📗

163. Độ qua biển sinh tử

image

Độ qua biển sinh tử

🪷 Sự kiện lớn nhất của đời người

Văn tập: 163 Xuất bản: 03/2003 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

Mục lục

Lời mở đầu

Giày thần hành

Một buổi tối nọ. Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện tại nơi tôi bế quan ẩn cư, Bồ Tát đưa cho tôi một đôi giày để đi vào. Tôi hiếu kỳ hỏi: "Đây là giày gì vậy?" Quan Thế Âm Bồ Tát đáp: "Giày thần hành." "Có tác dụng gì?" Bồ Tát nói: "Chúng ta muốn ngài, Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, đích thân trải nghiệm cái gọi là "cảnh giới trung ấm". Có nghĩa là đích thân trải qua trạng thái chết, sau đó, viết thành một cuốn sách lấy tên là "Độ qua biển sinh tử", để con người ngày nay hiểu được rằng cuộc đời kết thúc là một sự thật." Tôi nói: "Có sinh tất có tử, đây là lẽ tự nhiên, còn phải viết gì nữa sao?" Bồ Tát đáp: "Gấp rút như lửa xém lông mày rồi."

"Vì sao vậy?" "Chúng sinh đều cho rằng thân thể khỏe mạnh là được, nhưng lại không biết rằng trung niên, lão niên, bệnh tật, chẳng mấy chốc sẽ tới gần. Điều quan trọng nhất là cần để cho con người khắp thiên hạ có thể có được nhận thức về lúc chết, biết về dòng trạng thái của cái chết. Bất kể thế nhân có phải là tín đồ Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo hay không, thậm chí con người chẳng tin tưởng vào tôn giáo nào, ngài cũng cần viết ra chân tướng chân thực của cái chết. Chân tướng này mới là quan trọng nhất."

Tôi hỏi: "Những gì tôi viết người ta sẽ tin sao?" Bồ Tát đáp: "Đây không phải là mê tín, mỗi người đều sẽ chết, không có ai là ngoại lệ, cái chết là vấn đề hiện thực, không phải là mê tín. Sau khi chết cũng không phải là tận cùng, Phật giáo, Mật giáo, Cơ Đốc giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo đều nhận thức giống nhau rằng sau khi chết sẽ có một cảnh giới, điều này có thể chứng minh, thế giới linh hồn là có thật. Chúng ta muốn ngài viết ra, muốn ngài đích thân đi trải nghiệm, rồi viết ra, như thế có thể cứu độ chúng sinh!" "Thật sự có thể cứu độ chúng sinh sao?" - Tôi hỏi. Quan Thế Âm Bồ Tát nói bài kệ: "Đọc rồi sẽ hiểu Tu được giải thoát Tin thì được độ Ngộ là giải thoát."

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết: Sau khi đi đôi giày thần hành vào, tôi lập tức bị ốm. Tôi từng viết về "Nước hồ Diệp Tử trở lạnh", "Cầu nguyện ba Bổn tôn", tôi cứ nghĩ rằng mình sẽ chết lúc 58 tuổi, khả năng mình sắp chết, tôi đích thân trải qua bệnh khổ đáng sợ, bản thân bị bệnh rất nặng. Đây không phải nói bậy! Đây không phải vọng tưởng! Đây không phải cuồng tín!

Đó là trải nghiệm khi tôi xỏ vào đôi giày thần hành. Những gì mà tôi gặp phải người đời khó mà tưởng tượng được. Tôi là khổ trong cái khổ, đau trong cái đau. Vốn là một người ẩn cư tinh thần kiện toàn, tự do tự tại, thập phương thế giới đều có thể gửi thân, nhưng sau khi đi đôi giày thần hành vào, tôi thật sự thấu hiểu mùi vị của bệnh tật và cái chết.

Tứ đại tôi phân tán: "Núi lở đất nứt. Nước ngập quá đỉnh. Núi lửa tuôn trào. Cuồng phong buốt lạnh." Tôi tiến vào địa ngục Bát hàn, Bát nhiệt.

Tôi tuyệt đối không hù dọa chúng sinh, tôi thật sự đã rơi vào hố chết, sống không được chết không xong. Tôi tuyệt đối không nói quá sự thật, cũng không thổi phồng. Chỉ cần là con người thì có một ngày sẽ đều phải chết, cho dù là thân kim cương sắt thép cũng sẽ chết. Tôi đã phải chịu quá nhiều đau khổ. Tôi hy vọng chúng sinh có thể thoát khổ được vui.

Vì thế, tôi cần viết ra cuốn sách này, một cuốn sách rất quan trọng, là cuốn "Độ qua biển sinh tử", cuốn sách có thể trừ mọi đau khổ, chân thực bất hư. Tôi muốn mọi người: Thân này chẳng dễ mà có được Cần phải tránh xa mọi khổ đau Mong cùng tu hành với Chân Phật Hết báo thân này Cực Lạc sinh.

(Tháng 3 năm 2003)

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Sheng-yen Lu 17102 NE 40th Ct., Redmond, WA 98052 U.S.A

01. Hoa sen tám cánh mở ra

Sau khi đi đôi giày thần hành, tôi đã bị ốm rất thảm! Thật sự không có cách nào nói rõ được, tôi dùng ba chữ để miêu tả: Thảm! Thảm! Thảm!

Tôi sẽ kể cho mọi người biết cái gì gọi là "hoa sen tám cánh nở ra". Vốn dĩ hộp sọ của tôi rất tốt, bỗng dưng nó bắt đầu nứt ra, nứt ra từng chút từng chút một.

Nhìn từ bên ngoài thì tôi tất cả đều bình thường, đầu cũng chẳng tách ra. Thế nhưng mọi người nghe xong thì đừng có kinh hãi, cũng đừng hoảng sợ, thực ra trong "vô hình", cả cái đầu tôi đã bắt đầu nứt ra rồi.

Từ chỗ thiên khiếu [lỗ đỉnh đầu] ở chính giữa đã có những vết nứt rất mảnh phân thành tám cánh, hễ tách ra một phân thì tôi đau một phân, tách ra mười phân thì tôi đau mười phân. Một cách vô hình, tôi đã mắc chứng bệnh liệt não.

Chứng bệnh liệt não này e rằng người bình thường không thể hiểu được, tôi đã trải qua cái khổ của khổ, đau của đau. Sự trải nghiệm của tôi e rằng trên thế gian này chưa từng có người nào trải qua, có gì khổ hơn việc não bị nứt đây? Có gì đau hơn đây?

Ngày trước đọc tiểu thuyết Tây Du Ký. Quan Thế Âm Bồ Tát đeo cho Tôn Ngộ Không một chiếc vòng kim cô. Hễ vòng kim cô thu nhỏ lại là Tôn Ngộ Không ngã lăn lộn ra đất, ôm đầu kêu đau. Đây chính là chứng co rút não.

Còn bệnh mà hôm nay tôi mắc phải không ngờ lại là chứng rạn nứt não. Vỏ não của tôi nứt thành tám cánh, từng phân từng phân nứt ra, từng tấc từng tấc nứt ra. Ông Trời ơi, đây đúng là núi lở đất nứt mà! Đúng là núi lửa phun trào mà! Đúng là máu chảy không ngừng mà! Đúng là gió lạnh thấu xương mà!

Tôi sắp chết rồi, tôi thật sự sắp chết , nỗi thống khổ đó không có từ ngữ nào của thế gian có thể mô tả nổi, và cũng e rằng không có người bình thường nào có thể hiểu được. Hóa ra cái chết là đau đớn như vậy, "hoa sen tám cánh nở ra", cái tên mới đẹp đẽ làm sao! Thế nhưng trên thực tế lại đáng sợ muốn chết.

Tôi thật sự đã hướng về ba Bổn tôn cầu nguyện: "Diêu Trì Kim Mẫu từ bi, Tây phương Cực Lạc Thế giới A Di Đà Phật, đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cầu thỉnh các vị tiếp dẫn con vãng sinh đi!" "Tôi thật sự không muốn sống nữa, 58 tuổi là được rồi, tôi nguyện được chết! Tôi nguyện vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì!" "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, xin hãy tiếp dẫn con đi!"

Quan niệm cũ trong quá khứ của tôi, quan niệm cũ của người Trung Quốc là con người cần sống một thế kỷ (trăm năm), thì xem như là sống lâu nhất. Một giáp (60 năm) được xem là thượng thọ, bây giờ tôi mới 58 tuổi, còn kém hai tuổi nữa, sao có thể mong chết được? Sao có thể cầu vãng sinh? Thế nhưng bạn có biết không? Khi trải qua chứng nứt hộp sọ, tôi không những không muốn sống nữa mà còn mong được chết.

Mọi người không ngại thì nghĩ thử xem. Tôi cầu được chết. Không mong sống tiếp nữa. Sự đau đớn như vậy tôi đã không thể chịu đựng nổi nữa rồi. Chẳng trách trong tám khổ thì sinh - lão - bệnh - tử đều là một điều khổ trong số đó. Khi "hoa sen tám cánh nở ra", khi tứ đại phân rã, không lưỡng lự một chút nào, tôi quyết định chết, quyết định mau mau vãng sinh.

Khi đau khổ ập đến, tôi từng cầu nguyện ánh sáng của Phật chiếu đến tôi. Ánh sáng của Phật chiếu đến tôi ba lần. Tôi dễ chịu được khoảng mười phút. Mỗi lần mười phút, tạm thời thấy khoan khoái. Thế nhưng, cái đau của chứng nứt hộp sọ này tiếp tục kéo dài ròng rã bảy bảy bốn mươi chín ngày, ước chừng 49 ngày, không phân biệt ngày đêm. Tôi ăn vô vị. Tôi ngủ khó yên. Giống như khổ hình địa ngục vậy.

Giờ đây, cuối cùng tôi đã hiểu vì sao có những bệnh nhân trong bệnh viện lại tự mình trèo qua cửa sổ, từ cửa sổ tầng cao nhảy xuống, vì sao vậy? Bởi vì mắc bệnh thật sự quá đau khổ mà! Giờ đây cuối cùng tôi đã hiểu vì sao Ernest Hemingway lại tự sát! Vì sao Kawabata Yasunari lại tự sát! Vì sao Tam Mao lại tự sát! Còn có… [Ernest Hemingway là nhà văn, nhà báo người Mỹ. Kawabata Yasunari là nhà thơ người Nhật đã dành giải thưởng Nobel Văn học. Tam Mao là bút danh của một nhà văn, nhà phiên dịch Trung Quốc sống tại Đài Loan.] Khi rơi vào tình cảnh như vậy, nếu như không phải là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì tôi đã hét lên rằng: "Tôi cũng muốn tự sát!"

Thế nhưng tôi không thể tự sát, tự sát chính là giết Phật. Tôi là một nhà tu hành lớn, cần độ chúng sinh, tôi là một hành giả nhẫn nhục! Chịu đựng nỗi khổ mà thiên hạ không thể chịu đựng nổi, là tâm khổ, là thân khổ, là bát khổ, đều phải chịu đựng! Tôi không thể tự sát!

02. Phật trong hoa sen tám cánh

Một người ở bên bờ cái chết, một người sắp chết, một người mong được chết, chẳng ngờ người ấy lại là tôi. Căn bản là tôi không còn muốn bám giữ lấy sinh mạng của mình mà không buông ra nữa.

Tôi từng nghĩ như thế này… Người sáng lập Chân Phật Tông. Năm triệu đệ tử. Các thượng sư hoằng pháp. Bao nhiêu ngôi chùa Lôi Tạng Tự, bao nhiêu phân đường, bao nhiêu trung tâm hoằng pháp. Biệt thự Cầu Vồng. Chân Phật Mật Uyển. Nam Sơn Nhã Xá. Thượng sư Liên Hương, Lư Phật Thanh, Lư Phật Kỳ… Những sự nghiệp hoằng pháp ở thế gian Ta Bà này, người thân, công danh lợi lộc và vật chất của thế gian, nay đối mặt với cái chết, tất cả đều hóa thành hư ảo. Tất cả đều là Không.

Mặc dù đối mặt với tứ đại phân rã cực kì đau khổ, đối mặt với chứng bệnh nứt hộp sọ, nhưng vẫn còn may là tôi tu hành đã lâu nên tinh thần vẫn xem như điềm tĩnh, thần chí của tôi vẫn luôn đặt vào Tứ niệm xứ: quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Tôi anh dũng, chẳng sợ cái chết, tâm trí vẫn luôn siêu việt.

Bất kì lúc nào tôi cũng chuẩn bị cho cái chết và vãng sinh. Tôi niệm Phật trì chú không hề nao núng, ý chí đều đặt vào trong ánh sáng của Phật. Sự đau đớn của chứng nứt hộp sọ, thân thể yếu ớt, cái chết sắp xảy ra đến nơi ấy cũng chẳng quật ngã được tôi.

Tôi hiểu rằng cái chết là lẽ thường mà đời người không thể tránh khỏi. Tôi sẽ không có cách nào nói những lời khuyên nhủ cuối cùng đối với đệ tử, tôi chết trong đơn độc, đây cũng là điều không thể tránh khỏi. Tôi cảm tạ Thượng sư của tôi, cảm tạ Phật Đà, cảm tạ Phật pháp, cảm tạ Thánh hiền tăng. Tôi sắp vứt bỏ đi nhục thể này, tôi sắp tự tại viên tịch rồi, tôi sắp tiến nhập vào Tam ma địa rồi, tôi sắp tiến nhập vào niết bàn rồi, hoàn toàn giống như tất cả các thánh triết từng phát đại nguyện cứu thế qua các thời kỳ.

Tôi không chết một cách không cam lòng tình nguyện. Không có tiếc nuối gì. Xung quanh tôi không có ai biết là tôi sắp chết. Không có ai cố ý quấy rầy tôi. Tôi đã có thể ở trong tâm thái bình tịnh, chính thường mà "thiện thệ".

Trong tam muội, hoa sen tám cánh (các múi của hộp sọ) vẫn tiếp tục phân tách ra, tôi chỉ còn thấy đau đớn và yếu ớt, nhưng không hề hoảng sợ.

Một bậc thánh triết giác ngộ chân chính đối diện với cái chết thì không nên sợ hãi, mà cần phải có chính tri chính kiến kiên cường hơn. Chúng ta cần nhận thức được rằng không gian quảng đại vô biên, pháp giới quảng đại vô biên, kể từ khi có nhân loại, thời gian tuổi thọ mà nhân loại tồn tại cũng chỉ hữu hạn, còn mấy trăm vạn tỉ năm ánh sáng của vũ trụ là vô hạn.

Bất kì người nào bất kể là ở pháp giới nào đều sẽ chết, hơn nữa chẳng hề sướng một chút nào, không có một người nào là ngoại lệ, tất cả những điều này là điều tất nhiên. Không nhập niết bàn, là lý tưởng. Người người đều phải chết, là sự thực.

Phật Đà dạy chúng ta rằng: "Tự nhiên là một dạng tuần hoàn sinh tồn, sinh tử là một vòng tuần hoàn lớn, chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tĩnh. Đó là quy luật, phép tắc của vũ trụ, cũng chính là chân lý."

Là một người đại giác ngộ, tôi hiểu chết là như thế nào. Trong khoảng thời gian đó, tôi ăn uống vô vị, thể lực yếu ớt, ngủ không được, tinh thần kiệt quệ. Đối với người bình thường mà nói thì đây là rơi vào sự nguy hiểm cực độ, như đang trải qua một thế giới tối tăm không ánh sáng, tiến vào cảnh giới trung ấm của cái chết.

Thế nhưng, sau khi hoa sen tám cánh đã nở ra hết mức, ở chính giữa hoa sen có một vị Phật ngồi, đó chính là: "Liên Hoa Đồng Tử." "Hoa Quang Tự Tại Phật." "Lư Thắng Ngạn Liên Sinh Hoạt Phật." Vị Phật này chính là Bổn tôn Mật giáo mà nhiều năm tôi đã nương vào, nương vào vị Thế Tôn đại giác đó để có được sự dạy dỗ. Đây chính là ánh sáng trí huệ Bổn tôn của nội tại chân chính của tôi. Duy có vị Bổn tôn Như Lai này của tôi trong chốc lát có thể xua tan bóng đêm tăm tối của cái chết.

Tôi trông thấy nguyên thần của mình. Tôi trông thấy tôi. Tôi trông thấy Phật tính. Tôi chính là một vị Như Lai tuyệt đối trăm phần trăm. Điều khiến tôi sửng sốt là trên chân của vị Liên Hoa Đồng Tử Phật này có xỏ đôi giày thần hành của Quan Thế Âm Bồ Tát. Tôi ở trong tam muội hoa sen tám cánh nở ra đã trông thấy rất nhiều thế giới trung ấm. Để tôi lần lượt viết ra cho mọi người biết, trạng thái hoa sen tám cánh nở ra của tôi chính là pháp Phowa của Mật giáo.

03. Vinh quang của Liên Hoa Đồng Tử

Pháp Phowa chuyển thức thành trí, Liên Hoa Đồng Tử bay vào hư không, giống như Bổn tôn trí huệ trụ tại hư không vậy.

Cuối cùng tôi đã hiểu: Khi ở Bắc Kinh tôi nhìn thấy A Di Đà Phật. (Từ Bắc Kinh bay đi Thái Nguyên.) Khi ở Hàn Quốc tôi nhìn thấy Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật và chư Tôn. Tất cả những sự hiển thị này thì ra đều tuyệt đối giống nhau. Khi nguyên thần của bản thân thoát khỏi sự trói buộc của nhục thể, khiến cho lục căn, lục trần, lục thức của nhục thể hoàn toàn tiêu biến, lúc này, cấp độ tu hành liền xuất hiện, đây là giáo nghĩa bí mật của Mật giáo. Tôi có thể có được cái thấy chân thực chính là như vậy.

