Chuyển tới nội dung chính

068. Mật tạng siêu kỳ lạ

Mật tạng siêu kỳ lạ

🪷 Đại công khai diệu pháp tối thắng

Văn tập: 068 Xuất bản: 01/1987 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


Mục lục

Lời mở đầu

Sự thần kỳ của tạo hóa

"Mật tạng siêu kỳ lạ" là văn tập số 68 của tôi, tiêu đề phụ của cuốn sách này là — Đại công khai diệu pháp tối thắng. Trong sách này có diệu pháp tối thắng, nên là quý giá bậc nhất. Trong sách có rất nhiều nghi quỹ Mật giáo, bên trong chứa đựng pháp lực mạnh mẽ hùng vĩ, có tâm pháp thanh tịnh và cảnh giới tinh tế tuyệt đẹp.

Liên Sinh Hoạt Phật nhấn mạnh, không phải khi đã có "Mật tạng siêu kỳ lạ" thì có thể từ bỏ việc tu trì "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp". Tôi cho rằng, hai bộ nghi quỹ này không thể bỏ qua bên nào, sự tu hành Mật giáo là tiến dần từng bước, từ nông đến sâu. Tôi mong các đệ tử có thể tiến bước tuần tự, chứ không phải ham cao chuộng xa. Trong quá trình này, cần có trí tuệ thâm nhập, từ một hiểu nhiều.

Trong sách, tôi sẽ giải thích nhiều cảnh giới pháp lực, những cảnh giới này là kết tinh của pháp lực, có thể nói là kinh thiên động địa, làm quỷ thần phải khóc. Trong đó biến hóa muôn vàn, khiến người ta phải thán phục sự thần kỳ của tạo hóa. Cảnh giới nội minh này không phải là những chữ viết tùy tiện, mà là cảnh giới giác ngộ thực sự mênh mông vô tận.

Liên Sinh Hoạt Phật thẳng thắn nói với độc giả và đệ tử rằng, tôi đã hiểu sâu sắc về sự kỳ diệu của tạo hóa, thấu hiểu chân lý vũ trụ, và đã có được một lối suy nghĩ phong phú hoàn thiện về Chân Phật Mật Pháp, pháp của Chân Phật Tông này đã chứa đựng sâu sắc diệu pháp tối thắng. Người đọc sách này sẽ kinh ngạc, bởi đây là trí tuệ cao nhất của Mật tông. Người đọc sách này sẽ thán phục, bởi đây thực sự là điều hiếm có trên đời. Người đọc sách này sẽ buồn, tại sao không sớm quy y Liên Sinh Hoạt Phật! Người đọc sách này sẽ vui mừng, bởi cuối cùng họ đã hiểu rằng Liên Sinh Hoạt Phật quả thực là một bậc Đại Trì Minh Kim Cương A Xà Lê đã chứng ngộ.

Cuốn sách này trong quá trình viết có nhiều nghi quỹ, mô tả pháp lực bay cao vạn dặm, văn phong đa dạng, cách viết khác với sách thông thường. Mặc dù có nhiều hình thức khác nhau, nhưng nếu độc giả lĩnh hội cẩn thận, sẽ có thể hiểu được ý nghĩa bên trong, đây vừa là "bình thường" vừa là "phi thường".

"Mật tạng siêu kỳ lạ" này là Nội pháp bí mật, có thể nói là diệu pháp vô thượng xuất thế gian, đã được Liên Sinh Hoạt Phật ấn chứng, và là pháp thành tựu siddhi.

Liên Sinh Hoạt Phật nhờ tu chứng "Mật tạng siêu kỳ lạ" mà hiện ra thân vàng cao một trượng sáu, ngồi trên đài sen bách bảo trong biển tính kim cương, phần thân trên hiện ra nghìn cánh tay. Điều này có nghĩa là Liên Sinh Hoạt Phật đã có được trăm nghìn tỷ pháp môn, có thể độ hóa trăm nghìn tỷ chúng sinh.

Tôi hiểu sâu sắc rằng, một bậc giác ngộ lớn, khi đạt được chứng ngộ, tự nhiên sẽ bộc lộ một tâm bi mẫn, đó chính là tâm đại từ bi cứu độ chúng sinh. Tất cả chư Phật và Bồ Tát cùng nhau hộ trì, yêu cầu bậc giác ngộ tuyên thuyết trăm nghìn môn Đà-la-ni, để giúp chúng sinh từng người một đi vào trong kho tàng bí mật.

Quan niệm hiện tại của tôi là, từ xưa đến nay những Nội pháp đại mật đều không được công khai, giữ gìn tính bí mật hoàn toàn, trở thành đặc quyền của một số ít Hoạt Phật. Nhưng ngày nay, tôi nhận thấy mọi người đều bình đẳng, thời cơ để pháp mật tạng thâm nhập vào đời sống dân gian đã đến, việc tu pháp học Phật không phải chỉ là việc của Lama hay hòa thượng, mà là việc ưu tiên hàng đầu trong đời sống đại chúng. Tôi mong rằng mọi người đều có thể học Phật tu pháp, cuộc sống như vậy mới có ý nghĩa. Chúng ta làm người sống trên thế giới này, làm sao có thể xem nhẹ việc tu hành trọng đại như vậy được.

Dù thế nào đi nữa, tôi viết cuốn "Mật tạng siêu kỳ lạ" này là kết tinh từ sự chứng ngộ cá nhân của tôi, như một quả bồ đề, nếu người ta thụ hưởng được, sẽ đạt được trí tuệ vĩ đại của cuộc sống. Ngay cả các vị Hoạt Phật và Lama, bậc đại đức xuất gia khi có được cuốn sách này, chỉ cần tham khảo và áp dụng, có thể đạt được sự phát triển ngoài sức tưởng tượng. Tôi hy vọng mọi người sẽ dùng sự kính trọng cao nhất để tôn trọng cuốn sách này.

Đúng vậy, Liên Sinh Hoạt Phật chân thành mong rằng "Mật tạng siêu kỳ lạ" sẽ là một bộ đại bảo điển đi sâu vào Nội mật, chỉ dẫn con đường tu hành cho người hiện đại, như những ngọn đèn liên tiếp thắp sáng, luôn dẫn dắt mọi người đi đến Tam ma địa của sự giác ngộ.

Đừng nghĩ rằng sách của Liên Sinh Hoạt Phật rất bình thường, mà trong cái bình thường có cái phi thường. Con người tôi không có gì khác biệt so với người thường, nhưng khi bay bổng biến hóa mới hiện ra cảnh giới phi thường.

Tại đây, tôi xin tuyên bố với mọi người, cuốn sách này là "Đại công khai diệu pháp tối thắng", đệ tử nào muốn tu học phải được quán đảnh bởi một vị Thượng sư chân chính mới được phép tu học. Một số tâm pháp trong đó cũng cần được giải thích bởi vị Thượng sư chân chính mới có thể hiểu rõ ràng, những chỗ không hiểu, cần thỉnh cầu Thượng sư khai thị giảng giải.

Viết một bài kệ ghi lại: Sách siêu kỳ lạ rực rỡ nhất Dòng pháp thù thắng mãi lưu hương Nội minh ngoại mật tọa đàn tràng Pháp lưu Chân Phật lan rộng khắp.

Tháng 1 năm 1987 tại Chân Phật Mật Uyển, thành phố Redmond, bang Washington, Hoa Kỳ.

Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

Sheng-yen Lu

17102 NE 40th CT REDMOND WA 98052 U. S. A.

01. Căn bản Thượng sư đệ nhất quán

Xưng hiệu tôn quý chí thánh của Liên Sinh Hoạt Phật là: Nam Mô Tây Phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả.

Hành giả Mật tông tu pháp quán tưởng đệ nhất. Niệm: "Nam mô guru Liên Sinh Hoạt Phật." (3 biến) Sau đó tay kết ấn Liên Hoa Đồng Tử. Quán tưởng: ở hư không đối diện với chính mình có một tòa hoa sen báu lớn do tám con sư tử nâng lên, bầu trời bên phải có mặt trời, bầu trời bên trái có mặt trăng. Trên tòa hoa sen có Căn bản Thượng sư, cũng tức là Liên Sinh Hoạt Phật. Căn bản Thượng sư đầu đội mũ Ngũ Phật, mặt màu vàng kim, thân mặc ba y. Căn bản Thượng sư một đầu hai tay, tay phải đặt lên tòa sen, tay trái cầm bình đựng đầy cam lộ, ngồi tư thế kim cương kiết già. Sau lưng Liên Sinh Hoạt Phật có hào quang xanh lam, đỉnh đầu có hào quang màu trắng, quang minh xán lạn, tướng đẹp trang nghiêm. Tiếp theo quán tưởng đỉnh đầu Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang, tòa hoa sen trên đầu Hoạt Phật có Kim Cương Trì (Dojre Chang), một mặt hai tay, thân màu lam, ánh sáng rực rỡ, mũ miện chuỗi vòng làm trang nghiêm, tay phải cầm chày, tay trái cầm chuông, hai tay bắt chéo đặt trước ngực. Trong tim của Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang về phía bên phải, trên tòa hoa sen nguyệt luân có một vị Di Lặc Bồ Tát ngồi, một mặt hai tay, thân màu đồng đỏ, mũ miện chuỗi vòng làm trang nghiêm, hai tay kết ấn chuyển pháp luân. Trong tim của Liên Sinh Hoạt Phật phóng quang về phía bên trái, trên tòa hoa sen nguyệt luân có một vị Văn Thù Bồ Tát ngồi, một mặt hai tay, hình tướng nhi đồng, trên đầu có năm búi tóc, mũ miện chuỗi vòng làm trang nghiêm, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm cành hoa, trên hoa có kinh điển bát nhã.

Bên dưới Liên Sinh Hoạt Phật có Ngũ Bộ Phật và Kim Cang Phật Mẫu, bên dưới nữa có Bồ Tát, bên dưới nữa có Duyên Giác, bên dưới nữa có Thanh Văn, bên dưới nữa có Không hành, bên dưới nữa có Hộ pháp.

Quán tưởng theo thứ tự như vậy, từ Kim Cương Trì đến Liên Sinh Hoạt Phật đến Hộ pháp ở dưới thấp nhất, tổng cộng là quán tưởng tám tầng.

Trong Căn bản Thượng sư đệ nhất quán rất tỉ mỉ này vẫn còn có rất nhiều các vị thầy gốc và Bổn tôn các đời, vô thượng bản tục chư tôn, du già bản tục chư tôn, hành bản tục chư tôn, sự bản tục chư tôn bao quanh Căn bản Thượng sư, mỗi vị đều hiện lên vô số biến hóa, thân phóng ánh sáng, đan xen vào nhau thành ánh sáng vi diệu của Chân Phật Mật Giáo. Quán tưởng Căn bản Thượng sư đệ nhất quán như vậy là hoàn thành.

Niệm: "Nam mô thập phương tam thế nhất thiết Như Lai, đức nghiệp tính thể nguyên thống tự tính, bát vạn tứ thiên pháp môn, sở xuất nhất thiết thánh tăng, tổng tể cụ ân Căn bản Thượng sư." (3 biến) Thế rồi sau đó, từ trên thân của Căn bản Thượng sư và chư tôn có ánh sáng tuôn ra, giống như ánh sáng mặt trời, hoặc ánh sáng cầu vồng, hoặc ánh sáng lưu ly, dòng chảy pháp cam lộ ngũ sắc từ hư không giáng xuống, đi vào từ Phạn huyệt [lỗ đỉnh đầu] của mình, đi đến từng lỗ chân lông trên người mình. (Hành giả quán tưởng.) Đến đây, hành giả Mật tông từ vô thủy đến nay, mỗi tội chướng, đọa nghiệp, tất cả phá giới hoặc vi phạm điều cấm, nghiệp bất tín phỉ báng được tích lũy, nhờ có Căn bản Thượng sư đệ nhất quán mà những nghiệp chướng ngày lần lượt hóa thành như khói hơi, từ các lỗi chân lông thoát ra bên ngoài. Tự thân hành giả Mật tông chuyển thành trong suốt lấp lánh, tự tính phát quang, có được tất cả trường thọ, phúc huệ tăng trưởng.

Lúc này, hành giả Mật tông tụng nhiều lần nhất có thể: Na-mô gu-ru pây. Quy y Thượng sư. Quán tưởng Căn bản Thượng sư phóng quang. Na-mô pút-ta-yê. Quy y Phật. Quán tưởng thân chư Phật phóng quang. Na-mô ta-mô-yê. Quy y pháp. Quán tưởng các quyển kinh điển tiếng Phạn phóng quang. Na-mô sâng-kya-yê. Quy y tăng. Quán tưởng các hàng Thánh tăng như Bồ Tát Thanh Văn Duyên Giác phóng quang.

Lúc này, tướng đẹp trang nghiêm của Căn bản Thượng sư cùng thể tướng của chính mình hòa nhập vào nhau, có nghĩa là trong sát-na, tự thân chuyển thành Căn bản Thượng sư, vì tự thân đã tương ứng với Căn bản Thượng sư cho nên phóng quang chiếu đến cha mẹ bạn bè thân hữu của mình, cho đến tất cả chúng sinh, phá trừ tất cả nghiệp chướng của chúng sinh, lần lượt cứu độ, đưa họ thoát khỏi biển khổ luân hồi. Trì Thượng sư tâm chú: Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hùm. (108 biến) Dựa vào tâm chú này mà quán không tất cả, nhập vào Tam ma địa Liên Sinh Hoạt Phật. Sau khi xuất định, niệm văn hồi hướng: Liên Sinh Hoạt Phật gia trì lực Tam Bảo phóng quang trừ nghiệp chướng Tùy hỷ hữu tình các việc thiện Hộ trì chính giác ý bồ đề Tôi và chúng sinh thành Phật đạo Đều cùng vãng sinh Cực Lạc quốc.

Cát tường viên mãn.

🌟

Căn bản Thượng sư đệ nhất quán này nhìn thì có vẻ đơn giản, nhưng thật ra quán tưởng tám tầng này đều không dễ, người tu tập phải có sự kiên nhẫn, quán tưởng bắt đầu từ Căn bản Thượng sư cho đến Hộ pháp thì dừng, hoàn toàn là một dạng bí mật của nội quán, tu tập lâu ngày tự có đại chứng nghiệm.

Năm xưa Liên Sinh Hoạt Phật tu tập pháp này đã coi A Di Đà Phật là Căn bản Thượng sư, cho đến khi đại chứng nghiệm thì nhìn thấy A Di Đà Phật từ không trung dần dần hạ giáng, giống như một đám mây, cứ thế giáng xuống cách mặt đất khoảng hơn một trăm trượng [1 trượng tương đương 3,3 mét] thì mới dừng lại bất động trong hư không, áo cà sa màu tím và hào quang màu đỏ của ngài đều rất rõ ràng, chói lọi rực rỡ, tôi nhìn thấy cảnh kỳ lạ hiếm có như vậy thì hết sức vui mừng tán thán. Đây là một cảnh chứng nghiệm rất xúc động. A Di Đà Phật nói: "Con chính là Di Đà, Di Đà chính là con." "Con ngộ được điều gì?" "Tâm linh trong vắt, tham tán tạo hóa, không hai không khác, chính là khai ngộ."

Tôi nghe xong bốn câu này của A Di Đà Phật, hiểu được ý vị sâu xa, lĩnh hội được vô tận, trong sát-na, trong ngoài đều sáng rực. Lúc này, xung quanh A Di Đà Phật hiện ra mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử, có chín vị hiện thân nam, chín vị hiện thân nữ, các vị hát lên bài ca rất đẹp đẽ diệu kỳ: "Đội hồng quán." "Rủ thánh miện." "Hiện kim cang." "Thượng sư thật."

Tôi nghe xong bài ca của mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử, cảm thấy thần kỳ, dư âm không ngớt ngân vang. Từ đó tôi biết, Chân Phật Mật Pháp trong đời tương lai sẽ được truyền tụng không ngừng, hơn nữa còn vang lừng một thời, hưởng hương khói nghìn đời, được người đời kính ngưỡng.

Sự khai ngộ đại chứng nghiệm này không phải ở trong mơ, mà là tôi nhìn thấy rất chân thực. Chúng sinh tương lai chỉ cần quy y Chân Phật, tu tập như pháp, Liên Sinh Hoạt Phật nhất định hiện thân sờ đầu, tôi và chúng sinh cùng thành Phật đạo, người người được khai ngộ.

02. Quán vô lượng tâm

Liên Sinh Hoạt Phật thường xuyên tĩnh tọa quán tưởng, chúng sinh của thế giới này từ đâu mà đến, rồi lại từ đâu mà đi, sinh sinh tử tử này là một hiện tượng của thế gian, sự phân tranh của nhân gian này cũng là cảnh tượng của nhân thế gian. Nhiều đời nhiều kiếp, có khi coi kẻ thù thành người thân, có khi lại coi người thân thành kẻ thù.

Song, là hành giả Mật tông thì phải phá bỏ được những cảnh tượng này. Đây chính là tứ vô lượng tâm. Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui. Là từ vô lượng. Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ. Là bi vô lượng. Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ. Là hỷ vô lượng. Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng. Là xả vô lượng.

Cần biết rằng, tứ vô lượng tâm này là đạo lý chí cao của thành Phật, đạo lý chí cao của thành Phật là từ bi hỷ xả chứ không phải là hủy diệt ích kỷ. Ma là sân hận. Ma là ích kỷ. Sự tu hành của hành giả Mật tông chân chính là hoan hỷ vui vẻ, không những chính mình hoan hỷ vui vẻ mà cũng phải phát nguyện độ hóa chúng sinh hoan hỷ vui vẻ. Hành giả Mật tông đạt chứng ngộ thì họ cũng cần độ hóa chúng sinh đạt chứng ngộ. Hành giả Mật tông không có tham sân si, chỉ mong người đời gồm mình và người khác đều đắc quả vị của Phật Thích Ca Mâu Ni, đây chính là sự chí lý của vô lượng tâm.

Sự quán tưởng tu hành của hành giả Mật tông là thường xuyên quán tưởng tất cả cha mẹ và các chúng sinh đến trước mặt mình, rồi nhờ cam lộ mà Phật Bồ Tát chư tôn giáng xuống, trút vào từ Phạn huyệt của cha mẹ và chúng sinh mà tất cả lần lượt đều được che chở, khiến thân khẩu ý của cha mẹ và chúng sinh có được sự cứu độ của Tam Bảo.

Cam lộ của Tam Bảo quán đảnh cho chúng sinh này không có sự phân biệt thân sơ yêu ghét, sẽ tiêu trừ từng tội chướng ác nghiệp và phiền não, khiến chúng sinh đắc đại giác viên mãn.

Quán vô lượng tâm này có bí quyết: Quán tưởng cha mẹ đến. Mặt của cha biến thành mặt của chính mình, mặt của mẹ biến thành mặt của chính mình. Quán tưởng oan thân đến. Mặt của oan gia biến thành mặt của chính mình, mặt của kẻ thù biến thành mặt của chính mình. Quán tưởng chúng sinh đến. Mặt của chúng sinh biến thành mặt của chính mình, lần lượt mỗi chúng sinh đều biến thành chính mình. Như vậy, thân mình biến chuyển thành vô số thân nhiều như vi trần, từng cha mẹ, từng oan thân, từng chúng sinh đều là chính mình. Đây chính là sự quán tưởng bình đẳng quảng đại. Đây chính là quán vô lượng tâm.

Liên Sinh Hoạt Phật nhờ tu chứng quán vô lượng tâm cho nên có tâm vô lượng từ bi hỷ xả. Trước kia có người chửi tôi hoặc phỉ báng tôi, trong lòng sẽ sinh ra phiền não, nhưng từ khi tu chứng quán vô lượng tâm, thì ra chúng sinh và tôi là một, không còn phân biệt ta và người khác. Lại càng muốn đi cứu độ họ, quán đảnh họ, tịnh hóa họ.

Quán vô lượng tâm là tư duy rất sâu rất sâu, là đại trí huệ của chân không viên mãn không sai biệt, là Nội mật chân chính của Phật và Bồ Tát, cũng là chính nghĩa chung nên làm, đây là Mật pháp chính mình và người khác cùng hòa tan, chân nghĩa của ba thân Phật và tất cả pháp Yết Ma đều nằm ở trong đây.

Quán vô lượng tâm này bên ngoài nhìn thì rất dễ, trên thực tế là khó nhất, tu trì pháp này đắc chứng, trong tâm vĩnh viễn thanh tịnh, sự thanh tịnh này trong veo và tự nhiên, với Phật chẳng hề khác biệt. Không oán không thù chính là từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng. Chính là sự bất động của niết bàn tịch tĩnh.

Tôi ca ngợi: Trừ tận tất cả lưới vọng tưởng. Viên mãn thậm thâm quảng đại thân. Ánh sáng Phổ Hiền phủ rộng khắp. Cung kính đảnh lễ trước điều này.

Hiểu rõ quán vô lượng tâm rồi, thân sơ yêu ghét hoàn toàn không phân biệt, tất cả bình đẳng, đây chính là "viên mãn vô lậu lạc trụ tứ vô lượng". Từ đó mà chứng đắc: Không sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn. Không đến cũng không đi, không giống cũng không khác. Thường nói là nhân duyên, khéo diệt các hý luận. Tôi cúi đầu lễ Phật, đệ nhất trong mọi thuyết. Đây là tâm lượng quảng đại nhất trong trời đất này.

Liên Sinh Hoạt Phật tu chứng quán vô lượng tâm, có một lần soi gương, bỗng nhìn thấy trong gương xuất hiện mây cát tường ngũ sắc, và ở trên mây cát tường ngũ sắc đó không ngờ có quang cảnh tuyệt vời của lầu gác hồ nước hiện lên trang nghiêm ngay trước mắt. Đưa mắt nhìn ra thuần là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, hồng ngọc, mã não… các loại châu báu trang điểm cho nơi này. Trong lầu gác hồ nước có cung điện rộng lớn vô cùng, Liên Hoa Đồng Tử và hàng vạn vạn thân Bồ Tát sống ở trong cung điện, Liên Hoa Đồng Tử đang diễn pháp âm vi diệu. Tôi nhìn kĩ hơn mặt của các Bồ Tát, hóa ra tuy mỗi vị Bồ Tát đều có cách trang điểm khác nhau, vị nào cũng vô cùng trang nghiêm, nhưng diện mạo của họ thì không ngờ lại là cùng một người, đều là khuôn mặt của Liên Hoa Đồng Tử Bồ Tát.

A! Tôi nhìn thấy ánh sáng trắng của Liên Hoa Đồng Tử soi thấu, trên mây cát tường ngũ sắc còn có một đám mây rất kỳ lạ đang tỏa ra mùi hương thơm nức, trên người mỗi một vị Bồ Tát có những vòng tròn ánh sáng ngũ sắc khắp toàn thân, bao bọc xung quanh. Tôi tận mắt nhìn thấy cảnh giới trong gương này thì hoan hỷ tán thán! Ở trong gương nhìn thấy cảnh tượng kỳ lạ như vậy, thân tâm thư thái vô cùng, tự cảm thấy ý giải tâm khai, biết rằng mình đã khai ngộ quán vô lượng tâm rồi, không ngớt hân hoan.

Tôi biết rằng quán vô lượng tâm có thể ấn chứng "Nhân Đà La võng cảnh giới môn" của "thập huyền môn", điều này chứng minh giống như lưới châu báu chiếu sáng lẫn nhau thành ánh sáng. Ở trong thiên cung Đao Lợi, có một loại lưới do bảo châu kết thành. Mỗi lưới bảo châu đó đều hiện tất cả hình bóng của viên ngọc, có nghĩa là trong mỗi viên ngọc đều hiện lên nhiều viên ngọc, trong nhiều viên ngọc lại hiện lên càng nhiều viên ngọc, lớp lớp bóng ảnh hiện lên đến vô tận. Đó là quán tưởng đế võng minh châu.

Quán vô lượng tâm ví như trùng trùng ảnh hiện, và vô tận vô lượng, mỗi vi trần trong pháp giới xuất hiện một cõi vô biên, trong biển của cõi ấy có các vi trần, trong vi trần có cõi biển, người người đều là Liên Hoa Đồng Tử, đây chính là sự cứu độ trùng trùng vô tận.

Khi chứng ngộ quán vô lượng tâm, bạn có thể đi vào bên trong thế giới trong gương, có thể đi vào bên trong thế giới của mây cát tường ngũ sắc, không có một chút ngăn trở nào, đó là đạo lý lâu đời. Bạn có thể biết được việc của trăm kiếp, giống như trăm kiếp trong một giấc mộng, một giấc mộng có trăm kiếp.

Tu chứng quán vô lượng tâm, tất cả đố kỵ không còn nữa, tất cả thô tục không còn nữa, tất cả háo sắc không còn nữa, tất cả tham dục không còn nữa, tất cả ích kỷ không còn nữa, tất cả xảo trá không còn nữa, bởi vì người khác chính là mình, mình chính là người khác. Tôi có thể từ từ bay vào trong gương. Lại có thể từ từ bay trở về nhân gian.

03. Quán nước thơm thanh tịnh

Tôi có một cái hộp báu, mở ra bên trong có khăn lụa ngũ sắc. Khi tôi mở ra, không trung có năm vị đồng tử giáng xuống, năm vị đồng tử này có năm màu sắc trắng, đỏ, lam, vàng, lục, mỗi vị đồng tử đều cầm khăn ngũ sắc ở trong hộp báu, bay lượn giống như chim để lau năm chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật, năm chỗ này chính là mi tâm, họng, tim, vai trái, vai phải.

Trước khi lau, năm vị đồng tử này phải dùng khăn lụa chấm vào nước thơm đựng trong một chiếc bình báu, đồng tử ngũ sắc bay vào trong bình báu, chấm vào nước thơm, sau đó lại lau lên người Liên Sinh Hoạt Phật, nước thơm này chính là lục độ tự tính thủy. Cảnh giới này vô cùng kỳ diệu! Năm vị đồng tử biến thành giống như chim bay, lại có thể lau chùi thân thể, bay vào trong miệng bình báu để chấm nước thơm lục độ tự tính. Nước thơm lục độ tự tính này đầy ắp hương thơm ngào ngạt vi diệu, chỉ cần chấm vào năm chỗ thì toàn thân hành giả Mật tông sẽ sản sinh ra ánh hào quang thanh tịnh như lưu ly, hơn nữa còn sáng trong lấp lánh.

Liên Sinh Hoạt Phật bí mật tu hành pháp giữ mình trong sạch không có gì khác, chính là tôi có một chiếc hộp báu, bên trong có khăn lụa ngũ sắc, tôi có một bình báu, bên trong có nước thơm lục độ tự tính. Nước của bình báu này lấy từ hồ ở thiên cung. Nước này không phải nước bình thường, nó có thể khiến con người thoải mái, lấp lánh ánh sáng trắng, trong mát, thơm phức nồng nàn, là nước chảy ra từ tâm của các thần trên thiên thượng giới. Nước hồ ở thiên cung được làm từ các vật báu, xung quanh là cây báu, đẹp đẽ diệu kỳ, hoa báu nhiều màu sắc trang nghiêm. Bốn phía của hồ có cát vàng phủ mặt đất, đáy hồ cũng được lát bằng gạch vàng. Nước trong hồ chính là nước thơm lục độ tự tính.

Tôi nhớ khi Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh ở Ta Bà, không trung có tiếng hát rằng: Thánh Tôn vào lúc ngài giáng sinh Chư Thiên liền dâng tịnh hương thủy Tắm trong suối thơm không vi trần Ánh sáng lưu ly tỏa khắp nơi.

Nước thơm trong hồ ở thiên cung này đã hiển hiện để làm sạch các bụi bẩn, từ trong tâm tỏa ánh sáng thanh tịnh ra bên ngoài, sinh khởi ánh sáng thù thắng, bản thân thanh tịnh, pháp giới tất cả đều thanh tịnh, sự vi diệu lớn nhất trong mọi sự vi diệu. Khiến người ta ca ngợi là bất khả tư nghì một cách không thể tưởng tượng được!

Ở chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật có Mật pháp vi diệu nhất, trên khắp thế giới khó mà biết đến, quán nước thơm thanh tịnh này chính là một trong những Mật pháp thần bí và không thể đo lường. Tu tập quán tưởng nước thơm thanh tịnh, trước tiên phải tu pháp hộp báu và pháp bình báu. Pháp hộp báu — dùng một chiếc hộp bằng vàng, bạc hoặc đồng, bên trong đựng vải lụa sạch năm màu, vải lụa sạch này đã được tu qua năm bộ pháp. Pháp Phật bộ — dùng ánh sáng trắng chiếu lên vải lụa sạch màu trắng. (Thủy luân mandala) Pháp Liên hoa bộ — dùng ánh sáng đỏ chiếu lên vải lụa sạch màu đỏ. (Hỏa luân mandala) Pháp Kim cang bộ — dùng ánh sáng lam chiếu lên vải lụa sạch màu lam. (Phong luân mandala) Pháp Yết ma bộ — dùng ánh sáng vàng chiếu lên vải lụa sạch màu vàng. (Địa luân mandala) Pháp Bảo bộ — dùng ánh sáng lục chiếu đến vải lụa sạch màu lục. (Không luân mandala)

Pháp bình báu — dùng bình bằng vàng, bạc hoặc đồng, bên trong đựng nước vô căn. Tay kết ấn bình báu: trước tiên hai tay chắp lại, ngón cái và ngón trỏ hai tay cuộn lại thành hình tròn, ngón cái đè lên ngón trỏ, ba ngón còn lại đứng chụm vào nhau, thế là thành thủ ấn. Quán tưởng: trong hư không có thiên nhân nhiều vô số, mỗi vị đều cầm tịnh bình trên tay, đem nước trong tịnh bình đổ vào trong bình báu. Niệm chú: "Ôm ka-ta sa-ma-ya sư-li-yê ah." Niệm chú này cho đến khi nhìn thấy bình báu phóng ánh sáng trắng. Tu trì viên mãn pháp hộp báu và pháp bình báu.

Sau đó tu quán tưởng nước thơm thanh tịnh. Đặt hộp báu và bình báu ở trước hành giả Mật tông, hành giả dựa theo trình tự tu pháp niệm chú thanh tịnh, chú triệu thỉnh, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, mặc giáp hộ thân, niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, tiếp theo cầm khăn sạch chấm vào nước trong bình báu, lau vòng tròn theo chiều bên phải làm ẩm năm chỗ. Quán tưởng vải ngũ sắc phóng ra ánh sáng ngũ sắc, lần lượt tan vào năm chỗ, thân trên và thân dưới đều được thấm ẩm. Niệm chú: "Ôm la-ha-li-ya-yê sô-ha." 108 biến.

Tụng tán: Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau từng chỗ trên thân quý. Thân nay kiên cố không phiền não. Mong sạch chướng ngại thân chúng sinh. Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau từng chỗ trên thân quý. Thân nay kiên định không buồn phiền. Mong sạch chướng ngại ngữ chúng sinh. Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau sắc lệnh bao tuyệt diệu. Diệu tâm kiên định không mê loạn. Mong sạch chướng ngại ý chúng sinh. Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau hết thảy tâm tuyệt diệu. Lệnh tâm kiên định không phiền não. Mong sạch chúng sinh thân ngữ ý. Vải lụa thanh tịnh thấm nước thơm. Khéo lau hết thảy tâm tuyệt diệu. Tắm trong đầy đủ bao công đức. Ba nghìn thế giới đẫm hương thơm.

Quán tưởng: nước lục độ tự tính này rửa khắp toàn thân thanh tịnh vô nhiễm, loại bỏ bụi bẩn trong ngoài toàn thân, tự thân phát ra hương thơm vi diệu tối thượng không gì sánh bằng, trên đầu mình đội mũ Ngũ Phật, thân mặc ba pháp y, chuỗi vòng bát bảo làm trang nghiêm thân mình, tay cầm tích trượng.

Nhập định. (nhập Tam ma địa)

Xuất định. Tụng tán hồi hướng: Nước tắm thơm tho đầy phẩm đức. Vô thượng đại bi tự tính thủy. Nhờ đó gia trì đại trí huệ. Thỉnh ban thành tựu như mong muốn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật biết vào thời cổ đại, rất nhiều hành giả Mật tông khóa mình trong phòng tối, hoặc ở trong hang động trên núi cao để tu khổ hạnh, lâu lâu mới có thể đến bên suối tắm gội, bình thường rất ít khi tắm gội, vì thế liền tu tập pháp quán tưởng nước thơm thanh tịnh này. Quán tưởng nước thơm thanh tịnh này chính là pháp tắm gội thân mình nổi tiếng, người tu tập mặc dù lâu ngày không tắm nhưng thân thể vẫn sạch sẽ, có mùi thơm, không bụi bẩn, rất kỳ diệu.

Hành giả Mật tông hiện đại có người đã ứng dụng pháp quán tưởng nước thơm thanh tịnh vào nước tắm trong phòng tắm của mình, khi bước vào phòng tắm, trước tiên lấy vải lụa sạch năm màu lau vào năm chỗ, sau đó quán tưởng ánh sáng tan vào, sau đó mới tắm gội sạch người, đến khi ăn mặc chỉnh tề thì mới lại vào Mật đàn ngồi nhập Tam ma địa. Năm chỗ mà tôi chỉ ra là trán, họng, tim, vai trái, vai phải. Có hành giả thì chỉ ra năm chỗ là trán, tim, rốn, vai trái, vai phải.

Nước vô căn là nước mưa. Nước mưa này từ hư không rơi xuống, hành giả Mật tông dùng chậu để hứng trên không, không được để chạm đất, không đến không đi thì gọi là vô căn.

Quán tưởng nước thơm thanh tịnh này đích thực là siêu kỳ lạ. Hành giả Mật tông tu tập quán nước thơm thanh tịnh đắc chứng nghiệm có nhiều điều thần kỳ — trong nhà hành giả ở thường xuyên xuất hiện mây ngũ sắc cát tường bao bọc xung quanh ngôi nhà, cư dân sống ở đằng xa sẽ cho rằng đây là nhà đang bị cháy, nhưng khi chạy lại gần để nhìn thì chẳng thấy gì, ngôi nhà vẫn yên ổn. Càng kỳ diệu hơn là trên đỉnh đầu của hành giả Mật tông thường tỏa ra ánh sáng ngũ sắc. Tu tập đắc chứng nghiệm thì thân thể sẽ có thiên thần bảo hộ, gặp dữ hóa lành, cho dù ngã nhào thì bên cạnh cũng có thiện thần đến nâng đỡ, không tổn hại một sợi tóc. Những thứ độc hại thông thường xâm phạm ví dụ như bị rắn độc cắn, độc tính sẽ được hóa giải thành vô hình, bị rắn độc cắn cũng không cần phải bận tâm.

Hành giả có chứng nghiệm khi đi trên đường tối, tự nhiên có thiên thần cầm đèn soi đường, sẽ không để cho hành giả phải mò mẫm trong bóng tối, hoặc có đom đóm tụ tập phía trước dẫn đường.

Rõ ràng nhất là hành giả này toàn thân sẽ tỏa ra mùi thơm vi diệu vô thượng, người người đều thích đến gần, khí sắc của họ mãi mãi sáng ngời, hễ nhập định là liên tục xuất hiện các tướng may mắn, toàn thân phát quang, ánh sáng đỉnh đầu, ánh sáng mi tâm, ánh sáng họng, ánh sáng tim, ánh sáng tòa ngồi, ánh sáng sau lưng, v.v…

Nếu hành giả tu hành trong hang động trên núi cao sẽ có bầy chim đậu lại chỗ đó, hạc trắng xuất hiện trên những đỉnh núi, ác thú hung mãnh như hổ báo sẽ trở nên ôn hòa và bảo vệ hành giả, trở thành Hộ pháp của hành giả, vượn và khỉ sẽ hái đào và hoa quả cho hành giả ăn no.

Tu tập quán nước thơm thanh tịnh đắc chứng nghiệm có thể sai khiến quỷ thần, quỷ thần đều nghe lệnh mà làm việc. Tổ tiên của bản thân nếu ở trong âm gian chịu khổ, hành giả có thể sai khiến quỷ thần đi cứu họ, khiến tổ tiên vì thế mà có được phúc báo, thăng lên cảnh giới thanh tịnh.

Nước thơm được gọi là lục độ tự tính thủy, lục độ chính là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, bát nhã, tu thành tựu lục độ rồi thì không còn tham lam, phỉ báng, sân hận, lười biếng, tán loạn, ngu si. Lục độ bao hàm tất cả pháp môn mà Bồ Tát tu hành, là từ bờ của sinh tử khổ não đi đến bờ của niết bàn an lạc.

Quán nước thơm thanh tịnh này không phải là pháp nhỏ, mà là đại pháp, Thánh giả vĩ đại, đạo đức và công lao sự nghiệp của họ đều dựa vào quán nước thơm thanh tịnh mà soi sáng thiên thu. Quán nước thơm thanh tịnh này là sự khởi đầu của tu dưỡng, là một yếu quyết trong trình tự Mật hành. Hóa mục nát thành thần kỳ. Mật tạng siêu kỳ lạ là một sự siêu việt vĩ đại.

04. Quán đại không

Có một chân ngôn là: "Ôm. Sư-pa-wa. Su-ta. Sa-ơ-wa. Ta-ơ-ma. Sư-pa-wa. Su-tô hằng."

Câu chú này là một câu chú rất quan trọng. Chính là chân ngôn quán Không. Hàm nghĩa của chân ngôn này là: "Tất cả tự tính thanh tịnh, ta cũng tự tính thanh tịnh." Chân ngôn này chính là: "Khiến mình và người khác đều thanh tịnh." Có ý nghĩa về biến không, có lý lẽ về quán không. Nhờ sự gia trì của chân ngôn này mà lập tức đắc quán đại không, thâm diệu dị thường.

Liên Sinh Hoạt Phật thật lòng thật sự nói với mọi người, tất cả mọi pháp lớn nhỏ trong Mật tông, tâm yếu cuối cùng của chúng không tách rời quán đại không. Nếu đắc chứng ngộ quán đại không này thì Phật quốc tịnh thổ sẽ xuất hiện trước mắt bạn, có thể lập tức chứng đắc thành tựu.

Tổ sư truyền thừa Hoàng giáo của Liên Sinh Hoạt Phật - Thubten Lama khi còn tại thế thường yêu cầu các đệ tử tập luyện pháp quán không Pháp thân thành Phật.

Thứ tự của pháp này là: (1) Tam Bảo hóa quang nhập vào thân mình. Địa đại quy về Thủy đại. Ngọn lửa dương. (2) Thủy đại quy về Hỏa đại. Khói. (3) Hỏa đại quy về Phong đại. Đom đóm. (4) Phong đại quy về thức. Bóng đèn. (5) Thức tận nhập trắng. Trăng thu. (6) Trắng tận nhập đỏ. Đỏ trắng. (7) Không. Đỏ trắng chạm nhau. Linh hồn xuất khiếu. Mát rượi. (8) Viên quang [vầng hào quang trên đầu]. Thành Phật.

Trước quán tưởng này phải trì chân ngôn quán Không để gia trì.

Tôi đã viết ra trình tự tu quán đại không, đệ tử mới học Mật tông khi đọc đương nhiên sẽ không thể hiểu được. Nhưng Thượng sư Mật tông chân chính chắc chắn khi đọc một cái là biết ngay, đây là thứ tự của tứ đại phân ly khi con người chết đi, đầu tiên là đất, tiếp theo là nước, tiếp theo là lửa, tiếp theo là gió, sau đó đạt không cảnh, mỗi thứ tự đều có một kiểu cảnh giới và hiện tượng, đây là quán tứ đại phân ly.

Còn muốn học Mẫu-Tử quang tương hợp, muốn học xuất thần (linh hồn xuất khiếu), Liên Sinh Hoạt Phật nói với mọi người, bạn phải học quán tứ đại phân ly. Nếu tu tập đạt thành tựu quán tứ đại phân ly này thì chính là pháp xuất nguyên thần của Đạo gia.

Quán đại không lấy quán tứ đại phân ly là bí quyết thành công. Đây là tâm yếu chân chính của mấy chục năm Liên Sinh Hoạt Phật tu Mật tông.

Tu quán đại không này, lực quán tưởng của nó lớn thì có thể thật sự nhập Tam ma địa tam muội chính định, tức là đại thành tựu pháp thân vô thượng, cũng tức là pháp thân thành Phật. Cho đến khi ánh sáng của chính mình và ánh sáng thanh tịnh của pháp giới, tức là Tử quang và Mẫu quang gặp nhau, hòa tan vào nhau, thì chính là viên quang.

Tu tập quán đại không, tôi tóm tắt như sau:

Gia trì chân ngôn quán không: Ôm. Sư-pa-wa. Su-ta. Sa-ơ-wa. Ta-ơ-ma. Sư-pa-wa. Su-tô hằng.

Quán Tam Bảo hóa quang, dội vào Phạn môn đỉnh huyệt, dung nhập vào toàn thân, thành quang uẩn. Quán toàn thân quang uẩn dần dần ẩn đi, quy về chữ Hum. Quán chữ Hum quy về chữ Ah. Quán phong đại nhập vào thức. Quán trên đỉnh đầu, phụ chủng màu trắng giáng xuống đi vào tim, ngoại cảnh trời trong trăng sáng. Quán ở trong rốn, mẫu chủng màu đỏ thăng lên đi vào tim. Quán chủng trắng đỏ hợp lại, vượt qua vùng tim, và linh hồn thoát ra khỏi lỗ đỉnh đầu, xuất thần. Quán thần nhập vào trong hào quang, đắc đại không tam muội chính định.

Sau khi xuất định, tụng tán: Tất cả chư Phật nhiếp tụ thân. Thắng trì kim cang chi tự tính. Tối cực hy hữu xuất thần pháp. Dung nhập đại không viên quang kính.

Quán đại không này không thể sánh với bình thường, hành giả Mật tông bình thường vẫn không thể nào biết được, đệ tử Chân Phật Tông muốn học tập pháp này, phải tìm đến Kim cương Thượng sư chân chính để học, nhờ Kim cương Thượng sư giải thích tâm yếu tu trì rất tinh vi trong đó mới có thể hiểu được.

Liên Sinh Hoạt Phật chứng đắc quán đại không, hiển hóa rất nhiều. Thiên thượng có Diệu Âm Bồ Tát hát rằng: Thần xuất đỉnh khiếu có linh uy, Trăm năm một lần nay trở về, Lư Thắng Ngạn hỡi Lư Thắng Ngạn, Cần gì trần thế lắm thị phi.

Thế là tôi có thể phơi phới bay trên trời, có thể bước trên những ngọn sóng trên mặt biển và hát ca, cùng những tiên nhân bay trên trời vui chơi, có thể đi đi về về cả nghìn vạn dặm chỉ trong một ý nghĩ, có thể tùy lúc cao hứng nhập vào giấc mơ của các đệ tử, có thể ẩn mình trong gió theo gió rong chơi, cưỡi gió bay lượn, có thể bảo núi tách ra, và mình thì trốn vào trong núi, có thể bảo nước tách ra, và mình thì trốn vào trong nước, có thể cưỡi một con cá chép lớn, tự do vô ngại đi tới long cung bảo điện.

Linh hồn có thể thông thạo biến hóa, có thể biến thành một vị Huyền Hạc Đạo Trưởng cưỡi trên lưng hạc trắng, bay lượn giữa các ngọn núi tiên, có thể dùng ý niệm để thưởng thức những quả táo tiên. Có thể biến thành cụ già tóc bạc răng rụng để trà trộn trong đám ăn mày ở trần thế ngồi bắt chấy rận. Nhưng, cũng có thể biến hóa thành người trẻ tuổi dung mạo như hoa, tất cả những việc này đều tự do tự tại, không có chút hạn chế nào.

