Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp
🪷 Pháp bản trân quý của Chân Phật Tông
Văn tập: 063 Xuất bản: 03/1986 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam
Lời mở đầu
Đây là một cuốn sách tinh hoa của trí huệ vô thượng, có tên là "Bí Mật trong Chân Phật Mật Pháp". Trong cuốn sách này tiết lộ những bí mật vĩ đại của vũ trụ từ xưa đến nay, chính là đại pháp để chứng ngộ chân lý, nhờ cuốn sách này có thể trực tiếp thành Phật tác Tổ.
Đây là pháp bản vô cùng trân quý của Chân Phật Tông. Pháp bản chính là nghi quỹ tu pháp, từ pháp căn bản nhất là "Đại lễ bái" cho đến "Vô thượng mật". Pháp bản này sẽ giải thích tỉ mỉ, đầy đủ và sâu sắc nhất. Chân Phật Đại Pháp hiện khắp thế gian, độ hóa tất cả chúng sinh, đây là "chân cơ tối cao của Phật pháp".
Về nguyên tắc, đây là một cuốn sách giải thích chi tiết về thực hành Mật tông. Do chữ "Mật" trong Mật tông vốn có nghĩa là không truyền bá. Tuy nhiên, hôm nay đạo lớn rộng mở, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư kế thừa Kim Cang Thủ Bồ Tát, đã trình bày rõ ràng hết thảy những "bí mật trong bí mật", đây quả là điều hiếm có từ xưa đến nay.
Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật có danh hiệu là: "Tây Phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả." Liên Sinh Hoạt Phật được Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký, được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mũ miện đỏ, được Phật A Di Đà phó thác, được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy Mật pháp, vì vậy Chân Phật Đại Pháp là pháp môn Mật tông chân thật nhất, Liên Sinh Hoạt Phật là vị Hoạt Phật chân chính. Ngay cả các Hoạt Phật Tây Tạng cũng đến quy y, đến cầu pháp, quả thật là bậc tôn giả có uy quyền tối thượng.
Việc xuất bản cuốn "Bí Mật trong Chân Phật Mật Pháp" này sẽ được chư Phật cùng tán thán. Khi pháp bản trí huệ vô thượng này được công bố, sẽ chiếu sáng cho chúng sinh đời sau, mở ra con đường giác ngộ cho lục đạo luân hồi. Những chúng sinh có duyên trong đời này không cần phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp nữa, chỉ cần quy y Liên Sinh Hoạt Phật, được pháp bản bí mật trong Chân Phật Mật Pháp, tu hành theo thứ tự, tự nhiên sẽ chứng nhập Tam ma địa, chắc chắn thành Phật.
Trong cuốn sách này, tôi sẽ giải thích đặc biệt về các pháp quán hành, giải thích các phương pháp tương ứng, hướng dẫn đặc biệt về thủ ấn, cách phối hợp chân ngôn với thiền ý. Thông qua tu hành thanh tịnh, hoàn toàn giải thoát để đạt đến vùng đất Thánh thanh tịnh.
Tôi sẽ giải thích chi tiết về bản chất của thiền định, đồng thời sẽ hướng dẫn phương pháp để loại bỏ tạp niệm và đi vào trạng thái định trong quá trình tu trì, giải thích cách thức thần thông được hình thành, và cuối cùng đạt đến các giai đoạn giải thoát hoàn toàn. Trong đó bao gồm các phương pháp thực hành, điều hòa hơi thở, quán hành, thủ ấn, đẳng trì, du già v.v.
Những người tu trì "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" này, khi bước vào cảnh giới thần thông, chắc chắn sẽ đạt được tám đại tự tại, tám đại tự tại này là: có thể biến thân nhỏ như hạt bụi; có thể biến thân to như núi Tu Di; thân thể nhẹ nhàng có thể bay vào hư không; có thể đến bất kỳ nơi nào kể cả thiên cung; mọi điều mong muốn đều có thể đạt được; có thể phân thân vô số biến hóa vô tận; có pháp lực vô thượng đệ nhất; và hợp nhất với ý thức tối thượng của vũ trụ.
"Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" có thể nói là tổng quan về phương pháp thực tu. Đây là kết quả của sự chỉnh lý của Liên Sinh Hoạt Phật, hoàn toàn là sự tuôn chảy tự nhiên từ tâm pháp của Thượng sư. Tôi đã đem tất cả đại pháp của Mật tông, dưới con mắt pháp của mình, tiến hành cô đọng, loại bỏ những phần rườm rà trùng lặp, dung hòa những điểm khác biệt giữa các tông phái, sáng tạo ra phương pháp tu mới, đưa về chân như, phù hợp hơn với người hiện đại. Kết quả của sự tổng hợp và rèn luyện này chính là pháp tu "thân kim cang bất hoại".
Tôi nhận thấy gần đây các tông phái tôn giáo mọc lên như nấm sau mưa, đây là phản ứng tự nhiên sau khi vật chất phát triển cực độ và tinh thần trở nên trống rỗng. Mật tông Đông mật và Tạng mật tuy đều tỏa sáng rực rỡ, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc giảng lý thuyết trên bề mặt, không thể thực tu các nghi quỹ chân chính. Cảm nhận được điều này, tôi đã trích lọc tinh hoa của Hiển giáo và Mật giáo, ghi chép lại mọi kiến giải chân thật, chắt lọc những điều tinh túy vào trong sách. Đây là cách tiếp cận sâu sắc nhất, không thiên về lý thuyết mà hoàn toàn hướng dẫn thực tu.
Số đệ tử của Chân Phật Tông hiện đã đạt đến năm triệu người. Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật đã dung hợp tất cả những điều bí mật và trình bày trọn vẹn trước thế nhân, khiến cả thế giới kinh ngạc và kính ngưỡng. Những thần thông kỳ diệu của Liên Sinh Hoạt Phật đã khiến các nhà văn các nước tranh nhau phiên dịch giáo lý của Ngài. Khi các bản dịch được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ, cảnh tượng cả thế giới quy y sẽ sớm xuất hiện.
Việc tôi tuyên thuyết "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp" này, chính là đem chân tướng của chân lý vũ trụ hiển bày hoàn toàn, tương đương với sự tuyên thuyết chung của tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, quả thật là: Hoa trời rực rỡ. Đất trổ sen vàng.
Đệ tử Chân Phật Tông, ai ai cũng nghiên cứu học tập "Bí mật trong Chân Phật Mật Pháp". Những ai muốn học Chân Phật Đại Pháp, hãy nhanh chóng đến quy y, đây là cảnh giới lớn giữa trời đất, nơi chúng sinh thể hội sự quay trở lại nguyên trạng, giản dị chất phác như xưa, là pháp môn rộng độ trời người không sót một ai.
Lành thay! Lành thay! A Di Đà Phật.
Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Sheng-yen Lu 17102 NE 40th Ct., Redmond, WA 98052 U. S. A.
01. Chân Phật Đại lễ bái pháp
Pháp Tứ gia hành của Mật tông gồm có Đại lễ bái pháp, Tứ quy y pháp, Cúng dường mandala pháp và Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp. Bốn pháp này là pháp căn bản của việc học Mật tông, giống như nền móng của tất cả các pháp, cũng chính là móng của ngôi nhà vậy.
Ở Tây Tạng, những người mới nhập môn Mật giáo đều phải học Tứ gia hành pháp, và mỗi pháp môn đều quy định phải thực hành 100.000 lần. Sau khi hoàn thành bốn gia hành này mới được tu các Mật pháp khác, nếu không e rằng sẽ sinh ra các ma chướng, dễ đi vào đường tà.
Có rất nhiều người học Mật tông không muốn học pháp Tứ gia hành, cho rằng đó là pháp nhỏ, nhưng họ không biết rằng pháp Tứ gia hành chính là nền tảng của đại pháp, có ích lợi rất lớn trong việc tiêu trừ nghiệp chướng và tăng trưởng phúc tuệ, không thể xem thường và bỏ qua.
Rất nhiều người hỏi rằng pháp Tứ gia hành là tu cả bốn pháp cùng lúc, hay tu hai pháp, hoặc chỉ tu một pháp. Câu trả lời của tôi là, hoàn toàn tùy thuộc vào thời gian của mỗi người, không có quy định cứng nhắc nào cả. Người có nhiều thời gian thì tu cả bốn pháp cùng lúc, người ít thời gian thì chỉ tu một pháp.
Đại lễ bái của Chân Phật Tông hơi khác với Mật tông thông thường, tôi chia Đại lễ bái thành ba loại, đó là Đại lễ bái toàn thân phủ phục, Đại lễ bái ngũ thể đầu địa và Đại lễ bái quán tưởng.
Thủ ấn Đại lễ bái có bốn loại: Phật kham thủ ấn — là lễ bái thứ nhất, đảnh lễ chư tôn trong Phật bộ. Nghĩa là chắp hai tay lại, mười đầu ngón tay chạm vào nhau, lòng bàn tay hơi khum, tạo thành hình như kham thờ Phật. Liên hoa thủ ấn — là lễ bái thứ hai, đảnh lễ chư tôn trong Bồ Tát bộ (Liên hoa bộ). Nghĩa là hai ngón cái và hai ngón út chạm vào nhau, ba ngón còn lại xòe ra, như hình hoa sen đang nở. Kim cang thủ ấn — là lễ bái thứ ba, đảnh lễ chư tôn trong Kim cang bộ. Nghĩa là hai tay chắp vào nhau, mười ngón tay đan chéo, như hình chữ thập của chày kim cang, đó chính là thủ ấn kim cang. Thủ ấn Bình đẳng — là lễ bái thứ tư, tức là thủ ấn cúi người khấu đầu. Nghĩa là ngón trỏ giơ thẳng chạm vào không trung, ngón cái song song với mặt đất và chạm vào nhau, ba ngón còn lại đan chéo song song tạo thành thủ ấn bình đẳng. Thủ ấn bình đẳng là sự đảnh lễ bình đẳng đối với Phật bộ, Bồ Tát bộ, Kim cang bộ, Hộ pháp bộ và chư Thiên bộ.
Đại lễ bái toàn thân phủ phục là theo cách của Tây Tạng. Đó là nằm sấp toàn thân xuống đất. Cách lễ bái này thường cần có đệm lễ bái hoặc chiếu cỏ trải sẵn trên đất để tránh bị thương.
Khi thực hiện bất kì đại lễ bái nào, trước hết quán tưởng Thượng sư và Tam Bảo ở phía trước. Bản thân mình (hoặc cùng với người thân, hoặc quán tưởng người thân đến), cùng nhau lễ bái. Trước tiên đặt thủ ấn lên đỉnh đầu, có ánh sáng trắng chiếu vào đỉnh đầu (thanh tịnh tất cả thân nghiệp). Kế đến đặt thủ ấn nơi cổ họng, có ánh sáng đỏ chiếu vào cổ họng (thanh tịnh tất cả khẩu nghiệp). Sau đó đặt thủ ấn nơi tim, có ánh sáng xanh chiếu vào tim (thanh tịnh tất cả ý nghiệp). Khi thân khẩu ý tam nghiệp đã thanh tịnh, đưa thủ ấn trở lại đỉnh đầu chạm một cái rồi xả ấn. Thân cúi xuống, hai tay duỗi thẳng, đẩy về phía trước, toàn thân nằm sấp xuống đệm lễ bái, sau khi lễ xong, lập tức chạm một cái rồi đứng dậy, không được nằm lâu trên đất, đây chính là Đại lễ bái toàn thân phủ phục.
Còn Đại lễ bái ngũ thể đầu địa là cách lễ Phật theo kiểu Trung Quốc, không phải nằm sấp toàn thân xuống đất, mà chỉ hai đầu gối chạm đất, hai lòng bàn tay úp xuống đất, lòng bàn tay hướng lên trên. Cách lễ bái này cũng dùng bốn thủ ấn, nhưng không nằm sấp toàn thân. Đây là vì khi ra ngoài, hoặc đến các chùa khác, không có đệm lễ bái hay chiếu cỏ, nếu nơi nào cũng thực hiện đại lễ bái toàn thân, e rằng lòng bàn tay, trán và thân thể sẽ bị thương.
Đại lễ bái quán tưởng là do Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông sáng tạo. Khi chúng ta cùng nhau tu tập, nơi chốn chật hẹp, người đông, không thể để tất cả mọi người đứng lên thực hiện pháp Đại lễ bái vì không gian không đủ. Do đó mọi người ngồi xuống, vẫn kết thủ ấn, ấn vào đầu, cổ họng, tim, đến tim thì lập tức quán tưởng toàn thân đảnh lễ trước Phật, sau đó đưa thủ ấn trở lại đỉnh đầu rồi xả ấn, đây chính là cách thuận tiện của Đại lễ bái quán tưởng.
Đại lễ bái quán tưởng có rất nhiều lợi ích, ví dụ như khi chúng ta ngồi trên xe, trên máy bay, muốn tu một đàn pháp, đương nhiên không có chỗ để thực hiện pháp Đại lễ bái, nên chúng ta ngồi ngay ngắn trên ghế, trước tiên quán tưởng chư Phật trên không trung phóng quang, rồi quán tưởng mình kết thủ ấn, lần lượt ấn vào đỉnh đầu, cổ họng, tim, quán tưởng mình đảnh lễ Phật, sau đó đưa ấn trở lại đỉnh đầu rồi xả ấn. Thậm chí đối với phụ nữ mang thai, bụng to không thể toàn thân phủ phục, cũng không thể ngũ thể đầu địa, tự nhiên có thể vận dụng Đại lễ bái quán tưởng.
Trong số đệ tử của Chân Phật Tông, có người trước đây bị máy móc cắt đứt ngón tay, có người sinh ra đã khuyết tật. Theo quy định của Mật tông, những người này không thể kết thủ ấn, tư thế ngồi không đẹp, nghiệp chướng sâu nặng, không đủ tư cách tu Mật tông. Nhưng Liên Sinh Hoạt Phật đã phá bỏ quy định phân biệt đối xử với người khuyết tật này, tôi cho rằng ai cũng có thể tu Mật tông. Thủ ấn có thể quán tưởng ra, pháp Đại lễ bái cũng có thể tu bằng quán tưởng.
Pháp Đại lễ bái của Chân Phật Tông chính là pháp Đại lễ bái toàn thân phủ phục, pháp Đại lễ bái ngũ thể đầu địa và pháp Đại lễ bái quán tưởng.
Thông thường khi tu một đàn pháp, trong pháp Đại lễ bái có bốn thủ ấn, ba thủ ấn đầu tiên có cách lễ bái giống nhau, còn thủ ấn cuối cùng là thủ ấn Bình đẳng cúi người khấu đầu.
Có người chuyên tu Đại lễ bái pháp, một lần lễ hai mươi mốt lạy, hoặc bốn mươi chín lạy, hoặc một trăm linh tám lạy, hoặc vài trăm lạy. Loại Đại lễ bái này có thể dùng Phật kham thủ ấn, liên tục lễ bái, xem tất cả chư Phật Bồ Tát và chư tôn đều là Phật, không ngừng lễ bái, càng nhiều càng tốt.
Có rất nhiều đệ tử hỏi tôi, bản thân họ tin Phật nhưng người thân không tin, làm sao để người thân có duyên với Phật? Tôi thích trả lời như thế này, hãy quán tưởng người thân không tin Phật của mình đang ở bên cạnh, dùng ánh sáng của Phật chiếu vào họ, sau đó cùng họ lễ Phật.
Đây cũng là một trong những pháp Quán tưởng lễ Phật. Niệm niệm thay người không tin Phật lễ Phật, lâu dần, trong tâm người không tin Phật sẽ gieo được mầm Phật, tự nhiên sẽ sinh ra duyên với Phật.
Trọng điểm của Đại lễ bái pháp vẫn nằm ở quán tưởng, khi đặt thủ ấn lên đỉnh đầu, chư tôn phóng ánh sáng trắng (thân nghiệp thanh tịnh), khi đặt thủ ấn nơi cổ họng, chư tôn phóng ánh sáng đỏ (khẩu nghiệp thanh tịnh), khi đặt thủ ấn nơi tim, chư tôn phóng ánh sáng xanh (ý nghiệp thanh tịnh). Thủ ấn trở về đỉnh đầu rồi xả ấn, sau đó thực hiện đại lễ bái.
Điểm quan trọng nhất của pháp Đại lễ bái là tiêu trừ nghiệp chướng. Khi chư Phật Bồ Tát phóng quang chiếu soi, chính là để tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời. Khi nghiệp chướng nhiều đời được tiêu trừ, tu hành mới có thể đạt đến thanh tịnh, tự thân mới có thể phóng quang, và khi tự thân có thể phóng quang thì mới có hy vọng thành Phật.
Pháp Đại lễ bái có thể chế ngự tâm kiêu mạn ngã chấp. Tôi cho rằng điều này cũng rất quan trọng, bởi vì khi chúng ta phủ phục đảnh lễ chính là học tập lòng thành kính và khiêm hạ, ý nghĩa là để diệt trừ ba độc tham, sân, si. Cần biết rằng người tu đạo, chỉ cần có chút thành tựu nhỏ là dễ sinh tâm kiêu ngạo, ý thức tự mãn tự đại hoàn toàn bộc lộ, thấy người khác cao hơn mình liền đố kỵ, động một tí là muốn so đạo hạnh với người khác. Vì vậy người học Phật trước tiên phải lễ Phật, học tập lòng thành kính. Phủ phục đảnh lễ chính là để chế ngự tâm kiêu mạn ngã chấp này.
Pháp Đại lễ bái là một phương pháp vận động thể chất, trong quá trình thực hành, kết hợp với các động tác của cơ thể, trở thành động tác yoga với hơi thở và điều khí. Loại vận động thể chất này, khi thực hiện đến mức đổ mồ hôi, thậm chí có thể chữa bệnh, điều này có thể giải thích một cách hợp lý. Từ xưa, pháp Đại lễ bái của Tây Tạng được xem là "pháp lễ Phật khắc kỷ, khổ thân, điều hòa thân thể", điều này cũng có nguồn gốc của nó.
Pháp Đại lễ bái có thể tiêu trừ nghiệp chướng, có thể kết duyên với Phật, có thể chế ngự tham sân si, học tập lòng thành kính, lại còn là pháp yoga phù hợp với vận động cơ thể. Tôi mong rằng đệ tử Chân Phật Tông không được xem thường pháp Đại lễ bái, lời tôi nói tuy đơn giản nhưng đạo lý rõ ràng, nếu thực hành sẽ có công đức to lớn.
Phật pháp bao la tinh vi, nhưng cũng phải từng bước thực hành mới có thể đạt đến "vô thượng". Pháp Đại lễ bái tuy không phải pháp thù thắng nhất, nhưng cũng là pháp tinh tế vi diệu. Tôi xin viết một bài kệ ghi lại: Mê mải bên ngoài là thế tục Kiểm điểm nội tâm mới ngộ ra Pháp Đại lễ bái là hồi tâm Tiêu nghiệp cung kính có lợi ích.
02. Chân Phật Tứ quy y pháp
Có một đệ tử nội mật của Dudjom Rinpoche đến quy y Chân Phật Tông. Tôi hỏi: "Dudjom Rinpoche đã dạy cho anh pháp môn gì?" "Pháp Tứ quy y" - Anh ấy đáp. Tôi lắc đầu tỏ vẻ không tin. "Đúng là pháp Tứ quy y đấy, Dudjom Rinpoche nói rằng, tu trì pháp Tứ quy y một triệu biến chính là đại pháp." - Vị đệ tử mới quy y trả lời tôi một cách kiên định như vậy.
Từ đây có thể thấy tầm quan trọng to lớn của pháp Tứ quy y - một trong bốn pháp gia hành.
Pháp Tứ quy y của Chân Phật Tông được trình bày chi tiết như sau: Tiến vào mật đàn. Chiêm ngưỡng pháp tướng hoặc tượng của Thượng sư. Trước tiên quán tưởng hình dáng Thượng sư, từ thiên tâm phóng ra ánh sáng trắng, chiếu vào thiên tâm của hành giả; từ cổ họng phóng ra ánh sáng đỏ, chiếu vào cổ họng của hành giả; từ tim phóng ra ánh sáng xanh, chiếu vào tim của hành giả.
Hành giả chắp tay cung kính niệm: "Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật." Mỗi niệm một lần, lạy một lạy. Niệm Tứ quy y chân ngôn: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." Na-mô gu-ru pây — quy y Kim cương Thượng sư. Na-mô pút-ta yê — quy y Phật. Na-mô ta-mô yê — quy y pháp. Na-mô sâng-kya yê — quy y tất cả thánh hiền mười phương.
Trước tiên niệm ba lần, sau đó quán tưởng Thượng sư và chư tôn Tam Bảo hiện ra trên không trung, hòa nhập vào nhau, hóa thành ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, ánh sáng ngũ sắc này rót vào đỉnh đầu hành giả, tràn đầy toàn thân. Tự cảm nhận tất cả nghiệp chướng, ác nghiệp, bất tịnh nghiệp, tội nghiệp đều hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông, bản thân trở nên trong sáng thuần khiết, thân tâm an lạc, tràn đầy phúc huệ.
Sau đó lại niệm chân ngôn Tứ quy y 108 biến, hoặc 1000 biến. Tùy ý niệm nhiều hay ít, càng nhiều càng tốt.
Sau khi niệm xong chân ngôn Tứ quy y, cần niệm văn phát bồ đề tâm: "Đệ tử (tên) từ nay quy y Thượng sư Tam Bảo, cho đến khi thành tựu bồ đề, vĩnh viễn không thoái chuyển, tất cả thiện căn lớn nhỏ đều hồi hướng cho chúng sinh nhanh chóng thành tựu Phật đạo." (niệm 3 lần)
Trì tụng các thần chú khác: Trì tụng tâm chú Liên Sinh Hoạt Phật: "Ôm gu-ru lién-sâng sit-đi hum" 108 biến hoặc 1000 biến. Trì tụng tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê" 108 biến hoặc 1000 biến. Trì tụng tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hùm" 108 biến hoặc 1000 biến. Trì tụng tâm chú A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-đê-wa sê" 108 biến hoặc 1000 biến. Trì tụng tâm chú Lục Độ Mẫu: "Ôm ta-rê tu-ta-rê tu-rê sô-ha" 108 biến hoặc 1000 biến.
Sau khi trì tụng các thần chú gia trì xong, tụng văn hồi hướng: "Liên Sinh Hoạt Phật gia trì lực, Tam Bảo phóng quang trừ nghiệp chướng, con và chúng sinh thành Phật đạo, đều cùng vãng sinh Cực Lạc quốc."
Đại lễ bái. Xuất đàn.
Trong pháp Tứ quy y Chân Phật này, điểm trọng yếu nằm ở ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, chính là phần quán tưởng sau khi niệm xong ba lần chân ngôn Tứ quy y. Thượng sư và chư tôn Tam Bảo xuất hiện trên không trung, xoay chuyển hòa nhập vào nhau, biến thành ánh sáng ngũ sắc rực rỡ, sau đó rót vào đỉnh đầu hành giả, tất cả nghiệp chướng của hành giả hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông. Phần quán tưởng này là quan trọng bậc nhất.
Điểm trọng yếu của pháp Tứ quy y này chính là ở Thượng sư. Trong Mật tông, pháp Tứ quy y đặt Kim cương Thượng sư ở vị trí đầu tiên, bởi vì Kim cương Thượng sư là tổng trì của chư tôn Tam Bảo. Chúng sinh nhờ có sự truyền pháp của Kim cương Thượng sư mới có thể thực sự hiểu được Tam Bảo. Vì vậy, chúng sinh nhờ quy y Kim cương Thượng sư mới có Mật pháp để tu học, và cũng nhờ nương tựa vào Kim cương Thượng sư mới có thể được Thượng sư Tam Bảo cứu độ.
Tu trì pháp Tứ quy y là củng cố lòng tin của chính mình đối với Thượng sư Tam Bảo. Tu trì pháp Tứ quy y là kết duyên vĩnh viễn với Thượng sư và Tam Bảo, mãi mãi có duyên với chư Phật Bồ Tát. Tu trì pháp Tứ quy y là tiêu trừ tất cả nghiệp chướng nhiều đời. Tu trì pháp Tứ quy y là nhận được gia trì của Thượng sư Tam Bảo. Tu trì pháp Tứ quy y là bước đầu phát tâm bồ đề của chính mình.
Thông thường các vị Hoạt Phật Tây Tạng khi bắt đầu dạy người trì chú, đều dạy chân ngôn Tứ quy y, niệm chân ngôn Tứ quy y một triệu biến để củng cố nhân duyên tin Phật của chính mình.
Tôi viết một bài kệ cho pháp Tứ quy y Chân Phật: Một pháp quy y nghiệp tiêu trừ, Có duyên với Phật pháp ắt thành; Chớ làm người tục trong nhân thế, Phát tâm bồ đề độ chúng sinh.
03. Chân Phật Đại cúng dường pháp
Hành giả Mật tông mỗi lần tu pháp, nhất định phải dâng cúng dường, trong pháp Tứ gia hành, đây chính là pháp cúng dường mandala.
Liên Sinh Hoạt Phật từng nói: “Con người thế gian, nếu muốn có được phúc báo lớn nhất thì phải cúng dường Thượng sư, Tam Bảo, Kim cang, Hộ pháp. Bởi vì nguyên do là cúng dường biểu thị sự cung kính của hành giả, cung kính Tam Bảo vô thượng, nên có thể có được sức mạnh che chở của Thượng sư và Tam Bảo, và có được phúc báo vô cùng.”
Trước kia pháp sư Thích Huệ Linh từng nói với tôi: Trước Phật cúng hoa — đời sau xinh đẹp phi phàm, tướng mạo anh tuấn. Trước Phật cúng hương — đời sau thân thể thơm tho. Trước Phật cúng đèn — đời sau trí tuệ siêu việt, quang minh vô tận. Trước Phật cúng trà — đời sau tài phúc vô tận, nguồn tài nguyên không dứt. Trước Phật cúng quả — đời sau ăn uống không phải lo nghĩ, có dư thừa.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: “Một người nếu muốn có được phúc báo lớn nhất của nhân gian, đời sau trở thành quốc vương của nhân gian, hoặc thành người giàu có nhất, chỉ cần người đó học được pháp Chân Phật đại cúng dường thì sẽ được thành tựu như vậy. Chỉ tu trì mỗi pháp Chân Phật đại cúng dường thì đã có thể có được phúc báo vô cùng tận.”
Pháp cúng dường mandala của Mật tông như sau:
Hành giả tiến vào mật đàn thì ngồi xuống, hai tay kết ấn cúng dường. Trước tiên đặt một ít gạo lên lòng bàn tay trái.
Kết ấn cúng dường — Hai ngón áp út giơ thẳng. Hai ngón giữa đan chéo nhau, hai ngón út đan chéo nhau (đều là tay phải ở ngoài). Hai ngón trỏ móc và đè hai ngón giữa xuống. Hai ngón cái đè lên hai ngón út.
Quán tưởng núi Tu Di trong vũ trụ ở chính giữa, bốn cõi trời đông tây nam bắc ở xung quanh núi Tu Di, và ở phía đông tây của núi Tu Di có mặt trăng mặt trời.
Lại quán tưởng gạo trong tay mình biến thành thất trân bát bảo, đầy ắp cả núi Tu Di và bốn cõi trời đông tây nam bắc. Quán tưởng tất cả trân bảo đều dâng cúng chư tôn.
Thế rồi niệm bài kệ cúng dường:
Tu Di tứ châu cùng nhật nguyệt Hóa mọi trân bảo cúng dường Phật Trân quý kỳ diệu bao công đức Tiêu nghiệp cấp tốc chứng bồ đề.
Trì thêm chú cúng dường:
Ôm sa-ơ-wa ta-tha-ga-ta i-ta-mu gu-ru na-na mên-ta-la kham ni-ri-yê ta-ya-mi.
Niệm xong chú cúng dường thì nâng thủ ấn lên trên, ấn vào thiên tâm một cái. Khi giải ấn thì có thể trực tiếp tung gạo lên không trung. Như vậy được xem là đã hoàn thành pháp cúng dường mandala.
Liên Sinh Hoạt Phật từng dạy mọi người bí mật của pháp Chân Phật đại cúng dường. Ví dụ chúng ta cúng dường một ngọn đèn, thắp đèn sáng lên, nhập đàn tay kết ấn cúng dường.
Đầu tiên nghĩ đến ngọn đèn dầu này ở trong đầu, sau đó từ một ngọn đèn dầu hóa thành một hàng, sau đó đèn dầu lại biến hóa thành một mặt phẳng, thậm chí biến hóa thành mười phương trên dưới cả vũ trụ đều đầy ắp đèn dầu thắp sáng.
Quán tưởng chư tôn tiếp nhận cúng dường đèn dầu sáng của bạn. Trong tâm niệm thầm chú cúng dường, sau đó đưa thủ ấn chạm vào thiên tâm rồi giải ấn.
Ví dụ chúng ta cúng dường một bông hoa, nhập đàn tay kết ấn cúng dường, đầu tiên nghĩ đến bông hoa này ở trong đầu, rồi quán tưởng hoa biến thành một hàng hoa, rồi từ một hàng lại biến thành một mặt phẳng hoa, thậm chí là mười phương trên dưới cả vũ trụ đều đầy ắp hoa. Quán tưởng chư tôn trong vũ trụ, mỗi vị Phật đều cầm một bông hoa của bạn trên tay, đầy ắp cả bầu trời vũ trụ. Trong tâm niệm thầm chú cúng dường rồi chạm thủ ấn vào thiên tâm, sau đó giải ấn.
Đây chính là từ một biến thành nhiều, lần lượt hóa hiện như mây, như biển. Kết quả là đủ loại cúng dường vô tận, một lần Chân Phật đại cúng dường như thế này là thù thắng vi diệu nhất, thanh tịnh và kỳ diệu nhất, quảng đại vô tận nhất. Đương nhiên là phúc báo có được cũng vô cùng vô tận.
Chân Phật Tông chúng ta bày bát cúng là: vỏ ốc nhỏ, trái cây, phấn thơm, đèn, ba que đàn hương, năm bông hoa đỏ, nước tắm, nước sạch, bày từ phải sang trái. Còn ngũ cúng là hoa, hương, đèn, trà, quả. Hai kiểu này đều được.
Thật ra theo như trong kinh Phật, nghi thức cúng dường rất phiền phức, và cúng phẩm cũng có nhiều loại, có cái gọi là năm món cúng, bảy món cúng, tám món cúng, hai mươi bảy món cúng, ba mươi bảy món cúng. Mỗi loại bảo vật đều xem là cúng phẩm, ví dụ pháp luân cũng là một bảo vật, trân châu cũng là một bảo vật, cây lạ cũng là một bảo vật, voi quý cũng là một bảo vật. Tôi cho rằng chỉ cần là thứ mà bạn cho là có giá trị thì đều có thể biến hóa để dâng lên cúng Phật.
Có đệ tử hỏi tôi là không có thứ gì quý hiếm để cúng dường Phật, phải làm sao? Tôi trả lời như sau, đây là bí mật trong bí mật của Chân Phật đại cúng dường. Khi chúng ta thiếu những món đồ thật để cúng Phật, chúng ta cũng có thể kết ấn cúng dường, rồi nghĩ ra những thứ tốt đẹp nhất, những thứ mà chúng ta nhìn thấy trên đường, hoặc là những thứ nhìn thấy trong nhà người khác, đều có thể ghi nhớ vào trong đầu chúng ta. Chúng ta cũng biến hóa một thành nhiều, nhiều hóa thành vô tận, rồi cũng cúng dường chư tôn trong vũ trụ. Trì thêm chú cúng dường, sau đó giải ấn. Cũng vẫn sẽ có công đức to lớn.
Có ba trọng điểm của pháp Chân Phật đại cúng dường, tức là thủ ấn, chân ngôn, quán tưởng. Kì thực điểm chính yếu thật sự vẫn là tâm cung kính. Chúng ta một lòng biến hóa cúng phẩm thành vô lượng vô tận, tự nhiên phúc phần có được cũng vô lượng vô tận, cho nên nhất tâm quán tưởng là quan trọng nhất.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp để có được phúc vô lượng. Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp để có được sức mạnh gia trì của Thượng sư và Tam Bảo. Pháp Chân Phật đại cúng dường là mật pháp Kim cang Hộ pháp hộ thân. Pháp Chân Phật đại cúng dường là từ cúng dường Phật Bồ Tát mà sản sinh ra tâm bố thí, sau đó chuyển thành bố thí chúng sinh, là đại mật pháp để phát bồ đề tâm quảng đại. Pháp Chân Phật đại cúng dường là từ cúng dường mà có được sự che chở của chư tôn, từ sự che chở đó lại có được thành tựu.
Hoạt Phật Tây Tạng cho rằng pháp cúng dường mandala phải tu tập 100.000 biến, thậm chí nhiều hơn, đây cũng là khóa trình mà mỗi hành giả Mật tông phải tu. Ngoài ra, cúng dường Thượng sư cũng chính là biểu thị sự tôn kính, lòng hoan hỷ và không rơi vào việc “cầu xin suông” (hoặc có điều thỉnh cầu, hoặc cầu nguyện, đều phải cúng dường để biểu thị một chút tâm ý).
Bởi vì Thượng sư là đại diện cho Phật, pháp, tăng. Chúng ta đi theo Thượng sư mới có thể tu hành học pháp, cho nên cúng dường Thượng sư là cực kì quan trọng. Thượng sư chân chính sẽ không tham cúng dường, tất cả cúng dường đối với Thượng sư, Thượng sư sẽ dùng thái độ “lấy của chúng sinh, dùng cho chúng sinh” để mà xử lý, dùng vào việc hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh.
Pháp Chân Phật đại cúng dường là một Mật pháp tôn kính, gần gũi, phụng sự, từ đó mà có được lực gia trì che chở, có được lực gia trì che chở rồi thì tu bất kì mật pháp gì cũng đều đắc thành tựu, không có lực gia trì che chở thì tu bất kì mật pháp gì cũng đều sẽ không sản sinh sức mạnh.
Tôi viết một bài kệ: Cúng dường là tâm mềm mại nhất Kiền thành tự sẽ đến địa đầu Vô cùng vô tận đại phúc báo Hiện lên thù thắng chẳng lo âu.
04. Chân Phật Kim Cang Tâm pháp
Một trong Tứ gia hành của Mật giáo là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp. Pháp này là pháp quan trọng nhất trong Tứ gia hành, được xem là một trong những khóa tu bắt buộc của Mật thừa. Cần trì tụng Bách tự minh chú của Kim Cang Tát Đỏa đủ 100.000 biến. Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp có hai ý nghĩa lớn: Có thể tiêu trừ sạch sẽ tất cả tội chướng từ vô thủy đến nay. Có thể khiến hạnh nguyện của hành giả Mật tông kiên cố như kim cương.
Liên Sinh Hoạt Phật từng nói như thế này: "Lai lịch của Kim Cang Tâm Bồ Tát không phải tầm thường, nguyên là thân dung hợp biến hóa của Ngũ Phật, là ánh sáng trắng thanh tịnh vĩ đại. Đây là thân biến hóa của vị sứ giả vĩ đại nhất của Mật thừa, trong đó ẩn chứa ý nghĩa vô cùng thâm sâu. Có người chỉ lấy Kim Cang Tâm Bồ Tát làm Bổn tôn tu pháp, từ đó mà đạt được tâm lớn của Bồ Tát, tâm lớn của Bồ Tát kiên cố bất hoại, như kim cương vậy."
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Trong 52 địa vị Bồ Tát của Đại thừa, Bồ Tát ở địa vị thứ 51 được gọi là Đẳng Giác, sự giác ngộ này ngang bằng với Phật, cho nên nhìn lại Pháp vân địa thứ 10 đã có thể gọi là Phật, danh hiệu chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát."
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Kim Cang Thủ Bồ Tát được xem là vị tổ thứ hai của Mật thừa, Kim Cang Thủ Bồ Tát chính là Kim Cang Tát Đỏa, trong đó có mối quan hệ đồng thể dị danh với Kim Cang Tâm Bồ Tát.
Nhiều người xem thường pháp Tứ gia hành, cho rằng đó là pháp nhỏ, nhưng theo như tôi biết, pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là đại pháp, không những là đại pháp, mà còn là vô thượng pháp.
Có rất nhiều đệ tử Mỹ quy y các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến gặp tôi, họ nói với tôi rằng họ đã tu pháp được tám đến mười năm, và pháp cao nhất mà họ tu chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp.
Và đệ tử quy y của tôi là Đạt Thừa Rinpoche - Hoạt Phật đời thứ 10 của Hồng giáo Tây Tạng, nói với tôi rằng, phần lớn các đệ tử Mỹ khi mới học pháp, nhất định phải cho họ tu Tứ gia hành trước, và pháp cao nhất chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát pháp, vì thế các đệ tử Mật tông người Mỹ đều tụng chú Bách tự minh của Kim Cang Tát Đỏa.
Pháp Chân Phật Kim Cang Tâm trình bày như sau:
Vào đàn, đại lễ bái. Trước tiên ngồi xuống chắp tay niệm: "Nam mô Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật." 3 biến. Niệm chú Tứ quy y: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê." 3 biến. Niệm kệ Tứ vô lượng tâm (1 biến). Nguyện cho tất cả chúng sinh đầy đủ niềm vui và nhân của niềm vui, đó là từ vô lượng. Nguyện cho tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ và nhân của khổ, đó là bi vô lượng. Nguyện cho tất cả chúng sinh mãi mãi ở trong an lạc không khổ, đó là hỷ vô lượng. Nguyện cho tất cả chúng sinh bỏ yêu ghét, trụ nơi bình đẳng, đó là xả vô lượng.
Niệm chân ngôn phát tâm bồ đề: "Ôm bô-đi-chi-ta ben-za sa-ma-ya ah hùm." (3 biến)
Niệm kệ và chú sám hối: Con xưa đã tạo bao ác nghiệp Đều vì vô thủy tham sân si Đều sinh ra từ thân ngữ ý Nay con hết thảy xin sám hối. "Ôm ben-za sa-ma-ya su-tô ah." Chú này có thể niệm vô số biến.
Sau khi niệm chú xong, có thể dùng nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương, hướng về bốn phương Đông Nam Tây Bắc, dùng tay búng vẩy nước, và tự mình cũng uống một chút nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương, biểu thị Đông Nam Tây Bắc Trung tất cả đều thanh tịnh. (Nước Đại bi chú hoặc nước chú Quân Đồ Lợi Minh Vương cần phải niệm chú sẵn để dùng.)
Kết thủ ấn: Tay phải nắm lại, hướng vào trong, ngón cái đè lên ngón trỏ. Tay trái nắm lại, hướng ra ngoài, ngón trỏ đè lên ngón cái. Đặt trước ngực.
Quán Không.
Quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát hiện ra trên không trung, thân Bồ Tát màu trắng, đội mũ Ngũ Phật, khoác thiên y và váy xếp, thân được trang nghiêm bằng các loại bảo vật, ngồi trên tòa sen tám cánh và nguyệt luân, tay phải kết phẫn nộ ấn cầm chày kim cang ở trước ngực, tay trái kết phẫn nộ ấn cầm chuông kim cang ở bên đùi trái. Xung quanh ngực có vòng tròn bách tự minh chú bao quanh, vòng chú này tỏa ánh sáng trắng rực rỡ xoay vần.
Ánh sáng trắng lớn này bay lên không trung, tạo thành một vòng cung, rót vào đỉnh đầu của hành giả Mật tông và lan tỏa khắp toàn thân. Toàn thân hành giả cũng tỏa ra ánh sáng lớn, tất cả nghiệp chướng và ý niệm xấu ác trong thân hóa thành khí đen, thoát ra từ các lỗ chân lông trên toàn thân. Lúc này toàn thân hành giả trở nên trong suốt sáng ngời, đạt được đại thiền lạc.
Tụng Bách tự minh chú Kim Cang Tâm 21 biến: (Khi tụng chú không kết thủ ấn)
Ôm pê-cha sa-tô sa-ma-ya Ma-nu-pa-la-ya, pê-cha sa-tô tê-nô-pa tê-cha Chư-chô mê-pa-wa Su-tô ka-yô mê-pa-wa Su-pô ka-yô mê-pa-wa A-nu-ra-tô mê-pa-wa Sa-wa sit-đi mê-pô-ra-ya-cha Sa-wa ka-ma su-cha-mê Chi-ta-mu si-ri-rân ku-ru hùm Ha-ha-ha-ha-hơ, pa-ga-uân Sa-wa ta-tha-ga-ta pê-cha ma-mi mân-cha Pê-chư pa-wa ma-ha sa-ma-ya Sa-tô ah hùm pây.
Sau khi tụng xong 21 biến Bách tự minh chú Kim Cang Tâm, quán tưởng Kim Cang Tâm Bồ Tát hóa thành một điểm ánh sáng trắng, đi vào đỉnh đầu của hành giả Mật tông và nhập vào tâm, thân khẩu ý của Kim Cang Tâm Bồ Tát chính là thân khẩu ý của hành giả Mật tông, hai bên hợp làm một, hoàn toàn hòa hợp, hành giả Mật tông biến thành Kim Cang Tâm Bồ Tát.
