172. Đi theo bước chân của gió
Đi theo bước chân của gió
🪷 Nhớ về tiếng cười xa xưa
Văn tập: 172 Xuất bản: 06/2004 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam
Mục lục
Lời mở đầu
Có người đã hỏi tôi: "Liên Sinh Hoạt Phật, tương lai của ngài sẽ như thế nào?" Tôi đáp: "Đi theo bước chân của gió." Người đó sững lại, suy nghĩ một lúc, rồi hỏi tiếp: "Đi theo bước chân của gió là gì?" Tôi đáp: "Một người tu hành, biết rằng tâm chính là kho báu, đầy đủ tất cả, tự do sử dụng, khi dùng thì dùng, khi nghỉ thì nghỉ, dùng đến chỗ cùng tột, trong chốc lát buông bỏ, cũng coi là an vui. Đi theo bước chân của gió của tôi là biết rằng không một pháp nào có thể lấy, không một pháp nào có thể bỏ, không thấy tướng sinh diệt của bất kì pháp nào, không thấy tướng đến đi của bất kì pháp nào." "Nói sâu quá!" - Anh ta nói. Tôi nói: "Cứ coi đó là hai chữ "tự nhiên" đi!"
Tôi viết một bài thơ:
Thân xác tôi như ngọn nến đang cháy Tỏa ánh sáng rực rỡ Tôi không hề trốn chạy Vẫn bình thản như thường
Đôi khi vẫn rơi lệ Đó là nỗi buồn cho khổ đau trần thế Bạn nên biết gánh nặng của tôi lớn đến nhường nào Nên tôi mơ tưởng mình là gió
Cứ như thế, như thế Xin đừng bỏ lỡ sách của tôi Đừng bỏ lỡ sự cứu độ của tôi Xin đừng lắc đầu Xin đừng rơi vào ba đường ác Tôi sẽ miệt mài ngòi bút Dạy người biết chính pháp Không còn lầm đường lạc lối.
Thông tin liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:
Sheng-yen Lu
17102 NE 40th CT REDMOND WA 98052 U. S. A.
01. Hồi ức tựa như mơ lại chẳng phải mơ
Chúng ta là người tu hành, cuộc sống hàng ngày cũng giống như người thường, đi, đứng, ngồi, nằm, ăn cơm, ngủ nghỉ, làm việc, viết lách, v.v......
Người tu hành tu cái gì? Tu để loại bỏ vọng niệm, tu để đạt được nhất tâm bất loạn. "Kinh Duy Ma Cật" nói: Muốn có cõi tịnh độ, phải thanh tịnh tâm mình. Nghĩa là tâm sinh thì muôn pháp sinh, tâm diệt thì muôn pháp diệt, bậc thánh nhân dạy: "Nên biết thiện ác tất cả đều do từ tâm mình."
Cuộc sống hàng ngày của người tu hành và người thường thực ra là giống nhau, chỉ là người tu hành chỉ tu cái "tâm" mà thôi! Muốn khai ngộ, phải "minh tâm", nếu không hiểu đạo lý này, thì chẳng khác gì người thường.
Mọi người hãy hồi tưởng lại xem: Thời gian cứ trôi qua! Một ngày lại một ngày. Môi trường luôn biến đổi! Biển xanh hóa ruộng dâu. Hình dáng bên ngoài của mỗi người, từ thiếu niên, thanh niên, trung niên, đến lão niên, luôn biến ảo! Không đành lòng nhìn lại. Có người nói: "Cuộc đời tựa như mơ lại chẳng phải mơ." Tôi nói: "Đúng vậy."
Viết một bài thơ vậy!
Vốn dĩ xa lạ với thế giới này Hồi ức tựa như mơ lại chẳng phải mơ Nếu tìm kiếm những tháng năm đã qua Làm sao còn dấu vết
Khi chưa sinh ra Bạn là ai Tôi lại là ai Cha mẹ lại là ai Chúng ta vốn không quen biết
Nhưng trong giấc mơ lại thân thiết như người thân Hồi ức là khổ Hồi ức là vui Càng hồi ức càng bối rối Hóa ra là như vậy Khi bạn thật sự hiểu rõ Chỉ còn lại sự im lặng.
02. Tất cả những gì ta thấy đều chỉ là khách qua đường
Nhìn thấy gió thổi vi vu, tôi biết gió chỉ là khách qua đường, nhìn thấy dòng suối chảy róc rách, tôi biết dòng nước cũng chỉ là khách qua đường.
Thời gian thật vĩ đại, một giây, một phút, một giờ, một ngày, một tháng, một năm, ngày và đêm, sự biến hóa kỳ diệu như thế, dài lâu vô tận như thế, tôi biết thời gian cũng chỉ là khách qua đường.
Tôi chỉ là khách qua đường ở Cao Hùng. Khách qua đường ở Đài Trung. Khách qua đường ở Seattle. Thậm chí là khách qua đường ở hồ Diệp Tử.
Tôi là khách qua đường của thành phố, khách qua đường du lịch thế giới, tôi từng tự hỏi mình, rốt cuộc nhà thực sự của mình ở đâu?
Tâm con người là ý niệm đang suy nghĩ, tâm đang chuyển động, luôn tìm kiếm bên ngoài một ngôi nhà để mình có thể sống mãi mãi. Thực ra, không có cái gọi là nhà thật sự của tôi.
Nhưng, tìm mãi không thấy, vì tìm cầu từ bên ngoài, chỉ là "khách qua đường". Phải hướng vào bên trong. Vọng niệm không sinh là "thiền". Hiểu rõ bản tính là "định".
Đây chính là tam muội, vô tâm trước tất cả cảnh giới, người tu hành "trụ nơi không trụ tức là trụ", đã đến được bờ bên kia.
Tôi viết một bài thơ:
Một cuộc chơi một trò không Bày tới bày lui không đầu không cuối Như sương mù buổi sáng Mơ hồ không bóng ảnh không dấu vết
Tất cả những gì tôi thấy đều như cơn gió Thoáng thổi về Tây Thoáng thổi về Đông Từng người nối tiếp nhau xếp hàng Đi về phía vách đá Chỉ vì một chút vinh hạnh Còn tôi chỉ có thể truyền tam muội Ma Ha Song Liên Trì khác với mọi người.
03. Phát tâm bồ đề thật ngu muội
Tôi từng nói: "Phải quảng độ chúng sinh, không bỏ sót một chúng sinh nào!" Giờ nghĩ lại, không khỏi bật cười, thật là một ước nguyện lớn lao, một tâm bồ đề vĩ đại, đúng là phát tâm Bồ Tát, còn muốn đời đời kiếp kiếp, còn muốn tan xương nát thịt. Còn muốn.........
Đó có phải là sự ngu muội không? Không, đó là sự thuần khiết. Tôi cười chính mình quá không biết lượng sức, quá không thực tế.
Minh tâm kiến tính rồi, sau khi đã giác ngộ, càng không còn ngôn từ. Không xanh không vàng, không đỏ không trắng, không dài không ngắn, không đến không đi, không bẩn không sạch, không sinh không diệt, không phải Phật tức là Phật.
"Kinh Pháp Cú" nói: "Trong cái Không rốt ráo mà hừng hực thiết lập." Ha ha!
Trái đất và các hành tinh khác, tất cả đều hừng hực thiết lập trong cái Không rốt ráo. Con người trên trái đất cũng hừng hực thiết lập trong cái Không rốt ráo.
Tôi thấy người ta xây biệt thự, lái xe sang, cất giữ châu báu, tranh giành tiền của, tất cả đều hừng hực thiết lập trong cái Không rốt ráo. Ngay cả tâm bồ đề mà tôi phát, cũng hừng hực thiết lập trong cái Không rốt ráo.
Viết một bài thơ:
Nhiều người không nhìn thấy mình đang làm gì Tranh giành qua lại Chỉ là hét vào cái bóng của mình Tranh đến cuối cùng chẳng còn gì
Tôi thấy mình cũng ngu muội như vậy Cũng xây biệt thự Cầu Vồng Sở hữu xe sang Sưu tầm đồ cổ Niềm vui ấy chỉ còn lại trong tâm
Thực ra cuối cùng chẳng còn gì Cuối cùng tôi đã nhìn thấy bóng mình Tôi ngu muội biết bao Chúng ta phải giác ngộ siêu việt Phải thấu rõ tất cả.
04. Đương nhiên là một hạt giống
Khi còn nhỏ, tôi là giáo viên trường Chủ nhật, giáo viên lớp nghiên cứu Kinh Thánh, trong Kinh Thánh có câu: "Một hạt giống (lúa mì) chết đi, sẽ mọc lên nhiều hạt giống khác." Tôi rất đồng ý với câu nói này.
Sự tồn tại đáng để kinh ngạc, và việc một hạt giống sinh ra nhiều hạt giống lại càng đáng kinh ngạc hơn, đó chẳng phải là cuộc đời sao?
Trong quá trình trưởng thành, tôi thừa nhận mình luôn thay đổi, từ Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Hiển giáo đến Mật giáo, sự thay đổi này chính là sức mạnh của sự trưởng thành. Như một con sâu bướm. Như một cái kén. Như một con bướm. Đó chính là sức mạnh của sự trưởng thành.
Trong quá trình trưởng thành, tôi luôn tìm kiếm "tự tại", hóa ra "tự tại" là không chấp trước vào "không", cũng không chấp trước vào "có". "Sắc tức là không, không tức là sắc", ngay lúc này, không có đến đi, nhưng cũng không rời xa dòng đời.
Kinh nói: "Không thấy có không, tức là giải thoát thật sự." Tôi nói: "Không chấp trước, tức là giải thoát thật sự."
Tôi đương nhiên là một hạt giống, tôi truyền bá tư tưởng của mình.
Viết một bài thơ:
Bạn hỏi tôi "Rốt cục thầy là ai?" Tôi chỉ là một hạt giống Sẽ nảy mầm, mọc rễ, mọc thân, mọc lá Lớn lên thành Liên Hoa Đồng Tử
Tôi sẽ biến thành hoa sen Mỗi hoa sen lại có một đồng tử Sẽ sum suê vô tận vô số Đáp ứng những phong ba của nhân gian
Tôi lao động trong quá trình trưởng thành Từ từ học hỏi bát nhã Đừng nghĩ rằng tôi quá trầm mặc Bởi vì tôi cũng cần nghỉ ngơi Bạn phải xem sự giải thoát của tôi là sự nghỉ ngơi.
05. Nỗi buồn của chuỗi thức ăn
Tôi thường nói, cá lớn ăn cá bé, cá bé ăn tôm tép, tôm tép ăn bùn đất, đây là chuỗi thức ăn dưới đáy biển, còn những loài bay trên không, bò trên đất, không loài nào ngoại lệ.
Khi còn nhỏ, tôi đọc được: Bọ ngựa rình bắt ve sầu, chim sẻ vàng đứng phía sau, vật này khắc chế vật kia. Bây giờ tôi đã biết, đó chính là chuỗi thức ăn.
Tôi xem phim "Kỳ quan đáy biển", xem phim "Kỳ quan sa mạc", xem phim "Khám phá mới", thấy những cảnh "săn giết sinh động", tất cả đều là "chuỗi thức ăn". Cá voi một miệng nuốt hàng triệu con cá. Sư tử, hổ, báo, sói, xé xác những động vật yếu ớt khác. Đại bàng săn giết những loài chim khác. Quốc gia lớn thôn tính quốc gia nhỏ.
Cuối cùng tôi đã hiểu chuỗi thức ăn, mạnh được yếu thua, chọn lọc tự nhiên, bản năng ăn uống và sinh dục, đây chính là nỗi buồn của toàn bộ trái đất, toàn bộ thế giới.
Từ chuỗi thức ăn, tôi nhận ra thực dục, sắc dục. Nếu muốn giải thoát thế giới giết chóc, chỉ có diệt tham, sân, si, chỉ có tu giới, định, huệ. Việc tôi ẩn cư nhập thất là do thấu suốt hai thứ ham muốn là ăn uống và sắc tình, tôi hiện nay là: Vô niệm là chính giác Phật bảo. Thân, khẩu, ý thanh tịnh là Pháp bảo. Thượng sư trí huệ bát nhã là Tăng bảo. Cũng chính là lấy trí làm dụng. Tôi chính là người giải thoát khỏi chuỗi thức ăn, dùng chính niệm để độ chúng sinh.
Viết một bài thơ ngắn:
Ánh nắng không khí nước Thiên nhiên tràn đầy vẻ đẹp kỳ diệu Trong đó cũng chứa đựng trí tuệ của con người Đừng rơi vào sự nịnh hót của đất
Chuỗi thức ăn khơi dậy suy tư trong tâm tôi Không chỉ là chim muông thú vật Mà cả con người cũng vậy Trong đó có nhiều sự giả dối và lừa lọc Từ đó tôi nhận ra mình thực sự là ai.
06. Hướng về mặt trăng đảnh lễ
Trong thời gian ẩn cư nhập thất tại hồ Diệp Tử, mỗi khi đêm xuống, tôi thường ngắm nhìn vầng trăng trên bầu trời, tôi rất biết ơn mặt trăng, bởi vì mặt trăng đã đồng hành cùng tôi, trải qua nhiều mùa xuân thu, tôi đảnh lễ mặt trăng.
Ở núi niệm Phật thật sâu lắng Trăng chiếu mặt hồ cá đùa vui Cảnh giới thanh tịnh đầy chân thật Hạnh phúc tự nhiên ngập thân tâm.
Dưới ánh trăng tôi hồi tưởng, dưới ánh trăng tôi hoài niệm, tu quán nguyệt luân dưới ánh trăng, trong thế giới này, vầng trăng tròn đã trở nên không thể thay thế. Nhìn vào mặt trăng, cái gì là chính niệm, cái gì là tà niệm? Mặt trăng chính là mặt trăng, làm gì có thiện ác niệm, chính tà niệm! Ánh sáng mặt trăng chiếu khắp đại địa, cũng không có giữ bỏ, oán thân, yêu ghét, khổ vui. Tôi đảnh lễ mặt trăng, chính là đảnh lễ điều này.
Tôi tu quán nguyệt luân, tu đến khi hợp nhất với vầng trăng tròn, không hai không khác, chỉ biết rằng mọi nơi đều vô tâm, vô tâm tức là vô niệm, tự nhiên giải thoát.
Tôi viết một bài thơ, đảnh lễ mặt trăng:
Tự nhiên quả thật kỳ diệu Một vầng sáng tròn lơ lửng treo Thiền sư dùng tay vẽ một vòng Mật giáo dùng đây làm quán tưởng Ngộ nhập cảnh giới đặc biệt kỳ diệu
Trăng đến bên cửa sổ của tôi Rải đầy mặt đất ánh bạc lung linh Những người tôi khao khát được gặp Có thể lần lượt hiện ra trong đó
Cảm tạ mặt trăng Nếu trăng mất đi Trái đất và địa ngục tối tăm có gì khác biệt Đối với tôi Chắp tay kính cẩn dâng lên trăng một lễ cao quý Mặt trăng đồng hành cùng tôi qua những tháng năm cô tịch nhất.
07. Lão Tử rời Hàm Cốc Quan
Tôi đã từng đọc một câu "đố vui xoắn não": Hỏi: "Tại sao Lão Tử rời khỏi Hàm Cốc Quan?" Mọi người đều ngỡ ngàng, không trả lời được, nhìn nhau lúng túng. Câu trả lời thật bất ngờ: "Vì Lão Tử thích." Ha ha!
Đừng xem thường câu đố vui này, hãy suy ngẫm, suy ngẫm, trong đó ẩn chứa ý nghĩa sâu sắc. "Ngũ Bồ Tát Phẩm" có nói: "Tất cả thánh nhân không làm theo cách của chúng sinh, chúng sinh không thể làm theo cách của bậc thánh." Ý nghĩa thực sự của việc Lão Tử rời Hàm Cốc Quan là: "Không vướng mắc." "Không khởi tâm yêu ghét." "Làm tất cả mà không vì điều gì."
Lão Tử rời Hàm Cốc Quan, mọi việc đã kết thúc. Khổng Tử hỏi đạo Lão Tử, Lão Tử dạy Khổng Tử, nhưng Khổng Tử vẫn có quan điểm trị thế, còn Lão Tử là xuất thế vô sở kiến. Quan điểm của Khổng Tử và Lão Tử khác nhau. Một người nhập thế, một người xuất thế.
Tại sao Lão Tử rời khỏi Hàm Cốc Quan? Tôi đáp: "Đi theo bước chân của gió!" Đi theo bước chân của gió chính là vui thích.
Tôi viết một bài thơ:
Khi tìm được tự tại Mới biết Phật là gì Đạt được rồi cũng như không đạt được gì Đi theo bước chân của gió
Vui thích trở thành một đám mây trắng Nhảy múa Vui thích trở thành một dòng chảy Hát ca Tâm chính là Phật
Đông Tây Nam Bắc đều có thể đi Tương lai ra sao chẳng bận tâm Tôi đã không còn nhớ mình còn có nhu cầu gì.
08. Câu chuyện của cây
Nơi tôi đang sống, xung quanh toàn cây cối, điều này khiến tôi nhớ đến câu chuyện về cây: Ngày xưa, có người hỏi tôi: "Trong núi có một người tiều phu, đốn một cây lớn, cắt làm hai đoạn, đoạn trên điêu khắc thành một tượng Phật Như Lai, đưa vào chùa, để người ta lễ lạy dâng hương kính bái; còn đoạn dưới lại làm thành nắp bồn cầu, cho người ta ngồi đi vệ sinh." Người đó hỏi tôi: "Nếu Lư Sư Tôn biết việc này, sẽ xử lý thế nào?" Tôi đáp: "Cái đáng lễ bái thì lễ bái, cái đáng ngồi thì ngồi." "Nghĩa là sao?" "Lấy trí làm dụng, tùy thuận chúng sinh, bạn không thể lễ bái nắp bồn cầu, không thể ngồi lên đầu Phật để đi vệ sinh." - Tôi đáp. Mọi người nghe xong, cười!
Tuy nhiên, tôi nói với mọi người: "Trong đó hàm chứa hai chữ 'thể dụng', chúng ta phải biết rằng về thể thì là một, nhưng về dụng thì là hai, chúng sinh và Phật, về thể là một. Nhưng về dụng thì có sự khác biệt, nếu chúng sinh thấy tất cả sắc, khởi tất cả yêu ghét, đó chính là mắt chúng sinh."
Tôi viết một bài thơ:
Bạn chính là Phật Không cần nghi ngờ Lập tức nhận định Không tịnh không uế
Bạn chỉ cần tiến thẳng Đi vào từ cửa giới Đi vào từ cửa định Đi vào từ cửa huệ Nhất định sẽ đến đích
Tất cả phiền não nghiệp chướng đều là nhân quả Hóa thành không tịch mộng huyễn Bạn cứ để tâm tự tại Mắt nhìn đâu cũng là diệu dụng Hạnh phúc vô ưu không cần cầu.
09. Vô tri là vui nhất
Khi ở Mỹ, tôi biết người Mỹ kiểm tra sức khỏe mỗi nửa năm một lần, đặc biệt là người càng lớn tuổi càng thường xuyên kiểm tra sức khỏe, phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Tuy nhiên, tôi biết có một người khi còn trẻ làm quân nhân, anh ta kiểm tra sức khỏe một lần, từ đó về sau không bao giờ kiểm tra sức khỏe nữa, lý thuyết của anh ta là: "Kiểm tra là tự dọa mình!" "Vô tri là vui nhất!"
Theo tôi biết, Lão Tử dường như cũng có quan điểm về vấn đề này, nếu trên đời không có những người cực kỳ thông minh, mọi người đều bình đẳng trong sự vô tri, không biết gì, mặt trời mọc thì làm việc, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi, thiên hạ sẽ thái bình.
Khi xưa tôi đắc thiên nhãn, biết được nhân quả ba đời, trở thành người tiên tri, vậy làm tiên tri có tốt không? Bây giờ tôi không trả lời được nữa, dường như là: Biết trước, khổ trước. Biết sau, khổ sau. Không biết, không khổ.
Tôi ẩn cư nhập thất, được gọi là "vạn duyên đều dứt", đạt đến trạng thái tất cả pháp tính không, mọi nơi đều vô tâm, không một vật có thể nắm bắt. Mọi người hãy suy ngẫm: "Kinh Kim Cang" nói: "Lìa tất cả các tướng, ấy gọi là chư Phật."
Nhập thất có sáu lợi ích: 1. Buông bỏ tất cả. 2. Tất cả không khởi. 3. Không nghĩ đến tất cả. 4. Tất cả vô tướng. 5. Tất cả không trụ. 6. Tất cả không hý luận. Còn một điểm nữa: "Vô tri là vui nhất!"
Viết một bài thơ:
Bạn hỏi tôi biết gì Tôi chỉ mỉm cười Không cần nói một lời Vì vô tri là vui nhất
Những âm thanh ồn ào đã không còn nữa Tâm tự nhiên thường tịch Chỉ còn niềm vui nhiệm màu của hư không
Biết quá nhiều sẽ có quá nhiều do dự Biết trước sẽ ưu sầu Nỗi buồn của người tiên tri thì dài lâu Thà là vô tri, thanh tịnh vô nhiễm.
10. Nhìn thấy đom đóm
Tại hồ Diệp Tử, bất ngờ thay, tôi đã nhìn thấy đom đóm bay lượn trên bãi cỏ, tôi gọi chúng là những ngôi sao nhảy múa trên mặt đất.
Theo như tôi biết, đom đóm chỉ có tuổi thọ bảy ngày. Tại sao đom đóm lại phát sáng? Tôi không biết. Tại sao chúng chỉ sống được bảy ngày? Tôi cũng không biết.
Cũng giống như chó mèo vậy, tuổi thọ của chúng chỉ có hơn mười năm, hơn mười năm là đã rất già rồi, tại sao lại như vậy? Tôi chưa từng nghiên cứu.
Và như con người, tuổi thọ của con người có hạn, qua độ tuổi già nua, bước chân của cái chết càng ngày càng đến gần, tôi cũng không biết tại sao lại như vậy.
Tần Thủy Hoàng tìm kiếm thuốc trường sinh, thật là chuyện cười. Hán Vũ Đế cầu trường thọ, thật là trò hề. Đom đóm chỉ sống bảy ngày, tất cả đều như nhau, đó là số trời.
Tôi vui mừng vì mình đã sống được 60 năm và viết được cuốn sách thứ 172, không sống uổng phí, tôi chỉ là một trong vô số chúng sinh bị cuốn theo bánh xe thời gian khổng lồ.
Tôi càng vui mừng hơn vì mình biết được Tam học là Giới, Định, Huệ: Thanh tịnh không nhiễm là Giới. Đối diện cảnh mà tâm không động là Định. Có thể phân biệt thiện ác, được tự tại, là Huệ.
Tôi vui mừng khi nhập thất có thể nhìn thấy đom đóm, chúng có thể phát sáng trong bảy ngày, thế là tốt rồi. Điều tốt đẹp hơn là, tôi đã thấy được chính mình, thấy rõ bản tâm, thấy rõ tự tính, khám phá ra chính mình, thế là không sống uổng phí. (Tuổi thọ không nằm ở độ dài ngắn, mà nằm ở ý nghĩa của nó.)
Viết một bài thơ:
Nhận ra bản thân mình vốn không thể nói Nhưng vì việc viết văn Đành phải nói ra Đây chỉ là một cách thích ứng
Nhân duyên đại sự của cuộc đời Có gì để "đắc", có gì để "chứng" Hóa ra là học một cách vi diệu Giác ngộ một cách vi diệu Bí mật lớn trong các bí mật Vô thượng chính đẳng chính giác.
11. Câu hỏi vô vị
Khi còn nhỏ, thầy giáo chia chúng tôi thành hai nhóm để tranh luận, đề tài dành cho học sinh là: "Gà có trước hay trứng có trước?" Một câu hỏi thật vô vị.
Học sinh tranh luận qua lại, khó có kết luận, gà đẻ trứng, trứng lại nở ra gà, cái nào trước cái nào sau?
Sau này, tôi đã hiểu ra: Câu trả lời là: "Trứng có trước."
Lý do là, thuyết hạt nhân nguyên tử, thuyết vi sinh vật, thuyết phôi thai, thuyết hỗn độn vũ trụ, thuyết em bé trong ống nghiệm, v.v… Vũ trụ khi mới hình thành, giống như một "quả trứng". Trứng có trước. Ha ha!
Sau khi học Phật, có người hỏi một câu hỏi vô vị: "Phật có trước hay pháp có trước?" Nếu pháp có trước, vậy pháp do vị Phật nào thuyết? Nếu Phật có trước, dựa vào pháp nào để thành Phật? Câu hỏi này giống như gà đẻ trứng hay trứng nở ra gà, cái nào trước cái nào sau vậy.
Sau này, tôi xác định: "Pháp có trước!" Bởi vì, "tất cả chư Phật, đều nhờ pháp tịch diệt mà được thành Phật." "Pháp vốn không có khởi đầu, không có kết thúc, cho dù không có Phật, pháp vẫn tồn tại." Kinh nói: "Thầy của chư Phật chính là pháp, được thành đạo rồi mới quảng thuyết các kinh."
Thôi được, tôi thấy cuộc đời cũng là một câu hỏi vô vị: Sinh từ đâu đến? Chết đi về đâu? Và có ý nghĩa gì? Phật nói: "Trả nghiệp!" Tôi thấy nghiệp thật là vô vị!
Viết một bài thơ!
Cả vũ trụ thật vô vị Vài hành tinh lăn qua lăn lại trong hư không thật vô vị Con người còn vô vị hơn Tan vỡ trong cát bụi
Lịch sử cổ đại hiện đại rồi có ý nghĩa gì Xây dựng cũng là phá hủy Phá hủy lại cũng là xây dựng Con người đang làm gì với những nhân duyên tụ rồi tán Diễn trò gì với sinh lão bệnh tử Vô vị vô vị lại vô vị Nhìn đi nhìn lại chỉ có người thấu hiểu mới biết.
12. Cái đuôi dài của chim công
Khi còn trẻ, tôi giúp người khác thần toán, từng gặp một doanh nhân giàu có, sự nghiệp của ông ấy đang phát triển rực rỡ, ai cũng biết đến, là một đại gia nổi tiếng khắp nơi.
Ông ấy tìm tôi để xem cho kế hoạch kinh doanh tương lai: ông dự định xây nhà máy ở Đông Nam Á, Đông Bắc Á, châu Âu, Trung và Nam Mỹ, Mỹ, Canada, châu Úc, thậm chí cả châu Phi, Trung Đông, Ấn Độ. Đế chế kinh doanh của ông mang tầm cỡ toàn cầu.
Doanh nghiệp của ông bao gồm đủ mọi ngành, hóa chất, điện tử, công nghệ, tài chính, xây dựng, bách hóa, thực phẩm, dệt may, dược phẩm... và nhiều ngành khác.
Ông hỏi tôi: "Được không?" Tôi đáp: "Được." "Suôn sẻ không?" "Có cái suôn sẻ, có cái không." - Tôi trả lời thành thật.
Tôi giúp ông ấy đánh dấu những việc có thể làm, loại bỏ những việc không thể làm. Ông rất tin tưởng vào khả năng thần toán của tôi vì tôi đã giúp ông vài lần và đều cực kỳ chuẩn.
Lúc ông chuẩn bị rời đi, tôi hỏi: "Ông có tu hành không?" Ông cười và trả lời: "Không có thời gian, không có thời gian." "Rồi ông sẽ nghỉ hưu thôi! Lúc đó hãy niệm Phật nhé!" Ông đáp: "Không thể nghỉ được, hàng vạn người dựa vào tôi để sống, nếu tôi nghỉ, họ sẽ làm sao?" "Tìm người thay ông." "Khó lắm!" - Ông ấy đi rồi.
Tôi nghĩ trong lòng, ông ấy giống như con công lớn, kéo theo cái đuôi dài nặng nề, còn tôi thì sao? Là một con chim sẻ nhỏ, với cái đuôi nhỏ xíu, bay lượn tự do tự tại. Tôi không rõ làm con công lớn kéo theo cái đuôi dài nặng nề tốt hơn hay làm con chim sẻ nhỏ tốt hơn?