Khi nguyên thần của bản thân (Phật tính) sống lại. Trong hư không tràn ngập những lời ca ngợi và những bài hát vui mừng của trăm vạn Không Hành Mẫu. Thập phương Phật, thập phương Bồ Tát. Kim Cang Hộ Pháp. Chư Thiên, v.v… Tất cả đều ca ngợi, hát tụng những khúc ca hân hoan.

Tôi nói để mọi người biết, cái gọi là chứng ngộ chính là như vậy, cái gọi là thấy được Phật tính chính là như vậy, cái gọi là đại thành tựu giả chính là như vậy, cái gọi là thành Phật chính là như vậy. Điều này thật sự không có cách nào hình dung được. Cũng có nghĩa là tất cả đã hoàn toàn hồi sinh. Giống như mặt đất chết khô mọc lên những mầm xanh mới, giống như đồng nội trăm hoa đua nở, biến thành mùa xuân. Giống như người đang ngủ thức dậy, tất cả đều khởi động một ngày mới từ đầu.

Chân Phật Mật Pháp của tôi đã chứng minh được một pháp giới chân thực, nhục thể của con người một khi phóng xuất ra Bổn tôn trí huệ thì thập phương Phật Bồ Tát như thể biển Phật hiển hiện, việc này giống như một vầng trăng soi bóng nghìn con sông, vạn ánh đèn trong một căn phòng, đâu đâu cũng là đèn sáng chói.

Trong Chân Phật Mật Pháp của tôi có Tỳ Lô Giá Na tịnh thổ, có Duy Tâm tịnh thổ, có Hằng Chân tịnh thổ, có Cực Lạc tịnh thổ, có Ký Báo tịnh thổ, có tịnh thổ mọi phương… Chân Phật Mật Pháp khó nghĩ tưởng Bát nhã Mật giáo nơi chính giác Tương ứng du già chư Phật trụ Một cành ra hoa vạn năm thơm.

Rốt cục Lư Thắng Ngạn đã chết hay chưa? Đáp án đương nhiên là chưa chết, phàm là người có được con mắt chính kiến thì đều có thể nhìn ra được, đối với một người đã đạt giải thoát mà nói thì muốn chết chẳng qua chỉ là một sự sinh ra khác. Muốn sống tiếp thì chỉ là nguyên thần thoát ra lại trở về, có thể từ cấp độ nhân gian chuyển đến cấp độ tịnh thổ, lại từ cấp độ tịnh thổ trở về cấp độ nhân gian. Không đến không đi như vậy chính là Như Lai.

Tôi đích thực đã trải nghiệm chứng nứt hộp sọ. Trải nghiệm tứ đại phân rã. Tứ đại là đất nước lửa gió, con người chúng ta là do nhân duyên của tứ đại tạo tác mà thành, là sự cứng chắc của đất, là sự ẩm ướt của nước, là sự ấm áp của lửa, là sự chuyển động của gió mà hình thành nên. Tứ đại này nếu như không điều hòa thì nhục thân sẽ bại hoại phân tán.

Về mặt vô hình thì: Nứt hộp sọ là đất đã bị rạn nứt rồi. Máu rỉ ra ngoài. Não hỏa (áp) xung lên phun ra ngoài. Gió toàn thân bay tán loạn không tự nhiên.

May mà trạng thái tứ đại phân rã của tôi là vô hình, bác sĩ cũng không khám ra được. Tứ đại này là nguyên tố của vạn pháp, toàn bộ vạn pháp là do tứ đại hợp thành, nếu như tôi chết thật thì vạn pháp cũng quy về sự hoại diệt. Còn thân thể thật của tôi chỉ là đau đớn yếu ớt thôi chứ chưa hề hoại diệt, vì thế mà tôi vẫn còn sống được, sống để trải nghiệm chứng nứt não và tứ đại phân rã. Việc này thật là bất khả tư nghì đó!

Tôi đem phần sinh mạng còn lại của mình, cùng với tấm lòng chân thành, để viết nên cuốn sách "Độ qua biển sinh tử" này, như vậy thì mới có ý nghĩa. Bởi vì tôi hiểu rõ nhất về sự việc lớn nhất của đời người chính là cái chết. Tôi viết về cái chết, viết về vãng sinh tịnh thổ là thực tế nhất. Tôi sẽ lần lượt thuật lại tỉ mỉ về quá trình diễn ra cái chết, và còn cả cảnh giới trung ấm mà tôi đã thấy được nữa, càng cho con người thấy cần đối mặt với cái chết ra sao, bởi vì mỗi con người trên thế gian này đều khó tránh khỏi cái chết. Bạn nhất định cần biết rốt ráo để mà đối mặt, cần triệt để tìm hiểu, triệt để chứng ngộ chân lý của cái chết.

Tôi nói với mọi người rất rõ ràng như thế này: Người sống là do người chết chuyển thế mà đến. Người chết là nhân duyên của người sống đã hết, thế nên chết. Kiếp trước và kiếp sau, lúc sống và lúc chết. Lục đạo luân hồi nằm ở đó.

04. Định mệnh kiếp trước đời này

Tôi bế quan sống một mình tại hồ Diệp Tử, phiêu bạt nơi đất khách quê người. Tôi đây đã từng là Sư Tôn của vạn vạn người, là Đại Trì Minh Kim Cương Thượng Sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, mà nay lại hoàn toàn ẩn dật ở bên ngoài nhân gian Ta Bà rồi.

Từ cuộc sống xán lạn quay trở về cuộc sống bình dị, thế nhưng, mặc dù không xuất hiện ở thế gian, tôi vẫn viết sách độ chúng sinh, mặc dù độc cư nhưng tôi vẫn giữ chính kiến, phẩm hạnh thù thắng và tu tập đúng đắn, căn bản là không có gì khác biệt.

Tôi độc cư. Chịu cực khổ. Không có bất kì sự hưởng lạc nào. Chưa bao giờ oán trời trách người. Bởi vì tôi đã quen thuộc với định mệnh kiếp trước đời này rồi.

Tôi bảo đảm với những đệ tử có tín tâm kiên cố rằng, tôi đích xác đã tận mắt nhìn được tiền kiếp của bản thân, thật sự tận tai nghe được tên gọi kiếp trước của mình, thật sự đã đích thân chứng Ma Ha Song Liên Trì Tịnh Thổ.

Tôi còn nhớ kiếp trước của mình, tôi đã phát lời thề nguyện cực lớn rằng tôi muốn đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh, lời thề nguyện này thật sự là quá lớn: Phân thân xả cốt độ chúng sinh. Không bỏ rơi một chúng sinh nào.

Bởi vậy, do kết quả của lời thề nguyện kiếp trước đó mà tôi tất nhiên sẽ phải chịu "thân khổ" và "tâm khổ" cực kì lớn. Tôi không hề hối hận đã chọn sống ẩn dật và độc cư. Tôi không hề hối hận mình phải chịu khổ chịu nạn. Tôi nhận thức rằng tâm của chúng sinh trên thế gian này là sinh diệt vô thường.

Bởi vì trong kí ức của mình, không biết tôi đã từng được sinh ra bao nhiêu lần rồi, cũng không biết đã từng chết bao nhiêu lần rồi, nhưng trong ý thức của bản thân, trải nghiệm về những cái chết này tôi hiểu rất rõ. Tôi không phải là một người bình thường, người bình thường hoàn toàn không biết về kiếp trước, cũng không biết về kiếp tương lai, thậm chí bản thân chết như thế nào cũng không biết.

Trên thế giới này, người có thể có tư cách viết cuốn sách này e rằng chỉ có mình tôi mà thôi. Sinh chính là mặt trái của chết. Chết chính là mặt trái của sinh. Chúng chỉ là một cánh cửa. Đi vào là sinh. Đi ra là chết. Thế nhưng ở đây, chết như thế nào là vô cùng quan trọng.

Người đọc cuốn sách này chắc chắn sẽ phát hiện thấy: Thì ra Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là: Bảo vật — bảo vật vô thượng trân quý nhất của thế giới Ta Bà. Ngọn đèn lớn — chiếu khắp thế gian, ánh sáng vô tận. Ngọn đèn đang cháy — xua tan thế giới tam đồ vô minh và u tối. Thần thánh — người có toàn bộ pháp bảo. Chân Phật — là bậc Như Lai vô thượng chính đẳng chính giác.

Thập phương tam thế nhất thiết Phật, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát đều từng ca ngợi như thế này: "Đại đăng khắp pháp giới Đèn sáng chiếu tam đồ Nguyện hưởng công đức đó Bảo hộ Chân Phật hưng."

Đời người chính xác là như một giấc mộng huyễn, vũ trụ này là một dạng quy luật sinh tử, đồng thời cũng là thế giới hoạt bát sinh động, vật chất, buồn vui, khoa học, máy móc, nghệ thuật, v.v… giữa lúc sống và chết chỉ là một dạng đồ trang trí mà thôi.

Thực tướng chân chính của cuộc đời vẫn chính là tu hành, vẫn là ngộ đạo, vẫn là một cảnh giới khác sau khi chết đi, điều này thế nhân khó mà tưởng tượng được. Ở đây tôi lại một lần nữa thức tỉnh chúng sinh rằng: Tất cả mọi thứ của thế tục cuối cùng cũng là không. Tu hành xuất thế gian mới là nhân duyên đại sự. Phật Đà vì nhân duyên đại sự mới xuất hiện tại thế gian. Chúng ta cần phải tương ứng với "tam thừa bồ đề". Tất cả những điều này không hề giả một chút nào. Đời này, bản thân tôi đã nỗ lực rất nhiều, tôi đã cố gắng hết sức để đánh thức những con người thế gian mê muội tỉnh lại, cần thoát ra khỏi danh và lợi, để duy trì sự chính tu của tâm và thực tướng của sự tương ứng.

Người mê là chúng sinh. (tiền, sắc, danh, ăn, ngủ) Người ngộ là Phật. (bồ đề) Sinh tử cũng là một cái cửa. Cái cửa này lại vô cùng quan trọng. Cái chết có tính giá trị của nó, bởi vì nhận thức ở mức độ càng sâu, sự lĩnh hội càng thấu triệt, thì cái chết, bất ngờ thay lại chính là chìa khóa để mở ra tịnh thổ. Thời điểm lâm chung là cực kì quan trọng đó.

05. Đừng sống uổng phí đời người

Tôi từng viết như sau: Tôi sống ở Cao Hùng, Đài Loan tổng cộng 19 năm. Ở Đài Trung, Đài Loan, tôi cũng sống 19 năm. Ở Seattle bang Washington Hoa Kỳ tôi cũng đã sống 19 năm. Bây giờ thì ẩn cư...

Đối với cuộc đời này, đúng như những lời kệ mà Phật Thích Ca Mâu Ni thường nhắc nhở chúng ta: ”Như mộng huyễn bào ảnh Như ánh chớp đá lửa Như sương cũng như điện Nên quán thấy như vậy.” Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, sầu khổ, oán khổ, chịu khổ khổ, lo khổ, ốm đau khổ, sinh tử lưu chuyển khổ. Còn nữa, cái khổ của việc yêu phải xa cách, cái khổ của việc cứ phải gặp người mình ghét, khổ của việc cầu mà không được, rồi khổ của ngũ uẩn thiêu đốt.

Cho dù Phật Đà Đại Thánh cũng có chín phiền não lớn:

1. Bị Phạn Chí nữ Tôn Đà Lợi phỉ báng, ngay cả năm trăm vị La Hán cũng bị phỉ báng. 2. Bị nữ Bà La Môn Chiến Già phỉ báng. 3. Đề Bà Đạt Đa đẩy núi đè Phật, khiến Phật bị thương ở chân. 4. Bị cây đâm vào chân. 5. Bị vua Bì Lưu Ly và binh lính diệt gia tộc Thích Ca, Phật Đà đau đầu không ngớt. 6. Được Bà La Môn Kì Đạt Đa mời nhưng lại cho ăn thức ăn ngựa. 7. Gió lạnh thổi tới là cột sống đau nhói như kim châm. 8. Sáu năm khổ hạnh. 9. Vào làng của Bà La Môn, khất thực không được, trở về tay không. ...

Những nỗi khổ trong cuộc đời của Phật Thích Ca Mâu Ni, những nỗi khổ trong cuộc đời của tôi giống như bài kệ cảnh thị của Phổ Hiền Bồ Tát: ”Mỗi ngày trôi qua Mệnh lại giảm bớt Như cá thiếu nước Nào có vui gì.” Phần đông người hiểu rõ triết lý này đều sẽ công nhận, đời người khổ nhiều hơn vui, vì theo lối sống tạm bợ, sống uổng chết phí, trong khi sống thì đắm chìm trong ngũ dục, sao người ta không nghĩ cái chết sẽ nhanh chóng ập đến? Cái chết là việc sớm muộn, có quá nhiều quá nhiều người hết sức cố gắng làm những việc chẳng có chút ý nghĩa nào, thật sự là quá lãng phí, quá vô vị, quá đáng tiếc.

Nói như tôi đây, sống ở Cao Hùng 19 năm, học đến cấp ba thì tốt nghiệp. Sống ở Đài Trung 19 năm, sau khi tốt nghiệp đại học thì đi làm. 19 năm ở Seattle độ chúng sinh. Tôi cũng thừa nhận, thời gian tu hành độ sinh hoằng pháp quá ít, tôi còn sống được bao nhiêu năm nữa đây? Còn có thể tồn tại trên đời này bao nhiêu năm nữa?

Phàm phu đặc biệt như chúng ta đây, tôi vẫn xem là còn tốt. Những người khác ý thức tỉnh táo quá ít, cứ mãi mơ mơ hồ hồ không dừng dứt, ngay đến một câu Phật pháp cũng chưa nghe, ngay đến một pháp cũng chưa kịp tu thì đã tay không mà chết rồi.

Phật Đà cho rằng, chúng ta đã quá lờ đờ biếng nhác, thật sự đã quá buông thả lười biếng, chúng sinh chẳng hề trân trọng thời gian cuộc đời, mà lại đặt tiền bạc là quan trọng nhất, theo đuổi sự thỏa mãn dục vọng, hơn nữa lại còn cho rằng thân xác bao năm này chính là ta, thậm chí đời người là tất cả, cuộc đời là tất cả, đây là một quan niệm sai lầm.

Căn cứ theo nghĩa lý thuyết pháp của Phật Đà, sinh ra làm thân người là rất không đơn giản, khó có được cơ hội tu hành, vì vậy Kinh Lăng Già đã nói rất rõ ràng, con người có thể dựa vào nỗ lực tinh tấn của bản thân, nhờ "tâm thức chuyển thành trí huệ căn bản", đạt được sự giải thoát cuối cùng và bồ đề cuối cùng, đạt đến quả vị Phật đẳng giác.

Vì thế mà Tâm Kinh mới nói: ”Ma ha bát nhã ba la mật Là vô thượng chú Là đại minh chú Là đại thần chú Là vô đẳng đẳng chú.”

Nghĩa là nói rằng, sinh ra làm một con người, quyết định tinh tấn tu hành, đạt đến bỉ ngạn mới là việc đại sự có ý nghĩa nhất của đời người, là đại minh, là đại thần, là vô thượng, là vô đẳng đẳng. Cho dù bạn làm Quốc vương, làm Tổng thống, làm Thủ tướng, làm Thiên hoàng, làm Hoàng đế, thì đều không phải là "vô đẳng đẳng chú".

Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh, tôi thích nhất là bài "Mộng thơ" của Vương An Thạch, tôi đã nhiều lần trích đăng: ”Biết đời như mộng vô sở cầu, Vô sở cầu lòng tĩnh lặng không. Vẫn tưởng trong mơ tùy mộng cảnh, Thành tựu công đức tựa hà sa.”

06. Cái chết xảy đến bất kì lúc nào

Vì sao phải dạy đệ tử Chân Phật Tông cần đối diện với cái chết như thế nào?

Bài kệ thứ 21, phẩm thứ 24, Kinh Pháp Cú có viết: "Pháp thí, thắng mọi thí Pháp vị, thắng mọi vị Pháp hỷ, thắng mọi hỷ Trừ ái, thắng mọi khổ." Mọi người hãy ngẫm nghĩ kĩ về bài kệ này, Phật pháp là vô thượng trân quý! Trên đời này còn thứ gì quý giá hơn Phật pháp đây?

Cái chết là trực tiếp nhất, dễ nhận thức nhất, nó rõ ràng như ban ngày, là thực tướng từ sinh đến tử. Tôi nói "sinh tử vô thường", cái chết xảy đến bất kì lúc nào, đừng để đến già mới đi học đạo, những nấm mồ cô đơn đều là người chết trẻ. Bỗng chốc, máy bay rơi, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt. Bỗng chốc, xe cộ đâm nhau, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt. Bỗng chốc, hỏa hoạn, thoát thân không kịp, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt. Bỗng chốc, phần tử khủng bố đánh bom, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt. Bỗng chốc, tàu chìm, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt. Bỗng chốc, động đất, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt. Bỗng chốc, gió xoáy, đây là thực tướng của cái chết sờ sờ ngay trước mắt.

Tôi nói cho mọi người biết, những người bị phán tội chết thì bị chém, hỏa thiêu, chết đuối, thú vật cắn, ném xuống vách núi, uống thuốc độc, bị giết,… Còn nữa, tôi ở trong bệnh viện lớn, trông thấy người được khiêng ra khiêng vào, không chỉ là người già mà rất nhiều người trẻ tuổi, thậm chí là trẻ em, họ mắc phải bệnh nặng, có cả người bị ung thư, cũng có cả người mắc bệnh hoại huyết, cũng có người chết não, nhiễm trùng. Tám vạn bốn nghìn loại bệnh, cái chết vì bệnh tật thật sự đáng sợ! Và còn đáng sợ hơn nữa là: Nhân loại chiến tranh tự tàn sát chính mình.

