng tất cả đều là trò lừa bịp. Nếu tiếp tục, không những công đức không thành mà còn không biết sẽ tạo bao nhiêu nghiệp tội. Đệ tử quyết tâm rời khỏi giáo môn này, mang theo lòng oan ức, thưa với thần linh rằng, nếu đệ tử vì rời khỏi giáo môn mà chết không bình thường, đệ tử cũng sẵn sàng chấp nhận. Không lâu sau, chúng con đều xin nghỉ dài hạn, rời khỏi giáo môn và từ đó không quay lại.
Con nghĩ rằng sư tôn, sư mẫu và tất cả các đệ tử chắc hẳn đến nay vẫn không hiểu lý do tại sao hai anh em đệ tử không quay trở lại. Con nhớ sư tôn từng nói với người khác rằng nếu chúng con rời khỏi giáo môn, không quá ba tháng, chắc chắn sẽ gặp điều bất trắc. Nhưng thực tế đã chứng minh, đã hơn hai năm trôi qua, chúng con vẫn sống rất tốt.
Chính vì những sự việc đã xảy ra như trên, tâm đạo của con đã sa sút vô cùng, từ đó không dám dễ dàng tham gia bất kì tổ chức tôn giáo nào, chỉ thắp hương lễ Phật mà thôi. Sau đó, con lại đọc các tác phẩm của Thượng sư, biết được Thượng sư đã ra nước ngoài hoằng dương đại Mật pháp. Người thân, bạn bè đều nhấn mạnh rằng chỉ có đại pháp của Thượng sư mới là chính pháp. Tại sao chúng con lại lạc vào đường tà, gây nên vết thương lớn trong tâm hồn như vậy? Chỉ đành nói là do nghiệp chướng sâu nặng hoặc duyên phận chưa đến.
Đệ tử giúp người thân an vị tượng của Thượng sư, chúng con cùng nhau thắp hương đảnh lễ, bỗng nhiên cảm nhận từ tượng Thượng sư truyền đến một luồng nhiệt, từ đỉnh đầu chúng con trực tiếp rót xuống, khiến toàn thân cảm thấy như được tắm trong gió xuân, ấm áp, an lành như được ánh dương buổi sớm chiếu rọi. Đệ tử và người thân vô cùng hoan hỷ, biết rằng đó là Thượng sư từ bi hạ quang gia trì, ngay tối hôm đó, anh trai con đã mộng thấy tôn dung từ bi của Thượng sư.
Theo lời anh trai kể lại, anh thấy Thượng sư mặc thường phục, bên cạnh đứng một đồng tử, anh trai vội muốn quỳ lạy, nhưng thấy Thượng sư khoát tay ngăn lại, chỉ nhẹ nhàng vuốt lên trán anh, biểu thị sự tán thưởng.
Giờ đây con đã quyết tâm xin được quy y, cuối cùng con cầu xin Thượng sư từ bi ban cho pháp tương ứng Thượng sư để làm pháp tu cho hai anh em đệ tử từ nay về sau.
Kính chúc Phật an! Đệ tử Chấn X, Tố X chắp tay đảnh lễ. 04.07.1986.
🌟
Đối với lá thư này, tôi không bình luận gì. (Tôi đã ẩn tên giáo phái, tên sư phụ và tất cả các tên khác.) Nhưng tôi đã cho họ quy y và truyền quán đảnh từ xa.
Đã có rất nhiều người trước đây quy y vào giáo môn này, rồi quay lại quy y với Liên Sinh Hoạt Phật. Và hai đệ tử này thậm chí lại là những người hầu cận thân cận nhất!
Trong bài viết này, Liên Sinh Hoạt Phật muốn thảo luận với mọi người về ý nghĩa của chính pháp! Tôi nói, người tu hành chính pháp chính là đại sĩ, mà đại sĩ chính là Bồ Tát. Chỉ có người tu tập chính pháp mới đạt được chính quả.
Có chính kiến mới có chính pháp. Chính kiến chính là cái nhìn đúng đắn, cũng chính là đối với nhân quả, sự lý, pháp bốn đế, ba pháp ấn, v.v… hoàn toàn tin nhận hiểu biết. Có được chính kiến, đối với sự lý mới có nhận thức đúng đắn, như vậy mới có thể ngộ nhập chính pháp.
Đại giác ngộ của Liên Sinh Hoạt Phật là Tam Miểu Tam Bồ Đề, cũng chính là từ việc tu trì chính pháp đến Chính Đẳng Chính Giác, là một sự giác ngộ thực sự bình đẳng.
Liên Sinh Hoạt Phật ngày nay dựa theo giáo pháp của Như Lai, cũng chính là giáo pháp của chân lý, để tuyên thuyết cho chúng sinh, đó cũng là nền tảng của chính pháp. Do tôi thấu suốt chính pháp, giác ngộ chân lý, thâm sâu rộng lớn và hàm chứa vạn đức, nên viết sách, làm rõ diệu pháp của thế gian và xuất thế gian, đồng thời đoạn trừ phiền não, tích tụ trí tuệ, chứng đắc chính quả, diệt tận không tịch, thực sự có lý tột cùng, nên được gọi là bậc Đại Giác tôn giả chân chính và bình đẳng phổ biến.
Những người tu hành chính pháp của chúng ta cần có sáu đại nguyện lực: Chúng sinh vô biên thề nguyện độ. Pháp môn vô biên thề nguyện học. Bồ đề vô biên thề nguyện chứng. Phúc trí vô biên thề nguyện tập. Như Lai vô biên thề nguyện làm. Phiền não vô biên thề nguyện đoạn.
Lợi ích của chính pháp không phải là ích kỷ, mà là bình đẳng lợi ích cho bản thân, người khác và tất cả chúng sinh trong pháp giới, chỉ có pháp môn như vậy mới là chính pháp.
Hành giả của Chân Phật Mật Pháp phải quán chiếu bản thân rộng lớn viên mãn, tu tập đến mức thanh tịnh không nhiễm ô, trong sáng tinh khiết; không những thế, còn phải quán tưởng tất cả chúng sinh trong vũ trụ, mỗi người đều viên mãn sáng suốt, như trăng tròn, toàn bộ đều tỏa sáng Phật tính vốn có của mình.
Đây chính là chuyển pháp luân chính pháp, mỗi một chúng sinh trong pháp giới đều tỏa ánh sáng trí tuệ, chiếu rọi lẫn nhau, ánh sáng trí tuệ phát triển mạnh mẽ, chân tính thực sự hiển lộ trọn vẹn.
Nhờ vào sức mạnh Yết Ma của hành giả Chân Phật, chuyển bánh xe chính pháp, ngay thân này liền biến thành Kim Cang Tát Đỏa, và Kim Cang Tát Đỏa chính là biểu tượng của chính pháp.
15. Cảnh giới hư vô lúc ẩn lúc hiện
Thượng sư kính yêu!
Thời gian trôi thật nhanh, thoáng chốc đã mấy tháng trôi qua, trong khoảng thời gian này, Thượng sư và gia đình có được bình an không? Đệ tử đã nhận được thư hồi âm của Thượng sư, tấm lòng quan tâm thể hiện trong thư khiến đệ tử vô cùng biết ơn.
"Nghiệp chướng sẽ tiêu trừ" là lời tiên đoán Thượng sư dành cho con, quả thật chính xác tuyệt đối, lời Phật không hề sai. Căn bệnh nghiệp chướng của đệ tử đã hoàn toàn bình phục, bệnh đau lưng đã biến mất!
Trước đây phải đi bốn giờ đồng hồ, giờ đây chỉ cần hai giờ là đến nơi, bước chân nhẹ nhàng nhanh nhẹn, cơ thể cũng không dễ mệt mỏi, trước kia là người bệnh, ngày nay khỏe mạnh, trước sau khác hẳn nhau, đệ tử xin đặc biệt đảnh lễ Thượng sư và tổ sư Liên Hoa Sinh, một lần nữa xin kính cẩn đảnh lễ.
Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 16 tháng 5, đệ tử thực hành pháp tương ứng Thượng sư, nhập vào Tam ma địa, trì niệm tâm chú Thượng sư, khoảng vài chục lần thì dần dần đi vào cảnh giới sâu và rộng, Thượng sư xuất hiện trong hư không, đệ tử cảm thấy tất cả lỗ chân lông đều mở ra, mắt phải bất giác rơi lệ, mắt trái cũng bất giác rơi lệ, nước mắt tuôn đầy mặt đầy má, tâm trạng lúc đó vừa bi thương vừa biết ơn, bi thương vì nghiệp chướng sâu nặng, biết ơn vì được Thượng sư gia trì.
Tiếp đó nhanh chóng đi vào cảnh giới sâu rộng, cảm thấy thân thể dần dần bay lên trong hư không, rất xa rất cao, cứ thế bay lên cao mãi, đến cảnh giới hoàn toàn hư vô mờ ảo, tất cả đều là hư vô, khoảng 20 phút sau, mới dần dần xuất định. (Cảnh giới này chưa từng có, thân tâm nhẹ nhàng tự tại.)
Trong một hai tuần qua, đệ tử cũng tu tập kỹ thuật Đại Thủ Ấn, trong đó có pháp đảo ngược luân hồi, sau khi luyện tập cảm thấy khí lực dồi dào, tinh thần sảng khoái, đi lại nhẹ nhàng, làm việc thoải mái và hiệu quả. Đệ tử nghĩ rằng trong nhiều kỹ thuật, pháp này có hiệu quả đặc biệt, đối với con hiệu quả thấy ngay tức thì.
Viết thư đến đây, con cũng nên dừng bút, vì Thượng sư còn hàng triệu lá thư đang chờ hồi đáp, con vô cùng cảm ơn Thượng sư đã đọc thư, vô cùng cảm ơn Thượng sư đã gia trì.
Kính chúc cát tường! Đệ tử Liên Hoa Hải Tuyền kính lạy ba lần. 10.06.1986.
🌟
Liên Hoa Hải Tuyền là đệ tử ở Singapore.
Làm sao để tạo ra cảnh giới hư vô mờ ảo? Trước tiên cần phải rửa sạch hoàn toàn mọi ô uế trong tâm, nhờ vào luân xa tim tỏa ánh sáng thanh tịnh, thiêu rụi cấu uế trong tâm, tức là loại bỏ hoàn toàn thọ tưởng hành thức, trong một khoảnh khắc, cả hai mắt đều không tự chủ mà tuôn rơi nước mắt.
Nước mắt tuôn chảy chính là biểu hiện của việc rửa sạch cấu uế trong tâm, được thải ra qua đôi mắt.
Khi tất cả lỗ chân lông mở ra, đó chính là lúc dòng pháp ánh sáng vũ trụ từ không trung giáng xuống, ánh sáng từ chính bản thân mình lần lượt tỏa ra từ các lỗ chân lông, lúc này tất cả cấu uế trong cơ thể được bài tiết ra ngoài và hoàn toàn tiêu trừ.
Cấu uế trong tâm. Cấu uế trong thân. Cả hai loại cấu uế trong thân và tâm đã được bài tiết ra qua đôi mắt và các lỗ chân lông. Như vậy, cấu uế trong thân và tâm không còn tồn tại trong bản thân nữa, ngay lúc đó liền trở thành thân pháp giới, tự nhiên đi vào cảnh giới sâu rộng, nhờ vào sức thu hút của ánh sáng vũ trụ, thân thể tất nhiên dần dần bay lên trong hư không, lúc này chỉ thấy pháp tính mà thôi, bao trùm khắp nơi, đi vào cảnh giới hoàn toàn hư vô mờ ảo.
Trong cảnh giới này: Địa luân chính là đầu gối của mình. Thủy luân chính là rốn của mình. Hỏa luân chính là tim của mình. Phong luân chính là giữa hai chân mày của mình. Không luân chính là đỉnh đầu của mình.
Đây là pháp ngũ luân thành thân của Chân Phật Mật Pháp, phương pháp quán tưởng để đi vào cảnh giới hư vô mờ ảo. Lúc này trong hư không, trên đỉnh đầu mình, hiện ra cảnh tượng hào quang tròn rực rỡ, chính là hào quang đỉnh đầu của mình. Hào quang đỉnh đầu này được hóa hiện từ diệu tướng của Không luân, cũng chính là tổng quang của dòng pháp hội tụ từ chư Phật, còn gọi là trăm loại ánh sáng thanh tịnh, là vòng đại quang minh của trăm ánh sáng chiếu khắp.
Trong cảnh giới hư vô mờ ảo, thân mình đã hóa thành Đại Nhật Như Lai, đầu đội mũ Ngũ Phật, tay kết ấn trí quyền, mặc thiên y trắng nhiều lớp, hóa hiện hoa sen trắng lớn khắp mười phương cảnh giới, vây quanh mình thành vòng tròn, trở thành cảnh giới Đại Nhật Như Lai thường trụ bất động thuyết pháp.
Liên Sinh Hoạt Phật đã giải thích cảnh giới hư vô mờ ảo rất chi tiết. Đệ tử Liên Hoa Hải Tuyền chỉ cần học được pháp quán ngũ luân, rồi chuyển hóa bản thân tức thân thành Phật trở thành Đại Nhật Như Lai, đó chính là cảnh giới tương ứng đạt được từ tu tập.
Cơ thể khỏe mạnh, nghiệp chướng bệnh tật tiêu trừ. Bước đi nhẹ nhàng, vạn sự tự tại. Chỉ cần đạt được sự tương ứng, tự nhiên sẽ có được tất cả những điều này. Kỹ thuật đảo ngược luân hồi giúp phát triển luân xa đỉnh đầu.
16. Pháp tướng Thượng sư cũng phóng quang
Kính thưa Thượng sư:
Con cảm ơn Thượng sư đã gửi tặng pháp tướng. Mặc dù con biết rằng giữa hình tướng xuất gia và chưa xuất gia của Thượng sư không có gì khác biệt, nhưng khi nhìn thấy pháp tướng xuất gia của Thượng sư, con vẫn không kìm được nước mắt, xúc động khôn xiết. Thượng sư vì độ chúng sinh cõi người và cõi trời, thị hiện tướng xuất gia cho chúng sinh thấy, thề nguyện vô cùng tận, trong khi con vẫn còn đang chìm trong năm trược. Từ nay con chỉ còn cách nỗ lực tu tập gấp bội để sớm có khả năng tự độ và độ người, không phụ lòng khổ tâm và kỳ vọng của Thượng sư.
Con xin một lần nữa cảm ơn Thượng sư đã tu pháp gia trì cho mẹ con. Vào lúc đó, con cũng đã gửi một tấm pháp tướng Thượng sư cho mẹ con để thờ phụng và quán tưởng. Vì phòng ngủ và phòng thờ đều ở tầng hai, khi mẹ con đang cầm pháp tướng Thượng sư chưa đóng khung, bưng trên tay đi lên cầu thang, bỗng nhiên thấy từ khóe mắt trong pháp tướng Thượng sư phóng ra một luồng ánh sáng lớn cực kì mạnh mẽ, và kéo dài rất lâu.
Ngoài ra, mẹ con tạm thời đặt pháp tướng Thượng sư trên bàn trong phòng ngủ. Tối hôm đó, khi chưa chìm vào giấc ngủ, mẹ con vô tình nhìn thấy quạt điện phát ra ánh sáng vàng rực rỡ. Khi nhìn kĩ hơn, hóa ra không phải quạt điện phát sáng, mà là pháp tướng Thượng sư đang phóng hào quang, chiếu vào quạt điện và phản chiếu lại. Mẹ con nói rằng pháp nhãn Thượng sư phóng quang, ánh sáng di chuyển từ khóe mắt đến tròng mắt.
Kể từ khi mẹ con nhìn thấy pháp tướng phóng quang, từ ngày đó trở đi, sức khỏe của bà dần dần khỏe hơn mỗi ngày. Điều này cũng khiến bà càng thêm tin tưởng, chuyên cần tu tập Mật pháp, tinh tấn trì tâm chú và phát tâm sau này sẽ in ấn sách thiện để tặng cho mọi người. Tuần trước, con gọi điện về nhà, mẹ con rất vui mừng kể cho chúng con nghe về phép màu cảm ứng này. Chúng con tin rằng mẹ con có duyên rất sâu với Liên Hoa Đồng Tử, vì vậy chúng con khuyên bà niệm tâm chú Thượng sư thật nhiều.
Kính chúc Phật an! Liên Hy. Liên Miểu. 29.07.1986.
🌟
Liên Hy và Liên Miểu, hiện đang sống ở bang Texas, Hoa Kỳ.
Đây là một lá thư chứng minh hiện tượng pháp tướng Thượng sư cũng phóng quang. Những câu chuyện phóng quang tương tự rất nhiều, bài viết này chỉ lấy một lá thư làm bằng chứng mà thôi.
Gần đây, Liên Sinh Hoạt Phật đến Vancouver thuyết pháp, đệ tử đã chụp được hai tấm ảnh phóng quang; đến New York thuyết pháp, đệ tử cũng chụp được hai tấm ảnh phóng quang; tại pháp hội siêu độ năm Bính Dần (1986), lại chụp được nhiều tấm ảnh phóng quang. Hiện nay, chỉ cần có pháp hội là có hiện tượng phóng quang kỳ diệu, thật là pháp duyên quá thù thắng, pháp duyên quá thù thắng.
Tất cả những bức ảnh phóng quang này đều do các đệ tử dùng máy ảnh chụp, Liên Sinh Hoạt Phật cả đời không chơi máy ảnh, cũng chưa từng cầm máy ảnh chụp một tấm nào, bản thân tôi cũng không biết rửa ảnh. Những bức ảnh phóng quang này không phải do cùng một người chụp, mà đến từ những quốc gia khác nhau, những người khác nhau, những chiếc máy ảnh khác nhau.
Nhiều đệ tử đề xuất với tôi rằng, sau khi sưu tập đầy đủ ảnh phóng quang sẽ xuất bản một cuốn tuyển tập ảnh phóng quang Chân Phật Tông, mỗi bức ảnh sẽ ghi chú rõ địa điểm, thời gian, người chụp, nhân duyên, kèm theo một bài thơ do Liên Sinh Hoạt Phật sáng tác để phát hành, một cuốn tuyển tập ảnh phóng quang như vậy chắc chắn sẽ gây chấn động toàn thế giới, chấn động giới tôn giáo, chấn động giới khoa học. Tôi thấy đề xuất này rất hay, một cuốn sách chứng cứ xác thực như vậy, một cuốn sách chân thật, sẽ gây chấn động cho toàn nhân loại trên thế giới, làm rung động lòng người khắp thế giới, những người không tin Phật, không tin thần, một khi thấy ảnh phóng quang, tất cả sẽ quy y Chân Phật, như vậy, cuốn tuyển tập ảnh phóng quang Chân Phật Tông này quả thật rất có ý nghĩa và giá trị.
Thành thật mà nói, Liên Sinh Hoạt Phật thực sự là một người thực tu, là người thực sự hành động trong thực tế. Những hiện tượng phóng quang này không phải để mong cầu người khác công nhận giá trị của Liên Sinh Hoạt Phật, cũng không phải để một lòng một dạ tìm kiếm lời khen ngợi của người khác đối với Hoạt Phật, mà chỉ đơn giản là khi thân tâm thanh tịnh, nhập vào Tam ma địa, thì tự nhiên biểu hiện ra mà thôi. Giá trị của nó chính là như vậy, rất đỗi bình thường.
Tôi nói rằng: Dù thế gian công nhận, Hay thế gian không công nhận, Tôi vẫn cứ phóng quang.
Liên Sinh Hoạt Phật tin rằng, khi chúng ta sống trên thế gian này, để thực hiện công việc thiêng liêng là cứu độ chúng sinh, chúng ta chỉ nên tập trung toàn tâm toàn ý vào công việc của mình, không cần quan tâm đến việc người khác như thế nào, phải hoàn thành nhiệm vụ một cách viên mãn, chỉ đòi hỏi ở bản thân, không cần người khác công nhận giá trị của mình.
Tuyển tập ảnh phóng quang Chân Phật Tông trong tương lai gần, chắc chắn sẽ được xuất bản, bởi vì phóng quang chính là một bằng chứng, những hiện tượng phóng quang tương tự xuất hiện hết tấm này đến tấm khác, khi chúng ta nhập vào Tam ma địa, chúng ta thực tu, chúng ta nhất định có thể phóng quang, chúng ta không phải cầu sự biểu hiện, mà là khéo vận dụng pháp lực của mình, thực hiện sự hoằng hóa một cách thỏa đáng và hoàn thiện, hướng dẫn chúng sinh quy y về cõi Phật chân chính.
Không chỉ Liên Sinh Hoạt Phật có thể phóng quang. Tượng và pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật cũng đều có thể phóng quang. Đây là sự quán chiếu của áo giáp kim cang trong Chân Phật Mật Pháp.
17. Hình ảnh Liên Hoa Đồng Tử và chúng hội
Hồng Quán Thánh Miện Liên Sinh Sư Tôn!
Đệ tử Liên Bào trước tiên xin hành đại lễ năm vóc sát đất trước Sư Tôn. Vào ngày mùng 10 tháng 7 âm lịch, khi cùng tu pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại Viên Chứng Đường, sư huynh Liên Huyên khai thị rằng hải hội đồ (mandala) của Liên Hoa Đồng Tử đã xuất hiện trên không trung.
Hải hội đồ hiển hiện với Sư Tôn ngồi ở chính giữa, mười bảy vị Liên Hoa Đồng Tử khác phân ra hai bên trái phải, phía sau Sư Tôn có một đồng tử thiện ác đứng mỗi bên, phía trên đỉnh đầu Sư Tôn là Quan Thế Âm Bồ Tát, bên trên nữa là Địa Tạng Vương Bồ Tát, tiếp trên là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, và trên cùng là A Di Đà Phật. Hai bên còn chật kín các Kim Cang Hộ Pháp, bao gồm Ngũ Đại Kim Cang, Bát Đại Minh Vương, Hộ Thế Tứ Thiên Vương, mỗi vị đều phóng hào quang chiếu khắp pháp hội đồng tu của Chân Phật Tông, gia trì tất cả đệ tử, giải tỏa những xiềng xích đã trói buộc thân thể từ vô thủy đến nay. Đây thực sự là phúc báo lớn lao của các đệ tử.
Vào ngày 13, 14, 15 âm lịch, đệ tử cùng với phu nhân Liên Hoa Nguyệt Thiềm, Liên Thuyền, Liên Hiền, Liên Phác và khoảng tám người khác, tu pháp tại Phật đường của Liên Hoa Côn Luyện, nhằm siêu độ cho các vong linh. Chúng con rảy nước pháp, gạo đã được gia trì, đốt tiền vãng sinh, tụng chú vãng sinh cho các vong linh. Hải hội đồ của Liên Hoa Đồng Tử lại xuất hiện giữa không trung, Liên Hoa Đồng Tử lần lượt khai thị Phật pháp cho các vong linh, chỉ dẫn cách tu tịnh niệm Phật, cách vãng sinh.
Vào tối ngày 15 âm lịch, khoảng 11 giờ rưỡi, chúng con thấy vầng sáng xuất hiện quanh mặt trăng. Nhờ đã đọc cuốn sách "Một thoáng Phật quang" của Sư Tôn, con biết đây chắc chắn là điềm lành báo hiệu sự xuất hiện của chư Phật Bồ Tát. Sau đó, qua sự xác nhận của Liên Hoa Mi Thanh, con biết đó chính là hải hội đồ khổng lồ của Liên Hoa Đồng Tử, hai bên trái phải mỗi bên có năm vị Đại Bồ Tát, trùng trùng vây quanh, vô cùng trang nghiêm.
Sau đó, khi hải hội đồ biến mất, một đóa sen trắng lớn hiện ra, bên ngoài trắng bên trong đỏ, một đóa sen lớn mà ngay cả những người phàm mắt thường cũng có thể nhìn thấy. Thật quá vi diệu! Thật không thể nghĩ bàn! Thật khiến người ta khao khát! Đây đúng là ánh sáng vĩ đại chiếu rọi thế gian! Kính xin Sư Tôn từ bi khai thị về cảnh giới đã nêu trên.
Kính chúc đại chuyển pháp luân, đại phóng quang minh. Đệ tử Liên Bào chắp tay đảnh lễ. 21.08.1986.
🌟
Vị Liên Bào này là Liên Bào đến từ Singapore - ông Nghiêm Vĩnh Năng. Tại sao hải hội đồ Liên Hoa Đồng Tử lại xuất hiện? Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật đã sớm tu chứng được năm pháp quán đại bí mật.
Thứ nhất, pháp quán samaya siêu phàm nhập thánh - dòng pháp lưu thuộc địa luân của chư Phật từ dưới tòa của mình dâng lên, dòng pháp lưu trí lực của chư Phật từ bầu trời giáng xuống, hai dòng pháp lưu va chạm và hợp nhất tại đan điền trong cơ thể, thành tựu ánh sáng đại nguyệt luân thanh tịnh, tức là chứng đắc samaya thân.
Thứ hai, pháp giới sinh thân biến hóa vô cùng - dòng pháp chư tôn của ý thức vũ trụ thấm nhập qua đỉnh đầu của hành giả, đi qua đan điền xuống đất, từ đất tỏa ra bốn phương, mở rộng tám hướng, biến thành pháp tọa của chư Phật, pháp tọa này lại bay lên hư không, trở thành dòng pháp lưu của chư tôn, rồi lại quán đảnh cho hành giả, cứ thế tuần hoàn không ngừng, cho đến khi hành giả trở nên trong suốt rực rỡ, không còn chướng ngại, tức là chứng đắc pháp giới sinh thân biến hóa vô cùng.
Thứ ba, thân chuyển pháp luân cứu độ chúng sinh — dòng pháp lưu của chư tôn quán đảnh vào thân mình, từ đất tỏa ra bốn phương, mở rộng tám hướng. Chúng sinh trong vũ trụ xuất hiện trước sau pháp tọa của mình, và từng dòng pháp lưu lần lượt quán đảnh các chúng sinh, trong khi từ mi tâm, cổ họng, tim trong thân mình phóng ra ba luồng ánh sáng lớn chiếu soi chúng sinh, chúng sinh nhận được ánh sáng này. Cứu độ chúng sinh như vậy chính là Kim Cang Thủ Bồ Tát, chứng đắc thân chuyển pháp luân cứu độ chúng sinh.
Thứ tư, thân phòng ma của Kim Cang Hộ Pháp — dòng pháp lưu của chư tôn đi vào từ đỉnh đầu của mình, rồi đi vào đất, chúng sinh trên mặt đất nhận được sự gia trì của ba luồng ánh sáng, nhưng chúng sinh không thể phối hợp với dòng pháp lưu, ba luồng ánh sáng này sẽ hóa thành thần Kim Cang, đứng trên đỉnh đầu của chúng sinh, bảo vệ và phòng chống các loài ma, ba luồng ánh sáng hóa thành thần Kim Cang, tay cầm pháp khí kim cang, chứng đắc như vậy, chính là thân phòng ma của Kim Cang Hộ Pháp vậy.
Thứ năm, thân bất động tự tại trong dòng pháp lưu — Hành giả Mật tông, sự quán đảnh qua lại của dòng pháp lưu, cần phải tự mình phối hợp một cách tự do, thường xuyên thực hành bí mật, bất kể thân ở trong môi trường nào, đều phải hiểu rõ như như bất động, đồng thời vận dụng và quán chiếu dòng pháp lưu một cách tự tại, và bản thân chứng đắc bản tính như như bất động, đây chính là chứng đắc thân bất động tự tại trong dòng pháp lưu vậy.
