304. Hỏi đáp dưới gốc tùng

Hỏi đáp dưới gốc tùng
🪷 Khẩu quyết vô thượng
Văn tập: 304 Xuất bản: 06/2025 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam
Mục lục
Lời mở đầu
Ngôi nhà tôi ở tại Seattle, Hoa Kỳ (Nam Sơn Nhã Xá), xung quanh toàn là cây tùng.
Vì vậy, từ thư phòng của tôi nhìn ra ngoài, toàn là những cây tùng khổng lồ thẳng đứng, tôi như đang viết sách dưới gốc tùng vậy.
Tôi rất giống với hai bài thơ này:
Dưới gốc tùng hỏi trẻ Thầy tôi đi hái thuốc Ở trong núi này thôi Mây dày không thấy chỗ.
[Bài thơ nổi tiếng của Lý Bạch, nói về sự tìm kiếm sư phụ giữa non cao mây phủ — thể hiện cảnh giới thanh tịnh, xa lìa trần tục.]
(Bài thơ này khiến tôi có cảm giác hư vô lúc ẩn lúc hiện.)
Và:
Ta có am nhỏ tên Tùng Nguyệt, Yêu tiết sương hàn, lạy trăng trong. Chẳng kể Nam, Bắc hay Đông, Tây, Còn trăng, còn tùng, lòng yên nghỉ.
*Vuốt tùng hỏi tùng, tùng không nói Ngẩng đầu hỏi nguyệt, nguyệt treo không. Nhặt củi, đun nước mời trăng sáng, Tâm ta cùng nguyệt trọn cô đơn. *
[Đây là bài thơ chưa xác định rõ tác giả, thường xuất hiện trong các tập thơ thiền.]
(Tôi đã sống tại Nam Sơn Nhã Xá nhiều năm rồi, tôi cũng thường ngắm tùng ngắm trăng, ngày tháng cứ thế trôi qua từng ngày một. Tôi nghĩ mình tuổi đã cao, không thể chuyển nhà được nữa, mai sau sẽ cùng "tùng nguyệt" trọn cô đơn.)
Tôi có thể nói như thế này:
Tôi chính là một cây tùng già. Chẳng sợ sương giá vẫn xanh tươi. Nhìn lá phong kia đã rơi rụng. Nghe gió bấc đó mãi thét gào. Ngước mắt lên thấy vùng xanh thẳm. Chỉ có ta đây, cây tùng già. (Đồng ca)
Tôi nhận ra rằng, bản thân tôi đã là một cây tùng già, không còn sợ hãi điều gì nữa. Tôi chỉ mong mỗi ngày làm một chút việc có ý nghĩa, viết một chút bài có ý nghĩa, tu tập pháp môn có ý nghĩa, như thế là đủ nguyện rồi.
Hỏi đáp dưới gốc tùng, cũng chính là "bạn hỏi tôi đáp", tôi mong muốn mang đến cho các đệ tử chính niệm. Tôi cho rằng trong ba mươi bảy đạo phẩm, quan trọng nhất là "tám chính đạo" - Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Câu trả lời của tôi, phải "như thế".
Ngoài ra, tôi rất ngưỡng mộ lời dạy của Đại sư Hoằng Nhất: Nhục nhãn — Chẳng ngoài danh lợi. Thiên nhãn — Chẳng ngoài luân hồi. Pháp nhãn — Chẳng ngoài nhân quả. Huệ nhãn — Chẳng ngoài không huyễn. Phật nhãn — Chẳng ngoài từ bi.
Mong rằng cuốn sách "Hỏi đáp dưới gốc tùng" này có thể giúp cho chúng sinh hữu duyên được giác ngộ chân lý và giải thoát, khiến chúng sinh thoát khỏi biển khổ.
Cuốn sách này có hỏi có đáp, mong rằng mọi người đều nhận được lợi ích, và cũng có thể thấu hiểu được chân đế cuộc đời.
Chúc bạn mở sách ra có được điều bổ ích.
**Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn **Sheng-Yen Lu 17102 NE 40th Ct., Redmond WA 98052 USA
Tháng 12/2024.
01. Hỏi: Nghe nói pháp hội siêu độ của Lư Sư Tôn có thể nhìn thấy người chết?
Lư Sư Tôn đáp: Từ lúc tôi còn trẻ làm pháp hội siêu độ chỉ có hơn mười người, đến hôm nay, pháp hội siêu độ của tôi đã lên tới hàng vạn người. Có nhiều người nhìn thấy tổ tiên và người đã khuất của mình, số người nhìn thấy rất nhiều, không phải hiếm. Tôi không thể nói rằng ai ai cũng có thể nhìn thấy, cũng có một số ít người không thể nhìn thấy. Thấy hay không thấy, đều là nhân duyên.
Ví dụ: Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại pháp hội siêu độ A Di Đà Phật, Thượng sư Thường Nhân đã dẫn theo mười đồng môn tham dự, trong đó có sáu người nhìn thấy, bốn người không nhìn thấy. Tại sao có thể nhìn thấy? Câu trả lời đơn giản là: "Họ đã bước vào một cảnh giới." Không nhìn thấy là do chưa bước vào được cảnh giới đó.
Đây là câu trả lời đơn giản nhất. Nếu muốn trả lời nghiêm túc câu hỏi này, có lẽ phải viết cả một cuốn sách.
Tôi là nhân vật chính trong pháp hội siêu độ, tôi ngồi chính giữa pháp tọa. Tay kết ấn siêu độ. Quán tưởng chư Phật Bồ Tát giáng lâm, thuyền pháp đến tiếp dẫn vong linh. Trì chú siêu độ và chú Bổn tôn. Nhập vào Tam ma địa của thiền định.
Để vong linh ngồi lên hoa sen, vãng sinh về Phật quốc tịnh thổ. Để vong linh ngồi lên thuyền pháp lớn, vãng sinh về Phật quốc tịnh thổ.
Tôi còn muốn nói với mọi người, mỗi ngày tôi đều tu pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp, đã liên tục nhiều năm như vậy, tôi siêu độ không chỉ con người, chỉ cần là sinh linh thì tôi đều độ hóa hết. Lớn như: khủng long, cá voi. Nhỏ như: côn trùng nhỏ, vi khuẩn. Không gì là không độ. Tôi nói là lời chân thật, không dám vọng ngữ, tuyệt đối không giả dối.
🌟
Mỗi khi pháp hội siêu độ vừa kết thúc, sẽ có rất nhiều người đứng lên làm chứng. Cả nam, nữ, người già, trẻ em đều có.
Đôi khi, tôi sẽ nói: Những người chưa thấy, về nhà sau đó vẫn có thể thấy, có người trong mơ cũng có thể thấy được. Cũng có rất nhiều người gửi thư làm chứng.
Lấy một lá thư làm ví dụ:
Minh chứng vĩ đại nhất
Ngày 31 tháng 8 năm 2024 là pháp hội siêu độ mùa thu A Di Đà Phật trong năm nay. Trong pháp hội, trước mắt tôi liên tục hiện ra ánh sáng trắng, tâm hồn rất an nhiên, đó là một pháp hội vô cùng thù thắng, cũng là lần thứ hai trong đời tôi khóc đến mức chết đi sống lại.
Sau khi pháp hội kết thúc, Sư Tôn từ bi khai thị rằng: "Các bạn có muốn nhìn thấy cha mẹ và tổ tiên đã qua đời của mình không?" Tôi đương nhiên lập tức trả lời: "Có."
Tôi thực sự rất muốn gặp cha mẹ đã khuất của mình, vì vậy Sư Tôn đã hướng dẫn chúng tôi yên lặng đi vào thiền định. Nghe Sư Tôn triệu thỉnh A Di Đà Phật, Quan Âm Bồ Tát, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng với Kim Cang, Không Hành, Hộ Pháp và rất nhiều chư thiên thần chúng, khi Sư Tôn niệm đến lần thứ hai "Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật", trước mắt tôi từ từ như mở ra một màn hình lớn, tôi cảm ứng được cha mẹ ở bên cạnh tôi. Sau đó tôi thấy trước mắt có rất nhiều người đều mặc áo trắng quần trắng, rất nhanh tôi nhìn thấy cha mẹ trong đám đông, nước mắt tôi cứ tuôn rơi không ngừng, khóc nghẹn ngào.
Thấy cha mẹ bước lên một con thuyền rất lớn, boong thuyền được lát bằng vàng. Dung mạo cha mẹ rất trẻ trung, rất khỏe mạnh, còn nghe thấy cha chỉ tay về phía tôi nói lớn tiếng: "Đó là con gái tôi đấy, đó là con gái tôi đấy!" (tiếng Quảng Đông) Nói nhiều lần sợ người khác không biết, giống hệt như khi ông còn sống nói chuyện với người khác vậy. Lúc đó tôi như thể đang xem một bộ phim vô cùng cảm động, tôi cũng rất xúc động khóc nức nở.
*Cuối cùng trước mắt tôi dần dần biến thành một biển ánh sáng, vô cùng sáng chói, nghe thấy Sư Tôn nói một tiếng: "Xong rồi!" và tôi xuất định. Sau đó Sư Tôn hỏi có bao nhiêu người tại chỗ nhìn thấy người thân đã qua đời của mình, có rất nhiều người đứng lên kể lại những gì họ đã thấy, trải nghiệm lần này khiến tôi suốt đời không quên. Vô cùng cảm ơn Phật phụ Lư Sư Tôn tôn quý nhất đầy từ bi đại ái, trong mỗi lần Ngài thị hiện thần tích đều khiến chúng con được cứu độ và được lợi ích. Om guru liansheng siddhi hum. *
Người viết: Liên Ôn.
02. Người tu hành có nên có tình cảm không?
Lư Sư Tôn trả lời:
Gần đây tôi giảng "Kinh Duy Ma Cật", trong đó có một đoạn văn vô cùng quan trọng. Trong mười đại đệ tử của Phật Đà, Xá Lợi Phất là người trí tuệ đệ nhất, ông tĩnh tọa thiền định trong núi rừng sâu thẳm. Duy Ma Cật Đại Sĩ đến trước mặt Xá Lợi Phất, nói rằng: "Thiền định chân chính, không phải như vậy. Mà là dù ở bất cứ nơi đâu đều vô cùng thản nhiên, tùy duyên tự tại, không bị các pháp trói buộc, mọi lúc mọi nơi đều giải thoát."
Lại nói: "Như ông, chỉ ngồi thiền khô khan trong rừng núi như vậy, không lợi ích cho chúng sinh hữu tình, không độ thế lợi sinh, tách biệt với mọi người, đây chỉ là người tự giải thoát. Không có tình cảm, sống ẩn dật xa lánh mọi người, đây là trốn đời." Xá Lợi Phất hỏi: "Vậy nên như thế nào?" Duy Ma Cật đáp: "Hữu tình."
Tôi cảm thấy đoạn đối thoại này đối với người tu hành mà nói là một tiếng thét thức tỉnh. Tôi không phản đối bế quan tu hành, nhưng tôi chú trọng hơn đến hoằng pháp lợi sinh.
Cái gọi là: Ẩn lớn là ẩn ở chợ. Ẩn nhỏ là ẩn trong núi. Tu hành tuy quan trọng, nhưng giáo hóa chúng sinh, lợi mình lợi người còn quan trọng hơn.
Duy Ma Cật Đại Sĩ nói đúng, thiền định là trong cuộc sống hàng ngày, mọi lúc mọi nơi đều trong thiền định, mọi lúc mọi nơi đều đang tu hành, chứ không phải ngồi khô khan.
Tôi dạy chúng sinh: Ăn — Cúng dường. Mặc — Kết giới. Ở — Quán tâm. Đi — Trì chú. Ngủ — Ngủ trong ánh sáng. (thiền định) Tiền — Từ thiện. Sắc — Song thân. (hợp khí) Danh — Độ sinh.
Tất cả những điều này đều trở thành phương pháp tu hành. Trong Mật giáo mà nói, tiền là pháp Tài Thần, sắc là pháp song thân, danh là pháp kính ái, thậm chí phẫn nộ là pháp Kim Cang. Những điều này, toàn bộ đều là "hữu tình".
Đệ tử Liên Hoa Viên Viên của tôi, trong lá thư của cô ấy, tràn đầy những suy nghĩ đầy trí tuệ. Toàn bộ đều là "hữu tình".
Thư như sau:
Mặc dù vô số lần trong mơ cảm nhận được tình cảm sâu đậm của Sư Tôn dành cho đệ tử, nhưng những lời dạy của Sư Phật trong "Muôn Kiếp Tình Duyên" và "Chiếc Hộp Ánh Trăng" đã khiến con hiểu rõ ràng rằng, tình yêu của Sư Tôn là tình yêu lớn từ bi dành cho toàn thể chúng sinh, là tình yêu vượt lên trên thế tục, bao dung muôn vạn, là tình yêu vô ngã, vô chấp, vô trụ, vô tướng, vô lậu. Sư Tôn là giác hữu tình, dùng sự tỉnh thức, giác ngộ để độ hóa tất cả chúng sinh hữu tình. Cảm ơn lời dạy của Sư Tôn, khiến con hiểu rằng không cần chấp trước vào cảnh mơ, đời người một kiếp, mộng huyễn một đời, mỗi người đều đang biểu diễn rất nhập vai theo kịch bản mà mình đã viết sẵn, không ngờ rằng, bỗng một tiếng trống dừng, chẳng biết nơi nào là quê nhà? Chúng ta phải từ trong tình cảm mà vượt lên, phải từ trong tình cảm mà thăng hoa!
Thích nhất là đọc sách của thầy, bởi vì trong sách của thầy toàn là tinh hoa trí tuệ, con có thể đọc một mạch đến hết, nội dung sâu sắc mà lời lẽ dễ hiểu, tinh tế thấu đáo, ý còn chưa hết, pháp hỷ có thể thưởng thức, sâu xa thông suốt, con đứng đọc, ngồi đọc, xếp hàng đọc, ăn cơm đọc, ngủ đọc, đọc đọc đọc... ăn không biết vị, ngủ không biết mơ, đứng không biết mệt, đợi không biết vội, ha ha, cảm giác biết mà không biết, không biết mà biết này khá thú vị. Đọc đến chỗ cảnh giới vô ngã của Sư Phật sẽ chảy nước mắt, sẽ cảm khái, sẽ quán tưởng, nguyện chúng sinh cùng con được Sư Phật cứu độ như nhau, cùng lìa khỏi biển khổ sinh tử, mãi mãi tận hưởng tự tại an lạc.
Tuy nhiên, có gì là khổ? Có gì là vui? Sinh tử có và không có, Phật Ma có và không, luân hồi niết bàn có và không, tồn tại mà không tồn tại, không tồn tại mà tồn tại, hiện tức là có, không hiện tức là không, hiện vì phương tiện mà hiện, cũng vì vô vi mà ẩn, vô vi mà không gì là không làm, nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy. Con thật muốn hòa nhập vào trí huệ của thầy, hòa nhập vào lòng từ bi của thầy, hòa tan trong lực pháp giới của thầy, cùng thầy hợp nhất để hóa độ mười phương, từ ái chúng sinh.
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn sự gia trì vô thượng phi phàm của Sư Tôn, câu lạc bộ đọc sách do con chủ trì ngày càng có nhiều người tham gia hơn, tâm nguyện ban đầu của con là đưa lời dạy, bài viết của Sư Tôn bố thí pháp đến với nhiều chúng sinh trong nước hơn, gieo vào lòng họ một hạt giống Mật pháp, hạt giống chứng ngộ, nguyện tất cả họ đều kết duyên lành với Sư Phật, tương lai đều nhờ Sư Phật mà được độ.
Sâu sắc cảm ơn Sư Tôn, một lần nữa xin cúng dường bài "Văn cầu thỉnh Thánh Tôn gia trì" do con viết để cúng dường cho Sư Tôn tôn quý:
Đảnh lễ đại ân Liên Sinh Phật, gia trì cho con cùng chúng sinh. Nguyện con trí tuệ niệm niệm tăng, tâm hoa từ bi đóa đóa nở. Nguyện con dũng mãnh hằng tinh tấn, sớm nhập trí tuệ quang minh định, Đảnh lễ Thánh Tôn quỳ dưới chân, cầu xin ban cho con tâm yếu. Nguyện con tu pháp được tương ứng, minh tâm kiến tính được mở ra, Nguyện con thân tâm thường thanh tịnh, thành tựu vô thượng bồ đề quả. Muôn nghìn chúng sinh đều nương tựa, bước lên kính lễ Liên Sinh Tôn, Nguyện thiện tri thức thường vây quanh, Sư Phật dẫn dắt rời vô minh. Nguyện con độ sinh không mệt mỏi, đèn tâm vô ngã chiếu đại thiên, Nồng nàn tha thiết khen Thánh Tôn, tâm tâm niệm niệm bên Sư Phật. Nguyện đợi hoa nở thời thấy Phật, Liên Hoa Đồng Tử hẹn Liên Trì, Bi trí song vận nguyện khi chứng, tròn đầy như trăng đại quang minh. Om guru liansheng siddhi hum.
Cầu nguyện Sư Phật yêu quý thân thể an khang, thường trú thế gian, mãi mãi chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế cửu cửu cửu cửu! Yêu tình yêu của thầy dành cho chúng sinh! Mãi mãi vĩnh viễn, đời đời kiếp kiếp, nguyện cùng chúng sinh cùng thành Phật đạo!
Liên Hoa Viên Viên khấu lạy đảnh lễ Sư Phật! 16/07/2024.
🌟
Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ ngắn:
Trữ tình
Tuy biết đời như mơ Lễ thầy mặc cà sa Vì truyền pháp Chân Phật Xuất gia như tại gia.
(Xuất gia mà tôi nói chính là trong lòng có ánh sáng. Dùng ánh sáng khiến chúng sinh có ánh sáng thì xuất gia và tại gia là như nhau.)
03. Hỏi: Rốt cục thế nào là pháp môn Bất Nhị?
Lư Sư Tôn đáp: Theo như tôi biết: Trong kinh điển, phẩm "Nhập Bất Nhị Pháp Môn", từ Bồ Tát Pháp Tự Tại đến Bồ Tát Lạc Thực, có nhiều vị Bồ Tát đều đã bàn về pháp môn Bất Nhị. Nhưng, Bồ Tát Văn Thù chỉ ra: "Bất khả thuyết". Đại sĩ Duy Ma Cật: "…………." - Im lặng không nói.
Tôi (Lư Sư Tôn) xin nêu ra một đoạn lời của Hương Tích Phật để mọi người tham khảo: Hương Tích Phật nói: Mười phương thế giới, dù thanh tịnh hay ô uế, đều là nhân duyên huyễn hóa, không có thể tính độc lập. Vì vậy, Chẳng phải tịnh chẳng phải uế, chẳng phải nhân chẳng phải duyên, mười phương thế giới đều như hư không, vốn không chướng ngại, chúng sinh không hiểu nên mới có muôn vàn suy nghĩ, nghìn sai vạn biệt. Nhất thiết như như. [tất cả như nhau] (Câu "Nhất thiết như như" của Hương Tích Phật chính là pháp môn Bất Nhị.)
Khổng Tử - bậc thánh nhân Trung Quốc, nói: "Trời nào có nói gì đâu! Bốn mùa vận hành, trăm vật sinh trưởng, trời nào có nói gì đâu!" Tử Cống nói: "Phu Tử không nói, chúng con làm sao biết được?"
Ý của Khổng Tử là nói: "Trời không cần nói, nhưng mọi thứ tự nhiên vận hành, mặt trời trăng sao, xuân hạ thu đông, vạn vật hóa sinh, tất cả vốn là như vậy." (Đây cũng là "như như".) Tôi nói với mọi người: "Nhất thiết như như, chính là pháp nhĩ bản nhiên. Pháp nhĩ bản nhiên cũng chính là pháp môn Bất Nhị."
🌟
Mọi người còn nhớ không? Việc Phật Thích Ca Mâu Ni cầm hoa chính là pháp môn Bất Nhị. Tổ Đạt Ma lên tòa xuống tòa, không nói một câu nào, chính là pháp môn Bất Nhị. Huệ Năng (Lư Hành Giả) nói: "Không nghĩ thiện! Không nghĩ ác! Chính là lúc này đây!" (Pháp môn Bất Nhị.) "Kim kê độc lập" [gà vàng đứng một mình] của Lư Sư Tôn cũng chính là Pháp môn Bất Nhị! Như vậy, Pháp môn Bất Nhị đã rõ chưa?
🌟
Nếu không hiểu, xin hãy đọc lại bài viết của "Kẻ Mê":
Cầm hoa khẽ cười Bài viết của Kẻ Mê
Thế Tôn tại pháp hội Linh Sơn, cầm hoa cho mọi người thấy. Mọi người đều không nói gì, chỉ mỗi Ca Diếp khẽ mỉm cười. Thế Tôn nói: "Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, giao cho Ma Ha Ca Diếp." Đây là nguồn gốc của Thiền tông, Sơ tổ chính là Ma Ha Ca Diếp. [Giáo ngoại biệt truyền: sự truyền dạy riêng biệt ngoài ghi chép trong giáo pháp, tức là truyền tâm ấn, nhấn mạnh sự trực ngộ, không nương nhiều vào chữ nghĩa kinh luận.]
Công án Thiền tông này đã có vô số cao tăng đại đức qua các đời giải thích, nói về "thực tướng", "diệu tâm", "tâm ấn" v.v..., ở đây tôi sẽ không nói nhiều nữa. Nhưng tôi nghĩ, Thế Tôn với tư cách là một vị Phật đã giác ngộ, trong cuộc sống chắc không phải lúc nào cũng nghiêm túc đến vậy chứ? Chắc cũng có tâm trạng thoải mái, vô úy vô ngại nên cười hả hả như Sư Tôn của chúng ta chứ?
Vì vậy tôi muốn mô tả công án này, mô tả nội tâm của Phật Đà và Đại Ca Diếp, theo cách nhẹ nhàng.
[拈花微笑內心小劇場]
一時世尊在眾弟子面前拈花示眾。
世尊:
「這麼多年來,有誰真正瞭解我在玩什麼?」
「沒人?」
「咦!善哉,大迦葉笑了。」
大迦葉站起合掌。
Vở kịch ngắn - Nội tâm cầm hoa khẽ cười
Một thời, Thế Tôn ở trước mặt chư đệ tử cầm hoa chỉ cho mọi người xem. Thế Tôn: "Bao nhiêu năm qua, có ai thực sự hiểu ta đang làm gì không?" "Không ai sao?" "Ơ! Lành thay, Đại Ca Diếp cười rồi." Đại Ca Diếp: "Thế Tôn, con biết Ngài đang chơi "hoa giữa hư không", nhưng con không thể nói ra, chỉ có thể mỉm cười tâm đầu ý hợp." Thế Tôn: "Đã biết ta đang làm gì, thì hãy truyền lại chân tướng này đi!" Đại Ca Diếp: "Con biết chân tướng không thể dùng văn tự giải thích, chỉ có thể dùng cách kích thích, dùng cách gây sốc, dùng phương thức hành động kịch, để xem chúng sinh có thể tóm lấy mà đốn ngộ hay không!" (Hết.)
(Dưới đây là tâm đắc cá nhân của tôi.)
Người tu hành tu tập, mục đích là đắc đạo chứng quả. Trong giai đoạn sinh khởi, họ luôn luôn quan tâm đến việc tu hành của mình đã đạt được gì. Đối với Thiền tông mà nói, chính là đang giảng dạy: Khai ngộ hiểu rõ "đã đắc" và "không đắc được gì". (tưởng như đối lập) Vì hiểu rõ "không đắc được gì", nên tâm an. Tâm an cũng là vì biết "tâm bất khả đắc". (tưởng như đối lập)
Phân tích sâu hơn: "Đã đắc" tương ứng với Phân biệt trí. "Vô sở đắc" tương ứng với Căn bản trí. "Tâm an" tương ứng với Phân biệt trí. "Tâm bất khả đắc" tương ứng với Căn bản trí. Phân biệt trí và Căn bản trí hợp lại chính là Nhất thiết chủng trí. Nhất thiết chủng trí chính là "nhất như", chính là pháp môn Bất Nhị, là tuyệt đối chứ không phải tương đối. Làm sao để nhập môn pháp môn Bất Nhị? Không có môn (tĩnh mặc). (tưởng như đối lập) Chính là "chính tại lúc này" cũng là "chính chẳng tại lúc này". (tưởng như đối lập) Đây là pháp nhĩ bản nhiên. Đây chính là trí huệ bát nhã. Nói một cách đơn giản chính là "song vận".
"Kinh Duy Ma Cật" chính là đang kể về cư sĩ Duy Ma Cật, trước tiên quở trách các đệ tử La Hán và Bồ Tát sơ địa, giúp họ phá vỡ Phân biệt trí để nâng lên Căn bản trí. Đến khi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi dẫn đại chúng đến thăm bệnh, hai vị Đại Bồ Tát cùng nhau diễn giải khái niệm "nhất như" là sự hợp nhất giữa Phân biệt trí và Căn bản trí, giúp họ vào pháp môn Bất Nhị. Trong pháp môn Bất Nhị: phiền não tức là bồ đề, luân hồi tức là Niết Bàn, Đại Tự Tại Vương Phật cũng chính là Đại Tự Tại Thiên Ma.
Thiền tông không lập văn tự, chính là để chỉ thẳng vào pháp môn Bất Nhị. Đại Ca Diếp hiểu rằng Phật Đà dùng đủ mọi cách diễn giải, dùng lời nói không thể nói để giúp chúng sinh vào pháp môn Bất Nhị. "Hoa giữa hư không" này là trò chơi của người đã giác ngộ, là thứ người giác ngộ chơi. "Kinh Tâm": "Sắc bất dị không. Không bất dị sắc. Sắc tức thị không. Không tức thị sắc." "Kinh Kim Cang": "Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bóng ảnh, như sương cũng như điện, nên quán thấy như vậy." Chính là như một, chính là môn Bất Nhị.
Cái gọi là pháp chí cao vô thượng, pháp do nhân duyên sinh (hoa giữa hư không), thực ra chỉ người bình thường mới có tư tưởng phân biệt cao thấp, trong mắt người giác ngộ tất cả đều bình đẳng, vì pháp nhĩ bản nhiên, vì "như một".
04. Hỏi: Đại Hắc Thiên cũng là Thần Tài phải không?
Lư Sư Tôn đáp: Truyền thuyết rằng Bồ Tát Long Thụ đang đi dạo bên bờ sông Hằng, nhìn thấy Đại Hắc Thiên trôi nổi trên sông Hằng thì Ngài đã mang về tu viện Nalanda, từ đó trở thành vị thần Hộ pháp của Phật giáo Ấn Độ.
Vào thế kỷ thứ 11, đại dịch sư Tây Tạng Rinchen Zangpo đã rước Đại Hắc Thiên vào Tây Tạng. Đại Hắc Thiên trở thành đại Hộ pháp thần của Tây Tạng, sau đó Đại Hắc Thiên có 72 hình tượng hoặc 75 hình tượng, phần lớn là Đại Hắc Thiên với tướng phẫn nộ, có hai tay, bốn tay, sáu tay, có màu thân đen hoặc trắng, v.v...
Đại Hắc Thiên tiếng Phạn là Mahakala, tiếng Tạng là Nagpo Chenpo, là vị đại Hộ pháp thần uy mãnh nhất, có pháp lực nhất của Phật giáo Tây Tạng, bốn giáo phái Mật tông Tạng đều tôn sùng ngài. Đại Hắc Thiên có bốn tính chất lớn:
- Thần chiến đấu.
- Thần bếp núc.
- Thần nghĩa địa.
- Thần phúc đức.
Về lai lịch của Đại Hắc Thiên, Mật giáo nói ngài là Đại Nhật Như Lai thị hiện để hàng phục ác ma. Còn nói ngài là tướng phẫn nộ của Bồ Tát Quan Thế Âm. Cúng dường Đại Hắc Thiên có hai vật quan trọng nhất:
- Gạo.
- Muối.
Đệ tử hỏi Đại Hắc Thiên cũng là Thần Tài phải không? Tôi nói: "Đúng vậy." Bạch Đại Hắc Thiên sáu tay là vị Thần Tài của Đại Hắc Thiên (Bạch Hộ Pháp). Ngài có một bài kệ: Đại Hắc Thiên sinh từ gỗ đàn Như những cuộn mây trắng mùa thu Bạch Hộ Pháp Bổn tôn vô thượng Quan Thế Âm hóa thân hý lạc Xin giáng xuống cơn mưa châu báu.
Bài kệ này thể hiện Ngài có thể ban tài, châu báu như mưa rơi. Ngài mang thân phận của vị tài bảo. Ngài cầm: Ngọc mani. Chén kapala chứa đầy châu báu.
Ngoài ra: Trong Thất Phúc Thần của Nhật Bản có Đại Hắc Thiên. Thất Phúc Thần của Nhật Bản là Huệ Bỉ Thọ, Đại Hắc Thiên, Tỳ Sa Môn Thiên, Biện Tài Thiên, Phúc Lộc Thọ, Thọ Lão Nhân, Bố Đại Hòa Thượng. Tại Nhật Bản, Đại Hắc Thiên chủ quản ngũ cốc được mùa, thương nghiệp phồn thịnh, bảo vệ con cháu, khai vận chiêu tài.
Hình tượng của Ngài là: Thân hình tròn trịa. Đôi tai to. Tay trái cầm túi vải. Tay phải cầm búa phúc.
Lai lịch của Ngài vốn là hóa thân của Đại Tự Tại Thiên trong Ấn Độ giáo, sau này trở thành đại Hộ pháp thần của Phật giáo. Tại Tây Tạng là vị Hộ pháp hung mãnh. Nhưng khi đến Nhật Bản, trải qua sự biến đổi của lịch sử, hòa quyện với văn hóa Nhật Bản, Ngài lại phát triển thành vị thần bếp núc và thần tài được yêu thích.
Đại Hắc Thiên ở Tây Tạng, Tây Hạ, Mông Cổ là thần chiến đấu. Đồng thời kiêm thần bếp núc, thần lều trại, thần hộ mệnh của chùa chiền, và còn có đặc tính của thần âm phủ.
Tuy nhiên khi truyền sang Nhật Bản lại trở thành một trong Thất Phúc Thần, là thần tài. Điều này rất khó hiểu, nhưng vẫn có thể tìm ra manh mối, Ngài là một thần kiêm nhiều chức. Từ tướng phẫn nộ ở Tây Tạng đến tướng thần vương ở Trung Quốc, rồi đến Nhật Bản trở thành tướng phúc đức.
05. Hỏi: Thế nào là Kim Đan Đại Pháp?
Lư Sư Tôn đáp: Câu hỏi này rất rộng, e rằng viết vài quyển sách cũng không thể kể hết, vì đây là một môn học lớn trải qua hàng nghìn năm của Đạo gia. Nhưng, bạn cũng đã hỏi đúng người rồi, vì thầy của Lư Sư Tôn là Thanh Chân Đạo Trưởng, thuộc môn hạ của Thanh Thành Trượng Nhân, đạo hiệu của tôi là Huyền Hạc, tôi là người đã học qua Kim Đan Đại Pháp.
Sư phụ nói với tôi: Nguồn gốc của Kim Đan Đại Pháp xuất phát từ Hoàng Đế, Lão Tử. Họ được tôn kính là tổ sư. Truyền đến đời Lữ Động Tân, Kim Đan Đại Pháp có rất nhiều lưu phái, nhưng chủ yếu phân thành hai tông phái Nam Bắc.
Bắc tông lấy Vương Trùng Dương làm thủy tổ, đệ tử của ông là Khâu Trường Xuân cùng bảy người, được gọi là Toàn Chân Thất Tử. (Lấy đơn tu thanh tịnh làm chủ chỉ.)
Nam tông lấy Hải Thiềm Chân Nhân làm thủy tổ, đến thời nhà Tống có Tử Dương Chân Nhân Trương Bá Đoan, Trương truyền cho Thạch Hạnh Lâm, Thạch truyền cho Tiết Đạo Quang, Tiết truyền cho Trần Nê Hoàn, Trần truyền cho Bạch Ngọc Thiềm. Đây là năm vị tổ của Nam tông. (Lấy song tu làm chủ chỉ.)
Ngoài ra còn có: Đông phái - Lục Tiềm Hư. Tây phái - Lý Hàm Hư. Trung phái - Lý Đạo Thuần. Thanh Thành phái - Thanh Thành Trượng Nhân. Ngũ Liễu phái - Ngũ Xung Hư, Liễu Hoa Dương. Tam Phong phái - Trương Tam Phong. Còn có Lưu Hải Thiềm truyền cho Trần Hy Di thời Ngũ Đại, Trần Hy Di truyền cho Trương Tam Phong. (Trên đây là pháp mạch truyền thừa.)
Tôi (Lư Sư Tôn) nói với bạn: Đạo gia tu luyện Kim Đan Đại Pháp, mục đích chủ yếu là thành Tiên. Muốn trường sinh bất lão. Cái gọi là "đan" chính là "tinh". Tục ngữ có câu: Luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư. Đây là "tam hoa tụ đỉnh". (Tinh khí thần là tam bảo.)
Chân Nhân Trần Hy Di chủ trương thứ tự tu luyện Kim Đan Đại Pháp là: trúc cơ, chú kiếm, điều thần, tụ tài, kết hữu, trạch địa, trạch đỉnh, luyện đan.
Trong "Kim Đan Chân Truyện" của Tôn Nhữ Trung: trúc cơ thứ nhất, đắc dược thứ hai, kết đan thứ ba, luyện kỷ thứ tư, hoàn đan thứ năm, ôn dưỡng thứ sáu, thoát thai thứ bảy, huyền châu thứ tám, phó Diêu Trì thứ chín.
Tôi (Lư Sư Tôn) nói: Đan chính là tinh. Đỉnh chính là thân. Mượn thân mình để luyện thành kim đan. Đan từ đâu chảy ra thì từ đó thu về, hoàn trả về chính nơi xuất phát. (khẩu quyết) Thận trọng chuyện phòng the. Bỏ dâm dục. Giữ cửa tinh. Đóng đường tinh.