Đối với những cái chết bất ngờ giáng xuống, không phải là không có khả năng, mà là luôn có khả năng, lúc ấy, một khi đã tiến vào cảnh giới trung ấm của cái chết thì linh hồn phải làm sao đây? Bạn có năng lực kiểm soát được không? Cái chết trong chớp mắt, bạn có thể tránh khỏi cảm giác sợ hãi không?

Bạn cho rằng đời người có thể độc lập tự chủ, cứ thế sinh tồn mãi mãi, sự tồn tại ở thế gian là một dạng quyền lợi. Nhưng bạn có biết không, mạng sống có thể mất đi bất kì lúc nào, cái chết có thể đến bất kì lúc nào, ai ai cũng có những cảm xúc buồn lo sợ hãi.

Trong quá khứ, tôi thường dạy đệ tử cần biết tu, cần phải trân trọng thời gian vô giá, phải mỗi ngày một tu, còn cần phải một ngày ba thời, nhớ đến tam căn bản. Tam căn bản chính là căn bản Thượng sư, căn bản Bổn tôn, căn bản Hộ pháp. Vì sao hành giả Mật giáo cần phải tu Hộ pháp? Cần biết rằng Hộ pháp hộ trì cho hành giả Mật giáo, tu Hộ pháp có thể tránh được rất nhiều phiền phức và khổ não, ví dụ:

1. Chú thuật của các pháp sư tà ác. 2. Thuật bùa chú. 3. Người ác hãm hại. 4. Tránh được tai vạ bất ngờ. 5. Quỷ thần hung thần ức hiếp. 6. Phi nhân cướp đoạt tinh khí. 7. Không đi vào những nơi hung ác.

Tuy nhiên, sinh tử vô thường cũng rất lợi hại, nếu như bạn không mỗi ngày một tu, không thường nhớ đến Thượng sư, không nghĩ đến Bổn tôn trụ đỉnh đầu, đối với nhục thể thì lơ là, với tình cảm thì buông thả, với tâm lý thì nghi hoặc, thì tam căn bản của nội tại không có cách nào thường trụ vĩnh hằng được, tự tính quang minh bất diệt vốn có cũng diệt rồi, còn cái chết vô thường thì vẫn xảy đến trong chớp mắt. Đường đường là một hành giả Mật giáo thì cũng đã trở thành món điểm tâm cho lũ ác quỷ vô thường mà thôi.

Cá nhân tôi cảm ứng thấy tam căn bản của Mật giáo cực kì quan trọng, Thượng sư là tổng trì của tất cả mọi pháp, Bổn tôn là tự tính của hành giả, Hộ pháp là thần bảo vệ ở nhân gian, ba vị này thiếu một cũng không được. Sự tu hành của bạn, nếu như có tương ứng rồi (du già) thì đối với những sự sợ hãi về cái chết, cũng giống như bình minh sương tan, tự nhiên sẽ biến mất không còn dấu vết.

Tôi thường nói: Khi đi máy bay, cần tương ứng "Bổn tôn trụ đỉnh". (Thật ra trong bất kì trường hợp nào thì Bổn tôn trụ đỉnh cũng rất quan trọng.) Nếu một ngày, vô thường ập đến. Bổn tôn chỉ cần kéo một cái, Bổn tôn tự tính (chính mình) và Bổn tôn trí huệ (Phật) hợp nhất và dung hợp, thế là bạn đã trực tiếp đến tịnh thổ rồi. Ý nghĩa và giá trị của việc tôi dạy "Bổn tôn trụ đỉnh" hoàn toàn nằm ở đây, đây là trung ấm (linh hồn) trực tiếp chuyển biến mà thành tựu, là một dạng chính tri chính kiến có thể nhận biết và đã được biết đến.

Tương ứng Bổn tôn trụ đỉnh là quan trọng số một.

07. Thiện thệ và thăng thiên

Trong "Thượng cổ thần thoại diễn nghĩa", tôi rất thích truyền thuyết về Hoàng Đế thăng thiên. Trên thực tế, vị Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu thời Trung Quốc cổ đại vốn xuất thân là thiên chủ của cõi trời. Các nhân vật trong thần thoại thượng cổ như: Phục Hy, Thần Nông, Hiên Viên, Toại Nhân, Hữu Sào, Nữ Oa, thậm chí Nghiêu, Thuấn, Vũ, Đế Tuấn, Đế Khốc, Hậu Nghệ, Hằng Nga, v.v… đều không phải là thần, mà là nửa thần nửa người.

Hoàng Đế cổ đại thích du sơn ngoạn thủy, thường kêu hai thần tử đi cùng, một người là Phong Hậu, một người là Thường Bá, một người mang sách, một người mang kiếm, tiêu dao vui đùa trong nhân gian. Vì thế, dấu chân Hoàng Đế đã đi qua: Thanh Khâu. Động Đình. Nga Mi. Vương Ốc. ...

Về sau, Hoàng Đế biết rằng thời gian về trời đã đến rồi, bèn cho đúc một cái bảo đỉnh rất lớn dưới chân núi Kinh Sơn (trong truyền thuyết Đạo gia, bảo đỉnh dùng để luyện đan, thuật luyện đan của Đạo gia từ đó mà lan truyền.) Bảo đỉnh đúc xong cao một trượng ba xích [gần 4 mét], dung lượng cả chiếc vạc này có thể chứa được mười thạch ngũ cốc [khoảng 1000 lít], xung quanh chiếc vạc có chạm khắc rồng cưỡi mây, còn khắc cả quỷ thần chúng và kỳ cầm dị thú nữa. Bảo đỉnh từng cử hành tiệc mừng công. Các thần ở cõi trời và bách tính khắp nơi đều đến chúc mừng.

Hoàng Đế biết rằng thời gian về trời đã đến, trời đột ngột mở ra, có một con rồng thần khoác áo giáp vàng kim quang lấp lánh từ trong mây vươn mình xuống, để cho râu rồng buông thẳng xuống bên trên bảo đỉnh. Lúc này, Hoàng Đế và thần tử của ngài (các thiên thần hạ phàm), tổng cộng hơn bảy mươi người, ai nấy nhún người bay lên mây, cưỡi lên lưng rồng thần, rồi từ từ bay lên thiên đình.

Có một số tiểu quân hầu và lão bách tính ở trên mặt đất trông thấy Hoàng đế thăng thiên cũng đều muốn cùng Hoàng đế đến thiên đình, nhưng họ không có cách nào nhún người bay lên mây được, không có cách nào cưỡi được rồng, chỉ có thể chen lấn tranh lên trước để bám lấy râu rồng, nhưng râu rồng không thể đỡ nổi nhiều người như vậy, cũng có rất nhiều người liên tiếp rơi xuống, ngay cả râu rồng cũng bị đứt mất mấy sợi. Râu rồng rơi trên mặt đất mọc lên cỏ, gọi là cỏ râu rồng. Đây là câu chuyện về Hoàng Đế thăng thiên.

Ngoài ra, câu chuyện về vua Lưu An ở Hoài Nam thăng thiên cũng rất thần kỳ. Vua Lưu An triều Hán ở Hoài Nam thích thuật thần tiên. Thế là có Bát Công - tám ông già kỳ quái tìm đến, truyền thụ thuật thần tiên, sau đó, vua Lưu An thật sự đã học thành công thuật luyện đan. Sau khi ăn viên đan dược của chính mình thì Lưu An đã cùng với tám ông già ở trên đỉnh núi giữa ban ngày bay lên trời. Trong nhà Lưu An vẫn còn mấy viên đan dược chưa ăn hết, để ở trong chiếc hộp ở đình viện. Trong vườn nhà có gà có chó chạy tới mổ và liếm, không ngờ chúng cũng lập tức có được hiệu quả, gà cũng từ từ bay lên trời, chó cũng bay lên, toàn bộ đều bay vào trong mây, trở thành tiên gà và tiên chó. Đây chính là truyền thuyết "một người đắc đạo, gà chó thăng thiên" nổi tiếng.

Trong Mật giáo, tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ của Tạng mật, sự thiện thệ của ngài cũng vô cùng nổi tiếng: Bốn đại Thiên Vương nâng chân thiên mã giáng xuống. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ ngồi trên thiên mã. Bay lên không trung. Còn để lại một câu danh ngôn: "Người kính sư, trọng pháp, thực tu sẽ đạt thành tựu." Thiện Thệ của Phật Đà là một trong mười xưng hiệu của Như Lai, thiện tức là tốt lành, thệ tức là từ trần. Phật Thích Ca Mâu Ni tu chính đạo, nhập niết bàn, đi về nơi tốt lành (cõi Thường Tịch Quang), vì thế gọi là Thiện Thệ.

Ngày nay, chúng ta tu Chân Phật Mật Pháp, được dạy những điều quan trọng về lúc chết, đây cũng chính là tín niệm về một cái chết tốt lành. Người người đều sẽ chết, không ai tránh khỏi, người người nên hiểu rõ chết là chuyện như thế nào, hiểu cách đối mặt với cái chết, đi đến cảnh giới tốt đẹp hơn. Đó là: Nhập thiện môn. Tu thiện đạo. Thiện giải thoát. Thiện vãng sinh. Thiện bồ đề.

Một hành giả chân chính lúc sắp lâm chung, cũng có người sống thọ và chết tại nhà không bệnh không đau, có người thì có thiên thần dự báo thời điểm chết, có người giỏi về thoát khỏi nhục thể, có người giỏi về chuyển thế thành Hoạt Phật. Ví dụ có những đại hành giả ngồi hoặc đứng và tự giải thoát rồi đi, hoặc thân hóa cầu vồng rồi đi, hoặc toàn thân thành xá lợi là đi…

Đối với người bình thường, chúng ta cần chỉ dạy họ làm sao để loại bỏ ma. Khai thị như thế nào? Dỗ dành như thế nào? Niệm Phật như thế nào? Trì chú như thế nào? Thân trung ấm nghe dạy để được độ như thế nào? Quang uẩn thiên thức như thế nào? Như thế mới có thể thiện thệ.

08. Lục đạo luân hồi trong thiên nhãn

Trong thiên nhãn của tôi, sinh tử và luân hồi mà tôi nhìn thấy thật sự là có rất nhiều sự lặp lại, không chỉ nhiều sự lặp đi lặp lại mà còn sinh ra thêm nhiều nữa.

Hai chữ "luân hồi" được dùng rất thích hợp, giống như một bánh xe cứ lăn mãi không dừng lại. Vậy mà thế nhân chưa từng biết rằng trong con mắt của tôi, luân hồi còn hơn cả một cái bánh xe, nói đúng ra phải là vô hạn cấp số bánh xe luân chuyển không ngừng.

Luân hồi vô thủy vô minh. Nghĩa là không có sự bắt đầu tuyệt đối. Cũng không có sự kết thúc tuyệt đối. Ở đây có sự xuất hiện, cũng có cả tiêu biến. Ở đây chỉ có Phật giáo nhắc đến giải thoát sinh tử luân hồi, đạt đến tính chân không chân chính, hoặc là cảnh giới niết bàn vô thượng, đây mới là đạo bồ đề vượt qua khỏi luân hồi. Cái tôi thấy có tôi vật chất. Còn có cả thần ngã của Bà La Môn giáo. La ha của Hồi giáo. Linh hồn của Cơ đốc giáo. Trung ấm của Mật giáo.

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, tác dụng của thân và tâm ở đây căn bản chính là một thể hợp lại đang biến hóa không ngừng, trước sau liên tục, không ngừng phát sinh ra những trạng thái chớp mắt chớp nhoáng của một chuỗi nhân duyên ảnh hưởng. Đối với tôi mà nói, không chỉ chết đi rồi mới luân hồi, lúc còn sống cũng đã xuất hiện hiện tượng luân hồi rồi.

Tôi có quen một danh nhân. Ông ta là một ông chủ lớn. Địa vị xã hội cao quý. Trong giới chính trị, kinh tế đều là nhân vật hạng nhất. Nhưng trong thiên nhãn của mình, tôi nhìn ra tinh thần của ông ta đã tiến nhập vào một sinh mạng mới, ông ấy vẫn chưa chết, nhưng mà đã giống như là đã phải chịu trên nhục thể rồi, từ lâu ông ta đã luân hồi thành một con trăn lớn. Nói cách khác là chỉ cần ông ta chết, thể hợp lại từ linh hồn và vật chất của ông ta chính là một con trăn lớn. Cái chết của ông ta chính là bước vào sự bắt đầu của một hình thái sinh mệnh mới. Thế nhưng, bạn có tin không? Danh nhân này vẫn còn chưa chết. Nhưng tôi đã nhìn thấy lục đạo luân hồi của ông ấy đã bắt đầu từ lâu rồi.

Tôi dùng thiên nhãn để quan sát tướng của chúng sinh. Có một cô gái từ lâu đã bị linh động vật của chuột nhập vào thân. Có một cô gái khác từ lâu đã bị linh động vật hồ ly của một người bộ tộc da đỏ nhập vào thân. Có một người đàn ông bị linh động vật của gấu nhập vào thân. Có rất nhiều trẻ em bị linh động vật của con khỉ nhập vào thân, vì thế nên đã bị bác sĩ chẩn đoán là chứng bệnh "tâm tính nóng nảy". (Những đứa trẻ tăng động quá mức.) Người tu hành bị ma nhập vào thân cũng không ít, bởi vì chỉ cần không phải là chính pháp chính tu, một khi đã đi vào con đường tà ma thì ma rất dễ dàng nhập vào thân. (Càng tu càng tự đại, ngạo mạn, vọng tưởng, thích trèo cao, danh lợi.)

Tôi gặp một bé học sinh mới sáu tuổi, mỗi tối lên giường đi ngủ toàn tự đập đầu mình vào giường, tới nỗi phát ra thành tiếng "binh binh". Bác sĩ bó tay. Đại pháp sư bó tay. Thầy bói bó tay. Bùa chú bó tay. Bởi vì cô bé học sinh này kiếp trước đã giết người ở trên giường, ác nghiệp kiếp trước đã tạo ra khiến linh hồn (trung ấm) của người đó đến để đòi nợ máu, nên đến kiếp này cô bé học sinh đó phải chịu đau đớn của việc đập đầu vào giường để trả nợ. (Hiện tượng này gọi là bị ma nhập.)

Tôi dùng thiên nhãn quan sát các bệnh viện, bệnh nhân trong bệnh viện bị mổ họng, cắt thận, thay tim, cắt gan, mổ não, tách ruột cắt gan, cưa tay,... (khổ hình của địa ngục). Tôi dùng thiên nhãn quan sát nhiều chính trị gia, những nhân vật chính trị lớn nắm trong tay quyền sinh sát, trên mặt của họ hiện lên tướng của Đại A tu la Vương, họ lấy việc tranh quyền giết người làm trò vui, chiến sự vĩnh viễn không có ngày bình yên. (Từ lâu đã luân hồi làm A tu la rồi.) Lục đạo luân hồi hữu hình vô hình từ sớm đã viết ra trên mặt con người rồi, chỉ là sự khác biệt giữa nghiệp chướng nặng hay nhẹ mà thôi.

Lục đạo luân hồi trời, người, A tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh đều là nhân duyên quả báo của kiếp trước, kiếp này, kiếp sau. Trong thiên nhãn của tôi, các linh tự sát cũng rất đáng thương, cho dù có chuyển kiếp thành người thì cũng là: Người bị câm điếc. Tàn tật thiểu năng. Mắc bệnh kỳ dị.

Tôi dùng thiên nhãn quan sát một một phụ nữ trung niên, bà ấy đã quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Bà ấy có nhiều kiếp không hề làm những việc độc ác phi nhân tính, kiếp này bà lại còn nỗ lực niệm Phật trì chú, tu Chân Phật Mật Pháp.

Người này hiện tại vẫn luôn độ hóa cho hàng xóm của mình, cho bạn học của mình, bạn bè thân thiết của mình quy y cửa Phật. Bà ấy vẫn chưa xuất gia, vẫn giữ thân phận cư sĩ trợ giúp Sư Tôn của mình độ hóa chúng sinh.

Bà ấy giữ giới rất chặt chẽ cẩn thận: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Đặc biệt khi nói chuyện thì không dùng lời lẽ tục tĩu, không nói khoác, không nói lời lật lọng, không ác khẩu, trước nay cũng không nhiều lời, không nói những lời vô nghĩa. Không phàn nàn về mọi người hoặc mọi thứ.

Bà ấy rất có lòng từ bi, nguyện cho tất cả chúng sinh mọi niềm an vui, bà ấy cảm thấy chúng sinh quá khổ rồi, bà ấy mong loại bỏ mọi đau khổ của chúng sinh, có cách nghĩ từ bi tất cả chúng sinh. Cần biết rằng một khi đã phát tâm từ bi thì sẽ có được 12 lợi ích vô hình: "Phúc thường theo thân, giấc ngủ an bình, có thần bảo vệ, người người tôn kính, không nhiễm độc hại, không vào chỗ hiểm, không chết chìm, không chết cháy, có được tất cả lợi ích, vô danh mà thành danh, lên cõi Phạm Thiên, vãng sinh Cực Lạc."

Bà ấy cũng đã đắc pháp Vô lậu, vô lậu này không phải là sự rò rỉ hữu hình, cũng có thể gọi là vô phiền não. Phiền não chính là tham, sân, si, do lục căn ngày đêm không ngừng tiết chảy ra. Bà ấy đã không tham, không sân, không si, là một hành giả chân chính.

Tôi dùng thiên nhãn để quan sát người nữ đệ tử này: Tôi thấy ở giữa hai lông mày của bà có ánh sáng bạch hào, đây là một trong 32 tướng tốt. Tôi rất kinh ngạc. Tôi đã xác minh được rằng bà ấy đã đến được Ly Dục Địa của Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát ở địa thứ 10 rồi, sắp thành tựu Bồ Tát rồi.

