📗

016. Mạn đàm linh cơ thần toán (Tập 1)

image

Mạn đàm linh cơ thần toán (Tập 1)

🪷 Tiết lộ bí mật nghìn năm về linh hồn

Văn tập số: 016 Xuất bản: 01/04/1975 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

Mục lục

🔎 Các văn tập đang trong quá trình hiệu đính!!!

Lời mở đầu

Đầu tiên, điều tôi muốn tuyên bố là, cuốn sách này là một cuốn sách rất thần kì, nhưng tuyệt đối không phải là giả, mà là kinh nghiệm thật của tôi, hoàn toàn chân thật không trộn lẫn một chút giả dối nào. Thiên hạ rộng lớn không thiếu những chuyện lạ, nhưng, nếu bạn đọc kĩ cuốn sách này, nên nhận thấy rằng Lư Sư Tôn tôi đã từng gặp được kì ngộ mà người khác có nghĩ cũng không nghĩ được, sự thần kì và bất khả của nó đều sẽ khiến con người sinh sống trong thế kỉ 20 này cảm thấy sửng sốt và không hiểu ra làm sao, thậm chí vì tôi xuất bản cuốn sách này mà có thể dẫn đến sự chú ý của các nhà khoa học và những người nghiên cứu tâm linh, và càng gây chấn động nhân tâm thế đạo.

Trình độ học vấn của tôi là tốt nghiệp đại học, trình độ tri thức mặc dù không xem là cao khiến người ta khó mà với tới, nhưng cũng không phải là hạng ngu phu ngu phụ hời hợt. Tôi hết sức coi trọng giáo dục của bản thân, đối với tôn giáo, triết học, văn học, nghệ thuật, v.v… tôi đều có hứng thú nghiên cứu, tôi cũng đã viết mười mấy cuốn sách, nhưng điều tôi muốn bày tỏ là tôi viết cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” này là cuốn sách mà tôi viết với một thái độ nghiêm túc nhất, một cuốn ghi chép đáng quý về kinh nghiệm mà tự thân tôi trải qua. Những cảnh ngộ li kì của nó nếu có một câu nào là giả, tôi sẵn sàng nói lời xin lỗi lớn nhất đến những độc giả kính trọng tôi, yêu quý tôi.

Có lẽ có người cho rằng linh học là mê tín, có lẽ có người cho rằng thần cũng là mê tín, đối với những người nói như vậy, tôi nhất loạt đều không phản bác. Tôi chỉ là yêu cầu, trước khi muốn nói là mê tín thì xin dành thời gian để nghiên cứu về linh hồn, xin dành thời gian để tìm hiểu về linh lực, xin dành thời gian để đi lĩnh hội “sức mạnh siêu tự nhiên” (thần). Không biết mà biết là “không biết” thì là “thật biết”. Nếu không biết mà cương quyết nói là biết, cương quyết nói là mê tín, thì đó không phải là thái độ của một học giả. Hôm nay tôi rất mạnh dạn nói rằng: “Phàm ai cho rằng linh học là mê tín, phàm ai cho rằng thần là mê tín, thì chứng tỏ người đó đối với linh là vô tri, đối với thần cũng là vô tri.”

Ngày nay khoa học phát triển thì không sai, nhưng sức mạnh của khoa học muốn đo ra được linh lực siêu cảm giác thì rốt cuộc cũng còn kém cả một đoạn rất xa. Hôm nay tôi viết cuốn sách này toàn là những trải nghiệm tự thân của cá nhân tôi, giả dụ có người cho rằng là mê tín thì xin thứ lỗi cho tôi, bởi vì điều tôi nói là sự thật, tuyệt đối không phải là mê tín, tôi không phải là người đề xướng mê tín, mà là nói ra những lời thành tâm vốn nhiều năm nay bản thân vẫn không dám nói ra.

Trong cuốn sách này, tôi sẽ nói về việc mình đã khởi linh như thế nào? Làm thế nào mà tiến vào linh giới? Làm thế nào mà làm bạn với linh? Làm thế nào mà mượn linh lực để dự đoán tương lai? Giả dụ có người hi vọng học tập tiếp xúc với linh, tôi có thể truyền thụ mấy chiêu. Tất cả toàn bộ quá trình này không phải là nằm mơ, mà là hết sức chân thực. Tên cuốn sách này là “Mạn đàm linh cơ thần toán”, độc giả đừng cho rằng đây là một cuốn sách đoán mệnh thông thường. Đây là tri thức ở một tầng sâu hơn so với đoán mệnh bình thường. Trong sách tôi cũng nói đến mệnh lí [những triết lí về cuộc sống con người], cũng nói đến linh lực, đồng thời tôi cũng tiết lộ những bí ẩn về linh hồn và thần, hoàn toàn lấy thái độ thảo luận khoa học để phân tích. Hi vọng nhờ xuất bản cuốn sách này mà có thể tạo ra một bước tiến nhận thức đối với linh học và thần học, không khiến mọi người chỉ kêu là mê tín mà tùy tiện coi thường sự tồn tại của nó.

Có lẽ có người muốn hiểu rõ thân phận của tôi. Ban đầu tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo, tôi tốt nghiệp lớp sư phạm của Cơ Đốc tín ngưỡng giáo hội trưởng lão Tân Hưng ở Cao Hùng, từng được rửa tội, làm giáo viên lớp học ngày chủ nhật, làm thầy giáo lớp tra kinh. Sau đó tôi tiếp nhận Đạo giáo, từng trải qua công đức làm đạo sĩ của phân đường Thạch Bích thuộc Từ Huệ Đường của Hội Đạo Giáo Trung Hoa. Hiện nay tôi tín ngưỡng Phật giáo, tôi thọ Bồ Tát giới ưu bà tắc tại chùa Bích Sơn Nham ở huyện Nam Đầu, quy y đạo sư Ấn Thuận, ba vị thầy thụ giới là Hiền Đốn, Huệ Tam, Giác Quang. Hiện tại tôi trụ trì Từ Huệ Lôi Tạng Tự.

Tôi bẩm sinh đã rất hiếu kì đối với tôn giáo, có niềm hứng thú lớn đối với linh, ví dụ các loại kinh điển của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Hiên Viên giáo, v.v… tôi đều nghiên cứu từng cuốn một. Phật, Đạo, Cơ Đốc thì càng không phải nói, đặc biệt đối với “Truyền Đăng Lục”, “Nhân Thiên Nhãn Mục”, “Ngũ Đăng Hội Nguyên”, “Chỉ Nguyệt Lục”, “Tâm Đăng Lục”, v.v… hay những sách quý của Thiền tông, tôi rất tán thưởng. Còn như “Mật Giáo Thông Quan” của Mật tông, tôi cũng từng nghiên cứu và học tập, ”Đạo Tạng 36 Bộ Chân Kinh” của Đạo gia đều là khóa trình mà tôi ngày ngày bí mật tu học.

Tôi tin tưởng quan niệm về số mệnh, nhưng tôi cũng tin vào thuyết khai vận lập mệnh, sự việc trong thiên hạ đích thực là rất thần kì, linh là cái gì? Thuyết thiên đường và địa ngục có phải là thật không? Trong cuốn sách này tôi sẽ có lời giải đáp kĩ càng. Bởi vì thuật thông linh của tôi được rất nhiều người biết, rất nhiều người hiếu kì tìm đến tôi, các nơi trên toàn đất nước đều có, nhưng tôi không muốn vì thế mà nêu cao tên tuổi trong thiên hạ, cũng không muốn làm những việc gây phiền phức và khiến người ta mê hoặc. Vì thế tôi viết cuốn sách này để công bố hoàn toàn những việc này ra, không giữ kín nữa. Tôi không trốn tránh mọi người, mà chỉ muốn yên tịnh tu hành để cầu đạt đến cảnh giới ở tầng sâu hơn. Nếu người người đều tìm đến thì tôi sẽ chẳng có chút thời gian nào để mà tu.

Cuối cùng, tôi dẫn lời của Lev Tolstoy: “Mê tín ngu dại nhất chính là có một số nhà khoa học cho rằng: nhân loại không cần có tín ngưỡng vẫn sống được.” Hôm nay tôi không dám nói người không có tín ngưỡng đều là người ngu, nhưng người không có tín ngưỡng, người không tin luân hồi quả báo thì càng ngang ngược coi trời bằng vung hơn người có tín ngưỡng, càng không từ bất kì điều xấu xa nào, trong lòng họ càng chẳng có chút gì kiêng kị.

Xin kính cẩn dâng tặng cuốn sách này cho các Thần mà tôi tôn kính, dâng tặng cho bạn bè tâm linh trong giới hư không của tôi.

(Tháng 4 năm 1975)

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Sheng-yen Lu

17102 NE 40th CT REDMOND WA 98052 U.S.A

01. Cuộc kì ngộ tài tình

Năm Dân Quốc 58 [năm 1969], có một ngày, mẹ tôi muốn đến một ngôi chùa ở trong vùng để lễ bái. Khi đó tôi là tín đồ đạo Cơ Đốc, theo lí mà nói, tôi sẽ quyết không đi cùng mẹ tôi. Nhưng sáng sớm ngày hôm đó tôi nằm mơ, một giấc mơ rất kì quái, mơ thấy tôi leo núi, ngọn núi rất cao rất cao, rồi dường như ở trên đỉnh núi có một ngôi chùa rất cổ kính, tôi dù không muốn nhưng vẫn cứ đi vào. Điều kì lạ là tôi không thấy sợ hãi một chút nào, dường như đỉnh núi này quen thuộc giống như đường về nhà, trong chùa có rất nhiều tượng Thần được điêu khắc, có tượng thì mang bộ dạng hiền từ, có tượng thì như kim cang trợn trừng mắt. Tôi nhẹ nhàng nhón chân đi vào đại điện, một lão đạo trưởng nhìn thấy tôi thì đứng dậy.

Lão đạo trưởng chắp tay lại nói với tôi: “Giờ mới đến sao? Ta đợi anh rất lâu rồi.” ”Đạo trưởng với tôi hoàn toàn không quen biết, sao lại có hẹn chứ?” ”Sao mà không quen biết, băng qua tam giáo, ngao du bốn biển, năm trăm năm một lần gặp, cho dù anh đọa vào địa ngục âm phủ, làm ác quỷ, thì tôi cũng nhận ra diện mạo vốn có của anh!” ”Đạo trưởng, sao lại nói như vậy?” ”Không đánh anh thì anh không biết.” - Đạo trưởng cầm lên cây phất trần gõ lên đầu tôi, tôi kêu “oái” một tiếng, sợ đến mức toàn thân đẫm mồ hôi, thế là tỉnh khỏi giấc mơ.

Tôi thường rất ít khi mơ, chỉ có một giấc mơ này là rõ ràng nhất, ngày hôm đó lại đúng là ngày chủ nhật, mẹ tôi muốn đến chùa lễ bái, tôi thân làm tín đồ Cơ Đốc thế mà lại đi cùng mẹ tôi. Đương nhiên, tôi chỉ đi theo chơi, tôi không thắp hương, càng không cúi lạy Bồ Tát hay Thần minh, tôi xem ngôi chùa như một danh thắng để tham quan. Vào lúc ấy, tôi còn cười cợt một số người cúi thấp đầu mà lạy Bồ Tát, đặc biệt là những người đàn ông mặc đồ tây mà quỳ mọp xuống đất với một bộ dạng rất ngoan đạo, tức cười cực kì.

Ngôi chùa ấy không lớn, là ngôi chùa loại nhỏ, tên chùa là Ngọc Hoàng Cung, cái gọi là Ngọc Hoàng Cung chính là chùa miếu của Ngọc Hoàng Đại Đế, trụ trì của chùa là hòa thượng, tên là Thích Huệ Linh. Trong chùa có rất nhiều Bồ Tát, phần lớn tôi đều không biết. Ngày hôm đó cũng không biết là ngày tết gì mà người đến lễ bái cũng khá đông, xô đẩy chen lấn nhau, mùi khói hương rất nặng, tôi trốn vào một góc nhỏ trên hành lang bên ngoài chùa.

Lúc này, tôi chú ý thấy trong số những người đó có một người phụ nữ lớn tuổi mặc áo xanh, tuổi khoảng ngoài 50, bà ấy quỳ trước Thần minh, bộ dạng hình như đang nói chuyện với Thần minh, có rất nhiều người đứng bên cạnh bà ấy, dường như bà đang giúp người ta giải đáp thắc mắc.

Một lúc sau, bà ấy đột nhiên đứng dậy gọi to: “Ai là Lư Thắng Ngạn? Trong số các người có ai là Lư Thắng Ngạn?” Tôi đứng bên ngoài cửa chùa nhưng cũng nghe thấy, mẹ tôi cũng nghe thấy. Mẹ tôi đi nhanh về phía trước hỏi: “Xin hỏi cô tìm Lư Thắng Ngạn có việc gì không?” ”Không phải tôi tìm anh ta, là Bồ Tát Thần minh tìm anh ta, mau gọi anh ta đến đây, Bồ Tát có việc dặn dò.” Người phụ nữ mặc áo xanh đó sốt sắng nói với mẹ tôi.

Thế là tôi đứng trước mặt người phụ nữ lớn tuổi đó. Người phụ nữ ấy trông rất kì quái, một mắt xếch lên, một mắt xệ xuống, cái miệng hơi méo, trông cực kì xấu xí. Người xung quanh nói một mắt bà ấy xếch lên là để nhìn trời (Thần), một mắt xệ xuống là để nhìn đất (quỷ), tôi đứng trước mặt người phụ nữ này mà chẳng hiểu ra làm sao.

“Anh là Lư Thắng Ngạn?” ”Đúng vậy, không biết có chỉ giáo gì?” Bà ấy quỳ trước mặt Bồ Tát, nói thì thầm với Bồ Tát mấy câu, và sau đó quay đầu lại hỏi tôi: ”Anh là tín đồ Cơ Đốc à?” ”Đúng vậy.” ”Anh phục vụ trong đơn vị XX à?” ”Đúng vậy.” ”Anh tốt nghiệp đại học đúng không?” ”Đúng.” ”Giấc mơ chỉ điểm cho anh sáng nay anh có biết không?” Lần này thì tôi đờ người ra, người phụ nữ lớn tuổi đang quỳ trước mặt tôi đây làm sao mà ngay đến giấc mơ buổi sáng sớm nay của tôi bà ấy cũng biết, trong khi tôi chưa hề kể với ai việc tôi nằm mơ, kể cả mẹ tôi. Tôi nhất thời nảy ra ý nghĩ đến chùa để tham quan thôi, đây đúng là một việc không thể nào tưởng tượng nổi. Bà ấy lại hỏi tôi tiếp, tôi không đáp “đúng” thì cũng đáp “phải”, nghĩa là những gì bà ấy nói hoàn toàn ăn khớp, không có một việc nào sai trật.

“Bồ Tát hi vọng anh có thể đứng ra thay Bồ Tát làm thiện hạnh, truyền đạo giải đáp nghi hoặc, phát huy tinh thần Phật gia, giương cao thiện đè bẹp ác. Hiện nay lòng người thói đời đã bại hoại lắm rồi, có một số nhân vật xấu xa cố ý khoác tấm áo Thần Phật để làm những việc không có tính người, xem tướng cho người ta để lừa tiền gạt sắc, uốn lưỡi như hoa sen nhưng yêu ngôn hoặc chúng, chính đạo thì trầm luân mà tà đạo thì hưng khởi. Từ nay về sau anh có trách nhiệm trọng đại, Bồ Tát thấy tâm anh thiện, hành vi ngay thẳng, cho nên muốn anh thay trời hành đạo.” ”Tôi… tôi chẳng biết cái gì cả.” ”Trước mắt anh chẳng biết cái gì cả, nhưng nếu anh quỳ xuống thì sẽ biết mọi thứ, tôi không lừa anh đâu, đến đây, anh quỳ xuống bên cạnh tôi, hai tay chắp lại.”

Tôi học theo bộ dạng của bà ấy, quỳ trước mặt Bồ Tát, hai tay chắp lại, khi ấy có không ít người xung quanh, ngay cả trụ trì Thích Huệ Linh và mẹ tôi cũng đều đứng ở sau lưng tôi. Hai mắt tôi vừa nhắm lại thì kì tích đột nhiên xuất hiện. Bởi vì khi hai mắt nhắm lại, trước mắt đột nhiên xuất hiện một vầng hào quang, trong hào quang xuất hiện ba vị Bồ Tát đang ngồi trên hoa sen, kim thân bảy sắc, tỏa sáng rực rỡ, tôi nói điều này tuyệt đối không phải là mơ, tuyệt đối không phải là mơ, mà là tận mắt tôi ngay tại ban ngày nhìn thấy. Vị Bồ Tát ở giữa mở miệng nói: “Nhất tâm học Phật.” Hai vị Bồ Tát ở hai bên mở miệng nói: “Nhất tâm học pháp.” và “Nhất tâm hướng thiện.” Nói xong thì lập tức biến mất. Tiếp đó, từ không trung giáng xuống một tấm vải đỏ tỏa ánh vàng kim xán lạn, trên tấm vải đỏ đó có viết hai chữ vàng rất lớn, là hai chữ “trung nghĩa”. Tai tôi nghe thấy âm thanh không biết từ đâu truyền đến: “Kim Ngọc Đế đặc biệt ban hạ hai chữ “trung nghĩa” làm nguyên tắc xử thế làm người cả đời của con, phàm việc gì cũng phải hỏi lòng mình trước, có thể làm hay không thể làm, ngửa mặt không thẹn với trời, cúi mặt không hổ với đất, thoải mái tự nhiên, đạo tự sống mãi, thoải mái tự nhiên, tồn tại cùng trời đất.”

Chữ vàng viết trên tấm vải đỏ, tôi tận mắt nhìn thấy, không hề giả dối. ”Anh nhìn thấy chưa?” - Người phụ nữ đó hỏi tôi. ”Nhìn thấy rồi, cũng nghe thấy rồi, nhưng điều này sao có thể chứ?” ”Có rất nhiều việc trong thiên hạ anh có nghĩ cũng chẳng nghĩ nổi đâu, hôm nay, tóm lại là anh đã nhìn thấy và nghe thấy rồi, dần dần, anh cũng sẽ hiểu thế giới kì dị trong cõi vô hình, anh sẽ biến thành một con người khác hẳn với phàm phu bình thường, nhìn thấy cái mà người ta không nhìn thấy, nghe thấy cái mà người ta không nghe thấy, cảm giác thấy cái mà người ta không cảm giác thấy.” - Người phụ nữ mặc áo xanh nói: “Thần minh sẽ từ từ chỉ điểm cho anh.”

Tại ngôi chùa đó, tôi không tin điều tôi gặp phải là sự thật, nhưng sự thật ấy khiến tôi không thể không tin.

02. Câu chuyện trong chùa

Ở trong chùa, người phụ nữ mặc áo xanh kể cho tôi một câu chuyện như sau.

Đường Trung Sơn tại Hoa Liên có một người họ Lí tên Thiên Tứ, nghề nghiệp của anh ta là làm công việc điêu khắc và sơn cho chùa, ví dụ sơn con rồng trên đỉnh ngôi chùa kia, v.v… Anh ta không tin Thần, không có tín ngưỡng tôn giáo. Có một lần anh đến phân đường Thạch Bích thuộc Hoa Liên Từ Huệ Đường làm việc tại miếu Diêu Trì Kim Mẫu. Sau khi hoàn tất công việc, anh đi lại nhìn quanh khắp nơi trong chùa, đi đến trước bức tượng Thần của Kim Mẫu, không vì lí do gì mà hai tay chắp lại, cúi đầu lạy, cái lạy này cũng chỉ có chừng mực.

Nhưng rồi khi anh cúi đầu xuống thì không ngờ lại không ngẩng lên được, tự bản thân trong lòng biết, nhưng cái đầu giống như nặng nghìn cân, đè anh ta đến mức anh hết sức căng thẳng mà kêu thét lên. Trụ trì của ngôi miếu này và người trông nom miếu cũng căng thẳng mà quỳ xuống. Sau khi mọi người hiểu rõ tình huống thì vội vã quỳ xuống cầu Thần minh tha cho anh. Khi ấy người phụ nữ mặc áo xanh (tức là người phụ nữ kể câu chuyện này) cũng có mặt ở đó, bà ấy lập tức cung thỉnh chỉ thị của Thần. Chỉ thị của Thần minh như sau: “Người này không tin Thần ta, nhưng lại có duyên với ta, ta phải cho hắn biết giữa trời đất cũng có Thần tồn tại, lệnh cho hắn phục lạy ta hai mươi cái thì ta sẽ để cho hắn đứng lên.” Nói ra thì cũng kì quái, sau khi Lí Thiên Tứ liên tục chạm đầu xuống đất lạy hai mươi cái xong thì đầu anh ta thật sự có thể ngẩng lên được.

Lí Thiên Tứ cứ hét lên suốt: “Hầy! Quả nhiên có thật!” Kể từ đó, anh công nhân quét sơn này không dám không tin Thần nữa, có thời gian anh thường xuyên đến chùa làm việc, gặp người ta là anh sẽ kể lại câu chuyện này của mình.

Lại nói, người phụ nữ mặc áo xanh này cũng chính là đạo sĩ phái Đạo giáo Diêu Trì, thuộc phân đường Thạch Bích của Từ Huệ Đường, xem ra, việc học Đạo của tôi là khởi đầu từ bà ấy. Khi tôi chưa gặp bà ấy thì tôi là tín đồ Cơ Đốc, sau khi gặp bà ấy thì niềm tin tôn sùng Đạo giáo của tôi dần dần tăng trưởng. Người phụ nữ già này có con mắt âm dương, đoán mệnh cho người ta chẳng cần phải nói, cứ gọi là linh nghiệm như Thần, ngay cả đến tên mụ của ông bà bạn thì bà ấy cũng đều có thể gọi ra được ngay, Thần quỷ và bà ấy là bạn tốt, bà ấy đúng là một nhân vật kì quái nhất trong thiên hạ.

Vào lúc tế tổ tiên, nếu bạn có thể mời bà ấy đến nhà bạn, tổ tiên đã khuất của bạn khi ấy mặc trang phục gì, trông hình dáng như thế nào, trên tay đeo nhẫn như thế nào, có đặc trưng gì, tổ tiên có lời gì dặn dò, bà ấy đều có thể lần lượt nói ra hết, linh nghiệm khiến người ta trợn mắt há mồm. Chuyện của tổ tiên thì người ngoài làm sao mà biết được chứ? Huống hồ tổ tiên đã qua đời rồi, lúc đó thì vị thầy của tôi (người phụ nữ mặc áo xanh) còn chưa ra đời cơ mà! Hành vi cả một đời của bà ấy khiến rất nhiều người văn minh hiện đại lắc đầu. Nếu tin thì trên đời làm sao có chuyện như thế, còn nếu không tin thì sự thật lại bày rõ ra trước mắt, thật khiến người ta rất khó hiểu!

Gặp phải những chuyện kiểu này, chuyện kì quái, tôi còn có thể nói cái gì chứ? Đã thế, những sự việc kì dị hơn lại phát sinh tiếp.

03. Vân du huyễn cảnh trong vũ trụ

Vào cái hôm đến chùa để tham quan đó, tôi trở về đơn vị đo đạc của mình để đi ngủ. Khi ấy tôi 25 tuổi, chưa kết hôn, sống một mình trong căn phòng đơn ở kí túc xá. Tôi nghĩ đến chuyện xảy ra lúc ban ngày, nằm trên giường mà không thể nào ngay lập tức chìm vào giấc ngủ được. Đột nhiên ngửi thấy từng đợt mùi thơm đàn hương, hai mắt nhắm lại, trong lúc lơ mơ, trước mắt tôi không ngờ xuất hiện một vòng ánh sáng, vòng ánh sáng đó sáng như gương, xung quanh vòng ánh sáng tựa như lấp lánh ánh vàng kim. Lúc này, thân thể tôi như nhẹ nhàng bay lên, bay vào bên trong vòng ánh sáng, chỉ nghe thấy tiếng gió thổi vù vù, dường như bản thân bay đi rất xa rất xa. Lúc này tôi phát giác ra đây là một thế giới khác, không ngờ mình đã đến một thế giới khác rồi.

Trong mơ hồ, tôi có một chút cảm nhận rõ ràng đây là huyễn cảnh vũ trụ, tôi đã được một sức mạnh nào đó chỉ dẫn mà du lịch đến huyễn cảnh vũ trụ. Ở nơi đó, tôi nhìn thấy rất nhiều Phật Bồ Tát, các vị cúi đầu chào, không có một vị nào mà tôi biết. Tôi nhìn thấy những đóa hoa sen to như cái bánh xe, hoa sen có nhiều màu sắc, trên mỗi đóa hoa sen đều có một đồng tử đang đứng, mỗi đồng tử lại cầm trên tay những bông hoa sen màu sắc khác nhau. Tôi nhìn thấy không trung có những bậc thang thả xuống, xung quanh đứng đầy những vị Thần mặc áo giáp vàng, chật kín cả mặt đất. Tôi nhìn thấy hai cột trụ đứng thẳng giữa trời, có người nói ở bên tai tôi rằng một cột là núi Côn Luân, một cột là núi Tu Di. Lúc này, tôi dạo bước tới một ngôi chùa lớn ở trong một ngọn núi, bên tai có người nói với tôi: “Vị này chính là XX, tiền thân của ngài, nếu ngài không tin, khi tỉnh lại, có thể tra cuốn kinh điển kia, trang 89, trong đó có họ tên tiền thân của ngài. Căn cơ của ngài là thiên cơ, đừng có để lộ ra, nếu hé lộ thì sẽ bị trời phạt.”

Tôi dạ dạ vâng vâng đồng ý, xin thứ lỗi cho tôi không có cách nào tiết lộ họ tên tiền thân của mình, bởi vì thật sự là không thể tiết lộ thiên cơ! Tôi lại du lịch đến rất nhiều nơi, nói thẳng ra là tôi nhìn thấy điều chưa từng nhìn thấy, nghe thấy điều chưa từng nghe thấy, khi tỉnh dậy thì đã bảy giờ sáng rồi.

Căn cứ theo chuyến du lịch đêm qua, tôi chạy đến nhà in Thụy Thành nơi chuyên môn bán kinh Phật ở Đài Trung, tìm được cuốn kinh điển mà Thần minh đã chỉ thị kia. Tôi vội vàng giở đến trang 89 thì giật mình sửng sốt, quả nhiên trên trang đó có cái tên XX. Tôi ngây ra tại chỗ, vừa vui vừa buồn, giờ đây tôi đã xác minh được rồi, một chút cũng không sai! Con người có luân hồi sao? Tôi có thể phủ nhận chuyến vân du đêm qua là giả sao? Kể từ đó, tôi tin vào thuyết quả báo luân hồi. Viết đến đây, tôi vẫn còn cảm thán điều mình đã gặp phải thật sự là bất bình thường, từ đó đã kích thích bản thân đời này không tu hành thì còn đợi đến khi nào? Tô đã mua rất nhiều kinh điển Đạo giáo, cũng mua rất nhiều kinh điển Phật giáo, vào lúc ấy, tôi vẫn không có cách nào phân biệt được cái gì là Đạo, cái gì là Phật? Phật giáo và Đạo giáo có khác biệt ở đâu?

Tôi nói rất thật lòng, kể từ sau chuyến du lịch đến huyễn cảnh vũ trụ đó, tôi từng nghĩ có ý muốn trải nghiệm một lần nữa, tôi thật sự rất muốn đi xem một lần nữa, cho dù chỉ trong mười phút cũng được, nhưng chỉ có một lần đó mà thôi, sau này khi tôi lại muốn đi thì cũng chẳng bao giờ xuất hiện lại nữa. Tôi từng cầu Thần minh, nhưng không có hồi âm, dường như trong cuộc đời này, tôi chỉ có thể trải nghiệm một lần, không thể nào du lịch lại lần thứ hai vậy.

Vân du huyễn cảnh vũ trụ, tôi từng kể với một người xuất gia. Người xuất gia đó ở sau lưng tôi nói với người ta rằng: “Lư Thắng Ngạn nói bậy!”

04. Sư phụ ẩn hình

Hai hôm sau, ban đêm đúng lúc tôi đang an giấc thì đột nhiên nghe thấy có người gọi tên mình. Tôi vùng dậy ngồi lên, kinh nghiệm mấy lần khiến tôi cảm thấy rằng biết đâu lại có tình huống lạ. Đưa mắt nhìn bên trong phòng, không có bóng dáng người nào cả, tôi nhìn ra bên ngoài cửa sổ, vầng trăng đang treo trên bầu trời đêm. Tôi cầm đồng hồ đeo tay lên, nhờ ánh trăng soi vào để nhìn thì đúng một giờ đêm. Khoác áo khoác và bước xuống khỏi giường, tôi bật đèn huỳnh quang lên, ánh đèn huỳnh quang rất chói mắt.

“Thắng Ngạn, đứng nguyên tại chỗ chớ động đậy, ta phụng chỉ truyền Đạo pháp cho con, con chắp hai tay lại, hãy học thuộc bộ phạt, nhất thiết phải ghi nhớ.” Trong phòng không có người, nhưng tôi không hề sợ hãi, bởi vì Ngài đến truyền Đạo pháp cho tôi. Tôi nhắm mắt lại, chắp tay, nói ra cũng kì lạ, tôi không có ý nhấc chân lên, nhưng có một sức mạnh khó hiểu nào đó nhấc chân tôi lên, thậm chí tôi muốn hạ chân xuống cũng không hạ được, chân cứ theo một trật tự nào đó mà bước đi những bước rất kì quái. Giả dụ khi ấy có người đứng ngoài cửa sổ nhìn lén thì họ nhất định sẽ cho rằng Lư Thắng Ngạn điên rồi. Tôi điên rồi sao? Không hề, thật sự là Ngài dùng linh lực để nhấc chân tôi lên, tôi luyện tập nhiều lần rồi ghi nhớ được bộ phạt.”

“Đây là bộ phạt gì? Có công dụng gì?” ”Đây là bộ phạt Tham tinh bái đẩu, dùng khi cúng tế ở từ đường, dùng khi thỉnh Thần, dùng khi bấm tay niệm chú, chớ coi thường công dụng của nó, pháp này đã thất truyền nghìn năm rồi! Không gặp lúc cần thiết thì không được tùy ý sử dụng.” ”Vậy bình thường con thỉnh Thần thì dùng pháp gì?” ”Thắng Ngạn, con chỉ cần mở miệng xưng Đạo: Đệ tử Liên Sinh thuộc giáo phái Tam Thanh, phụng Tiên thiên vô cực chính pháp, phụng thỉnh Thần nào đó hạ giáng lập tức. Ngoài ra sau này cơ duyên thành thục, ta sẽ chỉ điểm cho con bái một người làm thầy, người này hiện tại đang ẩn cư ở núi Liên Đầu, có duyên thầy trò với con, người đó đã chứng được lục giáp thiên thư phù lục, sau này con phải đắc được lục giáp thần ấn, đắc hết lục giáp bí thuật, đến khi ấy tự nhiên ứng nghiệm.”

“Những điều này nghe như truyện thần thoại.” - Tôi có hơi không tin. ”Thần thoại hay không thần thoại thì tạm cứ kệ nó, hôm nay ta phụng chỉ truyền đạo pháp cho con, cảnh ngộ của con từ lâu đã biến thành thần thoại rồi.” ”Tiên sinh tôn tính đại danh là gì?” ”Không từ đâu đến, đi cũng không dấu tích, chẳng hề từ đâu đến, cũng không đi về đâu, ta vốn vô danh, con cứ gọi ta là Linh Sư đi!”

Vị Linh Sư tiên sinh này tôi không nhìn thấy được Ngài, nhưng Ngài đích thực là thường xuyên ở bên tôi, canh ba nửa đêm giục tôi thức dậy, truyền đạo pháp cho tôi. Tôi coi Ngài là thầy, còn Ngài thì xem tôi như anh em, tôi có tâm sự đều không ngần ngại kể với Ngài, đêm khuya yên ắng, một mình tôi rủ rỉ tán gẫu với Ngài. Mặc dù tôi không nhìn thấy Ngài, nhưng mà lại có thể cảm giác được sự tồn tại của Ngài. Ngài dạy tôi luyện thủ pháp, tay tôi tự động hóa thành rất nhiều hình thái, ví dụ Quan Âm thủ, Di Đà ấn, Liên hoa ấn, Độ chúng sinh ấn, Ngũ lôi ấn, Chưởng tâm lôi, Đại phiên thiên ấn, Mâu Ni ấn, Kiếm ấn, Thiên Vương ấn, v.v… Ngài lần lượt truyền thụ cho tôi. Hơn nữa, thủ pháp Diễm khẩu hóa thực của Phật gia cũng truyền dạy cho tôi luôn. (Sau này tôi chứng minh được rằng, vào Tết Trung nguyên, hòa thượng tĩnh tọa làm thủ pháp hóa thực khá giống với thủ pháp mà Linh Sư truyền dạy cho tôi, nhưng chỉ pháp của tôi lại không giống với thủ pháp của hòa thượng, nguyên nhân là thủ pháp của tôi là do Linh Sư truyền, còn hòa thượng thông thường là thầy trò truyền từ đời này đến đời kia.)

“Linh Sư, thầy chứng đạo gì?” ”Người người gọi ta là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ta lấy pháp lập đạo, chính là Thần Tiên thượng thừa.”

Linh Sư phụng chỉ truyền đạo pháp cho tôi, lúc có lúc không, tôi thu hoạch được rất nhiều lợi ích. Còn như việc bấm tay niệm chú thì cứ một lần truyền một pháp. Tôi từ một tín đồ Cơ Đốc thuộc lòng “Tân Cựu Ước Toàn Thư” bất thình lình biến thành người học đạo dưới giáo phái Tam Thanh, đây là điều mà khi rửa tội tôi có nghĩ cũng chẳng thể nghĩ được.

“Linh Sư, còn đạo Cơ Đốc thì sao?” ”Cơ Đốc chính là một phương pháp cứu thế, pháp mặc dù không giống, nhưng nguyên tắc số một của nó là độ hóa người phương tây, nếu không phải Jesus thì không thể thực hiện được sự nghiệp ấy, còn độ người phương đông là Phật giáo và Tam Thanh.” ”Thì ra là như vậy, như thế thì cũng không xung đột gì.” ”Cơ Đốc là Thượng Đế (Cha), Jesus (Con), Thánh linh, ba vị một thể. Đạo là Thượng Thanh, Ngọc Thanh, Thái Thanh, ba vị một thể. Phật là Báo thân, Ứng thân, Pháp thân ba vị một thể, con đường là như nhau, phân làm nghìn nghìn vạn vạn pháp môn thôi!”

05. Nhân duyên cúng dưỡng Quan Thế Âm Bồ Tát

Trước kia khi tôi chưa thờ tượng Phật, mẹ tôi mặc dù có đi lễ nhưng trong nhà không có một bức tượng Phật nào. Mẹ tôi đi lễ chỉ là lễ tổ tiên, người nhà tôi tuyệt đối không thể ngờ rằng vào một tương lai không xa, nhà tôi lại biến thành một Phật đường lớn, hơn nữa chỉ trong vòng vài năm, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đã xảy ra. Tôi tu tập Đạo pháp vẫn luôn tiến hành trong bí mật, không ai biết gì, đương nhiên là bao gồm cả đồng nghiệp và người nhà, đây là điều Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã dặn dò tôi, Ngài đặt cho tôi pháp hiệu là Liên Sinh.

“Linh Sư, con có thể cúng tượng Phật và lễ bái các Thánh Thần Tiên Phật không?” ”Có thể, ở đây có ẩn giấu nhân duyên lớn. Không giấu con, nhà con sau này sẽ là một Phật đường lớn đó!” ”Thờ Bồ Tát nào là tốt nhất?” ”Thấy thích là được.” - Linh Sư không trực tiếp trả lời tôi. ”Có thể thờ tượng Thần của Linh Sư không?” - Tôi nghĩ, Ngài là vị thầy ẩn hình của tôi, đương nhiên tôi muốn thờ cúng Ngài rồi. ”Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thì người đời không biết diện mạo thật của ta, trong Hoàng Đình Kinh có ẩn cái tên ấy, ẩn thân giữa trời đất, ẩn hình trong biển núi, ngày nay không có ai biết ta, làm sao mà con thờ cúng ta được? Ta sinh thói lười nhác rồi, con không cần thờ cúng ta, con thờ cúng các Thần Phật khác đi!”

“Thờ cúng Bồ Tát có công đức không?” ”Phật nói: cơm cúng trăm kẻ xấu không bằng cơm cúng một người tốt, cơm cúng nghìn người tốt không bằng cơm cúng một người giữ năm giới, cơm cúng vạn người giữ năm giới không bằng cơm cúng một vị Tu Đà Hoàn, cơm cúng trăm vạn Tu Đà Hoàn không bằng cơm cúng một vị Tư Đà Hàm, cơm cúng nghìn vạn Tư Đà Hàm không bằng cơm cúng một vị A Na Hàm, cơm cúng một trăm triệu A Na Hàm không bằng cơm cúng một vị A La Hán, cơm cúng một tỉ A La Hán không bằng cơm cúng một vị Bích Chi Phật, cơm cúng mười tỉ Bích Chi Phật không bằng cơm cúng một vị Tam Thế Chư Phật, cơm cúng một trăm tỉ Tam Thế Chư Phật không bằng cơm cúng một vị vô trụ vô tu vô chứng. Liên Sinh, cơm tức là cúng dưỡng, con có hiểu không?” ”Con hiểu.” - Tôi cung kính trả lời.

Có một lần, khi đến tòa nhà tổng hợp Đài Trung, trong một cửa hàng đồ sứ ở trên tầng hai, rất bất ngờ tôi nhìn thấy một vị Quan Thế Âm Bồ Tát nổi bật hẳn lên, vị Quan Thế Âm Bồ Tát bằng sứ này có màu xanh nhạt, hơi xám, tướng mạo trang nghiêm, ngồi trên đài hoa sen, cao khoảng tám thốn [khoảng 18cm]. Tôi vừa trông thấy thì trong lòng đã thích rồi, bèn hỏi giá. Ông chủ của cửa hàng đồ sứ đó nói: “Vị Quan Thế Âm Bồ Tát này là người ta đã từng thờ cúng rồi, bởi vì tay cầm tịnh bình nhưng tịnh bình đã bị vỡ mất, chủ nhân cho rằng không lành, cho nên gửi tôi bán. Người đó cho rằng chỉ cần có người muốn mua thôi, giá thì rất rẻ, tính anh 50 đồng đi!” ”50 đồng, chà, rẻ quá! - Tôi mua ngay không chút lưỡng lự. Tôi đem bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát về căn phòng đơn ở kí túc xá nơi tôi phục vụ, bày ở trên bàn học của tôi, nhân tiện tôi cũng mua một bát hương nhỏ bày ở trước mặt Bồ Tát, buổi tối tôi thắp một que hương, trong lòng vô cùng hoan hỉ.

Đêm ấy, trong lúc mơ mơ màng màng, tôi nhìn thấy trong một vùng đại dương mênh mông từ từ nổi lên một đóa hoa sen tuyệt đẹp, trên hoa sen có một vị Quan Thế Âm Bồ Tát pháp tướng trang nghiêm đang ngồi, từ xa đến gần, khuôn mặt Bồ Tát tươi cười, còn trên bầu trời thì đầy những áng mây ngũ sắc, trong đám mây đứng sừng sững một vị Hộ pháp Kim Giáp Thần tay cầm chày hàng ma. Sau này tôi mới hiểu đó là pháp tướng của Vi Đà Hộ Pháp Tôn Thiên Bồ Tát, tướng mạo đường đường, uy phong lẫm liệt, Vi Đà Tôn giả trong không trung hét lớn: “Liên Sinh, ta phụng pháp chỉ của Bồ Tát, Phật đường ở nhà anh sẽ có tên là “Từ Huệ Lôi Tạng Tự”, nhớ lấy, nhớ lấy.” Nói xong câu này, Vi Đà Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát đều biến mất, còn tôi lập tức tỉnh dậy, cẩn thận nhớ lại những tình cảnh trong giấc mơ, rồi lại nhìn vào Quan Thế Âm Bồ Tát mà tôi vừa mới thờ cúng hôm nay, điều khiến tôi sửng sốt là tôi phát hiện ra Quan Thế Âm Bồ Tát trong mơ và Quan Thế Âm Bồ Tát mà tôi thờ cúng không ngờ lại giống hệt nhau. Tôi leo ra khỏi giường, đến trước mặt Bồ Tát, tôi cung kính rập đầu ba lần, đúng lúc tôi đang rập đầu thì trong phòng ngào ngạt mùi thơm của gỗ đàn hương, thì ra là Linh Sư đến.

“Linh Sư, con làm đúng chưa?” ”Liên Sinh, hôm nay con thờ cúng Quan Âm Bồ Tát, sau này Bồ Tát sẽ vì nhân duyên này mà cứu con một mạng.” ”Cứu con một mạng ư?” ”Đúng vậy. Thời cơ chưa đến, không tiện nói trước.” Lời của Linh Sư quả nhiên ứng nghiệm, ở chương sau tôi sẽ nói đến, thật sự khiến người ta không rét mà run.

Trong thời gian tôi thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, chủ quản đơn vị mà tôi phục vụ là đội trưởng Trang đã từng mời bố mẹ tôi đến đội. ”Ông Lư, ông xem con trai ông, hắn hành động quái dị, trong kí túc xá mà thờ Bồ Tát, có thể nào có vấn đề gì không?” - Đội trưởng Trang hỏi. ”Chắc là không có gì đâu! Nó tín ngưỡng rất chân thành, nói chuyện rất tỉnh táo, không biết như vậy có ảnh hưởng gì đến quý đơn vị không?” - Bố tôi nói. ”Không có, nhưng mà, tôi cứ cảm thấy hắn không bình thường, có chút kì quái, chẳng ngờ hắn lại đoán tôi trung tuần tháng bảy sẽ bị điều đi Đài Bắc, hắn học xem bói từ bao giờ thế, từ bây giờ đến trung tuần tháng bảy còn cả nửa năm nữa lận!” ”Xem bói ư? Điều này ngay cả tôi cũng không biết nữa!” - Bố tôi nói.

Sự thật đã chứng minh, đội trưởng Trang vào ngày 27 tháng 7 đã được vinh dự điều đi Đài Bắc, sau sự việc ấy gặp ai ông ấy cũng nói, thần toán của Lư Thắng Ngạn vừa chuẩn vừa linh. Đội trưởng Trang tên đầy đủ là Trang Minh Thạch, người Khê Hồ, Đài Loan. Tôi tính bát quái cho đội trưởng Trang, bát quái là Linh Sư truyền thụ cho tôi. Linh Sư nói: “Đạo sau khi thái cực phân chia, thì định ra lưỡng nghi, tiếp hợp thành tứ tượng, tới phân biệt bát quái, rồi hiện ra cửu cung. Thiên, địa, lôi, phong, trạch, thủy, hỏa, sơn, trong tám tám sáu mươi tư quẻ đã bao hàm mọi huyền cơ và biến hóa, nếu con học được thì có thể thấy trước được nhân vật, sự việc, địa điểm, sự vật, mặc dù chưa hẳn đã thành Tiên, nhưng cũng không khác gì Địa Tiên đâu!”

“Linh Sư, giả dụ có người không tin thì sao?” ”Ôi! Người phúc mỏng thì kiếp trước đời này nhân duyên rất nông, cái căn tin đạo không sâu, xếp vào hạng thấp kém, nên cho dù thế nào cũng không gặp được kì duyên này. Cho dù họ có tình cờ gặp được nhân lành, mặc dù cùng nghe được chính pháp nhưng lập tức nghi hoặc, chắc chắn sinh ra tâm chướng ngại, không thể ân cần tiếp nhận và duy trì, khiến cho khó tránh được sinh lão bệnh tử, khiến tự mình chìm vào đau khổ, vĩnh viễn không có ngày thoát ra, rất đáng thương đó. Liên Sinh! Nếu như gặp những người như vậy, con cũng khó cứu độ, cứ để cho họ tự sinh tự diệt thôi!”

06. Học đạo ở núi Liên Đầu

Do Linh Sư chỉ dẫn, tôi đã đến núi Liên Đầu bái Thanh Chân Đạo trưởng làm thầy. Đạo gia có một nghi thức quy y gọi là “qua công đức”, thế là dưới sự dạy dỗ của thầy Thanh Chân Đạo trưởng của tôi, tôi đã qua được công đức, chính thức trở thành một người tu Đạo. Có lẽ độc giả sẽ khó hiểu, ở Đài Loan nhiều núi và sông nổi tiếng như vậy, nhưng vì sao không có ngọn núi nào tên là núi Liên Đầu? Trên thực tế núi Liên Đầu này chỉ là tên riêng của một ngọn núi trong số các ngọn núi lớn, không có nhiều người biết đến.

Thanh Chân Đạo trưởng là người xuất xứ từ trong đất liền, ngoài 80 tuổi, từ sớm đã học Đạo ở núi Thanh Thành, nhà tục mang họ Trương, cùng họ với Trương Thiên Sư. Sau khi đến Đài Loan thì thầy liên tục ẩn cư không rời núi, trên cả một quả núi chỉ có một căn nhà lá, một con người, mấy mảnh ruộng núi, bên trong nhà lá thờ phụng tượng Tam Thanh. Theo như Linh Sư kể với tôi: “Thanh Chân Đạo trưởng đã không còn là phàm thai, thế nhân không biết diện mạo thật của ngài, tu chân dưỡng tính 50 năm, những bí quyết tâm linh từ lâu đã hiểu rõ, ban đêm có thuật xuất thần. Con bái ông ấy làm thầy thì tuyệt đối không sai đâu. Mặc dù ông ấy không thích nhận đồ đệ, nhưng nếu con đi, ông ấy không nhận không được. Lục giáp thần thuật trong bụng ông ấy nếu truyền thụ tiếp thì sẽ bổ ích cho con lắm.”

Lần đầu tiên gặp Thanh Chân Đạo trưởng, thầy ấy ti hí hai mắt hỏi: “Đến đây có việc gì?” ”Do Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh chỉ dẫn, Liên Sinh đặc biệt đến đây cầu minh sư.” - Hai chân tôi vừa quỳ xuống thì đầu cũng rập xuống đất. ”Bát tự của anh thế nào?” ”Sinh vào giờ Ngọ ngày 18 tháng 5 năm Ất Dậu.” Vị Thanh Chân Đạo trưởng kia giật nảy mình, ấp úng nói: “Thì ra anh sinh cùng giờ cùng ngày cùng tháng với Tổ sư gia Trương Thiên Sư. Đứng dậy, đứng dậy, mau đứng dậy đi, đừng có lạy tôi nữa, tôi biết anh rồi, tôi nhận ra anh rồi.”

Nói ra cũng kì lạ, tôi và Thanh Chân Đạo trưởng dường như đã từng gặp mặt. Tôi nghĩ ngợi, ngẫm nghĩ rất lâu, đột nhiên tôi đã tỉnh ngộ, Thanh Chân Đạo trưởng chẳng phải chính là vị Đạo trưởng có hẹn với tôi mà tôi đã gặp trong giấc mơ đầu tiên của tôi sao? Đạo trưởng từng dùng phất trần đánh vào đầu tôi, còn thầy tôi Thanh Chân Đạo trưởng cũng có một cây phất trần. Tôi kể với thầy giấc mơ kì lạ đó của tôi, thầy ấy cười vang ha ha và không nói gì.

Thầy tôi truyền thụ Đạo pháp, chú trọng đến phương diện phù chú đan đỉnh. Thuật phù lục của tôi đại bộ phận đều do thầy truyền thụ cho tôi, chú ngữ là do Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ. Thuật đan đỉnh có liên quan với Cố bản phản nguyên, đều là bí thuật trong đại pháp Cửu chuyển huyền công. Thanh Chân Đạo trưởng dạy tôi một câu khẩu quyết: “Đại đạo nghịch chuyển, ai đắc được nghịch chuyển, chính là Đại La Tiên.”

Thầy nói: “Liên Sinh, cố bản là trở lại diện mạo vốn có, tinh khí thần thất tán từ chỗ nào thì phải thu về từ chỗ đó. Việc thoát khỏi lớp vỏ và bay lên không hề là mê tín, cũng không hề là chuyện không thể, có vẻ là thần thoại, kì thực không phải là giả, cái này chính là sự tu luyện linh thể, phàm phu làm sao có thể hiểu được chứ!”

Tôi học tập Đạo pháp không phải là trọn cả năm cả tháng sống tại núi Liên Đầu, mà là vào thời gian nghỉ phép tôi mới đi. Tôi là một người sống trong trần tục, không cách nào toàn tâm toàn ý đặt toàn bộ thân tâm mình vào phương diện này. Mặc dù như vậy nhưng tôi học rất nghiêm túc. Thanh Chân Đạo trưởng cổ vũ tôi nhất định phải học cho tốt để biết ứng dụng, để dùng vào việc cứu đời cứu người sau này, đồng thời phải phá bỏ những thần côn tả đạo tà ác, mượn danh nghĩa Tiên Phật để lừa tiền gạt sắc, và ngăn chặn những mị pháp tà thuật, truyền thụ thần chú hộ thân kim cang bất hoại cho tôi, vì tôi mà giảng giải rất nhiều Đạo pháp.

Thầy tôi nói: “Cứu độ muôn sinh trong thiên hạ phải phát đại từ bi, tuyên truyền rộng rãi chính giáo ngay từ lúc này. Để cho các thiên hạ và đời tương lai đều được truyền bá giáo pháp, khiến cho những gì chúng sinh chưa thấy thì được nhìn thấy, những gì chưa nghe thấy thì được nghe thấy, tam thiên đại thiên thế giới và các chúng sinh, các thế hệ Thánh hiền vì việc truyền pháp của con mà hiểu rõ bản tính của mình, còn những hạng ngu muội hồ đồ thì đều vì con truyền chính giáo mà có thể hiểu ra.” Lại nói: “Giữa trời đất đã có chính khí tồn tại thì sẽ không còn phải đi nghĩ sự tồn tại của tà khí nữa, bởi vì sự tồn tại của tà pháp tà khí chính là vì chính khí không thịnh hành nên tà khí mới thừa cơ mà đi vào, nếu chính khí lưu hành thì tà khí đều bị đẩy lùi. Phàm là người tu đạo đều nên thấy như vậy. Cái gọi là tu đạo là con người nhận khí của trời đất mà sinh ra, không thể có chính mà vô tà, nên phải khiến cho tà khí tiêu tán, chính khí thường tồn, lấy việc tu đạo vô thượng chí chân thì không có chuyện ta phải chịu cái hại này, đắc được pháp sống lâu không chết, cũng chính là có thể đắc đạo rồi.”

Thầy tôi hỏi tôi: ”Liên Sinh, con có muốn biết thuật thần toán quá khứ vị lai không?” ”Con muốn.” ”Một bộ kinh Hoàng Cực, nếu con nghiên cứu sâu, ta lại truyền cho con “linh cơ thần toán”, việc trong thiên hạ con sẽ nắm chắc trong lòng bàn tay.”

Thanh Chân Đạo trưởng đã đánh thức tôi từ một thân thể máu thịt của kẻ phàm phu tục tử để nhận ra linh mệnh vốn có trên người tôi. Linh mệnh này vốn là thật, chỉ là khi nó ra khỏi thai mẹ thì đã bị nhốt kín lại trong nhục thể này, trở thành một linh mệnh chết, cho đến tận khi nhục thể này chết đi thì linh mệnh mới có thể hiển hiện ra. Linh mệnh là thật, nhục thể là giả, linh mệnh này chính là linh hồn mà người bình thường vẫn gọi.

Nói ra thì rất kì lạ, nhưng linh hồn của một con người nếu tỉnh lại thì người này sẽ nhờ tác dụng của linh hồn của mình mà có thể thấy được một số Thần, người, ma quỷ của linh giới, có người chỉ có cảm giác, có người thì có thể nhìn thấy bằng mắt (con mắt âm dương), có người thì có thể nghe thấy (tai quỷ thần). Và ứng dụng tác dụng linh hoạt của linh hồn có thể mượn linh bên ngoài để dự đoán việc chưa phát sinh trong tương lai, việc đã xảy ra trong quá khứ. Sự ứng dụng linh cơ này để biết quá khứ vị lai chính là thần toán. Công dụng này không hề giống với Bát tự, Tứ trụ suy mệnh, tướng tay, tướng mặt, sờ xương, Kì môn độn giáp thông thường.

