📙

Kinh Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni

Kinh Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni

Giảng pháp: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Thời gian: N/A Địa điểm: N/A Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

Tôi nghe như vầy.

Một thời, Đức Phật ở tại nước Ma Già Đà, trong vườn Vô Cấu, hồ Bảo Quang Minh, cùng đại Bồ Tát và đại Thanh Văn, Thiên long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và loài không phải người… vô lượng trăm nghìn đại chúng đi nhiễu xung quanh.

Lúc bấy giờ, trong chúng hội có một đại Bà la môn tên là Vô Cấu Diệu Quang, hiểu biết sâu rộng, thông minh, được mọi người yêu mến, thường làm mười điều thiện, tin theo và quy y Tam Bảo, thiện tâm sâu nặng, trí huệ tinh tế, thường muốn khiến tất cả chúng sinh được đầy đủ tốt lành, giàu có sung túc.

Bấy giờ Bà la môn Vô Cấu Diệu Quang rời chỗ ngồi đứng dậy đi đến trước Đức Phật, nhiễu quanh bảy vòng, dâng lên Thế Tôn các loại hoa thơm, diệu y vô giá, chuỗi vòng châu ngọc, đảnh lễ dưới hai chân Phật rồi lui về một bên mà thưa rằng:

“Chỉ mong Thế Tôn và chư đại chúng, buổi sáng ngày mai đến nhà con nhận cúng dường của con.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn im lặng bằng lòng.

Khi ấy, Bà la môn biết Đức Phật đã nhận lời, bèn trở về nhà, ngay trong đêm đó sửa soạn bày biện cơm canh thịt cá trăm vị món ăn, quét dọn điện đường, treo lên cờ phướn ô lọng, đến sáng sớm tự mình cùng với người nhà cầm hương hoa cùng ban nhạc đến chỗ Như Lai mà bạch rằng đã đến giờ, cúi mong Ngài giáng lâm.

Lúc bấy giờ Thế Tôn nhẹ nhàng an ủi Bà la môn Vô Cấu Diệu Quang, và tuyên bố với khắp đại chúng rằng:

“Mọi người đều nên đến nhà Bà la môn kia để nhận cúng dường để cho ông ấy nhận được lợi ích lớn.”

Sau đó Thế Tôn liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vừa đứng dậy thì từ thân Phật phóng ra đủ loại ánh sáng, màu sắc tuyệt diệu đan xen nhau chiếu khắp mười phương, ai nấy đều kinh động, sau đó đầy hứng thú lên đường.

Lúc ấy Bà la môn với tâm cung kính cầm hoa thơm tuyệt diệu, cùng quyến thuộc và Thiên long bát bộ, Thích Phạm Tứ Vương đi trước sửa sang đường sá phụng dẫn Như Lai.

Bấy giờ Thế Tôn lên đường chưa được bao xa, đến một khu vườn tên là Phong Tài. Trong khu vườn có một ngôi tháp cũ đổ nát tơi tả, những bụi gai và cỏ dại mọc đầy, che khuất cửa đi, gạch ngói vụn chất đống như gò đất. Bấy giờ Thế Tôn đi về phía ngôi tháp. Trên tháp bỗng tỏa ánh sáng rực rỡ, trong gò đất phát ra tiếng khen rằng:

“Lành thay! Lành thay! Hôm nay Thích Ca Mâu Ni đã đi tới được cảnh giới cực thiện. Còn Bà la môn hôm nay cũng thu hoạch được lợi ích cực thiện.”

Bấy giờ Thế Tôn đảnh lễ ngôi tháp mục nát, nhiễu quanh ba vòng, cởi y áo trên người phủ lên tháp, nước mắt lã chã rơi xuống. Khóc xong Ngài mỉm cười. Mười phương chư Phật khi ấy đều thấy, cũng đều rơi nước mắt và phóng quang chiếu sáng tháp ấy. Thấy thế, đại chúng kinh ngạc biến sắc, cùng nhau cầu Phật giải thích điều này.

Bấy giờ, Kim Cương Thủ Bồ Tát cũng rơi lệ, ngọn lửa uy mãnh cháy hừng hực, cầm chày xoay tròn, đi đến chỗ đức Phật và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà hiện tướng hào quang này? Cớ sao Như Lai rơi lệ như vậy? Cớ sao mười phương chư Phật cũng hiện tướng ánh sáng tốt lành như vậy? Cúi mong Như Lai giải thích điều nghi hoặc cho đại chúng.”

