Chuyển tới nội dung chính

123. Sao băng và cây phong đỏ

Sao băng và cây phong đỏ

🪷 Tĩnh tâm để suy ngẫm

Văn tập: 123 Xuất bản: 06/1997 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam


Mục lục

Lời mở đầu

Tôi thường nhìn lên bầu trời, đó đã trở thành một thói quen, luôn cảm thấy bầu trời mang đến cho tôi vô vàn liên tưởng bất tận. Bầu trời bao la và tĩnh lặng.

Vì thường nhìn lên trời, bạn sẽ thấy được sao băng, và khi nhìn thấy sao băng, bạn sẽ giơ tay chỉ về hướng đó, nhìn kìa! Sao băng!

Không có bất kì âm thanh nào, tất nhiên là không nghe được rồi, sao băng ở nơi xa xôi bên ngoài bóng đêm, chỉ trong thoáng chốc, kéo theo ánh sáng thành một đường thẳng rơi xuống, rồi biến mất, cảm giác này, thật khiến người ta bối rối!

Hồi nhỏ, tôi nghe người ta nói khi nhìn thấy sao băng có thể ước một điều ước, bản thân tôi đã quên mất dưới những vì sao băng, tôi đã ước bao nhiêu điều. Gần đây, tôi càng ngày càng thích sao băng, không phải vì chuyện ước nguyện, mà là, chỉ cần nhìn thấy sao băng, trong lòng đã có một cảm giác rung động.

Cảm giác rung động đó là một loại cảm xúc, cảm thấy thời gian thật sự trôi qua rất nhanh, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm, đều như sao băng. Cảm thấy đã từng vượt qua bao biển cả! Cảm thấy nhiều chuyện đều đã rất xa xôi rồi! Cảm thấy ánh chớp lửa đá! Còn nữa, cảm thấy phóng khoáng!

Nhìn thấy sao băng, tôi thích, không vì lý do gì cả, chỉ là thích trong tâm hồn bao la và tĩnh lặng, tìm kiếm khoảnh khắc linh cảm chớp nhoáng đó!

Tôi cũng từng nhìn thấy mưa sao băng. Nhiều vì sao băng lần lượt rơi xuống, thật là phi thường! Người bạn thời niên thiếu nói: "Sao vậy!" Tôi nói: "Thật là vô thường!"

Tôi nghĩ rằng hồi đó khi nhìn thấy mưa sao băng mà có thể nói hai chữ "vô thường", phải chăng tôi đã trưởng thành sớm!

Ngoài sao băng ra, tôi còn thích ngắm lá phong đỏ, chúng ta biết rằng đất nước của lá phong là Canada, còn tôi sống ở Seattle, rất gần Canada, nghe nói, lá phong ở thắng cảnh Nikko của Nhật Bản cũng rất đẹp.

Tôi sống ở sơn trang Cầu Vồng, tôi nhờ Thượng sư Liên Ấn đi mua cây phong đỏ, tôi muốn biến sơn trang Cầu Vồng thành sơn trang Lá Phong. Tôi nói: "Phải là lá phong thật đỏ, thật đỏ."

Seattle có bốn mùa rõ rệt, khi mùa thu đến, lá cây chuyển vàng, còn lá phong chuyển đỏ, này! Chính là khung cảnh như thế, khiến tôi lặng lẽ đọc từng chiếc lá phong đỏ, tôi thường nói với các đệ tử, đi, đi ngắm lá phong nào, đi ngắm lá phong đỏ nào!

Tôi thực sự rất thích lá phong đỏ, chúng tôi ngắm lá phong đến nỗi phải bật cười, trên thảm cỏ xanh mướt, chúng tôi cùng nhau chia sẻ nụ cười của những chiếc lá phong đỏ.

Đã nhiều năm rồi, mỗi mùa thu, đây là một khoảnh khắc rất đẹp trong cuộc đời, chúng tôi lái xe đi ngắm lá phong đỏ.

Sau mùa lá phong đỏ, lá cây bắt đầu tàn rụng, không trung đầy lá bay, thảm cỏ phủ đầy lá rụng. Lúc này, tuyết đầu mùa sẽ đến.

Tại sao tôi lại thích lá phong đỏ? Chỉ vì màu đỏ ấy, nghe nói khi lá càng đỏ thắm thì càng gần đến lúc tàn rụng, có lẽ chính điều này đã hút hồn tôi, cuộc đời thường khi ở thời khắc rực rỡ nhất, lại được chôn vùi trong đống lá rụng.

Liên tưởng sao băng với lá phong đỏ lại với nhau, chỉ vì ở điểm này, chúng rất giống nhau, ánh sáng của sao băng, màu đỏ của lá phong, tất cả đều là một sự khai sáng, tất cả đều được tạo nên từ sự tích lũy của cả một đời. Khi nhìn thấy sao băng, lòng tôi bay bổng. Khi nhìn thấy lá phong đỏ, lòng tôi cũng bay bổng như thế.

Lúc này, điều tôi muốn nắm bắt là ánh sáng của sao băng, sắc đỏ của lá phong, như thể có một cảm giác rằng, tôi muốn nắm bắt khoảnh khắc linh cảm chớp nhoáng, nắm bắt nó, chỉ cần nắm bắt được nó, tôi sẽ không còn là một người suy tư bị trói buộc nữa. Nắm bắt ánh sáng. Nắm bắt sắc đỏ. Đó chính là sự sống!

Địa chỉ liên hệ của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

Sheng-yen Lu

17102 NE 40th CT REDMOND WA 98052 U. S. A.

01. Hoa tulip trong tâm

Các pháp sư của Seattle Lôi Tạng Tự nói: "Sư Tôn, đi xem hoa tulip đi!" "Hoa tulip ư?"

Họ kể với tôi, ở phía bắc Seattle, cách đó khoảng một tiếng rưỡi lái xe, có một vùng đất rộng lớn, nơi đó nông dân trồng hoa tulip hàng năm, và mỗi năm vào giữa tháng tư, khi hoa tulip nở rộ, thu hút hàng vạn người đến ngắm hoa.

Thế là, vào một buổi sáng chủ nhật, đoàn xe khởi hành. Nơi đó, đúng vào mùa hoa tulip, người và xe cộ rất đông đúc, chúng tôi đi đến vài khu vực trung tâm, tưởng chừng như đang lạc vào một rừng hoa.

Những bông hoa ấy, thật đáng kinh ngạc, hóa ra có tất cả các màu sắc, tôi thực sự đã nhìn thấy hoa tulip đen. Những bông hoa ấy, thật choáng ngợp, trải dài thành từng mảng lớn, nối liền với bầu trời. Những bông hoa ấy, thật xúc động lòng người, bởi vì chúng thực sự mọc rất kỳ diệu, thậm chí trong một bông hoa có đến ba màu, năm màu. Chiếc váy xanh rộng ấy, thân hình thanh mảnh ấy, gương mặt tươi cười ấy, dáng vẻ yêu kiều ấy. Có người nói: "Người đẹp hơn hoa!"

Chúng tôi dạo bước trên cánh đồng rất lâu, khi tôi nhìn những bông hoa tulip, chợt cảm thấy vô cùng bình yên và tĩnh lặng, như thể mọi người đều đã rời đi, vạn vật im lìm, tôi đứng lặng yên, nhìn hoa, dường như đang trò chuyện cùng hoa.

Tôi cảm nhận được, hoa đang cười, hoa đang e thẹn, hoa đang vui mừng, hoa đang im lặng không lời, hoa........

Đi ngắm hoa tulip, cảm giác của tôi rất tuyệt, hoa thật đẹp, hoa thật tĩnh lặng, hoa thật kỳ diệu, và tôi lĩnh hội được: Phong phú! Trọn vẹn! Không thể diễn tả bằng lời!

Đoàn xe của chúng tôi, giữa trung tâm của mùa hoa, đã tản ra, mỗi người về nhà riêng. Khi xe tôi trở về Seattle Lôi Tạng Tự và Chân Phật Mật Uyển, tôi mới nhận ra, khoảng đất trống hai bên cổng Lôi Tạng Tự cũng trồng đầy hoa tulip đủ màu sắc.

Cả khu vườn bên cạnh cổng Chân Phật Mật Uyển cũng trồng đầy hoa tulip. Hoa nở rất rực rỡ, đỏ, vàng, trắng. Trái tim tôi đập nhanh hơn bình thường, có một cảm giác kỳ diệu không thể diễn tả thành lời, như một sự khai thị, thoáng qua trong giây lát!

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn ơi!

Trong Mật giáo: Thượng sư Sakya Chứng Không đã ban cho tôi quán đảnh Kim Cương Acharya. Kalu Rinpoche đã công nhận"tôi. Ông Kháp Khắc Rinpoche đã ban cho tôi tòa Pháp Vương. Đức Giáo chủ phái Hoàng giáo Ganden Tripa đã ban tặng pháp phục của Pháp Vương. Tạp Thừa Rinpoche đã chủ trì đại lễ tọa sàng của tôi. Một trong ba đại tự viện Tây Tạng - Tu viện Drepung, đã mời tôi lên tòa thuyết pháp. .............

Tôi nhận ra rằng, đây là những hoa tulip mà tôi đã phải đi rất xa, hoặc phải tìm kiếm mới có được, đây chỉ là hoa tulip bên ngoài, hoa tulip bề mặt, là hoa tulip của người khác, không phải hoa tulip vĩnh cửu. Trong khi: Seattle Lôi Tạng Tự cũng có hoa tulip. Chân Phật Mật Uyển cũng có hoa tulip.

Lúc này, tôi nhận ra rằng thực ra trong tâm mình, vốn đã có "hoa tulip", tôi đã sớm thiền định đạt được nội lực thâm sâu, các pháp môn Mật giáo như pháp Đại Viên Mãn, pháp Đại Thủ Ấn, pháp Đại Viên Thắng Huệ, pháp Đại Uy Đức, tôi đều đã chứng đắc thành tựu cao nhất. Bồ Tát Di Lặc giáng hạ, cúng dường tôi mũ miện màu đỏ. Mười vạn không hành mẫu trong hư không tán thán!

Tôi nhận ra rằng, bất kì hình thức khen ngợi hay công nhận nào cũng đều không phải là thực tế, có thể nói, ngay cả giải Nobel thế giới cũng không phải là thực tế, sẽ không bao giờ là thực tế, những sự công nhận đó chỉ là bề ngoài, là phụ thêm, là một trò chơi, chỉ là do bạn muốn và người khác trao cho bạn mà thôi.

Những bông hoa tulip bên ngoài chỉ là phần thưởng. Những bông hoa tulip bên ngoài chỉ là ảo ảnh, như trăng trong nước. Những bông hoa tulip bên ngoài chỉ là một ham muốn, thậm chí là ham muốn làm cho mình mù quáng. Cuối cùng tôi đã hiểu ra, bất kì hình thức công nhận nào cũng chỉ là ảo ảnh, điều quan trọng nhất là - hoa tulip trong tâm bạn. Bạn phải tự công nhận chính mình, đó mới là điều chân thực.

Ngày hôm đó sau khi trở về nhà, trong lòng vô cùng bình yên, đó thực sự là một buổi chiều tà đáng yêu, tôi công nhận những bông hoa tulip trong tâm mình.

02. Dòng suối nhỏ bên cạnh bia Long Thần

Bên cạnh chùa Lôi Tạng Tự Seattle, ở bên tay phải, có một bia Long Thần, tảng đá này xuất hiện rất kỳ diệu, chính là tảng đá lớn được lấy ra từ ngọn đồi khi khởi công xây dựng Lôi Tạng Tự, cũng chính là đá do địa linh kết tụ, trên đá có vẽ hình rồng, đó chính là bia Long Thần.

Bia Long Thần phía sau có ba cây thông sừng sững, to lớn hùng vĩ, và quanh cây thông có một dòng suối nhỏ uốn lượn, nếu không chú ý cũng không dễ nhận ra.

Mỗi lần, sau khi cúng dường trước Phật, theo thông lệ, tôi lễ bái điện Địa Tạng, lễ bái chư Thiên, kính lễ Long Thần Hộ Pháp. Mỗi lần, có nhiều pháp sư đi theo tôi.

Một ngày nọ, sau khi viết xong chương sách, tôi lẻn ra khỏi Chân Phật Mật Uyển một mình, nhân lúc các pháp sư không để ý, tôi lẻn đi xem dòng suối nhỏ bên cạnh bia Long Thần.

Tôi cảm thấy, được một mình thật tuyệt!

Dòng suối nhỏ ấy, đầy ắp nước, đang chảy róc rách, nước trong suối, dĩ nhiên là nước mùa xuân và tuyết tan.

Tôi nghe thấy hơi thở của dòng suối, tôi nghe thấy nhịp đập của dòng suối, tôi nghe thấy tiếng thì thầm của dòng suối, tôi nghe thấy bước chân của dòng suối......

Một cảm nhận, tôi ý thức được sự cô đơn của mình, đồng thời cũng ý thức được sự cô đơn của dòng suối nhỏ, lúc này, chỉ có bốn chữ thích hợp: "Một mình tận hưởng."

Dòng suối nhỏ ấy, chảy róc rách, trông thật trọn vẹn, tôi không thể biết được nguồn cội của nó, cũng không thể biết được nó sẽ đi về đâu, nhưng tôi biết rằng: Đến từ nơi cao. Đi về chốn thấp. Uốn lượn rồi lại uốn lượn. Dòng chảy cô đơn.

Tôi nghĩ về bốn câu này, bốn câu rất bình thường, nhưng lại toát ra một sức hấp dẫn, bốn câu này vang vọng trong tâm trí tôi.

Không khí ở đây thật mát mẻ, hai bên dòng suối mọc đầy hoa dại màu vàng, trong không khí có một mùi hương thơm ngát, rất tinh khiết và đậm đà. Tôi một mình bên cạnh ba cây thông khổng lồ, bia Long Thần và dòng suối nhỏ.

Lôi Tạng Tự không có pháp sư nào bước ra, không có pháp sư nào bước vào, không ai theo sau tôi, không ai nói chuyện không ngừng, tất cả đều im lặng, mọi thời gian và không gian, trong một khoảnh khắc, tất cả đều im lặng, bóng mát của cây thông thật dễ chịu. Tôi chỉ nghĩ đến bốn câu. Tôi chợt nhận ra, bốn câu này vừa bình thường làm sao, lại vừa phi thường làm sao.

Sơ tổ Thiền tông - Tổ sư Đạt Ma, ngài từ Thiên Trúc đến Đông Thổ hoằng dương Phật pháp, ngài yêu cầu đệ tử của mình thực hành bốn hạnh: Một, hạnh báo oán - tất cả quả khổ đều do nghiệp tự tạo, tự mình cam tâm chịu đựng. Hai, hạnh tùy duyên - khổ vui tùy duyên, được mất tùy duyên. Ba, hạnh vô sở cầu - có cầu đều khổ, không cầu thì vui. Bốn, hạnh tịnh pháp - thanh tịnh thân, thanh tịnh khẩu, thanh tịnh ý.

Ôi! Dòng suối nhỏ bên cạnh bia Long Thần! "Đến từ nơi cao", chẳng phải là tự mình cam tâm tình nguyện sao? "Đi về chốn thấp", chẳng phải là được mất tùy duyên sao? "Uốn lượn rồi lại uốn lượn", chẳng phải là không cầu thì vui sao? "Dòng chảy cô đơn", chẳng phải là thân khẩu ý thanh tịnh sao?

Gần đây tôi nhận ra, bất kể lúc nào nơi đâu, chỉ cần khi cô tịch, đi vào trong tâm hồn mình, dù đang ở trên chiếc xe đông đúc, hay đang ngồi thiền một mình, chỉ cần tập trung tinh thần, tôi có thể lắng nghe tiếng nói của chính mình.

Giống như hôm nay, thật là một buổi sáng tuyệt vời, có thể thiền định vô tận, không ai quấy rầy, bầu trời rộng mênh mông vô hạn, giữa những cây thông có vài chú sóc nhỏ nhảy qua nhảy lại, nhưng, chỉ thoáng hiện rồi biến mất giữa những cành lá thông dày đặc.

Cô đơn có những lợi ích của sự cô đơn, cô đơn là đôi cánh của tâm hồn, có thể bay về phía bầu trời xanh, bay về phía mặt trời, bay về phía dòng suối nhỏ, bay về phía sự lĩnh hội của chính mình...... Hãy nghĩ về việc Tổ sư Đạt Ma quay mặt vào tường chín năm. Hãy nghĩ về bốn hạnh của Tổ sư Đạt Ma. Hãy nghĩ về bốn câu nói của dòng suối nhỏ.

Xướng một bài thơ: Sau mưa tuyết xuân trong sáng và mỹ lệ Chỉ có dòng suối nhỏ Có thể gột rửa mọi u oán Bên bia Long Thần một vòng nước Ngọc biếc tựa như chải búi tóc thông xanh Tổ sư Đạt Ma đến từ vạn dặm xa Hỏi ta năm nào Thực sự có thể trở về Chỉ nói tùy duyên không mong cầu Mọi được mất đều không màng tính toán.

03. Con đường trên núi Cầu Vồng

Mỗi kỳ nghỉ cuối tuần, tôi và các đệ tử thường đi leo núi ở ngoại ô, có khi chúng tôi leo núi ngay tại nhà mình - núi Cầu Vồng.

Thành thật mà nói, núi phía sau biệt thự Cầu Vồng có đường núi khá dốc, độ dốc lớn, đi lên không dễ dàng và không thể đi nhanh được. Đường núi uốn lượn quanh co, đặc biệt là đường mòn xuống núi chỉ đủ cho một người qua lại, với những bậc thang đất thô sơ, phải nắm chặt dây thừng, có những đoạn khá nguy hiểm.

Núi phía sau biệt thự Cầu Vồng, nếu chúng tôi không đi leo núi thì hoàn toàn vắng bóng người, chỉ có rừng cây lớn, thảm cỏ nguyên sơ, làn gió nhẹ thì thầm, tôi luôn cảm thấy mát mẻ và thú vị khi ở trên núi tại sơn trang Cầu Vồng của mình.

Hình dáng của núi, hàng cây dài và những bông cúc dại nở rộ như sao trời, thường xuất hiện trong giấc mơ của tôi......

Có một lần, một đệ tử đi theo sau tôi. Tôi hỏi: "Anh làm công việc gì?" Vị đệ tử tại gia từ xa đến nói: "Xuất bản tạp chí." "Tạp chí gì vậy?" "Tạp chí Sự Thật?" "Kết quả thế nào?" "Phá sản rồi!" - Đệ tử đáp. "Tại sao vậy?" "Mọi sự thật trong thế gian này, thực sự khó mà tìm thấy!" Nghe câu này, tôi bỗng giật mình, đó là một câu nói sâu sắc, cũng là câu nói của người từng trải sóng gió, rất dễ hiểu, nhưng, đầy ý vị.

Tôi nghĩ đến một chuyện khác. Có một vị thường trú ở Lôi Tạng Tự làm mất một chiếc chìa khóa, thầy ấy luôn cho rằng một người khác đã lấy trộm, nên đã chạy đến kể với tôi, và bắt đầu chỉ trích cùng buộc tội. Tôi nói: "Tôi không thể xác định lời nói của thầy có đúng hay không, mỗi việc đều có sự thật của nó, thầy phải điều tra, đưa ra bằng chứng thực tế, bởi vì khi chỉ trích ai đó, cần phải có trách nhiệm, nếu không sẽ trở thành một sự tổn hại."

Mặc dù tôi nói như vậy, nhưng không thể ngăn thầy ấy đi loan truyền khắp nơi, thầy ấy ra nhiều cử chỉ, lớn tiếng chỉ trích người kia. Sau đó, một ngày nọ, một chiếc chìa khóa rơi ra từ một cuốn sách cũ trong phòng của chính thầy ấy.

Vị thường trú đó, kể từ khi tìm thấy chìa khóa, đã trở nên im lặng hơn, nhưng thầy ấy vẫn cho rằng người kia đã lấy trộm chìa khóa của mình, rồi lén lút đặt lại vào trong cuốn sách cũ của thầy.

Từ sự việc này, tôi nhận ra: Trong thế giới Ta Bà, nhiều chúng sinh có kiểu chấp trước như vậy, và tự cho rằng quan điểm và nhận định của mình đều mang tính uy quyền. Ngay cả khi bạn không tự cho mình là uy quyền, nhưng thực tế, mỗi người đều đã rơi vào chiếc lồng của uy quyền.

Sự phê phán của con người thường dựa trên giả định, hoặc những nhận định nhất thời. Những giả định và nhận định này, đôi khi cách xa sự thật rất nhiều. Tôi nhận thức được rằng, những lời đồn đại không dựa trên đầy đủ tình hình thực tế như thế này chắc hẳn là rất phổ biến. Tôi hiểu rằng, sự thật chính xác thật khó nhận thức đầy đủ. Ngược lại, tổn hại từ uy quyền lại vô cùng phổ biến. Con người thật là sinh vật kỳ lạ.

Chúng ta là những người thực tu Phật pháp, hiểu rõ về "nhất thực tướng ấn": "Nhất thực tướng ấn là pháp ấn của thực tướng các pháp. Nhất thực tướng là chỉ lý chân thật, không hai không khác, xa lìa các tướng hư vọng, ấn nghĩa là tin. Bởi vì tất cả kinh đại thừa do Như Lai thuyết giảng đều dùng lý thực tướng để ấn định lời dạy, ngoại đạo không thể xen tạp, thiên ma không thể phá hoại. Nếu có thực tướng ấn thì đó là lời Phật dạy, nếu không có thực tướng ấn thì đó là lời ma nói."

Chân tướng của Phật lý vốn là "không thể nói", nhưng thường dùng "hư không" (tính Không) để tượng trưng cho bộ mặt thật của chân lý. Tính Không — chân tướng. Hư vọng — mây biến thành mưa, mưa biến thành nước, nước biến thành băng, băng biến thành khí, khí biến thành mây...

Từ đó, đạo Phật của chúng ta là: Người giác ngộ là người chứng được tính Không, nhìn nhận về lục đạo luân hồi, tất cả nhân duyên, thiên đường địa ngục, giống như mây biến thành nước, nước biến thành băng vậy.

Tổ sư thiền tông xác định như sau: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác của Lục Tổ là: nghĩ ác như dùng xích sắt trói buộc mình, nghĩ thiện như dùng xích vàng trói buộc mình, đều là sự trói buộc cả, chỉ có chứng nhập tính Không mới là giải thoát thực sự."

Có phải vậy không? Không phải vậy sao? Nhiều luận điểm bảo vệ lại khác nhau!

Tôi thích suy nghĩ về những vấn đề này khi leo núi, thậm chí khi leo núi, tôi không nhận ra rằng mình đang trầm tư, tôi như cảm thấy mình đã hòa mình vào núi rừng.

04. Mảnh vàng dưới ánh nắng

Dưới ánh nắng, xuyên qua rừng cây, tạo nên một cảm giác rất đặc biệt, mặt trời đang ở chính Ngọ, ánh dương vàng óng được tô điểm bởi cành lá sum suê, dù là trên lối mòn, trên người hay trên thân cây, đều có những mảnh vàng lấp lánh rực rỡ.

Đôi khi, không chỉ là mảnh vàng, nếu bạn chú ý xung quanh, giữa những tán lá rậm rạp, có ánh sáng bảy sắc, có cầu vồng.

Đó là lúc sương mù dày đặc bao phủ, hoặc sau cơn mưa, cảm giác lúc ấy, mọi thứ thật tươi mới, và tràn đầy niềm vui, một chút hơi lạnh, thực sự rất thư thái, ánh nắng, không khí, cây cối, và những thảm thực vật nhỏ bé, tất cả đều chào đón bạn.

Rừng cây trên núi Cầu Vồng rất khác biệt, khu rừng này không có hiểm nguy, có những chú hươu hiền lành, có tiếng chim hót líu lo. Nhưng lại không có rắn, tại sao không có rắn, có lẽ vì nằm ở vùng lạnh, loài rắn hiếm khi xuất hiện. Núi Cầu Vồng có chim trĩ, tôi đã từng thấy. Núi Cầu Vồng có sóc, tôi đã từng thấy.

Rừng trên núi Cầu Vồng có bầu không khí dịu dàng và vui tươi, nhưng cũng không nên mù quáng đi vào với tâm trạng quá phấn khích, vì nếu quá đắm chìm trong cảm xúc, chỉ một lúc sau, bạn sẽ bị lạc, mất phương hướng, đi vòng quanh mà không tìm được lối ra. Lúc đó, cảm giác về cái đẹp sẽ biến mất, và niềm vui cũng không còn nữa. Rừng thì rộng lớn, và rừng thì phức tạp.

Tôi thích những mảnh vàng lấp lánh giữa cành lá dưới ánh nắng, như một ảo ảnh, cũng là một sự mơ hồ, chúng ta yêu thích ánh sáng và yêu thích cầu vồng. Điều này khiến tôi nhớ đến năm xưa, thầy của tôi, Hòa Thượng Liễu Minh, người đã từng dạy tôi cách nhìn ánh nắng bằng pháp tụ quang. Hòa Thượng Liễu Minh nói: Pháp tụ quang trước tiên phải thanh tịnh thân, khẩu, ý.

Phải chọn thời điểm và hướng đối diện với mặt trời khi mới mọc, hoặc lúc mặt trời lặn. Khi quan sát mặt trời, không nhìn trực tiếp, mà nhìn phía trên, phía dưới, bên trái, bên phải của mặt trời. Ngồi thiền quán tưởng, xung quanh mặt trời có nhiều điểm sáng, có những vòng hào quang lấp lánh (đỏ, trắng, vàng, xanh dương, xanh lá). Hành giả Mật giáo tiếp tục quán tưởng ở giữa trán mình có chữ Om ( ཨོཾ ) màu trắng, dùng sức mạnh của Bảo bình khí đưa nó ra ngoài, bay vào trong ánh sáng mặt trời, hòa hợp làm một, sau đó dùng ý niệm thu chữ ཨོཾ về lại giữa trán mình. (Pháp này tu trong một tháng.)

Tiếp theo, bắt đầu tháng thứ hai, vẫn quan sát ánh sáng xung quanh mặt trời, rồi quán tưởng ở cổ họng mình có chữ Ah( ཨཱཿ ) màu đỏ, tương tự dùng sức mạnh của Bảo bình khí, đưa chữ ཨཱཿ bay ra ngoài, quán tưởng chữ ཨཱཿ hòa hợp làm một với ánh sáng mặt trời, sau đó dùng ý niệm của mình, thu hồi chữ ཨཱཿ trở về cổ họng mình, tu pháp như vậy cũng trong một tháng.

Tháng thứ ba tu pháp, cũng giống như phương pháp trên, sau khi quán tưởng hào quang mặt trời, nên quán tưởng ở vùng tim có chữ Hum( ཧཱུྃ ) màu xanh lam, là chú tự, dùng sức mạnh của Bảo bình khí, đưa nó ra ngoài, đi vào ánh sáng mặt trời hòa hợp với nhau, cuối cùng thu hồi chữ ཧཱུྃ trở về vùng tim của mình.

Pháp tụ quang này lấy ý niệm làm chủ, kết hợp với Bảo bình khí của mình, sức mạnh của hít vào và thở ra, đưa ánh sáng trắng, ánh sáng đỏ, ánh sáng xanh lam, ba loại màu sắc khác nhau, từ năng lượng mặt trời, dẫn vào thân hành giả Mật giáo, lan tỏa khắp toàn thân, đạt đến sự hợp nhất giữa ánh sáng bên trong và ánh sáng bên ngoài, toàn thân phóng đại quang minh, thành tựu thân cầu vồng.

Hòa Thượng Liễu Minh nói: Pháp tụ quang khi có mặt trời, hãy nhìn mặt trời; khi có mặt trăng, hãy nhìn mặt trăng; khi có ánh sáng của sao, hãy nhìn ánh sáng của sao; nếu cả ba đều không có, hãy nhìn ánh sáng đèn màu đỏ. Pháp tụ quang này mỗi ngày tu hai lần, cần tu ba năm. Pháp tụ quang từ ý niệm kết hợp với Bảo bình khí, có thể giúp hành giả Mật giáo và ánh sáng vĩ đại nhất của vũ trụ hấp thụ lẫn nhau, hòa hợp làm một, đạt thành tựu lớn về thân cầu vồng.

Từ pháp tụ quang có thể thấy được: Ánh sáng minh điểm. Ánh sáng chuỗi kim cang. Ánh sáng Bổn tôn. Ánh sáng tịnh thổ.

Đây thực sự là một điều kỳ diệu, từ những mảnh vàng lấp lánh dưới ánh nắng, tôi liên tưởng đến những lời dạy của Hòa Thượng Liễu Minh, hành giả Mật giáo có thể hòa hợp làm một với đại nhật. Đại nhật thì bao la rộng lớn, con người và vũ trụ thì vô cùng phức tạp, trong khi pháp Mật giáo lại có năng lực mạnh mẽ, và ý niệm trong đó thì vô cùng tinh tế.

Chân Phật Mật Pháp là kinh nghiệm của các vị tổ sư, cũng là tri thức của các Ngài, đã luôn được lưu giữ trong ký ức của tôi.

Tôi thực sự đã nhận được sức mạnh kỳ diệu, và thực sự đạt được yoga vững chắc, lòng kiên trì và nghị lực của tôi đã giúp tôi tìm thấy tâm mình, và an định nó.

Trong tâm trí tôi, có một năng lượng hoạt động kỳ lạ, liên tục và tỏa sáng vô tận, tôi hiểu rõ ràng thế nào là khai ngộ, đây không phải ảo ảnh, cũng không phải quá trình, không phải giấc mơ, không phải tưởng tượng. Người thế tục khó có thể hiểu được. Nhưng, rồi một ngày nào đó! Thế gian sẽ hiểu.

05. Tìm kiếm thác nước

Gần sơn trang Cầu Vồng có khoảng sáu, bảy thác nước, những thác nước này có cái ẩn sâu trong thung lũng tuyệt đẹp, có cái nằm giữa những ngọn đồi nhỏ bao quanh, có những cái ở trong rừng cây, thậm chí có những cái đổ thẳng xuống từ trên cao, tạo ra âm thanh trầm đục trong thung lũng hẹp.

Một số thác nước nằm không xa đường cao tốc, nhưng có những thác phải đi qua nhiều đường mòn núi, thậm chí là vách đá cheo leo, đi mãi không ngừng, mới đến được suối thiêng không bị thế tục chạm đến.

Thế của thác nước, mỗi nơi một khác. Có cái như nghìn quân vạn mã cuồn cuộn, khí thế kinh người. Có cái nhỏ nhắn tinh khiết và trong sáng, chỉ phát ra một chút âm thanh. Có cái phân nhánh chảy tràn, cọ xát thân mình giữa những khe đá hẹp. Có cái thực sự rất đẹp, với dáng vẻ uyển chuyển nhất, dịu dàng tuôn chảy xuống, tỏa ra từng điểm sương mù.

