📓

Hồng quang đại thành tựu - Tập 5 (Hết)

image

Hồng quang đại thành tựu

Địa điểm: Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ. Thời gian: Năm 1996 Quyển số: 626 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

Mục lục

168. Thường lạc ngã tịnh (1)

Hôm nay chúng ta nói về “thường lạc ngã tịnh”. Mỗi lần chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, trong mỗi pháp Bổn tôn, chúng ta đều niệm thêm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, trong kinh văn có bốn chữ, bốn chữ này chính là “thường lạc ngã tịnh”, lần nào cũng đọc bốn chữ này. ”Thường lạc ngã tịnh” có ý nghĩa gì? Có thể nói đó là một cảnh giới rất cao siêu, cảnh giới này đòi hỏi phải tu đến một trình độ nhất định mới có thể thật sự tiến vào “thường lạc ngã tịnh”.

Trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh có bốn chữ này, có thể thấy bộ kinh này đã đạt đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” rồi. Chúng ta đọc kinh điển thì phải thâm nhập kinh tạng, biết ý nghĩa của bản thân từng chữ.

Tiếp theo chúng ta nói đến ba phương pháp của “thường lạc ngã tịnh”. Thật ra trong Mật giáo cũng dạy ba phương pháp này, hôm qua chúng ta cũng nói đến ba phương pháp. Thứ nhất là dừng — ý nghĩa của dừng chính là dừng dứt những suy nghĩ không tốt, thậm chí cũng đều phải dừng dứt tất cả những hành vi không thỏa đáng của bạn. Đây là một phương pháp tu hành.

Thứ hai là chuyển — tức là chuyển hóa hết những suy nghĩ không tốt.

Thứ ba là đi theo — thế nào gọi là đi theo? Có một ví dụ rất hay, chính là trẻ em xem tranh. Trẻ em đi đến thư viện hoặc viện bảo tàng để xem tranh, rất nhiều bức tranh, chúng chỉ đi qua nhìn những bức tranh đó, trong lòng không có suy nghĩ gì khác, vì thế nói trẻ em xem tranh tức là đi theo.

Giống như chúng ta nhìn dòng sông đang chảy, dòng chảy của nước sông đang chảy đó đại diện cho đủ thứ vọng niệm, bản thân bạn ở bên ngoài dòng chảy, bạn nhìn nó, còn vọng niệm thì đang chảy ở phía trước, đây cũng là đi theo. Cách đi theo này rất cao siêu, tôi đã nói rồi, pháp Đại viên mãn chính là pháp đi theo, Thiền tông chính là pháp đi theo.

Bạn có thể nhìn rõ ràng vọng niệm đang chảy ở trước mặt mà không đi sâu vào trong đó, đây chính là đốn siêu, vượt qua mọi vọng niệm và phiền não. Muốn đạt đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh”, có thể dùng cách dừng, khi bạn biết dừng hết vọng niệm và phiền não thì sẽ sinh ra cảnh giới như thế nào? Cảnh giới này gọi là Không — cảnh giới trống rỗng, hễ dừng lại là không còn. Vọng niệm dừng lại chẳng phải biến thành không sao? Từ trong hư không này mới có thể sản sinh ra một dạng khoái lạc, đây là một phương pháp tu hành.

Ngoài ra còn có một phương pháp chuyển, trong Mật giáo dạy bạn dùng quán tưởng, chính là chuyển hóa, trước kia tôi từng nói lấy niệm để dừng niệm, lấy chính niệm thay thế cho vọng niệm của bạn, đây chính là chuyển.

Vì thế hành giả chúng ta đôi khi phải đi ngắm núi, ngắm sông, đưa các bạn đi ra ngoại ô chơi, không phải bảo các bạn đi barbecue, đi dã ngoại, đi chơi, là muốn chuyển hóa tâm hồn bị giam cầm của bạn. Ngắm núi non hùng vĩ, ngắm rừng cây xanh thẳm, ngắm dòng nước sông xanh biếc, ngắm gió thổi tung tay áo, non xanh nước biếc có thể gột rửa tâm linh của con người, đây chính là một dạng chuyển hóa, có tác dụng thay đổi một cách vô thức. Bạn đi ngắm biển sẽ nhìn thấy tấm lòng của trái đất, tấm lòng của bạn cũng sẽ rộng mở; ngắm núi, đi học tập chí lớn của núi, đó là một ý chí vĩ đại; bạn nhìn hư không, tự nhiên sẽ tiến vào Không cảnh.

Vì thế, tu Đại viên mãn, đôi khi phải đi vào nơi núi sâu đỉnh cao, ngồi dưới một bầu trời xanh ngắt, bạn sẽ biến thành một cái chấm. Lúc này, bạn chú ý đến hư không, hòa nhập vào hư không, dừng hết mọi vọng niệm, tất cả phiền não đều sẽ tiêu trừ, đây là một phương pháp tu hành.

Vì sao chúng ta phải đi đến nơi núi sâu đỉnh cao để tu Đại viên mãn? Bởi vì ở trong hoàn cảnh đó, bạn có thể biết thế nào là đại viên mãn, bên dưới cả bầu trời xanh chỉ còn lại bạn là một cái chấm, mọi lo lắng thế tục đều ở dưới núi, rặng núi mênh mông bát ngát, bầu trời mênh mông bát ngát, lúc này bạn muốn dừng mọi lo âu thế tục thì tương đối đơn giản, đây là một phương pháp. Bởi vậy tu pháp Đại viên mãn là phải ở nơi núi sâu đỉnh cao, tách biệt khỏi mọi lo lắng thế tục, ý nghĩa của nó chính là ở đây.

Quán tức là chuyển hóa, bình thường chúng ta ở trong nhà tu, chỉ có thể dùng phương pháp quán tưởng để làm. Vậy thì dừng và quán tưởng có lợi ích gì? Phiền não trên thế giới đều đến từ sự tương đối, còn trong sự tuyệt đối thì chỉ có bốn chữ “thường lạc ngã tịnh”. Thanh tịnh nhất là cái gì? Không. Hư không là thanh tịnh nhất, từ trong sự thanh tịnh bạn mới có thể trải nghiệm được niềm vui vĩnh viễn, muốn đạt đến cảnh giới này thì phải hiểu chân lý là tuyệt đối chứ không phải tương đối.

Vì thế, ở trong cảnh giới “thường lạc ngã tịnh”, không có đúng sai, không có tốt xấu. Nếu bạn có quan niệm tốt xấu, có quan niệm đúng sai, có quan niệm thiện ác sinh ra thì bạn chắc chắn sẽ có phiền não. Khi bạn tiến vào hư không tuyệt đối, khi lĩnh hội được trí huệ đại viên mãn của Phật Bồ Tát, khi ấy mới là “thường lạc ngã tịnh” đại viên mãn.

“Thường lạc ngã tịnh” khiến bạn cảm giác giống như là một lý luận, nhưng bạn cũng có thể tu đạt đến như vậy, mỗi người đều có thể tu đến cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” này, cảnh giới này vô cùng vi diệu. Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

06/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

169. Thường lạc ngã tịnh (2)

Chúng ta lại nói về “thường lạc ngã tịnh”. ”Thường lạc ngã tịnh” cũng có thể có phương pháp thực tu, không chỉ là lý luận mà thôi.

Tôi sẽ nói về chính bản thân tôi làm sao để dừng, làm sao để chuyển, làm sao để đi theo. Ví dụ tôi nghe thấy một tin tức nói rằng đệ tử của tôi tự lập phái riêng, tự lập phái riêng là ý gì? Tức là anh ta muốn độc lập, anh ta muốn rời khỏi đất nước của chúng ta, anh ta muốn thành lập một đất nước nhỏ, anh ta muốn đứng riêng một mình.

Độc lập ư? Độc lập ư? Chúng ta liền nghĩ, chà, sao cơ? Đệ tử lại muốn rời bỏ, muốn sáng lập đất nước của riêng mình, vì sao muốn làm như vậy nhỉ? Chúng ta chẳng phải rất tốt sao? Tu hành như vậy không phải rất tốt sao? Mọi người phải biết, thương trường cạnh tranh luôn luôn là như vậy, người làm thuê học được kỹ thuật của chủ rồi sẽ mở một cửa hàng ở đối diện, sau đó kéo tất cả khách hàng của ông chủ về chỗ mình, đây là việc thường thấy. Chúng ta cứ nghĩ đây là việc rất bình thường, anh ta muốn độc lập thì cũng là việc bình thường thôi.

Sau đó, ngẫm nghĩ lại, trước kia khi tôi xuất đạo, ngay cả một đệ tử cũng không có, bây giờ có nhiều đệ tử như vậy, cũng nên hài lòng thỏa mãn rồi, mấy người bỏ đi cũng chẳng sao cả, nghĩ đến “Tái Ông mất ngựa, sao biết chẳng phải là phúc”, thế là tâm lý yên ổn.

Khi bạn còn chưa yên ổn, bạn có thể nghĩ lại, quán lại. Tôi lại nghe thấy một đệ tử ngày mai phải mổ tim, nghe nói ngày mai phải mổ, hôm nay tôi liền cảm thấy phiền não, tôi lại nghĩ, tôi sẽ dùng phương pháp quán, quán tưởng đệ tử đó thành chính mình, ngày mai tôi phải mổ tim, vậy thì bạn có còn phiền não chuyện đệ tử muốn độc lập không? Sẽ chẳng còn phiền não, việc của ngày mai quan trọng hơn, ngày mai phải mổ tim quan trọng hơn.

Tôi vừa nghĩ đến đệ tử ngày mai phải mổ tim, tôi cầu nguyện cho anh ta, cũng nghĩ đến đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, tôi biến thành anh ta, ngày mai tôi phải mổ tim rồi, thế thì có còn phiền muộn chuyện đệ tử muốn độc lập không? Đương nhiên là không rồi. Vì thế, tôi liền yên tâm thoải mái cảm thấy: “Ôi dào, có gì đâu!”

Thật ra khi bạn nghĩ về chuyện trước đây, bạn có thể trở về trước đây, cái lúc về cơ bản ngay cả một đệ tử cũng không có, bạn sẽ không có tâm được mất, tâm được mất này sẽ không có nữa. Một khi không còn tâm được mất thì sẽ “thường lạc ngã tịnh”. Muốn như vậy, tôi nói với bạn đây chính là phương pháp thực tu, phương pháp chuyển hóa, rất vi diệu.

Bạn có thể thường xuyên đặt mình vào hoàn cảnh của người khác như vậy mà nghĩ cho họ, luôn luôn đặt mình vào hoàn cảnh của người khác mà chuyển hóa, bạn có thể đạt đến “thường lạc ngã tịnh”. “Thường lạc ngã tịnh” có thể căn cứ vào lý luận để đi làm nó, có thể dùng phương pháp quán tưởng để chuyển hóa, không có được mất gì cả, không có tốt xấu gì cả, tuyệt đối “thường lạc ngã tịnh”.

Nói đến Mục Liên Thượng Nhân - người sáng lập Mục Liên tông, trong cuốn “Ngự Bổn Tôn” của ông ấy có viết về Phật Thích Ca Mâu Ni, viết về Đề Bà Đạt Đa, có người cho rằng: “Ôi, sao lại đặt Phật Thích Ca Mâu Ni ngang hàng với Đề Bà Đạt Đa chứ?” Tôi cho rằng quan niệm của ông ấy chính là không có tốt và xấu.

Bạn có biết bên trong cuốn “Ngự Bổn Tôn” còn viết cái gì không? Ngoài Phật ra, ông ấy còn viết về Thiên Vương thứ sáu - Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương, tức là Ma. Trong “Ngự Bổn Tôn” sao lại có ma chứ? Sao lại có Đề Bà Đạt Đa? Tôi cho rằng đây chính là cảnh giới của Mục Liên Thượng Nhân.

Người bình thường chúng ta cho rằng đây là không phân biệt tốt xấu, Phật và Đề Bà Đạt Đa sao có thể ở cùng nhau? Nhưng bạn có biết không, Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đạt đến cảnh giới này. Bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thọ ký Đề Bà Đạt Đa thành Phật, nói sau này ông ta sẽ thành Phật, Phật hiệu của ông ta là Thiên Vương Như Lai, cho ông ta một tên hiệu, gọi là Thiên Vương Phật, Thiên Vương Như Lai, là Đề Bà Đạt Đa đó!

Hôm nay viết tên của Đề Bà Đạt Đa, mặc dù ông ta là đệ tử hãm hại Phật, nhưng tương lai ông ta thành Phật, gọi là Thiên Vương Như Lai, đây chính là cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Mục Liên Thượng Nhân viết tên của Thiên Ma trong cuốn “Ngự Bổn Tôn”, đây chính là cảnh giới “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, ma là đến khảo nghiệm bạn, là giáo viên kiểm tra việc bạn thành Phật. Điều này nói một cách đơn giản, trong cảnh giới nhất như, hoàn toàn là đại viên mãn, Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác thì bạn có thể thành Phật.” Đây là Lục Tổ của Thiền tông nói, đạo lý chính là ở đây, là cảnh giới nhất như, tuyệt đối không phải nhị như.

Cho nên trước kia có người nói, Lư Thắng Ngạn không được, người này là xấu, người này là ma đó, vậy thì bản thân họ chính là nhị như rồi, người này đã rơi vào nhị như rồi! Nhất như chân chính là đại viên mãn. Đây là cảnh giới rất cao, vì thế hôm nay dạy mọi người “thường lạc ngã tịnh”, bạn phải chăm chỉ đi thực tu, đi trải nghiệm, đi rèn luyện. Chăm chỉ trải nghiệm lời tôi nói, sau đó đi rèn luyện, tự bạn tôi luyện chính mình trở thành đại viên mãn, biến thành nhất như.

Bạn đọc trong cuốn “Ngự Bổn Tôn”, Đại Tự Tại Thiên Ma đặt cùng với tất cả Phật hiệu, Phật Thích Ca Mâu Ni đặt cùng với Đề Bà Đạt Đa, đây chính là cảnh giới “thường lạc ngã tịnh” của Mục Liên Thượng Nhân. Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa là Thiên Vương Như Lai, đây chính là “thường lạc ngã tịnh”.

Hôm nay tôi xem tất cả chúng sinh là chính mình, cho dù bạn rời khỏi Chân Phật Tông, rời khỏi Sư Tôn, cũng là chính mình, đệ tử không hiểu tâm của Sư Tôn, nhưng Sư Tôn hiểu tâm của chúng sinh, đây chính là nhất như, bởi vì đệ tử không biết, cho nên bạn là nhị như, còn bản thân Sư Tôn là nhất như. Lời giảng ngày hôm nay, mọi người phải nhận thức cho cẩn thận. Om mani padme hum.

06/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

170. Pháp giới nhất như (1)

Hôm nay chúng ta nói về pháp giới nhất như. Người học Phật đều biết danh từ: pháp giới nhất như, mặc dù mọi người đều biết pháp giới nhất như nhưng chưa chắc đã thâm nhập cảnh giới này, cũng không có cách nào thâm nhập vào trong ý nghĩa của bản thân nó.

Lần này tôi đến Ấn Độ và Nepal, tại Dharamshala ở Ấn Độ, trong cuộc đối đáp giữa tôi và Dalai Lama, Dalai Lama có nhắc đến vấn đề “sắc” và “không”.

Chúng ta biết rằng vấn đề sắc, không, trong kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang và kinh Tâm đều nhắc đến. Rất nhiều người đều biết đọc “sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc”, đây chính là “sắc không bất nhị”, cũng tức là “sắc không nhất như”, sắc chính là không, không chính là sắc, sắc không khác không, không không khác sắc, mọi người đều biết.

Nhưng điều mà Dalai Lama hỏi, ngoài kinh Kim Cang, kinh Tâm có giải thích sắc, không ra, trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” đã nói sắc và không như thế nào? Có cách giải thích khác nhau, cách giảng giải khác nhau. Geshe Thiên Thanh thì nói, quán tưởng Bổn tôn trí huệ ở trong hư không, do Bổn tôn trí huệ Thời Luân Kim Cang tiến vào trong tâm hành giả, hóa nghiệp chướng của hành giả thành nước đen chảy ra, tự thân hành giả biến hóa thành Thời Luân Kim Cang, đây chính là sắc không bất nhị, đây là câu trả lời của Geshe Thiên Thanh.

Nhưng tôi cảm thấy câu trả lời này không đủ thấu triệt, tôi trả lời Dalai Lama, tôi chỉ nói hai chữ “song vận”. Ý nghĩa song vận mà tôi nói nằm ở đâu? Ý nghĩa tôi nói song vận chính là nói rằng “sắc và không là song vận, song vận tức là trở thành nhất như”. Bạn phải biết rằng bồ đề tâm nguyệt dịch trong thân thể người khi rơi xuống sẽ đi qua năm luân xa, trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” có nói, đi qua năm luân xa sẽ có hiện tượng Tứ hỷ sinh ra. Sơ hỷ, thắng hỷ, ly hỷ, câu sinh hỷ, hiện tượng Tứ hỷ sinh ra, Tứ hỷ này chuyển hóa thành Tứ không. Bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, đi qua năm luân xa sẽ sản sinh ra Tứ hỷ, Tứ hỷ ban đầu chính là Tứ không, chuyển hóa thành Không cảnh.

Mỗi cá nhân chúng ta đều là thân thể vật chất, sau khi tu song vận dần dần sẽ hóa hết vật chất, hóa đến sau cùng, ngay cả bạch bồ đề và hồng bồ đề cũng không còn, đều hóa thành không. Sau khi hóa thành không thì hiện tượng vật chất đều không còn, biến thành một dải cầu vồng, chính là đại thành tựu cầu vồng.

Tôi nói cái này có trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”, là một cách giải thích hóa sắc thành không, một cách giảng giải, không phải là Bổn tôn trí huệ đi vào bên trong thân thể bạn, nghiệp chướng của bản thân con người tiêu trừ, chính mình biến thành Bổn tôn trí huệ, như vậy chính là sắc không bất nhị, chính là sắc không.

Sắc, không chân chính, thật ra là trong pháp tướng của Thời Luân Kim Cang, cái hiển hiện ra chính là sắc và không, chính là song vận. Vậy thì vì sao song vận gọi là sắc không? Giải thích thế nào đây? Chính là điều tôi vừa mới nói, bởi vì sẽ sản sinh Tứ hỷ, rồi Tứ hỷ đó chuyển hóa thành Tứ không.

Tứ hỷ chính là sắc, còn Tứ không thì sao? Chính là không đó! Kết quả cuối cùng là vật chất đều hóa hết, bạch bồ đề, hồng bồ đề toàn bộ hóa hết, biến thành một dải cầu vồng, chính là đại thành tựu cầu vồng, đây chính là cách giải thích về sắc và không được nói đến trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”.

Câu hỏi của Dalai Lama, chúng ta ở đây trong chốc lát đã giải quyết được nó rồi, đây là một giải thích đúng đắn. Bổn tôn trí huệ đi vào trong tâm, nghiệp chướng của hành giả tiêu trừ, chính mình biến thành Thời Luân Kim Cang, đây là sắc không bất nhị. Điều này trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” tuy rằng có nói, nhưng pháp Bổn tôn thông thường cũng tu như vậy, đây chính là một dạng quán tưởng Nhập ngã - Ngã nhập, rất quan trọng.

Nhưng quán Nhập ngã - Ngã nhập không thể thay thế cho sắc, không trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”, mà phải dựa vào điều mà bản thân Sư Tôn đã nói. Sắc, không trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục” cần phải là chuyển hóa toàn bộ sắc vật chất thành một dạng sắc không rỗng hết thì mới là sắc không của “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”. Nói như vậy là mọi người hiểu được rồi.

Từ đây có thể ấn chứng pháp giới nhất như, pháp giới nhất như là gì? Sắc không nhất như cũng chính là pháp giới nhất như. Từ sắc, không có thể ấn chứng pháp giới, sắc chính là không, không chính là sắc, sắc không khác không, không không khác sắc, thật ra điều này chính là nói đến nhất như.

Hình tượng của tất cả vật chất thật ra toàn bộ đều quy về không, hiện tượng của tất cả vật chất cũng từ trong không mà sinh ra, cái này gọi là pháp giới nhất như. Vì thế tất cả hiện tượng vốn dĩ không có hiện tượng, tất cả hiện tượng là từ ban đầu không có đến hiện tượng sinh ra, cho nên Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn cõi, cõi tịnh thổ cao nhất gọi là Thường Tịch Quang, đó chính là cảnh giới của cầu vồng.

Cõi Phàm Thánh Đồng Cư vẫn còn có hiện tượng vật chất, cái đó là hóa sinh, còn tịnh thổ chân chính vẫn là ở cõi Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang cũng chính là đại thành tựu cầu vồng. Hôm nay giảng đến đây. Om mani padme hum.

09/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

171. Pháp giới nhất như (2)

Chúng ta lại nói về pháp giới nhất như. Tôi thường nhắc đến chúng ta học Phật là đang phá trừ phiền não, trên thực tế, tại thế giới Ta Bà của chúng ta có rất nhiều phiền não, đếm cũng không đếm xuể, mỗi chúng sinh đều có phiền não. Rồi tôi cũng từng nói một câu, muốn phá trừ phiền não, bạn phải tu đến vô ngã, vô ngã mới có thể phá trừ phiền não.

Giả sử đã đến cảnh giới vô ngã rồi, vậy đó là cảnh giới như thế nào? Thật ra chính là lúc pháp giới nhất như mới có thể thật sự phá trừ phiền não, không đến được cảnh giới pháp giới nhất như thì không cách nào phá trừ được phiền não.

Bởi vậy có rất nhiều hành giả nói, tôi đã không còn phiền não, trên thực tế là vẫn còn hay là không còn? Có lẽ là vẫn còn, vẫn có một chút chút, một xíu xíu, so với người khác thì bạn đã vô tư rồi, nhưng vẫn có những lúc chưa hoàn toàn vô tư, vì thế vẫn còn một chút chút.

Phiền não giống như nước chảy, cứ chảy đi như vậy. Trong dòng nước chảy vẫn còn vài thứ không chảy, ví dụ như bị tảng đá chặn lại, hoặc là chảy đến nơi dòng chảy không được nhanh lắm, nước sẽ hơi đọng lại ở đó một chút, vẫn là bị dừng lại. Thật sự khi đạt đến pháp giới nhất như thì mới có thể hoàn toàn không có phiền não.

Đây là điều tôi đặc biệt chỉ rõ, thật sự muốn phá trừ phiền não thì chỉ có đạt đến cảnh giới nhất như mới có thể phá trừ phiền não. Bạn thật sự có thể trải nghiệm được “sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc” không? Giả sử khi hiện tượng sắc không là như nhau sản sinh ra, phiền não của bạn tự nhiên sẽ không còn nữa, đây chính là nhất như được nói đến trong kinh Kim Cang. Chỉ có nhất như mới có thể thật sự phá trừ phiền não, cái này thuộc về một dạng trí huệ Phật cao nhất.

Chúng ta biết rằng ma là đến để quấy nhiễu người tu hành, ma đem đến cho bạn rất nhiều đau khổ, ví dụ như đau khổ vì bệnh tật, đau khổ vì tiền bạc, đau khổ vì địa vị, đau khổ vì tình cảm, đau khổ vì gia đình, đau khổ vì con cái, đau khổ vì việc người, đủ loại đau khổ đều đổ lên đầu bạn, dùng đủ mọi cách thức để phá hoại việc tu hành của hành giả. Nhưng bạn phải nhìn thấu những điều này, bạn phải dùng phương pháp vô ngã để nhìn thấu, sau đó nếu đạt đến nhất như thì đó mới có thể phá trừ phiền não thật sự.

Vậy thì ma là cái gì? Ma chân chính là ở trong cảnh giới của Bồ Tát địa rất sâu. Bạn nói nhất như đúng không, pháp giới nhất như, ma cũng ở trong nhất như, bạn muốn có thể đạt đến Không cảnh, khi hiểu rõ được tính Không, bạn mới có thể nhận thức được ma.

Một khi đạt đến cảnh giới này rồi thì bạn mới có thể tháo gỡ toàn bộ, bằng không bạn vẫn có một loại tâm đối địch nhau. Cái tâm đối địch lẫn nhau đó vẫn còn, cho thấy rằng phiền não của bạn vẫn chưa giải trừ. Còn có quan niệm kẻ thù và ta thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm yêu và ghét thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm nhiều và ít thì phiền não cũng vẫn chưa được giải trừ, còn có quan niệm giàu và nghèo thì phiền não vẫn chưa được giải trừ, nếu còn có quan niệm về cao và thấp thì phiền não cũng chưa được giải trừ. Điều này rất đơn giản.

Vì thế, phải phá trừ những quan niệm tương quan tốt, xấu, đúng, sai, thiện, ác, phải, trái,… biến thành hiện tượng nhất như thì phiền não mới có thể thật sự lắng xuống. Đương nhiên đây là trí huệ Như Lai tương đối cao sâu, nhưng giả sử bạn có thể tu từ từ, phá trừ các loại vô minh, thật sự có thể sắc không bất nhị thì bạn có thể tự tại nhậm vận.

Tự tại chính là ở trong một tâm trạng rất cân bằng, có thể sâu sắc hiểu rõ tính Không, nếu từ đầu tới cuối bạn đều sống trong tính Không, bạn có thể tự tại nhậm vận, bạn có thể đạt đến trí huệ của Như Lai, cảnh giới này chính là cảnh giới được gọi là pháp giới nhất như.

Đương nhiên nếu có thể ở trong tu pháp tiến vào bên trong cảnh giới pháp giới nhất như thì bạn có thể thật sự ở trong Tam ma địa sâu nhất, rất sâu mà đắc được định. Pháp này là ý thức rất sâu, chúng ta nói các cấp địa của Bồ Tát, những cảnh giới này có thể phân thành mười địa, thậm chí là mười ba địa, mười sáu địa. Khi bạn có thể tiến vào pháp giới nhất như, có thể nói bạn chính là địa thứ mười sáu, thật sự có thể hiểu rõ trí huệ của Như Lai, thế thì bạn chính là Phật rồi.

Tất cả những thứ khác đều thuộc về nhánh bên, những thứ bên cạnh. Tất cả việc tu pháp đến được đây thì chính là đại viên mãn chân chính, vậy thì đã là một dạng siêu việt rồi, vì thế gọi là đốn siêu. Trong chốc lát bạn đã siêu việt rồi, đạt đến cảnh giới cao nhất viên mãn nhất, chính là cảnh giới như một. Cái này rất sâu, cũng rất vi diệu, rất khó tưởng tượng, cũng là không thể tưởng tượng được. Phật chính là ở bên trong cảnh giới này.

Như Lai chính là ở bên trong cảnh giới này, tất cả các cấp địa Bồ Tát còn chưa đến được đây, muốn thành Phật thì nhất định phải đến được bên trong cảnh giới nhất như, vì thế đây cũng là một xưng hiệu khác của Phật, xưng hiệu khác này chính là Chân Như.

Chân Như chính là tính Không, tính Không cũng chính là Phật, đều là một biệt danh của Phật. Thế còn nhất như thì sao? Cũng chính là Chân Như. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

09/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

172. Nói về “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” (1)

Hôm nay chúng ta nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. Hình như trước kia tôi cũng đã từng nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” rồi, đây là câu nói của Thiền tông Lục Tổ. Muốn thành Phật, ngài ấy có một khẩu quyết, khẩu quyết này chính là “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”.

Hồi đầu khi tôi đọc được khẩu quyết này thì rất ngạc nhiên, “không nghĩ thiện” ư? Bảo chúng ta đừng nghĩ về điều thiện, vậy thì nói ngược lại tức là bảo chúng ta nghĩ về điều ác rồi! Nhưng vế sau ngài ấy lại bổ sung một câu nữa là “không nghĩ ác”, tức là ngay cả điều ác cũng không nghĩ về nó, đây chính là một triết lý rất vi diệu, rất cao sâu: “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”.

Chúng ta nói một chút về Thiền tông Ngũ Tổ, ngài nói một bài kệ trong kinh Kim Cang, chính là không có bốn tướng, bỏ hết bốn tướng: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, không có tôi, không có bạn, không có chúng sinh, không có thọ giả (tức là phá bỏ quan niệm về thời gian).

Thế thì tới lượt tôi, Ngũ Tổ cũng nói, Lục Tổ cũng nói, bây giờ tới lượt Thất Tổ, thật ra Thiền tông không có Thất Tổ, bởi vì sau Lục Tổ thì Thiền tông đã phân thành mấy tông khác nhau, một hoa nở năm cánh, tức là đã phân nhánh rồi, phân thành rất nhiều tông phái, nên không còn có Thất Tổ nữa. Chỉ là tôi cũng nói hai chữ “bỏ chấp”, loại bỏ bám chấp, là hai chữ “bỏ chấp”.

Muốn thành Phật, phải bỏ chấp. Lục Tổ nói “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, bài kệ trong kinh Kim Cang, Ngũ Tổ nói: “Vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả.” Những cái này đều là một dạng triết lý rất thâm sâu, rất ảo diệu.

Mật giáo dạy chúng ta cảnh giới huyền diệu bất khả tư nghì cao nhất sâu nhất chân chính là cảnh giới gì? Chân Phật Tông chúng ta có các quyền pháp như là pháp Kim cang quyền, Hợi Mẫu quyền, kỹ xảo Đại lạc,… Bạn luyện Kim cang quyền, sau cùng đều có một mục đó là “tâm khế bản nhiên”, tức là tâm phải trụ trong cái ban đầu, ở trong trạng thái tự nhiên vốn có thì chính là tâm khế bản nhiên.

Cảnh giới này là cảnh giới gì? Lúc này, thân thể của bạn giải thích thế nào đây? Tổ sư Mật giáo nói, con người vốn dĩ bị trói buộc, bị dây thừng trói chặt, khi bạn thật sự tâm khế bản nhiên thì những sợi dây thừng này không thấy nữa, đây là một công phu, thân thể của bạn không còn thứ gì trói buộc bạn nữa.

Khẩu thì sao? Miệng của bạn thì sao? Thì giống như dây đàn đứt, dây đàn đã đứt rồi, không còn âm thanh. Miệng không có âm thanh, đây là ngôn ngữ đạo đoạn của Thiền tông. Thân thể không có dây thừng trói buộc bạn, dây đàn của miệng đã đứt rồi, giống như dây đàn đứt, không phát ra âm thanh, ngôn ngữ đạo đoạn.

Thế còn ý thì sao? Ý ở đâu? Vô niệm, vô tâm, không còn tâm, tâm không ở ngoài, cũng không ở trong, không ở bất kì nơi nào, ở trong trạng thái hoàn toàn vô niệm gọi là tâm khế bản nhiên.

Giả sử bạn đã học được thân khẩu ý như vậy, thân thể không có thứ gì trói buộc bạn, khẩu cũng giống như dây đàn đã đứt, ý niệm cũng là vô niệm vô tâm, đây gọi là tâm khế bản nhiên, hoàn toàn tâm trụ trong một trạng thái tự nhiên vốn có. Giả sử bạn học được trạng thái này tức là đã khế hợp với điều mà Ngũ Tổ, Lục Tổ và Sư Tôn nói đến - bỏ chấp, không còn bám chấp.

Bản thân con người chúng ta rất bám chấp, nói rằng tôi hoàn toàn không còn bám chấp, sau cùng lại bổ sung thêm một điểm, tôi chính là chấp vào cái này, rất nhiều người đều nói như vậy. Tôi đã tu cũng ổn rồi, chỉ còn lại cái này, cái này chính là bám chấp. Vì thế trước kia có người thường xuyên nói “người tranh một hơi thở, Phật tranh một que hương”, đây chính là bám chấp, thật ra là bạn đang tranh hơi thở này. Rất nhiều người nói, mọi thứ tôi đều nhìn thấu rồi, nhưng tôi lại tranh một hơi thở này, thật ra chính là một hơi thở này vẫn còn chưa nhìn thấu, bạn tranh một hơi thở chính là bám chấp.

Vì thế chúng ta nghĩ, lão tổ sư viết một chữ “tử” ở đầu giường, đây là để nhắc nhở chính mình, cảnh giác chính mình, chữ “tử” ở phía trước, phải bỏ chấp đi! Bỏ hết mọi bám chấp, bạn còn chấp cái gì chứ?

Đôi khi, chính tôi cũng nghĩ, đệ tử này có bệnh, lấy bệnh đó ra để cho sư phụ đảm đương, vậy thì sự bám chấp của tôi sẽ rất dễ loại bỏ, vì sao? Đây là cách rất hay để bỏ chấp. Khi bạn bỏ được chấp rồi, hoàn toàn không còn bám chấp nữa, tâm khế bản nhiên sẽ xuất hiện, một cách tự nhiên bạn có thể nhập định, nhập Tam ma địa, bạn có thể trở về hư không.

Điều này thật sự là số một, không phải số hai, là số một, cảnh giới cao nhất là như vậy. Vì thế tôi lĩnh hội được lời của Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”. Cuối cùng đã hiểu rồi, thế nào là không nghĩ thiện, thế nào là không nghĩ ác. Om mani padme hum.

10/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

173. Nói về “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” (2)

Chúng ta lại nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, đây là lời Lục Tổ nói. Khi tôi học Phật đã có người tặng tôi một cuốn kinh Lục Tổ Đàn, tôi đọc xong không hiểu lắm, đặc biệt là đối với câu “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” này thì càng không hiểu.

Tôi nói, ác thì đương nhiên không nghĩ đến rồi, bởi vì là ác mà, thế nhưng thiện thì sao? Sao lại có thể không nghĩ chứ? Điều này chẳng có lý, như thế là bảo chúng ta làm gì? “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”? Bảo chúng ta nghĩ cái gì đây?

Ngày xưa khi tôi đọc xong kinh Lục Tổ Đàn, tôi cảm thấy điều này có vấn đề, nhất định phải nói rõ ràng với sư phụ của mình, vì sao cần có câu này, bảo chúng ta không nghĩ thiện, thế thì không đúng rồi, phải là cần nghĩ thiện. Chính vì vấn đề này mà hôm nay tôi sẽ nói về “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”.

Ý của nó là như thế này, giả sử bạn còn chấp vào mỗi sự việc thì bạn sẽ không có cách nào nhập định, không có cách nào thâm nhập vào trong đó, cũng không có cách nào đạt đến chân lý tối cao, bạn sẽ chỉ rơi vào một bên.

Vì thế Phật pháp là không rơi vào hai bên, là tự nhiên nhậm vận. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính là tự nhiên nhậm vận. Trong sách tôi đã viết, giống như con người sống trong không khí, không khí vốn dĩ luôn tồn tại, nhưng bạn sẽ không cảm thấy không khí tồn tại. Bạn không sai đâu! Ngày ngày bạn làm việc thiện, mỗi ngày đều làm việc thiện, nhưng bạn đừng chấp rằng những việc tôi làm đều là việc thiện, tôi rất có công đức, đừng chấp vào đó. Nếu bạn không chấp thì sẽ rất dễ định lại, ý của Lục Tổ nói chính là như vậy.

Giống như cá và nước, nước đối với cá mà nói thì là thiện, không khí đối với chúng ta mà nói thì là thiện. Nhưng bạn đừng đi cảm giác về sự tồn tại của thiện, đừng đi nghĩ về nó, đừng đi tóm lấy nó. Nếu coi nó như một sự tự nhiên mà vậy thì bạn có thể thâm nhập vào trong đó.

Thiền tông cũng nói ngôn ngữ đạo đoạn, đó là khẩu mật, trong Mật giáo gọi là bí mật của khẩu. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thường nói “bất khả thuyết, không thể nói”, vì sao lại không thể nói đây? Bởi vì nói ra thì sẽ rơi vào một bên, bạn chỉ cần nói ra thì sẽ rơi vào một bên. Bất khả thuyết! Chính là ở giữa, chính là trung đạo, đây là sâu không thể đo lường.

Hôm nay rất nhiều hành giả, giả sử để lộ dấu vết, để lộ ra dấu vết hành động, hoặc nếu chấp vào việc phải xây một ngôi chùa rất to, thì đây cũng là bám chấp! Bạn chấp rằng tôi phải đi cứu bao nhiêu người, đi cứu độ bao nhiêu chúng sinh, cái này là chấp. Bạn chấp rằng tôi phải làm ba nghìn việc thiện (ba nghìn công hành), đây là chấp. Bạn đi làm các thứ thì không sao cả, nhưng đừng nghĩ bao nhiêu nghìn công hành, bao nhiêu vạn công đức, đừng nghĩ về nó, tất cả đều không được nghĩ.

Khi bạn không bám chấp thì sẽ không để lộ dấu tích, thật ra cái này chính là cảnh giới bất khả thuyết. Phật Thích Ca Mâu Ni nói bất khả thuyết chính là cái này.

Thật ra vẫn không thể bao hàm toàn bộ, tôi nói hai chữ “bỏ chấp”, đừng bám chấp thì có thể lập tức giải thoát, lập tức thành Phật, giải thoát tức thì, thành Phật tức thì. Tôi nói chữ “tử”, trên thực tế là như thế này, tử thì không chấp vào cái gì, chữ “tử” đó là để bảo bạn đừng chấp đó! Bạn xem, lão tổ sư viết một chữ “tử” dán trên đầu giường mình là để dạy mình hai chữ “không chấp”.

Đừng bám chấp, người ta phê bình bạn cái gì, bạn nói ngày mai tôi chết rồi, mặc kệ anh phê bình tôi! Người ta chửi bạn cái gì, người ta cướp đi của bạn cái gì, lấy trộm của bạn cái gì, làm hại bạn cái gì, ngày mai đều phải chết rồi, bạn còn quan tâm đến họ ư, đừng chấp! Người ta lấy trộm đồ của bạn, cướp đồ của bạn, vốn dĩ rất xúc phạm bạn, danh dự cũng chịu tổn thất, nhưng bạn nghĩ đến ngày mai là chết rồi, bạn còn chấp không?