Người có thể linh cơ thần toán không nhiều, bởi vì người linh cơ thần toán, đầu tiên phải có điều kiện - là “hoạt linh”. Những thường thức này vào chương sau tôi sẽ lần lượt giải thích rõ ràng.

07. Lần đầu tiên hiển thần thông

Năm Dân Quốc 59 [năm 1960], ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch, đó là ngày đản sinh của Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung diễn hai vở kịch, trụ trì của Ngọc Hoàng Cung là Thích Huệ Linh còn tổ chức tượng Thần của Ngọc Hoàng Đại Đế xuất tuần, tượng Thần của các chùa lớn chùa nhỏ trong toàn thành phố đều đi theo hộ tuần, cảnh tượng vô cùng náo nhiệt. Những nơi mà kiệu Thần đi qua đều có tiếng pháo nổ “đùng đoàng tạch tạch”, người người nhà nhà cầm hương kính cẩn nghênh đón và cung tiễn. Lại có rất nhiều tín đồ kiền thành cầm hương đi theo để cổ vũ, tượng Thần trang nghiêm ngồi bên trong kiệu được tín đồ khênh trên cao.

Ngọc Hoàng Đại Đế xuất tuần trở về chùa, trong chùa, tượng Thần được thờ ở chính giữa, bên trái là Đạo Đức Thiên Tôn Thái Thượng Lão Quân, bên phải là Vô Cực Chí Tôn Diêu Trì Kim Mẫu. Người dâng hương chen chúc nhau, khắp bên trong chùa khói hương vấn vít, đâu đâu cũng là khói. Đúng lúc người người đang thắp hương lễ bái, đột nhiên có một người phụ nữ mũ áo xộc xệch, miệng sùi bọt mép, hai tay khua loạn lên, quỳ trên mặt đất, liên tục hướng về Ngọc Hoàng Đại Đế kêu oan ức, yêu cầu Ngọc Hoàng Đại Đế đòi lại tính mạng cho bà, bộ dạng của bà giống như người bị bệnh thần kinh vậy.

Bởi vì người phụ nữ điên khùng này đột ngột xuất hiện nên trong chùa bỗng chốc đại loạn, người người vây xung quanh người phụ nữ điên này để xem. Người phụ nữ điên ra sức kêu gào: “Trả lại mạng sống cho tao, tao đã thỉnh cầu Ngọc Hoàng Đại Đế rồi, trả lại mạng sống cho tao đi! Ha ha! Mày đã hại tao, tao muốn mày bồi thường, cầu xin Thần minh để cho tôi siêu sinh đi! Trả lại mạng cho tôi, bằng không oan khí của tôi khó tiêu, oan khí khó tiêu đấy, ha ha! Hi hi! Khổ quá đi! Số tôi khổ quá đi! Không tha cho mày, không thể tha cho mày!”

Trụ trì Thích Huệ Linh đứng ngây ra bên cạnh bà ta, ông ấy đã bẩm báo với Ngọc Hoàng Đại Đế rồi, nhưng người phụ nữ điên vẫn cứ ngang ngược ngồi trên mặt đất, không hề có biểu hiện tỉnh lại. Không chỉ như vậy, người phụ nữ điên còn điên khùng hơn nữa, hất hết cả hương đèn quả cúng trên bàn của Thần, toàn bộ đều rơi xuống đất kêu “xủng xẻng”. Có người trong đám đông tiến lên phía trước túm lấy bà ta, còn chưa túm được thì đã bị bà ta tiện tay cào cấu loạn xạ, cào rách cả da, ai nấy đều bó tay không biết làm sao. Lúc này mọi người vây xung quanh xem không biết phải làm thế nào mới được. Người trong chùa vốn đã rất đông, người bên ngoài chùa càng đông hơn, họ lũ lượt chen vào trong chùa để xem cảnh tượng ấy, người càng chen càng đông, nhưng chẳng một ai có cách gì giải quyết.

Lúc này trong đám người có một người đàn ông cao to bước ra, những người biết ông ta đều hét lên: “Tốt rồi, tốt rồi, pháp sư của chùa Cửu Thiên đến rồi.” Thì ra người này họ Tiền, là kê đồng của Thái Tử Nguyên Soái chùa Cửu Thiên. Chỉ thấy người này bước nhanh về phía trước, trên tay cầm một bát nước, tay trái bắt kiếm quyết, đưa bát lên mồm, “phù” một tiếng, phun ra một ngụm nước và hét lên: “Hách hách dương dương, nhật xuất đông phương, khẩu thổ tam muội chân thủy, phổ tảo bất tường.” [Ý nghĩa: mặt trời chói lọi, mọc ở đằng đông, miệng nhổ ra chân thủy tam muội, quét hết mọi điều chẳng lành.] Chỉ thấy người phụ nữ điên kia trở nên im lặng, hai mắt tròn xoe, hét lên với đại pháp sư họ Tiền kia: “Ông dám can thiệp vào chuyện của tôi?” Rồi bà ta đưa tay túm lấy pháp sư với một sức mạnh ghê gớm, đại pháp sư họ Tiền liên tục phun ra mấy ngụm nước, không những không có công hiệu gì mà ngược lại còn bị người phụ nữ điên dùng tay cào cho mấy chỗ, máu tươi ứa ra. Đại pháp sư liên tục ra dấu kiếm quyết, liên tục hét: “Thái Tử Nguyên Soái cấp cấp lệnh, Thái Tử Nguyên Soái cấp cấp lệnh.” Nhưng chỉ thấy người phụ nữ điên càng điên hơn, hai tay khua khoắng, đám người vây thành một vòng tròn vội vàng lùi về phía sau. Đại pháp sư họ Tiền liên tục thở dốc, ông ta đã phí sức mà chẳng có công hiệu gì, lắc đầu nói với trụ trì Thích Huệ Linh: “Ma nhập vào người phụ nữ này, pháp lực quá mạnh, tôi không phải là đối thủ.”

Đúng vào lúc này, mẹ tôi và tôi vừa bắt kịp cảnh náo nhiệt này, tôi nói với mẹ tôi: “Việc này dễ giải quyết, để con làm cho!” Khi ấy tôi mới 26 tuổi, mẹ tôi nghe tôi nói muốn đi ngăn chặn người phụ nữ điên này thì kinh hãi đến mức mặt mày biến sắc: “Con không đi được, không được đâu, không được đâu.” Thế nhưng vì tôi tự tin có thể chắc chắn thành công nên cởi phăng cái áo tây trên người, sải bước đi đến trước mặt người phụ nữ điên. Hai tay tôi chắp lại, niệm thầm thần chú Kim cang bất hoại hộ thân.

“Anh là loại người nào đây, dám quản chuyện của tôi sao?” - Hai tay người phụ nữ điên buông thõng xuống, bình tĩnh hỏi. ”Tôi là Liên Sinh, đồ đệ của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, đặc biệt đến để khuyên bà dừng ngay oan khí này, oan gia nên giải không nên kết, oan oan tương báo đến khi nào dứt, bà cầu Ngọc Hoàng báo thù thay bà cũng được, nhưng sao có thể ảnh hưởng đến đại hội của chùa đường chứ?” ”Kiếp trước tôi chính là bị người phụ nữ này làm hại, nay tôi nhập vào người bà ta, cầu Ngọc Đế báo thù rửa hận. Đúng lúc gặp Ngọc Đế xuất tuần, cơ hội khó gặp, đây là để xả nỗi bất bình của tôi, anh bớt lo chuyện của tôi đi, tôi kính trọng anh là người tu đạo, không đấu với anh.” ”Này người bạn, thử nghĩ xem, nếu tôi có thể siêu độ cho bà, bà có sẵn lòng dừng ngay sự quấy nhiễu vĩnh viễn không có cách nào giải quyết này được không?” ”Anh có thể sao?” - Người phụ nữ điên phát ra điệu cười điên khùng, mọi người cũng toát mồ hôi thay cho tôi.

Thế rồi tôi phụng thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát làm chứng cho tôi, niệm thầm đại pháp Tiên thiên vô cực bát nhã siêu độ, tôi đi nhiễu quanh người phụ nữ điên theo chiều bên trái 33 vòng, theo chiều bên phải 33 vòng, tay bắt ấn Độ vong, liên tục thay đổi thủ quyết, đây chính là pháp mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạy tôi, lần đầu tiên tôi sử dụng, không biết có công hiệu không. Đương nhiên lòng bàn tay tôi cũng đổ mồ hôi, tim tôi liên tục đập “thình thịch”. Điều kì lạ là người phụ nữ điên kia từ từ khép đôi mắt tóe lửa lại, hai tay cũng không khua loạn lên nữa, miệng cũng im bặt, đợi đến khi tôi niệm xong thì bà ấy cũng tỉnh lại, từ lúc đó oan hồn kia đã rời khỏi thân thể của bà ấy rồi.

Sau khi bà ấy tỉnh dậy thì hét lên: “Sao tôi lại ở đây?” Xung quanh nổ ra những tiếng vỗ tay vang như sấm, đồng thời rất nhiều người vây quanh tôi hỏi: “Sao anh lại làm được như vậy?” Theo như hàng xóm của người phụ nữ điên này kể thì bà ấy đã bị điên ròng rã 9 năm rồi, các thầy thuốc đều bó tay, hôm nay là lần đầu tiên bà ấy tỉnh lại, nhà ở gần miếu Thành Hoàng, cuối cùng thì lần này bệnh điên đã được chữa khỏi rồi.

Khi ấy, trong lòng tôi rất cảm kích Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, nếu như không có Linh Sư dạy tôi, làm sao tôi biết được đại pháp Tiên thiên vô cực bát nhã siêu độ chứ! Hơn nữa lần thực nghiệm đầu tiên quả nhiên đã ứng nghiệm rồi, tôi thật sự sướng đến mức nhảy nhót tung tăng, mẹ tôi cũng vui mừng cho tôi.

Thế nhưng, nói ra thì cũng thấy đáng tiếc, đại pháp sư họ Tiền kia nét mặt không nhịn được cơn giận, ông ta nói với trụ trì: “Trận đấu pháp này là nhờ công lực của pháp lực thần thông Thái Tử Nguyên Soái, người kia chẳng qua chỉ là bám theo đuôi thôi, hưởng được chút lợi. Ờ, cứ tưởng tùy tiện kết thủ quyết mà oan hồn liền bỏ đi à! Hứ, vẫn là Tam muội chân thủy của tôi lợi hại.”

Đương nhiên, tôi chẳng đi tranh công lao vô nghĩa này, nhưng nó khiến trong lòng tôi cảm thấy cực kì ghê tởm cái loại người hư danh đáng khinh bỉ. Thậm chí, đồ đệ của đại pháp sư họ Tiền tìm đến tôi hỏi: “Tiểu tử, cậu thì hiểu cái gì chứ? Biết cái gì chứ? Chúng ta thi đấu thử xem.” Hỡi ơi! Hỡi ơi! Lòng người thối tha như vậy, tôi dần dần cảm thấy mất lòng tin vào nhân loại. Tôi nghĩ đến thầy Thanh Chân Đạo trưởng của tôi, vì sao mà một mình sống đơn độc trong núi sâu, có bản lĩnh đầy mình nhưng không đem ra để cứu đời độ người, vì sao mà lại muốn tự mình ngộ chân đạo, tự mình hưởng thụ một mình mà không độ chúng sinh.

08. Đi đến Bành Hồ hỏi Thành Hoàng

Nhận được mệnh lệnh của đơn vị, phó đội trưởng đội trắc lượng Ngụy Thanh Bình và tôi phải đáp chuyến bay của hãng hàng không Viễn Đông bay đến Bành Hồ để đo đạc một khu căn cứ. Ngụy Thanh Bình phu nhân là bà Tiêu Phượng Hoàng, Ngụy phu nhân thuần tin Quan Thế Âm Bồ Tát, còn bản thân Ngụy Thanh Bình thì là người chẳng tin cái gì cả. Còn tôi, trong đội trắc lượng ai cũng biết tôi tin Thần bái Phật. Khi đang ngồi trên máy bay, Ngụy Thanh Bình tò mò hỏi tôi: ”Nghe nói cậu rất tin Phật?” ”Vâng! Còn anh?” ”Tôi à, tôi cái gì cũng không tin, tôi chỉ cảm thấy làm người chỉ cần làm người ngay thẳng, nửa đêm có tiếng gõ cửa cũng chẳng kinh sợ, không có lỗi với lương tâm là được. Trước đây có người truyền giáo cho tôi, tôi nghe được mấy lần, nhưng mà khuyên người ta tin theo tôn giáo thì sẽ chỉ được cứu mà thôi, Cơ Đốc giáo, Phật giáo cũng đều giống nhau hết. Vợ tôi muốn tôi bái Quan Thế Âm Bồ Tát, tôi tôn kính là được, hà tất phải cầm hương rồi lại còn khấu đầu nữa, phiền phức chết đi được.” ”Phó đội trưởng, lời của anh không sai, ai ai cũng đều có thiện tâm như anh thì tốt quá rồi, nhưng mà có lẽ có một số người có thể lĩnh hội được chân linh của Bồ Tát đó!”

“Cậu nói đến thần toán dự đoán tương lai ấy à, ha ha! Nếu tôi không tận mắt nhìn thấy thì tôi không tin, nghe người ta nói cậu biết linh cơ thần toán, nhưng mà tôi vẫn luôn không tin, trừ phi cậu biểu diễn cho tôi xem. Có lẽ cậu sẽ cảm thấy tôi rất cố chấp, nhưng sự thật có thể chứng minh được tất cả, giả dụ cậu thật sự có thể dự đoán được chính xác thì có lẽ nói không chừng tôi sẽ biến thành một tín đồ Phật giáo đó.”

Máy bay cất cánh từ sân bay Thủy Nam, khi đến vùng trời của sân bay Mã Công ở Bành Hồ thì cũng chỉ mất có 30 phút ngắn ngủi mà thôi. Máy bay bay quanh quẩn trên bầu trời của sân bay Mã Công, ở Bành hồ gió cát mạnh, tôi từ trên máy bay nhìn xuống, trông thấy biển xanh lam cuộn lên những đợt sóng trắng xóa vỗ vào bãi cát, cảnh sắc đẹp cực kì. Không lâu sau, máy bay đã trượt trên đường băng. Buổi tối cùng ngày, tôi và phó đội trưởng ở tại khách sạn lớn Văn Thạch. Khách sạn Văn Thạch không thể xem là khách sạn nhỏ, có tiếng gió biển gào thét, nghe người gác cổng khách sạn nói Bành Hồ gần như ngày nào cũng như vậy. Đặc sản ở địa phương này có lạc, lạc ở Bành Hồ đặc biệt to, cá mực khô, khoáng thạch aragonite, v.v… Tôi và phó đội trưởng đi dạo một vòng Bành Hồ, lúc này tôi mới biết, phó đội trưởng từng sống tại Bành Hồ, thậm chí Ngụy phu nhân cũng từng sống tại Bành Hồ, Ngụy phu nhân từng cầu nguyện tại đình Quan Âm, bởi vì năm đó sức khỏe bà ấy không tốt.

Trở về khách sạn, mới 9 giờ tối, đi ngủ thì quá sớm, đi chơi thì không có chỗ nào để đi, lúc này phó đội trưởng Ngụy thò tay vào trong túi áo lấy ra một nắm tiền lẻ (tiền xu của Đài Loan), úp tay lại và đưa đến trước mặt tôi nói: “Để tôi thử xem linh cơ thần toán của cậu có chuẩn hay không. Cậu đoán xem trong tay tôi có mấy đồng xu, đoán trúng thì tôi tin Phật, đoán không trúng thì cậu mời tôi đi xem một bộ phim ở rạp Long Cung, thế nào, thử đi!”

Anh ta đột nhiên lại đến thăm dò khiến tôi cảm giác kinh ngạc, tôi không thích người ta thăm dò Thần linh một cách khinh thường, nhưng lại không thể không ứng phó với kiểu thăm dò này. Tôi tĩnh tâm lại, để cho linh mệnh sống dậy vận hành ra ngoài, chắp tay niệm thầm: “Đệ tử Liên Sinh, nay phụng lệnh Tiên thiên vô cực chính pháp, cung thỉnh các Thần linh các cõi qua lại, có việc muốn cầu nên cầu giáng linh.” Trong tâm tôi cung thỉnh nhiều lần, không lâu sau quả nhiên trong không trung có một Thần linh đi tới, chỉ thấy màu sắc y phục tươi sáng, tỏa nghìn tia sáng cát tường, thân mặc long bào, đầu đội mũ ô sa, tướng mạo đường đường. Đương nhiên, trong không trung có Thần linh đến, phó đội trưởng với đôi mắt phàm hiển nhiên không nhìn thấy được. Còn tôi trong khoảng thời gian này, Thần quỷ thông thường tôi đều nhìn thấy, trừ Tiên Phật ở cõi Vô sắc giới trở lên là tôi không nhìn thấy, ví dụ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh tôi không nhìn thấy, còn Thần có chức vụ thì tôi vẫn nhìn thấy được.

“Thần ta là Thành Hoàng Bành Hồ, không biết pháp sư dùng chính pháp thỉnh đến có gì căn dặn?” ”Phải làm phiền ngài như thế này tôi thật sự thấy áy náy, nhưng vì phó đội trưởng dùng tay cầm tiền xu muốn thăm dò tôi, tôi muốn trả lời, nên phiền ngài xem xét rõ có được không?” - Trong lòng tôi nghĩ, việc nhỏ như hạt vừng này mà phải làm phiền đến Thành Hoàng Tôn Thần của Bành Hồ thì Thành Hoàng Bành Hồ nhất định sẽ trách tôi một phen. ”Thành Hoàng, nếu trả lời chính xác thì sẽ dẫn được người này tin Phật, công đức cực lớn, không phải là trò chơi trẻ con, chỉ cầu xin ngài một lần thôi, lần sau tôi không dám nữa.” ”Có 14 đồng.” - Thành Hoàng lắc người một cái rồi đi mất.

Tôi đáp: “Có 14 đồng xu Đài Loan.” Phó đội trưởng Ngụy Thanh Bình xòe bàn tay ra, đếm lần lượt từng đồng xu, ngay cả chính bản thân ông ấy cũng không biết có bao nhiêu. Khi đếm đến đồng thứ 13, trên tay vẫn còn một đồng nữa, vậy chẳng phải là 14 đồng xu thì là cái gì? Phó đội trưởng ngó tôi nói: “Kì lạ, thật là chuẩn xác như vậy sao?” Ông ấy nói: “Hôm nay điều tôi nói ra rồi thì chắc chắn sẽ làm, tôi tin rồi, đợi khi chúng ta có thời gian rảnh, tôi sẽ đưa cậu đi thăm hết các chùa ở Bành Hồ, đồng thời thực hiện ý nguyện mà vợ tôi đã hứa, tôi sẽ thay bà ấy tạ lễ.”

Phó đội trưởng Ngụy quả nhiên là người uy tín, khi chúng tôi hoàn tất công việc, ông ấy đã dẫn tôi đi tham bái các ngôi chùa ở Bành Hồ, bao gồm: đình Quan Âm, cung Nam Bình, cung Hải Linh, miếu Ma Tổ, miếu Thông Lương Khang Phủ Vương Gia, miếu Âm Dương, miếu Hứa Chân Quân, cung Bảo Linh, cuối cùng là đến miếu Thành Hoàng. Đúng lúc trong miếu Thành Hoàng có người tụng kinh, Thành Hoàng Bành Hồ ngồi cao trên bàn thờ Thần, nay thấy chúng tôi đi vào thì vội vàng xuống khỏi ghế, nói: “Thì ra anh là đệ tử Liên Sinh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, chả trách mà chú pháp triệu thỉnh của anh là Tiên thiên vô cực chính pháp, thất kính thất kính!”

“Không dám, không dám, lần trước được trợ giúp nên tôi đặc biệt đến bái tạ, nay phó đội trưởng đã quy y cửa Phật rồi, sau này nếu thành Phật thì ngài cũng là một đại công thần đấy!” ”Nào dám, nào dám!” - Thành Hoàng đối với chúng tôi vô cùng khách khí. Tôi nhìn thấy hai con ma nhỏ ở hai bên nháy mắt với tôi.

Sau khi Ngụy Thanh Bình trở về Đài Trung thì thay đổi hẳn thái độ, sùng tín Phật giáo, đã in nghìn cuốn Bạch Y Quan Âm Thần Chú, rồi lại in nghìn cuốn Chú Lăng Nghiêm, tặng miễn phí cho người ta đọc. Trong nhà thì thờ tượng Thần Phật Bồ Tát do tác giả đích thân khai quang điểm nhãn. Ông ấy đã sinh được ba người con trai, vợ ông mang thai chỉ cầu một đứa con gái, quả nhiên sinh được một thiên kim phúc đức viên mãn. Ông ấy vui mừng khôn xiết, sức khỏe của vợ ông cũng ngày càng khỏe mạnh. Cuối cùng ông ấy còn sùng tín vượt cả vợ mình.

Sự sùng tín của Ngụy Thanh Bình kiền thành như vậy, đương nhiên có liên quan đến linh cơ thần toán của tôi, đồng thời tôi cũng dạy ông ấy luyện tập ngồi thiền, đánh thức linh mệnh trên người mình tỉnh dậy, giờ đây phó đội trưởng Ngụy cũng có một ít sức mạnh thông linh. Khi ông ấy đi ra ngoài công tác từng gặp Thổ Địa Công Công báo cáo với ông ấy tin tức trong nhà, cũng linh nghiệm cực kì.

Bạn ạ, nếu bạn không tin, xin đến Đài Trung Nam Môn Kiều, gần đài phát thanh Nông Dân tìm đến Ngụy Thanh Bình, nhà của phó đội trưởng Ngụy ở gần đài phát thanh, chỉ cần hỏi là biết ngay thật giả. Nếu còn vẫn không tin, xin hãy xem cuốn sách này như truyện thần thoại, tôi cũng chẳng có cách nào, hết cách rồi!

09. Trên núi Trúc Nam có Tiên gia

Tại địa phương Trúc Nam, gần kề vùng Hương Sơn có một ngọn núi tên là núi Tiêm Bút. Trên núi Tiêm Bút có khoảng 50 hộ gia đình sinh sống, đại bộ phận là làm đặc sản miền núi. Tôi từng đo đạc ở địa phương này, khi ấy tôi mang theo một người phụ tá, người phụ tá này họ Hoàng tên Xuân Phong. Tôi với phụ tá Hoàng ở nhờ trong lô-cốt của bộ đội phòng thủ trên biển. Chúng tôi trở nên rất thân thiết với những hộ gia đình sống trong núi, người dân thường tỏ ra kính trọng và luôn tự hào khi mời khách. Ở trong núi chỉ có những bộ đội bảo vệ biển này thôi.

Lần đó là ngôi miếu Úc Đại Nhân mở tiệc khánh thành, kết quả là tôi và Hoàng Xuân Phong được lôi đi làm người tiếp khách, các gia đình trên núi mời khách, sự hoành tráng thật sự khiến người ta sửng sốt. Có người mời 30 mâm cỗ, người nào mời ít nhất thì cũng 5 mâm, cá thịt đề huề trên bàn, giữa buổi mọi người nói cười vui vẻ, chủ nhân cực kì hiếu khách, liên tiếp mời chúng tôi uống rượu, kính rượu. Trong bữa có một ông lão đột nhiên thở dài thườn thượt nói: ”Phong thủy ở núi này ban đầu không tệ, tiếc là…” ”Tiếc là thân rồng đã bị đứt thành hai đoạn.” - Tôi nói tiếp. Ông lão tròn mắt ngạc nhiên nói: “Cậu thanh niên, cậu hiểu địa lí à?” Tôi chỉ vào chỗ trũng ở phía trước ngọn núi nói: ”Cái huyệt này tên là Song long triều dương, theo lí mà nói thì vào thời cổ đại sẽ xuất hiện một quý nhân vương công nhị phẩm trở lên, nhưng mà các công ty gạch ngói đã khai thác đất để làm gạch nên đã phá mất địa lí nhân kiệt rất tốt rồi. Sau việc ấy lại phát hiện ra chất đất ở đây không thích hợp để làm gạch đỏ, nên ngày nay mới để lại cái hố lõm trong núi rất to này, đúng không ạ? Bởi vì long huyệt đã bị phá vỡ, khí theo thế mà đi, giờ đây trên núi mới xây ngôi miếu Úc Đại Nhân, như bây giờ ngôi miếu này vừa hay lại nằm trên đường mà thế khí đi qua, mượn linh lực của ngôi miếu này để chặn sự tán loạn chân khí của long huyệt, cháu thấy hôm nay mục đích mà mọi người mở tiệc to như vậy cũng chính là điều này.”

Ông lão nói: ”Bái phục, bái phục, chú em, cậu là môn đệ của ai? Tôi học địa lí 40 năm, là môn đệ của Tam Nguyên Đường ở Phúc Kiến mà ra, người có thể biết rõ linh khí của đất này chỉ có mình lão phu này thôi, không ngờ huyền cơ tôi xây dựng ngôi miếu Úc Đại Nhân này mà cậu cũng nhìn ra được, thật sự là rất không đơn giản. Hãy nói cho tôi biết cậu là môn đệ của ai?” ”Người dạy địa lí cho cháu là Thanh Chân Đạo trưởng, đạo nhân học đạo trên núi Thanh Thành.” - Tôi nói. ”Thanh Chân Đạo trưởng? Chưa từng nghe qua.” - Ông lão lắc đầu. ”Thanh Chân Đạo trưởng chỉ là một người tu đạo thầm lặng, chưa từng xem phong thủy địa lí cho người ta, không bôn ba trong xã hội, do vậy không ai biết.” - Tôi giải thích thay sư phụ mình. Ông lão nói: ”Thế này đi! Cậu thay tôi xem xem ngôi miếu Úc Đại Nhân này xây dựng như thế nào?”

Ông lão không để cho tôi phân trần đã kéo tôi đi đến trước miếu để quan sát. Hoàng Xuân Phong và mấy người làng cũng đi theo. Tôi cẩn thận quan sát trước và sau miếu một lượt, ngôi miếu này không lớn, khoảng gấp năm lần miếu Thổ Địa Công mà thôi. Tượng kim thân của Úc Đại Nhân thì chỉ cao tám thốn [khoảng 18cm], ngoài ra còn thờ hai vị Thần mà tôi không biết tên. Cái tên gọi Úc Đại Nhân là người như thế nào, tôi cũng không biết, nhưng tôi nhìn một lúc thì nói: “Bát quái trên lư vàng treo ngược, miếu có ba cửa, bảy cây cột trụ, ngũ doanh ở giữa đường (ngũ doanh tức là năm đoàn binh mã). Cháu nghĩ đây là lợi dụng uy linh của binh mã ngũ doanh, cộng thêm toàn bộ uy lực của bảy cột trụ thần trong miếu, mở ra ba cửa ở giữa và ở dưới, dùng hồ lô bát quái treo ngược để hút toàn bộ địa linh thất tán vào.”

Ông lão lúc này kinh ngạc đến nỗi không nói được gì, một lúc sau mới nói: ”Lẽ nào cậu cũng học hết cả Địa Linh Kinh sao?” ”Cái gì là Địa Linh Kinh ạ?” - Tôi thật sự không biết. ”Địa Linh Kinh là báu vật thiên hạ, mỗi thầy địa lí nghiên cứu địa lí đều mơ có được những tri thức được ghi chép trong bộ sách đó. Tôi đã bán sạch ruộng đất mà tôi có, đến Tam Nguyên Đường ở Phúc Kiến học được một chút sơ sơ bên ngoài. Thanh Chân Đạo trưởng là nhân vật thế nào vậy? Ông ấy đã truyền những thứ bất truyền trong thiên hạ cho cậu, cậu trả ông ấy bao nhiêu tiền học phí?” ”Cháu chẳng tốn đồng nào!” ”Cậu lừa tôi.” ”Cháu không lừa cụ. Thật đó!” - Tôi thành thật nói. ”Vậy cậu xem xem, miếu Úc Đại Nhân này khi nào linh lực sẽ tăng trưởng lớn và nổi tiếng khắp xa gần?” Tôi xem bát quái đồ trên triều đình, tôi nói: ”Không quá 12 năm.” ”Chú em, tôi bái phục cậu, không sai, trên bát quái tôi đã ấn 12 cung. Nếu cậu xem địa lí phong thủy cho người ta, chỉ cần tìm được khách hàng biết phân biệt hàng tốt xấu, thì đời này của cậu chẳng phải lo cơm ăn chỗ ở, đồng thời còn có thể phát đại tài nữa. Tôi thấy tuổi tác cậu còn nhỏ thế này mà nhãn quang lại sắc bén như vậy, trong tương lai không xa nhất định có thành tựu lớn, điều này là chắc chắn đó.” ”Xin hỏi lão tiên sinh, Úc Đại Nhân là người thế nào đây?” - Tôi thấy thắc mắc vì sao lại lấy tượng kim thân Úc Đại Nhân đặt ở vị trí thượng tọa, nhưng mà lại không có linh Tiên giáng xuống trên kim thân. ”Cậu nhìn ra rồi à? Ở đây không tiện nói.” - Ông lão kéo tay tôi, lôi đến một khu rừng gần đó. ”Úc Đại Nhân chính là tôi.” - Ông lão nghiêm túc nói. ”Thì ra là vậy.” - Tôi gật gật đầu, im lặng không nói gì.

Ông lão này đã ấn sinh thần bát tự của mình trên bát quái đồ trưng bày trong miếu, bỏ lông tóc móng tay vào trong tượng kim thân của vị Úc Đại Nhân kia, tính mạng ông lão trong vòng 12 năm chắc chắn sẽ kết thúc. Ông lão tự dự đoán mình không sống được quá 12 năm, sau khi chết, linh hồn có thể gửi gắm trong ngôi miếu này, nương dựa vào kim thân để nhận khói hương của nhân loại muôn đời, trở thành Thần Tiên Úc Đại Nhân uy linh hiển hách của núi Tiêm Bút.

Đây là một pháp kì môn độn linh, sư phụ Thanh Chân Đạo trưởng có truyền. Thế nhưng, bạn đọc thân mến, tuyệt đối đừng xem đây là trò chơi, mặc dù bạn biết lí thuyết của nó, nhưng không biết phương pháp, nếu làm thử thì mạng sống sẽ “nghỉ hưu sớm” đó, đến lúc ấy đừng trách tôi.

Lại nói, tôi đo đạc khu vực trũng xuống của ngọn núi đó, bày tấm bảng đo xong, đặt dụng cụ lên giá, Hoàng Xuân Phong giơ thước đo lên, chuẩn bị theo đường núi để chạy xuống vùng núi trũng, tôi muốn đo xem chỗ núi trũng này rốt cục sâu bao nhiêu. Hoàng Xuân Phong giơ thước ngắm lên, đúng lúc đang chuẩn bị đi thì tôi hét cậu ta dừng lại. ”Chờ chút, chỗ núi trũng này đi xuống không tốt, để tôi xem xem đã!” ”Anh dùng linh cơ thần toán à?” - Hoàng Xuân Phong hỏi. ”Để thử xem.” Tôi vận dụng linh mệnh, vươn dài “cánh tay” của linh ra, tôi tính ra được 63 mét, từ núi trũng cho đến đỉnh núi là 63 mét. Sau đó tôi sợ rằng không chuẩn nên bảo Hoàng Xuân Phong chạy xuống. Tôi dùng thiết bị ngắm đúng thước đo, dùng vòng cung cự lượng kế Beaman để tính toán, tính toán xong thì biết là 65 mét, sâu hơn 2 mét, kì lạ thật, lần này linh trắc sao lại sai 2 mét nhỉ?

Một lúc sau, Hoàng Xuân Phong từ dưới núi chạy lên, vừa chạy lên tới nơi thì anh hổn hển nói: “Bên dưới chỗ trũng không phải là rất bằng phẳng, tôi đứng ở nơi thấp nhất, chỗ thấp nhất này cách mặt đất bằng phẳng 2 mét.”

Tôi nói: ”Cảm ơn cậu, tôi biết rồi.” Hoàng Xuân Phong là người hợp tác đo đạc tốt nhất của tôi, đầu óc cậu ta rất thông minh, trẻ tuổi và nhiệt huyết. Hiện tại thì cậu ấy đã rời đơn vị trắc lượng rồi, bây giờ làm kinh doanh, mở một cửa hàng đèn trang trí Kiều Lệ tại đường Bình Đẳng ở Đài Trung. Cái tên cửa hàng Kiều Lệ là tôi đặt cho cậu ấy, và lắp đặt các loại đèn trang trí trong nhà tôi đều mời cậu ấy đến lắp đặt. Nếu bạn đọc muốn chứng thực thật giả thì có thể tìm cậu ấy.

10. Khó quên nét tươi cười của Lục Giáp Ma Tổ

Công việc đo đạc là chạy đông chạy tây, và điều khiến tôi khó quên nhất là nét mặt tươi vui của Lục Giáp Ma Tổ. Lục Giáp ở huyện Đài Nam [nay là thành phố Đài Nam], gần ngọn núi Ô (hồ San Hô) - một hồ chứa nước nổi tiếng khắp đất nước. Khi ấy, tôi, Trương Anh Ngao, Hoàng Đại Phúc, ba người được phái đến Lục Giáp để đo đạc. Tôi đi Lục Giáp đo đạc thì Linh Sư cũng đi cùng tôi. Thời tiết rất lạnh, nửa đêm tôi bị Linh Sư gọi dậy, đi đến một khu mộ mênh mông để nhận sự huấn luyện của Linh Sư. Tác giả vẫn luôn là người gan dạ, đổi lại là người khác thì e rằng sẽ sợ chết khiếp.

Những ngôi sao mùa đông rất sáng rất sáng, những tấm bia mộ màu trắng ở khu mộ bày ra, tiếng côn trùng kêu “ri ri”, nhất là vào đêm mùa đông thì tối khuya sẽ có sương mù mỏng. Linh Sư truyền cho tôi đại pháp Triệu hồn, đại pháp Triệu hồn vẫn là dựa vào thần lực của ấn chú, là pháp thuật đuổi và sai khiến âm linh. Linh Sư cho rằng: “Thuật này mặc dù không phải là thứ mà các chính phái danh giá nên tu luyện, nhưng nếu muốn tuyên dương chính giáo chính pháp thì buộc phải hiểu đủ kiểu đủ dạng thần thuật.”

Linh Sư nói: ”Tâm đại trí huệ ắt sẽ dung nạp được mọi điều chí lí trong thiên hạ, ánh sáng không thể ẩn sâu. Cực kì bất khả tư nghì, tà thuật cũng không dám ức hiếp, rồi sau đó có thể đắc được chính giáo.” Lại nói: ”Liên Sinh, sau này con lại tu Phật pháp, tức là xuyên suốt tam giáo Cơ Đốc, Đạo, Phật, nên không đến nỗi là lo cho cái này và đánh mất cái kia, thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn rồi.”

Có một buổi tối, tôi đi lang thang trên đường phố Lục Giáp, đi cùng với tôi là Hoàng Đại Phúc, Hoàng Đại Phúc là người Tú Thủy huyện Chương Hóa. Chúng tôi đến một tiệm cắt tóc trên phố để cắt tóc. Ở trước chợ bán thức ăn Lục Giáp có một ngôi chùa không lớn không nhỏ, tôi cùng với Hoàng Đại Phúc đi vào đó, trước chùa có treo một tấm biển là “Nhóm niệm Phật hội Phật giáo Lục Giáp”, chái nhà phía bên trái ở trong chùa có vang lên tiếng tụng kinh.

Tôi chắp tay lại, cúi gập người trước Bồ Tát ở đại điện, khi ngẩng đầu lên thì nhìn thấy ở trong không trung có mây ngũ sắc bay lơ lửng, có một Nữ Thần nét mặt tươi cười từ không trung giáng xuống, chân dẫm lên hoa sen bảy sắc, tổng cộng có hai đóa hoa sen, đầu đội mũ cửu long, thân mặc áo nhiều màu. Ma Tổ với nét mặt tươi cười trong trẻo đứng sừng sững trước mặt tôi.

Bồ Tát mở miệng nói: ”Đến Lục Giáp, Liên Sinh vẫn khỏe từ sau lần chúng ta gặp trước đây chứ?” ”Bồ Tát nhận ra con sao?” ”Ta từng vân du miền trung, đã từng đến Ngọc Hoàng Cung, cùng với con tôn phong bài vị Thần tại đó, con quên rồi sao?”

Trên thực tế, tôi thật sự không nhớ được nhiều như vậy, Thần minh trên trời dưới đất nhiều lắm, mỗi vị đều có sở ti, có chức vụ, Thần minh và Thần minh qua lại với nhau, mặc dù tôi cũng quen không ít Thần minh, có một số Thần minh thậm chí đã trở thành bạn tốt vong niên với tôi, nhưng Lục Giáp Ma Tổ đã từng đến nhà tôi chưa thì tôi thật sự cũng quên rồi. Vào lúc ấy, trong nhà tôi đã thờ cúng mấy vị Bồ Tát, đã trở thành một Phật đường nhỏ rồi.

“Bồ Tát tha thứ, thật sự là con không nhớ được.” ”Nhớ hay không cũng không sao, Liên Sinh, ta có một việc muốn bàn bạc.” ”Xin Bồ Tát nói rõ.” ”Trụ trì của chùa này hiện tại đang đau ốm, ta muốn nhờ con viết một lá phù Kim đơn để cứu chữa, không biết con có đồng ý không?” ”Bồ Tát đã giao phó thì Liên Sinh không dám không tuân theo, nhưng nhỡ đâu mọi người không tin thì sao đây?” ”Họ sẽ tin, đệ tử ở đây tâm địa thuần khiết và lương thiện. Trụ trì ốm liệt giường đã hai tháng rồi, đến nay kiếp nạn bị bệnh này đã hết, con mau vẽ phù rồi giao cho đệ tử đang tụng kinh ở chái nhà bên trái, ngày mai con lại đến đây chắc chắn sẽ có chuyện lạ.”

Bồ Tát nói xong thì lập tức ẩn đi. Thế rồi tôi cũng không khách khí vẽ phù kết ấn ngay trên bàn thờ. Tôi cùng với Hoàng Đại Phúc đi vào chái nhà bên trái, bên trong có một người già đang dạy mấy người phụ nữ tụng kinh, tôi nói rõ mục đích tôi tới với người già này, người già này không nói gì, còn mấy người phụ nữ kia nhìn tôi một cách kì quái, một người trong số đó hỏi tôi: ”Anh là kê đồng từ đâu đến?” ”Tôi đến từ Đài Trung, không phải là kê đồng, ngày mai tôi lại tới, Bồ Tát dặn dò như vậy.” - Tôi nói. ”Lá phù đó anh để ở đây, tối mai anh lại đến!” - Người già vẫy tay chào, tôi và Hoàng Đại Phúc lui ra, Hoàng Đại Phúc nói: “Họ có vẻ không tin lắm, anh hà tất phải lo chuyện bao đồng chứ!” ”Cậu nghĩ mà xem, chúng ta không thể trách họ không tin, khi xưa nếu tôi không được người phụ nữ mặc áo xanh kia khai thị, chưa được Linh Sư chỉ điểm, chưa bái Thanh Chân Đạo trưởng làm thầy thì làm sao tôi có thể có được cảm ứng linh dị như thế này chứ? Nếu như trước đây có người nói với tôi chuyện này, tôi không những không tin mà còn mắng người ta là nói bậy, mê tín, những lời nói xằng của khoa học hiện đại mà những người tin Thần còn không tin, huống hồ người không tin Thần.”

Buổi tối ngày hôm sau, tôi cùng Hoàng Đại Phúc lại vội vội vàng vàng đến chùa Ma Tổ. Vừa đi vào cổng chùa, trụ trì cùng mấy người phụ nữ ra đón tôi, trụ trì của chùa nói: ”Lá phù đó của anh có hiệu quả cực kì, tôi bị ốm nặng đã hai tháng, thế mà chỉ sau một lúc giống như vứt bỏ được gánh nặng. Bây giờ tôi có thể xuống giường, tinh thần dần dần hồi phục như ban đầu, cảm tạ Bồ Tát che chở, cũng cảm ơn anh.” Tôi vừa nghe bệnh của trụ trì đã khỏi như vậy, trong lòng cũng trút bỏ được gánh nặng, tôi hướng về Bồ Tát lạy mấy lạy, đang chuẩn bị đi. ”Liên Sinh, xin anh vẽ một lá phù cho thằng cháu nhà tôi được không? Thằng cháu tôi bị ốm, cứ sốt mãi không hết, uống thuốc thì đỡ được một chút, không uống thuốc thì nhiệt độ lại tăng cao. Năn nỉ anh vẽ một lá phù được không?” - Một phụ nữ trong số đó cầu xin tôi. ”Tôi cũng muốn một lá, mẹ tôi bị ho suốt không khỏi.” ”Tiên sinh, năn nỉ anh cho tôi một lá.”

Hoàng Đại Phúc nhân cơ hội này ca ngợi tôi linh như thế nào, chuẩn như thế nào, khiến cho những người phụ nữ trong chùa người nào người nấy tròn xoe mắt. Tôi quỳ trước mặt Bồ Tát, Bồ Tát lại tươi cười hiện thân. Lần này Ngài hiển hiện không rõ ràng như lần đầu tiên, bên tai tôi truyền đến tiếng thì thầm của Bồ Tát: “Liên Sinh, lúc cần phải làm thì cứ làm đi! Ta sẽ giúp con, đừng sợ.”

Tôi cầm bút chu sa rồi bắt đầu vẽ phù niệm chú trên giấy, chia cho mỗi người một lá. Nói ra kể cũng kì lạ, hễ uống một lá phù thì người bệnh nhẹ lập tức khỏi hẳn, người bệnh nặng cũng có tiến triển tốt, thậm chí có một cụ bà đã nằm liệt giường nửa năm không thể đi lại, vừa uống phù này vào thì bỗng nhiên có thể ra khỏi giường. Buổi tối ngày thứ ba, tôi và Hoàng Đại Phúc đến chùa Ma Tổ, chùa Ma Tổ người đông như biển, suýt chút nữa đã chen đổ cả cổng chùa. Người người loan tin rằng chùa Ma Tổ có một Thần Tiên trẻ tuổi vẽ một lá phù thì bệnh gì cũng chữa được, trăm lần thử trăm lần linh, cả thị trấn Lục Giáp đều xôn xao.

Thế là tôi vận dụng thuật thông linh của linh cơ thần toán, đã giải quyết được vấn đề cho rất nhiều người, dùng thuật phù chú để chữa bệnh cho người ta, đêm nào tôi cũng bận rộn tới 12 giờ. Trụ trì gọi xe taxi muốn đưa tôi về chỗ ngủ, tôi từ chối. Người đến cầu xin tôi hỏi việc và chữa bệnh đem những phong bao đỏ tặng cho tôi, tôi vẫn một mực từ chối, tôi chưa bao giờ lấy một hào tiền nào, cũng không nhận sự thết đãi của người khác. Đối với tiền, tôi cười nhạt, hoàn toàn không phải là tôi không cần tiền, mà là thay Thần cứu người thì không nên lấy tiền của người ta, lấy tiền thì có còn coi là thay Thần làm việc nữa không?

Cho nên lí do mà tôi rất ghét thần côn là như vậy, thần côn chỉ muốn phong bì, hơn nữa càng nhiều càng tốt, thần côn là tà ác, người thay Thần làm việc một cách chân chính là làm việc thiện cứu người, người hành thiện cứu người thì không phải là thần côn, không phải là mê tín. Có người gọi tôi là kê đồng, tôi nói tôi không phải là kê đồng, bởi vì kê đồng là “người trung gian của linh”, là những linh đồng bị Thần quỷ nhập vào thân, còn tôi không phải, tôi không phải là kê đồng.

“Tiên sinh, ngài không nhận phong bao đỏ thì tức là coi thường tôi đó.” ”Xin lỗi, tôi giúp Lục Giáp Ma Tổ cứu người giúp đời, không dám nhận phong bao đỏ của bác, thế còn xem là trợ giúp Lục Giáp Ma Tổ không?”

Lần đầu tiên tôi gặp phải vấn đề nan giải như vậy, người người muốn đưa tiền cho tôi, tôi phải làm sao? Vốn dĩ tôi chỉ dựa vào một tấm thiện tâm giúp người, tôi cảm thấy như vậy mới là việc vui mừng nhất, thế nhưng con người thì rất thực tế, họ cho rằng nhờ người giúp đỡ thì nhất định phải trả tiền thù lao. Hai vị phó tướng của Lục Giáp Ma Tổ - Thiên Lí Nhãn và Thuận Phong Nhĩ, đã trở thành bạn tốt nhất của tôi. Cho đến tận khi tôi rời khỏi Lục Giáp, mỗi ngày có hơn trăm người tìm tôi. Tôi đến Lâm Phượng Doanh bắt xe trở về bắc, có hơn hai chục người đến bến xe tiễn tôi. Điều khiến tôi khó quên nhất vẫn chính là nét mặt tươi cười của Lục Giáp Ma Tổ.

Bạn ạ, giả dụ bạn đi Lục Giáp, đừng ngại đi đến chùa Ma Tổ tham bái, bạn chắc chắn có thể thấy Ma Tổ nét mặt tươi vui ngồi trên bệ Thần.

11. Đàm đạo ở cung Phượng Lâm

Cung Phượng Lâm nằm tại một ngôi làng nhỏ ở mũi Phượng, Tiểu Cảng, thành phố Cao Hùng. Mũi Phượng kề sát biển, gần đó có căn cứ của đội huấn luyện người nhái (đội Thành Công).

Tôi rất thích biển, mỗi buổi hoàng hôn, tôi đều không ngăn được mình đi đến bờ biển mũi Phượng ngồi trên những con thuyền vỡ trên bãi cát. Biển và trời nối liền nhau thành một đường thẳng, tiếng sóng biển rì rào. Mặt biển nhấp nhô lên xuống liên tục, còn trái tim tôi giống như một con thuyền nhỏ thoạt lên thoạt xuống, dường như trong dòng chảy hoảng hốt này, tôi đã lĩnh hội được vẻ đẹp thê lương của cuộc sống. Cuộc sống vốn dĩ là thăng trầm, chao đảo, không ngơi không nghỉ, còn tôi là một lữ khách đo đạc, cũng là dạo bước trong cuộc đời thôi. Dạo bước.

Chẳng nhớ nổi đó là buổi hoàng hôn lần thứ mấy, đúng vào lúc tôi đang ngẩng đầu ngắm mây bay từng đám từng đám trên bầu trời, tâm hồn nhẹ nhàng bay lượn trên mặt biển bao la hùng vĩ, mặt trời lặn dần xuống, gió thổi vù vù, tiếng sóng biển gầm gào xô vào bờ cát đêm. Dường như trên đời chỉ có một mình tôi.

Khi tôi chuẩn bị rời khỏi bãi biển thì phát hiện ra trên mặt biển có một ngọn đèn đang đung đưa. Ngọn đèn đó lúc sáng lúc tắt, lúc trôi bên này, lúc trôi bên nọ. Khi đến gần, tôi nhìn thấy phía sau ngọn đèn có một kiệu Thần, phía trước kiệu có hai vị phó tướng, phó tướng đạp sóng mà đi, tôi nhìn thấy trên đầu kiệu Thần có viết mấy hàng chữ: “Phượng Lâm cung Thiên Thượng Thánh Mẫu.” Kiệu Thần và các Thần tướng hiển hiện được một lúc, không bao lâu thì biến mất không còn tăm tích.

Ngày hôm sau, tôi hỏi người địa phương: ”Gần đây có cung Phượng Lâm nào không?” Người đó nói: ”Có! Là miếu Ma Tổ ở trong làng.” Buổi tối đó tôi đi vào trong làng, tìm đến cung Phượng Lâm. Bây giờ tôi đã quen bái Thần rồi, mỗi khi đến nơi nào tôi đều gặp chùa thì bái Phật, gặp miếu thì bái Thần, kể cả gặp miếu Thổ Địa tôi cũng chắp tay lại, thỉnh thoảng đúng lúc Thổ Địa Công đang ở trong miếu, ngài cũng sẽ ngẩng đầu chào hỏi tôi. Tôi cảm thấy tôi tôn kính Thần, Thần ắt sẽ giúp đỡ tôi.

Tại cung Phượng Lâm, tôi thắp mấy que hương, làm lễ trước Thiên Thượng Thánh Mẫu xong, Thánh Mẫu nói: ”Thiện nam trước mặt, anh đã học được thuật Lục giáp thần linh thính âm rồi sao?” ”Đúng vậy, con đến đây để hỏi đạo từ Bồ Tát.” ”Muốn hỏi đạo gì?” Tôi đáp: ”Đạo dưỡng sinh.”

Thiên Thượng Thánh Mẫu Ma Tổ đáp rằng: ”Vậy thì nói về ăn uống đi! Ngũ vị chính là mặn, đắng, chua, cay, ngọt, năm vị này chính là điều hòa âm dương, biến thành bài thuốc bí truyền của thiên địa huyền công, là thứ không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày. Thế nhưng cần phải có sự tiết chế mới có thể có ích và vô hại. Nếu không tiết chế thì sẽ làm tổn thương ngũ hành, tất sẽ sinh bệnh. Ngũ vị nếu ít thì dưỡng mệnh, nhiều thì vong mạng. Người thượng cổ chưa có gia vị nóng thì hưởng tuổi thọ cao. Toại Nhân Thị [trong thần thoại Trung Quốc là người sáng tạo ra lửa] lần đầu tiên dùng lửa để nấu thức ăn, cho đến nay con người đa phần gặp họa chết yểu. Nếu con người tham ăn tạp tất sẽ sinh ra lục tình, lục tình sinh ra thì linh căn tất sẽ diệt.” ”Đa tạ Thánh Mẫu giáo huấn.” - Tôi kính cẩn cảm ơn.

Thánh Mẫu lại nói: ”Người thời nay nói đến đạo dưỡng sinh sai rồi! Nam nam nữ nữ hiện nay sinh vào thời mạt kiếp, u u mê mê, không gặp được minh sư để mở ra cái trí của họ, không gần gũi với giáo lí thiện để làm sáng tỏ cái tính của mình, thường ngày nói đến dưỡng sinh chẳng qua chỉ là uống thuốc tẩm bổ, gây nên vô số nghiệp tội, khởi lên một vài vọng tưởng tạp niệm, như thế thì nghiệp tội còn chẳng thể nào tiêu trừ được, làm sao có thể nói đến dưỡng sinh chứ?” ”Những gì Bồ Tát nói rất đúng, đệ tử sẽ ghi nhớ lời dạy dỗ chỉ bảo.” ”À đúng rồi, chưa từng hỏi con tu đạo ở chỗ nào? Chỉ thấy trên mặt con có linh quang, tỏa hiện tam quang, biết con chính là người tu đạo, Công Đức Thần luôn đi theo bên cạnh, vì thế mà ta muốn hỏi.” ”Bồ Tát, đệ tử Liên Sinh vốn tin Cơ Đốc, sau đó lĩnh pháp chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu, theo Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh tu đạo, lại bái môn của Thanh Chân Đạo trưởng, nay đến mũi Phượng làm công việc đo đạc, tối hôm qua nhìn thấy Thánh Mẫu xuất tuần trên mặt biển, vì thế hôm nay con đặc biệt đến tham bái.” ”Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh à? Ta không biết vị này, Thanh Chân Đạo trưởng thì trái lại đã từng nghe qua, chính là một đạo sĩ thanh tịnh vô vi, thế này rất tốt, rất tốt.” ”Bồ Tát, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh không phải là người, mà là một khối khí của chân linh, con gọi ngài là Linh Sư, chính là Thiên Tiên ở cõi Vô sắc giới, chưa từng nhận sắc phong của Ngọc Đế, do vậy gọi là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh.” ”Thì ra là vậy, nếu thế thì ta lại quá thất lễ rồi, Liên Sinh, nếu con có thời gian rảnh, hoan nghênh con thường đến chơi.” ”Cảm ơn!”

Kể từ sau đó, khi nhà tôi chính thức thờ cúng Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, tôi từng phát đi phù “Phật điệp biến thập phương”. Thiên Thượng Thánh Mẫu cung Phượng Lâm ở Tiểu Cảng cũng từng giá lâm. Đây chính là một đoạn nhân duyên gặp gỡ giữa Thiên Thượng Thánh Mẫu cung Phượng Lâm và tôi.