Một lần trong tam muội, chính bà ấy đã nhìn thấy tôi hiện thân, hơn nữa còn nhìn thấy hơn trăm vị Bồ Tát. Tôi và hơn trăm vị Bồ Tát đều hiển hiện với báo thân đại thiên sắc thân, thật sự là quá trang nghiêm, quá thù thắng, quá khiến người ta cảm động. Tôi nói: Người đệ tử này chắc chắn vãng sinh Phật quốc.

09. Ánh sáng của đỉnh thiên khiếu

Muốn vãng sinh Phật quốc. Cá nhân tôi nghĩ như thế này, khi một người chết, nếu như vừa đúng lúc có một vị Kim cương Thượng sư ở bên cạnh, vị Thượng sư sẽ chỉ bảo cho trung ấm (linh hồn) của người chết tìm đến con đường lỗ hổng vãng sinh tốt nhất mà đi ra, điều này vô cùng quan trọng.

Con người chúng ta có 11 đường lỗ hổng:

1. Thiên khiếu — ở chính giữa đỉnh đầu, tám đốt ngón tay tính từ chân tóc. 2. Hai lỗ tai. 3. Hai con mắt. 4. Hai lỗ mũi. 5. Miệng. 6. Rốn. 7. Âm đạo. 8. Hậu môn.

Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn) từ lâu đã tu thành tựu pháp Phowa, một trong sáu pháp của Naropa. Đường lỗ hổng ở chính giữa đỉnh đầu của tôi đã mở ra rồi, ai cũng có thể thấy, đây là một minh chứng tốt nhất. Đường lỗ hổng này nằm ở chính giữa đại não, chính là thiên khiếu, cũng tức là ở trung tâm của hoa sen nghìn cánh, trong Mật giáo thì đây là luân xa yoga, ở phía trên luân xa trán, tác dụng tinh thần ở chỗ này là rõ ràng nhất, cũng tức là luân xa chủ yếu của ý thức thanh tịnh.

Họa sĩ chúng ta khi vẽ Phật Bồ Tát, đương nhiên có ánh sáng xung quanh, mỗi lỗ chân lông đều phóng ra ánh sáng, nhưng quan trọng là hào quang ở trên đỉnh đầu. Vì sao ánh sáng ở trên đỉnh đầu lại quan trọng như vậy? Người hợp nhất tâm Tâm hợp nhất lý Phật quốc thăng lên Đi từ thiên khiếu.

Trong Mật giáo, đầu là trung tâm của ý thức giác tri, do đầu điều tiết các luân xa khác, trung ấm sinh mạng từ trung mạch thoát ra, nếu như là "quang minh phong mạch" thì tác dụng cuối cùng của nó là thoát ra từ lỗ đỉnh đầu, sau đó tiến nhập vào trung mạch của Bổn tôn, tiến nhập vào tịnh thổ của Bổn tôn.

Một vị Kim cương Thượng sư giỏi có thể dạy bảo người chết, chỉ dẫn cho việc cầu nguyện không ngừng và niệm tụng Thánh danh lặp đi lặp lại, để khiến cho người chết đạt được sự thiện thệ, vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, nơi mà thân trung ấm đi ra chính là đỉnh đầu.

Có thể tình cờ gặp được một vị Kim cương Thượng sư giỏi vẫn là do duyên phận xưa nay đã đủ, cũng có thể xem là nhân duyên quả báo của thiện căn lớn. Có được một vị Kim cương Thượng sư đã chứng ngộ đến giúp đỡ một người phàm phu, đây cũng nhờ do duyên phận lớn từ kiếp trước của người đó mới có được.

Kim cương Thượng sư cần hiểu rằng: Phàm phu có sáu thức: tâm, nhãn, nhĩ, thiệt, tỵ, thân, ý. Thêm mạt na thức, a lại da thức, dị thục thức, vô cấu thức, là thành mười thức. Thức thứ tám là Như Lai Tạng Tâm. Thức thứ chín là ly phân đoạn sinh tử. Thức thứ mười là cứu cánh thanh tịnh. Mà thức chính là sự nhận biết.

Kim cương Thượng sư muốn dạy cho người chết thì nên biết tâm thức của người chết này, hiểu cách tách biệt hoàn toàn thức tính của người chết. Chỉ cần có thể tách biệt được hẳn tâm hành trong bảy thức của người chết, để họ biết không thể bám chấp, thì mới có thể dạy người chết thoát ly khỏi biển khổ lúc này. Ở đây cũng phải là một vị Kim cương Thượng sư đã chứng ngộ mới có thể hiểu và phân biệt được.

Kim cương Thượng sư cần phân biệt được tâm hành của tâm chúng sinh. Chỉ dẫn cho chúng sinh sơ ngộ. Chuyển bảy thức đầu tiên nhập vào thức thứ tám, đạt được tất cả công năng không sai sót.

Sau đó, Kim cương Thượng sư cần phong kín lại hai lỗ tai, hai hốc mắt, hai lỗ mũi, miệng, rốn, âm đạo, hậu môn. Chỉ chừa lại thiên khiếu. Việc phong kín này cần dùng "quang uẩn thiên thức pháp", đó là nhờ ánh sáng của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp của Kim cương Thượng sư để phong kín lại mười đường lỗ hổng. Sau đó di chuyển thần thức. Dùng thức thứ tám Như Lai Tạng Tâm, tất cả chủng trí từ vô thủy đến nay rời xa chân tâm kiến văn giác tri, không khởi tham niệm, sân niệm, si niệm trong tam giới, sản sinh tâm chán ghét muốn bỏ tam giới. [chủng trí - trí tuệ thấu đạt được mầm mống, nguyên nhân của mọi hiện tượng]

Kim cương Thượng sư có thể vận dụng: "Quang uẩn." "Thiên thức." Đây là một đại pháp vô thượng cực kì quan trọng, có thể khiến người chết - một phàm phu, trong một thời gian cực ngắn, từ trong trung ấm chứng ngộ được tất cả chủng trí của Bồ Tát, từ đó có được tác dụng diệu kỳ của thức thứ tám.

Ví dụ: Mẹ tôi - bà Lư Ngọc Nữ, viên tịch tại Seattle nước Mỹ. Vừa hay tôi có ở đó. Tôi đã dùng pháp quang uẩn thiên thức. Mở thiên môn. Đóng địa hộ. Chặn nhân đạo. Bịt quỷ lộ. Điều này chỉ có một bậc Kim cương Thượng sư đã tương ứng Thượng sư, tương ứng Bổn tôn, tương ứng Hộ pháp mới có thể vận dụng được quang uẩn. Đặc biệt là trên phương diện thiên thức, ở đây là thể tính của thức thứ tám trở lên, pháp sư thông thường và phàm phu không thể hiểu hết được. Duy có bậc đại Kim cương Thượng sư đã chứng chân như, đích thân chứng thức thứ tám Như Lai Tạng mới có thể biết thiên thức.

Bởi vì khi người chết ở trong cảnh giới trung ấm, sáu thức, bảy thức có thể khởi tác, sản sinh ra đủ loại cảnh giới không tốt. Kim cương Thượng sư muốn chỉ dẫn cần phải dùng: Phi tâm tâm. Bất niệm tâm. Vô trụ tâm. Vô tâm vô tướng. Để mà phá bỏ. Làm cho người chết hiểu rằng cần phải rời xa kiến văn giác tri của lục căn lục trần lục xứ, chứng thực tự tính của đại chủng trí. Nhờ tác dụng diệu kỳ của nó, từ thiên khiếu tiến nhập vào Cực Lạc tịnh thổ để mà vãng sinh Phật quốc, trở về nhập vào tự tính A Di Đà Phật.

Khi ấy, các đệ tử và anh chị em trong nhà có mặt ở đó khoảng hơn 20 người, chúng tôi cùng niệm Thánh hiệu Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, niệm liên tục không dừng. (Bổn tôn của mẹ tôi là Quan Thế Âm Bồ Tát.) Những người có mặt ở đó tận mắt nhìn thấy thân thể mẹ tôi nằm đó rất an lành, bỗng dưng đầu bà từ từ nhấc lên, một luồng chân khí (chân tâm) từ lỗ đỉnh đầu thoát ra ngoài. Như thế là mẹ tôi đã thoát khỏi lục đạo luân hồi rồi, đây là một bằng chứng của việc rời xa tam giới. (Sau khi hỏa thiêu có xá lợi tử, có xá lợi răng, xá lợi hoa.)

Mẹ tôi nhờ thiên thức mà sơ ngộ, nhờ sơ ngộ mà đạt được tác dụng thần kỳ, sinh ra đại trí huệ, nay bà đã là đại Bồ Tát rồi.

10. Đời người là khách qua đường

Thời kì đầu học Phật, tôi đã từng học khóa tụng, pháp sư dạy tôi khóa tụng là pháp sư Thiện Tứ ở chùa Từ Âm và pháp sư Thượng Lâm ở chùa Từ Minh.

Sau khi học xong khóa tụng kinh sám hối, thỉnh thoảng lúc này lúc khác có người cần, tôi đã theo đoàn đi tụng "trai thiên khoa nghi" (bái thiên cung), cũng đến nhà tang lễ giúp người ta tụng kinh siêu độ. Thậm chí, có người vừa mới qua đời, nằm trên phản gỗ, một mình tôi đọc Kinh Cước Vỹ cho người chết. Tôi đã từng thấy bao nhiêu người chết rồi? Câu trả lời là: vô số. (Không thể đếm được.)

"Nhướn mắt nhìn vạn vật hư huyễn Vọng tưởng rằng tam giới là nhà Quang minh thường tịch vô biên chiếu Xuyên thấu bụi trần vốn ngăn che

Yêu thương buộc chặt khổ Ta Bà Xuống đến hoàng tuyền lệ vẫn rơi Ai bảo biệt ly cùng kiếp hận Có biết thân đây chính Di Đà

Hoang vu lạnh lẽo khóc hết ngày Ai còn nhớ đến lão kim tiên Kiếp này chôn ở liên hoa thổ Đừng để ai đến đốt giấy tiền."

Hồi đầu, tôi niệm Kinh Cước Vỹ, theo phong tục của người đời là phải che tượng Phật tượng Thần ở trong phòng khách lại vì sợ xung với người chết. Nhưng tôi lại khác, tôi khuyên người nhà của người chết bỏ vải che ra, đặt tượng Phật ở trên đỉnh đầu của người chết, để cho Phật Bồ Tát tiếp dẫn người chết, và cũng để cho người chết nhớ đến Phật Bồ Tát. Tôi niệm Kinh Cước Vỹ. Thắp nến. Châm hương. Một bát cơm trắng. Cảm thấy đời người thật thê thảm thảm thê, đi đến cuối cùng, hai chân dừng lại, đầu ngoẹo qua một bên, thế là lìa đời.

Con người thời nay trông thấy người chết thì đều bịt mũi nhắm mắt vì ghê sợ mùi xú uế và muốn đi qua thật nhanh. Ai biết rằng ngày xưa, người chết là một mỹ nữ lụa là gấm vóc, ai trông thấy cũng phải cười vui ra mặt, thèm có được vẻ đẹp thanh khiết ấy, và cũng từng yêu cô ấy sục sôi. Con người sinh ra như vậy. Con người chết đi như vậy. Trong số đó, có người xấu có người tốt, có người nghèo có người giàu, có người hèn có người sang, có người ngu có người khôn. Mỗi người trải qua nhiều kiếp, nhiều như nước như biển, tiểu thị nhân và quan cao quý nhân, nhưng nỗi khổ của cõi Ta Bà thì giống nhau.

Tôi đã thấy nhiều quá rồi, than thở rồi lại thở than. Đời người như lữ khách, là khách qua đường, thế gian Ta Bà là lữ quán.

Sau này học Mật giáo, tôi biết về bên trong cái chết của con người, mặc dù mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na thức dường như đã yếu rồi, nhưng ý thức tự ngã vẫn duy trì tiếp, giống như đang nằm mơ, giống như hôn mê, nhưng chính xác hơn là ở giữa nằm mơ và hôn mê.

Người bình thường cho rằng con người chết rồi sẽ đi vào trạng thái mất ý thức hoàn toàn, hoặc là tiến nhập vào "chân không", tất cả đều không còn nữa, chết rồi thì tất cả đều không còn. Những người chủ trương như vậy không phải là không có, họ cho rằng "con người chỉ có một kiếp", chẳng có những thứ khác, biến mất sạch sẽ hoàn toàn.

Thế nhưng, cảnh giới trung ấm mà tôi nhìn thấy chính là sau khi con người chết đi thì sẽ đi vào một giấc mộng khác, giấc mộng này đương nhiên không phải là "chân không", cũng tuyệt đối không phải là "không vô", cũng không phải là "hư không", đây chính là linh hồn.

Trung ấm chính là linh hồn. Đạo gia gọi là nguyên thần. Trung ấm còn gọi là trung hữu.

Tức là sau khi con người chết đi, lúc còn chưa luân hồi vào lục đạo, có một hóa sinh do vật chất vi tế hình thành để duy trì sinh lực của người đó, hóa sinh này chính là thân trung ấm. Theo cách nói thông thường của Mật giáo, thân trung ấm này trong vòng 49 ngày đầu tiên, mỗi bảy ngày lại là một lần sinh tử, trải qua bảy lượt sinh tử, chờ đợi sự an bài của nghiệp duyên, sau đó lục đạo luân hồi, lại một lần nữa đầu thai trôi dạt trong cảnh giới lục đạo.

Theo như tôi biết: Người có tu hành, vào lúc còn sống và ngay sau khi chết - chưa luân hồi vào lục đạo, lúc ở trong trung ấm đã có thể biết ngay nơi vãng sinh trong tương lai của mình (trung ấm biết được nơi sẽ sinh ra). Người không tu hành, sau khi chết đi sẽ trở thành một huyễn thể vô minh trôi dạt trong sinh tử. (thân trung ấm) Một chốc lại chạy đi tìm người thân. Một chốc lại loanh quanh nơi phần mộ. Một chốc lại về nơi ở cũ của mình. Một chốc lại vuốt ve những vật mà mình yêu thích. Một chốc lại hồi tưởng về chuyện dĩ vãng.

Điều thường thấy nhất là thân trung ấm đi lại rất nhanh, thoắt đông thoắt tây, nghĩa là ý thức không chịu hạn chế gì cả, về mặt tình cảm thì rất phức tạp, về mặt ý chí thì tự do hành động nhưng lại có cảm giác lực bất tòng tâm. Cảm giác lực bất tòng tâm này là đối với vật chất nhân gian, những gì người chết nói, hay làm, người thế gian đều không cảm nhận được gì. Căn bản là không cảm giác thấy được, trừ những người thông linh.

Lấy tôi làm ví dụ: Chứng bệnh nứt não chính là trải nghiệm về cái chết mà Quan Thế Âm Bồ Tát dành cho tôi. Tôi nói một cách rất tiêu cực rằng: Tôi ở trong đau khổ mà thoát khỏi đau khổ. (Đau khổ sau khi chết đã được giải trừ rồi.) Tứ đại phân tán cũng đã trải nghiệm rồi. Bát hàn bát nhiệt cũng đã trải nghiệm rồi. Sau khi não nứt tách, hoa sen tám cánh mở ra, vị ngồi ở trong hoa sen đó (thân trung ấm), đó là nguyên thần, chân ngã, chân Phật, chân như, bản tính, Phật tính, chân quang… mà tôi tu hành qua một thời gian dài.

Nói một cách nghiêm khắc, đây chính là niết bàn của người tu hành. Người có tu hành, người chân ngộ, hoàn toàn thoát khỏi đau khổ của lục đạo luân hồi và nhục thể. Niết bàn chính là sự thể nghiệm viên mãn. Về mặt giác tính thì vô phiền vô não, về mặt thần hành thì là tự tại, cũng là đại lực, có sẵn thập lực của Như Lai:

1. Lực trí huệ. 2. Lực túc mệnh toàn tri. 3. Lực thiền định tam muội. 4. Lực biết nghiệp báo của chúng sinh. 5. Lực biết căn tính chúng sinh. 6. Lực biết thập phương pháp giới của hư không. 7. Lực biết nhân quả. 8. Lực thiên nhãn vô tận. 9. Lực vô lậu niết bàn. 10. Lực hoàn toàn không còn mê hoặc.

Hơn nữa người tu hành đắc chứng vô thượng chính đẳng chính giác cũng có thể tùy theo ý nghiệp của thập phương chúng sinh mà thị hiện thân họ ở khắp mọi nơi. Tôi cảm thấy điều đáng thương nhất là thân trung ấm vô minh cứ lưu lạc trong biển khổ sinh tử, họ mê muội trong cái huyễn, sinh không biết sinh, tử không biết tử. Họ kiêu ngạo, đố kỵ, lười nhác, căm phẫn, tham lam, mê sắc, ngu si… Những thứ vô minh này khiến rất nhiều người không biết tu hành, không gặp được nhân duyên tốt lành, vĩnh viễn trở thành người và súc sinh trong lục đạo luân hồi, hoặc là lữ khách trong bốn đạo khác.

11. Con đường giải thoát của thân trung ấm

Về con đường giải thoát của thân trung ấm, trong Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, thật ra Phật Đà cũng đã giải thích rất tường tận rồi.

Ví dụ: Phẩm thứ tám: Các Diêm La Vương tán thán: "Phật bảo Diêm La thiên tử, chúng sinh Nam Diêm Phù Đề tính cách kiên cường, rất khó điều phục. Đại Bồ Tát trong trăm nghìn kiếp đã lần lượt cứu vớt những chúng sinh đó, từ lâu đã lệnh giải thoát những người bị tội báo cho đến những người bị đọa vào đường đại ác, Bồ Tát dùng lực phương tiện nhổ sạch nghiệp duyên gốc rễ, làm cho họ hiểu được các việc đời trước. Nhưng vì chúng sinh trong cõi Diêm Phù đã tạo ra thói quen xấu rất nặng, vừa ra khỏi lại trở vào, làm nhọc cho Bồ Tát phải trải qua nhiều kiếp số để mà độ họ giải thoát."