Viết một bài thơ:
Có một ngày mặt trời sẽ tắt Dù cho con tàu có lớn đến đâu Cũng sẽ bị kéo đến xưởng bỏ hoang
Bạn sẽ phải trả giá bằng sinh mạng Đánh giá và cân nhắc Cú bứt phá lớn đến mấy cũng chỉ là khoảnh khắc Tôi thương hại và cảm thông cho bạn Với cái đuôi nặng nề như thế làm sao bay.
13. Nhân duyên tụ tán
Tôi nhớ hồi mình còn rất rất nhỏ, không nhớ là bao nhiêu tuổi, gia đình chúng tôi sống ở Đại Cảng Phố, Cao Hùng, Đài Loan, vừa hay lúc đó là ngày đầu tiên Công viên Thọ Sơn mở cửa.
Bố, mẹ, tôi, bốn em gái, một em trai, tất cả tám người! Tám người ngồi trên một chiếc xe xích lô, loại xe xích lô đạp bằng chân, hai người lớn, sáu đứa trẻ, chen chúc trên một chiếc xe xích lô, cứ thế cả nhà đến công viên Thọ Sơn để leo núi, chen lấn trong đám đông.
Mẹ nói: "Xe xích lô không lớn, chen được tám người, người đạp xe rất tốt bụng, lại hẹn giờ quay lại đưa chúng ta về nhà." Mẹ lại nói: "Hiếm khi cả nhà chen chúc trong một không gian nhỏ, thật là kỳ diệu!"
Tôi nhớ rất sâu sắc, lần leo núi Thọ Sơn đó rất vui, nhìn muôn vàn ánh đèn thật đẹp, ký ức này vẫn còn rất rõ ràng trong tâm trí.
Thời gian trôi, mọi thứ đổi thay. Ngôi nhà ở Cao Hùng không còn nữa, bị san bằng. Chiếc xe xích lô biến mất. Mẹ và em trai (xá lợi) ở Cầu Vồng Sơn Trang tại Seattle, Mỹ. Bốn em gái đều đã lấy chồng. Bố đã 80 tuổi. Còn tôi lại ở tại hồ Diệp Tử.
Tôi tự hỏi, đây là gì? Đây chính là nhân duyên tụ tán, viết một bài kệ: "Trước lúc sáu mươi tuổi, biết bao nhiêu hồi ức, một đời nhiều tụ tán, nhân duyên bao giờ hết. Hôm nay biết niệm Phật, niệm Phật phải sớm lo, khi sống còn hồi tưởng, lìa thân càng mờ mịt."
Viết một bài thơ "Nhân duyên tụ tán" vậy!
Không biết ai đã nói Vì để gặp lại nhau nên mới xa nhau Vì vậy không cần phải chần chừ
Hồi ức dường như có chút ngọt ngào Chia xa không phải là tổn thương Cũng không nên là hình phạt Điều tốt nhất là gặp lại nhau
Tụ không phải là hoàn hảo Tán cũng không phải là khiếm khuyết Nên tôi nói với bạn cuộc đời như vở kịch.
14. Bệnh mất ngủ của con người hiện đại
Tôi nhớ có một đệ tử đã gặp nữ văn sĩ Tam Mao (lúc đó Tam Mao chưa tự tử) tại một bệnh viện lớn. Người đệ tử biết Tam Mao thường đi khắp nơi diễn thuyết về các vấn đề cuộc sống.
Người đệ tử hỏi Tam Mao: "Chị có thể giúp tôi giải quyết một vấn đề không?" Tam Mao hỏi: "Vấn đề gì vậy?" Người đệ tử trả lời: "Tôi bị mất ngủ đã lâu!" Tam Mao thở dài và nói: "Đó cũng chính là vấn đề của tôi!" Người đệ tử sững sờ, Tam Mao cũng im lặng.
Theo những gì tôi biết, một vài người bạn bác sĩ đã cho tôi biết thuốc ngủ là một trong những loại thuốc có doanh số bán ra lớn nhất trên thế giới.
Thành thật mà nói, tôi đã đọc cuốn sách "Tạm biệt mất ngủ", nhưng phương pháp cuối cùng vẫn là: thuốc ngủ.
Một câu nói: "Mất ngủ, vấn đề của bạn nhiều người bỏ qua, nhưng trong thế giới mất ngủ, bạn sở hữu ba phần mười của trái đất."
Tôi biết đó là vấn đề của thức, gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na, a-lại-da. Hợp lại là một thức, tách ra là tám thức.
Người học Phật, nếu có thể đạt trạng thái tĩnh lặng sâu thẳm, viên minh bất động, không khởi tình yêu ghét đối với sắc, có thể phân biệt thiện ác, không khởi vọng tưởng mà được tự tại, tùy theo các căn mà ứng dụng tự nhiên, thì có thể nhập tam muội và đắc định, vấn đề mất ngủ sẽ được giải quyết.
Nếu không thể, hoặc cảnh giới chưa đạt, thì vẫn còn vọng tưởng. Cũng có thể sẽ có vấn đề mất ngủ, mất ngủ cũng là vấn đề của "thức". Tự tính chưa giải thoát! Chưa đạt đến cái không tột cùng!
Tôi viết thơ:
Quan sát vi diệu vấn đề mất ngủ Nếu tâm chưa yên, rối loạn tơi bời Không thể viên mãn ắt có khuyết điểm Giữa được và mất tự chuốc lấy khổ
Muốn học Phật pháp phải vô tướng Bản chất chân không không hề hư hoại Nếu thật sự không còn cả không trụ Đây mới chính là chân thân của Phật
Bạn hãy đi theo bước chân của gió Sáng thì thức dậy Tối thì đi ngủ.
15. Chốn cô tịch trong tâm
Khi tâm tôi thật sự cô tịch, có thể nói tâm như tấm gương phẳng lặng, tâm không sinh diệt, không vật, không tướng, không tạo tác.
Kinh dạy: "Trong mọi thời, rốt ráo không tịch, chính là không rời Phật."
Tôi từng tự hỏi, pháp vô vi là gì? "Tự nhiên mà làm, không tạo tác, đó là pháp vô vi." Tôi từng tự hỏi, pháp vô tướng là gì? Kinh dạy: "Nếu lấy pháp tướng, tức chấp vào ngã tướng, nhân tướng. Nếu lấy phi pháp tướng, cũng chấp vào ngã tướng, nhân tướng. Vì vậy, không nên lấy pháp, không nên lấy phi pháp, đó chính là nắm được chân pháp, nếu hiểu rõ đạo lý này, chính là chân giải thoát." "Vì vậy pháp vô tướng là không lấy không bỏ, tự đến tự pháp." Ha ha! Đã hiểu rồi, vô vi mà vi, vô tướng mà tướng, vô vật mà vật, là tâm không sinh diệt, tất cả vô tâm vô niệm mà làm, đó là pháp môn bất nhị. Xin hãy suy ngẫm kĩ điều này.
Tôi viết một bài thơ:
Không đắc không chứng cũng chính là có đắc có chứng Có đắc có chứng cũng chính là không đắc không chứng Sắc tức là không Không tức là sắc Lật qua lật lại Chính cái này là thù thắng nhất
Tôi rất vui được cống hiến tất cả những gì tôi có Niềm vui bất tận Hoàn toàn không giữ lại Hoàn toàn tương ứng
Tìm kiếm trong chốn cô tịch của tâm Bên trong có một Chân Phật Bạn tu bạn đắc Người tu người đắc Dù ở đây tôi chỉ có một giọt nước Cũng có thể giúp mọi người giải khát.
16. Duyên ít cũng phải độ
Nhớ lại mưa bụi ở Tây Thành, cách đây 20 năm khi tôi thuyết pháp tại Seattle Lôi Tạng Tự Mỹ, có một người da trắng đến nghe pháp, học pháp. Ông ấy đến một cách lặng lẽ và cũng ra đi lặng lẽ, học Chân Phật Mật Pháp rất cẩn thận, chú ngữ, thủ ấn, quán tưởng, nhập tam muội đều rất tỉ mỉ. Khi ông ấy sắp rời đi, đã nói với tôi: "Thân, khẩu, ý thanh tịnh, con đã hiểu rồi." Tôi nói: "Rất tốt, rất tốt, hãy tu tập thật tốt, hãy lĩnh ngộ thật tốt."
Sau một thời gian, ông ấy gửi đến một lá thư, cho chúng tôi biết ông là sĩ quan trên tàu sân bay USS Constellation của Mỹ, ông đã thiết lập đàn thành tu pháp trên tàu Constellation, ông cũng độ không ít người tu tập Chân Phật Mật Pháp, mỗi tuần đều cùng tu tập trên tàu sân bay, việc nhập tam muội của ông có nhiều tiến bộ, nhiều quân nhân Mỹ đã theo ông học thiền định.
Tôi rất ngạc nhiên khi đọc thư, hóa ra trên tàu sân bay cũng có đàn thành Chân Phật, cũng có người tu Chân Phật Mật Pháp! Mọi người không ngờ đúng không! Ngay cả tôi cũng không nghĩ tới.
Tôi nói, tu pháp trên tàu sân bay, đây là sự hiển hóa của Phật pháp, như thân Phật sắc vàng ba mươi hai tướng, phóng ánh sáng lớn, chiếu bốn biển, chiếu năm châu lớn, thật là công đức không thể nghĩ bàn.
Tôi nói, duyên nhỏ, pháp lớn, tự nhiên sẽ thâm nhập tri kiến của chư Phật, bất kì một duyên nhỏ nào, cũng đừng bỏ lỡ.
Tôi viết một bài thơ:
Làm tốt từng việc nhỏ chính là làm việc lớn Chuyện tương lai không cần nghĩ đến Hiện tại phải giữ gìn cẩn thận
Cuộc đời vốn dĩ như sương khói Biến đổi không ngừng Có thể mang đến những điều kỳ diệu
Đừng bỏ lỡ những nhân duyên nhỏ Trong thế giới này Cũng đừng mơ hồ lẫn lộn
Bạn thấy đó, gió tu hành đã thổi trên biển Hãy tính xem tàu sân bay nặng bao nhiêu tấn.
17. Bạn sống cuộc đời gì
Tôi đã đọc rất nhiều "Ghi chép lời thiền sư", những vị thiền sư này rất thích hỏi mọi người một câu, câu đó là: "Bạn sống cuộc đời gì?" (Ý hỏi dường như là bạn sống như thế nào? Bạn làm gì trong cuộc sống? Bạn làm nghề gì?)
Khi mới nghe câu hỏi này, dường như rất dễ trả lời, nhưng thực tế nếu bạn suy nghĩ kĩ: Mọi thứ trên thế gian tụ lại. Bạn làm gì sinh sống?
Chúng ta từ lúc chào đời, sống đến hiện tại, bạn đã học được điều gì, bạn sống như thế nào, trải qua những ngày dưới ánh mặt trời, bạn tự cảm thấy sống có ý nghĩa, tự thấy không sống uổng phí, hay là sống một cách mơ hồ? Bạn đã tỉnh thức chưa? Bạn đã giác ngộ chưa? Một đời hư danh vui vẻ, một đời phiền não đau khổ, một đời chua ngọt đắng cay, một đời gian khổ trải nghiệm, một đời mơ mơ hồ hồ, một đời sinh lão bệnh tử...
Kinh dạy: "Hiểu một thì nghìn việc thuận theo, mê một thì vạn điều mê hoặc. Nếu người giữ được một, vạn sự hoàn tất, đó là điều kỳ diệu của sự giác ngộ." Kinh dạy: "Tất cả vạn tượng, đều do một pháp ấn chứng." Xin hỏi bạn một lần nữa: "Bạn sống cuộc đời gì?"
Viết một bài thơ:
Tôi hân hoan chúc mừng sự ra đời của bạn Tiết lộ rằng từ đây cuộc sống bắt đầu Tìm một chỗ đứng trong đám đông nhộn nhịp này Bạn sống cuộc đời gì
Ăn uống sinh hoạt Đi đứng nằm ngồi Đi con đường của riêng mình Cái gì là giảm cái gì là tăng
Xin bạn nghĩ kĩ rồi hãy trả lời Đây là Chân Phật đang hỏi bạn Đây là vị thiền sư tìm kiếm chân như đang hỏi bạn Bạn sống cuộc đời gì?
18. Người muốn lui về
Nhớ lại khi đi tìm nơi ẩn cư, tôi từng muốn sống ở Hawaii, nơi có nhiều người về hưu, sống trên đảo Oahu.
Tôi đã chọn một ngôi nhà nhỏ gần trung tâm mua sắm lớn nhất Hawaii Ala Moana (tên của người bản địa), đang định ký hợp đồng thì bất ngờ xuất hiện một đệ tử, anh ta cũng về hưu và muốn đến sống ở đó. Vừa thấy đệ tử, tôi giật mình kinh hãi, giấc mơ ẩn cư ở Hawaii đã tan thành mây khói.
Ở đảo Samoa thuộc Nam Thái Bình Dương của Mỹ, có một đệ tử biết tôi sắp ẩn cư, đã gửi một tấm séc trắng, nhất định mời tôi đến đảo Samoa xem xét. Anh ta nói, nếu tôi đến đảo Samoa ẩn cư, chắc chắn sẽ được tiếp đón nồng hậu. Nhưng, tôi chính là sợ được tiếp đón nồng hậu! Vì vậy, tôi đã trả lại tấm séc trắng cho anh ta.
Ở Melbourne, Úc, có một đệ tử rất hộ trì, biết tôi sẽ đến Tahiti nuôi lợn, anh ta nói: "Sư Tôn! Đừng đến Tahiti nuôi lợn, lợn quá bẩn. Con có vườn trái cây, Sư Tôn đến vườn của con ẩn cư còn tốt hơn!"
Tôi cảm ơn họ, biết ơn họ, nhưng nơi tôi ẩn cư phải là nơi không có đệ tử! Đó mới thực sự là ẩn cư, xin lỗi các bạn.
Tôi ẩn cư là để cầu: Vạn sự vô sự, vạn tâm vô tâm, tĩnh lặng như hư không, rốt ráo thanh tịnh, tự nhiên giải thoát, tự độ tất cả, không nương tựa vào đâu. Mọi hư danh lợi lộc đời này đều buông bỏ hết!
Tôi viết một bài thơ:
Dù cuộc đời từng có những đóa hoa xuân tươi đẹp nhất Nhưng ẩn cư giống như chiếc lá mùa thu tàn úa Không còn ngọn lửa tuổi xuân Không muốn lưu luyến thêm nữa
Người muốn lui về Đã bừng lên những tia sáng cuối cùng Rồi sẽ biến mất Để mọi người không bao giờ nhìn thấy
Tôi sẽ mang theo nỗi nhớ vĩnh hằng Hợp nhất cùng đệ tử Xuất hiện trong một thế giới khác.
19. Biển của đảo Guam
Tôi từng nhớ về biển của đảo Guam. Sau khi đi vòng qua một tảng đá lớn, tôi đã nhìn thấy biển với những đợt sóng trắng xóa, cảm giác chấn động trong lòng tôi không thể diễn tả được, sóng trải rộng khắp nơi, liên tục dâng trào, âm thanh thực sự như sóng dữ cuồn cuộn, tình trạng này có lẽ chỉ những người đánh cá mới có thể mô tả được.
Âm thanh như sấm sét rung chuyển màng nhĩ, gió gào thét, vô số đợt sóng bạc đầu như nghìn vạn đoàn quân đang phi nước đại, dường như muốn nuốt chửng cả thế giới này. Trước mắt tôi, đại dương mênh mông, thế giới trở nên nhỏ bé, con người càng nhỏ bé hơn, tiếng ầm ầm không ngừng vang dội.
Tôi nhớ thiền sư Ngưỡng Sơn hỏi thầy: "Trăm nghìn vạn cảnh cùng lúc hiện ra, phải làm sao?" Thầy đáp: "Xanh không phải vàng, dài không phải ngắn, các pháp đều trụ vào vị trí của mình, không liên quan đến ta." Ngưỡng Sơn nghe xong, liền vái chào rồi lui.
Lời vấn đáp ngắn ngủi này, đối với tôi, thật sự là trí tuệ như biển. Ban đầu khi tôi thấy biển ở đảo Guam hung dữ đến thế, tôi đã hoảng sợ. Nhưng khi hiểu được cuộc đối thoại giữa thiền sư Ngưỡng Sơn và thầy, tâm tôi đã bình lặng trở lại. Xin hãy lĩnh hội ba câu sau đây: "Chỉ hòa với ánh sáng của nó." "Không cùng với nghiệp của nó." "Cùng nơi nhưng không cùng trú."
Hãy làm thơ!
Thiên nhiên cũng có vẻ hung dữ Hổ sói sư tử khiến người ta sợ hãi Còn có phụ nữ và người lạ, hoặc bạn bè, hoặc... Cũng có thể nuốt chửng con người
Biển của đảo Guam Tôi là tôi Bạn là bạn Không liên quan đến tôi
Tôi là đứa trẻ nhỏ trên đóa sen Dù nghìn lớp sóng bạc hiện ra trong tâm tôi Cùng nơi nhưng không cùng trú.
20. Trước sau như một
Trong những năm ẩn cư và nhập thất này, có hai điều luôn như một:
- Tu pháp.
- Viết văn. Thực ra đây không phải là điều chỉ như một trong những năm gần đây, mà từ khi học Phật hàng chục năm qua, tôi vẫn luôn làm như vậy. Bản thân tôi có vẻ ngờ nghệch, nhưng đối với nhân duyên đại sự, với việc giải thoát, làm sao có thể buông tay được.
Sau khi nhập thất, tôi lại tự suy ngẫm: Đừng xem nhẹ ơn của chúng sinh, đừng luôn nói mình có tu có chứng, đừng vội vàng mong cầu thành tựu, cứ tiến bộ từ từ là tốt rồi, đừng quan tâm người tu hành khác như thế nào, đó là việc của họ, không phải việc của ta, ta hãy lo quản tốt tâm mình trước, người khác muốn nói gì về ta, cứ để họ nói! Tất cả đều không trở ngại, ta cứ sống tự nhiên, vui vẻ là được. "Đi theo bước chân của gió, vô vi mà làm."
"Kinh Kim Cang" nói: "Người thông đạt pháp vô ngã, Như Lai nói đó chính là Bồ Tát chân thật. Không lấy cũng không bỏ, vĩnh viễn đoạn trừ sinh tử, ở mọi nơi đều vô tâm, đó gọi là Phật tử chân chính."
Đối với chúng sinh, không oán hận cũng không hối tiếc, tâm cam tình nguyện cống hiến bản thân, chỉ cần làm là được, kết quả ra sao, thay đổi tốt xấu không quan tâm, trước sau như một.
Viết một bài thơ:
Tu tập thiền định tam muội nhất tâm bất loạn Một lòng vãng sinh tịnh thổ Chỉ có một hương vị này Đó là ngọn lửa cả đời tôi
Tất nhiên tôi cần chúng sinh giúp đỡ Giúp tôi niệm Phật Để kẻ u mê như tôi luôn giữ một lòng Đến được chốn an trú nơi cõi tịnh thổ kia
Tôi cũng muốn giúp mọi người Không phân biệt ta người hay kẻ khác Tôi cũng là một trong chúng sinh Chúng sinh và tôi hợp nhất thành một Một chính là một không có hai ba Đời đời kiếp kiếp chỉ một niệm một nguyện như cát sông Hằng.
21. Thì thầm vườn mộng dưới khung cửa sổ tâm hồn
Nhớ về những năm tháng viết "Dưới khung cửa sổ tâm hồn", viết "Thì thầm vườn mộng", đó là thời kỳ tuổi trẻ chưa biết mùi vị của sầu đau, tràn đầy mộng tưởng về tương lai, ngọt ngào của tình yêu, ngày đêm suy nghĩ, hôm nay nghĩ lại không biết nên cười hay nên khóc, thật đúng là "nụ cười có nước mắt".
Tôi từng nói với cô ấy: "Em là của anh." Cô ấy nói với tôi: "Em là của anh."
Đây là khát khao của người trẻ dành cho người trẻ, bản thân tình yêu chỉ là một đám sương mù, khiến người ta mơ màng, bối rối, lúc thì vui vẻ, lúc thì đau khổ, che lấp mọi lý trí, mù quáng ôi mù quáng! Chính sự mù quáng đó mới khiến người ta mơ hồ, mới khiến người ta day dứt.
Yêu cũng đã từng yêu. Vui cũng đã từng vui. Khổ cũng đã từng khổ. Khóc cũng đã từng khóc.
Giờ đây, biết rằng tất cả đều rất ngắn ngủi, chẳng có cái gọi là mãi mãi, tình yêu là một nhân duyên, đã hiểu rồi. Đã tỉnh chưa? Ai thuộc về ai? Ai nợ ai? Ai nhớ ai?
Hãy làm một bài thơ!
Tình yêu là con chim di trú Líu lo bay đến bên cửa sổ của tôi Hót lên khúc ca tuyệt vời Làm rung động cõi lòng tôi Rồi chỉ còn lại một tiếng thở dài Dường như vô duyên, từ đó không thấy bay về nữa
Tình yêu là cơn gió phiêu bạt Tình cờ vuốt ve sự nhỏ bé của tôi - một nhà thơ Tôi muốn ôm chặt lấy nó Nó bay qua đây bay qua đó Khiến tôi mãi mãi không thể đuổi theo Không biết là đúng là sai Trách nhiệm trong tim thật trĩu nặng Chỉ còn vương vấn những giấc mơ khuya.
22. Phiền não đã hết
Tôi đọc sách. Một ngày nọ, thiền sư Tông Trí đội nón lá ra ngoài, thiền sư Vân Nham chỉ vào chiếc nón lá và hỏi: "Dùng cái này để làm gì?" Thiền sư Tông Trí đáp: "Có công dụng." Vân Nham lại hỏi: "Khi gặp gió lớn mưa to thì sao?" Tông Trí đáp: "Dùng để che chắn." Vân Nham lại hỏi: "Nó còn chịu che chắn sao?" Tông Trí đáp: "Tuy là như vậy, nhưng không hề có chỗ thấm dột." (Cuộc đối đáp chỉ đến đây là hết.)
Tôi đọc cuộc đối đáp giữa hai vị thiền sư thấy rất thú vị. Câu hỏi đầu tiên, nón lá dùng để làm gì, trả lời là để che gió chắn mưa.
Câu hỏi thứ hai mới thú vị, "nó" có thể chỉ chiếc nón lá, cũng có thể chỉ "chân như", vậy có còn chịu sự che đậy không? Thiền sư Tông Trí đáp rất hay, tuy là như vậy, nhưng không hề có chỗ thấm dột, tôi cho rằng không thấm dột, tức là phiền não đã dứt sạch vậy. Chúng sinh đều có phiền não.
Chúng ta là người tu hành, chính là để minh tâm kiến tính, làm chủ sinh tử, đoạn trừ hết phiền não tập khí, đạt đến chân như. Điều này hoàn toàn khác biệt so với người thường chỉ biết che gió che mưa. Nón lá là để che gió che mưa. Nếu nón lá ám chỉ chân như thì đó chính là vĩnh viễn đoạn trừ sinh tử phiền não, ở mọi nơi đều vô tâm, đó là Phật tử chân chính.
Nói thẳng thắn: Tôi tu Mật giáo đã đạt được thân vô lậu, muốn đạt tâm vô lậu, tôi nói thẳng: "Trước tiên cần phải loại bỏ chấp trước, vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, mọi việc đến không chịu ảnh hưởng, đó chính là đạt được vô tâm, như vậy phiền não sinh tử đều dứt sạch."
Viết thơ:
Đời đời kiếp kiếp chúng sinh Trôi nổi trong biển khổ sinh tử Đọc qua cuộc đối thoại của hai thiền sư Liệu nón lá còn che phủ được không
Phiền não trần gian, ai ai cũng vướng mắc Mấy ai hiểu được cách đi theo bước chân của gió Mấy ai theo được bước chân của tôi Mấy ai không mang theo phiền não.
23. Triết học lồng chim
Tôi thấy một người đang cầm một chiếc lồng chim trên tay, bên trong lồng nhốt một con chim, chim đang vừa kêu vừa nhảy, vừa ăn thức ăn, không thể nhận ra nó vui hay buồn.
Bất chợt tôi có một nhận thức mới mẻ: Mỗi chúng ta đều là những con chim, đều sống trong lồng, nghĩ mà xem, người giàu có lồng lớn hơn, người nghèo có lồng nhỏ hơn. Nhiều người sống trong lồng nhà và lồng văn phòng cả đời cho đến khi về hưu.
Tiếp viên hàng không sống trong lồng máy bay. Tài xế sống trong lồng xe hơi. Nhà sư sống trong lồng chùa viện. Nghệ sĩ sống trong lồng trường quay. Nhiều doanh nhân lớn bay đi bay lại, lúc thì trong lồng máy bay, lúc thì trong lồng xe hơi, lúc thì trong lồng văn phòng, họ chỉ đổi qua đổi lại, tất cả đều là lồng. Tù nhân nói với người thăm qua song sắt: "Tôi bị nhốt trong lồng bên trong, còn anh bị nhốt trong lồng bên ngoài." Bản thân trái đất, chính là một chiếc lồng hình bầu dục.......
Nghĩ sâu thêm một tầng nữa, Ma Ha Song Liên Trì chẳng phải là một chiếc lồng sao? Tây phương Cực Lạc thế giới với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được bao quanh bởi bốn báu vật, chẳng phải là một chiếc lồng lớn xinh đẹp sao?
Lại nữa, chúng sinh ở cõi đó thường vào mỗi sáng sớm, mỗi người đều dùng áo đựng đầy các loại hoa tuyệt diệu, cúng dường mười nghìn tỷ vị Phật ở phương khác, rồi đến giờ ăn lại trở về nước mình (chiếc lồng) để ăn uống kinh hành.
Tất cả đều là lồng, làm sao đây? Tôi nói không sao cả.
Từ "triết học về chiếc lồng" này khiến tôi nghĩ đến, điều duy nhất không bị lồng ràng buộc, chính là nhìn thấu lồng, Lão Tử nói: "Cái lo lắng lớn của ta chính là thân ta vậy!" (Thân chính là chiếc lồng.) Lão Tử là vị tổ đời thứ nhất của "triết học lồng chim".
Thơ:
Thấu rõ thân này Thấu rõ lồng này Dù bị giam bên trong, hay bị giam bên ngoài Không sao cả Tâm tịnh thì tất cả đều tịnh Nhà thơ nói Trên suốt con đường, hoa sẽ vì bạn mà tự nở rộ.
24. Gió thổi về đâu
Khi sống ở Seattle, từng có cơn bão lớn thổi đổ cây cối, khiến mọi nhà đều mất điện. Gió ở Seattle không đáng sợ lắm, điều đáng sợ nhất là ở các bang miền Trung nước Mỹ có một loại lốc xoáy, gió lốc này dữ dội, nhổ bật cây, đổ sập nhà, xe cộ, trâu bò, mọi vật đều bị cuốn lên không trung, nơi nó đi qua không thứ gì có thể sống sót, lốc xoáy này mới thực sự đáng sợ.
Nhớ lại hồi nhỏ sống ở Đài Loan, mỗi năm vào tháng bảy tháng tám là mùa bão, chỉ cần bão đến, thiệt hại sẽ rất nặng nề. Dù Đài Loan được gọi là hòn đảo ngọc, nhưng mùa bão cũng là một mối đe dọa lớn của hòn đảo ngọc này, không thể không đề phòng.
Trước đây từng có đệ tử hỏi: "Gió từ đâu đến? Gió sẽ đi về đâu?" Có đệ tử khác học theo cổ nhân trả lời: "Gió từ nơi đến mà đến, gió từ nơi đi mà đi." Tôi đáp: "Nhân duyên!"
