Chuyển tới nội dung chính

Siêu giác của linh hồn

🪷 Cảm ứng không gian thứ tám


Văn tập số: 021
Xuất bản: 04/1976
Địa điểm: Kim Sơn Tự, San Francisco Mỹ
Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Biên dịch: Nhóm Upala


Lời mở đầu

Trong thế giới hữu hình của vũ trụ, tôi nhấn mạnh sự tồn tại của thế giới vô hình. Con người sống giữa đất trời không chỉ tồn tại bằng thể xác, mà còn có sự hiện hữu của linh hồn. Tôi là một người quen dùng linh hồn để tiếp xúc và cảm nhận linh hồn. Ngoài linh hồn của chính mình, tôi còn biết đến vô số linh hồn khác, bao gồm cả những quỷ hay thần mà ý thức nhân loại vẫn thường hoài nghi.

Không gian là một thế giới vô hạn. Sau khi linh hồn tôi tiến vào ảo cảnh vũ trụ, bên ngoài thế giới bốn chiều lại xuất hiện không gian năm chiều, sáu chiều, thậm chí tám chiều. Cảnh giới này giống như từng lớp vỏ bắt đầu từ từ bong tróc ra trước mắt tôi, khiến tôi phải thốt lên kinh ngạc trước sự kỳ diệu ấy. Sau khi thấu suốt toàn bộ những bí ẩn của cõi vô hình, tôi sẽ dựa vào ngòi bút trong tay mình để ghi chép lại những cảm ứng về sự giải thoát của linh hồn. Đây là những điều khiến người ta khó tin, khiến người ta mê đắm, và cũng là những trải nghiệm mà đa số mọi người chưa từng trải qua, nay tôi xin cống hiến ra đây mà không giữ lại chút nào.

Tất cả những điều này đều là sự thật, tôi thành tâm thành ý nói với độc giả của mình rằng tôi không có lý do gì để nói dối. Quan trọng hơn, một người thành thật, thật thà không thể nào mặt không biến sắc, hơi thở bình thản mà viết ra những ảo tưởng không gian như vậy. Thật sự, tôi xin thành tâm thành ý lặp lại câu nói này. Dẫu vậy, tôi cũng không ép buộc bất kỳ ai, tin hay không là tùy ở bạn — thưa quý độc giả thân mến.

Tôi cảm thấy đời người quả thực là đến để chịu khổ chịu nạn. Đặc biệt đối với tôi - một người ý thức rõ sự tồn tại của cả linh mệnh lẫn thể xác, bắt buộc phải gánh chịu áp lực to lớn từ hai phía: một mặt là nhục thể, mặt khác chính là linh hồn. Hơn nữa, những thống khổ và thử thách mà tôi phải gánh chịu còn nặng nề và sâu sắc hơn người thường rất nhiều. Đây dường như là một trình tự mang tính tất yếu: một người tu đạo muốn liễu thoát sinh tử, nhất định phải trải qua những khổ nạn tột cùng.

Tôi đã bước qua thung lũng u ám thẳm sâu, bị nhân loại ruồng bỏ, nhẫn chịu những ánh mắt khinh khi của thế nhân, những lời tận đáy lòng chẳng một ai thấu hiểu. Tôi ngước nhìn thế giới biến ảo khôn lường mà nghĩ: "Trời hành hạ tôi đến chết, đó là bản lĩnh của trời; trời không thể hành hạ tôi đến chết, đó là bản lĩnh của tôi." Tôi sẽ từ một con người bình phàm mà vươn mình thoát ra, tiến thẳng vào trong không gian siêu việt, ngộ đạo, bất sinh bất tử.

Cho đến hiện tại, tôi đã là một người hoàn toàn không còn sợ chết. Tôi đã viết 21 cuốn sách, trong sách đều có bóng dáng tôi, là thực tế của cuộc sống. Riêng về lĩnh vực linh hồn, tôi cũng đã viết được 4 cuốn. Nguồn sức mạnh này cũng đến từ linh giới, các Ngài muốn tôi viết, muốn nhắn nhủ con người đừng quá khờ dại, khờ dại đến mức phủ quyết hoàn toàn thế giới vô hình. Sao nhân loại không thử nghĩ xem, sự chuyển động của pháp luân này vốn bao trùm toàn bộ không gian vũ trụ, sự ra đời của con người cũng là một vòng luân hồi; chân như của linh hồn mới luôn là nhân vật chính của thế giới này.

Tôi nghĩ rằng, những cảnh giới không thể nghĩ bàn ấy, trong một tương lai không xa, nhất định sẽ từng chuyện từng chuyện được khoa học chứng thực. Đến lúc đó, những lời chứng ngôn của tôi sẽ được toàn nhân loại tôn sùng và công nhận; nếu tôi biết được điều này, ắt hẳn cũng sẽ hân hoan mà vui mừng khôn xiết.

Trong khi thiền tọa, tôi đã diện kiến Quang Minh Thiên Chủ. Thứ hào quang sắc vàng rực rỡ ấy tỏa ra từ toàn thân, xuyên qua từng lỗ chân lông của Quang Minh Thiên Chủ, từng tia sáng hệt như những mũi tên, thứ ánh sáng ấy chói lọi như vầng thái dương. Trong thiền định, tôi cũng diện kiến Đại Tự Tại Thiên Thần. Đại Tự Tại Thiên Thần từ trên đài mây bước xuống, đích thân dìu tôi đến bên cạnh ngài, nhường ra một chỗ ngồi. Tuy nhiên tôi không muốn ngồi xuống, điều tôi khao khát chính là đài sen vàng của Đức A Di Đà Phật nơi thế giới Tây phương Cực Lạc.

Hiện tại, tôi không hướng về Đâu Suất Thiên, cũng không hướng về Tha Hóa Tự Tại Thiên, càng không hướng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên. Tôi luôn tìm cầu một thế giới giải thoát cứu cánh vĩnh hằng, không thỏa mãn với những cảnh giới nhỏ nhoi hiện tại. Quả vị tôi chứng đắc bắt buộc phải là Vô thượng Chính đẳng Chính giác; chưa đạt được điều này, quyết không từ bỏ.

Việc nhìn thấy quỷ thần không phải là một chuyện quá đỗi hiếm lạ, bởi vì linh hồn của tôi đang sống động, không những có thể du hành khắp các bộ phận trong thân thể để thực hiện Tiểu chu thiên, mà còn có thể xuất thần du hành Đại chu thiên, trực tiếp yết kiến Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Khung Cao Thượng Đế. Dẫu là vậy, tôi vẫn chỉ là một nhân vật bé nhỏ bình thường, kết bạn cùng quỷ linh, tự do tự tại, không chút gò bó. Về bề ngoài, tôi còn bình phàm hơn cả người thường, càng chẳng có điểm gì đặc biệt, tôi chỉ đơn thuần là một người thật thà an phận thủ thường.

Cuốn sách này sẽ viết về những điều tôi suy nghĩ và nhìn thấy trong cuộc sống tu hành tâm linh, cũng chính là ghi chép chân thực về những tâm đắc của tôi. Tin rằng người đọc cuốn sách này sẽ có phúc khí, bởi vì ít nhất bạn cũng có thể biết được những điều mà người khác không thể biết, và thấu hiểu được một số bí ẩn của thế giới vô hình.

Lư Thắng Ngạn
— Mùa xuân năm Dân Quốc 65 (1976), tại Linh Tiên Tinh Xá.

01. Quang Minh Thiên Chủ

Mỗi tối vào khoảng mười một giờ, tôi luôn ngồi thiền năm mươi phút. Bất kể mùa đông giá rét hay mùa hè nóng bức, dù là ở nhà hay đi xa, tôi chưa từng gián đoạn. Công phu ngồi thiền này, ngày qua ngày càng thêm thâm sâu, mọi lo toan trần tục đều được quét sạch, từ lâu tôi đã có thể tiến nhập vào cảnh giới vong ngã chỉ sau ba phút.

Cách ngồi thiền của tôi rất đơn giản: hai chân khoanh lại, hai mắt khép hờ, tay kết vòng như ý, chủ yếu dùng pháp quán tưởng đếm hơi thở. Có lúc tôi cũng niệm Phật, khi niệm Phật tôi luôn lấy tâm niệm làm chính, dùng chân ngôn niệm Phật để chuyển động pháp luân của tâm, như vậy cũng chính là pháp luân thường chuyển.

Trong lần ngồi thiền đầu tiên của cuộc đời, thật kỳ diệu, ngay lần đầu đó đã xuất hiện cảnh giới. Vì cảnh giới này đến một cách vô cùng đột ngột, nó đã gián tiếp khích lệ tôi, khiến tôi say mê mà không biết mệt mỏi. Cảnh giới đó, sau này tôi mới biết, chính là lần đầu tiên Quang Minh Thiên Chủ hiển hiện. Tương truyền rằng đây là một cảnh giới thuộc Sơ thiền trong thiền định. Thuở ban đầu khi tôi diện kiến Quang Minh Thiên Chủ, cảnh tượng là như thế này.

Tôi nhập định quán tưởng, trước mắt thoạt tiên xuất hiện một điểm sáng nhỏ, ánh sáng đó dần dần mở rộng, trở thành một vòng sáng lớn, tình trạng giống như một bánh xe lửa, xung quanh vòng sáng ấy, hào quang rực rỡ tựa ngọn lửa đang bùng cháy. Ánh sáng chói lọi trước mắt khiến tôi vô cùng kinh ngạc, hơn nữa lại càng lúc càng sáng, độ sáng tựa như ánh mặt trời. Lúc này, toàn thân tôi lại không hề cảm thấy nóng, mà là một sự mát mẻ thanh tịnh lan tỏa khắp cơ thể.

Sau khi ánh sáng hiển hiện, từ trong vầng sáng ấy bỗng bay ra một đám mây màu vàng tuyệt đẹp. Đám mây nhẹ nhàng phiêu diêu, tựa như tơ liễu bay trong gió, trên đám mây lành có một vị thiên thần sáng chói rực rỡ đang đứng. Vị thần này mặc áo bào gấm, tư thái đoan trang, đầu đội mũ có hình mặt trời tỏa sáng, thần thái rạng rỡ. Khi tiến đến gần, mày mắt càng thêm rõ nét, càng toát lên vẻ cao quý và thanh thoát. Lúc này, trong tâm tôi sinh lòng kính ngưỡng, tận mắt chứng kiến cảnh giới dường ấy, nào biết thân mình đang ở nơi đâu?!

Sau đó, tôi nhìn thấy đám mây ấy phân tán thành vô số đám mây nhỏ màu vàng. Một đám mây tựa như một đóa hoa, trên mỗi đóa hoa đều có một vị thiên thần đứng, tư thái của các thiên thần đều giống hệt nhau. Lúc này, dường như có thiên nhạc tấu lên, các vị thiên thần trên mây có vẻ vô cùng hân hoan. Tiếng nhạc ấy tựa như âm thanh của đàn dây, tiếng trong trẻo mà tuyệt mỹ. Tôi tĩnh tâm lắng nghe, phảng phất như hát rằng:
"Chớ sinh lòng phân biệt ở chốn này,
Cho nên ánh sáng là vô cùng cát tường;
Liên tử đến được đây nên vui mừng,
Tinh tấn tự đắc đại hoan hỷ."

Vị Quang Minh Thiên Chủ hướng về tôi mỉm cười. Nụ cười ấy thực sự vô cùng chân thực, đến tận bây giờ tôi vẫn còn có thể nhớ lại! Cách một lúc không lâu, mây tan trời tạnh, vầng lửa ánh sáng ấy dần dần thu nhỏ lại rồi biến mất. Đây chính là cảnh giới đầu tiên trong quá trình ngồi thiền nhập định của tôi.

Lúc mới bắt đầu, tôi không biết cảnh giới mà mình nhìn thấy là cảnh giới gì. Tôi đã hỏi qua rất nhiều hòa thượng và đạo sĩ, họ đều lắc đầu. Thậm chí có những hòa thượng còn nói rằng thứ tôi gặp phải là ma tướng, khuyên tôi không nên ngồi thiền nữa, nguy hiểm lắm đấy! Họ bảo tôi sớm muộn gì cũng sẽ tẩu hỏa nhập ma mà phát điên.

Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng bản thân trì tụng chân ngôn (chú ngữ), nhất tâm bất loạn, thì căn bản chẳng có gì phải sợ hãi. Hơn nữa, tôi vốn có tâm địa lương thiện, lại càng không sợ điều gì. Tôi nghĩ, sự xuất hiện của các vị thiên thần là để khích lệ tôi, các ngài thích tôi, tôi cũng thích các ngài. Nếu các Ngài không thích tôi thì việc gì phải hiện thân cho tôi thấy chứ?!

Đọc rất nhiều sách, hỏi qua bao nhiêu người, nhưng chẳng một ai biết được cảnh giới này là gì.

Cho đến một ngày, một vị tỳ kheo ni già đi khất thực đến nhà tôi. Tôi biếu bà một túi gạo, khi bà vừa quay lưng định đi, tôi bỗng nhớ ra liền hỏi:
"Sư phụ, chuyện đó rốt cuộc là thế nào?"
"Cát Tường Thiên Quang Minh Thiên Chủ, cậu đã nhìn thấy ư? Thí chủ, cậu quả thật không hề đơn giản." - Tỳ kheo ni già nhìn tôi với ánh mắt hoài nghi.
"Là thật ạ." - Tôi nói như đinh đóng cột.
"Chúc mừng cậu, thí chủ." - Tỳ kheo ni già chắp tay rồi quay gót rời đi.

Đến lúc này, cuối cùng tôi cũng hiểu ra, trong cảnh giới đầu tiên của thiền định, tôi đã diện kiến Cát Tường Thiên Quang Minh Thiên Chủ.

02. Hai kiểu dị tướng

Từ thuở nhỏ, tôi đã có sự tò mò về chuyện linh hồn nhiều hơn người khác, và cũng có chung niềm yêu thích đối với tôn giáo. Ban đầu, tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo, sau chuyển sang Đạo giáo, rồi lại chuyển sang Phật giáo. Tôi cho rằng đây không phải là phản giáo, nói một cách đơn giản, đó là ngôi nhà cũ đã quá chật hẹp, tôi dọn sang một ngôi nhà rộng rãi hơn. Đây là tôi chuyển nhà, chứ không gọi là phản giáo. Con người luôn có những lý tưởng cao xa hơn, và tôi cũng không ngoại lệ.

Sau khi có được kỳ duyên tại Ngọc Hoàng Cung, tôi lại có thể nhìn thấy quỷ thần, thậm chí có thể nghe được tiếng quỷ thần, nhìn thấy vô vàn chuyện kỳ lạ cổ quái ở linh giới mà nghĩ cũng không thể nghĩ ra. Có được bản năng này, nói một cách nghiêm túc thì không phải là bẩm sinh, mà là một loại cảm ứng đặc thù sau khi có được khế cơ. Tuy nhiên, trước khi có được cảm ứng này, tôi từng chứng kiến hai lần dị tướng, vô cùng chân thật mà không hề hư vọng.

Lần thứ nhất, là khi tôi đang học trường Trung học số hai Cao Hùng. Mùa hè năm ấy, tôi đến vịnh Tây Tử bơi lội. Thời tiết ngày hôm đó không được tốt cho lắm, sóng gió ở vịnh Tây Tử vô cùng lớn, từng đợt sóng biển dâng cao như núi, tiếng ầm ầm vang dội không dứt bên tai. Tầng mây trên không trung rất thấp, từng mảng mây đen ùn ùn kéo đến. Gió lớn, những sợi mưa dường như đang bay phấp phới, trên mặt biển lập tức hiện ra vạn điểm hoa mai.

Tôi cùng bạn học trốn dưới mái hiên bạt, ngắm nhìn kỳ cảnh trên biển. Quản lý bãi tắm dựng một tấm biển gỗ trên bãi cát: "Sóng lớn, không được xuống biển". Nói thật, với thời tiết thế này, sóng to gió lớn, mưa rơi xối xả, căn bản là không thể nào bơi được.

Đúng lúc này, trên biển đột nhiên xuất hiện vòi rồng. Đầu tiên là nước biển tạo thành một vòng xoáy lớn, tiếp đó cột nước dần hình thành, không ngừng bốc thẳng lên cao, tạo thành một cột nước thông tận trời xanh, tầng mây và cột nước nối liền với nhau. Kỳ quan này quả là trăm năm hiếm thấy, nước biển bị vòi rồng cuộn thốc lên tầng mây trên bầu trời, một cột nước khổng lồ sừng sững dựng lên trước mắt, mây đen cuồn cuộn giữa không trung. Đây thực sự là một kỳ quan hiếm thấy trong đời người.

Tôi đưa mắt nhìn khắp bốn bề, bất chợt ở góc Đông Nam của bầu trời, tôi nhìn thấy một con thanh long đang cuộn mình, quả thực là một con rồng. Con rồng ấy há cái miệng rộng ngoác, liều mạng hít khí, đến mức hút cả nước biển vào trong bụng. Lúc bấy giờ tôi nhìn thấy con rồng há to miệng, hai mắt to đến mức kinh người, đuôi rồng ở tận đầu mây bên kia, thân rồng cuộn tròn lúc ẩn lúc hiện trong đám mây đen. Sau khi nhìn thấy, tôi sợ hãi đến mức không nói nên lời, vội vàng gọi các bạn học nhìn xem. Bọn họ hướng mắt về nơi ngón tay tôi chỉ. Nói ra cũng thật kỳ lạ, một con rồng dài dằng dặc dường ấy lại biến mất chỉ trong nháy mắt.

Sau đó họ cười nhạo tôi, bảo mắt tôi có vấn đề, đã nhìn những đám mây đen cuồn cuộn thành rồng. Nhưng tôi vô cùng ngạc nhiên, bởi vì tôi đã thực sự nhìn chăm chú vào nó rất lâu, rất lâu cơ mà! Lẽ nào đó thực sự chỉ là ảo giác của tôi sao?

Lần thứ hai, cũng là trong một buổi dã ngoại cùng các bạn học thời trung học cơ sở. Địa điểm là núi Quan Âm ở Nam Tử (khu Nam Tử, Cao Hùng). Nhóm chúng tôi đạp xe xuất phát, xe vừa mới đến chân núi Quan Âm, tôi đã nhìn thấy trước núi có một ngôi đạo quán. Trước đạo quán là một quảng trường, trên quảng trường có rất đông người đang đi dã ngoại. Nói ra cũng thật kỳ lạ, đột nhiên, tôi lại nhìn thấy trước đạo quán sừng sững một vị thiên thần có hình tướng, hai chân đạp xuống trước đạo quán, thân mình cao như núi, đầu đội trời, hai tay chắp lại, toàn thân mặc giáp vàng lấp lánh phát quang. Pháp tướng của vị thiên thần vô cùng trang nghiêm, hai mắt đang chăm chú nhìn về phía nhóm người đi dã ngoại chúng tôi.

Tôi nhìn thấy rõ nhất ngũ quan của vị thiên thần, liền quay đầu gọi các bạn học cùng xem. Nhưng đáng tiếc thay, không một ai trong số họ nhìn thấy, họ bảo chỉ nhìn thấy đạo quán, nhìn thấy núi xanh, nhìn thấy người, làm gì có vị thần nào cao như núi cơ chứ. Tôi nhìn thấy thiên thần xuất hiện chừng năm phút đồng hồ, sau năm phút ấy, tôi cũng không còn nhìn thấy gì nữa. Các bạn học nói tôi bị vấn đề về thần kinh.

Hai chuyện này đều xảy ra vào thời kỳ tôi học trung học cơ sở. Khi đó tôi vẫn còn là tín đồ Cơ Đốc giáo, nơi sinh hoạt là ở phố Minh Tinh, nhà thờ Cơ Đốc Tân Hưng Trưởng Lão Hội. Mỗi Chủ nhật, tôi cũng ôm cuốn Kinh Thánh bìa đỏ lớn đến nhà thờ. Đối với hai chuyện này, vào thời điểm đó tôi cũng không mấy bận tâm.

03. Hồn ma

Mấy người bạn từ Đài Bắc đến, đang cùng tôi trò chuyện trong phòng khách, bàn về vấn đề hồn ma, thì trong đó một người bạn bỗng nhiên đứng phắt dậy, hai mắt nhắm nghiền, sắc mặt trở nên trắng bệch khác thường. Người ấy đưa tay chỉ thẳng vào tôi, lớn tiếng gọi giật giọng: "Lư pháp sư, anh xem tôi là ai? Lư pháp sư, anh xem tôi là ai?" Những người bạn ngồi quanh từng người một đều sợ hãi chết sững như tượng phỗng, có vài người thậm chí còn luống cuống không biết phải làm sao. Từ kinh nghiệm thường ngày của mình, tôi biết đây chính là một dạng hiện tượng bị linh thể nhập, thế nhưng, tôi lại nhìn không ra trên người vị bằng hữu này đang bị loại linh thể nào nhập vào.

"Xin hỏi ngài là vị thần thánh phương nào?" - Tôi cố trấn tĩnh hỏi.
"Ta không phải thần, cũng không phải tiên, ha… ha… ha… Các ngươi nhìn lầm rồi chăng!" - Nó mượn miệng người bạn tôi mà cười cuồng ngạo.
"Vậy ngài là ai?"
"Ta là yêu ma quỷ quái, nhưng chưa từng hại người, các ngươi đừng sợ. Ta có nơi ở, có miếu cư ngụ. Lư pháp sư, thật sự anh không nhận ra ta là ai sao? Quý nhân đúng là mau quên thật!"
"Tôi quả thực không biết ngài là ai."
"Để ta phô bày oai phong cho ông xem."

Nói xong, người bạn tôi bất giác giơ hai tay bày ra một bộ dạng đầy vẻ oai phong thần khí, rồi lại đánh ra một bài quyền kỳ quái, bước chân cũng xiêu xiêu vẹo vẹo. Múa may như vậy một hồi lâu, rồi lại quay sang đối diện tôi:
"Pháp sư, vẫn chưa nhận ra sao?"
"Không nhận ra."
"Hừ! Ta chính là Hữu Ứng Công ở đường Thập Giáp Đông đây! Chúng ta ngày nào chẳng gặp nhau."

Lúc ấy tôi mới sực nhớ ra, thì ra là Hữu Ứng Công ở đường Thập Giáp Đông. Đường Thập Giáp Đông là con đường mỗi ngày tôi đều phải đi qua trên đường đến chỗ làm. Thường thì tôi vừa đi xe vừa niệm Phật. Vị chủ nhân của miếu Hữu Ứng Công, tôi chỉ mới gặp có một lần, thảo nào không nhớ ra.

"Xin hỏi ngài có việc gì căn dặn?" - Tôi lịch sự hỏi.
"Việc thì không có, ta chỉ đến chơi chút thôi."
"Xin ngài rời khỏi người bạn tôi được không? Cậu ấy bị nhập lâu quá, cơ thể sẽ không chịu nổi đâu."
"Đơn giản thôi, anh dùng pháp chỉ vẽ một đường, lấy vàng mã tịnh thân, ta sẽ rời đi ngay."

Thế là tôi đứng dậy, châm lửa đốt thỏi giấy tiền vàng, hơ quanh người bạn tôi ba vòng, tay trái bắt kiếm quyết, tay phải kết lôi ấn, liên tục đánh ra thủ pháp Ngũ Lôi, rồi dùng lòng bàn tay vỗ vào lưng bạn tôi một cái. Vị Hữu Ứng Công kia liền hóa thành một luồng khói mỏng chuồn mất. Bạn tôi tỉnh lại, ngoài việc cảm thấy cơ thể đặc biệt yếu ớt ra thì không có chút cảm giác nào khác. Hỏi chuyện ban nãy, cậu ấy hoàn toàn không biết gì.

Những người bạn có mặt chứng kiến chuyện kỳ lạ này đều kinh ngạc đến ngây người. Một người trong số đó lên tiếng: "Chúng ta vừa bàn chuyện hồn ma, thế mà hồn ma đến thật. Nếu không có anh Lư ở đây, chắc bọn tôi chỉ biết trơ mắt ra nhìn mất."

Hữu Ứng Công có phải là hồn ma không? Thật ra Hữu Ứng Công đích xác là hồn ma. Hiện nay ở Đài Loan có rất nhiều miếu Hữu Ứng Công, có thể bắt gặp ở khắp nơi tại các vùng thôn quê. Đó là nơi nương tựa của những cô hồn dã quỷ. Người ta cúng bái Hữu Ứng Công, một nửa là mang tâm trạng thương xót.
[Trong tín ngưỡng dân gian Đài Loan, Hữu Ứng Công là tên gọi chung dành cho những vong linh không người thờ cúng (cô hồn, người chết đường chết chợ) được người dân quy tập hài cốt và lập miếu thờ. Chữ "Hữu Ứng" mang ý nghĩa có cầu ắt có ứng nghiệm.]

Tuy nhiên, đối với cô hồn dã quỷ, nếu bạn cầu xin, họ thật sự cũng có thể giúp đỡ những việc nhỏ nhặt, bởi vì họ cũng có chút ít thần thông nhỏ. Nhưng có một số hồn ma làm việc không màng đến lẽ trời, làm càn làm quấy, vì vậy mà những kẻ cờ bạc cầu thắng độ, hay chốn lầu xanh cầu buôn may bán đắt, họ cũng có thể nhúng tay trợ giúp.

Hồn ma cũng là một luồng khí, nhưng luồng khí này mang trạng thái vẩn đục, không giống như linh khí của thần linh vốn hiển hiện sự thanh thoát và trong trẻo. Hồn ma được xếp vào cảnh giới atula, nhưng không hẳn tất cả đều là tinh linh. Cũng có hồn ma tu hành, và có cả hồn ma không tu hành, tồn tại theo đủ mọi phương thức sinh tồn khác nhau. Quẩn quanh trong vòng ngũ hành tam giới, chúng không cách nào thoát khỏi sự trói buộc của vòng luân hồi với số kiếp hồn ma.

Bản thân tôi không khuyến khích mọi người cúng bái Hữu Ứng Công, bởi vì Hữu Ứng Công mang lòng tham không đáy. Cúng bái dĩ nhiên là có linh ứng, nhưng nếu lâu ngày không đến cúng tế, họ sẽ cố tình quấy phá, làm cho người ta không thể không tiếp tục đến cúng bái họ.

Về phần tại sao hồn ma lại có thể nhập vào người bạn của tôi, đó là do linh thể của bản thân cậu ấy có tần số khá gần với hồn ma. Thêm vào đó, chúng tôi lại đang bàn luận về hồn ma, nên từ suy nghĩ đó mà chiêu cảm hồn ma nhập vào thân xác cậu ấy.

Loại phương pháp nhập thân này, trong thuật Yoga của Ấn Độ đã nhắc đến rất nhiều. Đó là cách để linh hồn của một cá thể chui tọt vào trong thể xác của kẻ khác. Phương pháp này cũng chính là pháp nhập hồn.

04. Tả thực nhà ma

Tại Đài Bắc, có một ngôi nhà xảy ra chuyện kỳ quái. Nam chủ nhân vốn chẳng tin vào tà ma, nhưng nữ chủ nhân lại tin tưởng không chút nghi ngờ. Cứ hễ đến tối, tiếng bước chân lại vang lên trên trần nhà, nơi đầu cầu thang, rồi cửa nẻo dẫu không có gió cũng tự mở tự đóng.

Người giúp việc thường xuyên bị dọa cho hét toáng lên, làm được nhiều nhất cũng chỉ hai tháng là bỏ của chạy lấy người. Dù vậy, thứ ma quỷ ấy lại chưa từng hại ai. Nữ chủ nhân bị quấy nhiễu đến mức không chịu nổi nữa, bèn đến cầu xin kẻ hèn này giúp đỡ.

Ngôi nhà xảy ra chuyện kỳ dị này tọa Bắc hướng Nam, cảnh quan thanh nhã. Từ hệ thống cửa sổ sát đất, máy lạnh, cho đến cách trang hoàng và sự bề thế đều thuộc hàng bậc nhất. Tôi đi xem xét một vòng quanh nhà, từ phòng khách đến nhà bếp, từ nhà bếp sang phòng ngủ, rồi từ phòng ngủ bước vào phòng đọc sách.

Vừa vào đến phòng đọc sách, lập tức cảm nhận được một luồng gió âm u lạnh lẽo thổi tới. Nam chủ nhân tê rần cả da đầu, còn nữ chủ nhân thì nổi hết gai ốc. Tôi quay đầu lại nói với họ: "Chính là căn phòng này."

Trong phòng đọc sách có một chiếc tủ âm tường. Tại một góc tủ, có một hồn ma mặc áo trắng đang đứng đó, không nói tiếng nào, cũng chẳng hề nhúc nhích, chỉ trân trân nhìn về phía chúng tôi.

Trở lại phòng khách an tọa, nữ chủ nhân lên tiếng: "Lư tiên sinh, anh nói không sai, phần lớn âm thanh đều phát ra từ phòng đọc sách. Người giúp việc và con gái tôi sợ nhất cũng chính là căn phòng đó. Âm khí dày đặc, khiến người ta cảm thấy trong lòng rất bất an. Anh có cách nào đuổi nó đi được không? Mà nó rốt cuộc là ai chứ! Chúng tôi chỉ mong rằng ít ra những lúc chúng tôi có mặt, nó đừng xuất hiện nữa."

Tôi trầm ngâm một lát rồi đáp: "Để tôi dán một lá phù trước đã rồi tính sau."

Tôi dùng giấy đỏ vẽ một lá phù Cửu Hổ Tinh Quân trấn trạch phách tà, rồi dán ngay lên cửa sổ kính. Xong xuôi tôi mới trở về nhà trọ của mình. Tôi nghĩ thầm, phù Cửu Hổ Tinh Quân trấn trạch phách tà uy lực rất mạnh, có Cửu Hổ Tinh Quân trấn giữ, tin chắc rằng hồn ma kia sẽ chẳng thể nào lọt vào nhà được nữa.

Thế nhưng, thực tế lại không hề đơn giản như tôi tưởng tượng. Sáng sớm hôm sau, hai vợ chồng chủ nhà đã vội vã chạy đến tìm tôi, kể lại một sự việc như thế này!

Sau khi dán phù, ngay nửa đêm hôm ấy, nam chủ nhân nghe có tiếng chuông cửa. Chuông bấm rất vội vã, tiếp đó là tiếng gõ cửa. Lúc này, bỗng nhiên có một giọng nữ trầm đục vang lên bên ngoài: "Các người đóng cửa như vậy, làm sao ta vào được đây!" "Các người đóng cửa, làm sao ta vào được chứ!"…

Nam chủ nhân bò dậy khỏi giường, nhìn qua lỗ mắt mèo trên cửa thì thấy một người mặc áo trắng đang đứng bên ngoài, không nhìn rõ là ai. Trong bụng sinh nghi, nửa đêm nửa hôm rốt cuộc là kẻ nào? Ông liền mở cửa.

Vừa mở cửa ra nhìn, bên ngoài trống trơn, chẳng có lấy một bóng người. Thế nhưng, đằng sau lưng lại truyền đến một âm thanh: "Ta vào nhà rồi." Nam chủ nhân quay đầu lại thì thấy ngay một bóng người áo trắng, tóc xõa rũ rượi che kín cả khuôn mặt. Kẻ áo trắng ấy vóc dáng cao lớn, thoáng chốc đã lại biến mất tăm. Nam chủ nhân tê rần cả da đầu, tay chân lạnh ngắt.

"Lư tiên sinh, anh nghĩ cách gì đi chứ!" - Vợ chồng chủ nhà nài nỉ.
"Chậc! Ca này phiền phức thật rồi. Giả sử chủ nhân không mở cửa, nó vốn dĩ không thể vào nhà được. Trong nhà đã có Cửu Hổ Tinh Quân trấn giữ cửa nẻo, nó gọi cửa suốt bảy ngày ròng mà không được thì tự khắc sẽ bỏ đi xa. Nay chủ nhân lại đích thân mở cửa, Cửu Hổ Tinh Quân thuận theo ý chủ, tự nhiên sẽ để hồn ma ra vào tự do."
"Thế giờ phải làm sao đây?"

Lần thứ hai đến ngôi nhà ma đó, tôi tra hỏi rõ ràng thì biết hồn ma khi còn sống mang họ Tạ, chết thảm cách đây bốn năm. Cô ta không có tâm hại người. Quả nhiên, người chủ trước của căn nhà này đúng thật là họ Tạ. Kẻ hèn này bèn cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát, nhờ Bồ Tát đứng ra hòa giải thay. Cứ vào ngày mùng một và rằm âm lịch hàng tháng, khi cúng dường Quan Thế Âm Bồ Tát thì đặc biệt bày thêm một chiếc bàn nhỏ để cúng tế hồn ma họ Tạ, do đích thân nữ chủ nhân tụng chú vãng sinh. Làm như vậy ắt sẽ được bình an vô sự!

Qua xác minh, nữ chủ nhân họ Tạ của bốn năm trước quả nhiên có vóc dáng cao lớn, và đúng là đã chết bất đắc kỳ tử. Linh hồn cô ta không chịu rời khỏi ngôi nhà để đi nơi khác, lẽ nào vẫn còn nỗi oán hận gì chăng?

Nhưng tin rằng từ nay về sau, ngôi nhà này đã có thể được yên ổn rồi!

05. Chân không bất không

Cảnh giới cao nhất của công phu thiền định là "chân không bất không", đây cũng là lời răn dạy tha thiết của Đức Thế Tôn trong "Kinh Kim Cang". Cả một bộ "Kinh Kim Cang" chỉ nói thẳng về "Không nghĩa", thế nhưng, người có thể thực sự đọc hiểu được lại chẳng có là bao.

Nếu có người học thiền mà không biết đến yếu nghĩa của "Kinh Kim Cang", thì tất thảy đều là vọng học, vọng tưởng. Công phu mà họ thành tựu được cũng chỉ ngang với "thiền chồn hoang" hay "thiền cóc nhái" mà thôi. Con người mà đi học thứ công phu thiền của chồn hoang và cóc nhái, không bị đọa vào đạo súc sinh thì mới là chuyện lạ đấy!

[Chân không bất không: Tạm hiểu là "tuyệt đối không nhưng lại chẳng phải là không". Trong cái "không" tĩnh lặng tuyệt đối (chân không) lại chứa đựng sự tồn tại mầu nhiệm, vô tận của vạn pháp (diệu hữu). Đây là tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã.
Thiền chồn hoang: Thuật ngữ trong Thiền tông, dùng để châm biếm những người tu thiền nhưng lại hiểu sai lệch Phật pháp, rơi vào tà kiến, thích tự cao tự đại mà cứ ngỡ mình đã giác ngộ.
Thiền cóc nhái: Ám chỉ những người tu thiền kiểu "tu mù", chỉ biết ngồi nhắm mắt lặng thinh, cứng đơ một chỗ y như con cóc, thể xác ngồi thiền nhưng tâm trí vô minh, không khai mở được trí huệ.]

Tôi từng nhập vào trạng thái thiền định hiếm có, thấy một con chồn và một con cóc cũng đang tĩnh tọa. Đầu con chồn đội một bức tượng Phật, hai tay chắp lại, liên tục quỳ lạy mặt trăng; khí hít vào thì dài, khí thở ra thì ngắn. Con chồn ấy dùng tâm cung kính bái nguyệt, lại đội tượng Phật trên đầu để đảnh lễ chư Phật. Còn con cóc thì ngồi xổm, thè lưỡi ra, liên tục hít khí vào không trung, bụng cứ phồng lên xẹp xuống, thi thoảng còn chồm lên nhảy về phía trước mấy cái.

Thiền công của hai loài súc sinh chồn và cóc chẳng qua cũng chỉ đến thế mà thôi. Nhưng, ngoảnh lại nghĩ đến bản thân mình cũng đang phỏng theo cách công phu như vậy, nếu chư thiên thần linh mà nhìn thấy, há chẳng bị cười cho thối mũi hay sao.

Thế rồi, rốt cuộc tôi cũng thấu hiểu được câu nói "chân không bất không" này. Mọi thứ trên thế gian hết thảy đều là hư ảo, thế nhưng, những điều chân thật lại hoàn toàn nằm ở chỗ tuyệt đối và tận cùng của trí tuệ tự thân. Giống như một chiếc bình, bên trong vốn dĩ rỗng không, nhưng bản thân chiếc bình lại là một sự chân thật.

Tôi nhận ra rằng, mọi yếu tố vật chất tạo nên bản thân tôi vốn dĩ là "không", nhưng trí tuệ lại là một sự chân thật không gặp mảy may chướng ngại. Cái tướng chân thật đó, chính là Đạo.

Thấy ánh mặt trời chiếu rọi và tỏa sáng rực rỡ, thấy vầng trăng treo cao nơi chân trời, dải ngân hà tựa như từng đóa hoa nhỏ màu trắng rải rắc giữa không gian màn đêm bao phủ. Dòng suy tư xuyên thấu qua tầng khí quyển của vũ trụ, tiến nhập vào một cảnh giới tuyệt đối, bước lên bảo tọa Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, phóng ra luồng hào quang vĩ đại không thể nghĩ bàn qua nghìn muôn triệu kiếp. Những điều này đều là sự chân thật, thế nhưng quá trình của nó cũng lại là "không vô sở hữu".
[Không vô sở hữu: Hoàn toàn trống rỗng, không bám chấp, không có thực thể cố định để nắm bắt. Ý tác giả muốn nói, dù những cảnh giới trải nghiệm kia vĩ đại và chân thật đến đâu, thì bản chất quá trình đạt được nó vẫn vắng bặt mọi vọng niệm, không dính mắc vào bất cứ tướng trạng nào.]

Có học trò hỏi tôi:
"Thưa thầy, chẳng phải thầy đã nhận lời chiều nay sẽ đến Cung Triều Phụng để lễ bái Ma Tổ hồi giá sao?"
"Tất nhiên là vậy, nhưng tôi đã lễ bái từ sớm rồi."
"Nhưng suốt cả ngày hôm nay thầy đâu có ra khỏi nhà, sao lại nói là đã lễ bái rồi?"
"Mọi tín chúng đều tưởng rằng mình đã giành được nén hương đầu tiên, nhưng kỳ thực nén hương đầu tiên là của tôi, tôi mới là người đầu tiên lễ bái Ma Tổ. Lễ bái Ma Tổ không nhất thiết người phải đến tận nơi, không nhất thiết phải có hương, không nhất thiết phải có cúng phẩm, cũng không cần phải chen lấn theo dòng người để tranh trước đoạt sau. Chỉ cần dùng định lực của chính mình trong "chân không bất không" mà hướng về lễ bái, thì sự lễ bái như thế mới là tôn quý nhất, đến cả Ma Tổ cũng phải kinh ngạc."

"Thưa thầy, thầy nói mình đã triều bái, vậy có bằng chứng gì không?"
Tôi đáp:
"Tôi đã lỡ đụng làm lệch chiếc mũ Thông Thiên của Ma Tổ Bồ Tát, còn tiện tay hái xuống một đóa hoa trên chiếc mũ ấy. Anh hãy đến đó chỉnh lại chiếc mũ cho ngay ngắn, rồi cắm lại đóa hoa ấy lên đi! Đi nhanh về nhanh."

Cậu học trò thở hổn hển chạy đi, rồi lại thở hổn hển chạy về. Vừa về đến nơi liền quỳ rạp xuống đất, nét mặt lộ rõ vẻ kinh ngạc: "Quả nhiên là vậy, quả nhiên không sai một ly, thầy quả nhiên là bậc phi phàm."

Tôi chỉ mỉm cười không đáp.

Trong "Đại Thừa Khởi Tín Luận" có một đoạn văn vô cùng quan trọng: "Nên biết rằng tự tính Chân Như, không phải là có tướng, không phải là vô tướng, không phải là 'chẳng phải có tướng', không phải là gồm cả có tướng và vô tướng; không phải là một tướng, không phải là khác tướng, không phải là 'chẳng phải một tướng', không phải là 'chẳng phải khác tướng', không phải là gồm cả một tướng và khác tướng; cho đến tóm lại mà nói. Bởi mọi chúng sinh do có vọng tâm, trong từng niệm đều sinh khởi phân biệt; thảy đều không tương ứng (với Chân Như), cho nên mới gọi là Không. Nếu lìa bỏ vọng tâm, thì thực chất chẳng có gì có thể gọi là Không cả."

"Còn nói về cái gọi là "bất không", là khi pháp thể đã hiển lộ, vì trống không mọi vọng niệm nên đó chính là chân tâm, thường hằng bất biến, các pháp thanh tịnh đều viên mãn đầy đủ, nên gọi là 'Bất Không'. Nhưng cũng chẳng có tướng trạng nào để có thể nắm bắt, bởi đó là cảnh giới lìa xa vọng niệm, chỉ có sự chứng ngộ mới tương ứng được mà thôi."

06. Viên Thông Quốc dưới lòng đất

Bên trong Trái Đất của chúng ta, có một thế giới mà tôi gọi là Viên Thông Quốc dưới lòng đất. Độc giả chớ vội không tin mà cho rằng tôi đang nói hươu nói vượn. Kỳ thực, tôi là một người xưa nay chưa từng nói dối, và luôn xem việc nói dối là điều đê tiện nhất trong trời đất.

Sự tồn tại của Viên Thông Quốc dưới lòng đất, khắp trên thế gian này, duy chỉ có một mình tôi biết đến. Nếu tôi không nói ra, thì trong tâm trí của con người, sẽ mãi mãi chẳng bao giờ biết đến sự tồn tại của thế giới này.

Thế giới Tây Phương Cực Lạc là do Phật A Di Đà thành tựu nên. Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn thấu được rằng "từ phương Tây này, qua mười vạn ức cõi Phật" là có thể đến được thế giới Cực Lạc. Còn Viên Thông Quốc dưới lòng đất của tôi thì chỉ cần qua một vạn ức cõi Phật là đã có thể đến nơi.

Thế giới này không giống với thế giới Tây Phương Cực Lạc, cũng chẳng giống với cõi trời, lại càng không giống cõi người, mà là thế giới vô ưu duy nhất. Ở đó không biết đến cái chết, cũng rất hiếm khi có sự sinh ra, không thiện không ác. Cho đến tận ngày trời đất hủy diệt thì thế giới này mới bị hủy diệt, có thể nói là thọ ngang trời đất vậy.

Tại đây, tôi xin tuyên bố trước, nếu có ai nguyện sinh về thế giới đó, chỉ cần thường xuyên niệm "Nam mô Đại Tự Tại Địa Để Hỏa Diệm Phật", thì tự nhiên sẽ được vãng sinh về Viên Thông Quốc dưới lòng đất. Sự thành tựu của thế giới này cũng thật không thể nghĩ bàn.

Người trong nước này thân cao hơn một trượng, trên đỉnh đầu ai nấy đều có vầng hào quang tròn, có thể bay lượn, vĩnh viễn thanh tịnh thường trụ. Mặt đất được trải bằng hoa sen, có những mái nhà tranh tự nhiên xinh đẹp. Nơi đó không có bốn mùa xuân hạ thu đông, ngày đêm ánh sáng chan hòa vô tận, không sinh lão bệnh tử, chẳng đói chẳng khát, ai nấy đều là bậc thánh nhân. Trong mười pháp giới, họ chỉ xuất hiện ở cõi người để trợ giúp những con người hiện tại tu đạo; thế nhưng, họ không hề lưu lại danh tính, nên chẳng ai hay biết đó là người của Viên Thông Quốc dưới lòng đất.

Nói đến đây, có lẽ sẽ có người hỏi tôi: Những người của Viên Thông Quốc dưới lòng đất có từng xuất hiện trên thế gian, cõi Ta Bà này hay chưa? Tôi xin đáp là có. Họ cũng được sinh ra làm người, và nếu đã sinh ra làm người thì ắt phải là thánh nhân. Họ xuất thế vì hòa bình thiên hạ, và cũng giáng sinh vì mục đích cứu vớt toàn nhân loại.

Những người chuyển thế từ Viên Thông Quốc dưới lòng đất, chỉ khi thân xác con người của họ cận kề cửa tử, thì hết thảy mọi chuyện mới trở nên rõ ràng, chứ không thì thiên cơ đã bị tiết lộ sạch cả rồi.

Thế nhưng, việc ngày hôm nay tôi đem toàn bộ bí mật phơi bày ra, thì lại là chuyện gì đây? Tôi cảm thấy điều này quả thật là ý trời. Ý trời cho rằng, dù tôi có nói ra, thì cũng sẽ chẳng có lấy một ai tin tưởng lời tôi nói. Do đó, việc nói ra cũng không có gì là quá đáng ngại cả.

Nguyên do tôi biết được thế giới này là như sau:

Một ngày nọ, tôi đang nhắm mắt dưỡng thần trong Phật đường nhỏ của mình. Đúng lúc thần quang vừa hơi xuất ra khỏi xác, từ trong thần quang ấy có hai người bước tới. Hai người này mặc cà sa vàng, chắp tay hành lễ, rồi sau đó bày tỏ rõ mục đích đến đây:
"Liên Sinh, chúng tôi đến từ Viên Thông Quốc dưới lòng đất, phụng theo ý chỉ của Đại Tự Tại Địa Để Hỏa Diệm Phật, mong ông trong cuốn sách tâm linh này, hãy tiết lộ về thế giới Phật của nước chúng tôi. Lấy công đức ấy để thức tỉnh thế nhân, giúp họ biết chắc chắn rằng thế giới tinh thần tâm linh là điều không thể nghĩ bàn, đừng mãi chấp trước vào vật chất mà lãng quên đi cái gốc rễ."
"Thưa hai vị thánh chân, Viên Thông Quốc dưới lòng đất có thật hay không, tôi vốn không rõ, vậy làm sao để chứng thực điều đó?"

"Sự xuất hiện của Viên Thông Quốc dưới lòng đất, vốn dĩ là vì cảm thương cho mọi học thuyết tư tưởng và sự nghiệp của nhân loại, chẳng những không thể miễn trừ được nỗi thống khổ và cái chết, mà ngược lại còn làm tăng thêm đau khổ và đẩy nhanh cái chết ấy. Người thế gian không có trí tuệ và khả năng siêu việt thế gian, tâm tư họ chỉ quanh quẩn trong cõi đời này, không tin có cõi trời, không muốn sinh lên cõi trời, cũng chẳng tin cõi Tây Phương, cho rằng đó là những điều hư vô viển vông. Bởi vậy, Đại Tự Tại Địa Để Hỏa Diệm Phật mới phát thề nguyện lớn muốn cứu vớt những kẻ không tin vào cõi trời hay Tây Phương kia, chi bằng hãy tin nhận thế giới dưới lòng đất. Vì nhờ tin nhận thế giới dưới lòng đất mà có được phúc báo để đắc được sự sống vĩnh hằng."

"Nhưng con người có thể tin nhận được sao?"
"Tuy biết rõ là không thể, nhưng cũng cứ thử xem sao."
"Thế Viên Thông Quốc dưới lòng đất có được ghi chép trong bất kỳ kinh điển nào trên đời không?"

Hai vị sứ giả trầm ngâm nhìn nhau một lúc rồi mới lên tiếng: "Chỉ duy nhất có một câu được tiết lộ trong một bộ kinh điển Lama của Mật Tông Tây Tạng, tiếng Tạng gọi là: Bardo (Trung ấm), thế giới này chính là thế giới dưới lòng đất."

Thế rồi linh hồn tôi xuất thần cùng hai vị sứ giả, cùng nhau tiến nhập vào Viên Thông Quốc dưới lòng đất. Tôi phát hiện ra nơi đó quả thực là một chốn bồng lai tiên cảnh, mọi cảnh sắc đều cực kỳ đẹp đẽ. Quần áo và thức ăn đều có thần thông tự tại như ý. Những người được vãng sinh về thế giới dưới lòng đất này, toàn bộ đều là những bậc cao nhân thoái ẩn qua các triều đại, tất cả đều mang nhân sinh quan xuất thế.

Cõi nước này không hề vương chút khói lửa trần gian, không sát sinh, chẳng tranh chấp, hoàn toàn là cảnh giới La Hán của các bậc thánh nhân. Trong mười pháp giới gồm bốn thánh và sáu phàm, chẳng ai hay biết nơi đây vẫn còn tồn tại một cảnh giới như thế, với những mái nhà tranh, rặng trúc, vạn vật đều toát lên một luồng khí tĩnh tại, an hòa và tự nhiên.

Đặc biệt khiến người ta chú ý là những ngọn núi nơi đây vĩnh viễn mang màu xanh biếc, không bao giờ già cỗi tàn phai; dòng suối ở đây vĩnh viễn tuôn chảy róc rách, không bao giờ ngưng đọng, không bao giờ mục nát. Ai nấy đều tự biết cách dưỡng khí, nên tuổi thọ sánh ngang trời đất, không già không bệnh. Ở nơi đó cũng chẳng có ai mang lòng ham muốn hay ước nguyện được bay lên cõi trời để hưởng lạc.

Sau khi linh hồn tôi từ chuyến thần du đến Viên Thông Quốc dưới lòng đất trở về, tôi thầm cảm thán trước sự vĩ đại của không gian vũ trụ. Những thế giới mà con người và thần thánh chưa biết đến mới nhiều làm sao! Còn nhân loại cứ tự cho rằng cõi người này là tuyệt diệu nhất thì kiến thức của họ quả thật là quá đỗi thiển cận rồi.

Đặc biệt là người đời nay, mải mê đắm chìm trong tiền tài, nữ sắc và của ngon vật lạ. Họ đâu biết rằng tiền tài vốn dĩ chẳng đáng một xu, sắc đẹp chỉ là một bộ hài cốt, còn của ngon vật lạ thì càng là những thứ huyết nhục ô uế. Chẳng biết tu đạo chứng chân, chỉ mưu cầu hưởng thụ trước mắt, để cho ba thứ độc là tham, sân, si trói buộc lấy thân. Nghiệp báo chẳng rời, mai này đầu thai sang cõi khác, thì chẳng còn mảy may một chút thanh tịnh nào nữa.

Hỡi những người bạn thân mến, các bạn hãy tin nhận lời tôi, nguyện vãng sinh về Viên Thông Quốc dưới lòng đất. Thế giới Phật quốc Tây Phương Cực Lạc là tồn tại chân thực, thế giới Phật quốc ở mười phương cũng là tồn tại chân thực, và đương nhiên Phật quốc Viên Thông dưới lòng đất cũng tồn tại một cách vô cùng chân thực.

Tôi và kinh điển Lama chính là nhân chứng, vật chứng.

07. Bảo kiếm Kim Cang Vương

Trong kinh Phật, ý thức được chia thành tám loại, đó là: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý, nhiễm ô, và tàng. Sắc sảo, linh hoạt nhất chính là ý thức; ngu si nhất chính là nhiễm ô thức; còn biến hóa khôn lường nhất chính là tàng thức. Tàng thức còn được gọi là a-lại-da, cái a-lại-da này chính là chủ nhân của tám thức, là vị đại chúa tể biến hóa ra thiên đường hay địa ngục, thành Phật tác Tổ hay đọa vào ngạ quỷ, súc sinh.

Theo lý mà nói, cái a-lại-da này chính là chân nhân của linh hồn, thế nhưng vị chân nhân này lại luôn ẩn mình đi. Thứ thực sự xuất đầu lộ diện bên ngoài lại là ý thức, thế nên ý thức mới tỏ ra sắc sảo, linh hoạt nhất.

Phàm phu ngồi thiền tĩnh tâm, tâm thần đâu dễ gì điều hòa ngay được. Đó chính là hiện tượng ý thức cứ mải mê chạy rông không dứt. Trong lúc ngồi thiền, ảo cảnh dễ rơi vào nhất của người bình thường chính là biển cả. Vì sao lại là biển cả? Bởi vì nếu đem ý thức ra so sánh với biển cả, thì quả thật chẳng còn hình ảnh nào có thể xác đáng hơn thế nữa.

Con người vừa mới tĩnh tọa thì rất khó để nhập định. Ý thức cứ mải mê chạy băng băng không ngừng nghỉ, hệt như một con ngựa hoang khó thuần phục, lồng lộn nhảy nhót không thôi. Bình thường người ta chẳng nhận ra, nhưng hễ ngồi tĩnh tọa lại là có thể cảm nhận được ngay rằng ý thức rốt cuộc khó điều phục đến nhường nào.

Cho dù có nhập định đi chăng nữa, thì thứ đầu tiên nhìn thấy cũng vẫn là biển cả, một vùng biển mênh mông thoắt ẩn thoắt hiện ra trong dòng suy tư, với từng đợt sóng cuồn cuộn trào dâng lớp này đến lớp khác. Còn cái tâm thì hệt như chiếc nôi, cứ chao đảo đong đưa qua lại. Thứ nhìn thấy lúc này lại được gọi là biển ý thức, ý thức ấy đã hóa thành những con sóng, vĩnh viễn cuộn trào chẳng bao giờ ngưng nghỉ.

Có người lúc tĩnh tọa lại không nhìn thấy biển cả, mà nhìn thấy từng đám mây trôi trên không trung. Những đám mây ấy có khi còn mang theo đủ màu sắc rực rỡ, từng mảng từng mảng cứ thế bay lượn, có lúc còn cuồn cuộn cuộn trào rất dữ dội.

Đây cũng là do sự biến hóa của ý thức mà sinh ra. Nếu mây cứ cuồn cuộn không ngừng, chứng tỏ cái tâm của người ấy cũng vẫn đang bất định. Ý thức cứ mải mê luẩn quẩn, luẩn quẩn trong tâm trí. Dù là biển cả hay mây bay, đó đều không phải là biểu hiện của công phu thâm hậu, mà ngược lại, đó chỉ là một loại ảo cảnh lúc ban sơ mà thôi.

Hồi đầu kẻ hèn này mới bắt đầu tĩnh tọa, cái tâm cũng đâu dễ gì điều phục được. Nhất là những lúc bận rộn với quá nhiều công việc trần tục, trong lòng ngổn ngang trăm mối bận tâm. Thêm vào đó người tìm đến kẻ hèn này lại đông, cả một ngày trời chẳng đào đâu ra được thời khắc nào để tĩnh tu. Công phu ngồi thiền lúc bấy giờ cũng hệt như ngồi uổng công vô ích, cứ hễ ngồi xuống là lại nghĩ ngợi vẩn vơ, đến mức tâm thần xuất du bay ra ngoài lúc nào cũng chẳng hay biết, đủ thấy tĩnh tọa vốn dĩ chẳng hề đơn giản chút nào. Ai không tin, cứ thử ngồi xem rồi sẽ biết lời tôi nói đâu có ngoa.

Đặc biệt, tĩnh tọa cần phải có sự bền bỉ, chẳng thể nào ngồi một ngày rồi lại nghỉ đến mười ngày, như thế thì chẳng có chút ý nghĩa gì cả. Phải ngồi cho đến khi tâm thần hoàn toàn tĩnh lặng thì mới coi là được. Lúc ấy nếu nhìn thấy biển, thì đó là cảnh trời êm biển lặng, hệt như một vùng đại địa màu xanh biếc; nếu nhìn thấy mây, thì mây và trời phân định rõ ràng, mây đã cố định không trôi. Đến lúc này, mới tạm coi là tâm đã hơi định lại rồi. Thế nhưng, cũng chẳng phải nói như vậy là đã thành công đâu.

Từng có một vị xuất gia dạy tôi rằng, khi ngồi thiền thì niệm Phật là tốt nhất, cũng là cách tốt nhất để chế ngự cái tâm. Tâm có tĩnh lại thì mới coi như gột sạch được những lo toan phàm tục, lúc ấy chư Phật Bồ Tát mới có thể nhập vào tâm, và như thế mới có duyên cảm ứng với chư Phật. Đã có duyên thì hạt giống ắt sẽ được gieo vào cõi Phật.

Vị ấy đồng thời cũng dặn tôi phải niệm "Nam mô Kim Cang Vương Bồ Tát".

Nghe xong, tôi liền dốc công tu tập theo phương pháp vị xuất gia ấy đã dạy. Tôi từng nhìn thấy một người khổng lồ, mặc mũ vàng giáp vàng, hai mắt trợn trừng giận dữ, mặt màu tía, râu tóc đều sáng rực, tay cầm một thanh bảo kiếm xanh lè đứng ngay phía sau lưng. Hễ thấy có đám mây đen nào bay đến, người khổng lồ kia liền dùng kiếm chém một cái, đám mây đen ấy lập tức hóa thành luồng khói đen mà tan biến mất.

Từ đó về sau, mỗi lần tĩnh tọa, tôi đều nhìn thấy một vị thiên thần khổng lồ đứng ngay phía sau lưng, thứ ngài cầm trên tay, rõ ràng chính là bảo kiếm Kim Cang Vương.

Vậy Kim Cang Vương Bồ Tát là thần thánh phương nào? Có phải là vị Hộ pháp của nhà Phật, là bậc quỷ thần đại lực, hay là thần Đại Phạm Thiên? Thực ra đều không phải. Kim Cang Vương Bồ Tát chính là thức thứ sáu của bản thân mình mà thôi.

Độc giả có lẽ sẽ vô cùng kinh ngạc: Ý thức vốn là thứ khó tận diệt nhất, làm sao lại có thể biến thành Kim Cang Vương Bồ Tát được? Bởi vì bản chất của ý thức vốn dĩ không thiện cũng không ác. Khi chúng ta tĩnh tọa, ảo cảnh vừa xuất hiện, liền dùng đại trí tuệ để chế phục, miệng tụng "Nam mô Kim Cang Vương Bồ Tát", ngay tức khắc hóa tâm ma thành thiên thần, biến thức thần thành vị thần hộ mệnh của chính mình.

Đây không phải là vấn đề có thể hay không thể, mà là vấn đề tu luyện. Kim Cang Vương Bồ Tát, những nhà nghiên cứu linh hồn ở phương Tây gọi là thiên thần hộ mệnh hoặc sứ giả giám sát, mỗi người đều có một vị; Đạo gia gọi là thức thần; còn tôi thì gọi là Kim Cang Vương Bồ Tát. Kim Cang Vương Bồ Tát có một thanh bảo kiếm trảm ma vô cùng sắc bén. Nhát chém ấy có hai mặt: không chém ma, thì chính là chém mình.

Tôi từng ngồi trên đỉnh núi, phóng tầm mắt ngắm nhìn vầng thái dương đang ló dạng ở phương Đông. Và trong vầng sáng đỏ rực rỡ ánh dương kia, một vị Hộ pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát toàn thân tỏa ánh kim quang chói lọi từ không trung bay ra, lượn một vòng quanh đỉnh núi nơi kẻ hèn này đang ngồi thiền. Tôi ung dung cúi đầu đảnh lễ Ngài, Ngài liền từ từ cất mình lên không trung rồi rời đi.

Thấy cảnh tượng ấy, tôi mừng rỡ tột độ, chạy như bay xuống núi để gặp Sư Tôn là Thanh Chân Đạo trưởng. Đạo trưởng lúc bấy giờ đang trồng rau, miệng ngâm nga câu hát rằng:
"Chém đứt mọi cảnh thấy,
Phát cuồng chớ nôn nóng,
Tùy thân ý biến hóa,
Kim Cang tức Bồ Đề."