"Ví như có người quên mất nhà mình, đi lạc vào đường nguy hiểm, trong con đường hiểm đó có rất nhiều quỷ dạ xoa, cùng hổ, sói, sư tử, rắn độc, bọ cạp. Người mê muội đó ở trong đường hiểm chỉ chừng giây lát là sẽ gặp các thứ độc. Có một vị tri thức hiểu nhiều phép thuật, giỏi ngăn chặn độc, kể cả quỷ dạ xoa cùng các loài ác độc v.v…, bỗng gặp người mê muội kia đang muốn đi vào đường hiểm, bèn vội bảo rằng, ôi thôi anh kia, vì cớ gì mà đi vào con đường này? Anh có phép thuật lạ gì có thể ngăn trừ các thứ độc chăng? Người lạc đường chợt nghe lời ấy mới biết là đường nguy hiểm, lập tức lui bước, muốn ra khỏi con đường đó. Vị thiện tri thức kia nắm tay dìu dắt, dẫn ra khỏi đường hiểm."

Hôm nay, tôi trích dẫn đoạn kinh văn này, dụng ý chính là: Người lạc đường là thân trung ấm. Địa Tạng Bồ Tát là đại thiện tri thức. Thiện tri thức khuyên người lạc đường đừng đi vào tam đồ. Giúp loại bỏ tội khổ của chúng sinh, để chúng sinh sinh ra làm người trong cõi trời. Vãng sinh Phật quốc.

Tiếp nữa: "Bởi vậy, người nam người nữ ở cõi Diêm Phù Đề vào lúc lâm chung, thần thức mê muội, không phân biệt được thiện ác, thậm chí mắt tai cũng khó thấy nghe được gì nữa. Những người thân cần phải sắp xếp cúng dường lớn, chuyển sang đọc kinh tôn quý này, niệm danh hiệu Phật Bồ Tát. Thiện duyên như vậy có thể khiến người chết thoát khỏi các ác đạo, các ma quỷ ác thần đều phải rút lui giải tán."

Điều quan trọng nhất là: "Thế Tôn, tất cả chúng sinh lúc lâm chung, nếu có thể nghe một danh hiệu Phật, một danh hiệu Bồ Tát, hoặc một câu một kệ trong kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội sát hại vô gián, còn những người nghiệp ác nho nhỏ đáng phải đọa vào đường ác thì chẳng bao lâu đều sẽ tìm được giải thoát."

Kinh Địa Tạng dạy rằng: Giúp người chết tu việc thiện. Giúp người chết tu việc pháp. Giúp người chết đọc kinh. Niệm Phật trì chú. Treo lên một ngọn cờ. Treo lên một cái lọng. Chút hương chút hoa cúng dường tượng Phật và tượng Bồ Tát. Thắp hương cúng dường một câu kinh một bài kệ. (Những điều này đều được ghi chép trong kinh, rất quan trọng.)

Vì sao cần chuyển sang đọc Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, bởi vì kinh này có lợi cả âm dương. Bộ kinh điển này là do Phật Thích Ca Mâu Ni ở Đao Lợi Thiên Cung giảng về Địa Tạng Bồ Tát cho phu nhân Maya nghe. Địa tức là an ổn vững chắc nhẫn nại bất động như mặt đất, Tạng nghĩa là tĩnh lặng trầm tư suy nghĩ thâm mật sâu sắc. Vị đại Bồ Tát này không chỉ cứu cõi âm, mà còn cứu cả chúng sinh lục đạo. Sau khi Thích Ca Như Lai nhập diệt, trước khi Di Lặc Như Lai sinh ra, ngài đảm đương trách nhiệm to lớn cứu độ chúng sinh mà Phật Đà phó thác. Bởi vì ngài thường ở âm gian địa ngục cứu khổ cứu nạn nên mới có đại nguyện: Địa ngục chưa sạch, thề không thành Phật. Bởi thế chúng ta mới xưng hô ngài là: "Nam mô U Minh Giáo Chủ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát."

Tôi sâu sắc cảm thấy rằng, nơi khổ nhất trong lục đạo chính là đạo địa ngục. Có đại địa ngục căn bản, có bát hàn, bát nhiệt, tổng cộng là mười sáu đại địa ngục. Ngoài ra còn có địa ngục cận biên, tức là mười sáu địa ngục du tăng của bốn cửa địa ngục bát nhiệt. Còn có địa ngục cô độc ở trong núi, nơi hoang dã, dưới cây, mép nước, chốn chốn biến đổi tới lui, là nghiệp chướng thế nhân chiêu cảm mà ra.

Những sự khổ cực và thời gian ở mỗi địa ngục cũng rất khác nhau. Đại địa ngục căn bản là khổ nhất, tiếp theo là địa ngục cận biên, rồi đến địa ngục cô độc.

Theo như thiên nhãn của tôi nhìn thấy: Địa ngục không chỉ ở dưới đất, cũng không nhất định là ở dưới đáy biển, tại nhân gian cũng đã có địa ngục rồi. Tôi thường nói, các bệnh viện lớn chính là đại địa ngục, người bệnh đi vào đó đương nhiên đều là người đang phải chịu khổ, đây cũng là do nghiệp báo chiêu cảm. Mọi người thường thấy ở những bệnh viện lớn có mổ não, cắt yết hầu, mổ tim, cắt gan, thay thận, cắt chân tay, cắt ruột, cắt dạ dày… Ông trời ơi! Đó chẳng phải là khổ hình địa ngục thì là cái gì? Còn có: Ung thư. Tiểu đường. Đột quỵ. AIDS. Tâm thần. (Tám vạn bốn nghìn loại bệnh nhiều không thể đếm xuể.)

Những người mắc bệnh này không phải là khổ hình thì là cái gì? Cái khổ ở nhân gian chúng ta, và sự giải thoát của thân trung ấm, về mặt cơ cấu thì thật ra rất giống nhau, nhân gian cũng khổ, không, vô thường, vô ngã như vậy. Hôm nay tôi dũng cảm nói rằng, nhân gian cũng nằm trong lục đạo luân hồi, nhục thể của nhân gian và thân trung ấm sau khi chết là vấn đề quan niệm của thế giới chủ thể và thế giới khách thể, con người cần tu hành giải thoát và sự giải thoát của thân trung ấm thật ra không có sự khác biệt lớn. Sự khác biệt là: Nhân gian có thực thể (nhục thể), nên rõ ràng hơn một chút. Thân trung ấm không có nhục thể, nên hư huyễn hơn một chút.

Thế nhưng, khi chúng ta chết đi, những quang ảnh mà ta nhìn thấy sau khi chết, nhìn từ góc độ của thân trung ấm của người chết thì vẫn rất chân thực. Ví dụ: Một người nằm mơ. Trong mơ, người đó cho rằng tất cả đều là thật. Đến khi tỉnh dậy thì mới biết chỉ là giấc mơ mà thôi.

Vì sao Mật giáo dạy mọi người cần tu mộng, cần biết mộng, giấc mơ minh mẫn, giấc mơ rõ ràng, trong mơ biết tu. Bởi vì thân trung ấm chính là mơ. Ở trong mơ bạn cũng có thể biết tu, niệm Phật trì chú, trong mơ cũng có thể tu pháp rất rõ ràng, quy y Kim cương Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Đương nhiên vào lúc ở trong thân trung ấm cũng có thể giải thoát như vậy.

Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh cũng đã nói với chúng ta rất rõ ràng rằng, đối với người sắp chết hoặc người vừa mới chết, cần khuyên thỉnh họ rằng đừng đi vào đường hiểm, phải nhanh chóng xa rời đường hiểm. Nhờ thế sẽ thấy được quang minh, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng. Bồ Tát phóng quang, khiến thân trung ấm có thể nhớ đến Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, cảnh giới giải thoát thành thục, vào lúc bị nghiệp lực thế gian đưa đẩy đi, thân trung ấm có thể hòa nhập vào trong ánh sáng của Như Lai, và thế là trong sát-na có thể nhập vào tịnh thổ của Như Lai.

12. Tư lương tu hành

Tôi cho rằng muốn vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, không chỉ là vào lúc giải thoát thân trung ấm mới hạ công phu, kì thực bản thân người chết thuở bình sinh tu hành đạo giải thoát và đạo bồ đề, chuẩn bị tư lương vãng sinh từ sớm là điều cực kì quan trọng. Bởi vì người chết sở dĩ có thể đạt được giải thoát vẫn là vì bản thân người đó lúc bình thường tư lương tu hành đã đủ, nên khi ánh sáng hiện tiền mới có thể nhận ra được, mới có thể dung nhập thành thục.

Nếu như một người bình thời ngay cả Phật pháp cũng chưa từng nghe, chưa từng nghĩ, chưa từng tu thì cho dù đại thiện tri thức có khuyên dạy thế nào, người này ở trong hôn mê đến khi nhìn thấy mọi hình ảnh vẫn ngay lập tức cho rằng đó cũng là thế giới thật sự.

Tâm thức của loại người này vẫn là tạp niệm huyễn tưởng không dừng không dứt. Tâm thức căn bản là không tìm thấy nơi nào để mà theo, cho dù người chết nghe được lời khuyên, anh ta cũng sẽ giống như lúc còn sống, cố chấp bảo thủ với ý kiến riêng, người chết căn bản không biết về một cảnh giới khác nào nữa. Thế là, họ theo nghiệp báo của chính mình mà đi lục đạo luân hồi, người chết vẫn đang mộng huyễn đó!

Vì vậy, tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, lúc còn sống chuẩn bị tu hành tư lương vãng sinh là rất quan trọng, tuyệt đối cần chú ý, không thể lơ là.

Trong Mật giáo: Cần tu Tứ gia hành. (Tứ quy y, đại lễ bái, đại cúng dường, Kim Cang Tâm.) Giữ năm giới, làm mười điều thiện, giữ giới luật Mật giáo. Tu pháp Thượng sư tương ứng. (Thượng sư là đại thiện tri thức.) Tu pháp Bổn tôn. (Phật quốc tịnh thổ có thể nương dựa.) Tu Hộ pháp. (Bảo vệ việc tu hành.) Khí. Mạch. Minh điểm. Chuyển thức thành trí. (Vô thượng mật) Đại viên mãn.

Trong Hiển giáo: Giữ năm giới, làm mười điều thiện. Tu tứ Thánh đế khổ - tập - diệt - đạo. Tu tứ Niệm xứ (quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã). Tu thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng. Tu bát chính đạo. Tu mười ba la mật. (thập địa) Đẳng giác diệu giác.

Bất kể là Hiển giáo hay Mật giáo, tôi cho rằng nên Hiển - Mật viên thông. Chính tôi đã đi từ con đường Đạo - Hiển - Mật, tôi không bỏ Đạo, tôi không bỏ Hiển, tôi không bỏ Mật. Tôi chuyên tu tịnh thổ, chuyên tu Chân Phật Mật Pháp, không có một chút xung đột nào.

Chúng ta biết rằng chính trí mà Phật Đà giác ngộ gọi là Bồ Đề. Bồ đề tâm cũng có nghĩa là tâm cầu tìm chính giác.

Lúc Phật tại thế, Phật dạy chúng ta ba loại bồ đề:

1. Thanh Văn bồ đề — Tu pháp tứ Thánh đế, tu tứ Niệm xứ, hành giả sẽ đạt được chính giác. 2. Duyên Giác bồ đề — Tu 12 nhân duyên, tự quán hoa nở hoa tàn mà đắc chính giác. 3. Phật bồ đề — Tu pháp vô thượng, pháp vô đẳng đẳng, đắc vô thượng bồ đề, quả vị Diệu Giác Phật, là bồ đề cao nhất.

(Khi Phật tại thế, các đệ tử đạt chứng quả rất nhiều.)

Phật giáo hiện nay lại phân thành năm thừa pháp:

1. Phật giáo Nhân thừa — tu pháp ngũ giới, sinh vào nhân gian. 2. Phật giáo Thiên thừa — tu pháp thập thiện, thăng lên cõi trời. 3. Phật giáo Thanh Văn thừa — tu pháp Tứ Thánh, đắc chứng quả A La Hán. 4. Phật giáo Duyên Giác thừa — tu pháp 12 nhân duyên, đắc chứng quả Bích Chi Phật. 5. Phật giáo Bồ Tát thừa — tu pháp lục độ, đắc chứng Đẳng Giác, Diệu Giác, chứng Phật quả vô thượng.

Cá nhân tôi thấy các pháp sư hiện đại đề xướng Nhân Thừa hoặc Thiên Thừa, dạy ngũ giới thập thiện không chê vào đâu được. Nhưng không nên chỉ dạy về Nhân - Thiên thừa ở thế giới Ta Bà, mà cũng nên đi theo bước chân của Phật Đà mới phải.

Bởi vì: Nhân gian rốt cục là khổ, không, vô thường, vô ngã. Khổ nhiều vui ít. Thiên thượng rốt cục là phúc báo hưởng tận thì cũng vẫn đọa lạc. Tôi chủ trương năm thừa cùng dung nhập, Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều có thể theo đại nguyện lực của A Di Đà Phật, nhất tề chứng nhập báo thổ chân thực của A Di Đà Phật.

Vì thế, Bổn tôn của tôi là: Diêu Trì Kim Mẫu. Địa Tạng Bồ Tát. A Di Đà Phật. Đó là nhân duyên của tôi, không phải vô cớ mà như vậy.

Ba loại bồ đề là chính pháp, Phật giáo ngũ thừa cũng là chính pháp, chỉ là Nhân - Thiên thừa thì vẫn nằm trong lục đạo luân hồi.

Tu pháp Mật giáo và tu pháp Hiển giáo trên thực tế có chỗ tương thông, tên gọi thì khác nhau, pháp môn tu hành khác nhau, nhưng sự tương thông là sự thật. Chuyên nhất du già. Ly hý du già. Nhất vị du già. Vô tu du già. Tôi nói thế này, chỉ cần tương ứng Bổn tôn là có thể vãng sinh Phật quốc tịnh thổ, niệm Phật trì chú không phân tâm. Ly hý chính là pháp xuất thế gian. Đến được nhất vị rồi thì tất cả đều thông đạt, vô tu du già cũng tương đương với pháp vô vi.

Duy Thức tông đã lập nên ngũ vị: Tư lương vị. Gia hành vị. Thông đạt vị. Tu tập vị. Cứu cánh vị. (Trong Phật giáo cũng có ngũ vị tương tự, cuối cùng chuyển thức thành ý, kết quả là thành Phật.)

Vì sao tôi cần viết những điều này, bởi vì lúc tốt nhất để tu hành chính là ở tại nhân gian, nghĩa là lúc còn đang sống. Nghĩa là cần chuẩn bị nhận thức vãng sinh Phật quốc, thành tựu giáo pháp thành Phật quả của Phật Đà rồi, cần phải chuẩn bị tư lương này từ sớm để đợi đến sau này.

Quyết không thể chờ đợi đến lúc lâm chung hoặc lúc là thân trung ấm, lúc lâm chung cứu độ, hoặc là cứu độ thân trung ấm, ít nhất là lúc người chết còn sống đã từng nghe qua những lời dạy dỗ này. Như thế cứu độ mới tự nhiên nhất, cũng là tốt nhất. Càng tốt hơn nữa là người chết đã từng tu pháp, có tương ứng, chỉ cần nghe nhắc nhở là lập tức sáng suốt mà giải thoát. Bởi vì: Không có quan niệm chuyển thế. Không có quan niệm vãng sinh. Không có quan niệm trung ấm. Thì làm sao chỉ dạy được? Thậm chí người chết cũng sẽ không vứt bỏ bất kì tập tính nào, ví dụ người chết thích chơi mạt chược, họ sẽ tụ tập một số con ma mê cờ bạc để tiếp tục chơi mạt chược trong cảnh giới trung ấm mộng huyễn.

13. Tức thân thành Phật của Mật giáo

Tôi hiểu rất rõ rằng khi chứng bệnh nứt hộp sọ thật sự xảy đến thì tôi sẽ chết. Nhục thân già yếu lúc này, trên thực tế, chỉ là một thể xác hư huyễn. Vì sao lại bảo cái thể xác này là hư huyễn? Bởi vì nó đã hoàn toàn khác so với tôi thời trẻ con, đã khác xa so với tôi tuổi nhi đồng, khác rất xa tôi của thời thiếu niên, khác rất xa tôi của thời thanh niên, cũng khác xa lúc tôi tuổi trung niên.

Một người khi mắc bệnh thì cũng rất nhanh chóng bước vào tuổi già. Đời người chính là như vậy. Thời gian là một nhà phù thủy có mặt ở khắp mọi nơi, một thân thể vốn dĩ cường tráng cũng có thể bị tuổi già và bệnh tật làm thành không còn ra hình người nữa. Hoa sen tám cánh nở ra. (chứng nứt hộp sọ) Phật ở bên trong. Phật chính là "tử quang".

Trong hư không có một vùng cực quang sáng rực rỡ, một vùng ánh sáng tròn tròn, đây chính là "mẫu quang" của Tỳ Lô Tính Hải. Hay còn gọi là "pháp tính". "Chân ngã" thật sự không hư giả và vẫn luôn bất biến, bản thể thanh tịnh và không nhiễm tạp, bản lai diện mục bất biến bất dị, bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh, Như Lai tạng, thực tướng, thực tính chu toàn. Tử quang tức là chân ngã, hóa thành cầu vồng. Mẫu quang cũng là chân ngã, là biển ánh sáng rộng lớn của Tỳ Lô Giá Na. Cùng hợp lại với nhau. Đây chính là pháp tức thân thành Phật của Mật giáo.

