Hào quang của trí huệ
🪷 Triết lý của Như Lai
Văn tập: 154 Xuất bản: 04/2002 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam
Lời mở đầu - Đạo tâm
Tôi viết bài văn nhỏ này dành cho các đồng tu mới quy y, mới học Chân Phật Mật Pháp.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, một người tức thân thành tựu như tôi đây thật sự đã đến Ma Ha Song Liên Trì, nhìn thấy kiếp trước của mình là Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử.
Tu hành Chân Phật Mật Pháp thật sự rất có chứng nghiệm, không chỉ là thân thể an khang, trường thọ tự tại, cát tường như ý, phúc huệ tăng trưởng mà còn có thể nhậm vận biến hiện bốn thân, năm trí, hóa thân cầu vồng, chứng hết vô thượng bồ đề.
Mới quy y, bạn phải tin tưởng Thượng sư truyền thừa, tin tưởng Phật, tin tưởng pháp, tin tưởng Thánh hiền tăng. Đây chính là đạo tâm.
Tu Chân Phật Mật Pháp đương nhiên phải mất thời gian tương đối dài mới có thể có được thành quả, tuyệt đối không được hễ gặp trắc trở là buông bỏ. Chân Phật Mật Pháp dùng để giải thoát phiền não, dùng để tự chủ sinh tử, dùng để minh tâm kiến tính, vì thế càng đòi hỏi đạo tâm kiên cố.
Trên thế giới này, có một người vĩnh viễn mãi mãi có đạo tâm kiên cố, người này chính là tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, tôi vĩnh viễn mãi mãi sẽ không thối lùi đạo tâm.
Cuộc đời này của tôi có rất rất nhiều tai nạn, nếu đổi lại là người khác thì đã nản lòng từ lâu rồi, không tu nữa. Chướng ngại của tôi hết cái này đến cái khác, không ngơi không nghỉ, nhưng, tôi càng ngày càng kiên định ý chí của mình. Nếu tôi không là Như Lai thì ai là Như Lai, từ lâu tôi đã gánh vác gánh nặng của Như Lai rồi.
Xin nói với các vị, tôi còn không thối lui đạo tâm, sao các bạn lại thối lui đạo tâm chứ? Mọi người hãy đến so đạo tâm với tôi xem ai kiên cố nhất? Nguyện cùng các đồng tu của Chân Phật Tông cùng nỗ lực cố gắng!
Địa chỉ liên lạc của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn
Sheng-yen Lu 17102 NE 40th CT REDMOND WA 98052 USA
01. Ngã mạn
Căn cứ theo lời dạy của Mật giáo, Kim cương Thượng sư tổng nhiếp Tam Bảo Phật pháp tăng, còn tương đương với Kim Cang Tát Đỏa truyền pháp, cho nên Kim cương Thượng sư vô cùng tôn quý, hành giả học Mật nhìn thấy Kim cương Thượng sư thì phải làm đại lễ bái ngũ thể đầu địa [toàn thân nằm rạp xuống đất để lạy].
Chính vì thế này mà có người cho rằng Kim cương Thượng sư cũng đang làm cái việc sùng bái cá nhân, sẽ khiến cho Thượng sư cao hơn người một bậc, dễ sinh ra ngã mạn. Ngã mạn tức là kiêu ngạo tự mãn, coi thường người khác.
Theo quan điểm của tôi, đúng ra là không có việc này, ngược lại còn khắc phục thói quen kiêu mạn. Tôi nhận thấy thế này: Hành giả Mật giáo đảnh lễ Thượng sư là khắc phục sự ngạo mạn của hành giả Mật giáo. Thượng sư đảnh lễ Truyền thừa Thượng sư là khắc phục sự ngạo mạn của Thượng sư. Truyền thừa Thượng sư đảnh lễ Tổ sư là khắc phục sự ngạo mạn của Truyền thừa Thượng sư. Theo thứ tự chính là hành giả đảnh lễ Thượng sư, Thượng sư đảnh lễ tôi, tôi lại đảnh lễ Tổ sư Thubten Dhargye. Mặc dù tôi là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, là hóa thân của A Di Đà Phật, nhưng bất kể bạn là hóa thân của Phật nào, nhìn thấy Tổ sư thì vẫn phải quỳ xuống đảnh lễ, người tu hành trước tiên phải hàng phục ngã mạn của chính mình.
Không loại bỏ tâm ngã mạn, cho dù tu thiền định thành tựu thì chắc chắn vẫn sẽ giáng cấp làm Atula Vương hoặc Ma Vương. Hành giả Chân Phật phải ghi nhớ: Khắc phục ngã mạn, là Phật. Nâng cao ngã mạn, là Ma.
02. Xuất gia
Tôi hoan nghênh người có chí tu hành xuất gia, ý nghĩa của xuất gia là có thể càng chuyên tâm tu hành hơn, càng chuyên trách hoằng pháp hơn. Trên nguyên tắc, xuất gia cũng tức là cống hiến thân tâm cho Phật Thích Ca Mâu Ni, đương nhiên chúng ta phải ca ngợi Phạm hạnh thanh tịnh này.
Thế nhưng cũng không phải người người đều có nhân duyên xuất gia, cho nên cũng đừng miễn cưỡng nhất định phải xuất gia. Người tu hành tại gia cũng có thể tu, tất cả tự nhiên là tốt. Có nghĩa là bạn xuất gia cũng được, không xuất gia cũng được.
Trong Chân Phật Tông, nếu như muốn xuất gia, bạn phải cân nhắc ba điểm: 1. Cá nhân có bị tàn tật hoặc bệnh hiểm nghèo không? Có bị bệnh tâm thần không? Có vết nhơ về đức hạnh không? 2. Cha mẹ hoặc phối ngẫu có đồng ý không? 3. Có thể chịu đựng được đời sống tu hành đạm bạc, đơn điệu, hiu quạnh không?
Tôi đã ngẫm nghĩ, ba điểm này có lẽ là quan trọng nhất, nghĩ rõ ràng rồi thì mới có thể xuất gia. Nếu xuất gia rồi mà cảm thấy có vẻ không phù hợp, bạn lại có thể hoàn tục, bởi vì tất cả điều này căn bản là tự do, không ai có thể ngăn chặn bạn hoàn tục, bạn chỉ cần lại để tóc, cởi bỏ tăng phục (trang phục Lama) tức là hoàn tục rồi. Hoàn tục không hề mất mặt, vẫn cứ tiếp tục tu Chân Phật Mật Pháp của bạn thôi. Bởi vì bạn chỉ là không muốn chuyên trách mà thôi!
Tôi nói xuất gia là việc của đại trượng phu, nhưng cư sĩ tại gia mà tu được thành đại thành tựu thì càng là cực giỏi đó! Cả đời tôi tôn trọng tự do. Cả đời tôi tôn trọng dân chủ. Dưới tư tưởng của Chân Phật Tông: miễn cưỡng là một loại tội ác!
03. Phân linh
Quá khứ, tôi từng hỏi Diêu Trì Kim Mẫu: “Thế nào là phân linh?” Diêu Trì Kim Mẫu trả lời: “Thảo đầu thần.” Ý nghĩa của “thảo đầu thần” chính là phân linh nhiều giống như cỏ vậy, phân bố khắp mặt đất, cho nên các thần thánh ở thiên thượng giới đặt cho phân linh một biệt hiệu là “thảo đầu thần”. Ví dụ: Nam mô ba mươi sáu vạn tỷ mười một vạn chín nghìn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Trăm nghìn triệu hóa thân của Tỳ Lô Giá Na Phật. Sáu mươi vạn triệu na-do-tha hằng hà sa do tuần hóa thân của Lô Xá Na Phật. Ngay cả Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có ba mươi hai ứng hóa thân, mỗi một ứng hóa thân lại phân thân ra vô số, cũng tức là phân thân vô tận, vì pháp là như thế, vì thần lực biến hiện.
Theo như tôi biết, phân linh của Liên Hoa Đồng Tử là vô tận, trong số các đệ tử Chân Phật Tông có rất nhiều ứng hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, tôi chỉ là một người trong số đó, một người giác ngộ tương đối sớm. Là một thảo đầu thần Đại Bạch Liên Hoa đã khai ngộ.
Tôi nhận ra được mấy vị là phân linh của Diêu Trì Kim Mẫu: Thượng sư Liên Từ, giáo thọ sư Liên Hoa Xuân Liên, Liên Hoa Hựu Trinh, Liên Hoa Tố Minh, v.v…
Cá nhân tôi cảm thấy phân linh của chư tôn đương nhiên là rất cao quý. Nhưng phân linh giống như cỏ, phân bố khắp mặt đất, phân linh như trăng hiện bóng trên nước. Phật quốc tịnh thổ là “hóa thành” [là một cõi được hóa ra], phân linh cũng là một dạng huyễn hóa mà thôi.
Biết được chính mình là phân linh rồi thì càng phải thận trọng, phải biết dè dặt lo sợ, phải chính pháp, chính tri, chính kiến, chính niệm, chăm chỉ tu hành, chăm chỉ hoằng pháp, phải biết phân linh huyễn thân giống như bọt tụ lại, nếu tâm thần bị vật chất trói buộc thì cũng vẫn đi luân hồi trong lục đạo!
Thảo đầu thần! Nếu như bị ô nhiễm. Thảo đầu thần! Nếu như sa đọa. Một lần bị đốt hết lửa rồi! Muôn kiếp không còn khói.
04. Cảm ứng
Tu Mật giáo rất dễ có được cảm ứng, đây là điều mọi người đều biết. Đầu tiên là Kim cương Thượng sư của Mật giáo tổng nhiếp Tam Bảo Phật, pháp, tăng, có đầy đủ vô lượng công đức của chư Phật, có đại gia trì lực bất khả tư nghì.
Một Kim cương Thượng sư đại thành tựu gia trì cho một người, người này bản thân còn chưa tu hành, chỉ cần một lòng tịnh tín, thì ở đây giống như một người cầm một bình đầy pháp nhũ đổ vào trong bát rỗng của một người, người được gia trì lập tức có được pháp nhũ đầy ắp, đã có được sự thỏa mãn tương ứng.
Chưa bắt đầu tu hành, mới vừa quy y, hoặc mới nhận quán đảnh mà đã có hiện tượng cảm ứng rồi, việc này trong Mật giáo rất nhiều. Nếu như trong tu trì Mật pháp liên tục có các kiểu hiện tượng cảm ứng thì cũng đừng quá kinh ngạc, bởi vì đây là hiện tượng tương ứng bình thường. Về mặt tâm lý hãy duy trì một dạng như gần như xa, không giữ không bỏ là tốt nhất, có cảm ứng cũng được, không có cảm ứng cũng được, đừng quá chấp vào nhất định phải có cảm ứng.
Có cảm ứng rồi có thể nói với Thượng sư, có thể nói với đồng môn kim cương, tốt nhất là thỉnh Thượng sư khai thị, cùng với đồng môn kim cương cổ vũ lẫn nhau. Đừng nói với người ngoài, vì sao? Bởi vì người ngoài chưa chắc đã tin, sẽ gây ra những sự phỉ báng, dễ sinh phiền não.
Ngoài ra, người có cảm ứng rồi, tối kỵ khoe khoang, tối kỵ khởi tâm kênh kiệu ngạo mạn, phải biết rằng tự cao tự đại chính là chủng tử của ma. Rất nhiều người hễ sinh ra cảm ứng là lập tức nhập ma, nguyên nhân chính là ở đây, cho nên những người này càng tu hành càng đi chệch khỏi chính tri kiến, nhập ma mà không tự biết.
Thân khẩu ý thanh tịnh, có được cảm ứng là điều bình thường. Tu trì Mật pháp, có được cảm ứng của các vị Hộ pháp là bình thường. Tuyệt đối đừng cho rằng đây là cảnh giới tối cao, đã vượt qua tất cả đồng môn, pháp sư, Thượng sư rồi. Khởi lên suy nghĩ này tức là đã nhập ma rồi đó!
05. Tự tịnh ý mình
Từng có một đệ tử sơ sơ cúng dường một khoản tiền, nói với tôi: ”Xin Sư Tôn dạy tôi đại thần thông cảm ứng!” Tôi trả lời: ”Ở chỗ tôi học Phật là học tự tịnh ý mình, không phải học thần thông.” Đệ tử nói: “Phật chẳng phải có thần thông sao?” Tôi đáp: “Phật có thần thông. Nhưng người có thần thông không nhất định là Phật.” Tôi nói với anh ta, ma cũng có thần thông, tà thần chính thần đều có thần thông, quỷ cũng có thần thông, ngoại đạo cũng có. Thần thông chỉ là hiện tượng hiển phát ngẫu nhiên của việc học Phật tu đạo, có thể nói là sản phẩm phụ, không chấp vào nó thì mới không phạm sai lầm, không đi vào đường rẽ. Nếu chuyên tu thần thông, rất dễ tham vào cảnh ấy, vọng niệm sinh ra, thế là nhập vào mê hoặc, cuối cùng chắc chắn sẽ đọa vào tà ma ngoại đạo. Tham các loại thần thông cảm ứng sẽ càng ngày càng rời xa giáo hóa của Phật Đà, trở thành yêu ma quỷ mị.
Vậy rốt cục Phật Đà dạy chúng ta cái gì? Vẫn là câu nói cũ: Mọi ác không làm. Làm mọi điều thiện. Tự tịnh ý mình. Là điều Phật dạy.
Tôi đã viết 150 cuốn sách rồi, nghiêm túc mà nói, trăm nghìn vạn văn tự tổng kết quy về bốn chữ: “Tự tịnh ý mình”.
Tam nghiệp của Mật giáo chuyển thành tam mật: thân mật, khẩu mật, ý mật. Thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, chính là tự tịnh ý mình đó!
Tu tâm, tự tịnh ý mình, sẽ thành Phật. Chỉ học thần thông, sẽ thành Ma. Hành giả tu học Chân Phật Mật Pháp phải biết phân biệt cẩn thận kĩ càng!
06. Chính kiến
Chính kiến là một trong bát chính đạo, bát chính đạo lấy chính kiến đứng đầu, vì thế chính kiến là quan trọng số một. Chính kiến nghĩa là kiến giải chính xác, cũng tức là hành giả đối với nhân duyên quả báo, đối với logic Phật pháp, đối với tam pháp ấn, đối với tứ đế, bát chính đạo, thập nhị nhân duyên đều tin tưởng, tiếp nhận và hiểu rõ.
Chính kiến về Mật giáo đặc biệt quan trọng, học tập Mật giáo nhất định phải dựa vào một vị Kim cương Thượng sư có truyền thừa chân chính, cũng tức là phải xác lập một vị Căn bản Thượng sư, một lòng tịnh tín, chuyên tâm tu trì. Bởi vì an trụ tâm ở nơi một vị căn bản, thường luôn nhớ đến căn bản mới có thể không loạn không động, đây là chính kiến của Mật giáo.
Phật giáo hiện nay không nhất định là Phật giáo, có rất nhiều giáo phái khác nhau lan tràn, có phái thì dùng công pháp để hiệu triệu, có phái thì dùng thần thông để hiệu triệu, có phái dùng khí công để hiệu triệu, còn có phái dùng ma quỷ để mê hoặc người đời, v.v…
Những giáo phái này thu hút đệ tử, tranh cướp cúng dường, mở rộng địa bàn, dùng bất kì thủ đoạn tồi tệ nào. Thường xuyên có rất nhiều người thiếu chính kiến đã lầm đường lạc lối, ngày càng lún sâu vào cạm bẫy mà vẫn cho rằng mình đã thật sự gặp được “minh sư”, đã học được đại pháp vô thượng, đã sắp thành Phật tác Tổ rồi, thật ra đã nhập ma đạo rồi đó!
Những người này phải nhớ lại chính kiến của Mật giáo, là một Căn bản Thượng sư, một Căn bản Bổn tôn, một Căn bản Hộ pháp, chăm chỉ mà tu. Đừng tham thần thông tà thuật, đừng tham kỳ lạ tham nhiều, đừng chấp vào huyễn thị huyễn thính, đừng dễ dàng tin những lời phỉ báng mà phân vân không quyết định.
Đừng tin mù quáng. Đừng mê tín. Lý trí rất quan trọng. Thử hỏi chính bạn, bạn có chính kiến không? Muốn thành tựu Mật giáo, muốn chấm dứt sinh tử, từ đầu đến cuối đều phải chính kiến!
07. Thượng sư Acharya chân chính
Khi tôi truyền thụ pháp Thời Luân Kim Cang, được Thượng sư Thubten Dhargye tự tay viết trao quyền: “Trao pháp mạch, truyền thừa pháp Thời Luân cho Thubten Qimo [Kỳ Ma], là thề ước samaya.” Việc trao truyền thừa pháp này chính là truyền thừa, Thượng sư Acharya chân chính nhất định phải có truyền thừa.
Tôi có mũ Pháp Vương của Milarepa, áo Pháp Vương của Ganden Tripa, ấn Pháp Vương của giáo chủ Sakya, chuông, chày, bình kim cang của Tổ sư, pháp bản do Tổ sư đích thân trao truyền, v.v… Những món đồ được ban cho này chính là tín vật của Thượng sư Acharya.
Hai tín vật quý giá nhất, đáng tự hào nhất là Kim Cang Thủ Bồ Tát và Kim Cang Hợi Mẫu bằng đất sét do chính tay Cam Châu Hoạt Phật nặn. Hai báu vật này được bày tại Biệt thự Cầu Vồng, là do Cam Châu Hoạt Phật tặng cho Thượng sư Thubten Dhargye, Thượng sư Thubten Dhargye tặng cho tôi.
Có Mật pháp của truyền thừa, tôi kính sư, trọng pháp, thực tu, thật sự đã sản sinh chứng lượng. Lúc này tôi càng thương xót chúng sinh, phát đại bồ đề tâm, sẵn lòng hoằng dương giáo lý và sự pháp đến toàn thế giới, sẵn lòng gánh vác sự nghiệp của Như Lai, cống hiến sinh mệnh và thời gian cho Phật.
Tôi có tín niệm kiên định đối với truyền thừa của chính mình. Tôi có tín tâm tuyệt đối đối với Chân Phật Mật Pháp. Tôi tương ứng tất cả pháp. Mười vạn Không Hành Mẫu hiện thân hoan hô chúc mừng. Bổn tôn hiện thân nói: ”Không cần có chùa của chính mình, không cần có địa bàn của chính mình, không cần có tiền của chính mình. Có được những thứ trên mặt đất sẽ mất đi những thứ trên trời. Ngài - Liên Sinh Hoạt Phật, chứng lượng đầy đủ, đại từ đại bi, trí huệ hiển phát, ngũ trí vẹn toàn, đức hạnh cao quý, tất cả sinh từ đều có thể chấm dứt, có thể không mê không hoặc.”
Nếu có người hỏi tôi thế nào là Thượng sư Acharya chân chính? Câu trả lời của tôi là: ”Vui lòng đọc kĩ bài viết ngắn này từng chút một!”
08. Tự cao tự đại
Thanh Hải Vô Thượng Sư từng nói với đệ tử của bà ấy: “Hiện tại trên thế giới có mấy vị minh sư, tôi chính là minh sư, các bạn gặp được tôi rồi thì không cần phải đi tìm minh sư khác, bởi vì tôi chính là minh sư.”
Thanh Hải Vô Thượng Sư nói như vậy có thể xem là khá trung đạo, rất khách khí. Có một người họ Lý nói thế này: “Pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni truyền là pháp nhỏ, còn tôi truyền đại pháp. Ngày xưa là người tu pháp, còn tôi truyền là pháp tu người.” Có người hỏi họ Lý kia: “Hiện nay trên thế giới có ai đang độ chúng sinh?” Họ Lý đáp: “Chỉ có mình tôi. Không có ai khác.” Nói như vậy thì đương nhiên trên trời dưới đất chỉ có họ Lý kia là Phật, người khác đều là ma. Ông ta phê bình đại hòa thượng là hóa thân của ma, Sai Baba ở Ấn Độ là bị đại mãng xà nhập, Chân Lý giáo của Nhật Bản là quỷ của địa ngục, thầy khí công ở Đại Lục đều là bị linh động vật nhập. Họ Lý kia nói chính ông ta mới là chính đạo duy nhất.
Tôi còn biết có một người họ Tiêu, ông ta nói thế này: ”Tôi là hóa thân của Đại Nhật Như Lai, là chủ của nghìn Phật vạn Phật trên thế giới, Lư Thắng Ngạn chỉ là một Phật nhỏ bé, đều nằm dưới quyền quản lý của tôi.”
Tốt thôi! Hôm nay tôi viết bài văn ngắn này là muốn nói rằng, thông thường con người đều nói mình đã đắc đạo rồi, cũng khai ngộ rồi. Người khác đều không tốt, chỉ có mình là tốt nhất, ca ngợi chính mình, phỉ báng người khác, so sánh ai to, so sánh cảnh giới của ai cao.
Còn ở đây tôi muốn nói với mọi người, học Phật tu hành nhất định phải mở to mắt ra mà nhìn: Ai đang tự cao tự đại? Ai đang khen mình chửi người? Ai thật sự có diệu pháp? Ai có thể tâm không tán loạn? Ai là ẩn sĩ đại giác ngộ?
09. Bốn tầng quán đảnh
Quán đảnh của Chân Phật Tông rất nhiều, ý nghĩa của quán đảnh là: “Kim cương Thượng sư đại diện cho chư tôn dùng dòng chảy pháp thanh tịnh gia trì rót vào đệ tử.”
Còn về bốn tầng quán đảnh cũng tức là quán đảnh từ nông đến sâu, từ mới tu đến Đại viên mãn, Đại viên mãn là quán đảnh ở cấp độ cao nhất. Sơ quán — thân khẩu ý thanh tịnh. Nhị quán — tu hành khí mạch minh điểm. Tam quán — Vô thượng mật. Tứ quán — Đại viên mãn. Tổng thể mà nói, đệ tử Sơ quán là nhiều nhất, bao gồm quán đảnh chư tôn, quán đảnh pháp gia hành, quán đảnh pháp tương ứng Thượng sư, v.v… Đệ tử Nhị quán thì ít hơn, Nhị quán bao gồm pháp chuyết hỏa, pháp minh điểm, pháp vô lậu. Trong đó pháp vô lậu không truyền cho người “phi pháp khí”. Vô thượng mật bộ của Tam quán, tính cho đến hiện tại thì chỉ có một người đã được quán đảnh. Chỉ có một vị Kim cương Thượng sư duy nhất. Tứ quán Đại viên mãn tính cho đến hiện tại thì vẫn chưa có ai được quán đảnh.
Tôi nói, chỉ cần thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, nhất định vãng sinh Phật quốc. Khí mạch minh điểm thành tựu là thân kim cương bất hoại. Thành tựu Vô thượng mật là đại lạc quang minh. Thành tựu Đại viên mãn, chứng nhập tính Không, tức thân thành Phật, đại thành tựu cầu vồng.
Vì sao Nhị quán, Tam quán, Tứ quán lại ít người? Tôi nói, Sơ quán là thân, khẩu, ý thanh tịnh, sự thanh tịnh này là gột sạch tham sân si. Bạn thử nghĩ xem, gột sạch tham sân si, với người hiện đại mà nói, đã là rất khó rồi! Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) có pháp bảo trân quý vô thượng, là vạn vàng khó mua, vô giá, vô đẳng đẳng. Tôi nói: “Người nào có dũng khí, có đại bồ đề tâm thì hãy đến đây!”
10. Cúng dường (1)
Trước kia, tổ sư của Mật tông Tây Tạng ban cho đệ tử một quán đảnh thì đệ tử phải cúng dường Thượng sư mấy con trâu mấy con cừu. Pháp càng lớn thì phải cúng dường càng nhiều trâu cừu.
Điều thú vị nhất là Nga Ba Lạt Ma cầu Thượng sư Marpa quán đảnh một pháp, thuộc về pháp Vô thượng mật. Thượng sư Marpa nói: “Phải bỏ hết chướng ngại bám chấp, quán đảnh này phải cúng dường Thường sư tất cả tài sản.” Nga Ba Lạt Ma không do dự, khẩn trương đem tất cả trâu cừu trong nhà đến cúng dường Thượng sư Marpa, nhưng chỉ để lại một con cừu què chân, ngài nghĩ rằng con cừu què chân này chắc là Thượng sư không cần đến! Thượng sư Marpa biết được, nói với Nga Ba Lạt Ma: “Toàn bộ tài sản tức là toàn bộ, ngay cả con cừu què chân cũng cần.” Thế là Nga Ba Lạt Ma cũng ôm luôn cả con cừu què chân đến cúng dường Thượng sư.
Theo cách nói của Mật giáo, đại mật pháp vô thượng là quý giá vô cùng, phải trân trọng. Để cho đệ tử cầu pháp biết trân trọng, không thể xem thường, cho nên mới phải cúng dường quý giá. Hơn nữa, vàng bạc tài bảo chính là chướng ngại lớn cho sự bám chấp của người tu hành, yêu cầu bạn có thể buông xả cũng là rất quan trọng.
Thế nhưng ở chỗ tôi thì là cúng dường tùy ý! Các bạn tuyệt đối đừng hiểu lầm rằng Mật pháp của tôi không trân quý, không hiếm có, không phải là báu vật trong báu vật, không phải là siêu việt. Tôi có lý do của tôi, Mật pháp vô thượng mà tôi có được tuyệt đối không phải là dùng tiền vàng, châu báu, kim cương, xe hơi, nhà lầu là có thể đổi lấy được. Thứ tôi cần các bạn cúng dường là: ”Mỗi ngày thanh tịnh thân khẩu ý của chính mình, nghiêm túc tu trì, người người sớm thành tựu, người người đi ra ngoài hoằng pháp độ chúng, tự giác giác tha, cúng dường pháp như vậy chính là cúng dường lớn nhất mà bạn dành cho tôi.”
11. Cúng dường (2)
Ý nghĩa gốc của cúng dường là: cúng lên trên ngụ ý thân thiết, phụng sự, tôn kính; bố thí cho phía dưới, ngụ ý đồng cảm, thương xót, yêu thương. Tu lục độ Bồ Tát: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Trong đó bố thí xếp vị trí đầu tiên. Bố thí lại được phân thành: tài thí [bố thí tiền], pháp thí [bố thí pháp], vô úy thí [bố thí sự không sợ hãi].
Tại đây, tôi đặc biệt chỉ ra một đoạn kinh văn trong Kinh Kim Cang: "Tu Bồ Đề! Nếu tất cả các núi Tu Di chứa trong tam thiên đại thiên thế giới, có người dùng thất bảo tích tụ nhiều như số núi ấy mà bố thí, hoặc có người thọ trì đọc tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho dù chỉ bốn câu kệ, vì người khác mà giảng thuyết, thì phúc đức của người bố thí so với người trì kinh trăm phần không bằng một phần, trăm nghìn vạn ức phần, thậm chí tính toán tỉ dụ thì cũng không thể so bì được.” Ở đây chính là nói rằng: “Trong tất cả cúng dường, cúng dường pháp là số một.” Tài thí là tế nhân sinh mệnh, pháp thí là độ nhân huệ mệnh. Tài thí là nhất thời, pháp thí mới có thể thật sự khiến chúng sinh thoát khổ được vui, giải thoát luân hồi, chấm dứt sinh tử, pháp thí mới là vĩnh viễn.
Tôi nhìn thấy Phật giáo ngày nay lại trái ngược, tài thí là số một, pháp thí không có, đáng thương xót xa làm sao! Phật giáo ngày nay, xây chùa lớn, xây bệnh viện, xây đại học, xây đài truyền hình, người bố thí tiền thì nhiều! Còn người bố thí pháp thì rất rất ít, thật sự xót xa thay!
Tôi nhấn mạnh: Đệ tử Chân Phật Tông không cần dùng tiền bạc, châu báu để dúng dường Căn bản Truyền thừa Thượng sư là tôi đây. Đệ tử nghiêm túc tu trì Chân Phật Mật Pháp chính là cúng dường tôi rồi. Tôi có kho tàng vô cùng tận, tôi là Đại Phúc Kim Cang. Những kho tàng này không phải ở trên mặt đất, mà là ở trên trời.
12. Ấn chứng
Có một người vừa mới quy y Mật giáo không lâu thì đã đội mũ Pháp Vương của Mật giáo, mặc quần áo Pháp Vương, chụp một tấm ảnh gửi đến chỗ tôi, muốn tôi phong anh ta làm Pháp Vương XX. Hỏi: “Vì sao làm như vậy?” Anh ta đáp: “Bởi vì thất nghiệp đã lâu, nay muốn làm nghề Pháp Vương.” Tôi hỏi: “Bốn bộ pháp của Mật giáo là gì, là bốn bộ nào?” Anh ta không trả lời được. Lại hỏi: “Bốn bộ pháp của Mật giáo là Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Vô thượng bộ. Thành tựu mỗi một bộ đều phải ấn chứng, anh đã có được ấn chứng chưa?” Mặt anh ta ngây ra, chẳng ngờ lại hỏi ấn chứng là cái gì.