Sư phụ của tôi nói: Chân khí tiên thiên tuần hoàn chu thiên, vận hành có một mạch lộ nhất định, Đạo gia có thân trước vận hành là do nê hoàn xuôi theo mạch Đốc thân trước mà xuống. Đi vào mạch Nhâm, qua trùng lâu (họng), rốn, xuống đến đan điền, mạch này ngắn hơn một chút. Còn từ huyệt vĩ lư dọc theo Đốc mạch sau lưng mà lên, qua huyệt mệnh môn, giáp tích, ngọc chẩm thì mạch đạo này dài hơn. Trong quá trình tuần hoàn, mỗi khi đi qua nê hoàn, cần dùng chân ý, khiến nó kết hợp với nguyên thần. Đây chính là kim đan, giáng xuống đan điền, có thể thành tựu thể thuần dương.
Pháp giữ tinh là:
- Đề (nâng) — Dùng khí nâng tinh, hô hấp thổ nạp, không để thất thoát.
- Súc (co) — Co bụng dưới, hoặc tứ chi, khí hướng lên.
- Hậu môn — Hậu môn khép chặt, không nới lỏng.
- Bế (bịt) — Bịt đường hô hấp, hình thành kiên cố, tinh không dao động.
- Chuyển — Ý nghĩ chuyển đến nơi khác, đừng để thất thần tán khí.
- Hoàn — Đưa tinh trở lại đan điền.
Sáu điểm này giống với sáu thế Sakya của Mật giáo: hai mắt nhìn trời, lưỡi chống hàm trên, ép yết hầu, bụng ép vào lưng, thượng hành khí ra hết, tứ chi co lại, nâng hậu môn. Ngoài ra: Kết ấn nắm chặt. Hút mạnh ngón giữa. (chuyển niệm)
Những tác phẩm về Kim Đan Đại Pháp rất nhiều, đủ loại, sư phụ bảo tôi đọc: Hoàng Đế Nội Kinh, Hoàng Đế Ngoại Kinh, Tham Đồng Khế, Thái Bình Kinh, Tử Đoàn Đan Kinh, Kim Đan Bí Quyết; Vô Căn Thụ và Kim Đan Tiết Yếu của Trương Tam Phong; Kim Đan Chân Truyện của Tôn Nhữ Trung. Ngoài ra còn có Huyền Vi Tâm Ấn, và nhiều sách khác.
Theo như tôi biết, muốn học thành Kim Đan Đại Pháp này thật sự không phải là chuyện dễ dàng, tài, lữ, pháp, địa đều phải đầy đủ. Không chỉ vậy, nhiều danh từ không phải người đời nay có thể hiểu được, lại càng cần phải có nghị lực hằng tâm, ngoài ra, nhất định phải có minh sư bên cạnh, chỉ điểm từng bước một mới có thể thành tựu.
Học vấn trong đó bao gồm dưỡng sinh, âm dương song tu, độc tu, đan dược chì thủy ngân, ngoại đan, nội đan, hoàn đan… đủ mọi thứ. Chính đạo, tà đạo, chính pháp, tà pháp… đều phải do minh sư chỉ điểm.
06. Kim Đan Đại Pháp và khí, mạch, minh điểm
Lư Sư Tôn nói: Kim Đan Đại Pháp và khí, mạch, minh điểm của Mật giáo có điểm tương thông, có sự diệu dụng khác nhau nhưng cùng kết quả. Ví dụ: Kim Đan Đại Pháp — Pháp tu không lậu tinh. Tinh không thể tiết, tiết thì khí tán, khí mất thì thần cũng mất. Phương pháp như sau: Khép miệng là đóng thiên môn. Lưỡi chống hàm trên là đóng hoa trì. [thuật ngữ Đạo giáo, chỉ vùng dưới lưỡi] Tay xoa vùng thận. Hai tay cọ nóng xoa vào hai mắt. Gõ răng tụ thần. Nuốt nước miếng. Co rút tứ chi.
Pháp không lậu minh điểm (tinh) của Mật giáo: Hai mắt nhìn trời, lưỡi chống hàm trên, ép yết hầu, thượng hành khí ra hết, bụng ép vào lưng, nâng hậu môn, co rút tứ chi, kết ấn nắm chặt.
Hai pháp này rất giống nhau.
Tôi tu tập pháp minh điểm không lậu 5 năm, cuối cùng đã thành tựu, trở thành "Tôn giả vô lậu". Đây là đại pháp mà trong vạn người khó có một người đạt được. Vạn người tu hành, người thất bại nhiều, người thành công ít, tôi đã thật sự tu thành, thật sự rất may mắn. Tôi là người chân tu hành, nghị lực đầy đủ. Hơn nữa tôi có sư phụ tốt.
🌟
Kim Đan Đại Pháp (Tam hoa tụ đỉnh) Luyện tinh hóa khí. — Mật giáo dùng chuyết hỏa hóa tinh thành khí. Luyện khí hóa thần. — Mật giáo dùng thần thủy kết hợp thành thần. Luyện thần phản hư. — Mật giáo dùng khí mạch trở về đỉnh khiếu.
Kim Đan Đại Pháp (Ngũ khí triều nguyên) Ngũ khí chỉ: tinh, thần, hồn, phách, ý. Hoặc là: tim, gan, lá lách, phổi, thận. Hoặc là: địa, thủy, hỏa, phong, không. Đưa năm thứ này toàn bộ trở về nơi chốn ban đầu, chính là triều nguyên, tụ tại thượng đan điền, chính là ngũ khí triều nguyên. (Kim đan có thể thành.)
Cái này trong Mật giáo gọi là năm đại khí: thượng hành khí, hạ hành khí, hỏa bạn khí, biến hành khí, mệnh khí. Năm khí này kết hợp, đẩy lên đỉnh khiếu, thượng đan điền. Đây là pháp xuất nguyên thần, có thể hóa thân bên ngoài thân. Lư Sư Tôn có thể hòa nhập hư không, Pháp thân vô số, chính là hóa thân bên ngoài thân.
Việc thành tiên của Kim Đan Đại Pháp và hòa nhập hư không của Mật giáo, hóa ra lại giống nhau. Mật giáo dùng trung mạch, tả mạch, hữu mạch. Ba mạch bảy luân xa. Kim Đan Đại Pháp dùng Nhâm mạch Đốc mạch, đại chu thiên, tiểu chu thiên, tuần hoàn khắp thân. Tinh khí thần ba thứ kết hợp. Mật giáo dùng minh điểm, chuyết hỏa, khí, đả thông mạch luân xa, cuối cùng thân hóa thành hồng quang. Cả hai không hơn kém nhau.
Về "tam điền", có người hỏi: Hạ đan điền, ở dưới rốn bốn lóng tay, không có gì bàn cãi! Trung đan điền, ở giữa hai vú, không có gì bàn cãi! Thượng đan điền, ở giữa hai mắt, theo Nhất Quán Đạo thì điểm huyền quan là giữa hai mắt. (Một điểm huyền quan khiếu, Diêm Vương sợ một phen.) Có người nói là giữa hai lông mày. Có người nói là phía trên hai lông mày, cách một ngón rưỡi. Tôi nói, chỉ cần là người thực tu thì đều biết!
07. Hỏi: Nghe nói gia trì có thể chữa bệnh phải không?
Lư Sư Tôn đáp: Chuyện này là có thật. Nên thuộc loại liệu pháp dân gian. Nhưng có bệnh vẫn phải nhờ bác sĩ khám mới đúng.
Phạm vi của liệu pháp dân gian rất rộng: Tụng kinh. Niệm Phật trì chú. Phù lục. Nước chú Đại Bi. Thu kinh. Thượng sư gia trì. (sờ đầu) Ngoài ra, còn có Pháp thân của Lư Sư Tôn, dù bạn ở đâu, chỉ cần cầu nguyện, liền có cảm ứng. v.v..
Thực ra, có bệnh có thể khỏi, có bệnh cũng chưa chắc khỏi, trong đó có rất nhiều yếu tố, tất cả chúng ta đều biết, bệnh có thể khỏi hay không khỏi, thật sự quá phức tạp! Giống như bác sĩ chữa bệnh vậy: Có thể chữa khỏi! Cũng có thể không chữa khỏi! Nếu tất cả đều có thể chữa khỏi thì trên thế giới sẽ không có người chết nữa! Ngay cả bác sĩ cũng phải chết vì bệnh. Sinh, lão, bệnh, tử, không ai tránh khỏi!
Lư Sư Tôn nói: Khi tôi dùng tay sờ đầu một bệnh nhân, người đó sẽ khỏi hay không khỏi, tôi đều có cảm nhận. Nếu dòng chảy pháp vô hình mạnh mẽ chảy về phía đối phương, tôi biết sẽ khỏi. Nếu dòng chảy pháp vô hình không có sức mạnh chảy về phía đối phương, tôi biết có lẽ không ổn. Đây chính là lực gia trì. Một loại cảm ứng đặc biệt rất kỳ lạ!
Tôi tu hành đã có chút thành tựu nhỏ, lực gia trì của tôi thường có phép lạ xuất hiện. Đây không hoàn toàn là pháp lực của tôi. Tôi nhờ vào đại pháp lực của Diêu Trì Kim Mẫu, cũng như lực công đức từ bi của chư Phật Bồ Tát. Rất nhiều bệnh nhân tâm thần nhờ gia trì mà hồi phục bình thường. Rất nhiều bệnh nhân ung thư khối u biến mất, có người thì dần dần nhỏ lại. Sỏi thận, sỏi mật, một khi gia trì, biến mất! Người mù nhìn thấy. Người câm nói được. Người điếc nghe thấy. Ngay cả cột sống cong vẹo cũng được kéo thẳng! Một số bệnh khó điều trị, đã khám bác sĩ mà vẫn không khỏi. Thế mà nhờ tôi gia trì lại khỏi! Người vô sinh cũng sinh con được! Người đột quỵ não, trong não có cục máu đông, một khi gia trì, cục máu biến mất! Có người phải lọc thận, một khi gia trì, thật sự không cần lọc nữa! Từ ngồi xe lăn đứng dậy đi được.
Tôi với tư cách là một người gia trì này rất nổi tiếng, mỗi ngày rất nhiều người rất nhiều người nghe tin đồn kéo đến. Bản thân tôi cũng thường xuyên cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu cùng chư Phật Bồ Tát mong cho chúng sinh xa lìa bệnh khổ. Tôi tu thành Pháp thân, có thể viễn du đến các quốc gia trên thế giới, tùy duyên cứu độ chúng sinh, có cầu có ứng, những điều này đều là có thật.
Tôi xin thật lòng nói với mọi người, người có thành tâm, Phật có cảm ứng. Tôi cầu nguyện: Mong cho chúng sinh được xa lìa khổ!
Ở đây tôi đưa ra một bức thư làm chứng. Đây là gia trì phẫu thuật.
Pháp thân Sư Tôn gia trì phẫu thuật suôn sẻ.
Từ khi bác sĩ quyết định làm phẫu thuật cắt bỏ một khối u giữa tim và phổi cho tôi, lòng tôi luôn bất an, bác sĩ nói nếu may mắn thì có thể không cần phải cắt bỏ một phần phổi, nhưng phẫu thuật tim phổi rủi ro là rất lớn. Mẹ tôi cũng đã làm phẫu thuật như vậy, kết quả là chưa xuống khỏi bàn mổ đã mất. Vì vậy tôi viết thư đến Chân Phật Mật Uyển ở Seattle Hoa Kỳ cầu Sư Tôn cứu giúp, tuy đã nhận được thư trả lời của Sư Tôn "đã gia trì", nhưng tôi vẫn lo lắng, liên tục niệm tâm chú Sư Tôn cầu nguyện Sư Tôn gia trì.
Hôm trước, ngủ đến rạng sáng, tôi nằm mơ rất rõ ràng một giấc mơ tốt lành, trong mơ Sư Tôn đến trước mặt tôi, liên tục hỏi tôi một số tình trạng bệnh, bác sĩ nói thế nào, quy trình phẫu thuật như thế nào v.v…, tôi liền báo cáo với Sư Tôn những gì bác sĩ đã nói với tôi. Trong suốt thời gian đó, Sư Tôn và tôi liên tục hỏi đáp, nhưng nội dung cụ thể tôi không nhớ lắm, chỉ nhớ cuối cùng Sư Tôn nói: "Được, ta biết rồi." Sau khi cảnh này kết thúc, lại có một quý phu nhân toàn thân ánh vàng lấp lánh, trông giống như Kim Mẫu, cũng giống như Thiên Thượng Thánh Mẫu đến, tôi hơi không phân biệt được. Quý phu nhân dẫn tôi đến một căn phòng, trong phòng này ánh đèn lấp lánh, rất sáng sủa, rồi tôi tỉnh dậy.
Trước đây tôi đã nghe về các trường hợp cảm ứng của Sư Tôn, có đệ tử phẫu thuật cầu Sư Tôn gia trì, kết quả nằm mơ thấy bác sĩ phẫu thuật chính là Sư Tôn, chỉ một chút đã lấy ổ bệnh ra, không hề có cảm giác gì cả. Sau đó bệnh viện kiểm tra, phát hiện ổ bệnh không còn nữa, kết quả ca phẫu thuật bị hủy bỏ. Cũng có đệ tử thấy Sư Tôn luôn bên giường bệnh bảo vệ đệ tử, cuối cùng phẫu thuật rất thành công. Từ khi nằm mơ thấy Sư Tôn đến, mấy ngày nay tinh thần tôi sảng khoái, cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều. Hôm qua trong lúc phẫu thuật, tim đột ngột ngừng đập, lúc đó tôi cảm thấy Sư Tôn đến, ngay lập tức lại trở lại bình thường, có kinh sợ một phen nhưng không nguy hiểm, phẫu thuật thành công suôn sẻ! Cảm ơn Sư Tôn đại gia trì, vô cùng biết ơn!
Đệ tử Liên Hoa Thiệu Mẫn đảnh lễ khấu lạy (đệ tử Thụy Sĩ). Ngày 09 tháng 10 năm 2024.
08. Hỏi: Khi tu pháp, vì sao thân thể lại có thể chấn động?
Lư Sư Tôn đáp: Đây là khí động. Hiện tượng khí động, có người sẽ có, có người sẽ không có. Có người chỉ cần thiền định, thân thể liền chấn động. Đây cũng là khí động. Có người dùng ý niệm thì động, không dùng ý niệm thì không động. Có loại khí động có thể kiểm soát được, cũng có loại khí động không thể kiểm soát được. Tóm lại, khí động chính là hiện tượng khí vận hành trong thân thể con người. Có đủ mọi hiện tượng kỳ lạ.
Ngày xưa, tôi đã viết một cuốn sách tên là "Khởi Linh Học", thực ra nên gọi là "Khởi Khí Học" thì chính xác hơn. Cá nhân tôi cảm thấy tốt nhất là có thể tự kiểm soát khí động, như vậy sẽ không dễ sai sót. Nếu không thể kiểm soát được khí động sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường, gây ra đủ mọi hiện tượng như đồng cốt, bệnh nhân tâm thần, nghi thần nghi quỷ, ảo giác…
Nhưng, khí động tốt có thể khỏe thân, thông các kinh mạch toàn thân, thậm chí có thể thông mạch, luyện khí, khỏe thân, mở năm mạch, xuất khiếu,… Tôi nói: Khí tụ ở mắt, có thể được thiên nhãn. Khí tụ ở tai, có thể được thiên nhĩ. Khí tụ ở tâm, có thể được tha tâm. Mở năm luân xa chứng năm đại thần thông. Lợi dụng khí này để tu hành, gọi là tự phát công.
Tu luyện khí cũng có thể "bão nguyên thủ nhất". Mật giáo tu hành: Cửu tiết Phật phong, Kim cang tụng, Bảo bình khí. Toàn bộ đều là tác dụng của khí động. Vận chuyển chuyết hỏa, minh điểm thủy cũng lấy khí làm công cụ. Luyện tinh, luyện thần, toàn nhờ vào khí.
Về nạp khí: Thượng tiêu là tâm phế tông khí. Trung tiêu là tỳ vị trung khí. Hạ tiêu là cố thận thận khí. (Đây là thông tam tiêu.)
Lư Sư Tôn nói: Diêu Trì Kim Mẫu chỉ thị như vầy: Khí động có thể rèn luyện thân thể, khiến tất cả các kinh mạch toàn thân đều mở ra, và không bị tắc nghẽn, thân tâm sảng khoái. Vì vậy đây là phương pháp luyện thân. Lại nữa: Chỉ cần vận khí đến ngón tay, ngón tay có thể chấn động, thì có thể vận dụng thủ quyết cắt chữ Cửu tự chân ngôn, có thể trừ tà làm kết giới. Khí động ở ngón tay có thể gia trì phù lục, khiến phù lục sinh ra pháp lực. Lấy khí động của chính mình hợp với pháp lưu của Bổn tôn càng có thể tạo ra nhiều phép lạ. Lấy khí động ngón tay phối hợp với pháp lưu của Bổn tôn có thể bấm ngón tay thần toán, hành giả có thể biết việc thiên hạ, có thể dự đoán tương lai. Khí động tuy thần kỳ nhưng chớ xem là quái dị, thấy lạ chẳng cho là lạ thì cái quái lạ ấy tự bại. Nên trân quý.
Tôi xin trích dẫn một bức thư để chứng minh hiện tượng khí động.
Đảnh lễ Pháp Vương Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật vô thượng tôn quý! Sư Tôn, Sư Mẫu kính yêu, Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Lệ Yến xin lấy tấm lòng chân thành đảnh lễ Sư Tôn, Sư Mẫu, cầu nguyện Sư Phật thân thể an khang, trường trụ thế gian, vĩnh chuyển pháp luân! Cũng cầu nguyện Sư Mẫu bệnh nghiệp tiêu trừ, phúc thọ khang ninh!
Trước tiên ngu đệ tử xin sám hối với Sư Phật, bao nhiêu năm qua mỗi lần viết thư chỉ cầu xin tiền đồ và hôn nhân cho con cái, chưa bao giờ nhắc đến tiến độ tu hành, đệ tử hổ thẹn, luôn vướng mắc vào con cái, dùng quan niệm truyền thống để trói buộc con, khiến con cái nổi loạn càng mạnh hơn, bây giờ con đã nghĩ thông rồi, con cái đều đã lớn, hãy để chúng theo duyên của chúng.
Ngu đệ tử hôm nay viết thư muốn chia sẻ với Sư Phật về những cảm ứng tu pháp trong bao nhiêu năm qua. Thực ra con mới quy y Chân Phật Tông vào năm 2015, trước đó chỉ là tín đồ. Ban đầu con quy y Nhất Quán Đạo, sau đó tin Tịnh Độ, tiếp theo quy y Pháp Vương Như Ý Bảo Tây Tạng, rồi lại tin Tâm Linh Pháp Môn, gặp đạo nào cũng bái. Sau đó có một ngày, con quỳ trước Quan Thế Âm Bồ Tát cầu xin, hy vọng Quan Thế Âm Bồ Tát có thể chọn cho con một vị thầy để một lòng một dạ theo học pháp với một vị thầy, cầu Quan Thế Âm Bồ Tát cho con một giấc mơ chỉ thị. Hôm đó tối không có giấc mơ nào, hôm sau con dậy bình thường đi đến công ty, hôm đó con đi tàu điện ngầm đến chỗ làm, theo thói quen niệm trong tâm chú Đại Bi.
*Đột nhiên trong toa tàu thoang thoảng một mùi hương trầm, con quay đầu tìm kiếm khắp nơi nhưng không tìm ra mùi hương từ đâu tỏa ra. Quay về công ty không lâu, một người bạn bên cạnh đưa cho con một túi sách Phật, cô ấy nói mình không hiểu Phật pháp, biết con học Phật nên tặng sách Phật cho con. Con mở ra xem thì là Chân Phật Tông, giới thiệu lý lịch của Sư Tôn, do đồng môn tại Chân Độ Lôi Tạng Tự phát. Sau đó cơ duyên chín muồi, con quy y Chân Phật Tông, ở nhà niệm tâm chú Thượng sư. *
Kể cũng lạ, chỉ mới niệm vài tháng đã có báo mộng. Giấc mơ như thế này, trong mơ sư huynh nhà con lái xe, con ngồi ghế phụ, Sư Tôn, Sư Mẫu ngồi hàng sau, lái xe đến một nơi rất xa rất xa. Chúng ta xuống xe, đi vào một căn nhà, Sư Tôn ở trong nhìn quanh, hỏi con căn nhà này các người mua phải không?
*Con nói đúng vậy, Sư Tôn nói ngôi nhà này phong thủy rất tốt. Sau đó chúng ta đi ra khỏi nhà, vừa mới bước ra cửa, mặt nhà phát ra một tiếng vang lớn "ầm". Chúng con quay đầu lại nhìn, hóa ra là một con rồng xanh trong nhà bay vòng một vòng. Sư Tôn khen ngợi ngôi nhà này rất tốt, ngôi nhà có màu xám nhạt, tường ngoài có những thanh gỗ nằm ngang, sau nhà có một cây tùng cao vài mét. Sau đó chúng con đưa Sư Tôn Sư Mẫu về, rồi tỉnh khỏi giấc mơ. *
Năm 2016 lần đầu tiên con đặt chân đến Seattle hành hương, con đã choáng váng, con không ngờ rằng ngôi nhà trong mơ của con lại giống với ngôi nhà ở Seattle đến như vậy. Cây tùng cao sừng sững phía sau nhà, ở London Anh Quốc và Ôn Châu Trung Quốc đều không có loại cây tùng này, tại sao con lại đến Seattle trong mơ? Con tu các pháp môn khác đều không có giấc mơ chỉ thị nào, con tin rằng con đã tìm được Thượng sư, duyên Phật của con ở Chân Phật Tông. Sau đó hàng năm con đều đến Seattle hành hương.
Con nhớ vào tối ngày 18 tháng Giêng năm 2023 âm lịch, con đã niệm hơn chục biến Chân Phật Kinh trước đàn thành tại nhà, cũng đã làm lễ hồi hướng. Tối hôm đó trong lòng còn lẩm bẩm vài câu, hơi bực bội, sau đó liền đi ngủ. Gần rạng sáng, con có một giấc mơ vô cùng rõ ràng. Con nhìn thấy một tôn Phật tượng ánh vàng lấp lánh, cao vài mét, sau đó hư không phát ra vô lượng ánh sáng bảy sắc. Con tự mãn tự đắc, nghĩ thầm sao mình lại nhìn thấy được Phật Bồ Tát, có phải mình đã mở thiên nhãn chăng? Khi đang vui mừng, Sư Tôn từ phía sau đi ra, hỏi con đang nhìn gì. Con quay đầu thấy là Sư Tôn, vội vàng kêu Sư Tôn nhìn hư không. Sư Tôn cười cười, con lại không bỏ lỡ cơ hội tốt, hỏi Sư Phật tại sao đồng môn khác cầu gì cũng linh nghiệm, nhưng con cầu sao lại không linh. Sư Phật nói: Có người đã giảm rất nhiều bệnh trên người. Con nghĩ nghĩ cũng đúng, con vốn thân thể đau đớn chỗ này chỗ kia, bây giờ dường như đều không còn nữa, con vội vàng đáp Sư Phật: Đúng rồi, đúng rồi, bệnh trên người con đều khỏi hết rồi, con cảm ơn sự gia trì của Sư Phật! Sư Tôn cười cười rồi đi, con tiếp tục nhìn vô lượng quang trên hư không, giấc mơ này thù thắng quá!
Từ năm 2015 con bắt đầu trì chú, tụng Cao Vương Kinh, tu Tứ gia hành, nhớ lúc đó đã có chút cảm giác tê đầu, thỉnh thoảng còn nhìn thấy ánh sáng. Mấy năm gần đây cảm ứng ngày càng mạnh, khi nhập Tam ma địa trước tiên xuất hiện ánh sao màu xanh lam, tiếp theo xuất hiện ánh sáng màu tím, rồi đến ánh sáng màu vàng sữa, giao thoa với nhau, năm nay sinh ra linh giác.
Mỗi khi con cúng dường bữa trưa và bữa tối, chỉ cần nhất tâm quán tưởng chư Phật Bồ Tát trụ đỉnh, pháp lưu ngay lập tức từ đỉnh huyệt hạ giáng, tràn khắp toàn thân, thân thể không tự chủ được mà đung đưa trước sau. Tháng 6 năm nay con đến Chân Phật Mật Uyển hỏi việc, Sư Phật nói con có thể tu Bổn tôn rồi. Con về London sau đó bắt đầu trì tu pháp Bổn tôn, tu trì theo nghi quỹ, đến khi nhập Tam ma địa, quán tưởng Bổn tôn trụ đỉnh, biến thành một hạt ngọc ánh sáng nhỏ bằng hạt gạo từ Phạn huyệt đi vào trung mạch, pháp lưu rất mạnh, các mạch trên thân đều nhảy động, đung đưa trước sau, rất chân thật. Pháp lưu của Sư Phật quả thật là danh bất hư truyền, chân thật bất hư, chỉ cần chúng con kính sư, trọng pháp, thực tu, tất có một ngày chúng con đều sẽ được tương ứng. Con vô cùng cảm ơn Sư Phật tận tình dạy bảo, cũng cầu xin Sư Phật gia trì cho con tu hành tinh tấn, tu pháp thành tựu.
Ơn Phật mênh mông, cảm ơn thầy của con, Ơn Phật mênh mông, cảm ơn pháp của con, Ơn Phật mênh mông, cảm ơn thân của con, Ơn Phật mênh mông, cảm ơn tuệ của con, Ơn Phật mênh mông, cảm ơn mệnh của con, Ơn Phật mênh mông, cảm ơn phúc của con, Ơn Phật mênh mông, cảm ơn tâm của con, Om guru liansheng siddhi hum.
Ngu đệ tử Liên Hoa Lệ Yến chắp tay quỳ lạy!
Tôi viết một bài thơ, tặng Liên Hoa Lệ Yến:
Duyên phận nếu đến thì sẽ tới Luân chuyển mấy lần ẩn trong lòng Giữa trời mây nước sẽ gặp nhau Thời gian du dương cũng chơi vơi
Thấy sách ta là thấy tâm ta Muôn vàn phiền não liền dọn sạch Từ đây thoát khỏi việc sinh tử Ra khỏi tam giới vào biển Phật
Nhất tâm tam muội là linh vật Người tục không biết mà chôn nó Điện quang chợt sáng được lĩnh ngộ Ném bỏ phiền não với trần ai
Thường đến Tây Thành thường qua lại Chân Phật phóng quang pháp lưu thịnh Khí động pháp lưu tinh thần mạnh Từ đây vô ưu lên thiên đài.
09. Hỏi: Thế nào gọi là ngôn ngữ Không Hành, vũ điệu Không Hành, văn tự Không Hành?
Lư Sư Tôn đáp:
Theo những gì tôi biết, trong các cõi trời, có một tịnh thổ tên là Áo Minh Thiên, là tịnh thổ của tất cả Không Hành.
Trong tịnh thổ Không Hành của Mật giáo có Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ. Họ sở hữu rất nhiều siêu năng lực mà người phàm tục không có. Lời nói của Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ chính là ngôn ngữ Không Hành. (thiên ngữ) Điệu nhảy của họ chính là vũ điệu Không Hành. (thiên vũ) Chữ viết của họ chính là văn tự Không Hành. (thiên tự)
Ngoài ra, theo cách nói thông thường, chúng ta đều gọi các thiên nữ ở cõi trời là Không Hành Mẫu, nam giới được gọi là Không Hành Dũng Phụ. Lấy một ví dụ. Diêu Trì Kim Mẫu có ba nghìn thị nữ, tương đương với ba nghìn tiên nữ, ba nghìn Không Hành Mẫu. Trường Thọ Tuyết Sơn Ngũ Thiên Nữ là năm Không Hành Mẫu Trường Thọ. Cát Tường Thiên có mười hai Không Hành Mẫu. Trong mười hai thiên, có rất nhiều Không Hành Mẫu (tiên nữ). Trong tám phương thiên, có Bát Phương Không Hành Mẫu (tiên nữ).
Nơi Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ cư trú, có nơi ở trên trời, có nơi ở dưới đất, có nơi ở hồ biển, có nơi ở nhân gian, khắp nơi đều có. Ở nhân gian, cũng có nơi tụ họp của Không Hành, tức là họ cũng có những buổi tụ họp, địa điểm tụ họp, được gọi là "căn cứ Không Hành".
Tôi (Lư Sư Tôn) có rất nhiều đệ tử, trong năm triệu đệ tử có rất nhiều người là Không Hành Mẫu chuyển thế, Không Hành Dũng Phụ chuyển thế. Vì vậy đệ tử của Lư Sư Tôn có nhiều người biết nói ngôn ngữ Không Hành, biết nhảy vũ điệu Không Hành, biết viết văn tự Không Hành. Những điều này, chẳng có gì lạ!
Lại có người hỏi: Không Hành Mẫu và Độ Mẫu có gì khác nhau? Cá nhân tôi cho rằng chữ "độ" trong "Độ Mẫu", có ý nghĩa cứu độ, là có nhiệm vụ của mình. Ví dụ: Lục Độ Mẫu - là một vị Bồ Tát nữ, còn gọi là Đa La Bồ Tát. Ngài có 21 hóa thân, Ngài là sự chuyển hóa của Bồ Tát Quan Thế Âm, theo truyền thuyết là sự chuyển hóa từ giọt nước mắt của Bồ Tát Quan Âm. 21 Độ Mẫu mỗi vị đều có nhiệm vụ riêng. Ngài hiện ra dung mạo thiếu nữ tuyệt sắc, một mặt hai tay, từ bi trang nghiêm, tay cầm hoa upala. (Trong "Trụ Gian Sử" của Songtsen Gampo, Ngài đã chuyển hóa thành công chúa Văn Thành của nhà Đường.)
Bạch Độ Mẫu - hình tượng giống như Lục Độ Mẫu, Ngài có bảy con mắt, ba mắt trên mặt, hai mắt ở lòng bàn tay, hai mắt ở lòng bàn chân, nên được gọi là Thất Nhãn Phật Mẫu. Bạch Độ Mẫu, Trường Thọ Như Lai, Tôn Thắng Phật Mẫu, ba vị này được gọi là Trường Thọ Tam Tôn. (Trong "Trụ Gian Sử" của Songtsen Gampo, Ngài đã chuyển hóa thành công chúa Xích Tôn của Nepal.)
Ngoài ra, vị Độ Mẫu tôn quý nhất là Bát Nhã Phật Mẫu, vị trí của Ngài cao nhất giữa chư Phật và chư Bồ Tát. Kim Cang Hợi Mẫu. Kim Cang Du Già Mẫu. Kurukulle Phật Mẫu. v.v… Vị trí của các Ngài vô cùng cao siêu.
Tôi cho rằng: Độ Mẫu có ý nghĩa cứu độ chúng sinh. Không Hành Mẫu nếu cứu độ chúng sinh thì cũng là Độ Mẫu. Phật Mẫu, Độ Mẫu, Không Hành Mẫu có sự khác biệt không lớn lắm.
Tôi lấy ví dụ như sau: (bức thư)
Đảnh lễ Sư Phật kính yêu! Trước tiên đệ tử cảm ơn Sư Phật đã từ bi cứu độ!
Buổi đồng tu thứ Bảy ngày 28 tháng 9 năm 2024, Sư Phật trên pháp tọa hỏi đệ tử có biết viết thiên ngữ không, đệ tử trả lời không biết.
Sau khi đồng tu xong, trên đường về sơn trang, Không Hành Mẫu cứ liên tục nói rằng cô ấy biết viết, đệ tử vô cùng ngạc nhiên và cũng nửa tin nửa ngờ. Trở về sơn trang sau khi hoàn thành một số công việc chùa chiền, hằng ngày trước khi ngủ đệ tử đều tu một tọa pháp Nghìn chiếc thuyền pháp, sau khi tu pháp xong đệ tử cầm bút lên xin Không Hành Mẫu viết, tay tự động viết được, và còn lẩm bẩm niệm những lời gì đó. Đệ tử nhìn chữ viết ra giống như vẽ phù lại như vẽ tranh, đệ tử hỏi Pháp thân có thật không?
Pháp thân nói, Không Hành Mẫu vốn dĩ biết rồi, nhưng đệ tử ngu ngốc trả lời Pháp thân rằng, chỉ có các ngài hiểu mà không để con hiểu được thì không tính, con vẫn còn nghi hoặc. Sau đó đêm thứ hai tu pháp xong con lại cầm bút lên, rất tự nhiên tay tự động viết ra rất nhanh rất nhiều hình vẽ, lúc đó cảm thấy đầu óc mình trống rỗng, nhưng tay thì tự động viết, khi bút dừng lại thì ở giữa đôi lông mày của đệ tử tụ họp ánh linh quang rất mạnh, bất ngờ nhìn thấy toàn bộ hư không giống như những chữ viết hình vẽ vừa rồi phát ra ánh sáng vàng hạ xuống, trong ánh sáng rực rỡ lại biến hóa ra rất nhiều hình dáng hoa nhỏ có màu sắc rực rỡ, thật sự rất đẹp rất xinh! Lúc này Pháp thân nói những điều này vốn dĩ Không Hành đều có, con vốn dĩ biết viết rồi. Đệ tử viết cho Sư Tôn xem những chữ viết này, còn phải xin Sư Tôn chỉ dạy từ bi gia trì cho đệ tử ngu độn trên con đường tu hành được thành tựu có thể tự độ cũng có thể độ người.

Hai hàng chữ viết này là trước kia viết.