Vào thời khắc quan trọng nhất này, nếu hành giả Mật tông thật sự có thể để thân tâm hoàn toàn "buông bỏ", chắc chắn sẽ có tư tưởng tối thượng thâm nhập vào thân thể hành giả, đó chính là sự hợp nhất hoàn toàn giữa ý thức tối cao của vũ trụ với ánh sáng tâm của chính mình. Đây là đại tương ứng vi diệu không thể diễn tả bằng lời, cũng là không thể nói ra, một trạng thái bất nhị mà chỉ người thực chứng mới có thể thấu hiểu, và chỉ những ai đạt được sự tương ứng như vậy mới thực sự chứng ngộ.
Sau khi xuất định. Hồi hướng:
Liên Sinh Hoạt Phật truyền thụ đại mật pháp. Kim Cang Tát Đỏa biến hóa Kim Cang Tâm. Cả hai dung hợp đích thực đại tương ứng. Tội chướng tiêu trừ chân chính đắc thanh tịnh.
Đại lễ bái Phật, xuất đàn.
Hôm nay, tôi thật lòng nói với mọi người rằng, pháp môn Tứ gia hành này, nếu học được trọn vẹn và đạt được sự tương ứng hoàn toàn, tôi cho rằng đã đạt được quả vị Bồ Tát Đẳng Giác. Đây chính là điều kỳ diệu của Chân Phật Mật Pháp. Tuy Tứ gia hành là pháp căn bản của Mật tông, nhưng thực sự là nền tảng vĩ đại của Mật thừa nghìn đời. Tôi cho rằng, chỉ cần Tứ gia hành đạt được sự tương ứng, thật sự đại tương ứng, thì chính là Kim Cang Tâm Bồ Tát.
Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là bí mật lớn để tiêu trừ tội chướng từ vô thủy. Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật có quả vị là Đẳng Giác, vượt qua Pháp vân địa thứ mười. Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là pháp Tứ gia hành, cũng là pháp Bổn tôn.
Điểm trọng yếu của Pháp Kim Cang Tâm Chân Phật là quán tưởng ánh sáng trắng lớn đi vào, khí đen thoát ra. Quan trọng nhất là sự thành tựu vô thượng khi Kim Cang Tâm Bồ Tát hợp nhất với chính mình, tôi viết một bài kệ: Trong pháp gia hành có thắng cảnh Như tên bay nhanh nhẹ tội chướng Quán không hợp nhất thật tuyệt diệu, Kim Cang Tát Đỏa Bách tự minh.
05. Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp (1)
Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp chính là Thượng sư tương ứng pháp. Bởi vì Liên Hoa Đồng Tử chính là Liên Sinh Hoạt Phật.
Điều này phải nhắc lại từ quyển sách tâm linh đầu tiên của Thượng sư Lư Thắng Ngạn: "Trong cõi mênh mông, tôi cảm nhận một cách hết sức rõ ràng rằng đây là cảnh giới hư ảo của vũ trụ. Tôi được một sức mạnh nào đó dẫn dắt, du hành qua cảnh giới hư ảo của thái hư. Tại nơi đó, tôi thấy rất nhiều chư Phật Bồ Tát, các Ngài cùng tôi cúi đầu chào nhau, nhưng không có vị nào tôi quen biết. Tôi thấy từng đóa hoa sen to như bánh xe, hoa sen có nhiều màu khác nhau, trên mỗi đóa hoa sen đều có một đồng tử đứng, mỗi đồng tử đều cầm hoa sen với màu sắc khác nhau. Tôi thấy từ không trung có bậc thang buông xuống, xung quanh đứng đầy kim giáp thần, khói mây lan tỏa khắp nơi. Tôi thấy lầu các, được chạm khắc vô cùng tinh xảo, ánh sáng từ vàng bạc lưu ly tỏa chiếu khắp nơi. Tôi thấy hai cây cột, đứng sừng sững giữa trời mây, có người nói thầm bên tai tôi rằng, một cột là núi Côn Lôn, một cột là núi Tu Di..."
Đây là một đoạn mô tả từ bài viết "Vân du huyễn cảnh trong vũ trụ" của cuốn sách "Mạn đàm linh cơ thần toán", được viết hơn mười năm trước, xảy ra khi tôi hai mươi lăm tuổi.
"Tôi thấy từng đóa hoa sen to như bánh xe, hoa sen có nhiều màu khác nhau, trên mỗi đóa hoa sen đều có một đồng tử đứng, mỗi đồng tử đều cầm hoa sen với màu sắc khác nhau." Đoạn văn này chính là chỉ rõ Liên Hoa Đồng Tử.
Khi tôi đã hiểu rõ tất cả, tôi mới biết rằng bản thân mình là hóa thân của Bạch Liên Hoa Đồng Tử, điều này không hề giả dối chút nào, bởi vì tôi nhìn thấy rất rõ ràng, minh bạch, nên tôi mới phát đại nguyện: "Phân thân xả cốt độ chúng sinh".
Tiền kiếp của tôi cần được xâu chuỗi như sau:
Ngũ Phương Phật — Phật Nhãn Phật Mẫu — Liên Hoa Đồng Tử — Liên Sinh Hoạt Phật.
Liên Sinh Hoạt Phật là hóa thân của Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử Bạch Y Thánh Tôn, còn Bạch Liên Hoa Đồng Tử là hóa thân của Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu Tâm Tôn, và Phật Nhãn Phật Mẫu chính là hóa thân của Ngũ Phương Phật.
Trong Thượng sư tương ứng pháp của Chân Phật Tông, Thượng sư có bốn thân. Thứ nhất, Chân thân — như người mẹ hư không giới, chúng sinh thỉnh mời Chân thân Thượng sư. Thứ hai, Pháp tính thân — như người mẹ hư không giới, chúng sinh thỉnh mời Pháp tính thân Thượng sư. Thứ ba, Báo tính thân — như người mẹ hư không giới, chúng sinh thỉnh mời Báo thân Thượng sư viên mãn. Thứ tư, Ứng tính thân — như người mẹ hư không giới, chúng sinh thỉnh mời Ứng hóa thân Thượng sư đại bi vô ngại.
Cũng có thể nói như sau; Chân thân — Ngũ Phương Phật. Pháp tính thân — Phật Nhãn Phật Mẫu (Vô Tà Nhãn Như Lai). Báo tính thân — Liên Hoa Đồng Tử. Ứng tính thân — Liên Sinh Hoạt Phật.
Liên Hoa Đồng Tử chắc chắn đang hiện diện tại Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương Cực Lạc thế giới. Chỉ vì muốn giúp Tây phương Cực Lạc thế giới Phật A Di Đà hoằng dương Phật pháp mà ngài mới giáng sinh xuống trần gian, do đó mà cõi người mới có Liên Sinh Hoạt Phật Thượng sư Lư Thắng Ngạn. Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, qua nhiều nhân duyên, được các bậc thầy dạy dỗ, và còn được đích thân Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký, được Phật A Di Đà ủy thác, được Bồ Tát Di Lặc ban tặng mũ miện đỏ, được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy mật pháp. Đây là một pháp duyên lớn, là thời đại Liên Hoa Đồng Tử cứu độ chúng sinh, giáng mưa pháp lớn, thổi loa pháp lớn, đánh trống pháp lớn, diễn pháp nghĩa lớn.
Trong thế giới này, Liên Sinh Hoạt Phật đã tạo ra sáu bánh xe pháp lớn gây chấn động, và những bánh xe này đã bắt đầu xoay chuyển. Liên Sinh Hoạt Phật đã đích thân nhập vào Tỳ Lô tính hải, chứng đắc tất cả, thành tựu vô thượng.
Liên Sinh Hoạt Phật chính là: "Thành tựu vô thượng, được Phật thọ ký, đảm trách Phật sự, có đại pháp lực, thấu tỏ tất cả, điều phục tâm chúng sinh, tướng tốt trang nghiêm, xuất thế nhập thế đều tự tại vô ngại, bậc thánh hiền vô song, hóa thân vô số, biến khắp hư không, đại ấn tính Không, viên mãn hóa thân, bản thể Phật tính, thiện xảo hiển hiện, chỗ nương tựa của chúng sinh, từ bi bất nhị, kim cương bất hoại, công đức như biển, thuyết pháp độ chúng, nhiếp phục tất cả mê lầm, ban trí tuệ cho chúng sinh, hiển bày nghĩa chân thật, thuyết chân đế, ma không thể chống lại được."
Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật là chân thật như vậy, tức là một Kim cương Thượng sư đã thực sự chứng đắc. Hơn nữa, khi các đệ tử đã tu xong Tứ gia hành, cần phải tu tập Thượng sư tương ứng pháp. Đây là đại pháp đặc biệt nhất của Chân Phật Tông, liên kết chặt chẽ với Liên Sinh Hoạt Phật, đạt được tương ứng thì có thể vãng sinh về Tây phương Cực Lạc thế giới, Ma Ha Song Liên Trì.
Pháp tương ứng Thượng sư trong Mật thừa là Lục Mật, khi tu học Mật thừa, đây là cấp độ thứ hai, mọi người đều phải tu tập, cho nên ai cũng cần phải thờ tượng Thượng sư. Tượng Thượng sư đại diện cho Ngũ Phương Phật, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật.
Khái niệm về pháp tương ứng Thượng sư là, Thượng sư và tất cả chư Phật trong pháp giới là một thể, Thượng sư là thể tính hợp nhất thân khẩu ý của chư Phật trong mười phương ba đời, là nguồn gốc của tám vạn bốn nghìn pháp môn. Đệ tử Chân Phật Tông quy y Thượng sư với đầy đủ truyền thừa, căn bản, và đức hạnh, quy y tất cả chư Phật Bổn tôn thánh chúng trong mười phương ba đời. Quy y chư Bồ Tát, pháp môn vô thượng, chư Hộ pháp thánh chúng.
Pháp tương ứng Thượng sư là pháp quan trọng hàng đầu. Có được sự tương ứng với Thượng sư rồi mới có được sự gia trì tương ứng của từng pháp trong tương lai. Đây chính là nguồn gốc và tầm quan trọng của pháp tương ứng Thượng sư.
06. Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp (2)
Sau đây xin trình bày chi tiết toàn bộ quy trình của pháp tương ứng Thượng sư như sau:
Tịnh thân nhập đàn.
1. Niệm chú thanh tịnh
Ôm xiêu-li xiêu-li ma-ha xiêu-li xiêu-xiêu-li sô-ha. Ôm xiêu-tô-li xiêu-tô-li xiêu-mô-li xiêu-mô-li sô-ha. Ôm wa-zư-la đam hơ-hơ hùm. Na-mô sa-man-tô mô-thô-nam ôm đu-ru đu-ru tê-wấy sô-ha.
2. Niệm chú triệu thỉnh
Ôm ah hùm sô-ha. (3 biến) Ôm pê-cha sa-ma-ya cha. (3 biến) (Tùy chọn một trong hai chú này.)
Triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát chư tôn và Hộ pháp (niệm thánh danh của chư Phật Bồ Tát chư tôn, Hộ pháp trong đàn thành của mình).
Hoặc chắp tay cung kính niệm: "Nam mô đại ân Chân Phật Tông căn bản lịch đại tổ sư, nguyện chư chúng sinh được an lạc. Nam mô Ngũ Phật Bổn tôn và đàn tràng, nguyện chư chúng sinh lìa chư khổ. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết chư Phật, nguyện chư chúng sinh thường từ hỷ. Nam mô Tam tạng Thập nhị bộ chính pháp, nguyện chư chúng sinh xả phân biệt. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết thánh hiền tăng, nguyện chư chúng sinh đắc chính giác. Nam mô Chính Giác Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật, nguyện con cùng lục đạo chúng sinh trong sát-na đốn ngộ chứng vô thượng giác, tiếp tục quy về Liên Sinh Phật địa."
3. Đại lễ bái
Một bái thập phương Phật. Hai bái chư Bồ Tát. Ba bái Hộ pháp Kim cang. Bốn bình đẳng một cúi đầu. (Theo nghi thức Đại lễ bái Chân Phật.)
4. Cúng dường mandala (có thể ngồi, dựa theo pháp Đại cúng dường Chân Phật)
5. Niệm chú Tứ quy y (3 biến)
Na-mô gu-ru pây — quán tưởng Thượng sư hiện tiền. Na-mô pút-ta yê — quán tưởng Phật Tổ hiện tiền. Na-mô ta-mô yê — quán tưởng pháp bản phóng tỏa ánh sáng. Na-mô sâng-kya yê - quán tưởng không trung hiện ra vô số thánh hiền cùng phóng quang.
6. Tu pháp mặc giáp hộ thân
Kết ấn chắp tay kim cang, đặt trên đỉnh đầu. Niệm chân ngôn Bồ Tát Kim Cang Thủ: "Ôm bua-rua lan chưa-li." (7 biến), sau đó ấn chạm vào thiên tâm, cổ họng, tim, vai trái, vai phải, rồi quay lại chạm đỉnh đầu một lần nữa trước khi giải ấn.
Yếu quyết của pháp này là, khi vừa giải ấn, lập tức quán tưởng Bồ Tát Vi Đà Hộ Pháp Thiên Tôn hoặc vị Hộ pháp Kim cương khác mà mình thờ phụng, biến hóa thành bốn thân. Một vị đứng trong không trung phía sau lưng mình, một vị đứng trong không trung phía trước mặt mình, một vị đứng trong không trung bên trái mình, một vị đứng trong không trung bên phải mình, đang bảo vệ hành giả đang tu pháp ở chính giữa.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 biến, 3 biến hoặc nhiều hơn)
Đây là bản kinh được Chân Phật Tông tôn sùng.
8. Cầu thỉnh Liên Hoa Đồng Tử (tay kết thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử)
Tự tính liên hoa pháp tính thân Tay phải thuyết pháp trái cầm hoa Hóa thân biến khắp nghìn vạn cảnh Thiên y bảo sức diệu trang nghiêm Một thân đắc chứng Đạo Hiển Mật Truyền thừa dung hợp trân quý nhất Chân Phật Mật Pháp dạy chúng sinh Phổ độ quần sinh không bỏ sót.
9. Đầu tiên quán Không. Sau đó quán tưởng:
Quán tưởng một hồ lớn, sáng chói như gương, ở giữa hồ hiện lên một ngọn núi cao, trên đỉnh núi có một tòa sen, và Liên Sinh Hoạt Phật Thượng sư đang ngồi trên tòa sen đó, giống như chân dung của Thượng sư, tướng mạo trang nghiêm viên mãn như Phật, thân tỏa ánh sáng trăm báu, bên phải Thượng sư có chư Phật mười phương quá khứ, bên trái có tất cả Bồ Tát, thánh hiền tăng, và các vị tổ sư nhiều đời trùng trùng vây quanh, dưới pháp tọa có Tứ Đại Thiên Vương và quỷ thần hộ pháp.
Lại quán tưởng vị trí thiên tâm của Thượng sư, chữ "Om" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng trắng mạnh mẽ, chiếu vào thiên tâm của hành giả, đây là ánh sáng của đại viên kính trí, khiến cho ngũ uẩn và thức thứ tám của hành giả hóa thành vô hình. Ở cổ họng Thượng sư, chữ "Ah" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng đỏ mạnh mẽ, chiếu vào cổ họng hành giả, chuyển hóa tất cả tham tính dục niệm của hành giả thành vô hình, biến thành ánh sáng của đại trí huệ. Ở tim Thượng sư, chữ "Hum" tiếng Phạn phóng ra một luồng ánh sáng xanh lam mạnh mẽ, chiếu vào tim của hành giả, điều phục si tính của hành giả, chuyển hóa si tính thành vô hình.
Thứ ba, quán tưởng Thượng sư và chư Tam Bảo chư tôn cùng phóng ra ánh sáng ngũ sắc chiếu khắp toàn thân hành giả, và tội chướng ác nghiệp của hành giả, tất cả nghiệp chướng từ vô thủy, đều hóa thành khí đen, thoát ra qua các lỗ chân lông, tan biến trong không khí, từ đó toàn thân trở nên thuần trắng trong suốt phát sáng, đạt được khinh an.
10. Trì tâm chú Thượng sư (Liên Hoa Đồng Tử)
Ôm a hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lián-shâng sit-đi hùm. (Buông thủ ấn, đếm chuỗi hạt, 108 biến hoặc 1080 biến.)
11. Làm Cửu tiết Phật phong (cách dùng hơi thở dừng ý niệm, chương sau sẽ trình bày)
Làm nội hỏa minh điểm (pháp ôn dưỡng đan điền và tích tụ ý niệm, chương sau sẽ trình bày)
- Nhập tĩnh hoàn toàn (nhập Tam-ma-địa): (thời gian không phân dài ngắn)
"Ánh sáng của hành giả, tỏa ra khỏi thân thể, nhập vào biển tính Tỳ Lô." (ngã nhập) "Đại quang minh của vũ trụ, nhập vào thân thể hành giả, hai luồng ánh sáng gặp nhau, hợp thành một." (nhập ngã) Đạt đến Tam ma địa là viên thông và ấn chứng, có thể đạt được minh thể diệu giác, có thể trùm khắp pháp giới, hành giả được bao bọc trong lớp vỏ ánh sáng ẩn mọi dấu vết, tịnh hóa thân tâm, như hoa sen, nhập vào tạng tâm Như Lai, đắc mật pháp vi diệu, ngộ được chân thường, đắc chiếu minh kim cang tam muội, tất cả đều thấu suốt rõ ràng, chuyển bánh xe pháp, đắc nguyên minh chân kiến. Tam ma địa là ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, tất cả đều khai mở thông suốt, rõ ràng minh bạch, là đại tương ứng.
- Sau khi xuất định, gia trì các tâm chú khác: (số biến tự quyết định)
Ôm a-mi-đê-wa sê. (tâm chú A Di Đà Phật) Ôm ma-ni pê-mi hùm. (tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát) Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha. (Địa Tạng Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn) Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha. (tâm chú Địa Tạng Vương Bồ Tát) Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha. (tâm chú Chuẩn Đề Phật Mẫu) Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-ya sô-ha. (tâm chú Hoàng Tài Thần) Ôm ah hùm pê-cha gu-ru pê-ma sit-đi-hùm sê. (tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ) Ôm ah hùm gu-ru pây a-ha-sa-sa-ma-ha lién-shâng sit-đi hùm. (tâm chú căn bản Liên Hoa Đồng Tử) Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha. (tâm chú Dược Sư Phật)
14. Niệm Phật
Nam mô 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. (3 biến)
- Hồi hướng
Cung kính Liên Sinh Thánh Tôn pháp. Một phái Chân Phật giúp chúng sinh. Niệm chú sinh về Song Liên Trì. Thập bát Liên Hoa đến hóa sinh. Bí mật vô thượng và hiếm có. Nay con tu trì cúng dường hết. Phát lời thề nguyện trong thâm tâm Mong con sớm đăng Phật địa này.
Và: Thỉnh cầu Thánh Tôn gia trì lực. Ban cho quán đảnh liên hoa sinh. Quảng đại viên mãn đắc tự tại. Độ mình độ người đến Phật quốc.
Và: (cùng hồi hướng)
Nguyện người cùng niệm Phật Cùng sinh cõi Cực Lạc Trên báo bốn ơn sâu Dưới cứu ba đường khổ Thấy Phật thoát sinh tử Như Phật độ tất cả.
Đệ tử …….. xin đem công đức này hồi hướng. Kính chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành. Mong tất cả mọi ước nguyện đều được viên mãn. (Giơ chày kim cang vẽ một vòng tròn, vòng tròn tỏa ra ánh sáng lửa.) Mong tất cả tai nạn tiêu tan. (Giơ chày kim cang, dùng lực chỉ về phía bóng tối, hét một tiếng "Uân", bóng tối biến thành ánh sáng. Làm như vậy 2 lần.)
16. Niệm chú viên mãn
Ôm bu-lin. Ôm bu-lin. Ôm bu-lin.
17. Đại lễ bái
Ôm ma-ni pê-mi hùm.
Xuất đàn. Cát tường viên mãn.
🌟
Pháp tương ứng Thượng sư là pháp tu mà mỗi đệ tử Chân Phật Tông đều phải thực hành. Hôm nay, tôi đã viết ra đầy đủ những điểm chính và bí mật của pháp tu này, đây là do tôi đã thấu hiểu rằng, tôi chính là chúng sinh, chúng sinh chính là tôi, giữa tôi và chúng sinh, không hai không khác, vì vậy tôi đã phát khởi tâm đại từ bi, hoàn toàn không giữ lại điều gì.
Thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử: Tay phải kết ấn thuyết pháp, ngón cái đè lên ngón giữa tạo thành vòng tròn, ba ngón còn lại duỗi thẳng hướng lên trên, lòng bàn tay hướng ra ngoài, đặt trước ngực. Tay trái kết ấn cầm hoa sen, ngón cái và ngón trỏ chạm nhau tạo thành vòng tròn, ngón giữa và ngón áp út co vào lòng bàn tay, ngón út duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng vào trong, đặt trước ngực.
Trong việc tu trì Mật tông, từ pháp tương ứng Thượng sư đến pháp Kim cang vô thượng mật, hầu như mỗi một pháp tu đều không thể thiếu những thủ tục đầu tiên như Đại lễ bái pháp, Cúng dường mandala pháp, Tứ quy y pháp, Mặc giáp hộ thân pháp, vì vậy hành giả phải ghi nhớ kỹ những mật pháp này, linh hoạt vận dụng, và hầu như tất cả đều phải sử dụng.
Pháp tương ứng Thượng sư và bất kì loại mật pháp nào vốn đều là linh hoạt. Không có quy trình cứng nhắc, nhưng để cho người đời sau có phương thức tu tập, nên mới thiết lập pháp bản thích hợp, đây cũng là nguồn gốc của pháp bản.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, thành tựu của pháp tương ứng Kim cương Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là thành tựu của Phật Nhãn Phật Mẫu cùng Ngũ Phương Phật. Vì vậy, pháp của Chân Phật Tông là thù thắng đệ nhất trên thế gian.
07. Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp (3)
Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp chính là Thượng sư tương ứng pháp. Trong phần quán tưởng, cũng có thể quán tưởng như sau: Thượng sư ban đầu trụ trong không trung đối diện với hành giả, phóng ánh sáng chiếu vào hành giả, sau đó Thượng sư thu nhỏ lại, thu nhỏ thành một điểm sáng cỡ hạt gạo, điểm sáng cỡ hạt gạo đó di chuyển đến đỉnh đầu hành giả, rồi từ đỉnh đầu đi theo trung mạch đi xuống tâm của hành giả, ngồi trên hoa sen trong tâm do hành giả hóa hiện.
Quán tưởng vị Thượng sư nhỏ cỡ hạt gạo này, dần dần lớn lên, lớn cho đến bằng thân thể hành giả thì dừng lại. Thượng sư phóng ánh sáng. Tức hành giả phóng ánh sáng. Hành giả và Thượng sư hoàn toàn hòa nhập làm một. Không hai không khác. Đây chính là chân nghĩa của pháp tương ứng Thượng sư.
Chúng ta biết rằng vị tổ sư Tạng mật - Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã dạy tất cả đệ tử phải "kính sư, trọng pháp, thực tu". Việc tu tập pháp tương ứng Thượng sư cũng có thể nói là tinh thần quan trọng của câu nói này.
Thượng sư trong Mật tông là bậc tôn quý đệ nhất, hành giả tu Mật tông đối với vị Căn bản Thượng sư của mình chỉ có lòng tôn kính, không được có chút xem thường nào. Bởi vì Mật tông là nói về sự truyền thừa từ thầy, nếu không tôn kính Căn bản Thượng sư, đến mức phỉ báng, thì tất cả mật pháp đã nghiên cứu tu học sẽ mất đi chỗ nương tựa, trở nên hoàn toàn vô dụng.
Điều này có thể thấy khắp nơi trong kinh điển Mật thừa, ví dụ: Kinh Đệ Nhất Vô Thượng Sư Lợi nói: "Không phân biệt tất cả Như Lai Sư, ai phỉ báng Kim Cương Acharya tức là phỉ báng tất cả Như Lai Phật, sẽ thường gặp khổ não lâu dài." Kinh Bát Nhã Bát Không nói: "Gây chướng ngại cho Guru, tội nghiệp này bốn lực sám hối cũng không thể tiêu trừ." Kinh Kim Cang Trướng: "Người có hai lòng, không cung kính thầy sẽ mắc bệnh ác trong máu, chết thảm rơi xuống địa ngục." Kinh Hóa Võng nói: "Kẻ phỉ báng Acharya, người này không thấy mộng; kẻ phỉ báng Thượng sư, tâm bị yêu ma khống chế. Người trí tuệ vĩnh viễn tránh xa kẻ có hành vi sân hận." Kinh Toản Thạch Kim Cang Tinh nói: "Nếu phỉ báng Acharya, nghìn kiếp không ăn không ngủ chuyên cần học Kim cương thừa, cũng sẽ đọa vào ngục kim cang." Kinh Kim Cang Kiếm nói: "Không phỉ báng Kim cương sư, Guru là tất cả chư Phật; không buông lỏng tâm trí tuệ, phải luôn luôn chú tâm." Còn nhiều ví dụ khác nữa, không thể liệt kê hết.
Ý nghĩa là: nghiệp tội của đệ tử khi phỉ báng Thượng sư là một việc cực kỳ nghiêm trọng, phỉ báng Thượng sư cũng giống như phỉ báng tất cả các Như Lai Phật, trong đời này sẽ gặp phải nhiều khó khăn, đau khổ và quả báo xấu.
Bất kể thời gian hay địa điểm nào, vĩnh viễn không được làm cho Thượng sư bất an về thân tâm, nếu cố ý làm cho Thượng sư không an về thân tâm, loại nghiệp tội này, cho dù nỗ lực cầu sám hối cũng không thể tiêu trừ được. Người làm cho Căn bản Thượng sư không an về thân tâm sẽ chịu những khổ đau nghiêm trọng, thậm chí mất mạng, sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục kim cang.
Người phỉ báng Căn bản Thượng sư sẽ mắc những căn bệnh quái lạ, sẽ đọa vào địa ngục kim cang!
Người phỉ báng Căn bản Thượng sư sẽ không được bình an ngay cả trong giấc mơ, người phỉ báng Căn bản Thượng sư là do yêu ma đến khống chế tâm họ, những người có trí tuệ đều nên tránh xa loại người nổi giận với Thượng sư này.
Nếu phỉ báng Căn bản Thượng sư, "nghìn kiếp không ăn không ngủ", tức là trong thời gian nghìn kiếp, không ăn, không ngủ nỗ lực tinh tấn học pháp trì chú, cũng vẫn không thể đạt được thành tựu. Ngược lại, càng học càng gần địa ngục kim cang. Đây không phải là cầu thành tựu, mà là cầu địa ngục.
Đối với Kim cương Thượng sư, không được phỉ báng! Phải luôn chú ý hành vi của mình, vì một khi phỉ báng rồi, tất cả thành tựu sẽ tan thành mây khói.
Đệ tử muốn đạt được thành tựu, nhất định phải tuân thủ giới luật Mật tông "Sự sư pháp ngũ thập tụng", "Mười bốn đại giới căn bản của Mật tông", và hết lòng tôn kính Thượng sư.
Ngày nay, Chân Phật Tông có Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật, là vị Đại Trì Minh Kim Cương Acharya chân chính, là hóa thân của Liên Hoa Bồ Tát Kim Cương được Thích Ca thọ ký, Di Đà phó thác, Di Lặc đội mũ miện, đến để độ hóa ngũ trược ác thế, cả cuộc đời của Liên Sinh Hoạt Phật chính là vì nhân duyên lớn lao của Chân Phật Tông mà xuất hiện trên thế gian. Liên Sinh Hoạt Phật trước hết đạt được giải thoát tự tại rồi mới độ hóa chúng sinh đạt giải thoát tự tại.
Liên Sinh Hoạt Phật sinh vào giờ Ngọ, ngày 18 tháng 5 năm 1945 (năm Dân Quốc thứ 34), sinh tại một trại gà bên bờ sông ở vùng Hậu Hồ, huyện Gia Nghĩa, tỉnh Đài Loan.
Liên Sinh Hoạt Phật trước tiên học Đạo giáo, sau đó học Hiển giáo, cuối cùng mới học Mật giáo, chính là sự viên chứng Đạo-Hiển-Mật, đã theo học 21 vị thầy, thông hiểu tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, ngay trong đời này đã đạt được sự tương ứng lớn với Bổn tôn, chứng nhập biển tính Tỳ Lô, đạt vô thượng bồ đề.
Liên Sinh Hoạt Phật có vô số trước tác, hiện tại thuyết giảng pháp đại thừa vô thượng cho tất cả chúng sinh trên thế gian. Ngài được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân truyền dạy pháp Đại viên mãn. Ngay cả các vị Hoạt Phật Tây Tạng cũng thân hành đến quy y học pháp. Ngài là đại Thượng sư trong các vị Thượng sư.
Viết một bài kệ ghi lại: Thế gian hung ác cũng thê lương, Hoạt Phật học pháp nếm mọi khổ, Hôm nay truyền dạy đại mật pháp, Chỉ mong người hướng về thái dương.
08. Nói kĩ về pháp Mặc giáp hộ thân
Pháp Mặc giáp hộ thân chính là pháp phòng ma. Tục ngữ nói: "Đạo cao một xích, ma cao một trượng; đạo cao một trượng, ma ở trên đầu." Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Ma vĩnh viễn ở xung quanh bạn." Có người cho rằng xung quanh Liên Sinh Hoạt Phật chắc chắn không có ma, thật ra nói thế là sai rồi, xung quanh tôi toàn là ma, chúng ngày ngày giờ giờ chờ đợi thời cơ để muốn tấn công tôi. Ma có ma vô hình, cũng có ma nhập thân người, biến hóa thành ma hữu hình. Thậm chí có rất nhiều người bị ma cưỡng ép mà họ cũng không tự biết.
Ma vô hình không đấu nổi tôi. Thế là chúng nhập vào trong tâm của một số người, hoặc nhập vào trong tâm đệ tử, sau đó cưỡng ép họ để họ ra sức công kích tôi. Chỉ là tôi là người đã đắc chứng ngộ, nên tôi vẫn sống một cách tự nhiên như thường, có khi tôi còn chẳng buồn để ý đến họ, hơn nữa còn chờ đợi thời cơ để cứu độ họ, ngay cả ma cũng độ hóa. Trong lời thề nguyện của tôi, ma cũng là một trong số chúng sinh, ma cũng là đối tượng để tôi cứu độ, vì thế, Liên Sinh Hoạt Phật chuyên môn độ hóa ma quỷ.
Nói chung, khi sắp đắc chứng ngộ, ma sẽ đến quấy nhiễu. Và người chăm chỉ tu pháp, ma cũng rất thích đến quấy nhiễu. Vì thế, hành giả Mật tông tu hành đều phải tu pháp Mặc giáp hộ thân, dùng pháp Mặc giáp hộ thân để bảo vệ chính mình tu pháp. Pháp mặc giáp hộ thân rất quan trọng, rất quan trọng, trong Mật pháp của Chân Phật Tông, gần như mỗi một pháp đều phải tu mặc giáp hộ thân.
Vào lúc nào thì ma thích tìm đến người để quấy nhiễu nhất? Tôi cho rằng, ngoài lúc tu pháp ra thì chính là lúc ngủ, sau đó chính là khi có đám cưới hoặc đám tang. Đám cưới — linh của tổ tiên sẽ tham dự hôn lễ của con cháu đời sau, vì thế âm khí nặng. Đám tang — linh của tổ tiên sẽ đến đón linh hồn của con cháu đời sau, vì thế âm khí nặng. Ngoài ra, có một loại người mà xung quanh họ có oan linh theo thân, khi người này đi gặp bạn bè, đôi khi oan linh đó cũng sẽ thừa cơ quấy nhiễu bạn bè, như vậy cũng có khả năng bị ma nhập.
Có người đi vào chùa làm lễ, trở về thì bị quấy nhiễu, bởi vì trong chùa là chùa Phật nhưng thật ra đã trở thành chùa ma, cho nên pháp mặc giáp hộ thân không tu không được. Hành giả khi tu trì phải tu, bình thường trước khi ngủ cũng phải tu (đạn kim cang tránh ma), tham gia đám tang cũng phải tu, trước khi đi vào chùa cũng phải tu, đôi khi đi thăm người ốm và đi gặp bạn bè cũng phải tu, tu chỉ có lợi, không có hại, hãy thận trọng! Thận trọng!
Nói kĩ về pháp Mặc giáp hộ thân như sau: 1. Trước tiên chắp tay kim cang, hai tay chắp lại, các ngón tay đan chéo nhau, đặt trên thiên tâm. 2. Niệm Kim Cang Tát Đỏa chân ngôn: "Ôm bua-rua lan chưa-li." (7 biến) 3. Trước tiên ấn vào thiên tâm một cái, sau đó ấn vào họng, tiếp theo ấn vào tim, tiếp theo ấn vào vai trái, sau đó ấn vào vai phải, rồi thủ ấn trở về thiên tâm. Ấn ở đây tức là chạm vào. 4. Khi trở về thiên tâm thì giải ấn. 5. Giải ấn xong, lập tức quán tưởng Kim cang thần được thờ cúng tại Mật đàn, hoặc Kim Cang Tát Đỏa, hoặc Vi Đà Hộ Pháp Thiên Tôn Bồ Tát, tay cầm pháp bảo hàng ma, kim thân biến hóa thành bốn thân, một vị ở trước mặt hành giả, một vị ở sau lưng hành giả, một vị ở bên trái hành giả, một vị ở bên phải hành giả. Quán tưởng như vậy là quan trọng số một. Quán tưởng này chính là bí mật trong bí mật của pháp Mặc giáp hộ thân.
Pháp Mặc giáp hộ thân của Đạo giáo là pháp Tứ linh phòng ma, trong cuốn sách "Đạo Pháp Truyền Kỳ Lục" trang 140, tôi từng viết ra pháp này. Ngoài ra còn có pháp Thập nhị bát tú phòng ma thì càng trùng trùng điệp điệp bảo vệ người tu đạo, đây là pháp phòng ma cực kì chặt chẽ.
Ngoài ra, phòng ma lúc ngủ cũng rất quan trọng, trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn" tôi có viết về pháp "Đại thủ ấn giấc mộng", pháp này cũng chính là để phòng ma.
Nói rõ về pháp Mặc giáp hộ thân khi ngủ như sau: 1. Đi ngủ nằm tư thế cát tường — nằm nghiêng bên phải để ngủ, tim ở phía trên. Tư thế ngủ này giống sư tử. 2. Niệm thầm Thượng sư và Bổn tôn — niệm Thánh hiệu của Thượng sư, tưởng niệm Thượng sư đến gia trì. Hoặc tưởng niệm chính mình biến thành Bổn tôn đang ở tư thế nằm, tưởng niệm Bổn tôn đến gia trì. 3. Trì chú — trì tâm chú Thượng sư hoặc chú Bổn tôn 7 biến hoặc 49 biến. Trì chú không thành tiếng, chỉ niệm trong tâm. 4. Quán tưởng — quán tưởng họng của mình phóng ra một đường ánh sáng đỏ mãnh liệt, chiếu vào không trung, ánh sáng đỏ mãnh liệt này giống như tấm màn che chắn chính mình, tức là bản thân ngủ trong ánh sáng đỏ. Đây chính là bí mật trong bí mật của pháp Mặc giáp hộ thân khi ngủ.
Đây chính là: Quán thân mình nằm kiểu sư tử, như Phật niết bàn. Quán thân mình nằm kiểu sư tử, thân đỏ biến mất. Quán thân mình nằm kiểu sư tử, không nhiễm bụi trần.
Kì thực, thủ ấn của pháp Mặc giáp hộ thân đương nhiên không chỉ là chắp tay kim cang. Thủ ấn chắp tay kim cang chỉ là ấn chung của các Kim cang thần.
Nếu chúng ta dùng thủ ấn Đại Uy Đức Kim Cang thì trì chú Đại Uy Đức Kim Cang và quán tưởng Đại Uy Đức Kim Cang. Nếu chúng ta dùng thủ ấn Thượng Lạc Kim Cang thì trì chú Thượng Lạc Kim Cang và quán tưởng Thượng Lạc Kim Cang. Nếu chúng ta dùng thủ ấn Hỷ Kim Cang thì trì chú Hỷ Kim Cang và quán tưởng Hỷ Kim Cang. Nếu chúng ta dùng thủ ấn Thời Luân Kim Cang thì trì chú Thời Luân Kim Cang và quán tưởng Thời Luân Kim Cang. Nếu chúng ta dùng thủ ấn Uế Tích Kim Cang thì trì chú Uế Tích Kim Cang và quán tưởng Uế Tích Kim Cang.
Đương nhiên, các vị Kim Cang của Đông mật, thậm chí Tứ Đại Thiên Vương, ví dụ: Bất Động Minh Vương, Hàng Tam Thế Minh Vương, Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương, Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương, Khổng Tước Minh Vương, Mã Đầu Minh Vương, Bộ Trịch Minh Vương, Vô Năng Thắng Minh Vương, Đại Nguyên Soái Minh Vương, Ngũ Đại Lực Hống Minh Vương. Các bộ trời và các bộ quyến thuộc. Chỉ cần hành giả có duyên với vị Kim cang Hộ pháp nào thì đều có thể phụng thỉnh vị đó bảo vệ trong pháp Mặc giáp hộ thân. Và pháp Mặc giáp hộ thân của vị đó cũng tương tự, chỉ là thủ ấn, chú và quán tưởng khác nhau mà thôi.
Pháp Mặc giáp hộ thân cũng là pháp ứng dụng linh hoạt, bất kì một pháp nào cũng đều phải ứng dụng linh hoạt. Liên Sinh Hoạt Phật nói, hành giả Mật tông tu pháp Mặc giáp hộ thân rồi thì từ trong ý thức vũ trụ sẽ xuất hiện một vị Kim cang Hộ pháp thần, vị Kim cang Hộ pháp thần này sẽ luôn luôn bảo vệ hành giả tu pháp, bảo vệ tất cả công việc, cũng có thể biến hóa, luôn luôn có thỉnh là đến. Nếu hành giả thường xuyên phụng thỉnh thì Kim cang thần sẽ là thần bảo vệ tôn quý. Nếu hành giả không thường xuyên phụng thỉnh thì Kim cang thần sẽ bỏ đi, và ma hung ác sẽ thừa cơ mà đến.
Quán tưởng Kim cang là quán tưởng bí mật của bí mật, mỗi hành giả Mật tông đều phải quen thuộc pháp này. Mọi lúc chúng ta có Hộ pháp Kim cang bảo vệ thì nếu ma có đến cũng sẽ phải quay về, ma sẽ ngã lăn xây xẩm mặt mày, phải chạy trốn.
Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật là Thánh Vương phá ma, cho nên có thể tự do tự tại, bao nhiêu ma nạn đều bị Liên Sinh Hoạt Phật khéo léo hóa giải.
Viết một bài kệ: Phật có muôn phương ma mười phương Nhiều như sao trời ẩn đàn tràng Mọi lúc cần phải tu Hộ pháp Nhập ma khó giải phí công lao.
09. Nói kĩ về pháp Cửu tiết Phật phong
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng: "Trước khi nhập tĩnh, thực hành pháp Cửu tiết Phật phong là phương pháp điều khiển hơi thở dừng ý niệm, mang lại lợi ích rất lớn. Đây là tâm đắc lớn, thể nghiệm lớn trong việc tu trì Mật pháp."
Khi thực hành pháp Cửu tiết Phật phong, tốt nhất là dùng ý niệm để kiểm soát hơi thở ra vào ở hai lỗ mũi. Nếu thực sự không làm được, có thể dùng ngón áp út nhẹ nhàng ấn lên lỗ mũi, ví dụ khi hít vào bằng lỗ mũi phải thì dùng tay ấn lỗ mũi trái, khi hít vào bằng lỗ mũi trái thì ấn lỗ mũi phải, hai tay luân phiên thực hiện, tập luyện từ từ. (Khi thở ra qua lỗ mũi phải thì tay ấn lỗ mũi trái, khi thở ra qua lỗ mũi trái thì tay ấn lỗ mũi phải.)
Tuy nhiên, tôi vẫn luôn nghĩ rằng, sử dụng ý niệm để kiểm soát hơi thở ra vào ở hai lỗ mũi mới không làm ảnh hưởng đến "nhập tĩnh" vì có quá nhiều chuyển động của tay. Việc dùng ý niệm kiểm soát hơi thở ra vào ở hai lỗ mũi ban đầu không dễ, nhưng nếu luyện tập lâu dài, cũng sẽ trở nên dễ dàng.