12. Thuyết giáo ở cung Củng An

Bạn thân của tôi Hồ Thìn Hùng nhà ở Thảo Đồn, có một lần tôi đến thăm cậu ấy, trên đường đi qua cung Củng An. Tôi đi vào trong cung tham quan, trên bàn thờ Thần có ba tượng Thần ngồi ngay ngắn, một vị mặt đỏ, một vị mặt xanh, một vị mặt đen, bên trên treo một dải chữ có viết “Tam Phủ Vương Gia”. Đến nhà bạn tôi, tôi hỏi: ”Lão Hồ, miếu Tam Phủ Vương Gia thờ ba vị Thần nào vậy, cậu có biết không?” Hồ Thìn Hùng nói: ”Nghe người ta nói là ba vị Thiên tuế Trương, Lí, Mạc, nghe đâu rất linh, nhưng tôi chưa từng đến đó nên không rõ lắm, sao vậy? Cậu có hứng thú tới đó à?” ”Cũng không biết vì nguyên nhân gì mà tôi càng ngày càng thích bái Thần, hễ gặp phải chùa miếu quán đường là tôi chưa bao giờ bỏ qua, vào lễ lạy cũng được mà tùy hỉ vãn cảnh chùa cũng được. Nếu không đi vào xem thì trong lòng thấy khó chịu.” ”Thắng Ngạn, tôi nghe người ta nhắc đến cậu, đều nói cậu rất linh, rốt cục thật sự là có hay không có Thần? Mỗi một ngôi chùa, miếu, cung, đường đều có sự tồn tại của Thần Phật sao?” - Hồ Thìn Hùng hỏi. ”Lão Hồ, điều này cũng không hẳn, tôi từng đến một ngôi chùa ở miền Trung, ngôi chùa đó thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Vi Đà và Già Lan Tôn giả, tượng điêu khắc cực kì trang nghiêm. Tôi trông thấy vị Phật Bồ Tát nào cũng trang nghiêm như vậy, trong lòng rất vui mừng, lập tức quỳ xuống lạy. Không ngờ bên dưới bàn thờ có một vị Thổ Địa Công Công chui ra. Thổ Địa Công Công râu trắng bay bay nói với tôi: ”Chớ lạy! Chớ lạy!” Tôi cảm thấy rất kinh hoảng, hỏi: ”Thổ Địa Bồ Tát, vì sao không lạy?” Thổ Địa Công Công thở dài một hơi nói: ”Tôi là Thổ Địa ở đất này, ngôi chùa Phật này 40 năm trước do pháp sư XX tiếp quản, pháp sư lừa gạt người ta, các đệ tử đi theo sống thối nát, những quy tắc Phật giáo từ lâu đã bại hoại, mặc dù thân là sa môn nhưng tâm đã chẳng phải là sa môn. Linh quang của Phật Tổ 40 năm qua chưa từng giá lâm đến chùa này, Hộ Pháp Vi Đà và Già Lan Tôn giả vốn muốn ra tay trừng phạt, nhưng nhân duyên kiếp trước của trụ trì vẫn còn thiện công, ác nghiệp dù nhiều nhưng báo ứng thì phải sau 50 năm. Hộ Pháp Vi Đà và Già Lan Tôn giả từ lâu đã rời bỏ ông ấy rồi, trong chùa không có linh Phật, không có Hộ Pháp, từ lâu đã trở thành bức tượng kim thân giả trống rỗng rồi, chỉ có ma quỷ lai vãng. Hòa thượng và ni cô trong chùa đều là phàm thai, ai gõ chuông thì gõ chuông, ai đánh trống thì đánh trống, họ căn bản không biết 40 năm nay linh quang của Phật Tổ chưa từng giá lâm đến chùa một bước.” Tôi nói: ”Thì ra là vậy.” Thổ Địa Bồ Tát lắc đầu rồi vụt ẩn đi. Tôi đi loanh quanh một lúc, phát hiện ra mặc dù ngôi chùa này xây cũng khá đẹp, nhưng quả nhiên không mảy may cảm giác thấy một chút linh khí nào. Lời của Thổ Địa Bồ Tát quả nhiên không sai, tôi cảm thấy thương cảm cho hòa thượng và ni cô ở chùa này.” ”Có chuyện này cơ à? Đây đúng là quá thần kì rồi, đợi một lát tôi dẫn cậu đến miếu Tam Phủ Vương Gia, cậu xem xem có Thần ở đó hay không.”

Tôi và Hồ Thìn Hùng đến ngôi miếu, nhà Hồ Thìn Hùng ở gần miếu, người trông nom chùa và cậu ấy cũng có quen sơ sơ. Hồ Thìn Hùng kể với người trông chùa về những chuyện linh dị của tôi, người trông chùa cười cười không tin và nói: ”Chà! Là như vậy sao?”

Tôi vận dụng thuật linh cơ thần toán để giao tiếp với Thần Tiên một lúc, tôi nói: ”Thưa ông, cung này tổng cộng có sáu vị kê đồng, ba vị Thiên tuế Trương, Lí, Mạc phát tài tại phủ An Tứ ở Đài Nam. Hiện tại tình hình nhân sự ở quý cung hỗn loạn, kê đồng và những người có liên quan thường xuyên vì chuyện tiền bạc mà tranh chấp, trong đó có một kê đồng không tuân theo quy tắc Thần, ăn uống bừa bãi. Mạc phủ Thiên tuế hiện đang linh quang xuất tuần tại một ngôi làng ở núi Trúc, chữa bệnh giúp người ta. Trong số kê đồng có một người bị bệnh, không biết thật có những chuyện này không?” Người trông nom nghe xong thì sửng sốt, trong chùa đang có ba kê đồng đang nói chuyện, nghe tôi nói điều này thì không ai là không tim đập thình thịch. Trong đó có một người là kê đồng của Trương phủ Thiên tuế nói với tôi: ”Tiên sinh, những điều ngài nói hoàn toàn đúng, Thần minh có yêu cầu gì đối với chúng tôi không? Làm sao mới có thể khiến cung này hưng thịnh trở lại?” Tôi nói: ”Ý của Thần minh là coi trọng hòa khí, nếu người với người hòa thuận thì cung này tất sẽ hưng thịnh. Con người không nên chỉ vì sự linh cảm của Thần mới đến bái Thần, cũng không nên vì tiền mà bái Thần. Thân người quý giá, quý ở chỗ biết tu, tự xem xét mình, không cứ phải cầu Thần. Đời người không phải là chỉ nỗ lực vì cơm áo, vì bản thân và gia đình no ấm, mà mặc kệ cho thất tình lục dục chạy lung tung, làm tinh thần kiệt quệ. Như thế nào là người tu đạo đây, bái Thần tu đạo chỉ là để trở về với diện mạo vốn có của ta mà thôi!”

Tôi cùng với người trông nom và các kê đồng nói chuyện rất vui vẻ, tôi dạy các kê đồng một linh thuật, gọi là pháp Thất bộ tống hồn, họ hết sức mừng rỡ, cuối cùng ai cũng hài lòng ra về. Khi một mình tôi đạp xe đạp trở về đội trắc lượng ở Đài Trung, tôi âm thầm cảm thấy dường như có một khối linh khí đang đuổi theo tôi. Tôi lên xe, họ cũng lên xe. Tôi xuống xe, họ cũng xuống xe. Tôi trở về đội trắc lượng, đi vào kí túc xá, thắp một nén hương, cắm vào bát hương, phía trên bát hương hiển hiện một vị Bồ Tát mặt đỏ. Thì ra là Trương phủ Thiên tuế ở cung Củng An. Trương phủ Thiên tuế trước tiên khoanh tay lại hướng về tôi nói: ”Tôi là Trương phủ Thiên tuế, gặp anh thông linh, vì thế đuổi theo muốn biết lai lịch của anh?” ”Bồ Tát không biết ư?” ”Thật sự không biết.” ”Tôi là Liên Sinh, là đệ tử dưới môn của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, bái Thanh Chân Đạo trưởng làm thầy, là người tu hành phụng hành Tiên thiên vô cực chính pháp.” ”Quả nhiên tôi đoán không sai, thì ra là môn đệ của cao nhân, Liên Sinh, đến cung Củng An của tôi nhé?” ”Bồ Tát tha thứ, tôi đã có một Phật đường ở tại nhà mình. Tôi chỉ thích tu đạo, không thích gì khác, không thích hỏi chuyện cho người ta. Hỏi chuyện cho người ta chỉ là một sách lược rất thấp để độ chúng sinh thôi, tôi phải tu chính mình trước, chứng ngộ huyền cơ, sau đó dùng ngòi bút trong tay tôi mà khuyên người ta tu thiện tu công đức, độ người như vậy thì càng có thể khiến cho nhiều người đến quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Như thế không sinh không diệt, tự tính như như, đạo công viên mãn, thiên trường địa cửu.”

Trương phủ Thiên tuế nghe xong thì cảm động nói: ”Liên Sinh nói phải, hỏi chuyện mặc dù là pháp độ chúng sinh, nhưng khó tránh khỏi hại mình hại người. Sau này nếu có việc gì cần tiểu thần giúp đỡ thì cứ thắp hương, quay về phương hướng của tôi, niệm tên cung của tôi, tôi nhất định nhanh chóng đến tương trợ.” ”Đa tạ Bồ Tát.” ”Tôi lui đây.” - Trương Thiên tuế từ từ ẩn đi. ”Tiễn Bồ Tát.” - Tôi chắp tay.

13. Ghi chép Quan Âm Bồ Tát xả thân cứu mạng

Khoảng 12 năm trước, tôi 18 tuổi, khi ấy nhà tôi sống ở Cao Hùng, tôi thì đang học công chức ở Cao Hùng. Có một buổi tối tôi cùng bạn học Hoàng Tín Thanh đi chơi chợ đêm ở phía sau rạp hát Vạn Long. Chợ đêm có rất nhiều sạp bán hàng trên vỉa hè bày ra liên tiếp kéo dài tới tận 2km, có bán đồ ăn, cũng có đánh võ bán thuốc, những hàng rong bán quần áo may sẵn và đồ dùng hàng ngày cũng nhiều, mọi người chen chúc nhau vô cùng náo nhiệt. Cảnh chợ đêm muôn màu muôn vẻ, là một nơi rất thú vị để giải trí.

Chúng tôi đi dạo và nhìn ngắm, khi chúng tôi đi qua một quầy xem bói, người xem bói này bày chỗ tại đầu một con hẻm nhỏ. Việc kinh doanh của quầy xem bói này không tốt, một ông già ngồi ngây ra tại một xó, nhìn thấy hai người chúng tôi bèn gọi: “Cậu thanh niên, để tôi đoán mệnh cho hai cậu, không cần tiền đâu, quẻ Văn Vương của tôi mà xem về lành dữ họa phúc thì lập tức biết ngay, cậu thanh niên không có tiền cũng không sao, tôi đoán cho hai cậu, hoàn toàn cho không đó!”

Chúng tôi nghe thấy không mất tiền thì trong lòng muốn thử xem, thế rồi đi qua bên đó. Bởi vì chúng tôi để cho ông cụ xem bói đoán mệnh nên không lâu sau, xung quanh quầy xem bói của cụ tự nhiên có rất nhiều người vây quanh.

Mặc dù ông cụ đã cao tuổi, nhưng con mắt thì lại tỏa sáng lấp lánh. Đầu tiên ông cụ xem tướng mặt của Hoàng Tín Thanh, rồi lại xem tướng tay, hỏi họ tên của Hoàng Tín Thanh, bảo Hoàng Tín Thanh rút một quẻ. Phía trước quẻ Văn Vương đó có bày một bát hương, bát hương có thắp hương, làn khói hương lượn lờ bay lên. Ông cụ nhìn quẻ, ngó Hoàng Tín Thanh một cái rồi nói: ”Cậu là người Hakka ở Mĩ Nùng đúng không?” Hoàng Tín Thanh đáp: ”Vâng.” Ông cụ nói: ”Theo tướng mặt của cậu, cung học hành trung bình, trí tuệ bình thường. Theo tướng tay của cậu thì cuộc đời phức tạp, thời trẻ vất vả. Từ quẻ Văn Vương mà cậu rút ra thì cả đời cậu yên ổn làm một nhân viên công vụ, cuộc sống có điều kiện tốt, trong nhà không thể dựa dẫm vào ai, phải dựa vào chính mình mà tay trắng làm nên, quý nhân ở phương bắc. Trong nhà phong thủy (mồ mả) từng thay đổi một lần, cậu có biết không?” ”Dạ biết.” - Hoàng Tín Thanh nói. “Đầu năm nay mới tìm phong thủy mới để cải táng cho ông bà nội.” ”Nếu như tôi dự liệu không sai thì chỗ phong thủy này do anh cả của cậu chọn, trong phong thủy đó anh ta đã đặt phù lệnh “kim bảo nhập đại phòng”, khiến cho trán của cậu hiện lên khí sắc bần hàn, sau này khổ cậu rồi. Chàng trai, cuộc đời cậu sau này mặc dù tiền đồ bằng phẳng, nhưng cơ hội phát tài thì mờ mịt lắm.” ”Không sai, phong thủy này là do anh cháu tìm.” - Hoàng Tín Thanh nói. Những người xem đứng bên cạnh đều nói bói chuẩn quá.

Cụ già quay đầu qua nhìn tôi còm nhom bên cạnh, khi ấy tôi vừa gầy vừa lùn, ông cụ kéo tôi lại gần, xem tướng mặt, tướng tay kĩ càng, cũng kêu tôi rút một thẻ giống như Hoàng Tín Thanh. Ông ấy xem thẻ thì lông mày căng ra, lắc đầu nói: ”Cậu là con trưởng à?” Tôi trả lời: ”Vâng.” Cụ già nói: ”Tướng mặt của cậu rất phức tạp, điều này cho thấy sự phát triển sau này của cậu không có một định số nào, tính cách đặc biệt, để xem tạo hóa của cậu vậy. Xem tướng tay thì càng khiến người ta thấy kì quái, kho bạc đầy ắp, xem ra có tướng phú quý, nhưng lại có cả đường văn chương rất dài, chọc thủng vào kho bạc, tôi nghi ngờ là sau này có khả năng là cậu học nhưng cũng chẳng dùng đến. Trước mắt gia đạo bình thường, cậu cũng là người tay trắng lập nên sự nghiệp. Còn như quẻ Văn Vương thì tôi nói ra cậu đừng hoảng sợ.” ”Ông cứ nói đi! Không sao đâu.” - Tôi bình tĩnh tự tin nói. ”Trong quẻ Văn Vương cho thấy người đến đây là người có mang Thần cách cõi trời, Thần cách cõi trời thì rất tốt, nhưng nếu phối hợp với thân tướng của cậu, thì năm 28 tuổi sẽ xảy ra tai nạn ngoài ý muốn, mạng sống gặp đại kiếp nạn, không mất mạng không được, cậu hãy cầu Thần bái Phật nhiều vào!” ”Nhưng cháu là tín đồ Cơ Đốc mà!” - Tôi nói. Khi ấy, tôi đã được rửa tội ở Hội trưởng lão Cơ Đốc Tân Hưng, trở thành tín đồ Cơ Đốc chính thức rồi, nhà thờ cũng ở gần khu chợ đêm. “Tín đồ Cơ Đốc à? Vậy thì tôi hết cách rồi.” - Cụ già lắc đầu.

Những người xung quanh thốt ra những lời cảm thán: ”Ôi! Thằng bé này trông rất thanh tú, sao mà lại chết yểu chứ.” Sau đó rất nhiều người để cho cụ già xem bói. Nói ra cũng kì lạ, cụ già đoán mệnh, hai chúng tôi đứng bên cạnh nghe, điều cụ nói chuẩn cực kì. Nhưng mà càng chuẩn thì trong lòng tôi lại càng có một khúc mắc lớn, trong lòng tôi cảm thấy cực kì không thoải mái.

Năm Dân Quốc 60 [năm 1971], tôi 27 tuổi, năm sau là tôi sẽ 28 tuổi, tôi không hề quên câu chuyện xem bói 10 năm trước. Có một buổi tối, tôi hỏi Linh Sư: “Linh Sư, ngày xưa ông cụ đoán mệnh nói như vậy, không biết sự tình là thật hay giả, giả như là thật thì mạng con sắp hết rồi.” ”Liên Sinh, môn học đoán mệnh thật sự không thể coi thường, Tứ trụ suy mệnh [Tứ trụ gồm 4 trụ: trụ năm, trụ tháng, trụ ngày và trụ giờ.], Hoàng cực suy số [hoàng cực là thời điểm âm dương tác động, phóng phát, sinh hóa ra vạn vật trong vũ trụ], Cân lạng của Viên Thiên Cương, quẻ Văn Vương đều không thể tùy tiện so sánh. Tuy nhiên số trời vẫn có thể thay đổi, huống hồ là vận mệnh của một con người nhỏ bé. 28 tuổi chết yểu, đích thực là xem rất chuẩn, thế nhưng quẻ Văn Vương không có cách nào tính ra được trong huệ mệnh của con từ lâu đã dựng lên một cây cầu cứu mạng, cây cầu cứu mạng này chính lúc này đã được dựng lên. Con không nhớ khi con thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, chẳng phải ta từng nói con thờ Bồ Tát, Bồ Tát tất sẽ cứu con một mạng, công đức thờ cúng Bồ Tát rất là to lớn đó!”

Khoảng dịp Giáng sinh năm Dân Quốc 60, buổi trưa tôi đang ở nhà ăn cơm, khi ấy tôi chưa ăn chay, vẫn ăn thịt ăn cá như trước đây. Sau đó bỗng nhiên tôi bị chóng mặt đến mức tôi không thể đứng vững được nữa, dạ dày tôi cuồn cuộn, khiến tôi nôn ra hết những thịt cá vừa mới ăn vào, sàn nhà toàn là hạt cơm và bã thức ăn, mùi tanh hôi rất khó ngửi, tôi đã nôn sạch sẽ mọi thứ trong dạ dày của tôi ra.

Người nhà cho rằng tôi sinh bệnh rồi, sờ đầu, đầu tôi chưa phát sốt, bác sĩ kiểm tra thấy vẫn khỏe mạnh. Làm gì có bệnh, rất kì lạ! Buổi tối ăn cơm, mẹ tôi nấu món canh đầu cá, đây vẫn luôn là món ăn mà tôi thích nhất. Tôi và mấy miếng cơm, uống nước canh cá. Một lúc sau, căn bệnh buổi trưa lại đến, tôi lại nôn ra đầy sàn nhà. Lần này tôi bị nôn tới mức hoa cả mắt, chóng mặt mất phương hướng, suýt chút nữa là tôi khuỵu xuống. Nôn xong, sắc mặt tôi tái nhợt, không biết phải làm sao mới được.

Cuối cùng, tôi phát hiện ra chỉ có ăn chay thì mới không bị nôn, thỉnh thoảng ăn mặn một chút là sẽ bị nôn mửa rất khủng khiếp, khổ không tả xiết. Có lẽ độc giả sẽ cho rằng đây là bị bệnh tâm lí, nhưng tôi nghĩ rằng không phải do tác dụng của tâm lí. Bởi vì kể từ sau khi ăn chay, có một lần, em gái tôi Lư Ngọc Ý bỏ cá còn thừa của bữa trưa lên trên cơm của buổi tối để hâm nóng lại, tôi không biết việc này, chỉ vừa mới ăn phải cơm thì ăn cơm xong cũng lại nôn ra hết. Điều tra ra thì hóa ra là cá đặt trên cơm để hâm nóng một chút cũng không được. Thế là tôi cứ thế liên tục ăn chay, trong thời gian đó mà chấm đến một tí ăn mặn là nôn, chắc cũng bị nôn tới hơn chục lần, đau khổ cực kì.

Tôi hỏi Linh Sư: ”Việc này là vì sao?” Linh Sư nói: ”Lành thay diệu pháp này, lấy mạng đổi mạng, tự nhiên tiêu diệt, đánh trúng được đại kiếp.”

Tôi ăn chay ròng rã từ tháng 12 năm 60 đến tháng 12 năm 61 [tức là từ năm 1971 đến 1972]. Vào một ngày của tháng 12 năm 61, em gái tôi Lư Ngọc Ý dùng dầu đã rán lạp xưởng để xào rau, tôi ăn vào thì lần này không nôn nữa, hơn nữa cũng không xuất hiện hiện tượng chóng mặt. Quái lạ! Quái lạ! Tính đếm ngày tháng thì tròn đúng một năm.

Tôi hỏi Linh Sư: ”Việc này là vì sao?” Linh Sư nói: ”Ngày ấy đã qua, số kiếp đã tiêu trừ, lấy mạng đổi mạng, nhân duyên đã hết rồi. Trước đây con ăn chay là Thần Phật cưỡng ép con phải ăn như vậy, ngày ngày đều có Giới Thần giám sát con. Hôm nay đại công đã hoàn thành, Giới Thần đã bỏ đi, con lại trở về là chính mình như trước đây. Ăn chay hay ăn mặn đều không ép buộc nữa, tùy ý con đi! Nếu con không tin, trở về Phật đường xem Quan Thế Âm Bồ Tát mà con cúng dưỡng là con sẽ hiểu ngay thôi.”

Nghe Linh Sư nói như vậy, tôi cẩn thận quan sát Quan Thế Âm Bồ Tát, bức tượng sứ Quan Thế Âm Bồ Tát toàn thân từ đầu đến chân xuất hiện những vết nứt, nứt thành hình dạng như một mạng lưới phân bố khắp toàn thân, điều này hoàn toàn khác với Quan Thế Âm Bồ Tát mà tôi cúng dưỡng ba năm trước. Khuôn mặt hiền từ vốn có giờ đây đã bị chia năm xẻ bảy, từ đầu đến chân không có một chỗ nào nguyên vẹn, chuyện này là thế nào đây?

Sau sự việc này tôi mới hiểu, lẽ ra năm 28 tuổi là mạng tôi đã kết thúc rồi, tôi sẽ gặp tai nạn bất ngờ, tay chân sẽ gãy nát. Tôi ăn chay một năm, dùng công đức chính mình không sát sinh, không ăn mặn, cộng thêm Quan Thế Âm Bồ Tát xả thân chịu thay nên đã cứu được tôi một mạng. Tôi cúng dưỡng ngài, thế mà ngài lại bị nứt vỡ (vô duyên vô cớ mà toàn thân lại xuất hiện những vết rạn nứt), Bồ Tát vĩ đại, tôi làm sao mà báo đáp ngài được một phần vạn đây? Hiện tại vị Quan Thế Âm Bồ Tát này tôi vẫn tiếp tục thờ cúng, ngài là vị Bồ Tát vĩ đại số một ở trong Lôi Tạng Tự của tôi.

14. Thăm cư sĩ Chu Phi

Cư sĩ Chu Phi là tổng biên tập tờ nguyệt san Phật giáo Cây Bồ Đề. Trong thế giới tâm linh nhỏ bé của tôi, tôi nghĩ con người này một khi đã là tổng biên tập của một tờ nguyệt san Phật giáo rồi thì nhất định là một đại sư học Phật và học linh. Bởi vì ngộ cảnh của tôi đặc thù, nếu tôi có thể từ chỗ của cư sĩ Chu mà có được một vài khai sáng về pháp, có thể trên phương diện tu luyện lại lên được một tầng cao mới cũng chưa biết chừng. Thế là tôi theo địa chỉ tìm đến nơi ở của cư sĩ Chu. Khi ấy ông ấy sống ở gần khu chung cư Đài Trung. Tôi lên tầng, nói thẳng về ý định mà tôi đến.

Vợ chồng cư sĩ Chu rất đỗi ngạc nhiên, lắc đầu nói: ”Thiên hạ làm gì có chuyện như thế, lấy đâu ra chuyện như vậy.” Bà Chu còn niệm chú Đại Bi vào tôi lia lịa, tôi nói: ”Bà Chu, tôi cũng mỗi ngày đều trì tụng chú Đại Bi một lần đấy.” ”Ôi! Thật sao.” Bà Chu tỏ ra rất ngại ngùng, đối với bà Chu mà nói, Lư Thắng Ngạn tôi không phải bị thần kinh thất thường thì cũng là bị ma nhập, chú Đại Bi là Thiên Thủ Thiên Nhãn đại bi tâm đà-la-ni, đuổi tà trục ma có hiệu lực lớn, không thể coi thường pháp lực của thần chú này. Nhưng Lư mỗ tôi cũng trì chú Đại Bi, thậm chí niệm xuôi đọc ngược tôi đều thuộc làu như cháo chảy. Ví dụ như chú Lăng Nghiêm, vua của các câu chú trong Phật môn, từ lâu tôi đã thuộc nằm lòng, mỗi buổi sáng lúc 4 giờ, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ép tôi thức dậy, bắt quỳ xuống niệm chính là chú Lăng Nghiêm.

Cư sĩ Chu trầm ngâm không nói, rất lâu sau mới nói một câu: ”Cái mà anh gặp đại khái là tâm ma rồi! Tâm ma thì không thuốc gì cứu chữa được.” Tôi nói: ”Người vì đạo giống như khúc gỗ nổi trên mặt nước, xuôi theo dòng mà chảy, không chạm vào hai bên bờ, không bị quỷ thần ngăn trở, không bị dòng nước xoáy hút vào, cũng không bị mục nát, như thế thì khúc gỗ này nhất định sẽ đi ra biển. Người học đạo không bị tình dục mê hoặc, không vướng víu vào những thứ xấu xa, thanh tịnh vô vi, có thể không đắc đạo sao? Câu nói này cũng chính là Phật nói, giờ đây tôi tinh tấn như vậy, có được kì duyên, lẽ nào đúng là tâm ma sao?”

Vợ chồng cư sĩ Chu ngây ra nhìn tôi, một câu cũng không trả lời được. Chu Phi nói: ”Anh Lư, xin bỏ qua cho chúng tôi kiến thức không đủ, nhưng anh có thể đi tìm thầy của chúng tôi là cư sĩ Lí Bỉnh Nam, chúng tôi đều là học sinh của ông ấy, ông ấy tin Phật tương đối lâu rồi, kiến thức tương đối rộng, có lẽ ông ấy có thể trả lời câu hỏi của anh. Cảnh ngộ của anh thật sự là quá kì quái, nhưng Phật đạo rốt cục là có sự sai khác, thầy Lí là đại sư Phật học, anh tìm thầy ấy là được.” ”Cảm ơn cư sĩ đã giáo huấn, tôi sẽ khắc sâu trong lòng.”

Tôi bái lạy tượng Phật và tượng Địa Tạng Vương mà cư sĩ Chu thờ cúng trong nhà, tôi cáo từ và đi ra phố. Trong lòng tôi bộc phát rất nhiều nghi vấn, thật sự là tâm ma gây ra chuyện sao? Đúng vào lúc nghi ngờ trong lòng tôi khởi lên, trước mắt tôi bay lên một vòng ánh sáng, ánh hào quang tỏa ra bốn phía, bên trong có một vị Bồ Tát đội mũ Ngũ Phật đang ngồi, Bồ Tát nói: ”Ta chính là phân linh của Địa Tạng Vương Bồ Tát ở núi Cửu Hoa, thấy con nghi ngờ, ta đặc biệt đến để nói cho con rõ. Tính không thay đổi, tức là tu hành không có một tí mong cầu nào, chính là nơi an thân lập vị, không bao giờ được quên chính mình là Phật Tổ. Liên Sinh, Phật loại chính là dị loại, dị loại chính là Phật loại, đi vào dị loại có chướng ngại, đi vào Phật loại lại càng có chướng ngại, nhớ kĩ, nhớ kĩ, chớ quên, chớ quên. Sau này chính là thời kì thử thách và rèn luyện của con, ta đặc biệt nói cho con biết, chớ nghi ngờ, đừng nghi ngờ.”

Nói xong, ánh hào quang ấy đã xuyên vào bầu trời đi mất, trong sát-na đã không thấy nữa, còn tôi đứng giữa đường, đứng ngay ngã tư, gió lạnh thổi vù vù, trong lòng tôi rất lạnh.

15. Thăm cư sĩ Lí Bỉnh Nam

Trong giới Phật giáo, uy tín của cư sĩ Lí Bỉnh Nam không thua kém gì những đại hòa thượng xuất gia. Thứ tư hàng tuần, ông ấy có buổi giảng kinh tại thư viện Từ Quang. Ngày thứ năm, tại bệnh viện Bồ Đề thuộc chùa Phật giáo Thiện Quả Lâm, thầy Lí giảng kinh A Di Đà rất nổi tiếng, các trường đại học, học viện, câu lạc bộ Phật giáo của miền trung, những người học Phật trẻ tuổi rất sùng kính cư sĩ Lí Bỉnh Nam. Thầy Lí Bỉnh Nam còn nhận giảng dạy tại trường cao đẳng, uy tín của ông ấy bất kì người học Phật nào cũng biết.

Tuy vậy, tuổi tác của thầy Lí cũng đã nhiều dần rồi, già rồi. Khi tôi đến thăm ông ấy, đó là lúc chạng vạng một ngày mùa hè, tôi tìm đến nhà số 9 đường Chính Khí ở thành phố Đài Trung. Lí Bỉnh Nam tiên sinh đi ra mở cửa, tôi chắp tay trước ông ấy và niệm một câu Phật hiệu, ông ấy cũng đáp lại bằng một câu Phật hiệu. Chúng tôi ngồi trong phòng khách, tôi bày tỏ rằng tôi đến để thỉnh giáo ông ấy, rồi sau đó, tôi kể ra từ đầu đến cuối trải nghiệm của chính mình và xin ý kiến ông ấy xem chuyện này là thế nào.

“Thiên hạ có những chuyện như vậy sao?” - Cư sĩ Lí hoài nghi hỏi. ”Không hề giả, đích thực là như vậy.” - Tôi nói chắc như đinh đóng cột. ”Tôi cho rằng đó không phải là Thần, mà là Ma. Những Thần mà anh nhắc đến gần như đều là Thần ngoại đạo, Phật mới là tột cùng, tột cùng và không tột cùng chính là sự khác biệt giữa Phật và Thần. Giống như Thổ Địa Công này, Thành Hoàng này. Tôi không phải không tin, mà là căn bản tôi chỉ tin Phật, không để ý đến họ, Thần Tiên ngoại đạo toàn là hưởng thụ phúc báo của trời mà thôi, tự thân họ còn không đảm bảo được thì làm sao có thể độ người? Bản thân anh hãy cẩn thận, thận trọng, pháp thuật của Ma cố nhiên là lợi hại, nhưng tà không thắng chính, chỉ có sửa cho ngay suy nghĩ của mình mới xem là chính niệm, chính tri chính pháp.” ”Nhưng vì sao Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh lại bảo cháu bái Phật niệm Phật? Bái Phật niệm Phật này chẳng phải là bất lợi đối với bản thân Ma sao?” - Bởi vì tôi đã trải nghiệm cảnh giới kì dị này, đương nhiên không thể ngay một lúc mà tin lời của thầy Lí được. ”Anh không hiểu niệm Phật cũng sẽ gặp Ma à?” ”Cái gì? Niệm Phật cũng có thể gặp Ma, thế sao vừa bảo người ta niệm Phật, lại vừa bảo người ta đừng niệm, chuyện này là như thế nào?” ”Trước mắt anh tạm thời sẽ không hiểu được điều này đâu, tóm lại, tốt nhất là anh hãy bỏ ngay sự quấy nhiễu của họ, hãy chăm chỉ đọc một vài kinh Phật, sống một cuộc sống của người bình thường, bằng không sẽ lấy mê dẫn mê, chung quy vẫn là mê. Anh không cần nghe lời họ, bằng không họ sẽ hút hết tinh hoa thân thể của anh, sức khỏe anh sẽ càng ngày càng sút kém, cuối cùng không chống đỡ nổi nữa thì sẽ chết, khi ấy đừng trách Lí Bỉnh Nam tôi không khuyên can anh.” ”Khoan đã thầy Lí, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sư đối với cháu chưa bao giờ có ác ý, những Phật Bồ Tát mà cháu đã gặp đều từ bi từ thiện, không hề có một chút thái độ hung ác nào. Các vị dạy cháu phải quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, dạy cháu một lòng hướng Phật, một lòng hướng pháp, một lòng hướng thiện, lẽ nào những điều này đều là sai sao? Còn nữa, thân thể cháu chưa bao giờ cảm thấy khó ở, trái lại thân thể càng ngày càng khỏe mạnh, không hề có chỗ nào không ổn cả!” ”Ồ!” - Lí Bỉnh Nam nói: “Cái này tôi cũng chẳng có cách nào hiểu được.”

Từ trong tủ sách, ông ấy rút ra một cuốn “Khái niệm Phật học” đưa cho tôi, hỏi tôi: ”Lần tới Phật Giáo Liên Xã sẽ quy y cho các tín đồ Phật giáo, anh hãy đến quy y đi! Bình thường anh đọc sách gì?” ”Cháu thích Triệu Châu [thiền sư Trung Quốc Triệu Châu Tùng Thẩm (778-897)], Vân Môn [thiền sư Trung Quốc Vân Môn Văn Yển (864-949)], Vĩnh Minh [tổ sư Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975)], Tuyết Đậu [thiền sư Trung Quốc Tuyết Đậu Trọng Hiển (980-1052)], Viên Ngộ Khắc Cần [thiền sư Trung Quốc (1063-1135)], đọc một số bảo điển Thiền tông như “Truyền Đăng Lục”, “Ngũ Đăng Hội Nguyên”, “Lục Tổ Đàn Kinh”. Còn kinh Phật thì cháu đều đọc hết.” - Tôi thật sự rất thích đọc kinh sách, kinh sách trong nhà tôi đã chất cao như núi. ”Cuốn “Khái niệm Phật học” đương nhiên là hơi đơn giản, nhưng anh đọc thử cũng không có gì xấu.” - Thầy Lí vừa nghe tôi đọc nhiều kinh sách như vậy thì nét mặt có biểu hiện hoảng hốt, rất hiển nhiên, cuốn “Khái niệm Phật học” quá nông.

Tôi cáo biệt thầy Lí và trở về nhà. Đêm ấy, Linh Sư đã đến, Linh Sư nói: ”Lời của cư sĩ Lí con thấy thế nào?” ”Linh Sư, thầy biết à?” ”Sao lại không biết, ta ở ngay bên cạnh con, ta nhìn thấy cư sĩ Lí Bỉnh Nam, nhưng huệ nhãn của cư sĩ Lí thì lại không nhìn thấy pháp thân Vô sắc giới của Tam Sơn Cửu Hầu ta.” ”Điều cư sĩ Lí nói, Linh Sư có cảm tưởng gì?” ”Phật là vô thừa, Đạo là vô cực, hoa đỏ lá xanh và ngó sen trắng, thiên hạ vốn dĩ là một nhà. Thật đáng thương! Người người không biết nghiệp báo kiếp trước, cho rằng là ngũ uẩn ngăn trở, cho rằng là Thiên Ma ngoại đạo, ra khỏi Thiên Ma ngoại đạo rồi thì lại bị Phật pháp ngăn trở, nhập Phật pháp bị cho là cản trở Phật pháp, kiến thức quá nông, lấy mê dẫn mê, lại còn nói ra những đạo lí lớn kinh thiên động địa. Tiếc thay! Tiếc thay! Nhiều lần trải qua trăm cay nghìn đắng, kết cục là vẫn còn bám chấp, chấp vào Phật pháp, quên mất bản thân chính là một Phật tử rồi!” - Linh Sư nói xong mấy câu này rồi cũng không nghe thấy tin tức gì nữa.

Sau đó, tác giả từng đến thăm rất nhiều cao tăng Phật giáo, kể ra thì có Thánh Ấn, Sám Vân, Đạo An, Chấn Quang, Nam Đình, v.v… Trong số đó chỉ có pháp sư Chấn Quang là hơi tin tưởng, còn những pháp sư khác đều nói: “Không đáng tin.”

16. Quy y và thọ Bồ Tát giới

Quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, đây là tam quy y. Quy y Tam Bảo, cúng dưỡng Tam Bảo là quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của tín đồ Phật giáo, chúng sinh học Phật là để thành Phật, và muốn thành Phật thì nhất định phải quy y.

Tác giả theo chỉ thị của Linh Sư, tại Đài Trung Phật Giáo Liên Xã đã quy y dưới chân của Ấn Thuận đại pháp sư, pháp danh là Huệ Ngạn. Hai chữ Huệ Ngạn này là cư sĩ Lí Bỉnh Nam đặt cho tôi. Cùng ngày, mẹ tôi cũng thọ tam quy y, pháp hiệu của mẹ tôi là Huệ Uẩn. Vào lúc ấy, trong nhà tôi đã tự sắp đặt một Phật đường nhỏ, ban đầu như vậy là cũng có quy mô, tôi cúng dưỡng Đạo gia phái Diêu Trì, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn làm chủ Thần. Ngoài ra còn thờ giáo chủ Phật giáo Bổn tôn Thích Ca Mâu Ni Phật làm chủ. Lại thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát làm chủ, ngoài ra còn có Quan Thế Âm Bồ Tát và các vị Đại Bồ Tát. Mẹ tôi và tôi sớm tối dâng hương cúng trà thơm, mỗi lần vào mồng một, mười lăm hoặc ngày Quán Âm Trai, chúng tôi lễ Phật tụng kinh, kinh chú do một vị tì kheo ni là thầy Thượng Lâm ở chùa Từ Minh truyền dạy cho một chút, còn những cái khác đều là do pháp sư Thiện Tứ trụ trì khai sơn của chùa Từ Âm truyền thụ cho.

Thầy quy y của tác giả - Thượng Ấn Hạ Thuận, là một phái của đại sư Thái Hư tổ truyền một dòng cho pháp sư Ấn Quang, thuộc phái Tam Luận Tông, pháp môn niệm Phật, tôn sùng kinh A Di Đà, Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương, Vãng Sinh Luận. Ba kinh luận này chính là bảo điển của Tịnh độ tông. Tôi cùng mẹ tôi học kinh sám và chú ngữ, hoặc hát hoặc đọc, người ta học một tháng, tôi và mẹ tôi chỉ cần một tuần, người khác phải học một tuần thì chúng tôi chỉ cần một ngày. Tóm lại, hễ học là hiểu, hễ hiểu là nhớ chắc luôn, dường như kiếp trước chúng tôi đã từng học qua rồi. Chú ngữ có khó thế nào, chú ngữ có dài thế nào thì cũng có thể thuộc làu làu như cháo chảy.

Năm Dân Quốc 61 (năm 1972 công nguyên), chùa Bích Sơn Nham ở Nam Đầu kỉ niệm tròn 220 năm khai sơn (tính từ năm Càn Long 17). Trụ trì của chùa Bích Sơn Nham là pháp sư Như Học phát tâm truyền thụ Hộ Quốc Thiên Phật giới hội, mời các đại đức cao tăng trong và ngoài nước phân chia nhau nhận các chức việc giới đàn. Vào ngày 17 tháng 4 (tức ngày mồng 4 tháng 3 âm lịch), khai đường truyền giới. Tác giả biết rằng: giới là căn bản của xuất thiện diệt ác, là hạt giống siêu phàm nhập Thánh, duy có thọ trì Thánh giới của Như Lai, nếu có thể vì việc sinh tử đại sự mà siêng năng cầu đạo chân chính thì tất có thể chứng đắc đạo bồ đề, vì thế tôi hân hoan đi thọ giới.

Trong lúc thọ giới, tôi sâu sắc lĩnh hội được khai thị của giới sư. Lão pháp sư Huệ Tam đắc giới hòa thượng nói: “Giới hòa thượng là người truyền thụ cho các anh chị giới pháp; yết ma hòa thượng là người dạy cho các anh chị làm pháp, làm pháp là sám hối tất cả nghiệp tội; giáo thụ hòa thượng là người dạy anh chị uy nghi, dạy anh chị dựa theo giáo pháp mà làm. Các anh chị đã đến nhận Bồ Tát giới thì cần phát tâm bồ đề. Bồ Tát chính là tự lợi lợi tha, lấy việc làm lợi cho người khác làm tôn chỉ. Phật giáo Tiểu thừa A La Hán là lấy việc lợi mình là tôn chỉ, lợi người chính là cứu độ tất cả chúng sinh, tu lục độ vạn pháp.”

Yết ma hòa thượng - lão pháp sư Hiền Đốn khai thị: “Các vị phải biết, từ vô thủy kiếp đến nay, những nghiệp tội mà chúng ta đã tạo ra là cái gì? Chính là tâm có ba loại nghiệp tội, thân có ba loại nghiệp tội, khẩu có bốn loại nghiệp tội. Ba nghiệp tội của tâm chính là, thứ nhất là tâm tham. Kinh nói rằng người có tâm tham sau khi chết sẽ đọa vào âm gian làm ngạ quỷ. Thứ hai là tâm sân hận, người có tâm này sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục. Thứ ba là tâm ngu si, tức là không biết rõ thị phi đúng sai, tự làm tự chịu, sau khi chết đi đọa làm súc sinh. Còn ba nghiệp của thân, thứ nhất là nghiệp sát, không nghe được đạo lí của Phật Tổ. Thứ hai là nghiệp trộm, người trộm cướp không nghe được đạo lí của Phật. Thứ ba là nghiệp dâm, người phạm dâm không nghe được chính pháp của Phật. Khẩu có bốn nghiệp chính là ác khẩu [nói lời xấu ác], hai lưỡi [lươn lẹo đặt điều], vọng ngữ [khoác lác], ỷ ngữ [nói lời khiêu dâm]. Mười loại nghiệp tội này chính là mười điều ác, mười điều ác này có thể thay đổi, thay đổi thành mười điều thiện.”

“Kinh nói rằng: “Tội từ tâm khởi thì tâm sám hối, nếu tâm diệt thì tội cũng diệt, tâm vong tội diệt thì hai cái đều không, đây gọi là thật sự sám hối.” Cho nên Giới trường gọi là Sám hối đường. Nhục thân của các anh chị là do bố mẹ anh chị sinh ra, thân Phật Bồ Tát sau này là phải dựa vào giới sư mà sinh ra. Người đắc giới phải buông bỏ hết tất cả gia sự vạn duyên, chuyên tâm lễ Phật sám hối, học tập giới pháp, theo thời gian đạt thành tựu cho đến khi thành Phật.”

Giáo thụ hòa thượng - lão pháp sư Giác Quang khai thị: “Cái gọi là ba nghìn uy nghi, tám vạn tế hành, nói chung quy lại không nằm ngoài bốn uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm. Đi phải như gió, đứng phải như cây tùng, ngồi phải trên tế dưới thô, bốn bề yên tĩnh, không động không lắc, trang nghiêm tự nhiên. Còn nằm tức là ngủ, ngủ phải nằm cong như cung, nằm nghiêng bên phải là cát tường.”

Tác giả sau đó đã phát mười bốn đại nguyện, mười bốn đại nguyện này là cho đến tận cùng sau này:

1. Thường năng niệm Phật, thân cận với thiện tri thức. 2. Thường năng xả li các ác tri thức. 3. Thậm chí gặp nhân duyên mất mạng cũng không phạm giới. 4. Thường năng đọc kinh luật Đại thừa, nghiên cứu ý nghĩa sâu xa của chúng. 5. Thường năng làm vô thượng bồ đề, sinh tín tâm. 6. Nếu gặp chúng sinh đau khổ thì phải năng giúp đỡ. 7. Thường tùy sức mà cúng dưỡng Tam Bảo. 8. Thường năng hiếu thuận cha mẹ, tôn kính bậc thầy. 9. Thường bỏ thói lười biếng, siêng năng cầu Phật đạo. 10. Khi mọi phiền muộn phàm trần sinh ra, có thể chế ngự tâm mình. 11. Thề nguyện độ chúng sinh không giới hạn. 12. Thề nguyện cắt đứt phiền não vô biên. 13. Thề nguyện học vô lượng pháp môn. 14. Thề nguyện thành tựu Phật đạo vô biên.

Phát nguyện xong, thầy Huệ Tam trước Phật, nói sang sảng: “Trông ra mười phương, vô biên vô tế, trong các thế giới, Chư Phật Bồ Tát. Nay tại đất nước Đài Loan, huyện Nam Đầu, trấn Nam Đầu, chùa Bích Sơn Nham, hiện có Lư Thắng Ngạn Bồ Tát, Huệ Tam Bồ Tát con đã ba lần thuyết giảng thọ Bồ Tát giới, con làm nhân chứng. Chỉ mong mười phương, vô biên vô tế, trong các thế giới, Chư Phật Bồ Tát, đệ nhất chân Thánh, dù hiện không hiện, mọi lúc mọi nơi, tất cả hữu tình, đều đã thấy Lư Thắng Ngạn thọ Bồ Tát giới, cũng đều làm chứng. Hiền từ thương xót! Đại hiền từ thương xót!”

Khi thầy Huệ Tam đọc bài văn này, tôi nghe thấy trong không trung có tiếng sấm rền, như tiếng gầm sư tử làm rung chuyển trời đất. Tôi quay đầu lại nhìn những người khác, họ đều không cử động, dường như họ đều không nghe thấy gì. Sau tiếng sấm rền vang, có âm thanh như tiếng nhạc hát rằng: “Giới như nhật nguyệt sáng, cũng như chuỗi ngọc châu, Bồ Tát như vi trần, vì là thành chính giác. Chúng sinh nhận giới Phật, tức nhập vào Phật vị, cùng đạt thành đại giác, thật là các Phật tử.”

Trong khoảng thời gian thọ giới, tôi thấy pháp sư truyền thụ U minh giới, là bởi những Bồ Tát mới nhận giới vì để báo đáp ơn thân nên đã thay cho cha mẹ và quyến thuộc trong quá khứ thỉnh cầu truyền thụ U minh giới. Buổi tối pháp sư thăng tọa, những linh hồn thọ giới cũng đông xấp xỉ như người sống, long trọng nghênh đón thầy Huệ Tam triệu thỉnh linh hồn người chết nhập đàn. Đại diện bưng linh vị của người chết cùng hướng về phía trước quỳ thành hàng dài, tất cả đồng thanh thay người chết xin thọ giới. Giới hòa thượng Từ Doãn hát lời khuyên bảo các vong linh rằng: “Các linh hồn hãy chăm chú lắng nghe, kinh Phạm Võng nói rằng, nếu người nhận Phật giới, Quốc vương, Vương tử, các quan lại, tể tướng, tì kheo, tì kheo ni, mười tám Phạm Thiên, lục dục Thiên tử, thứ dân hoàng môn, dâm nam dâm nữ, nô tì, Bát bộ quỷ Thần, Kim Cang Thần, súc sinh, thậm chí người biến hóa, chỉ cần hiểu được lời của pháp sư, cố gắng thọ giới, đều gọi là người đệ nhất thanh tịnh. Đây chính là Phật từ bi bình đẳng, phổ tế chúng sinh trong tam giới…”

Khi truyền thụ U minh giới, tác giả khai mở linh cơ, mở to mắt nhìn ra, nhìn thấy phía trước chùa Bích Sơn Nham là một đại dương mênh mông, sóng biển trào dâng, đợt sóng này nối tiếp đợt sóng khác. Trong làn sóng biển có một đám u linh đang lắc lắc lư lư đi ra, hình dạng của họ không giống nhau, dị hình dị dạng, cả đời tôi chưa từng nhìn thấy. Từng lớp từng lớp quái nhân quái vật chen nhau chạy về phía bậc thềm của chùa Phật, hướng đến Phật Bồ Tát và thầy Huệ Tam trong điện đảnh lễ chắp tay vái lạy. Trong đám u linh có kẻ không đầu, có kẻ không tay, thậm chí có kẻ ba đầu sáu tay, đều nhất tề đến tham gia lễ hội u minh long trọng. Tôi nhìn một lúc thì cảm thấy đâu chỉ có như vậy, tôi lại thu khởi linh cơ, lại mở to mắt ra nhìn, phía trước chùa trống không, cúng phẩm và bàn cúng bày thành hai hàng, pháp khí kêu leng keng, các tì kheo, tì kheo ni hát vang Phạn âm.

Trong bản văn này, tôi ghi chép lại một sự việc nhỏ. Trong các giới hữu có một vị họ Chu tên Tâm Di, 51 tuổi, là người Giang Âm tỉnh Giang Tô, là đệ tử dưới môn của pháp sư Nam Đình, pháp hiệu là Quán Nhẫn. Ông ấy nói với tôi rằng sắp đi Malaysia, nhưng xin visa mãi vẫn chưa được, rất lo lắng. Bởi vì mãi vẫn chưa đi được nên tôi cười với ông ấy và nói rằng: ”Tôi bói cho anh một quẻ xem sao nhé?” ”Cậu biết đoán mệnh à?” - Ông ấy lắc đầu không tin. ”Thử xem là biết.”

Tôi dẫn ông ấy đến từ đường Trung Liệt ở gần đó, nơi đó rất yên tĩnh. Tôi nhặt lấy mười hai viên sỏi, thổi ba hơi khí vào các viên sỏi. Tôi niệm thầm kinh chú và sinh thần bát tự của Chu Tâm Di. Tôi tung sỏi lên, chúng rơi xuống giống như mưa. Tôi đếm những viên sỏi phân tán ra, tổng cộng bảy viên, còn năm viên khác thì cách nhau khá gần. Sau đó tôi bảo Chu Tâm Di nhặt một viên sỏi đưa cho tôi. Ông ấy cúi người nhặt lên, không ngờ lại là một viên bị khuyết một góc. Tôi nói: ”Vận khí của ông thật tốt. Tháng bảy năm nay nhất định sẽ lên đường, tháng bảy có thể đi Malaysia được.” ”Pháp sư Diễn Bồi ở Malaysia, tôi có thể đến thăm ông ấy rồi.” - Chu Tâm Di nói.

Một tháng sau khi thọ giới, Chu Tâm Di chạy đến nhà tôi, vừa nhìn thấy tôi thì đã muốn bái tôi làm thầy, tôi hỏi “có chuyện gì?” ”Chuẩn! Chuẩn quá, quả nhiên tháng bảy tôi sẽ lên đường, cậu truyền cho tôi mấy chiêu tướng thuật đi.” - Chu Tâm Di xúc động nói. Tôi dạy ông ấy một bộ tướng pháp thực dụng. Ông ấy hết lời cảm ơn tôi rồi đi xuất ngoại.

17. Thuật độ vong

Buổi tối một ngày tháng bảy năm 61 [năm 1972], tôi đang ngủ say thì nghe thấy tiếng chíp chiu chói tai ở góc phòng, giống như chim kêu, lại giống như tiếng kêu của côn trùng mùa thu. Tôi nghe kĩ hơn mới cảm thấy đó là mấy người đang nói chuyện, trong đó có người nói: ”Ôi! Hôm nay ở ké đây đi! Ngày mai có thể được ăn một bữa no.” ”Ngày mai là pháp hội siêu độ của chùa Pháp Hoành, không biết là mời vị pháp sư nào làm chủ đàn nhỉ? Nếu chỉ là loại pháp sư “nửa bình nước” thì chẳng thể nào tháo nổi xiềng xích trên tay tôi đâu!” [”Nửa bình nước” là một cụm từ lóng, để chỉ những người có kiến thức nông cạn nhưng lại hay kêu to, bởi vì bình nước chưa đầy khi lắc mới có tiếng kêu. Ngược lại, bình nước đầy khi lắc không có tiếng kêu, vì thế cụm từ “bình nước đầy” cũng là cụm từ lóng để chỉ những người có học thức sâu dày thì thường khiêm tốn ít nói.]

Lúc này tôi nghe thấy âm thanh của tiếng xích sắt va đập vào nhau. Có một người khác lại nói: ”Nhỏ tiếng một chút, đừng đánh thức người ta dậy.”

Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi tra danh bạ điện thoại, gọi một cú điện thoại đến chùa Pháp Hoành: ”Xin hỏi ngày hôm nay quý chùa có pháp hội siêu độ không?” ”Có chứ! Có phải anh muốn báo danh cho người thân và tổ tiên không? Muốn báo danh thì phải nhanh lên đó! Sớ văn của pháp hội đã sắp viết xong rồi.” Tôi nói cảm ơn rồi gác điện thoại. Từ sự việc ấy, tôi hiểu rằng vong linh thật sự có tồn tại thật.