Chết là rất tốt, thật ra chết chính là muốn dạy bạn hai chữ “không chấp”, chính là “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” mà Lục Tổ nói, chính là không chấp, chính là “vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả” mà Ngũ Tổ nói.

Hôm nay tôi có thể nói, cảnh giới tu hành của Lư Thắng Ngạn có cần nói ra không? Vẫn là không cần nói ra, bất khả thuyết! Vẫn là không thể nói. Không thể nói tức là sâu không thể đo lường, bạn nói tôi đã tu đến tầng trời thứ mấy rồi, hay là Vô sắc giới thiên, hay là tu đến đâu rồi, như thế vẫn là còn thấp, đều vẫn còn chấp vào cõi trời đó, vẫn chưa đến điểm tận cùng đâu!

Bạn nói ra thì bạn đã để lộ dấu vết, bạn nói một câu bất khả thuyết, tức là sâu không thể đo lường, không ai có thể biết được lý lịch của bạn, bạn cũng là vô tận. Kho tàng vô tận là kho tàng hư không, kho tàng hư không là cái gì? Chính là kho tàng vô tận. Đảo qua đảo lại thì vẫn đều không thể nói, kho tàng hư không là bất khả thuyết, kho tàng vô tận cũng là bất khả thuyết, ý vô tận cũng là bất khả thuyết, toàn bộ đều là bất khả thuyết.

Vì thế, Phật Đà đã khai ngộ điều gì? “Bất khả thuyết!” Ngày nay điều Lục Tổ nói, Ngũ Tổ nói, tôi nói, tôi không phải là Thất Tổ, bởi vì sau Lục Tổ thì không có ai nữa. Phải chú ý, thân thể giống như không có dây thừng trói buộc bạn, miệng phải giống như dây đàn đứt, tâm quy về bản nhiên, ý niệm phải ở trong trạng thái vô niệm vô trụ, đây chính là thiền định. Một khẩu quyết hay nhất khiến bạn có thể định được, phương pháp của nó chính là như thế này.

Bạn có thể định, trí huệ Phật tự nhiên sẽ sinh ra, bạn sẽ có thể khai ngộ, một khi bạn khai ngộ thì: phiền não giải thoát, sinh tử thành tựu rồi. Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

10/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

174. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (1)

Hôm nay chúng ta nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Cá nhân tôi tương đối chủ trương phương pháp tu hành tự nhiên, tôi cảm thấy người tu hành chúng ta càng hợp với tự nhiên càng tốt. Toàn bộ quá trình tu hành và đời sống thường ngày phối hợp lại, hoàn toàn dung hợp với nhau.

Rất nhiều người cho rằng tu hành là trái với tự nhiên, trên thực tế, những hành giả này trước kia cũng có rất nhiều người tu hành trái với tự nhiên. Về phương diện này, rất nhiều người có kiến giải khác nhau, phái Chân Phật Tông chúng ta tương đối gần với tự nhiên, không trái tự nhiên, hợp với tự nhiên, thuận theo tự nhiên.

Tôi nhớ trước đây khi chúng ta đọc kinh Phật, thấy việc tu hành của bản thân Đức Phật, ngài có một khoảng thời gian cũng tu khổ hạnh. Chúng tôi đến Ấn Độ đã nhìn thấy tượng điêu khắc Phật Đà đói đến mức chỉ còn trơ mấy cái xương sườn, căn bản không hề có bụng, chỉ còn da bọc xương mà thôi. Phật từng có sắc tướng ấy, đó là bản thân Phật Đà đã thực hành bỏ đói mình, tức là phương pháp tu hành tự bỏ đói mình.

Ở Ấn Độ còn có rất nhiều người đang dùng phương pháp này để tu hành, ví dụ ngày ăn một bữa, một ngày họ chỉ ăn một bữa cơm. Nhưng phương pháp ngày ăn một bữa này với chúng ta mà nói thì không phải là không được, mà là bạn cần phải duy trì thể lực của bản thân mình, nếu dinh dưỡng của một bữa cơm bạn ăn đủ để duy trì cho nhu cầu sống một ngày đêm thì tôi cho rằng như thế này có thể được.

Nhưng nếu dinh dưỡng không đủ, hoặc thể lực của bạn không chịu được, thì đều không thể được, đó là phản tự nhiên. Phật Thích Ca Mâu Ni từng đói đến mức chỉ còn lại da bọc xương, sau cùng thể lực không chịu đựng được, lúc ấy có một thiếu nữ có sữa dê đã cúng dường cho ngài sữa dê. Sau khi ngài ăn uống một chút thì thể lực dần dần hồi phục, như thế thân thể mới có thể tiếp tục tu hành.

Tu hành theo cách nhịn đói nói đúng ra là phản tự nhiên, chí ít những thứ bạn ăn phải vừa đủ để có thể phù hợp với thể lực trên người bạn, tôi cho rằng như vậy mới là đúng. Điều này cũng tương đối hợp với khoa học hiện đại. Hôm nay chúng ta nói về tu hành hợp với tự nhiên, tông phái chúng ta đều hợp với tự nhiên, không phản tự nhiên, với người hiện đại mà nói, về mặt sinh lý, về mặt y học, bạn phải chú trọng sinh lý và y học phối hợp với tu hành, bởi vì cuộc sống hiện đại và cổ đại khác nhau.

Ở Ấn Độ cũng có một kiểu tu hành của ngoại đạo, gọi là ngoại đạo lõa thể, bất kể là thời tiết rất nóng hay là thời tiết rất lạnh thì cũng đều lõa thể hết, thậm chí lúc có tuyết rơi cũng vẫn lõa thể, đây cũng là phản tự nhiên. Nhất là nếu có người tu ngoại đạo lõa thể, tu hành là lõa thể, liền chạy ra đường, như thế thì làm hại thuần phong mỹ tục, vào thời nay căn bản là không thể được, ngày nay là không thể được.

Chân Phật Tông chúng ta cũng không lưu hành ngoại đạo lõa thể, cũng không đề xướng, bạn muốn lõa thể thì bạn ở trong phòng mình lõa thể thì được. Thế rồi có một số ngoại đạo lõa thể chủ trương như thế này, họ nói con người khi sinh ra là lõa thể, chỉ có con người mới mặc quần áo, những động vật khác trên thế giới đâu có mặc quần áo, muốn hợp với tự nhiên thì phải là lõa thể mới đúng.

Nghe thì thấy họ nói cũng có lý, họ nói họ lễ Phật Bồ Tát cũng lõa thể, biểu thị bản thân mình là thanh bạch, không vương một sợi tơ, không có gì có thể khiến người ta phải che đậy, không cần phải che đậy. Bản thân họ tu ngoại đạo lõa thể, tu cho bản thân rất có khả năng thích ứng với hoàn cảnh của đại tự nhiên, ngày tuyết rơi họ cũng vẫn lõa thể, không sợ lạnh, họ cũng có đạo lý của họ.

Nhưng lý luận theo kiểu này thì vẫn không hợp với thời hiện đại, và cũng không nhất định là chúng ta mặc quần áo là cho thấy đang che đậy chính mình, hoặc mặc quần áo là biểu thị sự giả dối, mặc quần áo là biểu thị bản thân mình có ô uế nên buộc phải che đậy, hoàn toàn không phải thế. Mặc quần áo là hợp với hiện đại, mà thời cổ đại cũng mặc quần áo đó thôi, chỉ là bạn là người tu hành đột nhiên chế ra kiểu lý luận này, đó là phản tự nhiên. Bởi vì con người trên toàn thế giới bây giờ đều mặc quần áo mà. Giả sử con người trên toàn thế giới đều không mặc quần áo thì tôi cũng có thể không cần mặc quần áo, giống nhau mà! Đó chính là một dạng tự nhiên.

Ngày nay thì cần nói rằng bạn không mặc quần áo mà tu hành thì đó là phản tự nhiên, Chân Phật Tông chúng ta không lưu hành cái này, phải nhớ kĩ đó! Không thể nói Chân Phật Tông chúng ta có lưu hành, đó là sai rồi! Vì thế phải hợp với hiện đại, hợp với tự nhiên.

Thiền tông có một câu nói “đói thì ăn”, bụng bạn đói rồi thì bạn hãy ăn; “lạnh thì mặc”, thời tiết lạnh rồi thì bạn hãy mặc quần áo, đây mới là tự nhiên. Bạn cảm thấy lạnh thì bạn mặc quần áo, bụng bạn đói rồi thì bạn ăn. “Buồn ngủ thì ngủ”, thân thể bạn mệt rồi, rất muốn ngủ, vậy thì bạn đi ngủ, cái này tương đối hợp với tu hành tự nhiên.

Hôm nay chúng ta nói đến đây. Om mani padme hum.

11/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

175. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (2)

Chúng ta lại nói đến phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Vào thời cổ đại, những hành giả (người tu hành) này thích sống trong khu mồ mả, sống trong khu mồ mả tức là ở nơi có những ngôi mộ để tu hành, hoặc là ngồi dưới rừng cây, ngủ ở trong khu mộ, hành giả thời cổ đại là như vậy.

Vào thời đại Phật Đà, ví dụ tôn giả Đại Ca Diếp cũng từng thích tu hành kiểu đầu đà. Ở Ấn Độ chúng ta nhìn thấy rất nhiều hành giả rất tùy ý, họ rất thích ngồi bên cạnh đống rác, ngồi bên cạnh rãnh nước hôi thối, họ đều như vậy, buổi tối thì đi đến khu mộ để ngủ.

Tu hành thời hiện đại đương nhiên không đòi hỏi bạn phải sống một cách bần hàn như vậy, không hề yêu cầu phải ngồi dưới cây, phải đi đến mồ mả để ngủ. Người tu hành chúng ta chỉ cần có túp lều tranh, một chỗ rất đơn giản để ở, có thể tránh gió, tránh mưa, không nhất định phải ngủ trên giường tốt, chỉ cần bạn có thể ngủ một cách quang minh, ngủ một cách rất thanh tịnh, có thể ngăn gió, ngăn mưa là được rồi, bởi vì nếu bạn không ngăn gió ngăn mưa, bị ốm thì sẽ là một sự tổn hại đến nhục thể của chính mình, cũng là một sự tổn hại đến việc tu hành của chính mình, không nhất định là có lợi.”!

Vì thế chúng ta phải hợp với tu hành của chính mình, tu hành rất tự nhiên, nơi bạn ở phải che gió, che mưa, phải hợp vệ sinh. Ví dụ như ở trong đống rác, ở khu mồ mả, ở trên cây đôi khi sẽ có sâu róm rơi xuống, ở khu mồ mả không chắc đã hợp vệ sinh, cái này đều ảnh hưởng đến tu hành, cho nên vẫn là hợp với hiện đại, tu hành tự nhiên thì sẽ tốt hơn.

Nói đến giới sẹo, đó chỉ có hòa thượng Trung Quốc mới có, trên thế giới bất kì một tín đồ Phật giáo nào, bất kì một người xuất gia tu hành nào cũng không có điểm giới sẹo, chỉ có Trung Quốc mới có, là người Trung Quốc phát minh ra, đốt giới sẹo, cái này có hơi tàn bạo với chính mình, tức là bạn phải tự đốt mình cho thật đau để làm một ký hiệu.

Có người chỉ đốt ba cái, có người thì đốt nhiều hơn, cũng có người đốt toàn thân, họ cởi hết áo ra, ôi trời, toàn thân đều là sẹo, trên lưng cũng có, trên tay cũng có, trên chân cũng có. Đây cũng là một phương pháp để tự mình biết giới luật, hễ phạm giới một lần thì lập tức chấm một cái, phạm một lần giới thì lập tức chấm một cái. Cho nên, tôi nghe nói có một pháp sư toàn thân đều là giới sẹo, đây vẫn còn là chuyện nhỏ, còn có dùng lửa đốt toàn thân nữa cơ.

Còn có đốt ngón tay cúng Phật, cái này thì lợi hại hơn một chút, họ nói đốt ngón tay cúng Phật là như thế này. Ngón tay duỗi ra, dùng vải buộc lên, tẩm xăng vào vải, đốt xăng, vừa châm lửa là đốt ngón tay, nói rằng ngón tay này là để cúng Phật, sau đó dùng cái kẹp cắt bỏ thịt, chỉ còn lại xương. Oa! Ngay cả xương cũng cắt đứt, thế này thì rất đau, rất đau đấy!

Đốt ngón tay cúng Phật không thịnh hành trong Mật giáo chúng ta. Trước kia trong Hiển giáo, ở Trung Quốc Đại Lục cũng có đốt ngón tay cúng Phật. Thế còn trong Mật giáo, nếu bạn đốt ngón tay, oa, nếu cắt đứt rồi thì bạn làm sao mà kết thủ ấn? Sẽ không thể kết thủ ấn được nữa!

Trước kia Trung Quốc Đại Lục có đốt ngón tay cúng Phật, đây là tàn bạo với chính mình, cũng là phản tự nhiên. Bạn biết rằng cắt đứt một ngón tay, sau này cầm đồ vật cũng không tiện, làm việc gì cũng bất tiện, cho nên việc này không được.

Càng nghiêm trọng hơn, làm theo kiểu của ngoại đạo thì còn có đốt cháy toàn thân cúng Phật, tự thiêu.

Với một hành giả, sinh mệnh cũng rất quan trọng. Chúng ta biết rằng sinh mệnh có hai loại, một loại là sinh mệnh của thân thể, một loại là huệ mệnh của trí huệ, hai loại sinh mệnh. Sinh mệnh của trí huệ đến từ sinh mệnh của thân thể, sinh mệnh của thân thể là cái gốc của tu hành, bạn không có thân thể này thì lấy đâu ra trí huệ?

Vì thế chúng ta coi trọng tu hành thân thể, trong Mật giáo coi trọng tu hành thân thể, thân thể rất quý giá, điều dưỡng thân thể cũng rất quan trọng, bởi vì chúng ta tu khí nhất định phải dựa vào thân thể, tu khí chính là tu tâm, tâm khí không hai.

Bạn phải điều hòa khí cho tốt, bạn phải chú ý thân thể của chính mình, cho nên Chân Phật Tông chúng ta là “tâm vật hợp nhất luận”, tâm vật là hàm nhất, thân tâm là hợp nhất, thân thể rất quan trọng, sao có thể tùy tiện cắt đứt ngón tay chứ! Cắt đứt ngón tay rồi nói là cúng Phật. Lại còn đốt cháy ngón tay để cúng Phật, cái này cũng không được.

Đến cuối cùng thì diễn biến thành thiêu thân cúng Phật, đốt hết toàn bộ thân thể mình để cúng Phật, cái này đã đi theo hướng tương đối cực đoan rồi. Về phương diện này, chúng ta là tu hành hợp với tự nhiên, đừng đi theo kiểu con đường cực đoan này.

Ngoài ra còn có phương pháp tu hành ném mình xuống vực, thế nào gọi là ném mình xuống vực? Trước kia ở Trung Quốc Đại Lục chẳng phải còn cắm một tấm bảng gọi là “Vực Xả Thân” sao? Vì sao gọi là Vực Xả Thân? Tức là bảo bạn nhảy xuống là thân thể này đã cúng dường Phật Bồ Tát. Vì thế, hễ bạn nhảy xuống vách núi cao và dốc là có thể đi thành Phật, thành Tiên rồi. Cái này cũng là phản khoa học.

Không có một kiểu tu hành nào bảo bạn vứt bỏ sinh mệnh của mình. Tuy nhiên trong thời đại Phật Đà có điển cố Phật xả thân làm thức ăn cho hổ, con hổ đói quá, Phật liền khởi lên tâm bồ đề, liền để mình làm thức ăn cho hổ, nhưng đó là thời cổ đại! Tinh thần ấy đương nhiên có thể xem là rất tốt, nhưng khi bạn còn chưa tu thành chính quả mà đã vứt bỏ đi sinh mạng của mình như vậy thì có đúng không? Bởi thế không thể làm những việc ngu ngốc, bạn không thể nói tôi muốn xả thân, xả thân cho hổ ăn, hoặc xả thân nhảy xuống vách núi, như vậy bạn có thể thành Phật sao?

Cái này là ngay trong tư tưởng đã đi về hướng cực đoan rồi, về phương diện này mà nói là phản tự nhiên, bởi vì chúng ta cho rằng sinh mệnh là cái gốc của tu hành, sinh mệnh vô cùng quý giá, bạn phải giữ được sinh mệnh này thì bạn mới có thể tu hành, không phải là nói bạn vứt bỏ sinh mệnh là có thể thành Phật. Giả sử bạn vì chúng sinh mà xả thân, vì một đất nước, một dân tộc, vì chúng sinh mà xả thân thì còn có ý nghĩa một chút, những cái khác thì không thể được.

Hôm nay nói tới đây. Om mani padme hum.

11/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

176. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (3)

Chúng ta lại nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Lần trước chúng ta đã nói, tu hành không nhất định phải dùng phương pháp nhịn đói, Phật Đà từng nhịn đói đến mức chỉ còn lại da bọc xương, suýt chút nữa chưa tu thành cái gì, còn phải ăn sau đó mới có sức mạnh tiếp tục tu hành.

Cũng không nhất định phải lõa thể đi tu, Ấn Độ có ngoại đạo lõa thể, họ chủ trương lõa thể, cho rằng như thế mới là thanh tịnh, nhưng thời hiện đại thì không được làm thế, bạn muốn lõa thể cũng được thôi, vào lúc đi tắm hãy lõa thể.

Tối hôm qua chúng ta cũng nói rồi, không nhất thiết phải ngủ ở mồ mả. Trước kia ở Ấn Độ, hành giả xưa nay đều chủ trương ngồi dưới cây, ngủ ở mồ mả, cũng không chắc đã hợp vệ sinh.

Giống như cúng Phật, không nhất định phải đốt ngón tay cúng Phật. Bạn cúng Phật những thứ quý báu đều có thể được, nhưng không nhất định phải lấy thân thể mình ra để cúng Phật. Ví dụ có người thiêu thân, tự đốt thân thể mình để cúng Phật, đạo hạnh của bạn còn chưa tới, thành quả tu hành còn chưa đạt đến tột cùng, kết quả là không còn sinh mạng nữa, những việc này đều không đúng.

Còn có chích máu viết kinh, cái này rất nhiều người làm. Trước kia ở Trung Quốc, có rất nhiều người cho rằng tín tâm của bản thân họ rất kiên cố, cho nên họ phát nguyện chích máu viết kinh. Ngoài ra, dùng cách phát nguyện chích máu viết kinh còn hy vọng có thể giúp người nhà báo hiếu, hoặc dùng công đức này để làm việc gì đó. Chích máu viết kinh là có, ở Đài Loan trước kia có pháp sư Chấn Quang ở chùa Từ Thiện, ông ấy chính là người đã cắt ngón tay út, máu chảy ra là ông ấy chấm vào để viết kinh. Tôi đã nhìn thấy ngón tay của ông ấy thật sự đã bị cắt. Có rất nhiều người chích máu viết kinh, nhưng tôi cho rằng, nếu bạn làm tổn thương thân thể của chính mình, hoặc không cẩn thận để cho ngón tay bị hỏng, sau này sẽ rất bất tiện, nhất là trong Mật giáo có kết thủ ấn thì lại càng bất tiện. Hơn nữa máu cũng là một loại minh điểm, trong tu hành Mật giáo, bạn không thể mất máu quá nhiều, cũng sẽ rất nguy hiểm, cho nên vẫn là không làm thì tốt hơn.

Ngoài ra trên phương diện tu hành còn có thực hành không nói. Không nói tức là không nói chuyện, một câu cũng không nói, cả năm đều không nói, cả đời đều không nói, đây cũng là một pháp phi thường, không phải là một phương pháp tu hành bình thường, đều tương đối phản tự nhiên. Bởi vì bản thân con người vẫn cần phải nói chuyện, nếu so với người thế tục bình thường thì hành giả chúng ta nên nói ít một chút, ngoài ra thì giữ không vọng ngữ, không ác khẩu, không hai lưỡi, không nói tục là được rồi, điều gì nên nói thì bạn vẫn cần nói. Hoàn toàn không nói gì hết thì cũng là cách không bình thường.

Còn có một phương pháp tu hành thời Ấn Độ cổ là học theo động vật, không những chịu giới luật của trâu bò và giới luật của chó, mà hành vi của họ còn hoàn toàn giống với trâu bò và chó. Không làm việc, thích chạy long nhong ngoài đường, không tắm rửa giống như trâu chó, bởi vì trâu không tắm, chó cũng không tắm, đều không tắm hết, cái này không hợp vệ sinh.

Ở Ấn Độ chúng tôi còn nhìn thấy có một người ngồi xổm ở một chỗ để đi “ấy”, chúng tôi ngồi trên xe du lịch đi qua, nhìn thấy “vàng thoi” đang tuôn ra, có một con chó ở phía sau dùng lưỡi liếm “vàng thoi”, ông ta xả ra còn con chó thì ở phía sau ăn.

Người chịu giới kiểu này không đi xin ăn, tức là ở trên mặt đất có cái gì thì ăn cái đó, người tu hành chịu giới trâu giới chó sẽ giống như trâu chó, tức là học theo cách sinh hoạt của chúng. Không tắm gội, trên mặt đất có gì thì ăn cái đó, hoặc nhặt những thứ từ trong đống rác ra ăn. Trong thời hiện đại mà nói thì đây cũng xem là một pháp khổ hạnh phi thường, nhưng mà không hợp vệ sinh, trong Chân Phật Tông chúng ta không yêu cầu điều này.

Ngoài ra còn có người thực hành ngồi chứ không nằm, ngồi chứ không nằm chính là bất đảo đan [không rời chỗ ngồi], hàng ngày đi ngủ thì cứ ngồi chứ không nằm, đây cũng là pháp phi thường, không phải phương pháp bình thường. Nếu bạn cảm thấy mình thích hợp thì bạn có thể thực hành, nhưng có một số người không thích hợp, người không thích hợp thì không cần thực hành.

Ở đây có mấy trọng điểm: Chích máu viết kinh nếu không ảnh hưởng đến tình hình sức khỏe của bạn, bạn biết cách chăm sóc thân thể mình, chỉ là dùng một cây kim để chích ra một ít máu, sau đó bạn chấm để viết kinh, tôi cho rằng như thế này cũng được, bởi vì không làm tổn hại đến thân thể bạn. Nhưng bạn phải chú ý đến bệnh uốn ván, sau khi bạn chích máu, bạn phải dùng cồn để lau, đừng để cho nó bị uốn ván, đừng để vi khuẩn đi vào, chú ý vệ sinh sinh lý một chút.

Trong phạm vi không ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn, phát nguyện chích máu viết kinh cũng có thể được, nhưng giả sử bạn cắt đứt ngón tay, để cho máu chảy ra, dùng ngón tay để viết, thế thì không được, như thế thì không tốt, bởi vì cái này có khả năng bị uốn ván, theo y học hiện đại mà nói thì không hợp vệ sinh sinh lý.

Tôi cảm thấy pháp có thường pháp và phi thường pháp. Thường pháp tức là tu hành hợp với tự nhiên, bản thân Chân Phật Tông đề xướng thường pháp, là tu hành hợp với tự nhiên, đừng có phi thường pháp.

Nhưng mà giả sử bản thân bạn nghĩ rằng bạn muốn thực hiện phi thường pháp, bạn buộc phải suy ngẫm đến sức khỏe của chính mình có thể chịu được không, suy ngẫm ý nghĩa của việc mà thân thể bạn đang làm nằm ở đâu. Phải suy nghĩ đến hiệu quả, hiệu ứng của chính bản thân bạn, làm như vậy có giúp ích gì cho bạn không.

Đây là sự phân biệt giữa thường pháp và phi thường pháp. Hôm nay giảng tới đây. Om mani padme hum.

12/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

177. Phương pháp tu hành hợp với tự nhiên (4)

Chúng ta lại nói về phương pháp tu hành hợp với tự nhiên.

Nhắc đến thường pháp là nói đến phương pháp tu hành bình thường. Còn phi thường pháp là phương pháp tu hành tương đối phản tự nhiên.

Phương pháp tu hành bao gồm cả phi thường pháp, đương nhiên là có, nhưng cần phải xem giá trị và ý nghĩa của nó, và xem khả năng chịu đựng của thân thể chúng ta. Có một số người muốn dùng phi thường pháp để tu hành thì cũng được, nhưng phải chú ý một chút, đừng làm tổn hại đến thân thể của chính mình, phải có người chăm sóc bạn.

Ví dụ bạn tu chỉ ngồi không nằm, bạn cảm thấy tu bất đảo đan thì tinh thần tốt hơn, hơn nữa không ảnh hưởng đến làm việc và nghỉ ngơi ban ngày, thể lực của bạn vẫn rất tốt, tinh thần rất dồi dào, vậy thì bạn có thể làm, đây là sự khác biệt về thể chất của mỗi người.

Thể chất của mỗi người không giống nhau, có một số người ngày ăn một bữa là được, nhưng có một số người một bữa ăn phải ăn năm, sáu bát cơm, bạn lại bảo họ ngày ăn một bữa, vậy chẳng phải muốn anh ta chết đói sao? Thể chất của mỗi người không nhất định là giống nhau, có một số người ăn rất ít, họ nói buổi trưa ăn một bữa cơm là có thể cả ngày đều ổn, vậy thì bạn có thể thực hành không ăn sau giờ Ngọ. Ngày ăn một bữa thuộc về phi thường pháp, phải xem thể chất của cá nhân để mà thích ứng, ở đây có liên quan đến vấn đề thích ứng.

Đương nhiên, giống như đốt ngón tay cúng Phật, cái này thì đừng làm, thiêu thân cúng Phật cũng đừng làm. Bạn ném mình xuống vực xả thân, bạn quăng mình xuống vách núi cao dốc, nói rằng như thế là có thể vãng sinh, việc này tuyệt đối đừng làm. Xả thân cho hổ ăn cũng đừng làm. Thượng sư Liên Bảo nói: “Người hiện đại thì có chỗ nào mà xả thân cho hổ ăn, là xả thân cho “hổ cái” ăn thôi.” Việc này cũng đừng làm, người xuất gia chúng ta đương nhiên không thể xả thân cho “hổ cái” ăn rồi, còn người tại gia có xả thân hay không thì tôi không biết.

Cũng có một phi thường pháp nữa gọi là “ban chu tam muội”, pháp ban chu tam muội xuất phát từ Ban Chu Tam Muội Kinh. Trong kinh nói như thế này, chỉ đứng không ngồi, cũng không nằm, đây cũng là pháp phi thường, tức là nói rằng một hành giả ở trong một căn phòng, anh ta chỉ đứng, hoàn toàn không nằm, cũng không ngồi xuống, đứng và đi bộ, cứ liên tục đi, một, hai, một, hai, cứ như thế liên tục đi về phía trước, khi đi thì niệm Phật.

Theo trong kinh điển có viết, đi như thế này thì phải đi bao lâu? Ở trong một căn phòng, phải đi 90 ngày. Oa! 90 ngày là quá lâu đó, nhưng cũng có thời gian 7 ngày, cũng có thời gian 9 ngày, cũng có thời gian 10 ngày, tức là đứng và đi, không ngừng niệm Phật. Thế có ngủ không? Nói đúng ra là không ngủ, pháp này gọi là làm pháp ban chu tam muội.

Đại bộ phận người thực hành pháp này là nhốt mình không ra ngoài, chỉ ở bên trong đi lại, cứ thế đi, niệm A Di Đà Phật, cứ thế niệm, vừa đi vừa niệm, chỉ ở trong phòng thôi, cũng không đi ra ngoài, trong thời gian 7 ngày, không hề ngồi xuống, cũng không nằm xuống. Tôi nghĩ cần phải ăn các thứ, ăn một chút đồ ăn là việc cần thiết, nhưng ăn thì làm sao có thể không ngồi xuống chứ? Đây cũng là một vấn đề, nhưng trong kinh điển viết như thế, tôi chỉ là chiếu theo kinh điển mà nói thôi.

Hiệu quả của việc làm thế này ra sao? Trong quá khứ, người đã thực hành ban chu tam muội, chỉ đứng và đi, tinh tấn không dừng, bạn có thể nhìn thấy tất cả Phật xuất hiện, giống như sao trên trời vậy. Đứng dậy bước đi niệm Phật chính là ban chu tam muội, thời gian là 7 ngày, bạn có thể nhìn thấy cảnh tượng khác lạ, nhưng cũng không dễ dàng duy trì, không dễ dàng làm được điều này, vì sao? Bởi vì giả sử một người cứ liên tục đi không dừng, nếu không ngủ thì một ngày còn có thể duy trì được, hai ngày cũng có thể duy trì được, ba ngày cũng miễn cưỡng duy trì được, nhưng đến ngày thứ tư khả năng sẽ xuất hiện huyễn giác, tức là sẽ có hiện tượng ảo giác xuất hiện.

Vì thế cũng có người nghiên cứu pháp ban chu tam muội này, cho rằng pháp ban chu tam muội vào ngày thứ ba, thứ tư có thể nhìn thấy Phật, có khả năng bản thân Phật đó là Phật huyễn, bởi vì trong tâm bạn nghĩ đến Phật, miệng niệm Phật, liên tục không ngủ thì chắc chắn sẽ sinh ra ảo giác. Hiện tượng sinh ra ảo giác tức là tất cả Phật Bồ Tát sẽ trôi trong hư không, giả sử định lực của bạn đủ, bạn có thể nhìn thấy Phật, có thể có thành tựu, đây là chứng đắc có kỳ hạn, nhưng giả sử bản thân bạn định lực không đủ, nói không chừng khi ảo giác sinh ra, sau này bạn sẽ bị huyễn thị và huyễn thính.

Là huyễn thính chứ không phải là nhà ăn để ăn cơm đâu, là nghe thấy rất nhiều âm thanh khó hiểu; huyễn thị là nhìn thấy rất nhiều thứ kỳ quặc, hai thứ này đều do ảo giác của bạn sinh ra. Huyễn thị và huyễn thính chính là bệnh tâm thần, sẽ bị tâm thần phân liệt, cho nên thực hành phi thường pháp đôi khi sẽ liên quan đến tâm thần, sinh ra chứng tâm thần phân liệt chính là ở chỗ này. Vì thế, chúng ta dùng thường pháp để tu hành, mặc dù tương đối chậm, thời gian tương đối dài một chút, nhưng sẽ không sinh bệnh, còn phi thường pháp rất dễ sinh bệnh.

Cho nên hôm nay chúng ta học Phật, tôi cho rằng chúng ta vẫn nên tu một cách tự nhiên, như thế tương đối tốt hơn, ví dụ bạn trì Bảo bình khí, bạn đừng khăng khăng là phải giữ được bao lâu, bạn nhịn thở không được nữa thì bạn nhanh chóng hít thở, bởi vì chỉ cần bạn miễn cưỡng là chắc chắn sẽ sinh bệnh, khí sẽ đi sang đường rẽ, khí sẽ chạy tới đường rẽ, khí này sẽ chạy lung tung thì thân thể sẽ sản sinh ra các bệnh liên quan đến tu khí. Vì thế, tu Bảo bình khí cũng phải tự nhiên mà làm, bạn có thể giữ được bao lâu thì giữ bấy lâu, đừng miễn cưỡng, đến lúc cần phải thở ra thì bạn hãy thở ra, cần hít vào thì bạn hãy hít vào. Hôm nay giảng tới đây thôi. Om mani padme hum.

12/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

178. Nói về vô ngại (1)

Hôm nay tôi nói với mọi người về vô ngại.

Vô ngại - chữ ngại này là ngại trong từ chướng ngại. Từ hồi đầu rất lâu trước đây tôi có viết một cuốn sách, chính là nói về “triết học vô ngại”. Ý của tôi là thế này, một người giả sử có thể hoàn toàn không có trói buộc tức là đã đạt đến cảnh giới vô ngại, viết về triết học vô ngại tức là đang giải thích về một cuộc sống không có chướng ngại.

Trong Phật pháp cũng nhắc đến vô ngại, ý là không có chướng ngại. Phật pháp khi đạt đến cảnh giới rất cao rồi thì cũng là vô ngại, không còn chướng ngại gì cả.

Tôi lấy vài ví dụ đơn giản để nói với mọi người. Ví dụ lần này chúng tôi đến Ấn Độ, Nepal, trước khi đi Ấn Độ, mọi người đều có tìm hiểu trước, bởi vì chất lượng cuộc sống và điều kiện sống của Ấn Độ khác với nước Mỹ. Nước ở đó cũng không thể dùng để uống, không giống Seattle, nước máy ở Seattle chỉ cần mở ra là có thể uống được, ở Ấn Độ thì nước đó không thể uống được, cho nên mọi người đều mang theo nước suối.

Điều kiện sinh hoạt ở đó rất bẩn, nghe nói có bệnh sốt rét, thổ tả, đủ loại bệnh kinh dị. Những người muốn đi không ai bảo ai mà 17 trong số 18 người đều đi tìm bác sĩ để tiêm phòng, tiêm sáu mũi, bao gồm uốn ván, bạch hầu, dịch hạch, nói chung cái gì cũng tiêm hết, mỗi người đều tiêm sáu mũi, chỉ có một người không tiêm, người đó chính là Sư Tôn.

Sư Tôn không tiêm, vì sao tôi không tiêm nhỉ? Có phải là vô ngại không? Có phải là không có chướng ngại gì, ngay cả bệnh cũng không thể gây chướng ngại cho tôi, có phải là như vậy không?

Thật ra trong lòng tôi cũng cảm thấy lo lắng, rất muốn đi tiêm. Tôi rất muốn đi tiêm, nhưng tôi bình sinh có một căn bệnh, đó là tôi không thích tiêm, trong đời tôi tôi từng phải tiêm chính là lúc làm lính, kiểm tra sức khỏe thì phải tiêm. Mỗi khi tôi ốm thì hầu hết là đều không tiêm. Khi có bệnh gì đang phổ biến tôi cũng không tiêm.

Có phải là vì có cách nghĩ này cho nên mới không tiêm không? Không phải, mà là tôi có cách nghĩ về vô ngại, cộng thêm tôi không thích tiêm, cho nên tôi mới không đi tiêm. Trong số tất cả mọi người chỉ có một người không tiêm, chính là tôi. Và cũng chỉ có một người không bị ốm, cũng là tôi. Những người khác hầu hết đều gặp sự cố lớn nhỏ, chỉ có một mình tôi là không sao cả, đây có phải là vô ngại không? Thật lòng mà nói thì cũng không phải là vì vô ngại.

Tôi có một cách nghĩ: giả sử bị ốm ở Ấn Độ, ở Nepal, thật sự mắc phải bệnh gì đó, cách nghĩ của tôi khác với mọi người, thật sự bệnh đến thì tôi cho rằng đây cũng là tu hành, bởi vì khi có bệnh trên người, bạn có thể từ bệnh này mà quan sát, cho thấy thân thể bạn vẫn còn có nghiệp chướng, là nghiệp chướng của bản thân bạn.

Hơn nữa trong quan niệm của tôi, bệnh cũng có điểm tốt, bệnh không hoàn toàn là xấu. Bệnh có điểm tốt gì? Khi một người mắc bệnh, tâm trí của họ sẽ tương đối định. Khi một người không có bệnh, khi thân thể khỏe mạnh, tâm trí của họ giống như ngựa chạy, tối nay tôi muốn đi đâu, ngày mai tôi có kế hoạch làm việc gì, sau đó là muốn đạt được lợi gì, danh gì, ham muốn rất cao. Khi bạn bị bệnh rồi, những ham muốn của bạn sẽ hoàn toàn lắng xuống, bởi vì bạn còn không thể cử động được, bạn còn có thể có ham muốn gì đây?

Khi ham muốn lắng xuống, trong lòng bạn sẽ định, bạn sẽ suy ngẫm cái gì mới là thứ bạn cần làm, cái gì mới là việc thật sự có ý nghĩa lúc này mới hiển hiện ra. Khi một người mắc bệnh nặng, ham muốn của người đó cũng bằng 0, chẳng còn ham muốn gì, sống như một Thánh hiền. Bởi vì bạn mắc bệnh nặng, rơi vào hoàn cảnh không thể bước nổi một bước, không thể đi làm việc xấu, thân thể thật sự là thanh tịnh, khẩu cũng thanh tịnh, những điều nói ra cũng là lời hay ý đẹp.

Bởi vậy nói rằng, khi thân thật sự thanh tịnh là khi nào? Là khi bạn nằm viện, lúc này khẩu đương nhiên cũng thanh tịnh, hơn nữa ý niệm của bạn có thể rất định, lúc này chú ngữ mà bạn niệm, kinh Phật mà bạn niệm thật sự có thể đi vào nội tâm bạn, chính là vào lúc này.

Vì thế, bệnh đến không chỉ là tiêu nghiệp chướng, mà còn là để cho bạn thật sự nhận thức được về tu hành. Tôi nghĩ như vậy cho nên mới vô úy, vô ngại, có bệnh cũng không sao cả, bệnh đến tức là muốn tôi tu hành, tức là tiêu nghiệp chướng của tôi, là để cho tôi tiến vào trong cảnh giới càng “định” hơn. Sự giày vò của nhục thể có đôi khi là như vậy, để tâm bạn càng thêm kiên định, thật sự thân khẩu ý thanh tịnh, đây chính là triết học vô ngại của tôi.

Om mani padme hum.

13/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

179. Nói về vô ngại (2)

Chúng ta lại nói về vô ngại.

Ngay từ sớm tôi đã viết ra “triết học vô ngại”, đây là một kiểu tư tưởng của bản thân cuộc đời con người, cũng là tư tưởng của tôi. Chúng ta lại lấy ví dụ: khi chúng tôi đến Ấn Độ, Nepal, bầu trời Ấn Độ có hai chiếc máy bay, một cái thì muốn cất cánh, một cái thì muốn hạ cánh. Bầu trời rộng lớn như vậy, nhưng đúng là oan gia ngõ hẹp, chúng lại đâm vào nhau. Bạn nói xem, xe chạy trên đường bằng đâm vào nhau, chẳng qua xe sẽ bị hỏng, người có khi vẫn ổn cả, còn máy bay trên bầu trời hễ đâm vào nhau thì người rơi xuống, trừ phi trên người bạn có đeo sẵn dù, bằng không thì sẽ nát bét hết cả, thịt nát xương tan, toàn bộ đều chết hết.