Khi thực hành pháp Cửu tiết Phật phong, có thể quán tưởng trước mặt hành giả có một ánh sáng lớn (ánh sáng trắng). Hoặc quán tưởng gương mặt của Bổn tôn ngay trước mặt hành giả, mặt đối mặt. Ánh sáng trắng phát ra từ lỗ mũi của Bổn tôn. Cả hai cách quán tưởng này đều có thể sử dụng.
Sau đây xin trình bày chi tiết về pháp Cửu tiết Phật phong:
Hành giả ngồi yên, hai tay kết định ấn. Trước tiên quán tưởng toàn thân mình trong suốt như gương, toàn thân sáng bóng như lưu ly, trong thân có ba mạch thẳng đứng, song song với nhau, ba mạch này chính là mạch trái, mạch phải, mạch giữa, như những ống dẫn vậy. Mạch trái thông với lỗ mũi trái, mạch phải thông với lỗ mũi phải, mạch giữa thì trên to dưới nhỏ, đầu trên hình loa kèn đến đỉnh đầu, không thông với bên ngoài. Còn đầu dưới của ba mạch gặp nhau tại điểm cách rốn bốn lóng tay.
Hành giả tiếp tục quán tưởng, trước mặt có ánh sáng trắng lớn hoặc Bổn tôn phát ra ánh sáng trắng từ lỗ mũi.
(1) Quán tưởng ánh sáng trắng từ lỗ mũi phải đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch phải đi tới đan điền (chỗ giao nhau), sau đó đi ngược lên theo mạch trái, thoát ra từ lỗ mũi trái, lúc này đã trở thành khí đen. (2) Ánh sáng trắng từ lỗ mũi trái đi vào, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, theo mạch trái đi tới đan điền (chỗ giao nhau), sau đó đi ngược lên theo mạch phải, thoát ra từ lỗ mũi phải, lúc này đã trở thành khí đen. (3) Ánh sáng trắng đi vào từ cả hai lỗ mũi, khi đến họng thì biến thành ánh sáng đỏ, đi xuống theo mạch hai bên tới đan điền (chỗ giao nhau) rồi đi vào trung mạch, khí đi ngược lên đến đỉnh luân sau đó lại đi xuống đan điền, từ đây khí chia ra hai mạch, đi lên đến mũi và thoát ra từ hai lỗ mũi, lúc này đã trở thành khí đen. (4) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như tiết thứ 2). (5) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như tiết thứ 1). (6) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như tiết thứ 3). (7) Khí đi vào từ cả hai lỗ mũi (như tiết thứ 3). (8) Khí đi vào từ lỗ mũi phải, đi ra từ lỗ mũi trái (như tiết thứ 1). (9) Khí đi vào từ lỗ mũi trái, đi ra từ lỗ mũi phải (như tiết thứ 2).
Đây chính là cách luyện tập pháp Cửu tiết Phật phong. Thực ra, pháp Cửu tiết Phật phong này chỉ có ba tiết thôi. Chỉ là thứ tự thay đổi đảo ngược mà thôi, tuy nhiên việc đảo ngược thứ tự này là có mục đích, chính là để rèn luyện sức mạnh ý chí và sức mạnh ý niệm, có ý nghĩa rèn luyện rất quan trọng.
Xin giải thích tâm yếu bí mật như sau: 1. Pháp Cửu tiết Phật phong là "phương pháp dừng ý niệm bằng ý niệm". Đối với chúng ta - những người thế tục thông thường, tạp niệm rất nhiều, việc đi vào trạng thái tĩnh lặng ngay lập tức (không suy nghĩ, không khởi niệm) về cơ bản là không thể. Vì vậy, cần phải sử dụng "ý niệm" đơn nhất để ngăn chặn những tạp niệm phức tạp. Sử dụng ý niệm, lúc thì lỗ mũi trái, lúc thì lỗ mũi phải, lúc thì cả hai lỗ mũi, lúc thì ánh sáng trắng, vào trong cơ thể là ánh sáng đỏ, khí thở ra là khí đen, chín tiết biến đổi này, sự tập trung vào hơi thở ra vào, sẽ ngăn chặn được tạp niệm. Tinh thần của hành giả hoàn toàn tập trung vào một ý niệm biến đổi của chín tiết Phật phong.
Trong quá khứ có rất nhiều đệ tử hỏi tôi "Làm thế nào để loại bỏ tạp niệm?" Tôi trả lời họ, "dùng niệm để dừng niệm", trước khi ngồi thiền hãy thực hành pháp Cửu tiết Phật phong, dùng sự tập trung vào một ý niệm để phá tan tạp niệm.
2. Pháp Cửu tiết Phật phong là pháp tiêu nghiệp vĩ đại. Chúng ta quán tưởng Bổn tôn và ánh sáng trắng trước mặt, một hơi hít vào chính là hít vào tịnh quang, biến thành ánh sáng đỏ là để làm sạch nghiệp bất tịnh bên trong cơ thể, sau đó tuần hoàn một vòng, đưa tất cả khí uế tạp (khí đen) ra khỏi cơ thể. Cứ như vậy, chín tiết hô hấp thu nạp thở ra chính là bí mật trong bí mật của mật pháp tiêu trừ nghiệp chướng. Một hành giả thành tâm thực hành "thu nạp ánh sáng trắng, thở ra khí đen", tu tập lâu dài, bản thân sẽ hóa thành ánh sáng thanh tịnh, hòa hợp với ánh sáng lớn của ý thức vũ trụ, đó chính là sự chứng đắc từ việc phá vỡ "cái tôi".
3. Pháp Cửu tiết Phật phong là pháp nhập tĩnh. Nói chung, đối với hành giả có đủ công lực, chỉ cần làm xong pháp Cửu tiết Phật phong, tâm thần sẽ tập trung vào một điểm, có thể tụ khí ngưng thần, nhập vào thiền định, lập tức đi vào Kim cang tam muội, xa lìa mọi huyễn tưởng, an trụ trong Tam ma địa, đi vào trong tính Không, đây chính là thậm thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, cũng chính là hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, thấy rõ năm uẩn đều không.
Đối với hành giả Mật tông đã chứng đắc, người phát tâm bồ đề lớn, cách quán tưởng của họ khác với người thường: Khí hít vào là khí đen, biến nghiệp của chúng sinh thành khí đen, do hành giả thay thế gánh chịu. Khi vào trong cơ thể biến thành ánh sáng đỏ, chuyển hóa nghiệp của chúng sinh thành ánh sáng đỏ, đập tan nghiệp đen để cứu độ. Khí thở ra là ánh sáng trắng, hồi hướng công đức đến chúng sinh, quảng độ chúng sinh không bỏ sót. Đây chính là hành Bồ Tát đạo, phát tâm bồ đề, lòng đại từ đại bi của hành giả Mật tông chân chính.
10. Nói kĩ về pháp Nội hỏa Minh điểm
Pháp Nội hỏa Minh điểm vốn đã được viết trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn". Để cho độc giả dễ tu học, trong bản văn này, tôi một lần nữa giải thích kĩ càng.
Chúng ta ngồi thiền bằng tư thế Tỳ Lô thất chi tọa, điều hòa hơi thở cho thật đều. Tỳ Lô thất chi tọa chính là thế ngồi của Đại Nhật Như Lai. Trọng điểm là: Thẳng ngực, thu cằm về. Lưỡi chống lên hàm trên. Mắt nhìn vào một vật. Hai tay giữ cân bằng. Hai chân ngồi thế hoa sen. Không làm được thế hoa sen thì có thể ngồi tùy ý. Cũng có tác dụng cân bằng thân tâm.
1. Đầu tiên quán tưởng ra ba mạch của chính mình, mạch trái mạch phải và trung mạch. Tại nơi ba mạch gặp nhau (dưới rốn bốn lóng tay) có một nửa bên trái chữ Ah mảnh như sợi tơ.
Nếu không quán tưởng được chữ Phạn thì cũng có thể nghĩ đến một chấm đỏ. Ban đầu nửa chữ Ah nhỏ như sợi tơ này, một chấm đỏ, rất nhỏ, có hình dạng hơi run rẩy.
2. Quán tưởng chấm đỏ nhỏ này là điểm khởi nguồn (lực sinh mệnh) của tính mạng con người chúng ta, có thể gọi là linh thức, tất cả những người tu đạo đều gọi là nguyên tố sinh mệnh hoặc linh tố sinh mệnh.
3. Dùng cách hít thở hoàn toàn, hít khí đi vào từ hai lỗ mũi, đi vào mạch trái phải, dùng ý khiến cho khí đi đến chỗ ba mạch hội tụ, có nghĩa là dùng khí để thổi lên chấm nhỏ màu đỏ này, ý nghĩa ở đây giống như quạt lửa. Nguyên lý của nó chính là nguyên lý thổi lò luyện cháy để đốt vật. (Hít thở hoàn toàn chính là hít thở mảnh, hít thở chậm, hít thở dài, một lần hít vào khoảng sáu nhịp, một lần thở ra cũng sáu nhịp, hít thở cho đến tận đan điền.)
4. Sau mỗi lần hít thở hoàn toàn, phải quán tưởng gió thổi chấm đỏ, và chấm đỏ càng ngày càng đỏ, chấm đỏ biến to ra và cũng nóng hơn. Khi thở khí ra phải quán tưởng khí đen đi ra. (Một lần hít, một lần thở gọi là một hơi thở.)
5. Mười hơi thở như vậy, quán tưởng ngọn lửa đến tề luân.
6. Lại mười hơi thở nữa, xung quanh tề luân hoàn toàn ấm nóng.
7. Lại mười hơi thở nữa, khiến cho các bộ phận ở dưới cơ thể toàn bộ đều ấm nóng.
8. Lại mười hơi thở nữa, quán tưởng ngọn lửa đi theo trung mạch đến tâm luân, xung quanh tâm luân ấm nóng.
9. Lại mười hơi thở nữa, quán tưởng ngọn lửa đi theo trung mạch đến hầu luân, xung quanh hầu luân ấm nóng.
10. Lại mười hơi thở nữa thì đến mi tâm luân, xung quanh mi tâm ấm nóng.
11. Lại mười hơi thở nữa thì đến đỉnh luân, xung quanh đỉnh luân ấm nóng.
Pháp Nội hỏa Minh điểm này chính là pháp Linh nhiệt, cũng là pháp Đan điền của Đạo gia Đan Đỉnh phái, chỉ là cách dùng ý niệm ở trong những pháp này khác nhau, thật ra nguyên lý là giống nhau.
Tâm pháp bí mật trong bí mật của nó là như sau:
1. Quán tưởng chấm đỏ nhỏ ở đan điền, dùng lò luyện hít thở hoàn toàn để thổi chấm đỏ nhỏ này, đây hoàn toàn là một tác dụng của ý niệm. Chúng ta thử nghĩ cách đánh lửa của người xưa, họ ra sức dùi, vì ma sát sản sinh nhiệt, và do nhiệt đạt đến điểm bốc cháy mà lửa trên khúc gỗ sẽ bốc lên. Cách đánh lửa này và khí thổi linh thức là nguyên lý hoàn toàn giống nhau. Vì thế, ban đầu tu pháp Linh nhiệt, một ngày phải ngồi thiền sáu lần, tức là phải rất siêng đánh lửa, khiến linh nhiệt sinh ra, chỉ cần linh nhiệt sinh ra rồi thì mỗi ngày có thể tu ba lần hoặc hai lần là được.
2. Tu pháp Nội hỏa Minh điểm không được nôn nóng, đây là một việc chậm nhưng tinh tế, quán tưởng rất kĩ, hít thở rất chậm, làm từng bước từng bước, tu luyện một cách chắc chắn như vậy, linh nhiệt nhất định sẽ sản sinh. Có được linh khí rồi, chúng ta tu luyện nhiệt này hóa thành lửa, chính là nội hỏa, nội hỏa này sẽ làm bốc hơi minh điểm, khiến bồ đề tâm nguyệt dịch rơi xuống, hòa tan vào cùng minh điểm. Trong Phật giáo nói: "Kết xá lợi." Trong Đạo giáo nói: "Kết nội đan."
3. Tu pháp này quan trọng nhất là bền lòng. Không có sự bền lòng thì mọi thứ khác miễn bàn. Có đệ tử hỏi Liên Sinh Hoạt Phật phải tu bao lâu thì linh nhiệt mới có thể sinh ra? Liên Sinh Hoạt Phật đáp: việc sinh ra linh nhiệt nội hỏa này do thể chất của mỗi người khác nhau, và thời gian cũng khác nhau. Tôi lấy ví dụ để chứng minh, có người linh tố rất "hoạt" [sống, linh hoạt], bản thân là người nóng (dư hỏa chưa tàn), vì thế hễ châm lửa là cháy. Có một số người thì bản thân linh tố của họ rất "hư" [rỗng, hư nhược], giống như tro tàn vậy, đòi hỏi thời gian tu luyện dài thì mới có thể tro tàn lại cháy được!
Linh nhiệt và Nội hỏa Minh điểm chính là nguồn gốc của thiên cơ. Linh khí có thể hóa mặt trời Đệ tử Chân Phật mau thực hành Khi lửa bùng lên hiện thắng cảnh Trong điều bí mật có chân tình.
11. Bí mật lớn về pháp Bổn tôn
Nguyên lý lớn nhất của Mật tông là "Bạn chính là Phật". Cũng có nghĩa là "Bạn chính là Bổn tôn."
Lời cực kỳ quan trọng mà Liên Sinh Hoạt Phật muốn nói với mọi người là: "Nếu bạn tu Phật A Di Đà làm Bổn tôn, bạn chính là Phật A Di Đà. Nếu bạn tu Bồ Tát Quan Thế Âm làm Bổn tôn, bạn chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Nếu bạn tu Bồ Tát Địa Tạng Vương làm Bổn tôn, bạn chính là Bồ Tát Địa Tạng Vương. Nếu bạn tu Chuẩn Đề Phật Mẫu làm Bổn tôn, bạn chính là Chuẩn Đề Phật Mẫu. Nếu bạn tu Hoàng Tài Thần làm Bổn tôn, bạn chính là Đa Văn Thiên Vương. Nếu bạn tu Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm Bổn tôn, bạn chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nếu bạn tu Phật Dược Sư làm Bổn tôn, bạn chính là Phật Dược Sư. Nếu bạn tu Liên Hoa Đồng Tử làm Bổn tôn, bạn chính là Liên Hoa Đồng Tử."
Đây là bát đại Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông. Mà Liên Hoa Đồng Tử Kim Cương tương ứng pháp cũng là một trong những pháp Bổn tôn.
Tôi thật sự muốn nói với mọi người rằng, học Phật là để thành Phật. Tu pháp Bổn tôn chính là biến thành Bổn tôn. Vì vậy, nguyên lý lớn nhất của Mật tông là: Bạn chính là Phật. Cần biết rằng Mật tông lấy pháp Bổn tôn làm trung tâm của tất cả các pháp, mỗi người tu chỉ có một Bổn tôn duy nhất, không thể dùng hai hoặc ba Bổn tôn. Hành giả Mật tông trong đời này, chỉ có thể nhất quán chuyên tu một pháp Bổn tôn, đây là lý do phải nhất tâm hòa nhập với Bổn tôn mới có thể biến hóa thành Bổn tôn.
Pháp Bổn tôn là vĩnh viễn không thay đổi trong một đời, Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng: "Pháp Bổn tôn là pháp tu hành suốt đời không thay đổi, ngày ngày đều phải tu, còn các pháp khác, chỉ tu khi cần thiết, là những pháp hỗ trợ, ví dụ như pháp Yết Ma, pháp Kim Cang Minh Vương, v.v… đều là pháp phụ trợ."
Có người hỏi Thượng sư, nếu chỉ tu một pháp Bổn tôn, liệu các Phật Bồ Tát khác có cảm ứng không? Liên Sinh Hoạt Phật đáp: "Chỉ cần Bổn tôn với bạn có cảm ứng, các Phật Bồ Tát khác tự nhiên cũng sẽ cảm ứng đạo giao với bạn, đây là đạo lý thông một pháp thì thông vạn pháp, cũng chính là điều Thượng sư thường nói, một cửa nghìn cửa, nghìn cửa một cửa."
Ngày nay, có người tham gia pháp hội đồng tu, mang về "nghi quỹ pháp hội đồng tu", rồi ở nhà bắt chước làm theo, mỗi ngày chọn một vị Bổn tôn để tu, hôm nay tu Phật A Di Đà, ngày mai tu Bồ Tát Quan Thế Âm, ngày kia đổi sang Chuẩn Đề Phật Mẫu. Tu kiểu này là không đúng, khi chúng ta tu ở nhà, chỉ có thể tu pháp Bổn tôn của chính mình mà thôi.
Pháp Bổn tôn của mình phải tu hàng ngày ở nhà. Còn việc tham gia pháp hội đồng tu, mỗi tuần thay đổi một vị Bổn tôn, đó là một hình thức tập luyện tăng cường, cũng là một loại trợ tu, và hơn nữa là sức mạnh niệm lực chung. Pháp hội đồng tu cần thay đổi một vị Bổn tôn mỗi tuần vì mỗi người có Bổn tôn khác nhau.
Tôi biết một phái của Hồng giáo, tất cả đệ tử quy y, nam đệ tử đều nhất loạt lấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm pháp Bổn tôn. Nữ đệ tử đều nhất loạt lấy Lục Độ Mẫu làm pháp Bổn tôn. Ngoài hai vị Bổn tôn này ra, không còn pháp Bổn tôn nào khác, quy định nghiêm ngặt như vậy, tuy phạm vi quá nhỏ, nhưng lại có thể khiến mọi người nhất tâm.
Còn Chân Phật Tông có tám đại Bổn tôn pháp, phạm vi như vậy đã đủ rộng, đây là vì nhằm độ rộng rãi nhiều chúng sinh hơn.
Có hành giả hỏi tôi, khi tu pháp Bổn tôn đã tương ứng, tiếp theo là tu pháp Kim cang, vậy pháp Bổn tôn có cần tu nữa không? Liên Sinh Hoạt Phật đáp: "Dù cho pháp Bổn tôn đã tương ứng, có thể tu pháp Kim cang rồi, nhưng vẫn phải tu pháp Bổn tôn mỗi ngày, pháp Kim cang chỉ là pháp phụ trợ mà thôi. Pháp Bổn tôn trong suốt cuộc đời này, vĩnh viễn không thể từ bỏ, hãy ghi nhớ kĩ! Ghi nhớ!"
Cần biết rằng, nếu Bổn tôn tương ứng với hành giả Mật tông, bạn chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là bạn, cũng có nghĩa là thân khẩu ý của bạn chính là thân khẩu ý của Bổn tôn. Điều này cần phải luôn luôn tỉnh giác rõ ràng.
Bạn cũng có thể hiểu như sau: Nhà — là điện Phật trang nghiêm của Bổn tôn. Cha mẹ, người thân, anh chị em — là quyến thuộc của Bổn tôn. Lời nói — là thần chú, pháp ngữ mà Bổn tôn tụng. Ý thức — hoàn toàn là tâm niệm của Bổn tôn. Đất, nước, lửa, gió, không — hoàn toàn là công đức của Bổn tôn. Bất kì tư thế nào — đều là thủ ấn của Bổn tôn. Phù hợp với hạnh nguyện của Bổn tôn.
Kết quả của việc này là, "đêm đêm nằm ngủ với Phật, sáng sáng cùng nhau thức dậy", thường xuyên tu tập như vậy, suy nghĩ như vậy, dần dần, giữa bạn và Bổn tôn sẽ không còn khoảng cách, hòa làm một, hoàn toàn hợp nhất vào cảnh giới nhất tâm bất loạn. Trong cảnh giới như vậy, mọi lời nói hành động đều giống hệt Bổn tôn, học Bổn tôn sẽ trở thành Bổn tôn, đây chính là pháp thành Phật vững chắc nhất, nhanh nhất, cảm ứng mạnh nhất, và có thể nhanh chóng tương ứng.
Ý niệm lớn nhất của hành giả, vẫn là "Bổn tôn chính là ta".
Có quá nhiều quá nhiều đệ tử hỏi về Bổn tôn. Phải biết rằng đệ tử quy y Chân Phật Tông mỗi ngày một nhiều hơn, đã gần đến con số năm triệu người, ai ai cũng hỏi về Bổn tôn, và Thượng sư phải trả lời năm triệu lần, các đệ tử hãy nghĩ xem, tôi đã bận đến choáng váng rồi.
Việc chọn Bổn tôn hoàn toàn dựa vào đặc tính của hành giả, có thể nói là dựa vào tâm tính của hành giả. Hoặc là dựa vào lời nguyện mà hành giả đã phát, điều quan trọng là hành giả cảm thấy gần gũi nhất, có duyên nhất! Đó chính là Bổn tôn của bạn.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, mỗi hành giả, thực ra có thể tự mình chọn Bổn tôn để tu pháp, cũng dựa vào đặc tính, tâm tính, lời nguyện, sự gần gũi để chọn Bổn tôn. Chúng ta không nên dùng cách tung hoa hay rút thăm để quyết định, bởi vì tự mình chọn Bổn tôn, tự mình xác nhận Bổn tôn thì ý nghĩa của điều này càng sâu sắc hơn.
Tám đại Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông, dựa theo lời nguyện của chư Phật Bồ Tát, có pháp chỉ như sau: Phật A Di Đà — Rộng độ trời người, bao gồm cả người nhanh nhẹn lẫn người ngu độn, bốn mươi tám đại nguyện, tất cả đều vì độ hóa chúng sinh. Bồ Tát Quan Thế Âm — Vị có tâm tính đại từ đại bi nhất. Quán Tự Tại. Bồ Tát Địa Tạng Vương — Thân ở địa ngục, chuyên độ ác đạo, có tâm tính đại nguyện. Chuẩn Đề Phật Mẫu — Tâm tính thanh tịnh trong sáng, thành tựu tất cả sự nghiệp. Đa Văn Thiên Vương (Hoàng Tài Thần) — Tâm tính Hộ pháp, vị Minh Vương hộ trì, phúc báo lớn nhất. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ — Có tâm tính của Bồ Tát, kiêm cả tâm tính Kim cang, giáo chủ truyền pháp. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật — Mười hai đại nguyện, cứu tế bệnh khổ và tất cả nỗi khổ sinh tử luân hồi. Liên Hoa Đồng Tử — Tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì, Đại Phúc Kim Cang, cõi nước an lạc thân tâm, có đại trí huệ.
Tám vị Bổn tôn chính này, hành giả Mật tông có thể tự chọn dựa vào tâm tính và lời nguyện của mình hoặc chọn vị Bổn tôn mà mình cảm thấy có duyên nhất.
Nếu thực sự mơ hồ chưa thể xác định Bổn tôn, lúc đó mới nên viết thư hỏi Thượng sư, hãy nhớ rằng nếu muốn hỏi Thượng sư, tốt nhất là tự mình đến gặp, hoặc gửi kèm ảnh chụp gần đây, để Thượng sư quan sát và chọn ra vị Bổn tôn phù hợp hơn, giúp tu pháp sớm tương ứng.
Xin viết một bài kệ để tán thán Bổn tôn: Thường ngày ngộ được hương thiền vị, Bổn tôn đâu phải ở ngoài ta; Tâm hương cũng chính Bổn tôn hương, Một nén dâng lên đến tịnh thành.
12. A Di Đà Phật Bổn tôn pháp
Bây giờ xin trình bày chi tiết về quy trình tu quán A Di Đà Phật Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:
1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Hai tay kết định ấn: Ngửa hai lòng bàn tay, chồng lên nhau, ngón cái và ngón trỏ của hai tay chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. (đặt dưới rốn)
Hoặc kết ấn căn bản: Hai tay trước tiên đan vào nhau như nắm đấm, dựng thẳng hai ngón giữa chạm vào nhau tạo thành vòng tròn. (đặt trước ngực)
9. Kết ấn quán tưởng: Trước tiên quán Không. Trong hư không hiện ra A Di Đà Phật thân hình màu đỏ, khoác cà sa, ngồi kiết già trên đài sen nghìn cánh, hai tay kết định ấn, nâng bát đầy cam lộ, mắt từ bi nhìn chúng sinh. Quán tưởng bát trong tay A Di Đà Phật, cam lộ trong bát hóa thành nước cam lộ ánh sáng trắng, nâng lên, tạo thành hình vòng cung, rót vào đỉnh đầu của hành giả mật tông, khiến toàn thân hành giả trở nên trong suốt như pha lê trắng, nghiệp chướng hoàn toàn tiêu trừ. (Hoặc đóa sen trong tay Phật phóng ra ánh sáng trắng chiếu vào hành giả cũng được.)
10. Tụng chú căn bản A Di Đà Phật: "Ôm a-mi-đê-wa sê." (108 biến) Khi tụng chú tay lần chuỗi hạt.
11. Cửu tiết Phật phong.
12. Quán tưởng A Di Đà Phật hóa thành một chấm đỏ, từ đỉnh đầu của hành giả đi vào, theo trung mạch đi xuống đến tim của hành giả, an tọa trên đài sen trong tim của hành giả, lúc này A Di Đà Phật dần dần phóng to lên, đến khi bằng với hành giả, hành giả tức là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức là hành giả, hai thân hòa hợp làm một, không có sự khác biệt.
13. Nhập định. (Không sinh một niệm, nhất tâm bất loạn, nhập vào Tam ma địa của A Di Đà Phật.) Tay kết định ấn.
14. Xuất định. Tụng tán:
Tịnh nguyện trang nghiêm an lạc lợi, Phổ tế trọc thế chư hữu tình; Tây phương tiếp dẫn chứng vô sinh, A Di Đà Phật con kính lễ. (Chỗ này có thể thêm niệm Phật trăm lần nghìn lần.)
15. Hồi hướng:
Nguyện người cùng niệm Phật Cùng sinh cõi Cực Lạc Trên báo bốn ơn sâu Dưới cứu ba đường khổ Thấy Phật thoát sinh tử Như Phật độ tất cả.
16. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
🌟
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, diệu pháp "chú, ấn, quán tưởng" của Phật A Di Đà mà tôi đã viết ra không hề phức tạp, chỉ cần hành giả thực hành theo trình tự trong thời gian dài sẽ trở nên rất thuần thục, mỗi lần vào đàn tu pháp sẽ thành thạo dần, thậm chí có thể lĩnh hội được tâm yếu bên trong, thực sự nhập vào Tam ma địa.
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều pháp tướng của Phật A Di Đà, có vị ngồi trên đài sen hai tay kết định ấn, nâng bát. Có vị Phật A Di Đà đứng, tay cầm đài sen. Có vị hai tay kết ấn ban nguyện, trong tư thế tiếp dẫn, và còn nhiều kiểu khác nữa.
Quán tưởng này là linh hoạt: Nâng bát đầy cam lộ: "Quán tưởng cam lộ hóa thành ánh sáng trắng rót vào đỉnh đầu qua thiên khiếu." Tay cầm đài sen: "Quán tưởng hoa sen hóa thành ánh sáng trắng chiếu vào hành giả." Hai tay kết ấn ban nguyện: "Quán tưởng ánh sáng trắng từ tướng bạch hào giữa chân mày A Di Đà Phật xoay tròn, bay lên không trung, tạo thành hình cung, chiếu vào đỉnh đầu qua thiên khiếu, lan tỏa khắp toàn thân tạo thành ánh sáng."
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Quán tưởng trong Mật pháp rất linh hoạt, điều quan trọng nhất là tập trung tâm niệm vào một vị A Di Đà Phật." Sau phần Cửu tiết Phật phong, nếu ai muốn tiếp tục tu nội hỏa minh điểm cũng được. Nếu sau khi tụng xong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, muốn tụng Kinh A Di Đà cũng được.
Về phần hồi hướng, nếu muốn thay người khác tu pháp, có thể thêm câu: "Công đức tu pháp lần này, xin hồi hướng cho người nào đó, giúp họ vãng sinh cõi Phật, hoặc sớm kết duyên Phật, hoặc quay về điều thiện, v.v…" Hồi hướng cũng cần vận dụng linh hoạt, không cần cứng nhắc theo một khuôn mẫu không đổi.
Liên Sinh Hoạt Phật từng viết trong cuốn sách "Mật Giáo Đại Viên Mãn", trang 141, về nghi quỹ tu pháp Bổn tôn A Di Đà Phật của Tạng mật. Pháp của Tạng mật này khá phức tạp, cần tụng bảy bài văn và có quán tưởng biến hóa. Một số đệ tử khó học được, vì vậy, tôi đặc biệt viết ra "Trình tự tu pháp A Di Đà Phật của Chân Phật Tông" đơn giản hơn, cả hai đều có năng lực pháp và công đức như nhau. Hành giả có thể đối chiếu lẫn nhau.
Có Hoạt Phật Tây Tạng cho rằng, đại mật pháp dễ đạt thành tựu nhất, vững chắc nhất, và nhanh chóng thành Phật nhất vẫn là mật pháp A Di Đà Phật.
Tôi cho rằng, câu nói này rất đúng, bởi vì bốn mươi tám đại nguyện của A Di Đà Phật không phải tầm thường, Tây phương Cực Lạc thế giới tiếp dẫn chúng sinh cả linh lợi và ngu độn, pháp niệm Phật của Tịnh Độ tông, chỉ cần nhất tâm cầu vãng sinh, hoặc nhất tâm niệm Phật cầu A Di Đà Phật từ bi tiếp dẫn, chỉ cần lúc lâm chung niệm Phật bảy ngày là thành tựu.
Tôi cho rằng, "tín niệm vãng sinh" của Tịnh Độ tông là một con đường tắt trực tiếp vãng sinh. Còn một hành giả quán tu học mật, sâu hơn Tịnh Độ tông, tu mật pháp A Di Đà này, sẽ thành tựu bản tính Di Đà, ta tức Di Đà, Di Đà tức ta, là tâm là Phật, là Phật là tâm, không gì không thành tựu.
Liên Sinh Hoạt Phật nhận thấy rằng, trong tất cả sự cứu độ của chư Phật, ở thế giới Ta Bà nhân gian, Phật A Di Đà đứng hàng đầu. Gần như những đứa trẻ ba tuổi cũng biết niệm câu "A Di Đà Phật". Hào quang của Phật A Di Đà có thể chia thành: "Vô lượng quang, Vô biên quang, Vô ngại quang, Vô đối quang, Diệm vương quang, Thanh tịnh quang, Hoan hỷ quang, Trí huệ quang, Bất đoạn quang, Nan tư quang, Vô xứng quang, Siêu nhật nguyệt quang." Tây phương Cực Lạc thế giới có cảnh giới tam phẩm cửu sinh.
Tôi từng thấy pháp tướng của Phật A Di Đà: A Di Đà Phật tì kheo Pháp Tạng. A Di Đà Phật kết pháp giới định ấn. A Di Đà Phật tiếp dẫn ban nguyện. A Di Đà Phật đội mũ miện. A Di Đà Phật thân pha lê đỏ. A Di Đà Phật tư duy năm kiếp. A Di Đà Phật cầm đài sen. A Di Đà Phật ba mặt sáu tay. (Vị này rất hiếm gặp, xuất phát từ Kinh Đại Giáo Vương Du Già.)
Phật A Di Đà trong Mật giáo là một trong năm trí huệ của Đại Nhật Như Lai, sinh ra Tây phương diệu quan sát tam muội. Trong Thai Tạng Giới, ngài ở phương Tây của viện Trung Đài Bát Diệp, trong Kim Cương Giới, ngài ở phương Tây của Ngũ Giải Thoát Luân. Ngài làt trí huệ phương tiện của Như Lai.
Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: "Thân Phật Vô Lượng Thọ, như trăm nghìn vạn ức màu vàng diêm phù đàn của cõi trời Dạ Ma, thân Phật cao sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần. Tướng bạch hào giữa chân mày xoay về bên phải uốn lượn, như năm núi Tu Di, mắt Phật như bốn biển lớn, xanh trắng phân minh rõ ràng, toàn thân các lỗ chân lông đều tỏa ánh sáng."
Tôi cho rằng, đệ tử Chân Phật Tông, nếu tự chọn Bổn tôn, có thể chọn A Di Đà Phật, bởi vì sự cứu độ của Ngài rộng lớn nhất, Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật Liên Hoa Đồng Tử chính là Liên Hoa Bồ Tát của thế giới Tây phương Cực Lạc. Điều huyền diệu bên trong thực sự không thể nói hết.
Đặc biệt ghi lại kệ: Di Đà mật pháp cứu độ sâu, Không phân khôn đần phàm với tăng; Bốn tám đại nguyện rộng cứu kiếp, Thế giới Ta Bà vạn đời tôn.
13. Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp
Bây giờ xin trình bày chi tiết về quy trình tu quán Quan Thế Âm Bồ Tát Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:
1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Kết ấn:
Chắp tay hoa sen - Trước tiên chắp hai tay lại, sau đó mở ra như hoa nở, chỉ để hai ngón cái và hai ngón út chạm vào nhau. (Đây chính là ấn chung của tất cả các vị Bồ Tát.) Ấn Quan Âm - Hai tay nội phộc (đan vào nhau), chỉ có ngón cái tay phải dựng thẳng. Ấn Bạch Y Quan Âm - Hai tay nội phộc, hai ngón trỏ dựng thẳng hướng lên trời, không chạm vào nhau.
Do Quan Thế Âm Bồ Tát có rất nhiều hóa thân nên có nhiều ấn khác nhau, vì vậy Chân Phật Tông dùng ấn chắp tay hoa sen làm ấn chung của Quan Thế Âm Bồ Tát. Ấn được đặt trước ngực.
9. Quán tưởng: (tùy theo hình tượng Quan Âm mà bản thân bạn thờ cúng), hãy quán tưởng nơi tim mình hóa thành nguyệt luân, từ nguyệt luân phóng ra một luồng ánh sáng trắng bay lên không trung, biến thành một vị Tự Tính Quan Âm, Tự Tính Quan Âm có thân màu trắng, mặc thiên y, trang sức bảo châu chuỗi vòng, Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên đài sen, trang nghiêm từ bi, phóng ra vô lượng ánh sáng trắng tinh khiết. Có thể quán tưởng Lục tự đại minh chú vây quanh Bồ Tát và tỏa ánh sáng.
(theo pháp khí quán đỉnh)
Nếu Quan Âm tay cầm minh châu — minh châu hóa thành một luồng ánh sáng trắng, tạo thành một đường cong, chiếu rót vào hành giả. Nếu Quan Âm tay cầm quyển kinh — quyển kinh hóa thành một luồng ánh sáng trắng, tạo thành một đường cong, chiếu rót vào hành giả. Nếu Quan Âm tay cầm hoa sen — hoa sen hóa thành một luồng ánh sáng trắng, tạo thành một đường cong, chiếu rót vào hành giả. Nếu Quan Âm tay cầm tịnh bình — cam lộ trong tịnh bình hóa thành một luồng ánh sáng trắng, tạo thành một đường cong, chiếu rót vào hành giả. ………………
10. Tụng tâm chú:
Tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hùm." (108 biến) Tâm chú Quan Thế Âm Bồ Tát: "Ôm ma-ni pê-mi hùm sê." (108 biến) Hai câu chú này có thể dùng thay thế cho nhau, chọn một trong hai. Khi tụng chú tay lần chuỗi hạt.
11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.
12. Quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thành một điểm ánh sáng trắng nhỏ, đi vào đỉnh đầu của hành giả, theo trung mạch ngồi trên đài sen trong tim hành giả, sau đó phóng lớn bằng với thân thể hành giả. (Hai thân hợp nhất, hành giả chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát chính là hành giả, không hai không khác.)
13. Nhập định.
Không suy nghĩ, không vọng niệm, nhập vào Tam ma địa của Quan Thế Âm Bồ Tát. (tay kết định ấn)
14. Xuất định. Tụng tán:
Chính pháp minh Như Lai hóa thân Bồ Tát Đắc thành tự tại đại từ Quan Thế Âm Tỏa khắp thế gian Lục Tự Đại Quang Minh Phật quang dẫn dắt chúng sinh đến Phật thổ. (Tại đây có thể thêm niệm thánh hiệu Quan Âm Bồ Tát trăm lần nghìn lần.)
15. Hồi hướng:
Nguyện đem tịnh quang tiêu nghiệp chướng Đắc thành tự tại Quan Âm tôn Phóng đại từ quang đến giúp đời Người người nương dựa đại bi tôn.
- Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
🌟
Trọng điểm của pháp này vẫn nằm ở phần quán tưởng, cần biết rằng hình tướng của Quan Thế Âm Bồ Tát là nhiều nhất, danh xưng cũng nhiều nhất, vì vậy có ba mươi ba ứng hóa thân Bồ Tát, những danh xưng thường gặp có: "Thánh Quan Âm, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Bất Không Quyến Sách Quan Âm." Ngoài ra còn có ba mươi ba thể tướng của Quan Âm, biến hóa vô cùng tận.
Chúng ta là người tu pháp, hãy dùng pháp khí mà Ngài cầm trong tay để quán tưởng hóa quang, nếu không có pháp khí, thì có thể thủ ấn của Ngài hóa quang.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, bất cứ ai có thể tính đại từ bi đều có thể tu Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát. Có người cho rằng pháp Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ thích hợp cho phụ nữ tu, thực ra không phải vậy, bởi vì pháp Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát bao gồm năm bộ mật pháp, rất vĩ đại siêu việt, nam nữ đều có thể lấy làm Bổn tôn.
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát có năm bộ mật pháp như sau:
1. Như Lai tiêu tai pháp: tay Hóa Phật, tay cầm phất trần trắng, tay cầm dương liễu, tay cầm kích giáo, tay thí vô úy, v.v…
2. Kim Cang điều phục pháp: tay cầm kim luân, tay cầm cung điện, tay cầm bảo kiếm, tay cầm chày kim cang, tay cầm bát báu, v.v…
3. Bảo bộ tăng ích pháp: tay cầm ngọc như ý, tay cầm kinh báu, tay cầm hoa sen xanh, tay cầm cung báu, tay cầm hoa sen trắng, v.v…
4. Hoa sen kính ái pháp: tay chắp hoa sen, tay cầm bảo ấn, tay cầm gương báu, tay cầm vòng ngọc, tay cầm hoa sen đỏ, v.v…
5. Yết Ma câu triệu pháp: tay cầm tên báu, tay cầm mây ngũ sắc, tay cầm chuỗi hạt, tay cầm móc sắt, tay cầm loa báu, v.v.
Thông thường tu năm pháp tiêu tai, điều phục, tăng ích, kính ái, câu triệu, tôi sẽ kể cho mọi người một bí mật trong bí mật, chỉ cần trong lúc quán tưởng, tay cầm các pháp khí như trên. Hành giả Mật tông tay cầm pháp khí để làm pháp. Quán tưởng điều muốn thực hiện, từ pháp khí của hành giả Mật tông phóng ánh sáng, chạm đến người đó, hoặc việc đó, như vậy sẽ có thể tùy tâm mong muốn, khiến tất cả đều viên mãn như ý. Tôi sẽ giải thích kĩ một lần nữa, khi hành giả đang tu pháp Bổn tôn, phần quán tưởng là từ pháp khí trong tay phóng ánh sáng, chiếu tới một người nào đó hoặc một việc nào đó, tâm nguyện của mình sẽ được thành tựu.
Ví dụ hành giả muốn chữa bệnh cho người khác, hành giả tay cầm cành dương liễu, tu pháp cho đến phần quán tưởng, hình dung người bệnh đứng trước mặt hành giả, dùng cành dương liễu phẩy nhẹ qua người họ, hoặc cành dương liễu hóa thành ánh sáng trắng chiếu rót vào họ, đây chính là pháp tiêu tai chữa bệnh.
Cách tu pháp như vậy, chính là trong toàn bộ pháp Bổn tôn thêm vào mật pháp giúp đỡ người khác. Đây là cách vận dụng linh hoạt mật pháp, vô cùng quan trọng. Đây chính là bí mật trong bí mật vậy.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Quan Thế Âm Bồ Tát có bản tính đại từ bi, việc cứu độ chúng sinh của Ngài không thể đo lường được, lưu truyền rộng rãi nhất, có danh xưng đẹp đẽ là Nhà Nhà Quan Thế Âm. Mật hiệu của Ngài là Chính Pháp Kim Cang, Thanh Tịnh Kim Cang, là một vị đại Bồ Tát tự tại nhất.
Quan Thế Âm Bồ Tát ở thế giới Tây Phương Cực Lạc đứng hầu bên trái của Phật A Di Đà, phụ trách hỗ trợ Phật A Di Đà trong các việc thuộc về từ bi. Quan Thế Âm Bồ Tát trong mandala Thai Tạng Giới trụ ở phương Tây Nam của viện Trung Đài Bát Diệp, là vị trí chủ của viện Quan Âm. Trong mandala Kim Cương Giới, Ngài là Kim Cang Pháp Bồ Tát.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Trong bài viết ngắn này đã tiết lộ bí mật lớn của phương pháp Mật tông, hành giả có thể suy nghĩ kĩ, pháp của Mật tông đều cần được áp dụng linh hoạt, chỉ cần có sự tương ứng, tất cả đều viên mãn."