Tôi thật lòng thật sự nói cho mọi người biết, tu pháp của Mật giáo nhất định phải tuần tự từng bước mà làm: Thứ nhất, tìm một vị Kim cương Thượng sư thật sự có truyền thừa. Nhận quy y, xin quán đảnh. Thứ hai, một lòng tin tưởng sự truyền pháp của Thượng sư, học tâm yếu khẩu quyết của thầy. Thứ ba, thực tu. Thứ tư, tu trì tương ứng đến một cảnh giới thì thỉnh Kim cương Thượng sư ấn chứng chỉ bảo, ấn chứng là thật thì mới tiến lên một bậc. Theo thứ tự mà tu hành, theo thứ tự mà ấn chứng.
Người được nhắc đến trong bài viết ngắn này đương nhiên là làm xằng làm bậy, là hão huyền muốn làm Thượng sư, lừa mình lừa người muốn làm Pháp Vương. Không trung thực tu hành, chỉ muốn nổi tiếng và được lợi, xem ra thật ngây thơ nực cười làm sao!
Mỗi một pháp của Mật giáo thực tu đến khi xuất hiện cảnh giới, nhất định phải có Thượng sư ấn chứng, bởi vì nhận giả thành thật, nhận huyễn thành thật, không tin lời dạy của Căn bản Thượng sư thì rất dễ nhập ma cảnh mà không tự biết. Mũ Pháp Vương, áo Pháp Vương không phải là thứ tự mình đi mua để đội! Phải là Căn bản Thượng sư ấn chứng cho bạn rồi sẽ đội cho bạn!
13. Trì giới
Có người cho rằng Mật giáo tương đối lỏng, không nói đến giới luật! Tôi nói: “Đây là hiểu lầm Mật giáo, cực sai đặc biệt sai!” Chỉ cần là tín đồ Phật giáo, bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo đều biết phải trì giới, đều phải học tập tam vô lậu học, tam vô lậu học tức là giới-định-huệ. Giới là dừng dứt hành vi ác. Định là định tâm một chỗ. Huệ là phá bỏ vọng tưởng chứng chân thật. Nói một cách đơn giản, trì giới thì thanh tịnh tâm được an, tâm an thì dễ nhập định, có định rồi thì có thể quán chiếu rõ ràng và sinh trí huệ.
Phật giáo có rất nhiều giới luật, từ năm giới, tám giới, mười giới, Bồ Tát giới, hai trăm năm mươi điều giới, v.v… Những giới luật này, thật ra là Hiển-Mật giống nhau đều phải giữ giới.
Mật giáo còn có năm mươi điều giới luật về hành vi ứng xử của trò để cung kính Căn bản Thượng sư, còn có mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo. Mật giáo còn có giới cấm thủ kiến, biệt giải thoát giới, tính giới, v.v… theo như tôi biết thì còn kĩ hơn và nghiêm khắc hơn giới Đại thừa và giới Tiểu thừa. Phạm giới Mật giáo thì xuống địa ngục kim cang, quả báo tàn khốc của nó là: Nuốt viên sắt nung đỏ. Uống nước sắt nung chảy. Mặc áo sắt nung đỏ. Ngồi giường sắt nung đỏ. Nơi đây vĩnh viễn không có ngày thoát ra. Rất đáng sợ.
Tu trì Chân Phật Mật Pháp nhất định phải giữ giới luật. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn đã yêu cầu đệ tử Phật lấy giới làm thầy, bởi vì giữ giới là cái gốc của thành tựu.
Nếu có người nói không giữ giới luật cũng có thể thành Phật thì đó là phá vỡ samaya. Tôi nói: “Không giữ giới luật làm sao có thể khiến trời người khởi lòng tin? Không giữ giới luật là đi ngược lại Thánh đạo, thuận theo phàm tình, không thể thoát cửa sinh tử và cắt đứt đường luân hồi!”
14. Tinh thần trì giới
Từ xưa đến nay, vì coi trọng sự tinh nghiêm của giới luật, để Phật pháp có thể lâu dài trụ tại nhân gian nên đặc biệt nhấn mạnh tinh thần trì giới.
Khi thọ giới, Sư Tôn hỏi giới đệ tử: “Có thể chịu đựng được mười việc không?” Giới đệ tử đáp: “Có thể.” Mười việc là gì? Mười việc này khiến người ta kinh hãi: 1. Xẻ thịt cho chim ăn. 2. Xả thân cho hổ ăn. 3. Chặt đầu tạ ơn trời. 4. Bẻ xương lấy tủy. 5. Lấy thân ra đốt nghìn đèn. 6. Móc mắt ra bố thí. 7. Lột da làm kinh sách. 8. Chọc tim quyết chí. 9. Thiêu thân cúng Phật. 10. Cắt máu vẩy đất.
Mười điều này chính là tinh thần xả thân của giới Bồ Tát Đại thừa. Đương nhiên không phải là dạy mọi người làm như vậy, bởi vì đây là hành vi tự làm hại mình, tôi cho rằng không thích hợp với ngày nay nữa. Nhưng bạn thọ giới, thủ giới, có thể chịu đựng được mười việc này thì không đến mức tùy tiện đi phá giới đâu. Chí ít cũng học bậc cổ đức tinh thần trì giới kiên định đi!
Ngày nay có rất nhiều người thọ Bồ Tát giới của Chân Phật Tông, cũng không ít người thọ giới xuất gia, nhưng người thật sự có thể giữ, có thể chịu đựng được thì không nhiều, đây là việc khiến tôi tương đối lấy làm tiếc. Một chút tinh thần trì giới cũng không có, thật khiến người ta đau lòng bó tay!
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người: Thông hiểu giới luật, giới luật tinh nghiêm thì gọi là luật sư. Tu thiền nhập định, minh tâm kiến tính thì gọi là thiền sư. Hiểu rõ Mật pháp, tu pháp hoằng pháp thì gọi là pháp sư. Ba cái này hợp làm một thì chính là Kim cương Thượng sư chân chính.
15. Chân Phật Tông
Có người phê bình Chân Phật Tông thích nhất là nói: ”Chỉ có anh là Phật thật, còn chúng tôi đều là Phật giả chắc?” Tôi nghe xong thì cảm thấy rất buồn cười, kiến giải của tôi là thế này: ”Vì tôi đã đến Pháp Tính thổ nơi thân thật của Phật cư trú, chứng minh Pháp-Báo thân của Phật. Biết đến cõi Phật thật, cho nên mới xác lập tông phái của chính mình gọi là Chân Phật Tông.”
Tôi lại nhấn mạnh: ”Thích Ca xuất thế, tùy căn khí chúng sinh sắc hay cùn mà tùy bệnh cho thuốc để thu hút độ hóa người hữu duyên, sau khi Phật diệt độ, các đệ tử dựa theo các giáo pháp mà phân tông để kết tập Tam tạng. Thật ra, pháp pháp tương thông, cho nên đều hay cả, tông nào cũng đều là Chân Phật.” Ý tôi muốn nói rằng, tôi là Chân Phật, mọi người cũng đều là Chân Phật, chỉ cần là Phật pháp thì đều là Chân Phật, tôi không phê bình người khác là Giả Phật.
Người thích Bát nhã bộ và các kinh thì học tập Thiền tông. Người thích kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật thì học tập Tịnh Độ tông. Người thích kinh Đại Nhật, kinh Kim Cương Đỉnh thì học tập Mật tông. Người thích kinh Phạm Võng thì học tập Luật tông. Người thích Trung luận, Bách luận, Thập Nhị Môn luận thì học tập Tam Luận tông. Người thích kinh Pháp Hoa thì học tập Hiền Thủ tông. Người thích kinh Lăng Già, kinh Giải Thâm Mật, luận Thành Duy Thức, luận Du Già Sư Địa thì học tập Pháp Tướng tông.
Bởi vì tôi sớm có duyên khá sâu với Mật tông cho nên tôi lấy Mật pháp để học tập, tôi chắt lọc tinh hoa, tạo nên chiếc bè quý báu số một để vượt qua biển sinh tử, lên bờ niết bàn.
Tôi thật sự đã chứng minh Pháp-Báo thân. Ấn chứng thành tựu của thế giới Chân Phật. Chân Phật Tông dựa vào nhân duyên này mà độ hóa chúng sinh hữu duyên! Chân Phật Tông của tôi là kết hợp toàn bộ các tông, chỉ cần là Phật pháp thì toàn bộ đều là Chân Phật, chứ không phải coi nhau như nước với lửa. Tôi là thật, mọi người cũng là thật. Người hiếu học ham nghiền ngẫm, hay suy nghĩ cẩn thận đi!
16. Thực tu
Còn nhớ khi tôi ở Đài Trung nhậm chức tại đội trắc lượng ở Nam Môn Kiều, buổi tối một ngày nọ, linh sư vô hình giáng xuống, truyền dạy Mật pháp cho tôi ba năm, mỗi đêm một tiếng đồng hồ. Khi ấy, tay chân tôi đều bị linh sư vô hình tác động, tôi bỗng phát hiện ra, thì ra giữa trời đất thật sự có quỷ thần, thật sự có linh giới, thật sự có vô hình. Tôi lập lời thề nguyện, đây là lúc trong cuộc đời này tôi phải nghiêm túc thực tu.
Về sau có một lần, tôi lười biếng, tôi nói: “Cớ gì phải học pháp chứ? Thật sự đến khi dùng tới thì linh sư đến giúp đỡ là được rồi.” Vừa nói ra điều này thì tôi đã bị liên tiếp quở trách!
Tôi học Mật nhiều năm, tại Seattle nước Mỹ bế quan ba năm ở Linh Tiên Các. Từ khi được Diêu Trì Kim Mẫu khởi linh nhãn cho đến nay đã ba mươi năm rồi. Tôi tự nhận ưu điểm duy nhất của mình là thực tu rất có sức kiên trì, ngày ngày thực tu.
Tôi mang nhóm máu O, cá tính rất mạnh, lại rất có tính kiên nhẫn, làm việc gì cũng phải làm đến cùng, làm đến nơi đến chốn, không lười biếng. Tôi ngốc như vậy đó, hâm như vậy đó, cực kì nghiêm túc tu hành.
Tôi thường nói sáng tác và thực tu là hai việc quan trọng của tôi trong cuộc đời này, đây là việc tôi phải làm mỗi ngày, việc sáng tác của tôi mỗi ngày một tăng trưởng, cũng giống như việc thực tu của tôi mỗi ngày một tăng trưởng, không ai có thể đánh đổ.
Nói cho mọi người biết, tôi là Kim cương Thượng sư chân chính, vì sao? Chính là vì ngày ngày thực tu Chân Phật Mật Pháp. Hiện nay trong xã hội này, Thượng sư giả mạo quá nhiều, họ nói: ”Chỉ cần gia trì một cái là ba mạch đều thông hết.” ”Hễ gia trì là sẽ có thánh thai. ”Hễ gia trì là sẽ sống trên trăm tuổi.” ”Hễ gia trì là pháp luân sẽ tự động chuyển, tự mình không cần tu.” Những lời này là thật hay giả? Không cần đến hỏi tôi, hỏi Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là biết, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: “Kính sư, trọng pháp, thực tu.” Xin hành giả nhớ rõ: có nghị lực, có nhẫn nại, đừng tham thần kỳ, đừng tham thành tựu cấp tốc. Chất phác chân chất mà tu hành đi!
17. Kính sư
Trước đây tôi học Phật, sư phụ mà tôi theo học rất nhiều, tôi đã quy y đạo sư Ấn Thuận, pháp sư Lạc Quả, pháp sư Đạo An. Liễu Minh Hòa Thượng, Thượng sư Thubten Dhargye, Đại Bảo Pháp Vương 16, Thượng sư Sakya Chứng Không, Thượng sư Phổ Phương, v.v… Giới sư phụ mà tôi thọ Bồ Tát giới là pháp sư Hiền Đốn, pháp sư Huệ Tam, pháp sư Giác Quang. Sư phụ mà tôi học kinh sám là pháp sư Thiện Tứ, pháp sư Thượng Lâm. Linh sư vô hình là Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Đối với sư phụ của mình tôi tận lực phụng sự, đối với giáo pháp mà sư phụ khai thị tôi một lòng tịnh tín. Giáo huấn của sư phụ tôi mãi mãi không dám quên, không làm trái ý chỉ của sư phụ.
Đương nhiên tôi cũng từng bị sư phụ của mình mắng, từ đầu tới cuối tôi đều không dám cãi lại, chỉ có nhẫn nhịn. Tôi cho rằng sư phụ đang dạy tôi nhẫn nhục ba-la-mật. Tóm lại, tôi luôn phục tùng sư phụ của mình.
Trong số các vị thầy tôi đã quy y, tôi từng quy y một Thượng sư (chưa kể tên trong bài viết này), khai thị và lời nói hành động của Thượng sư này trái với giới luật và Phật pháp, tôi và Thượng sư này nhân duyên không đủ, thế là tôi giữ khoảng cách không thân, tôi vẫn cung kính Thượng sư này, không dám phê bình, bởi vì ông ấy cũng đã từng dạy tôi.
Ý tôi muốn nói rằng: “Phàm là sư phụ đã từng dạy tôi, tôi đều cung kính đảnh lễ, tuyệt đối không dám làm trái ý chỉ.” Liên Hoa Sinh Đại Sĩ khi cưỡi ngựa báu bay lên trời đã nói: “Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đắc!” ”Kính sư, trọng pháp, thực tu” này tôi đã đều làm được rồi. Tôi biết tu học Mật tông không có sự gia trì của sư phụ truyền thừa thì tuyệt đối không thể có thành tựu. Tôi nói với mọi người một chút: ”Các vị đại thành tựu của Mật giáo đều là những người kính sư, là người tương ứng với sư phụ của mình.” Không kính sư, tự xưng đắc đại thành tựu, chỉ có quỷ mới tin.
18. Pháp đầy đủ nhất
Rất nhiều người học Phật thích đi khắp nơi để “chạy đạo tràng”. “Chạy đạo tràng” này được gọi là “du tông”, lướt qua tông phái này một tí, lướt qua tông phái kia một tí. Chúng sinh giống như nước, lúc thì chảy về Đông, lúc thì chảy về Tây.
Tôi nghe có lời đồn rằng: “Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã quy y mấy chục vị Thượng sư, pháp sư. Tôi muốn học tập ông ấy, đi khắp nơi quy y, nhận quán đảnh thì có gì là không được?” Người khuyên can vừa nghe nói vậy thì cảm thấy cũng có lý, nhất thời cũng không trả lời được.
Hôm nay tôi nói thế này. Người muốn học Phật có thể đi tới nhiều các đạo tràng khác, không phải là đi xem sự náo nhiệt mà là đi để so sánh, nghiên cứu, thảo luận nhiều hơn, đến khi bạn thật sự nhìn rõ ràng minh bạch, bạn thấy tất cả đều hài lòng rồi, thì sau đó đến quy y tôi cũng chưa muộn. Tôi không hạn chế mọi người đi tìm hiểu các vị tài đức khác. Nhưng bạn có thể quay đầu lại xem xét Chân Phật Mật Pháp. Từ pháp Tứ gia hành đến Đại viên mãn, từ Ngoại pháp đến Nội pháp, từ pháp nhập thế đến pháp xuất thế, từ pháp Bổn tôn đến pháp Kim cang, từ cộng pháp [pháp phổ thông] cho đến bất cộng pháp [pháp đặc biệt], từ pháp hỏa cúng cho đến pháp thủy cúng, thậm chí pháp Đại viên mãn, Đại thủ ấn, Đại viên thắng huệ, Đại uy đức cao nhất của Tạng mật. Pháp của Chân Phật Mật Pháp là đầy đủ nhất. Bạn muốn học cái gì là có cái đó. Tôi có thể thành thật nói cho mọi người biết, những gì bạn muốn đi ra ngoài học thì ở chỗ tôi đều có, thật nhất mà cũng chính xác nhất. Thậm chí cái gì bên ngoài không có thì ở chỗ tôi đều có, tôi là hành giả tu chứng “tổng hợp mọi thứ”.
Bạn quy y một Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là tương đương với quy y mấy chục vị Thượng sư, pháp sư, như vậy vẫn chưa phải là khác biệt sao? Vẫn còn chưa đủ sao? Nên nói như thế này, quy y Chân Phật Tông tức là tối thượng rồi, không thể tìm được pháp nào đầy đủ hơn nữa. Còn chạy lung tung khắp các đạo tràng giống như con ruồi không đầu thì thật sự đáng đánh đòn!
19. Không thể phỉ báng Mật tông
Lúc trước học Phật, văn chương phỉ báng Mật tông không ít, cá nhân tôi cũng đã đọc một số, đại bộ phận phê bình Mật giáo có pháp chư Thiên, đưa chư Thiên vào trong Phật pháp, làm hỗn tạp đạo Bà-la-môn, thậm chí Mật giáo là đạo Bà-la-môn. Còn nói, tu khí, mạch, minh điểm không phải là Phật thuyết, lẫn lộn với ngoại đạo tu khí công, tu thông tam tiêu, đại tiểu chu thiên tuần hoàn, tu tinh khí thần. Cho nên phê bình tu khí, mạch, minh điểm không phải là Phật pháp.
Cũng có người phê bình yoga bí mật của Mật giáo là một phái trong Ấn Độ giáo, căn bản là bàng môn ngoại đạo, là thuật của tả đạo, không phải chính đạo. Những văn tự phê bình loại này vô cùng nhiều. Đặc biệt là Homa (pháp hỏa cúng) của Mật giáo cũng bị công kích rất nhiều, cho rằng tương tự đạo thờ Thần Lửa của Ba Tư.
Tôi biết, có một lần đại sư Hoằng Nhất diễn giảng nói với chúng sinh, trước kia ông ấy cũng phê bình Mật giáo, cho rằng Mật giáo là ngoại đạo, là tà pháp. Về sau ông ấy đọc “Đại Nhật Kinh Sớ” mới hiểu ý nghĩa sâu xa của Mật giáo, biết Mật giáo vốn có mật ý thậm thâm, từ đó hết sức sám hối.
Đại sư Hoằng Nhất cho rằng đừng nhìn biểu hiện bề ngoài của Mật giáo, phải nghiên cứu sâu nội tại yếu nghĩa, sau khi thật sự hiểu rồi thì không dám phê bình nữa. Phỉ báng Mật giáo là tội lớn về phỉ báng pháp, tuyệt đối đừng tùy tiện bắt chước người khác mà phỉ báng theo.
Bởi vì Mật giáo bí ẩn thâm sâu, pháp của Mật giáo không thể tùy tiện cho người ta thấy, cho nên mới gọi là Mật. Tôi nói: Pháp chư Thiên là pháp của Hộ pháp. Pháp nội chứng tức là pháp khí, mạch, minh điểm. Yoga bí mật là pháp thanh tịnh. Pháp hỏa cúng là pháp quang minh. Trong những pháp này là diệt chướng tăng huệ, chuyển phàm thành Thánh, uy đức thần lực, bất khả tư nghì! Nếu bạn phỉ báng tức là đã phỉ báng Pháp Thân Như Lai Tỳ Lô Giá Na Phật. Bởi vì bảy ngày đầu tiên sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo đã dùng thân của Đại Nhật Như Lai ở tại cung Kim Cương Pháp Giới thuyết pháp môn nội chứng, chính là Kinh Đại Nhật.
20. Vọng tưởng vô minh
Phật Đà ở dưới cây bồ đề đắc chính giác, lời đầu tiên đã nói: ”Thực tướng thân tâm của tất cả chúng sinh và Pháp Thân Như Lai (Tỳ Lô Giá Na) vốn bình đẳng không có một chút khác biệt, tất cả công đức thế gian, xuất thế gian của chúng sinh đều thành tựu, đều đầy đủ cả. Chỉ vì vọng tưởng vô minh mà không thể phát hiện ra ánh sáng mình vốn có, công đức mình vốn có.” Xin chú ý bốn chữ “vọng tưởng vô minh” này, chỉ cần loại bỏ vọng tưởng vô minh thì chúng sinh sẽ bình đẳng không khác gì Phật.
Hành giả Mật giáo dựa vào tam mật mà tu: Thân mật — tay kết ấn khế. Khẩu mật — miệng tụng chân ngôn. Ý mật — tâm quán chính niệm. Từng có người nói thế này: “Tu hành Mật giáo trọng quán tưởng. Ví dụ quán tưởng cúng phẩm biến hóa, từ một biến thành nhiều, đầy ắp hư không, quán tưởng này là giả, giả tức là vọng tưởng. Dùng cúng dường giả thì chẳng phải là lừa Phật Bồ Tát sao, đây không phải vọng tưởng vô minh thì là cái gì?” Tôi trả lời thế này: ”Muốn loại bỏ vọng tưởng vô minh, đích thực là lấy huyễn dừng huyễn, dùng tưởng niệm để dừng vọng niệm. Có nghĩa là lấy giả tu thật.” ”Quán tưởng cúng dường biến hóa này cố nhiên chỉ là tư duy, nhưng xuất phát từ chân tâm, lại thêm miệng tụng chân ngôn gia trì kiên cố, tay kết ấn khế, tức là được Như Lai tam mật gia trì, sức mạnh bất tư nghì này thậm chí có đầy đủ tất cả chân thực.” Đây chính là thần biến gia trì, thật sự biết tâm mình. Người ngoài cho là giả. Trong Mật giáo, sau khi trải qua thần biến gia trì của Như Lai thì tất cả chính là “thật của thật”.
Thế nhân ngày nay gặp được tôi truyền rộng rãi Chân Phật Mật Pháp, thật ra, chân như tức là thân ta, Phật pháp tức là thể ta, tam mật nghiệp dụng, trùng trùng thâm diệu, mật mật bí ẩn, nếu tách rời tam mật thì vĩnh viễn không có ngày thành Phật! Chú-ấn-quán. Thân-khẩu-ý. Tam mật tương ứng, thần biến gia trì, tu giả thành thật, tức thân thành Phật.
21. Tự do tâm chứng
Hành giả tu hành Mật giáo, ngoài do Căn bản Thượng sư của chính mình ấn chứng ra thì tự mình ấn chứng chính mình, tự do tâm chứng này có được không? Tôi nói, cái này phải là người có đầy đủ kiến giải chính xác mới có thể làm được, hành giả như vậy phải có chứng lượng thực tu, có đại bi tâm, thông đạt giáo lý hành quả, trí huệ hiển phát ra, ngũ độc đã chuyển thành ngũ trí, đức tính khiêm tốn. Tự do tâm chứng trước tiên phải ấn chứng: Tâm mình có thanh tịnh không? Khẩu có thanh tịnh không? Thân có thanh tịnh không? Khí có đủ không? Mạch có thông không? Minh điểm có vô lậu không? Có đại lạc không? Có tịnh quang xuất hiện không? Có tâm Không không? Có quả địa viên mãn cực điểm không? Ấn chứng cuối cùng là: “Pháp nội chứng của Pháp Thân Như Lai cho dù là Bồ Tát chính giác cũng không thể đoán biết, duy có Phật và Phật với nhau có thể biết.”
Con người ngày nay chính là thời đại mạt pháp, nếu toàn bộ đều tự do tâm chứng thì không dễ phân biệt được thật giả. Người vọng ngữ rất nhiều rất nhiều, chưa đắc nói là đắc, chưa chứng nói là chứng, chỉ vì cái lợi trước mắt mà thèm muốn thanh danh lợi lộc, thế là tự lừa mình lừa người, lấy giả làm thật, như vậy là đã nhập vào ma đạo, lúc mệnh chung chắc chắn đọa địa ngục!
Kết quả của tự do tâm chứng là sẽ xuất hiện: 1. Người vọng ngữ nói chính mình đã khai ngộ rồi. 2. Người điên (tâm thần bệnh hoạn) cũng nói chính mình đã khai ngộ rồi. 3. Người nhập ma đều nói chính mình đã thành Phật rồi. 4. Người bị ma nhập đều nói mình có đại thần thông. 5. Đại thành tựu giả thì lại là người bị ma trêu chọc.
Tôi cảm thấy vẫn nên chân chất tu hành đi! Đừng có suy nghĩ mình đã đạt đến cảnh giới nào đó, tự nhiên là tốt, bằng không dễ chấp tướng, sẽ tự hủy hoại huệ mệnh của mình.
22. Hiển-Mật
Hiển giáo — giáo pháp hiển minh dễ hiểu. Mật giáo — giáo pháp nội chứng sâu thẳm huyền bí, vì có ý nghĩa thâm sâu, bí mật khó hiểu nên được gọi là “Mật”. Đối với người chưa quy y lại không được cho họ thấy giáo pháp của Mật giáo, cho nên gọi là Mật giáo. Hai phái Hiển-Mật thật ra đều là pháp môn thành Phật mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã truyền.
“Kinh Đại Nhật” nói: ”Sau khi Phật thành đạo, trong sát-na, trong hư không chư Phật khắp nơi nhiều như hạt vừng đều tán thán xưng thị pháp thành Phật, tại nơi mũi mình đã làm quán tưởng nguyệt luân chữ Om để chứng tự tâm bồ đề.” Nói cách khác là, Thích Ca Như Lai thành đạo, trong bảy ngày đầu tiên, lấy Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật, ở tại cung Kim Cương Pháp Giới, với các Thánh chúng như Kim Cang Tát Đỏa tự nhận pháp lạc, nói pháp môn tự nội chứng là Kinh Đại Nhật. Rồi ngài lại ở cung điện Chân Ngôn nói “Kinh Kim Cương Đỉnh”. Đây chính là khởi nguồn của Mật giáo. Truyền thừa của Mật giáo là Kim Cang Tát Đỏa kế thừa trực tiếp từ Đại Nhật Như Lai, và Đại Nhật Như Lai trở thành chủ tôn của Mật giáo. Đại Nhật Như Lai cũng chính là Tối Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu cũng thế.
Mọi người có thể nghĩ xem — Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, Liên Hoa Đồng Tử, Liên Sinh Hoạt Phật. Bí mật của pháp môn truyền thừa này ở trong đây, từ rất sớm tôi đã cho mọi người thấy điều này. Chính là Chân Phật Tông này là giáo phái của tất cả bí mật của Như Lai, tự bản thân tông phái này đã là một bí mật lớn. Trong Chân Phật Kinh. Đại Bạch Liên Hoa. Pháp tọa sư tử. Thần thông nhậm vận. Từ bi vạn đức. Thuyết pháp thanh tịnh. Chư Phật Bồ Tát. Hoan hỷ tán thán.
Chân Phật Tông vì thuận theo pháp đời, vì để cho hạt giống Phật mãi mãi không đứt đoạn, cho nên đại thù thắng! Từ nay về sau, tất cả giáo pháp sắc chỉ đều nên phụng hành.
23. Pháp hiệu
Đệ tử của Chân Phật Tông pháp hiệu dùng chữ “Liên” [hoa sen] để làm biểu trưng, bên trong có rất nhiều ý nghĩa: 1. Liên tức là sinh ra từ bùn mà không nhiễm, biểu thị từ phàm nhập Thánh. 2. Tu chứng đắc quả, vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì. 3. Người người đều là liên hoa hóa sinh, người người đều là Liên Hoa Đồng Tử. 4. Thế giới của Ma Ha Song Liên Trì thông với thế giới Hoa Tạng của Phật Thích Ca Mâu Ni, thông với thế giới Hoa Tạng của A Di Đà Phật, thông với thế giới Hoa Tạng của Đại Nhật Như Lai, cũng tức là thế giới Mật Nghiêm Quốc. 5. Tổ sư của Mật giáo là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. 6. Căn bản Truyền thừa Thượng sư của Chân Phật Tông là Liên Sinh. 7. Thượng sư truyền thừa là Liên Sinh, tất cả các đệ tử Chân Phật Tông sẽ là Liên X hoặc Liên Hoa XX, đây là sự thông suốt của bình đẳng tính trí, đại viên kính trí, pháp giới thể tính trí, thành sở tác trí, vô phân biệt trí. 8. Truyền thừa Thượng sư và các đệ tử không hai không khác, chính là du già, chính là tương ứng. 9. Trí huệ ta và người khác bình đẳng chính là bình đẳng tính trí. Pháp hiệu có chữ giống nhau là biểu trưng nổi bật nhất của Chân Phật Tông, Căn bản Thượng sư đảnh lễ bất khả tư nghì chúng sinh, ý nghĩa của nó là ở đây. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính. 10. Nhờ ta và người khác bình đẳng mới có thể tu được vô hận, vô oán, mới có thể tiến vào vô niệm, khai ngộ “vô niệm là Phật”.
Tôi viết một bài kệ: A Di Đà chính giác, Liên Sinh khéo trụ trì. Như Lai tịnh liên chúng. Chính giác liên hoa sinh.