Tôi thích thác nước. Tôi luôn cảm thấy thác nước có một bầu không khí tuyệt vời, bầu không khí của thác nước gần như lấn át tất cả các bầu không khí khác. Khi chúng ta đi đến bất kì hướng nào của thác nước, bất kì ai cũng sẽ nhận thấy mỗi góc đều mang đến cảm nhận khác nhau.

Tôi nhận thấy, thác nước trong thung lũng rừng núi yên tĩnh, khi bạn tiến gần nó, nó thực sự đang tự thỏa mãn với niềm vui của chính mình, thực sự đắm chìm trong thế giới riêng, thực sự nó chỉ đang chảy xiết mà thôi, nó chỉ không ngừng di chuyển, nó chưa từng nhìn ngó xung quanh, nó không bao giờ lãng phí thời gian, bầu không khí của nó mạnh mẽ đến vậy.

Thác nước có điều đặc biệt. Mỗi lần tôi đến xem nó, bầu không khí ấy luôn tồn tại, một bông hoa có thể héo tàn, nhưng dòng nước của thác bộc lộ sức mạnh kiên cường bất tận. Dù thế nào đi nữa, thác nước đều là tinh linh.

Tôi từng nói với các đệ tử: Dưới thác nước, kết ấn trì chú. Âm thanh trì chú phải vang hơn cả tiếng thác nước. Chỉ nghe thấy âm thanh chú ngữ của mình, mà không nghe thấy tiếng nước thác ầm ầm. Để tâm mình, dưới thác nước, không có chút sợ hãi nào.

Tôi lại nói: Dưới thác nước, nhập định. Buông bỏ thân tâm. Hòa thân tâm mình vào trong thác nước, lúc này, hành giả Mật giáo sẽ nhận được sức mạnh lớn lao, sức mạnh đến từ thác nước, đầy tinh tấn, không gì không thể phá vỡ, vĩnh cửu, mạnh mẽ, và đầy hoài bão. Sau khi xuất định, hãy dấn thân vào sự nghiệp chốn hồng trần. Bạn là một dũng sĩ tràn đầy niềm tin.

Trong cảm nhận dưới thác nước, tôi nhớ đến cảm nhận về bốn yoga của Đại Thủ Ấn:

  1. Yoga chuyên nhất - minh triệt.
  2. Yoga ly hý - hiểu rõ tâm mình, tự tính.
  3. Yoga nhất vị - Phật, bản thân, ngoại cảnh, tất cả không có tự tính, hợp làm một.
  4. Yoga vô tu - vô tu là tu, nhậm vận.

Tôi cảm thấy thiền định trước thác nước cũng là một phương pháp tuyệt vời. Khi chúng ta ngồi thẳng lưng, nhìn thác nước, lắng nghe tiếng nước, tâm thức quay về thế giới tĩnh lặng bên trong, thậm chí quán tưởng thân tâm mình đều không; Phật, bản thân và ngoại cảnh, cả ba hòa quyện vào nhau, trong một khoảnh khắc, mây bay trên bầu trời, cá nhảy trong vực sâu, Bổn tôn như huyễn hiện ra.

Hoặc, hoàn toàn không điều chỉnh ý niệm, đi theo dòng nước thác, đi theo âm thanh thác nước, hoàn toàn không quan tâm. Vào thời khắc này, Pháp thân chân thật hiển hiện. Tại sao vậy? Pháp thân chân thật hiển hiện vì tâm không trụ vào đâu cả. Trong Đại Thủ Ấn, là có thể không thể, là khổ là vui đều không nghĩ đến, vui vẻ sáng suốt vô niệm, không phân biệt không khác biệt, đó là niệm vô niệm.

Loại thiền định này có "hữu sở y" và cũng có "vô sở y". Nếu có thể, khi ở dưới thác nước, buông bỏ hình tướng của thác nước, nhận ra tất cả đều không, hiểu rõ vạn cảnh đều không có tự tính, hoặc thấy bản thân và ngoại cảnh đều biến mất không còn. Đây chính là: Lìa các tác ý và chấp thật Cũng không để sắc trói buộc tâm Tự tâm vô ngại như con trẻ Theo tự minh thể tâm làm chủ Vọng niệm khởi thì quán tự tính Nên biết thanh sắc là không khác Lìa các chấp thật đừng trụ biên, Sẽ thấy Mật pháp tối thượng nghĩa.

Tìm kiếm thác nước, từ thác nước để cảm nhận bốn yoga của Đại Thủ Ấn, đây chính là chân tướng của Mật pháp, điểm này là điều duy nhất quan trọng, chúng ta đi tìm thác nước, đi dạo chơi, rèn luyện thể chất, không hề lãng phí thời gian và sức lực. Đi tìm thác nước, sẽ nhận được sức mạnh lớn lao. Đi tìm thác nước, sẽ tìm thấy tự tính. Đi tìm thác nước, sẽ đạt được sự thanh tịnh.

06. Gió xuống núi

Seattle Hoa Kỳ, nằm ở khu vực Tây Bắc của bản đồ Hoa Kỳ, gần Vancouver của Canada, thời tiết ở đây có bốn mùa rõ rệt. Mùa xuân — phong cảnh tươi đẹp, với hoa tulip, hoa nhài, hoa hồng, hoa anh đào... Seattle trở thành thành phố hoa, đẹp không thể tả xiết. Mùa hè — không khí oi bức tràn ngập, người người tắm biển, tắm hồ và tắm nắng. Mùa thu — ánh nắng mặt trời dần dần phai nhạt, lá cây vàng, lá phong đỏ, cảnh tượng tàn phai khắp nơi. Mùa đông — cành khô, mây dày và mưa, tuyết rơi, băng giá, đất trời lại một lần nữa trắng xóa tinh khiết.

Tôi có cảm xúc rất sâu sắc về mùa đông ở Seattle. Mùa đông ở Seattle gần như toàn bộ là mùa mưa, dưới những đám mây đen nặng nề, không thể nhìn thấy ánh mặt trời, mưa rả rích không ngừng, có lúc là mưa như trút nước, có lúc là mưa phùn, thỉnh thoảng chỉ ngừng khoảng một ngày, rồi lại bắt đầu, đôi khi mưa mùa đông ở Seattle, một khi bắt đầu, kéo dài suốt hai tháng.

Trong mùa mưa đông, mặt đất gần như một màu đen, chỉ khi tuyết rơi, mặt đất mới trắng tinh khôi, thời tiết vừa lạnh vừa cóng vừa tuyết vừa mưa. Nơi này, người mắc chứng trầm cảm rất nhiều.

Mùa đông ở Seattle kéo dài rất lâu, thường bắt đầu từ tháng 11 mỗi năm và kéo dài đến tháng 4 năm sau.

Tôi xin nói thêm về sơn trang Cầu Vồng. Sơn trang Cầu Vồng nằm ở phía Đông Seattle, có đường cao tốc số 90 dẫn đến đó, từ Seattle đến sơn trang Cầu Vồng mất khoảng một giờ lái xe.

Thời tiết ở sơn trang Cầu Vồng về cơ bản không khác nhiều so với Seattle, nhưng địa thế cao hơn. Vị trí địa lý của sơn trang Cầu Vồng nằm trong thung lũng giữa bảy ngọn núi, nên theo phong thủy, đây là huyệt "thất tinh lạc địa".

Do vị trí địa hình cao, là cửa ra vào của dãy núi Rocky, vào mùa đông, nơi đây lạnh hơn đồng bằng, tuyết rơi cũng vậy, thường thì sơn trang Cầu Vồng đã có tuyết rơi trong khi Seattle vẫn chưa. Chỉ cần vượt qua một ngọn núi là đến khu trượt tuyết nổi tiếng Snoqualmie, một địa điểm trượt tuyết nổi tiếng vào mùa đông. Từ sơn trang đến Snoqualmie chỉ mất hai mươi phút.

Sơn trang Cầu Vồng có một vấn đề khiến chúng tôi đau đầu, đó là ở đây có gió xuống núi, loại gió xuống núi này đến cùng mùa đông, thổi từ cửa gió của dãy núi Rocky, gió xuống núi đến núi Cầu Vồng rồi thổi thẳng xuống. Gió mạnh đến mức đáng sợ. Thổi giật các cây cối. Tiếng gió xuống núi rít lên rất đáng sợ. Đủ loại âm thanh gào thét.

Khi gió xuống núi thổi mạnh, tường rào bị thổi đổ, lều bạt bị thổi bay, cây bị thổi ngã, thùng rác biến mất, ngay cả việc đi bộ cũng rất khó khăn, đi ngược gió còn khó hơn đi lùi. Thượng sư Liên Hương nói: "Sơn trang Cầu Vồng có gió xuống núi không tốt!"

Khi gió xuống núi đến, dường như phá hủy phần lớn mọi thứ, hành vi của gió xuống núi thô lỗ, đầy tham vọng, dữ dội và xảo quyệt, đến thì đến đi thì đi. Đối với gió xuống núi, con người cho đến nay chỉ có thể tìm hiểu nguyên nhân và giải thích nguồn gốc của nó, chứ không hề có biện pháp giải quyết nào.

Thực tế, con người tuy nghiên cứu về sự biến đổi thời tiết đất, nước, lửa, gió, tuyết, mưa, sương mù, sương giá, nhưng những hiện tượng này vẫn không thay đổi theo các thiết bị khoa học, tất nhiên, gió xuống núi là điều không thể thay đổi được.

Chúng tôi đã từng tu pháp Hộ Ma cho gió xuống núi. Cúng dường thần núi và thần gió. Cầu xin thần gió nhân từ hơn, thần gió nho nhã hơn, thần gió lịch sự hơn. Tình hình dường như đã cải thiện.

Tuy nhiên, mặc dù đã tốt hơn một chút, khi không thực hiện Hộ Ma thì vẫn còn tất cả những ồn ào huyên náo. Họ vẫn như vậy, tại sao?

Tôi nhận ra rằng, bất kì lời giải thích nào cũng không có ý nghĩa gì, tất cả những lời giải thích chỉ là sự trốn tránh, chúng ta chỉ có thể đối diện với thực tế của gió xuống núi.

Tôi nhận ra, trong Ấn Độ giáo có ba vị thần lớn, thần Sáng Tạo Đại Phạm Thiên, thần Hủy Diệt Đại Tự Tại Thiên, thần Bảo Hộ Biến Tịnh Thiên. Tôi hoàn toàn ý thức được đạo lý của ba vị thần này và muôn vàn đạo lý của thế gian.

Đức Phật đã dạy như sau: "Thế giới phải trải qua thành, trụ, hoại, không; còn con người phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử, khổ." Ngũ Đài Sơn - thánh địa Phật giáo của Trung Quốc, mỗi năm phải chịu tuyết lớn phong tỏa núi trong ba tháng. Tây An - cố đô của Trung Quốc, mỗi năm có mùa gió cát, đưa tay không thấy năm ngón. Còn sơn trang Cầu Vồng thì có gió xuống núi.

Sau khi gió xuống núi đi qua, chỉ sau vài ngày, mặt trời sẽ xuất hiện, vạn vật trên mặt đất sẽ lấp lánh ánh sáng, cây cối xanh đến kinh ngạc, buổi sáng sớm chim chóc hót vang, và khắp nơi đều có hoa, ngay cả hoa cúc dại cũng rất đáng yêu. ............ Đây chính là luân hồi và cũng là nhân duyên vậy!

07. Ngôi sao cô đơn

Vào một đêm sâu lắng, tôi vô tình ngước nhìn lên bầu trời, chỉ thấy một màn đen bao phủ, và chỉ có một ngôi sao đang lấp lánh. Những ngôi sao khác đâu rồi? Liệu những ngôi sao khác đã bỏ rơi ngôi sao này, hay chính ngôi sao này đã bỏ rơi những ngôi sao khác, dù thế nào thì ngôi sao này vẫn cô đơn đi trên con đường của riêng mình.

Tôi từng đến thăm cố đô Agra ở Ấn Độ, trên một con đường nhộn nhịp, tôi nhìn thấy một thanh niên, trên người anh ta ngoài chiếc khố sạch sẽ quấn quanh hông ra thì chẳng có gì khác, đôi tay anh đang đẩy một chiếc xe kéo hai bánh, trên xe có một người đang nằm.

Khi tôi nhìn kĩ người nằm trên xe, tôi sững người, rất bất ngờ, người này toàn thân được quấn vải, hóa ra đó là một thi thể. Trên thi thể có những bông hoa màu vàng, có vòng hoa đặt trên thi thể.

Chiếc xe tôi đang ngồi và chiếc xe chở thi thể của chàng thanh niên di chuyển song song với nhau, tôi nhìn thấy rõ ràng, trực tiếp và công khai như vậy. Hoàn toàn không có người đưa tang hay xe đưa tang. Hoàn toàn không có quan tài, không có xe linh cữu. Hoàn toàn không có người thân bạn bè. Tất cả đều đơn giản như vậy.

Hướng dẫn viên nói với chúng tôi: "Đây là người sẽ được hỏa táng ở một bãi cát kín đáo, hoặc sẽ được đẩy đến bờ sông (sông thiêng) để hỏa táng. Người Ấn Độ đã quá quen thuộc với những thi thể như thế này, không có gì đáng ngạc nhiên cả, cái chết hiện diện khắp nơi, chúng tôi sống cùng cái chết mỗi ngày."

Tôi đã đến Varanasi tham quan khu hỏa táng bên sông Hằng, thi thể nằm xếp hàng từng dãy, lửa cháy không ngừng.

Trong cả cuộc đời mình, đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nhiều thi thể được xếp hàng như vậy, đang chờ hóa thành tro bụi. Tôi nhớ lại lời của hướng dẫn viên: "Cái chết hiện diện khắp nơi, cái chết ở cùng chúng tôi."

Tôi cảm nhận rằng, lời Đức Phật dạy quả thật là chân lý, có sinh ắt có tử. Cái chết giống như sông Hằng của Ấn Độ, nuốt chửng thi thể của người Ấn Độ, không chỉ nuốt chửng thi thể, nó còn nuốt chửng tất cả mọi thứ của con người, như tình yêu, địa vị, tiền bạc, hư vinh, hạnh phúc, đau khổ, kiến thức... Tất cả mọi thứ, tất cả những gì tích lũy được, cuối cùng đều thuộc về sông Hằng.

Khi một người chết đi. Giống như một ngôi sao cô đơn trên bầu trời. Chỉ đi một mìni.

Tôi đã từng lắng lòng suy nghĩ kĩ về điều này. Sự ra đời của tôi, tuổi thơ của tôi, những năm tháng học hành trưởng thành, sự nghiệp thời trai trẻ, việc học Phật xuất gia, việc sáng lập Chân Phật Tông, sự tu hành chứng ngộ, và cuối cùng, sự ẩn cư của tôi, cuối cùng tôi sẽ đối mặt với: Cái chết.

Sau khi chết, tôi không thể viết sách nữa. Sau khi chết, tôi không thể vẽ tranh nữa. Sau khi chết, tôi không thể hoằng pháp nữa.

Trong một thời gian ngắn, tôi đương nhiên đã chứng kiến nhiều vị sư phụ qua đời. Sư phụ Liễu Minh đã mất, Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 đã mất, Thượng sư Sakya Chứng Không đã mất, hòa thượng Tuệ Tam đã mất, hòa thượng Hiền Đức đã mất, Thượng sư Phổ Phương đã mất, cư sĩ Lý Bỉnh Nam đã mất.......

Tôi đã chứng kiến nhiều vị sư phụ qua đời. Tôi là người quan sát, nhưng...... "Người quan sát cũng là người bị quan sát, người trải nghiệm cũng là người bị trải nghiệm." Một ngày nào đó, các đệ tử của tôi sẽ nói: "Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã mất."

Vào lúc này, tôi muốn nói với tất cả các đệ tử rằng: "Sách của tôi vẫn tồn tại, tranh của tôi vẫn tồn tại, Chân Phật mật pháp của tôi vẫn tồn tại, và quan trọng nhất là, tình thương của tôi vẫn tồn tại."

Vào lúc này, trên bầu trời phương Tây sẽ xuất hiện một cầu vồng, với ánh sáng rực rỡ bao la, một đóa sen lớn bằng mặt trăng sẽ từ từ hiện ra, tôi sẽ trẻ trung hơn hiện tại, ánh sáng của tôi mạnh mẽ và vĩnh cửu, chiếu soi khắp mười phương, đây là khoảnh khắc giải thoát khi nhân duyên ở cõi Ta Bà đã đến.

Tiếng cười của trẻ thơ đã biến mất, giấc mơ đã tan vỡ, hôn nhân và gia đình con cái đều đứt đoạn, Phật sự của Chân Phật Tông đã không còn, trên con đường như vậy, cái chết chính là kẻ kết thúc tất cả, hơi thở không còn tồn tại, tất cả cũng sẽ không tồn tại. Liệu tôi sẽ trở thành một ngôi sao cô đơn gần mặt trăng? Liệu tôi sẽ cô độc trong bóng tối? Liệu tôi sẽ phải đi một mình? Không!

Đây không phải là cái chết, mà là tái sinh, là một dạng giải thoát. Bản thân tôi sẽ trải nghiệm nó, với ánh sáng từ chính mình (tử quang), trở về biển thánh Tỳ Lô của ý thức vũ trụ (mẫu quang), "tịnh quang tử mẫu" hợp nhất, đạt được "ánh sáng quả vị". Đây không phải là cái chết, nó là vĩnh hằng.

08. Trung ấm

Đoạn văn trước đã viết về ngôi sao cô đơn, điều này làm tôi nhớ đến trung ấm (linh hồn). Có đệ tử gửi thư hỏi tôi: "Những điều được ghi trong 'Tử Thư Tây Tạng' có thật không?" Câu trả lời của tôi như sau: "Khi một người chết đi, tứ đại (đất, nước, lửa, gió) tan rã, chỉ còn lại thần thức của mình, thần thức này được người thường gọi là linh hồn, trong Mật giáo gọi là trung ấm, 'Tử Thư Tây Tạng' được viết dựa trên những ảo tưởng phát sinh từ sự tự ý thức của thân trung ấm."

Lưu ý: Phật môn Hiển giáo ít khi đề cập đến hiện tượng trung ấm sau khi chết. Phật môn Mật giáo có pháp cứu độ trung ấm, pháp dịch chuyển thần thức, pháp trung ấm tự cứu, pháp ly xá, pháp đoạt xá, v.v...

Theo cá nhân tôi: Những ghi chép trong "Tử Thư Tây Tạng" dựa trên sự tu tập của hành giả Mật giáo, những người không thể tức thân thành Phật, rơi vào trung ấm, và những hiện tượng do tự ý thức của họ biến hiện. Trọng điểm nằm ở bốn chữ "tự thức biến hiện", vì vậy khi hỏi tôi có thật không, tôi trả lời: "Tự thức biến hiện."

Theo hiểu biết của tôi, cái chết của mỗi người đều khác nhau, tùy thuộc vào công phu tu hành của từng người. Đệ tử Chân Phật Tông Mao Hợp Quản khi vãng sinh đã: Một, nhất tâm bất loạn. Hai, biết trước thời điểm ra đi. Ba, tịnh niệm không dứt. Bốn, trì chú niệm Phật. Năm, ngồi ngay ngắn chắp tay. Sáu, hương lạ tỏa khắp phòng. Bảy, Phật A Di Đà hiện thân. Tám, ánh sáng cầu vồng xuất hiện. Chín, nhạc trời vang vọng. Mười, hỏa táng có xá lợi. Mười một, hiện thân báo điềm lành.

Có người khi chết: Nghiệp thiện mạnh cảm ứng với đường thiện. (trời, người, atula) Nghiệp ác mạnh cảm ứng với đường ác. (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) Có nhiều biến hiện, tất cả đều tùy thuộc vào nghiệp lực.

Pháp cứu độ trung ấm của Mật giáo ghi chép hiện tượng cảm ứng trong mười bốn ngày:

Ngày thứ nhất: thấy ánh sáng xanh lam rực rỡ, Tỳ Lô Giá Na Phật hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào ánh sáng xanh, đừng theo ánh sáng trắng yếu ớt.

Ngày thứ hai: thấy ánh sáng trắng tinh khiết, A Súc Như Lai hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng sương mù.

Ngày thứ ba: thấy ánh sáng vàng tinh khiết, Bảo Sinh Như Lai hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng vàng nhạt.

Ngày thứ tư: thấy ánh sáng đỏ rực rỡ, A Di Đà Phật hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng đỏ yếu ớt.

Ngày thứ năm: thấy ánh sáng xanh lục tinh khiết, Bất Không Thành Tựu Phật hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng xanh lục nhạt.

Ngày thứ sáu: thấy ánh sáng rực rỡ ngũ sắc, năm vị Phật cùng hiện ra, cần nhanh chóng hòa nhập vào, đừng theo các ánh sáng màu khác.

Ngày thứ bảy: các vị của năm bộ hiện ra, cầm dao lưỡi liềm, bình đựng xương sọ người, mỗi vị đều có ánh sáng trí tuệ, không được sợ hãi, có thể hòa nhập vào, đừng theo ánh sáng yếu ớt.

Ngày thứ tám: phẫn nộ tôn uống máu của Phật bộ hiện ra, với ngọn lửa trí tuệ, chín mắt, tỏa ánh sáng như tia chớp, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ chín: phẫn nộ tôn uống máu của Kim Cang bộ hiện ra, ánh sáng xanh, ba mặt, tỏa ánh sáng như tia chớp, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ mười: Phẫn nộ tôn uống máu của Bảo bộ hiện ra, ánh sáng vàng, ba mặt, tỏa ánh sáng như tia chớp, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ mười một: Phẫn nộ tôn uống máu của Liên Hoa bộ hiện ra, ánh sáng đỏ, ba mặt, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ mười hai: Phẫn nộ tôn uống máu của Yết Ma bộ hiện ra, ánh sáng xanh lục, ba mặt, không được sợ hãi, cần hòa nhập vào.

Ngày thứ mười ba: Tám vị phẫn nộ tôn hiện thân, tám vị tôn nữ hình dáng khác thường hiện thân, mỗi vị ngự tại tám phương, bao quanh hai lớp, mỗi vị đều hiện tướng hung ác tàn bạo, hành giả khi thấy hiện tượng này nên trì chú niệm Phật.

Ngày thứ mười bốn: Lại hiện ra bốn vị phẫn nộ tôn nữ thân hình khác thường bảo vệ bốn cửa, bên ngoài có hai mươi tám tôn nữ thân hình khác thường. Khi thấy hiện tượng như vậy, không nên sợ hãi, chuyên tâm trì chú niệm Phật, sẽ có thể vãng sinh tịnh thổ.

Nếu thân trung ấm (linh hồn), do nghiệp lực và chấp trước, bỏ lỡ cơ hội vi diệu của sáu ngày đầu, cũng bỏ lỡ sự cứu độ của chư vị phẫn nộ tôn trong tám ngày tiếp theo, thì sau đó vua quỷ và lính quỷ sẽ xuất hiện, thân hình cao lớn hung dữ, thực hiện những hành động tàn bạo.

Sau mười bốn ngày, nghiệp lực hiện tiền, có nghiệp gió sắc như dao, có hố đen tối lớn, có tiếng kêu thét thảm thiết và nhiều hiện tượng khác nữa.

Tôi tự biết rằng: Chư Phật Bồ Tát đều từ bi với chúng sinh, nên khi một người rơi vào trung ấm (linh hồn), năm bộ Phật tôn và các vị phẫn nộ tôn biến hóa từ năm bộ Phật, trong mười bốn ngày, lần lượt phóng quang để nhiếp thọ chúng sinh.

Điều đáng sợ nhất là, người thường khi vừa nhập vào trung ấm (linh hồn), như trong mộng huyễn, tâm vô cùng kinh hãi, không thể tự chủ, mơ mơ hồ hồ, không thể tự cứu, ngược lại còn bị nghiệp lực của mình cuốn theo, đi theo ánh sáng yếu ớt, mờ nhạt, như sương khói, và thế là đọa lạc.

Vì vậy Mật giáo dạy mọi người, khi rơi vào trung ấm (linh hồn), ghi nhớ bốn điều: Một, nhất tâm bất loạn. Hai, không được sợ hãi. Ba, niệm Phật trì chú. Bốn, tùy niệm nhiếp nhập vào đại quang minh. Ngay cả khi đã qua mười bốn ngày, hành giả vẫn giữ bốn điều trên, huyễn tướng cũng sẽ tan biến, ánh sáng liền hiện.

09. Liên tưởng về hạt giống

Đến thăm một vườn hoa xinh đẹp, không khí thật tĩnh lặng, trong lòng không gợn chút sóng lăn tăn, đây là lúc tuyệt vời nhất để ngắm hoa.

Thưởng thức muôn màu sắc của hoa cùng nụ cười rạng rỡ của chúng, không gian tràn ngập bầu không khí bình yên vô tận.

Chúng tôi thong thả đến cửa hàng bán hạt giống, nơi bán đủ loại hạt giống hoa, được đựng trong từng túi giấy nhỏ, kèm theo những hình ảnh đầy màu sắc của hoa khi nở, cùng đất trồng dinh dưỡng và các dụng cụ làm vườn. Có một cụ già ngậm tẩu thuốc, ngồi cô đơn sau quầy thu ngân, ông ấy luôn ở đó một mình, chờ đợi khách hàng ghé thăm.

Đột nhiên, trong đầu tôi nảy ra những ý nghĩ kỳ lạ: Một, liệu có hạt giống của hoa mẫu đơn, mà khi gieo xuống, lại mọc lên thành hoa bìm bìm không? Hai, liệu có loài hoa nào, một khi đã nở, sẽ không bao giờ tàn không?

Tôi bảo một đệ tử đi hỏi cụ già. Người đệ tử không dám. Đệ tử nói: "Đó là những câu hỏi rất vô nghĩa, người ta sẽ coi mình là người bị bệnh tâm thần!"

Tôi nghĩ về hai câu hỏi này, tuy có vẻ kỳ lạ, nhưng thực ra rất đỗi bình thường. Từ câu hỏi đầu tiên, tôi liên tưởng đến thức, duy thức, chủng tử thức. Còn có nhân duyên, nhân quả, thập nhị nhân duyên. Từ một hạt giống, tôi nghĩ đến túc mệnh, định mệnh. Tại sao hạt giống của hoa mẫu đơn không thể mọc thành hoa bìm bìm? Tại sao loài có gai thì nhất định phải sinh ra gai? Tại sao hoa năm cánh không thể mọc thành sáu cánh?

Trong Phật giáo, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là sáu thức. Thức thứ bảy là Mạt-na thức. Thức thứ tám là A-lại-da thức. Thức thứ chín là Am-ma-la thức. Thức thứ mười là Vô lượng thức. Trong đó, thức thứ tám được giải thích là chứa đựng hạt giống của tất cả các pháp, là gốc rễ của tất cả pháp hữu vi, dù hữu lậu hay vô lậu. A-lại-da thức này được gọi là chủng tử thức.

Phật giáo nghiên cứu về thức, có Duy thức, có Pháp Tướng tông, có Vạn pháp duy thức.

Trong đó ba tính của duy thức là: Một, tính biến kế sở chấp. Hai, tính y tha khởi. Ba, tính viên thành thật. Trong đó, tính thứ hai là pháp nhân duyên sinh ra từ hạt giống.

Về vấn đề duy thức, trong Phật pháp, đây là điều vô cùng thâm sâu, từ biến đổi ban đầu, biến đổi thứ hai, biến đổi thứ ba, mà hiển hiện ra các loại thức.

Tôi cũng nghĩ rằng hạt giống cũng có sự biến đổi lớn, một biến thành mầm, hai biến thành cây con, ba biến thành thân, bốn biến thành lá, năm biến thành hoa, sáu biến thành quả........

Nếu nghiên cứu sâu về hạt giống của hoa, chẳng phải sẽ biến thành học thuyết duy thức của hoa trong hình thái ý thức sao? Duy thức duy tâm của con người có thể thành Phật, vậy duy thức duy tâm của hoa có thể thành gì?

Câu hỏi đầu tiên của tôi là "có loài hoa nào, một khi đã nở, sẽ không bao giờ tàn không?" Câu trả lời là "không có."

Bởi vì tất cả hiện tượng trên thế giới này đều là phân mảnh, con người là phân mảnh, đất đai là phân mảnh, mọi sự việc đều là phân mảnh, tất cả những gì có hình tướng đều là phân mảnh, sự sống là phân mảnh, nên hoa cũng là phân mảnh. Phân mảnh là bình thường. Phân mảnh cũng là vô thường. Vì vậy, vạn hành vô thường là bình thường.

Tôi rất tâm đắc với ba câu trong Kinh Niết Bàn: Tất cả các thế gian, sinh ra đều về cõi chết, tuổi thọ tuy vô lượng, cuối cùng cũng phải có lúc kết thúc. Thịnh ắt sẽ suy, hợp rồi sẽ tan, tuổi trẻ không tồn tại mãi, sắc đẹp rồi sẽ bị bệnh tật xâm chiếm. Bánh xe khổ đau không có giới hạn, luân hồi không ngừng nghỉ, ba cõi đều vô thường, mọi cái có đều không có niềm vui.

Phật dạy: Các hành vô thường, là pháp sinh diệt; Sinh diệt đã diệt, tịch diệt là vui.

Đại sĩ Duy Ma Cật dạy: "Thân này như bọt nước, không thể tồn tại lâu; thân này như huyễn ảo, sinh ra từ điên đảo; thân này như giấc mộng, sinh từ vọng tưởng; thân này như bóng, hiện ra từ nghiệp duyên." Thân người này như hoa vậy!

Vì thế, từ việc nghiên cứu thân người, tiến tới nghiên cứu các loại nghiệp, các loại duyên của thân người, rồi đi vào thức của nghiệp duyên, từ thức lại đi vào hạt giống. Hạt giống sinh ra tất cả. Còn duy thức chỉ là phân biệt tất cả mà thôi! Đây là liên tưởng về hạt giống.

10. Hiên nghe mưa

Thỉnh thoảng, tôi bước đến hiên hóng mát của sơn trang Cầu Vồng, ngồi trên ghế gỗ của hiên, không có một chút suy nghĩ hay một chút nhớ nhung nào, lúc đó, thật tuyệt!

Đôi khi, những hạt mưa bay lất phất, rơi trên mái gỗ của hiên, âm thanh lộp độp, như thể tâm hồn được nghỉ ngơi thật sâu. Tôi rất muốn đặt tên cho hiên hóng mát này, gọi là: "Hiên nghe mưa."

Lắng nghe mưa thật kĩ, dù tiếng bước chân của mưa có vẻ hỗn loạn, nhưng, trong hỗn loạn, tự nó cũng tạo ra trật tự.