Xin viết một bài kệ đặc biệt: Quan Âm Bồ Tát pháp chu toàn Tâm cực từ bi lệ tuôn rơi Thiên thủ mật pháp đại ứng nghiệm Độ sinh rộng khắp nghìn vạn năm.
14. Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp
Bây giờ xin trình bày chi tiết về quy trình tu quán Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:
1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Kết ấn:
Ấn căn bản Địa Tạng Vương — Hai tay nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng hướng lên trời, không chạm vào nhau. (đặt trước ngực) Ấn Địa Tạng nâng ngọc — Lòng bàn tay phải ở trên, lòng bàn tay trái ở dưới, hai lòng bàn tay úp ngược vào nhau. Ngón út của bàn tay trái, đặt vào giữa ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải. Ngón cái của bàn tay trái đặt vào giữa ngón út và ngón áp út của bàn tay phải. (Ấn này còn có tên là ấn Kim cang bộ tam muội da), khi kết ấn xong, có thể đặt tại luân xa rốn. (Cả hai ấn đều có thể sử dụng. Pháp hội đồng tu sử dụng ấn Địa Tạng nâng ngọc.)
9. Quán tưởng: Trước tiên quán Không, trong hư không, trước tiên xuất hiện một vòng ánh sáng màu trắng, trong vòng ánh sáng hiện ra một vị Địa Tạng Bồ Tát đầu đội mũ ngũ Phật, mặc áo cà sa, toàn thân màu trắng, hai tay nâng ngọc minh châu (bảo châu), ngồi trên đài sen.
Tiếp đến quán tưởng bảo châu phóng quang tạo thành hình cung, đi vào đỉnh khiếu, chiếu rót vào hành giả, khiến toàn thân hành giả thanh tịnh.
Thứ ba quán tưởng Địa Tạng Vương Bồ Tát hóa thành một điểm ánh sáng trắng, đi vào từ đỉnh đầu hành giả, ngồi trên đài sen trong tâm, rồi thân dần dần lớn lên, trở nên lớn bằng với thân của hành giả. (Hai bên hòa hợp hoàn toàn, Địa Tạng Bồ Tát chính là mình, mình chính là Địa Tạng Bồ Tát, không hai không khác.)
10. Tụng chú:
Địa Tạng Vương Bồ Tát diệt định nghiệp chân ngôn: "Ôm pẩn-la-múa lin-thô-lin sô-ha." (108 biến) Địa Tạng Vương Bồ Tát tâm chú: "Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê sô-ha." (108 biến) (Chú trước dùng để tiêu nghiệp, chú sau dùng trong Bổn tôn pháp. Cả hai chú đều có thể sử dụng. Pháp hội đồng tu cũng sử dụng chú trước.)
11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.
12. Nhập định. (Nhập vào Tam ma địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát, hai tay có thể kết định ấn.)
- Xuất định. Tụng tán:
Lời thề Địa Tạng sâu như biển Địa ngục chưa sạch không thành Phật Lợi ích trời người Đại Bồ Tát Độ hết chúng sinh chứng bồ đề.
(Chỗ này có thể niệm thêm Thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát.)
14. Hồi hướng:
Nguyện lấy Địa Tạng làm Bổn tôn Độ hết chúng sinh cõi u minh Ngày ngày đều hành Bồ Tát pháp Minh châu chiếu sáng hóa vạn đèn.
15. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
🌟
Liên Sinh Hoạt Phật nói, Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn tôn pháp có năng lực đại pháp siêu độ tổ tiên, đây chính là bí mật lớn của vị này trong quá trình tu pháp.
Khi hoàn thành quán tưởng ở tiết thứ chín, lúc này "Bổn tôn tức ta, ta tức Bổn tôn" do đó, triệu thỉnh linh hồn tổ tiên của mình đến trước đàn. (Triệu thỉnh vong linh tổ tiên cũng có thể lập bài vị vong linh, sử dụng hình ảnh tổ tiên khi còn sống để tưởng niệm).
Hành giả Bổn tôn tay nâng bảo châu sáng rực rỡ. Ánh sáng của bảo châu chiếu rọi đến vong linh, làm tiêu trừ nghiệp chướng của vong linh. Niệm tâm chú, 108 biến. Ánh sáng của bảo châu lại chiếu rọi đến vong linh, giúp vong linh thoát khỏi khổ đau của ba đường ác. Niệm tâm chú, 108 biến. Ánh sáng của bảo châu lần thứ ba chiếu rọi đến vong linh, giúp vong linh theo ý niệm mà sinh vào cõi trời, người hoặc cảnh giới cao hơn. Niệm tâm chú, 108 biến.
Hành giả Mật tông thực hiện xong pháp này, tiếp theo là tiết thứ mười một, Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm, nhập Tam ma địa.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Địa Tạng Vương Bồ Tát là một vị đại Bồ Tát được Phật Thích Ca Mâu Ni đặc biệt căn dặn tại cung trời Đao Lợi. Ngài có hóa thân là thân Phạm Vương, thân Đại Tự Tại Thiên, thậm chí là thân Thanh Văn, thân Phật, cho đến thân Diêm Ma. Ngài có pháp lực vô cùng bất khả tư nghì và nhiều hóa thân bí mật."
Các danh xưng của Địa Tạng Bồ Tát gồm: "Kim Cang Nguyện Địa Tạng, Kim Cang Bảo Địa Tạng, Kim Cang Bi Địa Tạng, Kim Cang Trụ Địa Tạng, Phóng Quang Địa Tạng, Đỉnh Thiên Hà Địa Tạng, Hộ Tán Địa Tạng, Diên Mệnh Địa Tạng, Mâu Ni Địa Tạng, Tán Long Địa Tạng, Phá Thắng Địa Tạng, Bất Hưu Tức Địa Tạng." Pháp khí mà Ngài cầm trong tay đều khác nhau.
Tôi đặc biệt viết một bài kệ ca ngợi Địa Tạng Vương Bồ Tát:
Địa Tạng cứu độ khắp trời cao U minh âm gian dựng cờ báu Đại nguyện to lớn tựa hư không Kính lễ cúi đầu đốt hương lành.
15. Chuẩn Đề Bồ Tát Bổn tôn pháp
Bây giờ xin thuật lại chi tiết Chuẩn Đề Phật Mẫu Bồ Tát Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:
1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Kết ấn:
Ấn căn bản Chuẩn Đề Phật Mẫu — Ngón út và ngón áp út đan nội phộc, hai ngón giữa dựng thẳng chạm vào nhau, hai ngón trỏ đặt vào lưng của hai ngón giữa, hai ngón cái tựa vào nhau. (Giữ ấn trước ngực.)
Ấn căn bản thứ hai của Chuẩn Đề Phật Mẫu — Trước tiên chắp hai tay lại, dựng hai ngón trỏ lên, hai ngón cái tựa vào nhau, lòng bàn tay khum lại tạo khoảng rỗng ở giữa là thành thủ ấn. (Giữ ấn trước ngực.)
Ấn thuyết pháp Chuẩn Đề Phật Mẫu — hai tay ngón cái đè lên ngón giữa tạo thành vòng tròn, ba ngón còn lại dựng thẳng, lòng bàn tay hướng ra ngoài là thành thủ ấn. (Giữ ấn trước ngực.)
- Quán tưởng:
Đầu tiên quán Không. Trong hư không xuất hiện Chuẩn Đề Phật Mẫu màu vàng nhạt, là một vị Đại Phật Mẫu có 3 mắt 18 cánh tay, đầu đội mũ miện, trên mũ miện có một vị Hóa Phật. Phật Mẫu khoác thiên y màu trắng, vai và cánh tay đeo trang sức. 18 cánh tay cầm nhiều loại pháp khí, từ phải qua trái thuận theo chiều kim đồng hồ lần lượt là: bảo tràng như ý, hoa sen, lu nước, dây thừng, bánh xe, vỏ ốc, bảo bình, hộp bát nhã, mũ đội đầu, ấn căn bản, chày kim cang, móc câu, rìu, thiên diệu quả, chuỗi tràng hạt, kiếm trí huệ, thí vô úy ấn. Hai tay kết ấn căn bản, nên tổng cộng có 18 tay.
Chuẩn Đề Phật Mẫu thân sắc màu vàng trắng, 3 mắt 18 cánh tay, đầu đội bảo quán Hóa Phật, trang nghiêm xuất hiện và trụ tại hư không trước mặt hành giả Mật tông.
Quán tưởng con mắt ở thiên tâm của Chuẩn Đề Phật Mẫu phóng ra một đường ánh sáng trắng cực mạnh chiếu dội đến thiên khiếu của hành giả, khiến toàn thân hành giả thanh tịnh thuần bạch.
Lại quán tưởng con mắt thứ ba ở thiên tâm của Chuẩn Đề Phật Mẫu chiếu mạnh đến thân tâm của hành giả, ở vị trí con mắt thứ ba liên tục hết sức quán tưởng. (Nếu ai muốn có được con mắt thứ ba thì phải quán tưởng cho đến khi có cảm giác tê tê ở thiên tâm.)
- Tụng chú: (giải ấn và lần chuỗi hạt)
Chuẩn Đề Phật Mẫu tâm chú: "Ôm chưa-li chu-li chuân-thí sô-ha." (108 biến)
Chuẩn Đề Phật Mẫu chú dài: "Na-mô sa-tô-nan. San-meo-san-bu-thô. Chuy-chư-nan. Ta-chi-tha. Ôm chưa-li chu-li chuân-thế sô-ha." (108 biến).
Hai câu chú trên có công đức tương đương nhau, tùy chọn một trong hai.
- Cửu tiết Phật phong và Nội hỏa Minh điểm.
- Nhập định. Thiền định nhập vào Chuẩn Đề Phật Mẫu tam ma địa. Tay kết định ấn.
- Xuất định tụng tán:
Đức Đại Thánh Chuẩn Đề, thương xót ở thế gian, thành tựu hết các cõi, nay con cung kính lễ. Đức Đại Từ Chuẩn Đề, nay con là Bổn tôn, phúc trì biển công đức, nay con cung kính lễ. Đức Đại Lực Chuẩn Đề, lành thay Minh Trì Vương, hàng phục các ma nạn, nay con cung kính lễ. Đức Đại Phúc Chuẩn Đề, như ý vô đẳng đẳng, như có được mani, nay con cung kính lễ.
- Hồi hướng:
Mong con định huệ chóng viên minh. Con mắt thứ ba mong sớm đắc. Trang nghiêm Bổn tôn đại tịnh thổ. Nguyện cùng chúng sinh thành Phật đạo.
- Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
Cát tường viên mãn.
🌟
Liên Sinh Hoạt Phật nói:
Chuẩn Đề Phật Mẫu chính là Thất Câu Tri Phật Mẫu, cũng có người gọi là Chuẩn Đề Quan Âm hoặc Thiên Nhân Trượng Phu Quan Âm. Hàm nghĩa của hai chữ Chuẩn Đề chính là thanh tịnh không gì sánh bằng. Bởi vì ngài là mẹ của các vị trong Liên Hoa Bộ nên có tôn xưng là Phật Mẫu, là mẹ của bảy trăm ức tôn Phật Bồ Tát. Bởi vì Phật Mẫu có mười tám cánh tay, lại có ba con mắt, cho nên pháp lực ngài uy mãnh, mật hiệu là Tối Thắng Kim Cang. Chuẩn Đề Phật Mẫu có hai Long Vương làm thị giả, đứng phục vụ bên dưới tòa hoa sen, chính là Nan Đà Long Vương và Bạt Nan Đà Long Vương.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng bí mật của Chuẩn Đề Phật Mẫu nằm ở trong con mắt thứ ba của Phật Mẫu, hành giả Mật tông muốn tu con mắt thứ ba thì nhất định phải quán tưởng con mắt thứ ba của Phật Mẫu phóng đại tịnh quang màu trắng chiếu vào con mắt thứ ba của mình (vị trí thiên tâm), cho đến khi vị trí thiên tâm của mình bị tê.
Tu trì lâu ngày sẽ phát hiện thấy thiên tâm của mình xuất hiện ký hiệu của thiên nhãn. Phàm là người tu luyện thành tựu, dùng thiên nhãn thông quan sát thì không gì là không nhìn thấy, không gì là không biết, nghìn dặm vạn dặm đều nằm trong thiên nhãn. Đây là bí mật trong bí mật về con mắt thứ ba của Chuẩn Đề Phật Mẫu.
Mười tám cánh tay của Chuẩn Đề Phật Mẫu nói lên rằng Chuẩn Đề Phật Mẫu có mười tám loại công đức thành Phật, đây là mười tám bất cộng pháp, cũng là biểu hiện bí mật của Chuẩn Đề Phật Mẫu, bao hàm đạo lý vi diệu rất sâu.
Trong bộ Đại Trí Độ Luận từng kể ra 18 bất cộng pháp là:
- Thân vô thất [tâm không mất].
- Khẩu vô thất [khẩu không mất].
- Niệm vô thất [suy nghĩ không mất].
- Vô dị tưởng [không nghĩ điều kỳ quái].
- Vô bất động tâm [không còn tâm lăng xăng lộn xộn].
- Vô bất tri dĩ xả [không còn vô tri, hiểu cách xả bỏ].
- Dục vô lậu [không còn dục vọng].
- Tinh tấn vô lậu [thường xuyên tinh tấn].
- Niệm vô lậu [ý thanh tịnh].
- Huệ vô lậu [đầy đủ trí huệ].
- Giải thoát vô lậu [đạt thành tựu giải thoát].
- Giải thoát tri kiến vô lậu [có đầy đủ nhận thức về giải thoát].
- Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành [tất cả thân nghiệp đi theo trí huệ].
- Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành [tất cả khẩu nghiệp đi theo trí huệ].
- Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành [tất cả ý nghiệp đi theo trí huệ].
- Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại [trí huệ biết rõ đời quá khứ mà không có trở ngại nào].
- Trí huệ tri vị lai thế vô ngại [trí huệ biết rõ đời tương lai mà không có trở ngại nào].
- Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại [trí huệ biết rõ đời hiện tại mà không có trở ngại nào].
Chuẩn Đề Phật Mẫu có tám đại Bồ Tát là quyến thuộc, chính là Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát. Ở đây lại có thêm bí mật, tám đại Bồ Tát này chính là tám đại Bồ Tát phụng thỉnh trong Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (Diệu Cát Tường Bồ Tát trong Cao Vương Kinh chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.)
Liên Sinh Hoạt Phật nói, Chuẩn Đề Phật Mẫu là diệu pháp vô thượng, nếu biết cách sử dụng mười tám loại pháp khí để làm pháp thì hành giả cầu tiêu tai, trị bệnh, tăng ích, như ý, kính ái, hòa hợp, hàng phục, trừ ma đều sẽ vô cùng viên mãn. Khi tu pháp nếu có pháp khí có thể tay cầm pháp khí phóng quang chiếu vào người và việc. Nếu không có pháp khí, có thể quán tưởng pháp khí mà Chuẩn Đề Phật Mẫu cầm trên tay phóng quang chiếu vào. Đây chính là bí mật trong bí mật. Chuẩn Đề Phật Mẫu tổng nhiếp năm bộ hoặc hai mươi lăm bộ, cho nên thủ ấn của Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng liên thông với thủ ấn của rất nhiều Phật Bồ Tát, điểm này cũng rất nhiều người không biết.
Hiện nay người gắng sức hoằng dương pháp này nhất là Yasuo Kiriyama Acharya, có truyền lại cuốn “Nghìn ngày làm pháp Chuẩn Đề”. Tại Đài Loan có Phổ Lực Kim cương Thượng sư và Phổ Phương Kim cương Thượng sư là cực lực truyền bá pháp Chuẩn Đề.
Đặc biệt viết một bài kệ:
Tiêu nghiệp chí tôn Đại Chuẩn Đề Minh tâm kiến tính đại bí mật Con mắt thứ ba đắc tự chủ Là đại thọ ký của Như Lai.
16. Hoàng Tài Thần Bổn tôn pháp
Tu trì Bổn tôn Hoàng Tài Thần của Chân Phật Tông có chút khác biệt. Ở trước khi tượng Hoàng Tài Thần, cần chuẩn bị một chiếc đĩa sạch, đặt tiền ở đáy đĩa, bên trên phủ đầy gạo, rồi cắm ba nén hương đã thắp vào gạo, sau đó mới bắt đầu tu pháp.
Dưới đây là chi tiết pháp Bổn tôn Hoàng Tài Thần của Chân Phật Tông:
1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Kết ấn:
Ấn căn bản của Hoàng Tài Thần — Hai tay chắp hờ, trước tiên mở hai ngón trỏ sang hai bên, sau đó bắt chéo hai ngón giữa song song với mặt đất, hoàn thành ấn. (đặt trước ngực) Ấn chung của Hoàng Tài Thần — Hai tay nắm thành nắm đấm, ngón cái của cả hai tay đều nắm phía trong, hai ngón trỏ của tay trái và tay phải duỗi ra, móc vào nhau. (đặt trước ngực) Ấn kim cang của Hoàng Tài Thần — Tức là chắp tay kim cang, hai tay chắp lại, các ngón tay đan chéo giống hình chùy. (đặt trước ngực) (Ba ấn trên đều có thể sử dụng, tùy ý chọn một. Khi đồng tu thì chọn ấn kim cang của Hoàng Tài Thần.)
9. Quán tưởng:
Quán tưởng khói từ ba nén hương trên đĩa gạo cuộn lên, biến hoá thành một vị Hoàng Tài Thần tư thế ngồi, thân Hoàng Tài Thần có màu vàng, ngồi bán già, trên đầu đội mũ miện vàng, mũ miện được trang trí đầy đá quý, khuôn mặt ngài tròn, dáng dấp phú quý nhưng hơi uy nghiêm, trên người đeo chuỗi đá quý, tay phải cầm một vật báu, giống hình quả bưởi, tay trái ôm một con chuột nhả ra châu báu.
Tiếp tục quán tưởng ngón chân cái bên phải của Hoàng Tài Thần buông xuống bị sưng lên, rất đau.
Lúc này trong tâm niệm "Ôm ah hùm sô-ha" ba lần, sau đó triệu thỉnh năm vị Phật từ hư không đến. Quán tưởng năm vị Phật trên không trung, ngự phía trên Hoàng Tài Thần, mỗi vị phóng ra năm tia sáng, quán đảnh Hoàng Tài Thần. Lúc này niệm "Ôm hùm chân-sa-a" tức là chân ngôn quán đảnh, niệm ba lần. Do năm vị Phật ngự trên không trung quán đảnh cho Hoàng Tài Thần, ngón chân cái bên phải của Hoàng Tài Thần hết sưng đau, khuôn mặt Hoàng Tài Thần hiện nụ cười. Lúc này, miệng chuột nhả châu báu mở ra, nhả lên đĩa gạo, núi gạo biến thành núi vàng. Lúc này có thể quán tưởng tất cả những điều mình mong cầu từ miệng chuột nhả châu báu mà xuất hiện.
10. Tụng chú. (giải ấn, lần chuỗi hạt)
Chân ngôn Hoàng Tài Thần: "Ôm chân-pa-la cha-lâng-cha-na-yê sô-ha." Chân ngôn này niệm tổng cộng 108 lần hoặc nhiều hơn.
11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.
12. Nhập định. Chỉ nhẹ nhàng đưa ý niệm theo Hoàng Tài Thần ẩn vào làn khói lành, bay lên không trung phía Bắc, tất cả đều nhẹ nhàng, thoải mái.
13. Xuất định. Tụng tán:
Bắc Phương Thiên Vương phúc dồi dào Ban cho vô số mọi tài bảo Giờ đây tất cả đều viên mãn Nhờ Hộ Pháp trụ nơi cửa Phật.
14. Hồi hướng:
Nguyện cùng Hộ Pháp thăng Bắc Thiên Dâng lễ cúng dường vào thánh vực Có được tài phúc vĩnh viễn hưởng Rồi thí pháp tài giúp chúng sinh.
15. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
Cát tường viên mãn.
🌟
Liên Sinh Hoạt Phật nói: Hoàng Tài Thần thực chất là hóa thân của Đa Văn Thiên Vương. Đa Văn Thiên Vương chính là một trong Tứ Đại Thiên Vương Hộ Thế, còn được gọi là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, là Hộ pháp ánh sáng của nhà Phật, đồng thời cũng là vị thần đại thiện ban phúc và tài bảo. Đa Văn Thiên Vương cư ngụ ở phương Bắc của Tứ Thiên Hạ, các thị giả của ngài đều là Dược Xoa và La Sát.
Hình tượng thông thường của Đa Văn Thiên Vương là tay trái cầm một bảo tháp, bảo tháp này có thể phun ra mọi báu vật. Hoàng Tài Thần chính là hóa thân của Đa Văn Thiên Vương, trong Mật tông Tây Tạng, bảo tháp biến thành chuột nhả châu báu, đây chỉ là sự thay đổi về hình tượng, thực chất Hoàng Tài Thần chính là Đa Văn Thiên Vương.
Vị Thiên Vương này là người giàu có nhất, được Kiên Lao Địa Thần nâng đỡ hai chân, Lam Bà và Tỳ Lam Bà là hai Dạ Xoa, hỗ trợ hai bên Địa Thần, là vị Thiên Vương giàu có và vĩ đại luôn trấn giữ ở phương Bắc.
Pháp Bổn tôn Hoàng Tài Thần được xếp vào một trong tám vị Bổn tôn của Chân Phật Tông, điều này có lý do. Tôi cho rằng trong Chân Phật Tông, đệ tử giàu có không ít, nhưng những đệ tử nghèo khổ cũng rất nhiều. Những đệ tử nghèo khổ hy vọng rằng Thượng Sư có thể ban cho một pháp môn để giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo khó.
Vì vậy, tôi đã suy nghĩ rất lâu, cũng cân nhắc rất nhiều. Tôi biết rằng Đa Văn Thiên Vương của phương Bắc chính là vị trời giàu có nhất trong thiên giới, đồng thời là người hộ trì Phật pháp và hay giúp đỡ những người nghèo khổ nhất. Hơn nữa, Đa Văn Thiên Vương vốn là một vị Thiên Vương vô cùng bí ẩn, cũng là một Thiên Vương có nhân duyên biến hóa to lớn.
Vì lý do đó, tôi đã đưa Đa Văn Thiên Vương (Hoàng Tài Thần) vào danh sách tám vị Bổn tôn, hy vọng dựa vào lực đại phúc của Đa Văn Thiên Vương để thúc đẩy pháp vụ của Chân Phật Tông, truyền bá khắp thế giới, giúp mọi người đều có thể nhận được sự cứu độ của Chân Phật, hoàn thành nhiệm vụ phổ hóa Phật pháp.
Điểm trọng yếu của pháp Bổn tôn Hoàng Tài Thần này là quán tưởng, so với các pháp Bổn tôn thông thường thì phức tạp hơn một chút, mỗi lần quán tưởng cần phải rõ ràng. Đầu tiên quán tưởng Hoàng Tài Thần, sau đó quán tưởng năm vị Phật ở trên không trung (hình dạng của năm vị Phật có thể giống nhau), năm ánh sáng từ trên chiếu xuống làm phép cho Hoàng Tài Thần, ngón chân cái bên phải của Hoàng Tài Thần hết sưng đau, miệng chuột nhả châu báu mở ra, vàng bạc châu báu chất thành núi. Tất cả những quán tưởng này đều phải rõ ràng. Triệu thỉnh năm vị Phật cần phải niệm chân ngôn để triệu thỉnh.
Khi quán tưởng năm luồng ánh sáng quán đảnh cho Hoàng Tài Thần xong cần phải niệm chân ngôn quán đảnh.
Trong đó còn có một bí mật, sau khi hoàn thành quán đảnh Hoàng Tài Thần, có thể tiếp tục quán tưởng năm luồng ánh sáng cũng quán đảnh cho chính mình, như vậy nghiệp chướng được tiêu trừ, bệnh đau cũng giảm bớt, còn có thể nhận được phúc báo lớn, đây cũng là một trong những bí mật trong bí mật. Tiếp theo là tụng chú, tụng tâm chú Hoàng Tài Thần.
Theo tôi được biết, hiện tại Chân Phật Tông khu vực Đài Loan của Trung Hoa Dân Quốc có Thượng sư Vưu Ngân Thọ, đã nhận được sự ban phúc và gia trì từ Hoàng Tài Thần. Thượng sư Vưu Ngân Thọ cũng đã được Hoàng Tài Thần thọ ký. Nếu Thượng sư Vưu Ngân Thọ mãi mãi giữ đạo tâm không thối chuyển, hành xử chính đáng, làm việc chân chính, và truyền bá Chân Phật Mật Pháp từ đầu đến cuối, trong tương lai chắc chắn sẽ nhận được sự bảo hộ của Hoàng Tài Thần, luôn luôn dồi dào tài lực để lợi ích trời người.
Vì Bổn tôn Hoàng Tài Thần, tôi viết một bài kệ: Một đầu hai tay thân màu vàng Cầm chuột tài bảo ngồi tòa quý Vui mừng thiên hạ giàu sung túc Đệ tử Chân Phật nguyện hộ trì.
17. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp (1)
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị thầy gốc truyền thừa tôn quý của Liên Sinh Hoạt Phật. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ xuất hiện trong thiền định của Liên Sinh Hoạt Phật, dẫn Liên Sinh Hoạt Phật đến một hầm mộ vàng, truyền dạy đại pháp tối thượng của phái Nyingma, chính là pháp Đại Viên Mãn. Vì vậy, Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được chân truyền từ Đức Liên Hoa Sinh.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói với Liên Sinh Hoạt Phật: "Liên Sinh Kim Cương Thượng Sư trong tương lai sẽ viên chứng Phật thổ Tây phương Cực Lạc Ma Ha Song Liên Trì, nhờ đó vô số chúng sinh sẽ được độ hóa. Tướng trang nghiêm của Liên Sinh Thượng Sư chính là đức bất nhị của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Thuyết pháp không chỉ lợi lạc trời người mà ngay cả những người học theo Tiểu thừa cũng đều quy y. Liên Sinh Thượng Sư đánh trống pháp lớn, thổi loa pháp lớn, số lượng chúng sinh được độ sẽ nhiều vô song trong tương lai."
Đại pháp mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền cho Liên Sinh Hoạt Phật chính là: "Ati Maha Shanti Yoga". Chi tiết về đại pháp này có thể xem trong tác phẩm "Mật Giáo Đại Viên Mãn" của Liên Sinh Hoạt Phật.
Vì Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị Thượng sư gốc của Liên Sinh Hoạt Phật. Do đó, các vị Hoạt Phật Tây Tạng từ khắp nơi trên thế giới đều bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Hoa Kỳ để quy y học pháp. Nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật, cầu xin Ngài ban cho pháp vô thượng.
Vì vậy, pháp Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ này vô cùng quý giá. Trước khi liệt kê chi tiết về pháp này, xin kính ghi lại danh hiệu của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Nam mô Kim Cang Bất Sinh Bất Diệt Liên Hoa Sinh Đại Sĩ."
Đại Sĩ vốn đã thành Đẳng Chánh Giác, chứng ngộ năm trí Phật. Phương tiện độ sinh hết thảy đều đầy đủ. Có thể thỏa mãn mọi nguyện, lợi lạc tất cả chúng sinh. Năm vị Phật Mẫu của Ngài là Mandarava, Kala Siddhi, Shakya Devi, Tashi Khyidren, Yeshe Tsogyal, các vị này hoặc sinh ở Ấn Độ, hoặc sinh ở Nepal và Bhutan, hoặc sinh ở Tây Tạng, đều là thị hiện phương tiện, giúp Thượng sư ứng hóa, điều phục chúng sinh, tiếp nối Tam Bảo. Đại Sĩ thông suốt Hiển Mật, không phân chia hai ngả, tất cả giáo nghĩa rốt ráo trong kinh hiển và mật thừa, thành tựu vô thượng. Ngài thâm nhập tâm ấn khẩu quyết của Phật Thích Ca Mâu Ni, chân truyền huyết mạch. Tất cả ba nghiệp kim cang thân khẩu ý, ba thân Pháp Báo Ứng, bí quyết chứng đắc, cùng với bốn pháp tức tăng hoài tru, phương tiện độ sinh, hết thảy đều viên mãn.
Đại Sĩ viên chứng thành tựu vô thượng của Vô Lượng Thọ Như Lai, tất cả tướng trang nghiêm y chính trong bốn loại tịnh thổ, thân sĩ đức bất nhị, dấu tích tướng lưỡi rộng dài trùm khắp, và số lượng chúng sinh được nhiếp thọ, tất cả đều như trong các kinh A Di Đà Phật đã ghi chép rộng rãi.
Để độ hóa chúng sinh có bản tính ác độc, cũng như những chúng sinh phỉ báng và nghi sợ, Đại Sĩ được sinh ra từ ánh sáng màu đỏ phát ra từ nhục kế của Đức A Di Đà Phật.
Giáo pháp của Đại Sĩ lan tỏa khắp sáu đại không ngăn ngại, trong một pháp giới chân thực, trong thái hư. Pháp thường hằng tự nhiên, lợi lạc tất cả hữu tình, cho đến tận cùng tương lai, danh tiếng vang khắp vô lượng thế giới. Báo thân và Ứng thân của Ngài biến khắp các cõi nước nhiều như vi trần. Người thấy thân Ngài liền phát tâm, người nghe danh Ngài liền khởi tín, người nghe âm thanh Ngài liền khai ngộ, người biết tâm Ngài liền thành Phật.
Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là ứng hóa thân kim cang của tam mật tam thánh hợp nhất: "Thân Phật Thích Ca, ngữ Phật A Di Đà, tâm Bồ Tát Quan Âm". Đại Sĩ sinh vào ngày mồng mười tháng bảy âm lịch, tám năm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, hóa sinh từ hoa sen năm màu trong hồ Dhanakosa ở Tây Ấn Độ. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ từ Ấn Độ đến Tây Tạng hoằng pháp, là vị tổ khai sáng của Mật tông Tây Tạng.
Nam mô Pháp thân thường trụ, ba đời như một, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô Báo thân thanh tịnh, tướng hảo vô song, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô hóa thân biến hiện, Yết Ma vô lượng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Kính ghi bài tụng khởi thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ như sau:
Pháp thân Phổ Hiền Kim Cương Trì thứ sáu. Tát Đỏa Bà Già Thích Ca đại tôn sư. Hỗ chủ Vô Lượng Thọ Phật quán tự tại. Trước Liên Sư nhất quán kính khởi thỉnh. Thể tính thân là chủ Diễm Ma kỳ diệu. Thể tính ngữ là tiếng Mã Minh tự tại. Thể tính ý là Heruka chân thật. Trước Thượng sư tôn quý như ý kính khởi thỉnh. Công đức thù thắng oai trấn Heruka. Chủ thể Yết Ma thân Kim Cang Đồng Tử. Diệu mẫu Không hành chủ tôn viên mãn chủ. Trước Thánh tôn đại lực kính khởi thỉnh Thân sắc biến hiện tướng tĩnh thiện phẫn nộ. Ngữ âm vi diệu đầy đủ mười hai chi. Tâm trí duyên niệm viên mãn không chướng ngại, trước Không hành vô thượng thắng tôn kính khởi thỉnh. Ban thọ ký tương lai và chỉ kho pháp ẩn. Từ tâm hộ niệm hành giả như con yêu. Bi mẫn Diêm Phù chỉ dạy phó chúc tâm tử. Trước hóa thân đại ân chí tôn kính khởi thỉnh.
Ngày nay, chủ tôn của Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond Hoa Kỳ chính là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, và chính điện của Lôi Tạng Tự thờ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ được thỉnh từ Nepal. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là vị Căn bản Thượng sư tôn truyền của Liên Sinh Hoạt Phật. Hiện nay, các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y Liên Sinh Hoạt Phật là do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ căn dặn Liên Sinh Hoạt Phật, và Liên Sinh Hoạt Phật chính là bậc chủ bí mật của chân ngôn kim cang, là đấng nương tựa vĩ đại của chúng sinh trong tương lai. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Liên Sinh Hoạt Phật không hai không khác.
Trong thời đại ngày nay, Liên Sinh Hoạt Phật xuất hiện trên đời với một nhân duyên lớn, nguồn gốc của Liên Sinh Hoạt Phật và nguồn gốc của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là giống nhau. Liên Sinh Hoạt Phật đến từ Ma Ha Song Liên Trì ở Tây phương của Phật A Di Đà. Và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã viên chứng thành tựu vô thượng của Phật A Di Đà, nên nguồn gốc của hai vị là ngang bằng nhau.
Người học Phật nên lắng nghe lời dạy của Bổn sư, tự quán xét tâm mình để tu pháp, quy y Chân Phật, tôi sẽ hiện ra trước mặt họ và giảng giải cho họ về bí mật trong Chân Phật Mật Pháp.
18. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp (2)
Bây giờ xin thuật lại chi tiết Liên Hoa Sinh Đại Sĩ Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:
1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư tôn Bồ Tát.
Đặc biệt khởi thỉnh Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Nam mô Pháp thân thường trụ tam tế nhất như Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô Báo thân thanh tịnh tướng hảo vô song Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Nam mô Hóa thân biến hiện Yết Ma vô lượng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Đệ tử (tên), thành tâm thành ý, nhất tâm tam bái thỉnh."
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Kết ấn:
Ấn căn bản Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: Tay phải ở trên, lòng bàn tay hướng xuống, ngón cái và ngón giữa tạo thành vòng tròn. Tay trái ở dưới, lòng bàn tay hướng lên, ngón cái và ngón giữa tạo thành vòng tròn, hai tay cách nhau một khoảng, tạo thành ấn căn bản Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. (đặt ngang ngực)
Ấn thân Thích Ca của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: Hai tay chắp lại, hai ngón trỏ và hai ngón áp út cong vào lòng bàn tay, chỉ còn lại ba ngón khác chạm vào nhau, dựng thẳng hướng lên không trung. (đặt ngang ngực)
Ấn kim cang của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: Hai tay trước tiên bắt chéo quay lưng vào nhau, hai ngón út móc vào nhau, dựng thẳng hai ngón trỏ chỉ chéo lên không trung, hai ngón cái mỗi bên ấn lên hai ngón giữa và ngón áp út tạo thành vòng tròn, tạo thành ấn. (đặt ngang ngực)
(Ba ấn nêu trên đều có thể sử dụng chung. Nhưng trong pháp hội đồng tu của tông phái chúng ta, sử dụng ấn kim cang của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.)
9. Quán tưởng: Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đội mũ báu, thân màu hồng nhạt, tay phải cầm chày kim cang, cổ tay trái kẹp gậy đinh ba, ngồi kiết già trên nguyệt luân hoa sen, an trụ trong không gian đối diện, tay trái giữ thiên linh cái, trong thiên linh cái có chứa báu vật và cam lộ. Quán tưởng nước cam lộ hóa thành ánh sáng trắng, tạo thành một hình cung, chiếu rót vào hành giả. Đại cam lộ này sẽ tiêu diệt hết thảy nghiệp tội, bệnh khổ, ma chướng của hành giả, đạt được đại tự tại.
Lại quán tưởng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thu nhỏ như một điểm sáng cỡ hạt gạo, từ đỉnh đầu, theo trung mạch, đi đến hoa sen trong tim của hành giả, an tọa trên tâm liên hoa của hành giả.
Lại quán tưởng thân Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dần dần lớn lên, lớn đến mức bằng thân của chính mình (hành giả), hòa hợp chặt chẽ, không hai không khác, chính mình biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là mình.
10. Tụng tâm chú. (buông ấn, lần tràng hạt)
Tâm chú Liên Hoa Sinh Đại Sĩ: "Ôm ah hùm ben-za gu-ru pê-ma sit-đi hùm sê." (Số lần tụng tâm chú tùy theo thời gian của mình, 108 biến hoặc hai, ba vòng tràng hạt hoặc nhiều hơn.)
11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.
12. Nhập định.
Ngồi thẳng lưng, thu về tâm ý, không khởi một chút vọng niệm, không nghĩ gì cả, tất cả đều không, cũng chính là tâm tính thanh tịnh của mình, hòa nhập và hợp nhất với ánh sáng của pháp giới. Đây chính là tự chủ sinh tử, trực chứng cảnh giới vô thượng chính đẳng chính giác. Tâm tính của mình và tâm tính của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ngang bằng nhau, đó là đệ nhất nghĩa đế — Tam ma địa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
13. Xuất định. Tụng tán:
Liên Sư tổng trì đại quang minh Vị đại Tổ sư thỉnh là đến Ánh sáng chiếu rọi tâm chúng sinh Bồ đề đại tâm mãi hộ trì.
14. Hồi hướng:
Mong đem đại nguyện tu hành này Mau thành đại giác Liên Hoa Sinh Cả hai hợp nhất không phân biệt Quảng độ chúng sinh đến Phật địa.
15. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
Cát tường viên mãn.
🌟
Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng, rất nhiều hành giả Mật tông Tây Tạng đều lấy Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm Bổn tôn tu hành. Phần lớn nam hành giả thích chọn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ làm Bổn tôn, nữ hành giả thích chọn Lục Độ Mẫu làm Bổn tôn.
Thực tế, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ chính là bậc đại thành tựu giả viên mãn cả bi lẫn trí, chính Ngài đã sáng lập Mật tông Tây Tạng. Pháp tu Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ vốn có công đức vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Có thể đạt được đại trí tuệ, thành tựu thân kim cang bất hoại.
Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng pháp tu Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ sẽ sinh ra đại uy đức. Bởi vì đại bí mật của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nằm trên Pháp thân kim cang. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có kim cang tính, nghĩa là có thể chế ngự các ngoại đạo, có thể tiêu diệt yêu ma, tất cả quỷ thần đều phải nghe lệnh của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Năm xưa khi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng, tín ngưỡng nguyên thủy của Tây Tạng (đạo Bon) Hắc giáo - một tà giáo thực hành ngũ độc, giết trẻ tế thần và dâm loạn - đang hoành hành dữ dội. Nhưng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã thị hiện thân kim cang và tính kim cang, phá trừ Hắc giáo ở Tây Tạng, từ đó thiết lập nên Mật tông Tây Tạng.
Vì vậy pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có công đức vô lượng vô biên. Nếu có yêu ma quấy phá, chỉ cần tu pháp Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, dùng ấn kim cang của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ phóng ánh sáng đỏ chạm đến, yêu ma lập tức tan tác bỏ chạy, không dám quấy nhiễu người lành nữa.
Thân kim cang của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là: toàn thân màu đỏ, đầu đội mũ năm sọ người, tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm bọ cạp độc, trước ngực quấn một con rắn khổng lồ, lại đeo chuỗi vòng cổ gồm năm mươi mốt đầu người, thân khoác váy da hổ, hai chân mỗi bên đạp lên hai yêu ma, trên đỉnh đầu Liên Sư là con dơi khổng lồ bay trên trời, toàn thân Liên Sư tỏa ra ngọn lửa đại phẫn nộ. Đây chính là tướng phẫn nộ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ.
Vì vậy, bí mật của pháp Bổn tôn Liên Hoa Sinh Đại Sĩ có thể trừ bệnh, có thể sống lâu, có thể có đầy đủ áo quần thực phẩm, có thể được phúc báo lớn, có thể tiêu trừ tất cả các tai ương chín nạn, tất cả tai họa bất ngờ không xảy ra, vận nhà đại cát tường, có thể nói cầu con được con, cầu tài được tài.
Trong đó, bí mật lớn nhất là kim cang tính hàng phục ma quỷ, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là vị kim cang có pháp tru diệt, vì vậy Ngài có thể phá trừ Hắc giáo ở Tây Tạng, sáng lập Phật giáo Tây Tạng Lama giáo.
Liên Sinh Hoạt Phật biết rằng, thời đại hiện nay chính là lúc yêu ma hoành hành, ma mạnh pháp yếu, quan trọng nhất là cần có vị Thượng sư chân chính xuất hiện, hoằng dương mật phát chân thật của Phật, mật pháp sẽ hưng thịnh lớn! Đây là để đối trị sự đen tối của thời đại này.
Chân Phật Mật Pháp sẽ hưng thịnh lớn, đây là điều Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã tiên đoán từ lâu. Đệ tử Chân Phật Tông đã có năm triệu người. Và Liên Sinh Hoạt Phật chính là vị Đại Trì Minh Kim Cang Acharya chân chính.
Đại pháp truyền thừa ban áo kim Hồng Hoàng Bạch Hoa Hoàng mới nhất Hoạt Phật bốn phái đều quy y Chân Phật Mật Pháp bay cao ngất.
