081. Chân Phật Nghi Quỹ Kinh
081. Chân Phật Nghi Quỹ Kinh
🪷 Hỏi đáp về tất cả lễ nghi tu pháp
Văn tập: 081 Xuất bản: 01/03/1989 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam
Mục lục
Lời mở đầu
Sau khi viết xong cuốn sách thứ 80, tôi suy nghĩ không biết cuốn sách thứ 81 nên viết về gì đây?
Một ngày nọ vào buổi sáng sớm, tôi vừa mới thức dậy, nhìn ra ngoài cửa sổ, cây cối ngoài cửa sổ, mái nhà của người khác, thảm cỏ, tất cả đều phủ đầy sương tuyết trắng xóa. Lúc này trong lòng tôi đột nhiên hiện lên một mảng sáng, ồ, tại sao ta không viết "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh"?
Tên sách là "Kinh", thực ra không phải là kinh để đọc tụng, mà là kinh trong nghĩa "kinh tuyến vĩ tuyến". Tôi nghĩ, rất rất nhiều đệ tử đã quy y Chân Phật, quy y Liên Sinh Thánh Tôn, nhưng đối với Chân Phật Mật Pháp vẫn còn xa lạ, và có cảm giác không biết bắt đầu từ đâu, tại sao vậy?
Có người sống ở những quốc gia nhỏ rất xa xôi hẻo lánh, không thể đồng tu, đối với nghi quỹ rất mơ hồ. Có người tuy tham gia đồng tu, nhưng đối với nghi quỹ đầy ắp bí ẩn và phức tạp, không thể đi sâu. Có người kiệt sức cả đời nghiên cứu nó, nhưng quá thiên trọng vào hiện thực, sự và lý không thể viên dung, rơi vào thiên lệch về tà, ngược lại còn có chướng ngại.
Vì vậy, sau khi nhìn thấy một màng sương tuyết sáng chói, tôi cảm thấy cần thiết phải viết một cuốn "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh", khiến nghi quỹ của "Chân Phật Mật Pháp" hiện ra một cách rõ ràng minh bạch hơn, giúp người mới học có cửa để vào, biến sự huyền áo và phức tạp trở nên sâu sắc và có trật tự, tất cả đều viên dung và rõ ràng.
"Tất cả lễ nghi tu pháp", đương nhiên là có danh tướng phong phú, đương nhiên là bao la rộng lớn, nhưng Liên Sinh Thánh Tôn sẽ chỉnh lý ra những điều quan trọng, nắm bắt điểm chính, giải thích từng nguyên lý, các quan hệ khác nhau, như vậy thiết lập kinh vĩ của nghi quỹ, giúp cho người đời biết công dụng của tu pháp.
Trong quá trình viết cuốn sách này, tôi sẽ cô đọng và tinh giản những lễ nghi rườm rà phức tạp, nhưng không đánh mất ý nghĩa tinh túy của nó, trong tu pháp lại kết hợp với Phật lý, biểu hiện ra một cách có tổ chức có hệ thống, trình bày ra cái đơn giản và cái thanh nhã của nghi quỹ, hoàn toàn dùng phương thức hỏi đáp, bổ túc hoàn thành một cách đơn giản rõ ràng. Mục đích là: Nắm đơn giản mà điều khiển phức tạp. Vừa xem là hiểu ngay.
Thực ra, Liên Sinh Thánh Tôn trong nghi quỹ và khẩu quyết về Sự pháp và Lý pháp của Chân Phật Mật Pháp đã soạn thảo hoàn thành bốn cuốn sách, đó là: "Bí trung bí". [Cuốn sách này có tựa đề tiếng Việt là: Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp.] "Kỳ trung kỳ". [Cuốn sách này có tựa đề tiếng Việt là: Mật Tạng Siêu Kỳ Lạ.] "Pháp trung pháp". [Cuốn sách này có tựa đề tiếng Việt là: Chân Phật Pháp Trong Pháp.] "Phật trung Phật". [Cuốn sách này có tựa đề tiếng Việt là: Chân Phật Phật Trong Phật.]
Người có tuệ căn sâu dày, từ phương pháp tu chứng và Phật lý tu chứng, "hành giải song tu" đã có thể đạt được cảnh giới khai ngộ, nương theo nghi quỹ của bốn cuốn sách, giữ gìn giới luật, mật tu pháp trong bốn cuốn sách này, lại phát đại bồ đề tâm, (trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh), bước theo dấu chân của Liên Sinh Thánh Tôn, dùng trí huệ vô thượng để quán sát, giác ngộ nhập thế và xuất thế, có thể đắc được diệu lạc của bồ đề.
Tuy nhiên, thường thường một người chưa quy y, hoặc một đệ tử mới quy y, nếu có người hỏi họ Chân Phật Mật Pháp là gì, hoặc là tu hành thực tế như thế nào, hoặc chân lý vi diệu ở đâu, vẫn sẽ không trả lời được. Nhưng nếu là một đệ tử lâu năm đã quy y từ lâu mà những điều này còn không trả lời được thì đó là điều rất đáng hổ thẹn.
Liên Sinh Thánh Tôn hiện nay đem chân lý mình đã chứng ngộ, dùng những phương pháp như truyền dạy bằng ngôn ngữ và văn tự… để giáo hóa chúng sinh, khiến chúng sinh cũng có thể được giải thoát cứu cánh. Để giáo hóa chúng sinh, nhất định phải có một bộ nghi thức trang nghiêm thiêng liêng và cao thượng.
Đây chính là "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh", hỏi đáp về tất cả lễ nghi tu pháp.
Cuốn sách này có ba đặc điểm:
Thứ nhất, cấu trúc cơ bản của Chân Phật Mật Pháp được trình bày hoàn chỉnh toàn bộ.
Thứ hai, cả Sự pháp và Lý pháp đều được quan tâm đầy đủ, sử dụng phương thức hỏi đáp để viết, phân chương phân loại, giúp cho độc giả dễ tra cứu, rất thích hợp để mỗi người có một quyển.
Thứ ba, nghiên cứu sâu sắc khiến bí ẩn của nó hiển lộ rõ ràng, tất cả các Thượng sư Chân Phật đều có thể giảng dạy và hoằng dương, thuận tiện cho việc giảng giải.
Mục đích chính của cuốn sách này: Thiết lập chính tín. Không rơi vào thiên lệch tà đạo.
Viết một bài kệ cho "Chân Phật Nghi Quỹ Kinh":
Thức dậy thấy sương tuyết. Tâm sáng đã mấy mùa. Bên bờ hồ U Linh. Thực đắc quán tự tại. Chong đèn viết nghi quỹ. Chẳng gì ngoài thánh thần. Trời đất tùy biến đổi. Kinh vĩ là tấm chăn.
Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct., Redmond, WA 98052 USA.
01. Nghi quỹ quán đảnh quy y
**Hỏi: **Chúng tôi đã đọc không ít các tác phẩm của Liên Sinh Thánh Tôn, có ấn tượng sâu sắc về Chân Phật Tông, sinh ra hứng thú với việc tu hành Chân Phật Mật Pháp, hy vọng được nhận truyền thừa từ Liên Sinh Thánh Tôn, vậy lúc mới bắt đầu làm thế nào để nhập môn?
**Đáp: **Muốn vào cửa Chân Phật Tông, bất kỳ một người nào, nhất định phải quy y trước, nhận quán đảnh.
Quy y chính là ý nghĩa hướng về, nương tựa, cứu độ, quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, gọi là bốn quy y.
Quy y Kim cương Thượng sư là vì Kim cương Thượng sư là người đã tự mình chứng minh tất cả những gì Phật nói, đã không còn nghi ngờ, phiền não, đã vượt qua sinh tử, là Hoạt Phật, được Ngài dẫn dắt thì không sai lầm.
Quy y Phật là vì Phật là bậc giác ngộ đại giác đại ngộ, trí huệ của Ngài là hiểu biết chính xác, cho nên hướng về Phật học tập thì không sai lầm.
Quy y pháp, pháp chính là chân lý mà Phật đã giác ngộ, chúng ta nghiên cứu sâu sắc Phật lý, thực tu Chân Phật Mật Pháp, thì có thể đạt đến cảnh giới siêu phàm nhập thánh.
Quy y tăng, tăng như bậc thánh hiền, là người hoằng dương Phật pháp, cũng là đạo sư của chúng ta, chúng ta cần hướng về các ngài (bậc thánh hiền) để học tập và thỉnh giáo.
Còn về việc nhận quán đảnh, quán đảnh là một nghi thức của Chân Phật Tông, xuất phát từ lễ đăng quang của Quốc vương Thiên Trúc, dùng nước từ bốn biển lớn rưới lên đỉnh đầu, biểu thị ý nghĩa chúc mừng.
Còn người bình thường muốn vào Chân Phật Tông học tập Chân Phật Mật Pháp thì do Kim cương Acharya thiết lập đàn và thực hiện nghi thức quán đảnh.
Quán đảnh mà người mới quy y nhận được là quán đảnh kết duyên, mà loại quán đảnh rất nhiều, có: quán đảnh sờ đầu, quán đảnh thọ ký, quán đảnh phóng quang, quán đảnh thọ minh, quán đảnh tiêu tai, quán đảnh diệt tội, quán đảnh tăng ích, quán đảnh hàng phục, quán đảnh quang minh, quán đảnh cam lộ, quán đảnh chủng tử, quán đảnh trí ấn, quán đảnh sự nghiệp, quán đảnh pháp khí, auán đảnh Acharya..., đây là sự phân biệt dựa theo nghi thức và ý nghĩa.
Người nhận quán đảnh, biểu thị chư Phật đại từ đại bi đã ban cho ấn ký ấn tâm, được pháp duyên, có thể từ khi mới phát tâm mà cầu đạt đến Acharya, đã đầy đủ nghi quỹ quy y quán đảnh, chính thức nhập môn, là bậc tự mình tu hành đến viên mãn - Hậu Bổ Phật. Vì vậy nghi thức quán đảnh, từ chư Phật Bồ Tát cho đến tám bộ chúng sinh, không ai là không hoan hỷ tán thán.
Quán đảnh tức là: Sinh vào nhà Như Lai, nhất định nối ngôi Phật. Muốn vào Chân Phật Tông học tập Chân Phật Mật Pháp, nhất định phải quy y trước, nhận quán đảnh, như vậy mới được coi là chính thức nhập môn.
**Hỏi: **Học tập Chân Phật Mật Pháp mà không quy y, chưa nhận quán đảnh có được không?
**Đáp: ** Lấy một ví dụ để nói: Quy y nhận quán đảnh, chính là việc đăng ký nhập học của học sinh. Không quy y, chưa nhận quán đảnh, chỉ được coi là học lỏm, chưa chính thức nhập học.
Đạo tràng đồng tu của tông phái chúng ta hoan nghênh mọi người tham dự nghe và học tập, nhưng muốn thực sự nhập môn học pháp tu hành, nhất định phải nhận quy y và quán đảnh, như vậy mới coi là nhân duyên đầy đủ.
Liên Sinh Thánh Tôn là người sáng lập Chân Phật Tông, cũng là đại đạo sư truyền thụ Chân Phật Mật Pháp, người muốn học tập Chân Phật Mật Pháp nên mau mau quy y nhận quán đảnh mới đúng.
Đang lảng vảng ở ngoài cửa, nghe giảng ở ngoài cửa, biết rõ Chân Phật Mật Pháp là pháp duyên khó gặp, sao không bước vào đường đường chính chính!
**Hỏi: **Kim cương Acharya thực hiện nghi thức quán đảnh cho người mới nhập môn như thế nào?
Đáp: Nghi quỹ quán đảnh kết duyên như sau:
-
Đầu tiên, Kim cương Thượng sư kết mật đàn (đàn thành của nghi thức quán đảnh), còn gọi là đàn mandala, tức là bố trí đàn pháp viên mãn của chư tôn.
-
Đệ tử nhận quán đảnh trước tiên đảnh lễ Thượng sư, sau đó lễ bái đàn thành.
-
Kim cương Thượng sư cầm bình quán đảnh, tức quán tưởng trong hư không có bốn con rồng bay đến, bốn con rồng phun nước vào bình quán đảnh (điều này tượng trưng cho nước bốn biển lớn), quán tưởng quán đảnh này chính là pháp đại bí mật của quán đảnh. Nước thanh tịnh từ bốn biển lớn này đổ quán vào đỉnh đầu đệ tử, khiến thân đệ tử không ô uế, rửa tâm đệ tử không ô uế, thân tâm đệ tử thanh tịnh, không khác gì Phật.
-
Kim cương Thượng sư cầm chuông, lắc chuông, chuông phóng quang, chiếu đệ tử, Kim cương Thượng sư quán tưởng chuông phóng đại quang minh, chiếu khắp toàn thân đệ tử nhận quán đảnh. (niệm chân ngôn)
Xướng kệ: Kết duyên quán đảnh các Phật tử. Phóng quang thanh tịnh các công đức. Khiến cho chúng sinh lìa cấu uế. Cùng chứng Như Lai tịnh Pháp thân.
-
Kim cương Thượng sư dùng ấn gia trì đệ tử. (Đệ tử đảnh lễ Thượng sư, lại đảnh lễ đàn thành rồi lui đi.)
-
Cát tường viên mãn.
Hỏi: Nước quán đảnh lấy từ loại nước gì?
Đáp: Nước quán đảnh là nước thông thường, được gia trì bằng chú Đại Bi, hoặc gia trì bằng các chú khác cũng được, cũng có thể dùng chiên đàn Ngưu Đầu [gỗ đàn hương núi Ngưu Đầu, được xem là loại chiên đàn hương thơm nhất], tử đàn [loại gỗ đàn hương/đàn mộc có màu tím sẫm hoặc đỏ tím], hương đa-ma-la, cam tùng, xuyên khung, bạch đàn, uất kim, long não, trầm hương, xạ hương, đinh hương…. cho vào nước quán đảnh, tạo thành nước hương.
Còn có cách dùng trầm hương (một lạng), bạch đàn (một lạng), cam tùng (nửa lạng), đinh tử (nửa lạng), huân lục (nửa lạng), xuyên khung (nửa lạng), uất kim (một tiền ba phân), bảy loại này cho vào túi vải sạch, đặt vào nước quán đảnh.
Cũng có cách cho ngà voi, cho bảo vật thủy tinh, hoặc dược cốc và các vật khác vào trong nước quán đảnh.
Nghi quỹ của pháp quán đảnh là bí pháp của Kim cương Acharya, Kim cương Acharya cần phải học từ Liên Sinh Thánh Tôn, như vậy mới đủ nghi quỹ.
Hỏi: Ý nghĩa chân thật của quán đảnh quy y là gì?
**Đáp: **Ý nghĩa chân thật của quán đảnh quy y thực ra là phi phàm, Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng như sau: Quán đảnh quy y là khởi đầu của việc thành Phật. (Hậu Bổ Phật) Quán đảnh quy y là chuẩn bị tu thành chân lý mà các bậc thánh nhân chứng ngộ. (khai ngộ) Quán đảnh quy y là để siêu phàm nhập thánh. (giải thoát) Quán đảnh quy y là tự giác giác tha, tự giác là tự mình khai ngộ, giác tha là độ hóa chúng sinh, lợi ích chúng sinh. (giác hành viên mãn)
Vì vậy, ý nghĩa chân thật của quán đảnh quy y là một nghi thức thần thánh và cao thượng, một khi nhận quán đảnh quy y là thật sự nhập môn học Phật, là đệ tử Phật chân chính.
**Hỏi: **Chúng ta quy y Chân Phật Tông, nhận quán đảnh kết duyên, có lợi ích gì?
**Đáp: **Quy y Liên Sinh Thánh Tôn, nhận quán đảnh của Liên Sinh Thánh Tôn, tức là nhận được lực gia gia trì tam mật của Liên Sinh Thánh Tôn, điều này chính là khiến cho người tin nhận được Phật lực.
Người nhận quán đảnh của Liên Sinh Thánh Tôn, nhờ gia trì mà hiện ra thân Phật chính là gia trì thân.
Mà Liên Sinh Thánh Tôn có công phu tu hành, đệ tử quy y quán đảnh, có thể gia trì thành Phật, đây là một trong ba loại thành Phật của Chân Phật Tông.
Lực gia trì này thậm chí có thể trừ bệnh, trừ lo lắng, trừ tai nạn, trừ kiện tụng; lực gia trì có thể tăng phúc đức, tăng tuổi thọ, tăng lợi ích, tăng thiện duyên, tăng con cái, tăng hòa hợp, tăng kính ái.
Mà quán đảnh quy y tức là nhận được tam mật gia trì của Liên Sinh Thánh Tôn: Liên Sinh Thánh Tôn dùng thủ ấn gia trì, người nhận quán đảnh thì thân, mắt, tay, chân liền tương ứng với Yết Ma mandala, thành thân mật của Như Lai. Liên Sinh Thánh Tôn dùng chân ngôn gia trì, người nhận quán đảnh liền tương ứng với Pháp mandala, mà thành khẩu mật của Như Lai. Liên Sinh Thánh Tôn dùng quán tưởng gia trì, người nhận quán đảnh liền tương ứng với Samaya Mandala, mà thành ý mật của Như Lai.
Ba mật gia trì này, hành giả đắc được thì có thể tức thân thành Phật.
Đệ tử quy y nhận quán đảnh, ngay lập tức có mười sáu vị thiện thần hộ trì đệ tử, mười sáu vị thiện thần này chính là: Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Tỏa Phục Độc Hại Thiện Thần, Tăng Ích Thiên Vương, Sư Tử Uy Mãnh Thiện Thần, Dũng Mãnh Tâm Địa Thiện Thần, Nhiếp Phục Chư Ma Thiện Thần, Năng Cứu Chư Hữu Thiện Thần, Ly Nhất Thiết Bố Uý Thiện Thần, Cứu Hộ Nhất Thiết Thiện Thần, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Bạt Trừ Tội Khổ Thiện Thần, Năng Nhẫn Thiện Thần, Hoan Hỷ Thiện Thần, Trừ Nhất Thiết Chướng Nạn Thiện Thần.
Đây là mười sáu vị thiện thần, thậm chí có ba mươi sáu thiện thần và nhiều thiện thần hơn nữa đến hộ trì hành giả Chân Phật, đây đều là lợi ích bất khả tư nghì. Thậm chí người nhận quán đảnh quy y, đắc được Kim cương thượng vị đà-la-ni, lập tức cảm ứng Kim Cang Lực Sĩ, từ hư không hạ giáng một vị Kim Cang Thần, hoặc Chấp Kim Cang, hoặc Trì Kim Cang, hoặc Kim Cang Dạ Xoa, hoặc Mật Tích Kim Cang, vị Kim Cang Thần này thường đi theo bảo vệ hành giả Chân Phật.
Quy y nhận quán đảnh liền có lợi ích như vậy.
**Hỏi: **Muốn quy y, nhận quán đảnh, về lý nên chuẩn bị gì? Tại sao phải đảnh lễ Kim cương Thượng sư trước?
Đáp: Muốn quy y, nhận quán đảnh, về lý phải có một tâm thành kính cung kính, bởi vì quy y quán đảnh không phải là chuyện trẻ con, không thể tùy tiện.
Quy y quán đảnh là một khâu quan trọng, là bản thân quyết tâm tu hành, muốn sống một cuộc sống hợp lý, cao thượng, có đầy đủ niềm tin và hy vọng đối với thành tựu trong tương lai. Có niềm tin đối với Kim cương Thượng sư thì cần chuẩn bị một tâm kiền thành cung kính.
Tại sao phải đảnh lễ Kim cương Thượng sư trước rồi mới đảnh lễ đàn thành, đây là vấn đề về thứ tự:
Bởi vì trước tiên có Kim cương Thượng sư, sau đó mới có đàn thành, đàn thành là do Kim cương Thượng sư thiết lập, cũng chính là mandala mà Kim cương Thượng sư hóa hiện.
Có người đối với đàn thành thì cung kính lễ bái, nhưng đối với Kim cương Thượng sư thì không quan tâm không kính trọng, điều này là lẫn lộn đầu đuôi, không hiểu rõ thứ tự nhân quả.
Hơn nữa, Kim cương Thượng sư là tổng trì của Phật pháp tăng, không kính trọng Kim cương Thượng sư tức là không kính trọng Phật pháp tăng.
**Hỏi: **Có người sống ở nước ngoài rất xa xôi, không thể trực tiếp nhận quán đảnh quy y, nhưng trong lòng vô cùng muốn quy y nhận quán đảnh, phải làm thế nào?
**Đáp: **Muốn quy y Liên Sinh Thánh Tôn, có được truyền thừa của Chân Phật Tông, có hai cách thức:
Đích thân đến quy y — tức là trước tiên liên lạc hẹn thời gian, từ các nơi trên thế giới bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, do Liên Sinh Thánh Tôn trực tiếp quán đảnh quy y.
Sau khi quán đảnh quy y, Liên Sinh Thánh Tôn sẽ ban giấy chứng nhận quy y, pháp tướng Căn bản Thượng sư và pháp bản tu trì, như vậy là đã được truyền thừa. (Chú thích: Thời điểm viết cuốn sách này, Liên Sinh Thánh Tôn đã ẩn cư bế quan, xin hãy viết thư hoặc nhờ nhân viên hoằng các phân đường ở khắp nơi đại diện làm thủ tục quy y).
Viết thư quy y — Vì đệ tử ở khắp các nơi trên thế giới, người mới muốn đích thân đến quy y Liên Sinh Thánh Tôn không dễ dàng, vì vậy, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào buổi sáng lúc 7 giờ ngày mồng Một hoặc Rằm âm lịch, quay mặt về hướng mặt trời mọc, niệm chú tứ quy y: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
Niệm 3 lần lạy 3 lần. (Ngày mồng Một hoặc Rằm, chỉ cần làm một lần.)
Ở chỗ của Liên Sinh Thánh Tôn, mỗi khi đến ngày mồng Một hoặc Rằm, tại Chân Phật Mật Uyển sẽ cử hành nghi thức "quán đảnh cách không từ xa", để quán đảnh từ xa cho các đệ tử không thể đích thân đến được.
Sau khi đệ tử đã làm xong nghi thức tại nhà của mình, chỉ cần viết thư, ghi ra họ tên thật, địa chỉ, tuổi của bản thân, tùy tâm kèm theo ít phần cúng dường Phật, trong thư ghi chú rõ là "Cầu quán đảnh quy y", sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển tại Hoa Kỳ.
Sau khi Liên Sinh Thánh Tôn nhận được thư sẽ gửi cho mọi người giấy chứng nhận quy y và pháp tướng Thượng sư, đồng thời chỉ định tu pháp nào trước, đây cũng chính là đã được truyền thừa của Liên Sinh Thánh Tôn.
Địa chỉ liên lạc Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn: Sheng-yen Lu 17102 NE 40th Ct. Redmond, WA98052 U.S.A.
**Hỏi: **Đích thân đến nhận quán đảnh và quán đảnh cách không từ xa có gì khác nhau?
**Đáp: **Công đức là như nhau. Đích thân đến nhận quán đảnh thì hợp lễ nghi, quán đảnh cách không từ xa cũng hợp lễ nghi.
Tại sao quán đảnh cách không từ xa cũng hợp lễ nghi? Bởi vì Liên Sinh Thánh Tôn có pháp lực nhiếp triệu, đây là pháp "nhiếp triệu điều khiển" cực kỳ bí mật, một vị Kim cương Thượng sư đã khai ngộ, thực sự đã đạt được cảnh giới P háp thân chân thật biến hóa khắp nơi, ánh sáng tràn đầy khắp sáu hợp, không chỉ có thể thu hút triệu gọi hành giả đến nhận quán đảnh, mà còn có thể điều khiển Không Hành Mẫu đến nơi cư trú của hành giả để truyền quán đảnh, đây chính là công năng của "nhiếp triệu điều khiển".
Có người nhận quán đảnh từ xa, tự cảm thấy trời đổ xuống nước mát lành. Có người nhận quán đảnh từ xa, tự cảm thấy Sư Tôn đỡ mình đứng dậy. Có người nhận quán đảnh từ xa, nhìn thấy trong mặt trời lớn thấy hiện ra thân Sư Tôn. Có người nhận quán đảnh từ xa, nghe được pháp ngữ của Sư Tôn. Có người nhận quán đảnh từ xa, bệnh nặng chuyển nhẹ, bệnh nhẹ lập tức khỏi. Có người nhận quán đảnh từ xa, người vợ bị hiếm muộn ngay lập tức có thai, sinh được một con trai. Có người nhận quán đảnh từ xa, nghe tiếng khánh từng hồi, hương thơm thoang thoảng, thù thắng phi thường. Có người nhận quán đảnh từ xa, bệnh mắt đột nhiên hết, tự cảm thấy có nước vào mắt, mắt lại sáng trở lại.
Những cảm ứng khác nhiều không thể kể xiết, Liên Sinh Thánh Tôn có lời thề nguyện sâu rộng, bi tâm cứu khổ, làm đại y vương, đây là điều không hề bịa đặt! Quán đảnh từ xa là không sai chút nào! Đích thân đến nhận quán đảnh, quán đảnh cách không từ xa, không có phân biệt.
**Hỏi: **Thượng sư có thể thực hiện quán đảnh cách không từ xa cần phải có loại công lực nào?
**Đáp: **Ba đại thành tựu:
Thành tựu thứ nhất — Đắc thành tựu sai khiển Không Hành du hành. Thành tựu này có thể sai khiển Không Hành Mẫu cầm nước pháp quán đảnh, bay hàng nghìn vạn dặm, thực hiện cảnh giới quán đảnh chân thật cho các đệ tử quy y trên toàn thế giới.
Thành tựu thứ hai — Đắc thành tựu nhiếp triệu tàng hình. Thành tựu này có thể nhiếp triệu đệ tử đến trước đàn thành, tức là đưa nguyên thần của đệ tử đến mật đàn, ban cho nước pháp quán đảnh, đây chính là thành tựu nhiếp triệu tàng hình bí mật.
Thành tựu thứ ba — Đắc thành tựu Bổn tôn đại quang minh. Kim cương Thượng sư đã đắc biến hóa Bổn tôn, khiến cho thân mình thành Tam ma địa của Bổn tôn, trong Tam ma địa ánh sáng chiếu khắp toàn thế giới, liền dùng dòng pháp ánh sáng này để quán đảnh cho tất cả đệ tử quy y, đây chính là thành tựu Bổn tôn đại quang minh.
Ba đại thành tựu này vốn là biến hóa bí mật trong bí mật, cần biết rằng vạn pháp duy tâm, một tâm hiển hiện vạn pháp, chân lý về sự biến hóa này là công lực cực kỳ sâu xa mà chỉ có Kim cương Thượng sư chân chính mới có thể hiểu rõ, pháp sư thông thường cũng như phàm phu thế tục đều không thể lĩnh hội được.
Hỏi: Tại sao quán đảnh pháp Kim cang và Acharya lại không thể thực hiện quán đảnh từ xa?
**Đáp: **Thật ra bất kỳ pháp nào cũng đều có thể quán đảnh từ xa.
Chỉ là quán đảnh pháp Kim cang và Acharya đều là để chuẩn bị tu tập đại Mật pháp vô thượng, đến khi quán đảnh pháp Kim cang và Acharya (quán đảnh Thượng sư) là chuẩn bị để truyền thụ Mật pháp cho người khác, là quán đảnh quan trọng.
Trong quá trình tu tập pháp Kim cang, cũng như thành tựu A-xà-lê, đều có rất nhiều khẩu quyết đặc biệt và quan trọng cần truyền thụ, những khẩu quyết sâu xa này toàn bộ phải truyền thụ trực tiếp mặt đối mặt, tức là phải khẩu truyền mới có thể hiểu rõ, nếu không khẩu truyền thì thật sự rất khó để đi sâu vào.
Vì vậy, quán đảnh pháp Kim cang và Acharya nhất định phải đích thân đến nhận quán đảnh, tức là đích thân đến nhận sự truyền thụ khẩu quyết chí yếu của Liên Sinh Thánh Tôn.
Vì vậy tông phái chúng ta quy định quán đảnh pháp Kim cang và quán đảnh Acharya là phải đích thân đến nhận quán đảnh.
Còn về pháp Tứ gia hành, pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn, tất cả pháp Yết ma… đều có thể quán đảnh từ xa.
**Hỏi: **Quy y Liên Sinh Thánh Tôn, nhận quán đảnh của Liên Sinh Thánh Tôn, thật sự có thể đắc đại thành tựu không?
**Đáp: **Trước hết, hành giả nhận quy y quán đảnh nhất định phải xác nhận Liên Sinh Thánh Tôn đã đắc đại thành tựu, đã giác ngộ chân lý về vũ trụ và nhân sinh.
Liên Sinh Thánh Tôn hiện có 80 cuốn sách (Chú thích: đến tháng 1 năm 2026, tác phẩm do Liên Sinh Thánh Tôn viết đã đạt 307 cuốn), từ lúc ban đầu học Thiên Chúa giáo, Đạo giáo, sau đó học Hiển Mật, đến ngày hôm nay cầu đắc sự giải thoát rốt ráo, tất cả điều này đều được phân tích rõ ràng trong sách, 80 cuốn sách chính là bóng hình cả cuộc đời của Thánh Tôn, tu hành như vậy không phải là thánh triết trời cho, cũng không phải đạt được trong một sớm một chiều, không phải là lời nói suông vô căn cứ, mà là Đại Giác Tôn Giả tích lũy được qua việc tu hành từng ngày.
Chân Phật Mật Pháp là nghi quỹ được tu luyện bằng trí huệ giác ngộ tối thượng, là pháp môn và nghi quỹ mà Liên Sinh Thánh Tôn đã chứng ngộ được. Chính nhờ pháp này mà Thánh Tôn khai ngộ, nên Ngài dùng pháp ấy để truyền dạy cho chúng sinh, nhằm lợi ích và khai mở trí giác cho mọi người. Phàm ai thọ nhận pháp này đều có thể hướng đến con đường giác ngộ.
Liên Sinh Thánh Tôn thật sự khai ngộ, Chân Phật Mật Pháp thật sự khiến hành giả có thể khai ngộ, Chân Phật chính là học vấn trí tuệ, không phải học vấn mê tín, là từ thực tướng nội tâm mà thể ngộ, chứ không phải là sự sùng bái bề ngoài, về phương diện này người mới học phải hiểu rõ ràng.
Liên Sinh Thánh Tôn thật sự khai ngộ, Chân Phật Mật Pháp thật sự khiến hành giả có thể khai ngộ, Chân Phật chính là học vấn trí tuệ, không phải học vấn mê tín, là từ thực tướng nội tâm mà thể ngộ, chứ không phải là sự sùng bái bề ngoài, về phương diện này người mới học phải hiểu rõ ràng.
Chúng ta cần kiên cố niềm tin của mình đối với Kim cương Thượng sư và Tam Bảo, từ khi bắt đầu kết duyên quán đảnh, liền có duyên lành vĩnh viễn với Phật Bồ Tát, quán đảnh quy y liền tiêu trừ tất cả nghiệp chướng từ nhiều kiếp, được Tam Bảo Thượng sư gia trì, từ đó bản thân có được nhân sinh quan chính xác, một khi thọ nhận quán đảnh quy y, mọi việc trước đây ví như ngày hôm qua đã chết, mọi việc sau này ví như ngày hôm nay mới sinh.
Tín — Tin Căn bản Thượng sư, tin Chân Phật Mật Pháp. Giải — Hiểu rõ Phật lý, thâm nhập Chân Phật Mật Pháp. Hành — Thực tu tinh tấn, quán triệt từ đầu đến cuối. Chứng — Tự mình chứng minh tất cả chân lý mà Liên Sinh Thánh Tôn đã nói, đắc chứng khai ngộ. Hành giả như vậy, nhất định thành Phật, nhất định đắc đại thành tựu.
02. Nghi quỹ đàn thành
**Hỏi: **Hành giả Chân Phật sau khi nhận quán đảnh quy y xong có phải lập đàn thành không?
**Đáp: **Đây là điều cần thiết.
Đàn thành nói một cách đơn giản chính là đạo tràng tập trung, ý nghĩa chủ yếu nhất của nó là bản thân có thể ở trong tịnh thất an tịnh luyện tập thiền định mỗi ngày một cách chăm chỉ và đúng đắn, không bị người ngoài quấy nhiễu. Tông phái chúng ta quy định mỗi ngày tối thiểu một lần tu. Đàn thành chính là nơi tu pháp, cũng là nơi thờ cúng Phật Bồ Tát chư tôn.
Vì sao cần thiết phải có đàn thành? Bởi vì người mới tu hành, tĩnh tọa tu pháp, quan trọng là phải yên tĩnh, hơn nữa thờ cúng chư tôn thì nhìn vào là thấy thù thắng, vi diệu, trang nghiêm, trong lòng sẽ cảm thấy hoan hỷ, thích ngồi lâu trong đàn thành. Tạo lập đàn thành càng có lợi cho tu pháp quán tưởng, có đàn thành cũng giống như có một phương hướng.
Ý nghĩa của đàn thành như sau:
- Yên tĩnh.
- Trang nghiêm.
- Phương hướng.
- Tu pháp.
- Thần thánh.
**Hỏi: **Bản thân hành giả Chân Phật nghèo khó, xét về điều kiện thì không thể bố trí đàn thành, như vậy có được không?
**Đáp: **Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng tốt nhất là trong phạm vi khả năng của mình hãy cố gắng hết sức để bố trí đàn thành. Nếu thật sự không có khả năng, hoặc người nhà phản đối, không thể nào lập đàn thành được thì cũng không cần miễn cưỡng.
Hành giả Chân Phật như vậy có thể tìm thời gian tương đối rảnh và tìm một nơi tương đối yên tĩnh, dùng cách quán tưởng tiện lợi để quán tưởng đàn thành ở trong hư không, lần lượt quán tưởng rõ ràng thì vẫn có thể tu pháp.
Tông phái chúng ta tương đối coi trọng đàn thành, bởi vì Chân Phật Mật Pháp có ý nghĩa bí mật, cho nên coi trọng việc bố trí đàn thành.
Tu hành theo Thiền tông thì không nhất định coi trọng đàn thành, hành giả Thiền tông đi, đứng, ngồi, nằm đều có thể tu thiền, nơi núi non hoang sơ, bên hồ nước cũng đều có thể ngồi thiền.
Vì Chân Phật Mật Pháp coi trọng quán tưởng cho nên lập đàn thành hoặc quán tưởng đàn thành là vô cùng quan trọng. Người có điều kiện thì cần lập đàn thành. Người không có điều kiện thì cần quán tưởng đàn thành.
**Hỏi: **Đàn thành có thể phân thành mấy loại?
Đáp: Phạn ngữ của đàn thành là mandala.
Mandala đại thể có thể phân thành bốn loại: Đại mandala - đàn thành tổng hợp các vị. Có hình thể và tranh vẽ của các vị, toàn thể và các vị đều có hết, đây là nơi các thánh hiền tụ hội, vạn đức giao quy, vì nó rất lớn cho nên gọi là đại mandala. Samaya mandala - thờ cúng cả pháp khí và ấn khế mà các vị cầm trên tay, samaya có ý nghĩa là lời thề gốc, thờ cúng những biểu tượng của lời thề chính là samaya mandala. Pháp mandala - là đàn thành thờ cúng chủng tử tự và chân ngôn của các vị, thờ cúng văn tự và kinh điển chính là pháp mandala. Yết ma mandala - đàn thành thờ cúng hình tượng của các vị, có dụng ý làm pháp thì gọi là đàn thành mandala.
Bốn loại mandala này đều có đặc trưng: Đại mandala — mười pháp giới. Samaya mandala — bình đẳng. Pháp mandala — lục trần tri giác. Yết ma mandala — động tác làm pháp.
**Hỏi: **Thế nào gọi là Kim cương giới mandala và Thai tạng giới mandala?
Đáp: Kim cương giới mandala và Thai tạng giới mandala gộp lại gọi chung là hai bộ mandala, tức là “Kim-Thai Lưỡng Bộ” của Mật giáo.
Hai bộ này đều là pháp môn thành tựu Phật. Kim cương giới mandala chính là pháp môn về quả tướng mà chư Phật mới thành tựu, tức là trí quả. Thai tạng giới mandala chính là pháp môn về lý tính mà chúng sinh vốn có, tức là lý nhân.
**Hỏi: **Đàn thành (mandala) còn có những gì nữa?
**Đáp: **Thật ra mandala còn có rất nhiều chủng loại, tức là mandala phân nhánh.
Thông thường chúng ta nhìn thấy tướng của Tây phương Tam Thánh, sau đó thêm vào mười sáu quan cảnh của Tây Thiên, tức là Tịnh Thổ Mandala. Chúng ta thường thấy tranh vẽ Phật Thích Ca Mâu Ni ở Linh Sơn Hội Thượng, có thể nói đây là Pháp Hoa Mandala. Tôi cũng từng nhìn thấy có một bức tranh trên đó có bảy hành tinh Nhật Nguyệt Thủy Hỏa Mộc Kim Thổ, sau đó thêm vào La Hầu, Kế Đô trở thành chín hành tinh, đây gọi là Cửu Diệu Mandala.
Hiện tại có rất nhiều loại mandala, Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cang bộ, Yết ma bộ. Mandala quan trọng nhất là: Tam mật viên mãn đầy đủ. Mandala chính là chữ “thể” trong thể-tướng-dụng.
**Hỏi: **Bố trí đàn thành thì phải long trọng là tốt hay là đơn giản là tốt? Đáp: Người có điều kiện thì có thể làm long trọng một chút, người không có điều kiện thì có thể làm đơn giản một chút.
Đều tốt như nhau, nhưng quan trọng là cần bố trí trang nghiêm, pháp khí cần có đầy đủ, pháp khí nếu không đầy đủ thì không như pháp. Có ba pháp khí quan trọng là: chày kim cang, chuông kim cang, chuỗi hạt.
**Hỏi: **Lựa chọn tịnh thất để làm đàn thành có quan trọng không?
**Đáp: **Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng cực kì quan trọng.
Có một số pháp sư cho rằng không quan trọng, trong lòng cung kính là được, thật ra đây là vì pháp sư thông thường không hiểu về nguyên lý phong thủy.
Nếu tùy tiện bày trí mật đàn ở dưới xà nhà, hoặc dựa lưng vào cửa sổ lớn, hoặc là lối người đi lại, hoặc là đối diện với cửa nhà vệ sinh… không cần phải nói đến phong thủy thế nào ra sao, thật ra chính tâm mình đã bị ảnh hưởng bởi những nhân tố này rồi.
Học phong thủy tức là học về hoàn cảnh vô hình, cho nên tịnh thất sửa sang thành mật đàn, mật đàn lại là nơi thần thánh giao quy, vì thế lựa chọn tịnh thất là vô cùng quan trọng, không thể qua loa.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng sửa tịnh thất thành mật đàn cần chú ý các điểm quan trọng như sau: Thanh tịnh và yên tĩnh. Tàng phong tụ khí. Hướng của mật đàn hợp với hướng từ trường của hành giả. Hướng của mật đàn ngược dòng nước. Bức tường nơi đặt mật đàn không được rỗng trên rỗng dưới, rỗng trái rỗng phải, mà là một bức tường đặc vững chắc. Ánh sáng vừa phải. Những điểm quan trọng này nếu có thể chuẩn bị đầy đủ hết là tốt nhất, nếu không thể chuẩn bị đầy đủ thì phải mời thầy phong thủy đến tận nơi chỉ điểm và sửa cho đúng.