Cỏ cây gạch đá chính là chốn cư ngụ của tôi, châu ngọc vàng bạc cũng có thể dung thân, việc bên ngoài nghìn vạn dặm thì ở ngay trước mắt, rồng hổ mãnh thú trở thành Hộ pháp. Có thể uống rượu, rượu như nước, nghìn chén không say. Trong ngũ hành, đến đi tự do, có thể biến nguyên thần thành lớn, cũng có thể biến thành nhỏ, có thể đi vào trong nước mà không ướt, vào lửa cũng không cháy, có thể cao hứng thích sống thì sống, thích chết thì chết, đây là nguyên thần vĩnh viễn tự do tự tại.

Nguyên thần xuất khiếu này giống như mây trắng lúc ẩn lúc hiện, hoặc như gió mát bồng bềnh trên bầu trời đêm đẹp đẽ. Vào thời khắc khai đỉnh xán lạn đó sẽ nghe thấy một tiếng sét, ngay sau đó có một vệt sáng mạnh như chớp lóe bắn vọt ra ngoài, đây là lần đầu tiên, còn về sau, tuy cũng phả ra hơi nóng, nhưng chỉ có ánh sáng mà không chói lọi, nguyên thần xuất khiếu chỉ là ánh sáng tối mờ mà thôi.

Khi mưa to sấm sét, tôi ở chỗ ánh chớp lập lòe. Khi có bão, tôi nằm ngủ trong mắt bão. Khi có động đất, tôi ở dưới những tầng đất sụt lở. Khi núi lửa phun trào, tôi bơi lội trong nham thạch nóng chảy. Sự thần kỳ của tôi là bay cao bay xa đó!

Liên Sinh Hoạt Phật nguyên thần xuất khiếu, từng đến Di Lặc Nội Viện ở Đâu Suất Thiên Cung để nghe Di Lặc Bồ Tát giảng kinh. Từng đến cảnh giới tịnh diệu quảng bác trang nghiêm. Từng đến cảnh giới quang minh lưu ly thắng diệu. Đến cả hầm kim cang. Gặp Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ngồi trên bảo tọa sư tử, đang diễn diệu pháp. Văn Thù Bồ Tát nhìn thấy nguyên thần đến thì xòe bàn tay vàng ra, dài hơn một trượng, càng vươn ra càng dài, xoa vào đầu của nguyên thần, nói: "Liên Hoa Đồng Tử, vì vô thượng chính đẳng bồ đề, vì đánh trống đại pháp, thổi loa đại pháp, truyền thụ vô thượng chính đẳng giác, cho nên tự có thể thành Phật." Tôi đọc kim cang bát nhã bí tạng. Tôi ăn quả thất bảo. Du lịch lầu quán trùng điệp, cung điện liên miên.

Việc tôi tự mình chứng pháp quán đại không này, tôi có ghi lại như sau: Tôi đến thế gian này là vì việc gì? Thật ra một việc cũng chẳng có, một vật cũng chưa từng có, kho tàng trí huệ như biển, thật ra đều ở trong tự tính, hoàn toàn là tự tại vô ngại, là vì chẳng có cách nào mà sử dụng đó! Muốn đạt được chân lý này thì phải vô niệm, vô niệm thì mới được.

Thụy tướng thần quang, thậm chí là kim thân kim quang lấp lánh, đều là tướng bên ngoài. Tất cả Phật Bồ Tát hóa hiện cũng là tướng bên ngoài, chỉ là khéo dùng chân tướng hóa thành thân Phật, đều là dùng làm phương tiện giáo hóa mà thôi, vì lợi lạc chúng sinh, cùng sống an lành nên gọi là khéo.

Nếu muốn đắc chân lý thực tướng, pháp duyên ở đó, quán thông viên dung, hiểu thấu mục đích quy về, chính là vô trí cũng vô đắc, vô tu vô chứng, bất sinh bất diệt, là đệ nhất nghĩa đế.

Có một bài kệ: Pháp do nhân duyên sinh. Tôi nói tức là không. Cũng chỉ là tên giả. Cũng là nghĩa trung đạo.

Linh hồn xuất khiếu là pháp do nhân duyên sinh, là ngoại tướng. Quán đại không là thành Phật, là thành quả viên mãn tột cùng.

05. Chí thượng đảnh lễ quán

Trong quá khứ, Liên Sinh Hoạt Phật từng dạy mọi người phương pháp đảnh lễ ý thức chí thượng. Và ý thức vũ trụ chí thượng thật ra là một tên gọi chung.

Có hành giả Mật tông hỏi tôi làm sao mới có thể lễ hết tất cả Phật Bồ Tát, có được sự gia trì của tất cả Phật Bồ Tát chư tôn. Câu hỏi này rất hay, trong Mật tông, có người thực hành pháp đại lễ bái, cũng tức là niệm một bài kệ rồi chắp tay đại lễ bái một lần, đảnh lễ chí thượng như vậy cho đến khi đọc hết bài kệ thì đại lễ bái mới hoàn thành. Sau đó làm một lần quán tưởng Tam Bảo hóa quang đi vào thân hành giả thì càng cát tường viên mãn.

Trong cuốn "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" từng nói, pháp đại lễ bái có thể tiêu nghiệp chướng, có thể sản sinh đại Phật duyên, có thể vì cung kính lễ bái mà dừng tham sân si, là pháp kiền thành cao nhất, lại còn phù hợp với yoga vận động thân thể. Sau đó nhờ Phật Bồ Tát chư tôn phóng quang gia trì mà tiêu trừ nghiệp chướng nhiều kiếp, cuối cùng đạt đến sự thanh tịnh của thân khẩu ý, chứng đắc tự thân phóng quang.

Tổ sư Mật tông - đại sư Bảo Phổ Hỷ chính là một thành tựu giả thực tu chí thượng đảnh lễ quán. Bây giờ tôi xin viết ra bài kệ phổ lễ ý thức chí thượng như sau:

Đảnh lễ truyền giáo giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật: Cung kính trước bậc Câu Tri Viên Mãn Diệu Thiện Thỏa mãn mong nguyện của vô lượng chúng sinh Với tâm chân thực và quan kiến đúng đắn Thành kính đảnh lễ bậc tôn chủ Thích Ca Mâu Ni.

Đảnh lễ Tướng tông bổn tục chư tôn: Di Lặc, Vô Trước, Thế Thân, Giải Thoát Quân [Maitreya, Asanga, Vasubhandu, Vimuktisena] Những bậc thầy hùng biện đáng kính đanh thép và nhu hòa Sư Hiền Nhị, Cô Tát Lý, Kim Châu tôn [Haribhadra, Kusali, Gserlinpa] Thành kính đảnh lễ các tổ sư truyền thừa quảng hành vĩ đại.

Đảnh lễ Tính tông bổn tục chư tôn: Văn Thù Sư Lợi và thánh Long Thụ vô song [Manjusri, Nagarjuna] Chí tôn Nguyệt Xứng và Ma Ha Vô Ngại Cưu [Chandrakirti, Maha Kumarajiva] Giác Tăng, Hộ Ý hai vị cha - con thần thánh Thành kính đảnh lễ các vị tổ sư với quan kiến thâm sâu.

Đảnh lễ Mật tông bổn tục chư tôn: Đại bi thiện thệ thắng giả Trì Kim Cương [Vajradhara] Thượng quán Tuyển La Oát và Na Lão Oát Thượng đức Nhung Bỉ Oát và Atisa Thành kính đảnh lễ các vị tổ sư đã trực tiếp trao truyền.

Đảnh lễ các Thượng sư trực tiếp truyền dạy pháp: Liên tục từ bi ban cho minh pháp Kinh tục luận nghĩa giáo lệnh tuyên thị Truyền thụ giới luật quán đảnh gia trì Thành kính đảnh lễ các bậc Thượng sư chân thực.

Đảnh lễ tất cả thiện tri thức: Có thể thấy tất cả sự thật của giáo lý Thực hiện phương tiện giải thoát siêu việt nhờ thiện duyên Vì từ bi mà dạy các phương tiện thiện xảo Thành kính đảnh lễ các thiện tri thức đã khai sáng.

Đảnh lễ Phật hội thánh tôn: Xem người tu hành như đứa con yêu Như bóng theo hình không bao giờ lìa bỏ Thề nguyện ban cho thành tựu tối thượng Thành kính đảnh lễ trước các vị thánh đức Phật hội.

Đảnh lễ ngũ bộ Thiện Thệ: Tuy pháp thân như hư không không phân biệt Sắc thân như cầu vồng lần lượt hiển quang minh Từ trong trí huệ vô thượng đắc tự tại Thành kính đảnh lễ trước ngũ bộ Thiện Thệ tôn. [Sugatas]

Đảnh lễ Thất Phật Thế Tôn: Duy Vệ, Thức Khí, Tất Bô Ba [Vipasyin, Sikhin, Visvabhu] Lưu Tôn, Kim Tịch và Ẩn Quang [Krakucchandra, Kanakamuni, Kasyapa] Thích Ca Mâu Ni vị trời trong các vị trời Thành kính đảnh lễ bảy vị Phật dũng mãnh.

Đảnh lễ tám vị Thiện Thệ: Thiện Danh, Bảo Nguyệt, Kim Sắc tôn Vô Ưu, Pháp Lôi, Thắng Huệ Phật Dược Sư, Thích Ca nguyện viên mãn Thành kính đảnh lễ tám vị Thiện Thệ.

Đảnh lễ ba mươi lăm vị Phật: Ánh sáng đại bi như mặt trời phổ chiếu Tiêu tan tội chướng, sa đọa khổ đau Dạy và chỉ dẫn con đường đạo đức tốt lành, Thành kính đảnh lễ ba mươi lăm Phật hội.

Đảnh lễ hiền kiếp thiên Phật: Đồng tâm phát nguyện thật hy hữu Hành đạo thời-không đều ngang nhau Trong một hiền kiếp đạt thành quả Viên mãn nghìn Phật xin đảnh lễ.

Đảnh lễ thập phương Phật: Minh giám thập phương các chúng sinh Thập phương truyền hết diệu pháp luân Cứu tế thập phương mọi hữu tình Thập phương chư Phật xin đảnh lễ.

Đảnh lễ thập phương pháp: Diệt được tập đế các vô minh Trừ hết khổ căn của cõi trần Trí huệ Phật Mẫu đến bỉ ngạn Diệu pháp tam thừa xin đảnh lễ.

Đảnh lễ bát đại Bồ Tát: Ma Tồ Quách A, Kim Cương Thủ [Manjughosa (Manjusri), Vajrapani] Quan Âm, Địa Tạng, Trừ Cái Chướng [Avalokitesvara, Ksitigarbha, Vishkambi] Từ Thị, Phổ Hiền, Hư Không Tạng [Maitreya, Samantabhadra, Akasagarbha] Bát đại Bồ Tát xin đảnh lễ.

Đảnh lễ thập phương tăng: Diệu âm cứu độ bí mật chủ Như Quan Thế Âm quảng đại hành Vui với trách nhiệm độ chúng sinh Đại thừa tăng chúng xin đảnh lễ.

Đảnh lễ Duyên Giác: Tu quán thập nhị nhân duyên pháp Xưa nay Duyên Giác phân trí quả [Pratyeka-Buddhas] Không theo tri thức tự ngộ chứng Các thánh Duyên Giác xin đảnh lễ.

Đảnh lễ A La Hán: Bao đời sống cùng diệu tri thức Hòa hợp giáo pháp đã từ lâu Lưu thông Phật pháp luôn ủng hộ Thập phương La Hán xin đảnh lễ. [Arhats]

Đảnh lễ Không Hành chư tôn: Sống nơi cao vời của Không Hành Thần thông như ý đầy uy lực Hiền từ coi hành giả như con Đảnh lễ ba xứ Không Hành hội.

Đảnh lễ Hộ pháp chư tôn: Đắc thần thông lực đại biến hóa Thành tựu theo đúng ý chỉ Phật Bảo vệ nghiêm cẩn kho tàng pháp Hộ giáo Kim Cang xin đảnh lễ.

Đảnh lễ chúng hội điền: Nghiêng về hư không Phật Bồ Tát Tất cả chúng sinh chúng con đây Phân thân trở thành muôn vi trần Tất cả các thời xin đảnh lễ.

Thân khẩu ý đảnh lễ: Trong tất cả thập phương thế giới Tất cả tam thế người - thầy - con Nay con xin lễ hết tất cả Đều bằng thanh tịnh thân khẩu ý.

Thân đảnh lễ: Thân như cõi Phật muôn vi trần Tất cả Như Lai con đều lễ Đều dùng tâm ý đối chư Phật Làm theo đại nguyện của Phổ Hiền.

Khẩu đảnh lễ: Trong biển công đức nhiều vô tận Dùng mọi âm thanh biển công đức Tuyên truyền Như Lai biển công đức Con thường ca ngợi bậc Thiện Thệ.

Ý đảnh lễ: Mỗi hạt cát đều là cõi Phật Chư Phật Phật tử ngồi trong đó Như thế toàn bộ các pháp giới Con tin chư Phật đều lấp đầy.

Hồi hướng: Lễ bái cúng dường và sám hối Tùy hỷ công đức và khuyên thỉnh Hết thảy công đức con tích tập Đều xin hồi hướng cho bồ đề.

Xướng kệ 25 lần. Đảnh lễ 25 lần.

Phổ lễ viên mãn. Sau đó xướng hồi hướng. Tĩnh tọa quán tưởng - hành giả Mật tông nhắm mắt thanh lọc tâm, ngồi thế kiết già, lưỡi chạm lên hàm trên, điều hòa hơi thở cho thật mảnh, tay kết pháp giới định ấn. Đầu tiên quán tưởng từ tâm mình có một điểm ánh sáng trắng tính linh [nội tâm], dần dần biến thành một nguyệt luân quang.

Hành giả Mật tông lại quán tưởng trong hư không có những điểm ánh sáng trắng như sao dày đặc, từng chấm sao sáng chính là thập phương Phật Bồ Tát chư tôn, hành giả Mật tông chặt chẽ vận chuyển chữ "Cha" tiếng Phạn để tập hợp chủng tính của Phật Bồ Tát trong hư không.

Chữ Cha

Tập trung Phật Bồ Tát chư tôn hóa thành ánh sáng trắng lớn, giáng xuống, đi vào từ Phạn huyệt, dội xuống đỉnh đầu và đi vào tâm, hòa tan vào cùng với nguyệt luân quang trong tim mình.

Hoa sen trong tim của hành giả Mật tông nở ra, cảm giác vô cùng vui vẻ, lúc này tự cảm thấy thân thể bay lên không, ngồi ngay ngắn trên biển mây.

Thập phương Phật Bồ Tát chư tôn, mỗi vị đều có dòng chảy pháp của công đức bảo tính gia trì, giống như thiên nữ rắc hoa khiến hoa rơi xuống bay lả tả.

Sau khi xuất định, tụng Kim Cang Tát Đỏa chân ngôn: "Ôm wa-zư-la sa-ta-wa hùm." (108 biến) Kết ấn Kim Cang Tát Đỏa. Tay trái nắm lại đặt ở eo, tay phải nắm lại giữ trước ngực, chuyển ba vòng. Sau đó hồi hướng: Mọi công đức phổ lễ. Chuyển hoán cho hữu tình. Tự thân thành Bổn tôn. Vô lượng khắp pháp giới.

Cát tường viên mãn.

🌟

Tu trì chí thượng đảnh lễ quán đắc chứng thì rất thần diệu, người thành tựu của pháp quán này nếu gặp nhà cháy, chỉ cần nhắm mắt lại, lập tức quán tưởng trên thủ ấn của mình một con rồng xanh, há miệng ra, miệng phun ra nước của bốn biển, dập tắt đám cháy lớn, lửa sẽ lập tức lụi đi và dập tắt.

Người thành tựu pháp quán này nếu gặp lũ bất ngờ, sông hồ tràn bờ, hành giả Mật tông tay kết ấn Kim Cang Tát Đỏa, miệng tụng chân ngôn Kim Cang Tát Đỏa, thủ ấn quay ba lần, mệnh lệnh sóng nước khơi thông, sóng nước liền chảy ngược lại rút đi, sóng lớn sẽ nhanh chóng yên lại.

Người thành tựu chí thượng đảnh lễ quán đương nhiên có sắc lệnh trên người, cũng tức là có được pháp chỉ của Chân Phật, có thể hô hoán gió mưa sương tuyết, trong vô hình di chuyển sông hồ, có sức mạnh sai khiến quỷ thần, phân thân biến hình, vì pháp giới mênh mông, có thể chứng đắc thì muốn lửa tắt lửa sẽ tắt, muốn nước rút nước sẽ rút. Hành giả Mật tông vào mùa hè không cảm thấy nóng, vào mùa đông không cảm thấy lạnh.

Đương nhiên, về cơ bản đều có thể đắc được tiêu tai giải ách, tránh tà tiêu nghiệp, kéo dài tuổi thọ, trường sinh bất lão. Sau cùng là tức thân thành Phật, rong chơi khắp vũ trụ.

Từng có một vị Hoạt Phật đến chỗ tôi. Từ trong Chân Phật Mật Uyển, tôi lấy ra một pháp chỉ đưa cho vị Hoạt Phật đó xem kĩ. Ông ấy cảm thấy hết sức kinh ngạc, bởi vì đây là thứ mà đại Lama áo đỏ ở cung điện Potala mới có, thậm chí Hoạt Phật bình thường cũng không thể có được.

Hoạt Phật hỏi: "Mua ở đâu vậy?" Tôi cười cười không đáp. Hoạt Phật lại hỏi: "Là vị Lama nào tặng vậy, nhưng pháp chỉ này không thể tùy tiện tặng cho người khác được!" Tôi nói với Hoạt Phật: "Tôi muốn cái gì thì sẽ có cái đó." Vị Hoạt Phật này cuối cùng đã hiểu ra, Hoạt Phật nói: "Thì ra ngài từ trong hư không, với tay ra ngoài nghìn vạn dặm mà lấy được." Tôi cũng lại cười cười không đáp.

Liên Sinh Hoạt Phật thật lòng thật sự nói với mọi người, một người chứng đắc chí thượng đảnh lễ quán, vì có được pháp chỉ, tự nhiên có thể sai khiến quỷ thần, đương nhiên việc sai khiến quỷ thần này không phải là hô hoán gọi tới gọi lui, mà là trong đầu nghĩ đến cái gì thì cái đó sẽ đến.

Đây là một việc vô cùng ảo diệu, bởi vì quỷ thần sẽ phục vụ bên cạnh bạn, khi Liên Sinh Hoạt Phật muốn nhìn thấy cung điện Potala, những quỷ thần đó liền đem toàn bộ diện mạo của cả cung điện Potala hiện lên trước mặt tôi, tòa kiến trúc hùng vĩ chiếm mười ba vạn mét vuông ấy hiện lên trước mắt tôi, bất kể là tòa cung điện đỏ hay tòa cung điện trắng, tôi đều có thể chiêm ngưỡng từng tòa, những bức vẽ trên tường, tư thế của các bức điêu khắc Phật, thangka, pháp khí và trân bảo, đồ cổ hiếm có, lần lượt hiện lên trước mắt tôi.

Tôi tỉ mỉ tham quan Đức Dương Hạ Điện. Tôi nhìn thấy pháp chỉ bằng ngọc xanh phát quang. Thế là trong tâm tôi nghĩ đến nó. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ là nghĩ đến pháp chỉ ngọc xanh ở Đức Dương Hạ Điện ở trong đầu mà thôi, kết quả là, trong Chân Phật Mật Uyển đã xuất hiện pháp chỉ ngọc xanh, pháp chỉ ngọc xanh này từ đâu bay đến? Và bay đến lúc nào? Đây chẳng phải là điều mà người bình thường có thể tưởng tượng được.

Chí thượng đảnh lễ quán có lẽ là ý niệm cung kính chu toàn nhất trong vũ trụ, đã kể tên toàn bộ ý thức chí thượng của cả vũ trụ để kính chào.

Quán tưởng của chí thượng đảnh lễ quán vô cùng quan trọng, là quán tưởng to lớn như biển mây, như hoa đầy hư không, các vì sao hợp nhất xoay chuyển thành dòng chảy pháp lớn, quán đảnh cho thân tâm hành giả giống như hoa rơi.

Quán tưởng của chí thượng đảnh lễ quán thành tựu thân của Kim Cang Tát Đỏa, có pháp chỉ trên người, đắc ngũ đại bí mật nhãn, có thể thông một pháp cho đến vạn pháp. Sự đắc chứng này chẳng phải tầm thường. Thế giới này vĩnh viễn tồn tại, nhưng nhân loại thì đã thay đổi bộ mặt. Liên Sinh Hoạt Phật năm trăm năm một lần trở về. Người trên đời này hà tất lại một lần nữa hiểu lầm tôi chứ!

06. Hộ thế hộ quốc quán

Tu trì pháp này có thể bảo hộ sự an ninh của thế giới, có thể bảo hộ sự an ninh của nhân dân trong một nước, đây là đại pháp số một của nhập thế, vốn là một trong các đại pháp được giữ bí mật của Liên Sinh Hoạt Phật. (Pháp giản lược từng viết trong cuốn sách "Mật tông Yết ma pháp".)

Trình tự của nghi quỹ tu trì như sau:

  1. Nhập đàn, niệm chú thanh tịnh.

  2. Niệm chú triệu thỉnh.

  3. Chân Phật đại lễ bái pháp.

  4. Kết ấn cúng dường, dâng cúng dường.

  5. Niệm chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê."

  6. Mặc giáp hộ thân.

  7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (3 biến)

  8. Quán Phật minh, vỗ tay đánh thức.

  9. Tay kết ấn Nhân Vương hộ quốc, thế ấn như sau: Tay phải ngón cái đè ngón trỏ và ngón út, giống như tạo thành vòng tròn, giơ thẳng ngón giữa và ngón áp út. Tay trái ngón cái đè lên ngón trỏ và ngón út, giống như tạo thành vòng tròn, giơ thẳng ngón giữa và ngón áp út. Hai tay tựa vào nhau, ngón giữa và ngón áp út chạm vào nhau, như vậy là thành ấn. (đặt trước ngực)

  10. Quán tưởng.

Quán tưởng thứ nhất: toàn bộ trái đất hiện lên màu vàng kim. Nếu muốn cứu nước, có thể quán tưởng bản đồ của một đất nước, hiện lên một vùng màu vàng kim. Niệm chân ngôn: "Ôm. Ben-za la-pa u-mi-a. Hùm." (Chú củng cố đại quyền kim địa.)

Quán tưởng thứ hai: đại quyền kim địa này có núi Thiết Vi bao vây xung quanh. Niệm chân ngôn: "Ôm. Ben-za la-la-hưa. Ka-hưa-a. Hùm."

Quán tưởng thứ ba: theo thứ tự quán tưởng là, ngọn núi vua ở trung ương là núi Tu Di, Đông Thắng Thần Châu, Nam Chiêm Bộ Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Bắc Câu Lư Châu. Thân Châu. Thắng Thân Châu. Phật Châu. Tha Phật Châu. Động Đãng Châu. Thượng Hành Châu. Lại Thanh Châu. Lữ Liệt Thanh Châu. Bảo Sơn. Gia Ý Đậu Thụ. Ca Mục Đạt Lý Ngưu. Tự Sinh Miêu. Thâu Bảo Như Ý Bảo. Nữ Bảo. Nam Bảo. Tượng Bảo. Mã Bảo. Tướng Quân Bảo. Bảo Tạng Bình. Hy Thiên Nữ. Mạn Thiên Nữ. Ca Thiên Nữ. Vũ Thiên Nữ. Hương Thiên Nữ. Hoa Thiên Nữ. Đăng Thiên Nữ. Đồ Thiên Nữ. Nhật Cung. Nguyệt Cung. Bảo Cái. Phương Thắng Tràng. Trong đó đầy kín thiên nhân, ví dụ như Tứ Đại Thiên Vương và chúng thần Phạm Thiên, tất cả cảnh tượng đức hạnh và phú quý đều viên mãn không thiếu.

(Theo cách quán tưởng thế giới này, đây vốn là quán địa lý của Ấn Độ và Tây Tạng cổ đại. Trâu, thực vật, voi, ngựa đều tượng trưng cho báu vật đầy đủ sung túc. Hành giả Mật tông hiện đại tu trì pháp Hộ thế hộ quốc quán, có thể lấy ngọn núi vua ở trung ương là núi Himalaya, sau đó quán tưởng châu Á, châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, châu Úc… Hoặc nếu đặc biệt hộ trì một đất nước nào đó thì có thể quán tưởng những hiện tượng giàu có phồn vinh và an bình, hoặc là hình thành nên đất nước màu vàng kim. Tứ Đại Thiên Vương giáng xuống, lọng quý phóng quang, cờ phướn thắng lợi phóng quang.)

Quán tưởng thứ tư: Ngũ Phương Bồ Tát giáng lâm, Ngũ Bồ Tát biến hóa thành mây ngũ sắc, che chở cho quốc thổ, phía Đông là mây màu lam, phía Tây là mây màu đỏ, phía Bắc là mây màu lục, trung ương là mây màu trắng, phía Nam là mây màu vàng. Năm đám mây cát tường này bảo vệ bên trên thế giới và lãnh thổ của một quốc gia.

  1. Niệm chú: "Na-mô la-ta-na-ta la-yê-yê. Na-mô a-li-phây lu-chưa-na-yê. Ta-tha-niê-tô-yê a-la-hưa-ti. San-meo-san mây-tô-yê. Na-mô a-li-yê. San-man-tô pa-na-la-yê. Mu-ti-sa ta-pô-yê. Ma-hưa-lan hăng-pô-yê. Ma-hưa-ka-lu-ni-ka-yê. Ta-ni-yê-tha. Chư-rang-na-pô-la-ni-pi. Ưa-cha-yê-câu-sư. Pô-la-ti pô-na-pô-ti. Sa-pô-mây thua-lu-chi-tha. Yu-wo-pa-li ni-sư-pa-ninh. Yen-pi-la-nu la-pô-ưa-xi. Ti-li-yê-thưa-pô. Pa-li-ni-sư-pa-ninh. Mu-ti-chư-tô san-rưa-na-ni. Sa-pô-pi-sai ka-pi-sưa-chi-ti. Ta-mô-pô-ưa la-san-pu-ti. A-mu-ka-sư la-pô-ninh. Ma-hưa san-man-tô pa-na-la-pu-mi. Niê-li-yê-ti. Wây-yê-chia-la-nu. Pa-li-pô-la-pô-ni. Sa-pô-xi-thua. Na-mô sai-chi-li-ti. Sa-pô-mu-ti-sa-ta-pô. San-rưa-na-ni. Pô-ưa-pô-ti. Mây-thua-mơ-ti. A-la-mi-ka-la-mi. A-la-nu-ka-la-mi. Ma-hưa-pô-la. Chi-rang. Pô-la-mi-ti pô-pô-hưa."

  2. Cửu tiết Phật phong. Nhập Tam ma địa.

Tam ma địa này tức là quốc thổ sẽ thanh tịnh, biến hóa thành chúng hội Phật quốc của các Thượng sư, Phật Thích Ca Mâu Ni và quyến thuộc có phúc đức.

Tam ma địa này là đại hải hội tam thời tam hội của thân khẩu ý thanh tịnh, là mandala của Phật quốc thượng thắng, tương đương với sự rộng lớn và đầy ắp của Phổ Hiền Hương Vân.

Tam ma địa này là quốc thổ mà Tứ Đại Thiên Vương, Ngũ Đại Bồ Tát ban ơn phóng quang bao bọc che chở.

  1. Xuất định, tụng tán:

Mặt đất thơm hương cỏ hoa trang nghiêm vi diệu. Tu Di tứ châu nhật nguyệt tô điểm trang nghiêm. Bồ Tát Thiên Vương phóng quang ban gia hộ. Chỉ mong hữu tình đều đi trong cõi thanh tịnh.

  1. Hồi hướng.

  2. Đại lễ bái. Rời khỏi đàn thành.

Cát tường viên mãn.

🌟

Về mật đàn của Hộ thế hộ quốc quán thì tương đối đặc biệt, chủ tôn ở trung ương là Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, bên trái phải thờ phụng Đế Thích Thiên (Ngọc Hoàng Đại Đế), bên phải là Phạm Ma Thiên. Ngoài ra ở bốn phía phải thờ thêm mười sáu thiện thần. Ngũ Phương Bồ Tát là Đông phương Kim Cang Thủ Bồ Tát, Nam phương Kim Cang Bảo Bồ Tát, Tây phương Kim Cang Lợi Bồ Tát, Bắc phương Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, trung ương Kim Cang Ba La Mật Đa Bồ Tát.

Liên Sinh Hoạt Phật tu pháp này từng đến một cảnh giới. Tôi đi dạo trong thắng cảnh kỳ diệu này, đột nhiên nhìn thấy một vị thiên thần cực to lớn tay cầm một viên minh châu to đi đến, là đại minh châu, phóng ánh sáng đỏ. Vị thần to lớn nói: "Viên ngọc này đại diện cho chúng sinh, nay gửi ở chỗ ngài, do ngài hộ trì, cần giữ gìn cẩn thận."

Vị thần to lớn muốn tôi nhìn viên bảo châu, quả nhiên tôi nhìn thấy nó sáng rực lên ánh sáng đỏ lấp lánh, bên trong bảo châu có vô số hóa nhân đang đi lại, vô số hóa nhân đó như các điểm ảnh, không thể đếm xuể.

Vị thần to lớn nói với tôi: "Liên Sinh y theo giáo hóa của Như Lai mà thực thi, lợi lạc chúng sinh, chắc chắn chúng sinh có thể cùng sống an lành, đây là đạo lý chắc chắn." "Nhân duyên của tôi ra sao?" "Ở ẩn hộ trì mà thôi." - Vị thần to lớn nói: "Thiên hạ không ai biết lai lịch của ngài, năm trăm năm giáng sinh trên đời một lần, người người suy đoán lai lịch của ngài, nhưng không ai biết hết." "Sự nghiệp và công danh đời này thì sao?" "Trên đời có sự nghiệp gì? Có công danh gì? Những cái này chẳng qua là một giọt nước mà thôi." "Viên minh châu này để ở chỗ nào?" "Ngài muốn độ hóa chúng sinh về Tây phương thì đưa viên minh châu này đến Cực Lạc thế giới, pháp duyên cuộc đời này của ngài là ở đó."

Lời nói chưa dứt, vị thần to lớn đã biến mất. Chỉ thấy một vệt ánh sáng đỏ bao bọc lấy viên đại minh châu đi về hướng Tây.

Liên Sinh Hoạt Phật tu trì Hộ thế hộ quốc quán, khi nhập vào Tam ma địa, du hành mà biết đến cảnh giới này. Vì thế, tôi tu trì Hộ thế hộ quốc quán là thuận theo nhân duyên "ở ẩn hộ trì" của tôi mà thôi. Bản thân tôi tuy tập Mật pháp nhưng thường xuyên trì niệm âm thanh A Di Đà Phật, tôi còn dạy hát Nam Mô A Di Đà Phật và bài tụng A Di Đà Phật nữa, mỗi lần đồng tu đều tụng Phật hiệu của A Di Đà Phật, chỉ mong âm thanh hòa nhã này có quyền lực khéo léo độ hóa chúng sinh vãng sinh cảnh giới Tây phương.

Liên Sinh Hoạt Phật tuy hoằng dương Chân Phật Mật Pháp nhưng quyết không kỳ thị các tông phái khác. Bởi vì biết rằng hồng quang minh châu bay về Tây phương Cực Lạc thế giới, vì thế trong tu trì Mật pháp, tôi vẫn muốn mọi người tụng niệm Phật hiệu của A Di Đà Phật, cũng khuyên người ta mau tu tịnh thổ, đây là Hiển-Mật một nhà, tâm là như nhau.

Từng có đệ tử thấy tôi trì Phật hiệu. Một tiếng A Di Đà Phật liền có một viên minh châu màu đỏ từ trong miệng bay ra, và bên trong viên minh châu lại có một vị A Di Đà Phật đang ngồi ngay ngắn. Mười tiếng A Di Đà Phật thì có mười viên minh châu màu đỏ nối liền nhau, và trong mỗi một viên minh châu đều có một vị A Di Đà Phật. Đây đúng là đại ứng nghiệm.

Tu tập Hộ thế hộ quốc quán, chính là tấm lòng từ bi cứu đời, cũng chính là tiếp tục thắp lên ngọn đèn sáng của Phật pháp, khiến pháp luân thường chuyển ở thế gian. Người chứng ngộ tu trì pháp này sẽ có được duyên chúng sinh, khiến chúng sinh bốn phương đều tập trung trước pháp tọa của người đó, hơn nữa sự rầm rộ ấy khiến cho thiên hạ chấn động, giống như dựng lên ngọn cờ pháp to lớn, khiến mười phương đều tràn trề.

Người tu tập Hộ thế hộ quốc quán sẽ có được phú quý lớn nhất, vì tu Mật pháp như vậy, những vương công giàu sang quyền thế đều sẽ đem vàng bạc gấm vóc tài bảo đến cúng dường pháp tọa, có thể nói là pháp hóa nhân duyên, có được sự bố thí tài vật lấp đầy tất cả không gian.

Tu tập Hộ thế hộ quốc quán, vì nhân duyên tấm lòng rộng lượng, học vấn và tu dưỡng mỗi ngày một tăng, miệng nói như nước chảy, lời như châu ngọc, lời nói hợp đạo lý, rộng lượng khiêm nhường, có tài hùng biện vô ngại, tự nhiên đắc được diệu đế, có thể gõ đại pháp chuông, thổi đại pháp loa.

Hành giả tu tập Hộ thế hộ quốc quán, tài danh đẹp đẽ của họ sẽ gây chấn động thiên hạ, pháp tọa cao quý của họ tự sẽ được quốc vương triệu kiến, được đối đãi đặc biệt, phong làm vương sư.

Và hành giả Mật tông thì nên "bách tính khốn đốn thời mạt thế, tranh thủ thời cơ cứu vãn người dân đang chìm trong nước lửa, như vậy vạn dân được nhờ, nương dựa ẩn náu trong Phật pháp, chúng sinh được độ."

Trong mười pháp giới, pháp Hộ thế hộ quốc quán này có thể thành Phật, có thể độ chúng sinh, việc thiện có thể làm, việc ác có thể dừng, đây là đại Phật pháp cứu đời.

Tu chứng mật pháp này thì cực kì quang vinh.

07. Tứ nhiếp cát tường quán

(Mật pháp này do Sakya Chứng Không Lama truyền thụ.)

Quán tưởng tứ nhiếp chỉ dùng bốn chữ Phạn để triệu thỉnh, nhưng quán đảnh sau khi biến hóa Bổn tôn rất nhiều, hễ khi nào quán đảnh đều phải lần lượt quán tưởng chư tôn, dựa theo thứ tự mà quán tưởng cũng không phải là dễ.

Bí quyết quán tưởng quán đảnh vẫn cần Kim cương Thượng sư chân chính giảng giải tâm yếu khẩu quyết.

Tu tập tứ nhiếp cát tường quán có thể đạt đến ba cảnh giới lớn: Thắng giải — đắc tất cả đại trí huệ. Hoan hỷ — giải thoát tất cả phiền não. Đắc thường lạc. Kiên cố — đạo tâm không thoái lui, sống vĩnh viễn.

Tứ nhiếp cát tường quán trong Mật tông Tây Tạng mà nói cũng là một trong các đại pháp, có Hoạt Phật Lama chuyên tu pháp này, cuối cùng đã đắc cảnh giới cao nhất là hóa thân cầu vồng.

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt viết trình tự quán tu của pháp này ra, đây là pháp duyên thù thắng, là đại công khai diệu pháp tối thắng.

Tứ nhiếp chính là bốn chú tự, tức là bốn chữ "Cha Hum Ban Ho". Khi hành giả Mật tông đã quán Không rồi, lập tức có thể từ chủng tử tự của Bổn tôn biến hóa chính mình thành Bổn tôn. Lúc này hình thành hai thân: Chính mình là Bổn tôn nhân địa, còn gọi là Bổn tôn samaya. Bổn tôn vũ trụ là Bổn tôn quả địa, còn gọi là Bổn tôn trí huệ, còn gọi là Bổn tôn của pháp thân nơi tịch tĩnh.

Đây chính là: Nhập ngã — Bổn tôn quả địa tiến vào Bổn tôn nhân địa. Ngã nhập — Bổn tôn nhân địa tiến vào Bổn tôn quả địa.

Hành giả Mật tông đạt đến cảnh giới quán không rồi thì niệm chú tứ nhiếp: Cha — biến hóa chính mình thành Bổn tôn samaya. Hum — triệu thỉnh Bổn tôn trí huệ tiến vào Bổn tôn samaya. Ban — Bổn tôn samaya và Bổn tôn trí huệ hòa hợp không có khác biệt. Ho — sau khi hòa hợp không khác biệt, đắc được đại thắng giải, đại hoan hỷ, đại kiên cố.

image

Niệm chú âm tứ nhiếp này tức là hợp thể ý thức của mình và ý thức vũ trụ, pháp này chính là pháp tứ nhiếp của Tạng mật.

Khi chính mình biến hóa thành Bổn tôn và hợp thể rồi thì phải quán đảnh cát tường. Quán tưởng quán đảnh này là, trước tiên quán tưởng chủng tử tự phóng quang, trên chiếu đến 33 cõi trời và bốn Thánh giới, dưới chiếu đến sáu cõi phàm và ba đạo ác, ánh sáng đó lại phản hồi vào trong chủng tử tự, đây là triệu thỉnh vĩ đại nhất.

Tứ nhiếp cát tường quán thứ nhất do Ngũ Phương Phật quán đảnh: (1) Trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật. (thân màu trắng) (2) Đông phương A Súc Phật. (thân màu lam) (3) Nam phương Bảo Sinh Phật. (thân màu vàng) (4) Tây phương A Di Đà Phật. (thân màu đỏ) (5) Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật. (thân màu lục) Ngũ Phương Phật này mỗi vị đều phóng ánh sáng ngũ sắc, dùng chân ngôn quán đảnh thọ ký.

Tứ nhiếp cát tường quán thứ hai do Ngũ Phương Phật Mẫu quán đảnh: (1) Trung ương Phật Nhãn Phật Mẫu. (thân màu trắng) (2) Đông phương Ma Ma Cơ Phật Mẫu. (thân màu lam) (3) Nam phương Bảo Kim Cang Phật Mẫu. (thân màu vàng) (4) Tây phương Bạch Y Phật Mẫu. (thân màu đỏ) (5) Bắc phương Lục Độ Mẫu. (thân màu lục) Phật Mẫu của Ngũ Phương Phật này trên tay mỗi vị đều cầm bảo bình, dùng nước của bảo bình phóng quang đến quán đảnh cho hành giả Mật tông.

Tứ nhiếp cát tường quán thứ ba do mười đại Minh Vương và mười đại Minh Phi đến quán đảnh: (1) Đại Uy Đức Kim Cang và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm chùy, tay trái cầm kiếm, đầu đội Trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật để làm trang nghiêm.

(2) Vô Năng Thắng Minh Vương và minh phi — thân màu trắng, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu trắng, mặt bên phải màu xanh, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm gậy, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(3) Mã Thủ Minh Vương và minh phi — thân màu đỏ, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu đỏ, mặt bên phải màu xanh, mặt bên trái màu trắng. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm bánh xe, hai tay ở dưới thì tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm kiếm, đầu đội Tây phương A Di Đà Phật để làm trang nghiêm.

(4) Cam Lộ Đồ Minh Vương và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm chày, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(5) Dục Đế Minh Vương và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm móc, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(6) Lam Trượng Minh Vương và minh phi — thân màu lam, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu lam, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm gậy, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(7) Đại Lực Minh Vương và minh phi — thân màu lam, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu lam, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm xiên, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(8) Bất Động Minh Vương và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm kiếm, tay trái cầm chày, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(9) Đỉnh Kế Chuyển Luân Vương và minh phi — thân màu lục, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu lục, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm bánh xe, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

(10) Kim Cang Địa Minh Vương và minh phi — thân màu xanh, ba mặt sáu tay, mặt ở giữa màu xanh, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Hai tay ở trên đặt chéo nhau, tay phải cầm dao lưỡi liềm, tay trái cầm thiên linh cái, hai tay ở giữa thì tay phải cầm báu vật, tay trái cầm hoa sen, hai tay ở dưới thì tay phải cầm chày, tay trái cầm kiếm, đầu đội Đông phương A Súc Phật để làm trang nghiêm.

Quán tưởng quán đảnh của mười đại Minh Vương và Minh Phi này, điểm quan trọng là mười đại Minh Vương đều là ba đầu sáu tay, trong chốc lát biến thành mười vị xuất hiện, mười vị đều giống nhau, điểm không giống là màu sắc có khác biệt, và tay cầm pháp khí cũng có đôi chút khác biệt mà thôi. Có thể quán tưởng pháp khí quán đảnh, khiến cho ma chướng trong người lần lượt bị loại bỏ sạch sẽ, mười đại Minh Phi đến bảo hộ cho hành giả Mật tông.

Tứ nhiếp cát tường quán là do tám đại Bồ Tát quán đảnh: Tám đại Bồ Tát này chính là tám đại Bồ Tát trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh.

Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.

Tám đại Bồ Tát dùng tám đại pháp để phóng quang đến quán đảnh cho hành giả Mật tông.

Tứ nhiếp cát tường quán thứ năm do Lục Căn Độ Mẫu quán đảnh: Lục Căn Độ Mẫu này chính là Sắc Độ Mẫu, Thanh Độ Mẫu, Hương Độ Mẫu, Vị Độ Mẫu, Xúc Độ Mẫu, Kim Cương Giới Tự Tại Mẫu. Lục Căn Độ Mẫu này dùng các loại hương, hoa, âm nhạc, mỹ vị, gió mát, v.v… thù thắng trang nghiêm đến quán đảnh cho hành giả Mật tông.

Tứ nhiếp và quán đảnh của tứ nhiếp cát tường quán, tứ nhiếp này có các thủ ấn riêng: Cha - dùng ấn móc kim cang — tay đan ngoại phộc, ngón trỏ tay phải hơi cong tạo thành dáng móc câu. Hum - dùng ấn thừng kim cang — tay đan ngoại phộc, ngón trỏ tay phải cho vào trong hổ khẩu [khoảng giữa ngón cái và ngón trỏ]. Ban - dùng ấn khóa kim cang — tay đan ngoại phộc, ngón trỏ và ngón cái của hai tay chụm vào nhau thành vòng tròn. Ho - dùng ấn chuông kim cang — tay đan ngoại phộc, hai ngón cái đưa vào bên trong lắc lư ở chân ngón út và ngón áp út.

Trong quán tưởng quán đảnh, cần quán tưởng từng cái rõ ràng, tu trì như vậy có thể đạt đến cảnh giới thân hóa cầu vồng, bởi vì đây chính là dựa vào tính hút hấp dẫn vận dụng sức mạnh Yết ma, thập phương tứ nhiếp trí Bồ Tát mỗi vị dùng thực tính để gia trì. Rất nhiều Lama đã dùng đại pháp này để tu trì.