Trong buổi đồng tu thứ Bảy ngày 12 tháng 10 năm 2024, Sư Tôn yêu cầu đệ tử hát một bài ca của Không Hành Mẫu, chính con cũng rất xúc động khi hát, sau khi hát xong miệng đệ tử cứ liên tục nói thiên ngữ với Không Hành Mẫu giáng xuống. Khi Sư Tôn hỏi đệ tử có nhìn thấy các Ngài không? Đệ tử trả lời chỉ nhìn thấy mấy vệt ánh sáng giáng xuống, sau đó xoay vần trong hư không. Sau khi nói xong trong lòng đệ tử cảm thấy rất hổ thẹn, ý nghĩ vừa khởi lên, thật kỳ diệu, bỗng nhiên trước mắt sáng lên rất nhiều khuôn mặt của Không Hành tụ họp lại cho đệ tử thấy.
Đệ tử ngu muội xin mô tả sơ lược ý nghĩa của bài ca Không Hành Mẫu lúc đó:
Không Hành, những đứa con ơi! Vị Phật Vương trên nhân gian này! Với cam lộ song vận vô thượng mật của Ngài thấm nhuần gia trì cho chúng con! Khiến chúng con rực rỡ phát sáng trở về bản địa của chúng con. Ngài là vị Cổ Phật truyền thừa song vận vĩnh hằng của chúng con! Không Hành mười phương pháp giới từ xưa đến nay chưa từng rời xa! Ôi ái lang ơi! Nhờ đại lạc song vận của Ngài có thể chuyển hóa thành nguyện lực bồ đề vô tận, có thể khiến mười phương pháp giới quang minh đại lạc, có thể độ các chúng sinh sáu nẻo! Chúng con theo Ngài vĩnh hằng vĩnh cửu mãi không đổi thay!
Sư Tôn, đệ tử ngu độn không có tiến bộ gì, bản thân cảm thấy chỉ cần mọi lúc nghĩ nhớ đến Căn bản Thượng sư, một lòng một dạ quy y theo Sư Tôn, thành thực giữ vững bổn phận, ngày ngày tu Mật pháp của Sư Tôn, có thể sớm có ngày được Sư Tôn tiếp dẫn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì chính là nguyện vọng tu hành trong kiếp này của đệ tử.
Chưa bao giờ nghĩ rằng lại kỳ diệu đến thế, có thể cảm ứng với Sư Tôn Liên Hoa Đồng Tử và còn biết được nguồn gốc của mình, có thể mọi lúc ở cùng với Sư Tôn Pháp thân Không Hành, linh giác khi tu pháp và cảm nhận trong thân thể rất thoải mái suôn sẻ và vui vẻ vô tận, nhưng đôi khi cũng thường khóc đến tan nát cõi lòng và bi thương, bởi vì đệ tử có thể nhìn thấy, có thể nghe thấy, cũng có thể cảm nhận được rằng Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu và rất nhiều chư Phật, chư Bồ Tát, Không Hành, Kim Cang thực sự là những vị Đại Nguyện Phật nghe tiếng cứu khổ không bỏ chúng sinh và những vị Đại Phật Mẫu từ bi!
Sư Phật ơi! Đệ tử cảm ơn Sư Tôn đã hiển hóa lấy thân làm gương, một bước một dấu chân thực hành thành tựu Mật pháp vô thượng, không giấu giếm gì cả mà từ bi độ hóa chúng sinh. Đệ tử chỉ có kiến thức tiếng Trung ba năm tiểu học, nhưng tất cả những gì của Sư Phật, mỗi lần thuyết pháp khai thị và viết lách hằng ngày, đến nay đã xuất bản đến văn tập thứ 301, đệ tử nghe khai thị xem tác phẩm của Sư Tôn, không ngờ dường như đều có thể hiểu được một chút và còn hòa nhập vào trong đời sống hằng ngày cũng như trên con đường tu hành, giống như theo chân Sư Tôn thực hành vững chắc, từng bước đi để lại một dấu chân!
Sư Phật ơi! Đệ tử cần Phật quang của thầy, cần lời vàng của thầy, cần tình thương của thầy, cần sự cứu độ của thầy, cần từng hơi thở của thầy! Đệ tử cầu xin Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, chư Phật, chư Bồ Tát, Không Hành, chư thiên, cầu nguyện Sư Tôn Sư Mẫu khỏe mạnh, trường thọ, bình an, hạnh phúc, ngày đêm sáu thời mãi cát tường!
Tiểu tiểu tiểu đệ tử Liên Hỷ cảm ơn đảnh lễ Sư Phật kính yêu!
🌟
Tôi (Lư Sư Tôn) viết thơ, tán thán Không Hành Mẫu:
Bài thứ nhất:
Thời không chẳng ràng buộc Cứu độ nhiều hứng thú Việc trăm nghìn vạn năm Khắp nơi hiển thần thông Nói ra lời chân thực Viết ra dấu Chân Phật Đi tịnh thổ Song Liên Múa ra gió diệu pháp.
Bài thứ hai:
Tán thán Không Hành Mẫu Cùng ta khéo tương phùng Hoá ra là túc duyên Pháp vụ càng hưng long.
10. Phụ lục: Hàn Vũ báo cáo hành hương căn cứ Không Hành
Tôi (Lư Sư Tôn) nói: Ở Seattle có một nơi gọi là Căn cứ Không Hành. Cô (Hàn Vũ), có thể đến tham quan. Bản thân Hàn Vũ chính là Không Hành Mẫu.
Báo cáo của Hàn Vũ như sau:
Đêm qua là rằm tháng mười âm lịch, trăng tròn, tôi cùng pháp sư Liên Lịch, Liên Kỳ đến căn cứ Không Hành, nơi đó linh khí rất tốt, rất thanh tịnh, trên mặt đất có các Không Hành Mẫu đang lễ bái, trên không trung, trên cây cũng có, dưới đất hẳn là cũng có (không phải nhìn bằng mắt thường, mà là trực giác trong tâm).
Lần này đến, họ không tụ tập thành một nhóm lớn như lần đầu tiên, vì vậy, tôi vừa xuống xe đã bắt đầu vỗ tay, hát những bài ca vui vẻ, ý chính của bài ca là: đánh thức họ, mời họ từ trên trời, dưới đất, từ mọi góc cạnh tỉnh dậy, tập hợp lại, cùng nhau sum vầy. Sau khi hát xong, tôi lại hát bài ca triệu thỉnh Không Hành Mẫu của mình, tôi cảm thấy sức mạnh rất lớn, có rất nhiều Không Hành Mẫu xuất hiện trên không trung, đứng trên hoa sen.
Họ đã nói với tôi một số điều, đại ý là: Truyền thừa Chân Phật luôn được các Không Hành Mẫu hộ trì, vì họ hộ trì chính pháp thanh tịnh. Trong truyền thừa Chân Phật của chúng ta,có truyền thừa bí mật của Không Hành Mẫu, được ẩn giấu không ai biết.
Hôm nay, họ gia trì cho ba người chúng tôi, trao cho thọ ký, họ nói với tôi rằng hai vị pháp sư cũng có tên bí mật của họ ở tịnh thổ Không Hành. Liên Lịch là Di Đả Thố, Liên Kỳ là A Tôn Ma.
Sau khi đối chiếu phát âm tiếng Tạng với Liên Lịch, tên chính xác là Chokyi Gyatso, là Pháp Hải trong tiếng Tạng , và Asongma (Nhất Kế Phật Mẫu).
Sau đó, tôi cảm ứng thấy mặt đất biến thành màu vàng, không trung trước mặt xuất hiện một tòa đàn thành (cung điện) vàng khổng lồ, Không Hành Mẫu bao quanh, phía trên đàn thành có Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ngồi, họ và Liên Hoa Đồng Tử không hai không khác. Họ nói, chỉ cần tâm thanh tịnh, thì nơi này và tịnh thổ Liên Sư không khác.
Lần này Liên Lịch ban đầu không có cảm ứng gì, chỉ nghe tôi một mình nói, nhưng khi ngài vừa nghe đến Chokyi Gyatso, đột nhiên ký ức tiền kiếp được mở ra, như từng là quốc vương của nước Shambhala. Đồng thời, ngài nhìn thấy trên trời xuất hiện một con mắt khổng lồ. Ngài cũng tiếp nhận được pháp lưu và linh cảm của Liên Sư, hiểu được mục tiêu tu hành kiếp này.
Liên Sư nói sẽ gia trì cho ba người chúng tôi, chúng tôi có truyền thừa Đại Viên Mãn, nhưng chúng tôi không thể chỉ dựa vào truyền thừa rỗng tuếch mà phải theo sát khẩu truyền của Sư Tôn để truyền bá Đại Viên Mãn trong truyền thừa Chân Phật. (Ngoài việc hát và nghe các ngài nói chuyện, tôi cũng đã làm lễ siêu độ.)
Trên đây là những gì đã xảy ra đêm qua, kính báo cáo lên Sư Tôn vô cùng kính yêu!
Ngày 18 tháng 10 năm 2024.
11. Hỏi: Ý nghĩa lớn của pháp xả thân là gì?
Lư Sư Tôn đáp: Pháp xả thân (pháp thí thân), tôi đã giảng dạy và đã trao quán đảnh cho các đệ tử. Ý nghĩa lớn của nó là: Phát tâm bồ đề rộng lớn vô biên. Trình độ cao nhất của vô ngã! Hy sinh cái tôi nhỏ, hoàn thành cái tôi lớn. (Đoạn ngã chấp, đoạn pháp chấp.) Bình đẳng thí xả.
Quá trình tu pháp chia làm ba đoạn, nói một cách đơn giản:
Thứ nhất: Quán tưởng thân mình to lớn như núi Tu Di, nằm xuống. Thỉnh Hắc Phẫn Nộ Mẫu tay cầm dao sắc bén, chặt đầu, tay, chân, thân thể, thành từng mảnh.
Thứ hai: Dùng xương sườn của mình làm giá đỡ, trên đặt hộp sọ của mình làm nồi, trong nồi chứa đầy máu thịt của mình. Sau đó dưới giá đỡ đốt lửa bừng bừng, đun máu thịt của mình, nấu nhừ như cam lộ nước súp thịt.
Thứ ba: Dùng cam lộ thân mình cúng dường bốn bậc thánh (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn). Bố thí cho chúng sinh sáu nẻo (trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh). (Trên đây là cách tu quán tưởng.)
Trong đó có rất nhiều chi tiết, có thủ ấn, quán tưởng, trì chú, cúng dường, phát tâm bồ đề, v.v... Pháp này là pháp của phái Giác Vũ, nhưng, đã phổ biến được tôn sùng trong bốn đại giáo phái.
Cái chết có là gì! Lấy thân xác cúng dường bốn thánh sáu phàm mười pháp giới là số một. Giống như việc hiến tặng nội tạng của người đời nay. Sự cúng dường này vĩ đại nhất! Tâm bồ đề rộng lớn vô biên, đáng ca ngợi!
🌟
Đây là bài viết của Không Hành Mẫu - Liên Hoa Lệ Phi viết, ấn chứng về pháp xả thân như sau:
Tiến trình tu tập pháp xả thân
Đệ tử Liên Hoa Lệ Phi nhất tâm đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử Lư Sư Tôn (Sư Phật).
Vào cuối năm 2023, trong một pháp hội Hộ Ma, đệ tử nhìn thấy Ứng thân Lư Sư Tôn nhập đàn thành trong muôn vàn Không Hành Mẫu rải hoa khắp trời. Lúc này, pháp lưu hư không khiến thân thể đệ tử kiên cố như núi đá, dòng nhiệt chảy xuống, mỗi lỗ chân lông đều nhảy múa, hư không truyền đến tiếng nói vĩ đại: "Ngươi phải phát tâm bồ đề rộng lớn!" Lời dặn dò này như sấm vang rung chuyển trong Tâm luân, khiến đệ tử không kìm được nước mắt. Đệ tử chưa giác hành viên mãn vẫn còn thiếu sót trong việc giúp đỡ chúng sinh. Vì vậy, đệ tử cũng không ngừng học hỏi và trưởng thành trong mọi thử thách và khuyết điểm, cảm ơn tất cả chúng sinh đã ban cho đệ tử những lời giáo hóa! Cầu xin Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp gia trì và hộ trì, nguyện đệ tử có khả năng mang đến cho chúng sinh nhiều hơn nữa sự thanh tịnh, an lạc, quang minh.
Sau khi tiếp nhận sự gia trì và lời dặn dò từ pháp lưu hư không này, đệ tử trong việc tu trì pháp xả thân đã có sự giác ngộ mới - Bố thí bình đẳng vô tướng: Trong định, không phân biệt sáu đạo, không phân biệt hình thái, bình đẳng thanh tịnh, bình đẳng tiếp dẫn, pháp lạc vô hạn.
Sau đó, huyễn thân Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu hiển hóa cũng từ phức tạp chuyển thành giản đơn. Ngài trong tịch tĩnh càng hiển quang minh đẹp đẽ, tao nhã khiến người cảm động. Sau khi hợp nhất, Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu lấy xả thân hóa cam lộ cúng dường bốn thánh sáu phàm mười pháp giới. Sau đó, cam lộ tự nhiên hóa hiện thanh tịnh quang, tịnh hóa nghiệp đen của chúng sinh u minh, đồng thời dẫn dắt chúng sinh u minh hiểu rõ nhân quả phát lộ sám hối.
Chúng sinh u minh lòng sinh sám hối nhận được hoa sen do cam lộ biến hóa thành, khiến họ cưỡi sen rời biển khổ. Lúc này, ngoài Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, hư không cũng hiển hóa Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Kim Mẫu, Địa Tạng Bồ Tát và các Không Hành chư tôn đồng thời phóng quang gia trì chúng sinh cõi người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Cuối cùng, Di Đà cũng hiện thuyền pháp, tiếp dẫn chúng sinh hữu duyên cùng vào biển Phật. Chư vị đồng tâm hợp lực thanh tịnh tiếp dẫn khiến chúng sinh lìa khổ được vui, làm đệ tử cảm động rơi nước mắt.
Sau đó, đệ tử tham gia vào mỗi buổi pháp hội Hộ Ma do Sư Phật chủ đàn (dù là tham dự trực tiếp hay tham gia trực tuyến), đệ tử tự nhiên sẽ trong thiền định, trên đầu đội Căn bản Truyền thừa và hợp nhất với Bổn tôn, xả thân hóa cam lộ, nguyện tận sức mình hộ trì Sư Phật, giúp đỡ hữu tình, tịnh hóa nhân tâm, thanh tịnh vô hình. Cảm ơn Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đại gia trì chỉ đạo, cảm ơn Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu và chư tôn gia trì chỉ đạo, cảm ơn tất cả chúng sinh giáo hóa, khiến đệ tử không ngừng từ trong cuộc sống tu pháp, tu hành mà tự tỉnh, tự giác, tự độ mà sau đó học tập độ người. Cầu xin Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật ban cho đệ tử sự gia trì và chỉ đạo vô thượng, khiến đệ tử có thể sớm giác hành viên mãn, tự tại lợi lạc hữu tình. Cầu nguyện Sư Phật ngày ngày khỏe mạnh, ngày ngày vui vẻ, thỉnh Phật trụ thế, vô tận cảm ơn Sư Phật!
🌟
Liên Hoa Lệ Phi (Không Hành Mẫu), viết bài kệ tán thán Mã Cát Lạp Tôn:
Mã Cát Lạp Tôn con đảnh lễ Dáng tiên kiều diễm tự hóa sinh Pháp lạc vang lên lượn bay múa Cam lộ cúng dường không phân biệt Tán thán xả thân lời thề lớn Nguyện độ ta người được giải thoát.
🌟
Tôi (Lư Sư Tôn) nói với mọi người:
Ở nơi tôi có truyền thừa bí mật vĩ đại của Không Hành. Vì vậy trong các đệ tử của tôi, có rất nhiều Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ đều đến hội tụ. Rất nhiều nhân tài, không thể đếm hết. Tương lai sẽ có nhiều hơn nữa Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ từng người một hiện thân.
Truyền thừa Không Hành của chúng tôi là bí mật trong các bí mật. Đây là do được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ giao phó, cùng với năm vị Đại Phật Mẫu và hai mươi vị Đại Phật Mẫu và hai mươi lăm vị đệ tử đại thần thông của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ mà đến.
Tôi viết bài kệ tán thán: Thế nhân làm sao biết Truyền thừa thật đặc thù Ta Bà được thanh tịnh Tông tôi là linh chi. (Truyền thừa Không Hành quá vĩ đại rồi!)
12. Hỏi: Nghe nói Yeshe Tsogyal và Mã Cát Lạp Tôn là cùng một người phải không?
Lư Sư Tôn đáp: Theo như tôi biết, Yeshe Tsogyal xuất thân quý tộc, là đệ nhất Phật Mẫu của giáo chủ Mật tông Tây Tạng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Năm vị Đại Phật Mẫu nổi tiếng của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là:
- Yeshe Tsogyal.
- Mandarava.
- Shakya Devi.
- Kalasiddhi.
- Tashi Khyidren.
Yeshe Tsogyal ban đầu là hoàng phi của Tạng Vương Trisong Detsen, sau đó theo Liên Sư tu thành chính quả. Bà học tập sự xuất ly của Tiểu thừa, bồ đề của Đại thừa, kinh tục của các thừa Mật giáo, Đại Viên Mãn thành tựu tối cao của Ati Yoga. Cuối cùng, bà trở thành giáo chủ thế hệ thứ hai sau Liên Sư, hòa nhập vào cầu vồng.
Còn về Mã Cát Lạp Tôn và Yeshe Tsogyal, hai người ở hai triều đại khác nhau. Chúng ta chỉ biết rằng khi Yeshe Tsogyal tái hóa thân đến nhân gian độ chúng sinh, đó chính là Mã Cát Lạp Tôn. Nghĩa là Mã Cát Lạp Tôn là sự chuyển hóa của Yeshe Tsogyal. Yeshe Tsogyal có trước, Mã Cát Lạp Tôn có sau.
🌟
Trong Mật giáo, loại chuyển thế này rất nhiều, ví dụ như: Hoa Quang Tự Tại Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Lư Sư Tôn. (Tất cả đều là sự chuyển hóa của một người.) Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát chuyển hóa thành Đại Uy Đức Kim Cang. Những điều này rất phổ biến.
Nếu nói đến hợp nhất thì còn nhiều hơn nữa! Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là sự hợp nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm. Khổng Tước Minh Vương là sự hợp nhất của Phật Tỳ Lô Giá Na, Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà. Bồ Tát Quan Thế Âm có 32 ứng hóa thân, Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu cũng là ứng hóa của Ngài. Lục Độ Mẫu lại phân hóa ra 21 vị Độ Mẫu.
Phật A Di Đà có ba mươi sáu vạn tỷ, mười một vạn, chín nghìn, năm trăm vị Phật A Di Đà cùng danh cùng hiệu. Lại có ứng hóa Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Trường Thọ Phật. Tôn Thắng Phật Mẫu là ba vị hợp nhất. Hộ pháp La Hầu La là năm vị hợp nhất. Cát Tường Thiên có mười hai vị. Trường Thọ Thiên có năm vị. Ứng hóa của Liên Hoa Đồng Tử càng không thể đếm được. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là hóa sinh từ hoa sen, Ngài thật sự chính là Liên Hoa Đồng Tử. (Phật A Di Đà hóa thân thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, cũng hóa thân thành Liên Hoa Đồng Tử.) Hóa Sinh Đồng Tử, Hạng Quang Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử là cùng một người, tên khác nhau nhưng thực chất là một. Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí cũng đều là Liên Hoa Đồng Tử. (Trong "Kinh Bản Sinh" của Đức Phật có ghi chép.)
Các ứng hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử ở nhân gian cũng có rất nhiều vị, không thiếu người. Songtsen Gampo là ứng hóa của Quan Âm. Công chúa Văn Thành là ứng hóa của Lục Độ Mẫu. Công chúa Xích Tôn là ứng hóa của Bạch Độ Mẫu. (Ghi chép trong "Trụ Gian Sử".)
Tổ thứ hai của Thiên Thai Tông là Tuệ Tư, Tuệ Tư chuyển thế sang Nhật Bản, trở thành Thái Tử Thánh Đức. Thái Tử Thánh Đức cũng tự xưng là chuyển thế tái sinh của hòa thượng Trung Quốc. Mà tổ thứ hai của Thiên Thai Tông chính là sự chuyển hóa của Liên Hoa Đồng Tử. Sự chuyển hóa như thế này, tràn lan khắp nơi.
Không Hành Mẫu Liên Hoa Lệ Phi có một bài viết:
Lời dạy của Yeshe Tsogyal Phật Mẫu
Đầu năm 2024, có một ngày khi tu pháp xả thân, tôi hợp nhất với Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, hòa nhập vào hư không, trong hư không nhảy múa điệu múa tiên diệu mỹ. Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu trong hư không, bỗng nhiên biến hóa thành Yeshe Tsogyal Phật Mẫu, sau đó lại trở về là Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu. Trong lòng tôi bỗng rung động, liền trong thiền định cầu nguyện Phật Mẫu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ - Yeshe Tsogyal Phật Mẫu ban cho lời dạy.
Yeshe Tsogyal Phật Mẫu đã nói như vầy: "Trong chân đế tối thượng, Yeshe Tsogyal tức là Mã Cát Lạp Tôn Phật Mẫu, không có phân biệt. Tại nhân gian, do nhân duyên hội tụ mà sinh ra các hóa thân khác nhau và các giáo phái khác nhau, nhưng thật ra đều cùng một nguồn gốc. Hôm nay, ngươi cầu nguyện ta, nhân duyên hội tụ, ta sẽ hợp nhất với ngươi, ban cho sự hộ trì, khiến cho duyên chúng sinh tại nhân gian được viên mãn hơn." Tiếp theo lại nói: "Không Hành Mẫu đến nhân gian đều có sự mê muội do chuyển kiếp, cũng trong luân hồi nhiễm nhuốm tập khí nhân gian. Cần phải trong các thứ trải nghiệm, rèn luyện mà dần dần tỉnh thức, giác ngộ, buông xả hồng trần ồn ào, tu luyện nội tại, điều phục bên ngoài, đạt được trời người hợp nhất, sau đó mới có thể lợi ích hữu tình." Cuối cùng Ngài dặn dò: "Ngươi có thể xin Lư Sư Tôn truyền pháp chỉ nhân gian của Không Hành Mẫu, tăng trưởng ánh sáng kính ái, những người có duyên sẽ chủ động đến hỏi ngươi. Sau khi quan sát hành vi tu hành và căn khí của họ một thời gian, khi nhân duyên tăng trưởng hòa hợp thì ban cho họ một vài điều chỉ dạy."
13. Hỏi: Thế nào là ý cảnh của thiền định?
Lư Sư Tôn đáp: Về ý cảnh của thiền định, mỗi người không nhất thiết giống nhau, cảm nhận cũng mỗi người mỗi khác.
Ngày xưa, có người dùng nước để mô tả thiền định: Thô định — ý nghĩ như thác nước. Tế định — ý nghĩ như dòng chảy xiết. Thâm định — ý nghĩ như nước chảy róc rách. Tối tế định — ý nghĩ như nước đầm không gợn sóng. Tam ma địa định — nước phẳng lặng như gương không gợn sóng. (Đây là điều Lư Sư Tôn tôi phân biệt chi tiết ra, là kinh nghiệm cá nhân.)
Khẩu quyết thiền định: Vô sự. Vô tâm. Cảm nhận của thiền định, mỗi người khác nhau, cũng chịu ảnh hưởng của ngũ hành: Địa — Tự cảm giác như núi Tu Di, kiên định bất động. Thủy — Tự cảm giác khinh an tự tại, thanh tịnh vô song. Hỏa — Tự cảm giác ánh sáng tỏa ra bốn phía, cầu vồng đẹp đẽ. Phong — Tự cảm giác ngồi trên hư không, thần túc đến các tịnh thổ khác. Không — Tự cảm giác linh quang tự tỏa sáng chói lọi, thời gian không gian đều chẳng tồn tại. Trống rỗng không một vật.
Nói một cách đơn giản: "Thiền định chính là chuyên nhất!" "Con người có thể giữ được sự chuyên nhất, mọi việc đều thành!" "Thiền định có thể sinh ra trí tuệ, trí tuệ có thể sinh ra thiền định, hai bên là nhân quả lẫn nhau." "Định tâm vào một chỗ, không việc gì không thành tựu."
25 vị đệ tử thành tựu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là nhờ thiền định mà đạt được sức mạnh thần thông lớn. Ví dụ: Namkhe Nyingpo có thể cưỡi trên ánh sáng mặt trời, đi tuần hành khắp nơi. Shubu Palgyi Senge dùng chày phổ ba đập tảng đá khổng lồ thành mảnh vụn. Gyalwa Chokyang có thể tự biến hình, lúc thì là Mã Đầu Kim Cang, lúc lại biến thành Đại Uy Đức Kim Cang. Sokpo Lhapal có thể đến địa ngục đạo, ngạ quỷ đạo, súc sinh đạo, có thể giải trừ nghiệp chướng của người. Vairotsana có thể đi lại khắp nơi trong tam giới. Yeshe Yang có thể luôn luôn ở trong tam muội định, bất cứ lúc nào bất cứ nơi đâu đều có thể hiện thân. Yeshe Tsogyal đắc trí tuệ vô thượng, bất cứ ai cũng không thể bác bỏ được. Yeshe Tsogyal lấy cam lộ từ tảng đá, biến hóa ngũ hành vô cùng. Nanam Dorje Dudjom có thể cưỡi gió bay. Yeshe Tsogyal khi bay có thể đến tịnh thổ Không Hành. Sokpo Lhapa có thể ở cùng với các loài dã thú không ngại ngần. Nanam Yeshe De đi bộ trong hư không như đi trên đất bằng. Karchen Palgyi Wangchuk rút chày phổ ba ra, chày tự động hàng phục ác ma. Danma Tsemang có thể ghi nhớ các kinh luận lớn nhỏ, trí nhớ siêu phàm. Shupu Palgyi Senge có thể ra lệnh cho nước, nước sông có thể đảo ngược dòng chảy. Kawa Paltsek có thể biết được tâm tư của người khác, có thiên nhãn, biết túc mệnh. Nanam Dorje Dudjom giơ thủ ấn ra, vật đang bay liền rơi xuống đất. Sokpo Lhapal dùng thủ ấn thuần phục các loài động vật hung dữ. Namkhe Nyingpo có thể độn thủy, có thể thở trong nước. Ma Nying Chotsok biến cát đá thành thức ăn. Bagye Dorje có thể xuyên núi qua hẻm, không chướng ngại. Odren Palgyi Wangchuk sai khiến sấm chớp, sấm chớp nghe lệnh. Lasum Gyalwa Changchub ngồi thiền định bay lên hư không. v.v…
Những điều này toàn là cảnh giới thần thông sau khi thiền định thành tựu, không thể nghĩ bàn.
Trong số đệ tử của tôi (Lư Sư Tôn), có một vị "cao thủ nhập định", ông đã viết về ý cảnh nhập định, đây chính là ý cảnh của thiền định, bức thư của ông như sau:
Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng tôn quý kính yêu nhất!
Kiếp này được theo Ngài học Phật, con đã thấy mình vô cùng may mắn rồi! Giờ đây con lại có cơ hội tham dự trực tuyến, sau khi Ngài chủ đàn pháp hội Hộ Ma tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, pháp hỷ sung mãn mà viết thư cho Ngài, con cảm thấy thật sự là may mắn trong may mắn! Gấp bội may mắn!
Ngày 6 tháng 10 vừa rồi, Ngài chủ đàn pháp hội Hộ Ma tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, là pháp hội Hộ Ma Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên. Thật sự mà nói, đối với Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, ban đầu con không quen thuộc lắm.
Tuy nhiên, kể từ Chủ nhật tuần trước, ngày 6 tháng 10 năm 2024, sau khi tham dự trực tuyến pháp hội Hộ Ma Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên do Ngài chủ đàn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, từ đó về sau, thần chú của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, thủ ấn của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên cùng hình tượng của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, đã in sâu vào đáy lòng con, không còn xa lạ nữa.
Ngày hôm đó trước khi pháp hội bắt đầu, con lặng lẽ trì tụng thần chú của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên (Ôm ma-li-chi-yi sô-ha.) Ai ngờ ngay sau khi pháp hội bắt đầu, đúng lúc Ngài trang nghiêm bước vào hội trường, thù thắng triệu thỉnh chư Bồ Tát, chủ tôn Hộ Ma Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát, Hộ pháp Kim cang cùng Không hành mẫu… thì đột nhiên có hai vệt ánh sáng mãnh liệt chiếu thẳng xuống đỉnh đầu con! Con lập tức như bị điện giật, trong chớp mắt đã kiên cố như sắt nhập vào định!
Con bất động như như, tập trung tinh thần ngồi đó, chuyên tâm nhất ý thư giãn thân thể; con không nghĩ gì cả, chỉ hoàn toàn buông xả thân tâm và quán chiếu khí trong thân mình.
Con cảm nhận rõ ràng khí trong thân con, từ trên xuống dưới trong toàn thân không ngừng lưu thông suôn sẻ. Ấm áp, nhẹ nhàng, trước tiên từ lòng bàn chân, không ngừng vận hành ma sát tinh tế đi lên, sau đó từ trung mạch, đến toàn bộ đầu của con, rồi từ đầu, một mạch từ tứ chi của con từ từ qua lại đến lòng bàn chân… Sự khinh an vui thích, đại lạc thoải mái trong đó! Đơn giản là không thể nào mô tả rất khó hình dung! Con say đắm trong sự hoan lạc của cảnh giới Tam ma địa. Và con cũng lắng nghe toàn bộ nghi thức và trình tự của pháp hội Hộ Ma vô cùng rõ ràng.
Khi con càng chuyên tâm, thân thể càng thư giãn, kinh mạch càng đầy đủ khí chạy, không ngừng lưu chuyển khắp toàn thân; không biết đã qua bao lâu, đột nhiên con cảm thấy con đã từ từ, trong sự chuyên chú nhập định, tập trung tinh thần chú ý đến pháp hội Hộ Ma, biến thành một vị Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát trang nghiêm vô cùng, mặc thiên y đỏ, đeo đầy trang sức lộng lẫy, thiên y lụa mềm bay phấp phới!
Hóa ra dưới sự triệu thỉnh thù thắng, pháp lực vô biên, thần thông quảng đại của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Ngài, Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên đã từ bi hạ giáng hợp nhất với con. Con bất ngờ vui mừng tán thán! Con biết ơn tràn trề!
Và toàn bộ quá trình nhập định cho đến cuối cùng người dẫn dắt trong hội trường rõ ràng nói với mọi người: "Cung thỉnh Sư Tôn dẫn dắt mọi người đảnh lễ đàn thành." con mới bất đắc dĩ phải xuất định và nói lời tạm biệt với Sư Tôn. Toàn bộ quá trình nhập định trọn vẹn một tiếng ba mươi phút. Con vẫn còn luyến tiếc, chưa muốn dừng lại!
Cảm ứng cảm nhận khi nhập Tam ma địa, khinh an vui sướng, tiêu dao tự tại, pháp hỷ khó diễn tả, thật không thể nghĩ bàn! Khiến con đối với Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Ngài, con năm vóc sát đất quỳ lạy, tán thán vô hạn!
Hơn nữa, ngay sau khi pháp hội kết thúc, con lập tức tràn trề pháp hỷ quay mặt về đàn thành, đảnh lễ đàn thành, biết ơn Thầy - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật! Biết ơn chư Phật Bồ Tát! Biết ơn Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên!
Kỳ diệu là, khi lời cảm ơn của con vừa nói xong, hai tay của con đã tự nhiên thuần thục, làm lên thủ ấn căn bản của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên!
Trước hết, hai tay con khép lại như nắm đấm, hai ngón trỏ tự động hướng lên, sau đó hai ngón giữa từ phía sau đưa ra phía trước, móc vào hai ngón trỏ, hoàn toàn thành thủ ấn căn bản của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên. Không chỉ như vậy, điều kỳ lạ là con còn dùng thủ ấn căn bản của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên gia trì cho chính mình, sau đó lại quay người về phía sư huynh của con đang ở bên cạnh, cùng tham dự trực tuyến với con, để gia trì cho sư huynh. Con kinh ngạc tán thán! Con há hốc mồm không nói nên lời!
Từ đó về sau, chỉ cần con hễ niệm Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, hai tay con liền có thể tự động dễ dàng làm lên thủ ấn của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, và con cũng tự nhiên biến thành hình tượng của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên.
Từ đó về sau, Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên ở trong đáy lòng con, hình bóng không rời, không bao giờ, không bao giờ còn xa lạ nữa.
Con biết ơn Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, mỗi pháp hội Ngài chủ đàn, đều là sự triệu thỉnh thù thắng đại vô úy, Phật pháp vô biên, bất khả tư nghì! Để con may mắn được tương ứng với một vị, từ đó tương ứng mọi vị; thậm chí còn được vô số không thể tính đếm sự gia trì và hộ trì bất khả tư nghì của tha lực!
Nhưng mong rằng thông qua pháp hội Hộ Ma Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên ngày 6 tháng 10 năm 2024, do Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chủ đàn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự này, Hộ pháp Kim cang ký ước của Chân Phật Tông - Chiến Uy Kim Cang - Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, có thể dùng năng lực hộ trì mạnh mẽ để canh giữ đệ tử Chân Phật Tông; đồng thời từ bi vị tha, uy phong lẫm liệt canh giữ con ngày đêm, cho phép con tu hành thành tựu, và nguyện vọng từ đời này đến đời sau, thịt nát xương tan hộ trì Chân Phật Mật Pháp của Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Ngài, hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh, có thể vĩnh viễn không có chướng ngại, con đường thông suốt, bồ đề viên mãn!
Chính như Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Ngài đã nói trong văn tập Lư Thắng Ngạn số 251 "Cắt một tấm áo mộng", chương "Hồ ly vái nguyệt": "Tu hành nhất định phải có chính kiến, tìm được minh sư, đắc được chính đạo, như vậy mới có thể xứng với tâm nguyện." Om guru liansheng siddhi hum. Om marici soha.