"Sư phụ, con đã thấy Hộ pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát!" - Tôi lớn tiếng kêu lên.
"Chuyện đó chẳng có gì lạ cả." - Sư phụ thậm chí còn chẳng buồn ngẩng đầu lên.
"Sư phụ, con còn thấy cả Kim Cang Vương Bồ Tát nữa!"
"Lại càng không có gì lạ."
"Sao lại không lạ thưa sư phụ?" - Tôi thắc mắc hỏi.
"Tu thiền tức là nhập thiền, đâu đâu cũng là Kim Cang. Ánh sáng của tâm một khi đã dần phát lộ, thì sẽ sáng tỏ như mặt gương trong, trên thấu đến tận các cõi trời, dưới chiếu đến tận chốn Long Vương, chẳng có chướng ngại nào không dứt, chẳng có trí tuệ nào không vẹn toàn. Việc con thấy Hộ pháp, thấy Kim Cang, tất cả chỉ là sự biến hóa vô lượng của ý thức, do tâm hoan hỷ mà thị hiện ra đó thôi. Ngoài việc phải dốc công tu tập gắt gao hơn nữa, tuyệt đối không được tự cho thế là đủ rồi sinh tâm tự mãn. Nhớ kỹ! Nhớ kỹ!" - Sư phụ răn dạy.

Nghe xong, tôi xấu hổ đến mức toát mồ hôi, chỉ muốn độn thổ cho xong.

08. Trục quỷ

Xưa nay tôi vốn không sợ ma quỷ, bởi tôi tự nhận mình là người có chính khí trong lòng nên chẳng e sợ bất cứ điều gì, huống hồ tôi lại là người tu đạo. Sư phụ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh cho rằng linh hồn của tôi đã có thể tự chủ, căn bản chẳng có gì phải kinh sợ cả. Chỉ cần bản thân giữ vững được đạo "Tiên thiên thần quang" nguyên thủy, thì đến cuối cùng, tà vẫn luôn không thể thắng chính. Bởi lẽ, "Tiên thiên thần quang" ấy chính là Phật tính, là một luồng ánh sáng nguyên thủy tự tại, là thuần dương tổ khí.

Những chuyện kỳ lạ mà tôi từng trải qua, nếu như đem phơi bày ra toàn bộ, thì ai nấy hẳn đều phải kinh ngạc đến mức trầm trồ tột độ! Do tôi từng viết vài bộ sách tâm linh, nên rất nhiều chuyện quái dị tự nhiên cứ thế vận vào thân tôi. Những dòng ghi chép chân thực này, e rằng sẽ khiến cho những kẻ không tin vào sự tồn tại của linh hồn phải lắc đầu quầy quậy.

Sáng thứ Bảy, tôi được nghỉ ở nhà, bà Tăng và bà Giang sống ở khu Tây thành phố Đài Trung, cùng nhau đến thăm. Họ chưa từng đến tệ xá bao giờ, chỉ là đã từng đọc hai cuốn sách do tôi viết là "Mạn đàm linh cơ thần toán" và "Giữa linh và tôi".

Bà Tăng nói, bà ấy cảm thấy ngôi nhà của mình có điều gì đó rất cổ quái. Có lúc tự nhiên bà muốn bật cười thành tiếng, có lúc lại có cảm giác như đang bị ai đó theo dõi, nửa đêm thường hay giật mình tỉnh giấc, trong lòng sinh ra nỗi sợ hãi, nên đến cầu xin tôi chiêm toán giúp bà ấy một quẻ.

"Nhà có điều cổ quái, vậy để tôi vẽ cho bà một lá phù trấn tà đem về dán nhé!" - Tôi nói.
"Vâng, tốt quá."

Thế nhưng, chuyện kỳ lạ đã thực sự xảy ra ngay lúc đó. Khi tôi cẩn thận vẽ xong lá phù, hà lên một hơi, chấm hai điểm vào phần đầu và đuôi phù, rồi vừa nhấc ấn thần lên chuẩn bị đóng xuống, thì sắc mặt bà Tăng đột nhiên biến đổi dữ dội. Bà ta trợn tròn hai mắt, quát lớn vào mặt tôi:
"Lư Thắng Ngạn, ngươi không được đóng! Ngươi không được đóng! Ngươi mà đóng xuống, ta và ngươi sẽ mãi mãi không xong đâu! Không tin, ngươi cứ thử xem!"

Lúc này, bà Tăng hoàn toàn biến thành một người khác. Bà Giang đi cùng chứng kiến cảnh đó thì kinh hãi đến mức sợ ngây người.

Tôi quay đầu nhìn bà Tăng, gương mặt bà ta hầm hầm giận dữ, đôi mắt như muốn phun ra lửa. Lúc này, tôi biết người trước mặt không còn là bà Tăng nữa, mà đã bị tà ma nhập vào thân. Tôi liền cầm ấ thần nhắm thẳng lên đầu bà ta mà đóng xuống. Thế nhưng, bà ta ngẩng đầu đón lấy, há miệng rộng, kỳ lạ thay lại hà ra một luồng khói vàng đặc xịt. Luồng khói vàng ấy đỡ chặn lấy ấn thần, khiến tay tôi cầm ấn thần cứ bị xoay vòng, xoay vòng liên tục. Mãi đến cuối cùng tôi mới đóng trúng được ấn lên trán bà ta.

Bà ta khựng lại một nhịp, rồi đột nhiên quỳ sụp xuống, hướng về phía tôi dập đầu liên hồi mà nài nỉ: "Ông Lư, xin hãy tha cho tôi! Ông Lư, xin hãy tha lỗi, làm ơn lau vết ấn trên trán đi cho!"

Thấy bà ta khóc lóc thảm thiết, tôi tiện tay cầm một mảnh vải lau đi vết ấn trên trán. Bà ta liền bật dậy, ngồi xuống một cách lặng lẽ, thần sắc không còn hung tợn như ban nãy nữa.

"Ngươi tên là gì?"
"Lý Võng Thị."
"Bao nhiêu tuổi?"
"40 tuổi."
"Ngươi và bà Tăng có oán thù gì? Tại sao ngươi lại đến quấy phá bà ấy?"
"Chồng trước của bà Tăng làm ăn thất bại, đã tự sát qua đời từ bảy năm trước. Hai người họ từng thề nguyền rằng bà ấy không được tái giá. Thế nhưng, bà Tăng lại bất nhân bất nghĩa đi lấy chồng khác. Người chồng trước không cam tâm, nên đã nhờ Lý Võng Thị tôi nhập xác quấy nhiễu, hút lấy tinh khí, khiến bà ta chán nản phiền muộn mà chết. Đó chính là lý do chủ yếu tôi xuất hiện ngày hôm nay."
"Ngươi rời khỏi bà ấy được không?"
"Không, tôi mà rời khỏi bà ta thì sẽ không còn nơi nương tựa."
"Vậy thì ngươi cứ ở lại chỗ của ta đi!"
"Không, tôi muốn nhập vào người của ông cơ."
"Nhập vào người ta sao!" - Tôi không khỏi giật mình kinh hãi. Nhà tôi là Lư Lệ Hương sợ hãi kêu lên thất thanh, còn bà Giang lại càng luống cuống không biết làm sao.
Tôi nói:
"Đến đây! Ta chẳng sợ gì cả."

Tay tôi kết ấn, ấn này chính là xích vàng Bát quái. Tôi biết con quỷ này rất gian xảo. Khi bà Tăng vừa đứng dậy, tôi liền niệm: "Tỏa thiên thiên thanh, tỏa địa địa linh, tỏa nhân trường sinh, tỏa quỷ diệt vong." [Khóa trời trời trong, khóa đất đất linh, khóa người sống lâu, khóa quỷ diệt vong.]

Tôi nhanh chóng hà hơi rồi vung tay phóng ấn ra. Bà Tăng ngã chúi người xuống ghế sofa không gượng dậy nổi. Một lúc sau, bà ấy dần dần tỉnh lại. Người tỉnh lại lúc này không còn là Lý Võng Thị nữa, mà đã là bà Tăng rồi.

"Ủa! Vừa rồi tôi đã làm gì vậy?"
"Bà thật sự không biết chút gì sao?" - Bà Giang hỏi.
"Tôi chẳng biết gì cả."

Tôi cũng đã đóng ấn lên lá phù trấn tà và dặn bà ấy đem về treo trước cửa. Tôi biết Lý Võng Thị sớm muộn gì cũng sẽ lại đến tìm bà Tăng gây rắc rối. Thế giới cõi âm quả thực có rất nhiều chuyện phức tạp và nan giải, những ân ân oán oán trong đó chẳng phải sức lực của một mình tôi có thể chống đỡ nổi. Nhất là trong chuyện này, ai đúng ai sai còn chưa biết chừng cơ mà! Đây quả thực là một sự việc khiến người ta phải thở dài cảm thán.

(Lời cuối: Bài viết này là người thật việc thật, nhưng tên thật vẫn cần phải được giữ kín, bởi danh dự dẫu sao cũng là sinh mệnh thứ hai của con người. Chuyện ma quỷ nhập xác tôi đã chứng kiến quá nhiều rồi, nhưng phần lớn đều là do đôi bên có ân toán kiếp trước với nhau, một số là đến để báo thù. Theo những gì tôi biết, trong giới y học có một loại bệnh tâm thần gọi là chứng đa nhân cách, nghiêm trọng hơn chút nữa chính là chứng tâm thần phân liệt. Căn bệnh đa nhân cách phân liệt này, trước khi phát tác thì là một người bình thường, sau khi phát tác lại biến thành một người khác, thậm chí đến cả giọng điệu cũng thay đổi, tính tình hoàn toàn khác biệt như hai người xa lạ, ký ức cũng hoàn toàn đứt đoạn so với lúc bình thường. Thể xác tuy chỉ có một, nhưng linh hồn lại là hai, chỉ có thế mà thôi.)

09. Thánh hỏa bất diệt

Tại Ấn Độ, Bà La Môn giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất. Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập nên Phật giáo, và trong giáo lý của Phật giáo có rất nhiều điều được chắt lọc từ Bà La Môn giáo. Nguyên do là bởi khi Phật Thích Ca Mâu Ni đi tìm đạo và cầu đạo, ngài đã từng theo học các vị tu sĩ của Bà La Môn giáo, điển hình như tiên nhân Bạt Già (Bhargava).

Đối với những người tu đạo của Bà La Môn giáo, công phu bề ngoài của họ chính là thuật Du Già (Yoga). Thuật Du Già chân chính là phải "nội ngoại kiêm tu" [tu cả bên trong lẫn bên ngoài]. Những hành giả tu tập thuật Du Già cũng sở hữu linh thông, có rất nhiều năng lực linh thông thần kỳ đến mức khiến người ta khó lòng tưởng tượng nổi. Những hiện tượng này chính là biểu tượng cho sự bất tử của linh hồn.

Bà La Môn giáo gọi linh hồn là "Chuyết hỏa", còn tôi thì gọi linh hồn là "Thánh hỏa". Tất cả những gì có hình có tướng rồi cũng sẽ tàn lụi và tan biến trên mặt đất này, chỉ có linh hồn vô hình vô tướng kia mới thực sự là chủ nhân của vũ trụ.

Các tu sĩ Bà La Môn giáo gọi phương pháp làm cho linh hồn tái hiện là sự thăng lên của Chuyết hỏa, đó cũng chính là một dạng hoạt động của linh hồn. Họ cho rằng sự xuất hiện của linh hồn có hai loại: hoạt động bên trong cơ thể và hoạt động bên ngoài cơ thể. Hoạt động bên trong cơ thể thuộc về pháp Tiểu thừa, còn hoạt động bên ngoài cơ thể thuộc về pháp Đại thừa. Sự vận động bên trong cơ thể ấy chính là Nhân thiên thừa của chúng ta, còn hoạt động bên ngoài cơ thể thì được gọi là xuất thần hoặc là đắc đạo.

Tôi nghiên cứu về linh hồn, lấy chính bản thân mình làm một loại thử nghiệm về linh lực, và phát hiện ra rằng sự tồn tại của "nhân tử linh" là một hiện tượng bất sinh bất diệt. Nếu không có ngoại lực hay tự lực thúc đẩy, thì về cơ bản nó ở trạng thái tĩnh lặng. Tư tưởng học thuật này có thể được nhận thấy một cách khái quát thông qua lượng tử học.

Mục tiêu nghiên cứu tiếp theo của tôi nằm ở việc dùng các con số để biểu diễn chu kỳ truyền dẫn của linh hồn. Sự lan truyền của linh hồn có một tần số, mà đã có tần số thì ắt phải có chu kỳ. Nếu cố định được chu kỳ này trên máy ảnh, thì nhất định có thể làm cho hình ảnh của linh hồn hiển hiện ra. Có như vậy, ắt hẳn mới chứng minh được rằng học thuyết tâm linh của tôi hoàn toàn không phải là những lời sáo rỗng vô căn cứ.

Những thành tựu mà linh hồn học mang lại quả thực phi phàm. Điều này có thể minh chứng cho di truyền học, khoa học tự nhiên, thuyết tiến hóa, thuyết tương đối và quy luật nhân quả luân hồi, thực sự mang lại một bước tiến lớn đối với giá trị sinh tồn của nhân loại. Dựa vào học thuyết "Thánh hỏa bất diệt" của tôi, ta có thể chứng minh được rằng đời người rốt cuộc vẫn có giá trị của nó, chứ không phải cái gọi là đến tay trắng, đi trắng tay, chẳng có một chút giá trị sinh tồn nào cả.

Chân lý về lục đạo luân hồi cũng chính là minh chứng cho "Thánh hỏa bất diệt". Con người chỉ cần có thể giống như các vị đại sư Yoga, đưa linh hồn của mình thăng lên từ Hải để luân, tiến vào dải tư tưởng, thì có lẽ sẽ có thể khéo léo bắt gặp được tiền kiếp của chính mình, nhớ lại được tiền kiếp của chính mình. Sự nảy sinh của hiện tượng này chính là hiện tượng của những người đắc Túc mệnh thông. Xưa nay trong và ngoài nước có rất nhiều người sở hữu bản lĩnh này, và kết quả sau khi đối chiếu xác minh, thường là chính xác không hề sai lệch. Ký ức về tiền kiếp của kẻ hèn này vô cùng rõ ràng, tôi cũng biết được cả tên gọi ở kiếp trước của mình, đủ thấy quan điểm này hoàn toàn không phải là hư vọng.

Người bình thường, sau khi sinh ra, linh hồn liền rơi vào trạng thái tĩnh lặng. Còn sau khi con người chết đi, linh hồn mới vùng thoát khỏi sự trói buộc của "vị thần hộ mệnh" và dần dần thức tỉnh. Thời gian thức tỉnh sớm hay muộn đều khác nhau, mỗi linh hồn sẽ tùy theo linh luật mà chuyển sinh đến một nơi khác. Những linh hồn này phải chịu sự chi phối của linh luật nghiệp báo, hoàn toàn không thể tự chủ. Có thể nói cứ luân hồi một vòng, trăm vòng, rồi nghìn vòng, mãi mãi cứ quay cuồng đảo điên như thế, vĩnh viễn không có ngày chấm dứt.

Thế nhưng, sự kỳ diệu của giới tự nhiên luôn luôn là như vậy. Giống như nước, bốc lên thành hơi, hơi hóa thành mây, mây lại thành mưa, và mưa thì lại là nước; chốc lát là thể lỏng, chốc lát là thể khí, rồi chốc lát lại là thể rắn. Con người cũng giống y như vậy, lúc thì là noãn sinh, lúc thì là thai sinh, lúc thì là thấp sinh, và lúc thì là hóa sinh. Đạo lý này cứ ngẫm nghĩ ắt sẽ thấu hiểu, mà đem ra kiểm chứng cũng sẽ thấy vô cùng diệu kỳ.

Có rất nhiều người cho rằng, cuộc đời vốn dĩ không công bằng, cũng chẳng hề bình đẳng. Thế nhưng, tôi lại cho rằng đó chỉ là một góc nhìn hạn hẹp. Nếu xét theo nghĩa rộng về mặt linh hồn, thì mọi linh hồn đều bình đẳng như nhau. Tuy nhiên, nếu bạn chỉ chăm chăm nhìn vào cái trước mắt, thì không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả mọi thứ sẽ hiện lên thật bất công.

Cho nên tôi mới nói: "Sự bất công chồng thêm một lần bất công nữa, thì chính là công bằng, điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật nhân quả, và đây cũng là một minh chứng rõ ràng cho thuyết Thánh hỏa bất diệt."

Một cô gái xinh đẹp đến tìm tôi. Cô ấy đã ngoài 30 tuổi, chưa kết hôn, ngoại hình rất đỗi mặn mà, nhà ở Chương Hóa, gia cảnh lại vô cùng giàu có. Điều kỳ lạ là đường tình duyên của cô ấy lại luôn gặp trắc trở; lần nào cũng vậy, cứ hễ sắp thành công đến nơi thì lại tan vỡ. Cô ấy bèn hỏi tôi nguyên nhân do đâu.

Kết quả mà tôi chiêm toán được lại là thế này: Vị thần hộ mệnh của cô gái này chính là người chồng ở kiếp trước của cô. Tình yêu sâu đậm nên cũng sinh ra lòng đố kỵ; chính vì mang tình ý sâu nặng nên nhờ nhân duyên đó mà anh ta trở thành thần hộ mệnh của cô, không cho phép bất kỳ kẻ nào được xâm phạm đến cô. Thỉnh thoảng cô ấy cũng khởi lên ý niệm muốn đi xuất gia, tất cả những điều này thực chất đều là do vị thần hộ mệnh kia giở trò quấy phá mà ra cả.

"Có thể hóa giải được không?"
"Không có cách nào hóa giải cả. Mỗi người chỉ có một vị thần hộ mệnh. Anh ta hy vọng cô xuất gia nên mới cố ý phá hỏng nhân duyên của cô. Ngoài nguyên nhân đó ra, chẳng có một lý do nào khác là hợp lý cả."
"Thì ra là vậy, thì ra là vậy."
"Tôi chiêm toán thấy vận mệnh tương lai của cô vẫn là sẽ đi xuất gia. Cô có một người cô ruột đang tu xuất gia tại chùa Phượng Sơn ở Đào Viên, đúng không?"
"Đúng vậy." - Cô ấy giật mình thảng thốt. Lấy làm lạ không hiểu sao tôi lại biết được.
"Không cần phải ngạc nhiên, là anh ta nói cho tôi biết đấy." - Tôi chỉ tay lên đỉnh đầu cô ấy. Trên đầu cô đang có một vị thần hộ mệnh đứng đó, chỉ tiếc là bản thân cô lại chẳng thể nào nhìn thấy được!

Đời người, thường hay phải chịu sự quấy nhiễu của các linh hồn, vận mệnh dường như đã được định sẵn một nửa. Thế nhưng, vận mệnh của con người cũng có thể do tự bản thân mình đi khai sáng. Điểm này vô cùng quan trọng. Nếu không có năng lực khai sáng mà cứ cam chịu phục tùng số phận, thì ngược lại, ta sẽ trở thành tù binh của vận mệnh.

10. Cảm giác chết

Ông Liêu Thụy Khanh, một thương gia giàu có ở miền Trung, và ông Lâm, ông chủ của một xưởng sắt thép lớn ở Phong Nguyên, đã mời tôi đến xưởng của họ để xem địa lý. Buổi trưa, khi đang dùng bữa tại khách sạn Lập Nhân trên đường Ngũ Quyền, Đài Trung, ông Lâm ở Phong Nguyên đang lúc cao hứng đã kể cho tôi nghe một chuyện. Ông ấy nói đây là cảm giác về cái chết do chính bản thân ông trải nghiệm, hoàn toàn không phải là giả, và hy vọng sau này tôi viết sách thì hãy ghi lại cảm giác về cái chết này vào trong sách.

Ông Lâm có nước da rất ngăm đen, chuyên sản xuất các loại ống thép như ống nước máy, vòi nước... xuất khẩu sang Indonesia, Thái Lan, Malaysia và nhiều nơi khác, mang về không ít ngoại tệ cho quốc gia. Ông thường xuyên xuất ngoại và hoạt động rất sôi nổi ở khu vực Đông Nam Á. Tôi và ông ấy vừa gặp đã thân thiết như người quen cũ dẫu tôi mới chỉ ngoài 30, còn ông ấy đã hơn 50 tuổi, nhưng chúng tôi lại trở thành những người bạn vong niên. Ông ấy nói: Đời người sống thực chất là để tranh một hơi thở, nếu không phải vì tranh một hơi thở ấy, thì cớ sao phải vất vả đến nhường này?

Cảm giác về cái chết của ông ấy như sau:

Năm ông Lâm mười mấy tuổi, máy bay Mỹ ném bom Đài Loan (lúc bấy giờ đang do chính phủ Nhật Bản chiếm đóng). Thời đó, mỗi ngày thường có đến hai lần phải chạy còi báo động. Có một lần, còi báo động lại vang lên, ông ngẩng đầu nhìn lên không trung. Chao ôi! Tổng cộng có tới sáu chiếc bay đến, bom nổ tung trên mặt đất, tiếng ầm ầm nổ rền không dứt bên tai.

Ông Lâm trốn vào một hầm trú ẩn gần đó. Ngay sau đó, lại có hơn hai mươi người cả nam lẫn nữ cùng nhau chui tọt vào trong hầm. Không khí trong hầm trú ẩn rất vẩn đục ngột ngạt, chỉ có một lối vào và một lối ra, hoàn toàn không có thiết bị thông gió đặc biệt nào. Khắp nơi xa gần đều vang lên tiếng bom rơi đạn nổ. Ông Lâm nhắm nghiền mắt, bịt chặt tai, há to miệng, người nằm rạp xuống đất, ông cứ thế làm y theo những gì nhà trường đã chỉ dạy.

Đúng lúc này, thật tình cờ làm sao, một quả bom lại nổ tung ngay trên nóc hầm trú ẩn ấy. Sau một tiếng nổ rung trời lở đất, toàn bộ đất đá đổ sập xuống. Ông Lâm tự kể lại rằng, lúc đó ông chỉ cảm thấy đầu váng mắt hoa, rồi cứ thế ngất lịm đi.

Không biết đã qua bao lâu, ông nghe thấy tiếng ồn ào xôn xao của rất nhiều người, có tiếng ai đó hô lớn: "Mọi người mau đi thôi! Sắp đến giờ rồi." Ông Lâm tự cảm thấy thân thể mình cũng nhẹ bẫng, giống như chẳng vướng bận chút vật chất nào mà lơ lửng giữa không trung vậy. Thế giới ấy vô cùng mát mẻ, không còn cảm giác nóng bức ngột ngạt nữa, hệt như đang ở trong một căn phòng có máy lạnh thổi cực mạnh.

Bốn bề vô cùng u tối tĩnh mịch, chỉ có duy nhất một tia sáng. Đám người ồn ào kia cứ nhắm thẳng hướng tia sáng ấy mà tiến tới. Lúc bấy giờ, trong lòng ông Lâm chẳng hiểu mô tê gì, cứ vô thức đi theo sau đám người kia. Thân thể giống như đang bay, chỉ cần hơi rướn mình một chút là đã có thể bay vút về phía trước.

"Ồ! Đứa trẻ theo đuôi này là ai vậy?" - Có tiếng một người phụ nữ cất lên.
"Đó chẳng phải là cậu cả nhà họ Lâm sao?" - Một người khác nói.

Ông Lâm nhìn kỹ người đó, thấp thoáng nhận ra đó chính là ông Đẩu, bố của thằng Hùng ở nhà kế bên.

Xung quanh vẫn rất tối tăm, chẳng thể nhìn rõ được cảnh vật bốn bề. Ông Lâm cứ bàng hoàng đi theo đám người kia, chẳng bao lâu sau thì đến trước một cánh cổng đá. Cổng đá đang mở hé, tất cả mọi người liền xếp hàng lần lượt bước vào. Ông Lâm đi tận cùng hàng cuối, nhưng vừa đến lượt ông bước vào thì đột nhiên có tiếng ai đó nói: "Đứa trẻ này không có tên trong danh sách, mau đóng cửa lại đi!"

Ngay lúc đó, cánh cổng từ từ khép lại. Ông Lâm đứng trơ trọi ngoài cửa, chẳng biết phải làm sao.

Ông ấy cứ thế nhẹ bẫng quay trở lại theo con đường cũ. Chẳng biết bao lâu sau, trong cơn mê man, ông dần dần mở được mắt ra. Cảm thấy toàn thân dính đầy bụi bặm, đầu nặng trĩu, hóa ra có một khúc gỗ lớn đã đập thẳng vào đầu ông. Rồi ông nghe có tiếng ai đó hô lên:
"Ủa! Thằng bé kia vẫn còn sống!"
"Chỉ còn đứa bé này là sống sót thôi."
"Đó là cậu cả nhà họ Lâm."

Có người đến đỡ ông, nhưng ông chẳng gượng dậy nổi. Trước mắt là mấy thi thể nằm la liệt, ngổn ngang. Sau khi khó nhọc cố gượng đứng lên, ông đột nhiên thấy đầu nặng trĩu, mắt hoa lên, chân cẳng rụng rời. Xung quanh vẫn còn người đang đào bới đất đá, vẫn còn người bị vùi lấp bên dưới.

"Đây là ông Đẩu." - Một thi thể vừa được đào lên từ trong đống đất.
"Oa! Bố ơi! Bố ơi!" - Ông nghe thấy tiếng gào khóc thảm thiết của thằng Hùng.

Sau khi được người ta dìu về nhà và chữa trị một thời gian, may mắn thay thân tâm ông cũng dần hồi phục. Giờ đây nhớ lại chuyện cũ, lòng ông vẫn không khỏi bàng hoàng. Bây giờ ông đã ngoài 50 tuổi, sự nghiệp lại lớn mạnh đến nhường này, quả thực là điều không ai có thể ngờ tới.

"Cảnh giới đó của tôi, có phải là linh hồn xuất du không?"
"Nói ra thì đúng là linh hồn xuất du không sai đâu." - Tôi đáp.
"Cho nên tôi rất tin vào sự tồn tại của linh hồn, bởi vì cảm giác suýt chết ấy để lại cho tôi ấn tượng thực sự quá đỗi sâu sắc. Hiện tại tôi như được sống thêm một đời nữa, mạng sống này quả thực quá đỗi trân quý. Tuy nhiên, tôi cảm thấy cái chết hoàn toàn không đáng sợ, cái chết diễn ra trong chớp mắt, đến cả sự đau đớn còn chẳng kịp cảm nhận được cơ mà! Thế nhưng, tại sao ai ai cũng đều rất sợ chết nhỉ?!"

"Bởi vì họ luôn cho rằng chết là mọi thứ đều chấm dứt, không biết rằng chết đi rồi vẫn còn sự sống. Sinh sinh tử tử vốn dĩ là chuyện rất bình thường. Nỗi sợ hãi khi không biết được chết rồi sẽ ra sao, từ đó nảy sinh ra tâm lý kinh hoàng. Thực ra âm phủ lại là một thế giới vô cùng mát mẻ trong lành. Ở thế giới đó, mọi thứ cũng xấp xỉ như ở nhân gian. Những người đã chết chẳng hề muốn quay lại dương gian chuyển thế làm người nữa, và những người ở dương gian cũng chẳng muốn xuống âm phủ làm ma quỷ. Cảm giác tâm lý này đều giống y như nhau cả thôi."
"Thì ra là vậy." - Ông Lâm gật gù.
"Câu chuyện này là thật hay đùa?" - Ông Liêu Thụy Khanh hỏi.
"Chúng ta là bạn bè, tôi dám thề rằng, từng câu từng chữ đều không hề dối trá." - Ông Lâm nói một cách quả quyết.

11. Sáu cơn chấn động lớn

Người tu thiền, trong trạng thái "tĩnh không bất diệt", thường hay nảy sinh hiện tượng toàn thân rung lắc. Sự rung lắc không thể tự chủ này khiến cho người tập thiền định luống cuống không biết làm sao, thậm chí sinh ra nỗi sợ hãi tột độ, nơm nớp lo sợ bị tẩu hỏa nhập ma mà chẳng dám tiếp tục ngồi thiền nữa. Sức mạnh rung chấn này đến từ khoảng không hư vô, người thiền định muốn dùng sức kháng cự lại nó cũng không thể nào làm được. Đây chính là sáu cơn chấn động lớn, và cũng là một dạng của hiện tượng "linh động".

Sức mạnh chấn động này không phải do tự lực tạo ra, cũng không phải do sức mạnh của ý thức. Bởi lẽ luồng sức mạnh này không xuất phát từ tay hay chân, mà thậm chí từ sâu bên trong nhục thể cho đến lớp cơ bắp bề ngoài, tất cả đều nảy sinh một sự rung giật đều đặn. Sự rung giật kỳ lạ này, nếu không đích thân thâm nhập vào cảnh giới đó thì không thể nào thấu hiểu nổi.

Theo tôi được biết, đây là một biểu hiện vi diệu khi linh hồn vừa mới thức tỉnh. Những người thực hành thiền định, tĩnh tọa rất dễ dàng cảm nhận được trải nghiệm này. Trong trạng thái đó, tuyệt đối đừng sinh tâm kinh sợ, nhưng cũng phải đặc biệt cẩn trọng, bởi lẽ thời khắc "tẩu hỏa nhập ma" thường xảy ra ngay chính lúc này. Ranh giới phân định giữa việc thành thánh hay thành ma cũng nằm ngay tại thời khắc này.

Tôi khuyên mọi người nên trì niệm Phật hiệu hoặc Mật chú. Bởi lẽ khi trì niệm Phật hiệu hoặc Mật chú trong thời gian dài, công phu càng sâu thì định lực của tâm càng mạnh, lúc đó mới có khả năng phân biệt được đâu là ma, đâu là thần. Khi xảy ra hiện tượng linh động, nếu xuất hiện sự cảm thông, tuyệt đối không được tin tưởng hoàn toàn. Bởi vì bên trong đó có thể cất giấu tín hiệu của ma quỷ, những gì chúng chỉ dẫn chưa chắc đã hoàn toàn chính xác.

Đôi khi chúng dẫn dụ người đang tu thiền định đi vào ma cảnh. Nếu đã rơi vào ma cảnh mà không thể tự giác ngộ, đó chính là tẩu hỏa nhập ma, trở thành người tâm thần bất ổn hoặc tâm thần phân liệt. Điểm này vô cùng quan trọng, tuyệt đối không được sơ suất. Nếu quá dễ dàng tin nghe theo chúng, thế là xong đời!

Sự trỗi dậy đột ngột của linh hồn biến thành một "hoạt linh" [linh hồn sống], tạo ra sáu loại chấn động lớn trong nhục thể. Tại thời khắc này, nếu tâm niệm chân chính, sẽ được Phật linh gia hộ, mọi việc đều nương theo chính pháp mà hành trì, từ đó có thể chứng đạo thành chân.

Nhưng nếu ngay lúc này, chính niệm đã mất, không có chư Tiên Phật tương trợ, lại cảm thông với ma linh, khiến tâm trí điên đảo mê loạn, tà thuyết tà pháp xuất hiện. Lúc đó không những không đắc đạo, mà ngược lại còn hành động quái gở, thực hành dị pháp, đi ngược lại với người bình thường, tinh khí ngày ngày tiêu hao. Đến lúc này mà vẫn chấp mê không ngộ thì đã bước vào ma đạo rồi!

Và hãy luôn ghi nhớ hai câu nói của tôi:
"Tâm Phật chính là tâm bình thường, không có sự phân biệt với chúng sinh."
"Ma pháp chính là pháp quái dị, rời xa mọi tình lý tức là nhập ma."

Ở đây, tôi xin trích dẫn bức thư của bác sĩ Hứa ở Cao Hùng để làm bằng chứng:

"Kính gửi pháp sư Liên Sinh!
Hôm trước đến tận phủ viếng thăm, đã được ngài chỉ dạy nhiều điều, lại ban cho một lá linh phù để giúp đệ tử khởi linh. Sau khi về nhà, tôi hành pháp theo đúng sự chỉ dẫn của linh sư, kết quả thật khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Bởi mọi việc đều diễn ra đúng y như những gì linh sư đã nói, sự chấn động đó quả thực người phàm không thể nào khống chế nổi. Từ chân, bụng, hai tay, cho đến đầu tôi dần dần lắc lư, chao đảo.

Thế nhưng, luồng sức mạnh ấy quá lớn, đến cuối cùng dường như cả mặt đất đều đảo lộn và chấn động, khiến tôi ngã từ trên ghế bệt xuống đất, cả người nằm rạp ra. Mồ hôi tuôn chảy không ngừng, nhịp tim vô cùng yếu ớt, lại có cảm giác muốn nôn mửa. Cuối cùng, tôi không dám tiếp tục ngồi nữa, đành nằm nghỉ ngơi một lát trên ghế sofa. Sự ứng nghiệm này, quả thực là quá mạnh mẽ. ……

Thưa linh sư, con đã đến cảnh giới này rồi, liệu có thuộc về trạng thái hoạt linh chưa? Sau này có cần tiếp tục rèn luyện vào buổi tối nữa không? Nơi tĩnh tọa là ở Phật đường, ánh đèn cần phải bật sáng rực, hay cứ giữ như hiện tại, tắt đèn neon đi và chỉ để lại ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn thờ?

Linh sư, liệu có phiền ngài vẽ thêm cho con một lá phù trấn định để sau này khi con tọa thiền không còn bị chấn động quá dữ dội như vậy nữa, hoặc ngài có phương pháp nào khác giúp đệ tử thăng tiến thần lực linh thông, nhằm cứu độ chúng sinh nơi bể khổ này? Cúi mong linh sư dẫu bận rộn trăm bề vẫn có thể bớt chút thời gian vàng ngọc chỉ dạy, đệ tử khắc cốt ghi tâm ân đức này. ……"

Bức thư này do một vị bác sĩ ở Cao Hùng viết. Sức mạnh của sáu loại chấn động lớn được miêu tả trong thư quả thực người phàm không thể nào khắc chế nổi. Tuy nhiên, lúc này tuyệt đối đừng sinh tâm hoảng sợ, bởi đây là hiện tượng tự nhiên, và cũng là công phu bước đầu của việc linh tu. Lá phù khởi linh do tôi vẽ có sức mạnh rất hùng hậu, tuyệt đối không thể xem thường. Thế nhưng, một khi lực của lá linh phù qua đi, sự linh động sẽ ngày càng nhỏ lại, cho đến khi đạt được trạng thái tĩnh lặng vô cùng bình ổn.

Sáu chấn động lớn này chỉ xảy ra một lần. Nếu sự chấn động không bình thường mà lại thường xuyên tiếp diễn, kèm theo nôn mửa, mở miệng nói chuyện, bất tỉnh nhân sự, thì đây chính là hiện tượng bị nhập, không phải thần thì cũng là ma. Người rơi vào tình trạng này lại biến thành một đồng cốt, linh hồn trở thành thể xác vay mượn của thần quỷ, cũng tức là trở thành "người gọi hồn".

Giáo chủ của Đạo Phật cũng từng trải qua sáu loại chấn động lớn. Phật Thích Ca Mâu Ni tu hành ở núi Tuyết Sơn trong sáu năm, đã trải qua sáu chấn động lớn của vòng tiểu chu thiên. Vậy nên, Phật Thích Ca Mâu Ni chính là một vị tu linh thông, điều này không có gì phải nghi ngờ. Sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến đạo tràng Bồ Đề ở nước Ma Kiệt Đà, ngồi dưới gốc cây bồ đề nhập kim cang đại định. Tâm quang dần dần bừng phát, sáng tỏ như gương, vạn tượng đều hiển hiện, lúc này ngài phát sinh sáu chấn động lớn của vòng đại chu thiên.

Sáu chấn động lớn của đại chu thiên này, trên thì thấu đến các tầng trời, dưới thì thấu đến tận long cung, tất cả đều đồng loạt chấn động mạnh mẽ. Thiên thần, thiên nữ, long vương, long nữ đều hoan hỷ vô lượng, tán thán và đảnh lễ. Ngay lúc này, Ma Vương ở cõi trời Dục Giới sợ mất đi quyến thuộc, tự nhiên sẽ giáng lâm xuống để quấy nhiễu hãm hại, đó là hiện tượng tất yếu. Phật Thích Ca Mâu Ni nhập kim cang đại định trong bốn mươi chín ngày mới được xem là chiến thắng thiên ma. Những trải nghiệm này chính là một minh chứng vĩ đại cho Chân Phật Tông của tôi, sáu chấn động lớn là một hiện tượng hoàn toàn tất yếu!

Hiện tại, tôi đã chiêm nghiệm ra được hai nguyên lý sau:
"Sự chấn động của tiểu chu thiên là sự chấn động của thân thể con người, thuộc về linh động của Tiểu thừa."
"Sự chấn động của đại chu thiên là sự chấn động của vũ trụ, thuộc về linh động của Đại thừa."

12. Thế giới ứng hóa

Tôi gọi thế giới hiện tại là thế giới ứng hóa. Sự hình thành của thế giới này dĩ nhiên đã trải qua một thời gian rất dài, rất dài. Tuy nhiên, nếu dựa theo lý số Hà Đồ Lạc Thư và lý số Thái Ất, cùng với phép thần toán Cửu Châu Tinh Diệu mà suy xét, thì thời cơ diệt vong của thế giới này vẫn luôn tồn tại. Thời cơ diệt vong này chính là thời kỳ mà các tôn giáo nói chung thường gọi là thời mạt thế hoặc mạt kiếp. Nhưng theo những gì tôi được biết, khoảng thời gian dẫn đến mạt kiếp vẫn còn rất dài, tính đến thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn chưa thực sự bước vào thời đại mạt kiếp.

Nhiều người cho rằng thế cuộc hiện nay hỗn loạn, lòng người không còn thuần phác, mạnh được yếu thua, những thị hiếu xấu xa trong xã hội tràn lan, tích tụ một luồng bạo khí hung hãn, phải chăng đây chính là thời đại mạt kiếp rồi? Thực ra, thời đại mạt kiếp đó căn bản vẫn chưa ập đến! Ít nhất là cho đến lúc tác giả nhắm mắt, vẫn chưa thể nhìn thấy dấu hiệu của thời đại mạt kiếp.

Tương tự như Giáo hội Thánh đồ Mạt thế của Chúa Jesus Christ, hai chữ "mạt thế" đó nói ra còn quá sớm. Còn người phương Tây cho rằng năm 1999 là năm vũ trụ hủy diệt, đó lại càng là lời nói hoang đường vô căn cứ. Theo sự tính toán của tôi, thời đại mạt kiếp của thế giới ứng hóa này không phải là lửa địa ngục thiêu hủy trái đất, càng không phải là sự tan rã của tứ đại địa, thủy, hỏa, phong; ngược lại, đó sẽ là một cõi Phật quốc thanh tịnh yên bình, hình thành nên một cục diện thế giới đại đồng.

Còn về việc kiếp số hủy diệt có tồn tại không? Có, nhưng đó là trước thời mạt kiếp, đây chính là điểm khác biệt giữa quan điểm của tôi và các tôn giáo thông thường.

Đại bộ phận các nhà tôn giáo, ví dụ như các Cha, Mục sư..., họ cho rằng sau khi hủy diệt, từ đó về sau sẽ không còn nhân loại nữa, thiện ác phân định rõ ràng, thiên đường và địa ngục tồn tại mãi mãi, còn con người trong vũ trụ chỉ trở thành một di tích lịch sử.

Thực ra, quan niệm này là sai lầm. Bởi vì trái đất sẽ lại tái hiện một vương quốc hoàn toàn không có sự tranh giành, và những người sinh tồn trong thế giới này toàn là các bậc thiện tri thức, bậc đại đức tôn giả, Bồ Tát giác tính, và chư thiên thần của các thời đại, tất cả những con người này đều là hóa thân của họ mà thôi.

Về đoạn dự ngôn này, là do tôi dùng thần toán mà biết được, chứ không phải lấy từ các nguồn tư liệu khác.

Tôi lại cho rằng, Thượng Đế của đạo Cơ Đốc và Đức Jehovah của đạo Thiên Chúa đều là cùng một vị thần, vị thần này không phải ai khác, mà chính là Đại Tự Tại Thiên Chủ của cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Những lời chỉ dạy của Ngài, cũng như các loại dự ngôn được ghi chép trong Kinh Thánh, đã cho thấy chân diện mục của Ngài. Đây thực chất chỉ là sự ứng hóa của một vị thiên thần trên thiên giới mà thôi. Sự ứng hóa của Ngài chỉ có thể coi là dành cho bậc sơ cơ, cũng tức là tín ngưỡng thuở ban đầu, chứ không thể xem là viên mãn không tì vết được.

Cho nên tôi mới nói: "Văn hóa phương Đông rất sâu sắc và huyền ảo, bởi linh trí của họ tương đối cao, vật tính tương đối ít; trong khi văn hóa của người phương Tây thì nông và đơn giản, bởi linh trí của họ thấp hơn, còn vật tính lại mạnh mẽ hơn."

Tuy nhiên, tôi lại phát hiện ra rằng, văn hóa phương Đông của chúng ta đã dần dần mai một. Thế hệ trẻ hiện nay chỉ mải mê chạy theo sự hưởng thụ vật chất, hoàn toàn vứt bỏ sự tu sửa hành vi về mặt tinh thần. Linh trí cũng ngày càng suy thoái, họ gạt bỏ đi vị chủ nhân đích thực của tâm hồn để mưu cầu những lạc thú nhất thời. Trong lòng rất nhiều người trở nên lạc lõng vô chủ, họ càng không muốn nghiên cứu về thiên lý của vũ trụ này, cuối cùng đành chấp nhận niềm tin của Cơ Đốc giáo hoặc Thiên Chúa giáo. Tôi không phản đối loại tín ngưỡng này, nhưng tôi cho rằng, đây là loại tín ngưỡng đơn thuần nhất: người có tâm thiện thì được lên thiên đường hưởng phúc, chỉ đơn giản là vậy mà thôi. (Phúc âm của Thiên quốc: người tin và làm theo, ắt được cứu rỗi.)

Thế nhưng, tôn giáo phương Đông thì không dễ dàng như thế. Người thời nay cứ đem hành động bái thần lạy Phật gọi chung là tôn giáo, như thế là sai lệch quá xa rồi! Thử nhìn lại những diệu pháp mà chư Phật đã thuyết giảng, có pháp nào mà không phải là thanh âm của bậc đại trí huệ? Nếu không có đại trí huệ, quả thực không có cách nào đảnh lễ và lĩnh ngộ nổi. Đức Phật A Di Đà thấu tỏ được điều này, nên mới kiến lập ra thế giới Tây phương Cực Lạc, để cho muôn vàn chúng linh không bị mất đi chỗ dựa mà có một chốn để quay về. Những đạo lý này, người sáng mắt vừa nhìn liền hiểu thấu, thực sự không cần tôi phải nhiều lời thêm nữa.

Trong "Kinh Bát Nhã" có một đoạn vấn đáp như sau:

"Tôn giả Thiện Hiện [Tu Bồ Đề] bạch Phật rằng: Phật trước đây từng dạy vạn pháp như mộng ảo, như tiếng vang, như hình bóng trong gương, như bóng dáng ánh sáng, như cảnh tượng ảo ảnh, như trò huyễn thuật, như tầm hương thành [hiện tượng ảo giác kì vĩ, nhìn từ xa thấy thành quách tráng lệ nhưng lại gần thì hoàn toàn biến mất], như chuyện biến hóa kỳ ảo; hết thảy các pháp đều không có thực thể, đều lấy vô tính [không có tự tính] làm tự tính. Vậy thì làm thế nào lại hình thành nên sự sai biệt giữa thiện và ác, giữa hữu lậu và vô lậu, giữa thế gian và xuất thế gian, giữa hữu vi và vô vi?"

"Phật bảo rằng: Này Thiện Hiện! Những chúng sinh dị loại chốn thế gian chưa từng nghe chính pháp, không biết các pháp như mộng ảo, không biết như hình bóng, không biết như bóng dáng ánh sáng, không biết như cảnh tượng ảo ảnh, không biết như trò huyễn thuật, không biết như tầm hương thành, không biết như chuyện biến hóa kỳ ảo, cho nên sinh lòng điên đảo chấp trước; từ đó dùng thân, khẩu, ý mà tạo ra các nghiệp thiện hoặc bất thiện, phước hoặc phi phước, hay các nghiệp bất động, thế nên mới có sự sai biệt, chứ thực chất căn bản không có sự sai biệt nào cả."

Đoạn lời dạy này của Đức Phật Thích Ca quả thực là lời chú giải tuyệt vời nhất cho bài viết "Thế giới ứng hóa" này của tôi. Đại bộ phận nhân loại đều vô minh, cho nên mới lấy giấc mộng làm sự thật, lấy hình bóng làm sự thật, lấy bóng dáng ánh sáng làm sự thật, lấy ảo ảnh làm sự thật, lấy chuyện huyễn thuật làm sự thật. Cũng vì thế mà mọi cái "chân" của thế giới này đều biến thành cái "giả", nên mới sinh ra điên đảo chấp trước. Nói một cách nghiêm túc, mọi thứ trong thế giới ứng hóa này hầu như đều là một thế giới giả huyễn. Tôi mong mỏi những người có bậc đại trí tuệ hãy suy ngẫm về yếu chỉ trong đoạn "Kinh Bát Nhã" này, nếu có thể thấu tỏ, cũng sẽ thấu hiểu được nỗi khổ tâm của tôi.

Có một vị tín đồ Thiên Chúa giáo đến gặp tôi.
"Lư tiên sinh, tôi có cần phải chuyển sang tin theo đạo Phật không?"
"Không cần."
"Tại sao?"
"Bởi vì đức tin của anh vốn dĩ không có gì sai cả!"

Đúng vậy, ngày nay đức tin của bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều không có gì sai cả. Ví dụ như bản thân tôi, tôi đã đi từ Cơ Đốc giáo đến Đạo giáo, rồi từ Đạo giáo đến Phật giáo, và từ trong Phật giáo mà thấu ngộ được chân lý của linh hồn. Quá trình đó giống như tôi đi từ tiểu học lên trung học cơ sở, từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông, rồi từ trung học phổ thông lên đại học.

Tôi không thể hủy bỏ đi quá trình của thời kỳ tiểu học, cũng giống như việc tôi sẽ không bao giờ phủ nhận Cơ Đốc giáo vậy. Con người là một cuộc tìm kiếm và theo đuổi không ngừng nghỉ, linh trí cũng theo đó mà dần tăng trưởng và lên cao. Niềm tin của tôi cũng ngày một kiên định hơn, và tinh tủy trong văn hóa của dân tộc phương Đông cũng ngày càng hiển lộ rõ nét.

Những minh chứng trong tương lai sẽ lý giải cho niềm tin của tôi.

13. Cuộc kỳ ngộ trong đêm

Công việc đo đạc vốn dĩ phải chạy ngược chạy xuôi, có lúc ở nơi núi cao vực sâu, có lúc lại đến chốn thâm sơn cùng cốc, quanh năm suốt tháng bôn ba bên ngoài, nhưng cuộc sống cũng vô cùng muôn màu muôn vẻ. Có một lần, tôi đi một mình đến xã Quy Nhân, huyện Đài Nam. Tôi đi từ Đài Trung đến Đài Nam, rồi bắt xe chuyển tiếp đến Quy Nhân. Chuyến đi này là để tôi đi thuê nhà trước, tìm một địa điểm thu xếp chỗ ăn ở trong một tháng làm việc cho đội ngũ nhân viên trắc địa.

Xe chạy ngang qua Thu Mậu Viên, tôi nhìn thấy Cung Diêu Trì của Từ Huệ Đường Đài Nam. Đi qua khỏi xã Nhân Đức là đến Quy Nhân. Khi xuống xe ở Quy Nhân, trời đã rất muộn. Tôi xách theo hành lý gọn nhẹ, hỏi thăm người qua đường xem quanh đây có nhà nghỉ nào không. Người đó bảo tôi rằng trong chợ có một nhà trọ nhưng đã đóng cửa rồi, hiện tại chỉ còn duy nhất một nhà nghỉ là đang mở cửa. Tôi bèn đi theo hướng tay người đó chỉ và tìm được nhà nghỉ nọ.

Tôi ở trên tầng ba, không khí rất tốt. Đó là một căn phòng có ba mặt cửa sổ. Tôi đứng ngoài ban công, trước tiên quan sát môi trường xung quanh, lấy bản đồ ra kiểm tra lại địa điểm và phương vị cần đo đạc. Sau khi thu xếp bản đồ xong xuôi và bước vào trong phòng, tôi bất chợt rùng mình một cái. Thế nhưng, tôi chẳng hề bận tâm, tôi chỉ nghĩ đó là do gió thu buổi tối nên hơi se lạnh một chút. Khoảng 11 giờ đêm, tôi đi dạo đến quán ăn nhỏ trước chợ và ăn một bát mì. Người ăn mì không hề ít, tôi phải xếp hàng khá lâu mới đến lượt. Nơi Quy Nhân này không lớn, cũng chẳng có mấy con phố. Đêm đã buông mờ mịt, tôi dạo hai vòng quanh phố rồi cũng trở về nhà trọ.

Về đêm gió lớn, tôi đóng chặt cửa sổ lại, nhưng vẫn không tránh khỏi những tiếng kêu "lách cách". Tắt đèn đi, tôi lên giường, khoanh chân, nhắm mắt tĩnh tọa một lúc. Tôi điều hòa hơi thở, cho đến khoảng một giờ sáng thì kéo chăn lên, cuộn mình lại mà ngủ. Vì chuyến đi mệt mỏi, tôi rất nhanh chóng chìm vào giấc mộng. Giấc ngủ này tôi ngủ rất sâu, nếu không có chuyện gì bất thường, tôi không dễ bị đánh thức, bởi lẽ tôi chưa từng có thói quen tỉnh giấc giữa đêm, cũng chưa từng bị bóng đè.

Thế nhưng, rắc rối thật sự ập đến. Đầu tiên, tôi cảm thấy hít thở vô cùng khó khăn, cái cảm giác không thể thở được này ngày càng nặng nề. Mí mắt muốn mở ra, nhưng kỳ lạ thay, cố ráng sức thế nào cũng không mở lên được. Ý thức trong đầu tôi lại vô cùng rõ ràng, đây là bóng đè sao? Không phải, tay tôi quờ quạng trong không trung, miệng muốn kêu lên nhưng chẳng thể phát ra tiếng, chỉ ú ớ nghẹn ứ.

Cuối cùng, tôi nhớ đến Phật hiệu, tôi liền niệm A Di Đà Phật, "Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, ............" Cuối cùng, hơi thở dần dần nhẹ nhõm trở lại, tôi thở hắt ra một hơi, trở mình ngồi dậy, bật đèn lên, cả người ướt đẫm mồ hôi. Nhìn đồng hồ, lúc này mới khoảng 2 giờ sáng. Tôi nghĩ mình vừa nằm mơ sao? Chăn bông đâu có trùm kín đầu, làm sao lại khó thở đến thế được?

Lần thứ hai chìm vào giấc ngủ, chưa được bao lâu, cảm giác khó thở y như trước lại xuất hiện, ngực tôi bị ai đó đè chặt. Tôi mở mắt ra, trong bóng tối lại nhìn thấy một cái bóng đen đang dùng tay đè lên ngực mình. Lúc đầu gặp chuyện này, tôi cũng thấy sợ hãi, nhưng trải qua nhiều lần rồi, tôi cũng chẳng sợ nữa. Trước khi ngủ, tôi đã kiểm tra kỹ cửa nẻo, nếu tôi không mở cửa thì chẳng ai có thể vào được. Cái bóng đen trước mắt này lẽ nào là ma quỷ? Một tay tôi kết kiếm quyết, tay kia kết lôi quyết, quát lớn một tiếng "Cấp lệnh", rồi phóng kiếm quyết về phía cái bóng đen. Chỉ thấy bóng đen kia từ từ tan biến, hơi thở của tôi lại trở về bình thường.

Đúng lúc đó, trên đầu giường tôi lại có một cái bóng trắng đang ngồi. Bởi vì lúc bấy giờ tôi đã có âm nhãn, có thể nhìn thấy ma quỷ, nên tôi lớn tiếng hỏi:
"Ai đó?"
"Dư Quyên Quyên."
"Cái bóng đen vừa rồi là ai?"
"Vạn Tông Truyền, là bạn trai của tôi."
"Đến đây có việc gì? Giữa chốn càn khôn thanh thiên bạch nhật, cớ sao phải hiện hình dọa người, chẳng lẽ không biết hiện hình là có tội hay sao?"
"Chúng tôi biết, nhưng Thổ Địa Thần trấn cung ở Cung Diêu Trì thuộc Từ Huệ Đường Đài Nam đã mách cho chúng tôi biết rằng, chỉ có cầu xin ngài giúp hai chúng tôi tụng kinh siêu độ thì mới mong sớm ngày thoát khỏi cảnh khốn cùng này."
"Tôi phải làm thế nào? Tụng chú vãng sinh có được không?"
"Được ạ, số mệnh của hai chúng tôi quá khổ đi. Hu hu..." - Cái bóng trắng ấy bỗng cất tiếng khóc.

Tôi bèn tĩnh tâm niệm chú vãng sinh, tiếng chú bay bổng trong không trung, đều đặn vang lên hết lần này đến lần khác, đồng thời, cứ niệm xong bảy biến lại tiến hành hồi hướng một lần, hồi hướng cho Dư Quyên Quyên và Vạn Tông Truyền – hai bóng ma hoàn toàn xa lạ. Chẳng biết đã niệm bao nhiêu biến, tóm lại, niệm đến mức miệng khô môi nứt, hai hồn ma hướng về phía tôi liên tục gật đầu cảm tạ, sau đó hóa thành một trận gió rồi biến mất. Lúc này tôi nhìn đồng hồ, đã khoảng 6 giờ sáng, bị hành hạ suốt một đêm, đầu tôi dường như có chút đau nhức, căng trướng.

Sáng sớm tinh mơ, tôi tìm đến một hãng taxi để đi tới địa điểm đo đạc.
"Nhà nghỉ XX dạo gần đây có xảy ra chuyện gì không vậy anh?" - Tôi hỏi.
"Có chứ, một đôi tình nhân đã tự sát trong phòng kín." - Người tài xế hờ hững đáp.
"Không biết họ tên gì nhỉ?"
"Không rõ lắm, hình như người nữ họ Dư, còn người nam họ gì thì tôi quên mất rồi. Trên báo có đăng đấy, nhưng mấy chuyện kiểu này nhiều lắm, chẳng ai buồn để ý làm gì."

Chiếc xe dừng lại ở sân bay Quy Nhân, sau đó chạy thẳng về hướng Quan Miếu. Tôi tìm thấy một điểm tam giác đo đạc ở gần sân bay, điểm tam giác này có tên là Thanh Phố Càn.

Cuộc kỳ ngộ trong đêm chính là như vậy.

14. Hoa trong hư không

Nhìn chung, những người sở hữu linh nhãn có thể nhìn thấy những dị tượng trên không trung, dị tượng trên mặt đất, dị tượng dưới lòng đất, dị tượng trong giấc mơ; thậm chí cuộc sống của họ còn muôn màu muôn vẻ và kỳ ảo khác thường. Những cảnh tượng như vậy, đối với người phàm phu mà nói, có nằm mơ cũng không thể nào tưởng tượng nổi. Thế giới của giác quan thứ sáu tuy kỳ lạ, nhưng vẫn không thể sánh bằng giác quan thứ bảy và thứ tám. Tôi luôn cho rằng, chỉ những ai sở hữu giác quan thứ tám mới được xem là bậc đại thần thông.

Trong thế giới của linh nhãn, có người chỉ nhìn thấy cõi âm, có người có thể nhìn thấy sự biến hóa của thức thần. Người có năng lực cao hơn có thể nhìn thấy thiên thần, hoặc trải nghiệm lại những tiền kiếp của chính mình. Còn năng lực cao nhất chính là "không gì không thấy". Khi đạt đến cảnh giới không gì không thấy, thì quả thực có thể gọi là "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn". [Trên trời dưới đất, chỉ ta là tôn quý nhất.]

Trong cuốn "Nam Hải Phổ Đà Sơn Truyền Kỳ Dị Văn Lục" do Pháp sư Chử Vân chấp bút [Pháp sư Chử Vân: Một vị cao tăng cận đại nổi tiếng với các tác phẩm ghi chép lại những hiện tượng tâm linh và sự linh ứng của Phật pháp.], có nhắc đến việc Quốc phụ [Tôn Trung Sơn] từng tự tay ghi chép lại việc mình nhìn thấy dị tượng. Chuyện này là hoàn toàn có thật. Quốc phụ từng nói: "Trong tâm trí tôi vốn dĩ không có tư tưởng về thần linh dị tượng, nào ngờ chẳng biết đây là cảnh giới linh thiêng gì?" Dưới đây xin trích dẫn nguyên văn bài "Du Phổ Đà Sơn Chí Kỳ" do chính tay ngài ghi chép lại:

"Nhân chuyến đi thị sát quân cảng Tượng Sơn và Chu Sơn, tôi thuận đường ngoạn cảnh núi Phổ Đà. Đi cùng tôi có các ông Hồ Hán Dân, Đặng Mạnh Thạc, Chu Bội Châm, Chu Trác Văn, cùng thư ký ủy ban dân chính Chiết Giang là ông Trần Khứ Bệnh, thuyền trưởng con hạm Kiến Khang mà chúng tôi đi là ông Nhậm Quang Vũ. Khi đến núi Phổ Đà, vầng dương gay gắt đã ngả về Tây. Chúng tôi cùng nhau lên bờ, tình cờ gặp được sa môn Đạo Giai của chùa Pháp Nguyên ở Bắc Kinh, sư dẫn chúng tôi đến nghỉ tạm ở chùa Phổ Tế. Sau đó, trụ trì chùa là sư Liễu Dư gọi người dùng kiệu trúc khiêng chúng tôi xuất phát. Dọc đường đi là những tảng đá kỳ lạ, rặng cây thưa thớt, bãi cát bằng phẳng, phảng phất như đang nối đuôi nhau nghênh đón dọc đường. Chúng tôi quanh co lên xuống hồi lâu như vậy.

Lên đến Thiên Đăng Đài trên núi Phật Đảnh, tôi dựa vào nơi cao phóng tầm mắt bao quát, đứng nán lại chần chừ hồi lâu. Sau đó chuyển hướng đến chùa Tuệ Tế, vừa mới đưa mắt nhìn từ xa, một cảnh tượng kỳ quan đã hiện ra!

Chỉ thấy trước cổng chùa bỗng sừng sững hiện ra một cổng chào tráng lệ tuyệt đẹp, tiên hoa kết gấm, bảo phướn tung bay trong gió. Hàng chục vị kỳ tăng, trông điệu bộ dường như đang ra nghênh đón khách. Tôi vô cùng kinh ngạc trước sự uy nghi thịnh vượng và sự bày biện thoăn thoắt ấy. Càng đi đến gần, nhìn càng thêm rõ. Lại thấy trong đó có một vòng bánh xe lớn xoay tròn cực kỳ nhanh, chẳng biết nó được làm bằng chất liệu gì và vận hành bằng sức mạnh nào. Đang lúc mải suy nghĩ, chợt mọi thứ tiêu tan không còn dấu vết, thì ra chúng tôi đã đi qua nơi đó rồi.