19. Dược Sư Phật Bổn tôn pháp
Bây giờ xin thuật lại chi tiết Dược Sư Phật Bổn tôn pháp của Chân Phật Tông như sau:
1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư tôn Hộ pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân pháp.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. (1~3 biến)
8. Kết ấn:
Ấn pháp giới định Dược Sư Phật: Tay trái ở dưới, tay phải ở trên, hai ngón cái chạm vào nhau, giống như ấn thiền định của Phật A Di Đà. Cần quán tưởng trên lòng bàn tay có bát, trong bát chứa diệu dược của mười hai đại nguyện. (đặt dưới rốn)
Ấn căn bản Dược Sư Phật: Hai bàn tay nắm lại như nắm đấm đan vào nhau, hai ngón cái song song dựa vào nhau. (đặt trước ngực)
Ấn ngũ sắc quang Dược Sư Phật: Hai tay tách nhau, tay trái lòng bàn tay mở ra, ngửa lên trên, ngón cái đè lên ngón trỏ. Tay phải lòng bàn tay mở ra hướng về phía trước, ngón cái đặt hướng vào lòng bàn tay. (đặt trước ngực)
Trong ba ấn trên, có thể tùy chọn một trong số đó, chỉ có pháp hội đồng tu mới sử dụng ấn ngũ sắc quang Dược Sư Phật.
9. Quán tưởng:
Trước tiên quán Không, từ trong hư không hiện ra một vị Dược Sư Phật, hình tướng của Dược Sư Phật giống như Phật A Di Đà, cũng đầy đủ 32 tướng tốt, nhưng thân của Ngài màu xanh dương, hai tay kết ấn thiền định, cầm một chiếc bát, trong bát chứa đầy cam lộ chữa bệnh, Ngài ngồi trên đài sen.
Tiếp theo quán tưởng từ tâm của Dược Sư Phật phóng ra ánh sáng xanh dương lớn, ánh sáng xanh dương này chiếu rọi và tràn vào hành giả, đi vào từ đỉnh đầu của hành giả, thân thể hành giả chuyển thành toàn thân màu lưu ly trong suốt, tất cả nghiệp chướng, túc nghiệp và bệnh tật hoàn toàn tiêu trừ.
(Nếu muốn chữa bệnh cho người khác, có thể quán tưởng bát trong tay Đức Dược Sư Phật phóng quang, lên cao hạ xuống, chiếu vào thuốc, nước sạch hoặc thức ăn mà hành giả đã chuẩn bị trước cho bệnh nhân sử dụng. Hoặc là chiếu vào quần áo của bệnh nhân. Nghĩa là ánh sáng xanh dương lên xuống, chiếu vào thức ăn hoặc quần áo của bệnh nhân, thức ăn hoặc quần áo có thể đặt trước mặt hành giả, trước đàn pháp.)
(Trong pháp chữa bệnh của Tạng mật có cách sử dụng hai sợi dây đỏ và xanh lá tạo thành vòng tròn, cho ánh sáng xanh dương của Dược Sư Phật chiếu vào, sau đó buộc dây đỏ xanh lá lên tay người bệnh, để người bệnh đeo, như vậy bệnh có thể được chữa khỏi.)
Thứ ba, quán tưởng từ tâm của Dược Sư Phật phóng ra ánh sáng xanh dương lớn, và từ tâm của hành giả cũng phóng ra ánh sáng xanh dương, hai luồng ánh sáng gặp nhau trong không trung, hợp làm một, trong khoảnh khắc, hành giả cũng biến thành Dược Sư Phật, Dược Sư Phật trong không trung và Dược Sư Phật là hành giả không hai không khác, đều thành Bổn tôn.
10. Tụng tâm chú: (buông thủ ấn, lần chuỗi hạt)
Tâm chú Dược Sư Phật: "Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây sô-ha." 108 lần hoặc 1080 lần.
11. Quán tưởng viên mãn: Quán tưởng Dược Sư Phật và các vị khác đều từ không trung phóng đại quang minh ngũ sắc, chiếu rọi tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh trăm bệnh tiêu trừ, thân tâm tự tại, đều có nhân duyên với Phật đến tu pháp. Và bản thân mình biến hiện thành Dược Sư Phật, lợi ích tất cả hữu tình, cứu độ chúng sinh.
12. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.
13. Nhập định. Thân tâm thanh tịnh tự tại, nhập vào Tam ma địa của Bổn tôn Dược Sư Phật.
14. Xuất định. Tụng tán:
Mười hai đại nguyện mong ước chúng sinh hằng trụ thế Ánh sáng xanh lam chiếu thế nhân mãi được trường sinh Tối thượng thù thắng thành tựu Dược Sư Quang Vương Phật Chúng con lần lượt đảnh lễ quy y dưới chân ngài.
(Chỗ này có thể thêm niệm Nam mô Dược Sư Phật trăm lần nghìn lần.)
15. Hồi hướng:
Gia trì tu pháp đạt thành tựu Trăm bệnh tiêu trừ phúc huệ tăng Mong cùng Bổn tôn hợp làm một Chúng sinh thế giới được an vui.
16. Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
Cát tường viên mãn.
🌟
Hoạt Phật Liên Sinh cho rằng, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật là Đại Y Vương Phật, là vị cứu độ hết thảy chúng sinh thoát khỏi bệnh khổ, nguyện lực và hạnh nguyện của Ngài rất lớn, cõi tịnh thổ của Ngài nằm ở phương Đông núi Tu Di, chính là Đông phương Tịnh Lưu Ly thế giới, là nơi vi diệu và trang nghiêm. Hành giả Mật tông tu pháp Bổn tôn Dược Sư, không chỉ có thể cứu độ người đời và chúng sinh, mà còn có thể vãng sinh về tịnh thổ của Bổn tôn, tức thân thành Phật.
Bí quyết chữa bệnh của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật chính là phóng ra ánh sáng xanh trắng, chạm vào quần áo và thức ăn của tất cả bệnh nhân, đây là bí mật trong bí mật để cứu giúp người bệnh.
Thực ra mật pháp Bổn tôn Dược Sư Phật không chỉ để chữa bệnh mà thôi, mà còn có thể hàng phục ma chúng, đẩy lùi các oán địch. Pháp tu vĩ đại nhất của Dược Sư Phật là pháp tu năm đàn Thất Phật Dược Sư. Đây là một trong bốn đại pháp của Đài mật, năm đàn này gồm có: ở giữa là Đại Thánh Bất Động Minh Vương, phương Nam là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương, phương Bắc là Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương, phương Đông là Hàng Tam Thế Minh Vương, phương Tây là Đại Uy Đức Minh Vương. Đây là đại pháp vô thượng, là đại pháp cứu quốc cứu dân.
Dược Sư Phật còn có mười hai thần tướng của Dược Sư, mười hai vị thần tướng này đều hành động theo luật lệnh của Dược Sư Phật. Tu pháp Bổn tôn này có thể điều khiển mười hai thần tướng, nên pháp lực vô cùng lớn.
Thị giả và quyến thuộc của Dược Sư Phật còn có Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát v.v… có thể nói là vô cùng trang nghiêm.
Hành giả Mật tông tu pháp Bổn tôn này cần phát mười hai đại nguyện của Dược Sư: 1. Nguyện cho thân mình và thân người đều rực rỡ quang minh. 2. Nguyện oai đức cao vời khai ngộ chúng sinh. 3. Nguyện khiến chúng sinh được thỏa mãn những điều mong cầu mà không thiếu thốn. 4. Nguyện khiến tất cả chúng sinh an trụ nơi Đại thừa. 5. Nguyện khiến tất cả chúng sinh hành phạm hạnh, đầy đủ ba tụ giới. 6. Nguyện khiến tất cả người khuyết tật được các bộ phận đầy đủ. 7. Nguyện trừ tất cả bệnh tật của chúng sinh, khiến thân tâm an lạc, chứng đắc vô thượng bồ đề. 8. Nguyện chuyển thân nữ thành thân nam. 9. Nguyện khiến các hữu tình giải thoát khỏi sự trói buộc của thiên ma ngoại đạo, rừng rậm tà kiến ác kiến, dẫn dắt họ vào chính kiến. 10. Nguyện khiến chúng sinh giải thoát khỏi những tai nạn do vua ác, kẻ cướp gây ra. 11. Nguyện khiến chúng sinh đói khát được thức ăn thượng hạng. 12. Nguyện khiến những người nghèo túng không có áo mặc được y phục tốt đẹp.
Liên Sinh Hoạt Phật viết bài kệ tán thán Dược Sư Phật: Đại pháp phổ truyền không nghi hoặc Danh tiếng Chân Phật thời thịnh hưng Chư tôn đều có pháp ứng báo (thân) Xưa nay cứu đời Đại Y Vương.
20. Nói kĩ về pháp Bổn tôn
Pháp Bổn tôn là pháp vô cùng quan trọng. Nó chính là pháp mà hành giả Mật tông phải phụng hành cả đời, không bao giờ được từ bỏ, ngay cả khi tu đến mức Bổn tôn hiện ra, đích thân ban cho hành giả đại quán đảnh, đại gia trì, đại thọ ký, đại tương ứng. Nếu hành giả tự cho rằng đã tương ứng với pháp Bổn tôn rồi, từ đó chuyển sang tu pháp khác và từ bỏ pháp Bổn tôn, thì đó là sai lầm to lớn.
Đối với những người đã đạt được tương ứng với pháp Bổn tôn, nếu muốn thêm vào việc tu pháp Kim Cang hoặc pháp Yết Ma, thì cần phải tìm thời gian riêng để tu thêm. Tôi đặc biệt nhấn mạnh với mọi người nhiều lần rằng: "Pháp Bổn tôn, đời đời không được từ bỏ."
Bất kỳ mật pháp nào, hầu như đều cần bước vào đàn tràng và niệm thần chú thanh tịnh, niệm thần chú triệu thỉnh, nghi thức Đại lễ bái Chân Phật, nghi thức Đại cúng dường Chân Phật, nghi thức Tứ quy y Chân Phật, pháp mặc giáp hộ thân, tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Bảy phần này có thể nói là động tác cơ bản của tất cả các pháp, cũng chính là điều cần thiết cho mọi pháp tu, khi làm pháp nhất định phải thanh tịnh, triệu thỉnh, lễ bái, cúng dường, quy y, hộ thân, tụng kinh. Nếu thiếu một trong bảy phần này, nghi thức sẽ bị khiếm khuyết, vì vậy bảy phần này là điều cần thiết cho tất cả các pháp, không nên sơ suất hay bỏ qua.
Thủ ấn mật pháp của Chân Phật Tông có một số điểm khác biệt so với thủ ấn được truyền thụ trong Mật tông thông thường. Những thủ ấn mà Liên Sinh Hoạt Phật lĩnh hội chính là bí mật về thân thể của chư Phật Bồ Tát và chư tôn, đây là một loại "thân mật". Thủ ấn do Liên Sinh Hoạt Phật giảng dạy thực sự có thể thâm nhập vào "thân mật", nghĩa là có thể hoàn toàn dung hợp "thân mật" giữa chư tôn và hành giả, trở thành thân ấn vô thượng.
Quán tưởng của Chân Phật Tông chính là "ý mật" của chư tôn. Liên Sinh Hoạt Phật yêu cầu mọi người trước tiên phải quán Không, có thể từ không hiện ra chữ Phạn "Ah", chữ Phạn của "Ah" là: ཨཱཿ, sau đó từ chữ Ah xoay tròn hiện ra Bổn tôn. Hoặc trực tiếp từ hư không hiện ra Bổn tôn. Nhiều đệ tử viết thư nói: quán tưởng không rõ ràng. Tôi cho rằng, hành giả nên thường xuyên xem pháp tướng của Bổn tôn, in hình dáng của Bổn tôn vào trong tâm trí, rồi thường xuyên quan sát gương mặt của Bổn tôn, cũng in gương mặt ấy vào trong tâm trí, lâu dần quan sát pháp tướng, in sâu vào tâm trí, khi nhắm mắt lại, hình ảnh sẽ hiện ra rất rõ ràng, điều này cần phải công phu, về phương diện quán tưởng, luyện tập lâu ngày tự có bí quyết hay. Quán tưởng Bổn tôn này chính là bí mật của ý niệm trong đó, ý mật của chư tôn kết hợp với ý mật của chính mình, đây chính là sự dung hợp của quán tưởng vô thượng.
Thần chú của Chân Phật Tông, đương nhiên lấy cách phát âm được truyền miệng từ vị Căn bản Thượng sư làm chuẩn, tại sao nhất định phải do Thượng sư truyền miệng? Nói một cách đơn giản, thần chú được Thượng sư truyền miệng mới có được lực gia trì chân thực của Thượng sư, mới có thể cùng Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật tạo ra sự cộng hưởng và hòa hợp. Nếu miệng tụng Phạn ngữ cổ, thì đương nhiên không phải là Chân Phật Tông. Miệng tụng Phạn ngữ hiện đại, thì đương nhiên cũng không phải là Chân Phật Tông.
Tụng bằng tiếng Indonesia, tiếng Thái, tiếng Tạng, tiếng Quảng Đông hoặc bất kì ngôn ngữ địa phương nào, hầu hết đều có sự lệch lạc, tất nhiên cũng lệch xa khỏi Chân Phật Tông.
Âm của thần chú rốt cuộc ai đúng ai sai? Trên dãy Himalaya có hàng trăm phương ngữ, người nào cũng nói mình đúng, người khác sai? Phạn âm cổ có thực sự đúng không? Có vẻ cũng không hẳn, bởi vì người Ấn Độ cổ đã chết hết từ lâu, Phạn âm cổ mà người hiện đại khôi phục qua khảo chứng, rốt cuộc có thể cổ đến mức nào, thật đáng nghi vấn.
Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật đã thân chứng cảnh giới thông qua việc trì tụng chân ngôn của mình cho nên chú âm truyền miệng của Liên Sinh Hoạt Phật chính là sự tiếp nối của chứng đắc. Nói cách khác, tôi đã thân chứng, vì thế bạn học theo cách phát âm của tôi đương nhiên sẽ không có sai sót, và chắc chắn sẽ nhận được sức mạnh bí ẩn của sự gia trì từ Thượng sư. Đây là ngữ mật của chư tôn thông suốt với ngữ mật của Thượng sư, rồi lại thông suốt với ngữ mật của các hành giả khác, tạo thành một dòng chảy liên tục. Làm cho chuyết hỏa thăng lên, minh điểm thăng lên, đây chính là bí mật của chân ngôn vô thượng, âm thanh thần chú rung động bên trong.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm, đều có thể coi là động tác chuẩn bị để nhập Tam ma địa. Người ít thời gian có thể chỉ thực hiện Cửu tiết Phật phong, hoặc chỉ thực hiện nội hỏa minh điểm. Khi có đủ thời gian thì mới thực hiện cả hai phần. Như pháp nội hỏa minh điểm, không nhất thiết chỉ thực hành khi tu pháp Bổn tôn, trong ngày thường khi có thời gian rảnh đều có thể thực hiện, đây là một pháp có thể tu tập riêng biệt. Còn Cửu tiết Phật phong có thể thực hiện trước khi nhập Tam ma địa, điều này giúp nhập định dễ dàng hơn, đây là tâm đắc rất quan trọng của Liên Sinh Hoạt Phật. Cũng là tâm đắc sau nhiều năm tu trì của tôi.
Pháp nhập Tam ma địa, tôi sẽ trình bày chi tiết trong chương tiếp theo.
Về phần tụng tán và hồi hướng, đây là những phần linh hoạt. Tụng tán chính là những lời ca ngợi dành cho chư Phật Bồ Tát, còn hồi hướng cũng mang tính linh hoạt, có nghĩa là "con nguyện...". Tụng tán có thể tùy theo ý của mình, hồi hướng giống như phát tâm bồ đề, con nguyện thành Bổn tôn, rồi cứu độ chúng sinh, v.v... Có thể tự sáng tạo, hoặc tuân theo kệ của Thượng sư cũng được, không có quy định cứng nhắc.
Bí mật tối thượng của pháp Bổn tôn là: Khi bản thân đã tu thành Bổn tôn, tức là Phật, phía trên là quá khứ Phật, phía dưới là vị lai Phật. Và quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật hòa quyện làm một. Đây gọi là "thụ cùng tam thế nhất thời", lại phá vỡ không gian thành "hoành biến thập phương nhất thể", khái niệm này chính là lòng bi mẫn đồng thể để độ khắp chúng sinh, nỗi khổ của chúng sinh chính là nỗi khổ của mình, với sự giác ngộ vô thượng chính đẳng chính giác như vậy, pháp Bổn tôn là dễ thành tựu nhất.
Hôm nay Liên Sinh Hoạt Phật đã hoàn toàn công khai khẩu quyết và trình tự tu trì của Chân Phật Mật Pháp, đây là một cú sốc lớn đối với toàn thế giới, bởi Chân Phật Tông là vô cùng thù thắng, và chỉ có như vậy, mật pháp mới có thể phổ cập đến tất cả chúng sinh, và chỉ có như vậy, mật pháp mới có thể được hoằng truyền rộng rãi trên toàn thế giới.
Đây là một nhân duyên lớn vô cùng đặc biệt.
21. Nói kĩ về pháp nhập Tam ma địa
Tam ma địa còn được gọi là Tam muội, Tam ma đề, Tam ma đế, Tam ma để, Tam ma địa hoặc Tam muội địa v.v. Dù tên gọi là gì thì cũng đều biểu thị việc an trú tâm vào một cảnh, ý nghĩa là tâm không tán loạn. Vì vậy nhập Tam ma địa chính là nhập định. Tu hành của Mật giáo, dựa theo phương pháp tam mật, tu tập nhập vào Tam ma địa của Bổn tôn, đó chính là pháp Tam ma địa.
Cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều đệ tử không hiểu nhập Tam ma địa là gì, vì vậy Liên Sinh Hoạt Phật đặc biệt trong chương này, lại một lần nữa chỉ dẫn.
Tôi nhớ trong cuốn sách "Chỉ Dẫn Đại Thủ Ấn", trang 58, tôi đã viết một bài "Đại Thủ Ấn và Tam ma địa". Tôi nói rằng muốn định thì phải nhập tĩnh, từ cánh cửa nhập tĩnh để đi vào cảnh giới định. Nhập tĩnh nghĩa là tạp niệm giảm bớt, tư tưởng trở nên thuần nhất, tất cả những yếu tố phức tạp bên trong và bên ngoài giảm xuống mức thấp nhất, thậm chí không còn nữa, đây chính là trạng thái điềm đạm hư vô.
Tức là đã đạt đến trạng thái "chặt chẽ miên mật", tâm và hơi thở hợp nhất, dường như có dường như không, hư vô mờ ảo. Vào lúc này, cảm giác vô cùng kỳ diệu, thân nhẹ như mây, hoặc như khí, hoàn toàn nhẹ nhõm mà bay bổng, có người tự cảm thấy bản thân đã biến mất không còn nữa. Cảnh giới này hoàn toàn chỉ có thể tự trải nghiệm mà không thể diễn tả bằng lời, văn tự không thể nào mô tả được một phần vạn trong đó.
Có rất nhiều phương pháp nhập định, Liên Sinh Hoạt Phật dạy mọi người nhập định bằng pháp Cửu tiết Phật phong, hoặc nhập định bằng pháp nội hỏa minh điểm, đều là những phương pháp rất tốt. Cũng có người dùng pháp đếm hơi thở để nhập định, pháp quán tưởng hình ảnh để nhập định, pháp thủ đan điền để nhập định, pháp trì chú để nhập định, pháp thư giãn để nhập định hoặc pháp chỉ quán để nhập định... Bất kể là phương pháp nào để nhập định, tất cả đều vì một mục đích, đó là nhập Tam ma địa.
Tại sao nhập Tam ma địa lại quan trọng đến vậy? Liên Sinh Hoạt Phật nói với mọi người rằng, người đã nhập Tam ma địa, tư tưởng và ý niệm được thanh lọc thêm một bước nữa, chuyển thức thành trí ngay lúc đó, biến hóa thành Bổn tôn ngay lúc đó, ánh sáng tương ứng với ánh sáng ngay lúc đó, thậm chí tức thân thành Phật cũng ngay lúc đó. Nhập Tam ma địa chính là đích đến của việc tu pháp, chúng ta tu tập tất cả các pháp đều là để nhập Tam ma địa.
Pháp nhập Tam ma địa không phải là điều có thể thành tựu chỉ sau một lần, mà phải trải qua một năm, vài năm, hàng chục năm, thậm chí cả đời. Có người rất nhanh, có người cả đời mà chưa từng đạt đến trạng thái nhập định. Có một vị xuất gia cao tuổi đã nói với tôi rằng, ông ấy tu hành cả đời, từ lúc trẻ đến già, chưa từng nhập Tam ma địa, có thể thấy pháp nhập Tam ma địa không phải là điều dễ dàng. Nếu nó dễ thì mọi người trên thế gian đã thành Phật hết rồi, đã không cần phải luân hồi trong lục đạo, mãi chịu khổ trong cõi người.
Tâm đắc của Liên Sinh Hoạt Phật là, theo phương pháp Cửu tiết Phật phong nhập Tam ma địa là một cách nhập môn vừa thuận tiện vừa thực tế. Các đệ tử không ngại gì mà không tu tập lâu dài phương pháp này.
Cảnh giới Tam ma địa vốn là cảnh giới không thể diễn tả, là sự thâm nhập vào trí tuệ, thâm nhập vào ánh sáng, thâm nhập vào Bổn tôn, thâm nhập vào ý thức vũ trụ, chúng ta chỉ có thể nói đó là hoàn toàn phá vỡ bản thân, biến đổi thành trạng thái không còn một tư tưởng một ý niệm, hoàn toàn hợp nhất với vũ trụ.
Cảnh giới hợp nhất giữa tự ngã và vũ trụ (Bổn tôn) như vậy thật vĩ đại, không thể diễn tả, vĩ đại, không thể diễn tả, hoàn toàn không thể nói ra được. Tôi không thể mô tả, nên chỉ có thể dùng hai cụm từ "vĩ đại" và "không thể diễn tả" để bao hàm tất cả mọi ngôn từ.
Việc có nhập Tam ma địa hay không, tự mình biết rõ, đó không phải là điều mơ hồ không rõ ràng, mà là điều chắc chắn tự mình có thể cảm nhận được, và cảm nhận đó là sâu sắc và không thể nào quên.
Khi đó hành giả Mật tông, tự thân cũng hóa thành ánh sáng, hoàn toàn ẩn mất, đây chính là "ánh sáng tự thân như hư không", chư Phật phương trên phương dưới đều hóa thành ánh sáng, thế giới cũng hoàn toàn hóa thành ánh sáng, chính mình cũng hóa thành ánh sáng, ba ánh sáng hợp nhất, chính là hòa nhập vào biển ánh sáng pháp giới.
Khi đã nhập vào biển ánh sáng pháp giới, thì tự thân và chư Phật mười phương hợp thành một thể. Cảnh giới này chính là cảnh giới Bát nhã ba-la-mật đa Tâm Kinh của Quán Tự Tại Bồ Tát, chính là một đại Không tính tự tại, cũng chính là điều Kinh Kim Cang nói: "Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng."
Trụ trong Đại không tam muội định, Thắng nghĩa không định, Tỳ Lô tính hải na già đại định, Đại lạc chân không tính định, chính là thành tựu lớn của việc nhập Tam ma địa. Trong cảnh giới này chính là vô tu vô chứng. Đó là cảnh giới cực kỳ thâm sâu của không có một pháp nào để tu, cũng không có Phật nào để chứng.
Thời gian nhập Tam ma địa kéo dài bao lâu, hoàn toàn tùy thuộc vào thói quen của hành giả, trước tiên từ trong chữ Phạn Ah mà xuất hiện, sau đó quay trở lại cõi Ta Bà, an tường xuất định.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Pháp nhập Tam ma địa chính là mục đích của việc tu pháp, khi nhập Tam ma địa, hóa thân thành ánh sáng, đó chính là chuyển thức thành trí, tất cả những thành tựu lớn được hiển lộ trong đại không tam muội định, nguyên lý tức thân thành Phật của Mật giáo chính là ở trong đó. Tất cả hành giả tu Mật của Chân Phật Tông cần phải lĩnh hội thật tốt bản văn này, tu tập lâu dài, tự khắc sẽ có cảnh giới chứng ngộ."
22. Ứng dụng pháp Yết Ma (1)
Tu pháp Tứ gia hành của Chân Phật Tông cho đến tương ứng, tiếp đến tu pháp Thượng sư tương ứng cho đến tương ứng, sau đó tu pháp Bổn tôn cho đến tương ứng. Tôi tin rằng vị hành giả này đã có được "pháp lực".
Người có "pháp lực" thì có thể "hành pháp" để cứu đời độ người. "Làm pháp" cứu người cứu đời này chính là pháp Yết Ma của Mật tông.
Về nguyên tắc, pháp Tứ gia hành, pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn đều là mật pháp để tự giải thoát cho chính mình, tự cứu độ chính mình, ý nghĩa nằm ở "tu hành đắc độ".
Còn pháp Yết Ma là để cứu giúp người đời, độ chúng sinh, là tu tập công đức làm việc thiện.
Thông thường pháp Yết Ma của Mật tông chia "làm pháp" thành "tiêu tai", "tăng ích", "kính ái", "hàng phục", "nhiếp triệu" v.v... Theo cá nhân tôi, thực ra tất cả mật pháp đều là linh hoạt ứng dụng, và pháp Thượng sư tương ứng, pháp Bổn tôn thậm chí pháp Tứ gia hành đều có thể biến thành pháp Yết Ma. Điểm then chốt nằm ở việc hành giả có biết ứng dụng hay không. Một hành giả có trí tuệ và thông minh, không chỉ trong tu hành, bản thân xa lìa khổ đau đạt được an lạc, mà còn có thể cứu người thân và những người khác thoát khổ được vui, không chỉ tự mình đạt được bồ đề, mà còn có thể dạy người khác đạt được bồ đề.
Cần biết rằng mật pháp là sống động, các pháp "lớn", "nhỏ" đều thông với nhau, vì vậy pháp tự tu và pháp Yết Ma cũng thông với nhau. Nếu độc giả thể hội thật kỹ càng quyển sách này thì sẽ hiểu được rằng, hết thảy các pháp tu đều có thể là tự tu, cũng đều có thể là Yết Ma, trong một sát-na liền hoàn toàn hiểu rõ.
Pháp Yết Ma chính là "làm pháp", hành giả nhờ vào việc làm pháp và do có pháp lực nên có thể khiến cho ước nguyện của mình và người khác được thành tựu. Nhờ vào việc tu trì pháp Yết Ma mà có thể được như ý về tiền tài. Nhờ vào việc tu trì pháp Yết Ma mà có thể được như ý về con cái. Nhờ vào việc tu trì pháp Yết Ma mà có thể được như ý về trường thọ. Nhờ vào việc tu trì pháp Yết Ma mà có thể được như ý về hôn nhân.
Lợi ích của việc tu trì pháp Yết Ma có thể nói là vô tận, ví dụ như trừ bệnh, đạt trí tuệ, cầu công danh, trừ quỷ mị, hàng phục người ác, tiêu nghiệp chướng, cầu thần thông, cầu sức khỏe, tiêu chướng ngại, triệu thỉnh quỷ thần, trấn sát trừ uế, cầu bồ đề, cùng tất cả những điều mong cầu, không gì là không được như ý mãn nguyện.
Tu trì pháp Yết Ma có được công đức như vậy. Một hành giả Mật tông, nếu có được pháp lực liền có thể tu tập pháp Yết Ma, thứ nhất là để cứu người độ đời, thứ hai là tự mình cũng tích lũy thiện công đức, kết duyên rộng rãi. Ngoài ra cũng có thể nhờ vào nhân duyên của pháp Yết Ma mà độ chúng sinh phàm phu vào cửa Phật. Mà pháp Yết Ma thực ra cũng là một phương tiện độ chúng sinh, không thể xem thường.
Trong cuốn sách "Mật Tông Yết Ma Pháp", Liên Sinh Hoạt Phật đã viết về thời gian và nghi quỹ làm pháp, nay xin trình bày chi tiết các điểm trọng yếu của nghi quỹ Yết Ma pháp như sau:
Thời gian tu pháp Yết Ma đều lấy bảy ngày làm viên mãn, con số bảy chính là con số viên mãn.
Tức là từ mùng một đến mùng tám là tốt nhất để tu pháp tiêu tai - bao gồm trừ bệnh, chữa bệnh, tai nạn v.v...
Từ mùng chín đến rằm là tốt nhất để tu pháp tăng ích - bao gồm tài lợi, công danh, thi cử, sự nghiệp v.v...
Từ mười sáu đến hai mươi ba là tốt nhất để tu pháp kính ái, pháp nhiếp triệu - bao gồm hôn nhân, duyên phận, hòa hợp, quan hệ nhân tế, cầu tự v.v...
Từ hai mươi bốn đến cuối tháng là tốt nhất để tu pháp hàng phục - bao gồm trấn sát trừ uế, hàng phục quỷ mị, khuất phục kẻ địch v.v...
Nghi quỹ đàn pháp như sau:
Pháp tiêu tai - Người làm pháp quay mặt về hướng Bắc, đàn pháp quay về hướng Nam. Thân mặc pháp y màu trắng, đợi khi mặt trời lặn mới làm pháp, phẩm vật cúng dường nên dùng màu trắng, quán tưởng Bổn tôn màu trắng, phóng hào quang màu trắng, dùng từ bi nhãn, ngồi tu pháp, trì chú âm không nhanh không chậm, dùng tâm từ bi trì chú, thanh tịnh điều hòa.
Pháp tăng ích - Người làm pháp quay mặt về hướng Đông, đàn pháp quay về hướng Tây, thân mặc pháp y màu vàng, có thể làm pháp vào thời điểm cát tường, phẩm vật cúng dường nên dùng màu vàng, quán tưởng Bổn tôn cũng màu vàng, phóng quang cũng màu vàng, dùng kim cang nhãn nhìn khắp xung quanh, khi tu pháp phải dùng tâm hoan hỷ, âm trì chú phải đơn giản và mạnh mẽ.
Pháp kính ái và pháp nhiếp triệu - Người làm pháp quay mặt về hướng Tây, đàn pháp quay về hướng Đông. Hành giả khi tu pháp phải quỳ thẳng đầu gối, hai chân khép lại, mông không chạm đất, chọn thời gian cát tường vào cuối đêm, có thể mặc pháp y màu vàng hoặc đỏ, phẩm vật cúng dường màu đỏ, quán tưởng Bổn tôn màu đỏ, phóng quang cũng màu đỏ, âm trì chú phải dứt khoát rõ ràng từng chữ một, từng chữ một đều phải mạnh mẽ.
Pháp hàng phục - Người làm pháp quay mặt về hướng Nam, đàn pháp quay về hướng Bắc, thân mặc pháp y màu xanh hoặc có thể màu đen, phẩm vật cúng dường màu xanh đen, thời gian tu pháp chọn vào giữa ngày hoặc giữa đêm. Hành giả chân phải đứng thẳng, chân trái hơi co, chân phải tượng trưng cho bản thân, chân trái tượng trưng cho đối phương và gia quyến. Một cách khác là dùng chân phải đạp lên mu bàn chân trái, tư thế ngồi xổm, mông không chạm đất, cũng có nghĩa là đạp lên đối phương, quán tưởng Phật và phóng quang là màu xanh đen, mặt nhướng mày liếc xéo, răng cắn môi trên, hiện tướng phẫn nộ, tương ứng với tâm phẫn nộ, âm trì chú là giọng phẫn nộ.
Tu tập pháp Yết Ma và dùng pháp Yết Ma để cứu người độ đời là điều rất đáng mừng, nhưng phải ghi nhớ không được làm bừa, bởi vì làm bừa sẽ mang tội rất lớn. Ví dụ như pháp hàng phục, nếu không tự tin có thể cứu độ được người bị hàng phục thì đừng nên thực hiện. Người tu tập pháp từ bi thì không dùng pháp hàng phục, vì vậy dù Liên Sinh Hoạt Phật biết rõ sự lợi hại của pháp hàng phục nhưng chưa từng thực hiện. Tôi xét đến vấn đề nhân quả báo ứng dây dưa không dứt, nên chỉ tu pháp từ bi, không tu pháp hàng phục.
Liên Sinh Hoạt Phật biết rõ tất cả các loại pháp Yết Ma lớn nhỏ có đến hàng trăm loại, nhưng dù là pháp Yết Ma nào, tâm pháp quan trọng nhất là: "Quán tưởng cảnh giới của tất cả chúng sinh đều là ảnh tượng của tâm, cũng chính là tất cả do tâm tạo, cần hiểu rằng ngoài tâm không có một pháp nào, chỉ cần tâm niệm vừa động, tất cả đều có thể thành tựu."
Vì vậy "nghĩa lý vạn pháp duy tâm", tất cả các pháp đều có một cảnh giới chân thật, dùng tâm lực để chuyển hóa, liền có thể chứng minh tất cả các pháp bình đẳng, nương theo tâm này nên được thành tựu.
Liên Sinh Hoạt Phật có được tâm lực và niệm lực như vậy, nên việc tu pháp chính là gia trì, tu Yết Ma pháp chính là gia trì thành tựu. Nếu chúng sinh cầu xin Liên Sinh Hoạt Phật gia trì, đây chính là bản giác cầu nguyện của họ có thể tương thông với phương tiện Yết Ma pháp đồng tu trì, và công đức vốn có của chúng sinh sẽ nhanh chóng hiển hiện. Điều này là do sự gia trì của Thượng sư khi tu Yết Ma pháp, khiến chúng sinh cảm ứng được pháp lực và thành tựu tất cả điều cầu xin. Đây chính là nhân duyên cảm ứng giữa đôi bên, phân tích nhân duyên cảm ứng có ba: Pháp lực Yết Ma của Liên Sinh Hoạt Phật. Nguyện lực cầu xin của chúng sinh. Công đức lực vốn có của chúng sinh.
Ba yếu tố này hợp làm một, chúng sinh có lòng tin, được gia trì thành tựu bởi đại bi lực của Hoạt Phật, trong một niệm liền tiến vào cảnh giới thành tựu Yết Ma không thể nghĩ bàn.
Liên Sinh Hoạt Phật, hiện nay trong Chân Phật Mật Uyển, ngày ngày cầu nguyện cho chúng sinh khắp thiên hạ, đây chính là phát tâm bồ đề, là tu hành Yết Ma, là nương theo nhân hành mà chứng quả, tương lai sẽ đạt được quả đức viên mãn, đạt đến cảnh giới bất sinh bất diệt, đây chính là đại viên mãn độ chúng sinh và chuyển pháp luân.
Ban đầu tôi định viết ra tất cả các pháp Yết Ma lớn nhỏ trong cuốn sách này, nhưng thực tế quá rườm rà và trùng lặp. Hiện nay, mọi người có thể lĩnh hội bản văn này, rồi đọc kỹ cuốn "Mật Tông Yết Ma Pháp", trong đó đã bao hàm rất nhiều pháp yếu, trọng điểm nằm ở quán tưởng, từ ý niệm sinh ra lực, từ lực nhập tướng thành đạo, biến chuyển vô cùng, cơ duyên khởi thì sinh, thành tựu pháp đều nằm trong đó!
Viết một bài kệ ghi lại: Yết Ma pháp thù thắng viên mãn, Tất cả pháp lực là tự tính; Khởi niệm nhanh chóng lại ẩn mật, Trời người khó đo lường cảnh giới.
23. Ứng dụng pháp Yết Ma (2)
Bản văn này nói về một số bí quyết quán tưởng, ví dụ như sau: 1. Bản thân tin Phật, quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhưng người thân không có ý kiến gì, để giúp người thân tăng trưởng nhân duyên với Phật, có thể tu pháp như sau: Dùng pháp nhiếp triệu pháp. Quán tưởng người thân cùng mình lễ Phật, đứng thành một hàng. Bổn tôn phóng quang màu đỏ chiếu vào người thân của mình, toàn thân người thân biến thành màu đỏ.
Khi trì chú có thể niệm: "Ôm ma-ni pê-mi (tên người) tốc tín Phật hum." 108 biến hoặc nhiều hơn. Đây là pháp tu Quan Âm Bồ Tát Bổn tôn, nếu tu các Bổn tôn khác thì dùng chú của Bổn tôn đó. Nếu không tu pháp Quan Âm thì có thể dùng chú Địa Tạng.
2. Người khác mắc nợ, cố tình không trả. Để khiến người mắc nợ trả tiền, có thể tu pháp hàng phục: Quán tưởng người mắc nợ đến trước mặt mình. Bổn tôn phóng ra ánh sáng màu xanh đen, chiếu vào người mắc nợ. Lúc này người mắc nợ lấy từ trong túi xách ra số tiền đã nợ, cung kính trả lại cho hành giả Mật tông.
Khi trì chú có thể niệm: "Ôm chưa-li chu-li chuân-tí lệnh XXX khiếm trái tốc hoàn sô-ha." 108 biến hoặc nhiều hơn. Đây là cách trì chú của người tu pháp Chuẩn Đề, các Bổn tôn khác cũng tương tự.
3. Bạn có một người bạn bị u bướu lớn trên người, hành giả thấy thương xót và từ bi muốn chữa trị cho họ, có thể dùng pháp tức tai: Quán tưởng người bạn đến trước mặt hành giả. Bổn tôn phóng ra ánh sáng màu trắng, chiếu đúng vào chỗ u bướu của người bạn, mỗi lần ánh sáng chiếu vào, u bướu nhỏ đi một chút, chiếu nhiều lần, u bướu tan biến, hoàn toàn lành bệnh. Đây là cách quán tưởng của hành giả Mật tông.
Khi trì chú có thể niệm: "Tê-ya-tha ôm bê-cát-chư-ya bê-cát-chư-ya ma-ha bê-cát-chư-ya la-cha sa-mu ca-tưa-hây. Xin cho khối u của (tên người) được lành. Sô-ha." 108 biến hoặc nhiều hơn. Đây là cách trì chú của người tu pháp Dược Sư Phật Bổn tôn, các Bổn tôn khác cũng tương tự.
4. Bạn tự mở một cửa hàng, hoặc bạn bè mở một cửa hàng, việc kinh doanh không tốt, để giúp cửa hàng làm ăn phát đạt, có thể dùng pháp tăng ích:
Khi quán tưởng, hãy tưởng tượng toàn bộ cửa hàng ở trước mặt hành giả. Bổn tôn trụ trên không trung phía trên cửa hàng, phóng ra ánh sáng màu vàng, chiếu khắp toàn bộ cửa hàng, khiến cả cửa hàng biến thành màu vàng kim rực rỡ. Thậm chí có thể quán tưởng người người ra vào cửa hàng, tạo thành cảnh tấp nập đông đúc.
Khi trì chú có thể niệm: "Ôm chân-pa-la cha-lâng cha-na-yê lệnh (tên cửa hàng) đại phát lợi thị. Sô-ha." Đây là cách trì chú của người tu Hoàng Tài Thần Bổn tôn. Các Bổn tôn khác cũng tương tự.
5. Vợ chồng bất hòa, gia đình cãi vã, gia đình không viên mãn, vợ chồng ngoại tình, gia đình đang bên bờ vực tan vỡ, đây là một bi kịch lớn của đời người, có thể tu trì pháp kính ái:
Quán tưởng người chồng và người vợ đều đến trước mặt hành giả. Bổn tôn phóng ra ánh sáng màu đỏ, chiếu vào người chồng và người vợ. Cả hai đều hiện ra vẻ mặt vui vẻ. Lúc này lại quán tưởng hai người hòa nhập vào nhau, người chồng và người vợ hợp thành một người, rồi tan biến đi.
Khi trì chú có thể niệm: "Ôm ha-ha-ha wây sa-mô-yê xin cho (tên) và (tên) gia đình viên mãn. Sô-ha." 108 biến hoặc nhiều hơn.
Đây là cách trì chú của người tu pháp Địa Tạng Bổn tôn. Các Bổn tôn khác cũng tương tự.
6. Nếu có người vợ chồng kết hôn nhiều năm không có con, hành giả động lòng thương xót họ, muốn cầu nguyện cho họ sớm sinh quý tử, có thể tu trì pháp nhiếp triệu:
Quán tưởng hai vợ chồng đều đến trước mặt hành giả. Bổn tôn phóng ánh sáng màu đỏ, chiếu vào hai vợ chồng. Bổn tôn lại phóng ra luồng sáng thứ ba, trong ánh sáng hiện ra một bé trai hoặc bé gái, đứa bé được người vợ bế trong tay. Hai vợ chồng nở nụ cười hạnh phúc trên gương mặt.
Khi trì chú có thể niệm: "Ôm a-mi-tê-wa lệnh (tên) và (tên) sớm sinh quý tử sê."
Đây là cách trì chú của người tu pháp A Di Đà Phật Bổn tôn. Các Bổn tôn khác cũng tương tự.
7. Nếu hành giả muốn có một chiếc xe tốt để thuận tiện đi lại, có thể tu trì pháp tăng ích:
Quán tưởng pháp khí như ý của Bổn tôn phóng ra ánh sáng màu vàng, ánh sáng này chiếu vào trước mặt mình, từ trong ánh sáng hiện ra một chiếc xe nhỏ, chiếc xe dần dần lớn lên, to bằng xe thật y hệt. Có thể quán tưởng kiểu dáng và nhãn hiệu xe. Khiến tâm mình sinh hoan hỷ.