Ngu đệ tử trợ giảng Liên Hoa Thái Hồng đảnh lễ chắp tay khấu tạ. Viết ngày 12 tháng 10 năm 2024. Bang Vermont, Đông Bắc Hoa Kỳ.
🌟
Lư Sư Tôn nói: Chúng ta phải tu tập thiền định, thân tâm trong thiền định có thể phân phân hợp hợp, có thể thấy được Phật tính vốn có của chính mình, và hơn nữa còn hợp nhất Phật tính vào tâm của Bổn tôn, cũng có thể hợp nhất vào tâm của Thượng sư, ba trái tim hợp nhất thành một thể. Đây không chỉ là "linh quang một mình tỏa sáng". Khi thiền định, tất cả vọng niệm tiêu diệt, trong hoa sen nơi tâm ta, an trú một vị Phật quang minh, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, đó chính là chứng kiến Phật tính.
Trong lúc "linh quang một mình tỏa sáng" này, không thể diễn tả được, tôi thường nói: Một hạt cát bụi, hòa nhập vào đại địa. Một giọt nước, hòa nhập vào đại dương. Một tia lửa, hình thành thành mảng lửa rộng lớn. Một cơn gió, thổi vào hư không. Cũng có: Vô tác, Vô tướng, Pháp nhĩ bản nhiên, Không. Tuy đã đi vào cảnh giới hỷ lạc, nhưng, có thể biến Phật tính của ta chuyển hóa thành từ bi và yêu thương vô điều kiện đối với chúng sinh. Đây chính là một loại bố thí.
🌟
Tôi từng ngồi trên pháp tọa, nhập vào thiền định cực sâu. Tự giác tỉnh lại vì đau đớn. Tôi đau đớn kêu la inh ỏi. Tôi nói: "Vì có người (đệ tử), đang chịu cơn đau bụng dữ dội ba ngày liền, người ấy đau quá, gọi tôi." Và tôi trên pháp tọa đã gánh chịu cơn đau dữ dội của người ấy. Vì thế mà chịu khổ.
Sau này chứng minh: "Quả thật là như vậy!" (Đó là Thích Liên Ngật.) Người ấy đau, tôi đau. Tôi đau, người ấy không đau. (chịu thay)
Tôi có thể trong thiền định, bằng phương thức thí thọ [bố thí và tiếp nhận], đi chịu thay nỗi khổ của chúng sinh. Đây chính là từ bi hỷ xả.
14. Hỏi: Vì sao Lư Sư Tôn thường than: "Như mộng như huyễn"
Lư Sư Tôn đáp: Phật Đà thường nói: Tam pháp ấn. Ba pháp ấn này chính là: Chư hành vô thường. Chư pháp vô ngã. Niết bàn tịch tĩnh. Pháp ấn là gì? Pháp ấn chính là chân thật ngữ, có nghĩa là chân lý. Từ đó, liền biết được "như mộng như huyễn".
Bài kệ trong "Kinh Kim Cang": Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bóng ảnh. Như sương cũng như điện. Nên quán thấy như vậy.
Vì vậy, cuộc đời của tôi - một vị lão tăng tám mươi tuổi, như một bộ phim, sắp kết thúc rồi, kết thúc chính là "hết vở kịch", tất cả đều là không huyễn. Nhà cửa không còn nữa! Xe cộ không còn nữa! Đất đai không còn nữa! Tiền, sắc, danh, tất cả chỉ là một giấc mơ huyễn. Những điều này ai cũng biết, chỉ là mê muội không buông bỏ. Không buông cũng phải buông, lúc này nên biết rằng: "Tất cả đắc" tức là "Tất cả vô sở đắc". Vô sở đắc mới là chân lý.
Giờ đây, tôi đã học được: tùy duyên, tùy thuận, tùy phận. Dùng ba điều này để sống những năm tháng tuổi già của tôi. Đối với mọi việc, nhìn thấu, nhìn nhạt, không bận lòng, bước đi những bước cuối cùng của tôi. Cười phóng khoáng. Ngủ một giấc thật ngon. Ăn một bữa cơm thật no. Như vậy là mãn nguyện rồi! Tôi thường tự nhủ với mình một câu: "Buông xuống đi! Buông xuống đi! Buông xuống đi!"
Lại có người hỏi tôi: "Lư Sư Tôn, đôi khi thấy Ngài trên pháp tọa thuyết pháp mà khóc nức nở, vì sao vậy?" Tôi đáp: Thật sự ngại quá! Xin lỗi! Tôi thường hay buồn đến nỗi khóc òa lên. Đây là bản tính của tôi. Một là, nghĩ đến người mẹ ở nhân gian, tôi sẽ khóc! Hai là, nghĩ đến người mẹ trên trời, tôi sẽ khóc! (Mẹ trên trời chính là Diêu Trì Kim Mẫu.) Ba là, nghĩ đến thân phận của chính mình, tôi cũng sẽ khóc thật đau đớn! Khi sinh ra, cha tôi không thừa nhận tôi là con của ông. Đây chính là khởi đầu của nỗi bi ai. Bốn là, nghĩ đến bệnh khổ của Thượng sư Liên Hương. Năm là, nghĩ đến virus corona, đại dịch bệnh. Sáu là, nghĩ đến cảnh sinh ly tử biệt trong chiến tranh. Bảy là, nghĩ đến những người đói khổ. Tám là, nghĩ đến chúng sinh trong đạo địa ngục, đạo ngạ quỷ, đạo súc sinh. Chín là, đủ thứ tai họa ở nhân gian, những thảm họa về đất, nước, lửa, gió, vô thường v.v... Mười là, đủ thứ khổ đau. Trong cõi ngũ trược ác thế này, có chuyện gì có thể khiến bạn thoải mái đi một chuyến được? Tôi chỉ có khóc! Khóc cho chúng sinh đang trong mê hoặc, không tỉnh ngộ, xa lìa chân như của Phật Đà quá xa, bao giờ mới chứng ngộ được, nên khóc cho thật đau đớn! Đây chính là lý do tôi ngồi trên pháp tọa mà khóc nức nở!
Chẳng phải là như mộng như huyễn sao? Đúng vậy. Là như mộng như huyễn, nhưng, trong mộng huyễn lại có sự chịu đựng thật sự!
15. Phụ lục: Thư của Liên Hoa Thái Hồng
Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tối cao vô thượng kính yêu!
Hôm nay con rất vui mừng, phấn khởi được đến bên Thầy một lần nữa! Nhưng tất cả đều rất đột ngột! Vì vậy chuyến đi này vô cùng gấp gáp!
Từ khi mua vé máy bay cho đến hôm nay có thể bình an, thuận lợi đến Seattle, đến bên Thầy, lý do chính là con cảm nhận được trong nội tâm sự kêu gọi mãnh liệt của chư Phật Bồ Tát từ Seattle như sóng núi đổ, như ngựa phi nước đại!
Vì vậy con đã không do dự, bất chấp tất cả, sau khi bàn bạc với sư huynh, liền mua ngay vé máy bay. Con lập tức trở về bệnh viện, nhờ đồng nghiệp đổi ca, vì những ngày này cần phải đổi ca làm việc. Mọi việc như có thần phù hộ, vô cùng thuận lợi.
Nhưng đồng nghiệp, quản lý, gia đình đều không hiểu gì cả, ngạc nhiên vô cùng! Vì vào tháng trước, ngày mồng 1 tháng 9 (Chủ nhật), con mới cùng gia đình đến Seattle, tham dự đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang tiêu tai, cầu phúc, trị bệnh, siêu độ do Thầy chủ đàn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự.
Tuy nhiên trong lòng con biết rõ; con càng biết chư Phật Bồ Tát rõ, Thánh Tôn Thầy cũng rõ. Như trong bài thơ ở văn tập thứ 298 của Thầy "Sự hé lộ của những giấc mơ", chương thứ 37 "Thiền định cũng là mộng" vậy:
"Ai biết tôi bâng khuâng Lòng nhớ tình bạn cũ Có được như chưa được, Làm thơ cũng như không Dưới đèn có bóng hình, Đối thoại cũng tự nhiên; Hôm nay không thấy người, Phương Đông sương mờ mịt."
Sau khi đọc xong, con không khỏi rơi hai dòng nước mắt… Vì con đã thản nhiên hiểu rõ. Con cũng thật sự ngộ ra trong lòng: Quả thật cuộc đời là mộng huyễn, ngay cả thiền định cũng là mộng huyễn! Nhưng may mắn thay như Thầy đã nói trong bức thư gửi con: "Không phải ta. Không phải không. Đó là: Khi đến một thiền định, Lại đến một thiền định; Rốt cuộc là việc gì, Tây Thành có Liên Sinh."
Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tối cao vô thượng kính yêu! Con cảm ơn sự tương ứng của Ngài! Con cảm ơn Pháp thân của Ngài luôn hộ trì bên con! Con cảm ơn lời giáo huấn của Ngài trong cuốn sách này!
Trong tương lai, con nguyện phấn đấu hết mình để hoằng dương Chân Phật Mật Pháp của Thánh Tôn, hết lòng hoằng dương Phật pháp, hết lòng độ hóa chúng sinh! Hết lòng đáp đền ân đức của Chân Phật - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật! Hết lòng đáp đền ân đức của chư Phật Bồ Tát!
Nay con viết một bài thơ, quỳ lạy lệ tuôn kính dâng lên Thánh Tôn:
Một đời kiên trì hằng thiền định Chứng đắc Bồ Tát thường bầu bạn Đứng trên núi cao lòng thoải mái; Nhờ có Tây Thành Lư Liên Sinh. Cảm ơn Chân Phật nói sao hết Vì thế phấn đấu độ chúng sinh, Hoằng dương Chân Phật cùng Mật pháp, Thịt nát xương tan chẳng lo sợ! Không mộng như huyễn một duyên trần.
Cảm ơn Thánh Tôn! Cảm ơn Thánh Tôn với những chỉ dạy quý báu trong sách! Cảm ơn chư Phật Bồ Tát với mọi sự sắp đặt tốt đẹp!
Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng trợ giảng đảnh lễ chắp tay khấu tạ. Viết vào ngày 16 tháng 10 năm 2024. Bang Vermont, miền Đông Bắc Hoa Kỳ.
🌟
Lư Sư Tôn nói: Liên Hoa Thái Hồng là một vị trưởng lão tu hành có thành tựu, thiền định công phu sâu, viết lách rất xuất sắc, và nguyện lực rất lớn, là một vị Bồ Tát từ bi.
Liên Hoa Thái Hồng thấy các thành phố lớn ở Mỹ đều có Lôi Tạng Tự hoặc phân đường đồng tu, duy chỉ có miền Đông, thành phố văn hóa lớn Boston không có, bà ấy phát nguyện đi Boston độ hóa chúng sinh, tinh thần đáng khâm phục!
16. Hỏi: Xin nói rõ về dung nhập hư không
Người hỏi này, đối với việc Lư Sư Tôn thường nói "dung nhập hư không", cảm thấy bất khả tư nghì, thỉnh tôi giải thích chi tiết hơn. Lư Sư Tôn đáp: Một vị hành giả, trải qua việc liên tục quán chiếu ý niệm, đến cuối cùng quên luôn thế giới bên ngoài thân, cái này gọi là "tọa vong". Thân thể biến mất! Ý nghĩ không còn nữa!
Có thể nói như thế này, vật chất biến mất, tâm niệm biến mất, tất cả pháp biến mất, thời gian không gian biến mất, ngay cả linh tính cũng biến mất. Không có tương đối. Chỉ có tuyệt đối. Vốn dĩ điều này không có văn tự, ngôn ngữ nào có thể giải thích, nếu miễn cưỡng mà nói thì chỉ có thể nói: Đây là cảnh giới tự tính bất động, là tâm của hành giả hợp nhất với tâm tối thượng, tự tâm hợp nhất với nguyên lực vũ trụ, thực tướng tuyệt đối. Không thể phân chia. Thần thánh. Trí huệ thuần tịnh. Quá khứ, hiện tại, tương lai, đều là tính không vô thượng không biến đổi. Ánh sáng của nó như mặt trời, sự thanh lương của nó như mặt trăng, sự rộng lớn của nó như hư không. Đây là "không quán", nhưng là "không vô biên" khó lòng diễn tả. Không sở duyên! Không sở chấp! Không ngã dục! Không trói buộc! Tôi gọi đây là sự thanh tịnh vốn có, giải thoát chân chính, nhậm vận tự tại, dung nhập hư không. Như ngủ sâu. Như vô ngại. Như không không.
Về việc dung nhập hư không, có một bức thư chứng minh như sau:
Đảnh lễ Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý! A Di Đà Phật, kính chào Sư Tôn kính yêu!
Cảm ơn Sư Tôn từ bi gia trì cho đệ tử (Lý Mẫn) lần này lại nhanh chóng đến Seattle gặp gỡ Phật, thứ bảy tuần này Sư Tôn khai thị nói đến chỗ sinh cơ bên cạnh Sư Ma Bồ Tát [bức tượng Bồ Tát thân mẫu của Sư Tôn] tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự có một chỗ là điểm tụ hội của tất cả Không hành mẫu.
Vì vậy hôm nay (ngày 29 tháng 10 năm 2024) đệ tử đã đặc biệt đến đó, đệ tử trước tiên đảnh lễ quỳ lạy Sư Tôn, Sư Ma Bồ Tát, sau đó Kim Mẫu rất nhanh cho con ngồi xếp bằng, đệ tử chắp tay thành kính quán tưởng đại lễ bái. Sau đó Sư Ma Bồ Tát bắt đầu biến hóa thành một vệt ánh sáng trắng lớn, đệ tử được ánh sáng trắng lớn chiếu sáng toàn thân, rồi đi vào trong ánh sáng trắng lớn. Trong tích tắc bước vào một cung điện, cung điện vô cùng sáng sủa, và có tiếng nước, giống như tiếng thác nước chảy. Đệ tử không thấy bước chân của mình trên mặt đất, mặt đất phủ một lớp mây ngũ sắc màu hồng trắng vô cùng đẹp đẽ, cảm giác giẫm lên nước nhưng lại không có nước, vô cùng thoải mái, và có hương hoa, một tòa cung điện vô cùng lớn và tráng lệ. Lúc này đệ tử nhìn thấy rất nhiều thiên nữ, không biết sao nước mắt con bắt đầu tuôn ào ạt không ngừng, nhìn thấy cung điện dường như rất quen thuộc, lại có rất nhiều rất nhiều giọng nói quen thuộc đang nói thiên ngữ. Tiếp theo con cũng bắt đầu dùng thiên ngữ trò chuyện tâm sự với mọi người, nước mắt vẫn cứ chảy và xúc động. Đột nhiên có một vị Phật Mẫu đến trước mặt, nói với con một câu: "Sao lần này con lại trẻ như vậy, Sư Phật đã..." nước mắt càng chảy mạnh hơn không ngừng.
Trong lúc nói chuyện như vậy thì có một vị Phật Mẫu (Yeshe Tsogyal) rất thân thiết bước lại, nói sẽ đưa đệ tử vào chính điện. Đầu tiên, các vị dẫn con đến một ao trời rất lớn, bờ ao đầy hoa tươi và hoa sen, giúp con tắm rửa xong thì thay thiên y và trang sức của thiên giới. Tiếp theo các thiên nữ theo sau một vị Phật Mẫu phía trước đến một tòa cung điện rất huy hoàng, cung điện này rất quen thuộc, vì đệ tử đã từng đến, đó là cung điện của Diêu Trì Kim Mẫu, Kim Mẫu xinh đẹp lộng lẫy, nhìn thấy con từ xa, khiến nước mắt đệ tử lại ào ào tuôn rơi. Kim Mẫu nở nụ cười từ bi, thân tỏa ánh sáng trắng, đệ tử cứ nhìn mãi rồi nhanh chóng đến trước mặt Kim Mẫu, đệ tử thành kính chắp tay quỳ xuống đảnh lễ Kim Mẫu. Sau đó Kim Mẫu vẫn như mọi khi rất từ bi, để đệ tử đến bên cạnh ngài, xoa trán con, như vậy hai mắt nhìn vào nhau, nói với con: "Ở đây còn có một cung điện, con phải đi xem một chút."
Rất nhanh các thiên nữ và vị Phật Mẫu vừa rồi dẫn con đến một cung điện khác, cung điện vô cùng lớn, đệ tử nhìn thấy rất rất nhiều thứ, không có cách nào dùng văn tự mô tả hết được. Có đàn thành, có những ngôi nhà tu hành trên đồi núi, có rất nhiều thứ giống như mãnh thú (đệ tử không biết là loại thú gì), và còn nhìn thấy đặc biệt nhiều thị giả cùng quyến thuộc thiên tiên, đang chuẩn bị rất nhiều đồ cúng dường, hoa tươi. Nhìn thoáng qua như thấy được mọi góc cạnh của tất cả cung điện, nhưng mỗi nơi lại vô cùng rộng lớn vô song, rất nhiều cung điện khác nhau. Lúc này hư không phóng ra ánh sáng trắng lớn, chiếu sáng toàn thân đệ tử. Ánh sáng này gia trì đệ tử rất mạnh mẽ, toàn thân đệ tử biến thành ánh sáng, trong vùng ánh sáng này đệ tử bắt đầu lờ mờ nhìn thấy một vị Phật, càng lúc càng đến gần đệ tử hơn, đệ tử nhìn thấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ toàn thân phóng quang đặc biệt gia trì đệ tử, trước tiên phóng bạch quang, lục quang, lam quang, hắc quang, lam quang, hồng quang. Cuối cùng đệ tử từ một đám mây trời màu hồng trở về bên cạnh Sư Ma Bồ Tát và xuất định.
Đệ tử Liên Hoa Nhất Mẫn thành tâm quỳ lạy đảnh lễ.
🌟
Lư Sư Tôn nói: Lá thư này mặc dù không hoàn toàn là dung nhập hư không, nhưng đã có hương vị của dung nhập hư không. Vì bậc Thánh đã nói: "Pháp do nhân duyên sinh. Duyên khởi nơi sinh tử. Sinh diệt rồi diệt hết. Tịch diệt là chân lạc."
Lá thư của Lý Mẫn là do duyên khởi, có sinh có diệt, vẫn còn ở trong một niệm. Nếu Lư Sư Tôn trong dung nhập hư không mà vẫn còn một niệm, thì sẽ có khả năng cứu độ chúng sinh và giúp người giải thoát, có thể tự mình thấy nguồn gốc của vạn tượng, thấy được đại quang minh của chân tính. Dùng cái bên trong chiếu soi chân thường. Dùng cái bên ngoài chiếu soi vạn tượng. Thấy vật như gương phản chiếu, chuyên chú vào cái gì thì cái đó sẽ hiện ra. Có thể du hành khắp thế giới, không có gì ngăn che, nghĩ đến đệ tử nào, đệ tử đó liền hiện ra trước mắt. Từ chỗ này đến chỗ kia. Từ Dục giới đến Sắc giới, từ Sắc giới đến Vô sắc giới, từ Vô sắc giới đến Tứ Thánh giới. (Mười phương pháp giới đều có thể đến.)
Như ăn uống kinh hành, từ một mandala này đến một mandala khác. Từ tịnh thổ Diêu Trì đến tịnh thổ Tây phương, đến các tịnh thổ của chư Phật Bồ Tát, hoàn toàn tùy thuộc vào tâm niệm của hành giả. Tất cả đến đi như gió, đây chỉ là một hình dung, nơi tâm động, liền sinh ra tâm hành. (Đây chính là nhậm vận tự tại, lục thông đầy đủ. Không bị bất kỳ sự tích lũy nghiệp nào ảnh hưởng. Dùng tám vạn bốn nghìn pháp môn, cứu tám vạn bốn nghìn thứ bệnh. Vẫn tiếp tục cứu độ chúng sinh.)
17. Hỏi: Vì sao A Di Đà Phật không phải là chủ tôn của pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp?
Lư Sư Tôn đáp: Thế giới Tây Phương Cực Lạc có ba vị để nương dựa là A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Theo lý thì nên lấy giáo chủ A Di Đà Phật làm chủ tôn. Vì muốn đến Cực Lạc thế giới, có hai điều kiện: Một, không thể thiếu thiện căn. Hai, nhất tâm bất loạn niệm A Di Đà Phật. (Đây là giáo thị của Tịnh Độ tông.)
Nhưng, để độ hóa tín chúng tín ngưỡng Diêu Trì Kim Mẫu, chúng ta lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ tôn. Đây là lý do gì? Tôi đáp: "Phật pháp là vô định pháp!"
Chân Phật Tông lấy Diêu Trì Kim Mẫu để khai tông lập phái, lấy Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ là được. Trong quá trình tu pháp, A Di Đà Phật gia trì cho chúng sinh u linh vẫn là điều quan trọng nhất.
Có thể nói như thế này: Diêu Trì Kim Mẫu là chủ tôn. A Di Đà Phật cũng là chủ tôn. Trong quá trình tu pháp, hai thánh hiệu đều niệm, không thiên về bên nào. Theo những gì tôi biết, Phật pháp thực sự không có pháp cố định, chỉ cần có thể đến được Phật quốc tịnh thổ, còn thì phương pháp rất nhiều!
Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Đúng vậy, đúng vậy, chư Phật Như Lai không có pháp cố định, chỉ tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thiết lập Phật pháp. Có vị dùng Phật quang để tiếp dẫn chúng sinh. Có vị dùng chư Bồ Tát để thực hành độ hóa. Lại có vị dùng Pháp thân, Báo thân, Ứng thân để thực hành cứu độ. Tịnh thổ Chúng Hương dùng gạo thơm để tiếp dẫn chúng sinh. Dùng quyển kinh để độ chúng sinh. Dùng thần thông để cứu độ chúng sinh. Dùng ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp để cứu độ chúng sinh. Cũng có dùng hư không để làm Phật sự. Dùng mộng, Dùng huyễn, Dùng bóng ảnh, Dùng âm thanh, Hoa trong gương, trăng dưới nước cũng có thể độ chúng sinh. Dùng viết lách, ca hát, trò chơi để độ chúng sinh. Ngay cả tĩnh lặng tuyệt đối vô ngôn, vô thuyết vô thị cũng có thể cứu độ chúng sinh. Dùng tám vạn bốn nghìn pháp để độ hóa tám vạn bốn nghìn hạng người." (Tám vạn bốn nghìn là chỉ các căn cơ khác nhau.)
Nếu hiểu rõ: Một tức là tất cả. Tất cả tức là một. Pháp môn bất nhị. Thì bạn sẽ hiểu Phật - ma như một, phiền não tức bồ đề. Hơn nữa, mọi việc đều là Phật sự, mọi pháp đều là Phật pháp. Nên dùng pháp gì để độ chúng sinh thì dùng pháp đó, chẳng có chút phân biệt nào cả. Không chấp trước điều gì, chính là đại thành tựu.
Tôi (Lư Sư Tôn) nói sâu hơn nữa: A Di Đà Phật và Diêu Trì Kim Mẫu là một, không phải là hai, thực chất không có sự phân biệt Phật - Đạo, cũng không có ai cao ai thấp, cũng giống nhau không tăng không giảm. Có phân biệt là do chúng sinh chủ quan phân biệt và lầm tưởng, thực sự mà nói, các pháp thực tế, chân như tam muội, tất cả công đức đều bình đẳng. (Trong giới hiện tượng có sự sai biệt; trong giới chân thực, toàn bộ đều bình đẳng như một.) Nên mới nói: Tất cả công đức bình đẳng vô nhị, chỉ vì nhân duyên độ chúng sinh khác nhau mới sinh tâm phân biệt.
🌟
Tôi xin kể về việc Diêu Trì Kim Mẫu độ chúng sinh, dùng pháp thế tục để minh chứng. Đây cũng là một trong vạn vạn pháp môn:
Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật từ bi minh giám.
Con là đệ tử Liên Hoa Dục Phong, hiện nay 32 tuổi (tuổi Dậu), sống tại quận Bắc Đồn, thành phố Đài Trung (địa chỉ xin được lược bỏ), hiện đang làm giám đốc kinh doanh tại công ty bảo hiểm nhân thọ Allianz của Đức. Năm nay do chương trình thưởng thi đua của công ty, ban đầu dự định đi Hawaii, nhưng đột nhiên vì một lý do nào đó đã thay đổi thành chuyến du lịch miền Tây Hoa Kỳ, may mắn được đến tận Seattle, mà công ty sắp xếp ở Seattle chỉ có hai ngày. Mọi thứ quả là trùng hợp đến kỳ lạ, đúng ngày nhận phòng là ngày 13 tháng 4 (thứ Bảy), đúng vào ngày đồng tu tại Seattle Lôi Tạng Tự, nên con đã nắm bắt cơ hội, vượt mọi khó khăn để đến chính chùa tổ hành hương.
Vừa bước vào chùa tổ chiêm bái, bất ngờ được Mẫu Nương linh thị, muốn đệ tử thỉnh kim thân Mẫu Nương về Đài Loan phát huy, nên con đã nghênh thỉnh kim thân và hương hỏa về Đài Loan. Sau khi an vị lên đàn thành thờ cúng, một hôm đệ tử đến Từ Huệ Đường ở Gia Nghĩa chiêm bái, một vị sư cô làm việc cho Mẫu Nương nhìn thấy con, biết được con vừa đi du lịch với công ty về, liền trợn tròn mắt nhìn con bằng ánh mắt nghi hoặc và nói: "Kỳ lạ! Chẳng phải là anh tham gia chuyến du lịch Mỹ của công ty sao? Lẽ ra phải đi chơi mới đúng, sao lại từ Mỹ lĩnh về một chỉ lệnh, kim quang rực rỡ hào quang vạn trượng, chẳng lẽ ở Mỹ cũng có miếu thờ ư? Mà còn thờ cúng nhiều vị Thần Phật mà ở Đài Loan khó thấy được nữa." Rồi con mới kể cho sư cô nghe về việc đến Seattle Lôi Tạng Tự, Mẫu Nương chỉ thị thỉnh kim thân về Đài Loan, còn sư cô nói chỉ lệnh này theo kim thân Mẫu Nương về để phát huy độ chúng, bảo đệ tử phải dẫn dắt chúng sinh tu trì độ chúng sinh thật tốt.
Trước khi đi Mỹ, con từng đến Từ Huệ Đường chiêm bái, lúc đó sư cô đang thu kinh, giải đáp thắc mắc cho tín đồ khác, sau đó Mẫu Nương đột nhiên giáng đồng lên thân sư cô, nói với mọi người là cần tìm "Phong Tử Phong Tử". Người bên cạnh tưởng Mẫu Nương cần quạt điện, ai ngờ Mẫu Nương nhập đồng đi về phía con, nắm lấy tay con, bước đến giữa đại điện, dặn dò rằng phải truyền thừa pháp môn đã tu học, và khích lệ dẫn dắt đại chúng đồng tu, độ hết thảy long tử phụng nhi của Mẫu Nương xung quanh trở về trời, không nên để họ mông lung mịt mờ khổ đau không có ngày giải thoát.
Kể từ khi Mẫu Nương được an vị lên đàn thành, có đồng nghiệp đến thăm nhà nhưng đều chưa từng thắp hương lễ bái. Đến vài lần sau, chị gái của đồng nghiệp mơ thấy anh ta ba lần đi qua cửa miếu mà không vào, sắp bị Hộ pháp thần trừng phạt, liền vội nhắc đồng nghiệp nghĩ lại xem đã đến miếu nào, nhưng đồng nghiệp nói không đi đâu cả, chỉ đến nhà con thôi. Con bảo anh ta hãy đến thắp hương với Mẫu Nương, ai ngờ sau khi thắp hương xong, thỉnh thị xin keo với Mẫu Nương, liên tục được chén thánh, khiến mọi người xung quanh không khỏi khen ngợi về sự linh ứng của Mẫu Nương và chư Phật Bồ Tát.
Đệ tử tự quy y đã được mười tám năm, trong thời gian đó từng vào Đạo môn học tu và tấu chức dạy bùa, nhưng luôn lấy Chân Phật Mật Pháp, đầu đội Sư Phật làm truyền thừa căn bản. Và đệ tử có công việc khác, không phải lấy việc làm kê đồng để sinh sống, chỉ vì chư Phật Bồ Tát nhiều lần hiển hóa, dùng phương pháp thu kinh, phù pháp ngẫu nhiên v.v… để linh ứng độ chúng, nên đã độ nhiều người quy y học tu Chân Phật Mật Pháp, trong mơ được Sư Phật gia trì và khích lệ độ chúng, gần đây được chư Phật Bồ Tát thị hiện đặt tên cho đạo tràng là Ý Hóa Đường.
Việc này đệ tử thực sự đã do dự rất lâu, sự việc trọng đại, kính xin Căn bản Thượng sư ấn chứng, tất cả đều lấy lời dạy bảo của Sư Phật làm chỗ nương tựa.
- Việc này có phải do Mẫu Nương tại chùa tổ Seattle Lôi Tạng Tự hiển hóa hay không?
- Đệ tử có được phép lập đạo tràng làm việc độ chúng hay không? Tên đạo tràng có phải là "Ý Hóa Đường" hay không? Việc làm và lập chủ tôn thờ phụng có phải là Diêu Trì Kim Mẫu hay không?
- Kính xin Sư Phật từ bi khai thị, nếu đệ tử mở đạo tràng độ chúng, phương hướng tương lai nên làm như thế nào?
Khấu thỉnh Sư Phật từ bi giải đáp thắc mắc, tất cả đều lấy lời dạy của Thánh Tôn làm nương tựa, kính cầu Sư Phật Phật thể an khang, trường thọ tự tại, vĩnh viễn chẳng nhập Niết-bàn.
Con hiện nay 32 tuổi, cả đời có rất nhiều câu chuyện và kỳ ngộ, trong đó có một việc rất trùng hợp được ghi lại trong văn tập của Sư Phật, cũng xin Sư Phật giám định, sau đây là câu chuyện cuộc gặp kỳ lạ với Chân Phật của mẹ đệ tử.
Cảm ơn Sư Phật từ bi cứu độ, văn tập số 223 của Sư Phật - "Cảm ứng vô thượng thù thắng", chương "Đại thần cũng quy y Lư Sư Tôn", năm đó người đến Lộc Cảng tìm Tam Thái Tử Na Tra hỏi việc chính là đệ tử và mẹ, và sau khi mẹ tu học Chân Phật Mật Pháp, đột nhiên nhớ lại từ mấy đời trước, con và mẹ, được Mẫu Nương tại thiên giới chỉ thị, dặn dò không được chìm đắm trong hồng trần trược thế, phải mau mau trở về Diêu Trì.
Mẹ đệ tử vào năm 30 tuổi từng gặp một thanh niên đặt quầy bói toán bên đường ở Vụ Phong, lúc đó mẹ là người theo thuyết vô thần, không tin những chuyện quỷ thần, thấy bói toán liền đến thử xem thật hay giả. Mẹ hỏi: "Kiếp này tôi có phát tài không?" Người thanh niên tính toán rồi nói: "Phát tài thì không có, nghiêm trọng hơn là mười năm nữa, bà sẽ gặp đại kiếp sinh tử, người bình thường không thể thoát qua được, nhưng... kỳ lạ thay, bà có quý nhân sẽ giúp đỡ." Mẹ hỏi: "Có được cứu không? Quý nhân phương nào?"
Thanh niên nói: "Thiên cơ không thể tiết lộ." Cuối cùng dưới sự ép hỏi của mẹ, thanh niên trả lời: "Không ở Vụ Phong, mà ở bên cạnh Vụ Phong." Mẹ liền đoán là Đại Lý, Thái Bình, Ô Nhật, Phân Viên. Kết quả đều không phải, thanh niên trả lời: "Chỗ mà bà chưa đoán đến, chính là chỗ đó." (Chính là chưa đoán đến Thảo Đồn ở ngay cạnh.). Rồi thanh niên bói toán nói: "Quý nhân này, người đó không phải là người, bà xem người đó là người, thực ra người đó đã siêu phàm nhập thánh từ lâu, đến lúc tự sẽ xuất hiện, nửa đời sau của bà sẽ thay đổi vì người đó."
Lúc đó mẹ cho rằng người thanh niên bói toán nói lung tung, liền rời khỏi quầy bói toán. Sau đó nhớ lại, người thanh niên này mặt hồng hào dung mạo đường đường, không giống dung mạo người bình thường. Nói cũng kỳ lạ, từ ngày đó mẹ chưa từng gặp lại người thanh niên đặt quầy đó, cũng không tìm thấy người này.
Mẹ trải qua hơn 10 năm sau mới gặp Tam Thái Tử, rồi quy y Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, mới nhớ lại cuộc gặp kỳ lạ hơn 10 năm trước, hóa ra quý nhân chính ở Thảo Đồn!
Còn mẹ vào tháng 3 năm Dân Quốc 100 [tức năm 2011], bác sĩ chẩn đoán ra bệnh ung thư giai đoạn nặng, lúc đó bác sĩ nói nếu không điều trị sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nên đã lập tức phẫu thuật và hóa trị, cơ thể yếu đến mức không còn sức để đi lại. Mẹ không có một niềm tin kiên định nào, ban đêm ngủ đều nhìn thấy oan gia trái chủ, sợ hãi đến mức đi khắp nơi cầu thần hỏi quẻ, hỏi Vương Gia Công, hỏi đồng cốt, cuối cùng hỏi đến Tam Thái Tử ở Lộc Cảng. Lúc đó Thái Tử Gia giáng đàn nói thẳng, sao các người lại đến đây tìm ta, bà nên đến Lôi Tạng Tự tìm Sư Tôn, bà có duyên với sư phụ của ta là Liên Sinh Hoạt Phật, các người nên đi tìm Ngài.
Lúc đó mẹ khóc nói: "Không thể chỉ tìm Thái Tử Gia được sao? Con không quen biết Sư Tôn." Thái Tử Gia liền nói: "Ngay cả ta cũng quy y Liên Sinh Hoạt Phật, Ngài là Phật đương thời, bà không tìm Ngài thì tìm ai? Ta dạy bà niệm tâm chú của Ngài, Om guru liansheng siddhi hum, bà chỉ cần về niệm thật tốt, rồi đến Lôi Tạng Tự cầu Sư Tôn gia trì, đây chính là cách duy nhất."