Khi đã vào trong chùa Tuệ Tế, tôi khẩn khoản hỏi những người đi cùng, nhưng tất thảy đều không nhìn thấy gì. Tôi hết sức kinh ngạc, không ngừng cảm thấy chuyện này rất lạ. Trong tâm trí tôi vốn dĩ không có tư tưởng về thần linh dị tượng, nào ngờ chẳng biết đây là cảnh giới linh thiêng gì? Nhưng khi tôi đứng ở đài Phật Đảnh ngắm nhìn bốn bề, trong lúc ngửa mặt nhìn trời cúi đầu nhìn đất mang lại một cảm khái to lớn như ôm trọn cả vũ trụ trong tay. Trông thấy bầu trời xanh biếc, sóng trắng nhấp nhô, xa xa vài điểm đảo như ốc sên nhả khói, tôi chợt thấy những nơi từng đi qua trong đời chẳng có nơi nào thanh tịnh tuyệt vời như nơi này. Tai nghe tiếng sóng triều, lòng ôm lấy biển, cảnh giới của thân thể tĩnh lặng như chiếc bóng, tựa như hình hài tan ra mà ý niệm cũng tan biến đi. Than ôi! Đây chính là sự thông đạt nội tại của thần minh vậy.

Đã xuống núi Phật Đảnh, đi ngang qua chùa Pháp Vũ, trong tiếng chuông trống vang vọng, chúng tôi hối hả đi nhanh về phía động Phạn Âm. Sắc trời dần tối sầm, bèn trở về chùa Phổ Tế dùng bữa tối. Sư Liễu Dư, sư Đạo Giai giảng giải tường tận Phật lý, đàm đạo với các vị ấy khiến lòng người khoan khoái, ý cảnh phiêu diêu.

Ngày 25 tháng 8 năm Dân Quốc thứ 5, Tôn Văn ghi chép."

Những gì Quốc phụ nhìn thấy ở núi Phổ Đà đương nhiên là có thật. Đặc biệt Quốc phụ vốn là một tín đồ Cơ Đốc giáo, vậy mà một tín đồ Cơ Đốc giáo lại có thể nhìn thấy những dị tượng của Phật Bồ Tát như vậy, cũng xem là một chuyện bất khả tư nghì! Núi Phổ Đà vốn dĩ là tịnh thổ của Quan Thế Âm Bồ Tát, những câu chuyện truyền kỳ ở đó rất nhiều, người nhìn thấy dị tượng cũng rất nhiều. Tôi tin rằng đây không phải mê tín, bởi vì chỉ cần nhất tâm thành kính, không có chuyện không cảm ứng đạo giao.

Nhớ lại từ rất sớm trước đây, khi Tiên sinh Tam Sơn Cửu Hầu truyền thụ Đạo pháp cho tôi, tôi thức giấc lúc nửa đêm, bước ra khoảng sân lộ thiên bên ngoài. Trên bầu trời, muôn sao lấp lánh, lúc này đôi mắt tôi đột nhiên trở nên mờ ảo, rồi những vì sao kia đột ngột bùng phát ra vô lượng ánh hào quang. Ánh sáng đó trắng như ban ngày, rực rỡ huy hoàng, và phân chia thành nhiều màu sắc khác nhau: có màu đỏ, màu hồng phấn, màu hổ phách và màu vàng kim. Mỗi vì sao xoay chuyển trên không trung, rồi bỗng nhiên biến thành từng đóa hoa một. Trên không trung hình thành một vườn hoa lớn đua nhau khoe sắc, đẹp đẽ khác thường, rồi các cánh hoa lần lượt nhẹ nhàng bay xuống. Những đóa hoa ấy dường như đến từ khoảng không vô lượng vô biên, bay đến lưng chừng trời thì tan biến mất, nhưng những đóa hoa khác lại tiếp tục hạ xuống, hùng vĩ và tráng lệ vô cùng.

Cứ như vậy tiếp diễn chừng năm phút đồng hồ, từ trong đống hoa lại bay ra ba đóa hoa khổng lồ màu hồng phấn. Trên mỗi đóa hoa đều có một vị thiên nữ tuyệt sắc, dung mạo diễm lệ đang đứng. Các vị ấy khoác những bộ y phục ngũ sắc rực rỡ, thoát tục xuất trần, mỗi vị đều chắp tay trước ngực, bay từ hướng Đông sang hướng Tây rồi biến mất. Lúc này tôi xem đến mức hoa mắt chóng mặt, có thể coi là nhìn đến ngẩn ngơ cả người.

Hiện tượng hoa hiện giữa hư không này, tôi đã nhìn thấy rồi, nhưng làm sao mà tôi lại có thể nhìn thấy được cơ chứ? Lại cách một lúc không lâu sau, mọi thứ hoàn toàn tan biến, những vì sao trên bầu trời vẫn lấp lánh, không còn điểm nào kỳ lạ nữa. Tất cả đều chìm trong sự tĩnh lặng tuyệt đối, vạn vật đều vắng lặng, mọi người đều đang chìm trong giấc mộng. Tôi đưa tay giụi giụi đôi mắt mình, xác nhận đây không phải là một giấc mơ, quả thật là đã xảy ra chuyện như vậy.

Tôi đem chuyện này kể cho người khác nghe, nhưng lại chuốc lấy sự chế nhạo của bạn bè.

"Lư Thắng Ngạn, đừng có kể chuyện một cách thần kinh hoang tưởng như vậy được không? Những thứ người khác không nhìn thấy, anh lại nhìn thấy hết, anh nghĩ mình là ai chứ? Tôi lạy Phật ngần ấy năm trời, ngay cả một chút cảm thông cũng chẳng có, anh mới tí tuổi đầu thì làm sao có thể?" - Một vị lão cư sĩ đã nói như vậy.

"Thắng Ngạn, không phải là tôi không tin, mà là tại sao tôi lại không nhìn thấy cơ chứ! Nếu cậu có thể làm cho tôi nhìn thấy thì tôi mới tin." - Một người bạn học đã nói như vậy.

Rất nhiều hòa thượng lắc đầu, bạn học thì bĩu môi cười khẩy.

Cũng may thay, khi tôi đọc được "Nam Hải Phổ Đà Sơn Truyền Kỳ Dị Văn Lục", tôi mới thấy ngay cả vị đại đạo sư cách mạng của chúng ta – Quốc phụ Tổng lý Tôn Trung Sơn, đã không chút nghi ngờ nhìn thấy cổng chào tráng lệ, nhìn thấy cờ báu tung bay trong gió, nhìn thấy tiên hoa kết gấm, nhìn thấy hàng chục vị kỳ tăng, và nhìn thấy vòng bánh xe lớn. Những cảnh giới ấy chỉ duy nhất một mình Quốc phụ là nhìn thấy, còn những người khác đi cùng thì hoàn toàn chẳng thấy gì.

Tôi cho rằng, chỉ cần tu đắc được linh nhãn, thế giới này sẽ càng thêm rộng mở, và vũ trụ lại càng đa sắc huy hoàng hơn.

15. Cảnh giới thiên ma

Trong cảnh giới "chân không diệu hữu", thực sự có tồn tại một thế giới mang tên là cảnh giới Thiên Ma, thiên ma trong cảnh giới này pháp lực vô biên. Những người tu đạo thông thường khi bị cảnh giới này quấy nhiễu, vì sợ hãi mà hết người này tới người khác đánh mất tâm ban đầu. Có người vì thế mà sinh ra mê vọng điên đảo, có người lại bỏ cuộc giữa chừng. Điều mà người tu đạo sợ nhất vẫn là sự quấy nhiễu của thiên ma, nếu lúc đó "thần quang không hiển lộ", sẽ lập tức rơi vào ma cảnh, cũng tức là hiện tượng mà dân gian thường gọi là "tẩu hỏa nhập ma".

Có người hỏi tôi: "Người tu linh có bị tẩu hỏa nhập ma không?"

"Đương nhiên là có. Con người nếu tăng trưởng một phần đạo tâm, thì ma cũng sẽ tăng thêm mười phần thử thách. Còn nếu con người không tu hành thì ma cũng chẳng cần phải thử thách anh làm gì, bởi vì anh vốn dĩ đã là quyến thuộc nằm trong lòng bàn tay của ma, vốn dĩ đã thuộc quyền cai quản của ma rồi, việc gì phải hao tâm tổn trí nữa."

"Tu linh có thể bị tẩu hỏa nhập ma, vậy chẳng phải không tu là rất tốt sao?"

"Thành tựu càng khó đạt được thì càng nguy hiểm; càng nguy hiểm, thành tựu lại càng cao. Giống như người leo lên đỉnh núi, càng lên cao càng hiểm trở, nhưng nếu không leo, vĩnh viễn khó mà thấy được ánh hào quang của sự thành tựu xuất hiện." Tôi nói: "Năm xưa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trên kim cương bảo tọa dưới cội bồ đề để giác ngộ chân đạo, thiên ma cũng giáng xuống thử thách. Phật không hề bị chúng làm cho lay động, cuối cùng đã chiến thắng muôn vàn thử thách. Nếu không chiến thắng được thiên ma thì không được tính là thành Phật, không được xem là ngộ đạo."

"Làm thế nào để chiến thắng thiên ma?"

"Thiên ma có thần thông và pháp lực vô biên, muốn chiến thắng được chúng quả thực rất khó. Từ xưa đến nay, những người chiến thắng được thiên ma thực sự chỉ đếm trên đầu ngón tay. Cho nên người tu đạo xưa nay, người chứng đắc chân lý thì ít, mà kẻ u mê lạc lối lại nhiều.

Muốn chiến thắng thiên ma, có thể nương nhờ vào hai loại sức mạnh: thứ nhất là nhờ chư Phật linh thiêng gia hộ, thứ hai là dựa vào việc tự thân hiển lộ thần quang. Cái gọi là tự thân hiển lộ thần quang, chính là sự hiển lộ của Phật tính; mà Phật tính hiển lộ chính là trạng thái như như bất động của minh tâm kiến tính. Trạng thái như như bất động đó chính là lời giải thích tuyệt vời nhất cho chân lý tà không thể thắng chính."

Phật giáo Thiền Tông chủ trương tự lực thành Phật, dùng tứ thiền bát định và pháp Tứ diệu đế để trực tiếp thoát khỏi luân hồi trong ba cõi. Bản thân phương pháp tu hành này không có gì sai, nhưng nếu người tu hành chỉ có trí tuệ bậc trung, công đức tu tập từ nhiều đời trước chưa đạt đến bậc thượng thừa, mà muốn dựa vào tự lực thì quả thực là vô cùng khó khăn. Bởi vì từ Dục giới tiến vào Sắc giới khó tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi huyễn cảnh của thiên thần; khi vào đến Vô sắc giới, đạt đến linh giới chân không, lại cảm thấy tất cả đều là không, không biết rằng ngay cả cái "không" ấy cũng chẳng có chỗ nào để "không". Như vậy thì rắc rối to rồi! Từ đó sinh ra tẩu hỏa nhập ma, phát điên, bề ngoài trông như người thần kinh thất thường, ăn nói lộn xộn không đầu không đuôi.

Nhờ vào tự lực để đạt đến Vô sắc giới, mọi thứ chân - vọng đều tan biến. Nếu ngay lúc này có thể thấu ngộ được chân lý thực và ảo, hiểu được "chân không mà chẳng phải không", tâm thần chân như hiển lộ, thì có thể đạt đến cảnh giới A La Hán. Đến được cảnh giới A La Hán mới thực sự được xem là thoát khỏi luân hồi. Giai đoạn này nói thì dễ, nhưng thực hành lại vô cùng khó. Tôi thực sự chiêm nghiệm được rằng, hàng trăm người tu hành, thử xem có được một hoặc hai người đạt đến cảnh giới này hay không? Đặc biệt là trong giai đoạn này, sự thử thách của thiên ma là cực kỳ khắc nghiệt. Có người đã tu đến tận Vô sắc giới, vậy mà lại bị ma nhập phát điên, Phật tính không hiển lộ. Đây quả thực là một bi kịch tày trời, uổng phí công phu tu đạo ngần ấy năm, đến cuối cùng lại trở thành một mớ vọng tưởng hão huyền.

Những người tu linh, do chân linh của bản thân xuất hiện, nên thường phải đối mặt với một ngã ba đường gồm ba hiện tượng. Hiện tượng thứ nhất là: sau khi linh hồn xuất hiện, bản thân họ không thể tự chủ điều khiển được linh khí của mình, lúc bình thường cũng không có kiến thức về phương diện này, thế là thức thần [ý thức phàm phu] bèn câu kết với quỷ thần, biến người đó thành kê đồng [đồng cốt]. Sự hình thành của kê đồng chính là ảnh hưởng từ sự câu kết giữa thức thần và quỷ thần, từ đó trở thành người bị quỷ thần nhập xác. Những bà đồng, ông cốt này nếu dùng năng lực đó vào việc thiện thì không có lỗi lầm gì lớn, trái lại còn có công đức, thực sự không cần phải kinh sợ.

Hiện tượng thứ hai là sau khi linh hồn xuất hiện, do thức thần ở tiền kiếp có căn duyên rất tốt, nên linh quang của Phật Tổ và linh quang của thần thánh lập tức giáng xuống bảo hộ, tiếp dẫn. Bản thân người tu linh lại phụng sự Phật pháp, thấu hiểu Phật lý sâu xa, chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật và thần chú. Những người như vậy có định lực uyên thâm, từ đó không bị ngoại ma mê hoặc, thần quang luôn luôn hiển lộ. Mỗi một đạo thần quang đều hóa giải được một tầng thiên ma, khiến thiên ma không thể đắc ý làm càn.

Cứ như vậy, đạo lực ngày càng sâu dày, Phật quang vĩnh viễn gia hộ, tự lực và tha lực kết hợp tạo thành cảm ứng đạo giao. Từ đó, họ có thể tự do ra vào cõi u minh, pháp Vô ngại tâm đà-la-ni hoàn toàn dựa vào một niệm chuyên tâm mà thi triển. Họ giữ gìn ngũ giới thập thiện, tu tập Tứ thiền - Bát định, thực hành Bồ Tát hạnh. Cuối cùng, linh hồn tu luyện đến mức tự tại vô ngại, đạt đến cảnh giới Chân Nhân, đến nước này thì thiên ma cũng đành bó tay chịu trói trước họ mà thôi!

Đối với người tu linh, điều tồi tệ nhất là bản thân chỉ hiểu biết nửa vời, bán tín bán nghi, ngồi thiền không đúng lúc đúng chỗ, không biết niệm Phật trì chú, không biết an định và điều hòa hơi thở, cứ tùy tiện làm bừa. Tâm trí của người đó vốn dĩ đã không thanh tịnh, cũng chẳng biết thế nào mới gọi là tu, cứ tùy tiện ngồi xuống, linh hồn tuy cũng có thể xuất hiện, nhưng rắc rối bắt đầu ập đến. Khi linh hồn vừa xuất ra nhưng lại không thể tự chủ, Thiên Ma liền nhân cơ hội đó đến tiếp ứng. Kể từ đó, cử chỉ của người này trở nên khác thường, miệng liên tục lảm nhảm những lời vô nghĩa. Nghiêm trọng nhất là đến cả sinh hoạt thường ngày cũng không thể tự lo liệu, hoàn toàn khác xa với người bình thường, đây chính là tẩu hỏa nhập ma rồi!

Chúng ta đều biết, đạo tâm chính là tâm bình thường, tâm bình thường tức là tâm Phật. Nếu có người biểu hiện những điều kỳ dị, quái gở, thì đó chính là hiện tượng nhập ma. Những cảnh giới nhập ma này tuy có thể chữa khỏi, nhưng cũng vô cùng phiền phức, bởi vì ma chính là tâm của họ, tâm họ nay đã biến thành ma rồi! Muốn trị ma thì phải trị từ trong tâm, mà nếu tâm đã điên đảo mê loạn thì quả là muôn vàn khó khăn.

Cảnh giới Thiên Ma có pháp lực và thần thông rất cao cường, phát ra một loại tần số khác biệt, luôn luôn quấy nhiễu những người tu đạo đang trong trạng thái thiền định. Những người tu đạo thông thường hay hỏi tôi:
"Làm sao để trị ma?"
"Thần quang tự hiển lộ là có thể chế ngự được chúng, tà không thể thắng chính."
"Nếu thần quang không hiển lộ thì sao?"
"Nên tránh né chúng, tạm thời khoan hãy ngồi thiền, trước tiên cứ niệm Phật để cầu tâm được an định đã."

16. Thuyết linh hồn lạc lối

Chương trước đã bàn về hiện tượng tẩu hỏa nhập ma, chương này cũng có thể coi là phần bổ sung cho vấn đề tẩu hỏa nhập ma. Tuy nhiên, ma ở đây không phải là thiên ma, mà chỉ là những loài quỷ mị mê hoặc tâm trí con người mà thôi. Người bị quỷ mê hoặc, nếu mắc chứng nhẹ, thì lời nói và hành vi sẽ khác thường, đối xử với mọi việc thì cố chấp không chịu hiểu, đúng thật là ngoan cố đến mức đá tảng cũng chẳng thể gật đầu, còn nếu mắc chứng nặng thì sẽ mất đi tâm trí, không tìm lại được bản tính của mình, tinh thần đã trở nên mê loạn. Những người bị thần kinh thất thường phần lớn là thuộc về nhóm người này.

Trước khi viết bài này, tôi xin dẫn ra một câu chuyện để làm ví dụ:

Ở Cao Hùng có một cô gái tên là Lâm Mỹ Cơ, từ nhỏ đã là tín đồ Cơ Đốc giáo. Khi học cấp ba, cô tham gia một nhóm linh tu của nhà thờ. Nhóm linh tu này do một thanh niên họ Thái chủ trì. Niềm tin sùng đạo của người thanh niên họ Thái này đối với Đấng Christ khác hẳn người thường. Anh ta nói với các đồng đạo trong nhóm linh tu rằng: "Nhóm linh tu của chúng ta sẽ duy trì cho đến tận khi Chúa Jesus giáng lâm mới giải tán. Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau làm việc vì Chúa. Chúa Jesus còn tự nhận mình là tôi tớ, chúng ta lại càng phải là tôi tớ của Đấng Christ." Lâm Mỹ Cơ đã được dẫn dắt tham gia vào nhóm linh tu trong hoàn cảnh như vậy.

Ban đầu, việc Lâm Mỹ Cơ theo đạo là do cha mẹ dẫn dắt, cha cô là tiến sĩ y khoa du học Mỹ và đã nhận lễ rửa tội tại đó, còn mẹ cô xuất thân từ một gia đình có truyền thống Cơ Đốc giáo. Cô Lâm được rửa tội từ nhỏ, nhưng thực chất hiểu biết về giáo lý Cơ Đốc lại không hề sâu sắc. Tuy nhiên, ngay khi bước chân vào nhóm linh tu, cô thực sự cảm nhận được dường như ở đó có một luồng sức mạnh đang cuốn hút mình đi theo tập thể nhỏ này.

Nhóm này gồm mười thanh niên. Sau khi kết thúc buổi lễ thờ phụng lớn của nhà thờ, họ lại tổ chức những buổi lễ nhỏ riêng để cùng nhau đọc kinh và cầu nguyện. Họ luân phiên cầu nguyện, trong lúc đó, mọi người đều nắm chặt tay nhau để thể hiện sự đồng tâm hiệp ý thỉnh cầu. Khi cầu nguyện, họ nói rất to. Nào ngờ đâu, chính sự cầu nguyện thành kính đến mức giọng nói run rẩy và cảm xúc dâng trào ấy lại rước đến những phiền phức.

Một thời gian sau, đức tin của Lâm Mỹ Cơ tăng lên mạnh mẽ. Lời cầu nguyện của cô trở nên hoàn hảo không tì vết, cô không bao giờ vắng mặt trong bất kỳ buổi họp nhóm nào và đã hoàn toàn bị mê hoặc. Cứ có thời gian rảnh là cô lại đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, không ngừng cầu xin Chúa Jesus Christ sớm cứu vớt nhân loại trên toàn thế giới khỏi kiếp nạn, sớm ngày giáng lâm để mọi người trên thế giới đều xưng tụng Phúc âm của Ngài. Sự sùng đạo của cô khiến cha mẹ và bạn học đều phải kinh ngạc. Bởi lẽ, hễ gặp ai là cô lại truyền đạo, giảng xong Phúc âm, cô liền cất lời ngợi khen và tạ ơn ân điển của Chúa.

Trong khoảng thời gian đó, mọi lời nói và hành vi của cô đều chìm đắm trong tôn giáo, ngoại trừ tôn giáo ra, mọi thứ khác đều trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Cô khuyên mọi người không được làm việc xấu, khuyên các cô gái đừng trang điểm hay mặc váy ngắn, khuyên người ta bỏ rượu bia, thuốc lá, không được đi xem phim, và dặn dò mọi người trong bất cứ chuyện gì cũng phải tạ ơn Thượng Đế. Đến mức cuối cùng, ngay cả việc thi cử cô cũng chỉ biết cầu xin Chúa phù hộ. Thế nhưng, thành tích học tập của cô lại ngày càng sa sút, trượt dốc không phanh.

Khoảng nửa năm sau khi tham gia nhóm linh tu, trong một lần cầu nguyện, cô nói: "Lạy Chúa! Xin Thánh linh của Ngài hãy tiến vào tâm của con, cho con cảm nhận được vinh quang của Ngài. Ánh sáng của Ngài sẽ dẫn dắt con bước vào thiên đàng, trở thành ngọn đèn soi bước chân con. Lạy Chúa! Xin Ngài hãy ở cùng con, một giây một phút cũng không rời xa. Xin Ngài rủ lòng thương xót sự vô tri của thế nhân, xin dùng huyết báu rửa sạch tội lỗi của họ, xin hãy tha thứ cho những kẻ thù của Ngài! Và cũng xin Ngài tha thứ cho con. Xin cho linh hồn con vĩnh viễn có một điểm tựa, mãi mãi tiến bước không ngừng nghỉ cho đến ngày Ngài giáng lâm lần nữa. Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ mà cầu nguyện, Amen!"

Cầu nguyện xong, những người trong nhóm linh tu đều nghe thấy tiếng thút thít. Thì ra Lâm Mỹ Cơ đang khóc, nước mắt tuôn rơi, cô nói: "Tất cả chúng ta đều có tội, phải khóc lóc mà cầu xin Chúa Christ xót thương ân xá." Người thanh niên họ Thái dẫn đầu buổi cầu nguyện, xin Chúa Christ tha thứ tội lỗi cho họ. Buổi cầu nguyện lần này kéo dài rất lâu, Lâm Mỹ Cơ khóc hết lần này đến lần khác, gào khóc thảm thiết quỳ rạp xuống đất van xin, âm thanh vang lên vừa to vừa đáng sợ, dáng vẻ như người phát cuồng.

Hôm sau vừa hay lại là Chủ nhật, tức ngày lễ bái (Thánh nhật). Mọi người trong nhà thờ đang tiến hành làm lễ theo nghi thức, đến lượt ca đoàn hát Thánh ca, Lâm Mỹ Cơ đột nhiên đứng phắt dậy và hát theo. Thế nhưng, cô lại cất lên một giọng điệu vô cùng kỳ quái, âm thanh phát ra khiến người nghe phải kinh sợ. Mọi người trong nhà thờ đều đổ dồn ánh mắt về phía cô, nhưng cô vẫn không hề e dè mà tiếp tục gào to hát một mình, nhịp điệu sai lệch lung tung, những tiếng rít gào kỳ dị liên tục vang lên. Một vị trông nom nhà thờ vội vàng chạy đến kéo cô ra ngoài, nhưng cô lại gầm gừ với vị trông nom: "Các người toàn là ác quỷ, Thượng Đế đã ngự vào lòng tôi rồi, các người toàn là ác quỷ." Cô bỗng nhiên trở nên khỏe phi thường, phải cần đến mấy người mới có thể khiêng cô ra ngoài. Đứng trên bục thánh, vị mục sư lắc đầu nói: "Cô ấy đã bị ma nhập rồi, lạy Chúa, xin hãy cứu vớt cô ấy!"

"Không, cô ấy không bị ma nhập, mà là được Thượng Đế cảm hóa." -Người thanh niên họ Thái chủ trì nhóm linh tu lên tiếng phản bác.
"Cậu còn định ngụy biện nữa sao? Cô ta điên rồi! Cậu nhìn xem, cô ta có phải là đã phát điên rồi không? Cậu còn có lời gì để nói nữa!" - Vị trông nom lớn tiếng quát mắng người thanh niên.

Mọi chuyện đi đến hồi kết, Lâm Mỹ Cơ bị đưa vào bệnh viện tâm thần, còn nhóm linh tu thì giải tán. Có lẽ sẽ có người hỏi tôi rằng: tại sao anh lại biết rõ về chuyện này đến như vậy? Tôi xin thẳng thắn nói với độc giả rằng, năm xưa tôi cũng từng là một thành viên của nhóm linh tu đó.

Ngày hôm nay, tôi đã nghiên cứu xem vì sao cô ấy (Lâm Mỹ Cơ) lại ra nông nỗi này, và đáp án như sau: Xung quanh nhà thờ vẫn luôn lởn vởn những hồn ma quỷ mị. Khi thấy có những tín đồ chìm đắm vào trạng thái cuồng tín u mê, chúng liền nhân cơ hội luồn lách thâm nhập thẳng vào cõi tinh thần của người đó, từ đó khống chế tư duy và hành vi của họ. Và ở bên ngoài các ngôi đền, chùa cũng có những hồn ma quỷ mị như thế lảng vảng. Thế nên, nếu đức tin đã sa vào trạng thái mê muội, tự nhiên sẽ dẫn đến hiện tượng linh hồn lạc lối. Do đó, tín ngưỡng chỉ nên giữ ở mức độ vừa phải, không sa vào những điều quái dị thì mới được.

Sự chính niệm chính hành trong tín ngưỡng quan trọng biết nhường nào! Sai một ly, lập tức tẩu hỏa nhập ma!

17. Hoạt động tâm thần

Rất khó để giải thích nguồn gốc của linh cảm, nhưng phần lớn những người nghiên cứu về linh hồn học đều biết rằng linh cảm chính là một loại hoạt động tâm thần. Sự xuất hiện của linh cảm này đã giúp cho khoa học, triết học và văn học ngày càng phát triển rực rỡ hơn. Bản thân linh cảm vốn là vô hình, do đó nó mang lại cho con người một cảm giác thần bí, được người ta gọi là giác quan thứ sáu. Thực ra không chỉ có giác quan thứ sáu, mà thậm chí cả giác quan thứ bảy, giác quan thứ tám cũng đều tồn tại giữa cõi u minh mờ ảo này đấy!

Khi cầm bút viết những cuốn sách tâm linh này, tôi phát hiện ra ngòi bút của mình nhanh như bay, giống như thực sự có thần linh trợ giúp vậy, cứ đặt bút xuống là thành văn mà không cần phải suy nghĩ. Nguyên nhân của việc này là do đâu? Thứ nhất, tôi thực sự có nhận thức sâu sắc về linh hồn; thứ hai, việc viết ra những cuốn sách này cũng chính là ý muốn chân thật từ linh giới cấp trên. Mục đích chính là để khuyên răn con người sửa đổi lỗi lầm, hướng về điều thiện, để cứu vớt lại cái tâm lý không tin vào thần Phật của mọi người. Xin đừng cố chấp u mê, tự nhận cái giả tạm làm cái chân thật, chỉ mải mê theo đuổi sự hưởng thụ vật chất mà gạt bỏ đi toàn bộ cảnh giới tinh thần cao cả nhất của nhân loại. Hãy để mọi người hiểu được tầm quan trọng của tâm linh, đừng bao giờ phớt lờ nó.

Khi các nhà văn sáng tác, họ cũng thường nhắc đến cái gọi là "ngòi bút thần". Linh cảm trong sáng tác văn học là vô cùng quan trọng. Linh cảm này giống như một tia lửa xẹt qua trong tích tắc, tỏa sáng rực rỡ, khiến cho ngòi bút tuôn trào những luồng ánh sáng bảy màu lộng lẫy, cũng cùng một câu nói ấy, nhưng khi viết ra lại mang một sức hút phi thường. Sau khi khoảnh khắc ấy trôi qua, chính nhà văn cũng phải thốt lên kinh ngạc trước sự mầu nhiệm đó, bởi vì nếu cách một khoảng thời gian sau bắt họ viết lại, họ cũng chẳng thể nào viết ra được như thế nữa. Giống như tiên thơ Lý Bạch, khi làm thơ mà không cậy vào sức rượu thì không được, rượu vừa vào người, tâm trí bị gây mê, thần thức lại được mở toang, vung bút lên là thành một bài thơ. Gọi đó là "ngòi bút thần" quả thực không sai chút nào.

Ở khu vực miền Trung [Đài Loan], có một phòng khám Đông y do một vị bác sĩ họ Trương làm chủ. Phòng khám này nổi tiếng khắp cả miền Trung, bệnh nhân lớn bé từ khắp các tỉnh thành đều tìm đến đây để cầu trị bệnh. Thường thì phải xếp hàng lấy số từ mấy ngày trước mới tới lượt, có thể nói là khách đông như trẩy hội, người người nối đuôi nhau chờ đợi để được khám bệnh. Tốc độ khám bệnh của vị bác sĩ này cũng rất nhanh, ông ấy chỉ cần bắt mạch, nhắm mắt trầm tư một phút là có thể kê đơn thuốc điều trị. Điều kỳ diệu là, thuốc vừa kê ra là khỏi bệnh khỏe mạnh, giống hệt như thần y Hoa Đà tái thế vậy, chẩn bệnh vừa dứt khoát lại vừa lưu loát. Nhờ vào lượng khách nườm nượp và danh tiếng ngày càng vang xa, công việc làm ăn của ông ấy vô cùng thuận lợi, tiền bạc cũng theo đó mà đổ về cuồn cuộn.

Vị bác sĩ này và tôi từng có duyên gặp gỡ một lần.

"Trương tiên sinh, y thuật của ông quả thật rất cao minh." - Tôi nói.
"Đúng là nhờ may mắn thôi. Kỳ lạ ở chỗ, tôi chỉ cần nhìn mặt bệnh nhân là có thể chẩn đoán được người đó mắc bệnh gì, thử trăm lần đúng cả trăm, nghiệm trăm lần linh cả trăm. Dù bệnh nhân không hé răng nửa lời, cũng không thoát khỏi thần nhãn của tôi."
"Thần nhãn ư? Nói vậy là sao?"
"Không giấu gì anh, mỗi khi tôi chẩn bệnh hay kê đơn thuốc cho người ta, dường như trên đỉnh đầu tôi luôn có một người đang đứng đó. Vị ấy dường như tiến thẳng vào trong não bộ, thâm nhập vào trong tâm trí tôi. Tôi có thể không cần suy nghĩ mà vẫn nói ra rành rọt, vừa mở miệng xong, chính bản thân tôi cũng cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Lắm lúc tôi còn lo lắng vì mình đã to gan kê những toa thuốc táo bạo như vậy, thế mà bệnh nhân nào cũng khen là chẩn đoán cực kỳ chính xác, thuốc cực kỳ hiệu nghiệm. Có một ngày, cái "người" đứng trên đỉnh đầu kia đột nhiên biến mất, ngày hôm đó tôi chẩn bệnh không còn được suôn sẻ như trước nữa. Cái loại linh cảm này đến một cách vô cùng đặc biệt, tôi có thể tinh ý cảm nhận được nó, đây tuyệt đối không phải là ảo giác, mà là chuyện chân thực trăm phần trăm."
"Ra là vậy."

Qua nghiên cứu, tôi được biết rằng vị bác sĩ này vào ba kiếp trước từng là một thương nhân buôn bán lớn, kinh doanh bách hóa, sở hữu không ít gia sản. Ông là người hay làm việc thiện và thích bố thí, từng dùng tiền bạc để cứu tế một người họ hàng xa. Người họ hàng xa này vốn là một lang y bốc thuốc nam, chuyên nghiên cứu các phương thuốc bí truyền và sở hữu một cuốn "Đồng Nhân Bạ" [Sổ tay huyệt vị châm cứu] do tổ tiên để lại. Đáng tiếc là người họ hàng ấy lại gặp tai nạn và qua đời khi còn rất trẻ, chưa kịp thực hiện hoài bão lớn lao!

Ba kiếp sau, vị đại thương gia đầu thai chuyển thế trở thành vị bác sĩ này, người họ hàng xa kia ở cõi âm biết chuyện liền vội vàng tìm đến tương trợ để báo đáp ân tình cứu tế năm xưa, từ đó trở thành thần bảo hộ của ông Trương. Mỗi khi gặp phải những căn bệnh nan y khó chữa, vị anh tài chết trẻ năm nào lại âm thầm truyền cho y sư Trương một loại linh cảm đặc biệt để gợi mở. Sự thật về việc âm linh báo ân này chính là nguyên nhân chủ yếu khiến phòng khám của y sư Trương phát đạt như ngày hôm nay.

Ngày nay, tôi thấy người đời có khả năng hoạt động tâm thần không hề ít. Thế nhưng, do một số người không chú ý và không tinh ý nhận ra, nên tự nhiên họ không biết rằng đây chính là một loại hoạt động của tâm thức.

Những người đã khuất có thể lợi dụng lúc con người đang ngủ say giấc để rót những tâm đắc của họ vào trong não bộ của người sống, khiến người đó vào sáng ngày hôm sau khi tỉnh dậy có thể phát minh hoặc khám phá ra một lý thuyết mới. Hồn ma của nhà khoa học thì giúp đỡ nhà khoa học, hồn ma của nhạc sĩ thì giúp đỡ nhạc sĩ, hồn ma của nhà văn thì giúp đỡ nhà văn, tất cả những điều này đều là một phương thức thu nhận và trao truyền của linh hồn.

Tôi không muốn che giấu sức mạnh của mình, tôi quả thực có rất nhiều thần nhân cùng đến để trợ giúp. Ví dụ như khi tôi viết sách, tôi cứ thế mà hạ bút chứ chưa từng phải sửa lại một chữ nào, thường là viết một mạch xong ngay, những cuốn sách này cũng đều có được sự chỉ đạo của các vị linh trong linh giới, cùng sự gia trì từ linh quang của Phật Tổ. Tôi tin rằng, những việc tôi đã làm trong cuộc đời này đã mang một ý nghĩa vô cùng to lớn rồi, nếu sau khi chết, linh hồn tôi tiến vào linh giới, tôi sẽ chẳng còn bất cứ điều gì phải hối tiếc nữa!

Người tu khởi linh, nếu có được linh cảm thì phải biết vận dụng những linh cảm ấy cho thật tốt. Tâm chính thì linh chính, tâm tà thì linh tà, tuyệt đối đừng để lầm đường lạc lối! Người tu khởi linh phải nghiêm trì giới luật, không được lơ là dù chỉ là một chút, không thể để cho tâm ma nhân cơ hội chen ngang. Bởi vì một khi tâm ma đã xâm nhập, tâm trí chắc chắn sẽ điên đảo, lúc bấy giờ cầu linh cảm cũng chẳng được, trái lại còn chuốc lấy họa hại vào thân. Kết phải ác duyên như vậy, ắt sẽ gánh chịu ác quả.

18. Tiên Đạo Tông

Các môn phái của Tiên Đạo Tông, cũng chính là đạo môn của con cháu Hoàng Đế chúng ta, từ xưa đến nay vốn xuất hiện rất nhiều bậc tài năng. Đáng tiếc thay, những tinh hoa của văn hóa phương Đông lại chẳng có người kế thừa, đây chính là nỗi bi ai lớn nhất của chúng ta. Thuật hô hấp của thần tiên, những tinh túy của Đạo học, không chỉ dùng để tu tâm dưỡng tính, mà còn có thể giúp con người tu chân thành chân, chứng đạo ngộ đạo. Những thuật pháp này đến nay đều đã bị mai một, không còn ai nhận được chân truyền. Khi ân sư Tam Sơn Cửu Hầu truyền thụ đạo pháp cho tôi, có thể nói tôi giống như một tờ giấy trắng, bởi vì tôi thậm chí còn chưa từng nghe nói đến những điều đó bao giờ!

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng chỉ dẫn cho tôi "thuật xuất thần", dẫn dắt tôi đến một cung điện huyền ảo. Trên cung điện đó có treo một bức hoành phi, viết rằng: "Cung Địa Thủy Vị Phái Thần Tiên Đạo". Tôi nhìn thấy bên trong cung điện này toàn là người Nhật Bản, cho nên cảm thấy vô cùng kỳ lạ.

"Thưa linh sư, tại sao Tiên Đạo Tông lại lưu lạc sang tận Nhật Bản vậy?"
"Khí số đã định là như vậy, biết làm sao được!" - Linh sư nói: "Tiên Đạo Tông của Nhật Bản chia làm ba phái lớn. Phái thứ nhất là phái Cung Địa Thủy Vị Thần Tiên Đạo, phái thứ hai là Tử Quang Thần Tiên Đạo, và phái thứ ba là Tiên Đạo Liên Thần Tiên. Thần tiên ở Nhật Bản được chia thành ba bậc: một là Đại Linh Chân Nhân (Đại Thần Tiên), hai là Tiểu Linh Chân Nhân (Tiểu Thần Tiên), và ba là Địa Linh Chân Nhân (Địa Thần Tiên). Trong đó, phái Cung Địa Thủy Vị Thần Tiên Đạo bí ẩn đến mức ngay cả người Nhật Bản cũng không hề hay biết, bởi lẽ bí văn của phái này có rất ít người tu luyện được."

"Phái Thủy Vị Thần Tiên Đạo đã xuất hiện như thế nào vậy?"
"Đó là do Thiên Khu Chân Nhân hạ phàm trần. Khi lên mười tuổi, ngài đã quen biết với vô số các vị linh chân trong vũ trụ, từng tiến vào Bắc Thiên giới, chư thiên Tinh Thần giới, tiến vào Hải Cung giới, cũng như hàng trăm hàng nghìn cảnh giới Thần Tiên tự tại trên mặt đất. Đến năm mười bốn tuổi, ngài đã có thể tự do lên xuống các cõi: trên có thể thâm nhập vào cảnh giới của chư Phật Bồ Tát, dưới có thể đi vào cảnh giới của người, trời, quỷ thần. Ngài sống ở nhân gian được năm mươi ba tuổi, cuối cùng đã thành tựu nên cảnh giới Cung Địa Thủy Vị Thần Tiên."

"Thưa linh sư, hôm nay người dẫn con đến đây là có ý gì?"
"Để con nghiên cứu bí văn của phái Cung Địa Thủy Vị Nhật Bản, giúp con sau này có thể thấu hiểu được bao quát và rộng lớn hơn."

Linh sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh chỉ cho tôi xem một số cuốn sách. Những cuốn sách này quả thực là một kho tàng đồ sộ vô cùng tận, bao gồm: Thái Chân Đông Vương Kỳ Pháp, Ngũ Tạng Chân Ngôn, Hợp Thiên Đồng Thể Thai Hóa Linh Thư, Thiên Nhất Chân Quân Bí Văn, Mộng Trung Ngũ Nhạc Phù Lục, Mộng Hồn Cảm Thông Pháp, Đồng Tử Cảm Thông Pháp, Thần Thông Trì Hồn Chân Ngôn, Xuất Thần Sử Hồn Pháp, Thiên Chân Tam Cảm, Thần Thức Linh Phát Bí Văn, Thái Huyền Kim Tạng, Lục Giáp Lục Đinh Thuật, Thần Tiên Khuy U Lục, Bái Thần Ấn Pháp, Tam Hồn Lục Biến Chương, Ác Khí Yêu Ma Yếm Trừ Chương, Trấn Hồn Bí Từ, Vũ Bộ Chi Pháp, Tam Huyền Tử Phủ, Kính Thông Pháp, Cửu Tông Chân Pháp, Thiên Âm Bát Hóa Tịch Tai, Hải Tiên Giới Cảm Thông, Ẩn Vi Kết Linh Diệu Ngôn Thiên, Thiên Địa Chân Huyền Tam Quang Bảo Thư... v.v.

Tôi lại xem thêm: Thiên Thần Địa Quỷ Tốc Cảm Lục Nguyên Linh Đồ, Hoài Nam Thần Tiên Đồ, Thiên Đình Thái Huyền Chân Hình Đồ, Linh Bảo Chân Hình Vạn Thần Đồ, Đại Sơn Chúng Tiên Chân Hình Đồ, Hải Cung Đồ, Thái Chân Tây Vương Mẫu Dao Trì Thần Tiên Đồ, Ngọc Kinh Tử Lan Cung Bắc Thiên Giới Đồ, Tam Thiên Thái Thượng Vô Cực Chân Thuyên Cực Phẩm Thiên Thư.

Đối với những cuốn sách và bức tranh vẽ này, tôi hoàn toàn chỉ hiểu biết một cách nửa vời, có cái thậm chí chẳng hiểu gì cả. Nhưng linh sư đã chỉ thị cho tôi: "Sách thì có thể xem qua một lượt, trong đó cuốn "Thiên Địa Chân Huyền Tam Quang Bảo Thư" là quan trọng nhất. Cuốn sách này chính là "Thiên Khu Chân Thuyên" đã thất truyền từ lâu. Về phần tranh vẽ thì có thể học qua loa một chút, nhưng phải lấy đồ văn trong cuốn "Tam Thiên Thái Thượng Vô Cực Chân Thuyên Cực Phẩm Thiên Thư" làm trọng tâm. Trọng yếu nhất là hai cuốn sách này, con phải học cho bằng hết thì mới đủ tư cách làm truyền nhân của ta."

"Phái Cung Địa Thủy Vị dùng phương pháp gì để tu thành chân?"
"Phái Đại Linh Thần Tiên này hoàn toàn sử dụng phù chú Thiên Phù do tiên sinh Gia Cát Khổng Minh của nước ta truyền thụ lại. Người cầu đạo dùng mắt chăm chú nhìn vào lá phù này, miệng niệm thần chú Khổng Minh là có thể nhìn thấu được Tử Lan Thiên Cung xuất hiện. Đến cảnh giới tột cùng, có thể mang cả nhục thân bay lên trời. Trước khi đạt đến đó, Tử Lan Thiên Cung sẽ từ từ hiển hiện rõ ràng trước mắt, đây là một trong những thiên cung cao nhất của Thiên Quan Bắc Cực. Bên cạnh cung điện có một ao trời, trong ao ẩn giấu Hoài Nam Vạn Giới và Ngọc Nữ Ẩn Vi Thiên Tiên Giới. Hiện tại, những vị tu đạo đã đắc đạo thành chân có Quốc An tiên nhân, Hoành Minh tiên nhân, và một số vị khác nữa."

"Sư phụ cho con biết những điều này là có dụng ý gì?" - Tôi lại hỏi.
"Sau này con sẽ gặp những người tu đạo của phái Cung Địa Thủy Vị Nhật Bản. Nếu lúc đó họ hỏi mà con lại không biết thì chẳng phải là làm mất mặt Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ta đây sao?"
"Tương lai con nhất định sẽ gặp họ sao?"
"Nhất định."

Khi hồn phách của tôi từ Thần Tiên Đạo Quán của phái Cung Địa Thủy Vị trở về dương gian, trong lòng tôi dấy lên một cảm xúc vô cùng mạnh mẽ. Nhật Bản chỉ là một quốc đảo, vậy mà lại có thể hấp thu được những tinh hoa của văn hóa phương Đông. Tiên Đạo Tông của họ hoàn toàn bắt nguồn từ Trung Quốc chúng ta, thế mà Tiên Đạo Tông của chúng ta lại gần như đã thất tán hết rồi, ngày nay những người nghiên cứu môn này vô cùng thưa thớt, không những thưa thớt mà dường như chẳng còn ai nữa.

Người Nhật có một đặc tính vô cùng kiên trì, cố chấp. Điển hình như ở đạo tràng Mật giáo Nhật Bản, có ông Kiriyama Seiyu [Kiriyama Seiyu (1921–2016) là một nhân vật có thật, người sáng lập phái Agon Shu (A Hàm Tông) - một tông phái Phật giáo mới tại Nhật Bản kết hợp giữa Mật giáo, Thần Đạo và các kỹ năng siêu nhiên], người này dựa vào thuật linh thần mà đã hoàn thành được mấy bộ sách: "Niệm lực", "Tôn giáo: Bí mật của siêu năng lực", "Tôn giáo: Đạo trình của siêu năng lực", "Tôn giáo chiêm tinh thuật", "Nguyên lý biến thân", "Nhật Bản trấn hồn pháp"…

Tôi nghiên cứu Linh Tiên Pháp, mục đích chính là để phát huy những bí thuật của tổ tiên chúng ta, Tiên Đạo Tông vốn là tinh túy của nước nhà. Nếu đến nước này mà vẫn còn có người bảo đó là mê tín thì quả thực chỉ là phường "vô tri mà không biết mình vô tri" vậy!

19. Không gian của sự u mê

Sự hoạt động của linh hồn vô cùng thiên hình vạn trạng, trong đó có cái gọi là "hóa trang" và "đảo trang". Có rất nhiều vị thần thánh mang lòng từ bi sâu sắc, vì thương xót cho những chúng sinh đang u mê mà thường xuyên hóa trang hạ phàm, hoặc là đảo trang giáng sinh xuống trần. Sau khi hoàn thành xong sứ mệnh, các ngài lại quay trở về cõi trời. Ở chốn phàm trần này, nếu không có những bậc thánh nhân ấy xuất thế để khai sáng cho những kẻ biết sau hiểu muộn và không biết không hiểu, thì những phàm linh ấy sẽ chỉ sống một cuộc đời điên đảo, mộng mị. Họ chẳng biết gì cả, cứ mãi quẩn quanh trong cõi phàm trần, vĩnh viễn không biết rằng còn có thiên giới cấp trên tồn tại.

Những vị thần hóa trang hoặc đảo trang giáng sinh xuống cõi người này có linh trí đặc biệt cao, có thể nhớ lại được căn duyên từ nhiều đời nhiều kiếp trước, nên cuối cùng vẫn có thể quay về lại thiên giới. Nhưng cũng có những vị vừa mới giáng sinh đã đánh mất đi bản tính của mình. Nếu bản tính đã mất, lại không có thần thánh nào đến cứu độ, thì duyên nghiệp ở cõi người sẽ ngày càng tăng thêm, đến cuối cùng trái lại chẳng còn biết lai lịch của chính mình là từ đâu đến nữa, chuyện như vậy cũng có xảy ra.

Nói về tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài tự xưng rằng mình đã tu hành suốt năm trăm kiếp. Trong năm trăm kiếp đó, Ngài từng làm loài vượn lông vàng, từng làm voi chúa sáu ngà. Đến bậc đại thánh như Phật Thích Ca Mâu Ni mà còn phải chuyển sinh đầu thai vào đường súc sinh, huống hồ là những kẻ phàm phu tầm thường chúng ta. Do đó, những người tu hành ngày nay xin đừng tự than thân trách phận, bởi công phu tu hành là do tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp mà thành, chứ không phải chuyện một bước là đạt được ngay. Ở chỗ này chính là nơi ẩn giấu trí tuệ bẩm sinh, sự khác biệt giữa thiên tài và kẻ ngu muội cũng từ chỗ này mà phân định rõ ràng. Thường thì một bậc đại trí giả thượng thừa luôn tự biết rõ bản thân mình, chỉ tiếc là thế nhân lại chẳng thể nhận ra được bộ mặt thật của họ.

Nhìn chung, những bậc thượng thượng trí phần lớn đều xuất hiện vào thời tiên cổ, ngày nay các ngài đều đã quay trở về thiên giới cả rồi. Những kẻ còn sót lại ở nhân gian này gần như toàn là hạng tạp nham cặn bã. Những kẻ này đánh mất bản tính, chạy theo sự hưởng thụ dục vọng vật chất, mải miết đuổi theo sự u mê vọng tưởng, ác nghiệp tích tụ từ nhiều kiếp quá đỗi sâu nặng. Dẫu cho đôi lúc có lóe lên một tia hối hận, nhưng cũng chỉ thoáng qua rồi lại vụt tắt, để rồi bị ác niệm kiểm soát hoàn toàn. Họ không tin vào Phật pháp chân đạo, trái lại còn buông lời phỉ báng Phật pháp chân đạo; không tin rằng có luật nhân quả báo ứng, sáng tạo ra thuyết vô thần, làm cho ánh sáng của toàn thế giới đột nhiên vụt tắt. Họ khiến cho nhân gian chẳng còn chút hy vọng nào, chỉ biết cậy sức mạnh của bản thân, cá lớn nuốt cá bé, làm những việc trái với đạo đức thiên lý, từ đó biến nhân gian thành một chốn địa ngục.

Những kẻ này khi còn sống thì mơ mơ hồ hồ, đến khi chết đi rồi cũng vẫn cứ mơ mơ hồ hồ y như vậy. Kẻ gây tội ác tày trời thì đọa thẳng xuống địa ngục để chịu quả báo luân hồi vô cùng thống khổ. Còn kẻ gây tội ác nhỏ, do lúc sống không tin vào sự tồn tại của linh hồn, mọi hoạt động tinh thần đều không có, nên sau khi chết đi họ mãi mãi không thể tỉnh lại được. Linh hồn của họ cứ nằm lì cùng với xác chết, ngủ một mạch nghìn vạn năm cũng chẳng buồn thức giấc. Loại linh hồn này có tồn tại không? Có chứ, loại linh hồn này được gọi là linh hồn chết. Linh hồn chết cứ chìm vào giấc ngủ triền miên, nếu không có một nguồn sức mạnh chấn động khổng lồ nào tác động vào, thì nó sẽ quyết không chịu tỉnh dậy. Giống hệt như con người đang ngủ vậy, chỉ có điều giấc ngủ của linh hồn chết là một đêm dài đằng đẵng, vĩnh viễn không có lúc tỉnh giấc, qua đó đủ thấy sự ngu muội của họ đã bám rễ sâu đến mức nào.

Lại có một loại linh hồn sau khi tỉnh dậy, do lúc còn trên dương thế hoạt động tinh thần quá nghèo nàn, nên linh trí rất thấp. Bọn họ cứ mê mê hồ hồ trôi dạt khắp mặt đất, chẳng có một chốn nương thân nhất định. Nếu chết ở trong nhà, họ liền bám chấp lấy ngôi nhà đó mà không chịu rời đi; nếu tỉnh lại ở ngoài nghĩa địa, họ liền bám chấp lấy khu mộ phần không chịu đi. Có những linh hồn u mê quyến luyến chốn nhân gian, liền biến thành 'mê địa quỷ' hoặc 'mê địa tinh'. Những hiện tượng này đều là những đặc tính dị biệt của linh hồn.

Trong cuốn sách "Giữa Linh và Tôi", tôi từng kể về việc mình đã gặp một con ma chết vì tham tiền. Con ma này mê luyến tiền bạc của cải, mê luyến cả chức tước quan quyền của chính mình, lúc còn sống là một kẻ u mê, đến khi chết rồi cũng biến thành một hồn ma u mê. Than ôi, thật sự là đáng thương đến cực điểm!

Khi đọc Kinh Hoa Nghiêm, có một đoạn văn đã thu hút sự chú ý đặc biệt của tôi:

"Người thế gian thường buông lung và đắm say mãi trong ngũ dục, vọng tưởng những điều không có thật, từ đó tự tạo ra những chướng ngại khổ đau. Vào lúc bấy giờ, nếu có người siêng năng tu tập không buông lung, phụng hành Phật pháp, dùng lời thề nguyện rộng lớn để có thể cứu độ những kẻ đang nương tựa vào mình, thì đó chính là cảnh giới của Phật.

Nhìn thấy quần sinh bị mê hoặc mà đánh mất con đường chân chính, quen thói đi theo muôn nẻo tà đạo, chìm đắm trong bóng tối, mà vì những kẻ ấy thắp lên ngọn đèn trí tuệ, khiến cho họ nhìn thấy được Phật pháp, thì đó chính là cảnh giới của Phật.

Biển sinh tử trong ba cõi vừa sâu vừa rộng mà lại chẳng có đáy, vô số chúng sinh đang trôi dạt chìm đắm trong đó. Nếu có thể dùng phương tiện khéo léo để chế tạo ra con thuyền chính pháp nhằm cứu vớt họ, thì đó chính là cảnh giới của Phật."

Có một người bạn trẻ tìm đến nhà tôi, tôi nhìn ra cậu ấy chính là Trí Quang Thiên Thần đảo trang đầu thai. Thế nhưng do cậu ấy đã đánh mất bản tính, bụi trần duyên nghiệp lại càng lúc càng nặng, nên giờ đây linh trí đã tiêu tán, ánh sáng rực rỡ cũng không còn nữa. Lai lịch của người bạn trẻ này vốn là Trí Quang Thiên Thần, vậy mà bản thân cậu ấy lại hoàn toàn không hề hay biết. Sau khi đọc sách của tôi, cậu ấy bỗng nhiên có điều giác ngộ, liền chạy đến tìm tôi.

"Tiên sinh Thắng Ngạn, thực sự có thiên giới tồn tại sao?"
Nghe xong tôi thực sự rất muốn bật cười, bởi vì chính cậu ấy vốn đến từ Trí Quang Thiên Giới cơ mà.
"Thật sự có." - Tôi đáp.
"Vậy phải tu như thế nào?"
"Hãy khám phá và làm hiển lộ lại thứ ánh sáng thần tính vốn có của chính mình, như vậy là thành công rồi. Hãy nhanh chóng tu Xuất thế quán [quán chiếu sự giải thoát khỏi cõi tục], cắt đứt những ác duyên chốn hồng trần, thì mới có thể sớm ngày quay trở về thiên giới."
"Tôi... tôi có duyên phận với thiên giới sao?" - Cậu ấy lại hỏi với vẻ đầy hoang mang và sợ hãi.

Tôi kể ngọn ngành chi tiết cho cậu ấy nghe về lai lịch xa xưa nhất của cậu ấy, cậu ấy sững sờ kinh ngạc, nói:
"Thảo nào tôi từng có một giấc mơ, mơ thấy mình trở về một cõi trời ánh sáng chói lọi rực rỡ, có ánh sáng năm màu chiếu vào người, mặt đất thanh tịnh không một chút ô uế, mùi hương vi diệu tràn ngập khắp quanh thân, tự do bay lượn. Khi gặp gỡ, chỉ cần dùng trí tuệ tiến nhập vào tâm trí của vị thần khác để giao tiếp qua lại, hoàn toàn không cần dùng miệng để nói chuyện. Lấy những luồng ánh sáng rực rỡ tự nhiên làm thức ăn, không cần phải ăn những vật có hình thể, và trên thân mình cũng tự nhiên phát ra ánh sáng nữa!"
"Đó chính là quang cảnh của Trí Quang Thiên Giới đấy." - Tôi nói.
"Tiên sinh Thắng Ngạn, tôi lĩnh ngộ rồi, tôi nhất định sẽ quay trở về." - Trên gương mặt người thanh niên đó hiện lên một nét sáng ngời kiên định.
"Chúc phúc cho cậu." - Tôi chân thành nói.

Than ôi! Cuối cùng cũng độ được một vị Trí Quang Thiên Thần quay trở về. Nếu không làm vậy, cậu ấy sẽ còn phải lăn lộn chìm nổi ở chốn nhân gian này biết bao nhiêu đời, biết bao nhiêu kiếp nữa đây?

20. Thành Trụ Hoại Không

Khi nghiên cứu kinh Phật, tôi biết rằng trong Không luân có sự tồn tại của đa vũ trụ. Các cõi trời ở trên cao, từ dưới lên trên, được chia thành Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.

Trong các cõi trời của ba giới này:

Dục giới có Tứ Thiên Vương thiên, Đao Lợi thiên (trung tâm của Đao Lợi thiên là Đế Thích thiên, là nơi Ngọc Hoàng Đại Đế cư ngụ, chia ra bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc mỗi hướng có 8 tầng trời, tổng cộng là 33 tầng trời), ngoài ra còn có Dạ Ma thiên, Đâu Suất thiên, Hóa Lạc thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên.

Sắc giới có Tứ thiền thiên (bốn cõi thiền): cũng chính là Sơ thiền ─ gồm ba tầng trời là Phạm Chúng, Phạm Phụ, Đại Phạm. Nhị thiền ─ gồm ba tầng trời là Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Quang Âm. Tam thiền ─ gồm ba tầng trời là Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh. Tứ thiền ─ gồm chín tầng trời là Phúc Sinh, Phúc Ái, Quảng Quả, Vô Tưởng, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện, Sắc Cứu Cánh.

Vô sắc giới có bốn tầng trời là: Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

Vì vậy, Tam giới có tổng cộng hai mươi tám tầng trời.

Bên ngoài hai mươi tám tầng trời này, chính là nơi đã vượt ra khỏi Tam giới, hoàn toàn không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Đó cũng chính là một vùng trời đất trống trải vô biên vô tế, nơi mà cái "không" cũng chẳng còn. Đó chính là cảnh giới của chư Phật, Bồ Tát và các bậc Đại Thánh A La Hán. Cảnh giới này sâu thẳm đến mức không thể lường được, trí tuệ của người phàm phu không thể nào tưởng tượng và thấu hiểu nổi. Đương nhiên, mức độ không thể nghĩ bàn của nó chính là đỉnh cao tột cùng của trí tuệ, là Thánh quả tự tại viên thông vô thủy vô chung khắp mười phương pháp giới.

Kẻ hèn này thấu hiểu sâu sắc rằng, thiên đường của Cơ Đốc giáo suy cho cùng cũng chỉ là thiên đường của cõi trời Dục giới mà thôi. Thiên đường của Thiên Chúa giáo và Hồi giáo cũng tương tự, đều là thiên đường của cõi trời Dục giới. Đức Chúa Trời Jehovah của Cơ Đốc giáo chính là vị Thiên Đế của Đại Tự Tại thiên thuộc Dục giới. Đây là những điều tôi đã nhìn thấy trong lúc cầu nguyện và được linh quang tràn ngập. Tất nhiên, có lẽ sẽ có rất nhiều tín đồ không đồng tình với cách nói của tôi, nhưng không đồng tình cũng chẳng sao cả, dù sao thì khi tu hành đến một mức độ nhất định, tự nhiên họ sẽ có nhận thức mới về những gì tôi nói.