Nhân và duyên hòa hợp mà thành, tất cả vạn vật giữa trời đất đều do tự nhân (nhân chính) và duyên (trợ duyên) hòa hợp mà thành. Vì vậy, tất cả đều tùy duyên mà sinh, tất cả đều tùy duyên mà diệt. Kinh nói: "Đất nương vào nước, nước nương vào gió, gió nương vào không, khi đại phong nổi lên, nước động đất chuyển."
Nếu có người hỏi tôi: "Thầy có quay lại Seattle nữa không?" Tôi đáp: "Tùy theo gió, đi theo bước chân của gió!"
Thực ra tôi cũng không nhất thiết phải quay lại Seattle nữa, vì ở hồ Diệp Tử, tôi cũng đã hoàn toàn quen thuộc. Thực ra con đường cuối cùng của đời người, chỉ có hai chữ: "Quy không."
Tôi viết một bài kệ, xin hãy lắng nghe kĩ:
Hồ Diệp Tử phong cảnh cũng tốt Sống tự tại phiền não chẳng còn Cấm khẩu cho nên chẳng thị phi Tam muội "nửa chết" sống qua ngày Thấu đạt tam giới và tứ thánh Rõ biết sinh tử vốn chung đường Không có vọng tưởng và phân biệt Đến lúc tự có người hiểu rõ Đôi lời nhắn gửi thánh đệ tử Nhân gian khắp chốn cùng tiêu dao.
25. Vinh hoa phú quý đều là hư ảo
Ngày xưa, tôi nói tôi muốn ẩn cư, nhập thất tu tập, đó là thực sự muốn rời xa đám đông ồn ào. Nhiều người không tin, không tin thì tất nhiên có lý do không tin: Thứ nhất, Lư Sư Tôn được vạn người ngưỡng mộ, sống trong tiếng vỗ tay. Nổi tiếng lừng lẫy, là "cao tăng" mà! (tự cao) Thứ hai, Lư Sư Tôn sẽ từ bỏ dinh thự. Do đệ tử cúng dường. Thứ ba, Lư Sư Tôn có xe sang. Do đệ tử cúng dường. Thứ tư, Lư Sư Tôn có năm triệu đệ tử, pháp duyên thù thắng, chỉ cần một lời nói, vinh hoa phú quý có thể dễ dàng có được. Giống như muốn gì được nấy vậy! ..................
Nhưng, sau nhiều năm độc cư bế quan, tôi viết một bài kệ gửi đến thánh đệ tử:
Tôi nay tự tại thật kỳ diệu Hoàn toàn không xin cầu chúng sinh Vinh hoa phú quý đều nhìn thấu Áo cũ cơm thừa vẫn đủ no Vốn dĩ sinh tử đều là một Thân tâm thanh tịnh không nhiễm bẩn Người khác cười tôi quá ngu đần Nhưng trong tâm tôi là lưu ly Cô đơn buồn tẻ cũng không tệ Ai biết ánh sáng chiếu vô cùng.
Pháp bí mật của tôi đã được truyền rồi, việc bạn "ngộ" hay "không ngộ" là chuyện của bạn. Những ngày đã qua, tôi sẽ nhớ trong lòng, nhưng, tất cả đều đã qua rồi. Giống như một cái cây già phủ đầy rêu phong, ha ha! Vinh hoa phú quý chẳng phải cũng vậy sao?
Thực ra trong cõi người này, vinh hoa phú quý chỉ là hiện tượng nhất thời, ngay cả vua chúa cũng vậy, huống chi bản thân là một vị mật hành tôn giả. Mật hành của mật hành tôn giả là điều ngoài sức tưởng tượng, thành tựu của người ấy cũng ngoài sức tưởng tượng. Tôi đã là người may mắn, tôi đã được ân sủng, quá hạnh phúc rồi. (Đại Phúc Kim Cang)
Các bạn có biết không? Tôi đã đạt tam muội, tôi đã hoàn toàn thanh tịnh, đây là điều không thể nói ra, không thể nói mà nói, gọi là "vô đắc vô chứng vô sự vô tâm vô trụ vô niệm". Tam muội của tôi là vô định vô vô định. Tịnh độ của tôi là vô tịnh vô vô tịnh, tên giả là "vô thượng chính đẳng chính giác".
Không trói buộc! Vinh hoa phú quý quá hư ảo phải không! Quá kịch tính! Biến đổi quá lớn.
26. Không có con người hoàn mỹ
Suy nghĩ thật kỹ, cái "vỏ người" này của tôi không hoàn hảo, đặc biệt là những năm gần đây cảm nhận càng sâu sắc, nên tôi có ý định đổi một "vỏ người" khác, ý nghĩ này không phải là một lỗi lầm lớn phải không! Nên đổi "vỏ người" thì cứ đổi "vỏ người".
Phân tích bản thân mình những năm gần đây: Thị lực của cả hai mắt dần dần mờ đi, đặc biệt là mắt trái, võng mạc đã đen một vùng lớn, có lẽ là kết quả của việc viết lách trong ánh sáng không đủ!
Vết thương cũ ở chân trái đã từng tái phát một lần, đôi khi âm ỉ đau, chỉ là không để ý đến nó mà thôi. Để ý đến nó cũng chẳng thể để ý được, để ý thế nào đây?
Da tôi luôn nhạy cảm, lúc thì ngứa, lúc thì nứt nẻ, khô ngứa khô nứt, cũng không biết chăm sóc thế nào, hễ có vết thương, sau khi lành liền để lại sẹo, trông như toàn thân đều là vết sẹo giới, ha ha ha!
Tôi nhận ra, móng chân cứng lên, móng tay cũng cứng, tóc đã bạc, râu đã trắng, giữa đầu hói nghiêm trọng, không mọc tóc nữa, lại còn có những đốm đen xuất hiện từng mảng!
Tai trái bị nghẹt khá nặng, e rằng ảnh hưởng đến thính lực.
Trí nhớ trở nên kém đi nhiều, nhiều người dù gặp mặt, e rằng có một ngày, ngay cả tên cũng không gọi ra được nữa. Không gọi được, xin lỗi.
Quên đã tắt bếp hay chưa, quên đã khóa cửa hay chưa, quên định mua món gì, rất dễ quên hết mọi thứ, điều đáng sợ nhất là một ngày nào đó ra ngoài đi dạo, không tìm được đường về nhà, ngay cả nhà ở đâu cũng quên sạch. Nam mô Ngớ Ngẩn Phật, ha!
Còn về lục phủ ngũ tạng, thôi không nói nữa! Toàn là bệnh. ......
Viết một bài thơ:
Tứ đại phân tán Não chia tám mảnh Sức khỏe bản thân đã đổi thay
Thị lực không còn sáng Nước hồ Diệp Tử đã trở lạnh Động tác chậm chạp
Sau khi đã cạn kiệt ngọn đèn dầu của mình Sẽ vứt bỏ cái vỏ người không hoàn hảo đó Khi cần thay thì phải thay.
27. Hóa Phật đến hỏi
Trong thiền thất tại hồ Diệp Tử, khi đang nhập định tam muội, tôi thấy một vị Hóa Phật hiện đến, ánh sáng lưu ly như nước tỏa ra khắp bốn phương tám hướng.
Hóa Phật hỏi tôi: "Thế nào là Phật?" Tôi đáp: "Đất gỗ." Lại hỏi: "Thế nào là pháp?" Tôi đáp: "Một xấp giấy." Lại hỏi: "Thế nào là tăng?" Tôi đáp: "Ăn cơm ngủ nghỉ." Hóa Phật cuối cùng hỏi: "Tương lai ông sẽ đi như thế nào?" Tôi cười đáp: "Theo gió mà đi!" Hóa Phật tan biến và nói: "Quả nhiên là một bậc tông sư của thời đại."
Tôi chắp tay, dĩ nhiên tôi biết Phật là bậc giác ngộ, pháp là chính pháp do Phật truyền lại, tăng là những bậc thánh hiền truyền thừa chính pháp. Nhưng, sau khi trải qua tu tập bốn pháp lớn Chuyên nhất, Ly hý, Nhất vị, Vô tu, câu trả lời của tôi đã quay về điểm ban đầu. Thấy núi là núi, thấy nước là nước, đó là đại viên kính trí.
Đi theo bước chân của gió, không trả lời mà cũng là trả lời.
Viết một bài kệ thơ bảy chữ:
Tâm cảnh bình an cũng rộng lớn Có đáp không đáp đều tâm an Thong dong bước qua đường giải thoát Đi Tây đi Đông khó gì đâu Suốt ngày ăn cơm cùng ngủ nghỉ Từng niệm chẳng vướng bận sự đời Tự nhiên thấy được chân thực tướng Chẳng còn xôn xao với người đời.
Hiện tại hành giả tôi đây là chiếc lá khô rơi rụng, cũng là đám mây trắng trên bầu trời, là bông hoa vàng của ngày mai, là sương tuyết đã tan.
Hôm nay, tôi kinh hành dưới ánh nắng mặt trời trên mặt đất, có thêm ngôn từ nào đâu, không khoe khoang bản thân, không có mũ miện Ngũ Phật, không có pháp tòa cao, không có danh hiệu đặc biệt: Rinpoche, Hoạt Phật, Đồng Tử, những thứ này... Mỉm cười bỏ qua.
28. Cuộc sống với bốn thứ không giống
Cuộc sống ẩn cư và nhập thất tại hồ Diệp Tử, nếu muốn tìm một từ tương tự để mô tả, tôi cảm thấy cũng khá khó khăn.
Nói tôi giống một "con người", khi gặp người cũng chẳng nói năng gì. Một mình kinh hành, trông giống như ma quỷ u hồn, nằm xuống là ngủ, đói thì tìm cái gì đó ăn, cũng giống như người vô gia cư, lông bông, vô công rồi nghề.
Nói tôi giống "Phật" (hành giả tu hành), đã không còn dáng vẻ của Phật, tiều tụy như một ông lão tàn tạ, không mũ miện Phật, không pháp y, không ghế ngồi danh dự, không người thuyết pháp, không người nghe pháp. Cặp môi cũng ít động đậy, lười không muốn động, không có đối tượng để động.
Nói tôi giống "thần", tôi thực sự cũng không giống, cuộc sống cũng ít có biến hóa qua lại, quy củ đều đặn, thần là hay biến hóa, tôi thì không biến hóa, ngay cả "thần" cũng không giống.
Nói tôi giống "cỏ", càng không phải, cỏ đâu biết đi lại kinh hành! Điểm duy nhất giống cỏ là chẳng có ai để ý đến tôi cả, đang sống trên mặt đất này, trong thế giới vĩ đại này, có tôi hay không có tôi đều như nhau.
Tôi chẳng giống cái gì cả.
Chỉ trong trạng thái tam muội, đi thần hành, đi theo bước chân của gió, quên sạch hết phàm tình thần thánh, tam muội cũng không giống tam muội.
Viết lách lải nhải không ngừng, cũng chẳng biết viết gì, có ích hay vô ích, viết để làm gì? Có mấy người hiểu được? Như đang mơ.
Viết một bài thơ!
Ngày đêm xoay vòng luân chuyển Tôi lại bớt đi một ngày để sống Những ngày tĩnh lặng như thế này Thật chẳng giống cái gì cả
Không giống Phật thiêng liêng Cuộc sống hoàn toàn khác với người khác thì cứ khác Không có biến hóa nên không phải thần quỷ Một ngọn đèn viết lách cũng chẳng sáng là bao
Nhưng tôi cảm thấy không hổ thẹn với cuộc đời Tôi nhỏ bé này Yêu thích vầng trăng xinh đẹp kia.
29. Ai là người thân thích đích thực
Khi đang nhập thất tại hồ Diệp Tử, tôi nhập tam muội và lại thấy Hóa Phật đến. Lần này dường như ngài đến để thử thách khả năng nhận biết con người của tôi. Liệu tôi còn nhận biết được người không? Không bỏ sót một chúng sinh nào. Hóa Phật hỏi: "Ai là người thân thích đích thực của Phật?" Tôi đáp: "Người A." Hóa Phật nói: "Sai rồi, ông ta đang tập trung xây chùa lớn. Đã sớm quên ngươi rồi." Tôi nói: "Người B." Hóa Phật nói: "Sai rồi, ông ta đang nỗ lực nhận phong bì. Vẫn chưa đủ nhiều, chưa đủ dùng!" Tôi nói: "Người C." Hóa Phật nói: "Ngươi nhận sai rồi, ông ta sẽ quy y với người khác, rồi quay lại đánh ngươi, đánh đến nửa sống nửa chết." Tôi nói: "Người D." Hóa Phật nói: "Lại sai nữa, ông ta đang chờ đợi mũ miện Ngũ Phật của ngươi." Tôi hỏi: "Vậy là ai?" Hóa Phật đáp: "Ngươi đạt được, người đó cũng đạt được. Đây mới là người thân thích đích thực của Phật, những người khác đều không phải." Tôi đại ngộ, tôi nói: "Vô niệm đạt được, vô vi đạt được." Hóa Phật cười ha hả rồi biến mất.
Viết một bài thơ ghi lại:
Khi tôi đến cõi tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì Ngoái nhìn lại Tôi biết mình sẽ mang theo sự mơ hồ của nhiều hành giả Ai mới thực sự là người thân
Khi tôi thực sự đến được bờ bên kia Cảm nhận được sự tự tại Nỗi buồn sâu sắc nhất của tôi Là không thể nhìn thấy những người thân yêu mà tôi thương nhớ
Chim bay trên trời Cá bơi trong nước Chỉ mong mỗi người đều tỉnh táo sáng suốt Tôi mong được thấy người thân thực sự của Chân Phật Cầu nguyện Phật Bồ Tát nhân từ.
30. Đồ chơi
Nhớ khi tôi còn nhỏ, có thể tính là tuổi thơ của tôi, đồ chơi chỉ có ba loại:
- Bi ve.
- Dây chun.
- Tú lơ khơ.
Đồ chơi thời thơ ấu không có gì đáng kể, bi ve, dây chun, tú lơ khơ, có nhiều cách chơi, lúc đó tôi rất giỏi chơi, giờ nghĩ lại, thật buồn cười. Nói buồn cười thì cũng không hẳn là buồn cười, nhưng ba món đồ chơi này đã đồng hành với tôi suốt cả thời thơ ấu.
Tôi viết về đồ chơi thời thơ ấu, mọi người nghĩ là ấu trĩ, nhưng hãy thử nghĩ xem, khi lớn lên, đồ chơi của mọi người đã thay đổi.
- Chức vị.
- Tiền bạc.
- Nam nữ. Ba thứ này là đồ chơi của người lớn.
Tôi cảm thấy đồ chơi thời thơ ấu rất tuyệt vời, đồ chơi người lớn cũng rất tuyệt vời, người lớn cũng chơi say sưa, không ai nghĩ rằng điều đó buồn cười hay ấu trĩ, hoặc ý nghĩa và giá trị của nó là gì? Mọi người có hiểu không? Trong một tầng lớp nào đó, con người không hề nghĩ rằng còn có một tầng lớp (cảnh giới) vĩ đại hơn.
Khi đã chơi xong đồ chơi của người lớn, cuộc đời cũng gần kết thúc rồi, haha!
Viết một bài thơ vậy!
Người đời đa phần đều chơi như thế Mỗi giai đoạn chơi một trò chơi Thời gian vui chơi dần tan biến Cuối cùng đành ra đi
Ong chỉ biết hút mật hoa Bướm cũng chỉ bay lượn chơi đùa giữa những cánh hoa Đây là những hiện tượng tự nhiên Xuân đến thu đi
Ai hiểu được ý nghĩa của cuộc đời Sao không tìm kiếm bậc thiện tri thức Để tiến lên tầm cao hơn mà tìm cầu.
31. Ở trong tam muội độ người
Trong lúc đóng cửa ẩn tu tại hồ Diệp Tử, tuy không hay biết việc đời, nhưng khi nhập tam muội, bước vào con đường giải thoát, tôi tuy nhập vào cảnh giới không tột cùng, nhưng chưa đến "chân không". Trạng thái này thực khó giải thích, giống như người tu định không biết mình đang trong định, người đang trong tam muội không biết mình đang trong tam muội.
Tôi không bị trói buộc. Rõ ràng tự biết đạt được tự tại. Âm thanh, sắc tướng không thể trói buộc tôi. Vọng niệm cũng không sinh khởi.
Trong một khoảnh khắc, tôi thấy các đệ tử đến. Đệ tử họ Trịnh dẫn theo một số người tôi không thật quen biết, đệ tử họ Trịnh nói với tôi một tiếng "cảm ơn", rồi tự khắc biến đi. Đệ tử họ Lại đi xe ngang qua chỗ tôi, dừng lại và quỳ xuống trước mặt tôi, chắp tay lại, rồi tự khắc biến đi. Đệ tử họ Lâm, trong lúc tôi nhập tam muội, hiện ra thân trung ấm, mặt đầy vẻ ưu sầu. Tôi nói: "Mau đi! Mau đi!" Ông ta hỏi: "Tôi đi như thế nào!" "Ông từ đâu đến thì về đó, buông bỏ tâm oán hận là đi được!" Ông ta đại ngộ, liền biến mất.
Còn rất nhiều đệ tử khác, không kể hết được. Tôi chủ yếu muốn nói với họ rằng: "Rời bỏ mọi thứ, trú nơi không tâm, sẽ đạt được bồ đề, giải thoát, niết bàn, tịch diệt, thiền định."
Tôi viết bài thơ:
Nhiều đệ tử thiện thệ đến gặp tôi Tôi như trong cảnh mộng khai thị cho từng người Người phạm lỗi bị khóa ở bên ngoài Tôi liền trao cho một đóa sen Để các bạn bay vào hư không an trú
Buông bỏ yêu ghét Lòng oán hận hại mình lại hại người Hãy nhớ kỹ nhớ kỹ Đừng khởi vọng niệm điên đảo Hãy tương ứng hòa nhập với ánh sáng Tất cả sẽ càng thêm hoàn mỹ Đời này hoàn toàn không phụ lòng.
32. Ngôi nhà hoa lệ trên trời
Trong lúc ẩn cư tại hồ Diệp Tử, nhập tam muội, tôi đến một cảnh giới. Nơi đây ánh sáng lành khắp nơi, thực sự là muôn điềm lành, hư không thanh tịnh không chướng ngại, gió thơm nhè nhẹ thổi đầy tay áo, nhìn lại mình, thiên y trong suốt, ánh vàng lấp lánh, trong tầm mắt toàn là: Cây ni-câu-luật kết trái vàng. Phong cảnh vô tận hoa không tàn. Những đóa sen thơm điểm phòng ngọc. Mã não san hô thiên thượng gia.
Mặt đất toàn là đất vàng, từ thiên giới vọng lại âm nhạc vi diệu, tôi nhìn thấy một tòa lâu đài tráng lệ, vô thức bước vào, quả thực đó là lầu phượng gác rồng, bên trong lâu đài rộng rãi sạch sẽ, vật quý báu được cất giữ, sữa đặc tự rót vào bát lưu ly, cam lộ đọng mãi trên đĩa ngọc bích.
Tôi bước vào đại sảnh, có một bảo tòa sen vàng, nhìn qua dường như quen thuộc nhưng lại không quen, tôi đưa tay chạm vào bảo tòa, trong lòng dâng lên một cảm xúc mãnh liệt.
Trong lòng có tiếng: "Đừng trách về trễ, đừng trách về muộn."
Tôi kinh ngạc, đây chính là ngôi nhà đẹp trên cõi trời của tôi, tôi đã từng ở đây, bảo tòa sen vàng này là của tôi. (Sơn trang Cầu Vồng không thể sánh được.) Tôi hỏi: "Những người hầu ở đây đâu?" Họ lần lượt xuất hiện, có đến hàng trăm nghìn, từng thân thể vi diệu sáng ngời dần dần hiện ra. Tôi hỏi: "Tôi đã đi bao lâu rồi?" "Nghìn năm." Tôi kinh ngạc đến không thốt nên lời.
Viết một bài kệ: Một gian nhà đẹp trên cõi trời Nghìn năm xa cách bụi chẳng vương Đi về chớp mắt thật nhanh chóng Yêu ghét cõi trần nào có đâu.
Sớm nghĩ trở về chuyển tới đây Nhưng gặp chướng ngại khó buông bỏ Vì độ chúng sinh mới hạ phàm Tâm niệm đền đáp duyên trần thế.
Nay ngộ duyên xưa không có gì Sinh tử đâu còn chuyện diệt tan.
33. Tranh đấu tranh giành
Trong thế giới Ta Bà của con người, tôi thấy đồ chơi của người lớn là danh vọng, tiền tài, tình ái, không thoát khỏi tranh đấu tranh giành. Và xuyên suốt lịch sử, khắp nơi trên thế giới, sóng gió không bao giờ ngừng nghỉ. Tôi nghĩ đến giới tôn giáo, thực tế cũng theo những trào lưu thế tục, tranh đấu tranh giành.
Khi tôi ẩn cư tại hồ Diệp Tử, trong lòng tôi cầu nguyện, để cho chính pháp bám rễ sâu, để cho hành giả kết trái sum suê, để cho thánh đệ tử tâm thêm rộng mở mà không cầu bất kỳ sự đáp trả nào. Đáp trả gì chứ? Đáp trả rốt cuộc cũng là không.
Thế gian vì kết quả của sự tranh đấu, đã có rất nhiều bão tố, rất nhiều bất bình đẳng, rất nhiều khủng hoảng, rất nhiều hãm hại, rất nhiều nghiệp báo, đó là nỗi đau và vết thương từ việc tranh đấu tranh giành mà có.
Khi tôi trở về cõi trời (trong tam muội), tôi cười thấy người đời quá thích thể hiện, như một lũ trẻ không hiểu chuyện, gây tổn thương và cãi vã.
Nhìn thấy sự thanh tịnh, vẻ đẹp, nhạc trời, hương thơm vi diệu, không ô nhiễm, quang minh của cõi trời, tôi cảm thấy thế gian quả thật đã sa đọa suy đồi.
Tranh tranh tranh. Không không không. Tranh cái gì? Rốt cuộc là không. Vẫn chưa tỉnh ngộ sao?
Tôi viết: "Ẩn cư mới biết thế gian loạn, người đời tranh đấu đều là ngông, người mặc áo pháp cũng như vậy, chẳng bằng đạo đức một người phàm. Nhiều năm tu tập dần thanh tịnh, tránh né thế gian sống ẩn cư, ngày nào độ được người tu thật, không ngại trước tiên học bao dung. Bề ngoài tuy khác Phật vẫn đây, bế quan vốn cầu không mê muội, nhìn thấu người đời tranh tranh tranh, không tranh mới được hưởng ân Phật."
Thơ: Anh nói lỗi của tôi Tôi nói lỗi của anh Thị phi mãi như sóng triều Không thể giải thoát mới là tai họa lớn của luân hồi.
Tôi tu vô tranh tam muội Không người không ta không chúng sinh không thọ giả Tự nhiên hạnh phúc Mọi nơi đều không tranh Tự xét về hành vi sẽ không đọa lạc.
34. Đồ chơi chơi hay không chơi
Khi tôi ở hồ Diệp Tử, tôi nhận ra rằng đồ chơi thời thơ ấu là bi ve, dây thun, tú lơ khơ. Còn đồ chơi của người lớn là địa vị, tiền bạc, tình ái. Khi những món đồ chơi này đã chơi xong, cuộc đời cũng gần như kết thúc. (Đi đời nhà ma rồi.)
Vấn đề tiếp theo là: "Chơi hay không chơi?" Tôi đáp: "Chơi." Rồi tôi nói: "Chơi thì chơi, nhưng, chơi phải có quy tắc của nó, đó chính là "vô vi nhi vi" [làm không vì gì cả] của Lão Tử."
"Kinh Duy Ma Cật" nói: "Bản chất của các hành, tất thảy đều vô thường." "Kinh Niết Bàn" nói: "Phật bảo Ca Diếp, các hành là thường, không có lẽ đó. Ông chỉ cần vô tâm trong tất cả mọi nơi, tức không có các hành, cũng không có vô hành, đó gọi là thọ ký."
Tôi nói: "Chơi thì chơi, nhưng không nắm giữ không buông bỏ, có được địa vị cũng được, không có cũng được, có được tiền tài cũng được, không có cũng được, có được tình yêu nam nữ cũng được, không có cũng được, mọi thứ khác cũng như vậy." Hỏi: "Tại sao lại như thế?" Tôi đáp: "Rốt cục là không." Tôi lại nói: "Một ngày kia khi mọi duyên đều dứt, chẳng phải rốt cục là không sao, được mà cũng chưa từng được, hahaha!"
Tôi nói với mọi người, phải hiểu rõ bản thân, nếu hiểu rõ bản thân, tự nhiên sẽ giải thoát. Nếu không hiểu rõ bản thân, ngày ngày mải mê với đồ chơi, càng ngày càng xa rời đạo, làm sao có thể hợp nhất với đạo? Đừng để cuộc đời trôi qua vô ích, đến như thế nào, đi như thế nào, các bạn đã hiểu chưa?
Thơ: Danh vị là do biến hóa mà có Tiền tài là do biến hóa mà có Nam nữ là do biến hóa mà có
Được được được Cũng mất mất mất Điều đáng sợ nhất trong đời người là Chơi đến quá mê muội
Tôi đã khám phá ra thực tại Cũng khám phá ra thứ hoàn toàn không thực tại Đi khắp thiên hạ mới ngộ ra sự tự nhiên tự tại.
35. Phúc phần lớn nhất
Nghĩ lại việc bản thân ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, quả thực là một phúc phần lớn lao. Đặc biệt là khi biết được nhân duyên lớn của mình, biết được chính pháp của Như Lai, nhìn thấy kho báu của mình ở cõi trời, kho báu trong ngôi nhà hoa lệ trên trời của tôi, đầy đủ tất cả, không thiếu thứ gì, tự do sử dụng.
Sau khi đại ngộ, tôi lại xem tạp chí Forbes đăng tin về tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates, rồi nhìn bảng xếp hạng những người siêu giàu trên thế giới, một trăm người giàu nhất thế giới, mười đại gia ở quê hương tôi, ví dụ như họ Thái, họ Vương, họ Trương, họ Cố, họ Lâm, v.v…
Ha ha ha, tôi cười vang một hồi, tôi không muốn nói gì cả. Bởi vì cho dù là tài sản của Bill Gates thì cũng không sánh bằng một cái cây, một hạt quả, một bông hoa, hay một cọng cỏ nhỏ ở cõi trời. Thế gian chỉ là cám bã. (nam nữ) Thế gian chỉ là rác rưởi. (địa vị) Thế gian chỉ là bụi bặm. (tiền bạc)
Phúc phần lớn nhất của tôi không phải là thứ có trong thế gian, không phải do tìm cầu từ bên ngoài, mà là do nhận ra "bản tâm tam muội" của chính mình, không do tri giác, tôi hân hoan vui sướng. Ngôi nhà hoa lệ trên trời làm sao thế gian có được? Trong ngôi nhà không ngăn ngại đó, toàn là thất trân bát bảo, không bụi không nhơ, đầy ắp ánh sáng chiếu rọi, hương thơm vi diệu lan tỏa, có hàng nghìn vạn thị giả, tôi chính là Đại Phúc Kim Cang!
Nếu bạn muốn tìm kiếm phúc phần lớn nhất. Chỉ cần theo tôi tu hành mà thôi.
Thơ:
Thực sự không thể diễn tả Dù bạn có sở hữu cả trái đất Hoặc là đấng cứu thế Phúc phần lớn nhất Hóa ra không cần tìm kiếm từ bên ngoài
Bạn vốn đã tự có Chỉ cần dùng bàn tay mảnh mai chạm vào Tất cả sẽ biến thành như cây đũa thần Đá biến thành quả cầu vàng
Muốn gì có nấy Điều không ngờ là Ngay cả thời gian cũng có thể trôi ngược.