Khi trì chú có thể niệm: "Ôm chưa-li chu-li chuân-tí lệnh (tên) sớm được xe tốt. Sô-ha."
Đây là cách tu pháp của Bổn tôn Chuẩn Đề Phật Mẫu. Các Bổn tôn khác cũng tương tự.
Hôm nay Liên Sinh Hoạt Phật đã viết ra bí mật trong bí mật của Yết Ma pháp. Yết Ma pháp là pháp linh hoạt ứng dụng, tất cả quán tưởng và trì chú đều sống động, chỉ cần có pháp lực, tất cả quán tưởng (ý niệm) đều trở thành sự thật, đây chính là sự thành tựu Yết Ma của Mật pháp.
24. Ứng dụng pháp Yết Ma (3)
Trong bài viết này, tôi đã đặc biệt giới thiệu các vị trong "Mật Tông Yết Ma Pháp". Các đệ tử đã tu đến mức tương ứng với Bổn tôn pháp, nếu muốn cứu độ thế gian, có thể thiết lập mật đàn tạm thời trong bảy ngày, thỉnh các vị giáng lâm, tu trì theo trình tự Mật pháp, ắt sẽ đạt được thành tựu Yết Ma cực kỳ bí mật.
🌟 Hàng Tam Thế Minh Vương
Hàng Tam Thế Minh Vương là một trong Ngũ Đại Minh Vương, là thân phẫn nộ của Phật A Súc Bệ phương Đông. Trong Kim Cương Giới mandala, ngài còn là thân phẫn nộ của Kim Cang Tát Đỏa. Trong Thai Tạng Giới mandala, ngài ở góc Tây Bắc của viện Trì Minh. Muốn biết chi tiết về vị tôn này, có thể đọc "Môn Cực Thâm Mật của Hàng Tam Thế". Tôi hiểu sâu sắc rằng, Hàng Tam Thế Minh Vương có một tam ma địa kim cương trường thọ của từ bi tam muội. Muốn cầu pháp trường thọ, có thể tu pháp Hàng Tam Thế Minh Vương.
🌟 Bạch Y Đại Sĩ
Vị Bạch Y Đại Sĩ này là một trong nhiều hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, trong đó có một vị, tay trái kết ấn ban nguyện, tay phải cầm bảo châu, chính là Liên Hoa Mẫu Tam Muội Thượng Thủ Minh Phi.
Vị này xuất phát từ "Bồ Đề Tràng Nhất Tự Đảnh Luân Ngũ Kinh". Liên Sinh Hoạt Phật từng nhập vào Đại thừa vô biên Liên Hoa Biến Hóa Kim Cang tam ma địa, biết được vị Bạch Y Đại Sĩ cầm bảo châu này có mật pháp như ý bảo châu. Muốn cầu pháp như ý có thể tu pháp Bảo Châu Bạch Y Đại Sĩ.
🌟 Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên
Ma Lợi Chi Thiên là quyến thuộc của Đế Thích Thiên, thường đi theo Nhật Thiên, chạy nhanh phía trước. Ngài là vị Bồ Tát có đại uy quang, cũng có thần thông lực tự do ẩn thân, được gọi là thần chiến đấu hoặc thần hộ pháp của nhẫn thuật. [Ninja Nhật Bản]
Vị Ma Lợi Chi Thiên này có đại thần thông, có nhân duyên đặc biệt với Chân Phật Tông, thường xuyên hộ trì đệ tử tu pháp.
Nếu có người bị kẻ ác bắt nạt, người có chướng ngại khi tu pháp, thỉnh cầu Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, tất cả đều có thể đạt được thành tựu vô thượng.
Liên Sinh Hoạt Phật tiết lộ cho mọi người một bí mật trong bí mật, mật hiệu của Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên chính là Chiến Uy Kim Cang!
🌟 Hư Không Tạng Bồ Tát
Hư Không Tạng Bồ Tát, trong Kim Cương Giới mandala, là một trong mười sáu vị của Hiền kiếp, ngự ở hành lang phía Nam. Trong Thai Tạng Giới, ngài là thủ tọa của viện Hư Không Tạng.
Bồ Tát này thường trú ở thế giới Hương Tập, trí huệ sâu rộng như hư không nên được gọi là Hư Không Tạng. Tôi biết mật hiệu của Hư Không Tạng Bồ Tát là "Khố Tạng Kim Cang". Hư Không Tạng Bồ Tát là hai cánh cửa bí mật gồm đủ phúc đức và trí huệ. Xuất phát từ Kinh Hư Không Tạng, phẩm Hư Không Tạng trong Kinh Đại Tập, Kinh Bát Đại Bồ Tát Mandala, v.v…
Tu tập pháp Hư Không Tạng Bồ Tát có thể đạt được "trí huệ", "trí nhớ", "công danh", v.v.
🌟 Tôn giả Trà Cát Ni
Trong "Mật Tông Yết Ma Pháp", tôi có ghi chép về vị này.
Nhưng vị này nhất định phải được truyền thụ trực tiếp, tức là phải do Liên Sinh Hoạt Phật đích thân chỉ dạy.
Trà Cát Ni là vị quỷ vương mang túi phú quý, chuyên ăn thịt người.
Người tu pháp này phải phát thệ nguyện, tương lai sẽ dâng sắc thân cho quỷ vương ăn, hơn nữa pháp tu rất đặc biệt, nếu tu trì đúng cách, có thể đạt được đại phú quý.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, nếu không phải bất đắc dĩ, đừng tu pháp này.
🌟 Hỏa Đầu Kim Cang
Vị này xuất phát từ "Kinh Uế Tích Kim Cang", và Hỏa Đầu Kim Cang thực ra chính là Uế Tích Kim Cang.
Công năng của vị này là quét sạch các loại âm khí bất tịnh, lời thề gốc của ngài chính là nuốt hết tất cả vật bất tịnh.
Tu trì đúng pháp sẽ không sợ bất kỳ vật uế tạp nào, có thể đến được những nơi như đám tang, nhà xác, bệnh viện, nghĩa trang. Đặc biệt là với những người sinh nhiều con gái mà muốn sinh con trai, pháp Hỏa Đầu Kim Cang là hiệu quả nhất.
Vị này được ghi chép trong Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Ô Sô Sắt Ma Minh Vương. Nếu gặp âm tà quấy nhiễu, xung phạm hoặc muốn cầu con trai. Có thể tu pháp Hỏa Đầu Kim Cang.
🌟 Bồ Tát Văn Thù
Trong Thai Tạng Giới, Bồ Tát Văn Thù ngự ở vị trí Tây Nam của viện Trung Đài Bát Diệp, là chủ tôn của viện Văn Thù. Trong Kim Cương Giới mandala, ngài ngồi ở vị trí thứ nhất phía Bắc trong số mười sáu tôn của Hiền kiếp.
Bồ Tát Văn Thù còn là vị chuyên chưởng quản cánh cửa trí huệ, là vị Bồ Tát đệ nhất về trí huệ. Ngài có các danh hiệu như Văn Thù Sư Lợi, Văn Thù Bảo Lợi, Diệu Cát Tường, Diệu Âm, Phổ Thủ, Kính Thủ.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, Bồ Tát Văn Thù có đại bí mật, thành tựu vô thượng cao nhất của ngài vốn là Phật, pháp của ngài rộng lớn vô biên, là thầy của chư Phật.
Trong "Mật Tông Yết Ma Pháp" có pháp vãng sinh Văn Thù, pháp này không khuyến khích sát sinh, mà là mượn pháp lực của Bồ Tát Văn Thù để siêu độ chúng sinh.
Pháp này là pháp vãng sinh Văn Thù đặc biệt, đem lại nhiều thuận tiện và giải thoát cho những người làm việc ở nhà hàng khi tu trì mật pháp, đây cũng là một bí mật tối thượng.
🌟 Cát Tường Thiên Nữ
Vị thiên nữ này ở trong Thai Tạng Giới mandala, trong viện Hư Không Tạng, đứng hầu bên cạnh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Cát Tường Thiên Nữ được ghi chép trong nhiều kinh điển như "Kinh Tối Thắng Vương", "Kinh Kim Quang Minh", "Kinh Công Đức Thiên" và các kinh khác.
Phạn ngữ là Mahasri, tức là Đại Cát Tường Thiên Nữ, hay còn gọi là Công Đức Thiên. Bản thệ nguyện của ngài là: "Trước đây, ta đã ở nơi Bảo Hoa Công Đức Hải, Lưu Ly Kim Sơn, nơi có Chiếu Minh Như Lai, bậc Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Thế Tôn, gieo trồng các thiện căn. Do vậy, nay ta tùy theo nơi chốn, khiến cho tất cả chúng sinh đều được an vui, về y phục, thức ăn, vật dụng sinh hoạt, vàng bạc, thất bảo, trân châu, lưu ly, san hô, hổ phách, bích ngọc, đều không lo thiếu thốn."
Pháp này thích hợp cho nữ giới tu trì, tu trì pháp này, dung mạo sẽ vượt trội ngàn vạn người, một đời không gặp tai họa, là pháp tức tai đại cát tường, lợi ích rất lớn.
Đại Cát Tường Thiên Nữ có thệ nguyện với thế gian, nữ giới tu pháp này cảm ứng rất nhanh, có thể trừ hết mọi tai họa.
Kết luận:
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, chư Phật Bồ Tát và chư tôn đều rất từ bi, đều có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phúc huệ. Các vị thuộc bộ Minh Vương chủ yếu hộ trì Phật pháp, đều có đại uy năng của Kim Cang hàng phục. Các vị thuộc bộ Thiên phần lớn đều là cầu như ý cát tường. Còn các vị thuộc bộ Quyến thuộc, mỗi vị đều có bản thệ riêng, chỉ cần tu trì theo bản thệ của các ngài, đều có thể đạt được thành tựu Yết Ma tương ứng.
Pháp Yết Ma rất nhiều, nhưng hành giả cần biết một mà suy ra ba, phải biết vận dụng linh hoạt, tam mật hợp nhất, thành tâm tu trì, nhất định sẽ cảm ứng nhanh chóng, đây chính là cảnh giới chân thật của Chân Phật Mật Pháp.
25. Ngũ Đại Kim Cang pháp
Pháp Ngũ Đại Kim Cang này là cấp độ thứ tư trong việc tu tập Mật pháp. Tôi cho rằng Phật pháp vốn bình đẳng, bất kì pháp nào cũng có thể kiến tính, tức là đều có thể thành Phật. Nhưng trong quá trình tu tập, có những pháp đơn giản hơn và có những pháp thâm sâu hơn. Ngũ Đại Kim Cang pháp là đại pháp thâm sâu hơn, không phải là phải tu cả năm pháp Kim Cang, mà chỉ cần học được một trong những pháp Kim Cang đó, tu đến tương ứng, thì việc thành Phật không còn nghi ngờ gì nữa.
Năm đại pháp Kim Cang của Mật tông Tây Tạng là: Hỷ Kim Cang, Thượng Lạc Kim Cang, Uế Tích Kim Cang, Thời Luân Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang.
Năm đại pháp Kim Cang của Đông mật Nhật Bản là: Trung ương là Đại Thánh Bất Động Minh Vương. Phương Đông là Hàng Tam Thế Minh Vương. Phương Nam là Quân Đồ Lợi Dạ Xoa Minh Vương. Phương Tây là Đại Uy Đức Minh Vương. Phương Bắc là Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương.
Pháp Ngũ Đại Kim Cang do Mật giáo Trung Quốc-Đài Loan truyền lại, chỉ khác với Đông Mật ở một điểm: Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương ở phương Bắc được thay bằng Ô Sắt Sa Ma Minh Vương. Ô Sắt Sa Ma Minh Vương chính là Uế Tích Kim Cang.
Năm vị Đại Kim Cang Minh Vương này, thực chất là thân phẫn nộ biến hóa từ Đại Nhật Như Lai, A Súc Phật, Bảo Sinh Phật, A Di Đà Phật và Bất Không Thành Tựu Phật. Năm vị Phật hóa thân thành năm Đại Kim Cang. Năm Đại Kim Cang này hóa thân để hộ trì Tam Bảo, hàng phục quần ma và giáo hóa chúng sinh, ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì vậy còn được gọi là Giáo Lệnh Luân hóa thân.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Thực ra, khi tu tập Chân Phật Mật Pháp đến cấp độ thứ tư, không chỉ giới hạn ở ngũ Đại Kim Cang pháp là hóa thân của Ngũ Phương Phật. Liên Sinh Hoạt Phật còn biết nhiều pháp Kim Cang khác như Ngũ Đại Lực Hống Minh Vương, Ái Nhiễm Minh Vương, Câu Lợi Ca La Minh Vương, Khổng Tước Đại Minh Vương, Mã Đầu Minh Vương, Vô Năng Thắng Minh Vương, Đại Nguyên Soái Minh Vương, Thắng Tam Thế Minh Vương, Bộ Trịch Minh Vương, v.v…"
Tu tập pháp Kim Cang Minh Vương thực chất cũng tương đương với tu tập Phật, bởi vì Kim Cang Minh Vương vẫn là hóa thân của Phật. Chỉ là hình tượng của ngài trông oai vũ, đáng sợ và trang nghiêm, tượng trưng cho sự phẫn nộ vô cùng, hoàn toàn dùng trí huệ quang minh để hàng phục tất cả ác ma và chướng ngại.
Kim Cang Minh Vương hiện thân phẫn nộ chính là để ủng hộ Tam Bảo.
Tôi cảm nhận sâu sắc rằng, trong ba nghìn đại thiên thế giới này, không chỉ là thế giới của con người, mà ngay cả thế giới của chư thiên, vẫn còn rất nhiều người hoặc thiên thần có tâm kiêu mạn và cố chấp, như các vị ở cõi trời Ma Hê Thủ La, Đại Tự Tại Thiên, có nhiều thiên thần kiêu mạn không chịu tuân theo lệnh của Phật. Vì vậy, để hoằng dương Phật pháp, không thể không biến từ bi hỷ xả thành thân Kim Cang oai vũ, phẫn nộ để thi hành giáo lệnh của Phật pháp.
Chính vì Thiên Ma gây chướng ngại, vì để điều phục bầy ma mà chư Phật ba đời mới hóa hiện thành tướng Kim Cang phẫn nộ. Kim Cang phẫn nộ này chính là để hàng phục bốn loại ma trên thế gian, với pháp tướng hùng mạnh oai vệ có thể khiến các loài quỷ dữ yêu ma thấy mà sinh lòng sợ hãi, trói buộc tất cả những người hoặc thiên ma ngoan cố, thiêu sạch mọi uế vật hóa thành thanh tịnh. Oai lực của pháp Kim Cang Minh Vương này đều rất phi thường.
Đệ tử Chân Phật Tông nếu tu tập Ngũ Đại Kim Cang pháp sẽ được Kim Cang Minh Vương ủng hộ. Nếu có thể mỗi ngày tu tập một lần Kim Cang pháp, Kim Cang Minh Vương sẽ hiển hiện kim thân, thề nguyện ủng hộ hành giả, không rời khỏi bên cạnh hành giả, bảo vệ tất cả môi trường sống của hành giả.
Thậm chí tất cả những suy nghĩ của hành giả, Kim Cang Minh Vương đều biết đều thấy rõ, có thể soi thấu những ý nghĩ của hành giả để hành động, âm thầm giúp hành giả đạt được thành tựu lớn, đây chính là đại công lực của Kim Cang Minh Vương. Khi hành giả tự thân có thể đi vào kim cang tâm, tức là biến thân thành Kim Cang Minh Vương, thì sự biến hóa của năm Đại Kim Cang, tám Đại Minh Vương chính là hóa thân khác của năm Phật tám Bồ Tát, tu trì đến tương ứng, thành Phật là điều không còn nghi ngờ gì nữa.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng: "Đệ tử Chân Phật Tông, khi đã tu tập đến cấp độ thứ tư, nếu bản thể tự tính của mình có kim cang tâm, kim cang tính, thì nên chọn một pháp Kim Cang Minh Vương để tu trì, nhằm hộ trì và thực hành giáo lệnh Phật pháp, cũng chính là hộ trì Chân Phật Tông. Nếu là đệ tử có tâm tính từ bi, hãy chọn một pháp để tu, sẽ có thể hàng phục được ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái của chính mình."
Tôi ban đầu dự định công bố tất cả các pháp Kim Cang trong cuốn sách này, nhưng, thực tế việc công bố tất cả các pháp Kim Cang trên sách không mang lại lợi ích lớn cho người học thông thường, và cuốn sách này cũng không thể chứa đựng hết tất cả, vì vậy chỉ có thể tinh giản, tôi đem những pháp Kim Cang Minh Vương đã từng đăng trong các cuốn sách tâm linh khác của tôi, viết lại chi tiết trong cuốn sách này. Những pháp Kim Cang Minh Vương này là những pháp được Chân Phật Tông coi trọng hơn, việc có thể một lần nữa trình bày tỉ mỉ về khẩu quyết tâm yếu là điều vô cùng quý giá.
Tôi nói rằng, trong Chân Phật Mật Pháp, khi tu tập đến mức tương ứng với năm Đại Kim Cang pháp, hành giả đã có đại pháp lực, có thể hàng phục tất cả ác ma và người tà ác, toàn thân tỏa sáng, mọi việc như ý cát tường, với đức hạnh và oai lực vĩ đại này, có thể thành tựu tất cả pháp sự. Đệ tử đạt đến cảnh giới này có thể được liệt vào hàng Thượng sư, là Thượng sư cấp một của Chân Phật Tông, Thượng sư của Chân Phật Tông được phân thành sáu cấp.
26. Bất Động Minh Vương Kim Cang pháp
Bất Động Minh Vương Kim Cang là một trong các vị Kim Cang Minh Vương được Chân Phật Tông coi trọng nhất, cũng là đại pháp của Chân Phật Mật Pháp. Pháp này phải nhận quán đảnh đặc biệt mới có thể tu trì.
Nay tôi thuật lại chi tiết pháp Bất Động Minh Vương Kim Cang như sau:
1. Nhập đàn, niệm chú thanh tịnh.
2. Niệm chú triệu thỉnh, triệu thỉnh các vị Hộ pháp.
Đặc biệt triệu thỉnh Bất Động Minh Vương: Upala hoa hiện Kim Cang Khắp trời lửa Hum hóa linh quang Thiên kiếm giơ lên ma chém đứt Trừ chướng ngại đến chẳng nề hà Tối thắng bất động hàng phục lực Uế tà mười phương đốt sạch bay Thánh Tôn không cần pháp điều hòa Quảng đại viên mãn cõi cát tường. Nam mô Trung Ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương Tôn Giả. (3 lần)
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm 3 biến chú tứ quy y: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 - 3 biến)
8. Kết ấn:
Bất động kiếm ấn: ngón trỏ và ngón giữa tay phải giơ thẳng lên không, ngón cái, ngón áp út và ngón út gập vào trong lòng bàn tay, ngón cái đè lên ngón út và áp út. Sau đó, ngón trỏ và ngón giữa tay trái cũng giơ thẳng lên không, ngón cái, ngón út và áp út còn lại bọc lấy ngón trỏ và ngón giữa tay phải. Hai lòng bàn tay quay vào nhau, đặt trước ngực. Đây là bất động kiếm ấn của Bất Động Minh Vương, có đại thần uy.
Mặt của hành giả Mật tông, môi dưới bặm lên môi trên, hai mắt liếc xéo, hiện hình dáng uy nộ.
9. Quán tưởng:
Trước tiên tưởng niệm trên hoa sen trong tim mình có một chữ Hum (tiếng Phạn), chữ Hum trong tim mình hóa thành Bất Động Minh Vương. Bất Động Minh Vương có một mắt trợn, một mắt hé, miệng ngậm chặt, lộ răng nanh, răng trên chúc xuống dưới, răng dưới chĩa lên trên, vẻ mặt phẫn nộ, quanh thân bốc lửa. Tay phải ngài cầm thanh kiếm giơ lên không, tay trái cầm chặt sợi dây thừng kim cang, hiện ra trong lửa của chữ Hum, tướng ngồi trên tảng đá.
Nghĩ đến ánh lửa xung quanh Bất Động Minh Vương trong không trung và ánh lửa từ tâm mình chạm vào nhau. Cũng tức là lửa kim cang của tự thân và lửa kim cang của Bất Động Minh Vương không hai không khác. Tự thân biến hóa thành Bất Động Kim Cang Minh Vương.
(Tâm yếu làm pháp) Nếu là làm pháp hàng phục thì lập tức nghĩ đến tà ma ở phía trước bên phải. Hành giả Mật tông giơ cao bất động kiếm ấn quá đầu, tay trái nắm chặt tay phải, tay phải dùng sức tuốt bảo kiếm ra, cần dùng đại lực để khua kiếm, đâm về phía tà ma. Hét to một tiếng "Pan". Cách làm này sẽ đâm chết hoặc quét sạch tà ma, bầy ma sợ hãi mà tháo chạy. Phải có đại uy thần lực.
10. Trì Bất Động Minh Vương Kim Cang tâm chú. (Tay chạm vào trán và giải ấn, lần chuỗi hạt.)
"Ôm. A-chưa-la-ka tan-pu-thua-chư si-ka. Hùm hùm. Khưa-yi khưa-yi. Y-than-sê-li. Ma-ha-li-pi sha-sư-cung. Chi-li pu-cung." 108 biến hoặc nhiều hơn.
11. Cửu tiết Phật phong và pháp nội hỏa minh điểm.
12. Nhập định.
Hỏa quang của Bất Động Minh Vương cháy khắp toàn thân mình, chính mình ở trong lửa, không cảm thấy nóng mà cảm thấy mát mẻ. Không còn suy nghĩ, nhập vào Tam ma địa của Bất Động Tôn Giả.
13. Xuất định tụng tán:
Người thấy thân ta phát bồ đề tâm Người nghe tên ta đoạn ác tu thiện Người nghe ta nói đắc đại trí huệ Người biết tâm ta tức thân thành Phật. Nam mô Trung Ương Đại Thánh Bất Động Minh Vương Tôn Giả Ma Ha Tát. (3 lần)
- Hồi hướng:
Bát đại đồng tử là quyến thuộc Uy lực kim cang mãi không ngừng Hàng phục tứ ma tham sân si Hộ trì Phật pháp cứu tam đồ.
15. Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn.
Cát tường viên mãn.
🌟
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Bất Động Minh Vương Tôn Giả là thân phẫn nộ do Đại Nhật Như Lai biến hóa ra khi hàng phục tất cả ác ma, vừa là một vị tôn giả biến hóa của Trừ Cái Chướng Bồ Tát. Chiếm vị trí trung tâm trong số Ngũ Đại Minh Vương (theo Đông mật), là vị đứng đầu trong số Ngũ Đại Minh Vương của Đông mật. Hình tượng Bất Động Minh Vương thường thấy là hai tay, thân màu xanh đen, hai mắt trợn và xếch, nghiến chặt răng, tay phải giơ kiếm, tay trái cầm sợi thừng kim cang, xung quanh thân xuất hiện ngọn lửa màu đỏ cháy hừng hực, ngồi trên tảng đá to, dũng mãnh cường tráng."
Kiếm kim cang của tay phải không những có thể đâm chết tà ma, mà còn có thể đoạn trừ phiền não và ngu si của chính mình.
Thừng kim cang của tay trái có thể trói chặt tất cả ác quỷ, và còn có thể trói chặt tâm vượn ý mã của chính hành giả.
Lửa kim cang xung quanh thân có thể đốt hết tất cả ô uế, hơn nữa còn có thể đốt sạch nghiệp chướng của hành giả.
Mật hiệu của Bất Động Minh Vương Tôn Giả là Thường Trụ Kim Cang, trong mandala Thai tạng giới đứng ở vị trí đầu mút trái của viện Trì Minh.
Bất Động Minh Vương Tôn Giả có tám đại đồng tử làm quyến thuộc, chính là Huệ Quang Đồng Tử, Huệ Thiện Đồng Tử, A Nậu Đa Đồng Tử, Chỉ Đức Đồng Tử, Điểu Câu Bà Nga Đồng Tử, Thanh Tịnh Tì Kheo Đồng Tử, Quan Yết La Đồng Tử, Chế Tra Ca Đồng Tử.
Muốn hiểu rõ hơn về Bất Động Minh Vương Tôn Giả, có thể đọc Thắng Quân Nghi Quỹ, Đại Nhật Kinh, Để Lý Tam Muội Da Bất Động Tôn Uy Nộ Vương Sứ Giả Niệm Tụng Pháp, Bất Động Sứ Giả Đà-la-ni Bí Mật Pháp, Thập Quyển Sao, Giác Thiền Sao, v.v…
Bí quyết tu tập pháp Bất Động Minh Vương Kim Cang là:
Thủ ấn — Bất Động Minh Vương kiếm ấn phải kết thẳng và có lực, có dáng vẻ rất uy võ, tay trái nắm lại phải cực kì có lực, tay phải tuốt kiếm ra phải uy mãnh, tinh thần hăng hái đâm về phía ác ma, phối hợp với chú âm là "Pan". Âm "Pan" này chính là âm sát thương và phá hoại. Rút kiếm có lực, chú âm uy võ, chính là bí quyết, bầy ma sẽ sợ mất vía.
Quán tưởng — đại hỏa quang của Bất Động Minh Vương Tôn Giả và đại hỏa quang trong tim mình hợp nhất với nhau, tự thân biến thành Bất Động Minh Vương, đây là quán tưởng hợp nhất.
Quán tưởng tà ma ở bên phải, hoặc là kẻ thù ở bên phải, là cách quán tưởng khi tác pháp. Bất động kiếm ấn lúc này phải giơ cao quá đầu, rút kiếm ra phải có lực. Liên Sinh Hoạt Phật vẫn cho rằng đối phó với kẻ địch, hàng phục oan địch, dùng kiếm Bất Động Minh Vương có sức sát thương cực lớn, kẻ địch cũng thật sự đáng thương, vẫn nên nhẫn nhịn điều mà người khác không thể nhịn, mang lòng từ bi, nhường cho kẻ địch một con đường sống. Phải ngẫm nghĩ năm lần bảy lượt khi làm pháp này, đừng hành động không suy nghĩ.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Kẻ địch làm ác, tự sẽ có báo ứng trời định, chỉ là đến sớm hay đến muộn, phúc họ hưởng hết rồi thì họa sẽ đến lập tức, không cần phiền đến hành giả Mật tông dùng đến thành tựu của pháp hàng phục."
Trì chú — Bất Động Minh Vương Kim Cang tâm chú, việc trì niệm phải từng chữ từng chữ rõ ràng, từng chữ phải ngắn và đanh, có lực, là chú âm dạng uy võ. Nhất là chữ "Pan" cuối cùng, phải giống như tiếng gầm lên giận dữ, như tiếng sư tử gầm, khiến tà ma đổ sụp và tan tác.
Có hai vị Bất Động Minh Vương Kim Cang trong Chân Phật Mật Uyển, một vị là được chuyển từ Tây Tạng đến Nepal, từ Nepal lại đến Hồng Kông, từ Hồng Kông lại vận chuyển đến nước Mỹ. Vị kia là do con trai của nữ sĩ La Ngọc Cầm tận tay điêu khắc và tặng cho tôi thờ cúng.
Viết một bài kệ, ca ngợi rằng: Hỏa quang viên minh như nắng sớm Ngồi ngay bàn thạch chói uy nghiêm Trung ương Minh Vương hộ Chân Phật Bừng lên bóng tối hóa lưu ly.
27. Uế Tích Kim Cang pháp
Pháp Uế Tích Kim Cang là một trong những đại pháp được Chân Phật Tông trân quý. Sau đây xin trình bày chi tiết về pháp tu trì Uế Tích Kim Cang:
Hành giả Mật tông tu trì pháp này trước tiên dùng một khúc gỗ trầm hương, điêu khắc thành hình một chiếc chày kim cang, nửa trên của chày kim cang gắn mặt người, nửa dưới cũng gắn mặt người, đặt chày kim cang trong tháp Phật, cúng dường tu pháp.
1. Nhập đàn tụng chú thanh tịnh.
2. Tụng chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư Phật Bồ Tát và chư vị Hộ pháp. Đặc biệt triệu thỉnh Uế Tích Kim Cang.
Nhai hết mọi bất tịnh là thần thông. Chân võ lực sĩ đại uy hàng phục chúng ma. Đại quyền thần vương công đức lực vô thượng. Uế Tích Kim Cang nhất tâm tam phụng thỉnh.
3. Chân Phật đại lễ bái pháp.
4. Chân Phật đại cúng dường pháp. (có thể ngồi)
5. Chân Phật tứ quy y pháp.
Niệm 3 biến chú tứ quy y: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê.
6. Mặc giáp hộ thân.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1 - 3 biến)
8. Kết ấn:
Ấn căn bản Uế Tích Kim Cang — Đầu tiên uốn ngón áp út và ngón út tay phải vào lòng bàn tay, dùng ngón cái đè lên. Sau đó đưa ngón áp út và ngón út tay trái từ phía sau luồn qua "vòng tròn tạo bởi ngón áp út, ngón út và ngón cái tay phải", rồi dùng ngón cái tay trái đè lên. Ngón giữa của hai tay thẳng đứng chạm vào nhau, ngón trỏ của hai tay duỗi thẳng chếch lên, là thành ấn. (đặt ấn trước ngực)
Ấn công đức bản Thích Ca — Ngón cái, ngón giữa, và ngón út, ba ngón này đều dựng thẳng lên, chạm vào nhau, ngón trỏ và ngón áp út đều cong vào lòng bàn tay, hai tay chắp lại, là thành ấn. (đặt ấn trước ngực)
9. Quán tưởng:
Trước tiên quán tưởng trong hư không, hiện ra một vị Phật Thích Ca Mâu Ni, từ trái tim ngài phóng ra ánh sáng màu xanh lam rực rỡ, hướng lên trên đến chính giữa đỉnh đầu. Trong ánh sáng xanh lam rực rỡ đó biến hóa thành Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật với ba mặt, tám cánh tay, chín mắt. Tóc màu đỏ, thân màu xanh lam, tay màu đen, mặt màu xanh lục, tướng phẫn nộ. (Hình tướng có thể tham khảo pháp tướng Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật do Chân Phật Tông ấn hành.)
Tiếp theo quán tưởng, hành giả Mật tông từ trái tim mình phóng ra ánh sáng xanh lam lớn, và trên không trung, Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật, từ trái tim ngài cũng phóng ra ánh sáng xanh lam lớn chiếu xuống, hai luồng ánh sáng gặp nhau giữa không trung, hòa nhập vào nhau. Hành giả Mật tông phát ra một tiếng "Ầm", biến hóa thành Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật ba đầu tám tay. Hành giả và Kim Cang không hai không khác.
10. Trì chú Uế Tích Kim Cang: (buông ấn, lần chuỗi hạt)
Trước tiên niệm: "Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật." (10 lần) Thần chú: "Ôm chu-ru tô-lan hùm rưa." 108 lần hoặc nhiều hơn.
11. Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm.
12. Nhập định. Nhập Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật Tam ma địa.
- Xuất định tụng tán:
Là đại Kim Cang hiện mười phương Hóa giải tai họa thành cát tường Trừ hết ô uế tự phóng quang Vết tích tà ma đều quét sạch.
- Hồi hướng:
Nguyện tu pháp Uế Tích. Thực hành theo lời thề. Đạt đến cảnh tương ứng. Bảo hộ khắp chúng sinh.
- Đại lễ bái Phật. Xuất đàn.
Cát tường viên mãn.
🌟
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Đối với pháp tu trì Uế Tích Kim Cang, để đạt được tương ứng, thường ngày cần tu pháp cúng dường, và phải trì niệm chú Uế Tích Kim Cang đủ 300.000 biến. Sau đó, chọn đêm trăng tròn (ngày rằm âm lịch), lấy chày kim cang từ trong tháp Phật ra, dùng một chiếc bát đồng thanh tịnh, đổ đầy nước sạch, đặt chày kim cang ở giữa bát, dâng lên các phẩm vật cúng dường tốt nhất, đốt loại hương thơm nhất, rồi trì chú suốt đêm. Lúc này, hành giả có thể thấy chày kim cang và nước thanh tịnh phát ra ánh sáng. Hoặc chày kim cang bắt đầu biến hóa thành các vật khác hoặc Thần hoặc Phật. Tiếp tục trì chú, hành giả có thể thấy chày kim cang bay lên khỏi mặt nước, cách mặt nước ba thước, năm thước, bảy thước cho đến một trượng, v.v… Lúc này, hành giả tu pháp Uế Tích Kim Cang cần lập tức đảnh lễ sám hối tất cả tội nghiệp trong quá khứ, phát tâm bồ đề rộng lớn, nguyện tất cả đều được như ý, thực hành tất cả pháp đều được thành tựu, và phát nguyện độ chúng sinh."
Chày kim cang bay lên khỏi mặt nước chính là dấu hiệu tương ứng trong tu pháp, đáng mừng đáng vui, có hy vọng thành Phật, chắc chắn sẽ thành tựu. Cầu mong tất cả đều được cát tường như ý, tất cả đều có thể thực hiện được, đây là khoảnh khắc vĩ đại nhất.
Phương pháp tu trì Uế Tích Kim Cang, chỉ cần để ánh sáng xanh lam chạm đến người hoặc vật, khi hồi hướng đặc biệt cầu nguyện nói rõ, sẽ có kết quả xuất hiện, điểm này chính là bí mật trong bí mật của phương pháp tu trì.
Uế Tích Kim Cang, tên Phạn ngữ là Ucchusma, có rất nhiều tên gọi khác nhau, như Hỏa Đầu Kim Cang, Bất Hoại Kim Cang, Bất Tịnh Kim Cang, Thọ Xúc Kim Cang v.v...
Uế Tích Kim Cang xuất phát từ Kinh Uế Tích Kim Cang, xuất phát từ Kinh Lăng Nghiêm, xuất phát từ Kinh Ucchusma Minh Vương. Công đức của ngài vô cùng lớn lao, có thể chữa bệnh tiêu tai, được mọi người kính mến, ngăn ngừa mọi tai nạn xảy ra, đạt được phúc báo lớn, hàng phục nhiều oán địch, quét sạch tất cả vật bất tịnh, tất cả tà ma ác quỷ không dám đến xâm phạm.
Uế Tích Kim Cang là khí dương cương, nên có một công đức đặc biệt, đó là chuyển thai nữ thành thai nam, tu pháp Uế Tích Kim Cang, cầu con trai sẽ được con trai, bởi vì có khí dương cương tồn tại, khí âm không thể xâm nhập, nên chắc chắn là con trai. Pháp này tôi đã từng viết trong cuốn sách "Mật Tông Yết Ma Pháp".
Uế Tích Kim Cang vốn là từ tâm của Phật Thích Ca Mâu Ni, hóa sinh từ ánh sáng xoay trái. Còn có một đoạn ghi chép là:
"Ucchusma bèn ở trước Như Lai chắp tay đảnh lễ dưới chân Phật và bạch Phật rằng, con thường nhớ trong kiếp xa xưa, bản tính đa tham dục, có một vị Phật xuất thế, tên là Không Vương, nói rằng người đa dâm sẽ thành đống lửa dữ dội, dạy con quán sát khắp thân thể tứ chi, các luồng khí lạnh nóng, ánh sáng thần kỳ ngưng tụ bên trong, chuyển hóa tâm đa dâm thành ngọn lửa trí huệ, chư Phật đều gọi con là Hỏa Đầu. Con nhờ sức tam muội hỏa quang mà thành A La Hán, tâm phát đại nguyện, khi chư Phật thành đạo, con làm lực sĩ đích thân hàng phục ma oán."
Từ đoạn ghi chép này, chúng ta có thể hiểu rằng, lửa tà dâm nếu được tu luyện, có thể biến thành hỏa quang tam muội của trí huệ, đó chính là ý nghĩa của tu đạo, biến ngọn lửa dục vốn có thành ngọn lửa trí huệ, Uế Tích được chứng đắc, vốn là nhờ nội tu minh điểm nội hỏa mà nhập vào Tam ma địa hỏa quang tam muội.
Ở phía bên phải Chân Phật Mật Uyển, ở vị trí cao nhất là Mandala Kim Cương Giới, tiếp theo là Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật. Uế Tích Kim Cang Đại Quyền Thần Vương Phật trong Chân Phật Tông là vị thần Kim Cang được tôn quý nhất, khi Liên Sinh Hoạt Phật truyền pháp Kim Cang cho đệ tử, Uế Tích Kim Cang là vị đầu tiên.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, những đệ tử tu tập pháp Kim Cang đạt được tương ứng mới đủ tư cách trở thành Thượng sư của Chân Phật Tông, vì đã tương ứng với pháp Kim Cang thì chắc chắn sẽ thành Phật không còn nghi ngờ gì. Viết một bài kệ: Tinh thông hỏa quang sớm nổi danh, Trong Chân Phật Tông trấn đạo tràng; Công đức trong đó thật khó đếm, Tam muội tỏa chiếu ánh hào quang.
28. Thượng Lạc Kim Cang đại pháp
Thượng Lạc Kim Cang đại pháp là một trong những đại pháp mà Chân Phật Tông coi trọng.
Pháp này vốn là đại pháp trân quý nhất của Mật tông Bạch giáo, pháp này tu trì rất phức tạp, phải được Thượng sư giải thích tâm yếu khẩu quyết rất rõ ràng mới có thể tu trì.
Thượng Lạc Kim Cang đại pháp vốn được viết trong cuốn sách "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp", bây giờ tôi chỉnh lý lại từ đầu. Xin ghi rõ trình tự tu pháp như sau:
1. Nhập đàn niệm chú thanh tịnh.
2. Chú triệu thỉnh. Triệu thỉnh chư vị Hộ pháp.
3. Chân Phật đại lễ bái.
4. Chân Phật đại cúng dường. (có thể ngồi yên tại pháp tọa)
5. Chân Phật tứ quy y. Niệm chú tứ quy y 3 biến: Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê. Sau đó niệm thêm: Quy y Mật giáo Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng Sư, Mật Hành Tôn Giả Tổng Nhiếp Tam Bảo Liên Sinh Hoạt Phật. Quy y chư Phật ngũ luân tổng thể, vũ trụ bản thức. Quy y Tam Tạng Thập Nhị Bộ chính pháp. Quy y tăng già thánh giả tự cổ chí kim đã chứng Bồ Tát nhiều như hư không giới.
6. Mặc giáp hộ thân.
7. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh (1~3 biến).
8. Kết ấn: Ấn giao bão [vòng tay ôm] của Thượng Lạc Kim Cang: tức là tay trái tay phải ôm vào nhau, hai ngón tay cái đặt song song với nhau, ngón trỏ tay phải, ngón trỏ tay trái, ngón giữa tay phải, ngón giữa tay trái, ngón áp út tay phải, ngón áp út tay trái, ngón út tay phải, ngón út tay trái theo thứ tự đan vào nhau ôm chắc, thế là thành ấn. Giữ ấn trước ngực.
9. Quán tưởng: Đầu tiên quán không. Chú quán Không: "Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.” Tưởng tượng trong hư không có chữ "Pang" hiện ra ánh sáng, xoay tròn hóa thành hoa sen tám cánh ngũ sắc tuyệt đẹp, hoa sen hiện ra nhật luân, trên nhật luân ở bên phải hiện ra một vị Phật Mẫu, bên trái hiện ra tướng uy mãnh một vị Đại Tự Tại Thiên. Nhật luân lại hiện ra chữ "Hum" phóng tỏa ánh sáng ngũ sắc, triệu thỉnh sự gia trì của chư Phật mười phương, ánh sáng ngũ sắc của chữ "Hum" và ánh sáng công đức trí huệ của chư Phật cùng đi vào trong chữ "Hum", biến thành một chiếc chày kim cang năm chấu. Trung tâm của chày kim cang năm chấu này lại có một chữ "Hum" phóng tỏa ánh sáng chiếu khắp toàn thế giới, tất cả chúng sinh đều biến thành hình tượng các vị phẫn nộ, sau đó chúng sinh cũng đều tiến vào trong ánh sáng của chữ "Hum". (Liên Sinh Hoạt Phật nói: quán tưởng này là dựa trên mandala của Thượng Lạc Kim Cang mà biến hóa ra. Ánh sáng công đức của chư Phật tiến vào trong chữ "Hum", chúng sinh cũng đi vào trong chữ "Hum", biểu thị Phật tức là chúng sinh, chúng sinh tức là Phật, chúng sinh đều có Phật tính, ở đây có sự tồn tại của ý vị đồng thể đại bi.)