Bấy giờ Phật bảo:

“Này Kim Cương Thủ! Đại xá lợi toàn thân của Như Lai tích chứa trong bảo tháp này. Vô lượng câu-chi tâm đà-la-ni mật ấn pháp của tất cả Như Lai nay cũng ở trong ấy.

Này Kim Cương Thủ! Vì có pháp yếu này ở trong đó, cho nên tháp này biến thành trùng điệp ken dày như đống hạt vừng, câu-chi trăm nghìn thân Như Lai. Phải biết cũng như đống hạt vừng, trăm nghìn câu-chi xá lợi toàn thân của Như Lai tụ lại trong đó. Thậm chí tám vạn bốn nghìn kinh điển chính pháp cũng tích chứa trong đó. Chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai đỉnh tướng cũng ở trong đó. Do sự thần diệu ấy, tháp này có đại thần thông màu nhiệm thù thắng uy đức, có thể ban phát mọi sự tốt lành cho toàn cõi thế gian.”

Bấy giờ, đại chúng nghe điều Phật nói đều xa lìa được bụi trần, cắt đứt các phiền não, đắc pháp nhãn thanh tịnh, đồng thời lợi ích mà đại chúng có được cũng khác biệt. Có người chứng quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, có người nhập Bồ Tát đạo A-bệ-bạt-trí [bất thối chuyển], hoặc chứng đắc sơ địa, nhị địa, thậm chí thập địa hoặc có vị được đầy đủ sáu Ba-la-mật. Bà la môn kia cũng lìa cõi trần nhơ bẩn, đắc năm thần thông.

Bấy giờ Kim Cương Thủ thấy việc đặc biệt hiếm có này, bạch Thế Tôn rằng:

“Thật là kỳ diệu lạ lùng thay! Chỉ nghe việc này mà đã thu hoạch được công đức thù thắng như thế, huống chi được nghe thâm nghĩa, chí tâm khởi lòng tin thì được biết bao là công đức!”

Đức Phật nói Kim Cương Thủ hãy lắng nghe:

“Đời sau nếu có tín nam tín nữ cùng bốn nhóm đệ tử của ta phát tâm chép một cuốn kinh này, tức là bằng chép chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi tất cả kinh điển của Như Lai đã nói, tức là vượt hơn thiện căn của chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi mà Như Lai đã trồng, và cũng được tất cả các Như Lai gia trì, che chở, nhớ thương như yêu đôi mắt, cũng như mẹ hiền thương con thơ.

Nếu người đọc tụng một quyển kinh này, tức bằng đọc tụng tất cả kinh điển quá khứ, hiện tại, vị lai mà chư Phật đã thuyết. Vì lý do đó, chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi tất cả Như Lai đáp ứng chính đẳng giác, đã đến trùng điệp dày kín không chỗ hổng như hạt vừng, ngày đêm hiện thân gia trì cho người đó. Như thế, tất cả Phật Như Lai như vô số cát sông Hằng, số trước tụ tập chưa đi, số sau đã trùng trùng lại đến, trong phút chốc đã quay trở lại giống như cát mịn trong dòng nước cuồn cuộn không lúc nào ngừng xoay chuyển.

Nếu có người đem hoa thơm, phấn thơm, tràng hoa hay y phục tuyệt diệu trang nghiêm đầy đủ cúng dường kinh này thì cũng như dâng hương hoa cõi trời, y phục trang nghiêm đầy đủ thất bảo, chất cao như núi Tu Di để cúng dường trước mười phương chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai, cũng trồng nên thiện căn giống như vậy.

Lúc bấy giờ Thiên long bát bộ, người và loài không phải người nghe nói như vậy, ai ai cũng đều cho là hiếm có lạ thường, cùng thốt lên rằng:

“Lạ thay uy đức lại là đống đất mục nát này, nhờ được thần lực Như Lai gia trì mà có thần biến.”

Kim Cương Thủ lại bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà tháp thất bảo nay lại thành đống đất?”