Người ta hỏi tôi: “Có sợ không?” Khi ấy chúng tôi cũng rất căng thẳng, chúng tôi ở New Delhi, trong khi trên đường từ Jammu trở về Delhi, Thượng sư Liên Ninh đọc báo thì giật thót mình, suýt chút nữa là nhảy dựng lên, đúng lúc máy bay của chúng tôi phải bay trở về New Delhi. Oa! Rất nhiều người rất căng thẳng, người nhà của Thượng sư Cao ở Malaysia vừa đọc báo xong thì lập tức gọi điện thoại để kiểm tra, điện thoại từ Malaysia gọi đến để kiểm tra danh sách hành khách, rất căng thẳng. Khi ấy mỗi người chúng tôi đều đang ở trên máy bay.

Triết học vô ngại là như thế này: cuộc đời có rất nhiều tai nạn lớn nhỏ, đếm không xuể, những tai nạn đều là đột ngột, chớp mắt một cái đã xảy ra rồi, như là máy bay đâm nhau, bạn có cách gì không? Cho dù có sức mạnh lớn đến đâu bạn cũng đều chẳng có cách. Vận mệnh của máy bay và những nhân viên phục vụ, bạn ngồi trong đó bạn chịu theo vận mệnh của máy bay, bạn chẳng có cách nào kiểm soát được.

Đối với những việc bất ngờ, trong triết học vô ngại nói rằng cũng không cần căng thẳng. Ví dụ lấy Sư Tôn để nói, người học Phật, tự mình đã nắm chắc việc vãng sinh rồi, trong chớp mắt là vãng sinh, rất nhanh đúng không! Quá thoải mái phải không? Đều sẽ không trải qua bệnh khổ, cũng không phải trải qua thế nào đó, chớp mắt một cái là hết rồi, là vãng sinh rồi, quá tốt. Good! Problem is ok. Như thế này là tốt nhất, là nhanh nhất. Có đau khổ không? Vài giây là xong hết! Chớp mắt một cái, giống như tiêm, thế là xong, thế là kết thúc rồi. Thế này là tốt mà! Kiểu tai nạn này, tôi cho rằng trong triết học vô ngại của chúng ta nói, Phật Bồ Tát Bổn tôn luôn luôn trụ đỉnh, trong chớp mắt, việc ngoài ý muốn xảy ra, lập tức tiếp nhận, lập tức vãng sinh, tôi không sợ, không căng thẳng.

Trong cách nghĩ của tôi, tôi không lo lắng hay sợ hãi, có người hễ lên máy bay là bị chứng sợ máy bay, nhìn xung quanh xem những người kia có bộ mặt nguy hiểm không, xem những hành khách khác có xui xẻo giống mình không, nhìn một hồi lâu, dường như họ cũng có vẻ may mắn, mới yên tâm ngồi xuống, còn hễ nhìn thấy khuôn mặt nào tái xanh là bắt đầu giống như họ, đây là chứng sợ máy bay.

Tôi nói với kiểu người này rằng “ngày ngày đi máy bay”, đi cho đến khi không sợ nữa, việc gì càng sợ thì bạn càng phải làm, sau cùng bạn sẽ không sợ nữa. Có một cách ngược lại, đi máy bay mãi thì bạn sẽ không sợ nữa, giống như ngồi trong chiếc nôi vậy, sẽ chẳng sao cả.

Triết học vô ngại là thế này, xảy ra tai nạn bất ngờ, mau chóng vãng sinh. Tôi vừa lên máy bay là lập tức niệm Phật, quán tưởng Phật trụ đỉnh, trì chú, biểu thị Phật và tôi hợp nhất, làm quán tưởng như vậy xong thì tôi trì chú, đã kiên cố rồi thì bạn còn sợ cái gì nữa? Đi thì đi thôi. Số đã định rồi thì có sao đâu, đây chính là vô ngại, không có chướng ngại gì cả.

Ấy, có người muốn hại tôi, trên thế giới này chuyện hại tới hại lui rất nhiều, có người nói: “Có người muốn hại Sư Tôn, nói không chừng Sư Tôn sẽ gặp họa tù tội, phải trừ khử hắn ta đi.” Ngại gì! Chúng ta xem nơi đó là phòng bế quan, đây cũng là triết học vô ngại. Giả sử bạn có chướng ngại, rất nhiều nơi bạn không thể đi, còn hôm nay bạn đã vô ngại rồi thì bất kì nơi nào bạn đều có thể đi.

Bế quan, đóng cửa ở trong phạm vi nhỏ, đây là một kiểu tu hành rất tốt, có thể khiến cho thân, khẩu, ý thanh tịnh. Ở trong nhà lao, thân thể không thể đi làm việc xấu, chân không thể bước ra cửa, giữ được mồm miệng tránh khẩu nghiệp, ý niệm thanh tịnh, không có những thứ hình sắc bên ngoài lôi kéo bạn, coi như bế quan luôn, đây cũng là tu hành.

Bạn có được cách suy nghĩ này thì chính là vô ngại, không có chướng ngại gì cả, bạn sẽ quan sát được mọi thứ vô cùng rõ ràng, minh bạch, cuộc sống của bạn có thể tự chủ nhậm vận, đây chính là vô ngại. Học Phật học đến cảnh giới rất cao rồi, tự nhiên bạn sẽ đạt đến cảnh giới vô ngại.

Đến được cảnh giới vô ngại rồi, bạn sẽ có thể tự chủ, có thể nhậm vận, tất cả đều không hề gì, tất cả đều là tùy bạn làm, bất kể như thế nào bạn cứ đi là sẽ đúng, hơn nữa, đối với tất cả sự vật trên thế gian, bạn nhìn rất rõ ràng minh bạch, bạn có thể tự chủ, nhậm vận hành vi của mình, đây chính là triết học vô ngại.

Đây chính là một thành tựu trên con đường tu hành của bạn, lúc này bạn đã siêu việt thế tục thông thường, hoàn toàn siêu việt, mọi người hãy lĩnh hội điều này cho thật tốt.

Om mani padme hum.

13/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

180. Nói về tu pháp (1)

Hôm nay nói về tu pháp. Tu pháp Mật giáo có một bộ nghi quỹ thực tu, thời gian thì có nghi quỹ dài, có nghi quỹ ngắn, nếu bạn làm từ tốn thì thời gian sẽ dài, giả sử bạn làm một cách tinh giản thì thời gian mất khoảng nửa tiếng. Cho nên lấy Chân Phật Mật Pháp của chúng ta để nói, ví dụ lần này chúng tôi đi đến Thượng Mật Viện ở Dharamshala Ấn Độ xem người ta tu pháp, họ tu một đàn pháp, chúng tôi hỏi họ thời gian bao lâu, họ nói bảy tiếng đồng hồ, seven hours, còn một đàn pháp của chúng ta chỉ có nửa tiếng.

Bạn xem họ làm triệu thỉnh, hoặc phát bồ đề tâm, họ làm rất kĩ rất chi tiết, chỉ riêng triệu thỉnh thì niệm văn triệu thỉnh bảy lần, không chỉ niệm văn triệu thỉnh mà còn phải đứng dậy, trì chú kết thủ ấn, làm quán tưởng, rất nghiêm chỉnh thỉnh Phật Bồ Tát đến, chỉ riêng triệu thỉnh thôi họ đã làm hết cả nửa tiếng rồi, tương đương với Chân Phật Mật Pháp của chúng ta tu một đàn pháp.

Phát bồ đề tâm, không phải là niệm xong văn phát bồ đề tâm là phát bồ đề tâm xong, không những phải niệm văn phát bồ đề tâm mà còn có chú ngữ, có văn, phải niệm, cứ thế niệm, niệm, tốn thời gian rất dài, còn có rất nhiều nghi quỹ, bất kì bước nào cũng đều rất dài, niệm kinh văn lại càng dài hơn.

Lúc này chúng tôi cũng rất hiếu kỳ hỏi họ: “Tu pháp bảy tiếng đồng hồ, giả sử có một số người không nhịn được thì phải làm sao?” Trong khi làm pháp hội bảy tiếng đồng hồ, có người chưa đến nửa tiếng đã đứng dậy đi restroom [nhà vệ sinh], ngồi xuống chưa được bao lâu lại bắt đầu thấy “mót”, lại đi restroom, vậy họ phải làm sao?

Geshe Thiên Thanh nói thế nào, ông ấy nói: “Gạch bỏ tên, không có tư cách tham gia pháp hội tu pháp thì gạch bỏ tên. Nói chung, Lama hòa thượng trong khi làm pháp hội không có chuyện đi vệ sinh, tinh thần tập trung vào việc tu pháp thì bạn sẽ quên hết tất cả, căn bản là không nghĩ đến việc đi tới nơi đó, sẽ không nghĩ đến nó.”

Nghe ông ấy nói vậy, bạn có thể thử nghĩ một chút: nhìn chung mà nói, người trẻ tuổi tương đối không có sự phiền toái này, người cao tuổi có khi một đêm phải dậy một lần là điều rất bình thường, cũng có khi hai lần, ba lần. Bình thường vì sao buổi tối không cần phải đi tiểu? Chủ yếu cũng là vì sự tập trung vào giấc ngủ, chỉ một chốc là sáu, bảy tiếng đồng hồ đã trôi qua, cho nên không cần đi tiểu.

Giả sử bạn học được cách tập trung tinh thần, bạn cũng có thể tập trung vào kinh điển nên sẽ quên mất nhu cầu đi tiểu, vì thế trong Mật giáo, các Lama hòa thượng làm pháp hội bảy tiếng đồng hồ, mỗi người đều học công phu nhịn tiểu. Trên thực tế chúng ta cũng có thể làm như vậy, đây là một cách luyện tinh thần rất chuyên nhất, đừng nghĩ đến cái gì khác, bạn sẽ quên hết tất cả. Giả sử bạn không thể tập trung tinh thần, bạn sẽ nghĩ đến một số chuyện gì đó thì bạn sẽ gặp phải hiện tượng “mót”, vậy thì bạn nhất định phải đi.

Bởi vậy giả sử mọi người học Tạng mật, đến Dharamshala, đến Nam Ấn Độ, đến Tây Tạng, đầu tiên phải học được công phu nhịn tiểu, một khi đã vào pháp hội bạn không thể tùy tiện đứng lên. Chúng ta bây giờ chỉ có nửa tiếng là rất easy, rất đơn giản, tương đối hợp với thời đại hóa. Tu pháp đương nhiên pháp ở mỗi địa phương là khác nhau, nhưng cũng không tách rời mấy thứ, ví dụ làm cúng dường, vì sao phải làm cúng dường? Cúng dường chính là cung kính, biểu thị tâm ý của bạn. Có đôi khi bạn sẽ mất đi tâm cung kính, bạn làm cúng dường chính là vì không để cho tâm cung kính của mình bị mất đi.

Trong Mật giáo làm cúng dường, ví dụ chúng ta niệm chú thì tương đối đơn giản, tương đối ngắn, chúng ta kết ấn cúng dường, niệm chú cúng dường, dùng quán tưởng biến hóa. Họ ở Thượng Mật Viện làm cúng dường, tôi tin rằng cũng mất một tiếng đồng hồ, làm một phần cúng dường đã mất một tiếng đồng hồ rồi, mỗi loại cúng dường đều rất kĩ, ví dụ bát cúng, làm đại cúng dường ba mươi bảy món cúng, mỗi một loại cúng dường đều chậm rãi quán tưởng, chậm rãi niệm chú, chậm rãi kết ấn, cho nên thời gian của nó sẽ kéo ra rất dài. Ba mươi bảy món cúng đều phải quán tưởng, đều phải niệm chú.

Hôm nay chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp là may mắn cho mọi người. Trong Tạng mật, mỗi thủ ấn đều phải quán tưởng ra, mỗi chú ngữ đều phải biến hóa thành. Đây cũng là chỗ hợp với thời hiện đại của Chân Phật Mật Pháp.

Hôm nay giảng tới đây.

16/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

181. Nói về tu pháp (2)

Chúng ta lại nói về tu pháp.

Trong nghi quỹ tu pháp, không chỉ có cúng dường mà còn có lễ bái, triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát đến để lễ bái. Lễ bái thể hiện sự vô cùng cung kính đối với chư Phật Bồ Tát, đồng thời thể hiện sự khiêm nhường cung kính của bản thân, biểu hiện một sự cầu nguyện vô cùng thành kính, một sự phát bồ đề tâm.

Chân Phật Mật Pháp đại lễ bái dùng quán tưởng đại lễ bái, dùng phương pháp quán tưởng để thực hiện, bởi vì mọi người cùng tu nên dùng quán tưởng; ở Thượng Mật Viện Dharamsala làm đại lễ bái, không chỉ có ba lạy. Thỉnh một vị đến, bạn niệm: "Ôm a-ra-pa-cha-na-đi" thỉnh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến, rồi quán tưởng ngài tiến vào, lên pháp tọa, sau đó bắt đầu làm đại lễ bái đối với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, làm xong lại xếp hàng, lại triệu thỉnh.

Thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát, "Ôm ma-ni pê-mi hùm" tụng tụng tụng... tụng xong, tốt! Quan Thế Âm Bồ Tát được thỉnh lên pháp tọa, lại làm đại lễ bái... Thỉnh Đại Thế Chí Bồ Tát, thỉnh Vô Tận Ý Bồ Tát, mỗi lần thỉnh một vị đều làm đại lễ bái, cho nên một loại đại lễ bái cũng mất một tiếng đồng hồ, thời gian cũng rất dài như vậy, hơn nữa tỉ mỉ cẩn thận, không bỏ sót điều gì, các vị Phật Bồ Tát liên quan đều được thỉnh, một lần thỉnh là rất nhiều vị, bạn lạy đến choáng váng hoa mắt, vì vậy một đại lễ bái mất một tiếng đồng hồ, đây cũng là một biểu hiện của sự cung kính, ngưỡng mộ, tự đặt mình ở vị trí thấp kém, trong nghi quỹ đều có.

Khi tất cả chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành đều đã được thỉnh đến, đã triệu thỉnh xong, cũng đã làm đại lễ bái và cúng dường xong, lúc này phải niệm chú tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Ý nghĩa của việc niệm chú này là gì? Chính là quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư, quy y tất cả.

Trong tu pháp cần phải niệm chú tứ quy y, bởi vì chúng ta thường hay quên mất việc quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư. Bình thường khi không tu hành tức là đã vi phạm ý chỉ của Phật, vi phạm Phật pháp, vi phạm thân phận của người xuất gia, vi phạm sự cung kính Kim cương Thượng sư. Vì vậy niệm chú tứ quy y chính là để thường xuyên nhắc nhở bạn rằng bạn là người quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, quy y Kim cương Thượng sư. Điều này nhất định phải làm.

Khi tôi cùng làm pháp hội với Ba Mễ Cường Ba [Bomi Rinpoche], Thố Như Thứ Lãng [Khro-ru Tshe-rnam] Rinpoche và các vị khác, trong mỗi đàn pháp họ đều thực hiện pháp mặc giáp hộ thân và pháp phòng ma. Họ dùng đầu lâu người, tay cầm chày kim cang, việc kết giới cũng đều phải làm.

Có người nói rằng: "Tôi không cần làm mặc giáp hộ thân, tôi chính là Phật." Họ cho rằng mình đã thành Phật rồi, tôi chính là Phật tính. Đương nhiên ý nghĩa sâu xa nhất của điều này không sai, khi Phật tính vốn có của bạn hiển lộ, bạn chính là Phật. Nhưng khi Phật tính của bạn chưa hiển lộ, khi bạn chưa khai ngộ, bạn vẫn còn là phàm phu! Bạn nhất định phải làm pháp phòng ma và mặc giáp hộ thân.

Mặc giáp hộ thân không chỉ làm lúc tu pháp, ngay cả khi đi vệ sinh cũng phải búng tay, tại sao phải búng tay? Để biểu thị rằng tôi muốn đi vệ sinh, bên trong có những thứ xin mời ra ngoài, hành giả sắp vào nhà vệ sinh rồi, búng một cái tay là có ý nghĩa như vậy, cho nên đi vệ sinh có chú ngữ nhà vệ sinh, đi đâu cũng có chú ngữ.

Khi hành giả đi ngủ cũng phải kết giới, khi tu pháp phải mặc giáp hộ thân, khi đi xa phải cầu xin Hộ pháp đi theo bên mình, khi đến bệnh viện thăm bệnh nhân, khi đi giúp người tụng kinh làm công đức, đều phải mặc giáp hộ thân, không thể nói không cần mặc giáp hộ thân, bạn tưởng rằng mình đã cao siêu lắm rồi, kiêu ngạo tự mãn, không được đâu, bởi vì Phật tính của bạn vẫn chưa hiển lộ. Nếu Phật tính của bạn đã hiển lộ, xung quanh bạn đều là Hộ pháp, tự nhiên sẽ phòng ma rồi. Vì vậy, vẫn phải mặc giáp hộ thân.

Chúng ta biết rằng, khi tu pháp cần phải trì tụng chú ngữ, phải quán tưởng, và cũng phải nhập Tam ma địa. Nhập Tam ma địa chính là thống nhất tinh thần, chính là định, từ định mới có thể đạt được trí tuệ Như Lai, Phật huệ mới hiển hiện ánh sáng nơi thân bạn, sẽ khai mở chủng tử thức của chính bạn, khai mở Phật thức của bạn, vì vậy, nhập Tam ma địa là rất quan trọng, đây thuộc về phần chính hành. Những phần trước đều thuộc về tiền hành; trì chú, quán tưởng, nhập Tam ma địa đều là chính hành.

Vừa rồi chúng ta cũng đã tu một đàn pháp, trong quá trình tu pháp, nếu bạn có quên mất nghi quỹ nào, hoặc tinh thần không được thống nhất, vọng niệm phiền phức, nghĩ đến nơi khác, đây chính là có sự thiếu sót. Lúc này bạn cần niệm chân ngôn Kim Cang Tát Đỏa, tất cả những sai sót của bạn, bởi vì bạn đã niệm Bách tự minh chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa, tất cả đều được bù đắp lại, tất cả công đức tu hành quy về tính Không, vì vậy chân ngôn của Kim Cang Tát Đỏa chính là một loại chân ngôn bổ khuyết, nó có thể bù đắp những thiếu sót của bạn.

Chúng ta tu tập như vậy mỗi ngày, tất cả đều có ý nghĩa, phải phát tâm bồ đề, phải cung kính, phải cúng dường, phải làm đại lễ bái, phải niệm tứ quy y, phải làm pháp mặc giáp hộ thân, phải đầy đủ tứ vô lượng tâm, tất cả đều có ý nghĩa của nó.

Còn Tam ma địa chính là thống nhất tinh thần, từ định mà cầu được trí huệ Như Lai, đó chính là mục đích tu pháp của chúng ta. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

16/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

182. Quán tự tại (1)

Hôm nay chúng ta nói về quán tự tại. Đây là ba chữ đầu tiên trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không".

Ba chữ "quán tự tại" này có cả phần lý thuyết và phần thực hành. Quán tự tại nói ra chính là diệu quan sát, diệu quan sát thuộc về phần lý thuyết.

Hai chữ "tự tại" rất dễ hiểu nhưng lại rất khó thực hiện, rất dễ nắm bắt nhưng rất khó thực hành. Tự tại mà tôi đề cập đến nên thuộc về hai loại tự tại:

Một loại là "Không tính tự tại", khi cảnh giới của bạn đạt đến một mức độ nào đó, bước vào Không tính, trong đó không có sự phân biệt, không có sự khác biệt, cảnh giới không có thứ bậc, tất cả đều bình đẳng. Lúc này chính là Không tính tự tại, cũng chính là không có khổ lạc, khổ tức là lạc, lạc tức là khổ, trong cảnh giới khổ lạc đều bình đẳng như nhau thì gọi là Không tính tự tại.

Một loại là "Pháp tính tự tại", Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân; trong đó Pháp thân có thể tự tại, Báo thân không nhất định được tự tại, Ứng thân càng không thể tự tại. Tại sao Pháp thân có thể tự tại? Bởi vì Pháp thân và Không tính là một, cho nên bình đẳng không có sự phân biệt, vì vậy có thể tự tại.

Trong Mật giáo khi nhìn vào Báo thân Phật, tất cả chư Phật trong đàn thành đều là Báo thân Phật. Khi đến Ấn Độ, Nepal xem nhiều tượng Phật, đều thấy đứt tay, đứt chân, không có mũi, đó là Báo thân Phật đấy! Tại sao lại đứt tay, đứt chân, không có mũi? Bởi vì sau khi người ngoại đạo vào Ấn Độ, họ đã phá hủy tượng Phật, tượng thờ, ngay cả tượng điêu khắc cũng không thoát khỏi.

Trong Mật giáo khi nhìn vào mandala, cũng được xem là đàn thành Báo thân. Tại Thượng Mật Viện Dharamsala, chúng tôi đã được thấy mandala cát Mật Tích Kim Cang. Đức Dalai Lama đã truyền pháp tại đó, truyền Mật Tích Kim Cang, mandala cát được tạo nên từ cát nhiều màu sắc.

Mật Tích Kim Cang mandala là thứ không cho người khác xem, rất thiêng liêng, được đặt trong tủ kính bốn mặt, xung quanh được phủ kín bằng nhiều lớp vải. Chúng tôi vì là khách đặc biệt nên được mở ra cho xem mandala cát Mật Tích Kim Cang.

Phương pháp của họ là như thế này: triệu thỉnh Pháp thân của tính Không vũ trụ vào mandala cát Mật Tích Kim Cang, Kim cương Thượng sư dùng pháp của chính mandala để quán đảnh cho tất cả mọi người. Khi Ứng thân Phật, Báo thân Phật, Pháp thân Phật hợp nhất thì mới làm quán đảnh, Pháp thân nhập vào Báo thân, Báo thân và Pháp thân nhập vào Ứng thân, từ Ứng thân để làm quán đảnh cho mọi người.

Mandala cát chính là Báo thân, sau khi làm quán đảnh xong, mandala cát được cúng dường cho Long thần, tức là đổ mandala cát xuống biển, thỉnh mời vào biển dâng cho Long tộc.

Cho nên vì sao mandala cát không được tự tại? Bởi vì có thành, có trụ, có hoại, có không, nên sẽ không tự tại. Báo thân không tự tại, Ứng thân càng không tự tại, Ứng thân nếu bị cảm cúm, nghẹt mũi thì làm Bảo bình khí không tự tại; Ứng thân Phật nếu bị trẹo chân thì đi đứng cũng không tự tại; họng bị khàn thì không thể thuyết pháp.

Ứng thân cũng không tự tại, cho nên có cái "thân" đều không tự tại, duy nhất tự tại chính là thuộc về tự tại của "Không tính" và tự tại của "Pháp tính", những thân khác rất khó đạt được tự tại, điều này nói ra thuộc về phần lý thuyết.

Quán Tự Tại Bồ Tát nên bao gồm một cái là "quán" - diệu quan sát, một cái là "chiếu" - chính là thực tu, thực hành.

Hai chữ "quán chiếu" thường thấy trong kinh điển Phật giáo, quán chính là diệu quan sát, chiếu chính là thực hành, cũng có thể nói là phóng quang.

Rất nhiều người nói về Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh, phần lớn mọi người đều dịch thành Quán Thế Âm Bồ Tát, cũng có người nói là Quán Tự Tại Bồ Tát, tôi cho rằng đây nên là danh xưng chung cho tất cả các vị Bồ Tát có thể tự mình quán chiếu tự tại, các ngài đều đã chứng ngộ năm uẩn đều không.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chính là "ngũ uẩn"; "giai không" chỉ tất cả đều biến hóa quy về Không tính, thân người có ngũ uẩn - sắc, thọ, tưởng, hành, thức, trong sự diệu quan sát chân chính và phóng quang, ngũ uẩn đều là không.

Đây đều là về mặt lý thuyết, trong kinh điển Phật giáo đều nói rất rõ ràng về mặt lý thuyết: Không tính là gì, Pháp thân là gì, tự tại là gì, đều rất rõ ràng, hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

17/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

183. Quán tự tại (2)

Chúng ta hãy nói thêm về quán tự tại.

Quán tự tại có cả phần lý thuyết và phần thực hành. Về mặt lý thuyết chính là diệu quan sát. Nhiều người đều có thể giảng về lý thuyết, chỉ cần là những vị Tiến sĩ Phật học, Giáo sư Phật học nghiên cứu Phật pháp, họ đều có thể giảng về lý thuyết, nhiều vị đại pháp sư đều giảng giải Tâm Kinh rất hay.

Bởi vì Tâm Kinh là một bộ kinh điển khai ngộ, về mặt lý thuyết, mọi người chỉ cần hiểu được Tâm Kinh là đã khai ngộ, trên lý thuyết là đã khai ngộ.

Nhưng trong sự quán chiếu thực tế, "chiếu" phải là phóng quang, nếu không thể phóng "quang", chỉ có lý thuyết về quang thì vô dụng, chỉ khi nào bạn có thể phóng quang mới có thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không.

Cho nên, dù bạn có thể quan sát tự tại, nhưng nếu không thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không thì cũng vô dụng, vì vậy chữ "chiếu" phải là thực tiễn và thực tu, tức là phải thực hành.

Trước đây sư phụ dạy tôi một pháp gọi là “tương ứng hư không”, muốn vào được tính Không thì phải hiểu phương pháp tu hành. Đây là phương pháp thực tu, tôi thường nói, khi tu pháp bạn hãy lên đỉnh núi cao, nhìn vào hư không màu xanh, trong thời tiết không một gợn mây, ngồi trên đỉnh núi cô đơn, hư không như một vòng tròn màu xanh. Trong trạng thái bầu trời quang đãng không mây, hãy đưa tâm về với hư không, đừng nghĩ ngợi gì cả, cảnh bên ngoài chính là hư không, tâm không còn ý niệm gì, sau đó hai mắt nhìn vào bầu trời trong xanh không mây, tâm tự nhiên hòa vào bầu trời không mây, đây là một phương pháp tu hành quán ngoại cảnh.

Còn bên trong thì sao? Bên trong do ảnh hưởng của ngoại cảnh, khi đưa tâm về với không, rất dễ khiến nội tâm của bạn phát sinh quang minh, điều này có ghi chép trong kinh điển. Trong “Quảng Bản Mật Tục” có đề cập, khi ngoại cảnh hoàn toàn hóa thành hư không, tâm bạn về với hư không, lúc đó ánh sáng nội tâm của bạn sẽ phát sinh.

Kinh điển Mật giáo có đề cập điểm này: bên trong phóng quang ở đâu? Chính là bạch mạch tâm quang, tức là ánh sáng Tâm luân.

Tâm quang sẽ phát sinh, bình thường chúng ta tu pháp, trong ngũ luân, nâng lửa lên, đưa bồ đề tâm nguyệt dịch xuống Tâm luân, cùng chuyết hỏa dung hợp với nhau, khi tâm của bạn khai mở, bạch mạch tâm quang sẽ hiện ra, đây là một trọng điểm.

Bình thường bạn có tu tập, kết hợp với việc lên đỉnh núi cao, đưa tâm về với hư không, tâm quang lại hiển lộ, chính là chuyết hỏa thăng lên, bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống, dung hợp khai mở Tâm luân, khiến ánh sáng màu trắng hiện ra, điểm này rất quan trọng.

Thường ngày có tu tập, sự kết hợp của ánh sáng bên ngoài và bên trong chính là Mật, vậy Mật là gì? Có bốn hiện tượng:

Một hiện tượng là "định" - khi tu pháp trên đỉnh núi phải ngưng thần, tâm phải định, định vào hư không, tinh thần tập trung chính là định.

Tiếp theo là "rộng" - bạn phải cảm nhận được vũ trụ rộng lớn vô tận vô biên, không bị thân thể của mình ràng buộc, thân thể không thể trói buộc bạn, như thể bạn đã hòa vào hư không.

Tâm ở trong hư không, thân thể cũng ở trong hư không, không có bất kỳ chướng ngại ràng buộc nào, vừa phải rộng, lại phải lỏng.

“Lỏng” là gì? Lúc này đừng vì tập trung tinh thần và ngưng thần mà cảm thấy căng thẳng, phải rất thư thái, thản nhiên thả lỏng, cần đạt được trạng thái vừa ngưng thần vừa thả lỏng, điều này cần phải điều chỉnh cho vừa phải, vừa rộng, vừa lỏng, lại vừa rất định.

Bí quyết cuối cùng là "hiển" - hiển lộ ánh sáng của bạn, khi tâm quang của bạn phát lộ, chính là phải tương ứng với hư không, ở bên ngoài, ở tâm, ở hư không, ở bên trong, ánh sáng ở Tâm luân của bạn tự nhiên hiển lộ ra.

Trong Mật giáo có thể nói bốn chữ là: "định", "rộng", "lỏng", "hiển". Pháp tu này, nhìn bề ngoài thì không có gì, chỉ là ngồi trên đỉnh núi thôi! Vận chuyển chuyết hỏa và bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống, rồi khế hợp với bốn bí quyết này, chỉ đơn giản vậy thôi.

Nhưng bạn không biết rằng việc chuyết hỏa thăng lên, bồ đề tâm nguyệt dịch giáng xuống đã phải tốn rất nhiều công phu rồi, việc đưa tâm lên đặt vào hư không cũng phải tốn rất nhiều công phu.

Khi kết hợp phần một và phần hai lại với nhau cũng là một công phu, nhìn bề ngoài thì có vẻ rất dễ dàng, rất đơn giản, nhưng thực ra đây là một pháp Đại Viên Mãn.

Phương pháp tu hành Đại Viên Mãn là như thế này - tâm ở trong hư không, ánh sáng nội tâm hiển lộ, hai phần này kết hợp chặt chẽ với nhau, ngay lập tức bạn hiển hiện ra cảnh giới đốn siêu, đó chính là Đại Viên Mãn.

Lúc đó, sự lĩnh ngộ của bạn là vô biên vô tận, sự thực tu quán tự tại chính là như vậy.

Hôm nay nói đến đây. Om mani padme hum.

17/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

184. Phẩm vị của hành giả (1)

Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về "phẩm vị của người tu hành".

Hai chữ "phẩm vị" hiện nay rất thịnh hành, ai cũng đề cao phẩm vị, và những người tu hành chúng ta cũng có phẩm vị của người tu hành. Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, mặc dù một hành giả sống cuộc sống thanh tịnh, nhưng trong việc tu hành hàng ngày của họ thì nhìn có vẻ rất khô khan.

Ví dụ như ở tu viện Drepung ở Nam Ấn Độ, khi quan sát cuộc sống tu hành của các vị Lama, họ đều có thời khóa biểu cụ thể: ăn sáng lúc 6 giờ 30, ăn trưa lúc 11 giờ 30, ăn tối lúc 5 giờ 30. Thức ăn rất đơn giản, bữa sáng chỉ có bánh mì Ấn Độ và trà Ấn Độ, hoặc trà bơ và bánh mì Ấn Độ. Bữa tối chỉ có một bát cơm một món ăn, thức ăn vô cùng đạm bạc.

Cuộc sống tu hành, như đọc kinh điển, bàn luận kinh điển và tụng kinh trong giảng đường, ngày nào cũng như vậy, nhìn có vẻ rất khô khan vô vị. Vậy phẩm vị của các vị Lama như thế nào? Tôi không rõ lắm, bởi vì phẩm vị của mỗi người mỗi khác.

Còn bản thân tôi thì sao? Buổi sáng đến Mật Uyển viết một bài văn, trọng tâm là viết một bài văn. Buổi chiều thì sao? Đọc thư và trả lời những câu hỏi trong thư. Bốn giờ chiều cùng mọi người tu tập, khai thị, trong thời gian đó tôi cũng tụng kinh, mỗi ngày tôi đều phải tụng kinh. Tối về nhà trọng tâm là vẽ một bức tranh, đề thơ lên tranh, sau đó là đi ngủ (sleep on bed) ngủ trên giường, đó là một ngày của tôi.

Mỗi ngày đều sống cùng một cuộc sống như vậy, cứ thế đã trải qua mười bốn năm ở Mỹ, bạn nói hương vị nằm ở đâu? Viết văn, trả lời thư, tu pháp, khai thị, vẽ tranh, (everyday is the same) giống nhau như vậy, nhưng bạn phải tìm ra phẩm vị từ trong đó.

Phẩm vị của người tu hành, trong việc đọc kinh, xem kinh, tụng kinh đều có phẩm vị của nó. Ví dụ như việc viết văn, khi mỗi ngày viết một bài văn, những câu văn trong đó sẽ sinh ra hương vị, khi bạn viết một bài văn, sẽ có một sự cảm nhận, một cảm giác. Văn chương cần phải tín, đạt, nhã, phải có hương vị, có ý nghĩa của nó, phải có tác dụng giáo dục và khai phát, đó chính là hương vị.

Văn chương có khi rất đẹp, khi bạn cảm thấy đẹp, cảm nhận trong tâm là khác biệt, cho nên khi tôi viết được một bài văn hay, tôi rất hoan hỷ, trong lòng rất vui mừng.

Như hôm nay tôi viết "Mây trắng xứ Thiên Trúc", viết về phần kết thúc của Nam Ấn Độ, bài viết hôm nay là về thiền định trên tàu hỏa, từ Munger ngồi tàu đến một thành phố lớn, trong suốt quá trình đó tôi cứ suy nghĩ, và bài văn này cũng có hương vị riêng, đó chính là một loại phẩm vị!

Những liên tưởng trong toa tàu, thiền định trên tàu, đó là một loại hương vị, viết bài văn hôm nay chính là đang thưởng thức lại hương vị, hồi tưởng lại tình huống khi lên tàu ở Munger, từ những suy nghĩ lúc đó để cảm ngộ nhân sinh.

Nói về hội họa, bạn biết đấy, đôi khi bức tranh rất đẹp, và trong tranh cũng sẽ sinh ra hương vị của tranh, màu sắc của nó, ý cảnh của nó, cách thể hiện của nó, tất cả đều có hương vị riêng.

Khi chúng ta là người tu hành vẽ tranh, cũng có những điều sẽ hiển lộ ra, trong tranh còn có tranh, gọi là "họa trung hữu họa"; không phải là trong lời nói của tôi lại có ý khác. Tất nhiên khi khai thị thuyết pháp, đôi khi cũng có "thoại trung hữu thoại", nhưng ở đây là tranh vẽ. Trong tranh lại có tranh, đó chính là hương vị.

Viết thơ, đề từ: "Rêu trơn không vì mưa, thông reo chẳng cần gió". Bậc thềm trơn trượt không liên quan đến mưa, âm thanh của cây thông phát ra không liên quan đến gió, vậy liên quan đến cái gì? Lục Tổ nói rằng liên quan đến tâm, đó là do tâm bạn cảm nhận được.

Con người làm mọi việc đều dùng tâm, vậy tâm ở đâu? Ở trong văn chương, trong hội họa, tâm cảm nhận được bậc thềm trơn, tâm cảm nhận được tiếng thông reo, đó chính là phẩm vị của hành giả.

Nếu hành giả có thể hiểu được cách thưởng thức hương vị của vạn vật trong thế gian, bạn sẽ đạt được pháp vị trùng trùng, chứ không phải cuộc sống khô khan. Bạn thấy đấy, cuộc sống của tôi tuy đều đặn như vậy, nhưng bên trong đều có pháp vị.

Hôm nay nói đến đây.

18/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

185. Phẩm vị của hành giả (2)

Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục nói về phẩm vị của hành giả.

Cuộc sống của người tu hành rất có quy củ, sống một cuộc sống thanh tịnh, trọng tâm là: tụng kinh, đọc kinh, nghiên cứu kinh điển, tu pháp. Còn về Mật giáo thì có tu Chân Phật Mật Pháp, mọi người thấy tu Chân Phật Mật Pháp chỉ là kết ấn, trì chú, tụng kinh văn giống nhau, trì chú cũng vậy, chẳng có gì mới mẻ, quán tưởng cũng thế, sau khi học xong, ngày nào cũng làm công việc giống nhau thấy rất khô khan, làm lâu rồi, mệt mỏi rồi, đổi Bổn tôn đi! Có người còn muốn đổi cái khác! Đổi một kiểu mới đi! Cái này có hương vị gì? Trong pháp tu có hương vị gì?

Có người nói rằng, cứ kết ấn như vậy, trì chú như vậy, quán tưởng như vậy là có thể thành Phật, như vậy không phải là đùa sao? Nhiều người nói như vậy, nhưng họ không biết rằng, trong đó có hương vị, đó chính là phẩm vị của hành giả, bạn không biết rằng khi cảnh giới của bạn được nâng cao, bạn và vũ trụ thực sự là một, bạn sẽ cảm nhận được pháp vị trong tu pháp.

Nếu bạn ngồi không yên, đó chính là vì pháp vị của bạn chưa sinh khởi, bạn không thể cảm nhận được hương vị trong tu pháp. Như tôi chẳng hạn, ở Seattle Hoa Kỳ mười bốn năm, ngày nào cũng tu pháp, ngày nào cũng tĩnh tọa, ngày nào cũng trì chú, quán tưởng, nhập Tam ma địa, ngày nào cũng thiền định.

Bạn không biết rằng khi ở trong thiền định, khi dòng chảy pháp vũ trụ chảy vào thân thể bạn, bạn sẽ cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng, an lạc. Khi bạn phá vỡ ranh giới trong ngoài, bên trong và bên ngoài hoàn toàn hòa hợp làm một, lúc này cảm thọ là tối thượng, là niềm hoan hỷ, hạnh phúc không thể diễn tả được bằng lời. Điều này giống như uống nước, nóng lạnh tự biết.