Phong thủy mật đàn cũng là một kiến thức rất lớn, mật đàn phải “thù thắng đẹp đẽ trang nghiêm”, mật thất phải thanh tịnh hòa nhã. Trong khi tu pháp “trên cúng Tam Bảo, dưới cứu tứ sinh”, vô hình trung, phúc huệ tăng trưởng, hành giả Chân Phật đắc đại thành tựu.
Đây là Phật, đàn, người ba hợp làm một, tức là thiên, địa, nhân ba hợp làm một.
Hỏi: Liên Sinh Thánh Tôn đã nói hết sức rõ ràng minh bạch về phong thủy của đàn thành tịnh thất, nhưng các đệ tử ngu muội vẫn không hiểu, vậy phải làm sao?
Đáp: Như thế này vậy! Có thể không cần hiểu hướng ngược dòng nước, hợp hay không hợp với hướng từ trường của hành giả, chỉ cần căn phòng sạch sẽ yên tĩnh và bức tường để đặt đàn thành phải vững chắc.
Nếu vẫn không hiểu thì nên mời thầy phong thủy đến khảo sát. Bởi vì sắp đặt mật đàn là việc cả đời cả kiếp, không phải là một hai năm, hãy mời đại sư am hiểu phong thủy địa lý về để xem, đây vẫn là điều cần thiết.
Tương lai, khi Liên Sinh Thánh Tôn vân du bốn biển, nếu đến được vùng đất quý, có thể tự mình đi khảo sát mật đàn của mọi người, như thế thì sẽ không có sai sót gì cả, đây là sự bảo đảm hạng nhất.
Hỏi: Bố trí mật đàn như thế nào?
**Đáp: **Dựa theo bốn loại mandala thì chắc chắn sẽ có một số điểm khác nhau.
Tôi lấy cách bố trí của Chân Phật Mật Uyển để nói như sau: Ở chính giữa bức tường là bức tranh mandala Phật Thích Ca Mâu Ni. Ở bên phải bức tường là bức tranh mandala Di Lặc Bồ Tát. Ở bên trái bức tường là bức tranh mandala Thiên Thủ Quan Âm. Tượng kim thân có: Ở giữa là A Di Đà Phật. (làm bằng sứ) Bên phải là Diêu Trì Kim Mẫu. (điêu khắc gỗ) Bên trái là Quan Âm Bồ Tát. (điêu khắc gỗ) Còn các bức tượng kim thân khác như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Bất Động Minh Vương, Quan Âm Tứ Thủ, Chuẩn Đề Phật Mẫu,… thì đặt bên dưới chỗ của A Di Đà Phật, được sắp đặt một cách ngăn nắp, chỉnh tề, có trật tự. Bên phải bày một tháp xá lợi. (bên trong có hai hạt xá lợi kim cang và bốn hạt xá lợi khác) Bên trái bày một mandala gạo và kinh sách. Ở phía trước Phật Bồ Tát thì bày cúng dường, thông thường là ngũ cúng hoặc bát cúng, cũng có khi lên tới ba mươi bảy món cúng. Ngũ cúng là: hoa, hương, đèn, trà, quả, đèn có thể dùng nến thay thế. Bát cúng là: vỏ ốc, quả, bột hương, nến, ba que hương không cháy, năm bông hoa trắng, nước thơm (nước cho thêm xà bông tắm), nước lọc (bày theo thứ tự từ phải qua trái). Cúng phẩm đều được đựng trong bình sạch hoặc bát sạch. (dụng cụ làm bằng vàng, bạc, đồng, sứ đều được)
Bát cúng ở Chân Phật Mật Uyển được bày thành hai hàng, hàng trên là cúng chư Phật Bồ Tát, hàng dưới là cúng cho tự thân quán tưởng thành Bổn tôn để dùng. Ý nghĩa của bát cúng là: Hai loại nước — nước công đức. Hoa — bố thí. Hương — trì giới. Đèn — nhẫn nhục. Quả — thiền định. Hương bột — tinh tấn. Vỏ ốc — như ý. Mật đàn cần để ngọn đèn luôn sáng. Phía trước của mật đàn bày bàn để lư hương, phía trước của bàn bày lư hương thì đặt pháp khí.
Cách bố trí ở Chân Phật Mật Uyển đại thể là như vậy, ngoài ra còn có khăn gấm nhiều màu, lọng hoa, khăn khata nhiều màu, dùng để tăng thêm sự nghiêm túc và trang trọng, bộc lộ sự thù thắng đẹp đẽ phi thường.
**Hỏi: **Chủ tôn của đàn thành nên thờ cúng vị nào?
**Đáp: **Chủ tôn của đàn thành là vị được thờ ở trung tâm, mỗi người mỗi khác.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng tốt nhất là thờ cúng Bổn tôn của mình ở trung tâm, cũng tức là Bổn tôn mà sau này bạn sẽ tu pháp mỗi ngày. (Đó là vị mà bạn “đầu duyên” nhất, yêu thích nhất.) Ở đây có hai nguyên nhân: Tương lai chúng ta tu pháp thành tựu tức là trực tiếp biến thành Bổn tôn. Bổn tôn ở trung tâm cũng thuận lợi cho việc quán tưởng. Ngoài ra, thông thường thờ cúng kim thân của Phật Bồ Tát nên lấy số lẻ, một vị, ba vị, năm vị, bảy vị… vì sao? Bởi vì là số lẻ thì chắc chắn sẽ hiện lên chủ tôn trung ương, còn một cách nói khác là số lẻ là dương, số chẵn là âm, sắp xếp theo số lẻ thì sẽ có mỹ quan hơn. (Tính số lượng kim thân thì lấy kim thân là chính, không tính tranh ảnh.)
Thứ tự sắp xếp thờ cúng thuận theo lớn nhỏ là Phật, Bồ Tát, Kim Cang, thiên thần. Trung tâm là chủ tôn, bên phải là vị trí lớn hơn, bên trái là vị trí nhỏ hơn. Nếu có rất nhiều kim thân thì có thể xếp hai tầng, thậm chí ba tầng năm tầng.
**Hỏi: **Kim thân Liên Hoa Đồng Tử có thể thờ làm chủ tôn của đàn thành không?
Đáp: Được.
Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử là một trong tám đại Bổn tôn của Chân Phật Tông, tự nhiên có thể là chủ tôn của đàn thành. Ngoài ra, nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử rất vĩ đại, mọi người đều biết: Đại Nhật Như Lai hóa thân thành Phật Nhãn Phật Mẫu, Phật Nhãn Phật Mẫu hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử hóa thân thành Liên Sinh Thánh Tôn. Cho nên thờ cúng Liên Hoa Đồng Tử tương đương với thờ cúng Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Sinh Thánh Tôn, đây là tổng trì truyền thừa Chân Phật Tông.
Khi chế tạo kim thân Liên Hoa Đồng Tử thì dùng khuôn mặt lúc ngoài 30 tuổi của Liên Sinh Thánh Tôn để làm, việc này là có nguyên nhân của nó.
Chúng ta tu trì pháp Bổn tôn của Chân Phật Mật Pháp, nếu có duyên với Ma Ha Song Liên Trì, hoặc một lòng muốn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, chúng ta có thể thờ Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn chủ tôn, nhất định có thành tựu, nhất định có thể vãng sinh.
Hỏi: Có thể nói rõ một lần nữa về cách sắp xếp trên dưới đàn thành được không?
**Đáp: **Phía trên đàn thành có thể treo tranh mandala.
Tầng thứ nhất thờ cúng chủ tôn và chư tôn, bên phải đặt tháp, bên trái đặt kinh sách. Bên dưới là tám món cúng. Bên dưới nữa là hương án. Bên dưới nữa là pháp khí tu pháp. Hai bên chủ tôn và chư tôn có thể đặt thêm đèn luôn sáng.
**Hỏi: **Trước khi bố trí đàn thành cần chú ý điều gì?
**Đáp: **Đã chọn được mật thất, trước khi bố trí đàn thành, tốt nhất là phải sái tịnh, sái tịnh tức là làm thanh tịnh mật thất.
Bởi vì trước khi thành mật thất nó có thể đã là phòng ngủ, cũng có thể là phòng làm việc, phòng học, phòng kho, khả năng có linh ô uế khác trốn ở trong đó. Vì thế, ngoài quét dọn sạch sẽ ra thì còn phải có nghi thức sái tịnh. Cách đơn giản nhất là chọn ngày Trừ, dùng nước chú Đại Bi vẩy từ trong hướng ra ngoài, đây chính là tẩy tịnh bằng nước chú Đại Bi. Tẩy tịnh bằng nước chú Đại Bi để khiến cho hồn ma trong mật thất rời đi và làm cho linh của các loài ác ma không thể tồn tại trong mật thất. Làm như vậy, hành giả ở trong mật thất tu pháp, thân tâm không kinh sợ, cũng sẽ không có những việc xấu làm hỗn loạn tâm của hành giả, đây là vì mật thất đã thanh tịnh rồi.
Có rất nhiều phương pháp sái tịnh, nhưng hành giả Chân Phật dùng nước chú Đại Bi để sái tịnh là được.
**Hỏi: **Muốn bố trí đàn thành, có thể tham khảo kinh sách nào?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn biết có hai cuốn sách:
Đường Triều Huệ Lâm Tập có một cuốn sách tên là “Kiến Lập Mandala và Cách Chọn Đất”, nói rõ về lập đàn thành và lựa chọn đất. Ngoài ra, Đường Pháp Toàn Tập có một cuốn sách tên là “Kiến Lập Mandala Hộ Ma Nghi Quỹ”, là giải thích về cách kiến lập đàn Hộ Ma. Hai cuốn sách này là pháp cổ, có thể tự tham khảo thêm.
Tôi viết một bài kệ như sau: Chư tôn trước mặt phóng quang minh. Hành giả ngồi ngay trừ vọng niệm. Ánh sáng viên mãn đến tôi luyện. Ta hóa Bổn tôn cùng một tâm.
Hỏi: Từng có người nói, tu hành phải không câu nệ vào hữu tướng và vô tướng mới đúng, đàn thành là hữu tướng, vì thế có thể không cần bày đàn thành. Cách nói như vậy có đúng không?
**Đáp: **Tôi từng nói, người không có khả năng lập đàn thành thì có thể không cần lập, đây là để thuận tiện cho những hành giả Chân Phật nghèo khó, họ có thể tiện lợi quán tưởng tu pháp.
Và có một số hành giả đã đạt đến Thánh đế, cảnh giới của họ cao siêu, xuất thần nhập hóa, có hay không có đàn thành đối với hành giả này đã không còn là sự trói buộc, người đạt đến Thánh đế như thế biết pháp hữu vi, pháp vô vi, hiểu rõ hữu tướng và vô tướng, người có thể khai ngộ như vậy thì không cần lập đàn thành.
Tuy nhiên, người chưa đạt đến cảnh giới như thế thì tốt nhất vẫn phải coi trọng việc lập đàn thành. Hữu tướng — tất cả sự vật có hình thái có thể nhìn thấy, đây là hữu tướng giáo. (các pháp thật có) Vô tướng — nhân duyên tạo thành, tự tính tức không, gọi là vô tướng. (các pháp thật không có) Vô tướng là “ở trong tất cả tướng, lìa bỏ tất cả tướng”.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng người tu hành chúng ta đi từ tục đến đến Thánh đế, từ có đi đến không, nhưng khi đã đến được chỗ giác ngộ thì không chấp vào tục đế, cũng không chấp vào Thánh đế. Không chấp vào có, không chấp vào không, đây là cảnh giới vô thượng rất cao. Là: Có thể ở trong tất cả tướng. Có thể lìa bỏ tất cả tướng. Mong rằng hành giả Chân Phật có thể hiểu rõ và lĩnh ngộ.
Hỏi: Toàn bộ việc sắp đặt đàn thành đã xong, tiếp theo phải làm gì nữa?
**Đáp: **Hoàn thành bố trí đàn thành xong thì phải khai quang cho Phật Bồ Tát tại đàn thành và kết giới.
Khai quang có nghi quỹ khai quang, kết giới có nghi quỹ kết giới, hai nghi quỹ này đều cực kì quan trọng, không thể sơ xuất. Khai quang chính là khánh thành bố đàn, Phật Bồ Tát chư tôn an vị, hành giả chọn ngày lành để làm lễ và thờ phụng, đôi khi khai quang cũng gọi là khai nhãn. Căn cứ theo “Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh” có nói: “Nghi thức cúng dường đã chuẩn bị chu toàn xong thì lại mở ánh sáng mắt cho tượng Phật, tương tự như điểm nhãn, tức là tụng khai nhãn quang chân ngôn hai lần.” Khi làm nghi thức khai nhãn, hành giả phải dâng hương, hoa, đèn, trà, quả, v.v… để cúng Phật.
Tại đây tôi thuật lại nghi quỹ khai quang như sau:
Chuẩn bị vải khai quang. (vải cotton mới) Bút khai quang. (bút mới) Gương khai quang. (gương tròn mới) Chu sa đỏ.
- Hành giả niệm chú thanh tịnh, niệm chú triệu thỉnh, phụng thỉnh Phật Bồ Tát chư tôn.
- Hành giả nâng vải khai quang, hai tay căng vải ra, làm động tác lau từ xa, ý nghĩa chính là thanh tịnh tượng kim thân, khiến kim thân không nhiễm bụi trần.
- Hành giả dùng bút khai quang chấm vào dịch chu sa đỏ, chấm từ xa vào tượng kim thân. Lúc này tay phải cầm bút, tay trái cầm gương khai quang, ánh sáng từ gương khai quang chiếu thẳng vào tượng kim thân.
- Lúc này hành giả vừa niệm chú vừa dùng bút khai quang điểm từ xa vào các vị trí trên tượng kim thân, tức là gương, bút, chú hợp nhất.
- Chân ngôn khai nhãn của Tạng mật dịch ra tiếng Trung như sau: ”Thiên chi thần quang, địa chi thần quang, nhật nguyệt thần quang, khai nhãn khai quang chú, khai nhãn quang quán thị thế giới, khai khẩu quang khai khẩu độ chúng, khai nhĩ quang vấn thanh cứu khổ, khai tâm quang từ bi chúng sinh, khai thủ quang pháp ấn phù trì, khai túc quang phi hành vạn lý, khai kim thân hào hào phóng quang. Om Ah Hum. Nhiếp.” (Chú này tổng cộng niệm 2 lần.)
- Hành giả dâng cúng dường.
- Hành giả tụng kinh hát tán lễ bái.
- Hồi hướng: Hành giả làm khai nhãn. Nơi ở của tâm vương. Chư tôn truyền duyên Phật. Khai giác về tự tính. Cát tường viên mãn.
Nghi quỹ khai quang này chỉ cần thanh tịnh trang nghiêm, trong lòng kiền thành, hợp với lễ nghi, Phật Bồ Tát chư tôn từ bi nên sẽ không có chuyện không giáng xuống.
Hỏi: Hành giả Chân Phật không thành thạo nghi quỹ khai quang, không dám tự mình khai quang, đồng thời không có lòng tin, vậy phải làm sao?
**Đáp: **Có thể mời Thượng sư của Chân Phật Tông đến cử hành nghi thức khai quang điểm nhãn, cũng có thể mời pháp sư hiểu nghi thức khai quang đến làm.
Nếu vẫn không làm được theo cách này thì có thể viết thư báo cáo với Sư Tôn ở Mỹ, thỉnh cầu Sư Tôn khai quang đàn thành, mặc dù Sư Tôn ở Mỹ nhưng tại Chân Phật Mật Uyển của mình có thể dựa vào địa chỉ bạn ở và ảnh chụp đàn thành để tiến hành pháp khai quang từ xa, chư tôn và Không Hành Mẫu tự nhiên sẽ bay đi và giáng xuống đàn thành của bạn, đây cũng là pháp khai quang bất khả tư nghì.
Rất nhiều đàn thành khai quang từ xa cũng có được nhiều điều linh dị. Được khai quang từ xa, phát hiện quanh đàn thành được vẩy tịnh thủy và gạo. Được khai quang từ xa, đêm đó mơ thấy Sư Tôn đích thân đến khai quang. Được khai quang từ xa, chủ nhân đàn thành tự tai nghe thấy thiên nhạc êm tai. ………….
Hỏi: Thế nào là kết giới? Nghi quỹ kết giới làm thế nào?
**Đáp: **Kết giới là một dạng làm pháp để xác định ranh giới của khu vực đàn thành. Và đất được hạn định làm pháp tức là đất kết giới. Kết giới có ý nghĩa là ngăn ác giữ thiện, là cách để xua đuổi cái ác và thu hút cái thiện. Kết giới tức là tất cả ma tà không thể đi vào đất kết giới, chỉ có thần thánh là có thể vào đất kết giới. Kết giới có phân lớn nhỏ: Lớn là ở mức độ cả hành tinh, một châu lục, một đất nước. (Pháp nhân vương hộ quốc chính là kết giới một đất nước.) Nhỏ là ở mức độ một pháp hội, một giới trường, một ngôi nhà, một đàn thành.
Liên Sinh Thánh Tôn hiểu pháp kết giới của Mật giáo như sau:
- Pháp cọc kim cang — dựng cọc trên mặt đất.
- Pháp tường kim cang — tường hình vuông/chữ nhật.
- Pháp lưới kim cang — giống như lưới giăng trong hư không, mép lưới buông xuống đàn thành kim cang.
- Pháp lửa kim cang — lửa cháy trên lưới kim cang.
- Pháp đại tam muội da — dùng ấn minh làm tổng kết giới bên ngoài hỏa viện.
Nay Liên Sinh Thánh Tôn đặc biệt tiết lộ nghi quỹ pháp lưới lửa kim cang như sau, pháp này là pháp đại bí mật, bình thường không dễ mà nghe được.
- Tịnh thân nhập đàn. Triệu thỉnh xong thì làm pháp tứ quy y, pháp đại lễ bái, pháp đại cúng dường, pháp tứ vô lượng tâm.
- Kết giới: ấn lưới kim cang. Hai tay đan vào nhau, hai ngón út và hai ngón trỏ dựng lên chạm đầu vào nhau, hai ngón cái không chạm mà tách nhau ra, mu bàn tay hướng lên hư không, như thế là thành ấn minh.
- Quán tưởng: quán tưởng đàn thành là trung tâm, từ đỉnh đầu của chủ tôn bắn ra một lưới tơ màu trắng, sau đó trùm xuống bốn phương tám hướng. Cách quán tưởng này rất giống vòi phun nước của bể phun nước, ở chính giữa có một cột nước lớn phụt lên không trung, sau đó tạo thành hình như một cái ô trùm xuống bốn phương tám hướng. Quán tưởng này chính là quán tưởng cái ô. Muốn to bao nhiêu thì quán tưởng to bấy nhiêu. Quán tưởng này là cực cơ mật.
- Ấn lửa kim cang. (kết ấn) Hai lòng bàn tay ngửa lên, đặt chồng lên nhau, tay phải ở trên tay trái, hai ngón cái chạm vào nhau dựng lên, thế là thành ấn minh.
- Quán tưởng: quán tưởng toàn bộ lưới kim cang bốc lửa, tức là quán tưởng cái ô lửa.
- Trì chú: ”Ôm na-mô sô-ha” 7 biến. (lưới lửa) ”Ôm xi-lin-ma” 21 biến. (hộ thân) Bách tự minh chú 3 biến.
- Từ quán tưởng ô lửa, nhập định vào bản tâm vi diệu của hỏa diễm viện, trong hư không dựng lên ngọn lửa kim cang tinh khiết nhất, giống như có được sự bảo vệ của bánh xe đại như ý, ngay lập tức trăm tà không thể xâm phạm, vạn ma không thể tiến vào, hành giả tu pháp tại mật đàn, tự chứng bồ đề, mãi diệt tham sân, pháp tạng viên mãn.
- Xuất định hồi hướng: Lửa kim cang tụ lại. Diệt sạch sẽ bầy ma. Thường tu trì tịch tĩnh. Trừ tất cả đại nạn. Thiên thượng và nhân gian. Gặp nhau trước Thánh đàn. Hưởng phúc như chư Phật. Chiếu khắp mười phương thành.
- Cát tường viên mãn.
Liên Sinh Thánh Tôn thường xuyên dạy người đời dùng nước chú Đại Bi để thanh tịnh kết giới, đồng thời từ lâu đã tiết lộ pháp thanh tịnh kết giới bằng nước chú Đại Bi, mong rằng ba nghi quỹ kiến lập đàn thành, khai quang và kết giới này hành giả Chân Phật đều hiểu, tất cả tác pháp đều viên mãn vô khuyết. Ngoài ra, pháp kết giới đại tam muội da là pháp kết giới lớn nhất, pháp này phải được truyền trực tiếp, bởi đây là một pháp rất đặc biệt.
Có hai thuyết về kết giới đại tam muội da này: ”Kết giới đại tam muội da gần với Chuyển Luân Vương Phật Đỉnh, phàm là kẻ đi ngược lại với đạo đều không thể giải trừ, không thể phá hoại.” ”Tất cả các vị tu hành, trong vòng năm trăm do tuần, các vị đều không thể đi xuống đàn thành, bởi vì uy đức của Luân Vương Phật Đỉnh có thể phá các pháp.”
**Hỏi: **Thế nào là năm tướng kết giới?
**Đáp: **Đó cũng chính là năm loại hình tướng của kết giới, có hình vuông, hình tròn, hình cái trống, hình bán nguyệt, hình tam giác.
Lưới lửa kim cang trong hư không là hình bán nguyệt chụp xuống, còn trên địa giới là hình tròn, hành giả cũng có thể dùng gỗ đá trong tự nhiên để làm ranh giới. Tường kim cang là hình vuông. Cọc kim cang đại bộ phận là hình tam giác.
**Hỏi: **Sau khi kết giới đàn thành, có thể cho phép người khác vào trong tham bái hoặc tham quan không?
Đáp: Vấn đề này có rất nhiều đệ tử hỏi, vì thế tôi giải thích rõ như sau:
Đàn thành vốn là một sự kết tập bí mật, là nơi thần thánh giao quy, người bình thường, người không tin, người ô uế… thật ra không nên để cho họ tự do ra vào đi lại, để tránh phạm tội mạo phạm coi thường.
Đàn thành có thể mời Thượng sư của mình ra vào để chỉ đạo, mời đồng môn của mình ra vào để đồng tu, có nghĩa là người cùng ở trong tam muội này thì không sao.
Tuy nhiên, để cho chúng sinh có cơ hội thấy được sự thù thắng vi diệu trang nghiêm của đàn thành thì đôi khi cũng có thể để cho họ vào tham bái hoặc chiêm ngưỡng, nhưng cần nói trước với họ là khi vào đàn thành thì nên lễ phép, đây là phép thích ứng cơ duyên, phổ môn thị hiện, tiếp dẫn tín chúng. Khi có người tạp nham ra vào đàn thành thì phải thường xuyên sái tịnh và kết giới là được.
03. Nghi quỹ cúng dường
**Hỏi: **Thế nào là cúng dường, ý nghĩa chân thực của cúng dường là gì?
**Đáp: **Cúng dường [hoặc cúng dưỡng] có ý nghĩa là đem những thứ như hương hoa, đèn sáng, ẩm thực, của cải cung cấp nuôi dưỡng Tam Bảo, nói cách khác là hành động tiến tài là “cúng”, những tư lương thu về gọi là “dưỡng”.
Cúng dường còn phân thành: Cúng dường tiền (cúng dường lợi ích) — cúng hương hoa ẩm thực của cải. Cúng dường pháp (cúng dường sự tôn kính) — truyền thụ Phật pháp cho trời người, dâng cúng sự tán thán cung kính. Cúng dường tu hành (cúng dường quán hành) — cúng việc thọ trì tu hành và thực tu diệu pháp.
Những thứ như hương, hoa, đèn, trà, quả chính là Ngũ cúng. Vỏ ốc, trái cây, bột hương, đèn, đàn hương, hoa, nước tắm, nước uống chính là Bát cúng. Trong Mật giáo, kim cương hý, kim cương man, kim cương ca, kim cương vũ, kim cương hương, kim cương hoa, kim cương tỏa, kim cương đồ hương, đều tượng trưng cho cúng dường.
Mười loại cúng dường trong kinh Pháp Hoa là: 1. Hoa, 2. Hương, 3. Chuỗi ngọc, 4. Bột hương, 5. Phấn thơm. 6. Hương đốt, 7. Ô lọng cờ phướn, 8. Y phục, 9. Kỹ nhạc, 10. Chắp tay. Cúng dường cũng có tới 37 món cúng.
Liên Sinh Thánh Tôn biết có một hội cúng bí mật, là dùng kim cương bảo quán và hoa man để cúng dường, đối tượng cúng dường là Đại Nhật Như Lai, chính là một trong cửu hội mandala Kim Cương Giới, nghi thức cúng dường này vô cùng thần thánh và bí mật.
Ý nghĩa chân thực của cúng dường, đối với bề trên thì có ý nghĩa của sự thân thiết, phụng sự, tôn kính, đối với bề dưới mang hàm ý đồng cảm, thương xót, bảo vệ. Còn ý nghĩa sâu nhất của cúng dường là để độ hóa lòng tham lam keo kiệt, độ hóa tham lam là ý nghĩa thật sự của cúng dường.
**Hỏi: **Bát cúng ở trên đàn thành, khi tu pháp cúng dường phải làm như thế nào?
Đáp: Sau khi bố trí Bát cúng xong, mỗi lần tu pháp phải đổi trái cây mới, phải thắp đèn, phải thay nước tắm, thay nước uống, lư hương phải thắp hương. Còn các cúng phẩm khác khi nào muốn thay thì thay cũng được.
Nghi quỹ cúng dường như sau: (pháp đơn giản)
Hành giả kết ấn cúng dường. Quán tưởng trong vũ trụ núi Tu Di ở chính giữa, bốn cõi trời Đông Tây Nam Bắc ở xung quanh núi Tu Di, và phía Đông Tây của núi Tu Di có nhật nguyệt. Tiếp theo quán tưởng cúng phẩm biến hóa, từ một điểm biến thành một hàng, một mặt phẳng, đến khi đầy ắp cả núi Tu Di và bốn cõi trời đông tây nam bắc. Sau đó quán tưởng tất cả vàng bạc châu báu toàn bộ đều hiến dâng lên chư Tôn. Niệm bài kệ cúng dường:
Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật Trân quý kỳ diệu bao công đức Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.
Chú gia trì cúng dường:
Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.
Giải ấn. Cát tường viên mãn.
Hỏi: Học pháp cúng dường có lợi ích gì?
Đáp: Con người thế gian nếu muốn có được phúc báo lớn nhất thì phải cúng dường Thượng sư, Tam Bảo, Kim cang, Hộ pháp. Bởi vì việc cúng dường này biểu thị lòng thành kính của hành giả, cung kính Tam Bảo vô thượng, như vậy có thể có được lực gia hộ của Thượng sư và Tam Bảo mà đắc được phúc báo vô cùng.
Liên Sinh Thánh Tôn còn nói: nếu một người muốn có được phúc báo lớn nhất của nhân gian, ví dụ kiếp sau trở thành Quốc vương của nhân gian, hoặc là gia đình giàu có nhất, chỉ cần tu trì mỗi pháp Chân Phật đại cúng dường là có thể có được phúc báo vô cùng.
Muốn hiểu rõ pháp Chân Phật đại cúng dường này có thể tham khảo cuốn sách “Chân Phật - Mật trong Mật”, trang 22. Muốn hiểu rõ khẩu quyết đại cúng dường có thể tham khảo cuốn sách “Chân Phật - Pháp trong Pháp”, trang 16. Muốn loại trừ oan thân trái chủ, có thể dùng “Chân Phật mễ cúng pháp thí quán”, có thể tham khảo cuốn “Mật Tạng siêu kỳ lạ”, trang 162.
[Lưu ý: số trang sách đề cập ở đây là theo sách nguyên bản tiếng Trung.]
Hỏi: Vì sao phải cúng dường hương, hoa, đèn, v.v… Hương, hoa, đèn có hàm nghĩa đặc biệt sao?
**Đáp: **Chúng có hàm nghĩa đặc biệt, bất kì cúng phẩm nào cũng có hàm nghĩa, tôi lấy ví dụ ba bài kệ sau:
Hương trừ được dơ bẩn Khói như mây sinh ra Mây sáng mang mưa pháp Mãi tưới đẫm chúng sinh.
Hàm nghĩa của việc thắp hương cúng dường chính là sự sinh sôi phồn thịnh.
Mùa xuân cỏ cây mọc Trăm hoa nảy chồi non Tay cầm hoa cúng dường Cõi Phật đầy thất bảo.
Hàm nghĩa của cầm hoa cúng dường hoàn toàn không phải nói về sắc, mà là quả đức viên mãn.
Bồ Tát tu minh huệ An trụ hạnh Đại thừa Để trừ bỏ phiền não Cháy mãi đèn trí huệ.
Cầm đèn cúng dường chính là ánh sáng trí huệ mãi mãi phổ chiếu, sự pháp và lý pháp tương ứng. Cầm đèn cúng dường chính là quang minh hiển hiện.
……….
Hỏi: Vì sao cần cúng dường Kim cương Thượng sư?
Đáp: Kim cương Thượng sư là sư phụ truyền thụ Phật pháp Kim cương thừa, và Kim cương Thượng sư chắc chắn đã được nhận quán đảnh truyền pháp Acharya thì mới có thể đảm đương được. Đại bộ phận phân thành bốn cấp: Acharya — là hành giả hiểu rõ nghi quỹ các pháp sự, có tín tâm và tu hành. Đại Acharya — hiểu rõ và thông tỏ giáo lý. Kim cương Acharya — sự pháp, lý pháp đều hiểu rõ, đồng thời có trí huệ để hiểu thấu và lý giải. Đại trì minh kim cương Acharya — là hành giả có trí huệ vô thượng, trí huệ bát nhã, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, làm mọi thứ theo tính của Kim Cang Tát Đỏa. Và một bậc Kim cương Thượng sư chân chính đối với chúng sinh có ba căn cơ thượng, trung, hạ đều có thể che chở hết, hiểu rõ giáo lý nội ngoại. Vì một bậc Kim cương Thượng sư là tổng nhiếp Tam Bảo, do đó lấy việc gánh vác sự nghiệp Như Lai là sự nghiệp cả đời, nên cúng dường Tam Bảo vì thế cũng nên cúng dường Kim cương Thượng sư.
**Hỏi: **Chúng ta cúng dường Kim cương Thượng sư như thế nào?
**Đáp: **Trong cuốn “Sự sư pháp ngũ thập tụng” đã viết rất rõ ràng, tôi lấy một số ví dụ như sau:
Điều thứ 16: "Luôn hướng đến thầy ta, phụng sự và cúng dường, giữ tấm lòng kính trọng, chướng ngại ắt tiêu trừ." Tận tâm cúng dường thầy, tôn trọng thầy, nhờ vào sự gia trì của thầy, từ đó có thể diệt trừ chướng ngại, phiền não.
Điều thứ 17: "Quay tâm dựa vào thầy, hỷ xả và lạc hạnh, thân này còn đem cúng, tiền tài lại màng chi." Sinh mệnh của mình còn có thể hy sinh, nói gì đến tiền tài, người thích bố thí hỷ xả sẽ có được phúc báo.
Điều thứ 20: "Những gì yêu quý nhất, đồ trân quý cực kì, cầu bồ đề vô tận, ta thành tâm cống hiến." Thượng sư cũng chính là đại diện, bao gồm toàn thể Tam Bảo. Cần đem mọi thứ tốt nhất để phụng sự thầy, sẽ có được vô lượng vô biên công đức.
Điều thứ 21: "Phụng sự Phật và thầy, ý niệm lành tăng trưởng, thầy ruộng phước tối thắng, ta chóng chứng Bồ Đề." Cúng dường thầy, cúng dường Phật. Các ngài là ruộng phước tốt đẹp nhất, từ đó sẽ nhanh chóng sẽ chứng được quả vị Bồ Đề.
**Hỏi: **Căn bản Thượng sư của Chân Phật Tông, Liên Sinh Kim cương Thượng sư, là Đại Trì Minh Kim cương Acharya phải không?
Đáp: Là bậc Đại Trì Minh Kim cương Acharya chân chính. Bởi vì Chân Phật Mật Pháp là nghi quỹ Mật pháp sự tướng chân chính. Bởi vì Phật pháp lý tướng đều sáng tỏ tại tâm. Bởi vì sự pháp, lý pháp đều thông hiểu tỏ tường và đắc đại trí huệ. Bởi vì Liên Sinh Kim cương Thượng sư có trí huệ vô thượng, trí huệ bát nhã, minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử.
Ngọn nguồn khai ngộ: Đại Nhật Như Lai — Phật Nhãn Phật Mẫu — Liên Hoa Đồng Tử — Liên Sinh Kim cương Thượng sư.
Được: A Di Đà Phật ủy thác. Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký. Di Lặc Bồ Tát đội hồng quán. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy Mật pháp. Có cõi thành tựu chân thực — Ma Ha Song Liên Trì.
Hỏi: Vì sao Liên Sinh Kim cương Thượng sư cũng lại là Đại Phúc Kim Cang?
**Đáp: **Liên Sinh Thánh Tôn từng tu lục độ vạn hành, có đầy đủ mọi phúc đức, có thể hiển hiện pháp thân tại Ma Ha Song Liên Trì và trở thành Đại Phúc Vương phúc đức trang nghiêm, Liên Hoa Đồng Tử là Đại Bồ Tát làm lợi ích cho người khác. Vì thế, Liên Sinh Kim cương Thượng sư có đầy đủ ba loại phúc nghiệp:
- Thí phúc nghiệp — bố thí cho người nghèo, nhờ bố thí mà được phúc xuất thế gian.
- Bình đẳng phúc — lấy tâm từ bi bình đẳng yêu thương che chở tất cả chúng sinh.
- Tư duy phúc — dùng tư duy mà biết được nhân duyên được mất lớn nhỏ, có được phúc xuất ly vô thượng.
Vì có đầy đủ ba đại phúc này, cho nên Liên Sinh Kim cương Thượng sư có biệt hiệu là Đại Phúc Kim Cang, Đại Phúc Kim Cang có thể khiến chúng sinh có được phúc lợi. Ai được Liên Sinh Kim cương Thượng sư gia trì thì đều có thể có được phúc phần. Cúng dường Liên Sinh Kim cương Thượng sư (Đại Phúc Kim Cang) sẽ có thể nhận được mọi phúc báo.
Hỏi: Cúng dường Liên Sinh Kim cương Thượng sư sẽ có được phúc phần và phúc báo ra sao?
Đáp: Cúng dường Liên Sinh Kim cương Thượng sư tương đương với cúng dường vô lượng vô tận Phật Bồ Tát Chư Tôn, chính là sự cúng dường quảng đại vô biên, nhờ công đức cúng dường ấy mà thu được vô lượng phúc, tùy ý muốn mà có thể có được vô lượng tài phúc, đồng thời đời đời kiếp kiếp đầy đủ sung túc, hơn nữa thường sống ở nơi có chư Phật, nếu biết trân trọng điều may mắn ấy mà bố thí tu hành thì có thể được hóa sinh từ hoa sen, đắc sáu đại thần thông, có trăm triệu phân thân, cứu tế chúng sinh hữu tình, đời hiện tại có thể có được phúc báo, khi vãng sinh có thể đến tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.
Cần biết rằng Liên Sinh Thánh Tôn là vị có phúc huệ dồi dào. Phúc dồi dào — nhân thiên phúc báo. Huệ dồi dào — pháp không tiểu quả.
Cho nên Liên Sinh Thánh Tôn “lợi giác là nhân, phúc huệ là quả, nhân hành quả viên, phúc huệ dồi dào”, có nghĩa là tự lợi lợi tha, tự giác giác tha cho đến khi giác hành viên mãn.
Hỏi: Thế nào là hội cúng pháp? Nghi quỹ của hội cúng pháp ra sao?
**Đáp: **Hội cúng thật ra là tụ họp lại cùng tu cúng dường, tập hợp mọi người lại để tu pháp cúng dường thì gọi là hội cúng.
Nghi quỹ của pháp hội cúng như sau: (Pháp hội cúng này do Liên Hoa Xán Hồng biên tập.)
Hành giả Mật tông có tam căn bản là Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, vì thế, bất luận là hội cúng, bố sát [còn gọi là ngày tụng giới - ngày lễ tết của Phật giáo], hay cúng dường, đều nên cúng dường tam căn bản trước. Hội cúng chính là nằm trong bốn bộ môn lớn “giáo, lý, hành, quả” của Mật pháp, là một pháp môn tu hành của “hành” cần phải tuân theo đúng thời gian.
Theo chế độ của Tây Tạng, thời gian và đối tượng của hội cúng như sau: (thời gian nói đến ở đây là Âm lịch) Ngày mồng 1 và mồng 10 hàng tháng, hội cúng Thượng sư. Ngày 15 hàng tháng, hội cúng Bổn tôn. Ngày 25 hàng tháng, hội cúng Không hành mẫu. Ngày 29 hàng tháng, hội cúng Hộ pháp. Thời gian ở trên mặc dù là hội cúng theo định kỳ, nhưng khi hội cúng, chư Phật, Bồ Tát, Không hành mẫu, Hộ pháp, Thiên thần và trung ấm, ngạ quỷ, v.v… không ai là không được đưa vào danh sách nhận cúng.
Hội cúng, từ tên gọi mà suy ra ý nghĩa, là tập hợp những người đồng tu bày biện các thứ cúng dường trước Phật, để dâng lên cho các vị thọ cúng, thỉnh cầu phù hộ và cúng dường Bổn tôn của chính mình.
Nghi thức hội cúng thì các giáo phái về cơ bản là giống nhau, chủ yếu là niệm tụng Bách tự minh, cúng mandala, Thượng sư tâm chú hoặc chú dài, tán tụng và tu pháp Thượng sư tương ứng ở trong giáo phái đó, v.v…
- Niệm chú thanh tịnh
Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha. Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha. Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm. Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.
- Niệm chú triệu thỉnh
Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)
-
Kính lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật và Tam Bảo thánh chúng tại đàn thành. (đảnh lễ 3 lần)
-
Phát tâm quy y (3 biến)
Tam Bảo tối thượng con quy y Hết thảy nghiệp tội đều sám hối Thiện căn chúng sinh nên tùy hỷ Chính giác bồ đề giữ vững bền. Diệu pháp Chư Phật và tăng già Đến khi bồ đề con quy y Vì lợi ích mình và người khác Nay con xin phát bồ đề tâm Đã phát bồ đề tâm tối thượng Biết bao lợi ích các hữu tình Bồ đề diệu hạnh đều tu tập Làm lợi chúng sinh nguyện thành Phật.
- Phát tâm hội cúng
Nguyện tất cả chúng sinh cùng pháp giới tiêu trừ tội chướng, để phúc huệ viên mãn, cùng chứng vô thượng bồ đề. Cung kính tu hội cúng, kính xin ban gia trì.
- Chú quán không tịnh nghiệp (3 biến)
(Quán tất cả pháp tính đều không.)
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.
- Gia trì biến hiện cúng phẩm
Từ trong tính Không biến hiện thiên linh bảo cái dung nạp năm loại thịt, năm loại nước cam lộ, hoặc quán tưởng dung nạp vô lượng hương hoa, đồ ăn ngon, hoa quả tươi, hoặc quán tưởng tất cả cúng phẩm của bàn cúng ở đàn thành.
- Tam tự minh: Ram Yam Kham (3 biến)
Quán tưởng rõ ràng chính mình thành Bổn tôn không khác biệt, trong tâm phóng ra chữ Ram Yam Kham (tiếng Tạng), ba chữ rực sáng, nhờ lửa lớn thiêu đốt, gió mạnh thổi bay, nước lớn gột sạch, sức mạnh tịnh trừ mọi ô nhiễm, biến thành biển cam lộ thanh tịnh diệu kỳ.