Lúc chập tối cùng ngày, tôi chạy đến chùa Pháp Hoành. Pháp sư đầu đội mũ Ngũ Phật, ngồi yên ở chính giữa, hai bên có tì kheo ni cầm pháp khí, tiếng tụng kinh rất vang vọng. Pháp sư tạo thế tay Diễm khẩu, cũng chính là thủ quyết độ vong (Linh Sư từng dạy tôi lúc đêm khuya). Tôi vận linh đến hai mắt, phát hiện ra biển người đang ào đến, đi đi lại lại khắp nơi. Cảnh tượng này cũng giống như những gì tôi nhìn thấy ở chùa Bích Sơn Nham. Có hai con ma cầm gậy tre xuyên qua sợi dây ở bao gạo, nhấc lên rồi khiêng đi. Cảnh tượng này rất đặc biệt, bao gạo thì vẫn nằm yên đó nhưng hai con ma thì đã khiêng linh khí của bao gạo đi rồi.

Tôi phát hiện ra điều mà đám âm hồn kia gọi là ăn một bữa no không phải là ăn thịt cá gà vịt hữu hình, mà là đánh cắp cái khí của thịt cá gà vịt, cái mà bọn họ ăn chính là khí vô hình, còn người sống chúng ta thì ăn những thứ hữu hình. Hiện tượng này chứng minh thức ăn mà người sống ăn nhất định cũng có một dạng khí đặc thù ở trong đó.

Có lẽ độc giả đọc đến đây sẽ cảm thấy rất kì quái, Lư Thắng Ngạn có con mắt âm dương sao? Không phải, tôi không có con mắt âm dương, phương pháp mà tôi nhìn thấy u linh gọi là pháp khởi âm nhãn, là một dạng vận dụng linh. Một số pháp sư ngồi ở ghế chủ nếu không nhìn thấy được u linh thì cũng không có cách nào tháo được những xiềng xích trên người vong hồn.

Đúng vào lúc tôi nhìn thấy cảnh náo nhiệt thì ai dè trước mắt tôi có một bóng đen đang ngồi chồm hỗm khiến tôi giật mình đánh thót. Bóng đen nói: ”Thiện nhân, cầu xin anh cởi sợi dây xích trên tay tôi ra đi!” ”Sao anh không đi cầu pháp sư mà lại cầu tôi chứ?” ”Pháp sư đã niệm chú rồi, tay cũng kết thủ pháp rồi, mồ hôi cũng chảy ròng ròng rồi, thế mà xiềng xích trên tay tôi chẳng hề động đậy tí tẹo nào, pháp sư vung tay áo một cái, tôi đứng không vững nên bị thổi qua một bên. Tôi đã cầu Phổ Độ Công - Giám Phổ Quỷ Vương, Quỷ Vương lắc đầu, sau đó Quỷ Vương chỉ điểm cho tôi rằng hãy cầu cái người mặc áo sơ mi đứng ở bên kia, có lẽ anh ta có thể cởi được xiềng xích trên tay anh đó! Vì thế tôi mới cầu xin anh.” ”Cũng được. Để tôi thử xem.”

Kinh nghiệm mấy lần khiến tôi cảm thấy can đảm hẳn lên, đối diện với con ma mà chẳng hề thấy sợ hãi. Vốn dĩ ma là ma, người là người, ma không hại người, người không hại ma, căn bản là không có gì đáng sợ, đây chính là bình sinh không làm việc hổ thẹn lương tâm thì nửa đêm có tiếng gõ cửa lòng cũng không kinh sợ.”

Tôi niệm thầm ba biến chú Vãng sinh tịnh thổ đà-la-ni, con ma lắc lắc đầu, tay của nó vẫn bị xích chặt lại. Thế rồi trong miệng tôi niệm: “Đệ tử Liên Sinh, phụng Tiên thiên vô cực chính pháp, sai khiến các Thần lục giáp lục đinh, Thiên du thập nhị Khê Nữ, Na Diên Thiên Nữ, thống nhiếp Thần binh Tam viên đại tướng…” Khi ấy hai tay tôi chắp lại, nhưng bàn tay bỗng nhiên tự động kết ấn trạng, thủ pháp tự nhiên bổ từ trên xuống dưới. “Keng” một tiếng, hai tay của con ma kia đã tách khỏi nhau, bóng đen phủ phục trên mặt đất, liên tục khấu đầu. Đột nhiên con ma lao về phía bàn thờ, dẫn về rất nhiều rất nhiều bóng ma tay bị khóa chặt, có lẽ phải có tới hơn hai mươi người. Lần này phiền phức thật sự quá lớn, tôi liên tục niệm chú, cũng liên tiếp kết thủ pháp, bầy ma lần lượt tiếp nhận chú ngữ và thủ pháp, và con nào con nấy vui mừng khôn xiết rập đầu xuống đất rồi rời đi.

Khi ấy tôi đứng im bất động, tay liên tục kết ấn, liên tục vung thủ pháp, khiến cho những người đứng cạnh đó nhìn thấy, có lẽ người ta sẽ cho rằng cậu thanh niên này đột nhiên bị thần kinh phát tác rồi! Họ làm sao biết được tôi đã tháo xiềng xích cho biết bao nhiêu ma quỷ như vậy chứ! Người ta cười tôi thì mặc họ cười đi! Có ai có thể hiểu được? Có ai có thể thấy rõ? Pháp sư ngồi trên bục, khoa tay múa chân đầy ấn tượng, cố nhiên là có tồn tại những pháp sư thực học và thật sự hiểu đạo pháp, nhưng cũng không ít pháp sư hoàn toàn không nhìn thấy gì. Những pháp sư không thấy gì này liệu có mắc nợ những âm hồn một cái rắm không? Cái đó thì không thể biết được.

Những ma quỷ mà tôi nhìn thấy thật sự là quá nhiều rồi, có người hỏi tôi hình dạng của ma ra sao? Tôi đáp: ”Hình dạng mỗi con người đều khác nhau, ma quỷ cũng vậy. Sự khác biệt của con người là mỗi người có khuôn mặt riêng của họ. Sự khác biệt của ma quỷ cũng là khuôn mặt của họ, có khuôn mặt thiện và cũng có khuôn mặt ác.”

Có người vẽ ma quỷ là cái lưỡi dài ngoằng, tóc tai bù xù, mặt xanh nanh vàng, đây là con người vẽ ma giả thôi. Ma thật cũng giống như con người, cũng có thục nữ yểu điệu, cũng có quý ông nho nhã. Tác giả nhận thấy làm bạn cùng ma hoàn toàn không phải là một việc đáng sợ, mà làm bạn với con người, lòng người khó đoán biết, biết người biết mặt chẳng biết lòng, con người mới đáng sợ đó!

Vào thời gian đó, trong nhà tôi đã thờ hai mươi vị Phật Bồ Tát, bởi vì tôi tự mình thờ cúng tại nhà nên không có nhiều người biết. Có một lần, tôi thắp hương lễ bái, đột nhiên trong không trung có một đóa hoa sen từ từ hạ xuống, trên hoa sen có một vị Bồ Tát tỏa vạn tia hào quang đang ngồi, đầu đội mũ vàng Ngũ Phật, trước ngực đeo chuỗi ngọc, khuôn mặt như trăng tròn, tay trái cầm tích trượng, mặt mày hiền hậu.

Bồ Tát mở miệng nói: ”Liên Sinh, ta là U minh giáo chủ Địa Tạng Vương Tôn giả, Phật đường này sao không làm pháp hội siêu độ nhỉ?”

”Con có thể sao? Không được, sợ là người ta chê cười. Bồ Tát! Diễm khẩu hóa thực chính là việc của tăng gia, một ưu bà tắc tại gia từng nhận Bồ Tát giới như con đây nếu chiếm vị trí cao của vị ngồi giữa thì e là tự ý vượt qua phép tắc của tổ sư trong tôn giáo. Không biết chúng con mời một vị cao tăng làm chủ, còn con đi theo, không biết có thể làm như vậy không?”

”Liên Sinh, con cho rằng thập pháp giới ở chỗ nào? Thập pháp giới chính là vô pháp giới, thế giới trống không trống rỗng, lúc này con còn tranh luận làm chủ được hay không làm chủ được sao?”

”Bồ Tát, Phật đường là nhà mình, sao có thể làm pháp hội chứ? Còn phải xin giấy phép thành lập mới xem là hợp pháp.”

”Vậy thì sớm lo liệu đi.”

”Nhập Đạo hay là nhập Phật?” (Ý tôi hỏi rằng đăng kí vào hội Phật giáo, trở thành đoàn thể Phật giáo hay là vào hội Đạo giáo, trở thành đoàn thể Đạo giáo.)

”Đạo của Lão Tử không phải đạo của ta. Huyền bí của Lão Tử không phải huyền bí của ta. Trên trời dưới đất, sự giản dị của Phật gia, những luận thuyết sâu sắc của Phật gia, đều vì sự khác biệt của con người mà khác biệt, nhập Đạo hoặc nhập Phật có gì khác nhau sao? Đạo có thể diệt, Phật cũng có thể diệt, tự mình chăm chỉ thể hội đi, lĩnh ngộ đi.” - Địa Tạng Vương Bồ Tát mỉm cười rồi biến mất.

Thế là tôi đại diện tham gia Hội Đạo giáo Trung Hoa, trở thành một trong những đoàn thể hội viên của Hội Đạo giáo Trung Hoa, cá nhân thì lấy được tư cách Đạo sĩ hội viên của Hội Đạo giáo Trung Hoa. Còn hội Phật giáo thì cho tôi một tờ chứng thư hội viên Phật giáo. Hội Phật giáo Trung Quốc gửi đến cho tôi một tờ chúng nhận đã nhận Bồ Tát giới. Như vậy, tôi Phật Đạo song tu, chính thức trở thành người băng qua tam giáo: rửa tội theo Cơ Đốc giáo, qua công đức của Đạo giáo, thọ giới của Phật giáo. Nhưng từ đầu tới cuối tôi cho rằng, tổ chức của Phật giáo tương đối hoàn thiện, kinh điển hoàn chỉnh, lễ nghi rõ ràng, tư tưởng của tôi có khuynh hướng thiên về tư tưởng của Phật gia.

18. Pháp hội đầu tiên tại Lôi Tạng Tự

Pháp hội lần đầu tiên tại Lôi Tạng Tự được cử hành vào ngày 18 tháng 7 âm lịch. Trước đó, chúng tôi không thông báo cho bất kì ai, nhưng kì lạ là rất nhiều người không quen biết đã nghe được tin tức mà đến, đều chạy đến để tham gia pháp hội phổ độ này. Một gian Phật đường nho nhỏ mà người chen nhau chật như nêm cối, có thể nói là một biển người, chẳng khác gì một dịp trọng đại. Người người thành kính lễ bái Chư Phật Bồ Tát, tụng kinh chỉ có một mình tôi tụng. Tôi đốt sớ văn, rồi chỉ một mình ngồi ngay ngắn tụng kinh điển. Đầu tiên tôi tụng kinh A Di Đà và niệm chú Vãng sinh, sau đó tôi tụng một quyển khá dài là kinh Bản nguyện Địa Tạng Bồ Tát. Sau đó tôi lại niệm kinh Kim Quang Minh, Trai Thiên Khoa Nghi, rồi tụng kinh Kim Cang. Tụng nhiều kinh như vậy chắc chắn là rất mệt, nhưng tôi cứ thế niệm một mạch, không hề tạm ngừng, tốc độ ổn định và thoải mái, âm thanh lưu loát như nước chảy, dường như không phải là tôi tụng mà là Phật Bồ Tát đang tụng vậy, từng chữ từng chữ một đều nghe thấy rất rõ ràng.

Tiếp theo, tôi cũng học theo cách của một vị hòa thượng làm chủ đàn, lần lượt thi triển những thủ pháp mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã truyền dạy cho tôi. Rất nhiều người nhìn thấy tôi làm động tác thủ pháp thì hết sức kinh ngạc, muốn hỏi tôi những thế tay này là học từ ai mà có? Vị hòa thượng nào đã truyền cho? Họ cảm thấy kì quái cực kì. Có người hỏi tôi: “Anh bỏ tiền ra học những thứ này à?” Tôi cười không đáp.

Khi làm pháp hội, tôi có một cảm giác đặc biệt kì quái, dường như cả Phật đường tràn đầy linh khí, có một cảm giác nghiêm túc và trang trọng từ trong tâm trào dâng, và cứ liên tục rộng lớn lên, huyễn hóa thành nghìn đóa hoa sen, những chuỗi hoa trời từ trên không từ từ thả xuống. Khi tôi đốt sớ văn, tôi nhìn thấy một người mặc áo đỏ, đầu đội mũ ô sa của thiên quan, dùng tay nhận lấy sớ, sau đó truyền đi khắp thập phương pháp giới. Pháp hội lần đầu tiên của Đài Trung Từ Huệ Lôi Tạng Tự đúng là rầm rộ chưa từng có. Địa Tạng Vương Bồ Tát dùng tích trượng đẩy mở cánh cổng địa ngục, dẫn dắt các linh hồn của linh giới cùng tắm trong mưa pháp. Pháp khí kêu leng keng, Phạm âm ngân vang, giấy liếp hóa đốt, cảnh tượng thật sự hết sức náo nhiệt. Trong sự tưng bừng ấy lại phát sinh ra rất nhiều kì tích kì dị, tôi ghi chép lại như sau.

Thứ nhất, có một bà là Dương Liêu Bích Đào sống gần trường Sư Phạm Đài Trung, bỗng dưng hai mắt lại có thể nhìn thấy em trai đã qua đời lúc trẻ của mình. Em trai của bà ấy vào thời kì Nhật Bản chiếm cứ đã bị người Nhật bắt đi làm lính, rồi chết trận tại khu vực Đông Nam Á. Bà ấy nói: “Em trai của tôi được một vị Thổ Địa Công Công dắt đi, vừa đặt chân bước qua bậc cửa, khi nó nhìn thấy tôi, tôi nhận ra nó, đúng là em trai tôi, tôi nhìn thấy rất rõ ràng, nó đích thực là em trai tôi đó!”

Thứ hai, chủ cửa hàng thực phẩm Vĩnh Long họ Lí, sống tại đường Lực Hành tại Đài Trung, con trai bà ấy tám tuổi đã qua đời. Bà chủ họ Lí đó nhìn thấy một đóa hoa sen càng nở càng to ra, Địa Tạng Vương Bồ Tát ngồi ở trong đó, ngài nện tích trượng xuống và hét lên: “Đi đi! Người kia chính là mẹ của ngươi đó.” Đứa con trai tám tuổi trèo ra khỏi tòa hoa sen, òa khóc và ôm chặt lấy bà chủ Lí. Hai người ôm nhau khóc, tình cảnh hết sức thảm thương. Sau sự việc ấy, bà chủ Lí hỏi người xung quanh: “Mọi người thật sự không nhìn thấy con trai tôi à?” Người xung quanh bảo bà ấy: “Chỉ thấy hai tay bà làm động tác ôm rồi khóc vang trời, không biết là có chuyện gì?”

Thứ ba, sống tại đường Mĩ Thôn ở Đài Trung có một phụ nữ họ Liêu, bà ấy nói: “Tôi chỉ thấy trước mắt có một vệt ánh sáng lớn, tôi tiến về phía trước từng bước từng bước một, trèo đèo lội suối, cứ thế đi mãi, đến một nơi cực kì đẹp đẽ, cỏ thơm xanh biếc, trăm hoa đua nở, rừng sâu chim hót, có rất nhiều Tiên nữ đang chơi đùa, đó là một nơi đẹp tuyệt vời.” Bạn ạ! Nơi mà bà ấy nhìn thấy là nơi nào? Không ai biết được.

Thứ tư, có một cô gái tên là Trần Thu Lan sống tại xa lộ Đông Hạng. Cô ấy ngồi sau lưng tôi, hai mắt nhắm lại. Trong lúc mơ mơ màng màng, cô ấy đã đến một nơi âm u tăm tối, nơi đó hôi thối dị thường khiến người ta buồn nôn. Cô ấy phóng tầm mắt ra nhìn thì thấy một ao máu đỏ lòm đang phình rộng ra, bên trong có rất nhiều phụ nữ nửa chìm nửa nổi đầm mình trong ao máu, trông thấy cô Trần đến gần thì họ lớn tiếng kêu cứu. Cô cảm thấy cực kì sợ hãi, bèn tìm về đường cũ để quay trở về, sau khi tỉnh lại, cô ấy nói: chân tê hết cả.

Thứ năm, có một thanh niên tên là Khưu Văn Bân lần đầu tiên tham gia pháp hội phổ độ. Cậu ta cũng ngồi phía sau tôi, hai mắt nhắm lại, bất ngờ nhìn thấy vô số người lạ, người nào người nấy chìa tay ra trước cậu đòi tiền. Những người đó nói: “Cậu thiếu niên, kiếp trước cậu nợ tiền, kiếp này không thể tha cho cậu.” Nhưng khuôn mặt của những người đó cậu chưa từng gặp trong đời, những người này đã từng gặp cậu ở đâu chứ? Cậu không tin vào thuyết luân hồi, cũng không tin quỷ thần, nhưng những người đó cứ đòi nợ cậu, cậu thấy rất rõ ràng, nghe rõ mồn một từng câu nói. Lần này, cậu đã tin một chút rồi, cậu phát nguyện kiếp này sẽ làm nhiều việc thiện hơn một chút để đền bù cho những món nợ kiếp trước.

Thứ sáu,… việc linh dị rất nhiều, không thể kể ra hết.

Thành công của pháp hội lần này đã đặt nền móng cho pháp hội sau này. Mỗi lần pháp hội đều xuất hiện những sự việc linh dị, đúng là bất khả tư nghì, khiến rất nhiều người trước đây không tin quỷ thần đều tin chắc rằng có quỷ thần tồn tại, càng tăng thêm tín tâm tin Phật cầu đạo. Đúng vậy, thân người thật sự rất khó có được, sáng sống chiều chết, sinh mạng ngắn ngủi mấy chục năm. Trong hành trình cuộc đời ngắn ngủi này, nếu không tìm kiếm chân lí, theo đuổi đại đạo bất sinh bất diệt thì sống có giá trị gì đây!

Những gì tôi viết ở trên, câu nào cũng là sự thật, không dám nói khoác, nếu độc giả có xem chúng là truyện thần thoại thì tôi cũng không miễn cưỡng. Ngày nay là thời đại khoa học, thuyết luân hồi quả báo, thuyết thiên đường địa ngục, thuyết linh hồn vận mệnh, dường như đều bị cười cợt là mê tín, đặc biệt là trên phương diện tôn giáo, chỉ cần tín ngưỡng hơi kiền thành một chút cũng bị mỉa mai là người mê tín. Giống như tôi đây này! Người người coi tôi là cái gì? Họ bụng bảo dạ rằng tôi là đồ thần kinh thất thường, quái vật, không có tri thức. Bề ngoài thì tôi lẻ loi cô độc như vậy, nhưng nội tâm thì rất giàu có. Tôi ghét giả tạo, nói dối, tôi thật sự cảm nhận bị người ta gọi là bị bệnh tâm lí, khiến tôi bi thương muôn phần. Ngoài ra, tôi muốn thanh minh một điểm là, tôi không đề xướng mê tín, tôi rất ghét kê đồng hại người, ghét thần côn hại người, ghét thuật sĩ giang hồ mượn danh Thần quỷ để lừa người gạt tiền, dâm người cướp vợ, đây không phải là tội của Thần Phật, mà là tội của con người. Lòng người quá xấu xa, đã phá hoại danh dự của Thần Phật, khiến cho hoa nhài cắm bãi cứt trâu, loại người này đều nên xuống địa ngục, vĩnh viễn không siêu sinh.

Những gì tôi viết ở trên thật sự là những trải nghiệm linh dị. Đương nhiên còn có rất nhiều chuyện tôi chưa viết ra, chỉ e sẽ chiếm quá nhiều trang giấy, cho nên tạm dừng ở đây. Bây giờ tôi sẽ viết ra những nghiên cứu của tôi về thế giới vô hình, cũng xem như là những tâm đắc của tôi, trọng điểm linh cơ thần toán của tôi nằm ở đây, bạn tiếp cận thế giới linh dị như thế nào? Làm sao mượn linh để học tập Ngũ thuật? Làm sao thông linh? Làm sao thần toán? Làm sao đoán mệnh bốc quẻ cho người ta? Linh hồn là cái gì? Kê đồng hình thành ra sao? Lần lượt tôi sẽ tiết lộ những bí mật này. Đương nhiên những điều này đều là tôi tận mắt nhìn thấy, tận tai nghe thấy, có được chỉ thị của linh giới, sự dạy dỗ của ân sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh cũng không ít. Những linh thuật này, tôi tin rằng vẫn không người nào có thể biết được. Cuốn sách này cũng xem như là trăm năm khó gặp.

19. Linh là cái gì?

Linh là cái gì? Vấn đề này là một câu đố nghìn vạn năm, không ai có thể giải thích tỉ mỉ kĩ càng rõ ràng. Có người nói linh hồn tức là linh hồn, nhìn không thấy, sờ không thấy, dường như có dường như không. Nếu có thì cũng không có chút ảnh hưởng nào đến người sống, nếu không có thì càng không đáng nghiên cứu.

Không đáng nghiên cứu sao? Đâu đâu cũng có những con người hiếu kì, nhưng họ đều không thể nào bước vào cánh cửa ấy, linh hồn thật sự là không nhìn thấy không sờ thấy sao? Tôi cho rằng quan niệm này chính là “không biết mà cho rằng biết” rồi.

Nay tôi xin to gan nói một lời kinh thiên động địa với độc giả: “Bạn chính là linh hồn.” Linh hồn là cái gì? Bạn chính là linh hồn đó! Chính mình là linh hồn, thế vì sao chính mình lại không biết, không hiểu, vì sao chính mình là linh hồn chứ? Linh hồn trốn ở chỗ nào?

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện có một đoạn ghi chép rằng: Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương Vô Độc: “Địa ngục ở đâu?” Vô Độc đáp rằng: “Trong ba biển là đại địa ngục, có đến trăm nghìn địa ngục, mỗi địa ngục đều khác nhau.” Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương: “Mẹ tôi chết chưa lâu, không biết hồn thần đã đến nơi nào rồi?” Trong kinh văn, Thánh Nữ nói đến hồn thần, đương nhiên là chỉ linh hồn rồi, điều này chứng minh sau khi con người chết đi, linh hồn vẫn còn tồn tại, nhưng khi người ta còn sống, vì sao không nhìn thấy linh hồn trên thân thể chính mình chứ?

Tôi nói: “Khi con người vừa ra đời, bản thân hồn thần bị cái vỏ ngoại hình con người bao vây, mất đi khả năng thần thức. Con người sống trong thế giới hữu hình, tất cả đều quy về hữu hình, hồn thần khi ấy có thể nói là chết, mặc dù linh hồn tồn tại trong thân thể con người, nhưng đã mất đi tác dụng của thần thức thì có cũng như không. Cho nên ai ai cũng tưởng giả là thật, cho rằng nhục thể của mình là bản thân mình thật sự. Linh hồn thì chết, im lặng bặt tăm, suốt như thế cho đến một ngày nhục thể nằm xuống, nhục thể chết rồi thì thần thức mới từ từ sống lại, linh hồn sẽ lại trở nên hoạt bát. Đạo lí về quan niệm sinh tử luân hồi chính là ở đây, sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, vĩnh viễn không ngừng nghỉ. Người tu Đạo học Phật ngày nay, cái họ tu không phải là đạo trường sinh, mà là đại đạo sinh tử hồn thần siêu thoát vĩnh viễn.”

Có lẽ có người sẽ cho rằng hồn thần là chết, do vậy người người đều không có cách nào nhận thức được hồn thần trên thân thể chính mình, đây chẳng phải là nói xằng sao? Kiểu hoài nghi này cũng có lí, nhưng giả sử tưởng tượng một chút, giả sử con người sinh tồn tại thế giới này, khi nhục thể còn chưa nằm xuống mà linh hồn đã tỉnh lại rồi, xin hỏi, đây sẽ là một thế giới như thế nào? Rất nhiều người sẽ không thể hiểu cảnh giới này, bởi vì người đến được cảnh giới người-Thần hợp nhất mới có tư cách nói linh là cái gì, mới có tư cách dùng linh cơ để thần toán. Điều này kì diệu làm sao!

Theo như tôi biết, linh hồn tồn tại nhiều lắm, ở trong rừng núi, trong sông biển, trong âm trạch (mồ mả), trong dương trạch, thậm chí trên đường phố náo nhiệt, trên nhục thể của con người, to thì có thể che cả trời phủ cả đất, nhỏ thì ẩn thân trong hạt cát hạt bụi, trong những giọt sương nhỏ bé.

Chủng loại của linh hồn cũng nhiều, có linh Phật, linh Thần, linh người, linh ma, linh quỷ, v.v… Đây là những gì tôi quan sát thấy chứ không phải đến từ số liệu nào khác. Một câu hỏi quan trọng nhất, linh là cái gì? Tôi cảm thấy đó là một khối khí, một khối sức mạnh, một dạng biến hóa, thành phần cấu tạo nên nó là cái gì? Tôi cảm thấy nó giống như điện, giống như xạ tuyến, tồn tại là tồn tại, nhưng muốn phân tích thành phần của nó thì rất khó khăn, không thể coi thường. (Tác giả chỉ biết có sự tồn tại của linh hồn, nhưng không phải là nhà khoa học, nên không có cách nào phân tích được thành phần của nó.)

Theo lí mà nói, thế giới hữu hình chính là thế giới của mối quan hệ giữa con người và vạn vật, còn thế giới vô hình chính là thế giới của linh. Linh có thể biết thế giới hữu hình, còn con người của thế giới hữu hình thì lại rất khó hiểu về thế giới vô hình. Đây cũng chính là ngày nay nhân loại nghiên cứu linh học nhưng từ đầu tới cuối đều không thể nào giải đáp được nguyên nhân chân tướng. Mặc dù có người rất có linh thể, có thể giao tiếp và qua lại với linh giới, nhưng hẳn là bị châm biếm là thần kinh thất thường, tâm lí trục trặc, tinh thần rối loạn. Nhận thức về linh giới thật sự chỉ có thể ý thức thấy mà không thể truyền đạt thành lời, văn tự có giải thích hay thế nào thì cũng không có cách nào kể ra cái chỗ chân cơ huyền diệu của linh. Để cho người có hứng thú tự mình nhận thức về linh giới vậy!

Linh giới với con người của thế giới hữu hình chúng ta không chỉ là hàng xóm, mà còn có mối quan hệ gắn bó mật thiết. Chúng ta đến từ linh giới, cũng sẽ lại trở về linh giới, đồng thời con người và linh suy cho cùng là sống cùng nhau, sao có thể nói là không có liên quan chứ? Nếu chúng ta vận dụng sức mạnh của linh giới thì có thể thành tựu rất nhiều sự nghiệp lớn. Có lẽ mọi người sẽ không tin, chỉ nghe chơi thôi chứ chẳng hề tin, tin hay không tin là do bạn, còn thì cứ từ từ nghe tôi nói tiếp.

20. Sự quấy phá và tai họa của linh

Trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, phẩm thứ sáu “Như Lai tán thán” có nói: “Có những người nam nữ nằm liệt giường lâu ngày, muốn sống không được muốn chết chẳng xong, hoặc đêm nằm chiêm bao thấy ác quỷ, thậm chí người thân trong nhà, hoặc mơ thấy đi trên đường nguy hiểm, hoặc bị bóng đè, hoặc đi chơi cùng quỷ thần, trải qua thời gian dài trở nên bệnh tật ốm yếu, trong khi ngủ kêu gào khổ sở, thê thảm buồn rầu, đó đều là nghiệp đạo luận đối chưa quyết định là nặng hay nhẹ, nên hoặc là mất mạng, hoặc không thể hồi phục. Con mắt phàm tục của người nam, người nữ không phân biệt được việc ấy.”

Đoạn này trong kinh Địa Tạng đã chỉ ra rất rõ linh của quỷ thần có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của thân thể con người, “hoặc bị bóng đè hoặc đi chơi cùng quỷ thần”, cái chỉ ra ở đây chính là linh của quỷ thần, hàm ý chúng ở trong bóng tối quấy phá chính là nằm ở đây, cho nên không thể coi thường hành vi của linh. Theo kinh nghiệm của tác giả, tôi biết đích xác rằng linh có phân biệt thiện ác, giống như con người, con người cũng có phân biệt thiện ác, thiện có thể giúp con người làm thiện, ác có thể giúp con người làm ác. Linh giới cũng có chiến tranh giống như thế giới hữu hình vậy.

Trước khi viết về chủ đề này, tôi lấy một ví dụ thực tế để làm chứng: Có một hôm, tác giả đang ở Phật đường niệm tụng kinh Kim Cang thì có một thanh niên không quen biết chỉ đích danh là muốn tìm tôi. Người thanh niên này xấp xỉ 30 tuổi, đôi mắt sáng sủa tinh anh, mặt vuông tai lớn, vóc dáng cao ráo rắn rỏi, tỏa ra khí phách anh hùng. Người thanh niên này đi thẳng vào vấn đề: ”Lư tiên sinh, chị gái tôi ở tại bệnh viện Bồ Đề Đài Trung thường xuyên nghe giảng kinh tại Thiện Quả Lâm. Thiện Quả Lâm có một cư sĩ, ông ấy nhắc đến một vài việc linh dị của ngài, chị tôi đặc biệt muốn tôi đến thăm ngài, có lẽ ngài có thể giúp được tôi một chút. Tôi họ Kha, dạy ở trường trung học XX ở Đào Viên.” ”Có chuyện gì muốn tôi giúp vậy?” - Tôi tò mò hỏi, người thanh niên ở trước mặt tôi thân thể cường tráng, chẳng hề có một chút dấu hiệu ốm đau nào. ”Tiên sinh đừng thấy thân thể tôi cường tráng, trên thực tế tôi đã đi khám mọi bác sĩ rồi, các bác sĩ không có ai cho rằng tôi bị bệnh cả, kiểm tra sóng não cũng không có gì khác thường. Các cơ quan bộ phận trên thân thể cũng đã kiểm tra rồi mà không tìm ra một nguyên nhân nào. Nhưng mà tôi đã đau khổ đến cùng cực rồi, cũng không dám kết hôn, bạn gái tôi muốn kết hôn với tôi, nhưng bởi vì tôi có điều chỉ mình tôi biết nên không dám đồng ý, chỉ có chấp nhận đau khổ, cô quạnh sống hết cuộc đời này.” - Người thanh niên tỏ ra rất thê thảm, rớt những giọt nước mắt đau xót. “Rốt cục là có chuyện gì?”

Thế là anh ấy kể rõ cho tôi nghe đầu đuôi ngọn ngành. Khoảng 5 năm trước, anh đang giảng bài trong lớp học, đột nhiên cảm thấy có một âm thanh giống như tiếng ong bay từ xa đến gần, thế rồi đầu anh cũng cảm thấy một loạt cơn đau nhói, cái đau này còn nặng hơn bị chóng mặt đột ngột, khiến anh ấy không thể trụ vững được, kết quả là anh ngã lăn trên bục giảng. Học sinh thấy tình cảnh ấy thì kinh hoàng, nhưng sau khoảng 5 phút thì thầy giáo Kha dần dần hồi tỉnh. Khi không còn những cơn đau và chóng mặt, bản thân anh cũng không hiểu chuyện gì. Phòng y tế của trường kiểm tra sức khỏe của anh cũng không hiểu gì cả, thầy Kha thân thể cường tráng, thường ngày ngay cả cảm cúm cũng không dễ bị nhiễm, sắc mặt hồng hào, không có hiện tượng thiếu máu, vậy vì sao lại bị ngất chứ?

Lần đầu tiên bị ngất, thầy giáo Kha không hề xem trọng, sau đó số lần bị ngất liên tục tăng lên, mỗi lần trước khi ngất thì bản thân anh cũng có dự cảm, bởi vì âm thanh tiếng ong từ xa tới gần, từ gần thành tiếng ồn lớn, từ tiếng ồn lớn mà cảm thấy đau đầu. Sau khi ngất đi 5 phút thì cũng lại tỉnh dậy. Về sau mỗi lần nghe thấy âm thanh tiếng ong đến gần, anh lập tức bỏ phấn viết xuống, chạy về kí túc xá của trường đợi bị ngất. Sau 5 phút, anh lại trở về lớp học giảng bài. Trong 5 năm qua, anh ấy đã tìm đến các bác sĩ Đông, Tây y khắp nơi, uống thuốc tiêm thuốc, chữa bệnh bằng điện hoàn toàn vô hiệu. Bác sĩ nói: “Đây là chứng kiệt sức, thần kinh quá nhạy cảm, hiệu ứng tâm lí, đừng để ý đến nó là được.” Có bác sĩ Đông y nói: “Đây là chứng động kinh và hiện tượng heo nái điên, không có cách nào chữa được, tìm đến chuyên khoa thần kinh đi!” Bác sĩ chuyên khoa thần kinh nói: “Không tìm ra nguyên nhân bệnh, sóng não rất bình thường.” Sau đó, khi anh ấy ngất xỉu ngay trước mặt những bác sĩ này, các bác sĩ cũng bó tay hết cách. Căn bệnh này khiến tất cả các bác sĩ đều trợn mắt há mồm.

Lúc này, từ trên giá sách, tôi lấy xuống quyển kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, giở đến phẩm thứ sáu “Như Lai tán thán”, mời anh ấy đọc trước mặt tôi đoạn mà tôi đã viết ở trên. Anh hỏi: ”Tiên sinh có ý rằng tôi đã bị linh quấy nhiễu à?” ”Đúng vậy, cố nhiên con người ngày nay không tin chuyện này, nhưng dựa trên lập trường về linh dị mà tôi từng nhìn thấy, tôi không thể không nói như vậy. Khoa học có thể chứng minh trong vũ trụ có rất nhiều xạ tuyến tồn tại, tần số của vô tuyến điện có thể truyền đi khắp thế giới. Mặc dù chưa chứng thực được sự tồn tại của linh, nhưng cũng không thể một mực phủ định nó. Khi nhân loại chưa phát hiện được xạ tuyến thì xạ tuyến đã tồn tại rồi. Truyền hình phát đi cũng nhờ vào tần số, anh có thể nghĩ thử sự hiện diện của tần số có nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy được không? Các nhà khoa học nghiên cứu khoa học thì đúng rồi, khoa học cũng thay đổi từng ngày, nhưng khoa học không thể phủ định tất cả sự thật.” “Ngài nói chẳng sai, nhưng có thể chữa khỏi bệnh của tôi không?” ”Tôi sẽ xem thử, chỉ mong là tôi có được năng lực này.”

Khi tôi và anh ấy đang nói đến truyền kì về linh giới, đột nhiên anh hét lên: “Đến rồi, đến rồi, âm thanh tiếng ong lại đến rồi.” Tôi thấy anh đưa hai tay lên bịt chặt tai lại, đôi mắt trắng dã, thân thể anh đang ngồi trên ghế sofa từ từ đổ ra, rồi từ trên ghế sofa, anh ngã lăn xuống sàn nhà bằng đá, trong miệng lầm rầm những lời nói mê sảng khiến người ta không dễ gì hiểu được. Tôi cúi đầu thử nghe xem anh ta đang kêu lên điều gì. Kết quả là phát hiện ra giọng nói của anh lại hơi giống giọng con gái.

Lúc này, tôi đột nhiên nghĩ đến Linh Sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã truyền dạy cho tôi một câu chú, là câu chú chung để trấn ma, gọi là chú Đại Phạm Thiên Kim Cang. Thế là tôi dùng ngón cái ấn mạnh vào chỗ thần khiếu của thầy giáo Kha, niệm thầm chú Đại Phạm Thiên Kim Cang, chú là: “Ôm nia-lín chử-yín chi-mi su-tua luy-ling cang.” [Thần chú này được ghi phiên âm theo cách đọc từ tiếng Trung.]

“Hừ! Mi là ai? Vì sao lại quấn lấy thầy giáo Kha? Mau khai thật ra thì thả cho mi đi.” Ma nữ đó mượn giọng thầy giáo Kha nói: ”5 năm trước, thầy giáo Kha là hàng xóm của tôi, tôi vì bị bệnh mà qua đời. Trong lễ tang, thầy giáo Kha đi ngang qua trước cửa nhà tôi, anh ấy nhìn thấy tấm ảnh của tôi, nói một câu tội nghiệp, bởi vì anh ta thương xót tôi, tôi không có chỗ nào có thể trở về, chỉ biết tìm đến thầy giáo Kha thôi.” ”Khi ấy cô bao nhiêu tuổi? Tên gọi là gì?” ”19 tuổi. Tên là Trần Hương Lan.” ”Vì bây giờ cô đã không có chỗ nào để về, chi bằng để tôi niệm chú Thu hồn để thu hồn phách của cô về, nhập vào cây long não, giúp tôi bí mật truyền nhĩ báo và đi nghìn dặm, sau này công đức viên mãn rồi thì tôi giúp cô chuyển thế làm người, hoặc là độ cho làm chức quan trên trời được không?” ”Được thì được, nhưng thầy giáo Kha…” ”Thầy giáo Kha và cô không thù không oán, anh ta chẳng qua chỉ thương xót cô thôi, cô lại xem là thật, nếu cô muốn tốt cho anh ta thì chỉ có mau mau để anh ta đi mới là biện pháp tốt nhất. Nếu cô si mê anh ấy, chớ trách tôi dùng thủ ấn Ngũ lôi đánh cô vỡ nát, từ nay vĩnh viễn không siêu sinh.” ”Tiên sinh, tôi sẵn lòng để ông dùng cây long não làm vật thế thân cho tôi, bí mật truyền nhĩ báo nghìn dặm, nhưng không được nhốt tôi đâu.”

Thế là tôi niệm chân ngôn Thu hồn, lấy một mảnh cây long não đặt vào chỗ thần khiếu của thầy giáo Kha, nói: “Hỡi mẹ long não linh thiêng, sống tại nơi hoang vu bên những ngôi mộ cổ, nay tôi thỉnh ngài làm thần tướng, tránh không phải ở nơi hoang dã chịu gió sương, tứ thời bát tiết đều cúng tế ngài, mỗi ngày canh thơm ngài thử trước. Cấp cấp hách hách dương dương, nhật xuất đông phương, thần phủ nhất đoạn, tảo li thử phương. Đệ tử Liên Sinh phụng Tiên thiên vô cực chính pháp cấp cấp thu hồn luật lệnh cương.” Tổng cộng tôi niệm chú ba biến, lấy mảnh cây long não ra, đặt dưới chỗ Phật ngồi ở Phật đường, nơi mà người bình thường không nhìn thấy.

Thầy giáo Kha tỉnh lại, tôi nói: ”Anh trở về Đào Viên đi! Lần này anh khỏi hẳn rồi.” Thầy giáo Kha lắc lắc đầu không tin. ”5 năm trước, hàng xóm nhà anh có người nào là cô Trần Hương Lan không? 19 tuổi.” ”Có đấy! Nhưng cô ấy đã chết rồi, trông cũng khá xinh đẹp. Cô ấy có liên quan đến tôi sao? Đúng rồi, làm sao mà ngài biết cô gái này?” - Anh ngạc nhiên hỏi. Tôi kể toàn bộ sự việc từ đầu đến cuối cho thầy giáo Kha nghe, thầy giáo Kha bán tín bán nghi ra về. Mấy tuần sau, anh ấy gửi thư đến nói: ”Kể từ hôm đó, tôi không còn nghe thấy tiếng ong nữa, cũng không có những cơn đau, không ngất xỉu nữa, đã lại xuất hiện tương lai tươi sáng tốt đẹp rồi, đây là kì tích. Thắng Ngạn tiên sinh, đời này tôi vĩnh viễn cảm kích ngài. Nhân gian thật sự có thế giới linh dị.”

Tôi không trả lời thư, bởi vì Trần Hương Lan hiện tại đang ở trong Phật đường của tôi. Mặc dù cô ấy là một hồn ma nhưng tính tình không xấu, linh tính ngày một tăng tiến, giúp đỡ tôi được rất nhiều.

Từ câu chuyện có thật này, sức mạnh quấy phá của linh thật sự không thể xem thường. Chúng có thể ảnh hưởng đến động cơ hành vi của một người. Vong hồn của một nhà khoa học thậm chí có thể giúp được nhà khoa học còn sống, gợi ý những sự nhạy bén trong phát minh, khả năng này chính là giác quan thứ sáu của tiềm thức. Theo như tôi nghiên cứu câu chuyện chân thực kể trên, tần số của Trần Hương Lan gần giống với tần số của thầy giáo Kha nên dễ cảm ứng lẫn nhau. Bởi vì có tồn tại ý thức là thầy giáo Kha thương xót Trần Hương Lan, vô hình trung thành ra vong linh của Trần Hương Lan tìm đến thầy giáo Kha. Thầy giáo Kha giống như máy thu thanh, tiếp nhận tần số phát ra từ đài phát sóng của Trần Hương Lan vậy.

Cái gọi là tai họa của linh, đạo lí cũng gần tương tự, nhưng sự khác biệt nằm ở nhân quả báo ứng, ân oán kiếp trước, kiếp này trả. Còn có cái bình thường gọi là xung sát, sự việc có thật của thầy giáo Kha chính là phạm âm, bị âm linh quấy nhiễu. Những gì tôi viết ở trên có bằng chứng rõ ràng, nếu có người không tin, tôi cũng chẳng biết làm sao. Thiên hạ rộng lớn không thiếu gì chuyện lạ. Chuyện tôi gặp phải kì quái hơn câu chuyện này gấp trăm lần cũng có đó!

21. Khởi động chân linh nguyên thủy

Trên mỗi một thân người đều có một cái linh chân thực, nhưng thực tế đáng tiếc là nó đã chết, không thể hoạt động, là một cái linh chết không có tác dụng gì. Thế nhưng nếu có một ngày đánh thức chân linh nguyên bản này dậy thì lúc này cũng giống như nhục thể sống và linh cũng sống. Người có được linh sống (hoạt linh) này, trong thiên hạ không phải là không có, không những không phải là không có mà còn tương đối nhiều nữa.

Ở nước ngoài có cái gọi là “nhà ngoại cảm”, chính là người để cho quỷ thần nhập vào, ở trong nước chúng ta thì có cái gọi là kê đồng, kê đồng cũng có thể để cho quỷ thần đến nhập vào người và nói chuyện. Và con người nhờ nhà ngoại cảm và kê đồng mà có thể hỏi Thần hoặc bói toán tương lai. Nhóm người nhỏ này là người có hoạt linh.

Nhưng sự hiển hiện khi nhà ngoại cảm và kê đồng bị nhập vào, chúng ta có thể hiểu rằng họ chỉ là một thể trung gian mà con người và linh giới mượn để giao tiếp với nhau, tương tự như một trạm tiếp sóng vậy. Bản thân nhà ngoại cảm và kê đồng không biết đạo vận linh, chỉ biết cho mượn cái thân thể của chính mình để cho linh giới sử dụng, linh thể của những người này và tần số của linh ở linh giới rất gần nhau, cũng tức là linh tính có thể thu và nhận lẫn nhau, cũng tương tự như sinh ra tác dụng cộng hưởng. Cái này có thể xem như ứng dụng sơ bộ của hoạt linh.

Người bình thường cho rằng kê đồng là người ta giả vờ, giả làm quỷ thần để hù dọa người, điều này cũng có khả năng bởi vì linh nhập vào có nặng có nhẹ, linh nào nhập vào nặng một chút thì bản thân kê đồng sẽ bộc lộ tình trạng hôn mê, không tỉnh dậy được, mở miệng ra nói gì cũng không ai biết. Còn linh nhập vào mà nhẹ một chút thì bản thân kê đồng nhận biết được. Để thỏa mãn dục vọng của con người, kê đồng đã dùng đến những chiêu trò lừa tiền gạt sắc, đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho người ta không tin tưởng vào kê đồng.

Tác giả vì nghiên cứu linh học, thân lại gặp kì duyên, đi khắp trời nam đất bắc, phát hiện ra cứ mười kê đồng thì có tám người nhờ vào mánh khóe mà kiếm cơm ăn. Đồng thời, họ lợi dụng bản chất lừa đảo bẩm sinh của mình để nhập vào xác của một số nam nữ lương thiện, hại người ta bị lừa tiền mất trinh tiết, làm hổ thẹn linh giới, thần minh bị rơi vào tình huống khó khăn, ngay đến những kê đồng có hoạt linh muốn giúp đỡ người chân chính cũng bị liên lụy. Tôi quen biết rất nhiều kê đồng, nhưng tính người vốn ác, phần lớn họ dựa vào cái này để làm công cụ kiếm tiền, than ôi! Than ôi!

Ngoài kê đồng ra thì còn có người luyện linh và vận linh, loại người này thì đã ít lại càng ít. Cái gọi là luyện linh cũng tức là cái mà người tu Đạo gọi là phản bản quy chân, tìm về một cái “chân ngã”, mục tiêu sau cùng của tu Đạo có thể nói là “sự thoát xác bay lên của hoạt linh”, nhập thẳng vào thế giới thanh tịnh, đi vào trời đất không sinh không diệt. Cái mà người tu Đạo tu chính là một linh tính sống động hoạt bát, thuần phác ngây thơ. Vả lại, thuật vận linh có thể gọi là thuật thông linh, không cần phải dùng phương pháp cho mượn, mà vận chuyển linh trên thân người vào trong vũ trụ để cùng giao tiếp với Thần Tiên của linh giới. Pháp thuật tài tình này chính là Thần thuật thông linh. Linh sống trên thân người và linh sống ở bên ngoài thân cùng giao tiếp với nhau, sau đó biết được ý của những thần linh này, cảnh giới này vượt xa phương pháp cho mượn thân của kê đồng rất nhiều. Bản thân vẫn tỉnh táo, không hề chịu ảnh hưởng quấy nhiễu của linh giới bên ngoài, có thể tự chủ linh trên người, muốn đi về đông thì sẽ chẳng hướng về tây, muốn đi về tây thì chẳng hướng về đông, tự do tự tại, vui sướng vô cùng.

Luyện linh đến được trình độ tối thượng thừa có thể luyện thành thiên nhãn thông, vận linh đến hai mắt, trực tiếp có thể nhìn thấy linh giới. Thiên nhãn thông nói đến ở đây không phải là con mắt âm dương, nhưng cũng khá tương tự con mắt âm dương. Đại bộ phận con mắt âm dương là bẩm sinh, mắt của họ vào buổi đêm có ánh sáng lóe lên, giống như mắt loài chó vậy. Nếu vận linh đến hai tai thì có thể chứng đắc thiên nhĩ thông, thiên nhĩ thông có thể trực tiếp nghe được thế giới vô hình đối thoại.

Phần đầu tiên của cuốn sách này, tác giả đã nhắc đến người phụ nữ áo xanh, bà ấy sống tại Hoa Liên, tu Đạo ở phân đường Thạch Bích thuộc Từ Huệ Đường. Con người này đã chứng đắc thiên nhĩ thông, trực tiếp nói chuyện với quỷ thần. Trong số những người tôi quen biết thì ngoài thầy tôi Thanh Chân Đạo trưởng và người phụ nữ áo xanh ra, cũng khó mà tìm được người nào khác đã chứng thiên nhĩ thông. Có lẽ vẫn còn, nhưng xin thứ lỗi cho tác giả không biết. Khi vận linh ra bên ngoài thân thể thì có thể thăm dò được quá khứ vị lai, hoặc là biết được người khác nghĩ gì, cái này chính là sự vận dụng tha tâm thông. Còn như túc mệnh thông (nhân quả kiếp trước sau), thần túc thông (du lịch khắp nơi, đi lại linh giới tự do), lậu tận thông (không sinh không diệt, vô sinh vô tử), sáu loại thần thông này đều có thể từ việc tu luyện chân linh mà chứng được, tu đắc sáu loại thần thông này thì cũng chính là Đại La Kim Tiên, là Như Lai, là Phật vô thượng đẳng giác rồi.

Còn như làm sao từ một người bình thường không có hoạt linh trở thành có hoạt linh, khởi động được chân linh nguyên thủy, thì cái chỗ ảo diệu của nó nằm ở sự nhất tâm, điều này cực kì quan trọng. Tại đây tôi dẫn ra một câu chuyện có thật về khởi động hoạt linh để làm chứng. Tác giả giúp người ta khởi linh đã có tới mấy trăm người hoặc trên cả mấy nghìn người rồi, bởi vì số lượng người quá nhiều nên thật sự tôi không nhớ được tổng cộng có bao nhiêu. Lợi ích của khởi linh có rất nhiều, để đoạn sau tôi sẽ lần lượt chứng minh.

Thái Văn Minh là một kĩ sư tốt nghiêp đại học, kém tác giả hai tuổi, người Đài Bắc, cậu ấy là bạn cùng học thời kì sau, không có tín ngưỡng tôn giáo nào cả, thậm chí còn không có hứng thú đối với linh học, thân thể khỏe mạnh, lương thiện thuần hậu. Bởi vì các bạn học cùng trường đều truyền tin rằng: Lư Thắng Ngạn có bản lĩnh biết trời biết đất, cậu ấy cũng có nghe được một ít, nhưng cũng chẳng có ý kiến gì cả, cho rằng tin đồn thì là tin đồn thôi, không đủ tin tưởng. Đồng thời, trong con mắt cậu ấy, cậu ấy cho rằng con người Lư Thắng Ngạn kì quái, có lẽ là người thần kinh “chập cheng”. Không lâu sau, Thái Văn Minh tốt nghiệp, trùng hợp là lại cùng tôi làm mấy việc quan trọng.

Có một buổi chiều chạng vạng, Thái Văn Minh nói với tôi: “Lão Lư, tôi thấy con người anh chẳng có gì thần bí cả!” ”Thần bí ư? Vì sao phải thần bí? Tôi chỉ là một con người phàm phu, hà tất phải thể hiện là tôi khác người chứ! Chẳng phải tôi cũng sống giống như mọi người sao?” - Tôi cười cười trả lời. ”Tôi nghe người ta nói, anh có thể thần toán, dự đoán tương lai, biết trời biết đất, có thể nói chuyện với Thần minh. Nhưng mà, trước nay tôi chưa từng tin những chuyện này, huống hồ “Khổng Tử bất ngữ quái lực loạn thần” [Khổng Tử không nói những chuyện quái lạ, bạo lực, phản loạn, Thần linh], những thứ về linh hồn này, nếu không để tôi trải nghiệm thấy thì tôi tuyệt đối không tin, muốn tôi tin thì trừ phi để cho tôi nhìn thấy, đặc biệt là không phải là ở trong mơ mà là phải ý thức thấy được rõ ràng.” ”Cậu muốn trải nghiệm không?” ”Muốn.” ”Phương pháp duy nhất chính là khởi động chân linh nguyên thủy của chính cậu, dùng chân linh sống của cậu đi tiếp xúc với linh giới, như vậy mới có thể sinh ra sự cộng hưởng và cảm ứng. Nếu chỉ dùng nhục thể muốn tiếp xúc với linh giới thì đó là trèo cây tìm cá. Tôi thường cười những người tự cho rằng mình là người nghiên cứu khoa học, chưa từng có linh thể, chỉ dùng nhục thể hữu hình để thăm dò linh giới, như vậy có thành công được không? Muốn thăm dò linh học thì nhất định phải có linh thể, đây là điều kiện quan trọng nhất.” ”Ai cũng có thể sao?” - Thái Văn Minh hỏi. ”Có thể.” - Tôi trả lời quả quyết.

Tôi dẫn Thái Văn Minh đến thư phòng của tôi, tôi vẽ một lá phù, ý nghĩa của phù là: “Ôm, phụng Ngọc Hoàng chí tôn sắc lệnh, tứ phương thần tướng trợ linh động, cấp cấp như Thượng thanh chính pháp luật lệnh.” Thái Văn Minh uống lá phù này vào, tay tôi kết ấn Ngũ lôi, liên tiếp đánh vào thiên linh của cậu ấy năm lần. Thái Văn Minh ngồi trên ghế, hai mắt nhắm chặt lại, hai tay chắp lại, hai chân dán chặt xuống đất, miệng khép chặt lại, tôi dạy cậu ấy niệm thầm bốn chữ “Diêu Trì Kim Mẫu”, bởi vì tôi thờ Tây phương Kim Mẫu làm chủ Thần, niệm Diêu Trì Kim Mẫu có tác dụng hồi tâm, giống như Tịnh Độ tông niệm Phật, cũng có tác dụng quán tâm. Trước đó Thái Văn Minh đã ăn chay và tắm rửa, thân tâm đã sạch, chỉ cầu cho linh chết sống lại mà thôi.