Năm pháp quán đại bí mật này là sự chứng đắc thân samaya siêu phàm nhập thánh, pháp giới sinh thân biến hóa vô cùng, thân chuyển pháp luân cứu độ chúng sinh, thân phòng ma của Kim Cang Hộ Pháp, và thân bất động tự tại trong dòng pháp lưu. Việc chứng đắc năm thân này thành tựu âm thanh pháp tuôn chảy không ngừng, ánh sáng pháp sâu rộng vô tận, cảnh giới đại không, động tĩnh như một, giống như con quay xoay không ngừng nhưng tâm điểm của nó vẫn hoàn toàn bất động.
Hải hội đồ Liên Hoa Đồng Tử xuất hiện trong khoảng không vũ trụ, chính là sự thành tựu của cõi siddhi (cõi Phật) của Liên Hoa Đồng Tử, thành tựu này gồm có truyền thừa chư tôn, Bồ Tát, Kim Cang các pháp, đại quang minh, bất động, chính là đại thành tựu của năm pháp quán đại bí mật!
Vầng hào quang nguyệt luân tượng trưng cho hải hội đồ Liên Hoa Đồng Tử. Đóa sen lớn trắng đỏ có thể nhìn thấy bằng mắt thường tượng trưng cho sự thành tựu viên mãn của Bồ Tát.
Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông có pháp duyên quá thù thắng, đã làm chấn động toàn thế giới, đây là sự truyền thừa chân chính của dòng pháp vũ trụ.
18. Giới luật của xuất gia
Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu! Om mani padme hum. Namo guru beh. Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Namo buddhaya. Namo dharmaya. Namo sanghaya.
Kính chào Thượng sư!
Vào ngày 31 tháng 7 năm 1986, đệ tử nhận được "Chứng chỉ quy y thọ giới" mà Thượng sư gửi đến, cùng với thư hồi âm viết tay của Thượng sư và pháp tướng của Thượng sư, đệ tử Liên Hoa Kim Phong vô cùng vui mừng! Có thể thật sự chính thức gọi Thượng sư là "Thượng sư". Danh xưng này khiến tất cả đều viên mãn, tự nhiên, thường lạc ngã tịnh.
Trước khi đệ tử mua được cuốn sách "Một thoáng Phật quang" (đệ tử mua vào ngày 16 tháng 8 năm 1986), như đệ tử đã đề cập trong lá thư xin quán đảnh quy y viết cho Thượng sư vào ngày 11 tháng 7 năm 1986, đã có nhắc đến "tâm con đã xuất gia", nên đệ tử luôn suy nghĩ về vấn đề tinh tấn trì giới, tâm thường xuyên suy ngẫm về giới Bồ Tát xuất gia, cũng như tất cả giới luật liên quan đến giới luật xuất gia.
Đệ tử đã tìm thấy trong: Cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán (phần 1)", chương "Quy y và thọ Bồ Tát giới". (Chú thích: Nhà xuất bản Đại Đăng Văn Hóa, trang 72). Cuốn sách "Sự chứng ngộ của Thượng sư", chương "Pháp tu bát quan trai giới". (Chú thích: Nhà xuất bản Đại Đăng Văn Hóa, trang 44). Cuốn sách "Pháp ngữ Chân Phật", chương "Truyền thụ giới Bồ Tát". (Chú thích: Nhà xuất bản Đại Đăng Văn Hóa, trang 22). Cuốn sách "Một chút thiền vị", chương "Hoàn thành nguyện xuất gia". (Chú thích: Nhà xuất bản Đại Đăng Văn Hóa, trang 58).
Ngoài những giới luật căn bản này, còn có: "Sự sư pháp ngũ thập tụng". "Mười bốn đại giới căn bản Mật giáo". "Ngũ giới".
Tất cả những điều này đều là những gì đệ tử phải tuân thủ. Trên đây là những giới luật đệ tử đã tìm thấy trong sách, và cũng biết rằng việc tuân thủ tất cả giới luật là nền tảng của việc phát tâm bồ đề.
Hiện tại đệ tử, trong cuốn sách "Một thoáng Phật quang", được biết rằng Thượng sư đã chính thức xuất gia tại Chân Phật Mật Uyển vào ngày 19 tháng 3 năm 1986 (ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch).
Sau khi đọc xong cuốn sách "Một thoáng Phật quang", đệ tử vô cùng xúc động, đệ tử đã bàn với mẹ là Dương Nghi Đắc, xin mẹ cho phép đệ tử xuất gia, mẹ rất đồng ý và chấp thuận lời thỉnh cầu của đệ tử.
Dù lời nguyện xuất gia của Thượng sư như thế nào, lời nguyện của đệ tử cũng giống hệt như Thượng sư vậy.
Như trong cuốn sách "Một chút thiền vị", Thượng sư đã đề cập: Người xuất gia còn có bốn nguyện, đây là bốn đại nguyện mà Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật đã phát khi xuất gia: Nguyện thứ nhất, nguyện cứu độ chúng sinh khỏi cảnh khổ đau. Nguyện thứ hai, nguyện trừ bỏ phiền não chướng ngại của chúng sinh. Nguyện thứ ba, nguyện đoạn trừ tà kiến của chúng sinh. Nguyện thứ tư, nguyện độ chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau.
Vì vậy đệ tử phát tâm theo Thượng sư, cũng giống như theo Đức Thế Tôn vậy, nên đệ tử với tất cả chân tâm và lòng thành, cầu xin Thượng sư truyền thụ giới xuất gia, giới Bồ Tát xuất gia, cùng tất cả giới luật liên quan mà đệ tử cần phải tuân thủ.
Nghĩ đến lễ xuống tóc xuất gia, nghĩ đến "công đức của Pháp như dòng nước trôi qua". Như trong cuốn sách "Cảnh trời riêng bên hồ", Thượng sư đã đề cập: Nước chính là công đức, Trôi đi không bao giờ quay lại. .......
Cuốn sách "Cảnh trời riêng bên hồ" là cuốn sách mà đệ tử yêu thích nhất và trân quý nhất. Đó là cuốn sách mà đệ tử luôn suy ngẫm, đọc đi đọc lại không biết chán, ngược lại, mỗi lần đọc lại càng làm cho đệ tử thêm phong phú, thêm tinh tế trong tư duy tâm linh và niềm vui thiền định, vô cùng vô tận......
Thực ra, đệ tử rất thích tất cả các cuốn sách của Thượng sư, từ "Linh cơ" đến "Phật quang" đến "......", thậm chí đệ tử yêu thích cả những pháp bản vô tận trong tương lai, chỉ tiếc là đệ tử không thể đặt chữ "nhất" vào mỗi cuốn sách mà đệ tử yêu thích.
Đầu sau khi cạo tóc trông có khó coi hay không, nhưng đệ tử nhớ đến Kinh Kim Cang có câu "vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng", tự nhiên cũng không còn quan tâm nữa.
Cầu chúc Liên Sinh Hoạt Phật, Chân Phật Tông Hoạt Phật tỏa ánh hào quang sáng chiếu khắp thế gian.
Liên Hoa Kim Phong tại thành phố Edmonton cung kính chắp tay. 17.08.1986
🌟
Lá thư này được gửi từ tỉnh bang Alberta, Canada. Liên Hoa Kim Phong là đệ tử mới quy y, nhưng đã phát tâm bồ đề lớn. Lá thư này là lá thư tiêu biểu cho việc phát khởi tâm xuất gia. Gần đây khi Liên Sinh Hoạt Phật vừa xuất gia, đã có hơn một trăm đệ tử gửi thư muốn theo tôi cạo tóc xuất gia.
Phát khởi tâm xuất gia là việc rất tốt, nhưng cần phải hiểu rõ ý nghĩa của việc xuất gia trước, xuất gia chính là ra khỏi ngôi nhà phiền não, bước vào ngôi nhà của Phật môn, cũng có nghĩa là từ bỏ cuộc sống của người tại gia để tu tập hoàn toàn tịnh hạnh của sa môn. Đệ tử của Chân Phật Tông không bị ép buộc phải xuất gia, việc xuất gia hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào nhân duyên của các đệ tử, khi nhân duyên chín muồi, mới có thể xuất gia được.
Người xuất gia phải thọ trì hai loại giới luật: "Thập giới" và "Cụ túc giới".
Cụ túc giới là giới mà tỳ kheo, tỳ kheo ni phải thọ trì, là cấp độ cao nhất trong các giới giải thoát. Tỳ kheo có 250 giới, cụ thể là 4 Ba-la-di, 13 Tăng tàn, 2 Bất định, 30 Xả đọa, 90 Ba-dật-đề, 4 Đề-xá-ni, 100 Chúng học, 7 Diệt tránh, tổng cộng là 250 mươi giới.
Liên Sinh Hoạt Phật thấu hiểu sự vĩ đại của việc xuất gia, nhưng tâm cảnh của Ngài vẫn luôn là nhìn thấu, buông bỏ.
——
Tâm hồn như khoảng không nơi chân trời. Để mặc mây trắng cuộn trôi, Trăng sáng đến rồi đi, Vĩnh viễn không lưu lại một vết tích nào. Không còn luyến tiếc cõi trần, Nội tâm tĩnh lặng bất động, Chỉ có từ bi hỷ xả, Nhẹ nhàng bay về niềm vui thiền định nơi cõi Phật.
Giới luật xuất gia chính là tự cầu "nội minh", nguyên tắc để tâm hồn an định.
19. Chân Phật Tông trân quý nhất
Ân sư từ bi minh giám!
Kể từ khi đệ tử quy y và thọ nhận quán đỉnh, đệ tử đã tham gia tu tập pháp tương ứng Thượng sư tại Bổn Sư Đường của Thượng sư Khâu Hồng Cảng, và đã có một số tâm đắc. Nay đệ tử xin trình lên Sư Tôn để được chỉ dạy.
Đệ tử tự suy ngẫm rằng Chân Phật Tông do Sư Tôn sáng lập thuộc về pháp tu thượng thừa. Mặc dù lấy Mật tông làm chủ đạo, nhưng khi nghiên cứu và thể hội sâu sắc, thực sự là sự dung hợp của năm tông phái lớn, đó là Mật tông, Thiền tông, Đạo giáo, Nho giáo và Tịnh Độ tông. Trong khi cánh cửa rốt ráo để thoát khỏi tam giới được chia làm ba, đó là Thiền, Mật và Đạo, nhưng cảnh giới tối cao của ba pháp môn này thông nhau và hợp nhất làm một.
Nho giáo và Tịnh Độ là những trợ lực để đạt đến cứu cánh, nay năm tông phái lớn hợp nhất chứng Không môn, như hổ thêm cánh vậy!
"Thiền chính là cuộc sống, Phật chính là chúng sinh". Trong vạn sự vạn vật, đều thấm đẫm thiền cơ, chờ đợi bậc thượng trí thượng giác thể hội.
Tu Mật chân tính hiển hiện, thân, ngữ, ý tam mật hợp nhất, hít vào thanh tịnh thở ra uế trược đạt thanh tịnh, minh tâm kiến tính chính là Bổn tôn.
Lão Tử nói: "Đạo khả đạo, phi thường đạo." Chính là chí đạo vô thượng giải thoát sinh tử luân hồi.
Khởi linh là: khí thông mạch luân gây chấn động, linh khí tuần hoàn pháp luân chuyển, thủy hỏa tương tế xá lợi kết, ngũ đăng hội nguyên tối thượng trân.
Nho giáo: tứ duy bát đức đều phải giữ, chính đại quang minh tham thiên tâm, chính khí thường tồn trong vũ trụ, tà ma nghe thấy đều khiếp kinh.
Tịnh Độ thực sự tâm khẩu nhất, niệm niệm Di Đà và Quan Âm, tiêu nghiệp tăng tuệ thực tế nhất, cửu phẩm liên đài thường tụng kinh.
Nay viết một bài kệ, để ghi nhớ: Vô thượng Chân Phật siêu bí mật, tham thiền chứng chân được thọ ký; Mật hạnh tu trì tự tính hiển, trong lò đan đỉnh xá lợi trồng. Học Nho thân tâm thanh tịnh an, Tịnh Độ niệm Phật thực tế nhất. Nay năm đại tông chứng Không môn, Như Lai truyền thừa chúng sinh giúp.
Kính chúc phóng đại quang minh! Liên Hoa Quang Minh khấu đầu. 17.6.1986.
🌟
Lá thư này do Liên Hoa Quang Minh viết, gửi từ thành phố Cao Hùng, Trung Hoa Dân Quốc.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, học tập tu hành pháp, bất luận là tông phái nào, chỉ cần thể xác và tinh thần, tâm trời và tâm mình đạt đến cảnh giới thần hóa, thì đây chính là cảnh giới tương ứng xác thực. Đương nhiên, trong quá trình tu hành, có từng lớp từng lớp cảnh giới, nếu không phải người đã trải qua thì rất khó phân biệt tỉ mỉ.
Mật tông tu hành, lúc bắt đầu vẫn dùng ý thức. Ý thức này chính là quán tưởng, đến khi ý thức hoàn toàn tiêu diệt, Không trí mới có thể hiển lộ ra, Không trí xuất hiện mới tính là hiểu được pháp giới chân tính.
Tu hành Tịnh Độ, lúc bắt đầu vẫn dùng niệm Phật, còn ý thức đặt trong sự quán tưởng Phật, đến khi tâm khẩu như một, nhất tâm bất loạn, tự tính mới có thể hiển lộ, từ sự hiển lộ của tự tính mới tính là bước vào thế giới Cực Lạc của Tịnh Độ.
Tu hành Thiền tông, lúc bắt đầu vẫn dùng định. Không có văn tự, không có phương pháp, tự mình tham thiền về Niết bàn diệu tâm, chính pháp nhãn tạng, hiển hiện trong mọi cơ duyên thiền trong cuộc sống, đạt đến minh tâm kiến tính, từ đó bước vào cảnh giới đại giác thù thắng.
Tu hành Đạo gia, trước nhất là bắt đầu từ mệnh, tu luyện tinh thần và khí để đạt đến nguồn gốc của trường sinh bất lão, từ pháp vô vi tu đến pháp tịch diệt thần hóa, mà pháp tịch diệt của Phật chính là pháp vô vi của Đạo, ở điểm cao nhất này, Phật và Đạo vẫn thông nhau.
Nho giáo bắt đầu từ hành vi, thực hành đạo đức, dùng tâm mình hợp với tâm trời, là sự giáo hóa lớn về hành vi từ bi hỷ xả của con người, thực hành lâu dài, tự nhiên có thể thăng thiên.
(Người trong thế giới này thường là tự cho mình đúng, tin vào Tịnh Độ thì chỉ trích Thiền tông và Mật giáo; tin vào Mật tông thì chỉ trích Tịnh Độ tông hoặc các tông phái khác; tin vào Thiền tông thì muốn chửi Mật tông... Đa số những người này là những người lấy mình làm trung tâm, họ không hiểu rằng năm ngón tay duỗi ra có dài có ngắn, mỗi ngón có chức năng riêng, nhưng nguồn gốc của chúng đều xuất phát từ cùng một nơi.)
Liên Sinh Hoạt Phật đã đọc một câu trong Kinh Hoa Nghiêm: "Mọi pháp trên đời đều như ảo ảnh, nếu có thể hiểu rõ tâm mình thì sẽ không bị ngoại vật lay động."
Nghĩa là tất cả các tông phái đều là ảo ảnh, biết rõ tâm mình là hiểu rõ ràng pháp giới chân tính. Người có thể hiểu được pháp giới chân tính mới thực sự có đại giác, hiểu rõ chân lý, và không bị lay động.
Thật ra, Chân Phật Tông cũng là ảo ảnh, hành giả Chân Phật mượn ảo ảnh của ý thức để tu tập cái thật của Không trí, cho đến khi hiểu được pháp giới chân tính mới tính là khai ngộ.
Tông tông phi tông, pháp pháp phi pháp. Người khai ngộ, nhất định hiểu rằng: Đâu có tông! Đâu có pháp!
Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: "Này các tỳ kheo, khi chấp trước, tức là bị ác ma trói buộc; khi không chấp trước, tức là giải thoát khỏi ác ma."
Liên Sinh Hoạt Phật, đối với tất cả các tông phái trên đời, đôi mắt trong sáng, thấu suốt tất cả.
20. Xuất bản sách tâm linh bằng tiếng Bồ Đào Nha
Sư Tôn từ bi minh giám! Đệ tử Liên Dung xin kính chào và thăm hỏi sức khỏe Sư Tôn!
Do sự trùng hợp không may về mặt nhân sự, lịch trình đã định trước đành phải tạm hoãn, sư tỷ Liên Hà cũng đang tổ chức lễ đính hôn vào ngày pháp hội siêu độ năm Bính Dần, vì vậy cả ba người đều không thể đi được. Mọi việc tùy duyên, không ép buộc, chỉ hơi tiếc một chút. Hiện tại đạo hữu ở Brazil đang lên kế hoạch để năm sau có nhiều người hơn đến thăm Lôi Tạng Tự, thực hiện hành trình trí tuệ khó quên trong đời.
Lần này dù đệ tử không thể thực hiện chuyến đi, nhưng trong tâm vẫn đồng thời làm quán tưởng, quán tưởng pháp hội thù thắng viên mãn. Như những lần trước, quán tưởng khi Sư Tôn thuyết pháp, ánh sáng trí tuệ tỏa ra, và nghĩ đến tấm lòng khổ tâm của Sư Tôn trước mỗi pháp hội, thay thế chúng sinh gánh vác nghiệp chướng, nguyện sư phụ con trụ thế lâu dài, chuyển bánh xe pháp lớn, là bậc đạo sư vĩ đại đầy trí tuệ và từ bi của một thời đại trời người.
Cuốn sách "Sự chứng ngộ của Thượng sư" đã được dịch xong, chỉ còn cách gửi qua đường bưu điện, kính mong Sư Tôn xem qua, chỉnh sửa những chỗ không phù hợp, đệ tử sẽ không ngừng cải thiện và sửa chữa.
Trong quá trình dịch này, có thể nói là con có rất nhiều cảm xúc, khó diễn tả bằng lời, nhiều lần xúc động không ngừng, và đã có thêm một tầng hiểu biết sâu sắc hơn về bản chất con người. Đệ tử kính ngưỡng đại nguyện của Sư Tôn, đời đời kiếp kiếp ở lại cõi người cho đến khi tất cả chúng sinh đều thành Phật mới thành Phật, cũng như cuộc đối thoại giữa thầy và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Đại sư đang ở đâu?" "Mười phương chúng sinh đều là thân của ta, mọi nghiệp chướng khổ não của mười phương chúng sinh, đều do ta thay thế gánh chịu, há chẳng phải mười phương chúng sinh đều là thân của ta sao?" Đệ tử chỉ cảm thấy nguồn cảm xúc này nên chảy vào tâm của tất cả chúng sinh, sau những mệt mỏi và bận rộn, chỉ mong tất cả chúng sinh đều có cơ hội nuôi dưỡng một sự tư duy triết học, nếu nói Phật pháp cứu độ thế gian, chi bằng nói đó là triết lý nhân sinh, viên mãn và vô lậu, bao gồm tất cả, vượt trội hơn tất cả, có thể giải quyết mọi phiền não của chúng sinh, hướng đến tối thượng, đạt đến vĩnh hằng.
Việc dịch cuốn sách này cần phải cảm ơn sự giúp đỡ từ nhiều phía, trong đó bao gồm sự khích lệ của Sư Tôn, sự trợ giúp của thần linh trong cõi vô hình, và sự giúp đỡ của các sư tỷ trong việc thu thập tài liệu. Có những từ vựng mà đệ tử đã suy nghĩ rất lâu, lại tình cờ tìm thấy khi vô tình bật ti vi, đang chiếu "Phóng sự về Tây Tạng", đệ tử nhờ đó cũng thấy được nghi thức Đại lễ bái của người Tây Tạng. Sư tỷ Liên Hoa Huệ Mẫn với tâm hồn thanh cao như hoa lan, đã nhiều lần tìm kiếm tài liệu cho đệ tử trong báo chí và tạp chí, như chú thích chi tiết về khăn khata, và trong cuốn "Phật pháp là gì" của Tiến sĩ Trương Trừng Cơ có liệt kê nhiều tác phẩm của ông, trong đó có đề cập đến " "Tiểu sử Milarepa" và "Mười vạn bài đạo ca của Milarepa". Bản dịch của đệ tử về Milarepa và bản dịch của Tiến sĩ Trương có chút khác biệt, vì vậy, đệ tử đã sắp xếp và sửa chữa bản thảo đã chỉnh sửa, với hy vọng rằng những người có duyên khi đọc sẽ hiểu rõ ngay lập tức.
Cuốn sách tiếp theo mà đệ tử chuẩn bị dịch là "Một chút thiền vị", một cái tên sách chứa đựng trí tuệ tuyệt vời! Đệ tử đang cố gắng đặt mình vào vị trí của người phương Tây hoàn toàn không có kiến thức Phật học, thêm vào một số chú thích với hy vọng dễ hòa nhập và hợp lý. Những chú thích này phần lớn tham khảo từ các tác phẩm khác của Sư Tôn, được sắp xếp lại, một số được lấy từ tạp chí, như chú thích về Pháp thân: sự nhân cách hóa của pháp, toàn bộ nội hàm của đời sống đều là pháp, không có bản ngã, dục vọng và đối lập. Đã là nhân cách hóa của pháp, đương nhiên thân thể gọi là Pháp thân. Vì vậy, chư Phật Bồ Tát đều có Pháp thân, kim cang bất hoại thân, pháp giới sinh thân, hết một báo thân này, hết một đời này, thành tựu cuộc sống vĩnh hằng độ chúng sinh.
Đệ tử kính xin Sư Tôn chỉ dạy đúng đắn về bất kì chỗ nào không phù hợp trong bản dịch. Brazil nằm trong khu vực nói tiếng Latin, ở vùng xa xôi Nam Mỹ, trình độ văn minh không cao, còn khó nghe được Phật pháp hơn cả ở châu Âu và Mỹ, mọi thứ đều phải tự mình mò mẫm và trải nghiệm, ngay cả trong việc tu tập cũng vậy, chỉ có thể trao đổi tâm đắc giữa những người đồng môn với nhau, khi không hiểu, chỉ biết than thở vô vọng, không khỏi ghen tị với những đệ tử bên cạnh Sư Tôn, có môi trường và điều kiện học Phật ưu việt, nhưng hy vọng Phật pháp sẽ dần dần bén rễ và phát triển tại Brazil, lan tỏa khắp dân tộc này - một dân tộc có đức tin nhưng cũng mang chút mê tín.
Đệ tử đã lĩnh hội được đạo lý tối thượng về "nhất", nhìn người phương Tây và các dân tộc khác như một, chúng sinh là một, một chính là chúng sinh, nhân loại là một, trái đất là một.
Liên Dung ngày ngày cầu nguyện chư Phật Bồ Tát, mong ánh sáng Phật khai mở trí tuệ linh diệu của chúng sinh, và Liên Dung cần phải tinh tấn tu học, phải luôn tự cảnh tỉnh mình, dùng thời gian quý báu đang trôi qua để tìm kiếm ý thức vĩnh hằng và tối thượng.
Liên Dung kính hỏi thăm sức khỏe Sư Tôn. Đệ tử Liên Dung chắp tay kính lạy. 18.09.1986.
🌟
Lá thư này được gửi từ Liên Dung ở thành phố São Paulo, Nam Mỹ Brazil.
Kèm theo thư là bản dịch tiếng Bồ Đào Nha của cuốn sách tâm linh — "Sự chứng ngộ của Thượng sư". Đây là cuốn sách tâm linh của Liên Sinh Hoạt Phật, và là cuốn sách đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Bồ Đào Nha.
Ở Brazil Nam Mỹ đã có nhiều người phương Tây thuộc dân tộc Latin quy y Chân Phật Tông. Tôi tin rằng khi sách tiếng Bồ Đào Nha được xuất bản, sẽ thu hút người dân tộc Latin đến quy y Chân Phật, tu tập Chân Phật Mật Pháp.
Liên Dung đã dịch xong pháp bản bằng tiếng Bồ Đào Nha. Việc hoằng dương Phật pháp của Liên Dung thực sự phi thường, không thể nghĩ bàn, cô ấy là đại diện tiêu biểu trong các đệ tử về tinh tấn hoằng pháp, truyền bá rộng rãi Chân Phật Mật Pháp đến dân tộc Latin.
Liên Sinh Hoạt Phật trong quá khứ thường nói với mọi người: "Chúng ta phải tôn kính và nỗ lực với sự nghiệp Như Lai, phải có tinh thần tận tâm trong tu tập và hoằng pháp." Liên Sinh Hoạt Phật mỗi ngày đều phải tu tập một lần, không bao giờ ngừng nghỉ. Liên Sinh Hoạt Phật mỗi ngày đều viết sách hoằng pháp, không bao giờ ngừng nghỉ.
Tôi xin nói với mọi người, những bậc đại thành tựu ngày xưa, để đạt được tương ứng, thường tự cấm túc hoặc nhập thất, thậm chí ăn rất ít thức ăn, và nguyện trước Phật: "Nếu không thành tựu, sẽ không đứng dậy." Họ đem lời nguyện thưa trước Phật, để duy trì lời nguyện của mình, tu tập nghiêm túc, kết quả đạt được đại thành tựu. Tu tập là như vậy. Hoằng pháp cũng là như vậy.
Một khi chúng ta là đệ tử Chân Phật Tông, dù gặp bất kì khó khăn nào trên hành trình cuộc sống, nhất định phải nhận rõ mục tiêu, kiên trì đến cùng, cho đến khi độ tận chúng sinh mà không còn sót một ai, tôi mong mọi người đều có niềm tin kiên định như vậy. Tôi viết một bài thơ hiện đại, như sau: Các dân tộc thế giới đều là một, Không phân biệt, bình đẳng bồ đề, Hoằng pháp cần phổ cập khắp mọi quốc gia, Như cành lá sum suê, trăm hoa cùng nở.
Chân Phật Mật Pháp phát huy tiềm lực, Phật pháp nhất định sẽ là phương tiện cứu độ thời mạt pháp, Để cung cấp những điều cần thiết cho cuộc sống, Mang lại lợi ích cho nhân loại.
Hãy phát huy sức mạnh tối đa của hành giả, Chỉ cần nỗ lực hết mình, Thành quả sẽ thu hoạch được, Mọi người đều đốn ngộ Phật lý trong đó.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, đệ tử Chân Phật phải vượt qua quan niệm chủng tộc, nhìn nhận các dân tộc trên thế giới bằng tâm cứu độ bình đẳng không phân biệt, chúng ta kiên quyết tinh tấn, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, đây là một niềm hoan hỷ, là ánh dương rạng rỡ trong cõi nhân sinh. Đệ tử Chân Phật, cùng nhau tinh tấn, cùng nhau thực hành.
21. Cầu nguyện của tăng chúng Thái Lan
Kính gửi Thượng sư Liên Sinh:
Đọc được tác phẩm vĩ đại của Thượng sư, lòng con vô cùng xúc động. Trí tuệ trong văn chương của thầy làm rạng rỡ chính pháp, là ngọn đuốc sáng suốt trong thời mạt pháp, cứu vớt những linh hồn chìm đắm. Thầy thị hiện theo nguyện lực, hóa độ vô lượng chúng sinh, chúng con cảm thấy vui mừng sâu sắc.