Vậy còn về Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Khung Cao Thượng Đế - vị Thiên Đế của Đạo giáo, thì địa vị của Ngài như thế nào? Tôi phát hiện ra lai lịch của Ngài không hề tầm thường chút nào. Bởi vì tôi từng gặp Thiên Đế tại cung Đao Lợi thiên, mà ba mươi ba tầng trời mỗi nơi đều có một vị Thiên Đế cai quản, lên đến tận Sắc Cứu Cánh thiên cũng có Sắc Cứu Cánh Thiên Đế. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thiên là tầng trời cao nhất của Tam giới, thế nhưng vẫn luôn tồn tại một vị Thiên Đế mang ngôi vị "Cửu lục chi tôn" [đây là một danh xưng tâm linh mang hàm ý Đấng thống nhất cả Âm lẫn Dương, chủ tể của toàn thể vũ trụ và vạn linh, theo học thuyết số 9 tượng trưng cho Dương (Trời), số 6 tượng trưng cho Âm (Đất)]. Tôi nói như vậy, có thể thấy Ngọc Hoàng Đại Đế rốt cuộc là đấng bao trùm khắp cả vũ trụ không gian vô tận, công quả của Ngài không thể xem nhẹ. Đây là phát hiện của riêng tôi, trong các kinh điển Phật giáo khác rất hiếm khi có những ghi chép như vậy, có lẽ là có, nhưng tôi chưa từng đọc thấy.

Nhân đây, tôi chân thành khuyên mọi người, tuyệt đối, tuyệt đối không được khinh thường Ngọc Hoàng Đại Đế, và cũng tương tự, không được khinh thường Đại Tự Tại Thiên Chủ. Đặc biệt là đối với một số người xuất gia tu hành chưa đạt đến độ chín muồi, nếu các vị cố tình nuôi tâm khinh mạn, hãy khoan bàn tới việc không thể thành Phật hay Bồ Tát, nhưng với thói cao ngạo đó thì chỉ có một con đường duy nhất là đọa xuống địa ngục mà thôi.

Về sự hình thành của Trái đất và nguồn gốc của nhân loại, hiện nay đang tồn tại cả Thuyết Sáng Tạo và Thuyết Tiến Hóa. Thế nhưng cả hai học thuyết này đều có những khiếm khuyết. Thuyết "Thành, Trụ, Hoại, Không" của nhà Phật lại có một cách giải thích cực kỳ rõ ràng về sự hình thành của Trái đất cũng như nguồn gốc con người. Đối với cá nhân tôi mà nói, cách giải thích này có phần chính xác hơn.

Trong cuốn "Người Trái Đất", pháp sư Thánh Khai có viết:

"Tại sao trên Trái đất của chúng ta lại có con người? Tổ tiên của loài người, từ thời kỳ sơ khai sớm nhất, rốt cuộc là từ đâu đến? Trong kinh "Tăng Nhất A Hàm" và rất nhiều kinh điển khác của Phật giáo đều có ghi chép rất rõ ràng rằng: Những con người đầu tiên trên Trái đất vốn là từ Quang Âm thiên hạ giáng xuống. Là loài có linh tính cao nhất trong vạn vật, thủy tổ của chúng ta tuyệt đối không phải do một vị thần nào đó dùng bùn đất nặn thành – đó chỉ là thần thoại, và cũng không phải tiến hóa từ loài vượn khỉ mà ra – đây là một sự ngụy biện.

Thế giới được chia thành bốn giai đoạn là Thành, Trụ, Hoại, Không. Mỗi giai đoạn là một trung kiếp. Từ lúc hình thành (Thành) cho đến khi trống rỗng (Không), bốn trung kiếp này gộp lại thành một đại kiếp. Khi thế giới đi đến giai đoạn cuối của Hoại kiếp, sẽ có hỏa hoạn lớn xảy ra, thiêu rụi cả địa ngục, trái đất, cùng với các thế giới tinh cầu khác và các cõi trời thuộc Dục giới; cháy lên đến tận ngay sát Sơ thiền thiên của cõi Sắc giới. Lúc bấy giờ, các vị Thiên nhân, Bồ Tát, Thánh hiền ở các cõi dưới và những chúng sinh từng hành đại thiện, tính linh của họ tự nhiên được cứu rỗi, sớm đã được sinh lên cõi Quang Âm thiên để hưởng nhận thiên phúc an vui.

Sau khi trải qua Không kiếp kéo dài bằng hai mươi tiểu kiếp, vòng tuần hoàn lại luân chuyển đến giai đoạn của Thành kiếp. Từ trên cõi Quang Âm thiên nổi lên những đám mây lành lớn màu vàng kim, rồi trút xuống những trận mưa rào cam lộ. Khi dòng nước lớn rút đi, lại làm xuất hiện vô số tầng trời từ Sơ thiền thiên trở xuống. Những vật chất do trận đại hồng thủy lưu lại trong vũ trụ, trải qua quá trình xoay chuyển khổng lồ, dần dần đông đặc lại. Từ đó, trong vũ trụ lại xuất hiện vô số tinh cầu hình tròn hoặc hình bầu dục lớn nhỏ khác nhau, trong đó bao gồm cả Trái đất của chúng ta và mặt trăng quay quanh Trái đất, cho đến tất cả mọi thế giới từ tận cùng dưới đáy địa ngục trở lên. Do nhiệt năng khổng lồ xoay chuyển và tập trung lại, đã tạo thành rất nhiều mặt trời, chính là những gì mà các nhà thiên văn học gọi là hằng tinh, hành tinh và vệ tinh. Khi đã có mặt trời, vì mỗi tinh cầu trong hệ mặt trời đều có quỹ đạo riêng của nó, hành tinh quay quanh hằng tinh, vệ tinh lại quay quanh hành tinh, vừa tự quay quanh trục vừa quay quanh tâm, từ đó mà phân ra ngày và đêm.

Khi Trái đất mới hình thành, lớp vỏ Trái đất vẫn chưa khô cạn hoàn toàn, mặt đất do đó hiện lên một vùng màu trắng sữa. Nhìn từ trên trời xuống, Trái đất sáng rực rỡ vô cùng, ánh sáng chiếu đi rất xa. Những nam thanh nữ tú trên cõi Quang Âm thiên, những vị sắp hưởng hết thiên phúc và có tính tình nông nổi, bộp chộp, cảm thấy điều này thật kỳ lạ, bỗng dùng phép thần túc bay đi. Họ lần lượt bay đến Trái đất, phân tán khắp các châu lục. Thấy trên mặt đất có những dòng suối ngọt ngào tuôn trào, nên người người đều tham ăn. Do ăn nhiều, cơ thể họ dần dần trở nên thô kệch, nặng nề và chìm xuống, phải đi bộ trên mặt đất. Tấm thân linh diệu biến hóa bằng năng lượng dần dần biến thành thân xác bằng xương bằng thịt cấu tạo từ vật chất. Họ mất đi thần túc thông, cũng mất luôn thiên y tự nhiên vốn có, chẳng thể nào bay lượn trên không trung được nữa, và càng không thể quay trở về trời được nữa.

Hương thơm kỳ diệu của cõi trời vốn có trong mỗi người, vẻ đẹp rực rỡ sáng ngời, sự trang nghiêm trí tuệ, cùng với những năng lực linh dị bẩm sinh cũng dần dần tan biến mất. Thiên nhãn, thiên nhĩ đã biến thành mắt phàm, tai phàm, và họ đã không còn khả năng nhớ lại những chuyện trong tiền kiếp nữa."

Ở đây, tôi trích lục đoạn ngắn về nguồn gốc của con người và sự hình thành của Trái đất. Nhìn bề ngoài thì có vẻ đơn giản, nhưng thực chất quá trình này rất phức tạp và nghe có chút giống thần thoại. Thế nhưng, trên thực tế điều này chẳng phải là thần thoại chút nào, mà đó là chuyện "tự nhiên nó phải như thế". Tôi cho rằng Thuyết Sáng Tạo chỉ là một cách nói ẩn dụ tiện lợi, nếu Thần sáng tạo ra con người và vạn vật trên Trái đất, vậy thì các tinh cầu khác là do ai sáng tạo ra? Thuyết Tiến Hóa không phải là hoàn toàn không có căn cứ, nhưng ngay chính nền tảng lập luận của nó lại không quá vững chắc.

Cách giải thích của Phật giáo về sự hình thành Trái đất và nguồn gốc loài người là phù hợp nhất với học thuyết của Trung Quốc cổ đại: "Thuở hỗn độn mới mở, trời đất bắt đầu định vị. Khí nhẹ và trong nổi lên trên hóa thành Trời. Khí nặng và đục ngưng kết bên dưới hóa thành Đất. Mặt trời, mặt trăng và năm ngôi sao, gọi là Thất Chính. Trời, Đất và Người, gọi là Tam Tài. Mặt trời là tông chủ của vô vàn khí dương, mặt trăng là hiện tượng của thái âm."

Tôi lĩnh ngộ được hai câu nói:
"Thành – Trụ – Hoại – Không là một vòng tuần hoàn, ranh giới của cái Không là dài lâu nhất."
"Thiên đường và Địa ngục là những lời thuyết giảng phương tiện thiện xảo, và cũng là một phần của Phật pháp Tiểu thừa."

21. Bí pháp giải thoát

Tôi đọc cuốn "Đại Châu Hòa Thượng Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận" [một tác phẩm kinh điển của Thiền Tông do Thiền sư Đại Châu Tuệ Hải sáng tác vào thời nhà Đường, giảng về phương pháp giác ngộ ngay lập tức], ngay trang đầu tiên có bài tựa do Hòa thượng Thái Thương ở chùa Giang Thiên, núi Kim Sơn, Trấn Giang biên soạn. Trong đó có hai đoạn văn vô cùng quan trọng và khiến người ta phải suy ngẫm sâu sắc.

Đoạn thứ nhất: "Sáu pháp Ba-la-mật mà Phật pháp Đại thừa nhắc đến, thực chất chính là chiếc bè báu duy nhất để con người có thể cập đến bến bờ bên kia, đó chính là thực tướng của trí tuệ Bát nhã. Trong khi đó, mục đích mà Phật pháp Tiểu thừa cầu chứng đắc là Niết bàn, cũng chính là đạt được trí tuệ của sự giải thoát và tri kiến, từ đó vươn tới niềm an vui của sự tịch diệt. Nói tóm lại: Bất kỳ pháp môn nào trong Phật pháp, cho dù là nương theo pháp hữu vi mà bắt đầu tu tập, hay đi thẳng từ pháp vô vi mà tiến nhập vào, thì tất cả đều là vì mục đích giải thoát khỏi biển khổ của Tam giới, và vinh quang bước lên bến bờ của niềm an lạc tịch diệt. Sự khác biệt giữa Đại thừa và Tiểu thừa mà người ta thường nói tới, thực chất chỉ là sự khác biệt lớn nhỏ ở tâm phát nguyện, ở tri kiến, và ở cảnh giới tu chứng mà thôi, còn trên thực tế, cả hai đều cùng hướng về chung một mục đích."

Đoạn thứ hai: "Việc tu trì của Tịnh Độ Tông, mục đích là để vãng sinh về thế giới Cực Lạc; thế giới Cực Lạc cũng chính là tịnh thổ của Phật, trong đó có cả Quyền [phương tiện] và Thực [chân lý tuyệt đối]. Phật quốc tịnh thổ vốn luôn thanh tịnh, tĩnh lặng và sáng ngời, ta và người vốn chẳng phải là hai – đây chính là thực tướng tịnh thổ. Còn thế giới Cực Lạc mang đầy vẻ đẹp tráng lệ, lầu gác báu vật trang nghiêm – đây chính là quyền hóa tịnh thổ.

Thiền Tông chủ trương trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, thế thì há chẳng phải cũng có Quyền và Thực hay sao? Bản tính không phải do "nhìn" (kiến) mà thấy được, tâm vốn dĩ chẳng có chỗ trụ; nói là "nhìn", nói là "chỉ" thì vẫn chỉ là pháp phương tiện mà thôi. Nói đến tâm, nói đến tính, vốn dĩ chúng đã luôn tự hiển hiện sẵn đó rồi. Nếu có thể nhìn thấu suốt tâm tính vốn dĩ luôn hiển hiện sẵn đó, rành rẽ rõ ràng, thì đó há chẳng phải chính là thực tướng của tịnh thổ đang hiển hiện hay sao? Nếu như chỉ hiểu và thấy được bằng lý thuyết, mà trong quá trình hành trì tâm trí vẫn chưa thể ngay lập tức tĩnh lặng, một niệm vẫn còn ký sinh dính mắc, thì đó há chẳng phải là sự Quyền hóa của Phật quốc tịnh thổ hay sao?

Các tông phái khác như cảnh giới pháp giới của Hoa Nghiêm Tông, Đại viên cảnh trí của Như Lai Tạng thuộc Pháp Tướng Tông, Diệu đế Trung quán của Thiên Thai Tông, cảnh giới vô thượng nhất tôn của Mật Tông, hay Giới tính của Luật Tông cùng vô số pháp môn khác... thực chất chỉ là danh từ ngôn ngữ khác biệt, phương tiện nhiếp thọ và giáo hóa có sự khác nhau mà thôi. Trên thực tế, tất cả đều là vì mục đích giải thoát khỏi những phiền não trần lao, vinh quang bước lên bờ giác, khiến cho cõi trời và cõi người cùng được trọn vẹn một nhân duyên lớn này, để vô lượng chúng sinh cùng trở về với bản thể chân thật ban sơ mà thôi."

Hai đoạn văn này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với Linh Tông mà tôi hiện đang tu tập. Cần phải biết rằng, phương pháp tu linh cũng chính là để giải thoát khỏi sự trói buộc của phiền não, giúp con người vượt qua cõi phàm phu để bước vào cảnh giới siêu phàm nhập thánh, và đạt được cảnh giới tự tại vô ngại tối cao.

Ở đây, hoàn toàn không có sự phân biệt giữa Đại thừa hay Tiểu thừa, cũng không có sự phân chia giữa các tông phái. Chỉ cần có thể giải thoát thì bất luận là dùng phương pháp gì, tất thảy đều có lợi chứ không hề có hại. Đặc biệt là phái Linh Tiên Chân Phật Tông có sự cảm ứng lớn lao nhất, lại đơn giản và dễ học, chỉ cần kiên định tâm trí, nỗ lực tu trì và nhận sự gia trì, thì không ai là không thành công cả.

Đắc đạo hay chưa đắc đạo vốn dĩ không có gì khác biệt. Sự xuất hiện của ma tướng và sự xuất hiện của thực tướng, khác biệt cũng không lớn, chính vì sự khác biệt không lớn này, nên rất dễ khiến cho người ta hiểu lầm.

Thực tướng là sự tự tại như như, còn ma tướng là sự mất tự tại và điên đảo; thực tướng là tướng bình thường, ma tướng là tướng dị biệt; thực tướng là cái tâm bình đẳng không phân biệt, còn ma tướng thì bám chấp u mê. Nếu quan sát một cách kỹ lưỡng, có thể nhìn ra được đâu mới thực sự là thực tướng, đâu là ma tướng.

Những người tu linh hiện nay, trong tâm tuyệt đối không được nôn nóng, vội vàng. Tâm mà nôn nóng thì sẽ không dễ gì nhập định được, tâm không định thì rất dễ rơi vào cảnh giới của ma.

Sự giải thoát chân chính là sự giải thoát của tâm, là một sự thấu suốt không còn chướng ngại, một sự tự tại rành rẽ minh bạch, một tự tính rộng lớn bao dung. Có đạt đến cảnh giới này mới biết đó chính là pháp vô thượng giải thoát hoàn toàn của trí tuệ. Bất luận là tu trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, bố thí, hay là tu giới - định - huệ, tương lai đều sẽ đạt được năm loại pháp thân: Một là Thực tướng pháp thân, hai là Công đức pháp thân, ba là Pháp tính pháp thân, bốn là Ứng hóa pháp thân, năm là Hư không pháp thân. Đến được bước này, không có gì để đắc, chẳng có gì để chứng, thì đó cũng chính là đã "chứng" rồi.

Hòa thượng Đại Châu có bài kệ:
"Lòng ta nay vui sướng,
Người mắng chẳng buồn phiền.
Lặng im không thị phi,
Sinh tử Niết bàn chung.
Nhận ra nguồn gốc cũ,
Vốn chẳng có cỏ xanh.
Mọi vọng tưởng phân biệt,
Do người đời chưa thông.

Lòng ta nay rộng rãi,
Ít nói nên tâm an.
Thong dong và tự tại,
Đông Tây dễ chẳng khó.
Suốt ngày lặng không nói,
Từng niệm hướng chân lý.
Tiêu dao tự thấy Đạo,
Sinh tử chẳng liên quan."

Có người từng hỏi tôi:
"Tiên sinh Thắng Ngạn, vạn vật trong thiên hạ đều có một thuộc tính, ví dụ như Ngũ hành có Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Vậy linh hồn thuộc về tính nào?"
"Thủy Hỏa." - Tôi đáp.
"Linh hồn chẳng phải là vô tính (không có thuộc tính) sao?"
"Bản chất vốn dĩ là vô tính, nhưng lại thuộc về Thủy Hỏa; Thủy Hỏa hỗ trợ lẫn nhau thì chính là vô tính. Nếu Thủy mạnh mà Hỏa tắt, thì sẽ mang thuộc tính Thủy; nếu Hỏa mạnh mà Thủy tắt, thì sẽ mang thuộc tính Hỏa. Người phàm phu không đạt được sự bình đẳng cân bằng, nên mới sinh ra thuộc tính."
"Ngài cho rằng bài kệ của Đại Châu Hòa thượng nói lên điều gì?"
"Linh hồn vô tính, Thủy Hỏa bình đẳng cân bằng, không còn khởi sinh lên ý niệm về sự sống và cái chết nữa."

Ngày nay, việc tu trì linh hồn để cập bến bờ bên kia chính là cội rễ của vạn pháp. Bất luận thế nào đi nữa, linh hồn là có thật, và pháp môn tu trì giải thoát chính là để thăng hoa linh hồn tiến nhập vào quốc độ Cực Lạc, không còn phải chịu sự luân hồi trong bánh xe khổ đau của Đại Đạo nữa. Thế nhưng, phương pháp giải thoát tuy dễ, mà việc duy trì sự thăng bằng của tâm trí lại vô cùng khó khăn. Tất cả những điều này đều phải dựa vào chính bản thân mình, tuyệt đối đừng để mất tự chủ, nghìn vạn lần phải cẩn trọng.

22. Linh cảm trào dâng

Một người tập thiền, trong lúc vạn niệm đều đã tịch tĩnh, chắc chắn sẽ xuất hiện hiện tượng linh cảm trào dâng. Về vấn đề này, cả xưa và nay, trong hay ngoài nước, mọi người đều chung một tâm trạng đó, và cũng chung một nguyên lý đó; đây chính là một trong những thành quả to lớn khác của công phu thiền định. Vậy tình trạng linh cảm trào dâng rốt cuộc là chuyện như thế nào? Có người cho rằng đó là sự bùng phát của linh trí, cũng có người lại cho rằng đó là sự rung động của linh hồn, thậm chí có người còn nói đó là một loại cảm giác khác lạ trong nhịp thở. Những cách nói này đều không sai, bởi vì linh cảm trào dâng thực chất chính là sự xuất hiện cùng một lúc của cả ba tình trạng kể trên.

Những người tu trì Linh Tông, các cảm ứng linh cảm trào dâng đến với họ nhiều hơn và nhanh hơn so với người bình thường. Bởi vì linh cảm vốn bắt nguồn từ những rung động của linh hồn. Với những người có linh hồn sống, họ nhìn nhận hiện tượng linh cảm trào dâng này chẳng có gì là hiếm lạ cả; chỉ có những kẻ "linh hồn chết" mới cảm thấy linh cảm trào dâng là một điều gì đó vô cùng kỳ quái và không thể nào tưởng tượng nổi.

Có một lần, tôi ngồi thiền, khoảng mười phút sau, chợt thấy một luồng ánh sáng rực rỡ dâng lên trước mắt. Ánh sáng đó như một bánh xe tròn xoay tít, sau khi xoay chuyển xong thì hiện ra kim thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni với ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm. Điều kỳ lạ là, mặc dù kim thân Phật Tổ tỏa ánh vàng rực rỡ, nhưng đôi mắt Ngài lại đang rơi lệ, trên gương mặt lộ rõ vẻ không vui.

Hiện tượng như vậy diễn ra liên tục suốt mấy ngày liền. Tôi vắt óc suy nghĩ hàng trăm lần mà vẫn không thể nào hiểu được ý nghĩa của nó. Cho đến một buổi tối nọ, tôi bỗng nhiên linh cảm trào dâng, nhịp thở trở nên cực kỳ bất thường. Cứ hễ nhắm mắt lại là tôi lại nhìn thấy hình ảnh Phật Tổ đang bi thương rơi lệ. Chính lúc đó, tôi đột nhiên nhớ ra hôm nay chính là ngày làm lễ khai quang và đặt viên đá đầu tiên cho tượng Phật Tổ tại một ngôi chùa nọ. Thế là tôi lập tức bắt một chiếc taxi, lao thẳng đến ngôi chùa ấy, khi tới nơi thì trời đã vào khoảng mười giờ tối.

Ngôi chùa mới xây nằm sừng sững ở lưng chừng núi. Cánh cửa của Đại Hùng Bảo Điện chỉ mở hé một nửa, dòng người hành hương lễ bái đã giải tán hết từ lâu rồi! Tôi nhìn bức tượng Phật thì thấy y hệt như những gì tôi đã nhìn thấy trong lúc ngồi thiền.

Chính vào lúc này, từng cơn gió lạnh cuồn cuộn thổi tới. Từ hai bên của chính điện bỗng xuất hiện hai người âm, một vị là tỳ kheo, một vị là tỳ kheo ni. Tôi liền hướng về phía hai vị tăng ni này cẩn thận vái chào.

"Thí chủ bây giờ mới đến sao?" - Vị tỳ kheo lên tiếng hỏi.
"Đúng vậy ạ."
"Hai người chúng tôi đã cung kính đợi ngài ở đây lâu lắm rồi!"
"Tôi vẫn chưa biết nguyên do cớ sự ra sao. Chẳng hay hôm nay có chuyện gì mà tôi có thể góp sức giúp đỡ được không?"
"Lễ khai quang điểm nhãn tuy chỉ là một loại nghi thức, thế nhưng, bàn tay của kẻ không có đức độ thì làm sao có thể khai mở được linh nhãn cho Phật Tổ của chúng ta được cơ chứ! Bản thân hắn vốn đã không trong sạch, thì làm sao có thể làm thanh tịnh kim thân của Phật? Kẻ chủ trì buổi lễ khai quang ngày hôm nay, trong giới tăng già thì danh tiếng vang dội, tiền của nhiều vô kể, nhưng đáng tiếc thay, bản chất lại chỉ là một tên tiểu nhân trộm cắp nơi đầu đường xó chợ. Việc khai quang đặt nền móng chẳng khác nào một màn hát tuồng chạy cờ qua loa đại khái, nên căn bản không thể nào thỉnh được chân linh của Đức Phật giáng hạ. Nay chúng tôi đặc biệt thỉnh pháp giá của ngài Liên Sinh đến đây, để thay chúng tôi điểm nhãn cho Tổ Sư."
"Không được đâu, tôi không có khả năng đó. Hiện giờ ngay cả bản thân mình tôi còn lo chưa xong, làm sao mà thỉnh linh được?" - Tôi vô cùng hoang mang, sợ hãi.
"Ngài cứ thử xem sao! Hai người chúng tôi tuy chỉ là người âm, nhưng lại chính là Hộ pháp đích thực của Phật Tổ. Nay chân linh của Đức Phật chưa giáng tới, chúng tôi bất đắc dĩ mới phải liên tục hiển linh báo mộng hết lần này đến lần khác trong lúc ngài nhập định thiền. Xin ngài hãy niệm chú Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp mà thử xem sao!"

Thế là, tôi chắp hai tay lại trước ngực, hướng về hai phía Đông Tây mà cung kính đảnh lễ. Sau đó, tôi bắt đầu niệm câu chú Tiên Thiên Vô Cực Chính Pháp, từng câu, từng chữ được niệm ra một cách chậm rãi nhưng đầy uy lực. Tôi niệm tổng cộng ba lần.

Hai bàn tay tôi đột nhiên tự động tách ra, tay trái bắt kiếm quyết, tay phải kết ấn hoa sen. Bàn tay đang bắt kiếm quyết tự động vươn thẳng về phía trước, liên tục chấm ba điểm về phía vị tỳ kheo và tỳ kheo ni. Kể cũng thật kỳ lạ, ngay lập tức thân hình vị tỳ kheo ấy liền biến hóa trở nên vô cùng to lớn vĩ đại, gương mặt hoàn toàn thay đổi thành hình tướng của một vị Kim Cang trợn mắt uy phong, tay cầm bảo kiếm Kim Cương Vương đứng sừng sững trước tượng Phật Tổ; toàn bộ dải âm khí lạnh lẽo khi trước đã bị quét sạch hoàn toàn.

Vị tỳ kheo ni kia cũng tương tự như vậy, thân hình trở nên cao lớn, gương mặt tròn đầy viên mãn như trăng rằm, mày liễu má đào, tay cầm nhánh cát tường như ý và chiếc bình tịnh thủy. Ngài bay bổng giữa không trung với dáng vẻ cực kỳ đẹp đẽ, tựa như một vị thiên nữ, tay cầm các pháp khí để cúng dường chư Phật.

Đúng vào lúc đó, tâm tôi tự động niệm câu "Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật", hai tay tự động múa lượn lên xuống, viết ra rất nhiều chữ Phạn lên trên kim thân của Phật Tổ: trên mắt trái viết chữ Nhật, trên mắt phải viết chữ Nguyệt, ở vị trí ngay trước ngực viết chữ Tinh. Tôi tự động quỳ xuống, hướng về bức tượng Phật Tổ trong Đại Hùng Bảo Điện mà đảnh lễ.

Trong mắt tôi lúc này, từ những lỗ chân lông nhỏ bé trên tượng Phật Tổ đang dần dần tỏa ra những tia sáng rực rỡ, muôn vàn đóa hoa sen đồng loạt bung nở ánh vàng kim. Các vị Kim cang Hộ pháp cầm gươm đứng trang nghiêm cẩn mật, Cát Tường Thiên Nữ cung kính dâng lên những trái cây và hương thơm thanh tịnh. Tôi đã đảnh lễ tổng cộng mười hai lần.

"Này Liên Sinh, tâm của con người giống như một người họa sĩ, có thể vẽ ra mọi cảnh giới ở thế gian, năm uẩn cũng từ đó mà sinh ra. Nếu hành vi trong tâm của một người có thể thấu hiểu được việc tạo ra mọi cảnh giới thế gian, người đó liền có thể nhìn thấy Phật, và thấu tỏ được chân tính của Phật. Tại sao vậy? Bởi vì tâm, Phật và chúng sinh, cả ba vốn dĩ chẳng có sự khác biệt nào cả. Nếu ai muốn thấu hiểu rõ về tất cả chư Phật trong ba đời, thì nên quán chiếu bản tính của pháp giới, mọi thứ đều do tâm tạo ra. Trong Phật pháp của ta, lấy tâm làm chủ, tất cả các pháp không có pháp nào là không từ tâm mà sinh ra."

Không ngờ rằng, Đức Phật Tổ lại mở lời nói.

"Tâm và Phật vốn là một, Liên Sinh đã thấu tỏ điều này, đa tạ lời giáo huấn, con xin cảm ơn vô cùng. Từ nay về sau con sẽ đi qua mọi cảnh giới một cách tự tại vô ngại, tự nhiên thành Phật."
"Được như vậy thì rất tốt."

Tôi đã thay mặt Phật Tổ để khai quang điểm nhãn, nhưng chẳng có một ai nhìn thấy. Không có đám đông tung hô, không có sự dàn cảnh phô trương, không có tiếng pháp khí kêu leng keng, không có tiếng hát xướng Phạn âm của các tăng ni, chẳng có ai đứng đó đảnh lễ, chuông trống không vang lên, hoàn toàn không có một nghi thức nào cả. Tất cả các sư sãi trong chùa lúc này đều đang say giấc nồng!

Tôi rời khỏi ngôi chùa Phật nằm lưng chừng núi ấy, cõi lòng bỗng nhiên rộng mở, thư thái ngắm nhìn phong cảnh lúc màn đêm buông xuống. Vì tâm trạng đang vô cùng thoải mái và nhẹ nhõm, trên đường ngồi xe về, tôi đã không kìm được mà cất tiếng hát khúc "Tán thán Tam Bảo".

Những người đã học được cách khởi linh, linh hồn của họ đã thức tỉnh sống động, nên sự giao tiếp với linh giới cũng diễn ra thường xuyên và phức tạp hơn so với người bình thường, những cảm ứng linh cảm trào dâng cũng đến với họ rất nhiều. Thế nhưng, cũng cần phải biết phân biệt được đâu là chính, đâu là tà. Làm thế nào để phân biệt chính tà? Đây là kinh nghiệm, mà kinh nghiệm thì có được từ sự mài giũa và rèn luyện trong một thời gian dài. Hãy tự mình chiêm nghiệm một cách cẩn thận, thành tựu tâm thông sớm muộn gì rồi cũng sẽ đạt được mà thôi!

Tôi cảm thấy, những vị pháp sư vô tri thực chất còn đáng thương hơn cả những kẻ mù lòa. Ngoài sự thương xót ra, tôi chẳng còn cách nào khác.

23. Giữa người và ma

Nhiều người thường thích bàn luận về ma quỷ, nhưng tôi luôn cho rằng giữa người và ma quỷ chẳng có mấy khác biệt. Những lời tôi nói, mọi người đều lấy làm lạ, nhưng thực ra điều này căn bản chẳng có gì kỳ lạ cả, giữa người và ma quỷ vốn bình đẳng không hai!

Thứ gọi là linh hồn, rốt cuộc có phải là ma quỷ hay không? Nói theo nghĩa rộng thì không phải, nhưng nói theo nghĩa hẹp thì đúng là vậy. Bởi vì ma quỷ cũng là một dạng của linh hồn, chịu sự hạn chế của thời không, cũng giống hệt như con người vậy. Con người cũng bị giới hạn bởi thời không, nên người và ma quỷ là hai thực thể rất giống nhau. Không phải tôi thích coi thường con người, mà là con người vốn phân ra thiện ác thị phi, chính tà thẳng cong. Người thiện, kẻ chính tự nhiên có tư cách xưng là người, còn kẻ ác, người tà vốn đã sớm đánh mất đi căn cơ làm người, chỉ có thể đọa thành ma quỷ mà thôi.

Làm một con người vốn dĩ đã không dễ dàng, kiếp sau muốn tiếp tục mang thân người lại càng khó hơn. Bởi lẽ, nếu con người bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, bị tác động bởi ham muốn vật chất thế gian, bị cuốn theo luồng ác phong của trược thế, sẽ tự biến mình thành kẻ người chẳng ra người, ma chẳng ra ma, ba phần giống người mà bảy phần lại hóa ra quỷ. Thần hồn điên đảo, đúng sai không phân, thiện ác mất đi chuẩn mực, biến thành một thế giới cầm thú thực sự, một nhân gian như vậy thì có khác nào cõi ma quỷ đâu!

Tôi thấu hiểu sâu sắc rằng, nếu con người không tĩnh tâm tu đạo, thông đạt mọi trí huệ, tâm nếu không thể định, thì rất dễ đánh mất đi căn cơ làm người. Đặc biệt là ngày nay, sự cám dỗ của thế giới hữu hình rốt cuộc lại quá lớn, lớn đến mức khiến người ta khó lòng chống đỡ. Chỉ đôi chút bất cẩn liền buông thả nhục dục, tâm vượn ý mã, tự chủ không vững. Một khi đã sa vào luân hồi, vạn kiếp vạn sinh, hết chết lại sống, há chẳng phải cũng giống như loài giòi bọ lăn lộn trong hố xí hay sao. Nhất là ở thời nay, thế đạo nhân tâm suy đồi, đạo đức bị người đời ruồng bỏ, ai nấy đều sùng bái sự Tây hóa, tranh danh đoạt lợi, thử hỏi những bậc có thể giữ vững được đạo tâm còn lại được mấy người?

Ở chốn nhân gian, người có thể giữ vững được đạo tâm đã ít lại càng thêm ít, bậc có thể trung trinh không thẹn với trời đất lại càng hiếm hoi hơn. Hèn chi Địa Tạng Vương Bồ Tát mãi mãi chẳng thể thành Phật, bởi lẽ địa ngục trước sau vẫn chưa từng trống rỗng. Địa ngục chưa trống rỗng, Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng chẳng thể thành Phật được. Đây chính là thề nguyện lớn của Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Thế nhưng thề nguyện dẫu lớn lao, làm sao có thể độ hết được những ác quỷ chốn nhân gian này? Kẻ ác cứ xuất hiện tầng tầng lớp lớp, người hiền thì luôn chịu thiệt thòi to lớn. Để rồi người hiền đến cuối cùng tâm tính cũng đâm ra thay đổi, cho rằng đời người chẳng qua cũng chỉ đến thế mà thôi, đành buông xuôi làm kẻ ác cho rồi.

Theo sự thâm nhập vào âm gian của tôi được biết, linh hồn ma quỷ có rất nhiều vị lại rất đáng mến. Bởi lẽ các vị ấy cư ngụ chốn âm gian, sinh tồn dựa vào một luồng chân linh, nếu không mê luyến ham muốn vật chất đời người, sẽ rất nhanh chóng hướng tâm về việc tu hành chứng chân, cầu sinh cầu đạo, mong mỏi giải thoát khỏi nỗi thống khổ chốn ma quỷ. Các vị ấy thấu hiểu sâu sắc rằng nhân gian vốn là bể khổ, thế nên chẳng hề muốn lại phải đầu thai làm người. Tuy nhiên, rất nhiều ma quỷ đến cõi nhân gian dạo một vòng vốn chẳng phải do cam tâm tình nguyện, việc đầu thai xuống nhân gian thường thường là bị ép buộc. Các vị ấy hiểu rõ rằng, đến nhân gian một chuyến, e rằng sẽ đọa làm súc sinh, biến thành ngạ quỷ hoặc sa vào địa ngục, lúc đó thì đến cả tư cách lưu trú tại âm gian cũng chẳng còn.

Tình trạng âm gian ngày nay, không ngờ lại còn thanh tịnh hơn cả dương gian. Chốn âm gian đâu đâu cũng có các quỷ linh tu đạo, hiện tại số lượng tu thành Quỷ Tiên cũng không phải là ít. Các vị ấy học pháp tịnh linh, tuy chỉ là Tiểu thừa, nhưng việc thành tựu Quỷ Tiên là điều không có gì phải nghi ngờ. Sau khi thành Quỷ Tiên, các vị ấy lại mượn danh xưng Tiên gia làm phương tiện, đến chốn dương gian cứu thế. Nói ra thật nực cười, không phải con người chúng ta đang siêu độ cho ma quỷ, mà ngược lại, chính ma quỷ đang siêu độ cho con người. Tôi nghĩ, trong một tương lai không xa, ma quỷ sẽ đứng ra tổ chức pháp hội Vu Lan Bồn, mượn quỷ lực để siêu độ cho chính những ác quỷ chốn nhân gian này.

Kinh Hoa Nghiêm có câu rằng: "Những chúng sinh tham đắm ngũ dục, tự mình buông thả, vì họ mà thị hiện cảnh giới bất tịnh. Cớ sao vậy? Do chúng sinh ấy ngu si mê hoặc, bị các sắc dục làm cho say đắm, mê muội tâm trí. Giống như tấm áo trắng dễ bị nhuốm màu, họ bị dục vọng nhấn chìm vậy. Cũng như giòi bọ trong hố phân, cứ vui thích ở nơi ô uế; như kẻ phạm tội, phải chịu đủ mọi sự trói buộc; như người mù lại dắt người mù, rốt cuộc đều rơi xuống hố sâu nguy hiểm. Điều đó làm tổn hại thiện căn, đánh mất các pháp bảo; xa rời giới hương [hương thơm của giới hạnh, giới hương cùng với định hương và tuệ hương được xem là những mùi hương vi diệu quý giá nhất mà người tu hành có thể tự có được thông qua nỗ lực giữ gìn đạo đức và thanh lọc tâm trí], làm chết yểu huệ mệnh. Những chúng sinh như thế, ngu si bị dục vọng làm cho mờ mắt, bị dục vọng sai khiến, bị dục vọng mê hoặc, mãi thuận theo tâm dục mà cam chịu làm nô bộc vậy."

Người chốn dương gian vì dục vọng mà u mê đến như vậy, nên chỉ còn cách để cho các Quỷ Tiên ở âm gian siêu độ cho họ mà thôi. Giữa người và ma, người lại hóa thành ma quỷ, ma quỷ lại trở thành người. Người và ma chẳng thể phân định, thật đáng buồn, đáng khóc, đáng than thay!

Một độc giả họ Trương hỏi tôi:
"Có những cực hình đau khổ nơi địa ngục không?"
"Quả thực là có."
"Làm sao để thấy được?"
"Ngay tại chốn nhân gian này cũng có thể thấy."

Anh ta nghe mà chẳng hiểu ra sao.

Tôi nói:
"Tám khổ chốn nhân gian, mỗi người đều chẳng thể trốn thoát. Nỗi khổ sinh ly tử biệt há chẳng phải là tảng đá mài mòn tâm can sao? Người thân chịu bệnh tật giày vò há chẳng phải là mũi tên xuyên thấu tim gan sao? Có những việc người ta cho là niềm vui sướng, nhưng kỳ thực lại là cực hình nơi địa ngục đấy! Người mắc bệnh tật, kẻ chịu oan khuất, người chẳng được tự do, há chẳng phải cũng giống như đang sống trong cực hình của địa ngục đó sao."
"Đúng vậy." - Anh ta gật đầu.
"Mối quan hệ giữa người và ma quỷ ngày càng trở nên mật thiết. Con người ngày càng đọa lạc, ma quỷ ngược lại ngày càng cao thượng; ma quỷ hóa ra lại đáng mến, người hóa ra lại chẳng thể gần gũi nổi. Giữa người và ma, sớm muộn gì cũng có ngày bị đảo lộn danh xưng mà thôi!" - Tôi nói.

24. Ứng dụng của Giáp Mã

Một người già đã tu đạo nhiều năm trên núi đến thăm tôi, tự xưng là Vong Thế Tản Nhân. Người này để râu dài, mặc trang phục thời Đường, bước đi nhanh nhẹn như bay, thần thái phấn chấn. Ông kể với tôi rằng trên núi có dựng một gian nhà tranh nhỏ, bên trong thờ phụng Tam Thanh Tổ Sư của Đạo giáo, lại có không ít linh ứng kỳ dị. Cứ mỗi khi gặp đêm tối gió mưa, trong nhà tranh tự nhiên phóng ra ánh sáng lớn. Trên núi vốn có rất nhiều chuột núi, nhưng lạ thay, trong đạo đàn ấy từ trước đến nay chưa từng có con chuột nào dám vào, thậm chí đến một con ruồi cũng không có.

Vong Thế Tản Nhân mỗi năm xuống núi một lần. Ông kể với tôi rằng vào thuở trước, ông từng trước tác một bộ sách Đạo, gây chấn động rất lớn, cũng tựa như tôi ngày nay. Thế nhưng người đến thăm viếng quá đông, cuối cùng ông chỉ còn cách lánh vào nơi núi sâu, như vậy mới có thể an ổn mà sống qua ngày tháng.

Vong Thế Tản Nhân nói: "Phụng thỉnh chư thần Tam Giới, điều tôi niệm chính là: phụng thỉnh Ngũ Phương Đế Quân, Thiên Địa Thủy Phủ Tam Quan Ngũ Tinh Chân Quân, Đông Phương Thanh Đế Cửu Khí Thiên Quân, Nam Phương Xích Đế Ngũ Khí Thiên Quân, Tây Phương Bạch Đế Thất Khí Thiên Quân, Bắc Phương Hắc Đế Thất Khí Thiên Đế, Trung Ương Hoàng Đế Nhị Thập Tứ Khí Thiên Quân. Lại phụng thỉnh Thiên Đế Thủy Tam Quan, Thượng Nguyên Cửu Khí Tứ Phúc Thiên Quan, Trung Nguyên Thất Khí Xá Tội Địa Quan, Hạ Nguyên Ngũ Khí Giải Ách Thủy Quan. Đệ tử ba lần phụng thỉnh Ngũ Tinh Chân Quân: Đông Phương Mộc Đức Tuế Tinh Chân Quân, Nam Phương Hỏa Đức Huỳnh Hoặc Chân Quân, Tây Phương Kim Đức Thái Bạch Chân Quân, Bắc Phương Thủy Đức Thần Tinh Chân Quân, Trung Ương Thổ Đức Trấn Tinh Chân Quân."

Tôi hỏi:
"Phép triệu thỉnh của lão sư phụ có phải là phép triệu thỉnh theo Ngũ Hành chăng?"
"Chính là chú ngữ Ngũ Hành. Anh cho rằng công lực của chú này thế nào?"
"Công lực của chú này rất thâm hậu, có thể đạt tới Ngũ Hành Khí Thiên. Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, ngũ thông ngũ biến, tương sinh tương khắc, nếu triệu thỉnh đúng pháp, tự nhiên sẽ thông suốt mà không gặp phải trở ngại nào. Chỉ cần nâng nén tín hương lên, ắt sẽ tự nhiên thấu đạt đến Thiên Đình." - Tôi đáp.

Vong Thế Tản Nhân nghe tôi nói vậy thì vô cùng vui mừng. Ông đặc biệt lấy từ trong chiếc túi da cũ nát ra mười tám tờ Giáp Mã (đây là một loại giấy tiền thường bán ở các tiệm hương đèn). Ông nói với tôi rằng, người đời đều chẳng biết đến cái hay của Giáp Mã, cũng chẳng biết phải ứng dụng Giáp Mã ra sao. Giáp Mã ở đây mang ý nghĩa là vật chuyên chở. Khi chúng ta đốt hương thỉnh thần nhất định phải dùng đến Giáp Mã. Có Giáp Mã rồi thì tất cả những câu "cấp cấp luật lệnh" đều có thể không cần dùng đến nữa, thần linh cũng dễ dàng thỉnh được. Điều này chẳng khác nào việc chúng ta chuẩn bị sẵn xe thuyền cho các thần, khiến các vị ấy không thể không đến vậy.

Theo sự chỉ dẫn của ông ấy cho tôi, Giáp Mã có ba cách ứng dụng:

Thứ nhất: Khi thỉnh thần, đốt 33 tờ Giáp Mã có thể thỉnh được thiên binh thiên tướng ở 33 cõi trời; lại đốt 49 tờ Giáp Mã thì có thể thỉnh được tiên nhân ở bốn biển năm hồ, chín vì sao, ba hòn đảo tiên, chín châu lục, bao gồm cả thần linh ở Thủy phủ, Địa phủ, Thiên phủ, Quỷ phủ v.v… Giáp Mã vừa đốt, dẫu không thỉnh được Đại La Thiên Tiên, thì chí ít một vài vị tản tiên ở các động tiên chốn địa phủ cũng sẽ chạy đến xem náo nhiệt, thân chính không đến thì thân phụ nhất định phải đến. Nhất là khi trên Giáp Mã lại có thêm sắc lệnh bằng thần ấn, lại được đặc biệt tế bái bằng hai chữ "Khôi Cương" thì không có lý nào lại chẳng thành công. Nếu không đốt hóa Giáp Mã, đã không có thành ý, lại thiếu cả xe thuyền, các ngài thà ngủ còn hơn, hoàn toàn chẳng buồn động đậy. Bởi lẽ thời gian nhàn tản ở thiên giới quá nhiều, thần tiên đa phần một nửa thời gian là tu chân, một nửa thời gian là ngủ, cho nên mới nói là ngủ vậy.

Thứ hai: Bởi vì Giáp Mã mang ý nghĩa là chuyên chở, cho nên khi đốt hóa sớ văn, nếu không có thiên quan chuyển đi, thì những việc tấu bẩm trong sớ văn căn bản không cách nào thấu đạt đến Thiên Đình, không thể tấu bẩm lên trên truyền đạt mệnh lệnh xuống dưới. Như vậy, tờ sớ văn này cũng coi như viết uổng công, pháp tế lễ trở nên vô hiệu, uổng phí một phen tâm huyết. Sớ văn nếu không có thiên quan chuyển đi thì hãy nhớ đốt hóa Giáp Mã, bởi lẽ thiên quan dẫu không đến, Giáp Mã vẫn có thể chuyên chở sớ văn lên tận Thiên Đình. Giáp Mã lúc này trở thành thế thân của thiên quan, nhiệm vụ vừa hoàn thành, Giáp Mã sẽ tự nhiên biến mất, còn sớ văn thì đã được truyền đi khắp mười pháp giới rồi! Ngày nay, có rất nhiều pháp sư không biết đến pháp này, sớ văn dẫu đốt đến trăm tờ cũng là vô dụng, chẳng khác nào chữ đen trên giấy trắng thiêu thành tro tàn rơi xuống đất, sớm đã bị các tinh linh dưới đất trộm đi mất. Nếu bạn không dùng pháp này, chẳng biết sớ văn đã đến được Thiên Đình hay chưa, hiệu quả không hiển lộ, hỏi biết làm sao đây?

Thứ ba: Dùng hai tờ Giáp Mã, lấy bút đỏ viết lên đó dòng chữ "chở đến Tây Phương", tế dưới đàn Lục Giáp, chân đạp lên hai chữ Khôi Cương, tay trái bắt lôi quyết, tay phải bắt tiên hạc quyết, hà một hơi chân khí phương Đông, niệm chú phi thăng bảy biến, đốt hóa hai lá phù khẩn cấp, cần cúng tế liên tục trong 49 ngày. Sau đó đem Giáp Mã buộc vào chân người đã khuất, niệm chú rằng: "Phụng thỉnh Lục Đinh Lục Giáp thần, Giáp Mã lai đà nguyên nhân linh, bạch vân dương vũ vi du khởi, tảo tảo túc hạ sinh tường vân, bản thân tốc thông thần quang tại, đà vãng Tây phương Cực Lạc bang, cấp cấp như Cửu Tinh Chân Nhân luật lệnh." Niệm chú này bảy biến. Bất luận thế nào, nguyên linh của người này nếu phạm tội lớn, đáng lẽ phải đọa vào đại địa ngục, thì nhờ vào uy lực của Giáp Mã, tội vạ sẽ được giảm nhẹ đi vài phần, chở thẳng đến tiểu địa ngục, thậm chí được tái sinh lại nhân gian, mang theo nghiệp mà thụ thai vãng sinh. Nếu người này phẩm đức bậc trung, chẳng thiện chẳng ác, Giáp Mã sẽ nâng đỡ đôi bàn chân của người ấy bay thăng lên thiên giới, mang theo nghiệp mà vãng sinh trên cõi trời. Dẫu không có phúc báo, nhưng vẫn có thể tiếp tục tu bồi phúc đức chốn thiên thượng, so với nhân gian thì tốt hơn rất nhiều! Tác dụng của Giáp Mã lớn lao đến thế mà người đời nay căn bản lại chẳng hề hay biết đến công dụng thực sự của nó.

Hôm nay, tôi đem bí pháp của lão tiên sinh Vong Thế Tản Nhân công khai không giữ lại chút nào để người đời đều biết đến công dụng của Giáp Mã, mong nhờ công đức này mà mọi người không bị đọa vào bánh xe khổ cõi khổ. Người đời tuy đã biết cách ứng dụng Giáp Mã, nhưng cũng cần phải tu công tu thiện, tuyệt đối không được làm điều càn bậy, độc ác. Nếu làm việc càn bậy, ác độc, thì dẫu ứng dụng Giáp Mã có đắc pháp, thăng lên đến thiên giới, thiên thần canh gác cửa trời oai phong lẫm liệt đứng đó, vung tay tóm gọn một cái, thì cũng vẫn bị ném ngược trở lại chốn địa ngục mà thôi. Một khi bị ném về địa ngục, Giáp Mã này cũng liền mất đi hiệu năng. Lão tiên sinh đặc biệt căn dặn điều này, bởi lẽ vạn biến duy tâm, tâm nếu đã tự tạo ra địa ngục, thì Giáp Mã dẫu có thần thông cũng làm sao có thể địch lại được "thiên tâm chiếu mệnh" cơ chứ!

Bài viết này vô cùng quý hiếm và vô giá, người tu đạo sao có thể không biết. Đây cũng được xem là pháp Giáp Mã thần bí, nghìn năm mới đại công khai một lần. Tôi có được pháp này, chẳng dám cất giữ làm của báu riêng mình, nay đặc biệt công bố trọn vẹn, lưu lại để chờ những bậc có tâm tìm đến nghiên cứu.

25. Thiên cơ chân thuyên

Độc giả nhìn thấy bốn chữ này xin chớ kinh hãi, nhưng bài viết nhỏ này cũng tuyệt đối không thể xem nhẹ.

Có câu nói rằng: "Một người phản bản quy chân, hết thảy ma cung ở mười phương đều chấn động." Con người tu đạo thành chân vốn đã khó, mà cái khó nhất chính là ở chỗ chẳng tìm được "thiên cơ chân thuyên" [giải nghĩa chân thực về thiên cơ]. Dẫu có tìm được đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ là ma pháp của ma cung mười phương mà thôi.

Khổ công tìm kiếm, đi sâu vào núi báu, cuối cùng lại phải tay không quay về. Có một lần, tôi mơ thấy mình bước vào cõi giáp ranh của phương Đông thanh tịnh, nơi chân trời có đến chín vầng mặt trăng, tôi lần lượt đảnh lễ từng vầng trăng một. Tôi đi đến một vùng đất trăm hoa đua nở, hương thơm ngào ngạt, liền nhìn thấy Thiên Ma đang ngồi trên pháp tọa cao ngất giảng giải về bộ Kinh Kim Cang với đạo lý "không vô sở không". Đem tất thảy di huấn của chư Phật, Bồ Tát nói đến mức hoa trời rơi rụng, khiến cho toàn bộ đại địa đều chấn động; lại phát ra âm thanh như tiếng gầm sư tử, làm cho các vì tinh tú trên trời đồng loạt xoay chuyển. Sự trang nghiêm, thần thánh của mọi pháp tướng quả thực không gì sánh được, khiến tất cả đại chúng đều hoan hô tán thán.

Khi tôi bước vào, có một nhóm người nhìn thấy tôi. Tay trái các vị ấy xách một con rắn nước, tay phải lại cầm bảo kiếm, trên bảo kiếm khắc bốn chữ phát ra ánh sáng lấp lánh, bốn chữ đó chính là "Nguyên Hanh Lợi Trinh" [là bốn đức tính của quẻ Càn trong Kinh Dịch, tượng trưng cho bốn giai đoạn của vạn vật: vạn vật thủy sinh (Nguyên), vạn vật trưởng thành (Hanh), vạn vật toại thân (Lợi) và vạn vật thành tựu (Trinh), mang ý nghĩa đại cát đại lợi, hanh thông và giữ vững chính đạo)]. Các vị ấy tán thán rằng đây quả là cảnh tượng hiếm có trên thế gian.

Lúc bấy giờ, giữa không trung chợt có sáu vị đại thiên thần đồng loạt cưỡi sấm sét bay đến. Trong miệng họ phun ra ngọn lửa, ngọn lửa vươn dài như chiếc lưỡi, hễ chạm vào vật gì ắt vật đó bị hủy diệt. Sáu vị đại thiên thần này nhìn thấy tôi thì tỏ ra khá kinh ngạc, ngọn lửa phun ra từ miệng liền cuốn thẳng đến trước mắt tôi, nhưng lại bị chủ nhân của pháp tọa quát lớn ngăn lại.

Lúc này, ở phương Tây có một con voi khổng lồ xuất hiện, giống hệt như con voi khổng lồ của Phổ Hiền Bồ Tát. Voi có màu trắng, toàn thân trong suốt, được trang sức vô cùng hoa lệ và quý giá. Trên lưng voi chở một gói kinh sách rất lớn. Có người lấy ra lật xem, nhưng kỳ lạ thay lại chẳng có lấy một chữ nào, cuốn nào cũng giống hệt nhau, hoàn toàn không có văn tự. Có vị tăng nhân chắp tay nói rằng: "Bất lập văn tự, bất lập văn tự, A Di Đà Phật, thiện tai!"

Ở phương Đông xuất hiện một con sư tử lớn, cất một tiếng gầm dữ dội làm núi lở đất nứt. Có người hô to: "Là sư tử của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát!" Sư tử lắc lư tiến về hướng Tây, chỉ để lại một tiếng gầm ngân dài mà thôi. Con sư tử ấy tôi nhìn thấy vô cùng rõ ràng, sư tử mà lại chẳng giống sư tử, ngược lại trông rất giống Kim Mao Hống [một loài thần thú nổi tiếng trong truyền thuyết Á Đông, thường được biết đến là vật cưỡi của Quan Thế Âm Bồ Tát]. Khi bước đi, dưới bốn chân nó sinh ra những quả cầu lửa. Quả cầu lửa mang màu vàng kim, sáng rực chói lóa, bốc lên từ dưới lòng đất. Đó là do mặt đất đột nhiên nứt ra, nâng đỡ lấy bốn chân nó. Con sư tử ấy vô cùng oai phong, nhưng chỉ một lúc sau liền biến mất.

Có một dòng suối trắng ngần tựa như ngọc trong suốt, chảy với tốc độ rất chậm, vắt ngang giữa các vì sao. Dòng suối trắng ấy chính là thiên thủy, chảy ngang từ Bắc xuống Nam. Nước này không phải là nước phàm nên chẳng cần phải nương theo mặt đất mà chảy, nước này không phải nước phàm nên cũng chẳng có một hướng chảy nhất định, nước này không phải nước phàm nên lại có thể vắt ngang giữa không trung. Ánh trăng sáng giữa trời dẫu chiếu rọi xuống mặt nước lại chẳng thể soi bóng ra vầng trăng thứ hai.

Một nhóm người đang thành kính đảnh lễ, năm vóc gieo sát đất trước Đức Phật với ba mươi hai tướng tốt. Lại có một nhóm người khác mắng Phật chửi Tổ, nhặt những hòn đá lớn ném thẳng vào kim thân của Đức Phật. Kẻ ủng hộ và người chửi mắng đứng đối lập nhau rồi dẫn đến đánh lộn. Chỉ có mình tôi trơ trọi đứng ngoài cuộc. Tôi trèo qua năm ngọn núi cao lớn, lội qua một dòng suối dài, đến được núi Tu Di. Ngọn núi lẩn khuất giữa màn mây mù, có luồng khí màu tía bao phủ lấy toàn bộ đỉnh núi.

Tôi chắp tay cầu nguyện: "Tâm cầu đạo thiết tha, mong mau chóng thành tựu Phật pháp."
"Vừa nãy chính là Phật pháp đấy."
"Mới hiểu được một nửa." - Tôi đáp.
"Phật pháp chẳng có chỗ để dùng sức."
"Đó là sự cô lập sao?" - Tôi hỏi.
"Đúng vậy. Nếu có thể nhận biết được bản tâm chính mình, tự nhiên sẽ được tự tại. Ý niệm vốn có sinh có diệt, nhưng bản thể thì có sinh diệt sao? Lấy vô niệm làm tông, nếu có thể dứt bỏ được mọi tướng, mà trong mỗi niệm đều hướng về chân như, thậm chí hòa thành một khối, thì đó chính là tương ứng vậy! Được như thế, ngay trong khoảnh khắc buông bỏ này, tức là Bồ Đề."

Lúc ấy, tôi nhìn thấy bên trong thân mình tựa như một ngọn núi trong suốt, có cây, có gió, có đất, có suối, lại có cả hơi ấm do tự thân thể huyễn hóa mà thành, rồi dần dần tắt lịm, sau đó biến thành hư vô. Tôi quán chiếu tự thân, thấy không có một vật gì; cũng như đại địa, vô ngã thì đại địa cũng không còn nữa.

Chúng ta hãy xem "Kinh Lăng Già": "Người không có tướng ngã là nói các uẩn, giới, xứ đều lìa ngã và ngã sở. Do vô tri, ái dục và nghiệp mà các thức như nhãn thức sinh khởi, chấp lấy sắc trần, rồi sinh tâm tính toán, bám chấp. Lại nữa, thân cùng khí thế gian do tự tâm nhìn thấy, hết thảy đều là chỗ hiển hiện của tạng tâm, trong từng sát-na nối tiếp nhau, biến đổi hoại diệt không ngừng, như dòng sông, như hạt giống, như ngọn đèn, như cơn gió mạnh, như áng mây nổi, xao động bất an như khỉ vượn, ưa chốn bất tịnh như ruồi nhặng, chẳng biết chán đủ như lửa dữ. Lấy tập khí hư vọng từ vô thủy làm nhân, nên trong các cõi hữu cứ lưu chuyển không dứt, như guồng nước quay mãi. Các sắc thân đủ mọi loại, mọi oai nghi đi đứng, ví như xác chết nhờ sức chú mà cử động; cũng như người gỗ, do máy mà vận hành. Nếu có thể khéo biết rõ tướng trạng ấy, thì đó gọi là nhân vô ngã trí."

(Lời kết: Tôi chắp bút viết bài "Thiên cơ chân thuyên" này, vốn định tiết lộ trọn vẹn mọi lẽ thiên cơ, nhằm đưa ra một lời giải thích toàn diện và có hệ thống về phương diện bản tính của Phật pháp. Thế nhưng lúc hạ bút, tôi ngay lập tức bị sự quấy nhiễu của linh luật Thiên Ma, khiến cho ngòi bút chẳng biết đặt vào đâu, những dị tướng điên đảo cứ thế xuất hiện. Do đó, người đọc bài viết này chưa chắc đã có thể hiểu được; nhưng nếu đọc mà hiểu, tức là đã nhận ra được chỗ chân cơ! Phàm trong chúng sinh, nếu có một người thấu đạt được chỗ chân cơ của bài viết này, ắt sẽ khiến cho ma cung mười phương chấn động dữ dội, điều đó không còn nghi ngờ gì nữa!)

26. Huyết thực thần

Tại một ngôi đền Ân Chủ nguy nga tráng lệ, tôi nhìn thấy một vị thần linh. Vị thần này đầu đội khăn vuông, khoác trên mình trang phục văn sĩ, y phục vô cùng tươi sáng, cứ thong dong đi lại khắp nơi trong đền. Ngôi đền Ân Chủ này khá lớn, thờ Quan Thánh Đế Quân làm chủ thần, cùng với Lã Thuần Dương Tổ Sư và Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế. Nơi hậu điện thờ phụng Tam Thanh Tổ Sư, tức là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thái Thượng Lão Quân và Thông Thiên Giáo Chủ.

Lần đầu nhìn thấy vị văn sĩ ấy, tôi cảm thấy vô cùng kỳ lạ. Người này chẳng giống hồn ma, bởi lẽ hồn ma không thể nào đi lại tự do trong đền mà không bị thần thánh quở trách. Nhưng nếu nói là thần, thì người này chỉ có y phục tươi sáng mà thôi, chứ trên thân và trên đỉnh đầu đều chẳng hiển lộ chút thần quang nào.