Âm thanh của mưa cũng có trật tự, tôi bật cười, trật tự này cũng là một kiểu tự nhiên phải không! Tôi nghĩ đến tâm hồn con người, tâm hồn có lúc tỉnh thức, tâm hồn cũng cần có lúc nghỉ ngơi, tâm hồn cũng phải có trật tự! Trật tự của tâm hồn chính là trạng thái thiền định.

Tôi tự nhận thấy: Con người sống trên thế giới này, có rất nhiều chuyện gây nên sự hỗn loạn trong tâm hồn! Cũng có rất nhiều hiện tượng gây nên sự mê hoặc trong tâm hồn! Còn có những xung đột tâm hồn. Những nút thắt tâm hồn. Sự cực đoan của tâm hồn.

Tôi nghĩ, tất cả những điều này là khi tâm hồn đã lạc lối, tâm hồn mất đi trật tự, tâm hồn không thể phát huy chức năng một cách hiệu quả và khách quan, tâm hồn đã bệnh, tâm hồn mất đi tác dụng ổn định, sẽ tạo ra những cơn cuồng phong bão tố.

Khi tôi ngồi trong hiên nghe mưa lắng nghe tiếng mưa… Bãi cỏ bên cạnh hiên, xanh đến long lanh, một mảnh tĩnh lặng, tiếng mưa rơi tí tách trên hiên, cũng rơi xuống tâm hồn tôi.

Khi mưa lớn, ầm ầm rào rào. Khi mưa nhỏ, tí tách tí tách. Khi tôi lắng nghe tiếng mưa, đồng thời cũng đang lắng nghe tâm hồn của chúng sinh!

Tâm hồn chúng sinh trở nên hỗn loạn và bất an, đánh mất trật tự, có những vết thương và nỗi buồn, mang đầy thương tích, nước mắt đầm đìa, con người trở nên thất vọng, tuyệt vọng, nghẹt thở, méo mó, làm tổn thương lẫn nhau, ô nhiễm, đấu tranh, và có những ý niệm xấu xa...

Tại sao lại như vậy? Có người nói: Đó là do lòng tham gây ra! Con người quá tham lam! Người tham tiền, tham sắc, tham danh, tham vị! Kẻ xu nịnh càng thêm xu nịnh! Kẻ tội lỗi càng thêm tội lỗi! Vì lòng tham, không từ thủ đoạn, trở thành sân hận! Vì lòng tham, đánh mất lý trí, trở thành si mê! Tham, sân, si là nguồn gốc tội lỗi của tâm hồn.

Người này nói rất đúng, thế giới chúng ta đang sống là một thế giới đầy tham, sân, si. Tham, sân, si này tràn ngập trong tâm hồn mỗi người, thậm chí ở mọi nơi, thậm chí ở mỗi quốc gia. Do tham, sân, si mà có tham vọng và cạnh tranh, có bạo lực và tổn thương, những hiện tượng này, từ cá nhân đến quốc gia, đều là như vậy. Thực ra, chỉ cần tĩnh tâm suy nghĩ một chút, những hiện tượng này ở khắp thế giới đều giống nhau!

Tuy nhiên, chúng ta chắc chắn phải sống trong quốc gia đầy tham, sân, si; chúng ta chắc chắn phải sống ở nơi đầy tham, sân, si; chúng ta chắc chắn phải sống giữa đám đông đầy tham, sân, si; sống như vậy, tâm hồn và thể xác khó tránh khỏi bị tổn thương; bạn, tôi, họ đều như thế, không một ai là ngoại lệ.

Tôi hiểu: Tôi học Phật vẫn bị tổn thương! Không học Phật cũng vẫn bị tổn thương! Từ nhỏ đã bị tổn thương! Đến già vẫn bị tổn thương! Liệu tôi có thể không bao giờ bị tổn thương không? Câu trả lời rất đơn giản, chỉ có ba chữ: "Không thể nào!"

Từ tiếng mưa đứt quãng, tôi nghe được vài từ: "Hãy xem tất cả tổn thương như không có tổn thương, chỉ có như vậy mới là không bao giờ bị tổn thương." Nghe mưa nghe được gì? "Tổn thương là đẹp, tổn thương là tình yêu!" "Tổn thương là tự nhiên, tổn thương là trạng thái chân thực!"

Trong hiên nghe mưa, tôi nghe mưa và nghe ra triết lý, dù có nhiều chuyện xảy ra với bản thân tôi, nhưng hãy tự hiểu đây là động thái của cả thế giới, bạn thấu hiểu nó, nhìn thấy sự thật, bạn tu thành bốn chữ: "Như không có gì!"

11. Thiên Mã đang bay

Từ cổng chính của sơn trang Cầu Vồng nhìn ra, có thể thấy núi Thiên Mã, chỉ cần ngắm nhìn dáng vẻ hùng vĩ tuyệt đẹp của núi Thiên Mã, tôi đã đắm say.

Bất kể là lúc nào nhìn núi Thiên Mã, nó luôn khác biệt, buổi sáng và hoàng hôn khác nhau, giữa trưa và đêm tối khác nhau, xuân hạ thu đông đều khác nhau.

Núi Thiên Mã vàng óng, núi Thiên Mã xanh thẫm, núi Thiên Mã trắng bạc, núi Thiên Mã đen tuyền, ngoài ra, còn có một mảng đỏ tươi.

Nhìn núi Thiên Mã, không phải cố ý chú ý đến nó, mà là tình cờ, bước ra khỏi cổng lớn, nhìn ra ngoài cửa sổ, đã chạm đến thị giác. Ngọn núi này thực sự luôn đồng hành cùng chúng ta; có khi, bạn sẽ nhớ về điều gì đó; có khi, trong lòng bạn sẽ gợn sóng; có khi, tâm trạng sẽ khác đi; có khi, nhận được một số gợi ý; hoặc có khi, bạn nhìn núi Thiên Mã, chẳng là gì cả, hoàn toàn tĩnh lặng.

Tôi và các đệ tử ngắm núi Thiên Mã. "Đây là thiên mã gì vậy?" "Thiên mã trái, đầu ngựa ở bên trái, bay về bên trái là thiên mã trái. Nếu đầu ngựa ở bên phải, bay về bên phải là thiên mã phải." - Tôi đáp. "Thiên mã có bay không?" - Đệ tử hỏi. "Anh thấy nó động? Hay tĩnh?" - Tôi hỏi lại. "Động tĩnh đều nằm trong tâm mình." - Đệ tử trả lời.

Đệ tử này hiểu được thiền cơ, mỗi người nhìn một ngọn núi, mỗi người có cách nhìn khác nhau, đó là do suy nghĩ khác nhau của mỗi người, điều này tạo ra những quan điểm hoàn toàn khác nhau, đó là thiền cơ, là triết lý, cũng là một nghệ thuật.

Bạn nói núi Thiên Mã là tĩnh, đó là vì tâm bạn tĩnh. Bạn nói núi Thiên Mã là động, đó là vì tâm bạn động.

Trước đây tôi thường nghĩ, đã đến lúc tôi cần tìm kiếm sự tĩnh lặng thực sự, tôi đã trải qua sự dạy dỗ của nhiều vị thầy, cũng trải qua việc tìm hiểu qua sách vở, thực sự tu hành suốt bao nhiêu năm, tôi đã từng ăn chay, cũng từng tiết dục, tôi đã từng tu khổ hạnh, tự giam mình..........

Tôi biết những phương pháp tu hành này chỉ là một phương tiện, chỉ là một công cụ, không nhất định thực sự có lợi ích. Tổ sư Naropa nói: "Đừng làm gì cả!" Đừng làm gì cả! Có phải là thiền định không? Đúng vậy, đó là thiền định.

Một câu nói rất quan trọng của Longchenpa: "Khi hành giả ngồi thiền, nếu chấp vào tính Không, cần biết rằng tâm chấp vào tính Không vẫn là vọng tâm. Vọng tâm này hẳn có nơi trú ngụ, nơi trú ngụ ấy là gì? Nó có hình dạng gì? Màu sắc gì? Từ đâu phát ra? Nhất định ở đâu? Cứ như vậy mà truy cứu, truy cứu không có gì, thì tâm tìm kiếm tâm đi về đâu? Cứ truy cứu, truy cứu mãi, truy cứu đến mức không còn gì để truy cứu nữa, ngay đó mà an trụ, một khi bừng ngộ, thì vọng niệm chấp không sẽ tan biến!"

"Kinh Kim Sí Điểu Phi Không" nói: Chân tâm không có biên giới, Không có trong ngoài, Không có nơi chốn.

Thượng sư của tôi từng dạy tôi: "Trong một sát-na, khi nhận ra đạo lý này, hãy an trụ như vậy, đừng chấp trước, đừng hướng ngoại, đừng phân biệt, nay định trước chưa định, tự nhiên sinh khởi, đây là giáo lý không hai của trí tuệ A Đạt Nhĩ Mã Phật."

"Kinh Phổ Thành" nói: "Chư Như Lai trong quá khứ đều thấy được tự tính này mà thành Phật, không có pháp nào khác để tu, cũng không có gì để đạt được. Chư Như Lai hiện tại và vị lai cũng thấy được tự tính này mà thành Phật, không có pháp nào khác để tu, cũng không có gì để đạt được."

Tôi thể ngộ được: "Niệm hiện tiền chính là bản tâm, không chấp trước, không kìm nén, không phóng túng, không thu giữ, tự nhiên an trụ."

Tôi thể hội được: Tam độc (tham, sân, si) là vô tự tính, về căn bản là không tồn tại, thế là giải thoát rồi. Ngũ môn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) là minh không, thế là giải thoát rồi. Lục thức (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là thể tính minh không, cũng được giải thoát trong bản không.

"Kinh Vân Hải" nói: Tam độc ngũ môn lục thức các cảnh giới, Tùy hiển bản lai giải thoát trụ bản nguyên; Vô đoạn vô trụ pháp tính thượng giải thoát, Vô duyên Phật tính vô chấp tự hiển hiện.

Sau khi tôi giác ngộ, nhìn thấy núi Thiên Mã, sự tĩnh lặng của dãy núi có một độ sâu nhất định, bất kể nó đang động, bất kể nó đang tĩnh, bất kể nó có bay hay không bay, dường như không cần phải quan tâm, cũng không cần đi tìm kiếm sự tĩnh lặng, bởi vì không tìm tự đến, không mời tự tới.

Hiện tại, tôi không còn nảy sinh sự mê muội và hỗn loạn như người thường, tôi bây giờ là "không minh", không phân biệt quá khứ, hiện tại, tương lai, tôi đang ở trong một thế giới rộng mở, rất an nhiên tự tại, chính là tĩnh lặng quán chiếu trên chính mình mà an trụ trong bản nhiên tự tại.

Tôi nhìn núi Thiên Mã: Rất đẹp. Rất tự nhiên.

12. Sự bập bùng của lửa Hộ Ma

Tôi ngồi một mình ở ngay phía trước lò Hộ Ma, khói lửa uốn lượn bay lên. Xung quanh có rất nhiều đệ tử đang trì tụng chân ngôn của Bổn tôn bằng giọng lớn.

Pháp hội Hộ Ma (cúng lửa) tại sơn trang Cầu Vồng đang diễn ra. Ở sơn trang, chúng tôi thường xuyên có những pháp hội như thế này.

Tôi tập trung chú ý vào nghi quỹ cúng dường của mình, chú ý đến sự biến đổi của cúng phẩm, chú ý đến lửa, chú ý đến thủ ấn cũng như ý niệm của mình.

Ngọn lửa Hộ Ma vấn vít cuộn lên, khi to khi nhỏ, ngọn lửa này kết nối với chư Phật Bồ Tát Bổn tôn, là cây cầu nối giữa các tầng ý thức. Pháp Hộ Ma của Mật giáo là một dòng kênh đầy hoan hỷ và vui thích, qua đó chúng ta gửi lòng thành kính của mình đến chư Phật Bồ Tát.

Tôi chăm chú nhìn vào ngọn lửa, như thể xung quanh không còn đệ tử nào, tôi quán tưởng Bổn tôn ở giữa ngọn lửa, rồi quán tưởng bản thân hòa nhập vào lửa. Ngay lúc này đây, lửa, Bổn tôn và tôi, ba thành một, đây là một sự tôn kính, một tình yêu sâu sắc, một pháp yoga, một sự cúng dường hợp nhất giữa trời và người.

Tôi biết pháp Hộ Ma, rất thanh tịnh, ý nghĩa của nó rất sâu rộng, nói thật ra, nó có thể bao hàm tất cả các pháp cúng dường, bên trong chứa đựng vô lượng ý nghĩa, không ngạc nhiên khi Đại sư Tsongkhapa nói rằng Hộ Ma là một trong ba đại thành tựu của Mật giáo.

Đối với Hộ Ma (cúng lửa), nhiều lời cầu nguyện khiến tôi vô cùng kinh ngạc, mỗi lần cầu nguyện đều có cảm ứng. Đây đương nhiên là những sự kiện kỳ diệu. Ví dụ: bệnh nhân với căn bệnh trầm trọng bỗng nhiên khỏi bệnh, tai họa đột nhiên biến mất, dập tắt tai ương, tăng thêm lợi ích, được sự kính mến, khiến kẻ thù lui bước, cầu phúc được phúc, cầu siêu được siêu độ... Cảm ứng đã xảy ra! Không để lại dấu vết gì! Vì vậy, ngọn lửa Hộ Ma (cúng lửa) cứ uốn lượn bập bùng cháy!

Hộ Ma có ý nghĩa nội tại sâu sắc về mặt ý niệm, nghi quỹ tạo thành ý thức, hai điều này không thể tách rời. Thông qua hành giả chủ trì Hộ Ma, kết nối với chư Phật Bồ Tát trong ý thức vũ trụ, nhờ vào lửa, có kỹ thuật và năng lực riêng, từ đó hình thành phần bề mặt và phần ẩn tàng của ý thức, cả phần bề mặt và phần ẩn tàng đều vô cùng quan trọng.

Về phần bề mặt — (pháp nhập thế). Cúng phẩm. Đốt cháy trong lửa. Chư Phật Bồ Tát nhận cúng dường. (Chỉ cần chư Phật Bồ Tát giáng xuống nhận cúng dường, những điều cầu nguyện sẽ có hiện tượng ứng nghiệm.) Phóng quang gia trì.

Còn về phần ẩn tàng — (pháp xuất thế). Điều này là ở cá nhân hành giả, hành giả tu tập chuyết hỏa định, bên ngoài làm Hộ Ma (cúng lửa), bên trong tâm và linh lực tĩnh lặng, chuyết hỏa phát sinh liên tục, các mạch trung tâm và các luân xa trong cơ thể hoàn toàn mở ra, chuyết hỏa uốn lượn trong cơ thể, tạo nên cảm giác ấm nóng.

Chuyết hỏa uốn lượn không ngừng, nhiệt linh lực càng tăng cường, bồ đề tâm nguyệt dịch hạ giáng, thủy và hỏa hòa hợp, tràn đầy trong trung mạch và các luân xa, đây là cảnh giới đại lạc, vô cùng an lạc và thoải mái, là cảm nhận về thế giới Cực Lạc, không thể nghĩ bàn.

Với sự hòa hợp của chuyết hỏa và bồ đề tâm nguyệt dịch, ngoài cảm giác hỷ lạc, còn vì chuyết hỏa đốt cháy tất cả chướng ngại, khiến nội tâm đạt được an lạc và dễ dàng đi vào đại định trong sáng, từ sự an lạc nội tâm nhìn ra mọi hiện tượng bên ngoài, tất cả đều an lạc. Vọng tưởng điên đảo tự nhiên dừng lại. Nội tâm trở về tĩnh lặng. Đại tự tại. Hoàn toàn dừng bặt. (Đây chính là cảnh giới định của Tam ma địa.)

Sự phát sinh của chuyết hỏa, cùng với sự hạ giáng của bồ đề tâm nguyệt dịch, cộng thêm tác dụng của lửa cháy, sẽ tạo ra ánh sáng bùng nổ của lửa, ánh sáng như mặt trời, ánh sáng như mặt trăng, hào quang như sao Thổ, và tia sáng như tia chớp. Đủ loại hào quang, như vòng tròn cầu vồng, bao quanh thân hành giả. (Đây là cảnh giới tịnh quang.)

Đây là: Tựa như ban ngày nắng chiếu rọi Nghìn kiếp đen tối bỗng sáng bừng Diệu tâm vốn tịnh tỏa ánh sáng Luân hồi nhiều kiếp nghiệp tiêu tan.

Người đời thường chỉ nhìn thấy phần bề mặt của Hộ Ma mà không biết rằng Hộ Ma cũng có phần ẩn tàng.

Nhiều pháp Mật giáo không phải là những mảnh rời rạc bên ngoài, mà là sự hợp nhất giữa trong và ngoài, giữa ý niệm và hành động, không có khoảng cách giữa chúng.

Lửa và cúng phẩm, lò Hộ Ma vẫn ở đó, tôi (người chủ trì) kết ấn dồn dập trong không gian.

Chư Phật Bồ Tát cảm ứng theo lời triệu thỉnh, hiện thân trong không gian, tỏa ánh hào quang, thật vô cùng trang nghiêm, khiến đại địa ngày càng trở nên tươi đẹp.

13. Hiểu lý lẽ

Gần đây tôi đọc "Nhân Minh Nhập Chính Lý Luận", sách này do Đường Huyền Trang dịch, tác giả là Thương Yết La Chủ - đệ tử của Trần Na.

Nhân Minh là một trong ngũ minh, thuộc về học thuật logic. "Nhân Minh Đại Sớ" nói: "Hiểu rõ nghĩa nhân này, nên gọi là Nhân Minh."

Học thuyết này do tiên nhân Túc Mục sáng tạo từ trước thời Đức Phật, sau đó được luận sư Đại thừa Phật giáo Trần Na hệ thống hóa và hoàn thiện.

Trần Na tự mình cũng viết: "Nhân Minh Chính Lý Môn Luận".

Nội hàm của "Nhân Minh Nhập Chính Lý Luận", nói theo ngôn ngữ hiện đại chính là Logic Học, trong đó đề cập đến rất nhiều thuật ngữ, có lập, có phá, có lượng, có so sánh. Theo lý thuyết Phật giáo, học Nhân Minh có lợi ích cho cả tự ngộ và giúp người khác ngộ, đối với tất cả sự lý đều hiểu rõ hơn, đây có lẽ cũng là "diệu quan sát trí"!

Nhân thì có thể sinh, nên có nhân quả. Tu tập từ nhân địa, trở thành nhân của tu hành, do tu mà chứng quả. Nhân thì có thể sinh, hỗ trợ nhân thành duyên, đó chính là nhân duyên. Nhân cũng có thể biến, đây chính là nghiên cứu về năng lượng, gọi là "nhân năng biến".

"Kinh Lăng Nghiêm" nói: "Phật giáo lấy nhân duyên làm tông, giáo lý của Đức Phật từ nông đến sâu, nói tất cả các pháp không ngoài hai chữ nhân duyên."

"Kinh Duy Ma Cật" nói: "Lực mạnh là nhân, lực yếu là duyên. Trước sau tương sinh, đó là nhân. Hiện tướng giúp đỡ nhau, đó là duyên. Các pháp cần nhân duyên kết hợp với nhau, sau đó mới thành lập."

Không chỉ Phật giáo như vậy, thực ra, đối với bất kì sự lý nào, muốn hiểu rõ, cần phải vận dụng lập luận của logic Nhân Minh.

Ngoài ra, tôi nhận thấy, trong "Thích Lượng Luận" có bốn chương, đó là "Hai đế của Phật giáo, Phật pháp, Bát nhã Ba la mật đa, và Nhân Minh".

Tôi dùng logic Nhân Minh để xem xét Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, để phân tích so sánh, tôi sẽ hiểu rõ hơn về sự lý, sáng tỏ hơn, và không còn mâu thuẫn xung đột. Tiểu thừa chú trọng tâm xuất ly. Đại thừa chú trọng tâm bồ đề. Kim Cang thừa chú trọng kiến giải về tính Không.

Trong giáo pháp của Đức Phật, cốt lõi cơ bản chính là ba yếu tố thiết yếu của đạo bồ đề: tâm xuất ly, tâm bồ đề và kiến giải về tính Không.

Theo Tiểu thừa, không bao giờ được phạm mười nghiệp bất thiện, không được sát sinh. Nhưng trong Đại thừa, nếu giết một người mà có thể cứu được trăm người, đối với một vị Bồ Tát thì được phép giết. Mặt khác, theo Kim Cương thừa, khi việc giết tương đương với việc siêu độ, dù đã phạm nghiệp sát sinh nhưng ngược lại mang lại lợi ích lớn hơn cho chúng sinh. Đối với người hiểu rõ sự lý, sẽ không thấy mâu thuẫn xung đột.

Vì vậy, nhiều giáo pháp trong Phật giáo, Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, tuy nhìn bề ngoài có vẻ mâu thuẫn, nhưng thực tế không hề mâu thuẫn.

Trong cách tu tập của Kim Cương thừa, có nhiều điều mà trong Tiểu thừa và Đại thừa đều không được phép làm, nhưng Kim Cương thừa lại cho phép, tôi cho rằng điều này liên quan đến việc chú trọng vào kiến giải về tính Không. Do đó, đối với một hành giả đã phát triển thân tâm đến cấp độ vô thượng, tự kỷ luật đã đạt đến mức siêu việt, có thể nói rằng họ được phép làm bất kì hành vi nào, đây chính là giáo pháp của Kim Cương thừa, cũng là một con đường nhanh chóng để thành Phật.

Ví dụ như Vô thượng Du già Mật tục, Tiểu thừa không được phép làm, Đại thừa không được phép làm.

Còn Kim Cương thừa dựa vào kiến giải về tính Không, dựa vào Không-Lạc đại định mà tu tập, đạt được sự chứng nghiệm thiền định tối hậu.

Tuy nhiên, Kim Cương thừa không phải là không giữ giới, mà là thọ giới từ truyền thừa "Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ", người xuất gia vẫn là hành giả của Thanh văn thừa (Tiểu thừa), và giáo nghĩa Đại thừa, trong tâm bồ đề vẫn phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Đây chính là Kim Cương thừa bao hàm nền tảng của Tiểu thừa và Đại thừa.

Tôi nghiên cứu Kim Cương thừa, biết rằng trong bốn bộ pháp Mật giáo: Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ, tuy có vẻ đa dạng phức tạp, hệ thống cũng nhiều, mật pháp cũng nhiều, nhưng nếu dùng Nhân Minh để quan sát kĩ, Kim Cương thừa quả thật kế thừa Phật giáo Ấn Độ và tuân theo giáo pháp một cách đúng đắn.

Trong bốn bộ pháp chủ yếu là để cung cấp phương pháp tu tập thực tiễn cho người có căn cơ khác nhau, giúp người học từng bước tiến lên, cho đến khi thành Phật.

Dĩ nhiên, cuối cùng là Vô thượng mật bộ, chỉ người có căn cơ thượng thượng mới có thể tu. Học tập Kim Cương thừa phải giữ giới. Học tập Kim Cương thừa phải phát tâm bồ đề. Học tập Kim Cương thừa phải hiểu rõ lý tột cùng của tính Không.

Tôi biết rằng, để đạt được thành tựu, một người nhất định phải tỏa ra ánh sáng của chính mình, ánh sáng này là Nhân Minh, là hợp lý, hợp logic, phải nhìn thấy mọi việc rõ ràng hơn người khác, không chút mơ hồ, không chút mâu thuẫn, không dựa dẫm, cũng không bám víu.

Tôi tự biết, dưới Nhân Minh, dưới ánh sáng của chính mình, tất cả năng lượng đều được phát ra, chuyển động của tư tưởng chính là một giá trị, tôi dùng Nhân Minh để quan sát, sự lý của thế giới này hiện ra từng điều một, tự do, tự chủ, rõ ràng, nhiều việc, đều có thể lắng lòng suy ngẫm thật kĩ.

14. Cho cá ăn ở hồ Mead

Thời còn đi học, trong quá trình học tập, tôi đã từng đọc một đoạn vấn đáp mang tính triết học như sau: Hai người quan sát cá. Một người nói: "Cá thật vui vẻ làm sao!" Người kia phản bác: "Anh không phải là cá, làm sao biết cá vui vẻ?" Người đã nói cá vui vẻ ban đầu, cũng đáp lại: "Anh cũng không phải là tôi, làm sao biết tôi không biết cá vui vẻ?" Cuộc đối đáp này khiến tôi suy ngẫm. (Đây cũng là một dạng logic.)

Tôi và một số đệ tử từng đến Stone City [thành phố Đá] ở bang Nevada, gần thành phố Đá có một hồ nhân tạo là hồ Mead.

Nước hồ Mead đến từ băng tuyết của dãy núi Rocky. Mặc dù hồ Mead là hồ nhân tạo nhưng diện tích bao phủ rất lớn. Nước uống của Las Vegas và nhiều thành phố thuộc bang Arizona đều phụ thuộc vào nguồn nước từ hồ này.

Bên bờ hồ Mead còn có đập Hoover, là nhà máy thủy điện, cung cấp điện cho Las Vegas và nhiều thành phố khác.

Phong cảnh hồ Mead rất đẹp, xung quanh là những dãy núi trập trùng, dưới ánh mặt trời, tất cả đều ánh lên màu vàng rực rỡ. Đó là một ngày nắng đẹp dễ chịu và đáng yêu, mặt hồ như gương, yên bình với màu xanh lam lục như một tấm vải trải giữa mây trắng và núi non, thực chất là phản chiếu của mây trắng và núi non in vào giữa mặt hồ.

Hướng dẫn viên nói với chúng tôi: "Đi cho cá ăn ở bờ hồ nào!"

Cho cá ăn là một trải nghiệm mới mẻ. Hướng dẫn viên nói: "Trong hồ Mead có hai loại cá, một loại là cá vược, một loại là cá chép, chúng to lắm, to lắm, cho chúng ăn thật thú vị." Anh ta còn nói: "Cá ở hồ Mead không được bắt hoặc câu, chúng được bảo vệ!"

Sau đó, chúng tôi dừng xe gần bờ hồ, bước lên cầu phao của bến tàu, chúng tôi nhìn thấy rất nhiều cá bơi lội tự do tự tại. Có bao nhiêu con cá? Không đếm được chi tiết, nhưng chắc phải có vài trăm vài nghìn con, chúng không sợ người, ngược lại hễ có người đến, chúng lập tức tụ tập lại, như thể đã biết trước những người này đến để cho chúng ăn, đến để cúng dường chúng.

Chúng tôi xé bánh mì thành từng miếng nhỏ ném xuống nước, đàn cá nổi hết lên mặt nước, há miệng tranh ăn, trong khoảnh khắc, hàng trăm cái miệng cùng mở ra, miệng cá to bằng quả trứng gà, những con cá thực sự rất lớn, cảnh tượng tranh ăn rất hùng vĩ và hoành tráng, đàn cá nhảy lên lộn xộn thành một đám...

Tôi ném xuống đúng hai ổ bánh mì. Nhìn đàn cá làm người ta hoa mắt. Tôi có chút suy tư...

Chúng tôi ở hồ Mead có một sự việc xảy ra, đó là cho cá ăn. Theo logic mà nói, chúng tôi không hề có ý định trước, chúng tôi không nghĩ đến việc cho cá ăn, chỉ là hướng dẫn viên mang theo rất nhiều bánh mì, ngoài ra, những con cá này cũng tự nhiên kéo đến.

Vì vậy, sự không định trước, cộng với việc tự nhiên kéo đến, tạo nên khung cảnh vĩ đại của việc cho cá ăn.

Bất chợt, tôi có một sự giác ngộ, âm thanh bơi lội của cá rất tuyệt vời, cả mặt hồ tràn ngập những âm thanh sôi động, dường như làm rung động trái tim tôi, khi lắng nghe âm thanh này, tôi đồng thời cũng tràn đầy những suy tưởng huyền diệu.

Ở nơi cho cá ăn đầy ắp những con cá, con người và cá ở đó tạo ra một hiệu ứng kỳ lạ, chúng thể hiện nhu cầu mạnh mẽ, còn chúng tôi chỉ vì một cảnh tượng nhất thời mà thực hiện một sự bố thí xa lạ. Tôi nhìn cá, nhìn miệng cá. Tôi có hạnh phúc không? Cá có hạnh phúc không? Những con cá ăn được bánh mì có hạnh phúc không? Những con cá không ăn được bánh mì có hạnh phúc không? Nỗi khổ của cá là gì? Và niềm vui của cá là gì?

Tôi chợt nhớ đến bài học thời còn đi học, một người muốn hiểu cá, phải đặt cá vào tâm mình, một người muốn hiểu hoa cỏ cây cối, cũng phải đặt hoa cỏ cây cối vào tâm mình, một người muốn hiểu thiên nhiên, nhất định phải đặt mây trời và đá núi vào tâm mình, và sau đó mới có thể thấy hết mọi thứ!

Cho cá ăn là một trong những hoạt động du lịch. Thử hỏi cho cá ăn có vui không? Câu trả lời của tôi là: "Rất phức tạp."

Chúng ta cho chúng ăn, nhìn ngắm chúng, rồi quên chúng. Đó chính là logic của việc cho cá ăn, chúng ta rời đi, lập tức tất cả trở nên im lặng, mặt hồ trở nên tĩnh mịch, trở nên trống rỗng, tiếng động của sự sống đã xa dần.

15. Đập Hoover

Đập Hoover ở bang Nevada. Đó là một con đập khổng lồ được xây dựng nhân tạo trong thung lũng, với các công trình như nhà máy điện lớn, đường xả lũ, đập bê tông cốt thép, cầu lớn, trạm biến áp, đường dây cao thế...

Nơi đây, ngoài nhà máy thủy điện, đã trở thành một điểm du lịch, từ trên cao nhìn xuống, đập nước trông thật hùng vĩ và hoành tráng.

Ở đây có một đài tưởng niệm để vinh danh Tổng thống Hoover đã thúc đẩy việc xây dựng đập, bên cạnh đài tưởng niệm là hai thiên thần được đúc bằng đồng, toát lên vẻ trang nghiêm yên tĩnh.

Mọi người có thể ngắm nhìn hồ nước của đập. Có thể tham quan nhà máy điện, toàn bộ khu vực sạch sẽ đến mức đáng ngạc nhiên. Mọi người có thể hình dung được sự gian khổ khi xây dựng đập trong thung lũng.

Tôi đương nhiên biết rằng, nhiệt điện là sử dụng sự đốt cháy của than để tạo ra năng lượng. Trong khi điện hạt nhân là sử dụng hạt nhân để tạo ra năng lượng. Còn có điện gió, là sử dụng gió để tạo ra năng lượng.

Còn về thủy điện: Là tận dụng nước từ nơi cao rơi xuống nơi thấp. Do độ chênh lệch tạo ra lực lớn. Lực này đẩy các tua-bin. (máy phát) Từ tua-bin tạo ra tác dụng điện từ. Từ tác dụng điện từ tạo ra điện năng. Đó chính là logic của thủy điện.