Sau khi phù khởi linh của tác giả được đốt cho Thái Văn Minh uống thì bắt đầu khởi tác dụng, tây phương Thần tướng nhận được ý chỉ, vội vàng luống cuống chạy tới, từ từ tác động đến linh thể của cậu ấy. Khoảng 20 phút sau, chỉ thấy tay của Thái Văn Minh hơi duỗi ra, dường như có một lực hút cực mạnh khiến cho tay cậu ta giơ cao lên quá đầu. Lúc này Thái Văn Minh lớn tiếng gọi tôi: “Lão Lư, lão Lư, tay của tôi không thu về được rồi.” Tôi bảo cậu ấy đừng căng thẳng, tôi đứng phía sau Thái Văn Minh, dùng niệm lực của tôi để khống chế linh lực của cậu ấy. Tôi nghĩ hai tay của cậy ấy tách ra, quả nhiên hai tay cậu ấy liền tách ra, tay trái quay vòng vòng. Tôi nghĩ tay trái quay vòng vòng, quả nhiên tay trái cậu ấy vẽ những vòng tròn. Suy nghĩ của tôi muốn hai tay cậu ấy vỗ ba cái, quả nhiên hai tay cậu ấy vỗ ba cái. Suy nghĩ của tôi lại yêu cầu Thái Văn Minh lại chắp tay lại, quả nhiên hai tay cậu ấy cứ thế tự nhiên chắp lại. Lúc này Thái Văn Minh lại gọi tôi: “Lão Lư, lão Lư, trước mắt tôi xuất hiện một vị Kim Cang Thần, lão Lư, lão Lư, hai mắt tôi không mở ra được.” ”Thật sự không thể mở ra được à?” ”Thật sự.” ”Được rồi! Cậu hãy lễ bái Kim Cang Thần năm lần thì mắt sẽ mở ra được.”

Cậu ấy làm theo lời tôi nói, quả nhiên mắt lại mở to ra được. Cậu ấy đứng dậy, tôi nói với cậu ấy sự việc vừa trải qua, cậu ấy liên tục thốt lên quái lạ, quái lạ! Tay không hề cố ý cử động, ấy thế mà dường như có lực hút giống như hút vào, muốn mở mắt ra nhưng da mắt cứ như không nghe lời, trong lúc mông lung lại nhìn thấy Kim Cang Thần, những điều này cậu ấy đều nhận biết rõ ràng trong sự tỉnh táo, không phải mơ không phải huyễn. Từ đó, linh bên trong thân thể Thái Văn Minh đã sống lại, tuy nhiên Thái Văn Minh không có kinh nghiệm luyện linh, mặc dù linh đã sống nhưng cũng không có lợi ích gì lớn đối với bản thân cậu ấy. Trình độ của cậu ấy là khi đi vào nhà có tang thì có thể cảm nhận được âm khí của người âm, đi vào trong một ngôi nhà sẽ có thể cảm giác sống trong căn nhà này có bình an hay không mà thôi.

22. Khởi linh nằm ở nhất tâm, một niệm không khởi

Một người bình thường muốn học hoạt linh, sự thật là không hề khó, hoàn toàn dựa vào niệm lực của chính mình để thúc đẩy và tác động thì không phải là không có khả năng, nhưng quan trọng nhất là nằm ở nhất tâm bất động, một niệm không khởi, thân ở đó giống như thân không ở đó, ý niệm ở đó giống như ý niệm không ở đó. Trong cõi tâm linh vô hình, gặp được cơ may tương trợ, trong sát-na sẽ phá vỡ tất cả cửa ải khó khăn, thế là một con đường lớn sáng sủa sẽ hiện lên trước mắt, đi theo thần thức của mình, một tiếng sét vang rền khiến đất trời kinh động, đột nhiên ngộ được chân tướng giữa trời đất, đây cũng là điều có thể.

Hôm nay nếu có người muốn biết về chân linh của mình, tôi dạy mọi người phương pháp như sau:

Thứ nhất, trước tiên chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ, thư phòng cũng được, miễn là một căn phòng không bị người ngoài làm phiền, một chiếc ghế tựa để ngồi thay cho ngồi thiền (ngồi xếp bằng). Người bình thường phải ngồi xếp bằng thì tương đối khó, ngồi bán già hay kiết già đều không ngồi được lâu. Người tin Phật hoặc Đạo có thể thắp một nén hương, ngồi trong thời gian một nén hương, hai tay chắp lại, để trước ngực một cách tự nhiên. Người tin Cơ Đốc hay Thiên Chúa có thể không thắp hương. Người tin Phật có thể niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”, người tin Đạo có thể niệm bốn chữ “Diêu Trì Kim Mẫu”, người tin Jesus thì niệm “Jesus Christ”, các tôn giáo khác cứ thế suy ra, nhưng cứ cách 5 phút thì phải niệm thêm “giúp chân linh tôi tái hiện”, “mau giúp chân linh tôi tái hiện”.

Thứ hai, bởi linh tính của mỗi cá nhân khác nhau, thời gian dài ngắn cũng khác nhau, cho nên sự thức tỉnh của linh cũng sẽ dài ngắn khác nhau. Có một số người ngồi một lần đã thành công, nhưng có một số người nếu không ngồi quá ba lần thì không được. Nếu có người tu Đạo tương trợ thì tỉ suất thành công sẽ như làm chơi ăn thật, nhưng không được nản chí, có người phụ nữ hơn 40 tuổi, ngồi liên tục bảy lần, đã chứng được thần thông thiên nhãn, hiệu quả thật sự khó tưởng tượng.

Thứ ba, đạo lí khởi linh và đạo lí ngồi thiền có sự liên thông với nhau, hoàn toàn nói về một chữ tâm, “nhất tâm bất loạn, mọi pháp vô tính, vì vô tính nên đều thành Phật”. Đừng thấy việc ngồi yên như thế là quá đơn giản, ngồi yên lặng như vậy, lặng lẽ phòng thủ Thần cung, đèn tâm tỏa sáng, có được mấy người có thể đạt đến cảnh giới này? Đại bộ phận con người đều bận rộn suốt cả cuộc đời, khi nào mới có thể tĩnh tâm lại để ngồi xuống được nửa tiếng đồng hồ? Người có thể hoàn toàn tĩnh tâm ngồi xuống nửa tiếng đồng hồ, người ấy chắc chắn không phải là phàm phu đâu!

Thứ tư, xin người học tập khởi linh tuyệt đối ghi nhớ, khi ánh sáng phổ chiếu cũng tức là khi tâm mình hoàn toàn tịch diệt bất động, ta là ta tự do tự tại, hết thảy mọi thứ đều không khởi lên, ta chính là người tổng nắm giữ tâm tính.

Thứ năm, xin người học tập chú ý, phàm tự tâm sáng tỏ, tính hóa nghìn vạn, tay chân tự nhiên sẽ cử động tự do, tay múa may, chân bước đi, tôi không nói rõ ra, để tự mình trải nghiệm cái linh lực trỗi dậy một cách tự nhiên trong thân thể chính mình đi!

Sức mạnh của khởi linh đến từ chính mình, nhưng có ngại gì việc mượn lực bên ngoài trợ giúp. Sau khi khởi linh đến luyện linh thành công là một con đường dài đằng đẵng, đây chính là khởi linh thì dễ nhưng luyện linh thì khó. Tu đến thời khắc sau cùng chỉ nghe thấy tiếng sấm nổ vang rền, bản thân ngồi xếp bằng tĩnh tọa, vận linh đến chỗ thiên linh xuất khiếu, sấm nổ và linh lực của chính mình tiếp ứng lẫn nhau, đây chính là tam quang tích hiện, là lúc thoát xác bay lên rồi. Nhục thể mặc dù vẫn ngồi trong ngôi nhà tranh trên mặt đất, nhưng linh thì đã trở về ẩn náu trong biển lớn hư không, điều này mới tráng lệ vĩ đại làm sao, chân lí không sinh không diệt từ đây chứng đắc. Nếu linh sống thì lợi ích rất nhiều, thong thả nghe tôi từ từ nói tiếp.

23. Người tầm thường nhất là kê đồng

Tôi không phủ nhận dưới tay của mình, tôi đã huấn luyện ra một số kê đồng, ví dụ kê đồng của Tô Vương Gia cung Cảnh Phúc, kê đồng của Thái Tử Nguyên Soái ở Tam Nguyên Đường, kê đồng của Cửu Thiên Huyền Nữ cung Bảo Thiên, kê đồng của Thái Ất Chân Nhân cung Thái Ất, kê đồng của Thiên Thượng Thánh Mẫu cung Trấn Hải, kê đồng của Tam Sơn Quốc Vương cung Tam Sơn, kê đồng của Tế Công Hoạt Phật cung Bát Cảnh, kê đồng của Quan Âm Bồ Tát ở Thiên Đức Đường, kê đồng của Bát Quái Chân Nhân ở Tổ Sư Đường, kê đồng của tổ sư Lã Động Tân cung Trấn Nam, v.v…. những kê đồng này chính là một tay tôi huấn luyện dạy dỗ mà ra.

Cái gọi là kê đồng chính là người để cho linh của quỷ thần nhập vào người mình, hiển hiện uy linh của quỷ thần. Mặc dù là phương pháp thông linh hạ đẳng, nhưng nhìn chung cũng là một bộ phận của thần toán, bởi vì linh nhập lên người kê đồng thường xuyên là để dự đoán tương lai, hỏi vận mệnh, sự nghiệp, gia đình, sức khỏe cho người ta. Kê đồng cao tay hơn thì có thể hỏi nhân quả kiếp trước như Thám hoa tùng [xem xét khóm hoa bản mệnh của phụ nữ, xuống âm gian để xem tình trạng sức khỏe và vợ con trong cuộc đời mình], Quán lạc âm [pháp để dẫn dắt người tham gia đi xem cung Nguyên Thần, từ đó biết được vận mệnh của mình và giao tiếp được với người thân đã qua đời], hỏi việc âm gian. Những dự đoán này thường rất thần kì, vì thế, có rất nhiều người mặc dù không tin, nhưng vẫn rất có hứng thú đối với những kê đồng bị nhập mà tiêu không ít tiền.

Có một số kê đồng vừa mở miệng ra đã có thể nói ra họ tên người hỏi, ngay cả việc họ muốn hỏi cũng biết, người đến xem không cần phải nói ra việc mình muốn hỏi là gì, kê đồng cũng có thể nói ra hết quá khứ của họ, có thể lần lượt nói ra như thuộc lòng bàn tay, chỉ dựa vào một điểm này thôi là đã khiến người ta mê tít rồi. Nhưng cũng có khi đoán không chuẩn, tôi biết rõ rằng “Thần không phải là toàn năng”, Thần minh chẳng qua chỉ là có năng lực cao hơn con người một chút mà thôi, đây chính là nguyên nhân mà Thần minh không thể tin hoàn toàn. “Chức ti của Thần có phân biệt lớn nhỏ, có phân năng lực cao thấp mạnh yếu, nếu việc được hỏi vượt quá phạm vi linh lực của họ thì Thần cũng không làm được!”

Theo như tôi biết, loại Thần linh này rất nhiều, hỏi mười việc, có tám việc cực chuẩn, nhưng có hai việc thế nào cũng có sai lầm, vì thế không thể hoàn toàn dựa vào Thần minh được. Giữa trời đất thiên biến vạn hóa, sức người thường xuyên có thể thay đổi vận mệnh của bản thân, sức mạnh của Thần minh có hạn, cầu phúc thì có thể, thỉnh cầu bảo vệ bạn cũng có thể, nhưng không thể toàn tâm toàn lực dựa vào Thần linh, giả như bạn toàn lực dựa vào Thần minh thì tức là đi vào chỗ mê hoặc rồi.

Tại đây, tôi nhấn mạnh thuyết “trời - người hợp nhất”, trời đến giúp ta, ta cũng phải nỗ lực mới có thể phối hợp với trời, cho dù trời đến giúp ta mà ta không hề tích cực muốn vươn lên thì cũng sẽ chẳng có tiến bộ gì. Ví dụ: có người muốn thi đại học, cầu Thần bái Phật, Thần Phật đều đồng ý giúp bạn, nhưng bạn lại chẳng hề nỗ lực, vậy có thể thi đỗ đại học được không? Có thể thi đỗ đại học mới là chuyện lạ đó! Thần Phật giúp đỡ con người ở chỗ cho tâm họ được bình an, thân thể khỏe mạnh, học bài có thể hiểu thông trăm điều, nếu tự mình không nỗ lực, chỉ cầu Thần Phật trợ giúp, thì đây là phương pháp bỏ gốc lấy ngọn, điểm xuất phát căn bản đã sai lầm rồi. Hiện nay ở nước ngoài có cái gọi là thầy mo phù thủy, những người này là pháp sư dùng phương thuật mượn linh chữa bệnh, kê đồng ở trong nước ta kì thực cũng không khác các thầy mo phù thủy lắm, chỉ là phương pháp khác nhau, còn bản chất cũng là mượn linh để làm việc, chữa bệnh.

Bản chất của những kê đồng này đều không sai, nhưng sau cùng thì đều từ từ thay hình đổi dạng. Những cám dỗ vật chất trong xã hội khiến cho nhãn quang của kê đồng hỗn loạn, những kê đồng mà bị linh nhập không nặng có thể thừa cơ đòi phong bì kếch xù từ người hỏi việc, vào chùa mua vàng mã là đòi tiền, hỏi việc lại đòi tiền, bái Thần càng đòi tiền, xử lí việc cũng đòi tiền, cái chữ “tiền” này khiến Thần minh của chân linh lùi bước, và tà ma sẽ lợi dụng khoảng trống để đi thẳng vào, từ đó sinh ra thần côn. Kê đồng bình thường không có bản lĩnh luyện linh, cũng không có bản lĩnh phân biệt chính tà, thiện ác bất phân, thanh bạch bất minh, dẫn đến kết quả là bản thân cũng hồ đồ không biết rõ là Thần hay là ma, đây chính là nỗi bi ai của những kê đồng ngoại cảm.

Có một kê đồng là người Đại Lâm ở tỉnh Gia Nghĩa, hắn từng giả danh Thần để lừa gạt tín đồ, đến nhà tín đồ để ăn ở miễn phí, hơn nữa còn phao tin đồn rằng ở trong tịnh thất của tín đồ đó để tu luyện, kết quả là dụ dỗ luôn cả con gái của tín đồ. Những hành vi lừa tiền gạt sắc ấy đúng là con sâu làm rầu nồi canh trong hàng ngũ kê đồng. Kê đồng này cũng là một trong số những người tôi đã huấn luyện, khi ấy hắn đem bộ mặt rất thành khẩn cầu đạo đến tìm tôi, tôi nhất thời không xem xét kĩ nên đã rơi vào trong cái bẫy của hắn. Thế là, hắn đã lợi dụng linh nhập vào thân để ngụy trang, làm những vụ bê bối không có tính người, khiến Thần linh rơi vào tình cảnh khó khăn, các Thần tủi hổ, đúng là phần tử cặn bã của linh giới, là con sâu bệnh đáng ghét tột cùng, biến linh nhập vào thành công cụ để lừa bịp chúng sinh.

Sau khi sự việc này xảy ra, từng có một người trung niên dáng dấp công nhân đến tìm tôi, vừa nhìn thấy tôi đã nói: ”Tiên sinh, nghe nói ngài có năng lực khiến tôi biến thành kê thủ.” ”Có việc gì sao?” - Tôi hỏi không mấy vui vẻ. ”Tôi rất có hứng thú với việc làm kê thủ, gần đây xã hội người thừa việc thiếu, thật không dễ tìm việc, đặc biệt là khi tìm được việc làm rồi, mỗi tháng chẳng qua chỉ kiếm được vài nghìn tệ mà thôi. Nếu tôi làm kê đồng làm việc cho người ta, có thể kiếm được nhiều tiền hơn một chút, hơn nữa ai ấy đều tôn kính tôi, đối đãi với tôi như với Thần, tự mình cao hứng thế nào thì sẽ như thế, đây chẳng phải là rất thú vị sao? Tôi tin rằng tôi có thể nhanh chóng luyện thành công, tôi có sự tự tin này.” ”Xin lỗi, từ nay tôi không huấn luyện kê đồng nữa.” - Tôi nói một cách không hài lòng. ”Vì sao? Tôi sẽ không đối xử tệ với thầy đâu, mỗi tháng tôi sẽ gửi phong bì cho thầy mà!” - Ông ta nói to chẳng hề biết ngượng. ”Xin ông thôi cho! Người tâm thuật bất chính làm kê đồng, tôi đã không chịu nổi nữa rồi!” Người trung niên công nhân đó có vẻ không hiểu ý của tôi, lại nói: ”Tôi sẽ trả tiền học phí trước, sau đó hàng tháng sẽ gửi tiền.” ”Xin lỗi, tôi đã nhất quyết không huấn luyện kê đồng nữa, mời đi cho! Mời ông đi cho!” - Mặt tôi nhăn nhó đau khổ, liên tục xua tay. Người đó hậm hực bỏ đi.

Đối với những kê đồng ngoại cảm ngày nay, tôi vừa buồn lòng vừa mất lòng tin, họ đã tạo cho người ta một quan niệm rằng họ là những thần côn không hề có tri thức, mê tín vô tri, chuyên môn lừa tiền gạt sắc, nhờ Thần kiếm miếng ăn. Hỡi ôi! Hỡi ôi! Nghiên cứu linh học đến bước này, đau lòng lắm, đau lòng lắm thay!

24. Thần toán bí mật của bói quẻ

Bát quái là những kí hiệu được phát minh bởi Phục Hi Thị, tám quẻ tức là Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Li, Cấn, Đoài. Sau này mới diễn biến ra thành 64 quẻ, ngày nay dùng để bói lành dữ họa phúc, là nguồn gốc chữ viết của nước ta, trong đó lại có biến quẻ, có nghĩa là việc đã định đoạt rồi lại thay đổi.

Bát quái có kí hiệu của bát quái, tức Càn thì là ba nét liền, Đoài là khuyết ở trên, Li là trống ở giữa, Chấn là cái lọ ngửa lên, Tốn là khuyết ở dưới, Khảm là ở giữa đầy, Cấn là cái bát úp, Khôn là sáu đoạn. Tượng hình là để giải thích cho trời, đất, sấm, gió, sông, nước, lửa, núi.

Trong quá khứ, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ cho tác giả pháp bốc quẻ, trước tiên là rửa tay thắp hương, miệng niệm: “Khẩn cầu Bát quái tổ sư gia, Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, ngũ đại Thánh hiền, Quỷ Cốc Tiên Sư, Bài Quái Đồng Tử, Thành Quái Đồng Lang. Đệ tử Liên Sinh thuộc Tam Thanh giáo, nay phụng Tiên thiên vô cực chính pháp cung thỉnh, trực nhật Công Tào chuyển bẩm, tất cả các Thần linh qua lại trong không trung, vì việc nào đó chưa giải quyết được, xin trịnh trọng kiền tâm thành ý, trong tám tám sáu mươi tư quẻ này cầu lấy một quẻ, lành dữ họa phúc chỉ dựa vào sự linh nghiệm này.” Lúc này dùng ba đồng tiền đặt tại hộp đựng quẻ, lần lượt tung lên không trung, mặt phải là dương, mặt trái là âm, trước tiên cầu quẻ hạ, tiếp theo cầu quẻ thượng, trên dưới hợp nhất là có được một quẻ trong số tám tám sáu mươi tư quẻ.

Pháp bói gạo thì càng đơn giản hơn, đặt một khay gạo trước Phật, thắp hương cầu nguyện, dùng hai ngón tay để lấy gạo, nếu lấy một hạt tức là Càn, lấy ba hạt tức là Li, quá tám hạt, ví dụ mười hạt, thì trừ đi tám còn hai, tức là Đoài. Lấy xong lần thứ nhất, lại lấy lần thứ hai, vượt qua tám hạt thì lại trừ đi, lần thứ hai nếu lấy năm hạt tức là Tốn, sau đó trên dưới đảo lộn, giả định lần thứ nhất lấy ba hạt, lần thứ hai lấy năm hạt, thì thành quẻ Phong hỏa gia nhân.

Ngoài ra còn có bói cờ, lấy quân cờ tướng hoặc cờ vây, cách bói cũng gần tương tự như cách bói gạo, điểm khác biệt lớn nhất của bói cờ là cờ tướng, lấy quân cờ tướng ra có thể đối chiếu tướng, sĩ, tượng, xe, mã, pháo, tốt, có thể bói được sự nghiệp thành bại tốt xấu. Tác giả hiện tại còn biết bói sỏi, bói hoa, bói sao, bói mộng, đoán chữ, v.v…

Các quẻ hoặc thuật xem bói ở trên có thể nói là một bộ phận của linh học. Cái gọi là “bói” tức là thỉnh Thần linh ẩn mình trong hư không giới phát huy pháp lực vô hình, mượn một chút sự nhạy bén để đoán triển vọng tương lai. Diễn thuật của Bát quái chính là diệu thuật của Kinh Dịch thượng thừa. Thực tế có năng lực dự đoán tương lai thì thật sự là không thể coi thường!

Bất kể là Bát quái, bói gạo, bói cờ, v.v… nhất thiết phải chú ý mấy điểm sau:

Thứ nhất, chọn thời gian. Tác giả biết rõ cái gọi là thời khắc thiên thanh địa ninh, không phải vào chính giờ Ngọ, cũng không phải giờ Tí, mà là lúc sáng sớm khoảng 4 giờ. Vào thời khắc đó, người người đều đang nhập chiêm bao, cả một bầu không khí vẩn đục cuồn cuộn thì đến lúc 4 giờ cũng lắng chìm xuống. Đến 6 giờ thì chủ nhà thức dậy, nổi lửa nấu cơm, mùi thức ăn sẽ lại dày đặc trong không khí. Vì thế Phật gia niệm chú Lăng Nghiêm nhất định phải là lúc 4 giờ sáng, 4 giờ chính là lúc tốt nhất để bốc quẻ. Vào thời khắc thiên thanh địa ninh, vạn động đều dừng, chỉ có ánh trăng lờ mờ, lúc này người bốc quẻ trên phải hợp với ý trời, giải tỏa mọi chuyện nghi ngờ trong lòng, một khi linh cơ khởi động thì vạn pháp quy tâm, lành dữ phân biệt ngay, muốn biết trên trời dưới đất thì còn có việc gì khó chứ!

Thứ hai, tâm thành tắc linh. Bốc quẻ không phải trò chơi, mà là xuất phát từ sự cầu nguyện chân thành. Để biểu thị lòng thành kính, tốt nhất là tịnh khẩu trai giới, tắm rửa sạch sẽ, rửa tay thắp hương, như thế nhân tâm và thiên tâm mới tương ấn, cảm động Thần trời hạ giáng, một khi linh cơ khởi lên thì lành dữ sẽ hiện ra thôi! Tác giả bốc quẻ vẫn luôn thành tâm cầu nguyện lên trên, vận động linh thể để cùng cảm ứng với Thần linh trong hư không, linh quang của Thần linh lóe sáng lên, muốn hỏi việc gì thì lập tức có được câu trả lời cực kì chuẩn xác.

Thứ ba, lựa chọn địa điểm. Địa điểm bốc quẻ tốt nhất là ở ngoài trời, ở trong nhà thì ở trước bàn thờ Thần là hay nhất, nếu không có bàn thờ Thần thì ở trong thư phòng quay mặt ra ngoài cửa sổ cũng được. Tuyệt đối không được ở trong phòng ngủ, phòng ăn hoặc nhà vệ sinh.

Thứ tư, về phương diện bày biện cần có hai ngọn nến, tránh có gió thổi, ba chén trà thơm, bát hương, ba quả hay năm quả đều được, hộp bói, v.v…

Tác giả có lần đáp ứng yêu cầu của người ta muốn bói xem bệnh tình của mẹ mình có thể khỏi được không, thế là vào buổi tối tôi đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ. Đúng bốn giờ sáng, chuông đồng hồ báo thức reo, tôi trèo ra khỏi giường, đi ra phòng ngoài, thắp hương hướng về hư không cầu nguyện, cắm hương vào trong bát hương, vận chân linh trong người mình, lập tức phát hiện thấy một bóng đen phục dưới gầm bàn, đột ngột nhìn thấy nên tôi rất kinh hãi, vội hỏi: ”Ai dưới gầm bàn?” ”Vong nữ là Tưởng Bích Châu.” Tôi vừa nghe thấy Tưởng Bích Châu, đây chính là đối tượng mà đêm nay tôi cần xem bói! ”Bà qua đời khi nào? Đến đây có việc gì?” ”Hai giờ đêm nay thì tôi tắt thở, khi linh hồn vùng thoát khỏi thân người, đúng trong lúc hoảng hốt, bỗng nghe có người đọc họ tên tôi, nên đã theo âm thanh đó mà tới đây. Nhưng nhìn thấy trên bàn có bày một tấm gương Bát quái, trong gương tỏa hào quang sáng chói, tôi không dám nhìn thẳng, vì thế mới ẩn mình dưới bàn, không rõ tại sao pháp sư lại biết tên tuổi ngày sinh của tôi?” ”Là người nhà của bà yêu cầu, muốn hỏi sức khỏe của bà có thể hồi phục được không. Như bây giờ thì không cần hỏi nữa, bà mau đi đi! Có lẽ người nhà đang mời tăng đạo để tụng kinh lễ Phật cho bà đó!”

Vong hồn đó nhẹ nhàng bay ra khỏi gầm bàn, biến mất về phía bức tường. Ngày hôm sau, tôi hỏi người nhà họ, quả nhiên 2 giờ sáng người phụ nữ đó tắt thở, không sai khác một chút nào.

25. Thuật lên đồng viết chữ Trời-Người hợp nhất

Ở nước ta thường xuyên bắt gặp phù kê [lên đồng viết chữ]. Thánh giáo ở nước ta còn gọi là Ân Chủ Miếu, sùng bái Miếu Thánh Đế của Quan Phu Tử đại bộ phận đều có biểu diễn phù kê. Các kê sinh [người lên đồng viết chữ] lúc làm phù kê có khi thì là một người, có khi là hai người. Trước mặt kê sinh có bày một khay cát trắng, kê sinh tay cầm cành cây đào hình chữ V là công cụ để viết chữ, do một đám loan sinh tụng kinh thỉnh Thần linh, Thần linh nhập vào cành đào, còn kê sinh dùng tay viết chữ lên khay cát trắng. Khi Thần giáng xuống, đại bộ phận Thần linh sẽ tự báo danh hiệu, sau đó sẽ chỉ điểm công việc, hoặc thơ hoặc từ, có khi là những lời nói thẳng rõ ràng, đúng là kì dị. Kê sinh và loan sinh thông thường hết sức cung kính đối với Thần linh của thế giới vô hình giáng xuống để viết chữ, họ lễ tiết hết sức chu đáo.

Tác giả từng đọc một số bài thơ được viết ra bởi thuật phù kê, có mấy bài cảm thấy cũng rất hay, tôi đặc biệt trích ra như sau: “Huyền diệu ẩn mình trong nhật nguyệt, Thiên tâm công bằng không lệch xiên, Thượng nhân chí thiện hiểu nhân quả, Đế đức công cao chính khí dài.” Đây là Huyền Thiên Thượng Đế giáng thơ.

Còn nữa: “Thiên địa nhân gian tam nhật tài, Thượng thương hạ giới âm dương đài, Thánh Chân Tiên Phật nhờ công đắc, Mẫu tử cháu con sẽ đề huề.” Đây là Thiên Thượng Thánh Mẫu giáng thơ.

Còn nữa: “Phúc tinh ban phúc khắp trời người, Đức dày công cao khác gì Tiên, Chính khí cốt lõi không lẫn lộn, Thần linh bảo hộ được an yên.” Đây là Phúc Đức Chính Thần giáng thơ.

Còn nữa: “Nhân giả vui không họa, Nghĩa giả chẳng nói tiền, Cổ nhân trọng đạo đức, Phật tử đến từ tây.” Đây là Nhân Nghĩa Cổ Phật giáng thơ.

Còn nữa: “Thanh sạch không nhiễm bụi, Thủy trong sáng như gương, Tổ thành thiên thượng Phật, Sư thầy trồng thiện căn.” Đây là Thanh Thủy Tổ Sư giáng thơ.

Trong đó còn có một bài phú của Tế Công Hoạt Phật ban cho, rất giống một câu chuyện: “Đầu đội mũ bẹp, y phục rách rưới, đi dép cọc cạch, lúc say lúc điên, tay phải hũ rượu, tay trái quạt tre, nhìn trước ngó sau, đường bụi ngõ hẹp, bước đi xiêu vẹo, ấy là để cứu người phàm, ấy là độ đời phiền não điên đảo, khinh đạo ta lưu luyến, chớ trách giả điên khùng, người ngả nghiêng tâm mặc kệ, ngay giữa giao lộ bán quan huyền, xó quê ngõ hẹp đều đi khắp, không ngại vất vả tới nhà dân, chỉ ra đường núi linh thiêng, Tam Bảo xướng lên rằng có duyên, vĩnh viễn vượt qua đại đạo tránh luân hồi, tiêu dao tự tại thiên ngoại thiên.”

Rồi có khi Thần linh hạ giáng, chỉ thị chúng sinh: “Chúng sinh chớ lần lữa, khi tuân thủ trên dưới, ngồi làm phải quy củ, nói chuyện nên nhỏ tiếng, bước đi đừng ngả nghiêng, mau tiến vào giới luật, gặp trên phải lễ phép, chớ không nên lẫn lộn, nghe kinh giảng thuyết pháp, đúng giờ đừng chậm trễ.”

Những bài thơ được ban xuống khi phù kê đôi khi cũng có những bài hay, nhưng đôi khi dường như cẩu thả. Kì quái nhất là bản thân kê sinh không hiểu tiếng Anh hoặc tiếng Nhật, không hiểu tiếng Hebrew, nhưng lạ là Jesus Christ cũng có thể giáng kê, Thiên Chiếu Đại Thần của Nhật Bản cũng viết một bài thơ tiếng Nhật hoành tráng. Ở đây nhất định là có chỗ huyền diệu, bằng không những kê sinh có trình độ tri thức không cao làm sao mà đột nhiên lại có thể biết thơ biết văn, lại còn biết cả ngoại ngữ nữa chứ!

Khoảng mười mấy năm trước, tôi ở miếu Tổ Sư ở Cao Hùng nhìn thấy người ta phù kê, kê thủ đó hai tay rung rung, đưa lên đưa xuống múa may, viết ra hết chữ này đến chữ khác, không có một lỗi sai nào, suy nghĩ cũng cực kì nhanh nhẹn y như động tác, một tay viết chữ lên cát như rồng bay phượng múa, thật sự là không đơn giản đâu! Khi ấy tôi không tin phù kê, nhưng sự kiền thành của họ như vậy thì cũng không giống mánh lới lừa đảo!

Hôm nay tôi đã hiểu phù kê cũng là một dạng thần toán, độc giả đừng thấy kì lạ, cái gọi là phù kê cũng chính là thỉnh linh vô hình ở hư không giáng bút chỉ thị cho một phương pháp làm việc, dùng cành đào làm bút, viết chữ thay cho miệng nói, biểu dương cái thiện, tạo ra cách giao tiếp giữa người và Thần. Ở Đài Trung, tôi từng xem phù kê ở Thánh Hiền Đường, Thánh Minh Cung, Tỉnh Tu Cung, phù kê ở Thảo Đồn Huệ Đức Cung tôi cũng thấy rồi, kê sinh và loan sinh đều mặc áo dài, phù kê nổi tiếng có Viên Lâm Khuyến Hóa Đường, Bành Hồ Tín Thiện Đường, v.v… Thuật phù kê đã có ở Trung Quốc Đại Lục từ lâu, linh hay không linh đều có nói thơ, đại bộ phận kê sinh hoặc loan sinh đều kết hợp lẫn lộn tam giáo Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca để nói. Quy định của loan đường rất nghiêm ngặt, nếu loan sinh có lỗi lầm, có khi bị phạt quỳ trong thời gian một nén hương. Rất nhiều kinh điển Đạo giáo, hoặc không phải tổ sư Đạo giáo truyền, mà là kinh điển được soạn ra thông qua cành đào viết chữ, những kinh điển này hiện nay rất phổ biến.

Bạn có thể không tin, nhưng có rất nhiều việc trùng hợp xảy ra, điều này chính bản thân tôi đã trải nghiệm. Có một lần tôi đến Đài Bắc, tôi đi dạo ở khu Cảnh Mĩ, nhìn thấy phía trước có một ngôi miếu treo một cái biển, trên đó viết “Tam Giáo Tổng Đàn”, tôi liền dấn bước đi vào. Khi ấy tôi có thói quen hễ gặp chùa miếu là vào lễ bái. Bên trong miếu có loan sinh đang bận làm việc, có bày hương án, có tụng kinh, có lên đồng viết chữ, có người hát, mặc dù rất bận, nhưng lại cực kì yên tĩnh không có tiếng động, bên trong cũng có khá nhiều tín chúng, đại khái là hỏi việc cầu chỉ thị.

Lúc này, cành đào đột nhiên dừng lại ở không trung, liên tục múa may, các loan sinh không biết vì sao. Có mấy vị liền quỳ xuống cầu xin chỉ thị. Tiếp đó, cành đào liên tục chấm chấm trên khay cát, viết ra rằng: “Hôm nay có đệ tử Liên Sinh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, ở Từ Huệ Lôi Tạng Tự Đài Trung đến đây, Liên Sinh đã thông hiểu sự tình, nay đã đến thăm, phải tôn kính đối đãi.” Các loan sinh nghe xong thì rối rít hỏi Liên Sinh ở Từ Huệ Lôi Tạng Tự Đài Trung là vị nào. Mọi người nhìn nhau, tôi nghe thấy gọi tôi thì tôi cũng khá ngạc nhiên, tôi nói với người đang hỏi: “Là tôi đây.” Trụ trì của Tam Giáo Tổng Đàn rất khách khí mời tôi ngồi vào chỗ, dâng trà thơm, khiến tôi cảm thấy rất ngại. Tín chúng rất đông, ấy vậy mà chỉ có mình tôi nhận được sự trọng đãi đặc biệt này, đúng là hổ thẹn, hổ thẹn.

“Tiên sinh là Liên Sinh ở Đài Trung Từ Huệ Lôi Tạng Tự à? Đệ tử của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh à?” - Trụ trì hỏi tôi. ”Đúng vậy.” ”Vậy chủ thần của chùa mà ngài trụ trì là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh ư?” ”Điều này thì không phải, chủ thần là Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát.” ”Ồ! Vậy Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Thần Thánh nào vậy? Vì sao tôi tin Thần lâu như vậy rồi mà chưa từng nghe nói đến?” - Trụ trì lại hỏi. ”Ông nói đúng rồi, ngay cả tôi cũng không biết rõ, chỉ biết ngài một Thánh linh của Vô sắc giới.” - Tôi rất thành thật nói rằng tôi không biết, thế rồi tôi nói tiếp: “Vừa nãy Thần Thánh giáng kê đã biết ân sư của tôi, nhất định là biết lai lịch của ân sư, sao chúng ta không thử hỏi xem.”

Thần Thánh giáng kê là Lư Sơn Đạo Viện Hứa Chân Quân, cũng chính là sư phụ của phu nhân Lâm Thủy Trần Tĩnh Cô mà người ta đồn. Tôi cầm hương cầu nguyện xong, Hứa Chân Quân giáng chữ trên khay cát chỉ thị rằng: “Vùng đất sen vàng đã đặt chân, cửu phẩm liên hoa sinh như vậy, thần thông nối liền khắp trời đất, linh khí trải rộng khắp cửu châu, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh chính là vô thượng tiêu dao chí tôn bất sinh bất diệt vô câu vô thúc, chưa được Ngọc Hoàng phong Thần, đức hợp trời đất, ẩn thân trong trời xanh cát bụi, xuyên núi xuyên sông, vô hình vô ảnh, đạo pháp vô cùng, ngay cả Hứa Chân Quân tôi cũng không biết lai lịch thật sự của ngài, nhưng ngay cả đến Ngũ lão tôn giả của Đạo giáo là Đông Hoa Đế Quân, Diêu Trì Kim Mẫu, Hoàng Lão, Thủy Tinh Tử, Hỏa Tinh Tử khi gặp mặt cũng có phần nhún nhường. Chà! Tu đạo chỉ cầu chân đạo quả, hành đạo nằm ở tâm, thành đạo cũng nằm ở tâm, trong bùn nở hoa sen, khổ tu mới là người ở trên mọi người.”

Trụ trì của Tam Giáo Tổng Đàn nói: ”Chà! Thì ra thầy của ngài lại vĩ đại như vậy, vậy ngài là học trò của vị ấy thì nhất định cũng là bất phàm!” ”Không dám, không dám, tiểu sinh đích thực là không biết gì cả, chỉ biết lễ Phật ngồi thiền mà thôi.”

Ở Tam Giáo Tổng Đàn, tôi nhìn kê sinh múa bút, những loan sinh ấy nhìn tôi với ánh mắt kì dị. Vốn dĩ ở bên cạnh khay cát không cho phép người ngoài tới gần, nhưng Hứa Chân Quân phái Lư Sơn đã bảo tôi đến bên cạnh khay trời, nói với tôi rằng: “Âm khí chưa trừ nhiều chướng ngại, sau này tu tấn thiện công cao, Tam Tào phổ độ hợp thiên vận, tìm kiếm giác ngộ chớ chán chường.” Lại nói: “Đại đức công cao nên phòng ma, kiên tâm bất biến Thần quang hiện, chính tà vốn có tâm phân biệt, liên hoa hóa sinh mãi là sen.”

Khi tôi rời khỏi Tam Giáo Tổng Đàn, có một loan hữu đuổi theo tôi, anh ta thở hổn hển nói: “Tiên sinh, chờ một chút.” Anh ta nói: ”Hiện tại tôi phụng mệnh phải tọa cấm (bế quan), ý của Đạo tổ là muốn tôi sau 49 ngày luyện tập sẽ làm kê thủ, nhưng ban ngày tôi đọc kinh, buổi tối ngồi thiền, từ ngày đầu tiên cho đến ngày thứ sáu không có cảm ứng gì, đến ngày thứ bảy tôi vừa ngồi thiền thì hai mắt không mở ra được nữa. Trong lúc hoảng hốt tôi nhìn thấy ở ngoài cửa có một vị Kim Giáp Thần đang đứng. Tôi nhìn ra sau lưng, sau lưng tôi có một tôi khác đang đứng, trước mặt tôi cũng có một tôi khác đang đứng, bên trái có một tôi, bên phải có một tôi, còn tôi thì đang ngồi ở giữa tôi. Trong không trung có tiếng hỏi tôi rằng ai là tôi. Tôi trả lời không biết. Kết quả là ngày hôm sau, Đạo tổ chỉ thị, tôi không đủ tư cách làm kê sinh, cho tôi được mở cửa ra ngoài, bây giờ tôi chỉ được làm loan sinh thôi, xin hỏi tiên sinh, tôi đã sai ở đâu?”

Tôi nói với anh ta một câu trong “Tâm Đăng Lục”: “Cấp độ sơ là lìa xa cái ngã nhưng vẫn nhận thức được cái ngã. Cấp độ trung là nương theo cái ngã mà khéo lấy cái dụng của ngã. Cái ngã sẽ tự bảo vệ cái ngã nên sẽ tạo ra vọng tưởng hình tướng, cần khởi tâm muốn lìa xa, nhưng lìa xa cái ngã mà không bỏ mất cái ngã là cấp độ cao nhất. Anh hiểu lời của tôi không?”

Anh ta gật gật đầu, hết sức vui mừng, luôn mồm nói: “Thì ra như vậy, thì ra như vậy.”

Theo như tôi biết, loan sinh thì người bình thường đều có thể làm được, chỉ cần bạn có tâm mộ đạo là có thể tham gia, nhưng còn kê sinh thì phải từ trong đám loan sinh luyện tập mới thành được. Nhân quả tiền kiếp của kê sinh tất nhiên không tệ, tâm hướng đạo vững chắc, trí huệ tương đối cao, hơn nữa điều quan trọng nhất chính là linh ở bên trong phải sáng chói lọi, sống động hoạt bát, đây chính là điều kiện chủ yếu nhất để làm kê sinh lên đồng viết chữ. Linh trong không trung phải mượn vật thể của thế giới hữu hình mới có thể có biểu hiện gì đó, đây chính là đạo lí mượn vật sai vật, cho nên tôi nói đây là một dạng phương pháp thần toán trời người hợp nhất. Cái này là thật không phải là giả. Tính chuẩn xác thì lại là một chuyện khác, nhưng chính xác là có tồn tại chuyện linh nhập vào cành đào để viết chữ.

Phật gia đối với kê đồng, bốc quẻ, phù kê đều không tin, nhưng cũng không phản đối rõ ràng, Phật là thuận theo tự nhiên, kì thực Đạo cũng là thuận theo tự nhiên, nhưng nếu quá tĩnh lặng, không có biểu hiện linh dị, thì làm sao lôi cuốn chúng sinh quy hướng Phật, quy hướng Đạo chứ?

26. Truyền kì về Lộ thủy ngẫu tượng

Thầy đoán mệnh dựa vào kĩ năng gì để đoán mệnh cho người ta? Có một số người thì dựa vào chỉ tay, tướng mặt và nắn cốt, có một số người thì dùng đạo cụ như bốc quẻ, rút bài, tướng sao, v.v… Người nước ngoài có xem quả cầu thủy tinh, có cái gọi là bói bài tây, còn có người lấy triết học ra làm thành danh nghĩa triết học tướng mệnh. Trong số này chỉ có một loại tôi cho rằng là tướng thuật thần kì và linh nghiệm, đó chính là pháp đoán mệnh Lộ thủy ngẫu tượng.

Hiện nay người hiểu về pháp Lộ thủy ngẫu tượng để đoán mệnh có được bao nhiêu người? Thứ lỗi cho tôi không thể thống kê ra hết, nhưng tôi thật sự đã từng gặp. Người xem bói hai mắt nhắm chặt, họ không cần xem chỉ tay, cũng không cần xem tướng mặt, trong miệng lầm rầm niệm những kinh văn mà bạn nghe không hiểu gì. Người xem bói thắp một nén hương trên bàn thờ Thần, trên bàn thờ Thần dùng vải đỏ hoặc vải vàng để bọc lấy một thứ không biết là vật gì. Bạn báo cáo họ tên địa chỉ, ngày tháng năm sinh, người xem bói lập tức có thể nói ra bạn có mấy anh chị em, bạn đứng thứ mấy, hiện tại đang làm công việc gì, ngày hôm trước bạn đã làm việc gì, khi nào bạn được thăng chức, trong lòng bạn đang có điều gì khó xử, từ lúc bạn sinh ra đến nay đã từng xảy ra những việc lớn gì, lần lượt đều nói ra cho bạn, năng lực này khiến những người đoán mệnh phải trợn mắt há mồm.

Tiếp theo, người xem bói sẽ nói về tương lai của bạn, làm việc gì có thể thành công, tiền đồ thăng quan phát tài, có kiếp số gì, vận thành công ra sao, vận gia đình ra sao. Có một số người đoán mệnh Lộ thủy ngẫu tượng còn lợi hại hơn, người đến còn chưa nói ra họ tên địa chỉ thì họ đã đưa cho bạn một mảnh giấy, trên đó đã viết tên bạn là gì, bao nhiêu tuổi, làm nghề gì, khiến bạn đọc xong là kinh hoàng. Sau đó thầy bói mở miệng nói: “Giá tiền xem bói có phân biệt nhiều ít, người giàu thì lấy nhiều, người nghèo thì lấy ít, tôi thấy mệnh của ông đắt hơn nghìn vạn, do vậy một lần xem cần ba nghìn tệ, không biết ông có chịu không?” Người bình thường nhìn thấy kiểu thầy bói chưa đoán đã biết này thì hết sức tâm phục khẩu phục nên cũng ngoan ngoãn móc tiền ra khỏi hầu bao.

Đoán mệnh Lộ thủy ngẫu tượng bói quá khứ thì chuẩn xác trăm phần trăm, nhưng bói tương lai thì có thể không chính xác, mười phần mà đoán chuẩn được tám phần đã là không tệ rồi. Hôm nay, tôi viết chương văn này không phải cố ý bóc mẽ Lộ thủy ngẫu tượng, mà là pháp Lộ thủy ngẫu tượng cũng thuộc một bộ phận của linh cơ thần toán, cho nên không công khai bí mật của nó không được. Bản văn này là một bản báo cáo có tính chất bí mật nghìn vạn năm khó gặp một lần, tôi bảo đảm trước giờ chưa từng có.

Dùng Lộ thủy ngẫu tượng để đoán mệnh cho người ta, trước hết phải thờ cúng một vị Lộ thủy ngẫu tượng, như thế nào gọi là Lộ thủy ngẫu tượng? Vì sáng sớm mỗi ngày phải đặt bức tượng ở ngoài trời để cho bức tượng thấm sương, lúc mặt trời còn chưa mọc đã phải phụng thỉnh bức tượng ấy ra ngoài, trước khi mặt trời mọc thì lại thỉnh vào trong nhà, vì có sương thấm ở trên bức tượng nên gọi là Lộ thủy ngẫu tượng. Rất nhiều người biết có thứ này, nhưng lại không biết chế tác như thế nào. Vậy hãy nghe tôi trình bày tỉ mỉ.

Phàm người nào luyện Lộ thủy ngẫu tượng cũng phải chọn một ngày lành, lấy một đoạn cành cây liễu ở bên con sông chảy về hướng đông, mời thợ thủ công thắp hương điêu khắc thành hình người, dài hai tấc sáu phân [khoảng 7cm] để chỉ số âm, dung mạo rõ ràng, bảy lỗ [gồm hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi, miệng] tinh xảo, tay trái khắc ấn dương, tay phải khắc phù âm, đầu có hai búi tóc giống như kiểu đồng tử, thân mặc áo, dùng chu sa hòa với sữa mẹ vẽ lên tim, gan, lá lách, phổi, thận trên giấy màu vàng. Chính giữa bức tượng khoét một cái lỗ đi vào trong bụng. Sau đó dùng máu của mào gà hoặc máu rùa tô vào miệng của bức tượng, đợi làng trên xóm dưới biết đích xác có đứa bé trai qua đời, thì viết ngày giờ chết của đứa bé đó trên giấy vàng, dán vào sau lưng của bức tượng. Đợi đúng ngày Giáp Tí Canh Thân Mậu thì tế luyện trong tịnh phòng. Dùng gà luộc, chả cá, chanh dây để cúng, mỗi ngày sớm tối niệm một biến ba câu chú, sau đó niệm chú truy hồn hiện hình 49 biến, sau đó đốt một lá phù rồi lễ bái. Không chỉ buổi sáng phải làm như vậy mà buổi trưa cũng phải làm như vậy, buổi tối cũng phải lễ như vậy. Sau 21 ngày, cho đến khi hai lá cờ vàng được treo lên đột ngột chập lại, rồi đột ngột tách ra, biểu thị rằng đại công đã sắp hoàn thành, linh hồn của đứa bé trai đã chết đó đã nhập vào khúc gỗ cây liễu này rồi. Cứ thế cho tới sau 35 ngày, đứa bé trai đó đã có thể hiện hình mới xem như là việc lớn đã thành. Trong thời gian tế luyện không được để mèo chó, phụ nữ sinh đẻ hoặc người để tang đến gần.

Chú Truy hồn hiện hình như sau: “Linh hồn liễu linh, cửu khiếu giai minh, ngoại cụ tứ tượng, nội toàn ngũ hành, ngã nãi nhân đạo, nhĩ nãi mộc tinh, ngô phụng đế lệnh, nhĩ đồng nhĩ thông linh, tảo hiện chân hình, đọa ngô hô triệu ủng hộ ngô hình, mại thiện tống lộc, phùng ác trợ binh, hoặc thủ tài bảo, hoặc nhiếp hương canh, tật lai tật khứ, vật đắc diên lưu, tại gia xuất gia, trú dạ tương thân, thiên nhân nan kiến, vạn nhân nan tầm, phàm ngô sở tại, tả hữu truy tầm, báo thượng cát hung, toán nhân họa phúc, tốc tốc khoái hành. Ngô phụng Đông Nhạc Đại Đế Quân cấp cấp sắc lệnh cang.”

Nếu luyện thành công phương pháp này thì cũng như có một linh đồng luôn đi theo người đoán mệnh, sức mạnh của linh giới có thể biết quá khứ của con người, bạn chưa bước chân vào cửa thì linh đồng kia đã sớm điều tra thân thế của bạn rõ mồn một. Trong thời gian một nén hương, với những việc đến rồi đi, với việc đoán quá khứ của bạn thì làm gì có chuyện không chuẩn.

Đối với việc thờ cúng linh đồng thì chỉ cần có hương, trà, quả, một đĩa đồ ăn chay là được. Sáng sớm mỗi ngày thì đem tượng ra ngoài cho thấm sương để nuôi dưỡng âm linh, mượn linh đoán mệnh, tiền tài đổ vào cuồn cuộn. Tuy nhiên bản thân người đoán mệnh phải có sẵn linh thể, chỉ có linh thể thì mới có thể hiểu linh đồng đang nói với bạn cái gì.

Linh pháp của Lộ thủy ngẫu tượng cũng dùng giấy vàng, để che vào mũi và miệng của đứa bé trai thông minh linh lợi mới chết, trên giấy vàng viết ngày sinh và ngày chết của đứa bé trai. Đã có hình một đứa bé trai bằng gỗ cây liễu được chế tác như trên, nhét giấy vàng vào bên trong khúc gỗ, pháp tế cũng là 21 ngày đến 35 ngày. Sự linh dị của nó không thể coi thường, người đoán mệnh có thể luyện Lộ thủy ngẫu tượng thì quán xem bói của người đó chắc chắn sẽ gây chấn động, dự đoán chuẩn xác đâu còn là việc gì khó nữa.

Ở Formosa có một thầy đoán mệnh tiếng tăm lẫy lừng, xem bói mà có thể lấy được một vợ hai thiếp, gia sản bạc triệu, đi ra đi vào trong tư gia phải đi xe con thay cho đi bộ, có thể lườm nguýt bất kì một doanh nghiệp nào. Sở thuế còn đặc biệt phái nhân viên đến thu thuế thu nhập của ông ấy, nhân viên của hợp tác xã phái một chuyên viên mỗi ngày đến thu tiền gửi của ông ấy, đúng là tài nguyên đổ về cuồn cuộn. Theo kết quả điều tra của tác giả, thầy đoán mệnh này lúc học tiểu học, bỗng dưng gặp còi báo động có máy bay tập kích (máy bay Mĩ ném bom Đài Loan thời kì Nhật Bản chiếm đóng), thế là nhà trường cho nghỉ học, thầy đoán mệnh này men theo con đường nhỏ để về nhà. Bên cạnh con đường đất nhỏ ở miền quê hoang dã, ông ấy nhìn thấy một đứa bé gái nằm chết bên con mương, bộ dạng cực kì thê thảm, nhất thời ông ấy không đành lòng bèn nhặt một manh chiếu rách phủ lên thân thể của đứa bé gái, rồi sau đó chạy về nhà.

Không ngờ buổi tối hôm đó, thân thể của thầy đoán mệnh này lúc nóng lúc lạnh, giống như bị ốm nặng vậy. Bởi trận ốm nặng này mà hai mắt của thầy đoán mệnh bị mất thị lực, đến cuối cùng không ngờ đã trở thành người mù, tay cũng hơi run rẩy. Khi ấy ông ấy bắt đầu tiên đoán và đoán mệnh cho những người hàng xóm xung quanh. Nói ra thì cũng kì lạ, ông ấy nói chuẩn một trăm phần trăm, vì thế mà thanh danh dần dần lan truyền đi, cho đến lúc trưởng thành, ông ấy đã chính danh ngôn thuận xem bói cho người ta. Ông ấy xem bói, giọng nói nhanh và hơi run rẩy, hơn nữa không hề có hiện tượng suy nghĩ ngâm nga lâu, tay cũng hơi run run. Người đến từ khắp nơi trên đất nước để cho ông ấy đoán mệnh thật sự là nhiều như cá qua sông, người người xếp hàng đăng kí, vào thời kì hưng thịnh còn có cả cảnh tượng những người xem bói ở lại trong các nhà trọ để chờ đợi, hơn nữa còn phải chờ liên tục hơn ba ngày mới đến lượt.