24. Mật của Mật giáo
Chữ Mật của Mật giáo được các vị thầy giải thích khác nhau, nhưng đại thể là như sau: Có người nói, tôn giáo này lấy chân ngôn bí mật làm chủ, cho nên gọi là “bí mật giáo”. Có người nói, lập đàn trì chú, tam nghiệp tương ứng tam mật, lập tức ứng diệt chướng tăng huệ, chuyển phàm thành Thánh, uy đức thần lực, bất khả tư nghì, gọi là “bí mật giáo”. Còn nữa, Đại Nhật Như Lai ở tại Pháp Giới Tâm Điện khai thị hai bộ bí mật, cho nên gọi là “bí mật giáo”. Pháp môn này sâu xa huyền bí, thậm thâm ẩn mật, không dễ cho người ta thấy, từ tên gọi bí mật này đã trở thành đặc tính của tôn giáo này.
Mật giáo lập ra mười trụ tâm, chín trụ tâm đầu thì Hiển giáo cũng có, còn tâm thứ mười sau cùng là tâm bí mật trang nghiêm, bí mật ở đây chính là pháp môn vô tận của lục đại tam mật ngũ tướng ngũ trí của hai bộ Kim cương giới, Thai tạng giới, cái này ngay cả Bồ Tát đẳng giác cũng không thể thấy nghe, là tâm địa của bí mật giáo, vì thế gọi là Mật giáo.
Hành giả tu Mật giáo dựa vào ba mật môn tự xưng là tam nghiệp, được tam mật của Như Lai gia trì, cho đến khi dung hợp làm một, không còn trải qua kiếp số nữa, một khi đã nhập vào pháp giới thì tức thân thành Phật, đây chính là bí mật của đại du già gia trì thần biến.
Cá nhân tôi nhận thấy thế này: Pháp môn của Mật giáo phân thành rất nhiều cấp độ, cũng tức là dựa vào căn khí mà xác lập cách dạy, nếu căn khí chưa tới mà miễn cưỡng dạy pháp thì chắc chắn không thể nào tiếp nhận, thậm chí còn bị phỉ báng, cho nên người chưa nhập môn Mật pháp thì không tiện công khai, như vậy cũng là Mật.
Hơn nữa, chân ngôn, ấn khế, quán tưởng đều vượt qua cảnh giới thậm thâm của văn tự ngôn ngữ, sự tương ứng của nó cũng không thể nào dùng lý lẽ thường tình của thế gian để mà suy đoán, dùng lập trường quan điểm thế gian thì rất khó hiểu được, cho nên ý nghĩa bí mật thượng thừa này tự nhiên cũng là một sự bí mật.
Đại viên mãn của Mật giáo chính là không thể nói, không thể tuyên truyền, vô hình vô tướng, vô câu vô thúc, cái này đương nhiên lại càng là Mật.
25. Đại bồ đề tâm
Chúng ta biết rằng tu hành có Tiểu thừa, Đại thừa. Phật giáo Tiểu thừa tu hành chứng quả có cái gọi là Thanh Văn bồ đề và Độc Giác bồ đề. Còn Phật giáo Đại thừa tu hành chứng quả là Vô Thượng bồ đề, Vô Thượng bồ đề là bồ đề cao nhất đạt được trên quả vị Phật.
Nghiêm túc mà nói, cái gọi là phát đại bồ đề tâm chính là phát tâm vô thượng chính đẳng chính giác. Đại bồ đề tâm này là hành Bồ Tát đạo, độ hóa tất cả chúng sinh của tứ sinh lục đạo cửu hữu nhập tâm của niết bàn. Tâm này vô biên không giới hạn, cho nên gọi là đại bồ đề tâm.
Giống như tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) phát nguyện rằng sẵn lòng đời đời kiếp kiếp ở tại thế giới Ta Bà độ hóa chúng sinh, sẵn lòng phân thân xả cốt độ hóa chúng sinh, địa ngục chưa trống thề không thành Phật. Sự phát nguyện này chính là đại bồ đề tâm. Phát nguyện rồi thì cũng phải đi thực hành.
Nếu có người phát nguyện: Muốn xây dựng đoàn thể Mật giáo lớn nhất thế giới. Muốn xây dựng chùa chiền lớn nhất thế giới. Muốn xây dựng hội từ thiện lớn nhất thế giới. Sự phát bồ đề tâm này cũng xem là lớn, nhưng chỉ là đoàn thể tôn giáo, chùa chiền, hội từ thiện, so với việc độ hóa tứ sinh (noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh), lục đạo (trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh), lại còn đời đời kiếp kiếp, thì hiển nhiên là nhỏ bé hơn rất nhiều.
Hành giả Chân Phật tu pháp, hành pháp, nhất định phải phát đại bồ đề tâm. Nhớ rằng, không chỉ là tu cho chính mình mà còn tu vì chúng sinh, chúng sinh là đầu tiên, mình ở sau cùng, có như vậy mới có thể giảm thiểu nghiệp lực liên lụy, có thể tức sinh thành tựu.
Ngược lại: Chùa của tôi. Địa bàn của tôi. Tên tuổi của tôi. Lợi ích của tôi. (thanh danh lợi lộc) Đó không phải là đại bồ đề tâm, đại bồ đề tâm là nghĩ vì chúng sinh, không nghĩ vì chính mình! Không phải là đại bồ đề tâm thì là tâm gì? Đáp án rất đơn giản, là tâm tư lợi.
26. Hiển-Mật viên thông
Còn nhớ khi tôi đến tu viện Drepung, đối diện với hai nghìn Lama lên ghế thuyết pháp, tôi nhắc đến yếu nghĩa của tu pháp Mật giáo. Khi rời pháp tọa, khenpo trụ trì tu viện Drepung nói với tôi: ”Những gì ngài nói họ không hiểu đâu.” ”Vì sao?” - Tôi rất ngạc nhiên. Khenpo nói với tôi: ”Các Lama của tam đại tự [ba tu viện lớn của phái Gelugpa ở Lhasa là Ganden, Drepung, Sera] chỉ học tập năm bộ đại luận của Hiển giáo, sau khi hoàn thành khóa học ở tam đại tự thì họ mới đến Thượng mật viện hoặc Hạ mật viện, hoặc các grwa tshang [học viện của tăng chúng] để học tập Mật giáo.”
Tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ, thì ra ở Tây Tạng tu trì Mật pháp, đầu tiên phải tu 12 năm Phật pháp của Hiển giáo trước là có thật, sau đó mới tu 8 năm Mật pháp, tổng cộng là thời gian 20 năm mới xem là Hiển-Mật viên thông.
Từ đây có thể biết Mật pháp thật sự rất quý giá, thời kỳ đầu muốn cầu một pháp thì phải đem tất cả của cải làm cúng dường, lại còn phải vượt suối băng rừng, đi một quãng đường rất dài, trên đường lại rất nguy hiểm. Còn ngày nay, Chân Phật Mật Pháp có thể phổ biến rộng rãi, mọi người phải biết trân trọng cơ duyên học pháp này. Hành giả học Mật giáo chúng ta phải biết Phật giáo có hai tông Hiển-Mật, Hiển thì lý pháp [giáo lý, lý luận] nhiều, Mật là sự pháp nhiều [thực hành, làm pháp]. Hiển là đạo lý cơ bản của Phật pháp, không thể bỏ qua một bên, người học Mật cũng phải tăng cường nghiên cứu giáo lý, có quan niệm Phật pháp chính xác, học Mật như vậy mới không sai lệch.
Chân Phật Tông chủ trương Hiển-Mật viên thông, mặc dù bắt đầu từ Mật pháp, nhưng cá nhân tôi bình thường thuyết pháp đều vô cùng coi trọng “thứ tự bồ đề đạo”, “thứ tự Mật tông đạo”.
Hiển giáo là chiếc áo. Mật giáo là cổ áo. Không thể nào vứt đi cái áo mà chỉ giữ cổ áo.
27. Đàn thành
Mở đầu tu Mật giáo là phải lập đàn thành, tức là lập đàn trì chú tu pháp. Cuốn sách “Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận” cũng bắt đầu luận bàn từ kiến lập mandala (đàn thành). Có người nói với tôi: ”Đàn thành là giả, là tướng bên ngoài!” Tôi trả lời: ”Để cúng dường, để tu pháp, để niệm tụng, để trang nghiêm, để tiện lợi, cho nên mới kiến lập mandala. Quán đảnh Mật giáo cũng phải vào đàn thành để quán đảnh.” Tôi nói: ”Lập đàn thành hình vuông, bố trí chư tôn tại đây để cúng tế là bản thể của đàn thành. Đàn tràng này chính là nơi Thánh chúng tụ hội, chốn vạn đức giao quy.” Kinh Đại Nhật viết: “Ba-la-mật môn đại bi vạn hành nhiều như số vi trần trong mười phương thế giới tựa như hoa tạng. Tam thừa lục đạo vô lượng ứng thân tựa như rễ thân cành lá, rực rỡ đan xen, vì các vòng tròn bánh xe công đức này nên gọi là mandala.” Tôi thật lòng nói cho mọi người biết: Phật trụ hư không là bí mật. Đàn thành là phương tiện. Hành giả tiện lợi tu pháp, từ dòng chảy pháp của Phật đi vào trong đàn thành, rồi lại từ trong đàn thành trút xuống đầu hành giả. Cho nên nói rằng hư không, đàn thành, hành giả gọi là “ba tầng pháp giới môn”. Đây là ý nghĩa chân thực của Mật giáo. Chúng ta chính là mượn ba loại phương tiện bí mật này để quán đảnh cho chúng sinh sữa của Phật tính. Bạn nói đàn tràng là giả, là tướng bên ngoài! Tô nói không phải là giả, là phương tiện. Hôm nay tôi lấy công đức chân thực của Như Lai gom lại một chỗ, thậm chí là hội tụ dòng chảy pháp quang minh của chư tôn nhiều như vi trần của mười phương thế giới, quán đảnh tất cả chúng sinh, khiến họ thành tựu Đại Nhật Tâm Vương. Nghĩ xem, nghĩ xem! Bản chất diệu giác, thuần tịnh dung diệu!
28. Tức thân thành Phật
Rất nhiều người học Phật, kiên trì học Hiển giáo thì phải ba đại a-tăng-kỳ kiếp mới có thể thành Phật. Một tiểu kiếp là 16.798.000 năm, hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp, bốn trung kiếp là một đại kiếp, như vậy một đại kiếp là 134.384.000.000 năm. Và ba đại a-tăng-kỳ kiếp căn bản là niên hạn vô lượng vô số không thể tưởng tượng được. Cho nên người học Phật, đối với tức thân thành Phật của Mật giáo, không dám gật bừa.
Thế nhưng, xin hãy đọc luận điểm thấu đáo của “Phá Tướng Luận” sau đây: Hỏi: “Như Phật đã nói, ta ở trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp chịu khổ vô số mới thành Phật đạo. Thế mà bây giờ nói chỉ có quán tâm, kiểm soát ba độc thì gọi là giải thoát? Đáp: “Điều Phật đã nói không phải là không có căn cứ. A-tăng-kỳ kiếp này cũng chính là tâm ba độc. A-tăng-kỳ trong tiếng Phạn dịch ra tiếng Hán là không thể đếm. Ở trong tâm ba độc này có hằng hà sa ác niệm, trong mỗi một niệm đó đều là một kiếp, cho nên cũng như cát sông Hằng không thể đếm được, vì thế nói là ba đại a-tăng-kỳ. Tính của chân như vì đã bị ba độc che phủ, nếu không vượt qua được tâm độc ác nhiều như hằng hà sa này thì sao gọi là giải thoát. Nay nếu có thể chuyển tâm ba độc tham sân si thành ba giải thoát thì gọi là được độ ba đại a-tăng-kỳ kiếp. Chúng sinh thời mạt thế căn độn ngu si, không hiểu cách nói ba đại a-tăng-kỳ bí mật của Như Lai bèn nói trần kiếp thành Phật chưa xong, chẳng phải là làm hỏng người tu hành khiến họ rút ra khỏi đạo bồ đề.”
Đây chính là giải thích về ba đại a-tăng-kỳ kiếp chính là niệm ba độc không thể đếm, chỉ cần một niệm khởi lên thì biến thành vô lượng hằng hà sa kiếp rồi. Muốn tức thân thành Phật chỉ cần kiểm soát được ba độc là sẽ siêu việt ba đại a-tăng-kỳ kiếp, tự nhiên trong sát-na thành tựu Phật đạo. Vì sao Mật giáo có thể tức thân thành Phật? Tôi cho rằng: 1. Phật-ta hợp nhất. (Ứng thân) 2. Thần biến gia trì. (Báo thân) 3. Pháp giới tính Không. (Pháp thân) Tu như thế, hiển hiện như thế. Mật giáo là Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, ba thân cùng tu cùng chứng, vì thế có thể tức thân thành Phật!
29. Không sát sinh
Có một vị tổ sư Mật giáo câu cá bên bờ sông Hoàng Hà. Một đứa bé bước nhanh đến hỏi ngài: ”Phật giáo có giới luật là không sát sinh, vì sao ngài lại sát sinh?” Tổ sư quay đầu lại nhìn đứa bé, cười vang ha ha nói: ”Con chính là do ta câu lên đó.”
Còn nữa, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ở thành phố đồ tể đã giết sạch lũ thổ phỉ cường bạo ở trong thành phố đồ tể này, những kẻ hung ác nhất đã phạm tội giết người và đốt phá. Sau đó, ngài đã tu pháp siêu độ từ bi nhất để thanh tịnh linh hồn của những thổ phỉ cường bạo này, chỉ một cái búng tay đã đưa họ đến Tây phương Cực Lạc thế giới.
Trong hai ví dụ trên, biểu hiện bề ngoài là tổ sư Mật giáo đều đang sát sinh, nhưng trên thực tế lại là siêu độ từ bi nhất. Ý định gốc của các vị đều không phải là sát sinh, mà là một dạng cứu độ, thật sự đang cứu người giúp đời.
Đối với việc này, tôi có phân tích như sau: Hiển giáo không sát sinh, hơn nữa phải phóng sinh, là từ bi thương xót động vật, bảo vệ sinh mạng hữu hình của động vật, trưởng dưỡng tâm từ bi. Sát sinh của tổ sư Mật giáo chính là độ sinh, càng là từ bi và khéo léo, độ hóa thanh tịnh linh mệnh của chúng vãng sinh Phật quốc, càng là đại từ bi.
Thật ra hành giả Mật giáo nếu đạo hạnh chưa đến được cảnh giới của tổ sư thì vẫn phải giữ năm giới làm mười thiện, đây tuyệt đối là giới luật của Phật giáo. Người có thể “sát sinh rồi siêu độ” thì giống như pháp tính Như Lai, quả địa viên mãn cực điểm, tiếp dẫn chúng sinh bất khả tư nghì!
Hành giả Mật giáo ngày nay chỉ được cái bề ngoài, đều chẳng có giới lực kim cang, cách Thánh rất xa, tình người hời hợt, chỉ cần biết có pháp như thế này là được rồi, tuyệt đối đừng có làm pháp sát sinh, e rằng không lợi ích được linh mạng mà ngược lại còn hại đến pháp môn Mật giáo. Thận trọng! Thận trọng!
30. Ăn mặn ăn chay
Có người hỏi Dalai Lama: ”Mật giáo ăn mặn hay ăn chay?” Dalai Lama trả lời: ”Bản thân tôi thì ăn chay, nhưng các Lama thì không hề ăn chay.” Lại hỏi: ”Không ăn chay tức là sát sinh, chẳng phải là phạm năm giới sao?” Dalai Lama trả lời hơi qua loa, đại khái là không ăn chay không phải là sát sinh, sát sinh và ăn chay không hề có liên quan nhiều đến nhau. Dalai Lama cười gượng gạo nói: “Các Lama không sát sinh, nhưng cũng không ăn chay.”
Bản thân tôi khi ở chùa Drepung, cùng ăn cơm với khenpo trưởng lão, trên bàn ăn toàn là món mặn. Theo như tôi biết, ăn chay là Phật giáo Trung Quốc dưới ý chỉ của Lương Võ Đế Tiêu Diên mới mệnh lệnh cho tăng lữ ăn chay, đây là sản phẩm của Phật giáo Trung Quốc, là vì bồi dưỡng lòng từ bi và tránh kết ác duyên.
Ăn chay đương nhiên có lợi ích, nhưng tuyệt đối không phải là nhân tố chủ yếu của thành Phật, nếu ăn chay có thể thành Phật thì trâu ngựa dê đều thành Phật rồi. Rất nhiều người mới phát tâm học Phật, mới đầu không quen ăn chay thì trước tiên phải ăn ba loại thịt thanh tịnh (không nhìn thấy giết, không nghe tiếng giết, không vì mình mà bị giết), đây là sự tiện lợi trước khi ăn chay.
Còn ở chỗ tôi, hành giả Chân Phật có phải ăn chay không? Tôi trả lời: “Tùy ý.” Nhưng hành giả ăn mặn phải hà khí thanh tịnh, phải trì chú Văn Thù vãng sinh để siêu độ, dùng Mật pháp siêu độ các loại thịt, hóa thành món ăn thanh tịnh. Sau đó lại khiến cho linh mệnh của những chúng sinh bị ăn có được lợi ích, như vậy là có thể ăn. Bởi vì bạn đã từ bi chúng, lại siêu độ cho chúng rồi, nên cũng không kết ác duyên.
Về phương diện ăn mặn ăn chay, Hiển-Mật khác nhau, nhưng xin nhớ rõ bài kệ của Phật Đà: Uống một ngụm nước sạch Tám vạn bốn nghìn trùng Nếu như không trì chú Khác nào giết chúng sinh. Đạo lý vi tế ở đây không thể không thận trọng suy nghĩ rõ ràng!
31. Rượu thịt cúng Phật
Giáo chủ Hoàng giáo của Tạng mật - Pháp Vương Ganden Tripa đến Seattle Lôi Tạng Tự, tặng tôi một chiếc áo bào Pháp Vương.
Khi Pháp Vương Ganden Tripa đến Seattle lại trùng vào dịp Thánh đản của vị Kim Cang Phật mà ngài thờ phụng, ngài nhờ pháp sư của Lôi Tạng Tự đến siêu thị mua giúp một bình rượu và thịt bò, thịt cừu. Pháp Vương nói ngài phải tu pháp cúng dường Kim Cang Phật.
Sau sự việc này, có một vị pháp sư lén đến thỉnh giáo tôi: ”Rượu thịt đồ mặn có thể cúng Phật sao?” Tôi nói với vị pháp sư này: Hiển giáo coi uống rượu và ăn thịt đều là phạm đại giới. Nhưng Mật giáo thì lại có cách nghĩ khác. Mật giáo cho rằng chư Phật căn bản là không có tâm khác biệt. Rượu thịt trong mắt Phật cũng không phải rượu thịt. Ví dụ: con người thấy rượu là rượu, atula thấy rượu là đao thương kiếm kích, ngạ quỷ thấy rượu là lửa cháy hừng hực, địa ngục thấy rượu là ao máu, Phật thấy rượu ngược lại là đại cam lộ. Phật thấy rượu là đại cam lộ, rượu đương nhiên có thể cúng. Tôi nói: Hành giả thanh tịnh, rượu thịt thanh tịnh, uống rượu ăn thịt là thanh tịnh. Hành giả cấu uế, rượu thịt cấu uế, uống rượu ăn thịt là cấu uế. Hãy thận trọng suy nghĩ rõ ràng! Một hành giả có chứng lượng sẽ hóa rượu thành nước cam lộ, hóa thịt thành thực phẩm thanh tịnh, sẽ độ hóa linh mệnh, đương nhiên có thể uống rượu ăn thịt, sẽ không bị loạn tính. Một hành giả không có công lực, uống đến say xỉn, lại tham ăn đầy bụng thịt thì sẽ phạm đại giới căn bản của Mật giáo, nghiệp tội sâu nặng, sau khi chết chắc chắn đọa vào địa ngục kim cang. Hai người này nhìn bề ngoài thì giống nhau, nhưng tịnh-cấu khác nhau! Tôi cho rằng: Đồ chay cúng Phật, rượu thịt đồ mặn cúng Phật là bình đẳng, không có khác biệt. Nhưng, bạn muốn uống rượu ăn thịt thì phải xem công lực. Bị thịt làm cho ô uế, bị rượu làm cho loạn tính thì nhất định phải cấm!
32. Vì sao học Phật tu hành
Đã viết nhiều bài về “tư tưởng triết học của Như Lai” rồi, bây giờ trở về điểm ban đầu, vì sao phải học Phật tu hành? Có rất nhiều người có nghĩ cũng không nghĩ được vì sao phải học Phật, vì sao phải tu hành. Con người sống thì cứ sống thôi, chết rồi thì thôi, vì sao phải khổ sở đi học Phật tu hành để tróc buộc chính mình. Có người hỏi tôi: ”Có thể hưởng thụ thì hưởng thụ, học Phật gì chứ, giữ giới gì chứ!” Lại có người nói với tôi: ”Tôi cũng không muốn làm Phật, làm Bồ Tát, tu hành làm cái gì!” Còn có người nói: ”Tôn giáo đều là lừa người ta, nói vớ nói vẩn, cái gì mà nhân quả, cái gì mà thiên thượng giới, địa ngục giới, ông đây chẳng tin cái gì hết.”
Đối với những người như thế này, chúng ta càng phải kiên trì giải thích, chúng ta tặng họ những cuộc sách học Phật cơ sở. Bản thân tôi đã lĩnh ngộ được điều gì thì tôi nói cho họ biết kinh nghiệm và cách nghĩ của mình. Tôi nói, đời người chính là sinh lão bệnh tử khổ. Khổ, không, vô thường. Sau khi nghiên cứu chân nghĩa của sinh mệnh, cảm thấy hưởng lạc rất ngắn ngủi tạm thời, sinh mệnh rất ngắn ngủi, đời người rất huyễn ảo. Để đột phá mục đích của cuộc đời, giải quyết vấn đề sinh tử mới là hành vi của một người trí.
Nghĩ mà xem… Hiện tượng vô thường của đời người. Sự mong manh của sinh mạng. Ý nghĩa chân chính của việc sống, sự trống rỗng của tâm linh. Có được vinh hoa phú quý rồi, cũng lại chẳng mang đi được gì, vinh hoa phú quý có hưởng lạc gì chứ?……. Từ những điều này sinh ra tâm cảnh giác! Tôi thật sự lĩnh hội được rằng trong thời gian một đời ngắn ngủi, điều có giá trị nhất chính là bền lòng đi nỗ lực tu hành, tự chủ sinh tử, minh tâm kiến tính, thành tựu tự tại. Ngoài điều này ra, đều là rác rưởi của vọng tưởng điên đảo!
33. Thượng sư gia trì lực
Ở Tây Tạng, có câu chuyện như sau lưu truyền: Có một Lama trèo lên một cái cây to, trên cây có tổ ong rất lớn, ong mật bay ra vây xung quanh Lama. Lama khẽ nói với bầy ong mật: “Đừng đốt ta!” Kể cũng lạ, bầy ong mật cứ như không nhìn thấy vị Lama này, căn bản là không đốt ông ấy!
Có một vị Lama khác nhìn thấy vậy thì hết sức kinh ngạc, liền hỏi bí quyết để không bị ong đốt. Vị Lama không bị ong đốt nói không có bí quyết gì cả, chỉ nói với ong mật là đừng đốt tôi mà thôi.
Lama tò mò này trèo lên cây, dùng lời nói tương tự nói với bầy ong: “Đừng đốt ta!” Không ngờ bầy ong mật không hề cảm kích, cùng tiến lên trước, đốt sưng vù đầu Lama tò mò này, khiến ông ta kêu ông kêu bà, không ngừng xin tha.
Cùng một câu nói, vì sao kết quả khác nhau? Nghe nói, trước khi vị Lama thứ nhất trèo lên cây đã thỉnh cầu Thượng sư gia trì cho mình, thế là ong mật liền nghe lời ông ấy. Vị Lama thứ hai vì không có Thượng sư gia trì, chỉ là thấy sao học vậy, kết quả là bị ong đốt đầy đầu.
Kinh điển Phật hiệu của Hiển giáo, người người cầm lên là có thể đọc, không có hạn chế đặc biệt gì. Mật giáo thì khác, pháp bản của Mật giáo đều có in: “Chưa nhận quán đảnh, xin đừng giở đọc.” Chú ngữ của Mật giáo cũng vậy, chưa quy y nhận quán đảnh, chưa có lực gia trì của Thượng sư thì niệm cũng như không niệm, tương đương trộm pháp, còn phạm giới samaya, niệm chú tu trì sẽ không sản sinh pháp lực tương ứng.
Có quy y, có quán đảnh, có lực gia trì của Thượng sư, như vậy mới có thể đi tu hành như pháp, mới có thể từ trong mê hoặc, điên đảo, vọng tưởng, bám chấp, vì Thượng sư gia trì, dòng chảy pháp quán đảnh mà Phật tính vốn có có thể hiển hiện.
Thượng sư gia trì lực chính là chìa khóa thành tựu của tu Mật!
34. Mật giáo trân quý
Ngày xưa, Tỳ Lô Giá Na Phật truyền yoga vô thượng bí mật tối đại thừa giáo cho Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Tát Đỏa mấy trăm năm mới gặp được Long Thụ Bồ Tát để truyền thụ. Long Thụ lại mấy trăm năm nữa mới truyền cho Long Trí Acharya. Long Trí lại mấy trăm năm nữa mới truyền cho Kim Cang Trí Acharya. Kim Cang Trí du hành về phương Đông mới truyền cho hòa thượng của Đông Thổ.
Phật môn Mật giáo này từ Pháp thân Như Lai cho đến hòa thượng Đông Thổ mới chỉ có sáu vị Acharya mà thôi, Mật giáo như vậy đương nhiên là trân quý. (Hòa thượng ở đây là chỉ Bất Không Tam Tạng và Nhất Hành thiền sư.)
Còn nữa, “Mật Giáo Cương Tông” viết: ”Mật giáo do Phật của chúng ta tự giác Thánh trí đã truyền thẳng cho phàm phu bị trói buộc, vì thế người tu tập có thần lực nhanh chóng, có sức mạnh bất khả tư nghì. Nhưng tôn giáo này tuyệt đối coi trọng nghi quỹ, người có trí tu tập, khi vào mandala được Kim cương Acharya quán đảnh thì nhập đàn tu pháp, nếu không thì bị gọi là trộm pháp, nó chiêu cảm cái ác đến cũng bất khả tư nghì. Vì thế nước ta từ Đường Tống về sau, tông này sẽ tuyệt, không ai dám nghiên cứu.” Từ đây có thể biết, “tự giác Thánh trí” của Như Lai là vô cùng trân quý! Lại còn “không ai dám nghiên cứu” thì còn lợi hại đến mức nào. Thần lực nhanh chóng, siêu việt tông khác, lại càng là tiêu điểm chú ý của con người.
Phật Thích Ca Mâu Ni từng dùng năm vị để so sánh với năm kho tàng: Sữa là Kinh tạng. Pho-mát là Luật tạng. Bơ sống là Luận tạng. Bơ chín là Bát nhã tạng. Đề hồ là Mật tạng. [Đề hồ là chất tinh túy nhất trong sữa, được ví với Phật pháp tối cao.] Đề hồ là tinh hoa nhất của sữa, Mật giáo cũng là tổng trì tinh hoa của Phật pháp. Có câu nói, nếu rời tôn giáo này thì vĩnh viễn không có ngày thành Phật. Mật giáo ít được nghe thấy, nay đã gặp được, phải biết vui mừng!
35. Pháp Tài Thần
Có người hỏi tôi: ”Tiền, sắc, danh, ăn, ngủ” là năm ham muốn lớn của con người, còn gọi là năm nguồn gốc của địa ngục, vì sao Mật giáo lại có pháp Tài Thần?” Tôi đáp: Mật giáo vì độ chúng sinh, bi nguyện quảng đại, biết người đời đều yêu tiền, cho nên “tiên dĩ dục câu khiên, tái lệnh nhập Phật trí” [trước tiên lôi kéo họ bằng sự ham muốn, sau đó đưa họ vào Phật trí]. Hỏi: Tu pháp Tài Thần làm sao nhập Phật trí? Đáp: Phương pháp tu trì pháp Tài Thần cũng sẽ tu được pháp vị, con người tự nhiên sẽ chuyển hóa dục vọng, cuối cùng thậm chí chuyển thức thành trí, đắc thành tựu. Hỏi: Mật giáo có pháp Tài Thần gì? Đáp: Hoàng Tài Thần, Hồng Tài Thần, Lục Tài Thần, Hắc Tài Thần, Bạch Tài Thần, Ngũ Lộ Tài Thần. Ngoài ra còn có pháp bảo bình Long Vương, pháp Địa Thần, pháp Sơn Thần, v.v… đều là pháp Tài Thần. Hỏi: Tu pháp Tài Thần muốn tương ứng cần có điều kiện gì? Đáp: Điều kiện tu pháp tương ứng nhất định phải phát bồ đề tâm, sau khi có được đại tài, nhất định phải thí pháp tài, phải có nguyện hành thiện bố thí. Vì thế bồ đề tâm quảng đại, phúc đức sẽ đến liên tục, đồng thời hành thiện bố thí cũng có thể chuyển hóa tham dục thành từ bi thanh tịnh. Hỏi: Pháp Tài Thần của Mật giáo chọn pháp nào tốt nhất? Đáp: Bình đẳng, bình đẳng. Chỉ cần tương ứng rồi thì chính là pháp Tài Thần tốt nhất.