Tuy nhiên, danh tiếng đến đâu, phỉ báng theo đến đó. Chúng con thấu hiểu sâu sắc tâm trạng của Thượng sư khi phải chịu đựng những tổn thương và sỉ nhục. Cổ đức có nói: "Lời sai lầm như mây che khuất mặt trời, lời ngọt ngào như gió thấm vào da thịt". Chúng con chân thành mong muốn thầy thành công, và xin kính cẩn dâng lên lời góp ý nhỏ bé để Thượng sư tham khảo:
-
Thượng sư có lòng cứu độ thế gian tha thiết, tính cách thẳng thắn cởi mở, hành vi trong sạch chân thật, tất cả đều thể hiện rõ qua ngôn từ. Nhưng trong thời mạt pháp này, ma mạnh pháp yếu, chúng sinh cứng đầu ngu muội, không chỉ cần "kim cang nộ mục" [ánh mắt kim cang giận dữ] mà còn cần "Bồ Tát đê mi" [Bồ Tát mắt nhìn lim dim, hiền từ], từ bi thương xót chúng sinh tội khổ. Vì sách pháp của Thượng sư đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ, lưu truyền rộng rãi trên thế giới, Thượng sư vốn thẳng thắn bày tỏ, nếu có phê bình, liệu có thể xem xét nhiều phương thức và chiến lược khác nhau không? Bởi ai cũng có lòng tự tôn, nếu Thượng sư viết quá thẳng thắn sẽ khiến kẻ cùng đường liều lĩnh, sinh ra oán khí.
-
"Thái Sơn không từ chối bùn đất nên có thể trở nên vĩ đại, sông biển không chọn lọc những dòng suối nhỏ nên có thể trở nên sâu thẳm". Mong Thượng sư có thể dùng đức để cảm hóa những người có ý kiến khác biệt hoặc phản đối, biến đối lập thành đồng thuận, biến tà thành chính, để sức mạnh hoằng hóa trở nên rộng lớn. Chúng con, những tăng chúng này, trong thời mạt pháp này, khi chính pháp suy tàn, khi thật giả lẫn lộn, lo lắng như lửa đốt, vừa tự tu tự ngộ, tịnh hóa thân tâm, vừa rộng làm lục độ. Ở Thái Lan cũng không thiếu những người tu hành chân chính, mong Thượng sư đừng phê bình tăng chúng quá nhiều, vì nếu tuyên truyền những điều tiêu cực, e rằng những người chưa bước vào cửa Phật hoặc những người mới học Phật sẽ mất đi đạo tâm. Nhìn từ đại cục bảo vệ thánh giáo và phục hưng Phật pháp, cầu mong Thượng sư viết nhiều hơn về giáo nghĩa, hoằng dương đại pháp, liệu có thể che giấu điều xấu, phát huy điều tốt nhiều hơn, sẽ có lợi hơn cho việc tiếp dẫn chúng sinh.
-
Thanh danh của Thượng sư lan tỏa khắp nơi, khiến bầy ma kinh hãi, thư từ đến như tuyết rơi, người quy y đông như nước chảy. Biển rộng sông dài, cát bùn đều hòa vào. Xin Thượng sư cảnh giác về ngôn hành của các đệ tử, khuyên họ giữ giới luật nghiêm túc. Nếu có đệ tử hư vọng, xin hãy mời ra khỏi môn phái. Thượng sư thu nhận đệ tử, tiếp dẫn chúng sinh, cần phải thận trọng.
Cảnh giới của Thượng sư cao siêu, rỗng rang sáng suốt, không có chướng ngại. Chúng con tuy là phàm phu ngu muội, nhưng thật lòng mong Thượng sư chuyển bánh xe pháp, hoằng hóa rộng rãi, ngọn đèn chân lý mãi rạng ngời, cứu độ tất cả chúng sinh, khiến chính pháp trường tồn. Vì vậy, chúng con không quản tài hèn trí cạn, dám bày tỏ lòng thành thật.
Mong ánh hào quang từ bi của Thượng sư chiếu khắp muôn nơi. Kính chúc ân đức vô lượng. Tăng chúng Viện Viên Thông Giác cung kính đảnh lễ. 08.09.1986.
🌟
Lá thư này được gửi từ Viện Viên Thông Giác ở tỉnh Bắc Lâm, Thái Lan. Đây là bức thư được cùng viết bởi tăng chúng của Viện Viên Thông Giác, bức thư này thật sự có giá trị và ý nghĩa!
Thư này được gửi từ tăng chúng Thái Lan, tôi cũng đồng cảm sâu sắc với lời cầu nguyện của các tăng sĩ Thái Lan.
Liên Sinh Hoạt Phật ban đầu có kỳ vọng quá cao đối với tăng chúng, nên khi thấy đời sống sa đọa của các tăng ni, tôi cảm thấy vô cùng ghê tởm, vì vậy, lời phê bình của tôi có phần cực đoan, chắc chắn sẽ tạo ra những hiệu ứng không tốt. Thực tế, trong tăng chúng, những người tu hành chân chính cũng rất nhiều, chúng ta không thể lấy một cây sào đánh đắm cả một thuyền người, che giấu điều xấu, phát huy điều tốt, hoặc viết lách giữ đạo trung dung, đó mới là đạo lý đúng đắn.
Tôi cũng biết rõ đạo lý "đầy tràn sẽ tổn hại, khiêm tốn nhận được lợi ích". Những tác phẩm ban đầu của Liên Sinh Hoạt Phật quá sắc bén, nổi tiếng quá mức, năng lực quá cao, cũng dễ gây ra sự đố kỵ. Tôi cũng hiểu rằng, cần phải ẩn cư một cách thích hợp, ẩn cư mới mang lại lợi ích cho việc tĩnh tu. Liên Sinh Hoạt Phật đã nhiều lần chuyển nhà, nhiều lần đóng cửa từ chối khách, đều là để thích nghi với cuộc sống xã hội, thậm chí chuyển đến Mỹ, cũng là để sống cuộc đời ẩn sĩ.
Bản thân tôi có tính thẳng thắn và nhìn thấu con người quá rõ, vì nhìn thấu quá rõ, không biết giấu giếm, nên mới có những lời phê bình. Thực tế, đối với người và việc cần phải có một giới hạn, một sự tiết chế, như vậy mới là thích hợp. Con người sống trên đời, nếu có thể không quá so đo tính toán, sẽ sống thoải mái và hạnh phúc hơn. Đối với thế gian cũng như vậy. Đối với tăng chúng lại càng phải như vậy.
Hiện nay, tôi đã trở thành một thành viên của tăng chúng, trong Mật giáo, tôi là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật; trong Hiển giáo, tôi đã cạo đầu thành pháp sư Thích Liên Sinh, chính thức xuất gia. Vì kỳ vọng của tôi đối với tăng chúng, tôi không khinh thường tăng chúng, nên tôi mới xuất gia làm tăng!
Tăng chúng Thái Lan mong tôi răn dạy ngôn hành của các đệ tử, kêu gọi giữ giới luật, điều này cũng rất đúng đắn, bởi vì trong số các đệ tử, nếu không giữ giới luật, cũng sẽ bị người ngoài chỉ trích. Trước đây chỉ trích tăng chúng, giờ đây các đệ tử vẫn như vậy, đây là điều rất đáng hổ thẹn! Lời cầu nguyện của tăng chúng Thái Lan dành cho tôi, tôi chân thành tiếp nhận.
Và Liên Sinh Hoạt Phật cũng nguyện cầu cho các đệ tử, mong rằng đệ tử Chân Phật Tông sẽ giữ vững giới luật khi quy y ban đầu: Ngũ giới, Thập thiện, Sự sư pháp ngũ thập tụng, Mật giáo mười bốn đại giới, hy vọng đồng môn thông thuộc giới luật, ghi nhớ trong tâm, tu hành bình ổn, thực tu và kính thầy, mới có thể đạt được sự lĩnh ngộ. Phân biệt rõ phải trái. Tu trì chính pháp. Như vậy mới là pháp khí.
22. Sự linh nghiệm của pháp tướng trang nghiêm
Sư Tôn kính yêu!
Sau khi quy y, con trì tụng tâm chú Thượng sư, tu pháp tương ứng Thượng sư. Con bất ngờ có linh cảm về những sự việc sắp xảy ra, tâm trạng trở nên thoải mái lạc quan. Con thực sự biết ơn Sư Tôn đã truyền pháp, mang đến cho đệ tử rất nhiều khích lệ và niềm tin, đồng thời cũng giúp con giác ngộ và quyết định con đường tương lai của mình.
Sư Tôn gửi đến một bức pháp tướng trang nghiêm, đệ tử thành tâm cúng dường, bất ngờ xuất hiện những phản ứng kỳ diệu. Vợ con vốn không có tín ngưỡng tôn giáo, gần đây cũng siêng năng thắp hương lễ bái vì quá linh nghiệm. Giữa bạn bè, hàng xóm láng giềng, ai nghe nói đến khi gặp khó khăn đều hướng về pháp tướng Sư Tôn gieo quẻ thỉnh chỉ, hỏi về tài lộc, con cái, tuổi thọ, duyên phận, tất cả đều vô cùng linh nghiệm. Thậm chí hỏi về bệnh tật cũng có hiệu quả kỳ diệu. (Một ví dụ chữa bệnh, sau khi đệ tử tu pháp tương ứng Thượng sư, trong một lần cầu nguyện, con đã trình bày tất cả với Sư Tôn, khẩn cầu chữa trị, và bệnh đã khỏi.)
Mười một năm trước, đệ tử mê tín vào thuyết vô thần, thường tranh luận với người khác đến đỏ mặt tía tai. Cho đến khi 25 tuổi, con nhìn thấy hiện tượng không gian linh dị, đã có hai lần xuất hồn. Một lần con thấy cả một đoàn người mặc trang phục cổ, có ngựa quý, kiệu xe, tất cả được trang trí bằng vải màu xanh, hai vị âm thần dẫn đường và quỳ xuống đón con. Con thấy đó là hiện tượng âm gian, kinh hãi vô cùng, vội vàng né tránh bỏ chạy, trong chớp mắt tất cả biến mất không còn dấu vết.
Lần khác, con đến một nơi dường như quen thuộc, nhưng lại không nhớ ra. Con thấy một thị trấn nhỏ với bối cảnh chợ cổ, tất cả những gì con nhìn thấy đều là hồn ma. Một số hồn ma nhìn thấy con đến liền tránh xa như có điều e ngại, còn những ma không kịp tránh thì cúi đầu chào con. Khung cảnh này rất rõ ràng.
Đệ tử trong một lần bệnh nặng, nằm viện nửa tháng, phải phẫu thuật, trong lúc mê man, con nhìn thấy muôn vàn chư Phật Bồ Tát lấp lánh khắp trời, cùng với âm thanh mõ gỗ trong trẻo. Sau khi xuất viện, con chủ động tìm đến Phật giáo, cũng tìm hiểu một số môn phái của Đạo giáo, nhưng những điều họ nói, họ luận không thể thuyết phục được đệ tử. Thậm chí với một số môn phái giang hồ, đệ tử cũng tham gia quan sát, như bói toán tướng số, môn phái bí mật rất nhiều, ít người ngoài biết đến, con đã nhìn thấy mặt lừa đảo, và cũng học được cách phân biệt chiếc mặt nạ thật giả của bọn lừa đảo giang hồ.
Hiện nay ở Singapore, con đã tìm thấy Viên Chứng Đường, cũng tìm thấy Sư Tôn, và tìm lại chính mình, thật là xúc động quá, đệ tử từ nay không còn phải hoang mang nữa.
Kính chúc Phật an! Đệ tử Liên Hoa Đằng Phong kính bái. 15.08.1986.
🌟
Lá thư này được gửi từ Singapore. Đoạn đầu nói về sự linh nghiệm của pháp tướng trang nghiêm, đoạn sau nói về nhân duyên tin Phật.
Thực ra, mỗi khi Liên Sinh Hoạt Phật gửi đi một pháp tướng, hoặc khai quang tượng Thượng sư, đều sử dụng Chính báo ngũ luân pháp, nghĩa là, trước tiên phải tập trung tinh thần, dùng nội hỏa thiêu đốt năm luân xa, đưa bản thân vào trạng thái thân và cảnh đều tiêu tan, đây là một hiện tượng không tịch, trong cảnh giới viên minh không tướng rộng lớn vô biên đó, dòng pháp lưu toàn thân dồn dập chảy đến ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải, thông qua ngón trỏ và ngón giữa, pháp lưu trực tiếp rót vào tượng Thượng sư và pháp tướng trang nghiêm, khiến tượng Thượng sư và pháp tướng trang nghiêm này sinh ra pháp tính. Pháp tính này mắt thường tuy không nhìn thấy, nhưng lại có ánh sáng và năng lượng, chính là đặc trưng của dòng chảy pháp mang tính chung của năm luân xa.
Nói chung, khi tượng Thượng sư và pháp tướng trang nghiêm đến tay đệ tử, và đệ tử cung kính cúng dường, sẽ tạo ra một điểm tụ của ngũ luân pháp lưu. Do đệ tử tu tập pháp tương ứng Thượng sư, môi trường được hình thành, và nhờ ngũ trí mà ngũ luân xoay chuyển.
Khi ngũ trí làm xoay chuyển ngũ luân, pháp lưu sẽ tạo ra pháp lực, và người thờ cúng tượng Thượng sư cùng pháp tướng trang nghiêm sẽ cảm nhận được sự linh nghiệm của pháp lực.
Khi hỏi về tài chính, con cái, tuổi thọ, duyên phận, tất cả đều vô cùng linh nghiệm. Đối với những người cầu xin chữa bệnh, nhờ vào pháp lưu ngũ luân tạo ra pháp lực, họ tự nhiên cũng nhận được hiệu quả chữa trị kỳ diệu từ pháp lực thần bí. Hiện tượng này trong Mật tông chính là chư Phật mười phương, mỗi vị đều dùng pháp lưu thanh tịnh của mình, cùng nhau hỗ trợ động lực nguyên bản của pháp tướng trang nghiêm. Nếu hành giả Mật tông có thể tự mình tu luyện để đạt được trí lực tương ứng, sẽ cảm nhận được rằng chư Phật mười phương thực sự hiện diện trong pháp tướng trang nghiêm, đó là pháp tính viên mãn, là sự hòa hợp giữa chư Phật mười phương và pháp tướng trang nghiêm.
Theo Liên Sinh Hoạt Phật biết, người thờ cúng tượng Thượng sư và pháp tướng trang nghiêm được trải nghiệm sự linh nghiệm như vậy không phải hiếm gặp, không chỉ gây chấn động hàng xóm láng giềng mà còn gây chấn động toàn thị trấn, toàn thành phố, thậm chí còn hơn thế nữa, danh tiếng vang xa, đã có người xây dựng đền Liên Hoa Đồng Tử, hương khói thịnh vượng, bách linh bách nghiệm.
Liên Hoa Đằng Phong tự nói đã xuất hồn hai lần, theo tôi biết, tiền kiếp của Liên Hoa Đằng Phong là một vị quan chức âm phủ có lai lịch, chính là sứ giả Âm Hỏa Thánh Tôn, hai lần xuất hồn đều nhìn thấy cảnh tượng kiếp trước, thấy chư Phật Bồ Tát khắp trời, nghe tiếng mõ gỗ, đây là có duyên với Chân Phật, hy vọng anh ấy tu tập tốt, thực sự thành Phật.
Mỗi khi Liên Sinh Hoạt Phật gửi đi một pháp tướng trang nghiêm, đều đặc biệt sử dụng pháp chính báo ngũ luân. Thờ cúng tượng Thượng sư, thờ cúng pháp tướng trang nghiêm đều có hiệu nghiệm kỳ diệu. Tin tưởng và có bằng chứng. Ánh sáng mà Liên Hoa Đồng Tử tỏa ra khắp mười phương chính là ánh sáng vĩ đại phát ra từ mười phương Như Lai.
23. Sách thơm ơi sách thơm
Lư Sư Tôn tôn kính! Thưa Thượng sư, con chào thầy.
Vài tháng trước đệ tử đã nhận được pháp tướng quý báu của Phật A Di Đà do Sư Tôn gửi tặng, con vô cùng biết ơn! Gần đây chúng con đã mua nhiều tác phẩm mới của Sư Tôn. Con cảm thấy điều ý nghĩa nhất trong cuộc đời chính là được đọc sách của Sư Tôn. Con đã từng nói với Liên Hoa Dục Trí rằng: "Chúng ta thật may mắn và có phúc, được nhặt được những viên ngọc mani mà Sư Tôn đã gieo rắc." Liên Hoa Dục Trí nói: "Sự vĩ đại của Sư Tôn khiến tôi xúc động đến rơi nước mắt."
Nhớ lại tám năm trước, khi đệ tử lần đầu mượn về cuốn sách tâm linh của Thượng sư, con đặt nó trên bàn thờ trong phòng khách, lúc đó cả phòng khách tràn ngập mùi hương trầm (khi ấy không có ai thắp hương trầm cả). Đứa con trai nhỏ của con tìm kiếm nguồn của mùi hương, cậu bé mở cuốn sách của Thượng sư ra và ngạc nhiên gọi con: "Mẹ ơi! Mùi hương trầm phát ra từ cuốn sách này!" Thật kỳ diệu! Cả gia đình chúng con may mắn được ngửi thấy hương thơm từ sách của Thượng sư.
Nhờ hương thơm từ sách, khi con quỳ gối chắp tay niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm, bàn tay con tự động kết thành thủ ấn Bồ Tát, vô cùng tuyệt diệu, cảm ứng thù thắng. Hiện nay khi tu pháp, khí đã đọng lại ở thiên tâm, ấn đường phát sáng, con đã hiểu được sự tuần hoàn của khí.
Nhờ mùi hương trầm từ sách mà chúng con đã kết duyên với Phật pháp, chúng con cầu xin Thượng sư thường xuyên gia trì cho chúng con.
Kính chúc pháp an! Đệ tử Liên Hoa Tuyết Phân kính bái! 12.06.1986.
🌟
Lá thư này được gửi từ Malaysia.
Đã từng có người đến hiệu sách để mua sách, anh ta đứng trước tủ sách, ngửi thấy một mùi hương trầm nồng đậm, vì vậy anh ta lần lượt ngửi từng cuốn sách, thử từng cuốn, những cuốn sách khác đều không có mùi, chỉ có một cuốn sách tỏa ra mùi hương trầm, khi nhìn tên sách, đó là cuốn "Sự chứng ngộ của Thượng sư". Thật không ngờ cuốn "Sự chứng ngộ của Thượng sư" lại tỏa ra mùi hương trầm. Nhờ mùi hương trầm từ cuốn sách, anh ta đã đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật.
Ngoài ra, còn có câu chuyện về một chủ hiệu sách đến quy y còn kỳ diệu hơn. Hiệu sách của ông đã đóng cửa tắt đèn, ông đang chuẩn bị lên lầu đi ngủ, bỗng nhiên phát hiện trong hiệu sách có ánh sáng lớn lóe lên, ông cũng ngửi thấy một mùi hương trầm, ông nghĩ rằng đèn chưa tắt hết.
Khi trở lại hiệu sách, ông nhận ra đèn đã tắt hết, nhưng trong đống sách có một cuốn sách đang phát sáng, tỏa ra ánh sáng bạc trắng, lấp lánh. Ông bước đến gần, ánh sáng bạc trắng từ từ biến mất. Ông nhanh chóng cầm cuốn sách lên, sách tỏa ra mùi hương trầm, khi nhìn tên sách, đó chính là: "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp". Đây là lý do thực sự khiến chủ hiệu sách này đến quy y.
Có nhiều người, vì sách của Thượng sư có mùi hương trầm, đã đến quy y Thượng sư. Có nhiều người, vì sách của Thượng sư phát sáng, đã đến quy y Thượng sư. Có nhiều người hơn nữa, vì mơ thấy quy y Thượng sư, khi tỉnh dậy đã đến quy y Thượng sư. Chuyện này là sao?
Liên Sinh Hoạt Phật trong ánh sáng đại viên kính trí, lặng lẽ chuyển bánh xe pháp, nhờ vào sự phát tỏa của ánh sáng năm trí huệ, mười phương vũ trụ đều liên kết với nhau và tràn đầy khắp mười phương. Khi gặp chúng sinh có duyên, tức khắc một niệm kết duyên, từ sách tỏa ra hương trầm, từ sách phát ra ánh sáng.
Niệm vô niệm của Liên Sinh Hoạt Phật bao hàm tất cả các pháp duyên, hương trầm từ sách, ánh sáng từ sách đều là tùy cơ khởi dụng. Nhờ vào công đức tam mật của Liên Sinh Hoạt Phật, ngũ luân xoay chuyển, tùy cơ khởi dụng, tiếp nhận tất cả chúng sinh có duyên đến quy y, đây chính là sự huyền diệu của Yoga vô thượng.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, khi tu học Phật pháp, chúng ta cần có lòng tin, bởi Phật pháp thực sự là pháp môn huyền diệu của Yoga vô thượng. Dù đang đối mặt với nghịch cảnh, chúng ta không nên nản lòng, chỉ cần không tuyệt vọng, mười phương Như Lai sẽ có cảm ứng đến khích lệ, cuối cùng giúp ta phát huy được ánh sáng trong tâm. Đây chính là những ngọn đèn huyền diệu của Phật pháp.
Viết một bài thơ "Sách thơm ơi sách thơm": Hương trầm bỗng tỏa lan, Biểu thị sự tiếp dẫn tự nhiên, Thở khẽ và tìm kiếm Hóa ra là mùi sách thơm của Thượng sư.
Sách thơm ơi sách thơm Bỗng có ánh hào quang xuất hiện lan tỏa khắp nơi, Chiếu rọi vào lòng người, Phát huy sức mạnh viên mãn và huyền diệu.
24. Đại nguyện thay chúng sinh chịu khổ chịu bệnh
Kính thưa Thượng sư Thắng Ngạn. Về việc: Phát nguyện trọn đời thay chúng sinh chịu khổ chịu bệnh, và theo chân Thượng sư hình thành một "biển công đức gánh bệnh khổ" (tương tự như ngân hàng máu), để Thượng sư có nhiều nguồn lực giúp chúng sinh tiêu trừ nghiệp nặng.
Đệ tử đã ấp ủ tâm nguyện này suốt mấy tháng qua. Sau khi cân nhắc kĩ lưỡng, con quyết tâm viết thư trình bày, mong dùng lời thề nguyện này làm món quà mừng thọ, hàng năm tự động chúc mừng Thượng sư.
Hiện con xin chia thành ba phần: Động cơ, Thỉnh cầu và Phương hướng tu trì, lần lượt báo cáo như sau:
I. Động cơ phát tâm:
Những năm gần đây, trên báo chí thường thấy đưa tin về các thảm kịch gia đình, chẳng hạn như:
⑴ Con cái thiểu năng trí tuệ hoặc mắc bệnh bẩm sinh, không thể tự chăm sóc bản thân, cần người chăm sóc chuyên nghiệp vô thời hạn. Không chịu nổi áp lực kinh tế, người thân đã đẩy họ từ tầng cao xuống, tử vong trong tình trạng thảm thương.
⑵ Cha mẹ hoặc người thân bị đột quỵ, liệt, không thể di chuyển, phải do con cái chăm sóc vô thời hạn. Không chịu nổi áp lực về kinh tế và thời gian, thậm chí đã dùng búa lớn đánh chết họ.
Những sự việc như vậy thật không nỡ đọc hết. Xét về nguyên nhân, là do cơ sở phúc lợi chưa hoàn thiện, dân số quá đông, và kinh tế các gia đình thông thường đều eo hẹp. Người mắc bệnh bẩm sinh đã nhận nghiệp báo từ ác nghiệp, còn người thân chăm sóc lại giết họ, tạo thành ác nghiệp khác, từ đó hình thành vòng luẩn quẩn "vì ác nghiệp khởi ác nghiệp", thực sự cần phải phá vỡ vòng luẩn quẩn ác nghiệp này.
II. Động cơ phát tâm thứ hai:
Đệ tử sinh không gặp thời, gặp phải thời kỳ đại động loạn ở Trung Quốc, mang quan niệm Nho sĩ rất mạnh, từng lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình. Hơn ba mươi năm trước, vợ con ly tán, đệ tử rời xa gia đình quê hương không vì lý do nào khác ngoài việc tìm kiếm lý tưởng cứu đời. Nay nhờ Thượng sư dẫn dắt, chuyên tâm hướng Phật, nhưng tuổi đã già, thật hổ thẹn với kiếp luân hồi này, không có gì cống hiến. Tự biết ngày tháng không còn nhiều, không đủ sức khỏe để làm công việc thực tế, điều có thể làm chính là phát tâm nguyện này, thay người khác chịu bệnh khổ để tiêu trừ nghiệp chướng cho họ.
Điều mong cầu không phải là tức thân thành Phật, chỉ mong khi vãng sinh, không hổ thẹn với lương tâm, chỉ thế thôi, chỉ thế thôi!
III. Thỉnh cầu:
Kính mong Thượng sư cho phép đưa đệ tử vào hệ thống chịu thay bệnh thay khổ. Nếu có ai mang định nghiệp mà đáng được chịu thay, nhằm tránh vòng luẩn quẩn ác nghiệp, xin tự động để đệ tử chịu thay khổ thay bệnh cho họ. Đệ tử sẽ chuyên tâm tinh cần tu pháp, hy vọng tích lũy được công đức để dùng vào việc chịu thay bệnh thay khổ.
IV. Phương hướng tu trì:
Đệ tử sẽ chuyên tâm chuyên ý hồi hướng theo hướng này. Một mặt dùng viết văn để hoằng pháp bằng văn tự, mặt khác dùng chịu thay bệnh thay khổ để đóng góp thiết thực cho cuộc đời. Cả hai đều là pháp cúng dường.
Nếu đệ tử không thoái đạo tâm, chuyên tâm thực hiện pháp cúng dường này, có lẽ cũng phần nào tương ứng với mục đích chuyển thế đến cõi Ta Bà này của Thượng sư, điều này không thể biết trước.
Tha thiết mong Thượng sư thành toàn tâm nguyện của đệ tử. Kính chúc từ an. Đệ tử Liên Lại đảnh lễ. 20.06.1986.
🌟
Lá thư này được gửi từ Hồng Kông, chính là do Thượng sư Liên Lại viết. Ông đã phát một đại nguyện: "Đại nguyện thay chúng sinh chịu bệnh chịu khổ".
Thượng sư Liên Lại đã nhận ra căn bệnh phổ biến của con người hiện đại, chỉ biết ích kỷ, thiếu tình thương, cũng thiếu sự kiên nhẫn, nhưng tinh thần của chư Phật Bồ Tát là từ bi đối với chúng sinh. Liên Lại đã tự nguyện chủ động phát nguyện thay chúng sinh chịu bệnh chịu khổ, đây là loại đại nguyện mà người thường rất khó thực hiện được.
Đây không chỉ là không được gây tổn hại cho người khác, không chỉ là phải nhẫn nhịn lẫn nhau, mà còn phải thay người khác chịu khổ đau và bệnh tật, đây là sự phát triển từ "yêu bản thân" thành "yêu chúng sinh".