Có vài lần, vị ấy nấp dưới gầm bàn thờ. Khi các tín đồ thắp hương cầu nguyện và dùng "chén thần" để cầu xin thần linh chỉ dẫn, vị ấy liền chui từ dưới gầm bàn ra, thò tay lật các mảnh xin keo ấy lại. Có nhiều người đến rút thẻ xin xăm, vị ấy cũng dùng tay rút chiếc xăm ra, cố ý làm cho thẻ xăm mang ý chỉ của thần linh nảy lên cao hơn một chút. Có lúc, vị ấy khum tay quanh tai, chăm chú lắng nghe những lời khấn vái tâm sự của tín đồ với thần linh. Rồi vị ấy mỉm cười ngoác cả miệng rộng, nụ cười vô cùng chất phác, thật thà, cứ như thể vị ấy thực sự nghe hiểu được vậy. Ban ngày không có việc gì, vị ấy thường nhàn tản dạo bước trong đền; đến tối người đi lễ đông hơn, vị ấy cũng bận rộn tíu tít, vô cùng hoan hỷ.

Có vài lần tôi gật đầu chào, nhưng vị ấy không hề nhận ra. Cho đến khi tôi mỉm cười với vị ấy, vị ấy mới giật mình kinh ngạc. Nhìn biểu cảm trên gương mặt, có vẻ như vị ấy chẳng thể ngờ được trong khắp gầm trời này lại có một người có thể nhìn thấy mình, thậm chí đôi bên còn có thể dùng lời nói để trò chuyện cùng nhau. Ban đầu, vị ấy có chút sợ hãi, nhưng sau khi biết tôi chẳng có lấy nửa điểm ác ý, cuối cùng chúng tôi đã trở thành những người bạn tri kỷ.

Tôi nhìn thấy vị ấy ăn các loại hoa quả trên bàn thờ. Có người bày biện tam sinh như làm gà, làm vịt ra cúng bái [tam sinh là ba loại lễ mặn thường dùng trong tế lễ dân gian, phổ biến nhất là lợn, gà, cá, vịt], **các vị thần thật đều chưa giáng hạ để thụ hưởng đồ tế lễ, thế mà vị văn sĩ kia đã dùng tay giật đứt chiếc đùi gà rồi nhai gặm ngấu nghiến. Vừa thấy tôi nhìn mình, vị ấy lại ngoác miệng cười. Tướng ăn thèm thuồng của vị ấy quả thực khiến người ta không khen ngợi nổi. Dẫu rằng lễ vật vẫn nằm yên không nhúc nhích, nhưng tất cả phần khí của những cúng phẩm đó đều đã bị vị ấy hút sạch sành sanh. Vị ấy ăn cả món thịt lợn đầy dầu mỡ, ăn đến mức mỡ dính bóng nhẫy cả miệng. Trong đền thường xuyên có các thần thánh giáng hạ, nhưng các ngài chẳng bao giờ bận tâm đến vị ấy cả.

Tại đền Ân Chủ thường xuyên có những ngày lên đồng viết chữ, cứ vào các ngày mùng ba, mùng sáu, mùng chín hàng tháng sẽ có thần thánh đến chủ trì. Tôi vẫn thường bí mật chạy đến xem, lần nào cũng thấy rất mới mẻ và vô cùng hào hứng. Có đôi khi thần thánh không đến thì vị văn sĩ kia lại đăng đài thuyết pháp. Vị văn sĩ đầu đội khăn vuông, ngồi trên cây bút loan, viết ra những vần thơ vô cùng tuyệt diệu, viết xong lại còn ký một cái tên rất kêu: "Bản đường Tư Lễ Tôn Thần Văn tiên sinh đăng đài thơ".

Hai bài kệ mà vị ấy có được là:

"Thế thái nhân tình ngập rối ren,
Cõi linh huyễn ảo khó cất lời.
Duyên níu khôn cùng không manh mối,
Một đời phúc quý đều tùy duyên."

"Người có nhân tính vốn lẽ thường
Chìm đắm cõi phàm lìa từ bi
Tu thân dưỡng tính về nguồn cội,
Hòa cùng thiên tâm dứt lòng tư."

Tôi trò chuyện với vị ấy đôi điều về đạo lý giữa trời đất, nhưng vị ấy chỉ lơ mơ hiểu được một đôi phần, hễ hỏi sâu thêm một chút thì hoàn toàn không biết gì nữa. Tôi hỏi vị ấy Quan Thánh Đế Quân hiện ngự ở nơi nào, vị ấy chỉ biết là ở cõi trời phương Nam, còn ngoài ra thì đều không rõ, bởi vì vị ấy chưa từng lên thiên giới.

Tôi hỏi vị ấy những thứ gà, vịt, thịt lợn ấy có ngon không. Vị ấy đáp rằng đồ đã xông khói mới là ngon. Tôi lại hỏi, không ăn thì không được sao? Vị ấy nói không ăn thì tiếc lắm, đó là cái lộc miệng mà! Tôi bảo vị ấy là một huyết thực thần. Vị ấy không hiểu huyết thực thần nghĩa là gì, đến khi tôi giải thích cho nghe, vị ấy mới gật đầu thừa nhận.

Sống chung lâu ngày, tôi mới hiểu ra thần thông và pháp lực của vị ấy rất thấp kém, thậm chí còn thấp hơn nhiều so với các vị thần có chính vị thông thường. Chức trách của vị ấy là phụ trách sự thanh tịnh cho chốn miếu đường, quản lý những việc tạp vụ trong đền, và lật keo âm dương thay cho người cầu nguyện. Vị ấy không cách nào biết được tiền thân kiếp trước của mình, cũng chẳng thể hiểu rõ được tương lai của bản thân. Về những chuyện sắp tới trong kiếp này, vị ấy cũng chỉ lờ mờ biết được một hai phần chứ không thể nắm rõ hoàn toàn. Vị ấy có thể biết trước những biến cố kỳ dị sẽ xảy ra trong vòng một tháng, nhưng đối với nhiều biến cố, thần lực của bản thân lại chẳng đủ sức giải quyết, và niềm vui lớn nhất của vị ấy chính là ăn - hưởng thụ huyết thực.

Cho đến một ngày nọ, vị ấy bỗng cảm thấy toàn thân nặng nề, cất bước có phần khó nhọc, vị ấy cũng đã đổ bệnh, cứ thở dốc nặng nhọc liên hồi. Vị ấy hỏi tôi:
"Liên Sinh, sao tôi lại nên nỗi này? Chẳng phải tôi là thần sao?"
"Văn tiên sinh, phúc trời một khi đã hưởng cạn, thì thần cũng chẳng khác nào phàm phu, đây chính là năm tướng suy hại của các thần đó." - Tôi đáp.
"Tôi phải làm sao đây?"
"Mau mau sám hối nghiệp tội của chính mình, phát thề nguyện lớn độ mình độ người, tu giới định huệ, lục độ vạn pháp, mưu cầu đạo quả ở tầng mức sâu sắc hơn, không được tự mãn với hiện trạng." - Tôi khuyên.

Đáng tiếc thay, đến lúc ấy thì mọi sự đều đã muộn. Linh khí của Văn tiên sinh, vị thần hưởng huyết thực, từ lâu đã trở nên trì trệ, không còn đủ sức chống đỡ thân thần của chính mình. Một luồng thần khí vì quen hưởng huyết thực mà dần dần tiêu tán, lại thêm ngày thường không tu bồi đắp công đức, nghiệp chướng sâu nặng, nên một khi mất đi thân thần, vị ấy liền chuyển thế đầu thai. Từ thần biến thành người, cũng chỉ trong một sát-na mà thôi! Đó chính là nỗi bi ai của thần hưởng huyết thực vậy.

Bởi thế, người tu linh cần phải luôn ghi nhớ: con đường tu đạo không có chỗ cùng tận, tuyệt đối không được tự mãn.

27. Mạn đàm pháp thuật thế thân

Pháp thế thân đã có từ rất sớm ở nước ta. Thời thượng cổ có một vị gọi là Vu Châm, chính là tổ sư của pháp thế thân này. Việc chữa bệnh cho người khác hoàn toàn dựa vào pháp thuật thế thân. Bài viết ngắn này muốn giới thiệu cho mọi người biết thế nào là pháp thuật thế thân.

Trong Phật giáo có cụm từ "hồi hướng", chỉ rõ: "Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật tịnh độ, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu ba đường khổ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả". Hai chữ "hồi hướng" này, tôi cho rằng cũng tồn tại tác dụng thay thế ở trong đó. Báo ơn cứu khổ, lấy công đức niệm Phật của chính mình để nâng đỡ người khác lên, đây chẳng phải là "thay thế" thì là gì?

Lời tựa trong quyển "Long Thư Tịnh Độ Văn" có nói: "Đức A Di Đà Như Lai, dùng sức đại nguyện để nhiếp thọ muôn loài, việc nhớ đến ngài rất đỗi giản đơn mà chứng quả lại vô cùng mau chóng. Hoặc có người sinh lòng nghi ngờ điều đó, tôi từng vì họ mà nói rằng, A Di Đà Phật chính là bản tính của bạn, cõi nước Cực Lạc chính là chân tâm của bạn. Chúng sinh vì rời bỏ giác ngộ hòa vào trần tục mà luân lạc trong bảy nẻo, tự lập ra ranh giới giữa mình và Phật, khiến đôi bên xa cách như trời với đất. Vì lẽ đó, Phật dùng phương tiện từ bi, khai thị tỉnh ngộ cho con người, hiện ra vô lượng tam muội như huyễn, trang nghiêm cõi nước ấy cho đến mức cùng tột hoa mỹ, tốt lành… Chúng sinh hân hoan vui thích, dẫu chỉ phát một niệm hướng về Đức Như Lai ấy, thì ngay chính một niệm thanh tịnh kiên cố này, quyết định sẽ được vãng sinh."

Tôi nhận ra rằng đây chính là sự thế thân bằng sức đại nguyện của Phật A Di Đà. Đại nguyện lực của Phật A Di Đà nâng đỡ chúng ta, sức mạnh của Đức Phật chống đỡ cho linh thân của chúng ta. Việc vãng sinh vốn chẳng phải dựa vào năng lực của thiện nghiệp, mà chỉ là sự cảm thông của niệm lực mà thôi.

Từ đó cho thấy, thuật thế thân không phải là điều bất khả thi, chỉ là giữa người thế thân và người được thế thân, linh lực của đôi bên phải có sự cảm ứng lẫn nhau. Sách "Thượng Cổ Thần Thoại Diễn Nghĩa" có chép lại việc Vu Châm từng thi triển pháp thuật cho một vị tướng quân. Vị tướng quân này trúng tên của địch, nếu muốn rút ra thì máu chảy ắt sẽ mất mạng, mà không rút ra thì lại đau đớn tột cùng. Vu Châm bèn dùng một hình nhân bằng cỏ để thế thân cho vị tướng quân nọ. Trên mình hình nhân cỏ cũng cắm một mũi tên y hệt, vị trí mũi tên hoàn toàn tương đồng với vị trí trên người tướng quân. Vu Châm vẽ bùa niệm chú, múa tay múa chân, bước đi theo những bước kỳ lạ, sau đó mũi tên trên hình nhân cỏ tự động rơi xuống. Kỳ diệu thay, mũi tên trên thân vị tướng quân kia cũng rơi ra hệt như thế. Mũi tên trên hình nhân cỏ đương nhiên không có máu, mà trên thân tướng quân cũng chẳng hề tuôn máu. Thân thể không đổ máu, đây quả thực là một loại thuật pháp vô cùng ảo diệu.

Tôi từng biết rằng, trong các thuật pháp thời cổ đại, những trường hợp ứng dụng đến thuật thế thân quả thực không hề ít. Có người lấy tảng đá lớn trên núi làm vật thế thân cho mình, nhờ vậy mà thân người đó vững chãi như đá, lực lớn vô cùng, ra trận thường nắm phần thắng; dẫu gặp phải ác vận cũng luôn có thể gặp dữ hóa lành. Muốn mưu hại những nhân vật cỡ này vốn chẳng hề đơn giản, điều quan trọng nhất là phải hủy đi vật thế thân của người đó trước. Vật thế thân một khi bị phá vỡ, vận xấu cũng khó lòng trốn thoát. Trong cuốn "Giữa linh và tôi", tôi từng bàn đến "Thuật thế thân của đồng cốt", đạo lý ấy so với những gì bài viết này đang nói hoàn toàn tương hợp với nhau.

Tôi còn nhớ rất lâu trước đây có một người thanh niên mắc chứng đau nhức vô cùng khó chịu trên khắp cơ thể. Chứng đau của cậu ta lúc thì ở tay, lúc lại chạy lên cổ. Cậu ta đã đi tìm bác sĩ khắp cả tỉnh, tiêu tốn đến hàng trăm nghìn tệ, kết quả chẳng những không chữa khỏi mà chứng đau lại ngày một dữ dội hơn. Một người thanh niên đang độ khỏe mạnh, nhìn bề ngoài chẳng có lấy một triệu chứng bệnh tật nào, vậy mà lại đau nhức đến mức toàn thân vật vã. Đo điện tâm đồ, thử máu, chụp X-quang, khám sức khỏe tổng quát, kết quả đều là không có bệnh, hoàn toàn không có bệnh.

Trước khi lên đường nhập ngũ, cậu ta chạy đến tìm tôi. Cậu nói mình có bệnh, không thể nhập ngũ được, nhưng khám sức khỏe lại chẳng có lấy một triệu chứng nào. Tôi khuyên cậu ta nên thường xuyên niệm Phật để tiêu trừ nghiệp chướng của bản thân, đồng thời tôi đã dùng pháp thế thân để giúp cậu ta.

Tôi đưa tay mình ra, hướng thẳng vào vị trí đau nhức của cậu ta, niệm thầm chú ngữ thế thân: "Thiên tinh địa tinh, nhật nguyệt chi tinh, thiên địa hợp kỳ tinh, nhật nguyệt hợp kỳ minh, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, biến thân khả thế đại, cấp cấp như Thái Thượng Lão Quân luật lệnh." Lúc này, tôi dùng bàn tay còn lại đánh mạnh vào bàn tay đang đưa ra kia. Bởi linh lực đã quán chú vào cả hai tay nên tôi không cảm thấy quá đau đớn. Tuy nói là không đau, nhưng dưới những cú đánh mạnh, tay tôi cũng sưng phồng lên. Tôi hướng tay di chuyển khắp các vị trí trên toàn thân cậu ta, lần lượt thi triển động tác đánh tay này, cho đến khi hai bàn tay của chính mình tê rần mới dừng lại. Đây cũng là một loại pháp thuật thế thân. Cơn đau tê trên hai bàn tay tôi rất nhanh chóng khỏi hẳn, mà người được thi triển pháp thuật cũng rất nhanh chóng bình phục, bởi vì tôi đã chuyển dời nỗi thống khổ trên thân cậu ta sang chính cơ thể mình.

Việc thi triển loại pháp thuật này cần phải nương nhờ vào thần lực và công đức của chư Phật, Bồ Tát, cùng với công phu tu hành của chính bản thân thì mới có hiệu quả. Nếu như ứng dụng không đúng cách sẽ rất nhanh chóng rước phiền phức vào thân. Bạn thi triển pháp thuật giúp người ta, tự mình thay thế người đó gánh chịu nỗi thống khổ này, nếu như gánh vác không nổi, thường sẽ đổ bệnh nằm liệt giường, từ đó mất mạng cũng là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra. Cho nên, nếu năng lực không đủ, vạn lần tuyệt đối không được làm càn làm bậy.

Rất nhiều người cho rằng, việc các đồng cốt cầm dao cắt thịt trên chính cơ thể mình, dùng chùy đâm xuyên qua miệng, dùng quả cầu sắt đập vào thân thể, căn bản chỉ là để hiển lộ thần uy mà thôi. Có những đồng cốt dùng dao cắt lưỡi, phun ra đầy miệng máu tươi, người bình thường nhìn thấy đều cảm thấy vô cùng kinh hãi, cho rằng thần linh quả thực phi phàm. Nhưng cũng có người không tin. Những người không tin lại chẳng thể giải thích được tại sao các đồng cốt lại dám thẳng tay cắt xẻo thịt của chính mình như vậy, và bản thân người không tin cũng không dám tự mình cắt thử xem sao.

Thực ra, việc đồng cốt dùng dao, chùy, quả cầu sắt, kiếm xương cá mập, kiếm Thất Tinh để tự làm tổn thương thân thể mình, mục đích hiển lộ thần uy là có thật, nhưng quan trọng nhất vẫn là pháp thuật thế thân: lấy nỗi thống khổ mà chính bản thân phải chịu đựng để thay thế cho nỗi đau đớn trên cơ thể của một số bệnh nhân. Điều này có thể ví như câu nói của Mạnh Tử "làm nhọc gân cốt, làm khổ tâm trí" để cứu độ chúng sinh trong thiên hạ. Đây chính là tiểu thuật thế thân tự mình gánh chịu thay người khác của các đồng cốt.

Người học pháp thuật thế thân nhất định phải tu thiện công, thường xuyên lấy công đức ấy hồi hướng cho hết thảy chúng sinh hữu tình; thường xuyên niệm Phật, lấy công đức niệm Phật hồi hướng cho hết thảy chúng sinh hữu tình; thường giữ gìn giới luật, trì tu chính pháp, thường xuyên bố thí chính pháp cho chúng sinh. Có như vậy mới đủ tư cách tự mình chịu thay đau khổ của người khác, giúp chúng sinh giải thoát khỏi khổ nạn. Nếu không, bản thân chưa có công đức mà lại muốn gánh tội thay người, thì sự gánh vác này sẽ rước họa vào thân; bệnh tật, đau khổ của người khác sẽ chuyển dời sang chính cơ thể mình, từ đó đi đời nhà ma, há chẳng đáng thương xót lắm sao!

Vận mệnh của đời người quả thực vô cùng ảo diệu, vạn pháp cũng đều là do tâm tạo ra, theo tâm mà biến hóa. Pháp thuật thế thân chính là một trong những sự biến hóa của tâm. Nếu ứng dụng được một cách huyền diệu, thì cũng giống như đại thề nguyện của Phật A Di Đà, gánh vác thay mọi ác nghiệp của hết thảy chúng sinh, hóa giải ác nghiệp trở về cõi vô hình. Vĩ đại thay, Đức Phật ấy!

28. Đào Liễu thần quỷ thông

Gỗ đào và cành liễu vốn là tinh hoa của các loài cây cỏ trong trời đất, cho nên trong nhân gian mới lưu truyền câu chuyện về hai con quỷ Đào và Liễu. Hai vật này đối với những người làm nghề xem bói là vô cùng quan trọng, hai quỷ Đào Liễu qua lời của những thầy bói cũng đã được nâng cấp lên một bậc, đó chính là pháp thuật "nhĩ báo" của Đào Tiên và Liễu Tiên.

Theo lý mà nói, thuật xem bói của Đào Tiên Liễu Tiên quả thực chính xác đến mức kỳ diệu, nhưng xét cho cùng thì đây vẫn là bàng môn dị thuật chứ không phải là chính đạo. Sự linh nghiệm khi thi triển loại Đạo pháp này tùy thuộc vào từng người, người có đạo hạnh càng cao thì sự linh toán của Đào Liễu càng cao, người có đạo hạnh thấp thì lẽ dĩ nhiên năng lực thần toán của chúng cũng sẽ thấp đi.

Việc lấy gỗ đào và cành liễu đòi hỏi thời cơ vô cùng quan trọng. Trong suốt một năm, chỉ có duy nhất một ngày và vào đúng một giờ duy nhất mới có thể lấy được; đồng thời, chỉ có gỗ đào và liễu lấy vào thời khắc đó mới thực sự có linh nghiệm. Thời khắc này chính là giờ Ngọ ngày mùng 5 tháng 5, cũng là lúc trời đất hòa hợp viên mãn, âm dương cực thịnh. Sau khi lấy được gỗ đào và liễu, phải lập tức tạc thành hình người, chiều cao tầm 7 thốn [khoảng 23cm] là đủ. Năm lỗ trên khuôn mặt nhất định phải được khắc họa phân minh rõ ràng, một tay chỉ lên trời, một tay duỗi mở hướng xuống đất. Có như vậy mới phát huy được tác dụng kết nối với trời cao và địa linh.

Khi cúng tế Đào Liễu Nhị Tiên, điều kiêng kỵ nhất là để người khác nhìn thấy. Đào Liễu Nhị Tiên có thể được đặt ở nơi tối và kín. Mỗi ngày nên dùng hương hoa, trái cây, đồ chay để cúng bái; cũng có người dùng gà trắng, cá quả, thịt dê, canh huyết để dâng cúng. Tuy nhiên, đồ chay vẫn thanh tịnh hơn, có thể chiêu cảm các vị thần thanh tịnh; còn dùng các loại thịt ô uế để cúng dưỡng thì rất có thể sẽ dẫn đến các vị thần ưa huyết thực. Ngay từ lần đầu tiên thờ phụng đã phải đặc biệt lưu ý điều này, không được nửa chừng thay đổi. Việc cúng bái Đào Liễu Nhị Tiên phải kéo dài bốn mươi chín ngày, mỗi ngày vào hai thời Tý và Ngọ đều phải thắp hương, chắp tay lễ bái. Đến ngày thứ bốn mươi chín, có thể cầm hương khấn rằng:

"Thiên dữ ngã cơ, cộng nhĩ tương tùy, nhĩ ẩn ngã tồn, miễn sử nhân tri, cát hung chi sự, ngô dữ nhị tâm, cộng phục ngã mộng trung, trú dạ liên miên. Ngô phụng phong hỏa lôi lệnh sắc."

[Trời ban cho ta cơ cảm ứng, xin cho hai vị luôn đi theo bên ta.
Hai vị ẩn mà ta còn, đừng để người khác hay biết.
Mọi việc lành dữ, xin hai vị đồng lòng với ta,
Hãy báo lại trong giấc mộng của ta, ngày đêm không dứt.
Ta nay phụng mệnh phong, hỏa, lôi mà truyền lệnh.]

"Thiên viên địa phương, luật lệnh cửu chương, ngô dữ nhị tiên, cộng phục nhất hình, triêu bái vãn tế, nhật nguyệt bất đình, phong hỏa nhị đồng, tốc báo cát hung, thiên để chi sự, ngô tiên tri chi, cấp cấp như phong hỏa lôi lệnh sắc."

[Trời tròn đất vuông, pháp lệnh chín chương.
Ta cùng hai vị tiên hợp làm một thể.
Sáng bái, tối cúng, ngày đêm không ngừng.
Xin hai đồng tử phong hỏa mau mau báo cho ta biết việc lành dữ.
Mọi chuyện dưới gầm trời này, xin cho ta được biết trước.
Mau mau thi hành như lệnh của phong, hỏa, lôi.]

Vào tối hôm đó, phải nhớ rằng hương đèn tuyệt đối không được gián đoạn. Trước khi đi ngủ ban đêm, hãy đem toàn bộ những điều khó khăn nan giải bày tỏ hết với Đào Liễu Tiên. Đợi đến khi ngủ say, Đào Liễu Tiên ắt sẽ nhập mộng. Chỉ cần cách làm đúng pháp thì không có lý nào lại không nhập mộng. Từ đó, thông qua những điều được chỉ bày trong mộng, có thể biết được đầu đuôi ngọn nguồn của sự việc, đồng thời cũng có thể thấy trước lành dữ họa phúc.

Người cao minh hơn thì có thể đạt được pháp nhĩ báo, không cần đợi đến mộng báo nữa, mà thường xuyên sẽ có một người ở bên tai thông báo cho họ biết lành dữ họa phúc. Như thế tất có thể hướng đến điều lành, tránh xa điều dữ. Người biết pháp này nhất định phải làm nhiều việc thiện; nếu làm điều ác, trời ắt quở phạt, không thể nào trốn tránh được.

Hiện nay trong giới giang hồ, số người dùng pháp này để xem bói không phải là ít. Nếu vận dụng đúng pháp, quả thực có thể cứu mạng người; nhưng nếu ôm lòng làm điều ác, thì phải cẩn thận với sự quở phạt của trời do vị giám sát Đào Liễu Tiên là Thái Ất Liễu Tinh Quân giáng xuống.

Phép Đào Liễu thần quỷ thông này là do sư phụ Thanh Chân Đạo Trưởng của tôi truyền dạy, và cũng là một trong những phương pháp Đạo thông căn bản nhất. Thuật linh đồng mà tôi từng nhắc đến trong cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán" không hoàn toàn giống với pháp này: nghi thức cúng tế của Đào Liễu Tiên thì tương đối chính phái hơn, còn thuật linh đồng là thuật để hồn phách trẻ nhỏ báo tin bên tai, nên càng thuộc về tà môn hơn nữa.

Tôi rất hiểu rằng: "Đạo pháp vốn chẳng có bao nhiêu, Nam Thần xuyên Bắc Hà, gom lại chỉ ba bảy chữ, trói hết ma quái thế gian." Ý này đã quá rõ ràng: vạn pháp đều do tâm tạo, một tâm có thể thành tựu vạn pháp, chứ không phải vạn pháp có thể thành tựu một tâm. Dù thế nào đi nữa, con người chỉ cần tu luyện đến mức một khiếu thông thì trăm khiếu khác cũng sẽ đồng thời thông suốt, không còn trở ngại. Bạn thấy pháp thuật có công năng biến hóa muôn vàn, nhưng thật ra đạo lý chỉ có một, tức là mọi biến hóa đều trông cậy vào một chữ "tâm", một chữ "linh"; mà tâm tức là linh, linh tức là tâm, bình đẳng không hai.

Có lần tôi từng đi trên đường vào ban đêm, thấy hai con ma một cao một thấp vội vã đi tới. Chúng đi vào một quán xem số mệnh, bên trong đèn đuốc sáng trưng. Hai con ma vừa vào thì lập tức biến mất. Tôi cũng bước theo vào trong.

Một ông lão tóc hoa râm, để ria mép chữ "bát", tưởng tôi đến xem số mệnh, bèn vội vàng kéo ghế mời tôi ngồi. Ông lão ấy liền châm một nén hương cắm lên lư hương. Trên bàn thờ có một tượng Pháp Chủ Công ngồi trên cao. Vừa cắm hương lên, hai con ma một cao một thấp ấy liền đứng trên làn khói hương, nhìn chằm chằm vào tôi, sau đó chúng ghé vào tai ông lão mà líu ríu nói một tràng dài. Ông lão không tin, lắc lắc đầu, rồi ngồi đối diện tôi, đưa cho tôi một tờ giấy, bảo tôi viết họ tên và ngày tháng năm sinh. Tôi đều viết cả. Ông lão trầm ngâm một lát rồi nói:
"Tiên sinh là người có cách cục làm quan phải không?"
"Đúng vậy."
"Theo bát tự của tiên sinh, xem ra chẳng giống người có thông khiếu gì cả. Nhưng vừa rồi thần minh chỉ điểm cho tôi rằng tiên sinh cũng biết thần toán, điều ấy có thật không?"
"Có phải là do Đào Liễu Nhị Tiên chỉ điểm không?"
"Ơ! Sao tiên sinh biết Đào Liễu Nhị Tiên? Chính là hai vị ấy chỉ điểm. Không biết tối nay tiên sinh đến quán tôi có điều gì chỉ giáo?"
"Không dám nói là chỉ giáo gì, chỉ vì thấy hai vị tiên ấy từ ngoài vội vã đi vào, nên tôi cũng vô thức mà bước theo vào thôi."
"Ra là vậy." - Ông thầy xem số ấy vẫn lắc đầu, vẫn không dám tin điều tôi nói là thật.

Từ biệt ông thầy xem số, trong lòng tôi tự nhủ: một người trẻ như tôi, học Đạo cũng mới chỉ vài năm công phu, lại tốt nghiệp ngành kỹ thuật, học về khoa học hiện đại, xét theo lẽ thường, tôi vốn là một phần tử trí thức trung kiên trong xã hội. Việc tôi lại nghiên cứu đến phương diện Đạo môn, thực ra chỉ là một cơ duyên hết sức tình cờ. Đến ngay cả bản thân tôi còn không tin, huống hồ người khác lại càng khó tin hơn.

Việc lạ lùng trong thiên hạ, tôi lại gặp phải. Cuộc đời như thế này thật đúng là thú vị biết bao!

29. Kiến tính phi tính

Niết bàn diệu tâm, chính nhãn pháp tạng, chính là đang nói đến vấn đề "kiến tính phi tính" mà Đức Thế Tôn thường nhắc đến khi còn tại thế. Vấn đề này liên hệ vô cùng rộng lớn, công án cũng rất nhiều, nhưng người thật sự ngộ được e rằng không nhiều. "Kinh Kim Cang" là một bộ kinh điển Đại thừa, đại thể mà nói, cốt lõi của kinh cũng chỉ nằm ở bốn chữ "kiến tính phi tính" mà thôi. Cái gọi là "chân không diệu hữu", trong cái hư lại có thực, trong cái thực lại có hư.

Ở đây, trước hết tôi xin dẫn ra một đoạn "luận về chân tính" của cư sĩ Vương Nhật Hưu: "Đoạn thứ hai mươi bảy của "Kinh Kim Cang", đại ý của nó chẳng qua là nói rằng chân tính vốn không có gì cả, giống như hư không vậy. Cái hư không này gọi là "ngoan không", ngoan không là hoàn toàn không có gì; còn chân tính tuy giống như hư không, nhưng trong đó lại có, nên mới nói là "chân không mà chẳng rỗng không". Ngoan không thì có thể tạo ra, cũng có thể phá hoại. Thí như ở chỗ đất này, nếu đào đi một thước đất thì sẽ thành một thước trống không, đào đi một trượng đất thì sẽ thành một trượng trống không – ấy là ngoan không có thể được tạo nên. Nếu một cái đồ đựng vốn dĩ là rỗng, đem đồ vật đặt vào trong thì nó trở thành đầy; căn phòng này vốn dĩ trống, đặt đồ vào trong thì cũng thành đầy – như vậy là ngoan không có thể bị phá hoại. Nếu nói đến cái không của chân tính thì không thể tạo ra, cũng không thể phá hoại, vốn dĩ bao hàm cả hư không và thế giới thì làm sao có chuyện tạo ra được nữa? Từ vô thủy cho đến ngày nay, chưa từng biến động, thì làm sao có thể bị phá hoại? Trong chân tính vốn đã đầy đủ vô sở hữu, không có cái gì để được, nên bất đắc dĩ mới phải lấy ngoan không ra mà ví với nó."

Vì vậy, trong "Bát Nhã Tâm Kinh" mới nói "thị chư pháp không tướng" – nghĩa là tướng các pháp đều là không, chính đó là chân tính. Tiếp theo đó mới nói đến "trong không không có sắc, cho đến không trí cũng không đắc", tức là trong chân tính thì vốn chẳng có gì, giống như trong ngoan không cũng chẳng có gì vậy. Đã là hoàn toàn không có gì, thế nhưng lại có tất cả chúng sinh, thì đó chỉ là những duyên vọng hiện ra trong chân tính mà thôi. Nói một cách khái quát, chân tính giống như một tấm gương, còn hết thảy chúng sinh có sinh có mạng giống như bóng trong gương, đều là những cái bóng hiện ra từ chân tính. Bóng thì có đến có đi, nhưng gương vẫn tự nhiên như thế. Chúng sinh có sinh có diệt, nhưng chân tính vẫn tự nhiên như thế. Khi sinh diệt đã dứt hết, thì chân tính mới hiển lộ, bởi sinh diệt là vọng, còn chân tính mới là thật.

Vì thế, trong "Kinh Lăng Nghiêm" mới nói: "Các vọng đều tiêu tan rồi, cái không thật còn phải đợi ở đâu nữa?" Cái tính này, từ chư Phật ở trên cho đến tất cả loài sâu bọ có linh ở dưới, xưa nay vốn không hề khác nhau, những điều khác nhau chỉ đều là vọng cả.

"Luận về chân tính" của Vương Nhật Hưu đời Tống chính là phần giải thích hay nhất cho một câu "kiến tính phi tính". Tôi cho rằng, trong đó có một câu "Sinh diệt đã dứt hết, thì chân tính mới hiển lộ", đây chính là bằng chứng rõ ràng cho sự tái hiện của chữ "linh", cũng tức là "linh" nhập vào đại hải hư không tạng mà đắc được chân tính. Thực ra cũng chẳng có sự đắc được nào cả, cho nên gọi là vô sở đắc. Chính vì vô sở đắc mà chân tính mới xuất hiện. Chúng sinh không hiểu được đạo lý bên trong đó, chẳng những không thể đắc được chân như, mà e rằng còn điên đảo chấp mê, cứ chạy theo cái bóng đi lại, rốt cuộc mãi vẫn không sao hiểu nổi yếu nghĩa lớn của "kiến tính phi tính".

Lời giải thích về "chân không diệu hữu", từ xưa đến nay đã có biết bao bậc đại thiện tri thức từng lần lượt chỉ rõ. "Không" thì đúng là thật, nhưng khi đặt vật vào đó, thì nó cũng trở thành "chân không diệu hữu" rồi. Giáo pháp mà Đức Thế Tôn thuyết giảng, vốn dĩ tồn tại trong khoảng không, là có mà cũng là không. Khi Thế Tôn chưa thuyết, pháp vốn đã tồn tại; khi Thế Tôn thuyết rồi, pháp vẫn tồn tại. Pháp vốn dĩ không có pháp, nhưng lại diễn thuyết đại pháp cho đến chỗ "không có pháp để nói". Đây chính là lời giải thích tuyệt vời nhất cho "chân không diệu hữu". Tôi xin nêu ra những trọng điểm cho độc giả như sau:

"Biển tính vốn không,
Pháp vốn không pháp.
Vì để ứng dụng,
Nên hiện diệu pháp."

"Chân như bất động,
Là bản thân Phật.
Vì độ chúng sinh,
Đại chuyển pháp luân."

"Kiến tính phi tính,
Thấy Phật phi Phật.
Sinh diệt đã dứt,
Niết bàn diệu tâm."

"Chính pháp nhãn tạng,
Không - Có chẳng phân.
Như như bất động,
Ấy gọi chân tính."

Trong bốn bài kệ này, bài cuối cùng mang tính chân thật nhất. Điều này có liên quan đến bản tâm không dao động và bánh xe pháp quay mãi. Dẫu vậy, tôi vẫn mong các bậc chính nhân quân tử, bậc đại thiện tri thức có thể chỉ giáo và dẫn dắt thêm.

Có một cô gái đến gặp tôi, cô nói năng những lời quái dị, ánh mắt cũng rất kỳ lạ, miệng lầm bầm niệm kinh chú, đầu không ngừng gật gật liên hồi. Cha cô ấy bảo tôi: "Con gái tôi thần kinh không bình thường, mong tiên sinh giúp cháu được giải thoát. Nó tự xưng là có thể nhìn thấy thần thấy quỷ, giống như ngài vậy, vô cùng kỳ quái."

"Tôi cũng giống như người phàm phu bình thường thôi, chẳng có gì hy hữu kỳ lạ cả. Việc tôi thấy thần thấy quỷ là muốn thấy thì sẽ thấy, không muốn thấy thì sẽ không thấy. Bọn quỷ thần không thể cưỡng ép tôi, tôi cũng không bị quỷ thần làm cho mê hoặc. Tôi có thể tự chủ tự do đối với linh hồn của chính mình. Đây mới là chân thật nghĩa của việc tôi thấy thần thấy quỷ, chứ không phải là sự quái dị hư ảo, không ngưng không nghỉ. Nếu là hư ảo và quái dị, thì đó chính là thần kinh thất thường rồi." - Tôi đáp.

Cô gái ấy nhảy múa trong phòng khách nhà tôi. Cô nói: "Thầy Lư ơi, nhiều, nhiều lắm các vị tiên nữ từ trên không trung hạ xuống nhảy múa với cháu, cháu vui lắm, vui lắm ấy!" Cô lại cất tiếng hát: "Tiên nữ dạy cháu hát, các Ngài hát một câu, cháu hát theo một câu. Khúc này chỉ có ở trên trời, nhân gian khó mấy khi được nghe. Ả ả a!" Cô lại hát ầm lên. Thực ra, bài hát cô cất lên chẳng hề hay, giống như tiếng la hét điên cuồng; điệu múa cô nhảy chẳng những không đẹp mà còn khó coi vô cùng.

Cô gái nói: "Cháu sắp đắc đạo rồi, cháu đắc đạo rồi! Cháu không phải thần kinh có vấn đề, chính các người mới là thần kinh có vấn đề. Cháu thực sự trông thấy tiên nữ. Tiên nữ nói, tất cả mọi người đều mắc bệnh thần kinh, chỉ có cháu mới là người bình thường."

Tôi trì chú tụng kinh cho cô gái ấy, dần dần cô ngủ thiếp đi. Cha cô lắc đầu, nước mắt suýt nữa trào ra. Ông hỏi tôi: "Con gái tôi rốt cuộc là bị làm sao vậy?"

Tôi nói: "Cô ấy đúng là có trông thấy tiên nữ, vì thức tâm hư vọng của cô từ nơi đôi mắt mà hiện ra, nên quả thực là thấy. Chỉ có điều, sự thấy biết của cô bị điên đảo chấp trước, không thể từ mê mà nhập vào ngộ, không hiểu được "trong Không không có Sắc", cho nên vọng tưởng dễ sinh khởi liên miên, không thể trở thành một người bình thường. Cô ấy không thể tự tại, cho nên thần kinh mới không bình thường. Nếu hiểu được "kiến tính phi tính" thì sẽ có thể quán tự tại, quán tự tại chính là trạng thái bình thường vậy."

Bởi thế, tôi hiểu rằng: nếu cho rằng "thấy tính chính là tính", thì đó là ngoại đạo, cũng tức là đã nhập ma rồi. Phật nói những hạng người như vậy chính là những người "thấy Không là một cái Không để bám, thấy tính là một cái tính để chấp", nên nhất định sẽ bị ma ám mà phát cuồng.

30. Ánh sáng trí huệ của tinh thần nhân loại

Ông Bạch Văn Quý là đồng nghiệp của tôi. Bình thường, ông cũng rất có hứng thú tìm hiểu về linh hồn, đối với Ngũ thuật (Sơn, Y, Mệnh, Bốc, Tướng) cũng có đôi phần sở đắc. Ông từng bái Thiết Bút Tử (Chung Bảo) tiên sinh làm thầy, là người thành khẩn, vững vàng, mắt nhìn hơn người, thấy được lý lẽ sâu xa hơn đa số người khác.

Một hôm, chúng tôi trò chuyện trước cửa hàng phúc lợi, chủ đề nói đến chính là vấn đề tinh thần của con người.

Ông Bạch Văn Quý nói:
"Lão Lư này, hai cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán" và "Giữa linh và tôi" của anh, tôi đều đọc cả rồi, quả thực bất phàm, cảnh giới cao đến như vậy, đúng là kỳ thư xưa nay khó tìm! Cả đời tôi vẫn luôn hướng về thiền học nhà Phật, nhưng vẫn chưa lần nào thông suốt. Trước đây có một quãng thời gian, hình như tôi cũng thu hoạch được không ít, nhưng gần đây lại dường như bị ngừng lại. Tôi muốn theo đuổi một lý tưởng cho riêng mình, lấy đó làm mục tiêu phấn đấu suốt đời."

Tôi nói:
"Tôi nhận ra rằng điều mà con người hiện đại đang thiếu chính là lý tưởng. Không có lý tưởng thì không có mục tiêu, như vậy sẽ không có một tư tưởng trung tâm. Phần lớn mọi người không hiểu được mình sống là vì cái gì. Mỗi ngày sống chỉ là một ngày trôi qua một ngày, ăn xong rồi ngủ, thế là hết một đời. Sự hưởng thụ vật chất lấn át đời sống tinh thần, nhưng phương diện tinh thần thì quá nửa là trống rỗng. Vì vậy, họ mù quáng sùng bái văn hóa phương Tây, ném bỏ sạch sành sanh nền văn hóa phương Đông vốn có của mình. Đây là một sự thật đáng buồn, mà tình hình thực tế đúng là như vậy. Mỗi người sống trên đời, mục tiêu phấn đấu của bản thân rốt cuộc là gì, quá nửa là chẳng hề hay biết!"

Ông Bạch Văn Quý nói:
"Những điều anh nói rất đúng. Cứ lấy tôn giáo mà nói thì biết: thanh niên tin vào tôn giáo ít đến mức thật đáng thương. Về mặt tinh thần, đối với nền văn hóa vốn có của phương Đông, có được mấy người thật sự có tâm đắc? Trái lại, đúng là lễ mất thì phải tìm ở chốn dân gian, văn hóa phương Tây vốn không có gì quá cao minh, vậy mà lại khiến người phương Đông đua nhau chen lấn nghiên cứu.
Cứ lấy Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo làm ví dụ. Một quyển Đạo Đức Kinh của Lão Tử thôi, về chiều sâu ý vị và tầm cao triết lý, cũng đã hơn Kinh Thánh đến hàng nghìn lần. Kinh Thánh với tính chất bình thường của nó thì thích hợp để dạy dỗ những dân tộc lạc hậu ở châu Phi, có thể khiến những thổ dân văn minh lạc hậu ấy trở thành những người sống theo khuôn phép của thế giới văn minh. Nhưng nếu đem Kinh Thánh đặt vào phương Đông, đem so với nền văn hóa cố hữu của chúng ta, với tư tưởng Đạo gia vốn có, với lý học Phật – Lão vốn có, thì quả thực là một đằng ở trên trời, một đằng ở dưới đất."

"Văn hóa Cơ Đốc lạc hậu hơn văn hóa Phật - Lão của chúng ta. Thế nhưng, tại sao Cơ Đốc giáo vẫn có thể bám rễ sinh sôi ở phương Đông và được rất nhiều người tin theo? Nguyên nhân hoàn toàn nằm ở chỗ tư tưởng Phật - Lão quá đỗi cao sâu, quá đỗi huyền ảo, không thể phổ cập rộng rãi, trong khi con người hiện đại lại chẳng mấy nhiệt tâm theo đuổi. Thế là họ đành chuyển sang tìm cầu thứ giáo lý Cơ Đốc bình thường kia, cốt để bù đắp cho tâm hồn trống rỗng của chính mình.

Chúng ta không thể trách hai đạo Phật, Lão không thể phát huy rạng rỡ, cũng không thể trách vì sao nền văn minh phương Đông không thể tỏa sáng. Bởi lẽ những tư tưởng ấy chính là do con người thế hệ chúng ta đã tự động vứt bỏ nó, khiến cho tư tưởng của chúng ta trở nên bàng hoàng lạc lối, tinh thần trống rỗng, buộc phải tiếp nhận thứ tư tưởng văn hóa đơn giản truyền đến từ phương Tây. Nền văn hóa cố hữu giờ đây chỉ còn một số ít những người nghiên cứu mới có thể âm thầm hưởng một mình mà thôi."

Ông Bạch Văn Quý nói:
"Tôi cảm thấy tinh thần của con người thực sự vô cùng quan trọng. Dù văn minh vật chất có phát triển đến đâu, nhưng tinh thần càng trở nên trống rỗng, thì đó chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cục diện hỗn loạn của thế giới ngày nay. Người tin vào tôn giáo ngày càng ít, sự vô tri đối với thần linh lại ngày càng sâu, xã hội hiện đại phủ nhận thần, khẳng định chủ nghĩa vô thần, càng làm tăng tốc độ hỗn loạn tinh thần của nhân loại, khiến nhân gian rơi vào bi kịch không thể tự thoát ra. Triết học phương Tây, một phần thì phủ định sự tồn tại của Thượng Đế, một phần khác lại nhấn mạnh màu sắc của Thượng Đế. Đây cũng là một trong những căn nguyên lớn khiến tinh thần con người trở nên hỗn loạn."

Tôi nói:
"Văn minh tinh thần của con người là một loại sức mạnh vô hình, lại càng không thể coi tôn giáo là sự mê tín, bởi tôn giáo cũng là một trong những trụ cột tinh thần. Con người nếu không có tín ngưỡng tôn giáo sẽ trở thành những công cụ, thành nô lệ của vật chất. Người đời nay nhạo báng tôn giáo, nhạo báng thần minh, mà hoàn toàn không biết rằng họ cũng chính là đang nhạo báng bản thân mình. Thứ ngụy biện của chủ nghĩa hiện sinh chẳng qua chỉ là một làn sóng điên cuồng, đến cuối cùng cũng hóa thành trống rỗng, một sự trống rỗng vô cùng vô tận! Thức thứ tám của nhà Phật cũng giống như một thế giới không gian tám chiều, bên trong đó có vô vàn thế giới không thể nghĩ bàn. Siêu giác của tâm linh, sự cảm thông giữa linh và linh hoàn toàn không phải là không có thật. Cái gọi là mê tín thực chất là sự vô tri, người vô tri mà lại không tự biết mình vô tri, đó mới gọi là mê tín. Người hiện đại lạm dụng hai chữ mê tín đến mức coi tất cả những chỗ dựa tinh thần đều là mê tín cả. Đây thực sự là một trào lưu ngược lớn đối với ánh sáng trí tuệ tinh thần của nhân loại."

Bạch Văn Quý động viên tôi:
"Lão Lư này, tôi nhận thấy anh có thể gánh vác trọng trách to lớn về phương diện này. Xem qua các tác phẩm của anh, có thể thấy trách nhiệm anh gánh trên vai quá lớn lao. Nhiệm vụ mà bề trên giao phó cho anh, ắt hẳn là phải phá trừ thứ tư tưởng tà ác của xã hội hiện đại, kiến lập một định hướng tâm linh đúng đắn, đập tan hoàn toàn thuyết vô thần, cứu rỗi tâm linh của toàn nhân loại, khiến cho nó tràn đầy ánh sáng và bầu không khí an lành. Anh phải phá trừ mọi chướng ngại, không được run sợ trước dòng nước ngược."

"Tôi nghiên cứu linh hồn, thấu hiểu sâu sắc tầm quan trọng của tâm linh, đây là một hệ tư tưởng triết học vượt lên trên thế giới vật chất hữu hình. Giữa "có" và "không" đều có một định nghĩa riêng, học vấn ở trong đó vô cùng rộng lớn. Tôi dự định sau này sẽ đi theo con đường học thuật, đem các phương pháp khởi linh, linh tu, luyện linh, thông linh và chứng linh, viết thành một công trình lý luận học thuật có hệ thống. Cuốn sách đó tôi sẽ đặt tên là "Khởi Linh Học". Tôi tin rằng mình nhất định sẽ thành công, xuyên phá mọi trở ngại để đạt đến mục tiêu của bản thân. Con người bắt buộc phải có niềm tin này mới được, và đây cũng chính là lý tưởng của tôi. Công cuộc cứu rỗi về mặt tâm linh có thể sản sinh ra ánh sáng trí huệ tinh thần của nhân loại, đó là một cõi tịnh độ đầy trí huệ, ngập tràn ánh sáng và vô cùng vô tận."

"Xin chúc phúc cho anh, đến lúc đó tôi sẽ góp một tay giúp sức." -Bạch Văn Quý nói.
"Cảm ơn ông." - Tôi đáp.

Tôi dường như đã nhìn thấy tương lai tươi đẹp của mình, một tương lai thần thánh và rực rỡ sắc màu.

31. Tiếng lòng của lão nhân hải ngoại

Nguyên là giáo sư trường Sư phạm trước đây về nước giảng dạy, ông Tạng Quảng Ân hiện đang từ Nhật Bản gửi thư tới vấn an. Ông Tạng là người song tu Phật – Đạo, hiện nay y theo Mật tông mà tinh tấn tu trì, nỗ lực phi thường. Nguyên văn bức thư của ông, tôi xin trích lục như sau:

"Đạo trưởng Thắng Ngạn đại sư tuệ giám.
Gần đây có một vị tu đạo người Nhật (sang Đài Loan học Tử Vi Đẩu Số ba tháng), từ Đài Loan trở về Nhật, mang theo hai bộ đại tác phẩm của ngài. Đọc xong, tôi vô cùng khâm phục, mừng rỡ khôn xiết khi thấy ở Trung Quốc Tự Do ngày nay đã có sách xuất bản dùng sự kiện thực tế để chứng minh sự tồn tại của linh hồn, và thực trạng luân hồi theo Phật pháp, lòng tôi thật khoan khoái.

Trong ba mươi năm qua, kẻ ngu này đã tìm kiếm chứng cứ thực tế trên nhiều phương diện (ở tạp chí "Thế Kỷ Người Già", tôi từng có bài viết thô thiển, giới thiệu về nghiên cứu khoa học đối với linh hồn), với mong mỏi có thể chuyển đổi lòng người, từ đó cứu vãn cục diện nguy ngập của thế giới. Ra nước ngoài hơn hai mươi năm, tôi thấy các trước tác tiếng Anh, tiếng Nhật về không gian bốn chiều, về linh giới vẫn liên tục được xuất bản. Thế mà trong nước, hai giáo phái Phật – Đạo vẫn còn bị giam hãm trong khuôn khổ cũ kỹ, đến nỗi đối với những người có đầu óc khoa học hiện nay, hoàn toàn không có được tài liệu giảng dạy mới mẻ và sự khích lệ nào. Lòng người ngày càng sa sút, trên làm dưới theo, đã tới mức đáng lo ngại rồi!

Vài năm trước, tôi cùng bằng hữu ở Đài Bắc từng sáng lập Thiền Viện Hoằng Hóa, hiện nay đã mở rộng ra thành năm, sáu chi phân viện. Tuy nhiên, năng lực cầu cơ cũng có vấn đề. Gần đây, tôi sang Nhật Bản tu học thêm về Mật tông, cũng phát hiện ra hòa thượng Thạch Đầu, có đôi chút sở đắc, nhưng sự hiểu biết của các đại sư nơi đây đối với linh giới vẫn thấp hơn so với các bậc đại đức chân chính.
Thượng Thiên vẫn chiếu cố cho Trung Hoa ta, may thay đã có bậc cao nhân chân chính xuất thế. Hòn đảo báu đã xứng là bảo đảo, mà ngày đồng bào Đại Lục được thấy lại ánh thái dương cũng sẽ không còn xa nữa!

Trong thời đại khoa học, nếu không thể dùng chứng cứ để chứng minh linh hồn tồn tại và luân hồi không phải là hư vọng, thì quả thực không có cách nào khiến người ta tin rằng có tiên, có Phật. Suốt ba mươi năm qua, kẻ ngu này tuy không quản nhọc nhằn, thật sự đi khắp nơi tham vấn, nhưng rốt cuộc vẫn chẳng gặp được pháp lực chân chính nào, mà nay cũng đã bước vào tuổi xế chiều, lòng quả thật trăm bề nóng ruột.

Hôm qua tôi đã vội vã viết thư về cho nhà tôi, dặn bà ấy mau đến Lôi Tạng Tự bái kiến đại sư. Tuy tuổi tác giữa hai chúng ta chênh nhau hơn bốn mươi năm, nhưng nhân quả luân hồi ở cõi người, chuyện đầu bạc đầu xanh cũng có khi là anh em ruột thịt từ đời nào kiếp nào.
Kẻ ngu này nay đã sáu mươi bảy tuổi, sinh năm Kỷ Dậu, còn ngài sinh năm Ất Dậu, đều là người tuổi Dậu. Mà hậu sinh khả uý, đáng kính nể, đây cũng là nhờ thiên số, âm đức, căn cơ sâu dày chiêu cảm nên. Tôi nguyện cam tâm làm môn đồ, chỉ mong được bậc cao minh chỉ điểm.

Giới tâm linh ở Nhật Bản có rất nhiều bậc cao nhân. Ngài Kiriyama Seiyu (Đồng Sơn Tĩnh Hùng) với tân Mật pháp của mình, chính là thực hành nghìn ngày tu pháp Chuẩn Đề Tôn Đại Bạch Thân để chuyển biến vận mệnh hiện tại của đời này, giải trừ nhân quả quá khứ, ngay trong thân này mà thành Phật.

Ngày 11 tháng 10, tôi sẽ lên núi Kōya tiếp nhận nghi thức xuất gia thọ giới Mật tông, được ban pháp danh là Long Quảng, hy vọng từ đó có thể từng bước nỗ lực đi lên, sang Hoa Kỳ hoằng dương Mật tông.
Kẻ ngu này cách đây ba mươi tám năm, do cầu cơ mà bước vào Đạo giáo, nhưng vì chưa từng gặp được tiên nhân cao sĩ chân chính nào, nên lại từ Đạo mà vào Phật. Tôi từng được Lữ Tổ giáng cơ chỉ dạy rất sâu, đại ý là: từ Nho mà vào Đạo, đợi đến khi thành chân tiên rồi lại chuyển vào cửa Phật, trở thành Kim Tiên. Đời nào bằng được như thế để mà hướng về.

Xin nhờ con mắt linh của đại sư mà quan sát xem vợ chồng kẻ ngu này có thể khởi linh, luyện linh được không? Bởi chúng tôi có thể tự do qua lại trong ngoài nước, vì thế cũng có thể vì giới tôn giáo của Trung Hoa Tự Do mà làm công tác tuyên hoá ở hải ngoại.

Bài tán thán Chuẩn Đề Tôn Đại Bạch Thân Thiên Nhật Công Hành, tôi đã dịch sang chữ Hán, gửi nhờ Đại Thừa Tinh Xá in ấn để tặng cho những bậc có tâm chí, mong mỏi dẫn dắt các tín đồ trong nước giải thoát khỏi nhân duyên đời này, ngay trong thân này mà thành Phật.

Ngoài ra, tạp chí Tuệ Cự kỳ 128 có đăng tải chuyện nhà tôi là Từ Dật Quân tham gia tọa thiền tại Kim Sơn Tự ở San Francisco Mỹ, mục đích là để chứng minh hai vợ chồng chúng tôi quả thực là những người tin Phật chân chính. Cúi xin đại sư rủ lòng dùng linh giác soi xét, tiến cử chúng tôi với trời cao, vì công cuộc cứu vãn lòng người, chúng tôi xin nguyện mặc tình bề trên sai bảo.

Lão nhân hải ngoại Tạng Quảng Ân chắp tay."

Phụ lục: Thời khóa tu tập hằng ngày của ông lão Tạng Quảng Ân.

"Sáng sớm: Thời khóa Mật tông hàng ngày.

  1. Các loại chân ngôn: Tịnh tam nghiệp chân ngôn, Phật bộ samaya, Quan Âm samaya, Kim Cương Giới samaya.
  2. Tâm Kinh (2 biến).
  3. Chú Chuẩn Đề (10 biến).
  4. 25 bài kệ Phẩm Phổ Môn (1 biến).
  5. Quang Minh chân ngôn.
  6. Bất Động chân ngôn.
  7. Đại Cát Tường Lục tự chương cú (1 biến).
  8. Chú Phật Đỉnh Tôn Thắng (7 biến).
  9. Nhất thiết Như Lai tâm bí mật (Toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni) (7 biến).

Khóa tối:

  1. Chú Lục tự đại minh(108 biến).
  2. Chú Đại Bi (21 biến).
  3. Chú Chuẩn Đề (108 biến)."

Tôi nhận được bức thư này, trong lòng vô cùng cảm động. Xét cho cùng, những bậc đại thiện tri thức và những người hộ trì Phật pháp ở cả trong và ngoài nước đều rất đông đảo. Việc ông Tạng tìm ra Hòa thượng Thạch Đầu ở hải ngoại lại càng là một sự kiện lớn gây chấn động trong và ngoài nước!

Tuổi thọ của đời người rốt cuộc vẫn là hữu hạn. Việc đem chút tinh lực hữu hạn ấy để hòa hợp với cội nguồn của Tiên thiên đại đạo, xét cho cùng quả là một điều rất đỗi khó khăn. Thế nhưng, nói khó thì rất khó, mà nói dễ thì lại rất dễ, một sát-na chính là vĩnh hằng, và vĩnh hằng cũng chính là một sát-na. Công lực của ông Tạng trong thế giới vô hình thực ra đã rất thâm hậu rồi, chỉ là bản thân ông ấy không có cách nào cảm nhận được mà thôi. Tôi vẫn thường nói: "Không được chính là được, tâm Phật chính là tâm bình thường." Phàm ai có thể lĩnh hội được câu nói này, lại suy ngẫm sâu xa thêm, thì người đó đã cách Đạo không còn xa nữa.

Tôi có nói với vợ chồng ông Tạng rằng: "Pháp môn khởi linh là phương pháp mà ai ai cũng có thể tu học. Nhưng khởi linh là một loại công phu thuộc về động, chứ không phải chữ Định trong thiền định. Khi khởi linh, không được dùng công phu tĩnh định, mà là công phu động. Chỉ cần chắp hai tay lại là được, không cần phải kết thủ ấn A Di Đà. Nhất tâm quán tưởng Diêu Trì Kim Mẫu, để giao cảm lẫn nhau giữa tha lực và tự lực, như vậy liền có thể khởi động được rồi!"

Với công hạnh của ông Tạng, chỉ cần thử một lần ắt sẽ thành công, đây là điều mà tôi dám khẳng định.

32. Luật Đại Phạm Thiên

Phía trên Tứ Thiên Vương là Đế Thích Thiên, phía trên Đế Thích Thiên mới là Đại Phạm Thiên. Luật của Đại Phạm Thiên gọi là Luật Đại Phạm Thiên, điều này đa số người tu hành thường không mấy ai biết đến. Luật Đại Phạm Thiên là linh luật vô hình, thuộc về thế giới tầng thứ sáu. Nhãn quang thông thường của người đời, nếu có thể thấy được Đế Thích Thiên đã là rất giỏi rồi, cho nên rất nhiều người chỉ biết có Đế Thích, mà không biết có Đại Phạm Thiên Vương. Sự tu hành của Đại Phạm Thiên Vương phải tích lũy ba nghìn đại thiện công, trải qua trăm đời, thực sự không dễ dàng!

Thế giới linh hồn thì muôn hình vạn trạng. Tôi không dám xem thường hồn ma, bởi vì linh lực của hồn ma có kẻ lớn kẻ nhỏ, cũng có những hồn ma có lai lịch rất lớn, khiến bạn hoàn toàn không nghĩ nổi là họ lại còn có thần thông lớn hơn cả thần linh nữa!

Chủng loại của linh rất nhiều: có cái là chính, có cái là tà, có cái tà trong đó mang chút chính, có cái chính trong đó pha chút tà. Cũng giống như thiện ác nơi con người, như âm với dương, vốn không nhất định thuần nhất tuyệt đối.

Gần đây tôi đến một bệnh viện thăm một người bạn. Người bạn ấy vốn có tướng phúc hậu (mập mạp tròn trĩnh), thế nhưng, lúc tôi vừa mở cửa, trong tầm mắt mờ ảo, tôi lại trông thấy bảy vị thiếu nữ áo trắng đang lơ lửng bên cạnh người bạn ấy. Người bạn đó của tôi lúc này đã gầy trơ xương, da mặt chùng xuống dán trên khuôn mặt, ngồi cũng không ngồi dậy nổi. Tôi vừa bước vào thì bảy thiếu nữ áo trắng ấy liền biến mất. Anh mở đôi mắt đờ đẫn nhìn tôi, miệng hơi hé, nói một câu: "Cảm ơn cậu đã đến."