36. Tam muội chẳng phải tam muội
Thu hoạch lớn nhất của việc bế quan có thể nói là "tam muội", nhưng, tam muội cũng chẳng phải tam muội, bạn hỏi tôi tam muội từ đâu mà có, tôi cũng không nói được, tam muội sẽ đi về đâu, tôi cũng mờ mịt khờ khạo, trong tam muội có chuyện gì, chẳng có chuyện gì cả, có tất cả, cũng chẳng có gì cả, cầu gì, lễ bái gì, tôi không biết ai là Lư Thắng Ngạn, Lư Thắng Ngạn lại là ai?
Trong tam muội, tôi trở nên ngây ngô hơn. Trong tam muội, tôi trở nên vô dụng. Trong tam muội, tôi trở nên không thể viết ra chữ nghĩa nữa. Viết gì? Viết như thế nào? Không, không, không, mơ hồ, mơ hồ, mơ hồ. Hỏi: "Thế nào là Phật?" Đáp: "Nếu không phải Phật thì là ai?"
Cả đời này tôi học Đạo, Hiển giáo, Mật giáo. Học biết bao nhiêu pháp "cao như núi sâu như biển", đến khi đạt "tam muội" lại chẳng còn một pháp nào để độ người, việc độ chúng sinh hoàn toàn như thế, quả nhiên không có pháp nào để nói.
Phật nói: "Nói Như Lai có thuyết pháp, tức là phỉ báng Phật, người đó không hiểu nghĩa ta nói." Phó Đại Sĩ thuyết pháp, lên pháp tọa, gõ một tiếng, đi xuống, nói xong rồi. Ha ha ha!
Tôi nói: "Tôi học pháp nhiều vô số, học quá nhiều rồi, đến giờ, lại quên sạch tất cả, tam muội chẳng phải tam muội, pháp chẳng phải pháp."
Thơ:
Chỉ là một ngọn nến Nhớ về khoảnh khắc thắp lên ánh sáng nhỏ Cháy hết rồi Chỉ còn lại linh hồn của tro tàn
Tôi viết chữ Chữ cũng sẽ qua đi Cuối cùng biến thành cát bụi trần gian Tôi ở trong tam muội Cũng ở trong chẳng phải tam muội Đón chào bình minh của mỗi ngày.
37. Sống tạm qua ngày
Trong lúc ẩn cư tại hồ Diệp Tử, tôi nhập tam muội, rồi có một vị Hóa Phật đến hỏi: "Liên Sinh Lư Thắng Ngạn, sao không nhập Niết Bàn? Sao không buông bỏ cái vỏ thân người này?" Tôi đáp: "Đợi." "Đợi gì?" "Đi một cách tự nhiên!" - Tôi thích sự tự nhiên hơn. "Sao không tự làm chủ sinh tử, đi sớm để được nghỉ ngơi sớm?" - Hóa Phật hỏi. Tôi đáp: "Ăn của người một hạt gạo, vẫn còn chưa trả xong, không thể nói đi là đi được. Còn biết bao người đang nhớ tưởng đến tôi, tình nghĩa vẫn còn đó, nỗi nhớ thương vẫn còn sâu đậm." "Trong thời gian này ngài sống kiểu gì?" "Để lại một chút giáo pháp như thật nghĩa, báo đáp bốn ơn sâu." Hóa Phật hỏi: "Thế nào là giáo pháp như thật nghĩa?" Tôi đáp: "Không tạo nghiệp sinh tử, cứ thẳng đường mà đi." Hóa Phật nói: "Ngài chỉ là sống tạm bợ!" Tôi đáp: "Vốn không sinh, sao gọi là sống tạm bợ?" Hóa Phật mỉm cười, rồi biến mất.
Tôi viết một bài thơ hiện đại:
Những vần thơ viết nên là ánh sáng lấp lánh của tri giác Tỏa sáng theo tình cảm của chúng sinh Vẫn còn nguyện ước Nguyện để lại một đời giáo pháp
Tôi biết sự thối nát của nhân gian Tôi cũng biết tai ương chồng chất Nhưng mong rằng giữa người với người không còn sự đè nén Bạn có thể tìm thấy trong thân tâm mình
Con đường giải thoát mà tôi để lại Hòa làm một với Đạo thì không còn chao đảo Tôi vì các bạn mà tạm sống qua ngày Giấc mộng tình nghĩa rất dài này Khi bạn tỉnh giấc sẽ đạt được.
38. Tam muội kỳ diệu
Tôi nói rằng tam muội thực sự quá kỳ diệu, nhất tâm bất loạn, thiền định, quá thần kỳ, cảm nhận của tôi thật khó diễn tả bằng lời, gần như trở thành điều không thể nói. Nếu bảo có bí quyết thì cũng có, nếu bảo thực sự có bí quyết thì cũng không, hãy nghe tôi nói:
Giống như người mất ngủ cố gắng đi vào giấc ngủ, hầy, càng muốn ngủ, đầu óc càng mông lung suy nghĩ, càng không ngủ được, cố gắng bắt đầu óc đừng suy nghĩ nó lại càng suy nghĩ, kết quả là không ngủ được vẫn cứ là không ngủ được, vội cũng không vội được, càng vội càng không được.
Tam muội cũng như vậy, thực sự muốn nhất tâm bất loạn thì vọng niệm lại càng nhiều; muốn nó dừng niệm, vô niệm, nó hoàn toàn không nghe theo; không để ý thì còn đỡ, càng để ý càng rối loạn; vừa mới rời khỏi lông mày, lại xuất hiện trong tâm, niệm niệm niệm, vọng niệm cứ tuôn chảy không ngừng. Như thác nước. Như dòng suối. Như sóng hồ.
Dừng dòng vọng niệm này, ai cũng hiểu, nhưng chẳng thể nào dừng được. Muốn không vướng bận điều gì, muốn không không không, hầy, không thể nào không được. Giáo pháp kinh luật luận có quá nhiều, Mật giáo dùng niệm để dừng niệm, tất cả chỉ là trên giấy mực văn tự, thiết lập những danh ngôn lời vàng, cái gọi là tam muội không gì khác ngoài không, trời ơi, chỉ là vướng mắc không dứt, không thể nào không. Hoàn toàn rơi vào không cũng không phải, rơi vào có cũng không phải, cần phải dùng trí tuệ, cần chú tâm vào ngay lúc này, điều ấy ai cũng nói được.
Tôi thẳng thắn nói, nếu bảo tôi dạy bạn nhập tam muội, tôi cũng không chắc bạn sẽ biết ngay sau khi tôi dạy. Tôi có thể nhập tam muội thực sự là do ba nguyên nhân:
- Thân thể đã nửa chết. (vô dục)
- Tâm đã thành tro. (vô tâm)
- Ý đã hoàn toàn lạnh. (vô sự)
Tôi biết phương pháp của mình có thể có sai sót, nhưng dù sai vẫn có cái đúng của nó, cuối cùng đã nhập được vào tam muội kỳ diệu. Tất cả nghĩa đã thành, tất cả đã được viên mãn.
Thơ:
Hái từng cánh hoa Mỗi cánh hoa là một niệm tưởng Dù có thực sự im lặng không nói Tâm vẫn xao động
Nếu không sợ hãi và không quan tâm Càng tự nhiên càng cảm nhận được.
39. Đều vì tam muội này
Tam muội còn được gọi là tam ma đề, tam ma địa, tam muội địa, với ý nghĩa chân thật là "chính định". Đó chính là đưa tất cả vọng niệm về một mối, không tán loạn, rồi chuyển nhất niệm thành vô niệm. Theo tôi biết, khi nhập vào tam muội này có những ý nghĩa sau:
- Thành tựu mọi việc làm.
- Bình đẳng tính.
- Diệu quan sát.
- Đại viên kính.
- Pháp giới thể tính.
Tôi cho rằng, tam vô lậu học: Giới, Định, Huệ - Giữ giới là để làm gì? Giữ giới chính là để định tâm. Trí huệ là để làm gì? Cũng vẫn là để định tâm, Giới và Huệ về căn bản đều là vì tam muội này (chính định).
Trong quá trình ẩn cư bế quan, sau khi nhập vào tam muội, tôi cảm nhận được:
- Giải thoát - sinh tử cùng một đường, chỉ là thay một cái vỏ mà thôi.
- Ly thế - nhập thế và xuất thế là như nhau, tất cả cảnh giới đều do một tâm tạo ra.
- Diệt tướng - ngay cả tướng vô sinh tử cũng không có, chẳng phải có chẳng phải không.
Tôi nhận ra sau khi nhập vào tam muội, nói có biến đổi thì cũng có biến đổi, nói không biến đổi thì cũng không biến đổi. Tóm lại, thực sự không thể đo lường, không thể nghĩ bàn. Ví dụ, tôi vì đoạn trừ phiền não mà tu hành nhập tam muội, nhưng vì cứu độ chúng sinh nên không đoạn phiền não, đây chính là sự cứu độ bình đẳng của "đại bi xiển đề" [chỉ bậc Bồ Tát với lòng từ bi vô tận]. Không thể giải thích rõ ràng được, đây là vì cái gì? Là để dạy mọi người đi con đường này.
Viết một bài thơ:
Tất cả đều vì tam muội này Tôi tinh tấn nếm trải quả của trí huệ Quả này vô thượng không gì sánh bằng Cao nhất của ý phong phú vô tận.
Chưa từng nghĩ đến hội Linh Sơn Diệu pháp của Như Lai Trong tam muội Sẽ quay về bên cạnh bạn
Ba thời như một Hóa ra là trí huệ lớn lao được thẳng thắn bày tỏ không giấu giếm.
40. Khí mạch minh điểm
Các tông phái Hiển giáo thông thường, vì hiểu biết mơ hồ về khí, mạch, minh điểm của Mật giáo, cho nên phát sinh nhiều lời chỉ trích khắp nơi. Có người nói đó là pháp tu ngoại đạo, có người nói đó là đạo thần tiên, có người nói giống như đạo trường sinh, thậm chí còn nói thẳng là tà pháp. (tà giáo)
Trước đây có người hỏi tôi: "Khí, mạch, minh điểm có phải là Phật không?" "Khí là khí, mạch là mạch, minh điểm là minh điểm, Phật là Phật." - Tôi đáp. "Nếu vậy thì có hai, có ba, có bốn." "Nhưng, hợp lại thì là một." - Tôi đáp. "Khí, mạch, minh điểm, nhiều người nói đó là tà!" - Người đó nói. Tôi trả lời: "Anh nghe cho rõ đây, tâm nếu chạy theo vật là tà, vật nếu thuận theo tâm là chính."
Tôi thực sự thẳng thắn nói với anh ấy: "Khi ăn cơm, nếu bạn dùng cúng dường, dùng siêu độ, dùng dưỡng thân, đó tức là chính. Khi ngủ, nếu bạn dùng quang minh, dùng giải thoát, dùng thanh tịnh, đó tức là chính. Chính và tà là như vậy đó, vậy thì khí mạch minh điểm có phải là tà không?" Đối phương đã hiểu ra.
Những người chỉ trích khí, mạch, minh điểm là tà chính là không hiểu được "dụng ý" của khí, mạch, minh điểm, nếu xuất phát từ tâm, thì chính là Phật.
Tôi viết một bài thơ:
Đèn đương nhiên không phải là ánh sáng Nhưng khi điện được kết nối Nó sẽ rực rỡ huy hoàng
Khí mạch minh điểm không phải là Phật Nhưng khi đã chuyên cần Sẽ trở thành ánh hào quang của cõi Phật thanh tịnh
Chúng ta không phải nhìn đàn ngỗng bay qua bầu trời Mà là lắng nghe đôi cánh của tư tưởng Lư Thắng Ngạn chỉ là một con sâu nhỏ Đúng thực là như vậy Nhưng sẽ hóa thành bướm lượn bay.
41. Thoát khổ được vui
Tất cả pháp môn lấy tam muội làm trọng, tất cả hành môn lấy thanh tịnh làm trọng, sự nương tựa cuối cùng lấy tịnh thổ làm trọng. Đây là ba điều trọng yếu mà tôi đã thể hội được, quan trọng lắm, quan trọng lắm.
Vì vậy, niệm Phật đạt đến tịnh tâm, minh tâm; tu pháp đạt đến tam muội, hiện tại và tương lai nhất định sẽ thấy Phật; thân khẩu ý thanh tịnh, đó chính là tam mật của Mật giáo. Thân khẩu ý thanh tịnh tức là tương ứng với tất cả Như Lai, nhận được sự gia trì thần biến của Như Lai. Pháp lực. Thần thông. Biến hóa. Hoàn toàn hợp nhất với Như Lai.
Cá nhân tôi cảm thấy, thể xác máu thịt trong cuộc đời này dần bị đánh bại bởi tuổi già, bị bức bách bởi nóng lạnh, tứ đại khó điều hòa, sinh nhiều bệnh tật, đây là điều tôi sợ nhất, tôi thực sự sợ nhất là nỗi khổ vì bệnh.
Đặc biệt từ xưa đến nay, người sống đến bảy mươi tuổi đã là hiếm, cho dù sống thọ thì cũng già đi, vô thường nhanh chóng, tuổi thọ không kéo dài, đây là nỗi khổ của cái chết. Con người nhất định sẽ chết, có sinh tất có tử.
Hơn nữa, trong cuộc sống có đến tám chín phần không như ý, tình thân yêu thương, hễ có yêu thương ắt phải chia ly, nỗi khổ vì xa cách cũng là điều sầu muộn. Lại còn kẻ thù, mối hận, hễ có oán thù ắt sẽ gặp nhau, gây tổn hại lẫn nhau, đó càng là nỗi khổ lớn thay!
Tôi khuyên mọi người hãy học Phật đi! Đến được thế giới Cực Lạc sẽ là phúc lớn: Hóa sinh từ hoa sen, không có khổ vì sinh. Thân thể trong sạch thơm tho, không có khổ vì già và bệnh. Cực lạc không thối chuyển, không có khổ vì chết. Thánh hiền là bạn thân, không có khổ vì gặp gỡ kẻ oán ghét. Đất bằng vàng ròng, cây báu cao vút, lâu đài làm bằng bảy báu, hoa nở bảy sắc, vẻ đẹp của cõi Cực Lạc không thể nào kể xiết...
Tôi nguyện chúng sinh thoát khổ được vui. Viết một bài thơ ngắn:
Hóa sinh từ hoa sen là niềm hạnh phúc lớn nhất Liệu trên đời có điều gì kỳ diệu hơn thế không Tương ứng với Như Lai Gắn bó không rời, đừng nghi ngờ
Cái vỏ con người rốt cuộc là gì Hãy thử buông bỏ nó đi Chỉ cần học được tam muội địa Đó chính là ý nghĩa đích thực của linh hồn.
42. Ai không phải là lữ khách tha hương
Ở Tahiti, tôi là một người ngoại quốc chính hiệu, người bản địa chính là thổ dân, thật ra họ cũng thuộc nhiều bộ tộc khác nhau. Có một chuyện kỳ lạ, đến nay vẫn khiến tôi rất bối rối.
Tôi ở New Zealand, hỏi người Maori: "Các bạn đến từ đâu?" Người Maori đáp: "Tahiti." Tôi ở Tahiti hỏi thổ dân: "Các bạn có phải là người Maori không?" Họ đáp: "Không phải." Tôi hoang mang.
Tahiti là thuộc địa của Pháp, có người Pháp, họa sĩ Gauguin là người Pháp. Còn có khoảng một phần mười là người Hoa từ vùng duyên hải Trung Quốc đại lục đến Tahiti để đốn mía đường, rồi trở thành những người nhập cư định cư tại đây, tôi nhìn thấy có hiệu thuốc Đông y, quả thực bốn biển đều là anh em.
Tôi hỏi thổ dân Tahiti: "Các bạn đến từ đâu?" "Trời là cha, đất là mẹ, khi trời nhớ đất thì mưa sẽ rơi xuống." (Người thổ dân tự cho rằng họ do trời đất tạo ra.)
Tahiti có một hiện tượng kỳ lạ, phía Đông núi mưa thì phía Tây núi nắng, chỉ cần mây tụ lại, mưa liền trút xuống, ra khỏi nhà mang theo đồ che mưa là điều cần thiết.
Người Pháp, người Hoa, thổ dân, ai không phải là lữ khách tha hương?
Tổ sư Mã Minh nói: "Cái gọi là người, chính là tâm của chúng sinh, nên tất cả con người đều sinh ra. Nếu tâm không sinh thì người không từ đâu sinh ra, cũng không có tên gọi, người mê không biết Pháp thân." Tôi nói: "Pháp thân không có hình tướng, tùy vật mà hiện hình, ai không phải là người lữ khách tha hương?" Họa sĩ Gauguin hỏi: "Sinh từ đâu đến? Chết về nơi nào? Tôi cuối cùng là ai?"
Tôi viết một bài thơ:
Trong khoảnh khắc tĩnh lặng nhất của tam muội Tôi, người hành giả này Đang tìm hiểu cuối cùng là gì
Chúng ta đến đây làm gì Những lữ khách tha hương này Ăn uống ngủ nghỉ Làm việc Rồi cứ thế già đi Mọi người gặp nhau chỉ có một câu: "Xin chào".
43. Sự quan trọng của cân bằng
Đối với những đạo lý lớn trong cuộc sống, sau nhiều năm tu tập, tôi cảm thấy sự cân bằng quả thật rất quan trọng. Người học Phật quá chấp vào việc tinh tấn thì không đúng, nhưng buông thả, lười biếng cũng không đúng. Làm sao để cân bằng? Đây là một môn học lớn, cần tự mình nắm bắt.
Tôi nói, khi Đức Phật vừa đắc đạo, thiên ma liền khuyên Ngài nhập Niết Bàn. Nếu Phật Đà không truyền pháp mà lập tức nhập Niết Bàn, chẳng phải mọi trí huệ, Phật huệ đều không còn nữa sao? Thật quá hư ảo!
Đối với bản thân tôi, đời này tôi quá nặng tình cảm, và tình cảm cũng kéo lùi tôi cả đời này. Không nỡ buông bỏ một chúng sinh nào, chân tình chân nghĩa, như vậy không khỏi đắm chìm trong đó, không phân biệt thiện ác, rất dễ bị người ta lừa, cũng rất dễ bị người ta sỉ nhục. Vậy bạn còn có tình với chúng sinh không?
Người nặng về dục vọng thì căn cơ nông cạn. Người hoàn toàn không có dục vọng thì chẳng muốn độ chúng sinh. Người tranh giành qua lại thì quá thế tục đáng ghét. Người có trí tuệ cao, phúc phần dày thì quá kiêu ngạo tự mãn. Người chấp vào không thì quá hư ảo. Người chấp vào có thì quá chìm đắm. Khổ hạnh cũng là quá chấp. Người lìa tâm mà cầu pháp là chấp pháp quá mức.
Tình cảm và giới pháp thường đối chọi lẫn nhau, xung khắc lẫn nhau. Quá nặng tình cảm thì tổn hại giới pháp, giữ giới pháp thì lại tổn hại tình cảm. Sự lựa chọn cuối cùng của tôi, chỉ có cống hiến, chỉ có hy sinh, chỉ có trách nhiệm, chỉ có cho đi, điều này thật sự làm khổ tôi! Tình cảm không thể ngăn cản!
Tôi viết một bài thơ:
Nên lải nhải không ngừng hay giữ im lặng Nên lạc quan hay đau buồn Nên phiêu bạt rồi ra đi Hay nên hoằng pháp mở rộng tông phái
Nên đứng ở tuyến đầu Hay nên ẩn mình sau hậu trường Tôi nên coi trọng tình cảm Hay tôi nên coi trọng giới luật Làm sao đây làm sao đây Để tôi được an lòng Giới luật của chúng ta phải chăng quá lỏng lẻo.
44. Tâm cũng đang phiêu bạt
Tôi biết, thân thể con người phiêu bạt, mà tâm cũng đang phiêu bạt. Ví dụ tôi nói: "Thân tôi ở hồ Diệp Tử, nhưng tâm tôi ở Seattle, đó chẳng phải là sự phiêu bạt của tâm hay sao?"
Tôi có rất nhiều hoài niệm và ký ức, những cuộc hội ngộ rồi chia ly, thậm chí không bao giờ có thể gặp lại, chẳng phải tâm cũng đang phiêu bạt sao?
Sự phiêu bạt của thân xác còn có thể chịu đựng được, nhưng sự phiêu bạt của tâm giống như đang chịu tang cha mẹ vậy, thực sự muốn hướng lên trời, nhìn xuống đất, và khóc thật to một trận ...
Từng có đệ tử hỏi tôi: "Đệ tử mỗi khi ngồi thiền, tâm ý xao động, không thể nhập tam muội, không biết phải làm sao?" Tôi đáp: "Đây cũng là bệnh của tôi, tâm cứ phiêu bạt không ngừng. Cuối cùng tôi không sợ hãi, không quan tâm, cứ để nó đi!" (Làm một người vô sự.)
Ngoài ra, tôi đọc kinh sách, thấy Thượng tọa Tĩnh của chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai nói: "Nếu khi tĩnh tọa, tâm niệm rối loạn, hãy truy tìm tận gốc rễ của tâm rối loạn đó, truy tìm đến tận cùng không còn chỗ nào thì những tư tưởng rối loạn tự nhiên sẽ không còn tồn tại. Tâm truy cứu có thể tìm ra tâm ở đâu? Trí tuệ chiếu soi vốn không, cảnh theo duyên cũng vắng lặng, vắng lặng mà không phải vắng lặng, vì không có người làm vắng lặng, chiếu soi mà không phải chiếu soi, vì không có cảnh được chiếu soi, cảnh và trí đều vắng lặng, tâm tự nhiên an ổn."
Bài kệ của Thượng tọa Tiểu Tĩnh:
Người huyễn sinh huyễn, huyễn bủa vây. Nghiệp huyễn chiêu cảm, huyễn trị liệu. Không hiểu huyễn sinh, bao huyễn khổ. Tỉnh biết như huyễn, huyễn vô vi.
Tôi viết một bài thơ:
Nếu cứ mãi để tâm ở Seattle Thân thể tôi sẽ trống rỗng Còn quan tâm gì đến khổ hay không khổ
Có lúc tâm ở phương Đông Có lúc tâm ở phương Tây Có lúc tâm ở cõi Ta Bà Có lúc tâm ở nơi Phật Tổ
*Tôi trong cảnh giới tam muội Để lại những điều vĩ đại cho các bạn Để các bạn tự mình làm chủ. *
45. Nhớ về bước chân của cái chết
Trong hồi ức, có nhiều lần cái chết đã tiến đến gần. Kỷ niệm sâu đậm nhất chính là khi tôi còn trẻ, cùng với Thượng sư Liên Hỏa, Thượng sư Liên Đài, Lâm Bính Lân và những người khác đi du lịch ở Khẩn Đinh.
Tôi từng ở trên pháp tọa kể rằng: "Tôi xuống biển bơi, bơi hơi xa một chút, không ngờ có dòng chảy ngầm, không thể bơi vào bờ được, thủy triều ra sức kéo tôi ra biển. Lúc đó, tôi hoang mang rối loạn, tay chân đã dùng hết sức lực, bước chân của cái chết thực sự đã đến gần. Bất ngờ tôi chộp được một sợi dây thừng dưới đáy biển, đó là dây buộc thuyền, nhờ sợi dây đó mà tôi mới có thể từng bước kéo mình vào bờ."
Mỗi lần thủy triều kéo tôi. Tôi nắm chặt dây thừng không buông. Khi thủy triều rút. Tôi vội vã tiến dần vào bờ. Cuối cùng tôi đã được cứu, kiệt sức nằm trên bãi cát.
Nếu lần đó tôi chết, đã không còn Lư Thắng Ngạn này, cũng không có Chân Phật Tông, tất cả đều không còn, giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau một bước chân.
Đôi khi tôi nhớ lại những lần cái chết đến gần, nếu thật sự chết, tôi sẽ mang gông vào ngục, đến thành phố của những người chết oan, từ đó nghỉ ngơi một thời gian, không còn liên quan gì đến Chân Phật Tông, cũng không phải lên pháp tọa thuyết pháp, ngày đêm vội vã đi khắp thế giới, cũng không phải ẩn tu ở hồ Diệp Tử lúc tuổi già. Khổ sở nhập tam muội, khổ sở độ đệ tử.
Trời ơi! Đúng là vận, đúng là mệnh! Nếu năm đó tôi chết đi, có thể nói là trống rỗng hoàn toàn, cũng coi như thảnh thơi nhỉ! Tất cả pháp đều không sinh. Cho đến nay vẫn chưa chết, nhưng lại gánh vác huệ mạng của năm triệu đệ tử, nghĩ kỹ lại, cái gì gọi là dài, cái gì gọi là ngắn?
Viết một bài thơ:
Cái chết giống như một cánh cửa Sự bao la bên ngoài thật khó tưởng tượng Sống mà chẳng có chút đầy đủ Lại tự giam mình thật chặt
Quá bận rộn với việc truyền pháp giảng đạo Quá nhiệt huyết sôi sục vượt qua từng khó khăn Lại quên mất nỗi sợ hãi trong lòng người Lòng người tàn nhẫn như thủy triều kéo bạn Chi bằng sớm nghỉ ngơi một thời Tất cả lại bắt đầu lại từ đầu.
46. Hoa nở trong khoảnh khắc
Một sáng sớm, mở cửa sổ, tôi thấy một bông hoa nở rất rực rỡ, lòng vô cùng thích thú.
Đến chiều tối, khi đóng cửa sổ, tôi lại nhìn bông hoa đó, thấy sắc màu đã phai, không như buổi sáng, và có dấu hiệu của sự tàn úa, héo tàn thật nhanh!
Tại sao lại như vậy, chỉ trong một ngày mà đã có sự khác biệt? Tôi chợt tỉnh ngộ: "Hoa nở trong khoảnh khắc!". Tôi lẩm bẩm, hoa nở trong khoảnh khắc, chỉ trong khoảnh khắc mà thôi.
Tôi viết bài thơ "Hoa nở trong khoảnh khắc":
Họ đã từng thù hận và giết hại lẫn nhau Họ cũng đã từng quý trọng, yêu thương, ôm ấp, quan tâm và chăm sóc nhau Chỉ trong một khoảnh khắc Giống như giọt sương buổi sáng đã tan biến
Trong ký ức có quá nhiều chuyện tương tự như vậy Những người bạn, người thân rất tốt rất thân thiết Chỉ trong một khoảnh khắc Đã từ bỏ và sỉ nhục lẫn nhau
Ngày và đêm chỉ trong một khoảnh khắc đã lướt qua Bóng tối và ánh sáng cũng như vậy Thiên đường và địa ngục cũng y như thế Sự sống và cái chết rất nhanh chóng Mê và ngộ Nghĩ lại, con người thật sự quá mù quáng
Danh vọng, tiền tài, sắc dục nam nữ Hoa nở trong khoảnh khắc Tham sân si trong thân khẩu ý Thanh tịnh và bất tịnh Làm sao không tỉnh ngộ
Lòng tôi Rất bình yên mở cửa sổ đóng cửa sổ Tự biết mình nên đi con đường nào.
47. Núi lớn trong tâm
Tôi nhập tam muội thiền định ở hồ Diệp Tử. Lần tam muội này, sau khi tôi tắm vào buổi tối, khoác một chiếc áo choàng rộng rãi, đối diện với một ngọn núi lớn bên ngoài cửa sổ, ngồi kiết già và nhập định một cách rất tự nhiên.
Trong cảnh giới thiền định, Hóa Phật hiện ra và hỏi: "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, có đúng vậy không?" Tôi đáp: "Đúng vậy." Hóa Phật chỉ vào ngọn núi lớn bên ngoài cửa sổ và hỏi tôi: "Ngọn núi lớn này cũng nằm trong tâm ngài sao?" Tôi đáp: "Đúng vậy." Hóa Phật cười: "Hành giả phiêu bạt, lại đặt ngọn núi lớn trong tâm mình, điều này là do đâu vậy?"
Tôi biết mình đã bị Hóa Phật bắt bẻ, Ngài đang chế giễu tôi, đường đường là một bậc đại tu hành, vậy mà còn vướng mắc tình cảm luyến ái, để ngọn núi đè nặng tâm mình, nhất là một hành giả già như tôi, đã vượt qua được cảnh giới này từ lâu, chẳng phải là khiến chư Phật Bồ Tát cười đến rụng răng sao! Tôi nói: "Tôi thua rồi!"