Khi tu pháp mà sinh ra được pháp vị, dòng chảy pháp vũ trụ sẽ quán đảnh cho bạn, nghĩa là mỗi ngày trong lúc tu pháp, nó đều quán đảnh cho bạn, cho bạn thưởng thức một tách trà ấm áp nhất, một tách cà phê đậm đà, thơm ngon nhất.

Khi tu pháp mà sinh ra được hương vị, đó chính là một bữa ăn ngon, một bữa tiệc thịnh soạn! Một bữa tiệc thực sự! Bữa tiệc ở đây chính là bữa tiệc của pháp vị, chính là ở đây, vậy thì làm sao có thể khô khan? Làm sao có thể là phiền toái? Làm sao có thể là gánh nặng?

Vậy nên khi chúng ta tu pháp mỗi ngày, vừa ngồi xuống thân như núi, thân liền biến thành núi, rất kiên cố. "Bất động như núi, pháp lưu như nước", dòng chảy pháp quán đảnh của vũ trụ như nước chảy vào, thanh tịnh thân tâm của bạn, toàn thân bạn tràn đầy cam lộ, toàn thân đều là mỹ vị, đều là cam lộ, thân tâm bạn nhẹ nhàng như đang ở trong hư không.

Vào lúc này không khổ không vui, không có gì đau khổ, không có gì vui sướng, hoàn toàn không có ràng buộc, không có chấp trước, ngay lúc này đây bạn đang ở trong trạng thái ý thức nguyên sơ của vũ trụ. Cảnh giới nhập định ấy, sự thông đạt rộng lớn ấy, không phải người thế tục bình thường có thể cảm nhận được.

Vì vậy pháp tu của Mật giáo, tự thân nó có pháp vị trùng trùng, khi bạn nhất tâm tu pháp, bạn tự cảm nhận thân tâm mình hoàn toàn hòa nhập vào trong vũ trụ, đây là phẩm vị tối thượng.

Mỗi hành giả có hương vị riêng của mình, mỗi ngôi nhà có hương vị riêng của nó, kể cả trong vũ trụ, bạn đi đến đâu, hít thở một chút, mỗi nơi đều có hương vị không khí riêng của nơi đó.

Núi có hương vị của núi, hồ có hương vị của hồ (nước hồ có hương vị của nước hồ), gió có hương vị của gió, mưa có hương vị của mưa, vẽ tranh có hương vị của hội họa, tu pháp lại càng có pháp vị, đó chính là phẩm vị của người tu hành.

Khi bạn hiểu được phẩm vị của người tu hành, cuộc sống của bạn sẽ không còn khô khan. Chúng ta là hành giả tu hành ở đây, sống cuộc sống thanh tịnh, sống cuộc sống có quy củ, tất cả đều có hương vị, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống này vô cùng tuyệt diệu, rất phong phú, rất cao thượng, rất thanh tịnh.

Chúng ta cũng là người giữ giới, giữ giới luật thanh tịnh, giữ ngũ giới, bát quan trai giới, cũng có thể giữ Bồ Tát giới, có thể giữ xuất gia giới, tì kheo tì kheo ni giới, từ trong việc giữ giới cũng biết được trong giới cũng có hương vị. Khi bạn đạt được thanh tịnh, suối ngọt, cam lộ thực sự tuôn chảy ra từ sự thanh tịnh, đó chính là pháp vị.

Việc học Phật pháp không phải là khô khan, cũng không phải là phiền não. Khi đọc kinh, hãy đi vào trong kinh để thưởng thức ý nghĩa của kinh điển, bạn sẽ biết được trong kinh điển có hương vị của Phật kinh, rất thiêng liêng.

Đối với người tu hành, làm bất cứ việc gì cũng đều thanh tịnh, đều có hương vị, làm việc có quy củ, vừa có giác ngộ vừa có hương vị, đó chính là phẩm vị của người tu hành chúng ta.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

18/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

186. Điều kiện để làm Kim cương Thượng sư (1)

Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về "những điều kiện để trở thành một vị Thượng sư giỏi".

Mọi người đều biết, Mật giáo rất sâu rộng, để trở thành một Kim cương Thượng sư cần phải có rất nhiều điều kiện ưu tú. Ở đây tôi chỉ đề cập đến ba điều kiện, những điều kiện này không bao gồm tất cả, nhưng lại là những điều kiện cơ bản cần thiết. Mỗi vị Kim cương Thượng sư giỏi đều phải có đủ ba điều này, có thể nói ba điều này là nền tảng của một Kim cương Thượng sư.

Điều đầu tiên là phải uyên bác, làm một vị Thượng sư nhất định phải uyên bác, phải có kiến thức rộng rãi, cũng có nghĩa là bác học. Bởi vì một vị Kim cương Thượng sư phải dạy dỗ rất nhiều đệ tử, tùy theo căn cơ mà giáo hóa. Mỗi đệ tử có những đặc điểm riêng, bạn phải dùng phương pháp phù hợp để dạy họ, chứ không phải chỉ dạy một kiểu, vì vậy Kim cương Thượng sư nhất định phải rất uyên bác.

Ví dụ: Lần này tôi đến Ấn Độ và Nepal, đi thăm các vị tăng Lama tăng, tại Tu viện Drepung và nhiều tu viện khác, họ đều biểu diễn cho Sư Tôn xem việc biện kinh (tranh luận kinh điển), một người đứng, một người ngồi, người đứng hỏi, người ngồi trả lời.

Các vị tăng Lama học kinh bắt đầu từ Hiển giáo, không nhất thiết ngay từ đầu đã tu Mật pháp, muốn tu Mật pháp phải đến Thượng Mật Viện, Hạ Mật Viện mới học được Mật giáo, ở các tu viện thông thường học kinh là học kinh điển Hiển giáo.

Họ dùng phương pháp biện kinh để ghi nhớ và học rộng, trước tiên họ học năm bộ đại luận: “Nhập Trung Luận”, “Hiện Quán Trang Nghiêm Luận” ..., và các bộ luận khác, tất cả đều phải thuộc lòng, bởi vì biện kinh là phải khiến bạn nhớ được, nhất định phải ghi nhớ thật kĩ. Một người hỏi, cách hỏi của họ là làm một tư thế, vừa hỏi xong, người ngồi phải trả lời ngay lập tức, trả lời sai cũng không được, đó gọi là biện kinh.

Ồ! Khi họ biện kinh thì thật là hoành tráng, hàng trăm, hàng nghìn người hỏi đáp qua lại, âm thanh rất lớn. Có một thời gian, tôi nghe nói Đức Dalai Lama muốn bãi bỏ viện biện kinh, nhưng cho đến nay vẫn còn biện kinh, chưa bị bãi bỏ.

Tại sao lại muốn bãi bỏ viện biện kinh? Bởi vì biện luận đến cuối cùng hai người đánh nhau. Khi thua cuộc, nổi nóng, đứng dậy túm lấy nhau đánh nhau, biện kinh cuối cùng biến thành "đánh kinh". Người này nói mình đúng, người kia nói người đó sai, thậm chí biện luận đến nỗi nổi giận đùng đùng, điều này cũng là chuyện khó tránh khỏi.

Giống như khi tôi đến gặp Đức Dalai Lama tại Dharamsala, những câu hỏi ngài đặt ra đều là những vấn đề cao siêu và thâm sâu nhất, ngài hỏi về đại pháp Thời Luân Kim Cang. Đại pháp Thời Luân Kim Cang là sở trường của Đức Dalai Lama, vì vậy ngài thường xuyên truyền đại pháp hội Thời Luân Kim Cang, do đó đại pháp Thời Luân Kim Cang sở học của ngài. Nếu hôm nay Sư Tôn chưa từng nghiên cứu "Thời Luân Kim Cang Bản Tục", thì khi đến đó, khi ngài hỏi về đại pháp Thời Luân Kim Cang, tôi coi như "tắt điện".

Năm bộ Kim Cang đại pháp, tôi đều đã đọc qua, có "Thời Luân Kim Cang đại pháp", "Mật Tích Kim Cang đại pháp", "Hỷ Kim Cang đại pháp", "Thắng Lạc Kim Cang đại pháp", "Đại Uy Đức Kim Cang đại pháp".

May mà tôi đã nghiên cứu năm bộ Kim Cang Mật Tục, nên khi ngài hỏi về Thời Luân Kim Cang đại pháp, ngài có thể hỏi thì tôi đều có thể trả lời. Đây chính là ý nghĩa của chữ "uyên bác".

Đại pháp của bốn truyền thống Hoàng giáo, Hồng giáo, Bạch giáo và Hoa giáo, Đại Viên Mãn, Đại Thủ Ấn, Đại Viên Thắng Huệ, Đại Uy Đức, may mắn thay tôi đều đã nghiên cứu và đi sâu vào.

Vì vậy khi được hỏi về Đại Viên Mãn, hai phương pháp tu trì "trekcho" và "togal"; khi được hỏi về bốn loại cảnh giới, tôi đều có thể trả lời một cách viên mãn. Đây đều là những mật pháp cao nhất, thâm sâu nhất. Khi được hỏi về Thập Nhị Môn Luận, Trung Luận của Long Thụ và Bách Luận của Đề Bà, tôi cũng đều có thể trả lời một cách viên mãn.

Nếu bạn không học những điều này thì làm sao trả lời được? Và ngài còn hỏi tôi học Đại Thủ Ấn từ ai? Tôi chỉ trả lời hai chữ là ngài gật đầu, tôi nói: "Wentz".

Wentz là ai? Tôi xin nói cho bạn biết, Wentz là một Tiến sĩ, là người Mỹ, sau khi học Đại Thủ Ấn xong, ông ấy trở về Mỹ và viết ra Đại Thủ Ấn, ở Trung Quốc có người đã dịch tác phẩm của Wentz. Sau khi được dịch ra, tôi nhận được truyền thừa Đại Thủ Ấn, rồi dựa vào tác phẩm Đại Thủ Ấn của Tiến sĩ Wentz để học tập và tham khảo.

Tất cả những điều này đều phải "uyên bác", nếu bạn không uyên bác, nếu một Kim cương Thượng sư mà không uyên bác, khi ra ngoài người ta hỏi, bạn sẽ lập tức "bay màu", lập tức bị lộ tẩy.

Nếu hôm nay bạn không hiểu Phật học, không hiểu biết tất cả về Đức Phật, không hiểu về Phật giáo Nguyên thủy và các bộ phái, không hiểu kinh điển của Hiển giáo và Mật giáo, Kinh - Luật - Luận, cũng như tất cả các Mật tục, mà hôm nay làm một Kim cương Thượng sư, thì thật là xấu hổ.

Một vị Kim cương Thượng sư cần ít nhất tám năm đến mười hai năm để nắm vững nền tảng Hiển giáo, và ít nhất tám năm cho nền tảng Mật giáo, tổng cộng phải mất hai mươi năm. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nghiên cứu kinh điển mỗi ngày, thâm nhập kinh tạng, chưa có ngày nào lãng phí, chưa có ngày nào không đọc kinh.

Vì vậy Kinh - Luật - Luận đều phải đọc, sách nào cũng phải xem, có thể thấy chữ "bác" (uyên bác) vô cùng quan trọng, đây cũng là điều kiện đầu tiên của một Kim cương Thượng sư. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

19/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

187. Điều kiện để làm Kim cương Thượng sư (2)

Chúng ta lại nói về điều kiện để làm Kim cương Thượng sư. Chúng ta đã nói rằng một Kim cương Thượng sư phải uyên bác, không được để bị đánh trượt khi bị kiểm tra, dù người ta kiểm tra bạn như thế nào, bạn cũng không được ngã.

Giống như khi Đức Dalai Lama hỏi tôi về những điều trong "Thời Luân Kim Cang Bản Tục", nếu bạn chưa từng đọc qua, chắc chắn sẽ trượt khi được hỏi; khi người ta hỏi bạn về "Hỷ Kim Cang Bản Tục", nếu chưa đọc qua cũng sẽ trượt; khi được hỏi về "truyền thừa Đại Thủ Ấn", bạn phải trả lời được; khi được hỏi về "truyền thừa Đại Viên Mãn", bạn cũng phải trả lời được. Tất cả những điều này đều là học vấn.

Vì vậy sau này bạn phải đọc nhiều kinh điển, học hỏi nhiều, nghiên cứu nhiều, thâm nhập nhiều. Nếu muốn làm một pháp sư, không nói đến Kim cương Thượng sư, chỉ nói đến việc làm một pháp sư thôi, vậy pháp sư là gì? "Có pháp mới là thầy", vị thầy có pháp mới gọi là pháp sư. Hôm nay nếu bạn không phải là vị thầy có pháp, trong người không có Phật học, Phật pháp mà tự xưng là pháp sư thì rất mất mặt.

Nếu trong lòng bạn không có Phật pháp, làm sao có thể gọi là pháp sư được? Pháp sư là người có pháp, có Phật pháp trong tâm mới được gọi là pháp sư. Không phải cứ xuất gia, cạo đầu là trông giống pháp sư, nhận giới xuất gia là thành pháp sư, danh xưng pháp sư đó quá dễ dãi, không thể gọi là pháp sư được. Không có Phật pháp chân chính thì không đủ tư cách để được gọi là pháp sư.

Kim cương Thượng sư lại càng khác biệt, Kim cương Thượng sư là Guru, chính là một vị giáo thọ sư, chính là Acharya, sau khi có được những pháp đó rồi, thực tu phải thâm nhập.

Điều thứ hai gọi là "thâm". Sau khi có được tất cả Phật pháp rồi, còn phải thâm nhập vào trong đó, phải nói ra lý luận tinh tế, còn phải sáng tạo phương pháp tu hành của riêng mình. Bạn phải tự mình sáng tạo pháp khai ngộ thuộc về chính mình, đây chính là phải thâm. Phải uyên bác, còn phải thâm sâu, khi người ta hỏi bạn, chỉ cần nghe lý luận của bạn là biết bạn có sâu hay không, chỉ cần nghe là biết.

Khi người ta hỏi bạn rằng nhậm vận là gì? Nhậm vận nghĩa là gì? Có thể nói đó là gần gũi với tự nhiên, là tự tại, là thần thông, là một loại trò chơi thần thông, đó chính là nhậm vận. Phải giải thích được nhậm vận là gì: còn phải nói sâu hơn nữa, đó là những đạo lý cốt yếu được thể nghiệm từ bản thân mình, cũng có thể nói đó là những yếu nghĩa thâm sâu.

Có thể tuôn trào từ trong tâm, từ miệng nói ra, khiến người nghe một lần là thu phục được đại chúng, không giống như nhiều pháp sư lên đài thuyết pháp: "Chúng ta làm người, mọi người phải làm việc thiện nhé, phải làm người tốt nhé, mỗi ngày phải làm một việc thiện." Xong rồi! Hết.

Họ ngày nào cũng lên đài truyền hình, ngày nào cũng giảng điều này, họ chẳng biết gì cả, chỉ bảo mọi người làm việc thiện. Điều này rất tốt không sai, nhưng đó là chuyện tăng ni thường nói, ai mà không biết? Ai cũng biết, nhưng làm không được.

Vì vậy bạn phải giảng những đạo lý sâu sắc hơn, phải có khả năng thu phục đại chúng, khiến chúng sinh vừa nghe đã biết đây là tâm yếu của bản thân mình, điểm này là quan trọng nhất.

Cho nên, điều thứ hai là trong vô số Phật pháp, bạn phải có khả năng tự mình thể hội tâm yếu của nó, nắm bắt được tâm yếu của nó.

Vì thế, trong cuộc đối thoại với Đức Dalai Lama, điều ngài muốn, ngài đã nói một câu rằng, ngài muốn những điều "tinh hoa". Tinh hoa rất quan trọng, bạn phải tìm ra những điều tinh hoa, hấp thụ để trở thành của chính mình.

Hôm nay bạn nghiên cứu Phật học, nếu chỉ uyên bác thôi thì cũng vô dụng, nhất định phải thâm nhập nắm bắt tâm yếu, làm thành khẩu quyết tâm yếu tu hành của chính mình. Đây mới là điểm trọng yếu.

Vì vậy một Kim cương Thượng sư phải thâm nhập vào trong đó, phải thực tu, phải khai ngộ, nhất định phải có tinh yếu.

Vậy tiếp theo thì sao? Để làm một Kim cương Thượng sư, như vừa nói, phải dùng tư duy của mình để suy nghĩ sâu sắc. Tiếp đến cuối cùng là "tinh hoa", tinh hoa là gì? Chính là sau khi suy nghĩ sâu sắc, bạn nắm bắt tâm yếu làm căn bản cho việc tu hành khai ngộ.

Khi nghiên cứu Phật học, tôi luôn dùng trí óc để suy nghĩ, để tư duy, rồi phát triển ý thức của mình để thực tu, tìm ra trọng điểm để thực sự tu tập. Tuy nhiên việc tu hành cũng phải tự nhiên, không nên miễn cưỡng bản thân, phải phù hợp với thân tâm của mình, không cần gượng ép, mà hãy rất tự nhiên tu học, sau đó bạn sẽ đạt được tinh hoa.

Vì vậy tu hành có ba điều cần thiết - cần uyên bác, cần tư duy thấu đáo, cần đạt được tinh hoa.

Tinh hoa này từ đâu mà có? Có thể nói rằng bạn phải thực nghiệm, phải thực hành, thì mới có thể đạt được.

Vì vậy tôi biết cách đi vào cánh cửa của Thời Luân Kim Cang như thế nào, khi vào được cánh cửa này còn có nhiều cánh cửa khác, vậy cảnh giới của Thời Luân Kim Cang là gì? Hiện tượng sắc-không của nó là gì? Thực ra chỉ cần bạn bước vào cánh cửa này, hiện tượng sắc-không sẽ tự nhiên hiển hiện.

Chúng ta thường nói "sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc", sắc và không là cùng một thứ, nhưng trong bánh xe thời gian nó sẽ tự nhiên hiển hiện, tự nhiên thành tựu, vô tu mà tu chính là từ trạng thái này mà ra, căn bản không cần phải tu.

Tất cả thế giới vật chất, bạn cho rằng nó không tồn tại, sau khi tu hành thành tựu, bạn cho rằng nó không tồn tại, nhưng thực ra nó vẫn tồn tại. Sơn hà đại địa vẫn là sơn hà đại địa, dù bản thân bạn chứng được quả A La Hán, tu đến mức thân đã diệt, tâm cũng diệt, nhưng sơn hà đại địa vẫn còn đó. Đây chính là tự nhiên, sắc-không bất nhị, điều này được đề cập trong “Thời Luân Kim Cang Bản Tục”.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

19/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

188. Nói về Phật Đà (1)

Hôm nay tôi sẽ nói chuyện với mọi người về Phật Đà. Phật Đà chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng chính là giáo chủ của Phật giáo. Trước đây tôi đã từng xuất nguyên thần đến Nepal, và cũng đã thực sự đến tận nơi.

Trong sách của tôi trước đây có ghi lại, bay đến Nepal, đó là linh thể đi. Lần này thực sự cũng đến Nepal, và tại ngôi chùa Karma Lekshey, có tổ chức một nghi lễ, đó là nghi lễ tọa sàng.

Cử hành nghi lễ tọa sàng này là, trụ trì ôm một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cùng khăn khata buộc lại, dâng tặng cho bạn, trụ trì Gyaltsen Rinpoche cầm một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cùng khăn khata buộc lại, trao cho Sư Tôn.

Tôi ngồi ở đó, ngài trao tượng Phật cho tôi, đây cũng là một nghi thức, nghi thức này chính là trao truyền thừa của Phật Đà vào tay của bạn.

Thông thường trong nghi thức tọa sàng của các vị Hoạt Phật Tây Tạng, điều này biểu thị rằng bạn là một vị Rinpoche tái sinh, tức là một vị Hoạt Phật tái sinh, bạn là một người lại đến, lúc này chính là sự truy nhận, công nhận và xác định rằng bạn là một vị Rinpoche, là một vị Hoạt Phật.

Tượng Phật được bọc trong khăn khata, do trụ trì Gyaltsen Rinpoche trao tận tay cho bạn, có thể nói rằng sau khi trao vào tay, điều này biểu thị rằng bạn đã có truyền thừa của Phật trong thân. Khi bạn đã có truyền thừa của Phật trong thân, lúc này phải làm sao? Có thể nói rằng, tất cả các vị Lama, Rinpoche đều phải đến chúc phúc cho bạn.

Nghi thức tọa sàng gồm có: chúc phúc, dâng cúng dường, và còn phải tụng một số bài tán thán, đây chính là nghi thức tọa sàng. Nói chung nghi thức của các vị Hoạt Phật Tây Tạng không thể thiếu điều này. Vị Hoạt Phật chuyển thế ngồi trên tòa, tiếp nhận nhiều vị Rinpoche, Lama đến chúc mừng, tụng tán, dâng cúng dường, dâng quả như vậy.

Nghi thức này chính là xác nhận rằng bạn là một vị Hoạt Phật chuyển thế, có truyền thừa của Phật, bạn phải đi hoằng dương Phật pháp, quan trọng nhất là trao tượng Phật vào tay vị Rinpoche.

Hôm nay chúng ta vừa hay nói về Phật Đà, nên tôi sẽ giảng về nghi thức tọa sàng của các vị Hoạt Phật Tây Tạng. Trong tương lai, khi Chân Phật Tông nhận ra các vị Rinpoche, nhận ra nhiều vị Rinpoche xuất hiện, chúng ta cũng sẽ tổ chức nghi thức tọa sàng cho họ, cũng sẽ làm như vậy.

Trong tương lai, đệ tử Chân Phật Tông ngày càng nhiều, người xuất gia cũng nhiều, trách nhiệm hoằng dương Phật pháp nằm trên vai chúng ta. Nhiều vị chuyển thế, những người tái lai, đều xuất hiện trong tông phái chúng ta. Chúng ta cần nhận ra từng vị một, họ đều có dấu hiệu như: dấu hiệu trên lòng bàn tay, dấu hiệu trên chân, dấu hiệu trên tai, dấu hiệu trên mắt, dấu hiệu trên mặt, đều có những dấu hiệu này tồn tại.

Trên thân có pháp loa, tức là người đã từng hoằng dương Phật pháp, sẽ xuất hiện pháp loa. Trên thân có vằn da hổ chính là Dorje, là Kim Cang. Vằn da hổ tức là váy da hổ, bên trong có một số dấu hiệu. Trên lòng bàn tay có..., điều này không thể nói quá rõ, nếu không mọi người sẽ bắt đầu nhận diện.

Bản thân Rinpoche có đôi tai cũng khác biệt, đôi mắt, phước báu, trí tuệ của ngài, tất cả đều khác biệt. Ngài có rất nhiều dấu hiệu, trên mắt, tai, tướng mạo, vân tay, chân đều có dấu hiệu. Điều này cần được nhận diện, phải ghi chép rõ ràng những dấu hiệu nào, đó chính là người tái sinh trở lại, mới có thể nhận ra đây chính là vị Hoạt Phật chuyển thế.

Sau khi nhận diện và xác định là Hoạt Phật, trong tương lai phải học pháp và tiếp nhận giáo dục thật tốt. Trong tương lai khi đi hoằng pháp, vị Rinpoche này chưa chắc đã hữu dụng, người tái sinh trở lại vẫn phải học tập thật tốt và phải thi cử.

Đôi khi Rinpoche, như chúng ta biết những vị Rinpoche ở tu viện Drepung ở Nam Ấn Độ, sau đó đến những vị Rinpoche ở tu viện Ganden, chúng ta đều rất quen thuộc với họ, họ nói rằng Rinpoche vẫn phải tiếp tục học tập, hơn nữa còn phải học nhiều hơn người khác, họ còn phải thi Geshe, chỉ khi thi đỗ Geshe mới là một Rinpoche hữu dụng; nếu Rinpoche không thi đỗ Geshe, làm sao có thể đại diện cho truyền thừa của Phật Đà? Làm sao có thể đi hoằng pháp?

Vì vậy ngài phải nghiên cứu rất nhiều kinh điển, chỉ khi thi đỗ học vị mới thực sự là một Rinpoche kiêm Geshe, như vậy mới hữu dụng, mới có thể hoằng dương Phật pháp.

Hôm nay chúng ta nói về Phật Đà, điều quan trọng nhất là nói về sự cống hiến cả đời của Ngài, có thể nói Ngài đã dành cả cuộc đời để hoằng dương Phật pháp. Vì vậy nếu bạn là một vị Hoạt Phật tái sinh, bạn cũng phải học tập Phật pháp thật tốt, nhất định phải có học vị Geshe.

Rinpoche cộng với Geshe mới thực sự là một Rinpoche tái sinh chân chính; những vị Hoạt Phật tái sinh chỉ có danh xưng Rinpoche mà không có học vị Geshe, người ta sẽ coi thường loại Rinpoche (Hoạt Phật) đó.

Những vị Rinpoche trẻ vừa được công nhận, mỗi vị đều học tập rất nghiêm túc, rất chăm chỉ học kinh điển, rất chuyên tâm học Phật pháp, và tất cả họ đều đang chuẩn bị thi học vị Geshe.

Tôi nói với họ rằng các vị có thể đến Seattle, họ trả lời bây giờ không thể được, tôi vẫn chưa thi đỗ học vị, đợi khi tôi đạt được học vị rồi, tôi sẽ đến Lôi Tạng Tự ở Seattle.

Nhất định phải thi đỗ học vị, họ nói rằng nếu không có học vị sẽ bị người khác coi thường, dù bạn là một Rinpoche, nhưng nếu không có học vị thì không được, vì vậy để đảm nhận truyền thừa của Như Lai, nhất định phải có học vị Geshe.

Hôm nay chúng ta nói đến đây.

Om mani padme hum.

20/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

189. Nói về Phật Đà (2)

Chúng ta hãy nói thêm về Phật Đà.

Phật Đà chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng là giáo chủ của Phật giáo. Cả cuộc đời của Đức Phật hoàn toàn dành cho việc hoằng dương Phật pháp, Ngài đã giảng kinh thuyết pháp, truyền đạt lại toàn bộ những điều chứng ngộ, những điều thấu hiểu trong tâm và quá trình tu tập của mình, Ngài đã sống trọn cuộc đời như vậy.

Nơi chuyển Pháp luân đầu tiên chính là vườn Lộc Dã, một địa điểm gần thành Varanasi. Trong tất cả tám đại thánh địa, tôi cảm thấy môi trường của vườn Lộc Dã được bảo quản rất tốt, nhìn rất xanh tươi. Đức Phật đã chuyển pháp luân lần đầu tiên tại đây, chính là nơi độ năm vị tì kheo, nơi giảng về Tứ Diệu Đế, từ đó bắt đầu hoằng dương Phật pháp. Suốt cuộc đời của Đức Phật, Ngài đều thuyết pháp tại tám đại thánh địa.

Hôm nay tất cả mọi người đều là Kim cương Thượng sư hoặc là pháp sư, thực ra bản thân mỗi người đều đang gánh vác sự nghiệp giáo hóa của Như Lai, trên vai mang trọng trách hoằng dương Phật pháp. Chúng ta học tập tinh thần của Đức Phật, chính là học tập việc Ngài suốt cả cuộc đời gánh vác sự nghiệp giáo hóa của Như Lai. Chúng ta đã nhận được truyền thừa của Ngài (Phật), cũng phải có tinh thần giống như Phật vậy, làm sự nghiệp cứu độ chúng sinh, đây chính là tự giác giác tha, cũng là tự lợi lợi tha.

Khi tôi ở vườn Lộc Dã, trong lúc chúng tôi làm lễ, rất cung kính đảnh lễ tháp Phật, vào lúc đó, khi đi vào trạng thái thiền định rất sâu, Sư Tôn đã nhìn thấy Phật nhãn (mắt của Đức Phật), thực sự nhìn thấy Phật nhãn, và còn thấy được nhãn cầu di chuyển qua lại.

Lúc đó tôi nhìn thấy rất rõ ràng, tôi nói Phật nhãn ở đây, thường ngày quán chiếu chúng sinh, đang quan sát, đang phóng quang, đang phổ chiếu tâm chúng sinh, chí nguyện để lại của Đức Phật phải do chúng ta gánh vác, tất cả Kim cương Thượng sư, pháp sư đều phải gánh vác nguyện vọng của Đức Phật, phải luôn ghi nhớ từng giờ từng khắc không được quên.

Sau khi nhìn thấy Phật nhãn trở về, tôi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", trong sách có nói về vườn Lộc Dã, hóa ra ngôi tháp đó có tên là Pháp Nhãn Tháp. Khi tôi ở vườn Lộc Dã, tôi không biết tháp đó chính là Pháp Nhãn Tháp, tôi không biết điều đó, tôi cũng là người rất thẳng thắn, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết.

Tôi không biết tháp ở vườn Lộc Dã gọi là gì, chỉ biết tháp đó gọi là Stupa, Stupa chính là tháp xá lợi, chúng tôi không biết! Chúng tôi đặt một nghìn ngọn nến ở đó, thắp lên một nghìn ngọn nến, còn mua rất nhiều phẩm vật cúng dường, có hương hoa đèn trà quả và rất nhiều bánh quy để cúng dường.

Chúng tôi niệm kinh, tụng tán, cung kính đảnh lễ và thiền định ở đó, bất ngờ Phật nhãn hiện ra cho chúng tôi thấy, rất rõ ràng, và nhãn cầu còn chuyển động, tất cả đều thấy rất rõ ràng. Cho đến hôm nay khi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", thấy trong sách ghi chép về vườn Lộc Dã, mới phát hiện ra ngôi Stupa đó được gọi là Pháp Nhãn Tháp. Mà Pháp nhãn chẳng phải là Phật nhãn sao? Pháp nhãn chính là Phật nhãn! Đây chính là sự tương ứng.

Theo ghi chép trong lịch sử và văn hiến, ngôi tháp xá lợi đó được gọi là Pháp Nhãn Tháp, và tôi đã thực sự nhìn thấy Phật nhãn tại ngôi tháp đó. Trước đó tôi không biết đó là Pháp Nhãn Tháp, mãi đến sau này tôi mới biết. Ôi chao! Đúng là Pháp Nhãn Tháp, vậy thì con mắt mà tôi nhìn thấy là hoàn toàn chân thật, rất thật sự, đây chính là sự tương ứng.

Đó thực sự là Phật nhãn của chính Đức Phật, luôn luôn nhìn chúng ta, quan tâm chăm sóc chúng ta, vì vậy tôi nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Phật Đà) luôn luôn quan tâm đến chúng sinh, Ngài đã phái rất nhiều bậc thánh đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh. Ngài không hề nhập Niết Bàn! Phật nhãn vẫn còn đây! Làm sao có thể nhập Niết Bàn? Cho nên nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không nhập Niết Bàn, Phật nhãn của Ngài vẫn đang quan tâm chăm sóc chúng sinh, Ngài không hề nhập Niết Bàn!

Vì vậy rất nhiều pháp sư, Rinpoche cho rằng, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập Niết Bàn từ hơn hai nghìn năm trăm năm trước, sẽ không còn xuất hiện nữa, nhưng Phật nhãn vẫn còn đây, điều này chứng minh bản thân Đức Phật không nhập Niết Bàn, Ngài vẫn đang độ chúng sinh, Ngài đã trao gánh nặng độ chúng sinh vào tay chúng ta, không thể nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập Niết Bàn. Bởi vì tôi đã thực sự nhìn thấy Phật nhãn! Tôi chính là một người chứng minh.

Không những thế, bên cạnh Pháp nhãn còn thấy rất nhiều vị mặc áo trắng, áo đỏ, rất nhiều vị tăng (người xuất gia) mặc nhiều màu sắc khác nhau, các vị tăng Thanh Văn, có rất nhiều thánh chúng xuất gia cùng giáng xuống, họ đến cùng với nhau. Điều này cho thấy những vị thánh chúng này cũng chính là ước nguyện của Đức Phật, mong muốn họ độ thêm nhiều chúng sinh ở thế giới Ta Bà, có thể truyền bá Phật pháp khắp toàn thế giới, đây có thể nói chính là sự nghiệp của tất cả các vị Kim cương Thượng sư và pháp sư chúng ta.

Chúng ta không cầu mong điều gì ở thế giới Ta Bà, điều quan trọng nhất là hoằng dương Phật pháp, giống như Đức Phật vậy, rồi giải thoát phiền não, không chỉ bản thân giải thoát phiền não, mà còn giúp chúng sinh giải thoát phiền não, biến nhân gian thành cõi lạc. Nếu có thể làm được như vậy thì toàn thế giới mới được thanh tịnh, mới là cõi lạc, mới là cực lạc, mới đúng với ý nghĩa chân chính của Đức Phật, và Phật giáo mới có thể hưng thịnh mãi mãi.

Om mani padme hum.

20/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

190. Nói về Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

Hôm nay chúng ta nói về Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là một vị Bồ Tát rất cao quý, vì vậy đôi khi chúng ta gọi Ngài là Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi, thể hiện rằng trong các vị Bồ Tát, Ngài là trưởng tử của Đức Phật. Trong tất cả các kinh điển, có thể nói Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi còn là thầy của Đức Phật, hơn nữa Ngài cũng là một vị cổ Phật chuyển thế hóa thân thành Bồ Tát, bản thân Ngài vốn có lai lịch là Phật.

Trong Mật giáo chúng ta rất coi trọng nghi quỹ tu trì của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi có rất nhiều pháp tu, như: pháp Văn Thù Sư Lợi khiếp kiếm quán, pháp Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi vãng sinh, pháp Bổn tôn Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và cả pháp Ngũ Kế Đồng Tử Văn Thù Sư Lợi..., có rất nhiều nghi quỹ tu trì.

Trong Mật giáo rất coi trọng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, bởi vì bản thân những hóa thân của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cũng rất vĩ đại, thậm chí Đại Uy Đức Kim Cang cũng là hóa thân của chính Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Trong việc hộ giáo hộ pháp, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đã phát huy sức mạnh rất lớn.

Lần này chúng tôi đến Nepal và Ấn Độ, có một truyền thuyết như sau: Thủ đô Kathmandu của Nepal nguyên là một hồ nước, một cái hồ rất lớn, chứa rất nhiều nước. Theo truyền thuyết, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi từ hư không giáng xuống, dùng bảo kiếm của Ngài chém một nhát vào giữa ngọn núi, tạo thành một khe nứt rất rõ ràng, như thể dùng kiếm chém xuống vậy, chém thành một đường nứt, nước hồ theo đó chảy đi, sau đó mới xuất hiện một thung lũng. Vậy thung lũng đó là gì? Chính là thủ đô Kathmandu của Nepal. Đó chính là nguồn gốc của truyền thuyết về Kathmandu.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi giáng xuống, chém thành một khe núi, sau khi nước chảy đi, mới hình thành một thủ đô. Truyền thuyết này tất nhiên hơi thần kỳ một chút, nhưng qua đó có thể thấy rằng rất nhiều Phật tử đều rất cung kính Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Bản thân tôi cũng đã từng đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, đó thực sự là đạo tràng của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Mỗi ngôi chùa đều thờ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, có rất nhiều hình tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi khác nhau, thậm chí còn có điện Vạn Phật (Vạn Phật Bảo Điện) của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, tất cả đều thờ phụng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, đạo tràng đó cũng rất thù thắng, rất trang nghiêm.

Khi chúng tôi đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, tôi cũng nhớ đến Hòa thượng Hư Vân, từ núi Phổ Đà đã đi lễ lạy suốt đường đến núi Ngũ Đài ở Sơn Tây. Khi tôi đến núi Ngũ Đài, tôi nhận ra từ chùa Thái Nguyên đến núi Ngũ Đài phải mất năm đến sáu tiếng đi xe. Vậy mà Hòa thượng Hư Vân đã đi từ núi Phổ Đà ở Chiết Giang đến tận núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, nơi có những ngọn núi cao và hùng vĩ, mùa đông nào cũng phủ đầy tuyết. Nghĩ đến tấm lòng thành kính lễ Phật như vậy, thật khiến người ta cảm phục.

Khi lễ núi, tôi lạy từ chân núi Ngũ Đài lên đỉnh, tôi đã thấy rất khó, huống chi là lạy từ núi Phổ Đà đến núi Ngũ Đài. Trong quá trình đó còn xảy ra một câu chuyện rất kỳ diệu, Hòa thượng Hư Vân bị bệnh ở chân núi Ngũ Đài, rất vất vả, thân thể vô cùng suy yếu, có một cụ già ăn xin đến giúp đỡ Hòa thượng Hư Vân, cho ngài uống thuốc và chăm sóc ngài. Hòa thượng Hư Vân rất cảm kích, bèn hỏi tên của ông, ông nói người ở núi Ngũ Đài ai cũng biết tôi, tôi tên là Văn Cát.

Vị hòa thượng già lên núi Ngũ Đài tìm khắp nơi, hỏi mọi người có ai tên Văn Cát không, kết quả không ai biết cả. Văn Cát nói rằng ai cũng biết ông, nhưng cuối cùng chẳng ai biết người tên Văn Cát này.

Cuối cùng, Hòa thượng Hư Vân mới chợt nghĩ ra, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi chẳng phải là Văn Thù Bồ Tát Diệu Cát Tường sao? Văn Thù Bồ Tát Diệu Cát Tường chẳng phải chính là Văn Cát sao? Vì vậy có thể thấy, Bồ Tát độ hóa chúng sinh thật vi diệu. Ông ấy nói mình là Văn Cát, hóa ra chính là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Diệu Cát Tường.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là một vị Bồ Tát vĩ đại, Ngài tượng trưng cho trí tuệ, là biểu tượng của trí tuệ. Bồ Tát Văn Thù độ hóa chúng sinh, trong Mật giáo Ngài còn hóa hiện thành Tổ sư Tsongkhapa, Tổ sư Tsongkhapa chính là hóa thân của Văn Thù. Bồ Tát Văn Thù có rất nhiều hóa thân, trong số nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng, mọi người đều rất thích nói rằng họ là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù.