Khi nhận được lá thư này, tôi cũng vô cùng xúc động. Để thay chúng sinh chịu bệnh chịu khổ, cũng có phương pháp tu trì Mật tông — Vào mật đàn. Ngồi ngay ngắn. Niệm chú: "La-ru pô-ua-tua sa-bô-ta-mua." Đây là chú thanh tịnh đại địa. Niệm chú: "Ôm sa-bô-sa-bô su-thua sa-bô-ta-mua." Đây là chú gia trì sự tịch tĩnh của đại địa. Bản thân hòa nhập vào đại địa. (quán tưởng) Niệm chú: "Ôm bô-rư-lu-ti-sưa-cha hùm."
Hãy quán tưởng tất cả chư Phật từ trong chính định đứng dậy, bay vào không gian, trên bầu trời của đại địa hiển hiện biển ánh sáng vĩ đại. Hành giả Mật tông đứng thẳng, chắp tay, hướng về biển ánh sáng vĩ đại, thực hiện pháp đại lễ bái. Miệng tụng: "Con kính dâng thân mình, cúng dường các Như Lai, để thay thế chúng sinh, chịu khổ và chịu bệnh, con nay hiến thân mình, nguyện tất cả Như Lai, hộ chúng sinh đại địa." Tiếp theo tu trì pháp Bổn tôn, dùng Bổn tôn Kim Cang Thủ phóng ánh sáng (ánh sáng trắng), chạm vào đối tượng cụ thể cần chịu thay. Cát tường viên mãn.
Viết một bài thơ hiện đại để ghi lại việc này:
Đại nguyện thay chúng sinh chịu khổ chịu bệnh
Nguyện ước dưới ngọn đèn đơn độc Chỉ mong hóa thành nghìn vạn ngọn đèn. Bộ râu dài của Thượng sư Liên Lại Phất phơ như tư tưởng thần tiên. Đồng hành cùng người đời, Đồng hành cùng đại địa, Từ bi chính là không phân biệt ta người.
Giữa cơn mưa phùn gió lạnh tịch mịch, Tôi phải cất tiếng gọi thật to, cất tiếng gọi thật to.
Bước đến tuổi già rồi, Cuối cùng đã nhớ đến cõi nhân gian! Rất muốn học tập ánh sáng của Đại Nhật, Như cưỡi một con tuấn mã bay vút qua vũ trụ, Xuyên qua lòng người, Đến được mọi góc khuất đầy mạng nhện.
(Ghi chú: Thượng sư Liên Lại, ông để râu, râu không đen không trắng, là màu xám, là giáo sư Đại học Hồng Kông, mang quốc tịch Canada.)
25. Tiếng lòng của người chặt ngón tay
Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật!
Đệ tử cầu xin quy y và quán đảnh, đã vào ngày mùng 1 quỳ hướng về phương Đông, cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn, quy y Chân Phật, và tụng chú quy y.
Từ hơn mười năm trước, mỗi khi Thượng sư xuất bản sách mới, con đều đọc, cảm thấy vô cùng xúc động và hoan hỷ, vì vậy mỗi khi đến hiệu sách, con đều hỏi: "Có sách mới của Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn không?" Mỗi khi gặp bạn tâm giao, con đều nhắc đến pháp lực vô biên của Hoạt Phật và những thánh tích độ người khi ngài giáng thế. Đệ tử quảng truyền việc Hoạt Phật cứu đời, không cầu chi, không vì điều gì, chỉ dùng hết khả năng của đệ tử nhắc nhở mọi người nên học Phật, nên làm điều thiện, chỉ đơn giản hết lòng mà thôi.
Khi mua và đọc xong cuốn sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" do Hoạt Phật viết, đệ tử đã khóc, khóc vì vừa buồn vừa vui, vô cùng xúc động. Cầm pháp tướng trang nghiêm của thầy trong sách, đệ tử đã đảnh lễ một lần nữa trước pháp tướng, vừa lạy vừa khóc. Hoạt Phật ơi! Người đời không thể hiểu được tâm trạng của đệ tử lúc này, con sâu sắc tin rằng, trên thế gian này không ai từ bi hơn Hoạt Phật.
Con khóc và đảnh lễ vì hai lý do:
Thứ nhất, bởi vì bây giờ con hiểu rõ hơn rằng ân đức của Hoạt Phật thật vĩ đại và vô cùng vị tha, thầy hiển hiện khắp nơi để cứu đời độ người, nhưng thường xuyên phải chịu sự chỉ trích và phỉ báng từ những người ích kỷ và đố kỵ. Tuy nhiên, những người chỉ trích và phỉ báng đó nên tỉnh ngộ, bởi vì Hoạt Phật là bậc giác ngộ, có cảnh giới thực sự, tỏa ánh sáng mười phương, là cơ hội nghìn năm khó gặp, họ nên hối cải và quy y Chân Phật. Tất cả pháp sư và Thượng sư đều nên quy y Chân Phật, nếu tiếp tục không phân biệt đúng sai, thực sự là trời đất khó dung.
Thứ hai, đệ tử là người đã chặt ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa bên phải). Đệ tử hiểu rõ nghiệp chướng của mình sâu nặng, khi đi học pháp ở mọi nơi đều bị khinh thường, biển khổ vô biên. Trong Mật tông, người chặt ngón tay không thể quy y, vì không thể học thủ ấn, thực sự cảm thấy vô cùng đau khổ. Nhiều Thượng sư đều nói rằng, người chặt ngón tay nghiệp chướng sâu nặng, không được học Mật pháp. Nhưng Hoạt Phật đặc biệt gỡ bỏ điều cấm kỵ này, nói rằng người chặt ngón tay vẫn có thể học Mật tông, dùng quán tưởng để kết ấn. Vì vậy đệ tử đã khóc, khóc vì cuối cùng mình có thể tu tập Mật tông, rồi lại nghĩ đến vận mệnh gập ghềnh của mình, giờ đây gặp được minh sư, càng khóc nức nở.
Hoạt Phật, lòng ngưỡng mộ của đệ tử đối với thầy không thể diễn tả hết bằng bút mực, không thể nói hết bằng vài lời vài chữ. Giờ đây đã quy y Chân Phật, mong thầy chỉ dạy đệ tử học Phật. Con không phải là nhân vật lớn, nhưng nếu nói về Phật pháp, con có tấm lòng chân thành, hàng ngày con lễ Phật, hàng ngày con niệm Phật không thua kém ai.
Kính xin chỉ dạy. Kính chúc mang phước lành đến vạn dân, lập tông cho muôn đời. Đệ tử Liên Hoa Văn Hùng quỳ lạy. 10.06.1986.
🌟
Đây là tiếng lòng của một đệ tử chặt ngón tay quy y.
Tôi dạy những người chặt ngón tay này khi tu pháp hãy niệm: "Nguyện tất cả Như Lai, lấy tính Bồ Tát gia hộ con; Nguyện tất cả Như Lai, ban cho con quán đảnh kim cang bảo; Nguyện tất cả Như Lai, vì con chuyển pháp luân; Nguyện tất cả Như Lai, vì con làm sự nghiệp kim cang." Niệm chú: "Ôm bô-rư-la u." Quán tưởng thân mình hóa thành pháp tướng trang nghiêm nhất của tất cả Như Lai. Quán tưởng thủ ấn trong không trung lần lượt biến hóa. Sau đó tu tập theo pháp bản "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng học tập Phật pháp không có đẳng cấp, khi Phật Thích Ca Mâu Ni truyền dạy Phật pháp luôn phá bỏ giai cấp. Lúc bấy giờ ở Ấn Độ, quan niệm giai cấp kiên cố không thể phá vỡ, chia làm bốn đẳng cấp lớn, nhưng Phật pháp đã phá bỏ đẳng cấp, Phật pháp là bình đẳng không phân biệt. (Bốn đẳng cấp: Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Phệ-xá, Thủ-đà-la.)
[Hệ thống 4 đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại được gọi là Varna. Đây là một hệ thống phân chia xã hội dựa trên nghề nghiệp và vai trò trong xã hội, bao gồm: Brahmin (Bà-la-môn): Tầng lớp đứng đầu, bao gồm các giáo sĩ, thầy tu và học giả. Họ được coi là những người có tri thức và tinh thần, có nhiệm vụ truyền bá và bảo tồn các kinh sách tôn giáo. Kshatriya (Sát-đế-lợi): Tầng lớp cai trị và chiến binh. Họ là những người đứng đầu triều đình, quý tộc và quân đội. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ đất nước và duy trì trật tự xã hội. Vaishya (Phệ-xá): Tầng lớp thương nhân, nông dân và thợ thủ công. Đây là những người đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, sản xuất và buôn bán. Shudra (Thủ-đà-la): Tầng lớp thấp nhất, bao gồm những người lao động, người hầu và tá điền. Họ phục vụ cho ba đẳng cấp trên và làm các công việc nặng nhọc, vất vả.
Ngoài ra, còn có một tầng lớp nằm ngoài hệ thống Varna được gọi là Pariah (hay Dalit), còn gọi là "người không thể chạm tới". Họ bị coi là những người thấp kém nhất, làm những công việc bị xã hội khinh miệt như dọn vệ sinh, xử lý xác chết. Dù đã bị chính phủ Ấn Độ bãi bỏ về mặt pháp luật, nhưng hệ thống đẳng cấp này vẫn còn tồn tại trong một số khía cạnh của đời sống xã hội ở Ấn Độ.]
Mật tông có nguồn gốc từ Ấn Độ, và các giới luật của nó vô cùng nghiêm ngặt, phân biệt đối xử với người khuyết tật, cho rằng họ mang nghiệp chướng sâu nặng và không được học Mật pháp. Nhưng thời đại ngày nay đã thay đổi, hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ đã cần phải bị phá bỏ từ lâu. Đối với người khuyết tật, chúng ta cần phải đồng cảm và quan tâm hơn. Người có thân tâm khỏe mạnh nên giúp đỡ những người có điểm yếu và thiếu sót, đây là đạo đức công cộng hiện đại mà mỗi người nên có.
Người khuyết tật thường đặc biệt nhạy cảm với khiếm khuyết của mình, do đó họ phải chịu đau khổ vô cùng, thậm chí tuyệt vọng với cuộc sống, tâm lý tự ti quá nặng nề, đánh mất niềm tin rất nhiều. Như vậy, họ đã đủ đáng thương, trong khi Mật tông là một nhánh của Phật pháp, việc người khuyết tật không được phép tu tập Mật pháp tất nhiên là một tập tục lỗi thời.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng chim chóc thú vật đều có Phật tính, nếu học Phật vẫn có thể thành Phật, người khuyết tật là con người đường hoàng chính đáng, làm sao có thể không được học Mật tông?
Giới luật của Mật tông cũng cần phải được sửa đổi theo sự thay đổi của không gian và thời gian. Bởi vì thời đại đã khác, Chân Phật Tông của chúng ta càng phải chào đón người khuyết tật đến tu tập Chân Phật Mật Pháp, Liên Sinh Hoạt Phật đảm bảo ngày ngày tu tập vẫn có thể vượt thẳng đến cõi Phật, tức thân thành Phật.
Vì tôi phá bỏ tập tục lỗi thời, đương nhiên cũng có một số Thượng sư muốn chỉ trích phỉ báng tôi, nhưng tôi nắm giữ chân lý, những lời chỉ trích phỉ báng đó căn bản không đáng sợ chút nào.
26. Giấc mơ lạ sau khi thọ giới
Kính gửi Kim cương Thượng sư.
Chào thầy! Con xin một lần nữa cảm ơn sự gia trì của Thượng sư, giúp cho phu nhân của con Liên Hoa Hạnh Linh có thể thuận lợi vào làm việc tại bưu điện.
Lần này được cùng với sư huynh Hoàng Ngọc Đường đến tham dự pháp hội siêu độ, có diễm phúc được lắng nghe Sư Tôn khai thị thuyết pháp và truyền dạy pháp rung cây tiền chưa từng được nghe qua, có thể nói là pháp duyên thù thắng, cơ hội hiếm có trong đời người. Thêm vào đó còn được thọ Bồ Tát giới, quen biết Thượng sư Liêu Ngọc Tồn đồng hương (quê gốc ở Đại Thảo Phố, Mỹ Sơn, Gia Nghĩa), có thể nói là thu hoạch rất phong phú. Đặc biệt từ khi thọ giới, cuộc sống càng thêm cẩn trọng, chỉ sợ thân, khẩu, ý có điều phạm giới, con đường tu đạo quả thật trách nhiệm nặng nề, đường đạo xa vời.
Sau pháp hội này, vào ngày 31 tháng 8, đệ tử cùng với Hoàng Ngọc Đường và những người khác đã thọ Bồ Tát giới. Đêm đó khi trở về khách sạn nghỉ ngơi, đệ tử đã có một giấc mơ kỳ lạ. Đệ tử không hiểu ý nghĩa của nó nên một lần nữa xin thỉnh giáo Sư Tôn. Giấc mơ này rất rõ ràng và kỳ lạ, nhưng cũng rất đáng sợ, diễn biến như sau:
Trong một màn đêm tối đen, có hai người mặc đồ đen, trang phục giống như ninja, sử dụng phi tiêu, ném từ trái sang phải. Những phi tiêu bay như sao băng, nhắm thẳng vào mặt đệ tử. Trong ý thức, đệ tử cảm thấy hai ninja này muốn giết đệ tử. Đệ tử né tránh qua lại, nhưng hai ninja này vẫn liên tục ném phi tiêu.
Trong tình huống khẩn cấp, đệ tử bỗng nhiên ngã xuống, và sau khi ngã, đột nhiên thấy hai tay mình, mỗi tay đang nắm chân của một đứa trẻ nhỏ trắng trẻo mập mạp. Khi ninja đuổi theo, lại ném phi tiêu, đệ tử chỉ còn cách giơ đứa trẻ lên để tránh phi tiêu, vô cùng căng thẳng.
Ngay lúc đó, hai ninja tiến lại gần, áp sát rất gần, hai ninja rút kiếm samurai, đúng là khoảnh khắc sinh tử, và không xa xuất hiện một người, thực ra đệ tử chỉ nhìn thấy nửa thân trên, đầu trọc, ngực trần, xương sườn lộ ra từng cái một, rất giống một vị tăng khổ hạnh, hoặc là một trong 18 La Hán. Đúng lúc hai ninja vung kiếm định đâm tới, đột nhiên cả hai đứng bất động, đứng chết trân tại chỗ, hóa ra vị La Hán kia không biết từ phía sau đã bắn ra thứ ám khí gì, khiến cả hai ninja đứng im, máu tươi bắt đầu chảy từ miệng, mắt vẫn trừng trừng nhìn đệ tử, dần dần ngã xuống chết.
Đệ tử không thấy vị La Hán đã cứu mình tiến đến, vị La Hán ấy vẫn luôn xuất hiện ở đằng xa phía trước, lúc này đệ tử mới giật mình tỉnh giấc, nhìn ra trời đã sáng. (Đệ tử và đứa trẻ trắng trẻo mập mạp đều không bị thương, chỉ là hoảng sợ.)
Đối với giấc mơ kỳ lạ này, đệ tử chỉ đoán là liên quan đến nghiệp chướng, mong được Sư Tôn khai thị.
Kính chúc cát tường như ý. Đệ tử Liên Hoa Kiến Thịnh chắp tay. 12.09.1986.
🌟
Lá thư này được gửi từ Houston, Texas, Hoa Kỳ.
Sự phân tích của tôi về giấc mơ lạ này như sau: Hai ninja — Hai ninja này không vô cớ tìm người để giết, chắc chắn có mối thù hận sâu sắc. Hai ninja chính là nghiệp chướng từ tiền kiếp của Liên Hoa Kiến Thịnh, luôn theo sát, chờ đợi cơ hội hành động, với mục đích tấn công đối phương.
Đứa trẻ trắng trẻo mập mạp — chính là giới Bồ Tát. Cần biết rằng thọ giới giống như "bảo vệ trẻ sơ sinh". Phải bảo vệ sự an toàn của trẻ sơ sinh, không để bị va chạm hay tổn thương, thường xuyên hộ trì giới luật, như chăm sóc trẻ sơ sinh, theo dõi sự phát triển và khỏe mạnh của nó, không để giới Bồ Tát yểu mệnh giữa đường, giới Bồ Tát cần được trông nom thường xuyên.
La Hán — chính là biểu tượng của Phật. La Hán chính là A La Hán, ý nghĩa thực sự là sát tặc, ứng cúng, bất sinh. Sát tặc không phải là giết người, mà là giết kẻ trộm phiền não. Ứng cúng thể hiện vị ấy xứng đáng nhận sự cúng dường cao nhất của chư thiên và nhân loại. Bất sinh chính là không còn chịu nỗi khổ của vòng luân hồi sinh tử.
La Hán có đầy đủ tam minh lục thông, theo lệnh của Phật Đà, dùng sức thần thông của mình để bảo vệ chính pháp, hộ trì các đệ tử đã thọ giới Bồ Tát.
Các vị La Hán dưới trướng Phật Thích Ca Mâu Ni bao gồm: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Sưu La Đà, v.v.
Ngoài những vị La Hán này còn có nhiều vị La Hán khác chưa nhập diệt, họ cư trú tại Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Bắc Câu Lư Châu, Nam Diêm Phù Đề, hoặc ở trên trời trong núi, mỗi vị đều bảo hộ Phật pháp tại khu vực của mình.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Liên Hoa Kiến Thịnh có nghiệp chướng từ kiếp trước, sau khi thọ giới Bồ Tát, nghiệp chướng kiếp trước hóa thân đến gây rắc rối, và vị La Hán đại diện của Phật là Bạt Ni La Tôn Giả để bảo hộ đệ tử đã thọ giới đã vội vàng đến cứu anh ấy, Bạt Ni La Tôn Giả với xương sườn lộ ra trên ngực.
Bài viết về giấc mơ kỳ lạ sau khi thọ giới này rất có ý nghĩa. Giới như trẻ sơ sinh, dễ thọ khó giữ. Người giữ giới, Phật ắt hộ trì. Nghiệp chướng tiêu trừ, tất cả thanh tịnh, nhất định thành tựu.
27. Trang Nghiêm Đường và Diệu Hoa Đường
(Trang Nghiêm Đường ở Đài Bắc là một đạo tràng được Liên Sinh Hoạt Phật trân quý nhất, thường xuyên tỏa ánh hào quang. Vào ngày 24 tháng 6 năm 1986, trong buổi lễ mừng sinh nhật ngày 18 tháng 5 âm lịch của Liên Sinh Hoạt Phật, Ngài đã dùng hào quang ngũ sắc gia trì cho các đệ tử, và ngay khoảnh khắc đó, một tấm ảnh quý giá ghi lại được hào quang ngũ sắc. Trang Nghiêm Đường sẽ kết nghĩa chị em với Đại Quán Đường ở bang Johor, Malaysia, và trong tương lai, Trang Nghiêm Đường chắc chắn sẽ trở thành trung tâm liên lạc của Chân Phật Tông trên toàn thế giới.)
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, ngoài Trang Nghiêm Đường ở Đài Bắc, các phân đường ở những nơi khác cũng thường xuyên được hào quang của Liên Sinh Hoạt Phật giáng lâm chiếu sáng. Hiện nay xin đưa ra hai bức thư làm bằng chứng:
Kính gửi Sư Tôn Lư, Om mani padme hum.
Pháp hội siêu độ tổ tiên và oan thân trái chủ của lễ Trung Nguyên năm Bính Dần đã kết thúc viên mãn vào ngày 24 tháng 8. Những người tham dự và tổ tiên được siêu độ đều rất vui mừng và mãn nguyện.
2000 cân gạo mua cho pháp hội này đã được dùng để cúng dường cho trại trẻ mồ côi, viện người khuyết tật, viện dưỡng lão, và những người già neo đơn do ủy ban thành phố giới thiệu, tất cả đều nhân danh "Quỹ Từ Thiện Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn".
Kèm theo thư này là danh sách người quy y và những bức ảnh ánh sáng gia trì của chư Phật Bồ Tát mà đệ tử đã chụp được trong buổi hộ trì pháp hội, cùng với một báo cáo chứng kiến của sư huynh Lâm Quốc Khánh. Tại đây, chúng con vô cùng cảm tạ Sư Tôn đã ban ánh sáng linh thiêng đến gia trì pháp hội, và đã dùng Mật pháp cứu độ trung ấm để giúp tất cả tổ tiên vãng sinh về Ma Ha Song Liên Trì.
Trong pháp hội này đã xuất hiện nhiều điều kỳ diệu, nay xin báo cáo với Sư Tôn và cung cấp thư chứng kiến như sau: Đường Chủ — nhìn thấy nghìn vị Phật phóng quang gia trì. Lâm Quốc Khánh — nhìn thấy Liên Hoa Đồng Tử (Liên Sinh Hoạt Phật mặc áo hải thanh) quang lâm hội trường, dùng Mật pháp cứu độ trung ấm, để độ các vong linh vãng sinh. (Lâm phu nhân cũng nhìn thấy Hoạt Phật, cả hai đều quy y lần này.) Trác Ưu Cận — nhìn thấy tổ tiên (ông nội) đến trước mặt cô ấy, nhìn thấy nửa thân trên. Diệp Trung Hùng — nhìn thấy nhiều gương mặt người xuất hiện trên không trung của hội trường để tham gia pháp hội. Ngô Tú Anh — nhìn thấy tổ tiên của cô lần lượt hiện ra, và chữ "Diệp" của nhà họ Diệp hiện ra trước mắt. Kha Tú Hà — nhìn thấy tổ tiên, hình ảnh rất rõ ràng. Ngô Từ Ngân — nhìn thấy ánh sáng đỏ từ đàn thành chiếu đến toàn bộ hội trường, ánh sao phủ khắp không gian. Dương Thục Mai — được linh quang bao trùm, đứng trước đàn tràng diễn hóa thủ ấn.
Trong pháp hội, nhiều người không kìm được xúc động mà rơi nước mắt, thật vô cùng thù thắng, cảm tạ Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát đã gia trì.
Kính chúc Phật an! Liên Mính chắp tay. Liên Huyên ghi chép 03.09.1986.
(Đính kèm: Thư của ông Lâm Quốc Khánh)
Kính gửi Đại Thánh Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư.
Con xin tán thán lòng từ bi và thần lực linh nghiệm của Thượng sư, con đã được tham dự pháp hội siêu độ Trung Nguyên tổ chức tại Diệu Hoa Đường vào ngày 24 tháng 8, trong pháp hội con đã cảm nhận được nhiều điều thù thắng đặc biệt, nên viết thư này để báo cáo.
Đệ tử đã ngưỡng mộ Thượng sư từ lâu, nhưng vẫn đứng ngoài cửa (chưa quy y), mãi đến 10 ngày trước con mới lấy hết can đảm dẫn theo vợ đến Diệu Hoa Đường đăng ký, thỉnh cầu Thượng sư thu nhận cho quy y.
Vì ban đầu không có ý định tham dự pháp hội, lại không hiểu rõ về tiến trình pháp hội, nên trong lúc lễ bái con đã thấy nhiều cảnh tượng kỳ lạ, vô cùng kinh ngạc, tất cả đều được ghi lại dưới dạng ghi chú như sau:
-
Trước buổi pháp hội, khi đang lễ bái trong Phật đường, con đã cảm nhận được ánh sáng đỏ tràn ngập khắp Phật đường.
-
Khi dựng pháp đàn, lúc lễ bái Phật A Di Đà, con cảm nhận được xung quanh Phật có một vùng ánh sáng vàng kim.
-
Khi con đứng trước bài vị, tụng niệm thánh hiệu và tâm chú Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai bỗng nhiên phóng quang, từ hào quang tròn phía sau hiện ra nhiều hóa Phật, mỗi vị đều đưa tay ra tiếp dẫn các vong linh.
-
Con đã thấy Thượng sư Liên Sinh quang lâm pháp hội hai lần. Lần thứ nhất, gương mặt hiện rất rõ ràng, mặc hải thanh màu đen (phu nhân con cũng nhìn thấy); lần thứ hai, mũ miện đỏ hiện rõ hơn, cũng mặc hải thanh màu đen, xuất hiện ở góc chéo phía trên của Đại Nhật Như Lai, và điều càng thù thắng hơn là Đại Nhật Như Lai bỗng bay đến gương mặt của Thượng sư, khiến diện mạo của Thượng Sư đột nhiên biến thành gương mặt của Đại Nhật Như Lai.
-
Nhìn thấy một cái lò, lửa Hộ Ma đang cháy, lửa ấy bỗng hóa thành hoa sen đỏ của mũ miện Thượng sư.
-
Khi mọi người cùng pháp sư xướng lên thánh hiệu A Di Đà Phật, những thánh hiệu này đi vào từ đỉnh đầu, bất ngờ trước ngực con xuất hiện ánh sáng đỏ xung thẳng lên đỉnh đầu, khi xung đến cổ họng tự động phát ra thánh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, hòa nhập với tiếng tụng của mọi người. (Lúc đó con chỉ đang niệm thầm.)
-
Nhìn thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát.
-
Phu nhân con nhìn thấy một vị pháp sư mặc hải thanh màu đen, tay cầm cờ vàng, đang tiếp dẫn một nhóm các vong linh đội mũ nhọn trắng, mặc áo trắng.
-
Xuất hiện một thành lũy góc cao chót vót, Đại Nhật Như Lai phóng ánh sáng xanh phá hủy, hiện ra rất nhiều u linh màu đen, lúc này trên không trung hiện ra một bàn tay lớn, tay nâng đĩa lưu ly trong suốt, đựng tất cả các vong linh.
-
Nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát ntừ không trung bay đến, vô cùng nhanh chóng tuyệt diệu, tay phải cầm cành dương liễu rải cam lộ khắp nơi. ………
Đệ tử từng học Mật pháp.
Khi lễ bái vận khí cúng dường chư Phật, ánh sáng vàng kim xung lên từ đỉnh đầu, hóa thành hoa sen vàng nghìn cánh, trong hoa sen sinh ra một viên ngọc tròn sáng màu vàng trắng, cúng dường vô tận vô lượng thế giới, vô tận vô lượng chư Phật.
Đệ tử ở nhà thờ cúng một tôn tượng Đại Nhật Như Lai, một tôn tượng Bất Động Minh Vương, một tôn tượng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, một tượng đồng Liên Sinh Thượng Sư.
Hiện nay đệ tử chỉ có thể nói với người rằng: Hồng Quán Thánh Miện Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư là Thượng sư của con, thế là nguyện đã thành!
Kính chúc tông môn rạng rỡ. Chúng sinh sớm lìa khổ được niềm vui không khổ. Lâm Quốc Khánh - Trần Nguyệt Trinh.
Trang Nghiêm Đường sẽ là trung tâm liên lạc của thế giới, hào quang Phật pháp lan tỏa khắp nơi. Diệu Hoa Đường thần tích liên tiếp, thường xuyên phóng quang, tiếp dẫn độ chúng sinh.
Những điều này đều vô cùng thù thắng. Trong tương lai, Liên Sinh Hoạt Phật có kế hoạch tập hợp các tấm ảnh phóng quang của Chân Phật Tông trên toàn thế giới để xuất bản một cuốn sách "Liên hoa phóng quang", với phụ đề là "Tuyển tập ảnh phóng quang của Chân Phật Tông thế giới". Khi cuốn sách này được xuất bản, nó sẽ càng thể hiện sự thù thắng của Chân Phật Tông, được chư Phật Bồ Tát mười phương cùng hộ trì.