Trong tu hành Mật giáo, chúng ta vốn có sẵn Phật pháp tam mật, nhưng vì bị nhiễm nghi hoặc mà không thể chứng đắc, vì vậy mà dựa vào tâm đại bi của Phật khiến chúng sinh đứng vào hàng tam mật bình đẳng với Phật, thân kết ấn khế là thân mật, miệng tụng chân ngôn là ngữ mật, ý quán chủng tử của ngài, hoặc quán tam muội da hình của ngài, hoặc quán Bổn tôn của ngài chính là ý mật. Hàng tam mật này vì được tam mật của Như Lai gia trì mà tam nghiệp của chúng sinh và tam mật của Như Lai có thể nhập ngã ngã nhập, không hai không khác, gọi là tam mật tương ứng. Tam mật tương ứng rồi thì thành tựu tất cả các siddhi.

Vì sao tôi có thể tu xuất "chân ngã"? Bởi vì: Chân như tức ngã thân. Phật pháp tức ngộ thể. Là mật mật mật mật. Trùng trùng và thâm diệu.

Pháp môn bí mật của Mật giáo là chân ngôn đà-la-ni, tất cả những điều dạy bí mật của Như Lai, tự giác chứng trí tu chứng pháp môn, tất cả mọi pháp Mật giáo này, pháp giới cũng hiếm nghe được, nay có được cơ hội nghe thấy, cần thấy vui mừng, chớ nói những lời xúc phạm. (Pháp nội chứng pháp thân Như Lai này, chân ngôn thần biến gia trì, dù là bậc Đẳng Giác Bồ Tát không thể đoán biết, duy giữa Phật và Phật với nhau mới hiểu thôi.) Ngoài tức thân thành Phật của Mật giáo ra thì còn có báo thân thành Phật nữa.

Tôi nói Hiển giáo tu Tịnh Độ tông, có một môn niệm Phật, sáng sớm mỗi ngày, súc miệng rửa mặt, mặc quần áo sạch sẽ (hoặc y phục màu xanh biển), quay về phía tây hoặc đàn thành. Chắp tay lại, không ngớt lời xưng niệm A Di Đà Phật, hết một hơi là một niệm, cứ thế mười hơi là mười niệm. Niệm và khí hợp nhất này không giới hạn số lần xưng danh Phật. Chỉ cần dài lâu Khí đạt cực độ An tường tịnh tâm Điều giải là được. Mục đích chính nằm ở việc khiến tâm không tản mát, tinh tấn niệm Phật không phân tâm, và như vậy đây cũng là một trong những pháp môn niệm Phật để trói tâm buộc khí vào tịnh thổ.

Phát nguyện hồi hướng, xin cung kính ghi ra như sau: ”Đệ tử con là Liên Sinh, nhất tâm quy mệnh Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, mong nhờ tịnh quang chiếu đến con, lời thề chở che, nay con chính niệm, xưng danh Như Lai, kinh qua mười niệm, làm bồ đề đạo, cầu sinh tịnh thổ. Phật xưa đã thề, nếu có chúng sinh, muốn về cõi ta, hết lòng tin vui, suốt cả mười niệm, nếu người đã chết, chưa đạt chính giác, riêng trừ ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp, nay con ghi nhớ, đời này về sau, không tạo nghịch tội, không chê Đại thừa, mong mười niệm này giúp nhập vào trong biển đại thệ của Như Lai, nhờ sức mạnh từ bi của Phật mà mọi tội tiêu diệt, nhân tịnh tăng trưởng, vào lúc mệnh chung, tự biết thời điểm đã đến, thân không đau khổ, tâm không tham luyến, cũng không tản mát, kịp nhập thiền định, Phật và Thánh chúng, tay cầm chuông vàng, đến đón nhận con, kịp trong một niệm, sinh về Cực Lạc, hoa nở thấy Phật, tức nghe Phật thừa, đốn khai Phật huệ, quảng độ chúng sinh, mãn nguyện bồ đề.”

Nếu như đệ tử cảm thấy phát nguyện hồi hướng như vậy dài quá thì có thể theo như tôi từng nói: ”Nguyện người cùng niệm Phật Cùng sinh cõi Cực Lạc Trên báo bốn ơn nặng Dưới cứu khổ tam đồ Thấy Phật thoát sinh tử Như Phật độ tất cả.”

Kinh Lăng Nghiêm nói: "Ví như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, hai người như thế, nếu có gặp cũng như không gặp, hoặc thấy mà như không thấy." (Như thế thì không tốt.) Và: "Hai người cùng nhớ nhau, hai ký ức đều sâu nặng, như thế từ đời này tới đời kia, cùng một hình ảnh, chẳng hề khác nhau." (Như thế này là tốt.) Và: "Thập phương Như Lai thương xót nhớ về chúng sinh, như mẹ nhớ con, nếu con chạy mất, dù nhớ thế nào, nếu con nhớ mẹ, như mẹ luôn nhớ, mẹ con không bao giờ xa nhau, nếu tâm chúng sinh nhớ Phật niệm Phật, rồi sẽ đến lúc, chắc chắn thấy Phật."

Người có thượng căn khí: tâm ở nơi Phật, nhậm vận thường che tất cả ác niệm. Người có trung căn khí: nghĩ muốn làm việc xấu, nhưng vì nhớ đến Phật, nên điều ác không thành. Người có hạ căn khí: mặc dù đi theo ác làm nghiệp ác, tâm thường yếu đuối, nhưng thân như có mùi thơm, tự nhiên sẽ xa rời chốn hôi thối. Những người này niệm Phật tu tịnh độ. Lúc lâm chung, A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và chư Thánh chúng chắc chắn sẽ đến đón họ vãng sinh về Phật quốc tịnh thổ.

Từng có người hỏi tôi, nếu ma hóa thành Phật đến để đón nhận thì làm thế nào? Tôi trả lời như thế này: "Niệm chân ngôn “Om guru liansheng siddhi hum” 3 lần." Nếu là Phật thật thì ánh sáng của ngài sẽ sáng chói. Nếu là ma hóa thành Phật thì chắc chắc sẽ tiêu biến. Ở đây, A Di Đà Phật đích thân đến đón, lúc này sự giải thoát có được là vì đã chứng nhập vào báo thân Phật thổ. Theo như kinh điển đã nói thì trong giai đoạn sau của thân trung ấm, cũng có sắc thân chư Thiên đến, cũng có sắc thân Hộ pháp đến, thân trung ấm giai đoạn sau đắc được giải thoát tức là ứng thân rồi. Vì thế, giải thoát được phân thành: Pháp thân. Báo thân. Ứng thân. Chính là ba đạo giải thoát.

14. Âm nhãn của người sắp chết

Đây không chỉ là phát hiện của cá nhân tôi, mà là việc rất nhiều người đều biết, không chỉ là người phương đông mà người phương tây cũng thế. Khi một người sắp chết, họ sẽ nhìn thấy người âm hoặc những thứ khác, thế nhưng người thuộc giới y học lại cho rằng đó là huyễn giác.

Cũng có học giả Phật giáo nói thế này, Phật pháp có "Ban chu tam muội". Ban chu tam muội chính là Phật vị tam muội, cũng tức là người tu tam muội này đắc được thành tựu thì có thể nhìn thấy thập phương chư Phật đứng trước mặt người đó. Đứng thẳng như Phật, nghĩa là vào lúc tu, không ngồi không nằm, từ sớm đến tối, rồi lại từ tối đến khi trời sáng, không phải đi, mà là đứng, một kì kéo dài 90 ngày, chuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật, đó là pháp Ban chu tam muội.

Nhưng người học Phật và giới học thuật hiện đại cho rằng 90 ngày mà chỉ đứng, không ngồi không nằm, từ sáng đến tối niệm Phật không ngừng, lúc mệt chỉ bám vào một sợi dây thừng thả từ trên xuống, đây nhất định là huyễn giác.

Người của giới học thuật cho rằng, giống như người trượt tuyết chạy marathon, trượt tuyết liên tục 24 giờ không nghỉ, trong quá trình trượt tuyết họ đã nhìn thấy những người hoặc vật kỳ quái, đứng ở hai bên. Họ nhận định rằng đó là huyễn giác.

Đối với những gì mà âm nhãn của người hấp hối nhìn thấy, tại đây tôi không muốn nghiên cứu, cũng không khẳng định, cũng không phủ định, nhưng tôi lấy ví dụ thực tế để mọi người tham khảo nghiên cứu.

Có một người hấp hối nhìn thấy người bạn rất thân đã chết của mình lúc còn sống đứng ở đầu giường. Anh ta kể: "Cậu ấy mặc âu phục, áo sơ mi bên trong màu đỏ, túi áo sơ mi có cài một cây bút máy." Người hấp hối còn không tham gia tang lễ của người đã chết. Áo sơ mi đỏ đó đã được thay vào lúc lâm chung. Chiếc bút máy là món quà của em gái người chết, cũng chỉ phối đồ tạm thời. Ai nghe thấy đều kinh ngạc.

Tôi lại lấy một sự việc có thật: Có một người già ngớ ngẩn hấp hối, lúc còn sống ông ấy căn bản là không biết rằng con trai và con dâu đã chết vì tai nạn xe cộ. Cũng chưa bao giờ có ai nói cho ông biết, bởi vì nói cho ông biết cũng chẳng ích gì, ông ta vốn ngớ ngẩn, không nhận ra ai hết. Ông già ngớ ngẩn lúc sắp chết lại nói một cách rõ ràng rành rọt: "Con trai và con dâu đều đến đón tôi." - Ông già ngớ ngẩn nói: "Bọn chúng chết lâu rồi, vì sao không có ai nói cho tôi biết." Ai nghe thấy đều kinh ngạc.

Lại có một sự việc có thật nữa: Có một người sắp chết, trông thấy tất cả những người thân đã khuất đều hiện thân xung quanh ông ta. Ông ta lần lượt gọi tên từng người, không bỏ sót một ai. Duy nhất có một người ông ta không gọi tên. Mọi người hiếu kỳ hỏi người sắp chết: "Vì sao người đó không đến đón ông?" Người sắp chết cười ha ha nói: "Làm sao nó dám đến tìm tôi chứ, lúc còn sống nó rất sợ tôi, nó không dám hiện thân, nhưng cũng không phải là không đến, trốn ở sau cánh cửa kia kìa." Người sắp chết đưa tay chỉ. Mọi người sửng sốt.

Còn có cả bà nội tôi lúc qua đời, khi lâm chung nhìn thấy người thân đến đón, bà không đi, dùng búa đánh bọn họ, cho đến khi chính mình mệt rồi mới cất búa đi, thế rồi bà cũng đi luôn. (Sự thật này trong sách thời kì đầu của tôi, tôi đã từng kể rồi.)

Người sắp chết nhìn thấy người đã chết đến đón, thậm chí nhìn thấy người đã chết mở tiệc cho mình. Chuyện người sắp chết nhìn thấy người đã chết là chuyện thường nghe nói đến nhiều nhất, chẳng lẽ họ đều có huyễn giác sao? Hay là không phải huyễn giác?

Đương nhiên nhìn thấy người đã chết đến đón không phải là một cảnh giới rất tốt, tôi cho rằng đây là âm giới trong lục đạo luân hồi, là cảnh giới tối tăm, không thể có được đạo giải thoát.

Hiện tượng người sắp chết sinh ra âm nhãn, bất luận có phải là huyễn giác hay không thì thật sự tính chân thực là rất cao. Người sắp chết nằm trong thế giới có tính nhị nguyên, sắp chết nhưng vẫn chưa chết, tất cả những gì họ nhìn thấy thật đến như vậy, lúc này đến dạy cho người sắp chết về đạo giải thoát có lẽ là thời cơ tốt nhất.

15. Mật giáo minh quang

Căn cứ theo thiên nhãn của tôi quan sát: Rất nhiều người chết nằm trong cõi Sắc giới, lúc này những gì mà họ thấy hoàn toàn khác với cõi Dục giới, cấp độ tương đối cao. Tôi phát hiện ra trong những tài liệu ghi chép về người chết có liên quan đến người phương tây, sau khi họ chết đi, họ sẽ đi về một cảnh giới quang minh nào đó, hoặc sẽ nhìn thấy trên trời có ánh sáng. Người chết là người phương tây nhìn thấy rất nhiều ánh sáng, và còn nhìn thấy trong ánh sáng có thiên sứ, thiên sứ nói với người chết rằng thời gian còn chưa tới, có thể quay trở về trước và chờ đợi. Thế là người chết sống lại. Do vậy mới có những tài liệu về trải nghiệm cái chết được viết ra.

Trong những giáo thị của Mật giáo, có rất nhiều gợi ý rất quan trọng liên quan đến ánh sáng, nghĩa là nhờ vào sắc mà được ngộ, nhờ sắc mà được giải thoát. Nhìn thấy ánh sáng có hai kiểu: thứ nhất là con đường niết bàn được giải thoát, thứ hai là con đường lục đạo luân hồi không được giải thoát.

Con đường giải thoát thì chắc chắn là ánh sáng màu sắc lấp lánh rực rỡ. Con đường lục đạo luân hồi thì chắc chắn là ánh sáng màu sắc tối tăm mù mịt.

Mật giáo thuyết giảng rằng, ánh sáng của lục đạo luân hồi và ánh sáng của đạo giải thoát có màu sắc giống nhau. Nhưng ở đạo giải thoát thì sáng rực rỡ lấp lánh. Còn đạo luân hồi thì u ám mờ mịt. Vì thế, sự phân biệt ở đây nằm ở phương diện quang sắc. Minh quang mà chư Phật Bồ Tát thị hiện là ánh sáng rực rỡ, là giải thoát. Còn lục đạo luân hồi là ánh sáng mờ mịt, Mật giáo cho rằng kiểu ánh sáng này có độc tính và tội ác.

Người chết nhìn thấy minh quang, thật ra là nhìn thấy tâm tính (tâm quang) của chính mình, bởi vì chính tâm quang (tâm tướng) của người chết đã hiển hiện minh quang của Phật Bồ Tát hoặc một dạng ánh sáng nào đó trong lục đạo luân hồi. Lúc này cần làm gì? Lúc này, sự chỉ dẫn của thiện tri thức là vô cùng quan trọng, thiện tri thức cần dạy cho người chết biết phân biệt minh quang. Minh quang của Phật. Minh quang của Bồ Tát. Minh quang của cõi Người. Minh quang của cõi Ngạ quỷ. Minh quang của cõi Địa ngục. Minh quang của tam đồ đều có độc tính tương đương, hoặc sản sinh ra màu sắc đặc trưng cho tội ác tham, sân, si mà bản thân thường phạm phải. Trong lục đạo luân hồi, ở đây tôi chỉ viết ra năm đạo, bởi vì suy cho cùng, minh quang của cõi trời vẫn là ánh sáng của lòng yêu thương phát ra từ trong tâm của người chết, ánh sáng này không được liệt vào giống như ánh sáng mờ mịt u ám của năm cõi kia.

Tôi nhớ tôi từng viết về sáu loại chứng nghiệm của sáu tướng trạng ngay lúc chết theo Du Già Luận. Ở đây nghĩa là khi con người chết đi, căn cứ vào tướng trạng khi chết mà có thể đoán biết được tương lai người này sẽ đầu thai về đâu.

1. A La Hán và chư Thánh chúng, muốn nhập niết bàn, tim và lỗ đỉnh đầu mấy ngày vẫn ấm. 2. Nếu là người làm mười điều thiện, đỉnh đầu luôn ấm, sau đó khí cạn hết thì lập tức sinh lên cõi trời, Dục thiên, Sắc thiên, Vô sắc giới thiên. 3. Nếu là người giữ năm giới, người này vào lúc sắp chết thì trước tiên là lạnh từ chân cho đến rốn, từ rốn trở lên thì vẫn còn ấm, sau đó khí cạn hết thì sẽ sinh vào cõi Người. 4. Nếu như lạnh từ đỉnh đầu trước, rốn cũng lạnh, dưới hông vẫn còn ấm, thì sau khi khí cạn hết, người này sẽ sinh vào cõi Ngạ quỷ. 5. Nếu như đỉnh đầu lạnh, nhưng lạnh đến đầu gối thì dừng, phía dưới đầu gối vẫn ấm, thì sau khi khí cạn hết, sẽ sinh vào cõi Súc sinh. 6. Nếu như đỉnh đầu lạnh, rốn cũng lạnh, hông cũng lạnh, đầu gối cũng lạnh, chỉ có bàn chân còn ấm, thì sẽ sinh vào cõi Địa ngục.

Tôi hiểu rõ rằng một người học Mật giáo, vì sao cần luôn luôn nhớ về tầm quan trọng của "tam căn bản", vào thời khắc này chính là cần phải nương dựa.

Bình thường bạn chẳng tin cái gì cả, chỉ tin vào tiền, tiền có thể cứu bạn sao? Có tín ngưỡng, lại luôn luôn nhớ đến "tam căn bản", Thượng sư có thể hiện thân, Bổn tôn có thể hiện thân, Hộ pháp có thể hiện thân, đều là ánh sáng chói lòa của vãng sinh.

Vì thế: Namo guru bei. (Quy y Căn bản Thượng sư.) Namo buddha ye. (Quy y Phật.) Namo dharma ye. (Quy y Pháp.) Namo sangha ye. (Quy y tất cả Thánh hiền tăng.) Namo Bổn tôn. (Tất cả Bổn tôn hữu duyên.) Namo Hộ pháp. (Tất cả các vị Hộ pháp hữu tình.) (Sáu quy y này là quy y của Mật giáo.)

Cảnh giới quy y của Mật giáo là tam quy y của Hiển giáo cộng thêm Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp mà thành. Căn bản Thượng sư Liên Hoa Đồng Tử của Chân Phật Tông cũng là một trong số các Bổn tôn, Chân Phật Tông có tám đại Bổn tôn.