Sau đó quán tưởng chữ "Hum" biến thành Thượng Lạc Kim Cang. Màu sắc của Thượng Lạc Kim Cang là màu xanh da trời, một đầu hai tay, tay trái cầm chuông kim cang, tay phải cầm chày kim cang, hai tay đan vào nhau thành vòng ôm. Đầu của Thượng Lạc Kim Cang là buộc tóc, trên tóc có cắm một cái chày Yết ma, chày này bên trái có nửa nguyệt luân, được trang trí thêm bằng mani châu báu, đầu của Thượng Lạc Kim Cang lại đội mũ năm đầu lâu, trước ngực ngài treo năm đầu người còn nhỏ máu tươi, tai đeo khuyên tai, tay đeo vòng tay, cổ và ngực đều đeo chuỗi xương người. Xung quanh eo ngài quấn váy da hổ, chân phải duỗi ra trong bộ dạng đá, chân trái dẫm lên Đại Tự Tại. Mặt có hình dạng phẫn nộ. (Đây là hình tượng của Thượng Lạc Kim Cang trong mandala Tạng mật.)
Sau đó quán tưởng Phật Mẫu, Phật Mẫu có một đầu hai tay, tóc nửa búi nửa xõa, đầu cũng đội mũ năm đầu lâu, cổ cũng đeo năm mươi cái đầu người còn nhỏ máu tươi, tay phải cầm một con dao, tựa vào vai trái của Thượng Lạc Kim Cang, tay trái cầm sọ người đựng đầy máu tươi đổ vào trong miệng của Thượng Lạc Kim Cang, cúng cho Thượng Lạc Kim Cang uống, chân trái cũng để tư thế đá, chân phải cong lại đặt trên eo của Thượng Lạc Kim Cang. Hai vị cùng trụ trong ngọn lửa trí huệ quang minh bốc cháy. Quanh thân Thượng Lạc Kim Cang và Phật Mẫu đều dùng chuỗi vòng bằng xương người để làm trang nghiêm cho mình. Thượng Lạc Kim Cang và Phật Mẫu đều hiện ba con mắt uy quang, tướng phẫn nộ. (Đây là hình tượng Phật Mẫu trong mandala Tạng mật.)
Sau đó quán tưởng bốn phương có hoa sen bốn cánh, trên mỗi bông hoa sen lại hiện lên nhật luân, trên nhật luân hiện lên thi thể người chết, trên thi thể người chết này có Không Hành Mẫu đứng. Đông phương là Trát Cách Ni Không Hành Mẫu màu xanh lam nhạt, bắc phương là Lạp Mỹ Không Hành Mẫu màu lục, tây phương là Kiên Giáp Duyên Hách Không Hành Mẫu màu đỏ, nam phương là Nhữ Bỉ Ni Không Hành Mẫu màu vàng. Tay trái các vị đều cầm thiên linh cái đựng đầy máu tươi giữ trước ngực, cổ tay trái ôm lấy kachangka, tay phải cầm dao giơ lên, chân phải duỗi chân trái cong, tư thế giống như Thượng Lạc Kim Cang, ba con mắt tỏa uy quang, tướng phẫn nộ. (Đây là hình tượng của Thượng Lạc Kim Cang, Tứ Phương Không Hành Mẫu trong mandala Tạng mật.)
Sau đó quán tưởng trong tim của Thượng Lạc Kim Cang có hoa sen tám cánh ngũ sắc, trên nguyệt luân, ở trung tâm chày Yết Ma có nhật luân, trên nhật luân hiện ra chữ "Hum" màu lam, xung quanh chú tự này có ánh sáng. Trong cung tọa pháp hình tam giác trong thân Phật Mẫu hiện ra chữ "Pang" màu đỏ, xung quanh cũng có ánh sáng của chú tự, nhật luân hoa sen trong tim Đông phương Trát Cách Ni Không Hành Mẫu màu lam nhạt là chữ "Mang", Bắc phương Lạp Mỹ Không Hành Mẫu màu lục là chữ "Tang", Tây phương Kiên Giáp Duyên Hách Không Hành Mẫu màu đỏ là chữ "Pang", Nam phương Nhữ Bỉ Ni Không Hành Mẫu màu vàng là chữ "Lang". (Những chữ này đều là chữ Phạn.)
Sau cùng quán tưởng chữ "Hum" trong tâm của Thượng Lạc Kim Cang phóng tỏa ánh sáng, triệu thỉnh chư Phật mười phương và Thắng Lạc Phật Phụ Phật Mẫu cùng giáng lâm, những ánh sáng này từ đỉnh đầu đi vào trong thân tâm của người tu trì. (Ánh sáng của Thượng Lạc Kim Cang làm đại quán đảnh.) (Ngực của Thượng Lạc Kim Cang treo năm mươi chiếc đầu người máu tươi biểu thị năm mươi chữ cái tiếng Phạn, dùng chuỗi đeo bằng xương người biểu thị lục độ viên mãn, mũ năm đầu lâu biểu thị thể tính của Ngũ Phật, máu tươi biểu thị cam lộ, thiên linh cái biểu thị bảo bình, những thứ này đều có ý nghĩa tượng trưng, người học pháp nên biết.) Quán tưởng chữ Phạn:
10. Trì chú: (buông thủ ấn, lần chuỗi hạt) Thượng Lạc Kim Cang tâm chú: "Ôm sưa ha-ha hùm hùm pây." 108 biến hoặc nhiều hơn. Phật Mẫu tâm chú: "Ôm pan-cha mai-rưa-cha yê hùm hùm pai." 108 biến hoặc nhiều hơn.
11. Cửu tiết Phật phong hoặc tĩnh lặng quán tưởng: Đầu tiên quán tưởng tề luân của chính mình có hoa sen bốn cánh, hoa sen này màu đỏ, trong hoa hiện ra một làn khói hương, trong làn khói hương xuất hiện chữ "Hum" màu lam đi lên từ mạch phải của ba mạch, rồi từ lỗ mũi phải đi ra ngoài, khi vào đến không trung thì hiện ra đàn thành của Thượng Lạc Kim Cang. Rồi Thượng Lạc Kim Cang lại phóng quang chiếu đến chúng sinh mười phương thế giới, tất cả chúng sinh nghiệp tội đều tiêu biến. Sau đó đàn thành của Thượng Lạc Kim Cang lại hóa thành chú tự ánh sáng, lại từ lỗ mũi trái đi vào mạch trái, sau đó đi vào trong hoa sen màu đỏ ở Tề luân, vận chuyển tuần hoàn như vậy bảy lần. (Quán tưởng này có ý nghĩa giống như Cửu tiết Phật phong.)
12. Nội hỏa minh điểm và nhập Tam ma địa: Đầu tiên chuyết hỏa đi lên, đến Tề luân, đốt cháy chú tự màu đỏ, sau đó đưa chuyết hỏa đi lên đến vùng tim, đốt cháy chú tự màu lam ở Tâm luân, sau đó lại đưa chuyết hỏa đi lên đến Hầu luân, đốt cháy chú tự màu đỏ ở Hầu luân, sau đó lại đưa chuyết hỏa đi lên đến Mi tâm luân, đốt cháy chú tự màu trắng. Lúc này chuyết hỏa đã cháy khắp toàn thân, đốt cháy tất cả tội chướng mà hành giả đã phạm phải từ vô thủy đến nay, toàn bộ đều thanh tịnh sạch sẽ. Lúc này ánh sáng của chư Phật mười phương thế giới lại trút vào trong thân hành giả, công đức trí huệ của chư Phật mười phương thế giới biến thành công đức trí huệ của chính mình, nước cam lộ từ đỉnh đầu đi vào, khiến thân tâm chính mình duy trì được trạng thái đại lạc vĩnh hằng. Nước cam lộ này đi thẳng đến Tề luân, sản sinh ra đại lạc vô hạn. Đây chính là đại tương ứng của Thượng Lạc Kim Cang đại pháp. Tất cả quán Không, nhập Thượng Lạc Kim Cang Tam ma địa. (nhập định)
13. Xuất định, niệm chú gia trì: Đông Không Hành Mẫu tâm chú: "Ôm chia-cưa-yi-ni yê hùm hùm pây." Bắc Không Hành Mẫu tâm chú: "Ôm la-mây hùm hùm pây." Tây Không Hành Mẫu tâm chú: "Ôm chien-chia-lô-hai hùm hùm pây." Nam Không Hành Mẫu tâm chú: "Ôm ru-pi-ni-yê hùm hùm pây." Tâm chú của bốn Không Hành Mẫu, mỗi tâm chú trì 21 biến. (Tay lần chuỗi hạt.)
14. Tụng tán:
Bạch giáo chủ tôn Naropa. Milarepa, Gampopa. Hồng Quán Thánh Chủ Liên Sinh giả. Các vị Thượng sư đại cát tường. Tất cả chư Phật đại từ bi. Cam lộ quán đảnh đại thượng lạc. Tu trì Mật pháp không gián đoạn. Từ đây chúng sinh đều thành Phật. Kính lễ uy đức Thượng Lạc Tôn. Thanh tịnh tự tại Kim Cang Vương. Pháp duyên tối thắng đại thành tựu. Tăng trưởng công được đẹp mỹ miều.
15. Hồi hướng:
Nguyện con mau đắc đại thành tựu. Nhờ Thượng Lạc Tôn được an tường. Phổ độ tứ sinh các hữu tình. Cùng lên tối thượng cực lạc thổ.
16. Niệm Bách tự minh chú 3 biến.
17. Đại lễ bái Phật. Rời khỏi đàn thành.
Cát tường viên mãn.
Liên Sinh Hoạt Phật nói: "Chân Phật Tông coi trọng Thượng Lạc Kim Cang đại pháp, đại pháp kiểu này vốn không công khai. Nhưng Liên Sinh Hoạt Phật từ bi chúng sinh thiên hạ nên mới công bố để độ hóa và cứu giúp khắp nơi. Chúng sinh cần biết rằng, Chân Phật Tông là đại tông phái vô thượng của trời người trong đời này, pháp duyên là vô cùng thù thắng và khó có được."
Đại pháp này có đủ loại tâm yếu chi tiết, phải thật sự được Kim cương Thượng sư tường thuật tỉ mỉ, chỉ mong chúng sinh học tập kĩ lưỡng, người người thành Phật, thành tựu đại tịnh thổ của Thượng Lạc Kim Cang.
29. Vô Thượng Mật Bộ thành tựu pháp
Tạng mật phái Hồng giáo, pháp môn tối cao là pháp Đại Viên Mãn. Tổ sư khai sáng là Liên Hoa Sinh tổ sư. Tạng mật phái Bạch giáo, pháp môn tối cao là pháp Đại Thủ Ấn. Tổ sư khai sáng là Marpa tổ sư. Ở Ấn Độ là Tilopa tổ sư. Tạng mật phái Hoàng giáo, pháp môn tối cao là pháp Đại Uy Đức Kim Cang. Tổ sư khai sáng là Tsongkhapa tổ sư. Tạng mật phái Hoa giáo, pháp môn tối cao là pháp Đại Viên Thắng Huệ. Tổ sư khai sáng là Sakya tổ sư.
Liên Sinh Hoạt Phật cho rằng, những đại pháp của bốn phái Tạng Mật này đều là đại pháp của Vô Thượng Mật Bộ, cũng chính là Maha yoga, Anu Yoga, Ati Yoga. Được gọi là Thứ tự sinh khởi, Thứ tự viên mãn, Đại Viên Mãn, đây là đại pháp thành Phật của Mật tam thừa.
Về mặt ý nghĩa thì được phân ra thành Vô Thượng Mật Yếu, Vô Thượng Tổng Trì Chi Nghĩa, Tổng Trì Chi Tổng Trì Mật Trung Mật.
Pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ này, đương nhiên cần có sự chỉ dạy tỉ mỉ của Căn bản Thượng sư, đây là đại pháp tối hậu của giai đoạn thứ năm trong tu hành của Chân Phật Tông.
Liên Sinh Hoạt Phật đã viết "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn", "Hướng dẫn Đại Thủ Ấn", "Mật Giáo Đại Viên Mãn", ba cuốn sách này đều giảng giải về pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ.
Chân Phật Tông có đại pháp tối cao chính là pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ. Muốn tu chứng đại pháp này, nhất định phải bắt đầu từ việc tương ứng với pháp Tứ gia hành, sau đó tương ứng với pháp Thượng sư tương ứng, tiếp theo là tương ứng pháp Bổn tôn, rồi tu tập tương ứng pháp Kim cang, cuối cùng mới có thể tu tập pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ. Đây là tu tập theo thứ tự, sẽ không có sai sót. Nếu không tu tập theo thứ tự, dễ phạm sai lầm. Việc thành Phật này là chân tính bất sinh bất diệt, trải qua ngộ, tu, trì, chứng mới có thể đạt được Phật tính chân thật này, đây là cảnh giới vô thượng tối cao.
Cảnh giới vô thượng của Chân Phật này vốn không thể diễn tả bằng lời, tạm viết ra như sau: Diệt thức quy về tính, nhiếp dụng quy về thể, tất cả đều không. Ánh sáng tự tính và ánh sáng pháp giới hợp làm một. Đệ nhất nghĩa đế. Việc thành Phật này trước tiên là minh tâm, sau đó kiến tính, tiếp đến chứng thực tướng, rồi chứng Pháp thân, cuối cùng thành Phật là giác hành viên mãn. Trước hết tự tính thanh tịnh, tất cả vạn sự vạn vật chúng sinh bình đẳng thanh tịnh. Sinh tử có thể tự chủ, nghĩa là nhân quả của sinh tử có thể tự chủ. Tiến tới giai đoạn tự mình không trụ sinh tử, cũng không trụ niết bàn, mà trụ trong bồ đề.
Phật tính này chính là Chân Phật, nghĩa tính không vô sinh của các pháp, tất cả các uẩn đều không có, thanh tịnh viên mãn trang nghiêm, rộng độ chúng sinh không sót một ai. Cũng chính là chân tính như như bất động, làm tất cả mà không vì gì cả, đầy đủ tất cả công đức, ánh sáng bồ đề chiếu khắp tất cả.
Đây là khẩu quyết Chân Phật: Trước tiên là vô niệm, an trụ trong Tam ma địa của Bổn tôn, loại bỏ tất cả tướng, tiêu diệt tất cả các pháp. Kế đến là vô tướng vô tác, trong tam muội, lìa tất cả tướng, tất cả pháp cũng diệt. Cuối cùng là không trụ, không được mất, không yêu ghét, không giữ bỏ phân biệt, không có tương đối, cũng không có tuyệt đối, tính hoàn toàn bình đẳng, chứng được chân tướng của trung đạo, thức biến thành không, Chân Phật hiển hiện.
Mục đích hiển hiện Chân Phật chính là tự độ độ tha, tự giác giác tha, giác hành viên mãn.
Đối với tất cả cảnh giới bên ngoài, không phân biệt, không yêu ghét, không chấp giữ hay buông bỏ, tâm an trụ trong bình đẳng. Quá khứ, hiện tại, tương lai cũng hòa làm một, an trụ trong bình đẳng.
Hành giả Mật tông, nội minh cũng không phân biệt, không yêu ghét, không chấp giữ hay buông bỏ, tâm an trụ trong bình đẳng, không và huyễn là một. Cuối cùng là trong ngoài hòa làm một, đạt được tâm ý thanh tịnh vô cấu.
Ở đây có một bài kệ: Chư Phật như trăng sáng Trôi trên vùng hư không Chúng sinh tâm như nước Tĩnh lặng hiện bồ đề.
Ánh sáng tự tính và ánh sáng pháp giới hợp làm một, chính là Chân Phật.
Trong quyển "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn", Liên Sinh Hoạt Phật đã giảng giải chi tiết về pháp tu Vô Thượng Mật, bao gồm pháp linh nhiệt, pháp nhất duyên thiền định, pháp Đại Thủ Ấn, pháp chỉ quán, pháp Thượng Lạc, pháp bất động, Đại Thủ Ấn tu mộng, Đại Thủ Ấn quang minh, Đại Thủ Ấn ly xá, Đại Thủ Ấn khai đỉnh, Đại Thủ Ấn phá mê, Đại Thủ Ấn thường lạc ngã tịnh... Đây chính là pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ, là tâm pháp bí mật tối thượng để đạt đến thực tướng thành Phật.
Liên Sinh Hoạt Phật cũng đã giảng giải chi tiết trong cuốn sách "Mật Giáo Đại Viên Mãn" về các pháp Đại Viên Mãn lập đoạn, nhậm vận, quán tinh, hồng nghê pháp thân biến, nhiếp đới và năm bộ đại pháp truyền tâm, đây cũng là tâm pháp bí mật vĩ đại để đạt đến thực tướng thành Phật.
Pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ này là bí mật tối thượng trong các bí mật của Chân Phật Tông, cần phải được Căn bản Thượng sư giảng giải tỉ mỉ, chỉ dẫn cẩn thận, tu chứng pháp này mới có thể thành tựu rốt ráo, chứng đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.
30. Liên Sinh Hoạt Phật dạy chúng sinh thành Chân Phật
Việc xuất bản cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp" này chính là sự xuất hiện của pháp bản vô cùng trân quý của Chân Phật Tông. Sự ra đời của cuốn sách này chính là ánh sáng vĩ đại của Đại Nhật Như Lai, chiếu khắp thế giới Ta Bà. Không chỉ các đệ tử Chân Phật Tông được lợi ích lớn lao, mà còn làm chấn động cả trời đất.
Cuốn sách này bắt đầu từ pháp căn bản nhất là pháp Tứ gia hành đến pháp tối thượng là Vô Thượng Mật, những khẩu quyết bí mật trong bí mật này thật không thể nghĩ bàn, khiến người ta kinh ngạc, là sự xuất thế của Chân Phật Mật Pháp vô cùng trân quý, thật là điều hiếm có trong những điều hiếm có.
Ngày nay, Liên Sinh Hoạt Phật đã công khai viết ra những khẩu quyết tâm yếu của Chân Phật Mật Pháp trong sách, đây là tác phẩm rốt ráo nhất, rất ít người có thể thẳng thắn và rốt ráo hơn Liên Sinh Hoạt Phật. Nhiều vị Hoạt Phật Tây Tạng đều đến đảnh lễ và cầu pháp từ Liên Sinh Hoạt Phật, vậy Chân Phật Tông chẳng phải là tông phái thù thắng nhất thiên hạ sao?
Liên Sinh Hoạt Phật đã được công nhận là vị Kim cương Thượng sư chân chính, là sự hạ sinh của Liên Hoa Bồ Tát chân chính, là bậc vô thượng trong các bậc vô thượng, là bậc đại Thượng sư trong các vị Thượng sư.
Trình tự tu pháp trong cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp" này chính là tâm đắc tu chứng thành Phật của Liên Sinh Hoạt Phật. Nghi thức tuy nhìn có vẻ đơn giản bình thường, nhưng mỗi một trình tự đều có khẩu quyết tâm yếu, hơn nữa cần phải có vị Thượng sư chân chính giảng giải tường tận, truyền đạt kinh nghiệm và chỉ dẫn.
Trong Ngũ Đại Kim Cang pháp và Bát Đại Minh Vương pháp, Liên Sinh Hoạt Phật không liệt kê tất cả các pháp trong sách, bởi vì nếu liệt kê đầy đủ sẽ thành một bộ sách dày hàng nghìn trang. Tôi chỉ viết ra ba Kim Cang pháp, chỉ cần học và đạt được tương ứng với một trong ba pháp thì cũng thành tựu Kim Cang pháp, đặc biệt ba Đại Kim Cang pháp này là đại mật pháp được Chân Phật Tông trân quý nhất.
Pháp thành Phật của Vô Thượng Mật Bộ vốn có trong ba cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn", "Hướng Dẫn Đại Thủ Ấn" và "Mật Giáo Đại Viên Mãn". Trong cuốn sách này, tôi chỉ viết ra khẩu quyết tâm yếu, đây là chuyển Pháp thân, chuyển Báo thân, chuyển Ứng thân, thậm chí cả hồng nghê pháp thân biến. Văn tự trong đó rất súc tích, toàn là tâm pháp tối thắng, là đại yếu của nội giác để thành Phật trong khoảnh khắc.
Tại sao tôi viết "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp"? Bởi vì số lượng đệ tử Chân Phật đã lên đến hàng triệu người, người tu tập rất đông, căn cơ khác nhau, nghi thức tu pháp mỗi người một khác. Tôi viết cuốn sách này với mong muốn thông qua trình tự nghi quỹ để hướng dẫn tất cả đệ tử đi vào cảnh giới tu pháp thực tế, làm sáng tỏ những điều ẩn mật vi diệu, giải thích lặp đi lặp lại chính là hy vọng mọi người sinh khởi tri kiến chân thật. Cũng mong rằng với sự xuất bản của cuốn sách này, Chân Phật Mật Pháp sẽ thực sự nhập thế một cách phổ biến, giáo hóa chúng sinh thực sự thành Chân Phật, đây chính là tiếp nối huệ mệnh của Phật, dẫn dắt mọi người đến chỗ vi diệu, cùng nhau sinh khởi tâm tin Phật, niệm Phật, tu pháp, thành Phật.
Liên Sinh Hoạt Phật dạy chúng sinh thành Chân Phật, trước tiên phải quy y Kim cương Thượng sư, phải quy y Phật, phải quy y pháp, phải quy y tăng. Đây là Tứ quy y, Tứ quy y này chính là chỗ nương tựa của chúng sinh, cũng chính là sự đăng ký học tập Chân Phật Mật Pháp.
Chúng ta phải tuân theo giới luật, giữ gìn năm giới và thực hành mười thiện. Thân - không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Khẩu - không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lời ác độc, không nói đâm thọc. Ý - không tham lam, không sân hận, không tà kiến.
Chúng ta phải vững vàng tuân thủ "Sự sư pháp ngũ thập tụng", "Mười bốn đại giới của Mật giáo". Chúng ta phải kính sư, trọng pháp, thực tu.
Người học Phật cần phải thanh tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, ý. Tu tập Chân Phật Mật Pháp chính là chuyển tam nghiệp thành tam mật, tam mật này chính là trang nghiêm bí mật thân, khẩu, ý, sự trang nghiêm bí mật này cần phải tu hành. Ý thành quán tưởng, thân thành thủ ấn, khẩu thành chân ngôn, chính là dùng quán tưởng, thủ ấn, chân ngôn để tu hành thành Phật.
Đệ tử Chân Phật Tông tu tập Bổn tôn pháp chính là miệng tụng chân ngôn của Bổn tôn, ý quán tưởng Tam ma địa của Bổn tôn, tay kết thủ ấn của Bổn tôn. Điều này thể hiện thân thể đồng với Bổn tôn, miệng đồng với Bổn tôn, ý niệm đồng với Bổn tôn, từ đó đạt được tương ứng với Bổn tôn, tức thân thành Bổn tôn. Đến giai đoạn cuối cùng của tu hành, sẽ có chuyển Ứng thân, chuyển Báo thân, chuyển Pháp thân, thực sự ba thân hợp làm một thân, chính là hạnh nguyện viên mãn.
Liên Hoa Đồng Tử cũng chính là Liên Hoa Bồ Tát, Ngài phóng một đạo hào quang, thế giới Ta Bà liền có một vị Liên Sinh Hoạt Phật. Hiện nay, Liên Sinh Hoạt Phật đã đến thế gian, kết duyên lớn nhất với chúng sinh ở thế giới Ta Bà. Liên Sinh Hoạt Phật từ thế giới Tây phương Cực Lạc, từ Ma Ha Song Liên Trì đến đây, cũng phát đại nguyện: "Địa ngục chưa trống thề không thành Phật, phân thân xả cốt độ chúng sinh". Tu trì Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật cũng sẽ đạt được đại thành tựu như tám đại Bổn tôn vậy.
Tu pháp Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử, mật hiệu là Đại Phúc Kim Cang, tu pháp này không những tương ứng với Thượng sư, đồng thời cũng là pháp phúc đức nhất. Về pháp xuất thế thì đạt được thành tựu của Liên Hoa Bồ Tát, về pháp nhập thế thì cho dù là học hành, kinh doanh, công danh, địa vị, phú quý, hoạnh tài, hôn nhân, con cái, sức khỏe đều có thể đạt được thành tựu viên mãn nhất, làm bất cứ việc gì cũng đều vượt trội hơn người.
Chân Phật Mật Pháp có thể được quy y và tu tập bởi bất kì người theo tín ngưỡng tôn giáo nào, dù là người xuất gia hay cư sĩ, dù là người khỏe mạnh hay khuyết tật, dù thuộc tầng lớp xã hội nào cũng đều có thể tu tập, dù ăn chay hay không ăn chay đều có thể tu tập được, đây chính là điểm thù thắng nhất của Chân Phật Mật Pháp.
Liên Sinh Hoạt Phật dạy chúng sinh thành Chân Phật, Ngài đầu tiên học Đạo giáo, sau đó học Hiển giáo, cuối cùng học Mật giáo. Ngài nhận ra rằng bất kì pháp môn nào cũng có thể thành Phật, và đã thông đạt cả Đạo, Hiển, Mật. Ngài cảm nhận được rằng Chân Phật Mật Pháp là con đường tắt tốt nhất để thành Phật, do đó Ngài tích cực hoằng dương Chân Phật Mật Pháp.
Hiện nay, Liên Sinh Hoạt Phật đã chứng ngộ trong tu hành, và để giáo hóa chúng sinh, Ngài lại thị hiện Chân Phật Mật Pháp, mong rằng chúng sinh sớm tiêu trừ nghiệp chướng, sớm minh tâm kiến tính, sớm được tự tại sinh tử, sớm được tức thân thành Phật. Do có sự chứng đắc của Liên Sinh Hoạt Phật, nên biết chắc rằng Chân Phật Mật Pháp có thể thành Phật, vì vậy đã ban bố khắp thiên hạ, mong rằng mọi người quy y, ai ai cũng tu hành, cùng nhau thành Phật. Ngày nay ở khắp nơi trên thế giới, mọi góc cạnh đều thành lập phân đường Chân Phật, tại các phân đường tổ chức pháp hội đồng tu hoặc thuyết pháp, xuất bản tạp chí, hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, chính là đề xướng Phật pháp thuần chính, đề xướng nhân gian tịnh thổ và liên hoa tịnh thổ của Ma Ha Song Liên Trì, đây chính là nguyện vọng của Liên Sinh Hoạt Phật.
Khi Liên Sinh Hoạt Phật đắc chứng quả vị, trong không trung vang lên lời tụng rằng: Vạn tay Kim Cang đã hình thành, truyền thừa Chân Phật nghìn đèn sáng Ba chuyển pháp luân hợp bốn giáo, Liên Sinh truyền pháp tối thượng thừa Viên mãn tương ứng bền lâu mãi, hòa nhập tâm Phật biển quang minh Sinh ra hoa sen nghìn vạn đóa, khắp các biển hồ đẹp lung linh.
Tu tập Chân Phật Mật Pháp bắt đầu từ quy y, từng cấp độ một của việc tu học, Chân Phật Mật Pháp của Liên Sinh Hoạt Phật quả thật đồng nhất với ánh sáng của mười phương chư Phật, không có gì sai khác, người tu trì tương ứng có thể hòa nhập vào đại quang minh của mười phương chư Phật, sắc thân hoàn toàn không còn.
Khi tức thân thành tựu, có thể thâu tóm cả ba mươi ba tầng trời, siêu việt đứng trên ba mươi ba tầng trời, đại quang minh hiển hiện nơi tự thân chính là thần thông tự tại đại viên mãn.
Tôi cảm thấy rằng, chúng sinh trong thế gian này, nếu bỏ lỡ cơ duyên một lần nữa, sẽ không còn cơ hội, phải ngồi đợi hàng nghìn năm trong thế giới tối tăm, vì vậy hãy mau quy y, hoan nghênh quy y, hoan nghênh học pháp, cùng nhau phát tâm bồ đề vô thượng.
Pháp môn vô thượng bí mật trong Chân Phật Mật Pháp này đã được viết ra, vốn là sự hóa hiện của tâm đại bồ đề vô lượng vô số của Như Lai, Chân Phật Tông là tối thượng trong tối thượng, hiếm có nhất trên thế gian, người có được cuốn sách này là bậc đại pháp duyên, khó gặp được trong thời thịnh thế. Tán thán thay! Tán thán thay! Mười phương chư Phật cùng hiện tướng lưỡi rộng dài tán thán, ngợi khen chưa từng có.
31. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (1)
Hỏi: Tại sao khi Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy Mật pháp, lại đặt tên tông phái này là Chân Phật?
Đáp: Truyền thừa trong Mật tông rất quan trọng, vì vậy về nguyên tắc, các vị Thượng sư Mật tông có ba loại truyền thừa: Loại thứ nhất - Từ Kim Cang Như Lai truyền qua các đời Thượng sư đến vị Thượng sư của mình. (dòng truyền dài) Loại thứ hai - Từ một vị Bổn tôn hiện ra truyền đến vị Thượng sư của mình. (dòng truyền ngắn) Loại thứ ba - Đặc biệt do địa, thủy, hỏa, phong, không hiện ra, truyền thụ Mật pháp đặc biệt. (dòng truyền tôn quý)
Do Liên Sinh Hoạt Phật đã nhận được dòng truyền dài từ phái Hoàng giáo và Bạch giáo của Tạng mật, nhận được dòng truyền ngắn từ phái Hoa giáo, nhận được dòng truyền tôn quý từ phái Hồng giáo, vì vậy, tông phái của Liên Sinh Hoạt Phật chính là Mật pháp chân chính đã được truyền thừa, Liên Sinh Hoạt Phật truyền dạy Mật pháp chân chính, mọi người quy y học tập Mật pháp chân chính, tương lai khi thành Phật sẽ thành "Chân Phật".
Vì vậy Liên Sinh Hoạt Phật đặt tên tông phái này là Chân Phật Tông. Bởi vì tất cả đều là "Thật".
Hỏi: Khi học chân ngôn, chúng ta có thể đọc theo sách hoặc đọc theo băng ghi âm không?
Đáp: Đọc theo sách và đọc theo băng ghi âm đều là những phương pháp hỗ trợ học tập. Cần biết rằng, chân ngôn trong sách và chân ngôn trong băng ghi âm đều là chân ngôn thật, nhưng nếu người tu học chưa quy y vị Thượng sư đó thì sẽ không có "năng lực gia trì của dòng truyền thừa", vì vậy khi học chân ngôn, điều quan trọng nhất là phải đọc âm chú do Thượng sư truyền dạy cho bạn, hoặc âm chú do Thượng sư viết trong sách, hoặc âm chú do Thượng sư ghi âm.
Có những người học đọc chân ngôn nhưng thiếu "năng lực gia trì của dòng truyền thừa". Như vậy chỉ như vẹt học nói, có âm mà không có tâm.
Tất cả chú âm vẫn phải lấy chú âm của Thượng sư của mình làm chính. Bởi vì dù bạn có học được âm Phạn cổ chính xác nhất, nhưng không có "năng lực gia trì của dòng truyền thừa" thì cũng bằng không.
Hỏi: Chân Phật Tông có khác với các tông phái Mật tông thông thường không? Chân Phật Mật Pháp có đặc điểm gì?
Đáp: Chân Phật Tông quả thật có chút khác biệt so với các tông phái Mật tông thông thường. Do Liên Sinh Hoạt Phật đã thấu hiểu nhân quả ba đời, chứng ngộ rằng Pháp thân của mình chính là Bạch Liên Hoa Đồng Tử ở Ma Ha Song Liên Trì tại Tây phương Cực Lạc thế giới. Không chỉ chứng ngộ mà còn thân chứng, vì vậy tịnh thổ của Chân Phật Tông chính là tịnh thổ Ma Ha Song Liên Trì. Điều này khác với các tông phái Mật tông khác.
Chân Phật Mật Pháp có pháp tương ứng Liên Hoa Đồng Tử (pháp tương ứng Thượng sư), đây là điều mà các tông phái Mật tông khác không có, đây là một trong những đặc điểm lớn nhất của Chân Phật Mật Pháp.
Về việc độ chúng sinh rộng khắp, Liên Sinh Hoạt Phật đã phát đại nguyện độ chúng sinh, vì độ chúng sinh mà nguyện thân tan xương nát, nguyện vào địa ngục, vì vậy dám viết Mật pháp thành sách, chỉ thẳng tâm yếu, nói ra những điều bí mật sâu xa, đây là biểu tượng thù thắng nhất, cũng là đặc điểm của Chân Phật Mật Pháp.
Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp nhờ có Liên Sinh Hoạt Phật nên mới có những đặc tính khác biệt đặc biệt như vậy.
Hỏi: Khi học Chân Phật Mật Pháp lẽ ra phải bắt đầu từ bốn pháp gia hành, từng bước tu tập lên cao, nhưng tại sao Liên Sinh Hoạt Phật đôi khi lại yêu cầu đệ tử mới quy y thờ tượng của Thượng sư và tu pháp tương ứng Thượng sư trước?
Đáp: Trình tự học Chân Phật Mật Pháp như sau:
Pháp Tứ gia hành - Pháp tương ứng Thượng sư - Pháp Bổn tôn - Pháp Kim cang - Vô thượng mật.
Đôi khi, Liên Sinh Hoạt Phật trực tiếp yêu cầu đệ tử bắt đầu từ pháp tương ứng Thượng sư, điều này có lý do của nó, trước hết là vì căn cơ của đệ tử đó rất tốt, có thể trực tiếp tu pháp tương ứng Thượng sư. Hơn nữa, Chân Phật Mật Pháp của tôi thực ra đã dung nhập pháp lễ bái, pháp tứ quy y, pháp cúng dường mandala vào trong pháp tương ứng Thượng sư.
Nói rõ hơn, Liên Sinh Hoạt Phật có nhân duyên đặc biệt với pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát trong pháp Tứ gia hành, Liên Sinh Hoạt Phật chính là Kim Cang Tâm Bí Mật.
Đệ tử Chân Phật Tông chúng ta tu pháp, mỗi ngày một lần tu, bắt đầu từ pháp tương ứng Thượng sư, thường ngày có thể thêm tu một gia hành hoặc hai gia hành, khi có thời gian thì tu cả bốn gia hành cùng lúc. Tu trì như vậy, tương đương với việc hợp tu pháp Tứ gia hành và pháp tương ứng Thượng sư.
Đây chính là đại từ bi của Liên Sinh Hoạt Phật!
Hỏi: Khi học Mật tông, ngay từ đầu phải được quán đảnh quy y, quán đảnh từ xa của Liên Sinh Hoạt Phật cũng rất đặc biệt, có thể giải thích cụ thể được không?
Đáp: Về vấn đề này, tôi đã viết một bài viết trong cuốn sách "Linh Tiên Kim Cang Đại Pháp" trang 193, với tiêu đề "Ý nghĩa thực sự của quán đảnh từ xa".
Vị Kim cương Thượng sư có thể thực hiện quán đảnh từ xa cần phải có ba loại thành tựu: thứ nhất là thành tựu du hành trong không trung, thứ hai là thành tựu triệu thỉnh ẩn thân, thứ ba là thành tựu đại quang minh của Bổn tôn.
Vị Kim cương Thượng sư đã đạt được ba thành tựu lớn này chính là đã đạt được thành tựu từ Thứ tự sinh khởi trở lên. Liên Sinh Hoạt Phật có thể điều khiển Không Hành Mẫu, mang nước quán đảnh bay đến nơi ở của các đệ tử, bất kể đệ tử đang làm việc gì đều có thể nhận được sự quán đảnh vô cùng chân thực.
Có rất nhiều vị Kim cương Thượng sư cho rằng quán đảnh từ xa không đúng nghi quỹ, rất có thể họ chỉ là những vị Kim cương Thượng sư bình thường, chưa đạt được thành tựu gì, chỉ biết nghi quỹ, những điều khác chưa hiểu hết, do năng lực bản thân chưa đủ nên đã đố kỵ với thành tựu của người khác.
Thực ra quán đảnh từ xa là pháp chân thật, cũng là pháp phương tiện, là một trong những đại pháp độ sinh rộng khắp. Đây chính là phương tiện thiện xảo của lòng đại từ đại bi của Liên Sinh Hoạt Phật.
Hỏi: Cần có những điều kiện gì mới được gọi là Thượng sư? Và Thượng sư có những cấp bậc nào?
Đáp: Thượng sư là một địa vị rất tôn quý.
Thứ nhất, phải gia nhập hải hội chư Phật, được quán đảnh Acharya . Tu trì tất cả các pháp đã đạt được tương ứng. Được Căn bản Thượng sư ấn chứng làm Thượng sư. Thứ hai, tự mình nhập vào Tỳ Lô tính hải, được Tổ sư các đời ấn chứng, chư Phật Bồ Tát ấn chứng, được thọ ký rất chân thực thì có thể làm Thượng sư.
Kim cương Thượng sư nói chung được chia làm bốn cấp: Acharya — Chỉ biết nghi quỹ sự tướng, nương theo tín tâm mà hành trì, là Thượng sư sơ cấp. Đại Acharya — Thông đạt cả sự tướng và lý tướng, là Thượng sư trung cấp. Kim cương Acharya — Lý và trí đều thông suốt, là Thượng sư thượng cấp. Đại trì minh Kim cương Acharya — Đã đạt vô thượng trí, thành tựu tất cả, là Thượng sư vô thượng.
Theo như Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương đã nói về sáu loại Acharya: (1) Vị đã thông đạt tất cả các phần của mandala, cùng với tất cả chân ngôn ấn quyết của chư tôn, thành tựu quán hành, và được truyền pháp quán đảnh. (2) Vị đã vượt qua thuận nghịch bát tâm, chứng được cảnh giới tịch nhiên. (3) Vị đã đạt được tâm chủ tự tại, giác ngộ bản tâm vốn không sinh. (4) Vị đã sinh khởi tâm cực vô tự tính, được nhập vào hải hội mandala như trên. (5) Vị đứng đầu trong số những người thông đạt tam mật, như Kim Cang Tát Đỏa. (6) Tỳ Lô Giá Na.
Hôm nay tôi xin thẳng thắn nói với mọi người, Liên Sinh Hoạt Phật của Chân Phật Tông đương nhiên là bậc đứng đầu trong số những người thông đạt tam mật, là Kim Cang Thủ Bồ Tát, là Kim Cang Mật Chủ, đã nhập vào biển đại quang minh của Tỳ Lô Giá Na, là bậc minh tâm kiến tính, tự tại sinh tử, là Đại Trì Minh Kim Cang Acharya.
Nói một cách đơn giản, nếu không thực sự đạt được đại chứng ngộ, làm sao các vị Hoạt Phật Tây Tạng lại quy y với Liên Sinh Hoạt Phật! Vì vậy, theo Liên Sinh Hoạt Phật chính là có đủ điều kiện chân chính để thành Phật, đó chính là Chân Mật Pháp đúng đắn. Tôi muốn các vị Thượng sư của Chân Phật Tông hãy tự trân trọng mình, Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh cho mọi người làm Thượng sư sơ cấp là để mọi người đạt được trí huệ vô thượng, đạt được tất cả thành tựu, có như vậy mới là Tỳ Lô Giá Na, mới là Kim cương Thượng sư chân chính của Chân Phật Tông.
32. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (2)
Hỏi: Là phàm phu thế tục, không có pháp nhãn, chúng tôi làm sao phân biệt được vị nào là Kim cương Thượng sư chân chính, vị nào là Thượng sư giả mạo?
Đáp: Do tất cả mật pháp của Mật tông đều là những pháp bí mật tự chứng của chư Phật Bồ Tát mười phương, nên tất cả khẩu quyết tâm yếu đều phải do Kim cương Thượng sư chân chính đã chứng ngộ truyền thụ.
Bước đầu tiên khi học Mật tông chính là quy y với Kim cương Thượng sư đã chứng ngộ chân chính. Bởi vì trong Kinh Mật Tục có nói: "Tất cả mật pháp, nếu không được Thượng sư trực tiếp truyền thụ, người tu sẽ không đạt được thành tựu, người học sẽ phạm tội trộm pháp." Vì vậy khi học Mật tông, nhất định phải quy y rồi mới được học, nếu không sẽ là trộm pháp.
Người thế tục không thể phân biệt được vị nào là Thượng sư chân chính, vị nào là Thượng sư giả mạo? Hôm nay Liên Sinh Hoạt Phật dạy mọi người quan sát như sau:
Đặc điểm của các Thượng sư giả mạo — không giữ giới luật nhà Phật, hành xử bừa bãi, không tuân thủ bất kì giới luật nào. Không có tâm từ bi, thích nổi giận, tâm sân hận đặc biệt nặng, oán trời trách người, lòng sân không dứt. Tham cầu sự cúng dường của đệ tử, mở miệng là đòi tiền, không bao giờ thấy đủ. Bản thân đặc biệt kiêu ngạo, đối xử với người rất ngạo mạn, không có chút từ ái nào. Không phân biệt phải trái, xa rời chính trực, ngược lại còn làm điều xấu xa tội lỗi.
Những vị Thượng sư như vậy, hoàn toàn không có tướng đức hạnh, chắc chắn là Thượng sư giả mạo không còn nghi ngờ gì.