Về phần trí tuệ của bản thân Tổ sư Tsongkhapa, Ngài đã học tập và tập trung được trí tuệ của nhiều tông phái Mật giáo, có thể nói, Ngài đã hội tụ tất cả kiến thức, sáng lập ra Hoàng giáo, cũng có thể nói là nhà cải cách của Mật tông Tây Tạng. Vì vậy, mọi người cũng thích nói rằng bản thân Ngài là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù.

Khi tôi giảng "Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận", Tổ sư Tsongkhapa cũng hiện pháp tướng, hiện tướng gia trì, thấy rất rõ ràng. Phía trên Tổ sư Tsongkhapa lại có Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và phía trên vị Hộ pháp Đại Uy Đức Kim Cang mà tôi tu cũng là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, vì vậy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thật sự có duyên với chúng ta.

Nếu mọi người muốn đi sâu vào kinh tạng, hãy cầu xin Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi gia hộ. Bản thân tôi cũng thường quán tưởng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rất dễ quán tưởng, Ngài luôn cầm bảo kiếm ở tay phải. Hôm nay xin nói đến đây.

Om mani padme hum.

23/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

191. Nói về trí huệ

Vì vừa nói về Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là biểu tượng của trí huệ, nên hôm nay chúng ta sẽ bàn về "trí huệ".

Hai chữ "trí huệ" có rất nhiều cách giải thích, và cũng rất khó có thể diễn đạt đầy đủ về trí huệ chỉ trong một câu. Đôi khi người ta hỏi thẳng bạn trí huệ là gì? Nếu suy nghĩ kỹ về hai chữ trí huệ, không nhất định có thể trả lời ngay được.

Khi người ta hỏi bạn trí huệ là gì? Câu trả lời hay nhất là trí huệ chính là trí huệ, câu trả lời này chắc chắn là đúng. Trí huệ chính là trí huệ thôi, bởi vì rất khó để phân định ranh giới của trí huệ. Trí huệ cũng là thứ sâu không lường được, không có cách nào đo lường được. Bởi vì nó vô biên vô tận, nên bạn muốn nói ngay trí huệ là gì, thì không có cách nào nói được. Cách trực tiếp nhất là trí huệ chính là trí huệ, đó là cách trực tiếp nhất.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi được xem là biểu tượng của trí huệ, vì vậy bản thân Ngài là một vị Bồ Tát vĩ đại. Trong Lục độ, trí huệ và thiền định là vô cùng quan trọng. Thiền định cần dựa vào trí huệ, và từ thiền định lại sinh ra trí huệ. Từ định có thể cầu huệ, nhưng chính từ huệ mới sinh ra định, giống như đôi cánh của chim vậy, thiếu một bên đều không được.

Trí huệ có thể sinh định, chúng ta đều biết về giới, định, huệ mà, từ định có thể sinh huệ, nhưng từ huệ cũng có thể sinh ra định, nếu không có trí huệ thì rất khó đạt được thiền định.

Cho nên chúng ta là những người học Phật thông thường, học hỏi Phật huệ, trí huệ của Như Lai. Trong Mật giáo, hoặc trong pháp môn Chân Phật Mật Pháp của chúng ta, chúng ta thường nói đến năm loại trí huệ lớn, đây đều là Phật huệ.

Năm đại trí huệ chính là "Chân như", "Bát nhã", "Duy thức", "Trung quán", "Du già", đây là năm loại Phật huệ mà tôi thường giảng. Năm loại Phật huệ này có thể nói là tri kiến chân thật của Phật (Như Lai), đây đều là trí huệ chân chính. "Chân như" - hai chữ này cũng là vô cùng vô tận. "Bát nhã" - tất cả giáo lý của Đức Phật đều là Bát nhã. "Duy thức" - là pháp thần biến của Bồ Tát Di Lặc, đi vào khai phát chủng tử thức, ý thức sâu thẳm nhất trong tâm con người, đây chính là Duy thức.

Trong tương lai Bồ Tát Di Lặc sẽ độ chúng sinh như thế nào? Bồ Tát Di Lặc sẽ giáng xuống trong Long Hoa Tam Hội để thành Phật độ chúng sinh, độ bằng cách nào? Ngài sử dụng phương pháp thần biến Duy thức để độ chúng sinh, chỉ có phương pháp này mới có thể độ hết thảy chúng sinh. Việc hoằng pháp độ chúng sinh thông thường, tai phải vào tai trái ra, làm sao độ được? Có người còn hoàn toàn không tin, tôi không tin Phật pháp thì làm sao độ được?

Phật không thể độ người vô duyên, vậy làm sao Bồ Tát Di Lặc độ hết tất cả chúng sinh trong Long Hoa Tam Hội? Phương pháp duy nhất là "Duy thức", dùng ý thức của chính Ngài lan tỏa khắp thế giới, dùng Duy thức của Bồ Tát Di Lặc đi vào tâm chúng sinh, khai mở tất cả Duy thức trong tâm của mọi chúng sinh.

Nói một điều kỳ diệu hơn, đó là Bồ Tát Di Lặc phóng quang, phóng ra ánh sáng Duy thức, ánh sáng này chiếu vào tâm từng chúng sinh một, khai mở hoàn toàn tâm họ, khiến họ thấy được Phật tính của chính mình, trong một sát-na, tất cả chúng sinh đều thành Phật. Chỉ có phương pháp này mới có thể độ tận chúng sinh, đây chính là đại thần biến Duy thức.

"Trung quán" là pháp trung quán của trí huệ, chính là điều Phật Đà dạy về không chấp trước, không chấp vào hai bên để đi vào trung đạo, đây là một phương pháp thành Phật.

"Du già" là điều mà Mật giáo giảng dạy, là phương pháp tương ứng giữa Phật và chính bạn, đó chính là Du già; cũng là "pháp quả" của thành Phật.

Năm loại trí huệ lớn này đều là tri thức chân thật, đều là tri kiến chân chính, tất cả đều là trí huệ chân thật. Cũng có trí huệ giả, vậy trí huệ giả là gì? Đó là chấp vào hai bên, lấy phần nhỏ che lấp toàn thể, giống như người mù sờ voi, đây chính là trí huệ giả. Khi sờ vào thân voi thì nói: "Ôi! Con voi này giống như bức tường", sờ vào đuôi voi thì nói voi giống như con rắn, sờ vào tai voi thì nói voi giống như cái quạt, cho nên câu chuyện người mù sờ voi nói lên rằng, bản thân nó là lấy một phần để khái quát toàn thể, chấp chặt vào một bên, đây đều là trí huệ giả.

Trí huệ chân chính được gọi là "thông suốt", nghĩa là khi mắt bạn nhìn thấy mọi thứ đều rõ ràng, minh bạch, đó mới là trí huệ chân chính. Chỉ khi nào có thể chiếu sáng hoàn toàn, hiển hiện trọn vẹn, mới là trí huệ chân chính. Nếu bạn chỉ sáng một bên tối một bên, đó không phải là trí huệ chân chính, mà là trí huệ giả.

Ngoài ra còn có trí huệ hỗn loạn, thế nào gọi là trí huệ hỗn loạn? Những thứ bạn tạo ra khiến thế giới này càng thêm rối loạn, loại trí huệ này không tốt. Tôi từng thấy một quyển sách dạy người ta đủ loại phương pháp tự tử, bạn nói đó là trí huệ gì chứ! Dạy người ta tự tử, trăm phương pháp tự tử, trong một trăm cách tự tử đó cách nào là tốt nhất, đó là trí huệ gì chứ!

Tôi cũng từng thấy một quyển sách dạy người ta làm sao để trở thành "ba tay" - kẻ móc túi, họ cũng có trí huệ của họ, họ luyện tập mỗi sáng thức dậy, hai người đi đối diện nhau, thân thể chạm nhau một cái, cái ví của người này chạy qua bên kia, cái ví của người kia chạy qua bên này, mỗi ngày luyện tập, rất giỏi, loại trí huệ này chính là trí huệ hỗn loạn, thuộc về trí huệ không chính đáng.

Vì vậy, người học Phật chúng ta cần phải nhận biết: thế nào là trí huệ chân thật? Thế nào là trí huệ giả? Thế nào là trí huệ hỗn loạn? Thế nào là trí huệ chấp trước? Không thể học tập loại trí huệ chấp trước, mà phải học tập trí huệ chân chính.

Muốn thành Phật, bạn phải từ Bát nhã mà học trí huệ của Phật Đà, học Duy thức của Bồ Tát Di Lặc, học Du già tương ứng của Mật giáo, học Trung quán của Phật Đà, học Chân như - trí huệ viên mãn, có như vậy mới có thể thành tựu. Nếu bạn học được trí huệ giả, sẽ không thể thành tựu, còn trí huệ hỗn loạn thì thật là rối loạn. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

23/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

192. Nói về cây bồ đề (1)

Hôm nay chúng ta nói về cây bồ đề. Khi chúng tôi đến Ấn Độ, có một địa danh gọi là Bodh Gaya, mục đích chính là để chiêm ngưỡng cây bồ đề này. Tại sao cây bồ đề lại nổi tiếng như vậy? Bởi vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng thành tựu Chính Đẳng Chính Giác dưới gốc cây bồ đề.

Trong tám đại thánh địa, cá nhân tôi nghĩ như thế này: Bodh Gaya là thánh địa quan trọng nhất trong tám đại thánh địa, nếu không có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề, thì tất cả các thánh địa khác đều trở nên vô nghĩa. Dù là vườn Lâm Tỳ Ni nơi Đức Phật đản sinh, vườn Lộc Dã nơi chuyển Pháp luân đầu tiên, núi Linh Thứu nơi thuyết pháp, tinh xá Kỳ Viên, vườn Cấp Cô Độc, tất cả đều không còn ý nghĩa gì.

Tất cả những điều này trở nên có ý nghĩa là bởi vì Đức Phật đã đắc chính giác dưới cội bồ đề, do đó tất cả dấu tích của Đức Phật đều trở nên rất có ý nghĩa và trở thành thánh địa. Vì vậy, khi hành hương Ấn Độ, Bồ Đề Đạo Tràng là thánh địa quan trọng nhất.

Cá nhân tôi nghĩ như vậy, dĩ nhiên khi chúng ta đi xem cây bồ đề đó, nó không còn là cây bồ đề nguyên thủy thời Đức Phật ngồi thiền nơi đó nữa. Có nhiều truyền thuyết cho rằng cây bồ đề hiện tại được di thực từ Sri Lanka sang, nhưng tất cả chúng ta vẫn đảnh lễ, tụng kinh và lễ bái trước cây bồ đề này.

Tại Bodh Gaya, chúng tôi đầu tiên đến chùa Đại Bồ Đề, đây là một temple, ở tầng hai, nơi thường không cho phép người vào, nhưng vì mối quan hệ đặc biệt của chúng tôi nên họ đã cho phép chúng tôi vào. Ở đó có Báo thân Phật của Đức Phật, chúng tôi đã thực hiện công khóa, làm đại lễ bái, tụng chú Tứ quy y, làm đại cúng dường, tụng kinh Cao Vương, kết giới bằng chuông chày kim cang, và nhập định. Chúng tôi cũng tụng niệm Thanh Tịnh Pháp Thân Phật và văn cầu gia trì.

Trong sự tĩnh lặng, rất nhanh chóng, tôi nhìn thấy bàn tay của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni duỗi dài ra, cánh tay vươn rất dài, tay cầm bình cam lộ để làm lễ quán đảnh cam lộ cho tất cả đệ tử đi cùng.

Lúc đó tôi đã nói ngay tại hiện trường rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang duỗi tay làm lễ quán đảnh cam lộ cho tất cả các Thượng sư, pháp sư đi cùng. Cảnh tượng này hiện ra rất rõ ràng. Thượng sư Liên Từ cảm nhận được những mưa hoa mát lạnh từ trên rơi xuống, cảm thấy toàn thân mát mẻ, bà ấy cảm ứng được sự quán đảnh cam lộ này, và còn nhiều Thượng sư, pháp sư khác cũng có cùng cảm ứng như vậy, đều cảm nhận được sự quán đảnh cam lộ, có những giọt nước mát lạnh từ trên trời rơi xuống. Ôi! Phía trên không hề có mưa, phía trên là mái nhà, không thể nào có nước mưa được, vì vậy có thể nói cảm ứng này thật là thù thắng!

Sau khi lễ Phật xong, chúng tôi đi đảnh lễ cây bồ đề, rồi đi thăm các đạo tràng gần Bồ Đề Đạo Tràng. Xung quanh đạo tràng có rất nhiều điểm tham quan, còn có cả hồ sen. Sau khi trở về, tôi tra cứu sách "Đại Đường Tây Vực Ký" - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề, vậy cây bồ đề là loại cây như thế nào?

Hóa ra, việc Đức Phật đạt được Chính Giác dưới cội bồ đề không phải là một phương pháp tu hành đặc biệt của riêng Ngài. Từ xưa đã có rất nhiều hành giả Ấn Độ (các yogi), mỗi người đều ngồi thiền dưới gốc cây, và họ chọn cây vả (cây sung) làm nơi tu tập, mà cây vả chính là cây bồ đề. Cây này được gọi là cây bồ đề là vì sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc bồ đề, người ta mới đổi tên cây vả thành cây bồ đề, và từ đó mọi người mới gọi nó là cây bồ đề.

Ở Ấn Độ, loại cây này chính là cây vả. Rất nhiều hành giả rất thích, thậm chí theo phong tục của họ đều ngồi thiền dưới gốc cây vả, không phải chỉ có Đức Phật mới ngồi thiền dưới cội bồ đề đâu, không phải vậy! Cho nên, đây là một phong tục của Ấn Độ, họ rất thích ngồi thiền dưới gốc cây.

Thế rồi, tôi lại tra cứu trong "Đại Đường Tây Vực Ký", cây vả này, các hành giả gọi nó là gì? Họ gọi là "cây cam lộ bất tử"! Cây cam lộ bất tử! Cho nên khi tôi nhìn thấy, ôi, cam lộ bất tử! Vậy thì tại Bodh Gaya, việc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quán đảnh cho chúng tôi cũng là quán đảnh cam lộ, Đức Phật dùng bình cam lộ để quán đảnh cho chúng ta, chẳng phải đó chính là "nước cam lộ bất tử" sao?

Vừa hay đó là cây bồ đề, tại Bồ Đề Đạo Tràng, vừa hay những gì hiển hiện cho chúng ta cũng là quán đảnh cam lộ, và cây đó lại chính là cây cam lộ bất tử! Vì vậy khi tôi nhìn thấy, ôi! Thật là tương ứng!

Tại Vườn Lộc Dã tôi nhìn thấy Phật nhãn, sau khi tra cứu sách mới biết đó là tháp Pháp Nhãn; tại Bodh Gaya, làm lễ quán đảnh cam lộ, tra cứu sách mới biết cây bồ đề còn được gọi là cây cam lộ bất tử, thật là tương ứng! Tôi thực sự không biết cây bồ đề được gọi là cây vả, cũng không biết trong mắt các hành giả, cây vả chính là cây cam lộ bất tử, vậy đây có phải là sự trùng hợp? Nếu bạn nói đó là trùng hợp thì đó là trùng hợp; nếu bạn nói đó là tương ứng thì đó chính là tương ứng. Sau khi về, tôi tra cứu sách mới biết, ôi! Đó là cây bồ đề, cây vả, cây cam lộ bất tử, tôi giật mình! Ôi! Quán đảnh cam lộ, đây chính là thánh tích cây bồ đề ở Ấn Độ.

Om mani padme hum.

24/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

193. Nói về cây bồ đề (2)

Hôm nay chúng ta tiếp tục nói về "cây bồ đề". Vì sau khi đọc "Đại Đường Tây Vực Ký", tôi phát hiện bản thân cây bồ đề này có rất nhiều truyền thuyết.

Lần này khi chúng tôi đến Bodh Gaya ở Ấn Độ, cây bồ đề mà chúng tôi nhìn thấy đã không còn là cây mà Đức Phật ngồi thiền chứng ngộ ngày xưa nữa rồi! Cây bồ đề này là như thế này, là vì cây bồ đề nguyên thủy đã được chiết nhánh đem đến Sri Lanka, sau đó lại được chiết nhánh từ Sri Lanka và ghép trở lại Bodh Gaya.

Trong "Đại Đường Tây Vực Ký" có ghi chép nhiều truyền thuyết về cây bồ đề. Vào thời vua A Dục, lúc ban đầu, ông vốn là người diệt Phật, ông tin theo ngoại đạo, tức là tin theo các tôn giáo khác.

Khi ông bắt đầu diệt Phật, ông đã chặt hết tất cả các cây bồ đề, kể cả cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng - nơi Đức Phật đã từng ngồi thiền. Ông cho chặt hết lá, cành, thân cây, sau khi chặt xong, ông giao cho các đạo sĩ thờ lửa để làm Hộ Ma, lấy cây đó để làm Hộ Ma, đốt nó đi, chỉ một ngọn lửa là cháy hết!

Ban đầu vua A Dục cũng là người diệt Phật, khi cây vừa bị đốt, thật kỳ lạ, các cành cây tách ra và từ bên trong mọc lên hai cây bồ đề xanh tươi, mọc ra hai gốc. Ngay khi lửa đang cháy, cành cây bỗng tách ra và từ bên trong lại mọc ra cây mới.

Vì vậy, vua A Dục nhìn thấy vậy rất xúc động, cảm thấy thật không thể nghĩ bàn! Từ đó về sau, ông rất cung kính cây bồ đề.

Mặc dù ông đã tin Phật, nhưng hoàng hậu của ông không tin, hoàng hậu không tin, bà cũng theo ngoại đạo, cũng là người dị giáo, bà đã lén ra lệnh chặt cây bồ đề, cây tuy bị chặt, vua A Dục đã dùng sữa bò để tưới nó, chỉ trong một ngày nó đã mọc lại. Đây đều là truyền thuyết!

Rồi hoàng hậu lại sai người lén lút chặt cây vào nửa đêm, hôm sau vua A Dục đến xem, ôi, cây lại đổ rồi! Kết quả là từ chỗ cây đổ lại mọc ra những chồi non, vua A Dục vẫn dùng sữa từ một nghìn con bò để tưới nó. Chẳng bao lâu sau, nó lại mọc thành một cây lớn.

Cây bồ đề đó đã trải qua nhiều tai nạn. Sau khi vua A Dục qua đời, một vị vua ngoại đạo khác lại chặt cây này xuống. Sau khi cây bị chặt, một vị vua khác là hậu duệ của vua A Dục nhìn thấy vậy, cũng dùng nhiều phương pháp để phục hồi nó, và cây bồ đề lại mọc lên. Sau đó người ta dùng dây leo và đá để xây tường bao quanh cây bồ đề này, xây rất cao.

Mọi người hãy nghĩ xem, sau khi đọc những ghi chép này, tôi cảm thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni độ sinh thật vất vả! Thật vậy, độ chúng sinh quá vất vả! Cái cây này có liên quan gì đến những người ngoại đạo đâu? Chỉ vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cây bồ đề này một lần, kết quả là cây bồ đề này trở nên nổi tiếng. Nhưng nổi tiếng cũng không tốt! Cây càng cao gió càng mạnh, mỗi người ngoại đạo đều muốn chặt cây này, không biết đã bị chặt bao nhiêu lần rồi!

Cuối cùng vẫn có một vị đầu đà, một bậc tu hành cao thâm, ngài đã đến Sri Lanka để hoằng pháp và truyền giới. Theo thông lệ, khi truyền giới phải có sự hiện diện của Giáo chủ - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, phải có một vật để tượng trưng cho giới pháp từ Đức Phật, vậy thì lấy gì làm biểu tượng tốt nhất? Cây bồ đề là tốt nhất. Vị ấy đã trực tiếp thỉnh mạch nguồn, đem cành cây bồ đề trồng tại Sri Lanka. Sau đó dùng làm pháp khí truyền giới, và cây bồ đề đã phát triển tại Sri Lanka như vậy.

Cây bồ đề hiện nay ở Bodh Gaya là được chiết nhánh từ Sri Lanka và trồng lại, trong quá trình đó, theo ghi chép trong "Đại Đường Tây Vực Ký", cây bồ đề này thực sự đã trải qua muôn vàn gian khổ. Đức Phật đã làm cho nó nổi tiếng, trở thành cây giác ngộ nổi tiếng nhất - cây bồ đề. Nhưng nó đã bị những người ngoại đạo và dị giáo chặt phá không biết bao nhiêu lần! Đốt thì đốt, chặt thì chặt! Những lần được ghi chép lại đã có ba lần rồi. Vua A Dục một lần, hoàng hậu của vua A Dục một lần, một vị vua khác một lần, ngoài ra còn có những người ngoại đạo leo tường vào chặt trộm, không biết bao nhiêu lần nữa?

Lý do Phật pháp không thể tồn tại ở Ấn Độ là vì thế lực của các ngoại đạo quá mạnh. Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Bà La Môn giáo, họ có thế lực bám rễ sâu xa quá mạnh mẽ, Phật pháp được hoằng dương vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bị xem là tôn giáo mới nổi, vừa mới xuất hiện. Vừa mới xuất hiện thì chắc chắn sẽ bị văn hóa truyền thống và tôn giáo vốn có chặt phá.

Vì vậy từ việc quan sát một cây bồ đề, chúng ta có thể thấy được, một tôn giáo mới muốn đứng vững ở một nơi nào đó thì thật là khó khăn.

Cho nên nói về Phật pháp, việc Phật giáo rút lui khỏi Ấn Độ và bị tiêu diệt ở Ấn Độ không phải là không có lý do. Bạn thấy đó, Đức Phật đã không còn nữa, chỉ còn lại một cây bồ đề, vậy mà ngay cả cây bồ đề cũng có nhiều người muốn chặt nó! Bạn nói xem cây bồ đề có tội tình gì? Cây bồ đề có tội gì chứ?

Một cái cây thì có tội tình gì? Nhưng mà cái cây đó, vẫn có nhiều người muốn chặt đầu nó! Hãy nghĩ xem, đây chính là một tính xấu vốn có của con người, một thói quen xấu vốn có của con người!

Phật pháp do Đức Phật sáng tạo và hoằng dương, Đức Phật chỉ thành tựu dưới gốc cây mà thôi, có liên quan gì đến cây này đâu? Vậy mà có nhiều người ngoại đạo như vậy căm ghét cái cây đó, ngày nào cũng chặt phá nó, điều này nói theo tâm lý học gọi là "giận cá chém thớt", họ đã trút cơn giận của mình lên cái cây đó.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

24/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

194. Nói về Quan Thế Âm Bồ Tát

Hôm nay chúng ta nói về Bồ Tát Quan Thế Âm. Mọi người đều biết, Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị đại Bồ Tát, nói về người Trung Quốc chúng ta, có thể nói là "nhà nhà có Di Đà, nhà nhà có Quan Âm". Cho nên có thể nói Bồ Tát Quan Thế Âm và chúng sinh trong thế giới Ta Bà chúng ta có duyên sâu đậm nhất!

Khi tôi bắt đầu lễ Phật, vị đầu tiên tôi thờ phụng chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Tôi đã đến tòa nhà Tổng Hợp ở Đài Trung mua một tượng Quan Thế Âm bằng sứ, đó là pho tượng đầu tiên tôi thờ phụng. Lúc đó, nơi tôi thờ phụng là trên cửa sổ phòng ký túc của mình, đặt thờ trên cửa sổ, vì lúc đó không biết gì cả nên cứ thờ ở cửa sổ.

Ôi! Thật kỳ lạ, vừa thờ phụng xong, ngay tối hôm đó Ngài đã hiển linh, tôi đã từng viết điều này trong sách. Đêm đó Ngài thực sự hiển hiện, tôi thấy Ngài ngồi trên một đóa sen nổi trên mặt biển, Bồ Tát Quan Thế Âm ngồi trên đóa sen trên mặt biển, hình ảnh rất rõ ràng.

Cảm ứng của Quan Âm thật không thể nghĩ bàn! Khi tôi bắt đầu học Phật, tôi tụng bất cứ thứ gì tôi tìm thấy. Thần chú đầu tiên tôi tụng là thần chú Bạch Y Đại Sĩ. Lúc đó tôi chưa biết tụng chú Đại Bi, tôi chỉ tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ thôi. Khi tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ này, Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát đã hiển hiện để chữa bệnh cho tôi (chú thích: bệnh viêm mắt đỏ).

Vì vậy rất nhiều người hỏi tôi, trì chú nào là tốt nhất? Tôi không có cách nào trả lời, không phải là không có cách trả lời, mà tôi cho rằng, chú nào phù hợp với chính mình, đó chính là chú tốt nhất. Bạn tự cảm thấy khi tụng chú đó, có cảm ứng, có tương ứng thì đó chính là tốt nhất.

Tôi không cho rằng chú nào là tốt nhất, như tôi tụng thần chú Bạch Y Đại Sĩ, đã rất tốt rồi. Sau này tôi cũng tự tụng thất Phật diệt tội chân ngôn, cũng tụng chú Đại Bi, cũng tụng mười chú nhỏ, cũng tụng chú Lăng Nghiêm. Về sau tụng nhiều chú, nhưng ban đầu nhất, vẫn là thần chú Bạch Y Đại Sĩ, tụng đến khi có cảm ứng.

Sự linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm, nói về bản thân tôi, có thể nói là rất sâu sắc trong những lần cảm ứng, vì thế Bồ Tát Quan Thế Âm đã từng cứu tôi khỏi tai nạn, cũng đã từng chữa bệnh cho tôi.

Sự hiển hiện của Bồ Tát Quan Thế Âm với tôi, vị Bồ Tát đầu tiên đến cảm ứng cũng chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Bởi vì trước đây tôi sống ở hợp tác Thôn Mới, đối diện hợp tác Thôn Mới có người thờ Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát, từ khi tôi học được cách thông linh, rồi khi cầu nguyện tại nhà mình, vị đầu tiên đến cảm ứng chính là Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát từ nhà người ta đến nhà tôi, rất rõ ràng.

Thế là tôi nói với chị dâu Vạn Cát ở nhà trước mặt rằng Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị thường xuyên đến nhà tôi. Chị ấy rất không vui, nói rằng đó là Bồ Tát nhà chị, sao lại thường xuyên đến nhà tôi được? Cuối cùng, thật kỳ lạ, Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị ấy thực sự thường xuyên đến nhà tôi.

Có một lần chị ấy rất không vui, đến nhà tôi, tôi nói với chị rằng Bồ Tát Quan Thế Âm nhà chị thường xuyên đến nhà tôi, chị ấy liền nổi giận, nói làm gì có chuyện đó! Câu nói chưa dứt lời, Bồ Tát Quan Thế Âm liền nhập vào người chị ấy, chị ấy lập tức quỳ xuống và bò, cứ bò mãi đến bàn thờ nhà tôi để lạy, lạy không ngừng, Ngài nói chị ấy đã nói sai, lập tức miệng chị ấy bị méo, miệng bị méo ngay lập tức!

Lúc đó cảm ứng thật là mạnh mẽ! Có một người không tin, vào đến đàn thành nhà tôi, nhìn đàn thành và hỏi, tượng này là gì? Tượng kia là gì? Rồi chỉ trỏ lung tung! (Sư Tôn giơ tay minh họa) Tôi nói đây là Bồ Tát đó! Phải cung kính, phải chắp tay! Vậy mà người đó dám dùng tay chỉ trỏ như thế, chỉ đến cuối cùng bàn tay đó...! Ôi! Tay anh ta bắt đầu run rẩy dữ dội, hai tay tự động chắp lại lạy không ngừng, mức độ cảm ứng thuở ban đầu đó, ngay cả ngón tay cũng không thể tùy tiện chỉ trỏ.

Bồ Tát rất linh thiêng. Chị dâu Vạn Cát đến nhà tôi, vừa nghe nói Bồ Tát Quan Thế Âm đến nhà tôi, chị ấy cảm thấy rất không vui, lập tức bị nhập và quỳ xuống. Cũng có một người không tin, đó là vợ của Nhan Vân Bằng, tùy tiện dùng ngón tay chỉ vào Bồ Tát Quan Thế Âm, lập tức hai tay chắp lại, lạy không ngừng.

Sự hiển linh lúc ban đầu thật là phi thường! Bây giờ ít hơn, tại sao bây giờ lại ít hơn? Bởi vì tín tâm đã vững chắc rồi. Khi lòng tin của bạn chưa vững chắc, Ngài liên tục hiển linh cho bạn thấy. Sự linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm thật sự là phi thường!

Tôi cho rằng hai chữ "Quan Âm", chữ "Âm" chính là chú, nhìn vào chú, Quan Âm nghĩa là quán chiếu chú ngữ. Bạn thấy đó, toàn bộ Tây Tạng đều là đạo tràng của Tứ Thủ Quan Âm. Bạn thấy thần chú "Om mani padme hum", tâm chú của Bồ Tát Quan Thế Âm, toàn bộ Tây Tạng đều tụng! Toàn bộ Tạng mật đều tụng "Om mani padme hum", đó là đạo tràng của Tứ Thủ Quan Âm. Những chữ "Om mani padme hum" này, chỉ cần bạn có thể quán chiếu được, Bồ Tát Quan Thế Âm sẽ có thể duỗi bàn tay từ bi của Ngài ra để hộ trì cho bạn! Có thể thấy sức mạnh của thần chú này là rất lớn.

Lòng từ bi của Bồ Tát Quan Thế Âm, ngoài việc dùng âm thanh của Ngài để cứu độ chúng sinh, Ngài còn tìm đến tiếng kêu để cứu khổ, hơn nữa Ngài còn dùng đủ loại phương pháp để thị hiện độ hóa chúng sinh. Vì vậy vị Bồ Tát này thật là vĩ đại!

Vị Bồ Tát này thật phi thường! Ngài trước đây cũng là Phật, Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật chính là tiền thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, Chính Pháp Minh Như Lai cũng là đời trước của Bồ Tát Quan Thế Âm, danh hiệu của Ngài rất nhiều. Ngài đời trước là Phật, quay ngược con thuyền từ bi hóa thành Bồ Tát, thậm chí ứng thân trong chúng sinh để độ hóa chúng sinh!

Vì vậy Bồ Tát Quan Thế Âm cũng là một trong Bát Đại Bổn Tôn của Chân Phật Tông chúng ta, chúng ta đặc biệt tôn sùng Bồ Tát Quan Thế Âm. Trước đây ở mật đàn tại nhà tôi, Bồ Tát Quan Thế Âm nhiều nhất, toàn là Bồ Tát Quan Thế Âm! Bất kể là Quan Âm nào, hễ tôi nhìn thấy Quan Âm là tôi thỉnh về, thậm chí ngay cả tượng Quan Âm nhà chị dâu Vạn Cát, dù chị ấy không thể tặng cho tôi, tôi cũng đi tìm, tìm được một tượng Bồ Tát Quan Thế Âm giống hệt như ở nhà chị ấy, hiện vẫn còn thờ ở mật đàn của tôi tại Đài Loan, y hệt như vậy. Cho nên nói rằng, sự linh cảm của Bồ Tát, thật sự là bất khả tư nghì!

Om mani padme hum.

26/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

195. Làm sao độ chúng sinh

Chúng ta đã nói về cây bồ đề, từ cây bồ đề có thể liên tưởng đến việc làm thế nào để độ chúng sinh, đây là một vấn đề rất lớn.

Pháp môn bát nhã của chính Phật Đà là một pháp môn Hiển giáo, tùy thuận tất cả chúng sinh, có duyên thì độ, không duyên thì Phật cũng không thể độ! Vì thế Phật có ba điều không thể! Trong đó, nếu bạn không có duyên, Phật cũng không có cách nào độ hóa bạn được. Đây chính là tùy thuận độ chúng sinh.

Vì vậy Phật pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại cho đến nay đã lan truyền đến Thái Lan, Tây Tạng, Trung Quốc, bán đảo Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ giới hạn trong phạm vi này, còn các quốc gia khác chỉ có rất ít người có thể nghe được Phật pháp.

Chúng sinh bao giờ mới độ hết được đây? Tôi thật sự lo lắng cho Địa Tạng Vương Bồ Tát, địa ngục chưa trống, thề không thành Phật, Ngài mãi mãi “bất không”, thật sự đã thành Bất Không Thành Tựu Phật rồi! Không thể làm trống được! Địa ngục vẫn mãi tồn tại!

Tập khí của chúng sinh không hề được cải thiện hoàn toàn dù có sự tịnh hóa của Phật pháp, hơn nữa còn có xu hướng ngày càng đi xuống, vì vậy việc độ chúng sinh, tôi cảm thấy thật là vất vả!

Mặc dù chúng ta tu học Phật pháp với lòng tin rất kiên cố, nhưng những người có đạo tâm không vững vàng thì nhiều vô kể! Chỉ cần một câu nói không đúng, họ liền thoái lui đạo tâm, chỉ một chút khó khăn trắc trở, họ liền thoái lui đạo tâm, nhân sự không hòa hợp, họ cũng thoái lui đạo tâm. Đây đều là những nghịch cảnh trong việc độ chúng sinh.

Khi nào chúng sinh mới có thể độ hết được? Tôi cũng lo lắng thay cho Bồ Tát Di Lặc, Ngài phải độ rộng khắp chúng sinh trong ba hội Long Hoa, mỗi lần phải độ đến vài ức chúng sinh. Chỉ trong ba hội Long Hoa, phải độ hết tất cả chúng sinh trên địa cầu, độ hết tất cả chúng sinh trong cõi Ta Bà. Kinh điển Phật ghi chép như vậy, nhưng làm sao độ? Làm thế nào để độ đây?

Tôi sẽ nói với Bồ Tát Di Lặc rằng, không dùng pháp đặc biệt thì không thể được, Ngài không thể tùy thuận chúng sinh, Ngài thành đạo dưới cội Long Hoa, không phải dưới cội bồ đề, cần phải hóa toàn thân thành ánh sáng, biến hóa thành hàng nghìn tỷ tia sáng, chiếu thẳng vào tâm chúng sinh, dùng phương pháp duy thức đại thần biến, hóa thành đại quang minh, đi vào tâm của hàng nghìn tỷ chúng sinh, lấy ra toàn bộ Phật thức của họ, dùng Phật thức của Như Lai để khai mở Phật thức của chúng sinh.

Dùng duy thức để chuyển hóa duy thức, để chúng sinh hiển lộ Phật tính từ tầng thức sâu nhất của họ, rồi tự thành quang minh, toàn thân họ đều biến mất, hóa thành Phật quang, trong một khoảnh khắc tất cả chúng sinh đều được thăng hoa lên thế giới Hoa Nghiêm.

Bồ Tát Di Lặc cần ba hội Long Hoa để làm gì? Ba hội ư? Không cần đâu! Một hội là đủ rồi. Dùng phương pháp duy thức đại thần biến này, một hội là được, nghĩa là, Bồ Tát Di Lặc phóng quang, hóa thành hàng nghìn tỷ tia sáng, đi vào tâm chúng sinh, khai mở Phật thức từ tầng thức sâu nhất của chúng sinh, khiến Phật tính hoàn toàn hiển lộ.

Tất cả chúng sinh trên địa cầu, Phật tính hoàn toàn hiển lộ, không một ai thoát khỏi! Tiếp dẫn toàn bộ địa cầu về thế giới Hoa Nghiêm! Đây thật sự gọi là "gà chó lên trời", gà và chó đều được khai mở hoàn toàn, trong chớp mắt nó nhận ra mình không phải là chó, mà là Phật! Trong chớp mắt nó phát hiện mình không phải là gà, mà là Phật! Chỉ cần khai mở Phật tính của chúng sinh, thì tất cả gà chó đều có thể lên trời.

Phương pháp độ chúng sinh này chính là duy thức đại thần biến của Bồ Tát Di Lặc, đây là phương pháp độ chúng sinh duy nhất của Ngài. Nếu Ngài vẫn dùng pháp môn bát nhã, được thôi! Chúng ta đều đến tin Phật, tín ngưỡng Phật, đến học Phật, bắt đầu đọc kinh, xem kinh điển, nhưng bạn chưa xem xong thì đã chết mất rồi.

Bạn có biết Bồ Tát Long Thụ đến long cung để xem Kinh Hoa Nghiêm và mang Kinh Hoa Nghiêm ra, riêng bản thân Kinh Hoa Nghiêm đã rất nhiều rồi, nhiều đến không đếm xuể, theo lời Bồ Tát Long Thụ nói, Kinh Hoa Nghiêm mà Ngài mang ra chỉ là một phần vạn của Kinh Hoa Nghiêm trong long cung mà thôi! Một phần vạn đó, Kinh Hoa Nghiêm đã khiến bạn xem không hết rồi, còn muốn đợi bạn đọc xong kinh Phật thì nhiều đời cũng đọc không hết! Cho nên pháp môn bát nhã độ chúng sinh, người có duyên thì được độ, đối với người vô duyên thì rất khó!

Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh, tôi bảo Ngài rằng, một hội Long Hoa là đủ, không cần đến ba hội Long Hoa, bởi vì ba hội Long Hoa có thể quá phiền phức. Tại sao phải cần đến ba hội Long Hoa? Điều này tôi không thể hiểu được, hội Long Hoa thứ nhất độ bao nhiêu người, hội Long Hoa thứ hai độ bao nhiêu người, hội Long Hoa thứ ba độ hết tất cả.

Tại sao phải chia làm ba lần? Chẳng lẽ còn phải chia thành bữa sáng, bữa trưa, bữa tối, chia ra ba lần để ăn sao? Phóng quang một lần độ hết là đủ rồi, chẳng lẽ một lần triệu tập không thể tập hợp tất cả mọi người lại với nhau, ánh sáng đó không thể đạt đến bảy vòng rưỡi trái đất sao? Nếu có thể đạt đến bảy vòng rưỡi, ồ, không còn nữa, không còn một người nào nữa, tất cả chúng sinh đều đã thành Phật cả rồi.