Hóa Phật dạy: "Nếu bàn về Phật pháp, tất cả đều hiện thành, không lấy không bỏ chính là đạo. Đừng để âm thanh, hương thơm làm động tâm." Tôi thở dài: "Quả thật chỉ sai một li!" Hóa Phật biến mất.
Sau khi ra khỏi tam muội, tôi viết một bài thơ nhỏ:
Ngột ngạt không thở nổi là chính mình Tự do tự tại cũng là chính mình Nhưng bạn có biết không Tôi cũng mong nhận được chút tin tức từ phương xa
Tôi hiểu ý nghĩa lời khai thị của Hóa Phật Thế nhưng tiếng cười hạnh phúc của cuộc đời trong quá khứ Cũng như tảng đá vững chắc Đã trở thành ký ức vĩnh cửu không thể quên
Dù là quá khứ rất nhỏ nhoi Nhưng lại hóa thành một ngọn núi cao vút Cất giấu trong thẳm sâu của tâm hồn Khiến cho tôi, người coi trọng tình cảm hơn tất cả, mãi mãi đời đời kiếp kiếp Không thể dời đi.
48. Hiện tượng của giới tự nhiên
Trong tam muội. Lại có Hóa Phật đến thử thách tôi: "Có một vị thầy đã chiếm hết tất cả tài sản của đạo tràng, rồi phá bỏ luôn đạo tràng, khiến đệ tử trôi dạt khắp nơi, ngài sẽ làm gì?" Tôi đáp: "Tài sản đạo tràng cuối cùng cũng không có gì, đạo tràng không có tướng sinh diệt, đệ tử nên tự quan sát tâm mình, Tam Bảo là một thể, thường hiện trước mặt, không có gì phải lo lắng." Hóa Phật lại nói: "Lại có một vị thầy đã lấy hết tiền xây chùa, rồi cũng không làm thầy nữa, đệ tử mất cả tiền lẫn nơi nương tựa, ngài sẽ làm gì?" Tôi đáp: "Đây không phải vấn đề, chùa có thể ở trong tâm mình, tất cả pháp không sinh, tất cả pháp không diệt, mất tiền mất chỗ, không chạy theo hình tướng thì sẽ hiểu ra, không được cũng không mất." Hóa Phật lại nói: "Lại có một vị thầy đã lừa đảo nhiều tài sản của đệ tử Chân Phật, rồi trốn biệt, không thấy người, không thấy tiền, không thấy gì cả, ngài sẽ làm gì?" Tôi đáp: "Không có vấn đề gì!" Hóa Phật nói: "Ngài nói tất cả không có vấn đề, nhưng các đệ tử đang rối loạn, làm sao có thể không có vấn đề được?" Tôi đáp: "Đây là hiện tượng của giới tự nhiên, trên thế gian này, những vị thầy có thân khẩu ý không thanh tịnh vẫn còn nhiều, chuyện trộm cắp, lừa đảo, cướp đoạt vẫn thường xảy ra, giới tôn giáo cũng vậy. Là rồng hay là rắn đều có vảy của nó, chỉ có nhất tâm, khi những việc này xảy ra, đó là tự nhiên, nhưng các đệ tử vẫn phải giữ đạo tâm kiên cố, hướng về Phật đạo, không thay đổi chí nguyện mới đúng." Hóa Phật hỏi: "Khi xảy ra chuyện trộm cắp, lừa đảo, cướp đoạt, ngài có phiền não không?" Tôi đáp: "Chân không không ngăn ngại, mọi sự sinh diệt trong thế gian, không có nghĩa gì là được, không có nghĩa gì là mất, thầy vô tri, nên vẫn không có vấn đề gì!"
Tôi viết một bài thơ:
Thế giới này như cơn bão dữ dội Nhờ cơn bão này mà biết được sự kiên cố của tâm Trong tâm vẫn còn Phật pháp tăng Đệ tử như vậy mới có thể gọi là thánh
Thánh đệ tử ơi, thánh đệ tử Nhìn thấu cảnh mộng của cuộc đời Sinh tử đều như nhau Được mất đều như nhau Như Lai có đầy đủ tất cả trí huệ.
49. Đừng lãng phí thời gian
Một ngày của mỗi chúng ta đều khá giống nhau: thức dậy vào buổi sáng, đánh răng rửa mặt, ăn sáng, đi làm, ăn trưa, làm việc, tan làm về nhà ăn tối, thư giãn xem tivi hoặc làm việc khác, tắm rửa, đi ngủ. Thực ra, mỗi người có thể có cuộc sống khác nhau, nhưng nhìn chung đều tương tự.
Cuộc sống của người bình thường là như vậy. Nếu là cư sĩ học Phật tại gia thì có thêm tụng kinh, niệm chú, tu tập, một ngày sẽ trôi qua rất nhanh. Cũng có nhiều người rất bận rộn, bận đến nỗi không thể sắp xếp thời gian để tu tập.
Doanh nhân và người đi làm có lối sống khác nhau, tuy nhiên doanh nhân cũng không được rảnh, có người bận quản lý cửa hàng, có người bận đàm phán kinh doanh, có người bận với dây chuyền sản xuất, có người là "người bay" thường xuyên di chuyển khắp thế giới, cũng bận đến choáng váng.
Sĩ, nông, công, thương,... mỗi người đều bận việc riêng, có được một khoảng thời gian ngắn để nghỉ ngơi, thư giãn hoặc đi du lịch đã là quý giá và hiếm có.
Mọi người nghĩ rằng các tu sĩ trong chùa là nhàn nhất, nhưng thực ra không phải vậy, công phu sáng, công phu tối, cúng Ngọ, Phật sự, tạp vụ, công việc cũng rất nhiều, có nhiều việc để bận rộn lắm! Thời gian trôi nhanh, một ngày lại qua đi, bốn mùa trong năm, thời gian một khi đã trôi qua, chú tiểu cũng trở thành vị hòa thượng già. Tôi thường khuyên người khác: "Đừng lãng phí thời gian!" Thế nào là "đừng lãng phí thời gian"? Tôi hỏi.
Có lẽ nhiều người không trả lời được. Ngày nào cũng trôi qua giống nhau, mặc quần áo, ăn uống, đi, đứng, ngồi, nằm, thế nào là "đừng lãng phí thời gian"?
Tôi nói, hãy làm mỗi việc một cách vừa đủ, tức là làm tốt từng việc nhỏ, đó chính là không lãng phí thời gian. Giữ thời gian, giữ bổn phận, giữ tiết độ, đó là không lãng phí thời gian. Lệch giờ, mất bổn phận, mất tiết độ, đó là lãng phí thời gian.
Tôi viết một bài thơ nhỏ:
Không cần than khóc Ai ai cũng sống ngày tháng như nhau Không được không mất không dài không ngắn Không ai có thể thực sự giữ thời gian lại Chỉ nằm ở chỗ tâm có giải thoát hay không Chỉ nằm ở chỗ có đi đúng trên đạo bồ đề hay không Đó chính là không lãng phí thời gian.
50. Một hạt cát nhỏ bé
Phi hành gia đi tàu vũ trụ lên không gian, cảm nhận vũ trụ bao la vô tận, vô cùng tĩnh lặng. Nhìn lại Trái Đất, thật sự rất đẹp, như một quả cầu lơ lửng trong không gian. Phi hành gia gửi hình ảnh về Trái Đất, giúp chúng ta thấy được bộ mặt thật của địa cầu này.
Tôi từng nghĩ như thế này: nếu tàu vũ trụ bay xa hơn một chút và nhìn lại Trái Đất, hành tinh của chúng ta sẽ chỉ còn như một ngôi sao, giống như cách chúng ta nhìn Sao Hỏa. Khi Sao Hỏa ở gần Trái Đất nhất, nó chỉ là một ngôi sao. Ngược lại, nếu nhìn từ Sao Hỏa, Trái Đất cũng chỉ là một ngôi sao mà thôi.
Tôi lại nghĩ tiếp, nếu tàu vũ trụ bay xa hơn cả Sao Hỏa và nhìn lại Trái Đất, có lẽ hành tinh của chúng ta sẽ chỉ còn nhỏ như một hạt cát. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy vô cùng mơ hồ.
Giáo chủ Phật giáo Thích Ca Mâu Ni Phật đã dạy từ 2600 năm trước rằng, vũ trụ lớn đến vô biên, vũ trụ nhỏ đến mức mắt không thể thấy được, trong một cốc nước có tám vạn bốn nghìn vi sinh vật (vi khuẩn).
Đức Phật dạy: "Trong cõi Phật mười phương, chỉ có một cỗ xe duy nhất là pháp của Phật [Nhất Phật Thừa], không hai cũng không ba [không có Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa] ngoài giáo pháp phương tiện Phật nói thì chỉ là dùng danh từ giả để dẫn dắt chúng sinh." [Lời Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa]
Trong tam muội, tôi biết rằng Trái Đất chỉ là một hạt cát bé nhỏ, tôi còn có chỗ nào để cắm dùi, độ chúng sinh ở đâu; nếu Trái Đất chỉ là một hạt cát bé nhỏ, tôi ở nơi nào?
Tôi lại nhớ đến bài thơ về giấc mộng của Vương An Thạch:
Biết đời như mộng vô sở cầu, Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không Vẫn tựa trong mộng theo mộng cảnh Thành tựu công đức tựa hà sa.
Tôi viết thơ:
Hạt cát nhỏ bé cần chi ồn ào Hạt cát này chỉ đang bay lượn trong vô hạn Mà con người là gì? Một tâm hồn mơ hồ
Trong tam muội, cảm nhận cuộc đời ngắn ngủi Trong tam muội, cảm ứng trời đất dài lâu Còn giấc mộng là gì? Chỉ là sự bận rộn ngây ngô vô ích Nên tôi dạy người tu tập tam muội Để tương ứng với ánh sáng vô hạn kia.
51. Khi không có việc gì để làm
Tôi ẩn cư bế quan ở hồ Diệp Tử, có lẽ nhiều người nghĩ rằng tôi rất thong dong tự tại, nhưng nếu nghĩ như vậy thì sai rồi!
Tôi vẫn sống một cuộc sống có quy củ. Tóc thì mỗi tuần tự cắt một lần, cứ mỗi tuần cắt một lần, nó đã dài như rơm rạ, nếu không cắt thì chẳng khác gì người vô gia cư (người lang thang) trên đường phố. Đặc biệt là râu, nhất định phải cạo. Móng tay cũng vậy, mỗi tuần cắt móng tay một lần. Sàn nhà vì gió cát lớn, chỉ hai ba ngày không lau là đã bám bụi. Tấm bảng tôi viết phải lau mỗi ngày. Không lau thì đen kịt! Quần áo tự giặt, áo quần bên ngoài một tuần giặt một lần, đồ lót thay hàng ngày, chất đống lên, đã thành một núi nhỏ.
Đun nước, ăn, mặc, ở, đi lại, tất cả đều tự làm. Điều đáng sợ nhất khi ẩn cư bế quan là bị bệnh, căn bệnh thật phiền toái, toàn thân khó chịu, chỉ cần lười biếng một chút là bản thân như biến thành người vô gia cư. Khi bệnh, tôi đành nhập định (tam muội nửa chết), thần hồn bay đi. Cơ thể tôi khi còn trẻ rất mạnh mẽ, những năm gần đây, có phần suy yếu, một ông lão 60, đúng thật vậy!
Nghe nói: Tổ sư Tsongkhapa thường hay bệnh, hơn 50 tuổi đã ra đi. Đại sư Không Hải, 62 tuổi đã ra đi. Pháp sư Từ Hàng, 60 tuổi đã ra đi. Còn bản thân tôi? Haha! Khi không còn việc gì để làm, đó là lúc nên ra đi. Mỗi ngày tu pháp, mỗi ngày kinh hành, mỗi ngày viết lách. Có một ngày, không viết lách, không tu pháp, không kinh hành, thì tôi cũng sẽ ra đi! Giải thoát rồi!
Viết một bài thơ vậy!
Khi không có việc gì để làm Hãy nằm trong khoảng không Trong tịch diệt vĩnh viễn không bị quấy rầy Bước chân đi theo gió
Không cần lời ca tụng ngợi khen Mọi người hãy niệm Phật một chút Mọi thứ càng giản dị càng tốt Vì trên đời không vật gì có thể hữu dụng Khi không có việc gì để làm Chỉ còn lại lời chào trân trọng trân trọng.
52. Hương vị của bệnh khổ
Nghe nói, có một hộ lý trưởng ở bệnh viện lớn, anh ta đã quen với việc nghe bệnh nhân than khổ triền miên, kêu cha gọi mẹ đến nỗi chai lì, quen với cảnh bệnh nhân được đẩy vào đẩy ra, đã trở nên vô cảm với sự sống chết, hộ lý trưởng chỉ làm công việc chăm sóc hàng ngày, chỉ đi làm rồi về nhà.
Một ngày nọ, hộ lý trưởng bất ngờ phát hiện mình mắc bệnh, là ung thư, và đã ở giai đoạn cuối, chính anh ta trải qua quá trình hóa trị. Bạn của hộ lý trưởng hỏi anh: "Tình trạng bệnh thế nào?" Anh trả lời bằng tám chữ: "Ngày dài cả năm, sống không bằng chết."
Thử nghĩ xem hương vị của bệnh khổ là gì? Tám chữ đó đã làm người ta rùng mình. Bản thân tôi đã từng trải qua "chứng nứt não", não chia thành tám mảnh, sau khi tứ đại phân ly, tôi cuối cùng đã hiểu tám chữ này, bệnh khổ không chỉ làm người ta rùng mình mà thực sự là sống không bằng chết!
Nghĩ xem, Trương Phi dũng mãnh đến thế, chỉ nghe đến chữ "bệnh", đã từ trên lưng ngựa ngã xuống! Nghĩ xem, Đức Phật nhìn thấy sinh, lão, bệnh, tử, lòng tràn đầy ưu tư, đã xuất gia tìm kiếm chân lý, vượt thoát sinh tử niết bàn.
Thành thật mà nói, nếu Đức Phật còn e ngại sinh, lão, bệnh, tử thì làm sao tôi không sợ được? Tôi tu tập hàng ngày chính là để giải thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử!
Cuộc sống có những niềm vui dịu dàng, nhưng cũng có những nỗi đau khủng khiếp. Tôi đã trải qua ít niềm vui, nhưng lại kinh qua chuỗi dài những đau khổ. Tôi muốn giống như Đức Phật, giác ngộ chân lý, giải thoát bồ đề, về cõi Cực Lạc. Đây chính là bước ngoặt trong cuộc đời, đây chính là ý nghĩa của nhân sinh!
Tôi viết thơ:
Hoàng hôn thật đẹp Chỉ là bước chân của chiều tà đã gần Tiếng quạ kêu Quạ quạ quạ
Con người chỉ là một cái túi Túi cần vứt bỏ thì vứt bỏ Túi đã thủng Thẻ không còn dùng được nữa
Phật muốn chúng ta tu tập pháp hỷ tam muội Không sinh không tử.
53. Người xuất gia chân chính
Ẩn cư bế quan ở hồ Diệp Tử nhiều năm, tôi thực sự giống như một người xuất gia rồi. Tôi đã xuất gia nhiều năm nhưng không cảm thấy mình xuất gia, những năm gần đây, tôi lại "xuất gia thật.
Hoàn toàn chán ngán những ứng đối thế tục, cũng không còn những hoạt động hoằng pháp quá mệt nhọc, một lòng chỉ cầu giải thoát sinh tử, tâm ý như gỗ mục tro tàn, mọi nhân duyên đều đã cắt đứt, tất cả thanh sắc đều gạt bỏ, không còn một người bạn nào, không giao thiệp với ai.
Nhìn thấy người đời vẫn còn bon chen theo danh lợi, tôi mỉm cười thản nhiên. Danh là gì? Lợi là gì? Chỉ là những hạt bụi trong mắt tôi mà thôi.
Khi nhìn thấy người ta mua bán cổ phiếu, bất động sản, nhà đất, vàng, kim cương, tôi thản nhiên. Khi thấy người ta tranh giành làm tổng thống, thủ tướng, tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị..., tôi bật cười.
Từ xưa đến nay, trong lịch sử đã không biết bao nhiêu vạn người tranh giành quyền lực, có ai thực sự đạt được đâu, cần gì phải khổ sở tham luyến không ngừng. Từ quốc gia lớn đến người dân thường, đến nay vẫn chưa thấy dừng lại, nghiệp tham của lòng người thật nặng nề quá.
Nếu hôm nay tôi không tu hành thì đợi đến khi nào? Nếu hiện giờ tôi không về cõi tịnh thổ thì đợi đến khi nào? Tôi còn có tâm gì nữa? Tôi còn việc gì nữa? Tất cả mọi việc trên thế gian này đã xa rời tôi rất xa, một cách tự nhiên đã nhạt nhòa, tôi đã tương ứng với cõi Phật tịnh thổ, nếu tôi không về cõi Phật tịnh thổ, e rằng sau này sẽ càng tốn công tốn sức, chịu đủ gian truân, chịu đủ sỉ nhục, vậy mà vẫn chưa chịu buông ư?
Tôi viết thơ:
Tại sao vẫn còn ưu tư Chỉ vì người đời vẫn tranh giành từng chút một Tôi ghi nhớ tình nghĩa duyên trần Cho nên khiêm nhường mà cống hiến
Các bạn cúng dường tôi quà tặng Tôi không thể ra đi một cách ích kỷ Vẫn luôn nhớ đến tên của các bạn Mong sớm nghĩ đến việc xuất ly Đến được bờ bên kia của cõi tịnh thổ Trong làn gió thư thái của tiếng nhạc trời vi diệu Tôi mới có thể ngưng dòng nước mắt của mình.
54. Vạn sự tùy duyên là pháp an vui
Tôi ở trong tam muội. Thấy chúng sinh đau khổ vô tận, lòng muốn cứu độ, nhưng lại cảm thấy bất lực, không biết phải làm sao, buồn rơi nước mắt, nỗi khổ này cũng khó có thể diễn tả được.
Đi một chuyến đến bệnh viện, thấy bệnh nhân kêu gào thảm thiết, tám vạn bốn nghìn loại bệnh, người nào cũng yếu ớt kiệt sức, chóng mặt hoa mắt, ăn không biết mùi vị, đi lại khó khăn, trằn trọc khó ngủ, trong phòng mổ máu me bắn tung tóe, thật sự là cảnh tượng không nỡ nhìn.
Thấy rất nhiều người già cao tuổi bước đi khó khăn, thậm chí có người ngồi xe lăn, người ở bên bờ cái chết thoi thóp thở, mọi cử động đều phải nhờ người phục vụ, thậm chí tắm rửa, đi vệ sinh đều phải có người nâng đỡ, gương mặt đầy vẻ bất lực. Tôi thấy vậy, vô cùng đau lòng.
Lại thấy nhiều người khuyết tật, người tứ chi không lành lặn, người mù, người điếc, người câm, người hen suyễn, người không nuốt được thức ăn, người nóng lạnh thất thường, người yếu ớt không chịu nổi gió, người nghèo khổ lầm than, người không có chỗ ăn ở. Tôi thấy vậy, đau buồn tột cùng.
Thảm hơn nữa là những người chết trận, chết do bị ném bom, chết do động đất, chết đuối, chết cháy, chết trong giá rét, chết vì nóng, chết vì lạnh, chết vì bị sát hại, chết vì súng đạn, chết vì dao chém, chết vì thuốc độc, chết vì tai nạn xe cộ, chết vì tự sát, chết vì bị cắn, chết vì dịch bệnh, đủ loại cái chết khác nhau, xác chất thành núi, máu chảy thành sông, thật là thảm khốc vô cùng!
Tôi còn thấy người đời trộm cắp, bắt cóc, cướp giật, lừa gạt, gây thương tích, phỉ báng, giết chóc, dâm loạn, nói dối, tranh giành. Lòng tôi như bị kim châm, nhưng tôi cũng bất lực.
Tôi không thể cứu được. Tôi khuyên cũng không được. Tay tôi đã mềm nhũn. Tôi hỏi Hóa Phật: "Cõi Ta Bà này, ai ai cũng khổ, phải làm sao đây?" Hóa Phật đáp: "Vạn sự tùy duyên là pháp an vui!"
Thơ:
Hãy để tôi hóa thành thuốc vạn linh Tùy bệnh cho thuốc Dâng hiến cho người Mang lại niềm vui cho tất cả mọi người
Hóa Phật nói vạn sự tùy duyên là pháp an vui Thế giới kham nhẫn cần phải kham nhẫn Đây là tâm yếu của Phật pháp.
[kham nhẫn: khả năng chịu đựng và nhẫn nại trước mọi nghịch cảnh với tâm thái bình thản]
55. Minh cái tâm gì
Có người hỏi: "Chân Phật Tông dạy người minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, không biết Sư Tôn giảng minh tâm là minh cái tâm gì?"
Thành thật mà nói, "minh tâm kiến tính" này, rất nhiều Tổ sư đều không nói rõ, nói ra thì trở thành "tăng thượng mạn nhân" [người có tâm kiêu mạn, tự cho mình đã đạt đến cảnh giới tu hành cao siêu dù thực tế chưa đạt được]. Lại nói ra rồi cũng chưa chắc người đời hiểu được, phải trải qua một phen rèn luyện mới có thể hiểu được.
Vì thế: Thiền sư Ẩn Sơn đến chết cũng không chịu gặp người. Hòa thượng Triệu Châu Hòa đến chết không thể nói với người. Thiền sư Đại Mai lấy lá sen làm áo. Thạch Sương đặt gỗ khô ngồi nằm cùng người. Thiền sư Đầu Tử thổi cơm cùng ăn với người.
Minh cái tâm gì? Kiến cái tính gì? Tôi xin bí mật dùng ẩn dụ mà nói với bạn: "Miệng có thể cảm giác vị, mắt có thể thấy sắc, tai nghe được âm thanh, mũi ngửi được hương thơm hay mùi hôi, tứ chi an nhàn hay không an nhàn, tất cả đều là tính. Muốn kiến tính, hãy bắt đầu từ đây."
Tôi lại nói: "Muốn minh tâm, cần biết rằng thân tâm hợp nhất, như cá với nước, căn bản chưa từng một chốc lát nào rời xa nhau, rời khỏi tâm mà đuổi theo vật chính là mê. Không mê vật mà có thể tự chủ tâm thì có thể minh tâm." Tôi chỉ có thể nói đến đây thôi. Không thể nói tiếp nữa!
Có một bài kệ: "Đêm đêm ôm Phật ngủ, sớm sớm cùng thức dậy, đứng ngồi luôn cùng đi, cùng nói cùng yên lặng, muốn biết Phật ở đâu, chính âm thanh này đây."
Bạn hỏi tôi: "Minh cái tâm gì?" Tôi đáp: "Ba tâm quá khứ, hiện tại, vị lai đều không thể đắc."
Viết một bài thơ:
Cuộc đời trở nên phong phú hơn nhờ những trang viết của tôi Vì mỗi bậc thánh đều có một tấm lòng vĩ đại Dòng nước của tâm mãi mãi chảy róc rách Đây chính là duyên và nhân
Hiểu là cái tâm gì Người sở hữu tất cả nhưng không có tâm Lại thích chế giễu Người chẳng có gì Chính người chẳng có gì này mới hiểu được tâm của mình.
56. Cái đinh nhô ra
Trong thời gian tôi ở Trung Quốc Đại Lục, tôi thường nghe người ta nói không nên lọt vào bảng xếp hạng người giàu có. Nghe lời này lúc đầu khiến người ta ngạc nhiên, có nhiều tiền chẳng phải là tốt sao? Sau này suy nghĩ kỹ lại, quả nhiên có rất nhiều người giàu gặp phải rắc rối lớn. Những người bị xử tử, bị tống giam không phải là số ít.
Trong thời gian tôi ở Cầu Vồng Sơn Trang, có một đại gia giàu có hàng đầu Trung Quốc Đại Lục đến quy y với tôi, cầu xin tôi ban cho ông ta lời khuyên quý giá để thoát khỏi nghịch cảnh. Những phiền não của các đại gia Trung Quốc Đại Lục, hay thậm chí của các đại gia trên toàn thế giới đều gần như giống nhau.
- Bị xử tử. (hoặc bị tống giam)
- Vấn đề về thuế. (chủ nợ thuế hoặc trốn thuế lớn)
- Vấn đề về hoa hồng. (mua bán tiền hối lộ)
- Vấn đề về tiền biếu tặng. (móc nối lợi ích chính trị và thương nghiệp bị bại lộ)
- Vấn đề về đầu tư. (chi tiêu không hợp pháp hoặc rút ruột)
- Kiện tụng đặc biệt nhiều. Và những vấn đề khác.
Lấy Bill Gates làm ví dụ, ông ta có vô số vụ kiện tụng đếm không xuể. Cả đời bị vướng vào kiện tụng, người giàu nhất thế giới cũng là người có nhiều vụ kiện nhất thế giới. Vì vậy người nghèo có nhiều phiền não, người giàu cũng có nhiều phiền não.
Đức Phật nói: "Tài vật là rắn độc." Tôi nói: "Mặc áo ăn cơm, đi đứng ngồi nằm, đủ là tốt rồi. Ăn vào bụng, dùng được, mới thật sự là của mình." Tôi nói: "Phần thừa ra chỉ để cho bạn ngắm nhìn, trò chơi tiền bạc biết đâu lại gây họa vào thân!"
Sau khi tôi bế quan ẩn cư, biết rằng không có một vật gì có thể đạt được, hôm nay có, ngày mai không, hoặc là chảy vào tay người khác. Trong thể tính bát nhã không tịch của Phật pháp, tất cả đều là vật huyễn hóa, người chết rồi rốt cuộc là không. Người đời sau lại đến tranh giành tài sản, có tranh giành cả nửa ngày thì cũng rốt cuộc là không.
Thơ:
Người vinh hoa phú quý Kiếp trước tích nhân lành Nhân tốt quả ắt vinh Nay thành phúc đức lớn Nhưng cần quay đầu nghĩ Trong quả phải gieo nhân Như thêu hoa trên gấm Lớp lớp đẹp vô cùng Tu phúc cũng tu tuệ Mới đắc chân thanh tịnh.
57. Tầm thường và tự nhiên
Tôi đọc sách, rất thích thiền sư Chân Tịnh Vân Am Bảo Phong Khắc Văn ở Long Hưng Phủ. Thiền sư hỏi tăng: "Hiểu chưa?" Tăng đáp: "Chưa hiểu." Thiền sư hỏi: "Ngươi ăn cháo chưa?" Tăng đáp: "Rồi." Thiền sư hỏi tăng: "Ngoài cửa là tiếng gì?" Tăng đáp: "Tiếng mưa." (thanh) Sư nói: "Vẫn chưa hiểu sao?" - Lại hỏi: "Trước mặt là gì?" Tăng đáp: "Bình phong." (sắc) Thiền sư nói: "Vẫn là chưa hiểu sao?" - Lại hỏi: "Có biết không?" Tăng đáp: "Không hiểu."
Thiền sư liền dạy tăng một bài kệ:
Tùy duyên sự sự liễu. Nhật dụng hà khiếm thiểu. Nhất thiết đãn tầm thường. Tự nhiên bất điên đảo.
[Tùy duyên hiểu mọi sự Cuộc sống đã đủ đầy Tất cả đều bình thường Tự nhiên chẳng mê lầm.]
Tôi viết thơ:
Mặt trời mọc phương Đông là bình thường Mặt trời lặn núi Tây là tự nhiên Ngày qua ngày trôi qua Nào từng có việc đời vướng víu bận lòng
Bước chân hành đạo chỉ là tung bụi trần Trước nay kinh hành chưa từng vội vã Chỉ biết độ chúng sinh cũng như thế như thế Mặt đất ngày ngày cỏ tự mọc
Tiếng gió tiếng mưa tự rõ ràng Việc gì chưa từng hiểu Bình thường tự nhiên chẳng điên đảo Không để lại chút dấu vết Chỉ cần tương ứng thì sẽ chẳng bao giờ thiếu thốn.