Tứ nhiếp cát tường quán này có nhân duyên kỳ diệu như sau: Tại San Diego có một vị tiến sĩ vật lý là cư sĩ Đan Cao, tuy ông ấy là tiến sĩ vật lý nhưng cũng là một người tu Mật. Ban đầu cư sĩ Đan Cao không biết có Liên Sinh Hoạt Phật. Ông ấy ngồi thiền trong mật đàn, trong tai nghe thấy âm thanh của chuông kim cang rất trong trẻo từ một nơi rất xa truyền đến trong tai ông, ông cảm thấy khá kinh ngạc. Đồng thời trong khi ông ngồi thiền, không ngờ lại nhìn thấy tướng mạo của một tăng nhân. Tướng mạo của tăng nhân này là mặt tròn, tai rủ, miệng ngang, đứng trên một đóa hoa sen màu trắng, thân tỏa hào quang. Cư sĩ Đan Cao không biết là người nào.

Cư sĩ Đan Cao vì trong lúc thiền thường xuyên nhìn thấy hình tướng của vị tăng này liền tự mình dùng màu nước vẽ ra hình tướng của tăng nhân mà ông ấy nhìn thấy, rồi cúng tại mật đàn của mình, ngày ngày lễ bái thắp hương. Điều kỳ dị nhất là tăng nhân nói với ông: "Phải tập tứ nhiếp…" Tứ nhiếp? Tứ nhiếp là cái gì? Cư sĩ Đan Cao cũng không biết.

Có một hôm, một người đồng nghiệp đến nhà của cư sĩ Đan Cao, vừa nhìn bức tướng của vị tăng nhân liền biết đó là Liên Sinh Hoạt Phật, đồng thời đưa ra bức pháp tướng xuất gia của Liên Sinh Hoạt Phật, so sánh hai bức không ngờ giống nhau. Cư sĩ Đan Cao không thể không thán phục, quả nhiên là Liên Sinh Hoạt Phật.

Cư sĩ Đan Cao đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond để lễ bái Liên Sinh Hoạt Phật. "Sư Tôn truyền cho tôi pháp gì vậy?" "Chẳng phải là đã nói cho ông rồi sao? Sao ông lại quên rồi?" "Tứ nhiếp ư?" "Chính là tứ nhiếp cát tường quán." - Tôi cười nói. "A! Quá kỳ diệu, quá linh dị, quả nhiên có pháp tứ nhiếp."

Cư sĩ Đan Cao nhờ tu Mật, trong thiền định nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật, đã có một đoạn nhân duyên, cuối cùng đã đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật, hơn nữa còn được Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy tứ nhiếp cát tường quán, có được diệu ý do Hoạt Phật đích thân truyền. Ai biết được nhân duyên vi diệu này đều lộ vẻ xúc động.

Tôi nói với cư sĩ Đan Cao: "Phật nói, dùng một niệm chí thành và tấm lòng son sắt niệm Phật, có thể diệt trọng tội của tám mươi ức kiếp, cái kỳ diệu của Mật pháp chính là nằm ở giữa một niệm một nhiếp này. Thật ra vô lượng chư tôn có thể hoàn toàn thu vào trong một niệm, và một lần thu về cũng là vô lượng kiếp đó!" "Pháp tứ nhiếp thật quá vi diệu."

Có một bài kệ như sau: Thập thế cổ kim bất ly đương niệm, Vi trần sát thổ bất cách hào đoan. Đây chính là sự chí lý viên dung của tứ nhiếp.

Mật trong mật, kỳ trong kỳ, pháp trong pháp của Mật tông, thật ra cũng có nhân duyên tồn tại đó! Những Mật pháp này, người có thiên phần nhìn một cái là biết ngay sự quý giá của nó, còn như người vô duyên thì nhìn thấy đại Mật pháp cũng giống như nhìn thấy người lạ. Bởi vậy học đạo phải có mệnh, không có thiên phần thì đạo cũng không thành.

Học Mật tông vốn là việc phi thường, cũng phải có tâm phi thường. Có người nói, người tham sống sợ chết, ngay cả làm đại sự nghiệp thế gian đều có khó khăn, huống hồ là Mật pháp xuất thế gian. Phần đông người học tập Chân Phật Mật Pháp đều có nhân duyên, cũng có khảo nghiệm.

Đôi khi chúng ta cần nhận thức được, sống trên đời này, thật ra chính là ông trời ban cho chúng ta sự rèn luyện, thân xác hữu hình chỉ là công cụ tu hành tạm thời, tri thức trong xã hội đôi khi sẽ trở thành chướng ngại của chúng ta, phải nhìn thấu và buông bỏ mới tu đắc thành tựu.

Thành tựu giả tu trì tứ nhiếp cát tường quán, tức thân thành Phật của họ là vô cùng thù thắng: Có người đang tĩnh tọa, trong sát-na đã viên tịch luôn, trên đỉnh đầu họ phóng ra một đường ánh sáng cầu vồng, người ở xa nhìn thấy hỏa quang xung thiên, còn có người vừa chạm vào thân của họ thì thân của họ giống như một tập hợp tro mịn, trong chốc lát đã biến thành một đống tro tàn. Cũng có người nhìn thấy một dải cầu vồng tan biến vào trong mây. Càng lợi hại hơn là tức thân thành Phật của tứ nhiếp cát tường quán là trong sát-na, ngay cả người đang mặc quần áo cũng đều hóa thành cầu vồng, bay vào trong hư không, ngay cả bóng người cũng đều không thấy, ngay cả tro tàn cũng không, người lợi hại hơn là như vậy.

Thành tựu giả của pháp này, người ngoài nhìn thấy họ sống trong phòng ốc sơ sài, thật ra người minh nhãn biết họ sống trong cung điện của cõi trời; người ngoài nhìn thấy họ một thân một mình đi lại, thật ra người minh nhãn biết, nơi họ đi qua, thần núi thần biển thần đất đều đến nghênh tiễn họ. Thành tựu giả của tứ nhiếp cát tường quán có thể dùng niệm lực để nổi lửa, khiến đàn hương không châm mà tự cháy, cũng có thể tàng hình khiến cho người ác không tìm thấy họ, bí mật đi lại ở trên núi có thể biến hóa thành cỏ cây dã thú, có nghĩa là ở trong Ngũ Hành có thể tùy ý hóa thân. Thành tựu giả của pháp này, người minh nhãn có thể nhìn thấy họ mặc y phục ngũ sắc, phóng ra ánh sáng năm màu sắc.

Liên Sinh Hoạt Phật viết cuốn sách "Mật tạng siêu kỳ lạ", những Mật pháp ở trong đây đều là đại pháp, người học Mật chỉ cần đi theo Kim cương Thượng sư chân chính, cung kính bền lòng thực tu, nhất định sẽ có thành tựu. Đừng đánh mất tâm cung kính, đừng nửa chừng bỏ dở, đừng có chưa khổ công đã mơ mộng hão huyền về tương ứng. Tu hành là việc lớn bậc nhất trong thiên hạ đó!

08. Quán chìa khóa mở kho báu

Pháp này trong Mật tông Tây Tạng được xếp vào pháp cực bí mật, luôn luôn phải mật truyền. Tên đầy đủ của pháp này là "Quán đại Guru Pháp thân viên mãn, nhờ tương ứng Phật, mở chìa khóa kho báu".

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt ở trong cuốn sách "Mật Tạng siêu kỳ lạ" này lần lượt viết ra kĩ càng trình tự tu trì. Đệ tử quy y muốn học pháp này trước tiên phải nhận quán đảnh, sau đó phải được Kim cương Thượng sư chân chính giảng giải tâm yếu khẩu quyết.

Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật gia. (3 biến) Đảnh lễ chí tôn vô thượng Thượng sư Đại Kim Cương Tổng Trì. (3 biến) Chân Phật đại lễ bái Chân Phật tứ quy y. (tu thêm pháp mặc giáp hộ thân) Chân Phật đại cúng dường. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1~3 biến) Kết ấn: tay kết ấn tráp Phạn - tay trái mở ra, năm ngón tay duỗi thẳng ngửa lên, tay phải úp lên tay trái. Giữ thủ ấn ở tim, thế là thành.

Quán tưởng: Trong hư không ở ngay trước mặt có một tòa hoa sen cao rộng do tám con sư tử lớn nâng, trên pháp tọa chính là Liên Sinh Hoạt Phật một đầu hai tay đang ngồi, đầu đội mũ Ngũ Phật có hai dải lụa buông xuống, thân màu trắng, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang. Xung quanh có Phật Bồ Tát Thanh Văn Duyên Giác Hộ Pháp Kim Cang từng vòng vây quanh.

Quán tưởng đặc thù của pháp này là trước pháp tọa có một cái bàn, trên bàn đặt những chiếc tráp Phạn được dùng trong giáo pháp, những tráp Phạn này chính là pháp bảo trong kho báu.

Hành giả Mật tông quán tưởng lần lượt những pháp bảo của tráp báu này chính là đại pháp bảo cứu độ chúng sinh, ngoài Liên Sinh Hoạt Phật có thể cứu độ chúng sinh đang ở trong sợ hãi phiền não ra thì không còn nơi nào khác có thể cứu họ.

Sau đó niệm chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya."(cố gắng tụng nhiều) Thượng sư, Phật, pháp, tăng hóa thành ánh sáng cam lộ trút xuống hành giả Mật tông.

Kết ấn thứ hai: tay kết ấn căn bản của Đại Uy Đức Kim Cang — hai tay đan nội phộc như nắm đấm, hai ngón giữa giơ thẳng, đầu ngón tay chạm vào nhau. Quán tưởng thứ hai: hành giả Mật tông trong sát-na biến thành Đại Uy Đức Kim Cang, tướng một mặt hai tay, tay phải cầm dao cong, tay trái cầm pháp khí đầu lâu và có Minh Phi, đứng trang nghiêm. Quán tưởng đặc biệt là đầu lâu trong tay của Đại Uy Đức Kim Cang biến thành bao la, trong đó đựng vô số tráp Phạn, trong tráp Phạn chính là pháp bảo lớn, đại Mật pháp có thể độ hết chúng sinh đều ở trong đó, đây là quán tưởng tráp Phạn trong đầu lâu.

Hành giả Mật tông (Đại Uy Đức Kim Cang) tự mình thu nhận ánh sáng bách bảo do các tráp Phạn phóng ra. Sau đó quán tưởng tự thân biến thành Đại Uy Đức Kim Cang dữ tợn, thân màu xanh đen, có chín mặt ba mươi tư cánh tay, và mười sáu chân, đứng với tư thế uốn về bên phải và giương về bên trái, Minh Phi đứng nghiêm trên đỉnh đầu.

Niệm chú: Ôm ah hùm. (cố gắng tụng nhiều) Mi tâm phóng ánh sáng trắng. Họng phóng ánh sáng đỏ. Tim phóng ánh sáng lam. Sau đó lại tụng tâm chú căn bản của Đại Uy Đức Kim Cang: "Ôm chu-li ka-la-lu-pa hùm khan sô-ha." (108 biến)

Hành giả Mật tông vẫn quán tưởng thân dữ tợn của Đại Uy Đức Kim Cang phóng quang, loại trừ hết tất cả những bất tịnh của những cơ quan cảm xúc, và lần lượt trong hư không xuất hiện bảo điện, bên ngoài thân mình, đều hóa thành cực kì nhiều bảo điện, từng bảo điện đều chứa rất nhiều tráp báu, những tráp Phạn này đều phóng quang, thanh tịnh tự tính và tha tính. Gia trì chuông chày. Ôm ah hùm. Gia trì tự tính, vô nhị đại trí huệ, lục căn sinh ra Lạc-Không trí vô lậu thù thắng vi diệu, và những tráp Phạn của đất-nước-lửa-gió-không nhiều như mây phóng quang hòa tan vào lẫn nhau. Quán tưởng. Dùng chày biến hóa thành chìa khóa báu. Quán tưởng. Dùng chuông biến hóa thành ổ khóa pháp. Dùng chày tra vào trong chuông, xoay một cái, xoay hai cái, xoay ba cái, biểu thị chìa khóa báu đã tra vào trong ổ khóa pháp, mở ra tráp Phạn và có được đại trí huệ (vô nhị đại trí huệ). Ngồi yên lặng nhập Tam ma địa.

Sau khi xuất định, hồi hướng: Lạc-Không không khác tráp báu quảng đại đất-nước-lửa-gió-không Pháp bảo phóng quang Thánh giáo Mật pháp cứu độ mãi vô tận Hành giả nguyện lấy chìa khóa báu mở ra ổ khóa pháp lấy được pháp khí Mật hỏa cháy lên trong pháp thù thắng vi diệu độ chúng sinh là số một.

Đại lễ bái. Xuất đàn. Cát tường viên mãn.

🌟

Bí quyết của pháp quán chìa khóa mở kho báu nằm ở mấy sự biến hóa đặc thù:

  1. Đầu tiên do Thượng sư, Phật, pháp, tăng quán đảnh.
  2. Biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang một mặt hai tay.
  3. Lại biến hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang chín mặt ba mươi bốn tay mười sáu chân.
  4. Chày hóa thành chìa khóa báu. Chuông hóa thành ổ khóa pháp.
  5. Quan trọng nhất là dùng chìa khóa báu để mở ra ổ khóa pháp.

Khi Liên Sinh Hoạt Phật viết cuốn "Mật yông Yết Ma pháp", nguyên thần từ từ bay lên, đến một nước mà tôi chưa từng đến, nguyên thần đi vào trong một hang động, hang động này sâu thẳm tối tăm, bên trong hang động quanh co ngoắt ngoéo, có rất nhiều lối đi, nhưng thứ thu hút tôi lại là một con đường ánh sáng thanh tịnh thuần tịnh như ánh chớp.

Nguyên thần của tôi đi vào nơi sâu nhất của hang động, lúc này sáng chói như mặt trời, dường như ngay cả vách núi cũng bị chiếu xuyên qua, toàn bộ hang sáng rực, ánh sáng chiếu khắp thiên hạ, khắp trời khắp đất. Tôi nhìn kĩ hơn, nguồn phát ra ánh sáng không ngờ là một quyển sách, bìa của quyển sách này cực kì cũ kĩ, chữ bên trong tôi nhìn không hiểu, thế nhưng trong đầu tôi có một linh cảm lóe lên, đây không phải Phạn văn (tiếng Ấn Độ), mà là kinh Phật bằng tiếng Pali.

Nguyên thần của tôi mở ra ký ức về tiếng Pali trong kiếp trước, rất nhanh chóng, tôi đã hiểu được yếu chỉ của quyển sách này. Văn tự trong quyển sách này sâu sắc khó đo lường, cũng không dễ đọc mà hiểu được, bởi vì đây là một quyển sách thuộc kinh sách được giấu kĩ, là đại kết tinh của trí huệ thiên cổ.

Thế là, mỗi tối tôi ngồi thiền, tôi đều phi thân đến hang động sâu thẳm đó, ở nơi tĩnh lặng nhất trong ánh sáng, kim quang chiếu rọi, tôi tỉ mỉ nghiên cứu quyển sách này. Và càng kỳ lạ hơn là, sách này có Kim Cang Thần bảo vệ, mỗi lần tôi đến, Kim Cang Thần bảo vệ đều khác nhau, đều là Kim Cang Lực Sĩ cầm chày kim cang, các vị nhìn thấy tôi đến thì đều nhường qua một bên, ngày đêm đều cung kính bảo vệ, còn tôi thì yên tâm ở trong quang cảnh vàng son lộng lẫy ấy mà đọc cuốn sách Phật bằng tiếng Pali này.

(Bốn đoạn văn trên đây là tôi viết về nhân duyên của cuốn "Mật tông Yết Ma pháp", là cuốn sách xuất bản trước cuốn sách này. Và nguyên nhân tôi có thể tiến vào hang động bí mật, có được pháp bảo Phạn bối, được Kim Cang Thần cung phụng bảo vệ, chính là vì tôi đã tu trì pháp quán chìa khóa mở kho báu, nhờ tu quán chìa khóa mở kho báu mới có thể mở ra pháp bảo của đất, nước, lửa, gió, không để đắc được trí huệ vô nhị.)

Long Thụ Bồ Tát khiến cho Phật giáo Đại thừa hưng long, ngài là đệ tử của Ca Tỳ Ma La tôn giả - đệ tử của Mã Minh Bồ Tát. Long Thụ Bồ Tát giáng sinh vào cuối thế kỷ thứ hai theo Dương lịch, ở nước Tỳ Đạt Bà ở Nam Thiên Trúc. Truyền kỳ về Long Thụ Bồ Tát là đi vào long cung ở đáy biển, đọc tụng kinh điển Đại thừa, đây là pháp bảo đi lấy từ trong biển. Năm xưa Long Thụ Bồ Tát vào long cung, có được pháp bảo, thông hiểu các giáo nghĩa sâu sắc, đương nhiên là nhờ có sức mạnh từ pháp quán chìa khóa mở kho báu. Pháp quán chìa khóa mở kho báu này là pháp bí mật vĩ đại.

Bảo điển của Phật pháp sao lại ở long cung? Thì ra trong "Hải Long Vương Kinh", phẩm "Thỉnh Phật" có ghi chép rằng: Hải Long Vương đến núi Linh Thứu nghe Phật thuyết pháp, tín tâm hoan hỷ, muốn thỉnh Phật đến đại hải long cung để cúng dường, Phật đã nhận lời. Long Vương lập tức vào trong biển lớn hóa thành long cung, vô lượng châu báu, đủ loại trang nghiêm, hơn nữa, từ bờ biển thông đến đáy biển còn làm thành ba con đường bậc thang bằng châu báu, giống như ngày xưa Phật hóa ra bậc thang châu báu từ Đao Lợi Thiên thả xuống cõi Diêm Phù Đề. Phật và các tỳ kheo Bồ Tát cùng đi trên bậc thang châu báu để vào long cung, nhận cúng dường của loài rồng và thuyết đại pháp cho họ.

Trong kinh "Ma Ha Ma Da" có nói: "1500 năm. Ác ma Ba Tuần và các ngoại đạo nhảy nhót vui mừng, đua nhau phá chùa tháp, sát hại tỳ kheo, tất cả kinh tạng đều được chuyển đến nước Cưu Thi Na Kiệt, A Nậu Đạt Long Vương đều đưa xuống dưới biển, giấu ở long cung, vì thế mà Phật pháp cũng diệt hết."

Liên Sinh Hoạt Phật từng dùng sức mạnh thần thông, ở trong thiền định, đi vào long cung ở đáy biển, trong long cung có Phật pháp bí mật chưa từng được tuyên truyền, trong đó có một bộ "Danh Tướng Kinh", tên gọi gốc của "Danh Tướng Kinh" là "Thập Phương Phật Ngôn Thánh Giáo Danh Xưng Thực Tướng Kinh". Bản kinh này chưa từng xuất hiện ở thế gian, thế mà tôi dựa vào sức mạnh thần thông đã đọc được nó.

Tôi ca ngợi Long Thụ Bồ Tát vào long cung có được Kinh Hoa Nghiêm, mở tháp sắp được truyền mật tạng. Còn Liên Sinh Hoạt Phật vào hang động, vào long cung, chính là sức mạnh thần thông của pháp quán chìa khóa mở kho báu.

Trong truyền thừa Mật tông của Tây Tạng, ví dụ Tang Điên Ninh Hoạt Phật - vị truyền thừa đời thứ ba của Trát Châu Rinpoche, ngài chính là người đã có được bảo tạng cất giấu trong hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Đáp Sảng Nỗ Điên Kim Cang đời thứ tư có được bảo tạng cất giấu trong hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Trong Mật tông Tây Tạng, người có được bảo tạng cất giấu trong hang động nhiều không kể xiết, ví dụ Bi Lạc Gia Na Hoạt Phật là một vị chuyên lấy bảo tạng trong hang động vĩ đại. Thiên Kinh Đạt Ngã Kim Cang, Lãng Tế Kim Cang, Bối Mã Kim Cang đều là những Hoạt Phật lấy được bảo tạng trong hang động.

Còn Liên Sinh Hoạt Phật trong thời gian tu Mật ở Linh Tiên Các, ngày ngày thường gặp được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đã từng đến Trát Long ở miền Tây Tây Tạng, cũng lấy được bảo tạng cất giấu trong hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Việc lấy bảo tạng trong hang động đòi hỏi phải tu tập pháp quán chìa khóa mở kho báu. Quán chìa khóa mở kho báu có đại pháp lực như vậy. Người tu trì thành tựu pháp quán chìa khóa mở kho báu có thể đi trên ánh sáng mặt trời, trong sát-na người đó có thể đến bất kì nơi nào có ánh sáng mặt trời chiếu đến, nếu có kẻ xấu muốn sát hại họ, họ có thể lập tức nấp vào trong vách tường, không ai có thể tìm thấy. Họ có thể cưỡi trên lưng cá chép lớn, từ mặt nước đi vào long cung, rồi lại từ long cung trở về lục địa.

Một lần, có đệ tử theo tôi về nhà. Tôi vừa bước vào cửa thì tôi liền biến mất. Đệ tử đó rõ ràng là bám theo tôi vào nhà, kết quả là trong nháy mắt tôi đã biến mất. Anh ấy vô cùng sửng sốt tìm khắp phòng, quả nhiên không thể tìm thấy Thượng sư Hoạt Phật ở chỗ nào. Thế rồi đệ tử đó vô tình thoáng thấy Liên Sinh Hoạt Phật không ngờ lại trốn trong bình rượu vơi một nửa, đang bơi trong đó. Liên Sinh Hoạt Phật đã biến thành nhỏ xíu như một con ruồi, đang bơi ở trong bình rượu…. Anh ấy sửng sốt! Thượng sư Hoạt Phật dặn anh tuyệt đối không được tiết lộ cho người khác biết. Thì ra đây cũng là sức mạnh thần thông của pháp quán chìa khóa mở kho báu.

Từng có một đệ tử ở đường Trung Hoa, thành phố Đài Trung, Đài Loan nhìn thấy Liên Sinh Hoạt Phật đang ngồi ở "quán thập cẩm" ăn món canh thập cẩm. Thế nào là canh thập cẩm? Tức là người ta làm cỗ xong, những thức ăn thừa được gom lại, nấu lại từ đầu, sau đó lại đem ra bán.

Đệ tử đó nghĩ, không thể nào, Liên Sinh Hoạt Phật hiện đang sống ở Mỹ, chẳng hề có tin tức nào là ngài đã trở về Đài Loan, sao có thể là Liên Sinh Hoạt Phật chứ? Hơn nữa lại còn một mình ngồi trong quán thập cẩm ăn món thập cẩm, sao có thể thế chứ?

Đệ tử đó tiến nhanh về phía trước, nhìn kĩ càng cẩn thận, không sai chút nào, là Liên Sinh Hoạt Phật. (Đệ tử đó nhìn thấy Thượng sư Lư Thắng Ngạn đầu vẫn còn để tóc.) "Thầy là Lư Thắng Ngạn…" - Anh ấy kinh ngạc hỏi. "Là tôi đây. Tôi chính là Lư Thắng Ngạn." - Tôi quay đầu lại thừa nhận. "Sư Tôn về khi nào vậy?" "Vừa về hôm nay." - Tôi đáp. "Sư Tôn cần đi đâu, tôi đưa thầy đi." - Đệ tử quá vui mừng. "Anh đi theo tôi…" - Tôi đi trước, đệ tử đi theo sau, trong sát-na, tôi liền biến mất. Đây là trong một ngày, tôi xuất hiện ở nhiều nơi cách xa nhau cả vạn dặm. Thành tựu pháp chìa khóa mở kho báu rồi, có thể phân thành chín thân, trong một ngày có thể hiện thân ở nơi cách xa vạn dặm.

09. Quán diện kiến Tổ sư

Liên Sinh Hoạt Phật trong phái Hoàng giáo Mật tông Tây Tạng có pháp hiệu là Thubten Qimo. Đây là truyền thừa của đại Lama Thubten Lama của Tây Tạng. Thubten Lama từng truyền đại Mật pháp tại Khai Phong, tỉnh Hà Nam. Và tổ sư của Hoàng giáo Mật tông Tây Tạng chính là Đại sư Tsongkhapa.

Kệ tán thán Tổ sư Tsongkhapa như sau: Bậc Thượng sư đầy đủ ba ân đức, bản tính của tất cả chư Phật. Mặc áo hoàng y, hiện tướng tỳ kheo, một mặt hai tay, nét mặt tươi cười thanh tịnh. Tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái ấn đẳng trì, khéo nâng bát đầy cam lộ. Thân khoác ba y màu hoa đỏ tuyệt đẹp, đỉnh đầu trang nghiêm đội mũ vàng bảo vật. Tại tim có Biến Chủ Kim Cương Trì Vương, một mặt hai tay, thân màu xanh. Tay cầm chày và chuông, ôm Phật Mẫu, cùng sinh vui thích trong Lạc Không. Trang sức nhiều chuỗi ngọc báu tuyệt diệu, khoác thiên y gấm hoa văn. Tướng đẹp trang nghiêm với nghìn tia sáng rực rỡ, giữa cầu vồng năm màu quấn quanh. Ngồi kiết già kim cương trang nghiêm an trụ, năm uẩn thanh tịnh là năm vị Như Lai. Tứ đại Tứ Mẫu, kinh mạch gân cốt, mỗi khớp xương đều là Bồ Tát. Hai mươi mốt nghìn lỗ chân lông là La Hán, mỗi chi tiết thân thể đều là Minh Vương. Các Dược Xoa bí mật quang uẩn hộ phương, người thế gian đều quỳ dưới chân.

Quán diện kiến Tổ sư, khi vào đàn, trước tiên tụng kệ tán thán trêm (3 lần).

  1. Niệm chú thanh tịnh.

  2. Niệm chú triệu thỉnh.

  3. Chân Phật đại lễ bái.

  4. Chân Phật tứ quy y.

  5. Chân Phật đại cúng dường.

  6. Mặc giáp hộ thân.

  7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1~3 biến).

  8. Kết ấn: Tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn đẳng trì.

  9. Quán tưởng thứ nhất — Trong hư không phía trước hành giả Mật tông, có Tổ sư Đại Pháp Vương Tsongkhapa mà mình đã thọ ân, ngài có một mặt hai tay, thân màu trắng trong sáng, khuôn mặt tròn đầy và hoan hỷ, tay phải kết ấn thuyết pháp, tay trái kết ấn đẳng trì, trên tay kết ấn đẳng trì nâng bát đầy cam lộ, thân khoác ba y, đầu đội mũ màu vàng kim. Hai bên vai ngang nhau, mọc hoa upala đang nở rộ, trên hoa đặt hòm báu và bảo kiếm để trang nghiêm, Tổ sư Tsongkhapa ngồi kiết già kim cương, trong tim ngài có ánh sáng xanh, và Kim Cương Tổng Trì an trụ trong đó, phóng ánh sáng chiếu khắp thế giới.

Thân tướng của Tổ sư Tsongkhapa chính là thân tướng đầy đủ năm bộ song tôn, thức dũng thức mẫu, mười vị Minh Vương, và tự tính chư Phật thân.

Quán tưởng thứ hai — Quán tưởng thứ hai là quán tưởng quyến thuộc. Phía trên chủ tôn là Thượng sư Gia trì Bản Tục. Bên phải chủ tôn là Thượng sư Quảng Hành Bản Tục. Bên trái chủ tôn là Thượng sư Thâm Kiến Bản Tục. Trên đỉnh cao nhất trong hư không của chủ tôn là Thượng sư mật truyền tất cả. Bốn cánh là tứ tục đại kim cang.

Phía dưới có mười cấp, theo thứ tự là Bộ Vô Thượng Tục, Bộ Tương Ứng Tục, Bộ Hành Tục, Bộ Tác Tục, Bộ Phật, Bộ Bồ Tát, Bộ Duyên Giác, Bộ Thanh Văn, Bộ Dũng Nam Nữ, Bộ Hộ Pháp.

(Về quán tưởng Tổ sư Tsongkhapa, Liên Sinh Hoạt Phật từng thấy trên thị trường có pháp tướng Mật tông, miêu tả một cây lớn mọc lên từ đáy biển, trên ngọn cây có Đại sư Tsongkhapa ngồi, thân cây chia làm mười cấp, trên không trung bên trái bên phải là tất cả các vị Thượng sư, pháp tướng này được gọi là cây quy y. Pháp tướng Mật tông này phân tầng rõ ràng. Người tu học có thể tham khảo pháp tướng cây quy y để thực hiện quán tưởng.)

Quán tưởng thứ ba — Sau khi hành giả Mật tông hoàn thành quán tưởng thứ nhất và quán tưởng thứ hai, có thể dùng hai tay cầm bình tịnh thủy, rồi quán tưởng, cam lộ từ Tổ sư Tsongkhapa phóng ánh sáng, tạo thành một đường cong, ánh sáng trắng lớn đó, hạ xuống vào trong bình tịnh thủy của mình, như vậy cam lộ hóa thành ánh sáng bảy lần, bảy lần hạ xuống trong bình tịnh thủy. Hành giả Mật tông nhanh chóng uống hết nước tịnh trong bình.

  1. Kệ tán thán: Tổ sư đại bi với tính đại lạc tối thượng. Tự mình ban xuống cam lộ tịnh hóa thân con. Trong một sát-na đầy đủ đại biến hóa. Đảnh lễ thân kim cang của Tổ sư vô thượng.

  2. Niệm chú:

"Ôm gu-ru sông-kha-pa pu-thi sa-ma-ya hùm." (108 lần hoặc nhiều hơn)

  1. Tĩnh tọa nhập Tam ma địa:

Khi tĩnh tọa, Cửu tiết Phật phong, tức là triệu thỉnh mười phương chư Phật Bồ Tát, các vị Tổ sư phóng quang nhập vào tâm điền hội tụ tại một nơi, tự tính và ánh sáng của Tổ sư hòa hợp, biến thành tự tính tập trung, như đang tắm trong hào quang ân đức của Tổ sư, hoặc du hành trong hào quang ân đức của Tổ sư. Tiến vào Tam ma địa của Tổ sư Tsongkhapa.

  1. Hồi hướng sau khi xuất định:

Diện kiến trí tuệ tối thắng của chư Phật Tổ sư. Phương tiện thiện xảo tối thắng ứng hiện tùy cơ. Con khéo tắm trong hào quang ân đức chỉ dạy Dưới chân Thượng sư, con cung kính đảnh lễ.

  1. Đại lễ bái Phật. Rời đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Yếu quyết của pháp quán diện kiến Tổ sư là ở chỗ quán tưởng đưa bản thân vào trong mandala, tức là ở góc dưới bên phải của mandala, dùng hai tay cầm bình tịnh thủy, cầu nguyện được diện kiến Tổ sư, cam lộ của Tổ sư phóng quang bay lên không trung, rót vào bình tịnh thủy của mình, bảy lần phóng quang vào bình tịnh thủy, và hành giả Mật tông, sau khi uống cam lộ tịnh hóa, mới được diện kiến Tổ sư Tsongkhapa trong hào quang ân đức.

Tôi nhớ rằng trong "Mật Giáo Đại Viên Mãn" có viết như sau: Liên Sinh Hoạt Phật đội mũ vàng, mặc áo vàng? Có người cho rằng vì Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được truyền thừa trực tiếp từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, nên phải thuộc về Hồng giáo (Nyingmapa), vậy thì phải đội mũ đỏ mặc áo đỏ.

Tôi xin giải thích như sau: Có người nghĩ rằng trang phục của Hồng giáo là màu đỏ, Bạch giáo là màu trắng, Hoàng giáo là màu vàng, đây là sự hiểu lầm truyền miệng. Bởi vì trong Mật tông Tây Tạng, bất kể tông phái nào, những người không có địa vị đều mặc màu tím đỏ, chỉ những người có địa vị mới mặc màu vàng. Về sự khác biệt của mũ, chỉ có người thuộc Hoàng giáo mới đội mũ vàng, ba phái còn lại đều đội mũ đỏ. (Ngoài ra, mũ Pháp Vương mà Karmapa đội lại là màu đen.)

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ban cho tôi một bài kệ tán thán, chính là: Sớm đạt thành tựu thâm sâu là Liên Sinh. Áo vàng mũ vàng được trời người kính ngưỡng. Tâm ấn Như Lai chứng đắc Đại Trì Minh. Sáng lập tông phong truyền pháp chúng sinh lễ kính.

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ yêu cầu tôi mặc áo vàng, đội mũ vàng, điều này có nhân duyên. Thứ nhất, các Lama thông thường ở Tây Tạng mặc pháp y màu tím đỏ, mặc áo đỏ viền vàng là bậc cao hơn, chỉ có người ở địa vị cao nhất mới được mặc áo vàng. Vì vậy, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ yêu cầu tôi mặc áo vàng, áo vàng tượng trưng cho sự tôn quý nhất. Điều này cho thấy tôi đã trực tiếp nhận được vinh dự tối thượng từ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.

Thứ hai, tôi đã từng nhận quán đảnh từ Hoàng giáo, cụ thể là Thubten Lama từ cung Ung Hòa đã truyền pháp cho Thượng sư Thubten Dhargye, Thượng sư Thubten Dhargye truyền pháp cho Thượng sư Thubten Qimo, và bản thân tôi chính là Thượng sư Thubten Qimo, Thubten Qimo là pháp danh của tôi trong Hoàng giáo. Vì vậy, tôi càng có đủ tư cách để đội mũ vàng, mặc áo vàng, điều này hoàn toàn không sai.

Thứ ba, bản thân tôi có truyền thừa Hoàng giáo, đương nhiên có thể đội mũ vàng, mặc áo vàng, đặc biệt là tôi nghiên cứu nhiều về "Đạo Củ Luận" của Tôn giả Atisa - hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Mặc dù tôi đã tu tập thứ tự sinh khởi và viên mãn của Ngũ Đại Kim Cang, nhưng tôi cũng tu tập thứ tự chín thừa, đạt được Tối Quang Minh Kim Cương Tạng Thừa, đây là Phật tính thừa, Trí tuệ thừa của pháp Đại Viên Mãn - pháp đệ nhất của Tây Tạng.

Thực ra, tôi đã sớm bí mật tu trì pháp quán diện kiến tổ sư, pháp quán diện kiến tổ sư này chính là trực tiếp được diện kiến Tổ sư Tsongkhapa, pháp tu này tuy trông có vẻ đơn giản nhưng thực sự có cảnh giới rất thâm sâu, sự hiển hiện của Tổ sư Tsongkhapa, ân đức gia trì quán đảnh, việc du hành trong hào quang ân đức, đều là sự tương ứng chân thật không hai, tôi tu trì pháp quán diện kiến tổ sư và nhận được thọ ký từ Tổ sư, là điều chân thật nhất.

Tổ sư Tsongkhapa ban cho Liên Sinh Hoạt Phật bài kệ tán thán: Ba đời mười phương chư Thượng sư tối thượng. Ngươi hãy nhận quán đảnh kế thừa đại mật tạng. Ban cho lời tán thán như biển âm thanh vô tận. Chúng sinh các cõi đều hướng về đảnh lễ kính ngưỡng.

Khi diện kiến Tổ sư, tôi dùng ấn ấn vào không gian, từ tâm mình xoay chuyển, tuôn ra vô số thiên nữ, những thiên nữ này đều mang cúng phẩm cúng dường Tổ sư Tsongkhapa, cúng phẩm chiếu sáng không gian, rực rỡ năm màu, trong pháp hội thù thắng này, hiện rõ một cảnh tượng kỳ diệu trang nghiêm. Tám vạn bốn nghìn cúng phẩm. Tượng trưng cho tám vạn bốn nghìn pháp môn.

Những thiên nữ này, chính là bản thể của Bổn sư và chư Phật! Chỉ có Kim cương Thượng sư chân chính mới hiểu được cảnh giới của tôi!

Pháp quán diện kiến tổ sư, sự tương ứng của tôi như sau: Theo làn khói hương uốn lượn, cứ thế bay lên cao mãi, đến được thế giới lưu ly xanh biếc, thế giới ấy thật thanh tịnh, lại còn mênh mông vô tận, khắp nơi đều là khí thơm lan tỏa, khiến người ta cảm thấy sảng khoái.

Mặt trời mặt trăng không phải ở trên cao, mà ở hai bên trái phải, tất cả đều sáng rõ rành rành, không có nơi nào là tối tăm, một hiện tượng biển ánh sáng vĩ đại hội tụ, một cảnh tượng vô cùng khó nghĩ bàn.

Tòa pháp của Tổ sư không biết được làm từ vật gì, xung quanh xen lẫn những bông hoa đỏ, xuất hiện như huyễn ảo giữa hư không, ở ngay chính giữa, và các vị Phật Bồ Tát mười cấp vây quanh, phía dưới có biển nước thơm lớn, bao quanh bốn phía.

Tổ sư lớn như hư không, và cây báu cũng lớn như hư không, dần dần cao vời vợi như núi Tu Di, khiến người ngước nhìn mà không thể thấy hết, tán thán pháp lực vô cùng tận của ngài.

Âm nhạc tuyệt diệu, như những hạt châu lăn trên đĩa ngọc, hài hòa, êm dịu, tôn kính, nhạc thanh nhã lan tỏa khắp thế giới lưu ly này!

Pháp bảo vô tận, nằm trên bàn hoa đỏ, đó chính là tư lương cần thiết cho chư thiên và hành giả thế gian, ở trong đó chính là kho tàng đại bi, có thể tưới ẩm ruộng phúc thù thắng của chúng sinh.

Tôi tắm mình trong biển ánh sáng trí tuệ. Ngắm nhìn cõi kim cương của Phật quốc. Ánh sáng kỳ diệu thù thắng là tinh túy của công đức. Tôi ở trong cung điện kim cương vĩ đại, diện kiến Tổ sư Tsongkhapa.

Người đạt được sự khai ngộ từ pháp quán diện kiến tổ sư, vì đã uống cam lộ trong bát của Tổ sư, sẽ không bao giờ đói, cũng không bao giờ khát, có thể không ăn thức ăn trần gian trong nhiều tháng, đối với người nhập thất tu mật hành, điều này rất có lợi ích, đây là cảm ứng không đói không khát.

Uống cam lộ trong bát của Tổ sư, có thể thấu hiểu ý nghĩa chân thật của "một niệm ba nghìn" và "sát-na vạn kiếp", người đạt được pháp vị, trí tuệ và quan niệm của họ đều tiến bộ nghìn dặm vạn dặm trong một ngày, mãi mãi không ngừng nghỉ, thật là kỳ diệu làm sao!

Hành giả Mật tông đạt được tương ứng, cung điện lộng lẫy và lầu đài nguy nga, cây quy y đứng thẳng tắp, đều hàng ngày hiện rõ trước mắt, có thể với tay là chạm được. Hành giả Mật tông chỉ cần vận dụng nguyên thần một lần, liền trở thành một vị Bồ Tát trên cây quy y!

10. Đại chuyển pháp luân quán

Đại chuyển pháp luân quán

Đại chuyển pháp luân quán này là đại mật pháp của Chân Phật Tông, là Kim cương Thượng sư chân chính đã bí mật tu hành thâm nhập kho tàng bí mật, là tâm pháp chí thượng để chuyển pháp luân.

Nay tôi công bố trình tự tu hành của Đại chuyển pháp luân quán như sau:

  1. Niệm chú thanh tịnh.

  2. Niệm chú triệu thỉnh.

  3. Chân Phật đại lễ bái.

  4. Chân Phật tứ quy y.

  5. Chân Phật đại cúng dường.

  6. Mặc giáp hộ thân.

  7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1 ~ 3 biến)

(Mục 1 đến 7, mỗi lần tu pháp đều phải làm, đây là nghi quỹ cố định. Một lần nữa tôi đặc biệt nói rõ, tâm yếu khẩu quyết của nó nằm trong cuốn sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".)

  1. Kết ấn: Đại kim cang luân ấn — đầu tiên hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ thẳng chạm vào nhau, hai ngón giữa vươn ra móc lấy ngón trỏ là thành ấn.

Đầu tiên quán tưởng trong hư không, chữ Phạn Om xoay tròn, trở về với tính Không. Sau đó quán tưởng trong hư không, chữ Phạn Ah xoay tròn, gió thổi mãnh liệt. Tiếp theo quán tưởng trong hư không, chữ Phạn Hum xoay tròn, đốt lên ngọn lửa mãnh liệt. Trên ngọn lửa có một đại kim cang luân, giống như bánh xe pháp hình tròn. Hoặc có thể do bốn chiếc chày kim cang năm chấu đan chéo nhau tạo thành, ngoài bốn chiếc chày kim cang ra thì có thêm một đĩa tròn lớn màu vàng kim. Quán tưởng bên trong đĩa tròn màu vàng kim của đại pháp luân có chúng sinh tụ tập trong đó.

  1. Niệm chú: "A-ha. Ma-ha. Su-ka." (108 biến)

Đại kim cang luân có đầy đủ nội ngoại mật chân như, pháp bí mật này là bí mật vi tế nhất, phải tin hiểu bí mật ở trong đó thì mới có thành tựu.

  1. Quán tưởng:

Dòng chảy pháp của Thượng sư từ trong tim tuôn chảy, bay hướng về đại pháp luân. Rồi từ trán tuôn chảy, bay hướng về đại pháp luân. Rồi lại từ họng tuôn chảy, bay hướng về đại pháp luân. Lại từ đỉnh đầu tuôn chảy, bay hướng về đại pháp luân. Bốn dòng chảy pháp đại gia trì này là để gia trì cho vô lượng thân chúng sinh. Lúc này, đại kim cang luân có thể bay lên, bay đến đỉnh đầu của Thượng sư Mật tông, biến thành pháp tính, pháp luân bắt đầu xoay tròn. Lúc này Thượng sư Mật tông chính là Kim Cang Tát Đỏa với thân chuyển pháp luân "ngũ luân tổng thể tính".

  1. Niệm chú: "Nam-mô san-man-tô. Mô-thua-nam. Ưa." (108 biến)

Quán tưởng đại kim cang luân chuyển hóa thành hoa sen trắng lớn, quán ngọn lửa lớn hóa thành biển nước thơm lớn, chúng sinh hiển hiện thân tướng của vô lượng Như Lai, sáu đại du già của Thượng sư Mật tông lúc này đã tương ứng. Đây chính là thành tựu chuyển pháp luân.

  1. Tĩnh tọa nhập Tam ma địa.

Tam ma địa này là Tam ma địa của ngũ luân tổng thể tính.

  1. Xuất định, hồi hướng:

Định chú thủ ấn để gia trì. Vô lậu cam lộ đại pháp luân. Làm vui vô lượng các chúng sinh. Tất cả mong muốn đều thỏa mãn. Các cõi tịnh thổ được sinh ra. Phát bồ đề tâm đầy dũng mãnh. Nguyện chúng sinh diệt tâm vọng tưởng. Trong pháp luân hội trụ thường hằng.

  1. Vỗ tay ngồi xuống.

  2. Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành.

Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Thượng sư Mật tông chân chính thì tự thân ngài đã có dòng chảy pháp của ý thức vũ trụ chí thượng, có thể nói bồ đề tâm hoàn toàn theo ngũ đại trí thanh tịnh và còn siêu thoát, linh hoạt. Thượng sư Mật tông chân chính thì không hề có một chút chướng ngại, có thể vận dụng diệu quan sát mà thành tựu đại chuyển luân quán của diệu tướng chân thực, bốn chiếc chày kim cang năm chấu đan vào nhau, lập tức biến hóa thành tâm kim cang của đại kim cang luân.