Vì vậy tôi cảm thấy, từ việc nói về cây bồ đề đến độ chúng sinh, thật quá khó khăn, ngay cả cái cây mà Phật Đà ngồi dưới gốc để khai ngộ, chúng sinh cũng muốn đốn nó đi. Cho nên Bồ Tát Di Lặc sau này độ chúng sinh, tuyệt đối không thể học theo cách độ chúng sinh của Phật Đà nữa, phải trực tiếp khai mở Phật thức, trực tiếp khiến chúng sinh thành Phật!

Tôi nghĩ như vậy đó, lúc đó! Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ được giải thoát rồi. Không còn địa ngục nữa, địa ngục đều trống không, chúng sinh trong địa ngục nhìn thấy, ồ, ta cũng là Phật! Tất cả đều thành Phật. Tôi nghĩ nên như vậy, nếu không, không còn cách nào tốt hơn nữa.

Hôm nay nói đến đây thôi.

Om mani padme hum.

26/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

196. Những điều thấy nghe ở Bodh Gaya (1)

Hôm nay tôi vẫn tiếp tục chia sẻ với mọi người về những điều thấy nghe ở Bodh Gaya.

Điểm quan trọng nhất ở Bodh Gaya là có một cây bồ đề, chính là cây bồ đề nơi Đức Phật đã giác ngộ trên tòa kim cang. Phía trước cây bồ đề có một ngôi tháp rất lớn, được chia thành hai tầng, được chạm khắc nhiều tượng Phật. Xung quanh đạo tràng bồ đề có tường bao quanh, và chung quanh có rất nhiều chùa chiền.

Theo quan điểm của tôi, nơi Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề này là địa điểm quan trọng nhất trong số tám thánh địa. Nếu không có sự thành đạo của Đức Phật, có thể nói rằng các thánh địa khác sẽ không tồn tại. Vì vậy, nơi đây quy tụ các ngôi chùa từ nhiều quốc gia, có chùa Hàn Quốc, chùa Trung Quốc, chùa Myanmar, và còn có chùa Bhutan, chùa Nepal, rất nhiều ngôi chùa đều tập trung xung quanh đạo tràng bồ đề này.

Trong tám thánh địa, nơi có nhiều chùa chiền nhất, theo tôi thấy chính là Bodh Gaya này. Không chỉ vậy, có rất nhiều hành giả tu học Phật pháp cũng tập trung tại Bodh Gaya. Khi chúng tôi đến đó, thấy rất nhiều vị Lama Tây Tạng đang đảnh lễ trước tháp bồ đề, đại bồ đề tự và cây bồ đề. Một số người trong họ phát nguyện đảnh lễ trước cây bồ đề, mỗi lần lễ là vài vạn lạy, vài trăm vạn lạy, ngày nào cũng đến lễ.

Chúng tôi cũng thấy các vị xuất gia Hiển giáo đang thiền định ở đó. Họ có mặt ở khắp nơi, dưới mỗi gốc cây đều có, dưới cây bồ đề cũng có, dưới các cây khác cũng có.

Ngoài ra còn có rất nhiều bia đá, tháp, và nhiều người vội vã đến đó như thể để giành chỗ. Có người làm đại lễ, có người tụng kinh, có người trì chú, có người thiền định, có người làm cúng dường.

Chúng tôi đã đến thăm các vị xuất gia, không phân biệt Hiển giáo hay Mật giáo, có cả các vị tăng từ Thái Lan, từ Trung Quốc, từ Đài Loan và nhiều nơi khác đến. Có thể nói đây là nơi quy tụ cuối cùng của các Phật tử. Khi bạn đến đây, bạn sẽ thấy rất nhiều hành giả tu học Phật pháp ở nơi này. Trong số đó có một vị đến từ Vụ Xã, Đài Loan, hình như Vụ Xã nằm ở Nam Đầu phải không? Chúng tôi hỏi thăm mới biết vị ấy đến từ Vụ Xã.

Tôi cũng quan sát các hành giả ở đó, thấy họ đang tụng niệm và đọc kinh điển. Khi tôi đi ngang qua, họ nhìn tôi (Sư Tôn minh họa ánh mắt) một cái, rồi nhìn nhau, chỉ cần nhìn ánh mắt đó, chúng ta đã biết họ đang nghĩ gì.

Trong ánh mắt đó không thể nhìn thấy cảm xúc, không còn tình cảm như ngày xưa nữa, rất lạnh lùng. Bạn không thể thấy được tình cảm ngày xưa của họ, không thấy được cảm xúc, hoàn toàn là một loại ánh mắt rất lạnh nhạt! Bên ngoài không thể quấy nhiễu họ được, họ không còn thuộc về trần thế, không thuộc về hồng trần phồn hoa nữa, mà thuộc về một thế giới khác.

Những hành giả ở đó đều như vậy. Khi chúng ta nhìn vào tâm họ, thực ra họ đều đang chờ đợi, họ ở đó làm đại lễ, cúng dường, tụng kinh, trì chú, có người đi nhiễu tháp, các ni cô tụ thành từng nhóm đi nhiễu tháp và niệm Phật không ngừng, có các hành giả Mật giáo vừa đi vừa lần tràng hạt và trì chú, có người thì ngồi thiền. Nhìn vào ánh mắt của họ, dường như tất cả đều đang mong chờ được thấy "viên ngọc phương Đông".

Thực ra, mọi người đến đó đều muốn học Phật và mong được thành Phật. Trong tâm họ đều mong được giống như Phật Đà, được giác ngộ và chứng đắc Chính Giác dưới cội bồ đề. Ai mà chẳng muốn đạt được Chính Giác? Ai cũng muốn cả! Mọi người đến đó đều mong mỏi, hy vọng có được cơ duyên, cũng được thấy viên ngọc phương Đông! Khi nhìn thấy ngôi sao phương Đông lấp lánh, cuối cùng họ đã giác ngộ! Họ chính là Phật.

Có thể nói rằng, thật ra Phật Đà là một danh xưng phổ biến, chỉ cần bạn đạt được Chính Giác, bạn chính là Phật Đà. Chỉ cần thành tựu Chính Đẳng Giác, bản thân bạn chính là Phật Đà. Vì vậy, mọi người ở đó tu hành, tôi thấy ai cũng rất thành kính, ngồi như thế này (Sư Tôn minh họa), tuy họ liếc nhìn chúng tôi một cái, nhưng thực ra, trong lòng họ đang nghĩ: "Những người này đang làm gì vậy? Đi tới đi lui, làm phiền việc tu hành của tôi."

Mặc dù cây bồ đề có hàng rào bao quanh, nhưng chúng tôi có thể vào trong, tại sao? Bởi vì chúng tôi có mối quan hệ đặc biệt, nên được phép vào. Khi vào bên trong, cũng có rất nhiều người ngồi ở đó, dưới cội bồ đề ai cũng chiếm một chỗ, mọi người chen chúc dưới gốc cây, hy vọng được giống như Đức Phật.

Thực ra, chúng ta có thể nhận thấy rõ sự mong đợi đó, nó hoàn toàn là sự bộc lộ từ nội tâm, họ muốn đạt được Chính Đẳng Chính Giác.

Đối với mỗi hành giả, kỳ vọng cao nhất chính là đạt được Chính Đẳng Giác, trần thế chẳng là gì cả, họ một lòng một dạ chỉ đi theo con đường tu hành, mong muốn đạt được Chính Đẳng Chính Giác. Họ muốn học Phật, muốn tu hành, muốn sống cuộc đời của một hành giả thanh tịnh.

Tại nơi đây, những gì chúng tôi nhìn thấy thực sự là một bầu không khí tu hành thanh tịnh lan tỏa khắp nơi. Mỗi người đều tinh tấn, thực hiện đại lễ, mỗi lần lễ là vài trăm vạn lạy, ngày nào cũng làm như vậy để tiêu trừ nghiệp chướng.

Cảnh tượng chúng tôi thấy ở Bodh Gaya thật sự rất cảm động.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

27/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

197. Những điều thấy nghe ở Bodh Gaya (2)

Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục nói về những điều thấy nghe ở Bodh Gaya.

Mọi người đều biết, ngoài cây bồ đề và đại bồ đề tự ra, sông Ni Liên Thiền [Phalgu]- nơi Phật Đà từng tắm gội - cũng ở gần đó. Nhìn thẳng từ sông Ni Liên Thiền về phía trước là núi Chính Giác. Tại sao gọi là núi Chính Giác? Ở một nơi rất xa có một ngọn núi, vào thời Đức Phật, có lẽ được gọi là Tuyết Sơn, đó chính là khu rừng khổ hạnh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tu khổ hạnh trong rừng suốt sáu năm, sau sáu năm khổ hạnh, Ngài mới từ núi Chính Giác đi xuống, đến sông Ni Liên Thiền để tắm. Khi tu khổ hạnh đến mức không chịu nổi, Ngài thậm chí không thể đến sông Ni Liên Thiền để tắm rửa, muốn đến bờ sông uống nước cũng không được.

Vì vậy có thể nói rằng ở Bodh Gaya có cây bồ đề, có sông Ni Liên Thiền, lại có núi Chính Giác, mọi người đều có thể nhìn thấy.

Vì vậy, ở đó chúng ta có thể thấy rất nhiều hành giả từ khắp nơi trên thế giới tập trung về tu hành. Trong lòng tôi cũng nghĩ rằng: ai cũng muốn "ăn theo" Đức Phật, bởi vì Ngài đã chứng đắc Chính Đẳng Chính Giác ở đây! Mọi người nghĩ rằng, vì Đức Phật đã giác ngộ ở nơi này, chắc chắn vẫn còn luồng khí giác ngộ lưu chuyển, đến đây hít thở vài hơi, có lẽ sẽ đắc Chính Giác sớm hơn một chút.

Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đắc Chính Giác tại nơi đây. Có lẽ bạn đến ngồi một lát, ôi! Chỉ vài phút là bạn cũng đắc Chính Giác! Hít vài hơi là đủ rồi. Mọi người đều có suy nghĩ như vậy, vì thế các Phật tử phần lớn đều tập trung ở đó. Các thánh địa khác thì ít người hơn một chút, nhưng ở Bodh Gaya thì đông nhất.

Mọi người đều tu tập rất nghiêm túc ở Bodh Gaya, có thể bình thường họ không nghiêm túc đến vậy, nhưng khi đến đó thì trở nên rất tinh tấn. Khi đến nơi, họ nghĩ: "Đây là nơi Đức Phật đã chứng đắc Chính Giác, đến đây nhất định phải nghiêm túc." Nếu bạn đến đó mà vẫn còn lơ là, thì không còn cách nào cứu được! Phải không? Đã đến Bodh Gaya, dưới cội bồ đề, nơi Đức Phật chứng đắc Chính Giác mà vẫn còn qua loa đại khái, thì thực sự là vô phương cứu chữa.

Vì vậy chúng tôi đã thấy và cũng suy nghĩ làm thế nào để đạt được Chính Giác? Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt được Chính Giác như thế nào? Ngài thiền định về: "Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh". Ngài suy nghĩ về vấn đề này. Sau đó, Ngài lại nghĩ: "Cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt". Cuối cùng Ngài nghĩ: "Sinh và diệt là bình đẳng, Phật và chúng sinh không có sự khác biệt". Ngài giác ngộ rằng Phật và chúng sinh không có sự khác biệt, sinh và diệt cũng bình đẳng, từ đó Ngài nương theo Thập Nhị Nhân Duyên mà khai ngộ, ngôi sao trong tâm hiển hiện, và Ngài đã nhìn thấy ngôi sao phương Đông.

Để khiến ánh sáng trong tâm hiển hiện, để Phật tính tự hiển lộ, đều có phương pháp.

Mật giáo của chúng ta cũng có phương pháp tu hành, có một số khẩu quyết quan trọng cần chia sẻ với mọi người. Trong tu hành Mật giáo, tư thế thân phải ngay thẳng; khi thân ngay thẳng thì mạch mới thẳng; khi mạch thẳng thì khí mới chính; khi khí chính thì tâm mới chính.

Vì vậy khi tu hành cũng phải chú ý đến thân thể, tư thế thân phải ngay thẳng, tư thế ngồi là Tỳ Lô thất chi, bạn phải hiểu rõ các tư thế ngồi khác nhau như tọa pháp sư tử, tọa pháp voi, tọa pháp tiên nhân, ba phương pháp này đều rất quan trọng. Tư thế ngồi phải ngay thẳng, tọa pháp Tỳ Lô thất chi, khi bạn đã điều chỉnh tư thế thân thể đúng, trong Mật giáo nói về trung mạch, khí mạch, minh điểm, lúc đó mạch của bạn mới thẳng. Nếu thân thể nghiêng lệch, mạch sẽ không thẳng; thân ngay thì mạch thẳng; mạch thẳng thì khí ra vào mới chính. Nói cho bạn biết, khi khí ra vào được thuận, được chính, thì ý niệm của bạn mới chính, tức là tâm của bạn mới chính.

Mật giáo nói về sự hợp nhất của tâm và khí, tâm và khí của bạn là một, không phải hai, cho nên nếu nói rằng, khi khí dao động thì tâm cũng sẽ dao động; khi khí của bạn bình ổn thì tâm cũng sẽ định. Điều này rất quan trọng.

Thân ngay thì mạch mới thẳng, mạch thẳng thì khí mới chính, khí chính thì tâm mới chính. Đây là phương pháp tu hành của Mật giáo, bởi vì Mật giáo tu về khí mạch minh điểm.

Vậy thì, làm sao để thân khẩu ý được thanh tịnh?

Về sự thanh tịnh của thân, chỉ cần thân ngay thẳng thì thân thể sẽ thanh tịnh.

Về sự thanh tịnh của khẩu - chỉ cần giữ miệng đóng lại, im lặng như người câm, giống như người câm vậy, thì khẩu của bạn sẽ thanh tịnh, bởi vì bạn không nói chuyện, không nói lung tung, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói đâm thọc, không nói lời ác độc, không xúi giục thị phi.

Nói nhiều quá cũng không tốt, với những người hay nói nhiều, tôi xin nói cho bạn biết, tốt nhất là tìm một nơi hoang vu trên núi sâu để nói lung tung, đến bên sông cứ nói mãi nói mãi theo dòng nước chảy, nói đến cuối cùng bạn sẽ thấy mệt mỏi, bạn sẽ không muốn nói nữa. Vì vậy, tốt nhất là bạn hãy đi vào núi sâu hoang vu để nói.

Còn về ý niệm, làm thế nào để được thanh tịnh? Hãy an trụ tâm trong hư không, khi tâm của bạn an trụ trong hư không, thân thể bạn sẽ tự phóng quang, Phật tính sẽ dần dần hiển lộ.

Bạn có biết không? Khi tâm bạn gửi gắm vào hư không, ánh sáng bên trong bạn sẽ tự nhiên hiển hiện. Có một bộ kinh gọi là "Phổ Minh Kinh", trong đó có viết rằng, khi tâm bạn an trụ trong đại không bên ngoài, ánh sáng bên trong bạn sẽ hiển hiện.

Trên đây là phương pháp thanh tịnh thân khẩu ý.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

198. Nói về Phổ Hiền Vương Như Lai

Hôm nay chúng ta nói về Phổ Hiền Vương Như Lai.

Nói về Phổ Hiền Vương Như Lai, Ngài là một vị cổ Phật, cũng có thể nói là một vị Phật nguyên thủy, là một vị Phật từ rất rất xa xưa.

Chúng ta biết rằng, Bồ Tát Long Thụ đã tìm được kinh điển trong long cung, bởi vì rất nhiều kinh điển cuối cùng đều được cất giữ trong cung điện của rồng, và theo như truyền thuyết, kinh điển ở cõi Ta Bà này chưa đến một phần vạn của số kinh điển đó.

Trước đây, khi Bồ Tát Long Thụ học Phật, sau vài năm tu học, Ngài bắt đầu cảm thấy kiêu mạn. Sự kiêu mạn này thể hiện qua ý nghĩ: "Ôi! Tôi mới học có vài năm mà đã hiểu hết tất cả kinh điển của Đức Phật chỉ sau một lần đọc, và điều này khiến tâm tôi trở nên rất kiêu ngạo." Ngài nghĩ rằng học Phật chỉ đơn giản có vậy thôi, và Ngài đã học hết tất cả rồi.

Khi vào long cung rồi Ngài mới nhận ra rằng kinh điển ở cõi Ta Bà này chưa đến một phần vạn kho tàng của rồng. Vì vậy Ngài đến long cung để tìm kiếm kho tàng, tức là đến long cung để lấy ra kinh tạng, trong đó có một bộ là Kinh Hoa Nghiêm.

Bồ Tát Long Thụ ở trong long cung một đêm, đọc Kinh Hoa Nghiêm, tuy nhiên theo như truyền thuyết, Kinh Hoa Nghiêm mà Bồ Tát Long Thụ đã đọc và mang ra, cũng chỉ là một phần vạn mà thôi, có thể thấy Phật pháp thật sự như biển cả mênh mông vậy.

Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến "một vị Bồ Tát", chính là Phổ Hiền Vương Như Lai. Vậy thì Phổ Hiền Vương Như Lai cũng chính là "có một Bồ Tát" mà chúng ta thường nhắc đến trong mỗi lần sám hối, mỗi lần đều nhắc đến có một vị Bồ Tát, đó chính là Phổ Hiền Vương Như Lai.

Tôi đã từng suy nghĩ về một vấn đề: Trong Kinh Hoa Nghiêm có đề cập đến một cõi tịnh thổ, đó là Hoa Tạng thế giới; vậy thì Hoa Tạng thế giới và Cực Lạc thế giới có gì khác nhau? Tôi đã từng nghĩ về vấn đề này.

Hoa Tạng thế giới và Cực Lạc thế giới có gì khác nhau? Câu hỏi này rất khó trả lời, mọi người có thể suy nghĩ về điều này, bây giờ tôi chưa nói đáp án cho mọi người. Các bạn có thể tra cứu một số kinh điển, nghiên cứu xem tại sao cõi tịnh thổ này được gọi là Hoa Tạng thế giới? Tại sao tịnh thổ của Đức Phật A Di Đà được gọi là Cực Lạc thế giới? Có gì khác nhau?

Phổ Hiền Vương Như Lai có một phương pháp tu trì vĩ đại nhất, gọi là "tịch diệt thần biến Tam ma địa". Nếu bạn có thể nhập vào Tam ma địa này, bạn sẽ có thể đến được Hoa Tạng thế giới, và khi vào được Hoa Tạng thế giới, bạn sẽ đạt được bốn đại thành tựu.

Bốn thành tựu vĩ đại này là gì?

Thành tựu thứ nhất là "tất cả nghiệp chướng đều được tiêu trừ", nghĩa là đoạn trừ hết tất cả nhân của luân hồi. Khi nhân của lục đạo luân hồi hoàn toàn bị đoạn trừ, thì không còn phải luân hồi nữa, không còn luân hồi nữa! Khi không còn luân hồi, tất cả nghiệp đều tiêu diệt, hoàn toàn không còn nghiệp chướng. Đây là điều tốt nhất.

Thành tựu thứ hai là "thành tựu tất cả pháp", tất cả Phật pháp đều được thành tựu. Tịch diệt thần biến Tam ma địa có năng lực này, bạn có thể thành tựu tất cả Phật pháp, thành tựu quả vị Phật, tức là đầy đủ trí tuệ đại viên mãn, tất cả đều viên mãn.

Thành tựu thứ ba là "thành tựu tất cả chư Phật". Ồ! Không chỉ là một vị Phật mà thôi, mà là thành tựu tất cả chư Phật! Tất cả chư Phật đều thành tựu. Có thể thấy Phật nguyên thủy Phổ Hiền Vương Như Lai thật sự là một vị Phật nguyên thủy, là vị Phật sớm nhất. Trong Mật giáo Hồng giáo, A Nhĩ Đạt Ma Phật chính là Phật nguyên thủy, chính là Bà Tiên Như Lai, chính là Phổ Hiền Vương Như Lai. Điều này thật vĩ đại, có thể thành tựu tất cả chư Phật.

Thành tựu thứ tư là "độ hết tất cả chúng sinh". Khi bạn có thể thành tựu Tịch diệt thần biến Tam ma địa, bạn sẽ có thể độ hết tất cả chúng sinh.

Như tôi đã nói lần trước, trong tương lai khi Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh, Ngài chỉ cần dùng duy thức đại thần biến của mình, phóng ánh sáng đi va chạm với chủng tử thức của chúng sinh, khai mở chủng tử thức của chúng sinh, hiển lộ Phật tính, cùng nhau thành Phật! Chỉ có độ chúng sinh theo cách này mới có thể độ hết tất cả chúng sinh, nếu không việc độ tận chúng sinh sẽ rất khó khăn.

Trong tương lai, khi Bồ Tát Di Lặc độ chúng sinh tại ba hội Long Hoa, tôi đề xuất như thế này, chỉ có thể dùng duy thức đại thần biến, giống như nguyên tử học vậy, tức là sử dụng một loại ánh sáng phát ra từ bản thân nguyên tử, sau đó đi vào trong tâm của mỗi chúng sinh, va chạm với Phật tính vốn có của họ, khiến nó hiển hiện, từng va chạm một, giống như sự phân tách của bom nguyên tử vậy, đến một lúc nào đó, tất cả đều hoàn toàn phân tách.

Nghĩa là bản thân duy thức của Bồ Tát Di Lặc trước tiên sẽ phân tách, sau đó dùng phương pháp ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, giống như lưới ngọc của vua Đế Thích, lần lượt phân tách Phật tính của chúng sinh, rồi tất cả đều phân tách thành ánh sáng, cùng nhau thành tựu.

Tôi nghĩ rằng tịch diệt thần biến Tam ma địa của Phổ Hiền Vương Như Lai cũng có hai chữ "thần biến", chắc chắn có thể biến hóa thành rất nhiều ánh sáng, chỉ cần chiếu một lần là tất cả chúng sinh đều thành tựu. Trong mắt Phật, trái đất giống như một hạt cát vậy, chỉ cần nhìn một cái, tất cả đều thành tựu, đúng là như vậy đó.

Trong tương lai chỉ có thể độ chúng sinh theo cách này, không thể lần lượt xuất hiện để truyền pháp, tôi lại giảng cho bạn nghe, rồi bạn lại tu, tu đến bao lâu cũng không biết tu được như thế nào, trải qua mấy đại kiếp cũng không thể độ hết chúng sinh. Phương pháp duy nhất chính là dùng phương pháp phân tách hạt nhân, mới có thể độ tận chúng sinh.

Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

199. Nói về Không Hành Mẫu

Hãy nói về ba chữ "Không Hành Mẫu". Trong Mật giáo, chúng ta thường nhắc đến Không Hành Mẫu. Không Hành Mẫu là những vị Hộ pháp nữ trong không gian giúp đỡ hành giả tu tập, thuộc về hệ mẫu hệ, hiển hiện thành dạng nữ tính, đều gọi là Không Hành Mẫu. Bản chất chính của các vị là hộ trì hành giả tu tập, có thể nói là Không Hành Hộ Pháp, tất cả các vị Hộ pháp nữ trong không gian đều được gọi là Không Hành Mẫu.

Trong Mật giáo có nói đến sáu loại Không Hành Mẫu, loại thứ nhất gọi là Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu.

Chúng ta biết Mật giáo có ba căn bản: một là Căn bản Thượng sư là sự gia trì gốc; một là Căn bản Bổn tôn, chính là thành tựu gốc; một là Căn bản Hộ pháp, chính là sự nghiệp gốc.

Trong quá trình tu hành, bạn có thể cảm ứng được Bổn tôn, cũng có thể cảm ứng được Hộ pháp, Hộ pháp luôn ở xung quanh hành giả để hộ trì bạn. Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, Hộ pháp của nam giới là Không Hành Dũng Phụ, Hộ pháp của nữ giới là Không Hành Mẫu. Còn Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu xuất hiện là do bạn tu hành đạt đến một cảnh giới, cảnh giới này là khi thân bạn đã sinh ra tịnh quang, lúc đó Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ đến bảo vệ bạn.

Chúng ta biết Pháp Vương Karmapa thứ 16, trong mỗi bức ảnh của Ngài Karmapa, khi đội mũ miện đen, Ngài luôn phải dùng một tay giữ chiếc mũ miện đen đó, chiếc mũ miện này khá nhỏ, dường như chỉ đội đến đây thôi (Sư Tôn thị phạm), vì đầu Ngài khá to nên khi đội mũ miện trông có vẻ rất nhỏ.

Bản thân chiếc mũ miện này có một truyền thuyết, tại sao phải dùng tay giữ mũ miện đen? Truyền thuyết kể rằng: Chiếc mũ miện này được dệt từ tóc của mười vạn Không Hành Mẫu, vì bản thân các vị Hộ Pháp Không Hành có thể bay trong hư không, nên mỗi lần đội mũ miện đều phải dùng tay giữ lại.

Chiếc mũ miện này được dệt bởi Không Hành Mẫu, tóc của các vị tự thân có thể bay được, nếu không dùng tay giữ chiếc mũ miện này, nó sẽ bay vào hư không và không bao giờ quay lại nữa, nghĩa là một khi mũ miện bay đi, nó sẽ bay mất luôn, không quay về. Vì vậy bạn thấy Đại Bảo Pháp Vương luôn phải dùng tay giữ chiếc mũ miện đen. Chúng ta hy vọng có một lần Ngài thả tay ra xem thử, liệu nó có bay đi không? Liệu nó có bay về hư không không?

Bởi vì theo truyền thuyết, tất cả sợi chỉ của chiếc mũ miện đen này đều được dệt từ tóc của chính Không Hành Mẫu, nên Ngài phải giữ chặt mũ miện đen, còn những chiếc mũ miện khác thì không cần phải giữ. Các bạn đội mũ Ngũ Phật không cần phải bắt chước giữ chặt như vậy đâu.

Nói về bản thân Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, vì sau khi bạn tu tập sinh ra tịnh quang, bạn sẽ tự cảm ứng được Ngài. Khi bạn vừa sinh ra tịnh quang, thực ra sẽ có một hiện tượng rất đặc biệt, khi một người thiền định thành tựu, sẽ có mười vạn Không Hành Mẫu trong hư không gọi tên bạn.

Ví như khi bạn thành tựu, trong lúc thiền định, đột nhiên tâm quang hiển lộ, trong hư không gió nổi mây vần, tất cả Không Hành Mẫu, Không Hành Dũng Phụ tụ họp, gọi tên bạn. Hiện tượng thành tựu này, có thể nói giống như gió nổi mây vần vậy, là cố ý cho bạn biết, biểu thị ý nghĩa chúc mừng, ăn mừng.

Vì vậy, một hành giả chân chính sẽ có được sự cảm ứng này, có một trạng thái như cánh cửa được mở hoàn toàn, thấu suốt rõ ràng tất cả mọi việc. Do đó, việc có khai ngộ hay không, bản thân phải tự biết, không phải là kiểu dường như có, dường như không. "Có khai ngộ không?" "Hình như có." Hỏi lại lần nữa, "Có khai ngộ không?" "Hình như không." Không phải là hình như đâu! Mà là cánh cửa đã được mở ra, tất cả Hộ pháp trong hư không đều hoan hô! Đều sẽ gọi tên bạn.

Giống như trước đây khi tôi thần du đến Tây phương Cực Lạc, các vị Hộ Pháp Không Hành đều gọi tên tôi, họ gọi: "Liên Hoa Đồng Tử!" Gọi rất to, bạn sẽ nhớ rất rõ ràng, khi âm thanh đó vào tai bạn, in vào tâm bạn, sẽ không bao giờ mất đi.

Hiện tượng lúc đó của tôi rất rõ ràng, không phải là đang nằm mơ đâu! Trước đây chưa từng có bốn chữ "Liên Hoa Đồng Tử" in trong tâm tôi, hoàn toàn không có, tôi chưa từng nghĩ đến, nhưng họ sẽ gọi tên bạn, sẽ gọi danh hiệu của bạn, để bạn mãi mãi ghi nhớ.

Vì vậy, khi bạn khai ngộ, trong hư không sẽ gió nổi mây vần, tất cả Hộ pháp đều đến, cùng nhau gọi tên bạn, lúc đó, bạn cũng đột nhiên biết được danh hiệu của mình là gì, lúc này bạn đã được ấn chứng.

Được ấn chứng rồi, trong Đạo giáo gọi là "thụ lục", nghĩa là đã có vị trí rồi. Khi đến đó, họ sẽ thụ lục cho bạn, bạn được gọi là gì, bạn được gọi là gì, bạn được gọi là Hoa Quang Như Lai, bạn được gọi là Như Lai gì đó, lúc đó chính là một danh hiệu, một ấn kí, ban cho bạn thọ ký, trong Đạo gia gọi là "thụ lục".

Hiện tượng này là có thật, hoàn toàn có thật, khi tâm quang vừa phát lộ, tịnh quang vừa hiển hiện, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ gọi tên bạn trong hư không, đó chính là lúc tất cả Hộ pháp đều hiển hiện.

Trong Mật giáo, dù là Không Hành Mẫu hay Không Hành Dũng Phụ đều là những vị hộ trì hành giả, khi bạn có được Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, bất cứ việc gì, chỉ cần giao cho Hộ pháp làm là được, không cần bạn phải tự mình làm. Hộ pháp sẽ giống như trong lễ quán đảnh từ xa vậy, Kim Cương Thượng sư gọi Hộ pháp, Hộ pháp cầm bình quán đảnh, đến quốc gia của bạn, đến đỉnh đầu của người quy y đó, rắc cam lộ quán đảnh cho họ.

Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

30/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

200. Nói về Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu

Chúng ta hãy nói thêm về Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu. Đối với mỗi hành giả Mật giáo, trong quá trình tu pháp, nếu có hiện tượng tương ứng, chắc chắn sẽ có Hộ pháp đến giúp đỡ. Trong các vị Hộ pháp có Không Hành Mẫu và Không Hành Dũng Phụ, việc chiêu cảm được Hộ pháp giáng lâm là do bản thân bạn tu hành đạt được tương ứng hoặc chứng ngộ, lúc đó các Ngài mới đến hộ trì bạn, giống như bản thân bạn đã tu thành một khối nam châm, có từ tính, những miếng sắt xung quanh tự nhiên sẽ vì từ tính bạn tạo ra mà đến gần bạn, hộ trì bạn, đây chỉ là một ví dụ để giải thích đạo lý.

Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu là một vị Không Hành Mẫu rất vĩ đại, bạn nhất định phải ấn chứng được tịnh quang, nghĩa là bản thân bạn phải phát quang, sinh ra ánh sáng, Ngài mới đến hộ trì bạn, Ngài mới đến bảo hộ bạn. Nếu bản thân bạn chưa sinh ra tịnh quang, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu sẽ không giáng lâm, đây là một đạo lý tương ứng qua lại.

Bây giờ tôi sẽ dạy mọi người về một yếu nghĩa và khẩu quyết của pháp minh điểm và phương pháp hòa tan điểm. Có rất nhiều phương pháp để sinh ra tịnh quang. Thông thường, về phương diện nội tu chuyết hỏa, tôi đã giảng qua rồi, đó là đưa chuyết hỏa lên, khi lên đến đỉnh, vì lửa tự nó làm tan chảy minh điểm này, minh điểm nhỏ giọt xuống, lửa và nước hòa hợp với nhau ở Tâm luân, dung hợp với nhau, dần dần mở Tâm luân ra, mới có thể sinh ra tịnh quang. Đây là một phương pháp nội tu, tức là chuyết hỏa dâng lên chạm vào minh điểm của chữ "Han", từ chữ "Han" hòa tan điểm đến Tâm luân, Tâm luân dần dần mở ra sinh ra tịnh quang.

Ngoài ra còn có một phương pháp, đó là Đại Viên Mãn khán quang, Đại Viên Mãn khán quang phải được thực hiện vào lúc mặt trời mới mọc, phương pháp tu hành này được gọi là khán hỏa kính, "nhật" đại diện cho tấm gương lửa.

Khi mặt trời mới mọc thì khán hỏa kính, đó là dẫn ánh sáng mặt trời vào trong cơ thể, đặt ở Tâm luân, giữ ở Tâm luân, tức là dẫn ánh sáng vào trong cơ thể bạn đặt ở Tâm luân, biến thành một mặt trời ở Tâm luân, dùng năng lượng này để mở Tâm luân của bạn.

Cũng có cách nhìn "thủy kính", ban ngày nhìn kính lửa, ban đêm nhìn trăng, ánh sáng trăng được gọi là thủy kính. Khi nhìn thủy kính, cũng giữ ánh trăng ở Tâm luân, dùng năng lượng ánh trăng này để mở Tâm luân. Lúc bình thường thì nhìn ánh sáng gì? Thông thường là nhìn ánh đèn, khi không có mặt trời, cũng không có trăng thì nhìn gì? Có thể dẫn ánh sáng đèn vào trong cơ thể bạn.

Tuy nhiên, việc nhìn ánh sáng có khẩu quyết riêng, bản thân việc nhìn ánh sáng có khẩu quyết rất quan trọng, không được nhìn trực tiếp vào mặt trời, cũng không được nhìn trực tiếp vào mặt trăng, cũng không được nhìn trực tiếp vào ánh đèn, phải nhìn vào hào quang của nó, tức là ánh sáng xung quanh, ánh sáng xung quanh mặt trời, ánh sáng xung quanh mặt trăng, ánh sáng xung quanh đèn, không phải nhìn trực tiếp mà là nhìn "ánh sáng viền".

Vì vậy, trong Mật pháp Đại Viên Mãn có dạy mọi người: có cách nhìn lên, cách nhìn xuống, cách nhìn trái, cách nhìn phải, mắt nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải đều có phương pháp riêng, chứ không phải là bạn nhìn thẳng vào mặt trời, nhìn thẳng vào mặt trăng, nhìn thẳng vào ánh đèn: không phải vậy!

Khi bạn thường xuyên thực hành như vậy, nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải vào ánh sáng viền, hãy đưa ánh sáng viền vào trong cơ thể, hít một hơi, quán tưởng ánh sáng đi vào trong cơ thể, sau đó đặt tất cả ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng đèn vào Tâm luân, dần dần để Tâm luân mở ra, sinh ra tịnh quang.

Lúc này không chỉ khi mở mắt mới có thể thấy ánh sáng, mà sau cùng không cần mở mắt cũng có thể thấy được ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng kính lửa, ánh sáng kính nước, không phải mở mắt để nhìn, mà là quán chiếu bản thân, nhìn vào bên trong, thấy được Tâm luân của mình phát ra ánh sáng mặt trời, thấy được màu sắc của ánh sáng.

Ở đây sẽ có năm loại màu sắc. Nếu thấy ánh sáng trắng, điều đó có nghĩa là nghiệp chướng của bản thân đã được thanh tịnh, không còn ô uế. Nếu thấy ánh sáng màu vàng thì đại diện cho sự viên mãn, tu pháp đã rất viên mãn. Thấy ánh sáng màu xanh lục là bảo quang. Thấy ánh sáng màu đỏ là phúc đức quang. Thấy ánh sáng màu xanh lam là bất động quang. Khi nhìn ánh sáng tốt nhất là không nên di chuyển, và tốt nhất là cả năm loại ánh sáng đều xuất hiện đồng đều, rất đồng đều, không phải chỉ thấy một loại.

Trong "Hồng Quang Đại Thành Tựu" dạy bạn cách nhìn ánh sáng, nhìn kính lửa, nhìn kính nước, nhìn đèn, có thể nhìn phía trên, nhìn phía dưới, nhìn bên trái, nhìn bên phải, nhìn ánh sáng xung quanh, sau đó quán tưởng vào Tâm luân, hít một hơi quán tưởng tịnh quang vào Tâm luân. Khi bạn có thể nhìn vào bên trong thấy được ánh sáng, đó là đã nắm chắc sự khai ngộ, thực sự nhìn vào bên trong thấy được ánh sáng, nhìn thấy được năm màu sắc này, điều chỉnh cho đều, điều chỉnh năm màu sắc đều như ánh sáng cầu vồng, thì có thể đạt được thành tựu. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

31/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

201. Khẩu quyết nhìn ánh sáng

Hôm nay tôi sẽ dạy mọi người khẩu quyết nhìn ánh sáng. Từ nội tu, tu chuyết hỏa, rồi chuyết hỏa lại bùng lên để hòa tan minh điểm, đây là một khẩu quyết rất quan trọng. Trong Mật giáo, chúng ta biết khí, mạch, minh điểm là những yếu tố rất quan trọng trong tu hành, chuyết hỏa dâng lên, hòa tan minh điểm chữ "Han" của hoa sen nghìn cánh, khẩu quyết này rất quan trọng.

Tiếp theo, bản thân sẽ sinh ra tịnh quang minh điểm, cũng chính là điểm hòa tan. Thường ngày sử dụng cách nhìn ánh sáng, nhìn ánh sáng kính lửa (ánh sáng mặt trời), ánh sáng kính nước (ánh sáng mặt trăng), ánh sáng đèn, khi quán tưởng ánh sáng đi vào cơ thể mình, cũng cần phải hòa tan điểm.

"Điểm hòa tan" là gì? Bởi vì khi điểm hòa tan nhỏ xuống Tâm luân, nhờ vào năng lượng của ánh sáng mặt trời, mặt trăng và ánh đèn, khi minh điểm tan chảy, ánh sáng minh điểm sẽ hiện ra.

Khẩu quyết nhìn ánh sáng không phải là nhìn trực tiếp vào ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, mà là nhìn ánh sáng xung quanh, cần nhìn lên, nhìn xuống, nhìn trái, nhìn phải; trong quá trình nhìn, mắt sẽ tự nhiên chuyển động.

Khi quán chiếu nội tại, nhắm mắt lại, do đã quen với việc nhìn ánh sáng thường ngày, khi nhắm mắt nhìn vào bên trong, bạn có thể thấy được mặt trời sinh ra ánh sáng trong tâm mình, năm loại màu sắc sẽ hiện ra, có màu trắng, màu vàng, màu đỏ, màu xanh lục, màu xanh lam.