Tại đập Hoover tôi đã nghĩ về logic của thủy điện, đây thực sự là một điều kỳ diệu, từ dòng chảy của nước lại có thể tạo ra điện, đây là một nguyên lý chuyển đổi. Giống như nguyên lý vận hành của xe lửa ban đầu. Đốt than. Hơi nước vào máy hơi nước. Hơi nước đẩy pit-tông. Pit-tông kéo quay bánh xe sắt. Và thế là, xe lửa chạy.

Tôi chợt nghĩ ra: Quá trình tu trì của hành giả Mật giáo, từ thiền định sinh ra năng lượng, từ năng lượng sinh ra ánh sáng. Khi hành giả đạt được thành tựu siêu việt trong trạng thái thiền định thâm sâu, họ sẽ chứng đắc "tịnh quang".

Mật giáo có ba loại tịnh quang:

  1. Căn bản tịnh quang (mẫu tịnh quang) -- Thể quang minh thanh tịnh căn bản của vũ trụ.
  2. Đạo tịnh quang (tử tịnh quang) -- Thể quang minh thanh tịnh của bản thân hành giả.
  3. Quả tịnh quang (hợp tịnh quang) -- Chính là sự hợp nhất giữa mẫu tịnh quang và tử tịnh quang.

Tổ sư Mật giáo có nói: "Sự sinh khởi của mẫu tịnh quang chắc chắn phải sinh ra trong khoảnh khắc khi niệm trước đã diệt, niệm sau chưa đến, chính là lúc vô niệm vậy." Lại nói: "Sự sinh khởi của tử tịnh quang là ở trạng thái không tưởng tượng, không tư lự, không phân biệt, không thiền định, không hồi tưởng, không khởi niệm." (Đây là pháp Sáu Không của Tổ sư Tilopa.)

"Không thiền định" trong pháp Sáu Không có nghĩa là trong khi thiền định, không nghĩ rằng mình đang thiền định, có như vậy mới có thể nhập định.

Về chứng nghiệm tịnh quang, một số tổ sư cho rằng: Cần đạt được tịnh quang vào thời điểm trạng thái tỉnh thức sắp kết thúc và trạng thái ngủ vừa bắt đầu, tịnh quang được ứng dụng để hợp nhất thiền định thâm sâu và giấc ngủ. Khi thiền định thâm sâu, sinh ra tịnh quang. Khi ngủ sâu, sinh ra miên quang [ánh sáng trong giấc ngủ].

Ba cấp độ của tịnh quang:

  1. Quang — đã sinh ra ánh sáng.
  2. Nhiên — hiển phát ánh sáng.
  3. Trì — duy trì sự cháy sáng lâu dài, an trú lâu trong ánh sáng linh thiêng.

Đã từng có người nghi ngờ, một con người với thân thể vật chất, làm sao có thể tạo ra tịnh quang?

Khi đó tôi trả lời rằng, đây cũng là nguyên lý chuyển đổi, chúng ta hãy nhìn nước, dòng chảy của nước có thể tạo ra lực, lực có thể quay máy phát, máy phát có thể tạo ra tác dụng điện từ, có thể sản xuất điện, và khi điện được thông, liền tạo ra ánh sáng.

Tôi còn nói thêm, khi một người đi vào trạng thái thiền định thâm sâu sẽ tạo ra được lực, lực này làm xoay chuyển năm luân xa trong thân hành giả (mi tâm, cổ họng, tim, rốn, mật), nhờ tác dụng khai mở của năm luân này mà sinh ra tịnh quang, đây là khoa học của cơ thể người, là nguyên lý chuyển đổi.

Tôi nói, nếu tôn giáo biến thành sự sùng bái tượng thần, tín ngưỡng và nghi lễ đơn thuần, thì sẽ không tạo ra được sức mạnh, cũng không sinh ra được tịnh quang.

Tôn giáo phải tập trung vào sự tu dưỡng nội tâm, có thể phát huy được chức năng của nó, không chỉ là về tinh thần, mà còn là một sự chứng nghiệm thực sự, là sự chuyển hóa của cá nhân, cũng là sự chuyển hóa của toàn thể, đó chính là Mật giáo.

Vẻ đẹp và sự vi diệu của chân lý không nằm trong niềm tin và giáo điều, mà nằm trong nguyên lý chuyển hóa, điều rất khó đo lường, rất khó trải nghiệm, nhưng có thể chạm đến được, nó thực sự có điện có ánh sáng.

16. Sự phát sinh của vô thường

Có một nữ y tá trẻ đẹp, mới hai mươi tuổi, dáng người uyển chuyển duyên dáng, như một bông hoa, gương mặt tràn đầy sức sống tuổi trẻ.

Một ngày nọ, cô thay phiên cho bạn thân, trực tại phòng bệnh AIDS. Cô tiêm thuốc cho bệnh nhân AIDS. Không ngờ, kim tiêm lại gãy mất. Và chiếc kim đã gãy, thật không may lại cắm vào cánh tay của nữ y tá.

Trong một khoảnh khắc, chính là khoảnh khắc khi sự việc vừa xảy ra, tất cả mọi người xung quanh, kể cả bản thân cô, đều sững sờ. Trong phút chốc, gương mặt xinh đẹp của nữ y tá tái nhợt.

Trong giây lát, tất cả mọi người đều kinh hãi thốt lên, tất cả mọi người đều bất lực, tất cả mọi người đều không thể giúp được gì.

Vô thường đã xảy ra.

Rồi trong mùa đông năm nay, đầu đông đã có một trận tuyết rơi. Một đứa trẻ hàng xóm, với sự hứng khởi cao độ đã cầm một tấm ván trượt tuyết, trượt xuống từ sườn đồi, đứa trẻ hò hét vui vẻ, cực kì phấn khích. Tuyết rất dày, độ dốc lớn, tấm ván trượt tuyết chạy rất nhanh. Kết quả là đã trượt lên con đường bên cạnh sườn đồi. Bất ngờ, một chiếc xe tải đã rẽ ra, đâm vào đứa trẻ, trong khoảnh khắc ấy, thật thảm không nỡ nhìn.

Vô thường đã xảy ra.

Ngoài ra, có một đệ tử Chân Phật Tông, tướng mạo thật thà chất phác, khoảng bốn mươi tuổi, rất chăm lo cho gia đình, rất chuyên cần trong công việc, thích giúp đỡ người khác, tâm địa hiền lành. Sức khỏe anh rất tốt.

Ngày hôm đó, anh vừa cắt xong cỏ ở cả sân trước và sân sau. Lên giường đi ngủ. Nửa đêm, cơ thể bỗng co giật, chuột rút. Được đưa đến bệnh viện, anh đã ra đi. Bác sĩ không thể lý giải được. Đây thật sự là quá vô thường.

Ba câu chuyện tôi viết ra đây đều là sự thật. Ba sự kiện vô thường này đều đến quá nhanh, hoàn toàn không có bất kì dấu hiệu báo trước nào, đây không phải là chuyện kể, cũng không phải tưởng tượng, mà là những sự thật đã xảy ra xung quanh tôi.

Thế giới này chìm trong bầu không khí u sầu, niềm vui nhất thời thường là nỗi buồn vĩnh cửu, một gia đình mất đi một đứa trẻ, một gia đình mất đi người chủ, ngôi nhà chắc chắn trở nên trống rỗng lạ thường.

Còn cô y tá bị nhiễm máu AIDS kia, đây có thể xem là nhân quả gì? Là hình phạt gì? Dù cô có nhận được bao nhiêu lời xin lỗi hay bồi thường, cuộc sống của cô cũng trở nên vô nghĩa.

Cuộc đời cô là bóng tối, cuộc đời thật vô tình, cuộc đời quá nặng nề, những ngày tương lai hoàn toàn không dám tưởng tượng.

Nỗi buồn nghẹn ngào luôn ở đó, bạn không thể quên nó, không thể dùng cách giải trí nào hay tôn giáo nào để che giấu nó. Khi tôi ngồi xuống và suy nghĩ về ba sự việc này, tôi hiểu được ý nghĩa của vô thường, nó đến mà không cần mời, đôi khi mang đến nỗi đau tột cùng, vô thường như bóng theo hình, là một sự chờ đợi.

Dù bạn làm gì, bạn cũng không thể tránh khỏi nó. Cả tình yêu cũng kết thúc. Cả hận thù cũng kết thúc. Cả tình cảm cũng kết thúc. Cả thù oán cũng kết thúc.

Dường như, khi vô thường đến, ý nghĩa mà cuộc sống bộc lộ trở nên hoàn toàn vô nghĩa.

Khi tôi nghĩ về vô thường, suy nghĩ càng làm sâu sắc thêm nỗi buồn, trong đó chỉ có đau khổ, trong đó chỉ có nước mắt, hoặc là một số hối tiếc, dằn vặt và nhiều thứ khác, tất cả nỗi buồn sẽ ập đến với tôi, khiến tôi cảm thấy vô cùng bất lực.

Tôi nhớ đến một số vị đại sư trong giới tôn giáo, họ nói rằng, việc cầu nguyện Phật, Thần, Thượng đế ban phúc hộ trì chỉ là sự sùng bái hình thức thông thường, không có ý nghĩa. Việc cầu xin Phật, Thần, Thượng đế là một loại mê tín, là một sự phụ thuộc, dựa dẫm, là hình thức bên ngoài của tôn giáo.

Nghĩ kĩ thì điều đó có lý. Nhưng khi nghĩ lại, dưới sự đè nén của vô thường, con người mang theo bùa hộ mệnh, treo vật may mắn trên xe, cầu nguyện Phật, Thần, Thượng đế, chắp tay, lạy lạy, tụng kinh, chùa chiền và nhà thờ, chẳng phải cũng mang lại sự an tâm và thỏa mãn tinh thần sao?

Tu hành quá nghiêm túc rồi. Đôi khi, niệm Phật, trì chú, thực hiện nghi lễ tôn giáo, cúng dường Phật, cũng là một điều an ủi. Tôi cho rằng, sự sùng bái hình thức bên ngoài cũng là một phương tiện.

17. Sự kết nối truyền thống

Khi tôi ở Ấn Độ, tôi đã từng nghiên cứu về vấn đề hệ thống đẳng cấp bốn giai cấp của Ấn Độ. Theo lời kể của người địa phương, tôi mới hiểu rằng sự phân chia bốn giai cấp ở Ấn Độ quả thực rất nghiêm trọng. Con người sinh ra đã không bình đẳng, nhưng trong truyền thống Ấn Độ, điều này lại là vô cùng bình thường.

Sự phân chia bốn giai cấp của Ấn Độ bắt nguồn từ "Kinh Vệ Đà": Đại Phạm Thiên Vương (thần Sáng Tạo) sinh ra bốn giai cấp.

  1. Bà-la-môn: người sống thanh tịnh, có thể xuất gia hoặc tại gia, tu tập thanh tịnh để cầu Niết bàn.
  2. Sát-đế-lợi: hoàng tộc, cai quản ba giai cấp còn lại.
  3. Phệ-xá: những thương nhân buôn bán.
  4. Thủ-đà-la: nông dân và nô lệ.

Theo "Kinh Vệ Đà", Bà-la-môn sinh ra từ miệng của Đại Phạm Thiên Vương, Sát-đế-lợi sinh ra từ cánh tay, Phệ-xá sinh ra từ hông, và cuối cùng Thủ-đà-la sinh ra từ bàn chân của Đại Phạm Thiên Vương. Trong bốn giai cấp này, Bà-la-môn được xem là cao quý nhất, còn Thủ-đà-la là thấp hèn nhất.

Điều tôi nghe được ở Ấn Độ là ranh giới giữa bốn giai cấp được phân chia rất rõ ràng, không chỉ rõ ràng mà còn có khoảng cách rất lớn giữa các giai cấp.

Hệ thống bốn giai cấp là một truyền thống, cũng chính là tập quán, ví dụ: Không ăn chung — người thuộc các giai cấp khác nhau không được ăn cùng nhau. Không mặc giống nhau — trang phục của bốn giai cấp khác nhau. Không ở chung — bốn giai cấp sống tách biệt. Không đi chung — phương tiện đi lại của bốn giai cấp đều khác nhau.

Về phương diện hôn nhân, đối tượng kết hôn tất nhiên cũng không chung hôn nhân, họ không kết hôn hay cưới gả lẫn nhau.

Thậm chí nghiêm trọng hơn, một người Bà-la-môn cao quý hoàn toàn không cho phép người thuộc các giai cấp khác chạm vào, ngay cả chân cũng không được phép, nếu người thuộc giai cấp khác chạm vào phải lập tức đi rửa chân, vì đó là sự ô nhiễm, là bẩn thỉu.

Nghiêm trọng hơn nữa, người Bà-la-môn cao quý cũng không được ăn thức ăn do người không thuộc giai cấp Bà-la-môn nấu. Người thuộc giai cấp thấp hèn khi gặp người thuộc giai cấp cao quý, chỉ có thể nằm phủ phục trên mặt đất, không dám ngẩng nhìn. Người thuộc giai cấp thấp hèn không có quyền lên tiếng. Và nhiều điều khác nữa.

Ở Ấn Độ, nam nữ có bình đẳng không? Câu trả lời dĩ nhiên là phủ định. Điều này có thể thấy rõ trong Bát kính pháp do Đức Phật thiết lập.

Sau khi Như Lai thành đạo được mười bốn năm, di mẫu của Ngài cầu xin xuất gia, Đức Phật không cho phép, vì chính pháp vốn có thể tồn tại một nghìn năm, nếu nữ giới xuất gia thì sẽ giảm đi năm trăm năm. Cuối cùng, sau khi Ananda ba lần thỉnh cầu cho phép nữ giới xuất gia, Đức Phật không thể từ chối, bèn giảng Bát kính pháp, nhờ đó nữ giới mới được thọ giới xuất gia.

Bát kính pháp như sau:

  1. Tỳ kheo ni dù một trăm tuổi, gặp tỳ kheo mới thọ giới, cũng phải đứng dậy đón tiếp, lễ bái, trải tòa sạch và mời ngồi.
  2. Tỳ kheo ni không được mắng nhiếc, phỉ báng tỳ kheo.
  3. Không được nêu tội của tỳ kheo, nói lỗi của họ, nhưng tỳ kheo có thể nói lỗi của tỳ kheo ni.
  4. Tỳ kheo ni học pháp, đã học giới, phải từ chúng tăng cầu xin đại giới.
  5. Tỳ kheo ni phạm giới, phải trong nửa tháng, trong chúng tăng ni cầu pháp sám hối.
  6. Tỳ kheo ni phải từ tỳ kheo cầu người giáo thọ.
  7. Không được kết hạ an cư tại nơi của tỳ kheo.
  8. Sau khi kết hạ an cư, phải đến chúng tăng, cầu pháp sám hối.

Từ những giới luật do Đức Phật thiết lập, có thể thấy rõ vấn đề nam nữ có bình đẳng ở Ấn Độ hay không!

Tôi đã từng suy nghĩ về vấn đề truyền thống, suy nghĩ về vấn đề tập quán, suy nghĩ về vấn đề bình đẳng nam nữ...

Tôi nhận ra rằng truyền thống và tập quán có sức mạnh rất lớn. Nói về Ấn Độ, mặc dù các truyền thống và tập quán cũ đã được thay thế bằng dân chủ và tự do trong thời hiện đại, và dù có nhiều người hô hào dân chủ tự do, nhưng truyền thống hôn nhân vẫn ràng buộc phần lớn các gia đình Ấn Độ. Giữa người giàu và người nghèo vẫn còn khoảng cách, mỗi nghề nghiệp đại diện cho một tầng lớp mới của riêng họ, và bản sắc gia tộc cùng truyền thống của họ vẫn chưa biến mất.

Ngoài Ấn Độ ra, các quốc gia khác, có lẽ đã thực hiện dân chủ tự do từ rất lâu, nhưng tôi vẫn nhận thấy, mỗi quốc gia đều có truyền thống và tập quán riêng của mình, chỉ là chúng không quá hiển nhiên, không quá bề nổi, không nổi lên trên bề mặt, không dễ dàng được mọi người biết đến, mà chỉ tồn tại bên trong.

Tôi nghĩ về Chân Phật Tông mà tôi đã sáng lập. Chỉ vì là "mới", dưới áp lực mạnh mẽ của các thế lực truyền thống, gần như không có chỗ đứng để tồn tại. Truyền thống cũ là tốt? Hay là mới?

Tôi đã cải cách việc tụng kinh và quán tưởng dài dòng của Mật giáo, biến nó thành một kinh, một chú, một Bổn tôn, giúp rút ngắn thời gian, cô đọng tinh túy, đơn giản và mạnh mẽ. Chân Phật Mật Pháp của tôi là mới, tôi đã từ bỏ gánh nặng truyền thống cũ. Điều này có mâu thuẫn không?

Truyền thống tất nhiên sẽ phủ nhận, nhưng tôi nghĩ đến Đức Phật, Đức Phật ngày xưa cũng đã thoát ra khỏi khuôn khổ truyền thống.

18. Đạo Quả của Virupa

Tôi đã từng học giáo pháp "Đạo Quả" từ Thượng sư Sakya Chứng Không. "Đạo Quả" là giáo pháp cao nhất, sâu sắc nhất và rộng lớn nhất của dòng Sakya (Hoa giáo) trong Phật giáo Tây Tạng. Chúng ta có thể nói rằng, nó bao gồm toàn bộ con đường tu tập từ khi bắt đầu là phàm phu cho đến khi thành tựu viên mãn quả vị Tứ thân Như Lai. Nói chung, hành giả Mật giáo cho rằng truyền thừa "Đạo Quả" có thứ lớp rõ ràng nhất, giáo pháp đầy đủ nhất, với các yếu quyết được trình bày chi tiết.

Cái gọi là "Đạo" chỉ các đạo pháp của Mật giáo như bốn tầng quán đảnh (bình, mật, tuệ, viên), năm đạo, mười ba địa, ba mươi bảy bồ đề phần, v.v.

Cái gọi là "Quả" là sau khi tu tập Phật pháp, đạt được ba loại đức của quả là tự lợi, lợi tha, và lợi cả mình lẫn người.

Tác giả của những câu kệ kim cang trong "Đạo Quả" là Virupa. Tiểu sử của Virupa kính ghi như sau:

Virupa là người thuộc dòng dõi Sát-đế-lợi (hoàng tộc) ở Ấn Độ, đã từ bỏ ngôi vua, thọ giới xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thắng Thiên thuộc "Nhất Thiết Hữu Bộ" tại chùa Nalanda, pháp danh là Hộ Pháp. Sau khi Thắng Thiên viên tịch, Virupa trở thành vị thượng tọa của tất cả các học giả tại chùa Nalanda.

Khi Hộ Pháp mới vào chùa Nalanda, Thắng Thiên dạy ông tu học Yoga Thượng Lạc Luân, ông tiếp tục tu tập không gián đoạn cho đến khi trở thành trụ trì của chùa, nhưng trải qua nhiều năm khổ tu lâu dài, vẫn không có dấu hiệu tương ứng nào. Virupa vô cùng thất vọng. Ông ném chuỗi hạt mang theo bên mình vào cầu tiêu, thề không tu tập nữa.

Tuy nhiên, trong giấc mơ đêm đó, ông thấy Vô Ngã Phật Mẫu hiện thân, an ủi và khuyến khích ông, bảo ông sám hối tội lỗi, và dùng nước hoa tẩy rửa chuỗi hạt cho ông, đồng thời hứa sẽ gia trì để ông nhanh chóng thành tựu.

Ngày hôm sau khi tu pháp, Virupa đã tu pháp sám hối, nhặt lại chuỗi hạt và nỗ lực tu tập. Vào ban đêm, ông thấy được đàn thành của mười lăm thiên nữ trí tuệ hóa thân, và nhận được bốn quán đảnh viên mãn. Sau đó bảy ngày, ngày nào cũng có dấu hiệu tương ứng.

Điều nổi tiếng nhất là khi Virupa rời khỏi chùa Nalanda, ông đến rừng Varanasi để tu hành. Tại khu rừng Varanasi, ông từng dùng song vận gia trì cho Sukhasiddhi lúc đó đã 61 tuổi, khiến bà trở thành thiếu nữ 16 tuổi.

Virupa chu du khắp nơi, từng chặn dòng sông Hằng, cũng từng khiến mặt trời ngừng lặn. Ông hiển lộ rất nhiều thần thông.

Theo truyền thừa "Đạo Quả" tại Ấn Độ: Long Thụ - Thích Ca Thiện Hữu - Xí Nhiên Chủ - Tỳ Bà Ba - Đông Tỷ Hách Lỗ Hạ - Vô Địch Nguyệt.

Truyền thừa "Đạo Quả" tại Tây Tạng: Vô Địch Nguyệt - Trác Di Dịch Sư - Sakya Cống Khước Kiệt Ba - Cống Ba Wa - Cống Cát Ninh Ba - Các đời truyền thừa Sakya - Thượng sư Sakya Chứng Không - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Sau khi viết xong lịch sử "Đạo Quả" và Virupa, điều khiến tôi xúc động nhất là, đoạn Virupa tu tập Thượng Lạc Luân đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Virupa tu tập Yoga Thượng Lạc Luân nhiều năm mà không có cảm ứng. Trong cơn tức giận, ông ném chuỗi hạt vào cầu tiêu, thề không tu pháp nữa. Đêm đó, Vô Ngã Phật Mẫu hiện thân. Virupa sám hối và nỗ lực tu tập trở lại. Bảy ngày liên tiếp có dấu hiệu tương ứng.

Tôi cảm thấy rằng câu chuyện này có thể truyền cảm hứng cho nhiều hành giả Mật giáo, bởi tôi biết có nhiều hành giả Mật giáo tu tập không ngừng nghỉ, một năm trôi qua, năm năm trôi qua, mười năm trôi qua, cô độc một mình, mà chư Phật Bồ Tát không có chút cảm ứng nào. Những người thiếu kiên nhẫn, giống như Virupa, đều muốn từ bỏ! Hành giả nghi ngờ Mật pháp không đúng đắn. Hành giả nghi ngờ Mật pháp không toàn vẹn. Hành giả nghi ngờ này, nghi ngờ nọ, tự hỏi liệu mình có đi sai đường, tu sai pháp, hoặc thậm chí liệu có Phật Bồ Tát thật sự tồn tại hay không?

Bây giờ tôi muốn nói với mọi người rằng, đó chính là nghiệp chướng của bản thân. Câu chuyện của Virupa dạy chúng ta rằng, bất kì thành tựu nào cũng đến từ sự chuyên tâm nhất trí, bất kì thành tựu nào cũng đến từ nghị lực, bất kì thành tựu nào cũng đến từ sự rèn luyện.

Thành tựu trong Mật pháp chắc chắn không phải là thứ nhặt được, không phải là chỉ chạm vào là có cảm ứng kỳ diệu. Tôi cho rằng, phải bỏ công sức khổ luyện, phải trải qua nhiều năm khổ tu, đây là việc thiêng liêng nhất, là đại sự của đời người, không hề dễ dàng.

Ví dụ như tôi tu đại pháp A Di Đà, Bổn tôn của tôi chính là A Di Đà Phật. Dĩ nhiên không chỉ tu tập mười năm. Việc tu pháp của tôi giống như ăn cơm, ăn đã lâu đến nỗi hoàn toàn không còn ý thức về sự tồn tại của việc ăn cơm, mọi thứ đều bình thường. Thật sự, trong một thời gian rất dài, không có dù chỉ một chút dấu hiệu tương ứng nào. Nhưng tôi không nản lòng, tôi kiên trì không buông bỏ. Chỉ là tôi đã từng nghĩ, hay đổi Bổn tôn đi, có lẽ Địa Tạng Bồ Tát mới là Bổn tôn của mình. Tuy nhiên, điều tuyệt vời đã xảy ra, tôi thấy A Di Đà Phật, tôi thật sự nhìn thấy, ánh sáng đó, khác biệt chính là khác biệt, liên tục bảy ngày, đều có dấu hiệu tương ứng. Cảm nhận của bản thân tôi, người khác sẽ không bao giờ biết được. Chỉ là, tôi hiểu được cảm xúc của Virupa khi ông ấy đạt được dấu hiệu tương ứng!

19. Thích đi bộ đường dài

Bốn chữ "đi bộ đường dài", dường như đã lâu lắm rồi tôi không nghe thấy. Thời tiểu học, tôi rất thích bốn chữ này. Khi học ở trường tiểu học Đại Đồng ở Cao Hùng, Đài Loan, chỉ cần nghe đến "đi bộ đường dài" là tôi sẽ nhảy cẫng lên vì phấn khích.

Chúng tôi đã đi bộ đường dài đến núi Thọ Sơn, Kỳ Tân, sông Ái Hà, lầu Xuân Thu, hồ Đại Bối (hồ Trừng Thanh), núi Quan Âm, núi Đại Cương, v.v... Tôi nghĩ, đi bộ đường dài có lẽ tương đương với dã ngoại, chỉ là tại sao thời đó lại dùng cụm từ "đi bộ đường dài", có thể là vì phải đi bộ thật xa một chút!

Dã ngoại của người hiện đại là ngồi xe đến ngoại ô, sau đó mới đi bộ. Còn đi bộ đường dài ngày xưa thực sự là đi bộ.

Tại sao tôi đặc biệt thích đi bộ đường dài, khi nghĩ kĩ, thực ra cũng không nói được lý do tại sao. Tôi chỉ cảm thấy đi bộ đường dài là việc làm thư thái cả thân lẫn tâm, là khi tâm trạng được phóng khoáng là lúc thư giãn nhất, giống như chim nhỏ được thả ra khỏi lồng, tự do tự tại!

Rời khỏi thời tiểu học, bước vào trung học, đại học, bước vào xã hội, sự cạnh tranh của xã hội mang tính toàn diện, nội dung cuộc sống cũng thay đổi, tiếp theo là những xung đột giữa con người, sự rối ren giữa các giáo phái, nỗi đau của sự công kích và phỉ báng, những nỗi buồn này là không thể tránh khỏi. Đôi khi tĩnh tâm suy nghĩ, thời học sinh thật sự quá đơn thuần.

Hiện tại chúng tôi sống trong tăng đoàn, hàng ngày trải qua cuộc sống tu hành đơn điệu, thỉnh thoảng, mọi người cùng đi đi bộ đường dài, dã ngoại, vẫn cảm nhận được niềm vui khó tả, vì vậy, trong tăng đoàn, tôi đặc biệt khuyến khích mọi người đi bộ đường dài, dã ngoại.

Trong bầu không khí trong lành của núi cao, chúng ta có thể nhìn thấy những cánh đồng xanh mướt, những dãy núi trùng điệp, màu xanh rì của cây cỏ, mặt đất nở rộ trăm hoa, những dòng suối uốn lượn, và ở xa xa là những dãy núi phủ đầy tuyết trắng.

Chúng tôi đã rời xa thành phố lớn, rời xa thị trấn, rời xa nhà cửa cao tầng, rời xa đám đông, như thể đang hòa mình vào núi sông đất trời, tất cả hiện ra đều là màu xanh, cùng với biển xanh, bầu trời xanh, cả đất trời đều phong phú và tươi đẹp. Chúng tôi hát! Chúng tôi nhảy múa! Chúng tôi nói cười! Tất cả đều hết mình...... Tôi nhớ lại thời học sinh và những chuyến đi bộ đường dài. Chúng tôi hôm nay vẫn đang đi bộ đường dài. Đi bộ đường dài thật sự là tuyệt vời quá!

Tôi nhận ra rằng, vùng ngoại ô không bị ô nhiễm, nước như ánh mắt long lanh, núi như đôi mày nhíu lại, những ngọn núi cao vút, dòng nước trong vắt khiến tâm hồn đang phiền muộn hoàn toàn lắng xuống. Sự thiêng liêng của những đám mây trắng, sự mênh mông của đất trời khiến người ta chìm đắm trong suy tư, mọi ràng buộc đều biến mất. Giữa con người với nhau, lời nói và cử chỉ trở thành những tình cảm dịu dàng đầy niềm vui, đi bộ đường dài thật là phong phú và tươi đẹp biết bao!

Chúng tôi đi qua một cây cầu khỉ, đi qua một con suối nhỏ hẹp và lầy lội, chúng tôi đi xem thác nước rộng lớn... Cầu khỉ là tiếng hét ngạc nhiên. Suối lầy lội là sự chạm nhẹ cẩn thận. Thác nước lớn là vẻ đẹp trang nghiêm. Cảm nhận trong lòng tôi được sinh ra từ những chuyến đi bộ đường dài.

Khi tôi lắng lòng suy nghĩ, tôi càng ngày càng không thích hình thái xã hội và quốc gia phức tạp, nơi nhà nước có những kẻ độc tài kiểm soát tự do của con người, tâm trí người dân bị đàn áp, các ràng buộc truyền thống tạo ra đủ loại gông cùm, chính trị gia dùng những lời hứa vô tận để lừa gạt chúng sinh, sự tham nhũng đáng sợ và sự phân hóa khủng khiếp, cùng với những xung đột bất tận giữa người với người và cuộc chạy đua vô tận vì danh lợi.

Cái giá của sự trưởng thành, thực ra là: Đau khổ. Buồn phiền. Không hạnh phúc. Sự đối lập giữa người với người.

Xã hội và quốc gia của người trưởng thành, bề ngoài là tự do, dân chủ, nhưng do áp lực ràng buộc từ xã hội, kinh tế, chính trị, thực tế lại là một nhà tù, chỉ là nhà tù này lớn hơn mà thôi.

Khi tôi nghĩ đến những điều này, tôi càng nhớ về thời thơ ấu, lúc nhỏ không có ý niệm về thiện ác, lúc nhỏ không hiểu thế nào là phi lý, lúc nhỏ không biết thế nào là quyền uy, thế nào là danh lợi địa vị, tâm hồn thuở nhỏ không phải là tâm hồn rời rạc, mà là trọn vẹn, tự do, trong sáng.

Tôi đề xướng đi bộ đường dài. Đi bộ đường dài đưa tôi trở về thời tiểu học. Cả đêm không ngủ được. Nửa đêm thức dậy, xem có mưa không? Đi bộ đường dài khai mở thân tâm. Đi bộ đường dài là cảnh giới giải thoát.

20. Hoa cúc dại màu vàng

Trên đường đi, chúng tôi đi theo con đường số 90 hướng về phía Đông, chúng tôi đến Leavenworth [ngôi làng nước Đức] để dã ngoại.

Trên đường đi, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ xe, đây là thói quen của tôi, tôi ngắm nhìn những dòng suối uốn lượn, những dãy núi xa xa, những mảnh đất xinh đẹp.

Từ Seattle Lôi Tạng Tự đến ngôi làng nước Đức mất khoảng hai tiếng rưỡi đồng hồ. Vào lúc sáng sớm. Có chút mưa phùn, trời âm u, trong xe hơi lạnh, tôi thấy một vài vị pháp sư sợ lạnh đang quấn chặt áo khoác màu đỏ. Có vài cư sĩ tại gia đang nói cười vui vẻ, cũng có một vị pháp sư đang tập trung vào chuỗi hạt của mình, và một số người khác đã chìm vào giấc mơ ngọt ngào.