Phật bảo Kim Cương Thủ:

“Đây không phải là đống đất mà là đại bảo tháp rất vi diệu. Do nghiệp quả của các chúng sinh yếu kém cho nên ẩn khuất không hiện. Nhờ tháp che giấu nên toàn thân Như Lai không thể hủy hoại, làm gì có kim cương tạng thân của Như Lai lại có thể hoại chứ? Sau khi ta diệt độ, đời mạt pháp gặp lúc bức bách, ví như có chúng sinh làm chuyện phi pháp phải đọa địa ngục, không tin Tam Bảo, không trồng căn lành, vì nhân duyên đó Phật pháp nên ẩn đi. Tuy thế, tháp vẫn kiên cố không hoại diệt, được tất cả thần lực của Như Lai giữ vững. Chúng sinh không có trí tuệ bị chướng ngại mê hoặc che lấp, có trân bảo quý giá mà không biết sử dụng. Vì thế ta rơi lệ, các Như Lai kia cũng đều rơi lệ.”

Một lần nữa, Phật bảo Kim Cương Thủ:

“Nếu có chúng sinh chép kinh này để trong tháp, tháp đó chính là bảo tháp kim cương tạng thân của tất cả Như Lai, cũng là bảo tháp của tất cả Như Lai tâm đà-la-ni bí mật gia trì, cũng là bảo tháp của chín mươi chín trăm nghìn vạn câu-chi Như Lai, cũng là bảo tháp của tất cả Như Lai Phật đỉnh Phật nhãn. Tức là được tất cả thần lực của Như Lai bảo hộ.

Nếu trong tượng Phật, trong tháp có bố trí kinh này tức là tượng đó giống như do thất bảo làm thành, linh nghiệm ứng tâm, không có ước nguyện gì mà không viên mãn. Tháp ấy dùng ô che, hoặc lưới che, hoặc đặt trên vòng bánh xe, trên khay, hoặc treo như chuông dưới mái hiên, bày biện trên bậc thềm nhà, tùy khả năng mà làm bằng đất hoặc bằng gỗ đá hoặc gạch nung. Do uy lực của kinh này mà tượng hay tháp ấy tự trở thành thất bảo. Tất cả Như Lai lấy kinh này gia tăng uy lực cho tháp kia, dùng lời chân thật gia trì không ngừng nghỉ.

Nếu có hữu tình nào đối với tháp này dùng một hương một hoa lễ bái cúng dường, thì tám mươi ức kiếp sinh tử trọng tội trong chốc lát đều tiêu diệt, sống tránh khỏi tai ương, chết sinh về nhà Phật.

Nếu có hữu tình nào đáng đọa địa ngục Vô gián, nếu một lần lễ bái hoặc một lần nhiễu quanh tháp này theo chiều bên phải, cửa địa ngục sẽ đóng lại, đường bồ đề mở ra.

Nơi có tháp và hình tượng tháp, thần lực của tất cả Như Lai sẽ bảo hộ, nơi ấy sẽ không bị bão tố sấm chớp làm hại, không bị rắn độc, sâu bọ bò cạp, độc trùng độc thú làm tổn hại, không bị sư tử, voi điên, hổ sói hoang dã, ong nhện làm hại. Cũng không bị Da xoa, La sát, quỷ dữ đến nhà, tránh được nỗi lo sợ yêu ma quỷ quái. Cũng không bị nhiễm tất cả các bệnh nóng lạnh, ghẻ lở, u nhọt.

Nếu có người thoáng thấy tháp này cũng có thể trừ tất cả tai nạn. Nơi đó cũng không có người ngựa, sáu loại gia súc, trẻ con trai gái bị nhiễm dịch bệnh. Không bị chết oan chết yểu. Không bị dao gậy nước lửa làm tổn thương. Không bị trộm cướp oán thù xâm hại. Cũng không bị nỗi lo đói kém mất mùa, nghèo túng. Trù ếm bùa ngải cũng không thể thừa cơ hãm hại. Tứ Đại Thiên Vương cùng các quyến thuộc ngày đêm bảo vệ. Hai mươi tám bộ đại Dược xoa tướng, nhật nguyệt ngũ tinh, cờ mây, sao chổi ngày đêm bảo vệ. Tất cả Long vương cho thêm tinh khí, thuận thời cho mưa. Tất cả chư Thiên cùng Đao Lợi Thiên ba thời giáng xuống để cúng dường.