Tôi nói: Tinh thần trong pháp Tài Thần chính là “xả”, xả chính là đắc, có xả mới có thể có đắc, xả một phần đắc một phần lợi ích, xả được mười phần thì đắc được mười phần lợi ích, xả toàn bộ thì sẽ đắc được tất cả. Giống như trên tay bạn có một thứ mà bạn cứ nắm chặt không buông thì làm sao có thể lấy được báu vật quý giá hơn! Pháp vị của được-mất nằm ở đây.
36. Phẫn nộ Kim Cang Thần
Kim Cang Thần, tức là vị thần tay cầm pháp khí kim cang, thủ hộ Phật pháp. Kim Cang Thần là giáo lệnh luân, biểu thị giáo lệnh rất kiên cố, có thể phá tất cả kẻ địch, vì thế gọi là giáo lệnh luân.
Trong Hiển giáo, thần thủ hộ Phật giáo thường thấy là Hộ pháp Già Lan và Hộ pháp Vi Đà. Trong Mật giáo, Kim Cang Thần phẫn nộ rất rõ ràng, thậm chí Kim Cang Thần phẫn nộ cũng là hóa thân của chư Phật Bồ Tát. Chẳng phải Phật giáo muốn con người không sân hận mà hãy nhẫn nhục sao? Vì sao lại hiện tướng phẫn nộ?
Phật giáo có một câu rằng, cái gọi là: Bồ Tát hiền từ, từ bi lục đạo. Kim Cang trợn mắt, hàng phục tứ ma. Cũng tức là Phật Bồ Tát vì hàng phục độ hóa ma thiên, ác thần, tà quỷ, dạ xoa và những người ác chắc chắn không thể nói lý, chỉ có cách bên trong mang lòng từ bi, bên ngoài hiển tướng phẫn nộ để khiến họ quy thuận Phật. Trong Mật giáo Tây Tạng, Kim Cang phẫn nộ rất đặc biệt còn vì có nguyên do đặc thù. Thời kỳ đầu Tây Tạng thịnh hành hắc giáo, sùng bái đại tự nhiên, gặp núi thờ núi, gặp lửa thờ lửa, gặp trâu thờ trâu, gặp ngựa thờ ngựa, gặp lợn thờ lợn, gặp rắn thờ rắn,…. Thế là, Văn Thù Bồ Tát nhập Tam ma địa, sinh ra Đại Uy Đức Kim Cang, giáo hóa người Tạng. (đầu trâu) Quan Thế Âm Bồ Tát nhập Tam ma địa, sinh ra Mã Đầu Kim Cang, giáo hóa người Tạng. (đầu ngựa) Tỳ Lô Giá Na nhập Tam ma địa, sinh ra Kim Cang Hợi Mẫu, giáo hóa người Tạng. (đầu lợn) Tổ sư nhập Tam ma địa, sinh ra tôn giả Rahula, giáo hóa người Tạng. (thân rắn) Và khác nữa. Mật tông Tây Tạng đặc biệt nhiều Kim Cang phẫn nộ, đều là sự từ bi của Phật Bồ Tát và các tổ sư, đều là để thích ứng với việc độ hóa. Hành giả Mật giáo tu trì năm pháp đại Kim Cang tương ứng cũng tức là đến gần với thành Phật rồi, pháp Kim Cang của Mật giáo có sự tinh túy sâu xa trong đó.
37. Pháp song thân
Mật giáo có ba pháp môn đặc thù, đó là: 1. Pháp Tài Thần. 2. Pháp Kim Cang. 3. Pháp song thân. Đặc biệt là pháp môn song thân song tu là khiến người ta khó bề tưởng tượng nhất, hoài nghi không hiểu Phật giáo chẳng phải là dạy người ta không tà dâm sao, vì sao lại có pháp song thân?
Pháp song thân đến từ Ấn Độ, dân tộc Ấn Độ trưởng thành sớm, tâm sắc dục nặng, tổ sư Mật giáo tùy theo căn tính chúng sinh mà thích ứng lập ra pháp song thân để độ hóa. Đây chính là dụng ý “không đoạn dâm nộ si, cũng không cùng với chúng” của Duy Ma Cật Đại Sĩ mà lập ra. Cũng tức là “tiên dĩ dục câu khiên, tái lệnh nhập Phật trí.” Tôn chỉ của nó là song thân cũng có thể tu pháp, từ tu pháp sản sinh trí huệ, từ trí huệ nhìn thấu dâm dục, tiến tới dừng dục thanh tịnh, chuyển dục niệm thành tính Không, từ tính Không đắc căn bản trí. Pháp song thân này nếu y theo tôn chỉ mà tu đương nhiên là thanh tịnh số một. Ở trong đây là: Vô lậu. Tính Không. Đại lạc. Thanh tịnh. Pháp này cũng chính là “lấy ngọc trong miệng rắn” mà Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói. Nếu không y theo tôn chỉ mà tu, nếu không biết kỹ xảo và phương pháp, tu tập lệch lạc sẽ dễ đọa vào địa ngục kim cang, phải cẩn thận đó! Đây là pháp môn tu trì nguy hiểm nhất.
Trên nguyên tắc mà nói, pháp song thân dễ bị phỉ báng nhất, tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ cũng bị người bạn tốt của ngài là Kim Quang Thanh Niên và Trì Quang Nữ (vợ) phỉ báng! Kỹ xảo và phương pháp của pháp này phần nhiều đã thất truyền. Cũng rất dễ khiến người ngoài hiểu lầm và gây sốc cho xã hội, vẫn là không tu thì hơn! (Tổ sư Tsongkhapa là tu pháp quán tưởng đơn thân.)
38. Mật giáo lý thú
Cá nhân tôi phát hiện ra sự lý thú của Mật giáo và Hiển giáo hoàn toàn khác nhau, tôi nhìn ra Hiển giáo độ chúng sinh là “vua Cổn trị thủy”, còn Mật giáo độ chúng sinh là “vua Vũ trị thủy”. Vua Cổn trị thủy là cách phòng thủ. Vua Vũ trị thủy là cách khơi thông. Phòng thủ và khơi thông này đều là vì tham sân si. Bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo, đều không thể phủ nhận, trong lòng người đều có nghiệp chướng tham sân si tích lũy nhiều kiếp tồn tại. Hiển giáo là tiêu diệt tham sân si, Mật giáo là thuận theo tham sân si mà tu. Tôi chỉ ra: Tham — pháp Tài Thần. Sân — pháp Kim Cang. Si — pháp song thân. Đây là sự lý thú đặc thù của Mật giáo, trực tiếp xưng hô tham Phật, sân Kim Cang, si Bồ Tát, hoặc là dục Bồ Tát. Mật giáo lý thú hiển thị thuận theo tham sân si, dùng phương thức tu pháp để thỏa mãn nguyện của chúng sinh, là một dạng phương thức tuyệt diệu. Sau khi tu được pháp vị, tự sẽ hiểu tham là không, sân là từ, si là huệ. Sau cùng chuyển hóa, không được không mất, hàng phục chính mình, nhìn thấu dâm dục, cuối cùng thăng hoa, đắc Phật huệ căn bản.
Mật giáo cho rằng dâm nộ si đều là Phật pháp. Chỉ là tùy căn tính tu pháp của mỗi người để mà độ hóa. Thêm nữa vì Mật giáo đà-la-ni có thể che chặn tất cả ác, có thể ngăn chặn ác không sinh, giữ cho ác không tạo tác, tăng trưởng ý niệm trí huệ, vì thế mà có sự lý thú này. Chú ngữ Mật giáo có thể chuyển ô nhiễm thành thanh tịnh.
Người đời nay không hiểu sự lý thú của Mật giáo, không thâm nhập tìm hiểu Mật giáo mà còn phổ biến khiến cho đại chúng cảm giác và liên tưởng về Mật giáo là kỳ dị, thần bí, tà giáo, chú thuật, thịt rượu. Nói nghiêm túc, sự lý thú của Mật giáo, mục đích cuối cùng là chuyển hóa tất cả ô nhiễm thành không ô nhiễm, tự tịnh ý mình, thanh tịnh số một.
39. Tâm yếu khẩu quyết
Tu hành Mật giáo có cái gọi là Thứ tự sinh khởi và Thứ tự viên mãn, ở đây đều có phân tầng lớp thứ tự rõ ràng. Mật giáo phải dựa theo thứ tự mà quán đảnh, theo thứ tự mà đi tu chứng. Nếu không như vậy thì sẽ vô cùng nguy hiểm. Bởi vì thành tựu Mật giáo càng lớn thì những nguy nan của nó càng lớn. Tôi cho rằng người tu Mật trước tiên phải tu thân khẩu ý thanh tịnh, sau đó lại tu khí mạch minh điểm, dựa theo thứ tự tiến nhập Vô thượng mật, sau cùng mới là Đại viên mãn.
Trong Bạch giáo của Tạng mật chính là: Ly hý du già. Nhất vị du già. Vô tu du già. Thứ tự tu hành chia nhỏ hơn là: tứ gia hành, Thượng sư tương ứng pháp, Bổn tôn pháp, Bảo bình khí, chuyết hỏa, minh điểm, vô lậu, mở năm luân xa, Kim cang pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn.
Mật pháp của Mật giáo, cố nhiên có thể tham khảo theo pháp bản mà tu, nhưng những tâm yếu khẩu quyết bí mật nhất trong đó thì sẽ không thể tìm thấy trên pháp bản, phải do Thượng sư khẩu truyền, người ngoài không thể biết được. Vì thế kinh nói: “Tất cả Mật pháp, nếu không từ Thượng sư đích thân truyền tâm yếu khẩu quyết thì việc tu hành không thể có thành tựu.” Ví dụ: Khí làm sao để đi vào trung mạch, nhất định phải có khẩu quyết của Thượng sư chỉ dẫn mới biết được. Kỹ xảo và phương pháp của Sakya lục thế biến vô lậu, nhất định phải có khẩu quyết của Thượng sư mới có thể ấn chứng đúng lúc. Giáng, đề, trì, tán của pháp minh điểm làm sao để hướng dẫn? Không có khẩu quyết của Thượng sư thì cũng không được. Còn có nâng minh điểm bay qua núi Tu Di, nhất định phải có Thượng sư đích thân thị phạm tư thế yoga. Tương tự như vậy.
Nếu loại bỏ tâm yếu khẩu quyết của Thượng sư, đương nhiên không biết bí quyết, không biết phải theo cái gì, làm sao có thể tương ứng, giống như người mù gặp phải vách núi, nguy hiểm cực kì. Tâm yếu khẩu quyết của Mật giáo đích thực là vô cùng bí mật, người học Mật có thể không thận trọng ư?
40. Tu quán ý niệm
Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời đại Phật giáo nguyên thủy coi trọng nhất phương pháp tu hành tu quán ý niệm, các đệ tử ở trong hang động nhập định tu quán. Tôi từng đến thăm hang động của tôn giả A Nan và Xá Lợi Phất trên núi Linh Thứu ở Ấn Độ.
Hang động tu hành của tổ sư Mật giáo Naropa và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, trong cõi vô hình, càng hợp với môn phong thủy của Trung Quốc, có thể nói là sáng sủa trong vắt, hơn nữa còn chảy ra pháp nhũ thanh tịnh, rải khắp pháp giới.
Phật Đà dạy rất nhiều pháp quán tưởng, như quán đếm hơi thở, quán bất tịnh, quán bạch cốt, quán duy thức, quán pháp giới, mười sáu bài quán tịnh thổ, ba bài quán thiên đài.
Với hành giả Mật giáo mà nói, hành giả khi tụng chú cũng phải làm quán tưởng: 1. Quán tướng tốt của Bổn tôn. 2. Quán chủng tử tự của Bổn tôn. 3. Quán tự thân là Bổn tôn. 4. Quán chủng tử tự của tâm nguyệt luân của tự thân. 5. Quán tâm nguyệt luân của tự thân bày ra chân ngôn.
Mật giáo coi trọng chân ngôn, thủ ấn, quán tưởng. Trong đó quán tưởng còn có quán ngũ tướng thành thân, quán ngũ tự nghiêm thân, quán nhập ngã ngã nhập, quán nguyệt luân, quán chữ Ah. Cá nhân tôi nhận thấy, trên thế giới này, muốn lấy một vật để tượng trưng cho tướng bồ đề tâm thật sự không có vật nào đại diện. Sau cùng chỉ có mặt trăng tròn thanh tịnh là có thể tượng trưng. Mật giáo dạy bạn tay kết ấn kim cang, quán tâm là mặt trăng tròn, sáng tịnh vô cấu, nội ngoại trong veo, cực kì mát mẻ, trên đời không gì sánh bằng, hành giả an tâm tịnh trụ, dung nhập vào trong mặt trăng, ánh sáng đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới. Như vậy có thể khiến vọng niệm không sinh, thân tâm thanh tịnh, đại bồ đề tâm kiên cố không thối chuyển.
Đây là: Nguyệt luân trong tim chính thân mình Quang minh thanh tịnh tử quang sắc Thiền trí đều nhập kim cang phược Siêu nhập Như Lai tịch tĩnh trí.
41. Quán chữ Ah
Ngày xưa. Sư phụ nói với tôi: “Có một pháp quán rất quan trọng.” ”Là pháp quán gì?” Sư phụ đáp: “Quán chữ Ah. Tam mật là: tay kết ấn khế, miệng tụng đà-la-ni, tâm quán chữ Ah gốc không sinh.” ”Thế nào là chữ Ah gốc không sinh?” - Tôi hỏi. Sư phụ đáp: “Chấm dứt sinh tử, không sinh vào tam giới lục thú nữa, thường trụ trong không sinh không diệt là cảnh giới của đại niết bàn.”
Hành giả ngồi thẳng ngay ngắn, đối diện với một cái cột, trên cái cột có vẽ một mặt trăng sáng màu trắng, trong mặt trăng có vẽ hoa sen tám cánh, trên hoa sen có chữ Ah tiếng Phạn hoặc Tạng, lúc này hành giả hít vào thở ra đều là chữ Ah, miệng tụng chữ Ah, cứ tu như vậy lâu ngày sẽ có thành tựu. Tu được thành tựu, mở mắt nhắm mắt, nhìn thấy mặt trăng chữ Ah hết sức rõ ràng, rồi dẫn mặt trăng chữ Ah vào trong thân hành giả, lúc này, mặt trăng chữ Ah bên ngoài thân và mặt trăng chữ Ah bên trong thân hợp nhất. Thành tựu pháp quán này thì trong sát-na tức thân thành Phật, cắt đứt vọng kiến về sự khác biệt phiền não bồ đề sinh tử niết bàn.
Sư phụ nói: “Phật hiệu của A Di Đà Phật vì sao thắng tất cả Phật của thập phương tam thế, nhân duyên ấy nằm ở một chữ, chính là chữ Ah. Chữ này cũng là chữ chung của tất cả chư Phật Bồ Tát, muốn vãng sinh Tây phương, tu quán chữ Ah, nhất định vãng sinh.”
Theo tôi được biết, Phật Thích Ca Mâu Ni nói, trong tâm tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có chủng tử thành Phật, Như Lai chưa nói ra chủng tử này là gì. Trong Mật giáo, chủng tử chính là chữ Ah, chỉ cần một niệm quán chữ Ah, tốc độ thành Phật sẽ thắng nghìn kinh vạn điển, tức thân thành Phật là điều không có gì phải nghi ngờ. Đây là gan óc của Mật giáo, đại bí mật của Mật giáo, du già đại tương ứng nằm trong đó, là Phật không khác.
42. Lựa chọn Bổn tôn
Thường xuyên có đệ tử hỏi tôi: “Vị Phật Bồ Tát nào có thể làm Bổn tôn?” Câu trả lời của tôi là: “Bổn tôn tức là vị đầu tiên nhất. Trong số các Phật Bồ Tát, hành giả lấy vị nào đó làm gốc, trong đời đời kiếp kiếp vốn có nhân duyên tiền định với mình, thì đó chính là Bổn tôn.” Tôi lại nói: “Vị đặc biệt có nhân duyên, đặc biệt hợp ý nhất, đặc biệt thích nhất, đặc biệt kính trọng nhất tức là Bổn tôn.”
Mật giáo lựa chọn Bổn tôn, đầu tiên là che mắt lại, hành giả cầm hoa, được Thượng sư dẫn vào đàn thành, sau đó ném hoa, hoa ném trúng vị nào thì vị đó chính là Bổn tôn. Ngày xưa, đại sư Không Hải đã ném trúng Đại Nhật Như Lai, vì thế hiệu kim cang của đại sư Không Hải chính là Biến Chiếu Kim Cang.
Bây giờ, rất nhiều đệ tử thỉnh Căn bản Thượng sư của mình quyết định Bổn tôn căn bản cho mình, Căn bản Thượng sư phải suy đoán nhân duyên của đệ tử xem có nhân duyên với vị nào, hợp hay không hợp, nếu là hợp thì vị đó chính xác là Bổn tôn.
Có một số đệ tử vừa mới quy y nhận quán đảnh, ở trong mơ, trong định, nhìn thấy Phật Bồ Tát đến hiển hiện sờ đầu gia trì, thế là liền tự mình lựa chọn vị này là Bổn tôn của mình, việc này cũng được.
Có người hỏi: “Bổn tôn có thể có hai vị không, có thể có ba vị không?” Đáp: “Trên nguyên tắc là một vị. Nhưng nhân duyên đặc thù thì cũng có thể có hai, ba vị.” Lại hỏi: “Bổn tôn đã lựa chọn đầu tiên, tự mình cảm thấy không hợp, muốn đổi thì có được không?” Đáp: “Thật ra đã lựa chọn Bổn tôn rồi thì không nên thay đổi. Chỉ cần nghiêm túc tu trì, mong cầu viên mãn, cuối cùng ắt tương ứng. Bởi vì Phật và Phật thông nhau, Bồ Tát và Bồ Tát thông nhau, cần không nghĩ phân biệt, phổ đồng cung kính.” Hỏi: “Chân Phật Tông có tám đại Bổn tôn, có thể chọn bên ngoài tám vị này không?” Đáp: “Tám đại Bổn tôn chỉ là tính nguyên tắc. Các vị trong Kim cương giới, Thai tạng giới đều có thể làm Bổn tôn.” Tôi thay đệ tử chọn Bổn tôn có một bí mật, đó là dựa vào thiên tính của đệ tử để lựa chọn Bổn tôn của họ.
43. Tứ quy y và lục quy y
Hiển giáo quy y có ba, đó là quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Quy y có ý nghĩa là thân tâm quy về dựa vào Tam Bảo. Tam Bảo Phật, pháp, tăng chính là chư Phật, chính pháp, thánh tăng. Tức là dựa vào Phật pháp tu trì, hiển lộ lại Phật tính vốn có.
Mật giáo trên nền tảng tam quy y này có thêm quy y Kim cương Thượng sư, tức là biến thành tứ quy y. Chúng ta niệm chú tứ quy y là: “Namo guru beh, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye.”
Mật giáo cho rằng, đặt Kim cương Thượng sư đặt trên Phật, pháp, tăng là vì để khiến người học tu Mật hiểu Mật pháp duy có Thượng sư truyền thụ mới được, học Mật không có Thượng sư không được, đây là căn bản quan trọng nhất. Ngoài ra, thân của Thượng sư chính là biểu trưng Phật Đà trụ thế, khẩu của Thượng sư biểu trưng Phật Đà thuyết pháp, ý của Thượng sư biểu trưng tự tính thanh tịnh của Phật Đà. Đây chính là Kim cương Thượng sư tổng nhiếp Tam Bảo Phật pháp tăng.
Mật giáo cũng có lục quy y, lục quy y này là ngoài tứ quy y ra lại thêm quy y Căn bản Bổn tôn và quy y Căn bản Hộ pháp. Chúng ta biết rằng Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp là ba căn bản của tu hành Mật giáo. Thượng sư là gia trì căn bản. Bổn tôn là thành tựu căn bản. Hộ pháp là sự nghiệp căn bản.
Trên nguyên tắc, tu trì Mật giáo nếu không có tâm yếu khẩu quyết của Căn bản Thượng sư gia trì và hướng dẫn cho hành giả Mật giáo thì làm sao có thể vào Mật pháp? Nếu không có dòng chảy pháp uy đức của Căn bản Bổn tôn quán đảnh, hành giả Mật giáo làm sao có thể vào các bí mật của chư Phật, làm sao có thể tương ứng? Nếu không có Căn bản Hộ pháp ngày đêm thủ hộ hành giả Mật giáo, hành giả sớm đã bị ma xâm nhập, thành món điểm tâm của thiên ma rồi, hoặc tẩu hỏa nhập ma rồi! Ba căn bản này vẫn lấy Thượng sư là quan trọng nhất. Bởi vì Bổn tôn và Hộ pháp là Thượng sư ban cho thì mới như pháp để đi tu trì.
44. Phóng quang gia trì
Từng có một tấm ảnh, tôi đứng, tay kết ấn giơ cao, trước mặt tôi có rất nhiều đệ tử đang quỳ, có một vệt ánh sáng từ hư không giáng xuống chiếu đến các đệ tử. Ánh sáng đó trắng màu sữa, rất óng ánh long lanh.
Đây là một tấm ảnh phóng quang gia trì, khi tôi đang gia trì cho các đệ tử, có người cầm máy ảnh ngẫu nhiên chụp được.
Thật ra trong Mật giáo, chúng ta thường thỉnh cầu Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp từng giờ từng phút gia trì cho chúng ta, sự gia trì này đương nhiên là phóng quang gia trì. Không chỉ là Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp phóng quang gia trì cho chúng ta, trong khi chúng ta tu Mật pháp cũng phải biết tự mình quán tưởng phóng quang. Ví dụ: Chúng ta tụng chú Đại Bi phải quán tưởng trong tâm nguyệt luân của mình có một chữ Phạn “Hri” [Seh] phóng quang chiếu vào trong nước, tụng chú xong thì nước này chính là nước chú Đại Bi.
Chúng ta tụng Phật Đỉnh Tôn Thắng đà-la-ni chú phải quán tưởng trong tâm nguyệt luân của mình có một chữ Phạn “Khan” phóng quang chiếu khắp tất cả chúng sinh, chúng sinh chạm vào ánh sáng này thì nghiệp chướng tiêu trừ, thân tâm thanh tịnh, đắc đại trí huệ.
Chúng ta tụng quang minh chân ngôn thì phải quán tưởng trong tâm nguyệt luân của mình có một chữ Phạn “Ah” màu vàng kim phóng quang chiếu khắp tất cả chúng sinh, chúng sinh chạm vào ánh sáng này thì đều thoát khổ được vui. Cái khác cứ thế suy ra…
Trong Mật giáo mà nói, phóng quang gia trì là bất khả tư nghì, ánh sáng từ hư không đến, đi vào trong tâm của hành giả, rồi lại từ chú tự phóng ra đi cứu độ chúng sinh, cứ thế, tận hư không giới, sinh tử lục thú hữu tình nhanh chóng đắc đại thành tựu.
Người thật sự hiểu được cách tác pháp của Mật giáo sẽ biết sự quý giá của Mật giáo, Mật giáo có thể thỏa mãn lục đạo chúng sinh, sinh lão bệnh tử sầu bi khổ não hễ được phóng quang gia trì thì có thể vĩnh viễn đắc giải thoát. Tôi nói cho mọi người biết: Phóng quang gia trì là vô cùng chân thực.
45. Phóng quang triệu thỉnh
Có người hỏi tôi: ”Mật giáo triệu thỉnh chư tôn là triệu thỉnh thế nào?” Tôi trả lời: ”Tay kết ấn triệu thỉnh, tụng chú triệu thỉnh. Hành giả nên niệm vị có nhân duyên với mình trước, chư Phật Bồ Tát, tất cả Tam Bảo đầy khắp hư không, có ở khắp mọi nơi. Hơn nữa, mười phương chư Phật, các đại Bồ Tát kim thân sừng sững, ngồi tòa hoa sen báu thành các vòng tròn xung quanh tầng tầng lớp lớp vô tận, tỏa ánh hào quang.” ”Triệu thỉnh có khẩu quyết bí mật không?” Tôi trả lời: ”Có.” Ví dụ tôi muốn triệu thỉnh Bổn tôn A Di Đà Phật của tôi, khẩu quyết bí mật chính là phóng quang triệu thỉnh, quán tưởng trong tâm nguyệt luân ở tim mình có chủng tử tự “Seh” của A Di Đà Phật phóng ánh sáng đỏ ba lần, ánh sáng đỏ từ trung mạch xung lên lỗ đỉnh đầu, đi vào hư không. Lúc này A Di Đà Phật tự nhiên sẽ theo ánh sáng triệu thỉnh của hành giả mà giáng xuống.
Ngoài ra còn có một khẩu quyết bí mật là hành giả giơ móc kim cang triệu thỉnh, quán tưởng cái móc của móc kim cang móc vào đám mây của Phật Bồ Tát, như vậy Phật Bồ Tát tất nhiên sẽ đáp lại lời mời mà đến.
Còn có: Quán tưởng tòa hoa sen đi thỉnh mời. Quán tưởng y phục của Phật Bồ Tát lay động mà đến. Quán tưởng Phật Bồ Tát nhấc bước chân. Quán tưởng đồ trang sức của Phật Bồ Tát vang lên tiếng leng keng.
Đại thể mà nói, Mật giáo triệu thỉnh các vị là dùng phóng quang triệu thỉnh là chủ yếu nhất, ba lần phóng ánh sáng này đều dựa vào vận tâm mà làm, có nghĩa là tự tâm phóng đại quang minh, chỉ cần tự tâm phóng đại quang minh thì vô lượng Phật Bồ Tát đều phóng ánh sáng chiếu đến thân ta.
Ý nghĩa của phóng quang rất rộng lớn, có ý nghĩa nhiếp triệu, có ý nghĩa quy mệnh, có ý nghĩa đột ngột thức tỉnh, có ý nghĩa cúng dường, có ý nghĩa công đức, còn có ý nghĩa tất cả pháp vô lượng. Trong Mật giáo có ý nghĩa là vô lượng quang. Vận tâm phóng quang triệu thỉnh, Phật Bồ Tát chư tôn nhất định giáng lâm.
46. Tầm quan trọng của pháp Tứ gia hành
“Pháp nào quan trọng nhất?” ”Pháp Tứ gia hành quan trọng nhất.” - Tôi đáp. ”Vì sao?” ”Bởi vì pháp Tứ gia hành là nền móng thành tựu Mật giáo, nền móng không kiên cố thì tu pháp gì cũng đều là xây lâu đài trên không.” Chúng ta khởi đầu tu Mật pháp, trước tiên phải xây nền móng, cái gọi là “gia hành” có ý nghĩa là phải gia tăng thêm một phần lực mới có thể tu hành.
Mỗi pháp trong Tứ gia hành đều có ý nghĩa sâu, tôi chỉ rõ như sau: 1. Pháp tứ quy y. 2. Pháp đại lễ bái. 3. Pháp đại cúng dường. 4. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát.
Ở đây pháp tứ quy y là trì chú tứ quy y để kiên cố đạo tâm. Pháp đại lễ bái là để tiêu trừ nghiệp chướng. Pháp đại cúng dường là để gia tăng phúc huệ. Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát là sám hối nghiệp tội. Muốn tu Mật giáo phải có hai loại tư lương là phúc và huệ, nếu không có đủ hai loại tư lương này, đạo tâm không vững, ma chướng bộc phát thì không có tư cách tu Mật pháp.
Mật điển có nói: “Chưa tu hai tư lương mà muốn thành Phật chẳng khác gì muốn nấu cát thành dầu.” Rất nhiều người học Mật giáo nhiều năm, càng học nhiều pháp thì càng nhiều ma chướng, thậm chí đến cuối cùng không ngờ lại dao động. Đây là chuyện rất nực cười, chứng tỏ nền móng pháp Tứ gia hành của anh ta chênh vênh, căn bản là ngay cả pháp Tứ gia hành cũng không tương ứng, bởi vì nếu có tương ứng thì căn bản là sẽ không dao động.
Đừng coi thường pháp Tứ gia hành. Đạo tâm kiên cố, tiêu trừ nghiệp chướng, sám hối nghiệp tội, tăng phúc tăng huệ quả nhiên cực quan trọng. Vì thế, pháp Tứ gia hành phải nghiêm túc tu trì, gắng đạt tới viên mãn.