Từ lúc còn là nhi đồng cho đến khi về già, ông ấy đoán việc quá khứ thì luôn khiến người ta lắc đầu thở dài, bởi vì không có điều gì là ông ấy không nói thẳng ra được, tương lai thì mặc dù không biết là có chuẩn hay không, nhưng việc hiện tại đoán chuẩn như vậy thì đã khiến cho người ta say mê rồi. Có một lần tác giả trên đường trở về nhà thì đi qua nơi đó, nhân thể ghé vào tham quan việc xem bói của ông ấy. Khi ấy ông ấy đang ở vào thời kì hưng vượng, người đông nghìn nghịt, những người chờ xem bói người ngồi người đứng. Khi tôi đi vào thì có cảm giác thấy những đợt âm khí, điều này phản ánh một cách rõ rệt về loại người có hoạt linh. Tôi nghi ngờ pháp đoán mệnh mà thầy bói này sử dụng là pháp Âm hồn báo thiên lí, thế là tôi chú ý đến sự bài trí trong nhà. Nội đường có một ban thờ Thần, trên ban thờ Thần có thờ một thứ không biết là vật gì được bọc bằng vải màu vàng, trên bàn cúng thì có hương vòng cháy cả ngày, bên phải là linh vị của tổ tiên, và không hề có bài vị Thần.

Tôi tập trung tư tưởng để nhìn thì nhìn thấy một cảnh tượng mơ hồ, rất nhiều trẻ con chạy đi chạy lại không ngừng, lúc thì chạy ra ngoài cửa, lúc lại chạy vào trong nhà, chạy đến bên tai của thầy đoán mệnh lần lượt nói chuyện, tiếng trẻ con nói không ngừng, còn tay của thầy đoán mệnh thì cũng run rẩy không ngừng, miệng cũng nói không dừng. Cuối cùng tôi đã hiểu rồi, thì ra thầy đoán mệnh mù mắt này cũng sử dụng bí thuật của pháp Linh đồng báo thiên lí, bí mật này chỉ có người rất tinh thông thì mới có thể nhìn ra được, người bình thường chỉ biết là bói rất chuẩn, nhưng không biết là vì sao lại như vậy, vẫn cho rằng người mù này đúng là nhân vật thuộc hàng bán Tiên hoặc Thần Tiên.

Theo tôi được biết, thầy đoán mệnh mù mắt này được trời ưu ái cho năng lực, do âm hồn của bé gái ngày xưa báo ân, âm hồn nữ vào đêm hôm đó đã luyện cho thầy đoán mệnh thành linh thể, hơn nữa còn đi theo bên cạnh, mượn việc nhập vào thân của thầy đoán mệnh mà sinh tồn, thế còn thầy đoán mệnh này thì không biết cách vận linh, hai mắt bị mù chính là hậu quả của việc không biết cách vận linh. Sau đó âm linh nữ này chủ động triệu tập linh đồng bán sức lực cho thầy đoán mệnh, cũng tương tự như bán mạng kiếm tiền cho ông ấy. Đây chính là nhân quả báo ứng của thầy đoán mệnh này.

Trong số những người mà tác giả biết có một người thanh niên họ Hoàng, linh khiếu đặc biệt “sống”, từng bái một thầy bói nổi tiếng làm thầy. Anh ấy từng nói với tôi rằng thầy đoán mệnh mù mắt kia chắc chắn có điều cổ quái. Tôi nói: ”Quân tử không chặn đường tiền tài của người ta, hà tất phải đố kị chứ!” Anh ấy nói: ”Mượn âm linh để dùng là bàng môn tả đạo, căn bản không phải là cách kiếm tiền đứng đắn, tôi không đi phá ông ta không được.” ”Đâu cần phải như vậy chứ! Cậu dự tính dùng pháp gì để phá linh đồng của ông ấy?” ”Tôi đến miếu Bách Tính Công ở Vụ Phong, mượn tạm mười hai que hương, dùng chú triệu thỉnh âm hồn, đốt hương thành tro, sau đó đến quán xem bói của thầy bói mù kia, nhân lúc không có người chú ý thì rắc tro hương vào bên trong bát hương,. Lúc này linh đồng của ông ta và âm hồn của tôi sẽ đấu pháp, đến khi âm hồn của tôi thắng lợi, thầy bói mù kia tất nhiên sẽ rối hết cả lên, từ đó bói toán sẽ loạn cào cào không chuẩn nữa, ha ha!” ”Khoan đã, làm sao anh biết được âm hồn sẽ thắng linh đồng?” - Tôi hỏi. ”Lư Thắng Ngạn, anh là người trong nghề, tôi dùng pháp Ngũ quỷ hỗn thiên, sử dụng năm cái đầu lâu, vào năm ngày Quý lúc canh năm thì lấy về, trên đó viết họ tên của năm con quỷ, mỗi khi qua ngày Quý thì đốt một lá phù rồi gói lại cúng tế dưới đàn tế Lục Giáp Thần, chân dẫm lên hai chữ “Khôi Cang”, tay trái kết ấn Lôi, tay phải là kiếm quyết, miệng hớp vào năm hơi chân khí của năm phương, niệm chú Hỗn thiên bảy biến, đốt năm lá phù Ngũ quỷ, sau đó dùng giấy vàng hóa đốt cùng mười hai âm hồn ở miếu Bách Tính Công, bỏ vào trong lư hương của thầy bói mù, làm sao mà không thắng chứ?” ”Chiêu này quả nhiên không tệ, nhưng anh phá linh đồng có phải là thiệt cho đức hạnh của bản thân không?” ”Chẳng quản được nhiều như vậy, ông ấy kiếm tiền cũng đã kiếm được khá rồi, đây là thay trời hành đạo, để tránh cho ông ta trở nên quá kiêu ngạo thôi!”

Người thanh niên họ Hoàng này chính là tuổi trẻ sục sôi, anh ấy tự thấy rằng mình có bản lĩnh, nhìn không vừa mắt thì muốn nhúng tay vào để can thiệp một chút. Con người tôi thì trung hậu, dù biết rõ những người này đã sử dụng tà pháp, nhưng cũng mắt nhắm mắt mở mà cho qua thôi, ví dụ có một ngôi miếu Thánh Đế, kê đồng ở trong đó hỏi việc cũng dùng Lộ thủy ngẫu tượng làm pháp bảo, sự việc này chỉ có một mình tôi biết, thế nhưng tôi cũng không tiện nói thẳng ra.

Người thanh niên họ Hoàng quả nhiên đã làm pháp để phá thuật linh đồng của thầy đoán mệnh mù mắt kia, kể từ đó việc đoán mệnh của người mù này vì thế mà không còn linh nghiệm nữa. Giờ đây tiếng tăm đã không còn được như trước đây, tiền kiếm được cũng ít, rồi dần dần cũng vắng tanh vắng ngắt, đáng thương thay!

Tôi nghe có người nói: “Ông ấy đã bắt đầu xuống dốc rồi, đoán mệnh cũng có thời vận của đoán mệnh.” Có người nói: “Không biết làm sao mà miệng chỉ nói ra toàn điều vớ vẩn, không có việc gì đoán chuẩn cả.” Có người nói: “Tiền kiếm đã đủ rồi, nên nghỉ ngơi thôi.” Mọi người đều không biết, chỉ có trong lòng tôi biết.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh từng nói với tôi rằng: “Tam Hoàng, Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Chu Dịch Văn Vương, Chu Công, Đại Thánh Khổng Tử, Thánh nhân Võ Lược Thành Vương, Quỷ Cốc Tiên Sư, Hoàng Thạch Công, Tôn Võ Tử Tiên Sinh, Viên Thiên Cương, Lí Thuần Phong Tiên Sinh, Trương Tử Phòng, Tôn Tẫn Tiên Sinh, Thanh Ngưu Cao Sĩ Đông Phương Sóc, Ma Y Quách Phác, Lâm Linh Tố, Đông Hoa Đế Quân, Thiệu Khang Tiết, Ôn Châu Lư Tiên Sinh, Y Xuyên Trình Tiên Sinh, các vị này đời trước truyền đời sau pháp Lục đinh nhĩ báo, là tương đối chính phái, nhưng pháp Âm linh nhĩ báo thì tương đối là tà phái. Liên Sinh, con phải nhớ kĩ, nhớ kĩ.”

27. Thông linh thần toán kiêm nói chuyện tâm thông

Tong sách Diễn Nghĩa thời cổ đại và điển tích Đạo gia thường xuyên nhắc đến bốn chữ “chợt có linh cảm”, cũng tức là giác quan thứ sáu đến một cách tự nhiên bất ngờ. Thế nhưng, tôi thật sự cho rằng “chợt có linh cảm” cũng không phải là giác quan thứ sáu, mà là linh đặc biệt có cảm ứng nhanh nhạy. Nếu linh sống, nó không chỉ mỗi cảm ứng thấy linh lực của hư không giới, mà thậm chí còn cảm ứng thấy linh lực của bạn bè người thân. Còn như bạn bè gặp nạn mà truyền phát ra tần số thì cũng rất có khả năng đột nhiên nhận được dạng truyền phát này, điều này có vẻ vô cùng thần kì, kì thực căn bản nó cũng không xem là việc gì to tát cả.

Tác giả phát hiện ra trong không trung tồn tại hai dạng sức mạnh, một dạng sức mạnh là niệm lực, một dạng là linh lực. Dựa vào sức mạnh của bản thân chúng ta và sức mạnh đến từ bên ngoài để phân biệt thì một dạng gọi là tự lực, một dạng gọi là tha lực. Niệm lực luôn luôn là do tự lực sinh ra, từ niệm lực có thể tiếp ứng linh lực (tự lực) của bản thân chúng ta, sau đó tự lực cùng với tha lực giao tiếp với nhau sẽ sản sinh ra một ý nghĩ mới, ý nghĩ này có thể xem là kết quả của tâm thông. Mặc dù tôi viết như thế này dường như rất phức tạp, nhưng sự phát sinh của nó luôn luôn chỉ xảy ra trong sát-na thôi, nhanh giống như điện vậy, bật công tắc một cái là bóng đèn chỉ trong một giây đã sáng rồi.

Vì thế tôi cảm thấy niệm lực giống như công tắc của máy thu thanh, chúng ta thầm nghĩ một sự việc nào đó, tập trung sức mạnh tinh thần, kết quả là có thể giống như nguyện vọng của chúng ta dường như đã sinh ra hiệu quả mong muốn. Hơn nữa, nếu niệm lực càng mạnh thì phản ứng tiếp nhận được cũng gia tăng nhiều lần. Trong quá khứ có người dùng niệm lực để thử nghiệm, phát hiện ra tập trung niệm lực của đông người cầu nguyện thì vấn đề khó khăn thế nào cũng sẽ được giải quyết dễ dàng, hơn nữa sẽ xuất hiện kì tích không thể ngờ đến. Lại có những người cùng nắm tay nhau, suy nghĩ mọi người nhất trí mong muốn tờ giấy trước mặt có thể nhẹ nhàng bay lên, nói ra thì kì lạ nhưng tờ giấy đó thật sự đã bay lên. Dạng sức mạnh này giống như ma sát sinh ra điện, và điện sẽ hút bông hoa giấy nhỏ đó khiến nó bay khắp trời, những điều này không hề là hoàn toàn vô căn cứ.

Tôi nói, do niệm lực ép buộc linh lực sản sinh và giao tiếp với linh ngoại giới, kiểu năng lực dự đoán tương lai này chính là thông linh thần toán, trong cõi vô hình có một dạng linh lực tràn đầy khắp cả vũ trụ, chỉ cần người có linh sống muốn biết việc gì là có thể hỏi gì đáp nấy. Tâm pháp tối thượng thừa của dạng thông linh thần toán này là tự nhiên mà đắc. Cái gọi là tự nhiên mà đắc có thể nói là linh có thể xuất khiếu và tự chủ, trên lên tới tận thiên đình, dưới xuống tận âm phủ, năm sông bốn biển, tam sơn ngũ nhạc tùy ta ngao du. Đến cảnh giới lí tưởng nhất có thể hóa thân bên ngoài thân, một linh thể biến thành hai linh thể, thậm chí thiên biến vạn hóa, lấp đầy khắp trời đất, đây là tối thượng thừa. Còn linh lực ở mức trung bình có thể vận linh đạt thiên nhãn thông, biết trời biết đất, trên thông thiên văn, dưới tường địa lí, nhìn thấy linh giới, có được thiên nhĩ thông, nghe được những điều người ta không nghe thấy, có thể nghe quỷ thần nói chuyện, biết được việc của quỷ thần, chỉ là linh lực chưa thể xuất khiếu mà thôi. Còn người ở mức tầm thường nhất thì linh mặc dù sống nhưng không thể tự chủ, không hiểu thuật luyện linh, vì thế mắt không thấy, tai cũng không nghe thấy, chỉ có thể vận dụng tâm niệm mà thu được cảm ứng của tâm. Không được coi thường tâm thông, tâm thông này có một số người vẫn luyện chưa được đâu! Tâm thông là hoàn toàn vứt bỏ quan niệm chủ kiến, yên tĩnh cầu nguyện chỉ thị của thần linh, nếu tâm còn giữ chủ kiến thì tâm thông cũng sẽ chịu ảnh hưởng của chủ kiến, như thế thì không còn chuẩn xác nữa.

Từng có một thanh niên được tôi luyện linh chạy đến tìm tôi nói: ”Thầy ơi, linh của con mặc dù sống rồi, nhưng mắt không nhìn thấy gì cả, tai cũng không nghe thấy cái gì, đồng thời cũng không có cách nào chứng đắc tâm thông, như thế con học hoạt linh có tác dụng gì chứ?” Tôi nói với anh: ”Sự sống dậy của linh chỉ mới là công phu bước thứ nhất của tu đạo, phải tiếp tục đả thông mọi khớp nối mới xem là thành công, nhưng ta có thể dạy phương pháp khác ngoài nhãn thông nhĩ thông tâm thông, cũng tuyệt đối linh nghiệm, phương pháp này gọi là Trước thủ thông.”

Thế rồi tôi bảo anh ấy chắp hai tay lại, yên lặng ngồi im, tâm niệm chỉ nghĩ đến một việc, không được có tạp niệm. Phương pháp này là thành kính hướng về linh giới hư không cầu nguyện sau đó mới thực thi, giống như phải cởi bỏ nỗi lòng ra, không được tồn giữ ý kiến chủ quan. Khi tĩnh tọa phải thưa bẩm từng câu từng câu rõ ràng với linh giới, khẩn cầu thần linh thông qua sự rung động mạnh yếu của tay để chỉ thị. Ví dụ: nếu việc thành công, xin hãy lắc tay mạnh một chút. Nếu việc thất bại, chỉ khẽ run run là được. Lành thì động mạnh, dữ thì động yếu, linh trong không trung sẽ làm một cách rất đơn giản là tác động đến tay chắp lại (lúc này là động thái vi diệu của linh chứ không phải là suy nghĩ của chính mình khiến cho tay dao động), nên có thể cảm giác được rất rõ ràng. Sau đó đem kết quả dự đoán đi ấn chứng thực tế, quả nhiên là từng việc đều ăn khớp. Lúc này bạn sẽ nhận ra quả nhiên có tồn tại chuyện thủ thông này.

“Mặc dù thủ thông không xem là diệu thuật thượng thừa trong linh thông, nhưng nếu tu luyện lâu cũng có thể đạt được sự ảo diệu của tâm thông, tuyệt đối không được dễ dãi xem thường.” ”Thưa thầy, thật sự hữu hiệu sao?” ”Thử là biết liền.”

Cách mấy hôm, người thanh niên đó mặt mày hớn hở chạy đến tìm tôi. Anh ấy nói đây đúng là thần kì, người khác kiểm tra anh, dùng phương pháp đổ xúc xắc, dùng tay che lại, từ một đến sáu điểm, bảo anh đoán thử con số. Thế là anh vận dụng thuật thủ thông, liên tiếp đoán năm lần, không có lần nào là không trúng, người bạn không hiểu là thế nào, lại liên tục đổ xúc xắc mười lần, kết quả là nói trúng liền mười lần, không sai một lần nào. Người bạn hết sức kinh ngạc, còn anh thì hết sức vui mừng, đây chính là minh chứng tốt nhất của linh lực.

Nói thật lòng, bởi vì linh trên người tôi là sống, nên thường xuyên có những người bạn không thể nghĩ không thể thấy trong giới hư không đến tìm tôi. Họ thường xuyên đến một cách bất ngờ. Hay là khi tôi đang viết văn, họ nhìn thấy tôi đang bận, liền chui vào trong đầu tôi, khiến đầu tôi cảm thấy mờ tối, thế là tôi biết là bạn bè ở hư không giới đã đến rồi. Có khi tôi hỏi họ có việc gì mà đến tìm tôi. Có khi họ muốn nói cho tôi biết chuyện gì đó sắp xảy ra, có khi họ đến gặp tôi mà chẳng có việc gì cả. Bạn bè tôi mới nhiều làm sao! Cuộc đời mới phong phú làm sao!

Viết đến đây, tôi nghĩ đến vì sao đại bộ phận con người không tin có sự tồn tại của linh hồn, bởi vì họ không nhìn thấy, không nghe thấy, thậm chí không cảm giác thấy. Bởi vì không có cách nào biết được cho nên cũng không tin. Ngoài ra có rất nhiều người xuất gia (hòa thượng) Phật giáo, đạo sĩ của Đạo giáo, mục sư của Cơ Đốc giáo, cha xứ của Thiên Chúa giáo, cũng có một số người căn bản là phủ nhận sự tồn tại của linh. Nếu họ phủ nhận sự tồn tại của linh thì cũng chẳng khác gì tự mình vả vào miệng mình, và đồng thời cũng cho chúng ta thấy hòa thượng, đạo sĩ, mục sư, cha xứ, trong những người này, người căn bản không cách nào nhìn thấy được linh giới, người không nhìn thấy được thì nhiều lắm. Những người tín ngưỡng tôn giáo đó, những người trụ trì, nếu vẫn còn không tin những gì tôi nói là thật biết thật thấy thì thật sự khiến người ta đau lòng. Than ôi, đáng buồn!

28. Phù chú thay thế cho linh lực

Lần thứ hai tôi gặp người phụ nữ áo xanh đã khai sáng cho tôi cũng là ở tại Ngọc Hoàng Cung. Bà ấy vẫn luôn đi ra ngoài giúp người ta “gọi hồn”. Đó là một buổi tối mùa thu năm 60, tôi khoác một tấm áo khoác vội đến Ngọc Hoàng Cung. Ngọc Hoàng Cung rất đông người, hương khói nghi ngút. Bà ấy vừa nhìn thấy tôi liền thân thiết nắm tay tôi và hỏi: ”Gần đây khỏe chứ? Dạo này khỏe chứ?” Tôi trả lời: ”Rất tốt.” Những điều khác tôi nhất thời không nói được thành lời, bởi vì khó mà giải thích bằng vài lời nói.

Bởi vì trong cung ngoài cung đều có người nên chúng tôi không tiện nói quá lâu. Người phụ nữ áo xanh bảo tôi ngồi xuống, còn bà ấy lại đi hỏi việc làm việc cho người ta, tôi ngồi một bên xem. Những việc mà bà ấy hỏi chuẩn tới mức khiến người ta không ngừng xuýt xoa, rất nhiều người cảm phục tận đáy lòng. Đúng vào lúc đang hỏi việc ấy, đột nhiên người phụ nữ áo xanh hét lớn một tiếng, đang quỳ bỗng đứng phắt lên, đưa tay về phía không trung bắt mấy cái, rồi xòe tay ra hướng về đám người xung quanh gọi lớn: “Là người nào to gan lại dám đốt phù để làm hại thân già này? Tôi phụng ý chỉ của Diêu Trì Kim Mẫu đi khắp nơi giúp người, không sợ bất kì phép phù nào làm hại đâu.” Sau đó, bà ấy cúi xuống nhìn vào lòng bàn tay, nói: “Người này cao cao mập mập, trên cổ còn đeo khăn quàng cổ, có ai biết pháp sư nào như vậy không?”

Xung quanh có mấy người đi nhanh về phía trước để xem xem trong tay bà ấy có lá phù nào không, kết quả là họ rất thất vọng, bởi vì trên tay bà ấy chẳng có gì. Có người nói: “Chẳng có gì cả!” Bà ấy nói: “Sao lại không có, rõ ràng là một lá phù đang nằm trên tay tôi, sao lại không có chứ? Thắng Ngạn, cậu qua đây, nhìn xem trên tay tôi có cái gì không?” Tôi đứng dậy, đám người dịch ra nhường đường. Tôi vận khởi linh mục để nhìn, trên tay người phụ nữ áo xanh đích thực là có một lá phù đang động đậy, lá phù này dùng giấy đen và trắng dán lại với nhau để vẽ, linh lực của phù vẫn còn đang vùng vẫy động đậy.

Tôi nói: “Đó là một thần phù bằng giấy đen và trắng dán lại với nhau, pháp phù này hình như không phải là thuật phù của chính phái.” Người phụ nữ áo xanh mừng rỡ: “Thắng Ngạn, cậu quả nhiên không tệ, cậu đã nhìn thấy rồi.” Bà ấy dùng tay kia đè lên lá phù, miệng quay về hướng đông hít vào một hơi khí rồi hét một tiếng: “Hóa!” Rồi lại xòe tay ra, lá phù ấy không ngờ đã biến mất.

Lúc này trụ trì của Ngọc Hoàng Cung là sư Thích Huệ Linh nét mặt ái ngại, ông ấy giải thích với chúng tôi như sau: Tháng trước Ngọc Hoàng Cung có một pháp sư họ Trương đến, người cao cao mập mập, tự xưng là biết hỏi Thần, biết bốc quẻ, biết xem ngũ quan và sắc khí của con người, biết chọn ngày phong thủy, v.v… Thế rồi ông ấy sống tại hậu viện của Ngọc Hoàng Cung, lúc rảnh rỗi thì xem tướng cho người ta kiếm chút tiền, số tiền này được chia 4:6, pháp sư được sáu phần, còn chùa được bốn phần, đây là cùng vui vẻ chung sống. Bây giờ người phụ nữ áo xanh cũng “gọi hồn”, lại cũng hỏi Thần, thu hút tín chúng ùn ùn kéo đến chùa, khiến pháp sư họ Trương kia thấy thế thì trong lòng sinh đố kị, vì đố kị mà sinh tức tối, cho nên pháp sư Trương đã làm cái trò bùa chú này.

Người phụ nữ áo xanh nói: “Tối nay ông ta viết lá phù này, đổi lại là người khác thì chắc chắn không chịu nổi rồi, may mà là tôi. Loại người này tâm thuật bất chính, thật sự không nên để ông ta học pháp phù, lần sau lại đốt phù nữa thì nhất định không thể tha cho ông ta. Thắng Ngạn, tối ngày mai lại đến đây một chuyến, nếu ông ta lại gây chuyện thì chúng ta sẽ liệu đối phó với ông ta.”

Người phụ nữ áo xanh hỏi Thích Huệ Linh: “Có phải ông ta quấn khăn quàng cổ màu trắng không?” ”Ông ấy thường xuyên quấn khăn quàng cổ màu trắng.” - Thích Huệ Linh nói. ”Vậy thì không sai rồi, nhất định là con quỷ pháp sư Trương này làm.”

Ngày hôm sau, tôi lại chạy đến Ngọc Hoàng Cung, quả nhiên không sai, pháp sư Trương kia lần đầu tiên không đạt được ý đồ, lần thứ hai lại làm pháp. Ông ta cũng rút kinh nghiệm, không vẽ phù nữa, mà là dùng cách niệm chú, chú của ông ta cực kì ác độc, muốn khiến cho người ta phát điên kinh hãi. Ông ta cắt một vài hình người hình rắn bằng giấy, thúc chú ngữ, chuẩn bị dọa chết chúng tôi.

Người phụ nữ áo xanh nhìn thấy, tôi cũng nhìn thấy, tôi nói để tôi xử lí cho! Từ trong cách thúc chú của ông ta, tôi biết ông ta dùng thuật Ngũ cung khu quỷ, chú ông ta niệm là: “Cổ miếu sơn tinh thủy quái, thụ mộc hoa tinh, xà trùng hồ li, nhất thiết tà ma yêu mị chi thuộc, biến hóa đa đoan, mê nhân thậm sí, hoặc xâm hoặc hại, thỉnh ngô pháp sư lệnh bài điều độ.”

Thế là tôi ung dung nghĩ đến chú Huyền nữ mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã truyền cho tôi chuyên để phá chú thuật tà uế. Chân tôi giậm đinh bát, niệm rằng: “Cẩn thỉnh nhị nhất Chân Võ Thần, cước đạp thiên quan cực miết tinh, phi đầu tán phát vi thượng tướng, đới đỉnh sâm la thất tọa tinh, dũng trấn bắc phương vi thượng đế, kiêm quản chư thiên quải giáp binh, tả thanh long, hữu bạch hổ, tiền chu tước, hậu câu trần, tọa quản thiên lí hư không nội, lập chiếu thập phương thế giới trung, vân đoan hiển Thánh, tiền hữu tạo kì già nhật nguyệt, lôi áp bách nhận kiến thiên minh, trương khẩu lang nha đạm thiết trụ, ủng thân tả hữu sát gian hồn, tiên sứ hoàng phong xúy ác quỷ, hậu tương lôi đình chấn thiên đình, sơn lâm hải quái toàn kinh tán, thiên ma vạn tà loạn phân phân, ngô Liên Sinh phụng thỉnh Ngọc Hoàng thân trảm lệnh Thiên La Thần, Địa La Thần, niệm động thử chú thiên thanh địa ninh.” Tôi niệm xong chú Huyền nữ, tay kết lôi quyết, chỉ về phía trước, nghe thấy một tiếng sét vang dội, người giấy rắn giấy đều biến mất.

Một lúc sau, chỉ thấy hậu viện của Ngọc Hoàng Cung đột ngột xuất hiện một người, chính là pháp sư Trương, tay ông ta ôm lấy đầu, luôn mồm kêu đau. Không tới vài ngày sau, ông ta đã thu dọn đồ đạc rời khỏi Ngọc Hoàng Cung, đi xa đến nơi khác. Tôi và người phụ nữ áo xanh lắc đầu thở dài, chẳng phải là chúng tôi ép ông ta đi, mà là ông ta tự chuốc phiền nhiễu, tài nghệ chưa tinh thông, chẳng thể nào trách tôi.

Từ sự việc có thật kể trên, tôi muốn nói đến thuật phù chú. Cái gọi là phù có phân biệt chính phái và tà phái, phù có rất nhiều tác dụng, ví dụ thỉnh Thần dùng phù, trấn trạch dùng phù, đuổi tà bắt ma dùng phù, v.v… Phù có cực kì nhiều chủng loại. Phù và chú chính là một biểu hiện giả mượn linh lực. Có người nói: “Phù chính là một dạng biểu hiện linh lực khi tinh thần con người tập trung.” Câu nói này nói cũng rất có đạo lí, vẽ phù quan trọng nhất chính là dựa vào sự tập trung nghị lực tinh thần, phù được vẽ ra đại diện cho tinh thần của một cá nhân, nhờ có tác dụng tinh thần mà chiêu cảm được sự linh nghiệm.

Đặc biệt là người đã có hoạt linh, vẽ phù vì là dốc hết toàn bộ linh lực cho nên càng có hiệu lực, hiệu quả tốt đẹp có thể tưởng tượng được ra, khi linh lực dồn hết lên trên giấy, vận dụng ngòi bút vẽ phù, phù này thật sự có sức mạnh linh nghiệm.

Còn về chú ngữ, chủng loại chú ngữ cũng nhiều, Phật giáo Mật tông hoặc các tông phái khác đều có chú ngữ, ví dụ Thập tiểu chú, Đại bi chú, Vãng sinh chú, Lăng nghiêm chú, v.v… Chú ngữ của Đạo giáo cũng rất nhiều, ví dụ Hương chú, Tâm chú, Tịnh thiên địa thần chú, Kim quang chú, Thỉnh cửu tiên chú, Tịnh thủy chú, Thư phù chú, Đẩu tinh chú, v.v… Những chú ngữ này nghe nói là Chư Phật Bồ Tát từ bi chúng sinh đã đem mật hành tu trì cả đời biến thành mấy câu mật chú, để cho những người học đời sau có thể nhờ mật chú mà đắc đại công đức, dựa vào chú mà tu trì để sớm bước lên Phật địa, vì thế có thuyết không giải thích chú ngữ. Chú ngữ của Đạo gia cũng có một số câu rất khó hiểu, nhưng so với Phạn ngữ của Phật gia thì vẫn khá dễ đọc thuộc. Niệm chú cũng là một dạng biểu hiện của linh lực, trên phương diện này, phù chú thường là sử dụng đồng thời.

Chủng loại của phù rất nhiều và rất phức tạp, nhưng chính quy nhất là thiên địa nhân tam dương khai thái [Trong Kinh Dịch, tam dương khai thái chỉ tháng đầu tiên trong năm mở đầu cho mọi sự may mắn của cả một năm. Phù có đầu phù, thân phù và đuôi phù, ở đây nói đến phần mở đầu của phù là đã mở ra sự tốt lành.], còn gọi là đầu phù. Tiếp theo là phụng theo tên của vị Tiên Phật nào đó, sắc lệnh, tiếp theo là mục đích là gì, cuối cùng mới là áp ấn. Cái gọi là áp ấn cũng giống như chúng ta đóng dấu, phải đóng dấu mới có hiệu lực, đồng thời phải vừa viết vừa niệm chú, viết đến khi áp ấn thì phải thổi một hơi khí phát ra tiếng đại diện cho cái uy của linh phù.

Cách viết phù có khi rất kì lạ, không theo quy tắc, thậm chí hoàn toàn dựa vào linh cơ của một cá nhân cũng có thể viết phù. Phù cũng không nhất định phải vẽ trên giấy, có một số người tùy ý vẽ tại không trung cũng vẫn có hiệu quả tương tự, nhưng đó phải là người có linh lực thâm hậu mới có thể thể hiện như vậy. Phù cũng giống như một tấm thiếp thần kì, hóa đốt phù xong thì phù này có thể lên Thiên Tào, xuống địa phủ, thiếp thần này gửi đi khắp mười phương pháp giới, mọi Tiên linh của giới hư không đều biết mục đích của phù này. Công dụng của phù chú xem ra huyền bí khó đoán, nhưng đều là một dạng vận dụng linh lực.

Có người chuyên môn vẽ phù Hóa cốt, khi bị hóc xương cá ở họng, uống một lá phù Hóa cốt thì thật sự xương cá kia cũng bị đốt. Đây chỉ là một trò vặt của phù thôi, thật sự không đáng nhắc đến. Trong thiên hạ, kì môn dị thuật không chỉ có một lá phù chú mà thôi, phù chú vốn là một trong các cách biểu hiện của linh lực, sự vĩ đại của linh lực có cái gì không thể biểu hiện ra được chứ?

Tác giả nhờ Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh và Thanh Chân Đạo trưởng mà biết được rằng có rất nhiều thuật phù chú, nhưng đại bộ phận là cực chính phái. Đối với những kẻ dùng tà thuật khiến cho người ta tạm thời mất đi tri giác rồi cướp luôn tiền bạc trang sức thì đáng ghét cực kì. Chủ ý ban đầu của phù chú là thiện, nhưng đã bị người ta biến thành công cụ để lừa bịp cướp đoạt, các vị tiên thánh tiên hiền đều biết, cần biết hối hận và sám hối.

29. Bàn sơ về thiền cơ

Tạ Định Hoa và Từ Văn Chấn sống tại Đài Bắc cùng quá bộ đến nhà tôi, chẳng phải là vì cái gì khác, chỉ là muốn hỏi tôi về thiền cơ. Tạ Định Hoa là người chấp bút thời kì đầu cho tạp chí Nắng Mai, bút danh là Hắc Mã Vương Tử, rất có tài năng, đã viết một cuốn sách là “Chuyện một lữ khách”. Từ Văn Chấn thì học ở Học viện Y Dược Trung Quốc, lúc rảnh rỗi cũng viết văn, từng xuất bản cuốn sách “Thủy tinh cung, thủy tinh cung”. Tạ Định Hoa và Từ Văn Chấn nghe người ta nói đến tôi nên mới quyết định đến hàn xá của tôi thăm quan xem sao.

“Thế nào là Thần?” - Tạ Định Hoa tò mò hỏi. ”Tiên sinh hỏi tôi, xin hỏi là hỏi về vị nào?” - Tôi hỏi ngược lại. ”Thần có nhiều không?” ”Vô số, vô tận, không thể đo lường, không thể suy đoán.” - Tôi đáp. ”Vì sao không nhìn thấy?” - Từ Văn Chấn hỏi. ”Nhìn thấy tức là ngộ, không nhìn thấy tức là mê. Dưới bầu trời này ít người ngộ, trên mặt đất này nhiều người mê, Thần vốn là linh, linh tức là vô hình, phải dùng linh thấy linh mới có thể nhìn thấy được.” - Tôi trả lời. ”Lấy cái gì làm chứng cứ?” ”Tôi.” ”Một cá nhân không đủ làm bằng chứng, hãy đưa ra chứng cứ đi!” ”Ngoài tâm không có pháp, nếu nói ngoài tâm có pháp tức là ngoại đạo. Cái tôi biết là thật biết, không biết thì nói không biết, biết thì nói biết, thiên hạ không có một vật chứng, vẫn có thể chứng đắc thấy Chư Phật Bồ Tát, trừ một cái ngã ra, tâm vô nhị pháp, tâm tức là ngã, ngã tức là tâm. Nếu tôi không đủ làm bằng chứng thì dưới bầu trời này cũng chẳng có một vật nào có thể làm bằng chứng.”

Hai người họ cùng đưa mắt nhìn nhau, sau đó Tạ Định Hoa lại hỏi: ”Tiên sinh có cách nhìn thế nào về sinh tử?” ”Vô sinh tử.” - Tôi nói: “Sinh tức là khởi đầu của tử, tử là kết thúc của sinh, tử cũng là khởi đầu của sinh, và sinh chính là kết thúc của tử. Nếu dựa vào con mắt của vô lượng vị Phật mà quan sát thì thiên hạ chẳng hề có chúng sinh, vô chúng sinh thì lấy đâu ra sinh tử?” ”Đây là quan niệm luân hồi của Phật giáo sao?” ”Đây là tự nhiên, tâm yếu viên mãn và sâu sắc tối thượng thừa, bỏ đi mọi sự kì lạ, quy nhập đại ngã tự nhiên. Phật vốn không có gì kì lạ, sự khác biệt đều nằm ở một chữ “ngộ”, một người là mê thì có luân hồi, người ngộ thì đã nhìn thấu toàn bộ luân hồi rồi thì làm sao còn có luân hồi nữa? Tôi nói luân hồi đúng là để hợp với đại chúng còn mê, cái gọi là lục đạo mê chúng gồm trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mới ở trong luân hồi, chạy không thoát khỏi con đường luân hồi.” ”Thiên đạo không phải là Thần sao?” ”Đúng vậy, Thiên đạo cũng tức là Thần đạo, nhưng Thần là nhân duyên tịnh hóa, nhân duyên thiện công, nhân duyên chính đạo của linh, dù có thiên phúc báo ứng, nhưng vẫn chưa đến mức phúc chí tâm linh, tức là cảnh giới của ngộ, vì thế vẫn chịu luân hồi.” ”Vậy anh có chịu luân hồi không?” - Từ Văm Chấn đột nhiên hỏi. ”Chịu hay không chịu nằm ở cá nhân tôi, nếu tôi nói ra thì anh sẽ không tin, chi bằng không nói.” ”Anh nói đi, tôi tin là được rồi.” ”Tùy sự cao hứng của chính tôi thôi, muốn chịu thì chịu, không muốn chịu thì không chịu.”

Câu trả lời của tôi nằm ngoài dự liệu của hai người họ, hai người họ rõ ràng có cảm giác kì quái, câu trả lời của Lư Thắng Ngạn chẳng giống với người bình thường! Thật ra đây không phải là không giống, chỉ là câu trả lời mà tôi buột miệng nói ra, trong những lời này đã hàm chứa thiên cơ phi phàm, không tin thì bạn cứ suy nghĩ kĩ càng, tỉ mỉ mà xem.

“Tôi rất có hứng thú với thiền cơ, không biết tiên sinh có thể dạy tôi không?” - Từ Văn Chấn bày tỏ mục đích đến thăm. ”Anh muốn học thiền thì tôi sẽ dạy anh, Thiên Long nhất chỉ đầu thiền của Câu Chi cả đời dùng không hết.” [Ở đây nói đến pháp thiền một đầu ngón tay của hòa thượng Thiên Long mà Hòa thượng Câu Chi đã học được, hễ có ai hỏi về thiền thì đều giơ một ngón tay lên, ngài từng nói rằng học được kiểu thiền này mà dùng suốt đời vẫn chưa hết.] ”Sao lại gọi là nhất chỉ đầu thiền?” ”Một ngón tay chính là một cảnh giới, một cảnh giới chính là một huyền cơ, một huyền cơ chính là có một vài kiến địa, có những kiến địa này rồi thì chẳng phải là cả đời dùng cũng không hết sao?” ”Xin lĩnh giáo, lĩnh giáo, thật có lí.” - Từ Văn Chấn mừng rỡ nói. ”Theo như điều anh nói, nếu anh nhận cái gì là Thần thì Thần chính là cái đó, bái vật gì là Thần thì Thần chính là vật đó.” - Tạ Định Hoa hỏi như vậy. ”Nói như vậy cũng gần đúng rồi.” ”Vậy thì, giả như tôi nhận định núm vú của phụ nữ là Thần, vậy núm vú của phụ nữ chính là Thần sao?” ”Điều anh nói là cực đỉnh rồi, nhưng anh sẽ nhận định như vậy sao?” Tạ Định Hoa không còn lời gì để nói.

Tôi đưa Tạ Định Hoa và Từ Văn Chấn đi tham quan Phật đường của tôi, trong Phật đường thờ cúng Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát, lúc này cũng có không ít người đến lễ Phật ở Phật đường.

“Vì sao họ lại làm lễ quỳ lạy trước tượng gỗ?” - Tạ Định Hoa hỏi. Tôi không trả lời câu hỏi của Tạ Định Hoa, tôi hỏi ngược lại: ”Phật đường của tôi có trang nghiêm không?” ”Trang nghiêm.” - Hai người họ nói. ”Vậy thì đúng rồi, người ta đang lễ bái sự trang nghiêm, ở trong lòng họ, bái Thần như có Thần ở đó, đây là một tâm cảnh khác, các anh đều cảm thấy trang nghiêm, đương nhiên bao nhiêu chúng sinh khác chắc chắn cũng sẽ cảm thấy như thế. Anh nói trang nghiêm có phải là thật không, tự nhiên là thật, vậy thì đây chính là cái chỗ của thiền cơ, đừng coi thường cái cảm giác này của con người, nếu có thể thật sự hiểu rõ thì mới là người thật ngộ.”

Tôi nhắc đến một đoạn trong “Tâm Đăng Lục” với hai người họ: “Đại Huệ nói, mắt Bồ Tát thấy Phật tính, phải là mắt nhìn thấy sự bắt đầu. Khách nói, tính làm sao mà mắt nhìn thấy được? Rằng: tính nếu chỉ dựa vào cái tâm mà thấy thì như ngồi trong hang tối, có thể dùng mắt thấy được thì chính là nhìn thấy cái chỗ viên mãn của tính. Vì thế tính như thái hư, thiên địa vạn vật của nó đều đến từ thái hư, tính và thái hư, thiên địa vạn vật vốn cùng một thể.” ”Lư Thắng Ngạn, anh cho rằng cái gì là tính?” - Tạ Định Hoa hỏi. ”Linh.” ”Linh là cái gì?” ”Là bản tính nguyên thủy cùng một thể với thiên địa vạn vật.”

Tôi kể ra đủ mọi cảnh ngộ trong quá khứ tương lai của Tạ Định Hoa, tương lai thì cố nhiên chưa thể nào lập tức ấn chứng được, nhưng những cảnh ngộ của quá khứ thì cái nào cũng linh nghiệm, khiến Tạ Định Hoa cảm thấy hết sức kinh ngạc, vận mệnh trong cõi vô hình dường như đúng là có định số thật. Ngày hôm đó, hai người họ hỏi tôi cả một buổi chiều, còn tôi cũng trả lời cả một buổi chiều. Đối với những việc này, ai ai cũng hiếu kì, hơn nữa người hiểu biết nửa vời cũng là nhiều nhất, còn người hoàn toàn không hiểu thì chính là những đàn ông phụ nữ ngu muội chìm vào mê cảnh trong xã hội. Còn có một số phần tử tri thức mở miệng ra là nói mê tín, ngậm miệng lại cũng nói mê tín, thì họ có khác gì những ngu phu ngu phụ kia đâu.

30. Đĩa thần linh nghiệm

Dùng một tờ giấy viết đầy các chữ đặt nằm trên mặt bàn, sau đó dùng một cái đĩa bằng sứ, đĩa bằng vàng hay đĩa bằng bạc đều được, vẽ mũi tên ở trên đĩa đó, sau đó có ba người, mỗi người chìa ra một cánh tay đè nhẹ vào mép của cái đĩa, trong tâm mỗi người đều cung kính niệm: “Thỉnh linh giáng lâm, chỉ điểm công việc.” Không lâu sau cái đĩa sẽ xoay tròn, tự chuyển động tới lui, tay của mỗi người chỉ đặt nhẹ lên xung quanh cái đĩa mà không hề đẩy cái đĩa chuyển động. Đây là một dạng thí nghiệm linh lực, nếu hỏi việc quá khứ thì chuẩn xác một trăm phần trăm.

Cũng có khi một người cũng có thể làm phương pháp thí nghiệm linh lực này. Dùng một tờ Thiên tự văn [Cuốn sách dạy vỡ lòng của người xưa, gồm một nghìn chữ do Chu Hưng Tự thời Nam Lương biên soạn.] đặt nằm trên bàn, lấy một đồng tiền xu, góc khuyết đại diện cho mũi tên, cũng dùng tay ấn nhẹ lên đồng tiền, cung kính niệm thầm “thỉnh linh”. Khi linh giáng xuống, đồng tiền chạy như bay, muốn hỏi việc gì nó cũng có thể lần lượt nói ra. Tay chỉ đặt nhẹ lên trên đồng tiền, chỉ chuyển động theo đồng tiền, tốc độ chạy đi chạy lại rất nhanh, muốn hỏi việc gì chỉ cần trong đầu nghĩ đến là được, không nhất định phải nói ra. Cũng có thể có một người đứng bên cạnh hỏi, một người dùng tay đặt nhẹ lên trên đồng tiền, người đặt tay lên đồng tiền đó không biết người hỏi muốn hỏi việc gì mà vẫn linh nghiệm dị thường.

Chỉ cần làm theo nguyên tắc này, ví dụ bàn, ghế, bút chì, đũa, đều có thể cho linh nhập vào, nhưng linh nhập vào có vài điều kiện nhất thiết phải chú ý, đây là kinh nghiệm lâu năm của cá nhân tôi.

Thứ nhất, thứ để cho linh nhập vào nhất định phải hết sức sạch sẽ, linh muốn nhập lên thân người thì nghĩa là bản thân người đó phải trai giới tắm gội, đĩa thì buộc phải là đĩa mới mua về còn mới tinh, đĩa cũ thì linh sẽ không nhập vào, những thứ khác cũng như vậy. Ở nơi ô uế như nhà vệ sinh hoặc trên giường thì không được chơi trò đĩa thần này, như thế là cực kì bất kính đối với linh. Theo như tôi biết, giường mà con người ngủ là ô uế nhất, ở nơi ô uế mà “nhốt linh” thì chỉ có linh quỷ ô uế mới có thể đến gần. Tôi không nói rằng ở nơi ô uế thì không nhốt được linh, mà là bản thân linh đến nhập vào là linh có vấn đề, có thể là quỷ, cũng có thể là yêu ma, đồng thời tốt nhất là ở trước Thần Phật, nói không chừng Thần Phật có lẽ sẽ cảm động mà hạ giáng. Có một số Thần quỷ hạ giáng, nếu bạn hỏi họ là ai, nói không chừng họ lại là tổ tiên đã qua đời từ rất lâu của bạn.

Thứ hai, đĩa thần nhốt linh khi mua về phải hơ qua “kim hỏa”, đĩa hơ qua kim hỏa biểu thị rằng rất thanh tịnh rồi. Kim hỏa là gì? Cái gọi là kim hỏa chính là đốt giấy vàng mã rồi dùng tay cầm cái đĩa lên, hơ qua hơ lại trên ngọn lửa vài lần, đĩa hơ qua kim hỏa như vậy nhất định có thể cho linh nhập vào. Đây tuyệt đối không phải lời nói dối, làm thử là biết. Một người muốn làm kê đồng thì cũng phải qua kim hỏa, nhưng nhất định phải kháp quyết [kết thủ ấn, bấm tay] niệm chú, do người có hiểu biết làm, bằng không tự thiêu chết mình thì thứ lỗi cho Lư Thắng Ngạn tôi không chịu trách nhiệm.

Thứ ba, thời gian để làm cầu cơ cũng rất quan trọng, cố nhiên là lúc nào linh cũng có thể nhập vào, nhưng nếu ở nơi đông người ồn ào thì tính linh cảm thường có thể mất đi, cái đĩa sẽ chạy chậm rề rề, bộ dạng uể oải. Cầu cơ tốt nhất là làm lúc đêm khuya, xung quanh không có tiếng động gì, cái đĩa chạy tới chạy lui sột soạt trên giấy, tốc độ rất nhanh, có khi ngón tay cũng theo không kịp.

Tôi có một người bạn một mình vào lúc đêm khuya làm cầu cơ, cứ làm mãi đến cuối cùng thì tay không còn phải sờ vào cái đĩa nữa, cái đĩa tự nhiên chuyển động xoay tròn. Vào lúc đêm khuya linh khí nặng nên điều này cũng bình thường thôi. Giả như không thể làm vào lúc đêm khuya thì tốt nhất cũng là buổi tối. Tuyệt đối không được coi đây là trò đùa, bằng không kết quả cầu cơ sẽ không linh nghiệm, vậy thì đừng trách linh ở trên trời.

Thứ tư, cầu cơ quan trọng nhất là thành kính, cố nhiên đây là một dạng thí nghiệm, nhưng cũng không được có thái độ coi là trò trẻ con, nếu bạn hỏi một cách trẻ con thì linh cũng sẽ trả lời bạn một cách trẻ con, đôi bên sẽ chẳng thiết lập được mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau, như thế thì cũng giống như chơi trò chơi thôi. Tôi cảm thấy làm cầu cơ ở trước Thần Phật là phương pháp tốt nhất, chỉ thị của Thần Thánh có khả năng không sai lệch, còn những hồn ma thì cũng có hiện tượng ăn nói lung tung. Linh là thật hay giả dựa vào quan sát là có thể biết, nhưng người cầu cơ thông thường thường sẽ bị hồn ma lừa bịp, nếu tin là thật thì cũng rất tồi tệ. Tác giả cầu cơ thì luôn luôn ở trong Phật đường của mình, hỏi việc một cách thành kính, Thần Thánh giáng xuống, đầu tiên báo cáo tên mình, tôi cung kính như làm nghi thức, mỗi lần hỏi đều được giải đáp, có gì không biết cũng nói là không biết, linh nghiệm dị thường.

Còn nhớ có một lần làm cầu cơ ở nhà bạn tôi, khi cái đĩa chuyển động, chúng tôi hỏi: ”Thần linh là Thần Thánh phương nào?” Đáp: ”Là ma.” Mọi người vừa nghe là ma thì ai cũng kinh hãi, nhất là có hai cô gái đang ngồi ở đó đã kêu lên đầy kinh hoàng. Tôi bảo họ đừng sợ, linh đến đó tự xưng là ma, vậy nhất định là không sai rồi, bởi vì chỉ có ma giả mạo là Thần chứ không có Thần tự xưng là ma. ”Đã là ma thì xin hỏi anh đến từ nơi nào?” Cái đĩa đó quay một vòng lớn, mũi tên chỉ vào hai chữ “Việt Nam”. ”Xin hỏi lúc còn sống anh làm nghề gì?” ”Bộ đội.” ”Anh là bộ đội của nước Việt Nam sao?” ”Đúng.” Sau khi chỉ vào chữ “đúng” thì đĩa lại chạy mấy vòng nữa, rồi tìm đến chữ “chiến tranh”, chỉ vào đó, rồi lại chạy đến hai chữ “mất mạng”, dùng mũi tên chỉ vào chữ “mất mạng”. Thế là chúng tôi biết anh ta là một anh hùng đã hi sinh trong chiến tranh.

Bạn tôi hỏi: ”Hiện giờ thân anh ở đâu?” Cái đĩa lại chỉ vào hai chữ “hư không”. Có lúc một cô gái cũng to gan hỏi anh ta: ”Anh là người Việt Nam thì sao lại biết văn tự Trung Quốc?” Cái đĩa đó chạy trên giấy một hồi lâu, quay sột soạt mấy vòng, sau đó từng chữ từng chữ một ghép lại thành một câu là: “Linh giới huyền diệu, khó mà tưởng tượng, thần quỷ thông linh, không gì không biết.” Câu nói này tựa như hiểu mà cũng chẳng hiểu, nhưng thật sự có thể biểu đạt ý tứ của linh hồn thì cũng là có ý nghĩa thật rồi!

31. Nói sơ về vận mệnh

Thầy bói thích nói về vận mệnh, người bình thường đối với vận mệnh thì cũng cực kì có hứng thú. Tất nhiên có một số người biểu thị không tin vận mệnh, nhưng lúc gặp nguy hiểm đến tính mạng thì con người không chỉ giận trời trách người mà còn thường xuyên trách vận mệnh của chính mình không tốt. Có một số người trời sinh ra mệnh đã tốt, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đều sống trong những ngày tháng vô lo vô nghĩ, nhưng có một số người thì cả đời sống trong gia đình nghèo khó, thất học từ nhỏ, không có được sự giáo dục và hoàn cảnh tốt đẹp, từ nhỏ đã phải vật lộn với cuộc sống, đây chẳng phải là mệnh sao? Đây chẳng phải là vận sao? Ai có thể nói đây không phải là vận mệnh trời định chứ?

Tôi từng nhìn thấy bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo nằm trên giường bệnh thở hổn hển nói: ”Vì sao ông trời không thương xót tôi, tôi có tội gì đâu, tôi vẫn còn trẻ mà quả tim tôi đã hỏng rồi. Ông trời ơi, sao ông lại để cho người xấu tiếp tục sống còn người vô tội thì lại mắc bệnh hiểm nghèo, tôi có làm gì sai đâu! Vì sao lại giày vò tôi? Đây là vận mệnh, nhất định là vận mệnh, mạng của tôi khổ quá.”

Căn bệnh ung thư đã cướp đi sinh mạng của người bạn tôi, trước lúc chết không còn ra hình người nữa, mắt nhắm tay buông thế là ra đi, đi rất xa rồi, trên đời này không còn tìm thấy giọng nói khuôn mặt của cậu ấy nữa. Đây là cuộc đời một người bạn cũ của tôi, cậu ấy mới sống có 24 tuổi, bạn có thể nói đây không phải là vận mệnh sao?