Viết một bài kệ ghi lại: (bài kệ này có tên của bốn Phật đường) Nhập Phật Tam Muội ắt thấy quang, Nhìn vào thanh tịnh Diệu Hoa đường; Trang Nghiêm thù thắng trong tỉnh thức, Chân Phật tương lai có Đại Quán.
28. Niềm tin trúng thưởng
Thượng sư Lư Thắng Ngạn, Phật an!
Phật tử Liên Hoa Đạt Dương, được hồng ân của Liên Sinh Hoạt Phật thu nhận làm đệ tử quy y, vô cùng cảm kích. Phật tử ngày đêm tinh tấn tu tập công khóa, cuối cùng đã nhận được phước trời.
Singapore mỗi thứ Bảy, Chủ nhật đều có đua ngựa, quay số chữ Vạn. Vào ngày 10 tháng 8 này, con đã trúng giải nhất, trúng chữ Vạn (ở địa phương gọi là bốn số), tức là bốn con số, mua chỉ với rất ít tiền, nhưng tiền thưởng rất lớn. Đây là cảm ứng của việc quy y Hoạt Phật mà được phước trời, ánh sáng của Hoạt Phật quả thật chiếu soi nhân gian. Có được phước trời như vậy, con nhất định sẽ theo lời dạy của Thượng sư, càng tinh tấn tu tập công khóa, con tin rằng người thành tín ắt sẽ được chư thiên ban phúc.
Đệ tử chọn bốn con số này là có nhân duyên, bốn số đó là 6-9-1-0. Đệ tử đã trở thành đệ tử quy y của Chân Phật Tông vào ngày 9 tháng 6 năm nay, ngày 9 tháng 6 này là ngày ghi trên giấy chứng nhận quy y, và lệ phí quy y cúng Phật của đệ tử là gửi 10 đồng. Đệ tử bỗng nảy ra ý tưởng, đem ngày tháng trên giấy chứng nhận quy y cộng với lệ phí cúng dường thành 6-9-1-0, không ngờ lại trúng giải nhất.
Điều trùng hợp hơn nữa là, đệ tử ghi nhớ ngày 9 tháng 6 là ngày vui mừng lớn khi quy y, trong một tháng rưỡi của trò chơi quay số chữ Vạn, đã có hai lần xuất hiện 6-9-1-0, một lần xuất hiện 6-9-6-9, tất cả những điều này đều là những điều kỳ diệu xảy ra sau khi nhận được giấy chứng nhận quy y.
Do đệ tử thất nghiệp, ở nhà không có việc làm, số tiền trúng thưởng lần này có thể thanh toán hết tiền nợ thuê nhà, tiền điện nước, bố thí cho các tổ chức từ thiện, cúng dường Hoàng Tài Thần, Tứ Thủ Quan Âm, cúng dường Thượng sư, v.v.
Đệ tử đã có được "niềm tin trúng thưởng", biết rằng Liên Sinh Hoạt Phật quả nhiên pháp lực khắp nơi, ánh sáng chiếu soi nhân gian, trong tương lai không xa, đệ tử sẽ đích thân đến Chân Phật Mật Uyển để cầu quán đảnh, cầu gia trì, cầu đại trí tuệ, con tin rằng ngày này sẽ đến rất nhanh.
Kính chúc Phật an! Công đức viên mãn thù thắng! Đệ tử Liên Hoa Đạt Dương kính bái. 13.08.1986.
🌟
Đệ tử Liên Hoa Đạt Dương sống tại Singapore.
Về chuyện trúng thưởng, thực ra Liên Sinh Hoạt Phật không muốn nhắc lại, chỉ vì đã có quá nhiều đệ tử trúng giải nhất, muốn kể cũng không thể kể hết.
Hơn nữa, trúng giải nhất dường như không liên quan gì đến học Phật. Mà học Phật chính là học tinh thần Phật pháp, để thực hành, để phát huy tâm thiện, mỗi ngày làm những việc có ích.
Cá nhân tôi không mong muốn mọi người mê mải vé số, mọi người đoán số để theo đuổi phúc báo từ việc trúng thưởng. Tuy nhiên, nếu phúc đến tâm linh, thỉnh thoảng mua một lần, tôi không nỡ khiển trách.
Quan niệm đúng đắn là học Phật là để kiềm chế tham, sân, si. Chuyên tâm vào việc tu dưỡng, rèn luyện bản thân, đó mới là tu hành. Còn về phước báo từ trời thì đừng nghĩ đến, hãy để nó đến một cách tự nhiên, đừng bỏ gốc lấy ngọn, đừng cố ý theo đuổi.
Chân Phật Mật Pháp có pháp Tài Thần, là để hành giả không có nỗi lo về sau này. Đại pháp chỉ của Chân Phật Mật Pháp là cầu sự tĩnh lặng của thân tâm. Nếu đệ tử Chân Phật Tông chỉ học pháp Tài Thần, hàng ngày mê mải trúng giải nhất, thì đó chính là sa đà vào rượu chè cờ bạc, là giặc bên ngoài, tình dục tham lam là giặc bên trong, lòng tham là hố không đáy, không thể kiềm chế, cứ tiếp tục như vậy là một sai lầm lớn.
Đệ tử có khuynh hướng này cần đặc biệt chú ý, nó có thể gây ra hiện tượng tâm lý bất thường, nếu che mờ lý trí, đắm chìm trong đó sẽ đánh mất lý tính và có thể dẫn đến những hành động thiếu sáng suốt.
Hành giả Chân Phật Mật Pháp cần phá trừ tham chấp: Cần kết ấn Hàng Tam Thế Minh Vương. Trì chú: "Ôm pô-ka-fan mô-rư-la-hùm pha-cha." 108 biến.
Quán tưởng tâm mình vĩnh viễn hiển hiện bản tính hỷ lạc vi diệu, được người đời tôn kính, loại trừ được tâm tham không bao giờ dứt.
Tuy nhiên, nếu đệ tử Chân Phật thực sự gặp khó khăn, bị tiền bạc làm phiền não, tôi mong họ tu pháp tăng ích, và trước Phật phát đại nguyện phải bố thí pháp tài, không được tham lam vô độ!
Sám hối, tùy hỷ, khuyên thỉnh phúc, Của cải sung túc trời ban cho; Tất cả viên mãn ba-la-mật, Lại nhập thiền định đủ bi trí.
Tu hành hoàn thiện là không thiên về bất kì phía nào, đi trên con đường trung đạo. Chúng ta phải luôn tự xét mình, tự kiểm điểm, lòng dạ rộng mở, loại bỏ mọi tạp niệm, đối diện với chân ý của Phật, nỗ lực thực hành, thuận theo Phật lý mà hành động, đó là đúng đắn.
29. Lĩnh hội pháp vị trong sách
Liên Sinh Thượng sư, kính chào thầy. Đệ tử những ngày gần đây đang đọc tác phẩm "Chấn động lớn của thiền" của thầy.
Ngay khi con đang suy ngẫm về bài viết "Nghìn vị Phật hiện đang ở đâu" trong sách có đề cập đến cuộc đối đáp giữa cậu học trò và thiền sư, trong tâm con xuất hiện những lĩnh hội như sau: Tâm có nghìn nghìn pháp. Đều liên quan lẫn nhau. Bỏ nghìn không một hiện. Pháp ở trong tâm thấy. Cuộc đời vốn vô thường. Bao nhiêu chuyện vướng víu. Dụng tâm không chấp trước. Trong thiền biết số trời. Hãy từ từ đừng vội vã, thuận theo đại đạo tự nhiên đi, nghìn thế giới Phật có bạn có tôi, thế giới của bạn và tôi có nghìn Phật, tiếng tiếng lời lời nói không hết, tịch diệt chứng đạo cùng tôi đi.
Con xin viết tiếp những tâm ngữ của những ngày gần đây, kính mong Thượng sư xem qua: Ha ha cười vang một tiếng ha, mọi việc đều tan trong nụ cười, gạt bỏ bụi trần rời trần cấu, hoa sen tự mọc vốn tự nhiên. Trong tâm có kiến địa phân biệt tâm thiện ác, tri kiến dùng để đoán định cái nào là lời giải thích đúng đắn. Không chấp không trước không nhân ngã, trên tòa sen không có Phật ngồi. Một lòng cầu thanh tịnh, buông bỏ bụi trong bụi, thanh tịnh là pháp môn, ta vốn không nơi trú. Thời gian tốt đẹp tạo nên, vô tâm chính là tất cả. Từng đóa sen xanh từ đài sen sinh ra, bước vào nhân gian diễn trò tương lai, một màn vũ điệu ngộ vô sinh, ngoảnh đầu lại chỉ thấy tuổi tác tăng. Vạn sự đều nằm trong tự nhiên, không cố tạo tác tự nhiên làm.
Gần đây, con đã có sự lĩnh hội về quán tưởng và cảm ứng, việc quán tưởng của cá nhân con rất dễ dàng hợp nhất với Thánh Tôn. Nhưng đó chỉ là một dòng chảy trong tâm linh, mắt không thể thấy, tai không thể nghe, và những câu pháp này luôn luôn trôi chảy trong tâm, những câu pháp này rất mầu nhiệm, có pháp vị: Giữa người với người có khác nhau, nhân duyên khác nhau không thể giống, khi giác ngộ nhận ra vô ngã, đồng và bất đồng là như nhau. Một lòng cầu thanh tịnh, thanh tịnh hiển tự thân, gột rửa mọi uế tạp, hòa nhập vào biển lớn.
Quán diện mạo của ta, chiếu Pháp thân của ta, ngồi trên đài sen báu, ánh sáng chiếu lẫn nhau, một ánh sáng một thế giới, một thế giới có một nguyện, ba nghìn công đức viên mãn, thường trú cảnh giới tối thượng, trong đó một đại nguyện, chính là đi cùng thầy. Đừng khởi nhiều ý nghĩ, bỏ vọng bỏ suy tư, khi tất cả viên mãn, cần gì phải tự giác.
Vốn không muốn làm phiền thời gian quý báu của Sư Tôn, nhưng rồi con vẫn làm vậy, một là muốn xin Thượng sư hiểu rõ quá trình tu tập của con, hai là mong Thượng sư chỉ dạy thêm. Và xin gửi lời hỏi thăm Thượng sư Liên Hương. Cảm ơn thầy!
Kính chúc Phật an! Đệ tử Liên Tinh kính bái. 17.09.1986.
🌟
Bức thư này được gửi từ San Francisco, Hoa Kỳ. Liên Tinh có cảnh giới và sự lĩnh hội rất cao, thật đáng mừng đáng khen. Trong đó có pháp môn quán tâm.
Hành giả Mật tông, khi tu pháp môn quán tâm có thể kết ấn chắp tay kim cang, trước tiên quán tưởng pháp lưu của chư Phật quán đảnh. Tiếp đến quán tưởng lực của mình và lực của Sư Tôn hợp nhất thành một thể. Tay kết ấn trói kim cang. Dùng ấn này vỗ vào ngực mình ba lần, sau đó giải ấn trên đỉnh đầu. Trì chú: "Ôm bô-rư-la-man-thu ta-la-cha." (ba lần) Quán tưởng tim mình biến thành điện Phật, với núm vú phải và trái biến thành cửa trái phải của điện Phật, thân mình không còn thấy nữa, hóa thành đỉnh điện Phật. Thủ ấn, chú ngữ, quán tưởng này, ba yếu tố hợp nhất. Nếu thực hiện liên tục ba lần, đó chính là bí mật trong bí mật, có thể phá vỡ tâm tự khép kín của chúng sinh.
Liên Sinh Hoạt Phật dạy Liên Tinh, khi thân mình hóa thành điện Phật, có thể quán tưởng trong hư không có một vầng trăng, trong vầng trăng có một đóa sen trắng, trên đóa sen trắng có một chữ Phạn "Hum", chữ "Hum" xoay tròn liền hóa thành Sư Tôn Bạch Liên Hoa Đồng Tử, ngồi trên đài báu, trang nghiêm tướng đẹp.
Lúc này, quán tưởng Bạch Liên Hoa Đồng Tử bay vào điện Phật của mình, ngồi trên pháp tạa thất bảo trong điện Phật, đây chính là pháp lưu của Thượng sư chảy vào tâm bạn, thực sự là tương ứng Thượng sư. Thông thường, hành giả Mật tông khi ở trong cảnh giới này tự đóng cửa lớn của điện Phật lại, để cho pháp lưu của Thượng sư thấm nhuần và đối lưu trong tâm mình, đây chính là hòa hợp làm một, là sự hòa tan của Phật lực vậy.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng sự lĩnh hội pháp vị của Liên Tinh đã đạt cảnh giới ngày càng cao, tương lai nhất định sẽ là trụ cột lớn của Chân Phật Tông, đặc biệt truyền cho anh ấy quán đảnh pháp môn quán tâm biến hóa điện Phật.
Đây là đệ tử đầu tiên của tông phái học tập pháp môn quán tâm. Hãy tận tâm học tập. Tận tâm nảy mầm đâm rễ. Làm cho đại pháp Phật môn được hoằng truyền. Tỏa ra ánh hào quang vĩnh hằng độ thế.
30. Chân thành có thể cảm ứng
Kính thưa ân sư từ bi. Ân sư nói rất đúng, tất cả Mật pháp đều được vận dụng linh hoạt, chỉ cần hành giả Mật tông có lòng chân thành thì các pháp đều thông với nhau, các thần chú đều có sự tương ứng.
Vào tháng tư năm nay, đệ tử đã đến Anh Quốc để giúp đỡ con gái nuôi, vì con gái nuôi dường như bị một nhân tố kỳ lạ quấy nhiễu. Nơi cô ấy ở là một bệnh viện thời Thế chiến thứ hai, nghe đồn bệnh viện này có rất nhiều người đã chết, nên tòa nhà này rất bất thường, từ rất lâu đã có lời đồn là không sạch sẽ.
Đệ tử và chị họ Liên Bi đã cùng nhau đến sống trong căn nhà đó. Đệ tử trước tiên treo lên Man thiên hoa cái, sau đó thực hiện đại pháp ngũ quỷ và ngũ phá của ân sư cho con gái nuôi, rồi tụng chú thanh tịnh chú, pháp cúng dường đại mandala, pháp tứ quy y, pháp mặc giáp hộ thân, tụng chú Đại bi chú một lần, tâm chú Thượng sư tâm chú 108 lần, chú vãng sinh 3 lần, quán tưởng tất cả các oan hồn được cứu độ vãng sinh, cuối cùng mới hồi hướng.
Đệ tử tu pháp đơn giản mà trang nghiêm, giống như cách bình thường tu pháp, nhưng với sự tu tập chân thành đã tạo ra năng lực siêu độ không ngờ. Ân sư ơi! Đệ tử thật xúc động, nhưng không biết dùng từ ngữ nào trên thế gian này để ca ngợi sự vô biên của Phật pháp, oai lực siêu việt của Chân Phật Mật Pháp.
Khi đệ tử tụng chú vãng sinh, quán tưởng trong lúc tu pháp, chị họ nhìn thấy ân sư hiện ra trong hư không, thân tỏa ánh sáng vàng rực rỡ, ngồi trên một đóa sen lớn trắng như mây tuyết, và phía trên ân sư có ba vị Phật cùng hiện ra, tương tự ngồi trên những đóa sen khác màu nhau, cũng phát ra ánh sáng vàng tuyệt đẹp.
Chị họ Liên Bi nhìn thấy ân sư vừa đưa tay ra, vô số chấm đỏ nhỏ như phấn hoa tỏa ra, những chấm đỏ nhỏ này dần dần lớn lên hóa thành từng đóa sen hồng. Những đóa sen bay lên bay xuống đẹp tuyệt vời, mỗi đóa sen đều mang theo một oan hồn, những oan hồn này đều chắp tay, gửi lời cảm tạ sâu sắc nhất đến chư Phật và ân sư trong hư không. Và trong chớp mắt, chư Phật và ân sư đều biến mất, các oan hồn cũng không còn nữa.
Thưa ân sư, ngài nói cảnh tượng này thật cảm động biết bao. Ân sư ở tận nước Mỹ, vẫn có thể hóa thân đến Anh Quốc cứu độ những linh hồn tử trận đáng thương, ân sư quả thật là Phật Tổ tái thế, không hề hư dối. Đệ tử may mắn được quy y ân sư, nếu không chăm chỉ tu thân tu pháp thật là phụ lòng ân đức sâu dày của ân sư, không biết đời sau có còn cơ duyên như vậy nữa không.
Còn những kẻ ngốc nghếch công kích phỉ báng ân sư đến khi nào mới thức tỉnh? Nguyện rằng những kẻ phỉ báng sớm ngày quay đầu. Hai người bạn có mặt tại hiện trường lúc đó đã ngay lập tức muốn quy y ân sư, bởi họ cũng cảm nhận được linh lực của ân sư, thán phục chưa từng có.
Sau khi tu pháp quán tưởng, căn nhà hoàn toàn yên tĩnh, mọi sự quấy nhiễu không còn xuất hiện nữa, con gái nuôi đã trở lại bình thường. Đệ tử đã lưu lại Anh Quốc hơn ba tuần mới về Malaysia. Đệ tử rất vui mừng về sự thành công của pháp sự lần này, nhiều người thân và bạn bè đều biết chuyện, sẽ có thêm nhiều người đến quy y ân sư.
Cuối cùng kính chúc ân sư pháp an! Đệ tử Liên Áo đảnh lễ. 12.09.1986.
🌟
Đây là câu chuyện có thật của Liên Áo từ Malaysia đến Anh Quốc giúp người tu pháp. Bức thư này giải thích rằng Mật pháp là pháp được vận dụng linh hoạt, một chú tương đương với tất cả các chú, pháp pháp đều thông với nhau.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, chí thành ắt sẽ cảm ứng. Đã có quá nhiều đệ tử đều đã có sự cảm ứng.
Hành giả Mật tông cần hiểu rằng pháp lực có tính hấp thu lẫn nhau. Sức mạnh của bản thân rất có hạn, hành giả Mật tông cần phải tiếp nhận lực lượng từ bên ngoài trong quá trình tu pháp mới có thể phát triển thành pháp lực vô cùng, sự kết hợp giữa tự lực cộng với tha lực này, để rồi gia trì cho người khác, chính là hấp thu lẫn nhau của Mật tông.
Một hành giả Mật tông chí thành, trong khi tu pháp quán tưởng, cần thể hội bản thể tức không, sẽ tạo ra tính hấp thu lẫn nhau, hòa nhập lẫn nhau thì thành Pháp thân.
Liên Áo có thể dùng lòng chí thành để cầu nguyện, trì tụng Thượng sư tâm chú, bản thân tiếp nhận sức gia trì của Thượng sư, sức gia trì của chư Phật, liền cảm triệu được pháp lưu của các pháp và Thượng sư. Lúc này pháp lực được thực hiện đương nhiên ngang bằng với pháp lực của Thượng sư và chư Phật, loại gia trì u linh này thể hiện pháp lực tương đương.
Để học hỏi vẻ đẹp tuyệt diệu của tính hấp thu lẫn nhau, nhất định phải có tâm cảnh trống rỗng, giống như tâm cảnh của một đứa trẻ sơ sinh thuần khiết, đó là điều trong sáng nhất, phải hoàn toàn không gượng ép, sự không gượng ép này chính là chí thành. Mỗi hành giả Mật tông muốn hiển lộ ánh hào quang của chân lý, đương nhiên phải dựa vào sự nỗ lực tinh tấn và trí tuệ của bản thân, nhưng còn cần hơn nữa sự gia trì của Thượng sư và chư Phật. Người có trí tuệ hiểu rằng, sức mạnh vô hình là vô biên vô tận, nếu có thể mời được sức mạnh vô hình giúp đỡ, ắt có thể thành tựu tất cả.
Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật đã tự mình chứng ngộ thực tướng của hư không vũ trụ, đã là bậc giác ngộ, cuối cùng đã đạt đến cảnh giới tịch diệt, có lòng từ bi vô biên, chỉ cần đệ tử chí thành cầu nguyện, liền có thể phóng quang mười phương, đây là biểu hiện của bậc ngộ được thực tướng, bởi vì tất cả pháp lưu về cơ bản đều thông với nhau, hấp thu lẫn nhau, tương hỗ với nhau.
Viết một bài thơ hiện đại về phóng quang mười phương: Cầu nguyện, vì một ước nguyện không gì sánh được trên đời. Như ánh nắng mặt trời tỏa khắp Vắt ngang bầu trời xanh biếc Dòng pháp lưu phong phú tuyệt vời Róc rách từ tâm một hành giả
Trong thế kỷ này Không gian và thời gian đã co lại Tất cả đều bị phá vỡ Như Phật Tổ vẫn hiển lộ thần thông Trên phố chợ khất thực từng nhà
Trong mười phương đều có một bản ngã Trong năm nghìn năm văn tự có một bản ngã Mở rộng tâm hồn Muốn gì được nấy Cầu nguyện thêm lòng chí thành Cái không cũng sẽ biến thành có
Tiếp tục tu luyện Không cần tìm kiếm nguồn gốc của dòng pháp lưu Không phải tằm nhả tơ Mà là vị Phật vốn có trong hư không Phóng quang mười phương Phóng quang mười phương, ôi Liên Sinh Hoạt Phật.
31. Từ Cơ Đốc đến Phật
Kính thưa Thượng sư tôn kính:
Đệ tử hằng mong nhận được pháp tướng của Thượng sư trong trang phục áo vàng, mũ vàng, từ bi trang nghiêm. Vừa mới có ý niệm này, vị Thượng sư vĩ đại với thần thông vô hạn đã không làm đệ tử thất vọng, trong thư hồi âm, Thượng sư đã đính kèm pháp tướng tôn quý khi tu pháp trong trang phục áo vàng, mũ vàng, khiến đệ tử vô cùng phấn khởi, khó có thể diễn tả hết được. Đệ tử xin cảm ơn Thượng sư đã gia trì cho gia đình đệ tử mọi sự như ý, các con học hành chăm chỉ, thành tích tiến bộ.
Đệ tử có một đoạn nhân duyên bí sử quy y, cho đến nay vẫn chưa báo cáo với Thượng sư. Nguyên đệ tử là một tín đồ Cơ Đốc, vào năm 1975, một ngày nọ khi đang dạo quanh một hiệu sách ở Đài Bắc, tình cờ phát hiện sách tâm linh của Thượng sư trong bộ sưu tập sách, vì tò mò nên đã lật xem, khám phá ra kiến thức mới mẻ chưa từng có, đã mua liền mấy cuốn mang về nhà nghiên cứu. Sau khi đọc xong và suy ngẫm kĩ lưỡng mấy cuốn sách tâm linh này, từ đó quan điểm Cơ Đốc giáo về cuộc sống của đệ tử đã hoàn toàn thay đổi.
Đệ tử bắt đầu tin vào Phật pháp, sáng tối tự tu tập đọc kinh Phật theo sách, tụng chú Lục tự đại minh, tụng chú Đại Bi, nhưng vẫn chưa có duyên quy y, có lẽ duyên chưa chín muồi. Cuối cùng đệ tử được cử đi công tác nước ngoài vào tháng 9 năm 1977, lúc đó đã có ấn tượng sâu sắc về Ngũ giới, trong các dịp giao tiếp xã hội và giải trí đều có thể giữ mình trong sạch, chỉ tham gia nhưng không bị ô nhiễm, đệ tử đều tùy duyên ứng phó với hoàn cảnh thực tế, có thể nói đệ tử đã sống trong bùn mà không nhiễm bùn, lúc đó đệ tử chuyên cần tu tập chú Đại Bi, mỗi ngày nhất định tụng bốn mươi chín lần, cùng với danh hiệu Phật và chân ngôn.
Tuy nhiên, cuộc đời vô thường, đệ tử mắc phải u ruột kết, đã đến giai đoạn nghiêm trọng, cơn đau như dao cắt, sau khi chụp X-quang ở bệnh viện Vinh Tổng, bác sĩ kết luận phải mổ cắt bỏ u ruột. Trong hoàn cảnh nguy kịch này, đệ tử chỉ còn cách nhất tâm tụng chú Đại Bi, niệm danh hiệu Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Khi phẫu thuật, lòng đệ tử lại cảm thấy vô cùng bình tĩnh, chưa từng nghĩ đến chuyện sống chết, quên hết tất cả. Trong trạng thái một niệm không loạn này, đệ tử đã vượt qua cửa tử, trải qua ca đại phẫu thuật bình an và rời khỏi bệnh viện an toàn. Sau khi xuất viện, đệ tử chỉ làm vài lần hóa trị, cuối cùng hoàn toàn nhờ vào thiền định, niệm Phật, trì chú, và cuối cùng đã vượt qua giai đoạn nguy hiểm kéo dài 5 năm.
Nguyên nhân hồi phục là do đệ tử đã tin Phật, được sự gia trì của chư Phật Bồ Tát, và tu tập chú Đại Bi nên không bị bệnh ác hành hạ đến chết. Mạng sống của đệ tử được cứu bởi sách của Thượng sư, nếu không có duyên đọc được sách tâm linh, đệ tử sẽ không bao giờ biết đến chú Đại Bi.
Vì vậy, đệ tử đã quy y Thượng sư Hoạt Phật, xem Thượng sư Hoạt Phật là thầy của mình trọn đời kiếp này, và sẽ không quy y bất kì pháp sư nào khác. Đệ tử nguyện tu pháp tương ứng Thượng sư, sau khi tương ứng sẽ chọn Dược Sư Phật làm Bổn tôn, nguyện sau khi tu thành tựu pháp Bổn tôn sẽ cứu độ chúng sinh khắp thiên hạ đang chịu bệnh khổ, giúp họ sớm thoát khỏi bệnh ác và nỗi đau của các chứng bệnh nan y. Nguyện xin Thượng sư vĩ đại từ bi gia trì để đệ tử sớm tương ứng trong tu pháp, giúp đệ tử sớm có thể giải trừ bệnh khổ cho chúng sinh.
Đệ tử xin gửi kèm theo thư này tấm ảnh gia đình để Thượng sư gia trì. Kính chúc Thượng sư cát tường như ý và gia quyến an khang. Đệ tử Liên Hoa Bích Phong cúi lạy. 22.06.1986.
🌟
Bức thư này được gửi từ Jordan của Swager. Liên Hoa Bích Phong hiện đang được cử đến làm việc tại Jordan.
Trong số những người quy y gần đây, không chỉ có tín đồ Cơ Đốc, cũng không chỉ có các vị pháp sư xuất gia, mà còn có cả mục sư, linh mục từ các tôn giáo khác nhau đều đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật. Và thậm chí, nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng với tư cách là Hoạt Phật cũng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật, đây quả là một pháp duyên lớn hiếm có trên thế gian!
Tại sao Liên Sinh Hoạt Phật có thể độ hóa tín đồ Cơ Đốc, mục sư, linh mục, pháp sư xuất gia, Hoạt Phật Tây Tạng...? Bởi vì:
Liên Sinh Hoạt Phật đã sớm hóa thân thành Địa Tạng Vương Bồ Tát. Liên Sinh Hoạt Phật đã sớm hóa thân thành A Di Đà Phật.