47. Bí mật của quán Không
Cá nhân tôi phát hiện ra một bí mật nhỏ, cũng chính là trong việc tu pháp của một hành giả Mật giáo, trước tiên phải quán Không, bởi vì quán Không rất quan trọng. Chỉ cần bạn dừng tâm niệm của mình lại, làm cho tư tưởng suy nghĩ của mình trống rỗng, chính vào sát-na im bặt vắng lặng này, dòng chảy pháp của ý thức vũ trụ sẽ trút xuống đỉnh đầu đi vào trong thân tâm bạn.
Cá nhân tôi nhận thức là làm như thế này. Đầu tiên tôi quán tưởng mình ngồi trên tòa hoa sen tám cánh, và trước mặt mình có nguyệt luân tỏa sáng. Tôi niệm chú quán Không (tịnh tam nghiệp chân ngôn): ”Ôm sư-pa-wa su-ta sa-ơ-wa ta-ơ-ma sư-pa-wa su-tô hằng.” Tụng chú 5 biến. Quán tưởng nguyệt luân càng ngày càng to ra, to đến vô tận. Tôi và nguyệt luân thanh tịnh tan nhập vào nhau. Tất cả đều không. Chính vào lúc này, dòng chảy pháp quang minh đi vào trong thân tâm tôi, đầy ắp thân tâm tôi, lập tức tương ứng tám cảm giác: 1. Cảm giác động — thân thể rung rung. 2. Cảm giác ngứa — toàn thân như có sâu bò, có cảm giác ngứa ngáy. 3. Cảm giác nhẹ — thân nhẹ như mây bay. 4. Cảm giác nặng — thân nặng như núi, im lìm bất động. 5. Cảm giác lạnh — thân lạnh như nước, mát lạnh như băng. 6. Cảm giác ấm — thân nóng như lửa, ấm áp dễ chịu. 7. Cảm giác ráp — quanh thân giống như tấm gỗ kiên cố. 8. Cảm giác trơn — toàn thân trơn như mỡ.
Vì thế tôi nói thế này, chỉ cần tu một đàn pháp thì tương đương với dòng chảy pháp thanh tịnh của vũ trụ quán đảnh cho bạn một lần, cũng tức là bạn và dòng chảy pháp tương ứng, bạn dung nhập vào trong dòng chảy pháp, bạn và Phật Bồ Tát sản sinh ra sự đối lưu, bạn và Phật Bồ Tát đã thông nhau. Quán Không này là bí mật số một của yoga Mật giáo.
48. Thuyết ba lực
Phật giáo có rất nhiều tông phái, đương nhiên mỗi tông phái lại có ý kiến riêng của mình, có nông có sâu, mỗi phái lại tùy theo nhân duyên kiếp trước và căn khí lớn nhỏ của người tu học mà khác nhau.
Kiến giải của cá nhân tôi đối với Thiền tông, Tịnh Độ tông, Mật giáo như sau:
Thiền tông là không lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Ở trong đây chính là tịnh trí diệu minh, thể tự không tịch.
Còn Tịnh Độ tông là người niệm Phật vãng sinh, nhờ có sự hồi hướng có nguyện lực đại bi của A Di Đà Phật, có lòng tin trì danh hiệu ngài mà nhập vào niệm Phật tam muội, dùng thân phàm phu tạo nghiệp trong một đời cũng trực tiếp vãng sinh đến thế giới Cực Lạc, hóa sinh cửu phẩm liên hoa.
Còn về Mật giáo, do Kim cương Acharya truyền dạy gia trì quán đảnh, lập đàn trì chú tu pháp, kết ấn tu quán, nhiếp triệu Bổn tôn, cuối cùng, chân như chính là thân ta, Phật pháp chính là thể ta. Trùng trùng thâm diệu, mật mật huyền bí.
Từ đây có thể nói: Thiền tông — tự lực. Tịnh Độ tông — tha lực. Mật giáo — tự lực, tha lực, Thượng sư lực.
Tôi nói rõ như sau: Thiền tông tức là tu tư duy, trực tiếp nghiên cứu nhân tâm, hiểu thấu đáo nguồn gốc của tâm mà thành Phật, hoàn toàn dựa vào tự lực để mà kiến tính thành Phật. Tịnh Độ tông là được Phật tiếp dẫn, hoàn toàn dựa vào tha lực. Trì danh niệm Phật, tịnh niệm nối tiếp nhau, chí tâm xưng danh hiệu Di Đà, diệt trọng tội sinh tử của tám tỉ kiếp, vãng sinh Phật quốc. Còn về Mật giáo, ngay từ đầu đã có ba lực, đầu tiên là lực gia trì của Căn bản Thượng sư, đến khi tương ứng Bổn tôn thì sẽ có lực của Bổn tôn (tha lực), sau cùng là khai phát Phật tính của bản thân hành giả (tự lực), Phật tâm hiển phát, thế là tức thân thành Phật!
Tôi cảm thấy Thiền tông khó nhất, Tịnh Độ tông dễ nhất, còn Mật giáo thì có cấp độ nặng nhất, cũng là có ý nghĩa sâu nhất.
49. Tôn sùng Cao Vương Kinh
Có người hỏi: ”Trong nghi quỹ của Chân Phật Mật Pháp vì sao có niệm Cao Vương Kinh?” Tôi đáp: ”Cao Vương Kinh là hồng danh của thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, chúng ta niệm Cao Vương Kinh tương đương với từng vị Phật Bồ Tát hiện lên trước mặt và ta lần lượt đảnh lễ.” Hỏi: ”Cao Vương Kinh hiệu nghiệm thế nào?” Đáp: ”Cao Vương Kinh thịnh hành vào thời Đường, hiệu nghiệm như thần, là hiệu nghiệm số một.” Hỏi: ”Có hiệu nghiệm gì?” Đáp: ”Về phương diện xuất thế, có thể diệt khổ sinh tử. Về phương diện nhập thế, có thể tiêu trừ các độc hại. Về phương diện sám hối, tụng đủ 1000 biến, trọng tội đều tiêu diệt, có thể đạt đến cảnh giới thường lạc ngã tịnh.” Hỏi: ”Nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp có thể niệm thêm Tâm Kinh không?” Đáp: ”Tâm Kinh là sự cô đọng của Đại Bát Nhã Kinh, Kim Cang Kinh, là cảnh giới khai ngộ. Hiển giáo Mật giáo đều coi trọng, nghi quỹ Mật pháp muốn niệm thêm Tâm Kinh cũng được.”
Cá nhân tôi nói thế này: Ngày xưa tôi ở Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung, được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, cuốn kinh điển đầu tiên mà tôi có được ở Ngọc Hoàng Cung ở Đài Trung chính là Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh, vì thế, tôi tôn sùng Cao Vương Kinh, tôi cho rằng đây là duyên phận.
Sau đó niệm thì tôi phát hiện ra Cao Vương Kinh là tên gọi chung của Phật Bồ Tát mười phương, mỗi khi niệm một lần thì ánh sáng đều chiếu đến hư không pháp giới, tương đương lễ kính Tam Bảo, tương đương pháp giới đại quán đảnh, tương đương dòng chảy pháp ánh sáng của pháp giới thanh tịnh, vô cùng bất khả tư nghì!
Vì thế, tôi mới đưa vào trong Chân Phật Mật Pháp, mong rằng hành giả Chân Phật người người có hiệu nghiệm. Đương nhiên tôi biết cảnh giới chân thực của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là cảnh giới chí cao vô thượng, là cảnh giới đạt đến bỉ ngạn, cảnh giới này rất sâu, nghĩa lý về đại không vô tướng, không thể coi thường. Tôi cũng học thuộc lòng. Hai kinh điển này tôi đều cung kính như nhau! Cao Vương Kinh, hồng danh của thập phương tam thế tất cả Phật, tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, kính lễ Tam Bảo! Tâm Kinh đạt đến bỉ ngạn, tịch nhiên an trụ!
50. Phật thị hiện quyền năng
Có một pháp sư Hiển giáo từng hỏi tôi: ”Căn cứ theo Phật điển, khoảng thời gian sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn cho đến khi Di Lặc Phật chưa thị hiện được gọi là thế giới không có Phật. Có nghĩa là thời kỳ không có Phật cư trú trên thế giới. Cách nói này ngài cho rằng có đúng không?” Tôi hỏi ngược lại pháp sư: ”Ông học Phật để làm gì?” Pháp sư đáp: ”Thành Phật.” Tôi nói: ”Vì đã chẳng thành được Phật thì ông học Phật gì chứ?” Pháp sư á khẩu.
Theo như tôi biết, sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn, có rất nhiều vị tức thân thành Phật, ví dụ: xứ Orgyen vị Phật thứ hai Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tổ sư Milarepa, tổ sư Tsongkhapa, v.v… Văn Thù Bồ Tát tại Bắc phương thành chính giác, hiệu là Cực Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Vương Phật. Đại đệ tử Xá Lợi Phất của Phật hiệu là Hoa Quang Phật. Năm trăm La Hán tương lai thành Phật, hiệu là Phổ Minh Phật. Rồi trong “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” nói: “Sa Kiệt La Long Vương Nữ là đứa bé tám tuổi, trong sát-na lập tức phát bồ đề tâm, rồi thành bậc Chính Đẳng Chính Giác tại Nam phương Vô Cấu thế giới.” Đây là chuyện Long Nữ Thành Phật.
Tôi nói với pháp sư: ”Đây đều là những ví dụ về thành Phật, Thiền tông cũng có rất nhiều người thành Phật, họ đều kiến tính thành Phật rồi.” ”Lục Tổ Đàn Kinh” viết: “Nếu nhận thức được bản tâm, thấy được bản tính của mình thì gọi là Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật.” Pháp sư nói thật như đếm: ”Thế sao kinh điển lại nói như vậy!” Tôi đáp: ”Phật Thích Ca Mâu Ni tuyệt đối không cản trở chúng sinh vào thời gian này thành Phật, cũng sẽ không ngăn cản chúng sinh tức thân thành Phật, đây là người đời sau hiểu nhầm ý của kinh. Theo như tôi biết, Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện tại thế giới Ta Bà là Phật thị hiện quyền năng, còn Di Lặc Phật ở Long Hoa Tam Hội quảng độ chúng sinh cũng là Phật thị hiện quyền năng. Thật ra ở khoảng giữa này cũng có rất nhiều ví dụ thành Phật đó!”
Thiền tông có thể kiến tính thành Phật. Mật giáo có thể trong một đời đồng thời viên chứng ba thân Pháp, Báo, Ứng, chứng đắc vô thượng bồ đề, tức thân thành Phật. “Mật Giáo Cương Yếu” viết: “Căn cơ Mật giáo tuy có sự khác biệt lớn nhỏ nhưng đều do cha mẹ sinh ra nhục thân, một đời tức thân thành Phật.”
51. Hợp thành một thể
Yếu nghĩa của Mật giáo nằm ở du già, mà du già có nghĩa là tương ứng, tương ứng đương nhiên là rất ẩn mật. Vì thế “Mật Giáo Cương Yếu” viết: “Nghĩa của mật là thâm sâu, là vi diệu bí mật, tức là kín đáo khó hiểu. Cảnh giới tướng rất bí mật, tự giác chứng trí tu chứng pháp môn.”
Cá nhân tôi hiểu rằng du già tương ứng thì sẽ có tác dụng thần biến gia trì, có thần biến gia trì thì sẽ có ba thân bất khả tư nghì: 1. Tự tính thân. 2. Gia trì thân. 3. Thọ dụng thân. Pháp du già Mật giáo, đại sư Ấn Quang từng nói: “Mật giáo dùng tam mật thần biến gia trì, có thể khiến phàm phu hiện sinh chứng quả. Sức mạnh công đức này không thể dùng tâm tư, không thể dùng ngôn luận, vì thế nói là sức mạnh bất tư nghì.” Do đó, “Đại Nhật Kinh” viết: Pháp vô tướng thâm sâu Người trí kém không hiểu Để đáp ứng điều này Kiêm nói pháp hữu tướng. Pháp hữu tướng này trọng điểm là quán tưởng “nhập ngã ngã nhập”: 1. Nguyệt luân thanh tịnh. 2. Xuất hiện chủng tử chữ Phạn. 3. Bổn tôn xuất hiện. 4. Bổn tôn trụ đỉnh, thu nhỏ, tiến vào tâm hành giả, ngồi trên hoa sen trong tim, rồi lại phóng to ra lớn bằng hành giả. 5. Hành giả và Bổn tôn không hai không khác, trong sát-na, hành giả chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là hành giả.
Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, khi tay kết ấn khế, miệng tụng chân ngôn, quán tưởng nhập ngã ngã nhập, tức là bình đẳng với tam mật của Như Lai, cùng có đức dụng vô tận, đây chính là chân lý của tương ứng du già.
Hành giả chỉ cần tương ứng rồi thì sẽ hợp làm một thể, giống với Bổn tôn, từ cánh cửa này mà được vào pháp giới. Tôi chân thành nói: “Chân thực không giả.”
52. Khẩu quyết nhập-trụ-dung
Trên thực tế, tu pháp của Mật giáo phân thành hai bộ phận lớn, bộ phận thứ nhất là tu pháp tam mật tương ứng, bộ phận thứ hai là tu pháp khí mạch minh điểm.
Theo như tôi biết, tu hành hai bộ phận này đều có khẩu quyết ba chữ nhập-trụ-dung, khẩu quyết này khá quan trọng.
Trong bộ phận tam mật tương ứng, chính là đón Bổn tôn tiến vào trong thân của hành giả, Bổn tôn thường trú trong thân của hành giả, Bổn tôn và hành giả tan vào nhau. Đạt đến tan vào nhau rồi thì lập tức mười phương vô biên Bồ Tát cho đến tất cả Hộ pháp đều đến vây quanh, trong kim cang trang nghiêm, trước ngực phóng ra ánh sáng lớn, vô lượng trăm nghìn vạn ánh sáng từ lỗ chân lông phóng ra, chiếu đến mười phương thế giới.
Chỉ cần thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, tam mật tương ứng, như pháp tu hành nhập, trụ, dung, chứng được bản trí, rồi nhập bản địa, tâm sinh hoan hỷ, tiến dần từng bước, sau cùng thành tựu pháp thân tự tại của Như Lai.
Trên phương diện tu pháp của bộ phận thứ hai là khí mạch minh điểm. 1. Hít một hơi khí đi vào đan điền của hành giả. 2. Hơi khí này thường trụ trong đan điền. 3. Hơi khí này tan vào mọi kinh mạch, đi đến từng lỗ chân lông. (Đây là khẩu quyết về nhập-trụ-dung của khí.) Về phương diện nhập, nhất định phải đi vào đan điền. Phương diện thường (trường) trụ là phải nín thở càng lâu càng tốt, theo như tôi biết, chỉ cần giữ được hơi khí này càng lâu thì khí càng có thể đi vào trung mạch. Khẩu quyết quan trọng sau cùng là hít trước thở sau, khi không nín thở được nữa thì hít vào một hơi trước, khi ép xuống như vậy thì khí đều vào trung mạch. Tiếp đó là dẫn khí đến kinh mạch toàn thân, tan vào từng lỗ chân lông.
Mọi người có thể nghĩ xem, so sánh giữa bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai, nhập-trụ-dung thật sự quá quan trọng. Bây giờ bạn có thể hiểu vì sao Liên Hoa Sinh Đại Sĩ nói: “Tất cả công đức của Mật giáo đến từ Bảo bình khí.”
53. Thuyết của ngoại đạo
Mật giáo thường bị người ta chỉ trích là ngoại đạo, đương nhiên là có rất nhiều nhân tố, thế nhưng những nhân tố này đều đến từ những học thuyết không rõ ràng và những chỉ trích sai lầm không thật.
Ví dụ, nói Mật giáo là Bà-la-môn giáo, đó là vì có người cho rằng Mật giáo hấp thụ rộng rãi chư thiên, tương tự như Bà-la-môn giáo. Thật ra Mật giáo độ chúng sinh thoát ly biển khổ sinh tử, siêu xuất tam giới, hoàn toàn giống với triết lý của Phật giáo Đại thừa.
Cũng có người cho rằng Mật giáo tôn sùng thần thông, dùng thần lực để hỏi lành dữ họa phúc, nhân quả ba đời, cầu mưa trị bệnh, chiêm tinh địa lý, những hiện tượng này không khác gì tác dụng của ma quỷ, vì thế Mật giáo là tà thuyết ngoại đạo.
Trên nguyên tắc mà nói, Mật giáo được nói thành bói toán tướng mệnh, chiêm tinh địa lý, cầu mưa trị bệnh, đây chỉ là bề ngoài lặt vặt của Mật giáo. Thuần Mật giáo chân chính là giới lực kim cương, đạo tâm bồ đề, chấm dứt sinh tử, tức thân thành Phật. Cũng tức là cắt đứt mê hoặc chứng chân thực, nó rất khác với một số Thượng sư giả mạo làm những trò lừa tiền gạt sắc.
Có người nói Mật giáo làm Hộ Ma là tục lệ cúng lửa của đạo Zoroastrianism Ba Tư, cho nên không thể tu pháp Hộ Ma. Theo như tôi biết, Hộ Ma của Mật giáo tổng trì ấn khế, làm gì đều có nghiệm chứng. Kết đàn tác pháp đều nằm ở sự vận tâm. Pháp Hộ Ma này không tách rời một chữ “tâm”, vì thế, tổ sư Tsongkhapa cho rằng Hộ Ma là một trong ba đại thành tựu.
Lại có người nói tu hành Nội mật - thứ tự viên mãn của Mật giáo là tu hành khí mạch minh điểm, khí mạch minh điểm là tu mệnh, cũng tức là nhục thân tu hành, thế thì rời xa tâm rồi, vì thế là ngoại đạo. Tôi nói, Mật giáo tu khí chủ trương tâm khí hợp nhất, khí tức là tâm, tâm tức là khí, nghĩa là khí không rời tâm, nhờ tu khí để ấn chứng tâm chứ không hề rời xa tâm. Sau cùng dùng khí mạch minh điểm để ấn chứng tâm bí mật trang nghiêm, đây là tâm địa của Mật giáo, sao có thể phê bình là rời xa tâm chứ!
Tôi cho rằng nay gặp được Mật giáo là may mắn ba đời, đó là duyên phận thù thắng hiếm có, tuyệt đối đừng buột miệng phỉ báng!
54. Sự cần thiết của tu khí
Có một thầy thuốc Đông y nổi tiếng kể với tôi rằng ông ấy từng chữa bệnh cho một đại hòa thượng, vừa dùng tay bắt mạch thì hết sức ngạc nhiên, không ngờ gần như kinh mạch toàn thân đều bị tắc nghẽn, thậm chí tất cả các mạch đều đã thành “âm mạch” xấu.
Bác sĩ Đông y cũng nói còn có một tì kheo ni già, bị bệnh từ lúc trẻ tới lúc già, khí huyết lộn xộn, quanh năm suốt tháng đau yếu luôn, nhìn rất đáng thương. Tự độ mình còn khó, làm sao mà độ chúng sinh?
Bác sĩ Đông y hỏi đại hòa thượng: ”Thân thể kiểu này thì làm sao tu hành?” Đại hòa thượng trả lời: ”Chúng tôi là tu tâm, không tu thân.” ”Tu thân luyện khí cũng rất quan trọng mà!” - Bác sĩ Đông y nói. ”Đó là ngoại đạo!” - Đại hòa thượng trả lời.
Cá nhân tôi phản đối luận điệu của đại hòa thượng, nghĩ xem tổ sư Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma từ Thiên Trúc đi thuyền xuống phía Nam, trở thành vị tổ đầu tiên của Trung Hoa. Phép tắc là dùng tâm truyền tâm, các thầy chặt chẽ gửi gắm bản tâm. Nhưng nhìn thấy người của Thiếu Lâm Môn ngồi khô tham thiền, lâu ngày khí huyết suy kiệt, e rằng sẽ sa đọa theo hướng xấu, vì thế mà truyền thụ võ công quyền pháp, sau đó dạy dịch cân kinh.
Bồ Đề Đạt Ma cho rằng: “Khí huyết thông suốt, tha hồ tung hoành, một gậy một hớp [nước], tùy bệnh cho thuốc.” Tổ sư Đạt Ma nói, chỉ tu tâm mà không tu thân e rằng sẽ sa đọa theo hướng xấu, vì thế mới có võ công Thiếu Lâm truyền đời.
Mật giáo chủ trương tính mệnh song tu, có nghĩa là tâm quan trọng, thân cũng quan trọng, bởi vì sự khỏe mạnh của thân thể là cái gốc của tu hành. Mật giáo lại càng chỉ rõ: ”Luyện khí chính là điều tâm.” ”Tâm bình thì khí sẽ hòa.” Người nhiều phiền não, tâm họ phân tán, khí sẽ không cách nào điều hòa được. Người tu khí, khí huyết thông suốt, thân thể thư thái, tâm họ tự nhiên ôn hòa, kết quả sau cùng là cũng có thể đoạn trừ phiền não. Mật giáo cũng có quyền pháp kim cang, đó là công dụng dẫn khí! Tôi chủ trương: “Tâm khí hợp nhất. Tu khí là bắt buộc!”
55. Vận dụng tứ đại để tu trì
Mật giáo nhận định sơn hà đại địa, tất cả mọi vật, đều là sự kết tinh của tứ đại đất-nước-lửa-gió, thế giới này gọi là “khí thế giới”. Thế nhưng, nhìn lại nhân loại, thân thể người cũng là một trong khí thế giới.
Theo tôi được biết, tu trì Mật giáo vốn là vận dụng nguyên tố của tứ đại, dùng đặc tính của tứ đại để sinh ra thực tướng bát nhã ba-la-mật, vô thượng chính đẳng chính giác, biển Tỳ Lô Giá Na đại quang minh, chứng đắc căn bản trí của Như Lai.
Nhờ tứ đại tu khí mạch minh điểm, tôi phân tích như sau: 1. Địa — mạch. 2. Thủy — minh điểm. 3. Hỏa — chuyết hỏa. 4. Phong — khí. Pháp khí mạch minh điểm, nguyên lý nguyên tắc thật sự chính là hành giả tu khí đến một trình độ nhất định, dựa vào Kim Cang Hợi Mẫu chuyết hỏa định, dùng khí thổi lửa để sinh ra chuyết hỏa. Nhờ chuyết hỏa đi lên mà thông trung mạch, cho đến lỗ đỉnh đầu, xúc động hoa sen nghìn cánh, dẫn minh điểm rơi xuống, sinh ra tác dụng “giọt cháy”. Tác dụng “giọt cháy” là thủy đi lên hỏa đi xuống, thủy rơi xuống dưới, hỏa cháy lên trên, từ đó sản sinh ra ánh sáng, rồi thông năm luân xa của trung mạch và các kinh mạch khác.
Khi trung mạch được mở ra, Tâm luân của năm luân xa được mở ra. Tâm quang sẽ tự nhiên phát lộ, tất cả vọng tưởng tự nhiên không khởi, tính thường thanh tịnh, cắt đứt phiền não, chỉ thấy Phật tính và Phật quốc tịnh thổ sáng tỏ, hành giả tức thân thành Phật.
Pháp khí mạch minh điểm này tôi phân thành Bảo bình khí, pháp Chuyết hỏa, pháp Minh điểm, pháp Vô lậu, thông trung mạch, mở ngũ luân, v.v… Mỗi pháp này phải dựa theo thứ tự mà tu, trong đó có cực kì nhiều tâm yếu khẩu quyết, nếu không có Thượng sư truyền miệng, hoàn toàn đui tu mù luyện thì không được! Pháp này thành tựu, siddhi ắt thành, thầy có khẩu quyết, có thể nương dựa.
56. Thân mandala
Có một lần tôi cùng rất nhiều đệ tử leo núi, trong đó có mấy người đến từ châu Âu phải đáp chuyến bay buổi chiều để trở về. Khi ấy có hai đệ tử biết Bổn tôn của họ là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật liền lập tức quỳ xuống, dâng lên cúng dường, thỉnh cầu tôi quán đảnh Bổn tôn cho họ. Khi ấy tôi chỉ mặc đồ Lama, không có pháp khí tịnh bình, không đội mũ miện, không có pháp tọa, đương nhiên càng không có đàn thành. Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi gật đầu nói: ”Được, tôi quán đảnh Bổn tôn cho hai người, hai người kết ấn Dược Sư, miệng tụng chú Dược Sư, quán tưởng Dược Sư Như Lai trụ đỉnh.” Tôi đưa tay ra sờ đầu đệ tử. Chỉ một lúc sau là quán đảnh kết thúc. Sau đó tôi giải thích với đệ tử Mật giáo quán đảnh cần phải ở đàn thành mandala, bởi vì trong đàn thành hội tụ đầy đủ công đức của chư tôn. Kim cương Thượng sư đội mũ miện, lên pháp tọa, dùng pháp tướng hoặc tịnh bình quán đảnh, lần lượt tượng trưng lực Bổn tôn, lực Thượng sư, lực pháp giới gia trì quán đảnh cho đệ tử, quán đảnh như vậy mới là quán đảnh như pháp.
Ở nơi rừng núi hoang vu vốn dĩ là không được, không như pháp. Thượng sư không đội mũ miện, không lên pháp tọa, không có pháp khí, không có đàn thành, đều là không như pháp. Nhưng, vì sao tôi có thể làm như vậy? Tôi nói, tôi đã tương ứng Ngũ Phật. Trong một ý niệm, Ngũ Phật đã trụ đỉnh hóa thành mũ miện, mặt đất mà tôi đứng trên đó lập tức hóa thành tòa hoa sen, tay tôi chính là pháp khí. Mi tâm luân, Hầu luân, Tâm luân, Tề luân, Mật luân của tôi có Ngũ Phật Ngũ Kim Cang trụ ở đó, thân tôi có Thánh hiền tụ hội, vạn đức giao quy, căn bản chính là mandala.
Hôm nay tôi nói với hành giả Chân Phật, tu trì khí mạch minh điểm có thể tu được thân mandala. 1. Khí — tác dụng của tất cả thành tựu. 2. Mạch — hóa thành tất cả cảnh giới, Phật quốc tịnh thổ. 3. Minh điểm — Phật. 4. Chuyết hỏa — tịnh quang. Nếu có thể tu chứng khí mạch minh điểm và đạt đến chuyển hóa mới biết thực tướng Chân Như. Chân Như không có tự tính, tùy biến không giữ tự tính. Ô nhiễm, thanh tịnh, chân thực, vọng tưởng hoàn toàn giao với nhau, mọi thứ đều vô ngại, trùng trùng vô tận. Mật giáo tuyệt đối trọng nghi quỹ, nghi quỹ không chu toàn tức là không như pháp! Nhưng, duy có người tu chứng thân mandala mới có thể siêu việt! Mới có thể tổng trì vô lượng Phật pháp mà không để rò rỉ mất. Ai có thể chứng minh: “Chân Như tức thân ta.” Tôi đáp: ”Pháp khí mạch minh điểm.”
57. Bí quyết tu khí
Uy nghi như Phật, ngồi thế kim cang kiết già hoặc bán già, hai tay kết pháp giới định ấn, cột sống vươn thẳng, hai vai mở ngang, gập cổ để cho cằm ép vào yết hầu, đầu lưỡi đặt lên hàm trên, mắt không chớp, nhìn thẳng phía trước hai thước [khoảng 2/3 mét]. Ngồi như vậy để lắng yên thân tâm.
Hít một hơi khí vào đan điền, thượng khí ép xuống, hạ khí nâng lên, như một bảo bình. Nín thở thật lâu cho đến khi không nín được nữa thì lúc này, khẩu quyết quan trọng là trước tiên hít vào một hơi để cho khí dư thừa đi vào trung mạch, đến được tim, dung nhập vào các mạch luân, đi đến từng lỗ chân lông và thoát ra ngoài. Khí chưa dung nhập sẽ giống như bắn ra, thở hắt ra.
Bí quyết tu khí là: Cột sống vươn thẳng — trung mạch mới có thể thẳng. Ép yết hầu — thượng khí sẽ ép xuống. Nhíu hậu môn — hạ khí sẽ nâng lên. Đầu lưỡi chạm hàm trên — khí mới có thể vào trung mạch.
Mục đích quan trọng nhất mà Mật giáo tu Bảo bình khí là khiến khí vào trung mạch, chỉ cần khí vào trung mạch thì có thể sản sinh tác dụng, chúng ta gọi là khí vào trung mạch, tức là khí trí huệ. Tu Bảo bình khí lâu ngày thì kinh mạch toàn thân đều thông suốt, khí tuần hoàn trôi chảy và khí đủ. Đạo gia gọi là sự tuần hoàn của đại chu thiên, tiểu chu thiên.
Hành giả Mật giáo phải hiểu thượng hành khí, hạ hành khí, biến hành khí, tâm khí. Từ tác dụng của khí mà tu được chuyết hỏa, tu được minh điểm trong veo thanh tịnh, tu được minh điểm vô lậu, đạt đến đại lạc, quang minh, tính Không.