Bài kệ tán thán Đại chuyển pháp luân quán:

Pháp luân chư khách cùng quyến thuộc Nhập vào vô lượng đại pháp lưu Người người cùng uống mật pháp nhũ Tương ứng bồ đề càng dài lâu Sống lâu không bệnh luôn tự tại Phẩm đức quang minh đều thiện duyên Quảng đại dồi dào đều thành tựu Tiêu tai tăng ích đại sự nghiệp Thành tựu vô thượng được ban cho Pháp luân vững chắc chuyển xoay tròn Tất cả thiện lạc đều viên mãn.

Pháp tu trì Đại chuyển pháp luân quán, về mặt nghi quỹ thì có vẻ cực kì đơn giản, thật ra trọng điểm của tu pháp lại nằm ở bản thân Thượng sư Mật tông, vị Thượng sư Mật tông này nhất định phải là một vị acharya Mật tông đã khai ngộ, hiểu thấu rõ yếu quyết của chuyển đại pháp luân.

Yếu quyết của Đại chuyển pháp luân quán chính là: Trong thiền định ánh sáng đại viên minh, hoàn toàn rõ ràng minh bạch về tướng ngũ luân tổng thể của nhị báo "y chính", đem pháp lực của sức mạnh ý thức tự thân hoàn toàn dung nhập vào trong ngũ trí của Ngũ Phật, tự biết ngũ tướng đều không, chỉ là xuất hiện năm đại tính kiên cố, thấm nhuần, lửa cháy, hư không, gió nhẹ vi diệu, hòa lẫn vào nhau, sản sinh ra cảnh tượng của đại pháp luân.

Đại pháp luân chân chính thì sẽ tương đương với mười phương thế giới, mười phương thế giới cũng tương đương với một đại pháp luân, mười phương sẽ quy về một, một quy về mười phương. Acharya Mật tông vận dụng niệm vô niệm phóng quang, trong ánh sáng này bao gồm tất cả các loại, ngầm vận chuyển đại kim cang luân.

Tùy cơ khởi dụng. Đây chính là tam mật đã làm xong du già vô thượng của đại chuyển pháp luân. Toàn bộ tâm pháp của Đại chuyển pháp luân quán đều ẩn nghĩa ở trong đó.

Tâm pháp vô thượng Đại chuyển pháp luân này khiến tôi nghĩ đến thiền sư Diệu Phong và đại sư Hàm Sơn, tại Bồ Phản, đã đọc "Vật Bất Thiên Luận" của tăng Triệu. Thiền sư Diệu Phong hỏi đại sư Hàm Sơn: "Có tâm đắc gì?" Đại sư Hàm Sơn đáp: "Hôm qua thấy dưới sông có hai con trâu sắt đang đánh nhau ở trong nước, đến hôm nay chẳng có tin tức gì." Thiền sư Diệu Phong nghe xong nói: "Mừng quá, từ nay có vị trí tại núi này rồi."

Câu trả lời của đại sư Hàm Sơn có hàm nghĩa rất sâu. Một câu "Hai con trâu đấu nhau" đã làm khó rất nhiều pháp sư, thật ra đây chính là: "Lấy huyễn tu huyễn." "Ví như lửa đá." "Hai khúc gỗ như nhau." "Lửa cháy gỗ hết." "Tro bay khói tản." Năm câu trên đây chính là ý nghĩa chân chính trong câu trả lời của đại sư Hàm Sơn.

Thượng sư Mật tông nên hiểu rằng, quán tưởng là huyễn, tự thân cũng là huyễn, pháp tu trì này chính là lấy huyễn tu huyễn, giống như dùng khúc gỗ để đánh lửa vậy, kết quả là quả nhiên đã có lửa, cuối cùng là lửa đốt cháy hết, khúc gỗ cũng không còn nữa.

Hai con trâu sắt đấu nhau của đại sư Hàm Sơn, đi vào trong nước, không có tin tức gì cả, chính là ý này.

Tu trì Đại chuyển pháp luân quán, đến được cảnh giới tương ứng rồi, bản thân bỗng nhiên quên mất sự tồn tại của thân mình, và pháp luân trong vũ trụ cũng đột nhiên tiêu biến. Chỉ cảm thấy trời đất vạn vật im phăng phắc, thân mình và pháp luân đều mất sự tồn tại, nhìn xuyên suốt thấu rõ thế giới là một vùng ánh sáng trong suốt, giống như một tấm gương tròn lớn, núi sông mặt đất, người và vật đều hiện bóng ở trong đó, rõ ràng mồn một. Lúc này giống như cảm giác ban đầu về một giấc mộng lớn, trong vắt và tịch tĩnh.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng Đại chuyển pháp luân quán giống như cảnh giới "pháp giới viên dung vô tận" của Hoa Nghiêm Thập Huyền Môn, cũng chính là quán pháp giới viên dung. Chính là "phân biệt là thức, không phân biệt là trí, dựa vào thức thì nhiễm, dựa vào trí thì tịnh, nhiễm có sinh tử, tịnh không chư Phật" của Di Lặc Bồ Tát.

Vào mùa hè, Liên Sinh Hoạt Phật nhảy xuống hồ Sammamish, tôi hét to: "Trâu đất xuống biển rồi." Mọi người lấy làm lạ, không hiểu hàm nghĩa trong câu nói của tôi. Vào mùa đông, Liên Sinh Hoạt Phật đem gỗ ra nhóm lửa, quẳng khúc gỗ vào trong lò lửa, tôi hét to: "Khúc gỗ không còn nữa, lửa cũng không còn nữa." Mọi người cũng ngạc nhiên, không hiểu ý tôi.

"Thỉnh Hoạt Phật khai thị?" "Bạn có hiểu tính chất của nước không? Có hiểu tính chất của lửa không? Có hiểu tính chất của gió không? Có hiểu tính chất của đất không? Có hiểu tính chất của không không? Nếu hiểu được năm tính chất này thì cũng chính là Kim cương Thượng sư chân chính rồi." Tu trì Đại chuyển pháp luân quán. Chính là Kim cương Thượng sư đại chuyển pháp luân quán, tu trì "ánh sáng mà không chói".

Các đệ tử Chân Phật Tông ở trong luân hồi, luôn luôn cần nhắc đến hai câu, hai câu này chính là, "thỉnh chuyển pháp luân" và "không nhập niết bàn".

"Thỉnh chuyển pháp luân" và "không nhập niết bàn" này chính là thỉnh Kim cương Thượng sư chân chính chuyển pháp luân và không niết bàn. Đại chuyển pháp luân này là thù thắng, chở tất cả người trí và kẻ ngu, có thể lợi lạc tất cả chúng sinh hữu tình, bởi vì có chuyển pháp luân rồi mới có thể khiến con người sống trên thế giới này có được lợi ích chân chính, giống như cơn mưa pháp cam lộ phủ khắp nơi, tưới đẫm toàn bộ mặt đất.

Tất cả thân biến huyễn của Kim Cương Trì phổ biến thị hiện tất cả thân tướng của ngoại, nội, mật, trong hư không vô hạn dùng đại từ đại bi để chuyển pháp luân, vì thế đệ tử Mật tông phải luôn luôn trong lúc hồi hướng, thỉnh Thượng sư của mình chuyển ba diệu pháp luân ngoại, nội, mật. Thỉnh "không nhập niết bàn" chính là thỉnh Kim cương Thượng sư thường trụ nhân gian, theo đạo lý mà nói, thân của Kim cương Thượng sư là không có sinh tử, vốn dĩ ngài đã tự chủ sinh tử rồi, muốn sinh thì sinh, muốn tử thì tử, tất cả đều tự nhiên tự tại. Tuy nhiên, nếu có Kim cương Thượng sư trụ thế, thường chuyển pháp luân, chúng sinh sẽ có thể có được lợi ích. Vì thế đệ tử Mật tông trong khi hồi hướng phải niệm: "Chỉ mong không hiện niết bàn và thường trụ."

Thành tựu giả của pháp Đại chuyển pháp luân quán có thể che chở cho những người không tin Phật, thậm chí những chúng sinh xấu ác, ngay cả những người phỉ báng, bởi vì sức mạnh che chở này mà các thiện tín đến quy y sẽ gia tăng, trí huệ của người quy y sẽ tăng trưởng. Do sự che chở của Kim cương Thượng sư, kẻ ngu cũng sẽ có thành tựu, bất kể người hữu duyên hay vô duyên, hoặc là kẻ cố ý đi ngược duyên phận, kẻ cắt đứt tất cả, kẻ dừng hết tu pháp, đều sẽ lại sản sinh ra tâm dũng mãnh mới.

Thành tựu giả của pháp Đại chuyển pháp luân quán là bậc chính giác, là bậc từ mẫn, là Như Lai, là bồ đề tâm vô thượng, là làm tất cả hạnh Bồ Tát, hoàn toàn là vì lợi ích chúng sinh.

Mong rằng tất cả hành giả Chân Phật cần theo thứ tự mà tu học Mật pháp, phát bồ đề tâm vô thượng, tu tất cả mọi tu học của Bồ Tát, vì lợi ích tất cả chúng sinh.

Các Thượng sư học tập tu trì Đại chuyển pháp luân quán phải niệm: "Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật, con tên là Thượng sư ABC, tại đây một lòng bắt đầu từ hôm nay, phát bồ đề tâm vô thượng, những gì con làm sẽ quyết định quả bồ đề. Thử chuyển đại pháp luân, kiên cố và thọ trì, cho đến khi diệu pháp chính giác phổ truyền, vượt khỏi Như Lai tương ứng bộ. Nay con mới bắt đầu nhất định duy trì, quảng đại tối thượng Kim Cang bộ, phụng sự Hoạt Phật cũng như thế, đạt đến pháp luân diệu bố thí, lập tức phát niệm chân thực như vậy, vì lợi ích tất cả hữu tình."

11. Đại Nhật Như Lai quán

Đại Nhật Như Lai có tên tiếng Phạn là Maha Vairocana, cũng chính là Đại Quang Minh Biến Chiếu, hoặc Đại Nhật Biến Chiếu, hoặc Biến Nhất Thiết Xứ Chiếu. Vị Như Lai này có ý nghĩa là ánh sáng chiếu tất cả vạn vật vũ trụ mà không có chút chướng ngại nào. Bởi vì Đại Nhật Như Lai, về bên trong thì chiếu xuyên pháp giới chân như, về bên ngoài thì chiếu khắp tất cả chúng sinh mà không có chướng ngại, cho nên sự viên mãn các đức hành của ngài, pháp tính vĩnh viễn bất biến của ngài, có thể nói là tập hợp tất cả pháp tính của chư tôn, và ở khắp mọi nơi, vì vậy ngài được tôn là chủ tôn của Mật tông, tức là Đại Nhật Giáo Chủ.

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai trong Kim cương giới là: "Pháp thân Đại Nhật Trí, thân Phật có màu vàng của diêm phù đàn kim, giống như tướng của Bồ Tát, đầu đội búi tóc như vương miện, toàn thân phóng ra ánh sáng đủ màu sắc, thân khoác dải lụa, đây là ấn hiệu của bậc chính giác tối cao tại Hội Đầu Đà Thiên, tay kết ấn trí quyền."

Hình tượng của Đại Nhật Như Lai trong Thai tạng giới là: "Đại Nhật Như Lai ngồi trên tòa hoa sen tám cánh. Toàn thân màu vàng kim, có hình tướng giống Bồ Tát, chân ngồi kiết già trên tòa hoa sen quý, đầu đội mũ Ngũ Phật, đeo dải khăn trắng, phía sau đầu là vòng tròn ánh sáng ngũ sắc đan xen, ánh sáng trên đầu như mây, ánh sáng từ thân tỏa ra nhiều lớp, nhẹ như tơ, mái tóc màu xanh tím rủ xuống hai vai. Tai đeo khuyên tai vàng, cổ đeo nhiều vòng chuỗi hạt châu báu, mọi châu báu quý giá, và tóc bằng ngọc xanh và lộng lẫy, xõa xuống đầu gối, đeo vòng ngọc trên hai cánh tay, hai cổ tay đeo vòng vàng. Hai lòng bàn tay đặt lên nhau, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, ngón cái chạm vào nhau, ngửa lên, đặt bên dưới rốn. Thân trên khoác áo trắng nhẹ nhàng đẹp đẽ, bên dưới mặc váy gấm, gấm xanh quần lụa, đai dệt bằng gấm xanh."

Tại Chân Phật Mật Uyển có hai bức mandala, bức bên phải là madala Kim cương giới, bức bên trái là mandala Thai tạng giới. Còn Đại Nhật Như Lai chính là "Kinh Đại Nhật" và "Kinh Kim Cương Đỉnh" - hai bộ giáo điển căn bản của Mật tông, chiếm vị trí chủ tôn trong hai bộ mandala Kim cương giới và Thai tạng giới.

Nghe nói, đại sư Hoằng Pháp (Không Hải) của Nhật Bản đến Trung Thổ học Mật tông, đại sư Hoằng Pháp ở chỗ của lão hòa thượng Huệ Quả đã tung hoa để chọn Bổn tôn, cú tung hoa đó đã tung trúng vào Đại Nhật Như Lai. Đại sư Hoằng Pháp của Nhật Bản chính là tổ sư Đông mật của Mật tông Nhật Bản.

Tên gốc của kinh Đại Nhật là kinh Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì. Lấy Tỳ Lô Giá Na làm biệt danh của mặt trời, do vậy nói rằng kinh Đại Nhật và 14 quyển giải nghĩa đều là sáu quyển kinh văn đầu trong số bảy quyển kinh gốc do Thiện Vô Úy Tam Tạng giải thích. Quyển thứ bảy nói về thứ tự cúng dường mà bản kinh này đã nói, là do pháp sư Bất Khả Tư Nghì giải thích, gọi là Bất Khả Tư Nghì Sớ.

Tên gốc của kinh Kim Cương Đỉnh là kinh Kim Cương Đỉnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương, là tên chung của 10 vạn bài kệ 18 hội bản tiếng Phạn. Ba quyển do Bất Không dịch, còn Thí Hộ thì dịch kinh Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Giáo Vương. Ngoài ra còn có kinh Kim Cương Đỉnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng do Kim Cương Trí dịch. Ba bản dịch này đều là kinh Kim Cương Đỉnh.

Ngày xưa Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn từng nói, tiền thân của Liên Sinh Hoạt Phật là Liên Hoa Đồng Tử, tiền thân của Liên Hoa Đồng Tử là Vô Tà Nhãn Như Lai, tên gọi khác của Vô Tà Nhãn Như Lai chính là Phật Nhãn Phật Mẫu. Phật Nhãn Phật Mẫu vốn là Đại Cát Tường Kim Cang Minh Phi, là do Đại Nhật Như Lai sinh ra.

Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng Đại Nhật Như Lai có một xưng hiệu khác mà người đời không biết, tôn xưng của ngài là: "Tối Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai."

Cho nên bí mật pháp thân biến hóa của Liên Sinh Hoạt Phật chính là: Đại Nhật Như Lai - Vô Tà Nhãn Như Lai (Phật Nhãn Phật Mẫu) - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.

Tôi đặc biệt viết ra bài kệ tụng tán Đại Nhật Như Lai như sau: (Trước khi tu pháp thì hát bài tụng tán.)

Quy mệnh Đại Nhật lễ Tam Bảo. Giáo chủ tạo nên muôn hình tướng. Nhãn Tạng Như Lai đại bi tôn. Thanh tịnh ba nghiệp lợi chúng sinh. Thắng hết tam thế thập phương Phật. Trong bí mật thừa cũng kham năng. Ruộng phúc vô thượng đáng ca ngợi. Lệnh đắc ba thân lần lượt thành. Cúi lạy Đại Nhật tự tại chủ. Chuỗi ngọc trang nghiêm chuyển pháp luân. Trong Kim cương giới đức vô biên. Thiện xảo huyễn võng bền bỉ giữ. Trao truyền quán đảnh các thắng nghiệp. Quyền hiện phàm tướng Thai tạng giới. Tam muội du già thập bát hội. Đảnh lễ thỉnh cầu hiện diệu nghĩa.

Trước khi tu pháp, ở trong mật đàn, cần tụng tán ba lần.

Bây giờ tôi sẽ tường thuật lại nghi quỹ tu trì Đại Nhật Như Lai quán như sau:

(Bắt đầu từ niệm chú thanh tịnh cho đến Cao Vương Quan Thế Âm chân kinh, từ mục 1 đến 7 mỗi lần tu pháp đều phải làm, nên ở đây lược bỏ.)

Kết ấn: ấn trí quyền — Tay trái nắm lại, duỗi ngón trỏ ra, năm ngón tay phải nắm lấy ngón trỏ tay trái, ngón cái tay phải đè lên đầu ngón trỏ tay trái, giữ ấn trước ngực.

Quán tưởng: đầu tiên quán tưởng chủng tử chữ Fan của Bổn tôn ở trong hư không xoay tròn, sau đó quán tưởng chủng tử tự hóa thành bảo tháp trang nghiêm.

Chủng tử Fan

Từ bảo tháp trang nghiêm lại chuyển thành Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Tỳ Lô Giá Na Phật ngồi nghiêm tư thế kiết già trên tòa hoa sen tám cánh ở giữa nguyệt luân, có màu vàng kim đại uy đức, thân khoác thiên y màu trắng lông ngỗng, có tất cả mọi tướng tốt, phong thái an tường viên mãn, đầu đội mũ miện, tóc rủ xuống như dải lụa tết, thân thể là tất cả minh chú, làm vô lượng thần biến, tay kết ấn đại trí quyền, phóng tỏa vô lượng ánh sáng quý.

Quán tưởng trong vô lượng ánh sáng quý có vô lượng chủng tử chữ Fan, vô lượng ánh sáng quý quán đảnh cho hành giả Mật tông, chủng tử tự của Bổn tôn ở tim, ở mi tâm, ở họng, ở rốn, ở hai tay, ở hai chân, chủng tính của Bổn tôn đầy ắp toàn thân. Nói cách khác là hành giả Mật tông toàn thân đầy ắp chủng tính tự và bách bảo vô lượng quang.

"Đoàng" một tiếng, trong sát-na, hành giả biến hóa thành Đại Nhật Như Lai.

Niệm chú: "Ôm. Mua-rư-la-thua-tu. Chung." (108 biến)

Niệm chú xong, hơ chuỗi hạt trên lư hương, hai tay chắp thế hoa sen nâng chuỗi hạt, đặt trước ngực, quán tưởng chân ngôn chữ Fan, dung nhập vào trong chuỗi hạt, thành tựu công đức bí mật tạng. Từ đó quán tưởng chữ Fan nhập vào trong 108 hạt của chuỗi hạt.

Niệm chú: "Ôm. Mua-rư-la-yu-xi-yê. Rưa-pua. Sa-ma-ti. Hùm." (7 biến)

Tĩnh tọa (kết ấn). Nhập Tam ma địa. Tam ma địa này tức là Tam ma địa của Đại Nhật Như Lai. Chính là Đại Nhật Như Lai ngũ tướng thành thân. Tại Sắc cứu cánh thiên vương cung hiện thành đẳng chính giác, có đầy đủ tất cả Như Lai Phổ Hiền đại bồ đề tâm, dùng sức mạnh samaya để sản sinh ra Tam ma địa kiên cố nhất, hỷ lạc vô cùng.

Xuất định hồi hướng: Nguyện đem công đức này. Tự thành Đại Nhật tôn. Thập phương Phật Bồ Tát. Hiện ngay trong mạn-đà.

Vỗ tay xuống khỏi pháp tọa. Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành. Viên mãn cát tường.

🌟

Trong Đại Nhật Như Lai quán, Liên Sinh Hoạt Phật có một miêu tả đặc biệt, chính là lấy chủng tử pháp tính của Bổn tôn bí mật dung nhập vào trong chuỗi hạt, trở thành bí mật công đức tạng. Pháp bí mật này vô cùng trân quý, pháp này có một tên gọi chính là Chuyển châu minh.

Yếu quyết của Đại Nhật Như Lai quán đương nhiên trước tiên là chú tự, sau đó là bảo tháp, rồi biến thành Đại Nhật Như Lai. Tiếp đó là chú tự phóng ánh sáng đầy ắp toàn thân, thế là tự mình biến thành Bổn tôn Đại Nhật Như Lai.

Hành giả tu trì Đại Nhật Như Lai quán nếu đắc thành tựu thì chắc chắn trở thành "hải nội long tượng". Thế nào là hải nội long tượng? Đây là một so sánh rồng đi trong nước, sức mạnh lớn nhất, voi đi trên đất liền cũng có sức mạnh lớn nhất, rồng và voi chính là người gánh vác đại pháp. Nói ngắn gọn là, thanh danh vang dội khắp thế giới, thành tựu của người đó sẽ khiến người đời kinh thán.

Theo như tôi biết, người chuyên tu trì Đại Nhật Như Lai quán có thể tức thân thành Phật, đồng thời thân có ánh sáng, nếu hành nghề y cứu đời thì chính là một vị danh y.

Tôi nhớ có một danh y Lama chuyên bí mật tu Đại Nhật Như Lai quán. Danh y Lama này cùng nhiều vị Lama cưỡi ngựa đến vùng xa, đến nơi mà dân cư ít đến, có một con ngựa trong số đó đột ngột chết, vì thế hành trình bị trì hoãn.

Danh y Lama nói: "Tôi có thể khiến cho ngựa chết sống lại." Mọi người nghe xong thì đều lắc đầu không tin. Danh y Lama chỉ yêu cầu ở cùng con ngựa chết một đêm. Danh y Lama ban đêm ngủ cùng ngựa, dùng mũi mình hít thở vào mũi con ngựa. Kể cũng lạ, con ngựa đó có được khí trong người của danh y Lama thì không ngờ đã sống dậy, nhảy vọt lên, cất tiếng hí như bình thường. Các Lama khác đều kinh thán. Lúc đó họ mới biết công đức to lớn của Đại Nhật Như Lai quán.

Người tu trì Đại Nhật Như Lai quán sẽ có năng lực di chuyển được núi và biển, ví dụ, người đó biết rằng biển sẽ biến thành ruộng dâu, núi cũng sẽ biến thành biển, đồng thời, có thể dự tính được khi nào núi biến thành biển, biển biến thành núi.

Nói chung, ở trong một đất nước, hoặc một bang, hoặc một thành phố nếu có người tu thành tựu pháp Đại Nhật Như Lai quán thì đất nước, bang hoặc thành phố đó sẽ ít có thiên tai như bão hoặc động đất, hoặc lũ lụt hạn hán, hoặc dịch bệnh, v.v… Chủ yếu là vì pháp Đại Nhật Như Lai quán có đại nhật chiếu khắp, chắc chắn khiến cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, ngũ cốc dồi dào, người người an cư lạc nghiệp.

Người tu trì Đại Nhật Như Lai quán, đương nhiên tâm lượng phải vô cùng lớn, phải lấy tâm từ bi làm chính. Trong Phật pháp, tâm từ bi phân làm ba loại: Chúng sinh từ — tức là coi chúng sinh trong thiên hạ là cha mẹ, anh em mình. (Ta kính trọng bậc cha mẹ ta cũng như kính trọng các bậc cha mẹ của mọi người, ta yêu thương con em ta cũng như yêu thương con em của mọi người.) [Lời của Mạnh Tử] Thậm chí coi chúng sinh trong thiên hạ giống như là chính mình.

Pháp duyên từ — phá bỏ ngã tướng, hoàn toàn thông đạt cái không gốc của mọi pháp, như phá bốn tướng của kinh Kim Cang, cái từ bi do phá bốn tướng dẫn đến chính là pháp duyên từ.

Vô duyên từ — đây là cái từ "tam luân thể không" vô tận, tức là cái từ bi của chư Phật, có thể phổ duyên tất cả chúng sinh, biết các duyên không thật, hư vọng điên đảo, vì thế tâm không có nguyên do. Tuy làm việc từ bi nhưng không thấy người nhận sự từ bi đó, không thấy người làm việc từ bi, thậm chí không biết người làm việc đó là từ bi, đó là không bỏ sót không tướng, cũng không bỏ sót hữu tướng. Kiểu từ bi này gọi là vô duyên từ và vô sự từ.

Đại Nhật Như Lai quán kì thực là pháp phản quán nội chiếu, phần đông người chuyên tu thành tựu tương ứng có thể nhìn thấy ngũ tạng bên trong thân thể mình sáng đẹp rực rỡ.

"Ngũ tạng trong người, sáng như đại nhật" - cái thần trí sáng rõ này, trong pháp tu này là một công phu thực tiễn, người thành tựu pháp này ở trong bóng tối thì con mắt cũng có ánh sáng long lanh, có thể ở trong đêm tối không cần bật đèn cũng có thể nhìn thấy vật, đây là sự tương ứng ban sơ nhất.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng đại thành tựu giả của pháp tu hành vào lúc lâm chung có thể ngay cả lông tóc xương cốt cũng sẽ hóa hết, không còn sót lại một chút nào, không có một chút tro nào, hoàn toàn dung nhập vào trong đại nhật. Đạo thăng thiên này còn lợi hại hơn cả hóa thân cầu vồng. Đây là: Chôn xương chẳng cần nơi đất tổ. Hào quang đại nhất thấu huyền quan.

12. Lục độ Bồ Tát quán

Người học Phật bước vào pháp Bồ Tát thừa đều muốn học tập "lục độ lý". Lục độ lý chính là phẩm hạnh của Bồ Tát. Còn lục độ tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.

Lục độ chính là sáu ba-la-mật, có ý nghĩa là dựa theo sáu loại hành pháp để vượt qua biển sinh tử, đến được bờ bên kia của niết bàn.

Liên Sinh Hoạt Phật đọc kinh, biết có "sáu việc thành tựu", "Kinh Trang Nghiêm" viết: "Các Bồ Tát vì thành tựu sáu độ. Ở trong các địa quyết định ứng tác sáu việc. Một là phải nên cúng dường. Đây là để thành tựu đàn độ [đàn độ: thuật ngữ Phật giáo, tức là đàn ba-la-mật, đàn có ý nghĩa là thí cho]. Nếu không cúng dường dài lâu. Ắt đàn độ không được viên mãn. Cúng dường như cúng dường vật phẩm và lời nói. Hai là phải nên học giới. Đây là để thành tựu giới độ. Nếu không học giới dài lâu. Ắt giới độ không được viên mãn. Ba là phải nên tu bi. Đây là để thành tựu nhẫn độ. Nếu không lâu dài nhẫn nại các việc không có nhiều lợi ích. Ắt nhẫn độ không được viên mãn. Bốn là phải nên chăm làm việc thiện. Đây là để thành tựu tấn độ. Nếu tâm phóng túng không tu các việc thiện. Ắt tấn độ không được viên mãn. Năm là phải nên rời xa bạn hữu. Đây là để thành tựu thiền độ. Nếu sống nơi xóm làng. Tâm sẽ nhiều phiền nhiễu hỗn loạn. Ắt thiền độ không được viên mãn. Sáu là phải nên ưa thích pháp. Đây là để thành tựu trí độ. Nếu không đi gặp hết các chư Phật, nghe pháp không chán ghét, như biển thu nạp dòng chảy chẳng khi nào là thừa. Ắt trí độ không được viên mãn."

Lục độ còn là để đối trị pháp xấu, ác nghiệp, tâm oán hận, lười biếng, tâm rối loạn, ngu si.

Thứ tự phát triển của lục độ là "Bồ Tát xả bỏ tất cả mọi thứ của thế tục, xuất gia học đạo, gọi là đàn ba-la-mật [dana-paramita]. Vì đã xuất gia, thọ giới Bồ Tát, gọi là thi-la ba-la-mật [sila-paramita]. Vì bảo vệ giới, tuy bị trách mắng, cũng im lặng chịu nhịn mà không đáp trả, gọi là sạn-đề ba-la-mật [ksanti-paramita]. Vì giới đã thanh tịnh rồi, siêng tu thiện đạo, gọi là bì-lê-da ba-la-mật [virya-paramita]. Vì nhờ tinh tấn mà điều phục được năm căn, gọi là thiền ba-la-mật [dhyana-paramita]. Vì đã điều phục được năm căn, biết pháp giới chân chính, gọi là bát-nhã ba-la-mật [prajna-paramita]."

Ví von về lục độ, trong "Kinh Hoa Nghiêm" có khai thị như thế này: Trí huệ là người mẹ. Bố thí là sữa mẹ. Giới là nuôi dưỡng mẹ. Nhẫn nhục là dụng cụ trang nghiêm. Tinh tấn là dưỡng dục. Thiền định là gột rửa.

Trong Lục độ Bồ Tát quán của Đại Mật Tông, mỗi độ có một bài kệ, tôi đặc biệt cung kính trích ra như sau:

Bố thí:

Thân và tiền tài ba thời gom góp góp phước báu. Chuyển thành những thứ chúng sinh mong cầu. Bền bỉ tăng trưởng quyết tâm xả bỏ không chấp. Thí ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.

Trì giới:

Giới là mật chú để Bồ Tát được giải thoát. Giới bảo vệ mạng mình không được buông bỏ. Giữ lấy pháp thiện và làm nhiều lợi ích hữu tình. Giới ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.

Nhẫn nhục:

Chúng sinh tam giới tất cả đều phẫn nộ. Chửi mắng sỉ nhục thù hằn và sát hại. Cũng không ưu phiền báo oán vẫn bố thí. Nhẫn ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.

Tinh tấn:

Vì một chúng sinh cũng ở ngục vô gián. Sống trong lửa cháy dù muôn kiếp như biển. Từ bi tận tụy tinh tấn bước đến bồ đề. Cần ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.

Thiền định:

Đoạn trừ bệnh hôn trầm trạo cử tán loạn. Quán đạo lý các pháp tự tính là không. Dựa vào chuyên tâm hứng thú dừng trong định. Thiền ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.

Trí huệ:

Ở trong chân thực biết hết diệu quan sát. Từ đó khinh an đại lạc viên dung. Thắng nghĩa đẳng trì tương ứng hư không. Huệ ba-la-mật viên mãn cầu gia hộ.

(Bài kệ lục độ này niệm tụng trước khi tu pháp, niệm 1 biến hoặc 3 biến.)

Bây giờ xin thuật lại nghi quỹ tu trì Lục độ Bồ Tát quán như sau:

(Bảy mục Tiền hành chiếu theo các nghi quỹ khác.)

Kết ấn:

Lục độ ba-la-mật tổng cộng có sáu loại thủ ấn, hành giả Mật tông khi tu trì, trong khi quán tưởng có thể lần lượt diễn hóa.

Thủ ấn bố thí: tay trái nắm lại úp xuống, tay phải ngón cái đè lên ngón giữa tạo thành vòng, bàn tay mở ra giống như thí đồ.

Thủ ấn trì giới: hai tay đan nội phộc, hai ngón cái cùng giơ lên.

Thủ ấn nhẫn nhục: hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ thẳng chạm vào nhau, hai ngón cái cũng giơ thẳng.

Thủ ấn tinh tấn: hai tay đan nội phộc, hai ngón trỏ giơ thẳng, không chạm nhau.

Thủ ấn thiền định: chính là pháp giới định ấn, tay trái ở dưới, tay phải ở trên, hai ngón cái chạm vào nhau.

Thủ ấn trí huệ: tay trái ở dưới, tay phải ở trên, hai lòng bàn tay úp vào nhau.

Hành giả Chân Phật Tông khi tu Lục độ Bồ Tát quán cũng có thể chỉ kết một thủ ấn, thủ ấn này chính là phương tiện ba-la-mật cực kì bí mật. Thủ ấn phương tiện ba-la-mật là: đặt hai ngón cái vào trong lòng bàn tay rồi nắm lại, rồi cả hai tay đều giơ thẳng ngón trỏ và ngón áp út, hai ngón áp út chạm vào nhau, hai ngón trỏ chạm vào nhau.

Quán tưởng:

Trong hư không xuất hiện một vòng tròn ánh sáng thanh tịnh giống như vầng trăng, óng ánh như tuyết, đó là do đại viên kính trí ngưng tụ lại mà thành, sau đó thu toàn bộ lục độ chủng tính vào trong vầng trăng này.

Trong quán tưởng này có một bài kệ huyền diệu:

Các pháp nội ngoại ví như huyễn và mộng. Cũng như nước hồ trong suốt hiện vầng trăng. Chiếu không thấy hình thắng nghĩa được thông đạt. Huyễn tam ma địa viên mãn cầu gia hộ. Luân hồi niết bàn tự tính không nhiễm bụi. Nhân quả nhân duyên là hai điều chân thật. Làm bạn với nhau chẳng hề mâu thuẫn. Mật ý Long Thụ thông đạt hiện tất cả.

Hành giả Mật tông phải biết đây là khẩu quyết của Lục độ Bồ Tát quán rất quan trọng, yếu nghĩa về tu tâm của Bồ Tát Đại thừa đều ở hết trong đó. Trong đó có quán tưởng trừ ma, có quán tưởng bồ đề, có quán tưởng trợ đạo, có quán tưởng cúng dường, quán tưởng sáu độ đều tập hợp ở trong "vầng trăng tròn sáng".

Kiểu quán tưởng này chỉ có thể hiểu ngầm mà không thể nói ra, chính là tu tập quán tưởng thắng nghĩa tâm, sản sinh ra thắng nghĩa bồ đề tâm, từ đó kiến đạo là điều chắc chắn không phải nghi ngờ, thông đạt tất cả lý thú, đạt đến sự viên mãn của chứng kiến lục độ.

Hành giả Mật tông tự thấy thân mình nhập vào trong vầng trăng tròn sáng thanh tịnh.

Trì chú: "Ôm mao-ti-chư-tô mu-tan-pô-na yê-mi." (108 biến)

Nhập Tam ma địa:

Hành giả Mật tông dùng tam mật thân khẩu ý gia trì ba lần, đột ngột cảm thấy vầng trăng đến gần, thân mình giống như ở trong màn sương ánh sáng nhẹ, các Như Lai dùng ánh sáng trí huệ không ngừng chiếu đến mình từ trên chiếu xuống từ dưới hắt lên. Cuối cùng tự thân dần dần biến hiện thành tướng mặt trăng đẹp tuyệt diệu, đây chính là Tam ma địa viên minh của đại viên kính trí.

Xuất định hồi hướng:

Nhờ sáu độ thiện xảo phương tiện thù thắng. Tu tập hiện nguyệt Bồ Tát tăng thượng quán. Vì độ chúng sinh xuất ly biển khổ. Đại bồ đề tâm tu quán cầu gia hộ.

Vỗ tay, rời khỏi pháp tọa. Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành. Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, pháp quán này đã bao hàm "nguyệt hoa minh không", chính là bồ đề tâm của "Không nghĩa", còn tâm lục độ của chính mình chính là bồ đề tâm hạnh nguyện phương tiện, đây là pháp hợp tu của Hiển giáo và Mật giáo. Tôi đã lĩnh hội được rằng nhập Tam ma địa là pháp đặc biệt thù thắng của Mật tông, chính là sự xuất hiện của pháp thân "nội minh". Pháp quán phóng quang vô cực, chiếu khắp mười phương này không phải người biết trí huệ diệu tính thì không thể chứng nhập được!

Lục độ Bồ Tát quán chính là pháp thân vô tướng và tâm của hành giả hòa làm một thể. Mặt trăng tròn xuất hiện trước mặt hành giả. Hành giả hòa nhập vào, không để lại một chút dấu vết. Đây là đại khẩu quyết chân thực của Lục độ Bồ Tát quán.

Vì viết Lục độ Bồ Tát quán mà tôi liên tưởng đến vấn đề của pháp xuất thế và pháp nhập thế, trong đó pháp xuất thế chính là chân đế, còn pháp nhập thế chính là tục tế.

Liên Sinh Hoạt Phật vì giải thích chân đế và tục đế mà thường xuyên dùng câu chuyện của hòa thượng Bố Đại để ví von về hai cảnh giới này.

Ngày xưa, hòa thượng Bố Đại khoác bao bố, phiêu bạt nơi đầu đường xó chợ, gặp một tăng nhân, tăng nhân bình thường đã nghe tên hòa thượng Bố Đại là người có đạo hạnh, thế là bèn đi nhanh về phía trước hỏi: "Nếu nói ra được Phật pháp thì sẽ thưởng cho một khoản tiền." Hòa thượng Bố Đại không nói gì, ngay lập tức buông bao bố xuống.

Tăng nhân nhìn thấy vậy, dường như ngộ ra, bèn đưa ra một khoản tiền rồi bỏ đi. (Việc buông bỏ bao bố này là chỉ tất cả đều có thể buông bỏ, buông bỏ tức là nhìn thấu thói đời, buông bỏ vạn duyên, có thể xuất thế, hoàn toàn buông bỏ chính là giải thoát tự tại. Đây là một phép ẩn dụ, nhìn thì có vẻ rất tầm thường, kì thực rất cao thâm, người có thể buông bỏ chính là vô sự, buông bỏ tự tại tức là giải thoát, đây là chân đế, còn được gọi là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Thế nhân hiếm ai có thể đạt đến được cảnh giới như vậy.)

Lại nói, có một lần khác, lại có một tăng nhân hỏi: "Đại ý của Phật pháp là gì?" Hòa thượng Bố Đại lại không nói không rằng, buông bao bố xuống. Rồi tăng nhân kia lại hỏi tiếp: "Buông bỏ bao bố rồi, phải chăng còn có một đạo lý cao hơn một bậc nữa?" Hòa thượng Bố Đại nghe xong, lại không nói không rằng, nhấc bao bố lên, khoác bao bố bỏ đi.

(Nhấc bao bố, khoác bao bố bỏ đi này chính là nói rằng, bản thân bạn đã ngộ ra đạo lý buông bỏ rồi thì phải độ chúng sinh, nhấc bao bố lên chính là gánh vác gia nghiệp của Như Lai, buông bỏ là tự độ mình, nhấc lên là độ người. Còn pháp lục độ là phải đi thực hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, bát nhã, những việc này đều phải lần lượt gánh vác, đây là đại sự nghiệp nhập thế độ chúng sinh.)

Đại ý ở đây có thể nói như sau: Chân đế — pháp xuất thế — buông bỏ — không — vô sở đắc. Tục đế — pháp nhập thế — nhấc lên — hữu — hữu sở đắc.

Nói chung, đại ý của Phật pháp là phải buông bỏ được, cũng phải nhấc lên được, nhưng khi nhấc lên cũng cần có thể đặt xuống được, điều này biểu thị rằng không chấp vào tướng của thế tục. Tuy là nhập thế, nhưng thật ra là “làm không vì gì cả”. Đến được cảnh giới như vậy rồi thì hữu sở đắc cũng chính là vô sở đắc.

Bởi vậy, đệ nhất nghĩa đế của Trung đạo chính là: Không-hữu viên dung. Chân-tục là một. Lục độ Bồ Tát quán chính là pháp tu trì Trung đạo.

Ngày xưa Liên Sinh Hoạt Phật tinh thông thần toán, mỗi ngày có tới mấy trăm người đến tìm gặp tôi, thật ra tôi không hề là xem bói mưu sinh, mà là gặp được người có duyên thì khuyên nhủ họ tu hành niệm Phật. "Làm cách nào để tránh tai họa?" - Khách đến hỏi. "Thờ Phật niệm Phật đi!" - Tôi đáp. "Tôi không có tiền để mua tượng Phật." "Tôi có tượng Phật, không cần tiền của anh." - Tôi lập tức đến Phật đường, thỉnh một bức tượng Phật tặng cho người đó, đó là bức tượng Phật điêu khắc bằng gỗ, đáng giá mấy nghìn đồng. "Chăm chỉ niệm Phật, tự có thể tiêu tai."

Khách đến không những không cần đưa hồng bao mà lại còn kiếm được bức tượng Phật mấy nghìn đồng nữa, anh ta cảm động rơi nước mắt.

Thật ra tôi buông bỏ được thì cái việc nhấc lên được là xem bói chỉ là cái tên, tôi chính là đang dạy người ta dùng Phật pháp, người buông xuống được, tính tình đạm bạc, cũng không mưu cầu tài lợi, khi đó tôi đã cảm hóa được rất nhiều người, vì thế mà chính phủ và dân chúng đều nghe đến danh tiếng của tôi.

Liên Sinh Hoạt Phật cả đời này chưa từng mở miệng ra đòi người ta bao nhiêu tiền, phàm tất cả những việc xem bói, tiêu tai, tăng ích, chiêu tài, hàng phục, tất cả đều tùy ý.

Hôm nay, cúng dường quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhất loạt đều tùy ý. Pháp hội cầu phúc, pháp hội siêu độ, phàm là pháp hội do Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì, cũng nhất loạt tùy ý. Tất cả tùy ý này chính là điển hình của Liên Sinh Hoạt Phật.

Người tu trì Lục độ Bồ Tát quán không những có thể xuất thế, mà cũng có thể nhập thế. Khi đạt đến tương ứng sẽ có mười sáu thiện thần đến giúp đỡ hành đạo, mười sáu thiện thần này chính là: "Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Tỏa Phục Độc Hại Thiện Thần, Tăng Ích Thiện Thần, Sư Tử Uy Mãnh Thiện Thần, Dũng Mãnh Tâm Địa Thiện Thần, Nhiếp Phục Chư Ma Thiện Thần, Năng Cứu Chư Hữu Thiện Thần, Ly Nhất Thiết Bố Úy Thiện Thần, Cứu Hộ Nhất Thiết Thiện Thần, Đa Văn Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Bạt Trừ Tội Khổ Thiện Thần, Năng Nhẫn Thiện Thần, Hoan Hỷ Thiện Thần, Trừ Nhất Thiết Chướng Nạn Thiện Thần."

Mười sáu vị thiện thần này sẽ xuất hiện trong hư không, bảo vệ hành giả Mật tông tu pháp, đồng thời tùy gọi tùy hiện.

Thượng sư của Liên Sinh Hoạt Phật - Sakya Chứng Không Lama, là người tu trì Lục độ Bồ Tát quán đắc tương ứng. Sakya Chứng Không Lama kể:

Ngày xưa ngài từng ở trong một hang động tu pháp, trong hang động đó đã tu chín năm, khi xuống núi thì người dân thường đều biết, cũng thường cúng dường ngài. Vào một năm nọ, đất liền gặp hạn hán, dân cư dưới núi nghĩ đến ngài, liền tập hợp dân làng, do trưởng thôn dẫn đầu, đi cầu ngài giúp đỡ.

Nhưng Sakya Chứng Không Lama chưa từng học qua pháp Hải Long Vương ban mưa, nhất thời không biết làm thế nào, lực bất tòng tâm. Sau đó, khi ngài tu Lục độ Bồ Tát quán, không ngờ nhìn thấy Bì Sa Môn Thiên (Đa Văn Thiên Vương) giáng xuống hiện thân. Đa Văn Thiên Vương nói với Sakya Chứng Không Lama là ngài có thể ban mưa, bởi vì tên gọi gốc của của Thiên Vương là Kim Bì La, nghĩa là giao long [loại rồng trong truyền thuyết có khả năng điều khiển mưa].

"Hôm nay đồng ý với dân làng, ngày mai chắc chắn giáng mưa to." - Đa Văn Thiên Vương nói. Dân làng lại đến, Sakya Chứng Không Lama liền đồng ý.

Ngày hôm sau, quả nhiên mây đen giăng kín, sấm chớp đùng đùng, mây sinh ra từ bầu trời phía bắc bay qua, chẳng mấy chốc đã trút mưa xuống. Dân làng đều mừng rỡ như điên, hơn nữa còn lũ lượt lên núi đi vào trong hang động, tìm Sakya Chứng Không Lama để cảm tạ.