- Tam tự kim cang: Ôm ah hùm. (3 biến)
Tự thành Bổn tôn phóng ra ba bánh xe chủng tự Om Ah Hum, ánh sáng chiếu khắp nơi. (1) Chữ Om sáng rực, gia trì cho cúng phẩm biến thành đầy ắp hư không. (biến thành nhiều) (2) Chữ Ah sáng rực, gia trì cho cúng phẩm thanh tịnh. (biến thành thanh tịnh) (3) Chữ Hum sáng rực, gia trì cho cúng phẩm biến thành đầy ắp hư không, biến thành biển cam lộ. (biến thành cam lộ)
- Tán tụng
Hum hum hum. Tự tính tam thân Phật sát thổ Thượng sư Bổn tôn Không hành mẫu Mang lời thề nguyện Hộ pháp tôn Thỉnh cầu giáng lâm nhận hội cúng Liên Sinh Hoạt Phật đại Thượng sư Liên Hoa Đồng Tử ứng hóa tôn Ngũ phương Ngũ Phật đại đàn thành Bát đại Bồ Tát đầy hân hoan Hộ pháp Không hành như biển nhiễu Âm nhạc điểm tô bằng nhã âm Lời ca điệu múa đẹp duyên dáng Phủ khắp mặt đất và hư không Hội cúng kỳ diệu thỉnh gia trì Hành giả du già tâm thành kính Nhờ có hội cúng kỳ diệu này Chúc mừng tụ tập tại minh đường Thề nguyện đã phá xin sám hối Thanh tịnh viên mãn nạp minh cung Liên Sinh Hoạt Phật trường trụ thế Chân Phật Mật thừa chuyển pháp luân Nay con thành tâm xin cầu thỉnh Mong rủ lòng thương thường hộ niệm Tiêu tai trừ chướng tăng giác thụ Cúng hết cõi Phật ban viên mãn.
- Cúng mandala
Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật Trân quý kỳ diệu bao công đức Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.
Chú mandala: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.
- Dâng Bát cúng
Ah can sô-ha ôm ah hùm. (nước) Pa tang sô-ha ôm ah hùm. (nước tắm) Pu pê sô-ha ôm ah hùm. (hoa) Tu pê sô-ha ôm ah hùm. (hương) Ah lô cây sô-ha ôm ah hùm. (đèn) Can tia sô-ha ôm ah hùm. (phấn) Ni wây tia sô-ha ôm ah hùm. (quả) Xia ta sô-ha ôm ah hùm. (nhạc)
- Niệm tụng văn thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật gia trì
Om Ah Hum Kính đem thân khẩu ý thanh tịnh Cúng dường Tỳ Lô Giá Na Tôn
Pháp thân Phật Nhãn Phật Mẫu Thánh Báo thân Liên Hoa Đồng Tử thân Ứng Thân giáo chủ Liên Sinh Phật Ba thân không khác, đại Phật ân
Cung kính Chân Phật đại truyền thừa Thần thông ban trải đầy thế giới Phóng quang chiếu rọi khắp ba thời Hóa hiện không ngừng chứng nhất như Đệ tử tha thiết thường cầu tới Soi chiếu quang minh, phúc huệ tăng
Xưa đến thọ ký, Phật Thích Ca Phó thác ân cần, A Di Đà Di Lặc Bồ Tát ban hồng quán Liên Hoa Đại Sĩ mật pháp truyền Thánh Tôn xin thỉnh đừng quên nguyện Cứu độ chúng sinh chúng con đây. Hộ niệm như thế xin nhiếp thọ Thành tựu nhanh nhanh thỉnh gia trì
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật Nam mô Phật Nhãn Phật Mẫu Nam mô Liên Hoa Đồng Tử Nam mô Liên Sinh Hoạt Phật Nam mô Chân Phật hải hội thập phương tam thế chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.
- Thỉnh cầu Thượng sư tam quang gia trì
(1) Đầu tiên quán không.
Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.
(2) Tiếp theo quán tưởng Căn bản Thượng sư an trụ ở hư không đối diện, phóng tam quang bao bọc lấy hành giả, nghênh thỉnh Thượng sư nhập ngã Cha-Hum-Ban-Ho thành nhất thể.
(3) Trì Liên Sinh Hoạt Phật tâm chú: Ôm gu-ru lién-shâng sit-đi hùm. (108 biến)
(4) Tĩnh tọa. Thiền quán Thượng sư nhập ngã, toàn thân tỏa ra tịnh quang chiếu khắp mười phương, nhập vào biển tự tính thanh tịnh vô niệm.
- Trì thêm những tâm chú khác
Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật) Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát) Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (Địa Tạng Vương Bồ Tát) Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu) Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần) Ôm ah hùm ben-za gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ) Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử) Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-lê-ya sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật) Nam mô Không hành Hộ pháp tôn.
- Tiếp đó, ném các vật phẩm của hội cúng lên không trung và niệm đoạn văn sau:
(Mọi người kết thủ ấn cúng dường và nhập sâu vào trong suy tưởng.)
Om Ah Hum. Cung thỉnh Thượng sư hải hội dùng hội cúng. Cung thỉnh Bổn tôn hải hội dùng hội cúng. Cung thỉnh Không hành mẫu hải hội dùng hội cúng. Cung thỉnh Hộ pháp chư tôn dùng hội cúng. Cung thỉnh Tài thần khố chủ dùng hội cúng. Cung thỉnh các quỷ thần hiển hiện dùng hội cúng. Cung thỉnh sơn thần địa chủ dùng hội cúng. Cung thỉnh lục đạo phụ mẫu dùng hội cúng. Cung thỉnh oan trái chướng loài dùng hội cúng. Cung thỉnh các vị khác nhận hội cúng. Cung thỉnh các hạng vai vế nhận hội cúng. Cung thỉnh tất cả tiếp nhận hội cúng đề huề. Cung thỉnh chung tất cả tiếp nhận hội cúng tuyệt diệu đại lạc chân chính.
- Dâng cúng phẩm
Tay kết thủ ấn, cúng dường Thượng sư, đàn thành Tam Bảo và thánh chúng cùng quốc thổ của chư Phật khắp mười phương pháp giới và vô lượng chúng sinh.
Om Ah Hum. Quán tưởng cúng phẩm trước đàn thành đầy khắp hư không pháp giới. Chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.
- Tụng bài tích lũy tư lương sám hối tội lỗi
Mong Thượng sư Tam Bảo có lòng nhớ tới Kính lễ trước Thượng sư ánh sáng hoa sen Trong kinh luận Như Lai Thượng sư đã dạy Đừng bao giờ phỉ báng bậc A-xà-lê Trước huynh tỉ kim cương cùng nhận quán đảnh Khởi tà kiến cáu giận nói lời ác ố Đàn thành Bổn tôn tại tâm chưa thấy rõ Niệm tụng chú âm sai sót chẳng rõ ràng Gửi gắm bí mật giữ gìn và bớt nói Tuyên thuyết mười bí mật lừa gạt Thượng sư Tội căn bản đã phạm phát lộ sám hối Sau này làm sự nghiệp năm giới giữ gìn Tội lỗi khác đã phạm phát lộ sám hối Không giữ vững định lực giới luật tu trì Một ngày sáu thời không tu cúng đầy đủ Vì lười biếng keo kiệt và tham tích trữ Buông thả tam nghiệp phá giới nay sám hối Tất cả tội lỗi phạm giới đã đều nhiễm Thành tâm phát lộ sám hối nguyện thanh tịnh.
- Bách tự minh chú
Khi tu Bách tự minh, trước tiên quán tưởng Kim Cang Tát Đỏa trụ tại đỉnh đầu, sau đó bắt đầu trì chú. Khi trì chú, quán tưởng chú luân trong tim Kim Cang Tát Đỏa chuyển động, sinh ra cam lộ rơi xuống tưới lên bản thân, tẩy sạch tội lỗi và ô uế, tội lỗi và ô uế rơi ra được Diêm Vương hưởng dụng. Tiếp tục trì chú, quán tưởng cam lộ không ngừng rơi xuống, dần dần thấm đẫm toàn thân, toàn thân trở thành thanh tịnh. Đến khi sắp kết thúc tu pháp thì dừng trì chú và quán tưởng mặt đất khép lại, tất cả hóa thành ánh sáng đi vào Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa hóa quang nhập vào chính mình.
Cho nên mỗi một lần ngồi tu thì phân làm ba giai đoạn - đầu, giữa, cuối, đoạn đầu và đoạn cuối đều chỉ có quán tưởng, đoạn giữa thì vừa trì chú vừa quán tưởng. Đoạn giữa trì chú liên tục không dừng, quán tưởng cam lộ rơi xuống và tội lỗi ô uế rời khỏi thân thể cũng liên tục không dừng.
Tụng 21 biến Kim Cang Tâm Bách tự minh chú:
Ôm ben-za sa-tô sa-ma-ya Ma-nu-pa-la-ya ben-za sa-tô tê-nô-pa ti-cha Chê-chô mê-pa-wa su-tô ka-yô mê-pa-wa Su-pô ka-yô mê-pa-wa A-nu-ra-tô mê-pa-wa Sa-ơ-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha Sa-ơ-wa ka-ma su-cha-mê Chi-ta-mu si-ri-ân ku-ru hùm Ha-ha-ha-ha-hơ pan-ga-guân Sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta ben-za ma-mi mân-cha Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya sa-to ah hùm pây.
Chỉ mong chúng con từ luân hồi vô thủy đến nay, tất cả ác nghiệp tội chướng đã tích lũy đều được tiêu diệt, thanh tịnh viên mãn.
- Dâng cúng
Vị thầy kim cương làm nghi thức lấy cam lộ làm xử ấn yết ma, y theo nghi thức dâng lên trước chủ tọa và hát rằng: A la la hơ. Xin trụ tam ma địa mà hưởng nạp, lần lượt phân chia cho du già chúng và hữu duyên tùy hỉ chúng, dùng hội cúng xong thì cứ để lại thức ăn thừa, dùng tam tự chân ngôn gia trì cho để cúng cho ngoại hộ. [Ngoại hộ là chỉ những người ngoài tăng chúng, ví dụ cư sĩ tại gia, người thân thích, thí chủ,…]
- Thí tàn thực niệm tụng pháp
Om Ah Hum. (Gia trì tàn thực để cúng cho ngoại hộ.)
Mọi thức ăn thừa quỷ thần chúng tự do Tập trung đông đúc cầu mong hãy xuống đây Tiếp nhận hội cúng những cơm ngon canh ngọt Ngày xưa trước Phật các người lập lời thề Mọi điều phá giới phá luật đều tiêu diệt Lại giúp hoàn thành nghiệp nhập thế xuất thế.
Chú thí tàn thực: U-chi-cha pa-lin-ta ka-hây-yi ka-xi ka-xi. (Vị thầy kim cương làm nghi thức chuyển cúng vật ra nơi sạch sẽ ở ngoài đàn thành để cúng cho ngoại hộ.)
- Bài tán tụng kết thúc
Liên Sinh Thượng sư nhiếp Tam Bảo Có đủ chư Phật ba la mật Đại lạc đại minh đại phương tiện Pháp nhĩ kim cương đại tổng trì. Bản lai vô sinh Pháp thân tôn Đại lạc viên mãn Báo thân tôn Bi trí song vận Hóa thân tôn Tam thân Thượng sư xin tán thán.
- Chân ngôn bổ khuyết
Ôm đu-ru đu-ru cha-ya mu-kei sô-ha. (7 biến)
- Hồi hướng
Thỉnh cầu Thượng sư gia trì lực Ban cho quán đảnh liên hoa sinh Quảng đại viên mãn đắc tự tại Tự độ độ tha đến Phật địa.
- Bài kệ cát tường
Tùy tâm quán duyên đắc thành tựu Nguyện chứng Bổn tôn đắc cát tường Thân khẩu ý nghiệp quy pháp tính Nguyện đại viên mãn đại cát tường.
**Hỏi: **Có phương pháp đơn giản để cúng thức ăn cho quỷ thần không?
**Đáp: **Có, cách cúng đơn giản như sau: Hành giả lấy cốc nước đặt trên tay và niệm chú: ”Na-mô sa-mô ta-tha ưa-tô. Mô-lu chư-ti. Ôm. San-pa-la. San-pa-la. Hùm.” Hành giả quán tưởng một món ăn trong cốc trở thành vô số món ăn, tầng tầng lớp lớp vô tận, cứu tế rộng khắp cho quỷ thần chúng.
Lại niệm: ”Na-mô su-lu pô-yê. Ta tha tô-yê. Ta-chi-tha. Ôm. Su-lu su-lu. Pô-la su-lu. Pô-la su-lu. Sô-ha.”
Chú lực gia trì, thanh tịnh trong veo, nước hóa thành cam lộ. Đọc bài kệ: Đại bàng kim sí điểu Hoang dã quỷ thần chúng La sát Quỷ Tử Mẫu Cam lộ đều tràn trề. Ôm mu-ti sô-ha. (7 biến) Sau giờ Ngọ, đem nước hay gạo trong cốc vẩy ra bên ngoài cửa.
**Hỏi: **Nếu chỉ có niệm chú ngữ thì có xem là quảng đại cúng dường không?
Đáp: Ở đây Liên Sinh Thánh Tôn có một câu chú bí mật, chỉ niệm ba biến là tương đương với quảng đại cúng dường, khi ra ngoài đi du lịch có thể niệm chú này ba biến:
“Ôm a-ma-ka pu-cha ma-ni pê-tưa-ma wa-zư-la ta-tha-ga-ta wây-lô gê-te san-man-ta pô-la-sa-la hùm.”
Hỏi: Đại lễ bái có được xem là cúng dường Thượng sư không?
Đáp: Chắp tay chính là cúng dường, cho nên đại lễ bái chính là cúng dường. Hành giả Chân Phật chúng ta lễ bái Căn bản Thượng sư hoặc lễ bái đàn thành, hai tay chắp lại ở đỉnh đầu, đầu tiên chạm vào thiên tâm, quán tưởng ánh sáng trắng chiếu đến thiên tâm (ý thanh tịnh); tay lại chạm vào họng, quán tưởng ánh sáng đỏ chiếu đến họng (khẩu thanh tịnh); tay lại chạm vào vùng tim, quán tưởng ánh sáng lam chiếu vào vùng tim (thân thanh tịnh). Thân khẩu ý thanh tịnh này chính là đem thân khẩu ý cúng dường Thượng sư Tam Bảo. Làm đại lễ bái như vậy thì tự nhiên sẽ là cúng dường.
Kinh Minh Đăng nói: ”Này đệ tử gia đình tốt (Phật tử), công đức của việc lễ bái từng lỗ chân lông trên người Thượng sư lớn hơn nhiều so với công đức lễ kính thân khẩu ý kim cương của thập phương Bạc Già Phạm Phật.” Vì sao? Bởi vì bồ đề tâm của Thượng sư chính là trung tâm của trí huệ vô thượng của tất cả Phật đó!
Cúng dường Thượng sư thật ra vẫn còn có rất nhiều phương pháp, ngoài dùng thân thể để làm đại lễ bái ra thì còn có đi nhiễu niệm Phật, giúp đỡ việc viết sách, may vá tăng y, để cho Thượng sư sai phái, lấy cơm rót trà, quét sàn lau bàn… Dùng miệng cầu nguyện và ca ngợi ngài. Bồi dưỡng lòng trung thành, tôn kính và tri kiến thuần tịnh.
**Hỏi: **Chúng ta làm lễ đại lễ bái với Thượng sư thì có công đức gì?
Đáp: Dùng tâm kính cẩn làm đại lễ bái có thể có được mười lợi ích sau:
- Diện mạo đẹp đẽ.
- Khí sắc hồng hào.
- Giọng nói khỏe khoắn.
- Thu phục đồng nghiệp.
- Trời người yêu mến.
- Thánh nhân bầu bạn.
- Khỏe mạnh sống lâu.
- Giàu có một phương.
- Đầu thai cao quý.
- Giải thoát tự tại.
**Hỏi: **Ý nghĩa của việc làm đại lễ bái với Căn bản Thượng sư nằm ở đâu?
**Đáp: **Hoàn toàn tín phục Phật pháp, hoàn toàn tín phục Căn bản Thượng sư, đã loại bỏ ngạo mạn và chấp ngã, đã bắt đầu kết hợp Phật pháp vào tu hành.
Hành giả Chân Phật đã dâng hiến thân khẩu ý của mình rồi.
04. Nghi quỹ Thánh đản của chư tôn
Hỏi: Hành giả Chân Phật gặp ngày Thánh đản của chư tôn, làm lễ chúc mừng như thế nào?
Đáp: Chúc mừng ngày Thánh đản của chư tôn không nằm ngoài việc ca tụng, niệm danh hiệu, cúng dường, lễ bái, tụng kinh chú, quy y, hồi hướng ...
Liên Sinh Thánh Tôn đưa ra một nghi quỹ như sau:
Nghi quỹ chúc mừng Thánh đản Quan Thế Âm Bồ Tát:
- Hương tán.
Giới định chân hương khởi, Xông tỏa vượt mây xanh. Đệ tử lòng chí thành, Dâng đốt lư hương vàng Hơi hương lan mười cõi, Chốc lát khắp hư không. Như xưa Dạ Thâu nương, [Dạ Thâu tức Yasodhara] Tiêu tai trừ chướng nạn.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
- Niệm tụng.
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. (3 lần) Chú Đại Bi. (3 lần)
- Bài kệ tán thán:
Bồ Tát hiệu Viên Thông, Giáng sinh rừng báu bảy tầng. Nghìn tay nghìn mắt dung nhan nhiệm diệu, An tọa trong điện Phổ Đà cung. Cành dương liễu rưới cam lộ nước thánh, Tưới nhuần khắp cõi pháp thơm nồng. Sóng nghìn lớp hiển thần thông diệu, Ánh sáng chiếu khắp trong đạo tràng. Quan Âm lời thề sâu khó nghĩ, Ứng hóa tùy duyên chẳng lỡ thời. Nghe tiếng cứu khổ như nam châm sắt hút, Hiện thân thuyết pháp bóng nguyệt soi ao. Trong vô lượng cõi, đều thành độ thoát, Nơi Ta Bà này lại rủ lòng từ. Ơn sâu biển rộng không lời kể xiết, Nguyện thương muôn loài hộ trì chở che. Nam mô Phổ Đà Sơn, Lưu Ly Thế Giới, Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
- Vừa đi nhiễu vừa niệm Phật
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
- Tụng kinh.
Kinh Phổ Môn Quan Thế Âm Bồ Tát hoặc Kinh Cao Vương Quan Thế Âm.
- Lễ bái phát nguyện.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (lạy 3 lần) Nam mô A Di Đà Phật. (lạy 3 lần) Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. (lạy 3 lần) Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (lạy 3 lần) Nam mô thanh tịnh đại hải chư Bồ Tát. (lạy 3 lần)
- Cúng dường.
Kết ấn cúng dường. Quán tưởng biến hóa. Niệm chú cúng dường.
- Tứ quy y.
Tự quy y Kim cương Thượng sư, nguyện chúng sinh chứng đắc tính Không và Đại Viên Mãn nhiệm mầu. Tự quy y Phật, nguyện chúng sinh lĩnh ngộ đại đạo, phát tâm vô thượng. Tự quy y pháp, nguyện chúng sinh thâm nhập kinh tạng, trí huệ như biển. Tự quy y tăng, nguyện chúng sinh thống lĩnh đại chúng, mọi sự không trở ngại, hòa hợp thánh chúng.
- Kệ hồi hướng.
Xưng tán công đức hạnh thù thắng Vô biên thắng phúc đều hồi thướng Nguyện mọi chúng sinh trong khổ đau Vãng sinh cõi Phật Vô Lượng Quang.
Thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
Cát tường viên mãn.
Hỏi: Nghi quỹ chúc mừng này có thể linh hoạt vận dụng được không?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn đưa ra "Nghi quỹ chúc mừng Thánh đản Quan Thế Âm Bồ Tát" chính là để mọi người căn cứ vào bản mẫu này mà linh hoạt vận dụng.
Thứ tự không thay đổi, tức là hương tán, niệm tụng, bài kệ tán thán, nhiễu niệm, tụng kinh, lễ bái phát nguyện, cúng dường, tứ quy y, hồi hướng, trình tự này không đổi.
Nhưng nội dung có thể thay đổi, chỉ cần không rời khỏi ý nghĩa chính của việc chúc mừng Thánh đản, có thể tự mình viết bài kệ tán thán, tự mình viết văn hồi hướng, đây là bản mẫu để vận dụng linh hoạt.
Nếu là Thánh đản của Phật Thích Ca Mâu Ni, bài kệ tán thán của chúng ta sẽ là: Thích Ca Văn Phật. Ngồi tại Kỳ Viên. Trưởng giả Cấp Cô trải gạch vàng. Thuyết pháp lợi người trời. Phúc huệ song toàn. Muôn đời lưu truyền mãi.
Nếu là Thánh đản của Phật Dược Sư, bài kệ tán thán của chúng ta sẽ là:
Dược Sư giáo chủ. Lưu Ly Quang Vương. Tám vị Bồ Tát giáng cát tường. Chư Phật trợ tuyên dương. Nhờ uy quang Phật. Phúc lộc mãi an khang.
Nếu là Thánh đản của Phật A Di Đà, bài kệ tán thán của chúng ta sẽ là: A Di Đà Phật. Y Vương vô thượng. Kim tướng nguy nghi phóng hào quang. Biển khổ làm thuyền. Cửu phẩm liên bang. Cùng nguyện vãng Tây phương.
Nếu là Thánh đản của Chuẩn Đề Phật Mẫu, bài kệ tán thán của chúng ta sẽ là: Phật Mẫu vĩ đại. Vô đẳng vô luân. Mười tám cánh tay hiển uy thần. Mật chú lợi trời người. Lễ niệm công thuần. Tức khắc thoát mê lầm.
Các vị khác cũng tương tự......
Tất nhiên, niệm tụng, trì chú, nhiễu niệm, tụng kinh, lễ bái của chúng ta, tất cả đều phải liên quan đến các vị Phật Bồ Tát được chúc mừng trong ngày hôm đó, cụ thể là: Thánh đản Phật A Di Đà, tụng "Kinh A Di Đà". Thánh đản Phật Dược Sư, tụng "Kinh Dược Sư". ..................
Hỏi: Chúng ta là hành giả Chân Phật làm nghi quỹ chúc mừng, có ý nghĩa gì không?
Đáp: Trong quá trình tiến hành nghi quỹ chúc mừng là trang nghiêm và trang trọng, ý nghĩa lớn nhất là chư Phật Bồ Tát chư tôn phóng quang giáng đàn tràng, hành giả tiêu tai giải ách, phúc huệ tăng trưởng, tu hành tiến thêm một bậc.
Nghi quỹ chúc mừng này lại là một trong các nghi quỹ đồng tu, đối với chúng sinh mà nói là một khâu cực kỳ quan trọng, không thể xem nhẹ, thậm chí vì bầu không khí trang nghiêm, sự thiêng liêng trang trọng, có thể cổ vũ nhân sinh, an định xã hội, tịnh hóa tâm người. Người tham gia chúc mừng, vì được Phật quang chiếu soi, đối với tương lai càng có đầy đủ niềm tin và hy vọng.
Hành giả làm nghi quỹ chúc mừng là một trong tu hành, lại có tác dụng khích lệ và khen thưởng; đối với những người khác, cũng có tác dụng an ủi và xoa dịu.
Hỏi: Nghi quỹ chúc mừng của Chân Phật Tông có gì khác biệt so với các tông phái khác?
Đáp: Có hai điểm khác biệt lớn.
Thứ nhất, Chân Phật Tông là Chân Phật Mật Pháp, vì có chữ Mật nên có nghi thức ấn khế, ví dụ như khi chúng ta lễ bái thì có ấn khế, khi cúng dường thì dùng ấn khế cúng dường, khắp nơi đều có ấn minh là điểm khác biệt so với các tông phái khác.
Thứ hai, Chân Phật Mật Pháp coi trọng chú, coi trọng chân ngôn, chúng ta trong Thánh đản Quan Thế Âm Bồ Tát thì tụng chú Đại Bi; trong Thánh đản Chuẩn Đề Phật Mẫu thì tụng chú Chuẩn Đề; trong Thánh đản Liên Hoa Đồng Tử thì tụng chú Liên Hoa Đồng Tử ....., khắp nơi đều có chân ngôn này cũng khác với các tông phái khác.
Nếu y theo Phật pháp chân thật mà nói, bí mật của Chân Phật Tông, dùng ấn chính là sự sắc bén tự nhiên, thân thể thanh tịnh, xa lìa điên đảo ô nhiễm. Dùng chú chính là chân lý vi tế hóa thành âm giác, giao tiếp lẫn nhau trí huệ giác ngộ của trời đất, sự thanh tịnh của khẩu.
Dùng ý là giác ngộ chân lý của vũ trụ và cuộc đời, sự giác ngộ này là: Thấy được hết thảy phiền não mà không chấp vào phiền não, giải thoát phiền não. Thấy được duy thức và huyễn hóa mà không trụ vào huyễn hóa, giác hành viên mãn. Nghi quỹ chúc mừng của Chân Phật Tông, tuy là tướng bên ngoài, nhưng có nội tại của nó, chính là nhờ đây mà tu phúc đức, lợi ích chúng sinh, giác hóa chúng sinh. Từ nghi quỹ chúc mừng đi thẳng đến cảnh giới quang minh cắt sạch vô minh, "trần sa nhị hoặc". [Trần sa hoặc là loại phiền não thuộc bụi cát, ám chỉ vô số phiền não vi tế như cát sông Hằng, thuộc về vô thủy vô minh và chướng ngại tri kiến. Đây là những mê hoặc cực kỳ nhỏ nhiệm, khó đoạn trừ, chỉ chấm dứt hoàn toàn khi thành Phật với trí huệ nhất thiết chủng trí. Nhị hoặc chỉ hai loại phiền não cơ bản: kiến hoặc (mê hoặc do tà kiến) và tư hoặc (mê hoặc do tư tưởng sai lầm). Kiến hoặc thuộc hàng thô, có thể đoạn trừ ở vị trí kiến đạo; tư hoặc tinh vi hơn, cần cảnh giới cao hơn mới trừ được.]
Hỏi: Làm thế nào từ nghi quỹ chúc mừng mà thấy được nội hàm?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, trong tám vạn bốn nghìn pháp môn của Phật pháp, chắc chắn cũng có nghi quỹ chúc mừng trong đó. Công dụng của nghi quỹ chúc mừng, trong phần hỏi đáp trước đã giải thích rõ ràng, vẫn có công dụng chữa lành tâm chúng sinh, hễ chúng sinh tham gia là đã gieo xuống hạt giống thành Phật, điều này đơn thuần nói về tướng bề ngoài, chỉ cần nghe pháp danh Phật và chân ngôn Phật, đã có thể xem là nguyên nhân sâu xa thành Phật trong tương lai.
Còn về hành giả Chân Phật, vốn là người thấy được trí huệ vô thượng, biết nghi quỹ chúc mừng hoàn toàn là phương tiện thiết lập, nhưng có thể từ lời kinh và bên trong câu chú để thể hội thực tướng bên trong. Niệm chú cũng là định, ấn khế cũng là định.
Trong nghi quỹ do Phật chế định, từ "hành" mà được "tam muội", từ "giải" mà được "giác ngộ", thể ngộ được hàm nghĩa bên trong đó, đạt được vô niệm, vô trụ, nội hàm kinh Phật đã chứng đắc, có thể đoạn hoặc chứng chân, đạt được đại giải thoát.
Hành giả Chân Phật nếu hiểu rõ lý này, có thể giải thích cho chúng sinh yếu nghĩa của nghi quỹ chúc mừng, lại phát bồ đề tâm, hành Đại thừa Bồ Tát đạo.
Hỏi: Có thể tự mình tu nghi quỹ chúc mừng tại mật đàn không?
Đáp: Tốt nhất là đồng tu, vì bầu không khí đồng tu khác, linh khí khác. Đồng tu có tính chất đặc biệt của đồng tu, cũng có thể tự mình tu, thuận theo tự nhiên, không có quy định cứng nhắc.
Hỏi: Chân Phật Tông chúng ta có cần phải chúc mừng tất cả Thánh đản của chư Phật Bồ Tát hay không?
Đáp: Trong vũ trụ này, chư Phật Bồ Tát là vô lượng vô số, nếu phải chúc mừng hết thảy từng vị một thì mỗi ngày đều có Thánh đản của chư Phật Bồ Tát, như vậy chúng ta sẽ không kham nổi.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, Chân Phật Tông của chúng ta lấy tám đại Bổn tôn làm chủ, vì vậy nghi quỹ chúc mừng có thể chỉ cần liệt kê tám đại Bổn tôn. Trong nghi thức chúc mừng, đồng thời triệu thỉnh tất cả chư Phật Bồ Tát mười phương ba đời cùng giáng lâm đàn thành là được. Nay xin liệt kê danh hiệu và ngày Thánh đản theo âm lịch của tám đại Bổn tôn như sau:
A Di Đà Phật - ngày 17 tháng 11. Quan Thế Âm Bồ Tát - ngày 19 tháng 2. Địa Tạng Vương Bồ Tát - ngày 30 tháng 7. Chuẩn Đề Phật Mẫu - ngày 16 tháng 3. Đa Văn Thiên Vương (Hoàng Tài Thần) - ngày 4 tháng 8. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - ngày 10 tháng 7. Liên Hoa Đồng Tử - ngày 18 tháng 5. Dược Sư Phật - ngày 30 tháng 9.
05. Nghi quỹ lễ bái
Hỏi: Hành giả Chân Phật chúng ta khi đối diện với Phật và các thần trong chùa miếu, phải lễ bái như thế nào mới đúng với nghi quỹ?
Đáp: Đây là một vấn đề lớn, tôi sẽ lần lượt giải thích chi tiết.
Về phương diện chùa miếu, vì hiện nay người đời đã lẫn lộn Phật - Đạo và các thần với nhau, có những Đạo miếu thì có Phật có Đạo, có những chùa Phật cũng cúng thờ thần thánh của Đạo giáo, thậm chí có những ngôi miếu thờ cúng không phải là sơn thần thổ địa mà là yêu ma quỷ quái, như Ông Hữu Ứng, Ông Bách Tính đều là vậy, vì thế trong việc lễ bái có sự khác nhau.
Trước tiên, tôi xin nói rõ về cấp bậc của Phật và chư thần như sau:
Phật - là bậc thánh đã giác ngộ. Đại giải thoát, đại tự tại, đại viên mãn, là tịch diệt, cũng là giác chiếu. Đối với bậc thánh giác ngộ, chúng ta dùng thủ ấn lạy Phật, làm đại lễ bái năm vóc sát đất.
Bồ Tát - là bậc giác độ tất cả chúng sinh hữu tình, vì phát bồ đề tâm mà tu lục độ vạn hành, tự giác giác tha, tự lợi lợi tha. Bồ Tát có 51 phẩm vị, đối với Bồ Tát vĩ đại như vậy, chúng ta dùng thủ ấn lạy Bồ Tát, đại lễ bái năm vóc sát đất.
La Hán - là phẩm vị cao nhất của hành giả Tiểu thừa. Đã đoạn phiền não, không còn chịu quả báo sinh tử, đã chứng thánh quả, đáng được trời người cúng dường. Đối với bậc thánh như vậy, chúng ta dùng thủ ấn bình đẳng lễ bái Ngài, có thể đại lễ bái năm vóc sát đất, cũng có thể lễ bái cúi đầu chấm đất.
Kim Cang - Ngũ đại Kim Cang thực ra là biến hiện thân phẫn nộ của năm vị Phật: Đại Nhật Như Lai, A Súc Như Lai, Bảo Sinh Như Lai, A Di Đà Như Lai, Bất Không Thành Tựu Như Lai; dùng để hàng phục tà ma, hộ trì Tam Bảo, là giáo lệnh luân. Đại Thánh Bất Động Minh Vương (Đại Nhật Như Lai), Hàng Tam Thế Minh Vương (A Súc Như Lai), Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương (Bảo Sinh Như Lai), Đại Uy Đức Minh Vương (A Di Đà Như Lai), Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương (Bất Không Thành Tựu Như Lai). Chúng ta đối với Kim Cang hộ pháp, dùng thủ ấn kim cang đại lễ bái năm vóc sát đất để cung kính Ngài. (Tám đại Minh Vương cũng lễ kính tương đương.)
Tiên - Cấp bậc và tầng lớp của tiên cũng có sự phân biệt, đại khái có Đại La Kim Tiên, Thiên Tiên, Địa Tiên, Quỷ Tiên v.v…
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, tu hành Đạo gia và thành Phật trong Mật giáo có những điểm tương đồng, tu hành Đạo gia có ba nghìn ngoại công (như hạnh Bồ Tát), có tu đan đạo, thông hai mạch Nhâm Đốc và kỳ kinh bát mạch, đại tiểu chu thiên, luyện khí hóa thần, đạt đến hư vô cao nhất, cũng là đạo tịch diệt giải thoát.
Vì vậy, Đại La Kim Tiên tương đương Bồ Tát, hành giả Chân Phật chúng ta có thể đại lễ bái.
Thiên Tiên, Địa Tiên, Quỷ Tiên v.v… có thể xem như bộ Trời. Giống như địa vị trong Phật giáo có Tứ Thiên Vương Thiên, Đế Thích Thiên, Phạm Thiên, Cát Tường Thiên, Biện Tài Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, Bát Phương Thiên và Thập Nhị Thiên v.v… Chúng ta cung kính bộ Trời hộ trì Phật pháp, có thể dùng thủ ấn bình đẳng cúi đầu lễ bái một lần để kính trọng.
Thần - Thần chính là ma cấp cao nhất, có thể nói như vậy, vì con người đó khi còn tại thế tu thiện nghiệp, hoặc là chính trực, hoặc có chính khí, hoặc có công lao, có cống hiến lớn đối với nhân thế gian, sau khi qua đời được xưng là thần. Như Quan Vân Trường, Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, Tôn Thiên Y, Thanh Thủy Tổ Sư, Văn Xương Đế Quân, Tam Sơn Quốc Vương, Khai Chương Thánh Vương, Quỷ Cốc Tiên Sư, Ngũ Phủ Thiên Tuế, Trung Đàn Nguyên Soái, Quảng Trạch Tôn Vương, v.v…
Ngoài ra, thần còn có Lôi Thần, Điện Thần, Phong Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Thần Mùa Màng, Phúc Thần, Tuế Thần, Địa Thần, Sơn Thần, Thành Hoàng, v.v…
Các vị thần của Đạo giáo phần lớn thuộc về hệ thống này, loại thần này khác với tiên tu hành Đạo gia, không thể lẫn lộn. Đạo gia là tu hành, Đạo giáo là sự sùng bái và tế thần.
Đối với bộ Trời của Phật giáo và chư thần của Đạo giáo, chúng ta đều dùng thủ ấn bình đẳng cúi đầu lễ bái một lần, cung kính là được. Tại sao phải cúi đầu cung kính? Vì bộ Trời và chư thần đều là quan chấp hành của chư Phật Bồ Tát Kim Tiên, đều có nhiệm vụ và trách nhiệm, chúng ta đối với các quan chấp hành cũng nên cúi đầu bình đẳng lễ bái một lần.
Ma - Con người chết thành ma, phàm kẻ keo kiệt tham lam, giận hờn đều đọa vào đạo này. Ma cũng có thần thông, thuộc về loại linh thông, ma cũng có thể làm hại người, như Dạ Xoa, La Sát là vậy. Miếu Ông Bách Tính, miếu Ông Hữu Ứng, miếu Ông Đại Chúng, miếu Ông Nam Tử đều là miếu ma, còn gọi là âm miếu. Lại có một số từ đường cúng thờ Đại Tiên (cáo), rắn, hổ, sói là tinh linh tà quỷ, tất nhiên cũng là âm miếu (linh động vật). Chúng ta là hành giả Chân Phật, đối với miếu ma đền thờ, tốt nhất là không nên vào, phải tránh xa.
Nếu nhất định phải vào, chắp tay là được, chắp tay biểu thị chào hỏi, đừng xúc phạm đến họ.
Liên Sinh Thánh Tôn hiểu rằng, loại quỷ vật tinh linh kêu bạn gọi bè, cũng có quỷ thông ác lực của chúng, nếu xúc phạm, chúng tất sẽ gây chướng ngại hành giả tu hành, tâm lượng của chúng hẹp hòi, truy đuổi tấn công không dừng, không coi trọng thiên đạo. Người tu học Chân Phật Mật Pháp tốt nhất là không nên xúc phạm.
Vì vậy, hành giả Chân Phật của Chân Phật Tông đối với phương diện lễ bái, có thể phân chia: Đại lễ bái, cúi đầu, chắp tay. Hành vi như vậy tức là phù hợp với nghi quỹ.
Hỏi: Đối với Diêu Trì Kim Mẫu, chúng ta phải lễ bái như thế nào?
Đáp: Diêu Trì Kim Mẫu không phải là Phật Bồ Tát trong Phật giáo, nhưng ở Trung Quốc, Ngài là Thượng Tiên thời cổ đại, cư ngụ tại cảnh giới Diêu Trì trên đỉnh núi Côn Lôn.
Kinh điển Đạo giáo nói: Huyền Huyền Thượng Nhân truyền pháp cho Mộc Công, Mộc Công truyền pháp cho Kim Mẫu. Theo Ngũ Phương Ngũ Lão của Đạo giáo, phối hợp với Ngũ Hành, Ngũ Phương Ngũ Lão như sau:
Trung ương Hoàng Lão. (Thổ Đức) Đông phương Mộc Công. (Mộc Đức) Tây phương Kim Mẫu. (Kim Đức) Nam phương Xích Tinh. (Hỏa Đức) Bắc phương Thủy Tinh. (Thủy Đức) Ngũ Lão này chính là chí tôn của Đạo giáo, trong năm phương trời, mỗi vị chủ trì một phương, địa vị của các ngài tương đương như Ngũ Phương Phật trong Phật giáo, vô cùng tôn quý.
Diêu Trì Kim Mẫu là vị cổ tiên, có nhân duyên vô cùng lớn với Liên Sinh Thánh Tôn (xem trong sách "Đêm ở hồ U Linh"). Liên Sinh Thánh Tôn ban đầu vào cửa Đạo giáo học Đạo chính là do Diêu Trì Kim Mẫu khai sáng; Liên Sinh Thánh Tôn lần đầu tiên được thiên nhãn thông và thần thông hoàn toàn là do Diêu Trì Kim Mẫu ban cho.
Diêu Trì Kim Mẫu cũng có thể nói là vị Thượng Tiên đầu tiên mà Liên Sinh Thánh Tôn tôn sùng, mặc dù sau này, Liên Sinh Thánh Tôn vào cửa Phật, học Hiển giáo, Mật giáo, quy y nhiều sư phụ và Thượng sư, nhưng Pháp thân của Diêu Trì Kim Mẫu luôn ở bên cạnh Liên Sinh Thánh Tôn. Thậm chí khi đến Hoa Kỳ, trong Chân Phật Mật Uyển vẫn thờ phụng Diêu Trì Kim Mẫu, thậm chí mỗi lần triệu thỉnh nhất định sẽ triệu thỉnh vị Thượng Tiên này trước, không có ngoại lệ.