58. Sự khai sáng về hàng phục độc long
Trong quá khứ, có năm trăm đại A La Hán vận dụng sáu đại thần thông lực đi hàng phục một con độc long lớn, không ngờ con độc long này thần thông quảng đại, nuốt mây phun sương, biến hóa muôn nghìn, không sợ bất cứ điều gì, sức mạnh thần thông của năm trăm đại A La Hán cũng bất lực trước độc long.
Đúng lúc này, ở Tây Thiên có một vị tiểu La Hán đến, pháp lực thần thông bình thường, chỉ một cái búng tay, con độc long lớn này liền ngoan ngoãn cúi đầu, hóa thành một con tiểu long, cho tiểu La Hán cưỡi, chỉ trong chớp mắt thăng thiên mà đi.
Năm trăm đại A La Hán vô cùng kinh ngạc. Đại La Hán với đại thần thông không hàng phục được, một tiểu La Hán chỉ một cái búng tay liền thu phục được, tại sao vậy? Trăm nghĩ nghìn suy vẫn không hiểu nổi?
Năm trăm đại A La Hán cùng nhau đến hỏi Phật: "Tại sao vậy?" Phật đáp: "Duyên."
Phật nói, tiểu La Hán này với con độc long lớn có duyên phận sâu sắc, từ nhỏ đã chơi cùng nhau, độc long nghe lời người, người nghe lời độc long, hai bên không phân biệt, chỉ như vậy thôi!
Từ câu chuyện hàng phục độc long, tôi lĩnh ngộ được vấn đề về duyên. Làm cha mẹ, tại sao lại yêu thương con cái của mình, tại sao lại yêu quý cháu của mình? Thích hay không thích, vui hay không vui, giận hay không giận, yêu hay không yêu...... "Tất cả đều là một chữ duyên mà thôi!"
Hôm nay, tôi ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, hóa tình yêu nhỏ thành tình yêu lớn, vì độ chúng sinh mà chịu cực khổ lớn. Gánh vác duyên của năm triệu đệ tử, đây cũng chính là duyên, ngày ngày tâm tư lo cho sự an nguy của đệ tử, được độ hay không được độ? Cũng chính là duyên.
Viết một bài thơ:
Muốn gắn đôi cánh lên thân mọi người Để mọi người cùng tôi bay cao Tu chân Phật tam muội Vĩnh viễn chứng đắc thanh lương của tịnh thổ
Hoa sen không phân biệt màu sắc Pháp lực thần thông biến hóa của tôi đều không mạnh hơn các bạn Chỉ vì một chữ duyên Bạn, tôi, họ đều như nhau
Tôi không có tên gọi khác Thậm chí không phải tên gọi nào cả Hoa sen nở tỏa hương thơm giống nhau.
59. Mỗi ngày đều là sự tái sinh
Ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, mặc dù ngày ngày đều trôi qua bình thường, đặc biệt là cuộc sống đều đặn theo quy luật, lại càng không có cảm giác gì mới mẻ.
Nhưng, đó là một vấn đề về cảm nhận của "tâm", nếu coi mỗi sáng khi thức dậy, vừa mở mắt, như là một ngày mới được sinh ra, lần đầu gặp gỡ, thì cảm nhận đó sẽ khác. Ta phải nắm bắt tốt ngày hôm nay, phải trân trọng từng giây phút, phải sống thật sung mãn, ngày này chính là ngày tái sinh, ngày này chính là ngày tốt lành, chính là ngày hạnh phúc.
Người học Phật, ngày nào cũng là ngày tốt, ngày nào cũng tươi mới, ngày nào cũng là công đức, ngày nào cũng phải làm điều thiện, ngày nào cũng phải tu hành, ngày nào cũng phải linh nghiệm, ngày nào cũng phải tam muội, ngày nào cũng phải tương ứng, ngày nào cũng phải thanh tịnh, ngày nào cũng phải viết, ngày nào cũng phải kinh hành.
Sống một ngày, vui vẻ một ngày. Sống một ngày, biết ơn một ngày. Sống một ngày, viết một ngày. Sống một ngày, tu hành một ngày. (Đây là lời răn mình của cuộc sống ẩn cư bế quan của tôi.)
Có người nói, đọc "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" là linh nghiệm nhất, tôi cười, kinh chỉ là văn tự sách vở, đọc nó phải dùng tâm, nếu không dùng tâm thì "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" cũng không có cảm ứng.
Tôi đọc "Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh" đã thành thói quen, tâm tôi ở trên tâm của chư Phật Bồ Tát, tâm liền tâm, tự có thần thông cảm ứng. Các kinh cũng như vậy, các kinh không phải để cúng dường, mà là để dùng tâm thể ngộ.
Tôi viết một bài thơ:
Cơm là để ăn Cơm không phải để nhìn Nhìn thì không bao giờ no Ta cần ăn cơm
Phật pháp không phải để cúng dường Phật pháp không phải để lễ bái Phật pháp không phải là một hình thức Mà là dùng tâm để tiếp xúc và thể ngộ Dung hợp và tiêu hóa Vào lúc phát huy tác dụng lớn Chính là thù thắng và hòa hợp và cứu độ.
60. Thần tự thông
Tại hồ Diệp Tử, tôi đã nhiều năm ít nói, trong lúc kinh hành nếu nhìn thấy người thì chỉ giơ tay lên, hoặc là gật đầu một cái mà thôi. Nếu người ta muốn hỏi chuyện tôi thì cũng không biết bắt đầu như thế nào, còn nếu tôi muốn nói chuyện với người ta thì cũng chẳng biết nói gì nữa.
Nhưng mà cứ như vậy, tôi sợ mình bị chứng tự kỷ, ẩn cư bế quan đã giống như tự kỷ rồi, lại còn không nói một lời nào, há chẳng phải là cô độc thành tật, Tự kỷ Như Lai, Cô độc Như Lai, cộng thêm Ngớ Ngẩn Như Lai, ha ha!
Rất may, khi tôi thiền định nhập tam muội, thần tính linh thông hoạt bát dị thường, mười phương pháp giới đều ở trong một tâm, thần tự thông này có thể xuyên qua sơn hà đại địa, một ngọn núi có thể xuyên vào xuyên ra, một dòng sông có thể nhập thủy xuất thủy, đến Chân Phật Mật Uyển, Cầu Vồng Sơn Trang v.v…, đi lại không trở ngại, trong sát-na, đến đi trong Phật quốc ba cõi chẳng để lại dấu tích.
Thần tự thông này đều là tác dụng lớn của tâm, túc mệnh, tha tâm, thiên nhãn, thiên nhĩ, thần túc, lậu tận đều có thể đắc được trong tam muội.
Kinh nói: "Phàm phu chấp tướng, không biết thần thông, cho nên tùy nghi mà nói. Tâm không có hình tướng, tức là sắc thân vi diệu, vô tướng tức là thực tướng, thực tướng thể không, đây chính là thân hư không vô biên, vạn hành trang nghiêm, cho nên gọi là công đức Pháp thân, chính Pháp thân này là cội nguồn của vạn hành, tùy theo tác dụng mà đặt tên, nói cho thật thì chỉ là Pháp thân thanh tịnh."
Tôi sẽ dùng thần tự thông này để tiêu diêu! Tôi sẽ dùng thần tự thông này để độ chúng sinh! Tôi sẽ dùng thần tự thông này để thuyết pháp ngữ!
Viết một bài thơ:
Tâm thanh tịnh người đời khó mà hiểu được Lại bàn về thần thông Càng bị người đời ồn ào lăng nhục Vì tôi vẫn còn trú trên một hạt cát
Pháp ngữ đã nói quá nhiều và mật độ dày đặc Trước đây tôi như một con dế kêu không ngừng Nay đã bước đến hoàng hôn cô độc Chỉ là tự kỷ ngớ ngẩn mà thôi Có gì hay để mà nói Thế gian còn có gì thú vị Tôi lại có việc gì để mà nói, việc gì có thể trói buộc mình.
61. Tiêu một phần nghiệp chướng
Có người nói: "Tăng một phần trí tuệ, tiêu một phần nghiệp chướng." Lại có người nói: "Mang nghiệp vãng sinh hay tiêu nghiệp vãng sinh." Còn có người nói: "Một khi thấy Phật tính, nghiệp chướng tiêu tan hết." Đức Phật nói: "Cuộc đời con người chính là để trả nghiệp."
Nghiệp là gì? Chính là tất cả mọi tư tưởng hành vi thiện ác của chúng ta, do nghiệp sinh ra quả thiện và quả ác, phàm phu có nghiệp nên trí biến thành thức, thánh nhân không có nghiệp nên thức chuyển thành trí. Tất cả những chướng ngại mà chúng ta phải chịu trong đời này đều là nghiệp chướng, cho nên tu hành chính là tiêu nghiệp chướng.
Đại sĩ Duy Ma nói: Thân này như bóng ảnh. Do nghiệp duyên mà sinh.
Có người từng hỏi tôi: "Có phải tăng một phần trí tuệ thì tiêu một phần nghiệp chướng không? Hay là một khi thấy Phật tính thì nghiệp chướng hoàn toàn tiêu tan?" Tôi cho rằng như vầy: "Cả hai đều đúng".
Một, nghiệp chướng có thể tiêu dần, ví dụ như ngộ nhỏ thì tiêu nhỏ, ngộ lớn thì tiêu lớn, trí tuệ dần tăng, nghiệp chướng dần tiêu. (Tiêu dần tập khí nhiều đời.)
Hai, nghiệp chướng tiêu tan hoàn toàn trong chốc lát, ví dụ như nghiệp nhiều đời, giống như cỏ dại mọc um tùm trên núi, nhưng khi gặp lửa trí tuệ, liền bị thiêu rụi hết trong chốc lát, giống như đốn ngộ vậy.
Lại như thấy chân như, tối tăm hóa quang minh, y áo nhơ bẩn trăm năm, sáng nay được thanh tịnh. Người đốn ngộ biết rằng, vô minh chính là bồ đề.
Làm sao biết nghiệp chướng đã tiêu diệt hoàn toàn? Tôi đáp: "Thân khẩu ý thanh tịnh, tam tế nhất như, hoành biến thập phương, liễu vô chướng ngại, là thế đó."
Thơ:
Tại sao sinh ra trong cõi Ta Bà này Chỉ vì đây là dòng sông nghiệp chướng rộng lớn Bỗng nhiên nổi lên Bỗng nhiên chìm xuống Đây chính là nhân duyên của lục đạo luân hồi
Một lòng tu đạo muốn quay đầu Thì phải trả nghiệp Như Phật đã dạy tiêu nghiệp chướng Tập khí nếu tiêu tan chân như sẽ hiện ra.
62. Cái gì là Phật pháp
Nhớ lại khi tôi còn trẻ, khoảng hai mươi tuổi, tôi đến nhà cư sĩ Lý Bỉnh Nam (Tuyết Lư), hỏi ngài về Phật pháp. Lúc đó tôi đang cầm trên tay mấy quyển kinh, trong đó có một quyển chính là cuốn "Cái gì là Phật pháp" do tiến sĩ Trương Trừng Cơ viết. (Tiến sĩ Trương Trừng Cơ là người dịch "Truyện Milarepa", lúc đó ông ở bang Pennsylvania, Mỹ.)
Lão cư sĩ Lý nhìn quyển sách của tiến sĩ Trương trên tay tôi, hỏi lại tôi: "Tôi muốn hỏi tiến sĩ Trương Trừng Cơ, Phật pháp là gì?"
Vào thời điểm đó, tôi không hiểu ý của lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, ngây người đứng đó, không biết phải làm sao. Có thể nói là không hiểu, bối rối.
Bây giờ tôi nói cho mọi người biết, "Phật pháp là gì?" Tôi cho mọi người câu trả lời: "Cái gì là Phật pháp, tất cả mọi thứ đều là Phật pháp!"
Bây giờ tôi biết rằng Thiền, Tịnh, Mật, Luật [bốn dòng phái Phật giáo] đều là Phật pháp, không cần nghi ngờ, cái gì là chính, cái gì là tà, cái gì có thể tu, cái gì không thể tu.
Kinh nói: "Tâm, Phật, chúng sinh, ba cái này không có sự khác biệt."
Bất kỳ pháp môn nào đều không nằm ngoài nguồn tâm này, tâm này tuy không có hình tướng, nhưng ứng vật hiện hình, đại nghĩa của Phật pháp đều là như vậy......
Có người phê bình Mật giáo là tà, hoặc phê bình Thiền tông, hoặc phê bình Tịnh độ, hoặc phê bình Luật tông, đều là họ không hiểu "cái gì không phải là Phật pháp".
Câu "cái gì không phải là Phật pháp" chính là trí tuệ "nhất thiết trí". Bây giờ, bảo tôi nói thế nào?......
Tôi viết thơ vậy!
Không cần tán dương hay ca tụng Với bất kỳ ai bất kỳ việc gì đều im lặng Bản thân tôi vốn dĩ đã thanh tịnh Cuối cùng tôi đã biết Căn bản không có đúng, cũng căn bản không có sai
Sự khác biệt giữa người và động vật Toàn bộ nằm ở sự tạo tác của tâm Nếu hoàn toàn không có tạo tác Đó chính là giải thoát Có lẽ bạn vẫn chưa hiểu những gì tôi nói Nhưng mong rằng có một ngày lĩnh ngộ như vậy Cuối cùng xuất hiện một khoảnh khắc ngọt ngào tương ứng.
63. Bất động địa
Có một lần, trong khi nhập tam muội, tất cả đều không có kiến văn giác tri [tổng hợp cái thấy, cái nghe, cái cảm nhận và cái biết của sáu giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tạo nên], không có ý niệm phân biệt, rời khỏi tất cả cảnh tướng, rời khỏi tất cả vọng niệm, rời khỏi tất cả chấp trước, lúc này vô lượng, vô tế, vô biên, tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật đều không thể đạt tới, rời khỏi tất cả ồn ào tranh chấp, tướng tịch diệt hiện tiền.
Điều này giống như lục thông đã đầy đủ, tâm tự tại như như, tu tam muội nhập diệt tận định, trong tam muội này, tâm cũng không, ký ức cũng không, suy tưởng cũng không, phân biệt cũng không, hoàn toàn là trạng thái dừng thở.
Đây chính là bất động địa.
Bất động địa là xả bỏ tất cả công dụng, nhưng làm tất cả "vô công dụng pháp", điều này nói thế nào nhỉ? Cũng tức là thân khẩu ý nghiệp niệm hoàn toàn dừng lại, nhưng, chỉ trụ ở "vô vi nhi vi" [làm mà không vì gì cả].
Ví dụ như thế này: Trong giấc mơ, thấy đệ tử Chân Phật gặp tai nạn xe hơi, bạn kịp thời chìa tay ra, hóa giải tai nạn. Trong giấc mơ, thấy đệ tử Chân Phật rơi xuống nước, bạn chìa tay cứu họ, hóa giải chết đuối. Trong giấc mơ, thấy đệ tử Chân Phật đọa vào tam đồ, bạn kịp thời ngăn chặn, hóa giải sự sa đọa. Trong giấc mơ, thấy đệ tử Chân Phật có tai ương đao thương, bạn kịp thời cứu họ, hóa giải nạn chết.
Trong tam muội, có đại dũng mãnh, có đại phương tiện, có đại từ bi, ra khỏi tam muội, bạn vẫn là bạn, tất cả mọi việc làm đều dừng, mọi công dụng như có như không, nói là có thì lại giống như không, nói là không thì lại giống như có. Đây chính là bất động địa.
Viết một bài thơ:
Dù vô biên vô tận như hư không Tâm cũng tịch diệt như chẳng có Lúc này bất động cũng không mong cầu Nhưng vẫn còn một ngọn đèn Toả dòng chảy ánh sáng
Bất động địa tuy bất động Ý nghĩa thực sự chẳng phải sự im lặng như tờ Mà là như có như không Không nhất định phải có vận hành Vô vi nhi vi chân đế ở trong đó Ánh mặt trời chiếu khắp bốn phương Nước tự nhiên uống Không khí cũng không ngừng du hành.
64. Cảnh giác với ma sắc
Trong một lần thần hành. Tôi đến một ngôi chùa, tất cả các tăng sĩ trong ngôi chùa này đều bị một yêu nữ mỹ miều quyến rũ, đã phạm giới tà dâm, một ngôi chùa thanh tịnh đã trở nên ô trược tối tăm, hầu như tất cả các tăng sĩ đều sa vào cái bẫy sắc dục của nàng.
Nhớ lại hồi nhỏ tôi đã xem bộ phim "Hỏa thiêu Hồng Liên Tự", cũng không khác gì tình cảnh của ngôi chùa này. Khi gặp yêu nữ, tôi dùng pháp lực, biến người phụ nữ kiều diễm thành một vũng máu, tôi ra sức niệm chú Chuẩn Đề, rồi tung ấn Chuẩn Đề ra, tiếp theo niệm lục tự đại minh chân ngôn, biến vũng máu tanh hôi thành nước trong, khi nước đã trong thì ngôi chùa thanh tịnh trở lại, các tăng sĩ thanh tịnh trở lại.
Trong lúc thần hành thấy việc này, trong lòng tôi vô cùng cảnh giác. Sau đó, tôi lại gặp một vị thiên nữ, tôi kể việc này cho vị thiên nữ đó nghe.
Điều không ngờ tới đã xảy ra, vị thiên nữ này đột nhiên mặc trang phục trong suốt, thân thể mịn màng, mặt trắng như hoa sen, hương thơm thoang thoảng, đôi mắt quyến rũ như tơ áp sát vào người tôi. Tôi vừa thấy liền vô cùng kinh hãi, lập tức tỉnh giác và xuất định.
Sau khi xuất định, tôi suy nghĩ kỹ: "Chỉ cần không làm ô nhiễm tự tính, tức là tu hành, đừng tự lừa dối, tức là tu hành, đại dụng hiện tiền, tức là pháp vô đẳng đẳng." "Khi cảnh giới như vậy hiện tiền, chỉ cần khởi cái tâm là sẽ điên đảo lớn. Cần phải vô tâm, vô tâm thì không phạm giới."
Viết một bài thơ:
Như cánh buồm giữa biển khơi Nhờ gió nhờ nước mà đi tới Trong nhịp điệu cân bằng Gió và nước đều là ân huệ của chiếc thuyền nhỏ
Nhưng nếu mất đi sức mạnh cân bằng Thế giới nhỏ bé này biến hóa Tâm vừa động Thì đáng sợ biết bao Một niệm sai lệch là khác biệt
Cùng một gió cùng một nước Sắc không, không sắc đều như nhau Chỉ xem cách bạn vận hành trong đó.
65. Sư tỉ Chân Ngộ và pháp sư Liên Liên
Trong cuốn sách "Nhớ mưa bụi ở Tây Thành", tôi nhớ lại hai vị anh hùng vô danh, những người làm việc thầm lặng và ít nói, hai vị này là sư tỉ Chân Ngộ và pháp sư Liên Liên.
Sư tỉ Chân Ngộ là người phụ trách trường học tiếng Trung tại Seattle Lôi Tạng Tự. Khi tôi thuyết pháp, phần lớn thời gian cô ấy không có mặt. Vì cô ấy phải chăm sóc tất cả những đứa trẻ của người nghe pháp, dạy chúng tiếng Trung, hướng dẫn và giáo dục chúng, ngay cả trong đại pháp hội cũng không có ngoại lệ. Một đệ tử rất nghiêm túc, hy sinh bản thân mình.
Tôi đã quên mất tên thật của cô ấy, tại sao lại gọi là Chân Ngộ?
Nhưng "chân ngộ" này, là không làm ô nhiễm tự tính, lại không cần xả bỏ tâm chúng sinh, chính là người "chân ngộ".
Ngoài ra, tại Chân Phật Mật Uyển có một vị pháp sư Liên Liên, cô ấy chưa bao giờ thể hiện bản thân, chịu đựng rất nhiều uất ức, nhưng chưa bao giờ than vãn. Ít nói. Bạn sẽ không cảm nhận được sự hiện diện của cô ấy, nhưng, cô ấy thực sự đang làm việc, một vị pháp sư như vậy không có tạo tác gì để sinh ra, cũng không có gì là đúng [nghĩa là không còn vướng mắc vào sự sinh diệt (nhân quả), cũng không còn phân biệt đúng sai (phải trái)]** **đây cũng là một loại công phu trong tu hành, giữ vững bổn phận, chịu đựng áp bức và lăng nhục.
Đây là hai vị không thể hiện bản thân. (Tại Seattle Lôi Tạng Tự, những đệ tử như vậy cũng không ít, ví dụ như Khiết Linh cũng thế.)
Hãy nghĩ về ba câu tôi viết, cùng nhau phấn đấu: Không có người làm. Không có người chịu. Trong nhân gian, chẳng qua là nơi chúng sinh vất vả rèn luyện.
Viết một bài thơ:
Cỏ bên đường chưa bao giờ thể hiện mình Nhưng nó luôn là một phần của thế giới xanh tươi Không có tiếng hát của sóng gợn nhẹ nhàng Giữ vững chừng mực
Chưa từng có ồn ào hay bất bình Dù bị xéo đạp vẫn cương nghị vươn thẳng Không thấy nó lớn lên Nhưng có sức sống kiên cường
Tôi sẽ gia trì Tự nhiên mà tương ứng Như mưa ân huệ từ trên trời rơi xuống.
66. Đi sâu vào "tự tịnh ý mình"
Tại hồ Diệp Tử hơn ba năm, trong tam muội, khi bản thân biết ý niệm như hư không, lúc đó không có cái gọi là vọng niệm cũng như mọi sự chấp giữ và xả bỏ, lúc này dường như đều không còn chướng ngại, mười phương cũng không trở ngại, cảnh giới này như tịch diệt.
Cảnh giới tịch diệt căn bản không phải là có hay không có tướng, căn bản không có trong ngoài, cũng căn bản không có chính tà, không có gì trang nghiêm hay không trang nghiêm, cũng không có gì xấu xí hay không xấu xí, cái gì là vô thủy vô minh cũng không còn nữa.
Có thể nói là xa rời tất cả những gì có hình tướng và có sự mong cầu, tất cả những phiền não không thực tế cũng như hư không, không có dụng công, cũng không có tu pháp, không có vận dụng tâm lực, chỉ là tự nhiên như vậy mà không có chướng ngại gì.
Nếu nói trạng thái này giống như đất gỗ đá, hoàn toàn vô tri vô giác, thì cũng có vẻ như thế, nhưng không hoàn toàn là thế, vì vẫn sẽ tiếp xúc với cảnh giới, cũng sẽ gặp duyên đến thì sẽ khác với đất gỗ đá, chỉ là khi tiếp xúc với cảnh và gặp duyên thì biết như mơ như huyễn, tâm có thể tự chủ mà bất động, không trụ vào các chấp trước, như thể tất cả sạch trơn, vô chướng vô ngại, không có cái gọi là ô nhiễm hay không ô nhiễm.
Đoạn văn trên đây, bản thân tôi nhận định đây chính là "tự tịnh ý mình".
Nhưng, người ngoài có lẽ sẽ cho rằng Lư Thắng Ngạn tôi chẳng qua chỉ là "mặc chiếu tà thiền" [phê phán một số người tu thiền mặc chiếu theo cách hiểu sai lầm, chỉ thụ động ngồi yên mà không phát khởi trí tuệ bát nhã để kiến tính, giác ngộ triệt để] hoặc "nhập ngoan không" [cố chấp vào không] mà thôi, chẳng có cái quái gì!
Không có cái quái gì thì không có gì, tôi cũng không bận tâm nữa!
Viết một bài thơ:
Hoa nở hoa tàn chẳng cần bận tâm Sinh sinh tử tử tử tử sinh sinh Không giảm không tăng Đây chính là ngọn đèn tâm tam muội
Thế giới này là đèn neon Tôi đã từng ca hát Tôi đã từng khiêu vũ Cũng đã đi qua bùn lầy của bão tố Không quan tâm yêu hay ghét Không quan tâm tình hay thù Chỉ là đi theo bước chân của gió Biết ơn ân huệ của mười phương ba đời.
67. Đi sâu vào "mọi ác không làm"
Tại hồ Diệp Tử ẩn cư hơn ba năm, vô ngữ (khẩu thanh tịnh), vô nhân (thân thanh tịnh), vô ngã (ý thanh tịnh), nhập trong tam muội (tự tịnh ý mình).
Đọc kinh thư, đọc đến chương "Chăn trâu". Ngày xưa, thiền sư Vy Sơn hỏi Lãn An: "Ngươi trong mười hai thời, nên làm việc gì?" Lãn An đáp: "Chăn trâu." Thiền sư Vy Sơn hỏi: "Ngươi chăn trâu như thế nào?" Lãn An đáp: "Hễ trâu đi vào cỏ, liền dắt mũi kéo về." Thiền sư Vy Sơn khen ngợi: "Ngươi quả thật là người chăn trâu!" Chương "Chăn trâu" này đến đây là hết.
Chỉ là mấy câu hỏi đáp đơn giản, nhưng đã gợi ý cho người học Phật về đạo lý "mọi ác không làm", nếu là điều thiện, có thể để con trâu đi theo, nếu là điều ác, liền nắm lấy mũi trâu kéo lại, không để con trâu tùy tiện, kéo con trâu trở về. Nếu cứ để con trâu tự do đi, ác niệm liên tục không dứt, chướng ngại sẽ càng ngày càng lớn.
Thứ gọi là ác niệm cũng đến theo nhân duyên, lung tung đảo lộn, hỗn loạn, hoặc khởi tâm tham, hoặc khởi sân giận, hoặc ngu si vô minh, hoặc vui theo các hành vi ác. Khi cảnh duyên này xuất hiện cần phải cảnh giác nhất. Có thể phân biệt phải trái, hiểu thiện ác, biết dừng lại, giống như chăn trâu vậy, kéo lại, đó chính là "mọi ác không làm".
Chăn trâu tuy đơn giản, nhưng cũng phải lâu dài mới thuần thục! Đây chính là tư lương để thành Phật ngộ đạo.
Nói với mọi người: Tiền của người khác đừng cướp. Vợ của người khác đừng động đến. Địa vị của người khác đừng tranh giành. ..................
Viết một bài thơ ngắn:
Thiện và ác đều thuộc về một niệm Chân giơ lên và chân hạ xuống Bạn cần phải thấu hiểu kỹ càng Điều khiển một cách thuần thục
Hãy diệu quán chiếu thật tốt Không cần quá nhiều lời khuyên can ngăn Kịp thời biết dừng và đi trong cuộc sống.
68. Đi sâu vào "làm mọi điều thiện"
Tôi thấu hiểu rằng "mọi ác không làm, làm mọi điều thiện, tự tịnh ý mình, là lời Phật dạy" là một chứ không phải ba, gộp lại là một, miễn cưỡng phân chia thì mới thành ba.
Giống như nhập thế và xuất thế vậy, thuận cảnh nghịch cảnh cũng vậy, không khởi cũng không diệt cũng vậy, là một, cũng không phải là hai, chỉ là miễn cưỡng phân chia mà thôi.
Như thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh trong Mật giáo cũng vậy, gộp lại là một, chi tiết hóa mới thành ba. Tâm, Phật, chúng sinh là một; Phật, pháp, tăng cũng là một; giới, định, huệ cũng là một; sinh, tử là một; khổ, vui là một; yên tĩnh, huyên náo là một; phiền não, bồ đề là một.
Nói như vậy, "làm mọi điều thiện" tức là hành giả trong bốn oai nghi, không có tính thời gian, trong dòng chảy xiết của nhân sinh, trong như mơ như huyễn, trong sự không buông lung, trong bụi bặm trần lao thế gian, không được quên mà phụng hành.
Ngày thường tôi đặt tâm mình vào chỗ tịch diệt, nếu gặp "duyên khởi cảnh hiện", thì tại chỗ tịch diệt làm công phu "làm mọi điều thiện", tôi làm công phu trong tĩnh, trong huyên náo cũng làm công phu, tất cả đều là "mọi ác không làm, làm mọi điều thiện, tự tịnh ý mình".