58. Có lậu đều đọa
Chữ “lậu” này vốn là tên gọi khác của phiền não, có hàm nghĩa là “lậu tiết” và “lậu đọa”. Mỗi con người ngày đêm phiền não không ngừng, cho nên một vài nguyên khí từ lục căn chảy ra ngoài không ngừng, như thế này sẽ biến thành có lậu đều đọa. Đọa tức là sẽ rơi vào trong ba đạo ác.
Theo như tôi biết, lậu cũng có khẩu lậu, thân lậu, ý lậu. Khẩu lậu — vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, thêu dệt. Thân lậu — giết, cướp, dâm, rượu. Ý lậu — tham, sân, si.
Quá khứ tôi đọc “Diêu Trì Kim Mẫu Giải Thoát Chân Kinh”, Kim Mẫu cũng nói: “Lậu tiết sẽ chết, tinh thần của con người lậu tiết ở chỗ nào thì phải thu về từ chỗ đó.” Có thể thấy có lậu tức là thân thể có phiền não ô nhiễm. Thì ra thân thể của mỗi con người có thể nói đều là thể có lậu, ví dụ: Nữ chảy máu kinh. Nam chảy tinh dịch. Trong Mật giáo, máu kinh mà nữ chảy ra chúng ta gọi là hồng bồ đề, tinh dịch mà nam chảy ra chúng ta gọi là minh điểm hoặc bạch bồ đề. Trong tu pháp của Mật giáo có pháp vô lậu, có thể khiến hành giả nam vĩnh viễn không chảy tinh dịch, hành giả nữ vĩnh viễn không chảy máu kinh. Pháp vô lậu này có thể khiến hành giả Mật giáo tu thành thể kim cang vô lậu, thân kim cang, thân thể bất hoại.
Cá nhân tôi nhận thức thế này, lậu cũng có phân biệt hữu hình và vô hình, vô hình là các phiền não tham sân si, hữu hình là chảy máu kinh, chảy tinh dịch. Bất kể là vô hình hay hữu hình đều ảnh hưởng đến người tu hành.
Một hành giả chân chính, về phương diện vô hình là thanh tâm quả dục, cắt hết tất cả phiền não; về phương diện hữu hình là tu pháp vô lậu, hoàn toàn khiến tinh huyết không rò rỉ mất một giọt nào, như vậy mới là thân tâm đều đắc giải thoát, đây mới là không còn gì lo lắng sợ hãi. Thân tâm đều giải thoát, rời xa tất cả nhiễm mắc mới gọi là vô lậu.
59. Giới thiệu vắn tắt về quán tu pháp vô lậu
Trong Mật giáo, quán tu pháp vô lậu được gọi là độc bộ pháp, là pháp cực bí mật của bí mật, không thể tuyên thuyết với người chưa được quán đảnh. Vì thế ở đây tôi chỉ giới thiệu một cách đơn giản.
Cơ sở của pháp này nằm ở Bảo bình khí, nhất định phải tu Bảo bình khí cho đến khi khí đủ. Có thể vận khí vào trung mạch, từ trung mạch xung lên đỉnh mới có thể tu trì pháp này. Có ba bí quyết tu pháp: 1. Chú — Hum. 2. Ấn — ấn nắm chặt. Ngón cái cho vào trong, bốn ngón còn lại ép chặt, hai tay nắm chặt. 3. Quán tưởng. Cách quán tưởng là: đầu tiên quán tưởng Tề luân có một chữ Hum, đuôi của chữ Hum đưa vào Mật luân, móc lấy hoa sen trắng (nam) hoặc hoa sen đỏ (nữ). Hai tay hành giả kết ấn nắm chặt, hạ xuống. Hành giả tu Bảo bình khí một hơi thì hét lớn một tiếng Hum, hai tay kết ấn nắm chặt giơ lên trên. Lúc này dùng khí xung đỉnh, chữ Hum kéo hoa sen cùng đi lên, theo trung mạch đến lỗ đỉnh đầu, Mật luân (gốc) theo đó bị cuốn ngược lên đi vào trung mạch, đạt đến lỗ đỉnh đầu. Tại lỗ đỉnh đầu, thứ tự là chữ Hum, hoa sen, nhục kế (hành giả nam), hành giả nữ thì không có nhục kế. Tôi giải thích là: Hoa sen trắng chính là tinh dịch, hoa sen đỏ chính là máu kinh. Gốc Mật luân là dương vật, đến đỉnh đầu của hành giả thì hóa thành nhục kế, vì thế mà hành giả nữ không có nhục kế. Pháp này trọng điểm nằm ở một hơi Bảo bình khí. Khí xung đỉnh, kèm theo đó là nâng tinh huyết đến đỉnh đầu, trong Mật giáo gọi là “nâng minh điểm bay qua núi Tu Di”, có thể nâng minh điểm tức là có thể đắc được vô lậu.
Pháp vô lậu phải phối hợp với ngoại công là ba thức kim cang quyền, có thể khiến tinh huyết trụ vững mà không lậu tiết.
Theo tôi được biết, hành giả chỉ cần bền lòng, tu trì vào sáng sớm mỗi ngày thì nửa năm sẽ có hiệu nghiệm, chậm nhất là ba năm. Tu hành pháp này thành tựu, minh điểm sẽ không mất đi một giọt nào, tinh thần sung mãn, tu những pháp khác chỉ cần làm ít mà được nhiều.
Chú ý: tâm yếu khẩu quyết của pháp vô lậu phải được Kim cương Thượng sư trực tiếp nói rõ.
60. Phân biệt chứng nghiệm
Có đệ tử hỏi: ”Tu thân khẩu ý thanh tịnh là chứng nghiệm cái gì?” Tôi trả lời: ”Du già nhất vị.” Đệ tử lại hỏi: ”Tu khí mạch minh điểm là chứng nghiệm cái gì?” Tôi đáp: ”Tịnh quang xuất hiện.” Tôi nói, tam mật tương ứng tức là tam mật của thân khẩu ý hành giả và tam mật thân khẩu ý của Bổn tôn tương ứng, dung hợp không phân biệt, lúc này chính là Nhất vị du già, nhục thân mà cha mẹ sinh ra cũng chính là thân của Bổn tôn.
Hành giả dựa vào tam mật tương ứng, tu pháp tức, tăng, hoài, tru, có thể diệt tội trừ tai, cầu an, trừ bệnh tật, tăng phúc huệ, tăng kính ái, đẩy lùi tất cả kẻ thù,… vô lượng công đức bất khả tư nghì. Tôi nói, tu khí mạch minh điểm, dựa vào pháp chuyết hỏa minh điểm, đầu tiên có thể xuất hiện ánh sáng minh điểm, sau đó lại xuất hiện chuỗi ánh sáng kim cang, sau cùng sẽ xuất hiện Bổn tôn và tịnh thổ của Bổn tôn. Sau cùng, tịnh quang của hành giả sẽ dung nhập vào trong pháp giới của vũ trụ.
Tu khí mạch minh điểm chỉ cần thành tựu pháp chuyết hỏa thì có thể tu pháp phowa, pháp mộng quán, pháp huyễn thân, pháp tịnh quang, pháp thiên thức. Đây là sáu pháp của Naropa. Còn pháp kim cang có thể thành tựu được tất cả sự nghiệp. Vô thượng mật, mật hành chứng ngộ thanh tịnh. Đại viên mãn, tự tại nhậm vận. Những pháp môn này, trong những bài khai thị hoằng pháp của tôi suốt hai mươi năm, tôi đều đã giải thích rất tường tận tỉ mỉ kĩ càng rõ ràng, những gì nên nói đều đã nói rồi, những gì không nên nói cũng đã nói chút chút rồi, còn lại những gì chưa nói là bí mật của bí mật và một vài kỹ thuật cực cơ mật, dành cho những người có căn khí hữu duyên sẽ trực tiếp giải thích.
Điều tôi chứng nghiệm là: pháp không có lỗi gọi là chính, trí không thiếu sót gọi là toàn diện, ra khỏi giấc mộng sinh tử gọi là tri giác.
61. Hiện tượng của tương ứng
Có người hỏi: ”Hành giả Mật giáo tụng chú, tu pháp. Khi tương ứng sẽ xuất hiện hiện tượng gì?” Tôi trả lời: ”Hành giả Mật giáo tụng chú, tu pháp, nỗ lực dụng công thì sẽ có rất nhiều hiện tượng tương ứng, những hiện tượng này thấy được trong thiền định, hoặc thấy được trong mơ, thậm chí có thể thấy được lúc tỉnh táo. Ví dụ: nhìn thấy Phật Bồ Tát Bổn tôn, nhìn thấy thân mình bay trong hư không tự do tự tại, hoặc đích thân đến Phật quốc tịnh thổ, đây đều là các tướng của đại chứng nghiệm.” ”Còn có nhìn thấy tòa hoa sen, ăn quả trắng nhổ ra vật đen, hoặc nuốt nhật nguyệt tinh, nhìn thấy thân mình tỏa ánh sáng, dùng lược chải đầu thì có rất nhiều sâu rơi ra, đều là tướng của nghiệp tội được tiêu diệt.” ”Có người lúc trước đọc không hiểu kinh sách, giờ đây vừa nhìn đã hiểu, có thể nắm được hết mà không quên, mỗi câu có thể diễn giải đa nghĩa, trí huệ tăng trưởng, thông hiểu tất cả kinh luật luận. Vừa nghĩ đến Bổn tôn là Bổn tôn sẽ hợp nhất với chính mình, cái này đã đến gần với tướng của thành tựu rồi, cũng chính là Nhất vị du già.” ”Có người nhìn thấy các loại ánh sáng, có người nhìn thấy hoa sen đặc biệt, có người nhìn thấy khói, nhìn thấy lửa, nhìn thấy ánh sáng, hoặc nhìn thấy tượng Phật ô lọng cờ phướn lay động, hoặc nghe thấy thiên nhạc ở trên trời, hoặc răng rụng lại mọc lại, tóc bạc chuyển thành đen, đây đều là các hiện tượng tốt về tham sân si đã được tiêu diệt.”
Tôi nói, hành giả Mật giáo đã có hiện tượng tương ứng, đừng khởi lên tâm chọn lựa, đừng vui mừng như điên, hãy dùng tâm bình thường để đối diện với chúng. Vẫn tiếp tục nỗ lực dụng công, đừng kiêu căng ngạo mạn với người khác, nhưng, có thể cùng đồng môn sư trưởng cổ vũ lẫn nhau, không phải vì danh lợi mà tán thưởng thì có thể nói ra.
Khi pháp môn tam muội đắc tương ứng, phúc huệ tăng trưởng thì sẽ biết tất cả cảnh giới gặp được đều là như mộng như huyễn, pháp giới cũng là một tâm. Lúc này cần biết, như như bất động, thần thông nhậm vận, chứng vô thượng chính đẳng chính giác, chỉ cầu thành Phật mà thôi.
62. Chân Phật Mật Pháp cửu phẩm thành tựu
Hỏi: ”Tu trì Chân Phật Mật Pháp, sau khi tương ứng sẽ có thành tựu gì?” Tôi đáp: ”Đại khái có thể phân thành chín phẩm thành tựu.” Từ thành tựu ban đầu cho đến thành tựu cao nhất, tôi lần lượt nói rõ như sau: Phẩm thứ nhất: tâm tưởng sự thành. Phàm trong lòng nghĩ đến việc gì là Hộ pháp liền giúp bạn đi hoàn thành. Thần của thiên long bát bộ cung kính bạn, bạn có thể đuổi tà trói ma, có thể giúp người trị bệnh. Phẩm thứ hai: sai khiến quỷ thần. Có thể triệu thỉnh các thần trên trời giáng xuống, có thể đọc được kho tàng pháp trên trời dưới đất, có thể vào long cung, có thể vào cung điện của thần núi. Phẩm thứ ba: hiểu rõ số mệnh. Biết được số mệnh của mình hoặc người khác, thành tựu địa tiên, đi lại trong không trung, có thể đến thiên thượng giới đắc tiên đạo. Phẩm thứ tư: Trì Minh Tiên Vương. Ở trên trời đã có thân phận là thiên chúa, phúc đức trí huệ có được ba giới không thể sánh bằng, thần túc phi phàm. Phẩm thứ năm: Chuyển Luân Thánh Vương. Đã đắc năm thần thông, thọ mạng đã vô tận, sống ở thế giới hữu dư, tất cả tự do tự tại, tướng mạo hoàn hảo. Phẩm thứ sáu: quả vị Bồ Tát từ sơ địa trở lên. Phẩm thứ bảy: quả vị Bồ Tát từ ngũ địa trở lên. Phẩm thứ tám: quả vị Bồ Tát từ bát địa trở lên. Phẩm thứ chín: chứng vô thượng chính đẳng chính giác, là Thiên Nhân Sư, Phật. (Quả vị của mười địa Bồ Tát là: hoan hỷ địa, ly cấu địa, phát quang địa, diễm huệ địa, cực nan thắng địa, hiện tiền địa, viễn hành địa, bất động địa, thiện huệ địa, pháp vân địa.)
Tôi nói, tu trì tương ứng Chân Phật Mật Pháp, chín phẩm thành tựu này chỉ là tôi phân chia một cách đại khái, bởi vì quả vị của những cảnh giới này vốn dĩ là bất khả tư nghì. Có người đến phẩm thứ hai đã có thiên nhãn, cũng có người ở phẩm thứ bảy đã có Phật nhãn, những cái này không thể nói chính xác được, cho nên chỉ đưa ra cho mọi người tham khảo.
63. Một chú một pháp một Bổn tôn
Có đệ tử hỏi tôi: “Trì nhiều chú tốt hay là trì một chú tốt?” Tôi đáp: ”Bình đẳng, bình đẳng.” Đối với vấn đề này, có thể mở rộng ra là tu một pháp tốt hay là tu nhiều pháp tốt? Tương tự, tu một Bổn tôn tốt hay là tu nhiều Bổn tôn tốt?
Trước đây, sư phụ của tôi chỉ thị rằng, về phương diện này phải xem ý nguyện của hành giả Mật giáo, có một số hành giả thích nhiều chú nhiều pháp nhiều Bổn tôn, thời gian của hành giả cũng đủ, hành giả là người xuất gia chuyên môn bỏ công vào việc tu trì, thế thì có thể nhiều chú nhiều pháp nhiều Bổn tôn. Bởi vậy nói, chỉ cần bạn có đủ thời gian, bạn muốn tu ba pháp, năm pháp, mười pháp, thậm chí một trăm pháp, một trăm vị cũng được.
Nhưng vì người hiện đại tu Mật giáo, bản thân ở nhà ít thời gian, ở bên ngoài làm việc rất bận, không thể nào tu nhiều chú nhiều pháp nhiều Bổn tôn, như vậy chỉ có thể một chú một pháp một Bổn tôn. Phải biết rằng chỉ tu một chú một pháp một Bổn tôn, nhờ có sự chuyên nhất này mà được gọi là “môn nhanh đạt thành tựu”, tức là tương đối dễ tương ứng. Cho nên: Nhiều chú nhiều pháp nhiều Bổn tôn có lợi ở chỗ kết duyên rộng. Một chú một pháp một Bổn tôn là nhanh chóng tương ứng nhất.
Tôi thường nói với người ta rằng, chỉ cần bạn tương ứng một vị rồi thì muốn tương ứng với các vị khác cũng rất dễ. Đây chính là tương ứng một pháp thì sẽ tương ứng mọi pháp, tất cả công đức đều thành tựu. Cho nên hành giả nên bắt đầu từ một chú một pháp một Bổn tôn để thực tu mới phải, khi mới bắt đầu đừng tham nhiều.
Hành giả Chân Phật chúng ta phải nhớ rõ, chú Thượng sư, chú Bổn tôn, chú Hộ pháp, ba chú này phải trì đủ số lượng. Chỉ cần bạn tương ứng với pháp Thượng sư tương ứng rồi thì pháp Bổn tôn và pháp của Hộ pháp cũng sẽ nhanh chóng tương ứng. Bởi vì Bổn tôn và Hộ pháp đều vì bạn đã tương ứng với Thượng sư mà hoan hỷ giáng xuống.
64. Các cách trì chú
Có người hỏi: ”Nghe nói có nhiều cách trì chú, dùng cách nào là tốt nhất?” Tôi đáp: ”Trì chú có nhiều cách, cách nào tốt nhất thì cũng phải xem nhân duyên của người đó mà xác định, mỗi người có thói quen khác nhau, công đức đều có sự thiện xảo.” Tôi kể ra các cách trì chú như sau: 1. Trì cao giọng — cao giọng niệm tụng này có công đức là khiến người nghe được chú đều có thể diệt nghiệp tội. Trì cao giọng có thể lần tràng hạt, cũng có thể không lần tràng hạt. 2. Trì nhỏ giọng — chỉ là cho chính mình nghe, không chậm không nhanh, đọc từng chữ rõ ràng, cách trì này dễ định tâm. 3. Trì kim cang — răng môi không động, lưỡi không chạm vào vòm họng, chỉ hơi động trong miệng. Đây là cách niệm ở nơi đông người, như là khi đi ra ngoài du lịch, ngồi tàu xe, ngồi máy bay cũng có thể trì tụng. 4. Trì theo hơi thở — đây là trong hơi thở quán tưởng có chân ngôn chữ Phạn, thở ra thì chữ đi ra, hít vào thì chữ đi vào, từng chữ rõ ràng, như chuỗi minh châu, không được gián đoạn. Đây là cách người quán đếm hơi thở kiêm trì chú, công đức thù thắng, sự quán tưởng tuyệt diệu. 5. Trì du già — quán tưởng trong tâm của hành giả có nguyệt luân trong veo thanh tịnh, trung tâm nguyệt luân là chủng tử chữ Phạn, xung quanh nguyệt luân là chú tự tiếng Phạn xoay tròn về bên phải, quán chú tự xoay tròn đến hết lại lặp lại từ đầu, đây gọi là trì du già. Trì du già nếu nhập tam muội, Bổn tôn sẽ hợp nhất với chính mình, công đức vô lượng.
Trì chú cũng có thể dùng chú ngữ gia trì cho chuỗi hạt bảy biến, như vậy niệm một biến tương đương với một nghìn biến, đây chính là pháp thiên chuyển luân mà trước đây tôi từng truyền thụ, cách niệm này có công đức nhanh chóng.
65. Mật chú là thuyền pháp
Rất nhiều người trì tụng mật chú đều rất muốn biết hàm nghĩa của mật chú, vì thế cứ liên tục hỏi tôi ý nghĩa của câu chú này là gì. Tôi nói với đệ tử: ”Vì hàm nghĩa của mật chú rộng lớn, dịch ra sẽ không đúng, cho nên không dịch.” Ngoài ra, “Niết Bàn Sớ” viết: “Chân ngôn là bí mật ngữ tuôn chảy từ tâm Phật, người dịch không hiểu được, cho nên không dịch.” ”Hiền Thủ Bát Nhã Sớ” viết: “Chú là pháp bí mật của chư Phật, không thể giải thích, nhưng nên trì tụng, không cần phải cố giải thích.” Trong “Thủ Lăng Nghiêm Kinh” viết: “Pháp bí mật mật chú của chư Phật duy có Phật và Phật với nhau có thể hiểu được, không phải là điều mà bậc Thánh có thể thông đạt, nhưng trì tụng thì có thể diệt đại họa, nhanh chóng lên được thánh vị.”
Tôi đơn giản lấy một ví dụ: Giả sử chúng ta sinh bệnh, đi tìm bác sĩ. Bác sĩ cho chúng ta thuốc tốt, nhưng bác sĩ lại không nói với chúng ta thành phần hóa học của loại thuốc tốt này là bao nhiêu protein, bao nhiêu canxi, bao nhiêu sắt, bao nhiêu amino axit, v.v… bác sĩ chỉ đưa thuốc cho chúng ta. Chúng ta chỉ cần uống thuốc thì tự nhiên sẽ khỏi bệnh khỏe thân.
Lại nói, mật chú của Mật giáo ngày nay, tất cả chúng sinh và Bồ Tát nhân vị mặc dù không hiểu được, nhưng chỉ cần trì tụng là sẽ lên được thuyền pháp, thân tâm trở thành Tỳ Lô pháp thân, đi trên Phổ Hiền đại hải, tự nhiên được lìa sinh tử, thành tựu mười thân vô ngại Phật quả.
Tôi nói, chú là không sinh không diệt, là vô tướng vô bất tướng, là không chọn lựa, là nghĩa tối thắng của mọi pháp, là nghĩa vô nhân tịch tĩnh vô trụ niết bàn của mọi pháp, không thể dùng ngôn ngữ hay văn tự, cho nên nói rằng không thể dịch.
“Bát Nhã Kinh” nói: ”Tổng trì như thần dược Lại như cam lộ trời Chữa các bệnh nghi hoặc Người uống thường an vui.”
66. Om bhrum
Có người hỏi tôi: ”Om bhrum là chú gì?” Tôi đáp: ”Chú này là tâm chú một chữ trong “Văn Thù Nghi Quỹ Kinh”, còn gọi là Đại Luân nhất tự chú, nó được phát âm là bu-lin.” [Lưu ý: trong Chân Phật Tông có thể dùng cách đọc “brôm” hoặc “bu-lin” hoặc “brừm” đều được.] Lại hỏi: ”Vì sao sau khi tu Chân Phật Mật Pháp xong đều niệm chú này?” Tôi đáp: ”Căn cứ theo kinh nói, nếu tụng tất cả chân ngôn, tu Mật pháp mà sợ rằng không thành tựu, thì dùng chú này tụng khi kết thúc, nhất định sẽ thành tựu. Nếu không thành tựu và không hiện hiệu nghiệm thì thần của chú này ngay lập tức sẽ vỡ đầu thành bảy phần, phải biết chú này có thể trợ giúp tất cả chân ngôn mau chóng đắc thành tựu.” Hỏi: ”Om bhrum công đức thế nào?” Đáp: ”Ngoài có thể giúp tất cả chân ngôn mau chóng thành tựu ra, nếu tụng chú này, bốn phương trong vòng năm trăm trạm, tất cả quỷ thần ác đều chạy trốn, các tinh diệu xấu và các thiên ma không dám đến gần. Chú này giống như ngọc như ý, có thể thỏa mãn tất cả nguyện vọng, có thể hàng phục ác ma, có thể phá tất cả ác chú của thế gian, có thể bố thí sự không sợ hãi cho tất cả chúng sinh, có thể cho tất cả chúng sinh niềm vui.” Hỏi: ”Vì sao “Om bhrum” có công đức lớn như vậy?” Đáp: ”Câu chú “Om bhrum” này là tâm của Văn Thù Bồ Tát, là đỉnh cao nhất của tất cả chư Phật.”
Liên quan đến Đại Luân nhất tự chú, thật ra chỉ có âm “bhrum”, còn “om” có ý nghĩa là cung kính quy về, “bhrum” mới là chú chính. Câu chú này tôi được Phổ Phương Kim cương Thượng sư truyền dạy, cho nên đặt làm chú sau cùng trong Chân Phật Mật Pháp, chủ yếu vẫn là để trợ giúp cho tất cả chân ngôn nhanh chóng thành tựu có hiệu ứng. Tại đây, chúng ta phải cảm ơn Phổ Phương Kim cương Thượng sư đã truyền dạy.
Còn nữa, cũng có người hỏi tôi, vì sao sau khi niệm ba biến “Om bhrum” rồi lại niệm “Om mani padme hum”? Tôi nói, đây là đại minh lục tự chân ngôn, người người đều biết. Muốn hiểu về đại minh lục tự chú có thể tự tham khảo “Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh” là sẽ hiểu. Sau cùng tụng chú này là có vô lượng tam muội pháp môn, mau chóng đắc quả vị Bồ Tát.
Tôi có thể nói thế này, cả vùng Tây Tạng đều đang niệm “Om mani padme hum”!
67. Bổn tôn thật giả
Người tu trì Thiền tông thường cho rằng khi tham thiền, nếu thấy Phật đến, hoặc tổ sư đến, thì phải nghĩ rằng đây là yêu ma, hoặc xem như mộng huyễn, đều nên phá bỏ mới là đúng. Vì thế mới có cách nói “Phật đến giết Phật, ma đến giết ma”.
Thiền tông cho rằng kết đàn, thủ ấn, tụng chú của Mật giáo chẳng phải là hữu tướng hay sao, và Thiền tông tự xem mình là pháp môn vô tướng, hễ thấy người trì chú là phỉ báng, nói là phi tu hành.
Thế nhưng tôi lại nói thế này, trong pháp giới vô tận vốn dĩ có vô tận pháp môn, pháp môn vô tướng chỉ là một trong số vô tận pháp môn mà thôi. Thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật là một trong các pháp môn, lầu gác Di Lặc chính là pháp môn của tương lai. Trong Mật giáo mà nói, không có một Phật nào không nhờ thần chú mà đắc thành đạo độ chúng sinh, đây cũng là thác sự hiển pháp môn trong thập huyền môn [môn mượn việc để bày pháp, một trong mười huyền môn do Hoa Nghiêm tông lập ra]. Vì thế, trong Mật giáo mà nói, trong thiền định, trong mơ, trong lúc tỉnh, nhìn thấy Bổn tôn đến phóng quang, sờ đầu, ban báu vật, tặng thuốc pháp… nếu gặp phải những việc như thế này thì là tướng của phúc huệ tăng trưởng, đừng sinh tâm nghi hoặc, đây là cát tường như ý. Chúng ta chỉ dạy mọi người đừng chấp vào tướng thấy, đừng sinh ý nghĩ chọn lựa, nên coi những cảnh giới mà chúng ta gặp phải là khích lệ hành giả, tránh vì chấp trước mà nhập ma cảnh.
Hành giả Mật giáo nhìn thấy Bổn tôn, hoặc có thể cho rằng ma cũng có thể huyễn hóa thành Bổn tôn mà đến, lúc này nên làm thế nào? Tôi dạy mọi người, khi Bổn tôn xuất hiện, hành giả không biết là thật hay giả, có thể niệm ba biến tâm chú Căn bản Thượng sư “Om guru liansheng siddhi hum” để xem đó là thật hay giả. Nếu là ma hóa thành Bổn tôn thì nó sẽ lập tức ẩn đi. Nếu là Bổn tôn thật thì sẽ hiển hiện càng rõ ràng. Còn có một cách nữa là hành giả loại bỏ ngã chấp của tự thân, Bổn tôn do ma hóa ra cũng sẽ ẩn đi.
68. Thủ ấn trong hư không
Thủ ấn là ấn khế do ngón tay kết thành, thủ ấn tượng trưng tâm, Phật và thể tính của tất cả chúng sinh bình đẳng, không có sự khác biệt.
Ấn khế bí mật mà Mật giáo truyền dạy là có ý nghĩa bí mật ảo diệu của nó, mười ngón tay chính là mười pháp giới và còn tượng trưng cho đất, nước, lửa, gió, không. Lại có một thuyết là: Ngón cái — Pháp giới thể tính trí. Ngón trỏ — Đại viên kính trí. Ngón giữa — Bình đẳng tính trí. Ngón áp út — Diệu quan sát trí. Ngón út — Thành sở tác trí. Tay phải kết ấn là phúc, tay trái kết ấn là trí, v.v…
Thủ ấn đầu tiên mà tôi kết là do linh sư Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh truyền thụ, khi ấy là tôi tĩnh tọa, hai tay chắp lại, từ từ các ngón tay tự động gập duỗi xoay tròn, các thức thủ ấn lần lượt được kết ra. Vì vậy, thủ ấn của Chân Phật Tông có rất nhiều là thủ ấn được truyền dạy từ hư không, chân thực không giả, tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) tuyệt đối không khoác lác, thủ ấn của tôi đích thực là do hư không trực tiếp truyền thụ. Tôi học thủ ấn thật sự là linh diệu bất khả tư nghì, thủ ấn biến hóa khôn lường không một chút trở ngại, thần kỳ dị thường.
Khi ấy, Tam Sơn Cửu Hầu Tiên Sinh nói với tôi: “Thủ ấn thông với tâm, cũng tức là thân giống như ý, thân tâm hợp nhất, biến hóa vô cùng.” Thủ ấn có thể thông tâm, tất cả sẽ không còn chướng ngại.
Khi tôi học được ấn tâm trong tâm, trong sát-na đã hiểu, thì ra kết thủ ấn sau đó lại tiếp xúc thì sẽ trực tiếp xúc động tâm của Bổn tôn, lúc này tâm của hành giả và tâm của Bổn tôn vốn là tương thông.
Tôi nói thế này, tay kết ấn khế, kim cương trang nghiêm, vô lượng trăm nghìn vạn ánh sáng lần lượt phổ chiếu!