Tôi biết có rất nhiều tôn giáo mới nổi coi Diêu Trì Kim Mẫu là Lão Mẫu Nương, cũng liệt Ngài vào vị trí tôn sùng đầu tiên. Tuy nhiên, tôi cho rằng vị Diêu Trì Kim Mẫu của tôi là Ngũ Phương Ngũ Lão, là Thượng Tiên cổ đại ở cảnh giới Diêu Trì trên đỉnh núi Côn Lôn, không phải là Lão Mẫu Nương của các giáo phái khác.
Trong lòng tôi, Diêu Trì Kim Mẫu là Cổ Tiên, là Đại La Kim Tiên, là Thượng Tiên, có địa vị tương đương với Ngũ Phương Phật, cũng rất cao quý vĩ đại.
Cá nhân tôi lễ bái Diêu Trì Kim Mẫu, coi Diêu Trì Kim Mẫu như Phật, tất nhiên dùng đại lễ bái để cung kính. Đây cũng là lý do Chân Phật Tông xuyên suốt Phật - Đạo.
Hỏi: Đối với Thiên Thượng Thánh Mẫu, chúng ta phải lễ bái như thế nào?
Đáp: Trong con mắt của Liên Sinh Thánh Tôn, Thiên Thượng Thánh Mẫu cũng là một vị thần tiên mà Liên Sinh Thánh Tôn tôn kính.
Thiên Thượng Thánh Mẫu không phải là Phật Bồ Tát trong Phật giáo, nhưng Liên Sinh Thánh Tôn hiểu rằng, Thiên Thượng Thánh Mẫu thực sự là một hóa thân khác của Quan Thế Âm Bồ Tát, nguồn gốc của Thiên Thượng Thánh Mẫu chính là từ Quan Thế Âm Bồ Tát.
Thiên Thượng Thánh Mẫu còn được gọi là Diệu Hạnh Ngọc Nữ, vì suốt cả cuộc đời Ngài đều thực hành những hành động vi diệu để cứu người cứu đời, có đại từ bi tâm; thậm chí ở cõi trời, Ngài cũng vẫn hộ phù cho muôn dân, tinh thần cứu khổ cứu nạn của Ngài đáng được mọi người tôn kính.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng: Thiên Thượng Thánh Mẫu tuy không phải là Phật Bồ Tát trong Phật giáo, mà là thần tiên của Đạo giáo, nhưng những hành động vi diệu của Ngài hoàn toàn giống với Bồ Tát, đệ tử Chân Phật Tông chúng ta đối với Thiên Thượng Thánh Mẫu có thể coi như Quan Thế Âm Bồ Tát, lấy lễ của Bồ Tát mà cung kính.
Hỏi: Chúng ta là hành giả Chân Phật, đối với Sư Tôn, các Thượng sư khác, các pháp sư khác, phải lễ bái như thế nào mới phù hợp với nghi quỹ?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn giáng sinh nhân gian, thực sự là vì một đại sự nhân duyên mà đến, Ngài học Cơ Đốc giáo, học Đạo, học Hiển, học Mật, thậm chí xuất gia. Liên Sinh Thánh Tôn lấy tâm từ bi cứu người cứu đời. Liên Sinh Thánh Tôn dùng trí huệ để viết sách, độ vô số chúng sinh đạt được khai ngộ. Liên Sinh Thánh Tôn thuyết pháp vô lượng, nhiều chân lý quý báu và khẩu quyết tu trì Phật pháp đã trình bày trọn vẹn, trở thành ngọn đèn bất diệt ở nhân gian.
Liên Sinh Thánh Tôn biết tất cả nhân quả, biết nguồn gốc của mình, được giao phó, được thọ ký, được trao mũ miện đỏ, được truyền Mật pháp; hơn nữa còn phát đại nguyện "ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục, chúng sinh độ hết mới thành Phật, thịt nát xương tan độ chúng sinh". Nhân duyên nhân gian của Liên Sinh Thánh Tôn trong kiếp này chính là: Hoằng dương Chân Phật Mật Pháp. Khơi mở lòng hướng thiện thành Phật.
Hành giả Chân Phật gặp Sư Tôn nên lễ Sư Tôn như Phật, làm đại lễ bái.
Cách xưng hô đối với Sư Tôn có thể là: Thượng Sư. Căn Bản Thượng Sư. Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư. Hoạt Phật. Chí Thượng Hoạt Phật. Thánh Tôn. Tôn Giả. Những cách xưng hô này đều là do người đời tặng cho Liên Sinh Thánh Tôn, các đệ tử quen gọi như thế nào thì cứ gọi như vậy, Liên Sinh Thánh Tôn không bận tâm đến những danh xưng này, thực ra danh xưng hoàn toàn chỉ là một cái tên mà thôi, một đại sự nhân duyên mới là điều quan trọng, danh xưng không quan trọng.
Hành giả Chân Phật chúng ta lần đầu tiên gặp Sư Tôn, hoặc là đã lâu chưa gặp Sư Tôn, đều nên làm đại lễ bái. Nếu gặp mặt hàng ngày thì không cần phải phiền phức như vậy. Nếu thường xuyên gặp mặt, gặp mặt mỗi ngày, thì chỉ cần cúi đầu hoặc chắp tay là được.
Đối với quyến thuộc thân cận của Sư Tôn - vợ (thị giả), có thể xưng hô là Sư Mẫu hoặc Thượng sư đều được, vì Thượng sư Liên Hương đã thọ quán đảnh A Xà Lê, có thể chính thức truyền pháp; Phật Thanh và Phật Kỳ có thể xưng hô là sư muội hoặc sư đệ là được.
Về phương diện các Thượng sư khác: "Các Thượng sư khác" ở đây là chỉ những vị A Xà Lê được Liên Sinh Thánh Tôn quán đảnh, mối quan hệ đó là: Liên Sinh Thánh Tôn - các Thượng sư khác - Hành giả Chân Phật.
Số lượng A Xà Lê của Chân Phật Tông trong tương lai sẽ là hơn hai trăm vị, thậm chí nghìn vị, vạn vị.
Khi hành giả Chân Phật gặp các Thượng sư khác, nếu Liên Sinh Thánh Tôn có mặt, có thể trực tiếp làm đại lễ bái với Thánh Tôn là được. Khi hành giả Chân Phật gặp các Thượng sư khác, nếu Liên Sinh Thánh Tôn không có mặt, hành giả Chân Phật có thể làm đại lễ bái hoặc cúi đầu với các Thượng sư khác đều được, cả hai lễ này đều có thể tùy ý.
Chỉ có hai trường hợp hành giả Chân Phật cần phải làm đại lễ bái đối với các Thượng sư khác: Các Thượng sư khác đang làm pháp hội, tượng trưng Ngũ Phật trụ đỉnh, hành giả Chân Phật nhất định phải làm đại lễ bái đối với các Thượng sư khác.
Đệ tử do các Thượng sư khác trực tiếp thu nhận, nhất định phải làm đại lễ bái đối với các Thượng sư khác. (Các Thượng sư A Xà Lê của Chân Phật Tông đều có thể thu nhận đệ tử.)
Hành giả Chân Phật đối với quyến thuộc của các Thượng sư khác, khi xưng hô nên thêm họ, như vậy mới có thể phân biệt được Sư Mẫu của Căn bản Thượng sư. Ví dụ: Phu nhân của Thượng sư Lưu, chúng ta có thể xưng hô là Sư Mẫu Lưu. Phu nhân của Thượng sư Du, chúng ta có thể xưng hô là Sư Mẫu Du. Phu nhân của Thượng sư Trịnh, chúng ta có thể xưng hô là Sư Mẫu Trịnh.
Nếu không xưng hô như vậy, hành giả Chân Phật đối với hàng trăm nghìn vị phu nhân của các Thượng sư đều xưng là Sư Mẫu sẽ khiến cho đệ tử mới quy y bị nhầm lẫn, cho rằng Liên Sinh Thánh Tôn có hàng trăm nghìn Sư Mẫu, như vậy thì không tốt lắm. Nên thêm họ vào để phân biệt.
Trong tông phái đã xảy ra nhiều việc nhầm lẫn về Sư Mẫu của Căn bản Thượng sư, ngay cả bản thân tôi cũng thấy không hợp.
Về phương diện các pháp sư khác: "Các pháp sư khác" ở đây là chỉ những vị A Xà Lê không thuộc Chân Phật Tông của chúng ta, hoặc các pháp sư xuất gia của các tông phái khác.
Hành giả Chân Phật khi gặp Thượng sư pháp sư của các tông phái khác đến thuyết pháp, quán đảnh, quy y, có thể đến nghe pháp, có thể đến quán đảnh, cũng có thể đến quy y, đây đều là kết thiện duyên. Đối với các pháp sư khác đều có thể làm đại lễ bái, cung kính các pháp sư khác là đúng.
Hành giả Chân Phật nếu quy y các pháp sư khác, sau đó từ bỏ Chân Phật Mật Pháp, như là từ bỏ Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp, từ bỏ Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông, đổi sang tu Mật pháp của các tông phái khác, việc tu pháp của họ không liên quan gì đến Chân Phật Mật Pháp, như vậy sẽ dần dần mất đi lực truyền thừa gia trì của Liên Sinh Hoạt Phật.
Hành giả Chân Phật có thể đi nghe pháp, có thể đi nhận quán đảnh, có thể đi quy y, kết duyên đều là điều thiện. Nhưng về phương diện tu pháp, nếu đổi sang tu pháp khác, không phải Chân Phật Mật Pháp, đương nhiên sẽ mất đi lực truyền thừa gia trì.
Có hai yếu tố dẫn đến mất lực truyền thừa gia trì: Đánh mất Căn bản Thượng sư tương ứng pháp. Đánh mất đi Căn bản Bổn tôn pháp.
Có hai điều khoản về "hỗn loạn truyền thừa", xin mọi người lưu ý, rất quan trọng. Thứ nhất, đệ tử đã quy y Căn bản Thượng sư, rồi lại quy y các Thượng sư khác trong tông phái, tuy không mất lực truyền thừa gia trì, nhưng về thứ bậc đã trở thành "học trò của học trò". Thứ hai, các Thượng sư khác trong tông phái, thu nhận đệ tử đã quy y Căn bản Thượng sư làm đồ đệ, là sư huynh thu nhận sư đệ làm đồ đệ, về căn bản là phạm giới luật Mật tông, không như pháp.
Hỏi: Lễ bái đàn thành và lễ bái Thượng sư, trình tự như thế nào?
**Đáp: **Nên lễ bái Thượng sư trước, sau đó lễ bái đàn thành.
Bởi vì Thượng sư là tổng trì Tam Bảo - Phật pháp tăng. Trước có Thượng sư, sau có đàn thành, đàn thành là do Thượng sư hóa hiện. Lễ bái Thượng sư một lạy là được. Lễ bái đàn thành phải ba lạy một khấu đầu.
Hỏi: Nghi quỹ lễ bái cần có tâm gì?
Đáp: Lễ bái chính là tâm cung kính. Chúng ta là hành giả Chân Phật phải có sự tôn kính và ngưỡng mộ vô thượng đối với Thượng sư và Tam Bảo, bình thường phải cống hiến thân, khẩu, ý cho Tam Bảo Thượng sư, lễ bái này phát xuất từ nội tâm.
Trong Chân Phật Mật Pháp, muốn được lực truyền thừa gia trì thì phải không được có chút giả dối nào, có một chút giả dối thì đã mất tâm cung kính, mất tâm cung kính rồi, tất cả tu pháp đều không thể có lợi ích.
Hành giả Chân Phật, ở bất kỳ nơi đâu đều phải làm đại lễ bái năm vóc sát đất đối với Thượng sư Tam Bảo, không chỉ phải như vậy mà còn phải có tâm cung kính chân chính, cần phải ca tụng, luôn nhớ nghĩ và đi theo. Điều được thể hiện qua nghi quỹ lễ bái chính là: Nghiêm túc. Cung kính. Như pháp.
Hỏi: Tại sao Liên Sinh Thánh Tôn lại làm đại lễ bái đối với các cao tăng Phật môn?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn đã phát đại nguyện: chúng sinh thành Phật, tôi mới thành Phật.
Liên Sinh Thánh Tôn xem chúng sinh đều là Phật, cho nên có thể làm đại lễ bái đối với bất kỳ chúng sinh nào. Tôi làm đại lễ bái đối với cao tăng, đó là bước đầu của tôi.
Liên Sinh Thánh Tôn xem tất cả mọi người đều là vị Phật tương lai, đã đạt đến cảnh giới tâm không phân biệt.
06. Nghi quỹ giới luật
Hỏi: Giới luật là gì?
Đáp: "Đại Thừa Nghĩa Chương" viết: "Nói về thi-la, tên là thanh lương, cũng gọi là giới. Lửa của tam nghiệp đốt cháy hành giả, việc này như bị thiêu đốt, giới có thể phòng ngừa và dập tắt, nên gọi là thanh lương. Tên thanh lương, là dịch chính xác. Bởi vì có thể phòng cấm, nên gọi là giới." Giới luật chính là pháp luật phòng ngừa cái xấu và cái không đúng của tín đồ Phật giáo.
Hỏi: Công dụng của giới luật là gì?
Đáp: Trước tiên chúng ta cần hiểu về bốn tướng của giới luật: Giới pháp — là luật pháp do Như Lai chế định. Giới thể — lĩnh nhận giới pháp vào tâm, sinh ra công đức phòng sai dừng ác. Giới hành — theo giới thể mà hành động như pháp chính là giới hành. Giới tướng — sự sai biệt của phẩm hạnh, giới có sự phân biệt là năm giới, mười giới cho đến hai trăm năm mươi giới.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu rõ: công dụng của giới luật chính là công đức phòng ngừa cái sai trái và dừng cái ác.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng công dụng của nó có ba: Xa lìa tất cả tà ác phi pháp. Nhiếp thiện tụ phúc chứng ngộ Như Lai. Lợi lạc tất cả hữu tình.
Hỏi: Giới định huệ ba điều này có mối liên hệ gì với nhau?
Đáp: Phòng ngừa cái sai trái và dừng cái ác là giới, dừng tạp niệm và tĩnh lặng duyên là định, phá ác và chứng chân là huệ.
Do có giới mới sinh ra định, do có định mới sinh ra huệ. Đây chính là nhất giới, nhị định, tam huệ, tứ giải thoát, ngũ giải thoát tri kiến, đây là năm phần Pháp thân [năm phần công đức cấu thành Pháp thân của bậc Thánh (Phật và A La Hán)].
Hỏi: Trong Phật giáo, có bao nhiêu loại giới?
Đáp: Giới luật trong Phật giáo rất nhiều, đại thể chia ra:
10 giới và 250 giới là giới Tiểu thừa. 10 giới trọng và 48 giới khinh, 3 tụ giới là giới Đại thừa. 5 giới và 8 giới là giới tại gia. (8 giới tức là Bát quan trai giới.) 10 giới và 250 giới là giới xuất gia. 3 tụ giới là giới dùng chung cho cả xuất gia và tại gia. 500 giới là giới cụ túc của tỳ kheo ni.
Hỏi: Muốn hiểu rõ giới luật trong Phật giáo, có thể đọc kinh nào?
Đáp: "Phạm Võng Kinh", "Giới Nhân Duyên Kinh", "Phật Thuyết Giới Đức Hương Kinh", "Phật Thuyết Giới Tiêu Tai Kinh", "Phật Thuyết Giới Hương Kinh".
Hỏi: Thường nghe nói đến năm giới, giới Bồ Tát, tam đàn đại giới, phân biệt như thế nào?
Đáp: Năm giới chính là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, là giới mà đệ tử tại gia phải giữ.
Giới Bồ Tát tiến hơn năm giới một bậc, có giới bản của giới Bồ Tát, y theo giới mà làm, chính là giới Bồ Tát.
Tam đàn đại giới là giới mà sa môn xuất gia hoàn toàn thọ nhận. Chia làm ba đàn: Đàn thứ nhất — thọ 10 giới sa di. Đàn thứ hai — thọ 250 giới tỳ kheo, 375 giới tỳ kheo ni, đó là giới cụ túc. Đàn thứ ba — chính là tam tụ tịnh giới, giới Bồ Tát 10 trọng 48 khinh. Hợp ba đàn này tức là tam đàn đại giới.
Hỏi: Ai ai cũng có thể thọ giới chăng?
Đáp: Về nguyên tắc là ai ai cũng có thể thọ giới, như "Phạm Võng Kinh" có nói:
"Nếu tất cả chúng sinh, khi mới vào biển Tam Bảo, lấy tín làm gốc. Ở trong nhà Phật, lấy giới làm gốc. Phật tử bắt đầu hành Bồ Tát ví như tín nam thiện nữ. Các căn không đủ, hoàng môn [người khiếm khuyết sinh dục, không đủ điều kiện xuất gia theo luật Tạng], dâm nam, dâm nữ, nô tỳ, biến hóa nhân đều thọ được giới."
Nhưng sau này khi truyền ra lại có khác đi một chút, có thêm một số hạn chế, Liên Sinh Thánh Tôn nêu ra như sau: Một, có bệnh ác như lở loét, không được thọ giới. Hai, người mắc nợ, không được thọ giới. Ba, chưa đủ hai mươi tuổi, y bát chưa đủ, không được thọ giới. Bốn, người phạm tội, phạm tỳ kheo ni, phạm trộm cắp, giết cha giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu, kẻ thị phi. Năm, sinh có nhị hình (người lưỡng tính), hình động vật, phi nhân.
Hỏi: Hành giả Chân Phật mới vào Chân Phật Tông, phải giữ giới luật gì?
Đáp: Trước tiên hãy xem những dòng chữ trên chứng thư quy giới:
"Do theo lời Phật dạy, con một lòng quy y cửa Phật. Nhận lễ bái minh sư, quy y Pháp sư Liên Sinh. Nguyện trọn đời trọn kiếp:
-
Phụng ý Phật, hành thiện.
-
Phụng trì chính pháp, giữ giới.
-
Trung kiên với quốc gia.
-
Hiếu thuận cha mẹ.
-
Cung kính sư trưởng và đồng môn.
Trọn một đời một kiếp, con nguyện phụng hành không đổi. Đặc biệt soạn sớ văn trình bày, xin chư Phật Bồ Tát trên trời dưới đất cùng chứng minh."
Giới luật trên chứng thư này, chính là:
- Trung.
- Hiếu.
- Kính thầy và đồng môn.
- Phụng pháp trì giới.
- Hành thiện.
Hỏi: Chúng ta là hành giả Chân Phật, có cần phụng hành năm giới không?
Đáp: Giới luật căn bản nhất của Phật giáo là năm giới. Trong giới luật của Chân Phật Tông có "nguyện trọn đời trọn kiếp phụng pháp trì giới", ý nói đến chính là phụng hành năm giới, tức là nguyện hết tất cả sức lực trong đời mình, để phụng trì chính pháp, để nghiêm giữ giới luật, giới luật này chính là năm giới của Phật pháp, năm giới trình bày chi tiết như sau:
- Không sát sinh: Lòng từ bi với muôn vật, không giết hại sinh linh, tích cực hơn nữa là phóng sinh. (là Nhân)
- Không uống rượu: Không uống rượu ở đây ý nói là không say rượu, không vì rượu mà loạn tính. (là Trí)
- Không tà dâm: Quan hệ ngoài vợ ngoài chồng đều là tà dâm. (là Lễ)
- Không nói dối: Không xúi giục thị phi, phạm khẩu nghiệp, phỉ báng chính nhân chính pháp, đều là phạm nghiệp này. (là Tín)
- Không trộm cắp: Không phải của mình thì không trộm không cắp. (là Nghĩa)
Thực ra năm giới này không chỉ đệ tử Hiển giáo phải giữ, đệ tử Mật giáo cũng phải giữ. Nếu như người đời cũng có thể giữ năm giới này thì thế gian này thực sự là thái bình thịnh thế, thì "sát, đạo, dâm, vọng" liền tiêu tan rồi, cũng tuyệt tích rồi, nhân gian được thanh tịnh hóa, lòng người an lạc, và không khác gì tịnh thổ thế giới.
Liên Sinh Thánh Tôn muốn mọi người giữ năm giới này.
Hỏi: Chân Phật Tông là Mật thừa, Mật thừa lại có giới luật gì?
Đáp: Mật thừa có tất cả 14 điều giới luật căn bản, phạm phải bất kỳ điều nào đều sẽ phá hủy mối quan hệ thiêng liêng giữa hành giả Chân Phật và Liên Sinh Thánh Tôn, tức là khiến cho hành giả nhận được quán đảnh quy y chỉ còn hình thức quán đảnh quy y, không nhận được gia trì lực của Thượng sư và Bổn tôn. 14 điều giới luật căn bản này như sau:
- Xúc phạm hoặc khinh thường Thượng sư của mình. (Không cung kính đối với thân khẩu ý của Thượng sư.)
- Phạm giới luật của Phật. (Đối với Hiển Mật luật nghi không tuân thủ.)
- Đối với bạn đạo kim cương của mình sinh ra tâm sân hận. (Đối với huynh đệ kim cương khởi oán ghét tranh chấp.)
- Từ bỏ lòng từ bi. (Quên mất tâm từ bi, ganh tị chúng sinh hưởng lạc.)
- Từ bỏ bồ đề tâm. (Sợ khó không độ, thối lui bồ đề tâm.)
- Phỉ báng giáo nghĩa của các tông phái khác trong Phật môn. (Phỉ báng kinh điển Hiển Mật không phải lời Phật dạy.)
- Công khai những khai thị bí mật. (Truyền thụ Mật pháp cho người chưa được quán đảnh.)
- Khinh thường Phật tính căn bản của chính mình. (Tổn hại ngũ uẩn của mình, cho rằng không như Phật.)
- Sỉ nhục và khinh thường đạo lý "Không". (Thiên vị Không - Có, không học tâm Không.)
- Thả trôi theo dục vọng, cùng người ác làm điều ác. (Kết bạn với kẻ phỉ báng Phật, phá hoại pháp, làm hại chúng sinh.)
- Không quán tưởng "Không". (Tự mãn về pháp thù thắng, quên mất mật ý.)
- Tranh cãi với người khác. (Không nói Mật pháp chân thật, gây chướng ngại phá hoại thiện căn.)
- Hoàn toàn phớt lờ lời thề thiêng liêng của bạn. (Pháp khí và tư liệu Mật pháp không đầy đủ.)
- Phỉ báng phụ nữ, vì phụ nữ là nguồn gốc của trí tuệ. (Phỉ báng tự tính trí huệ của phụ nữ.)
Hỏi: Chân Phật Tông rất coi trọng lời thề ước giữa Thượng sư và hành giả Chân Phật, giữa Thượng sư và hành giả Chân Phật cũng có giới luật, đó là "Sự Sư Pháp", xin hỏi nội dung của "Sự Sư Pháp" như thế nào?
Đáp: Giữa Thượng sư và hành giả Chân Phật của Chân Phật Tông có giới luật, đây là nói về Thượng sư nhận biết đệ tử như thế nào, đệ tử phải cung kính Thượng sư như thế nào về lễ nghi. Giới luật này bắt nguồn từ Mã Minh Bồ Tát, là Mã Minh Bồ Tát tiếp nhận chỉ dẫn từ ý thức vũ trụ mà viết ra.
50 điều "Sự Sư Pháp" này chính là "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng". Liên Sinh Thánh Tôn mong mỏi đệ tử của Chân Phật Tông tuân giữ "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng".
Nội dung của "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng" được đăng tải trong cuốn sách "Hành Giả Seattle", xin hành giả Chân Phật tự mình tham khảo.
Hỏi: Thường nghe có người nói, giới luật là pháp hữu tướng, người tu học đến vô tướng có thể phá giới luật, không cần giữ giới, có đúng không?
Đáp: Chúng ta là người mới học Phật, nhất định phải giữ năm giới, 14 đại giới của Mật thừa, 50 điều "Sự Sư Pháp"..., đây là giới hạnh tối thiểu, như vậy mới là chính xác.
Người chưa chứng ngộ, là một phàm phu chưa xuất tam giới, phàm phu này nếu mở miệng không giữ giới luật, hành vi không giữ giới luật, thì tạp loạn không trang nghiêm, căn bản không có tướng trang nghiêm của đệ tử Phật, từ đó thiện ác bất phân, hành sự điên đảo, như vậy tất sẽ mắc tội khinh mạn.
Còn về người đã khai ngộ, đã đoạn trừ kiến hoặc, tư hoặc trong ba cõi, biết được lý vô tướng tính Không, hành sự không rò rỉ không vướng mắc, chẳng phải tình cảm phàm tục có thể bàn luận, đã đến cảnh giới không gì là không giác, không gì là không hóa độ, có thể nói là như như bất động rồi.
Thực ra người trong thánh vực, bên ngoài nhìn thì không giữ giới luật, phá giới luật, nhưng bên trong là đã đắc khai ngộ thực tướng, điều này cần trí tuệ vô thượng mới có thể quán chiếu rõ ràng.
Cho nên có một câu danh ngôn: Nơi sư tử nhảy qua, thỏ không thể theo đó mà nhảy. Sư tử nhảy qua được, thỏ nhảy không qua. Phàm phu phải giữ giới luật. Thánh nhân có thể phá giới luật.
Nếu người chưa khai ngộ cũng học theo hành vi của người đã khai ngộ thì sẽ nhảy không qua, phải trải qua cái chết bi thảm, đọa vào địa ngục Vô Gián.
Liên Sinh Thánh Tôn biết cách dạy theo trình độ, đối với chúng sinh có căn cơ khác nhau mà nói ra đạo lý tốt nhất. Hành giả Chân Phật có khai ngộ hay không thì tự mình biết rõ, trong đó từng lời nói ra là chân thật, không giả tạo, không nói dối, không lời hoa mỹ xảo trá, đó chính là không vọng ngữ. Nếu chưa ngộ nói là ngộ, chưa giác nói là giác, hoàn toàn không giữ giới luật, sẽ đọa địa ngục Kim Cang.
Hỏi: Hành giả Chân Phật mới bắt đầu tu học Phật pháp, đương nhiên chưa phải là bậc thánh hiền, tự nhiên dễ phạm sai lầm, khi phạm sai lầm thì phải làm sao?
Đáp: Phải sám hối, tu pháp sám hối.
Hỏi: Nghi quỹ pháp sám hối như thế nào?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn trong 80 cuốn linh thư trước đây, đã tiết lộ công khai nhiều loại nghi quỹ pháp sám hối, bất kỳ pháp sám hối nào cũng đều là đại pháp diệt tội.
Bất kỳ pháp sám hối nào đều bao gồm:
-
Tại mật đàn ngồi kiết già, niệm văn tán tụng, quán tưởng Bổn tôn của mình ngồi trên đỉnh đầu mình.
-
Khẩn thỉnh Bổn tôn thanh tịnh tội chướng của mình. (Phát lộ giới luật mà mình đã vi phạm.)
-
Niệm văn tán tụng, quán tưởng quá trình thanh tịnh hóa.
-
Niệm tâm chú của Bổn tôn.
-
Niệm kinh văn sám hối cầu nguyện.
-
Quán tưởng Bổn tôn gia trì.
-
Quán tưởng hóa không, nhập Tam ma địa.
-
Niệm Bách tự minh chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa.
-
Hồi hướng công đức.
Nội dung của nghi quỹ sám hối nhìn chung là tương tự nhau, nhưng trọng điểm là ở tâm chân thành của hành giả, trong đó việc trì tụng và thứ tự có sai khác nhỏ là không sao, và không ảnh hưởng đến nghĩa chân thực của nghi quỹ pháp sám hối.
Hỏi: Xin hãy đưa ra một loại pháp sám hối đơn giản để các đệ tử hiểu rõ ràng?
Đáp: Tôi dạy mọi người, tu pháp sám hối như sau: (pháp sám hối đơn giản)
- Vào đàn niệm chú thanh tịnh.
- Niệm chú triệu thỉnh, phụng thỉnh chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp.
- Chân Phật đại lễ bái pháp.
- Kết thủ ấn cúng dường, dâng cúng dường. (ngồi)
- Niệm chú tứ quy y 3 biến.
- Mặc giáp hộ thân.
- Niệm "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh". (1 ~ 3 biến) (7 bước trên, mỗi pháp đều phải làm.)
- Kết ấn: Kết thủ ấn chắp tay.
- Niệm kệ sám hối: Bao ác nghiệp xưa nay con đã tạo, Đều do vô thủy tham, sân, si. Do thân, khẩu, ý mà sinh khởi. Những tội mười ác, năm vô gián, Tam muội da giới các loại tội Vô lượng vô biên các tội lỗi Tất cả con nay đều sám hối Nguyện Phật xót thương thường nhiếp thọ, Đến khi thành Phật không rời con. (Niệm 3 biến)
- Quán tưởng: (tay kết ấn định) Giữa hư không hiện ra chư Phật Bồ Tát chư tôn. Hành giả niệm thầm chú bốn chữ "Cha - Hùm - Ban - Hô".
Chư Phật Bồ Tát chư tôn xoay chuyển thành ánh sáng trắng lớn, ánh sáng theo đường cong hạ giáng, chiếu trọn hành giả Chân Phật, hành giả quán tưởng lỗ chân lông toàn thân đẩy ra khói đen khí đen, tự thân được đại quang minh.
- Niệm chú sám hối:
"Ôm pê-cha sa-ma-ya su-tê-a." (Cố gắng tụng nhiều.)
-
Nhập Tam ma địa. (nhập định)
-
Xuất định hồi hướng:
Tất cả Như Lai đại quang minh. Thanh tịnh thân con trừ nghiệp xấu. Đại bảo trang nghiêm bất tư nghì. Sám hối công đức con đảnh lễ.
- Có thể thêm niệm Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh chân ngôn 3 biến:
Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya. Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha. Chư-chô mê-pa-wa. Su-tô ka-yô mê-pa-wa. Su-pô ka-yô mê-pa-wa. A-nu-ra-tô mê-pa-wa. Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha. Sa-wa ka-ma su-cha-mê. Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm. Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân. Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha. Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya. Sa-tô ah hùm pây.
Cát tường viên mãn.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, chỉ cần thực tâm thành ý sám hối tu pháp sám hối này, chư Phật Bồ Tát cuối cùng sẽ xuất hiện, giải trừ chướng ngại cho hành giả, ban cho ấn ký lại từ đầu.
Hỏi: Trong Phật môn có "Sự - Lý tam sám", giải thích như thế nào? Phương pháp thực hiện ra sao?
Đáp: Sự - Lý tam sám chính là Tác pháp sám, Thủ tướng sám, Vô sinh sám.
Sự - Lý tam sám xuất phát từ "Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú", Sự sám bao gồm Tác pháp sám, Thủ tướng sám, Lý sám là Vô sinh sám.
Giải thích như sau: Tác pháp sám — Tuân theo nghi quỹ mà Thánh Tôn đã đưa ra, thực hiện pháp sám hối. Trong tác pháp, thực ra bao gồm ba ý nghĩa lớn: Thân sám — Đại lễ bái chư Phật, cúng dường trân bảo. Khẩu sám — Tụng kinh trì chú, phát lộ tội chướng. Ý sám — Quang minh hạ chiếu, hối lỗi hồi hướng.
Thủ tướng sám hối — Định tâm quán tưởng, trong thời gian này, thấy quang hoa hạ chiếu, nhờ đó diệt tội.
Vô sinh sám — Ngồi ngay ngắn niệm thực tướng, quán tâm bất khả đắc, tội tính vốn không, đây là đại pháp diệt tội "chân không hóa vô".
Vô sinh sám, chính là: Tội từ tâm khởi dùng tâm sám. Khi tâm đã diệt thì tội diệt. Tâm vong tội diệt đều thành không. Thì được gọi là thực sám hối.
Hỏi: Sám hối có phải là hạnh nguyện không?
Đáp: Sám hối là hạnh nguyện, cũng là công pháp cần thiết phải tu của hành giả Chân Phật, một khi có lỗi lầm thì phải tu pháp sám hối. Mười nguyện của Phổ Hiền sám hối nghiệp chướng là một trong các hạnh nguyện.
Mười hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát là: Một là kính lễ chư Phật. Hai là xưng tán Như Lai. Ba là rộng tu cúng dường. Bốn là sám hối nghiệp chướng. Năm là tùy hỷ công đức. Sáu là thỉnh chuyển pháp luân. Bảy là thỉnh Phật trụ thế. Tám là thường tùy Phật học. Chín là hằng thuận chúng sinh. Mười là hồi hướng đều khắp.
Hỏi: Sám hối có công đức không?
Đáp: Sám hối có công đức.
"Tâm Địa Quán Kinh" viết: Sám hối có thể đốt sạch củi phiền não, sám hối có thể vãng sinh con đường thiên giới, sám hối có thể đắc được vui của bốn thiền, sám hối như mưa châu báu mani, sám hối có thể kéo dài thọ mạng kim cương, sám hối có thể vào cung thường lạc, sám hối có thể thoát khỏi ngục ba cõi, sám hối có thể nở hoa bồ đề, sám hối đắc được đại viên kính của Phật, sám hối có thể đưa đến nơi trân bảo.
Đây chính là công đức của sám hối.
Hỏi: Hành giả Chân Phật phạm giới luật có cần sám hối với Căn bản Thượng sư không?
Đáp: Có thể sám hối với Căn bản Thượng sư, gửi lên cúng dường, thỉnh cầu Căn bản Thượng sư thay mặt hành giả tu đàn pháp sám hối.
Căn bản Thượng sư trong lúc tu pháp sẽ trình bày:
- Hành giả thừa nhận sai lầm.
- Hành giả chân thành hối lỗi.
- Quyết tâm không tái phạm lỗi lầm tương tự.
Cũng có thể không cần sám hối với Căn bản Thượng sư, hành giả Chân Phật tại mật đàn, đối với Căn bản Thượng sư và chư Phật Bồ Tát chư tôn quán tưởng, tụng kinh trì chú, niệm văn cầu nguyện sám hối, quán tưởng quang hoa đi vào đỉnh đầu hành giả, ác nghiệp của hành giả hóa thành khí đen thoát ra, tự tâm hành giả dừng lại thói xấu, như thế chính là sám hối rồi.
Hỏi: Học giới luật cũng là một môn học lớn, trong đó còn có những quy củ gì nữa không?
Đáp: Trong Phật môn có rất nhiều giới luật, tất nhiên cũng có rất nhiều quy củ không nằm trong giới luật, đó là loại quy củ mà những người tu học tông phái đó cùng nhau quy ước tuân thủ, những quy củ này được diễn hóa từ giới đức.
Đệ tử Chân Phật chúng ta cùng nhau tuân thủ quy củ này, chính là: "Quy củ có thể tạo nên tiêu chuẩn." Hình thành nên tông phái hoàn mỹ, đoàn thể hoàn mỹ. Như vậy mới là: Nghiêm túc. Cung kính. Như pháp.
Hỏi: Chúng ta là hành giả Chân Phật, phải tuân thủ những quy củ gì?
Đáp: Thánh Tôn chỉ chọn ra vài điều tại đây, mọi người hãy ghi nhớ kỹ:
- Đối với chư Phật Bồ Tát chư tôn, pháp khí, kinh sách, đều nên hộ trì cung kính, không nên tùy tiện đặt bừa hoặc làm ô nhiễm.
- Đối với Phật pháp của các tông phái khác, không được phỉ báng hoặc sinh tâm khinh mạn.
- Trước khi chúng ta tu pháp, nên thanh tịnh tay, miệng, thân. Nếu đang ở ngoài thì trước tiên quán tưởng thanh tịnh rồi mới thực hành.
- Hành giả Chân Phật phải có tâm công đức.
- Hành giả Chân Phật đối với hai chúng xuất gia đều phải y pháp cung kính, lễ bái, cúng dường.
- Hành giả Chân Phật phải tuân thủ tất cả quy củ do các đạo tràng khác quy định. v.v…
Hỏi: Thượng sư của Chân Phật Tông đã là Thượng sư rồi, có phải giữ giới luật nữa không?
Đáp: Chúng ta có thể đọc bài viết "Làm Thượng sư" do Thượng sư Liên Hàn viết trước, sau đó Liên Sinh Thánh Tôn sẽ bổ sung thêm.
Làm Thượng sư — Thượng sư Liên Hàn
Mơ ước bao lâuBạn có muốn biết mùi vị của việc làm Thượng sư không? Trong tâm trí bạn, Thượng sư nên như thế nào?
Nhiều người thấy khi làm Thượng sư đội mũ Ngũ Phật, khoác cà sa màu cà phê, ngồi trên pháp đài trong pháp hội, quả nhiên pháp tướng trang nghiêm, nghìn người nhìn vào, uy phong tám mặt.
Lại thấy khi Thượng sư chủ trì pháp hội, lắc chuông vung chày, ấn kết liên miên, thực sự là pháp lực vô biên, khiến người ta ngưỡng mộ vô cùng!
Lại thấy khi Thượng sư quán đảnh cho mọi người, mọi người tranh nhau chen lấn, đảnh lễ ngài, còn dâng hồng bao lên bằng hai tay, khẩn cầu gia trì quán đảnh. Khi làm Thượng sư chỉ cần rảy một chút nước lên đầu mọi người là có thể thu nhận cúng dường của mọi người, tiền vào như nước.
Vì vậy, điều này đã khơi dậy sự quan tâm của nhiều đồng môn muốn tranh giành làm Thượng sư. Bởi vì nhiều người cho rằng, một khi được Sư Tôn phong làm Thượng sư liền có thể lập tức vượt hẳn người khác, dưới một người, trên vạn người. Chỉ cần đội mũ Phật, khoác cà sa, là có thể ở vị trí trên cao, được vạn người cúi lạy. Khi ra ngoài có vệ sĩ, hộ pháp, tùy tùng một đống, tiền hô hậu ủng, phô diễn hết mọi oai phong, lại có thể nhận cúng dường của mọi người, tài nguyên cuồn cuộn, danh lợi song toàn.
Hoặc có người còn cho rằng, khi đã làm Thượng sư, đường chủ các phân đường trên toàn thế giới đều thấp hơn ta một cấp, ta muốn đến phân đường nào thì đến phân đường đó, lấy danh nghĩa "hoằng pháp", thu hồng bao tràn lan, đường chủ còn phải chiều chuộng chu đáo, nếu không, hừ, sẽ cho họ biết tay!
Bởi vì khi làm Thượng sư có thể có nhiều lợi ích như vậy, nên rất nhiều đồng môn mơ ước bao lâu. Có một số đồng môn liên tục viết thư cho Sư Tôn: "Chỉ cần Thầy phong tôi làm Thượng sư, tôi sẽ phát nguyện ra độ rất rất nhiều chúng sinh!"
Có một số đồng môn khóc lóc nức nở, van xin Sư Tôn phong Thượng sư, trở thành Liên Cách thứ hai. [Liên Cách là pháp hiệu của một vị Thượng sư trong Chân Phật Tông.]
Có một số đồng môn để nâng cao địa vị bản thân nhằm lấy lòng Sư Tôn, làm công việc tạp vụ mà giả danh là kỹ sư, không ngại phạm giới lừa dối Sư Tôn, mục đích là muốn được phong Thượng sư.
Có một số đồng môn ngày nghĩ đêm mơ, ban đêm nằm mơ thấy Bồ Tát đội mũ Ngũ Phật cho mình, rồi viết thư kêu gào với Sư Tôn: "Bồ Tát đã đội mũ Ngũ Phật cho con rồi, con đã là Thượng sư rồi! Xin Thầy phong bổ sung và công bố cho đại chúng biết!" Không ngờ rằng chính mình có tâm hư vinh nặng nề, tâm danh lợi sâu nặng, bị các thần chế nhạo trêu chọc, trong mơ chỉ trêu chọc một chút mà thôi.