Tôi hỏi: "Bác sĩ nói anh mắc bệnh gì vậy?"
"Bác sĩ chỉ nói là teo cơ, nhưng lại không tìm ra được nguyên nhân, bảo tôi nhập viện, mỗi ngày chỉ truyền dịch dinh dưỡng thôi. Đã chụp X-quang, cũng xét nghiệm máu, kết quả vẫn là không biết nguyên nhân bệnh do đâu. Chính bản thân tôi cũng thấy lạ là bệnh của mình đến quá đột ngột. Tôi nghĩ không biết có phải là vấn đề thuộc về linh hay không, bởi vì trước đó, tôi quả thật đã nhìn thấy ma. Nhưng tôi nói ra thì ai nấy đều chê tôi hoang đường, hoàn toàn không tin!"

"Anh cứ kể thử xem."
"Có một hôm, tôi đang dạo bước trong khuôn viên một trường trung học tư thục ở Đài Bắc. Bên trái khuôn viên là một hồ sen lớn, có một cậu bé đang chơi bên bờ nước. Bỗng nhiên cậu bé kêu lên một tiếng thê lương. Tôi nhìn qua thì thấy trong hồ nước có một cánh tay quái dị thò lên, nắm lấy chân cậu bé kéo xuống hồ. Tôi vội bước nhanh tới ôm chặt lấy cậu bé, cố sức kéo lên bờ. Lúc ấy, tôi nhìn thấy trong hồ hiện ra bảy ma nữ mặc áo trắng, từng người từng người đều đưa tay ra, kéo tay kéo chân đứa nhỏ. Khi đó, tôi không thấy sợ chút nào, chỉ nhờ vào sức lực toàn thân kéo đứa bé lên mà cứu được nó.

Nhân viên tạp vụ của trường kể với tôi, ông ấy buổi tối không dám đi ngang bờ ao, vì luôn cảm thấy gió âm u rờn rợn. Cứ cách mỗi ba năm là nhất định sẽ xảy ra một vụ rơi xuống nước bi thảm. Ban giám hiệu nhà trường đã cân nhắc việc san lấp hồ nước này, có lẽ sắp tới đây sẽ khởi công.

Nói cũng lạ, từ sau khi tôi cứu cậu bé ấy, hễ tới tối là toàn thân liền cảm thấy lạnh buốt, răng đánh vào nhau lập cập, thế rồi đổ bệnh một trận không dậy nổi, cơ bắp teo tóp. Bây giờ thì gầy trơ xương thành ra thế này, tôi e là khó mà sống được bao lâu nữa."

"Không đâu." - Tôi an ủi anh ta.
"Mẹ tôi cũng đã đi hỏi thần minh, các vị thần đều nói là ma nữ quấy phá. Nhưng dù đã vẽ bùa, cúng thần, uống thuốc, kết quả vẫn vô hiệu. Thần lực còn không địch nổi ma lực, vậy mấy vị thần minh đó rốt cuộc ăn để làm gì? Ngay cả ma nữ mà cũng không quản nổi, còn xưng gì là thần minh nữa? Thật là kỳ quặc hết sức."
"Bảy ma nữ đó, anh thật sự nhìn thấy rõ ràng chứ?" – Tôi hỏi.
"Thật mà, họ rất xinh đẹp, như tiên vậy. Trên đời này không ai sánh được." - Ánh mắt anh ta đột nhiên sáng lên.

Tôi về nhà, mở đọc "Kinh Diệu", gặp một đoạn rằng:
"Ở nước Câu-thi-na, có người tên là Ma-in-đề, dắt con gái mình đến trước Phật, bạch Phật rằng: "Con gái tôi nhan sắc thật là đẹp, trên đời không ai sánh bằng. Các vua các công tử hào tộc các nước đến cầu hôn rất nhiều, nhưng tôi đều không gả. Nay tôn nhan của đại nhân quang sắc uy nghi, thế gian chẳng ai được thấy như vậy, nên tôi muốn đem con gái này dâng hiến.

Phật bảo: "Cô gái này đẹp ở chỗ nào?" Ma-in-đề thưa: "Từ đầu đến chân, nhìn khắp quanh, chỗ nào cũng đẹp cả." Phật nói: "Mê muội thay, con mắt thịt! Nay ta quan sát, từ đầu đến chân, không có một chỗ nào đẹp. Thấy trên đầu ngươi có tóc, tóc cũng chỉ là lông, lông voi, lông ngựa cũng là lông vậy. Dưới tóc là sọ, sọ chỉ là xương, xương heo ở lò mổ cũng vậy thôi. Trong đầu có não, não như bùn, tanh hôi xông ngược lên mũi, nếu đem đổ xuống đất, chẳng ai dám giẫm lên.

Mắt là hai vũng nước, moi ra thì chỉ toàn là dịch; trong tai mũi có dãi nhớt, trong miệng có nước bọt; trong bụng chứa gan phổi, đều tanh hôi; ruột non, ruột già, dạ dày, bàng quang, đều đựng phân tiểu, mùi hôi của phủ tạng khó nói hết. Bốn chi tay chân, xương với xương chống đỡ nhau, gân căng da co, nhờ hơi thở mà động, chẳng khác nào người gỗ máy móc. Nếu tháo rời thân thể ra, đốt nối đốt, đầu mình tay chân vương vãi, lộn xộn khắp nơi. Người đời đều như vậy, có chỗ nào tốt đẹp mà ông lại nói là vô song? Ta không cưới đâu, hãy mau đem về đi!" Ma-in-đề nghe lời này, hổ thẹn, không dám nói thêm nữa."

Vì việc này, tôi đốt hương cầu thần chỉ dạy. Thần linh rất nhanh liền chỉ bảo rằng: "Bảy ma nữ đó vốn là thiên nữ ở thượng giới, vì phạm thiên luật của Đại Phạm Thiên nên đọa xuống nhân gian làm hồn ma. Do bản tính thuộc về thủy, nên ẩn thân nơi nước mà hiện; nếu có thể tu chân dưỡng tính thì chẳng khó quay về thiên cung. Thế nhưng, nhiều khi lúc tĩnh cực lại sinh động, dựa vào chút thần thông tàn hại sinh linh, càng lúc càng trở nên tệ hại hơn! Ấy là bởi đã đánh mất bản tánh ban đầu của mình. Nay bạn của ngươi cứu đứa trẻ, đó là điều thứ nhất khiến họ oán hận; thêm nữa, bạn ngươi luyến ái dung nhan của hồn ma mà tưởng nhớ đến chúng, đó là điều thứ hai khiến bệnh hoạn phát sinh. Các thần dẫu có đại thần lực cũng không thể ra tay cứu độ, vì tự anh ấy đã trói buộc chính mình, càng trói càng chặt; tự thân không chịu tự cứu thì cầu thần lực cũng uổng công mà thôi."

"Luật Đại Phạm Thiên là gì?"
"Luật Đại Phạm Thiên là linh luật của chư thiên, chuyên quản những thiên thần hoặc Đại Lực Thiên Vương đánh mất chính niệm, phải giáng xuống nhân gian làm ma. Đây là linh luật tối cao đối với cả thiên thần lẫn quỷ thần. Phạm vào điều cấm thì không thể trốn chạy, dẫu có thần thông cũng khó thoát khỏi linh luật."
"Còn bảy thiên nữ kia thì sao?"
"Đã trở thành linh yêu tà, đó là thiên số, chỉ còn biết than mà không làm gì được. Tinh khí của bạn ngươi đã mất, nhưng vì đã cứu được một mạng người nên công và tội cân bằng với nhau, đặc biệt được cho tái sinh làm người một lần nữa. Trong mắt thần, chuyện này chỉ như tia chớp lóe lên rồi tắt, vô thường luân hồi qua lại rất nhanh chóng."

Quả nhiên chẳng bao lâu, người bạn ấy bệnh không qua khỏi mà qua đời. Tâm bị tà linh mê hoặc, quả thật ghê gớm.

33. Điều kiện của siêu giác

Một người muốn từ kẻ bình phàm trở thành bậc siêu giác không phải là chuyện hoàn toàn không thể. Thành thật mà nói, nếu ai nấy đều nỗ lực tinh tấn thì chỉ là vấn đề sớm hay muộn. Người chậm là do nghiệp đời trước nặng, căn cơ còn cùn nhụt, người sớm là do căn cơ sâu dày, duyên phận lại lớn.

Có rất nhiều người đối với thần minh không thể khởi lên dù chỉ một chút tâm tin tưởng, ấy là vì trong đời trước, họ vốn chưa từng tiếp xúc với thần minh, hoàn toàn không có duyên trong phương diện này. Vì là vô duyên nên không sinh hứng thú, cho dù đời này có gặp được cơ duyên cũng khó mà thật sự coi trọng.

Sách "Tịnh Độ Truyện" nói: "A Di Đà Phật cùng hai vị Bồ Tát Quan Âm và Thế Chí ngồi trên chiếc thuyền Đại Nguyện, vượt qua biển sinh tử, đến ngay cõi Ta Bà này kêu gọi dẫn dắt chúng sinh.……… Phật có thể độ hết thảy chúng sinh, nhưng không thể độ hết thảy những người không chịu tin. Cho dù đến chết cũng không tin thì có thể nói là đến cùng cực rồi. Vì người có lòng tin chỉ là ở nơi một niệm mà thôi. Nếu khi còn sống, tâm muốn đi thì thân liền theo đó mà đi, tâm muốn ở thì thân cũng theo đó mà ở – thân vốn luôn đi theo niệm vậy. Thế nhưng vẫn còn có người, tuy có niệm muốn đi mà thân lại bị trói buộc. Đến khi thân hoại, chỉ còn lại một niệm mà thôi, một niệm đến đâu thì không nơi nào là không đến. Vì vậy, nếu một niệm ở nơi tịnh độ thì ắt sẽ sinh về tịnh độ."

Trong "Tịnh Độ Truyện" có nói, muốn vãng sinh cõi Cực Lạc, chỉ cần "một niệm sinh" là được. Cái gọi là "một niệm sinh" ấy thực ra chính là nhất tâm. Nhất tâm là một loại chỉ–quán của linh, tức là dứt bỏ các chướng ngại thế tục, một loại thiền giác đưa thẳng thân tâm siêu thoát. Loại thiền giác này cũng chính là siêu giác: đem toàn bộ sức mạnh của tâm tập trung vào một điểm định, dùng sức lực vô cùng đó để phá vỡ mọi cửa ải khó khăn mà đạt được trí tuệ vô cùng vô tận.

Vì vậy, điều kiện của siêu giác chính là thiền giác, tức là một tâm một niệm. Mà tâm lực và niệm lực chính là linh lực. Ba thứ hợp lại làm một thì trên đời không gì địch nổi.

Có người hỏi tôi: "Có thể rèn luyện thành bậc siêu giác được không?" Tôi nói là có thể. Một đời tu chưa được thì còn đời thứ hai, thậm chí trăm đời, nghìn đời. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật tu thành bậc Đại Trí Giác Giả, ấy là nhờ công hạnh năm trăm đời vậy! Tôi cho rằng, người tu linh chỉ cần có một mục tiêu thì không có chuyện không thành tựu; một lòng tinh tấn, thì dù là kẻ bình phàm đến đâu, cũng có thể trở thành bậc siêu giác! Nguyên nhân chủ yếu vẫn là: nếu tâm hợp lại thành một thì muôn niệm đều quy về một, niệm dứt thì tính hiện, lúc ấy thời cơ minh tâm kiến tính, đắc đại trí tuệ cũng đã tới rồi. Bậc siêu giác nơi tự tâm mình biết rõ ta từ đâu đến, và rồi cũng sẽ trở về đâu.

Tôi khuyên một bà cụ niệm Phật. Bà cụ hỏi tôi: "Niệm thế nào?" Tôi nói: "Nam mô A Di Đà Phật." Bà bảo: "Cái này đơn giản." Tôi nói: "Chỉ đúng một câu ấy thôi."

Bà cụ không biết chữ, nhưng thành tâm thì tràn đầy. Bà đi đường cũng niệm, nấu cơm giặt giũ cũng niệm, bế cháu cũng niệm. Bà chưa từng đi học, không biết tụng chú, không biết tụng kinh, cũng không biết lạy Phật, chỉ biết niệm Phật mà thôi. Về sau, bà niệm càng ngày càng tự nhiên, chưa từng gián đoạn câu niệm Phật.

Kể ra cũng lạ, sau ba năm niệm Phật, có một đêm, trong mơ bà cụ thấy một vị khổng lồ, trên đỉnh đầu có nhục kế, toàn thân phóng ra ánh sáng, khoác áo cà-sa rực rỡ. Ngài đưa tay xoa đầu bà, bà chỉ cảm thấy có một dòng nước mát lành chảy vào trong não mình.

Sáng hôm sau thức dậy, bà cảm thấy thân tâm vô cùng khoan khoái, những chứng bệnh kinh niên trên người (cái tật nhức mỏi xương cốt lâu năm) đều sạch bóng. Trí nhớ trở nên vô cùng lanh lợi, đến nỗi cả những chuyện thú vị thời thơ ấu bà cũng đều nhớ lại từng điều một. Lạ lùng hơn nữa, bà nghe người khác giảng kinh thì có thể ghi nhớ hết trong lòng, lại còn có thể nói lại cho người khác nghe, hễ bàn đến Phật pháp là miệng tuôn như suối không dứt. Gần đây, bà chỉ cần nhìn hình chữ là cũng có thể tụng được "Kinh Kim Cang".

Từ khi tự mình tụng được "Kinh Kim Cang", những việc sắp xảy ra trong nhà bà đều có thể biết trước. Ví dụ, nếu ngày mai có khách đến, thì vào đêm hôm trước, bà đã có thể trong mơ biết rõ người sẽ đến là ai, đến vì việc gì, người đó thiện hay không thiện. Những điều bà dự đoán đều vô cùng chính xác. Bà vẫn niệm Phật như cũ, thân tâm an lạc, trí tuệ tăng trưởng – đây là điều mà suốt cả đời bà chưa từng dám nghĩ tới!

Lại có một tiên sinh kia, ông cũng niệm Phật mà niệm ra kỳ tích. Trong nhà ông thờ một tượng A Di Đà Phật. Một hôm, ông chắp tay nhất tâm niệm Phật, bỗng thấy trên đỉnh đầu Phật Tổ dâng lên một vòng hào quang, hào quang càng lúc càng sáng, như ánh mặt trời, có khi hiện ra bảy sắc. Mỗi khi ông chuyên chú niệm Phật thì vòng sáng ấy nhất định hiện lớn rực rỡ, còn lúc tâm phân tán, không chuyên chú thì màu sắc mờ nhạt kém sáng. Niệm cho đến gần đây, trong quầng sáng hiện ra một tòa liên hoa màu bạc, trên tòa sen đó có một người, hóa ra lại chính là bản thân ông. Ông chạy đến kể lại với tôi, tôi chúc mừng ông.

Tôi nói: "Ông Chu này, tòa sen bạc là tượng trưng cho trung phẩm vãng sinh. Nếu ông siêng năng tu trì, ắt có thể hiện ra tòa sen vàng, như thế thì chính là thượng phẩm sinh rồi." Ông Chu rất vui mừng, từ đó niệm Phật càng chuyên chú, càng nghiêm túc hơn; một câu A Di Đà Phật, tâm liền quy về một.

Một khi nhất tâm bất loạn thì còn chướng ngại nào không phá, còn ngọn đèn nào không sáng, ma không có chỗ sinh, tự nhiên sẽ vãng sinh về Liên bang Tây Phương mà thành bậc siêu giác.

Thuở mới bắt đầu có cơ duyên tu học, tôi cũng đã một lòng phụng trì danh hiệu Phật. Tôi thậm chí không ngồi xe taxi, từ nhà đến cơ quan làm việc cách xa năm cây số, tôi cứ đi bộ, mỗi bước một câu niệm Phật, chưa từng gián đoạn. Công phu rèn luyện của bản thân tôi chính là như thế. Có lúc tôi niệm ra tiếng, có lúc tôi niệm thầm, nơi ít người thì niệm ra tiếng, chỗ đông người thì niệm thầm, lúc chắp tay, lúc buông tay, không câu nệ hình thức.

Kết quả là có một ngày, một vị thiên nhân thần tiên từ trên không giáng xuống. Toàn thân vị ấy tỏa hương thơm ngát, mặt tròn đầy như mặt trăng, trang nghiêm chắp tay, cùng song hành niệm Phật với tôi trên đường phố ban đêm. Vị ấy giáng lâm để khích lệ tôi, khiến tôi cảm kích đến rơi lệ.

Ta Bà sinh kẻ thật ngu si
Bao khổ vây quanh chẳng biết suy
Ở đời chẳng tạo nghiệp thanh tịnh
Lâm chung đâu dễ thoát luân hồi

Trăm nghìn kinh sách luôn khuyên nhủ
Muôn triệu người mấy kẻ hiểu chi
Xin trọng tay vàng thân Đại Thánh
Sớm dìu con nhập vào hồ sen.

Người người đều tu được siêu giác
Tự tính sẵn có chớ tìm ngoài
Tinh tấn nỗ lực niệm Phật mãi
Thiền hay Tịnh chỉ một tâm thôi.

Một câu Di Đà đừng khinh nhẹ
Nguyện lực niệm lực kết sinh đôi
Lợi mình lợi người đều viên mãn
Xưa nay hiếm thấy phép màu soi.

Ai tin là người có duyên lớn
Không tin thì thật đáng thương thay
Phản quán tự tính rời mê tối
Lời tôi ân cần hồ sen sinh.

34. Pháp tĩnh tọa của Đạo gia

Tĩnh tọa của Đạo gia đã có từ rất lâu đời. Đây là một trong những phương pháp căn bản để "đoạt lấy tạo hóa của trời đất", biến Tiểu chu thiên thành Đại chu thiên. Nay xin đem chút tâm đắc nhỏ bé của bản thân đối với Đạo gia tĩnh tọa trình bày trước mắt độc giả, mong có thể mở ra một làn gió mới, dẫn người vào Đạo mà thành Chân. Nhờ đó mà tiếp nhận được cốt tủy tinh túy của tiền nhân, không làm mai một đạo phong vốn có của Trung Hoa, rồi từ đó phát huy rạng rỡ.

Khi tĩnh tọa theo Đạo gia, việc đầu tiên là phải an thần. Phương pháp an thần chính là gõ răng: cho hàm trên và hàm dưới gõ nhẹ vào nhau. Lúc gõ, trong tai chỉ nghe âm thanh răng gõ, đếm đến ba mươi sáu lần thì dừng. Lưỡi đặt sát lên vòm miệng trên, trước hết nuốt nước bọt, rồi sau đó chuyên chú vào hơi thở. Hơi thở trong Đạo gia chính là phương pháp căn bản của luyện khí, còn gọi là pháp Đạo gia thổ nạp (thần tiên thổ nạp), là nền tảng của nội công. Theo chỗ tôi tự nghiên cứu và thể nghiệm, pháp thổ nạp của Đạo gia có thể chia thành năm hình thức: Một là pháp chỉ – quán, Hai là pháp trường sinh, Ba là pháp quán tưởng, Bốn là pháp hội nguyên, Năm là pháp đếm hơi thở.
Năm phương pháp này mỗi loại đều có chỗ vi diệu riêng, trong đó, pháp hội nguyên là khó nhất, còn pháp trường sinh là dễ nhất.

Pháp trường sinh, xét về khí, chính là thở ra ít, hít vào nhiều: hơi thở ra thì ngắn và gấp, hơi hít vào thì dài và chậm. Cách hô hấp như vậy đơn giản, dễ học, nếu tu lâu ngày sẽ thành thói quen, tự nhiên mà đạt đến trường thọ.

Khí trong pháp hội nguyên thì không đi qua phổi, mà đi theo thực quản thẳng vào dạ dày rồi xuống đan điền. Pháp hội nguyên là để khí chuyển động tại đan điền, hội tụ với nguyên (khí) linh, thấy được nguồn gốc của khí vậy, đây chính là phương pháp hít thở của thần tiên.

Khí hải là nguồn gốc của khí, còn đan điền là nơi tích trữ của khí. Luyện nội công tĩnh tọa là để củng cố chân khí của bản thân; những công phu như Kim Chung Tráo, Thiết Bố Sam thảy đều có quan hệ rất lớn với Đạo gia tĩnh tọa.

Nguồn gốc của khí cũng chính là điểm cơ bản mà thuật Yoga tìm kiếm, còn đan điền chính là Hải để luân [luân xa gốc] trong thuật Yoga – điều này hoàn toàn không sai. Hải để luân cũng có thể nói chính là khí hải, nếu không thể đột phá được chỗ này thì đây chính là nguồn gốc của địa ngục.

Tiên thiên chân khí nếu không biết phương pháp tăng trưởng và giữ vững, ngày ngày cứ để rò rỉ thất thoát chân khí, thì sớm muộn gì cũng tự trói buộc lấy mình, không thể đắc đạo, vĩnh viễn ở nơi âm ty chịu khổ.

Hình thức hít thở trong Đạo gia tĩnh tọa có ba loại: một là ngoại hô hấp, hai là nội hô hấp, ba là thai tức [hơi thở như thai nhi]. Thai tức là thứ mà ngay khi con người vừa sinh ra đã đứt tuyệt hoàn toàn, nhưng nội hô hấp thì vẫn chưa đứt đoạn. (Người thường hay cho rằng nội hô hấp khi vừa lọt lòng liền đứt đoạn, đó là một quan niệm sai lầm.)

Ngoại hô hấp chính là cách hít thở của phàm phu. Ở phần lớn mọi người, nội hô hấp thường vận hành tự nhiên trong sự vô tri vô giác, còn ngoại hô hấp thì hằng ngày một khắc cũng không thể đứt đoạn, hễ đứt đoạn là mất mạng ngay. Ngoại hô hấp chính là "hậu thiên tức" [hơi thở bằng phổi qua mũi miệng, phụ thuộc vào không khí bên ngoài, hình thành sau khi con người chào đời], nội hô hấp chính là "tiên thiên tức" [sự vận hành của chân khí bên trong các kinh mạch và đan điền, vốn có từ trước khi sinh ra].

Công phu quan trọng nhất của Đạo gia tĩnh tọa chính là đả thông tiên thiên tức, đóng và cắt đứt hậu thiên tức. Đóng và cắt đứt hậu thiên tức cũng đồng nghĩa với việc đoạn dứt con đường sinh tử, từ đó mà vũ hóa đăng tiên [thuật ngữ Đạo giáo chỉ cảnh giới tu luyện thành tựu, thân thể nhẹ nhàng thoát tục như mọc cánh bay lên cõi tiên], thành Phật tác Tổ vậy.

Phương pháp đả thông hai mạch Nhâm Đốc, làm cho nội hô hấp (tiên thiên tức) xoay chuyển, chính là "pháp luân thường chuyển" nơi bản tính của chính mình. Trong các tông phái Phật môn, rất hiếm người có thể tự biết được việc tự chuyển pháp luân này, họ thường gán cho loại công phu này là "tâm động". Thực ra đó không phải là tâm động, mà là pháp động, nói một cách chân thực hơn một chút thì đó là "tức động" [khí hô hấp chuyển động]. Thế nhưng, một điều không thể nghi ngờ: cái "tức động" này chính là "thần động", mà thần cũng chính là linh vậy.

Nếu mọi người thể hội được câu nói: "Phật ở ngay tại Linh Sơn, chớ tìm kiếm đâu xa", thì cũng có thể hiểu được việc đả thông hai mạch Nhâm Đốc mang ý nghĩa thần bí và trang nghiêm đến mức nào. Điều này giống như một bước ngoặt chuyển tiếp, và cũng là một kỳ tích; hiện tượng sáu loại chấn động lớn chính là được sinh ra vào lúc này.

Người luyện Yoga có thể cảm nhận được một luồng chân khí nóng bỏng từ Hải để luân dâng lên, người luyện nội công thì tự nhận thấy ở đan điền có một dòng nhiệt lưu đang liều mạng luồn thẳng lên trên. Điều này ắt hẳn sẽ khiến cho người tĩnh tọa bị thân tâm đại động, rung chấn không ngừng. Người tĩnh tọa khi gặp hiện tượng này thì không cần phải sợ hãi, bởi vì đây là một hiện tượng tự nhiên, từ đây có thể coi như bước công phu đầu tiên đã gặt hái được thành quả.

Ứng dụng luồng chân khí tựa như dòng hồng thủy này như thế nào mới là một mấu chốt lớn. Người luyện quyền thuật nội công thì đem nó dùng làm công phu, kỹ nghệ trong chiến đấu, đánh đấm. Người tu hành thì lợi dụng luồng chân khí này để luyện thuật trường sinh bất lão. Còn phái Thần Tiên thì dùng nó để chấm dứt sinh tử, ngũ đăng hội nguyên, thượng xung Đẩu Ngưu, để rồi bay đi thành Tiên thành Phật. Trong đó, mỗi bên đều có những nét xảo diệu riêng biệt vậy.

Pháp bế tức của thuật Yoga (ngoại hô hấp đã ngừng hẳn), người tập không ăn không động, nhịp tim từ từ yếu dần đi, tuần hoàn máu chậm lại, nhiệt độ cơ thể hạ xuống. Thế nhưng lúc này nội hô hấp ngược lại vẫn tuần hoàn không dứt. Loại hô hấp này là sự hô hấp qua lỗ chân lông, còn được gọi là thở bằng da. Điều này cũng chẳng khác gì hiện tượng ngủ đông của các loài động vật.

Có một số bậc đạo sư Yoga có thể ngồi một mạch suốt nhiều tháng trời, thậm chí có vị bị chôn vùi dưới đất, qua nửa năm hay một năm bới lên, vẫn là một con người sống sờ sờ. Đây chính là công dụng của pháp bế tức. Hiểu được pháp bế tức, tức là công lực của thuật Thần Tiên đạo dẫn trường sinh đã thành tựu rồi vậy!

Sự thành tựu của công phu tĩnh tọa thực chất có một nội hàm rất vĩ đại, nếu không đích thân trải nghiệm thì không có cách nào diễn tả được sự huyền bí của nó. Sự thành tựu của pháp tĩnh tọa chính là minh tâm kiến tính của nhà Phật, là sự xuất hiện Chân Nhân của Đạo gia, là ngũ đăng hội nguyên, là tam hoa tụ đỉnh vậy. Thiền, Yoga, Đạo công, khởi linh, minh tư (pháp đếm hơi thở của nhà Phật), quán tưởng... thực ra các phương pháp này đều không khác nhau là mấy. Sáu dòng nước hội tụ về một nguồn, từ một mà hóa ra nghìn vạn khác biệt, nhưng cuối cùng đều khác đường nhưng cùng chung một đích đến.

Dùng linh khí tĩnh tọa của chính bản thân mình để đả thông với linh khí của bát đại không gian, đó chính là thiên nhân hợp nhất. Đạt đến thiên nhân hợp nhất thì sẽ không sinh không diệt, bản tính hóa hiện ra nghìn vạn thân, chẳng phải không mà cũng chẳng phải có, biến hóa khôn cùng, diệu dụng vô cùng, diệu dụng vô lượng vô tận.

Pháp môn tu tập của Linh Tiên Chân Phật Tông chúng ta lấy khởi linh làm công phu hàng đầu, hiện tượng sáu cơn chấn động lớn sẽ rất nhanh chóng được chứng nghiệm. Mượn linh để dẫn khí, lấy khí để hóa thần, dùng thần để chứng đắc Thiên đạo, thành Tiên làm Tổ, há chẳng dễ dàng lắm sao!

Tư thế tĩnh tọa cốt yếu ở chỗ tự nhiên, thoải mái, trong tâm tối kỵ những suy nghĩ tạp niệm. Phải điều phục mọi hình tướng trong tâm để quy về "một", từ "một" mà đi vào "không", dùng cái "không" đó mà giành được trí tuệ, thoắt cái trở thành bậc Giác ngộ. Từ bước này mà tiến tới thì không có đạo lý nào là không thông đạt.

Tôi muốn mọi người ghi nhớ kỹ một điều: cái nguồn gốc là quan trọng nhất, tìm được rồi thì chớ để thất tán, ngày đêm thường xuyên gần gũi, sớm sớm thể hội được bản tính của chính mình.

Muốn sang Đông thì sang đông, muốn sang Tây thì sang tây, tự tại như bản tính, đó chính là thân mật của Như Lai.

35. Quang Minh Đồng Tử

Kể từ khi tôi được khai mở pháp âm nhãn có thể nhìn thấy linh giới, rất nhiều quỷ thần chốn linh giới vốn dĩ chưa từng quen biết đều đã trở thành những người bạn tốt của tôi. Những quỷ thần này qua lại thường xuyên, và từ những lúc trò chuyện phiếm với họ, tôi đã biết được rất nhiều điều huyền bí của cõi âm. Những bí ẩn này chưa chắc cõi nhân gian đã có thể tưởng tượng ra nổi, những trải nghiệm thần kỳ ấy quả thực nghìn điều kỳ lạ, muôn vàn hình thức, biến hóa khôn lường.

Nói thật lòng, tôi cũng đặc biệt thích bái lạy Thần Phật. Hễ gặp chùa miếu mà không bái lạy, trong lòng tôi lại cảm thấy vô cùng áy náy. Chẳng cứ gì những ngôi chùa lớn, mà ngay cả những miếu Thổ Địa nhỏ bé tôi cũng nhất định phải vái lạy. Nếu đang ngồi trên xe đi ngang qua mà không thể xuống được, tôi cũng phải niệm một câu "A Di Đà Phật".

Có một lần, khi ở Bình Đông, tôi đi ngang qua một ngôi làng nhỏ. Ở đó có một ngôi miếu không lớn cũng không nhỏ, trên bức hoành phi chính giữa cổng miếu có đề chữ "Miếu Tam Sơn Quốc Vương". Trong lòng tôi thấy hoan hỷ, liền rửa tay sạch sẽ, thắp hương và bắt đầu bái lễ.

Khói hương lượn lờ bay lên. Ngự trên bàn thờ là tôn tượng của Tam Sơn Quốc Vương, phía trên cao là bảo tướng của ba vị Phật Như Lai, ngoài ra còn có các pho tượng thần khác, e rằng cũng phải đến hơn hai mươi vị.

Cắm hương vào lư xong, tôi thấy lúc này trong miếu không có ai, chỉ có một ông từ trông miếu đang ngủ gật. Tôi để ý thấy trên bàn thờ của ngôi miếu này tích tụ rất nhiều bụi bặm, đồ đạc bày biện hết sức lộn xộn, các cột trong đại điện thì chằng chịt toàn mạng nhện.

Mỗi lần bái lạy thần minh, tôi nhất định đều khấn: "Đệ tử là Lư Thắng Ngạn, hiệu Liên Sinh, nhà ở Đài Trung, phụng thờ Diêu Trì Kim Mẫu của Từ Huệ Lôi Tạng Tự làm vị tôn sùng nhất. Nay đi ngang qua bảo địa, xin cầu nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, thân thể khỏe mạnh, đạo tâm mãi vững bền."

Khấn xong, tôi vái lạy một hồi, vừa định quay người bước đi thì ngờ đâu một chân vừa mới nhấc lên, lập tức có một luồng sức mạnh kỳ lạ đè nghiến chân tôi xuống. Chân tôi không sao nhấc lên nổi, cũng không thể tiến lên phía trước được, đành phải quay người lại, quỳ xuống.

"Là thần thánh phương nào? Xin hãy cho biết!"
Lúc này, tôi nhìn thấy ngay bên cạnh chiếc lư mà tôi vừa cắm hương, một làn khói trắng bay lên, trong làn khói phóng ra một luồng ánh sáng trắng. Đứng trong luồng ánh sáng trắng ấy là một vị đồng tử, thân hình chỉ cao chừng bảy tấc, toàn thân tỏa sáng rực rỡ. Điểm kỳ lạ của vị đồng tử này nằm ở đôi tay của Ngài. Ngài có tổng cộng mười tám cánh tay, cánh tay nào cũng trong suốt lung linh, hệt như vị Quan Âm mười tám tay vậy. Trên mỗi bàn tay đều cầm một món pháp bảo. Vị đồng tử đứng trong luồng ánh sáng, cúi đầu làm lễ với tôi.

"Tiểu thần là Quang Minh Đồng Tử."
"Quang Minh Đồng Tử ư? Sao tôi chưa nghe nói đến bao giờ?"
"Danh xưng này là do vị thần chủ của miếu này là Tam Sơn Quốc Vương ban cho, người ngoài chưa chắc đã biết. Vừa rồi ngài xưng rõ họ tên và nơi ở, tôi đã đi lại một chuyến giữa Đài Trung và Bình Đông, nên đã biết rõ lai lịch của tiên sinh. Vì thế tôi đặc biệt hiện thân, mong muốn được lấy sự chí thành mà kết giao, cùng nhau tu chứng đại đạo Thiên Tiên." - Quang Minh Đồng Tử nói.
"Kim thân của ngài ở đâu?" - Tôi hỏi.
"Tiểu thần không có kim thân. Tôi là đồng tử giữ lư, trấn giữ lư hương chính của miếu Tam Sơn Quốc Vương. Chỉ cần có người thắp hương cầu nguyện, tôi đều biết."

"Hóa ra là vậy. Thế xin hỏi Đồng Tử, mười tám cánh tay lung linh của ngài từ đâu mà có?"
Quang Minh Đồng Tử đáp:
"Căn cơ kiếp trước của tiểu thần là một vị pháp sư, am hiểu mười tám loại pháp thuật. Mỗi lần làm phép cho người ta đều dùng mười tám loại pháp khí và pháp thuật ấy. Thế nhưng bản thân chỉ biết làm phép mà không hiểu rõ giáo lý, cho nên sau khi tứ đại hoại diệt, bánh xe luân hồi lại chuyển dời. Bởi lẽ không tích đủ công đức hành thiện để được sinh lên cõi trời, mà cũng chẳng có ác nghiệp làm xằng làm bậy, nên kiếp này sinh ra mới mười tuổi đã bị xe tải tông, chân tay đứt lìa, mang họa chết oan. Hồn phách không nơi nương tựa, may nhờ có Phúc Đức Chính Thần của miếu Tam Sơn Quốc Vương thu nhận, nên mới được tá túc tạm ở trong miếu. Khi còn sống, tiểu thần không biết tụng kinh, mà chỉ biết mỗi một câu "Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật".

Có một dạo, Quan Thế Âm Bồ Tát quang lâm đến miếu Tam Sơn Quốc Vương trong một đại pháp hội vô cùng long trọng. Tiểu thần trốn ở dưới ban thờ của pháp hội, ngước mắt chiêm ngưỡng thánh nhan của Quan Âm Bồ Tát, trong miệng bất giác liền niệm lên câu "Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật".

Câu danh hiệu Phật này vừa xướng lên, liền thấy nghìn vạn đóa hoa sen từng đóa từng đóa hiện ra trong không trung, chiếu rọi ánh sáng vô cùng rực rỡ. Quan Âm Bồ Tát vô cùng kinh ngạc, hạ mây xuống gọi tiểu thần đến, rồi ban cho tiểu thần mang cái âm thân tàn tật này mười tám cánh tay ngọc lung linh. Vì tôi biết mười tám loại pháp thuật, lại rành mười tám loại pháp khí, cho nên tay cầm pháp khí. Tam Sơn Quốc Vương ban cho danh hiệu là Quang Minh Đồng Tử, vị chính thần trấn giữ lư hương. Lý do tiểu thần được Quan Âm Bồ Tát ban cho mười tám cánh tay pháp lung linh chính là vì thế."

"Hóa ra là vậy." - Tôi chắp tay.

Rời khỏi miếu Tam Sơn Quốc Vương, tôi nghĩ thầm: "Chỉ một câu "Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật" mà đã có pháp lực lớn đến như vậy, thật đúng là không thể nghĩ bàn."

Tiền thân của Quang Minh Đồng Tử là một vị pháp sư, đời này lại là một đứa trẻ bị chết oan trong tai nạn xe tải, đó chính là nhân quả của ngài. Quang Minh Đồng Tử từng ở miền Nam sống cùng tôi suốt hai tháng, chúng tôi ở bên nhau rất vui vẻ!

Về sau, ngài được thăng cấp thành một phân linh của Nam Thiên Na Tra Thái Tử, có được kim thân, rời miếu Tam Sơn Quốc Vương để tới một ngôi Triều Phụng Cung nào đó. Sau đó nữa, ngài lại trở thành phân linh của Địa Quan Trung Nguyên Đại Đế, chuyển đến một ngôi Ngọc Hư Cung. Gần đây thì càng thù thắng hơn: ngài đã tu thành vị Hộ pháp Vi Đà của một ngôi chùa khai sơn nào đó, trở thành vị chính thần hộ pháp phụng trì Phật thiên.

Quang Minh Đồng Tử niệm Phật, chỗ nương tựa của ngài tự nhiên là Phật, vì vậy mà có thể tu pháp môn niệm Phật này, thực sự được đại lợi ích vậy! Còn chúng ta là người bình thường, nên giữ thiện niệm trong tâm, mỗi ngày nên khấn nguyện như sau:

"Đệ tử Liên Sinh, xin trân trọng vì cõi Nam Diêm Phù Đề này, vì hết thảy chúng sinh bị giết, bị ăn trong ngày hôm nay, mà niệm tụng Thánh hiệu "Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm vị đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật". Kính mong Như Lai với lòng đại từ đại bi, dùng việc Liên Sinh xưng niệm danh hiệu Như Lai, một tiếng thì một vị Như Lai độ một chúng sinh, hết thảy số lần niệm tụng, đều khiến hết thảy chúng sinh được độ sinh về thế giới Cực Lạc."

Tôi thường đến ngôi chùa ấy để thăm Quang Minh Đồng Tử.
Đôi khi ngài bận rộn lắm, cây chùy trừ ma của ngài có thể biến hóa ra mười tám cây, y như mười tám cánh tay lung linh vậy. Chúng tôi là bạn cũ của nhau, bạn cũ gặp nhau, tất nhiên là điều nên làm.

36. Cảm giác linh khí tràn trề

Con người có thể kết hợp với linh. Nếu linh khí tràn trề, người đó nhất định sẽ có cảm nhận. Mỗi lần khi thánh linh từ trên không trung giáng lâm xuống thân tôi, toàn thân tôi sẽ đột nhiên chấn động một cái, trong đầu cảm thấy một trận tê râm ran, con người đột nhiên trở nên thần thánh hẳn lên. Cảm giác toàn thân lúc ấy giống như kim cương đúc thành, cứng cáp và ngập tràn pháp hỷ. Tôi hiểu rằng lúc này trong tôi có hai loại linh tính: một là linh tính từ bên ngoài đến, hai là linh tính vốn có trên thân mình, hai thứ này đang kết hợp lẫn nhau.

Khi các linh từ hư không đến tìm, tôi đều có thể cảm nhận được. Sự giáng lâm của các Ngài không hề có điềm báo trước: có lúc đang đi bộ trên phố, Ngài đột nhiên giá lâm; có lúc đang trò chuyện cùng bạn bè, Ngài bất chợt giáng xuống; thậm chí lúc tôi đang tắm trong phòng tắm, vậy mà Ngài cũng đến, tiến thẳng vào trong tâm trí tôi để chỉ điểm mọi sự tình. Lúc bấy giờ, linh khí tràn ngập khắp cơ thể, tôi trở thành một con người đạt cảnh giới "thiên nhân hợp nhất"......…

Trước đây tôi đọc Kinh Thánh, sau khi Đấng Christ thăng thiên, các môn đồ cùng tụ tập trên lầu đóng cửa cầu nguyện. Đột nhiên có tiếng gió thổi đến, cả căn nhà ngập tràn sự cảm động, trong lòng mỗi người đều tràn đầy Thánh linh. Các môn đồ có thể mở miệng nói được ngôn ngữ của các vùng miền khác nhau, dù họ chưa từng học qua nhưng tất thảy đều có thể nói được. Nhờ thế, các môn đồ có thể đi khắp nơi để rao giảng Phúc âm về Vương quốc của Thượng Đế. Sự giáng lâm của Thánh linh như thế này là hoàn toàn có thật, đây chính là một biểu hiện của linh lực. Nếu Thánh linh thực sự giáng xuống, có thể tạo ra vô vàn phép lạ, những phép lạ này quả thực rất khó giải thích bằng lời.

Người khai mở cho tôi là một phụ nữ mặc áo xanh, tên Lâm Thiên Đại. Bà thường ra ngoài giúp người ta hỏi chuyện âm (những việc thuộc cõi âm phủ). Hễ gặp phải vong hồn người Tây nhập thân, vừa mở miệng là nói tiếng Anh, líu lo líu lo; gặp phải oan hồn người Nhật nhập là cất tiếng nói tiếng Nhật; gặp phải hồn ma người miền sơn địa nhập thì cất tiếng nói tiếng của người miền núi. Bà cũng nói được tiếng Đức, thậm chí còn nói được cả các thổ ngữ, phương ngữ từng vùng từng xứ. Loại bản lĩnh này cũng gần giống như tình cảnh Thánh linh giáng xuống, chính là một loại thần tích của linh lực vậy.

Trong Kinh Thánh có ghi chép: Chúa Jesus nói với một cây ăn quả rằng: "Nếu cây không sinh trái thì có thể khô héo đi." Và cây ấy lập tức liền khô héo, lá rụng xuống, cành cỗi teo lại, biến thành một gốc cây khô. Các môn đồ nhìn thấy thì vô cùng kinh ngạc, cho rằng thần lực của Đấng Christ thật phi phàm.

Còn tôi thì thấy thần lực của Đấng Christ vốn dĩ cũng là một loại linh lực và niệm lực. Ngày nay cũng có người có thể dùng niệm lực khống chế kim giây của chiếc đồng hồ quay động, bẻ cho chiếc nhẫn vàng nứt thành vân, làm cho mọi đồ gốm sứ đều bị chấn động vỡ nát chỉ bằng sức mạnh của ý niệm. Loại sức mạnh này là siêu nhiên, là linh lực vô hình, cũng là thứ vốn đã sẵn có.

Tôi từng biết rằng, niệm lực của một người là hữu hạn, nhưng nếu có thể gom góp niệm lực của nhiều người lại với nhau, thì sức mạnh ý niệm ấy khi tập trung lại mới thật sự là kinh khủng, công năng của nó có thể sánh cùng tạo hóa, sức mạnh đủ để lay chuyển cả thiên đình. Hiện nay, theo chỗ tôi thấy, trong các hệ phái Cơ Đốc giáo thì Hội Thánh Chân Jesus chính là một giáo phái dùng phương thức cầu nguyện với trời cao, tập hợp niệm lực của các thánh đồ để khiến Thánh linh giáng lâm, phương pháp họ áp dụng chính là mô thức các môn đồ tụ họp lại cùng cầu nguyện được ghi chép trong Kinh Thánh.

Ở các Hội Linh Hồn của ngoại quốc, nhờ nhiều người nắm tay nối vòng tay, tay trong tay, mọi người đồng một niệm tưởng, thì có thể khiến một tâm nguyện nào đó trở thành hiện thực, khiến những việc vô cùng khó khăn, những chuyện vốn là không thể, bỗng chốc được tháo gỡ một cách êm xuôi. Cũng có thể lợi dụng việc nhiều người nắm tay cầu nguyện như thế mà làm cho một vong hồn đã chết hiện thân ở ngay giữa đám đông, khiến ghế bay bổng lên không trung, làm kính cửa sổ vô cớ nứt vỡ, làm giường chiếu rung lắc dữ dội, khiến linh hồn giáng nhập thân người mà mở miệng nói chuyện, ông bà tổ phụ hiện hình trở lại… Tất cả những điều ấy đều là có thể xảy ra.

Khi Thánh linh giáng lâm, có lúc đến rất đột ngột, có lúc lại như một làn gió nhẹ hiu hiu, có lúc mang theo mùi hương đậm đà, có lúc linh lực rất nhỏ, không dễ cảm nhận, có lúc linh lực lại vô cùng to lớn, rung trời chuyển đất, ầm ầm dữ dội.

Có khi tôi có thể nhìn thấy một luồng linh khí tụ hội lại, phát sinh ra một đường ánh sáng trắng mạnh mẽ khiến người ta không sao nhìn thẳng vào nó được, dừng lại trên một điểm cố định nào đó; thỉnh thoảng tôi cũng thấy một luồng linh đơn độc, trôi dạt lạc lõng trên mặt đất, trông thật cô đơn đáng thương, không nơi nương tựa. (Linh có sự phân biệt thiện – ác, lớn – nhỏ, theo bầy – lẻ loi, cho nên thế giới của linh vốn không hề đơn giản. Thế giới bốn chiều trở lên còn phức tạp hơn thế giới ba chiều, sự trói buộc của thế giới hữu hình thậm chí còn nhiều hơn cả thế giới vô hình. Bởi vậy, cuối cùng tôi hiểu ra rằng: giới linh của thế giới vô hình quả thật sâu xa khó lường.)

Người thầy khai ngộ cho tôi – phụ nữ áo xanh Lâm Thiên Đại, từng vào một đêm khuya nhận được linh lực chỉ thị, lái xe đến một ngọn núi lớn nào đó. Trong núi, dưới sự chỉ dẫn của linh lực, bà đào bới dưới gốc một cây đại thụ, moi lên được báu vật do người xưa chôn giấu. Còn báu vật ấy là gì, người viết xin tạm thời không tiện nói ra. Người thường nếu nghe chuyện như thế hẳn sẽ vô cùng kinh ngạc, nhưng việc này quả thực có thật. Sau khi tận mắt nhìn thấy cổ vật mà người xưa chôn sâu dưới đất, tôi than rằng: "Đây đúng là một đại kỳ tích." Trời đất rộng lớn dường kia, núi sông nhiều vô kể, nếu không có sự chỉ dẫn của linh thì làm sao có thể đào trúng báu vật như thế được.

Phụ nữ áo xanh có được bảo vật là vì bà đã giúp một hồn ma làm xong một việc; để báo đáp, hồn ma đặc biệt chỉ điểm cho bà: vào ngày nào, giờ nào, dưới gốc cây đại thụ ở ngọn núi nào, chỉ cần đào xuống là sẽ thấy.

Phụ nữ áo xanh từng được Diêu Trì Kim Mẫu triệu kiến, hồn từng xuất khiếu đến cung Diêu Trì, Vô Cực Bảo Điện. Bà trông thấy Diêu Trì Kim Mẫu một tay cầm phất trần của tiên, một tay cầm như ý, ngồi trên đài sen vàng. Diêu Trì Kim Mẫu cho bà được bái kiến, nhưng vì dung quang của Kim Mẫu rực rỡ vô song, nên bà không sao ghi nhớ nổi dung nhan của Ngài. Khi chắp tay lùi bước lui ra, dưới chân bà như mềm nhũn không có vật gì, bà cúi đầu nhìn xuống, thì ra mỗi bước chân dẫm xuống, dưới chân liền hiện ra một đóa sen nâng đỡ. Hoa sen phân thành nhiều màu, trong trẻo rực rỡ. Kim Mẫu ra hiệu bảo bà nhận mấy rương châu báu, nhưng sư phụ của tôi lại lắc đầu không nhận, Diêu Trì Kim Mẫu gật đầu tán thưởng chí nguyện của bà.

"Thắng Ngạn, trước đây ta chính là như vậy đó." - Phụ nữ áo xanh nói.
"Vậy về sau con phải làm thế nào?" - Tôi hỏi.
Bà nói: "Sẽ có rất nhiều người ủng hộ con, cũng sẽ có rất nhiều người quay lưng với con. Trách nhiệm của con rất nặng, còn nặng hơn ta. Con phải đứng ra tuyên dương chính pháp, không sợ hãi trước các thế lực tà uế, phá trừ chướng ngại, khiến chính pháp và chính kiến được truyền bá khắp nơi."
"Lấy gì làm chỗ dựa tinh thần?" - Tôi hỏi.
Phụ nữ áo xanh đáp: "Nơi nào có trung nghĩa, nơi đó không lo, không sợ."

37. Ghi chép về tiểu nữ Phật Thanh

Khi nhà tôi là Lư Lệ Hương mang thai con gái nhỏ Phật Thanh, Quan Thế Âm Bồ Tát ở Phật đường nhà tôi đã từng chỉ thị rằng thai nhi là một bé gái. Ngài chỉ thị không chỉ một lần, lần nào cũng nói là con gái. Ba ngày trước khi sinh, nhà tôi ngủ buổi tối, nằm mộng thấy một ngọn núi cao lớn tráng lệ, có những gốc cổ thụ xanh rờn, biển mây cuồn cuộn, giống hệt như chốn tiên cảnh. Nhà tôi một mình leo núi, đường núi quanh co, bốn bề đứng đầy thần hộ pháp mặc giáp vàng. Đến lưng chừng núi, chỉ thấy từ trên núi có một vị quý nhân chạy vội xuống. Vị quý nhân này là một Thần nhân, mặt tròn như trăng rằm, tuổi chừng chín mươi, sắc mặt tỏa ánh sáng lành, ra đón nhà tôi. Vị quý nhân bảo Lệ Hương rằng: "Bé gái trong bụng là một bậc khách quý, cô phải cẩn thận, đừng làm kinh động đến cô bé."

Lên tới đỉnh núi, nhà tôi mang thai ngồi ở vị trí cao, còn vị quý nhân kia lại ngồi chỗ thấp hơn để hầu hạ. Lúc ấy, các tiên nữ chia hàng bước ra, ca hát trong trẻo, vũ điệu tuyệt diệu; những dải đai ngọc xoay tròn, tỏa ra một làn hương thơm. Nhà tôi nói, cảnh giới đó y như cõi trời: có cung điện, có vị quý nhân đích thân mở cửa cho cô ấy. Tựa như từ khi trong bụng mang thai bé gái này, thân phận của cô ấy cũng được nâng lên gấp trăm lần vậy. Giấc mộng ấy, khi tỉnh dậy cô ấy vẫn còn nhớ rõ mồn một.

Lại nói hồi vừa mới mang thai, tôi thường cùng Lệ Hương đi dạo trong hẻm 39, Khu Hợp Tác ở Đài Trung. Trong hẻm 39 có mấy trụ đèn đường, trong đó có một trụ bị hỏng, mà cây đèn đó thì lúc sáng lúc tắt rất kỳ lạ. Nhưng hễ tôi với Lệ Hương vừa sắp đi tới dưới trụ đèn ấy thì đèn lập tức sáng lên, vừa đi qua khỏi một đoạn thì lại tắt. Chúng tôi đã thử nghiệm hơn mười lần như vậy, lần nào thử cũng đúng y như thế: chỉ cần chúng tôi đi tới gần, đèn đường nhất định bật sáng. Đứng dưới đèn hai mươi phút thì nó sáng suốt hai mươi phút; chúng tôi không đi, nó cứ tiếp tục sáng; vừa rời khỏi, nó liền tắt. Một lát sau đi vòng lại, nhìn từ xa chỉ thấy một khoảng tối om. Tôi nói với Lệ Hương: "Anh không tin tà đâu, mình cứ thử, chỉ cần mình lại gần là nó sẽ sáng." Thế mà khiến người ta không thể không tin, bởi sự thật bày ra trước mắt: chỉ cần bước vào trong vòng mười bước, "xoẹt" một tiếng, ánh sáng lập tức bật lên. Tôi nói với Lệ Hương: "Đứa bé này là một vị khách quý ánh sáng, chúng ta phải cẩn thận mà chăm sóc cho tốt."

Khi tiểu nữ chưa chào đời, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn đã ban cho cái tên là Phật Thanh. Phật chính là chỉ thẳng vào Phật tính, Thanh chính là hoa sen xanh. Như Lai ngự trên tòa sen xanh, phẩm cách cao quý đến nhường nào hẳn đã rõ!

Con gái nhỏ Phật Thanh giáng sinh tại bệnh viện phụ sản Tam Lạc, nằm cạnh rạp hát Sâm Ngọc ở Đài Trung. Tôi tuân theo chỉ ý của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, ngay tại thời khắc con bé ra đời, tôi đã ra sức niệm: "Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát… Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát…", niệm liên tục cho đến lúc con chào đời mới thôi. Tôi vô cùng cảm kích hồng ân đại đức của Địa Tạng Vương Bồ Tát, trong lúc niệm danh hiệu Ngài đã vài lần ngửi thấy mùi hương thơm thoang thoảng, quả nhiên mẹ tròn con vuông.

Vừa lọt lòng, Phật Thanh đã biết há miệng đòi ăn, khuôn mặt tươi cười, đôi mắt mở rất to. Bà nội con bé bảo gương mặt Phật Thanh giống tôi, còn cái mũi thì lại giống mẹ nó.

Hồi nhỏ, Phật Thanh chưa từng ốm đau bệnh tật, không giống như những đứa trẻ sơ sinh bình thường khác hơi một tí là sốt hay cảm lạnh rồi phải đi tìm bác sĩ. Con bé chỉ đến bệnh viện do bác sĩ Hứa Tông Nam mở, mà đến đó cũng không phải để khám bệnh, chỉ là để tiêm phòng mà thôi.

Sức đề kháng của Phật Thanh cực kỳ tốt, không hề sợ lạnh, vào những ngày đại hàn cũng không cần mặc quá nhiều quần áo. Khi thời tiết nóng nực, đứa bé mới vài tháng tuổi chỉ mặc mỗi bộ đồ hở lưng (Lệ Hương vốn biết cắt may nên tự tay làm cho con bé, chỉ một buổi sáng là may xong một chiếc).

Diêu Trì Kim Mẫu từng nói: "Đứa bé Phật Thanh này từ một nơi rất xa xôi tới, nó với bà nội nó có một chút duyên tiền kiếp." Thế nên mỗi lần mẹ tôi trêu đùa, con bé luôn cười không dứt, đứa trẻ mới hai tháng tuổi mà tiếng cười đã rất vang, cười hệt như người lớn vậy.

Tôi phát hiện đôi mắt của cô con gái nhỏ này vô cùng linh hoạt, lòng đen lòng trắng rõ ràng. Con bé dường như đã quá quen thuộc với thế giới này. Nó có một sở trường cực kỳ lớn và đặc biệt: ban đêm ngủ rất ngoan, chúng tôi thức thì nó thức, chúng tôi ngủ thì nó ngủ. Trẻ con nhà người ta nửa đêm thường hay khóc la ầm ĩ, Phật Thanh nhà tôi vậy mà lại biết phân biệt rạch ròi ngày đêm, đây quả thật là một chuyện lạ tày đình.

Vì tôi thường hay đi xem phong thủy, địa lý cho người ta, chuyện trèo đèo lội suối là cơm bữa, mà toàn đi những chỗ âm trạch (nghĩa địa, mộ phần). Nhà tôi rất thích theo tôi đi đây đi đó, Phật Thanh dĩ nhiên cũng đi theo. Giữa núi non trùng điệp, khi thì vượt núi, khi thì lội suối qua khe, con bé ngồi chơi trong những khoảng trống giữa các ngôi mộ.

Đứa con gái nhỏ mới sáu tháng đã có thể ngồi dưới đất bắt kiến. Trong con mắt người đời, đem một đứa bé tí hon theo mình, để nó bò lên bò xuống giữa đám mồ mả, thì dù không bị xung sát cũng phải gặp xúi quẩy. Thế mà Phật Thanh vẫn cứ bình an vô sự, khỏe mạnh vô cùng. Từ nhỏ nó đã bò khắp trên đống mộ, chẳng những không bị xung sát, trái lại còn không hề đau ốm, càng cho thấy sự khác thường của nó.

(Mỗi lần tôi đưa nó ra ngoài đều viết ba chữ "Phật" vào lòng bàn tay mình, rồi ấn lên ấn đường của nó, ý là cầu xin chư Phật gia hộ cho con bé.)

Mới sáu tháng tuổi, con bé đã biết ngồi. Hễ nhìn thấy tượng Phật là tự động chắp tay lạy, còn có thể nhận ra tượng nào là A Di Đà Phật, tượng nào là Quan Thế Âm Bồ Tát. Chúng tôi chỉ cần hỏi: "Ông A Di Đà Phật ở đâu?", "Cô Quan Thế Âm ở đâu?", là Phật Thanh tự nhiên chắp tay hướng về đó lạy, cũng nhận ra cả tấm ảnh chụp của tôi.

Trí tuệ của con bé cao hơn hẳn những đứa trẻ cùng tháng tuổi. Những động tác như vẫy tay chào tạm biệt, nó đã biết làm từ rất sớm. Thấy trong nhà mua đồ nội thất mới, nó liền reo lên mừng rỡ. Hàng xóm láng giềng hai bên đều nói: "Đứa nhỏ này lanh lợi đến lạ thường."

Tôi từng ở Đài Nam giúp người ta đuổi một vong linh, con ma đó không cam tâm, lại chạy lên Đài Trung đấu pháp với tôi. Nó đấu không lại tôi, bèn cho rằng bắt nạt Phật Thanh thì dễ hơn, nên nửa đêm đến quấy phá con bé. Con ma ấy dữ dằn lắm, khiến Phật Thanh đêm đêm chẳng ngủ yên. Về sau, tôi đốt một bức sớ văn dâng tấu lên thiên đình, lúc đó trời mới phái xuống một vị Kim Giáp Thần đến hộ vệ. Hồn ma trông thấy, biết không xong, đành phải chuồn đi. Tôi nghĩ, con ma đó nhất định không hiểu nổi: vì sao một cô bé Lư Phật Thanh bé xíu như thế mà còn phải kinh động đến cả một vị Kim Giáp Thần trên giới trời xuống bảo vệ!

Vận mệnh tương lai của Lư Phật Thanh ư? Tôi chưa từng ngồi xuống tính toán tường tận, nhưng đại lược suy đoán dựa trên bát tự, tên gọi và lưu niên, thì số mạng cũng không tệ, vẫn là bậc quý nhân vào hàng thượng phẩm. Tôi chỉ mong tương lai con bé có thể một lòng phụng sự Phật, biết việc tu hành là trọng. Còn chuyện hôn nhân, cứ để tùy duyên vậy thôi.

38. Giữa Hữu và Vô

Tôi đọc "Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh", trong đó có một đoạn nhỏ:

"Phật vì chúng sinh mà nói rằng: Bố thí được phúc lớn, trì giới được sinh lên cõi trời, nhẫn nhục được quả báo đoan chính, tinh tấn được các công đức, thiền định được pháp hỷ, trí tuệ được buông xả các phiền não. Người đa văn thì trí tuệ tăng trưởng; người tu mười nghiệp thiện thì được phúc báo cõi người, cõi trời; có từ bi hỷ xả thì được sinh lên cõi Phạm Thiên. Nhờ thiền định mà đạt được trí tuệ như thật, nhờ trí tuệ mà đắc đạo quả; cõi Hữu học chứng được cõi Vô học, cõi Phật thì chứng được vô lượng trí tuệ, Niết Bàn diệt tận mọi phiền não. Thế nhưng, Như Lai vốn không có tướng ngã, không có tướng nhân, không có tướng chúng sinh, không có tướng thọ giả; cũng không có bố thí hay tham lam, không có trì giới hay phá giới, không có nhẫn nhục hay sân hận, không có tinh tấn hay lười biếng, không có thiền định hay tán loạn, không có trí tuệ hay quả của trí tuệ. Ngài vốn không có bất kỳ một tướng nào mà nói ra các pháp ấy, tất cả đều chỉ là phương tiện nói vì chúng sinh mà thôi."