Tuy như vậy, ghi nhớ: Theo dòng nhận biết Phật tính. Không vui cũng không lo. Tùy duyên ứng cảm không chỗ nào không chu đáo. Mà thường ở nơi tòa bồ đề này.
Làm tất cả điều thiện, cũng không tự cho là đang làm tất cả điều thiện. Không có người cho, không có người nhận, không có vật bố thí. Tôi làm mọi điều thiện này chỉ là Phật tính chân như, tùy duyên tùy hỷ, thành tựu tất cả sự pháp, như mộng như huyễn, trống rỗng bao la.
"Mọi ác không làm, làm mọi điều thiện, tự tịnh ý mình, là lời Phật dạy" mới biết tam giới vạn pháp tất cả vốn không, thật là an lạc vui sướng. Không bỏ Phật pháp, tùy thuận thế gian.
Thơ:
Yên nghỉ trong tam muội Không có tụ họp cũng không có chia ly Ở trong nhà mà cũng ở ngoài nhà Tưởng niệm thuần tịnh không gì sánh.
Yên nghỉ trong tam muội Phụng hành mọi điều thiện Đây là lời thì thầm của tôi với nhân gian.
69. Mong đợi có giấc mơ đẹp
Nhớ hồi nhỏ, khi sắp ngủ, mẹ thường nói: "Hãy có một giấc mơ đẹp nhé!" Lớn lên, khi chúc bạn thân ngủ ngon, cũng thêm một câu: "Chúc bạn có một giấc mơ đẹp!" Sau khi tu hành, tôi nói với các thánh đệ tử: "Đêm đêm trong mơ bình an cát tường!"
Ban đêm là mơ, người thấu triệt điều này, ban ngày há chẳng phải cũng là mơ sao? Mơ vốn không có tướng nhất định, tâm chính là đại huyễn sư, thân thể chính là đại huyễn thành, trong mơ, thế giới hằng hà sa biến đổi mãi, nhân vật hoán đổi mãi, ví như Trang
Bậc thầy nói: Thanh Văn La Hán sợ nghiệp mộng huyễn, căn bản "nhập tịch" cho xong. Bồ Tát nhận biết pháp huyễn, biết thể huyễn, trong mộng huyễn thành tựu công đức "mộng huyễn", độ một số chúng sinh trong mộng huyễn, thoát khỏi ngục huyễn.
Phật là bậc đại sư mộng huyễn, chuyển đại pháp luân huyễn hóa, thành tựu Niết Bàn đại huyễn mộng, bất sinh bất diệt, thành tựu tịnh thổ thanh tịnh.
Tôi mong mỏi mọi người đến Ma Ha Song Liên Trì, nơi đây ngày đêm đều là mộng đẹp, thật là tịnh thổ thanh tịnh an lạc. Tại tịnh thổ, không có ác mộng, ngày cát tường, đêm cát tường, thời thời cát tường.
Viết một bài thơ:
Ban ngày tôi tu hành và viết lách Ban đêm tôi ẩn mình trong mộng huyễn Mong đợi những giấc mơ ngọt ngào Dù khi thức giấc cũng chẳng còn gì nữa.
Dù giấc mơ huyễn là không Nhưng chúng ta vẫn có hy vọng mong đợi trong đó Sống trong thế giới Ta Bà này Tôi từng yêu thương mọi người Mới coi như có ý nghĩa trong đó
Tôi cầu nguyện mọi người đều có một giấc mơ đẹp Để nhân gian mãi mãi không còn đau thương.
70. Tụng kinh và không tụng kinh
Ban đầu học Phật, tôi cũng học tụng kinh sám hối, những người đầu tiên dạy tụng kinh là pháp sư Thiện Tứ ở chùa Từ Âm và pháp sư Thượng Lâm ở chùa Từ Minh.
Tại Seattle Lôi Tạng Tự ở Hoa Kỳ, người truyền dạy khóa tụng kinh sám là Thượng sư Thường Nhân, rất nhiều phương pháp tụng kinh sám đều do Thượng sư Thường Nhân dạy.
Cá nhân tôi đã học qua kinh sám, thời kỳ đầu cũng giúp người ta tụng kinh lễ sám, tế lễ trời, siêu độ cầu phúc, bản thân tôi không phản đối pháp tụng kinh lễ sám, trong nghi quỹ pháp hội cũng có tụng kinh tụng chú, lập bàn vãng sinh, lập bàn trường sinh, đèn quang minh, lập bàn Thái Tuế với đủ các loại pháp sám hối.
Từng có người nói rằng người học Phật cầm kinh Phật trước tượng Phật mà tụng giống như con vẹt chỉ học lời người nói, không hiểu ý người ta. Kinh Phật truyền tải ý Phật, nếu chỉ tụng mà không hiểu được ý Phật, thì cũng chỉ là học lời người nói mà thôi, cho nên tụng kinh không có ích gì.
Người nói những lời này thực ra cũng có lý, không phải hoàn toàn vô lý, nhưng chúng ta nghe xong rồi liền không tụng kinh nữa, cũng không lễ sám nữa sao?
Bây giờ tôi nói rõ ràng cho mọi người biết, khi tụng kinh phải thâm nhập vào nghĩa lý kinh điển, khi lễ sám phải hiểu rõ nghĩa của sám. Từ nghĩa lý của kinh sám, dùng tâm để thấu hiểu Phật lý, kết quả cuối cùng của tụng kinh lễ sám là:
Siêu việt văn tự. Siêu việt ngôn ngữ. Ngộ lý liễu nghĩa. (chí lý vong ngôn) Khởi phát bồ đề.
[Con đường dẫn đến sự giác ngộ tối thượng không nằm ở việc phân tích chữ nghĩa hay lời nói suông, mà nằm ở sự chứng nghiệm của tâm thức.]
Tôi viết thơ:
Tụng kinh không phải là tụng bằng miệng Tụng miệng chỉ là trẻ con đọc thuộc sách Tụng kinh là thâm nhập kinh tạng Trong bình minh thấy được viên ngọc phương Đông
Học tập có phương tiện Ngôn ngữ văn tự đương nhiên không phải chân như Người ngộ sẽ quên luôn lời nói Tự bản thân ta phải đánh giá thật tốt
Nhưng nếu không có kinh sách Làm sao hiểu được các bậc đại sư qua các đời.
71. Nhất vị du già chính là tịnh thổ
Mật giáo Đại Thủ Ấn có bốn cấp bậc:
- Chuyên nhất du già.
- Ly hý du già.
- Nhất vị du già.
- Vô tu du già.
Tôi đã từng nói, đến cảnh giới Nhất vị du già, nhìn thấy chỗ ở cũng như cõi Phật thanh tịnh, nhìn thấy mọi người đều là quyến thuộc thánh hiền, nghe thấy âm thanh đều là chú âm, lời nói đàm thoại toàn là niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.
Đến Nhất vị du già, thức ăn tự nhiên sinh ra pháp vị, mũi ngửi toàn là diệu hương, thân cảm nhận vô cùng dễ chịu, y phục như thiên nhân. Nói sâu thêm một bước nữa, trăm vị ẩm thực đều là thiền định, tất cả hành chỉ đều ở trong tam muội, như cõi Phật Cực Lạc vậy.
Đạt được Nhất vị du già thì ăn, mặc, ở, đi, ngồi, nằm liên tục an lạc, rốt ráo không gián đoạn.
Tất cả phiền não về thân: đói, khát, lạnh, nóng, bị thương, bị giết hại. Tất cả phiền não về tâm: thị phi, được mất, tham, sân, si. Trong Nhất vị du già, tất cả đều biến mất không còn.
Kinh điển ấn chứng như sau: "Muốn đắc tịnh thổ, hãy thanh tịnh tâm mình, tùy theo tâm thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh, nếu tâm thanh tịnh, nơi nào ở cũng đều là tịnh thổ." Lại nói: "Tịnh và uế ở trong tâm, không ở nơi quốc thổ."
Tôi viết một bài thơ:
Chỉ cần thắp lên một ngọn đèn Tất cả bóng tối tự nhiên tan biến Tương ứng với Nhất vị Không Hành Mẫu liền xướng tụng danh hiệu ta
Chỗ ở là do chính ta lựa chọn Y phục là do chính ta lựa chọn Thức ăn là do chính ta lựa chọn Hành chỉ là do chính ta lựa chọn
Hỷ lạc vi diệu đầy ắp Biến hóa tự tại đầy ắp Nhất vị thần thánh trong tam muội.
72. Một lời im lặng một tiếng sấm
Ngày xưa. Phật Thích Ca Mâu Ni ở nước Ma Kiệt Đề, trong hai mươi mốt ngày đóng cửa thất, không nói một lời. Tại thành Tỳ Da Ly có ba mươi hai vị Bồ Tát, mỗi vị đều nói về pháp môn Bất nhị. Chỉ riêng Đại sĩ Duy Ma Cật không nói một lời, Bồ Tát Văn Thù rất tán thán việc Đại sĩ Duy Ma Cật không nói một lời. Tôn giả Tu Bồ Đề ngồi thiền một mình trong hang đá, cũng không lời không tiếng, không nói một lời. (Thích Đề Hoàn Nhân thấy Tôn giả Tu Bồ Đề trong hang động không nói một lời, liền rải hoa trời cúng dường Tu Bồ Đề, chỉ rải hoa trời như mưa, cũng không nói một lời.) Tổ sư Đạt Ma ở chùa Thiếu Lâm quay mặt vào tường chín năm, cũng không nói một lời. Qua các đời có rất nhiều vị Tổ sư, người không nói lời rất nhiều.
Từng có người hỏi tôi: "Tại sao người không nói lời lại nhiều?" Tôi đáp: "Người hữu duyên ít, người vô duyên nhiều, cho nên lời không nhiều." Tôi lại nói: "Lời không chạm đến nghĩa lý, cho nên không nói một lời."
Thánh nhân Khổng Tử vốn cũng không muốn nói nhiều, cho nên cuối cùng chỉ nói "Trung Thứ mà thôi"! [Triết lý sống cao nhất và trọn vẹn nhất của Khổng Tử, sau tất cả những lời dạy dỗ và kinh điển đồ sộ, có thể được gói gọn trong hai nguyên tắc cốt lõi: Trung (hết lòng với chính mình) và Thứ (lòng vị tha).]
Thánh nhân Lão Tử vốn cũng không muốn nói nhiều, cho nên cuối cùng chỉ nói "vô vi"! [Vô vi là trạng thái hành động tinh tế nhất, nơi mà con người hòa hợp hoàn toàn với Đạo. Đó là sự khiêm tốn, tĩnh lặng, và thuận theo dòng chảy của vũ trụ.]
Thánh nhân Trang Tử không muốn nói nhiều lời, chỉ tám chữ "phi ngôn phi mặc, nghĩa hữu sở cực"! [Đạo nằm ngoài sự tranh biện của lời nói và cũng không thể đạt được chỉ bằng sự im lặng thụ động. Chân lý tối hậu là cái mà tâm hồn phải trực tiếp cảm nhận và đạt đến sự viên mãn tuyệt đối, không thể diễn tả bằng phương tiện phàm tục.]
Tôi bế quan ở hồ Diệp Tử, không có gì để nói, chỉ có viết lách, mục đích chính của tôi chỉ là dạy bạn: "Người trước khi sinh ở đâu?" "Người sau khi chết đi về đâu?" (Đây chính là sinh tử đại sự, chỉ nói với người hữu duyên.)
Thơ:
Tắt ngọn đèn đi Bạn sẽ hiểu bóng tối của chính mình Người không nói một lời Có lẽ là người thấu hiểu rõ ràng nhất
Thời gian ngay trước mắt Im lặng đối diện Chỉ cần quá khứ thông suốt với tương lai Là rõ ràng rồi Bài thơ ngắn này nếu bạn hiểu rồi Tịnh thổ Phật quốc chẳng xa xôi.
73. Mấy lần đến Vô tưởng thiên
Tại hồ Diệp Tử tham thiền tĩnh tọa, từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, mấy lần tôi đã lên đến Vô tưởng thiên, tầng trời này đã gần Ngũ bất hoàn thiên (Tịnh cư thiên), sau đó lại từ Vô tưởng thiên thoái lui về Sơ thiền, rồi ra khỏi định cảnh.
Thực ra khi tôi đến Vô tưởng thiên thì đã rất hoan hỷ rồi. Ở Vô tưởng thiên, dường như tất cả vô minh phiền não hôn trầm tán loạn đều biến mất, trong chốc lát hoàn toàn trống rỗng, mặt đất chìm xuống bằng phẳng, ngay cả hư không cũng không còn nữa, cảnh giới ấy không phải hiện tượng nào có thể so sánh được.
Trong "Kinh Lăng Nghiêm" có nói: Bất tri sắc thân thế giới. Không hề nghĩ đến bất kỳ sắc thân nào, ngay cả thế giới Ta Bà bên ngoài và tất cả vạn vật đều không tưởng, dường như ngay cả diệu minh chân tâm cũng gần như không còn, bồ đề hay phiền não đều không có, cảnh giới này tuy hoan hỷ, rất tốt, nhưng dường như không mấy đúng, yên tĩnh, trần trùi trụi, tất cả động tướng không sinh.
Tôi nghĩ đến một bài kệ:
Đại Thông Trí Thắng Phật. Mười kiếp ngồi đạo tràng. Phật pháp không hiện tiền. Không thể thành Phật đạo.
Tôi học Mật giáo, Đạo pháp, Thiền tông, đều có thể đến Vô tưởng thiên, nhưng đến cảnh giới này, rất có thể sẽ cho là Niết Bàn rồi. Không mộng, không tưởng, không nghe, không thấy, vì vậy, tôi lại từ Vô tưởng thiên thoái lui ra.
Tôi tự biết "tam muội" tuyệt không phải tĩnh vô nhất vật, cũng tuyệt không phải động mà tán loạn, động tĩnh đều là "tam muội", tôi không nghi sinh, cũng không nghi tử, sinh tử đều "tam muội", trăm nghìn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa, chính là phải nhận thức được căn nguyên nguồn gốc, nhận thức được căn nguyên nguồn gốc mới có thể lật trời lật đất.
Viết một bài thơ:
Vô tưởng thiên tựa như không có vật gì Vô tưởng thiên rất giống với sự trống rỗng tột cùng Nhưng tôi đã thoái lui ra Vì ở đó không thể đối phó với cơn bão nội tâm của mình
Vô tưởng thiên chẳng có gì cả Hoan hỷ thì hoan hỷ Tuy không ai đến gây chướng ngại Nhưng cũng không thể ứng dụng vô cùng Viết văn cũng không thể có nguồn cảm hứng tuôn trào.
74. Cảm ơn Thượng sư Liên Hương
Nhìn lại một cuộc đời không có những mối lo toan, tôi phải cảm ơn một người, đó chính là bạn đạo của tôi - Lư Lệ Hương (Thượng sư Liên Hương).
Tôi kết hôn năm 30 tuổi, khi đó tôi là kỹ sư đo đạc (quân nhân), cuộc sống không dư dả, nhưng cô ấy rất giản dị, không cần đám cưới linh đình, vì muốn tiết kiệm nên không tổ chức tiệc mời khách, nhưng cô ấy rất bình thản, cũng chẳng than phiền gì.
Một năm sau khi kết hôn, Phật Thanh ra đời, hơn ba năm sau, Phật Kỳ chào đời, hai đứa trẻ này hoàn toàn do mẹ chúng nuôi dưỡng, cô ấy có vẻ đẹp của người mẹ. Trong khi tôi bận rộn với việc hỏi việc, xem phong thủy, viết lách và học Phật, cô ấy chăm sóc con cái và lo liệu mọi sinh hoạt đời sống của chúng tôi.
Cuộc đời tôi thường xuyên phải chuyển nhà, Thượng sư Liên Hương xử lý mọi việc lớn nhỏ một cách tận tụy và khéo léo. Tôi chuyên tâm vào Phật sự, còn cô ấy thì lo toàn diện mọi việc. Nghĩ lại, nỗi vất vả của cô ấy như một ngọn núi lớn, còn tôi chỉ là một ngọn núi nhỏ.
Năm 38 tuổi, tôi sang Mỹ sáng lập Chân Phật Tông. Tôi nói, nếu không có Thượng sư Liên Hương thì làm gì có Chân Phật Tông. Tôi có khổ, cô ấy cùng tôi chịu đựng. Phật Thanh, Phật Kỳ đều do cô ấy dạy dỗ, việc nhà ngăn nắp có thứ tự. Chính cô ấy đã dẫn dắt Phật Thanh đến với học vị tiến sĩ, đưa Phật Kỳ đến tốt nghiệp đại học. Khi tôi phải chịu đựng tủi nhục, cô ấy chính là người duy nhất tôi có thể tâm sự.
Tôi nói, tôi không hiểu về nhân sự, tài chính, hành chính, chỉ biết tu hành. Toàn bộ hoạt động của Chân Phật Tông thực ra đều do Thượng sư Liên Hương gánh vác, do Thượng sư Liên Hương điều hành, tôi chỉ hướng dẫn sơ qua mà thôi. Thực tế, cô ấy cũng đã nhìn thấu danh lợi. Cái khổ của tôi tính ra nhỏ. Cái khổ của cô ấy tính ra lớn.
Sức chống đỡ của Thượng sư Liên Hương thật lớn lao. Tôi nói, cô ấy có vẻ đẹp của người mẹ, vẻ đẹp của sự kiên nhẫn, vẻ đẹp của cách ứng xử. Tôi giao hết mọi việc vụn vặt cho cô ấy làm, cô ấy cũng không than vãn. Tôi không phải lo nghĩ về hậu phương là nhờ vào Thượng sư Liên Hương. Tôi có thể ẩn cư, nhập thất một cách an tâm cũng chính là nhờ Thượng sư Liên Hương giữ vững đại cục.
Viết một bài thơ cảm ơn:
Có thể toàn tâm dấn thân tu trì Tất cả nhờ vào sự hỗ trợ của Thượng sư Liên Hương Sở dĩ có thể chuyên tâm Là nhờ sự trợ giúp to lớn của Thượng sư Liên Hương Khi các bạn nhìn tôi Hãy nhìn cả phía sau tôi Xem ai là người đã tận tâm cống hiến.
75. Thơ về chim hồng bay giẫm bùn tuyết
[Hình ảnh chim hồng bay giẫm bùn tuyết iên quan đến bài thơ "Ở Miễn Trì nhớ Tử Do" của Tô Đông Pha.]
Ngày trước tôi tưởng cuộc đời sẽ rất dài rất dài Chẳng bao giờ nghi ngờ xuân hạ thu đông có dừng lại hay không Cứ thế yêu thương chúng sinh vô hạn Phát một lời nguyện đời đời kiếp kiếp chỉ vì lý do như thế
Tôi tưởng cuộc đời sẽ là đóa hoa nở mãi Sau này cuối cùng mới hiểu ngày tháng rất hữu hạn Khi hoa hồng nở rực rỡ nhất Chính là lúc tàn úa đã đến
Tôi hôn lên mảnh đất này Với bước chân đầy buồn thương lưu luyến không muốn rời xa Bây giờ đã biết rồi Lữ khách không muốn đi cũng phải đi
Nhân gian chỉ là quán trọ ngắn ngủi Dấu chân cũng sẽ hoang vu mà không thấy Tôi chỉ là một chú hồng nhạn Chỉ còn lại những nghĩ suy
Im lặng khiến tư tưởng người ta trưởng thành hơn Hóa ra chỉ là hồng nhạn giẫm bùn tuyết Duyên phận như mơ cũng như huyễn Vô thường khiến tôi hoảng hốt bất an
Ngày tháng trôi qua như phễu cát Xuyên qua bùn tuyết hay sa mạc Thanh xuân cứ thế ra đi không trở lại Duyên phận ngắn ngủi trong chốc lát ấy cứ thế bay đi.
Xin dành bài thơ này để tưởng niệm 20 năm thời gian của "Nhớ mưa bụi ở Tây Thành". Người, thời gian, việc, địa điểm, sự vật, đều khiến tôi xúc cảm không thể tự kìm nén, chúc phúc mọi người đạt đến thành tựu.
76. Chúng sinh đều có Phật tính
Người tu học Phật thường nói: "Chúng sinh đều có Phật tính." Chúng ta cũng thường nghe người ta nói: "Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời." Lại có người tranh luận: "Con chó có Phật tính hay không?" Lúc thì nói: "Có." Lúc thì nói: "Không."
Trước đây, khi tôi hoằng pháp ở Mỹ, đã có người hỏi tôi: "Xin Lư Sư Tôn nói về Phật tính?" Tôi nói: "Phật là nghĩa giác ngộ, tính là nghĩa không đổi, tất cả chúng sinh đều có tính giác ngộ bất di bất dịch, đó chính là Phật tính. "Kinh Niết Bàn" lại nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Như Lai thường trụ không có biến dịch."
Có người nói: "Có người thích cờ bạc, tính cờ bạc có phải là Phật tính không?" Có người nói: "Có người ham sắc dục, tính dâm có phải là Phật tính không?" Có người nói: "Có người thích lừa đảo, tính lừa đảo có phải là Phật tính không?" Có người nói: "Có người thích ăn trộm, tính trộm cắp có phải là Phật tính không?" Có người nói: "Có người thích rượu, tính nghiện rượu có phải là Phật tính không?"
Tôi đáp: "Những điều vừa nói chính là sở thích cá nhân, gọi là chúng sinh tính. Tuy nhiên, chỉ cần một khi chúng sinh tính mất đi, Phật tính tự hiển lộ, thành Phật chính là Phật tính." "Như vậy Phật tính có biến đổi rồi sao?" Tôi đáp: "Phật tính không có biến đổi, Phật tính không có hình tướng, tùy dùng mà gọi tên. Kinh Phật nói: Tất cả thánh hiền đều do vô vi pháp mà có sai biệt." Tôi lại đáp: "Thánh hiền nói, mặt trời luôn ở đó, chỉ là mây che. Chỉ cần một khi mây rời đi, mặt trời tự hiển." Tôi nói: Cái gọi là tu hành, chính là sửa đổi hành vi, đem tất cả tập khí không tốt qua nhiều đời kiếp tu sửa hết.
Tôi viết một bài thơ:
Mặt trời ở trên mây đen Mây đen chính là vô minh Chỉ cần quét sạch từng lớp mây đen Tất cả sẽ quang đãng
Nước vẫn là nước như vậy Nước biển, nước hồ, nước sông, nước suối, nước giếng Chỉ cần trong lành Tất cả sẽ bình yên.
77. Tôi chính là tôi
Ngày xưa, có người hỏi tôi: "Thầy viết nhiều sách như vậy, tại sao? Các pháp sư khác cũng không viết nhiều sách như vậy?" Tôi đáp: "Tôi chính là tôi, người khác chính là người khác." Lại hỏi: "Các pháp sư khác xây dựng chùa liền làm trụ trì. Chỉ có mỗi thầy không làm trụ trì chùa nào hết, lại vì sao?" Tôi cũng đáp: "Tôi chính là tôi, người khác chính là người khác." Lại hỏi: "Các pháp sư khác khi làm pháp sự đều quy định giá cả, duy chỉ có thầy Lư Thắng Ngạn là mọi thứ đều tùy ý tùy hỷ, tại sao?" Tôi cũng đáp: "Tôi chính là tôi, người khác chính là người khác." Lại hỏi: "Một số Thượng sư của Chân Phật Tông cũng quy định giá cả, tại sao Căn bản Thượng sư không quy định giá cả?" Tôi vẫn trả lời: "Tôi chính là tôi, người khác chính là người khác."
Tôi thật lòng nói với mọi người, phong cách hành xử của mỗi người đều không nhất định giống nhau, cảnh giới giác ngộ quả thực cũng có sự khác biệt. Tôi tu tôi đắc, người khác tu người khác đắc, ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, không tu không đắc, tháng năm trôi qua uổng phí, thật là điều đáng tiếc nhất.
Tôi viết sách là để hiển thị pháp nghĩa của Phật, do pháp nghĩa vô tận nên sách viết nhiều, viết nhiều cũng chỉ là "một hạt bụi", chẳng đáng là gì. Tôi nói: "Thân tôi chính là chùa, tôi làm trụ trì của chính thân tôi." Tôi nói: "Tôi coi trọng tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, ngoài điều này ra thực không có giá cả gì có thể nói, nên không định giá cả cho pháp sự."
Giải thích xong rồi, viết một bài thơ:
Nhân gian vốn có nhiều rối loạn Thánh hiền cũng không hoàn toàn giống nhau Tôi chính là tôi Người khác làm thế nào tôi chẳng quản được
Viết sách vì tôi thích Có vài pháp sư không dùng tay chỉ dùng miệng Họ thành tựu thế giới của họ Tôi chính là tôi Quan trọng nhất là hiểu rõ kiếp này làm gì Thời gian đừng hoang phí uổng công.
78. Người nhàn nhã số một
Ngày xưa, có người hỏi tôi: "Ngài có phải là hiền nhân không?" Tôi cười ha ha: "Tôi là hạng người nhàn nhã số một." "Ngài có phải là thánh nhân không?" "Tôi là hạng người thừa số một."
Đặc biệt là tôi đã đóng cửa ẩn cư tại hồ Diệp Tử gần bốn năm rồi, nghĩ lại, từ tổng thống quan to cho đến người buôn bán dạo, sĩ nông công thương, ai chẳng phải vì sinh kế mà bận rộn từ sáng đến tối, có người thậm chí ngay cả thời gian ngủ cũng còn bận rộn! Người như tôi há chẳng phải là hạng "người nhàn nhã" số một, hạng "người thừa" số một sao?
Hạng người nhàn nhã số một mọi suy nghĩ đều hướng về chúng sinh, thân thể nhàn rỗi nhưng tâm không nhàn rỗi, tâm tức là Phật, Phật tức là tâm. Phải học cắt đứt phiền não, chấm dứt sinh tử, độ chúng sinh, phải học đại trí tuệ giải thoát thân tâm. Phải biết rằng kiếp này rất quan trọng, nếu thực sự trôi qua hoang phí, khi nào mới có thể giải thoát thân tâm? Dụng công tu hành rất quan trọng!
Tôi hiểu rõ: Vô minh sẽ đi theo noãn sinh. Phiền não vướng víu sẽ đi theo thai sinh. Ái thủy thấm nhuần sẽ đi theo thấp sinh. Niệm phiền não thoáng khởi sẽ đi theo hóa sinh.
Tôi - thân không, tâm không, pháp không, tính không. Một khi bỏ lại thân tâm là nhập "tam muội", liền đến tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì.
Tôi - hạng người nhàn nhã số một này, chỉ với mọi suy nghĩ hướng về vì chúng sinh, vì chúng sinh hữu duyên mà bận rộn.
Viết một bài thơ:
Tôi là một ngôi sao nhỏ trên trời cao Tỏa ánh sáng nơi tịnh thổ Cực Lạc Là thừa thãi Cũng là nhàn nhã
Tôi chỉ gặp gỡ chúng sinh hữu duyên Nói nói viết viết Ngôn ngữ chân lý Trong nhân gian Ta Bà đang sôi sục Nỗ lực tiếp dẫn các người.
79. Liên quan đến Định và Huệ
Ngày xưa, có người hỏi tôi: "Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từng nói, Định và Huệ như đôi cánh của chim, thiếu một cái thì không thể bay được, ngài nghĩ sao?" Tôi nói: "Đúng vậy."
Tôi đóng cửa ẩn cư tại hồ Diệp Tử, học tập Định tam muội, học tập Trí huệ, tôi hiểu rằng Định và Huệ là không thể tách rời, tuy rằng tôi trong đi, đứng, ngồi, nằm, trong động, trong tĩnh, tôi đều đang học tập Định, cũng chính là động tĩnh đều ở trong Định. Định là gì? Định là thể! Huệ là gì? Huệ là dụng!