Tôi quay đầu về phía cửa sổ, thế giới bên ngoài cửa sổ vẫn thu hút sự chú ý của tôi hơn, tôi nhận thấy dọc theo con đường, những bãi cỏ xanh nở đầy từng mảng lớn hoa cúc dại màu vàng, hoa cúc dại màu vàng trong ánh sáng buổi sớm hiện lên một màu vàng rực, có vẻ đẹp vi diệu.

Bỗng nhiên, tôi nhớ đến một bức ảnh, đó là Cống Đường Thương Hoạt Phật, ngài ngồi giữa một cánh đồng hoang, và cánh đồng đầy những bông hoa cúc dại màu vàng nhỏ nhỏ, Cống Đường Thương Hoạt Phật ngồi dưới một chiếc ô, giữa đám hoa cúc dại.

Bức ảnh đó để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi, nghe nói, đó là thảo nguyên Cam Túc, vào ngày đại pháp hội Thời Luân Kim Cang của tu viện Labrang, các pháp hội của người Tạng đều được tổ chức trên thảo nguyên rộng lớn, và Cống Đường Thương Hoạt Phật đã chụp ảnh giữa đám hoa cúc.

Ngoài ra, trong ấn tượng của tôi, trên động Vỏ Sò ở sơn trang Cầu Vồng cũng thường xuyên mọc đầy hoa cúc dại màu vàng, phủ kín cả sườn đồi, từng có một vị pháp sư chạy lên động Vỏ Sò để tĩnh tọa, nhìn từ xa, nửa người chìm hẳn trong đám hoa.

Bản thân tôi cũng từng nghĩ như vậy, tìm một ngày hoa cúc dại vàng nở rộ, cẩn thận tránh xa mọi người, khẩn trương chạy đến sườn đồi sau khu rừng, rồi ngồi xuống, và đi vào thiền định.

Xem cảm nhận có khác biệt không, bởi vì hoa cúc dại ở gần kề như vậy, hoa cúc dại rõ ràng, mềm mại, duyên dáng muôn phần đang áp sát bên mình, thật là làm say lòng người, thật sự vinh quang.

Thiền định giữa đám hoa cúc dại hẳn là một bức tranh làm say lòng người.

Nói một cách nghiêm túc, trong trăm hoa, mẫu đơn là vua của các loài hoa, lan thì có hương thơm kín đáo, hoa trà có vẻ đẹp thanh tao, hoa mơ thì e thẹn đáng yêu, thủy tiên có vẻ đẹp cao quý thoát tục, hoa sen vàng có dáng vẻ tiên nữ, thược dược cũng rất xinh đẹp, hoa lựu có vẻ đẹp kiều diễm, hoa quế thì tỏa hương thơm ngát, hoa mai với vẻ đẹp rực rỡ chịu được giá lạnh, hoa đào thì rực rỡ, hoa sơn trà như ngọc quý, hoa hồng thì lộng lẫy. Còn có hướng dương, phượng tiên, hoa mào gà, hoa poppy, hoa chuông, hoa ly, thiên điểu, phù dung, hoa tulip, v.v...

Hoa cúc tuy thách thức sương giá, nhưng hoa cúc dại màu vàng hẳn là vô danh, chỉ vì chúng mọc khắp núi đồi. Tuy nhiên, tôi nghĩ chỉ có hoa cúc dại màu vàng này mới có thể tô điểm cho đất trời nơi thôn dã, với gấm vóc rực rỡ, hương thơm nồng nàn, muôn hoa như những chấm nhỏ, phân bố như những vì sao, dần dần nhuộm khắp đất trời, những bông hoa vàng nhỏ dày đặc ấy làm lòng người hân hoan.

Viết một bài kệ: "Dãy núi Triều Thiên nối liền trời, đồng bằng đất rộng vàng khắp nơi, hoa cúc vàng nhỏ sinh vô tận, tôi vui chắp tay trước hoa trời."

Tôi nghe nói, mẫu đơn là vua của các loài hoa, những giống quý lạ của nó được chia thành năm loại, đó là: Hoàng Lâu Tử. Ty Hồ Điệp. Tây Qua Thu. Vũ Thanh Nghê. Đại Hồng Sư. Lại truyền thuyết rằng, mẫu đơn Lạc Dương đứng đầu thiên hạ, đây là khi Võ Tắc Thiên ngự giá đến thượng uyển, viết một bài thơ: "Sáng mai dạo thượng uyển, hỏa tốc báo xuân hay, trăm hoa đêm nở rộ, chớ đợi gió sớm lay."

Kết quả, trăm hoa không dám trái lệnh, chỉ trong một đêm đã nở hoa, chỉ có mẫu đơn là không chịu tuân phục, nên bị Võ Tắc Thiên đày đến Lạc Dương.

Tuy nhiên, dù các loài hoa danh tiếng có vẻ đẹp yêu kiều thì chúng đều có mùa, có nơi riêng, chỉ có hoa cúc dại màu vàng là nở rộ khắp nơi, đẹp đẽ tràn đầy trước mắt.

Tôi từng suy ngẫm về đạo lý "thần thánh và bình phàm", điều gì là thần thánh, điều gì là bình phàm? Cùng một khúc gỗ, nếu tạc thành tượng Phật thì trở nên thần thánh, nếu đẽo thành chiếc ghế thì lại trở nên bình phàm.

Nếu là một mảnh đất xây thành ngôi chùa, nó sẽ trở thành nơi thần thánh, tràn đầy không khí trang nghiêm, còn nếu đào thành hố phân, nó sẽ trở nên bình phàm. Không chỉ bình phàm mà còn thấp hèn.

Nếu kim cương nhiều, nhiều như đá sỏi, và nếu thủy tinh lại hiếm có, thì điều gì là thần thánh, điều gì là bình phàm?

Nếu mẫu đơn mọc khắp mọi nơi, mẫu đơn còn thần thánh nữa không?

Nếu hoa cúc dại vàng nhỏ lại hiếm, phải dùng thủy tinh tốt nhất mới có thể nuôi được, thì hoa cúc dại nhỏ bé ấy còn bình phàm nữa không?

Điều gì là thần thánh? Điều gì là bình phàm?

21. Đi bộ đường xa ngắm cá

Gần ngôi làng nước Đức, dưới sườn núi, có một trại nuôi cá với những ao cá hình chữ nhật rất lớn, các ao hình chữ nhật được xếp song song, rất nhiều, rất nhiều.

Bên cạnh ao cá có nhà máy bơm để bơm nước ngầm, bơm nước để nuôi cá, nước được lưu thông giống như nước tự nhiên khi cá sinh sống.

Phía trên ao cá, người ta dùng cây tre để treo một sợi dây dài, đầu dây buộc một con đại bàng làm bằng giấy, con đại bàng giấy bay phấp phới theo gió. Có người hỏi tôi tại sao lại có đại bàng giấy?

Tôi dùng logic của mình để suy luận: Trong các loài chim bay, có một số loài sống nhờ cá, ví dụ như chim bói cá bên bờ ao là loài lao xuống, lướt trên mặt nước, rất nhanh chóng cắn lấy cá nhỏ rồi nuốt cá. Đại bàng giấy tất nhiên là giả, nhưng đại bàng là vua của các loài chim, nhiều chim nhỏ đều sợ đại bàng, khi có đại bàng ở đó, các loài chim ăn cá không dám đến gần, do đó, để tránh cá nhỏ bị tấn công bởi các loài chim nên mới có đại bàng giấy.

Bên cạnh ao nuôi cá có con sông, nơi đó dường như có một không gian rất rộng lớn, nhiều cây to, nhiều bóng râm xanh, dãy núi ở nơi xa hơn, phải đi qua một khoảng đồng bằng rộng lớn hơn nữa mới có thể đến chân núi.

Chúng tôi đến bên ao cá để ngắm cá: Có "cá sa môn" đuôi nhỏ, mảnh như sợi chỉ. Còn có loại lớn hơn, kích cỡ như cây bút máy. Chen chúc ken dày.

Có thể tưởng tượng được dáng bơi uyển chuyển của cá, cá là vẻ đẹp động, cá có hình dáng riêng của mình, được tạo hình trong không gian mà con người tạo ra, và tồn tại, sinh sống trong không gian đó.

Chúng tôi tiếp tục tìm cá lớn. Không có con nào đuôi lớn cả, không một con đuôi lớn nào, lạ thật, sao lại không có cá đuôi lớn nhỉ? Có người nói: "Đã bị bán hết cho siêu thị rồi!" "Chuyện gì vậy?"

Chúng tôi đi hỏi người quản lý trại nuôi cá, câu trả lời của anh ta khiến chúng tôi ngạc nhiên, anh nói: Trại nuôi này do chính phủ Mỹ thành lập, nuôi cá sa môn giống, khi cá giống phát triển đến một mức độ nhất định, trại nuôi sẽ thả chúng về sông suối, giúp kéo dài sự sống của cá trong các dòng suối.

Hóa ra trại nuôi cá do chính phủ Mỹ thành lập không phải là cơ sở kinh doanh, không phải là nơi tư nhân nuôi cá, nuôi tôm, nuôi hàu.

Thì ra trại nuôi cá này, điều mà nó tạo ra, là cầu nối giữa cá giống và cá trưởng thành, là nơi hỗ trợ cá giống phát triển, đây là một khái niệm hoàn toàn mới của thời hiện đại, tư duy này khác với người đời thường, đầy ắp tư tưởng, không gian do tư tưởng tạo ra, khi cụ thể hóa nó, sẽ hình thành sản phẩm của trại nuôi cá.

Trại nuôi cá này không phải là khái niệm hẹp, không phải để bán cá. Trại nuôi cá này là khái niệm rộng lớn, khi cá được nuôi trưởng thành sẽ được thả về sông, lý tưởng nuôi cá là: "Để mọi sông suối hồ ao ở Mỹ đều có cá." Trại nuôi cá này tạo ra mối quan hệ giữa con người và cá, tôn trọng cá, tôn trọng cuộc sống của cá, hay tôn trọng một quy tắc, một nguyên tắc.

Ở Mỹ: Có những loại cá được phép câu. Có những loại cá được bảo vệ. Có những nơi được phép câu cá. Có những nơi được bảo vệ. Nguyên tắc này là để cá có thể sinh sôi nảy nở, tồn tại và phát triển mãi mãi.

Ở Mỹ, rừng cú được bảo vệ, cá voi ở tiểu bang Maine được bảo vệ, gấu được bảo vệ, tất cả các loài động vật quý hiếm đều được bảo vệ, ngay cả người thổ dân cũng được bảo vệ, vì thế mới có phạm vi "khu bảo tồn người thổ dân".

Ngày nay, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật là những quan niệm hoàn toàn mới của thời đại. Đây không chỉ là những danh từ trừu tượng, cũng không phải là những lý tưởng, mà đã được đưa vào thực hiện. Thực ra, thế hệ mới đã nhận thức được quan niệm mới này, và kết quả thực tế chính là bảo vệ chính mình.

Tôi lắng lòng và suy ngẫm kĩ: Liệu việc chính phủ Mỹ chi tiêu ngân sách công có hoàn toàn vô ích và ngu ngốc không? Liệu việc Mỹ bảo vệ cá có phải là giả tạo không? Liệu nước Mỹ có thực sự từ bi và không hề xa cách không?

Hãy nghĩ về thành phố lớn New York của Mỹ, nơi con người sống trong những hộp như ngăn kéo, ở bên ngoài phải cẩn thận cướp giật, cẩn thận trộm cắp, cẩn thận bạo lực, cẩn thận tổn hại, cẩn thận phá hoại. Con người thật mong manh, gần như đang sống giữa tội ác. Con người ở đó, chờ đợi, quan sát, như một con tắc kè hoa.

Tôi đang nghĩ: Con người có nỗi buồn, con người có đau khổ, con người có bất lực, con người có bất đắc dĩ... Ai sẽ bảo vệ?

22. Rượu và cam lộ

Tại ngôi làng nước Đức, chúng tôi tham quan một nhà máy bia nhỏ. Nguyên liệu làm bia gồm lúa mạch và lúa mạch đen, ngoài ra còn có các loại gia vị khác.

Chúng tôi tham quan lò hơi nấu bia và quy trình sản xuất bia, nhà máy bia đương nhiên mời chúng tôi uống bia Đức miễn phí, mỗi người một ly.

Lúc này, tôi đương nhiên nhớ đến vấn đề năm giới: Một, sát sinh. Hai, trộm cắp. Ba, tà dâm. Bốn, vọng ngữ. Năm, uống rượu.

Về giới không uống rượu, Đức Phật đã dạy rõ trong kinh điển:

"Rượu là gốc rễ của mọi điều ác bất thiện, nếu có thể đoạn trừ nó, sẽ tránh xa được nhiều tội lỗi." - Kinh Niết Bàn.

"Nếu tay cầm đồ đựng rượu đưa cho người khác, khiến họ uống rượu, thì năm trăm đời không có tay, huống chi là tự mình uống? Không được dạy tất cả mọi người uống, và tất cả chúng sinh uống rượu, huống chi là tự mình uống!" - Kinh Phạm Võng.

"Người uống rượu có sáu điều mất mát: một là mất của cải, hai là sinh bệnh, ba là gây gổ đánh nhau, bốn là tiếng xấu lan truyền, năm là nóng giận bộc phát, sáu là trí tuệ ngày càng suy giảm." - Kinh Trường A Hàm.

"Không được uống rượu, không được ham thích rượu, không được nếm rượu." - Kinh Sa Di Ni Giới.

Ngoài ra, trong "Kinh Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi" có nói: "Phật dạy, ở trong thế gian, người thích uống rượu say sưa, sẽ mắc ba mươi sáu điều mất mát."

Tôi hiểu rõ giới luật về rượu và tác hại của nó. Những thảm họa do người ta uống rượu quá độ thực sự rất đáng sợ. Những ví dụ đơn giản như giết người sau khi uống rượu, hành vi tình dục bừa bãi sau khi uống rượu, lái xe sau khi uống rượu, tất cả đều là những tai họa với rượu là nguyên nhân chính.

Phật Thích Ca Mâu Ni khuyên răn và cấm đệ tử uống rượu là một sự thấu hiểu trước thời đại, rượu và tất cả các chất gây nghiện đều nằm trong giới cấm này.

Tuy nhiên, tại ngôi làng nước Đức, tôi đã không cấm đệ tử của mình uống bia. Tại sao vậy? Bởi vì đối với người Đức, bia giống như nước lọc, uống bia rất sảng khoái, như một loại thức uống giải khát. Mỗi người chỉ uống một ly nhỏ, không đến mức say.

Trong truyền thống của làng Đức, khi có người mời bạn uống rượu mà bạn từ chối, đó sẽ là một hành vi rất bất lịch sự.

Ngoài ra, trong giới luật của Chân Phật Tông của tôi: Nhấp môi một chút là cam lộ thơm ngon. Say rượu là phạm giới nặng.

Có lẽ khi tôi nói như vậy, sẽ khiến các đệ tử Phật ngạc nhiên lắc đầu, hoặc thậm chí thở dài, cho rằng tôi "hết thuốc chữa".

Tuy nhiên, tôi nói như sau: Giới luật của Phật là để ngăn cấm những đệ tử không thể tự kiểm soát bản thân, không được chạm đến một giọt chính là vì bạn không thể tự chủ. Nếu chỉ nếm thử nhẹ nhàng, không đắm chìm, không uống quá độ, thì làm sao là tội?

Tôi tự giáo dục bản thân, tôi ngày càng có thể kiểm soát tâm mình, tôi hoàn toàn không lạc lối, tôi cũng không sa ngã, tôi biểu hiện tất cả sự lễ nghĩa, đời sống tu hành của chúng ta là thanh tịnh, lại thêm vẻ đẹp tinh tế.

Chúng ta có thể nếm thử rượu, trong sự nếm thử không đánh mất tính cách ôn hòa, mỗi đệ tử đều có thể thể hiện tài năng tuyệt vời, mọi người học cách tự chủ, kiểu sống này đại diện cho vẻ đẹp trang nghiêm, chỉ cần có thể phù hợp với sự tự chủ theo trung đạo, thì không tính là phạm giới, điều này cũng phát sinh từ truyền thống.

Bài kệ trung đạo là: Pháp do nhân duyên sinh Ta nói chính là không Cũng gọi là tên giả Cũng là nghĩa trung đạo.

Tôi nói, rượu là thuốc độc, đúng vậy. Tôi nói, rượu là cam lộ, đúng vậy. Hai quan điểm này đều là phương tiện để đi vào trung đạo, soi chiếu cả hai đế, tâm tâm tịch diệt, tự nhiên tuôn chảy vào biển Nhất thiết trí, đây gọi là quán đệ nhất nghĩa của trung đạo.

Giới luật là để ngăn cấm tai họa, giới luật là để ngăn cấm tổn hại, giới luật là để ngăn cấm tạo nghiệp, giới luật là để ngăn cấm tâm phóng túng, để tất cả nguồn gốc tai họa phân cách với hành giả, không để nguồn tai họa phá hoại sự thanh tịnh của hành giả.

Tuy nhiên, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng giải thích về giới luật, giới luật là một chuyện, sự siêu việt của bậc thánh là một chuyện khác, bậc thánh là tự chủ, là trạng thái phong phú của sự thanh tịnh, tất cả đều là thanh tịnh, không có cái gọi là ô uế, cái gọi là thanh tịnh, lúc này giới luật cũng như không có.

Giới luật là công thức. Thanh tịnh là sự tồn tại vốn có. Sự tồn tại vốn có không bao giờ có thể bị chuyển biến. Đây không phải là mâu thuẫn. Đây là sự siêu việt tức thì của Đại Viên Mãn.

23. Điệu múa gà

Trên đường phố của làng Đức, có một nhà hàng tên Cà phê Mocha, được cho là nhà hàng có quy mô lớn nhất của làng, có thể chứa khoảng sáu mươi người. Thảm trải sàn kiểu Đức chiếm toàn bộ không gian, giữa nhà hàng đặt một cây đàn hạc, cây đàn rất cao, có hình dáng cổ kính, như thể tất cả bàn ghế trong nhà hàng đều bày tỏ sự kính trọng sâu sắc đối với nó.

Thực tế đúng là như vậy, cô gái chơi đàn hạc mặc áo choàng dài màu xanh nhạt, tóc buộc gọn gàng, khi những ngón tay cô chạm vào dây đàn, âm thanh đã làm chủ thính giác của tất cả mọi người trong sự tĩnh lặng của nhà hàng.

Âm thanh của đàn hạc rất đẹp, giai điệu du dương và tinh tế của những bài hát Đức lan tỏa đến mọi ngóc ngách. Bữa tối hôm đó, sáu mươi người đã trải qua thời gian ở đó, và sau mỗi bài hát kết thúc, chúng tôi đều vỗ tay nhiệt liệt.

Trước cây đàn hạc có một lọ thủy tinh nhỏ để đựng tiền boa. Cô gái Đức chơi đàn hạc quá hay, nên chiếc lọ thủy tinh nhanh chóng đầy những tờ một đô la, năm đô la, và thiếu nữ trong trang phục xanh lại càng chơi hăng say hơn.

Chủ nhà hàng nữ có thể nói là rất phấn khích và coi trọng chuyến ghé thăm của chúng tôi. Bà không chỉ chuẩn bị một bữa tối thịnh soạn mà còn đặc biệt mời người cha già của mình, con trai, con gái và em gái đến. Họ cùng nhau chào đón chúng tôi, chuẩn bị âm nhạc và vũ điệu, chính thức biểu diễn các điệu múa Đức cho chúng tôi xem.

Cậu con trai của chủ nhà hàng mặc quần yếm, quần đùi, áo sơ mi hoa, khoảng tám tuổi, rụt rè tặng tôi một bông hoa màu vàng, rồi quay người chạy đi.

Ba thế hệ trong gia đình họ biểu diễn điệu múa gà của Đức cho chúng tôi xem. Họ vui vẻ nhảy theo vòng tròn trong tiếng nhạc, ánh đèn chiều tối chiếu lên khuôn mặt mỗi người, dường như tỏa ra ánh sáng nội tại của riêng họ, tạo thành những sắc màu rực rỡ.

Điệu múa gà rất đơn giản: Đầu tiên, dùng tay tượng trưng cho mỏ nhọn của gà. Tiếp theo, dùng hai vai nhúc nhích, tượng trưng cho cánh gà. Thứ ba, lắc lư mông, tượng trưng cho dáng đi của gà.

Vì rất đơn giản, nên một vài vị pháp sư cũng nhảy theo, họ xếp thành một hàng, hoặc vây quanh thành vòng tròn, tiếp tục nhảy múa, trong khoảnh khắc đó, giữa mọi người, không cần lời nói đã giao tiếp được với nhau. Nụ cười là tình cảm. Nhảy múa là sự tôn kính.

Trong giây phút đó, tất cả thời gian và suy nghĩ đều dừng lại, bạn và họ chỉ là sự biểu lộ của tâm, hoàn toàn thành kính. Vào lúc này, lúc nhảy điệu múa gà, có lẽ không còn khoảng cách về niềm tin, không còn hình tượng pháp sư, cũng không có ý nghĩa đặc biệt nào, chỉ cảm nhận được niềm vui hòa quyện trong ánh mắt và nụ cười của nhau. Người nhảy múa rất vui. Người xem vỗ tay đến đau cả tay.

Tôi nghĩ rằng: Ngôn từ là thừa thãi. Hình tượng không quan trọng. Niềm tin cũng không cần thiết nữa. Ý thức cũng có thể buông bỏ.

Trong khoảnh khắc nhảy điệu múa gà, chúng ta không có những thứ này, nhưng vẫn cảm thấy xúc động, tất cả chúng ta đều nắm bắt được cảm giác hòa quyện đó. Tôi nhận ra rằng vũ điệu có màu sắc và sức mạnh đáng kinh ngạc, múa là sự chuyển động bên ngoài, nhưng cũng có cảm nhận bên trong.

Trong vũ điệu, là sự kết hợp giữa bên ngoài và bên trong, tỏa sáng, ánh sáng này chắc hẳn là ánh sáng của sức mạnh tuệ giác toàn diện.

Trong Mật giáo, trong Đại Mandala Kim Cương Giới, là: Ở trung tâm là một vị Phật, bốn ba-la-mật, bốn phương Đông Nam Tây Bắc, mỗi phương có một vị Phật và bốn Kim Cang, bốn phương Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, mỗi phương lại có hai Kim Cang.

Bốn vị Bồ Tát cúng dường này là: Kim Cang Ca Bồ Tát Kim Cang Vũ Bồ Tát Kim Cang Man Bồ Tát Kim Cang Hí Bồ Tát

Tôi thường tự hỏi, trong thế giới Ta Bà này, niềm vui cao nhất là gì? Đó là thưởng thức âm nhạc (kim cang ca), ngắm nhìn điệu múa (kim cang vũ), tự mình ăn mặc đẹp đẽ, hoặc ngắm người khác ăn mặc đẹp đẽ (kim cang man), hay là xem một vở kịch, hoặc tự mình diễn một vở kịch (kim cang hí). Giữa cõi trời và cõi người, có gì khác biệt? Ca, vũ, man, hí là nguồn suối của niềm vui!

Bất chợt, tâm tôi trở nên tĩnh lặng, tôi nhận ra rằng bình phàm chính là thần thánh, sắc chính là không, uế chính là tịnh, cõi người cũng là cõi trời, thiền định chính là phi thiền định. Thực ra, không có bên ngoài, cũng không có bên trong, chỉ có tổng thể.

Khi nhảy điệu múa gà: Không có một chút suy nghĩ nào. Suy nghĩ không thể nuôi dưỡng sự thiêng liêng.

24. Bên ngoài và bên trong

Vị Pháp Vương Ganden Tripa, giáo chủ của phái Gelug (Hoàng giáo), còn được gọi là Pháp Vương Ganden Dipa, đã đích thân đến thăm Seattle Lôi Tạng Tự ở Mỹ, và trao tận tay cho tôi một áo bào Pháp Vương. Khi khoác lên mình chiếc áo bào của Pháp Vương, về mặt bên ngoài, tôi đã trở thành Pháp Vương Liên Sinh.

Sau đó, một vị Pháp Vương tối cao của phái Nyingma (Hồng giáo), Orgyen Kusum, còn gọi là Pháp Vương Nyingpa (H.H. Orgyen Kusum Lingpa), đã dẫn theo Hungkar Dorje Rinpoche đến thăm Seattle Lôi Tạng Tự.

Vị Đại Pháp Vương Hồng giáo này đến từ Tây Tạng, là hóa thân của Bồ Tát Kim Cang Thủ, được công nhận là bậc đại thành tựu của phái Nyingma (pháp Đại Viên Mãn). Trong tự truyện do chính ông viết có đề cập rằng, ngay cả Đức Dalai Lama cũng từng xin ông truyền dạy và quán đảnh pháp Đại Viên Mãn.

Vị giáo chủ Hồng giáo này để gặp tôi, nghe nói đã tìm kiếm từ trong rương ra chiếc áo bào Pháp Vương tốt nhất, và mặc vào người. Chiếc áo bào Pháp Vương này có lẽ nặng vài cân, thắt đai vàng ở eo, trên áo thêu nhiều biểu tượng cát tường.

Ngày Pháp Vương Hồng giáo đến đúng vào thời điểm sau ba tháng mùa mưa liên tục, mặt trời xuất hiện ngày đầu tiên, tất cả cây cối trong làn gió nhẹ đều khoác lên mình sắc màu rạng rỡ, bầu trời trong vắt, xanh thẳm, một bầu không khí dịu dàng, tĩnh lặng phản chiếu ánh nắng ban mai, Lôi Tạng Tự tràn đầy trang nghiêm, mái ngói vàng hoàn toàn tinh khiết và bao la.

Pháp Vương Orgyen Kusum Lingpa nói: "Trong kiếp này, tôi đang tìm kiếm nhiều vị Pháp Vương của mình, tôi cảm nhận được rằng Liên Sinh Hoạt Phật sẽ là người đầu tiên mà tôi tìm thấy." Tôi mỉm cười, không đáp lại.

Pháp Vương Orgyen Kusum Lingpa nói: "Tôi cảm nhận được rằng, Liên Sinh Hoạt Phật là người đầu tiên tôi tìm kiếm. Liên Sinh Hoạt Phật có thể dựng cờ pháp lớn nhất tại Mỹ." Tôi vẫn khiêm tốn mỉm cười. Đó là tháng năm năm 1997, một ngày nắng ấm.

Sau khi Pháp Vương Hồng giáo đã đi, tôi bước vào Chân Phật Mật Uyển, có vài đệ tử đang ngồi trên tấm thảm trải sàn. Họ đứng dậy. Tôi ngồi kiết già ở vị trí cũ quen thuộc, dường như đó là một vị trí có quyền uy, có thể nói chuyện với mọi người. Đệ tử hỏi: "Tìm kiếm Pháp Vương ư?" "Có vẻ như vậy." - Tôi trả lời. "Pháp Vương là..." "Đó chỉ là bên ngoài." - Tôi nói tiếp: "Giáo chủ Ganden Tripa đã trao cho tôi áo bào Pháp Vương rồi, thực ra trong Mật tông Tây Tạng, địa vị của giáo chủ Ganden Tripa ngang hàng với Panchen Lama và Dalai Lama, giáo chủ Ganden Tripa, Panchen và Dalai có địa vị ngang nhau, Dalai Lama nhìn thấy giáo chủ Ganden Tripa đến còn phải đứng dậy đón! Hôm nay, giáo chủ Ganden Tripa đã trao cho tôi áo bào Pháp Vương, về mặt bên ngoài, đó đã là phước lành lớn nhất và cao nhất, không cần phải cầu gì thêm nữa." "Vị Pháp Vương Hồng giáo này ngoại hình giống như Sư Diện Không Hành!" - Đệ tử nói. "Ha! Đó cũng chỉ là bên ngoài." - Tôi đáp. "Điều gì mới thực sự là bên trong?" "Bên trong là khi một hành giả đã khám phá ra chân lý, đã trải nghiệm được chân như, đã chuyển hóa bản thân thành chân như, vì vậy, với tư cách là một bậc trí giả, vị hành giả đó đang mở cánh cửa tâm linh cho chúng sinh, truyền dạy những điều mình đã khám phá, đã trải nghiệm cho những người đang tìm kiếm." "Pháp Vương, giáo chủ đều là bậc trí giả sao?" Tôi trả lời: "Danh xưng Pháp Vương, danh xưng giáo chủ, danh xưng Rinpoche (Hoạt Phật), tất cả đều là bên ngoài, kể cả Kim cương Thượng sư cũng vậy, đó chỉ là những danh xưng. Ngay cả khi có những nhân vật có thẩm quyền với những danh xưng này, nếu tâm của họ bị ràng buộc, họ bị mắc kẹt trong ảo tưởng, thì những địa vị quyền uy bên ngoài đó đều vô nghĩa." Tôi nói tiếp: "Lấy bản thân tôi làm ví dụ, tôi là người sáng lập Chân Phật Tông, đồng thời tôi sở hữu áo bào Pháp Vương Ganden Tripa, nhưng nếu tôi không có công phu tu tập bên trong, không có chân như vĩ đại và tối thượng, thì đó chỉ là danh tướng, không phải thành tựu."

Ý tôi là: Danh tướng là bên ngoài. Danh tướng là những tràng vỗ tay và hoan hô tạm thời. Danh tướng là tấm bằng khen. Danh tướng sẽ bị loại bỏ khi chạm vào thực tại.

Tôi nói với đệ tử của mình: "Thực ra, chân như không có con đường nào cả, chân như không liên quan gì đến danh tướng bên ngoài, chân như hoàn toàn là sử dụng tâm của chính mình, có lẽ ngay cả tâm cũng không cần, lúc đó, bạn sẽ khám phá ra chân như."

Nói xong, tôi đứng dậy, rời đi, và bước vào phòng riêng của mình.

25. Hoa đỏ và hoa vàng

Đó là một buổi sáng yên tĩnh, tôi đã hẹn gặp một đệ tử đến từ Nhật Bản. Anh là một người trẻ tuổi, với đường nét khuôn mặt thanh tú, gương mặt có hình dáng đẹp, đôi mắt lộ ra nụ cười. Anh học Phật rất hiệu quả, đi lại nhanh nhẹn, cơ bắp trông rất săn chắc, cảm nhận tu tập của anh rất tốt.

Anh nói: "Con đã dành nhiều năm theo Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, Sư Tôn thường chỉ dạy con trong mơ. Con học cách tĩnh tâm, kiểm soát ý nghĩ của mình. Con nghĩ rằng không có sự nghiệp nào có thể thực sự giải quyết vấn đề của cuộc đời, con không phù hợp với công việc đời thường, con chỉ thích hợp với con đường tu hành, hiểu sâu sắc rằng tu hành mới thực sự có ý nghĩa và chiều sâu, tương lai nhất định sẽ đến đây xuất gia."