Tôi cảm thấy đoạn kinh văn này quá quan trọng, quá quan trọng, quá đỗi quan trọng! Nếu suy ngẫm kỹ, phần trước của đoạn kinh chính là bàn về thứ "có hình có tướng", còn phần sau mới bàn đến cõi "không hình không tướng".

Nhờ đoạn lời này, tôi sực nhớ đến lời góp ý của hai vị độc giả. Vị thứ nhất nói:
"Lư Thắng Ngạn, những Đạo pháp mà ông bàn đến trong sách toàn là pháp có hình có tướng. Nếu đã có hình có tướng thì chính là tà pháp, dẫn người ta vào chỗ mê lầm, không thấu hiểu được pháp vô tướng của Đại thừa. Thế Tôn khi còn tại thế đã dạy trong "Kinh Kim Cang" rằng: "Nếu dùng âm thanh để cầu ta, người đó hành tà đạo, không thể thấy Như Lai; phàm hễ có tướng, thảy đều là hư vọng." Vậy nên mọi Đạo pháp hữu tướng của tiên sinh đây, há chẳng phải đều là sự hư vọng hay sao?"

Đối với góc nhìn của vị độc giả này, tôi cảm thấy rất đúng.

Vị độc giả thứ hai nói:
"Lư Thắng Ngạn, Đạo pháp của ông đã khơi dậy hứng thú nơi rất nhiều người, cũng vì thế mà các sách tâm linh của ông được truyền tay nhau xem. Nhưng, trong đó có dính đến những phần lý luận, ví dụ như vấn đề kiến tính phi tính, thực tướng phi tướng, chúng tôi cho rằng quá ư thâm sâu, người bình thường chưa chắc hiểu nổi, nhất là khi thì nói có, khi thì nói không. Những triết lý nghĩa đế sâu xa như vậy không thể độ được đại chúng. Mong tiên sinh khi hạ bút, hãy nghĩ đến chúng sinh, chớ nên viết quá sâu."

Đối với ý kiến của vị độc giả thứ hai này, tôi cũng cảm thấy đúng.

Thế nhưng, cách nhìn của hai vị độc giả này, mỗi người chấp giữ một đầu, ai nấy đều có cái lý của mình. Bạn có thể nói rõ ràng ai đúng ai sai được không?

Chân lý là một vòng tròn lớn. Khi Thế Tôn còn tại thế, Ngài nói pháp suốt bốn mươi chín năm. Nếu chỉ bảo người ta hai chữ "vô tướng" mà thôi, thì tôi nói: Thế Tôn chỉ cần vừa chứng đạo liền có thể nhập Niết Bàn, bởi vì vạn pháp vốn là vô pháp, đã là vô pháp, vậy còn cần gì phải tuyên thuyết pháp nghĩa suốt bốn mươi chín năm nữa?

Bất luận là có hay không, pháp Thế Tôn đã nói đều là chân thật. Loại bản lĩnh "chân không diệu hữu", xoay chuyển qua lại giữa có và không này, chẳng phải điều mà hạng phàm phu chúng ta có thể lĩnh ngộ nổi.

Hơn nữa, nếu chỉ chuyên nói về tất cả các pháp thế gian, chấp trước vào hình tướng, thì cũng không đúng. Nhưng, người đời nay có ai là không chấp tướng đâu? Chỉ riêng chuyện cứ luôn miệng bảo người ta "đừng chấp trước" thôi, kỳ thực đã là một kiểu chấp trước rồi, còn bảo người ta "hãy chấp trước đi" thì lại càng là chấp trước.

Nếu thiên hạ còn đang sống trong không gian ba chiều này, tôi dám nói như vầy: ai ai cũng chấp trước, kể cả tất cả những người miệng nói "tự nhiên, tùy duyên". Bởi vì họ chấp vào cái gọi là tự nhiên, chấp vào cái gọi là duyên, xem tự nhiên và duyên như một thứ luật lệnh tối cao, bất di bất dịch.

Tôi nói: "Khi Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, Ngài đã vì chúng sinh mà nói pháp hữu tướng, cũng lại vì chúng sinh mà nói pháp vô tướng. Pháp hữu tướng là pháp phương tiện, còn pháp vô tướng thì không thể nói, có nói cũng vô ích, nói rồi cũng như không nói, không nói thì rốt cuộc cũng là nói suông mà thôi. Điều này tôi muốn mọi người phải nhận cho rõ: đây không phải là mâu thuẫn, mà là pháp phương tiện dùng để độ hết thảy chúng sinh bằng hết thảy phương tiện. Pháp vô tướng vốn không có ai để độ, việc độ rốt cuộc cũng bằng như không độ, chỉ là phí lời, nhai thêm mấy cái ở cuống lưỡi vậy thôi."

Có người hỏi tôi: "Tiên sinh có ăn chay không?"
Tôi đáp: "Hiện giờ vẫn chưa ăn chay. Ăn chay hay không đối với tôi không có ảnh hưởng gì. Rượu thịt có đi xuyên qua ruột, bản tánh cũng chẳng hề lay động."
Người hỏi hoảng hồn: "Cách làm này của tiên sinh là không được đâu. Đây là giới luật truyền thống nghìn năm, không thể phá vỡ được."
Tôi nói: "Người khác phá không được, nhưng mắt Phật thì không có phân biệt chay mặn. Nếu các vị thật sự chứng đạo rồi, ai nấy cũng đều thành Tế Công cả."

Những điều tôi nói ở trên, chính là đang nói về "Vô".

Có người hỏi tôi: "Tu hành thì có cần phải ăn chay không?"
Tôi đáp: "Thương xót sinh mạng muôn loài như thương chính thân mình, trong tâm ôm trọn đại chúng, đó chính là bồ đề tâm. Đương nhiên là cần."
Người kia lại hỏi: "Như vậy giữ giới chẳng phải là chấp trước sao?"
Tôi đáp: "Sự chấp trước ấy chính là pháp phương tiện."

Nay viết đến đây, nếu vẫn còn có người không hiểu, thì đó mới thật là chuyện đáng than thở. Tôi tin rằng về sau sẽ không còn ai có ý kiến gì với vấn đề này nữa, bởi vì ngoài chuyện nhai thêm vài cái ở cuống lưỡi ra, thật sự chẳng còn pháp môn nào khác để nói, nói tiếp nữa thì cũng chỉ thành "thiền chữ nghĩa" mà thôi.

Các vị Tổ sư Thiền tông trải bao đời đã lăn lộn trong cái sâu xa của ngôn ngữ ấy suốt nửa cuộc đời. Ngoại trừ tôi đưa ra một chữ "Linh", dường như thật sự chưa từng có ai đề xuất nó. Chẳng lẽ chư vị Tổ sư, đại đức đời trước đều kiêng kỵ, không dám đụng đến chữ "Linh" này sao? Nay tôi chỉ thẳng ra, tin rằng trên trời dưới đất ắt sẽ chấn động một phen lớn lao.

Trong lúc thiền định, tôi thấy cung Đại Phạm Thiên, lộng lẫy huy hoàng; thấy chư thiên tự nhiên tỏa sáng, ung dung tự tại; thấy pháp hỷ tràn ngập khắp thiên cung, thiên nhạc vang khắp nơi. Lòng tôi sinh hoan hỷ, thân nhảy vọt thẳng vào hư không, bỗng thấy cõi Ta Bà là một mảnh hắc ám. Tôi đứng giữa thiên cung và thế giới Ta Bà: một bên là ánh sáng vô tận, một bên là dòng chảy ngược hắc ám cuồn cuộn.

Trong lòng tôi sinh ra một dòng suối ánh sáng, từ thiên cung chảy xuống ác thế tăm tối kia, nhưng chẳng bao lâu liền bị dòng chảy hắc ám vùi lấp. Lòng tôi bi thương rơi lệ: những nỗ lực này lẽ nào đều sẽ rơi vào quên lãng sao?

Tôi tự tin vào chân đạo của mình, không sợ thế lực ác.
Thân có thể chết, nhưng tâm không thể chết, linh không thể chết. Những ánh mắt khinh miệt ném tới, tôi cũng chẳng sợ. Những ai ghen ghét tôi chính là hòn đá thử vàng của tôi.

39. Giấc mộng kỳ lạ

Có hai vị xuất gia trung niên sống ở một ngôi chùa trên núi đến tìm tôi. Hôm đó tình cờ lại là chiều thứ Bảy, hai vị ấy vừa bước qua cửa đã hỏi ngay:
"Ai là ông Lư Thắng Ngạn, chúng tôi có lời muốn nói với ông ấy."
"Chính là tôi đây." - Tôi đáp lời một cách lịch sự: "Hai vị có phải vì đọc sách nên mới tìm đến đây không?"
"Không phải." - Hai vị đó đồng thanh đáp: "Chúng tôi không phải vì đọc sách nên mới đến. Hóa ra ông cũng viết sách sao? Là loại sách gì vậy?"
"Là cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán" phần chính, phần tiếp nối, và cuốn "Giữa linh và tôi". Nếu không phải xem sách, lẽ nào hai vị được ai đó giới thiệu đến đây?"
"Cũng không phải, mà là do một giấc mộng kỳ lạ, một giấc mộng vô cùng vô cùng kỳ lạ. Hơn nữa, cả hai chúng tôi lại cùng có chung một giấc mộng mới gọi là kỳ lạ chứ!"
"Mộng ư?!" - Đến ngay cả bản thân tôi lúc này cũng bắt đầu tò mò.

"Chuyện là như thế này." - Vị sư vóc người cao lớn nói: "Chúng tôi xuất gia học Phật đã nhiều năm, nhưng vẫn luôn chẳng thấy có sự cảm ứng nào xảy ra, chỉ loanh quanh giữ giới, tĩnh tọa và tu hành công khóa ngày đêm mà thôi. Mãi cho đến một buổi tối cách đây chừng hai tháng, tôi cùng sư Trí Quảng (vị sư nhỏ người) ngồi trò chuyện, bàn về vấn đề cảm thông và những yếu lĩnh tu hành. Cảm thấy cứ ngồi bó gối khô khan thế này mãi cũng không phải là cách, thế là hai chúng tôi chạy đến trước Đức Bổn Sư Thích Ca Thế Tôn, niêm hương lễ Phật, thành tâm cầu nguyện Phật Tổ có thể ban cho một sự chỉ thị rõ ràng."

"Kết quả, chuyện lạ quả nhiên xảy ra. Đêm hôm đó khi về phòng ngủ, trong mộng tôi thấy một khung cảnh vô cùng kỳ dị. Tôi thấy bản thân mình đang ngồi thuyền đi triều bái Nam Hải Quan Âm. Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát chân đứng trên mây lành giữa không trung, Thiện Tài và Long Nữ đứng nghiêm trang hai bên, xung quanh lại có vô số thiên long hộ pháp đứng chầu. Tôi chắp tay lễ bái giữa thuyền lênh đênh trên biển, cảm thấy sóng cuộn cực lớn, thuyền nhấp nhô dữ dội, khiến tôi có cảm giác choáng váng mặt mày.

Đúng lúc đó, trên biển bỗng có một vị thần nhân đạp trên những con sóng đi tới. Vị thần nhân ấy toàn thân tỏa ánh sáng rực rỡ, bước trên mặt nước mà thần thái khoan thai, ung dung, đi trên biển hệt như dạo bước trên đất bằng. Thấy thế tôi thất kinh, liền hỏi Ngài: "Thưa tiên sinh, mạn phép hỏi chân đạo ở đâu?" Vị thần nhân ấy đáp: "Đi tìm Lư Thắng Ngạn đi." Tôi lại hỏi: "Lư Thắng Ngạn là nhân vật phương nào?" Thần nhân đáp: "Là nhân vật trên dương gian."

Vị thần nhân đó vừa dứt lời liền quay người, đạp sóng mà đi, và thế là giấc mộng của tôi cũng tỉnh. Nửa đêm về sáng, khi tôi vừa chợp mắt lại, trong cơn mơ màng dường như có ai đó lay vai tôi và bảo: "Chúng ta đến Đài Trung đi, chúng ta đến Đài Trung đi."

Sáng sớm hôm sau, tôi đang định kể lại giấc mơ này cho sư Trí Quảng nghe, ngờ đâu sư ấy cũng có một giấc mộng y hệt. Kỳ lạ nhất là hai người lại cùng có chung một giấc mộng, chẳng thể nào là giả được.

Chúng tôi bèn viết thư cho bạn bè ở Đài Trung, hỏi thăm xem có ai biết người nào tên là Lư Thắng Ngạn không? Thư hồi âm đều bảo là không biết. Nhưng chúng tôi không từ bỏ, vẫn tiếp tục nhờ người dò hỏi. Một người bạn gửi thư đáp rằng: "Ở miền Trung có một cậu thanh niên viết văn, tên là Lư Thắng Ngạn, không biết có phải là cậu ta không?"

Thế là chúng tôi gọi điện thoại hỏi tòa soạn báo, tòa soạn cho biết ngài đã chuyển đến huyện Đài Trung, vậy nên chúng tôi lập tức tìm đến đây. Tôi nghĩ, người mà vị thần nhân chỉ điểm chắc chắn là tiên sinh rồi."

"Có chuyện như vậy sao?" - Tôi thực sự không dám tin.
"Xin hỏi tiên sinh Lư Thắng Ngạn, chân đạo ở đâu? Tu hành phải thực hành như thế nào?" - Sư Trí Quảng hỏi.
Tôi đáp: "Chân đạo nằm ngay trong ba độc tham–sân–si, chân đạo nằm trong bốn điên đảo kiến! Chân đạo nằm trong năm uẩn, sáu nhập, bảy thức, tám tà pháp, chín chỗ phiền não, cũng nằm trong mười điều ác. Bởi vì Phật dạy: Hết thảy phiền não đều là hạt giống của Như Lai. Nếu có người từ bùn lầy phiền não mà mọc lên đóa sen thanh tịnh, thì người ấy mới thật sự đắc đạo. Vào thẳng đại hải phiền não, chân đạo chính là ở trong biển phiền não đó. Còn về làm sao tu hành, thì chính là: lợi ích chúng sinh, lợi ích con người."

"Làm sao mà lợi ích con người?"
"Nếu có người khát, đem một cốc nước dâng cho họ, đó chính là lợi ích người. Nếu có người bệnh, đem thuốc cho họ uống, đó chính là lợi ích người. Nếu trong lòng một người trống rỗng, dùng pháp vị để lấp đầy, đó cũng là lợi ích người. Cách tu hành như thế này, từ bậc vương công quý tộc cho đến kẻ bán buôn, phu khuân vác, ai ai cũng đều có thể tu được."
"Tu sĩ cũng làm những chuyện như vậy sao?"
"Ngay đến chư Phật, chư Bồ Tát cũng đều làm như thế, lẽ nào chỉ riêng tu sĩ lại được phép ngoại lệ sao!"

Sau khi hai vị xuất gia ấy hỏi xong rất nhiều vấn đề, họ hoan hỷ ra về. Còn tôi thì vẫn còn mang trong lòng vô số cảm khái: con người sống ở đời, phải chịu khổ đến dường nào. Chuyện sinh, già, bệnh, chết chưa nói tới, chỉ riêng phiền não thôi cũng đã mười vạn tám nghìn, vô số vô lượng. Khi đời người vốn dĩ đã khô khan, tẻ nhạt như thế, mọi người còn hà tất phải bám víu không buông? Rốt cuộc, đó chỉ là cái nhìn thiển cận của loài người mà thôi.

"Dưới cà sa Phật mất thân người
Được lại thân người có mấy ai
Vạn hạnh chẳng bằng tu nghiệp thiện
Sao còn bám víu khổ hồng trần
Pháp Vương lập thề nặng như núi
Quần mê rơi lệ vẫn chưa về
Nếu biết quay lại soi tự tính
Trăm lẻ tám hạt là minh châu."

Tôi viết bài kệ như sau:
"Luân hồi muôn thuở nghìn kiếp sống
Sống chết khổ đau đọa ác đạo
Khác nào thiêu thân lao vào lửa
Sớm tu tịnh nghiệp sớm siêu sinh."

40. Nhớ Địa Tạng Vương Bồ Tát

Tính ra, trong các vị Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát là vị có nhân duyên gần gũi nhất với tác giả. Nhớ khi tôi vừa đắc nhãn thông, trong ba vị Bồ Tát hiện ra, có một vị chính là Địa Tạng Vương Bồ Tát, đã dạy tôi "nhất tâm học Phật". Về sau, Ngài nhiều lần khuyên bảo, khiến tôi thọ nhận giáo huấn của Bồ Tát rất sâu sắc. Vì vậy, khi chùa Từ Huệ Lôi Tạng bắt đầu thờ phụng chư Phật, Bồ Tát, theo thứ tự thì Quan Thế Âm Bồ Tát là tôn tượng thứ nhất, và tôn tượng thứ hai chính là Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Lúc ban đầu, tôi một lòng muốn tạc tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát để phụng thờ. Không chỉ vậy, tôi còn có ý nghĩ ngây thơ là mang theo bên mình, nên muốn tạc một tôn tượng cao chừng ba tấc, có thể đặt trong túi, để bất cứ lúc nào cũng có thể chiêm ngưỡng dung nhan thánh, đồng thời khi tôi đi công tác đo đạc ở nơi xa, cũng có thể được gia hộ thân thể khỏe mạnh, bình an.

Nhưng khi hỏi người thợ tạc tượng, ông chỉ mỉm cười nói: "Tượng nhỏ quá thì khó tạc, nếu muốn tạc nhỏ, thì nên tạc cao khoảng năm tấc." Kết quả, quả thật đã tạc một tôn tượng Địa Tạng Bồ Tát nhỏ cao chừng năm tấc, dung mạo như một đứa trẻ, ngồi trên đỉnh núi, tay cầm tích trượng, tay kia nâng minh châu, đầu đội mũ Ngũ Phật. Chiếc mũ Ngũ Phật ấy tuy nhỏ, trông không thật giống mũ Ngũ Phật, nhưng nhìn lại cũng khá trang nghiêm.

Mỗi lần chiêm ngưỡng Địa Tạng Vương Bồ Tát, đều khiến người ta nhớ đến lời đại nguyện vĩ đại: "Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật." Khi đọc "Kinh Bản Nguyện Địa Tạng Bồ Tát", lại càng thêm hiểu rõ và kính trọng Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Vì vậy, tôi luôn cho rằng, Địa Tạng Vương Bồ Tát không chỉ là vị giáo chủ đứng đầu cõi u minh, mà còn là vị giáo chủ bậc nhất trong thiên hạ, đại nguyện như vậy không phải ai cũng có thể phát khởi được. Mỗi khi đến bất kỳ ngôi chùa nào, tôi nhất định đều phải lễ bái Địa Tạng Vương Tôn giả.

Có một lần, trong mộng tôi từng thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát tại chùa Địa Tạng ở Gia Nghĩa, tôi quỳ xuống lễ đủ bốn mươi chín lạy. Ngài có khuôn mặt đen, uy nghiêm phi thường.

Tôn tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát nhỏ tại Lôi Tạng Tự của gia đình tôi, những sự linh ứng kỳ diệu thực không thể kể xiết. Mẹ tôi nhiều lần trong mộng ban đêm được Ngài đích thân chỉ dạy, những giấc mộng linh cảm như vậy đều do Địa Tạng Vương Bồ Tát thành tựu.

Chớ nhìn kim thân của Ngài nhỏ bé, không mấy nổi bật, nhưng khi hiển hóa, giữa hư không đều là khuôn mặt của Địa Tạng Vương Bồ Tát, dưới đất đều là thân tướng của Ngài, trên trời dưới đất đều bao trùm, như vậy sao có thể nói là nhỏ được.

Phật đường tại gia của tôi, cũng như chữ "Tạng" trong danh xưng Từ Huệ Lôi Tạng Tự, đều mang ý nghĩa tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát làm bậc tôn quý.

Đã từng có một khoảng thời gian, trong lòng tôi dấy lên sự phiền não và nghi hoặc, buồn khổ đến mức gần như muốn tự kết liễu. Trong giai đoạn ấy, hoàn toàn nhờ Địa Tạng Vương Bồ Tát hiển hiện làm chỗ nương tựa cho tôi. Việc tổ chức pháp hội phổ độ cũng là ý chỉ của Ngài; Ngài dẫn dắt tôi vào cõi u minh, đích thân chứng kiến một số cảnh tượng thê thảm nơi âm gian, dạy tôi đứng vững trở lại, không cần bi lụy, cũng không cần ai oán, hết thảy tùy duyên.

Khi tâm trạng tụt xuống mức thấp nhất, Bồ Tát liền có thể dẫn dắt ngay tức khắc.
"Thân tâm đều mất, đệ tử cầu được xuất ly."
"Biển khổ nhân gian, thuận nghịch là việc thường; dùng tâm bình đẳng mà quán chiếu, vốn không có gì đặc biệt, cứ thản nhiên đối diện, tự nhiên được an ổn."
"Vì sao đau khổ?"
"Tâm theo cảnh chuyển, không thể tự chủ."
"Làm sao tự độ?"
"Chỉ cầu huệ nhãn, nhìn thấu thế tình, không một chút nhiễm chấp, tự nhiên tự độ."

Mỗi lần nghe những lời huấn thị của Địa Tạng Vương Bồ Tát, trong lòng tôi liền dâng lên niềm hy vọng vô tận, rốt cuộc cũng xóa tan mọi nghi hoặc trong tâm, lau sạch nỗi bi thương. Về sau, dù gặp lại những thất bại hay hoàn cảnh khốn khó, tôi cũng có thể bình thản đối diện, không lo không sợ.

Thân tôi tức là tâm tôi, tâm tôi tức là thân tôi; chỉ cần nương tựa nơi chư Phật, Bồ Tát, thì không sợ hổ, sói, rắn rết. Dẫu cho thân tôi rơi vào cảnh khốn khổ cùng đường, tôi vẫn có lý tưởng cao cả, còn gì phải sợ nữa!

Điều tôi nương tựa chính là lý tưởng của chư Phật Bồ Tát, lý tưởng ấy ở trong tâm tôi tự nhiên nảy nở và kết thành quả. Chỉ cần tôi hành đúng, làm đúng, thì tôi không còn điều gì phải sợ hãi.

Đọc thơ của cư sĩ Bành Hy Liễn:

"Luân chuyển nhân duyên mười hai chi,
Trần sa kiếp số khi nào dứt,
Dưới chân Không Vương siêng cúi lễ,
Hai hàng lệ chảy chẳng hay hay.

Gió đẩy người đi há tự do,
Duyên huyễn ràng buộc gợi sầu lo,
Bệnh ma trời khiến trùng trùng bức,
Đến lúc lâm chung hối chẳng tu.

Xưa nay sắc tướng vốn là không,
Muôn kiếp tham si khó dứt dừng,
Sao bằng một câu Di Đà Phật,
Sáu căn thu nhiếp sạch không dư.

Ngược xuôi bận rộn chẳng bằng nhàn,
Nên biết mạng người trong hơi thở,
Chỉ sợ tu hành lầm đường chính
Đến ngã rẽ rồi vẫn mù mờ.

Lặng quán sâu xa, bóng xế tà,
Biết rõ Cực Lạc đường chẳng xa,
Mười năm lãng tử không nơi về,
Một niệm hồi quang, ấy là nhà.

Gió nhẹ rừng thưa trăm nghìn vui,
Chim lành đầu cành tiếng hòa nhã,
Một trăm lẻ tám hạt bồ đề,
Gieo được rễ sen sâu mười trượng.

Niệm niệm nối nhau nhớ Di Đà,
Muôn việc như mây mặc nó qua,
Chẳng đợi mạng chung sinh cõi ấy,
Hiện đời đã thoát cõi Ta Bà.

Trần chướng sạch rồi Pháp thân hiện,
Trăng in đáy nước sóng càng trong,
Đại thiên vô tận biển âm thanh,
Thu nhiếp căn nghe, dứt đón đưa.

Tâm Phật niệm Phật vốn không cách,
Sáu chữ miên man, giác cũng quên,
Ta đã nghìn đời mang phiền não,
Hôm nay đề hồ tưới ruột khô.

Ta vì bồ đề phát đại nguyện,
Chẳng cầu phúc báo hay sinh thiên,
Nguyện lành khắp tận cùng hư không,
Chưa đến Liên Bang, nguyện chưa tròn."

Mười bài kệ hồi hướng này, đọc lên khiến lòng vô cùng xúc động. Cư sĩ Bành thân mang bệnh tật, chịu sự dày vò của bệnh khổ, vậy mà vẫn một lòng phụng sự Phật pháp. Còn tôi, Lư Thắng Ngạn, sao có thể vì chút ít trắc trở nhỏ nhoi mà đánh mất chí nguyện được!

Huống chi tôi lại được thọ nhận ân đức của chư Phật sâu dày như vậy, bất luận thế nào, tôi cũng chỉ có thể tận tâm tận lực mà thôi.

41. Tiếng lòng của người vô tâm

Một người vô tâm, ông Bá An, đã gửi đến một bài bộc bạch tâm sự của mình, bàn về vấn đề tiên thiên và hậu thiên, nên nay xin công bố:

"Thưa thầy Lư!Khi thầy mở thư này, hẳn sẽ ngạc nhiên không biết từ khi nào lại có một người học trò xa lạ như tôi. Xin thầy đừng nghi ngại, dưới sự cảm hóa từ ba cuốn sách tâm linh của thầy, tôi đã thu được rất nhiều lợi ích. Tôi cho rằng, sách chính là thầy của mình, thấy sách như được nhận ơn thầy, vậy thì việc trực tiếp theo học với thầy hay qua sách vở có gì khác nhau đâu! Gọi thầy một tiếng "thầy" âu cũng là lẽ đương nhiên, nhận lấy danh xưng ấy cũng không có gì hổ thẹn.

Nay viết bài này là muốn bày tỏ tâm sự và sở đắc tu học với thầy, đồng thời cũng có vài điều kiến nghị. Trước khi nghiên cứu các trước tác đồ sộ của thầy, tôi là người tu Đạo, tham cứu pháp đốn ngộ và tu luyện Cửu Chuyển Huyền Công, lúc rảnh cũng nghiên cứu mệnh lý, nhưng đối với pháp đốn ngộ thì vẫn chưa thể nhập môn.

Mãi đến khi đọc các trước tác của thầy, tôi mới hiểu được chân lý của pháp đốn ngộ ở chỗ nào. Đồng thời trong lòng vô cùng hoan hỷ, cuối cùng tôi cũng đã biết được đạo lý của pháp đốn ngộ. Nhưng, "chân lý tùy người mà ngộ, có người ngộ, cũng có người mê, tự ngộ tự biết’" Câu nói này đã nói đúng tâm cảnh hiện tại của tôi.

Trong sách có nhắc đến việc nhiều người muốn bái thầy làm sư phụ, tôi cho rằng họ chưa thực sự đọc kỹ và hiểu thấu chân nghĩa cùng đạo lý trong sách, trong số đó cũng bao gồm cả tôi trước đây.

Nay tôi đã hiểu rằng, mọi sự đều có chữ "duyên", chỉ cần duyên chín muồi, thì vấn đề chỉ là sớm hay muộn. Hễ đã có duyên với nhau, muốn đến thì không thể ngăn, muốn đi thì cũng không thể giữ. Người đời không hiểu chữ "duyên", ấy chính là chưa rõ chân lý."

Trong một tạp chí nọ, tôi đọc được một bài thơ cơ bút [bài thơ có được do đồng cốt bị nhập và viết ra] của Thiền sư Tế Công: "Giấy trắng viết chữ đen, giấy đen không có chữ trắng." Lời này thật vi diệu, rất hợp với tâm ý của tôi.

Đại ý là có một người tu đạo, cầu xin thầy từ bi ban cho mình đầy đủ linh quang và trí tuệ, vì trí nhớ kém, kinh chú không thể ghi nhớ trong tâm. Thầy đáp: "Giấy trắng viết chữ đen, giấy đen không có chữ trắng." Câu này khiến người cầu đạo hoàn toàn không hiểu ý.

Sau đó, thầy giải thích: Bản tính con người vốn không phải đỏ cũng không phải đen, khi mới sinh ra như một tờ giấy trắng. Nhưng vì rơi vào hậu thiên, bị hai khí âm dương ràng buộc, bị muôn trạng xã hội làm mê hoặc, nên trên nền chân như vốn như tờ giấy trắng, trên biển chân không thanh tịnh, lại sinh ra những dục niệm tham, sân, ái, si. Do vọng niệm luôn xoay chuyển, tâm như sóng lớn cuồn cuộn, ý như mây đen cuộn dâng, khiến biển trí tuệ vốn có thể soi chiếu trở nên vẩn đục không rõ, người qua kẻ lại, điên đảo hư vọng.

Lại do không biết vận dụng âm dương nhị khí cho điều hòa, thuận hòa, để xử lý sự việc được thông suốt, nên hằng ngày tâm thần mơ hồ, căng thẳng bất an, không thể an định dương thần, khiến âm khí xâm nhập. Tay cầm kinh điển mà tâm thì bay bổng tận chín tầng mây; có ý nghiên cứu đạo lý thánh hiền, nhưng lại không có tâm để lưu lại ấn tượng, vì thế đọc cũng như không, đọc mà không thể ghi nhớ.

Giấy trắng tuy có thể viết chữ đen, ví như tâm thanh tịnh thì tự nhiên sáng suốt; người cầu đạo cần tinh tấn, buông bỏ hết thảy. Người mới học tất nhiên khó hiểu được đạo lý này, còn người đạo hạnh cao thâm, nhìn trong "giấy trắng" ấy lại có thể phát hiện một cảnh giới vi diệu khác. Đó chính là: "Giấy trắng không chữ, tâm linh rỗng lặng, mênh mang hỗn độn, diệu cảnh vô hình, chân nhân chân quả, ý ở ngoài lời nói."

Quan điểm của tôi như sau: Sở dĩ giấy đen có thể làm cho người ta nhìn rõ, cũng là nhờ chữ trắng. Nhưng chữ trắng ấy không phải là chữ, mà chính là "tính" vốn có của tờ giấy trắng. Diệu pháp này là dạy người cầu đạo phải "bình tâm tĩnh khí" mà học đạo, thì mới có thể hiểu được bản tính, bản sắc vốn có của tờ giấy trắng. Khi thấy được tự tính trong tâm mình, thì biển trí tuệ sẽ lặng trong, có thể phản chiếu muôn vật. Lúc ấy, tựa như tờ giấy trắng, không những có thể ghi nhớ rõ ràng chữ đen, mà trong sự tĩnh ngộ, còn có thể nhờ một điểm linh lực thuần khiết mà thấu suốt toàn bộ chân lý rực rỡ, tráng lệ của cuộc đời nhiều màu sắc.

Ngoài ra, giấy đen cũng là chữ, vậy vì sao lại nói "giấy đen không có chữ trắng"? Ý là: bên dưới tờ giấy đen của chúng sinh kỳ thực là tờ giấy trắng; giấy trắng chính là Phật tính vốn có của chúng sinh, đó là sự phân biệt giữa tiên thiên và hậu thiên. Người học đạo chớ chỉ đọc phần bề mặt là chữ đen trên giấy, mà phải từ trong tự tâm gột bỏ lớp bụi nhơ ô nhiễm phủ lên tâm, gột bỏ mặt tối của mình, để thấy được Phật tính vốn sẵn có nơi mình; như vậy mới có thể hiểu rõ mọi chân lý.

Tôi xin đề nghị thầy nhắc nhở độc giả rằng: tu đạo đừng có tâm tham, giữ đúng bổn phận chính là vốn liếng; an bần lạc đạo [nghèo mà không oán, giữ đạo mà tự vui] là bản tính của người tu đạo, điều ấy vốn không cần cưỡng cầu. Cũng chớ xem nhẹ việc tu đạo luyện đan, việc ấy cũng như kỹ nghệ của trăm ngành, chỉ khi tự thấy có lợi thì mới là tiến bộ. Tu đạo trước sau lấy hư vô làm tông chỉ, công phu đến mức quên cả công phu thì là đã tiến rồi!

Thầy chưa công khai chi tiết Cửu Chuyển Huyền Công ra thế gian, có phải là vì vướng luật trời chăng? Đại đạo tuy công bình, nhưng không thể truyền dạy bừa bãi, không chọn người mà truyền thì không được, nên tự mình phải gánh lấy trách nhiệm, có đúng chăng?"

Tôi cho rằng những bàn luận trong bản văn này rất có đạo lý. Tôi đã từng ở tại cung Thánh Từ, thôn Đại Nã, huyện Phong Nguyên, cùng thầy khai môn của tôi là phu nhân áo xanh tên Lâm Thiên Đại, chiêm ngưỡng thấy Tế Công Hoạt Phật. Tôi thấy Tế Công từ trên mây nhẹ nhàng bước xuống, thái độ tiêu dao, ung dung từ tốn, trước ngực đeo một chuỗi hạt, tay cầm quạt bông, lắc đầu đung đưa, dáng vẻ rất tự nhiên.

Tế Công xuất hiện như mây như khói, thường tùy theo ý mình, không cầu mà tự đến, nếu cầu thì lại không đến. Chủ nhân của cung Thánh Từ, mọi người đều gọi là A Nguyên Tử, là chủ một nhà máy sắt lớn, thờ phụng Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn làm thần chủ.

"Liên Sinh, sao lại ở nơi này?" - Tế Công hỏi tôi.
"Đại Sư phụ, Ngài đến được, thì tôi chẳng đến được sao?" -Tôi hỏi lại Ngài.
"Đúng là Liên Sinh hay nói khích khó chiều, lần sau gặp mặt, không bắt anh mua một bình rượu gạo để cúng dường không được, bằng không sẽ đến báo cáo với Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, khiến anh bị ăn mắng không hết còn phải gói mang đi."
"Tôi xin nhận lỗi với Tế Công Phật Tổ." - Tôi lễ bái Ngài.
Ngài cười nghiêng ngả, loạng choạng.

Lúc này, tại cung Thánh Từ, mọi người đang bốc hương, lễ bái các thánh, thần, Tiên, Phật, cổng trời mở ra, có vài thiên nữ từ giữa không trung xuống, dáng vẻ kiều diễm. Tế Công Hoạt Phật thấy vậy, lại như khói mây, biến mất không thấy.

Đây là nhân duyên lần đầu tiên tôi chiêm ngưỡng Tế Công Hoạt Phật.

42. Người làm chứng cho linh nhĩ thông

Thành phố Chương Hóa, ông Đinh Tồn Cung gửi thư đến, bức thư này là vật chứng tốt nhất cho linh nhĩ thông, ông Đinh là nhân chứng tuyệt vời nhất cho linh nhĩ thông. Từ đây có thể thấy: đạo của tôi không đơn độc, người sống có đức ắt có hàng xóm, học thuyết của tôi có thể được phát huy rạng rỡ, không bị xem là mê tín khoác lác.

"Mong tiên sinh Thắng Ngạn minh giám!

Tôi vô tình phát hiện được tác phẩm lớn của thầy, và đã dùng tốc độ nhanh nhất để đọc xong ba cuốn sách (Mạn đàm linh cơ thần toán tập 1, Tập 2, Giữa linh và tôi).

Về phần thầy nói trong sách: có thể nghe được lời các thần, Phật, và miêu tả tình cảnh âm thanh của họ, điểm này có lẽ nhiều người không chịu tin và nghe theo, thậm chí các nhà tôn giáo, lão pháp sư cũng không chịu tin.

Nhưng tôi tin rằng vào năm Dân Quốc 62 (1973), vì tu luyện quá mức, tôi đã bị thần quỷ nhập thân, những lời họ nói y như âm thanh thầy nói trong sách, hoàn toàn giống nhau. Âm thanh thần quỷ phát ra tuy nhỏ nhưng rõ ràng vô cùng, ở bất kỳ nơi ồn ào náo động nào, loại âm thanh này vẫn nghe được rõ ràng.

Thuở ban đầu, khi tôi luyện công tọa thiền, lúc mới bắt đầu thì tay phải xuất hiện chuyển động lạ, có sự rung động theo tần suất nhất định. Sau đó, trên không trung xuất hiện một vị lão tiên sư tự xưng là Vân Trung Tử. Đạo hạnh của lão tiên sư dường như rất cao, chỉ dẫn tôi về mệnh lý, những phán đoán về số mệnh con người đều linh nghiệm từng điều, khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Huyễn tướng của Vân Trung Tử xuất hiện trong lòng bàn tay tôi. Về sau, tôi trở thành tri kỷ với lão tiên sư, Ngài giúp tôi khai thông hai mạch Nhâm – Đốc, lại còn vào ban đêm dùng công lực vô hình để thực hiện "cạo lông tẩy tủy" cho tôi, đồng thời ghi lại khẩu quyết của "cạo lông tẩy tủy" để truyền dạy cho tôi. Bộ tuyệt học này hiện trên đời chưa từng có, lão tiên sư vô cùng coi trọng, Ngài yêu cầu tôi phải chọn người có thiện căn mà truyền thụ, tuyệt đối không được truyền bừa. Theo kinh nghiệm của tôi, sau khi trải qua "cạo lông tẩy tủy", quả thực có hiệu quả cải lão hoàn đồng.

Ngày nay, chúng ta không dễ phân biệt thiện ác của con người, nhưng không thể che giấu được trước con mắt thần, những người được chư thần, chư Phật coi trọng nhất định là người lương thiện, ôn hòa. Vì vậy, tôi dự định chuyển tặng bộ khẩu quyết và phương pháp do lão tiên sư Vân Trung Tử truyền lại cho tiên sinh. Với năng lực của tiên sinh, chắc chắn sẽ không để mai một hay truyền bừa cho người không xứng, nếu dùng để giúp người trung niên và cao niên tu đạo thì sẽ có lợi ích rất lớn. Không rõ tiên sinh có hứng thú với công pháp này hay không?

Không lâu sau, lão tiên sư tự rời đi, tiếp đó xuất hiện một loạt huyễn tướng. Do lòng hiếu kỳ quá lớn, tôi không từ chối bất cứ điều gì, lại bước vào tà pháp, thiếu minh sư chỉ dẫn, nên bị tà ma xâm nhập. Tôi đã dùng hết mọi cách mà vẫn không thể đẩy chúng ra khỏi phạm vi sinh hoạt của mình, đến nay đã gần hai năm. Trong suốt hai năm ấy, tôi ngày đêm sống cùng hồn ma, phân tích hành vi của chúng, khiến tôi hiểu được đại khái sau khi con người chết sẽ ra sao, như đọa vào địa ngục, hoặc nhập vào cõi thiên ma, atula v.v..., tôi đều đã có nhận thức sơ bộ.

Linh hồn vô hình vô ảnh, bậc thánh nhân cũng không dám khẳng định là có hay không. Các bậc tôn sư tôn giáo tuy trong tâm đã biết, nhưng khổ nỗi không đưa ra được chứng cứ. Những người tự nhận mình là nhân vật của thời đại, đối với những điều bản thân hoàn toàn không hiểu, lại dám cả gan quy kết là mê tín. Trước đây tôi cũng không tin có linh hồn, nay chính mình đã biết, nhưng lại không thể nói với người thân bạn bè, có thể tưởng tượng được nỗi khổ trong lòng tôi. Họ nói tôi thần kinh có vấn đề, rằng trên đời làm gì có quỷ thần, tôi nghe thấy sao họ lại không thấy.

Nay bí ẩn ngàn xưa, một khi được tiên sinh dùng sự thật chứng minh, tất sẽ gây chấn động, có nhiều người tu đạo muốn quy y dưới môn tiên sinh cũng là điều hợp lẽ thường. Tiên sinh vì còn trẻ mà từ chối, theo tôi e là không cần thiết, "học không có trước sau, người đắc đạo thì được tôn kính". Dẫu không lấy danh nghĩa thầy, nhưng có thể thành lập một hiệp hội tâm lý hợp pháp, để những người có chí tu hành được hướng dẫn tập thể, ắt sẽ tiết kiệm thời gian, công sức, đồng thời cũng giảm bớt rất nhiều thời gian quý báu của tiên sinh. Người khát cầu nghe đạo chắc chắn ngày càng nhiều, một mình tiên sinh e khó mà đáp ứng phó.

Hiện nay Phật giáo chỉ dựa vào kinh điển cũ mà chưa có pháp mới, thời đại đã tiến bộ thì pháp cũng nên tiến triển. Trọng trách của tiên sinh rất nặng nề và còn dài lâu, xin kính chúc đạo nghiệp tinh tấn mạnh mẽ.

Kính chúc đạo an.
Đinh Tồn kính thư."

Khi nhận được bức thư này, tôi nhớ đến một người thợ kỹ thuật trung niên. Người thợ này làm quản đốc tại một công ty cơ khí, phụ trách sửa chữa các dụng cụ tinh nhạy. Vào một đêm, đột nhiên ông nghe được tiếng phát thanh từ đài khiến ông không thể ngủ yên, lúc là hát, lúc là quảng cáo, lúc là kịch phát thanh. Giường ngủ của ông là giường sắt, khi rời khỏi giường sắt thì âm thanh trở nên rất nhỏ, nhưng vừa tựa vào giường sắt thì âm thanh lại rất lớn. Ông suy nghĩ trăm phương nghìn cách mà không hiểu, cuối cùng nhờ bác sĩ kiểm tra tỉ mỉ, từ kẽ răng của quản đốc tìm ra một hạt tinh thể điện cực nhỏ. Chỉ khi ấy, việc nghe được phát thanh từ đài rốt cuộc đã có một sự khẳng định sơ bộ.

Trong thân thể người thợ có hạt tinh thể điện, vô hình trung trở thành một máy thu thanh bán dẫn, giường sắt chính là ăng-ten, nhờ đó nghe được phát thanh từ đài. (Nếu so sánh với cấu trúc của máy thu thanh, đồng thời phối hợp với cơ thể đặc biệt của người thợ ấy, tôi nghĩ điều này là có thể; nói đúng hơn, người thợ ấy có năng lực tiếp nhận bẩm sinh. Khoa học phát triển, hiện nay máy nghe lén đã được phát minh có thể lắp vào thân con ruồi, nói như vậy thì việc này càng không đáng để nghi ngờ.)

Hơn nữa, một người muốn đạt được linh nhĩ thông, có thể tiếp nhận âm thanh truyền đến từ linh giới, điều quan trọng nhất là phải biến bản thân thành linh thể. Khi linh thể đã luyện thành, lại tiếp tục tu luyện pháp nhĩ báo, lúc đó cấu trúc bên trong cơ thể tự nhiên sẽ khác với người phàm bình thường.

Chất linh tích chứa trong cơ thể tương đồng với chất linh trong không gian, khi tần số giống nhau thì có thể thông linh. Khi "họ" nói chuyện với bạn, ngoài bạn nghe thấy thì người khác không thể nghe được. Người khác không nghe thấy, tất nhiên sẽ cho rằng bạn bị thần kinh. Nhưng thực ra, người thông linh tự trong tâm mình hiểu rõ rằng thế giới này quả thực có sự tồn tại của linh. Các nhà khoa học nghiên cứu về linh hồn, rồi sẽ có một ngày hoàn toàn tin vào sự tồn tại chân thực ấy, không còn nghi ngờ tôi nữa.

Hoàn cảnh của ông Đinh không giống người thường, ông quả là một nhân chứng tốt của linh giới.

43. Thuyết vận mệnh có thể thay đổi

Nhiều người nhờ tôi xem giúp vận mệnh, vì vậy tôi không thể không giải thích đôi điều về học thuyết mệnh lý.

  1. Vận mệnh tiên thiên có thể tính được

Vận mệnh của một con người có sự phân biệt giữa tiên thiên và hậu thiên, mà hai phương diện này thường không giống nhau. Có người tiên thiên tốt nhưng hậu thiên xấu, cũng có người hoàn toàn ngược lại. Học vấn về mệnh lý rất sâu xa, những điều người đời nay học được cũng không giống nhau: có người tinh thông danh tính học, có người xem chỉ tay, có người xem tướng mặt, thậm chí còn có sờ xương, bói gạo, chiêm tinh, bói bài, bói tiền, bói bát quái, bói Kinh Dịch, bói hoa, bói đá, v.v…, mỗi môn đều có học vấn riêng của nó.

Còn như phép đoán chữ, thuật giải mộng, đều là những phương pháp huyền diệu thuộc về linh cơ, không thể cho rằng hoàn toàn là mê tín, nhưng cũng không thể tin hoàn toàn, bởi vì người xem mệnh có linh hay không đều nằm ở sự suy đoán trong tâm của chính người ấy, nếu tâm không thành, học chưa tinh, thì phán đoán sẽ không thể rõ ràng.

Vận mệnh tiên thiên có ảnh hưởng rất lớn đến tiền đồ cả đời của một con người, nó vô hình chi phối sự thành bại của mỗi người. Nếu chúng ta có thể hiểu rõ vận tiên thiên của mình, thuận theo thời vận mà tìm lành tránh dữ, biết nắm bắt thời cơ, tiến thoái có chừng mực, đó mới là bậc hiểu rõ thiên cơ. Nếu không hiểu vận tiên thiên mà chỉ mù quáng tiến lên, tự gây tổn hại nặng nề mà vẫn không hay biết, có khi vận mệnh cả đời đều bị chính mình phá hỏng.

Lại nói về tiên thiên trong số mệnh định sẵn: có người sinh ra trí tuệ cao siêu, cũng có người trí tuệ ngu muội, sự thông minh hay ngu độn đều do khí chất tiên thiên hình thành. Cũng có người sinh ra đã tàn tật, khi mới sinh vốn không có phân biệt thiện ác, những quả báo xấu này phần lớn là do nhân ác từ đời trước mang lại.

Nếu dùng phép Tứ trụ để suy đoán mệnh, dựa theo bát tự mà tính toán, có thể biết được sự thịnh suy của từng năm, kết quả suy tính thường không sai lệch quá nhiều. Khi thời vận tốt đến thì nên thuận theo mà đón nhận, khi thời vận xấu đến thì nên tránh đi. Con người nếu không hiểu điều này thì sinh tử cũng như mây nổi vô định trên trời, còn đường đời thì họa phúc có thể xảy đến trong sớm chiều.

Vận tiên thiên, cũng giống như bốn mùa xuân hạ thu đông của thời vận trời đất: khi thời tốt đến thì làm việc gì cũng thuận, ôn hòa, hanh thông, nhưng khi thời xấu tới thì làm gì cũng trắc trở, giống như mùa đông khắc nghiệt, băng giá lạnh buốt, mọi việc đều không như ý, lại còn có sấm sét, mưa đá, nếu không có sức mạnh lớn thì khó mà chống đỡ nổi. Chỉ còn biết đợi sau cơn mưa trời lại sáng, chờ đến lúc muôn hoa nở rộ.

Hơn nữa, trong một năm thế nào cũng có lúc bão tố, gây tổn thất cả người lẫn của rất nặng nề, vận mệnh con người cũng vậy, nếu không phòng bị từ trước, không cẩn thận gấp bội, thì cảnh người mất của tan là chuyện thường xảy ra. Thiên tai, địa biến vốn khó lòng đề phòng hết được, vận mệnh con người lại còn bị quy luật tiên thiên chi phối, nên cũng có lúc đúng là cảnh "ngồi yên trong nhà, họa từ trên trời rơi xuống".

  1. Vận mệnh hậu thiên có thể thay đổi

Nếu vận mệnh con người vốn không thể thay đổi thì dù ta hiểu mệnh lý cũng chẳng có ý nghĩa gì. Dẫu biết rõ mệnh lý mà chỉ thuận theo mệnh lý, thì biết hay không biết cũng hoàn toàn như nhau. Vì vậy, vận mệnh quả thật là có thể thay đổi.

Phương pháp thay đổi vận mệnh này, tôi gọi là "học thuyết di mệnh" - tức là chuyển dịch toàn bộ vận mệnh trời định của một đời người. Cách chống lại số mệnh ấy cũng chính là mục đích chủ yếu của bài viết này: mỗi người tự mình sáng tạo vận mệnh, khiến vận mệnh của mình tỏa ra ánh sáng rực rỡ, phi thường.

2.1. Pháp sám hối để đổi vận
Con người trải qua vô số kiếp luân hồi xoay vần, sống chết chỉ trong khoảnh khắc, nên những nghiệp ác đã tạo nếu cộng lại thì cao như núi. Vì vậy, Kinh Dịch có lời khuyên người ta phải khiêm hạ thì được lợi, đầy tràn thì sẽ bị tổn. Nếu chúng ta có thể sám hối tất cả ác nghiệp đã tạo trong quá khứ, buông dao đồ tể xuống, thật sự có thể lập địa thành Phật.

Sám hối phải chân thật, vì sám hối là sự mở rộng của tâm linh, nó sẽ làm mờ dần mọi nhân ác trong quá khứ, cuối cùng phá vỡ luật trời và xoay chuyển cả vận mệnh. Cho nên tôi nói sám hối là bước ngoặt lớn nhất. Con người biết sám hối quá khứ chẳng khác nào làm lại cuộc đời, như bậc thánh hiền, người như vậy đáng được tôn kính.

Sám hối cũng chính là sửa lỗi. Từ đó lập lời thề, thực hành theo lẽ trời, chí nguyện quy y chân lý của thánh hiền, dứt trừ mọi điều ác, làm mọi điều lành. Đến lúc ấy, lưới trời sẽ nới cho một đường, nên còn hy vọng thoát khỏi cảnh dữ trong số mệnh. Người biết sám hối cũng là người thường xuyên tự phản tỉnh, nếu mỗi ngày ba lần xét mình, lỗi lầm sẽ ngày càng ít đi. Còn nếu có người trái với lẽ trời mà chỉ mong phúc lành đến thì đúng là trèo cây tìm cá.

2.2. Pháp tích thiện để đổi vận
Con người gánh chịu nhân quả, bị luật trời và vận mệnh chi phối, tuy có nhiều cách để thay đổi, nhưng rốt cuộc phần lớn phải do chính mình làm, rất hiếm khi có người khác thay mình cầu giúp. Điều này cực kỳ quan trọng.

Rất nhiều phương pháp cúng tế giải hạn, thực ra phần lớn là những chiêu trò do thầy tướng, pháp sư dùng để mưu sinh bày ra. Dĩ nhiên cũng có người thật sự có bản lĩnh, nhưng vẫn phải phối hợp với công đức chú lực, công đức hành thiện, công đức đại nguyện, công đức tụng kinh, công đức đạo hạnh của người này thì mới có thể chuyển biến vận mệnh của người khác. Tuy nhiên, nếu vận rủi quá lớn thì cũng không thể chống lại thiên luật của quỷ thần.

Vì thế, khi thân thể có bệnh, ngoài việc tìm bác sĩ chữa bệnh, còn nên mạnh dạn phát tâm sám hối những nghiệp tội trong quá khứ, kể cả nghiệp đời trước, chỉ cầu chư thần Phật gia hộ cho sớm khỏi bệnh. Nếu bình phục, nên in ấn sách thiện để lưu truyền rộng rãi, không cần mời người làm lễ cúng quỷ thần hay cúng trừ hạn, vì lực ấy rất nhỏ. Nếu đang bệnh mà phát nguyện rằng sau khi khỏi sẽ mỗi ngày làm một việc thiện, hoặc mười việc thiện, hay trăm việc thiện, thì ắt sẽ có quỷ thần trong cõi vô hình âm thầm trợ giúp để thoát khỏi khổ bệnh khổ.

2.3. Pháp tinh tấn để đổi vận
Nếu vận tiên thiên của một người rất tệ thì có thể nỗ lực để bù đắp bằng vận hậu thiên. Chẳng hạn, trí lực chưa đủ thì hậu thiên có thể rèn luyện, vận mệnh không tốt thì cố gắng có thể thay đổi, thi cử không như ý thì cũng có thể nhờ tinh tấn không ngừng mà chuyển hóa. Mọi việc đều phải dựa vào nỗ lực của chính mình, bởi chính mình mới là người sáng tạo ra tiền đồ sáng sủa của mình.

Chúng ta không cần cầu tiền tài phi nghĩa, vì chỉ cần nỗ lực thì tự nhiên sẽ có được, nếu không bỏ công sức thì cũng sẽ không có thu hoạch. Người trẻ có thể nghiên cứu mệnh lý, sau khi hiểu được vận mệnh rồi, có thể dùng phương pháp đổi vận để cố gắng thay đổi số mệnh của mình. Ngay cả khi vận mệnh xấu nhất cũng nên áp dụng thế phòng thủ.

Vận mệnh là có thể thay đổi. Sức chi phối của vận tiên thiên dĩ nhiên rất lớn, nhưng vận hậu thiên thì con người có thể tự mình tạo nên. Bậc thánh hiền trở thành thánh hiền không chỉ do thiên mệnh, mà còn nhờ tự mình gắng sức thực hành, không thể dựa dẫm vào vận mệnh, vì tin cậy hoàn toàn vào vận mệnh chỉ là một kiểu suy nghĩ của kẻ lười biếng.

Tôi cho rằng: linh luật cũng là một loại luật lệnh của tiên thiên. Thế giới bốn chiều không thể nhìn thấy lẫn nhau, nhưng cũng có những người đột phá được điều đó, ấy là bậc siêu nhân.

44. Khuyên bảo, động viên kiêm giải đáp

Mong thầy Lư minh giám!

Sau khi đọc xong bộ đại tác thứ 19 của ngài, lòng tôi mãi không thể nào bình lặng lại. Tôi thầm nghĩ, giá như có thể cùng ngài chia sẻ bớt ưu tư thì hay biết mấy. Từ khi đọc bộ đại tác thứ 16 của ngài, tôi ngày đêm đều mong được bái ngài làm thầy, vì vậy đã nhiều lần làm phiền ngài, nay nghĩ lại tôi thật vô cùng hổ thẹn. Tôi biết ngài cần có thời gian riêng để tĩnh tu, cho nên mới viết ra ba cuốn sách này để nói cho những người có tâm trong thiên hạ phương pháp nhập đạo. Hiện giờ các đạo hữu ở bên tôi ngày đêm nghiên cứu ba cuốn linh thư, kỳ thư ấy của ngài, e rằng ngài không muốn làm sư phụ của chúng tôi cũng khó mà được, vì sách là do chính ngài viết ra, ngài muốn chối cũng không chối nổi đâu!

Ở gần khu nghĩa trang mà khởi linh hoặc luyện linh có xảy ra vấn đề gì không? Về vấn đề này xin thầy hồi âm chỉ dạy?

(Đáp: Ở gần khu nghĩa trang mà khởi linh và luyện linh thì không sao cả. Nguyên nhân dẫn đến tẩu hỏa nhập ma khi khởi linh và luyện linh không liên quan nhiều đến yếu tố địa lý, mà quan trọng nhất là thần hồn của bản thân có ổn định hay không và hai khí âm dương có cân bằng hay không. Tâm mình có tà niệm hay không cũng vô cùng quan trọng. Khu nghĩa trang tuy âm u, xương trắng rờn rợn, khắp nơi có âm linh tồn tại, nhưng nếu âm khí trong bản thân có thể ổn định thì căn bản không sợ tà ma xâm nhập. Điểm này hết sức quan trọng.)

Nhiều đạo hữu hỏi: "Những kẻ như phù tử tiên (chẳng hề tu hành) được nhắc trong sách của thầy, cùng với một số pháp sư lừa đời trộm danh gạt tiền gạt sắc, sao thầy không dựa trên nguyên tắc "trừ ác tức là làm lành" mà thanh trừ những hạng bại hoại ấy, để lấy chính đạo thống mà giữ gìn chính nghĩa, khiến lòng người hả dạ? Có phải là thầy không muốn gây thù oán quá nhiều chăng?

Tôi chợt nhớ đến lời đạo trưởng Thanh Chân đã nói với thầy: "Giữa trời đất, nếu đã có chính khí tồn tại, thì không cần phải bận tâm đến tà khí, bởi tà khí tồn tại là do chính khí không đủ mạnh, nên tà khí mới nhân cơ hội xâm nhập." Không biết dùng câu này để giải thích cho câu hỏi thứ hai có thông không? Nếu giải thích được thì ba bộ kỳ thư này của thầy chính là ngọn cờ tiên phong cho sự lan tỏa của chính khí. Vài năm sau, khi thiên hạ có tâm cầu đạo nhờ ba quyển sách này của thầy mà khởi linh, luyện linh, thì tự nhiên chính khí sẽ tràn đầy khắp vũ trụ, còn tà khí đều phải lùi ẩn hết.

(Đáp: Giữa trời đất vốn có âm dương, từ xưa đã ắt có chính tà. Việc thanh trừ bọn bại hoại tự nhiên sẽ có người khác ra tay, không cần tôi phải nhọc công. Với đạo pháp của quỷ thần, tôi không muốn chống đối, nhưng cũng không muốn lại gần quá, vì tôi hiểu nguyên lý của hai khí. Dù có tiêu diệt được những thứ đó, ở chỗ khác rồi cũng lại sinh ra thứ khác, giống như nhổ cỏ vậy, hôm nay sạch, ngày sau lại mọc, cỏ nhổ không bao giờ hết. Tôi lại không phải người đi nhổ cỏ, cớ gì phải làm việc nhổ cỏ chứ?!)

Trong bài "Người trí không bỏ", thầy nói rằng việc phát huy một môn linh học này, hoàn toàn phải nhờ chúng ta cùng nhau kiến lập. Một thuật thiên nhân hợp nhất vốn sẵn có, sao có thể tùy tiện vứt bỏ mà không màng tới được! Mong rằng những người có tâm có thể giúp tôi một tay, cùng nỗ lực vì việc hoằng dương truyền thống Đạo học Trung Hoa."

(Dĩ nhiên, có người giúp tôi thì càng tốt; không ai giúp, tôi cũng sẽ dốc hết toàn lực mà làm, tận tụy hết lòng, đến chết mới thôi.)

Thưa thầy, sau khi đọc đoạn này của thầy, tâm trạng xúc động của tôi mãi không sao lắng xuống. Tôi nhất định sẽ dốc hết khả năng để giúp thầy, nhưng tôi còn rất trẻ, không có học vấn tinh thâm uyên bác, không có nền tảng sâu dày, không có địa vị xã hội, càng không có kiến giải gì đáng kể, chỉ có một tấm lòng nhiệt thành mà thôi. Một người có trí tuệ còn mong mãi không có được cơ hội để giúp thầy, huống hồ là một cậu con trai ngốc nghếch như tôi. Hiện giờ tôi chỉ có thể một mặt tự bồi dưỡng bản thân, dù là học thức hay phẩm hạnh, mặt khác khiến những người xung quanh tôi đều hiểu được ý nghĩa của ba bộ kỳ thư ấy của thầy. Biết đâu một ngày nào đó, tôi thật sự có thể giúp thầy một tay, cùng nhau nỗ lực vì việc hoằng dương đạo thống Trung Hoa. Tôi xin đốt hương cầu nguyện cho ngày ấy sớm đến. Kính chúc phúc huệ viên mãn, linh quang phổ chiếu!

— Lưu Hồng Đạo kính bút.