Định có thể sinh ra Huệ, Huệ có thể sinh ra Định, hai điều này thực ra không thể tách rời, như nước và sóng nước, như bóng đèn và ánh sáng, như chuông và tiếng chuông......
Vậy Giới là gì? Giới là tiền đề của Định và Huệ, người học Phật khởi hành từ Giới, đến khi có Định và Huệ chính là có đôi cánh.
Chúng ta là người tu hành, bất kể học pháp môn nào, như Mật giáo có "nhập, trụ, dung", thực ra cũng là Định tam muội. Nhập định. Trụ định. Dung hòa hợp nhất mà không phân biệt. (tương ứng)
Người tu hành, tuyệt đối không thể bị tám ngọn gió của ngoại cảnh (được, mất, vinh, nhục, khen, chê, khổ, vui) khuấy động. Tất cả thường tự trong vắt, tự nhiên thường trụ trong Định, tuôn chảy ra trí tuệ của Như Lai.
Tôi viết thơ:
Khó tránh được một số người đánh mất đạo tâm Bởi vì họ không thể định Từ pháp môn này tìm kiếm pháp môn khác Tâm vẫn không thể tĩnh
Tương lai mọi người sẽ hiểu Thế nào là thân khẩu ý thanh tịnh Thế nào là Pháp thân là chân lý Khi tôi điều chỉnh dây đàn trong sinh mệnh mình đạt đến tự tại Nhập trụ vào định Đây chính là tương ứng của Mật giáo.
80. Tiếp dẫn một người nửa người
Một hôm, Hóa Phật hiện thân tại hồ Diệp Tử nơi tôi ẩn cư. Tôi hỏi một câu hỏi: "Tổng cộng tôi phải tiếp dẫn bao nhiêu chúng sinh?" Hóa Phật đáp: "Một người nửa người." Tôi kinh hãi hỏi: "Ngày xưa tôi thuyết pháp, vạn người nghe pháp, vạn người quy y, vạn người quán đảnh, hôm nay lại nói một người nửa người." Hóa Phật hỏi: "Năm xưa Hòa thượng Liễu Minh độ ngài, là mấy người?" "Một người." Hóa Phật đáp: "Ngài có thể thành tựu, không cần nhiều, một người nửa người là đủ rồi!"
Hóa Phật bảo tôi, không cần quá thân cận với tổng thống quan chức, tránh sinh tâm danh lợi, ở trong núi cao thung sâu, tránh tạp nhiễm rối loạn, rơi vào thế tục, thực sự có thể độ người, một người nửa người là đủ rồi. Hóa Phật nói: "Năm xưa hòa thượng Liễu Minh độ ngài, một người là đủ rồi, ha ha!"
Tôi suy ngẫm sâu xa về lý này. "Một tức là tất cả, tất cả là một." "Chúng sinh nếu không hiểu rõ ràng nghĩa thâm sâu của Phật, chỉ là quy y quán đảnh bề ngoài, chỉ là kết một duyên, học hỏi bề ngoài mà thôi."
"Kinh Bát Nhã" nói: "Độ chín loại chúng sinh đều vào Vô Dư Niết Bàn." Lại nói: "Thật không có chúng sinh nào được diệt độ."
Bây giờ tôi hiểu rõ, Bồ Tát niệm niệm vì chúng sinh, khi chúng sinh hiểu rõ ràng tâm mình, thể hội Không tính, thật không có chúng sinh nào được diệt độ.
Viết một bài thơ:
Lịch sử của chúng sinh chỉ là văn tự Còn chúng sinh thì sao Cái gọi là chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh thì là chúng sinh Không giảm không tăng
Giây phút này Tôi chỉ nhìn chăm chú vào tâm mình Như bình minh tĩnh lặng Như hoàng hôn xế chiều Chờ đợi một người được độ đến Rơi lệ cảm kích ơn chư Phật cứu độ.
81. Tâm yếu Mật giáo của sự song song hòa nhập
Đại thành tựu cao nhất của Mật giáo là hóa thân cầu vồng. Bình thường tôi thường nói tịnh quang của bản thân hòa nhập vào tịnh quang của Bổn tôn, hoặc tịnh quang của bản thân hòa nhập vào biển lớn ánh sáng Tỳ Lô Giá Na. Hành giả Mật giáo thường nói Tử quang hòa nhập vào Mẫu quang.
Về kiến giải, ý nghĩa quan trọng của sự hòa nhập song song là một chứ không phải hai. Có người phê phán Mật giáo là phân biệt hai, thực ra bậc trí giả chân chính hiểu rõ thân-tâm bất nhị, tâm-khí bất nhị, thế gian-Pháp thân bất nhị, song song hòa nhập đương nhiên là một chứ không phải hai.
Trong thế gian này, điều chúng ta thấy được là hai, ví dụ như âm dương, nam nữ, thiện ác, tịnh uế, trời đất, nước lửa, khôn dại, lớn nhỏ, nhiều ít, sáng tối, v.v… Nhưng đối với người tu Mật, tu đến cùng tột thì là song song hòa nhập, ví dụ như sống chết, sướng khổ là một chứ không phải hai.
Hành giả Mật giáo, về phương diện không-có, cũng đồng dạng là song song hòa nhập, sắc-không căn bản không hai, tư duy này đem đi thực tế tu hành mới có thể chuyển hóa tham, sân, si thành thanh tịnh, nếu không đạt được song song hòa nhập thì giải thoát rất khó khăn.
Tôi nói: "Nhân duyên thấy là hai, thực chất là một, tất cả chúng sinh cũng chính là Pháp thân minh tịnh, song song hòa nhập cũng chỉ là danh từ, tự tính Di Đà, tự tính tịnh thổ, Tử Mẫu quang gặp nhau, thực ra là đại Pháp thân, pháp giới thể tính trí."
Trong quyển sách "Độ qua biển sinh tử", tôi đã chỉ ra sự hòa nhập vào ánh sáng, chính xác là nói về: Tự thân tịnh. (nhất tâm bất loạn) Ánh sáng tịnh thổ tự hiển lộ. Trí huệ Bổn tôn tự hiện tiền. Song song hòa nhập tức là tương ứng thành tựu, là một chứ không phải hai.
Viết một bài thơ:
Nếu bạn leo lên đến đỉnh cao nhất Sẽ phát hiện hư không bao la tự nhiên hòa quyện Ở nơi tuyệt đỉnh Núi sông mặt đất đều như nhau
Pháp thân trang nghiêm tự nhiên hiển lộ Thành quả của hành giả Hòa nhập vào biển ánh sáng Là một chứ không phải hai Thế giới Cực Lạc chẳng chia Đông Tây.
82. Học tập cuộc sống tự tại
Cuộc đời này của tôi, ma kiếp trùng trùng, nhưng tôi kiên nghị khắc khổ hành trì, đang học tập điều chỉnh cuộc sống tự tại, nếu không như vậy, cuộc đời như thế này là một sự đau khổ hành hạ. Cuộc đời này của tôi như uống nước đắng vậy, như thân tâm bị xé nát vậy.
Khi tôi học Phật, thấy thầy quy y, thầy quán đảnh của mình có đủ các kiểu sai sót, tôi thấy như không thấy, tịnh tín Phật pháp mà thầy truyền xuống, học điểm mạnh của thầy, của Thượng sư, như vậy mới có thể tự tại, nếu không thì không học nổi nữa. Ai mà không có lỗi lầm?
Khi tôi thấy chúng sinh đê tiện vô sỉ, đấu tranh hãm hại, lòng đau khổ tột cùng, nhưng tôi nghĩ, là bởi vì chúng sinh mới như vậy, tôi càng phải học khiêm nhường hòa hợp, như vậy mới có thể tự tại, nếu không thì làm sao tiếp tục trụ nổi ngũ trược ác thế.
Trong tất cả mọi lúc mọi nơi, tôi đều học tập cân bằng tâm thái của mình, không tư lợi, phải suy nghĩ cho người khác, phải thực tế tu hành, đừng tự lừa dối mình lừa dối người, có thể đến tịnh thổ, đừng đọa đường ác, tiếp tục sống một cách cân bằng như vậy mới có thể tự tại.
Khi ngủ cũng học tự tại, khi thức cũng học tự tại, khi già học tự tại, khi bệnh học tự tại, thậm chí chết càng phải học tự tại. Sướng khổ như nhau là tự tại. Sống chết như nhau là tự tại. Sạch bẩn như nhau là tự tại.
Tôi từ từ học tập từng bước một, làm sao tự mình luôn giữ được trạng thái tốt nhất, thâm nhập vào Phật pháp liễu nghĩa, làm sao không-có như nhau, làm sao phiền não-bồ đề như nhau, làm sao ngay cả tự tại cũng quên mất, sống trong tự tại mà quên mất tự tại.
Viết một bài thơ:
Khổ khổ khổ Chán chán chán Mọi lúc mọi nơi đều như vậy Phải xem những điều này như huyễn
Cuộc đời con người rất mơ hồ Vô thường đến rất nhanh Sống trong thế giới ô uế như vậy Lăn lộn như sóng Chính như vậy mới có thể học được tự tại Tâm được giải thoát.
83. Đọc bài ca của Milarepa
Tình cờ đọc được bốn lời ca của Milarepa khiến lòng tôi bùi ngùi, bốn lời ca ấy như sau:
Khi tôi quan sát thân này, thấy nó vô thường như sương mai, chẳng bao lâu sẽ già yếu và chết đi. Khi tôi quan sát bạn bè thân quyến, ngộ ra họ giống như những thương nhân, chẳng bao lâu sẽ rời xa khó có thể thường xuyên sum họp. Khi tôi quan sát tiền bạc của cải, giống hệt như ong mật siêng năng tích lũy, bận rộn cho người khác cuối cùng thành không. Khi tôi quan sát sự nghiệp và gia đình, ngộ ra thực chất như nhà tù lớn, là vực thẳm của ác nghiệp tội lỗi.
Khi đọc bốn lời ca này, mồ hôi tôi chảy ròng.
Nhìn những hành giả thế gian, Milarepa đã nói như vầy:
Tham dục sâu vào tâm, lo sợ được mất, bị văn tự trói buộc, tâm không có kiến giải quyết định, chuyện nhỏ cũng phải tính toán, để nuôi dưỡng người con gái đam mê dục vọng, tán loạn và phóng dật, sai khiến thân tâm như nô lệ, thân mang xiềng xích lười biếng, buộc vào neo khổng lồ luân hồi, miệng nói nương theo Phật pháp, thực tế làm những tội ác, giả dối làm theo thế tình, mũi mình bị người khác dắt, người học Phật như vậy, lúc nào cũng ở trong khổ não.
Cảnh giác thay! Cảnh giác! Đọc "Bài ca của Milarepa", in sâu vào lòng tôi, tôi cũng thường quan sát như vậy, nhất là bài ca thứ hai, tôi thấu hiểu thật sâu sắc.
Khi tôi nương tựa vào núi rừng, tôi quan sát người thân, biết rằng khó có thể thường xuyên sum họp, lại có rất nhiều rất nhiều bạn bè thân hữu khó có thể thường xuyên sum họp, lại có rất nhiều rất nhiều Thánh đệ tử khó có thể thường xuyên sum họp. Chút tình cảm ấy của tôi, quy về nơi đâu?
Bài ca thứ nhất càng không cần phải nói, một hơi thở không đến nữa, chính là một nắm đất vàng.
Cảm thán viết một bài thơ:
Làm sao dám nói không đủ May mắn mình còn biết dừng bước Chỉ còn chút tình ấy Không cho tôi chết
Nhìn thấu nhà tù lớn Khi nhìn thấu Mới có thể chứng ngộ chân như Khi sống sẽ không mãi mê muội
Biết ơn sự chỉ dẫn của bậc thánh Ban cho ánh sáng và không khí Người nhẫn nhục cuối cùng đến được tịnh thổ.
84. Người thấp kém nhất trên thế giới
Ngồi một mình trước cửa sổ, nhìn bãi cỏ xanh mượt bên ngoài, gió nhẹ nhàng thổi, lá cây rung rinh nhè nhẹ, thỉnh thoảng có tiếng chim hót, kêu một lúc rồi thoăn thoắt bay đi. Cảnh tượng này hầu như mỗi ngày đều như nhau, không có hát, không có múa, không có vui đùa, không có trang điểm cầu kỳ, tôi mặc quần áo rất giản dị, lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa sổ.
Ở hồ Diệp Tử, không ai biết tôi là ai, tôi cũng không muốn cho người khác biết. Trong khoảng thời gian này, người ta chỉ biết có một lão già rất khiêm nhường sống ở đây, không biết từ đâu đến, không biết sẽ đi đâu.
Mỗi ngày, tôi chỉ đi bộ, vừa kinh hành, vừa có thể mua sắm thực phẩm, ba bữa cơm đều phải ăn, đến tối phải ngủ, lại phải để lại dấu vết của mình trên giấy, lại phải tu thiền định tam muội, tôi tu những pháp tinh yếu, có thời gian thì đọc kinh sách.
Tôi đã buông bỏ pháp vụ mênh mông, pháp luân đã chuyển, giao cho các thánh đệ tử, giờ đây tôi đã trở nên rất nhỏ bé, tôi biết rằng thế giới này không có gì vĩnh hằng, thế giới này không có gì mãi mãi, tất cả đều là tạm thời, chúng ta nhỏ bé như một hạt cát, thậm chí còn không bằng cát.
Tôi nói: Tôi đã từng tỏa sáng rồi, tôi cũng đã rực rỡ rồi, cuộc đời cũng đã cháy hết rồi, tôi còn lưu luyến gì nữa, còn chần chừ gì nữa? Những gì cần giao phó đều đã giao phó rồi, nên mỉm cười đi theo bước chân của gió.
Ngồi một mình trước cửa sổ… Kiếp này tôi có lỗi lầm không? Tôi sám hối! Kiếp này tôi có lười biếng không? Tôi sám hối! Kiếp này tôi có tình cảm thừa thãi không? Tôi sám hối! Điều duy nhất tôi không thể bỏ lỡ chính là bay đến tịnh thổ bất sinh bất diệt!
Viết một bài thơ:
Ai cũng sẽ có lỗi lầm nhiều hoặc ít Vì không ai sinh ra đã là thánh hiền Tôi cũng là một phàm phu Người tầm thường nhất trên thế giới
Khí khái anh hùng đâu có mãi mãi Nước nhảy múa hóa thành băng Một lòng chỉ quán thế giới tịnh thổ Đại từ đại bi luôn bao quanh Gió và bụi phủ đầy mặt.
85. Cuộc sống thần tiên cũng chỉ là một giấc mơ
Khi tôi sống ở Seattle Hoa Kỳ, do tu chuyết hỏa, sinh ra sức nóng hừng hực lan khắp toàn thân, cảm giác được an lạc như thần tiên vậy.
Khi khí vào trung mạch sản sinh sự thông suốt của trung mạch, cảm giác ấy phiêu diêu như ở trong mây, pháp vị khinh an vui sướng, cũng như thần tiên vậy.
Hơn nữa, bạch bồ đề ở mi tâm giáng xuống, đắc được "tứ hỷ". Bạch bồ đề lại nâng lên, lại đắc được "tứ hỷ", sự an lạc của "tứ hỷ" này, chỉ có là hành giả Mật giáo tự cảm thụ được "tứ hỷ" mới có thể nhận biết, đại lạc ấy không phải thứ mà người thường có thể thể hội, cũng không thể hình dung, cho nên giống như thần tiên vậy.
Khi bạch bồ đề và hồng bồ đề giao hòa với nhau, niềm vui sinh khởi từ tác dụng "đốt nóng chảy" là điều mà người thế tục không thể hiểu được, cảm giác tê tê ấy, như say như mê, thần tiên cũng chỉ như vậy thôi, như uống cam lộ tiên tương, không thể diễn tả được.
Tôi tu chứng thân vô lậu, cũng chính là bạch bồ đề (minh điểm) sẽ không mất đi, lúc ấy quả thật như cuộc sống thần tiên vậy.
Tôi nói: "Thân vô lậu thường tự vui sướng." Lại nói: "Do tu chuyết hỏa đại lạc sinh ra tịnh quang, từ Dục giới thiên thăng lên Sắc giới thiên, đại lạc quang minh đầy ắp." Tôi lên tòa thuyết pháp: "Bản thân như thần tiên vậy!"
Nhưng, tôi do đó tiến vào Vô sắc giới, nhận thức Pháp thân tính Không, tự biết cuộc sống thần tiên cũng là mộng, thân này tất hoại, không có gì thường hằng. Cảnh giới đại lạc quang minh [trạng thái an lạc và trí tuệ rực rỡ] cũng chỉ là giáo pháp quyền nghi, là phương tiện để tu hành. Ngay cả cái thân vô lậu [thân đã đạt được qua tu tập, không còn phiền não] này cũng sẽ phải buông bỏ, chỉ còn lại bản tính câu sinh diệu trí (trí huệ căn bản, chân thật) mà thôi.
Viết một bài thơ:
Cảm giác đại lạc ở trong mơ Khi tỉnh giấc mộng đều trống rỗng Cuộc sống thần tiên là như thế Khoái lạc chỉ như gió thoảng qua
Tham đạo cuối cùng về thanh tịnh Thân này là khách chẳng lâu bền Dù cho khí mạch mãi lưu thông Ở trong tam giới tùy đi lại Nhưng thân xác sẽ có lúc hoại Đạt đến tịnh thổ mới tự tại.
86. Ma oán hóa thành tăng thượng duyên
Tôi đọc được trong kinh: "Ma tức là Hộ pháp." "Oán tức là tăng thượng duyên."
Khi đọc xong, tôi hết sức kinh ngạc. Làm sao ma lại là Hộ pháp được? Ma chẳng phải là kẻ làm suy thoái đạo tâm, hại huệ mệnh của người ta sao? Chướng ngại oán ghét, chướng ngại tổn thương, chướng ngại phỉ báng, làm sao lại có thể là tăng thượng duyên? Điều này làm sao có thể? Tôi không dám tin.
Ở hồ Diệp Tử bế quan nhiều năm, cuộc sống của tôi càng ngày càng đơn giản, gần như là một sự tinh giản chuyên nhất đều đặn, ngoài ba bữa ăn và giấc ngủ, tôi đều ở trong tam muội, ngoại duyên gần như hoàn toàn không còn, chỉ có quan sát nội tâm. Ngay cả ba bữa ăn và giấc ngủ cũng là tu pháp.
Tôi nghe thấy tiếng nói nội tâm của mình, tâm tôi có thể thể hội "ma tức là Hộ pháp, giúp ta thành đạo", "oán tức là tăng thượng duyên, giúp ta tinh tấn", nội tâm thì thầm lẩm bẩm: "Vô sinh pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn." [Vô sinh pháp nhẫn là sự thể nhập, nhận thức, và an trụ vững chắc (nhẫn) trong chân lý tuyệt đối (pháp) rằng tất cả vạn vật vốn không sinh, không diệt (vô sinh).]
Tạo hóa thật sự quá kỳ diệu! Trong tham, sân, si, trong dâm, nộ, si, trong nghiệp tội tăm tối sâu thẳm, đều ẩn chứa Phật pháp vĩ đại, chỉ cần bạn có thể nghĩ thông suốt, không chướng không ngại, tất cả mê hoặc sẽ tiêu tan, như sương mù buổi sớm biến mất vậy.
Được ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, biết ơn! Bị bệnh ma quấy nhiễu, biết ơn! Được nhập tam muội, biết ơn! Được chấm dứt sinh tử, biết ơn!
Tôi viết một bài thơ:
Có lẽ ma chính là quyến thuộc Có lẽ oán hận chính là đạo bạn Tất cả đều đến để giúp đỡ bạn
Bạn hãy suy nghĩ kỹ sẽ thấy rõ hơn Đức Phật dưới cội bồ đề Đấng Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cội bồ đề ấy Có thể ngộ được đại đạo muôn đời Hóa ra lại chính là phước lành của ma
Không còn tất cả mọi thứ Chính là tự tự như như.
87. Sự trống rỗng trong tam muội
Khi đang tọa thiền, đôi khi cũng có những suy nghĩ lặt vặt, nhưng dần dần chúng biến thành tiếng gió giữa lá cây hay âm thanh của dòng nước chảy, những lời thì thầm vui sướng, sau đó thì trống rỗng không còn gì, không biết thân tâm đang ở đâu nữa, chỉ còn lại một khoảng trống lớn, bầu trời trong xanh không mây.
Đôi khi, thực sự không biết mình đang ở đâu. Không nhìn thấy xung quanh, không nhìn thấy chính mình, ngay cả bóng dáng của mình cũng không thấy. Thực sự là: Trống trơn hết, chẳng có một vật. Cũng không người, cũng không Phật. Đại thiên thế giới như bọt nước giữa biển. Tất cả thánh hiền như tia chớp lướt qua.
Hễ nhập tam muội, thời gian trôi qua thật nhanh, chỉ trong chốc lát, mấy giờ đồng hồ đã trôi qua, tôi chẳng thấy gì, chẳng nghe gì, thấy nghe cảm biết đều không biết, một khoảng trống trơn, không có kêu gọi, không khổ không vui, không trí tuệ không ngu si, cũng chẳng thiện, cũng chẳng ác, thực sự là khoảng trống lớn. Cái gì là lớn lao? Ai là ta?
Lại có một bài kệ:
Không thấy một pháp tức Như Lai. Mới được gọi là Quán Tự Tại. Hiểu rõ thì nghiệp chướng vốn không. Chưa hiểu thì phải trả nợ cũ.
Trong khoảng trống của tam muội này, ai là Lư Thắng Ngạn? Ai là Liên Sinh Hoạt Phật? Ai là Liên Hoa Đồng Tử? Ai là Hoa Quang Tự Tại Phật? Ai sáng lập Chân Phật Tông? Ai thuyết pháp độ chúng? Chân Phật Mật Pháp là gì? Tất cả chỉ là danh tướng mà thôi!
Viết một bài thơ:
Tồn tại cũng chưa chắc đã tồn tại Đó mới là đại tự tại của đời người Những xôn xao náo động của chúng ta Thật sự bi ai
Trẻ sơ sinh đáng yêu nhất Vì chúng cũng giống nhau một khoảng trống Không biết mình là ai Chỉ uống sữa của chúng Không biết ai đang trả nợ ai.
88. Toàn bộ quy về tịnh thổ
Ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử, từ lâu tôi đã quyết tâm tất cả mọi thứ toàn bộ quy về tịnh thổ Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì.
Tôi, Thượng sư Liên Hương, Phật Thanh, Phật Kỳ và tất cả quyến thuộc, giúp họ hồi hướng về tịnh thổ. Bà con thân hữu, thánh đệ tử và con cháu đệ tử của tôi, giúp họ hồi hướng về tịnh thổ. Đời này những thí chủ giúp tôi tu hành, toàn bộ hồi hướng về tịnh thổ.
Tất cả những ai có tình có duyên với tôi đến tụ họp, rồi chia ly, hoặc gặp hoặc xa, không chọn lựa gì cả, toàn bộ hồi hướng về tịnh thổ.
Tôi sẽ sám hối hết thảy những gì đã làm trong cuộc đời này, những tập khí xấu xa, sám hối cho đến cùng. Sẽ hồi hướng tất cả thiện nghiệp về tịnh thổ. Tất cả hồi ức cũng hồi hướng về tịnh thổ.
Đối với vị Căn bản Thượng sư tôi mang ơn, các vị pháp sư đã truyền dạy cho tôi, các vị sư phụ quy y tôi đã kết duyên, các vị sư phụ của Đạo, Hiển, Mật, toàn bộ hồi hướng về tịnh thổ.
Trong tam muội. Nhẫn nhục tinh tấn tôi nương theo. Tư lương đạo tịch tĩnh tôi nương theo. Đại lạc vô niệm tôi nương theo. Nhậm vận tự nhiên tôi nương theo. Vô tham vô sân tôi nương theo.
Tâm phải không loạn không chướng ngại, có thể thông hành khắp mười phương thế giới, đất nước lửa gió đều không cản trở, một thân biến hóa thành nhiều thân, nhiều thân lại biến trở về một thân, sơn hà đại địa đều xuyên thấu, hư không có thể đi đứng ngồi nằm, tâm phàm chuyển hóa thành tâm thanh tịnh, thân thể phàm chuyển hóa thành thân ánh sáng cầu vồng, khắp nơi cứu người và độ thế, toàn bộ hồi hướng về tịnh thổ.
Viết một bài thơ về sự hồi quy về tịnh thổ:
Tôi đã là đứa trẻ phát sáng Chỉ muốn vui chơi trong thế giới tịnh thổ Nhân duyên ở thế gian dần dần tiêu tan Mọi người không cần phân tán khắp chân trời
Toàn bộ hãy trở về tịnh thổ Không cần chờ đợi bận rộn nữa Giá trị mà con người cần Tuyệt đối không phải là vợ con tài lộc thế gian
Điều tìm kiếm hóa ra chính là tịnh thổ Bất kể quá khứ hiện tại tương lai Đây mới là pháp tài chân thật.
89. Tôi sẽ viết "Một giấc mộng Một thế giới"
Sau khi viết xong tập thứ 172 "Đi theo bước chân của gió", tôi sẽ viết tập thứ 173, đặt tên là "Một giấc mộng một thế giới".
Tên sách này không phải là điều lạ, bởi vì tôi đã từng nói rằng mỗi đêm chúng ta đi ngủ, có thể có mơ, trong giấc mơ nhiều người không biết là mơ, đợi đến khi thức dậy mới biết vừa rồi là mơ, tôi nói mơ cũng là một pháp giới, phải không? Vì vậy, "Một giấc mộng một thế giới".
Thực ra, chúng ta cũng biết rất rõ: Người đời dùng hết tâm lực để theo đuổi học vấn, nghề nghiệp, gia đình, danh vọng, tài sản, nam nữ, biệt thự, xe sang, đồ cổ, đồ trang sức, món ngon ...... Dùng tuổi thanh xuân đổi lấy một số thành tựu hiện thực. Kết cục cuối cùng là hai chữ: già chết. Vì vậy, cuộc đời cũng là một giấc mơ, hư ảo lắm, tất cả vinh hoa phú quý, tỉnh giấc mơ mơ chẳng có, trôi qua như khói mây.
Thơ của cư sĩ Tô Đông Pha:
Như con phù du giữa trời đất. Mờ mịt như hạt kê giữa biển cả. Thương cuộc đời thoáng chốc. Ngưỡng mộ dòng Trường Giang vô tận.
Đây chính là cuộc đời như giấc mơ hư ảo mà thôi!
Tôi ẩn cư bế quan tại hồ Diệp Tử đã thấy rõ tất cả những thứ này. Ngày ngày nhìn mặt trời vượt qua biển Tây, ngày ngày nhìn sinh lão bệnh tử của con người, ngày ngày nhìn lịch sử xưa nay của nhân loại, ngày ngày thấy kẻ mê thì mê, người ngộ thì ngộ.
Trong tam muội, tôi nhìn khắp thế giới mười phương, không cần phải nhón gót chân để nhìn thiên đường địa ngục, tất cả đều rõ ràng minh bạch, vẫn là tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới là nơi có thể đến an trú.
Tôi viết "Một giấc mộng một thế giới", là viết về những gì tôi thấy được trong tam muội, có sự yên tĩnh, có sự ồn ào, có sự ca hát, có sự vui vẻ, có sự buồn bã......
Người đọc sách của tôi, xin hãy thể hội kỹ càng.
Mong mọi người biết rằng, cuộc đời chẳng qua cũng chỉ là một giấc mơ dài hơn mà thôi, mang tấm mạng che mặt, nhưng vẫn là vô thường rất nhanh, bước chân tuổi trẻ thật nhanh, chúng ta cần phải có nhận thức, phải có giá trị quan, phải biết theo đuổi ánh sáng.
Tôi may mắn là người hiểu được giá trị quan cuộc đời, không phải là một trong vô số chúng sinh bị năm tháng cán qua, bạn hãy đọc quyển sách này sẽ biết được sự kỳ diệu của nó, "Một giấc mộng một thế giới" thực sự có ý nghĩa của nó!
(Hết.)