Có một số đồng môn vì muốn được mọi người tôn sùng, muốn vượt lên trên người khác, muốn biểu thị mình cao hơn người khác một bậc, nên thường tự cho mình là "Thượng sư", nói rằng: "Sư huynh A, tu trì của anh tuy tốt, nhưng tiếc là phương pháp không đúng, cần phải sửa lại." "Sư tỷ B, nghiệp chướng của cô quá nặng, để tôi gia trì cho cô!"
Có người nói: "Vị Thượng sư nọ, trong định tôi đã kiểm nghiệm qua rồi, cảnh giới tu trì của họ vẫn chưa đủ, cần phải nỗ lực hơn nữa mới được."
Có người nói: "Sư Tôn trong định đã truyền thụ cho tôi đại pháp vô thượng bí mật nhất và các thủ ấn khác nhau, những đại pháp này chưa truyền cho bất cứ Thượng sư nào. Vì căn cơ tiền kiếp của tôi tốt, Sư Tôn trong định nói tôi là Bồ Tát nào nào đó giáng thế, linh tính của tôi đã vượt qua Thượng sư rồi. Vì nhân duyên chưa chín muồi, bằng không đã phong Thượng sư từ lâu rồi." Lừa gạt không ít đồng môn thiếu hiểu biết nhắm mắt theo đuôi, đi theo vây xung quanh.
Những tình huống như vậy, tuy chỉ là một số người ít, nhưng trên khắp thế giới, các khu vực khác nhau, thời gian khác nhau, lần lượt nổi lên, không ngừng xuất hiện.
Tại sao học Phật lại thành thế này? Rốt cục sai ở đâu?
Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã từng hét lên tiếng gầm sư tử: "Phật không sai! Là suy nghĩ của người ta sai!"
Suy nghĩ là gì? Chính là tâm niệm. Sai ở đâu? Sai ở chỗ không tu tâm! Tất cả bị những tâm niệm ô nhiễm như tâm hư vinh, tâm danh lợi, thích phô trương, thích nghe nịnh bợ, thích ganh đua tranh giành v.v... che lấp, chi phối.
Tuy nhiên, nói trở lại, trong số rất nhiều đồng môn của chúng ta, cũng có không ít người phát tâm thuần chính, tinh tấn tu trì, có phẩm đức tốt đẹp của bậc Thượng sư mà chưa từng cầu làm Thượng sư, họ là những người đáng kính phục và ca ngợi.
Theo như tôi được biết gần đây, có hai vị sư tỷ như vậy, Sư Tôn muốn phong Thượng sư cho họ, nhưng cả hai vị đều từ chối nhẹ nhàng, một vị là sư tỷ Liên Thường, đường chủ Bản Nguyện Đường ở Makassar, Indonesia, một vị là sư tỷ Liên Hoa Mỹ Hằng, đường chủ Viên Giác Đường ở đảo Guam. Cả hai vị đều cho rằng hiện tại mình vẫn chưa đủ tư cách làm Thượng sư, so với những người nghĩ đủ mọi cách để được làm Thượng sư thì thật quá khác biệt.
Chắc chắn còn có nhiều đồng môn tương tự như hai vị họ mà tôi chưa được nghe đến.
Nếu có đồng môn nào chính tâm thành ý học Phật, nỗ lực tu tâm, trung thực tu hành, nỗ lực độ chúng, tâm không cầu thêm điều gì khác, không cầu làm Thượng sư, không muốn phô trương, không cầu hư vinh, không tranh danh, không tham lợi, làm việc cho tông phái đến nơi đến chốn, người như vậy mới là chất liệu Thượng sư mà tông phái chúng ta cần, và về sau đắc đại thành tựu cũng chỉ có duy nhất người như vậy.
Đây cũng là thước đo cơ bản nhất để đánh giá phẩm đức của Thượng sư! Phẩm đức của Thượng sư mà bạn đã tiếp xúc như thế nào? Hãy cân nhắc xem!
Thượng sư chân chínhNếu đã làm Thượng sư, lại có đầy đủ các phẩm đức ưu tú nói trên, thì đó có phải là Thượng sư chân chính không?
Không phải! Đó chỉ là có những điều kiện tương đối ưu tú mà thôi, cách "Thượng sư chân chính" còn rất xa rất xa!
Vậy thế nào mới là Thượng sư chân chính?
Trước tiên chúng ta hãy xem thước đo mà Sư Tôn Hoạt Phật đưa ra nhé! Thánh Tôn Hoạt Phật nói: "Thượng sư chân chính phải minh tâm kiến tính, phát bồ đề tâm, hoằng pháp độ chúng."
Thước đo trời này vừa đặt xuống, đo hết tất cả Thượng sư trong tông phái, e rằng không có một ai đạt chuẩn!
Ngoài Thánh Tôn Hoạt Phật ra, có ai minh tâm kiến tính? Bởi vì minh tâm kiến tính chính là thành tựu vô thượng bồ đề.
Tất nhiên, ngoài tông phái của chúng ta ra, Thượng sư của các tông phái khác cũng chưa chắc đã minh tâm kiến tính, điều này chúng ta không cần bận tâm. Nhưng đối với bản thân mình, chúng ta nhất định phải yêu cầu nghiêm khắc.
Thánh Tôn Hoạt Phật còn nói: "Thượng sư, chính là vị thầy vô thượng!" Lại nói: "Bạn có thể hợp nhất với vũ trụ, trí tuệ của bạn vô thượng, năng lực của bạn vô thượng, quang minh của bạn vô thượng, pháp của bạn vô thượng, bạn chính là Thượng sư."
"Vị thầy vô thượng"! Có thể làm được đúng như tên gọi không? Làm được rồi mới là Thượng sư chân chính!
Nếu còn chưa minh tâm kiến tính, còn chưa thực sự trở thành vị thầy vô thượng, thì chưa phải là Thượng sư chân chính! Đó chỉ có thể coi là Thượng sư giả mà thôi.
Ngoại trừ Thánh Tôn Hoạt Phật là vị thầy vô thượng chân chính, những Thượng sư khác trên thực tế vẫn là Thượng sư giả! Chúng ta - cả nhóm những Thượng sư của Chân Phật Tông, đều nên có sự tự nhận thức này, đừng cho rằng mình đã là "Thượng sư chân chính" rồi thì có thể coi thường đồng môn, ở vị trí cao trên, lộng quyền hành oai; thì có thể phản bội Sư Tôn, lừa dối Sư Tôn, tùy tiện làm bất cứ điều gì mình muốn!
Đừng quên mình vẫn còn là một phàm phu tục tử đáng thương, là chúng sinh đáng thương, là Thượng sư giả đáng thương!
Hơn bốn năm qua, mỗi khi mọi người gọi tôi là Thượng sư Liên Hàn, trong lòng tôi luôn có một cảm giác tự ti và hổ thẹn mãnh liệt! Tôi có năng lực gì, phẩm đức gì? Thượng sư của tôi chỉ không hơn gì "hàng giả"! Bởi vì tôi vẫn chưa chứng ngộ chân chính, còn chưa đủ tư cách gọi là Thượng sư.
Tuy nhiên, Thánh Tôn Hoạt Phật phong ra hàng chục vị Thượng sư, mục đích chính là muốn mọi người mượn danh xưng giả Thượng sư để tiện hoằng dương chính pháp Chân Phật, chỉ dẫn chúng sinh, minh tâm kiến tính mới là mục tiêu của tinh tấn tu hành.
Chính như Thánh Tôn đã nói: "Phong Thượng sư là trước tiên đẩy bạn xuống biển, bạn không chỉ phải tự mình học cách bơi đến bờ bên kia, mà còn phải cứu chúng sinh trong biển lên bờ bên kia. Nếu bạn không học được cách bơi, thì sẽ chết đuối trong biển!" Có thể thấy làm Thượng sư tuy có vẻ tốt đẹp, nghe hay ho nhưng không dễ đảm đương!
Quy tắc cơ bảnTháng 6 năm ngoái, một vị sư tỷ đường chủ hỏi một vị Thượng sư: "Những người làm Thượng sư như các thầy có phải chịu trách nhiệm nhân quả không?" Thượng sư trả lời cô: "Bất cứ ai cũng đều phải chịu trách nhiệm nhân quả!"
Hóa ra cô đã gặp phải việc một vị Thượng sư khác không giữ giới luật, độc chiếm số tiền mọi người cúng dường cho Sư Tôn Hoạt Phật, nên mới có câu hỏi này.
Nhân quả của chính mình nhất định phải tự mình chịu hoàn toàn trách nhiệm, bất kỳ chúng sinh nào, bất kỳ đồng môn nào, bất kỳ đường chủ nào, bất kỳ Thượng sư nào, hoàn toàn không ai là ngoại lệ! Ngay cả chư Phật Bồ Tát còn "bất muội nhân quả" [không che lấp, không làm ngơ luật nhân quả], huống chi là con người!
Tông phái của chúng ta, đại bộ phận các Thượng sư, đường chủ và đại đa số đồng môn đều có phẩm đức tốt đẹp. Hiểu rõ nhân quả, giữ giới luật, coi trọng đạo đức, coi trọng tu tâm, không làm các điều ác, phụng hành các điều thiện, đây là phẩm tính mà người tu hành cần phải có.
Nhưng, có một bộ phận nhỏ người thì khác, đây gọi là "vàng thau lẫn lộn", phải không?
Người làm Thượng sư, trong việc giữ giới, phải giữ nhiều hơn và nghiêm khắc hơn so với đồng môn thông thường. Bởi vì Thượng sư giống như là một thân phận đặc biệt, có một loại quyền lực đặc biệt. Ví dụ, Thượng sư có thể đến các phân đường để hoằng pháp, có thể thay Sư Tôn truyền pháp, có thể thay Sư Tôn quán đảnh, có thể chủ trì pháp hội, có thể xử lý các vấn đề về pháp vụ, có thể xử lý thu nhập của pháp hội và hồng bao của quán đảnh, v.v... Nếu người làm Thượng sư mà phẩm tính không đủ thuần chính, tâm niệm có sai lệch, thì cơ hội phạm giới sẽ nhiều hơn đồng môn thông thường rất nhiều, và quả ác gây ra cũng nghiêm trọng hơn! Vì vậy, việc giữ giới cũng phải giữ nghiêm khắc hơn, từng lời nói từng hành động đều phải đặc biệt thận trọng.
Thánh Tôn Hoạt Phật cũng đã nói: "Người làm Thượng sư mà phạm giới, tội lỗi của họ gấp đôi so với người thường." Nếu phạm trọng giới, tội lỗi sẽ gấp nhiều lần so với người thường.
Người làm Thượng sư, ngoài việc phải tuân thủ nghiêm ngặt tất cả giới luật của Chân Phật Tông (Năm giới, 14 đại giới căn bản của Mật giáo, Sự sư pháp ngũ thập tụng) và Bồ Tát giới, còn phải tuân thủ một số điều quy tắc.
Từ mùa hè năm 1985, Thánh Tôn Hoạt Phật thường xuyên từ bi khai thị cho tôi một số quy tắc cơ bản của việc làm Thượng sư, giúp tôi học hỏi được không ít kiến thức, hiểu được phải làm như thế nào.
Ở đây tôi xin tóm tắt ý chính của những lời khai thị từ bi về quy tắc cơ bản của Thượng sư mà Thánh Tôn Hoạt Phật đã truyền dạy cho tôi vào thời điểm đó thành các điểm sau đây:
-
Phải hết lòng hết sức hộ trì Căn bản Truyền thừa Thượng sư, hộ trì chính pháp của tông phái. Đối với Căn bản Truyền thừa Thượng sư không được lá mặt lá trái. Thánh Tôn nói: "Nếu có vi phạm sẽ đọa vào địa ngục Kim Cang." (Điều này đã được Thánh Tôn viết trong tác phẩm của Ngài, trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" và "Mật giáo 14 đại giới căn bản" cũng có nội dung tương tự.)
-
Thượng sư muốn đến các phân đường hoằng pháp, nhất định phải được đường chủ phân đường chính thức mời thỉnh. Nếu là hoằng pháp xuyên quốc gia, càng phải được Căn bản Thượng sư phê chuẩn mới có thể đi.
Đây là vấn đề thuộc về phép lịch sự cơ bản. Người làm Thượng sư không thể một mực theo ý riêng mình mà nói với đường chủ: "Tôi muốn đến chỗ ông/bà hoằng pháp!" Nếu đường chủ trong lòng không muốn, cũng không dám từ chối, chỉ có thể cố gượng tỏ ra hoan nghênh. Kết quả, trong tình huống thời gian không phù hợp (mọi người phải đi làm, làm việc để mưu sinh) hoặc kinh tế không đủ, thì phải miễn cưỡng khó khăn mà sắp xếp đủ thứ việc cho vị Thượng sư này đến hoằng pháp, ví dụ như vấn đề địa điểm hoằng pháp, vấn đề tiếp đón Thượng sư, vấn đề phương tiện đi lại, vấn đề chỗ ở khách sạn, vấn đề mỗi ngày nhiều bữa ăn, thậm chí cả vấn đề vé máy bay chi phí đi lại, v.v... Chỉ một câu nói của người làm Thượng sư sẽ khiến mọi người khó xử, cả hai bên đều không vui. Đây là người làm Thượng sư không biết lịch sự, làm khó người khác, không biết đặt mình vào vị trí của người đối diện mà suy nghĩ.
Nếu có lời mời chính thức của đường chủ phân đường, nếu phân đường được mời là một quốc gia khác, Thượng sư muốn ra nước ngoài hoằng pháp, thì phải báo cáo trước với Thánh Tôn Hoạt Phật, sau khi được Thánh Tôn phê chuẩn mới có thể đến hoằng pháp, và đường chủ phân đường cũng phải báo cáo trước với Thánh Tôn Hoạt Phật về tình hình mời Thượng sư đến hoằng pháp, đây đều là vấn đề quy tắc thuộc về "kính sư".
- Thượng sư không được nhét hết thu nhập từ pháp hội hoặc truyền pháp hoằng pháp vào túi riêng. Cần phải chia thành ba phần, một phần để lại cho phân đường địa phương làm quỹ, một phần do phân đường dùng để làm từ thiện giúp đời, một phần mới về Thượng sư chủ trì pháp hội.
Trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" điều thứ 42 có một lời giải thích: "Thu nhập từ giảng kinh thuyết pháp truyền pháp, lẽ ra là của Thượng sư, nếu Thượng sư cho phép phân phối như thế nào thì mới có thể sử dụng." Từ đó, một số Thượng sư cho rằng đương nhiên có thể nhét hết thu nhập từ pháp hội hoặc truyền pháp vào túi riêng.
Thật không ngờ rằng trong "Sự sư pháp ngũ thập tụng" chữ "Thượng sư" được đề cập, toàn bộ đều chỉ về Căn bản Truyền thừa Thượng sư thực sự. Đối với Chân Phật Tông hiện nay, chỉ nói đến một mình Thánh Tôn Hoạt Phật mà thôi, không phải chỉ về những "Thượng sư giả" như chúng ta, rất nhiều người không hiểu rõ điểm này, gây ra không ít hiểu lầm, mong rằng từ nay về sau mọi người hiểu rõ, để không còn nhầm lẫn nữa.
Việc phân chia thu nhập từ pháp hội hoặc truyền pháp thành ba phần là chủ ý từ bi của Thánh Tôn Hoạt Phật. Thực ra, những Thượng sư chủ trì pháp hội chúng ta càng nên nghĩ đến: Nên chia ra một phần để cúng dường Thánh Tôn Hoạt Phật trước. Bởi vì, nếu pháp hội làm thành công, đó là công đức vô lượng của Thánh Tôn Hoạt Phật cùng chư Phật Bồ Tát từ bi thương xót chúng sinh mà ban cho Phật quang gia trì, cũng là công đức vô lượng của đường chủ và đại chúng đồng môn cùng nhau đồng tâm hiệp lực, phát tâm chí thành, chứ không phải là pháp lực công đức của những "Thượng sư giả" như chúng ta. Cúng dường Thánh Tôn Hoạt Phật là việc quan trọng hàng đầu, Thánh Tôn vì khiêm tốn nên không hề đề cập đến, nhưng chúng ta trong lòng phải hiểu rõ.
Về phần bản thân tôi, luôn luôn cảm thấy mình vô năng vô đức, căn bản không có tư cách nhận phần đó, vì vậy, tôi chưa bao giờ nhận phần này. Thượng sư Liên Hoa Trung Sĩ từ khi làm Thượng sư đến nay, tôi cùng với sư huynh kề vai sát cánh chủ trì chung hơn 20 pháp hội lớn nhỏ, cả hai chúng tôi đều chuyển phần này để cúng dường Thánh Tôn Hoạt Phật, hoặc chuyển thêm cho phân đường địa phương làm quỹ, hoặc giao cho phân đường làm quỹ từ thiện. (Tùy theo thu nhập từ pháp hội nhiều hay ít và tình hình kinh phí của phân đường khẩn cấp hay chậm mà quyết định.)
- Tất cả quán đảnh mà Thượng sư trao cho đồng môn đều là "thay Thầy quán đảnh", mọi khoản thu nhập từ quán đảnh nên thuộc về Căn bản Truyền thừa Thượng sư.
Việc Thượng sư trao quán đảnh cho đồng môn, bất kể là quán đảnh mang tên gọi nào, đều không phải là Thượng sư trao quán đảnh cho đệ tử, mà là Thượng sư thay Thánh Tôn Hoạt Phật ban quán đảnh cho mọi người. Điểm này rất nhiều người đều không hiểu rõ. Nhiều đồng môn nói với Thượng sư: "Xin Thượng sư ban cho chúng con quán đảnh!" Mà một số Thượng sư cũng nói: "Tôi ban quán đảnh cho mọi người!" Do đó, khi quán đảnh, đồng môn quỳ lạy Thượng sư, còn Thượng sư cũng ngồi thẳng chễm chệ, nhận sự đảnh lễ của mọi người. Tất cả hồng bao từ quán đảnh cũng đương nhiên vào túi Thượng sư, mọi người đều quên mất Căn bản Truyền thừa Thượng sư là ai!
Thánh Tôn Hoạt Phật nói: "Nếu bạn có thể thực sự chứng ngộ được chân lý của vũ trụ thì bạn mới có thể ban quán đảnh cho mọi người một cách hiệu quả." Mọi người hãy suy nghĩ kỹ câu nói này.
Vì vậy, nếu Thượng sư của Chân Phật Tông chúng ta ban quán đảnh cho mọi người, chỉ có thể gọi là thay Căn bản Truyền thừa Thượng sư ban quán đảnh cho mọi người (viết tắt là thay Thầy quán đảnh), như vậy mới thực sự có sức mạnh và hiệu quả của Căn bản Truyền thừa. Mọi người tuyệt đối không được quên: Tất cả công đức của quán đảnh đều đến từ Căn bản Truyền thừa, và thu nhập từ quán đảnh nên hoàn toàn thuộc về Thánh Tôn Hoạt Phật, tuyệt đối không thể để Thượng sư nhét đầy túi riêng.
Khi quán đảnh, đại chúng đồng môn nên quay mặt về phía chân dung Thánh Tôn và chư Phật Bồ Tát để đảnh lễ, Thượng sư thay Thầy quán đảnh nên đứng nghiêng một bên để ban quán đảnh cho mọi người. (Cùng một lý do, khi Thượng sư truyền pháp cho đồng môn, chỉ có thể gọi là "thay Thầy truyền pháp", như vậy mới không mất truyền thừa.)
- Tất cả chi phí của mọi pháp hội, hoặc chi phí truyền pháp hoằng pháp và quán đảnh, hoặc mọi khoản gây quỹ, đều không được quy định số tiền thu phí với đại chúng, mọi sự cúng dường đều tùy duyên tùy hỷ, không hạn định nhiều hay ít.
Đây là tác phong từ bi nhất quán của Thánh Tôn Hoạt Phật, không chỉ mỗi Thượng sư phải tuân hành, mà bất kỳ đường chủ phân đường nào cũng đều phải tuân hành.
- Thượng sư tiếp nhận sự cúng dường của chúng sinh thì phải ban phúc cho chúng sinh. Nếu bạn có thể tu đến mức thực sự hòa hợp một thể với vũ trụ, phúc huệ của bạn sẽ lớn như vũ trụ, lúc đó mới có thể ban phúc cho chúng sinh, mới có thể tiếp nhận sự cúng dường của chúng sinh.
Không ít đồng môn hoặc Thượng sư đều cho rằng, một khi đã được phong Thượng sư, thì có thể rộng rãi thu nhận cúng dường từ đại chúng, không cần phải vất vả vì sinh kế nữa, có thể no ấm không lo, thực ra đó là quan niệm sai lầm.
Nếu Thượng sư ban phù hoặc làm pháp cho đại chúng, thì có thể nhận hồng bao cúng dường tùy duyên của đối phương, đối phương cũng sẽ không rơi vào cảnh cầu mà không được, như vậy sẽ không trái lý.
Nhưng nếu là việc nhận cúng dường từ đại chúng mà không có công đức xứng đáng, thì phải ban phúc phần của mình cho đối phương, hoặc phải thay thế chịu tai ương của đối phương. Bạn có thể tu trì đến mức thực sự hòa hợp một thể với vũ trụ thì mới có thể ban phúc cho chúng sinh, mới có thể tiếp nhận cúng dường từ chúng sinh. Nếu không, bạn phải lấy phúc phần của mình ra chia cho đại chúng, một phàm phu như bạn thì có được bao nhiêu phúc phần?
- Thượng sư không được đặt pháp tướng của chính mình lên đàn thành của phân đường.
Một số Thượng sư thích được mọi người đảnh lễ quỳ lạy để thể hiện thân phận cao hơn người một bậc và uy nghiêm vô song. Tuy nhiên, nhận sự quỳ lạy của chúng sinh thì cũng phải ban phúc cho chúng sinh. Điều này cũng cùng một lẽ với mục trên, nếu Thượng sư chưa tu đến mức thực sự hòa hợp một thể với vũ trụ, mà lại tiếp nhận sự quỳ lạy của chúng sinh, thì rất có khả năng sẽ nhanh chóng "đi đời" - tức là vãng sinh Tây phương luôn, vì trong chúng sinh có không ít người sở hữu đại phúc đức, hoặc cảnh giới tu hành rất cao, nếu những người này lạy một lạy, bạn có chịu nổi không? Vì vậy, thế tục có lời đồn rằng không nên lạy người sống.
Chỉ có những người chứng đắc chân chính như Thánh Tôn Hoạt Phật, phúc đức trí huệ của Ngài đều rộng lớn vô biên như vũ trụ, mới có thể tiếp nhận sự chiêm bái đảnh lễ của bất kỳ chúng sinh trời người nào, bất cứ lúc nào cũng ban phúc cho chúng sinh, bất cứ lúc nào cũng thay thế chịu tai ương của chúng sinh mà vẫn an nhiên vô sự!
Nếu Thượng sư đặt pháp tướng của chính mình lên đàn thành của phân đường để cúng phụng, thì lại càng phạm phải sai lầm nghiêm trọng làm rối loạn pháp thống.
Tại sao? Vì Thánh Tôn Hoạt Phật sẽ có rất nhiều cơ hội đến các phân đường để hoằng pháp, khi đó Thánh Tôn tất nhiên sẽ lễ bái đàn thành, lạy như vậy thì đã lạy pháp tướng của Thượng sư, mà Thượng sư lại là đệ tử của Thánh Tôn, như vậy chẳng thành ra "Thầy lạy trò" hay sao? Pháp thống lập tức đại loạn!
Nếu phạm phải sai lầm này, không chỉ Thượng sư phải chịu trách nhiệm, mà đường chủ phân đường cũng phải chịu trách nhiệm. Thánh Tôn Hoạt Phật từng hài hước nói: "Đàn thành thì tôi phải lễ bái, muốn tôi "Thầy lạy trò" cũng không sao, tôi sẽ cứ lạy như thường, hậu quả ra sao thì tôi không biết đâu."
- Thượng sư không được nhận đệ tử của Thánh Tôn Hoạt Phật làm đệ tử.
Đây cũng là vấn đề nghiêm trọng làm rối loạn pháp thống truyền thừa. Đệ tử của Thánh Tôn Hoạt Phật và Thượng sư là quan hệ sư huynh sư tỷ đồng môn, không phải quan hệ thầy trò, nếu nhận đồng môn làm đệ tử, làm hỗn loạn pháp thống truyền thừa, cả hai đều phạm đại giới, cần nhanh chóng hủy bỏ và phát lộ sám hối trước Thánh Tôn Hoạt Phật, tránh đọa địa ngục.
Thánh Tôn Hoạt Phật từ năm 1983 đã cảnh báo mọi người, và viết trong cuốn "Hành giả Seattle". Đến năm 1986 lại ra lệnh cho tôi in rộng rãi "Giới luật Chân Phật Tông", "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng" (trong đó là điều thứ 43) để nhắc nhở mọi người, và thường xuyên đề cập trong các buổi thuyết pháp khai thị, Thánh Tôn từ bi vì mọi người mà thực sự đã khuyên răn hết nước hết cái!
Mùa thu năm 1984, Thánh Tôn đã nói với tôi: "Mỗi vị Thượng sư đều có thể nhận đệ tử, nhưng không được nhận đồng môn làm đệ tử."
Còn theo quan điểm cá nhân của tôi, chỉ cần Thánh Tôn Hoạt Phật còn hiện tiền một ngày, chúng ta với tư cách là Thượng sư thì nên dẫn dắt chúng sinh đến quy y Thánh Tôn, chứ không phải dẫn dắt chúng sinh đến quy y chính mình. Bản thân mình còn chưa chứng ngộ, thì có năng lực nào, đức hạnh nào, trí huệ nào, phúc đức nào để tiếp nhận sự quy y của chúng sinh?
- Thượng sư hoằng pháp thuyết pháp, không được đàm luận chính trị.
Phàm là Thượng sư của Chân Phật Tông, trách nhiệm là hoằng dương chính pháp Chân Phật Tông, tuyệt đối không phải là hoạt động chính trị. Thượng sư hoằng pháp thuyết pháp, bạn đại diện cho tông phái của chúng ta, vì vậy bất luận ở địa phương hay nơi khác, mọi lời nói hành động trong bất kỳ trường hợp nào đều tuyệt đối không được dính dáng đến chút màu sắc chính trị nào, để tránh đem lại phiền toái hay tổn thất không cần thiết cho toàn bộ tông phái, điều này vô cùng quan trọng.
9 quy tắc cơ bản trên đây là những gì Thánh Tôn Hoạt Phật đã lần lượt khai thị cho tôi trong nhiều năm qua, tôi cũng đã từng thỉnh cầu Thánh Tôn viết những quy tắc này thành điều văn chính thức, đăng tải trong sách, trở thành những quy tắc mà các Thượng sư nhất trí tuân thủ. Nhưng Thánh Tôn Hoạt Phật đã than thở nói: "Tôi đã viết không ít rồi, lại còn có giới luật Chân Phật Tông nữa, tin rằng mọi người có trí huệ tự kỷ luật và tự biết mình, dù sao thì mỗi người tự chịu trách nhiệm về nhân quả của chính mình thôi."
Suy nghĩ thấu đáo, vẫn là câu nói của Thánh Tôn: "Dù sao thì mỗi người tự chịu trách nhiệm về nhân quả của chính mình thôi."
Những điều khácTrong "Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng", có khá nhiều quy tắc liên quan đến phép lịch sự đối với Căn bản Truyền thừa Thượng sư, nhưng trong tông phái chúng ta cũng có một số hiện tượng thất lễ mà 50 quy tắc không đề cập đến.
Xin nêu ra hai ví dụ thực tế:
Ví dụ 1: Cho đến nay, vẫn có một số Thượng sư khi ở trước mọi người gọi Thánh Tôn là Thượng sư. Điều này tất nhiên không phải là lỗi lớn, nhưng khi Thượng sư gọi Thánh Tôn là Thượng sư, thì đồng môn cũng sẽ theo mà gọi Thánh Tôn là Thượng sư, trong khi đồng môn cũng gọi người làm Thượng sư là Thượng sư, các Thượng sư với nhau cũng gọi nhau là Thượng sư, gây nên tình trạng mối quan hệ giữa Thánh Tôn và Thượng sư có vẻ như là sư huynh sư đệ cùng bậc, mà không giống như quan hệ thầy trò. Cách xưng hô hỗn loạn thứ bậc như vậy là rất bất lịch sự.
Đối với chính Thánh Tôn mà nói, bạn gọi ngài như thế nào thì ngài cũng không màng, nhưng đối với Thượng sư là đệ tử mà nói, trong lòng luôn phải có khái niệm tôn ti thầy trò chứ?
Ví dụ 2: Mỗi năm tôi đến Seattle yết kiến Thánh Tôn, trong Lôi Tạng Tự đều thấy tình hình này: rất nhiều đồng môn và một số Thượng sư ở trong chùa, Thánh Tôn Hoạt Phật đến, ngài hướng về đàn thành đảnh lễ chư Phật Bồ Tát, một số đồng môn vội vàng đảnh lễ theo, một số đồng môn đứng ở một bên, một số Thượng sư cũng đứng ở góc xem. Có những đồng môn theo Thánh Tôn đảnh lễ, Thánh Tôn quỳ xuống một lúc rồi họ mới quỳ xuống, hoặc Thánh Tôn chưa đứng dậy mà họ đã đứng dậy trước.
Tình huống này có thể mọi người đều không để ý.
Thánh Tôn hướng về đàn thành đảnh lễ, chúng ta làm đệ tử tuyệt đối không thể đứng. Khi chúng ta làm theo Thánh Tôn hướng về đàn thành đảnh lễ, cần phải quỳ xuống trước Thánh Tôn, đứng dậy sau Thánh Tôn; nghĩa là trước khi Thánh Tôn quỳ xuống, chúng ta nên quỳ xuống trước, sau khi Thánh Tôn đứng dậy, chúng ta mới có thể đứng dậy, như vậy mới hợp lễ nghi.
Ngoài ra, có hai hiện tượng cũng thường xuất hiện ở một số đồng môn, đường chủ, thậm chí cả một số Thượng sư.
Thứ nhất: Là vấn đề về "cảnh giới tu hành".
Một số đồng môn hoặc đường chủ, thậm chí một số Thượng sư đều thích tuyên truyền rằng bản thân đã tu đến một cảnh giới cao nào đó, hoặc "không lâu nữa sắp chứng đắc rồi", là do Bồ Tát nói trong thiền định, hoặc đã được Bồ Tát thọ ký.
Một số trường hợp là đồng môn và Thượng sư cùng nhau tâng bốc lẫn nhau, có đồng môn "thông linh", "thiên nhãn" xác nhận rằng Thượng sư nào đó đã tu đến tầng trời thứ mấy, chỉ còn thiếu hai ba tầng nữa là có thể vượt qua Thánh Tôn rồi. Thượng sư cũng ấn chứng rằng đồng môn nào đó hoặc đường chủ nào đó đã tiến vào vùng cảnh giới của Thượng sư, chỉ cần báo cáo với Thánh Tôn một chút là có thể được phong làm Thượng sư rồi.
Một số thậm chí còn lén lút tuyên bố với đồng môn tri kỷ tâm phúc rằng bản thân đã chứng ngộ, bởi vì chân ngã đã xuất hiện.
Những điều như vậy lừa gạt được một đám đông đồng môn sư huynh sư tỷ vô tri ngưỡng mộ khao khát, chạy theo vây quanh phía sau, ngày ngày đều muốn nghe vị đại thành tựu giả cảnh giới cao siêu bất khả tư nghì này khai thị truyền pháp, chỉ dẫn nhân quả căn cơ tiền kiếp.
Từ đó, đủ loại tai hại nảy sinh, những vị "đại thành tựu giả" này sẽ rất bí mật truyền cho bạn một loại thần chú "chuyên dùng để thành Phật" tuyệt đối độc nhất vô nhị trong toàn bộ vũ trụ trên dưới mười phương, bảo bạn phải kiên định niềm tin tu trì bí mật, tuyệt đối đừng cho bất kỳ ai biết.
Hoặc sẽ truyền cho bạn một "Đại Thủ Ấn" mà Thánh Tôn Hoạt Phật dùng để phòng thân tự vệ, từ trước đến nay chưa từng chịu tiết lộ cho bất kỳ Thượng sư nào, chỉ cần hàng ngày kết "Đại Thủ Ấn" này, thâm nhập một pháp, tu trì lâu ngày nhất định thành Phật.
Hoặc sẽ cực kỳ bí mật tiết lộ với bạn: Tôi có một loại "đại tâm pháp vô thượng vũ trụ" mà Thánh Tôn Hoạt Phật bí mật truyền trong thiền định, chỉ có thể truyền thừa giữa Phật và Phật với nhau, Thánh Tôn truyền lệnh cho tôi tu tập pháp này để thành Phật cứu độ chúng sinh. Vì vấn đề giới luật truyền thừa, tương lai chỉ có thể truyền cho đệ tử quy y với tôi, vì không thể nhận đồng môn làm đệ tử, cho nên, rất xin lỗi, không thể truyền pháp này cho các bạn..., đủ kiểu trò bịp bợm.
Những ghi chép mắt thấy tai nghe kỳ dị thời buổi này, nói có kỳ quặc đến đâu thì có kỳ quặc đến đó, chỉ tội nghiệp cho những đồng môn vô tri bị lừa gạt.
Tuy nhiên, việc phân biệt thật giả cũng là chuyện rất dễ dàng, bạn chỉ cần bảo những vị "đại thành tựu giả" cảnh giới cao siêu này tự mình đến xin Thánh Tôn Hoạt Phật ấn chứng là được, chứ đừng tin vào những lời họ nói kiểu như: "Tôi đã được Thầy ấn chứng thọ ký trong thiền định." Những câu nói láo to như vậy, nếu bạn tin tưởng sâu sắc loại chuyện hoang đường này, thì thật đáng thương, bạn thực sự không còn thuốc chữa nữa.
Thứ hai: Là vấn đề về "Bồ Tát nào đó chuyển kiếp".
Tức là có một số đồng môn hoặc đường chủ, một số Thượng sư riêng lẻ thường xuyên biểu diễn những trò này. Người này nói là "Bồ Tát nào đó chuyển kiếp, đến để cứu độ chúng sinh." Người kia nói là "sứ giả trước toà Phật nào đó chuyển kiếp, có nhiệm vụ đặc biệt, sứ mệnh đặc biệt." Người này nói là "Đại Liên Hoa Đồng Tử màu nào đó chuyển kiếp, Thánh Tôn là anh trai của tôi." Có người nói là "Thiện Tài Đồng Tử trước toà Quan Âm Bồ Tát chuyển kiếp." Có người nói là "Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chuyển kiếp." Có người nói chức vị của mình còn cao hơn cả Vương Mẫu Nương Nương.
Có người còn làm bộ vô cùng bí ẩn, nói rằng nguồn gốc của bản thân mình quá lớn, không dám tiết lộ bí mật về danh tính. Nếu ngộ nhỡ bị tiết lộ ra ngoài sẽ khiến thiên ma tam giới đến đấu pháp, người đời lại sẽ nói tôi đang khua môi múa mép để gây chú ý, thôi thì không nói ra là tốt nhất.
Gần đây có một vị sư huynh từ nơi xa đến tìm tôi, ông ấy không ngại phiền mô tả với tôi về thần thông linh lực của một vị đường chủ cao cường đến mức nào, khi làm lễ trị liệu tâm linh cho mọi người trong đàn thành thì người người kéo đến như sóng biển, chen chúc đến nghẹt thở. Cuối cùng, ông ấy đưa miệng lại gần, vô cùng bí mật nói nhỏ: "Vị đường chủ này là một vị Đại Bồ Tát nào đó chuyển kiếp, đã được một vị Thượng sư nào đó trực tiếp xác nhận không sai!"
Kể lể một hồi như vậy khiến tôi nghe xong chỉ biết cười trừ chua xót, chỉ còn nước chớp mắt cười khổ mà thôi. Ôi ôi, Nam Mô A Di Đà Phật! Trời ơi đất hỡi!
Thánh Tôn Hoạt Phật trong bài khai thị từ bi đề tựa "Liên Hoa Đồng Tử thật giả" ngày 3 tháng 9 năm nay đã nói: "Càng cố gắng nói bản thân là Liên Hoa Đồng Tử thì càng không phải!"
Tiếng gầm sư tử này đem đến cho những người thích thổi phồng bản thân là Bồ Tát chuyển kiếp để nâng cao địa vị của mình một tiếng sấm đánh thức giấc mộng mùa xuân! Mọi người cũng nên tỉnh ngộ đi thôi!
Chướng ngại lớn nhất trong tu hành không phải là thiên ma, mà chính là bản thân mình! Là bản thân mình không tu tâm tốt, là tâm niệm của bản thân mình không thuần chính, tất cả ý thức của thiên ma đều từ đó mà nhập vào, tu tâm quan trọng hơn tu pháp!
Khi làm Thượng sư, trước khi làm phải trải qua thử thách; còn sau khi đã làm Thượng sư thì thử thách càng lớn hơn, thời gian càng dài hơn!
Do số lượng Thượng sư trong tông phái ngày càng tăng, tâm đắc tu hành của mỗi vị Thượng sư đều khác nhau, phương thức hoằng pháp và phương pháp xử lý pháp vụ cũng sẽ khác nhau, đây là hiện tượng bình thường tất yếu.
Dù khác nhau thế nào đi nữa, Thượng sư thay Thầy truyền pháp và hoằng pháp, đều không thể rời khỏi truyền thừa của Thánh Tôn Hoạt Phật. Xử lý pháp vụ phải hết sức học tập phẩm chất đạo đức ưu tú lương thiện của Thánh Tôn như từ bi, khiêm tốn, lễ phép, rộng lượng, chính trực vô tư, thuần chính không tà.
Khi làm Thượng sư, đường chủ cũng như tất cả đồng môn, đều phải cố gắng đọc nhiều sách của Thánh Tôn, nghe nhiều băng ghi âm bài khai thị của Thánh Tôn, lĩnh hội kỹ lưỡng tư tưởng ý định của Thánh Tôn, khiến tư tưởng của bản thân nỗ lực đến gần với tư tưởng của Thánh Tôn, như vậy mới có thể đạt được truyền thừa chân chính từ Thánh Tôn Hoạt Phật, mới có thể nhanh chóng tương ứng với Thánh Tôn Hoạt Phật.
Người làm Thượng sư, trách nhiệm quan trọng nhất là dẫn dắt mọi người chặt chẽ đi theo lộ trình tư tưởng của Thánh Tôn Hoạt Phật, nỗ lực tu tâm tu pháp, là tấm gương tu trì của đồng môn trong tông phái.
Đừng dắt dẫn chúng sinh lạc vào một con đường tà đạo khác!
Nhân quả vẫn phải tự mình hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tháng 10 năm 1988.
Hỏi: Liên Sinh Thánh Tôn có ý kiến gì về bài viết "Làm Thượng sư" của Thượng sư Liên Hàn?
Đáp: Trước tiên Liên Sinh Thánh Tôn dạy hành giả Chân Phật phân biệt "Thượng sư thật" và "Thượng sư giả".
Trước khi bạn thỉnh cầu một vị Thượng sư khai thị Phật pháp hoặc quán đảnh, bạn phải thận trọng quan sát kiểm tra phẩm hạnh của vị ấy.
Vị Thượng sư viên mãn đầy đủ đức hạnh, trong hành vi biểu hiện ra như sau:
- Có tâm từ bi.
- Không giận dữ.
- Tâm địa vô cùng thiện lương.
- Không tham luyến tiền tài.
- Không kéo bè kết đảng lập phái.
- Ngôn ngữ hành vi ôn hòa mềm mỏng.
Thượng sư giả, trong hành vi biểu hiện ra như sau:
- Sáu điểm trên đều mang tính tiêu cực.