Lúc đó mẹ lần đầu tiên tham dự pháp hội, cũng đăng ký chủ cầu, khi cung kính dâng khăn khata lên Sư Tôn cũng đã trình đơn hỏi việc cầu gia trì lên Sư Tôn.
Một ngày nọ sau khi pháp hội kết thúc, đang ngồi trên ghế trong nhà, mẹ đột nhiên nghe trong tai vang lên tâm chú của Thượng sư vô cùng chấn động, trước mắt hiện ra một vùng ánh sáng, nhìn thấy Sư Tôn ngồi ngay ngắn trên đài sen, thân mặc áo bào Pháp Vương, đầu đội mũ Ngũ Phật, toàn thân phóng ánh sáng ngũ sắc, trên tay kết các loại thủ ấn không ngừng phóng quang gia trì mãi mãi, đây không phải trong giấc mơ, mà đang thật sự xảy ra trước mắt. Lúc đó mẹ khóc nức nở, nghĩ sao không phải là Bồ Tát, không phải là Chúa Jesus, lại chính là Liên Sinh Hoạt Phật mà cả đời này chưa từng quen biết, nên đã kể sự cảm ứng chân thật này cho tất cả những người thân xung quanh, phép gia trì của Liên Sinh Hoạt Phật là chân thật không giả dối.
Sau hai tuần, chúng con nhận được thư trả lời từ Chân Phật Mật Uyển, trên đó Sư Tôn đích thân cầm bút phê, ngày gia trì là 12 tháng 4, chính là cùng ngày mẹ nhìn thấy Sư Tôn gia trì. Mọi người đều vô cùng kinh ngạc, sau đó việc điều trị đều rất thuận lợi, cũng thấy trong văn tập của Sư Phật sau này có viết về kinh nghiệm chuyện này. Sự việc đã qua hơn 10 năm đến nay, sức khỏe của mẹ còn tốt hơn trước, tất cả đều phải cảm ơn sự gia trì của Sư Phật.
18. Hỏi: Văn thỉnh cầu trong tu pháp có quan trọng không?
Lư Sư Tôn đáp: "Quan trọng! Quan trọng! Quan trọng!" Văn thỉnh cầu chính là bao gồm khởi thỉnh và cầu nguyện. Khi hành giả muốn tụng "Kinh Kim Cang", ngay lập tức có một câu quan trọng, được viết ở phía trước: "Nếu có người thọ trì "Kinh Kim Cang", trước tiên phải chí tâm niệm chân ngôn tịnh khẩu tịnh thân nghiệp. Sau đó khởi thỉnh danh hiệu tám Kim Cang bốn Bồ Tát, nơi nào có mặt thường được ủng hộ." Vì vậy, trước khi tu pháp, chúng ta nên niệm Văn thỉnh cầu trước.
Tôi lấy ví dụ: Văn phát nguyện hoặc kệ tán thán mà chúng ta thường niệm, cũng tương đương như văn thỉnh cầu. Khi muốn niệm "Phổ Môn Phẩm", niệm: "Kính lễ tam giới tôn, quy mệnh thập phương Phật, con nay phát hoằng nguyện, trì tụng Phổ Môn Phẩm, trên báo bốn ơn nặng, dưới cứu ba đường khổ, nếu có kẻ thấy nghe, đều phát tâm bồ đề."
Tôi thích nhất bài kệ gõ chuông, trước hết xướng: Tiếng chuông ngân nở đóa sen thiêng, Pháp giới lặng nghe khắp mọi miền. Âm sắc tẩy trần, lòng thanh tịnh, Chúng sinh đồng ngộ ánh chân nguyên.
Hành giả muốn niệm chú Lăng Nghiêm, phải thỉnh cầu trước: "Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát. Diệu tính nhiệm màu bất động tôn Lăng Nghiêm tối thượng đời hiếm có. Tan muôn ức kiếp si mê tưởng, Chẳng trải tăng kỳ chứng Pháp thân. Nguyện con đắc quả thành Bảo Vương Độ khắp quần mê như cát bụi. Một lòng dâng trọn mảnh tâm sâu, Đền đáp ân Phật khắp muôn châu. Cúi xin Thế Tôn soi chứng giám, Năm trược đời đen, nguyện trước vào. Nếu còn chúng sinh chưa thành Phật Con chẳng cầu an nơi Niết-bàn. Đại hùng, đại lực, đại bi nguyện, Xin diệt vi tế hoặc trong tâm. Cho sớm chứng lên vô thượng giác, Đạo tràng ngồi khắp cõi mười phương. Các tính hư vọng đều tan biến Tâm kim cang ấy chẳng động lay. (Lại khởi thỉnh.) Nam mô thường trụ mười phương Phật. Nam mô thường trụ mười phương pháp. Nam mô thường trụ mười phương tăng. Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm. Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Kim Cương Tạng Bồ Tát. (Cuối cùng mới tụng chú Lăng Nghiêm.)
🌟
Tôi (Lư Sư Tôn) mỗi tối trước khi ngủ, tôi nhất định phải cầu nguyện với Bổn tôn và Hộ pháp của mình trước. Sau cùng mới quán tu pháp miên quang [pháp ngủ trong ánh sáng]. Tôi niệm: Vãng sinh tịnh thổ, siêu sinh xuất khổ, Nam Mô A Di Đà Phật. (Bổn tôn) Khởi phát trí huệ, đắc đại pháp lực, Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu. (Bổn tôn) Phát lời thề lớn, hộ trì Phật pháp, Nam Mô Địa Tạng Bồ Tát. (Bổn tôn) Nam Mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Nam Mô Hộ pháp Thời Luân Kim Cang, Nam Mô Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang. Nam Mô Hộ pháp Bất Động Minh Vương, Nam Mô Hộ pháp Đại Lực Kim Cang. Nam Mô Hộ pháp Hổ Đầu Kim Cang.
Tiếp theo tu: Chiếc ô ánh sáng chiếu trọn thân tôi. Ram - lửa thiêu thân xác tôi thành tro. Yam - gió thổi tro xá lợi của tôi vào hư không. Kham - biến mất chính mình. (vô ngã) (Tam tự minh chú.) Ánh sáng của tôi hòa nhập ánh sáng của hư không, ánh sáng nhỏ hòa nhập ánh sáng lớn, ánh sáng gặp gỡ ánh sáng. Cuối cùng nhập vào giấc ngủ sâu. …..
Tôi nói với mọi người: Pháp miên quang của tôi là để luyện tập cho chính bản thân mình khi vãng sinh, cũng phải khởi thỉnh trước, trước tiên kết nối với Bổn tôn. Bình thường tôi đã phải chuẩn bị sẵn cho vãng sinh, tránh khi thời khắc đến mà lúng túng bối rối. Thiện tai!
Xin nêu ra một lá thư, chứng minh tầm quan trọng của cầu nguyện.
Sư Tôn tôn kính nhất!
Hôm nay trực tiếp nộp bài tập cho Sư Tôn, vì hôm qua có vài câu chuyện nhỏ.
Thượng sư Liên Ngạn luôn rất quan tâm con, đêm qua cô ấy tặng con còi chống gấu, nhiều lần yêu cầu con hứa với cô ấy từ nay không được đi đến chỗ sinh cơ vào nửa đêm nữa, rất nguy hiểm, đừng để người khác lo lắng. (Cô ấy hy vọng con đi vào sáng sớm, an toàn hơn so với lúc trời tối.)
Ban đầu con nghĩ, tiêu rồi. Nhưng Phật Bồ Tát ở Sơn Trang nói với con và Liên Lịch rằng Ngài sẽ gia trì cho chúng con thành công trong chuyến đi. Vì vậy chúng con theo cách thức và thời gian mà Ngài chỉ dẫn, lén lút trốn khỏi Sơn Trang. (Con đã thất hứa với Thượng sư, trong lòng cứ vướng mắc, nhưng Liên Lịch cứ bảo con đừng nghĩ gì, đừng sợ.)
Dọc đường mưa phùn. Chúng con đến bãi cỏ trước mặt Sư Ma Bồ Tát, đặt xuống đồ cúng dường. Lần tu pháp này lấy linh cảm của Liên Lịch làm chủ đạo. Anh ấy trước khi khởi hành đã có linh cảm cần phải cầu nguyện truyền thừa Đại Thủ Ấn.
Anh ấy xướng tụng văn thỉnh cầu của Đại Thủ Ấn mà Sư Tôn viết trong văn tập số 51 "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn":
Dorje. Chang chen. Tilopa. Naropa. Marpa. Milarepa. Gampopa. Dusum Khyenpa. Karma pa. Düshi Chokyi. Jeupa. Zangmo. Tamche Dawa. Tsangpa Gyare. Drubpa Sewa. Sangye Ö. Gyalwa Lodrö. Gönpo. Rinpoche. Orgyenpa. Darma Wangchug. Gyalwa Yeshe. Lodrö. Khenchen. Lodrö. Ösel. Gongpa. Jangpa. Yönten. Gyaltsen. Lodrö. Muge. Gyaltso. Sonam. Jangchub. Ö. Lama. Lodrö. Zangpo. Langtö Dorje. Khenchen. Lodrö. Jampa. Gyalwa. Gön. Chökyi. Nyima. Lodrö. Tenzin. Gyatso. Khenchen. Lodrö. Lhamo Tso. Öser. Chökyi. Nyima. Jampa. Gyaltsen. Norbu. Chödrak. Gyalwa. Palsang. Khenchen. Lodrö.
Bản tiếng Trung là:
Kim Cương Tổng Trì, Tilopa Naropa, Marpa, Milarepa, Pháp vương Gampopa, Tổ Karmapa - bậc biết khắp ba thời, Bốn đại tám tiểu, những bậc thừa truyền, Từ Takpo Kagyu, Drukpa cùng các nhánh Đều chứng sâu đạo tối thắng Đại Thủ Ấn. Dòng truyền thừa Takpo Kagyu Có năng lực vô song trong việc lợi sinh. Con chí tâm khẩn cầu các Thượng sư Xin ban khẩu truyền và truyền thừa gia trì. Dạy rằng hãy lìa xa tham dục, An trụ trong ấn lớn của tự tính tâm. Với của cải, vật thực, chẳng khởi niệm ràng buộc, Buông bỏ lưới tham đời, tu hành chân chính. Cầu thầy gia trì cho tâm không nhiễm trước lợi danh. Dạy rằng giữ chí kiên cố, tinh tấn tu thân ấn lớn, Tùy duyên hiện tướng, thấu rõ tính như như, An trụ trong pháp tự nhiên không sửa. Cầu gia trì khiến tâm thoát mọi vọng tưởng ly tâm. Dạy rằng vọng niệm vốn chính là Pháp thân, Các hiện tưởng tuy hư mà hiển nhiên xuất hiện. Hiểu rõ huyễn hữu chẳng hoại - ấy là thắng pháp, Chứng biết luân hồi và Niết-bàn vốn chẳng hai. Con chí thành cầu nguyện các tổ sư gia trì.
(Cả bản tiếng Trung và tiếng Tây Tạng đều xuất từ văn tập của Sư Tôn.) (Đây là văn cầu nguyện truyền thừa, tất cả các tổ sư Đại Thủ Ấn đều được bao hàm trong đó.)
Khi anh ấy xướng tụng, chúng con đồng thời cảm nhận được một từ trường khổng lồ, khác với linh khí của Không Hành Mẫu và linh khí ấm áp của truyền thừa Đại Viên Mãn, đối với con mà nói, cảm giác đó vừa mộc mạc, vừa vắng lặng lại vừa tĩnh mịch.
Sau đó, trên bầu trời phía trước Sư Ma Bồ Tát, bầu trời chợt sáng lên một tia chớp, đồng thời một trận gió thổi qua, mưa trở nên to hơn. Tiếp theo con thấy mandala của Kim Cương Tổng Trì. (Linh giác của con vẫn chưa nhìn rõ lắm, nhưng trực giác biết được hình ảnh như vậy.) Đó là một mandala lớn hình tròn, trung tâm là Kim Cương Tổng Trì màu xanh thẫm, xung quanh bao vây bởi các tổ sư yogi mặc áo trắng, vòng ngoài cùng là các Không Hành Mẫu hoan hỷ. Nền của mandala là những ánh sao lấp lánh. Các Ngài nói với con:
- Trong quá khứ, con và truyền thừa Đại Thủ Ấn chưa có sự kết nối sâu sắc, từ hôm nay, sự kết nối giữa con và các Ngài sẽ được mở ra.
- Đại pháp tiêu tai mà các Ngài ban cho con, điểm then chốt chính là ở chữ "xả".
- Nếu tên Tsochö Gyatso của Liên Lịch có ý nghĩa là Pháp Hải thì con chính là ánh trăng sáng trên biển soi đường chỉ lối cho anh ấy.
Liên Lịch thì cảm ứng thấy Kim Cương Tổng Trì cùng dòng pháp khổng lồ trên không trung. Anh ấy trong lúc tu pháp tự động làm ra thủ ấn Kim Cương Tổng Trì.
Sau khi anh ấy xướng xong văn thỉnh cầu truyền thừa, anh ấy nhờ con dùng ngôn ngữ Không Hành Mẫu giúp anh ấy niệm đoạn này, truyền đạt đến các Không Hành Mẫu: Cầu nguyện Không Hành Mẫu hộ trì Tại tịnh độ liên hoa này Thành tựu thánh cảnh địa siddhi. Ta, Điều Phục Trì Minh Pháp Vương Hải (Dradul Rigdzin Chokyi Gyatso) Cũng hiệu là Thích Liên Lịch Khẩn cầu Không Hành Không Hành Mẫu tịch tĩnh phẫn nộ các phương Cùng với chiến thần (dralas), hộ pháp long thần Khẩn cầu giáng lâm ban hộ trì Nguyện chính pháp được bảo tồn mãi mãi Mau chóng ban xuống các siddhi Viên mãn như ý đại nguyện Liên Sinh Hoạt Phật.
Sau khi con xướng xong bằng ngôn ngữ Không Hành Mẫu, trong lòng con hiểu rằng con cũng sẽ hộ trì anh ấy. Sau đó, chúng con cúng dường cúng phẩm (bao gồm năm loại thịt năm cam lộ của nội cúng dường) cho Kim Cương Tổng Trì cùng quyến thuộc, địa thần chúng, khẩn cầu thành tựu siddhi vô thượng.
Sau khi cúng dường xong, Liên Lịch niệm bài văn hồi hướng do chính anh ấy viết: Kính lễ hóa thân của chư Phật ba đời - Liên Sinh Hoạt Phật Đại Liên Hoa Đồng Tử kim cương quang minh vô cấu. Kính lễ mẹ của tất cả chúng sinh hữu tình - Chủ Côn Lôn vô nhân cảnh Nguyên Thủy Ngọc Trì Kim Mẫu Đại Sĩ. Kính lễ truyền thừa Chân Phật Tông. Kính lễ truyền thừa tu hành Đại Thủ Ấn. Kính lễ yogi mật chú Kim Cương thù thắng Dorje Drakpa. Kính lễ hội chúng bí mật của Thiên Tôn, Không Hành Mẫu và các Hộ Pháp. Ta, Đức Đạt Khenpo Tsochö Gyatso, trước hội chúng vĩ đại này, thề nguyện tiêu trừ tất cả chướng ngại ngoại, nội, mật. Nguyện ta, Đức Đạt Khenpo Tsochö Gyatso, có thể trì giữ truyền thừa Chân Phật Tông, hộ trì Mật pháp Chân Phật Tông. Quan kiến thù thắng Kim Cang Bố Úy Tôn, thắng hơn tất cả kẻ địch ngoại, nội, mật. Nguyện ta, Đức Đạt Khenpo Tsochö Gyatso, chứng đắc thù thắng Kim Cang Danh Dự thành tựu, như Lodrö Dorje Drakpa thành tựu. Hây hây sô sô!
Sau khi làm xong những việc này, chúng con dọn dẹp xong việc. (Vì sợ bị phát hiện nên phải khẩn trương.) Sau khi dọn dẹp xong, những đám mây trên bầu trời bất ngờ tản ra hai bên, lộ ra một khoảng trời đêm trong vắt hình tròn, ánh sao lấp lánh, giống hệt với mandala Kim Cương Tổng Trì mà tôi đã thấy!
Sau khi về lại Sơn Trang, chúng con đem nửa còn lại của cúng phẩm đến điện Kim Cang Minh Vương cúng dường cho hộ pháp địa thần, tri ân các Ngài đã giúp đỡ.
Chúng con phát hiện ra rằng, dòng pháp vẫn tiếp tục tồn tại. Cả con và anh ấy đều chưa từng nhận được quán đảnh Kim Cương Tổng Trì của Sư Tôn, nhưng sau khi con trở về, con phát hiện rằng chỉ cần kết thủ ấn Kim Cương Tổng Trì, dòng pháp của Ngài liền đến ngay lập tức. Hơn nữa, khi con xướng niệm bài văn thỉnh cầu Đại Thủ Ấn ở trên, con cũng đã có cảm ứng.
Chúng con thử thêm vào việc niệm Karmapa Khyenno, nhưng không có cảm nhận gì. Lý thuyết mà chúng con suy luận ra là: Mandala Kim Cương Tổng Trì mà chúng con đã thấy không liên quan gì đến truyền thừa Bạch giáo hiện thời, mà là truyền thừa hư không bí mật.
Con nhận được những thông điệp sau tại điện Kim Cang Minh Vương:
- Trong truyền thừa Đại Viên Mãn, Không Hành Mẫu là "hiển hiện"; cũng như người vợ.
- Trong truyền thừa Đại Thủ Ấn, Không Hành Mẫu là "ẩn tàng"; các Ngài là hư không, cũng là người mẹ sinh ra tất cả chư Phật Bồ Tát.
- Con phải học hỏi trong truyền thừa của các Ngài, trở thành người mẹ của chúng sinh, của các đệ tử. Vì là hư không mới có thể bao dung tất cả, trở thành người mẹ của vạn hữu.
- Tu pháp xả thân của con đến trình độ cao nhất, hòa tan tâm của con vào tâm chúng sinh, chuyển thức thành trí, thì mới có thể tiêu tai.
Liên Lịch nhận được thông điệp từ Đại Uy Đức Kim Cang truyền cho anh ấy: Anh chính là ta, ta chính là anh, anh có tướng bên ngoài của ta, và trong thân thể anh có mandala Kim Cương Tổng Trì. Tuy nhiên, nếu anh muốn phát huy sức mạnh của mandala thì phải tu khí mạch minh điểm. Vì vậy, anh phải lập tức đi cầu quán đảnh Đại Uy Đức Kim Cang nhị quán.
Trên đây là nộp bài báo cáo tâm đắc, một lần nữa xin tri ân Sư Tôn vô cùng kính ái nhất!
Hàm Dữ và Liên Lịch đảnh lễ. Ngày 27 tháng 10 năm 2024.
🌟
Bài văn thỉnh cầu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ do chính Lư Sư Tôn viết như sau:
Tôi (Lư Sư Tôn) hướng đến Liên Sư thỉnh cầu và kính lễ: Kính lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khắp pháp giới. Kính lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ trang nghiêm vô song. Kính lễ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ pháp lực vô lượng. Ngài biết rõ, Tôi biết rõ, Chư Phật biết rõ, Ngài là Thượng Chủ hoàn mỹ, là hỷ lạc viên mãn, là hóa hiện cứu độ chúng sinh. Ngài từ bản sơ đi tới vô lượng vị lai. Ngài tượng trưng Đại Viên Mãn, Đại Thủ Ấn, Đại Uy Đức, Đại Thắng Huệ. Ngài là trọn vẹn trí huệ, là vô thượng. Ngài có thể tiêu trừ nghiệp chướng thân, khẩu, ý của chúng sinh. Ngài chém đứt phiền não chấp trước của chúng sinh.
Tôi (Lư Sư Tôn) ca ngợi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vĩ đại lợi sinh. Tôi nguyện đến nơi siddhi của Ngài. Tôi nguyện y giáo phụng hành. Xin ban cho tôi đại lực hoằng giáo độ chúng sinh. Xin gia trì cho tôi chứng được quả vị viên mãn. Om ah hum benza guru padma siddhi hum seh.
19. Hỏi: "Vô trí cũng vô đắc" là cái gì?
Lư Sư Tôn đáp: Có một đệ tử thích đọc "Kinh Tâm", mỗi lần đọc đến câu "vô trí cũng vô đắc" thì đều thấy mơ hồ. Về "vô sở đắc", vị này hiểu rõ, bởi chúng sinh ở thế giới Ta Bà đều tay không mà đến, tay không mà đi, không ai có thể đạt được gì cả, cho nên hiểu được điều này.
Nhưng, thế nào là "vô trí"?
Vị đó đến hỏi tôi. Tôi đáp như sau: Trí huệ chia làm ba loại:
- Căn bản trí.
- Phân biệt trí.
- Nhất thiết chủng trí.
Ngoài ra, Pháp Tướng Tông lập ra "Như Lai có bốn trí": Đại viên cảnh trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí. (Có cách nói năm trí là thêm vào Pháp giới thể tính trí.) Còn có chia nhỏ hơn nữa thành tám trí, mười trí, mười một trí, hai mươi trí, bảy mươi bảy trí.
Tôi cũng từng nói: "Muốn thành tựu Phật quả, cần có hai cánh. Một là trí huệ, một là thiền định." Nhưng, tôi (Lư Sư Tôn) vẫn phải nói với bạn rằng, khi "Kinh Kim Cang" đề cập đến "pháp còn nên bỏ, huống hồ không phải pháp".
Lại nữa: "Ví như chiếc bè". Điều này có nghĩa là, khi bạn đã đi chiếc thuyền trí huệ đến bờ bên kia rồi, bạn còn cần chiếc thuyền này nữa không? Cũng tức là sau khi đã thành tựu Vô thượng chính đẳng chính giác, trí huệ là thuyền, là công cụ, là có thể xả bỏ. Người viên mãn tất cả trí huệ, cũng giống như người không có trí huệ, là như nhau.
Tục ngữ của chúng ta có câu "đại trí như ngu", chính là câu này vậy. Căn bản trí chính là chân không trí. "Không" "Vô" là trí huệ vô thượng. Nhưng, không phải là ngốc nghếch! Người thực sự từng phút từng giây đều ở trong thiền định thì không biết đến thiền định, đó là "vô thiền". Người thực sự có trí huệ như biển cả, vô tận, chính là "vô trí". Thiền định cao nhất là "vô thiền". Trí huệ cao nhất là "vô trí". Nếu bạn còn hỏi tiếp, tôi sẽ trả lời: "Không thể nói!" (Người huyễn hỏi người huyễn vẫn là huyễn.)
Tất cả đều là vô sở đắc, trí huệ cũng nằm trong đó. Tất cả của tất cả, toàn bộ đều ở trong đó.
Tôi lại có một ví dụ: Có người hỏi tôi, Lư Sư Tôn đến Phật quốc tịnh thổ rồi, còn phải giữ năm giới không? Câu trả lời của tôi là: "Không cần giữ giới!" Tại sao không cần giữ năm giới? Bởi vì căn bản không có sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu.
- Phật quốc tịnh thổ không có ba đường ác, không có đường súc sinh, căn bản không có hành vi sát sinh.
- Phật quốc tịnh thổ khắp nơi đều là vàng, bảy báu, căn bản không có hành vi trộm cắp.
- Phật quốc tịnh thổ không có tính nam nữ, chỉ có duy nhất Phật tính, căn bản không có chuyện tà dâm.
- Phật quốc tịnh thổ người người thanh tịnh, thân khẩu ý thanh tịnh, không có chuyện khẩu nghiệp.
- Phật quốc tịnh thổ ẩm thực tự hóa, toàn là cam lộ, căn bản không có hành vi uống rượu.
Như vậy, căn bản không cần giữ năm giới, cũng không lo phạm giới, cũng không cần giữ mình thanh tịnh, bởi vì vốn dĩ đã thanh tịnh. Hai chữ "thanh tịnh" căn bản không tồn tại.
Phật quốc tịnh thổ toàn là người thiện. Do đó, có thể chứng biết: Khi đến lúc trí huệ viên mãn, hai chữ "trí huệ" có thể không cần dùng đến. Bởi vì "pháp nhĩ bản nhiên". [pháp vốn là như thế] Ví dụ: Như Lai. Vô thượng chính đẳng chính giác. Phật Đà. Ba danh từ này rộng lớn và vô cùng vô tận, không thể diễn tả hết, không thể giới hạn, quá khứ, hiện tại, tương lai cũng không thể nói hết, hoàn toàn hoàn toàn là bất khả tư nghì, tất cả tất cả là bình đẳng tam muội.
Tôi viết hai bài thơ kệ:
Lão tăng tám mươi dạn sương giói Không nói chuyện phiếm cũng chẳng buồn Viết mấy dòng văn bàn lý Phật Chỉ vì tự tại học tiêu dao.
🌟
Tùy ta mà dậy sớm Tùy ta ngắm bình minh Thế gian sự vật cũ Một ngày lại một ngày Dù cho không lời nói Tự đã rõ trong lòng Ha!
20. Hỏi: Hư không lớn chừng nào?
Lư Sư Tôn đáp: Người hỏi nghe tôi thuyết pháp, nói rằng tôi có thể "dung nhập hư không", nên có câu hỏi này. Câu trả lời của tôi là: "Lớn mà không có bên ngoài, nhỏ mà không có bên trong, không rời khỏi tấc đất." Có người nói: "Ba nghìn đại thiên thế giới." Người khác lại nói: "Số cát sông Hằng." Nhà khoa học nói: "Một trăm hệ mặt trời." Còn có người nói: "Không thể đo lường, không thể khảo sát, không có biên giới, ẩn giấu vô tận." Người học Phật nói: "Không thể nói."
Có một người đọc "Kinh Duy Ma Cật" nói rằng: "Căn phòng một trượng vuông của Duy Ma Cật Đại Sĩ, dù có nhiều đồ đạc đến đâu, đều có thể chứa được, căn phòng một trượng vuông của Duy Ma Cật bằng với hư không." Có người nói: "Không và vô." Lại có người nói: "Anh hỏi tôi, tôi hỏi ai?" Lại nói: "Thượng Đế biết." Lại nói: "Phật Đà biết." Lại nói: "Allah biết."
Tôi (Lư Sư Tôn) cuối cùng nói với người hỏi: "Vô niệm". Người kia hỏi lại: "Vô niệm lớn chừng nào?" Tôi đáp: "Vô niệm không có lớn nhỏ!"
🌟
Từ quan điểm tôn giáo nhìn nhận hư không: Đạo giáo nói: "Thiên viên địa phương." [trời tròn đất vuông] Lại có truyền thuyết Nữ Oa luyện đá vá trời, trời bị vỡ một mảng: vì thế có thuyết "Nữ Oa vá trời". "Thánh Kinh" ghi chép: "Sáng Thế Ký" câu đầu tiên: "Thủa ban đầu, Thượng Đế tạo dựng trời đất."(Khởi đầu của thuyết sáng tạo, khác với thuyết tiến hóa.) Phật giáo ("Nguyên Nhân Luận"): "Con người từ Quang Âm Thiên đến, Quang Âm Thiên là tầng trời cao nhất của Nhị thiền." Lại có Tam thiền thiên, Tứ thiền thiên. Quan niệm vũ trụ hư không của Phật Thích Ca Mâu Ni là vĩ đại nhất, vô biên nhất.
Ví dụ, "Kinh A Di Đà" ghi chép: "Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất: Từ đây về phương Tây, qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc." Tức là hướng về phương Tây, trải qua mười vạn ức Phật quốc tịnh thổ, mới đến được thế giới Cực Lạc. (Mười vạn ức cõi Phật, căn bản không thể tưởng tượng được.)
Ngoài ra, "Kinh Duy Ma Cật" ghi chép: "Duy Ma Cật liền nhập tam muội, dùng thần thông lực, chỉ cho đại chúng thấy, theo phương phía trên, qua bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có quốc độ tên là Chúng Hương, Phật hiệu là Hương Tích." Tức là thế giới phía trên, trải qua bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có một Phật quốc Chúng Hương. (Trời ơi! Bốn mươi hai sông Hằng, vô tận các cõi Phật như cát sông Hằng, mới đến được Phật quốc Chúng Hương.) Đây cũng là hư không vô hạn rồi! (Đây chính là hư không vô tận)
Nhưng hư không vô lượng, muốn đến những cõi Phật này, một niệm có thể đến. Thế giới Tây phương Cực Lạc:
- Phải có thiện căn.
- Nhất tâm bất loạn niệm Phật. (Không rời khỏi tấc đất.)
Phật quốc Hương Tích Như Lai: Cư sĩ Duy Ma Cật, hóa hiện ra một vị Bồ Tát hóa thân tướng đẹp chói sáng, bay lên phương trên, chỉ trong một sát-na đã đến được Phật quốc Chúng Hương". Cũng chỉ trong khoảng một ý nghĩ.
Vì vậy tôi (Lư Sư Tôn) nói, hư không tuy rằng rộng lớn vô biên, nhưng, không rời khỏi tấc đất (tâm).
🌟
Lư Sư Tôn viết thơ kệ:
Duy tâm duy thức ai thấu rõ Vô niệm hư không chân pháp chỉ Nhậm vận tự tại trong tam muội Lão tăng tám mươi hóa hữu vô.
🌟
Một bát cơm nghìn nhà Gió cát đi vạn dặm Trong lòng không một vật Một đóa bạch liên hoa.
🌟
Đông Nam Tây Bắc đều là nhà Có thể tùy lúc đến cõi Phật Giơ tay che khắp hư không giới Nhấc chân đã đến nơi chân trời.
🌟
Viết thơ không câu chữ Hát tụng không đàn dây Nếu hiểu được đến đây Chỉ còn một tâm linh.
21. Hỏi: Pháp đệ nhất phú hào có phải là Phật pháp không?
Lư Sư Tôn đáp: "Tất cả đều là Phật pháp, vì vậy, pháp đệ nhất phú hào là Phật pháp." Tôi từng truyền thụ pháp Thánh Quan Âm đệ nhất phú hào, bị người ta phê bình: "Đây không phải là Phật pháp." Tôi nói: "Là Phật pháp!" Người kia nói: "Không phải Phật pháp!" Ai mới đúng?
Tôi (Lư Sư Tôn) trả lời như sau: Phật Thích Ca Mâu Ni nói, thiện nam tử, pháp môn giải thoát "hữu tận vô tận", các ngươi nên học. Hữu tận là gì? Chính là pháp thế gian. Vô tận là gì? Chính là pháp xuất thế gian. Trước là pháp hữu vi. Sau là pháp vô vi.
Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng: Bồ Tát không đoạn trừ cõi duyên khởi hữu vi, cũng không trụ vào cõi pháp lý vô vi. Bồ Tát không rời đại từ đại bi, dùng "tứ nhiếp pháp" thường tùy thuận cơ duyên để lợi lạc chúng sinh. Tứ nhiếp pháp là tùy theo căn cơ chúng sinh, cùng làm việc với chúng sinh, tùy thuận để độ hóa chúng sinh. Chúng sinh yêu tiền. (Trước dùng dục cầu để dẫn dắt, sau đó khiến họ vào Phật pháp.) Bồ Tát độ chúng sinh, giống như phàm phu, nhưng Bồ Tát dùng nhất thiết trí, quán pháp tự nhiên, như thế mà giáo hóa chúng sinh.
Lại nữa: Bồ Tát chỉ có pháp vô vi thì giống như: Ngựa không cương. Thuyền không lái. Rất dễ rơi vào chấp không. Đại Bồ Tát chân chính, trên cầu Phật pháp, dưới độ hóa chúng sinh, tâm thường an trú, tất cả công đức, tâm không bám chấp. Chỉ là tùy duyên phương tiện, hồi tự hướng tha, hồi sự hướng lý.
Vì vậy pháp đệ nhất phú hào là: Pháp hữu vi. Pháp duyên khởi. Giác ngộ thế gian. Pháp sinh tử. Nhưng, cũng là Phật pháp, là một trong những pháp phương tiện tùy duyên để độ chúng sinh. Như bốn đại pháp Thần Tài của Mật giáo v.v...
Tôi từng nói: Thần Tài ở nhân gian là Sơn Thần Thổ Địa. Thần Tài ở biển là Hải Long Vương. Thần Tài trên trời là Tứ Thiên Vương. Tôi thật sự muốn nói với mọi người rằng, những vị phú hào lớn nhất thực sự trong Phật giáo chính là chư Phật Bồ Tát. Phật quốc tịnh thổ mà Phật Bồ Tát thiết lập, toàn bộ đều là những báu vật hiếm có trên đời. Các Ngài mới chính là người giàu có số một thiên hạ.
Tôi lấy ví dụ để chứng minh: Trong "Kinh A Di Đà" đã ghi chép rõ ràng: Cõi Cực Lạc có bảy tầng lan can, bảy tầng lưới võng, bảy hàng cây đều do bốn báu bao quanh xung quanh. Ao bảy báu có nước tám công đức, đáy ao hoàn toàn trải cát vàng. Bậc thang, lối đi, đều do vàng, bạc, lưu ly, pha lê kết hợp mà thành. Lầu gác trang hoàng bảy báu. Trời có thiên nhạc. Đất bằng vàng. …………. Ngoài ra còn có mười sáu quán [mười sáu phép quán tưởng về thế giới Cực Lạc]. Điều này có thể chứng minh rằng Phật quốc tịnh thổ toàn bộ đều do các vị Phật Bồ Tát là những vị phú hào số một thiên hạ thiết lập ra.