Tất cả chư tiên ba thời đến tụ tập, ngâm vịnh tán dương đi nhiễu vòng quanh, chiêm ngưỡng lễ tạ. Thích đề hoàn nhân cùng các thiên nữ, ngày đêm ba thời giáng xuống cúng dường. Nơi đó được tất cả Như Lai hộ niệm gia trì. Vì trong tháp để kinh này nên được như thế.

Nếu có người xây tháp, lấy đất đá gỗ vàng bạc đồng chì, chép thần chú này bố trí trong tháp, vừa bố trí xong, tháp ấy lập tức biến thành thất bảo, trên dưới bậc thềm bày khay và ô lọng, chuông linh và vòng bánh xe thuần là thất bảo. Tháp đó chính là hình tướng của bốn phương Như Lai.

Do pháp yếu đó, tất cả Như Lai kiên cố trú ngụ, hộ trì ngày đêm không rời. Tháp thất bảo đó là kho tàng vi diệu của xá lợi toàn thân, dùng uy lực của thần chú mà cao vút lên, cao đến cung trời Sắc cứu cánh. Các cõi trời mà tháp xuyên qua ngày đêm chiêm ngưỡng, bảo vệ và cúng dường.”

Kim Cương Thủ bạch Phật rằng:

“Vì nhân duyên gì mà tháp này có công đức thù thắng như thế?”

Phật nói:

“Phải biết là nhờ thần lực của Bảo khiếp ấn đà-la-ni này.”

Kim Cương Thủ bạch rằng:

“Cúi mong Như Lai thương xót chúng con mà nói đà-la-ni ấy.”

Phật nói hãy chăm chú lắng nghe, nghĩ nhớ đừng quên!

“Tất cả phân thân ánh sáng của tất cả Như Lai hiện tại vị lai, xá lợi toàn thân của chư Phật trong quá khứ, tất cả đều ở tại Bảo khiếp ấn đà-la-ni này. Ba thân của các Như Lai cũng ở trong ấy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền tuyên thuyết thần chú:

Na-ma sờ-tri đờ-vi ka-nam, sa-va Ta-tha-ga-ta-nam, ôm, bu-vi-ba va-đa-va-ri Va-cha-ri va-cha-tai, su-ru su-ru đa-ra đa-ra, sa-va Ta-tha-ga-ta đa-tu-đa-ri Pat-ma-ba-va-ti ja-ya-va-ri, mu-đờ-ri sờ-ma-ra ta-tha-ga-ta Đa-ma cha-kra, pờ-ra-vat-ta-na va-jri Bô-đi pa-na, rum-ka-ra rum-kri-ti Sa-va ta-tha-ga-ta dis-ti-tê, bô-đa-ya Bô-đa-ya bô-đi bô-đi, bút-đa-ya bút-đa-ya, sam-bô-đa-ni Sam-bô-đa-ya, cha-la cha-la cha-lam-tu Sa-va va-ra-na-ni, sa-va pa-pa-vi-ga-tê, hu-ru hu-ru Sa-va su-kha-vi-ga-ti, sa-va ta-tha-ga-ta ha-ri-da-ya va-jra-ni Sam-ba-ra sam-ba-ra Sa-va ta-tha-ga-ta su-ha-ya Đà-ra-ni mu-đờ-ri, bút-đi su-bút-đi, sa-va ta-tha-ga-ta dis-ti-ta Đa-tu ga-bê sa-va Sa-ma-ya dis-ti-tê sa-va Sa-va ta-tha-ga-ta ha-ri-đa-ya, đa-tu mu-đờ-ri sa-va Su-pờ-ra ti-si-ta sờ-tu-bê Ta-tha-ga-ta đis-ti-tê, hu-ru hu-ru hùm hùm sô-ha. Ôm sa-va ta-tha-ga-ta u-sờ-ni-sa Đa-tu mu-đờ-ra-ni, sa-va ta-tha-ga-tam sa-đa Tu-vi-bu-si-ta, dis-ti-tê hùm hùm sô-ha.