Bởi vì hành giả đã khai ngộ, đã thông đạt bản tâm, đã chứng bồ đề, hiện kim cang tâm, thành tựu thân Phổ Hiền Vương để nhiếp độ chúng sinh cùng vào Ma Ha Song Liên Trì, chỉ có hiển hiện nhiều thần thông lực, khắp nơi hiển hóa cứu người, ánh sáng trong trẻo chiếu khắp nhân gian, hiển bày tướng đẹp trang nghiêm, dùng ấn samaya Phổ Hiền gia trì chúng sinh nhân gian.
Đây là Ngũ trí thông suốt lên trên, tổng hội tụ các pháp lưu của chư Phật, trên là Tây phương thắng cảnh, dưới là địa ngục u minh, đều được độ hóa, nên khi thì Liên Sinh Hoạt Phật là Địa Tạng Vương Bồ Tát, khi lại là A Di Đà Phật, đội mũ báu Ngũ Phật, trang nghiêm với các tràng hoa, đủ loại trang nghiêm, đủ loại pháp lưu, trùm khắp pháp giới.
Liên Sinh Hoạt Phật trong trạng thái vô sở đắc, quán tịnh viên minh, tất cả đều biết, tất cả đều rõ, đây chính là Đại viên kính trí, hội tụ mọi thành tựu, nói rõ hơn, tất cả chủng tính đã hoàn toàn hòa nhập vào trong đó, nên chúng sinh được độ là vô hạn.
Tôi từng đi từ Cơ Đốc đến Phật. Và tự nhiên cũng có nhiều đệ tử đi từ Cơ Đốc đến Phật. Cơ Đốc là tôn giáo Thiên Quốc thừa của Phật, là Phúc Âm Thiên quốc. Cơ Đốc là một giai đoạn, Phật là một giai đoạn khác, giữa hai giai đoạn này có sự tương thông.
32. Pháp phi không châm cứu
Thượng sư Liên Sinh! Đệ tử kính dâng lễ mọn để bày tỏ lòng kính trọng đối với Thượng sư! Kính chúc Thượng sư một ngày Lễ Nhà Giáo bình an và vui vẻ!
Cảm ơn Thượng sư đã châm cứu chữa bệnh cho đệ tử tối qua! Hôm qua cả ngày đệ tử đau đầu dữ dội, khó chịu không thể nào diễn tả được, thuốc chỉ giảm đau tạm thời, cho đến nửa đêm, đệ tử mơ thấy Thượng sư đến. (Bên cạnh có vài vị tiên sinh, và vô số chúng sinh đang chờ đợi Thượng sư.)
Thượng sư nhìn mặt đệ tử, sau đó hỏi: "Sắc mặt của con sao xấu thế?" Đệ tử mệt mỏi mở mắt trả lời: "Hôm nay cả ngày đau đầu khổ sở lắm."
Sau đó Thượng sư lấy ra một hộp kim dùng để châm cứu, lấy ra để chữa trị cho đệ tử, đệ tử quên mất Thượng sư châm vào bộ phận nào (bình thường đệ tử sợ kim, thấy kim là lập tức quay đi), chỉ cảm thấy hơi tê tê, cũng cảm nhận được Thượng sư dùng tay xoay kim. (Đệ tử chưa từng châm cứu bao giờ.) Sáng nay, đệ tử thức dậy, toàn thân dễ chịu. Sau khi rửa mặt, đệ tử liền tiếp tục tu trì! Cảm ơn chư Phật Bồ Tát cứu độ chúng sinh! Đệ tử Liên Hoa Tuyết Phụng cúi lạy. 24.09.1986.
🌟
Bức thư này được gửi từ New York, Hoa Kỳ.
Gần đây, có rất nhiều đệ tử (không thể đếm xuể) mơ thấy Thượng sư, và điều kỳ lạ hơn là Thượng sư Liên Sinh đã sử dụng phương pháp châm cứu để giúp họ loại bỏ bệnh tật khó chữa. Nhiều đệ tử vội vàng gửi thư để bày tỏ lòng biết ơn, và đệ tử Liên Hoa Tuyết Phụng ở New York, Hoa Kỳ chính là một trong số đó, đây là phương pháp phi không châm cứu kỳ diệu.
Liên Sinh Hoạt Phật để tiếp dẫn hành giả Mật tông có đức tin kiên cố, đã đặc biệt tu trì pháp phi không châm cứu, giúp các đệ tử hiểu được lòng từ bi của Thượng sư, loại bỏ bệnh tật trong cơ thể, nhận biết Hoạt Phật thực sự hiển hiện nguyện lực cứu độ, và hy vọng hành giả Mật tông làm quen với pháp môn tu trì, lấy Chân Phật Mật Pháp làm nền tảng, tu đến khi thực tướng hiện tiền, dần dần mở rộng tính giác của mình, tịnh niệm luôn hợp nhất với Liên Sinh Hoạt Phật, như vậy sẽ có thể thấy được Thượng sư Liên Sinh cùng mười phương Như Lai tràn đầy khắp hư không.
Đệ tử Chân Phật, hành giả Mật tông, luôn có những linh nghiệm, đây là pháp môn nhiệm mầu, chư thánh vô cùng hoan hỷ, uy lực của Hoạt Phật lan tỏa đến đệ tử mười phương.
Pháp phi không châm cứu được tóm tắt như sau: Liên Sinh Hoạt Phật trước tiên dùng ấn vỗ tay, đầu tiên vỗ một cái trên đỉnh đầu, hóa thành vòng hào quang trên đỉnh đầu. Sau đó vỗ ấn vỗ tay ba lần trước ngực, mở ra ánh sáng Tâm luân chiếu đến chúng sinh. Dùng ba ngón tay "Thủy Hỏa Phong" [ngón áp út, ngón giữa, ngón trỏ]: Tôi quán ngón Thủy hóa thành biển lớn, bay vút qua. Tôi quán ngón Hỏa hóa thành núi cao, bay vút qua. Tôi quán ngón Phong hóa thành hư không, cưỡi gió bay đi. Tôi tụng: "Ôm na-mô san-man-tô rư-la ưa." Đây là vạn đức trang nghiêm. Liên Sinh Hoạt Phật, ngồi trên đóa sen trắng lớn, bay lơ lửng trên biển cả, đỉnh núi cao, tận cùng mây trắng, đã hiển lộ vô lượng Như Lai cùng Liên Sinh Hoạt Phật bay đi, cảnh tượng thù thắng này là vạn đức trang nghiêm.
Liên Sinh Hoạt Phật lại cầm chày kim cang năm chấu, quán chày kim cang năm chấu biến thành một chiếc kim châm cứu, ánh sáng vàng trong suốt. Đây cũng là cảnh giới kim cang tâm, dùng kim châm cứu hóa thành vô số kim chữa bệnh cho người, những kim này đều là biến hóa của ấn samaya, hoàn toàn do sự giao hội của ánh sáng ngũ trí và tính ngũ luân mà sinh ra.
Vào lúc này, Liên Sinh Hoạt Phật đỉnh đầu có vòng hào quang, ngực có nguyệt luân, tay cầm kim châm cứu, ngồi trên đóa sen trắng lớn, trong làn sương nhẹ, thu nhiếp các đệ tử đến trước ánh sáng tâm luân, dùng ánh sáng ngũ trí chiếu sáng không ngừng, dùng phương pháp châm cứu từ từ loại bỏ bệnh tật khó chữa trong cơ thể đệ tử, giúp các đệ tử thoát khỏi bệnh tật, cũng dần dần hiển lộ nguyệt luân thanh tịnh.
Đây là cảnh giới "vô sinh nhẫn", cũng là cảnh giới "tịch diệt nhẫn".
Pháp phi không châm cứu này phải do người đã chứng đắc nền tảng của cõi Kim Cang mới có thể tu trì, đây là lập trường của Liên Sinh Hoạt Phật, thể hiện tính kim cang căn bản, đó chính là mượn kim châm cứu kim cang kiên cố sắc bén vô địch để chứng minh sức mạnh của Phật pháp. Người có thể sử dụng pháp phi không châm cứu trên thế gian này chỉ có số ít, và Liên Sinh Hoạt Phật chính là một trong số đó.
Thật ra, đây chính là thể tính của Đại Nhật Như Lai, Đại Nhật Như Lai hóa thành thân Phổ Hiền, từ ○ hóa thành một, một hóa thành hai, hai hóa thành nhiều hơn, cùng thu nhiếp lẫn nhau và hòa nhập, toàn thể thể tính pháp giới là một bánh xe kim cang lớn, vốn bình đẳng không khác biệt, bằng phẳng vô hạn, Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật hiển hiện trong đó, tương ứng với nhất thiết trí trí vậy!
Liên Sinh Hoạt Phật thi triển rộng rãi pháp phi không châm cứu. Liên Sinh Hoạt Phật ban phát uy lực hùng mạnh linh thiêng. Người tin tưởng sẽ cảm ứng nhanh chóng, đức tin kiên cố. Người quy y, người phụng sự, chắc chắn sẽ đạt được sự linh nghiệm! (Đặc biệt chụp lại bức thư gốc để làm bằng chứng.)

33. Lịch sử Tây Tạng
Kính thưa Liên Công Hoạt Phật!
Đã mười một năm, thầy từ một vị thông linh tiến lên thành Đạo trưởng, từ ưu-bà-tắc thọ Bồ Tát giới tiếp tục tiến lên thành Kim cương Thượng sư, Hoạt Phật truyền dạy, rồi trở thành thầy của Hoạt Phật. Năm nay, thầy chính thức xuống tóc, xuất gia làm bậc thầy gương mẫu của trời người, dựng cờ pháp lớn làm rung chuyển thế giới, đạt được điều chưa từng có, đích thực là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử tôn giáo thế giới. Khóa tà trừ ma, dám xưng là vô tiền khoáng hậu. Đệ tử khi đọc tác phẩm của thầy, tức thì khai mở tâm trí, vui mừng đến không ngủ được, vô cùng may mắn được cùng thời với Phật, đời này không uổng phí, xin ghi lại một vài cảm nghĩ từ việc nghiên cứu:
Trang 168 đến 171 trong "Mật tông Yết Ma pháp", bài viết "Người không có lòng tin không thể thành tựu", đã trích dẫn thư của bà Lâm Nhạn Linh. Gần đây, đệ tử đã gặp anh trai của bà ấy là Lâm Hùng Tinh. Theo lời kể, cả hai đều từng theo học lớp của một vị đại sư nào đó. Trong buổi tiệc tạ ơn thầy, Nhạn Linh trúng giải nhất, Hùng Tinh trúng giải nhì, cả hai đều được mời vị đại sư đó đến nhà xem phong thủy để được chỉ điểm mà không phải trả phí. Tuy nhiên, nhiều năm trôi qua, vị đại sư ấy đã biệt tăm như hạc vàng. Vị đại sư kia như thế nào, chỉ cần nêu một ví dụ là có thể thấy được toàn bộ, không cần phải nói nhiều!
Nhớ lại vào năm Dân Quốc 64 (1975), ngày 8 tháng 10, đệ tử đã tham gia đoàn du lịch về Đài Loan để chúc mừng Quốc Khánh 10 tháng 10 do anh em nhà họ Lâm điều hành qua công ty du lịch Nghị Liên tại San Francisco. Sau đó, tại hiệu sách Tập Văn trên đường Nam Trùng Khánh, đệ tử đã mua được vài cuốn sách của thầy xuất bản trong năm đó như "Mạn đàm linh cơ thần toán", đọc xong không khỏi thán phục chưa từng thấy. Đệ tử đã tìm đến địa chỉ để bái kiến và may mắn được gặp thầy. Nhớ buổi trưa hôm đó còn có hiệu trưởng một trường Công nghiệp cấp tỉnh nào đó, cùng với phu nhân Tạng Quảng Ân vừa từ Nhật đến Đài Loan cũng có mặt. Lúc đó, tiểu muội Phật Thanh vẫn còn nằm trong nôi. Đến tháng sau (tháng 11), thầy đã chuyển đi nơi khác và ngừng tiếp khách, thật là may mắn!
Đọc qua bài viết "Công khai nguồn gốc Mật giáo Tây Tạng" từ trang 190 đến 195 trong sách "Chỉ dẫn Đại Thủ Ấn", có ghi rõ nguồn tài liệu được cung cấp bởi Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật, trong đó viết:
Phật giáo Tây Tạng được vua Tây Tạng Trisong Detsen đưa vào, ...... Trisong Detsen đã cưới hai phi tần, một người là công chúa Văn Thành của nhà Đường...... người còn lại là công chúa Nepal. ...... Vào thời điểm đó (năm 747 sau Công nguyên), Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đến Tây Tạng, vua Trisong Detsen đã đón tiếp Liên Hoa Sinh đại sĩ tại bờ sông Yarlung Zangbo.
Đoạn văn trên đã coi vị vua cưới công chúa Văn Thành và công chúa Nepal làm phi tần, và vị vua đón tiếp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vào Tây Tạng, như cùng một người — Trisong Detsen.
Khi nghiên cứu lịch sử Tây Tạng, theo sự kiện lịch sử này, vị vua Tây Tạng thực sự là hai người khác nhau, và không cùng thời, nay tra cứu cuốn "Biểu niên sử Trung Quốc" của Bá Dương: Năm 641, Tân Sửu, năm Trinh Quán thứ 15 đời Đường, vương triều nhà Đường kết thân với Thổ Phồn, gả công chúa Văn Thành cho vua Thổ Phồn là Songtsen Gampo.
Năm 710, Canh Tuất, năm Cảnh Long thứ 4 đời Đường, công chúa Kim Thành được gả cho vua Thổ Phồn là Tridé Tsuktsen [Kridê Zukzain]. Theo đó, vị vua Tây Tạng cưới công chúa Văn Thành là Songtsen Gampo, còn được phiên âm là Tùng Tán Cán Bố (còn có tên là Tùng Tán Cáp Mộc Bố, Tông Tán Hợp Phổ) (trị vì từ năm 617 đến năm 650).
Vua Tây Tạng cưới công chúa Kim Thành là Tridé Tsuktsen, còn được phiên âm là Xích Đức Tổ Đơn (trị vì từ năm 704 đến năm 755), con trai của ông và công chúa Kim Thành chính là Trisong Detsen (còn được phiên âm là Xích Tùng Đức Chân, trị vì từ năm 755 đến năm 797), người sau này đã phát triển mạnh Phật giáo. Khi đệ tử đọc cuốn "Khái quát tôn giáo Tây Tạng" (ấn bản năm 1983), có kèm theo "Bảng phả hệ các vua triều đại Thổ Phồn", đệ tử đã photo gửi kèm để thầy tham khảo.
Gần đây, đệ tử đã đọc "Phật giáo Trung Quốc" tập 29 số 3 (ấn hành tháng 3 năm 1985) do chùa Thập Phổ ở Đài Bắc xuất bản, trong đó có bài viết "Mật tông Hoàng giáo" ghi rằng: "Sự truyền bá Phật giáo Đại thừa ở Tây Tạng bắt đầu từ năm 749 sau Công nguyên (năm Thiên Bảo thứ 8 triều Đường), khởi đầu do vua Tây Tạng Trisong Detsen cử người đến Ấn Độ thỉnh bậc đại đức Phật giáo lúc bấy giờ là Tịch Mệnh Đại sư (còn được dịch là Tịch Hộ) đến Tây Tạng hoằng dương Phật pháp Đại thừa. Do phải đối phó với Hắc giáo vốn có ở Tây Tạng và sự quấy nhiễu của các ác quỷ thần, Tịch Mệnh Đại Sư đã đề nghị vua Tây Tạng cử người đến Ấn Độ thỉnh bậc đại thành tựu giả của Mật tông - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng để hàng phục tà ma và phát dương Mật tông Phật giáo Đại thừa. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã đến Tây Tạng từ Nepal vào năm sau (750 sau Công nguyên)."
Trang 27 trong tác phẩm "Mật giáo đại viên mãn" của thầy cũng có đề cập: "Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng hóa độ là theo lời mời của vua Tây Tạng Trisong Detsen."
Tháng trước, bộ phim "Công chúa Văn Thành" được chiếu tại rạp Thế Giới trong thành phố, do thương nhân Hồng Kông quay dọc theo Con Đường Tơ Lụa cổ ở Đại Lục, công chúa đã được gả cho Songtsen Gampo.
Tổng hợp các tài liệu trên, bài viết do "Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật" cung cấp đã gộp hai sự kiện lịch sử thành một người, có thể do lỗi viết nhầm hoặc sai sót khi biên tập. Để tránh đảo lộn sự kiện lịch sử và gây hiểu lầm cho độc giả, kính mong thầy làm rõ khi tái bản, không biết có phù hợp không, mong thầy xem xét.
Kính chúc pháp an! Kèm theo đơn xin quy y đã điền và cúng dường. Đệ tử hậu học - cư sĩ Thánh Cương đảnh lễ. 01.10.1986.
🌟
Lá thư này được gửi từ San Francisco, Hoa Kỳ. Cư sĩ Thánh Cương, 67 tuổi, pháp danh tôi ban cho ông là Liên Hoa Kim Cương.
Việc nhầm lẫn vua Songtsen Gampo thành vua Trisong Detsen, gộp hai người làm một, tôi đã sớm nhận ra, và đặc biệt đã viết thư hỏi Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật về việc này. Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật nói rằng chính ông ấy cũng quên cách viết như thế nào, rất có thể do nhất thời viết nhầm, đã viết Songtsen Gampo thành Trisong Detsen. Bản thân tôi không kiểm tra kĩ, và người hiệu đính cũng không chú ý, nên đã in ấn xuất bản với lỗi sai này.
Ngoài ra, Đạt Tăng Vượng Ba Hoạt Phật còn nói: "Đất Tạng phát triển muộn, ghi chép lịch sử thiếu chính xác, niên đại không thể chính xác, khiến người đời sau nghiên cứu lịch sử Tây Tạng cảm thấy mơ hồ."
Liên Sinh Hoạt Phật thực sự cũng cảm thấy mơ hồ về tên của người Tây Tạng, có thể do khi phiên âm sang tiếng Trung đều dùng phương pháp phiên âm nên có sự khác biệt.
Ví dụ, người cưới công chúa Văn Thành là Khí Tông Nộng Tán còn được dịch là Tùng Tán Cán Bố (Songtsen Gampo), còn có tên là Tùng Tán Cáp Mộc Bố, còn có tên là Tông Tán Hợp Phổ. Người cưới công chúa Kim Thành là Khí Lệ Súc Tán (Tridé Tsuktsen) còn có tên là Xích Đức Tổ Đơn. Có vẻ như tên của hai người, nhưng thực ra lại là cùng một người. Còn nhiều ví dụ khác nữa.........
Đặc biệt liệt kê "Bảng phả hệ các vua triều đại Thổ Phồn" như sau: Tùng Tán Cán Bố (trị vì từ năm 617 đến năm 650). [Songtsen Gampo] Xích Tùng Mang Tán (trị vì từ năm 650 đến năm 676). [Mangsong Mangtsen] Xích Đỗ Tùng Mang Ba Kiệt (trị vì từ năm 676 đến năm 704). [Tridu Songtsen] Xích Đức Tổ Đơn (trị vì từ năm 704 đến năm 755). [Tride Tsuktsen] Xích Tùng Đức Chân (trị vì từ năm 755 đến năm 797). [Trisong Detsen] Mâu Ni Tán Phổ (trị vì từ năm 797 đến năm 798). [Muné Tsenpo] Xích Đức Tùng Tán (trị vì từ năm 798 đến năm 815). [Tride Songtse] Xích Tổ Đức Tán (trị vì từ năm 815 đến năm 836). [Ralpachen (Tritsu Detsen)] Lang Đạt Ma (trị vì từ năm 836 đến năm 842). [Langdarma (U Dum Tsen)]
Thời kỳ phát triển đầu tiên của Phật giáo Tây Tạng bắt đầu từ vua Trisong Detsen, đến vua Ralpachen. Đến thời vua Langdarma là thời kỳ diệt pháp.
Sự phát triển của Phật giáo trong thời kỳ sau có nhiều tông phái, đặc biệt kể ra như sau: phái Nyingma (Mũ Đỏ), phái Sakya (Mũ Hoa), phái Karma (Mũ Trắng), phái Gaden, phái Gelug (Mũ Vàng), phái Hy Giải, phái Giác Vũ, phái Giác Lãng, phái Hà Lỗ.
Chỉ riêng phái Karma lại chia thành Shangpa Kagyu, Dakpo Kagyu, Karma Kagyu, Tselpa Kagyu, Barom Kagyu, Phagdru Kagyu, thật vô cùng phức tạp, người ngoài cuộc không thể phân biệt và hiểu được.
34. Sinh tử đại sự
Liên Sinh Thượng sư kính yêu!
Khi thầy nhận được lá thư này từ tỉnh Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc, và là thư của một người xa lạ, con nghĩ thầy chắc chắn có thể đoán ra đây là một lá thư xin quy y và xin quán đảnh từ xa. Tuy nhiên, có một điều con muốn xin thầy thứ lỗi là con đã suy nghĩ về quyết định quy y này suốt hai năm qua. Trong những năm này, con đã sớm ngưỡng vọng thầy từ xa và tôn thầy làm thầy của mình, đồng thời con cũng đã quyết tâm hoằng dương Chân Phật Mật Pháp của thầy.
Trước hết, con xin tự giới thiệu, con tên là Vạn Tường Lễ, người Nam Xương, Giang Tây, sinh ra tại Gia Nghĩa, Đài Loan. Con học Đại học Y khoa tại Học viện Y khoa Quốc phòng, hiện vẫn là bác sĩ quân y, đang làm bác sĩ nội trú trưởng tại Ngoại khoa Thần kinh của Bệnh viện Vinh Dân Thạch Bài ở Đài Bắc.
Từ nhỏ con đã có hứng thú với việc học Phật giáo và Đạo giáo, nhưng chưa từng được ai chỉ dẫn. Mãi đến năm thứ sáu đại học con mới gặp được thầy Lưu Bồi Đức, và từ đó mới thực sự được khai tâm. Tôn chỉ mà cố sư phụ Lưu truyền dạy hoàn toàn giống với những gì Liên Sinh Thượng sư đã nói, không loại trừ bất kì pháp môn chính thống nào, và còn chủ trương "mở cửa đón tất cả thánh môn các giáo phái, người có duyên đều được vào". Phương pháp tu tập của thầy kết hợp cả Phật giáo và Đạo giáo, lấy thiền định làm chủ. Vì cố sư phụ từ nhỏ đã có những gặp gỡ kỳ lạ, từng được Phù Hựu Đế Quân và Thiên Thượng Thánh Mẫu ban cho ngọc như ý, Chúa Jesus đã hiển thánh giải đáp thắc mắc, được tổ sư Chung Ly Quyền gia trì pháp lưu, trong thiền định thường được Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ điểm, nên cố sư phụ đánh giá rất cao những cuốn sách của thầy, và cho rằng tất cả đều "chân thực bất hư".
Đáng tiếc là, sư phụ đã viên tịch chỉ sau khoảng nửa năm truyền dạy đệ tử. Sau khi hỏa táng di thể của sư phụ thu được hàng trăm viên xá lợi, hài cốt được an táng tại núi Quan Âm.
Sư phụ chú trọng thực tu thực chứng trong pháp tu, và chỉ dạy nên đọc nhiều "Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba-la-mật Kinh". Pháp tu của ngài chia làm hai giai đoạn, một là thanh tịnh vô vi, hai là bão nguyên thủ nhất. Pháp đầu là ngồi thiền nhìn chăm chú vào một vật nhất định phía trước, để có thể hồi quang phản chiếu; pháp sau là khí ngưng tại thiên tâm, giữ huyệt đạo tại đó trong trạng thái nửa có nửa không. Vào học kỳ cuối năm thứ sáu đại học, con học pháp thanh tịnh vô vi từ thầy, mới ngồi chưa đến một phút đã tự động phát công, đánh ra những đường quyền chưa từng có, hơi giống như sự khởi linh mà Thượng sư đã nói. Sau đó cảm thấy có khí mạch lưu động trong cơ thể. Trong hai, ba tháng sau đó, con tập trung khí tại thiên tâm, và sư phụ dạy con giữ huyệt đạo tại vị trí thiên tâm. Trong bốn năm sau khi sư phụ mất, con tu tập đứt đoạn, thỉnh thoảng khí xông lên đỉnh đầu.
Vì con là một bác sĩ, và thường xuyên mổ sọ não cho bệnh nhân, con càng cảm nhận được sự khổ, không, vô thường của kiếp người (bởi vì sự sống chết của bệnh nhân thường chỉ trong khoảnh khắc). Liệu có phương pháp nào có thể giúp đỡ những bệnh nhân đáng thương đó, như người mắc bệnh nan y, người hấp hối hoặc vừa mất, lúc này con nên làm thế nào để giúp họ vãng sinh Tây phương. Hoặc học chân ngôn để hỗ trợ họ. (Con mong muốn tu thành Bổn tôn Dược Sư Phật để cứu người.)
Trong tương lai con sẽ đến chỗ Thượng sư, cầu xin Thượng sư khai thị. Trong thời gian này, con sẽ cố gắng tu tập để có thể sớm gặp Thượng sư trong không trung. Như vậy, đệ tử có thể dưới sự chỉ dẫn của Thượng sư hoằng dương Phật pháp, cứu độ thế gian, và tiến xa hơn nữa để báo đáp ân đức của Thượng sư và cố sư phụ.
Kính chúc Phật an! Đệ tử Vạn Tường Lễ kính bái. 11.07.1986.
🌟
Lá thư này được gửi từ Trung Hoa Dân Quốc. Vạn Tường Lễ là một bác sĩ, vì vậy anh cảm thán: "Cuộc đời khổ, không, vô thường, sự sống chết của bệnh nhân thường chỉ trong khoảnh khắc."
Tôi nhớ Đại sư Liên Trì cả đời ngài đặc biệt viết bốn chữ "sinh tử đại sự" trên bàn làm việc, để thường xuyên nhắc nhở và tự khích lệ mình. Đại sư Liên Trì thường nói: "Sinh mệnh ngắn ngủi như bóng câu qua khe cửa, cuộc đời như giấc mộng, niềm vui được bao lâu? Một hơi thở không trở lại đã như cách kiếp, làm sao có thể suốt đời chỉ lo danh lợi, quên đi đại sự sinh tử để mà sống uổng một đời?" Người hiểu được đạo lý này, cần phải nhanh chóng quy y học Phật.
Tu tập Bổn tôn Dược Sư Phật, thường ngày hành trì theo phương pháp Bổn tôn Dược Sư Phật trong sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".
Nếu muốn cứu người, theo "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp", dùng hai sợi dây đỏ và xanh lá tạo thành vòng tròn, để hào quang xanh của Dược Sư Phật chiếu vào sợi dây đỏ xanh, sau đó buộc sợi dây vào tay bệnh nhân, để bệnh nhân đeo, đây là phương pháp giải trừ nghiệp bệnh.
Nếu bệnh nhân đang trong ca phẫu thuật, trong khoảnh khắc hấp hối hoặc đã qua đời. Vị bác sĩ muốn độ hương linh vãng sinh, có thể ở trong một căn phòng yên tĩnh, ngồi vững vàng quán tưởng: Quán tưởng giữa biển lớn có một ngọn núi cao đẹp, trên đỉnh núi có một đóa sen lớn, trên đóa sen có một tôn tượng Phật A Di Đà màu đỏ đang đứng, tay phải kết ấn tiếp dẫn, tay trái cầm đài sen. Sau đó quán tưởng từ biển lớn sinh ra một đóa sen nhỏ, thi thể người mất đang ở trên đóa sen nhỏ đó.