22. Hỏi: Na Tra Tam Thái Tự cũng hộ trì Phật pháp sao?
Lư Sư Tôn đáp: Tôi từng đọc sách Phong Thần Bảng. Na Tra Tam Thái Tử xuất hiện trong sách Phong Thần Bảng, Phong Thần Bảng là tác phẩm của Đạo sĩ Lục Tây Tinh. Lúc bấy giờ, Lý Tĩnh có ba con trai: Thái tử Kim Tra bái Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn làm thầy. Con thứ hai Mộc Tra bái Phổ Hiền Chân Nhân làm thầy. Con thứ ba Na Tra bái Thái Ất Chân Nhân làm thầy. Na Tra Tam Thái Tử từ khi sinh ra cho đến khi trở thành Nguyên Soái, có rất nhiều diễn biến đầy kịch tính. Ở Đài Loan, rất nhiều cung miếu thờ phụng Thái Tử Nguyên Soái, cũng có những ngôi miếu riêng thờ riêng các vị. Uy linh hiển hách.
Tôi nhớ trong tín ngưỡng dân gian, Na Tra Tam Thái Tử cũng có văn khấn nguyện. Đại ý là: "Thiên linh linh, địa linh linh, Na Tra Tam Thái Tử giáng lâm!" Lại niệm: "Tay cầm Càn Khôn quyển, lại cầm thương Hỏa Tiêm thương, chân đạp Phong Hỏa luân." Lại niệm: "Lên núi bắt hổ dữ, xuống biển bắt giao long. Đến nhân gian cứu vạn dân, cấp cấp như luật lệnh." …………
Trong Phong Thần Bảng, câu chuyện về Na Tra Tam Thái Tử rất hấp dẫn. Có một lần, hồn phách không nơi nương tựa, khóc lóc kể với sư phụ. Thái Ất Chân Nhân lấy rễ và lá hoa sen, dùng thần thuật khiến hồn phách nương vào hoa sen, từ đó Na Tra Tam Thái Tử biến thành "Liên Hoa Đồng Tử" ba đầu sáu tay.
Những câu chuyện này, giống như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ tại Thi Đà Lâm, thu phục chủ nhân Thi Đà Lâm, biến hóa chủ nhân Thi Đà Lâm thành Phổ Ba Kim Cang. Từ đó, hộ trì Phật pháp.
Tôi (Lư Sư Tôn) khi mới học Đạo pháp đã có một đoạn nhân duyên với Na Tra Tam Thái Tử. Tôi đã nhận một đệ tử. (họ Hoàng) Na Tra Tam Thái Tử này đã nhập vào người đệ tử ấy,và nói chuyện với tôi về nhân duyên quả báo. Ngài nói: "Lư Sư Tôn, chúng ta có số phận giống nhau!" Tôi vô cùng ngạc nhiên. Ngài tiếp tục nói: "Ngài bị phụ thân ruồng bỏ, tôi cũng bị phụ thân ruồng bỏ." Ngài lại nói: "Lư Sư Tôn, Ngài là Liên Hoa Đồng Tử hóa thân, tôi cũng là hóa thân từ hoa sen." Lại nói: "Khi tôi sinh ra là một bọc thịt tròn, khi Ngài sinh ra thì có tơ trắng quấn quanh thân." "Tôi đã trở thành Trung Đàn Nguyên Soái của Khương Tử Nha, còn tổ tiên của họ Lư của Ngài chính là Khương Tử Nha." Tôi nghe xong. Quả thật đúng như vậy.
Na Tra Tam Thái Tử đã trở thành Trung Đàn Nguyên Soái của năm doanh trại binh mã, uy phong tám mặt. Tôi Lư Sư Tôn đã trở thành người sáng lập Phật giáo (Chân Phật Tông) độc nhất vô nhị. Hỡi ôi! Đây là chuyện gì thế này?
Cuộc đời tôi này, vừa viết sách, vừa vẽ tranh, vừa tu pháp, vừa truyền pháp. Siêng năng nỗ lực như vậy, nếu không phải ba đầu sáu tay thì còn là gì nữa Viết đến tám mươi tuổi vẫn chưa viết xong, truyền pháp đến tám mươi tuổi cũng chưa nghỉ hưu. Tôi còn hóa thân bên ngoài thân, biến hóa ra hàng nghìn vạn triệu Lư Sư Tôn. (Na Tra Tam Thái Tử còn đến quy y tôi.)
23. Phụ lục: Thư liên quan đến Na Tra Tam Thái Tử
Sư Tôn và Sư Mẫu thân yêu, Phật an!
Đệ tử Liên Hoa Khải Phú, bút danh Tiểu Đào Tử, là đệ tử đến từ Lộc Cảng mà trong buổi đồng tu tại Seattle vào tháng 5 năm nay, Sư Tôn đã chỉ ra rằng Tam Thái Tử đang hiện diện trên thân đệ tử. Tam Thái Tử kết duyên với đệ tử, tất cả đều bắt nguồn từ lúc Sư Tôn đích thân đến đàn thành nhà đệ tử gia trì và ban cho quán đảnh đại pháp Cửu tự chân ngôn. Nhờ được Sư Tôn chỉ dẫn ngọn đèn sáng, đệ tử mới không đến nỗi mê muội đánh mất bản thân.
Khi Na Tra Tam Thái Tử giáng xuống trên thân, vì đệ tử vốn luôn tu trì Chân Phật Mật Pháp nên rất chống đối, và cũng cho rằng Ngài là nhân vật hư cấu, cho đến khi Ngài nói với con: "Phong Thần Bảng, Tây Du Ký có thật có giả, vì mục đích tạo sức hấp dẫn kịch tính."
Ngài lại nói: "Ta không phải là nhân vật hư cấu, anh tin Phật thì hãy tìm trong Đại Tạng Kinh, có một quyển kinh tên là "Tỳ Sa Môn Thiên Vương Tùy Quân Hộ Pháp Nghi Quỹ", lại có "Cao Tăng Truyện", ta từng hộ trì và tặng xá lợi Phật cho Luật Sư Đạo Tuyên." Tra xong, đệ tử vô cùng kinh ngạc, quả nhiên có ghi chép, những điều này trước đây con hoàn toàn không biết, là do Na Tra Tam Thái Tử nói cho con biết, và Ngài cũng hy vọng con có thể đưa Ngài trở về chùa Phật giáo, để các tín đồ Phật giáo biết rằng,Ngài là vị hộ pháp của những người tu hành tôn sư, trọng pháp và thực tu, không phải là độc quyền của Đạo giáo.
Con cũng không hoàn toàn tin, năm 2010 đã thỉnh thị Sư Tôn, xác nhận đúng là thần linh của Na Tra Tam Thái Tử, Sư Tôn cũng nhiều lần gia trì cho Na Tra Tam Thái Tử và Vũ Mao Đồng Tử Thái Tử Gia trên người con. Phật lực gia trì càng hiển thần uy, con mới hợp tác với Ngài, quan sát Ngài ba năm, Ngài cũng quan sát con ba năm, cuối cùng mới chính thức mở đạo tràng Minh Hóa Đường (Sư Tôn ban tên, hiện đã thành lập tư cách pháp nhân là Tổng Hội Minh Hóa Đường Lộc Cảng Trung Hoa Dân Quốc), giúp đời cho đến nay 14 năm.
Năm ngoái thực ra đệ tử cũng đã từng đến Seattle hành hương 20 ngày, nhưng vì đúng dịp đại pháp hội nên không có phúc được vào Chân Phật Mật Uyển thỉnh thị Sư Tôn, mục đích là để báo cáo về công việc của đạo tràng và định hướng tương lai của đạo tràng. Trước khi đến Seattle vào tháng 5 năm nay, Vũ Mao Đồng Tử Thái Tử Gia (là vị Thái Tử mà Sư Tôn đã ban tên khi ở Đài Loan, chính là tôn tượng kim thân Thái Tử mà đệ tử cùng thỉnh vào) đã nói: "Kim thân phải theo đi." Con cũng mới quyết định mang kim thân theo ngay trước khi khởi hành. Nhưng điều kỳ diệu là Sư Tôn đã bắt đầu tụng chú triệu thỉnh Tam Thái Tử từ một tuần trước khi chúng con đi, khiến chúng con rất ngạc nhiên, cũng vô cùng hoan hỷ, Phật nhãn của Sư Tôn đã quan sát thấy sự giáng lâm của Tam Thái Tử, và cũng có phúc vào Mật Uyển yết kiến Sư Tôn.
Đệ tử vô cùng cảm kích ơn Sư Tôn đã trực tiếp truyền thụ và quán đảnh Mật pháp Trung Đàn Nguyên Soái Tam Thái Tử, sau đó đệ tử tra tìm thông tin về Na Tra Tam Thái Tử, phát hiện ra trong "Phật Thuyết Tối Thượng Bí Mật Na Tra Thiên Kinh" có rất nhiều Mật pháp của Tam Thái Tử, giống như pháp Chuẩn Đề vậy, bao gồm cả năm bộ, hy vọng Sư Tôn có thể truyền rộng pháp này, lợi ích chúng sinh.
Đệ tử trong chuyến đi này cũng được Sư Tôn gọi tên, thông qua phát trực tiếp trên mạng, nhiều đồng môn đều nhìn con bằng ánh mắt ngưỡng mộ, cho rằng đệ tử tu rất tốt, nhưng đệ tử có một cảm tưởng, vì Sư Tôn đã từng khai thị: "Con người từ Quang Âm Thiên đến Trái Đất, ăn đất trần gian, tạo ra thân thể vật chất hóa không thể trở về, đây chính là nguồn gốc loài người. Người Quang Âm Thiên đều dùng ánh sáng và âm thanh để giao tiếp." Vì vậy tự động viết chữ trời, mở miệng nói ngôn ngữ trời chỉ là sản phẩm phụ của sự tu hành của chúng ta.
Tu trì Chân Phật Mật Pháp chủ yếu là "giúp chúng ta lọc bỏ tạp chất trong thân thể, khiến linh tính vốn có hiển lộ ra", vì vậy mở miệng nói ngôn ngữ trời chẳng có gì thần kỳ cả, đều là do gia trì của Tam Căn Bản. Biết nói ngôn ngữ trời, viết chữ trời cũng không có nghĩa là có lai lịch hay tu tập tốt, nhưng các đồng môn bắt đầu theo đuổi những cảm ứng kỳ lạ như vậy, đệ tử cảm thấy như đã lệch khỏi trục chính rồi, đã là con người thì nói ngôn ngữ của nhân gian là được.
Đệ tử cũng cho rằng, ngôn ngữ trời và chữ trời, không phải là nhìn vào chữ viết hay nghe âm thanh của nó, những thứ này đều không có logic phàm trần nào cả, chỉ có dùng "tâm" mới có thể cảm nhận được "tần số" mà nó muốn biểu đạt, cũng giống như Phật Đà cầm hoa, Tôn giả Ca Diếp mỉm cười, không cần lời nói, Phật dùng một âm diễn vạn pháp, chúng sinh tùy loại mỗi người tự sẽ hiểu.
Vì vậy sư tỷ Thục Nhất yêu cầu đệ tử dịch bài hát Sư Tôn hát, theo ý kiến ngu muội của đệ tử, thực ra là nghe được từng tiếng gọi da diết của Sư Tôn, chứ không phải là ý nghĩa bài hát cô giáo mẫu giáo hát lúc đó, đệ tử xin thử giải nghĩa như sau:
"Các Liên Hoa Đồng Tử ơi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, hãy mau tỉnh dậy đi, tỉnh dậy đi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, các Liên Hoa Đồng Tử ơi, hãy mau tỉnh dậy đi, tỉnh dậy đi, còn đang chìm say trong trần thế sao? Còn đang lưu luyến trong trần thế sao? Hãy mau tỉnh dậy, chúng ta nắm tay nhau, cùng nhau trở về cõi trời."
Nếu có hiểu sai thánh ý, mong Sư Tôn thứ lỗi.
Cuối cùng, con cầu xin Sư Tôn từ bi gia trì cho chuyến đi Seattle năm sau được suôn sẻ viên mãn. Cung kính chúc Sư Tôn Phật thể an khang, thường trụ thế gian, thường chuyển pháp luân, không nhập Niết-bàn.
Ngu đệ tử Liên Hoa Khải Phú khấu đầu trăm lạy.
(Chú thích của Lư Sư Tôn: Về phần thiên ngữ, đó là ngôn ngữ trên trời, thực ra cũng có nhiều loại, mỗi tầng trời, ngôn ngữ đều khác nhau, nhưng cũng có nơi tương tự. Thêm nữa, tầng trời cao hơn nữa thì không cần dùng ngôn ngữ, vì có tâm thông lẫn nhau. Cũng có dùng ánh sáng để thay thế ngôn ngữ, ví dụ như ở cõi Quang Âm Thiên.)
24. Hỏi: Thế nào là "tập khí gia trì"?
Lư Sư Tôn đáp: Trước tiên tôi xin lấy một ví dụ để giải thích. Ngày xưa, đệ tử của Đức Phật là Mục Liên, chính là Mục Kiền Liên đứng đầu về thần thông. Mục Liên dùng thần thông quán chiếu thấy mẹ mình sau khi vãng sinh đang chịu khổ ở cõi ngạ quỷ. Vì vậy Mục Liên dùng Thần túc thông đến cõi ngạ quỷ để cứu mẹ mình.
Mục Liên đem thức ăn ngon cho mẹ ăn. Nhưng, thức ăn vừa đến miệng liền hóa thành than lửa, lại làm bỏng miệng mẹ. Lần này như vậy, lần nào cũng như vậy. Mẹ kêu than! Mục Liên đau lòng!
Mục Liên trở về thế giới Ta Bà, không có phương kế nào, chỉ có thể đi cầu xin Phật Thích Ca Mâu Ni.
Phật bảo Mục Liên: "Với công đức lực của một mình ông là không đủ, phải tập hợp công đức lực của chúng tăng, cộng thêm công đức lực của ông, mới có thể trừ được tội nghiệp của mẹ ông." Sau đó, Mục Liên tập hợp các đệ tử của Đức Phật, cộng thêm chính mình, cùng nhau cúng dường chư Phật Bồ Tát, cùng nhau tụng kinh cầu nguyện, thiết lập pháp hội Vu Lan Bồn. Nhờ sức mạnh của "tập khí gia trì", cuối cùng mới cứu được mẹ của Mục Liên ra khỏi cõi ngạ quỷ. (Pháp hội Vu Lan Bồn, nguồn gốc của lễ Trung Nguyên Phổ Độ, chính là từ đây mà ra. Chuyển thành phim, chính là "Mục Liên cứu mẹ".) Đây chính là "tập khí gia trì".
🌟
Tại nơi tôi (Lư Sư Tôn), mỗi ngày có rất nhiều người cầu gia trì! Gia trì lực của tôi đến từ:
- Công đức tu hành từ nhiều kiếp.
- Công đức lực của ba Bổn tôn căn bản (Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Bồ Tát).
- Công đức lực của chư Phật Bồ Tát, Kim cang, Hộ pháp, Không hành, chư Thiên………….
- Mật chú lực. (chân ngôn)
- Quán tưởng lực. (niệm lực)
- Mật ấn lực. (thủ ấn)
- Tam muội lực. (pháp lưu ý thức vũ trụ)
- Thân ngoại hóa thân lực. (thần biến lực)
Lại nữa: Tôi (Lư Sư Tôn) có truyền thừa Không Hành bí mật, sức mạnh này đến từ Áo Minh Thiên Cung, có truyền thừa lực của mười vạn Không Hành Mẫu và mười vạn Không Hành Dũng Phụ. Lại có Đông Hoa Đế Quân và Diêu Trì Kim Mẫu, Thiên Du Thập Nhị Khê Nữ, Na Diên Thiên Ngũ Đại Nữ Thần. Lục Giáp Thần Tướng. Lục Đinh Thần Binh. Vô số thiên binh thiên tướng hộ trì lực lượng. Vận dụng đại pháp lực, đại thần thông, đại biến hóa để gia trì chúng sinh. (Đây cũng là tập khí gia trì.) Bề ngoài nhìn vào, tôi chỉ là một người đang gia trì, nhưng thực tế là tập hợp sức mạnh gia trì của chư tôn. Sờ đầu. Nước chú Đại Bi. Phù lục. Pháp Cửu tự chân ngôn (Bất Động Minh Vương). ………. (Đều là tập khí gia trì.)
25. Phụ lục: Thư cảm ơn từ New York
Lư Sư Tôn tôn quý!
Cả gia đình chúng con quy y Chân Phật Tông đã hơn hai năm. Con gái con Liên Hoa Tử Đình bảy tuổi, cuối năm 2023 bất ngờ nhiễm virus viêm phổi, tại phòng ICU ở New York, sử dụng máy thở và máy rửa máu nhân tạo hơn 20 ngày. Con bé chỉ hôn mê, gượng gạo duy trì sự sống.
Có hai đêm, tình hình nguy kịch, trên màn hình thiết bị hoàn toàn không ổn định, lượng oxy trong máu không thể tăng lên được. Bác sĩ nói: "Chỉ có năm mươi phần trăm cơ hội có thể sống sót."
Cả gia đình chúng con vô cùng lo lắng, cảm thấy bất lực.
Tại New York, Thượng sư Liên Giả và pháp sư Liên Lãm đã làm lễ Hộ Ma (cúng lửa), cầu nguyện chư Phật Bồ Tát gia trì. Cũng nhận được sự giúp đỡ của sư tỷ Liên Hoa Diệu Quân, sư tỷ đã đến Seattle cầu xin Lư Sư Tôn gia trì cho con gái.
Liên Hoa Diệu Quân tại phòng bệnh ở New York, đối thoại trực tiếp với oan thân trái chủ của con gái. Oan thân trái chủ yêu cầu:
- Tụng kinh hồi hướng.
- Đốt năm thùng vàng mã. Oan thân trái chủ nói: "Liên Hoa Tử Đình kiếp trước đã hại ta, kiếp này ta đòi mạng nó." Vì vậy sư tỷ Liên Hoa Diệu Quân đặc biệt làm kết giới, trì tâm chú Căn bản Thượng sư. Cũng tập hợp các sư huynh sư tỷ đồng môn cùng tụng kinh hồi hướng bên giường bệnh, trì tâm chú Căn bản Thượng sư.
Lúc này, thấy Pháp thân Lư Sư Tôn đến, Lư Sư Tôn sờ đầu gia trì cho con gái. Còn nói: "Phải mạnh mẽ, đừng bỏ cuộc!"
Kỳ tích xuất hiện! Từ hôm đó, nước da con bé chuyển sang hồng hào, ngày qua ngày trở lại bình thường, các thiết bị và ống dẫn đều lần lượt được tháo ra. Vi khuẩn trong máu phổi bất ngờ ngày càng ít đi, cuối cùng hoàn toàn sạch bóng.
Bác sĩ nói: "Theo kinh nghiệm của tôi, hôn mê 20 ngày, các chỉ số thấp như vậy, cộng thêm tác dụng phụ của thuốc, hậu quả để lại khi tỉnh lại sẽ bị tổn thương não hoặc suy tạng." Bác sĩ nói: "Thần trí sẽ không bình thường."
Ngay tại thời khắc con gái tỉnh lại, bác sĩ và y tá nhìn thấy con gái có thể nói chuyện bình thường với chúng tôi. Mọi thứ tinh thần đều bình thường. Cả phòng bệnh vỡ òa trong niềm vui.
Bác sĩ và y tá đều rất ngạc nhiên, đều cảm thấy không thể giải thích được. Đây là kỳ tích!
Chiến thắng lần này, không thể phủ nhận bác sĩ có công, nhưng nếu không có sự giúp đỡ "tập khí gia trì" của các sư huynh sư tỷ đồng môn, cùng với sự gia trì có đại pháp lực tối thượng của Lư Sư Tôn, con gái chúng con không thể nào bình phục hoàn toàn không tổn thương.
Thật sự biết ơn! Thật sự cảm tạ! Thật sự cảm ơn! Cầu nguyện Lư Sư Tôn mãi mãi từ bi gia trì!
Liên Hoa Thi Nhã. Ngày 15 tháng 11 năm 2024.
🌟
Tôi (Lư Sư Tôn) viết một bài thơ:
Tập khí vạn cảnh chuyển Chuyển xứ hiện quang minh Chỉ mong người dài lâu Hạnh phúc chẳng lo sầu.
26. Hỏi: Thế nào là "như vầy"?
Lư Sư Tôn đáp: Từng có người hỏi tôi: "Thế nào là Như Lai? Thế nào là Như Khứ?" Tôi đáp: "Nói đơn giản, Như Lai là như có đến, Như Khứ là như có đi. Sự thật là không đến không đi." (Như Lai, Như Khứ là danh xưng của Phật. Là không thể suy nghĩ, không thể bàn luận, hàm nghĩa không thể nói hết.) Còn "như vầy" trong kinh điển, câu trả lời của tôi là: "Chính là như vậy!" "Như là vậy!" "Chính là." (Thực tế, hàm nghĩa của nó, rộng lớn vô biên.)
Tôi xin kể một ví dụ. Người hỏi: "Ai là Lư Thắng Ngạn?" Tôi đáp: "Tôi chính là Lư Thắng Ngạn." Cái "Lư Thắng Ngạn" này thực ra chỉ là "tên họ", thực tính của nó hằng ngày đều thay đổi. Thời kỳ trẻ thơ, thời niên thiếu, tuổi trung niên, tuổi già. Tế bào của chúng ta, mỗi ngày đều tăng giảm, thân thể cũng chỉ mang tính tượng trưng. (Mỗi bức ảnh từ nhỏ đến già, tấm nào cũng khác nhau.)
Sự sống chết của chúng ta, như mộng, như ảo, như điện chớp, như lửa lóe đá, chỉ là tạm thời mà thôi. Hãy nghĩ một chút. Vô cùng hư huyễn. Cho nên người có tư tưởng, thường hay hỏi: Trước khi sinh, tôi là ai? Sau khi chết, tôi là ai? (Sinh từ đâu đến? Chết về đâu?) Đến thế giới này làm gì? Ý nghĩa của sự sống là gì? Cho nên, chỉ có thể nói: "Như vậy." (Dường như là vậy.)
Mỗi người chúng ta, chưa chắc đã nhận biết mình. Ví dụ như người mất trí nhớ, họ thậm chí không thể nhận ra chính bản thân mình, huống chi là gia đình bạn bè của họ. Người mất trí nhớ, tự mình không nhận ra, cha mẹ con cái đều quên hết, vậy họ là ai? Vì vậy mà: "Như vậy."
Tôi xin kể một ví dụ có thật. Bố tôi tuổi cao rồi, có một lần, đột nhiên mất trí nhớ. Ông quên mất họ tên của mình? Quên mất nhà ở đâu? Ông đạp xe đạp, đã đạp đến tận Chương Hóa, ông không tìm được nhà ở Đài Trung.
Những người tốt bụng đã đưa ông đến đồn cảnh sát. Ông cũng không có giấy tờ tùy thân. Cảnh sát hỏi ông, hỏi gì cũng không biết. Cảnh sát bảo ông nghĩ kỹ lại, ông mới nhớ ra, ông có một đứa con trai, đã viết rất nhiều sách. Cảnh sát hỏi: "Con trai ông tên là gì?" Ông cũng quên mất! Trong số đó có một cảnh sát nói: "Có một người viết rất nhiều sách, người đó tên là Lư Thắng Ngạn." Bố tôi vỗ trán: "Đúng rồi! Con trai tôi tên là Lư Thắng Ngạn." Cuối cùng, cảnh sát gọi điện đến Đài Loan Lôi Tạng Tự, nhờ người đón bố tôi về nhà. (Lúc đó tôi đang ở Seattle, Hoa Kỳ.)
Xin hỏi: Khi mất trí nhớ, ai lại là ai? Nếu ngay cả chính mình cũng quên mất, họ tên là gì, vậy bạn là ai? Tôi có một đệ tử sống ở Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc, anh ấy đã viết gửi đến một bài văn, khá có kiến giải.
Bài văn như sau: "Ai là ai?"
Sư Tôn trong sách đã ghi chép rất nhiều kiếp quá khứ, trong những thời đại khác nhau, thân phận khác nhau, biến hóa rất nhiều. Cũng đã từng trong cùng một thời đại, cùng một đất nước mà ứng hóa thành hai con người khác nhau. Ví dụ như đế vương đời Đường Lý Thế Dân và Đại sư Huyền Trang, tuy cùng một thời đại, nhưng cũng có thể đều là Sư Tôn ứng hóa. Cuối cùng vị nào mới là Sư Tôn thật sự?
🌟
Trong phim truyền hình, thường có những tình tiết mất trí nhớ. Nhân vật chính vô tình mất trí nhớ, quên mất người yêu, cũng quên mất tất cả về bản thân mình. Khi mất đi ký ức, tôi không nhớ mình, vậy tôi còn là tôi nữa không?
Trong phim truyền hình, còn có một tình tiết khác. Linh hồn của nhân vật chính xuyên việt vào người khác có địa vị cao quý, thay thế người đó, đồng thời cũng sở hữu ký ức của họ. Hòa nhập vào ký ức của người khác, vậy tôi có phải là họ không?
🌟
Vì vậy, tôi bắt đầu suy ngẫm về "Thuyết ký ức". Khi tôi mất đi ký ức, tôi không còn là tôi. Khi tôi sở hữu những ký ức khác nhau, thì tôi chính là mỗi người. Khi tôi chính là tôi vì có ký ức, vậy thì rút cục tôi là ai? Rút cục ai là tôi?
Tương tự, còn có "Thuyết cái bình". Một cái bình thủy tinh, đựng đầy coca thì là một bình coca. Đựng đầy nước cam thì là một bình nước cam. Khi bình thủy tinh không có gì bên trong, vậy ai là nước cam? Ai là coca?
🌟
Cuối cùng có một ngày, trong "Thuyết ký ức" và "Thuyết cái bình", tôi phát hiện ra rằng, tôi không phải là tôi, tôi cũng không phải là bất kỳ ai. Hoặc có thể nói, tôi có thể là bất kỳ ai, cái bình thủy tinh cũng có thể là bất kỳ loại đồ uống nào.
Không còn ký ức trần tục, không còn cái bình và nước trái cây, tôi mới là tôi. Hòa nhập vào những ký ức khác nhau, bạn chính là tôi, tôi chính là bạn.
Cuối cùng tôi đã hiểu ra, Sư Tôn là Đường Thái Tông Lý Thế Dân, đồng thời cũng là Đại sư Huyền Trang đi Tây Thiên thỉnh kinh. Không có mâu thuẫn, chỉ có sự hòa nhập.
🌟
Hòa nhập. Tôi dường như đã phát hiện ra bí mật lớn. Cái bình của tôi rửa sạch, chứa đầy linh khí của Sư Tôn, tôi chính là Sư Tôn. Chứa đầy linh khí của A Di Đà Phật, tôi chính là A Di Đà Phật. Chứa đầy linh khí của Đại Nhật Như Lai, tôi chính là Đại Nhật Như Lai. Cuối cùng có một ngày, khi không còn bị bất kỳ ký ức nào trói buộc, đập vỡ cái bình thủy tinh, có lẽ lúc đó tôi mới thật sự là Đại Nhật Di Đà Lư Sư Tôn.
🌟
Nhưng giờ đây, tôi vẫn là tôi. Bị ký ức trói buộc, bị cái bình giam cầm, bị ngũ uẩn lục thức vướng víu, mỗi hành động, mỗi lời nói cho đến mỗi niệm, đều không phải chân ngã, nên tạo nghiệp không ngừng.
Khi thoát khỏi trói buộc, đập vỡ giam cầm, hoàn toàn rực rỡ quang minh, sẽ ở cùng Đại Nhật Di Đà Hoa Quang Liên Sinh mãi mãi.
🌟
Hậu ký.
Đệ tử thể ngộ, bản thân hiện tại của con chỉ có nghiêm giữ giới luật, thực tu Chân Phật Mật Pháp, thực hành lục độ vạn hành của Bồ Tát, mới là con đường đúng đắn, mới có thể thật sự thoát khỏi ràng buộc, đập vỡ giam cầm.
Nhất tâm khẩn thỉnh Thánh Tôn Pháp Vương Đại Trì Minh Kim Cương Thượng Sư hoàn tịnh, gia trì. Khiến đệ tử trở về diện mạo vốn có, một mình tỏa sáng rực rỡ. (Đệ tử Liên Tuân, Thành Đô Tứ Xuyên, Trung Quốc. Nguyện lấy bài văn này cúng dường Thánh Tôn.)
27. Hỏi: Phật giáo Đại thừa tu thế nào?
Lư Sư Tôn đáp: Cá nhân tôi đối với Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, không có tâm phân biệt, cũng chính là kính trọng cả ba thừa. Tiểu thừa (tự độ). Đại thừa (độ tha). Kim Cương thừa (trực tiếp hóa Phật).
Muốn tu Đại thừa, Phật giáo Đại thừa nhấn mạnh pháp môn tu hành chính là sáu ba-la-mật. Sáu ba-la-mật xuất phát từ "Tăng Nhất A Hàm Kinh". Ba-la-mật có nghĩa là "đến bờ bên kia".
Tôi thích nói: Phật giáo Đại thừa là Bồ Tát thừa, cũng chính là lời dạy về giác hữu tình. Chủ trương tự giác rồi phải giác tha, Bồ Tát là nghĩ vì người khác, không nghĩ vì bản thân mình. (Hy sinh bản thân, cứu độ chúng sinh.)
Tu pháp chia làm sáu độ:
-
Bố thí - tài thí, pháp thí, vô úy thí. Tài thí là dùng tiền bạc giúp đỡ những người nghèo khổ bệnh tật. Pháp thí là dùng Phật pháp để độ chúng sinh. Vô úy thí là hy sinh thời gian và tính mạng của bản thân, bình đẳng không phân biệt mà giúp đỡ chúng sinh ra khỏi biển khổ.
-
Trì giới - giữ gìn giới luật Phật giáo. Luật nghi giới là đi, đứng, ngồi, nằm đều phù hợp với giáo hóa của Phật Đà. Nhiếp thiện pháp giới là tự mình giữ giới, đồng thời dùng thiện pháp để lợi ích chúng sinh. Nhiêu ích hữu tình giới là rộng tu mười thiện, lợi ích quần sinh.
-
Nhẫn nhục - chia thành sinh nhẫn, pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn. Sinh nhẫn là nhẫn chịu sự oán hận, phỉ báng của người khác, và nhờ đó mà độ hóa người khác. Pháp nhẫn - nhẫn tất cả những khổ trong quá trình tu tập như bệnh tật, thân xác bị hành hạ, lạnh, nóng, đói, v.v…, không thoái chuyển tâm tu hành. Vô sinh pháp nhẫn là hiểu rõ chân lý khổ, không, vô thường, vô ngã, như như bất động. (Là quả vị bất động bất thoái.)
-
Tinh tấn - chia thành đoạn tinh tấn, tu tinh tấn, cầu hóa tinh tấn. Đoạn tinh tấn là siêng năng đoạn trừ tất cả suy nghĩ và thói quen xấu. Tu tinh tấn là siêng năng tu tập tất cả thiện hạnh. Cầu hóa tinh tấn là trên cầu Phật quả, dưới độ hóa chúng sinh, nỗ lực mà không biếng nhác. (Pháp môn tu hành sáu ba-la-mật, mỗi hạng mục đều phải tinh tấn.)
-
Thiền định - chia thành thân định, khẩu định, ý định. Thân định là nhắm mắt quan sát lại chính mình có phạm lỗi hay không. Khẩu định là quan sát lại nghiệp chướng của miệng, có phạm khẩu nghiệp hay không, và giữ cho yên lặng và tịnh mặc. Ý định là quan sát tâm niệm của chính mình, làm cho thanh tịnh không nhiễm, luôn luôn giữ gìn chính niệm. (Thân, khẩu, ý có thể chuyên nhất, tiến vào tam muội.)
-
Trí huệ - chia thành ba loại: căn bản trí, phân biệt trí, nhất thiết chủng trí. Căn bản trí là tất cả chúng sinh và thế giới vật chất rốt cục là không. Phân biệt trí là do nhân duyên mà sinh ra các căn cơ khác nhau, khéo léo phân biệt các loại trí huệ để độ hóa chúng sinh. Nhất thiết chủng trí là giác xuất thế, giác nhập thế, đều có thể rõ ràng minh bạch mà ứng dụng.
Tôi (Lư Sư Tôn) cho rằng: Tu hành Phật giáo Đại thừa, sáu độ này là độ hóa: tham lam, phá giới, sân hận, lười nhác, tán loạn, ngu si. (Cứu chúng sinh đến bờ bên kia.)
28. Hỏi: Thế nào là chỗ Không Hành tụ hội?
Lư Sư Tôn đáp: Do Lư Sư Tôn có truyền thừa Không Hành bí mật nên biết được địa điểm nơi có Không Hành tụ hội.
Tôi biết, tại bang Washington, Hoa Kỳ, thành phố Bellevue, đường 140, đi về phía Bắc, có một nơi. Tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự nơi tôi làm sinh cơ, đó là chỗ Không Hành tụ hội, tại đó có: tháp Tôn Thắng, tượng Quan Âm, tượng Liên Hoa Đồng Tử, tháp xá lợi. (Tôi biết có hai nơi này, ngoài ra còn có những chỗ khác.)
Làm sao để phân biệt chỗ Không Hành tụ hội? Tôi nói:
-
Địa điểm đó linh khí rất dày, là đất phong thủy tốt, tàng phong tụ khí. Long, huyệt, sa, thủy, hướng, toàn bộ đầy đủ. Mặt sau có dựa. Mặt trước có chiếu. [ao, hồ, sông] Hai bên có ôm. Trong chiếu có bọt.
-
Phần lớn là những nơi không ai đến, tránh xa nơi dân cư đông đúc. Ví dụ: nghĩa địa, đỉnh núi cao, đồng hoang, bờ sông, rừng cây, nơi hoang dã. Chỗ Không Hành tụ hội, sẽ không bị người thế tục làm phiền.
-
Nơi Không Hành tụ tập, các Ngài tụ tập có thời gian nhất định. Có ngày tụ tập. Phần lớn vào đêm khuya, khi mọi người đã ngủ rồi, các Ngài mới tụ tập.