[Namah stryi dhvi kanam, sarva Tathagatanam, om bhuvibha vadhavari Vachari vachatai, suru suru dhara dhara, sarva Tathagata dhatudhari Padmabhavati jayavari, mudri smara tathagata Dharma chakra, pravarttana vajri Bodhi pana, rumkara rumkriti, Sarva tathagata dhistite, bodhaya Bodhaya bodhi bodhi, buddhaya buddhaya, sambodhani Samboddhaya, chala chala chalamtu, Sarva varanani, sarva papavigate, huru huru Sarva sukhavigati, sarva tathagata haridaya vajrani, Sambhara sambhra, Sarva tathagata suhaya, Dharani mudri, buddhi subuddhi, sarva tathagata dhistita, Dhatu garbhe svaha, Samaya dhistite svaha, Sarva tathagata haridaya, dhatu mudri svaha, Supra tishita stubhe Tathagata dhistite, huru huru hum hum svaha. Om sarva tathagata usnisa, Dhatu mudrani, sarva tathagatam sadha Tuvibhusita, dhistite hum hum svaha.]

Lúc bấy giờ Phật đã nói xong chú này. Chư Phật Như Lai từ trong đống đất phát lời khen rằng:

“Lành thay! Lành thay! Thích Ca Thế Tôn, vì lợi ích chúng sinh không nơi nương tựa mà đã xuất thế trong đời ác trọc này để diễn thuyết pháp thâm diệu, như thế pháp yếu sẽ trường tồn ở thế gian, lợi ích rộng lớn, an ổn vui vẻ.”

Bấy giờ Phật bảo Kim Cương Thủ rằng:

“Hãy chăm chú lắng nghe pháp yếu này, thần lực vô cùng, lợi ích vô biên, ví như trên cờ treo như ý bảo châu sẽ thường có mưa trân bảo thỏa mãn tất cả mong cầu. Nay ta mới chỉ nói sơ lược một phần trong vạn phần. Ông nên nhớ giữ gìn vì lợi ích tất cả.

Nếu có người ác chết đọa vào địa ngục, nhận lấy khổ vô gián không ngày thoát ra, nếu có con cháu của người ấy xưng tên của người chết, tụng thần chú nói trên, dù chỉ bảy biến, thì ở địa ngục nước đồng sôi sắt nóng bỗng biến thành ao nước tám công đức, hoa sen nâng chân, ô báu che đầu. Cửa địa ngục bị phá, đường bồ đề mở ra, hoa sen kia sẽ bay thẳng về cõi Cực Lạc. Tất cả các loại trí huệ tự nhiên hiện phát, có thể nói là vui sướng vô cùng, được ngôi vị Bổ Xứ.

Lại có chúng sinh tội báo sâu nặng, trăm bệnh tập trung trên người, đau khổ bức bách, tụng thần chú này hai mươi mốt biến, trăm bệnh vạn phiền trong chốc lát sẽ tiêu diệt, thọ mạng lâu dài, phúc đức vô tận.

Hoặc lại có người vì nghiệp tham lam bủn xỉn mà sinh vào nhà nghèo khó, áo không đủ mặc cơm không đủ ăn, gầy gò thấp hèn. Người ấy tủi hổ vào núi hái hoa rừng vô chủ hoặc mài gỗ mục làm hương, mang đến tháp để kinh này lễ bái cúng dường, nhiễu quanh bảy vòng rơi lệ hối lỗi. Nhờ sức mạnh của thần chú và uy đức của tháp này mà diệt được quả báo nghèo khó, phúc báo giàu sang bỗng chốc đến, thất bảo chắc chắn sẽ trút xuống như mưa. Khi ấy chỉ nên cúng dường Phật pháp, bố thí cho người nghèo, nếu còn tham lam hà tiện thì tài bảo sẽ lại nhanh chóng biến mất.

Nếu có người vì muốn trồng căn lành, tùy theo khả năng mà xây tháp hoặc xây bằng đất hoặc bằng gạch, kích thước to cao bằng bốn ngón tay cũng được. Ghi chép thần chú bố trí trong tháp, dâng hương hoa lễ bái cúng dường. Nhờ chú lực và tín tâm, từ trong tháp nhỏ tỏa ra khói hương ngào ngạt, hương thơm lan tỏa như mây khắp các pháp giới, lan tỏa rộng khắp làm việc Phật, sẽ thu được các công đức đã nói ở trên. Nói tóm lại, không có ước nguyện nào mà không thỏa mãn.