- Hay khoe khoang với người khác rằng có mật pháp độc môn.
- Hành vi phóng túng không kiềm chế.
- Thèm khát tài vật Tam Bảo.
- Lừa dối giả tạo.
- Truyền thụ pháp không thuộc về Chân Phật Tông.
- Đam mê rượu chè sắc dục.
- Tự cho mình là thông minh mà dẫn dắt sai lệch Phật pháp.
- Không kính trọng Căn bản Truyền thừa Thượng sư, xúc phạm, v.v…
Tuy nhiên, theo Mật giáo, một khi bạn đã tiếp nhận sự khai thị hoặc quán đảnh từ một vị Thượng sư giả, bạn cũng không được đánh mất niềm tin và phỉ báng vị ấy, hay quay lại xem xét phẩm hạnh của vị ấy.
Bạn chỉ có thể xa lánh, nhưng đừng phỉ báng, bởi vì nếu bạn phỉ báng Căn bản Thượng sư của chính mình, vào thời điểm này, bạn sẽ không bao giờ có thể tìm được một vị Thượng sư hoàn mỹ nữa; ngay cả khi bạn có thể tìm được một vị Thượng sư hoàn mỹ, bạn cũng sẽ lại một lần nữa tìm ra khuyết điểm của vị Thượng sư này.
Bởi vì bạn sẽ nhầm lẫn phẩm hạnh đúng đắn của Thượng sư là khuyết điểm, giống như đệ tử của Đức Phật là Đề Bà Đạt Đa, Đề Bà Đạt Đa nhìn Đức Phật toàn bộ đều là khuyết điểm.
Hỏi: Liên Sinh Thánh Tôn còn có điều gì muốn giải thích thêm về bài viết "Làm Thượng sư" của Thượng sư Liên Hàn?
Đáp: Tôi có một vài điểm cần giải thích và bổ sung thêm, như sau:
- Thượng sư của Chân Phật Tông muốn đến các phân đường trên thế giới để hoằng pháp, tốt nhất là có lời mời của các phân đường, hai bên trao đổi thông báo với nhau, như vậy mới phù hợp với lễ nghi giữa hai bên. Nếu Thượng sư cứ đến mà không được mời, phân đường miễn cưỡng ứng phó, thì điều này là làm khó người khác.
Còn về vấn đề bản thân Thượng sư của Chân Phật Tông có ý chí "tự do hành động", Thượng sư đến các nước hoằng pháp đều là tự do, không có giới hạn.
Thượng sư của Chân Phật Tông đến các nước trên thế giới hoằng pháp, nếu trước đó thông báo với Căn bản Thượng sư, đây là một phép lịch sự, để Liên Sinh Thánh Tôn biết bạn đang ở đâu; giả sử không thông báo với Căn bản Thượng sư, thực ra cũng không sao, chỉ cần các Thượng sư nghiêm túc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, phù hợp với tôn chỉ của Chân Phật là được.
Về phương diện hoằng pháp, tôi nhấn mạnh sự quý giá của "tự do".
- Về phương diện thu nhập từ hoằng pháp, tôi từng nói: chia làm ba phần: một phần để lại cho phân đường địa phương làm quỹ, một phần do phân đường dùng để làm từ thiện giúp đời, phần cuối cùng về Thượng sư chủ trì pháp hội, cách phân phối như vậy khá công bằng.
Còn về điều Thượng sư Liên Hàn nói rằng, nên trước tiên dành một phần cúng dường Thánh Tôn Hoạt Phật, điều này là không cần thiết. Nếu nhất định muốn, các Thượng sư có thể "ý tứ" một chút là được rồi, cũng tức là "tùy ý" một chút, cũng được coi là một thứ lễ phép không quên gốc.
-
Các Thượng sư quán đảnh truyền pháp, nhất định phải triệu thỉnh Căn bản Thượng sư, đây là lễ nghi của Mật giáo, bất kỳ quán đảnh truyền thụ pháp nào đều phải như vậy, tức là trước tiên cung kính Căn bản Thượng sư; nhưng không cần thiết phải nhấn mạnh "thay Thầy truyền pháp" hoặc "thay Thầy quán đảnh", chữ "thay" này, có thể không cần dùng.
-
Các Thượng sư đều có thể nhận đệ tử, có thể phân phát pháp tướng của chính mình cho đệ tử của mình để họ thờ phụng, điều này là như pháp; nhưng nếu các Thượng sư nhận đệ tử của Căn bản Thượng sư, rồi phân phát pháp tướng của chính mình cho đệ tử của Căn bản Thượng sư để thờ phụng, không cần phải nói, điều này chắc chắn là không như pháp, đây là sự rối loạn nghiêm trọng về truyền thừa và thứ bậc.
Liên Sinh Thánh Tôn nói: "Các phân đường của Chân Phật Tông nên thờ phụng pháp tướng của Căn bản Thượng sư. Nếu nhất định muốn thờ phụng pháp tướng của các Thượng sư khác, xin hãy thờ phụng toàn bộ các Thượng sư, không được chỉ thờ phụng một hoặc hai vị; như vậy mới là cung kính tất cả, không có tâm phân biệt."
- Việc ai đó là hóa thân của vị Phật nào đó, hóa thân của vị Bồ Tát nào đó, hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử màu nào đó, thậm chí là hóa thân của sư phụ Liên Sinh Thánh Tôn, tất cả những điều này đều không quan trọng.
Điều quan trọng là ở kiếp này bạn có thể thực tu hay không, người thực tu sẽ chứng đắc, bạn chính là Phật, chính là Bồ Tát, chính là Liên Hoa Đồng Tử, chính là sư phụ của Liên Sinh Thánh Tôn, đừng lẫn lộn đầu đuôi.
Hỏi: Các Thượng sư phạm giới luật thì có hình phạt gì?
Đáp: Sau khi chết đọa vào địa ngục Kim Cang, có chín loại đột tử:
- Trúng pháp tà ma mà chết.
- Bị hình phạt của nhà nước.
- Phi nhân đoạt tinh khí, thân mắc bệnh ác.
- Bị lửa thiêu.
- Bị đuối nước.
- Bị ác thú ăn thịt, tai nạn xe cộ.
- Bị rơi xuống vách đá, bị đất vùi.
- Bị trúng thuốc độc, lời nguyền rủa, tự sát.
- Chết vì tai ương binh đao.
Hỏi: Liên Sinh Thánh Tôn mong muốn các hành giả Chân Phật và các Thượng sư tuân thủ quy định gì?
Đáp: Thượng sư với Thượng sư, đạo tràng với đạo tràng
Giữa Thượng sư với Thượng sư, giữa đạo tràng với đạo tràng, nên tôn trọng lẫn nhau, nên giúp đỡ lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau nuôi dưỡng để cùng đến bờ giác ngộ. Đây là hợp tác cùng giúp đỡ, đoàn kết nhất trí.
Thượng sư với Thượng sư, đạo tràng với đạo tràng không phải chuyên tạo phe nhóm nhỏ, chuyên xua đuổi các Thượng sư khác và xua đuổi các đạo tràng khác, không phải đối lập, không được sinh ra chống đối và tẩy chay.
Khi làm Thượng sư, đừng tự cao ngạo mạn, nếu mới có một chút thành tựu, một chút thành công liền sinh ra tâm mình ta độc nhất thiên hạ, đây là điều không thể chấp nhận được, thậm chí mắt không còn thấy Căn bản Thượng sư, kiêu ngạo khinh thị các Thượng sư trên đời.
Thực tế, khi tâm tự cao ngạo mạn sinh ra, vị Thượng sư này đã là Thượng sư giả. Thượng sư với Thượng sư, đạo tràng với đạo tràng, hành giả với hành giả, nên cùng nhau ghi nhớ:
Đừng âm mưu mờ ám. Đừng mưu đồ thâm hiểm. Đừng có tính ghen tị. Đừng miệng lưỡi thị phi. Đừng lười biếng thoái tâm. Đừng tham sân si ngạo mạn. Đừng lo được lo mất.
Thực ra những điểm quy củ trên đây, không chỉ người học Phật phải tuân thủ, người thường cũng phải tuân thủ, đây là quy củ của người quân tử chính trực!
07. Nghi quỹ khác
Hỏi: Các nghi quỹ khác của Chân Phật Tông còn có những gì?
Đáp: Chẳng hạn như Nghi quỹ phóng sinh, Nghi quỹ cầu phúc, Nghi quỹ siêu độ, Nghi quỹ trợ niệm, Nghi quỹ kết hôn v.v…, tất cả những nghi quỹ này đều thuộc các nghi quỹ khác.
Hỏi: Nghi quỹ phóng sinh bao gồm những gì?
Đáp: Nội dung nghi quỹ đại khái như sau: (pháp đơn giản)
- Khởi thỉnh Phật Bồ Tát thánh chúng.
- Quy y Tam Bảo cho chúng sinh.
- Thay chúng sinh sám hối nghiệp tội.
- Thay chúng sinh phát bốn nguyện lớn.
- Thay chúng sinh phát bốn nguyện lớn về tự tính.
- Ngâm đọc Thất Phật chân ngôn, động vật nghe có thể thăng lên cõi người, trời.
- Tụng Tâm Kinh, thay chúng sinh mở trí tuệ.
- Niệm chú Đại Bi.
- Niệm chú vãng sinh. (Trong khi niệm chú vãng sinh thì phóng sinh.)
Liên Sinh Thánh Tôn trong các cuốn sách tâm linh trước đây, đã viết Nghi quỹ phóng sinh, Nghi quỹ cầu phúc, Nghi quỹ siêu độ, thậm chí Năm pháp đại thành tựu, nghi quỹ tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, bảo bộ, hành giả tỉ mỉ có thể linh hoạt vận dụng.
Hỏi: Nghi quỹ trợ niệm thì bao gồm những gì?
Đáp: Trợ niệm rất quan trọng, đây là diệu pháp của hành giả Chân Phật để giúp người lâm chung thu tâm về một niệm mà vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, một niệm lúc lâm chung rất quan trọng.
Nghi quỹ trợ niệm nên bao gồm: (pháp đơn giản) Khởi thỉnh Phật Bồ Tát thánh chúng. Thay người lâm chung sám hối. Thay người lâm chung niệm chân ngôn tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý. Thay người lâm chung phát nguyện. Niệm chú vãng sinh 3 biến. Niệm A Di Đà Phật càng nhiều càng tốt.
Giả như người lâm chung chưa quy y Phật môn, cần trước tiên thay họ quy y Phật môn, chứng thư quy y của họ có thể đặt vào quan tài hoặc thiêu hóa trước ban thờ đều được. Trọng điểm của trợ niệm nằm ở hai chữ "niệm Phật", khiến người lâm chung thu tâm về một niệm, nhớ mãi không quên thì có thể vãng sinh, đây là công đức vĩ đại của A Di Đà Phật.
Hỏi: Nghi quỹ kết hôn bao gồm những gì?
Đáp: Kết hôn là bạn đạo.
Thượng sư của Chân Phật Tông cử hành hôn lễ cho bạn đạo, nghi quỹ như sau: (pháp đơn giản) Khởi thỉnh Phật Bồ Tát chư tôn. Đại lễ bái. Dâng cúng dường. Phụng thỉnh Phật Bồ Tát chứng hạnh phúc cho hai vị bạn đạo. Thượng sư đại diện Phật Bồ Tát chứng hạnh phúc. Thượng sư gia trì hai vị tân lang tân nương sái tịnh. Hai vị tân lang tân nương trao đổi lễ vật. Thượng sư khai thị. Chú Đại Bi. (3 biến) Đại lễ bái. Cát tường viên mãn.
Hỏi: Các nghi quỹ khác cần phải làm đến mức độ nào mới phù hợp với quy củ?
Đáp: Thực ra nghi quỹ đều là do con người đặt ra, đây là một chuẩn mực, tuân theo tiêu chuẩn này thì tự nhiên có thể đạt được một hình thái hoàn hảo. Để đạt được hình thái hoàn hảo, tôi cho rằng thước đo của nó có ba điểm:
-
Cung kính triệu thỉnh - Bất cứ nghi quỹ nào đều phải triệu thỉnh Thượng sư và Tam Bảo, triệu thỉnh Thượng sư và Tam Bảo nhất định phải xuất phát từ sự cung kính nội tâm. Ví dụ như khi chúng ta hát Lư Hương Tán đều phải sinh khởi một tâm sùng kính và ngưỡng mộ vô thượng, triệu thỉnh, đại lễ bái, cúng dường, tán tụng đều là cung kính.
-
Nghi thức trang nghiêm - Bất kỳ nghi quỹ nào cũng nhất định phải trang nghiêm, cần biết rằng mật đàn là sự tổng hợp của hương hoa và ánh sáng, đó chính là "hương quang trang nghiêm", chúng ta dùng tâm trang nghiêm để tiến hành nghi thức, tức là đang trang nghiêm bồ đề vô thượng, đạo tràng trang nghiêm, nghi thức trang nghiêm, Phật Bồ Tát chư tôn ánh sáng cát tường giáng lâm, tất cả nghi quỹ tự nhiên có thể viên mãn.
-
Thân khẩu ý thanh tịnh - Bất kỳ nghi quỹ nào, chỉ cần thân khẩu ý của hành giả thanh tịnh, trong mỗi nghi thức tiến hành, miệng niệm, tâm quán, sự niệm chú niệm Phật hữu hình và quán tưởng vô hình này phối hợp với nhau, thì có thể trong định khai mở chân lý nhân sinh vũ trụ. Trong định, thân khẩu ý thanh tịnh. Niệm lực tập trung, thì có pháp lực. Chính là ta và người đều có lợi.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, tiến hành tất cả nghi quỹ, chỉ cần thu tâm vào một chỗ, không để tâm tán loạn phân tâm, Phật Bồ Tát chư tôn hạ giáng, như thế cảm ứng đạo giao, phóng sinh, cầu phúc, siêu độ, trợ niệm, kết hôn..., có thể được công đức bất khả tư nghì.
08. Tất cả nghi quỹ tu pháp
Hỏi: Tất cả nghi quỹ tu pháp là gì? Bao gồm những gì?
Đáp: "Tất cả nghi quỹ tu pháp" là một cách gọi khá chung chung, trong Chân Phật Tông mà nói, phạm vi bao hàm vô cùng rộng lớn, tôi cho rằng bao gồm: Pháp Tứ gia hành. Pháp Thượng sư tương ứng. Pháp Bổn tôn. Pháp Kim cang. Vô thượng mật. Thậm chí tất cả pháp Yết Ma.
Còn tu pháp của Chân Phật Tông không tách rời thanh tịnh tam nghiệp, triệu thỉnh chư tôn, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, mặc giáp hộ thân, niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, sám hối nghiệp chướng, phát bồ đề tâm, tứ vô lượng tâm, phát nguyện, quán tưởng kết ấn, trì chú, nhập Tam ma địa, hồi hướng .............
Hỏi: Nghe nói có trọng điểm của tu pháp, xin hỏi trọng điểm của tu pháp là gì?
Đáp: Để nghi quỹ được hoàn chỉnh, thực ra bất kỳ hạng mục nào cũng đều quan trọng, từ thiết lập đàn thành, từ cúng dường Tam Bảo, nếu nghi quỹ hoàn chỉnh thì phúc huệ mới có thể tăng trưởng.
Tất nhiên, trong tu pháp quả thực có ba trọng điểm lớn, ba trọng điểm lớn này chính là: Quán tưởng - ý thanh tịnh. Kết ấn - thân thanh tịnh. Trì chú - khẩu thanh tịnh.
Hỏi: Nghe nói ba trọng điểm lớn này đều là vì một hạng mục, có đúng không?
Đáp: Đúng vậy. Không chỉ ba trọng điểm lớn này đều vì một hạng mục, thậm chí thanh tịnh tam nghiệp, triệu thỉnh chư tôn, đại lễ bái, đại cúng dường, tứ quy y, mặc giáp hộ thân, niệm kinh, sám hối, phát bồ đề tâm, tứ vô lượng tâm, phát nguyện..., toàn bộ đều vì một hạng mục, hạng mục này chính là nhập Tam ma địa, nhập Tam ma địa này chính là mục đích chính cao nhất.
Hỏi: Tam ma địa này chẳng phải là mục đích chính cao nhất của Phật môn sao?
Đáp: Tam ma địa này chính là mục đích chính cao nhất của Phật môn. Nhất tâm bất loạn của Tịnh Độ Tông. Nhất tâm bất động của Thiền Tông. Tam ma địa của Mật Tông. Giới tướng của Luật Tông. ....., đều là cùng một mục đích chính cao nhất. Mục đích chính cao nhất này là cực điểm của Phật pháp, là điều quan trọng hàng đầu, là thông suốt tất cả pháp môn.
Liên Sinh Thánh Tôn đã thể hội được: Tam ma địa. Đầy khắp mười pháp giới. Chư Phật Bồ Tát một Như Lai. Chứng một chứng tất cả. Chúng sinh Như Lai cùng chứng bồ đề.
Những gì tôi viết ra về thể hội của mình, nếu là bậc Thánh đã mở tâm nhãn, chắc chắn sẽ hiểu được. Hành giả nhập Tam ma địa, kim thân sừng sững, ở trên tòa sen báu, mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát đều phóng quang minh, nhập vào thân hành giả, tất cả thanh tịnh, tất cả bản tính hữu tình thanh tịnh.
Hỏi: Chúng tôi là hành giả tu pháp, có thể chỉ tu những trọng điểm không?
Đáp: Không được.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, để đạt được sự chí thành của tâm khẩu, cần có sự hỗ trợ của các hạng mục khác.
Ví dụ trong pháp Lục Độ mà nói, Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Trí huệ, tất cả đều vì Thiền định mà có, vì Thiền định cần có năm hạng mục trước làm hỗ trợ. Thiền định và Trí huệ lại tương hỗ làm nhân quả cho nhau. Đây là con đường tu hành.
Còn như hành giả Chân Phật học tập tu pháp, phải từng bước tuân thủ nghi quỹ, như vậy mới không có khiếm khuyết và mất đi sự trang nghiêm, không được khinh suất cẩu thả, dễ mắc tội khinh thường.
Hỏi: Trong trường hợp nào có thể chỉ tu những trọng điểm?
Đáp: Khi ở ngoài xa nhà, ví dụ như trên máy bay, trên xe, trên tàu, vì đồ cúng dường không đầy đủ, có thể tu pháp bằng quán tưởng, đây là tu pháp tiện lợi, cũng có thể nhập Tam ma địa, đạt được tâm linh bình tĩnh tự nhiên, không sinh phiền não, khinh an.
Ngoài ra khi thời gian đã đến, không kịp nữa, lâm chung rồi, có thể chỉ tu quán tưởng, một nhân duyên khác dần dần xuất hiện, quán nhanh dừng nhanh, chuyển thân thành tính, từ trong thân xác đạt giải thoát, vĩnh viễn vô sinh mà cực lạc, trong thời điểm này có thể chỉ tu quán tưởng.
Trường hợp thứ ba, người có tâm đại từ bi và đại trí huệ, người đã khai ngộ, có thể chỉ tu quán tưởng, vì tất cả nghi quỹ trong một quán tưởng đã đầy đủ tất cả.
Tu pháp phải nắm bắt thời cơ khác nhau, tùy theo địa điểm khác nhau mà có sự khác biệt, đồng thời căn cơ khác nhau cũng có khác biệt.
Tu pháp là trí tuệ nhìn xa trông rộng, nghi quỹ có cảnh giới vĩ đại. Trong nghi quỹ tu pháp có đầy trí huệ và từ bi, trong đó có chân lý, có tri kiến chân thật sáng suốt, không thể không biết.
Hỏi: Hành giả Chân Phật ở địa điểm nào mới có thể tu pháp?
Đáp: Bất kỳ địa điểm nào đều có thể tu pháp.
Ý tôi là nói rằng, ngoài mật đàn ra, bất kỳ địa điểm nào đều có thể tu pháp. Vì khi chúng ta đi du lịch xa nhà, không thường xuyên ở nhà, bất cứ nơi đâu đều có thể tu pháp. Trên xe, trên tàu, trên máy bay đều có thể tu. Tại khách sạn đều có thể tu, trên giường cũng có thể tu.
Riêng tu pháp tùy chỗ phải quán tưởng đàn thành ở giữa hư không, quán tưởng cúng phẩm trong hư không, biến môi trường xung quanh thành thanh tịnh. Đại lễ bái thì dùng quán tưởng, kết thủ ấn dùng quán tưởng, niệm chú có thể dùng cách niệm kim cang (không phát ra tiếng), tất cả hoàn toàn là tu bằng quán tưởng.
Liên Sinh Thánh Tôn thấu hiểu những đệ tử không có đàn thành, những hành giả Chân Phật mà môi trường không cho phép, pháp tu của họ chính là tu pháp tùy chỗ, tất cả dùng cách tu bằng quán tưởng.
Hỏi: Hành giả Chân Phật vào thời gian nào mới có thể tu pháp?
Đáp: Bất kỳ thời gian nào đều có thể tu pháp.
Ý tôi là nói rằng, tu pháp không có thời gian cố định, hoàn toàn tùy thuộc vào sự thuận tiện của hành giả, vì mỗi người đều có thói quen sinh hoạt không hoàn toàn giống nhau. Tóm lại, tìm ra thời gian thích hợp nhất cho bản thân, thực hiện tu một lần mỗi ngày hoặc tu hai lần mỗi ngày là được.
Về thời gian tu pháp dài hay ngắn cũng không có quy định cứng nhắc, tùy theo sở thích của mỗi người mà quyết định. Có người thích tụng nhiều bài tán, niệm nhiều một bộ kinh, đều là tùy ý. Có người thích trì chú dài, hoặc trì chú thêm đến hàng nghìn hàng vạn biến đều là tùy ý. Có hành giả thời gian ít, tu pháp dùng pháp giản lược, rất tinh giản, nhưng chỉ cần dùng tâm tỉ mỉ chân thành cũng là có thể được. Tóm lại, thời gian dài ngắn, hoàn toàn cũng là do mình kiểm soát.
Có người hỏi, hành giả nữ khi có kinh nguyệt cũng có thể tu pháp không? Câu hỏi này có rất nhiều người hỏi. Ngoài ra, trong thời gian tang lễ cũng có thể tu pháp không? Câu trả lời của tôi là cũng có thể tu pháp.
Lưu ý: Chỉ cần quán tưởng bản thân thanh tịnh là được. (khi có kinh nguyệt) Chỉ cần quán tưởng môi trường thanh tịnh là được. (trong thời gian tang lễ)
Những điều này đều không phải là vấn đề. Chúng ta là hành giả Chân Phật, quán tưởng chiếu kiến tâm mình trong suốt thanh tịnh, như trăng rằm tròn đầy, ánh sáng khắp hư không, không có phân biệt, đây chính là "tịnh thế giới", lại còn gọi là biển thực tướng Bát Nhã Ba La Mật.
Người có thể quán tưởng nhập vi tế thâm mật như vậy, mọi việc làm đều thành tựu. Hành giả Chân Phật tu pháp mọi lúc mọi nơi đều có thể, hoàn toàn không có kiêng kỵ.
Hỏi: Chúng ta tu pháp dùng tư thế gì?
Đáp: Khi chúng ta làm đại lễ bái thì thân thể phải đứng thẳng ngay ngắn, đại lễ bái phải kết thủ ấn, là ba lạy một cúi đầu, thủ ấn và ba lạy một cúi đầu đã được viết trong sách. Khi lễ bái, quán tưởng cũng rất quan trọng, phải nghĩ đến tất cả Tam Bảo, Thượng sư Phật pháp tăng ở khắp mọi nơi, trong hư không mười phương chư Phật Bồ Tát từng vị từng vị hiển hiện, như muôn vì sao lấp đầy hư không, trùng trùng vô tận, mỗi vị đều phóng ánh sáng chiếu đến hành giả, hành giả tức khắc ngay lập tức năm vóc sát đất mà lễ bái.
Ngoài đại lễ bái dùng tư thế đứng thẳng, các phần tu pháp khác đều dùng tư thế ngồi, tư thế ngồi tốt nhất là ngồi kiết già (ngồi Bồ Tát), kế đến là ngồi bán già, nếu không thể ngồi kiết già hoặc ngồi bán già thì ngồi thoải mái cũng được, tóm lại ngồi thẳng lưng là được.
Tuy nhiên, tại địa điểm đồng tu, do giới hạn về không gian, mọi người cùng làm đại lễ bái một lúc mà địa điểm quá nhỏ, vì vậy Liên Sinh Thánh Tôn đã thiết lập pháp quán tưởng đại lễ bái, nghĩa là khi đồng tu chúng ta có thể dùng tư thế ngồi, tu từ đầu đến cuối.
Hỏi: Tư thế ngồi nào là tốt nhất?
Đáp: Tư thế ngồi Tỳ Lô thất chi là tốt nhất. Thất chi tức là bảy việc như oai nghi của Phật:
- Ngồi xếp bằng kim cang.
- Tay kết pháp giới định ấn. (hoặc các thủ ấn khác)
- Thẳng cột sống.
- Hai vai duỗi ngang bằng nhau.
- Cằm thu lại, nhưng không được ép vào thanh quản.
- Lưỡi chạm vào vòm miệng.
- Mắt không chớp mắt không nhìn quanh, nhìn thẳng hai thước.
Trong quá khứ, Mật tông không nhận những người khuyết tật, vì nghiệp chướng của họ quá nặng, đồng thời khi tu pháp không thể kết thủ ấn, không thể ngồi tư thế đoan chính như oai nghi của Phật. Nhưng Chân Phật Tông thương xót những người khuyết tật, người khuyết tật không thể kết thủ ấn có thể dùng quán tưởng kết thủ ấn, người khuyết tật không thể ngồi thẳng lưng ngay ngắn cũng có thể dùng quán tưởng ngồi thẳng lưng ngay ngắn.
Người khuyết tật có thể ngồi xe lăn tu pháp, phụ nữ mang thai có thể ngồi ghế tu pháp, người có bệnh và người lớn tuổi cũng có thể ngồi ghế tu pháp. Tuy nhiên, phải quán tưởng ngồi thẳng lưng ngay ngắn.
Tôi thật sự nói rõ ràng với mọi người, Chân Phật Mật Pháp coi trọng nhất là quán tưởng, phải biết rằng tư duy quan sát chính là thiềnt, trong đó chứa đựng: Tất cả hữu tình. Bản tính thanh tịnh. Thanh tịnh tức Phật.
Hỏi: Trong tu pháp, quán không có quan trọng không?
Đáp: Quán không rất quan trọng.
Tâm yếu tu pháp của Liên Sinh Thánh Tôn chỉ ra rằng, trước khi quán tưởng, trước tiên phải quán không. Quán không này có một ý nghĩa thâm sâu: Ba thân vốn không sinh. Ngã không. Pháp không. Người - pháp đều không.
Đây chính là tự tính thanh tịnh, tất cả pháp tự tính thanh tịnh.
Khi quán không, niệm chú quán không gia trì: "Ôm su-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma su-pa-wa su-tô hằng." Quán không này là "số 0". Cũng tức là tận hư không khắp pháp giới. Muốn vọng tưởng không sinh thì chỉ có quán không mà thôi, đây là bí mật của Mật tông, định huệ đều nhập kim cương trí tịch tĩnh của Như Lai.
Quán không này là một việc rất vi diệu. Thánh Tôn Liên Sinh đã hiểu rõ, giác ngộ được rằng quán không chính là đại chân lý tối thượng của pháp tu Tứ vô lượng tâm. Khi tu đến cảnh giới không, hoàn toàn là trí huệ quán chiếu, mọi thứ đều thấy rõ ràng minh bạch, mọi sai lệch của chúng sinh cõi Ta Bà đều nhìn thấy rành rẽ.
Xưa kia có hành giả Mật tông chỉ tu quán không mà được tự tại, xa lìa điên đảo mộng tưởng. Thánh Tôn Liên Sinh vì tu quán không mà được bốn tâm vô lượng: Không bài xích người khác. Không công kích, vu cáo người khác. Được – mất như nhau. Ta và người bình đẳng.
Hỏi: Tu quán không được tự tại, thế nào là tự tại?
Đáp: Có thể tu quán không, được quán không thay đổi một cách vô tri vô giác, khởi phát tâm trí của chính mình, khai ngộ mà được tự tại, tôi cho rằng tự tại thực có bốn ý nghĩa:
Thứ nhất, thích ứng trong mọi hoàn cảnh. Một người đắc được "không cảnh", cho dù phúc họa cùng bức bách, nhưng đã có đại định lực, sẽ không hoảng hốt lo sợ, sẽ không bị kích động. Người đắc được "không cảnh" hiểu rõ rằng, phàm tất cả sự việc đều có nhân duyên, giàu sang nghèo khổ hoàn toàn do nhân duyên tạo thành.
Thứ hai, nhẫn nhục gánh trọng trách. Một người đắc được "không cảnh", biết rằng tất cả phỉ báng, chỉ trích, mắng nhiếc, cũng đều do nhân duyên sinh ra, thậm chí đây là hiện tượng bình thường của thế gian. Nếu đã chứng được "không cảnh", tất cả phỉ báng, chỉ trích, mắng nhiếc, đã không thể lay động tâm họ nữa; không chỉ không thể lay động tâm, người đắc được "không cảnh" càng có thể độ họ, gánh vác trách nhiệm nặng nề là độ chúng sinh.
Thứ ba, đặt mình xuống thấp. Một người đã chứng được cảnh giới không thì đã hiểu rõ rằng lớn nhỏ, tôn ti đều chỉ là hiện tượng tạm thời, trong tâm không còn chấp vào lớn nhỏ, tôn ti. Nhờ sự tu trì như vậy mà kiêu mạn, ngã mạn đã hoàn toàn hóa sạch. Phải biết rằng, chứng được cảnh giới không thì đã vô ngã vô tha, mình và người bình đẳng. Đến được cảnh giới như vậy thì có thể tự đặt mình vào chỗ thấp kém. Thánh Tôn Liên Sinh đã đạt đến cảnh giới hạ mình xuống thấp rồi.
Thứ tư, tự tại vô úy. Một người đắc được "không cảnh" cũng chính là một người tự tại tự như, giữ vững đạo tâm, đối với tất cả sự việc không từ chối không nghênh đón, cảnh giới này rất cao siêu và vô thượng vi diệu. Tôi dùng văn tự diễn đạt giải thích tự tại vô úy thật sự rất khó, tóm lại, như dòng nước chảy qua, không trở ngại không ứ đọng, tự nhiên.
Hỏi: Liên Sinh Thánh Tôn có kệ tán thán về quán không không?
Đáp: Tôi không có.
Nhưng thường xuyên trì tụng một bài thơ của Hàn Sơn:
Người đời có gì đáng than vãn. Khổ vui lẫn lộn chẳng cùng tận. Sinh tử qua lại bao nhiêu kiếp. Đông Tây Nam Bắc là nhà ai. Trương Vương Lý Triệu là họ tạm. Việc trong các cõi rối như tơ. Chỉ vì chủ nhân chẳng cắt đứt. Mê muội tà kiến cứ mãi theo.
Hỏi: Chúng con là hành giả Chân Phật khi phát nguyện thì nên phát nguyện gì?
Đáp: Việc phát nguyện vốn là sự bộc lộ chân thành từ tự tâm của hành giả, hành giả Chân Phật nên tự cân nhắc mới đúng.
Nhưng trong Phật môn vốn có năm đại nguyện, năm đại nguyện này là lời thề chung của A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, Di Đà Phật, Thích Ca Phật, Đại Nhật Như Lai.
Đại Nhật Như Lai là nguồn gốc khởi đầu của Liên Hoa Đồng Tử. Vì vậy Liên Sinh Thánh Tôn mong mỏi hành giả Chân Phật khi phát nguyện không rời xa năm đại nguyện, năm đại nguyện này tức là: Chúng sinh vô biên thề nguyện độ. Phúc trí vô biên thề nguyện tập. Pháp môn vô biên thề nguyện học. Như Lai vô biên thề nguyện sự. Bồ đề vô thượng thề nguyện chứng. Pháp giới ta người cùng lợi ích. (hồi hướng)
Hỏi: Trong Chân Phật Mật Pháp có pháp hợp tu không? Ý nghĩa của hợp tu là gì?
Đáp: Pháp hợp tu là hai loại pháp cùng tu trì một lúc, trong tông phái này có pháp hợp tu, ví dụ: Tứ gia hành hợp tu với Thượng sư tương ứng. Thượng sư tương ứng hợp tu với pháp Bổn tôn. Pháp Bổn tôn hợp tu với pháp Kim Cang. Pháp Kim Cang hợp tu với Vô Thượng Mật.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng: Trí huệ của Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự vĩ đại như biển cả, mà bí mật của Kim Cương Thừa là con đường thành Phật nhanh nhất, trong đó nghĩa bí mật sâu xa không thể lường được. Pháp hợp tu là một loại pháp từ bi tiện lợi, là để chúng sinh trong thời gian ngắn đạt được lợi ích.
Thời gian của pháp hợp tu dài hơn, nhưng phần sự tướng đã lược bỏ phần trùng lặp của hai pháp, còn tu chứng chân thật thì sẽ không có sự khác biệt.
Tôi cho rằng: Tu chứng từng pháp một, là ít mà biết đủ. Hai pháp hợp tu, là nhanh và mau lẹ. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào thời gian của hành giả Chân Phật mà quyết định, không có quy định cứng nhắc, do chính hành giả tự quyết định.
Hỏi: Trọng điểm của pháp hợp tu nằm ở đâu?
Đáp: Đó là phần quán tưởng, ví dụ Tứ gia hành hợp tu với Thượng sư tương ứng, cần quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát và Căn bản Thượng sư cùng nhau dung nhập, rồi đi vào thân thể của hành giả, trong đó có nghĩa bình đẳng của Phật pháp, là pháp môn bất nhị, không khác biệt, cùng chứng thành tựu.
Cho nên, Căn bản Thượng sư cũng phải dung hợp với Bổn tôn. Bổn tôn cũng cùng dung hợp với Kim Cang. Kim Cang cũng cùng dung hợp với Vô Thượng Chí Tôn.
Trong đó thật sự có đại tam muội thần thông, trong Chân Phật Mật Pháp, tất cả đều dung hợp ngang dọc tự tại, về nguyên tắc hoàn toàn không có chướng ngại. Chia ra thì có hàng trăm triệu, hợp lại thì thành một. Trọng điểm của quán tưởng cũng nằm ở đây.
Hỏi: Tu riêng biệt hoặc hợp tu, có khác nhau không?
Đáp: Nói thật ra ý nghĩa thực tế đều giống nhau, tu riêng biệt đơn giản, hợp tu phức tạp. Nếu có người thông minh căn cơ cao thì có thể hợp tu; người có khả năng phân tích, người có khả năng dung hợp, người muốn nhanh chóng, đều có thể tu. Tuy nhiên, tu riêng biệt và hợp tu, phúc báo nhận được đều bình đẳng.
Hỏi: Xin Liên Sinh Thánh Tôn thử lấy một ví dụ về nghi quỹ hợp tu được không?
Đáp: Tôi đặc biệt chọn ra nghi quỹ hợp tu pháp Thượng sư tương ứng và Tứ gia hành làm ví dụ, pháp hợp tu này do Diệu Ấn Đường Los Angeles biên tập, được tôi phê duyệt: Pháp hợp tu Thượng sư tương ứng và Tứ gia hành.
Tịnh thân nhập đàn.
-
Niệm chú thanh tịnh: (ý nghĩa là thanh tịnh thân tâm của chính hành giả) Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha. Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha. Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm. An thổ địa chân ngôn: (Ý nghĩa là triệu thỉnh địa thần bản địa bảo hộ đàn thành, hộ trì hành giả tu pháp.) Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.
-
Niệm chú triệu thỉnh Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến)
Khi niệm chữ Hum ở trên tim, quán tưởng trong tim mình có một đóa hoa sen trắng, ở giữa có một chữ Hum phóng ra một luồng ánh sáng trắng xung lên đỉnh đầu, dung nhập vào hư không. Ý nghĩa của sô-ha là: Được như mong ước.)
Chắp tay cung kính niệm: (Quán tưởng chư Phật Bồ Tát từng vị hiện ra trong hư không.)
-
Tất cả đệ tử thành tâm cung kính phụng thỉnh tất cả chư Phật Bồ Tát trong đàn và tất cả Hộ Pháp Kim Cang thần.
-
Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện mọi chúng sinh được an lạc. Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn thành, nguyện mọi chúng sinh thoát mọi khổ.
-
Nam mô thập phương tam thế tất cả chư Phật, nguyện mọi chúng sinh luôn từ bi và vui vẻ.
-
Nam mô tam tạng thập nhị bộ chính pháp, nguyện mọi chúng sinh buông bỏ tâm phân biệt.
-
Nam mô thập phương tam thế tất cả Thánh - Hiền - Tăng, nguyện mọi chúng sinh đắc chính giác.
-
Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả, nguyện con và lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa.
- Quán tưởng đại lễ bái (Khi tu tập tại nhà, nên sử dụng phương pháp đại lễ bái toàn thân phủ phục xuống đất hoặc năm vóc chạm sát đất.)
Một bái thập phương Phật. Hai bái chư Bồ Tát. Ba bái Hộ Pháp Kim Cang. Bốn bình đẳng một cúi đầu.
Trước tiên quán tưởng Thượng sư, Tam Bảo Phật ở trước mặt. Đầu tiên đặt thủ ấn vào đỉnh đầu, có ánh sáng trắng chiếu vào đỉnh đầu (tất cả thân nghiệp thanh tịnh); Thủ ấn lại đặt vào vị trí họng, có ánh sáng đỏ chiếu vào họng (tất cả khẩu nghiệp tiêu tịnh); Thủ ấn lại đặt vào vị trí Tâm luân, có ánh sáng lam chiếu vào tim (tất cả ý nghiệp thanh tịnh).
Kết thủ ấn, ấn vào đầu, họng, tim, đến vị trí tim thì lập tức quán tưởng toàn thân mình lạy trước Phật, sau đó thủ ấn quay về đỉnh đầu rồi giải ấn.
- Cúng dường mandala (tay kết ấn cúng dường)
(1) Dùng vật phẩm thực tế để cúng dường, sau đó quán tưởng từ ít biến thành nhiều, đầu tiên là một hàng, rồi biến thành một mặt, sau đó biến thành một ngọn núi, cuối cùng tràn đầy cả vũ trụ. Cúng dường lên trên cho thập phương tam thế chư Phật, Bồ Tát, chư Thiên, cúng dường xuống dưới cho lục đạo chúng sinh, quán tưởng rõ ràng, sau khi cúng xong thì giải ấn ở trên đỉnh đầu.
(2) Quán tưởng trong vũ trụ có núi Tu Di ở giữa trung tâm, và bốn phương Đông Nam Tây Bắc ở bốn phía xung quanh núi Tu Di, còn ở phía Đông Tây của núi Tu Di có mặt trời mặt trăng.
Lại quán tưởng hạt gạo trong tay mình biến thành thất trân bát bảo, tràn đầy núi Tu Di và bốn phương Đông Nam Tây Bắc.
(3) Quán tưởng tất cả những trân bảo này toàn bộ dâng cúng lên chư tôn.
Đọc bài kệ cúng dường:
Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật Trân quý kỳ diệu bao công đức Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.
Niệm chú cúng dường: Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.
Khi niệm xong chú cúng dường, nâng thủ ấn lên trên, ấn một lần vào thiên tâm, khi giải ấn thì có thể trực tiếp tung hạt gạo lên không trung.