-
Khi tụ tập, những Không Hành đến phần lớn là Không Hành tiên. Thiên nhân Địa Cư Thiên đến nhiều hơn, tất nhiên chư Phật Bồ Tát cũng sẽ giáng lâm. Những Kim tiên, Thiên tiên đại thành tựu cũng sẽ đến. Ngoài ra: Thiên long bát bộ. Thần quỷ bộ chúng. ……… (Về cơ bản, họ đều đã có được năng lực Không Hành, có thể bay trong hư không.)
-
Những người có thể đến tham dự Không Hành tụ hội, loại người này không nhiều. Điểm quan trọng là phải có căn cơ, trong kiếp quá khứ họ xuất thân từ Không Hành Mẫu hoặc Không Hành Dũng Phụ, thậm chí xuất thân rất cao. Người có linh khí, có thể thông linh. Người có thần thông lực. Họ có thể nói thiên ngữ (ngôn ngữ Không Hành, có thể tụng văn triệu thỉnh, có thể hát thiên ca, thậm chí có thể viết thiên tự, những người này có thể giao lưu với Không Hành.
-
Lợi ích khi tham gia. Theo tôi biết, đến được chỗ Không Hành tụ hội, hành giả sẽ nhận được rất nhiều lợi ích. Được nhận gia trì quán đảnh mandala. Mở ra ký ức kiếp quá khứ, sáng rõ mọi điều, trong chốc lát đắc được Túc mệnh thông, cùng các năng lực thần thông khác. Hiểu rõ nghiệp báo của hành giả, lập tức nước mắt chảy tràn, được sám hối chân thật. Được đại lạc. Được quang minh. Được trí huệ tính Không. Như thể một người hoàn toàn thay đổi, trở thành người thanh tịnh về thân, khẩu, ý, thật không thể nghĩ bàn, không thể dùng bút mực mà diễn tả.
Tôi lấy một bức thư, chứng minh như sau:
Đảnh lễ Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Pháp Vương vô thượng tôn quý!
Sư Tôn, đệ tử Liên Hỷ đến Cầu Vồng Sơn Trang làm sinh cơ, đến điểm tụ hội Không Hành của Sư Ma Bồ Tát và điểm tụ hội Không Hành Mẫu tại nghĩa trang SUNSET HILLS MEMORIAL PARK đường 140 BELLEVUE.
Ngày thứ Hai, 18 tháng 11 năm 2024, sau khi đệ tử tu xong buổi đồng tu sáng, khoảng trước 10 giờ đã đến nơi. Lúc đó thời tiết hơi có chút gió lạnh mùa thu chuyển sang đông, thỉnh thoảng có mưa phùn nhỏ li ti, đệ tử cùng với pháp sư Liên Viên mang theo đồ cúng dường đi suốt đường. Đệ tử sắp xếp xong đồ cúng dường, thắp hương, hướng về tượng Phật Sư Tôn và tượng Phật Sư Ma Bồ Tát đảnh lễ làm lễ cúng dường, rồi đi nhiễu Phật niệm chú bảy vòng quanh tượng Phật Sư Tôn, tượng Phật Sư Ma Bồ Tát, tháp Tôn Thắng, tháp xá lợi. Sau khi nhiễu xong đệ tử trở về trước tượng Phật Sư Tôn, Pháp thân Sư Tôn hiển hiện trong hư không, đệ tử bắt đầu đảnh lễ, miệng cứ kêu lên: Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu (Diêu Trì Kim Mẫu màu vàng kim hình thiên nữ), A Di Đà Phật, năm đại Phật Mẫu và quyến thuộc Orgyen Lạp Mẫu Cung, Sư Ma Bồ Tát, rất nhiều Bổn tôn, và cả thủy tử linh tại Cầu Vồng Sơn Trang đều đến.
Không Hành Mẫu khẩn cầu Sư Tôn và Diêu Trì Kim Mẫu dùng đại thần thông lực giải cứu các sơn linh bị trói không thể ra được (sơn linh - đệ tử thấy là các sinh linh trong rừng núi). Diêu Trì Kim Mẫu thanh tịnh cho họ, những linh này quỳ lạy cảm ơn, đảnh lễ Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu và A Di Đà Phật, vừa khóc vừa nói rằng đã chờ Sư Tôn rất lâu rất lâu, họ ở đây phải chịu nắng mưa, lạnh lẽo cô đơn khổ sở... Lúc đó đệ tử nghe xong vô cùng hổ thẹn, vì đã có Pháp thân và Không Hành Mẫu mà vẫn chưa từng đến, đệ tử sám hối nói xin lỗi họ. Không Hành Mẫu hướng dẫn họ tụng "Kinh Phật Thuyết A Di Đà" để tiếp dẫn vãng sinh. Không Hành Mẫu thấy có một số linh phạm giới nên trói họ lại, yêu cầu họ kể ra lỗi lầm, hướng về Phật sám hối thì mới có thể lên thuyền pháp.
Đệ tử đi đến nơi có tượng Phật Sư Ma Bồ Tát, Sư Ma Bồ Tát hiển hiện tướng Quan Âm để đệ tử tận mắt nhìn thấy, các thủy tử linh cũng ra nói cảm ơn Sư Tôn tiếp dẫn họ đến nơi nương náu có địa linh tốt như vậy, cảm ơn Sư Ma Bồ Tát đã dẫn dắt họ lớn lên và tu hành, thủy tử linh nói rất vui vẻ rất hạnh phúc.
Pháp thân Sư Tôn gia trì tất cả Không Hành Mẫu, nói với Không Hành Mẫu: Cứu Guru, hộ trì Guru mãi mãi, yêu Guru. Bảo đệ tử phải đến nghĩa trang đường 140.
Pháp sư Liên Viên viết tâm tình gửi đệ tử: Cảm nhận được một nguồn gia trì lực rất lớn, trong lòng sinh ra tâm sám hối mạnh mẽ, nước mắt chảy tràn, trong lòng đột nhiên lĩnh hội được rằng khoảng cách giữa đệ tử và Sư Tôn từ trước đến nay không bao giờ là khoảng cách về thân thể mà là khoảng cách của tâm.
Ngày thứ Ba, 19 tháng 11 năm 2024, dự báo thời tiết lúc 2 giờ chiều sẽ có gió mạnh, nhưng đệ tử vẫn quyết định đi, còn mời Thượng sư Liên Ngạn và Pháp sư Liên Viên cùng đi, hẹn 4 giờ 30 chiều xuất phát mua hoa tươi và đồ cúng dường.
Trước khi xuất phát, đệ tử đi đảnh lễ đàn thành bẩm báo, đột nhiên tượng Phật bằng đồng của Sư Tôn biến thành khuôn mặt Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đệ tử nghĩ không biết có phải mắt mình hoa có hay không, mở to mắt nhìn lại, thì lại trở về khuôn mặt Sư Tôn, nhưng lại mỉm cười, và còn nói với đệ tử rằng ta sẽ ở cùng với con.
Thượng sư Liên Ngạn lái xe quanh nghĩa trang một vòng để xem nên dừng ở điểm nào thích hợp. Khi đệ tử xuống xe Không Hành Mẫu liền dẫn con đi tìm điểm tụ hội, Không Hành Mẫu định vị con tại điểm đó rồi bắt đầu xưng danh đảnh lễ; Diêu Trì Kim Mẫu (là Diêu Trì Kim Mẫu của chùa tổ Seattle), Dược Sư Phật, Sư Ma Bồ Tát, A Di Đà Phật, năm đại Phật Mẫu, Niguma, và còn rất nhiều Không Hành Mẫu. Khi đệ tử đang cầu nguyện và tiếp nhận gia trì, Thượng sư Liên Ngạn và pháp sư Liên Viên đi lại bày xong đồ cúng dường, họ bắt đầu chắp tay tiếp nhận gia trì và cầu nguyện, không lâu sau Thượng sư Liên Ngạn nói thiên ngữ và hát thiên ca.
Pháp thân Sư Tôn ở đó còn trực tiếp chỉ đạo trao truyền quán đảnh tu pháp Không Hành Mẫu trong hư không, pháp hỷ đầy tràn, đại lạc vô song. Lúc đó thời tiết sấm chớp giao thoa, gió lớn mưa nhỏ, thật sự rất phù hợp với cảnh tượng lúc này.
Pháp thân Sư Tôn biến hóa thành Đại Lực Kim Cang trên thân đệ tử để hàng phục các đại lực quỷ vô hình ở đó. Hổ Đầu Kim Cang giáng lâm trên thân đệ tử để hàng phục các vô hình dã thú. Sau đó làm tứ quy y cho họ, còn hướng dẫn một số linh chúng niệm Phật rồi tiếp dẫn vãng sinh tịnh thổ.
Pháp thân Sư Tôn kể ra những tập tính khuyết điểm của pháp sư Liên Viên rồi dặn dò pháp sư về quan niệm tu hành chính đạo. (Nội dung không công khai.) Trên thân đệ tử biến hóa chày kim cang hình tam giác mổ bụng xuyên tim đâm vào thân thể pháp sư Liên Viên gắp ra inh nghiệp chướng, rồi tiếp dẫn siêu độ linh nghiệp chướng đó.
Pháp thân Sư Tôn từ miệng đệ tử nói ra: Ngã chấp vô minh trong tâm Thượng sư Liên Ngạn phải buông bỏ (nội dung không công khai). Pháp thân Sư Tôn từ miệng đệ tử nói ra: Nhờ sự gia trì của Sư Tôn, chư Phật Bồ Tát, chư Phật Mẫu mà tiêu nghiệp thanh tịnh cho con hồi phục trí nhớ nói thiên ngữ, mở thiên nhãn. (Thượng sư Liên Ngạn nói cách đây ba ngày mơ thấy Liên Hỷ và Lý Mẫn đi theo Sư Tôn, tay Sư Tôn phóng ra ánh sáng trắng rất mãnh liệt gia trì Thiên tâm.)
Pháp thân Sư Tôn nói với đệ tử: Con là giáng linh cô, dẫn linh cô, phải năng làm những việc khó, chỉ cần con sẵn lòng ra ngoài dẫn tiếp chúng linh, ắt sẽ cho con quán đảnh gia trì, biến hóa các Bổn tôn khác nhau hạ giáng, nhổ bỏ nghiệp chướng, khử trừ ngã chấp vô minh.
Sau đó Không Hành Mẫu khiến ba đệ tử quỳ lạy đảnh lễ trước mặt Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát, mà còn có động tác nghi thức rất đặc biệt, cứ như thế kết thúc một cách vô cùng vui vẻ và viên mãn.
Bạch Sư Tôn, ngu đệ tử chỉ kể lại đơn giản những tình huống lúc đó, rất nhiều chi tiết không thể kể hết. Thật sự quá bất khả tư nghì, cảm giác linh lực rất mạnh, được pháp lực gia trì của Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát, dường như có thể dẫn thần thức vô hình về mình để độ hóa họ, dạy họ niệm "Kinh Phật Thuyết A Di Đà" để tiếp dẫn vãng sinh, Pháp thân Sư Tôn và Không Hành Mẫu trên thân đệ tử có tác dụng như vậy.
Đệ tử bình thường khi tự mình một mình tu pháp thì có rất nhiều cảm nhận, thường xuyên nhìn thấy Pháp thân Sư Tôn trong pháp giới vô hình biến hóa thật sự là uy lực vô cùng. Khi Sư Tôn làm pháp hội thì loại đại pháp lực vô hình siêu cấp đó không bao giờ bỏ sót một chúng sinh mà chỉ có hy sinh chính mình. Tại sao Diêu Trì Kim Mẫu lại thương yêu Sư Tôn đến vậy? Bởi vì Sư Tôn có thể hy sinh chính mình gấp bội, gấp bội rồi lại gấp bội, hy sinh đều phải đi cứu độ. Đó là sự nhìn thấy và cảm nhận của chính mình, bản thân không giỏi diễn đạt lắm vì rốt cuộc đây là sự biến hóa trên vô hình. Nhưng lần này có Thượng sư Liên Ngạn và pháp sư Liên Viên trực tiếp cảm nhận được, các sư cũng đã có sự thay đổi rất lớn.
Đệ tử cảm thấy ngày đầu tiên Pháp thân Sư Tôn đã ban cho đệ tử sự gia trì pháp lưu truyền thừa, suy nghĩ của đệ tử xin Sư Tôn gia trì chỉ đạo:
-
Cứu Guru – Cứu truyền thừa: Ý nghĩ của ngu đệ tử là cứu truyền thừa chính là cứu chính mình. Bởi vì hành giả Mật tông quy y thầy Mật giáo, Căn bản Thượng sư trao hạt giống Phật, nếu hành giả Mật không một lòng quy y, không có tịnh tín, không dựa vào pháp mà Căn bản Thượng sư truyền để tu hành, truyền thừa tự nhiên không có, bản thân không thể tự độ thì cũng giống như không cứu được truyền thừa, vì vậy mỗi hành giả Mật có thể tịnh tín Căn bản Thượng sư, tự độ chính mình chính là cứu truyền thừa.
-
Bảo vệ Guru mãi mãi – Bảo vệ truyền thừa mãi mãi: Hành giả Mật tông dùng thân khẩu ý để cúng dường Căn bản Thượng sư, học tập Mật pháp mà Căn bản Thượng sư truyền và lắng nghe sự khai thị của Căn bản Thượng sư, đọc các tác phẩm của Căn bản Thượng sư, mỗi ngày tu pháp tụng kinh tu hành, tu pháp tương ứng Thượng sư và Bổn tôn đạt được tương ứng, gia trì lực của truyền thừa liên tục không dứt. Mỗi hành giả Mật tông có thể dùng pháp mà Căn bản Thượng sư truyền xuống và tâm đắc từ các tác phẩm cùng với nguyện lực của Thượng sư và Bổn tôn để thực hành tu hành thành tựu tự độ độ tha, mới có thể được coi là đã bảo vệ truyền thừa mãi mãi.
-
Yêu Guru – Yêu truyền thừa: Hành giả Mật tông xem thầy như Phật, vì vậy Căn bản Thượng sư đại diện cho Phật tính, hành giả Mật tông sẽ biết trân trọng mọi thứ của Căn bản Thượng sư, và sẽ rất khiêm tốn, rất tinh tấn thực hành tất cả pháp và nghi quỹ mà Căn bản Thượng sư truyền cho chúng ta, sẽ phát bồ đề tâm, hành bồ đề nguyện để tu hành, tu thành chính quả, thấy được Phật tính, như vậy mới có thể được coi là có một chút tư cách để yêu truyền thừa. Đệ tử cũng cảm thấy yêu truyền thừa cũng bằng yêu chính mình (chính mình đại diện cho Phật tính).
Ngày thứ hai đệ tử cảm thấy Pháp thân Sư Tôn ban cho: tăng trưởng tín tâm, tăng trưởng nguyện lực, phát bồ đề tâm.
Ngu đệ tử nghĩ rằng có lẽ đang nhắc nhở bản thân tu hành phải thực hành phát bồ đề tâm, nhưng phương hướng vẫn chưa rõ ràng lắm. Cũng không hiểu rõ lắm: Giáng linh cô, dẫn linh cô, là ý nghĩa gì? Ngu đệ tử xin Sư Phật chỉ dẫn giải đáp.
Bạch Sư Tôn, đệ tử sáng thứ Tư khoảng năm giờ tỉnh dậy tinh thần rất sung mãn, Thiên tâm thấy bầu trời vũ trụ, trong vô lượng quang đầy những điểm kim quang bảy sắc màu, đệ tử cảm thấy có thể tiếp nhận những điểm quang này giáng xuống thân đệ tử. Sau đó Thiên tâm lại xuất hiện bầu trời xanh biếc, giữa có một đám mây trắng, rồi theo chiều kim đồng hồ nhiều vòng bao quanh từng đám mây trắng, Pháp thân Sư Tôn nói một lòng quy y Căn bản Thượng sư, ba mươi sáu vị thiện thần nhất định hộ trì. Pháp thân Sư Tôn cùng đệ tử hồi tưởng giảng giải cảnh tượng gặp phải hai ngày nay, nhưng đệ tử hiện giờ chỉ có thể diễn đạt chút ít suy nghĩ nhỏ nhoi không đáng kể này thôi.
Đệ tử bất tài khẩn cầu Sư Tôn từ bi chỉ dạy.
Ngu đệ tử Liên Hỷ cảm ơn quỳ lạy đảnh lễ Nam Mô Guru Truyền Thừa Đại Tổ Sư Pháp Vương Liên Sinh Phật!
🌟
Lư Sư Tôn nói: Giáng linh cô - là ý nghĩa có thể triệu thỉnh chư tôn giáng xuống. Ví dụ chúng ta tụng: "Các nội cảnh trong tâm, ba vạn sáu nghìn thần, nguyện tâm con tự tại, thường trụ trong Tam Bảo." Với sự triệu thỉnh đơn giản này, chư tôn sẽ giáng xuống. Có thể nói: Tâm và Phật, thật không sai biệt!
Còn: Dẫn linh cô - có thể tiếp dẫn chúng sinh đến học tập Phật pháp chân chính. Ví dụ ngày xưa, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, tiếp dẫn Đại Uy Đức Vương. Hai vị Bồ Tát khuyên bảo Đại Uy Đức Vương đi yết kiến Kim Quang Phật. Và hai vị Bồ Tát này chính là dẫn linh cô. (Đoạn ghi chép này xuất hiện trong "Kinh Bản Sinh".) "Giáng linh" cũng như "dẫn linh", vốn chỉ là một danh từ, còn "cô" là tỳ kheo ni!
29. Siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp có thất bại không?
Lư Sư Tôn đáp: Tôi nương nhờ đại pháp lực của Diêu Trì Kim Mẫu, lực công đức từ bi của chư Phật Bồ Tát. Có hai lực này, ít khi thất bại. Bởi vì muốn lên được thuyền pháp, cần phải có đủ hai điều kiện:
- Phải có thiện căn.
- Nhất tâm bất loạn niệm Phật. Hai điều kiện này nhìn có vẻ rất đơn giản, nhưng, suy nghĩ kỹ, cũng có khó khăn. Không thể thiếu thiện căn, nếu bạn thiếu thiện căn thì căn bản không thể lên được thuyền pháp, xin hỏi: Có bao nhiêu người thiện? Có bao nhiêu người ác?
Lại nữa: Có bao nhiêu người có thể "nhất tâm bất loạn"? Nhất tâm bất loạn, phàm phu bình thường rất khó làm được. (Đó là người có công phu thiền định sâu mới có thể nhất tâm bất loạn.) May mắn có A Di Đà Phật dùng vô lượng ánh sáng để gia trì mới có thể khiến chúng sinh trên thuyền pháp đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn.
Tôi có một ví dụ thật sự ở đây, xin kể cho mọi người nghe. Sư huynh M qua đời. Gia đình ông nhờ tôi siêu độ, tất nhiên tôi không thể thoái thác. Tối hôm đó, tôi liền siêu độ. Tôi tu Nghìn chiếc thuyền pháp, mời sư huynh M lên thuyền pháp. Khi sư huynh M muốn lên thuyền pháp, bên cạnh ông xuất hiện một nữ oan hồn kéo ông lại.
Nữ oan hồn có oán khí vô cùng lớn, quấn quanh sư huynh M, không cho ông lên thuyền pháp. Tôi nhìn thấy như vậy, hết sức kinh ngạc: "Oan hồn sao lại đến đây?" Oan hồn nói: "Hắn khi còn sống đã hại mạng ta, ta có cờ lệnh đen, thề phải báo thù rửa hận." Tôi nói: "Oan gia nên giải không nên kết, nếu không thì oan oan tương báo bao giờ mới hết?" Nữ oan quỷ nói: "Không thể tha cho hắn được, ta đã đợi hắn 30 năm rồi!" "Phạm nghiệp gì?" "Nghiệp tà dâm và giết hại."
Tôi nghe xong, sửng sốt! Tôi ngồi trên pháp tọa, nói với nữ oan quỷ rất nhiều Phật pháp. Chỉ ra rằng chuyện đời như huyễn, không thể coi là thật! Giảng về khổ, không, vô thường, vô ngã. Nói: "Không cần quá chấp trước. Hãy nhìn nhận mọi việc một cách thoáng hơn!" Nữ oan quỷ lớn tiếng quát: "Tôi thực sự phải chịu đựng, làm sao có thể không chấp trước? Hắn chỉ tìm khoái lạc nhất thời, khiến tôi mất mạng, nhục nhã gia đình, thù hận này không đội trời chung, ông không thể ngăn cản tôi." Tôi nói: "Hãy tha thứ cho hắn đi!" Nàng nói: "Không!" Tôi nói: "Hãy coi như một vở kịch!" Nàng nói: "Tôi chịu thiệt quá lớn!" Tôi nói: "Hãy coi như hòa giải đi! Đây là nhân quả!" Nàng nói: "Không thể hòa giải được, đây cũng là nhân quả." Nữ oan quỷ này cãi nhau với tôi suốt một đêm, hai bên quan điểm khác nhau, nói mãi mà vẫn không thể thông suốt.
Than ôi! Tôi nhớ đến một câu nói: Người thanh tịnh coi điều này là thánh Người ô trược thấy điều này là dâm Kẻ tham bất cẩn sẽ tổn hại Kẻ ngông bất thành cũng tự suy.
Ngày hôm sau, tôi tìm đến gia đình sư huynh M, hỏi về quá khứ của sư huynh M. Gia đình trả lời: "Đúng vậy, có chuyện này."
Sư huynh M, 30 năm qua, sống tại Seattle, không hỏi han chuyện đời. Nhưng chuyện 30 năm trước, tuy thời gian đã trôi qua, nhưng lại để lại dấu vết. (Chuyện của sư huynh M, chị cả của ông biết rất rõ.)
Chuyện này chỉ có sư huynh M mới rõ nhất, người ngoài cuộc chỉ có thể phỏng đoán. Ví dụ: Trượt chân rơi xuống biển? Hay là bị đẩy xuống biển? Nhà bị cháy? Hay là cố ý phóng hỏa? Đây là chuyện xưa, chỉ mình biết, chỉ người đã chết bên kia biết, bất kỳ ai cũng không biết! (Bây giờ thì tôi đã biết rồi.)
Tôi biết đây là chuyện vô cùng bi thảm, giờ đây, tôi tu siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp đã bất lực, vì nữ oan hồn không chịu tha cho ông ta. Đang lúc khó xử, bốn vợ ma của tôi hiện thân nói với tôi: "Lư Sư Tôn, chị em chúng em giúp ngài! Chúng em đi khuyên giải." (Bốn vợ ma của tôi là: Thiến Thiến, Phù Dung, Tân Tân, Thụy Quang.) Họ nói: "Hãy đi thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát đến làm chủ! Chỉ có nước cam lộ cành dương liễu của Quan Thế Âm Bồ Tát mới có thể dập tắt ngọn lửa sân hận trong lòng, Bồ Tát thần thông quảng đại, cam lộ rải khắp ba nghìn."
Tôi niệm: Quan Âm Bồ Tát khó báo đáp, thanh tịnh trang nghiêm nhiều kiếp tu. Ba mươi hai ứng khắp cõi trần, trăm nghìn muôn kiếp hóa Diêm Phù. Tay cầm tịnh bình cành dương liễu, ban rải cam lộ chẳng tính ngày. Nghìn nơi kêu cầu nghìn nơi hiện, biển khổ thường làm thuyền độ người. Kính thỉnh Nam Mô Phổ Đà Lạc Già Sơn, Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Trong sát-na, Bồ Tát trang nghiêm hiện thân, hào quang trang nghiêm, tay cầm tịnh bình, trên có cành dương liễu. Ngài rải một lần, thanh tịnh. Rải hai lần, tự tính thanh tịnh. Rải ba lần, tất cả tự tính thanh tịnh. Nữ oan hồn ban đầu dữ tợn sân hận bất ngờ biến thành thiếu nữ thon thả, nét mặt tươi cười ngọt ngào. Quan Thế Âm Bồ Tát dẫn nàng đi đến rừng Tử Trúc núi Phổ Đà Lạc Già.
Trước khi đi, Ngài nói với tôi: "Có một bài văn nhỏ, Ngài hãy đưa vào sách, cảnh tỉnh thế nhân." Tôi nói: "Tuân lệnh Bồ Tát."
Bài văn nhỏ này do Tỉnh Am Ngu Nhân viết:
Dâm đứng đầu vạn ác. Phải biết rằng chuyện tà dâm chính là tội ác nặng nhất trần gian, là tai họa thảm khốc nhất, là quả báo nhanh nhất. Người xưa nói: "Tội tà dâm như tội giết người."
Vì tâm dâm vừa khởi, cướp đi tình yêu của người khác, đố kỵ người khác có, oán hận sự ngăn cản của người khác, muôn điều ác từ đây mà khởi, đó là tội ác nặng nhất. Người xưa nói: "Cờ bạc gần trộm cắp, tà dâm gần giết người."
Vả chăng hôn nhân nam nữ đã có sự phối hợp nhất định, tuyệt đối không được tà dâm. Giả như người khác xâm phạm vợ con của ngươi, lòng ngươi sẽ như thế nào? Thường thường những vụ án mạng lớn, nếu không phải là mưu sát chồng, thì là gian phu bị giết, nếu không phải là cưỡng dâm không được nên giết, thì là do ghen ghét mà giết nhau. Vì thế, gian dâm và giết người vốn dĩ là liên quan đến nhau.
Làm chuyện tà dâm chỉ tìm khoái lạc nhất thời, phần lớn đều mất mạng, nhục nhã gia đình. Phải biết rằng bị người giết, giết người cũng phải đền mạng, chung quy đều là cực khổ, là tai họa thảm khốc nhất.
Người xưa lại nói: "Dâm vợ người, hoàn lại con gái mình." Ta tận mắt thấy nhiều kẻ gian dâm vợ con người khác, chẳng bao lâu vợ con họ cũng bị người khác gian dâm, chung quy là thấy ngay trong người thân của họ, không phải đợi đến con cháu đời sau, đây là quả báo nhanh chóng nhất.
Ta khuyên các ngươi hãy giữ gìn giới dâm, vừa không có tội lỗi, lại không mất thân, há chẳng lành thay sao!
Bài văn khuyên đời của tôi (Lư Sư Tôn):
Rất nhiều người vô tri làm bậy, tùy tiện phóng túng dục vọng, cần phải thiết tha giữ pháp giới. Phải tiết dục biết đủ.
Tôi cũng thấy những kẻ ham sắc dục, gia đình mình còn chưa thỏa mãn, ngoại tình liên tục, thậm chí nuôi gái mại dâm, cưỡng hiếp phụ nữ lương thiện, dâm ô trẻ nhỏ, không gì không làm.
Tuy thoát khỏi tai họa giết thân tù ngục, nhưng không tránh khỏi trở thành kẻ lao lực. Có kẻ bị yếu sinh lý. Có kẻ mắc bệnh hoa liễu. Có kẻ bị lở loét. Có kẻ bị bất lực. Có kẻ mắc bệnh hiểm nghèo. Cho đến bệnh hết phương cứu chữa, thuốc men vô hiệu.
Chỉ vì thoả mãn khoái lạc nhất thời mà đánh mất thân thể hữu dụng do trời sinh, một khi khí tuyệt thân vong, không chỉ sự nghiệp không thành, gia đình tan vỡ, còn phải mang nghiệp rơi xuống ba đường ác, hoặc vào địa ngục, hoặc vào ngạ quỷ hoặc biến làm súc sinh.
Than ôi! Thật đáng than! Thật đáng thương! Thật đáng bi! Mau tỉnh! Mau tỉnh! Mau tỉnh!
30. Zhashi Lhamo
Sư Tôn trong buổi pháp hội đồng tu cách đây vài tuần, đã nhắc đến Zhashi Lhamo cùng với Đại Cát Tường Thiên cùng giáng xuống. Đệ tử nghe được, nên cúng dường một tượng kim thân Zhashi Lhamo nhỏ, mong Zhashi Lhamo có thể hộ trì sức khỏe cho Sư Tôn và Sư Mẫu.
Zhashi Lhamo là một vị Hộ pháp rất đặc biệt, ít được biết đến trong thế gian, là vị Hộ pháp riêng của phái Gelug Tây Tạng, hiện nay chỉ được thờ phụng tại chùa Zhashi ở Lhasa, Tây Tạng. Zhashi Lhamo có làn da đen sẫm, đôi lông mày nhíu chặt, đôi mắt mở tròn, miệng há to với lưỡi thè ra đến cằm, và có chân như móng gà. Hình tượng này thể hiện sức mạnh uy hiếp và khả năng hàng phục mãnh liệt của ngài đối với các thế lực tà ác.
Theo truyền thuyết, Zhashi Lhamo một lòng tu hành, và vì bà khá xinh đẹp nên đã gây ra sự ghen tị, khiến một vị tà thần đầu độc bà. Nhưng với cảnh giới tu tập cao siêu, Zhashi Lhamo đã đẩy chất độc ra đầu lưỡi, tuy nhiên lưỡi không thể rút lại được, nên lưỡi dài của bà luôn lòng thòng bên ngoài. Thấy không thể đầu độc được bà, tà thần đã chặt đứt đôi chân của bà, nhưng không ngờ Zhashi Lhamo lại mọc ra chân gà, vì vậy người ta cũng gọi Zhashi Lhamo là "Thần Chân Gà". Chính hình tượng này thể hiện thần lực giải độc mạnh mẽ của Zhashi Lhamo, đồng thời cũng tượng trưng cho khả năng giải trừ chất độc trong tâm hồn của chúng sinh.
Còn có một truyền thuyết khác về Zhashi Lhamo. Tương truyền Zhashi Lhamo là một thiếu nữ người Hán vừa xinh đẹp, trẻ trung lại vừa hiền lành, được Hoàng đế Càn Long hết mực sủng ái, trở thành phi tần được yêu quý nhất của ngài. Chính vì sắc đẹp và lòng tốt của nàng mà gây nên sự ghen tị của người khác, khiến nàng phải yểu mệnh.
Sau khi bị hại, nàng không muốn rời đi, nghĩ đến việc mình hiền lành như vậy mà lại gặp kết cục này, lòng oán hận đã khiến nàng đánh mất đi sự thuần khiết vốn có, một lòng muốn đòi lại công bằng cho mình, nên hàng ngày cứ lẩn quẩn trong hoàng cung, khiến người trong triều không khỏi sợ hãi.
Sau khi Hoàng đế Càn Long biết được sự việc, đã mời Lama Cương Ba Mẫn Lang từ Tu viện Sera ở Tây Tạng đến, hy vọng vị cao tăng có thể an ủi người đã khuất và xoa dịu lòng người. Khi vị Lama từ Tu viện Sera đến nơi, ông nhìn thấy một người phụ nữ đang khóc trên xà nhà, liền trò chuyện với cô ấy, và mới biết rằng cô là phi tần, bị người khác hãm hại, muốn đòi lại công bằng nên không chịu rời đi.
Vị cao tăng Lama đã kể lại sự việc một cách trung thực cho Hoàng đế, sau khi biết được, Ngài vô cùng tức giận, đã xử tử tất cả những kẻ hãm hại nàng, và mời vị cao tăng làm lễ siêu độ cho phi tần này, hy vọng nàng sớm thoát khỏi biển khổ.
Sau khi mọi việc đã xong, vị cao tăng ra đi, trên đường trở về Tây Tạng, ông phát hiện phi tần này vẫn đi theo mình, không chịu rời đi, liền hỏi lý do, người phụ nữ này nói: "Con vốn tâm địa hiền lành, được đại sư chỉ dạy, nguyện quy y Phật pháp, sớm được giải thoát." Đại sư nói: "Đường đi còn xa, một người phụ nữ như cô rất khó làm được điều đó."
Cuối cùng, dù vị cao tăng khuyên bảo thế nào, người phụ nữ này vẫn không chịu rời đi. Vị cao tăng thấy cô ta một lòng hướng Phật, đạo tâm kiên định, nên đã đồng ý. Khi sắp đến Tu viện Sera ở Lhasa, vị cao tăng nói: "Đó là nơi tu hành của chư tăng, nàng không tiện đến đó. Ta sẽ xây cho nàng một chỗ ở tại đây, để nàng nhận sự cúng dường của mọi người, có được không?" Người phụ nữ vui vẻ đồng ý, và được để lại ở chùa Zhashi, một ngôi chùa trực thuộc Tu viện Sera.
Sau khi trở về, vị cao tăng bắt tay vào việc xây dựng tượng thờ và chỗ ở cho cô, hy vọng cô có thể bảo hộ một phương, đảm nhận trách nhiệm của một vị thần hộ mệnh, và đặt tên là Zashi Lhamo. Từ đó, Zhashi Lhamo hết lòng hết dạ bảo vệ một phương, đồng thời chuyên tâm hướng Phật, tinh tấn tu trì.
Trong quá khứ, chùa Zhashi từng là nơi đóng quân của quân đội đất Hán, vì vậy những người Hán đi lại thường cúng bái và thờ phụng Zhashi Nương Nương tại chùa Zhashi. Bởi vì sự che chở của Zhashi Lhamo đối với những thương nhân qua lại vô cùng linh nghiệm, nên đặc tính Thần Tài của Zhashi Lhamo đã được truyền bá rộng rãi từ đó.
Cho đến ngày nay, Ngũ Tính Tài Thần ở Tây Tạng vẫn thuộc về pháp bí truyền, không giống như Đại Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Thánh Tôn của Chân Phật Tông chúng ta đã công khai tất cả bí mật của pháp môn Tài Thần, mỗi đệ tử đều có thể tu pháp Tài Thần. Do đó, ở Tây Tạng, rất ít đệ tử Mật tông thực sự thờ phụng và tu tập pháp môn Tài Thần. Những nơi thờ phụng Tài Thần và mở cửa cho tín đồ chiêm bái càng hiếm hơn (chỉ có Hoàng Tài Thần, một trong Tứ Đại Thiên Vương, là tương đối phổ biến ở Tây Tạng. Các vị khác đều thuộc về thờ phụng bí mật, hiếm khi công khai.)