Người phụ nữ áo xanh đã kể với tôi một câu chuyện. Cho đến hiện tại, tôi chỉ biết tên gọi khác của người phụ nữ áo xanh là Cơ Nga, còn tên thật của bà ấy là gì thì tôi chưa bao giờ hỏi bà ấy, bà ấy cũng chưa bao giờ nói. Bà ấy là người ở huyện Phúc Lí tỉnh Hoa Liên, bố bà ấy là nhân viên kiểm nghiệm của công sở thị trấn Phúc Lí, là người trung hậu nhưng không tin quỷ thần, bình sinh cũng chưa từng tín ngưỡng bất kì tôn giáo nào. Bản thân bà Cơ Nga khi sinh ra cũng không nhận được sự giáo dục tốt, thế nhưng điều kì quái là trong số các anh chị em chỉ có một mình bà ấy có con mắt âm dương bẩm sinh. Lúc còn nhỏ, gia đình của người phụ nữ áo xanh không hề khá giả, thị trấn Phúc Lí là vùng miền núi, con cái phải gánh nước để giặt quần áo và làm việc nhà. Cơ Nga thân làm là chị cả nên phải đi gánh nước ở con suối dưới khe núi, mà thị trấn Phúc Lí có một ngôi miếu Thành Hoàng, Hắc Vô Thường và Bạch Vô Thường ở trong miếu Thành Hoàng lại thích trêu Cơ Nga. Hai âm tướng Hắc Bạch này một người đi trước, một người đi sau trên con đường núi Cơ Nga đi gánh nước, cùng nhau nô đùa rất ồn ào.

Bà ấy kể với tôi: ”Hắc Bạch Vô Thường rất tinh nghịch, thường xuyên cố ý lật đổ thùng nước của tôi.” ”Vậy là lúc nhỏ cô đã có thể nhìn thấy quỷ thần rồi?” ”Từ khi hiểu chuyện đến nay thì tôi đã nhìn được rồi, nhưng tôi nói với mẹ tôi, mẹ tôi chỉ cười, nói với bố tôi, bố tôi cho rằng trẻ con nói vớ vẩn không đáng tin cậy, cuối cùng còn cho rằng thần kinh tôi có vấn đề nữa. Nếu tôi nói tôi nhìn thấy cái gì thì ông ấy liền mắng tôi là bệnh tâm thần phát tác, đầu của con bé này có vấn đề rồi.” ”Cô không sợ Hắc Bạch Vô Thường sao?” ”Thường xuyên nhìn thấy thì cũng không có gì đáng sợ, nhất là họ đều là bạn chơi cùng tôi, là bạn thân.”

Ví dụ câu chuyện nhìn thấy Hắc Vô Thường, Bạch Vô Thường này, khi tôi chưa có được hoạt linh, tôi cũng sẽ không dám tin, cho dù có kể một cách đầy sống động tôi cũng sẽ cho rằng là chuyện thêu dệt nên, vì thế cũng khó mà trách bố của bà ấy không tin con gái mình thật sự nhìn thấy cái gì. Con người trên đời này, có mấy người thật sự có thể mở to mắt mà nhìn thấy được sự tồn tại của linh khí chứ.

Cơ Nga dần dần trưởng thành, tin và thờ Diêu Trì Kim Mẫu Thiên Tôn, Kim Mẫu đặc biệt chăm sóc Cơ Nga - người có con mắt âm dương bẩm sinh này, từng đưa bà ấy đi du lịch một vài linh giới, đồng thời dạy bà ấy thuật gọi hồn, đây cũng là trong phái Diêu Trì của Đạo giáo. Bà ấy có thể dựa vào thân nữ yếu đuối trở thành một nhân vật xuất sắc ai ai cũng biết trong giới Đạo hữu toàn đất nước. Không chỉ mắt thấy tai nghe, bà ấy còn biết các dị thuật khác, nói một câu theo thuật ngữ hiện đại thì bà ấy chính là một siêu nhân.

Bố của Cơ Nga tuổi càng lúc càng cao, có một lần không ngờ bị ốm liệt giường, bệnh tình càng ngày càng trầm trọng, thường xuyên nói mê sảng lúc canh ba nửa đêm, người chăm sóc ông ấy thường xuyên bị dọa sợ tới mức lúng ta lúng túng, thế là Cơ Nga xung phong nhận việc chăm sóc bố lúc nửa đêm. Đêm ấy gió thổi rất mạnh, cửa sổ va vào nhau lạch cạch, bốn bề hoang vu tối đen như mực, ánh nến bé xíu như hạt đậu. Đúng vào lúc canh hai, có rất nhiều tiếng bước chân ở bên ngoài cửa, Cơ Nga không sợ hãi chút nào, mở rộng cửa ra, bên ngoài có một đám người đang đứng, cả nam cả nữ, cả già cả trẻ. Cơ Nga hỏi: ”Các người là ai?” Một người lớn tuổi trong số đó nói: ”Cô là Cơ Nga phải không? Tôi là bác Bình hàng xóm của nhà cô đây! Tôi mới qua đời năm ngoái. Dương khí của bố cô sắp cạn rồi, chúng tôi đến đón ông ấy đi.” ”Không được, không ai trong các người có thể đưa ông ấy đi, tôi không cho phép các người vào đây.” Hai tay bà ấy giang rộng ra để ngăn đám vong hồn kia, như thế, bệnh tình của bố bà ấy lại kéo dài thêm ba ngày. Đến buổi tối ngày thứ ba, một vị tướng quân của miếu Thành Hoàng đến gõ cửa, vị tướng quân ấy trên vai đeo đầy cờ, tướng quân nói: ”Bố cô lẽ ra ba ngày trước đã sớm bị âm linh dắt đi rồi, nhưng vì cô đã ngăn chặn nên kéo dài được ba ngày, âm linh không có cách nào bèn nhờ Thành Hoàng giao ý chỉ, Thành Hoàng lệnh cho tôi đến đưa người đi, cô không thể ngăn chặn được nữa.”

Sau đó, Cơ Nga vì yêu thương bố mình tha thiết, không chịu để tướng quân đưa đi, đã nắm linh phù mà Diêu Trì Kim Mẫu ban cho trong tay, trong chốc lát ánh sáng cát tường tỏa ra chói lọi, tướng quân của Thành Hoàng cũng không có cách nào tiến về phía trước, đành trở về báo cáo. Cơ Nga không cần biết trời cao đất dày, chạy tới miếu Thành Hoàng nói chuyện với Hắc Bạch tướng quân ở trong miếu, đánh vào mông của mỗi vị Thần tướng, ngay cả Thành Hoàng Bồ Tát cũng tức giận tới nỗi ngoẹo cả đầu, mặt mày ủ rũ. Đúng lúc này, trong không trung có những đám mây cát tường, hoa thơm rải đầy mặt đất, thì ra là linh quang của Diêu Trì Kim Mẫu giá đáo. Thành Hoàng kính cẩn ra khỏi miếu nghênh đón, Kim Mẫu nói với Cơ Nga: ”Con à, tấm lòng hiếu thuận của con rất cảm động, nhưng Thành Hoàng theo ý chỉ mà làm việc, bố con thọ mạng đã hết, lẽ ra phải xuống âm giới, như bây giờ con hãy mau làm thị tì của ta, áo xanh là đại diện cho học trò của ta, hãy mau mặc vào cho ông ấy, nếu ông ấy mặc áo xanh, tự nhiên sẽ thuộc về ta xử lí, sẽ không đến nỗi phải đọa âm giới chịu khổ.”

Cơ Nga nghe nói như vậy mới miễn cưỡng gật đầu bằng lòng. Khi mặc áo xanh cho bố, bà ấy chỉ thấy trong không trung lơ lửng một chiếc thuyền chở bố của bà ấy đi.

Câu chuyện này là do chính miệng người phụ nữ áo xanh kể cho tôi. Từ câu chuyện này, chúng ta có thể hiểu rằng sống và chết đều có một định số, và vận mệnh ẩn ở giữa sống và chết. Sống chết cũng là mệnh, là vận, muốn siêu thoát đại luân hồi sinh tử chỉ có tu tập luyện linh mới có thể tự chủ không chướng ngại, và tự chủ không chướng ngại cũng chính là Đại Bồ Tát không chịu sự trói buộc của sinh tử rồi.

32. Trợ duyên cho chính pháp

Có rất nhiều Phật tử, đại sư hoặc đại hòa thượng xuất gia luôn coi thường đạo của Thiên Nhân, đối với thuyết quỷ thần, họ không hề tin, còn cho rằng đó chẳng qua là phương thuật của thiên ma ngoại đạo mà thôi. Bản thân họ cho rằng Phật giáo mới là chính giáo, Phật pháp tăng là Tam Bảo, tu hành chính đạo không nên học tập thiên ma ngoại đạo. Thế nhưng họ không biết rằng trợ duyên cho chính pháp hoàn toàn phải dựa vào thiên ma ngoại đạo, nếu không có thuật thần thông của thiên ma ngoại đạo thì số người quy y chính pháp Phật môn sẽ giảm đi rất nhiều. Điểm này thì không cần phải nghi ngờ, cho nên không có thiên ma ngoại đạo thì làm gì có sự sống mãi của chính pháp chứ?

Trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, Xá Lợi Phất là đại đệ tử số một, Mục Kiền Liên là đại đệ tử số hai, một người là trí huệ đệ nhất, một người là thần thông đệ nhất. Cả hai đại đệ tử này đều là học giả ngoại đạo hoặc xuất thân là thủ lĩnh, đến cuối cùng lại phụng hành Phật pháp, trở thành trợ duyên cho chính pháp. Vì thế, các đại sư, hòa thượng, tì kheo xuất gia học Phật ngày nay không thể coi thường sức mạnh của ngoại đạo, có thể không tu nhưng cũng không thể ngông cuồng báng bổ. Rất nhiều người cho rằng xuất gia quy Phật còn vĩ đại hơn Thiên Thần, vĩ đại và cao quý hơn Ngọc Hoàng Đại Đế. Sao họ không nghĩ xem, sao Phật Tổ vẫn còn khách khí khiêm nhường với Thiên Đế như vậy, ấy thế mà một người xuất gia chưa làm nên trò trống gì dựa vào cái gì mà coi thường Thiên Đế? Thiên Đế nhìn bạn giống như nhìn một con kiến, còn bạn thì vẫn chưa nhìn thấy Thiên Đế nữa cơ! Đừng nói là không nhìn thấy Thiên Đế, có khi ngay cả Thổ Địa Công Công bạn cũng không nhìn thấy nữa! Vì đã không nhìn thấy Thổ Địa Công Công, không nhìn thấy Thiên Đế, thì dựa vào cái gì mà vĩ đại hơn Thổ Địa Công, vĩ đại hơn Thiên Đế?

Cho dù người xuất gia vĩ đại hơn Thổ Địa Công Công, nhưng người xuất gia đi qua trước miếu Thổ Địa Công Công, Thổ Địa Công Công nhìn thấy người xuất gia đến bèn đứng ở trước miếu cung kính nghênh tiếp, người xuất gia có thể không thèm nhìn Thổ Địa Công Công một chút sao? Tự nhận mình là vĩ đại, kì thực là quá nhỏ nhen, e rằng ngay cả đến Thổ Địa Công Công người xuất gia cũng không nhìn thấy đó! Chẳng trách mà tự cao tự đại cả đám. Người học Phật tu hành, thiên ma ngoại đạo có thể không tu, nhưng đối với các Thần Tiên dưới Thiên Đế không thể không tôn kính, chí ít các Thần Tiên kiếp trước còn tu cao hơn bạn đó.

Quan Thế Âm Bồ Tát hóa ra nghìn vạn thân để cứu đời, Ngài có thể hóa thành thân nam thân nữ, có thể hóa thân thành Kim Cang Thần, hóa thân thành quỷ xoa quỷ vương, hóa thân làm người hoặc không phải người, đủ loại biến hóa. Chúng sinh mà Ngài độ không phân biệt, Ngài có thể biến thành Thiên Đế, có thể biến thành Thổ Địa Công Công, còn người xuất gia bất kính với Thổ Địa Công Công há chẳng phải là bất kính với Quan Thế Âm Bồ Tát rồi. Cho nên người chấp thuận dựa vào thiên ma ngoại đạo để được độ thì Quan Thế Âm Bồ Tát tất sẽ hóa thân thành thiên ma ngoại đạo để độ họ, điều này không thể hoài nghi.

Có một lần, tôi tán gẫu với một vị hòa thượng, vị tì kheo ấy lại nhắc đến một vấn đề cũ. ”Người xuất gia vẫn vĩ đại hơn Thổ Địa Công Công.” - Vị tì kheo nói. ”Ông nghe ai nói vậy? Pháp sư Từ Nhân, là ai nói với ông vậy?” - Tôi hỏi ông ấy. ”Sao cơ? Ai ai cũng nói như thế, không đúng sao?” ”Tôi nghe Phật nói, đạo hợp với chân là thiện, người có chí hướng hợp với đạo là vĩ đại, Phật Tổ Thích Ca chưa từng nói người xuất gia vĩ đại hơn Thổ Địa Công Công!” Hòa thượng Từ Nhân đỏ mặt nói: ”Chính pháp cao hơn Thiên Tiên ngoại đạo rất nhiều.” ”Không sai, Thiên Tiên ngoại đạo thấp hơn chính pháp, nhưng làm sao ông biết sau khi họ làm Thiên Tiên rồi thì rất hài lòng và không cầu chính pháp nữa? Huống hồ đạo hạnh của Thiên Tiên so với cái quả nhỏ bé của con người thì cao hơn rất nhiều đó.” Hòa thượng Từ Nhân nghe tôi giải thích như vậy, từ đó ông ấy biết, cho dù chính pháp ở tít trên cao, nhưng cũng không thể coi thường Thiên đạo.

Nguyễn Ấn Trường - tác giả của cuốn sách “Tạo Hóa Thông” cho rằng: “Môn xem tướng chữ của Nghiêm Quân Bình, bắt linh bài, xóc quẻ, bói lông, bói xương, có lòng thành sẽ có linh cảm, mỗi loại đều có đủ sự tin cậy, tuy vậy những môn bói này là hạng thấp kém của Đạo. Môn suy địa vận để lấy Lạc thư cửu số, bói quân cơ trọng kì môn cửu tinh, kiểm tra việc người chú trọng Lục nhâm thập nhị Thần tướng, những môn này là hạng trung của Đạo. Còn như đoán đại vận thế giới, duy có Hoàng Cực Dịch Tượng [hai bộ tử vi nổi tiếng Hoàng Cực Kinh Thế và Dịch Tượng Luận] và Đại Ất Lí Số là có thể suy ra được sự thường hằng, từ số lần vận hành của mặt trời mặt trăng và các vì sao trong một ngày đêm mà có thể quan sát sự thay đổi, môn này là Đạo thượng thừa.” Đoạn này Nguyễn Ấn Trường đã nói ra được tiếng lòng của tôi, Phật phân làm ba thừa, ý nghĩa của nó cũng chính là ở đây.

Giờ đây, bất kể là phù kê cũng được, phi loan cũng được, viên quang cũng được, lại còn có người sáng lập ra lục giáo hợp nhất, ngũ giáo hợp nhất, thậm chí vạn giáo đồng minh, thiên hạ vạn giáo đồng minh, thiên cung thụ mệnh, Di Lặc hạ sinh, chỉ cần làm pháp không gây lỗi lầm thì cũng không hẳn là không phải trợ duyên cho chính pháp. Cho nên, “dựa vào tâm bồ đề, tất cả ngoại đạo đều là chính pháp”. Nhưng nếu mượn danh Thần Phật để vơ vét của cải, làm đảo điên chúng sinh, làm pháp sai trái, thậm chí mê tín nói mò, thì đây thật sự là trở thành tà đạo.

Pháp mà tác giả đã học không chỉ là đạo Tiểu thừa cao thượng, hay đạo Đại thừa cao thượng, mà mục tiêu sau cùng vẫn là chính pháp tâm yếu của sinh tử viên mãn trọn vẹn. Tôi vì sự trợ duyên của linh cơ thần toán mà thu hút được vạn người quy về Phật giáo. Ngày nay Phật giáo chỉ là giảng kinh thuyết pháp, hoàn toàn không có thuật biến hóa thần kì, hơn nữa không hiểu pháp gọi linh đuổi hồn, không biết “quy y đại đạo”, chỉ là biết tụng kinh lễ Phật mà thôi, cách làm pháp này nếu không có ngoại đạo tương trợ thì không thể có được kết quả tốt đẹp như thế này. Hôm nay rất nhiều người tin Phật, trong quá khứ họ là tín đồ của chùa miếu, mười người thì có tám người là theo ngoại đạo trước, sau đó mới cầu chính pháp, cho nên trợ duyên cho chính pháp, người xuất gia không thể xem nhẹ, cũng không thể không tôn kính, đừng mở miệng ngậm miệng đều gièm pha.

Theo như tôi biết, có một số người xuất gia đối với linh của quỷ thần thì kính trọng nhưng không gần gũi, nguyên nhân là linh hồn thường hay giả tạo thành vị Đại Tiên nào đó, hơn nữa còn bàn luận huyền cơ, nói hươu nói vượn một hồi, người xuất gia không hiểu người nào mới là Thần Tiên, người nào là quỷ quái giả trang? Vì không có cách nào phân biệt được cho nên cũng gạt phắt không tin gì cả. Tác giả từng ở tại một Thần đàn xem giáng kê viết chữ, linh đó tự xưng là tổ sư Lữ Động Tân hạ giáng, sau đó tôi vận linh nhìn thử thì căn bản không phải là tổ sư Lữ Đồng Tân, mà là một cô hồn dã quỷ tương đối có linh khí. Đương nhiên quỷ linh giảng kinh chẳng qua là pháp tu luyện của tinh khí quỷ linh mà thôi. Cho nên Phật Thánh phàm phu vốn dĩ là bình đẳng không hai, chỉ là tu luyện và giác ngộ khác nhau mà thôi, hạng trên là Phật, hạng dưới là phàm, Thiên Tiên ngoại đạo trở thành nhịp cầu nối giữa Phật và phàm, cái này phải xem năng lực lĩnh ngộ, năng lực tu luyện của bạn, còn thêm cả nhân quả kiếp trước cũng rất quan trọng. Thiên Tiên ngoại đạo không thể quy y, nhưng phải tôn kính, đây là lời mà hôm nay tôi muốn nói với một số người xuất gia và người tu tập Phật giáo. Giả như hôm nay tôi nói Quan Thế Âm Bồ Tát từng từ không trung vẩy xuống mấy giọt cam lộ rơi trên đầu tôi, từ đó tôi hoàn toàn hết bệnh, thân tâm khoan khoái, bạn có tin không? Điều này là có khả năng, bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát không đâu là không hiện thân mà!

(Bổ sung thêm: tác giả từng khuyên người ta thờ tượng Phật, khuyên người ta niệm Phật, khuyên người ta theo đuổi chính pháp Phật môn, vì sao những người này tin Phật, rất ngoan đạo và không nghi ngờ, đều là vì linh cơ thần toán của tôi, tôi đoán ra bí mật của họ, họ vì thế mà buông bỏ tất cả việc thế tục, toàn tâm toàn lực phụng sự Phật pháp.)

33. Pháp yếu của mật chú

Nhìn chung mà nói, Phật gia công khai rất nhiều chú ngữ, cũng linh dị phi thường, có Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm thần chú, chú này là do Phật Thích Ca Mâu Ni từ trong nhục kế tuôn trào ra bách bảo quang, rồi từ trong ánh sáng tuôn ra hoa sen nghìn cánh quý báu, có hóa Như Lai ngồi trong hoa sen quý, từ đỉnh phóng tỏa mười tia bách bảo kim quang, mỗi tia sáng đều hiển thị khắp nơi nhiều như cát của mười sông Hằng, dấu vết bí mật của Kim Cang, cầm chày nâng núi, khắp hư không giới, dưới bảo tướng ấy, Ngài đã tuyên thuyết đại chú này. Ngoài ra còn có Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni chú, tục gọi là chú Đại Bi, còn có Như Ý Bảo Luân Vương Đà-la-ni chú, Tiêu Tai Cát Tường thần chú, Công Đức Bảo Sơn thần chú, Chuẩn Đề thần chú, Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà-la-ni chú, Dược Sư Quán Đỉnh chân ngôn, Quan Âm Linh Cảm chân ngôn, Thất Phật Diệt Tội chân ngôn, Vãng Sinh Tịnh Thổ thần chú, Thiện Nữ Thiên chú, mười câu chú này chính là Thập tiểu chú.

Về chú ngữ của Đạo gia thì càng nhiều, kể đến có Thỉnh Tiên tổng chú, Quy Y chân ngôn, Đại Minh Lục Tự chú, Hòa Hợp chú, Triệu Thổ Địa chú, Thông Thiên Như Ý chú, Pháp Bảo Phù chú, Hỗn Thiên chú, Truy Hồn chú, Ngũ Quỷ Hỗn Thiên chú, Huyền Nữ chú, Kim Quang chú, Thái Dương Thái Âm chú, Ngũ Phương Lôi Quang chú, v.v… Những câu chú này đều công khai, còn có rất nhiều mật chú không công khai, đại bộ phận đều chọn người mà truyền, nếu truyền không đúng người thì thường sẽ khiến những kẻ lưu manh lợi dụng chú này để làm xằng làm bậy, như thế thì rất gay go.

Chú ngữ còn gọi là chân ngôn, chính là đạo hạnh tu trì cả đời của Thánh Thần Tiên Phật đúc kết lại thành một câu nói, dựa vào lời này mà tu niệm chính là một phương pháp để có thể độ mình độ người. Người tu mật chú có mấy điều phải chú ý, đây là việc vô cùng quan trọng.

Thứ nhất, trì chú không thể tham nhiều, trì một chú lâu dài làm chính. Hiện nay người bình thường trì chú niệm chú thường hay tham nhiều, bảo họ trì chú, họ lập tức thuộc hết mọi câu chú, mỗi câu chú đều cảm thấy cần thiết, và câu nào cũng niệm. Niệm chú chỉ nói lầm rầm trong miệng, không thể nói to ra ngoài miệng, tai nghe thấy và in vào trong tâm. Nếu mà niệm chú giống như người chăn trâu hát bài ca miền núi, hay giống như ngôi sao ca nhạc hát những bài hát thịnh hành thì không có một chút hiệu lực nào. Mật chú có đến tám vạn bốn nghìn loại, phải in vào tâm từng câu, nói thì dễ mà làm thì khó làm sao! Cho nên trì chú, nếu trì một câu chú mà trì lâu thật lâu, câu chú này lập tức thành tâm chú, hễ tâm niệm động là chú ngữ ba-la-mật, tâm làm chủ tất cả pháp giới, thành Phật thành Tiên cũng nằm ở tâm niệm thôi!

Tác giả trì Thất Phật Diệt Tội chân ngôn của Phật gia: “Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-luô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-cha-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha.” Câu chú này vỏn vẹn bảy câu, đơn giản dễ niệm, không chỉ diệt tội mà còn có đại công. Thất Phật hộ trì, diệu pháp thần thông như thế từ trong câu chân ngôn này không ngừng tuôn ra. Tôi trì câu chân ngôn này rất lâu, không biết đã niệm bao nhiêu vạn vạn biến rồi! Hễ tâm niệm khởi lên thì linh cảm biết bao. Đạo gia thì tôi trì Lục Giáp thần chú, tổng cộng phân ra làm Lục Giáp Dương thần chú, Lục Đinh Âm thần chú, niệm theo chú này lâu ngày thì hành pháp tự có thần thông bất khả tư nghì.

Thứ hai, trì chú không được đọc sai. Thường xuyên có một số người mặc dù trì chú nhưng đọc sai một chữ trong câu chú đó, ví dụ có một phụ nữ ngoài 50 tuổi thường đến Phật đường ở nhà tôi lễ Phật. Bà ấy niệm Quan Âm Linh Cảm chân ngôn “Ôm ma-ni pát-mê hùm” lại đọc thành “Ôm ma-ni pát-mê nướu”, chữ “hùm” biến thành “nướu”. [Câu chú Lục tự đại minh trong tiếng Trung, hiện tại vẫn viết phiên âm Hùm gần y hệt như Nướu, hoặc lẫn với nhau] Người phụ nữ này ở trong núi Lục Cổ ở Vụ Phong trồng cây ăn quả, hàng ngày lên núi xuống núi đều niệm chú ngữ, cứ như thế đã hơn 10 năm không gián đoạn. Nói ra kể cũng lạ, từ dưới núi đi lên núi phải đi qua một con sông dài và hẹp, mỗi khi bà ấy niệm “om mani padme niu” thì sỏi ở dưới lòng sông cứ nhảy ùm về phía trước. Bà ấy niệm một biến thì sỏi nhảy một cái, niệm hai biến thì sỏi nhảy hai cái, lần đầu tiên bà ấy sợ ngây người ra, sau đó thì cũng quen, bà ấy cũng thấy không hề gì. Mãi cho đến một ngày bà ấy kể với tôi, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi, thì ra chú niệm sai, câu chú quái dị, nhưng niệm lâu ngày tự nhiên sẽ sản sinh ra hiện tượng linh dị kì quái, nhất là khi bà ấy dụng tâm chăm chỉ niệm, chú lực của bà ấy thậm chí có thể tác động được đến viên sỏi nữa!

Tôi với bà ấy đến núi Lục Cổ, tôi bảo bà ấy niệm “Ôm ma-ni pát-mê nướu”, sau đó bảo bà ấy ra lệnh cho sỏi tập trung thành một đống về phía đông. Bà ấy làm theo lời tôi, kết quả là sỏi đều chạy về phía đông tập trung lại, bà ấy lại niệm, sỏi lại chạy hết về phía tây. Tôi lại dạy bà ấy niệm “hùm”, lần này thì sỏi không hề động đậy. Điều này đã chứng minh việc trì một câu thần chú sẽ có công lực vô cùng, nhưng do niệm sai một chữ nên chỉ có thể tác động được đến sỏi [quan điểm của Sư Tôn tại thời kì tu tập này - 1975]. Vì thế người niệm chú tuyệt đối chớ niệm sai, điều này vô cùng quan trọng, vô cùng quan trọng.

Thứ ba, vô trụ vô niệm, chí đại chí cương. Kinh Kim Cang có nói: “Nên vô sở trụ mà sinh tâm ấy.” Đây là tâm yếu trì chú của pháp môn vô thượng, cũng chính là tâm tức là chú, chú tức là tâm, tâm động thì chú động. Niệm mọi lúc, niệm mọi nơi, vì lúc nào cũng niệm, lúc nào cũng chuyển động chân ngôn, giống như trạng thái nhất tâm bất động, đây chính là nhập vào trong tam muội kim cang đại định, chí đại chí cương trở thành thể kim cang bất hoại, điều này mới thần diệu làm sao.

Tác giả cho rằng trì chú tức là công phu trì giới tu định, cũng tức là bí quyết nhanh nhất từ mê nhập ngộ. Người muốn khởi linh nếu có thần chú gia trì, công lực tự nhiên tiến nhanh, không thể coi thường, chớ xem nhẹ, đạo khởi linh cũng nằm trong chú ngữ. Từ một phàm phu biến thành người có linh động cũng dựa vào đại lực của việc khẩu niệm tâm ấn bốn chữ Diêu Trì Kim Mẫu mới có thể thành công.

“Diệu Tí Bồ Tát Sở Vấn Kinh” của pháp môn Mật tông nói: “Người tu hành nếu muốn trì tụng để nhanh chóng trở thành thành tựu giả sắc bén thì mọi nghi thức về pháp không được mảy may thiếu hụt hay phạm sai lầm, sẽ khiến cho ma chướng được dịp thuận lợi. Vì thế người tu hành, làm người trì tụng thì phải trì thời gian dài không gián đoạn, khiến cho quán tưởng, chân ngôn và chủng tự phải thông thuộc, mọi sự tương ứng, có thể thành tựu du già vô tác diệu hạnh. Rồi người trì tụng không được “tâm duyên dị cảnh” [để tâm chạy theo ngoại cảnh], không được nói với người khác những điều linh tinh, nếu tụng gián đoạn thì không thể thành tựu được. Rồi tụng không dựa theo nghi thức của pháp hoặc không giữ giới, hoặc không thanh tịnh, thì không chỉ có pháp không thành tựu mà còn chuốc hại nữa.”

“Thiện Giới Kinh” nói: “Thọ trì thần chú, có năm điều không được làm. Một, ăn thịt. Hai, uống rượu. Ba, năm vị cay. Bốn, dâm sự. Năm, ăn uống ở nơi bất tịnh.” Nếu giữ được năm giới này thì thần chú gia trì rất có khả năng khử độc trừ ma, tâm niệm chuyển động sẽ có lợi ích lớn, ác thần độc bệnh đều có thể loại bỏ.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ cho tác giả Tiên Thiên Vô Cực chính pháp, chính pháp này chính là chính chú. Nếu trì chính chú với tâm sùng kính, trời xanh ắt sẽ cảm động, sẽ có Công Tào Thần Linh trực nhật hạ giáng, vì thế người thọ trì Tiên Thiên Vô Cực chính pháp phải cung kính cung thỉnh, không có việc cần thiết thì không thể tùy ý niệm động. Đây chính là Đạo gia đại la thiên chú của Tiên Thiên Vô Cực phụng thỉnh Thiên Tiên Địa Tiên Tán Tiên Quỷ Tiên Kim Tiên, thậm chí là Thần linh đi qua đi lại nghe thấy chú này không hạ giáng không được, không có luật lệnh bí mật nào của đô phủ Cửu Lão Tiên có thể sánh bằng, đây chính là Diêu Trì mật lệnh để thông hành khắp tam giới trên trời dưới đất. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ mật lệnh này cho bao nhiêu người? Tôi không biết, nhưng biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, tuyệt đối không thể đem mật lệnh truyền bừa.

34. Nhân quả kiếp trước kì dị

Đêm giao thừa, cả nhà tôi đang xum vầy quanh bếp lửa, bên ngoài cửa sổ gió lạnh căm căm. Mới ăn được một nửa bữa cơm thì bạn thân của tôi là Tạ Xuân Hùng xộc vào cửa với bộ dạng hết sức khẩn trương: “Lão Lư, anh phải cứu người, cứu người ngay, cháu gái tôi sắp chết rồi.” Trên tay anh ấy ôm một vị Vi Đà Bồ Tát. Tạ Xuân Hùng là thiện nam của Đài Trung Phật giáo Liên Xã, là một Phật tử ngoan đạo, trong nhà thờ Phật, là người rất thuần thành. ”Người đang ở đâu?” ”Bây giờ cháu nó đang ở sở truyền đạo Vụ Phong, tín đồ của sở truyền đạo Vụ Phong đều tập trung ở đó để niệm Phật cho nó.”

Thế là tôi không hỏi gì nữa, khoác áo khoác, đến lạy Phật Tổ rồi lên chiếc xe taxi đang chờ ở ngoài cửa. Trên đường đi, Tạ Xuân Hùng kể cho tôi nghe câu chuyện như sau:

Cháu gái của anh ấy tên là Lưu Mẫn Ngọc, là sinh viên năm thứ ba Đại học Sư Phạm, đạo đức và học lực đều ưu tú, ngoại hình cũng rất xinh đẹp. Thế rồi vào năm thứ hai thì đột nhiên tâm thần thất thường, nói năng lảm nhảm, có khi ngủ liền bốn, năm ngày không ăn không uống. Trường học thông báo với phụ huynh của nữ sinh Lưu là ông Lưu Đạt đón về nhà dưỡng bệnh. Bác sĩ của bệnh viện tâm thần kiểm tra sóng não nói: ”Không có bệnh gì, không có gì bất thường.”

Bác sĩ tâm thần cũng bó tay hết cách, ngay cả bác sĩ nước ngoài cũng đã được mời đến, cũng chỉ lặp lại một câu: “Không có bệnh.” Bố của nữ sinh Lưu là một doanh nhân lớn trong giới khởi nghiệp ở miền trung, vì cứu con gái yêu của mình, ông ấy đã tiêu tốn cả triệu Đài tệ, nhưng bác sĩ vẫn không chữa được, chỉ còn biết cầu Thần minh.

Kê đồng ở miếu Vương Gia Công tại Phố Lí nói: ”Cháu Lưu đã phạm phải quan tài sát, phải cải ách tế sát, đồng thời phải sống trong miếu 49 ngày thì mới có hiệu quả.” Thế rồi cháu Lưu đã sống trong miếu, cả ngày ngủ mê man, lúc tỉnh thì miệng lại càng nói lảm nhảm nhiều hơn, cuối cùng trị liệu vẫn không có hiệu quả. Pháp lực thần thông của Vương Gia Công không đủ, ngay cả kê đồng kia cũng lắc đầu than rằng vô phương cứu chữa.

Họ lại đến thỉnh Thần ở miếu Ngũ Vương tại Quan Miếu, Đài Nam chữa trị, đã bái Ngọc Hoàng Đại Đế, đã đốt cả một chiếc xe bò bằng vàng mã, kết quả là tình hình lúc tốt lúc xấu. Lúc tốt thì tựa như tỉnh mà vẫn không tỉnh, miệng không nói năng, lúc xấu thì cực kì hung hãn, mười người cũng không bắt được cô gái, lúc thì khóc lúc thì cười, nhảy múa điên loạn. Chữa trị ở miếu Ngũ Vương được nửa năm, kết quả vẫn vô hiệu.

Sau đó họ lại đến chùa Từ Vân để cầu hòa thượng trụ trì, hòa thượng đó tự xưng chỉ cần một chiếc quạt là đánh được yêu ma quỷ quái, ma quỷ hễ nhìn thấy là chạy, kết quả là chữa trị suốt hai tháng. Hòa thượng nói: “Đây là con cá chép tinh nhập vào người để tác quái, hãy xem tôi thu con yêu quái này về.” Kết quả là hòa thượng niệm chú Đại Bi, dùng nước pháp, dùng cái quạt đánh vào người Lưu Mẫn Ngọc, không những vô hiệu mà hòa thượng còn nổi cáu: “Hầy! Quái lạ! Quái lạ! Con cá chép này thần thông quảng đại, pháp lực của tôi không đủ, thật xấu hổ, xấu hổ, xin đi thỉnh cao minh khác đi! Tôi không thắng nổi sự quấy nhiễu này.”

Ông Lưu Đạt lại đưa con gái yêu đến cầu kê đồng ở miếu Ngô Thê Vương Mẫu, kê đồng dùng phù lục dán đầy lên khắp người cháu Lưu, lại không cho cô ăn ngày ba bữa cơm, chỉ cho uống nước phù lục mà kê đồng đó vẽ. Suốt ba, bốn ngày như thế, cháu Lưu bị sốt cao, sắc mặt đen sạm, tròng đen chuyển thành trắng dã, đồng thời cũng liên tục nói mê sảng, tình hình cực kì nghiêm trọng, bệnh chưa thể chữa khỏi mà thật sự đã sắp chết đói rồi. Kê đồng bó tay, lại gửi về bệnh viện tâm thần để làm điện liệu.

Tạ Xuân Hùng nói: ”Các chùa, miếu, cung, đường ở khắp nơi đều đã đi hơn trăm nơi rồi, tất cả đều vô hiệu, ngay cả đại sư Phật học Lí Bỉnh Nam chúng tôi cũng đến cầu rồi, nhưng ông ấy không lo liệu được việc này, ông ấy chỉ giảng kinh thuyết pháp thôi, đối với những việc kiểu này ông ấy không muốn quản. Thế rồi tôi đột nhiên nhớ đến cậu, cậu cũng có một vài linh lực, chữa được ngựa chết thành ngựa sống, cho nên tất cả đều nhờ cậy vào cậu, nếu cậu không cứu cháu tôi thì nó sẽ chết mất. Hôm nay nó nói có hai người muốn đến lấy tính mạng nó.”

Đến sở truyền đạo Vụ Phong, tôi lễ bái Phật Tổ, ở trên đại đường có rất nhiều bạn hữu Phật tử đã bỏ bữa cơm sum vầy đêm giao thừa đến đây để niệm Phật giúp cho cô gái đang vật lộn giữa ranh giới sống chết, trong lòng tôi rất cảm động. Lưu Mẫn Ngọc ngồi tại đại đường ở sở truyền đạo, âm thanh tiếng nói chuyện chói tai, không nói gì khác ngoài có người muốn đưa cô ấy đi, cô ấy không thể sống nữa, tướng quân đầu trâu mặt ngựa đã đến rồi, chỉ tay vào những bạn hữu Phật tử đang niệm Phật hét lớn: “Chỉ biết niệm Phật thì có tác dụng gì, Thần Chết cũng bắt hết các người đi!” Tôi gặp mặt ông Lưu Đạt, cũng gặp mặt mẹ của cháu Lưu, tôi hỏi thăm tình hình của cháu Lưu, rồi tôi dựa theo nghi thức cầu nước Đại Bi của Phật giáo, tôi đã cầu nước chú Đại Bi cho cháu Lưu, dùng nước chú này vẩy lên người cháu Lưu, cô gái không hề có phản ứng gì.

Lúc này tôi bảo các bạn hữu Phật tử niệm “Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát”. Tôi đứng ở giữa đại đường, mắt nhìn vị Địa Tạng Vương Bồ Tát cầm tích trượng ngồi bên dưới Phật Tổ, trong miệng cung kính niệm chú ngữ Tiên Thiên Vô Cực chính pháp, phụng thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tôi vận linh đến con mắt một hồi lâu thì nhìn thấy rõ ràng mặt đất bên dưới chỗ Phật ngồi tách ra làm đôi, từ dưới đất có một vị Bồ Tát từ từ trồi lên, đầu đội mũ Ngũ Phật màu vàng kim, thân khoác áo cà sa, ngồi trên tòa sen bảo quang, tay cầm tích trượng, Bồ Tát khẽ nhướn hai mắt nói: “Liên Sinh, người này mắc bệnh nặng như thế chính là báo ứng điên khùng. Ta là phân thân của Địa Tạng Bồ Tát ở tại sở truyền pháp Vụ Phong này, theo lí là phải như thế này, nên cũng không làm gì được!” ”Bồ Tát, đêm nay cô gái này phải chết sao?” - Tôi sốt ruột hỏi. ”Cũng không phải, đây chính là do các oán hận tích tụ, sẽ không chết một lần mà là trăm lần, đây là những lời nói xằng bậy khi sợ hãi, không thể xem là thật.” ”Bồ Tát, cô ấy mắc bệnh gì, tôi có thể cứu được cô ấy không?” ”Thần thức đã bị trói buộc bởi các oán hận, chỉ có sức mạnh lớn mới có thể tháo gỡ được.”

Địa Tạng Bồ Tát nói xong câu này thì kim thân cũng từ từ biến mất. Mặt đất tách ra làm đôi cũng khép lại thành một, không để lại một kẽ hở nào. Tôi nói với ông Lưu Đạt rằng thần thức của con gái ông đã bị ma trói buộc, chỉ có sức mạnh lớn mới có thể cởi bỏ được, ông Lưu nhíu chặt đôi lông mày. Tôi lại nói với ông ấy, con gái ông nói đêm nay có người đến lấy mạng của cô ấy, đó là nói linh tinh thôi. Thực tế đã chứng minh đêm ấy cháu Lưu đã không lìa cõi nhân gian, không lâu sau thì cô gái lại được gửi đến miếu đường của chùa để tĩnh dưỡng.

Mới được vài hôm, vợ chồng Lưu Đạt đã đến chỗ tôi: ”Lư tiên sinh, làm phiền anh hết lòng chữa trị cho cháu, giả như chữa không khỏi thì chúng tôi cũng không muốn đứa con gái này nữa. Chúng tôi đã tiêu tốn hết mọi tâm huyết của mình rồi, đã dùng hết mọi khả năng có thể rồi, đã chạy đủ mọi đường rồi, bây giờ Quan Miếu ở Đài Nam cũng không để cho nó ở nữa, bệnh của nó càng phát tác ghê gớm hơn. Tối nay chúng tôi bắt chuyến tàu đêm đi Đài Nam đón nó về, bảy giờ sáng hôm sau xin mời anh đến nhà tôi, dùng pháp lực của anh để chữa cho nó, chúng tôi cầu xin anh, năn nỉ anh!” Tôi an ủi họ: ”Được rồi! Tôi sẽ cố gắng hết sức, tất cả chỉ dựa vào Phật pháp, tôi tin rằng pháp lực vô biên có thể chữa được bệnh điên của cô ấy.” Đêm ấy, tôi thắp hương khấn cầu cho việc này, sau đó lên giường đi ngủ.

Nói ra cũng kì lạ, vào lúc tôi nửa tỉnh nửa ngủ, tôi nhìn thấy một cảnh tượng kì quái. Tôi nhìn thấy có một cái cầu rất rất dài, trên cầu có sương, đó là lúc đêm khuya mờ mịt, có một người đàn ông vác một người phụ nữ, trên thân của người phụ nữ này có buộc một tảng đá to, người đàn ông quăng người phụ nữ này xuống dòng sông cuồn cuộn, “tùm” một tiếng, nước bắn tóe ra xung quanh. Lúc này hình như tôi biến thành người phụ nữ đó, đau đớn không cách nào hít thở được. Tiếp theo, người đàn ông kia cầm một con dao võ sĩ, tại một con hẻm tối, truy sát một người đàn ông khác, chém người đó toàn thân đẫm máu, sau đó đem xác của người đàn ông đó quăng vào trong hố vôi. Tôi nhìn thấy thi thể của người đàn ông đó từ từ chìm vào trong hố vôi, chỉ còn lại một cánh tay, sau cùng cánh tay đó cũng biến mất. Người đàn ông giết liền hai người này quay mặt lại, tôi phát hiện ra khuôn mặt hắn đã biến thành giống mặt của Lưu Mẫn Ngọc. Á! Trong lòng tôi kinh hãi, hắn chính là Lưu Mẫn Ngọc.

Đến đây thì tôi tỉnh lại, giơ tay nhìn đồng hồ thì đã là bốn giờ sáng. Tôi ngồi dậy mặc quần áo, rửa mặt qua loa rồi đi vào Phật đường. Tôi thắp hương thầm thỉnh cầu Phật Tổ chỉ thị, rất nhanh chóng: “Những gì thấy trong mơ là nhân quả kiếp trước của Lưu Mẫn Ngọc, oan hồn tìm đến đòi trả mạng, nhân quả trói thân, nếu muốn giải thoát cần giải oan kết này.”

Bảy giờ sáng, tôi vội đến nhà ông Lưu. Lưu Mẫn Ngọc nằm sấp trên giường, mắt cụp xuống, không nói không rằng. Tôi nói với họ về chỉ thị của Bồ Tát đêm qua. Họ không biết nói gì, thế rồi họ đi theo tôi đến Phật đường ở nhà tôi. Tôi lấy ra bàn bói đĩa, để cho vợ chồng Lưu Đạt chạm tay vào, bàn bói đĩa chỉ thị rằng: “Kiếp trước của Lưu Mẫn Ngọc đã giết một nam một nữ, kiếp này chuyển sinh đầu thai làm thân nữ. Oan hồn đòi giải oan, có được âm lệnh của Địa Tạng Vương, cầm âm lệnh này để đòi mạng của Lưu Mẫn Ngọc, đồng thời Lưu Mẫn Ngọc phải bị điên tám năm mới có thể giải trừ được nỗi oán giận của nam nữ bị giết kia. Người nam bị giết họ Hoàng, người nữ họ Lâm, đây chính là nhân quả báo ứng, vì thế Thần Thánh trong chùa miếu cung đường cũng phải bó tay hết cách.”

Bàn bói đĩa chỉ thị rất rõ ràng, vợ chồng Lưu Đạt nhìn nhau, mẹ của cháu Lưu thở dài nói: “Chả trách khi Mẫn Ngọc lên cơn điên thì cứ hét lên xin họ Hoàng họ Lâm tha mạng, hơn nữa còn nói kiếp trước giết người rồi, kiếp này bị điên là báo ứng.”

Lưu Đạt hỏi đĩa thần: “Có hiệu quả không?” Đĩa thần chuyển đến một câu thành ngữ: “Tháo chuông vẫn cần là người treo chuông.” Thế là tôi cung thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát dẫn oan hồn của họ Hoàng và họ Lâm kia giáng xuống đĩa thần chỉ thị, kết quả là hai oan hồn đó đã xuống đĩa thần. Đầu tiên hai người họ dứt khoát không chịu lùi một bước, muốn cho Lưu Mẫn Ngọc phải chết mới thôi, sau đó vợ chồng Lưu Đạt khổ sở cầu xin và giải thích rõ đạo lí oan gia nên giải không nên kết, cầu xin hai con ma đó tha cho Lưu Mẫn Ngọc.

Cuối cùng hai con ma đó đã ra điều kiện: “Thứ nhất, làm một bức tượng Phật Bồ Tát, hồi hướng công đức ấy cho hai con ma. Thứ hai, làm ba ngày pháp hội Địa Tạng Bồ Tát siêu độ, hồi hướng công đức cho hai con ma. Thứ ba, phát nguyện xây chùa Phật, tài trợ hương hỏa 160.000 tệ, hồi hướng công đức cho hai con ma. Thứ tư, tháng bảy hàng năm làm một lần phổ độ vong hồn, hồi hướng công đức cho hai con ma, liên tục làm trong 5 năm. Bốn điều kiện trên phải lần lượt làm theo, nhờ Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, Thích Ca Mâu Ni Phật và Địa Tạng Vương Bồ Tát của Từ Huệ Lôi Tạng Tự làm chứng, sau ba ngày pháp hội Địa Tạng sẽ giao lại âm lệnh, cũng là ngày Lưu Mẫn Ngọc tỉnh táo trở lại.”

Vợ chồng Lưu Đạt vì con gái yêu đã quỳ xuống phát nguyện tại Phật đường, bằng lòng làm theo bốn điều kiện trên. Pháp hội Địa Tạng có tác giả, Tạ Xuân Hùng, Lưu Đạt, ngoài ra còn có mời hai bạn hữu Phật tử của Liên Xã, năm người cùng tụng kinh Địa Tạng, bái kim cang sám. Tác giả làm người chủ trì, đọc sớ rồi hóa đốt, kháp quyết hóa thực, lần lượt làm theo nghi quỹ của Phật môn, trong đó hóa thực là tôi dùng phương pháp mà Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đã dạy.

Điều kiện thứ nhất là làm tượng, ông Lưu đã nhanh chóng làm. Điều kiện thứ hai cũng đã làm được. Điều kiện thứ ba, để đợi Lôi Tạng Tự sau này xây dựng sẽ bàn. Điều kiện thứ tư cũng giống như điều kiện thứ ba, nó có tính thời gian, cho nên chắc chắn có thể làm được.

Nói ra cũng kì lạ, bảy ngày sau pháp hội Địa Tạng, Lưu Mẫn Ngọc đã dần dần hồi phục thần trí, khoảng một tháng sau thì hoàn toàn khỏe mạnh bình thường, nét mặt xinh tươi, thần sắc tươi tỉnh. Cô gái đến trường học làm giáo viên tạm thời, tháng đầu tiên nhận tiền lương, cô vui mừng như đứa trẻ con, sung sướng đến phát khóc. Rồi không lâu sau, cô có thể trở lại trường Đại học Sư Phạm, tiếp tục hoàn thành việc học của mình, sau đó cô cũng có thể giống như người bình thường đi trên con đường đời tươi sáng.

(Lời cuối: nhân vật trong bản văn này đều là người thật việc thật, vì chuyện hôn nhân sau này của cháu Lưu nên tôi đã cố ý thay đổi tên người. Mong độc giả thứ lỗi cho điều này.)

35. Cụ già trồng cây ăn quả

Một thiếu nữ xinh đẹp đưa ông nội 63 tuổi đến tìm tôi, thiếu nữ ấy mới 18 tuổi, rất hoạt bát, sắc mặt hồng hào giống như quả táo chín, thế nhưng ông của cô lại có sắc mặt xám xịt đầy vẻ mệt mỏi, hai người trở thành một sự tương phản gay gắt.

Thiếu nữ nói: ”Nghe người ta nói Lư tiên sinh biết đoán mệnh, giải trừ khó khăn hoạn nạn cho người ta, tôi đưa ông nội đến đây. Ông nội tôi năm nay vận khí không tốt, ngài có thể biết khi nào thì ông tôi mới khai vận không? Hi vọng ngài có thể đoán được. Ông nội tôi họ Quách, tên Như Phong, năm nay 63 tuổi, nhà tôi sống tại quận Phong Nguyên, chúng tôi ngồi xe taxi từ đặc biệt từ Phong Nguyên đến đây.” Thiếu nữ này rất biết cách ăn nói, nhưng ông nội của cô thì không hé môi một tiếng nào.

Tôi châm ba nén hương cho họ, thiếu nữ nhận lấy hương rồi tiện tay cúi lạy mấy cái rồi cắm hương vào lư hương. Tôi chắp tay cầu nguyện cho việc này, trước mắt tôi đột nhiên xuất hiện một ngọn núi lớn, nhưng ngọn núi này dường như là núi trồng cây hoa quả, rõ ràng là có người từng chăm sóc. Tôi quay đầu lại nói với cụ già: ”Ông đây là người trồng cây ăn quả trên núi sao?” Cụ già kia nghe tôi hỏi thì đứng ngây ra, sau đó khuôn mặt xám xịt miễn cưỡng nặn ra một chút xíu nét tươi cười: ”Đúng rồi, trên núi tôi trồng nhiều cây đu đủ, nhưng cậu đoán xem trên người tôi có bệnh gì? Làm sao để chữa khỏi bệnh? Nếu chữa khỏi, tôi nhất định sẽ đáp tạ cậu, tôi đã tìm bác sĩ ở khắp nơi rồi, cả tiêm cả uống thuốc nhưng hoàn toàn vô hiệu.”

Thế là tôi xem móng tay của ông cụ, lại nhìn khuôn mặt hom hem của ông, tôi phán đoán rằng khả năng lớn là ông ấy mắc bệnh đau dạ dày. Ông cụ nói: ”Lần này cậu lại đoán chuẩn rồi, không sai, tôi có bệnh đau dạ dày, nhưng bệnh đau dạ dày này xảy đến rất kì quái, nó luôn đau đúng một thời điểm, bình thường ban ngày không đau, nhưng cứ đến đúng 3 giờ đêm thì nó bắt đầu tác quái, liên tục đau cho đến đúng 4 giờ thì không đau nữa, sau 4 giờ thì hoàn toàn như người bình thường, có thể ăn uống và làm việc như không hề có bệnh. Nhưng cứ đến 3 giờ đêm thì nó lại đau, đau liên tục cho đến 4 giờ thì dừng, đêm nào cũng như thế. Cái đau này không thể chịu nổi, giống như địa ngục sống tại trần gian, thật sự là muốn tự sát cho xong. Bác sĩ đã khám hết rồi, cứ đến 3 giờ là phải tiêm thuốc giảm đau, nếu có một hôm nào mà không tiêm thì đau kinh khủng. Nói thật là cả cuộc đời tôi không tin vào quỷ thần, hôm nay đến tìm cậu là lần đầu tiên trong đời tôi.” ”Đau dạ dày từ 3 giờ đến 4 giờ đúng là kì quái! Kì quái! Ngay cả đau mà cũng có tính thời gian, đây là lần đầu tiên cháu nghe thấy.”

Tôi hướng về Thần minh cầu chỉ thị, trong mắt tôi lại nhìn thấy ngọn núi trồng đầy đu đủ ấy. Tôi lại nhìn thấy trong rừng cây đu đủ có thấp thoáng xuất hiện một ngôi mộ, trên bia mộ khắc chữ, mấy chữ đầu ghép lại thành “Hiển Tỉ Tô Công”. Thế là tôi hỏi: ”Trên núi của cụ có một ngôi mộ à?” ”Đúng vậy, khi tôi mới mua ngọn núi này thì đã có một ngôi mộ, ngôi mộ đó đã bị đổ vỡ từ lâu, không có ai tu sửa, mấy năm nay tôi không hề nhìn thấy có con cháu nào đến tảo mộ.” ”Người trong ngôi mộ ấy họ Tô à?” Cụ già giật nảy mình: ”Sao cậu biết được?” ”Đây chính là linh cơ thần toán.” - Tôi khẽ cười.

Thông qua kết quả linh cơ thần toán của tôi thì là như thế này: cụ già trồng cây đu đủ ở trên núi, cây đu đủ dần dần cao lớn, xung quanh ngôi mộ trồng dày đặc cây đu đủ, rễ cây to và thô đã đâm vào bên trong ngôi mộ khiến cho xi-măng căng và nứt ra, đồng thời cây đu đủ còn đâm vào quan tài và quấn vào thi thể, còn ông Tô Công kia chết chính là vì bệnh đau dạ dày mà chết.