69. Cốt lõi của tu pháp Mật giáo
Tu pháp Mật giáo có Tiền hành, Chính hành, Hậu hành. Sau đây là cốt lõi của Chính hành: Hành giả ngồi trước Bổn tôn của đàn thành, kết thủ ấn của Bổn tôn, quán tưởng Bổn tôn ở phía trước và phía trên hành giả. Bổn tôn phóng đại quang minh chiếu rọi mười pháp giới tất cả chúng sinh, sau khi mười pháp giới tất cả chúng sinh được ánh sáng bồ đề tâm của Bổn tôn chiếu đến, tất cả nghiệp tội từ vô thủy đến nay, tất cả nghiệp chướng, tất cả ma nạn, tất cả bệnh nạn, tất cả tai nạn đều tiêu trừ, đều tiêu diệt, mười pháp giới tất cả chúng sinh đều phát bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo, hành Phật đạo.
Sau đó quán tưởng mười pháp giới tất cả chúng sinh đều chuyển thành Bổn tôn, phóng đại quang minh, hợp nhất trước mặt hành giả. Bổn tôn sau khi hợp nhất lại phóng quang chiếu đến hành giả, dùng ánh sáng quán đảnh cho hành giả, khiến cho tất cả nghiệp tội từ vô thủy đến nay, tất cả chướng ngại, tất cả ma nạn, tất cả bệnh nạn, tất cả tai nạn đều hóa thành khí đen, từ lỗ chân lông thoát ra và tiêu tan. Hành giả phát bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo, hành Phật đạo.
Tiếp theo quán tưởng Bổn tôn từ đỉnh đầu đi vào trung mạch của hành giả, ngồi trên hoa sen ở tim hành giả, Bổn tôn phóng quang và biến to ra hoàn toàn bằng với hành giả, trong sát-na, hành giả chính là Bổn tôn, Bổn tôn chính là hành giả, không hai không khác. Thu hồi thủ ấn chạm vào đỉnh đầu và giải ấn. Trì chú Bổn tôn 108 biến trở lên, hoặc 1080 biến, càng nhiều càng tốt. Trì chú xong, kết tam muội da định ấn, quán tưởng chính mình tiến vào chữ Om, chữ Om tiến vào nguyệt luân, nguyệt luân thu nhỏ lại thành một điểm ánh sáng, điểm sáng này đi thẳng vào hư không, hòa tan vào hư không, ngoài hư không ra thì không có thân tâm nữa. Ta chính là hư không, hư không chính là ta, Như Lai Như Lai, thường tịch vô trụ.
Tôi dạy đệ tử Chân Phật quán tu như vậy, mỗi ngày một lần tu, hoặc mỗi ngày ba lần tu, đây là cốt lõi của phần Chính hành quan trọng nhất của tu pháp Mật giáo. Chính hành bao gồm quán tưởng, trì chú, nhập tam ma địa.
70. Thủ ấn Liên Hoa Đồng Tử và cách lắc chuông chày
Nguồn gốc thủ ấn Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử của Chân Phật Tông là khi Liên Sinh Hoạt Phật nhập vào tam ma địa của Bổn tôn đã tự động kết ra thủ ấn này, tay phải là ấn thuyết pháp, tay trái là ấn cầm hoa sen, biểu trưng là: Ấn thuyết pháp — biểu thị khéo thuyết tất cả pháp. Ấn cầm hoa — biểu thị sáu căn thanh tịnh, thân khẩu ý thanh tịnh, lìa cấu bẩn giống như hoa sen.
Có người hỏi: ”Liên Hoa Đồng Tử chính là Liên Hoa Đồng Tử, sao lại là chuyển hóa của A Di Đà Phật?” Tôi giải thích như sau: Lấy Quan Thế Âm Bồ Tát để nói, vị Bồ Tát này có rất nhiều hóa thân, ví dụ Lục Quan Âm là có sáu vị, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm, Thánh Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm. Quan Thế Âm Bồ Tát còn có ba mươi hai ứng thân, sự chuyển hóa của ngài là vô tận, là bất khả tư nghì.
Còn Liên Hoa Đồng Tử thật sự mà nói là do Đại Nhật Như Lai sinh ra, trụ nơi Phật Nhãn Phật Mẫu, A Di Đà Phật ứng hóa, có thể xem là ba thân của Đại Nhật Như Lai, Phật Nhãn Phật Mẫu, A Di Đà Phật hợp nhất chuyển hóa, như vậy thì càng thù thắng hơn.
Lại có người hỏi: ”Cách lắc chuông chày của Chân Phật Tông đều không giống với Tạng mật và Đông mật, là vì sao?” Tôi trả lời: Đây cũng là khi Liên Sinh Hoạt Phật nhập vào tam ma địa của Bổn tôn, tiến vào tâm của Kim Cang Tát Đỏa, khi tay cầm chuông kim cang, chày kim cang thì biến hóa thành Kim Cang Thủ Bồ Tát, thế là Bồ Tát lắc chuông chày để mà truyền dạy. Pháp lắc chuông chày này là có được từ truyền thừa hư không, không phải truyền thừa nhân gian, cho nên cách lắc không giống những chỗ khác.
Chân Phật Mật Pháp và các tông phái Mật giáo có cái gọi là cộng pháp và bất cộng pháp, còn Liên Hoa Đồng Tử siddhi (tịnh thổ), Liên Hoa Đồng Tử Bổn tôn, thủ ấn, chân ngôn và cách lắc chuông chày kim cang, có thể nói chỉ Chân Phật Tông mới có, cho nên đây là bất cộng pháp. Bổn tôn Liên Hoa Đồng Tử vì là bất cộng pháp, cho nên thật sự hiếm có.
71. Mật chú là kho tàng pháp vô tận của chư Phật
Phật Đà thuyết pháp có Hiển có Mật. Hiển thì nói rộng về Phật lý tính tướng, hiểu và ngộ về lý của không-hữu, tu chứng Pháp thân, đạt đến bỉ ngạn. Mật thì chỉ trì tụng Mật chú, không thêm vào những hiểu biết, nhưng cũng âm thầm chứng Thánh vị.
Khi tôi mới học mật chú, Liễu Minh Hòa Thượng nói với tôi hai điều bất tư nghì và khó tưởng tượng: Thứ nhất, hành giả học Mật tu trì pháp cúng gạo, cúng gạo là đặt gạo vào trong lòng bàn tay, tụng xong chú cúng dường thì đem gạo biến thực, vẩy đi. Nếu chim ăn được gạo cúng này, vì là gạo đã được gia trì bằng mật chú, đời tương lai chắc chắn sẽ thành Phật. Thứ hai, nếu có người đi dưới tấm biển gỗ của chùa, mà trên tấm biển gỗ có khắc chú lục tự đại minh, v.v… gió thổi qua tấm biển, bụi trên tấm biển gỗ rơi xuống, đúng lúc rơi trúng lên người đi đường, thì nghiệp chướng của người đi đường này toàn bộ tiêu trừ, hạt giống bồ đề gieo vào trong tâm, đời tương lai của họ chắc chắn thành Phật.
Sau khi nghe xong hai điều này, tôi có ấn tượng sâu sắc, mãi khắc ghi trong lòng. Mật chú giống như là thể của pháp giới bí mật, có tác dụng của tam mật bất khả tư nghì, là tối thượng thừa trong tất cả các pháp, chú ngữ là pháp giới vô tướng, chư Phật từ đây mà sinh ra, là pháp tạng vô tận.
Tôi đọc chú tạng thì phát hiện ra: Phật vì thương xót chúng sinh vị lai mà nói tất cả mật chú, nếu có tứ chúng thọ trì mật chú, mười vạn, trăm vạn, vô lượng kiếp sau, các tội ngũ vô gián đều diệt hết. Nếu có người trì tụng mật chú, tất cả Bồ Tát sẽ xem người đó là bạn thân, nơi họ sinh sống đều có thể gặp được chư Phật, mau chóng đắc thành tựu vô thượng bồ đề. Nếu có chúng sinh phước mỏng, người không có hoặc ít thiện căn, người không có căn khí, người không có bồ đề phần, người này trì tụng Phật chú một biến thì sẽ sinh ra mầm căn khí bồ đề, huống hồ tụng trì thường không lười biếng, vì thiện căn này mà nhất định thành Phật. Trì tụng mật chú, trong chú tạng có nói, lục độ vạn hành, tự nhiên đầy đủ.
72. Mật chú là kho tàng của thiền định
Trong bản văn ngắn này, tôi đặc biệt khai thị pháp Mật chú bố quang nhập Tam ma địa, pháp này cực kì ít truyền công khai, vì thế nó cực kì quý giá.
Tay hành giả kết ấn Bổn tôn, sau đó lập tức quán tưởng Bổn tôn của chính mình đi vào trong thân mình, trong sát-na biến thành Bổn tôn, ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, thân ánh sáng viên mãn. Quán tưởng chính mình dùng ấn khế của Bổn tôn chạm vào đỉnh đầu bố ra chữ Om, chạm vào họng bố ra chữ Ah, chạm vào tim bố ra chữ Hum, chạm vào rốn bố ra chữ So, chạm vào Mật luân bố ra chữ Ha. (chữ Phạn) Chữ Om an Đỉnh luân, màu trắng, phóng vô lượng ánh sáng, trừ hết tất cả nghiệp chướng. Chữ Ah an Hầu luân, màu đỏ, chiếu đến mọi ngu dốt tối tăm, phát ra trí huệ Như Lai. Chữ Hum an Tâm luân, màu lam, tất cả thanh tịnh như lưu ly, nhanh chóng đến bỉ ngạn. Chữ So an Tề luân, màu vàng, ngồi trên tòa hoa sen, cấp tốc chuyển pháp luân. Chữ Ha an Mật luân, màu lục, cát tường và viên mãn, mau đắc tướng tịch diệt. Bố tự [bố trí chữ] như vậy, lại nghĩ đến ánh sáng màu sắc, sẽ dễ trở thành tướng chân thực của Bổn tôn. Làm như vậy có thể diệt được các tội và được cát tường, có thể đắc đại trí huệ và thanh tịnh, rất nhanh chóng nhập Tam ma địa, đạt được thành tựu của Bổn tôn, vì mỗi một chữ trong mật chú đều bất khả tư nghì.
Mật chú này vốn là “vì cái gốc không sinh”, thế nên đắc không sinh không diệt; từ không sinh không diệt mà đắc vô sở đắc, sau đó thì vô sinh diệt; từ vô sinh diệt mà vô cấu; từ vô cấu mà đắc vô đẳng giác; từ vô giác mà đắc vô thủ xả [không chọn lựa]; từ vô thủ xả mà đắc bình đẳng; từ bình đẳng mà đắc vượt lên nhân quả. Thế rồi nhập thắng nghĩa đế, chứng minh pháp giới chân như, đây chính là đã nhập Tam ma địa.
Tôi nói, xin hãy chú ý đoạn văn trên, đoạn văn này là thứ tự của nhập Tam ma địa, bắt đầu từ “cái gốc không sinh” liên tục cho đến khi chứng pháp giới chân như. Đại Bi Tâm Kinh viết: “Đà-la-ni là kho tàng của thiền định, trăm nghìn tam muội sẽ thường hiện tiền.”
73. Phát bồ đề tâm lớn nhất
Ngay khi mới chứng ngộ, tôi đã phát nguyện “không bỏ rơi một chúng sinh nào”, còn muốn “phân thân xả cốt độ chúng sinh”, khi vừa phát bồ đề tâm như vậy thì trên trời dưới đất chấn động lớn.
Tôi biết, ngày xưa Phật Đà độ chúng sinh là không độ người nữ xuất gia, cũng không được mang theo vợ con. Phật đặt ra giới luật không sát sinh, không tà dâm, không uống rượu. Phật Đà cảnh cáo đệ tử: “Người sống mà háo sắc không thể thành Phật, họ không được có vợ. Người sống mà thích giết không thể thành Phật, không thể ăn thịt chúng sinh hữu tình. Người sống mà loạn tính không thể thành Phật, cho nên không được uống rượu.”
Nói như vậy thì giới luật Phật giáo là rất nghiêm khắc, đối với đông đảo chúng sinh, người nào làm được thì độ, người nào không làm được thì bỏ.
Thế nhưng tôi lại phát lời nguyện “không bỏ rơi một chúng sinh nào”, nguyện vọng này là phải không lựa chọn ô nhiễm hay thanh tịnh, bất kể là tại gia hay xuất gia, bất kể là có hay không có vợ, bất kể là nam hay nữ, bất kể là sát sinh hay không sát sinh, bất kể là ăn chay hay ăn mặn, v.v… Bởi vì con người thời nay là hàng dung tục, lấy vợ đẻ con, uống rượu ăn thịt, căn bản là chuyện bình thường. Tập tính kiểu này rất khó lập tức sửa đổi. Nếu bạn không đi độ họ thì đến ngày nào họ mới có thể tu Phật pháp? Đến ngày nào mới có thể được thoát khỏi sinh tử? Huống hồ con người kiểu như thế này chiếm số đông nhất ở trần thế.
Vì thế, tôi nói: Cho phép bạn có vợ, nhưng đừng dính vào tà dâm. Cho phép bạn ăn có thể ăn thịt, nhưng phải trì chú vãng sinh, tu pháp siêu độ. Cho phép bạn có thể uống rượu, nhưng chỉ uống ít đừng say, không được loạn tâm tính. Tôi nói, cho phép đệ tử đi cầu công danh chức vị, đi cầu phúc lộc giàu sang, đi cầu gia đình quyến thuộc viên mãn, đi cầu vàng bạc tài bảo xe hơi nhà lầu, đi cầu khỏe mạnh sống lâu, đi cầu hạnh phúc nhân gian mỹ mãn… Đây là vì “không bỏ rơi một chúng sinh nào”, vì thỏa mãn tâm tư của chúng sinh mà đưa ra lời nguyện này, tôi độ chúng sinh rất bao dung rộng lượng, không từ chối một chúng sinh nào. Chỉ mong chúng sinh hiểu mà tu pháp trì chú, ngày ngày gia tăng, sớm thành Phật đạo!
74. Pháp hộ thân và pháp kết giới
Hành giả Mật giáo tu tập các pháp Mật giáo, pháp hộ thân và pháp kết giới đều cực kì quan trọng, nếu không có kết giới đàn thành và tự mình làm pháp hộ thân thì rất dễ trở thành món điểm tâm cho thiên ma ăn.
Hành giả mỗi lần tu pháp, trong Chân Phật Tông có pháp mặc giáp hộ thân, tức là tay kết ấn kim cang, niệm Kim Cang Thủ Bồ Tát chân ngôn, dùng ấn chạm vào năm chỗ là trán, họng, tim, vai phải, vai trái, thế là thành mặc giáp hộ thân.
Hành giả thường ngày lấy sợi dây do đồng nam đồng nữ tết (hoặc sợi dây được thanh tịnh qua lửa), niệm tụng một biến Kim cang chú thì thắt một nút, làm như vậy cho đến khi đủ 21 nút thắt, sau đó đeo lên cổ mình, hoặc đeo lên tay, có thể tránh được tất cả ác quỷ tà ma, đây cũng là pháp hộ thân.
Phàm là tất cả sợi dây hộ thân, hoặc thẻ bài hộ thân, đều có tác dụng hộ thân, tốt nhất là cứ nửa tháng lại niệm tụng chân ngôn 21 biến, sau đó thỉnh cầu Kim cang Hộ pháp gia trì cho dây hoặc thẻ, làm pháp như vậy thì đều đạt được hiệu nghiệm.
Hành giả làm pháp kết giới đàn thành, có thể dùng một chén nước sạch hoặc nước thơm cúng tại đàn thành, niệm tụng chân ngôn Kim cang Hộ pháp, 108 biến hoặc 1080 biến, quán tưởng Kim cang Hộ pháp phóng quang gia trì cho nước sạch hoặc nước thơm, lấy nước thơm vẩy ra tám phương và trên dưới đàn thành để kết giới, làm như vậy thì bên trong phạm vi được vẩy nước, tất cả ác quỷ và tà ma không dám tiến vào.
Pháp kết giới này có thể dùng với đàn thành, hoặc dùng để kết giới nhà ở, thậm chí cũng có thể kết giới đất đai, chỉ có điều là mỗi nửa tháng phải làm pháp một lần thì mới có hiệu nghiệm.
Pháp kết giới này cũng có người ứng dụng với người bị bệnh, dùng nước thơm vẩy lên thân người, niệm tụng chân ngôn Kim cang Hộ pháp, bệnh nhân kêu lên một tiếng, các bệnh do bị ma nhập hoặc quỷ quấy nhiễu sẽ tự được giải thoát. Nếu chọn làm pháp vào ngày trực Trừ thì càng có hiệu nghiệm lớn.
75. Pháp gặp tất cả quỷ thần
Có người hỏi tôi: ”Liên Sinh Hoạt Phật có thể gặp tất cả quỷ thần, vì sao ngài được thấy còn chúng tôi lại không được thấy?” Tôi cười đáp: ”Diêu Trì Kim Mẫu đã mở thiên nhãn cho tôi khi tôi 26 tuổi cho nên tôi mới nhìn thấy. Việc nhìn thấy tất cả quỷ thần này cũng phải có căn khí mới được thấy, bằng không nếu hành giả nỗ lực tinh tấn thì tự nhiên đến lúc cũng sẽ được thấy.” ”Thiên nhãn tu thế nào?” Tôi đáp: ”Tâm luân mở ra, từ nhu tâm mà ánh sáng phát lộ, chính là lúc thiên nhãn mở ra, lập tức có thể nhìn thấy vô lượng Phật, vô lượng Bồ Tát, đều là thân hữu thù thắng. Có thể đến các tịnh thổ của Phật, đi nghe khai thị của chư Phật, đích thân nghe được diệu pháp.” Tôi lại nói: ”Mật giáo tu khí, mạch, minh điểm, đầu tiên thông Trung mạch, sau đó mở năm luân xa, đây là cách tu trì thiên nhãn chính quy nhất.” ”Có Mật pháp nào khác có thể nhìn thấy tất cả quỷ thần không?” Tôi đáp: ”Có Mật pháp khác có thể nhìn thấy tất cả quỷ thần, lấy ngưu hoàng, niệm tụng chú Chuẩn Đề Phật Mẫu, niệm đến khi hành giả nhìn thấy ngưu hoàng hóa thành khói hoặc hóa thành lửa thì lập tức lấy ngưu hoàng bôi lên mắt và uống ngưu hoàng, lập tức nhìn thấy quỷ thần chúng.” Tôi lại nói: ”Theo như tôi biết, nếu hành giả nhiễu quanh cây bồ đề theo chiều bên phải, trì niệm tâm chú của Phật Thích Ca Mâu Ni đủ một triệu biến, cầu nguyện Phật Thích Ca Mâu Ni gia trì thiên nhãn thì lập tức nhìn thấy Phật Bồ Tát La Hán xuất hiện để thuyết pháp cho người đó.”
Trước kia tôi từng dạy người ta nhìn tổ tiên của chính mình, phương pháp này là như sau. Lấy vài giọt nước mắt mà người chết chảy ra cho vào trong nước hoa, cúng tại đàn thành, niệm tụng Mật chú, niệm cho đến khi nước hoa phát ra ánh sáng thì lấy nước hoa này bôi lên mí mắt thì lập tức nhìn thấy tổ tiên của chính mình và tất cả quỷ thần chúng.
Khi nhìn thấy tất cả quỷ thần thì đừng kinh đừng sợ, chỉ xem như là điều tự nhiên, đừng chấp đừng mê, hành giả có thể từ trong việc nhìn thấy tất cả quỷ thần này mà hiểu được tất cả đạo lý thiện ác lành dữ, tất cả mọi việc khó khăn đều có thể tiên tri biết trước được.
Pháp nhìn thấy tất cả quỷ thần này chỉ cần bền lòng thì thật ra không hề khó!
76. Tướng sám của pháp sám hối
Từng có nhiều người hỏi tôi: ”Tu pháp sám hối làm sao biết được tội đã diệt?” Tôi đáp: ”Tướng sám.” Quá khứ tôi từng nói với đệ tử, tu pháp sám hối, nếu nhìn thấy Bổn tôn đến sờ đầu, biểu thị Phật Bồ Tát đã tha thứ cho lỗi lầm của bạn, đã có được tướng sám. Cũng có rất nhiều đệ tử sau khi tu pháp sám hối thì mơ thấy mình chải đầu, từ trên đầu rơi ra rất nhiều rất nhiều sâu nhỏ, đây chính là đã có được tướng sám. Còn có đệ tử mơ thấy chính mình bay lên hư không, tắm gội giữa trời đất thanh tịnh, rửa sạch những cáu bẩn của chính mình, đây cũng là tướng sám. Tướng sám còn có ăn đồ màu trắng nôn ra đồ màu đen, từ các lỗ chân lông trên người bò ra sâu màu đen, Bổn tôn khai thị cho bạn, nuốt mặt trời hoặc mặt trăng, đuổi trâu đen hoặc ngựa ác đi, tự thân ngồi trên tòa sư tử, tiến vào trong cung điện của Phật Bồ Tát, thấy thân thể mình phóng ánh sáng trắng, tự thân có mùi thơm, bước lên núi màu trắng, ngồi trên thuyền pháp đi qua biển lớn, v.v…
Nếu tụng Bách tự minh chú mười nghìn biến mà không thấy tướng sám, tụng hai mươi nghìn biến cũng không thấy thì nên tụng đủ bảy trăm nghìn biến, cần biết rằng người này kiếp trước đã tạo nên tội vô gián, khi tụng đủ bảy trăm nghìn biến thì có thể thấy tướng sám.
Trong Phật pháp có rất nhiều pháp sám hối, Hiển giáo Mật giáo đều có, Hiển giáo có Lương Hoàng Bảo Sám, Thủy Sám, Đại Bi Sám, Pháp Hoa Sám, v.v… Pháp sám chủ yếu nhất của Mật giáo là pháp Kim Cang Tâm bách tự minh, tụng chú 100 âm cũng chính là chuyển hóa tất cả nghiệp tội thành không cảnh, tất cả quy về hư không.
Từng có một người ngày xưa phỉ báng Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, về sau đã hiểu ra, quy y Chân Phật Tông, khi tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát thì nhìn thấy trong miệng mình nôn ra một vật, hóa ra là một con rắn màu đen. Sau khi nôn ra rắn đen thì người này tu pháp tương ứng thần tốc, hiện nay đạo tâm kiên cố, cảnh giới phi phàm.
Con người chỉ cần thật sự sám hối, Phật Bồ Tát từ bi đều sẽ xuất hiện tướng sám.
77. Pháp biết chuyện tương lai
Có người hỏi Sư Tôn: ”Có biết chuyện tương lai không?” Tôi đáp: ”Biết.” ”Nếu biết có tai nạn thì có thể tránh được không?” Tôi đáp: ”Tận lực tìm cách thoát, nhưng thoát được hay không thì cũng là số mệnh.” ”Biết trước việc tương lai, trong Mật giáo có phương pháp này không?” Tôi đáp: ”Rất nhiều!”
Tôi dạy mọi người lấy một tấm gương sáng treo ở trong đàn thành, thanh tịnh qua lửa. Hành giả mua hoa thơm, trước tiên niệm tụng chú Bổn tôn 108 biến để gia trì cho hoa thơm. Sau đó lấy hoa thơm, lại tụng một biến chú, ném hoa vào mặt gương, lặp lại như vậy 21 lần, 49 lần. Hành giả ngồi thẳng nhìn chăm chú vào gương, trong gương sẽ có văn tự xuất hiện nói cho bạn việc tương lai bạn muốn biết.
Tương tự, lấy một bát sạch đổ đầy nước sạch, đầu tiên niệm chân ngôn 108 biến, gia trì cho hoa thơm. Sau đó niệm một biến chân ngôn, lấy một cánh hoa ném vào nước trong bát, 21 lần, 49 lần, sau đó chú ý nhìn nước trong bát, có thể hiện lên văn tự nói cho bạn việc tương lai bạn muốn biết.
Tương tự, lấy quả cầu thủy tinh thuần tịnh, hơ qua lửa và đặt tại đàn thành. Hành giả niệm Mật chú 108 biến, gia trì cho hoa thơm. Sau đó niệm một biến chú lấy một cánh hoa ném vào quả cầu thủy tinh, làm 21 lần hoặc 49 lần, nhìn chăm chú vào quả cầu thủy tinh, có thể hiện lên văn tự hoặc cảnh tượng nói cho bạn việc tương lai muốn biết.
Còn tôi thì không cần như vậy, khi tôi nằm trên giường cầu nguyện Bổn tôn, khi sắp ngủ nhắm mắt lại, trước mắt hiện lên một điểm sáng màu trắng, sau đó sẽ biến thành một mặt sáng, việc tương lai đều hiện lên trên mặt sáng này, giống như xem phim vậy.
Nhưng hiện tại tôi nghĩ thế này, biết việc tương lai thật sự là không có ý nghĩa, chi bằng việc gì cũng không biết, bởi vì biết trước thì cũng lại kinh sợ!
Chăm chỉ tu Mật pháp, tâm không ưu phiền, tất cả tùy duyên đi, chấm dứt sinh tử là quan trọng!
78. Mật pháp trị bệnh
Khi tôi 26 tuổi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, Thanh Chân Đạo Trưởng truyền thụ phù chữ Thượng, phù chữ Quỷ, nhiều thầy truyền đại Mật pháp, thanh danh lẫy lừng.
Khi ở Đài Loan, tôi chuyển nhà nhiều lần, chủ yếu là để “trốn”, bởi vì sau khi tôi tương ứng Mật pháp, biết chuyện tương lai, trị tất cả những bệnh nan y đều có linh nghiệm thần kỳ. Người người truyền tụng không ngớt, mỗi ngày có đến cả trăm cả nghìn người tìm đến, cho nên không thể không chuyển nhà.
Tôi từng hùng hồn nói, những người bị bệnh tâm thần được tôi dùng chân ngôn Mật giáo và thuật phù để chữa khỏi có thể dùng tàu hỏa để chở. Có bác sĩ khoa thần kinh thậm chí còn nói với người nhà bệnh nhân là đi tìm Lư Thắng Ngạn Sư Tôn. Khoảng thời gian đó, xe ô tô xếp hàng dài trước cửa nhà tôi đến cả cây số, không chỉ chính tôi không chịu nổi mà cả hàng xóm cũng không thể chịu nổi. Sau đó, tôi di cư đến Mỹ, tình hình mới cải thiện một chút.
Nếu là bệnh nhân tâm thần do quỷ thần gây ra, hành giả lấy cành dương liễu hoặc cỏ cát tường, gia trì chân ngôn 108 biến hoặc 1080 biến, phe phẩy trên thân người bệnh thì quỷ thần sẽ bỏ đi. Nếu bệnh nhân sống ở rất xa hoặc không thể tự đến, hành giả ở tại đàn thành vẽ hình của bệnh nhân lên giấy, trên đó viết họ tên và bát tự của bệnh nhân, tụng chân ngôn, lấy cành lựu đánh vào bệnh nhân ở trên giấy, ma quỷ ở trên thân của bệnh nhân này không ở nổi, bệnh sẽ hồi phục.
Phù chữ Thượng mà Thanh Chân Đạo Trưởng truyền là chuyên môn chữa bệnh, có thể chữa nghìn loại bệnh, vô cùng linh nghiệm thần kỳ, phù được vẽ ra thì bệnh cũng tiêu trừ.
Nếu là bệnh rất nặng cực nặng, tốt nhất là dùng Hộ Ma (hỏa cúng) của Mật giáo, khi làm Hộ Ma thì dùng những cúng phẩm màu trắng hoặc sữa bò cho vào lò, khi tụng chân ngôn thì kèm theo tên của bệnh nhân, một khi có tương ứng thì bệnh nặng cũng có thể khỏi.
Chính tôi cũng từng mắc bệnh. Các bác sĩ bó tay, tất cả thuốc đều vô hiệu. Tôi bất đắc dĩ vẽ ba lá phù chữ Quỷ, niệm chân ngôn, cầu Diêu Trì Kim Mẫu. Đốt hóa uống vào thì kỳ tích xuất hiện, không ngờ đã khỏi bệnh. Tôi tuyệt đối không nói khoác. Thuật phù và chân ngôn đều có thể chữa bệnh, thật sự quá bất khả tư nghì!
79. Bí mật vào thiên cung
Hành giả Mật giáo tu pháp lâu ngày, cực kì muốn tận mắt nhìn thấy thắng cảnh thiên cung, hoặc muốn vào long cung, hoặc atula cung, hoặc hang động của đại sơn thần, nhưng từ đầu tới cuối đều không thấy được, không vào được.