Quán tưởng ấn tiếp dẫn của Phật A Di Đà phóng hào quang chiếu sáng thi thể, đóa sen nhỏ dưới thi thể từ từ bay lên giữa không trung vãng sinh. Vị bác sĩ trì niệm chú vãng sinh bảy lần. Sau khi niệm xong bảy lần chú vãng sinh, vị bác sĩ tiếp tục niệm: "Ôm ưa-ưa-na san-pô mô-pô-rư-la hu."
Quán tưởng trong không trung xuất hiện vô lượng tướng báu trang nghiêm, niềm vui không gì sánh bằng, tất cả đều cát tường, hành giả Mật tông trong tâm tràn đầy hỷ lạc. Đây là pháp siêu độ đơn giản nhất, hoàn thành chỉ trong một sát-na. Bác sĩ chỉ cần kết Di Đà định ấn là được.
Viết một bài thơ hiện đại về sinh tử đại sự:
Mộ phần trên đời đều là ngôi nhà cuối cùng, Dù ngôi nhà trần thế của bạn có rộng lớn đến đâu, Bia mộ chính là bảng tên, Quan tài chính là giường, Lời nói không ngừng rồi cũng thành im lặng vĩnh hằng nơi chân trời.
Không cần phải tranh luận gì khác, Sống là sống, Chết là chết, Mê tín hay không mê tín, Tin hay không tin.
Cuối cùng cũng trở về, Dù mặt đầy bụi bặm mùi khói lửa, Dù hai bên tóc mai đã bạc phơ và mười ngón tay đen sạm, Chỉ còn lại một sự tôn kính, một niềm thương xót.
Phật dạy: Sinh tử là việc lớn. Một bên là làn sương tím bay lên cõi Tây phương, Một bên là nơi tăm tối đau khổ trong địa ngục, Giữa động vật và siêu nhân, tùy ngươi lựa chọn.
35. Quy y trước khi lâm chung
Kính lễ Thượng sư kính yêu!
Đệ tử lần đầu tiên tụng "Kinh Phật Thuyết A Di Đà", khi đệ tử tụng đến câu "Xá Lợi Phất, từ đây đi về phương Tây trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc", không khỏi sinh lòng kính ngưỡng, Phật giáo thật sự quá vĩ đại. Cách đây hơn hai nghìn năm, Đức Thế Tôn của chúng ta đã phát hiện ra thuyết vận hành thiên thể. Nhớ lại khi học trung học, đọc cuốn "Những cuốn sách làm thay đổi lịch sử", thuyết vận hành thiên thể của Copernicus đã bị Thiên Chúa giáo liệt vào danh sách cấm trong suốt 200 năm, nhà thiên văn học Galileo vì nghiên cứu lý thuyết của Copernicus mà bị kết án tù chung thân. Hiện nay, với việc phóng vệ tinh nhân tạo, tàu con thoi vào không gian, khoa học đã chứng minh thiên thể vũ trụ là vô tận, điều này hoàn toàn phù hợp với Phật pháp. Thế giới Tây phương Cực Lạc là hoàn toàn đáng tin, lại tụng đến câu "được cùng các bậc thượng thiện nhân tụ hội một chỗ" thật sự khiến người ta mong mỏi, cõi tịnh thổ Tây phương Di Đà thật sự quá thù thắng.
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Tri kiến dựa trên sự biết chính là gốc của vô minh". Tư tưởng và tính cách của một người thường bị ảnh hưởng bởi môi trường tiếp xúc, giáo dục nhận được, cùng những người và sự việc tiếp xúc, đó chính là sự dẫn dắt của nghiệp lực. Tính cách tạo nên vận mệnh và thói quen khó thay đổi. Câu "Chích khuyển phệ Nghiêu" [chó của tên Đạo Chích sủa vua Nghiêu, ở đây hàm ý nói ai có chủ nấy, con chó sẽ sủa bất cứ ai không phải chủ nó dù người đó có là vua đi nữa] thật đáng suy ngẫm sâu sắc. Học Phật chính là để nuôi dưỡng chính niệm, để minh tâm kiến tính. Đệ tử mong Sư Tôn chỉ dạy thêm để đệ tử có thể đạt đến liên bang.
Có một vị quan chức ở Cao Hùng, khi đã bệnh nguy kịch, đã quy y với Sư Tôn. Con gái ông là cô Lệ Trân đã đến nhà cũ của Sư Tôn ở Đài Trung thăm Sư Mẫu để xin phù chú, cầu nguyện tại điện thờ của Sư Tôn. Sau khi được chỉ dẫn rằng "dương thọ đã hết", cô liên tục rót ba chén trà, cô Lệ Trân khóc rất đau lòng, liên tục cầu xin, Sư Mẫu mới miễn cưỡng đưa cho bốn lá phù. Như vậy, đối với một người mới bước vào cửa Phật, nếu không được cung cấp những quan niệm chân chính đúng đắn, thường có thể khiến họ "tốt nghiệp" việc học Phật luôn!
Cô Lệ Trân và đệ tử vốn không quen biết, hôm đó đệ tử lái xe đến, tiện thể đệ tử chở cô ấy đến ga tàu Đài Trung. Trước ga tàu, đệ tử đã đơn giản nói với cô ấy: "Con người đến đời này do nghiệp lực, nghiệp lực thật đáng sợ. Nếu cha cô có thể hồi phục thì thật là may mắn vô cùng. Nếu không thể thì cũng không nên quá đau buồn, ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế cũng không thể thay đổi định nghiệp. Hoa Đà có tài khéo léo đến mức chạm đến xương, Sở Bá Vương Hạng Vũ có sức mạnh nhấc núi dời non, cuối cùng vẫn không thoát khỏi định nghiệp; Vạn Lý Trường Thành đến nay vẫn còn, nhưng Tần Thủy Hoàng thì sao!? Cha cô có thể quy y Sư Tôn vào lúc này, Phật duyên của ông là vô cùng thù thắng. Tốt nhất là cô có thể niệm Nam Mô A Di Đà Phật bên tai ông, giúp tâm ông cảm thấy bình an, có thể giúp ông vãng sinh thế giới Cực Lạc." Đệ tử đã dạy cô ấy hát tụng Nam Mô A Di Đà Phật.
Sau đó, tại phòng bệnh ở bệnh viện Trường Canh, Cao Hùng, cô ấy liên tục niệm Nam Mô A Di Đà Phật bên tai cha mình, và cha cô đã thực sự vãng sinh. Nghe nói vào ngày vãng sinh, em gái cô đã tận mắt chứng kiến toàn thân cha cô tỏa sáng màu vàng kim, bước ra khỏi bệnh viện, đi lên không trung và vãng sinh, đây là một minh chứng vĩ đại.
Trong cuộc đời, sinh ly tử biệt là điều không thể tránh khỏi, trong tình huống này, niệm Phật quan trọng hơn khóc lóc. Điều kỳ diệu hơn nữa là, ngày hôm sau hỏa táng khi đi nhặt xương, mọi người đều rất ngạc nhiên, xương của cha cô chưa cháy hết, đã kết thành xá lợi xương. Sự việc có thật này đã cảnh tỉnh chúng ta hãy nhanh chóng quy y Chân Phật, "đừng đợi đến già mới học đạo, mộ phần đơn độc toàn thiếu niên".
Quy y Sư Tôn, chúng ta nên thường xuyên tự xét lại bản thân, liệu mình có phải là một "đệ tử đạt chuẩn" hay không. Khổng Tử nói: "Ta mỗi ngày ba lần tự xét lại mình", nhập thế mà còn phải tự xét ba lần mỗi ngày, huống chi là tu tập pháp xuất thế! Có nhiều sư huynh thường không đúng giờ, có một lần khi mọi người đang tụ họp, đệ tử đã nói với các sư huynh rằng, Sư Tôn đã dạy một pháp rất hay trong "Mật Tông Yết Ma Pháp" trang 170 dòng 9 (chú thích: sách do nhà xuất bản Đại Đăng phát hành), mọi người có thể về nhà tu tập thử.
Một "đệ tử đạt chuẩn" phải tuân theo lời chỉ dạy của Sư Tôn, giữ năm giới, hành lục độ, bát chính đạo, tu thập thiện nghiệp, đó mới là tôn sư trọng pháp, mới có thể bay thoát khỏi khổ đau, đệ tử luôn tự nhắc nhở mình như vậy.
Sư Tôn đang hoằng pháp ở nơi xa xôi, đệ tử không thể tham gia cùng tu, lắng nghe lời khai thị của Sư Tôn, chỉ có thể viết thư bày tỏ một số suy nghĩ nông cạn, mong Sư Tôn chỉ dạy, đệ tử thật sự vô cùng biết ơn.
Hiện nay, hai anh trai và em trai của Liên Hoa Chính Phúc muốn quy y với Sư Tôn, kính xin Sư Tôn ban cho quán đảnh từ xa để mọi người sau này cùng được vãng sinh cõi tịnh thổ.
Kính chúc Phật an! Đệ tử Liên Hoa Mậu Bân cung kính đảnh lễ. 07.08.1986.
🌟
Thư này được gửi từ Cao Hùng, tỉnh Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc.
Chân Phật Tông của Liên Sinh Hoạt Phật là pháp môn viên thông Đạo Hiển Mật. Do đó, rất coi trọng việc niệm Phật về tịnh thổ, và không vì tu học Mật thừa mà bài trừ pháp môn Tịnh Độ niệm Phật .
Sơ tổ của Tịnh Độ tông là Đại sư Huệ Viễn. Nếu hành giả Chân Phật muốn nương theo pháp môn Tịnh Độ niệm Phật, có thể trước tiên quán tưởng Phật ở trước mắt, phóng quang chiếu rọi, sau đó bắt đầu chắp tay niệm Phật với tinh thần tập trung. Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. (ba lần) Nam mô A Di Đà Phật. (trăm lần, nghìn lần, vạn lần) Nam mô đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát. (ba lần) Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (ba lần) Nam mô thanh tịnh đại hải chúng Bồ Tát. (ba lần)
Niệm Phật xong, hồi hướng: "Nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả." Quán Tây phương Tam Thánh theo sự hồi hướng dùng vô lượng ánh sáng quán đảnh hành giả. Cát tường viên mãn.
Liên Sinh Hoạt Phật trong thiền định, kết Di Đà định ấn, trước tiên phóng quang minh bên trong tạo thành Phổ Hiền tịnh nguyệt, thân thể hoàn toàn quy về không tịch, lúc này lại hiển hiện trong hư không chày kim cang năm chấu màu trắng, phóng tỏa ánh sáng màu trắng, chày kim cang năm chấu này lại biến hiện thành Kim Cang Tát Đỏa.
Niệm: "Ôm mô-rư-la-sa-tô-mô hùm." Quán tưởng Phật tính tự thân trực thông hư không, tất cả tương ứng với cảnh giới chân thật mười phương. Phóng quang chiếu tất cả đệ tử quy y.
Và nếu đệ tử có thể trú tâm vào một chỗ thì có thể thấy được trong đại nguyệt luân, hình ảnh Liên Sinh Hoạt Phật đầu đội mũ Ngũ Phật màu đỏ, tướng mạo trang nghiêm vui vẻ, và nhận được lợi ích chân thật.
Đệ tử quy y trước khi lâm chung cũng có thể nhận được sự dẫn độ chân thật của chư Phật Bồ Tát, không còn nghi ngờ gì về việc vãng sinh Tây phương Cực Lạc, đây là sự vĩ đại của Chân Phật Mật Pháp.
Liên Sinh Hoạt Phật có thể phóng đại mandala. Đây là trí tuệ của Như Lai, có thể phá trừ mọi chướng ngại và chứng đắc lý thực tướng. Ấn đại quang minh của Liên Sinh Hoạt Phật chính là Kim Cương giới của Phật. Bản thể pháp giới này thật bao la rộng lớn, mỗi một Pháp thân của chư Phật như trăm nghìn ngọn đèn, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, mỗi một Pháp thân đều vô lượng vô biên.
Đây chính là dòng pháp. Để nhận được dòng pháp như vậy cần phải quy y Chân Phật. Để quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhận được truyền thừa của Chân Phật Tông, có hai phương thức: Đến quy y trực tiếp — nghĩa là trước tiên liên hệ sắp xếp thời gian, từ khắp nơi trên thế giới, bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Seattle, Hoa Kỳ, để được Liên Sinh Hoạt Phật đích thân quán đảnh quy y.
Sau khi quán đảnh quy y, Liên Sinh Hoạt Phật sẽ trao giấy chứng nhận quy y, pháp tướng của Căn bản Thượng sư và sách hướng dẫn tu tập, đây chính là cách nhận được truyền thừa.
Quy y bằng thư — Do đệ tử phân bố khắp mọi nơi trên thế giới, người mới khó có thể đến quy y trực tiếp với Liên Sinh Hoạt Phật. Vì vậy, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào ngày mùng một hoặc rằm âm lịch, sáng sớm 7 giờ, đối diện với hướng mặt trời mọc, tụng chú tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Quy y Chân Phật." ba lần. Tụng ba lần lạy ba lạy. (Vào mùng một hoặc ngày rằm, làm một lần là đủ.)
Tại nơi Liên Sinh Hoạt Phật, mỗi dịp mùng một hoặc rằm, đều tổ chức nghi thức quán đảnh từ xa tại Chân Phật Mật Uyển, ban quán đảnh cho những đệ tử không thể đến trực tiếp.
Đệ tử sau khi hoàn thành nghi thức tại nhà, chỉ cần viết thư, ghi rõ họ tên thật, địa chỉ, tuổi, tùy tâm gửi kèm một khoản cúng dường Phật, trong thư ghi chú là "xin quán đảnh quy y", sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ. Sau khi Liên Sinh Hoạt Phật nhận được thư sẽ gửi cho mọi người giấy chứng nhận quy y và pháp tướng của Thượng sư, đồng thời chỉ định bắt đầu tu từ pháp nào, đây chính là cách nhận được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật.
Địa chỉ Chân Phật Mật Uyển:
**Sheng Yen Lu **17102 NE 40th Ct. Redmond,WA 98052 U.S.A.
36. Đệ tử trong tông phái phải tôn trọng giáo pháp và giữ gìn giới luật
Ý nghĩa căn bản của giữ giới Giới là nền tảng cơ bản để phát huy điều thiện, diệt trừ điều ác, là hạt giống để vượt thoát phàm tục, bước vào thánh đạo. Chỉ có thọ trì thánh giới của Như Lai, mới có thể vì việc sinh tử trọng đại mà siêng năng cầu đạo chân chính, nhất định có thể chứng đắc Bồ Tát đạo.
Giới như nhật nguyệt sáng, cũng như chuỗi ngọc châu, Vô số chúng Bồ Tát, nhờ đó thành Chính Giác; Chúng sinh thọ giới Phật, tức vào ngôi vị Phật, Địa vị cùng Đại Giác, thật sự là Phật tử.
Bổn phận của đệ tử ‧Nhất tâm quy y cửa Phật, nhận biết và kính lễ minh sư. ‧Suốt đời phụng hành ý Phật, làm việc thiện. ‧Suốt đời phụng sự pháp, giữ giới. ‧Suốt đời hiếu thuận cha mẹ, kính lễ sư trưởng và đồng môn.
Giới luật Chân Phật Tông: Chân Phật Tông là chính tông, là chính pháp của Phật pháp, đệ tử phải tuân thủ giới luật cơ bản nhất của Chân Phật Tông, giữ năm giới của chính pháp. ⑴ Không sát sinh: Từ bi với muôn loài, không giết hại sinh vật, tích cực hơn là phóng sinh. ⑵ Không uống rượu: Nghĩa là không say rượu, không vì rượu mà loạn tâm. ⑶ Không tà dâm: Ngoài vợ chồng ra, những việc dâm dục khác đều là tà dâm. ⑷ Không hai lưỡi: Không gây chuyện thị phi, phạm khẩu nghiệp, không phỉ báng người tốt và chính pháp. ⑸ Không trộm cắp: Không phải vật của mình không được trộm cắp.
Đệ tử không giữ giới luật là không như pháp, dù đã quy y Chân Phật Tông nhưng không tuân thủ giữ giới chẳng khác nào vô dụng, một tấm chứng thư quy y như tờ giấy lộn, xin tự động gửi lại chứng thư cho Thượng sư.
Nghiệp tội của con người rất nhiều, như: ‧Không tin nhân quả. ‧Tự cao tự đại. ‧Tham tiền tham sắc. ‧Nghe theo bạn xấu. ‧Vì đố kỵ mà hãm hại người khác.
Nghiệp tội nặng hơn là năm nghịch tội: ⑴ Phá hòa hợp tăng, phỉ báng Phật pháp, hủy hoại kinh điển, xúc phạm thánh giáo, ngược đãi người tu hành chính pháp. ⑵ Giết hại cha mẹ. ⑶ Làm thân Phật chảy máu. ⑷ Giết A La Hán. ⑸ Chối bỏ nhân quả, làm đủ điều ác, thường làm mười nghiệp bất thiện. Đây chính là năm nghịch tội rất nghiêm trọng!
Sám hối
Con người không phải thánh hiền, tự nhiên ắt có người phạm giới, nếu có tâm sám hối cần tu pháp sám hối. Bộc lộ những nghiệp tội đã làm trước đây, ở trước chư Phật và Thượng sư chí tâm bộc lộ sám hối.
Muốn tu Pháp sám hối, có năm điểm trọng yếu:
-
Thỉnh Phật chứng biết — Cần phải thỉnh Vô Lượng Thọ Phật, Thắng Quang Phật, Diệu Quang Phật, A Súc Phật, Công Đức Thiện Quang Phật, Sư Tử Quang Minh Phật, Nhật Quang Minh Phật, Võng Quang Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Bảo Diệm Phật, Diệm Minh Phật, Diệm Thịnh Quang Minh Phật, Cát Tường Thượng Vương Phật, Vi Diệu Thanh Phật, Diệu Trang Nghiêm Phật, Pháp Tràng Phật, Thượng Thắng Thân Phật, Khả Ái Sắc Thân Phật, Quang Minh Biến Chiếu Phật, Phạm Tịnh Vương Phật, Thượng Tính Phật. Đây là phương Tây thỉnh ba vị Phật, phương Đông thỉnh năm vị Phật, phương Nam thỉnh năm vị Phật, phương Bắc thỉnh tám vị Phật. Hai mươi mốt vị Phật này, cùng được thỉnh đến để quán tưởng, đến trụ trong không trung, chứng biết cho sự sám hối của bạn.
-
Phóng quang tiêu chướng — Uy lực của hai mươi mốt vị Phật này có thể giúp những người tạo các nghiệp ác diệt tội được phúc, đây là công đức chân thật của hai mươi mốt vị Phật. Hành giả trong thiền định tưởng nhớ hai mươi mốt vị Phật đến trụ trong không trung, mỗi vị Phật từ lỗ chân lông phóng vô lượng ánh sáng lớn, có trăm nghìn loại màu sắc ánh sáng. Ánh sáng trước tiên từ lỗ chân lông phát ra, sau đó phóng ánh sáng lớn, từng tia đan xen tạo thành vô lượng màu sắc. Khi chiếu soi, biến tất cả cõi nước trong mười phương thế giới thành cõi Phật, và bản thân hành giả cũng an trụ trong thế giới ánh sáng. Tất cả ngũ trược ác thế đều được ánh sáng Phật chiếu soi. Sự phóng quang phổ chiếu của hai mươi mốt vị Phật: Một là chiếu cõi uế hóa thành cõi Phật. Hai là chiếu các chúng sinh, khiến chúng sinh có mười nghiệp ác, năm tội vô gián, phỉ báng Tam Bảo, bất kính Thượng sư, bất hiếu cha mẹ, đáng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đều nhờ ánh sáng của hai mươi mốt vị Phật mà được giải thoát. Ba là chiếu định bản thân, khiến nghiệp ác của mình tiêu trừ, nhờ được Phật quang bao trùm mà đều được an lạc, đoan chính, đầy đủ tất cả phúc huệ, trang nghiêm như Phật, được thấy tất cả chư Phật trong ba đời mười phương.
-
Niệm danh, trì chú — Nếu hành giả thấy ánh sáng, cần phải chí tâm, niệm danh hiệu hai mươi mốt vị Phật ba lần, sau đó trì Thất Phật diệt tội chân ngôn: "Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha." Chú này được trì tổng cộng 108 lần hoặc 1080 lần.
-
Quán tưởng, thủ ấn — Tay trái nắm thành quyền đặt ngang hông. Tay phải mở rộng, năm ngón duỗi thẳng, như năm màu ánh sáng tự nhiên mở ra chiếu rọi, đặt bàn tay ở giữa ngực.
-
Hồi hướng sám hối — Nghiệp chướng mà bản thân đã tạo trong nhiều đời, đáng lẽ phải đọa vào ác đạo, địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, hoặc cõi atula, thậm chí là tám nạn xứ, đều nhờ tôi tu tập chính pháp sám hối, tất cả nghiệp chướng đều được tiêu diệt hoàn toàn, tất cả ác báo trong tương lai không phải chịu. Cũng như chư đại Bồ Tát trong quá khứ tu hạnh bồ đề, tất cả nghiệp chướng đều được sám hối trọn vẹn, nghiệp chướng của tôi cũng được bộc lộ sám hối toàn bộ, không dám không thành tâm, tội lỗi hiện tại nguyện được tiêu trừ hoàn toàn, điều ác trong tương lai không dám tạo lại. Đặc biệt thỉnh hai mươi mốt vị Phật chứng biết, chứng minh.
Việc tu trì pháp này chính là pháp sám hối căn bản của Chân Phật Tông, người tu trì pháp này cũng được gia trì pháp Tứ gia hành và pháp tương ứng Thượng sư, tất cả đều thực hiện theo nghi quỹ, tự mình có thể thoát khỏi tội chướng, đạt được phúc báo vô lượng.
Tội từ tâm khởi đem tâm sám Tâm nếu diệt rồi tội cũng tiêu Tâm vong tội diệt đều không tịch Đó chính gọi là chân sám hối.
37. Nghi quỹ pháp hội cầu phúc của Chân Phật Tông
(Nghi quỹ này do Thượng sư Liên Hàn biên soạn và phát hành)
- Chấn chỉnh y áo vào đàn, dâng hương, đại lễ bái. (Sau khi lễ bái, an tọa.)
- Tụng chú thanh tịnh.
- Tụng chú triệu thỉnh.
Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật. Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Đại Chuẩn Đề Vương Bồ Tát. Nam mô Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nam mô Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát. Nam mô Lục Độ Mẫu Thánh Tôn. Nam mô Bạch Độ Mẫu Thánh Tôn. Nam mô Nhị Thập Nhất Độ Mẫu Thánh Tôn. Nam mô Bạch Y Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Nam mô Tứ Đại Thiên Vương. Nam mô Chủ Tuế Tinh Quân. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát. (Phụng thỉnh Bồ Tát, cũng có thể tùy theo chư tôn trong chùa mà phụng thỉnh.)
Khi phụng thỉnh, quán tưởng chư Phật Bồ Tát giáng lâm trong không trung, phóng hào quang chiếu sáng đàn tràng.
-
Tụng hương tán.
-
Niệm chú tứ quy y.
-
Cúng dường đại mandala.
-
Niệm sớ văn. Lắc chuông kim cang gia trì đơn cầu phúc. (Hóa đốt đơn cầu phúc và sớ văn.)
-
Pháp mặc giáp hộ thân.
-
Sám hối: A. Thỉnh Phật chứng tri, phụng thỉnh hai mươi mốt vị Phật — niệm:
Nhất tâm phụng thỉnh: Vô Lượng Thọ Phật, Thắng Quang Phật, Diệu Quang Phật, A Súc Phật, Công Đức Thiện Quang Phật, Sư Tử Quang Minh Phật, Nhật Quang Minh Phật, Võng Quang Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Bảo Diệm Phật, Diệm Minh Phật, Diệm Thịnh Quang Minh Phật, Cát Tường Thượng Vương Phật, Vi Diệu Thanh Phật, Diệu Trang Nghiêm Phật, Pháp Tràng Phật, Thượng Thắng Thân Phật, Khả Ái Sắc Thân Phật, Quang Minh Biến Chiếu Phật, Phạm Tịnh Vương Phật, Thượng Tính Phật. (3 lần)
B. Quán tưởng — Hai mươi mốt vị Phật trụ trong không gian đàn tràng, ánh sáng của mỗi vị Phật trước tiên phát ra từ lỗ chân lông, sau đó phóng đại quang minh vô lượng, có trăm nghìn loại màu sắc ánh sáng, ngũ trược ác thế, toàn bộ được ánh sáng Phật chiếu soi. (1) Chiếu cõi uế, ngũ trược ác thế, thập phương thế giới sát độ, toàn bộ biến thành cõi Phật thanh tịnh. (2) Chiếu vô lượng chúng sinh, tất cả tội thập ác nghiệp, ngũ vô gián tội, phỉ báng Tam Bảo, bất kính Thượng sư, bất hiếu cha mẹ và các tội khác, những người đáng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tất cả đều nhận được sự chiếu soi của đại quang minh từ hai mươi mốt vị Phật mà được giải thoát. (3) Chiếu định tự thân, khiến cho nghiệp ác của mình tiêu trừ, nhờ được sức gia trì của Phật quang, đều được an lạc đoan chính. Bản thân an trụ trong một thế giới quang minh, đầy đủ tất cả huệ phúc, trang nghiêm như Phật, được thấy tất cả chư Phật trong mười phương ba đời.
C. Trong quán tưởng, kết thủ ấn ngũ quang — tay trái nắm quyền đặt ngang hông, tay phải mở rộng, năm ngón duỗi thẳng, như năm màu ánh sáng tự nhiên mở ra chiếu rọi, đặt bàn tay ở giữa ngực (lòng bàn tay hướng về phía trước, lòng bàn tay dựng đứng).
D. Trì chú — Thất Phật diệt tội chân ngôn: "Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha." (49 lần hoặc 108 lần)
E. Tụng kệ sám hối — Chúng sinh đã tạo các ác nghiệp, đều do vô thủy tham sân si, từ thân khẩu ý mà sinh ra, đã phạm thập ác ngũ vô gián, tam muội da giới và các tội, vô biên vô lượng các tội lỗi, tất cả từ nay đều sám hối, chư Phật thương xót thường nhiếp thọ, cho đến thành Phật không rời xa. Nghiệp chướng các đời đều tiêu trừ, ánh sáng chiếu khắp đại cát tường; sám hối đời này các nghiệp tội, liền được thanh tịnh diệu pháp nhiên.
- Trì chú Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn 108 lần (kết ấn kim cang samaya): "Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha."
Quán tưởng: Địa Tạng Vương Bồ Tát trong không trung phóng đại quang minh chiếu khắp chúng sinh, tất cả nghiệp tội chướng ngại đều được tiêu trừ.
- Trì chú Đại Phúc Kim Cang - Liên Hoa Đồng Tử tâm chú 108 lần. (kết ấn Liên Hoa Đồng Tử): "Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm."
Quán tưởng: Liên Sinh Hoạt Phật ở không trung phóng ánh sáng trắng mạnh mẽ, chiếu khắp chúng sinh trong lục đạo, nghiệp chướng tích lũy từ nhiều đời đều tiêu tan. Liên Sinh Hoạt Phật từ trong ánh sáng trắng ban cho chúng sinh vô lượng công đức trí tuệ và phúc báo.