Ở đây tôi đặc biệt nhấn mạnh, một thầy một pháp là cực kì quan trọng, cũng có nghĩa là một thầy, một pháp, một Bổn tôn, bởi vì trong pháp đã có Thượng sư, Bổn tôn và Hộ pháp rồi. Người có tin có tu, bên trong cảnh giới ý thức, tất cả đều do sức mạnh tu hành quyết định mọi điểm đến. Trên thực tế, ngoại trừ một bộ phận có liên lụy nghiệp lực ra, người chết là tự do, vãng sinh đến nơi nào mặc dù là do nghiệp lực, nhưng lực tu hành và giáo thị của đại thiện tri thức đều cực kì quan trọng. Trong Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, Địa Tạng Bồ Tát chính là đại thiện tri thức, người chết lúc này nếu như có lực tu hành, lại cộng thêm giáo thị của đại thiện tri thức, thì không còn gì phải nghi ngờ, người chết sẽ có xu hướng đi theo Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. Sáu quy y đã dễ dàng khởi lên xu hướng của người chết. Tu hành để có được sức mạnh là tốt nhất.

Còn giáo thị của đại thiện tri thức thì giống như: Lễ tang tưởng nhớ người chết được thấy trong Thiên Chúa giáo. Lễ cầu nguyện của Hồi giáo, Cơ Đốc giáo. Lễ Phổ lợi đa hi đà la của Ấn Độ giáo. Khóa tụng pháp sự của Phật môn Hiển giáo. (siêu độ) Trung ấm nghe dạy mà được độ của Mật giáo.

Tôi cho rằng, người hoàn toàn không có tín ngưỡng là nhóm người gay go nhất, là những người hoàn toàn không có nơi nương dựa, họ đã xem nhẹ sức mạnh cảm ứng. Những người chết ấy không chỉ chịu ảnh hưởng từ nghiệp lực của chính mình mà đồng thời còn chịu ảnh hưởng bởi nghiệp lực của thân quyến (người đã chết) của anh ta. Những người chết thuộc nhóm này muốn vãng sinh Phật quốc tịnh thổ là rất khó. Cho dù có đại thiện tri thức dạy bảo họ thì họ cũng cố chấp vào ý kiến riêng, căn bản là không hề tin. Về cơ bản họ sẽ theo nghiệp lực của mình mà chuyển thế. Họ còn cho rằng đại thiện tri thức lắm mồm quá, một mực đi vào hiểm đạo. Người không có tín ngưỡng để nương dựa sẽ là như thế.

16. Pháp chuyển thần thức của Mật giáo

Có một kiểu người không cần phải trải qua "trung ấm nghe dạy mà được độ", ví dụ Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, tổ sư Milarepa,… Người có thượng căn khí, như Tilopa, Naropa, Marpa, thì mười phần chắc chín, đương nhiên có thể tự mình giải thoát, tự mình độ mình. Đại sư Lục Tổ Huệ Năng của Thiền tông cũng nói: Còn mê thì thầy độ. Đã ngộ thì tự độ.

Người có thượng căn khí của Mật giáo đã biết đại pháp thượng thừa dịch chuyển thần thức, hoàn toàn không cần đến người còn sống chỉ dạy cho thân trung ấm, trừ phi đó là một kẻ thượng căn khí giả mạo (Thượng sư giả mạo). Nếu như là Thượng sư giả thì vẫn cần phải có người ở trước di hài của anh ta để khai thị cho thân trung ấm nghe dạy mà được độ. Nếu như không ở trước di hài thì có được không? Đáp án là: Cần phải có đại thiện tri thức. Trước tiên gọi linh hồn người chết. Linh hồn người chết đến lắng nghe. Đại thiện tri thức giáo thị theo pháp. Đại thiện tri thức ở đây tốt nhất là Căn bản Thượng sư của người chết, hoặc đồng môn của người chết, hoặc bạn bè của người chết, hoặc bạn bè thân thích hiểu việc giáo thị, theo pháp mà tiến hành giáo thị.

Vì sao người thượng căn khí không cần giáo thị? Bởi vì người thượng căn khí từ lâu đã hiểu rằng thức A lại da trong tám thức của Duy Thức Luận là thức căn bản, bảy thức còn lại đều là chuyển thức. (Tám thức là Như Lai Tạng thức.)

Người thượng căn khí chuyển tám thức hữu lậu thành tứ trí vô lậu. Cái gọi là "Thiên thức pháp" nghĩa là chuyển tám thức hữu lậu của phàm phu thành tứ trí của Phật, nghĩa là chuyển: Thức thứ tám thành đại viên kính trí. Thức thứ bảy thành bình đẳng tính trí. Thức thứ sáu thành diệu quan sát trí. Thức thứ năm thành sở tác trí.

Mật giáo còn có thức thứ chín, gọi là Am ma la thức, thức này là vô cấu thức hoặc thanh tịnh thức, tức chân như, chân tâm. Thức thứ chín là pháp giới thể tính trí. Có thể chuyển thức thành trí, đương nhiên phải là người thượng căn khí, có thể tự độ, không cần người khác đến độ, không cần phải trải qua trung ấm nghe dạy để được độ.

Bây giờ, người bế quan ẩn cư tại hồ Diệp Tử là tôi đây vì sao lại cứu độ đệ tử của mình? Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, mọi người hãy nghe thật cẩn thận: Mặc dù cá nhân tôi bế quan ẩn cư tại hồ Diệp Tử, người ngoài không biết hồ Diệp Tử ở chỗ nào. Người ngoài cũng không biết tôi là ai. Người ngoài cũng không hiểu tôi là đại tu hành giả gì. Người ngoài cũng không biết lai lịch quá khứ của tôi. Tôi kín đáo ẩn tu đã lâu, không nghe chuyện thế sự, danh lợi đều thờ ơ, không giao du với bên ngoài, gần như là đoạn tuyệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, ngoại trừ việc mua rau và đồ dùng sinh hoạt ra.

Tuy nhiên, tôi thật sự lại là người giàu tình cảm, tuyệt đối không phải là người vô tình vô nghĩa. Tôi nhớ các đệ tử ngày xưa, tôi nghĩ đến các đệ tử ngày xưa, lo lắng cho các đệ tử ngày xưa, cho dù tôi rời khỏi thế giới Ta Bà đi vãng sinh, tôi vẫn tiếp tục nhớ đến các đệ tử, trong miệng không nói ra nhưng trong lòng thì tràn đầy tình cảm. Mặc dù tôi bế quan nhưng nước mắt vẫn không ngừng tuôn rơi, dường như cũng đã chảy cạn rồi, thật sự quá nhiều nỗi nhớ và lo lắng.

Tôi thẳng thắn nói với mọi người rằng: Đệ tử Chân Phật Tông chết đi, rất nhiều người chết đã đến hồ Diệp Tử. May mắn có được sự giúp đỡ của Không Hành Mẫu. Không Hành Dũng Phụ, Không Hành Dũng Mẫu trong hư không mang thần thức của người chết đến hồ Diệp Tử nơi tôi bế quan. Có Thượng sư, có pháp sư, trợ giảng, đệ tử… Thậm chí, bạn học cũ ngày xưa của tôi biết tôi có tu hành, sau khi chết họ cũng đến tìm tôi. Ma có năm thần thông, họ cũng tìm đến nơi tôi bế quan ẩn cư.

Tôi nói: “Chỉ cần người thân của bạn gửi thư đến Chân Phật Mật Uyển, Không Hành Mẫu biết được, vong linh nhất định sẽ tìm đến Căn bản Thượng sư." Tôi sẽ theo pháp mà cứu độ, tiếp dẫn vong linh vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì. Chỉ cần vong linh tìm được tôi thì nhất định sẽ được độ.

Không chỉ là các đệ tử được độ, ngay cả những vong linh không có liên quan gì cũng được độ. Từng có một vong linh Thượng sư không ngờ lại đem theo vong linh của bảy người thân thích đến tìm tôi, tôi vừa thấy họ thì giật mình, không phải là một người đến mà lại là nhiều người đến vậy, nhưng tôi cũng không phân biệt này nọ, đều y pháp mà cứu độ hết.

Tôi bế quan ở hồ Diệp Tử, rồi đến phiêu bạt khắp nơi ở Hàn Quốc. Không ngờ có một người bạn học thời cấp ba trường Trung học Công nghiệp Cao Hùng, khi ông ta vừa dứt hơi thở liền nhớ đến tôi, gọi lên tên tôi. Tôi hỏi: "Ông là ai?" "Tôi là Cô Nhất đây!" "Sao ông lại tìm được tôi?" "Ma có năm thần thông." "Tìm tôi làm gì?" "Ông là bạn học của tôi, ngày xưa là bạn tốt, biết ông tu hành thành tựu, Cô Nhất tôi không tìm ông thì tìm ai?"

Trong lòng tôi thầm nghĩ, ông ta nói cũng phải, thế rồi tôi cũng tu pháp cứu độ cho người bạn học nhiều năm không gặp này. Tôi nhất tâm quán tưởng đem cúng phẩm hóa thành vô thượng diệu cúng để cúng dường Tam Bảo. Tôi tụng Thánh hiệu Phật Bồ Tát bảo bọc cho vong linh. Tôi dạy cho ông ta né tránh ánh sáng của lục đạo. Tôi phái Hộ pháp bảo vệ vong linh người bạn học chống lại cảnh tượng khủng bố để ông ta không kinh sợ. Tôi dạy ông ta mau chóng tụng Phật hiệu.

Tôi nói: "Cô Nhất à! Bây giờ, thời điểm vãng sinh của ông đến rồi, ông phải nhất tâm niệm Thánh danh Phật, tôi giúp ông nhìn thấy minh quang của Phật xuất hiện. Khi Phật xuất hiện, ông phải vứt bỏ hết mọi ân ân oán oán của thế gian, cho đến khi không còn suy nghĩ gì nữa. Lúc này, tất cả vạn vật đã trở thành trạng thái trời trong không mây. Phật đã xuất hiện rồi, phóng tỏa ánh sáng rồi, ánh sáng rực rỡ này là ánh sáng trí huệ không che lấp không tì vết, là chân không trong suốt, Cô Nhất à! Ông hãy mau nhập vào nó, an trụ trong ánh sáng này, đừng lưỡng lự, tôi giúp ông đi đến Ma Ha Song Liên Trì, ông hãy chứng nhập vào trong đó đi!"

Bạn học Cô Nhất nghe lời tôi, ông ấy giống như ở trong mơ gặp được tôi. Khi minh quang thực tướng vừa xuất hiện, tôi liền yêu cầu ông ấy chứng nhập. Người bạn học Cô Nhất này chỉ vì nhớ đến tôi, biết tôi tu hành, mà cũng có thể đến được Ma Ha Song Liên Trì, thật là có duyên phận mà!

17. Sư Tôn cầm đài hoa sen

Một đệ tử Chân Phật Tông đã xuất hiện những dấu hiệu sắp chết, ví dụ như đại địa đã chìm trong nước trong lửa, đã xuất hiện hiện tượng hôn mê, người bình thường gọi hiện tượng này là trạng thái thần trí hôn mê, nhìn chung mà nói thì thời gian kéo dài tùy mỗi người mỗi khác.

Người có khả năng giữ thiền định được vững bền thì thời gian dài. Người chưa tu định thì thời gian ngắn. Có người chỉ búng tay một cái là đã xuất hiện trung ấm.

Đệ tử này vừa tỉnh dậy khỏi hôn mê thì đã nhìn thấy Sư Tôn cầm đài hoa sen đứng trong hư không. Sư Tôn ra hiệu cho đệ tử lên đài hoa sen rồi vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì.

Sư Tôn nói: "Liên Hoa hành giả, nhân duyên với thế gian đã hết rồi, hãy quên hết mọi chuyện của thế gian, anh cần quyết định như vậy, chỉ có bước lên đài hoa sen, nhân cơ hội tốt đẹp này mà vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì, để lợi lạc vô lượng chúng sinh thế giới mà thoát khổ được vui một cách viên mãn. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn dùng nguyện lực của bản thân đến tiếp dẫn anh, để khiến tất cả chúng sinh cùng chứng bồ đề, đạt đến cảnh giới viên mãn cứu cánh." Đệ tử này niệm: "Om guru liansheng siddhi hum." Thế rồi anh ta lên đài hoa sen. Đài hoa sen này chính là trí tính.

Tính ấy vốn không. Vô sắc vô tướng. Chân không vô tướng. Đài hoa sen này là ánh sáng thể tính Phổ Hiền pháp giới.

Nhưng đúng vào lúc này, vợ và con cái của Liên Hoa hành giả liền khóc to lên, kêu gào rất bi thảm: Người vợ gọi: "Anh đi rồi, để lại em phải làm sao đây?" Con trai kêu: "Bố ơi! Bố ơi!" Con gái khóc: "Bố đừng chết, bố đừng đi, bố ơi bố, không được chết, không được đi." Người vợ lại kêu lên: "Anh nhẫn tâm bỏ đi, nợ nần phải làm sao đây?"

Liên Hoa hành giả này vốn dĩ đã lên đài hoa sen rồi, sắp thoát khổ được vui rồi, vừa nghe thấy tiếng gào khóc ai oán, vừa nghe thấy nợ nần chưa trả thì tâm thần chấn động, sinh ra ảnh hưởng không tốt. Anh ta từ trên đài hoa sen bò xuống, vừa từ trên đài sen xuống liền tự suy nghĩ, nợ của mình chưa trả, mình rốt cục đã chết hay chưa? Bản thân anh ta cũng không thể xác định được. Thậm chí anh nhìn thấy bạn bè thân thích, nhìn thấy vợ con, những tiếng kêu khóc ai oán, tất cả đều ở bên tai.

Lúc này, Minh Vương đem theo quỷ tốt cũng hiện thân. Những hình ảnh đáng sợ này liên tục kéo đến. Lợi dụng kẽ hở này, tôi nói với Liên Hoa hành giả: "Liên Hoa hành giả ơi! Anh ở dương gian đã hết duyên rồi, hãy buông bỏ tất cả đi! Minh Vương quỷ sứ cũng đến rồi, anh mau mau nghĩ đến Hộ pháp Bổn tôn đi! Anh mau niệm chú Hộ pháp, nhất tâm bất loạn, thành tâm thành ý mà trở về lại đài hoa sen đi! Nhân gian như huyễn, thế sự như mộng, như trăng trong nước, hãy mau đến Ma Ha Song Liên Trì đi."

Liên Hoa hành giả thấy hoang mang mờ mịt... Bởi vì tiếng vợ con gào khóc rung trời, anh ta không nỡ rời bỏ. Người chết nhớ đến thế sự hãy còn vướng víu, vợ vẫn còn trẻ, con cái vẫn còn nhỏ, mình đi rồi, họ thật sự sẽ sống ra sao, thật sự sẽ tồn tại ra sao đây?

Tôi quát lên: "Nhân gian dù có hình thể, nhưng tất cả biến hóa vô thường, không phải là thật có được, mau mau rời bỏ mới là cần thiết!"

Nhưng anh ta không nghe. Minh Vương quỷ sứ đã đến, tóm lấy Liên Hoa hành giả, khóa tay xích chân lại. Tình hình của Liên Hoa hành giả đã đến mức bi thảm rồi! Tôi nói với Minh Vương: "Là đệ tử của tôi!" Minh Vương đáp: "Thánh Tôn đại bi, ngài đến tiếp dẫn đệ tử, nhưng đệ tử không muốn lên đài hoa sen, ngược lại lại còn bò xuống, bởi vì trần gian khóc ác liệt quá, đến mức khiến cho tâm linh không thể nào chịu đựng được, tâm thần tán loạn, theo lý thì cần lục đạo luân hồi."

Tôi nói với Liên Hoa hành giả: "Đừng có chần chừ mong ngóng nữa, nhất tâm trì Thượng sư tâm chú đi!" Anh ta niệm: "Om guru liansheng siddhi hum." (Thật may anh ta vẫn còn nhớ được câu chú này.) Minh Vương và quỷ sứ liền tiêu tan. Minh quang của đài hoa sen đã bao trùm lấy Liên Hoa hành giả, anh ta tiến nhập vào trong minh quang, hòa tan vào toàn bộ rồi vãng sinh…

Ở đây, tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng: Tôi không dám phủ nhận sinh ly tử biệt ở thế giới Ta Bà là không khổ, chính tôi cũng không dám bảo đảm rằng khi mắt trông thấy người thân chết thì bản thân tôi sẽ không khóc. Người sống biệt ly tôi còn khóc huống hồ là người chết, sao tôi có thể không khóc chứ? Thế nhưng, tôi hiểu rõ, gào khóc thật sự không có lợi ích gì. (Người chết đã chết, khóc cũng không làm họ sống lại được.)

Ngược lại, tôi nhận thấy thế này, khóc cũng được, nhưng đừng kêu gào ai oán, tốt nhất là giúp người chết nhớ về Căn bản Thượng sư, Căn bản Bổn tôn, Căn bản Hộ pháp. Rơi nước mắt và niệm Phật trì chú, khuyên người chết rằng: "Mau mau rời khỏi khổ Ta Bà, hãy đi theo minh quang của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. Hãy đi theo A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Hãy đi theo minh quang của Thánh chúng. Đây chính là giải thoát."

Vào thời điểm này: Người chết có thể nhìn thấy cúng phẩm của mình bị quẳng đi, quần áo yêu thích của mình bị xé bỏ, nơi mình ở đã bị dọn dẹp chẳng còn gì, xe của mình cũng bị người khác dùng. Hơn nữa, anh ta có thể nhìn thấy nghe thấy người thân khóc lóc bi ai, cũng có thể nghe thấy người thân khuyên nhủ, vì thế, hãy để cho người chết mau chóng vui vẻ mà rời bỏ đau khổ ở thế gian Ta Bà, như vậy còn quan trọng hơn rất nhiều so với gào khóc thê lương.