Hồi đầu Sakya Chứng Không Thượng sư đã bí mật truyền một pháp như sau:
Hành giả lấy tháp năm tầng, tháp bảy tầng, to nhỏ không quan trọng, dựng đàn thành của tháp tùy theo khả năng mà cúng dường hương hoa. Hành giả niệm tụng, tay kết căn bản ấn, tụng chân ngôn, di nhiễu tháp thuận chiều kim đồng hồ, tụng chân ngôn đạt đến 600.000 biến, dùng căn bản ấn để ấn vào tháp. Căn bản ấn ấn vào tháp bảy lần, tụng chú bảy lần rồi nói: Thất cá căn bản ấn. Ấn khai thập lục trượng. Nam thiên thiết tháp khai. Hành giả tự tiến lai. (Thập lục trượng tượng trưng cho mười sáu Bồ Tát của Kim cương giới.) Vào đêm cùng ngày, Bổn tôn sẽ hiện thân đưa hành giả đi vào trong thiên cung, hoặc long cung, hoặc atula cung, hoặc hang động của đại sơn thần, sau khi đi vào thì có thể có được cam lộ trời tuyệt diệu, hoặc ăn thuốc pháp, hoặc có được pháp tạng mật pháp quý báu, hoặc nhìn và nghe thấy khai thị của Bồ Tát, thật sự thù thắng phi phàm.”
Tôi nhớ khi tôi một mình du lịch Nhật Bản, tôi đã đến hồ Kawaguchi, đêm ấy mưa suốt không thôi, khách sạn nhỏ không ngờ đầy kín khách, tôi cứ loanh quanh mãi ở hồ Kawaguchi dưới chân núi Phú Sĩ. May mắn thay lễ tân khách sạn đã giúp tôi tìm được phòng nghỉ ngơi của nhân viên phục vụ để tôi nghỉ tạm. Đêm ấy, tôi lập tức tiến vào hang động của thần núi Phú Sĩ, được đại sơn thần của núi Phú Sĩ chiêu đãi, chẳng khác gì được ở trong đại cung điện của thần núi núi Phú Sĩ, đây chính là cảm ứng do từng tu pháp nhập thiên cung đó!
Sau khi vào thiên cung, cầu tiêu tai được tiêu tai, cầu tăng ích được tăng ích, cầu kính ái được kính ái, cầu hàng phục được hàng phục, tất cả đều như ý cát tường.
80. Sờ đầu và vỗ
Có người thấy tôi chữa bệnh cho người ta, dùng tay ấn vào đầu của người bệnh, hoặc bảo người bệnh quay người lại để dùng tay vỗ vào lưng của người bệnh, làm xong thì bảo là xong rồi. Người đó hỏi tôi: ”Làm sao mà sờ đầu và vỗ lại có thể chữa bệnh?” Tôi đáp: ”Đúng thế. Đây chính là Mật pháp.” Có một số người bệnh thì ngay tại chỗ đã khỏi bệnh, có một số người thì qua một đêm là bình phục. Sờ đầu và vỗ này chính là kỳ diệu như vậy!
Thật ra muốn đạt đến cảnh giới như thế này cũng không phải là một lúc mà có thể thành tựu được, lại càng không phải là dễ như trở bàn tay.
Mọi người có thể nghĩ mà xem, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi 30 năm qua trì tụng chân ngôn không lười nhác, niệm Phật không lười nhác, tu pháp không lười nhác, làm Hộ Ma không lười nhác, thanh tịnh không lười nhác, cúng dường không lười nhác, bố thí không lười nhác… Tôi và Bổn tôn lúc nào cũng ở cùng nhau. Thượng sư lúc nào cũng trụ đỉnh. Hộ pháp luôn ở xung quanh. Chư Phật và các đại Bồ Tát, và các thiên long bát bộ đều luôn luôn giáng xuống. Khi tôi đưa tay ra sờ đầu người bệnh, và dùng tay để vỗ vào lưng người bệnh, tôi đã sớm âm thầm niệm “Om Ah Hum”, dùng ba chú tự này để gia trì cho tay mình, sau đó lại dùng “Om Ah Hum” để gia trì lên thân người bệnh. Cho nên khi chạm vào người bệnh là bệnh của họ sẽ tiêu trừ, khi vỗ vào lưng người bệnh là tất cả quỷ mị lập tức rời đi, bệnh của người bệnh sẽ khỏi.
Tôi vốn là một hành giả có đạo tâm kiên cố, tu trì giới hạnh, vĩnh viễn không thối chuyển. Cho dù thiên ma dùng mọi phương pháp để làm tôi lung lay đạo tâm, tôi vẫn tinh tấn như thường, vì thế tôi mãi mãi được chư thiên kính ái, bảo hộ, gia trì.
Một lần nữa tôi khuyên các đệ tử: Giữ giới, niệm tụng, dựa theo lời dạy mà phụng hành. Tuyệt đối đừng đánh mất đạo tâm, chắc chắn sẽ chứng quả, viên mãn mau chứng vô thượng chính đẳng bồ đề.
81. Pháp kính ái
Nhìn chung mà nói, bốn đại pháp tiêu tai, tăng ích, kính ái, hàng phục trong Mật giáo thuộc về sự nghiệp nhập thế, bốn đại pháp này trong các trước tác của tôi đều đã giới thiệu tường tận, ở đây tôi không lặp lại nữa.
Khi cá nhân tôi phục vụ chúng sinh, tôi nhìn thấy chúng sinh đau khổ vì gia đình bất hòa cũng không kém gì đau khổ vì bệnh tật trên người. Đây là chồng không vui với vợ, vợ không vui với chồng, vợ chồng không hòa hợp, phản bội lẫn nhau, từ đây mà sinh ra khổ não, khó mà kể cho hết.
Trước kia tôi giúp người ta tu pháp kính ái thì có hai cách:
Lấy sợi dây màu đỏ cúng tại đàn thành, niệm tụng chân ngôn, tu Mật pháp, khi niệm chân ngôn thì trong chân ngôn niệm thêm tên của vợ chồng, nếu là tu pháp Kurukulle Phật Mẫu thì phải niệm thế này: “Om kurukulle chuli. Sắc lệnh XXX và XXX kính ái viên mãn. Soha.” Mật pháp phải dựa vào tất cả nghi quỹ của pháp kính ái mà làm để gia trì cho sợi dây màu đỏ. Tu pháp 7 đàn, 21 đàn, 49 đàn. Sau đó lấy giày của nam nữ mỗi người một chiếc (nam trái nữ phải), dùng sợi dây đỏ buộc vào nhau rồi đặt ở dưới giường ngủ của vợ chồng. Làm như vậy thì vợ chồng chắc chắn sẽ yêu kính lẫn nhau.
Cách thứ hai là dùng bảy lọ nước hoa, cũng làm pháp kính ái như trên để gia trì, nhỏ nước hoa vào trong bồn tắm để tắm, bảy bình thì nhỏ bảy giọt, tắm bảy lần, thì vợ chồng sẽ hồi tâm chuyển ý, vợ chồng hòa hợp như ngày đầu, cực kì ân ái.
Hai pháp này nói chung đều có thể cứu vãn nguy cơ của cuộc hôn nhân một cách kỳ diệu. Nếu là cực kì nghiêm trọng thì phải dùng đến cách làm Hộ Ma kính ái. Pháp kính ái không chỉ vợ chồng hết mực kính trọng nuông chiều nhau lại từ đầu, không phải chỉ có kính ái mà cũng có thể cầu con nữa!
Cầu trai được trai, cầu gái được gái, vợ chồng cầu kính ái đều nằm trong Mật pháp, Mật pháp khiến nhập thế, xuất thế đều được viên mãn.
82. Pháp hàng phục
Có người nói: ”Pháp hàng phục của Mật giáo giống như bùa ngải của phù thủy!” Còn nói: ”Pháp hàng phục là chuyên môn hại người, bảo người ta mọc u thì sẽ mọc u, bảo người ta gặp tai nạn thì sẽ đụng xe mà chết, v.v…” Những lời bàn này xem ra rất kinh khủng, nhưng trên thực tế thì không hề như vậy.
Cái gọi là pháp hàng phục của Mật giáo là để hàng phục tất cả quỷ thần ác độc và ác long quái thú làm tổn hại đến tất cả hữu tình. Ngoài ra là hàng phục tất cả kẻ ác hại nước hại dân, những kẻ có tâm phản đạo, và kẻ diệt Tam Bảo phỉ chân ngôn, hoặc kẻ gây khó khăn trở ngại cho người trì chú. Với những kẻ ác như vậy, hành giả trì chú vận dụng tâm đại từ bi tu pháp mà đối trị.
Kinh Mật Giáo viết: “Nếu vì oán thù cá nhân của chính mình, vì lợi ích cá nhân của chính mình mà tu pháp hàng phục thì chắc chắn sẽ tự chuốc lấy tai họa.” Điều này tức là tu pháp hàng phục là vì việc công chứ không phải là vì oán hận và thù địch cá nhân.
Kinh Mật Giáo viết: “Nếu những kẻ ác thân tâm bất an, hoặc bị bệnh nặng, hoặc mạng sống sắp hết, thì nên khuyên họ sám hối cải tội, nếu đã hối lỗi thì niệm tụng tiêu tai cho họ, người đó sẽ tránh được tai nạn.”
Tôi nói, tu pháp hàng phục, hành giả phải có tâm đại từ bi. 1. Vì lợi ích chung mà tu. 2. Vì cứu độ người ác mà tu. Pháp hàng phục của Mật giáo tuyệt đối không giống như người ngoài nói là giống bùa ngải phù thủy, cũng tuyệt đối không phải là hại người, mà ngược lại chính là cứu người.
Tu pháp hàng phục, trong chân ngôn phải có thêm mấy chú tự sau: “Hum hum hum fat cha.” Và “thân ấn” là vô cùng đặc biệt, phải ngồi xổm, chân trái đè lên chân phải.
Tôi Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chưa làm pháp hàng phục, nguyên nhân là vì con người tôi thích tất cả tự nhiên, thế giới nhân gian này tự có nhân quả lẽ trời tồn tại, cái gì phải đến sẽ đến, cái gì phải đi tự sẽ đi, tất cả không cần miễn cưỡng!
83. Pháp đắc đại trí huệ
Có một lần ở vườn Lộc Dã ở Ấn Độ, tôi và các đại đệ tử lễ bái tháp xá lợi nơi Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên chuyển pháp luân. Ở trước tháp, Geshe Thiên Thanh và các Lama đã chuẩn bị 108 cây nến và cúng phẩm hương hoa đèn trà quả. Tôi và các đại đệ tử ở trước tháp xá lợi đã tu một đàn pháp. Nơi đây Phật Đà lần đầu tiên nói pháp tứ đế, độ cho năm tì kheo.
Trước khi tu pháp, chúng tôi đi nhiễu tháp thuận chiều kim đồng hồ, vừa nhiễu tháp vừa trì chú. Tôi trì tâm chú Thượng sư. Tu xong một đàn pháp, chúng tôi nhập định, tay kết thủ ấn, đầu lưỡi niệm chú, tâm quán tưởng chữ Phạn, thân khẩu ý tam nghiệp tương ứng.
Tôi lắng tâm quán tưởng trên đỉnh đầu mình có một chữ Phạn “Han”, xung quanh chữ này có ánh sáng giống như ánh sáng của mặt trăng, tôi tụng “Om” tổng cộng 21 biến. Đây cũng chính là chân ngôn tịnh pháp giới, có thể khiến tam nghiệp thanh tịnh, tất cả tội chướng đều tiêu trừ, lại có thể hoàn thành tất cả mọi việc, tự thân thanh tịnh, mười phương pháp giới cũng thanh tịnh.
Chính vào lúc này, tôi nhìn thấy Phật nhãn, tức là mắt của Phật Thích Ca Mâu Ni, tròn đẹp và sáng, hình tượng vi diệu này thật sự không thể nào dùng ngôn ngữ bút mực để miêu tả. Thật sự là thù thắng vô cùng.
Con mắt của Như Lai sáng tịnh vô nhiễm, như ngọc mani, quang minh viên giác, mắt Phật tỏa ra ánh hào quang của hoa sen tuyệt diệu chiếu đến tôi đang ngồi thẳng ngay ngắn, trong sát-na, dùng huệ đoạn chướng, thành đại viên giác, tịch diệt vô sinh. Tôi tự biết mình đã đắc đại trí huệ rồi, tất cả nghĩa kinh đều mở ra.
Vì sao có thể như vậy? 1. Nơi Phật Đà sinh ra, nơi Phật Đà từ Đao Lợi Thiên thả xuống bậc thang báu, nơi Phật Đà thành đạo, nơi Phật Đà chuyển pháp luân, đều có vô lượng chư Phật Bồ Tát, thiên long bát bộ tụ họp, có vô lượng tam muội. 2. Đi nhiễu tháp xá lợi theo chiều kim đồng hồ đắc được sáu ba-la-mật. 3. “Om” thanh tịnh mười phương pháp giới. Có thiên thời, địa lợi, nhân hòa, theo Kinh Mật Giáo nói: “Đắc đại trí huệ, lìa xa trần cấu, nhất định thành tựu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”
84. Pháp kính đàn nhĩ báo
Theo như tôi biết, về phương diện pháp nhĩ báo thì có rất nhiều phương pháp tu luyện, Đạo gia có pháp linh đồng nhĩ báo, pháp thiện ác đồng tử nhĩ báo, pháp quỷ thần nhĩ báo, sáu thần thông của Phật pháp cũng có thiên nhĩ thông, v.v…
Mật giáo cũng có pháp nhĩ báo, trong pháp Thất Phật câu tri Phật Mẫu tâm Đại Chuẩn Đề đà-la-ni có nhắc đến pháp kính đàn nhĩ báo, pháp ấy như sau:
“Phật nói: nếu có người nhất tâm tịnh ý, tụng đủ 200.000 biến, 400.000 biến, 600.000 biến, pháp nhập thế xuất thế đều có thể toại nguyện. Hoặc là người xuất gia, hoặc là người tại gia, thường ngày dùng nước sạch súc miệng, quay mặt về hướng Đông, nhìn vào gương kết ấn Chuẩn Đề, tụng chú 108 biến, 49 ngày như thế không gián đoạn, có việc cát tường, Chuẩn Đề Bồ Tát lệnh cho hai Thánh giả thường theo người ấy, tâm nghĩ đến điều gì thì đều ở bên tai nói rõ hết.”
Hai Thánh giả này là ai? Trong kinh văn không nói, nhưng tôi biết đó là Nan Đà Long Thần, Ổ Ba La Đà Long Thần, hoặc là hai tịnh cư thiên tử Câu Tố Đà.
Từ rất sớm tôi đã tu pháp thiện ác đồng tử nhĩ báo, sau đó, tôi dạy pháp thiện ác đồng tử này cho mẹ tôi, vì thế tinh xá Linh Tiên ở Đài Trung Đài Loan có thờ hai vị là thiện ác đồng tử một tay chỉ trời một tay chỉ đất.
Cá nhân tôi cho rằng: Pháp linh đồng nhĩ báo là phương thuật của Đạo gia, cấp độ tương đối thấp, tương tự như nuôi tiểu quỷ. Người tu hành chính pháp không nên tu học. Chi bằng học tập pháp kính đàn nhĩ báo thì sẽ được lợi hơn. Pháp này đơn giản là lấy một tấm gương sạch, chưa từng sử dụng, đặt trước tượng Chuẩn Đề, hàng tháng vào đêm ngày 15 tùy theo khả năng mà cúng dường hoa hương đèn trà quả.
Ở trước gương trì chú Chuẩn Đề, tay kết ấn, miệng tụng chú, lấy gương làm đàn thành, sẽ đắc thành tựu.
Sau khi tụng chú xong thì phải cất gương vào trong hộp. Pháp kính đàn này không được cho người khác thấy, nếu bị thấy thì sẽ không tốt không thành, phải bí mật, pháp này cũng không thể nói ra, tự mình biết là được.
Muốn tu thành tựu pháp kính đàn nhĩ báo thì phải có tâm yếu khẩu quyết, nhất định phải thỉnh cầu Căn bản Thượng sư truyền thụ.
85. Ấn tâm trong tâm
Khi tôi học tập Mật giáo đã được sư phụ truyền thụ độc bộ pháp của ấn tâm trong tâm. Sư phụ nói: ”Pháp này nhất định phải mật truyền, chớ để người khác biết!” Tôi hỏi: ”Người nào có thể truyền?” Sư phụ đáp: ”Tâm tử!” Ý của sư phụ là nói rằng Mật giáo có rất nhiều pháp không truyền cho người không có căn khí, và cũng có rất nhiều pháp không được truyền cho người không có đạo tâm kiên cố, ấn tâm trong tâm chính là một trong số các pháp đó.
Sư phụ nói, tâm tử tức là đệ tử tâm tâm tương ấn với mình, nghĩa là đệ tử sẽ không rời bỏ sư phụ, ví dụ Thượng sư Marpa coi Milarepa là tâm tử nên đã giao pháp của truyền thừa vào tay ngài.
Thời nay, tâm tử tương đối khó tìm, bởi vì con người hiện đại lòng người phức tạp, chẳng hề đơn thuần, mới có chút thành tựu nhỏ đã khoe khoang là mình đã hơn cả sư phụ rồi. Con người hiện đại cũng không biết cảm ơn báo đáp, người tư lợi là nhiều, người hữu tín hữu nghĩa ít, người có tín tâm kiên cố, từ đầu tới cuối đạo tâm kiên cố thì càng ít.
Vì thế sư phụ nói truyền thụ ấn tâm trong tâm nhất định phải chọn người để truyền, hơn nữa phải quan sát nhiều năm, nếu truyền thụ sai người thì chính mình và tông phái sẽ nhận lấy tổn hại lớn, thậm chí sư phụ cũng sẽ bị liên lụy, sẽ bị trời khiển trách.
Tại đây tôi không dám nói ra ấn tâm trong tâm, tôi chỉ muốn nói rằng, chỉ cần học được pháp này rồi thì giơ tay vẫy một cái là chư Phật Bồ Tát, La Hán Độc Giác, 28 thiên chúng, Đế Thích Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương, Tứ Đại Thiên Vương, Diêm La Vương, Long Vương, Thánh hiền, thiên long bát bộ, quỷ thần chúng, hễ nghe triệu thỉnh là muốn gì đều được.
Tôi từng nói, Mật pháp muốn linh nghiệm thì nhất định phải có Bổn tôn giáng lâm phóng quang thì mới linh nghiệm, chỉ cần Bổn tôn và ta hợp nhất, làm tất cả các pháp đều sẽ thành tựu, cho nên học được ấn tâm trong tâm là cực kì quan trọng.
Đại bộ phận tổ sư Mật giáo coi ấn tâm trong tâm là độc bộ pháp, không truyền bừa, không phải là tâm tử thì không truyền, bởi vì truyền bừa chẳng phải là phúc, ngược lại còn có họa nữa!
86. Pháp hùng biện
Khi tôi mới xuất đạo, sư phụ nói với tôi: ”Tương lai con phải hoằng pháp khắp thế giới, nhưng thầy thấy con bản tính trầm lặng, không phải là hạng khéo ăn khéo nói, phải làm sao mới được?” Tôi thật sự là người hiền như khúc gỗ, cá tính hướng nội, tôi rất sợ lên bục diễn giảng. Tôi ấp úng nói với sư phụ: ”Mong thầy dạy cách!” Sư phụ nói với tôi: ”Đầu tiên quán tưởng trên đầu lưỡi có chữ Han, sau đó quán tưởng trên lưỡi biến thành chữ Hum, tiếp theo trì tụng “Om Han Hum” 108 biến, sau này lưỡi sẽ hoạt bát hơn!”
Sư phụ truyền thụ cho tôi một pháp: Quán tưởng Hầu luân của chính mình sinh ra hoa sen tám cánh, trên hoa sen xuất hiện chữ Ah, quán tưởng chữ Ah biến thành nguyệt luân, nguyệt luân lại biến thành chữ Hum, chữ Hum biến thành chày kim cang năm chấu, lại quán tưởng chày này di chuyển đến lưỡi, đây gọi là lưỡi kim cang. Quán tưởng xong thì trì tam tự chú “Om Ah Hum” 108 biến, sau này sẽ có thể thao thao hùng biện.
Về sau tôi lại có được một pháp: Tâm luân hành giả hóa thành nguyệt luân hoa sen tám cánh, ở giữa nguyệt luân có chữ Phạn Di, trên chữ Di, phía trên chữ Di có sắp xếp dòng “Om a-ra-pa-cha-na di”, chính là tâm chú của Văn Thù Bồ Tát, tâm chú hóa thành kiếm của Văn Thù Bồ Tát, mũi kiếm vừa chạm đến đầu lưỡi của hành giả, hành giả chuyển động lưỡi trái phải lên xuống. Trì tâm chú Văn Thù Bồ Tát 108 biến.
Cầu nguyện hồi hướng: Thỉnh cầu Văn Thù Bồ Tát gia trì lưỡi kim cang để lợi cho việc hoằng pháp. Trước nay nhìn tường được việc gì? Gắng mở tâm ra thấy căn nguyên. Ngồi trên pháp tọa một Phật tử. Hễ mở lời ra tự nhiên tròn.
Tu tập pháp này thành tựu, chỉ cần mở miệng ra thì sẽ hùng biện thao thao bất tuyệt, từng chữ như châu ngọc, độ chúng sinh vô tận, người người tín phục, cùng chứng đạo vô thượng.
87. Bí mật mở ra Tâm luân
Mật giáo nhìn ánh sáng, đầu tiên là nhìn điểm sáng, sau đó nhìn chuỗi kim cương, tiếp theo nhìn tấm màn kim cương, cuối cùng nhìn Phật quốc tịnh thổ, lúc này hành giả Mật giáo đã có đủ thiên nhãn.
Muốn có ngũ nhãn lục thông, mở ra Tâm luân, tâm phóng quang là quan trọng số một. Ở đây, tôi truyền thụ pháp mở ra Tâm luân, pháp này cực kì trân quý. Đầu tiên tu khí mạch minh điểm, để cho giọt cháy hoạt động tại Tâm luân, tức là minh điểm giáng xuống Tâm luân, chuyết hỏa đi lên đến Tâm luân, thủy hỏa giao nhau hòa lẫn tại Tâm luân. Như vậy có thể mở ra Tâm luân. Hành giả Mật giáo quán tưởng thân mình hoàn toàn thanh tịnh trong suốt như lưu ly, không dính một hạt bụi, ở trong tâm rỗng bên trong đó có một đóa hoa sen tám cánh không cành màu đỏ, trên hoa sen xuất hiện nguyệt luân, trong nguyệt luân là chữ Hum. Xung quanh nguyệt luân sắp xếp thuận theo chiều kim đồng hồ câu chú “Om guru liansheng siddhi hum” ở rìa của nguyệt luân, thế rồi quán tưởng từng chữ từng chữ chú tự xoay tròn xung quanh và lặp lại, từng chữ phóng quang xán lạn, chữ không cần quán tưởng to, nguyệt luân cũng không cần quán tưởng to, càng nhỏ càng tốt.
“Om guru liansheng siddhi hum” vừa tĩnh tọa vừa nội quán, đây là pháp quán tưởng bánh xe tám chữ trong tim, có thể mở ra Tâm luân.
Mỗi lần tu quán tưởng xong thì lập tức nghĩ nguyệt luân hoa sen thu vào trong chữ Hum ở giữa, chữ Hum thu vào trong một điểm sáng, điểm sáng này xung thẳng lên đỉnh đầu, trong sát-na tan vào trong hư không, vô tận vô lượng, thế là ta chính là hư không, hư không chính là ta, tất cả đều vô sở đắc, như lai như lai, như thế như thế.
Tôi nói cho mọi người biết đây là cảnh giới gì, đây chính là cảnh giới đạt đến bỉ ngạn của “Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không” trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh.
Tám vạn bốn nghìn các diệu tướng. Đắc thành Di Đà phi bản tính. Xa xôi mười nghìn tỉ cõi Phật. Chính là tịnh thổ ở tại tâm.
Lành thay! Lành thay!
88. Nghi quỹ tu pháp chư tôn
Nghi quỹ tu pháp chư tôn mà Chân Phật Tông Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn truyền thừa xuống, nghiêm túc mà nói, là tóm tắt nghi quỹ chư tôn của Tạng mật, vốn dĩ một đàn pháp phải ba, bốn tiếng đồng hồ, nay đơn giản hóa thành bốn mươi phút, nhưng không mất đi phần cốt lõi của nó, vì thế thích hợp nhất với con người hiện đại bận rộn.
Nghi quỹ tu pháp phân thành ba đoạn lớn: Tiền hành bao gồm: Triệu thỉnh. Đại lễ bái. Đại cúng dường. Tứ quy y. Tứ vô lượng tâm. Mặc giáp hộ thân. Niệm Cao Vương Quan Thế Âm Chân Kinh. Chính hành bao gồm: Quán tưởng. Kết ấn. Tụng chú. Cửu tiết Phật phong. Nhập Tam ma địa. Hậu hành bao gồm: Tán kệ. Cầu khấn. Sám hối. Hồi hướng.
Trong nghi quỹ Tạng mật, ngay khi triệu thỉnh, nhất định trước tiên phải triệu thỉnh Căn bản Truyền thừa Thượng sư gia trì tu pháp viên mãn, để biểu thị không quên cái gốc. Tụng tâm chú Thượng sư 7 biến, 21 biến, 49 biến, v.v… sau đó mới bắt đầu theo thứ tự mà tu pháp. Các tổ sư cho rằng làm như thế này thì hiệu quả sẽ tốt hơn.
Cá nhân tôi nhấn mạnh đệ tử Chân Phật Tông phải lĩnh hội được chi tiết mỗi một bước quán tưởng, trì chú, thủ ấn và tâm yếu của nghi quỹ tu pháp. Đặt tâm vào sự viên mãn của nghi quỹ, tu pháp như vậy, ngày ngày tinh tấn, không thoái tâm ban đầu, nhất định có thể tức sinh thành Phật.
Tôi nói, nếu đi du lịch bên ngoài, ở trên máy bay, có thể chỉ tu Chính hành, nếu không được nữa thì tụng chú cũng được!
89. Mật giáo Đại viên mãn
Phật Đà nói: “Từ nghe nghĩ tu, khởi giới định huệ, tu hành như vậy, có tu có chứng, như lý như lượng. Bồ Tát dựa vào thiện tri thức, nghe hiểu chính pháp, luôn nhớ duy trì không quên, nhờ luôn nhớ duy trì không quên mà khởi tâm quan sát, nhờ khởi tâm quan sát mà tư duy như lý, nhờ tư duy như lý mà khởi giữ giới thanh tịnh, nhờ giữ giới thanh tịnh mà khởi mười đường thiện, nhờ mười đường thiện mà khởi ba loại hành vi thanh tịnh, nhờ ba hành vi thanh tịnh mà khởi không buông thả, nhờ không buông thả mà khởi trí huệ phương tiện, nhờ trí huệ phương tiện mà khởi sáu ba-la-mật, nhờ sáu ba-la-mật mà khởi bồ đề tâm, nhờ bồ đề tâm mà khởi Bồ Tát đại bi.”
“Lặp lại, thiện tri thức có thể truyền đạo, dạy nghề, giải thích nghi hoặc, khai hiển Pháp thân huệ mệnh, vì thế có thể dựa vào họ. Giác ngộ vô thường, vì thế có thể không lười nhác. Trì giới là bạn, vì thế không tạo ác. Lấy kinh tạng làm con mắt, vì thế có thể không mê hoặc. Lập đàn trì chú, vì thế có thể tăng trưởng phúc huệ. Thâm nhập một pháp, vì thế có thể nhất tâm. Từ trong thiền định mà thâm nhập, vì thế có thể tịnh tâm. Dùng sáu ba-la-mật khởi chính hành, vì thế có thể khai trí lợi tha. Bồ đề tâm và đại bi tâm nhậm vận, vì thế có thể báo bốn ơn sâu. Chứng đại viên mãn, đắc vô thượng chính đẳng chính giác.”
Vị Phật thứ hai Liên Hoa Sinh Đại Sĩ của xứ Orgyen nói: “Vạn vật thế gian, chẳng có cái nào không phải là không. Con người sống nơi đây, không có ai là không khổ. Vô thường đến rất nhanh, khẩn trương sớm tu hành. Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đắc!”
Có rất nhiều đệ tử hỏi tôi: ”Thế nào là quán đảnh Đại viên mãn?” Tôi đáp: ”Tâm của các bạn ở đâu?” Các đệ tử không hiểu ý của tôi, thế nên tôi nói, tất cả Phật pháp vì nhân duyên mà sinh, tự tính vốn là không, không có người làm, không có người nhận, người thông đạt được như vậy có thể ngộ nhập niết bàn. “Ngã không, tha không, pháp không, ngã pháp đều không.” - Đây chính là quán đảnh Đại viên mãn.
Theo bốn tầng quán đảnh của Mật giáo là Sơ quán “thân khẩu ý thanh tịnh”, Nhị quán “khí mạch minh điểm”, Tam quán “vô thượng mật bộ”, Tứ quán “Đại viên mãn”. Quán đảnh Đại viên mãn này là vô hình, vô tượng, vô câu vô thúc, không kiểu dáng, là quán đảnh bất khả thuyết.
(Hết.)