Tốt nhất là những ánh sáng đó không nên chớp động, nghĩa là ánh sáng phải đứng yên, không chớp nháy. Loại ánh sáng này rất đặc biệt, không phải là màu sắc ánh sáng được tưởng tượng ra bằng ý niệm ép buộc, mà là cực kỳ đặc biệt, có thể khiến bạn cảm nhận được loại ánh sáng thanh tịnh quang minh đó, đây mới chính là tịnh quang chân thật.

Khi nội quán có thể thấy được ánh sáng, có thể nói là đã nắm chắc được sự ấn chứng thành công. Khi năm loại ánh sáng hiện ra đầy đủ, một quầng ánh sáng tròn hiện ra như cầu vồng, lúc này ánh sáng được gọi là "viên không quang".

Khi bạn thấy năm màu ánh sáng ổn định bất động ở đó, đây gọi là viên không quang. Khi một viên không quang xuất hiện, sẽ tiếp tục hiện ra hai, ba, bốn, năm, sáu viên không quang, cứ thế hiện ra liên tục.

Nếu ánh sáng hiện ra được nối liền như đuôi ngựa, ở giữa có một viên không quang kết nối lại, thứ này được gọi là "kim cang luyện". Viên không quang được nối liền như đuôi ngựa chính là chuỗi kim cang. Lúc này, chỉ cần nhắm mắt lại là có thể thấy được tịnh quang chuỗi kim cang ổn định sinh ra.

Khi viên không quang sinh ra, tịnh quang đã được sinh ra. Khi nhìn thấy kim cang luyện là bước vào giai đoạn thứ hai, lúc này bản thân sẽ hòa nhập vào tính Không, và sẽ sinh ra trí huệ, lúc này huệ lực (sức mạnh của trí huệ) sẽ tự nhiên tăng trưởng không ngừng, hoàn toàn khác với bình thường trước đây, đối với mọi việc đều "thông suốt".

"Thông suốt" nghĩa là gì? Đó là khi bạn nhìn thấy mọi thứ đều rất rõ ràng, đối với mọi sự việc của chúng sinh trong thế giới Ta Bà, đều có thể hiểu biết tường tận, tức là trí huệ tăng trưởng, không còn mơ mơ hồ hồ nữa, không còn phân vân giữa đúng sai, cũng không bị người khác chi phối, không bị một câu nói nào đó tác động, bởi vì trí huệ của bạn đã trở nên siêu việt, đã trở nên xuất chúng, đã trở nên vô thượng.

Khi bạn nhìn thấy lúc này, ánh sáng trí huệ sẽ hiển hiện, chuỗi kim cang của viên không quang còn được gọi là trí huệ quang. Lúc này, không chỉ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu giáng xuống hộ trì, mà còn có một vị Không Hành Mẫu khác xuất hiện, đó là Trí Huệ Không Hành Mẫu, bởi vì bạn đã sinh ra trí huệ lực rồi!

Giống như trước đây khi tôi đọc kinh sách, tôi vừa nhìn vào, ồ, sao sâu sắc quá! Khó quá! Trước đây khi tôi đọc sách cổ điển Trung Quốc, như khi cầm quyển "Liêu Trai Chí Dị" lên xem, trời ơi! Người xưa viết những thứ này thật khó đọc quá, nhìn mà chẳng hiểu gì cả.

Trước đây khi tôi cầm những sách cổ văn lên, tôi cũng không hiểu gì cả. Than ôi! Sao lại thế này! Những thứ này tôi đều không hiểu! Tại sao không viết bằng ngôn ngữ nói? Tại sao lại cố tình viết văn cổ để hành hạ chúng ta? Thực ra không phải hành hạ bạn đâu, thời xưa viết văn chương đều viết bằng văn cổ, thứ văn chương viết ngắn gọn nhưng hàm nghĩa sâu sắc. Tuy nhiên nội dung của nó trong thời hiện đại rất khó hiểu, những chữ đó không phải là chữ thông thường, mà đều là những chữ rất thâm thúy, rất khó hiểu.

Những chữ như vậy không hiểu thì cứ để đó đừng đọc. Gần đây thì tôi khác rồi, bởi vì trí huệ lực đã tăng trưởng, sau này cầm những sách văn cổ này lên, cầm Đại Tạng Kinh lên, vừa mở ra, rất đơn giản! Tất cả đều có thể hiểu ngay lập tức, đọc hết tất cả sách cổ. Những câu văn ngôn, cầm lên vừa lật, đều hiểu hết.

Khi bạn sinh ra loại ánh sáng trí huệ của chuỗi kim cang này, tất cả những việc trước đây không thể lý giải được, giờ đều sẽ lý giải được hết. Loại trí huệ đó sinh ra rất kỳ lạ, rất tự nhiên, chứ không phải là bạn cố gắng tìm cầu rằng, tôi nhất định phải hiểu kinh điển này, không phải vậy, dù sao cứ cầm kinh điển lên là hiểu được.

Những gì trước đây không hiểu, bây giờ chỉ cần cầm lên xem qua, những sách triết học đó, có rất nhiều điều thâm sâu, dù là triết học Tây phương, hay triết học Đông phương, triết học Trung Quốc, trước đây không hiểu được; nội dung đều rất khó khăn, bây giờ cầm lên vừa xem, lập tức hiểu ngay, đang nói những gì, lập tức rõ ràng.

Bởi vì trí huệ lực tăng trưởng, khi tâm quang vừa sinh ra, Thắng Nghĩa Tịnh Quang Không Hành Mẫu giáng xuống: Trí Huệ Không Hành Mẫu giáng xuống, hộ trì cho trí huệ lực của bạn tăng trưởng, rất nhanh chóng, những điều trước đây bạn không hiểu, tất cả đều có thể giải quyết dễ dàng, không còn chút mơ hồ nào, mà còn rõ ràng minh bạch, sự lý phân minh, khả năng phán đoán tăng cường, khả năng lý giải cũng tăng cường, tất cả trí huệ lực đều cùng nhau tăng trưởng.

Vì vậy tu hành có thể tu đến cảnh giới này.

Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

31/12/1996 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

202. Từ Không Hành Mẫu nói đến viên không quang (1)

Từ Không Hành Mẫu, chúng ta nói đến viên không quang. Về sự sinh khởi của viên không quang, với người bình thường mà nói, người ta nghĩ rằng họ nhìn thấy viên không quang bên ngoài, nhưng thực tế nó có liên quan đến kinh mạch bên trong của chính mình. Chỉ khi kinh mạch của mình sinh ra ánh sáng thì mới có thể nhìn thấy viên không quang bên ngoài.

Trên thực tế, có thể nói bên trong và bên ngoài là một. Có người cho rằng đó là bên ngoài, nhưng thực tế là nhìn thấy bên trong, cũng đừng hoàn toàn cho rằng đó là bên trong của mình, bởi vì trong ngoài là như nhau.

Khi nhìn thấy viên không quang, điểm sáng ban đầu rất nhỏ, giống như một hạt đậu, chỉ là một điểm nhỏ, nhưng khi ánh sáng tăng trưởng, nó sẽ trở nên rất lớn. Tôi nói giống như chuỗi kim cang, đó là do nhiều viên không quang nhỏ kết nối lại với nhau thành chuỗi kim cang. Sau đó khi chuỗi kim cang trở nên lớn hơn, kết hợp lại thành viên không quang lớn, nói chung đó chính là mandala, và mandala sẽ xuất hiện.

Khi chuỗi kim cang kết hợp lại, sẽ biến thành năm viên không quang lớn, có thể nói đây chính là mandala Ngũ Phật xuất hiện. Mọi người đều biết, khi viên không quang xuất hiện, nhất định phải do chính bản thân dùng chuyết hỏa để đốt cháy minh điểm thì mới có thể xuất hiện được.

Tôi đã từng nói, hãy nhìn kính lửa (mặt trời), nhìn kính nước (mặt trăng), nhìn đèn, đem tất cả ánh sáng này đặt vào luân xa tim, hấp thu nó vào luân xa tim, cộng thêm chuyết hỏa của bản thân để đốt cháy minh điểm, khai mở luân xa tim, kinh mạch sẽ sinh ra ánh sáng, lúc này nhìn ánh sáng, sẽ thấy được viên không quang.

Không những có thể nhìn thấy viên không quang, mà khi kinh mạch đã sáng rõ, tự nhiên sẽ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu giáng xuống, lúc này sẽ sinh ra một số hiện tượng. Nói chung, nhất định là định lực sẽ tăng trưởng, định lực tức là thời gian ngồi thiền của bạn sẽ dài, lúc nào cũng có thể nhập định, không bị mất định, và trí huệ cũng sẽ tăng trưởng.

Tại sao trí huệ lại tăng trưởng? Bởi vì kinh mạch trong cơ thể bắt đầu có ánh sáng, sẽ có một loại lực giống như thấu kính, tạo ra một sức mạnh thấu suốt đối với mọi sự vật, vì vậy trí huệ sẽ tăng trưởng, và phiền não sẽ giảm bớt. Thông thường, phiền não nhiều là do nghiệp đen của bạn nhiều, nghiệp chướng nhiều thì phiền não sẽ nhiều, khi kinh mạch của bạn sinh ra ánh sáng, toàn thân đều trở nên trong suốt, đã trong suốt rồi thì tất cả nghiệp đen sẽ được tiêu trừ, tự nhiên phiền não sẽ ít đi. Lúc này, dục vọng sẽ không sinh khởi, những ý niệm như dục niệm, vọng niệm, tạp niệm sẽ rất ít.

Thông thường, các vị Thượng sư, những vị Kim cương Thượng sư chân chính khi giúp đệ tử nhìn thấy viên không quang, họ sẽ chỉ dạy cho đệ tử, vậy họ sẽ dạy như thế nào?

Đó là dùng định lực của chính mình, an trụ bản thân trong viên không quang bất động, đem tất cả ý niệm, thân tâm an trụ trong viên không quang bất động, đây là khẩu quyết vô cùng quan trọng.

Khi an trụ trong viên không quang, sẽ sinh ra ba hiện tượng: một là đạt được đại lạc, đạt được quang minh, và đạt được vô niệm, cả ba đều xuất hiện. Lúc này Không Hành Mẫu giáng xuống, không chỉ có Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, vì trí huệ tăng trưởng nên Trí Huệ Không Hành Mẫu cũng đến giúp bạn.

Còn nữa, vì phiền não đã giảm bớt, phiền não không còn, đã đoạn trừ được nhân của lục đạo luân hồi, lúc này, Giải Thoát Không Hành Mẫu sẽ đến, và bạn sẽ cảm nhận được trạng thái đại lạc trong vô niệm.

Trong sáu vị Không Hành Mẫu thì bốn vị Không Hành Mẫu đã đến. Bốn vị Không Hành Mẫu đó là ai? Đại Lạc Không Hành Mẫu, Giải Thoát Không Hành Mẫu, Thắng Nghĩa Quang Minh Không Hành Mẫu, Trí Huệ Không Hành Mẫu, cả bốn vị Không Hành Mẫu đều đến.

Mọi người có thể suy nghĩ một chút, điều quan trọng là phải sinh khởi chuyết hỏa, làm tan chảy minh điểm nguyên tố sinh mệnh trong cơ thể: sau đó khai mở Tâm luân, vận dụng ánh sáng từ bên ngoài như ánh mặt trời, ánh trăng, ánh đèn, an trụ trong tâm mình, khiến cho kinh mạch của mình sinh ra ánh sáng, khi kinh mạch vừa sinh ra ánh sáng, lập tức Không Hành Mẫu sẽ giáng xuống, trong khi nhìn ánh sáng sẽ sinh ra ánh sáng minh điểm, từng điểm từng điểm sáng xuất hiện.

Trong ánh sáng, đôi khi có những thứ xuất hiện cho bạn thấy, những người tu học Phật pháp như chúng ta đều có thể nhìn thấy những ánh sáng này, nhìn thấy trong ánh sáng có tháp, đôi khi xuất hiện tháp, xuất hiện chuỗi vòng của chư Phật Bồ Tát, đôi khi còn thấy trong viên không quang có cung điện.

Lúc này khi nhìn thấy viên không quang, có thể nói là thiên nhãn đã bắt đầu khai mở, lúc này thiên nhãn dần dần được khai mở. Người thường không hiểu được hiện tượng này, họ hoàn toàn không thể hiểu được, nhưng khi bạn đã khai mở thiên nhãn thì bạn sẽ biết, cái gọi là khai mở thiên nhãn chính là nhìn thấy được cảnh tượng bên trong viên không quang. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

02/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

203. Từ Không Hành Mẫu nói đến viên không quang (2)

Hôm nay chúng ta lại từ Không Hành Mẫu nói về viên không quang. Trước đây tôi đã giảng, nhưng chưa giảng chi tiết như vậy, bây giờ sẽ giảng rất chi tiết, đây đều là những khẩu quyết rất quan trọng.

Trước đây tôi đã giảng về bốn cảnh giới khi nhìn ánh sáng: Thứ nhất là nhìn thấy ánh sáng minh điểm. Thứ hai là nhìn thấy chuỗi kim cang. Thứ ba là nhìn thấy Phật trong ánh sáng. Thứ tư là nhìn thấy Phật và cõi Phật.

Tôi đã từng nhìn thấy tất cả những điều này. Tôi giảng về bốn giai đoạn này, bây giờ sẽ giảng chi tiết hơn. Ánh sáng minh điểm chính là viên không quang. Trong viên không quang có thể nhìn thấy tháp, nhìn thấy chuỗi vòng, nhìn thấy cung điện. Khi nối các viên không quang nhỏ lại với nhau, nối thành hình giống như đuôi ngựa, đó chính là chuỗi kim cang. Chuỗi kim cang này sau đó chuyển hóa thành viên không quang lớn, biến thành viên không quang lớn, lúc đó có thể nhìn thấy được mandala. Việc nhìn thấy mandala trong hư không, thực ra chính là do kinh mạch bên trong sinh ra ánh sáng, và có thể nhìn thấy được.

Trong mandala xuất hiện tượng Phật, lúc này đã bước vào giai đoạn thứ ba. Nói chung, khi chúng ta nhìn thấy chuỗi kim cang là giai đoạn thứ hai, khi nhìn thấy trong mandala có Ngũ phương Ngũ Phật, đó là giai đoạn thứ ba. Những vị Phật được nhìn thấy không nhất thiết phải là đơn thân, đôi khi có song thân, cả Phật song thân và cõi Phật đều được nhìn thấy cùng lúc.

Đến lúc này có thể nói, trí huệ của bạn tăng trưởng rất nhanh, không những trí huệ tăng trưởng, mà định lực cũng đủ, có thể thiền định trong thời gian rất lâu.

Trí huệ tăng trưởng rất nhanh chóng, trí huệ trước đây giống như đi xe đạp, bây giờ trí huệ giống như đi máy bay, đi tàu vũ trụ vậy, đó chính là trí huệ tăng trưởng rất nhanh. Những kinh văn trước đây không hiểu, bây giờ vừa mở ra, vừa nhìn là hiểu hết, bởi vì ánh sáng trong bản thân bạn đã hiển hiện, tất cả nghiệp đã tiêu tận, hoàn toàn an trụ trong quang minh.

Vì vậy tôi nói rằng, lúc này Kim Cang Thượng sư sẽ nói với bạn, bạn chỉ cần an trụ trong viên không quang, đi đến đâu toàn thân đều tỏa sáng, tuy rằng mắt thường không thể nhìn thấy ánh sáng của bạn, nhưng các bậc thánh hiền có thể nhìn thấy ánh sáng trên thân bạn, tất cả chư Phật Bồ Tát đều có thể nhìn thấy ánh sáng trên thân bạn. Mặc dù phàm phu tục tử không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng thực tế, bạn đi đến đâu, nơi đó đều tỏa sáng.

Lúc này, bạn an trụ trong viên không quang, thực sự có thể tăng trưởng trí huệ, tăng trưởng định lực, ánh sáng trong suốt, thanh tịnh vô song. Lúc này còn phiền não gì nữa? Tất cả phiền não đều không còn.

Vì vậy Giải Thoát Không Hành Mẫu hiện diện, Đại Lạc Không Hành Mẫu hiện diện, Trí Huệ Quang Minh Không Hành Mẫu hiện diện, hầu như tất cả các vị Không Hành Mẫu đều sẽ đến, đều sẽ đến giúp bạn.

Tôi đã từng nói với mọi người, khi nhìn ánh sáng, tuyệt đối không được nhìn thẳng vào mặt trời, cũng không được nhìn thẳng vào mặt trăng, chỉ nhìn vào ánh sáng quanh viền của nó, nhìn lên nhìn xuống, nhìn trái nhìn phải. Trước đây tôi cũng đã nói với mọi người, phải xoay nhãn cầu, đó chính là để khai mở thiên nhãn.

Có một khẩu quyết để khai mở thiên nhãn, đó là xoay nhãn cầu, nhãn cầu phải chuyển động, nghĩa là khi nhắm mắt lại, nhãn cầu xoay trái phải, nhìn lên xuống, rồi còn xoay tròn, khi bạn vừa xoay, lập tức sẽ có ánh sáng sinh ra, đây là một bí quyết.

Khi bạn vừa xoay, ánh sáng sẽ sinh ra, bên trong sẽ có ánh sáng, ánh sáng bên trong này không phải là ánh sáng đen, không phải là ánh sáng của nghiệp đen, mà là ánh sáng được quán tưởng vào bên trong, quán tưởng trong tâm bạn, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng đèn đều ở trong tâm mạch của bạn.

Định rất quan trọng, chuyết hỏa cũng rất quan trọng, việc hòa tan minh điểm này, tất cả những điều này đều rất quan trọng, kết hợp chuyết hỏa với minh điểm ở Tâm luân, khai mở Tâm luân, đây đều là những khẩu quyết rất quan trọng.

Về việc khai mở thiên nhãn, có một đệ tử viết thư cho tôi, anh ấy nói có người giúp anh khai mở thiên nhãn, sau khi thiên nhãn được khai mở, không biết tại sao, nhìn thấy toàn một màu đen. Tôi nói thiên nhãn phải tu như thế nào? Hôm nay tôi giảng về viên không quang này, chính là pháp tu thiên nhãn.

Cuối cùng, giai đoạn thứ tư, giai đoạn cao nhất là như thế nào? Thân tâm bạn hoàn toàn tỏa sáng, vĩnh viễn an trụ trong ánh sáng thanh tịnh, tay vừa đưa ra đã là ánh sáng, toàn thân đều là ánh sáng, bởi vì bạn đang an trụ trong viên không quang! Ở giai đoạn đó, bạn và thể đại minh chân chính của vũ trụ, đại quang minh đều hợp nhất, có thể hoàn toàn giải thoát sinh tử phiền não. Điều này vô cùng quan trọng.

Ngày nay chúng ta học Phật chính là để học điều này. Trong trạng thái đó, vĩnh viễn là đại lạc, vĩnh viễn là quang minh, vĩnh viễn là giải thoát, tất cả hình thức đều trang nghiêm. Lúc này Trang Nghiêm Không Hành Mẫu sẽ đến, làm gì còn tạp niệm nào nữa?

Tạp niệm đã không còn, dục vọng cũng không sinh khởi, những dục niệm thường sinh ra trong thân thể chúng sinh ở cõi Ta Bà đều không còn, hoàn toàn an trụ trong quang minh, đại lạc vĩnh tồn, quang minh vĩnh tại, vô niệm - không còn tạp niệm nào, không còn dục vọng nào, giải thoát tất cả phiền não, sinh tử đã đoạn. Phương pháp tu hành như vậy mà bạn không muốn, vậy bạn còn muốn gì nữa?

Lúc này, bạn còn muốn gì nữa? Muốn danh tiếng, lợi lộc, tiền bạc, dục vọng, còn muốn thứ gì khác? Lúc này, bạn đã sở hữu tất cả rồi, tất cả đều không có, cũng chính là tất cả đều có, dù là bậc cao tăng đại đức tu hành cao thâm đến đâu, khi đạt đến cảnh giới này, cũng đều có tất cả.

Yếu nghĩa chân chính của tu hành "Hồng quang đại thành tựu" chính là ở đây. Lúc này bạn có thể tùy ý độ chúng sinh, có Trang Nghiêm Không Hành Mẫu hộ trì bạn, Độ Sinh Không Hành Mẫu cũng hiện diện, đây chính là sáu Không Hành Mẫu. Hôm nay giảng đến đây.

Om mani padme hum.

02/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

204. Bài kệ về thiền định (1)

Hôm nay chúng ta sẽ nói đến "Lời kệ về thiền định".

Kệ về thiền định được nói như sau: "Một người tu, nhiều người đạt; nhiều người tu, một người đạt; tu tập ở thấp đạt nơi cao, tu tập từ từ đạt nhanh chóng." Đây là một bài kệ.

Tôi cũng đã từng giải thích về bài kệ này, nói chung, khi mọi người đọc bài kệ này, đôi khi có thể không hiểu rõ lắm, nhưng khi được giải thích, bạn sẽ có thể hiểu được.

Mặc dù đây là một bài kệ về thiền định, nhưng cũng có thể nói rằng, đây là điều mà mỗi hành giả đều sẽ trải qua. Tôi đã từng nói, một người tu hành thì khí trên thân họ sẽ khác, đồng thời, nếu họ tu hành có thành tựu thì khí thể hiện trên thân họ càng khác biệt hơn nữa, khác hẳn với người thường.

Rất nhiều người đến chỗ tôi để hỏi chuyện, vừa nhìn là tôi biết ngay người này là một hành giả, vừa nhìn là có thể thấy được ngay, còn người này vốn là một phàm phu, cũng có thể nhìn ra được; nếu có khí của bậc thánh hiền trên thân người đó, hoặc là khí tức của phàm phu trên thân họ, đều có thể biết được.

Giống như khi chúng ta nhìn tướng chúng sinh, người này nặng mùi tiền bạc, người làm kinh doanh nặng mùi tiền bạc, vừa nhìn là biết ngay, rõ như ban ngày. Nói chung những người biết xem tướng đều nhìn ra được, người có tu dưỡng, vừa nhìn là biết họ có tu dưỡng; người thô tục, vừa nhìn là thấy rõ.

Vì vậy, khi người ta nhìn vào hành giả chúng ta, họ sẽ thấy một luồng khí trong sạch, một loại khí rất thanh khiết và tinh khôi trên thân. Bạn cần phải trải qua một thời gian dài sống trong cô tịch, một mình sống đời tu hành, thì mới có thể thu phục được đại chúng, mới có thể thu hút được nhiều chúng sinh theo mình. Vì thế câu đầu tiên mới nói rằng "Một người tu, nhiều người đạt".

Khi tu hành, bạn sống một cuộc đời thanh tịnh một mình, nhưng khi đến lúc hoằng pháp độ sinh, bạn có thể độ được rất nhiều chúng sinh, rất nhiều chúng sinh sẽ nương tựa vào bạn. Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni ở Bodh Gaya, một mình tĩnh tọa thiền định dưới cội bồ đề, đây là tu hành đơn độc; nhưng sau khi Ngài thành tựu, đi đến đâu, Ngài cũng có một sức thu hút mạnh mẽ, hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn người theo Ngài.

Cho đến hiện nay, theo ước tính, có hơn 200 triệu Phật tử, trên báo chí đăng tin có 200 triệu người là Phật tử, điều này chưa chắc đã chính xác. Ban đầu khi Ngài chứng ngộ chỉ có một mình tu hành đơn độc, nhưng sau khi Ngài thành tựu, có rất nhiều người nương tựa vào Ngài, đây chính là "nhiều người đạt".

Điều này rất đơn giản, bài kệ này là như vậy, tu hành đơn độc sống cuộc đời thanh tịnh, lúc này trên gương mặt tự nhiên toát ra ánh sáng của người tu hành, nhiều người sẽ đến nương tựa vào bạn. "Một người tu, nhiều người đạt", có thể giải thích như vậy.

Tại chùa Hầu Vương [Swayambhunath] ở Nepal, có một vị Lama gặp tôi, hôm nay ông ấy vừa gửi thư đến, nói rằng tôi là hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Vị Lama này là Lama Uông, Lama họ Uông, một vị Lama có râu, hôm nay ông ấy gửi thư đến nói rằng tôi là hóa thân của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tôi không dám nói mình là hóa thân của ai, tóm lại đó là lời ông ấy nói, không phải tôi nói.

Đây chính là một loại quang khí, khiến người khác nhìn vào bạn sẽ cảm thấy khác biệt, ánh sáng của một hành giả tự nhiên tỏa ra. Đừng xem thường người tu hành, như tôi đã từng nói, rất nhiều vị vua và tổng thống đều là những hành giả chuyển thế. Ban đầu họ thanh tịnh khổ hạnh, thanh tịnh tu hành trong núi sâu, sau đó họ chuyển hóa thành người được nhiều người đến với, mọi người tin phục họ, bầu họ làm tổng thống, vì vậy bây giờ tôi cũng không tiện nói vị tổng thống nào của quốc gia nào là Phật sống Tây Tạng chuyển thế.

Xưa kia họ cũng tu hành như vậy, nhưng họ thực hiện cúng dường rộng lớn, trong tương lai tất cả chúng sinh đều quy phục quang khí của họ, họ tự nhiên sinh làm vua và tổng thống, họ có thể nhiếp phục đại chúng, thu phục tất cả chúng sinh. Đây chính là điều mà câu đầu tiên muốn nói, hãy tu hành thanh tịnh thật tốt, khi có quang khí trên thân, bạn sẽ có thể nhiếp phục đại chúng, rất nhiều người sẽ nương tựa vào bạn.

Lần này tôi ra ngoài, đi đến Ấn Độ, Nepal một chuyến, khi gặp gỡ mọi người, họ đều ca ngợi, khen ngợi, tán dương, bạn sẽ không nói những điều như vậy với một người vô duyên vô cớ.

Quang khí tỏa ra từ người tu hành tự nhiên có thể giống như một nam châm, thu hút rất nhiều người đến theo bạn, đây chính là ý nghĩa của câu đầu tiên "Một người tu, nhiều người đạt".

Ngoài ra còn có một lời giải thích khác là khi một người tu hành, tất cả các vị Hộ pháp đều đến, các vị Hộ pháp kết giới, tất cả các vị thần Hộ pháp, thậm chí Bổn tôn của bạn cũng đến, dù là vô hình, đây cũng chính là "Một người tu, nhiều người đạt". Đừng nghĩ rằng chỉ có một mình bạn đang ngồi thiền ở đó, không phải vậy, trong hư không còn có rất nhiều vị Hộ pháp đang theo bạn.

Khi xưa Phật Đà giác ngộ dưới cội bồ đề, không phải chỉ có một mình Ngài, mà vẫn có rất nhiều chư thiên Hộ pháp, vô lượng chư thiên Hộ pháp đang vây quanh bảo hộ Ngài. Đây cũng là một cách giải thích cho câu "Một người tu, nhiều người đạt". Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

03/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

205. Bài kệ về thiền định (2)

Chúng ta lại nói tiếp về bài kệ thiền định.

Câu thứ hai nói rằng: "Nhiều người tu, một người đạt", điều này có người khó hiểu. Câu "Một người tu, nhiều người đạt" thì tôi đã nói rồi, các vị Hộ pháp đều đến, khi bạn tu thành tựu, họ sẽ nương tựa vào bạn.

"Nhiều người tu, một người đạt", đối với tôi rất dễ giải thích, ví dụ tăng đoàn của chùa Lôi Tạng Seattle chúng ta là nhiều người tu hành, trong Chân Phật Tông có bốn triệu đệ tử, cũng có thể nói là nhiều người tu hành, nhưng người thực sự thành tựu là "một người đạt". Không phải nói trong bốn triệu đệ tử chỉ có một người có thể thành tựu, không phải vậy, mà là chỉ sự thành tựu thực sự, chính là bản thân người đó, không liên quan đến người khác.

Có nghĩa là, khi nhiều người cùng tu tập, sự thành tựu thực sự là ở cá nhân, đây gọi là một người đạt, không liên quan gì đến người khác.

Cho nên có câu nói rằng, "ông tu ông đắc, bà tu bà đắc", việc tu hành giống như uống nước, nóng lạnh tự biết, bạn thành tựu đến mức độ nào, bạn thực sự có thành tựu không đều là tự hỏi chính mình, đây chính là một người đạt; không thể hai người đạt, ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chồng tu chồng đắc, vợ tu vợ đắc, không có liên quan gì. "Nhiều người tu một người đạt" chính là ý nghĩa này.

Giống như ở đạo tràng Bodh Gaya, tôi đã từng nói, mọi người đều muốn đến đó hít thở vài hơi linh khí, vì Đức Phật đã thành đạo ở đó, không khí nơi ấy chắc chắn là linh khí, mặt đất ấn xuống còn có thể bật lên, có lẽ có linh tính, cát ở đó có lẽ đặc biệt thơm, lá cây ở đó đặc biệt đẹp, cỏ mọc xanh tươi hơn, nếu đi bộ, có thể sẽ mọc lên một đóa sen, bởi vì có linh khí.

Phật Đà đã giác ngộ ở nơi đó, thu hút rất nhiều hành giả, tất cả đều đổ về đó, họ làm lễ cúng dường, lễ bái, tu pháp, nghiêm túc trì chú, niệm Phật, đi nhiễu Phật không ngừng nghỉ, rất nhiều người tu tập ở đó, nhưng sự giác ngộ lại nằm ở chính bản thân mỗi người, chỉ có một mình mà thôi! Sự giác ngộ cũng nằm ở chính bạn, không liên quan đến người khác, không phải cứ đến Bodh Gaya đi dạo một vòng, hít vài hơi thở là ai cũng giác ngộ được, không phải vậy đâu, vẫn phải xem tâm của chính mình.

Khi tu tập ở đó, bạn không nên nhìn người khác, nghĩ rằng: "Ồ, người ta tu tập thế nào nhỉ, mình phải theo kịp họ, được rồi! Mình phải vượt qua họ!" Việc có thành tựu hay không không liên quan gì đến người khác, dù nhiều người cùng tu tập với nhau, thực tế, tất cả đều phụ thuộc vào sự chuyển hóa trong tâm của chính mình.

Thiền định cũng vậy, khi bạn tu tập pháp thiền định nhất duyên, hãy đặt một hạt gạo trước mặt, nhìn vào hạt gạo đó và định tâm vào hạt gạo. Còn có một phương pháp khác như thế này: trong phòng, tắt hết đèn, sau đó thắp một nén nhang, bạn nhìn vào điểm lửa đỏ trên đầu nhang, đặt tâm vào ngọn lửa, tập trung tinh thần. Bởi vì bạn chưa hiểu cách buông bỏ nên phải dùng phương pháp "một thứ" này để dạy bạn. Nếu bạn có thể hiểu được cách buông bỏ, vừa ngồi xuống là thân tâm đều trống rỗng, tâm an trú trong hư không, đó chính là thiền định bậc nhất.

Nếu bạn thực sự không thể buông bỏ thân tâm, tôi đành phải dạy bạn phương pháp thiền định nhất duyên: thắp một nén nhang và đặt tâm vào điểm đỏ trên đầu nhang. Khi tu tập thiền định nhất duyên, nếu vẫn còn bị quấy nhiễu, vọng niệm vẫn còn sinh khởi, Mật giáo sẽ dạy bạn dùng quán tưởng (niệm lực), sử dụng phương pháp tưởng nhớ, quán tưởng mắt Phật, đây gọi là "tồn tưởng".

Tồn tưởng nghĩa là tâm bạn tồn tại trong suy nghĩ, giống như tôi dạy mọi người nhìn kính lửa, kính nước, nhìn đèn, tất cả đều là tồn tưởng, đều là dùng phương pháp quán tưởng, đem khí tồn tưởng vào trong tâm, những điều này đều là thiền định nhất duyên.

Thiền định cao nhất thực sự chính là "thân tâm buông bỏ, nhập vào hư không", đây là giai đoạn thứ tư, thân tâm hoàn toàn có thể buông bỏ, hoàn toàn đi vào trong hư không, ánh sáng bên trong cơ thể tự nhiên hiển hiện, Phật quang tự nhiên hiển hiện, chân như bản tính của Như Lai tự nhiên sẽ hiển hiện, tất cả những điều này đều là việc rất tự nhiên.

Nhưng thiền định nhất duyên cũng khó, đừng nghĩ rằng thiền định nhất duyên rất dễ dàng. Khi thắp một nén nhang và đặt nó ở đó, mắt nhìn vào nén nhang, chỉ trong chốc lát, tâm đã không còn ở trên nén nhang nữa, thoáng cái đã chạy đến nơi khác rồi - nghĩ về người này, việc kia, chuyện nhân tình thế thái, tranh chấp, phiền não - không biết đã chạy đi đâu xa. Đến khi cảm thấy không đúng, nhắc nhở bản thân rằng tâm không còn ở trên nén nhang nữa, mới kéo nó quay về, lại nhìn vào nén nhang, rồi chỉ trong chốc lát, lại không biết nó đã chạy đi đâu mất. Thực tế là như vậy đó. Vì thế phải học, học cho đến khi tinh thần có thể tập trung vào "một điểm", tiếp theo có thể buông bỏ, đặt tâm vào hư không.

Thần thông ở đâu? Có người thường xuyên nói về thần thông, khi tinh thần của bạn được thống nhất, sóng não sẽ tự hạ xuống và một loại năng lực sẽ phát sinh. Khi tinh thần thống nhất, trong não sẽ có một màn hình huỳnh quang, bạn có biết không? Ngón tay có thể đọc chữ, ngón tay có thể hiểu chữ, chỉ cần chạm tay vào vật này, không cần nhìn, đã biết bên trong viết gì, bởi vì trong não có màn hình huỳnh quang, nên khi dùng tay chạm vào vật, trong não lập tức hiện ra hình ảnh của nó, đây gọi là công năng đặc biệt.

Công năng đặc biệt chính là thần thông, loại từ trường và sóng từ đó có thể di chuyển vật thể, đây đều là cảnh giới "nhiều người tu một người đạt", hoàn toàn dựa vào tâm lực. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

03/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

206. Bài kệ về thiền định (3)

Hôm nay chúng ta sẽ nói tiếp về một bài kệ thiền định. Bài kệ này là "Một người tu tập nhiều người đạt, nhiều người tu tập một người đạt, tu tập ở thấp đạt nơi cao, tu tập từ từ đạt nhanh chóng." Hai câu đầu đã được giảng, bây giờ chúng ta sẽ nói về "tu tập ở thấp đạt nơi cao".

Thực ra, việc tu hành của chúng ta là "ông tu ông đắc, bà tu bà đắc", không có sự thay thế, không thể nào tôi tu tập mà người khác đạt được chính quả, họ đạt được chính quả còn tôi không đạt được chính quả, ngược lại là họ đạt được chính quả; hoặc là họ tu tập mà tôi đạt được chính quả, đó hoàn toàn là điều không thể. Vì vậy đây chính là ý nghĩa của câu "nhiều người tu tập một người đạt".

Trước đây có đệ tử nói với tôi rằng: "Thưa Sư Tôn! Con chỉ cần nương tựa vào thầy, quy y với thầy, dựa vào thầy, xin Sư Tôn nhớ kỹ, đến lúc đó kéo con một tay nhé!" Đến lúc đó kéo anh ta một tay, rồi tu hành bay lên, giống như tôi tu hành ngồi trên đỉnh núi, tu, tu, tu, tu thành chính quả, khi bay vào hư không, vẫn còn phải nhớ đến anh ta!

Trước đây có đệ tử nói với tôi như vậy, khi bay lên thì kéo anh ta một tay, tôi còn phải đến nhà anh ta nữa, rồi dù anh ta đang làm gì, tôi vẫn phải kéo anh ta lên, điều này là không thể được!

Chúng ta đừng nghĩ có thể tiện lợi như vậy. Thưa Sư Tôn! Con sẽ mãi mãi nương tựa vào thầy, mãi mãi tin tưởng thầy, khi thầy đạt được thành tựu, đừng quên con nhé, khi bay lên, dù thế nào cũng thuận tay kéo con một cái, điều này thật sự không dễ dàng chút nào!

Giống như khi tôi đi thuyền ở Mexico, ngồi trên loại thuyền chuối, kết quả là thuyền bị lật, rất nhiều người ngồi trên thuyền, tất cả đều rơi xuống nước, từng người một trèo lên, tôi là người cuối cùng, không, là người áp chót lên thuyền, leo lên thuyền và bám chặt, còn một người nữa muốn lên, chỉ còn lại một mình bà ấy, tôi đưa tay kéo bà ấy lên, không ngờ tên của bà ấy không được hay lắm, tên bà ấy là Trần Truyền Phương: đọc ngược lại thành "thuyền lật chìm", đọc hai chữ thành "chìm thuyền", ba chữ thành "chìm thuyền lật". [Ở đây đều là đồng âm khác nghĩa.]

Họ của bà ấy là "Trần", chữ "Truyền" là chữ "Truyền" trong "tuyên truyền", chữ "Phương" là chữ "Phương" trong "thơm phức", tức là Trần Truyền Phương. Tôi đưa tay kéo bà ấy một cái, không ngờ vừa kéo, thuyền nghiêng hẳn và lại hỏng chuyện. Cuối cùng không còn cách nào khác, mọi người đều đã kiệt sức, đành phải bơi vào bờ, bơi khoảng hai trăm mét.

Nghĩ lại khi ở ngoài biển, dù có đưa tay kéo bà ấy cũng không thể cứu được. Mọi người thử nghĩ xem, nhân quả tự mình gánh! Tên của bà ấy đọc là "chìm thuyền lật", đọc hai chữ thành "chìm thuyền", đọc từ sau lên thành "lật thuyền", cho nên kéo cũng vô ích, cũng không có chuyện thay thế được. Đây thực sự là một ví dụ điển hình nhất cho câu "nhiều người tu tập một người đạt".