Thật ra bản thân Sakya Chứng Không Lama không hề làm pháp gì, bình thường ngài chỉ tu Lục độ Bồ Tát quán, đạt đến tương ứng, cảm động Đa Văn Thiên Vương hạ giáng ban mưa, Đa Văn Thiên Vương đến giúp đỡ hành đạo mà thôi.

Vì thế hành giả tu Lục độ Bồ Tát quán sẽ có mười sáu vị đại thiện thần bảo vệ, việc hành đạo trên đời thật sự sẽ có mười sáu vị thiện thần trợ giúp.

Hành giả Chân Phật chí thành tu trì Lục độ Bồ Tát quán, chỉ cần đạo tâm chân thành tha thiết, nhất định có thể tương ứng, Liên Sinh Hoạt Phật tôi dám nói như vậy.

13. Phi không pháp tọa quán

Quán tưởng của hành giả Mật tông có một quán tưởng rất đặc thù: Sau khi hành giả tiếp nhận dòng chảy pháp của chư Phật, dòng chảy pháp từ Phạn huyệt [lỗ đỉnh đầu] đi vào, đầy ắp toàn thân, sau đó từ ngón chân chảy ra, đi vào mặt đất, lan ra bốn phương tám hướng, và những dòng chảy pháp này lần lượt hóa thành hoa sen, bay lên trên, sau đó trở thành pháp tọa của Phật Bồ Tát chư tôn. Tiếp theo, Phật Bồ Tát chư tôn lại hóa thành dòng chảy pháp, lại trút vào Phạn huyệt của hành giả Mật tông, sau đó từ ngón chân chảy ra mặt đất, lại hóa thành pháp tọa hoa sen bay lên.

Quán tưởng tuần hoàn như vậy không ngừng được gọi là "pháp giới sinh thân được thập phương Như Lai cùng gia trì". Ở trong đây thật sự có phi không pháp tọa quán.

Liên Sinh Hoạt Phật được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy phi không pháp tọa quán, từng viết trong cuốn sách "Mật Giáo Đại Viên Mãn", nay đặc biệt trong bản văn này thuật lại như sau:

Trong khoảng thời gian này, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy tôi tiên nhân tọa pháp, sư tử tọa pháp, tượng tọa pháp, kim sí điểu tọa pháp, kim cang tọa pháp. Ngoài năm đại tọa pháp này ra ngài còn dạy tọa pháp khác, mỗi lần tu tọa pháp đều được an trụ trong mạch khiếu [lỗ mạch], bởi vì mạch khiếu này có liên quan đến sự tuần hoàn chân khí của pháp Đại viên mãn. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giải thích như sau: chư Phật Bồ Tát thành đạo, vì thành đạo cho nên có bảo tọa, pháp bảo tọa là pháp tọa của tất cả Phật Bồ Tát.

Tiên nhân tọa pháp — phân thành hai loại, một loại là thiên y tọa, một loại là thảm len tọa. Thiên y tọa là dùng thiên y để phủ lên ghế ngồi, còn thảm len tọa là dùng sản phẩm dệt len phủ lên ghế ngồi. Tu trì pháp này thì tay ấn lên huyệt mạch ở vùng hông.

Pháp sư tử tọa — cái giường mà Phật Đà ngồi gọi là sư tử tọa, bởi vì sư tử được xem là vua của muôn thú, Phật Đà khi tại thế chiếm vị trí cao nhất tôn quý nhất, do vậy lấy sư tử để so sánh với giường ngồi của ngài. Nhưng cũng có rất nhiều Phật Bồ Tát dùng sư tử để làm pháp tọa của họ, ví dụ như Đại Nhật Như Lai, Văn Thù Bồ Tát, Pháp Giới Hư Không Tạng Bồ Tát đều dùng sư tử dũng mãnh làm pháp tọa. Rồi Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh cũng lấy bảy con sư tử làm ghế ngồi, mật tu sư tử tọa pháp cần phải dùng tay ấn vào mạch khiếu ở đỉnh đầu.

Tượng tọa pháp — dùng voi để làm bảo tọa pháp, A Súc Phật, Kim Cương Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đều tu trì tượng tọa pháp mà đạt thành tựu. Tu trì tượng tọa pháp cần an trụ trong mạch khiếu của hơi thở ra vào, như vậy mới có được thành tựu.

Kim sí điểu tọa pháp — trong Mật pháp có Kim sí điểu vương pháp, còn gọi là Ca Lâu La, là tên một loại chim ở Ấn Độ. Loài chim này thường sống trên bốn loại cây đại thụ trên thế giới, thức ăn của nó là rồng, lần lượt được Hư Không Tạng Bồ Tát và Bất Không Thành Tựu Như Lai dùng kim sí điểu tọa pháp làm bảo tọa pháp của các ngài, mạch khiếu của pháp này là điểm vào cánh tay.

Kim cương tọa pháp — pháp này là tọa pháp khi Phật thành tựu đẳng chính giác dưới gốc cây bồ đề Bodh Gaya ở nước Magadha. Các Thượng sư thông thường cho rằng kim cương tọa là pháp tọa đặc biệt của Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị khác đều không thể dùng, còn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng đã giải thích rõ về mạch khiếu của kim cương tọa pháp, nhưng trong cuốn sách này, xin thứ lỗi cho tôi không thể tiết lộ.

Bảo tọa pháp thường tu nhất là liên hoa tọa. Có pháp hoa sen tám cánh và hoa sen nghìn cánh, chìa khóa thành công của pháp này là mạch khiếu ở phía dưới luân xa rốn, chỗ mà Đạo gia gọi là vị trí đan điền. Tôi tiết lộ một bí mật lớn, vốn dĩ nút thắt của ruột là cánh của hoa sen, ruột của người thế tục không ngờ lại là liên hoa tọa của Phật Bồ Tát.

Tôi viết đến đây, có lẽ vẫn còn có rất nhiều hành giả Mật tông đọc không hiểu, tôi giải thích như sau: Người tu Mật pháp, muốn có thần túc thông thì chỉ có tu bảo tọa pháp mới có thể đắc được. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ hiển hiện, chỉ dạy cho tôi tu bảo tọa pháp, dạy cho tôi tư thế ngồi và tay cần phải đặt vào mạch khiếu thế nào, như thế thì khi nguyên thần xuất nhập đều có bảo tọa nắm giữ, bởi vì nguyên thần có bảo tọa nắm giữ nên đương nhiên có thể tùy ý ngao du khắp trên trời dưới đất, thập phương Phật quốc đều có thể đến được.

Pháp bảo tọa còn có bàn thạch tọa, điểu thú tọa (bao gồm ngựa, công, trâu, dê, ngỗng, ma), thậm chí lấy núi Tu Di làm bảo tọa.

Pháp hóa hiện bảo tọa của pháp Đại viên mãn là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mật truyền cho Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, theo lời của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, pháp bảo tọa này, các Kim cương Thượng sư trong thiên hạ không có mấy người có thể hiểu được, cũng có nghĩa là ngay cả rất nhiều Hoạt Phật (Rinpoche) căn bản đều không biết. Hôm nay, chính vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã truyền pháp bảo tọa, và sau khi tôi có được pháp này, tôi mới biết hóa thân cầu vồng vốn dựa vào pháp bảo tọa làm nền tảng.

Tôi viết ra cách tu pháp liên hoa tọa như sau: Dùng hoa sen tám cánh để quán tưởng. Dùng hoa sen cắt bằng giấy cúng dường trước Phật đàn, tùy theo sở thích của bản thân mà chọn màu sắc để dâng cúng.

Hai tay an trụ ở đan điền, tức là vị trí dưới rốn bốn lóng tay, lập tức quán tưởng toàn thân mình từ chỗ đỉnh đầu da thịt từ từ phân tách, để lộ ra đầu lâu xương cốt trắng toát, từ đầu đến cổ, từ cổ đến thân, hai tay, hai chân (cách quán tưởng này tương tự như quán bạch cốt). Khi quán tưởng chính mình biến thành một khối xương trắng, ngồi trước mặt Phật Bồ Tát, lúc này lập tức quán tưởng hoa sen giấy màu đỏ bay vào vị trí dưới rốn bốn lóng tay của mình, hoa sen phóng to ra và di chuyển xuống phía dưới, giữ chặt lấy xương trắng của chính mình.

Quán tưởng rõ ràng rành mạch như vậy rồi thì liền sau đó trì chú: "Ôm ya-ma-rua-ni chu-uân-ti-yê sô-ha." 108 hoặc 1080 biến.

Trì chú xong, lập tức dùng hơi thở ra vào đi vào đan điền, dùng hơi thở để thổi bùng lên Chuyết hỏa, quán tưởng Chuyết hỏa thành hoa sen tám cánh màu đỏ, nhập vào Tam ma địa hoa sen tám cánh.

Tu thành công pháp bảo tọa hiển hiện rồi thì khi xuất nguyên thần, có pháp tọa giữ nguyên thần lại, ánh sáng mênh mang, hoa nở rực rỡ, lao thẳng đến điểm đến. Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư hôm nay xuất nguyên thần đến những nơi to lớn như rặng tuyết sơn Himalaya, nhanh chóng chỉ trong một hơi thở là đi, trong một hơi thở là về, đến thập phương Phật quốc cũng như thế. Đây chính là dựa vào tu hành pháp bảo tọa hiển hiện, còn nếu không có pháp bảo tọa hiển hiện thì đại bộ phận những người nói rằng có thần túc thông đều là giả!

Nếu có Kim cương Thượng sư thật sự đắc được pháp này thì khi đọc được tôi viết về pháp hóa cầu vồng và pháp bảo tọa chắc chắn cũng phải tán thán, thì ra Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư đã đắc được pháp bảo tọa. Pháp bảo tọa này không thể tùy tiện truyền tùy tiện nói, đây đều là những bí mật to lớn đó! Hôm nay, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền thụ pháp Đại viên mãn số một của Tây Tạng cho Lư Thắng Ngạn, còn Lư Thắng Ngạn rốt cục có lai lịch ra sao? Liên Hoa Đồng Tử là gì? E rằng không chỉ đơn thuần như vậy đâu!

Tôi dự tính trong tương lai không xa, muốn tìm vài người đệ tử có đủ tư cách để truyền thụ cẩn thận pháp bảo tọa, vì tôi dùng tay để điểm vào mạch khiếu của họ, khiến họ có thể bùng lên ngọn lửa hừng hực, sau đó tụ hỏa thành hình, hóa thành bảo tọa.

Chân Phật Tông toàn thế giới cũng trở thành nơi bảo tọa bay lượn, siêu nhân hiện đại có thể bay tới bay lui, niềm vui vô tận, là đệ nhất pháp, đó chính là thần túc thông.

Để giải thích tỉ mỉ về phi không pháp tọa quán, tôi đặc biệt tiết lộ nghi quỹ tu trì như sau: (Từ nhập đàn niệm chú thanh tịnh cho đến niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, tức bước 1 đến 7 chiếu theo nghi quỹ khác để làm.) Kết ấn: hai tay ấn vào đan điền, cách ấn như thế nào? Tức là hai tay kết pháp giới định ấn, đặt nhẹ vào chỗ dưới rốn bốn lóng tay, dùng ngón út của hai tay ấn khẽ vào chỗ đan điền. Quán tưởng: (như phần đầu của bản văn này đã nói) hành giả Mật tông trước tiên tiếp nhận dòng chảy pháp của Phật Bồ Tát trong hư không, từ đầu ngón chân chảy ra, lan ra bốn phương tám hướng, hóa thành hoa sen từ từ bay lên thành pháp tọa của các vị, sau đó hóa thành dòng chảy pháp giáng xuống quán đảnh.

Tuần hoàn như vậy tổng cộng bảy lần.

Sau đó quán tưởng toàn thân mình từ chỗ đỉnh đầu, da thịt dần dần nứt ra, để lộ ra xương trắng ngần, từ cổ cho đến hai tay hai chân. Đến cuối cùng thì toàn thân là một bộ xương trắng, ngồi trước Phật Bồ Tát. (bạch cốt quán) Tiếp theo quán tưởng chỗ đan điền, pháp giới định ấn hóa thành một bông hoa sen, đi chuyển xuống dưới, nằm trên bộ xương của mình. Trì chú: "Ôm ya-ma-rua-ni chu-uân-ti-yê sô-ha." (108 biến) Tĩnh tọa nhập Tam ma địa: Lúc này, hành giả Mật tông toàn thân phóng quang, hoa sen cũng phóng quang, các vị trên Mật đàn cũng phóng quang, tất cả đồ cúng cũng phóng quang, tất cả thế gian xa gần đều hiện rõ, nơi muốn đến có thể nhờ hóa quang mà đi vào. Phàm tất cả hóa quang đều chảy vào tòa hoa sen như ý mà mình đang ngồi lên, không chỉ pháp tọa sáng bừng mà tất cả hư không đại địa đều sáng bừng, lần lượt đều có thể đến.

Khẩu quyết quan trọng ở đây chính là chư tôn quán đảnh, sau đó thông liên hoa pháp tọa, tiếp tục sản sinh ra thần túc thù thắng ưu tú tột cùng, đây là yếu quyết được cô đọng, yếu quyết này là vật quý báu nhất của Cụ Đức Tát Ca La Tam Ba Nhạ kim cang pháp tọa. Nhập Tam ma địa này có thể nhập tất cả pháp tọa. Thần túc thông khắp thế giới.

Xuất định hồi hướng: Tam mạch thất luân trong tuần hoàn. Chí tôn an trụ ở tại đây. Quang minh huyễn hóa nhập hai đường. Pháp tọa hiện ra cầu gia trì. Lời hứa mong rằng vào mọi lúc. Pháp tọa luôn theo không xa rời. Tu trì thành thạo tam mật này. Mong cầu gia trì cho vãng sinh. Thỉnh cầu chư tôn và Thượng sư. Pháp lưu gia trì đến đỉnh đầu. Hai tay nắm chắc hóa tòa sen. Đôi chân ánh sáng mãi kiên cố.

Đại lễ bái. Rời khỏi đàn thành. Cát tường viên mãn.

🌟

Liên Sinh Hoạt Phật lĩnh hội được rằng dòng chảy pháp của thập phương Như Lai chư tôn là cái gốc của mọi tu trì, không chỉ tất cả giáo lý, chứng lượng, phẩm đức, kỹ năng đạt được sự tăng trưởng mà thậm chí còn gia trì cho thân khẩu ý thanh tịnh, thậm chí có thể chuyển hóa thành pháp tọa, khiến cho việc phi không được vững chắc như ý. Đạo lý này vốn nằm ở Phật, Thượng sư và chính mình không khác biệt, đều biến hóa thành sự tương ứng của sự dung hợp giữa tự tính Lạc-Không và bản tính pháp tọa.

Trong tu pháp Đại thừa, phi không pháp tọa quán là con đường quan trọng của tu tâm, muốn tu trì con đường quan trọng này được viên mãn thì phải có sự tương ứng ban đầu của pháp Đại viên mãn và pháp Đại uy đức.

Hành giả Mật tông đã giác ngộ được Không và Minh, cảm ứng của dòng chảy pháp của họ tụ và tan một cách hoạt bát, nếu tụ thì là pháp tọa, nếu tan thì nhập vào sự quán chiếu vi tế, quang minh và hàm tụ, phân ra thì thành hai, thật ra chỉ là một.

Từ phi không pháp tọa quán có thể chứng minh: Hư không tức là thực tế. Thực tế tức là toàn bộ. Niềm tin vào phi không pháp tọa quán này chứng tỏ như vậy. Phi không pháp tọa quán lại phối hợp với niệm Phật cầu sinh tịnh thổ, nhất định sẽ vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới. Có đạo lý rằng: "Xưng một tiếng hồng danh, gặp được người bạn tốt." Pháp môn niệm Phật đều bao trùm cả ba căn, căn cơ thượng trung hạ, không có căn cơ nào không thu nạp vào trong đó, bí quyết của minh tâm không gì bằng niệm Phật, nhớ Phật niệm Phật, hiện tại tương lai nhất định sẽ thấy Phật. Nói chung hễ niệm Phật, miệng đang niệm Phật, tâm đang nhớ Phật, vọng niệm không sinh ra, nếu niệm niệm tương ứng thì chính là định của yoga.

Có một vị thiền sư triệt ngộ, ông ấy cũng tu thiền, cũng tu tịnh độ, đối với tịnh độ ông ấy có chứng ngộ như sau:

  1. Biết có sinh tử, phát bồ đề tâm, là con đường học đạo thông suốt.
  2. Dùng niềm tin và ý nguyện sâu sắc để trì danh hiệu Phật, là tịnh độ chính tông.
  3. Dùng sự chuyên tâm chuyên chú mà niệm Phật là một sự khởi đầu dễ dàng thuận lợi.
  4. Lấy việc xoa dịu phiền não hiện tại làm nhiệm vụ quan trọng cho tu tâm.
  5. Lấy việc kiên trì với pháp bốn giới trọng (không giết, không trộm, không dâm, không ngông) làm cái gốc để bước vào đạo.
  6. Lấy các kiểu khổ hạnh để trợ duyên cho tu đạo.
  7. Lấy nhất tâm bất loạn để trở về con đường thanh tịnh.
  8. Lấy những điềm lành của tâm linh để làm chứng nghiệm vãng sinh.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng nếu người học Tịnh độ tông lại học thêm phi không pháp tọa quán thì chắc chắn vãng sinh, vì luôn nghĩ đến Tây phương tịnh thổ, lại phối hợp với pháp tọa hoa sen, nhất định sẽ bay lên.

Người tu tập tương ứng phi không pháp tọa quán, nếu xuất thần thì chạy nhanh như chớp, giống như một tia sét bay đi, đến đi đều nhanh vô cùng. Rồng bay hoặc Lôi Công Điện Mẫu, hoặc thiên thần tiên sứ, hoặc các quỷ thần khác trong hư không nhìn thấy pháp tọa hoa sen bay đến đều sẽ lần lượt làm lễ. Thậm chí khi pháp tọa hoa sen ở đẳng cấp này phi hành, xung quanh chắc chắn có mây ngũ sắc bao quanh, hơn nữa còn có tiên nhạc bay bổng. Pháp tọa hoa sen này rất trang nghiêm thù thắng.

Đương nhiên, hành giả tu phi không pháp tọa quán có thể du hành đến các cung tiên trên trời, có thể ẩn cư trên đỉnh cao nhất của năm ngọn núi lớn, có thể đạt được tất cả bí quyết Mật pháp, thức ăn đều là pháp vị thơm không gì sánh bằng, thân thể không bệnh tật, hơn nữa còn đặc biệt khinh an tráng kiện, bình thường cũng tuyệt đối không có bệnh tật.

Liên Sinh Hoạt Phật biết trên đời có một vị tu đạo, cũng đạt đến hành giả phi không pháp tọa quán, người này từng đến chỗ tôi, ông ấy nói với tôi, ông ấy đắc được pháp này một cách vô cùng thần kỳ, duyên phận rất đặc biệt. Có một lần ông ấy đi chơi ở trên núi, bỗng dưng lạc vào trong núi. Đi bộ khoảng nửa ngày mà không tìm thấy đường ra, cuối cùng ở dưới một cây đa to, ông ấy nhìn thấy hai người già đang đánh cờ, ông ấy bèn đi tới để hỏi đường. Hai người già ăn mặc và trang điểm rất quái dị. "Ông đi vào đất này, chắc chắn là người có duyên." - Người già không hề ngẩng đầu lên. "Ông muốn tu đạo sao? Cho ông một cuốn sách!" - Người già kia nói. Ông ấy nhận lấy sách, vừa nhìn thì thấy trên đó viết "đại pháp phi không". Người già lại khẽ cười hỏi ông: "Ông có biết chúng tôi chơi cờ gì không?" Ông ấy lắc đầu. Ông ấy nhìn thấy bàn cờ đó rất đặc biệt, hình dạng quân cờ rất đặc biệt, từng quân từng quân, kích thước không đều, giống như bản đồ. "Đây chính là cờ quốc gia." "Quốc gia này tương lai sẽ ăn quốc gia kia."

Ông ấy hết sức ngạc nhiên, trên đời không ngờ lại có người dùng bản đồ quốc gia để chơi cờ, hai người già này là ai đây? Đợi hai người già chỉ cho ông ấy đường núi, ông ấy đã đi ra được khỏi núi. Rồi mấy ngày sau ông ấy lại lên núi tìm kiếm, nhưng vĩnh viễn không tìm được nơi hai người già kia đánh cờ, thậm chí ngay cả người trồng trọt trên núi cũng không biết có người già như vậy. Nhưng đại pháp mà ông ấy có được không ngờ lại là phi không pháp tọa quán. Người tu đạo này bí mật tu hành đại pháp phi không rất nhiều năm, ông ấy đã học được hoàn toàn bí thuật này. Có một lần, ông ấy ngủ trưa trong một ngôi miếu nhỏ, nghe thấy một tiếng nói lớn quát mình: "Ông là người gì mà dưới chân lại sinh ra hoa sen?" "Tôi là XX." "A! Thì ra là đệ tử của hai vị nguyên quân. Thất kính, thất kính. Ông có thể đi tìm Liên Sinh, trên đời có một vị Liên Sinh dưới chân cũng sinh ra hoa sen." Thế là người tu đạo này tìm đến Chân Phật Mật Uyển kể cho tôi nghe hai sự việc kỳ lạ này, tôi nghe xong cảm thấy vô cùng huyền diệu.

Tôi cảm thấy XX gặp được tiên cảnh, có được đại pháp phi không, đây đều là căn cơ kiếp trước, vị đạo nhân này cả đời thờ ơ với danh lợi, buông bỏ địa vị và hôn nhân tốt đẹp, cả đời du hí nhân gian, ông ấy có thể phá bỏ tình dục, vượt qua sinh tử, hoàn toàn thanh tâm quả dục, ông ấy là siêu thế gian, là thiên nhân hợp nhất, có lòng nhân ái khiến thần tiên cảm thông, thành tựu thần kỳ của ông ấy vốn là do lòng nhân ái mà có được.

Đại pháp phi không của ông ấy vốn là của Đạo gia, nhưng pháp tu trì của ông ấy và phi không pháp tọa quán lại tình cờ trùng hợp, ông ấy từng nói về bí quyết của đại pháp phi không, tôi cũng nói về bí quyết của phi không pháp tọa quán, hai bí quyết này không ngờ hoàn toàn nhất trí với nhau. Vị XX này là ai? Tôi hé lộ một điều bí mật của ông ấy, ông ấy từng chú thích Nhĩ Nhã [bộ từ điển Trung Quốc đầu tiên] và Sơn Hải Kinh. Tu trì phi không pháp tọa quán muốn có thể đắc tương ứng thì phải có tâm từ bi, có tâm bồ đề, càng phải có nhân duyên và đại trí huệ, đây là điều không hề đơn giản, phải là bậc đại trí mới có thể tiêu dao trên đại đạo. Không chấp vào sinh tử, không có vui buồn, căn bản không động tâm với sống chết vui buồn. Không ham thế gian, không sợ không lo, siêu nhiên bên ngoài thế giới. Loại người này tu trì mới có ngày thành tựu.

14. Di Lặc bạch vân quán

Bồ Tát Di Lặc có rất nhiều danh hiệu: Từ Thị, A Dật Đa, Vô Năng Thắng. Bồ Tát Di Lặc vốn sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở Nam Thiên Trúc, sau được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo hóa, thọ ký làm Bồ Tát và tương lai sẽ thành Phật. Bồ Tát Di Lặc vốn là một vị cổ Phật, từng theo học Phật Tư Thiện.

Liên Sinh Hoạt Phật từng đọc sáu bộ kinh Di Lặc, đó là: Kinh Di Lặc Hạ Sinh, Kinh Di Lặc Lai Thời, Kinh Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật, Kinh Di Lặc Đại Thành Phật, Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên, Kinh Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật.

Liên quan đến kinh điển của Bồ Tát Di Lặc, còn có "Kinh Di Lặc Sở Vấn Bản Nguyện".

Bồ Tát Di Lặc hiện đang trú ngụ tại Nội Viện Di Lặc ở cung trời Đâu Suất, thuyết pháp giáo hóa. Theo truyền thuyết, sau 56 tỷ 7 nghìn vạn năm nữa, Ngài sẽ tái sinh xuống Diêm Phù Đề, thành đạo dưới cây Long Hoa và mở ba đại pháp hội, đó chính là Long Hoa Tam Hội nổi tiếng. Long Hoa Tam Hội là ba đại pháp hội của Bồ Tát Di Lặc khi Ngài hạ sinh độ thế.

Bồ Tát Di Lặc trong Mật tông có tên gốc là Maitreya. Vị này trong mandala Thai Tạng Giới nằm ở phương Đông Bắc của Viện Trung Đài Bát Diệp Viện, trong mandala Kim Cương Giới nằm ở phương Đông của Hiền Kiếp Thập Lục Tôn. Đại Luân Kim Cang trong Thai Tạng Giới chính là hóa thân kim cang phẫn nộ của Bồ Tát Di Lặc.

Nội Viện cung trời Đâu Suất là nơi Bồ Tát Di Lặc thuyết pháp, còn được gọi là Di Lặc Tịnh Thổ. Từ xưa đến nay, có rất nhiều vị cao tăng chí nguyện hoằng pháp, sau khi viên tịch đều vãng sinh về Nội Viện Di Lặc, để rồi trong tương lai phát nguyện theo Bồ Tát Di Lặc tái sinh xuống thế giới Ta Bà giáo hóa chúng sinh.

Có rất nhiều người đã chứng kiến cõi Tịnh Thổ Di Lặc, ví dụ như đại sư Khuy Cơ - vị tổ khai sáng Từ Ân Tông, được tôn xưng là Bách Bổn Sớ Vương, cả đời nguyện sinh về cung trời Đâu Suất, Nội Viện Di Lặc. Hòa thượng Hư Vân khi còn sống từng đến Nội Viện Di Lặc nghe kinh. Liên Sinh Hoạt Phật cũng từng đến Nội Viện Di Lặc và được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mũ miện đỏ, do đó được tôn xưng là Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả.

Cung trời Đâu Suất thực ra là tầng trời thứ tư trong Lục Dục Thiên [sáu cõi trời Dục giới], nằm phía trên cung trời Dạ Ma. Cung điện ở cõi trời Đâu Suất toàn bằng ngọc mani, chia thành nội viện và ngoại viện. Ở ngoại viện thọ mạng là bốn nghìn tuổi, còn ở nội viện thọ mạng vô lượng. Cõi trời này vốn có ba tai nạn lớn là lửa, nước và gió, nhưng không thể gây tổn hại đến Nội Viện Di Lặc. Nội viện nơi Bồ Tát Di Lặc cư ngụ chính là viện thuyết pháp trong bốn mươi chín viện.

Nếu hành giả Chân Phật có chí hoằng pháp độ sinh, hoặc phát nguyện tu tập pháp Di Lặc bạch vân quán, có thể theo Bồ Tát Di Lặc, trước hết vãng sinh về cõi Tịnh Thổ Di Lặc. Trong tương lai, khi Bồ Tát Di Lặc thành Phật, những người theo Ngài cũng chắc chắn sẽ thành Phật - đây chính là sự phổ độ của Long Hoa Tam Hội.

Hình tượng Bồ Tát Di Lặc trong Thai Tạng Giới — tay trái đặt trước ngực, bàn tay xòe ra, tay phải cầm hoa sen. Trong mũ miện có bảo tháp, trong tháp hiện xá lợi.

Hình tượng Bồ Tát Di Lặc trong Kim Cương Giới — ngón cái, ngón trỏ và ngón út tay phải đều dựng thẳng, ngón giữa và ngón áp út cong lại đặt trước ngực, tay trái đặt trên đầu gối.

Còn hình tượng Bồ Tát Di Lặc trong các chùa ở Đài Loan lại là vị hòa thượng để lộ cái bụng to, nụ cười hoan hỷ, có hai câu kệ diễn tả rất sinh động: Miệng luôn mỉm cười, cười những kẻ đáng cười trong thiên hạ. Bụng to dung chứa, chứa những việc khó dung trong thiên hạ.

Dưới đây là nghi quỹ tu trì pháp Di Lặc bạch vân quán:

  1. Vào đàn niệm chú thanh tịnh.

  2. Niệm chú triệu thỉnh.

  3. Pháp Chân Phật Đại lễ bái.

  4. Pháp Chân Phật Tứ quy y.

  5. Pháp Chân Phật Đại cúng dường.

  6. Pháp mặc giáp hộ thân.

  7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1-3 biến).

  8. Kết ấn: ấn bát diệp Bồ Tát Di Lặc, tức là ấn chắp tay kim cang, trước tiên xoay trái một cái, sau đó xoay phải một cái, đặt trước ngực.

image

  1. Quán tưởng: quán tưởng Bồ Tát Di Lặc hiện ra trong hư không.

Trên tòa sư tử nguyệt luân hoa sen tại hư không phía trước. Di Lặc tôn quý thanh tịnh hiện tướng an nhiên thanh tịnh hoan hỷ. Trong cõi thù thắng phúc đức tín tâm con. Vì hoằng chính pháp thường trú Đâu Suất Thiên.

Lúc này quán tưởng Bồ Tát Di Lặc, tại vùng tim có chữ chủng tử chữ "Yu", như đám mây trắng đang phiêu động, chữ chủng tử trong đám mây trắng đang bay này giống như một dải lụa trắng triệu thỉnh hành giả Mật tông.

image

Hành giả Mật tông như cưỡi mây, tự cảm thấy thân bay lên, và đám mây trắng nơi tim của Bồ Tát Di Lặc càng lúc càng thấp, càng gần càng nhỏ. Hành giả Mật tông trụ trong tâm chí tôn của Bồ Tát Di Lặc. Hai bên hòa hợp, tự tính và Phật tính không phân biệt.

  1. Trì chú: tâm chú Di Lặc Bồ Tát.

Ôm mi-chuây-ya sô-ha. (108 biến)

  1. Tĩnh tọa. Nhập Tam ma địa:

Trong Tam ma địa này, mây trắng ở phía dưới, trên mây trắng có bảo tháp bảo điện, toàn bộ làm bằng ngọc mani, trong bảo điện có Bồ Tát Di Lặc đang thuyết pháp.

Hành giả Mật tông nương vào lực gia trì của tam mật thủ ấn, quán tưởng, chú ngữ để nâng cao bản thân, tiến vào Tam ma địa Nội Viện Di Lặc. Được Bồ Tát Di Lặc ban cho quán đảnh thọ ký.

  1. Hồi hướng xuất định:

Từ tâm Bách Thiên Tôn Chủ hoan hỷ tuôn trào. Như dòng sữa tinh khiết tràn đầy thanh tịnh. Pháp Vương chí tôn nhiếp thọ trí huệ thiện lành. Nguyện cùng thượng thủ nội viện hiện tiền. Bạch vân bảo điện Đâu Suất thiên hoan hỷ. Chú tự phiêu động nguyện thành tựu triệu thỉnh. Một lòng dũng mãnh tu trì thường tinh tấn. Long Hoa Tam Hội nguyện cùng thành Phật đạo.

  1. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Bí quyết của pháp này là quán tưởng chú tự nơi tim của Bồ Tát Di Lặc lấp lánh như đám mây trắng, rồi từ biển mây phóng ra bốn thủ ấn hình hoa sen. Do sự hòa hợp tam muội chặt chẽ của hai vị, hành giả Mật tông tiến vào trong tâm Bồ Tát, sinh ra thù thắng lạc không trí tín giải nghĩa Tam ma địa.

Tôi rất thích cuốn sách "Mây của hư không", đặc biệt ấn tượng với đoạn Hòa thượng Hư Vân đến Nội Viện Di Lặc, nên xin cung kính ghi lại điều ngài mắt thấy tai nghe như sau:

Hư Vân nói: "Tôi như đang ở trong mộng, bỗng thấy mình đang ở Tây phương Nội Viện Đâu Suất, thấy cung điện Phật trang nghiêm tuyệt đẹp phi thường! Vạn đạo hào quang vàng rực! Tôi thấy Bồ Tát Di Lặc đang thuyết pháp trên bảo tòa, tôi lập tức đảnh lễ. Tôi lại thấy hàng nghìn hàng vạn thính chúng, hàng đầu có Tử Bách tôn giả và nhiều người quen biết từ nhiều năm - có hòa thượng Chí Thiện chùa Hải Hội ở Giang Tây, lão pháp sư Dung Kính núi Thiên Thai, hòa thượng Hằng Chí núi Kỳ Sơn, hòa thượng Bảo Ngộ cung Bách Tuế, hòa thượng Thánh Tâm và luật sư Độc Thể núi Bảo Hoa, hòa thượng Quán Tâm chùa Kim Sơn và nhiều vị khác. Tôi chắp tay cung kính chào từng vị, họ chỉ cho tôi đến ngồi vị trí thứ ba ở phía Đông! Ngồi bên cạnh tôn giả A Nan làm duy na [duy na là một chức vụ trong chùa, chuyên quản lý các sự vụ của tăng chúng], mọi người cùng cung kính lắng nghe Bồ Tát Di Lặc giảng về 'duy tâm thức định', nghe mà lòng tôi vô cùng kính ngưỡng hoan hỷ."

"Rồi sau đó thế nào?" Pháp Vân hỏi. "Sau đó..." Hư Vân nói: "Bồ Tát Di Lặc bỗng chỉ vào tôi và bảo: 'Ông hãy về trước đi!' Tôi thưa: 'Đệ tử nghiệp chướng sâu nặng, nay khó khăn lắm mới được đến dưới tòa Bồ Tát! Con không muốn trở về cõi trần nữa!'"

Bồ Tát Di Lặc mỉm cười từ bi, bảo tôi: "Duyên nghiệp của ông chưa hết, phải về thôi! Rồi sau này hãy đến! Ta có bài kệ dạy ông: Thức trí nào phân? Sóng nước một thể; Chớ mê bình chậu! Vàng không dày mỏng; Tính lượng tam tam, dây gai sừng ốc; Nghi thành bóng cung, bệnh chỉ trừ hoặc; Phàm thân nhà mộng, huyễn không chấp trước; Biết huyễn liền lìa! Lìa huyễn sẽ giác;

Đại giác viên minh, gương soi muôn vật; Phàm thánh không hoa, thiện ác an lạc; Bi nguyện độ sinh, tạo thành mộng cảnh; Nghiệp chướng trước mắt, tỉnh thức giác ngộ; Biển khổ thuyền độ, chớ sinh thoái chuyển! Sen nở bùn nước, ngồi tĩnh thành Phật; .............................."

"Phía dưới còn rất nhiều câu nữa, lúc chưa xuất định tôi còn nhớ rõ mồn một, nhưng sau khi tỉnh dậy thì dần dần quên mất! Bồ Tát Di Lặc còn có thêm một số khai thị nữa, tôi vẫn còn nhớ, tuy nhiên, bây giờ chưa thể nói ra được!"

Đoạn mắt thấy tai nghe về Nội Viện Di Lặc của hòa thượng Hư Vân này, trong số các bậc cao tăng cận đại, là điều đáng ngưỡng mộ và khiến người ta phải thán phục, đối với những người học Phật về sau, đây là một sự khích lệ lớn lao.

Liên Sinh Hoạt Phật được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mão đỏ, cũng nhận được sự khai thị của Bồ Tát Di Lặc:

Bồ Tát Di Lặc dạy: "Mỗi hành giả đều có một kho báu, kho báu này nằm ở nơi đầu nguồn. Nó vừa ẩn tàng, vừa thường xuyên hiển lộ, đây chính là căn cơ của linh thông tạo hóa! Cái căn cơ vĩ đại này tuy nhìn có vẻ độc lập cao vời, nhưng thực ra là vô lượng trăm nghìn tỷ hóa thân! Liên Sinh ơi! Liên Sinh! Sau này con có thể thốt ra minh châu, hiển lộ chân ngôn Phật pháp, những hiện tượng không thể nghĩ bàn, thực ra đó chính là thần thông được tạo bởi căn nguyên của kho báu."

Bồ Tát Di Lặc dạy: "Nội Viện Đâu Suất này, nhìn lên thì vô tận, nhìn xuống cũng vô tận, hoàn toàn không có chướng ngại, tuy nhìn như là viện thuyết pháp trong bốn mươi chín viện, nhưng thực ra không dài không ngắn không trong không ngoài, đây mới thực sự là cảnh giới huyền diệu siêu việt! Nếu ai có thể hiểu được điều này, đó chính là tâm ấn chân thật."

Người tu pháp Di Lặc bạch vân quán thường không để lộ dấu hiệu bên ngoài, cuộc sống hàng ngày không khác gì người thường, chỉ âm thầm tu trì bí mật. Pháp quán này cứ âm thầm mà thành tựu, nhưng một khi thành tựu thì sự biến hóa bay bổng vô cùng kỳ diệu, và cõi tịnh thổ vãng sinh tự nhiên sẽ là Tịnh Thổ Di Lặc.

Khi pháp này thành tựu, nơi thiên tâm của hành giả sẽ phóng ra ánh sáng trắng, trong ánh sáng trắng ấy sẽ xuất hiện một đứa trẻ. Đứa trẻ này chính là "nguyên thần" của Đạo gia, "chân nhân" của Thần đạo, là "hoạt tố" của Mật tông, là "thức" của Phật gia. Đứa trẻ trong ánh sáng trắng nơi thiên tâm này sẽ tự trì chân ngôn của Bồ Tát Di Lặc, âm thanh chú trong trẻo như tiếng ngọc vàng, đứa trẻ này có thể phóng quang và có thể đến được Nội Viện Di Lặc.

Tương lai lúc vãng sinh, Bồ Tát Di Lặc trên mây trắng sẽ vẫy tay gọi đứa trẻ, hành giả Mật tông ngồi nghiêm thân ngay thẳng, ánh sáng trắng từ thiên tâm lóe lên, chiếu khắp các cõi trời, đứa trẻ có thể bay thẳng đi trong ánh sáng trắng đó.

Khi tu trì thành tựu Di Lặc bạch vân quán rồi, hành giả cũng đắc được thiên nhãn thông nghìn dặm, đôi mắt có thể nhìn thấu mọi vật xa gần, dù có núi cao biển rộng ngăn cách cũng không bị ảnh hưởng. Với thiên nhãn thông này, thậm chí có thể quan sát được các cung điện trên trời như cung Tứ Thiên Vương, Phạm Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, Thủy Thiên, Phong Thiên, Hỏa Thiên, Nhật Thiên, Nguyệt Thiên, v.v... có thể thấy được chư thiên qua lại trên cõi trời, cung điện lầu gác không thiếu thứ gì.

Việc tu trì pháp Di Lặc bạch vân quán, nếu dùng giác tính để khai ngộ pháp lý, sẽ nhanh chóng kết nối với pháp tu con mắt bí mật của Mật giáo, có thể chứng đắc: Biển mây đồ hương. Biển mây minh đăng. Biển mây tịnh hương. Biển mây không hoa. Từ con mắt bí mật thứ nhất đến con mắt bí mật thứ năm đều có thể chứng đắc.

Trong tương lai, Bồ Tát Di Lặc sẽ thành Phật dưới cội Long Hoa, cây này có tên như vậy vì cành hoa giống như đầu rồng. Ngài sẽ mở pháp hội dưới cội Long Hoa trong vườn Hoa Lâm để phổ độ trời người. Long Hoa Tam Hội chính là ba lần đại pháp hội, để độ hết tất cả chúng sinh căn cơ thượng trung hạ.

Đến lúc đó, Liên Sinh Hoạt Phật cũng sẽ tái sinh, đây là khi Liên Sinh Hoạt Phật chuyển thân thành cát bụi của mặt đất, đảnh lễ sát đất trước Bồ Tát Di Lặc, dùng diệu âm tán thán tất cả, khiến tâm hoan hỷ của chúng sinh tăng trưởng. Và thiết lập biển mây cúng dường, nội ngoại cúng đầy đủ, khiến tâm chúng sinh sinh hoa sen, mỗi người đều được vãng sinh.

Xin ghi một bài kệ để ghi nhớ: Tâm huệ như bụi khắp hư không, Diệu âm sắc lệnh giữa vui mừng; Thân thù thắng hiện Long Hoa hội, Thấy nghe suy niệm chứng chân tông.

15. Văn Thù Bồ Tát khiếp kiếm quán

Bây giờ xin ghi rõ nghi quỹ tu trì pháp quán tưởng tráp và kiếm Văn Thù Bồ Tát như sau:

(Nhập đàn niệm chú thanh tịnh cho đến niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Mục 1~7 tu theo nghi quỹ.)

Kết ấn: ngũ tự Văn Thù ấn. Trước tiên hai tay đan ngoại phộc, hai ngón giữa giơ thẳng, chạm vào nhau, cong đốt trên lại thế là thành ấn kiếm kim cang.

Quán tưởng thứ nhất: Văn Thù Bồ Tát ở trong hư không hiển hiện. Một đầu hai tay, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm hoa sen xanh, trên hoa sen xanh có tráp Phật, Văn Thù Bồ Tát cưỡi sư tử. Gột rửa bất tịnh trừ vô tri. Tự đắc đại trí rõ sắc lệnh. Chủng tử tự nhanh tay giương cờ. Tráp Phật kiếm báu và khiếp kiếm. Dựa vào sẽ đắc tài giảng biện.

Cũng tức là quán tưởng chú luân của Văn Thù Bồ Tát xoay tròn, xoay tròn phát ra ánh sáng trắng lớn, dòng chảy pháp giống như sữa tươi liên tục trút xuống lỗ Phạn huyệt của mình (trí huệ tự tính vô lượng, màu trắng như sữa), từ Phạn huyệt đi vào đầy ắp toàn thân. Quán tưởng từ vô thủy đến nay, những tội chướng nghiệp đọa phá giới nghiệp đen đã tích lũy hiện ra thành nhện, giun rắn, cóc nhái tôm tép, v.v… lần lượt từ các lỗ chân lông bò ra. Đây là chú luân xoay tròn, trút cam lộ sữa trắng đầy ắp toàn thân, tất cả nghiệp tội vô tri ngu dốt loại bỏ hết, trong sát-na được thanh tịnh, tự thân trong suốt lấp lánh ánh sáng tự tính.

Quán tưởng thứ hai:

Thân phụ tử được mưa cam lộ đỏ vàng tuyệt diệu. *Trong thân cam lộ đầy ắp như thân tướng Phật. * Trong thân phóng quang triệu thỉnh bậc tối thắng và con Tất cả trí huệ bậc nhất của thân tướng Phật nhập vào. Ánh sáng thân Phật chiếu nội thân trong suốt lấp lánh. Trừ sạch mọi tối tăm của tâm phân biệt lấy-bỏ Những chỗ lấy-bỏ biết rõ nhờ tự lực *Có thể phân tích đại trí nhờ đó mà chứng đắc. *

Đây là quán tưởng từ trong âm thanh của chú, hành giả Mật tông quán tưởng từng chú âm, là thanh tướng nhẹ nhàng của Văn Thù Bồ Tát, từng chú âm êm dịu hóa thành vô lượng cam lộ màu đỏ vàng, đầy ắp mười phương thế giới, cũng chính là thanh tướng chú âm cam lộ màu đỏ vàng từ từng lỗ chân lông của hành giả mà trút vào. Lúc này sẽ được tăng trưởng tất cả trí huệ, đắc nghĩa tối thắng của Mật giáo, tùy theo tự lực mà có thể phân tích đại trí.