Sau khi tìm ra nguyên nhân bệnh đau dạ dày của Quách lão tiên sinh, ông Quách nửa tin nửa không tin, còn tôi thì kê phương thuốc như sau: chuẩn bị hoa quả và nước chè xanh cúng trước mộ Tô Công, trình bày lỗi sai của mình, đồng thời trùng tu lại ngôi mộ, gom linh cốt lại từ đầu để cho vào trong hũ cốt, rồi lại đặt vào trong phần mộ mới, như thế bệnh đau dạ dày chắc chắn có thể không thuốc mà khỏi. Ông Quách vì đã chữa bệnh lâu chưa khỏi nên cũng chỉ còn cách làm theo phương thuốc kì quái của tôi. Vì bệnh đau dạ dày này mà ông ấy đã tiêu tốn hơn trăm nghìn tệ rồi, còn việc trùng tu lại ngôi mộ chẳng qua chỉ tốn vài nghìn tệ mà thôi, thế là ông ấy làm theo. Người bốc mộ phát hiện ra rễ cây đu đủ quả nhiên đã quấn chặt lấy linh cốt.

Làm xong ngôi mộ mới, linh cốt được cho vào hũ, dạ dày của ông Quách kể từ đó không những không đau mà ông còn ngủ rất ngon nữa. Ngày ông không còn bị đau nữa chính là ngày linh cốt được nhặt và cho vào hũ (tục gọi là ngày kiểm kim). Kể từ đó người hoàn toàn khỏe mạnh như trước, sắc mặt dần dần hồng hào. Ông cụ vốn là một người khỏe mạnh, cả đời rất ít khi mắc bệnh. Sau khi khỏi bệnh, ông dẫn theo cô cháu gái xinh xắn đến tìm tôi, hỏi: ”Tiên sinh muốn tôi đáp tạ cái gì? Chỉ cần tiên sinh nói ra thì tôi sẽ làm được.” ”Được rồi, nếu cháu nói ra thì ông phải giữ lời đó.” ”Đương nhiên, bao nhiêu tiền tôi cũng không quan tâm!” ”Cháu không cần tiền của cụ, cháu chỉ xin cụ mỗi ngày vào buổi sáng sớm thì niệm một trăm lần câu Nam mô A Di Đà Phật.” - Tôi cười nói. ”Niệm Phật à, cái này… Cậu không lấy tiền của tôi à!” Cháu gái cụ ở bên cạnh nói: ”Ông à, niệm Phật rất đơn giản, ông hãy đồng ý đi! Mục đích của Lư tiên sinh đây chính là giúp người cứu đời, tiên sinh giúp người ta đoán mệnh không phải là để lấy phong bì đâu, trả tiền cho tiên sinh mới là sỉ nhục tiên sinh đó!” ”Đúng vậy, công đức niệm Phật không nhỏ đâu, chúng ta nên tích công đức tại cõi trời.” - Tôi nói.

Ông cụ nghe lời tôi, cuối cùng quỳ xuống lạy Phật, đồng thời bằng lòng niệm Phật lễ Phật, rồi ông ấy luôn miệng cảm ơn và ra về.

Có lẽ trong thời đại khoa học này, rất nhiều người sẽ không tin những câu chuyện có thật mà tôi viết ra, cho rằng chỉ là sự trùng hợp mà thôi. Bản thân tôi cũng không hề nhất định là người ta phải tin tôi, tin hay không tin là do bạn, thế nhưng nếu nói là trùng hợp thì sự trùng hợp của linh cơ thần toán ở con người tôi thật sự là quá nhiều đó.

36. Cái tay của tín đồ Cơ Đốc

Ông Nhan Vân Bằng là nhân viên ở Công ty Điện Lực Đài Loan, là đồng nghiệp với bố tôi. Có một lần ông Nhan đưa bà Nhan đến nhà tôi, vừa đến nhà tôi thì họ đã nhìn thấy Phật đường ở trong nhà. Bản thân Nhan Vân Bằng chưa bao giờ nhiệt tình với tôn giáo, tốt nghiệp đại học xong ông từng ra nước ngoài, là phần tử trí thức. Thế nhưng vợ ông ấy lại khác, bà ấy tốt nghiệp trường Trung học nữ sinh Trường Dung ở Đài Loan, trường Trung học nữ sinh là trường học của giáo hội Cơ Đốc giáo, bà Nhan lại còn là người chủ trì của hội giáo Cơ Đốc, chủ nhật hàng tuần đều ôm quyển Kinh Thánh đến nhà thờ, trước nay chưa từng gián đoạn, bà ấy là một tín đồ đạo Cơ Đốc ngoan đạo.

Bà Nhan nói: ”Tôi không tin những điều này, tôi là tín đồ Cơ Đốc giáo.” ”Bà từng nghiên cứu về Phật giáo chưa? Bà đã từng hiểu gì về Phật giáo chưa? Bà chưa thể hiểu thì đương nhiên bà sẽ không tin rồi.” ”Tôi chỉ biết Phật giáo là thờ cúng tượng, là tà giáo, là ma quỷ, Thượng Đế là vị Thần duy nhất, tin Cơ Đốc có thể lên thiên đường, còn lễ tượng thì nhất định sẽ phải xuống địa ngục.” ”Theo như bà nói thì tôi là người xấu rồi, là đồ đệ của ma quỷ, bởi vì chúng tôi tin Phật, Phật cũng có tinh thần của Phật đó!” - Tôi nói. Bà Nhan áy náy nói: ”Đương nhiên cậu không phải là người xấu, cũng không phải là môn đồ của ma quỷ, là tôi nói người bình thường. Phật giáo có tinh thần của Phật giáo, thế nhưng tôi không muốn học tập.”

Ông Nhan Vân Bằng chỉ cười cười không nói gì, ông ấy nhờ tôi hỏi xem sự nghiệp tiền đồ của ông ấy, thế rồi tôi lần lượt đoán ra hết sự nghiệp của mấy anh em của ông Nhan, sự chuẩn xác khiến bà Nhan đứng bên cạnh cũng cảm thấy kinh ngạc. ”Một người em ruột của ông ở Tân Hóa, Đài Nam làm cảnh sát đúng không?” ”Đúng, trong quá khứ nó có sức khỏe tốt, đã từng học võ Judo, nhưng gần đây sức khỏe nó lại sa sút, không biết là nó mắc bệnh gì?” Ông Nhan hỏi tôi, bà Nhan đứng ở bên cạnh cúi đầu cười, bà ấy cho rằng một người làm cảnh sát ở Tân Hóa Đài Nam thì làm sao mà tôi đoán ra bệnh gì được. Thế nhưng tôi liền mặc niệm, thỉnh linh chú, sau đó cung thỉnh chỉ thị, tôi nói: ”Bệnh lao phổi.” Nhan Vân Bằng và bà Nhan ngoảnh mặt nhìn nhau, bởi vì em trai của ông Nhan đúng là bị bệnh lao phổi. Ông Nhan gật gật đầu khó hiểu, bà Nhan thì không cười được nữa. Bà Nhan chỉ vào một bức tượng Phật hỏi: ”Kia là Phật gì?” ”Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật.” ”Thế còn kia là Phật gì?” ”Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Như Lai.” ”Vị kia là Phật gì?” ”Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Tay bà ấy chỉ hết vị này đến vị khác, chỉ qua hết hàng này đến hàng kia. Lúc này Nhan Vân Bằng nói: ”Này, đừng có dùng tay chỉ trỏ vào các vị mà hỏi, thật không có lễ phép gì cả.”

Nói ra kể cũng kì lạ, ông Nhàn còn chưa dứt lời thì trong nháy mắt, cái tay kia của bà Nhan tự động giơ lên cao, cùng với cái tay đang chỉ trỏ của bà ấy chắp lại, trở thành tư thế chắp tay, tiếp đó đầu bà ấy cúi gập 90 độ, ngẩng lên cúi xuống, liên tục không ngừng. Hai tay của bà Nhan không có cách nào tách ra được, đồng thời thân người cũng ngẩng lên cúi xuống không ngừng, bộ dạng cực kì giống lạy Phật, nhưng có phần hơi quá thành kính, bởi vì người gập lên gập xuống, tay đưa lên đưa xuống với tốc độ rất nhanh. Bà Nhan kêu lên: ”Ối! Ối! Không dừng lại được, không dừng lại được, không dừng lại được rồi!” Ông Nhan thì sợ đến ngây người ra.

Tôi đứng bên cạnh vận linh đến mắt nhìn thì nhìn thấy hai vị tiểu Thần, một vị là Trung Đàn Nguyên Soái Na Tra Tam Thái Tử, một vị là Trung Đàn Phó Nguyên Soái Kim Tra Nhị Thái Tử. Một vị nhảy lên không trung, hai tay đè lấy cái cổ của bà Nhan, khiến cho đầu bà ấy ngẩng lên cúi xuống, một vị thì ôm chặt lấy tay của bà Nhan và cũng kéo lên kéo xuống, vì thế người và tay của bà Nhan đều không dừng lại được. Tôi lại nhìn thấy hai con mắt của Mi Châu Thiên Thượng Thánh Mẫu phóng ra một vệt tinh quang kéo sụp da mắt của bà Nhan, lúc này bà Nhan kêu lên: ”Hai mắt tôi không mở ra được, hai mắt không mở ra được.”

Tôi nói: ”Bà muốn người dừng lắc lư, tay dừng lắc lư, da mắt lại mở ra được thì chỉ cần trong lòng nói thầm rằng: xin tha thứ cho tôi bất kính, xin tha thứ cho tôi bất kính, xin tha thứ cho tôi bất kính, nói ba lần là được, sau khi dừng thì lại cúi lạy năm lần là được.” Bà ấy làm theo lời tôi, quả nhiên tất cả đều dừng lại.

Bà ấy thở dài một hơi: ”Hầy! Quả nhiên đúng là có nhỉ! Hôm nay chúng tôi cố ý đến để thăm dò, quả nhiên là có thật, quả nhiên có thật.”

Kể từ đó bà Nhan không dám coi thường Thần minh của nhà tôi nữa. Sau này mỗi lần đến nhà tôi, mặc dù bà ấy là một tín đồ Cơ Đốc, nhưng tay bà ấy cũng biết chắp lại, không cầm hương nhưng cũng cúi lạy một cách tượng trưng. Bà ấy nói: ”Thần minh linh cảm như thế, cả đời tôi lần đầu tiên cảm thấy, đúng là thật, đúng là thật.” Sau này Nhan Vân Bằng và bà Nhan cũng trở thành hai người có hoạt linh.

(Phụ lục: Diêu Trì Kim Mẫu ở Lôi Tạng Tự từng phân linh đến nam Đài Trung, đến một nơi gọi là Từ Huệ Nam Dương Đường. Lại Nghĩa Hùng trụ trì của Phật đường đó là một tín đồ Phật giáo kiền thành đã nghênh đón kim thân trở về. Bố của Lại Nghĩa Hùng cũng không có tín ngưỡng, thường xuyên uống rượu, khi mà tửu khí xung thiên thì nói những lời lèm bèm ở trong Phật đường, chẳng có lễ nghĩa gì cả. Có một lần, bố của Lại Nghĩa Hùng cũng quỳ xuống đất không đứng dậy được, rập đầu chạm đất mạnh đến nỗi da đầu chảy máu, phải nhờ có Lại Nghĩa Hùng và mẹ ông ấy quỳ xuống cầu Thần tha thứ cho tội vô tri thì mới thôi. Kể từ đó bố của ông ấy mới không dám coi thường uy linh của Diêu Trì Kim Mẫu, ra vào Phật đường đều phải trang phục chỉnh tề, lễ độ cung kính, đây chính là kính Thần như có Thần ở đó, trong cõi vô hình tự có thần quân giám sát, không thể coi thường sức mạnh của linh. Thần Phật vốn từ bi, khoan hồng đại lượng, nhưng không được mạo phạm quá đáng, nếu sỉ nhục quá đà thì Hộ Pháp Thần sẽ không thể trơ mắt thờ ơ lãnh đạm nữa. Theo tôi nhận thấy, tôn giáo có rất nhiều, Phật cũng mở ra tám vạn bốn nghìn pháp môn, tuyên thuyết tám vạn bốn nghìn mật pháp, đó là phương tiện tác pháp phổ độ chúng sinh. Tôn giáo mặc dù nhiều nhưng tôn chỉ thì đều tương tự như nhau, còn con người thì luôn luôn tự cho rằng tín ngưỡng mà mình tin mới là chính giáo, còn những cái khác đều là tà giáo. Ví dụ như Thiên Chúa giáo coi Cơ Đốc giáo là tà, Cơ Đốc giáo coi Thiên Chúa giáo là không hợp giáo lí, sự bất đồng ý kiến giữa người với người này chẳng phải là điều mà năm xưa khi Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá có thể tưởng tượng được!)

37. Xuất nhập thập pháp giới

“Cái gọi là chân nhân chính là nói tất cả đều là huyễn là giả.” Đây là một câu nói trong Tâm Đăng Lục. Còn nói: “Chân nhân thông suốt mười phương, đi khắp pháp giới, ẩn và vô hình vô tướng, khi hiện thì biến hóa khó lường. Thập phương Như Lai, chính là chân nhân đó. Hai mươi vị tổ cũng chính là chân nhân đó. Tất cả Đại Bồ Tát, các Bồ Tát và Bích Chi Duyên Giác Thanh Văn cũng là chân nhân đó. Đông Thổ lục đại tổ sư và các thiền sư nhiều đời cũng là chân nhân đó. Tất cả thiên ma ngoại đạo, atula, cũng là từ chân nhân đó hóa hiện ra. Thiên Đế của các cõi trời cũng là chân nhân đó mà ra. Tất cả chim muông, tất cả thú vật, chính là sự luân chuyển của chân nhân đó. Còn như ngạ quỷ, địa ngục chính là sự trầm xuống của chân nhân đó. Trong mười pháp giới này có giới nào mà không phải là do hành vi của chân nhân đó mà thành.”

Chân nhân đó thần thông quảng đại, bất khả tư nghì, khi hành vi là ác thì tạo ra tướng ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh. Khi hành vi là thiện thì tạo ra thiên đường, hiện tướng của 33 cõi trời. Có hành vi thiện ác lẫn lộn thì tạo ra tướng giàu nghèo sướng khổ ở thế gian. Có hành vi tu thiện nhưng không từ bỏ sân hận thì tạo ra tướng Thiên ma Atula. Có hành vi tu hành lập pháp ngoài tâm thì tạo ra tướng ngoại đạo. Có hành vi thanh tịnh lánh đời thì tạo ra tướng Tiểu thừa. Có hành vi độ mình độ người thì tạo ra tướng Đại thừa Bồ Tát. Có thể trở về với bản lai diện mục vốn có thì thành Phật ngồi ngay ngắn, trọn cả ngày thuyết pháp, nhưng lại không có pháp nào có thể thuyết, cả ngày độ chúng sinh nhưng không có chúng sinh nào mà độ, có 80 vẻ đẹp, tạo ra 32 tướng tốt. Chân nhân đó có thần thông biến hóa như vậy, không thể dùng lời lẽ để mô tả hay để thấy được, này trí giả, trong mười pháp giới, chân nhân đó tùy ý lựa chọn như thế mà hóa hiện hành vi.”

[”Chân nhân” ở đây là sự hóa hiện nhậm vận của “tự tính”, của “bản lai diện mục” mà thành, không chỗ nào là không tồn tại, bao trùm mọi cõi giới, phủ kín mọi hành năng.]

Có người từng kể với tôi ở một ngọn núi kia có một ngôi miếu nhỏ, linh khí đặc biệt dày, có việc thỉnh cầu ngài thì đều linh ứng. Thế là tôi tò mò đến ngôi miếu nhỏ đó, sau miếu này toàn là mồ mả, trên cổng miếu có khắc ba chữ “Hữu Ứng Công”. Miếu nhỏ và tồi tàn, nhưng hương hỏa thì nghi ngút, tôi vừa thấy là Hữu Ứng Công thì nghĩ rằng đó là miếu hoang của cô hồn dã quỷ. Lư Thắng Ngạn tôi không thèm đi thăm viếng cô hồn dã quỷ, thế là tôi quay người đang định xuống núi, chẳng ngờ bên trong có âm thanh truyền đến: ”Liên Sinh, bỏ đi đâu vậy?” ”Người nào biết Lư Thắng Ngạn tôi đấy?” ”Ta là chủ nhân của miếu Hữu Ứng Công ở núi này, cũng là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Liên Sinh không nhận ra ta rồi.”

Tôi vừa nghe đến Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh thì giật nảy mình. Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Linh Sư của tôi, là Kim Tiên đại chủ tể Vô sắc giới thiên, sao lại là chủ nhân ở miếu Hữu Ứng Công này. Trong lòng tôi không tin, nhưng cũng đi vào trong ngôi miếu nhỏ cũ kĩ này. Bên trong miếu rất chật chội, khói hương nghi ngút, trên bàn thờ có một bức tượng Thần Thánh đầu đội mũ triều thiên [loại mũ miện có dáng cao và đồ sộ như mũ của các vị Ngọc Hoàng Tiên Vương], thân khoác áo bào đỏ, trên người có đeo hai thỏi tiền âm, biểu thị rằng Thần này là Âm Thần. Tôi chắp tay mở miệng hỏi: ”Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Kim Tiên đại chủ tể Vô sắc giới, sao lại là Âm Thần?” ”Liên Sinh chắc từng nghe người ta nói, ta có thể xuất nhập thập pháp giới, ẩn mình trong một hạt cát hạt bụi, có vạn loại hình tượng, biến thiên đường địa ngục, hóa nghìn vạn triệu tam thế chư Phật, phàm phu không biết ta, người xuất gia thấy hổ thẹn vì ta, sỉ nhục ta, phỉ báng ta, ngay cả Thiên Tiên, Địa Tiên, Quỷ Tiên cũng trốn tránh ta, thế nhưng con không thể không nhận ra ta. Ta chính là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh đây! Liên Sinh, con vận linh mục nhìn xem.”

Khi tôi vận linh mục, thật sự khiến tôi thở hắt ra một hơi khí lạnh, cảnh tượng trước mắt tôi thật sự khiến người ta kinh ngạc. Ngôi miếu này không ngờ càng biến càng rộng, càng biến càng lớn, cao tít lên tận mây, hơn nữa còn cao hơn cả mây, dưới thì thấp đến tận âm phủ, rộng tới mức che phủ cả bốn, năm ngọn núi. Trước mắt tôi xuất hiện những quái vật vô cùng kì quặc, mặt xanh nanh vàng, có con trên đầu mọc cái sừng dài, có con kéo theo cái đuôi dài, có con ba đầu bốn tay, mặt mày dữ tợn, mắt long lên đầy vẻ hung ác, xếp thành hai hàng. Vị trí ở trên cùng có một quái vật chưa từng thấy bao giờ ngồi ở đó, đầu giống như Phật Tổ mặt mũi hiền từ, trên đầu lại có chín cái đầu, mỗi cái lại có tướng trang nghiêm của Bồ Tát, còn bên dưới cái cổ lại là thân mãng xà, da hiện lên màu xanh lục, mình rắn thô kệch, phát sáng lấp lánh, rắn có móng vuốt sắc như dao, phần thân dưới thì bạnh ra ngồi trên một băng ghế bằng kim loại.

“Linh Sư chính là Kim Tiên Vô sắc giới, không hề có tướng, sao lại nhìn hung dữ như vậy?” ”Liên Sinh, con nhìn lại xem.” - Cái thứ đầu Phật mình rắn đó miệng nói tiếng người.

Lúc này cũng rất kì lạ, ngôi miếu này biến thành to lớn vô hạn, không trung xuất hiện 72 vị Thiên Thần, 36 vị Phật Bồ Tát, mỗi vị cầm hương hoa đến cúng dường Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh. Chiếc ghế kim loại kia trong sát-na biến thành tòa hoa sen vàng kim, trên tòa hoa sen có một vị Phật Như Lai với đầy đủ 32 tướng trang nghiêm. Đầu tiên hai hàng quái vật hóa thành các Bồ Tát La Hán, hương thơm nồng nàn, khắp cung điện được xây bằng vàng bạc lưu li sáng rực rỡ lấp lánh, pháp ngữ pháp âm tuôn chảy khiến trong lòng người ta trào dâng cảm giác tôn kính vô hạn, hoàn toàn trái ngược với vẻ mờ mịt ma mị ban nãy.

Tôi nhìn thấy cảnh giới như vậy thì bất giác quỳ xuống, Phật Tổ Như Lai nói: ”Cái gọi là bậc chân nhân, chính là tất cả đều là huyễn đều là giả. Liên Sinh, con phải hiểu được câu này, ta chính là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, không ai biết ta thần thông xuất nhập thập pháp giới, tất cả do ta tạo ra, tất cả do ta làm, không chướng ngại, tùy tâm mà biến hóa, tùy ý nguyện mà hóa thân ra các hình tướng.” ”Linh Sư, thế nào mới là mục đích tu đạo?” ”Trở về diện mạo vốn có.” Lại nói: ”Liên Sinh, ở trong miếu này, bên dưới bàn thờ thần Hữu Ứng Công có một miếng vải rách có bọc một ấn thần bằng gỗ, không được coi thường ấn này, con có thể đem về nhà, ấn này có thể làm bảo ấn trấn chùa cho Từ Huệ Lôi Tạng Tự, đây cũng chính là mục đích mà ngày hôm nay con đến ngôi miếu này. Ấn này chính là Lôi Phách Lục Giáp Thần Ấn, nếu con có được ấn này thì cũng giống như bậc thượng thiên có đức hiếu sinh [đức hiếu sinh là lòng thương yêu tất cả những sự vật đang sống trong môi trường sống], hãy trân trọng sử dụng, lợi ích lớn lắm!” ”Linh Sư, Thần Ấn có hiệu lực gì?” ”Lục Giáp Thần Ấn chính là ấn được truyền từ Đông Hoa Đại Đế Quân ngày xưa. Bậc thượng sĩ có được ấn này thì cưỡi mây bay lên trời, bậc trung sĩ có được ấn này thì quỷ thần kinh sợ, bậc hạ sĩ có được ấn này thì cai quản đất nước an định. Có thể sai khiến thần Lục Giáp Lục Đinh, Thiên Du Thập Nhị Khê Nữ, Na Diên Ngũ Thiên Nữ, Hỏa Quang Đại Tướng, Phù Hải Đại Tướng, Hống Phong Đại Tướng. Liên Sinh, nếu con có được ấn này, tuyệt đối phải sử dụng cẩn thận, sau khi con đi thì không được quay lại ngôi miếu nhỏ này nữa, miếu nhỏ này là nơi linh khí của ta tạm làm chỗ dừng chân, cũng là vì trọng trách giao phó ấn thần này. Lục Giáp Thần Ấn giấu tại miếu Hữu Ứng Công cũng khiến cho miếu này có đại linh lực và các Thần bảo vệ, con có được ấn này cũng là bởi nhân duyên khiến cho như thế. Miếu nhỏ này từ nay về sau linh khí sẽ tản mát, ta cũng rời đi, nó sẽ thật sự trở thành thế giới của ma quỷ, cái này chính là thiên cơ, không thể không biết.”

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói xong thì ngôi miếu to lớn vô hạn biến mất, Chư Phật Bồ Tát đều biến mất, nó trở lại là một ngôi miếu cũ kĩ. Tôi cúi đầu xuống, đưa tay vào tìm ở bên dưới bàn thờ Thần, bên dưới bàn thờ tối om om, sờ một lúc thì quả nhiên có một ấn gỗ được gói trong miếng vải rách. Tôi mở lớp vải ra thấy ấn rất cũ, dường như đã bị bỏ ở dưới bàn thờ Thần rất lâu rồi. Tôi cúi chào Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh rồi rời khỏi ngôi miếu nhỏ đi xuống núi.

Sau khi về nhà, tôi dùng nước sạch để rửa những vết mốc xanh ở trên ấn rồi thờ trước Diêu Trì Kim Mẫu. Đây chính là nguồn gốc của Lục Giáp Thần Ấn ở nhà tôi.

38. Bí ẩn của cờ lệnh đen

Người bình thường đều biết và cũng đều từng nhìn thấy cái gọi là cờ lệnh đen, nhưng lại không hiểu ý nghĩa và mục đích của nó. Có người bạn thân biết tôi viết cuốn “Mạn đàm linh cơ thần toán” đã bảo tôi viết ra bí mật của cờ lệnh đen để mọi người đỡ phải tò mò mỗi khi nhìn thấy sau chùa hoặc trước chùa có một cột cờ treo vải đen tung bay thì không biết như thế để làm gì, có công dụng gì, vì thế tôi liền viết ra, cũng xem như là kể thêm.

Người bình thường đều nghĩ thế này, quốc gia có quốc kì, và Thần thì cũng phải có cờ, và cờ lệnh đen chính là cờ của Thần. Giải thích như thế này là đúng rồi, cờ lệnh đen chính là cờ của Thần, cắm ở trước hoặc sau chùa, bay bay trong gió, tượng trưng cho đất này có Thần minh trấn ở đây. Thần linh tại không trung đến đến đi đi, tự nhiên sẽ có sự qua lại với nhau. Đối với những ngôi chùa lớn thông thường không có cờ lệnh đen, Thần linh chính là ba ông Phúc Lộc Thọ hoặc là tháp Thất Bảo. Cờ lệnh đen ngoài dùng làm cờ của Thần ra đại thể còn có ba công dụng, tác giả đặc biệt lần lượt trình bày như sau:

Thứ nhất, dùng để thỉnh Thần điều chuyển Thần. Nếu chúng ta muốn thỉnh Thần thỉnh linh thì thắp một nén hương, quay mặt về cờ lệnh đen cầu nguyện, cắm hương chỗ cờ lệnh đen, hiệu quả của nó sẽ nhanh hơn người bình thường thỉnh Thần. Có một số người trong nghề còn cúng ba tách trà thơm bên dưới cờ lệnh đen, đó là để cho các Thần linh qua lại dùng uống, cho nên cờ lệnh đen có công dụng thỉnh Thần điều chuyển Thần. Trước chùa hoặc sau chùa nếu cắm cờ lệnh đen thì nhất thiết phải giữ gìn xung quanh sạch sẽ, không được tùy tiện để cho những bàn tay bất tịnh sờ vào, như thế là đại bất kính. Nếu treo phù hoặc dán phù trên cờ lệnh đen thì có thể dùng phù Thỉnh Tiên hay phù Khai đường đều được.

Thứ hai, dùng để an binh mã ngũ doanh. Thần đàn hoặc miếu ngày xưa có người đứng đầu ngũ doanh và binh mã ngũ doanh, nên mới có cái gọi là năm doanh trại ở trước sau trái phải trung tâm. Bất kể là thiên binh thiên tướng hay âm binh âm tướng đều có thể an ở phía trên cờ lệnh đen. Nếu an thiên binh thiên tướng, có thể dùng hỉ kim ngũ sắc, an âm binh âm tướng có thể dùng cọc tiền kim loại. Chúng ta sẽ biết ngay rằng đây là cờ lệnh đen để an binh mã ngũ doanh, như thế có thể thờ cúng thay thế cho cờ Ngũ linh và ảnh Thần ngũ doanh tướng quân kiểu cũ. Cờ Ngũ linh phân thành năm màu sắc là trắng, vàng, xanh, đỏ, đen, màu trắng chính là Thiên Binh Thiên Tướng, màu đỏ là Lôi Bộ Chính Thần, màu vàng là Thập Đại Nguyên Soái, màu xanh là Hộ Pháp Thần Binh, màu đen là Âm Binh Âm Tướng. Cũng có người dùng màu đen để phụng thỉnh Lục Đinh Lục Giáp Thần, tác dụng đều như nhau, binh mã ngũ doanh có công dụng bảo vệ đàn thành và điều tra.

Thứ ba, công dụng dẫn đường và tịnh hóa. Kiệu thần của Thần minh thông thường đi tuần thì những nơi mà kiệu đi qua, đại bộ phận là dùng cờ lệnh đen để quét qua và dẫn đường. Ý nghĩa chủ yếu là xua đuổi tất cả linh tà, khiến mọi tà uế không quấy rầy việc đi tuần của Thần minh, cho nên cờ lệnh đen luôn luôn do một người cầm, đi ở trước kiệu Thần để vẫy qua vẫy lại, đây chính là dẫn đường và tịnh hóa.

Cách làm cờ lệnh đen là dùng một que trúc, một miếng vải màu đen hình vuông hoặc hình tam giác đều được. Có người vẽ phù Thỉnh Tiên hoặc phù Tịnh hóa lên trên vải đen, cũng có người chỉ viết một chữ “Lệnh”. Que trúc và vải đen phải được “sắc lệnh hóa” xong mới có thể dùng. Cờ lệnh đen cũng có thể nói là cờ linh, tác giả cho rằng việc an trí cờ lệnh đen nên làm ở Thắng An Cung ở Hoa Liên - là miếu của Vương Mẫu Nương Nương, là tốt nhất. Sắc lệnh hóa cờ lệnh là việc quan trọng nhất, thường linh lực của một cây cờ lệnh là dựa vào lực sắc lệnh hóa lớn nhỏ mà ra được uy lực của cờ lệnh đen, đây là điều hết sức quan trọng.

Tại đây, tôi nói cho các vị biết một bí mật về âm binh âm tướng của cờ lệnh đen. Linh lực tốt nhất có thể triệu thỉnh là tiên linh của những khu nghĩa trang liệt sĩ, hoặc tiên linh của những ngôi mộ người dân chính nghĩa. Cờ có linh lực kém hơn thì có thể triệu thỉnh âm binh âm tướng của Ông Vạn Thiện, Ông Bách Tính, Ông Hữu Ứng, cờ lệnh hạng thấp nhất thì có thể triệu thỉnh linh của cô hồn dã quỷ, linh của tổ tiên hoặc thần tại gia.

Tuy vậy, có một dạng linh lực của cờ lệnh đen không thể coi thường, đó chính là hồn phách của những người trẻ tuổi mất mạng vì tai nạn xe cộ, nếu có thể thỉnh họ đến thì linh lực của cờ lệnh đen này thật sự phải nói là không thể xem nhẹ, bởi vì những người chết trẻ, linh lực của họ rất hoạt bát và đầy tiềm lực. Pháp này là dùng bảy tờ giấy tiền vàng mã, hễ thấy có người chết vì tai nạn xe cộ thì lập tức dùng giấy vàng mã thấm vào máu chảy trên mặt đất, sau đó đem giấy vàng mã này thờ cúng tại linh đường trong nhà mình, khi lấy thì niệm chú Triệu hồn, đồng thời cúng dưỡng sau 49 ngày thì đem bảy tờ giấy vàng mã đã thấm máu này dùng lửa hóa đốt, đem cờ lệnh đen đã được sắc lệnh hóa phe phẩy trên lửa là được. Chú Triệu hồn là: “Quỷ thần quỷ thần quỷ kiến quỷ, ngô kim sắc nhĩ truy tùy ngô, cận báo họa phúc viễn báo hành nhân, linh cơ thần toán thông thiên địa, lệnh chỉ nhất hạ tốc tốc quy lai, cấp cấp như Thái Thượng Lão Quân luật lệnh cương.”

Từng có một lần tôi đến Thánh Minh Cung ở Đài Trung, vị trụ trì ở đó thân quen với tôi. Tôi vừa đến cổng cung thì thấy một người đứng dưới cờ lệnh đen, trên cổ có những vết máu, đầu vẹo, hai mắt lồi ra, lưỡi thè ra, không động đậy gì cả. Tôi vội bước vào trong, trụ trì ngồi trước Thần tọa trò chuyện cùng với mấy người. Họ vừa nhìn thấy tôi vội vội vàng vàng đi vào thì hỏi: ”Lão Lư làm gì mà vội vội vàng vàng thế?” ”Ông thờ cờ lệnh đen phải không?” ”Đúng rồi! Có chuyện gì?” ”Thờ cờ lệnh đen thì sẽ gọi vong hồn, nhưng ông lại không tịnh thân cho vong hồn, toàn thân họ lấm lem máu đang đứng dưới cờ lệnh kia, ai nhìn thấy cũng đều sợ, ông làm cái kiểu gì đấy?” ”Cậu nhìn thấy à?” - Một người trong số đó hỏi. ”Lời của lão Lư không thể không tin, cậu ta có con mắt âm dương đó, vừa nãy quả nhiên chúng ta đã bỏ sót thủ tục làm thanh tịnh thân thể của vong hồn, để tôi đốt mấy lá phù thanh tịnh, thỉnh lão Lư giúp chúng tôi làm thanh tịnh là được.” - Trụ trì nói.

Tôi gật đầu, tôi nghe thấy mấy người nói chuyện thì thầm: ”Chúng ta thờ cờ lệnh đen để triệu thỉnh những vong hồn mất mạng vì tai nạn xe cộ, anh bạn trẻ tuổi này quả nhiên vừa bước vào cổng cung đã biết rồi.” ”Có thể thấy là linh hồn có thật, không thể không tin.” ”Anh vẫn không tin à?” ”Căn bản là tôi không nhìn thấy thì có cũng thế mà không có cũng thế.”

39. Thần toán nhờ linh và trị liệu nhờ linh

Ông Chu Nghĩa Long làm việc cho một công ty nọ, học thức không tệ, là người trung hậu, được cấp dưới cung kính, tuổi khoảng 50. Mỗi lần ông ấy nhờ tôi xem việc quá khứ hoặc tương lai thì lần nào cũng linh nghiệm, bao gồm tuổi thọ của bố ông ấy khi cụ rời cõi nhân gian, nói sống là sống, nói chết là chết, không có một chút sai lệch nào.

Có một hôm, Chu Nghĩa Long đến chỗ tôi, ông ấy nói: ”Thắng Ngạn, cậu xem giúp tôi một chút, gần đây các đốt sống eo của tôi đau nhức lắm, tôi đã khám nhiều bác sĩ rồi, cũng uống nhiều thuốc rồi, lúc mới uống thuốc thì đỡ một chút, nhưng khi thuốc hết hiệu lực thì lại đau. Loại thuốc nào tôi cũng đều uống qua rồi, từ đầu tới cuối mấy đốt sống eo của tôi vẫn không có cách nào ngừng đau buốt, thật sự mệt mỏi, cậu có cách gì khiến tôi hết đau không?”

Thế là tôi liền giúp ông ấy làm thần thuật tính toán, không ngờ xuất hiện một chữ “âm”. Bởi vậy tôi nhắm mắt niệm chú, vận dụng phương pháp thần toán nhờ linh để tôi có thể giao tiếp với linh của ngoại giới, kết quả là tôi có được kết luận như sau: “Mẹ của Chu Nghĩa Long trước khi sinh ra ông ấy thì ông ấy còn có một người chị gái, nhưng người chị gái này không may đã chết khi mới 2 tuổi. Bởi vì thọ nguyên chưa hết nên linh hồn cứ lang thang khắp nơi, không chỗ nương thân, cuối cùng bà ấy tìm đến Chu Nghĩa Long. Bệnh đau đốt sống eo chỉ là do bà ấy ra ám thị cho ông Chu, tức là một ám thị để cầu cứu ông ấy mà thôi, mục đích chủ yếu là hi vọng Chu Nghĩa Long tụng kinh siêu độ cho bà ấy. Mặc dù bà ấy là vong hồn, nhưng lại hiểu rằng khi ông ấy đau tới mức không còn cách nào nữa thì nhất định phải đến chỗ tôi mới có thể giải quyết được.”

Thế là tôi hỏi ông ấy: ”Mẹ của ông từng sinh ra một đứa con gái, nhưng 2 tuổi thì đã qua đời đúng không?” Ông ấy đáp: ”Tôi chưa nghe nói bao giờ, khả năng là không có đâu! Bởi vì tôi có rất nhiều anh chị em, người nào cũng còn sống cả, không có ai qua đời.” ”Liệu ông có thể hỏi thử mẹ ông không, bây giờ bà ấy sống ở đâu?” ”Bà ấy sống ở Đài Bắc, tôi gọi điện thoại đường dài cho bà ấy là biết thôi, giả dụ là có thì tôi lại đến tìm cậu.” Mẹ ông Chu đã hơn 80 tuổi, sống tại Cựu Thố, Đài Bắc.

Chưa được mấy hôm, ông Chu lại đến, ông ấy nói: ”Đúng là cậu đoán cực chuẩn, tôi gọi điện thoại đường dài liên lạc với mẹ tôi, mẹ tôi nói quả nhiên là tôi có một người chị gái 2 tuổi vì mắc bệnh mà chết yểu. Mấy anh chị em tôi không có ai biết việc này, ngay cả chính bản thân tôi cũng không biết, thế bây giờ phải làm thế nào?” Tôi bảo ông ấy: ”Pháp hội siêu độ ngày hôm nay của Từ Huệ Lôi Tạng Tự đã xong rồi, nhưng chùa Từ Âm ở Đài Trung thì vừa mới tiến hành pháp hội siêu độ, tụng kinh lễ sám. Ông đi qua bên đó báo danh, nhớ viết họ tên của đứa bé gái 2 tuổi này, ngày chết, địa điểm chết, như thế là được rồi. Tôi đảm bảo thu xếp xong việc này thì đốt sống eo đau nhức của ông sẽ khỏi lập tức.” ”Được rồi, tôi sẽ đi làm như vậy.”

Nói ra thì thần kì lắm, không có thủ tục gì, cũng không có nghi thức gì, không cần tốn rất rất nhiều tiền, chẳng bao lâu, đốt sống eo đau nhức của ông Chu Nghĩa Long đã khỏi hẳn, hoàn hảo và hoàn mĩ, đau một chút xíu cũng không còn, đây chẳng phải là kì tích sao?

Tôi chứng minh thêm: Vợ ông Chu hiện tại kinh doanh cửa hàng cắt may đồ tây Xảo Tư, làm ăn phát đạt trên khắp cả nước, tài nguyên đổ về ào ào như nước sông. Cái tên “Xảo Tư” và ngày khai trương cửa hàng chính là do tác giả chọn tên và chọn ngày, ngày lại là ngày “hung thần trực nhật, không thích hợp làm mọi việc”. Thế nhưng người nào biết được trong cái ngày không thích hợp làm mọi việc này, chỉ có lúc 6 giờ sáng là thời điểm tốt cực kì khó tìm trong một năm. Cửa tiệm cắt may đồ tây đó mở trên đường Kiến Hành, bên cạnh đường cái của chùa Bảo Giác ở Đài Trung, hoan nghênh mọi người đến với cửa tiệm cắt may đồ tây này để may âu phục, nhân thể thăm dò thực hư về tác giả, vô cùng hoan nghênh đến đó.

Lại nói, có một buổi chạng vạng, khoảng 7 giờ, tôi đang đứng trước cổng nhà tôi, bỗng nhiên một chiếc xe taxi phóng nhanh đến trước cửa nhà tôi rồi phanh “két” một tiếng và dừng lại. Có hai người phụ nữ dìu một cô gái trẻ, cô gái trẻ ấy đã hôn mê bất tỉnh, hai người phụ nữ vội vàng khiêng cô gái trẻ đó xông vào nhà tôi. Khi ấy tôi hoảng hốt vội hỏi: ”Có chuyện gì thế này?” ”Xin hỏi thầy Lư Thắng Ngạn có ở nhà không?” ”Là tôi đây.”

Tôi nói đầy hoang mang, hai người phụ nữ này tôi chẳng hề quen biết, cô gái trẻ kia thì sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, sinh khí thì mỏng như sợi tơ, e rằng tình hình đã xấu lắm rồi! Thế nhưng tôi vẫn để cho họ khiêng vào nhà, có rước phiền phức gì vào thân không thì tôi hoàn toàn không quan tâm, bởi vì cứu một mạng người còn hơn xây tháp Phật bảy tầng mà! Sau sự việc ấy tôi mới nghĩ lại, giả như cô gái trẻ này không cứu được, chết trong nhà tôi thì chắc tôi thảm rồi.

Vừa vào trong nhà, một người phụ nữ là mẹ của cô gái trẻ, bà ấy quỳ trước tôi và liên tục kêu lên: ”Cậu là cứu tinh, cậu là cứu tinh, mau cứu con gái tôi với.” Tôi bình tĩnh hỏi bà ấy: ”Bác nghe ai nói là tôi có thể chữa được bệnh của cô ấy?” ”Hàng xóm nói, họ nói cậu chuyên chữa những bệnh không chữa được.” ”Cô ấy đã khám bác sĩ chưa?” ”Khám rồi, bác sĩ trong cả nước đều đã khám rồi, không có người nào chữa khỏi chứng đau đầu của nó, thuốc cũng uống rồi, tiêm cũng tiêm rồi, trị liệu cũng làm rồi, nhưng chữa không khỏi. Hôm nay tôi đưa nó đến bệnh viện, bệnh viện nói nó không xong rồi, nên từ chối chữa trị. Lũ bác sĩ khốn nạn ấy căn bản không hiểu được nguyên nhân bệnh của con gái tôi, bây giờ chữa không được, cũng không muốn khám bệnh tiếp cho nó nữa. Bây giờ tôi đến cầu xin cậu thử xem, năn nỉ cậu! Năn nỉ cậu!” ”Tôi không phải là bác sĩ, tôi chỉ có thể thần toán tâm linh cho bác xem có cứu được không.” - Tôi nói. ”Cầu xin cậu, cầu xin cậu.”

Người phụ nữ đó òa khóc nức nở, con gái bà ấy thì nằm yên trên ghế, không hề động đậy. Tôi ngồi im lặng, chắp tay thỉnh cầu sự thanh tịnh của thế giới linh hồn, vận chuyển tâm linh, kết nối với linh cơ chí cao vô thượng. Thế rồi tôi thỉnh cầu linh chỉ thị thì hiện ra hai câu rất đơn giản: “Cứu được. Cứu được.” ”Dùng cách nào?” ”Thuật trong mơ chữa trị nhờ linh của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, thời gian một tuần là cứu được.” Tôi chắp tay cảm tạ Thần linh.

Tôi bảo người phụ nữ kia để lại ngày tháng năm sinh của cô con gái, tóc và móng tay, địa chỉ hiện tại. Cô gái trẻ đó họ Diệp, tên là Mai Phân, sống tại đường Công Viên, Đài Trung, 20 tuổi. Tôi nói với bà ấy, mỗi tối trước khi ngủ, trên đầu giường thắp một nén hương, tôi bảo đảm sau bảy ngày sẽ khỏi bệnh. Hai người phụ nữ đó lại khiêng cô gái trẻ lên xe taxi, nửa tin nửa ngờ cảm ơn tôi rồi ra về.

Thuật trong mơ chữa trị nhờ linh này làm như sau: Tôi dùng một tờ giấy màu vàng, cắt hành hình người cô gái, trên đó viết ngày tháng năm sinh của cô gái đó, địa chỉ và họ tên, rồi ở tại mảnh đất trống, viết bốn chữ “sắc lệnh khỏi bệnh”. Dùng lon đong gạo đựng đầy gạo rồi cắm người giấy này lên đó, sau đó bỏ tóc và móng tay vào trong gạo, tóc và móng tay đại điện cho tinh thần của một con người, người giấy kia thì đại diện cho cô gái đó. Tôi đặt những công cụ này ở trước Thần Phật, sau đó hít vào một hơi khí trong không trung rồi thổi vào người giấy: “Nhất khí hóa tam khí, tam khí trợ nhân sinh, giải trừ nhất thiết ách, mễ lạp thiên thiên vạn, tạng hạ bát vạn bốn nghìn đau khổ, ngô phụng Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn luật lệnh cương.”

Buổi tối vào lúc 12 giờ, tôi thắp một nén hương, cắm lên lon gạo ở trước người giấy, niệm rằng: “Hương hương tương thông, tâm truyền hương pháp, dạ mộng an điềm, linh cơ hiển hiện, bách bệnh khư trừ. Trượng Phật pháp Thần uy, thượng chí thương khung, hạ chí u minh, vô vãng bất lợi, vô vãng bất hoàn, bệnh trừ bệnh dũ, thiên nhân đồng cảm. Ngô phụng Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh dạ mộng linh liệu quy nguyên như ý đại pháp chỉ luật lệnh cương.”

Pháp này chỉ đơn giản như vậy. Nói ra cũng kì lạ, sau bảy ngày, tôi thu công cụ về, vào ngày thứ chín thì người phụ nữ đi cùng lần trước đến báo với tôi: ”Cô gái đó sau bảy ngày bệnh tự nhiên khỏi, kể từ đó không còn đau đầu nữa, hồi phục lại vẻ đẹp thanh xuân như trước, hoàn toàn giống một người bình thường.” ”Đúng là tin tức tốt, cảm ơn trời đất.” ”Tôi khuyên họ mau đến cảm ơn cậu, bởi vì cậu đã chữa khỏi bệnh này mà! Thế nhưng họ nói, cậu trẻ tuổi như vậy làm sao có thể có năng lực lớn như vậy, đây là tự nhiên khỏi thôi.” - Người phụ nữ này lộ vẻ áy náy. ”Không sao cả, chỉ cần bệnh được giải trừ là tin mừng lớn rồi. Tôi không cần người ta báo đáp, càng không cần phong bì.” - Tôi nói.

Cho dù hằng đêm vào lúc 12 giờ tôi đều phải bò dậy kháp quyết niệm chú, nhưng sự vất vả này có thể chữa khỏi bệnh của một người thì có gì ngăn được tôi dốc sức mà chữa bệnh cho những người vô vọng này. Đây chính là nguyên nhân mà đến nay tôi vẫn âm thầm phục vụ người ta không cần lấy thù lao.

40. Lời kết

Cuốn sách này lẽ ra có thể viết thành một quyển sách rất dày rất dài. Những sự tích về thông linh thần toán có nói cũng nói không hết, bởi vì đối với những thần thông nhỏ tương đối phổ biến mà nói thì không thể nào tính đếm được, thế nên tôi không nên lãng phí trang sách, viết ra chạy theo số trang sẽ khiến người ta cảm thấy mất đi sự sâu sắc. Trong lời mở đầu tôi đã nói đến thân phận của mình, bởi vì tôi thích tôn giáo, thậm chí tôi quên ăn quên ngủ để nghiên cứu tìm hiểu, cuối cùng tôi đã hoàn thành cuốn sách này. Từ những trình bày chân thực trong cuốn sách này, tin rằng tôi đã khiến rất nhiều người phải há hốc miệng, kinh ngạc không thốt nên lời, lại chắc chắn cũng có người nhìn tôi bằng ánh mắt nghi hoặc. Tuy nhiên, tôi bảo đảm, từng câu từng chữ là thật, các bạn hãy tin vào những gì tôi viết, tôi tuyệt đối không phải là người giỏi bốc phét, cố ý mượn điều huyễn tưởng để lừa gạt độc giả cho vui.

Giả dụ bạn đọc xong toàn bộ cuốn sách, khi hiểu được cảnh ngộ bất bình thường nhất trong cuộc đời mà tôi đã trải qua giống như giấc mơ của Alice lạc vào xứ sở thần tiên, nhưng mà Alice mơ xong thì sẽ tỉnh lại! Còn ở đây, tôi mơ xong thì vẫn là thật, thật sự hiển hiện tại nhân gian kì ảo này. Tôi chưa bao giờ mượn khả năng khác thường đặc biệt này để hễ gặp ai là khoác lác về bản lĩnh của mình. Tôi nguyện là một người bình phàm không biết gì cả, bởi vì khi bị người ta hoài nghi, trong lòng tôi cũng cảm thấy cực kì đau khổ, vì sao những gì mà nhân loại biết về linh hồn lại nghèo nàn đến mức này, thậm chí nhân loại còn thường xuyên giễu cợt là mê tín, lạc hậu và không có khả năng. Chúng ta nên biết, có lẽ sinh vật trên các hành tinh khác cũng luôn hoài nghi liệu trên trái đất có đúng là có cái gọi là nhân loại hay không! Đương nhiên, tôi không thể trách nhân loại vô tri, bởi vì con mắt của nhân loại không thể nào có được khả năng nhìn thấu của linh.

Linh hồn có hay không, xin thứ lỗi cho tôi không cần thiết phải trả lời lại, tôi là người tuyệt đối tin vào sự tồn tại của linh hồn. Hiện tại, tôi có rất nhiều bạn bè yêu thích nghiên cứu về linh hồn, ví dụ giáo sư Thái Nghĩa Hoành ở Đại học Trung Hưng, giảng viên Thẩm Thủ Đốc, giáo sư Hồng Nguyên Long của Đại học Thành Công, v.v… Tôi làm bạn với con người, cũng làm bạn với linh hồn ở trên trời, không chỉ là trên trời có linh tồn tại mà thậm chí trên mặt đất cũng có, vùng hoang vu hay thậm chí thành thị náo nhiệt cũng có. Linh hồn tồn tại rất gần với nhân loại, nhưng nhân loại thì không có cách nào có được bản năng cảm nhận được sự tồn tại ấy, khiến nhân loại mất đi cơ hội qua lại với các linh của linh giới, đây là một việc đáng tiếc làm sao!

Cuốn sách này phân làm ba phần, phần trải nghiệm linh dị chuyên viết về quá trình tác giả bắt đầu từ một tín đồ đạo Cơ Đốc tiến nhập Đạo giáo, sau đó lại từ Đạo giáo tiến nhập Phật môn. Khi từ tín đồ Cơ Đốc bước vào Đạo, giống như có được bước ngoặt của tâm linh. Phần thứ hai là phần khởi linh và thần toán, phần này trình bày thế nào là khởi linh, phương pháp khởi linh và tu luyện vận linh, sau đó lợi dụng phương pháp thần toán nhờ linh để thăm dò linh giới mà có được kết quả của việc thần toán. Phần thứ ba là phần sự tích thông linh thần toán, lấy một vài sự tích làm ví dụ và cũng nói về kết quả của việc tôi giúp người ta thần toán nhờ linh. Vốn dĩ tôi muốn viết rất nhiều, nhưng nói nhiều cũng vô ích, ai tin thì tin, ai không tin thì vẫn không tin, nói nhiều những sự tích này thì cũng không có tác dụng gì nhiều. Giả như có người muốn biết những sự thật này, muốn biên soạn thành sách thì có thể liên hệ với tác giả.

Tôi tin vào số mệnh, bởi vì phát sinh và kết quả của một sự việc đều là do nhân duyên thúc đẩy. Con người sinh ra trên đời này sao lại không hề có nguyên do chứ? Con người chết đi quy về nơi nào, hoàn toàn mù tịt không biết gì sao? Chẳng phải, đây đều là có nguyên do cả, người sinh ra chính là linh chết đi, người chết đi chính là linh sinh ra. Thế nhưng, nếu có người có thể luyện thành công hoạt linh, tôi tin rằng người này nhất định có thể luyện được đến trình độ tương thông với linh giới. Chỉ cần ngày đêm khổ luyện thì không có chuyện không thành công. Tôi lại có một phát hiện lớn về sự thành công của luyện linh, có thể thành công hay không thành công hoàn toàn có mối liên hệ rất lớn với căn cơ.

Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh là Linh Sư của tôi, tôi khởi đầu là một người phàm phu không hề có một chút kiến thức nào về linh hồn, Ngài đã dạy tôi luyện chỉ pháp, luyện khẩu quyết, luyện thư phù, luyện linh và Đạo thuật, v.v… Công lao của Ngài là lớn nhất. Sau cùng Ngài chỉ thị tôi xuất nhập thập pháp giới, về mặt này lại càng ẩn giấu thiên cơ cực kì lớn. Một con người xuất nhập thập pháp giới nhờ vào cái gì? Độc giả có thể nhìn ra không? Tất cả những thứ hữu hình rốt cục sẽ quy về vô hình, tất cả pháp hữu vi đến cuối cùng cũng không có pháp nào có thể thuyết. Những sự thật li kì này đều nằm giữa việc độc giả tin hay không tin, nếu dựa vào phương pháp khởi linh để nghiên cứu sâu thì tôi tin rằng cũng có người có thể đạt được thành tựu lớn.

Tôi nhớ Linh Sư từng nói [tới lúc đó]:

”Thái thượng nhân gian mây nước xa xăm Tiên đồng tiên nữ xếp hàng nghênh đón Mây tía cờ lọng cưỡi mây bay đi Rời xa nhân gian đến chín tầng trời Bốn biển ngợi khen âm thanh chúc tụng Ngũ Nhạc cùng than núi rừng thương xót Từ nay nhân gian mất một kì tài Đi hết Tam giáo trở về chốn xưa.”

Đương nhiên tôi hiểu ý của Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, khi tôi nhập diệt, nhất định sẽ đi theo Linh Sư, đến lúc ấy lại có một cảnh giới khác, và tôi để lại cuốn kì thư này tại nhân gian, cuốn kì thư này chính là: “Mạn đàm linh cơ thần toán”.

(Hết)

Mục lục