"Tu tập ở thấp đạt nơi cao", trong quá trình tu hành, để đạt được quả vị, cảnh giới của chư Phật Bồ Tát rất cao, cao đến không thể nghĩ bàn, nhưng bất kể cảnh giới cao đến đâu, bạn vẫn có thể đạt đến điểm cao nhất.

Mặc dù xét về bản chất con người, chúng ta không khác mấy so với động vật, chỉ là có linh trí, linh lực và trí tuệ cao hơn động vật thông thường. Thực tế, con người có rất nhiều hành vi không thoát khỏi bản năng động vật.

Mặc dù con người chúng ta vốn cũng ở trong tầng lớp rất thấp, trong mười pháp giới, không phải là cao lắm - Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác là bốn Thánh giới; chư thiên, rồi mới đến con người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh - con người được xem là ở vị trí thấp. Tuy ở vị trí thấp, nhưng chỉ cần bạn tu tập, chỉ cần hiểu được cách tu hành, bạn vẫn có thể đạt đến nơi cao, đó chính là ý nghĩa của câu "tu tập ở thấp đạt nơi cao". Cảnh giới đạt được qua tu tập có thể rất cao, đừng bao giờ xem thường bản thân.

Mặc dù con người có tham, sân, si, mạn, nghi và đủ loại nghiệp, chỉ cần thực sự giữ thân khẩu ý thanh tịnh, có thể thực tu Chân Phật Mật Pháp, có thể đối trị tham sân si mạn nghi, chuyển hóa bản thân thành ánh sáng, trở thành một loại ánh sáng thanh tịnh, hành vi của bạn ở đâu cũng có ánh sáng thanh tịnh đi theo, đó chính là "hạnh".

"Hạnh" có thể nói rằng, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, ăn, mặc, ở, đi lại, tất cả đều thuộc về hạnh. Trong hạnh có ánh sáng thanh tịnh đi cùng; về mặt tu tập, có thể đối trị tham sân si, thậm chí bản thân đã chuyển hóa, căn bản không cần phải đối trị tham sân si nữa, mà có thể tự nhiên chuyển hóa tham sân si, và có thể nhậm vận.

Mặc dù đang ở trong cõi người thấp nhất, nhưng đó cũng là cảnh giới cao nhất trong tứ Thánh giới. Giống như đang ở trong tứ Thánh giới vậy, đây là một niềm hạnh phúc phi thường! Không phải người phàm tục bình thường có thể so sánh được.

Cho nên nói về bản thân một người, nếu họ hiểu được phương pháp tu hành, có thể thực tu, nghiêm túc hành trì, cảnh giới của họ tự nhiên sẽ càng ngày càng cao, tâm cảnh cũng sẽ càng ngày càng khác biệt, đây chính là ý nghĩa của "tu tập ở thấp đạt nơi cao".

Hôm nay nói đến đây.

207. Bài kệ về thiền định (4)

Chúng ta tiếp tục nói về bài kệ thiền định, cuối cùng bàn về câu "Tu tập từ từ đạt nhanh chóng". Ý nghĩa của câu này rất sâu sắc, "tu tập từ từ" nghĩa là phải tu tập một cách tỉ mỉ, thực tế và thiết thực; "đạt nhanh chóng" có nghĩa là, nếu bạn làm theo cách này, bạn sẽ nhanh chóng đạt đến cảnh giới.

Nói chung, người hiện đại thường sao nhãng điều này, họ mong muốn nhanh chóng đạt được kết quả, ai cũng muốn nhanh, nhưng nếu không tu tập từ từ thì càng vội vàng càng không đạt được. Muốn nhanh chóng đạt đến cảnh giới, thực tế phải thực hiện nghiêm túc việc tu trì.

Phương pháp tu trì trong Mật giáo, thiền định nhập Tam ma địa, có rất nhiều khẩu quyết, cần phải lĩnh hội một cách tỉ mỉ, như việc hít thở chẳng hạn, nhất định phải rất mảnh, rất chậm, rất dài. Tại sao thiền định cần phải "mảnh, chậm, dài"? Bởi vì tâm phải bất động, nếu tâm bất động thì ánh sáng mới định, ánh sáng hiển hiện ra là định; tâm hễ động thì ánh sáng nhất định sẽ chớp động.

Ví dụ như khi chúng ta nhìn ánh sáng: khi nhắm mắt lại để nhìn ánh sáng, nếu tâm động thì ánh sáng chắc chắn sẽ động, chỉ khi tâm bất động thì ánh sáng mới bất động. Vì vậy, khẩu quyết của thiền định là phải giữ cho thân thể bất động, giống như thế nào? Giống như tử thi, giống như xác chết vậy, hoàn toàn bất động. Miệng cũng không động, giống như thế nào? Giống như "người câm" vậy, trong Mật giáo gọi là "dây đứt", dây đứt tức là không phát ra âm thanh, chính là câm. Tiếp đến, ý không động, tức là tâm không động, giống như thế nào? Giống như bầu trời không mây, giống như bầu trời quang đãng không một gợn mây vậy, đó chính là tâm bất động.

Dưới ba trạng thái bất động này, khi thiền định, ánh sáng mới hiển hiện, khi ánh sáng vừa hiển hiện, ánh sáng cũng bất động, nhưng chỉ cần tâm hơi động một chút, ánh sáng đó sẽ động theo, khẩu quyết này rất khó thực hiện được, nhưng cần phải thường xuyên luyện tập.

Khi chúng ta ngồi thiền, thường có hiện tượng hôn trầm. Khi chúng ta nhập Tam ma địa tu pháp, tôi thường thấy có người khi nhập Tam ma địa, có người nghiêng đầu bên này, có người nghiêng đầu bên kia, tôi rất lo thiết bị quay phim bị đổ. Một người ngã đầu bên này, một người ngã đầu bên kia, suýt va vào máy quay phim, máy quay video gần bị đụng trúng, rất nguy hiểm! Nếu làm hỏng thì phải đền!

Khi hôn trầm thì phải làm sao? Khi cứ buồn ngủ thì phải làm sao? Cần phải giữ cho cơ thể không cử động, đồng thời phải ngồi thẳng lưng, ấn vào yết hầu, tinh thần phấn chấn một chút, có thể chống lại cơn buồn ngủ, hai mắt nhìn lên trên, cũng có thể chống lại buồn ngủ, mặc dù hai mắt nửa nhắm nửa mở, nhưng hai mắt nhìn lên trên, điều này có thể chống lại buồn ngủ. Không được buồn ngủ! Ngồi một lúc mà đều ngủ gục hết thì làm sao nhập Tam ma địa? Họ nói là nhập tứ ma địa, ai cũng ngủ gục cả.

Vì vậy, khi thiền định không được hôn trầm, nhưng cũng không được trạo cử. Trạo cử là gì? Trong sách tôi có viết, không được có hôn trầm và trạo cử. Trạo cử là khi tinh thần quá phấn chấn. Lúc nhập định, tinh thần rất tốt, nhập định với tinh thần quá tốt, vọng niệm dấy khởi, lúc nghĩ cái này, lúc nghĩ cái kia, cứ liên tục nghĩ, tôi phải nhập định, tôi phải nhập định, tôi phải nhập định, tinh thần tôi rất tốt, muốn nhập định, kết quả ngược lại không thể nhập định được, đây gọi là trạo cử.

Làm thế nào để đối phó với trạo cử? Chính là phải hơi hôn trầm một chút, đây chính là cách đối trị! Hai mắt nhìn xuống dưới, cơ thể thả lỏng một chút, toàn thân để nó thả lỏng, hai mắt nhìn xuống dưới, nhìn về phía dưới, cố gắng thả lỏng, dùng cách này để đối trị trạo cử.

Có rất nhiều khẩu quyết về việc này, khi vọng niệm sinh khởi thì phải làm sao? Lập tức dùng một vọng niệm khác để đuổi theo vọng niệm đó, niệm này đuổi theo niệm kia, tại sao lại có vọng niệm này? Từ đâu sinh ra? Từ đâu diệt đi? Vốn không sinh, vốn không diệt, khi thông suốt rồi thì có thể điều chỉnh lại, trở thành vô niệm.

Vọng niệm giống như sóng vậy, lúc đầu cần phải đối trị vọng niệm, sau này không cần đối trị nữa, sau này chỉ cần quan sát vọng niệm. Quan sát vọng niệm, khi đã hiểu được bản chất của vọng niệm rồi, sẽ có thể sinh ra hiện tượng vô niệm, bản thân không phải là đối trị vọng niệm nữa, mà là ở trong vọng niệm, rất nhanh chóng, khi tạp niệm vừa sinh khởi, có thể nhanh chóng dập tắt, rồi dần dần luyện tập ý niệm bất động, luyện tập tâm bất động, cách luyện tập rất tỉ mỉ, rất chậm, rất lâu dài như vậy, sẽ có thể nhanh chóng đạt đến cảnh giới cao nhất, đây chính là ý nghĩa thực sự của "tu tập từ từ đạt nhanh chóng".

Nhất định phải thực hiện nghiêm túc việc tu tập thiền định nhập Tam ma địa này, cảnh giới của bạn sẽ tự nhiên nhanh chóng đạt đến cảnh giới cao. Không thể nói rằng, hôm nay tôi ngồi thiền, hôm nay sẽ đắc quả, không có chuyện đó đâu! Ba tháng tu tập tinh tấn, bảo đảm đắc quả, điều này cũng không thể nào! Vì vậy nhất định phải tu tập từ từ, mới có thể nhanh chóng đạt được. Tu pháp phải nghiêm túc đầy đủ mới có thể thành tựu.

Om mani padme hum.

06/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

209. Nghịch tăng thượng duyên (1)

Hôm nay chúng ta nói về nghịch tăng thượng duyên. Trong chuyến đi Ấn Độ và Nepal vừa rồi, tại Bodh Gaya, chúng ta đã thấy cây bồ đề - biểu tượng cho sự giác ngộ của Phật Đà. Phật Thích Ca Mâu Ni đã giác ngộ dưới cây bồ đề, và có một câu chuyện rất huyền thoại, rất đặc biệt, đó là lúc bấy giờ Thiên Ma đã giáng xuống để thử thách Phật Thích Ca Mâu Ni.

Khi chúng tôi nhìn thấy cây bồ đề, chúng tôi cũng nghĩ đến câu chuyện về Thiên Ma giáng xuống thử thách Phật Đà. Thiên Ma không chỉ có một vị, theo kinh điển ghi chép: có rất nhiều ma, nên gọi là ma quân, giống như một đội quân ma đông đảo, dùng đủ mọi phương cách để thử thách Đức Phật. Ví như ba ma nữ đến thử thách Phật Thích Ca Mâu Ni, đây là sự thử thách về sắc dục, thử thách về danh vị, thử thách về lợi lộc, và nhiều sự thử thách khác.

Trong Thiên Ma có thể phân thành tử ma, phiền não ma, danh lợi ma, và các loại ma cảnh khác nhau, giống như những biến hóa của tâm ma. Khi phương pháp dụ dỗ một cách hòa bình không hiệu quả, họ dùng phương pháp bạo lực để thử thách Ngài. Nhưng vì Đức Phật đã giác ngộ, đương nhiên Ngài không hề dao động, nên có thể chiến thắng Thiên Ma, và từ đó Ngài đã giác ngộ.

Nói đến nghịch tăng thượng duyên, nhiều người tu hành cũng có kinh nghiệm này. Có người khi mới bắt đầu tin Phật, được Phật lực gia trì, bản thân nghiệp chướng ít, những việc gặp phải đều rất như ý, lòng tin rất kiên định.

Tuy nhiên trên thực tế, cũng có một số người do nghiệp chướng nặng nề hơn, nghiệp lực lớn hơn, khi mới bắt đầu tin Phật, nghiệp chướng liền bắt đầu hiển hiện, vì vậy ngược lại làm chướng ngại con đường tu hành của họ. Đôi khi là tu hành nhưng tính khí lại trở nên nóng nảy hơn. Điều này là do sự nâng cao tu hành, khiến tham, sân, si và toàn bộ nghiệp chướng đều hiển hiện ra. Trong số những người tu hành mà chúng ta thường thấy, hoặc những hành giả tu Mật tông, cũng thường xuyên xuất hiện hiện tượng này.

Khi nghịch duyên đến với mỗi người, tất cả đều phải vượt qua khó khăn này, phải có khả năng tiến bộ ngay trong nghịch cảnh, tức là phải vượt qua được nghịch cảnh. Tu hành như vậy mới có thể chứng quả giống như Đức Phật, nếu không việc tu hành của bạn sẽ bị bỏ dở giữa chừng, đạo tâm của bạn sẽ không vững chắc.

Khi nghiệp lực này đến, tự nhiên sẽ sinh ra nghịch tăng thượng duyên, sẽ có những việc không như ý xảy ra. Vậy tại sao khi nghịch duyên đến lại có thể tăng tiến? Điều này giống như lướt sóng vậy, như tôi đã từng nói, ở Hawaii có rất nhiều người chơi lướt sóng, sóng càng lớn càng tốt, ván lướt sóng càng bay cao. Lướt sóng rất kích thích, sóng đến từng đợt từng đợt, cứ thế vươn lên cao hơn, đây gọi là tăng tiến. Nghĩa là bạn vượt qua tất cả nghiệp chướng, rồi tự mình có thể tiến lên. Phật Đà cũng vậy, khi Thiên Ma giáng xuống thử thách Ngài, Ngài vẫn có thể bất động, vượt qua nghiệp chướng này, và đạt được tăng thượng duyên.

Vì vậy tại Bodh Gaya, khi nhìn thấy cây bồ đề, tôi nghĩ đến những thử thách mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã trải qua thuở ban đầu. Mỗi hành giả chúng ta đều phải trải qua những thử thách như vậy. Cho dù bạn tu hành rất tốt trên núi cao, mắt không nhìn thấy sắc, nhưng khi vừa xuống núi, mắt vừa chạm sắc, ngay lập tức thử thách sẽ đến.

Hơn nữa, rất đơn giản thôi, bạn sẽ gặp những thử thách này bất cứ lúc nào. Hành giả Mật tông vốn có năng lực rất cao, họ luôn hợp nhất với Bổn tôn của mình, hợp nhất ngay trong thân thể, lúc nào cũng là Bổn tôn, là bậc thánh, tâm họ bất động trong mọi hoàn cảnh, đó chính là sự siêu việt.

Vì vậy, hành giả trong bất kì hoàn cảnh nào, nếu bạn có thể giữ được tâm thanh tịnh, đó mới thực sự là bậc hành giả vĩ đại, chứ không phải nói rằng trong môi trường tốt thì bạn rất thanh tịnh; còn trong môi trường xấu thì bạn lại bị ô nhiễm. Trong môi trường xấu, gọi là nghịch tăng thượng duyên, ở trong nghịch cảnh thì gọi là tăng thượng duyên.

Vì vậy, một hành giả phải làm được "đi qua rừng hoa mà không dính một cánh hoa". Nghĩa là khi bạn đi qua trước mặt nhiều mỹ nữ, phải học cách không để thân tâm bị ô nhiễm, đó mới thực sự là công phu. Khi bạn đi qua bụi cây khô héo mà không dính một cành, đó không phải là công phu, bởi vì tất cả đều xấu xí, đương nhiên bạn không bị dính mắc. Nhưng khi đi qua trước mỹ nữ mà không bị dính mắc, đó mới thực sự là bậc cao thủ.

Khi tu hành, chắc chắn phải chấp nhận thử thách. Khi nghịch tăng thượng duyên đến, nếu bạn vẫn giữ được sự thanh tịnh, đó mới thực sự là bậc nhất, là người có công lực. Trong thuận cảnh, bạn nói đạo tâm của mình kiên cố, điều đó không có gì đáng kể; trong nghịch cảnh, nếu bạn có thể thực sự giữ vững đạo tâm, đó mới là bậc cao thủ hạng nhất, có thể phá trừ mọi sắc tướng hiển hiện, đó mới thực sự là tăng thượng duyên. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

07/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

209. Nghịch tăng thượng duyên (2)

Hôm nay chúng ta tiếp tục nói về nghịch tăng thượng duyên. Nhiều đệ tử mới quy y, khi học trì chú, học quán tưởng, học nhập Tam ma địa (thiền định), cũng có trải nghiệm như thế này: khi họ đang trì chú "Om mani padme hum", "Om mani padme hum", vừa niệm được một lúc, trong vô thức bỗng nhiên lại thốt ra những lời thô tục. Họ nói rằng mình đang muốn trì chú, muốn niệm Phật, vậy mà tại sao trong tâm lại tuôn ra toàn những lời thô tục như vậy, đó chính là nghiệp chướng hiện tiền.

Thật sự có đệ tử viết thư cho tôi nói như vậy, khi họ đi lễ Phật, rõ ràng Phật rất trang nghiêm, tượng Phật được đặt rất trang nghiêm phía trước, họ cung kính chắp tay lễ lạy, nhưng trong tâm lại trào dâng những lời thô tục. Họ hỏi phải làm sao, vì trong lòng cảm thấy mình đã bị ô nhiễm.

Chúng ta thấy trong những lá thư, có rất nhiều hiện tượng như vậy, khi vào mật đàn để tu pháp, bỗng nhiên lại trào dâng những lời thô tục chửi tất cả chư Phật Bồ Tát, đây chính là tâm ma hiển hiện.

Có rất nhiều chướng ngại như vậy, khi những chướng ngại này xuất hiện thì phải làm sao? Bạn đừng xem những lời thô tục đó là sự xúc phạm, là sự phỉ báng hay là sự ô nhiễm. Hãy xem những lời thô tục đó là thiêng liêng, là siêu việt, hãy vượt qua nó, đừng để ý đến nó, bạn cứ tiếp tục trì chú, đại lễ bái, làm công khóa của mình, đừng quan tâm đến nó; không quan tâm đến nó, không bị nó quấy nhiễu, phải vượt qua nó, đó mới chính là nghịch tăng thượng duyên.

Nếu trong lòng bạn cảm thấy sợ hãi, nghĩ rằng sao mình lại có thể khởi lên những ý niệm thô tục đối với chư Phật Bồ Tát, nếu bạn để tâm đến nó, càng vướng mắc càng chặt, đến mức bạn không dám tu pháp, không dám vào điện Phật, đây chính là một loại chướng ngại.

Khi nghiệp chướng phát sinh, lúc này phương pháp duy nhất chính là "bất động", không để ý đến nó, tiếp tục tu trì, sau đó đừng xem những ác niệm đó là xấu, ngược lại hãy nghĩ rằng như vậy cũng tốt, cũng là thiện, hoàn toàn không để ý đến nó, lâu dần, nó sẽ trở nên bình thường.

Đây là phương pháp mà Thượng sư của tôi đã dạy trước đây. Bởi vì những ý niệm này khi sinh khởi rất mạnh mẽ, thường xuyên sẽ chướng ngại thánh đạo, khiến bạn không thể tiếp tục tu hành. Thậm chí có người còn khởi ác niệm, những lời chửi thề ba chữ chỉ là chuyện nhỏ, có người vào điện Phật vừa chắp tay, nhìn thấy Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, liền khởi lên ý niệm muốn giết các ngài.

Thực sự có chuyện như vậy, có đệ tử viết thư kể rằng: Quan Thế Âm Bồ Tát vốn rất trang nghiêm, vậy mà khi nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, họ lại sinh khởi ác niệm, muốn chém một nhát vào Bồ Tát, đây chính là một loại chướng ngại trong tu hành.

Khi những ý niệm này vừa sinh khởi, thật là không hay chút nào, nhưng phương pháp duy nhất là "bất động", cũng đừng để tâm đến nó, cứ tiếp tục công phu tu hành, nếu bạn không để ý đến nó, tự nhiên nó sẽ dần dần rời xa; còn nếu bạn để ý đến nó, nó sẽ trói buộc bạn, khiến bạn không còn dám tu pháp nữa, mãi mãi không dám làm như vậy nữa.

Trong thư của đệ tử có đề cập đến việc sinh khởi những hiện tượng như vậy, đây đều là những hiện tượng nghiệp chướng hiện tiền, những việc không như ý cũng sẽ phát sinh, cũng là nghiệp chướng hiện tiền, bởi vì nghiệp lực của bạn tương đối nặng. Vì vậy, lúc này phải dùng "tịnh tưởng", "tịnh tưởng" có nghĩa là bất kì một ý niệm nào cũng đều thanh tịnh, đều là hư vô, tất cả mọi ý niệm đều là "thanh tịnh" và "hư vô".

Niệm cũng chính là vô niệm, đừng có cảm giác tội lỗi, bạn sẽ có thể tiếp tục trì chú niệm Phật, thanh tịnh chính mình, trải qua một thời gian dài, nó sẽ tự động biến mất, đó chính là nghịch tăng thượng duyên của bạn.

Bất kì nghịch tăng thượng duyên nào đến, vẫn phải tiếp tục tiến lên, có một ngày ác niệm sẽ tiêu mất, chuyển thành thiện niệm hiện tiền.

Có đệ tử khi quán tưởng cũng sinh khởi nghịch duyên, khi tu pháp Quan Âm, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát hiện ra trước mặt, nhưng kết quả là Quan Thế Âm Bồ Tát hiện ra đều không phải chính diện, mà toàn là mặt sau, hơn nữa là phần mông. Dù cố gắng quán tưởng thế nào, vừa nhắm mắt lại, vừa nghĩ đến Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài liền xoay lưng lại, phần mông hướng về phía họ, bất kể thế nào cũng đều là ý niệm như vậy.

Ban đầu tôi cũng nghĩ như vậy, đừng có ý niệm xấu, nhưng khi bạn sinh khởi ý niệm xấu, không sao cả, cũng đừng nghĩ đó là ý niệm xấu, đây chính là nghịch tăng thượng duyên của bạn, hãy xem cái mông đó là tốt, nghĩ nó là tốt cũng được, đó cũng là một phần của Quan Thế Âm Bồ Tát, có gì không tốt đâu?

Họ phải quán tưởng như vậy, không còn cách nào khác, lúc này bạn chỉ có thể thay thế bằng quán tưởng tốt đẹp, không sao cả, dần dần sẽ sinh khởi tịnh tưởng, sinh khởi thánh tưởng, vượt qua được thì sẽ trở thành nghịch tăng thượng duyên.

Đây chính là tâm ma, bạn muốn tu hành tốt, nhưng nó lại không để yên, khiến quán tưởng của bạn sinh ra cảnh tượng không tốt, khiến ý nghĩ của bạn sinh ra ác niệm, khiến trong lòng bạn thốt ra những lời thô tục để phá hoại bạn. Thiên ma đến phá hoại bạn, tâm ma đến hại bạn, nhưng không sao cả, đừng nghĩ đó là ma, đừng cho rằng đó là ma, hãy xem nó như là nghịch tăng thượng duyên.

Nếu bạn xem nó như là nghịch tăng thượng duyên, không để ý đến nó, trong tâm bất động, tiếp tục tu hành, bạn sẽ đạt được thành tựu; nếu bạn để ý đến nó, cho rằng nghiệp này là không thanh tịnh, sau này bạn dần dần không dám tu pháp, không dám đụng đến pháp tướng của Mật giáo, thậm chí niệm Phật cũng không dám niệm, trì chú cũng không dám trì, đại lễ bái cũng không dám làm, không dám làm gì cả, lui về vị trí phàm phu, như vậy chính là ma thắng, ma đã chiến thắng rồi.

Vì vậy, một bậc thánh thực sự vĩ đại chắc chắn sẽ có nghịch tăng thượng duyên, khi ở trong nghịch cảnh, bất kì thử thách nào cũng phải bất động, thanh tịnh, vượt qua được điều này thì sẽ thành tựu. Như bản thân tôi mà nói, đã xuất đạo hai mươi bảy năm, có thể nói là từ trên núi xuống, dấn thân vào giang hồ hai mươi bảy năm, nơi nào mà chẳng có thử thách, nhiều vô kể! Đủ loại thử thách nhiều vô kể, tất cả đều vượt qua hết, nội tâm như như bất động, nghĩ rằng trong thế giới này tất cả đều yên bình, đều thanh tịnh. Phải suy nghĩ như vậy.

Om mani padme hum.

07/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

210. Sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ (1)

Hôm nay chúng ta nói về sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ. Nói chung, người học Phật đối với nhiều cảnh giới còn chưa chắc hiểu rõ hoàn toàn, huống chi là người ngoài càng không hiểu. Đặc biệt khi bạn sống ở Mỹ - một quốc gia phương Tây, nơi có rất nhiều người phương Tây, họ cũng hoàn toàn không rõ thiên đường và Tây phương Cực Lạc thế giới có gì khác biệt, họ cứ nghĩ rằng Tây phương Cực Lạc thế giới chính là thiên đường của người phương Tây, lẫn lộn với nhau không phân biệt được.

Đặc biệt là người phương Tây không thể hiểu được ý nghĩa sâu xa hơn của Phật giáo. "Phật giáo là gì?" Đôi khi người phương Tây hỏi bạn như vậy, bạn không thể trả lời ngay được. Nếu bạn nói với họ rằng Phật giáo là giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu bạn trả lời như vậy, họ vẫn không hiểu rõ, và nếu bạn muốn giảng giải tất cả kinh Phật cho họ nghe, họ sẽ càng bối rối hơn, vì vậy cần phải phân biệt rõ một số điểm chính.

Sinh về thiên đường được đề cập trong nhiều tôn giáo, như Hồi giáo, Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo, nhiều tông phái đều nói về việc sinh về thiên đường. Trong Phật giáo, sinh về thiên đường chỉ là một thiên thừa, thiên thừa cũng có thể nói là một cảnh giới, một cảnh giới của cõi trời.

Trong Phật pháp, giáo lý được phân chia rất rõ ràng, giáo hóa của Như Lai (Phật Đà) được chia thành năm cảnh giới: một là cảnh giới của người, gọi là nhân thừa, việc làm người cũng không đơn giản, cần phải tu trì mới có thể trở thành một con người; cao hơn một chút gọi là thiên thừa, thiên thừa chính là thiên đường mà người ta thường nói; cao hơn nữa chúng ta gọi là La Hán thừa; trên La Hán thừa, chúng ta gọi là Bồ Tát thừa; cao nhất chính là Phật thừa. Nói như vậy thì giáo hóa của Phật có năm cảnh giới, từ Phật thừa đến nhân thừa.

Mỗi phương pháp tu hành đều khác nhau, về việc vãng sinh Tây phương cũng có nhiều điểm khác biệt, đây là một cảnh giới đặc biệt được đề cập trong Kinh A Di Đà. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Kinh A Di Đà, Ngài đã nói đây là một cảnh giới đặc biệt, được hình thành bởi nguyện lực. Nguyện lực là gì? Chính là Phật A Di Đà đã phát đại nguyện, chỉ cần trì danh hiệu của Ngài, trì danh trong bảy ngày nhất tâm bất loạn thì có thể vãng sinh về Tây phương Tịnh thổ - một cõi được thành tựu bởi nguyện lực, điều này cần phải phân biệt rõ.

Nếu một người phương Tây hỏi bạn rằng: "Cảnh giới mà người học Phật hướng đến là cảnh giới nào?", bạn có thể giải thích cho họ về năm cảnh giới (ngũ thừa). Nếu họ hỏi: "Tu hành như thế nào?", bạn có thể trả lời rằng: "Muốn làm người, cần phải giữ năm giới. Nếu bạn giữ năm giới, trong tương lai khi luân hồi trong sáu nẻo, bạn sẽ ở trong cảnh giới của người. Bạn có thể giảng cho người phương Tây về năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu - đó chính là năm giới. Nếu bạn giữ năm giới không phạm, bạn sẽ được tái sinh làm người."

Nói chung các tôn giáo đều dạy bạn giữ một số giới luật, như Cơ Đốc giáo có một số giới luật, Hồi giáo cũng có một số giới luật, họ cũng phải giữ một số giới luật như vậy, sau đó họ nói về việc sinh lên thiên đường, tiếp đến là họ thực hành mười thiện, không chỉ giữ giới mà còn phải thực hành mười thiện, mười thiện chính là làm việc thiện, tạo nghiệp lành.

Trong Phật giáo, việc tạo nghiệp lành được gọi là nghiệp trắng, tức là nghiệp thanh tịnh, khi bạn thực hành mười thiện thì sẽ được sinh lên cõi trời. Tất cả các tôn giáo đều giống nhau ở giai đoạn này, trong Phật giáo cũng có thiên thừa, nếu bạn giữ năm giới và thực hành mười thiện thì sẽ được sinh lên cõi trời. Đây chính là thiên thừa.

Trong Phật giáo có một bài kệ, khi người ta hỏi bạn Phật giáo là gì? Bạn có thể đọc: "Mọi ác không làm, hãy làm mọi thiện, tự tịnh ý mình, là điều Phật dạy", Phật giáo có thể giảng như vậy.

"Mọi ác không làm" chính là giữ năm giới, "hãy làm mọi thiện" chính là thực hành mười thiện, vậy còn "tự tịnh ý mình" thì sao? Điều này sâu xa hơn một chút, tự tịnh ý mình có thể nói là ý thanh tịnh, ý thanh tịnh cũng có nghĩa là thân khẩu ý thanh tịnh, đây chính là tam mật của Mật giáo. Nếu hiểu được tự tịnh ý mình, bạn sẽ bước vào La Hán thừa. Tôi nghĩ như vậy, tự tịnh ý mình chính là thân khẩu ý thanh tịnh, đây là điều rất quan trọng nếu muốn bước vào La Hán thừa.

Vì vậy bạn cần giữ năm giới, thực hành mười thiện, tự tịnh ý mình. Tự tịnh ý mình chính là thân khẩu ý thanh tịnh. Nếu ý có thể thanh tịnh thì thân và khẩu cũng sẽ thanh tịnh. Phạm vi của ý thức tương đối rộng lớn hơn. Nếu tự tịnh ý mình rồi thì sẽ bước vào La Hán thừa. La Hán là gì? Có thể nói đó là tự tịnh ý mình, ý niệm thanh tịnh, hiểu rõ về vô sinh và sinh tử hoàn toàn chấm dứt rồi, đó chính là La Hán thừa.

Hiểu rõ về vô sinh và chấm dứt sinh tử, cảnh giới này cao hơn việc thực hành mười thiện. Trong Phật giáo còn đề cập đến cảnh giới cao hơn nữa, trên La Hán gọi là Bồ Tát thừa. Bồ Tát thừa là gì? Chính là phát tâm bồ đề, thực hành lục độ vạn hành. Ngoài việc tự tịnh ý mình, bạn còn phát tâm bồ đề để độ chúng sinh rộng khắp, thực hành lục độ vạn hành, đó chính là Bồ Tát, đây là giai đoạn thứ tư.

Trong Phật giáo ngoài nhân thừa, thiên thừa, La Hán thừa, còn có Bồ Tát thừa. Hôm nay nói đến đây.

Om mani padme hum.

08/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

211. Sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ (2)

Chúng ta tiếp tục bàn về sinh về thiên đường và sinh về Tây phương tịnh thổ. Bởi vì trong các tôn giáo phương Tây, họ chỉ biết đến cõi trời mà thôi, họ không hiểu về các cảnh giới khác. Tất nhiên cũng có một số ít người nghiên cứu sâu về tôn giáo, họ hiểu rõ, nhưng thực tế thì số người không hiểu nhiều hơn.

Khi chúng ta nói về ngũ thừa trong Phật giáo, nhân thừa là giữ năm giới; thiên thừa là thực hành mười thiện; La Hán thừa là tự tịnh ý mình và chấm dứt sinh tử; Bồ Tát thừa thì thêm vào đó là phát tâm bồ đề và thực hành lục độ vạn hành.

Cao nhất là Phật thừa, đó là giác hành viên mãn, trí huệ vô lậu, trí huệ không có một chút thiếu sót nào, đó chính là thành Phật, là một bậc Đại Giác Kim Tiên đã giác ngộ. Khi đạt đến Phật thừa như vậy thì hoàn toàn viên mãn, không có một chút thiếu sót nào, đó chính là cái gọi là Phật thừa.

Trong Phật giáo, khi bạn hiểu rõ điều này, nếu có người phương Tây hỏi bạn, bạn có thể giảng cho họ nghe, Phật giáo chia thành năm thừa, có năm cảnh giới, họ mới có thể hiểu rõ. Bởi vì tôi nhận thấy, Phật pháp ở phương Tây, việc độ người phương Tây thật sự rất khó khăn, vì trong đầu họ chỉ có thiên đường mà thôi, những điều khác, họ đều không có khái niệm.

Ngoài việc tin vào sự cứu độ của Thượng đế, những điều khác rất khó thâm nhập vào tâm trí của họ. Với những định kiến có sẵn, họ thường từ chối tất cả các tôn giáo khác.

Do đó, họ không thể chấp nhận các tôn giáo khác. Hễ là tôn giáo khác, họ đều cho là ma quỷ. Họ hoàn toàn không thể tiếp nhận những giáo lý sâu sắc hơn, vì thế cảnh giới của họ chỉ dừng lại ở cõi trời mà thôi.

Vì vậy, để truyền bá Phật pháp đến phương Tây, thực sự còn một chặng đường rất dài phía trước. Hiện nay, Phật giáo chỉ có thể lan truyền từ Ấn Độ đến Tây Tạng, đến Thái Lan, đến Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ trong phạm vi đó thôi, những nơi khác rất ít. Đối với phương Tây mà nói, đây là một thiếu sót rất lớn, bởi vì nhận thức của họ chỉ dừng lại ở mức độ như vậy.

Như chúng ta đã nói, Tây phương Cực Lạc thế giới là một cõi giới do nguyện lực của chính Phật A Di Đà tạo thành. Tây phương Cực Lạc thế giới này khác với việc sinh lên cõi trời, không giống nhau, vì sinh lên cõi trời chỉ cần thực hành mười thiện mà thôi. Vậy sinh về Tây phương thì sao? Bạn phải nương vào nguyện lực của mình, bởi vì Phật A Di Đà đã phát nguyện, chỉ cần bạn trì niệm danh hiệu của Ngài, bạn sẽ được vãng sinh về cõi Tịnh thổ của Ngài.

Vì vậy, bản thân Ngài có nguyện lực này, tương đương với việc có lực gia trì trên tất cả chúng sinh trong cõi Ta Bà, tất cả chúng sinh nương vào lực gia trì của chính Phật A Di Đà, chỉ cần bạn có nguyện vọng trì danh hiệu của Ngài, bạn sẽ được vãng sinh, điều này khác với việc sinh lên cõi trời.

Khi bạn đến được Tây phương Cực Lạc thế giới rồi, bạn vẫn có thể tiếp tục tu hành, lúc đó bạn cần tự tịnh ý mình, bạn cũng có thể phát huy Phật tính của chính mình, dưới ánh sáng chiếu soi của chư Phật Bồ Tát, bạn có thể lĩnh hội được chân ý của Phật.

Nếu thân khẩu ý của bạn thanh tịnh, bạn có thể nhanh chóng thành tựu quả Phật, vì vậy đây là một pháp môn rất thuận tiện. Do đó, vãng sinh về Tây phương tương đối dễ dàng, nhưng trong đó còn có một yếu nghĩa quan trọng là phải "nhất tâm bất loạn", bởi vì sau khi bạn có nguyện vọng này rồi, bạn vẫn phải giữ nhất tâm bất loạn, nếu bạn có nhiều tâm thì không được, đây cũng là một điểm trọng yếu.

Phải nhất tâm cầu vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, nếu bạn nhất tâm bất loạn trì danh hiệu, có nguyện lực như vậy thì sẽ được Phật A Di Đà tiếp dẫn, đây là một khẩu quyết rất quan trọng.

Trong Kinh A Di Đà có đề cập từ một đến bảy ngày, nếu bạn nhất tâm bất loạn thì có thể vãng sinh, đây chính là đại nguyện lực của Phật A Di Đà.

Vì vậy trong Phật giáo, người tin theo Phật A Di Đà rất nhiều, bởi vì nguyện lực của Ngài là lớn nhất.

Bây giờ chúng ta đã hiểu rõ thế nào là sinh lên cõi trời, thế nào là sinh về Tây phương, và bạn cũng đã hiểu rõ về năm cảnh giới trong Phật giáo, cần phải tu trì như thế nào để đạt được năm cảnh giới đó.

Bạn thấy đó, những người phương Tây mà chúng ta gặp ở Mỹ, bản thân họ chỉ dừng lại ở cảnh giới sinh lên cõi trời mà thôi. Cuộc sống thường ngày của họ là đi nhà thờ vào chủ nhật, nghe giảng đạo, hát thánh ca, cầu nguyện, họ cũng làm việc thiện, cúng dường cho nhà thờ, đóng góp cho xã hội, cũng là thực hành mười thiện, chỉ có vậy thôi. Nói đến tự tịnh ý của La Hán thừa, họ hoàn toàn không biết thế nào là tự tịnh ý, thế nào là thân khẩu ý thanh tịnh, họ cũng không hiểu.

Họ cho rằng tham sân si của thân khẩu ý là điều đương nhiên, vì vậy họ không thể tự tịnh ý được, họ chỉ có thể đạt đến thiên thừa là cùng.

Vì vậy ngày nay Phật pháp cần phải được truyền bá ở phương Tây, đây là trách nhiệm của chúng ta những người đang sống ở phương Tây, chúng ta phải giảng giải thật rõ ràng để họ có thể hiểu rõ, nếu không họ sẽ hiểu lầm chúng ta, khi nhìn thấy TEMPLE (chùa) của chúng ta họ liền bài xích, hễ thấy hình tượng Phật là họ vội vàng mang thập tự giá đến chùa đi một vòng.

Không có cách nào khác, bởi vì quan niệm của họ là như vậy. Khi bạn thấy họ làm như thế, bạn sẽ cảm thấy họ rất ngây thơ, vì vậy chúng ta cần phải giáo hóa họ, đây là trách nhiệm của chúng ta. Hôm nay chúng ta nói đến đây.

Om mani padme hum.

08/01/1997 - Chân Phật Mật Uyển - Seattle - Hoa Kỳ.

(Hết quyển 5) - Trọn bộ

Mục lục