Quán tưởng thứ ba:

*Thân phụ tử được mưa cam lộ đỏ vàng tuyệt diệu. Trong thân cam lộ đầy ắp như tướng chủng tự. Phóng quang triệu thỉnh mọi tốc trí của các bậc thù thắng. Tướng chủng tử tự đi vào trong thân mình. Ánh sáng chủng tử chiếu nội thân trong suốt lấp lánh. Trừ sạch tất cả vọng tưởng mê loạn cấu bẩn. Khi tà vọng nghi hoặc cấu bẩn bắt đầu sinh ra. Có thể diệt hết nhờ đó mà có được tốc trí. *

Đây là quán tưởng chủng tử chữ Dhih. Cũng tức là trong mười phương hư không đều hiện lên chủng tử chữ Dhih, và chủng tự này đều hiện lên ánh sáng đỏ vàng. Chủng tử chữ Dhih này từ các lỗ chân lông đi vào trong thân của hành giả Mật tông, và tự thân hành giả biến hóa thành tướng chủng tử tự. Quán tưởng này có thể đắc đại trí huệ thần tốc. Bởi vì chủng tử tự cực trong suốt lấp lánh nên có thể trừ được tất cả tà vọng nghi hoặc cấu bẩn, đạt được tốc trí.

Quán tưởng thứ tư:

*Thân phụ tử được mưa cam lộ đỏ vàng tuyệt diệu. Trong thân cam lộ đầy ắp như tướng khiếp kiếm. Phóng quang triệu thỉnh mọi trí huệ thâm sâu của các bậc thù thắng. Tướng cờ tay đi vào trong thân mình. Cờ tay phóng quang chiếu nội thân trong suốt lấp lánh. Trừ sạch tất cả chướng ngại và ngu si. Khả năng đo lường không hề trở ngại. Có thể nhập vào nhờ đó có được trí huệ thâm sâu. *

Quán tưởng này vô cùng quan trọng, cũng chính là yếu điểm của Văn Thù Bồ Tát khiếp kiếm quán. Ở đây là Văn Thù Bồ Tát trong hư không, bảo kiếm trên tay phải và tráp Phật trên hoa sen xanh trên tay trái của ngài đều phóng ánh sáng lớn mạnh mẽ, ánh sáng này chiếu khắp xung quanh hành giả Mật tông, khiến cho tất cả không còn ngăn trở và nhập vào trí huệ thâm sâu. Tất cả văn nghĩa của pháp bản và tất cả pháp lý đều có thể phân biệt được rõ ràng.

Sau đó quán tưởng tề luân [luân xa rốn] của hành giả Mật tông hóa thành một đóa hoa sen, trên hoa sen hiện ra chữ Dhih, trên chữ Dhih hiện ra một thanh kiếm, trên kiếm có sáu chữ "Om. Ah. Ra. Pa. Cha. Na". Kiếm này xoay về bên phải, có thể khiến cho lưỡi trong miệng đắc biện tài vô ngại. Có thể phá trừ tất cả tà thuyết ngoại đạo, nhờ đó mà đạt được tất cả biện trí, đây chính là đắc khẩu thiệt biện tài tam muội. [tài hùng biện ăn nói]

Quán tưởng bảo kiếm hoa sen này thường xuyên ở trên thân mình phóng quang, có thể sáng tác luận thuật, cũng thức là trí huệ giỏi trước tác không hề có chướng ngại. Nhờ có quán tưởng bảo kiếm hoa sen này mà văn tự sáng tác của người đó vĩnh viễn lưu truyền trong sử sách, có thể bất hủ, trở thành luận thuật vĩ đại khắp thế giới.

Trì tâm chú: "Om. Ah. Ra. Pa. Cha. Na. Dhih." (108 biến ~ 1080 biến.) Chữ Dhih tiếng Phạn như sau: དྷཱི Tĩnh tọa. Nhập tam ma địa: Khi tất cả biến mất, không biết thân quy về nơi nào, thân ý khởi lên niềm vui sướng thù thắng, tức là tam ma địa đã hiện ra rồi! Xuất định. Hồi hướng: Văn Thù Sư Lợi Đại Pháp Vương. Khiếp kiếm bảo quang là phi phàm. Tứ quán tức đắc đại trí huệ. Mười phương thế giới hiện hào quang. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn. Cát tường viên mãn.

🌟

Trọng điểm của pháp này nằm ở bốn quán tưởng, bốn quán tưởng này vô cùng quan trọng, cực kì quan trọng. Tu tập thật rõ ràng tỉ mỉ tinh tường, nhất định sẽ có được đại trí huệ.

Liệt kê những kinh điển có liên quan đến Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát như sau: "Văn Thù Hối Quá Kinh, Văn Thù Bát Nhã Kinh, Văn Thù Sư Lợi Hành Kinh, Văn Thù Sư Lợi Phát Nguyện Kinh, Văn Thù Sư Lợi Tuần Hành Kinh, Văn Thù Sư Lợi Tịnh Luật Kinh, Văn Thù Sư Lợi Vấn Kinh, Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Tát Kinh, Văn Thù Sư Lợi Bàn Niết Bàn Kinh, Văn Thù Sư Lợi Hiện Bảo Tạng Kinh, Văn Thù Sư Lợi Phật Thổ Trang Nghiêm Kinh, Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nghi Quỹ Kinh, Văn Thù Sư Lợi Pháp Bảo Tạng Đà-la-ni Kinh, Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhã Ba-la-mật Kinh, Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bất Khả Tư Nghì Phật Cảnh Giới Kinh, Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nhất Tự Đà-la-ni Kinh, Văn Thù Sư Lợi Lục Tự Chú Công Năng Pháp Kinh, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Phật Sát Công Đức Trang Nghiêm Kinh, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Căn Bản Đại Giáo Vương Kinh Kim Sí Điểu Phẩm, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Cập Chư Thiên Sở Thuyết Cát Hung Thời Nhật Thiện Ác Túc Diệu Kinh, Văn Thù Diệt Dâm Dục Ngã Mạn Đà-la-ni, v.v…"

Kinh điển của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rất nhiều, cũng có rất nhiều tên gọi, ngài là một vị đại Bồ Tát, biệt danh của ngài có Mạn Thù Sư Lợi, Diệu Cát Tường, Diệu Âm, Diệu Đức, Diệu Thủ, Thiện Thủ, Nhu Thủ, Kính Thủ, v.v… Vị đại Bồ Tát này và Phổ Hiền Bồ Tát cùng là trí thức của Thích Ca Mâu Ni Phật, Văn Thù Bồ Tát nắm giữ cánh cửa trí huệ, Phổ Hiền Bồ Tát nắm giữ cánh cửa lý trí.

Trong đời quá khứ, Văn Thù Bồ Tát từng là thầy của Thất Phật, vì đã thành Phật nên tôn xưng của ngài là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Mật hiệu của ngài là Cát Tường Kim Cang hoặc Bát Nhã Kim Cang.

Hình tượng của Văn Thù Bồ Tát có đỉnh đầu kết năm búi tóc, đại diện cho ngũ trí của Đại Nhật Như Lai, tay phải cầm kiếm, là thanh kiếm sắc đại diện cho trí huệ, ghế ngồi của ngài là sư tử, biểu thị sự uy mãnh. Văn Thù Bồ Tát còn có Nhất tự Văn Thù, Ngũ tự Văn Thù, Lục tự Văn Thù, Bát tự Văn Thù, Nhất kế Văn Thù, Ngũ kế Văn Thù, Bát kế Văn Thù, Nhi Văn Thù. Nhưng lấy Ngũ tự Văn Thù và Ngũ kế Văn Thù làm thể gốc.

Tay trái của Văn Thù Bồ Tát cầm hoa sen xanh, đại diện cho bất nhiễm, vì thế có thể đoạn trừ phiền não.

Trong mandala Thai tạng giới, Văn Thù Bồ Tát chiếm vị trí phía Tây Nam của Trung Đài Bát Diệp Viện, là chủ tôn trong Văn Thù Viện. Trong mandala Kim cương giới, ngài là vị đầu tiên ở phương bắc trong số mười sáu vị Hiền Kiếp.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng Phật ở Tịnh Cư Thiên Cung từng nói pháp Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử Hành Luân Chân Ngôn, đây là nhất tự chân ngôn căn bản của Văn Thù Sư Lợi. Nhất tự chân ngôn này chính là "Om Bhrum" hoặc dịch là "Om Shrim", đây cũng là chú viên mãn.

Khi trì niệm chú viên mãn, có thể quán tưởng một cái hồ, trong hồ mọc lên một thân cây, ba cành, cành ở giữa là hoa sen trắng, và trên hoa sen trắng là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ngồi trên hoa sen báu, là tướng đồng tử, có năm búi tóc, thân tướng màu vàng kim, thân mặc áo xanh, ngồi bán già, chân phải thả xuống, hoa sen vững chắc.

Cành hoa sen bên trái là tướng của Phổ Hiền Bồ Tát, có đầy đủ tất cả trang nghiêm, thân màu xanh (lục) tím, mặc áo xanh, tay trái cầm gậy như ý, tay phải cầm phất trần màu trắng.

Cành hoa sen bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát, thân như ánh trăng, có đầy đủ tất cả trang nghiêm, tay trái cầm hoa sen trắng, tay phải cầm phất trần kim cang.

Phàm ai niệm chú này, tu quán tưởng ba đại Bồ Tát, có thể có được sự bảo vệ và ủng hộ của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và hai vị Bồ Tát còn lại, còn có cả năm sứ giả của Văn Thù là Kế Thiết Ni, Ưu Ba Kế Thiết Ni, Chất Đa La, Địa Huệ, Thỉnh Triệu và tám đại đồng tử của Văn Thù là Quang Võng Đồng Tử, Địa Huệ Đồng Tử, Vô Cấu Quang Đồng Tử, Bất Tư Huệ Đồng Tử, Triệu Thỉnh Đồng Tử, Kế Thiết Ni Đồng Tử, Cứu Hộ Huệ Đồng Tử, Ưu Ba Kế Thiết Ni Đồng Tử đều đến để ủng hộ hành giả.

Theo tôi được biết, thiền sư Triệt Ngộ trong số đại cao tăng của Thiền tông và Tịnh Độ tông, tuy chuyên tu Liên tông, nhưng bình thường ông ấy cũng tu Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát căn bản nhất tự chân ngôn, ông ấy từng nhìn thấy Văn Thù Bồ Tát rồi!

Hành giả Mật tông tu quán Văn Thù khiếp kiếm, nếu đắc thành tựu sẽ đạt đến trình độ rất cao về viết lách, khiến người ta tán tụng không ngừng, hơn nữa sẽ có miệng lưỡi sắc bén, có thể hùng biện không gặp trở ngại nào, giống như thay đổi cả con người. Người thành tựu pháp này nếu trà tỳ [hỏa thiêu] sẽ có xá lợi lưỡi, bởi vì lưỡi của họ giống như châu ngọc.

Từng có một vị Lama tu Văn Thù khiếp kiếm quán, nhờ tu trì nghiêm chỉnh, siêng năng bền bỉ, lòng thành của ông ấy đã cảm động đến Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Mỗi lần ông ấy tu pháp, trên trời liền tung xuống rất nhiều hoa đỏ và hoa vàng, hơn nữa còn có hương thơm nức mũi.

Vị Lama tu pháp này một hôm đột nhiên đang yên đang lành lại nói với các đồng tu: “Đôi cánh của Kim Sí Điểu trên đỉnh núi Tu Di đã vỗ rồi, tôi sắp được đưa đến chỗ của Văn Thù Bồ Tát.” Lama nói xong thì nhắm mắt viên tịch. Có người nhìn thấy ông ấy cưỡi đại bàng Kim Sí Điều bay lượn phía trên đỉnh núi tuyết, vô cùng tự đắc.

Hành giả Mật tông tu Văn Thù khiếp kiếm quán, vị Lama đắc thành tựu kia học được pháp quán này là cũng có truyền kỳ.

Ban đầu ông ấy bái Liên Hoa Thánh Tôn Lama làm thầy, có một hôm, Liên Hoa Thánh Tôn Lama nói với ông ấy: "Trong hang này có một bức tường, là nơi mà đại thành tựu giả năm xưa đã quay mặt vào tường tu định, anh có thể đi quay mặt vào tường tu định, sẽ có pháp tu trì xuất hiện trên bức tường, anh học được pháp tu trì đó rồi thì có thể tương ứng thành tựu."

Vị Lama này liền ngồi trước bức tường để tọa định. Ngồi một năm, chẳng có gì cả. Năm thứ hai, nhìn thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát xuất hiện trên tường. Năm thứ ba nhìn thấy văn tự của Văn Thù khiếp kiếm quán xuất hiện trên tường, và tất cả tâm yếu khẩu quyết của tu pháp, thế là ông ấy nỗ lực bền bỉ tinh tấn. Liên tục tu bảy năm, trong không trung rơi xuống hoa vàng, hoa đỏ.

Liên Hoa Thánh Tôn Lama nói với các đệ tử của mình: "Chúc mừng, tất cả đại viên mãn, đại tương ứng rồi." Trên bức tường thánh xuất hiện Văn Thù Sư Lợi và văn tự, trong con mắt của người ngoài là không thể tưởng tượng được, nhưng trong tim của Liên Sinh Hoạt Phật thì đây là điều hiển nhiên. Bởi vì thiên hạ vạn vật, dụng tâm có thể cảm thông, vạn pháp không rời tâm mình, dụng tâm tìm tòi, tâm hiện vật hiện, pháp trong tâm tự nhiên lộ ra trên bức tường. Sự chuyên tâm nhất chí của một cá nhân nhất định có thể cảm động các vị giáng xuống.

Ngày 3 tháng 12 năm 1986, người chủ trì của Tam Muội Tinh Xá là Liên Hoa Hoa Lương đã đến Chân Phật Mật Uyển, tôi đã nói sơ về pháp này, đồng thời cũng quán đảnh truyền dạy pháp này, hy vọng Liên Hoa Hoa Lương hiểu được "vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên". [Câu nói của Mạnh Tử, nghĩa là: vạn vật đều sẵn có trong ta, tự kiểm điểm thấy bản thân đã thành thật không dối gạt mình, thì đây là niềm vui lớn nhất.]

Tam muội chính là chính định. Quán khiếp kiếm là ban cho đại trí huệ, trong lòng đầy khao khát thì sẽ có thành tựu. Pháp này có thể chấn động trên trời dưới đất, có thể khiến đại bàng Kim Sí Điểu dang rộng cánh bay, có thể khiến thiên nữ tung hoa, chư tôn hộ trì, đan xen tạo thành một bức màn ánh sáng rực rỡ của đại trí huệ, tất cả tạo thành một pháp giới hài hòa. Người có thể chuyên tâm tu trì sẽ có được đại phúc phần, không thể xem thường điều này.

16. Sư Tử Hống Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát quán

  1. Nhập đàn. Quán tưởng từ tâm luân hành giả, âm thanh của chữ Hum ཧཱུྃ vang lên và khuếch trương, đầy ắp hư không, trở thành nền móng kim cang, vải bạt kim cang bao bọc xung quanh, và còn có ngọn lửa bùng cháy giống như ngày tận thế, mây khói mù mịt; bên ngoài có sóng biển lớn vây quanh ba vòng. Kết giới như vậy, mọi ma quỷ đầy khắp mười phương hoàn toàn bị ngăn cách, không thể xâm phạm. Quán tưởng vòng bảo vệ như vậy.

  2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư tôn, Hộ pháp, Không hành.

  3. Chân Phật Mật giáo đại lễ bái pháp.

  4. Chân Phật Mật giáo đại cúng dường pháp.

  5. Chân Phật Mật giáo tứ quy y pháp. Niệm chú Tứ quy y. Niệm thêm: Quy y Mật giáo Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Mật hành tôn giả tổng nhiếp Tam Bảo Liên Sinh Hoạt Phật. Quy y chư Phật ngũ luân tổng thể, vũ trụ bản thức. Quy y Tam Tạng Thập Nhị Bộ chính pháp. Quy y các hư không giới, các tăng già thánh giả tự cổ chí kim đã chứng Bồ Tát.

  6. Mặc bia giáp hộ thân pháp.

  7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1~3 biến). Niệm Thánh Diệu Cát Tường Chân Thực Danh Kinh (1 biến, hoặc có thể niệm tụng nhiều hơn).

  8. Thỉnh cầu: Thân Văn Thù từ trong hư không hiện lên màu kim tím. Ý Văn Thù tự tính các pháp tương ứng rõ ràng. Ngữ Văn Thù âm thanh hòa nhã không chướng ngại. Trước mặt Văn Thù con chí thành cầu thỉnh.

  9. Quán không. Tụng chú quán không: Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng. Quán tưởng tất cả thể tính, sự thanh tịnh vốn có, thân tâm trong ngoài đều không phụ thuộc vào bản thể thanh tịnh vốn có này. Trong sát-na trụ trong không gian rộng rãi bằng phẳng sáng tỏ.

  10. An lập pháp giới tại đây. Quán không (tất cả pháp không, trong tự tính không). Từ chữ Ah ཨཱཿ màu trắng thanh tịnh tâm tính hiện rõ. Từ chữ Ah ཨཱཿ sinh ra chữ Ai:

image

đầy ắp hư không, vô biên pháp giới, trong sát-na thu hút thành tính không. Lại từ chữ Ah ཨཱཿ phóng ra chữ Yang:

image

đàn thành của gió, màu xanh lục dao động làm biểu tượng của cờ. Lại từ chữ Ah phóng ra chữ:

image

làm đàn thành của nước, thủy luân hình tròn màu trắng. Lại từ chữ Ah phóng ra chữ:

image

làm địa luân hình tròn màu vàng. Lại từ chữ Ah phóng ra chữ Sung:

image

sinh ra bốn loại tự tính của bảo vật, hình vuông, bốn loại màu sắc quý bốn phía của núi Tu Di (bốn loại màu sắc quý là đông vàng kim, nam xanh lam, tây đỏ, bắc vàng). Lại từ chữ Ah phóng ra chữ

image

màu đỏ, làm hỏa luân hình tròn, hư không vô biên rực cháy.

Trên đỉnh núi Tu Di, từ nguyên nhân quán tưởng chữ Ah như trên mà phóng ra chữ Chân:

image

Chữ Chân lại biến thành tòa cung điện cao, trong cung điện cao hiện lên sư tử màu lam.

Chú thích: Nếu quán tưởng thành thạo mục thứ 10 này rồi thì có thể lược bỏ, tức là đi vào mục thứ 11 luôn.

  1. Tất cả pháp không, ở trong tự tính không, hiện lên một con sư tử màu lam, trên lưng hiện hoa sen, trên hoa sen hiện nguyệt luân, trên nguyệt luân có chữ Dhi:

image

tự tính màu vàng kim, phóng quang trên cúng dưới thí xong, ánh sáng thu về biến thành thanh kiếm trí huệ màu vàng kim, trên thanh kiếm có chữ Dhi, trong chớp mắt đã chuyển thành tự tính của Như Lai tổng tập, tướng là báo thân viên mãn Văn Thù Bồ Tát màu vàng kim, hai tay kết ấn khai thị, cầm cành hoa upala, hoa bên phải có kiếm, hoa bên trái có kinh Phật chân thực, trên kiếm có chữ Dhi, đầu ngài độ mũ Ngũ Phật, nhìn chúng sinh bằng con mắt từ bi, và Căn bản Thượng sư có đủ phẩm đức bi trí trụ trên đỉnh đầu ngài.

Trên nguyệt luân hoa sen trong tim, chữ Chung:

image

chuyển thành bốn bánh xe nan hoa, trên bánh xe có kiếm, trong kiếm có chữ Dhi màu vàng kim đứng bất động, chú luân sắp đặt vòng theo bên phải, khi phóng quang, chú luân bất động có chữ Dhi ánh sáng chạy ngược chiều kim đồng hồ.

Lại quán tưởng trước mặt, trên nhật nguyệt luân hoa sen có chữ Xi màu lam:

image

phóng quang trên cúng dưới thí, sau đó ánh sáng thu về chuyển thành kiếm trí huệ, trên kiếm có chữ Dhi, kiếm chuyển thành Diệu Âm Phật Mẫu màu lam, tư thế đứng, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm kinh, tóc hoa và chuỗi ngọc đủ loại trang nghiêm. Lại quán tưởng trên nhật nguyệt luân hoa sen trong tim Phật Mẫu có chữ Chung chuyển thành bốn bánh xe nan hoa, trên bánh xe có kiếm, ở giữa có chữ Xi màu lam đứng thẳng bất động, chú luân sắp xếp theo chiều bên trái, khi phóng quang chú luân bất động có chữ Xi ánh sáng vòng theo chiều bên phải.

  1. Nghênh thỉnh, dung nhập. Từ thân tự tính tam muội da và chủng tử tự trong tâm Phật Mẫu phóng quang đến tịnh thổ của Bổn tôn nghênh thỉnh trí huệ tôn. Lúc này: Thân - duy trì sự đoan trang, tay kết ấn câu triệu. Ngữ - tụng tứ tự đại minh Cha Hum Ban Ho:

image

Ý - Tụng chữ Cha, tưởng tượng Bổn tôn trên trời từ từ hạ xuống. Tụng chữ Hum, tưởng tượng Bổn tôn trí huệ đã trụ trên đỉnh đầu mình. Tụng chữ Ban tưởng tượng Văn Thù Bồ Tát đi vào trong tim mình. Tụng chữ Ho tưởng tượng thân mình và Văn Thù dung hợp, không hai không khác.

Sau đó, từ trí huệ tôn trong tâm và chú luân trong tâm Phật Mẫu xoay chuyển phóng quang cúng dường chư Phật mười phương ba đời, lập tức có được mọi sức mạnh gia trì của chư Phật và pháp giới, có được mọi trí huệ của tất cả chư Phật, phúc đức và tất cả công đức đều hóa thành ánh sáng từ đỉnh đầu tan vào thân mình, sau đó phóng quang dưới thí cho lục đạo hữu tình, khiến tất cả hữu tình đều thành Văn Thù Bồ Tát. Lại từ chú luân trong tim của trí huệ tôn trong tim mình xoay tròn phóng quang trên cúng dưới thí xong, tụ tập tất cả kinh tục Hiển Mật và các pháp hóa thành ánh sáng dung nhập vào họng mình, khiến tất cả nhật nguyệt tinh hoa trân bảo tứ đại đất nước lửa gió v.v…. tụ tập tất cả hóa thành ánh sáng dung nhập vào tự tâm. Chú thích: Cứ phóng quang trở đi trở lại như vậy, đồng thời tụng 108 biến.

  1. Sư Tử Văn Thù Bồ Tát chú:

Ôm sit-đi ma-mây-ti-pân man-su-sư-li, mâng-xi-chan-chia-wa-ta-ni sit-đi sô-ha.

Diệu Âm Phật Mẫu chú: Ôm sa-ra-sa-ti sô-ha. Văn Thù Bồ Tát ngũ tự tâm chú: Ôm a-ra-pa-sa-na đi.

  1. Nhập định. Quán vô tình hóa quang nhập hữu tình, hữu tình hóa quang nhập tam muội da thân, tam muội da thân hóa quang nhập trí huệ Bổn tôn thân, trí huệ Bổn tôn nhập tam ma địa Bổn tôn thân (tức chữ Dhi trong kiếm cũng là chữ Dhi trí huệ kiếm). Bổn tôn tam ma địa lại dung nhập chủng tử chữ Dhi từ dưới hướng lên trên dần dần thu về, tức là các nét của chữ chủng tử này từ dưới lên trên dần dần thu về thành một điểm nhỏ nhất là xong, rồi điểm này lại tan biến vào trong tính Không. Cuối cùng, tan vào trong Đại thủ ấn định và trụ trong đó. Lúc này, nên duy trì trạng thái vô niệm, nếu vọng niệm khởi lên thì chuyển ý niệm đó thành Bổn tôn như huyễn, đi đứng ngồi nằm không rời suy nghĩ này. Khi tĩnh thì quán chiếu, khi động thì mang theo suy nghĩ này.

  2. Xuất định.

  3. Hồi hướng, phát nguyện.

Đại bi tôn dùng ánh sáng trí huệ chiếu khắp Loại bỏ hết ngu si và bóng tối trong con Khế kinh và luận giáo điển đều chứng đắc Mong ban trí huệ biện tài đều hiển hiện. Trong mọi lúc hoặc khi muốn thấy Và đôi khi có điều muốn hỏi Nương dựa hộ chủ Diệu Cát Tường Mong không chướng ngại thường được gặp Thập phương hư không tận biên giới Hữu tình tu tập đều được lợi Văn Thù hành động như thế nào Mong con cũng có hành động ấy.

Hồi hướng xong, phát nguyện:

Nguyện đem mọi hứng thú phát tâm kim cang Luôn vui vẻ tu bồ đề ba la mật Để các chúng sinh vào kim cương nội đạo Hồi hướng nhanh đắc quả vị Phật vô tử.

Chú thích: Nada (Sư huynh Thiền Hào giải thích với tôi.) Chủng tử tự thu về và sau cùng tan vào một điểm cực nhỏ, ý nghĩa của nó là có âm thanh, tiếng vọng, tiếng rung động, tiếng gào thét vang lên, sau cùng thu về theo thứ tự, thu về tất cả đàn thành. Vào lúc Nada sau cùng có thể quán thành một dạng âm thanh mật chú, sau đó âm thanh tan nhập vào tính Không.

(Các chú tự được đưa vào trong bản văn này bởi người biên tập - Liên Lịch.)

17. Chân Phật mễ cúng pháp thí quán

Tại đây tôi tiết lộ pháp quán mễ cúng pháp thí như sau: Trước tiên, dùng bát bằng đồng hoặc bạc đựng gạo cúng trước bàn thờ Phật.

  1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
  2. Niệm chú triệu thỉnh.
  3. Chân Phật đại lễ bái pháp
  4. Chân Phật tứ quy y pháp.
  5. Chân Phật đại cúng dường pháp.
  6. Mặc bia giáp hộ thân pháp.
  7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
  8. Tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử (tay trái là ấn cầm hoa sen, tay phải là ấn thuyết pháp).

Niệm 3 biến: Nam mô guru Liên Sinh Hoạt Phật. Trong sát-na, Liên Sinh Hoạt Phật từ Phạn huyệt đi vào trong tim mình. Liên Sinh Hoạt Phật và bản thân không hai không khác. Trì chú: "Ôm ah hùm gu-ru-pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-sâng sit-đi hùm." (108 biến) Quán tưởng từ tim mình ánh sáng trắng chiếu đến bát gạo. Bát gạo biến thành báu vật to lớn vô biên. Gạo trong bát biến thành trong suốt, hóa thành biển cam lộ của trí huệ vô lậu.

  1. Tụng kệ:

Xa rời ô nhiễm, thân tinh trắng. Mắt bi từ ái xót chúng sinh. Chính giác Liên Sinh tới gia trì. Nay ta, Hoạt Phật thân đồng thể. Đặc biệt ở đây cúng các người. Toàn bộ nợ nần từ vô thủy. Hết thảy chủ nợ có oán thù. Nhiếp triệu mau mau đến tại đây.

  1. Dùng ấn móc câu — hai tay đan ngoại phộc, ngón trỏ tay phải giơ ra thành hình cái móc.

Niệm chú: "Ôm ben-za-la a-mô-li-ta-yi ta-li ha-na-ha-na hùm." (3 biến) Nghĩ đến tất cả oan thân trái chủ đến trước mặt hành giả Mật tông. Lần lượt từng chủ nợ hóa thành những bóng đen đứng trước mặt hành giả. Hành giả Mật tông niệm 3 biến "Ôm ah hùm" để gia trì cho bát gạo. Đưa tay ra nắm lấy một ít gạo rồi vẩy ra bốn xung quanh. Khi vẩy gạo xong thì niệm chú: "Na-mô sa-la-mô ta-tha-ga-ta-a mô-lô-chi-tưa sa-pa-la sa-pa-la hùm." (3 biến)

  1. Hồi hướng: Gạo đây biến cúng thuần cam lộ. Dâng tới chủ nợ với oan thân. Nhận xong cam lộ tâm vui vẻ. Chướng ngại biến tiêu hết oán thù.

Và: Đây là đại lực bố thí pháp. Mong cho trái chủ cùng quyến thuộc Chuyển hóa huệ quang tăng cát tường. Mọi điều nói nghĩ đều thành tựu. Oán phiền tất cả được tiêu tan. Nguyện cho chúng sinh nhận thí pháp. Phúc huệ tư lương được đủ đầy. Cùng nhau bay tới cõi liên hoa.

  1. Vỗ tay, giải tán oan thân trái chủ.

  2. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🌟

Bí mật thành công của Chân Phật mễ cúng pháp thí quán đó là, đầu tiên thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật đại gia trì, tự thân biến hóa thành Liên Sinh Hoạt Phật. Sau đó dùng ánh sáng của tâm luân gia trì cho bát gạo, hóa thành nước cam lộ. Dùng pháp nhiếp triệu để gọi oan thân trái chủ của kiếp trước đến. Bởi vì từ vô thủy tới nay nghiệp chướng rất nhiều, cho nên oan thân trái chủ cũng rất nhiều, lần lượt quán tưởng họ ở trước mặt. Vẩy gạo để bố thí, giải trừ nghiệp chướng, kẻ thù, v.v…

Chân Phật mễ cúng pháp thí quán nhìn thì giống như chỉ là tiêu nghiệp chướng mà thôi, thật ra tu trì thành tựu pháp này thì tất cả oan thân trái chủ sẽ không đến làm hại, oan thân trái chủ sẽ biến thành bạn tốt trợ duyên, đây là pháp an yên cát tường, là pháp thanh tịnh.

Chân Phật mễ cúng pháp thí quán là một đại pháp tiêu nghiệp, cũng có tính chất siêu độ, bao hàm tất cả tính chất đặc biệt, cho nên không thể coi thường pháp này, đây là pháp quảng đại siêu việt, là thực hiện lòng bác ái, có thể phá bỏ những trở ngại về tri kiến của người phàm, có tính khai mở.

Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng một khi trừ được nghiệp chướng thì ánh sáng trí huệ tự nhiên bừng sáng và bộc lộ, phúc phần tự nhiên giáng xuống, pháp quán đây có lợi ích lớn. Sở dĩ tôi liệt pháp này vào trong sách này mà không bỏ đi là vì đây là Đại Phúc Kim Cang pháp thí quán.

18. Trình tự tu trì Mật pháp (bài diễn giảng)

Hôm nay thuyết pháp, tôi muốn giải thích đặc biệt chi tiết về Mật pháp, nên bài giảng hôm nay rất quan trọng.

Mật pháp này, cái gọi là bí mật nằm ở việc không truyền chung, mà là truyền từng người một. Nhưng ngày nay Chân Phật Tông đã công khai tất cả Mật pháp, đây là đại nguyện của Thượng sư. Nhờ đại nguyện này mà Mật pháp được công khai. Những ai hôm nay có thể nghe được Phật pháp và có thể tu hành, chắc chắn sẽ thành Phật, đó chính là lòng từ bi của chư Phật Bồ Tát.

Bàn thờ Phật

Mỗi người tu pháp, trước tiên phải có một bàn thờ, đó chính là cái gọi là Mật đàn. Bàn thờ này lấy vị Phật Bồ Tát nào làm trung tâm? Chính là phải đặt vị Phật Bồ Tát mà bạn tu pháp, có nhân duyên sâu đậm nhất, hợp nhất với bạn ở vị trí trung tâm. Lợi ích của bàn thờ này là khi bạn bước vào, tâm sẽ cảm thấy hoan hỷ và vô cùng thanh tịnh.

Có đệ tử hỏi Thượng sư: "Nếu không có tiền lập bàn thờ, không có phòng riêng để đặt bàn thờ thì phải làm sao?" Bàn thờ này cũng có thể đặt ngay tại nơi bạn ngủ trong phòng; nhưng vì vấn đề thanh tịnh, bạn có thể dùng vải đỏ hoặc vải vàng để che lại khi đi ngủ vào ban đêm.

Cũng có đệ tử hỏi Thượng sư: "Nếu không có giường, không có phòng ngủ thì phải làm sao?" Cũng có người không có phòng ngủ riêng, vì nhiều người ngủ chung một chỗ. Thượng sư bảo họ: bạn hãy lấy không gian làm đàn, không cần bày hương, không có lư hương, không có bát cúng, không có tượng Phật, tất cả đều không có, mỗi lần tu pháp, hãy quán tưởng Bổn tôn của mình, vị Bổn tôn có nhân duyên sâu đậm nhất, ở trên không trung. Bạn nói với người khác rằng, vũ trụ chính là đàn. Đây là cách tu hành cao cấp nhất. Nhưng người thường không thể lĩnh hội được, vẫn nên bày trí mật đàn.

Thanh tịnh

Sau khi có mật đàn, bạn phải tu! Bắt đầu tu hành. Trước tiên phải thanh tịnh. Cái gọi là thanh tịnh, chính là thân thể thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. Vậy, khi chúng ta bắt đầu tu pháp, phải tụng chú thanh tịnh thân, khẩu, ý. Khi tụng, chắp tay, có thể chắp tay tụng: Tịnh khẩu: Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha. Tịnh thân: Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha. Tịnh ý: Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm. An Thổ Địa chân ngôn: Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

Triệu thỉnh

Tiếp theo, chúng ta cần triệu thỉnh, tức là thỉnh mời Bổn tôn của mình, cùng các vị Phật Bồ Tát trong đàn của bạn đến.

Cần tụng chú triệu thỉnh: "Ôm a hùm. Sô-ha." Phải tụng ba lần. Sau khi triệu thỉnh Phật Bồ Tát đến, thỉnh Phật Bồ Tát đến trong hư không hoặc trong Mật đàn của bạn, bạn bắt đầu lễ bái.

Đại lễ bái

Cái gọi là đại lễ bái, chính là dùng thân, khẩu, ý của mình để thực hiện một sự bái lạy, là nghi thức tỏ lòng cung kính đối với chư Phật Bồ Tát. Đại lễ bái có cách phủ phục toàn thân, toàn thân áp sát đất, vừa chạm đất liền đứng dậy ngay. Còn có ngũ thể đầu địa, tức là hai đầu gối, hai lòng bàn tay, một đỉnh đầu chạm đất. Đây là lễ bái ngũ thể đầu địa.

Trong Mật pháp có bốn thủ ấn dùng để đại lễ bái. Cái gọi là thủ ấn Phật kham, chính là ý nghĩa lễ Phật. Thứ hai là thủ ấn liên hoa. Thứ ba là thủ ấn chày kim cang. Thứ tư là thủ ấn bình đẳng (kết bốn ấn nêu trên). Mỗi thủ ấn này khi lễ bái đều phải dùng thân, khẩu, ý (ấn vào trán, đầu, cổ họng, tim). Lễ bái như vậy gọi là đại lễ bái.

Cúng dường

Sau khi hoàn thành đại lễ bái, bạn phải dâng những cúng phẩm tốt nhất của mình cho chư Phật Bồ Tát. Việc cúng dường này có lợi ích, không phải là bạn cho Phật Bồ Tát cúng phẩm thì Phật Bồ Tát mới ban phúc cho bạn, không phải ý nghĩa đó. Cúng dường chính là khả năng buông xả, ý nghĩa là có thể buông xả. Chúng ta có thể buông xả, dâng tặng đồ vật cho người khác, bạn có thể dâng những thứ tốt nhất của mình để thực sự cúng dường bậc thánh hiền. Thực ra, khả năng buông xả này chính là phúc báo đích thực. Trên đời có rất nhiều người giàu có, nhưng họ không thể buông xả. Người giàu có mà không thể buông xả thì phúc phần của họ không thể kéo dài.

Sự buông xả này chính là dừng lòng tham. Ngăn chặn một trong ba thứ độc là tham niệm. Chúng ta dùng vật phẩm để cúng dường chư Phật Bồ Tát, chư Phật Bồ Tát ban phúc cho chúng ta, trong ruộng tâm của bạn đã có phúc báo, đó chính là ý nghĩa của cúng dường.

Khi cúng dường cần kết ấn cúng dường, đây là ấn cúng dường (kết thủ ấn), khi kết ấn cúng dường, bạn in vật phẩm cúng dường vào trong tâm trí, sau đó biến hóa nó, một vật biến thành ba vật, ba vật biến thành vô lượng vô tận, như núi như biển.

Có người không có gì để cúng dường, thì bạn có thể nói, hôm nay nhìn thấy một bông hoa đẹp bên ngoài, bạn có thể hình dung bông hoa đó, biến hóa khắp không trung, như núi như biển, như vậy cũng là cúng dường, vì thế không nhất thiết phải dùng vật chất để cúng dường mới nhận được sự quan tâm thực sự của chư Phật Bồ Tát. Cúng dường chính là tâm ý của bạn đã hoàn toàn bày tỏ, hiện tiền trước chư Phật Bồ Tát, như vậy cúng dường của bạn sẽ đạt được phúc báo rất lớn.

Tứ quy y

Sau khi hoàn thành cúng dường, tiếp theo bạn cần tụng chú Tứ quy y. Chú Tứ quy y là: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Cái gọi là "Namo guru beh", chính là quy y Thượng sư. "Namo buddhaya", chính là quy y Phật. "Namo dharmaya", chính là quy y pháp. "Namo sanghaya", chính là quy y tăng bảo thánh hiền.

Tứ quy y này có ý nghĩa rất trọng đại, mỗi lần tu pháp đều phải tụng, luôn nhớ rằng bạn quy y Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, điều này giúp bạn ghi nhớ rằng mình là người tu hành. Khi đã thực sự Tứ quy y thì có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi. Nếu miệng bạn tụng chú, nhưng tâm không đi theo lời chú, thì dù có quy y cũng như không quy y. Việc tụng chú Tứ quy y chính là để bạn luôn nhớ rằng mình là hành giả Mật tông.

Nhiều người hỏi Thượng sư: "Tại sao quy y Thượng sư được đặt lên hàng đầu?" Bởi vì nhờ có Thượng sư truyền pháp mới có sự tồn tại của Phật, pháp, tăng. Bản thân Thượng sư dạy Phật, dạy pháp, dạy tăng, nên Thượng sư được đặt lên hàng đầu. Nhờ có sự truyền pháp của Thượng sư, chúng sinh mới có thể được độ, vì vậy Thượng sư được xếp ở vị trí thứ nhất.

Mặc giáp hộ thân

Sau khi tụng xong Tứ quy y, bạn thực hiện pháp mặc giáp hộ thân. Pháp mặc giáp hộ thân phải được thực hiện mỗi khi tu pháp; không những thế, đôi khi ra khỏi nhà cũng nên thực hiện pháp mặc giáp hộ thân, trước khi đi ngủ cũng nên thực hiện pháp mặc giáp hộ thân.

Cần biết rằng thế giới này, nếu không có chứng ngộ chân thật, khắp nơi đều là ma, có ma cũng có quỷ. Có thần thì có quỷ, có Phật thì có ma. Vì thế, một người tu hành cần hiểu cách mặc giáp hộ thân để hàng ma. Khi người Thiên Chúa giáo vào nhà thờ, họ nhúng tay vào nước thánh, vẽ dấu thánh giá ở đây (trước ngực), đó chính là pháp mặc giáp hộ thân. Trong Mật pháp cũng vẽ hình chữ thập, tại vị trí thiên tâm của bạn, tại cổ họng, tại tim, tại vai trái, tại vai phải, cách thực hiện là chắp tay kim cang (kết thủ ấn), điểm vào thiên tâm, cổ họng, tim, vai trái, vai phải, rồi quay trở lại đỉnh đầu để giải ấn, đây chính là pháp mặc giáp hộ thân. Sau khi bạn làm như vậy, khi giải ấn, bạn cần quán tưởng Vệ Hộ Pháp Tôn Thiên Bồ Tát đang ở trên không trung hộ vệ cho bạn tu pháp. Tôi sẽ làm lại một lần để mọi người xem. (Kết thủ ấn và làm lại một lần) Tất cả đều có Vi Hộ Pháp Tôn Thiên Bồ Tát bảo vệ bạn, lúc này bạn cần tưởng tượng trong không trung có những vị Bồ Tát đang bảo vệ bạn. Trong cuộc sống hàng ngày khi ra ngoài, thức dậy buổi sáng, mặc quần áo, bạn có thể thực hiện pháp mặc giáp hộ thân như vậy.

Ví dụ cái khăn này là quần áo. Kết ấn chắp tay kim cang, đặt lên trên quần áo, tụng bảy lần chân ngôn của Kim Cang Thủ Bồ Tát: "Ôm bua-rưa lan chưa-li." Sau đó quán tưởng chiếc áo này biến thành áo giáp vàng, một bộ giáp trụ, mặc nó vào, giống như một chiến sĩ mặc áo giáp sắt, vũ trang toàn thân, đây chính là mặc giáp hộ thân.

Khi thực hiện mặc giáp hộ thân, tay kết ấn Kim Cang Thủ, tụng bảy lần chân ngôn của Kim Cang Thủ Bồ Tát. Sau khi điểm vào năm vị trí trọng yếu, sẽ có chư Phật Bồ Tát bảo hộ. Sau đó khi bạn ra ngoài làm việc, không sợ bị ma quấy nhiễu, tu pháp cũng không sợ bị ma quấy nhiễu.

Thực ra ma không đáng sợ, đôi khi lòng người còn đáng sợ hơn cả ma. Khi tâm bạn chính trực, ma không dám bắt nạt bạn. Có người hỏi Thượng sư: "Con chưa bao giờ nhìn thấy ma quỷ." Họ hy vọng có thể nhìn thấy, vì không thấy nên rất tò mò, họ mong muốn nhìn thấy, nhưng khi ma quỷ thực sự xuất hiện, họ sẽ sợ chết khiếp. Giống như câu chuyện Diệp Công họa long - Diệp Công rất thích rồng, ông ấy thích gặp rồng, nhưng khi rồng thực sự xuất hiện, Diệp Công sợ hãi đến nửa sống nửa chết.

Nơi nào có ma quỷ? Bất kì nơi nào cũng có ma quỷ. Nơi nào có người thì nơi đó có ma, vì vậy cần phải thực hiện pháp mặc giáp hộ thân. Có người hỏi tôi: "Nếu ma quỷ ở khắp mọi nơi, vậy nơi nào có nhiều ma quỷ nhất?" Thượng sư trả lời: "Rạp chiếu phim có nhiều nhất." Ngay cả ở đây cũng có. Ma quỷ rất thích bóng tối, và rạp chiếu phim là nơi tối nhất. Chúng thích con người, nên đôi khi sẽ nhập vào thân thể con người. Khi một người ngủ vào ban đêm, thường bị ma dẫn đi, bạn có thể thấy giữa hai lông mày của họ có màu xanh, dưới mắt có màu đen, đó đều là dấu hiệu bị ma quấn lấy. Xương thường xuyên đau nhức, ở cánh tay, ở chân, những bệnh không thể chữa khỏi, đều là do bị ma quấn lấy.

Nơi nào, thời điểm nào có nhiều ma quỷ nhất? Trong các dịp cưới hỏi có nhiều nhất, trong đám tang cũng có nhiều nhất. Trong những dịp cưới hỏi, tất cả tổ tiên đều muốn trở về tham dự lễ cưới của con cháu họ, họ gọi bạn bè, dẫn theo người thân cùng đến tham dự buổi họp mặt. Đám tang cũng tương tự, khi có đám tang, tất cả những người đã mất trước đây đều muốn trở về đón dẫn con cháu của họ, nên sẽ xảy ra xung phạm. Cả hai việc hiếu hỷ đều dễ bị xung phạm, vì đó là nơi tụ hội của người âm.