- Niệm chú tứ quy y (3 biến)
Na-mô gu-ru pây. (Quán tưởng Thượng sư Liên Sinh Tôn giả mà hành giả quy y lập tức hiển hiện trong hư không.) Na-mô pút-ta yê. (Quán tưởng thập phương tam thế chư Phật lập tức hiển hiện trong hư không.) Na-mô ta-mô yê. (Quán tưởng tất cả kinh điển Phật giáo hiển hiện trong hư không, phóng ra ánh sáng.) Na-mô sâng-kya yê. (Quán tưởng Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và các thánh tăng đều hiện ra trong hư không, đại phóng quang minh.)
Tiếp theo, quán tưởng Thượng sư, Phật, pháp, tăng xếp thành một hàng, sau đó tập trung lại thành một luồng ánh sáng trắng chiếu sáng hành giả, quán đảnh cho hành giả.
- Tu pháp mặc giáp hộ thân
Kết thủ ấn chắp tay kim cang, đặt ở trên đỉnh đầu, niệm chú Kim Cang Thủ Bồ Tát: Ôm bua-rưa lan chưa-li. (7 biến)
Sau đó đặt thủ ấn chạm vào thiên tâm, họng, tim, vai trái, vai phải, rồi quay về đỉnh đầu, quán tưởng trong tay phóng ra ánh sáng lam. Khi giải ấn thì chia thành bốn luồng tỏa ra, xuất hiện bốn vị Kim Cang Hộ Pháp, một vị đứng trong hư không phía sau mình, một vị đứng trong hư không trước mặt mình, một vị đứng trong hư không bên trái mình, một vị đứng trong hư không bên phải mình, đều đang hộ trì hành giả ở trung tâm tu pháp.
- Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (7 biến)
Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng. Phật quốc hữu duyên. Phật pháp tương nhân. Thường lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật pháp.
Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại thần chú. Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là đại minh chú. Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô thượng chú. Nam mô Ma ha bát nhã ba la mật. Là vô đẳng đẳng chú.
Nam mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật. Phật Cáo Tu Di Đăng Vương Phật. Pháp Hộ Phật. Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật. Bảo Thắng Phật. Thần Thông Phật. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật. Quá khứ thất Phật. Vị lai hiền kiếp thiên Phật. Thiên ngũ bách Phật. Vạn ngũ thiên Phật. Ngũ bách Hoa Thắng Phật. Bách ức Kim Cương Tạng Phật. Định Quang Phật.
Niệm danh hiệu Phật sáu phương Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật. Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật. Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật. Bắc phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật. Thượng phương Vô Số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật. Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật. Vô lượng chư Phật. Đa Bảo Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật. Di Lặc Phật. A Súc Phật. Di Đà Phật.
Hết thảy chúng sinh trung ương, chư vị trong Phật giới, trú ngụ trên mặt đất, cho đến tại không trung, thương lo cho tất cả chúng sinh. Ai cũng an ổn tốt lành. Ngày đêm tu trì. Tâm thường cầu tụng kinh này. Diệt được khổ sinh tử. Tiêu trừ hết độc hại.
Nam mô Đại Minh Quan Thế Âm, Quan Minh Quan Thế Âm, Cao Minh Quan Thế Âm, Khai Minh Quan Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thanh Lương Bảo Sơn Ức Vạn Bồ Tát. Phổ Quang Vương Như Lai Hóa Thắng Bồ Tát.
Tụng bản kinh không ngừng. Thất Phật Thế Tôn. Liền nói chú sau: “Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha” (7 lần)
- Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ Đề Tát Đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
- Trước tiên quán không, sau đó quán tưởng: (kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử)
Quán tưởng một hồ lớn sáng rực rỡ như gương, giữa hồ hiện ra một ngọn núi cao, trên đỉnh núi có một tòa sen, và Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật ngồi trên tòa sen này, dung mạo trang nghiêm viên mãn như Phật, thân phóng ánh sáng trăm báu, bên phải Thượng sư có chư Phật thập phương quá khứ, bên trái có tất cả Bồ Tát thánh hiền tăng, và các tổ sư các đời lớp lớp bao quanh, dưới pháp tọa có Tứ Đại Thiên Vương cùng các quỷ thần hộ pháp.
Tiếp tục quán tưởng vị trí thiên tâm của Thượng sư, **ཨོཾ **(Om), phóng ra một đường ánh sáng trắng mãnh liệt, chiếu soi vào thiên tâm của hành giả, đây là ánh sáng Đại Viên Kính Trí, khiến cho ngũ uẩn và thức thứ tám của hành giả hóa thành vô hình. Vị trí họng của Thượng sư, chữ ཨཱཿ (Ah) phóng chiếu một đường ánh sáng đỏ mãnh liệt, chiếu soi vào họng của hành giả, biến mọi tham tính dục niệm của hành giả thành vô hình, hóa thành ánh sáng của đại trí tuệ. Vị trí tâm của Thượng sư, chữ ཧཱུྃ (Hum), phóng chiếu một đường ánh sáng lam mãnh liệt, chiếu soi vào tâm của hành giả, điều phục si tính của hành giả, hóa si tính thành vô hình.
Quán tưởng Thượng sư cùng Tam Bảo chư tôn đều phóng ra ánh sáng ngũ sắc chiếu rọi khắp toàn thân hành giả, ác nghiệp tội chướng của hành giả, tất cả nghiệp chướng từ vô thủy đều hóa thành khí đen, từ lỗ chân lông bốc hơi thoát ra ngoài thân, tan biến trong không khí, sau đó toàn thân trong trắng, trong suốt, phát sáng, đạt được khinh an.
- Tụng văn phát bồ đề tâm (1 biến)
Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Tôn Giả. Đệ tử ○○ từ nay quy y Thượng sư Tam Bảo, cho đến khi đắc bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển, tất cả các công đức lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh, mau chóng thành tựu Phật đạo.
Trì Thượng sư tâm chú: Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa ma-ha lién-sâng sít-đi hùm. (108 biến)
Trì chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: Ôm a hùm pê-cha gu-ru pê-ma sít-đi hùm sê. (21 biến hoặc 108 biến)
Trì tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: Ôm ma-ni pê-mi hùm. (21 biến hoặc 108 biến)
Trì tâm chú A Di Đà Phật: Ôm a-mi-tê-wa sê. (21 biến hoặc 108 biến)
Trì chú Lục Cứu Độ Phật Mẫu: Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha. (21 biến hoặc 108 biến)
12.** **Niệm bài kệ Tứ vô lượng tâm
Nguyện hết thảy chúng sinh có đầy đủ niềm vui và nguyên nhân của niềm vui, là từ vô lượng. Nguyện hết thảy chúng sinh thoát ly đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là bi vô lượng. Nguyện hết thảy chúng sinh vĩnh viễn sống trong an vui không đau khổ, là hỷ vô lượng. Nguyện hết thảy chúng sinh không còn yêu ghét, sống trong bình đẳng, là xả vô lượng.
- Niệm chân ngôn phát bồ đề tâm (3 biến)
Ôm bô-đi-chi-ta pê-cha sa-ma-ya ah hùm.
Niệm kệ sám hối và chú: Con xưa đã tạo bao ác nghiệp Là vì vô thủy tham sân si Đều sinh ra từ thân ngữ ý Nay con hết thảy xin sám hối. (1 biến)
Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah. (3 biến)
-
Dùng nước chú Đại Bi hoặc nước chú Kim Cang Cam Lộ Quân Đồ Lợi Minh Vương rải khắp đạo tràng. Chú ngữ: Ôm a-mi-li-tơ hùm pây.
-
Quán tưởng pháp tướng của Kim Cang Tâm Bồ Tát (kết thủ ấn Kim Cang Tâm Bồ Tát)
Bồ Tát thân màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, thiên y váy xếp, các loại báu vật trang nghiêm thân, ngồi trên tòa sen tám cánh có nguyệt luân, tay phải kết ấn phẫn nộ cầm chày kim cang tại vị trí Tâm luân, tay trái kết ấn phẫn nộ cầm chuông kim cang tại vị trí đùi bên trái, vị trí Tâm luân có sen tám cánh được bao quanh bởi chú luân Bách tự minh, chú luân này phóng ra ánh sáng trắng mãnh liệt xoay chuyển. Ánh sáng trắng mãnh liệt này bay vút lên không trung, tạo thành một vòng cung, từ thiên môn của hành giả Mật tông trút vào toàn thân. Toàn thân của chính hành giả cũng hiện ra ánh sáng mãnh liệt, tất cả ác nghiệp ác niệm trong toàn thân hóa thành khí đen, từ lỗ chân lông khắp thân thoát ra ngoài, do đó hành giả toàn thân trong suốt sáng ngời, đắc đại thiền lạc.
- Tụng Bách tự minh chú (21 biến)
Ôm ben-za sa-tô sa-ma-ya Ma-nu-pa-la-ya ben-za sa-tô tê-nô-pa ti-cha Chê-chô mê-pa-wa su-tô ka-yô mê-pa-wa Su-pô ka-yô mê-pa-wa A-nu-ra-tô mê-pa-wa Sa-ơ-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha Sa-ơ-wa ka-ma su-cha-mê Chi-ta-mu si-ri-ân ku-ru hùm Ha-ha-ha-ha-hơ pan-ga-guân Sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta ben-za ma-mi mân-cha Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya sa-to ah hùm pây.
- Nhập Tam ma địa
(1) Trước tiên có thể thực hành Cửu tiết Phật phong để tinh thần tập trung.
(2) Quán tưởng trước mặt trong hư không, bên phải xuất hiện một vị Kim Cang Tâm Bồ Tát, bên trái là Liên Sinh Tôn Giả, hai vị cùng hợp nhất hóa thành một đường ánh sáng trắng chiếu soi hành giả, sau đó ánh sáng trắng này từ từ di chuyển lên đỉnh đầu hành giả, thu nhỏ lại thành một điểm, sau khi quán tưởng rõ ràng, một điểm ánh sáng trắng này (Kim Cang Tâm Bồ Tát Liên Sinh Thánh Tôn nhỏ bằng hạt gạo), từ đỉnh đầu hành giả đi vào tâm của hành giả, dừng lại trên chữ ཧཱུྃ Hum tại tâm.
(3) Trên chữ ཧཱུྃ Hum ở vị trí tim, điểm sáng trắng này từ từ lớn dần trở thành Liên Sinh Tôn Giả (vì Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là Liên Sinh Tôn Giả, Liên Sinh Tôn Giả chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát), Ngài đã biến thành to bằng thân thể của chính mình, đột nhiên một tiếng "Hum", chính mình biến thành Liên Sinh Tôn Giả. Thân khẩu ý của Ngài chính là thân, khẩu, ý của hành giả, hai thành một, hòa hợp hoàn toàn (bất kể mắt, mũi, miệng, tai, tay, chân, dung mạo, trang phục đều giống Liên Sinh Tôn Giả), chính mình là Liên Sinh Tôn Giả, toàn thân đầy tràn linh khí. (Nhập ngã)
(4) Hoàn toàn quên hết chính mình (tọa vong), đi vào hư không, đi vào ý thức vũ trụ, đi vào biển ánh sáng, chính mình không còn nữa, hòa nhập vào hư không cùng hòa quyện với biển ánh sáng vũ trụ (Ngã nhập). Ý thức vũ trụ chính là ý thức của mình, đàn thành cùng vũ trụ đại phóng quang minh.
(5) Nếu không thể tọa vong, lập tức quán tưởng lại mình là Liên Sinh Tôn Giả, sau khi quán tưởng rõ ràng, lại quên chính mình, lại đi vào hư không, một dừng một quán như vậy gọi là "chỉ quán song vận".
(6) Sau khi nhập Tam ma địa một lúc thì xuất định.
(7) Sự đạt thành của Tam ma địa là viên thông và ấn chứng, có thể đắc diệu giác minh thể, biến khắp pháp giới, nhập vào tạng tâm Như Lai, đắc diệu pháp bí mật. Ngộ chân thường, chiếu tam muội. Chuyển pháp luân, minh chân kiến. Dung nhập cảnh giới pháp giới biển ánh sáng chính là cảnh giới của Quán Tự Tại Bồ Tát trong "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh".
- Xuất định
Trì thêm những tâm chú khác: (mỗi chú 3 biến)
Ôm pẩn-la-mố lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn) Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát) Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu) Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần) Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-lê-ya sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)
Niệm Phật: Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.
- Hồi hướng
Liên Sinh Tôn Giả dạy Mật pháp. Trong pháp Gia hành tiêu nghiệp chướng. Thượng sư tương ứng phúc huệ tăng. Quảng đại viên mãn đắc tự tại.
Nguyện người cùng niệm Phật Cùng sinh cõi Cực Lạc Trên báo bốn ơn sâu Dưới cứu ba đường khổ Thấy Phật thoát sinh tử Như Phật độ tất cả.
Đệ tử Chân Phật Tông ○○ nay y theo lời hồi hướng này, nguyện mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành (tạm dừng một chút, mặc niệm cầu nguyện một việc nào đó), nguyện tất cả điều mong cầu đều được viên mãn (giơ chày kim cang vẽ một vòng tròn, vòng tròn phát ra ánh lửa lớn), nguyện tất cả tai nạn tiêu tan. (Giơ chày kim cang, dùng lực chỉ về hướng bóng tối, hét một tiếng "Uân", bóng tối hóa ánh sáng. Làm như vậy hai lần.)
- Niệm chú viên mãn
Ôm bu-lin. (3 biến)
- Đại lễ bái
Ôm ma-ni pê-mi hùm.
Xuất đàn. Cát tường viên mãn.
🌟 Phụ chú: Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Pháp Tứ gia hành là pháp nền tảng của đại Mật pháp, rất có lợi ích lớn đối với việc tiêu nghiệp chướng, tăng phúc huệ. Tại Tây Tạng, phàm là người mới bước vào cửa Mật đều phải học tập pháp Tứ gia hành, và quy định mỗi pháp phải tu đủ 100.000 biến, sau đó mới có thể tu các Mật pháp khác, để tránh xuất hiện ma chướng, đi vào con đường tà."
Pháp Thượng sư tương ứng là pháp bắt buộc phải tu của đệ tử Chân Phật Tông. Thượng sư là tổng thể tính của thân, khẩu, ý hợp nhất của chư Phật mười phương ba đời, là nguồn gốc của tám vạn bốn nghìn pháp môn. Tu pháp Thượng sư tương ứng nếu đạt tương ứng có thể được phúc báo lớn, có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì.
Hành giả Mật tông nếu muốn tu thêm pháp Bổn tôn, có thể sau khi niệm xong Bách tự minh chú ở hạng mục thứ 16, kết ấn Bổn tôn bằng tay, quán tưởng Bổn tôn phóng quang gia trì, sau đó trì chú Bổn tôn 108 biến. Ở hạng mục thứ 17 khi nhập Tam ma địa, quán tưởng Bổn tôn xuất hiện trong hư không, cùng với Kim Cang Tâm Bồ Tát, Liên Sinh Tôn Giả, xếp thành một hàng, sau đó ba vị hợp nhất thành một, hóa thành một đường ánh sáng trắng theo pháp đi vào trong thân thể hành giả, lại quán tưởng chính mình biến thành Bổn tôn, nhập Tam ma địa, hồi hướng văn niệm: Liên Sinh Tôn Giả dạy Mật pháp, Trong pháp Gia hành tiêu nghiệp chướng, Bổn tôn gia trì đại viên mãn, Ba vị hợp nhất tối thù thắng.
Việc tu trì Mật pháp là vận dụng linh hoạt, nếu vận dụng hợp lý có thể đạt hiệu quả gấp đôi. Tất nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là phải bền bỉ thực tu. Nguyện các đồng môn sư huynh tỷ khéo dùng pháp hợp tu này. Cát tường viên mãn.
Hỏi: Liên Sinh Thánh Tôn viết nghi quỹ tu pháp trong sách nào? Viết khẩu quyết trong sách nào? Viết thù thắng đại pháp trong sách nào? Nghe nói còn có khẩu quyết vô thượng, chúng ở trong sách nào?
Đáp: Nghi quỹ tu pháp trong cuốn "Bí mật trong bí mật". Khẩu quyết tâm yếu trong cuốn "Pháp trong pháp". Đại pháp thù thắng trong "Kỳ lạ trong kỳ lạ". Vô thượng khẩu quyết trong "Phật trong Phật".
Bốn cuốn sách này rất quý giá, nhưng vẫn còn rất nhiều nghi quỹ, khẩu quyết, đại pháp, tâm yếu khác nằm rải rác trong 80 cuốn sách tâm linh khác, vì vậy từng cuốn sách tâm linh của Liên Sinh Thánh Tôn đều là tác phẩm trân quý, đều có hàm nghĩa, đúng là giáo pháp Nhất thừa mà ba đời cùng tuyên, Bất nhị môn mà mười phương cùng nói, những cuốn sách này như bầu trời vũ trụ trong sáng không tỳ vết, người có duyên đọc sẽ vô cùng thông đạt sáng tỏ.
Hỏi: Sách của Liên Sinh Thánh Tôn thông đạt sáng tỏ điều gì?
Đáp: Nguồn gốc. Tôn quý. Huyền diệu sâu xa. Viên mãn.
Tôi thật lòng nói với tất cả mọi người, Liên Sinh Thánh Tôn vì đại bi tâm chiếu sáng khắp chúng sinh giới, vì nhân duyên đại sự mà sinh ra, sáng lập Chân Phật Tông, về sau ba cõi đều tôn sùng Ngài, Ngài hoàn toàn là bậc đắc đại tự tại, sách Ngài viết đã được dịch ra các thứ tiếng trên thế giới, đồng thời tùy theo căn cơ của chúng sinh mà ban cho pháp môn khác nhau, nhân duyên này là cổ Phật lại đến.
Sách của Liên Sinh Thánh Tôn, từ sách tuôn ra: Xuất sinh tất cả chư Phật Bồ Tát mười phương ba đời. Hàng phục các ma. Chế ngự ngoại đạo. Ngồi tòa sen báu, Chân Phật Thế Giới Ma Ha Song Liên Trì. Ở trong các cõi nước nhiều như vi trần chuyển đại pháp luân. Hướng đến chúng sinh hữu duyên xoa đầu thọ ký.
Hỏi: Tại sao Liên Sinh Thánh Tôn phải viết "Bí mật trong bí mật", "Pháp trong pháp", "Kỳ lạ trong kỳ lạ", "Phật trong Phật"?
Đáp: Do Phật pháp là Như Lai tạng, và là giáo pháp sâu xa, thực sự không phải là phàm phu thấp hèn ngu muội có thể dễ dàng được biết.
Vì vậy từ xưa đều là Phật với Phật truyền lẫn nhau, thần bí mà không thể đo lường. Người học Phật phải tìm kiếm minh sư thiện tri thức, nếu không sẽ không thể được giải ngộ.
Do đó, Liên Sinh Thánh Tôn mới dùng tâm đắc khai ngộ của chính mình, dùng văn tự tương đối dễ hiểu hơn, trình bày chi tiết phương hướng tu chứng quả cao nhất, khiến cho người học sau được khai tâm, khiến cho người chưa nghe được tin tưởng, khiến cho người chưa hiểu được hiểu rõ. Mỗi nghi quỹ đều có thứ tự rõ ràng, khiến cho người hiền minh hay ngu si đều được lợi ích. Như vậy, Phật pháp lưu thông, phúc huệ được rộng diễn nơi thế giới Ta Bà, khiến cho người đời nhanh chóng được độ thoát, đây thật là chân thiện mỹ.
Hỏi: Tu trì Chân Phật Mật Pháp có thể được gì?
Đáp: Tu trì Chân Phật Mật Pháp có thể đắc được chính là tên sách "Bí mật trong bí mật", "Pháp trong pháp", "Kỳ lạ trong kỳ lạ", "Phật trong Phật" đó!
Chân Phật Mật pháp là tổng trì, nghi quỹ của nó chính là tinh hoa của kinh, luật, luận, có niệm, có huệ, lấy đại từ bi tâm làm nhiếp triệu. Người có thể một ngày một tu sẽ được đại phúc huệ, nhờ pháp lực của nó mà có thể tiêu trừ trọng tội của địa ngục A Tỳ.
Chân Phật Mật Pháp quả thật phàm ngu không thể biết được. Một ngày một tu nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp, nhất định thành Phật không nghi ngờ.
Hỏi: Việc tu trì sơ khởi của Chân Phật Mật Pháp có những cảm ứng gì?
**Đáp: 1. **Được sự gia trì thù thắng của Căn bản Thượng sư. 2. Được nhân duyên tối thắng. 3. Lòng lành thường sinh khởi. 4. Sắc thân không hư hoại. 5. Trong tâm không ô nhiễm. 6. Ánh sáng trí tuệ chiếu khắp, không gì sánh kịp. 7. Hạnh kiểm thù thắng, người trời đều tán thán. 8. Tâm bình đẳng, không phân biệt. 9. Hòa nhập vào ý thức vũ trụ. 10. Được đại tự tại, kho tàng vô tận.
Liên Sinh Thánh Tôn viết ra nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp tối tôn tối thắng trong tất cả pháp của mười phương ba đời, tu hành đắc khai ngộ này là từng chữ chân thật; tuy nhiên chính là vô vi mà chứng chân, ta đã chứng ngộ, cũng mong người đời có thể chứng ngộ.
Người có thể học Chân Phật Mật Pháp là người có duyên lớn nên kiếp này mới có thể tiếp xúc với Chân Phật Mật Pháp. Người nghe, thọ trì và tu hành, ai cũng sẽ lý-sự tương ứng, từ trong Tam ma địa sinh ra tất cả Phật.
Hỏi: Làm thế nào để chứng minh sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn từ khi khai ngộ, diệu lý của các thừa đều thông suốt, có thể khiến trời rải hoa báu, có thể phóng quang chiếu khắp mười pháp giới, thần thông không thể nghĩ bàn. Trong một hạt cải chứa một cõi Phật, thân dài bay khắp mười vạn thế giới, Thánh Tôn diễn pháp, chư Phật Bồ Tát trời người đều giáng lâm, đại chuyển pháp luân, một tay đưa ra là ánh sáng báu từ trong tay hiện ra......
Sự siêu thắng của Chân Phật Mật Pháp từ đó mà được chứng minh.
09. Nói rõ về tất cả nghi quỹ tu pháp
Hỏi: Xin giải thích nghĩa lý chân thật của thực tu?
Đáp: Tinh thần của thực tu là từ một nghi quỹ đơn nhất, qua con đường và phương pháp thanh tịnh của nó, dưới sự chỉ dẫn và gia trì của Liên Sinh Thánh Tôn, hành giả tinh tấn tu trì, cuối cùng đạt đến đi, đứng, ngồi, nằm đều không rời Phật pháp, mà hành giả từ tự tâm hiển lộ, tự thân biến thành Phật.
Thực tu có một trình tự nhất định: Tứ gia hành - Thượng sư tương ứng - Bổn tôn pháp - Kim cang pháp - Vô thượng mật. Trình tự nguyên tắc của thực tu: Tiểu thừa - Đại thừa - Kim cương thừa.
Hỏi: Điều nương tựa của Chân Phật Mật Pháp là gì?
Đáp: Chân Phật Mật Pháp có đặc sắc riêng, chính là Liên Hoa Đồng Tử tương ứng pháp (Thượng sư tương ứng pháp). Hành giả đối với Căn bản Truyền thừa và Căn bản Thượng sư của mình phải trung thành vô hạn.
Điều nương tựa của nó chính là tượng của Thượng sư, là cảnh giới quy y. Quả địa của nó chính là Ma Ha Song Liên Trì, điều nương tựa thực sự của Chân Phật Mật Pháp, cần hành giả tập trung toàn bộ tinh thần lực thân khẩu ý vào Liên Hoa Đồng Tử và Ma Ha Song Liên Trì. Vì vậy điều nương tựa của Chân Phật Mật Pháp có hai: Căn bản Thượng sư. Ma Ha Song Liên Trì.
Hỏi: Công dụng của nghi quỹ tu pháp là gì?
Đáp: Công dụng của nghi quỹ tu pháp đương nhiên là vô hạn, nhưng các công dụng riêng biệt của nó chính là:
- Tiêu trừ nghiệp chướng.
- Được truyền thừa gia trì.
- Chuyên nhất tâm niệm.
- Tương ứng pháp lực.
- Tích tập tư lương.
- Viên mãn thành Phật.
Hỏi: Chân Phật Mật Pháp và các Kim cương thừa khác có gì khác nhau?
Đáp: Về cơ bản, pháp tu trì thực sự không có gì khác nhau, chỉ có một phần nhỏ sai biệt, đây là do chủ đích khác nhau.
Ví dụ: Về phương diện truyền thừa - Truyền thừa của Chân Phật Mật Pháp quán tưởng Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật thành một hệ thống lớn, đều lấy Liên Sinh Hoạt Phật làm Căn bản Thượng sư. Đối với Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Bồ Tát Di Lặc, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, quán tưởng các vị tổ sư thành một hệ thống lớn.
Nghi quỹ pháp tu trì và kinh cầu nguyện đại thể giống nhau, chỉ có một phần nhỏ khác nhau mà thôi. Hành giả Chân Phật nếu nghiên cứu kỹ lưỡng, ắt có thể nhận ra về cơ bản pháp tu của các giáo phái đều giống nhau. Quả địa của Chân Phật Tông ở Ma Ha Song Liên Trì, do đó đặc biệt thù thắng.
Hỏi: Chân Phật Mật Pháp của Chân Phật Tông, tại sao thích hợp với người hiện đại tu tập?
Đáp: Nghi quỹ Mật pháp về cơ bản đều giống nhau, nhưng Chân Phật Mật Pháp hoàn toàn là tâm yếu căn bản nhất trong Phật pháp, là thể hiện tâm yếu một cách trọn vẹn không giữ lại gì. Chân Phật Mật Pháp đã vứt bỏ những gánh nặng chấp trước truyền thống của Phật pháp, vì vậy nghi quỹ của nó rõ ràng, công hiệu tu trì lớn, lý do thích hợp với người hiện đại tu tập như sau:
- Tương ứng nhanh chóng.
- Thứ tự rõ ràng.
- Chỉ rõ tâm yếu.
- Loại bỏ rườm rà, giữ lại tinh hoa.
- Bối cảnh hiện đại.
- Không chấp trước truyền thống.
Chân Phật Mật Pháp có thể nói là đã cô đúc Phật pháp thành hình thức hiện đại: Mọi ác không làm. Làm mọi điều thiện. Tự tịnh ý mình. Là điều Phật dạy.
Hỏi: Trước khi tu Chân Phật Mật Pháp, chúng ta cần có sự chuẩn bị tâm lý gì?
Đáp: Hành giả tu Chân Phật Mật Pháp nhất định phải là người đã quy y Chân Phật Thượng sư, tâm lý cơ bản của họ nhất định phải có sự nhận thức và tin tưởng cơ bản đối với Liên Sinh Thánh Tôn.
Hành giả Chân Phật nhất định phải tin vào nhân quả và luân hồi, có thể hiểu rõ tất cả khổ trong thế gian, đã có tâm quyết định tu hành giải thoát phiền não.
Tâm lý của hành giả Chân Phật là muốn viên thành tất cả Phật đạo, tự giác mà giác tha, tự độ mà độ tha, tự lợi mà lợi tha. Trong Kim cương thừa, mối quan hệ giữa Căn bản Thượng sư và hành giả Chân Phật là vô cùng mật thiết, bởi vì giữa hành giả Chân Phật và Căn bản Thượng sư có thề ước samaya.
Trong đó có giới luật, là "Sự sư pháp ngũ thập tụng", thể hiện mối quan hệ vô cùng thành kính, cũng có thể nói rằng sự khai ngộ của hành giả Chân Phật đều đến từ gia trì lực của Căn bản Thượng sư. Vì vậy sự chuẩn bị tâm lý tu pháp chính là đầu tiên về truyền thừa, xem Căn bản Thượng sư như Phật mà phụng sự, Căn bản Thượng sư chính là Phật không sai lệch gì.
Về tâm lý, phải xem Căn bản Thượng sư là tổng trì của Phật, pháp, tăng. Căn bản Thượng sư bao hàm tất cả, tu trì Chân Phật Mật Pháp như vậy mới có thành tựu.
Hỏi: Tu Chân Phật Mật Pháp có thể chữa bệnh không?
Đáp: Có thể.
Liên Sinh Thánh Tôn có một cuốn sách, tên là "Chú ấn đại hiệu nghiệm", chính là bằng chứng sắt tốt nhất về tu pháp chữa lành bệnh.
Trong phần trả lời này, tôi đặc biệt lại đưa ra một lá thư làm chứng:
Sư Tôn kính yêu!
Xin chào thầy. Lần này đệ tử viết thư làm phiền sự thanh tu của Sư Tôn là thay mặt bố vợ và mẹ vợ hướng đến Sư Tôn để tạ ơn.
Vào ngày 30 tháng 9 năm 1988, bố vợ của đệ tử người Philippines nôn ra máu và bị bệnh tim được đưa đến bệnh viện cấp cứu. Đệ tử được sư huynh Liên Hoa Thanh Vinh ở Cameron chỉ điểm lập tức tu Thượng sư tương ứng tiêu tai pháp của Chân Phật Tông cho bố vợ, đồng thời sư huynh cũng niệm kinh gia trì cho ông, bảy ngày sau bố vợ đã thoát khỏi nguy hiểm.
Bố vợ nói, khi cấp cứu, ông mơ thấy nhiều người muốn dẫn ông đi. Khi ông rất sợ hãi kêu cứu lớn, ông nhìn thấy một đường ánh sáng trắng chiếu vào ông, rồi ông tỉnh lại. Sư huynh Liên Hoa Thanh Vinh nói, ánh sáng trắng chắc chắn là Phật quang của Sư Tôn, sau khi được ánh sáng trắng chiếu, khi bố vợ vào bệnh viện xét nghiệm phát hiện bệnh viêm gan B vốn có cũng đã khỏi, thật là kỳ tích.
Bố vợ của đệ tử rất biết ơn Sư Tôn và sư huynh Liên Hoa Thanh Vinh. Ông cùng mẹ vợ thành tâm dâng cúng dường 200 Peso Philippines (khoảng hơn 20 Ringgit Malaysia). Đồng thời đệ tử và phu nhân cũng thành tâm dâng cúng dường, tổng cộng 50 Ringgit Malaysia. Kính chúc Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Thái Nguyên và vợ đảnh lễ. Ngày 10 tháng 12 năm 1988.
Lá thư này là hiệu nghiệm hoàn toàn chân thật. Bản văn gốc chụp ảnh bản in được đính kèm sau đây.

Đồng thời chứng minh như sau: Tiêu tai - Ánh sáng trắng. Tăng ích - Ánh sáng vàng. Kính ái - Ánh sáng đỏ. Hàng phục - Ánh sáng lam.
Liên Sinh Thánh Tôn thường xuyên trong lúc nguy cấp phóng quang cứu người vô số, hiệu nghiệm này đã đạt đến con số hàng triệu người, đơn giản là không thể tính đếm được, cho dù là bệnh nan y phức tạp, cho dù là bệnh hiểm nghèo cũng cứu, kỳ tích liên tiếp, là điều bất khả tư nghì khó nghĩ bàn.
Trong vũ trụ này, Phật quang của Liên Hoa Đồng Tử đã sớm lan khắp, nghìn người cầu nguyện nghìn nơi hiện, vạn người cầu nguyện vạn nơi hiện, người tin có phúc, người không tin vô duyên. Tu Chân Phật Mật Pháp thật sự có thể tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, vô cùng chân thật, có công hiệu lớn.
Hỏi: Tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục là pháp gì?
Đáp: Đây chính là pháp Yết Ma của Chân Phật Mật Pháp, là pháp tu nhập thế.
Tiêu tai - Tiêu trừ tai nạn và vận xui. Tăng ích - Tăng thêm phúc phần và lợi ích. Kính ái - Quan hệ xã hội viên mãn và gia đình hôn nhân hòa hợp. Hàng phục - Khiến đối phương khuất phục mình.
Hành giả Chân Phật chỉ cần giữ vững giới luật của Chân Phật Tông thì bốn pháp Yết Ma này đều sẽ được tương ứng thành tựu; không chỉ vậy, có thể diệt trừ nghiệp tội cực nặng, thậm chí vĩnh viễn không đọa vào địa ngục, đồng thời có chư thiên thần thánh ở cõi trời hộ vệ và hộ giá, tương đương như bản thân mình cũng đã có uy lực thần thông. Đây là: Chân Phật Mật Pháp khó nghĩ bàn. Thần thông công lực càng siêu tuyệt. Hòa nhập trời đất nước lửa gió. Ma oán tự nhiên cũng tiêu vong.
Hỏi: Thánh Tôn nói, cho dù là bệnh nan y, tu Chân Phật Mật Pháp cũng có thể cứu chữa, có bằng chứng gì không?
Đáp: Quả thực đã cứu chữa khỏi không ít bệnh nhân mắc bệnh nan y, ở đây xin đưa ra hai lá thư làm chứng.
Hai lá thư này, một bằng tiếng Trung, một bằng tiếng Anh, cũng đặc biệt được chụp ảnh bản in đính kèm sau đây.
Thư bằng tiếng Trung như sau:
Sư Tôn! Om mani padme hum.
Nhân dịp cuối năm, chúc Sư Tôn cát tường như ý. Vô cùng cảm tạ Sư Tôn đã ban tặng linh phù.
Ung thư - căn bệnh khiến người ta nghe đến là sợ hãi, đã dày vò chị họ của đệ tử đã lâu. Sau khi dùng linh phù của Sư Tôn, thật sự là phù đến bệnh khỏi, trước đây đều là các con của chị họ đến nhà đệ tử nhờ vả, lần này chị họ đã có thể tự mình đến tận cửa cảm tạ Sư Tôn về sự trị liệu linh thiêng từ bi. Lúc đó đệ tử không có ở nhà, sau khi liên lạc qua điện thoại, chị họ liên tục bày tỏ lòng cảm ơn, và nói rằng bệnh tình của chị đã khỏi hẳn, thật sự là không thể nghĩ bàn, bệnh ung thư cũng được cứu. Nhưng vì mong muốn tốt hơn nữa, muốn cầu nhờ Sư Tôn ban tặng thêm linh phù, để cầu mong cơ thể khỏe mạnh (vì chị rất yếu ớt, lại làm việc nặng nhọc, Thái Thủy Hà, ngày tháng năm sinh và ảnh lần trước đã gửi rồi).
Chúc Phật an! Đệ tử Liên Hoan chắp tay đảnh lễ. Ngày 11 tháng 12 năm 1988.


Hỏi: Cúng dường trong Chân Phật Mật Pháp, dùng gì là tốt nhất?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, chỉ cần tâm ý thành kính thì cúng dường gì cũng được. Ở Tây Tạng, họ cúng mandala, dùng từng đống gạo để đại diện, vì gạo tượng trưng cho thực phẩm, lại tượng trưng cho sự nhiều, dễ dàng quán tưởng biến hóa.
Và ngày nay, tôi cho rằng có thể cúng mandala bằng bất cứ thứ gì, ví dụ: xe mới, quần áo mới, nhà mới, món ăn ngon, đồ cổ quý hiếm.
Về cơ bản, quan niệm là bất cứ thứ gì mà bạn cho là tốt đẹp đều có thể dùng để cúng dường, tất cả đều có thể quán tưởng để bố thí cúng dường chư Phật Bồ Tát chư tôn.
Liên Sinh Thánh Tôn đã từng quán tưởng xe Rolls-Royce đồ chơi dâng cúng chư Phật Bồ Tát, kết quả là được một chiếc xe Rolls-Royce thật. Lại tiếp tục dâng cúng xe Rolls-Royce đó lên chư Phật Bồ Tát chư tôn, bất ngờ thấy trong hư không biến hóa ra mười chiếc xe Rolls-Royce.
Trong tinh thần của việc cúng dường mandala là bạn đã dâng hiến tài sản và tất cả những gì mình có, bao gồm thân khẩu ý, khi đã bố thí tất cả, bạn sẽ cảm thấy vui vẻ, đồng thời, bạn cảm nhận rằng "chẳng có gì cả" chính là sự hài lòng của "có tất cả".
Hỏi: Rất nhiều người đều cho rằng quán tưởng rất không dễ dàng, làm thế nào để quán tưởng trở nên dễ dàng?
Đáp: Rất nhiều người đều hỏi về vấn đề này, thực ra quán tưởng là một loại "kỹ xảo tâm lý", điều này cần phải dựa vào sự rèn luyện trong thời gian dài, trình tự của nó là điều hòa thân và điều hòa tâm, vận dụng ý niệm. Việc vận dụng ý niệm này chính là thứ tự sinh khởi. Còn thiền định chính là thứ tự viên mãn.
Nếu chúng ta hiểu rõ đạo lý của Chỉ - Quán, thì sẽ càng dễ dàng hiểu được đạo lý của quán tưởng.
Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, chúng ta phải thường xuyên nhìn ngắm Bổn tôn mà mình muốn quán tưởng, in sâu tỉ mỉ vào trong tâm trí, quan sát từ chi tiết nhỏ nhất, và trong khi ngồi thiền, hãy quán chiếu bên trong, hiển lộ cực kỳ vi tế trong sự vi tế, đây chính là đang thực sự "làm pháp", và pháp này chính là thiền quán vô hình.
Dĩ nhiên quán tưởng có rất nhiều tầng bậc khác nhau, tất cả đều là vấn đề kỹ xảo rèn luyện lâu dài, trong quá trình quán tu, mỗi hành giả sẽ dần dần hiểu được điều kỳ diệu ở trong đó, đến khi dễ dàng hiển lộ, quán tưởng khó khăn này tự nhiên sẽ không còn là vấn đề nữa.
Hỏi: Tu hành Chân Phật Mật Pháp có cần phải bế quan không?
Đáp: Đây là vấn đề về ý nguyện cá nhân và hoàn cảnh. Nếu có người tự mình có khả năng bế quan, cũng muốn bế quan tu hành, đây là điều rất tốt, bởi vì thân và khẩu có thể hoàn toàn cách biệt với thế tục, dễ dàng hơn để đạt được sự thanh tịnh của ý niệm. Hành giả bế quan có thể đạt được sự thống nhất tinh thần toàn tâm toàn ý.
Nếu có người tự mình không có khả năng bế quan, hoàn cảnh cũng không cho phép, thì đừng miễn cưỡng, hãy tìm một thời khắc thanh tịnh nhất, tu mỗi ngày một lần là được. Đồng tu, độc tu, bế quan tu, tất cả đều tùy theo ý nguyện của mỗi người, cũng đều có lợi ích riêng, tất cả đừng miễn cưỡng là được.
Hỏi: Pháp đại lễ bái pháp của chúng ta rốt cục phải đảnh lễ những gì?
Đáp: Về nguyên tắc ba lạy một cúi đầu là: Một, lạy chư Phật mười phương. (thủ ấn tháp Phật) Hai, lạy chư Bồ Tát. (thủ ấn hoa sen) Ba, lạy chư Hộ Pháp Kim Cang. (thủ ấn kim cang) Bốn, khấu đầu. (thủ ấn bình đẳng) Thủ ấn bình đẳng chính là ý nghĩa lạy đều tất cả thần thánh.
Nhưng Chân Phật Tông có pháp chuyên tu đặc biệt là "chí thượng đảnh lễ quán", có tụng kệ 25 lượt, đại lễ bái 25 lần, đây là phương pháp đại lễ bái "ý thức chí thượng". Xin đọc "chí thượng đảnh lễ quán" trong cuốn "Mật Tạng - Kỳ lạ trong kỳ lạ" là có thể hoàn toàn rõ ràng minh bạch.