- Tụng "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" 1 lần. (Kết thủ ấn Quan Thế Âm Bồ Tát.)
Quán tưởng: hải hội chư Phật Bồ Tát trong không trung phóng vô lượng ánh sáng chiếu khắp chúng sinh.
-
Nhập Tam ma địa. (Nhập định quán không hợp nhất.) (Tay kết định ấn.)
-
Xuất định.
-
Diễn hóa thủ ấn cầu phúc. Tổng cộng 102 thức đại thủ ấn. (Mọi người cùng niệm "Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát".)
Quán tưởng: hải hội chư Phật Bồ Tát trụ trong không trung, phóng vô lượng ánh sáng chiếu khắp tất cả chúng sinh, tất cả bệnh tật đau khổ, tai họa bất ngờ, vô minh trở ngại và nhiều thứ khác đều tiêu tan, diệt tội được phúc, trong ánh sáng chư Phật, vô lượng tài bảo cam lộ ban cho chúng sinh, mỗi người đều được nguyện vọng viên mãn, tất cả đều hoan hỷ.
-
Cùng hát: Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.
-
Hồi hướng niệm: Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật tịnh độ, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ, nguyện cho người thấy nghe, đều phát tâm bồ đề, hết một báo thân này, cùng sinh cõi Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả.
Nguyện mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Nguyện tất cả điều cầu mong đều được toại nguyện viên mãn. Nguyện tất cả tai nạn đều tiêu tan.
-
Niệm chú viên mãn.
-
Niệm Om mani padme hum.
-
Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
Cát tường viên mãn.
🌟
Nghi quỹ này được biên soạn bởi Thượng sư Liên Hàn từ Hồng Kông. Tôi đã dạy thầy ấy các thức cầu phúc của Đại Thủ Ấn gồm 102 thức. Tôi từng nói: "Người cầu pháp với tâm khiêm tốn, dù sống cách xa nghìn dặm, vẫn có thể nhận được sự truyền pháp chân chính từ Liên Sinh Hoạt Phật; ngược lại, người không khiêm tốn cầu pháp, dù sống gần tôi, thường xuyên theo tôi, Liên Sinh Hoạt Phật cũng sẽ không truyền tâm pháp cho họ."
Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy: "Người không thực hành lời dạy của ta, dù đang ở bên cạnh ta, ta vẫn cảm thấy họ như ở rất xa; ngược lại, người có thể thực hành lời dạy của ta, dù ở nơi rất xa xôi, ta vẫn cảm thấy họ như đang ở bên cạnh ta vậy."
Nghi quỹ cầu phúc này rất toàn diện, trong tương lai các vị Thượng sư trên khắp thế giới đều phải học tập cho thông thạo và thực hành pháp này trong các đại pháp hội.
Tôi cảm thấy mỗi vị Thượng sư nên học thật tốt các loại pháp, chỉ khi có đầy đủ các loại pháp mới có thể ứng phó tự nhiên linh hoạt. Điều này được chuẩn bị để cứu độ chúng sinh, được chuẩn bị để từ bi với thế gian, vì lợi ích của cõi người và cõi trời, hãy nỗ lực học tập một cách toàn diện.
Trong đại pháp hội, tu tập nghi quỹ cầu phúc này giống như đốt nén hương lớn nhất và thơm nhất, hương này sẽ lan tỏa khắp mười phương pháp giới, khiến chư Phật Bồ Tát mười phương đều phóng hào quang, và khi chư Phật Bồ Tát phóng hào quang, chúng sinh ở cõi người sẽ nhận được phúc báo.
Tham gia pháp hội cầu phúc là diệt tội tăng phúc, là ánh sáng trí tuệ lan tỏa, là tai ương tránh xa, là cát tường như ý, là kết duyên với Phật, là thường lạc ngã tịnh.
Các vị Thượng sư, khi chủ trì đại pháp hội như thế này, đó là thắp hương lên đến cõi trời, khiến cả trời và người đều được thấm nhuần. Nghi quỹ cầu phúc này mang lại phúc báo vô lượng. Ở cõi người này, pháp hội cầu phúc của Chân Phật Tông chắc chắn được trời người ngưỡng mộ, hiện nay là tối thượng.
38. Cuốn văn tập số 68 "Mật tạng siêu kỳ lạ"
~ Đại tiết lộ diệu pháp tối thắng
Sau khi hoàn thành cuốn văn tập thứ 67 "Tiếng lòng của người quy y", tôi sẽ bắt đầu viết một cuốn sách vô cùng huyền diệu, đó chính là "Mật tạng siêu kỳ lạ". Theo ý nghĩa của tên sách, đó là bí mật, cũng là "kỳ lạ trong những điều kỳ lạ".
Có Côn Bố Rinpoche (Hoạt Phật) đến thăm tôi. Vị ấy hỏi Liên Sinh Hoạt Phật: "Ngoài Phật pháp Mật tông Tây Tạng ra, còn có Phật pháp nào khác không?" Tôi đáp: "Tôi có tất cả các pháp Nội mật thù thắng mà các vị Hoạt Phật khác chưa biết đến. Nếu tu tập theo đó có thể giúp người ta đạt được tất cả những hiệu ứng kỳ diệu nhất." "Sao không viết ra." "Đúng là tôi có ý định đó, cho nên đặt tên sách là 'Mật tạng siêu kỳ lạ' vậy!"
Vị Hoạt Phật này và các Lama tùy tùng vừa nghe tôi sẽ viết "Mật tạng siêu kỳ lạ", lập tức quỳ xuống, Côn Bố Hoạt Phật miệng lẩm nhẩm tụng đọc tiếng Phạn, đại ý là: Quy mệnh thập phương nhất thiết Phật. Tối thắng diệu pháp bồ đề chúng. Với thân khẩu ý thanh tịnh nghiệp. Ân cần chắp tay cung kính lễ.
Tôi gật đầu, chắp tay đáp lễ. Hoạt Phật quỳ gối chắp tay, lại hát tiếng Phạn: Liên Sinh Hoạt Phật tọa đạo tràng. Giác nhãn khai thông chiếu thập phương. Nay tôi quỳ gối xin phụng thỉnh. Chuyển về vô thượng diệu pháp luân. Tất cả Như Lai tam giới chủ. Trong bí mật chủ xưng đệ nhất. Nay tôi khuyến thỉnh thường trụ thế. Không bỏ bi nguyện cứu thế gian.
Sau khi nghe lời quy mệnh và khuyến thỉnh của Côn Bố Rinpoche, tôi cũng rơi nước mắt. Tôi cảm thấy các vị Hoạt Phật Tây Tạng có phong thái đặc biệt tôn quý, nhưng tất cả đều đặc biệt cung kính đối với tôi, thật là một nhân duyên kỳ diệu. Sự tán thán của các vị Hoạt Phật dành cho tôi giống như sự tán thán của đệ tử đối với vị tông chủ, loại tán thán này phát xuất từ tận đáy lòng, càng làm củng cố quyết tâm độ chúng sinh của tôi.
Đệ tử phương Tây của tôi, Thượng sư Kent (Thượng sư Liên Lý), vài ngày trước đã nói với tôi rằng, ngoài Côn Bố Rinpoche đến thăm, Chagdud Tulku Rinpoche từ tiểu bang Nevada cũng sẽ đến thăm trong thời gian tới. Vị Hoạt Phật này nổi tiếng khắp nơi, tên đầy đủ là Chagdud Tulku Rinpoche. Ngài có mái tóc búi, râu dài, mũi cao, mắt phượng. Người phương Tây đều ca ngợi Chagdud Tulku Rinpoche. Khi ngài nghe về sự tích của Liên Sinh Hoạt Phật và được giới thiệu tượng Thượng sư, Chagdud đã vô cùng ngạc nhiên và quyết định đến thăm trực tiếp.
Thực ra, cuốn sách "Mật tạng siêu kỳ lạ" của tôi vẫn không thoát khỏi phạm vi pháp môn Yoga Tam Mật, chỉ là cách vận dụng hoàn toàn dựa vào nhất tâm thực hiện, cũng chính là nhất tâm cùng hiện thân vàng trượng sáu, ngồi trên biển tính kim cang, bay trên đài sen báu, hiển hiện nghìn cánh tay, nghìn bộ kinh, nghìn loại Nội pháp.
Trong "Mật tạng siêu kỳ lạ" này, tôi cố gắng viết các phương pháp tu tập một cách đơn giản nhất có thể, nhưng Mật pháp không phải chỉ dùng tay và miệng là có thể tu tập được. Điều quan trọng nhất là dùng "tâm" để trải nghiệm những kinh nghiệm trong đó, cho đến khi tâm bừng sáng thông suốt, mọi việc đều có thể thành tựu trong khoảnh khắc.
Trong "Mật tạng siêu kỳ lạ" có những bí mật lớn của nội tâm, trong đó có những cảnh giới không thể diễn tả bằng lời, dẫn dắt từ thế giới nội tâm cá nhân đến cảnh giới chư pháp vô ngã. Sự dẫn dắt này là một giác ngộ chấn động, không phải tầm thường, không chỉ có thể thấu triệt sinh tử, mà còn có thể thấu suốt bản chất thật của pháp.
Trong cuốn "Mật tạng siêu kỳ lạ", tôi sẽ mô tả chi tiết các nghi quỹ khác nhau của pháp Đại Uy Đức Kim Cang, đây là sự công khai những bí mật không truyền, những điều bí mật không truyền nay hiển lộ cho thế gian. (Trong đó còn có nghi quỹ mandala chìa khóa báu khai tạng mật truyền, đều là những pháp vô cùng thù thắng.)
Mong rằng việc xuất bản "Mật tạng siêu kỳ lạ" có thể giúp chúng sinh sám hối, cũng khiến chúng sinh tùy hỷ. Tôi nguyện cho chúng sinh không đánh mất tâm bồ đề, luôn luôn thanh tịnh, an trú giữa chư Phật Bồ Tát, với các huynh đệ kim cương đều là thiện hữu, thoát khỏi mọi tai ương và nạn khổ, mọi hành vi đều trang nghiêm tự tại, xa lìa si mê, đạt được tự tại và lục thông viên mãn.
Liên Sinh Hoạt Phật viết "Mật tạng siêu kỳ lạ", nhập Tam ma địa, từ Mi tâm luân phóng ra ánh sáng lớn của Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử này phát ra âm thanh lớn: "Liên Hoa Đồng Tử là vị Chuyển Luân Vương trí tuệ của tất cả Như Lai." Trong một sát-na, hoàn thành sự nghiệp độ sinh.
Cuốn "Mật tạng siêu kỳ lạ" này nhận được sự tán thán của chư Phật. Nam mô Bảo Cái Phật. Nam mô Sa La Thọ Vương Phật. Nam mô Vô Lượng Quang Phật. Nam mô Diệu Nhãn Phật.
Cuốn "Mật tạng siêu kỳ lạ" được viết bởi "Liên Sinh Hoạt Phật" theo sự thỉnh cầu của Côn Bố Hoạt Phật.
39. Siêu độ năm Bính Dần
Tờ báo "Chúng Thanh Báo" phát hành tại bang Washington, Hoa Kỳ, đưa tin như sau:
[Tin tức] Vào ngày 30 tháng 8 năm 1986 (thứ Bảy), hơn 400 đệ tử thành tâm đến từ các quốc gia Đông Nam Á, Hồng Kông, Canada, Nhật Bản, Trung Hoa Dân Quốc, Nam Mỹ và các tiểu bang của Hoa Kỳ đã tụ họp tại Lôi Tạng Tự ở thành phố Redmond, tham dự buổi lễ siêu độ quy mô lớn nhất kể từ khi ngôi chùa được thành lập, dưới sự chủ trì của Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.
(Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn hiện có 120.000 đệ tử.)
Vào lúc 1 giờ chiều ngày hôm đó, chuông trống trong chùa đồng loạt vang lên. Thượng sư Liên Chủ, người điều hành buổi lễ, tuyên bố buổi lễ bắt đầu. Mười vị Thượng sư mặc pháp y màu vàng trước tiên chắp tay bước vào hành lang trong chùa, sau đó tông chủ Chân Phật Tông Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, cùng với Thượng sư Liên Hỏa và Thượng sư Liên Thế tháp tùng, bước lên pháp tọa, bắt đầu nghi thức siêu độ.
Phó Giám đốc văn phòng, ông Trịnh Tùng Bản, đã đến phát biểu tại buổi lễ. Trên đây là bản tin từ "Chúng Thanh Báo".
Lễ siêu độ năm Bính Dần cũng là ngày đệ tử từ các phân đường khắp thế giới tụ họp, đây là: Mật pháp Chân Phật bừng khí thế, Lôi Tạng âm vang chấn Phật phong; Tám phương vân tập triều tông chủ, Môn đệ đầy cửa đại vui mừng.
Tôi thấy các đệ tử sống tại đảo Bali Indonesia, các đệ tử sống ở Trung Đông, châu Âu, họ đã bay qua nửa vòng trái đất để đến Lôi Tạng Tự tham dự pháp hội, điều này khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi cầu nguyện chư Phật Bồ Tát, chư thiên phóng tỏa ánh sáng từ bi, để các đệ tử thành tâm được an lành, may mắn, mọi điều mong cầu đều được thành tựu.
Pháp hội siêu độ vẫn hiển hiện những điều linh nghiệm kỳ diệu. Một nữ cư sĩ tên Lư Thu Hương đến từ tiểu bang New York, Hoa Kỳ, đã nhìn thấy diễn hóa thủ ấn của Liên Sinh Hoạt Phật tỏa ra ánh sáng đỏ rực rỡ. Nhiều người đã thấy diễn hóa thủ ấn của Liên Sinh Hoạt Phật phóng ra ánh sáng đỏ dài cả trượng, biến toàn bộ Lôi Tạng Tự, toàn bộ thành phố Redmond, thậm chí toàn bộ tiểu bang Washington thành đạo tràng kim cang, khiến người chứng kiến vô cùng kinh ngạc.
Trong pháp hội siêu độ, rất nhiều người đã nhìn thấy tổ tiên của mình. Tại chỗ, có đệ tử đã ôm lấy linh hồn tổ tiên và khóc nghẹn, tiếng khóc vang động cả pháp hội, vô cùng xúc động. Những người nhìn thấy tổ tiên đều rơi nước mắt, đây là cảnh tượng hiếm có và vô cùng quý báu.
Điều đáng nhắc đến là, sư cô Lâm Thiên Đại (Chyo-san) đã đặc biệt vội vã đến từ Phân đường Thạch Bích, Hoa Liên, Trung Hoa Dân Quốc. Khi nhìn thấy cảnh tượng long trọng như vậy, cô cũng xúc động khóc không ngừng. Đồng thời, mặc dù cô là người khai sáng cho Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, nhưng cô đã quyết tâm quy y Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, quy y Chân Phật Tông và học tập Chân Phật Mật pháp. Trong lễ quán đảnh, cô đặc biệt yêu cầu được Hoạt Phật quán đảnh và đảnh lễ Hoạt Phật. Đây là: Thầy độ trò. Trò độ thầy. Pháp danh của Lâm Thiên Đại (Chyo-san) là Liên Hoa Thiên Đại.
Liên Hoa Thiên Đại cũng tham gia lễ siêu độ (âm dương hội) tại Lôi Tạng Tự, rất linh nghiệm, đã mang đến nhiều điều thù thắng kỳ diệu hơn nữa cho Lôi Tạng Tự.
Mẹ tôi, Lư Ngọc Nữ, trong pháp hội này, đã nhận được sự quán đảnh gia trì của Hoạt Phật lần thứ hai, pháp lực vẽ phù chú của bà ngày càng mạnh mẽ, dùng thần bàn để độ chúng sinh, nhiều phép lạ đã xuất hiện, nay đã gây chấn động khắp thế giới, người từ khắp nơi trên thế giới đều đến Đài Loan tìm mẹ tôi để hỏi việc và giải trừ tai ách. Đây là: Mẹ sinh con. Con độ mẹ.
Trong pháp hội siêu độ năm Bính Dần này có các Thượng sư đến từ Hồng Kông, các Thượng sư đến từ Đài Loan, các Thượng sư đến từ Canada, tổng cộng có hơn mười vị Thượng sư, trang phục chỉnh tề, đạo tràng trang nghiêm, pháp hội diễn ra nghiêm cẩn, nhiều hình ảnh phóng quang hiển lộ điều linh nghiệm.
Liên Sinh Hoạt Phật trong thời gian này đã có ba ngày thuyết pháp khai thị, tối 30/8 là "Tâm yếu Chân Phật Mật pháp", tối 31/8 là "Mật pháp rung cây tiền của Chân Phật Tông", tối mùng 1/9 là "Chỉ yếu lâm chung của Chân Phật Tông", ba ngày pháp này đều vô cùng quý báu.
Điều đặc biệt hơn của pháp hội này là việc tổ chức "Lễ truyền giới Bồ Tát tại gia của Chân Phật Tông thế giới", các giới tử niệm tụng "Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật", vào lúc nửa đêm truyền thụ giới Bồ Tát, có giảng giới, có điểm giới sẹo, tất cả đều tiến hành theo nghi lễ, Liên Sinh Hoạt Phật đều có khai thị đặc biệt.
Tôi mong các đệ tử đến từ các quốc gia trên thế giới tham dự pháp hội khi trở về đất nước của mình sẽ truyền bá cảnh tượng sôi nổi của pháp hội đến tất cả đệ tử trên toàn thế giới, khiến mọi người đều vui mừng phấn khởi, pháp vụ hưng thịnh, các đệ tử luôn tinh tấn, tu trì đúng pháp, ai ai cũng thành Phật.
Chúng ta hãy đảnh lễ chư Phật Bồ Tát mười phương.
40. Nghi quỹ Mật pháp rung cây tiền của Chân Phật Tông
Mật pháp rung cây tiền này được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho Liên Sinh Hoạt Phật.
Mật pháp rung cây tiền này cần phải được quán đảnh mới có thể tu trì.
Công dụng: tăng ích, tăng phúc, thăng quan, thăng chức, tăng lương, kéo dài tuổi thọ, công danh, thông tuệ, kinh doanh thành công, sự nghiệp thành tựu, hưng thịnh phát đạt, tài nguyên không dứt, tiền tài bất ngờ, trúng giải lớn, có được châu báu, nhà cửa xe cộ v.v…
Thiết lập đàn: Dùng bàn hình vuông, phủ vải màu vàng, pháp đàn phải ngồi hướng Đông nhìn về hướng Tây, chủ tôn là tượng Liên Hoa Đồng Tử" (tượng Thượng sư), tượng Thượng sư ngồi hướng Đông nhìn về hướng Tây, ngũ cúng hoặc bát cúng, hương, hoa, nến, trái cây, càng nhiều màu vàng càng tốt. Đặc biệt khi thiết lập đàn, phía trước ngũ cúng và bát cúng, đặt một cây nhựa nhỏ (cây giả), trên cành cây, cuộn tiền mới, bọc giấy đỏ, buộc bằng dây đỏ. Buộc bảy tờ tiền mới lên cành cây, tượng trưng cho ý nghĩa viên mãn.
Hai điểm đặc biệt của pháp này: Thứ nhất, thờ cúng tượng Liên Hoa Đồng Tử (tượng Thượng sư) làm chủ tôn. Thứ hai, phía trước đàn có cây nhỏ, trên cành cây, tiền mới được bọc giấy đỏ, buộc bằng dây đỏ. Thời gian tu pháp: Mỗi ngày một đàn, tu cho đến khi tương ứng. Tư thế tu pháp: Tốt nhất là ngồi kiết già, hoặc có thể dùng bán già và ngồi như ý.
🌟
Nghi quỹ:
-
Niệm chú thanh tịnh.
-
Niệm chú triệu thỉnh 3 lần. (Quán tưởng Liên Sinh tôn giả, đầu đội mũ Ngũ Phật, thân mặc pháp y màu vàng, ngồi trên đài sen màu vàng, giáng lâm đàn tràng, mặt mỉm cười, phóng ánh sáng vàng rực chiếu vào hành giả.)
-
Đại lễ bái.
-
Cúng dường pháp mandala.
-
Niệm chú tứ quy y.
-
Mặc giáp hộ thân.
-
Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 lần, 3 lần hoặc nhiều lần)
-
Kết ấn — Tất cả các ngón tay của hai bàn tay đều mở hoàn toàn, lòng bàn tay trái hướng xuống, đặt ngang ngực, lòng bàn tay phải hướng ra trước, đặt giữa ngón cái và ngón trỏ của tay trái. (Giống như một cây được trồng trên mặt đất, đây chính là ấn rung cây tiền.)
-
Quán tưởng — Liên Sinh tôn giả phóng ra ánh sáng vàng lớn chiếu vào cây, toàn bộ cây tỏa ánh sáng vàng kim. Cây trở nên to lớn, lá cây sum suê dày đặc. Tiếp tục quán tưởng lá cây không còn là lá nữa, tất cả biến thành từng tờ tiền mới, nghĩa là một cây lớn với tất cả lá của nó đã biến thành tiền. Quán tưởng từng chi tiết rõ ràng. (Lúc này, tay phải lắc nhẹ, tức là đang rung cây.)
Quán tưởng tất cả lá cây (tiền) đều rơi xuống xung quanh hành giả Mật tông, chất đống cao như núi, vây quanh hành giả.
-
Trì chú — "Nam-mô san-man-tô wa-rư-fa hùm." Trì tụng chú này 108 lần hoặc nhiều hơn. Khi trì chú có thể buông ấn, lần tràng hạt.
-
Nhập Tam ma địa. (Cửu tiết Phật phong, tâm cảnh thư giãn, nhập ngã ngã nhập.)
-
Hồi hướng: Hồi hướng theo ý nguyện của mình. Hoặc "Công đức tu pháp, nguyện đệ tử ○○○ tất cả tu trì cầu nguyện thuận lợi viên mãn thành tựu, tất cả mong cầu đều thuận lợi như ý viên mãn."
-
Niệm chú viên mãn 3 lần.
-
Đại lễ bái, xuất đàn.
Cát tường viên mãn.
🌟
Mật pháp rung cây tiền của Chân Phật Tông đã được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trực tiếp truyền thụ cho Liên Sinh Hoạt Phật vào ngày 31 tháng 8 năm 1986. Pháp này chưa từng có trong Mật tông Tây Tạng, Đông Mật hay Trung Mật, đây chính là Mật pháp đặc biệt và độc nhất vô nhị của Chân Phật Tông.
Mật pháp rung cây tiền này đã được quán đảnh và truyền thụ công khai vào lúc 8 giờ tối ngày 31 tháng 8, sau đại pháp hội siêu độ năm Bính Dần của Chân Phật Tông, đây cũng chính là lần công khai đầu tiên của pháp này giữa trời người.
Pháp này có hai cách thờ cúng: Thứ nhất, có thể thờ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở trên, tượng của Liên Sinh Thượng sư ở dưới. Thứ hai, cũng có thể chỉ thờ tượng của Liên Sinh Thượng sư.
Hiện tượng tương ứng khi tu pháp rất đặc biệt, đó là hành giả Mật tông sẽ thấy cây nhựa mình thờ cúng phát ra ánh sáng vàng kim nhẹ nhàng, hoặc một lớp ánh sáng vàng mỏng phủ trên cây giả. Đây chính là thời khắc tu pháp tương ứng. Lúc này hãy lập tức cầu nguyện với Liên Hoa Đồng Tử, cầu gì được nấy, có cầu ắt ứng. Trọng tâm của việc tu pháp nằm ở phép quán tưởng.
Người muốn tu Mật pháp rung cây tiền của Chân Phật Tông, ngoài những người đã được quán đảnh trực tiếp trong pháp hội siêu độ năm Bính Dần, những người khác muốn tu phải viết thư cầu xin Thượng sư Hoạt Phật quán đảnh từ xa thì mới được tu, vì có được quán đảnh của Thượng sư mới có thể đạt được tương ứng.
Mật pháp rung cây tiền này, khắp thiên hạ, chỉ có duy nhất một nơi.
41. Bài thơ về sách "Một thoáng Phật quang"
Kính thưa Sư Tôn xem xét:
Gần đây con trai nhỏ Thiếu Hoài đã gửi tặng cuốn sách mới "Một thoáng Phật quang" của Sư Tôn. Sau khi đọc xong, đệ tử xúc động viết chín bài thơ thất ngôn tứ tuyệt để ghi nhớ. Con kính dâng lên thầy xem xét và mong thầy chỉ bảo!
Thành tâm cầu chúc Phật an! Liên Hoa Chấn Hoàn.
(1) Một thoáng Phật quang
Phật quang thoáng hiện chẳng lưu dấu Chân lý rành rành thức tỉnh người Thường dạy đệ tử siêng tu đức Quên mình mới xứng Chân Phật Tông.
(2) Kim Cang bất diệt
Tiền thế kim cương bất diệt thân, Liên Hoa Đồng Tử giáng phàm trần; Bí mật âm dương đều tinh thâm, Phật pháp thần thông trong ngoài kính.
(3) Hoạt Phật quy y
Linh cơ diệu toán đời ca ngợi Danh tiếng trong ngoài ai cũng biết Hoạt Phật Tây Tạng thường quy y, Cứu đời giúp người chẳng nhận thí.
(4) Quả báo không sai
Nhân quả xưa nay báo chẳng sai, Phú quý trước mắt tựa hoa quỳnh Một sớm gia đình tan nát hết, Mới tin năm xưa tội ác gây.
(5) Hối hận đã muộn
Thành Phật thành Tiên thật rõ ràng Kiền thành tu đạo chứng bồ đề Làm điều sai trái con cháu khổ Hoàng tuyền phán tội chẳng kịp hối.
(6) Mèo quy y
Phật pháp vô biên thực đáng tin Lôi môn hoằng đạo người đổ về Sư Tôn thuyết pháp người vui thích Mèo nhỏ cảm động cũng quy y.
(7) Quỹ hành thiện
Quỹ thiện mang phúc đến người khổ Không phân quốc tịch đều quan tâm Bố thí cứu người như vua Nghiêu Đức nhân thánh hiền soi hậu thế.
(8) Vạn niệm đều không
Cuộc đời tháng năm quá vội vàng! Chuyện cũ như khói vạn niệm không May thay thân cứng thần vẫn mạnh Ánh chiều nghiêng vui tịch dương hồng
(9) Cảm hoài 86 tuổi
Tuổi già thong thả vượt bát tuần Tai mắt tinh anh thân vẫn cường Cầm bút vung tay còn mạnh mẽ Chữ nhỏ như ruồi đẹp tựa non.
Vị đệ tử 86 tuổi Liên Hoa Chấn Hoàn có thư pháp và văn chương đều xuất sắc, chín bài thất ngôn tứ tuyệt đều chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Điều quý giá nhất là duyên Phật từ kiếp trước, việc tu trì không bao giờ gián đoạn.
Con trai của Liên Hoa Chấn Hoàn là Liên Hoa Thường Dũng muốn xuất gia làm tăng. Cụ già khuyến khích anh: "Nay thấy con giữ tâm thanh tịnh ăn chay, thành tâm tụng kinh, đủ chứng tỏ con chân thành quy y Như Lai, cha không những không phản đối, mà còn sẽ nhẹ nhàng khuyên mẹ con, để hoàn thành tâm nguyện của con."
Đọc thư văn, tôi cảm động sâu sắc, kính ngưỡng Liên Hoa Chấn Hoàn vô cùng!
(Hết.)