Nếu trong đời mạt pháp, bốn chúng đệ tử thiện nam thiện nữ, vì đạo vô thượng mà tận lực làm tháp bố trí thần chú, công đức tạo được là vô tận. Nếu có người cầu phúc đến trước tháp đó, đem một cành hoa một nén hương đến lễ bái cúng dường, nhiễu quanh theo chiều bên phải, do công đức ấy, địa vị vinh hiển không cầu mà tự đến, sống lâu giàu có không mong cầu mà sẽ tự gia tăng, oan gia trộm cướp không đánh mà tự tan, oán niệm trù ếm tự trở về nơi xuất phát. Bệnh dịch tà khí không lánh mà tự tránh, chồng hiền vợ thảo chẳng cầu mà tự được, trai hiền gái đẹp chẳng cầu mà tự sinh ra. Tất cả ước nguyện đều được thỏa mãn.

Nếu những loài chim quạ, công, cú, bồ câu, hưu lưu, chó sói, thú hoang, ruồi muỗi, kiến, dế, chạm đến bóng tháp hoặc dẫm lên nền cỏ của tháp, liền phá được các chướng ngại mê hoặc, giác ngộ vô minh, liền nhập vào gia đình Phật gia hưởng pháp tài. Huống chi những người hoặc thấy hình tháp hoặc nghe tiếng chuông khua, hoặc nghe danh tháp đó, tất cả tội chướng của người đó đều tiêu diệt cầu gì được nấy, đời này yên ổn, đời sau sinh về cõi Cực Lạc.

Hoặc có người tùy sức lấy một hòn đất đắp tường tháp bị hỏng, hoặc nhặt đá kê tháp bị nghiêng, do công đức này mà tăng phúc tăng thọ, khi kết thúc mạng này được tái sinh thành Chuyển Luân Vương.

Sau khi ta diệt độ, bốn nhóm đệ tử, nếu muốn cứu giúp cõi khổ này, thì nên ở trước tháp cúng dường hương hoa, thành tâm phát nguyện tụng niệm thần chú, từng chữ từng câu phóng tỏa ánh sáng, chiếu đến ba đường khổ, khổ não liền tan, chúng sinh thoát khổ, hạt giống Phật liền nảy mầm, tùy ý vãng sinh mười phương tịnh thổ.

Nếu có người lên đỉnh núi cao chí tâm tụng chú, phóng tầm mắt nhìn ra thế giới xa gần, núi non thung lũng, rừng cây cánh đồng, sông ngòi hồ biển, tất cả những loài có lông, có cánh, có vảy, có mai trong đó đều được tiêu tan chướng ngại mê hoặc, giác ngộ vô minh, hiển hiện ba loại Phật tính vốn có, cuối cùng an trú trong đại niết bàn. Hoặc đi qua con đường mà người này đã đi, hoặc chạm vào gió tạo ra bởi quần áo người này, hoặc dẫm lên trên dấu chân người này, hoặc chỉ thấy mặt hoặc thăm hỏi chốc lát, tất cả những người như thế trọng tội được tiêu diệt, thành tựu viên mãn.”

Lúc bấy giờ Phật bảo Kim Cương Thủ rằng:

“Nay kinh điển thần chú bí mật này giao cho các ông. Hãy tôn trọng gìn giữ, truyền bá khắp thế gian, để việc truyền bá đến chúng sinh không bị gián đoạn.”

Kim Cương Thủ bạch rằng:

“Con nay may mắn được Thế Tôn giao phó, chúng con nguyện báo ân đức sâu nặng của Thế Tôn, ngày đêm hộ trì truyền bá, tuyên dương cho tất cả thế gian. Nếu có chúng sinh biên chép thọ trì, không ngừng nghĩ đến, chúng con sẽ chỉ huy Thích Phạm Tứ Vương, long thần bát bộ, ngày đêm bảo vệ không rời bỏ.”

Phật nói: ”Lành thay Kim Cương Thủ! Ông vì tất cả chúng sinh đời vị lai mà làm ích lợi lớn, hộ trì để pháp này không đứt đoạn.”

Bấy giờ Thế Tôn thuyết Bảo khiếp ấn đà-la-ni, làm Phật sự rộng khắp. Sau đó qua nhà Bà la môn nhận các món cúng dường, khiến trời người bấy giờ thu hoạch được phúc lợi lớn rồi trở về nơi ở.

Bấy giờ đại chúng tì kheo, tì kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, Thiên long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và loài không phải người v.v... đều rất hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

Kinh nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni. (Hết.)