Tôi trả lời: "Người trẻ tuổi có sự tỉnh ngộ như vậy, quả thật không bình thường, con có căn cơ lớn."

Tôi trò chuyện với chàng trai trẻ tuổi này một lúc, nhận ra rằng đây không phải là sự bốc đồng nhất thời, cũng không có cái gọi là mê muội hay buồn rầu. Tư tưởng, ký ức, kinh nghiệm và kiến thức của người thanh niên này đều phong phú và chính xác. Nếu anh bước vào xã hội vẫn có thể phát huy năng lực bình thường trong công việc, anh có thể tồn tại trong xã hội hiện đại.

Chỉ là anh tự nói mình không phù hợp với công việc đời thường, ý anh muốn nói về đức tin của mình, về hệ tư tưởng của mình, về những điều anh theo đuổi, không phải là danh lợi bên ngoài, mà là giải quyết các vấn đề "nội tại" của cuộc sống, cùng với nhiều hình ảnh về sự sống.

Anh hỏi tôi: "Con khó hiểu về nhận thức về 'không' và 'có', xin Sư Tôn chỉ dạy." Tôi hỏi: "Không và có, trong Phật giáo đã được thảo luận rất nhiều, quan điểm của con như thế nào?" Anh cho rằng: "Tất cả đều là không. Đời sống và hiện tượng vật chất đều chỉ là tạm thời, khi vô thường đến, có sinh ắt có tử, tất cả những gì có, sẽ trở thành không." Tôi nói: "Đó là đoạn kiến." Anh hỏi: "Lẽ nào Sư Tôn cho rằng, con người và tất cả hiện tượng trong thế giới Ta Bà này là có sao?" Tôi nói: "Đó là thường kiến." Anh hỏi: "Trong giới Phật giáo có người nói tất cả đều không, cũng có người nói tất cả đều có, lại có người nói lúc có, lúc không, nói rằng tục đế là có, chân đế là không, cũng có người nói ngược lại, chân đế là có, tục đế là không." Tôi nói với anh: "Nói không là đoạn kiến. Nói có là thường kiến. Nói lúc có lúc không là mâu thuẫn. Quan điểm của tôi là 'duyên khởi tính không', tư tưởng Trung quán của Bồ Tát Long Thụ chính là 'duyên khởi tính không', đó là cảm nhận của tôi."

Đức Phật đạt được giác ngộ chân chính bằng cách quán xét đạo lý về sự luân chuyển và diệt tận của mười hai nhân duyên, vì vậy có "Kinh Duyên Khởi Thánh Đạo" và "Kinh Duyên Khởi".

Tất cả mọi sự vật đều nương theo duyên mà sinh khởi, tất cả pháp hữu vi đều từ duyên khởi mà có. "Trung Luận" nói: "Duyên khởi nghĩa là thể tính mà khởi, nương duyên mà khởi, nên gọi là duyên khởi."

"Kinh Diệu Pháp Liên Hoa" nói: "Hạt giống Phật từ duyên mà nảy mầm."

Hoa Nghiêm tông nói về bốn loại duyên khởi:

  1. Nghiệp cảm duyên khởi — Tiểu thừa.
  2. A-lại-da duyên khởi — Đại thừa Thủy giáo.
  3. Như Lai tạng duyên khởi — Đại thừa Chung giáo.
  4. Pháp giới duyên khởi — Đại thừa Viên giáo.

Chỉ có Đại thừa Đốn giáo là chủ trương "tất cả đều không", vô tướng ly ngôn, nên không có thuyết duyên khởi của giáo tướng.

Nói thêm về tính không, pháp do nhân duyên sinh ra, xét đến cùng không có thực thể, đó chính là không. Bồ Tát Long Thụ nói về "duyên khởi tính không", tính không này là "tự tính không", là sự trống rỗng của tự tính, nhưng từ duyên khởi mà sinh ra tất cả.

Tôi chủ trương "duyên khởi tự tính không" là vì "không mê mờ nhân quả". Bởi chủ trương "tất cả đều không" thì cả thiện ác cũng là không, nhân quả cũng là không, như vậy sẽ là một điều vô cùng đáng sợ, thế giới này sẽ trở nên hỗn loạn.

Trước đây, Đốn giáo từng nói: "Hoa đỏ và hoa vàng không hề chịu nhuộm màu, nhưng khi nở ra, liền là hoa đỏ, là hoa vàng, làm gì có chuyện nhân duyên duyên khởi?"

Tôi trả lời: "Đó là duyên khởi từ hạt giống, hạt giống của hoa đỏ tự nhiên sẽ nở ra hoa đỏ, hạt giống của hoa vàng tự nhiên sẽ nở ra hoa vàng. Nếu nghiên cứu sâu hơn, bên trong hạt giống rốt cuộc đã có gen di truyền của nó, không phải tự nhiên sinh ra hoa đỏ, tự nhiên sinh ra hoa vàng mà không có nguyên nhân."

Tôi chủ trương và tán đồng thuyết "duyên khởi tính không" của Bồ Tát Long Thụ, "tự tính không" là đúng, nhưng tất cả đều nương theo duyên mà sinh khởi. Nếu không phải như vậy, mà chỉ nói "tất cả đều không" thì sẽ dẫn đến hỗn loạn lớn. Nếu tất cả đều là không, vậy quả vị Phật còn tồn tại không? Nếu ngay cả thành Phật cũng không có thì tu hành để làm gì? Phải trái, thiện ác, chính tà đều không có nhân quả nữa.

26. Kim cương Thượng sư

Họ đi đến siêu thị gần đó, mua các loại thực phẩm bao gồm bánh mì, bánh quy, kẹo, cùng với nhiều đồ uống và trái cây, sắp xếp những thực phẩm này ngăn nắp trước đàn thành, ngoài ra còn mua nhiều chậu hoa rực rỡ để trang trí Chân Phật Mật Uyển, khiến đàn thành nhỏ trông như một khu chợ hoa đầy màu sắc.

Ngày hôm đó, tâm trạng mọi người rất tốt, không khí toát lên vẻ trang nghiêm. Tôi lắc chuông và trống trước, thanh tịnh hóa trước, rồi mới triệu thỉnh.

Sau đó, tôi mời pháp sư Liên Hải, pháp sư Liên Ninh và pháp sư Liên Liêm hướng về đàn thành làm đại lễ bái. Tôi lắc chuông trống, làm đại cúng dường. Tụng chú tứ quy y. Đương nhiên, tôi tuân theo nghi quỹ từng bước tiến hành nghi lễ quán đảnh.

Tôi phải đứng trước đàn thành, hướng về chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên trong hư không, tụng tên của ba vị pháp sư, giới thiệu họ, rồi thỉnh cầu Ngũ Phật giáng lâm đàn thành, ban quán đảnh cho ba vị pháp sư.

Quán đảnh này là quán đảnh Kim cương Thượng sư, tức là quán đảnh A Xà Lê, sau khi trải qua nghi lễ quán đảnh chính thức này, vị pháp sư đó sẽ trở thành một vị thầy quán đảnh có đủ tư cách, có thể chính thức hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.

Cảnh tượng quán đảnh thật trang nghiêm và sinh động, tôi dùng chuông kim cang, chày kim cang, bảo bình kim cang, mũ miện kim cang, bảo tháp xá lợi để chạm đỉnh đầu ba vị, tôi lần lượt triệu thỉnh ngũ Phật phóng quang, lần lượt dạy họ cách quán tưởng. Ngay tại khoảnh khắc này, ngũ phương Như Lai, vị Căn bản Thượng sư của tôi và ba vị Thượng sư tương lai kết nối thành một đường thẳng.

Chính là dòng pháp lưu của Ngũ phương Như Lai, thông qua bàn tay tôi, chảy vào tâm của họ. Trong tương lai, ba vị Thượng sư này, đầu đội mũ Ngũ Phật, thân khoác pháp y, tay phải cầm chày kim cương, tay trái cầm chuông kim cương, chính là biểu trưng của Kim Cang Tát Đỏa.

Cuối cùng của nghi lễ quán đảnh là trao chứng thư A Xà Lê.

Tôi nói với ba vị Kim cương Thượng sư: "Vào khoảnh khắc này, các vị phải ghi nhớ thật kĩ lời nguyện mà mình đang phát ra, đây là quán đảnh bất thoái, bất thoái nghĩa là đạo tâm vĩnh viễn không thối lùi. Không chỉ vậy, còn phải hộ trì Phật Đà, hộ trì Phật giáo, hộ trì tông phái, hộ trì Căn bản Thượng sư. Ngoài ra, phải thâm nhập kinh tạng, như thật tu pháp, phát tâm bồ đề, quảng độ chúng sinh." Tôi nói: "Kim là không đổi màu, cương là không đổi thể. Đạo tâm kiên cố không lùi, đó là điều quan trọng nhất, kim cương chính là một sự bền bỉ liên tục. Huệ mạng của Như Lai phải nhờ các Kim cương Thượng sư kế tục, quảng truyền."

Tôi đã kể một giai thoại về Đại sư Liên Trì: Thuở xưa, khi Đại sư Liên Trì đang du phương, ngài vốn hằng ngưỡng mộ chùa Đông Lâm ở núi Lư, ngưỡng mộ Phật pháp uyên thâm của cao tăng Huệ Viễn thời Đông Tấn. Đại sư Huệ Viễn là vị tổ khai sáng pháp môn trì danh niệm Phật của Tịnh Độ tông.

Đại sư Liên Trì gặp trưởng lão Vân Đào tại cầu Hổ Khê, và trưởng lão Vân Đào đã sớm nhận được chỉ dẫn trong mộng từ Đại sư Huệ Viễn rằng hôm nay Cửu Tổ của Liên Tông sẽ đến.

Vì vậy, cửa chùa được mở rộng, toàn thể chư tăng trong chùa ra tận cổng đón tiếp.

Tất cả chư tăng thị giả đều cảm thấy khó hiểu, bởi vì người họ đón tiếp chỉ là một vị sư trẻ ba mươi tuổi - Đại sư Liên Trì.

Đại sư Liên Trì và trưởng lão Vân Đào đàm luận kinh điển suốt ba ngày ba đêm. Khi sắp rời đi, toàn thể chư tăng trong chùa thỉnh cầu Đại sư Liên Trì để lại một câu yếu chỉ. Đại sư Liên Trì đáp: "Thực chất niệm Phật." Một vị tăng trong chùa không hài lòng, lớn tiếng nói: "Chỉ có một câu này thôi sao, ngay cả đứa trẻ đốn củi ở núi Lư cũng biết nói."

Liên Trì mỉm cười, chắp tay: "Đứa trẻ ba tuổi biết nói, nhưng cụ già tám mươi khó thực hành. Câu này tuy bình dị chẳng kỳ lạ, nhưng ý nghĩa thì sâu xa." Toàn thể tăng chúng trong chùa lặng im.

Tôi kể giai thoại này là để ba vị Kim cương Thượng sư hiểu rằng, một hành giả chân chính, con đường tu hành phải vững vàng từng bước, thực tế từng bước, không chỉ có tâm phát khởi ban đầu, mà còn phải có tâm dài lâu, phải kiên trì không để đạo tâm thối lui. Một bậc đại thành tựu, chắc chắn là người tu hành với tâm dài lâu, thực chất niệm Phật, thực chất trì chú, thực chất tu pháp. Hai chữ "thực chất" này, chẳng phải chính là ý nghĩa của kim cương sao!

Thông thường, một hành giả có thể có phát tâm ban đầu tốt, nhưng sau vài năm, khi nhiều tình huống bắt đầu thay đổi, về mặt tâm trí, về mặt nhân sự, họ cảm thấy hoàn toàn không còn phù hợp nữa, tâm phát khởi ban đầu đã không còn, từ phát tâm đã trở thành đổi tâm, sự chia tách là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, mới có chuyện người xuất gia hoàn tục.

Có người mang danh Kim cương Thượng sư, nhưng không có thực chất của một Kim cương Thượng sư.

Tôi nói với ba vị Kim cương Thượng sư: Muốn đi từ chân núi lên đến đỉnh núi, đương nhiên phải đi qua rừng, đồng cỏ, đá ngầm, những con đường nhỏ gập ghềnh khó đi, còn một quãng đường dài phải đi, đó chính là phải vững vàng từng bước, thực tế từng bước, không được lùi bước mới có thể đạt đến đỉnh cao của ngọn núi, và điểm cuối cùng đó chính là đại thành tựu của đỉnh quang minh.

27. Hai dải cầu vồng

Tôi cùng tất cả các pháp sư và một số cư sĩ tại gia đi xe về hướng Bắc, dùng bữa tại một thị trấn nhỏ tên Paseo vào lúc chiều tối.

Lý do chúng tôi đến Paseo ăn tối là vì các pháp sư muốn chúc mừng sinh nhật năm 1997 của tôi trước.

Hôm đó là một ngày có mưa nhỏ, mưa đến rồi lại đi, trên bầu trời thỉnh thoảng có mây đen, sau khi mây tan đi, ánh nắng lấp lánh hiện ra. Paseo là một thị trấn nhỏ kiểu nông thôn, có nhiều bụi cây, một vùng đồng quê rộng lớn, những bụi cây và cỏ xanh mướt, những cây có rễ sâu đang nhú ra những chiếc lá mới, giữa những bụi cây, có một tòa nhà hình vuông với mái ngói đỏ, đó là nơi nhà hàng tọa lạc.

Nhà hàng này theo phong cách phương Tây, khi bước vào, bà chủ bưng một bó hoa xinh đẹp, mặt rạng rỡ niềm vui đón chào tôi, chúc tôi "sinh nhật vui vẻ", thực ra sinh nhật tôi không phải ngày này, nhưng tôi vẫn cảm ơn bà ấy!

Nhà hàng kiểu Mỹ theo phong cách phương Tây, có quầy bar, có sàn nhảy nhỏ, chỗ ngồi có thể chứa khoảng trăm người, tôi thấy một bàn bi-a nhỏ và một thiết bị bắn phi tiêu.

Tôi ngay lập tức bước đến, không tỏ vẻ ngại ngùng hay tò mò, tôi cầm cây gậy và chơi bi-a snooker một cách tự nhiên.

Tất cả các pháp sư và cư sĩ tại gia đứng xung quanh xem tôi chơi bi-a. Họ tỏ ra rất tò mò, có lẽ vì đây là lần đầu tiên trong đời họ thấy tôi chơi bi-a!

Đôi khi, tôi chơi từ từ, cẩn thận nhắm bóng. Đôi khi, tôi trở nên mạnh mẽ, đánh bóng vào lỗ một cách nhanh chóng. Họ vỗ tay. Tiếng vỗ tay vang lên. Có người nói: "Đánh hay lắm."

Tôi chơi khoảng mười lăm phút, thành tích cũng tạm được. Tôi nói với mọi người rằng khoảng ba mươi năm trước, tôi đã từng thích chơi bi-a một thời gian, còn bây giờ thì không, đương nhiên là không rồi. Bi-a có kỹ thuật riêng của nó, có những kỹ năng riêng, đó là trò chơi và cuộc thi đấu của người đời.

Lúc này, sư tỷ Trần Hiểu Phong kêu lên: "Nhìn kìa, hai dải cầu vồng."

Tất cả chúng tôi ùa ra cửa nhà hàng. Ồ! Thực sự có hai dải cầu vồng, ngay tại cửa nhà hàng, treo cao trên không, hình vòm cung, bảy sắc rực rỡ vô cùng, đẹp vô cùng, giống như hai vòng hoa lớn được ban tặng từ chư Phật, Bồ Tát và chư thiên. Thiên nhiên quả thực kỳ diệu, bầu trời cũng rất kỳ diệu, những dải cầu vồng dài ấy lại xuất hiện đến hai dải. Bầu trời rộng lớn này, tràn đầy sự trang nghiêm. Thế giới này tràn ngập vẻ đẹp vi diệu. Hai dải cầu vồng trở thành ý thức vô biên.

Có người nói: "Đột nhiên có hai dải cầu vồng này, là chư thiên chúc mừng sinh nhật Liên Sinh Hoạt Phật. Là chư Phật Bồ Tát bày tỏ lòng kính trọng đối với Liên Sinh Hoạt Phật." Tôi nhìn cầu vồng, không nói một lời nào.

Tôi nhớ lại, chúng tôi thực sự có duyên với cầu vồng. Tôi biết, từ khi tôi cạo đầu xuất gia, trên bầu trời đã xuất hiện cầu vồng ngay vào lúc cạo đầu; sau đó, vào ngày sinh nhật, trên bầu trời đều có cầu vồng; ngày khánh thành và khai quang chùa cũng có cầu vồng; khi có đại pháp hội, trên trời hiện cầu vồng; khi tôi tìm đất lành để xây sơn trang, trên mảnh đất của sơn trang, cầu vồng hiện lên, nên đặt tên là sơn trang Cầu Vồng.

Khi tôi đi du lịch, bên cạnh máy bay luôn hiện ánh cầu vồng, lại có nhiều dải cầu vồng, máy bay bay vào giữa những dải cầu vồng như thể được đeo vòng hoa. Nhiều người nói với tôi: "Liên Sinh Hoạt Phật là bậc đạo sư trong các đạo sư."

Đối với nhiều người, Liên Sinh Hoạt Phật là đạo sư của họ, Phật pháp mà Liên Sinh Hoạt Phật giảng dạy là chân như trong chân như, là chân như mà rất ít người có thể hiểu được. Một vị đạo sư chân chính, có lẽ người đời không hiểu được, nhưng lại là điều tất yếu, nếu không, người đời sẽ lạc lối, đạo sư là người diễn giải chân như, đạo sư đã đi qua con đường đó, chỉ vào chân như để dạy dỗ chúng ta.

Tuy nhiên, bản thân tôi cảm thấy, tôi phải đồng hành cùng đại chúng, tôi hát bài hát của họ, tôi nhảy điệu múa của họ, tôi chơi bi-a cùng họ, tôi nếm rượu của họ, tất nhiên, tôi cũng tôn thờ những gì họ tôn thờ, tôi cầu nguyện nước chú Đại Bi. Nhưng những điều này không có nghĩa rằng tôi là người thế tục.

Tôi sở hữu chân như, nhưng chân như này không nhất định được mọi người trải nghiệm, và không ai có thể lấy được chân như từ trong tâm tôi. Tôi chỉ dạy mọi người con đường. Con đường tìm kiếm chân như trong tâm mình.

Trong thế giới này, con người thường nhìn vào bề ngoài, chùa to hay chùa nhiều không nhất định có chân như, hoặc làm nhiều từ thiện, làm từ thiện tốt, cũng không nhất định có chân như, chân như không ở bên ngoài!

Sự xuất hiện của hai dải cầu vồng! Đó là bản lai diện mục.

28. Dạy pháp Tứ gia hành

Tôi đi máy bay từ Seattle ở Mỹ đến Los Angeles ở California, thời gian bay là 2 tiếng 40 phút, độ cao bay trên tầng mây, dưới bầu trời xanh, đất liền ở phía dưới rất xa, tầng mây trải dài vô tận.

Tôi quen ngồi bên cửa sổ, quen nhìn ra ngoài, quan sát những biến chuyển đa dạng của tầng mây và hình dáng của mây. Hoặc là, tôi đọc sách, khi mỏi vì đọc sách thì nhắm mắt lại.

Khi vừa lên máy bay, tôi đã thực hiện nghi quỹ đi máy bay: Quán tưởng Bổn tôn an trụ ở đỉnh đầu. Tôi trì chú Bổn tôn. Tôi tĩnh định.

Trong lịch trình này, tôi sẽ giảng dạy pháp Tứ gia hành và truyền quán đảnh Tứ gia hành. Mỗi đệ tử mới bắt đầu đều phải tu tập pháp Tứ gia hành trước, đây là pháp môn cơ bản nhất của Mật giáo.

Pháp Tứ gia hành của Chân Phật Mật Pháp gồm có: pháp Đại lễ bái, pháp Đại cúng dường, pháp Tứ quy y và pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.

Tôi thường nói: Đối với đệ tử mới bắt đầu, phải làm Đại lễ bái 100.000 lần, Đại cúng dường 100.000 lần, trì chú Tứ quy y 100.000 biến, và tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát cho đến khi tương ứng. Tương ứng chính là chứng nghiệm và cảm nhận.

Tu hành Mật giáo phải có thứ tự, tiến dần từng bước một, không được nhảy cấp. Khi muốn tiến lên một cấp để tu Mật pháp cao hơn, nhất định phải xin quán đảnh từ Căn bản Thượng sư hoặc các vị Thượng sư mới được tu.

Mỗi khi tu một pháp, đều phải có tương ứng mới được tiến lên một cấp. Mật giáo có câu: "Một pháp tương ứng thì tất cả pháp đều tương ứng." Lại nói: "Một pháp thông thì vạn pháp thông." Vì vậy, chúng ta không thể xem thường pháp Tứ gia hành.

Nói một cách đơn giản, khi pháp Tứ gia hành chưa tương ứng thì các pháp khác cũng khó tương ứng; ngược lại, một khi pháp Tứ gia hành đã tương ứng thì các pháp khác cũng dễ tương ứng theo.

Pháp Mật giáo tuy có nông có sâu, nông thì như một sự rung động bề mặt, còn sâu thì như sự rung động từ chiều sâu bên trong. Điều này cũng giống như trong Duy thức học, từ nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý cho đến Mạt-na thức, A-lại-da thức, và Am-ma-la thức là thức sâu nhất.

Pháp Mật giáo có nội dung rộng lớn, nội dung ấy chính là toàn bộ lĩnh vực, khi tu pháp thì hoạt động bên ngoài cũng tác động đến ý thức bên trong. Tầng ý thức sâu bên trong tuy quan trọng, nhưng tầm quan trọng của nó vẫn thể hiện ở bề mặt, có thể nói trong ngoài là một, có sự liên kết và không thể tách rời.

Đại lễ bái, Đại cúng dường, Tứ quy y và Kim Cang Tâm được kết hợp với nhau một cách tinh xảo và vi diệu, nhằm thiết lập chiều sâu trong các pháp gia hành cơ bản. Sau đó, từ đây phát triển và mở rộng, khi từng pháp đều tương ứng thì sẽ đi vào trí tuệ vô thượng của Như Lai.

Pháp Tứ gia hành không hề nông cạn, trong đó pháp Kim Cang Tâm và Bách tự minh chú là pháp thù thắng độc nhất của Mật giáo. Bách tự minh chú giống như Tâm Kinh, và Bổn tôn của pháp Kim Cang Tâm là Kim Cang Thủ Bồ Tát, chính là Kim Cang Tát Đỏa - vị Tổ sư của Mật giáo, là Pháp Vương Tử của Ngũ phương Ngũ Như Lai. Từ sự tương ứng của pháp Kim Cang Tâm sẽ sinh ra dòng pháp lưu bất tận, cho đến khi đạt được sự tương ứng sâu sắc và giác ngộ chân như.

Tôi nói: "Chỉ có thực tu mới có chiều sâu." "Một giọt nước là cả đại dương." "Một hạt cát là cả ngọn núi."

Chúng ta thường lấy một ví dụ, pháp Tứ gia hành là nền móng kim cang để xây tháp báu kim cang, nếu không có nền móng kim cang vững chắc thì làm sao có được tháp báu kim cang? Tăng cường pháp Tứ gia hành chắc chắn sẽ xây dựng được tháp báu kim cang.

Tu Mật pháp, đừng cầu nhanh, đừng hỗn loạn, đừng nhảy cấp. Hãy tu tập vững chắc. Chắc chắn sẽ tương ứng. Các bậc đại thành tựu đều nhất định như vậy.

29. Bước ra khỏi truyền thống

Lại một mùa hoa phượng đỏ, lần này không phải tôi tốt nghiệp, mà là con gái tôi Lư Phật Thanh tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trung học, Lư Phật Thanh một mình đến học tại Đại học Santa Clara ở California Hoa Kỳ, với chuyên ngành Chính trị và Luật.

Lư Phật Thanh đứng đầu trường về thành tích học tập, đồng thời, nó không chỉ học giỏi mà còn đứng đầu trong các hoạt động nhóm, giao lưu câu lạc bộ, phục vụ cộng đồng, v.v. Giờ đây nó đã tốt nghiệp đại học, trong mùa này, là một khung cảnh tràn đầy niềm vui.

Phật Thanh có thành tích học tập xuất sắc, đương nhiên còn là nhân vật nổi bật, chúng tôi có thể biết được điều này qua việc trường cử nó tham dự lễ nhậm chức của Tổng thống Hoa Kỳ.

Phật Thanh tất nhiên sẽ tiếp tục học, nguyện vọng của nó là lấy bằng J.D - Tiến sĩ Luật, vì vậy nó đã nộp đơn vào các trường. Đại học Washington và Đại học Seattle ở bang Washington đều đã chấp nhận nó. Một trường đại học danh tiếng ở bang New York cũng đã nhận nó. Và nhiều nơi khác.

Về phản ứng cá nhân, tôi và Thượng sư Liên Hương đều mong Phật Thanh trở về bang Washington để học tiến sĩ, để chúng tôi là cha mẹ có thể ở gần chăm sóc nó.

Nhưng, Lư Phật Thanh đã xa chúng tôi bốn năm, nó nói: "Con đã quen với khí hậu nóng và khô của California, sống trong những ngày đầy nắng, con không còn thích nghi với mưa phùn và tuyết mùa đông của bang Washington, những cây cao và lá nặng trĩu ở đó thiếu đi sự vui tươi. Suy nghĩ của con đã trưởng thành, không thể bị uốn nắn và định hình bởi tư tưởng gia đình. "Tất nhiên, tình cảm gia đình và mối quan hệ ruột thịt là không thể quên, mỗi người đều là một phần của tổng thể, nhưng bước ra khỏi truyền thống, vượt ra khỏi chính mình, cũng là điều bình thường, cũng là điều thiêng liêng, mong bố mẹ hãy chúc phúc cho con."

Tôi có thể hình dung những từ ngữ và cử chỉ khi Lư Phật Thanh nói chuyện. Nó đã không thuận theo chúng tôi trở về bang Washington để học tiến sĩ. Chúng tôi không có phản ứng cảm xúc, cũng không buồn bã, chỉ là chúng tôi biết rằng, sự quan tâm và tình yêu thương của chúng tôi, khoảng cách sẽ ngày càng xa hơn, và có thể, thời gian đoàn tụ sẽ rất ít.

Tôi vốn là người cởi mở, và luôn luôn tùy thuận, tôi ủng hộ tư tưởng của nó, tôi hỗ trợ lý tưởng của nó, kiến thức, niềm tin, hành động và cuộc sống của nó. Đối với nó, chúng tôi chỉ cần trao cho nó sự khích lệ thực chất là đủ.

Phật Thanh có suy nghĩ riêng của Phật Thanh, Phật Thanh có những điều Phật Thanh theo đuổi, Phật Thanh có những thứ Phật Thanh ngưỡng mộ, Phật Thanh có hình ảnh bản thân của riêng Phật Thanh, nó không còn là Lư Phật Thanh bé nhỏ ngày nào nữa, nó đã trưởng thành rồi.

Sự độc lập của Lư Phật Thanh, tôi khẳng định điều đó. Tư tưởng của Lư Phật Thanh, tôi cũng khẳng định. Sự tự chủ của Lư Phật Thanh, tôi vẫn khẳng định. ..........

Hãy nghĩ về bản thân tôi ngày xưa! Sau khi tốt nghiệp trường Công nghiệp Cao Hùng, tôi đã một mình đến Trường Trắc Lượng ở Đài Trung để học đại học, và trong quá trình tự học, tôi đã dần dần mất đi cơ hội thường xuyên đoàn tụ với gia đình.

Những quan sát bất thường về hiện tượng nguyệt thực, những thiết bị đo lường phức tạp, các môn học đa dạng, nghiên cứu của tôi về địa chất học, những nghi vấn về độ chính xác trong đo đạc, tất cả đã tạo nên những lý tưởng tươi đẹp cho tương lai của tôi.

Tôi bước vào con đường viết sách, thời gian đã qua, có những vinh quang riêng. Không lâu sau đó, tôi bước vào hành trình tôn giáo một cách kỳ diệu, điều này trong cuộc sống bình thường của tôi là một sự mất kiểm soát đặc biệt. Bởi vì hành trình tôn giáo và nghề đúc học ở trung học, nghề đo đạc học ở đại học không có một chút liên quan nào. Nghĩ lại, thật là điên rồ.

Tôi có những trải nghiệm tâm linh riêng, tôi có những kinh nghiệm tôn giáo riêng, tôi có những phát minh kỳ diệu riêng, tôi đang hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, tôi hình thành hệ thống tư tưởng tôn giáo của riêng mình, và tiến hành thực tu thực chứng. Dĩ nhiên, lời phỉ báng như núi, lời chỉ trích như biển. Điều này cho thấy sức mạnh của truyền thống, sức mạnh của Phật giáo truyền thống là đề cao từ bi, nhưng lại khắp nơi có những vây hãm và tàn sát có chủ đích, tôi từng mang đầy thương tích, trở thành một người hoằng pháp bị tổn thương nặng nề.

Tôi nhận ra: Truyền thống tất nhiên rất vĩ đại, nhưng, truyền thống cũng rất tàn nhẫn. Phật giáo nói về từ bi, nhưng, đằng sau là toàn chiến tranh.

Nhưng tôi đã khóc rồi, tôi chắc chắn sẽ đứng dậy lần nữa, tôi suy nghĩ độc lập, tôi muốn đi đến tận cùng của cuộc đời, cho đến khoảnh khắc cái chết đến, tôi đã chấp nhận lối sống như vậy, nỗ lực của tôi chính là sự an toàn của tôi.

Tôi đã bước ra khỏi truyền thống, bước ra khỏi chính mình.

Lư Phật Thanh đã tốt nghiệp đại học, nó đang đi xa dần, nó có thế giới tư tưởng độc lập của riêng mình, nó có tự do tự chủ, tôi không muốn giao gánh nặng truyền thống cho nó, hãy để nó tự đứng vững trên đôi chân của mình!

30. Ôn hòa

Tôi thường nghĩ về một vấn đề, khi nào loài người mới có được hòa bình thực sự?

Tôi nhớ có một thánh triết đã nói như sau: "Con người sống thành nhóm, trải qua một lối sống hời hợt, chẳng bao lâu sẽ trở nên nhàm chán, cảm thấy vô nghĩa. Dần dần, do cá nhân hoặc tập thể tìm kiếm sự thay đổi, xung đột và bạo lực sẽ nảy sinh." Trật tự bị phá vỡ. Tổn thương ngày càng sâu sắc. Hỗn loạn vô tận không ngừng.