Pháp đại lễ bái Kim Cang Đỉnh Du Già 37 vị này, tôi Liên Sinh Thánh Tôn cũng rõ ràng minh bạch, cũng chính là pháp quán tu niệm danh đảnh lễ. Hành giả Chân Phật cũng có thể tu tập pháp này.
Đặc biệt liệt kê tên gọi Kim Cang Đỉnh Du Già 37 vị như sau: Nam mô Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. Nam mô Kim Cang Kiên Cố Tự Tính Thân A Súc Phật. Nam mô Công Đức Trang Nghiêm Tụ Thân Bảo Sinh Phật. Nam mô Thọ Dụng Trí Tuệ Thân A Di Đà Phật. Nam mô Tác Biến Hóa Thân Bất Không Thành Tựu Phật.
Nam mô Đại Viên Kính Trí Kim Cang Ba La Mật xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Bình Đẳng Tính Trí Bảo Ba La Mật xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Diệu Quan Sát Trí Pháp Ba La Mật xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Thành Sở Tác Trí Nghiệp Ba La Mật xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô nhất thiết Như Lai Bồ Đề Tâm Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát đẳng hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Bồ Đề Tâm Kim Cang Vương Bồ Tát đẳng tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cang Giới sinh thân nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Bồ Đề Tâm Kim Cang Dục Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Bồ Đề Tâm Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Công Đức Tụ Kim Cang Bảo Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Công Đức Tụ Kim Cang Quang Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Công Đức Tụ Kim Cang Tràng Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Công Đức Tụ Kim Cang Tiếu Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Trí Tuệ Môn Kim Cang Pháp Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Trí Tuệ Môn Kim Cang Lợi Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Trí Tuệ Môn Kim Cang Nhân Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Trí Tuệ Môn Kim Cang Ngữ Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Đại Tinh Tấn Kim Cang Nghiệp Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Đại Tinh Tấn Kim Cang Hộ Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Đại Tinh Tấn Kim Cang Nha Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Đại Tinh Tấn Kim Cang Quyền Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Thích Duyệt Tâm Kim Cang Hi Hí Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết cúng dường vân hải Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Ly Cấu Tăng Kim Cang Man Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Diệu Pháp Âm Kim Cang Ca Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Thần Thông Nghiệp Kim Cang Vũ Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Chân Như Huân Kim Cang Phần Hương Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Thắng Trang Nghiêm Kim Cang Hoa Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Thường Phổ Chiếu Kim Cang Đăng Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Giới Thanh Lương Kim Cang Đồ Hương Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới nhất thiết Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Tứ Nhiếp Trí Kim Cang Câu Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Thành Biện Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Thiện Xảo Trí Kim Cang Sách Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Phụng Giáo Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Kiên Cố Trí Kim Cang Tỏa Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Như Lai Sứ Giả Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô nhất thiết Như Lai Hoan Lạc Trí Kim Cang Linh Bồ Tát đẳng xuất sinh tận hư không biến pháp giới đồng nhất thể tính Kim Cương Giới sinh thân nhất thiết Như Lai Tuỳ Thuận Ba La Mật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Trên đây là Kim Cang Đỉnh Du Già 37 vị.
Hỏi: Một số người tự cảm thấy tu pháp thất bại, có thể ngừng tu hành không?
Đáp: Trong quá trình tu trì, thường có người tự cảm thấy không nắm được điểm cốt yếu, có người thậm chí tinh thần tản mát, thậm chí dẫn đến thể lực suy thoái, bệnh tật phát sinh nhiều, tôi cho rằng đó là do nghiệp chướng sâu nặng.
Người như vậy nên kiên nhẫn cố gắng tiếp tục tu hành, để mong vượt qua mùa đông lạnh giá này, mùa xuân sẽ mau chóng đến.
Nếu không thể kiên trì, thoái lui mà cầu ở mức kế tiếp, có thể tu pháp Hiển giáo, như chỉ niệm Phật, niệm kinh, niệm chú. Sau một thời gian, khi mọi việc đã trở lại bình thường thì quay lại tu Chân Phật Mật Pháp.
Hỏi: Tu Chân Phật Mật Pháp thất bại có những dấu hiệu gì?
Đáp: Các dấu hiệu như sau:
- Ngày càng quan tâm đến những việc thế tục.
- Theo đuổi danh lợi không ngừng nghỉ.
- Mất đi đức tin và lòng tin đối với Căn bản Thượng sư.
- Thái độ kiêu ngạo cố chấp.
- Phủ nhận hiệu lực của Chân Phật Mật Pháp.
- Không có tâm từ bi.
- Tâm tư vị kỷ tăng trưởng.
Đây đều là những dấu hiệu tu pháp thất bại.
Hỏi: Đối với những người tu Chân Phật Mật Pháp thất bại, Thánh Tôn có phương pháp gì để độ họ không?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn đối với những người tu trì Chân Phật Mật Pháp thất bại, không hề khiển trách quở mắng, chỉ cảm thấy họ rất đáng thương, và càng thêm thương cảm họ.
Liên Sinh Thánh Tôn sẽ tiếp tục viết sách, dùng sách để khuyên dạy họ, muốn họ thực sự lĩnh hội được thân người khó có được, chư pháp vô thường vô ngã. Đặc biệt là đạo lý "Không", nếu như hiểu được đạo lý Không, tâm họ tự nhiên sẽ an định, như vậy mới có thể quét sạch những chướng ngại trong tâm họ.
Vô sở trụ, phát bồ đề tâm, đây là hai yếu niệm được nhắc đi nhắc lại.
Hỏi: Giả như có người hỏi về vấn đề truyền thừa của Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp, nên trả lời như thế nào?
Đáp: Vấn đề này đã được giải thích nhiều lần, nay xin giải thích lại như sau:
Trong Phật giáo, sự thành lập một giáo phái có một số yếu tố. Thứ nhất, truyền thừa của Chân Phật Mật Pháp do Liên Sinh Thánh Tôn khai sáng, Ngài là bậc đại thành tựu hiện tại, nhờ thiền định và những phương pháp phi thường khác mà ngộ rõ tất cả, trực tiếp được: Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký. A Di Đà Phật phó thác. Di Lặc Bồ Tát đội mũ đỏ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền Mật pháp.
Đây là truyền thừa trực tiếp, và là truyền thừa đặc biệt, truyền thừa đặc biệt này do Liên Sinh Thánh Tôn trực tiếp lĩnh nhận, từ đó có được văn tự giáo nghĩa, giáo bản, nghi quỹ.
Trong truyền thừa đặc biệt này, Liên Sinh Thánh Tôn chính là một vị Rinpoche (Hoạt Phật) tái thế tầng lớp cao, nguồn gốc của Ngài chính là: Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật.
Liên Sinh Thánh Tôn đã trải qua sự thử thách của những khổ nạn gian nan lâu dài mới đạt được đại thành tựu. Ngài từ Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo mà đạt được Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn. Quả địa của Chân Phật Mật Pháp chính là Ma Ha Song Liên Trì, pháp tu trì đặc biệt của nó chính là Liên Hoa Đồng Tử Kim Cang tương ứng pháp.
Thứ hai, Liên Sinh Thánh Tôn hoằng truyền Chân Phật Mật Pháp khắp toàn thế giới, ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Úc, Châu Phi, Châu Á đều có đạo tràng, thậm chí ở Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Sri Lanka, Thái Lan - những quốc gia Phật giáo này cũng đã thành lập đạo tràng, chỉ trong vài năm ngắn ngủi, đã thiết lập trung tâm hoằng pháp mang tầm thế giới, đây chính là sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp.
Liên Sinh Thánh Tôn được các vị Lama Pháp Vương giám định và ấn chứng là Hoạt Phật. Hơn hai mươi vạn đệ tử công nhận là Hoạt Phật. Chính phủ tiểu bang Washington Hoa Kỳ trao giải thưởng danh nhân, công nhận là Hoạt Phật.
Liên Sinh Thánh Tôn là quyền uy tinh thần tối cao của phái Chân Phật Tông.
Thứ ba, Liên Sinh Thánh Tôn được gọi là Hồng Quán Thánh Miện, chiếc mũ đỏ này là vương miện mà Di Lặc Bồ Tát sử dụng, sau đó dâng tặng cho Liên Sinh Thánh Tôn, đây chính là mũ báu của giáo chủ, là biểu tượng của quyền uy tinh thần, chiếc mũ đỏ nguyên thủy ở nơi Di Lặc Bồ Tát, tại nội viện cung trời Đâu Suất, đây là mũ báu tượng trưng quyền uy của phái Chân Phật Tông.
Thứ tư, sự thù thắng của phái Chân Phật Tông, truyền thừa này có vinh dự đặc biệt, trong số những người đến quy y không chỉ có các vị pháp sư xuất gia, mà cả các mục sư, linh mục của các tôn giáo khác cũng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật. Và những vị Hoạt Phật Tây Tạng mang thân phận Hoạt Phật cũng có nhiều người đến quy y, như Đạt Thừa Hoạt Phật, Khước Khắc Thoát Cát Hoạt Phật, Tát Ca Cát Mã Hoạt Phật, Bổn Lạp Hoạt Phật, Hạ Khắc Đức Cách Hoạt Phật, Giai Nhiếp Hoạt Phật......, bao gồm các Phật gia của Hồng giáo phái Nyingma, Hoàng giáo phái Gelugpa, Bạch giáo phái Kagyupa, Hoa giáo phái Sakya. Phái Chân Phật Tông là Mật tông, vì Mật pháp của nó là tu pháp Mật tông, đặc biệt thù thắng nhất là truyền thừa vĩ đại này cũng có nhiều vị tông trưởng của Mật tông đến quy y.
Bởi vì phái Chân Phật Tông có sáu chữ "thật":
- Độ thế thật - Liên Sinh Hoạt Phật vì độ chúng sinh, dù phải thịt nát xương tan cũng không quản, có thề nguyện lớn.
- Ghi chép thật - Việc soạn viết của Liên Sinh Hoạt Phật từ khi sơ cơ học đạo đến học Phật, toàn bộ kinh nghiệm đều có trong sách.
- Tâm yếu thật - Tâm đắc học pháp của Liên Sinh Hoạt Phật được trình bày hoàn toàn đầy đủ.
- Thần thông thật - Liên Sinh Hoạt Phật thần thông tự tại, diễn hóa kỳ tích, đầy đủ thần thông trí tuệ.
- Hàng phục thật - Liên Sinh Hoạt Phật hàng ma hàng long hàng phục ngoại đạo tà thần.
- Mật pháp thật - Liên Sinh Hoạt Phật quảng truyền Chân Phật Mật Pháp, khiến chúng sinh tức thân thành Phật.
Dưới đây là bản chụp chế bản thư quy y của các vị tông trưởng Mật tông quy y phái Chân Phật Tông:

Hỏi: Liên Sinh Thánh Tôn quả thật phi phàm, vì sao có thể khiến các vị Hoạt Phật và tông trưởng Mật tông đều quy y phái Chân Phật Tông?
Đáp: Bởi vì mười phương ba đời tất cả chư Phật Bồ Tát cùng chứng minh Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Đại Trì Minh Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Tôn Giả là Kim cương Thượng sư mười đức. Mười đức này là biểu trưng của Kim cương Thượng sư chân chính:
- Thông hiểu Hiển pháp, Mật pháp.
- Có ba tuệ viên mãn.
- Có chứng đắc đại thần thông.
- Kiên nhẫn, có trước có sau.
- Thứ tự pháp không sai lầm.
- Tất cả vì chúng sinh.
- Hoàn toàn phù hợp Phật lý.
- Tinh thông tất cả kinh luận.
- Trí tuệ vô thượng.
- Nội minh phát quang, thực tu chứng đắc.
Hỏi: Chúng ta quán tưởng Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn như thế nào?
Đáp: Ngồi kiết già trước tượng pháp tướng của Căn bản Thượng sư trên mật đàn, dần dần buông xả mọi cảnh giới, sau đó khiến tâm an trú.
Quán tưởng có tám con sư tử cùng nâng tòa báu đính ngọc châu báu, trên tòa báu phủ thiên y của cõi trời, trên thiên y có một đóa hoa sen nghìn cánh, trên hoa có nguyệt luân nằm ngang, trên nguyệt luân ngự tọa Căn bản Thượng sư Liên Sinh Thánh Tôn, đầu đội mũ miện đỏ Ngũ Phật có hai dải rủ xuống hai bên, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm chuông kim cang, dung mạo trang nghiêm như Phật, ánh mắt đầy từ bi, thân có mười ba thứ vật trang sức cát tường, thân đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, tâm có pháp hỷ, thân phóng ánh sáng vô tận.
Hỏi: Chúng ta học một pháp là tốt, hay học nhiều pháp là tốt?
Đáp: Nếu bạn mong muốn viên chứng Phật đạo, bạn không cần tu học nhiều pháp môn, chỉ cần một pháp môn đi sâu vào là đủ. Một tức là tất cả.
Nếu bạn mong muốn viên chứng Phật đạo, rồi làm Thượng sư giảng dạy thì cần phải tham học nhiều pháp môn, tùy theo căn cơ mà giáo hóa, như vậy cần học thêm nhiều điều, nỗ lực vì phúc lợi của người khác. Tất cả tức là một.
Nếu muốn vì tất cả chúng sinh thành tựu vô thượng Phật đạo thì cần đầy đủ trí huệ, đầy đủ tám vạn bốn nghìn pháp môn, từng pháp tương ứng, từng pháp phát bồ đề tâm. Đại Thủ Ấn. (tự thân giải thoát) Đại Viên Mãn. (ta và người giải thoát) Đại Viên Thắng Huệ. (tận hư không, khắp pháp giới)
10. Tâm đắc về nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp
Hỏi: Sự rộng lớn của Chân Phật Mật Pháp như thế nào?
Đáp: Hành giả Chân Phật tu Chân Phật Mật Pháp không nên cho rằng đây là pháp nhỏ bé thấp kém, bởi vì từ Tứ gia hành đến Vô Thượng Mật đều đã được tổng trì.
Có: Tổng trì nghĩa. Vô lượng nghĩa.
Hai nghĩa này có trong đó, có thể nói Chân Phật Mật Pháp thù thắng vi diệu, như ngọc mani, viên mãn tất cả mọi sự thù thắng, cho đến vô thượng bồ đề, công đức hào tướng Như Lai.
Hỏi: Chân Phật Mật Pháp lợi tha tu như thế nào?
Đáp: Hành giả Chân Phật tu pháp lợi tha, cần dùng tư duy quan sát, thường nghĩ thân nhân bạn bè ở bên cạnh cùng tu pháp. Khi bản thân ngồi kiết già tại đàn thành, cũng nghĩ thân nhân bạn bè ngồi tại đàn thành, hoặc tất cả chúng sinh hữu tình ngồi tại đàn thành, vây quanh bao bọc, trùng trùng vô tận. Mà chư Phật mười phương ba đời đều phóng ánh sáng đến chiếu soi hành giả cùng thân nhân bạn bè hoặc tất cả chúng sinh hữu tình, đây chính là tu pháp lợi tha đại từ đại bi, tu pháp như thế này vượt xa hơn một người tu riêng.
Tu pháp lợi tha này chứa đựng chân nghĩa của tứ vô lượng tâm:
- Từ - Hy vọng chúng sinh đều được khai ngộ, hoàn toàn đạt đến bờ bên kia, ở Tây phương Cực Lạc thế giới.
- Bi - Hy vọng chúng sinh đều thoát khỏi biển khổ, mọi người đều có thể lìa khổ.
- Hỷ - Thấy người khác thân tâm vui vẻ tự tại, chính mình cũng hoan hỷ.
- Xả - Nhìn chúng sinh như cha mẹ, không có tâm thiên vị hoặc tâm căm ghét, trở thành chúng sinh bình đẳng.
Hỏi: Tu hành Chân Phật Mật Pháp, làm thế nào để không thoái chuyển đạo tâm?
Đáp: Không thoái chuyển đạo tâm này cũng vô cùng khó khăn, nhưng hãy xem nguyện lực của hành giả Chân Phật có thể vĩnh hằng chăng? Hãy xem bồ đề tâm của hành giả Chân Phật có thể kiên cố chăng?
Năm nguyện lớn là: Chúng sinh vô biên thề nguyện độ. Phúc trí vô biên thề nguyện tập. Pháp môn vô biên thề nguyện học. Như Lai vô biên thề nguyện làm. Bồ đề vô thượng thề nguyện chứng.
Mà phát bồ đề tâm chính là hướng lên cầu Phật đạo, hướng xuống hóa độ chúng sinh.
Hành giả Chân Phật thường trì một câu chú: "Ôm bô-đi-chi-ta pê-cha sa-ma-ya hùm pây." Chú này là gia trì hành giả không còn thoái chuyển, nếu chuyên trì chú này có thể nhập bất thoái địa, nhanh chóng viên mãn chính giác. Chú này khiến hành giả Chân Phật được tam muội kim cang quang minh chiếu thân, thân tâm được thanh tịnh quang, vạn hạnh đầy đủ, tâm hành vô cùng kiên cố, cho nên không thoái chuyển.
Hỏi: Chân Phật Mật Pháp sinh ra pháp lực từ đâu?
Đáp: Pháp lực của Chân Phật Mật Pháp như sau:
- Gia trì lực của Căn bản Thượng sư - tức là pháp lực bí mật truyền thừa.
- Gia trì lực của Căn bản Bổn tôn - tức là pháp lực bí mật công đức của Bổn tôn.
- Pháp giới lực - pháp lực bí mật pháp lưu biến khắp thế giới mười phương.
- Hộ pháp lực - pháp lực bí mật của Kim cang Không hành hộ trì tông phái Chân Phật.
Hành giả Chân Phật khi nghĩ nhớ Căn bản Thượng sư, khi trì tụng chú Bổn tôn, khi trong thiền định nhập Tam ma địa, khi làm pháp hộ thân liền sinh ra bốn pháp lực này, bốn đại pháp lực này có thể biến khắp trọn vẹn toàn thế giới, hành giả Chân Phật niệm mà cầu đều được lợi ích.
Hỏi: Làm thế nào để biết nghiệp chướng của bản thân đã được thanh tịnh?
Đáp: Nghiệp chướng của hành giả Chân Phật đã được chuyển hóa thành thanh tịnh, những dấu hiệu này đã được Liên Sinh Thánh Tôn luận giải chi tiết trong các tác phẩm, tối thiểu là phải có: Thân thể khinh an. Giấc ngủ thiện lành. Sức khỏe tốt đẹp. Tư duy sáng tỏ. Chứng ngộ khai thông.
Khi thiền định nhập Tam ma địa, dòng chảy ánh sáng của pháp tiến nhập thân tâm, từ vô thủy đến nay tất cả nghiệp chướng tích lũy đều trọn vẹn chảy ra ngoài thân thể, muôn tội cấu đều tiêu trừ, phúc huệ đều viên mãn.
Hành giả Chân Phật trong tu pháp tự biết ánh sáng trong trẻo, dòng chảy pháp như sữa như nước gột tẩy bản thân và pháp giới, tự biết tươi mát tự tại.
Đây chính là tương ứng.
Hỏi: Niệm chú theo cách nào là tốt nhất?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, trì tụng chân ngôn tùy theo thói quen của hành giả là phù hợp, thông thường có năm cách:
- Liên hoa niệm tụng - âm thanh nhỏ.
- Kim cang niệm tụng - lưỡi khẽ động.
- Tam ma địa niệm tụng - Chuyên chú vào chữ chú trên nguyệt luân trong tâm.
- Thanh sinh niệm tụng - Trong tâm hiện ra hoa sen, trên hoa sen có ốc trắng phát ra âm thanh.
- Quang minh niệm tụng - Quán tưởng miệng phát ra chữ chú, chữ chú hiện ra ánh sáng.
Niệm tụng chân ngôn, chỉ cần nắm bắt được diệu lý của nó thì có thể sinh ra pháp lực, điều quan trọng là phải rõ ràng đi vào tai và in vào tâm, không để tâm hồn tán loạn, ví dụ như Tam ma địa niệm tụng, quang minh niệm tụng, thanh sinh niệm tụng, phải quán tưởng rõ ràng từng chữ một, nói ngắn gọn là chữ chú cùng với thân khẩu ý của hành giả Chân Phật hợp lại thành một thể, đây là công phu tâm trụ nơi chú. Như vậy, chữ chú ấy có thể thu về vô lượng nghĩa lý.
Hỏi: Tu pháp lấy gì làm chủ? Quán tưởng lấy gì làm chủ?
Đáp: Câu hỏi này có rất nhiều người hỏi, câu trả lời cụ thể là: Tu pháp lấy tâm làm chủ. Quán tưởng lấy bồ đề tâm tướng làm chủ.
Cần biết rằng trong tam giới, tất cả tu hành đều lấy tâm làm chủ. Người có thể quán bồ đề tâm có thể rốt ráo giải thoát, người không thể quán bồ đề tâm mãi mãi ở trong ràng buộc. Vì vậy người tu pháp hoàn toàn là tu cái tâm này, mà tâm có thể tự chủ hành vi của hành giả, cho nên còn gọi là tu hành.
Sự thật là tu pháp và quán tưởng đều lấy tâm làm chủ. Phải tu nhập vào tâm là được.
Hỏi: Muốn tu nhập vào tâm, cần phải có ý niệm gì?
Đáp: Chúng ta hành giả Chân Phật cần phải thường tư duy như sau:
Nhân quả báo ứng, mảy may không sai. Tất cả ác nghiệp là nguyên nhân độc hại dẫn đến thế giới bước vào bóng tối. Đối với ác nghiệp phải thận trọng đừng tạo.
Danh dự là không. Tiền tài là không. Dù bạn giàu sang đến đâu, một khi chữ "chết" đến, ngay cả một hạt cát cũng không mang đi được, ngay cả một món đồ cũng không mang đi được.
Thê thiếp xinh đẹp là không. Con cái là không. (Các pháp là không thực, như huyễn.)
Trong lục đạo luân hồi hoàn toàn là tự mình tạo tự mình chịu, một mình gánh chịu, tuyệt đối không có sự thay thế.
Hành giả Chân Phật phải thường xuyên tư duy như vậy, một cách rất tự nhiên có thể tu nhập vào tâm, dần dần tăng trưởng định lực, sẽ không còn có suy nghĩ phạm ác nghiệp nữa.
Đối với tất cả danh lợi sẽ không còn chấp trước, đối với việc cầu lợi, cầu danh, thê thiếp tiền tài con cái địa vị có thể xem nhẹ nhìn thấu buông bỏ, thuận theo tự nhiên. Đối với tu hành sẽ không có tâm ỷ lại. Như vậy, có thể tu nhập vào tâm, đạt được thành tựu.
Hỏi: Pháp quán tưởng có rất nhiều loại, hành giả Chân Phật nên chọn loại nào là phù hợp?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng việc luyện tập pháp quán tưởng vẫn do hành giả Chân Phật tự mình lựa chọn mới là đúng, bởi vì thói quen của mỗi hành giả Chân Phật không nhất định giống nhau.
Quán đếm hơi thở, quán bất tịnh, quán duy thức, quán pháp giới, quán chủng tử tự, quán mandala, quán 16 điểm của cõi tịnh thổ, quán ngũ tướng thành thân, quán chữ Ah, quán nguyệt luân, quán diệu âm, quán Bổn tôn, quán nhập ngã, quán ngã nhập, quán ngũ tự nghiêm thân......
Những pháp quán này có thể tự mình lựa chọn phù hợp để luyện tập, chọn một pháp mà tu chắc. Nhưng trước khi quán tưởng, Liên Sinh Thánh Tôn hy vọng hành giả trước tiên ngồi thẳng lưng ngay ngắn, điều hòa hơi thở, có thể dùng Cửu tiết Phật phong để làm cho tinh thần của mình tập trung, tinh thần đã tập trung thì dễ dàng tu quán nhập định.
Người có trí tuệ cao, có thể tu tập pháp quán tưởng phức tạp và đa tầng. Người có trí tuệ thấp, có thể tu tập pháp quán tưởng đơn giản và thuần nhất.
Mục đích của tu quán nhập định, vẫn là vọng tưởng không sinh, có thể khiến thân tâm thanh tịnh, thành tựu quán bồ đề tâm, thành Phật tam muội, đây là du già vô thượng bí mật. Đặc biệt là đạt đến vô trụ vô niệm, đạt đến vô giác, tiến nhập biển thực tướng Bát nhã Ba la mật, hiển phát tự tính, đây là: Trong suốt và thanh tịnh. Ánh sáng khắp hư không.
Hỏi: Tu quán nhập định, ngoài ngồi, có thể thể hiện ở đi đứng nằm không?
Đáp: Chúng ta hành giả Chân Phật, trước tiên tu đàn pháp, cũng chính là trước tiên thiền tọa nhập định tu quán, lâu dài tu tập như vậy, tích công phu lâu rồi thì mở mắt là pháp giới, nhắm mắt cũng là pháp giới, tự thân với pháp giới không hai, cũng chính là dẫn Bổn tôn vào trong thân mình, thân mình hợp với pháp giới Bổn tôn. Thành tựu phép quán này thì đi, đứng, ngồi, nằm đều là tam muội. Ngay lúc ấy cắt đứt phiền não, giải thoát tất cả, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, tức thân thành Phật!
Hỏi: Trong tam muội tu quán nhập định có lợi ích gì?
Đáp: Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng, bất kỳ hành giả nào chỉ cần trong định của mình, tất sẽ sinh ra ba công đức lợi ích lớn:
Thứ nhất, trụ vững trong pháp hỷ - Trong định sẽ sinh ra thiền lạc, vị thiền này đậm đà, chính là diệu lạc vô thượng, như vậy thân tâm và hành vi đều được đại điều hòa.
Thứ hai, thần thông du hí - Trong định sẽ sinh ra thần thông, sáu đại thần thông này hoàn toàn đầy đủ, tạo thành sản phẩm phụ của thiền định tĩnh lặng, tạo thành một loại pháp lực của bậc thánh nhân để độ chúng sinh.
Thứ ba, Yết Ma thành tựu - Vì độ chúng sinh, trong định chuyển pháp luân, có thể trợ giúp người khác tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, lợi ích chúng sinh, do đó khiến chúng sinh phát tâm quy y học Phật.
Hỏi: Ý nghĩa của hồi hướng là gì?
Đáp: Sau khi tu quán nhập định xong, hồi hướng là một loại phát nguyện, cũng có hồi hướng chỉ cầu lợi cho chính mình, hoặc là lợi cho người khác, thông thường là: Nguyện đem công đức này. Phổ cập cho tất cả. Chúng con cùng chúng sinh. Đều cùng thành Phật đạo. Văn hồi hướng còn gọi là văn phát nguyện, có thể tự mình soạn thảo, phù hợp là được.
11. Kalu Rinpoche tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật
Thượng sư Kalu Rinpoche có thành tựu tu tập thực hành cao nhất trong Phật giáo Tây Tạng, hiện nay 85 tuổi, ngài đã chuyển gửi cho Liên Sinh Hoạt Phật một lá thư cùng ba món quà vào ngày 7 tháng 1 năm 1989, ba món quà này như sau:
- Một bức pháp tướng có chữ ký tay của Kalu Rinpoche.
- Một chiếc khăn khata.
- Một bức ảnh chụp Kalu Rinpoche đang cung kính cầm một tấm ảnh chụp pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật.
Nay xin trình bày nội dung thư của ngài như sau:
-
Chúng ta biết nhau.
-
Trên thế giới, Liên Sinh Hoạt Phật là người dùng tiếng Hoa hoằng pháp độ chúng sinh, thực tu Mật pháp, là bậc thành tựu giả cao nhất. Tức là Liên Sinh Hoạt Phật là bậc thành tựu giả cao nhất trong việc thực tu Mật pháp trong số người Hoa.
-
Nếu không có sự hoằng pháp viết sách của Liên Sinh Hoạt Phật, việc phát dương Mật tông ra toàn thế giới không thể truyền bá nhanh như vậy. Chúng sinh vô cùng may mắn, dưới bầu trời này xuất hiện một vị Thượng sư hoàn mỹ như vậy. Người đời cần phải tôn sư, trọng pháp, thực tu, Mật pháp của Liên Sinh Hoạt Phật nhất định có thể khiến người ta đạt được đại thành tựu.
-
Tôi (Kalu Rinpoche), dùng hai tay cung kính cầm pháp tướng của Liên Sinh Hoạt Phật, là tôn sùng Liên Sinh Hoạt Phật, giống như dùng hai tay cúng dường Phật vậy.
-
Tôi (Kalu Rinpoche) sẽ dâng lên Liên Sinh Hoạt Phật pháp tướng có chữ ký tay của tôi cùng khăn khata, cộng thêm bức ảnh tôi cung kính cầm pháp tướng Liên Sinh Hoạt Phật, cầu nguyện Liên Sinh Hoạt Phật thường trụ thế gian, vĩnh viễn không nhập Niết-bàn, vĩnh viễn trường thọ.
(Trên đây là lời tôn sùng và hỏi thăm của Kalu Rinpoche.)
Xin giới thiệu về Kalu Rinpoche như sau:
Kalu Rinpoche, hiện nay 85 tuổi, là hóa thân của Jamgon Kongtrul, vị Thượng sư - học giả vĩ đại nhất trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, còn truy nguyên về nguồn gốc tối thượng thì là hóa thân của tôn giả A Nan.
Kalu Rinpoche từ 25 tuổi đã từng bế quan tu hành 13 năm, và trong suốt cuộc đời ngài tiếp tục khổ tu. Ngài được người Tây Tạng và chúng sinh trên thế giới vô cùng tôn kính, được tôn vinh là một trong số ít những bậc thành tựu giả thực tu còn sót lại hiện nay, có thể gọi là "Thượng sư trong các Thượng sư", là một vị lãnh tụ tinh thần của Mật tông, giống như vị trí chính trị của Đức Dalai Lama trong tâm trí người Tạng. Ngài vừa chào đời thì miệng đã tụng lục tự đại minh chân ngôn, nhìn bốn phương, rạng rỡ mỉm cười.
Trong thiền định của mình, ngài lên cõi trời xem múa, nghe người khác bàn luận về mình. Ngài tiên tri rằng mình sẽ viên tịch tại Saje (Sonada), rồi tái sinh thêm một đời nữa, từ đó về sau sẽ không trở lại thế giới Ta Bà này nữa.
Kalu Rinpoche, gần 20 năm qua, đã đi khắp thế giới hoằng pháp, kết duyên, đào tạo vô số đệ tử, đồng thời thành lập 48 trung tâm tu tập, khiến Tạng mật tỏa sáng rực rỡ ở châu Âu và châu Mỹ.
Kalu Rinpoche nói: "Tất cả vạn pháp thế gian, mọi hiện tượng sinh diệt không ngừng xung quanh chúng ta, bản chất đều hư huyễn, không có tự thể độc lập. Xét về phương diện được cảm nhận, chúng quả thực tạo ra các cảm thọ khổ, vui không đồng đều, nhưng xét về bản chất, tất cả đều biến huyễn vô thường. Những loạn tượng này chính là nguồn gốc của khổ đau trong luân hồi sinh tử. Một khi chúng ta giác ngộ rằng tất cả những hiện tượng này rốt cuộc đều như mộng huyễn, thì quan niệm chấp trước cho là thật sẽ tự khắc tan biến."
Kalu Rinpoche từ ngày 10 tháng 12 đến ngày 28 tháng 12 năm 1988 tại California, Hoa Kỳ đã hoằng truyền: Đại Thủ Ấn - Tâm tính. Luận về con mắt thứ ba. Quán đảnh trung ấm - Bổn tôn tịch tĩnh và Bổn tôn phẫn nộ. Mật tục và Mật chú. Quán đảnh Ngũ Đại Kim Cang. Quán đảnh Mahakala Trắng.
Pháp tướng và chữ ký tay của Kalu Rinpoche như sau:


12. Nghi quỹ phát bồ đề tâm giới
Hỏi: Chân Phật Mật Pháp có nghi quỹ "Phát Bồ Đề Tâm Giới" không?
Đáp: Có. Xin trình bày nghi quỹ "Phát Bồ Đề Tâm Giới" như sau:
Đệ tử ABC, kính đảnh lễ quy mệnh, khắp hư không pháp giới, mười phương các Như Lai, Chân Phật Du già Tổng Trì giáo, và các đại Bồ Tát, cùng lễ bồ đề tâm, có thể viên mãn phước trí tụ, nay được vô thượng giác, vì vậy kính đảnh lễ.
Chân ngôn lễ Phật là: Ôm sa-mô ta-tha-nia-tua pô-na man man-na nan-kya lu-mi. (Đại lễ bái) Kế đó nên vận tâm cúng dường (kết ấn cúng dường). Đệ tử ABC v.v. Mười phương hết thảy chùa, tất cả các cúng dường, hoa man đèn hương xoa, ẩm thực tràng phan lọng, thành tâm con phụng hiến, chư Phật đại Bồ Tát, cùng các vị thánh hiền, con nay chí tâm lễ.
Chân ngôn phổ cúng dường Hư Không Tạng: Ôm yê-yê-nang san-pô-mô mô-rư-la hùm. (giải ấn)
Kế đó nên sám hối:
Đệ tử ABC Đối trước mười phương Phật Cùng đại Bồ Tát chúng Từ thuở quá khứ xa Vô thủy trôi luân chuyển Cho đến tận hôm nay Mê muội tính chân như Khởi phân biệt hư vọng Tham sân si các ác Ba nghiệp đủ phiền não Lại theo các tùy hoặc Trái phạm tội thù thắng Cùng các tội lỗi khác Phỉ báng Phật pháp tăng Xâm đoạt của Tam Bảo Rộng tạo tội vô gián Vô lượng vô biên kiếp Không thể nhớ tính kể Tự làm, dạy người làm Thấy nghe và vui theo. Nay nương thắng nghĩa đế Lý chân thật vi diệu Đem mắt thánh trí quán Ba đời trước giữa sau Đều không có sở đắc Do tự tâm phân biệt Hư vọng chẳng chân thật Lấy đó làm phương tiện Bình đẳng như hư không Con nay đều sám hối Thề chẳng dám che giấu Từ nay đã hối rồi Mãi dừng không làm nữa Cho đến thành Chính Giác Rốt ráo chẳng trái phạm Nguyện mười phương chư Phật Cùng tất cả Bồ Tát Xót thương mà gia hộ Nay tội chướng con diệt Vì thế chí tâm lễ.
Chân ngôn sám hối diệt tội: Ôm sa-mô-pô pô-na-hưa nang-mô-rư-la yê sô-ha.
Kế đó nên thọ tứ quy y: Quy y Chân Phật Kim cương Thượng sư.
Đệ tử ABC Từ hôm nay trở đi Quy y các Như Lai Năm trí ba thân Phật Quy y Kim cương thừa Pháp tính chân như ấy Quy y hàng Bồ Tát Đại bi không thoái chuyển Quy y Tam Bảo rồi Không quy y thêm nữa Các đường tà tự lợi Nay con chí tâm lễ.
Chân ngôn tứ quy y: Ôm pu-chien.
Kế đó nên thọ bồ đề tâm:
Đệ tử ABC Tất cả Phật Bồ TÁt Kể từ nay về sau Đến khi thành Chính Giác, Thề phát tâm bồ đề Hữu tình vô biên thề nguyện độ, Phúc trí vô biên thề nguyện gom, Phật pháp vô biên thề nguyện học, Như Lai vô biên thề nguyện làm, Vô thượng bồ đề thề nguyện thành. Nay giác tâm đã phát Xa lìa các tính tướng, Năm uẩn, mười tám giới, Năng thủ với sở chấp Các pháp đều vô ngã, Bình đẳng như hư không. Tự tâm vốn chẳng sinh, Tính Không tròn lặng vậy. Như chư Phật Bồ Tát, Phát tâm bồ đề lớn, Con nay cũng như thế, Cho nên chí tâm lễ.
Kế đó tụng chân ngôn thọ bồ đề tâm giới: Ôm mao-ti-chi tua-mu-ta-pô na-yê-mi.
Văn sám hối dạy phát bồ đề tâm giới tối thượng thừa:
Đệ tử ABC quy mệnh mười phương tất cả chư Phật, chư đại Bồ Tát. Đại bồ đề tâm làm đại đạo sư. Có thể khiến con lìa các ác thú. Có thể chỉ người trời nhập đại Niết-bàn, vì vậy con nay chí tâm đảnh lễ.
Đệ tử ABC, mười phương thế giới tất cả tối thắng thượng diệu hương hoa tràng phan lọng. Các thứ cúng dường phụng hiến tất cả chư Phật Bồ Tát. Chí tâm đảnh lễ.
Đệ tử ABC, từ quá khứ vô thủy cho đến hôm nay, các thứ phiền não như tham sân si. Cùng các phiền não như phẫn nộ oán hận theo đó. Phiền loạn thân tâm. Rộng tạo tất cả thân nghiệp bất thiện. Sát đạo tà dâm, khẩu nghiệp bất thiện. Vọng ngôn ỷ ngữ ác khẩu hai lưỡi, ý nghiệp bất thiện. Tham sân tà kiến các thứ phiền não. Vô thủy liên tục triền miên nhiễm tâm này. Khiến thân khẩu ý tạo tội vô lượng. Hoặc giết cha mẹ. Giết A La Hán. Làm thân Phật chảy máu. Phá hòa hợp tăng. Phỉ báng Tam Bảo. Đánh trói chúng sinh. Phá trai phá giới. Uống rượu ăn thịt. Và ăn ngũ tân. Những tội như thế. Vô lượng vô biên. Không thể đếm biết. Con nay thành tâm phát lộ sám hối. Sám hối xong rồi. Sẽ không tiếp tục. Càng không dám tạo. Chỉ mong mười phương tất cả chư Phật đại Bồ Tát. Gia trì hộ niệm. Khiến con tiêu diệt các tội chướng.
Đệ tử ABC, từ nay cho đến khi ngồi đạo tràng bồ đề. Trong khoảng thời gian ấy quy y ba thân Như Lai vô thượng. Quy y phương quảng đại thừa pháp tạng. Quy y tất cả bất thoái Bồ Tát tăng. Quy y Phật rồi. Quy y pháp rồi. Quy y tăng rồi. Từ nay về sau. Không quy y thêm nhị thừa ngoại đạo. Chỉ nguyện mười phương tất cả chư Phật chứng biết. Con chí tâm đảnh lễ. Đệ tử ABC, từ nay cho đến khi ngồi đạo tràng bồ đề, trong khoảng thời gian ấy thề phát đại bồ đề tâm vô thượng.
Hữu tình vô biên thề nguyện độ Phúc trí vô thượng thề nguyện tập Pháp môn vô thượng thề nguyện học Như Lai vô biên thề nguyện làm Vô thượng bồ đề thề nguyện thành.
Nay đã phát tâm này. Lại nên xa lìa hai tướng ngã-pháp. Hiển bày bản giác chân như bình đẳng gương trí hiện tiền.
Được thiện xảo trí đầy đủ. Viên mãn tâm Phổ Hiền. Chỉ nguyện mười phương tất cả chư Phật chư đại Bồ Tát chứng biết chúng con. Chí tâm đảnh lễ. Nam mô Đông phương A Súc Phật. Nam mô Nam phương Bảo Sinh Phật. Nam mô Tây phương A Di Đà Phật. Nam mô Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật. Nam mô Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. Nam mô Liên Sinh Thánh Tôn Kim Cương Thượng Sư.
Hồi hướng phổ lợi: (3 lần) Kim cương con đây hạnh Phổ Hiền thù thắng Vô biên thắng phúc đều hồi hướng Nguyện cho hết thảy các chúng sinh chìm đắm Mau đến cõi Phật Vô Lượng Quang.
Cát tường viên mãn.
(Hết.)