Tất nhiên, chúng ta là những hành giả mật hành—hành giả Mật tông, không sợ bị xung phạm, vì chúng ta đã thực hiện pháp mặc giáp hộ thân. Có người hỏi Thượng sư: "Tại sao con chưa từng bị xung phạm?" Vận khí có lúc cao lúc thấp, khi vận khí thấp thì sẽ bị tìm đến gây phiền phức. Vì vậy, tốt nhất vẫn nên thực hiện pháp mặc giáp hộ thân.

Tụng kinh

Sau khi thực hiện xong pháp mặc giáp hộ thân, bạn cần tụng kinh, đó là Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Cao Vương Kinh rất linh nghiệm, kinh điển này đã có từ thời nhà Đường, bản thân Thượng sư đã nhận được nhiều linh nghiệm từ bộ kinh này, nên hy vọng mọi người đều tụng kinh này. Sự linh nghiệm của Cao Vương Qaán Thế Âm Chân Kinh đã được ghi chép trong nhiều sách; kinh này thậm chí còn nói: "Tụng đủ một nghìn lần, tội nặng đều tiêu diệt, người chết trở thành sống." Thượng sư đã đích thân trải nghiệm sự linh nghiệm của bộ kinh này, nên mới hy vọng tất cả đệ tử có thể trì tụng bộ kinh này.

Quán tưởng

Sau khi tụng xong bộ kinh này, bạn cần quán tưởng Bổn tôn, nghĩ tới Bổn tôn để được gia trì. Quán tưởng Bổn tôn là quán tưởng theo pháp tướng của Bổn tôn. Ánh sáng trắng chiếu vào thiên tâm của bạn, ánh sáng đỏ chiếu vào cổ họng của bạn, ánh sáng xanh chiếu vào tim của bạn. Quán tưởng này rất quan trọng, khi quán tưởng, tay cần kết thủ ấn của Bổn tôn, chư Phật Bồ Tát đến trong không trung, chỉ cần các ngài phóng hào quang chiếu vào bạn, nghiệp chướng của bạn sẽ tiêu trừ, tất cả thân, khẩu, ý tam nghiệp đều được thanh tịnh.

Nếu lấy Quan Thế Âm Bồ Tát làm Bổn tôn, hãy quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát đến trong không trung. Nếu lấy Địa Tạng Vương Bồ Tát làm Bổn tôn, hãy quán tưởng Địa Tạng Vương Bồ Tát đến trong không trung. Nếu lấy Chuẩn Đề Phật Mẫu làm Bổn tôn, hãy quán tưởng Chuẩn Đề Phật Mẫu đến trong không trung.

Chân Phật Tông có tám pháp Bổn tôn: đó là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Chuẩn Đề Phật Mẫu, Hoàng Tài Thần, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Đồng Tử, Dược Sư Như Lai. Trong tám pháp Bổn tôn này, mỗi người đều phải chọn một vị Bổn tôn để tu trì.

Ở đây có một vấn đề, nhiều người hỏi tôi là họ nên chọn vị nào làm Bổn tôn? Thượng sư trả lời mọi người như sau: Nếu bạn nghĩ mình rất từ bi, hãy chọn Quan Thế Âm Bồ Tát làm Bổn tôn; nếu không từ bi thì đừng chọn! Nếu bạn muốn cứu độ chúng sinh, siêu độ cõi âm, bản thân muốn độ âm, hãy chọn Địa Tạng Vương Bồ Tát làm Bổn tôn. Nếu bạn muốn đến cõi tịnh thổ Tây phương Cực Lạc của Liên Hoa Đồng Tử, hãy chọn Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn. Nếu bạn muốn đến cõi tịnh thổ của Chuẩn Đề Phật Mẫu ở cung Đại Nhật, hãy chọn Chuẩn Đề Phật Mẫu làm Bổn tôn. Có người cho rằng trí tuệ của mình là hàng đầu, họ chọn Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm Bổn tôn, người muốn cứu thế độ nhân, cứu độ chúng sinh, chọn Dược Sư Như Lai làm Bổn tôn. Người muốn có phúc báo lớn, đến cõi trời Tứ Thiên Vương, chọn Hoàng Tài Thần làm Bổn tôn. Vị Hoàng Tài Thần này có nhiều người tu nhất! Mọi người đều muốn kiếm tiền, nên Hoàng Tài Thần có thị trường tốt nhất.

Trì chú

Điểm cốt yếu của Mật pháp là trước tiên quán tưởng sau đó trì chú. Trước hết hãy quán tưởng Bổn tôn đến, sau đó bạn xưng tên Ngài, tương đương với việc trì tâm chú của Ngài. Tâm chú chính là tần số của chư Phật Bồ Tát, giống như việc chỉnh tần số trên radio, khi bạn chỉnh đúng tần số của Bồ Tát, bạn có thể cảm ứng với Ngài.

Có một đệ tử đến nói với tôi rằng anh ta tu pháp A Di Đà nhưng không có cảm ứng. Tôi hỏi anh ta: "Anh trì chú gì?" Anh ta nói rằng anh trì tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát, tôi nói: "Một vị ở trên trời, một vị ở dưới đất! Tần số của anh không đúng." Giống như ở Đài Loan, bạn muốn xem đài Đài Thị, nhưng lại chuyển sang đài Hoa Thị. Vì vậy, khi bạn tu pháp vị Bổn tôn nào, bạn phải trì tâm chú của vị Bổn tôn đó, kết thủ ấn của vị Bổn tôn đó. Chú chính là một âm thanh, một giọng nói, một tần số.

Có rất nhiều người yêu cầu Thượng sư chỉ cho họ cách phát âm tâm chú, họ sợ phát âm không chính xác. Phát âm của Thượng sư cũng không nhất thiết là chính xác, bởi vì tôi sinh ra ở Đài Loan từ nhỏ, sau đó học tiếng Quốc ngữ, học tiếng Quốc ngữ trong thời gian dài, tôi phát âm theo tiếng Quốc ngữ, khi tôi đến Hồng Kông mới nhận ra ngôn ngữ không thống nhất. Có người tụng chú bằng âm Quảng Đông, phát âm tiếng Ấn Độ lại khác, phát âm ở Sri Lanka lại khác, âm Tây Tạng cũng khác, phương ngữ ở dãy Himalaya có hơn ba mươi loại, vậy phải làm sao? Thực ra không quan trọng, vì chỉ là vấn đề tần số; khi trì chú bạn có thể tụng bằng âm Quảng Đông, người nước ngoài tụng bằng âm tiếng Anh, người hiểu chữ La Mã tụng bằng âm La Mã, người biết tiếng Tây Ban Nha tụng bằng âm Tây Ban Nha, miễn là tần số giống nhau thì đều thông được.

Tôi sẽ đọc một số tâm chú của các Bổn tôn cho mọi người nghe: Ôm a-mi-tê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật) Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát) Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn) Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát) Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu) Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần) Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ) Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử) Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

Đây là cách Thượng sư phát âm, hơi khác một chút so với cách phát âm thông thường, giống như người Trung Quốc nói tiếng Anh, luôn có chút khác biệt; người nước ngoài thấy người Trung Quốc nói tiếng Anh quá tốt, họ cảm thấy rất lạ, nhưng khi người Trung Quốc nói tiếng Anh không tốt lắm, với giọng Trung Quốc trong cách phát âm, họ mới thấy là bình thường, vì vậy việc chúng ta tụng chú hơi sai một chút là bình thường, quá chính xác ngược lại không bình thường, về cơ bản chúng ta không phải là người Ấn Độ, cũng không phải người Sri Lanka hay người Tây Tạng, nếu bạn phát âm quá chính xác người ta sẽ nói bạn bất thường, vì vậy mọi người đừng lo lắng nếu phát âm chú không chuẩn, miễn là tụng thì có công đức. Khi bạn trì chú, trì một cách chân thành, tần số tương ứng thì có thể cảm ứng. Trước đây có người tụng: "Ôm ma-ni-pê-mi niếu." Đã đọc nhầm chữ "Hùm" thành "Niếu" nhưng vẫn có cảm ứng, Bồ Tát không sợ biến thành "con trâu" [trong tiếng Trung, chữ Hán dùng để ghi âm Hum gần giống như chữ Ngưu - tức con trâu], Bồ Tát thấy bạn tụng với lòng chân thành, dù tụng sai, Ngài ngược lại còn thương xót bạn, nhanh chóng cho bạn cảm ứng.

Nhập Tam ma địa

Sau khi tụng chú xong, hãy nhập Tam ma địa. Nhiều người hỏi điểm trọng yếu của Mật pháp là gì? Điểm trọng yếu của Mật pháp là quán tưởng, trì chú và nhập Tam ma địa.

Ý nghĩa của quán tưởng là làm cho ý niệm của bạn thanh tịnh, thỉnh ánh sáng linh quang của chư Phật Bồ Tát đến; ý nghĩa của trì chú là sự cầu khẩn; nhập Tam ma địa là "nhập ngã, ngã nhập"; "nhập ngã" có nghĩa là ánh sáng của chư Phật Bồ Tát đi vào thân thể bạn, bạn hợp nhất với Ngài; "ngã nhập" có nghĩa là ánh sáng của bạn đi vào thân thể của chư Phật Bồ Tát. "Nhập ngã" là Ngài đến, "ngã nhập" là tôi đi.

Nhiều đệ tử hỏi tôi: "Tại sao tôi vẫn chưa nhập Tam ma địa?" Thượng sư tu tập mười lăm năm mới biết cách nhập Tam ma địa. Có đệ tử viết thư cho Thượng sư, nói rằng tôi tu được một tuần nhưng vẫn chưa nhập Tam ma địa, rất nghiêm trọng! Anh ta cứ hỏi tôi tại sao tu một tuần mà vẫn không thể nhập Tam ma địa, tôi nói "cứ bình tĩnh". Việc tu pháp không thể vội vàng được, đặc biệt là nhập Tam ma địa. Nói sâu hơn một chút, khi bạn đã đến được tịnh thổ, đó chính là nhập Tam ma địa. Khi có được kinh nghiệm nhập Tam ma địa, điều đó chứng tỏ pháp bạn tu đã có sự chứng minh, có sự chứng nghiệm.

Nhiều đệ tử cũng hỏi tôi: "Nhập Tam ma địa là như thế nào? Có phải là ăn được gì không?" "Có cảm giác gì không?" Rất khó để nói ra, rất khó giải thích, Thượng sư chỉ nói với mọi người rằng, nếu nhập Tam ma địa, bạn sẽ biến mất. Cảm giác con người biến mất là gì? Chỉ cảm thấy có một niềm hân hoan thiền định, rất vui vẻ, rất hạnh phúc, nhưng niềm vui này khác với trúng vé số; niềm hạnh phúc này là một sự vĩnh hằng, nhập Tam ma địa một giây giống như cả đời đều nhập Tam ma địa vậy. Điều này hoàn toàn chỉ có bạn biết, người khác không thể hiểu được. Khi xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: "Không thể nói!" Tại sao không thể nói, vì không thể diễn tả được, nên không thể diễn tả trở thành không thể nói. Nhập Tam ma địa, bản thân biến mất, vũ trụ đều biến mất, những gì có hình có tướng đều biến mất, cảnh giới trong đó, khó mà hình dung, nhưng điều đạt được chính là niềm hân hoan thiền định của minh tâm kiến tính.

Làm thế nào để nhập Tam ma địa? Cần phải ngồi tĩnh, ngồi thiền, thiền định. Có nhiều sách trên thị trường dạy người ta cách ngồi tĩnh, rất nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đều khác nhau, nhưng người ngồi thiền học nhiều phương pháp vẫn không thể nắm bắt được. Phương pháp của Chân Phật Tông chúng ta cũng cần mọi người tự nghiên cứu, sau đó chọn phương pháp phù hợp nhất với mình. Đó là đưa nhiều tâm (tạp niệm) của bạn tập trung thành một tâm (tập trung tinh thần), rồi biến một tâm đó thành vô tâm. Tu tập đến mức "biến nhiều thành một, biến một thành không", làm sao để thành một? Chính là tập trung tinh thần. Mọi người đều nói về việc tập trung tinh thần, nhưng thực tế trong số quý vị ngồi đây, có nhiều người tinh thần không tập trung, tạp niệm vô tận; có người ngủ gật, có người nghĩ ngày mai làm gì, có người đói bụng, có người chóng mặt, nghĩ đến "người ngồi ở đây, hồn bay ngoài nghìn núi", bởi vì ngoài nghìn núi, bạn gái của họ đang ở đó. Con người là như vậy, trong tâm trí, biến đổi từng khoảnh khắc, niệm niệm không ngừng, việc biến nhiều tâm thành một tâm rất khó! Vì vậy, ý nghĩa của việc thực hiện Cửu tiết Phật phong chính là tu tâm.

Cửu tiết Phật phong

Tôi muốn giải thích một lần về ý nghĩa của Cửu tiết Phật phong. Có một vài quán tưởng mọi người cần chú ý: hít vào là ánh sáng trắng, dừng trong cơ thể là ánh sáng đỏ, thở ra là ánh sáng đen. Đây là quán tưởng về ánh sáng, coi không khí như ánh sáng, bắt đầu quán tưởng ánh sáng trắng đi vào từ lỗ mũi phải, lưu thông đến đan điền, đi ra từ lỗ mũi trái, thở ra là ánh sáng đen. Rồi quán tưởng lại một lần ánh sáng trắng đi vào từ lỗ mũi trái, vòng quanh đan điền một vòng, từ lỗ mũi phải thở ra. Tiếp tục quán tưởng ánh sáng phía trước đi vào từ cả hai lỗ mũi, đi qua đan điền, đi lên trung mạch, đến cổ họng bị chặn lại rồi đi xuống, sau đó lại từ hai lỗ mũi thở ra. Đây là ba tiết. Tiếp theo là đảo ngược, trước tiên từ lỗ mũi trái vào, lỗ mũi phải ra, lỗ mũi phải vào, lỗ mũi trái ra, hai bên vào, hai bên ra, đây là sáu tiết. Tiếp tục quán tưởng hai lỗ mũi vào, hai lỗ mũi ra, lỗ mũi phải vào, lỗ mũi trái ra, lỗ mũi trái vào, lỗ mũi phải ra, đây là chín tiết. Tại sao phải phức tạp như vậy? Đảo qua đảo lại, làm gì vậy? Đó là bắt bạn nghĩ về lỗ mũi trái, lỗ mũi phải, hai lỗ mũi, lỗ mũi phải, lỗ mũi trái, hai lỗ mũi, hai lỗ mũi, lỗ mũi trái, lỗ mũi phải, yêu cầu bạn chỉ nghĩ về điều này, yêu cầu bạn tập trung tinh thần, không nghĩ gì khác. Ánh sáng trắng vào, ánh sáng đỏ trong cơ thể, khí đen ra, chính là thanh tẩy nghiệp chướng, trắng vào đen ra! Ánh sáng trắng làm sạch bên trong, loại bỏ tà khí trong cơ thể.

Khi thở, cần chậm, dài, sâu, giữ vững ba nguyên tắc này; bởi vì khi quán tưởng chín tiết này, sau khi hoàn thành, tinh thần của bạn sẽ có khoảng chín phút yên tĩnh, trong khoảng thời gian từ chín đến mười hai phút này, tâm trí bạn sẽ trong trẻo và yên tĩnh nhất, có thể buông bỏ tất cả, năng lượng của chư Phật Bồ Tát có thể đi vào cơ thể bạn, trở thành nhập ngã, đây là một kinh nghiệm, nếu bạn làm như vậy, bạn sẽ làm trống tâm hồn mình, khi bạn trống rỗng, năng lượng này có thể đi vào cơ thể bạn, điều quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất là ở thời khắc này, bạn có thể cảm nhận được linh của chư Phật Bồ Tát đi vào cơ thể bạn, tu tập đến cuối cùng, linh của chính bạn có thể đi vào thân thể của chư Phật Bồ Tát, bạn có thể đạt được thành tựu, đi khắp nơi du sơn ngoạn thủy, đây chính là tu hành - mật hành.

Ý nghĩa của tu hành là gì? Chính là ở chỗ bạn khác với người thường, bạn có thể biết mục đích của cuộc sống là để thành tựu ánh sáng của chính mình, hòa nhập vào ánh sáng của vũ trụ, làm mà không cần mục đích, đó chính là ý nghĩa của cuộc sống. Ý nghĩa cuộc sống của chúng ta không phải để sinh con đẻ cái, nhiều người nói rằng ý nghĩa cuộc sống là để truyền lại cho thế hệ sau, việc truyền lại cho thế hệ sau chỉ là ý nghĩa vật chất; về mặt tâm linh siêu hình, ý nghĩa của cuộc sống chính là để ánh sáng tâm linh thể hiện tự tính thành Phật của chính bạn, đó là ý nghĩa của tâm linh, đây mới chính là thực sự nhập Tam ma địa.

**Nội hỏa minh điểm **

Có người học pháp minh điểm nội hỏa, minh điểm nội hỏa chính là khí trong người bạn đã đủ rồi! Khí điều hòa hơi thở trong cơ thể bạn đã đủ rồi, khí này có thể tự kiểm soát, có thể biến thành lửa, có thể kết thành đan, còn có thể vận chuyển khắp toàn thân, điều này trong Mật pháp gọi là Chuyết hỏa.

Bản thân ngọn lửa này vận chuyển khắp toàn thân, có thể thanh trừ rác thải trong cơ thể; người ta cảm thấy kỳ lạ, làm sao trong cơ thể lại có rác thải, thực ra cơ thể chúng ta toàn là rác thải; có người nói sau khi tắm xong thì cơ thể sẽ sạch sẽ, thực ra trong ruột họ vẫn còn lưu lại các thứ, có người nghĩ rằng tất cả cơ thể của họ đều rất đẹp, nhưng theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni – đều là đồ dơ bẩn.

Tóc có gàu, mắt có ghèn, mũi có gỉ mũi, tai có ráy tai, miệng có nước bọt, mồ hôi tiết ra giống như nước tiểu, rất bẩn rất bẩn! Bên trong ruột toàn là chất bẩn, không có gì trong sạch, tóc và móng tay, chứa đựng và tích tụ chất bẩn, đó chính là rác. Không chỉ có rác đâu! Còn có độc tố trong cơ thể bạn; vi khuẩn chính là độc tố, cảm lạnh cảm cúm chính là nhiễm phong tà, thực ra đó là vi khuẩn, viêm nhiễm! Nướu răng của bạn viêm, vi khuẩn phát triển, có người đặc biệt có mùi, có hôi miệng, vì vậy vi khuẩn phát triển khắp cơ thể, dùng nội hỏa – chính là Chuyết hỏa này để đốt, bên trái đau thì đốt bên trái, bên phải đau thì đốt bên phải, đầu đau thì đốt đầu, chân đau thì đốt chân, nội hỏa lăn đến đâu, vi khuẩn hoàn toàn bị tiêu diệt. Hành giả Mật tông không nên có bệnh, bởi vì người tu pháp nội hỏa thường xuyên tiêu diệt vi khuẩn trong cơ thể, sức đề kháng tăng cường. Nếu người tu hành ho liên tục, đau lưng đau mỏi thì còn gì là tu hành?

Chân Phật Tông nói về tính mệnh song tu, "tính" là thấu hiểu chân lý của Phật, đạt được tương ứng; "mệnh" là cơ thể bạn rất khỏe mạnh, đây chính là tính mệnh song tu, không phải nói khoác, giống như tôi từ Đài Loan đến Mỹ đã ba năm rồi! Chân Phật Tông chúng tôi ở Mỹ có cố vấn y tế, vị cố vấn y tế này nói, muốn kiếm tiền của Lư Thắng Ngạn không dễ dàng, ba năm qua tôi không hề bị cảm lạnh, nên ông ấy không kiếm được đồng nào từ tôi. Người tu pháp nội hỏa phải đảm bảo bác sĩ không kiếm được tiền từ mình. Vì vậy, điều quan trọng nhất là nội hỏa của bạn có thể vận chuyển. Nếu không thông thì phải làm sao? Bạn cần dùng phương pháp yoga, vận động để thông mạch; hành giả yoga làm gì? Cái gọi là thuật yoga chính là giúp khí của bạn đi qua các kinh mạch, phải tĩnh tọa, cũng phải vận động, động tĩnh kết hợp với nhau, đây chính là con đường thành Phật, cũng chính là song tu tính mệnh.

Ngày nay có rất nhiều người tu hành nhưng cơ thể rất không khỏe, bạn hỏi họ tại sao tu hành mà chư Phật Bồ Tát không phù hộ cho họ có sức khỏe tốt? Họ nói họ đã thấu hiểu chân lý, không quan tâm đến cơ thể! Thực ra cũng cần phải quan tâm đến cơ thể, chỉ khi cơ thể khỏe mạnh thì tinh thần của bạn mới có thể tập trung, mới có thể làm tốt, làm đúng đắn, vì vậy tu tính thiên về thấu hiểu Phật lý, tu mệnh thiên về cơ thể của mình, đều là thiên lệch, đều là không đúng. Phải chăm sóc cơ thể, cũng phải chăm sóc tu hành.

Trì thêm tâm chú

Sau khi tu nhập Tam ma địa, cần trì thêm một số tâm chú, bởi vì sau khi trì chú Bổn tôn, các tâm chú khác trong Chân Phật Tông của chúng ta đều có liên quan đến chư Phật Bồ Tát; do có nhân duyên này, nên những tâm chú khác, mỗi chú đều tụng ba lần, hoặc có thể tụng nhiều hơn. Sau khi gia trì xong các tâm chú khác, cũng có thể niệm Phật, cũng có thể niệm "Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật", như vậy, một lần niệm là đã niệm 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, chỉ trong chốc lát đã niệm được rất nhiều! Điều này so với niệm Phật thông thường càng có sức mạnh hơn, đây là pháp tiện lợi.

Ở đây có một điển tích: Ngày xưa có một bà lão, bà niệm Phật, cả ngày bà đều niệm "Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật", bà phát nguyện niệm 100 triệu lần; nhưng sức khỏe của bà không tốt, bà cảm thấy mình sắp qua đời, bà không thể niệm xong, không thể hoàn thành nguyện vọng, bà đau khổ khóc lóc thất thanh; Bồ Tát đã hóa thân thành một vị tăng - một vị thánh hiền đến bảo bà hãy niệm "Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật", như vậy, lập tức 100 triệu lần đều được viên mãn. Bà lão rất vui mừng, bà niệm như vậy liền thành Phật. Vì thế mọi người khi niệm Phật cuối cùng hãy trì thêm câu này, sẽ giúp ích cho mọi người.

Hồi hướng

Sau khi gia trì xong, tiếp theo là hồi hướng. Hồi hướng là gì? Đó là tập hợp tất cả công đức bạn đã tạo thành một thể thống nhất. Lời hồi hướng này là: Nguyện người cùng niệm Phật Cùng sinh cõi Cực Lạc Trên báo bốn ơn sâu Dưới cứu ba đường khổ Thấy Phật thoát sinh tử Như Phật độ tất cả.

Người nào đó hồi hướng cho ai đó…

Viên mãn

Cuối cùng có một tâm chú viên mãn, đó là niệm: "Ôm bu-lin." Sau khi niệm xong tâm chú viên mãn, tu tập như vậy được xem là công đức viên mãn.

Tổng kết

Trọng tâm của pháp tu này nằm ở quán tưởng, trì chú và nhập Tam ma địa. Những phần khác cũng rất quan trọng, nhưng ý nghĩa quan trọng nhất nằm ở sự thanh tịnh của ý - biến ý niệm của bạn thành Phật; thanh tịnh của khẩu - khi tụng chú biểu thị khẩu nghiệp thanh tịnh; thanh tịnh của thân - khi bạn kết ấn, biểu thị rằng tôi đang học Phật, thanh tịnh như Phật vậy. Ba yếu tố thân, khẩu, ý này hợp lại chính là tam mật hợp nhất; tam mật hợp nhất có thể khiến tâm linh siêu việt hình tướng, siêu việt hình tướng để nhập Tam ma địa, đó chính là thành Phật.

Người không tu hành, thân, khẩu, ý của họ đều không thanh tịnh, họ sẽ đi xuống. Vì vậy, người có lòng tham kiếp sau sẽ biến thành con cáo, dùng hết mọi mưu kế, ham danh lợi. Người có tâm sân hận, thường hãm hại người khác, thân, khẩu, ý vì có sân hận nên biến thành rắn, rắn là đại diện của sự sân hận. Cái gọi là si chính là ngu dốt kém cỏi, làm việc hoàn toàn không đúng, không nghiêm túc tinh tấn, ham ăn lười làm, là đại diện của con lợn, đời sau biến thành lợn. Đi lên thành tiên thành Phật, đi xuống biến thành súc sinh, ngạ quỷ, đọa địa ngục, luân hồi trong sáu cõi, rất đáng thương. Vì vậy có những người hiện tại mang thân người, nhưng thực ra họ không phải là người. Họ không phải là người thì là gì? Chẳng lẽ là tiên ư? Đi xuống không thể thành tiên, mà thành vật, vật chính là lợn, chó, trâu, rắn, gà, vịt, như vậy đó.

Hôm nay, để giải thoát khỏi luân hồi lục đạo, chúng ta có Mật pháp của Chân Phật Tông này. Với pháp tu như vậy, mỗi ngày tu một lần là tốt, tối đa là hai lần, không nên tu từ sáng đến tối. Có người muốn tinh tấn hơn, từ sáng sớm thức dậy tu liên tục đến tối, đến lúc đó hai chân họ tê liệt, không thể đứng dậy được, họ nói đó là do Thượng sư gây ra. Tinh tấn không nên như vậy. Có người ban đêm không ngủ, họ muốn học tinh tấn, tu pháp không ngủ, công phu chưa đủ, tinh thần trở nên có vấn đề, điều này lại đổ thừa là do Thượng sư gây ra. Vì vậy, tu pháp rất quan trọng, cần phải có tiết chế, sống cuộc sống bình thường như mọi người, vẫn phải ăn, vẫn phải ngủ.

Có một người tu đạo nói với tôi rằng anh ta không cần ăn trong bảy ngày, đã tu đến mức bảy ngày không ăn. Thượng sư hỏi anh ta: "Vậy ngày thứ tám anh có ăn không?" Anh ta trả lời: "Ngày thứ tám đương nhiên phải ăn rồi!" Vậy thì không ăn và ăn có gì khác nhau? Cho nên tu đến mức không ăn là hành hạ bản thân là không được phép. Có người nói tu đến mức có thể không ngủ trong vài ngày, tôi hỏi anh ta sau vài ngày có còn ngủ không? Vẫn phải ngủ! Vậy thì ngủ và không ngủ không phải vẫn giống nhau sao? Tất cả đều là suy nghĩ không đúng. Cần phải ăn và cần phải ngủ, ăn là lương thực cho cơ thể, ngủ là lương thực cho tinh thần, cả hai không thể thiếu một.

Nhiều người hỏi quy y Chân Phật Tông có phải là phải xuất gia không, có những người vợ không cho phép chồng quy y, họ nói rằng sau khi chồng quy y sẽ không còn yêu họ nữa. Không phải vậy đâu, chỉ là yêu cầu bạn dành 30 phút mỗi ngày để tu pháp, không phải bắt bạn xuất gia, cũng không phải là không còn yêu thương ai nữa. Có những bậc cha mẹ không hiểu tầm quan trọng của việc tu pháp, họ cũng cấm con cái đến quy y, con cái hiếu thảo với cha mẹ, không nên đi ngược lại ý kiến của cha mẹ, nhưng cần phải xin cha mẹ thông cảm, hiểu được tầm quan trọng của việc tu pháp, từ từ nhẹ nhàng cho cha mẹ biết điều này là có lợi ích.

Khi đệ tử tu pháp, có thể quán tưởng cha mẹ ở xung quanh hoặc hai bên mình cùng tu pháp, như vậy cha mẹ cũng sẽ tăng thêm duyên với Phật, cũng sẽ có công đức, đây chính là quán tưởng. Chồng không tin, hãy quán tưởng chồng cùng tu, vợ không tin, hãy quán tưởng vợ cùng tu pháp, tu pháp như vậy, cả hai người đều có công đức, duyên với Phật sẽ dần dần tăng lên. Bất kì người bạn nào không tin Phật, hãy quán tưởng họ cùng tu pháp, điều này rất hiệu quả. Bạn của bạn nợ bạn tiền, họ không trả, hãy quán tưởng họ lấy tiền từ túi ra trả cho bạn, họ sẽ cảm thấy ngứa ngáy trong lòng, và trả tiền cho bạn. Tu pháp có nhiều lợi ích, bạn gái bỏ đi, hãy quán tưởng cô ấy quay lại. Sức mạnh của quán tưởng rất lớn, nếu bạn thực sự có khả năng, bạn nghĩ thế nào sẽ thành thế ấy. Không phải là suy nghĩ viển vông, mà là quán tưởng trong tu pháp sẽ thành công, sẽ có thành tựu. Vì vậy tôi đã dạy nhiều bạn trẻ: bạn gái không nghĩ về bạn, không sao cả, hãy quán tưởng cô ấy đến, cô ấy không nghĩ về bạn, bạn nghĩ về cô ấy cũng được mà! Lại không phạm pháp, có thể an tâm mà làm.

Trong Mật pháp có Ái Nhiễm Minh Vương, tu pháp Ái Nhiễm Minh Vương có thể thu hút bạn trai bạn gái đến với mình. Pháp Tài Thần là để thu hút tài lộc. Giống như Hoan Hỷ Thiên Vương, ngài có hình dạng của một con voi, là một vị thần voi, vòi của ngài có thể phun ra của cải, có thể ban tặng của cải cho chúng sinh. Khi tu pháp của ngài, bạn hãy quán tưởng kim cương rơi xuống từ vòi của ngài. Những cuộn đô la Mỹ lần lượt rơi xuống, những người muốn có xe Mercedes có thể quán tưởng xe rơi ra từ vòi, người muốn có nhà có thể quán tưởng nhà rơi ra từ vòi, đây chính là Mật pháp.

Pháp có xuất thế gian, tu hành thành Phật. Có nhập thế gian, viên mãn tất cả ước nguyện của chúng sinh. Vì vậy phải tu! Nếu bạn không tu xuất thế gian thì cũng nên tu nhập thế gian. Tu xong nhập thế gian rồi tu xuất thế gian, đều có ý nghĩa. Có một số đệ tử tôi dạy họ pháp, tôi chỉ dạy họ pháp nhập thế, bởi vì tôi hỏi họ: "Bạn muốn thành Phật à?" Họ nói họ không muốn thành Phật, tôi hỏi bạn không muốn thành Phật, vậy bạn muốn gì? Họ nói họ muốn tiền. Tiền trong cuộc sống là quan trọng nhất, tất cả đều là tiền, vì khi còn sống tiền rất hữu dụng, nên tôi dạy họ pháp Tài Thần. Họ cũng tu pháp, có lợi ích, bởi vì ý nghĩ của họ biến thành sức mạnh, trở thành một loại lực hút, triệu thỉnh Tài Thần đến. Vì vậy, những người không muốn thành Phật cũng có thể quy y Chân Phật Tông. Pháp nhập thế là nền tảng của pháp xuất thế, đôi khi tôi nói với mọi người hãy thành Phật, hãy tu hành, hãy thành tiên thành Bồ Tát, họ đều không quan tâm, họ chỉ quan tâm đến danh lợi. Vì vậy để khiến mọi người tu hành, chư Phật Bồ Tát cũng truyền xuống pháp nhập thế gian, có thể thấy Phật Bồ Tát thật từ bi! Viên mãn mọi nguyện cầu.

Trong pháp hôm nay, tôi sẽ nói về pháp xuất thế, nhập thế, cùng với việc đồng tu và quá trình tu tập của bản thân. Nếu các bạn đã ghi chép lại, tôi sẽ đọc qua trình tự này cho mọi người biết.

Đầu tiên tụng chú tịnh khẩu sau đó tụng chú triệu thỉnh, khi triệu thỉnh xong, tiếp tục làm đại lễ bái, dâng cúng một chút đồ cho chư Phật Bồ Tát, tụng chú tứ quy y, thực hiện mặc giáp hộ thân phòng ma, tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, quán tưởng ba ánh sáng gia trì, tiêu trừ nghiệp chướng, sau đó trì tâm chú, trì xong tâm chú thì nhập Tam ma địa (thiền định), sau khi xuất định từ Tam ma địa là phần hồi hướng. Tất cả các pháp tu cầu nguyện điều gì đều bày tỏ trong phần hồi hướng, vì vậy đôi khi để khiến một người tin Phật, chúng ta hồi hướng như sau: "Ôm chưa-li-chu-li Chuẩn Đề, sắc lệnh người ABC tin Phật, sô-ha", "Ôm chưa-li-chu-li Chuẩn Đề, sắc lệnh công việc kinh doanh XYZ tôi làm thành công, sô-ha", "Ôm chưa-li-chu-li Chuẩn Đề, sắc lệnh sinh một bé trai, sô-ha", "Ôm chưa-li-chu-li Chuẩn Đề, sắc lệnh người XXX có sức khỏe tốt, sô-ha". Đây đều là pháp nhập thế, có thể tụng như vậy khi cầu nguyện, vì vậy khi trì tâm chú cũng có thể trì như thế, đây đều là mật pháp nhập thế bí mật.

Hôm nay sau khi mọi người trở về, những đệ tử đã quy y có thể thiết lập đàn tràng, tu tập hàng ngày, có thể viên mãn tất cả ước nguyện, tất cả mong muốn đều có thể viên mãn, và bản thân bạn trong tương lai có thể tu pháp xuất thế, sẽ đạt được niềm vui thiền định mà người thường không thể có được. Trong thế giới này, người thường đều cầu tài lộc, tuổi thọ, bằng cấp, danh lợi, địa vị, nhưng mọi người đừng quên, trong lý tưởng cao hơn, trong thế giới siêu hình, còn có mục tiêu rốt ráo hơn, đó chính là thành Phật. Hôm nay giải thích chi tiết về pháp đến đây là kết thúc, một lát nữa sau khi nước chú được gia trì vẫn giống như hôm qua, mỗi người có thể lấy một ít mang về. Những người muốn quy y cũng có thể lên phía trước lúc này để nhận lễ quán đảnh.

(Chú thích: Bản văn này vốn đã được công khai, nhưng còn nhiều đệ tử hỏi đến, nên lại tiết lộ lần nữa. Về nguyên tắc, Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm phải tu trước khi nhập Tam ma địa. Nếu không đủ thời gian, nội hỏa minh điểm có thể tu riêng. Về những điểm quan trọng trong tu tập, hãy tham khảo cuốn sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp".)

19. Tâm pháp tu hành - cảnh giới hiện lượng (bài diễn giảng)

Nếu các bạn để ý vào buổi chiều, các bạn có thể thấy Thượng sư dùng ba ngón tay để xử lý gạo này. Ban phúc cúng dường cho những vong linh này. Giúp họ giải trừ bệnh tật và khiếm khuyết trên cơ thể, xóa bỏ cho họ tất cả tội lỗi và nghiệp chướng.

Thượng sư đang tụng kinh ở đây, nghe nói có người bảo rằng giọng tụng nhỏ quá, không nghe thấy gì cả, không biết có công đức không, e rằng lần siêu độ này không hiệu nghiệm. Vẫn có công đức như nhau, tôi tụng kinh ở đây, bạn ở rất gần tôi, mọi người đều nghe thấy, nhưng việc tụng kinh không phải để cho các bạn nghe. Mà là tụng cho những vong linh này nghe, để họ biết Phật pháp, giúp họ có thể hiểu Phật pháp, đạt được trí tuệ, có thể siêu thăng, họ từ đây đi vào, từ đằng kia đi ra, những người ngồi ở hàng này, phía sau lưng sẽ cảm thấy hơi lạnh một chút. Họ đi qua, đây là lối đi, họ đều mang theo luồng gió âm.

Sau khi họ vào đây, Thượng sư phóng quang chiếu vào họ, nghiệp chướng của họ liền được tiêu trừ. Có những người đặc biệt mang theo còng tay, Thượng sư phải dùng pháp khóa vàng, dùng thủ ấn khóa vàng để mở tất cả còng tay trên thân thể họ. Cách làm như vậy chính là siêu độ. Cúng dường cho họ, thuyết pháp cho họ, ban cho họ trí tuệ, hy vọng họ niệm Phật, nhận được hào quang chiếu soi của chư Phật Bồ Tát, tiêu trừ nghiệp chướng rồi siêu thăng. Nhưng điều này không dễ dàng. Siêu độ thực ra rất khó, có nhiều vong linh chưa chắc đã vào tiếp nhận siêu độ, họ quan sát từ xa, giống như người ở thế gian chúng ta vậy. Người thế gian chúng ta muốn tin Phật pháp cũng có người rất khó, bởi vì đây là một chân lý, không dễ hiểu, hơn nữa, trên con đường tu hành, ngã rẽ cũng rất nhiều, khi có nhiều ngã rẽ, càng khó hiểu thì càng khó khăn, có người hoàn toàn không muốn tu hành. Làm một con người, từ khi sinh ra đến khi chết, chỉ là ăn cơm, đi vệ sinh, ngủ nghỉ. Cuộc sống con người là như vậy, ngoài những điều này thì không còn gì nữa.

Vậy chân lý là gì? Họ nói, nghĩ nhiều làm gì, sống là được rồi, chết rồi mới tính. Sinh không biết từ đâu đến, chết không biết đi về đâu, đời người trăm năm như một giấc mộng, đúng sai thiện ác đều nằm trong đó. Lại thấy những kẻ xấu cưỡng đoạt chiếm đoạt, người thiện khắp nơi bị bắt nạt, càng không muốn tu hành. Nhưng nếu bạn hiểu được chân lý của vũ trụ, bạn có thể học tu hành, nắm bắt được ý nghĩa của cuộc đời, trở thành một người thực sự hiểu được chân lý. Điểm này vô cùng quan trọng.

Hôm nay mọi người đến đây chính là có phước duyên như vậy, đến đây nghe pháp, đây là điều vô cùng hiếm có, vô cùng quý giá.

Hôm nay tôi thuyết pháp, bởi vì hàng năm mỗi lần đều có nhiều người lần đầu tiên đến. Nhiều người đã biết nghi quỹ tu hành, tôi đã viết nó trong quyển sách "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp", trong sách này viết về các nghi quỹ tu hành của tông phái chúng ta.

Tôi đã viết cuốn sách này, mọi người cũng đã đọc cuốn sách này, và đều hiểu ý nghĩa và phương pháp tu hành của nó, nhưng nhiều người không biết được tâm pháp thực sự bên trong phương pháp tu hành này.

Hôm nay tôi sẽ giải thích đôi chút về tâm pháp cho mọi người. Có một vấn đề, nhiều người hỏi tôi rằng khi họ tu hành, họ có nhiều tạp niệm. Mọi người khi đề cập đến vấn đề tu hành đều hỏi tôi, tại sao tạp niệm cứ liên tục xuất hiện, không thể tu được, luôn có tạp niệm. Thực ra, có tạp niệm là điều bình thường, các bạn đừng sợ tạp niệm. Các bạn cứ nghĩ: "Ôi, tôi không thể nhập Tam ma địa, tạp niệm cứ liên tục, có lẽ nghiệp chướng của tôi nặng nề quá, sao lại có nhiều tạp niệm đến thế!" Tôi xin nói với mọi người, một ngày nào đó, khi bạn không còn tạp niệm nữa, bạn có thể lên bục thuyết pháp, bạn chính là Hoạt Phật, bạn đã giác ngộ, bạn đã là Phật rồi. Như vậy đã rõ chưa? Một ngày nào đó, khi bạn tự nhận thấy: "Bây giờ tôi không còn tạp niệm nữa." Đã không còn tạp niệm thì là tương ứng rồi. Đó là đã thành Phật rồi. Vì vậy, có tạp niệm là hoàn toàn bình thường, không sai. Có tạp niệm không sai, đều đúng cả, không có tạp niệm mới là sai.

Không có tạp niệm mới là sai. Tôi nói câu này cũng rất đúng, giống như hiện tại các bạn, có người mới bắt đầu tu hành, bạn tu một chút đã không còn tạp niệm thì chư Phật Bồ Tát sẽ nói: "Ta tu hành lâu như vậy, còn bạn chỉ tu một chút đã thành Phật rồi." Ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải cảm thán không bằng, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải thán phục. Bởi vì các bạn mới tu một năm, hai năm, chỉ vài năm, thậm chí có người vừa quy y, đã nói rằng mình còn tạp niệm, nghiệp chướng sâu nặng này nọ. Mọi người hãy suy nghĩ: Phật Thích Ca Mâu Ni tu khổ hạnh sáu năm trên núi tuyết, vẫn không thể loại bỏ tạp niệm! Trọn vẹn sáu năm. Ngài ngồi dưới cội bồ đề khai ngộ, đó đã là chuyện hơn sáu năm sau rồi. Milarepa tu mười hai năm trong hang Mã Xỉ trên vách đá trắng, ngài mới loại bỏ được tạp niệm, mới minh tâm kiến tính, mới khai ngộ, mười hai năm đấy! Còn tôi thì sao? Không cần nói nữa, mười lăm năm, mười tám năm, mới tạm có một chút ánh sáng tâm phát lộ, ánh sáng trong tâm này chỉ thỉnh thoảng xuất hiện chiếu sáng một chút mà thôi, chưa quét sạch hết mây đen trong thân. Vậy mà các bạn học theo tôi, chỉ một chút đã không còn tạp niệm, thế thì tôi phải bái các bạn làm thầy rồi.

Để loại bỏ tạp niệm, đây là học vấn hạng nhất! Đời người chính là phiền não. Tạp niệm chính là những tham sân si trong cuộc đời bạn, kết hợp lại thành đủ loại phiền não trong tâm trí bạn. Bạn tự nghĩ mình không có phiền não, nhưng thực ra nó nhanh chóng nổi lên. Trong tiềm thức bạn có hạt giống tạp niệm từ kiếp trước, kiếp này trừ hết rồi, vẫn còn hạt giống tạp niệm từ kiếp trước trong tiềm thức bạn. Rồng sinh rồng, phượng sinh phượng, chuột sinh ra biết đào hang. Điều này nói về nhân tố di truyền của bạn từ kiếp trước. Tính cách của cha bạn, con bạn, tổ tiên bạn, đều có nhân tố di truyền. Thậm chí răng tôi mọc như thế nào, ôi! Răng con trai tôi cũng mọc giống vậy, tôi có một chiếc răng bị lệch vào trong, đúng là con trai tôi cũng có một chiếc răng lệch vào trong, cũng đúng chiếc răng đó, nên chúng tôi phải tìm cách chỉnh sửa lại, vì vậy giờ đi tìm bác sĩ, vì vấn đề hôn nhân tương lai của nó; chỉnh sửa thẩm mỹ để làm cho nó thẳng hơn một chút, đừng như tôi bị lệch thế này.

Vì vậy, di truyền chính là nhân quả của bạn. Bạn không chỉ phải loại bỏ nhân quả kiếp này của mình, mà còn phải loại bỏ nhân quả kiếp trước, giải trừ toàn bộ nhân quả của nhiều kiếp, nhiều đời trước, tạp niệm mới không còn. Hãy nghĩ xem điều đó khó khăn đến mức nào. Trong Mật pháp: phương pháp loại bỏ tạp niệm chính là quán tưởng. Tại sao tạp niệm không thể loại bỏ? Bởi vì chúng đã có sẵn trong tiềm thức của bạn, vậy bạn phải làm sao? Chỉ còn cách là tư duy, tôi không muốn nghĩ đến những điều linh tinh, mà hãy nghĩ về một điều đơn thuần, đó chính là quán tưởng.