Đặc điểm của các Thượng sư chân chính — có đầy đủ ba trí tuệ là hiểu biết sâu rộng, thực tu và chính tư duy. Thượng sư chắc chắn đã chứng đắc đôi khi sẽ thể hiện pháp lực một cách không chủ ý. Thượng sư chân chính tính tình hòa nhã, gặp bất kì trắc trở nào cũng kiên nhẫn chịu đựng, làm việc có đầu có cuối. Đối với đệ tử của mình, biết tùy căn cơ mà giáo hóa, giúp đệ tử dần dần đạt được thành tựu. Thượng sư chân chính khi nhận cúng dường không đòi hỏi tiền bạc bừa bãi, cũng không định giá, tất cả mọi pháp sự đều tùy tâm, tất cả vì chúng sinh, vì hoằng dương Phật pháp, không thể định giá, không vì lợi dưỡng. Thượng sư chân chính tinh thông sự tướng và nghi quỹ của tông phái, thông suốt tất cả giáo lý Hiển Mật. Thượng sư chân chính có đại trí tuệ, thông đạt tất cả mật pháp. Thượng sư chân chính có đầy đủ đức hạnh cả trong lẫn ngoài.
Đây là đức tướng của Thượng sư chân chính, vị Thượng sư như vậy là Thượng sư thật.
Liên Sinh Hoạt Phật từng dạy: "Khi chúng sinh chọn Thượng sư để quy y, trước tiên phải quan sát đặc điểm của Thượng sư, nếu phát hiện là giả mạo thì đừng quy y, tránh bị Thượng sư giả mạo lừa gạt. Thượng sư giả không những tự lừa dối mình mà còn lừa người khác vào địa ngục, đây là bi kịch đáng thương nhất của trời người. Nhưng, nếu chúng ta gặp được một vị Kim cương Thượng sư chân chính, phải nắm lấy cơ hội tốt không để vuột mất, lập tức quy y nhận quán đảnh, tiếp nhận truyền pháp từ Kim cương Thượng sư chân chính, bắt đầu kính Sư, trọng pháp, thực tu, chân tâm tu học mật pháp đúng đắn, để mong đạt được thành tựu chân chính."
Việc phân biệt Thượng sư thật và Thượng sư giả là điều quan trọng nhất.
Hỏi: Sự tướng trong Mật tông là gì, Chân Phật Mật Pháp có những sự tướng nào?
Đáp: Tu học Chân Phật Mật Pháp đương nhiên phải thực tu, và phạm vi thực tu chính là sự tướng.
Chẳng hạn như lập đàn thành, cúng dường chư tôn, kết ấn niệm chú, bốn lần nghi quỹ, quán tưởng chư tôn, mandala đều nằm trong phạm vi sự tướng.
Trong đó: Thứ tự sinh khởi là pháp hữu vi. Thứ tự viên mãn là pháp vô vi. Thứ tự sinh khởi lại chia thành gia hành, giản tu, chính hành, quảng tu v.v. Về mặt pháp sự chia thành bốn loại lớn là tức tai, tăng ích, nhiếp triệu - kính ái, hàng phục. Sự tướng cần phải hiểu rõ cách ứng dụng tất cả pháp khí, hiểu rõ tất cả thủ ấn, quán tưởng, trì chú. Hiểu rõ tất cả trình tự tu pháp.
Chúng ta (Chân Phật Mật Pháp) đương nhiên cũng phải lập đàn thành. Tuy nhiên, Liên Sinh Hoạt Phật đã cân nhắc đến việc có rất nhiều đệ tử quy y không thuận tiện, có người là do năng lực không đủ, có người là do hoàn cảnh không cho phép. Những người có điều kiện thì chỉ cần thờ tượng hoặc pháp tướng của Thượng sư, tất cả đều làm pháp đơn giản, tu pháp xong có thể cất tượng hoặc pháp tướng vào nơi sạch sẽ. Có người thậm chí không thể thờ tượng và thắp hương, chỉ có thể dùng quán tưởng lập đàn trong không trung, quán tưởng Thượng sư hoặc chư tôn trong không trung, sau đó mới y pháp tu trì.
Hỏi: Trong giới Phật giáo, các tông phái thường có hiện tượng công kích lẫn nhau, và Chân Phật Tông chắc chắn cũng sẽ bị công kích, Liên Sinh Hoạt Phật có quan điểm gì về việc này?
Đáp: Phàm là người học Phật, khi học một tông phái nào đó thường tự cho mình là đúng, còn người khác là sai, từ đó sinh ra hiện tượng công kích lẫn nhau. Điều này giống như câu chuyện người mù sờ voi, mỗi người đều không ngừng tự nói theo cách của mình.
Thực ra cửa Phật rộng lớn vô lượng, tất cả đều là tùy duyên thuyết pháp nên mới có các pháp môn khác nhau, con người chỉ cần tu học một pháp môn, pháp nào cũng có thể thành Phật, không có chuyện đúng sai tốt xấu. Người học Phật nếu chấp trước rằng mình đúng, người khác sai, rồi công kích lẫn nhau, đó chính là sự chấp trước ngu muội, chứng tỏ vẫn chưa chứng ngộ thông đạt.
Chân Phật Tông của Liên Sinh Hoạt Phật, với xu hướng là một tông phái mới, đã có hàng trăm nghìn đệ tử quy y tu học, số người học tập Chân Phật Mật Pháp cũng ngày càng tăng. Trong đó có cả các tăng Hiển giáo và các vị Hoạt Phật Tây Tạng nghe danh mà quy y, đây là pháp duyên thù thắng phổ cập tứ chúng.
Trong tình thế như vậy, tự biết không tránh khỏi bị công kích, dù nghĩ đến điều này không khỏi xót xa, nhưng vì có thể gieo trồng thiện căn cho tất cả chúng sinh, được vô lượng thắng quả, khai mở tam tuệ, mau chóng thành Phật. Dù tan xương nát thịt cũng không tiếc.
Hỏi: Khi học Chân Phật Mật Pháp, cần giữ thái độ như thế nào để có thể đạt được thành tựu, và phải tu trì ra sao để có được tiến bộ vượt bậc?
Đáp: Về nguyên tắc có ba điểm quan trọng:
Thứ nhất, kính trọng Thượng sư và tuân thủ giới luật Mật tông - Người tu học Mật tông đều biết rằng, Thượng sư truyền thừa là nền tảng để đệ tử đạt được thành tựu, tất cả thành tựu của đệ tử đều do Căn bản Thượng sư ban cho. Thường ngày đệ tử xem Thượng sư như Phật, kính trọng thân khẩu ý của Thượng sư truyền thừa, tu trì nhất định sẽ nhanh chóng được cảm ứng.
Mỗi đệ tử quy y cần đọc kĩ "Sự sư pháp ngũ thập tụng" và "Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo". Như vậy sẽ hiểu rằng, kính trọng Thượng sư như Phật là bước đầu tiên đúng đắn trong việc tu trì Mật tông. Vì thế, tu trì pháp tương ứng với Thượng sư chính là tin rằng "Thượng sư là Phật", học tập để mình hoàn toàn giống với Thượng sư, không có gì khác biệt, đó chính là tương ứng.
Thứ hai, khi học Chân Phật Mật Pháp, phải tu tập theo thứ tự - Có một số đệ tử cho rằng Tứ gia hành pháp, Thượng sư tương ứng pháp, thậm chí cả Bổn tôn pháp, Kim Cang pháp đều là pháp nhỏ, họ muốn ngay từ đầu đã tu trì đại pháp Vô thượng mật. Họ không biết rằng trong quá trình tu pháp, ma chướng rất lợi hại, có người tuy đủ tín tâm và tinh tấn nhưng ma chướng vẫn rất mạnh, sự thử thách của ma rất dữ dội, muốn một bước lên trời thật là vô cùng nguy hiểm.
Thậm chí có một số đệ tử bị mê hoặc bởi thần thông, vừa mới bắt đầu học pháp đã muốn có thần thông. Do đó ma biết được và nhanh chóng cho họ cảm ứng. Khi có cảm ứng, họ chấp trước cho là thật, vọng tưởng điên đảo, nhanh chóng rơi vào ma cảnh. Lúc thì Quan Thế Âm Bồ Tát trở thành chị gái của họ, lúc thì A Di Đà Phật là anh trai của họ, lúc thì Ngọc Hoàng Đại Đế là người hầu của họ. Cái xoáy nước này sẽ kéo thẳng họ xuống địa ngục.
Vì vậy học pháp phải bắt đầu từ pháp căn bản, trước tiên tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phúc huệ. Khi nghiệp chướng được tiêu trừ, có được phúc huệ thì ma chướng mới không sinh khởi. Tứ gia hành pháp chính là mật pháp căn bản để sám hối các tội, tiêu trừ ma oán, tăng trưởng phúc huệ. Theo ý kiến cá nhân của tôi, Tứ gia hành pháp là mật pháp quan trọng hàng đầu.
Thứ ba, phải phát tâm bồ đề - Chúng ta thường phát nguyện: "Nguyện cho chúng sinh đầy đủ niềm vui và nhân của niềm vui, nguyện cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau và nhân của khổ đau, nguyện cho chúng sinh thường trụ trong an lạc không đau khổ, nguyện cho chúng sinh chứng được bình đẳng giác giữa oán thân." Đây chính là phát tâm bồ đề. Cần biết rằng mục đích học Phật là để tự mình thành Phật, khi thành Phật rồi thì phải độ chúng sinh.
Tâm bồ đề này chính là tâm báo đáp "bốn ơn sâu", tâm từ bi cứu độ chúng sinh, tâm thành Phật của chính mình, tâm thay chúng sinh chịu khổ...
Học tập Chân Phật Mật Pháp chính là phải phát tâm bồ đề, phát tâm chân thật thì sẽ có đại thành tựu, phát tâm không chân thật, học pháp không tu tâm, sẽ thành ma. Vì thế tu học Chân Phật Mật Pháp mà không có tâm bồ đề, cũng không có tâm từ bi, chỉ có tâm tranh danh đoạt lợi, càng tu càng giống ma, càng tu càng thành ma.
33. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (3)
Hỏi: "Mười bốn đại giới căn bản của Mật tông" là gì? Xin Hoạt Phật có thể giảng lại được không?
Đáp: Trước đây tôi đã từng trình bày chi tiết trong các tác phẩm, hôm nay để cho các đệ tử ghi nhớ sâu hơn, tôi sẽ trình bày lại một lần nữa.
Điều 1: Thân khẩu ý không cung kính đối với Thượng sư.
Điều 2: Không tuân thủ quy tắc và lễ nghi Hiển-Mật.
Điều 3: Khởi tâm oán hận và tranh giành đối với anh em huynh đệ kim cương đồng tu.
Điều 4: Đánh mất lòng từ bi, đố kỵ với niềm vui của chúng sinh.
Điều 5: Ngại khó mà không độ chúng sinh, đánh mất bồ đề tâm.
Điều 6: Phỉ báng kinh điển Hiển-Mật không phải do Phật thuyết.
Điều 7: Dạy Mật pháp khi bản thân chưa được quán đảnh làm Thượng sư và chưa có đủ uy tín.
Điều 8: Làm tổn hại người khác, tự làm khổ bản thân là không như Phật.
Điều 9: Thiên vị giữa Không và Hữu, không học tâm Không.
Điều 10: Làm bạn bè với kẻ phỉ Phật phá pháp và làm hại chúng sinh.
Điều 11: Khoe khoang pháp thù thắng mà quên mất ý nghĩa sâu xa.
Điều 12: Không nói Mật pháp chân thật, gây trở ngại và phá hoại thiện căn của người khác.
Điều 13: Pháp khí và tài liệu Mật pháp không hoàn thành.
Điều 14: Phỉ báng tự tính trí huệ của nữ giới.
Hỏi: Trong Mật tông, nhiều pháp tướng đều là hình tượng song thân của Kim Cang và Phật Mẫu trong tư thế ôm nhau, và cũng có truyền xuống pháp song thân, nhưng tại sao Liên Sinh Hoạt Phật không đề cập đến pháp này?
Đáp: Tôi hiểu rằng pháp song thân là đại pháp vô thượng của Mật tông, Kim Cang là "phi hữu", Phật Mẫu là "phi không". Tuy nhiên, pháp này từ xưa đến nay đều bị người đời phỉ báng.
Pháp song thân là sự tuần hoàn của điện tử âm dương, là đại pháp thông đạt khí hỏa. Đây là cách giải thích rõ ràng hơn của tôi.
Tuy nhiên, người đời nay không hiểu được pháp này, và dưới góc độ đạo đức thông thường thì hoàn toàn không thể chấp nhận được. Đối với người không hiểu biết, đây đơn thuần là tà uế, làm sao có thể là Phật pháp?
Đồng thời tôi biết rằng, nếu có một số đệ tử tâm địa bất chính, bên ngoài tự xưng tu pháp nhưng thực chất là hành dâm uế, chỉ một niệm sai lầm là rơi xuống địa ngục. Pháp này người thành tựu thì ít mà kẻ đọa địa ngục thì nhiều, đương nhiên sẽ bị phỉ báng.
Liên Sinh Hoạt Phật hiểu rõ về pháp song thân, nhưng vì muốn cứu độ chúng sinh nên không bàn đến pháp này. Tuy pháp này là một trong vô lượng pháp môn, nhưng chỉ là một loại mật pháp mà thôi, nên không bàn đến.
Hỏi: Xin Liên Sinh Hoạt Phật có thể giảng giải cho đệ tử về sự phân biệt màu sắc của chư tôn và màu sắc trong tác pháp không?
Đáp: Trung ương là Phật bộ - ánh sáng màu trắng. Phương Đông là Kim Cang bộ - ánh sáng màu xanh dương. Phương Nam là Bảo bộ - ánh sáng màu vàng. Phương Tây là Liên Hoa bộ - ánh sáng màu đỏ. Phương Bắc là Yết Ma bộ - ánh sáng màu xanh lục.
Phần tác pháp: Tức tai pháp - Bổn tôn phóng ánh sáng trắng chạm đến. Tăng ích pháp - Bổn tôn phóng ánh sáng vàng chạm đến. Kính ái và nhiếp triệu pháp - Bổn tôn phóng ánh sáng đỏ chạm đến. Hàng phục pháp - Bổn tôn phóng ánh sáng xanh dương chạm đến.
Ánh sáng của tam quang gia trì là: Thiên tâm ánh sáng trắng, Hầu luân ánh sáng đỏ, Tâm luân ánh sáng xanh dương. Liên Sinh Hoạt Phật dạy: Màu trắng là nền tảng của các màu sắc, Phật cần tu tập bạch thiện pháp mới có thể đạt được thành tựu rốt ráo nhất, đây chính là chủ tôn trung ương vậy.
Vì vậy cảnh giới Pháp thân của Liên Sinh Hoạt Phật là Bạch Liên Hoa Đồng Tử, chủ tôn của mười tám vị Liên Hoa Đồng Tử.
Hỏi: Hoạt Phật là gì? Ý nghĩa thực sự của Hoạt Phật là gì?
Đáp: Ở Tây Tạng gọi là Hotogtu chính là Hoạt Phật, ý nghĩa thực sự là "bậc thành tựu". Ý nghĩa ban đầu là "minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử", hoặc còn gọi là "người lại đến".
Nói chung Hoạt Phật là chỉ người đã thành tựu. Ở Tây Tạng, có rất nhiều "người lại đến" chuyển thế, vì vậy ở Tây Tạng có đặc biệt nhiều Hoạt Phật, đây là hiện tượng không thể nghĩ bàn. Thực ra ở các vùng khác cũng có nhiều vị Hoạt Phật chuyển thế, chỉ là việc họ tái sinh chuyển thế không được nhiều người biết đến, nên danh tiếng không lớn.
Liên Sinh Hoạt Phật tự nhiên cũng là "người lại đến", bởi vì chính là hóa thân của Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử, hơn nữa nhờ được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đích thân truyền thụ chân nghĩa của Mật pháp, khiến cho các vị Hoạt Phật Tây Tạng đến quy y học pháp, các Hoạt Phật Tây Tạng và đệ tử quy y đều công nhận là bậc Đại Hoạt Phật trong các vị Hoạt Phật.
Về nguyên tắc mà nói, nếu chư Phật, Bồ Tát, La Hán, Thanh Văn từ cõi trời giáng sinh xuống nhân gian để độ chúng sinh, kiếp này là bậc thành tựu, đã giải thoát tất cả phiền não, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính thì chính là Hoạt Phật chân chính không có gì phải nghi ngờ.
Hỏi: Tại sao mỗi một pháp, khi đến cuối cùng, đều phải nhập định, nhập Tam ma địa?
Đáp: Theo cảm nhận cá nhân tôi, mục đích cuối cùng của Phật pháp không gì khác hơn là giải thoát, nhưng giải thoát nhất định phải có trí huệ bát nhã, vậy trí huệ này từ đâu mà có? Trí huệ chính là từ định mà ra.
Vì vậy, mỗi lần tu pháp, nhất định phải nhập định. Tu định trở thành pháp môn rốt ráo cuối cùng của người tu hành. Liên Sinh Hoạt Phật dạy rằng, thực ra ấn quyết, quán tưởng, chân ngôn, các thứ, tất cả đều là để chuẩn bị cho việc nhập định (nhập Tam ma địa), có nhập định (nhập Tam ma địa) thì tu pháp mới được xem là hoàn chỉnh.
Phương pháp tu định (nhập Tam ma địa) có rất nhiều, có thể tham khảo cuốn sách "Hướng Dẫn Đại Thủ Ấn". Về phương diện này, cần phải tùy theo căn cơ của chúng sinh mà kê toa cho đúng bệnh, có thể nói phương pháp nhập định là vô lượng vô biên. Pháp tu của Liên Sinh Hoạt Phật là từ pháp tu Cửu tiết Phật phong và nội hỏa minh điểm để đi vào Đại Thủ Ấn quang minh định.
Cũng có người phân chia như sau: Túc nghiệp nhẹ - tu Đại Thủ Ấn quang minh định. Nghiệp sân nặng - tu thi đà lâm. Nghiệp si nặng - tu chuyết hỏa nội hỏa minh điểm. Nghiệp tham nặng - tu Yết Ma pháp nhập định.
Hỏi: Học tập Chân Phật Mật Pháp sẽ có những thành tựu nào?
Đáp: Chỉ cần Chân Phật Tứ gia hành được tương ứng, đời sau có thể làm quốc vương hoặc đại phú quý trong nhân gian, cao nhất có thể vãng sinh thiên cung làm Tiên Vương.
Chỉ cần Thượng sư tương ứng pháp được tương ứng thì có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, liên hoa hóa sinh, tương đương với quả vị Liên Hoa Bồ Tát. Chỉ cần Bổn tôn pháp được tương ứng thì có thể vãng sinh tịnh thổ Bổn Tôn, hóa thân thành từng vị Bổn tôn. Chỉ cần Kim Cang pháp được tương ứng thì có thể thành tựu Kim Cang Vương, đầy đủ đại uy đức, hộ pháp Kim Cang. Chỉ cần Vô thượng mật được tương ứng thì tức thân thành Phật rồi!
Chân Phật Mật Pháp chính là chính pháp của Phật môn, là tâm yếu chứng ngộ của Liên Sinh Hoạt Phật. Do đó, tất cả chúng sinh, chúng sinh trong mười pháp giới, đều có thể quy y nhận quán đảnh để học tập. Mỗi người theo thứ tự mà học, ắt sẽ có thành tựu lớn, đây không phải lời nói suông, chỉ xem người ta có tâm kiên trì và tinh tấn hay không. Tu học Chân Phật Mật Pháp cần phải coi trọng cả lý trí và tinh tấn, nhất định sẽ có thành tựu. Những điều không hiểu, cần hỏi thỉnh bậc Thượng sư chân chính, tu trì suốt đời, từng bước từng bước mà đi, ắt có ngày sẽ đến đích.
34. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (4)
Hỏi: Mối quan hệ giữa đạo Bà La Môn và Phật giáo Mật tông như thế nào? Tại sao cho đến nay, vẫn có người chỉ trích Mật tông là đạo Bà La Môn?
Đáp: Thực ra đạo Bà La Môn là tôn giáo cổ xưa của Ấn Độ. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni lúc đầu xuất gia học đạo, từng theo học với sáu vị tiên nhân của đạo Bà La Môn.
Sau đó chỉ có thể tu khổ hạnh đến Tứ Thiền Thiên, cuối cùng Phật Thích Ca Mâu Ni rời bỏ việc tu khổ hạnh, dưới cội bồ đề bên bờ sông Ni Liên Thiền đã ngộ đạo. Sau đó mới sáng lập ra Phật giáo.
Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang và chư thiên trong Phật giáo phần lớn đều là sự chuyển hóa từ đạo Bà La Môn, đây là sự thật không thể phủ nhận. Do lịch sử Mật tông đã có từ rất lâu đời, và đã tồn tại từ thời cổ đại tại Ấn Độ, với rất nhiều phái khác nhau. Yoga có nghĩa là tương ứng, trong đó có Kundalini Yoga, Chân ngôn Yoga, Trí huệ Yoga, Luyện thân Yoga, Dung nhập Yoga, Tín hành Yoga, v.v…, tất cả đều có mối liên hệ mật thiết với Phật giáo cổ đại.
Mật tông Tây Tạng được truyền từ Ấn Độ sang Tây Tạng trong khoảng thế kỷ VII đến VIII. Lúc bấy giờ tại Tây Tạng thịnh hành tín ngưỡng thần giáo nguyên thủy mê tín (Hắc giáo), với các nghi lễ tà ác như giết trẻ sơ sinh tế thần, chú thuật ngũ độc, chú thuật sát nhân, gây mưa đá và nhiều loại tà thuật độc ác khác, khiến người Tây Tạng căm phẫn nhưng không dám lên tiếng. Có thể nói ma quỷ hoành hành.
Sau đó Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đến Tây Tạng, hàng phục Hắc giáo, chế ngự tất cả loài ma, chân chính hoằng dương Phật giáo Đại thừa, đây chính là nguồn gốc của Phật giáo Lạt Ma Tây Tạng.
Trước khi Mật tông được truyền vào, tà giáo nguyên thủy của Tây Tạng chính là Đạo Bon, còn được gọi chung là Hắc giáo, thông thạo chú thuật, dùng phép thuật sát hại người và gây mưa đá, bị chính giáo Tây Tạng nghiêm cấm.
Việc Mật tông bị chỉ trích là đạo Bà La Môn là có nguồn gốc của nó, bởi vì Phật giáo từ thuở ban đầu cũng đã pha trộn một số tư tưởng của đạo Bà La Môn, chư thiên và chư Phật Bồ Tát trong Phật giáo Mật tông phần lớn cũng là sự chuyển hóa từ đạo Bà La Môn, pháp tu yoga của họ cũng có một phần từ pháp môn yoga của Ấn Độ giáo, có lẽ vì thế mà Mật tông bị chỉ trích là đạo Bà La Môn.
Hỏi: Tạng mật có Tứ gia hành, vậy Đông mật có Tứ gia hành không?
Đáp:
Tứ gia hành của Tạng mật (Bạch giáo, Hồng giáo): Pháp Tứ quy y. Pháp Đại lễ bái. Pháp cúng mandala (Đại cúng dường). Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Tứ gia hành của Đông mật: Mười tám khế đạo. Mandala Thai Tạng Giới. Mandala Kim Cương Giới. Pháp Hộ Ma.
Trong Chân Phật Mật Uyển của Liên Sinh Hoạt Phật có hai bức tranh mandala Thai Tạng Giới và Kim Cương Giới, và còn có một lò Hộ Ma vũ trụ bàn. Đối với Tứ gia hành của Đông mật, Liên Sinh Hoạt Phật đã tu tập từ rất sớm, và thấu hiểu tường tận mọi điều về Đông mật.
Hỏi: Ngoài việc đề xướng Chân Phật Mật Pháp, Liên Sinh Hoạt Phật có quan điểm gì về Tịnh Độ tông?
Đáp: Những năm đầu, Liên Sinh Hoạt Phật cũng tu tập pháp môn Tịnh Độ, nói thẳng ra thì cho đến tận bây giờ, Liên Sinh Hoạt Phật vẫn không ngừng trì niệm thánh hiệu. Cần biết rằng, Tịnh Độ tông do Đại sư Huệ Viễn sáng lập, là pháp môn tiện lợi đại chúng hóa, chỉ cần trì niệm thánh hiệu đến nhất tâm bất loạn, sức mình hòa hợp với sức nhiếp thọ của Phật thành một thể, thì có thể vãng sinh Tây phương tịnh thổ.
Pháp môn niệm Phật vãng sinh này có phương pháp tu tập đơn giản, ai cũng dễ học. Nhưng thực ra để đạt đến nhất tâm bất loạn cũng không dễ dàng, nhất tâm bất loạn này chính là lục căn thanh tịnh, nghiệp diệt huệ viên, hội quy pháp giới, cũng chính là công phu "định".
Trong cuốn "Bí Mật Trong Chân Phật Mật Pháp" này, Liên Sinh Hoạt Phật cũng dạy người trì niệm Phật hiệu, tùy tâm trì niệm thánh hiệu của Bổn tôn của mình, quán tưởng hình tượng Bổn tôn, miệng tụng thánh hiệu, tay kết ấn Bổn tôn, đây chính là "tam mật". Cách trì niệm Phật hiệu hợp nhất tam mật như vậy, đến khi đạt nhất tâm bất loạn, tức là thành tựu thượng phẩm.
Tôi cho rằng Tịnh Độ tông trì niệm đến nhất tâm bất loạn, chính là định. Khi công phu tam mật thuần thục, cũng chính là định.
Thiền tông cuối cùng cũng là định, vì vậy các tông phái của Phật môn, dù đi nhiều con đường khác nhau nhưng cuối cùng đều về một đích.
Cá nhân tôi đề xướng Chân Phật Mật Pháp, nhưng không hề bài xích các tông phái khác, ngược lại còn cảm thấy nó hòa hợp hơn với các tông phái, Liên Sinh Hoạt Phật đề xướng Hiển-Mật viên thông, thậm chí là Đạo-Hiển-Mật viên thông. Ánh sáng của Chân Phật Mật Pháp của tôi còn rực rỡ hơn cả ánh sáng vốn có, bởi vì sự trụ thế của Chân Phật Tông có thể nói là một đại kỳ duyên hiếm có trong vạn kiếp. Người đời nay nên khéo nắm bắt cơ duyên tốt, nhanh chóng quy y nhận quán đảnh, đừng để lỡ cơ hội thành Phật.
Đây là "thậm thâm vô thượng vi diệu pháp, trăm nghìn vạn kiếp khó gặp được".
Hỏi: Xin hỏi Liên Sinh Hoạt Phật, pháp Phowa có phải ai cũng tu được không? Sau khi khai mở lỗ đỉnh đầu nghe nói nó sẽ liền lại, và pháp Phowa có thật sự làm giảm tuổi thọ không?
Đáp: Đỉnh đầu của tôi, cách từ chân tóc đo vào khoảng tám đốt ngón tay có một lỗ lõm, lỗ lõm này chính là đỉnh khiếu. Xương ở đỉnh khiếu của tôi đã tách ra, tạo thành một lỗ lõm tự nhiên, lỗ lõm này đi thẳng xuống, có thể đạt đến vùng tim, rồi xuống đến đan điền. Khi tôi viên tịch, chỉ cần đưa nguyên tố sống của sinh mệnh xông lên đỉnh khiếu là thành Phật.
Lỗ thông đỉnh khiếu trên đỉnh đầu của tôi có kích thước bằng một đồng tiền đồng thông thường, khi dùng tay nhấn vào chỉ có da và lỗ lõm, không có xương. Đây chính là chứng minh Liên Sinh Hoạt Phật đã khai mở đỉnh khiếu.
Pháp Phowa chính là pháp khai mở đỉnh khiếu, tôi cho rằng ai cũng có thể tu tập được. Người đã khai mở đỉnh khiếu chắc chắn sẽ vãng sinh Tây phương, bởi vì đỉnh khiếu là thiên lộ duy nhất nhanh chóng trực tiếp để vãng sinh. Nguyên tố sống của sinh mệnh chỉ có thoát ra từ đỉnh khiếu thì mới có thể sinh về cõi trời, nếu thoát ra từ những nơi khác sẽ là con đường luân hồi lục đạo.
Nếu pháp Phowa khai đỉnh được khai mở nhờ sự giúp đỡ của Căn bản Thượng sư, mà đệ tử không tiếp tục tu tập pháp Phowa một cách nghiêm túc, thì lỗ đỉnh đầu sẽ liền lại. Bởi vì sự khai mở của Căn bản Thượng sư chỉ là tạm thời, xương đã được khai mở sẽ khép lại, nhưng nếu tự mình tu tập để khai mở, dựa vào tự lực để khai mở, thì sẽ bền vững và không bị mất đi.
Một số hành giả Mật tông cho rằng thường xuyên tu tập pháp Phowa sẽ giảm tuổi thọ, điều này là do nguyên tố sống của sinh mệnh thường xuyên vận chuyển đến đỉnh khiếu, khi đột nhiên có một tiếng động mạnh, nó sẽ xuất ra khỏi đỉnh khiếu, nếu xuất ra mà không quay về, tức là tử vong. Vì vậy có người chủ trương pháp Phowa cần phải kết hợp tu tập với pháp trường thọ.
Pháp Phowa được ghi chép trong cuốn sách "Vô Thượng Mật và Đại Thủ Ấn".
Hỏi: Nghe nói nguồn gốc của Liên Sinh Hoạt Phật là Liên Hoa Đồng Tử, và Ma Ha Song Liên Trì do Vô Tà Nhãn Như Lai hóa hiện, Vô Tà Nhãn Như Lai lại chính là danh xưng khác của Phật Nhãn Phật Mẫu, xin hỏi nguồn gốc của Phật Nhãn Phật Mẫu là gì?
Đáp: Người nghiên cứu Mật pháp cần hiểu rõ ba loại Bộ Mẫu, ba Bộ Mẫu này như sau:
Phật Bộ - lấy Phật Nhãn Phật Mẫu làm Bộ Mẫu. Liên Hoa Bộ - lấy Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát làm Bộ Mẫu. Kim Cang Bộ - lấy Mang Ma Cơ Bồ Tát làm Bộ Mẫu.
Phật Nhãn Phật Mẫu là Bộ Mẫu đứng đầu của Phật Bộ, nguồn gốc của Ngài chính là hóa thân của Đại Nhật Như Lai và Thích Ca Mâu Ni Phật, tôn hiệu của Ngài là Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu Tâm Tôn, ánh sáng từ bi của Ngài chiếu khắp mọi nơi, nên mới gọi là Phật Nhãn Tôn vậy.
Nguồn gốc của Phật Nhãn Phật Mẫu chính là nguồn gốc của Liên Hoa Đồng Tử. Nguồn gốc ấy chính là Đại Nhật và Thích Ca.
35. Liên Sinh Hoạt Phật trả lời khách hỏi (5)
Hỏi: Chúng tôi đã hiểu được ý nghĩa tu hành của Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp, giờ chúng tôi muốn quy y Chân Phật Tông, nhận được truyền thừa của Chân Phật Tông, vậy chúng tôi phải quy y như thế nào?
Đáp: Muốn quy y Liên Sinh Hoạt Phật, nhận được truyền thừa của Chân Phật Tông, có hai cách: Đến quy y trực tiếp - tức là trước tiên liên lạc hẹn thời gian, từ khắp nơi trên thế giới, bay đến Chân Phật Mật Uyển ở thành phố Redmond, Seattle, Mỹ, để được Liên Sinh Hoạt Phật đích thân quán đảnh quy y.
Sau khi quy y quán đảnh, Liên Sinh Hoạt Phật sẽ trao chứng thư quy y, pháp tướng của Căn bản Thượng sư và pháp bản tu trì, như vậy là đã nhận được truyền thừa.
Quy y bằng thư - Do đệ tử trải khắp mọi ngóc ngách trên thế giới, người mới muốn đến quy y trực tiếp với Liên Sinh Hoạt Phật không phải dễ dàng. Vì vậy, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào sáng sớm 7 giờ ngày mùng một hoặc rằm âm lịch, hướng về phía mặt trời mọc, tụng chú Tứ quy y ba lần: "Na-mô gu-ru pây. Na-mô pút-ta yê. Na-mô ta-mô yê. Na-mô sâng-kya yê. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn. Quy y Chân Phật." Tụng ba lần lạy ba lạy. (Ngày mùng một hoặc rằm, một lần là đủ.)
Tại Liên Sinh Hoạt Phật, vào mỗi ngày mùng một và rằm, Chân Phật Mật Uyển sẽ cử hành nghi thức quán đảnh từ xa để quán đảnh cho những đệ tử không thể đến trực tiếp.
Sau khi làm xong nghi thức tại nhà, đệ tử chỉ cần viết thư, ghi rõ họ tên thật, địa chỉ, tuổi, kèm theo một ít cúng dường Phật tùy tâm, trong thư ghi chú là "xin quán đảnh quy y". Sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ. Sau khi Liên Sinh Hoạt Phật nhận được thư, sẽ gửi cho mọi người chứng thư quy y và pháp tướng của Thượng sư, đồng thời chỉ định bắt đầu tu từ pháp nào. Đây cũng chính là nhận được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật.
Địa chỉ của Chân Phật Mật Uyển:
Sheng-yen Lu 17102 NE 40th Ct. Redmond, WA 98052 U. S. A.
Hỏi: Sau khi nhận được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật, chúng tôi phải tu pháp như thế nào? Thời gian nào là tốt nhất để tu? Mỗi ngày nên tu mấy lần? Trong những trường hợp đặc biệt không thể tu pháp thì phải làm sao?
Đáp: Sau khi nhận được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật, cần phải thiết lập đàn Mật pháp (xem sách "Thế Giới Bên Hồ"), sau khi thiết lập đàn thành xong, bắt đầu tu pháp theo thứ tự, có thể tu theo pháp bản "Bí Mật trong Chân Phật Mật Pháp", mỗi khi bước vào một cấp độ mới, trước tiên phải xin Thượng sư quán đảnh gia trì, sau đó mới tu.
Thời gian tu pháp do mình tự chọn, đương nhiên phải tìm thời điểm rảnh rỗi nhất trong ngày, mỗi ngày tu một lần hoặc hai lần đều được, hoàn toàn tùy thuộc vào thời gian của mình.
Thời gian tu pháp trong đàn thành dài ngắn, một pháp nếu nhanh thì hai mươi phút có thể kết thúc, nếu chậm thì năm mươi phút có thể kết thúc, đây là kinh nghiệm của Thượng sư.
Trong những trường hợp đặc biệt như đi du lịch, tham gia tour du lịch theo đoàn, sống tập thể (trong quân đội) v.v…, khi không thuận tiện tu pháp, có thể chỉ trì tụng Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh hoặc chân ngôn chú ngữ, không cần phát âm thành tiếng, niệm thầm là được, điều này tùy theo sự thuận tiện của mỗi người mà trì tụng.
Đối với đệ tử không thuận tiện thiết lập đàn Mật pháp, có thể thiết lập đàn tạm thời khi tu pháp, chỉ cần lấy pháp tướng của Thượng sư ra là có thể tu pháp, hoặc quán tưởng đàn ở trong hư không, đây đều là pháp tiện lợi.
Đệ tử có thể thiết lập đàn Mật pháp nên thờ pháp tướng Thượng sư. Bởi vì pháp tướng Thượng sư có công đức thù thắng, là tổng trì của tất cả Mật pháp, là chủ của ngũ luân tổng pháp, là chủ của Mật pháp.
Đệ tử Chân Phật Tông tu pháp, tuyệt đối không nên suốt ngày trốn trong mật đàn từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, không ngủ không nghỉ để tu trì. Cư sĩ tu pháp, mỗi ngày chỉ cần năm mươi phút, bình thường cũng phải giống như người bình thường, đi làm thì đi làm, đi học thì đi học, không nên để người khác thấy kỳ lạ, nghĩa là ngoài cuộc sống thường ngày ra, chúng ta chỉ thêm năm mươi phút tu pháp học Phật. Chỉ vậy thôi.
Hỏi: Khi tu tập Chân Phật Mật Pháp, có cần ăn chay không?
Đáp: Đệ tử quy y Chân Phật Tông có người xuất gia, có tì kheo, tì kheo ni, họ giữ giới luật của người xuất gia nên đương nhiên phải ăn chay.
Đệ tử quy y Chân Phật Tông có cư sĩ tại gia, người tại gia khi ra ngoài, việc ăn chay quả thật có điều bất tiện, cho nên khi tu tập Chân Phật Mật Pháp, ăn chay hay không ăn chay là tùy theo ý nguyện của mỗi người.
Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, không được sát sinh để ăn. Nghĩa là chúng ta không được giết sinh vật đang sống. Muốn ăn thì có thể mua về ăn được.
Các hành giả Mật tông Tây Tạng không ăn chay, điều này là do môi trường địa lý, Tây Tạng là vùng du mục, rau củ lúa gạo không phát triển được, chỉ có thể ăn thịt, vì vậy Phật giáo Tây Tạng không cấm rượu thịt.
Vấn đề ăn chay hay không ăn chay hoàn toàn tùy thuộc vào ý nguyện của mỗi người, cũng có thể thay đổi theo hoàn cảnh của mình. Ví dụ khi xuất gia thì ăn chay, khi về già cảm thấy ăn mặn không tốt thì cũng có thể chuyển sang ăn chay, đây là sự chuyển biến của cá nhân.
Hỏi: Kế hoạch độ thế trong tương lai của Liên Sinh Hoạt Phật là gì?
Đáp: Tôi xin thành thật nói với mọi người rằng, sự giáng sinh của Liên Hoa Đồng Tử xuống nhân gian chính là vì một nhân duyên đại sự, viết sách để lưu lại giáo pháp cho thời này, tùy duyên viết tác phẩm, giáo hóa chúng sinh.
Từ Cơ Đốc giáo, Đạo giáo, Hiển giáo, Mật giáo, lần lượt tầm sư cầu đạo, đến nay đã minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, thuyết pháp ở đời, phổ độ chúng sinh. Pháp độ thế của tôi là viết sách để phá mê hoặc của chúng sinh, đánh trống pháp lớn, gióng chuông pháp lớn, dựng cờ pháp lớn, lập chỉ ý Chân Phật.
Tôi thuyết pháp, lớn nhỏ vô số, thực hành lời thề của Kim Cang Tát Đỏa, chính là vị chủ bí mật của Kim Cương Chân Ngôn Giới. Hoàn toàn thấu hiểu tác Mật, tu Mật, du già Mật, Vô thượng du già.
Tôi thực hiện pháp độ vong - dùng thần lực đại thủ ấn bất khả tư nghì và công lực mật chú mạnh mẽ, khiến cho thần thức thân linh hiển hiện và được giải thoát nhanh chóng. Tôi thực hiện pháp cầu phúc - vượt thoát lĩnh vực vật chất, hiển lộ thần thông vi diệu và rộng lớn, khiến người cầu phúc được mãn nguyện, đạt thành tựu lớn, chúng sinh hoan hỷ.
Tương lai sau khi hoàn thành việc viết sách, tôi sẽ từ bỏ tất cả. Từ bỏ danh, từ bỏ lợi, nghĩa là từ bỏ hoàn toàn vợ, tài sản, con cái, bổng lộc. Ngay cả họ tên của mình cũng từ bỏ, Chân Phật Tông cũng từ bỏ, vị trí tông chủ cũng từ bỏ, danh hiệu Hồng Quán Thánh Miện Kim cương Thượng sư cũng từ bỏ, Liên Sinh Hoạt Phật cũng từ bỏ, tất cả đều từ bỏ hết. Lúc đó, tôi sẽ trở thành một ẩn sĩ phiêu bạt bốn phương. Phật pháp không rời pháp thế gian, tôi sẽ đi đây đó, nếu gặp người hữu duyên, sẽ tùy duyên thuyết pháp, độ họ, nếu gặp người vô duyên, chỉ mỉm cười mà thôi, tự tại qua lại trong cõi Ta Bà, đó gọi là tùy duyên độ chúng sinh. Khi thời điểm đến, tôi sẽ ẩn tích, không còn xuất hiện trong nhân gian nữa. Đời này "Tây Phương Liên Trì Hải Hội, Ma Ha Song Liên Trì, Thập Bát Đại Liên Hoa Đồng Tử, Bạch Y Thánh Tôn, Hồng Quán Thánh Miện Kim Cương Thượng sư, Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ, Đại Trì Minh Đệ Nhất Thế Linh Tiên Chân Phật Tông, Lư Thắng Ngạn Mật Hành Tôn Giả" sẽ thực sự viên tịch.
Đất trở về với đất. Khí trở về với khí. Vạn pháp trở về với tính Không.
Và trong cõi người, Chân Phật Mật Pháp vẫn tiếp tục được lưu truyền, danh hiệu Liên Sinh Hoạt Phật này không chỉ là một đời giáo chủ, mà sự truyền thừa này sẽ thành tựu nhiều nhân vật hiếm có tuyệt thế, được vạn đời tôn sùng, đây chính là "sự phó thác ân cần" của truyền thừa này.
(Hết.)