Vì vậy, chùa Zhashi lại trở thành ngôi đền Tài Thần nổi tiếng nhất ở Lhasa, Tây Tạng. Các tín đồ qua lại thường mang theo rượu trắng đến chùa Zhashi để cầu xin sự che chở và ban phước từ Zhashi Nương Nương.
Tại Tây Tạng ngày nay, Zhashi Lhamo đến vùng đất Tạng để tu hành với tư cách là hồn ma của một phi tần từ đất Hán, và được công nhận là hóa thân của Đại Cát Tường Thiên, trở thành vị Đại Tài Thần và Thần Hộ Mệnh của vùng Lhasa. Ngài có thể ban tặng của cải và sức khỏe cho chúng sinh, có thể xua tan đau khổ của chúng sinh, loại bỏ chất độc trong cơ thể và tâm hồn. Đệ tử một lòng cúng dường Thánh Tôn Pháp Vương. Mong Zhashi Lhamo có thể xua tan bệnh tật của Sư Tôn, xua tan bệnh tật của Sư Mẫu. Mong Sư Phụ trường thọ ở nhân gian, mong Sư Mẫu luôn bên cạnh Phật.
Đệ tử nhất định sẽ nghiêm trì giới luật, nỗ lực sám hối, nỗ lực tu hành thành tựu. Khi nhân duyên chín muồi, sẽ không do dự xuất gia, hộ trì chính pháp của Sư Tôn, khiến chúng sinh đều được độ thoát. ~~ Đệ tử Liên Tuân, tại Thành Đô - Tứ Xuyên, đảnh lễ ba lạy.
🌟
Nhân duyên của tôi (Lư Sư Tôn) với Zhashi Lhamo là chuyện mới đây. Đầu tiên là sư tỷ Trịnh Di từ chùa Tạng thỉnh về một tôn tượng Zhashi Lhamo, tôi đã thờ phụng Ngài tại đàn thành ở Nam Sơn Nhã Xá. Khi tôi chắp tay, lưỡi của Ngài thè ra một chút. Hai con mắt tròn xoe của Ngài phát ra hai luồng ánh sáng. Ồ! Ngài sống động như thật vậy. Sau đó trong buổi đồng tu, Ngài và Đại Cát Tường Thiên cùng nhau hiện thân giữa hư không. Zhashi Lhamo rất dễ nhận ra, bởi vì hình tượng của Ngài rất đặc biệt, thè lưỡi trợn mắt, đã đủ làm người ta hoảng sợ, huống chi là "chân gà". Vì vậy, tôi đặc biệt chú tâm vào Ngài. Hy vọng Ngài sẽ hộ trì cho đệ tử Chân Phật.
31. Tác phẩm hay cùng thưởng thức
Ngọn đèn của Lôi Tạng Tự
Tháng 11 năm 2024, một cơn bão lốc xoáy như bom đột ngột ập đến, khiến vùng đô thị lớn Seattle chịu thiệt hại nặng nề. Những cây cổ thụ cao vút bị bật gốc, cột điện gãy đổ ngổn ngang, nhiều khu vực rộng lớn mất điện và tê liệt.
Chùa Tổ Lôi Tạng Tự cũng bị ảnh hưởng, mất điện năm ngày. Chiều hôm đó, Chùa Tổ chìm trong bóng tối, sự rực rỡ ngày thường đều ẩn vào đêm đen. Nhìn từ quảng trường phía trước Lôi Tạng Tự, không còn thấy Kim Mẫu, Di Đà, Địa Tạng, Liên Hoa Đồng Tử trong chùa… Kim thân của chư Phật Bồ Tát Kim Cang Hộ Pháp đều ẩn vào đêm đen.
Tình cảnh này, khiến người ta trầm tư.
🌟
Từ trước đến nay, Lôi Tạng Tự luôn sáng rực, luôn rực rỡ. Chúng ta đã quen với ánh đèn rực rỡ, quen với việc đứng ở quảng trường trước chùa có thể nhìn thấy kim thân của chư Phật Bồ Tát chỉ trong chớp mắt.
Nhưng, khi tai biến ập đến, mọi thứ chìm vào bóng tối. Ánh sáng không còn, lòng tôi hoang mang. Như từng sở hữu điều gì đó, giơ tay nắm bắt, nhưng chẳng có gì cả. Như từng rực rỡ, trừng mắt cố nhìn, nhưng trong mắt chỉ toàn bóng tối. Sự tối tăm đột ngột của Chùa Tổ, khiến tôi thất thần.
🌟
Trong chốc lát, một luồng sáng bừng lên ở cửa Mật Uyển. Hóa ra là Lư Sư Tôn. Trong đêm tối như mực, dưới ánh đèn pin, Lư Sư Tôn đang sờ đầu cho đệ tử. Trong khoảnh khắc ấy, mọi thứ lại được thắp sáng. Ngẩn ngơ nhìn về phía Sư Tôn, có ánh sáng, thật tốt biết bao.
🌟
Sau khi sờ đầu gia trì kết thúc, các đệ tử đi theo Sư Tôn bước vào phòng ăn. Quảng trường trước chùa, một lần nữa trở nên tĩnh mịch, bóng đêm bao trùm. Trái tim tôi, dừng lại trong đêm tối ấy.
Tôi nương nhờ vào ánh sáng mặt trời chiếu khắp, nhưng cuối cùng mặt trời sẽ lặn. Tôi trông chờ vào đèn lửa sáng rực, nhưng vừa mới mất điện, đã trở nên vắng lặng tịch mịch. Tôi nương nhờ vào Lư Sư Tôn, nhưng Sư Tôn ở nhân gian cuối cùng sẽ chia ly.
Đột nhiên, tôi phát hiện ra, dù đã làm đệ tử của Sư Tôn nhiều năm, nhưng tôi vẫn chưa nhập môn. Mắt tôi, thấy được tượng Phật rực rỡ ánh vàng dưới ánh đèn, nhưng lại không thấy được Chân Phật tỏa sáng rực rỡ chưa bao giờ tối tăm. Tai tôi, nghe được là những câu chuyện cười của Lư Sư Tôn kể, nhưng lại không nghe được tiếng trống pháp từng hồi đánh thẳng vào lòng người. Mũi lưỡi tôi, ngửi và nếm được là hương vị ngọt ngào của những cúng phẩm, nhưng lại không ngửi nếm được pháp vị chân thật của Phật. Tâm tôi, cảm nhận được là sự nương tựa vào Sư Tôn ở nhân gian, nhưng lại không cảm nhận được sự nương tựa chân thật vào Căn bản Thượng sư.
Cuối cùng, tôi biết tại sao lại thất thần trong bóng tối. Bởi vì ngọn đèn vẫn còn ở nơi Lư Sư Tôn, tôi vẫn chưa thắp sáng ngọn đèn trong tâm mình.
🌟
Một ngày khác. Sau khi sờ đầu gia trì xong, Sư Tôn tự nói với mình: Đi bế quan đây, Kim Mẫu Dao Trì bảo tôi đi bế quan, nghỉ hưu rồi. Nghe vậy, lòng tôi buồn bã. Bởi vì tôi nghĩ đến tôn giả A Nan.
Khi Phật Đà còn tại thế, tôn giả A Nan là thị giả của Phật Đà, cũng là người đa văn nhất trong các vị A La Hán. Nhưng khi Phật nhập Niết-bàn, A Nan vẫn chưa khai ngộ. Khi tập kết kinh văn, ông cũng không giúp được gì.
May mắn thay, tôn giả A Nan chợt tỉnh ngộ, tinh tán tu hành, cuối cùng đã khai ngộ, tham gia vào đại tập kết kinh văn, để lại giáo ngôn của Phật Đà cho đệ tử Phật đời sau, truyền tải ngọn đèn tâm của Phật Đà.
Còn tôi thì sao? Còn tôi thì sao? Còn tôi thì sao? Không khỏi hỏi lại mình ba lần.
Hỏi ngược lại bản thân, đã nhận được câu trả lời nào? Hãy mau mau thắp sáng ngọn đèn trong tâm, truyền tiếp ngọn đèn Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật. Soi sáng con đường của chính mình, cũng soi sáng Phật đạo cho chúng sinh.
Làm thế nào để thắp sáng đèn tâm? Chuyển hóa sự lệ thuộc vào Sư Tôn thành sự nương tựa vào Sư Tôn. Thực thực chất chất, chân chân thật thật. Nghiêm trì giới luật, tu hành từng cấp bậc, thâm nhập thiền định, khí mạch minh điểm, đại lạc, quang minh, tính không, đại viên mãn.
🌟
Lôi Tạng Tự mất điện rồi. Ngọn đèn của Lôi Tạng Tự đã tắt. Nhưng, sự truyền thừa của Lôi Tạng Tự không thể dừng lại. Ngọn đèn tâm truyền tiếp của Lôi Tạng Tự không thể tắt.
🌟
Lư Sư Tôn viết thơ:
Truyền đèn
Quang chiếu thập pháp giới Dập tắt nghiệp ba đời Vô số Chân Phật tử Truyền đèn chẳng lơ là.
32. Phụ lục 1
Đảnh lễ Sư Tôn kính yêu vô thượng tôn quý!
Ngu đệ tử Liên Ngạn vô tận cảm ơn Sư Tôn gia trì lớn lao liên miên không dứt! Lòng từ bi và đại pháp lực thần biến siêu cấp của Sư Tôn thật sự là quá bất khả tư nghì! Mỗi chữ mỗi câu của Sư Tôn đều là pháp chỉ, nhớ lại lần thứ hai Sư Tôn gọi Thượng sư Liên Hỷ nói thiên ngữ tại điện Hộ Ma, Sư Tôn hỏi đệ tử có biết nói thiên ngữ không? Đệ tử lúc đó trả lời Sư Tôn là không biết, nhưng từ tối hôm đó bắt đầu nhận được đại gia trì của Sư Tôn, đệ tử liền tự nhiên biết nói thiên ngữ, nhưng đệ tử chỉ nói thiên ngữ và hát thiên ca khi cầu nguyện với Pháp thân của Sư Tôn. Do đệ tử cảm nhận Pháp thân Sư Tôn khiến con không nên nói thiên ngữ trước đại chúng, chứ không phải là đệ tử cố tình che giấu.
Gần đây, Pháp thân Sư Tôn nói với đệ tử rằng, rồi sẽ có một ngày con sẽ biết được tâm ý của ta dành cho con, đệ tử nghe xong cảm động khóc nức nở. Không lâu sau đó đệ tử mơ thấy hai giấc mơ, giấc mơ thứ nhất là Sư Tôn đeo như ý vào ngón chân giữa của Sư Tôn, như ý biến thành to bằng chân của Sư Tôn. Tiếp theo giấc mơ thứ hai là mơ thấy Sư Tôn đi lấy máy hút bụi, đệ tử năm vóc sát đất đảnh lễ Sư Tôn, Sư Tôn bước tới gia trì Thiên tâm của đệ tử, Thiên tâm phát ra ánh sáng trắng lớn sáng rực liên miên bất tận tuôn trào ra, Sư Tôn thì thầm bên tai đệ tử một câu mật ngữ.
Kể từ khi có hai giấc mơ khai thị này, đệ tử tự nhiên nhớ lại nguyện lực của mình, và đau đớn khóc lóc phát khởi nguyện lực Bồ Tát Đại thừa hướng về Pháp thân Sư Tôn. Từ lúc này trở đi, Pháp thân Sư Tôn thường hóa hiện thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Khi đệ tử thấy Sư Tôn biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đệ tử càng thêm xúc động đau đớn khóc, cảm giác như trái tim bị khoét ra vậy, hiểu rõ quá khứ hiện tại vị lai tam tế nhất như, hiểu rõ tình duyên giữa thầy trò mật thiết không thể phân ly, sự vĩ đại của Sư Tôn không thể diễn tả bằng lời!
Mấy năm qua, ngoại trừ Chủ nhật, đệ tử có thói quen mỗi ngày đến chỗ Sư Ma Bồ Tát nhiễu Phật. Kể từ khi có hai giấc mơ đó, Pháp thân Sư Tôn đã cho phép đệ tử bắt đầu nói thiên ngữ, hát thiên ca tại chỗ Sư Ma Bồ Tát để thỉnh Phật trụ thế và triệu thỉnh tổ sư các đời.
Ngày thứ Ba, 19 tháng 11, Thượng sư Liên Hỷ nói đi đến căn cứ Không Hành Mẫu 140, ba người đệ tử Liên Ngạn, Liên Hỷ, Liên Viên mua sẵn đồ cúng rồi đi. Thượng sư Liên Hỷ trước tiên tìm ra địa điểm căn cứ Không Hành Mẫu, lúc đó đệ tử được đại lực gia trì của Sư Tôn, dùng thiên ngữ và thiên ca kêu gọi Không Hành và Không Hành Mẫu, chúng con như gặp lại nhau sau lâu ngày xa cách, trong lòng lại một lần nữa cảm động liên miên. Đệ tử cầu nguyện cùng họ thỉnh Phật trụ thế. Tiếp theo Pháp thân Sư Tôn hiện ra trong hư không, chúng con cùng nhau hát thiên ca thỉnh Phật trụ thế. Sau đó Pháp thân Sư Tôn hóa thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, đệ tử lại cảm động rơi nước mắt, rất tự nhiên hát thiên ca cầu thỉnh tổ sư các đời.
Tiếp theo Pháp thân Sư Tôn hóa thành Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát với hàng nghìn thuyền pháp tiếp dẫn các linh ở nghĩa địa vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, đệ tử dùng thiên ca khuyên nhủ chúng linh phát bồ đề tâm. Sau đó là duyên sâu và nguyện sâu giữa ba thầy trò Pháp thân Sư Tôn, Thượng sư Liên Hỷ và đệ tử Liên Ngạn, đệ tử trong khoảnh khắc đó phát nguyện với Sư Tôn rằng, đệ tử sẽ cùng với Thượng sư Liên Hỷ, hai chị em chúng con từ nay không phân biệt nhau, cùng nhau nỗ lực độ chúng sinh, tiếp nối truyền thừa pháp mạch! Tiếp theo Pháp thân Sư Tôn, Diêu Trì Kim Mẫu, A Di Đà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Niguma một lần nữa đại gia trì cho đệ tử.
Hôm qua ngày 24 tháng 11, trong pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu, Sư Tôn hỏi đệ tử có biết viết chữ trời không, đệ tử trả lời Sư Tôn là chưa từng viết qua, vì vậy tối hôm đó sau khi đệ tử tu pháp xong, đã viết một số chữ trời, cầu thỉnh Sư Tôn gia trì và chỉ dạy đệ tử. Đệ tử một lần nữa vô tận cảm ơn Sư Tôn đại gia trì! Đệ tử từng thời từng khắc thỉnh Phật trụ thế! Cầu nguyện Sư Tôn trụ thế lâu dài mãi mãi!
Ngu đệ tử Liên Ngạn thành kính quỳ gối đảnh lễ Sư Tôn. Ngày 25 tháng 11.
33. Phụ lục 2
Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý nhất nhất nhất nhất nhất!
Sư Tôn kính yêu, Phật an! Mở thư vui vẻ!
Tiểu tiểu đệ tử Liên Viên dù đã vô số lần năm vóc sát đất đảnh lễ Sư Tôn cũng chưa thể diễn tả được lòng chí thành cảm ơn của đệ tử, chí thành cảm ơn Sư Phật, chư Phật Bồ Tát, Kim Cang, Không Hành đại lực gia trì, nhổ trừ nghiệp chướng sâu đậm từ nhiều đời kiếp của đệ tử, từng chỉ điểm ra khuyết điểm, sai sót, các hành vi cần phải sửa chữa của đệ tử. Tình thương yêu và lòng từ bi của Sư Tôn, chư Phật Bồ Tát..., sâu sắc cảm động đệ tử, đệ tử vô biên hổ thẹn hướng về Sư Tôn, chư Phật Bồ Tát, Kim Cang, Không Hành cầu sám hối thanh tịnh, từ nay về sau đều sẽ dốc sức nỗ lực tinh tấn tu trì, cầu nguyện có thể sớm ngày tu trì tương ứng, để báo đáp ơn Phật!
Đệ tử tỉ mỉ hồi tưởng lại sức gia trì không thể nghĩ bàn đã xảy ra trên thân đệ tử, và viết ra thành văn tự, dốc chút sức mọn của mình để ấn chứng sức gia trì không thể nghĩ bàn của Sư Tôn. Sư Tôn bất luận là Pháp thân, Báo thân, hay Ứng thân, sức mạnh đều không thể nghĩ bàn đến như vậy, Sư Tôn thật sự như lời thề nguyện của ngài thịt nát xương tan độ chúng sinh. Sư Tôn, chư Phật Bồ Tát, Hộ Pháp Kim Cang, Không Hành luôn luôn hộ trì chúng ta chưa từng rời xa, chỉ cần đệ tử chân tâm thật ý nguyện tu trì thì sẽ được hộ trì.
Việc này bắt nguồn từ Sư Tôn gần đây trong khai thị thuyết pháp, chỉ ra rằng ở Seattle có hai căn cứ tụ tập bí mật của Không Hành, một nơi ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự tại chỗ làm sinh cơ gần tượng Sư Ma Bồ Tát, nơi kia ở phố 140. Có rất nhiều đồng môn đã đến căn cứ, và mỗi người đều thấy các Phật Bồ Tát, đàn thành và vô số Không Hành khác nhau. Đúng lúc chương mới nhất của "Kinh Duy Ma Cật" nói đến hành giả phải hoan hỷ thường làm cúng dường, đệ tử nghĩ rằng, bất luận có hay không nhân duyên có thể thấy được đàn thành hoặc Phật Bồ Tát Không Hành, đi lễ bái và cúng dường cũng là điều nên làm, cũng là rất tốt.
Tất cả mọi thứ đều diễn ra một cách tự nhiên trong nhân duyên đó, sáng ngày 18 tháng 11, sau khi đồng tu xong, Thượng sư Thích Liên Hỷ dẫn con với tâm bình thường đến căn cứ Không Hành ở Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Chúng con bày biện cúng phẩm, đối diện với tượng Phật của Sư Tôn, bắt đầu chuẩn bị nhiễu Phật. Trước tiên chúng con cầu Sư Tôn gia trì, niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú bảy biến, không ngờ rằng con kết ấn Liên Hoa Đồng Tử, biến đầu tiên của Liên Hoa Đồng Tử tâm chú chưa niệm xong, trong lòng đã trào dâng sự hổ thẹn lớn lao, sự sám hối lớn lao như vỡ đập, biến thành từng giọt nước mắt rơi lã chã, khoảnh khắc này con biết Pháp thân Sư Tôn đang gia trì cho con, pháp lưu gia trì của Sư Tôn từ đỉnh đầu đi vào thân con. Bước chân đầu tiên nhiễu Phật, trong đầu con đột nhiên hiểu ra rằng, hóa ra khoảng cách giữa con và Sư Tôn chưa bao giờ là khoảng cách về vị trí, mà là khoảng cách của tâm.
Từ năm 1996 quy y cho đến nay, con luôn cảm thấy rất xa cách với Sư Tôn, dù cho có gặp trực tiếp Sư Tôn, hay trong tu pháp hàng ngày nhập ngã ngã nhập, vẫn cảm thấy có khoảng cách, không biết tại sao mãi mà không thể làm được trăm phần trăm thân cận với Sư Tôn, đây là vấn đề luôn làm con phiền muộn. Nhưng hóa ra câu trả lời là như vậy, trong lòng rất rõ ràng lý do có khoảng cách chắc chắn là vì bản thân mình đã từng phạm giới samaya, không giữ gìn giới luật và nhiều lỗi lầm khác, con trong lòng không ngừng sâu sắc sám hối với Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát: khi xưa đã tạo bao ác nghiệp, là vì vô thủy tham sân si, đều sinh ra từ thân ngữ ý, đã phạm mười ác năm vô gián, và các nghiệp tội samaya, vô lượng vô biên các loại tội, tất cả con nay đều sám hối, chư Phật thương xót thường nhiếp thọ, đến khi thành Phật không rời xa. Không ngừng mặc niệm kính nguyện ngày cát tường, đêm cát tường, một ngày sáu thời đều cát tường, ở trong tất cả cát tường đó, cầu nguyện Căn bản Truyền thừa Thượng sư vĩnh viễn trụ đỉnh gia trì, Bổn tôn nhiếp thọ, Hộ pháp bảo vệ, nguyện truyền thừa pháp lưu quán đảnh vĩnh viễn không khô kiệt, nguyện thầy trò sớm tối ấn tâm, nguyện tu trì sớm có ngày tương ưng. (Lời cầu nguyện này là hồi hướng cố định của đệ tử trong nhiều năm qua mỗi khi báo danh pháp hội và mỗi đàn tu pháp.)
Vì nghiệp chướng do chính mình tạo ra đã che chướng sự thanh tịnh của mình, vì không thanh tịnh nên không thể thân cận, tương ứng với Sư Tôn. Sư Tôn, con thật sự hiểu ra rồi. Từ ngày này, con đồng tu nghiêm túc hơn trước, tu pháp nghiêm túc hơn, và làm tốt hơn từng công việc hàng ngày.
Ngày hôm sau, 19 tháng 11, đúng lúc là ngày bão, Sư Tôn không dùng bữa tối ở Seattle Lôi Tạng Tự, chiều tối, Thượng sư Thích Liên Hỷ, Thượng sư Thích Liên Ngạn và con ba người cùng nhau đi mua cúng phẩm mới, lái xe thẳng đến căn cứ ở phố 140. Thượng sư Thích Liên Hỷ dưới sự dẫn dắt của Không Hành Mẫu đã tìm được điểm tụ tập của các Không Hành, vì biết rằng Thượng sư Thích Liên Hỷ hợp nhất với Pháp thân Sư Tôn, Sư Tôn đang siêu độ dẫn dắt chúng sinh quy y, đệ tử không thể thấy được Sư Tôn, Dược Sư Phật và các Không Hành trong hư không, vì vậy con rất thành kính chắp tay, trong lòng mặc niệm Nam Mô A Di Đà Phật bản Sư Tôn hát, quán tưởng A Di Đà Phật, Sư Tôn cùng tất cả chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Không Hành phóng quang gia trì cho chúng sinh mà Sư Tôn đang thực sự siêu độ, lâu lắm. Không biết tại sao con vẫn rất muốn trì Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, vì vậy con quán tưởng chính mình biến thành hình tượng Sư Tôn trong tranh truyền thừa trú trong tâm, phần còn lại của thân thể con trực tiếp biến thành Diêu Trì Kim Mẫu, truyền thừa tổ sư, tám đại Bổn tôn và Kim Cang Hộ Pháp trong tranh truyền thừa, không ngừng trì tụng chú dài Liên Hoa Đồng Tử, quán tưởng mỗi tiếng chú dài Liên Hoa Đồng Tử, ánh sáng chú luân bao phủ mảnh đất phía trước.
Điều làm đệ tử không ngờ tới là, đang lúc tập trung trì chú, bỗng nhiên nghe Thượng sư Liên Hỷ không ngừng thúc giục gọi con "pháp sư Liên Viên lại đây lại đây", sau đó Pháp thân Sư Tôn bắt đầu gia trì cho đệ tử, con có thể cảm nhận được Sư Tôn đang kiểm tra nghiệp chướng mà con đã tạo ra, không thể diễn tả được tấm lòng bi mẫn vô lượng cảm động đến phát khóc của Sư Tôn, không ngừng nói với con, "ta nhất định phải nhổ bỏ nghiệp đã ăn sâu vào căn của con, nhất định phải tiêu trừ nghiệp chướng của con". Pháp thân Sư Tôn dùng sức gia trì rất lớn rất lớn, từ Thiên tâm bắt đầu gia trì khắp toàn thân, Pháp thân Sư Tôn không ngừng vỗ nhẹ gia trì cho đệ tử, luôn hỏi con, con có biết không, con đã làm gì, và không ngừng dùng thiên ngữ từng điểm chỉ ra khuyết điểm thiếu sót của đệ tử. Đệ tử đã luân hồi tái sinh không biết được rằng chính mình qua nhiều đời đã tạo ra ác nghiệp gì, nhưng con biết, những gì Pháp thân từng điểm chỉ ra, đệ tử đều sẵn sàng thừa nhận và sám hối cầu hoàn tịnh.
Pháp thân Sư Tôn như người cha từ bi dạy bảo đệ tử đừng vọng ngữ, phải cẩn thận khi nói, nói nhiều lời tốt đẹp, phải tinh tấn tu pháp, đừng lười biếng, không được không tu pháp, phải tương ứng với tâm của Sư Tôn. Lúc đó đệ tử đối với sự dạy bảo của Pháp thân Sư Tôn không lời nào mà không gật đầu, vì con biết rằng Sư Tôn yêu thương con như vậy, tám mươi vạn ức chư Phật Bồ Tát Không Hành đều nhìn con, đều hy vọng con có thể tu trì thành tựu, làm sao con có thể để nghiệp vọng ngữ khiến con đọa vào luân hồi, làm sao con có thể lười biếng không tinh tấn tu pháp, làm sao con có thể không làm tốt từng việc lợi ích cho người khác, làm sao con có thể để những chúng sinh bị tổn thương oán hận chưa được siêu độ mãi mãi không được giải thoát? Không biết làm sao diễn tả được sự cảm động trong lòng đệ tử, nước mắt như suối tuôn, không ngừng gật đầu, con biết con biết, đây đều là nghiệp không được phạm!
Đệ tử thật may mắn biết bao, lại được Pháp thân Sư Tôn đại gia trì, nhổ bỏ nguồn nghiệp ăn sâu bám rễ từ nhiều đời kiếp của đệ tử, tiêu trừ nghiệp chướng lớn lao như vậy.
Sau khi đệ tử được sự gia trì bất khả tư nghì của Sư Tôn chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành tại hai căn cứ Không Hành, đã có những thay đổi sau đây:
Trước hết như mở ra công tắc cơ chế tự động trong cơ thể, tự động đi giở xem khai thị của Sư Tôn và phát hiện bên trong toàn là pháp bảo mà con rất cần, con nhất định phải nghiêm túc tận tâm học tập tiếp thu khai thị và giáo huấn của Sư Tôn, đi thực tu đi thực hành; tự động đúng giờ tham gia đồng tu buổi sáng; tự động hoàn thành công khóa chưa hoàn thành trong ngày; tự động chặn bớt những lời không quan trọng muốn nói, giữ vọng ngữ, ỷ ngữ.
Lúc rảnh rỗi tự động không ngừng trì tâm chú Sư Tôn hoặc Bách tự minh chú, khi trì chú tự động quán tưởng Tâm luân cho đến toàn thân tự động biến thành chú luân phát ra ánh sáng, niệm tưởng chuyên chú vào chú luân đang xoay chuyển, khi phát giác tạp niệm sinh khởi lên thì tự động, lại tự động kéo chính mình quay về trạng thái trì chú. Con từ khai thị của Sư Tôn trong 'Hồng Quang Đại Thành Tựu' mà biết, hóa ra đây chính là đang làm nhập, trụ, dung, đây chính là đang thanh tịnh. Bởi vì khi chuyên chú quán tưởng Sư Tôn trụ đỉnh nhập vào trong tâm, trụ tại tâm chú, chính mình với Sư Tôn dung hợp vô nhị phân biệt, lúc này con căn bản không sinh ra niệm tưởng nào khác, con với Sư Tôn không còn khoảng cách.
Tiếp theo là tốc độ tu pháp đã chậm lại, trước khi tu pháp sẽ rất nghiêm túc cầu nguyện Sư Tôn, Kim Mẫu, Bổn tôn tu pháp gia trì cho quán tưởng tu pháp được rõ ràng, trì chú trụ tâm, niệm văn thỉnh cầu Liên Sinh Hoạt Phật gia trì, không còn "đọc thuộc làu làu", mà là nghiêm túc cẩn thận làm từng bước một, có thể từ nội tâm mà sám hối, nếu cảm thấy không đủ chuyên chú sẽ làm lại một lần hoặc niệm lại một lần, không còn rất nhanh chóng kết thúc nghi quỹ của một đàn pháp.
Mặc dù cơ chế tự động mới được mở ra, việc tu hành của đệ tử như mới chỉ bắt đầu, bước khởi đầu rất muộn, đệ tử nhỏ bé chỉ là một chồi non nhỏ nhoi, nhưng đệ tử cuối cùng không còn là yêu Sư Tôn bề mặt, kính thầy bề mặt, trọng pháp bề mặt, thực tu bề mặt nữa, mà trong đầu óc sẽ thỉnh thoảng lóe lên những câu tinh hoa trọng điểm mà Sư Tôn đã khai thị, hoặc là những câu sám trong sám văn. Rất nhiều việc giống hệt như Sư Tôn đã nói, đổi canh không đổi thuốc, thời gian địa điểm nhân vật khác nhau, nhưng đạo lý lại giống nhau, lấy một ví dụ: Khi lễ bái Sư Ma Bồ Tát, Thượng sư Liên Hỷ nói các đồng tử rất vui mừng, rất cảm tạ Sư Tôn, cảm tạ Sư Ma Bồ Tát, chúng ở đây vui vẻ trưởng thành, đồng tử còn nói cảm ơn pháp sư Liên Viên đã dẫn dắt. Thượng sư Liên Hỷ và con đều không biết tại sao đồng tử nói phải cảm ơn con, nhưng sau đó chúng con mới nhớ ra, là vì con đến thường trụ tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự sau, đảm nhận đăng ký việc an phụng và cúng dường các linh hồn thai nhi, do không thể thỉnh giáo người phụ trách trước đó đã an phụng linh hồn thai nhi như thế nào, cho nên mỗi thứ Bảy con sẽ lấy một ít đồ cúng dường của mình như kẹo bánh quy, thay mặt các linh hồn thai nhi trong danh sách cầu an phụng mà cúng dường Sư Tôn, Sư Ma và chư Phật Bồ Tát tại đàn thành, quán tưởng các linh hồn thai nhi làm quán tưởng tứ quy y, niệm chú tứ quy y, xướng tụng hoặc niệm tụng vãng sinh vị hồi hướng cho các đồng tử, danh sách an phụng cũng được đặt vào hộp đăng ký pháp hội Hộ Ma ngày Chủ nhật.
Vì sự cảm ơn của các đồng tử, trong đầu óc đệ tử liền xuất hiện câu 'hóa ra tất cả những gì đã làm cuối cùng sẽ quay trở lại với chính mình', đây chẳng phải là nhân quả mà Sư Tôn đã giảng sao? Mặc dù đệ tử biết những việc đã làm đều là bổn phận của một người xuất gia như đệ tử, không có gì đặc biệt, nhưng thật sự là không thể vì thiện nhỏ mà không làm, không thể vì ác nhỏ mà làm. Đệ tử cũng không biết phải làm sao để diễn tả việc trong đầu óc sẽ lóe lên những tinh hoa khai thị hoặc câu vàng ngọc của Sư Tôn, mượn cách nói của Thượng sư Liên Hỷ, đây là pháp tạng trên thân của mỗi đệ tử, càng tu trì, pháp tạng sẽ càng hiển hiện nhiều.
Những pháp tạng này đều là những điều mà mỗi đệ tử đã học tập, đã tu trì, hoặc là bổn nguyện vốn có. Gia trì của căn bản truyền thừa rất quan trọng, nhất định phải hộ trì tốt truyền thừa gia trì của chính mình. Gia trì của chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành cũng rất quan trọng, tự lực hướng thiện hành thiện tu hành của bản thân cũng không thể thiếu. Hành giả tuyệt đối không được xem thường phát bồ đề tâm trong nghi quỹ tu pháp, không được xem thường mỗi việc lớn nhỏ lợi ích người khác đã làm, tất cả những điều này đều sẽ là sự tích lũy phước đức trong tư lương đạo của chúng ta, khi phước đức nhân duyên mà chúng ta tích tụ đầy đủ, sẽ trở thành trợ lực giúp chúng ta xuyên phá cánh cửa chướng ngại then chốt.
Khi Sư Tôn trên pháp tọa hỏi đệ tử về cảm nhận khi đến hai nơi căn cứ Không Hành, mỗi chi tiết, mỗi cảm nhận mà đệ tử nói ra đều được tái diễn lại một lần tại hiện trường, đệ tử suốt đời sẽ dốc hết toàn lực để thực hiện những việc đã hứa với Pháp thân Sư Tôn, vĩnh viễn không phá samaya này.
Đệ tử hướng về Căn bản Truyền thừa Thượng sư Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật kính yêu mà cầu nguyện, cầu nguyện gia trì cho đệ tử chồi non nhỏ bé này có thể khỏe mạnh vươn lên trưởng thành, dưới Phật quang của Sư Phật, sớm ngày tu trì tương ứng, quay về bản nguyên.
Cầu nguyện Sư Tôn chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành cũng gia trì cho rất rất nhiều những người bạn đồng tu có vấn đề giống như đệ tử, hoặc còn có những chướng ngại tu hành này nọ khác, cũng có thể sớm ngày phước đức nhân duyên đầy đủ, khai mở cơ chế tự động này, chân thành sám hối, chân thành tu pháp, chân thành làm tốt từng việc một, sớm ngày tu trì thành tựu quay về bản nguyên.
Một lần nữa đảnh lễ tri ân sự gia trì cứu hộ từ bi vĩ đại của Sư Tôn, tri ân sự gia trì hộ trì vĩ đại của chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp Kim Cang Không Hành, tri ân Thượng sư Liên Hỷ, tri ân tất cả mọi điều!
Cầu nguyện Sư Tôn Phật thể an khang! Thường trụ thế gian! Mãi chuyển pháp luân! Tất cả cát tường!
Đệ tử nhỏ bé Thích Liên Viên đảnh lễ bái tạ. Ngày 26 tháng 11 năm 2024.
(Hết.)