Trong pháp môn Mật tông, dùng quán tưởng để thay thế tạp niệm. Dùng thủ ấn để đại diện cho sự thanh tịnh của thân thể; dùng chú ngữ để đại diện cho sự thanh tịnh của khẩu; dùng quán tưởng để đại diện cho sự thanh tịnh của ý niệm. Ý niệm của chúng ta không thanh tịnh, vậy phải làm sao? Hiện nay pháp môn trong Mật tông dạy mọi người quán tưởng, dạy mọi người nghĩ đến tướng mạo trang nghiêm của Phật, có được tướng mạo trang nghiêm của Phật là tốt rồi, bởi vì bạn chuyên tâm nghĩ đến tướng mạo trang nghiêm của Phật, bạn sẽ không còn tạp niệm nữa, rất đơn giản. Vì vậy, chỉ cần nghĩ đến một tướng mạo trang nghiêm của Phật là thay thế được tạp niệm, đây chính là pháp môn Mật tông, ý nghĩa của quán tưởng nằm ở đây. Tạp niệm rất phức tạp, cứ nghĩ mãi không ngừng, nhưng bạn đưa nó về một mối, biến nó thành một, dùng quán tưởng để biến nó thành một, chính là tập trung tinh thần ý chí của bạn để nghĩ về tướng mạo của Phật. À! Nói đến đây, tôi phải bắt đầu làm một chút chuyện buôn bán nhỏ.

Họ đã sản xuất và mang từ Đài Loan về rất nhiều tượng gốm của Thượng sư. Hiện nay tượng gốm của Thượng sư không bán chạy, nên trong lòng tôi tự nhủ, tượng gốm Thượng sư không bán chạy vì chưa được quảng cáo đủ.

Tôi nói với mọi người, các bạn đừng nghe tôi quảng cáo. Tuy nhiên, tôi muốn chia sẻ với các bạn một điều, có người xem tượng gốm Thượng sư rồi nói với tôi rằng: "Không giống thầy lắm, tượng gốm Thượng sư trông rất trang nghiêm, không phải như thế này, thầy thì già và xấu." (Sư Tôn vừa cười vừa nói, mọi người cười không ngớt). Nhưng tôi muốn nói với mọi người, các bạn nên nghĩ đến điều tốt đẹp, đó là tượng gốm của Thượng sư trong quá khứ, giống như năm nay tôi đã 42 tuổi rồi, bức ảnh đó được chụp cách đây khoảng gần 5 năm, nếu là 20 năm trước, tôi cũng không giống như tượng hiện nay. Thật đấy, 5 năm sau tôi cũng sẽ không giống như tượng bây giờ, và 20 năm sau nữa, càng không giống với tượng này. Còn 40 năm trước, khi tôi 2 tuổi, thì hoàn toàn không phải là hình dáng như thế này.

Vì vậy, tượng này giống cái gì? Giống như vừa mới chụp ảnh, đó là hình ảnh tại thời điểm đó, và sau đó, người điêu khắc, người tạo mẫu đã tạo ra ấn tượng của họ, làm thành tượng gốm Thượng sư, không hoàn toàn đại diện cho Thượng sư, chỉ đại diện một phần nhỏ, không đại diện hoàn toàn. Đó chỉ là một hình ảnh tại thời khắc đó. Ngoài ra, nó còn đại diện cho pháp thân của Liên Hoa Đồng Tử, tức là pháp thân từ nhiều kiếp, nhiều đời trước ở cõi trời. Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, ai đã từng thấy? Không ai thấy cả. Bảo tàng Anh quốc chỉ còn lưu lại một tấm ảnh. Trước đây có hai tượng được điêu khắc khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn sống, nhưng những tượng đó đã thất truyền, vì vậy, ai đã thấy Phật Thích Ca Mâu Ni? Không ai thấy cả! Khi so sánh tượng ở Bảo tàng Anh quốc với tượng Phật Thích Ca Mâu Ni hiện nay, chúng hoàn toàn khác nhau! Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni hiện nay có tai rất dài, dái tai dài chạm vai, lông mày từ bi, ánh mắt hiền lành, khuôn mặt tròn đầy, trên đầu có búi tóc. Khi so sánh tượng Phật Thích Ca Mâu Ni hiện nay với tượng ở Bảo tàng Anh quốc, chúng hoàn toàn khác nhau, tai rất nhỏ, không lớn, để tóc dài, giống như các tu sĩ thời xưa, tai còn đeo khuyên nữa, hoàn toàn khác!

Vậy, hình tượng dùng để làm gì? Dùng để quán tưởng. Mọi người thờ cúng, coi như là kỷ niệm, nhìn vào tượng Thượng sư để tu pháp tương ứng Thượng sư, rồi quán tưởng khuôn mặt trang nghiêm của ngài. Dùng sự trang nghiêm này để thay thế Liên Hoa Đồng Tử, là như vậy đó. Hơn nữa, khi tu pháp tương ứng Thượng sư mới dùng tượng gốm Thượng sư này. Ngoài ra là để dùng cho quán tưởng, có người họ hy vọng thờ tượng gốm Thượng sư để có cảm ứng với bản thân Liên Hoa Đồng Tử, có sự tương ứng với Thượng sư, thành tựu của họ giống như Thượng sư, vì vậy mới thờ tượng gốm Thượng sư, mới mua tượng gốm Thượng sư. Cho nên, trong lòng các bạn, nếu có nhu cầu, các bạn có thể mua, nhưng không phải tôi bảo các bạn đi mua. Đây là chuyện buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, nếu các bạn nghe nói có người nào đó rất không ưa Thượng sư, dĩ nhiên trên thế giới này, người tin tôi rất nhiều, người không tin tôi cũng rất nhiều, không chỉ không tin, mà còn ghét nữa. Trước đây có người đặt cho tôi một biệt danh, tên tôi là Lư Thắng Ngạn, chữ "Thắng" đã biến thành chữ "Thịnh" của thịnh vượng, chữ "Ngạn" đã biến thành chữ "Yếm" của chán ghét. Rất là chán ghét, Lư Thịnh Yếm, rất rất là chán ghét. Thế thì bạn cũng có thể mời họ mua một tượng gốm Thượng sư, tại sao vậy? Bởi vì mỗi ngày bạn có thể tát vào mặt tượng vài cái, thậm chí đá vài cái, mỗi ngày chửi vài câu, tâm trạng cũng sẽ vui vẻ.

Tất cả đều có lợi ích. Người tốt mua tượng, họ có thể thực hành pháp tương ứng Thượng sư, có thể tương ứng với Liên Hoa Đồng Tử, còn người ghét mua về, cũng có thể giải tỏa bực tức. Trước đây tôi đã nói, bạn có thể mua luôn 500 tượng, mang về dùng rìu đập nát hết, như vậy cũng tốt, vì chúng tôi có thể sản xuất thêm nhiều tượng mới. Doanh số sẽ càng tốt hơn. Đập nát tất cả cũng rất tốt, vì vậy nếu các bạn vui vẻ, ví dụ hôm nay tu pháp cảm thấy phiền muộn, cứ việc đập vỡ một tượng, ngày mai mua tượng mới, rồi lại đập vỡ, cũng thú vị, không sao cả, không ai trách đâu. Bởi vì chỉ cần bạn mua tượng gốm Thượng sư tức là giúp đỡ mọi người trên toàn thế giới, tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì tượng gốm Thượng sư, trước đây chúng ta xây chùa, chính là nhờ tiền bán tượng gốm Thượng sư còn dư lại tích góp lại để xây, nên mới hoàn thành nhanh như vậy. Hiện nay các phân đường trên toàn thế giới cũng có nhu cầu xây dựng, và tiền bán tượng tương tự có thể dùng để làm việc thiện, xây chùa, làm công đức, cũng như vậy, tiền này không mất đi đâu, tức là nằm trong công đức của chúng sinh, đó là những lợi ích. Vì vậy, vừa rồi nói đến việc kinh doanh! Thật sự hơi ngại quá.

Vậy trong vũ trụ rốt cục có chân lý gì? Chân lý là gì! Tôi xin nói với mọi người, khi bạn loại bỏ tạp niệm, quán tưởng thành một, hợp thành một, bạn quán tưởng mọi hình tướng của Thượng sư xuất hiện, liên tục duy trì trong trạng thái bất động này, thì nhờ vào việc quán tưởng của bạn, liên tục nghĩ nhớ, và không ngừng trì chú: Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. Bạn liên tục tụng niệm chân ngôn này, liên tục nghĩ nhớ Thượng sư, với tay kết ấn cầm hoa sen, thuyết pháp, ấn pháp như vậy, điều đó đại diện cho thân nghiệp thanh tịnh của bạn. Khẩu nghiệp thanh tịnh, ý niệm thanh tịnh, Liên Hoa Đồng Tử ở Tây phương Cực Lạc thế giới sẽ giáng lâm, và hình ảnh giáng lâm ấy là một luồng ánh sáng, bạn tự cảm nhận được ánh sáng đó, ánh sáng bên ngoài chiếu rọi khiến thân thể bạn hoàn toàn biến thành Liên Hoa Đồng Tử, đây chính là sự tương ứng.

Điều này cũng có đạo lý bên trong, trong vũ trụ vốn đã có Phật tính trong hư không, nhờ vào sự tu hành của bạn, bạn cảm ứng với Ngài, ánh sáng Phật tính chảy ngược vào thân thể bạn, ánh sáng tâm của chính bạn hiển lộ ra ngoài, hai điều hợp nhất lại, chính là sự tương ứng. Trong cảnh giới này rất mầu nhiệm, sẽ có sức mạnh sinh ra, sẽ có nhận thức, sẽ có cảm giác. Vì vậy, khi các bạn thường xuyên quán tưởng trong tâm, Liên Hoa Đồng Tử biến thành một điểm ánh sáng nhỏ, từ thiên tâm của bạn theo trung mạch liên tục hạ xuống, ngồi trên đóa sen này, sau đó hình ảnh này dần dần lớn lên, giống như thân thể bạn, hợp nhất với nhau, đó chính là pháp tu của Mật tông, đây là bí mật.

Bạn cần quán tưởng thường xuyên như vậy, khi tu pháp Bổn tôn cũng quán tưởng như thế, biến mình thành Bổn tôn, lúc đó linh thức trong vũ trụ sẽ hợp nhất lại trở thành Bổn tôn. Muốn loại bỏ tạp niệm cần phải quán tưởng, làm cho nó hợp nhất, nhờ vào việc tập trung tinh thần thành một sẽ sinh ra sức mạnh. Nhờ sức mạnh này phát sinh, sẽ chuyển động pháp luân vũ trụ. Toàn bộ pháp luân vũ trụ chuyển động, một khi chuyển động, pháp luân vũ trụ vừa chuyển động, thân thể bạn sẽ sinh ra sức mạnh, sức mạnh này được gọi là cảnh giới hiện lượng, tức là cảnh giới xuất hiện sức mạnh.

Có rất nhiều người tu lâu rồi mà không biết có cảnh giới này, gọi là cảnh giới xuất hiện sức mạnh. Khi bạn tu đến cảnh giới xuất hiện sức mạnh bạn sẽ biết, hôm nay tôi ngồi ở đây thuyết pháp lời nói không hư dối! Không hề giả dối. Chân lý là gì? Chân lý chính là khi ánh sáng tâm của bạn tỏa ra khỏi thân thể, hợp nhất với sức mạnh của vũ trụ, tương ứng hợp nhất. Trong khoảnh khắc khai ngộ đó, chính là chân lý.

Vì vậy, các bạn cần tu hành từ từ cho đến khi xuất hiện loại sức mạnh này, ánh sáng tâm của bạn xuất hiện trong vũ trụ, hợp nhất với ánh sáng vũ trụ, đây chính là cảnh giới khai ngộ. Đôi khi lúc mới bắt đầu, trong tâm bạn có một chút ánh sáng, nhỏ như hạt mè hay hạt đậu xanh, dần dần, nó trở nên lớn hơn, lớn như mặt trăng, ánh sáng luân xa tim, nguyệt luân trong tâm bạn tỏa sáng như vậy, rồi thăng lên, giao lưu với ánh sáng vĩ đại trong vũ trụ. Điều này đến từ đâu? Chính là từ việc tập trung tất cả tinh thần, biến sự quán tưởng thành hợp nhất, khi xuất hiện cảnh giới hiện lượng, rồi loại bỏ quán tưởng đó, nó sẽ biến thành hiện tượng trống rỗng. Khi biến thành hiện tượng trống rỗng, ánh sáng trong không gian sẽ chảy ngược vào thân thể bạn, bản thân bạn trở thành không có, hòa hợp với vũ trụ thành một. Trí tuệ của bạn vô thượng, năng lực của bạn vô thượng, ánh sáng của bạn vô thượng, pháp của bạn vô thượng, bạn chính là Thượng sư.

Thế nào gọi là Thượng sư? Nhiều người hỏi tôi, "Thượng sư" nghĩa là gì? "Thượng" có nghĩa là vô thượng, "sư" nghĩa là "đạo sư của trời người", không có vị đạo sư của trời người nào cao hơn nữa. Làm Thượng sư có vẻ rất đơn giản, những người đang thấy ở đây, ngồi phía trước, ở phía sau, ngoại trừ chư Phật Bồ Tát, tất cả đều là "đạo sư vô thượng của trời người", tất cả đều trông có vẻ vĩ đại, tuy nhiên, nhìn qua có vẻ dễ dàng, tất cả đều hết sức bình thường. Thực ra, mỗi người tu pháp đều có cảnh giới riêng, nhưng để trở thành một Thượng sư chân chính, bạn phải mở rộng ánh sáng tâm của mình, hòa nhập vào ánh sáng vũ trụ, nhận được ý thức tối thượng của vũ trụ trong thân mình, bạn có thể dùng phương pháp này để hướng dẫn người đời đi đến cảnh giới hợp nhất với ánh sáng trời người, đây mới thực sự là "đạo sư vô thượng của trời người". Nếu chưa đạt đến cảnh giới như vậy thì chỉ là một danh xưng Thượng sư rỗng tuếch mà thôi, không phải là Thượng sư chân chính.

Vì vậy, để hiểu được trí tuệ của vũ trụ, bạn phải biết cách làm thế nào để phát ánh sáng tâm của mình và hòa hợp với ánh sáng vũ trụ trở thành một, tạo thành biển ánh sáng lớn của Tỳ Lô Giá Na. Chân lý ở đó, chân lý chính là ở trong đây.

Có người nói: Chân lý? Tôi biết rồi! Xem bói toán chính xác là chân lý. Lại có người nói, làm người chỉ cần làm điều thiện, làm tốt, đó là chân lý, phù hợp với chân lý. Điều này không phải là không đúng, nhưng vẫn còn một chút khoảng cách. Có người nói, tôi làm người tốt, làm đúng đắn, công bằng, đó là chân lý, điều này cũng còn một chút khoảng cách.

Chân Phật Tông có tâm pháp vô thượng, chắc chắn có tâm pháp vô thượng, không có tâm pháp nào cao hơn pháp này, nhưng để truyền tâm pháp này, nhất định phải xem người mà truyền, không thể nói bừa bãi. Tại sao vậy? Bởi vì nói bừa bãi sẽ xúc phạm đến chân lý này, xúc phạm đến ý thức của vũ trụ. Nếu bạn gặp một người có vẻ tùy tiện, bạn truyền cho họ tâm pháp vô thượng, họ cũng không thể lĩnh hội, thậm chí họ phỉ báng, họ nghi ngờ, họ phỉ báng, đó chính là xúc phạm đến tâm pháp vô thượng này. Cái gọi là Mật tông không truyền, không tùy tiện truyền, không tùy tiện nói, có rất nhiều lý do không thể nói, chính là ở điểm này. Bởi vì tôi truyền cho bạn, bạn không những không tin, còn muốn phỉ báng, vậy không phải là tôi truyền cho bạn ngược lại còn chuốc tội sao? Lý do là ở đây. Vì vậy, với chân lý này, bạn tôn kính còn chưa kịp, lại còn đi phỉ báng, đó là việc rất tệ hại.

Vì vậy, Mật tông có truyền thừa. Hôm nay mọi người đều thuộc truyền thừa Chân Phật Tông, chính là có sự gia trì của truyền thừa này, tôi hy vọng mọi người tôn trọng dòng pháp truyền thừa này, tôn trọng đại pháp bí mật như vậy, để mọi người biết được nghi quỹ tu hành, tuy nhìn có vẻ rất đơn giản, nhưng thực tế bên trong có tâm pháp vô thượng, mỗi một động tác đều có quán tưởng, mỗi một động tác đều có ý nghĩa và vẻ đẹp của nó.

Chúng ta tu pháp cần phải "tinh", "tinh" là gì? Chính là tập trung tinh thần. "Nghiêm", "nghiêm" là gì? Không lỏng lẻo, rất nghiêm túc, rất trang nghiêm. Có được "tinh nghiêm" thì mới có thể tu pháp này thành tựu. Mọi người tu pháp cần tinh, cần nghiêm. Muốn loại bỏ phiền não thì phải dùng quán, dùng quán để thay thế, quét sạch phiền não. Có được quán, cuối cùng, bạn quán sát mọi thứ rõ ràng, minh bạch, rồi loại bỏ tất cả quán tưởng, đó chính là tọa vong. Khi tọa vong này, tất cả ánh sáng của vũ trụ đều chảy ngược vào trong cơ thể bạn, bạn trở thành hư không. Khi bạn đạt được hư không này, bạn nhập vào Tam ma địa. Người đạt được hư không, người đạt được trống rỗng, họ có được tâm bất động, một đại viên mãn, một tâm bất động.

Tại sao phải tĩnh tọa? Có người nói tĩnh tọa làm tôi nhớ ra người nào đó còn nợ tôi bao nhiêu tiền. Bởi vì bình thường bạn không để ý, nhưng khi ngồi yên lặng thì lại nghĩ ra, ôi, một người nào đó còn nợ tôi bao nhiêu tiền mà chưa trả, suýt nữa thì quên mất. Bạn có thể đi đòi nợ họ, đây cũng là một lợi ích.

Ngày xưa Khổng Tử đã nói, tĩnh tọa thường xuyên suy nghĩ về lỗi lầm của bản thân. Khi bạn ngồi yên lặng, bạn có thể thường xuyên suy nghĩ, hôm nay tôi đã làm điều gì sai? Một ngày xét mình ba lần, ba lần tự xét, bản thân có làm gì sai không, đây là nền tảng, nền tảng thực sự, nền tảng làm người. Một ngày xét mình ba lần, tĩnh tọa thường xuyên suy nghĩ về lỗi lầm của bản thân, tất cả đều là tu hành, nhưng đây là nhân thừa, nhân thừa là gì? Chính là làm một người chân chính, làm một người thiện, để đạt được phúc báo cõi người và cõi trời.

Tĩnh tọa thực sự của bạn, cần phải ngồi quán, tinh thần hợp nhất, quán tưởng một vật, sau đó quét sạch, ánh sáng vũ trụ chảy ngược vào, thân thể bạn tọa vong hóa thành không, đạt được trí tuệ và ánh sáng, sức mạnh của vũ trụ. Sẽ sinh ra sức mạnh, cơ thể bạn sẽ tạo ra một loại từ tính, từ tính đó phát huy ra chính là ánh sáng. Ý thức ánh sáng của vũ trụ, thấy ở đây có ánh sáng xuất hiện, nó sẽ chảy ngược vào trong cơ thể bạn, hút lẫn nhau, tạo ra sức mạnh từ tính, hút lẫn nhau. Giống như tên lửa đuôi rắn đuổi theo máy bay vậy, chỉ trong chớp mắt đã chạm vào nhau, đã tương ứng, nhiệt năng của động cơ tên lửa đuôi rắn, nó đuổi theo nhiệt năng đó mà chạy, máy bay bay đến đâu, nó đuổi theo đến đó, đuổi kịp là lập tức tương ứng.

Chúng ta tu pháp cũng vậy, khi cơ thể chúng ta sinh ra nhiệt năng, chính là trong Mật pháp tu khí, khí biến thành nội hỏa, hỏa hóa thành ánh sáng, khi sinh ra ánh sáng này, cơ thể trở nên trong suốt, sẽ có từ lực đó sinh ra trong vũ trụ, tất cả dòng ánh sáng của vũ trụ, vì bạn tạo ra từ lực nên hút nó vào, liền tương ứng.

Nói thì đơn giản, làm thì khó khăn, mọi người hãy tốt tốt theo phương pháp này mà tu tập.

Hôm nay có người nói, đến gặp Thượng sư, chủ yếu là đến để gặp Thượng sư, sau đó là để hỏi việc. Hỏi việc để làm gì? Thân thể có bệnh, đến giờ vẫn chưa phát tài. Tại sao đến bây giờ vẫn chưa phát? Câu này tôi không hiểu. Tôi hỏi anh ta, anh phát cái gì? Anh ta nói, tôi đã sống được hơn bốn mươi tuổi rồi, sao vẫn chưa phát tài? Anh ta hỏi những chuyện như vậy. Có người cầu con, có người cầu thọ, có người cầu chức quan, có người muốn làm chủ tịch hội đồng, làm chủ tịch hội đồng quản trị, làm chủ tịch ủy ban, có người muốn làm cái này cái kia, đó là vì danh, có người vì lợi, có người vì hôn nhân, tuổi đã lớn, gả chưa gả được, cưới chưa cưới được, đều là hỏi những chuyện này. Nếu đoán trúng, họ sẽ nói Thượng sư rất linh. Nếu đoán không trúng, họ sẽ nói Thượng sư không linh. Người thấy linh, năm sau sẽ đến lại, người thấy không linh, năm sau không đến. Thực ra, tu hành thật sự mới là thật, hỏi những thứ này đều là giả tướng của nhân gian, chân lý thực sự nằm ở tu hành, nằm ở sự tu trì tam mật tương ứng của thân khẩu ý. Không phải là hỏi những thứ này, những thứ này đều là pháp thế gian, các bạn đã tin rồi thì hãy tu pháp cho tốt. Hỏi chính là pháp của tu hành. Nhưng dù bạn hỏi gì, tôi đều cầu Phật Bồ Tát hy vọng cho mọi người được viên mãn.

Tôi muốn mọi người đạt được sự hài lòng trong tâm, có thế mới tập trung tinh thần để tu pháp, bởi vì khi có phiền não, bạn không thể tập trung tinh thần, thân thể có bệnh cũng không thể tập trung, mọi phiền não đều đè nặng lên người bạn, bạn không thể tập trung tinh thần được. Vì vậy, Phật Bồ Tát trong pháp nhập thế cũng cần trước tiên cho mọi người sự viên mãn, sau đó mọi người mới tiến thêm một bước tu pháp xuất thế, đạt được sức mạnh của chân lý chảy ngược vào thân thể bạn. Lúc đó khi bạn ngồi, đừng nghĩ rằng bạn chỉ đang ngồi, nguyên thần trong cơ thể bạn đã sớm được nâng lên không trung, trên tầng mây, tâm lượng không ngừng mở rộng, mọi thiện ác đúng sai của nhân gian, mọi phiền não đều như lửa trong lò, thiêu rụi tất cả thành than, thành tro, quét sạch hoàn toàn, đó chính là phiền não đã được đoạn trừ.

Mọi người có nghĩ rằng phiền não thực sự có thể đoạn trừ không? Không có tu hành, mãi mãi có phiền não, vì vậy, hôm nay mọi người đến đây, Thượng sư nói với mọi người về lợi ích của tu hành, các bạn sẽ biết tầm quan trọng của tu hành. Có một đệ tử viết thư cho tôi, anh ấy nói, anh ấy rất muốn tu hành, nhưng khi thấy người khác tu tốt hơn, anh ấy lại hy vọng người đó ra ngoài gặp phải xe, chân đột nhiên bị ngã gãy một cái, đột nhiên lưỡi không nói được, trở thành câm! Anh ấy nói, tại sao lại như vậy, tôi là một người tu hành, tại sao lúc nào cũng hy vọng người khác không bằng mình, người khác có chiếc xe tốt, anh ấy hy vọng lốp của họ bị nổ hoặc đâm vào xe người khác, hy vọng người đó thế này thế kia. Tóm lại, những suy nghĩ kỳ quặc này là tâm lý, tiềm thức bên trong luôn nghĩ như vậy, bạn thấy người khác xinh đẹp, tại sao tôi không thể đẹp hơn họ, nên cố ý nói xấu họ. Nói xấu sau lưng, tạo tin đồn về họ, nói rằng mũi họ hơi lệch một chút. Thực ra, họ đẹp hơn bạn, nhưng trong lòng bạn cảm thấy không thoải mái, có đệ tử như vậy đấy, người khác tu tốt hơn, anh ấy không vui trong lòng, người khác đẹp hơn anh ấy, anh ấy cũng không vui, người khác giàu hơn anh ấy, anh ấy cũng không vui, người khác mặc quần áo đẹp, anh ấy cũng không vui, dù sao anh ấy chỉ muốn vượt qua người khác, anh ấy mới vui. Đây chính là tâm lượng quá nhỏ, tâm lượng không đủ rộng lớn.

Người tu hành đến cuối cùng, tâm lượng của họ nhất định rất rộng lớn, có thể bao dung tất cả. Thế gian chính là nơi của thị phi phiền não, đó chính là vấn đề của tâm lượng.

Nếu tâm lượng lớn, sẽ không có chiến tranh giữa hai cực, không có chiến tranh giữa nô lệ và tự do, sẽ không có Nam Việt, Bắc Việt, cũng không có Nam Hàn, Bắc Hàn, và không có Đông Đức, Tây Đức.

Thế giới của con người chính là thế giới của phiền não. Khi bạn tu hành đến mức tâm lượng rộng lớn, mọi chúng sinh đều bình đẳng, liệu còn những thứ này nữa không? Sẽ không còn! Hôm nay mọi người cần học hỏi chân lý: đó là tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Nhận ra Phật tính của vũ trụ này chính là tu hành chân chính, các bạn sẽ có thể khai ngộ, đắc đạo. Khi đạt được chân lý của cuộc đời, bạn sẽ trở thành Hoạt Phật, nhất định vãng sinh.

Về phần nghi quỹ này có rất nhiều chi tiết, nhiều người không biết cách quán tưởng những chi tiết này, nếu có điều gì không hiểu, các bạn có thể thỉnh giáo tất cả các Thượng sư ngồi phía trước, trong đó có rất nhiều tâm pháp, nhiều người đã nghe qua, mỗi một phần đều cần quán tưởng, chú ngữ đều có quán tưởng, sự tu trì có ý nghĩa, tất cả đều nằm trong các nghi quỹ này, nếu có điều gì không hiểu, hãy thỉnh giáo các Thượng sư đang ngồi phía trước, đừng thỉnh giáo tôi, vì tôi quá bận, đừng hỏi tôi, tôi thực sự quá bận, vì tôi đã giảng đi giảng lại nhiều lần, đã giảng rất nhiều lần rồi, hiện có mười hai vạn đệ tử, nếu yêu cầu tôi giảng mười hai vạn lần, tuổi thọ của tôi có thể sẽ giảm đi mười năm. Đây cũng là một vấn đề phiền toái. Vì tôi có rất nhiều việc phải làm, mong mọi người thông cảm. Nếu các bạn ở đây có bất kì câu hỏi nào, hãy thỉnh giáo các Thượng sư có mặt. Om mani padme hum.

20. Liên Hoa Đồng Tử Kim Cang tương ứng pháp

Tịnh thân nhập đàn.

  1. Niệm chú thanh tịnh

Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha. Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha. Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm. Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.

  1. Niệm chú triệu thỉnh

Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến) Ôm pê-cha sa-ma-ya cha. (3 biến) (Tùy chọn một trong hai chú này.)

Triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát chư tôn và Hộ pháp (niệm thánh danh của chư Phật Bồ Tát chư tôn, Hộ pháp trong đàn thành của mình).

Hoặc chắp tay cung kính niệm: "Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện chư chúng sinh được an lạc. Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn tràng, nguyện chư chúng sinh lìa chư khổ. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết chư Phật, nguyện chư chúng sinh thường từ hỷ. Nam mô Tam tạng Thập nhị bộ chính pháp, nguyện chư chúng sinh xả phân biệt. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết thánh hiền tăng, nguyện chư chúng sinh đắc chính giác. Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật, nguyện con cùng lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa."

  1. Đại lễ bái

Một bái thập phương Phật. Hai bái chư Bồ Tát. Ba bái Hộ pháp Kim cang. Bốn bình đẳng một cúi đầu. (Theo nghi thức Đại lễ bái Chân Phật.)

  1. Cúng dường mandala (có thể ngồi, dựa theo pháp Đại cúng dường Chân Phật)

  2. Niệm chú Tứ quy y (3 biến)

Na-mô gu-ru pây — quán tưởng Thượng sư hiện tiền. Na-mô pút-ta yê — quán tưởng Phật Tổ hiện tiền. Na-mô ta-mô yê — quán tưởng pháp bản phóng tỏa ánh sáng. Na-mô sâng-kya yê - quán tưởng không trung hiện ra vô số thánh hiền cùng phóng quang.

  1. Tu pháp mặc giáp hộ thân

Kết ấn chắp tay kim cang, đặt trên đỉnh đầu. Niệm chân ngôn Bồ Tát Kim Cang Thủ: "Ôm bua-rua lan chưa-li." (7 biến), sau đó ấn chạm vào thiên tâm, cổ họng, tim, vai trái, vai phải, rồi quay lại chạm đỉnh đầu một lần nữa trước khi giải ấn.

Yếu quyết của pháp này là, khi vừa giải ấn, lập tức quán tưởng Bồ Tát Vi Đà Hộ Pháp Thiên Tôn hoặc vị Hộ pháp Kim cương khác mà mình thờ phụng, biến hóa thành bốn thân. Một vị đứng trong không trung phía sau lưng mình, một vị đứng trong không trung phía trước mặt mình, một vị đứng trong không trung bên trái mình, một vị đứng trong không trung bên phải mình, đang bảo vệ hành giả đang tu pháp ở chính giữa.

  1. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 biến, 3 biến hoặc nhiều hơn)

Đây là bản kinh được Chân Phật Tông tôn sùng.

  1. Cầu thỉnh Liên Hoa Đồng Tử (tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử)

Tự tính liên hoa pháp tính thân Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật Truyền thừa dung hợp trân quý nhất Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh Phổ độ quần sinh không bỏ sót.

  1. Đầu tiên quán Không. Sau đó quán tưởng:

Quán tưởng một hồ lớn, sáng chói như gương, ở giữa hồ hiện lên một ngọn núi cao, trên đỉnh núi có một tòa sen, và Liên Sinh Hoạt Phật Thượng sư đang ngồi trên tòa sen đó, giống như chân dung của Thượng sư, tướng mạo trang nghiêm viên mãn như Phật, thân tỏa ánh sáng trăm báu, bên phải Thượng sư có chư Phật mười phương quá khứ, bên trái có tất cả Bồ Tát, thánh hiền tăng, và các vị tổ sư nhiều đời trùng trùng vây quanh, dưới pháp tọa có Tứ Đại Thiên Vương và quỷ thần hộ pháp.

Lại quán tưởng vị trí thiên tâm của Thượng sư, chữ "Om" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng trắng mạnh mẽ, chiếu vào thiên tâm của hành giả, đây là ánh sáng của đại viên kính trí, khiến cho ngũ uẩn và thức thứ tám của hành giả hóa thành vô hình. Ở cổ họng Thượng sư, chữ "Ah" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng đỏ mạnh mẽ, chiếu vào cổ họng hành giả, chuyển hóa tất cả tham tính dục niệm của hành giả thành vô hình, biến thành ánh sáng của đại trí huệ. Ở tim Thượng sư, chữ "Hum" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng xanh lam mạnh mẽ, chiếu vào tim của hành giả, điều phục si tính của hành giả, chuyển hóa si tính thành vô hình.

Thứ ba, quán tưởng Thượng sư và chư Tam Bảo chư tôn cùng phóng ra ánh sáng ngũ sắc chiếu khắp toàn thân hành giả, và tội chướng ác nghiệp của hành giả, tất cả nghiệp chướng từ vô thủy, đều hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông, tan biến trong không khí, từ đó toàn thân trở nên thuần trắng trong suốt phát sáng, đạt được khinh an.

  1. Trì tâm chú Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử)

Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm. (Buông thủ ấn, đếm chuỗi hạt, 108 biến hoặc 1080 biến.)

  1. Làm Cửu tiết Phật phong (cách dùng hơi thở dừng ý niệm, chương sau sẽ trình bày)

Làm nội hỏa minh điểm (pháp ôn dưỡng đan điền và tích tụ ý niệm, chương sau sẽ trình bày)

Nhập tĩnh hoàn toàn (nhập Tam-ma-địa): (thời gian không phân dài ngắn) "Ánh sáng của hành giả, tỏa ra khỏi thân thể, nhập vào biển tính Tỳ Lô." (ngã nhập) "Đại quang minh của vũ trụ, nhập vào thân thể hành giả, hai luồng ánh sáng gặp nhau, hợp thành một." (nhập ngã) Đạt đến Tam ma địa là viên thông và ấn chứng, có thể đạt được minh thể diệu giác, có thể trùm khắp pháp giới, hành giả được bao bọc trong lớp vỏ ánh sáng ẩn mọi dấu vết, tịnh hóa thân tâm, như hoa sen, nhập vào tạng tâm Như Lai, đắc mật pháp vi diệu, ngộ được chân thường, đắc chiếu minh kim cang tam muội, tất cả đều thấu suốt rõ ràng, chuyển bánh xe pháp, đắc nguyên minh chân kiến. Tam ma địa là ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, tất cả đều khai mở thông suốt, rõ ràng minh bạch, là đại tương ứng.

Sau khi xuất định, gia trì các tâm chú khác: (số biến tự quyết định) Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật) Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát) Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn) Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát) Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu) Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần) Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ) Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử) Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)

  1. Niệm Phật

Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)

Hồi hướng Cung kính Liên Sinh Thánh Tôn pháp. Một phái Chân Phật giúp chúng sinh. Niệm chú sinh về Song Liên Trì. Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh. Bí mật vô thượng và hiếm có. Nay con tu trì cúng dường hết. Phát lời thề nguyện trong thâm tâm Mong con sớm đăng Phật địa này.

Và: Thỉnh cầu Thánh Tôn gia trì lực. Ban cho quán đảnh liên hoa sinh. Quảng đại viên mãn đắc tự tại. Độ mình độ người đến Phật quốc.

Và: (cùng hồi hướng)

Nguyện người cùng niệm Phật Cùng sinh cõi Cực Lạc Trên báo bốn ơn sâu Dưới cứu ba đường khổ Thấy Phật thoát sinh tử Như Phật độ tất cả.

Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. (Giơ chày kim cang vẽ một vòng tròn, vòng tròn tỏa ra ánh sáng lửa.) Mong tất cả tai nạn tiêu tan. (Giơ chày kim cang, dùng lực chỉ về phía bóng tối, hét một tiếng "Uân", bóng tối biến thành ánh sáng. Làm như vậy 2 lần.)

  1. Niệm chú viên mãn

Ôm bu-lin. Ôm bu-lin. Ôm bu-lin.

  1. Đại lễ bái

Ôm ma-ni pê-mi hùm.

Xuất đàn. Cát tường viên mãn.

21. Nghi quỹ đại pháp Hộ Ma Thánh Cứu Độ Mẫu của Chân Phật Tông

🪷 Pháp Bảo Nguyên Độ Mẫu

  1. Vào đàn niệm chú thanh tịnh. (ngồi trước lò Hộ Ma)

  2. Chú triệu thỉnh.

  3. Quán tưởng đại lễ bái.

  4. Pháp tứ quy y Chân Phật.

  5. Pháp mặc giáp hộ thân.

  6. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

  7. Niệm Tâm chú Thượng sư. "Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm." Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật, tổ sư các đời giáng lâm phóng quang. (21 biến)

  8. Triệu thỉnh Thánh Độ Mẫu giáng lâm:

A. Thủ ấn triệu thỉnh: Kết thủ ấn Lục Độ Mẫu. Hai tay trước tiên đan nội phộc, ngón giữa dựng thẳng chạm nhau, ngón trỏ dựng thẳng hơi nghiêng, ngón cái dựng thẳng song song, thành ấn.

B. Niệm chú: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha." 108 biến.

Tổng chú Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tâng-mu sô-ha." 108 biến.

Chú Bảo Nguyên Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê cha-mu-pê-ma-ha-yê ta-na-mia-tê-sưa sô-ha." 108 biến.

C. Quán tưởng Bảo Nguyên Độ Mẫu giáng hạ: Bảo Nguyên Độ Mẫu, một đầu hai tay, thân màu vàng, đầu đội mũ miện Ngũ Phật nhỏ, trên mũ miện có hóa Phật an tọa, tay phải duỗi xuống kết ấn Vô Úy, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen đặt một bảo bình, trong bảo bình chứa đầy báu vật, như ý ngồi trên đài sen tám cánh, toàn thân tỏa sáng, trang nghiêm với chuỗi vòng ngọc.

  1. Pháp đại cúng dường Chân Phật.

  2. Kết giới: Rải nước chú ở bốn phía lò Hộ Ma.

  3. Đốt lửa: (Đốt lửa Hộ Ma)

  4. Dâng phẩm vật vào lò: Phẩm vật cúng dường và gỗ Hộ Ma, v.v.

(Chủ đàn Hộ Ma vừa dâng cúng phẩm vào lò vừa niệm chú Bảo Nguyên Độ Mẫu, vừa quán tưởng Bảo Nguyên Độ Mẫu nhập vào lửa Hộ Ma, thọ hưởng cúng phẩm.) (Người ngồi bên cạnh kết ấn Độ Mẫu, cùng niệm chú Bảo Nguyên Độ Mẫu.)

  1. Nhập định, nhập Tam ma địa: Quán tưởng Thánh Cứu Độ Mẫu phóng quang chiếu soi người cầu nguyện, tất cả điều cầu nguyện đều được như ý. Bảo Nguyên Độ Mẫu phóng ánh sáng vàng, chiếu khắp từng người cầu nguyện, từ bảo bình tuôn ra vô lượng vô tận vàng bạc châu báu tiền giấy, ban cho tất cả người cầu nguyện và người chủ đàn đều tắm trong ánh sáng vàng.

  2. Xuất định. Hồi hướng:

"Nguyện đem công đức Hộ Ma này, hồi hướng cho …., địa chỉ …, sinh vào ….. Cầu xin Thánh Cứu Độ Mẫu từ bi uy đức, tiêu trừ tất cả chướng ngại cho…., thành tựu tăng ích sự nghiệp, Phật Mẫu từ bi, chí thành cầu khẩn." 3 biến.

  1. Niệm: "Nguyện tất cả tu trì, mau được viên mãn thành tựu, nguyện tất cả điều cầu xin nhanh chóng được như ý, nguyện tất cả chướng ngại, toàn bộ tiêu tan."

  2. Chú viên mãn. (3 biến)

  3. Đại lễ bái Phật, xuất đàn.

Cát tường viên mãn.

🪷 Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu

  1. Vào đàn niệm chú thanh tịnh. (ngồi trước lò Hộ Ma)

  2. Chú triệu thỉnh.

  3. Quán tưởng đại lễ bái.

  4. Pháp tứ quy y Chân Phật.

  5. Pháp mặc giáp hộ thân.

  6. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)

  7. Niệm Tâm chú Thượng sư. "Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm." Quán tưởng Liên Sinh Hoạt Phật, tổ sư các đời giáng lâm phóng quang. (21 biến)

  8. Triệu thỉnh Thánh Độ Mẫu giáng lâm:

A. Thủ ấn triệu thỉnh: Kết thủ ấn Lục Độ Mẫu. Hai tay trước tiên đan nội phộc, ngón giữa dựng thẳng chạm nhau, ngón trỏ dựng thẳng hơi nghiêng, ngón cái dựng thẳng song song, thành ấn.

B. Niệm chú: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha." 108 biến.

Tổng chú Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tâng-mu sô-ha." 108 biến.

Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu chú: Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê ma-ma sa-ơ-wa lan-cha tu-chinh chua-ta xin-tâng-mu gu-ru sô-ha.

  1. Quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu hạ giáng, một đầu hai tay, thân màu đỏ, đầu đội mũ Ngũ Phật nhỏ, trên đỉnh có một vị Hóa Phật, tay phải kết ấn ban nguyện, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có móc sắt. Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu ngồi tùy ý trên hoa sen tam cánh, toàn thân trang điểm bằng chuỗi vòng ngọc, phóng quang giáng xuống.

  2. Chân Phật đại cúng dường pháp.

  3. Kết giới. Vẩy nước chú vào bốn xung quanh lò Hộ Ma.

  4. Châm lửa.

  5. Bỏ cúng phẩm vào lò đốt: đồ cúng và gỗ hỏa cúng, v.v… (Chủ đàn Hộ Ma, vừa bỏ cúng phẩm vào lò đốt, vừa niệm chú Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu, vừa quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu đi vào trong lửa Hộ Ma, thụ hưởng đồ cúng. Người ngồi xung quanh kết ấn Lục Độ Mẫu, cùng niệm chú Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu.)

  6. Tĩnh tọa, nhập Tam ma địa: quán tưởng Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu phóng quang chiếu đến đến người thỉnh cầu, tất cả mọi điều mong cầu đều được như ý nguyện, ví dụ giải trừ kiện cáo thì quán tưởng từ móc sắt phóng ra ánh sáng đỏ chiếu đến người cầu nguyện, khi ánh sáng đỏ chạm đến họ thì tất cả hình phạt lao tù hay kiện cáo đều tiêu trừ biến mất, bản thân hành giả Chân Phật tắm trong ánh sáng đỏ.

  7. Xuất định. Hồi hướng: Nguyện công đức lễ Hộ Ma này hồi hướng cho…. , địa chỉ ở tại…, sinh vào giờ… ngày… tháng… năm… Thỉnh cầu Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu uy đức từ bi, vì người này tiêu trừ nạn kiện cáo lao tù, xin nương nhờ Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu từ bi, thành tâm cầu nguyện. (3 biến)

  8. Niệm: Nguyện tất cả những ai tu trì đều mau chóng được thành tựu viên mãn. Nguyện tất cả điều mong cầu mau chóng như ý nguyện. Nguyện các tai nạn kiện cáo lao tù của…. đều được đẩy lùi tiêu tan.

  9. Chú viên mãn.(3 biến)

  10. Đại lễ bái, rời khỏi đàn pháp.

Cát tường viên mãn.

Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt trình bày như sau: Thánh Cứu Độ Phật Mẫu có tất cả 21 vị, mỗi vị đều có năng lực hành pháp riêng. Muốn tu pháp Hộ Ma, trước tiên phải nhận quán đảnh từ Liên Sinh Hoạt Phật, sau đó được truyền dạy pháp bày đàn lò Hộ Ma, phải có pháp đàn lò Hộ Ma trước, sau đó mới có thể theo nghi quỹ tu trì Đại pháp Hộ Ma Thánh Cứu Độ Mẫu Chân Phật Tông.

Pháp đàn lò Hộ Ma, cách bày đàn, cách châm lửa, dâng cúng, vỗ tay kết ấn, cách chấm mật ong lên gỗ Hộ Ma v.v... đều là bí mật không truyền. Nghi quỹ tu trì cũng cần được Kim cương Thượng sư giảng giải khẩu quyết tâm yếu.

Đại pháp này cần phải được Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh giảng giải mới có thể thực hành.

(Hết.)


Mục lục