Gần đây tôi đọc "Lịch sử Phật giáo Tây Tạng", có những vị vua Tây Tạng ủng hộ và bảo vệ Phật giáo, cũng có những vị vua hủy diệt Phật giáo, cuộc đấu tranh giữa Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Quốc, cuộc đấu tranh giữa Phật giáo Ấn Độ và Bön giáo (Hắc giáo), sự tranh giành quyền lực giữa các đại gia tộc Tây Tạng, người Mông Cổ khi bảo vệ khi phá hủy đạo Phật, sự kiềm chế lẫn nhau giữa bốn phái Phật giáo (Hồng, Hoàng, Bạch, Hoa). Ở Tây Tạng, cuộc đấu tranh giữa các gia tộc quyền lực diễn ra vô cùng khốc liệt.

Toàn bộ "Lịch sử tôn giáo Tây Tạng" mô tả chi tiết về sự tan hợp hợp tan giữa các vua chúa, quần thần, gia tộc, dân tộc khác và bốn phái, khi thì hỗn loạn, khi thì hòa bình, khi thì cân bằng quyền lực, khi thì bạo loạn lại nổi lên.

Tôn giáo là lòng từ, là tình thương, nhưng vẫn dẫn đến xung đột và đau buồn, làm sao loài người có được hòa bình thực sự!

Trong chiến tranh thực sự, những chiếc xe tăng khổng lồ, máy bay phản lực bay thấp, chiến hạm hùng mạnh, và sự tàn sát trên bộ dưới biển trên không, các chính trị gia nói về hòa bình nhưng dùng vũ lực làm con bài mặc cả, chiến tranh vẫn xảy ra khắp nơi trên thế giới, khi hỗn loạn không ngừng, khắp nơi có những người phụ nữ khóc lóc, hoặc vì con, hoặc vì chồng.

Nên nói như sau: Nước mắt của con người là một sự bất lực. Con người tự nhiên có ham muốn giết chóc. Tôn giáo cũng phát triển trong đấu tranh. Vũ khí chiến tranh mới liên tục được phát minh, và buôn bán qua lại để kiếm lợi. Sự tồn tại của quốc gia dựa vào vũ lực. Hòa bình tồn tại trong trạng thái cô lập.

Cá nhân tôi nghiên cứu sâu về tâm hồn con người, tôi nhận ra tham vọng và cạnh tranh đôi khi mang tính tấn công, và chỉ đơn thuần so sánh với nhau đã sinh ra đố kỵ và ghen tị, cũng mang lại thù địch và nguy hiểm.

Tâm hồn là sâu thẳm, tâm hồn cũng rất tinh tế, từ lòng đố kỵ, từ sự cạnh tranh, từ sự kiềm chế lẫn nhau, có thể dẫn đến những biểu hiện thô bạo và tàn nhẫn không thể kiểm soát. Với phân tích đơn giản, tôi nhận ra nguyên nhân rất nhỏ, nhưng kết quả lại đáng sợ, đó là sự ưa thích bạo lực, là hận thù vô tận, là sự ngược đãi, là sự đe dọa, là sự bôi nhọ. Sự ôn hòa hoàn toàn mất đi, chỉ còn lại bạo lực.

Xung đột là nguồn gốc của bạo lực, bạo lực có thể thấy ở khắp mọi nơi. Các hình thức chia rẽ khác nhau mang lại xung đột và đau khổ. Phải chăng hòa bình tạm thời đều phải dựa vào cách mạng? Tâm hồn con người rốt cuộc là chuyện gì? Chính trị là chủ nghĩa vũ lực.

Chủ nghĩa quốc gia dẫn đến chiến tranh, chủ nghĩa kinh tế cũng là một yếu tố của chiến tranh, con người không học được cách cân bằng từ cái chết, chiến tranh vẫn tiếp diễn, không có sự bình yên hoàn toàn, đường chân trời lúc hoàng hôn tràn ngập những chiến trường đẫm máu.

Tôi lại nhận ra rằng, trong thiền định tĩnh lặng, tôi đã hiểu được ý nghĩa thực sự của tĩnh lặng, hóa ra tĩnh lặng mới chính là bình yên, trong tĩnh lặng không nhất thiết phải có suy nghĩ, tĩnh lặng không nhất thiết phải có động thái, tĩnh lặng chính là trí tuệ, không cần phải trải nghiệm những điều khác, cũng không phải là một sự trốn tránh, không thể mô tả được.

Thiền định là có trật tự nhất. Thiền định là đức hạnh. Thiền định có thể tìm thấy sự bình an. Trái tim bình an.

Bầu trời là vô tận, cơ thể an tĩnh là siêu việt, chỉ nhận thức được phẩm giá và sự trang nghiêm, và là người bạn thân thiện với mọi sự vật, giữa chúng và tôi là sự bình an.

Tất cả mọi thứ trên trái đất đều liên quan mật thiết đến nhau, phải xử lý con người và sự việc một cách cẩn thận, phải quan tâm đến người khác, phải khoan dung, phải từ bi, phải tu dưỡng.

Tôi mong mỏi từ tận đáy lòng: Giữa chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang Hộ Pháp, không hành và chư thiên, có sự bình an; trong tất cả cõi Phật thanh tịnh, có sự bình an; trong 28 cõi trời, có sự bình an; trong 33 cõi trời, có sự bình an. Tôi mong mỏi từ tận đáy lòng, trong tất cả nhân loại có sự bình an. Những loài bay trên không, bò trên đất, bơi trong nước, đều có sự bình an. Cõi atula có bình an, cõi địa ngục và ngạ quỷ có bình an. Nguyện không gây tổn hại lẫn nhau, nguyện quan tâm lẫn nhau. Nguyện những người tu hành thanh tịnh, trong tâm có bình an. Nguyện trí tuệ tăng trưởng, bình an tăng trưởng.

31. Pháp vô lậu là báu vật tuyệt vời

Tôi học được pháp vô lậu từ vị Thượng sư của mình. Pháp vô lậu trong Mật giáo có quán tưởng, có thần chú, có thủ ấn, thực hành hàng ngày khi thức dậy, lâu dần sẽ đạt được cảnh giới thân vô lậu.

Ngoài quán tưởng, thần chú, thủ ấn ra, còn có ba thức kim cang quyền pháp, ba thức này là thức ngồi, thức quỳ, thức đứng, vận dụng âm Hum dài, âm Hum ngắn, khiến cho pháp vô lậu mà mình tu luyện càng thêm kiên cố, càng thêm kiên cố như kim cương bất hoại.

Việc học tập pháp vô lậu của tôi chia làm ba phần:

  1. Quán tưởng, trì chú, thủ ấn.
  2. Ba thức kim cang quyền.
  3. Sáu thế thay đổi của Sakya.

Sáu thế biến của Sakya này gồm hai mắt hướng lên trời, lưỡi chạm vòm họng, ép yết hầu, khí đi lên thoát ra, bụng áp sát lưng, nâng hậu môn. Ngoài ra, nắm tay cứng và hít mạnh ngón giữa v.v…, cũng là phương pháp bảo vệ minh điểm.

Tôi hiểu sâu sắc rằng nền tảng của pháp vô lậu là Bảo bình khí, bởi vì âm Hum nhất định phải dùng Bảo bình khí để vận chuyển, nếu không có sự vận chuyển của Bảo bình khí, việc tu tập trên bề mặt sẽ không đạt được thành tựu.

Sau khi học được pháp vô lậu, tôi biết đây là báu vật tuyệt diệu của Mật giáo, hành giả nam đạt thành tựu sẽ vĩnh viễn không rò rỉ minh điểm (tinh), hành giả nữ tu thành công sẽ vĩnh viễn không rò rỉ kinh huyết. Ngay cả khi hành giả nam sử dụng pháp song vận cũng không bị rò rỉ.

Lúc này hành giả yoga chính là:

  1. Yogi có lực.
  2. Yogi kiên cố.
  3. Yogi vô lậu.

Hành giả yoga có được phẩm chất như vậy, khi tu tập chuyết hỏa định sẽ đạt hiệu quả gấp bội, bởi vì vô lậu, nên chuyết hỏa dễ dàng dâng lên. Hành giả yoga có được phẩm chất như vậy mới có thể tiến hành tu Vô Thượng Mật Bộ Tục của quán đảnh thứ ba, mới đủ tư cách tu tập pháp song thân.

Cá nhân tôi cho rằng, pháp vô lậu là chìa khóa chuyển hóa từ phàm phu thành thánh triết, pháp này không được truyền dạy bừa bãi. Không được truyền cho người không xứng, vì vậy đây là bí mật trong bí mật, là điều bí mật nhất của Mật giáo. Khi muốn truyền pháp này, nhất định phải quan sát trong một thời gian, chỉ có thể truyền dạy cho người có căn cơ thượng thừa, phẩm chất thượng thừa, vì vậy không được truyền cho người không xứng đáng.

Tại sao pháp vô lậu lại là báu vật tuyệt diệu của Mật giáo, tôi cho rằng, một người muốn tu hành, nếu không tu tập pháp vô lậu, chắc chắn sẽ có những hiện tượng sau đây: Cơ thể bị quấy nhiễu định kỳ. Tinh lực không thể tập trung. Lãng phí thời gian. Quá nhiều giấc mơ. Rò rỉ tinh khí, rò rỉ máu, trật tự tu hành không hài hòa.

Ảnh hưởng đến tinh thần và ý thức hệ tư tưởng, con người cũng trở nên mệt mỏi, não bộ rối loạn.

Tôi tự nhận thấy, nhiều người tu hành ban ngày còn giữ được, nhưng khi ngủ lại là một mảng tối đen. Cả đời bị quấy nhiễu, khi đêm xuống, họ chìm trong cảm giác sợ hãi, lo sợ mộng dâm cướp đi tinh khí.

Người mới tu hành, định lực chưa đủ, không thể siêu thoát và bất khả xâm phạm, họ thường xuyên bị quấy nhiễu trong giấc ngủ, rò rỉ hết lần này đến lần khác, đau khổ không thể tả, liên tục lãng phí sinh mệnh, liên tục lãng phí tinh lực, không có khả năng tự cứu.

Chúng ta biết rằng giấc ngủ rất quan trọng. Quá nhiều quấy nhiễu, quá nhiều giấc mơ, quá nhiều trằn trọc, những hiện tượng sinh lý ảnh hưởng đến tâm lý, sự tu hành thân tâm hợp nhất mới là cấu trúc hoàn chỉnh, và cũng là điều tuyệt đối cần thiết.

Pháp vô lậu của Mật giáo giúp giấc ngủ có trật tự, thậm chí điều chỉnh ánh sáng và những nhận thức sâu sắc hơn sẽ xuất hiện, não bộ càng tĩnh lặng, sự thấu hiểu càng sâu. Ngày đêm đều trong trạng thái tu hành, hoàn toàn không mâu thuẫn.

Sự hài hòa giữa thân và tâm rất quan trọng, Mật giáo tu thân, cũng chính là tu tâm. Chúng ta là người tu hành, nếu cuộc sống hàng ngày không hài hòa, thường xuyên rò rỉ tinh khí, phụ nữ thì kinh nguyệt không đều, sự hỗn loạn và vô trật tự đó cứ tiếp diễn, cùng với sự đấu tranh tâm lý không ngừng, não bộ sẽ trở nên suy nhược thần kinh, làm sao có ngày thành công trong tu hành được.

Vì vậy có người chủ trương, chỉ tu tâm, còn thân không cần quản, đó là lời ngu xuẩn. Thân sẽ ảnh hưởng đến tâm, không có thân làm sao có tâm, vì vậy thân tâm đều phải tu, cũng chính là tính mệnh song tu, đây là điều không có bất kì lựa chọn nào. Sự quấy nhiễu của cơ thể không thể tránh né. Tâm là trừu tượng. Thân tâm là tổng hòa của tĩnh tọa.

Một người có trí tuệ không chỉ tu tâm mà còn phải điều dưỡng cơ thể của mình, giảm bớt dục vọng của mình, còn phải tu Pháp thân của Mật giáo, khiến cả hai không mâu thuẫn xung đột, trong đó là trật tự vĩ đại, là vẻ đẹp của sự hài hòa, dù tỉnh táo hay đang ngủ đều là vô lậu.

Tu hành sinh lý là điều quan trọng. Trong sinh lý có tâm, có thức, có não, chúng là một thể.

Pháp vô lậu là bảo vật nhiệm màu của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn), bảo vật nhiệm màu này rất quý giá, là tinh túy của Mật giáo.

32. Vô Thượng Mật Bộ Tục

Gần đây, nhiều người sau khi đọc "Mật Giáo Áo Nghĩa Thư" đã đặt ra nhiều câu hỏi về Vô Thượng Mật Bộ Tục.

Vì vậy, tôi đã tổng hợp ngắn gọn về nguyên lý của Vô Thượng Mật Bộ Tục và trình bày trong bài viết ngắn này. Còn về phần thực hành, do là bí mật nên tôi xin lược bỏ, phần thực hành sẽ do các Kim cương Thượng sư chân chính trực tiếp hướng dẫn.

Nguyên lý và nguyên tắc của Vô Thượng Mật Bộ Tục như sau: Vô Thượng Mật Bộ Tục còn được gọi là tu hành lòng tham, hay Yoga song thân, cũng có người gọi là pháp độ dâm nữ.

Vô Thượng Mật có cảnh giới cao nhất là thanh tịnh. Nghĩa là trong hành vi "tham", thông qua sức mạnh tự chủ của niệm lực, vận dụng lý trí, cùng với thiền định tĩnh lặng, trí tuệ căn bản tỏa sáng, pháp này thể hiện sự tôn nghiêm vô hạn.

Vô Thượng Mật là hành vi thanh tịnh, đây là quan niệm duy nhất khi tu hành pháp này. Hành giả nam, hành giả nữ, đều phải thành tựu Nhị quán của Mật giáo. Điều kiện của hành giả nam là thành tựu pháp vô lậu, nhận thức được tính không. Điều kiện của hành giả nữ là thành tựu Nhị quán, có quan niệm thanh tịnh, hiểu biết về Vô Thượng Mật. (Còn nhiều điều kiện khác, tuy nhiên điều kiện chính yếu nhất là thành tựu quán đảnh thứ hai, và hiểu biết về Vô Thượng Mật.)

Ưu điểm của pháp này: Chuyết hỏa cháy mạnh. Minh điểm dễ tan chảy.

Những lợi ích khác còn có: khí dễ dàng đi vào trung mạch, trung mạch dễ dàng thông, năm luân xa dễ dàng mở ra, lửa dễ dàng bốc lên, minh điểm dễ dàng tan chảy, đại lạc và tịnh quang đều dễ dàng chứng minh, đồng thời có thể nhanh chóng thiền định thành Phật.

Về mặt thiền định: Không tính và đại lạc song vận, nên gọi là Dục lạc định.

Về mặt khí, mạch, minh điểm: Khí với khí kết nối. Mạch với mạch giao nhau. Điểm với điểm tan hòa. Ánh sáng với ánh sáng chiếu rọi.

Miệng chạm miệng, mật tiếp mật, hình thành sự kết nối giữa trung mạch với trung mạch, tạo thành một vòng tròn.

Từ đó khí tuần hoàn đối lưu, chuyết hỏa tuần hoàn đối lưu, minh điểm hòa hợp, năm luân xa của trung mạch tỏa sáng, cả hai đều tỏa ra ánh sáng thanh tịnh.

Ý nghĩa thanh tịnh như sau: Đàn thành Vô Thượng Mật đều hóa thành hoa sen thanh tịnh. Hành giả nam hóa thành Bổn tôn. Hành giả nữ hóa thành Phật Mẫu Bổn tôn. Mật luân của hành giả nam hóa thành chày kim cang. Mật luân của hành giả nữ hóa thành hoa sen. (Nên đây còn gọi là pháp kim cang liên hoa song vận.)

Vô Thượng Mật chuyển hóa từ tứ hỷ (bốn đại lạc) thành tứ không (bốn không tính). Do trung mạch mở, năm luân xa mở, nên tịnh quang hiển hiện. Vì vậy, tu pháp này có thể dần dần chuyển hóa sắc thân vật chất, và ánh sáng thanh tịnh dần dần tăng trưởng, cho đến khi hoàn toàn hóa thành ánh sáng, đạt được thành tựu lớn của ánh sáng cầu vồng.

Theo lời giải thích của các tổ sư Mật giáo về pháp thành tựu bí mật, tu Mật giáo đơn tu cũng có thể thành tựu, chỉ dựa vào sức mạnh của bản thân. Còn song tu là kết hợp sức mạnh của hai người, sức mạnh của hai người càng thù thắng hơn, càng dễ dàng và nhanh chóng đạt được thành tựu. Đơn tu là một đường thẳng. (trung mạch) Song tu là một hình tròn. (trung mạch) Khí của đơn tu là lên xuống. Khí của song tu là đối lưu tuần hoàn.

Tổ sư Mật giáo nói: Ưu điểm của pháp song thân là khí công vận chuyển nhanh chóng, liên tục xoay chuyển không ngừng, minh điểm hạ tan cũng đặc biệt nhanh, chuyết hỏa cùng khởi động. Đơn thân không có ưu điểm này.

Song thân là hình thức cao nhất của Mật pháp, cảm nhận về đại lạc, tịnh quang, không tính của nó là phi thường, trí tuệ của nó là vô thượng. Vì vậy, đây là sự tổng hợp của trí tuệ, thiền định và đại lạc.

Các tổ sư Mật giáo tu tập Vô Thượng Mật Bộ Tục và đạt được thành tựu rất nhiều, họ chuyển hóa sắc thân, tịnh quang tăng trưởng, đạt được thành tựu lớn của ánh sáng cầu vồng.

Vô Thượng Mật Bộ Tục (pháp song thân) có thể nhận thức được trạng thái vĩnh hằng, đi vào trạng thái thiền định tĩnh lặng, đó là tổng hòa của tu tập tĩnh định.

Vô Thượng Mật là có trật tự chứ không phải hỗn loạn. Đó là một vẻ đẹp của trật tự vĩ đại và sự hài hòa hoàn toàn. Vô Thượng Mật chuyển hóa từ hành vi tham dục thành tu hành thanh tịnh. Cách vận hành của Vô Thượng Mật là từ bản nhiên, đến không còn cái ngã, chính là vô ngã.

Cuối cùng tôi xin tuyên bố: Người không đủ điều kiện không thể tu tập pháp này. Người chưa được Kim cương Thượng sư truyền khẩu, chưa quán đảnh, không như pháp, không thể tu tập.

33. Một cái cây già

Đứng trước một cây già trong sơn trang Cầu vồng, đôi khi, chỉ cần suy nghĩ một chút là những suy tưởng đã miên man như dòng sông, chảy mãi không ngừng.

Trước khi tôi sinh ra, nó đã sống. Sau khi tôi rời khỏi thế giới này, nó vẫn sống.

Thời gian sống của nó vượt xa tôi, nghĩ lại, cây có lẽ là sinh vật cổ xưa nhất trên trái đất, một cây già có thể đã chứng kiến tất cả những xấu xa trong lịch sử, trải qua chiến tranh, đao binh, lửa khói. Trải qua biết bao câu chuyện trần gian, trải qua những buồn vui ly hợp, trải qua ân oán tình thù giữa người với người, và còn có những thứ mà một cây già sợ nhất - hỏa hoạn và sét đánh.

Một cây già đứng vững vàng, không hề hấn gì, ít nhất là trang nghiêm, là cao quý, tiết lộ rằng nó là một người im lặng vĩ đại.

Khi tôi ở một mình với một cây già, nhìn những chiếc lá vươn cao tới tận mây trắng, tôi cảm nhận được sự vĩ đại và vĩnh cửu, nhìn những chiếc lá xanh tươi của nó, tôi không thể phân biệt được liệu nó đang ở tuổi thanh xuân, trung niên hay tuổi già, trong những năm tháng vĩ đại của nó, tôi không thể phân chia được.

Sự hiểu biết của tôi về một cây già thực sự không nhiều, như tuổi tác của nó, tuổi thọ của nó, quá khứ và tương lai của nó, trí tuệ và cảm xúc của nó, tình trạng sinh trưởng hiện tại, nguồn gốc của nó.

Tất nhiên, những gì tôi hiểu là: Cũng im lặng như vậy. Cũng tĩnh lặng như vậy.

Tôi biết, toàn bộ trật tự của Trái đất, hình thức cao nhất của nó là tự nhiên, và cây cối là một trong những yếu tố duy trì trật tự tự nhiên. Trên toàn bộ Trái đất, cần phải có những khu rừng cố định, bởi vì chúng bảo vệ không khí trong lành tự nhiên. Để hệ sinh thái tự nhiên của Trái đất tiếp tục tồn tại, chúng ta phải bảo vệ hệ sinh thái rừng, và bảo vệ hệ sinh thái rừng chính là bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

Từ một cây già, tôi nhận thức được một loại lòng từ bi không thể nghĩ bàn trong cõi mờ mịt của tự nhiên, đồng thời cũng nhận thức được sự kết nối không thể tách rời của toàn thể thế giới, điều này dường như là một sự sáng tạo kỳ diệu do trời đất tạo nên.

Cái gì là bất diệt? Tự nhiên chính là bất diệt. Đôi khi, tôi nghĩ như thế này: Trời là bất diệt! Đất là bất diệt! Cây là bất diệt!

Tôi đã từng tưởng tượng như vậy, khi tôi ở Đài Loan, có những người buộc một miếng vải đỏ lớn quanh cây to, rồi tôn thờ như một đền thờ. Một cây già trở thành biểu tượng thiêng liêng sâu sắc không thể đo lường, cư dân địa phương đến cầu xin, đó là một loại phước lành, và sự thiêng liêng này không bao giờ tách rời khỏi niềm tin của người dân địa phương.

Hiện tượng này không chỉ có ở Đài Loan, tôi cũng đã thấy ở Ấn Độ và Nepal, dưới một cây già, người ta đặt một bát sữa bò, một số hoa cúc vạn thọ, một tảng đá lớn phủ tro trên đó, cùng với một số loài hoa khác. Mọi người đều biết rằng nơi đó đã trở nên thiêng liêng, họ dâng sữa tươi, hoa tươi để cúng bái và cầu nguyện.

Một cây già, giống như cây già này: Không ai được phép chạm vào nó. Không được phỉ báng nó. Cây là thiêng liêng, cây là bất diệt!

Tôi có một cảm giác, tại sao người xưa lại kính trọng trời? Bởi vì trời không bao giờ cho con người biết những điều của nó; tại sao người xưa lại kính trọng đất? Bởi vì trong lòng đất chứa đầy sự sống; tại sao có người lại xem cây cối là thiêng liêng? Bởi vì những hiểu biết của chúng ta về một cây già thực sự quá ít.

Trời, đất, cây, đều có tính biểu tượng, đều có những điều kỳ diệu, dù là hư ảo hay thực tế, khi bạn không thể hiểu rõ nó hoàn toàn, nó mới trở nên thiêng liêng, chỉ cần sự thật không hiện hữu, nó sẽ trở nên thiêng liêng. Tôi đồng cảm với cây. Cây sẽ trở nên thiêng liêng.

Tôi có thể dùng một miếng vải đỏ lớn quấn quanh cây, đó chính là sự đồng thuận với một nguyên tắc, tạo nên khoảng cách giữa mình và cây, con người trở thành người cầu nguyện với cây, và cây trở thành đối tượng được cầu nguyện. Một cây già tượng trưng cho sự tồn tại đầy phẩm giá. Nếu không đồng cảm với nó. Tương lai của nó có thể sẽ bị chạm đến bởi rìu hoặc cưa.

Thật sự vào một buổi sáng tuyệt đẹp, tôi trầm tư trước một cây già, tôi ở một mình bên nó, nó thật hoàn hảo, thân cây vĩ đại, rễ cây bám chặt vào đất, ăn sâu vào lòng đất, vững chắc và không thể bị phá hủy. Tôi cảm thấy nó đáng kính. Tôi thích được ở gần nó. Thậm chí, tôi muốn chắp tay trước nó, để tỏ lòng kính trọng với thiên nhiên.

34. Lễ tốt nghiệp của Lư Phật Thanh

Thượng sư Liên Hương và tôi đặc biệt bay từ Seattle đến San Jose, California để tham dự lễ tốt nghiệp của Lư Phật Thanh.

Ngày 14 tháng 6 năm 1997, Phật Thanh tốt nghiệp tại trường đại học Santa Clara, chuyên ngành Chính trị học, Luật học và Tâm lý học. Phật Thanh là cử nhân Luật. Nó sẽ tiếp tục học tập để lấy bằng Tiến sĩ Luật.

Lễ tốt nghiệp được tổ chức tại quảng trường đại học Santa Clara, đây là lần đầu tiên trong đời tôi tham dự lễ tốt nghiệp đại học tại Mỹ.

Tôi cảm thấy lễ tốt nghiệp của sinh viên đại học Mỹ so với lễ tốt nghiệp trong nước, rõ ràng tự do và cởi mở hơn nhiều.

Sinh viên tốt nghiệp vốn phải đội mũ vuông, nhưng có những sinh viên rất sáng tạo, họ đeo mặt nạ sói, mặt nạ hổ, mặt nạ voi, còn khoa Kịch nghệ thì toàn bộ là nhân vật từ các vở opera cổ điển; sinh viên khoa Kỹ thuật thì đồng loạt đội mũ bảo hộ lao động, thậm chí còn có một sinh viên hóa trang thành nhân vật chính nam trong Star Trek. Lễ tốt nghiệp này trông giống như một vũ hội hóa trang vậy.

Khi các sinh viên tốt nghiệp lên sân khấu nhận bằng tốt nghiệp, có người rất nghiêm túc, có người hò hét ầm ĩ, có người nhảy múa lên sân khấu, có người nhảy disco. Hiện tượng kỳ lạ đủ kiểu này, ở đất nước dân chủ tự do, mọi người chỉ mỉm cười nhìn nhau.

Có một vài sinh viên đại học đã có con, họ mặc áo tốt nghiệp đội mũ vuông, bế con tham dự lễ tốt nghiệp. Có sinh viên tốt nghiệp mang bầu to, cũng có sinh viên tốt nghiệp trông có vẻ hơn 50 tuổi, trông giống như một đứa trẻ già.

Lễ tốt nghiệp có hát quốc ca Mỹ. Hiệu trưởng phát biểu. Khách quý phát biểu. Đại diện sinh viên tốt nghiệp phát biểu, vị đại diện sinh viên tốt nghiệp này đến từ khoa Triết học, bài phát biểu mang đậm chất triết học. Có thả bóng bay lên trời. Có thả bồ câu hòa bình bay lên trời.

Khi Lư Phật Thanh lên sân khấu nhận bằng tốt nghiệp, chúng tôi đứng dậy, vỗ tay, hò reo, thổi còi. Đội hình của chúng tôi rất đông đảo, vì ở San Francisco có Tử Liên Đường, ngoài ra, đồng môn từ khắp nơi trên thế giới cũng nghe tin đến tham dự lễ tốt nghiệp của Phật Thanh, vì vậy khi đứng dậy hò reo, chấn động cả hội trường, trở thành tiêu điểm chú ý của các sinh viên tốt nghiệp và khách mời.

Lư Phật Thanh có thành tích học tập xuất sắc, nhận được danh hiệu Sinh viên Xuất sắc từ trưởng khoa Đại học Santa Clara, Sinh viên Danh dự ngành Chính trị học, và là Thành viên Danh dự Quốc gia do Hiệp hội Omega trao tặng, đồng thời tham gia chương trình học tập ở nước ngoài của trường với tư cách là sinh viên trao đổi quốc tế Đài Loan.

Về khả năng lãnh đạo, Phật Thanh đã tham gia Hội Sinh viên Đại học Santa Clara, Ủy ban Quan hệ Sinh viên, phụ trách kế hoạch tài chính và hoạt động gây quỹ trong Hội Sinh viên, giữ chức thư ký Hội Sinh viên, và làm gia sư cá nhân tại Trung tâm Học tập dành cho Giáo sư.

Phật Thanh đã thực tập tại một văn phòng luật sư nổi tiếng ở Seattle. Cô còn giữ chức Phó chủ tịch Hội Sinh viên, Chủ tịch Bộ phận Quan hệ Công chúng của Liên đoàn Hội Hy Lạp và các vị trí khác.

Về kinh nghiệm phục vụ xã hội, Phật Thanh đã giúp Liên đoàn Ô nhiễm Độc tố Silicon Valley thực hiện nghiên cứu điều tra, làm việc trong bếp của nhà tạm trú dành cho người nghèo, giới thiệu khuôn viên đại học cho học sinh trung học sắp tốt nghiệp, hỗ trợ học sinh tiểu học trong các hoạt động ngoại khóa, làm trợ giảng trong nhóm dịch vụ cộng đồng của trường đại học, và hỗ trợ người nhập cư mới học tiếng Anh.

Phật Thanh có thành tích học tập đạt loại A. Phật Thanh tốt nghiệp thủ khoa.

Lư Phật Thanh đã tốt nghiệp đại học, cảm nghĩ của tôi như sau: Tôi cảm thấy tất cả thật sự rất tuyệt vời, trong lễ tốt nghiệp, cảm thấy vô cùng bình yên. Tốt nghiệp, là một sự kết thúc, cũng là một khởi đầu mới, là một dấu chấm đầy ý nghĩa, mang lại nhiều xúc động. Lễ tốt nghiệp khiến người ta cảm thấy rất trọn vẹn, rất phong phú, và không thể diễn tả bằng lời, đó thực sự là một ngày tuyệt đẹp với gió nhẹ thổi, ánh nắng mùa hè rực rỡ. Tôi tôn trọng sự lựa chọn và quyết định của Lư Phật Thanh. Nó muốn theo học học vị cao nhất là Tiến sĩ Luật.

Tôi chúc phúc cho tương lai của con gái trên sân khấu chính trị, kinh tế, xã hội và giáo dục của Hoa Kỳ, đóng vai trò tốt nhất. Chúc phúc cho con gái hướng tới tương lai tươi sáng, với tài năng và nỗ lực, tạo nên triển vọng tương lai rạng rỡ cho chính mình.

35. Làm thầy giáo

Tôi đã thấy trong Chân Phật Báo bài kệ tán thán mà đệ tử ở Bắc Kinh, Trung Quốc viết cho tôi: Pháp thân thánh khiết bất động. Đại hỷ vĩnh viễn tương tục. Không được cũng không mất đi. Đại lạc vô cùng vô tận. Bốn ma không dám hoại tôi. Trí tuệ quang minh vô thượng. Ma thấy cũng biến thành Phật. Thần thông độ sinh luân hồi. Vô tâm vô sự vô lỗi. Bất sinh bất tử Như Lai. Muôn loài đều có bồ đề. Ngũ trí đồng thể đại bi.