Mong thầy Lư minh giám!

Sau khi đọc ba bộ linh thư của ngài, niềm tin tu đạo của tôi càng thêm kiên định, đồng thời tính cách cũng trở nên cởi mở hơn rất nhiều. Cuộc đời con người chẳng qua chỉ là một giấc mộng xuân thu, thế mà vì áo cơm, nhà cửa, đi lại, vợ con, tiền tài, công danh mà người ta suốt đời bôn ba vất vả, lại càng không biết thế nào là tu hành. Đời người thoáng chốc trôi qua, đến khi tuổi thọ dương gian đã hết, tứ đại phân tán, chỉ còn lại một thân nghiệp báo theo mình, vẫn bị vướng trong biển khổ luân hồi sáu nẻo, há chẳng đáng thương sao!

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói: "Người tu đạo phải như nước trong, có thể nhẫn chịu mọi thứ dơ bẩn hôi thối mà chảy khắp mặt đất." Câu nói ấy khiến tôi xúc động đến rơi lệ, tinh thần ấy chẳng phải phàm phu tục tử nào cũng có thể tưởng tượng ra được. Ngài dùng ngòi bút chính nghĩa để vạch trần những bí mật nghìn năm, lần lượt nói rõ mọi huyền diệu của cõi linh, nhưng từ đáy lòng lại có sự phản kháng: không muốn làm người nữa, muốn theo vị linh sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh. Thế nhưng, thầy Lư, ngài có hiểu rằng có biết bao cặp mắt đang dõi theo ngài không? Trong những ánh mắt ấy có cả kỳ vọng và vui mừng, cũng có cả ganh ghét và hoài nghi, sao ngài có thể vì những điều sau mà bỏ rơi những điều trước? Bồ Tát hy sinh thân mình để cứu ngài một mạng, cũng chính là cứu một mạng của chúng sinh trong thời ngũ trược. Ngài biết ơn Bồ Tát đã cứu mình một mạng, chẳng lẽ chỉ riêng ngài mới biết ơn hay sao?

Trong bóng tối thắp lên một ngọn đuốc, có người vui mừng nhảy nhót vì được ánh sáng, cũng có người nguyền rủa, oán hận vì ánh sáng chói mắt. Thầy Lư, xin hãy tha thứ cho những người đang nguyền rủa ấy, có lẽ họ đã chìm trong bóng tối quá lâu, nhất thời chưa thể tiếp nhận.

Hiện tại, tôi đang cố gắng hết sức để thanh lọc lời nói và việc làm của mình, thanh lọc cả những ý niệm trong tâm mình, rồi sẽ có một ngày tôi cũng trở thành dòng nước trong. Có lẽ tôi chỉ là một giọt nước nhỏ bé, còn ngài là cả biển cả mênh mông, nhưng tôi vui lòng được hòa làm một với ngài, cùng nhau chảy khắp nhân gian, rửa sạch tâm ô uế hôi hám của chúng sinh, không một lời oán thán. Hễ còn oán thì chưa phải là nước trong.

Lần đầu đến thăm ngài, tôi đã cảm thấy như có một luồng sức mạnh khiến tôi khao khát được gần gũi ngài, không phải vì tò mò, không phải vì thần thông, mà là một thứ thiện cảm không thể nói thành lời - một cảm giác mà cả đời tôi chưa từng trải qua. Vài năm trước, vì chuyện cầu đạo, tôi từng xin Bồ Tát chỉ dạy. Tôi nhớ sâu sắc nhất là câu: "Thả lỏng, an tâm mà ngồi." Khi ấy Bồ Tát muốn tôi bình tâm, chớ nóng vội. Giờ ngoảnh lại đã năm năm trôi qua, trẻ nhỏ cũng dễ thành già, đời người được mấy lần năm năm đâu!"

Chúc: vươn lên tột đỉnh, lại tiến thêm một bậc.

Lưu Hồng Đạo kính bút.

45. Giải đáp nghi vấn

Hỏi: Sau khi khởi linh thì có hiện tượng gì? Thời gian dài ngắn có liên quan không?

Đáp: Sau khi khởi linh, người ta có thể cảm thấy trong cơ thể như có một vật dâng lên, còn trên không trung như có một vật hạ xuống, đó là hiện tượng cơ bản nhất. Có người nghe như gió lớn thổi ù ù, có người bỗng thấy mặt đất rung chuyển, có người tự thân lắc lư không kiểm soát được, tay chân múa may… Về lý mà nói, những hiện tượng ấy đều là bình thường.

Tuy nhiên, tâm trí phải thật tỉnh táo mới được. Nếu thần trí không minh mẫn mà miệng lại nói năng lung tung, thì thành cơ đồng để linh nhập, hoặc là tẩu hỏa nhập ma; mà tẩu hỏa nhập ma tức là tâm thần rối loạn, cũng là trạng thái thần trí phân ly và thất thường.

Khi khởi linh, cần giữ tâm bình khí hòa, thắp hương trước Phật, hoặc có sự gia hộ của các yếu tố thiêng liêng khác, nếu đã rơi vào cảnh giới ma chướng thì muốn quay lại sẽ rất khó.

Thời gian khởi linh dài hay ngắn không cố định: có người vừa chắp tay đã thành vì nhân duyên tiên thiên tốt, có người ngồi khổ luyện mười lần vẫn chưa thành. Nhưng chớ nóng vội, cứ kiên trì thì tự nhiên sẽ thành công. Trên đời không có con đường nào không đi qua được. Thông thường, người khởi linh cần khoảng năm mươi phút, đó là con số theo chu thiên.

Hỏi: Phật giáo là xuất thế hay nhập thế?

Đáp: Phật giáo vừa là xuất thế, vừa là nhập thế. Xuất thế thì có pháp tu của xuất thế, đó là Tiểu thừa, thiên về tự độ tự lợi; nhập thế là Bồ Tát và Duyên Giác, thuộc về chính pháp Đại thừa. Theo lẽ thường, Phật giáo là một tôn giáo nhập thế và tích cực, không những nhập thế, mà còn là nhập thế đến mức cực độ.

Chức năng của triết học là cải tạo thế giới để thế giới dần trở nên hoàn mỹ, còn Phật giáo không chỉ như vậy, mà còn muốn biến nhân gian thành thiên đường, ngay cả nơi ô uế nhất là địa ngục cũng vẫn có Địa Tạng Vương Bồ Tát ngự sâu trong đó để giáo hóa, công năng giáo hóa ấy thật không thể xem thường. Vì thế, Phật giáo chân chính là nhập thế.

Hỏi: Linh hồn có bao nhiêu? Cõi linh rộng đến mức nào?

Đáp: Linh hồn có tổng cộng bao nhiêu? Đây là một vấn đề rất lớn. Theo tôi biết, kinh điển Đạo gia gọi là cửu lục nguyên linh, nhưng đó mới chỉ là một thế giới mà thôi. Trong tam thiên đại thiên thế giới lại còn có tiểu thiên thế giới, vậy linh hồn có bao nhiêu, cõi linh rộng đến mức nào đều là điều không thể nói, không nên nói - vô lượng vô tận, vô cùng vô cực. Mượn một câu của Đức Phật: nhiều như cát sông Hằng vậy.

Cho nên, nói về vấn đề luân hồi, tại sao con người ngày càng nhiều? Những linh hồn này từ đâu đến? Câu trả lời thật ra rất đơn giản: chuyển đến từ các thế giới khác.

Hỏi: Vì sao Nhất Quán Đạo bị xem là tà giáo? Vậy tại sao người theo đạo ấy cũng rất lương thiện?

Đáp: Có rất nhiều người tin theo Nhất Quán Đạo, họ đều lập lời thề, tiếp nhận quy y Tam Bảo, cầu đạo. Sau khi theo đạo, nhiều người cũng giữ ăn chay, hành xử đúng phép tắc, không có hành vi xấu nào. Trong tâm họ, Nhất Quán Đạo là Phật giáo mới nhất, thay thế cho Phật giáo cũ. Tôi cho rằng những người ấy cũng không có lỗi lầm gì lớn.

Nhưng Nhất Quán Đạo lại tách ra thành nhiều nhánh khác nhau, trong đó có cả giáo phái "trứng vịt", một số phần tử bất hảo dựa vào đó mà làm những chuyện không thể đem ra ánh sáng, tuyên truyền tà thuyết về "Bạch Dương mạt kiếp", trái với phong tục thiện lương, những điều ấy đều không đúng. Cách làm của Nhất Quán Đạo là lấy kinh về Di Lặc Bồ Tát hạ sinh làm bảng hiệu, lấy những đạo lý vốn có của Phật giáo đem ra sử dụng, rồi sau đó bóp méo giáo lý, biến thành kinh điển riêng của mình. Giáo nghĩa như thế là noi theo cách làm của Bạch Liên Giáo.

Tôi cho rằng tông phong của Phật giáo đã rất viên mãn, dĩ nhiên cũng có điểm chưa hoàn hảo, nhưng vẫn hơn hẳn Nhất Quán Đạo với những hành vi lén lút, mờ ám. Đã có chính đạo chính tông mà không tin, tại sao nhất định phải đi tin Nhất Quán Đạo? Thực ra, trong số những người tin Nhất Quán Đạo cũng có không ít người hiền thiện, điểm này tôi thừa nhận. Nhưng bỏ chính đạo danh môn mà không tin, lại đi tin Phật Bạch Dương Di Lặc của Nhất Quán Đạo, e rằng ngay cả đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn cũng chưa từng nghĩ tới điều ấy.

Hỏi: Học thuyết Nho gia có phải là tôn giáo không?

Đáp: Học thuyết Nho gia có thể gọi là tôn giáo, cũng có thể gọi là không phải tôn giáo. Bởi Nho gia tôn kính Trời, nên Trời trong Nho giáo gần như là Thượng đế vậy, vì thế có thể xem là tôn giáo. Còn những điều như lập đức, lập ngôn, lập công đều chỉ là những phép tắc thế gian để nhập thế mà thôi; còn "chí lương tri", "cùng lý tận tri" thì đều giống như một phương hướng của hành động mang tính khoa học.

Khổng Tử vốn là bậc thánh nhân, lời dạy của ngài dừng ở chỗ chí thiện, có thể nói đó là một học thuyết. Nhưng tinh thần của Nho gia lại phù hợp với niềm tin tôn giáo, cho nên có thể nói là tôn giáo, cũng có thể nói là không phải tôn giáo.

Hỏi: Đạo giáo chia cõi trời thành nhiều tầng trời, Phật giáo cũng vậy, nhưng vì sao lại khác nhau?

Đáp: Ba cõi và hai mươi tám tầng trời của Phật giáo, cùng tên gọi ba mươi ba tầng trời trong Dục giới, quả thật khác với cách gọi của Đạo giáo. Mặc dù tên gọi khác nhau, thực ra vẫn có chỗ thông suốt với nhau. Không chỉ vậy, Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, và các thần linh nơi thiên đường trong ba cõi đều có danh xưng riêng, khác với Đạo giáo, nhưng cũng vẫn có chỗ tương thông.

Từ trước đến nay tôi thường gọi Phật là Tối Tôn, gọi Bồ Tát là Thiên Tôn, gọi Duyên Giác là Đại La Kim Tiên, gọi Thanh Văn là Tán Tiên. Mong lượng thứ cho cách gọi như vậy, vì đây chỉ là cách dùng riêng của cá nhân tôi, chưa được mọi người công nhận. Nếu về sau có cơ hội nghiên cứu để thống nhất danh xưng giữa Phật giáo và Đạo giáo, thì đó thật là một công trình vô cùng to lớn.

Hỏi: Rốt cuộc niềm tin của ông là Phật giáo, Đạo giáo, Cơ Đốc giáo, hay là "mì thập cẩm"?

Đáp: Vì thời thơ ấu tôi tin Cơ Đốc giáo, từng nhận phép rửa của Hội Trưởng Lão; thời đại học tôi theo Đạo giáo, đã tham dự nghi thức công đức; về sau lại vào cửa Phật, thọ Bồ Tát giới. Những niềm tin tôn giáo này tôi không dám vứt bỏ, nên tôi ví đó như ba chặng đường: trung học, phổ thông, và đại học.

Nếu có người muốn tin vào một đấng duy nhất, tin để được cứu rỗi, được chữa lành và lên thiên đường, tôi khuyên người ấy nên tin Cơ Đốc giáo. Nếu có người muốn tôn Đạo, kính Trời và tu hành, tôi khuyên người ấy nên tin Đạo giáo. Nếu có người muốn vào Đại thừa, đoạn dứt sinh tử, tìm cầu chân tính, tôi khuyên người ấy phát bồ đề tâm, tin Phật giáo.

Từ chỗ đơn giản đến chỗ phong phú, từ chỗ Hữu đến chỗ Vô, đó không phải là "mì thập cẩm", mà chỉ là phương tiện để độ thế mà thôi. Nếu tôi không làm như vậy thì chẳng thể nào hiểu thấu ý chỉ của ba tôn giáo ấy.

46. Nghiên cứu về không gian đa tầng

Từ tháng 4 năm 1975, mỗi tháng tôi nhận được ít nhất năm trăm lá thư của độc giả gửi đến, bởi vì tôi đã viết ba cuốn sách. Hai cuốn là "Mạn đàm linh cơ thần toán" – Tập 1, 2, cuốn còn lại là "Giữa linh và tôi". Ba cuốn sách này đã gây chấn động lòng người trong xã hội, thu hút sự chú ý của các tầng lớp khác nhau, còn về doanh số bán sách thì không cần phải nói thêm.

Ở nước ngoài, thế giới không gian bốn chiều từ lâu đã được các nhà khoa học và triết học dày công nghiên cứu. Tại Anh, các trường như London, Oxford, Cambridge, cũng như nhiều trường đại học ở Mỹ đều có các khóa nghiên cứu về linh học. Người Nhật cũng đã có nhiều tác phẩm xuất bản về lĩnh vực này. Đáng tiếc là, theo tôi, những khảo cứu mang tính huyền diệu nhất của triết học phương Đông lại ít được biết đến ngay chính trong nước chúng ta.

Cách đây sáu năm, tôi tình cờ gặp một cơ duyên kỳ lạ, đích thân trải qua một số cảnh giới hết sức kỳ quái, và từ đó có được điều mà người đời thường gọi là "con mắt âm dương" và "tai nghe quỷ thần". Kể từ đó, cuộc sống của tôi, vốn trước kia vô tri vô giác, bắt đầu cảm nhận được sự tồn tại của linh hồn, thực sự trải nghiệm nhiều tầng vũ trụ. Tôi tự nhận mình đã có phần hiểu biết về linh hồn, nên đã viết nên ba cuốn sách hiện đang được xuất bản, dùng chính trải nghiệm của bản thân để minh chứng.

Tại đây, tôi luôn cảm thấy rằng, sự hoài nghi của con người đối với không gian đa chiều lại vượt trên tinh thần tìm tòi khiêm tốn. Con người thường vô thức tìm cách bài xích nó, cho rằng đó chỉ là mê tín hư vô mơ hồ, phủ nhận sự tồn tại của chúng. Tuy nhiên, những lý do phủ nhận ấy không xuất phát từ nghiên cứu, cũng không phải là tri kiến chân thật, mà chỉ là nghe theo người khác, lấy cái không biết mà tự cho là đã biết.

Các triết gia phương Tây như Plato, Dante, Aristotle, Kant, Goethe… đều cho rằng có linh hồn, và tồn tại hiện tượng luân hồi. Điều này chính là biểu hiện của sự sống bất diệt trong các không gian đa tầng. Ở nước ta, những nhân vật như Lão Tử, Trang Tử, Tô Đông Pha, Vương Nhật Hưu, Viên Hoằng Đạo… cũng đã có những chỉ dẫn rõ ràng về thuyết linh hồn vãng sinh.

Do những trải nghiệm kỳ diệu của bản thân, tôi tin sâu sắc vào sự bất diệt của linh hồn, nhân quả luân hồi, đường đi khác nhau giữa thánh và phàm, cũng như vũ trụ đa tầng. Hiện nay, năng lực của tôi cho phép giao cảm với linh hồn trong cõi hư không. Hiện tượng này cũng giống như radio và truyền hình, có thể tiếp nhận các tần số phát ra từ thế giới linh giới trong không gian, đó là một việc rất bình thường và tự nhiên. Tôi đặc biệt cho rằng, hầu như mỗi người đều có thể nỗ lực tự biến mình thành một chiếc "máy thu" như radio hay truyền hình để tiếp nhận âm thanh của linh hồn từ các không gian đa tầng.

Tôi nghiên cứu tôn giáo, bởi vì nếu tôn giáo phủ nhận linh hồn thì tất yếu sẽ mất đi nền tảng nâng đỡ. Tôi nghiên cứu đồng cốt, bói quẻ, lên đồng viết chữ, thần toán, trị liệu bằng linh lực, phù chú, thiền cơ… và nhận ra rằng tất cả những điều này đều là những hình thức vận dụng khác nhau của linh lực, không thể chỉ dùng hai chữ "mê tín" mà hoàn toàn phủ nhận. Những ai phủ nhận chúng, chắc chắn là những người hoàn toàn chưa hiểu rõ đạo lý bên trong.

Trong cuốn "Giữa linh và tôi", tôi đề cập đến quỷ thần, chân tướng cõi âm, thế giới hư ảo, sự phân biệt các loại linh lực, quan khí luyện linh… Nói thật, tất cả đều là cảm nhận đích thân trải nghiệm, không hề có chút hư dối nào. Ở phương diện này, tôi sẽ lần lượt nghiên cứu sâu hơn, đồng thời từng bước công bố những điều tâm đắc của mình, để khiến không gian đa tầng không còn là điều huyền bí, và dần dần vén mở những bí mật ấy.

Tôi nhấn mạnh "lấy linh thấy linh", tức là: dùng sự linh thông do chính linh hồn của mình đạt được để nhìn thấy các linh thể trong linh giới. Đồng thời, tôi cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khởi linh, khởi linh là bước công phu đầu tiên để bước vào thế giới chân tri của linh hồn.

Theo như tôi hiểu, trong Phật gia, thiên nhãn thông là do linh mệnh vận động đến mắt mà thành; thiên nhĩ thông là do linh mệnh vận động đến tai mà thành; tha tâm thông là do linh mệnh giao cảm với ý niệm của người khác mà thành; thần túc thông là do linh mệnh xuất thần mà thành; túc mệnh thông là ký ức về các đời trước sau của linh mệnh; còn lậu tận thông là minh tâm kiến tính, không sinh không diệt.

Viết ba cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán" - Tập 1, 2 và "Giữa linh và tôi", dĩ nhiên tôi mong có người tin, nhưng nếu không tin thì cũng không thể miễn cưỡng. Tôi chỉ có thể nói như thế này: những gì tôi tiếp xúc đều là chân thực, hoàn toàn không có lời nào hư dối.

47. Tiết lộ bí ẩn của linh giới

Ba cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán - Tập 1, 2 và "Giữa linh và tôi" không phải là sách xem bói, mà thuộc về lĩnh vực thần quỷ linh học. Tôi là đạo sĩ của Hội Đạo giáo Trung Hoa, đồng thời cũng là một cư sĩ thọ giới Bồ Tát trong Phật môn, có những trải nghiệm rất đặc biệt về linh học, đều là những điều đích thân tôi tai nghe mắt thấy, không hề có chút bịa đặt nào.

Trong sách có bàn về thần, nói về quỷ, tất cả đều là sự thật xác thực, nhưng tuyệt đối không phải là truyện ma. Có thể độc giả sẽ cho rằng tôi đang nói những điều hoang đường, nếu có người nghĩ như vậy thì đó thực sự là một sự hiểu lầm rất lớn.

Trong cuốn "Mạn đàm linh cơ thần toán", tôi đã vén mở những bí mật của linh hồn trải qua muôn năm, vén mở bí mật của giác quan thứ sáu, vén mở bí mật của con mắt âm dương, cũng như bí mật của phù chú. Một thân thể con người bình thường, làm thế nào để khởi linh, làm thế nào để bước vào linh giới, thậm chí làm thế nào để kết bạn với linh? Những đại huyền cơ của thế giới vô hình đã được trình bày đầy đủ, không giữ lại điều gì, trước mắt độc giả.

Trước khi viết cuốn sách này, có một vị đạo hữu đã khuyên tôi không nên viết, vì lo rằng tôi sẽ tiết lộ thiên cơ và phải chịu trời phạt. Do đó, việc xuất bản cuốn sách này có thể xem là mạo phạm những điều cấm kỵ. Nhưng tôi muốn để người đời hiểu rằng đó không phải là mê tín. Trong sách, tôi đã trình bày toàn bộ những trải nghiệm kỳ lạ của bản thân, đồng thời giải đáp những thắc mắc của độc giả, để mọi người thấy rõ câu chuyện chân thực về việc một sinh viên đại học vì sao lại gặp quỷ thần, và chính bản thân người đó đã kết giao với thần quỷ như thế nào.

48. Luận đạo

Nhiều người hỏi tôi: "Đạo là gì?"
Tôi đáp: "Khó nói."

Đúng vào lúc tôi cảm thấy khó nói, bất ngờ nhận được một bức thư của ông Đường Hiến ở Đài Bắc, kèm theo một bài viết là những cảm ngộ của ông về Đạo. Nhận được rất vui mừng, nay xin đính kèm sau đây, vì bài viết này rất hợp với tâm ý của tôi. Thư và bản thảo của ông Đường Hiến như sau:

"Liên Sinh huynh minh giám!

Gần đây đọc đại tác phẩm tâm linh của huynh, những điều trình bày trong sách khiến tôi rất đồng cảm, đại thể đều phù hợp với những gì tôi đã thấy và lĩnh hội trong nhiều năm qua. Điểm khác biệt là, huynh có trải nghiệm trực tiếp, còn tôi thì tiếp nhận từ người khác cùng những bậc đức cao đáng tin, rồi dựa vào học thức và khả năng phán đoán của bản thân mà xác nhận.

Trong đó, có một vài điểm nhỏ hơi khác với nhận thức của tôi như sau: Trước đây, tôi luôn cho rằng vũ trụ có vô số thế giới, mỗi thế giới không liên hệ với nhau. Thế giới loài người hiện nay thuộc không gian ba chiều, không thể thấy được trạng thái của không gian hai chiều, cũng không thể thấy được trạng thái của không gian bốn chiều; tương tự, không gian bốn chiều cũng không thể thấy được trạng thái của không gian ba chiều. Trong không gian ba chiều, mọi sự mọi vật đều biểu hiện ở ba chiều, hoàn toàn không tồn tại sự vật hai chiều. Vì vậy, đối với điều mà huynh đề cập rằng "dương gian không thể thấy âm gian, nhưng âm gian lại có thể thấy dương gian", tôi cảm thấy khó có thể lý giải."

(Phần vấn đề này, trong sách khác sẽ có giải thích.)

"Tuy tôi chưa từng trải qua bất kỳ pháp thuật khởi linh nào, nhưng tôi biết rõ rằng bản thân mình có tư chất của người "hoạt linh" như huynh đã nói. Bởi vì tôi thỉnh thoảng có khả năng biết trước những việc trong tương lai. Ví dụ, khi Tổng thống Kennedy vừa mới nhậm chức, tôi đã linh cảm rằng ông sẽ chết vì tai họa bất ngờ. Có lần trên đường gặp một người phụ nữ hoàn toàn xa lạ, tôi lập tức biết rằng người ấy sau này sẽ là vợ mình, liền đuổi theo, và sau đó quả nhiên kết hôn.

Lý trí của tôi khá mạnh, không phải là người dễ tin vào mê tín. Phàm những điều có kiến giải như thuật viên quang, bói toán Hà Lạc, quẻ Dịch, tứ trụ, xem tướng tay, các loại thần quỷ… tôi đều tìm cách kiểm chứng từ nhiều phương diện rồi mới tin. Mỗi loại trong số đó tôi đều đã thử nghiệm không dưới hàng trăm lần, hơn nữa, cũng từng gặp được những bậc cao nhân, nhờ đó mới tin rằng không sai lầm. Tôi tự cho rằng "người đắc đạo thì ít lời", và cũng nhận rõ rằng thuật xem bói có phân biệt giữa hình nhi thượng và hình nhi hạ, các phương pháp như xem tay, xem mặt, xem xương đều thuộc về loại hình nhi hạ, nên độ chính xác đều có phần sai lệch.

[Hình nhi thượng: chỉ những gì vượt lên trên hình tướng, không thể thấy hay chạm bằng giác quan. Hình nhi hạ: chỉ những gì có hình tướng cụ thể, có thể quan sát, đo lường.]

Hiện nay tôi 30 tuổi, đang theo học khoa thương mại tại Đại học Đài Loan. Bình thường rất ít khi bàn luận những điều này với người khác, luôn cảm thấy không hợp chuyện thì nói nửa câu cũng đã là nhiều. Nay được đọc tác phẩm của huynh, mới biết mình chỉ là "học trò gặp sư phụ", từ đó hiểu sâu hơn về Phật và Đạo. Thực ra, đối với những điều tai nghe mắt thấy của huynh, tôi đã tin, đây là sự kính trọng và tín nhiệm lớn nhất mà tôi dành cho huynh khi bản thân còn chưa có bất kỳ trải nghiệm nào.

Tuy tôi chưa bước vào cửa Phật, lại hoàn toàn không hiểu gì về quy củ Phật môn, nhưng từ sớm đã từng phát nguyện lớn, muốn cứu giúp chúng sinh, dốc hết khả năng của mình, không biết có thể thành tựu hay không?"

Luận về Đạo:

Đạo là con đường để con người qua lại thông hành. Phàm những gì có thể lưu chuyển thông suốt, như bốn mùa tuần hoàn lặp lại, vũ trụ sinh sôi không ngừng, đều có thể gọi là Đạo. Cái gọi là "thiên đạo" chính là khí âm dương tiêu trưởng, qua lại vận hành. Kinh Dịch nói: "Một âm một dương gọi là Đạo". Khổng Tử nói: "Nếu cho ta thêm vài năm nữa, đến năm mươi tuổi mà học Dịch, thì có thể không phạm sai lầm lớn."

Kẻ ngu này cho rằng, sáu mươi tư quẻ cùng ba trăm tám mươi bốn hào, có thể dùng một lời mà bao quát, đó là: có thể tránh được sai lầm lớn. Mặt trời lên đến đỉnh thì sẽ xế, trăng tròn rồi sẽ khuyết, vì vậy nên tránh chỗ đầy mà giữ ở chỗ lui và tổn — đó là lời dạy của Kinh Dịch. Các bậc thánh xưa đã nghiên cứu sâu sự biến hóa của âm dương tiêu trưởng, từ đó hiểu rõ đạo lý tiến thoái, tồn vong. Đạo của Kinh Dịch chính là dùng sự biến đổi của quẻ và hào để biểu đạt đạo lý này, nhằm hướng tới điều lành, tránh điều dữ, cầu không phạm sai lầm lớn.

Khổng Tử không nói đến những sức mạnh kỳ quái, loạn thần quỷ, nhưng cũng nói "tế thần như thể thần đang hiện diện", nhưng đồng thời cũng "kính mà giữ khoảng cách". Vậy ý nghĩa là gì? Đó là vì bậc Thánh nhân rất lo ngại con người không chuyên tâm vào đạo làm người mà lại mê lầm nơi quỷ thần.

Những học thuyết như bói toán, chiêm bốc vốn là điều mà thế tục ưa thích, nhưng lại gây tổn hại lớn đến đạo lý. Trong xử sự nếu luôn lấy nghĩa làm chuẩn thì không cần dùng đến bói toán; còn nếu đã dựa vào bói toán thì nhiều khi buộc phải rời bỏ nghĩa. Khi nghĩa đáng được theo mà bói toán lại không thể loại bỏ, thì rốt cuộc nên theo nghĩa hay theo bói toán?

Có người nói: "Đạo nếu như con đường lớn, thì bất kể sang hèn, cao thấp đều có thể đi; nếu chỉ bậc vương công đại nhân mới có thể đi, còn kẻ bình dân thì không thể; người hiền trí có thể đi, kẻ bất tài thì không thể, thì đó không phải là Đạo." Lập luận này là sai.

Lại có người dựa vào lý lẽ ấy để phủ nhận Phật giáo và Đạo giáo, cho rằng: "Giáo lý của Phật và Lão, cũng như học thuyết Thiền Nho gần đây, thường đề cao hư vô, khó nắm được chân lý, ưa nói những điều cao xa không thể với tới, khó phổ cập đến người bình thường, nên không thể gọi là Đạo." Điều này cũng không đúng.

Đạo đâu phải ai cũng có thể nhận biết được. Con người qua lại tấp nập trong Đạo, ngày ngày sống trong đó, bốn mùa vận hành trong đó, nhưng số người hiểu được nguyên do thì rất ít. Đã không thể đoán biết tương lai, cũng không hiểu rõ căn nguyên của quá khứ, mỗi ngày trải qua sự việc chỉ biết "là như vậy" mà không biết "vì sao lại như vậy". Đạo giống như thiên đạo, nếu không phải là người hiền trí, thì làm sao có thể hiểu được?

Ý nghĩa của Đạo sâu xa khó hiểu, thuận theo tự nhiên thì tự có thể hợp với Đạo. Vì vậy, năm nghìn lời của "Đạo Đức Kinh" của Lão Tử, có thể dùng một câu để khái quát, đó là: "nước chảy thì thành kênh".

Cái gọi là "thuận theo tự nhiên" không phải là thuận theo bản tính buông xuôi, vô vi của bản thân, mà là thuận theo bản tính của Trời, hiểu rõ đạo của Trời, không cưỡng cầu, không vọng động, thực hành theo lối vô vi. Vô vi nghĩa là làm mà không chấp vào việc làm, chứ không phải là không làm. Không chấp tức là không có tâm được mất, còn dốc sức mà làm là chuyên tâm vào đạo làm người, không rơi vào con đường lánh đời tiêu cực.

"Con người lấy Trời làm cha, lấy Đất làm mẹ." Đạo của trời đất cũng chỉ là âm dương mà thôi. Quan tài nghìn năm, đào lên xem, rốt cuộc cũng chỉ là một nắm đất vàng. Vạn vật trong vũ trụ trải qua sinh, thành, hoại, diệt, sau một chu kỳ lại trở về hỗn độn. Vũ trụ cũng giống như một ao nước, dùng một chiếc cốc múc nước ao lên thì thành một thể sinh mệnh; khi nó tiêu mất, nước trong cốc lại đổ trở về đất.

Đạo gia mong cầu trường sinh lâu dài nên luyện đan, tọa thiền, rốt cuộc cũng là nhằm tìm kiếm sự biến đổi của "chất nước" trong cơ thể, khiến tinh khí ngưng tụ mà không tán, gửi gắm hy vọng một ngày nào đó có thể tái sinh.

Nơi nào có ánh mặt trời chiếu đến, tất sẽ sinh ra hai mặt sáng và tối; sáng đối với tối, cũng giống như hai tượng Âm và Dương trong Kinh Dịch, hình và bóng không rời nhau, cùng sinh cùng diệt. Từ đó mà xét việc đời cũng như vậy: ưu điểm của con người, nhìn theo chiều ngược lại cũng chính là khuyết điểm của họ. Sự cương nghị, quyết đoán của Vương An Thạch đời Tống là nguyên nhân làm nên sự nghiệp của ông, nhưng chính sự cương nghị và cô lập ấy cũng là kết quả dẫn đến thất bại. Lợi và hại, nhân và quả, cũng như sáng và tối, đều cùng sinh cùng diệt.

Thường nghe có người tự than thở khi thất bại trong tình cảm: "Tâm ta đã chết rồi!" Thực ra đó chỉ là lời tự dối mình. Tình yêu cũng như ánh mặt trời, nếu chết là phần tối, thì mặt động của tâm tất sẽ càng cháy bỏng; càng cho rằng tâm đã chết, thì sự cháy bỏng ấy lại càng mãnh liệt, giống như nhân quả tương sinh. Nếu tình yêu thực sự đã qua, thì cũng như mặt trời lặn về Tây, không còn nói đến sáng hay tối, cũng không còn gọi là tâm đã chết hay chưa.

Khí của vũ trụ, âm dương mỗi bên một nửa; trời đất vạn vật đều có định số. Phàm những thứ như rượu, sắc, tài, khí, nếu không phải là của mình thì dẫu cầu cũng không được; nếu vốn là của mình thì người khác sao có thể cầu mà lấy được. Vì vậy, nếu không phải của mình thì cầu cũng vô ích, còn nếu là của mình thì dù có bỏ đi cũng không thể mất. Trong vũ trụ tồn tại một sự cân bằng tự nhiên, thiên đạo và nhân quả không sai lệch dù chỉ một mảy. Dẫu có người làm ác mà gặp phúc, làm thiện mà gặp họa, thì cái phúc ấy không phải do ác mà có, cái họa ấy cũng không phải do thiện mà sinh. Sự vận hành của nhân quả có phần hiển lộ và ẩn tàng, sáng và tối, người không có tâm quan sát khó mà lĩnh hội được quy luật thường hằng của thiên đạo.

Con rết và con gà không cùng loại, nhưng gà gặp rết tất sẽ mổ; người bị rết cắn, bôi nước dãi gà thì độc sẽ khỏi. Nhưng khi gà chết, rết lại chui vào bụng nó mà gặm nhấm không thôi. Muỗi và ba ba không cùng loài, ba ba bị muỗi đốt thì không con nào sống; còn người muốn tránh muỗi thì nghiền mai xương ba ba rồi đốt, muỗi ngửi thấy mùi đó đều không thể tồn tại. Ở phương Nam có loại muỗi cực độc, nhưng nơi chúng xuất hiện lại có loại cỏ chuyên giải độc của chúng.

Đó là biểu hiện của khí âm dương cùng sinh. Người đời gọi là "đồng loại tụ hợp", nhưng chữ "đồng loại" ở đây bao hàm hai loại khí: nếu cùng tính âm hoặc cùng tính dương thì lấy "thuận" làm cùng loại, nếu khác tính âm dương thì lấy "nghịch" làm cùng loại. Vì vậy, vạn vật trong vũ trụ đều tồn tại những mặt đối lập hoàn toàn, và chính những đối lập ấy lại hút nhau mà tụ lại, đồng thời có mối liên hệ mật thiết không thể tách rời.

Đạo của trời đất cũng chỉ là âm dương mà thôi. Khí khi vươn ra thì thuộc về dương, là thần, như sự sinh trưởng của mùa xuân mùa hạ; khí khi co lại thì thuộc về âm, là ma, như sự gom ẩn của mùa thu mùa đông. Xét nơi thân người thì khi sống gọi là người, khi chết gọi là ma, đó là sự phân biệt lớn của sinh tử. Lại nữa, từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành là khí vươn ra, từ khi già đến khi chết là khí co lại.

Những gì bừng phát, vươn cao như núi sông, cây cỏ, lầu cao nhà lớn, đó là biểu hiện của khí vươn ra, gọi là thần tích. Những gì lặng lẽ, vô hình, như giếng cạn, tường đổ, dây leo khô, cây già, đó là biểu hiện của khí co lại, gọi là quỷ tích. Vì vậy, Trình Di (Y Xuyên tiên sinh) từng nói: "Quỷ thần là dấu vết của tạo hóa."

Trời đất sở dĩ sinh ra con người, chỉ là do khí âm dương mà thôi. Khí ấy khi ngưng tụ mà thành hình thể thì thuộc âm, tượng trưng cho Đất; khí ấy khi lưu chuyển, thấm nhuần vào trong hình thể mà không ngừng nghỉ thì thuộc dương, tượng trưng cho Trời. Khí của trời đất cũng chính là khí của sự sống nơi con người. Con người sinh ra là do tinh và khí hợp lại mà thành.

Tinh thuộc loại giống như huyết, có tác dụng nuôi dưỡng toàn thân, nên thuộc âm. Khí là cái có năng lực tri giác và vận động, nên thuộc dương. Hai thứ ấy hợp lại thì thành người. Tinh tức là phách, vì sự sáng của mắt, sự thính của tai đều do tinh mà ra. Khí tức là hồn, phàm sự suy nghĩ, cân nhắc, quyết đoán, dám làm của con người, đều là do khí mà có. Khi con người đã chết, hồn bay lên trời theo dương, phách trở xuống đất theo âm, rồi lại trở về hỗn độn. Bởi vậy, hồn và phách hợp thì sống, lìa thì chết. Lời thánh nhân nói "Con người lấy Trời làm cha, lấy Đất làm mẹ", quả thật là có nguyên do vậy.

Con người dùng các thứ như trái cây, rau quả, rượu, nước để nuôi dưỡng phần phách của thân thể, còn dùng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để nuôi dưỡng phần hồn của mình. Cũng tức là lấy vật chất để nuôi dưỡng phách thể, còn lấy tinh thần để nuôi dưỡng hồn khí chính đại.

Người coi trọng vật chất hơn tinh thần — tức là theo đuổi vật chất để đổi lấy sự an nhàn cho tinh thần — thực chất chỉ là một xác phách biết đi, sống như cái xác không hồn. Còn người coi trọng tinh thần hơn vật chất — tức là nuôi dưỡng khí chất hạo nhiên để bù đắp sự thiếu thốn về vật chất — ấy mới chỉ là bước khởi đầu trên con đường cầu đạo. Dẫu hình thể có gầy gò, nhưng tinh thần thì cường tráng, dồi dào.

"Có lòng trồng hoa, hoa chẳng nở; vô tâm cắm liễu, liễu lại thành bóng mát." Trong đời người, ngoài một số ít kết quả tất nhiên do chân lý và niềm tin tạo nên, những lý tưởng mà ta theo đuổi suốt một đời thường lại cho ra kết quả trái ngược với thực tế.

Schopenhauer từng nói: "Một người quả thật có thể làm được điều mình muốn làm, nhưng lại không thể quyết định được mình muốn làm điều gì." Sự sinh diệt, thành bại của thế sự dường như đều giống như "nước chảy thành dòng", thuận theo tự nhiên mà hầu như không do con người quyết định.

Có người cả đời theo đuổi hạnh phúc, nhưng nhận được lại là khổ đau; có người cả đời theo đuổi lý tưởng, nhưng cuối cùng lại rơi vào vực sâu thất vọng; có người mưu tính sâu xa, tự cho mình là thông minh, kết quả lại người tính không bằng trời tính; có người tài hoa nhưng yểu mệnh, hồng nhan lại bạc phận; ngược lại, có người xấu xí và ngu độn, lại hưởng được phúc phận bình thường, ung dung sống trọn tuổi trời.

Lão Tử có nói: "Chính vì không tranh, nên thiên hạ không ai có thể tranh với người ấy." Cái gọi là "không tranh" không phải là tự sa ngã, không có chí tiến thủ, mà là làm mà không chấp, đã không chấp thì không còn tâm được mất; còn "dốc hết sức mà làm" là chuyên tâm vào đạo làm người, không rơi vào con đường lánh đời tiêu cực. Nói cách khác, đó là dùng sự tu dưỡng của "không tranh" để mở ra con đường tắt lớn nhất dẫn đến thành công.

Thực ra, mọi sự phát triển của thiên hạ đều có trình tự của nó, "tranh" chỉ là lấy sức riêng của mình để cắt ngang trật tự tự nhiên, chẳng khác nào lấy trứng chọi đá. Quả thật, câu nói "con người có thể làm điều mình muốn làm, nhưng lại không thể quyết định được mình muốn làm điều gì" từ sau đó, mỗi khi tôi chứng kiến hay chịu đựng nỗi đau của cuộc đời, tôi đều nhớ đến câu ấy. Niềm tin này chính là nguồn gốc của lòng nhẫn nại, bởi nó khiến chúng ta hiểu rằng không nên nhìn chuyện của mình hay của người khác quá nặng nề, mà cần có một cái nhìn rộng rãi, khoáng đạt đối với mọi sự việc.

Tôi coi thường lối sống lấy việc theo đuổi rượu, sắc, tài, khí làm mục tiêu. Đối với tôi, sự chiếm hữu bên ngoài, thành công bề ngoài, hay lối sống xa hoa đều là những thứ vô ích. Từ xưa đến nay, nỗi khổ đau đều khởi lên từ dục niệm, nếu có thể sống đạm bạc để giữ chí hướng sáng rõ, tự nhiên sẽ có thể vượt lên mà đi vào cảnh giới tự tại. Đó chính là trạng thái siêu nhiên như lời nói: "Người đời không thấu nỗi lo của ta, còn ta không đổi niềm vui của ta."

Tôi tin sâu sắc rằng một lối sống mộc mạc, tùy duyên mà an, là điều tốt nhất cho mỗi con người, không chỉ đối với thân thể mà cả đối với tâm hồn. Tôi tin rằng con người sống trên đời là để vì người khác, đặc biệt là vì những ai đã đem lại cho ta nụ cười và hạnh phúc. Và tôi cũng tin rằng, bất cứ điều gì ta chân thành dâng hiến từ chính mình, rốt cuộc rồi cũng sẽ lặng lẽ trở về bên ta.

Điều đẹp nhất trong đời người là "bí ẩn", đó là suối nguồn của triết học nhân sinh. Bất kỳ ai trước những điều chưa biết mà không hề cảm thấy băn khoăn, thì tâm hồn người ấy tuy còn sống mà như đã chết, đôi mắt tuy sáng mà như mù. Với tôi, được trong quãng đời hữu hạn này suy ngẫm về sự huyền bí của tính vĩnh hằng của sinh mệnh, đã là điều rất mãn nguyện rồi.

"Thế nào là chân lý?" Chân lý chính là Đạo. "Đạo Đức Kinh" của Lão Tử có nói: "Đạo có thể nói ra, thì không phải là Đạo thường hằng." Bởi nó không có hình dạng hay khuôn thước nhất định, nên không thể mô tả hay biểu đạt trọn vẹn. Nó giống như con amip, có thể biến đổi thành nhiều hình dạng khác nhau để thích ứng với mọi hoàn cảnh.

Đạo không phải là một con đường cụ thể chỉ dẫn tới một đích đến cố định. Trái lại, mọi chân lý một khi được diễn đạt bằng ngôn ngữ làm trung gian thì đều trở thành những quy tắc, giáo điều như đã chết; chúng giống như những con đường đan xen phức tạp, dù dốc cả đời nỗ lực, con người cũng khó đi khắp được.

Schopenhauer nói: "Con người quả thật có thể tùy ý làm những việc mình muốn làm, nhưng lại không thể thật sự biết mình muốn làm điều gì." Quả thực, con người bị sự tạo hóa vô hình nào đó chi phối mà bản thân không hay biết. Bởi từ khi có sinh mệnh, con người đã được ban cho những năng lực bẩm sinh như phân biệt mùi thơm hay hôi, biết tốt hay xấu, biết đói hay no, biết hướng thiện, tránh dữ… Bản tính ấy theo con người suốt cả một đời, khiến cho sau khi trưởng thành, mọi suy nghĩ và mọi quyết đoán đều trực tiếp hay gián tiếp bị chi phối bởi thiên tính do tạo hóa ban cho ấy trong trạng thái vô thức. Vì vậy, ai có thể khẳng định vận mệnh thực sự nằm trong tay mình?!

Muốn đạt đến sự siêu thoát, trước hết buộc phải phá bỏ những giới hạn tiên thiên ấy, như ý định ban đầu mà Đạo gia từng theo đuổi: bỏ thánh, dứt trí, dù nhổ một sợi lông mà có lợi cho thiên hạ cũng không làm. Bất cứ tiêu chuẩn phân loại hình thức nào đối với thiện ác, trí ngu, thành bại, cao thấp của cõi đời đều không nghi ngờ gì nữa là tự đóng khung, khiến tâm người bị đè nén dưới những tiêu chuẩn nhân tạo ấy mà không thể siêu thoát.

Vạn pháp quy tông, cái lớn lao của vũ trụ rốt cuộc quy về một tấm lòng. Tấm lòng ấy chính là lý, cũng chính là thứ tâm mà Đạo gia theo đuổi: không thiện không ác, bỏ thánh dứt trí. Đây là một pháp môn tu tâm cao nhất, làm lợi cho thiên hạ mà không khởi tâm cầu lợi cho thiên hạ, bởi vì mọi sự mọi vật trong thiên hạ đều có mặt đối lập của nó; niềm vui mà nội tâm có thể cảm nhận được cũng đồng thời kéo theo nỗi đau tương ứng, nếu không như vậy thì con người cũng sẽ không hiểu thế nào là vui.

Con người sinh ra ở đời tất phải có một niềm tin kiên định không gì lay chuyển thì mới có thể vượt qua muôn vàn khó khăn, đối diện sinh tử mà không đổi nguyên tắc đạo đức, bằng không, chí hướng của người ta sẽ liên tục bị sự trống rỗng và mơ hồ gặm nhấm.

Từ khi trời đất phân định, vốn đã có quy luật riêng: ngày đi thì trăng đến, trăng đi thì ngày đến; lạnh hiện thì nóng ẩn; âm dương nối liền nhau như sự phân biệt giữa đen và trắng. Kinh Dịch nói: "Một âm một dương gọi là Đạo." Khí âm dương được bày khắp vũ trụ, chốn hồng trần, và cả một ngọn cỏ một cành cây quanh ta.

Người biết quan sát vật, thì ngay cả một cọng cỏ, một gốc cây, một bông hoa, một tảng đá, cũng đều có thể thấy được Đạo, mà thông suốt huyền cơ của trời đất. Hơn thế nữa, còn có thể nghe tiếng gió thổi qua cây mà biết lành dữ, nhìn hình trạng của muôn vật mà biết tương lai, phân biệt khí âm dương mà biết điều hối lỗi và điều u mê. Sự tiêu trưởng, biến hóa của vạn vật vốn đều có quy luật nhất định, đó chính là căn nguyên của Kinh Dịch.

Khí của trời đất, cái nhẹ trong sáng thì ở trên thành trời, thành vua, thành cha, thành cái quý; còn cái nặng đục thì ở dưới thành đất, thành mẹ, thành cái giàu, thành cái trì trệ. Hình tượng của trời đất nhờ đó mà đầy đủ. Một Âm một Dương gọi là Đạo, và Đạo sinh ra từ đó.

Có một vật hỗn thành, sinh ra trước trời đất, lặng lẽ, vắng lặng, đứng riêng mà không đổi, vận hành khắp nơi mà không suy nguy. Nó là nguồn gốc phát xuất của muôn vật, nên nói rằng "có thể làm mẹ của thiên hạ". Bản thể của nó thường hằng, không thể mô tả, không thể gọi tên. "Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt chữ là Đạo, gượng gọi là Đại."

Phàm mọi vật trong thiên hạ đều lấy Có làm nền để sinh thành. Đạo sinh ra một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh muôn vật, đó là trình tự sinh thành của vũ trụ. Có nguyên lý thì tất sinh hiện tượng, một là khởi đầu của hình tướng, còn Đạo thì khởi từ vô.

Vì vậy, khi sinh ra một tức đã thành hình, thành tượng, thì có chính ắt có phản, có âm ắt có dương, có tốt ắt có kém. Do đó, một sinh hai, âm dương hợp lại mà sinh hiện tượng mới, nên hai sinh ba, cứ như thế mà tiến, rốt cuộc sinh ra muôn vật.

Cái Có khởi đầu từ cái Không làm gốc. Không ấy chính là Đạo. Đã muốn viên mãn cái Có thì rốt cuộc cũng phải quay về với cái Không.

Lão Tử nói: "Đạo thường vô vi mà không gì là không làm." Trang Tử giữ vững ý ấy, kế thừa điều trước, mở ra điều sau, lập nên con đường "nội thánh ngoại vương" để tu thân và trị đời.

Những điều con người làm trong suốt một đời phần nhiều đều bị quan điểm của người khác chi phối, hiếm ai có thể thuận theo đúng sở thích của lòng mình mà hành động. Nhưng đối với sự theo đuổi bên trong như vô vi và nội thánh, thì không thể một sớm một chiều mà bỏ đi.

Người nào nắm được thiên cơ rồi tùy thời mà hành động, ấy là đại thắng; không dùng sức người để làm mất đi thiên ý, biết rằng lúc cùng thì có số, lúc thông thì có thời, gặp đại nạn mà không sợ hãi, ấy là không vì hoàn cảnh cũ mà làm mất đi mệnh của mình.

Cảm nghĩ sau khi đọc của Lư Thắng Ngạn:

Quan điểm trong bài viết này có thể nói là rất chính xác. Tác giả đứng trên lập trường khách quan, trình bày toàn bộ chữ "Đạo" một cách hoàn toàn không giữ lại điều gì. Theo lẽ thường, hầu như không có chỗ nào đáng chê trách, trọn vẹn viên dung, chân lý vốn ở ngay trong đó.

Người đọc bài này có thể suy ngẫm đôi chút, chứ không nên đọc một cách hời hợt, qua loa. Những nhận xét và quan điểm trong đó không hề có gì cực đoan, có thể thấy tác giả đã bình tâm tĩnh khí mà luận bàn một cách nghiêm túc về một chữ "Đạo" lớn.

Bài viết này liên hệ đến thuyết tiến hóa và sự tồn tại của những đạo lý mang tính tương đối. Đứng trên lập trường triết học mà nói, từ vô sinh nhất, từ nhất sinh nhị, từ tam mà sinh vạn vật chính là căn bản của Đạo, đồng thời cũng là một nguyên tắc lớn của thuyết tiến hóa. Điều này hoàn toàn không giống với quan niệm cho rằng Thượng đế chỉ trong một lần đã sáng tạo ra muôn vật. Cái gọi là Thượng đế sáng tạo muôn vật ngay trong chốc lát, thực ra chỉ là cách nói khái quát hóa của tác giả Kinh Thánh, khác với triết học quá xa.

Trong bài viết, tác giả nhấn mạnh rằng một Âm một Dương chính là Đạo; có mặt tốt thì tự nhiên cũng có mặt xấu, đó là nguyên tắc của tính tương đối. Cuối cùng, tác giả nêu rõ chữ "tự nhiên" chính là Đạo tối cao. Còn về quan điểm của tôi đối với âm dương, âm dương còn có cách nói chi tiết hơn, như chính dương, thiểu dương, thuần dương; chính âm, thiểu âm, thuần âm. Hai bên có thể hợp lại cũng có thể tách ra. Học thuyết về linh hồn liên quan đến đạo lý âm dương, hồn phách, đi đến tận cùng của sự tìm hiểu này thì không thể không biết.

Tác giả nhấn mạnh rằng "điều đẹp nhất trong đời người chính là sự huyền bí", điều đó là đúng. Đồng thời, cho rằng cái giá của niềm vui chính là nỗi đau, cũng hoàn toàn chính xác. Được là mất, mà cái mất đi thì không đáng để chúng ta xem trọng. Cái giá của đời người và cực điểm của lý tưởng, hoàn toàn đều treo lơ lửng trong cái Đạo huyền diệu ấy; người ngộ Đạo, rốt cuộc cũng chỉ cười một tiếng mà thôi.

Ánh nhìn của bậc siêu giác ngộ, nếu có thể đạt được tính "trung tính" của Đạo, thì hẳn là phù hợp với "chân Đạo".

49. Lời kết

Sau khi hoàn thành cuốn sách này, tôi dự định viết một cuốn "Khởi linh học". "Khởi linh học" hoàn toàn khác với bốn cuốn sách tâm linh trước, mà là cuốn sách quý hiếm duy nhất để thực sự tu tập tông phái Linh Tiên Chân Phật. Trong đó không bàn những chuyện vụn vặt của quá khứ, mà đi thẳng vào các bước khởi linh và luyện linh, lần lượt giải thích tường tận, khiến nó trở thành một trước tác có tính học thuật, xưa nay chưa từng có. Mong chư Phật từ bi che chở, các bậc linh thánh gia trì, để sớm ngày thành công.

"Khởi linh học" sẽ bắt đầu từ một con người bình thường như chúng ta, rồi từng bước trình bày sâu sắc mà dễ hiểu quá trình luyện linh để đạt đến thành tiên thành Phật. Tôi tin rằng cuốn sách này một khi ra đời, thiên hạ đều sẽ kinh động, muôn ma phải bó tay, và than rằng xưa nay chưa từng có.

Còn cuốn "Siêu giác của linh hồn" cũng là do độc giả nhiều lần yêu cầu mà tôi cầm bút viết nên. Thực ra, độc giả có rất nhiều điểm nghi hoặc, tôi cần lần lượt giải thích từng điều một thì mới có thể gỡ bỏ những nghi ngờ trong lòng người. Nếu không làm như vậy, tôi sẽ không thể viên mãn hoàn thành sứ mệnh thiên mệnh của mình.

Cho đến hiện tại, vấn đề không còn là tin hay không tin nữa, mà là có chịu nỗ lực tinh tấn hay không. Có những người không hiểu chân lý ở trong đó, thậm chí còn nói tôi là kẻ đại khoác lác. Nghe những lời ấy, tôi chỉ biết cười mà thôi. Mỗi người đều có quyền không tin, vậy thì cứ tạm nghe như vậy, tạm thời chưa tin vậy.

Giới trí thức ngày nay vẫn không thể phủ nhận sự tồn tại của tinh thần. Tinh thần và vật chất vốn dĩ là để đạt đến sự cân bằng. Chúng ta không thể thiên lệch quá nhiều về tinh thần, vì thiên lệch quá thì chỉ là nói suông, vô ích; cũng không thể thiên lệch quá nhiều về vật chất, vì nếu quá thiên về vật chất thì tinh thần sẽ rỗng không, không biết nương tựa vào đâu, càng sa vào càng sâu, chẳng khác nào cầm thú.

Vì thế, "tâm - vật hợp nhất" vẫn là mục tiêu mà chúng ta theo đuổi. Chỉ có mục tiêu như vậy mới có thể khiến xã hội tiến bộ, văn hóa hưng thịnh. Mọi người cùng giúp đỡ, hợp tác lẫn nhau, đồng lòng thúc đẩy bánh xe thế giới đại đồng tiến lên.

Chủ đề của "Siêu giác của linh hồn" tự nhiên vẫn lấy linh hồn làm trung tâm. Tôi nhấn mạnh rằng siêu giác không phải là đặc quyền của một số ít người, mà là điều mọi người đều có thể và có khả năng đạt đến. Có những người vốn có năng lực này, nhưng bản thân lại không phát huy, giống như một mỏ dầu chưa được khai thác, cứ để chôn sâu dưới lớp đất mà không phát huy công dụng, như vậy thì thật đáng tiếc.

Tôi cũng biết có một số người thuộc hàng hạ phẩm, bản thân vốn không tích lũy đủ trí tuệ, nên sự xuất hiện của linh lực trở thành điều không thể. Đó là do duyên, cũng có thể nói là do trí lực tiên thiên, tức là do đời trước chuyển sang đời này mà nghiệp lực khiến cho trí năng của mình bị che lấp. Trong trường hợp ấy, chỉ còn cách chuyên cần cầu chư Phật tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí tuệ, càng phải tinh tấn hơn nữa. Tất nhiên, tôi không dám nói tỷ lệ thành công là một trăm phần trăm, nhưng đối với việc vãng sinh Tây phương, tu tịnh nghiệp thì đây quả là một sự trợ giúp rất lớn.

Pháp chỉ thẳng của Thiền tông trong Phật giáo làm rạng sáng cửa Phật, nhưng pháp viên giáo đốn ngộ nếu không có túc duyên đời trước thì khó mà lĩnh hội được. Người mê muội trong đời này nhiều lắm! Việc độ hóa của Thiền tông thật khó khăn, quả đúng như leo lên trời vậy (mà cũng thật sự là leo lên trời), nên mới mở ra pháp môn tiện lợi, khiến mọi người, bất luận trí hay ngu, đều niệm Phật cầu vãng sinh. Tấm lòng đại từ đại bi ấy không phải kẻ phàm phu có thể tự ý suy lường được!

Nếu chỉ vì pháp ấy đơn giản mà sinh nghi ngờ, thì thật đúng là hòn đá ngoan cố trải qua trăm đời, đến gật đầu cũng khó. Tông phái Linh Tiên Chân Phật của tôi cũng nương vào niệm Phật mà thành tựu bản thân, Linh Tiên chỉ là pháp trợ duyên của Phật môn, không có gì khác biệt với các tông phái khác. Chỉ mong người học đừng vì khác biệt tông phái mà nhìn bằng tâm phân biệt, để khỏi lặp lại thái độ bài xích giữa Thiền và Tịnh trong quá khứ.

Trên đài kim cương, trên tòa sen, chín phẩm hoa sen nở ra, kết thành quả, đó hoàn toàn không phải là Bồ Tát thân xác bằng thịt, mà là Bồ Tát tự tại trong linh. Vì vậy, điều tôi nói "lấy linh thấy linh" hoàn toàn là đúng. Sai lầm là ở chỗ người phàm nhận giả làm thật, học trường sinh, luyện thân xác bất hoại, đó mới chính là công phu của tà môn ngoại đạo!

Nếu linh có thể tự tại, thì tự nhiên sẽ là Quán Tự Tại. Những người không dám nói đến linh, chẳng lẽ thật sự cho rằng thân xác "nhất định hoại diệt lại là xá lợi thật" sao? Có thể thấy kẻ ngu ở khắp nơi, không thể không thận trọng!

Sau khi hoàn thành cuốn sách này, tại hạ muốn lặng lẽ tự mình tu luyện, tạm thời không muốn tiếp tục xem bói cho người khác nữa. Điều này xin chư vị đại đức thiện nhân lượng thứ, bởi vì nếu tại hạ cứ lâu dài xem bói cho người khác thì linh lực của bản thân sẽ không hề tiến bộ, chỉ có hại cho mình mà không có lợi gì. Một khi đã sa vào trong pháp thế tục, muốn thoát ra thì rất khó. Xin mọi người thử đặt mình vào hoàn cảnh của tôi mà nghĩ xem: tôi có nên quanh năm suốt tháng xem bói cho người khác mà không có lấy chút thời gian tự mình tu học hay không? Nếu ai ai cũng tìm đến tôi, thì e rằng mạng tôi cũng hết mất!

Đêm hôm trước, tôi tụng "Kinh Kim Cang", thấy bốn vị Kim Cang cầm binh khí hiện ra trong làn mây khói. Bốn vị Kim Cang như gió lốc, sấm sét, mưa bão, thanh thế vang dội, trong không trung còn có tiếng gầm sư tử, chấn động cả tai. Còn tôi thì nhắm mắt lặng lẽ tụng niệm: "Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát." Chợt thấy ngay nơi nhắm mắt, Quan Âm Bạch Y hiện rõ, Quan Âm cao bảy tấc, tay cầm nhành dương liễu, hướng lên không mà rảy ba lần, rồi bốn vị Kim Cang bỗng nhiên biến mất.

"Liên Sinh, kẻ ác hãm hại, con phải cẩn thận." - Quan Âm Bồ Tát bảo tôi.
"Tự nhiên thuận theo duyên, không lo không sợ; kẻ ác nhổ nước bọt lên trời, thì trời có tổn hại gì đâu?"
"Lành thay! Liên Sinh! Như vậy là được rồi!" - Quan Âm Bồ Tát nói xong liền ẩn đi.

(Hết)