Ngoài ra, Liên Hoa Chính Đằng đã viết một bài thơ mới "Xuân phong hóa vũ" cho tôi: Cỏ non cần mưa nuôi dưỡng Mới có thể lớn mạnh Nơi gió xuân thổi qua Không còn lạnh lẽo Mặt trời luôn mong mỏi Đem hơi ấm đến trái tim mỗi người Để ánh dương soi đường

Trưởng thành không tránh khỏi bất an và hoang mang Đối diện tương lai mờ mịt Trên đường đời mưa gió triền miên Thầy luôn kiên nhẫn đồng hành Dạy con mạnh mẽ không sợ buồn đau Hướng về niềm hy vọng của mình

Gió xuân hóa thành mưa, gió xuân hóa thành mưa Còn mãi trong tim con Tình yêu của thầy Con sẽ không bao giờ quên Từng chữ từng câu, từng lời từng lẽ Kỷ niệm sâu đậm Cảm ơn thầy Đã tận tâm chăm sóc con.

(Vào ngày sinh nhật lần thứ 53 của tôi, cả trang báo Chân Phật đều là những bài thơ chúc mừng. Tôi đọc từng bài, từng câu từng chữ, lòng vô cùng xúc động!)

Bên cạnh sự xúc động, tôi cũng có một vài cảm nhận. Khi còn nhỏ, tôi quả thật hết sức bình thường. Lúc học tiểu học, nhìn thấy vẻ uy nghiêm của thầy cô, nên khi làm bài văn với chủ đề "Ước mơ của em", tôi đã không chút do dự viết: "Làm thầy giáo."

Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay, tôi đã nhận ra rằng hai chữ "thầy giáo" không phải là điều mà tôi đã tưởng tượng một cách ngây thơ. Hai chữ "thầy giáo" là một gánh nặng trĩu vai.

Tất nhiên tôi là một giáo viên Phật học, giáo viên Phật học rất khác với giáo viên thông thường, tôi nhận thức được sự từ bi mà các giáo viên thông thường chưa từng chạm đến, tôi nhận thức được sự bất diệt trong Phật học. Nó rộng lớn hơn, sâu xa hơn, mang tính thiêng liêng không thể đo lường, hoàn toàn khác với một giáo viên thông thường.

Tôi nhận ra rằng làm giáo viên Phật học khó khăn hơn làm giáo viên thông thường, giáo viên thông thường chỉ truyền đạt kiến thức về cuộc sống, còn giáo viên Phật học không chỉ coi trọng trí tuệ để tồn tại mà còn phải coi trọng trí tuệ sau khi chết. Điều này có vẻ như mơ hồ, trừu tượng, hư vô, nhưng Phật học là một điều thuộc về tâm linh, và trong lĩnh vực này, vẫn tồn tại vẻ đẹp hài hòa ở dạng thức cao nhất.

Dù gánh nặng của tôi với tư cách một người thầy rất lớn, nhưng tôi không sợ hãi, cũng không bao giờ do dự hay hối tiếc.

Tôi cảm thấy giáo dục thực sự quá quan trọng trong thế giới Ta Bà này. Phật Thích Ca Mâu Ni là vị đạo sư vĩ đại của cõi người và cõi trời. Nói một cách đơn giản, Phật Thích Ca Mâu Ni là người thầy của tâm, Ngài dạy chúng ta làm chủ tâm mình, nắm bắt sự tự tại của tâm, điều khiển tâm mình một cách tự nhiên, an định tâm mình, và bước vào con đường Niết bàn thanh tịnh vĩnh hằng.

Tất cả những thành tựu này đều được nuôi dưỡng bởi giáo dục. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp trong bốn mươi chín năm, Ngài chắc chắn là người thầy của vũ trụ. Tôi cảm thấy rằng chúng sinh được hình thành nên, mọi sự tồn tại đều được hình thành.

Tôi là một người thầy dạy người tỉnh thức. Dạy người tuân thủ quy tắc. Dạy người điều hòa tâm mình. Dạy người phát triển trí tuệ Như Lai.

Khi đệ tử tán thán tôi, tôi nhận ra mình phải đón nhận mọi thử thách, trong lòng tôi đó là trách nhiệm không thể trốn tránh, đây trở thành trách nhiệm của một người thầy, tôi phải dẫn dắt mọi người đến với sự tự do tự tại của tâm, sự giải thoát của tâm, sự làm chủ của tâm, đây cũng là một lời cam kết trọn vẹn.

36. Đại học Hoa Quang Tử Liên

Tôi giảng dạy trong ba ngày tại Đại học Hoa Quang Tử Liên ở San Francisco. Nội dung giảng dạy là: "Cảnh giới mới của Phật Vương". Buổi sáng hai tiết, buổi chiều một tiết, buổi tối một tiết, tổng cộng bốn tiết mỗi ngày. Ba ngày tổng cộng mười hai tiết học. Hai tiết buổi sáng do tôi giảng chính. Tiết buổi chiều và tiết buổi tối dành để trả lời câu hỏi của học viên.

Trong ba ngày giảng dạy, có bục giảng, có bảng đen, có sách giáo khoa, tôi đứng giảng, tay cầm thước chỉ, tôi thực sự trở thành một giáo viên.

Tôi nhận ra rằng cảm giác đứng giảng bài hoàn toàn là một trải nghiệm năng động, có thể đi qua đi lại, điều này không thể có được khi ngồi giảng, ngôn ngữ cơ thể kết hợp với lời nói làm cho bài giảng thêm sinh động.

Nghe nói các học viên nghe tôi giảng bài đều cảm thấy vui vẻ, họ không buồn ngủ, bởi vì theo họ, cách giảng dạy của tôi rất hài hước, nội dung thú vị và sinh động, không có cảm giác gò bó, còn bản thân tôi thì trò chuyện thật thoải mái.

Tôi cầm thước chỉ trên tay, có lúc chỉ vào bảng đen, có lúc gõ nhẹ lên bàn, có lúc dùng như cây đũa chỉ huy, có lúc vung lên như một thanh kiếm. Vào lúc đó, tôi không còn ý thức về việc mình đang cầm thước chỉ nữa, cây thước trong tay đã hòa làm một với tôi, đây là điều tự nhiên hình thành, không phải do rèn luyện mà có. Tôi tự cảm nhận mình đứng yên lặng, hiện diện trong khoảnh khắc giảng dạy.

Tất cả các phòng học của Đại học Hoa Quang Tử Liên đều chật kín sinh viên, tôi chỉ giảng dạy trong một phòng học lớn nhất, còn sinh viên ở các phòng học khác xem qua màn hình, theo dõi truyền hình từ mỗi phòng học.

Tôi nói về những trải nghiệm tâm linh và quá trình tu tập của mình, những kinh nghiệm này đều là chân thực. Có người nói rằng "Chân thực không thể được con người trải nghiệm, không có con đường nào dẫn đến chân thực, cũng không có ngôn từ nào có thể diễn tả chân thực, chân thực rất khó được tìm kiếm và khám phá." Theo hiểu biết của tôi, câu nói này rất giàu triết lý, bởi vì trải nghiệm về "chân lý tuyệt đối" là điều vô cùng khó diễn tả.

Tất cả kiến thức không thể mô tả được chân như. Tất cả khái niệm không thể diễn tả được chân như. Tất cả ví dụ không thể cụ thể viết ra được chân như.

Nhiều bậc tu hành thời xưa đã nói về kinh nghiệm của họ, về trạng thái siêu ý thức trong thiền định, về chân thực thiêng liêng của họ. Tôi nói: Chân thực không phải là giác quan. Chân thực không phải là khẩu vị. Chân thực không phải là tư tưởng. Chân thực không phải là lý thuyết. Không phải ngôn từ cũng không phải hình ảnh.

Trong các công án Thiền tông, điều này đã được thể hiện rất rõ ràng. Khi Thiền sư Dược Sơn đang tĩnh tọa, một vị tăng chạy đến hỏi: "Thầy đang ngồi trầm tư suy nghĩ gì vậy?" Dược Sơn đáp: "Ta đang suy nghĩ về điều không thể suy nghĩ được." Vị tăng ngạc nhiên: "Làm sao có thể suy nghĩ về điều không thể suy nghĩ được?" Dược Sơn đáp: "Không suy nghĩ." Vị tăng muốn Dược Sơn giảng giải, vì ông không hiểu "không suy nghĩ" là gì. Thiền sư Dược Sơn im lặng hồi lâu. Vị tăng này không thể lĩnh hội được.

Vì vậy, thiền sư Dược Sơn nói: "Giải thích điều này không khó, nhưng điều quan trọng nhất là phải nắm bắt ý nghĩa của nó ngay lập tức mà không cần suy nghĩ, như vậy mới có thể gần với Đạo. Nếu suy nghĩ quá nhiều, anh sẽ càng đi càng xa, vì thế, tốt nhất là không nói gì cả, để tránh thêm nhiều ràng buộc."

Trong ba ngày giảng dạy, tôi đã hoàn toàn chạm đến "tâm tuyệt đối".

Đạt Ma hỏi Thần Quang: "Ngươi cầu gì?" Thần Quang đáp: "Tâm con bất an, xin sư phụ an tâm cho con." Đạt Ma nói: "Đưa tâm ngươi ra đây, ta sẽ an tâm cho ngươi." Thần Quang ngần ngừ hồi lâu, nói: "Con đã tìm nó nhiều năm rồi, nhưng bây giờ vẫn không tìm thấy." Đạt Ma nói: "Tốt, việc an tâm đã hoàn tất."

Quả thực việc an tâm đã hoàn tất. Khi tĩnh tọa cần không suy nghĩ về việc tĩnh tọa, không có hệ thống nào tồn tại, không có phương hướng, không có những mẫu mực đặc biệt và cố định, không có ngôn từ và hình ảnh, chỉ trong trạng thái vô tâm hoàn toàn, bạn mới có thể thấy được bản lai diện mục chân thực.

Tôi đã giảng dạy ba ngày tại Đại học Hoa Quang Tử Liên, ba ngày trôi qua rất nhanh. Vào buổi tối ngày cuối cùng, đó là một đêm trăng sáng, bên cạnh mặt trăng còn có những tia cầu vồng bảy sắc ẩn hiện. Trong bầu trời đêm tĩnh lặng ấy, nhiều vì sao lấp lánh, chúng như những viên kim cương gắn trên trời, tôi chỉ vào một ngôi sao hình chữ thập ở phương Nam và nói, ngôi sao này bắt đầu di chuyển rồi. "Di chuyển rồi?" - Các học viên không hiểu tôi đang nói gì.

37. Trời ban dị tượng

Ngày 18 tháng 5 âm lịch năm 1997, đó chính là ngày sinh nhật của tôi. Tôi đang làm lễ khai quang an tọa cho các tượng Phật và Bồ Tát tại Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York. Tôi đã chủ trì một buổi lễ Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa tại Quảng trường Madison Garden, buổi lễ này kéo dài từ sáng đến 3 giờ chiều mới kết thúc.

Tôi vội vã trở về nhà hàng gần Kim Cang Lôi Tạng Tự để ăn trưa. Chính vào lúc đó, khoảng hơn 3 giờ chiều ngày 18 tháng 5 âm lịch, chúng tôi nhìn về phía Nữ thần Tự do Chiến thắng.

Vốn dĩ đang là một ngày trời nắng gắt, từ đường chân trời, những dải sương mù mỏng manh bay đến, dần dần tiến về phía thành phố New York. Chỉ trong khoảnh khắc, từ đường chân trời xa xôi đến toàn bộ thành phố New York đều bị sương mù bao phủ. Cùng lúc đó, đất bỗng nổi gió xoáy, lá cây bên ngoài nhà hàng rơi lả tả, gió mạnh gào thét, Nữ thần Tự do biến mất, biển nối liền New York với New Jersey sóng gió dâng lên dữ dội.

Mưa rào ập đến, những hạt mưa với đường nét mềm mại đẹp đẽ đập xuống mặt đất, đường nhựa nhanh chóng ướt đẫm, vừa có gió vừa có mưa, cửa sổ phủ đầy giọt nước.

Bỗng nhiên, sấm chớp nổi lên, tiếng sấm rền vang như những loạt đại bác liên hoàn vang vọng khắp chân trời. Kéo dài khoảng mười phút. Mây tan, mưa ngớt. Sương mù biến mất, Nữ thần Tự do xuất hiện trở lại. Sấm dừng. Gió lặng. Cột buồm của những chiếc thuyền nơi đường chân trời đứng thẳng, bất động trong yên tĩnh. Ánh nắng gay gắt bắt đầu nô nức tỏa nhiệt.

Ban đầu tôi không có cảm nhận đặc biệt gì về thời tiết, nhưng những đồng môn thì khác, họ nói: "Đây là điềm lạ từ trời ban xuống!"

Tôi nhớ ra rồi, tại các Lôi Tạng Tự trên khắp thế giới, mỗi khi một Lôi Tạng Tự khánh thành, khai quang và treo biển hiệu, thật không thể nghĩ bàn, vì Lôi Tạng Tự có chữ "Lôi" (sấm sét), nên cảm ứng được tiếng sấm rền vang, âm thanh sấm sét vang dội khắp trời đất.

Hơn nữa, hôm đó lại đúng vào ngày sinh nhật của tôi, và vào ngày sinh nhật của tôi cũng luôn có những hiện tượng kỳ lạ không thể nghĩ bàn, khi thì mặt trời có cầu vồng bao quanh, khi thì tiếng sấm rền vang.

Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện nghi lễ Hộ Ma Kim Cang Tát Đỏa.

Điều kỳ lạ hơn nữa là, sương mù, gió, mưa, sấm sét chỉ đến trong vòng mười phút, và sau mười phút, mọi thứ lại trở về trạng thái ban đầu.

Tôi đã dùng tiền riêng để mua Kim Cang Lôi Tạng Tự ở New York, dành cho các đồng môn của Chân Phật Tông tại khu vực đại New York tu tập.

Vị trí này rất tốt, nằm ngay bên cạnh tòa tháp Thương mại Thế giới" (cao 107 tầng), chỉ cần đi bộ vài phút là có thể đến. Kim Cang Lôi Tạng Tự cùng với tầng hầm tổng cộng có bảy tầng, công trình kiến trúc rất vững chắc, bề ngoài nguy nga, bên ngoài tòa nhà được an trí Ngũ phương Ngũ Như Lai và pháp luân. Đàn thành ở tầng một, chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên, ánh vàng lấp lánh, khí lành nghìn tia, trang nghiêm tĩnh mịch, với các tượng Phật theo phong cách Mật tông Tây Tạng, các đồ trang trí theo phong cách Mật tông Tây Tạng, khiến người ta phải chú tâm.

Tôi biết, họ đã rất cẩn thận trong việc chọn mua tượng Phật, sử dụng những vật liệu tốt nhất và chắc chắn nhất để xây dựng đàn thành, mỗi phần đều được chăm chút tỉ mỉ, đặc biệt là trần nhà, nơi đặt đại mandala của Kim Cang Tát Đỏa, vô cùng trang nghiêm, mỗi màu sắc đều rực rỡ, sơn dầu toát ra hương thơm đặc trưng, ở mặt chính của đàn thành còn vẽ hoa văn tám cát tường, hai bên có ba pháp tọa: cao, trung bình và thấp. Còn có điện Địa Tạng Bồ Tát. Còn có điện Liên Hoa Đồng Tử. Còn có điện Kim Cang Tát Đỏa.

Vốn dĩ đại điện có hai cây cột lớn, được trang trí thành những lá phướn Tây Tạng bao phủ toàn bộ cột, vô cùng đẹp mắt.

Tôi ngồi trên pháp tọa cao nhất trong đại điện, khoanh chân lại, tay phải cầm trống, tay trái cầm chuông, tôi lắc chuông và đánh trống, cảm thấy rất tự tại.

Tôi biết, tôi đang làm tĩnh lặng bản thân, đang vận dụng tâm lực của mình, tôi làm mọi việc rất thận trọng, quán tưởng rất tỉ mỉ, thể hiện năng lượng không mệt mỏi, dâng hiến cả cuộc đời và thời gian của mình.

Có lẽ biết, có lẽ không biết, đây chính là sứ mệnh và trách nhiệm.

Tôi quan tâm đến đệ tử của mình như yêu thương con cái của chính mình vậy, tôi dạy không phân biệt cùng một phương pháp giáo hóa, tôi cũng hiểu rằng cùng một cách giáo hóa sẽ tạo ra những hiệu quả khác nhau, bởi mỗi đệ tử đều có căn cơ và tập tính khác nhau, tôi phải vận dụng thật khéo léo để thích ứng với sự cứu độ rộng lớn.

Cuộc đời như ảo ảnh. Sinh mệnh trôi qua nhanh chóng. Vì sự cứu độ vô tận mà đời đời kiếp kiếp tôi hoằng dương Phật pháp trong cõi người này, tôi đã cung cấp sự chăm sóc tỉ mỉ, cung cấp tình cảm của mình, trách nhiệm của tôi vĩnh viễn không bao giờ dừng lại!

38. Madison Square Garden

Không ai ở New York mà không biết Madison Square Garden. Madison Square Garden thậm chí còn nổi tiếng trên toàn thế giới.

Có người nói với tôi: "Các buổi hòa nhạc, biểu diễn ca nhạc, diễn thuyết diễn ra tại Madison Square Garden đều là những sự kiện có quy mô lớn nhất, hoành tráng nhất, nổi tiếng nhất, mang tầm thế giới. Những buổi biểu diễn âm nhạc thông thường sẽ không được tổ chức tại Madison Square Garden, vì không có sức hút đủ lớn sẽ trở nên lép vế. Tiền thuê Madison Square Garden rất đắt, và nơi này có sức chứa tới hàng vạn người, nếu không phải sự kiện quy mô lớn thì không thể tổ chức ở Madison Square Garden được."

Tiền thuê đắt đỏ, giá thuê hai ngày khoảng hơn trăm nghìn đô la Mỹ.

Tôi ngồi thuyết pháp tại Madison Square Garden, đây là một sự kiện mang tính lịch sử, tôi ở thành phố lớn nhất thế giới là New York, tại Madison Square Garden - địa điểm lớn nhất thế giới, đối diện với hàng vạn người để truyền thụ pháp Uế Tích Kim Cang.

Lại có người nói với tôi: "Các pháp hội hay truyền pháp của giới Phật giáo chưa từng được tổ chức tại Madison Square Garden. Các bậc đại sư, đại hòa thượng nổi tiếng thế giới, chưa có ai dám tổ chức ở Madison Square Garden. Có một vị pháp sư nổi tiếng là pháp sư Thánh Nghiêm đến New York hoằng pháp, ông đã thuê Hội quán Trung Hoa ở phố Tàu, Hội quán Trung Hoa có sức chứa năm trăm người, nhưng bậc danh sư Pháp sư Thánh Nghiêm khi thuyết pháp tại Hội quán Trung Hoa, người ngồi thưa thớt, tôi thấy khoảng hai trăm người." Vị này nói: "Trong giới Phật giáo, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là người đầu tiên tổ chức tại Madison Square Garden."

Ngồi trên pháp tọa cao trên sân khấu của Madison Square Garden, nhìn về phía đám đông trải rộng như hình quạt, tâm tôi bình lặng, tôi từ tốn giảng về pháp Uế Tích Kim Cang, hai bên hội trường có hai màn hình lớn, tất cả mọi người trong hội trường, từ Nam đến Bắc, từ Đông sang Tây đều có thể nhìn thấy rõ ràng từng cử chỉ của tôi.

Không một chút âm thanh nào, ngay cả khi một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy, không có người ở hàng trước che khuất tầm nhìn của người ở hàng sau, thiết kế của Madison Square Garden là hạng nhất, cao dần lên và mở rộng về hai bên, hệ thống âm thanh rất tốt, ngoài ra, còn có thiết bị ghi hình và bố trí sân khấu, tạo nên một không gian rộng lớn.

Tôi đột nhiên cảm thấy rằng mình đang ngồi trong một không gian vô tận, khoảng không và vạn vật đều hiện diện trước mắt tôi, tôi nhìn ra xa như thể tầm nhìn kéo dài đến nơi không thể với tới, vô hạn và vô biên.

Khi ánh đèn dịu xuống, không gian trở nên vô cùng tận, vào lúc này, cần phải có một không gian như thế để tượng trưng cho Phật pháp rộng lớn và lòng từ bi, việc Phật pháp có thể được hoằng dương tại Madison Square Garden, điều này thật tuyệt vời.

Âm thanh thuyết pháp của tôi tạo nên một không gian riêng, Uế Tích Kim Cang đang được truyền bá một cách chính xác. Chú Uế Tích Kim Cang được tôi niệm ra từ miệng: "Ôm chuy-lu tu-lan hùm rưa."

Tôi kết ấn Uế Tích Kim Cang. Quán tưởng Uế Tích Kim Cang: Trước tiên quán tưởng trong hư không hiện ra một vị Phật Thích Ca Mâu Ni, từ tâm của Ngài phóng ra ánh sáng xanh lam rực rỡ, hướng lên đỉnh đầu chính giữa. Và trong ánh sáng xanh lam rực rỡ ấy biến hóa thành ba mặt, tám tay, chín mắt của Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật. Tóc ngài màu đỏ thắm, thân màu xanh lam, cánh tay màu đen, mặt màu xanh lục, trên cánh tay có rồng quấn quanh để làm trang nghiêm. (Hình tướng này có thể tham khảo pháp tướng của Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật.)

Tiếp theo quán tưởng hành giả mật tông từ trong tâm mình phóng ra ánh sáng xanh lam rực rỡ, và trên không trung, Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật từ tâm của Ngài cũng phóng ra ánh sáng xanh lam rực rỡ chiếu xuống, hai luồng ánh sáng gặp nhau giữa không trung, hòa nhập vào nhau. Hành giả mật tông phát ra một tiếng "Hùm", hóa thành Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật ba đầu tám tay. Hành giả và Kim Cang không hai không khác.

Ghi chép về Uế Tích Kim Cang như sau: "Ucchusma, trước Như Lai chắp tay đảnh lễ dưới chân Phật và bạch Phật rằng, con thường nhớ vô lượng kiếp trước tính tham dục nhiều, có Phật ra đời, hiệu là Không Vương, Ngài dạy rằng người đa dâm sẽ thành đống lửa dữ, dạy con quán sát khắp toàn thân tứ chi, các khí lạnh nóng, chư Phật đều gọi con là Hỏa Đầu, con nhờ sức hỏa quang tam muội nên thành A La Hán, phát tâm đại nguyện, khi chư Phật thành đạo, con làm lực sĩ hàng phục ma oán."

Tôi truyền thụ kinh nghiệm của mình. Tôi truyền thụ quan điểm của mình. Tôi truyền thụ tư tưởng của mình. Tôi truyền thụ ngôn từ của mình. Đây chính là lực gia trì của truyền thừa từ Căn bản Thượng sư, đây chính là điều "bất cộng"!

Trong Phật pháp, trong lĩnh vực này, tất cả mọi vấn đề đều có phương pháp giải quyết, tôi là người truyền dạy cách loại bỏ vấn đề.

Tôi viết bài kệ của mình: Là Đại Kim Cang hiện mười phương. Hóa giải tai ương thành cát tường. Uế trược trừ tận tự tỏa sáng. Tất cả ma tà tâm thanh lương.

39. Bí mật của tâm

Trong một công án Thiền tông, tôi đã đọc được một điển tích: Khi Đỗ Hồng Tiệm làm Tể tướng, có lần ông cùng thiền sư Vô Trụ đàm luận về thiền trong một ngôi chùa. Lúc này, trên cây bên ngoài chùa có một con quạ kêu: "A! A! A!" Thiền sư Vô Trụ hỏi Tể tướng Đỗ: "Ngài có nghe tiếng quạ kêu không?" Tể tướng Đỗ đáp: "Vâng, có!"

Lúc này, con quạ kêu xong rồi bay đi, thiền sư Vô Trụ lại hỏi Tể tướng Đỗ : "Bây giờ, ngài còn nghe tiếng quạ kêu nữa không?" Tể tướng Đỗ thành thật đáp: "Con quạ đã bay đi rồi, không còn nghe thấy tiếng nó nữa." Thiền sư Vô Trụ nói: "Ta vẫn còn nghe được tiếng quạ kêu."

Tể tướng Đỗ ngạc nhiên hỏi: "Con quạ đã bay đi, tiếng kêu đã không còn từ lâu, vì sao vẫn còn nghe được tiếng quạ kêu?" Thiền sư Vô Trụ đáp: "Đây là bí mật của tâm."

Thiền sư Vô Trụ giải thích như sau: "Nghe hay không nghe, không liên quan đến tính nghe, vốn không sinh, làm sao có diệt? Khi có âm thanh, thì âm thanh tự sinh; khi không có âm thanh, ấy là trần cảnh âm thanh tự diệt. Nhưng tính nghe này không theo âm thanh mà sinh, không theo âm thanh mà diệt; ngộ được tính nghe này thì không bị âm thanh chi phối, nên biết rằng âm thanh là vô thường, tính nghe không sinh diệt. Vì vậy, con quạ có đến có đi, nhưng tính nghe của con người không đến không đi."

Tôi giải thích đơn giản như sau: Quạ có đến có đi. Tâm không đến không đi. Không nên bị âm thanh bên ngoài chi phối. Cần giữ tâm không bị cảnh chuyển. Như vậy mới nhập vào thiền định.

Nói cách khác, tâm của một người đã đạt thành tựu là bất động, có thể đoạn trừ tất cả phiền não, không bị dao động bởi các phân biệt khi thế này khi thế khác. Môi trường không thể ảnh hưởng đến tâm của một người đã đạt thành tựu. Vì vậy, người đạt thành tựu là: Dùng tâm chuyển cảnh. Chứ không phải tâm theo cảnh chuyển.

Sau khi đọc lời giải thích của thiền sư Vô Trụ, tôi tự nhận thấy, bản chất của tâm là một không gian vô hạn, và trong sự tĩnh lặng bao la đó, tâm có thể tạo nên thiên đường, tâm có thể tạo nên địa ngục, kiến tạo mọi sự vật, tuy nhiên, sự trống rỗng hoàn toàn chính là điều không thể đo lường được.

Tôi bàn về vấn đề an tâm. Trên thế giới này, có nhiều điều hạnh phúc, cũng có nhiều điều đau khổ, tức là những điều khiến người ta thoải mái và những điều khiến người ta bất an. Người tu hành cần trải nghiệm những điều này, mỗi lần trải nghiệm có thể nói đều là một sự thử thách, và đều để lại dấu vết.

Mỗi một trải nghiệm đều tạo ra những phản ứng khác nhau, và dĩ nhiên cũng sinh ra nhiều phiền não, trong đó có buồn đau, khổ sở, đau thắt ruột, mâu thuẫn, xung đột.

Nếu chúng ta đi sâu vào thế giới nội tâm sẽ hiểu rằng, phiền não có thì hiện tại, có thì quá khứ, khi phiền não đã qua đi thì phiền não đã được tránh khỏi. Điều này chứng minh rằng: Phiền não có đến có đi. Còn tâm không đến không đi.

Người tu hành cần khám phá thế giới nội tâm của "ngã" và "phi ngã", cũng như cái gọi là "bên ngoài" và "bên trong".

Khi một người đạt đến cảnh giới thành tựu, tâm họ là tự do, tâm họ là tự chủ, không bị ô nhiễm bởi phiền não bên ngoài, tâm là siêu việt, bởi vì người thành tựu hiểu rằng, một tâm tự chủ thoát khỏi mọi kinh nghiệm và phản ứng, nhờ có thể vận dụng "tâm trí", tất cả nhiễu loạn không còn tồn tại, tâm có thể chuyển hóa mọi hoàn cảnh, ngay cả khi hoàn cảnh chưa thay đổi, tâm vẫn là ánh sáng tự thân, bất động, hoàn toàn tỉnh thức, và an định vĩ đại.

Tôi đã lĩnh ngộ: Khi con quạ kêu — Tất cả lời đồn, phỉ báng, tổn thương, tống tiền, thách thức, bài xích đều đổ lên người hành giả, chỉ cần có "ngã", tất sẽ có phản ứng, có phiền não.

Khi con quạ bay đi — Tất cả trở thành quá khứ. Phiền não cũng không còn.

Tuy nhiên, một người thành tựu cần thực sự hiểu rằng, chỉ cần không có "ngã", sẽ buông bỏ được tất cả chấp trước, tâm sẽ hoàn toàn tỉnh thức, tâm sẽ hoàn toàn tự chủ tự do, tâm không có biên giới, tâm là ánh sáng, tâm là đại viên mãn, nhờ đó có thể đạt được đại trí huệ của Như Lai, thong dong bước vào đại an định. Bên ngoài phiền não chồng chất. Bên trong ánh sáng vô tận.

40. Chứng lượng

Quá trình tu tập Mật giáo cần phải bàn về chứng lượng: Bạn đã đạt được đại lạc chưa? Trung mạch của bạn đã thông chưa? Ngũ luân của bạn đã khai mở chưa? Chuyết hỏa của bạn đã dâng lên chưa? Minh điểm của bạn đã tan chảy chưa? Tịnh quang của bạn đã xuất hiện chưa? Bạn đã vô lậu chưa? Bạn đã chứng tính không chưa?

Chứng lượng trong Mật giáo và Hiển giáo, mặc dù khác nhau, nhưng ý nghĩa của chúng cũng có điểm tương đồng. Hiển giáo có thể nói như sau: Bạn có giữ giới không? Bạn có đắc định không? Bạn có trí huệ Phật không?

Chúng ta học tập Mật giáo, hàng ngày tu tập theo thứ tự, từ chứng lượng có thể thấy được công lực của chính mình, tự mình có thể đánh giá chính mình, từ sự hiểu biết rõ ràng về bản thân để chứng minh sức mạnh của chính mình. Một người đạt thành tựu chắc chắn phải có chứng lượng, điều này không thể nào giả mạo được.

Tôi thực tu Bảo bình khí. Tôi vận chuyển chân khí, khởi động chuyết hỏa, tôi dùng khí và chuyết hỏa để thông mạch. Tôi vận dụng chuyết hỏa để tan chảy minh điểm, tôi vận dụng tác dụng đốt cháy nhỏ giọt để khai mở ngũ luân và sinh ra tịnh quang, tôi dùng trí huệ của Như Lai để chứng minh: Căn bản hỷ. Căn bản trí.

Tôi tự nhận thức, ý nghĩa của kim cang bất hoại thực sự có hai: Kim cang tâm bất hoại — tính không. Kim cang thân bất hoại — vô lậu.

Trong Mật giáo có sự thanh tịnh của thân, khẩu, ý, điều này cũng giống như sự thanh tịnh trong Hiển giáo, đều là pháp môn bất nhị của Đức Phật. Tuy nhiên, trong thế giới nội tâm sâu sắc, chứng lượng của Mật giáo không thể diễn tả bằng lời, không thể biểu đạt qua ngôn ngữ, văn tự là vô dụng.

Chỉ có thực tu mới có chứng lượng. Chứng lượng không phải là ngôn ngữ văn tự. Có là có. Không có là không có.

(Hết.)


Mục lục