Để người chết bất mãn không vui. Để người chết suy sụp khó bỏ. Đều là điều không đúng.

Người thân cần khuyên người chết: Liên Hoa hành giả, chết là chuyện mà người người đều sẽ trải qua, có sinh tất có tử, đừng bám chấp vào cá thể sinh mạng đã rách nát này, nếu anh không cam lòng thì cũng chẳng có cách nào lưu lại trên đời dài lâu, mau đi đi, mau đi đi, đừng nhớ đến nhân gian nữa, bởi vì như thế sẽ lưu chuyển không dừng, không hề có được điều gì. Hãy nhớ đến Tam Bảo, tam căn bản đi! Mau mau hồi hướng, nguyện người cùng niệm Phật, cùng sinh cõi Cực Lạc, trên báo bốn ơn sâu, dưới cứu khổ tam đồ, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả. Chúng ta sẽ lại gặp nhau ở tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì." Đây là nội dung quan trọng! Gào khóc bi ai vô ích! Hãy khuyên người chết mau chóng niệm Phật trì chú nhớ đến Tam Bảo!

18. Ma dọa ma

Người học Phật chúng ta hiểu rằng, ma cũng là một trong lục đạo chúng sinh, nhưng có rất nhiều sự khác biệt. Một số ma cũng có phúc báo, do vậy gọi là ma giàu có. Lại cũng có rất nhiều ma không có phúc, bị gọi là ma thiếu tiền.

Âm giới chính là thế giới của ma, còn gọi là quỷ đạo, quỷ thú, trong Phật giáo thì tức là: Cảnh giới dạ xoa. Cảnh giới la sát. Cảnh giới ngạ quỷ.

Ma thông thường cũng có uy lực, những con ma có đại thần thông hơn thì được người đời tôn xưng là thần, xưng là đại thần gì gì đó. Tôi phát hiện ra, cõi ma là một trong số mười pháp giới, thế nhân chúng ta sau khi chết, thân trung ấm cũng được coi là ma chưa luân hồi.

Có rất nhiều người cho rằng người chết thì thành ma, ở đây cũng có một chút đạo lý tồn tại. Tuy nhiên, rất nhiều người cũng tin rằng, người chết thành ma thì nhất định sẽ vĩnh viễn tồn tại trong cõi ma quỷ đạo. Về điểm này thì lại không có đạo lý, trừ phi thân trung ấm của bạn bị luân hồi trong cõi ma quỷ đạo thì mới thật sự sẽ trở thành ma.

Ở đây, tôi đặc biệt nói để mọi người biết: Trong cảnh giới thân trung ấm, quan trọng nhất là cần nhớ đến Tam Bảo tam căn bản. Cần nhất tâm bất loạn. Cần không kinh sợ.

Trong cảnh giới trung ấm (linh hồn), tuyệt đối không được sợ sệt, bất luận có ma quỷ khổng lồ hung ác đáng sợ đến thế nào xuất hiện trước mặt người chết thì bạn cũng đều không cần sợ hãi, bạn cần nhận định rằng:

1. Chúng cố ý đến để dọa bạn. 2. Đó là sự phản ánh của thần thức. 3. Ma chỉ là huyễn ảnh. 4. Là sự hỷ nộ của chính bạn. (nghiệp lực) 5. Là thử nghiệm định lực của bạn. 6. Nghìn tiếng sấm hung dữ nhất tề vang lên, bạn cũng đừng để ý. 7. Không sợ ma quỷ, không kinh hãi, không hoảng hốt. 8. Bản thân cần tự nghĩ, mình đã chết rồi, bất kì ma quỷ nào cũng không có cách nào hại mình được, đó chỉ là huyễn tướng thôi. 9. Không chỉ là ma dọa ma, thậm chí bình sinh bạn sợ nhất thứ gì thì chúng đều xuất hiện do thần thức phản ánh, hãy nhớ, những thứ này đều là thần thức phản ánh. 10. Lúc này hoàn toàn dựa vào định lực thiền quán và trí huệ của người chết để mà phân biệt.

Ma dọa ma này chính là hiểm đạo. Đừng cho rằng ma dọa ma là điều không thể nào!

Phẩm "Lợi ích tồn vong" có viết: "Ðại quỷ Vô Thường không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ, chưa rõ là tội hay phúc, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, sau khi thẩm định xong thì cứ y theo nghiệp mà thọ sinh.

Trong lúc chưa biết ra sao thì đã phải chịu nghìn muôn sầu khổ rồi, huống chi là bị đọa vào các ác đạo! Người chết đó khi chưa được thọ sinh, ở trong bốn mươi chín ngày luôn luôn trông ngóng người thân ruột thịt tu tạo phước lực để cứu vớt cho mình. Quá ngày ấy rồi thì cứ theo nghiệp mà thọ báo. Nếu là tội nhân thì phải trải qua trăm nghìn năm không có ngày được giải thoát, còn nếu là năm tội vô gián thì phải đọa vào đại địa ngục nghìn kiếp vạn kiếp, vĩnh viễn chịu đau khổ."

Đại quỷ Vô Thường là cái gì? Thần Chết! Hung Thần! Quỷ dữ! Là những đại quỷ! "Liên Hoa hành giả tôn quý không cần sợ hãi, nhất tâm niệm Phật trì chú, không sợ không hoảng, thì đại quỷ Vô Thường sẽ tự nhiên tiêu biến!"

Nếu bạn sợ hãi, hoảng hốt, thất kinh, bạn bỏ chạy. Trông thấy một cái hang có thể chui vào để ẩn thân, và thế là tiêu đời rồi!

1. Hang động giống như trứng, bạn sẽ noãn sinh thành gà, vịt, ngỗng. 2. Hang động giống như thai, bạn sẽ thai sinh thành trâu, cừu, chó. 3. Hang động ẩm thấp, bạn sẽ thấp sinh thành ruồi, muỗi, muỗi vằn. 4. Hang động như tan chảy biến đổi, bạn sẽ hóa sinh xuống địa ngục, âm gian, v.v…

Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh chính là tứ sinh. Thai sinh là hình thành bên trong thai mẹ, sau đó mới sinh ra sinh mạng, con người cũng là như thế. Noãn sinh là sau khi thành hình trong vỏ trứng thì mới sinh ra sinh mạng, loài chim đều là như vậy. Thấp sinh là dựa vào nơi ẩm thấp mà hình thành nên sinh mạng, như loài muỗi. Hóa sinh là không dựa vào một nơi nào, chỉ nhờ vào nghiệp lực mà bỗng dưng sinh ra sinh mệnh, như chư Thiên và địa ngục, cho đến kiếp làm người đầu tiên.

Tôi nói: Thấy hang rất dài, đi vào đó, sẽ thành rắn. Thấy ô tô, trốn vào đó, sẽ thành rùa. Thấy cái kiệu, trốn vào đó, sẽ thành cua. Thấy máy bay, trốn vào đó, sẽ thành chim. Thấy tàu hỏa, trốn vào đó, sẽ thành rết. Thấy tàu thủy, trốn vào đó, sẽ thành cá. Thấy nhà lầu, trốn vào đó, sẽ thành ốc. Thấy hào trú ẩn, trốn vào đó, sẽ thành chuột đất. ...

Nói tóm lại, bạn nhìn thấy đại quỷ Vô Thường, đừng sợ hãi, đừng kinh hoảng, đừng hoảng hốt, đừng trốn chạy, đừng ẩn nấp. Chỉ niệm Phật trì chú.

Liên Hoa hành giả tôn quý cần hiểu có bốn kiểu vãng sinh: Kiểu thứ nhất — chính niệm vãng sinh, người sắp chết tâm không đảo điên, niệm Phật trì chú, như vậy tức là chính niệm vãng sinh.

Kiểu thứ hai — cuồng loạn vãng sinh, là người sắp chết lúc còn sống làm ác nghiệp, khi hấp hối nhìn thấy đại quỷ Vô Thường đến, thấy địa ngục lửa cháy mãnh liệt khổ đau bức bách, thấy lũ lụt nhấn chìm đến đỉnh đầu, trong lúc cuồng loạn, thình lình nghe thấy đại thiện tri thức dạy anh ta cần niệm Phật một tiếng hoặc mười tiếng, anh ta nhất tâm niệm theo, thì cũng có thể cuồng loạn vãng sinh.

Kiểu thứ ba — vô ký vãng sinh, loại người này bình thường có quy y Phật môn, cũng niệm Phật trì chú, nhưng đúng lúc sắp chết thì lại không sao niệm được, tâm thần tiêu tán, trở thành không còn nhớ được gì (không thiện không ác), nhưng may nhờ ngày thường anh ta có công đức niệm Phật trì chú, cũng có thể vãng sinh tịnh thổ Phật quốc.

Kiểu thứ tư — ý niệm vãng sinh, là người này, ví dụ ở trong bệnh viện, khí đã không còn, không thể phát ra âm thanh niệm Phật trì chú, tình trạng này rất nhiều, nhưng chỉ cần suy nghĩ nhớ đến Phật là được rồi, vẫn có thể vãng sinh.

Liên Hoa hành giả Chân Phật Tông chúng ta tốt nhất là tu hành đến chân như, chân tâm của bản lai tự tính thanh tịnh. Thế gian này mặc dù có đủ loại phiền não, nhưng tự tính thanh tịnh trong suốt như hư không, đích thân chứng tám thức Như Lai Tạng, rời xa tất cả mọi tướng phân biệt, ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, đó là tự mình chứng ngộ.

Nếu như không được như vậy thì cũng cần chính niệm vãng sinh, tu đến khi tương ứng Thượng sư, tương ứng Bổn tôn, tương ứng Hộ pháp, như thế nhất định có thể vãng sinh. Cũng vẫn không được nữa thì chăm chỉ tu tịnh độ niệm Phật, dựa vào thề nguyện của A Di Đà Phật, người sắp chết thấy Phật thoát sinh tử, đây cũng là chính niệm vãng sinh!

19. Mật giáo nhận biết sắc uẩn

Căn cứ theo cách nhận biết sắc uẩn của Mật giáo, hành giả cần phải ghi nhớ sâu sắc khi hiện tượng cảnh giới trung ấm xuất hiện sẽ có đủ loại quang sắc khác nhau.

Trước tiên tôi nhắc nhở mọi người rằng, quang sắc của lục đạo luân hồi đều là hiểm đạo, không được tiến vào:

1. Ánh sáng của cõi Thiên là ánh sáng trắng mờ. 2. Ánh sáng của cõi Người là ánh sáng vàng mờ. 3. Ánh sáng của cõi A tu la là ánh sáng xanh lục mờ xỉn. 4. Ánh sáng của cõi Địa ngục là ánh sáng mù mịt như sương. 5. Ánh sáng của cõi Ngạ quỷ là ánh sáng đỏ mờ xỉn. 6. Ánh sáng của cõi Súc sinh là ánh sáng xanh lam mờ xỉn.

Cần nhớ rõ, mờ xỉn là có độc tính, đừng để bị mê hoặc mà vội vã lao vào. Bởi vì chỉ cần đi vào đó là sẽ chìm nổi trong biển sinh tử, vĩnh viễn không có ngày thoát ra.

Ánh sáng cần phải dung nhập vào là: Ánh sáng xanh lam của Đại Nhật Tỳ Lô Giá Na Phật, là ánh sáng trí huệ pháp giới trong suốt, rực rỡ. Ánh sáng trắng trong suốt của Kim Cang Tát Đỏa Thượng sư, đó là ánh sáng từ bi của trí huệ. Hư Không Tạng Bồ Tát hoặc Phổ Hiền Bồ Tát, hoặc các Thánh hiền khác, sẽ có ánh sáng bình đẳng tính trí chói lọi màu vàng. (Bảo Sinh Phật) Ánh sáng diệu quan sát trí màu đỏ của A Di Đà Phật cực kì chói lóa, trong suốt lấp lánh. Ánh sáng xanh lục đặc trưng của tây phương Bất Không Thành Tựu Phật, là ánh sáng lục thành sở tác trí, trong suốt và rực rỡ. Ngoài ra còn có ánh sáng ngũ sắc, là ánh sáng câu sinh trí do tập khí được tịnh hóa mà thành, do tâm của năm vị trì minh chủ tôn phóng ra, trong suốt và sáng chói, vô cùng mạnh mẽ.

Về nhận biết sắc uẩn, cá nhân tôi cho rằng: Cần hiểu và ghi nhớ nội dung chính trong đó. Không được nhận nhầm. Cần ghi nhớ bí mật vi diệu trong đó. Không được quên mất. Nếu bạn nhìn thấy ánh sáng cần phải dung nhập vào thì hãy tin vào ánh sáng ấy, niềm tin chắc chắn không lung lay, đồng thời hướng về ánh sáng ấy cầu nguyện, nhất tâm quán tưởng tiến nhập vào ánh sáng.

Còn đối với những quang uẩn đến từ lục đạo, chúng có sức mạnh mê hoặc, Liên Hoa hành giả đừng dao động, không được yêu thích chúng. Cần biết rằng chúng là ánh sáng do đủ loại tập khí nghiệp lực mà thành, những tập khí ấy chính là yêu thương, ngu si, vô minh, sân hận, phẫn nộ, ngã mạn, cao ngạo, cố chấp, tham lam, đố kỵ…

Người đọa lạc vào lục đạo luân hồi không chỉ là phàm phu bình thường, cũng có rất nhiều là người tu hành. Tôi có thể thấy rằng phần lớn họ đều không quá nghiêm túc, hành vi thô lỗ, một số người căn bản là không tu pháp, lười biếng buông thả, không đủ chính kiến, thậm chí bán tín bán nghi, coi thường Căn bản Thượng sư của mình, ngờ vực Căn bản Thượng sư của mình, không tôn trọng pháp của Căn bản Thượng sư của mình. Lại có một số người tin này tin nọ, lung tung lộn xộn, và vì thế, họ đều sa đọa cả.

Lúc này bắt đầu mới biết tầm quan trọng của bát chính đạo: Chính kiến — tri kiến đúng đắn. Chính tư duy — suy xét đúng đắn. Chính ngữ — ngôn ngữ đứng đắn. Chính nghiệp — hành vi đứng đắn. Chính mệnh — nghề nghiệp đứng đắn. Chính tinh tấn — nỗ lực đúng đắn. Chính niệm — quán niệm đúng đắn. Chính định — thiền định đúng đắn.

Trong "Du già diễm khẩu", "Mông Sơn thí thực", "Tam thời vấn vương", thậm chí trong "Tứ thiền bát định", trong tứ thiền định của Sắc giới và tứ không định của Vô sắc giới, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ định, thức vô biên xứ định, vô sở hữu xứ định, phi tưởng phi phi tưởng xứ định, tôi dùng thiên nhãn đã thấy: Quá nhiều người ngu si, phóng túng, lười biếng, bất tín, hôn trầm, trạo cử, vô sỉ, không hổ thẹn, phẫn nộ, phản phúc, keo kiệt, đố kỵ nóng giận, xúc phạm, thù hận, nịnh bợ, nói dối, kiêu ngạo, rình mò, mê ngủ, độc ác, tham, sân, cao ngạo, ngã mạn, hoài nghi…

Thế nhân lại vui với danh, lợi, những sự ca tụng, những thú vui. Rồi lại đau khổ vì suy yếu, bị phỉ báng, bị chế nhạo, bị chịu khổ.

Tôi lại càng thấy có rất nhiều đại sư, đại phương trượng, đại hòa thượng, đại tu hành giả và cả những học giả giỏi nói Phật pháp, lúc còn tại thế gian, họ rất thông hiểu, nắm rõ Phật lý, rất giỏi biện giải nghĩa lý Phật giáo, cũng nói rất nhiều Phật pháp, về phương diện hoằng pháp thì cũng rất chăm chỉ siêng năng. Nhưng, đều là vì tám chữ: "Thanh danh thế gian." "Lợi ích cúng dường." Những đại sư, đại phương trượng, đại hòa thượng, đại tu hành giả này đã thiếu mất hai chữ: "Thực tu."

Họ không tu "tư lương vị", không tu "gia hành vị", không tu "thông đạt vị", không tu "tu đạo vị", không tu "cứu cánh vị". Phật pháp Đại thừa từ phàm phu tu đến thành Phật đã xác lập 52 bước, thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác. Họ đều hiểu rõ hết. Chỉ là chẳng hề tu (thực tu).

Họ bận rộn với pháp thế gian, tất cả pháp hữu lậu của chúng sinh. Họ chú trọng kiếm tiền xây chùa lớn. Chú trọng danh vị. Mê đắm trong dòng chảy của ngã kiến, dòng chảy dục vọng, dòng chảy sở hữu, dòng chảy vô minh.

Những đại tu hành giả này ở thế gian mặc dù nói Phật pháp, nhưng không thực tu, đối với thân trung ấm không nắm rõ lắm, chưa tập thành thói quen tốt trong tâm, thậm chí đôi khi còn phỉ báng Mật giáo. Đến nỗi mà khi ở trong thân trung ấm, khi nhìn thấy tất cả huyễn tướng, họ cũng sinh ra sự kinh hoảng, vì không thực tu thiền định nên định lực không đủ, giống như trong mơ, liền rơi vào trong cảnh địa bi thảm.

Vì thế: Giỏi thuyết pháp. Giỏi nói lý. Giỏi xây chùa. Giỏi kết duyên. Rốt cục chẳng bằng giỏi thực tu.

Trái lại, tôi nhận thấy thế này, giỏi thuyết pháp tuy cũng rất tốt, giỏi nói lý cũng rất tốt, giỏi xây chùa cũng rất tốt, giỏi kết duyên cũng rất tốt, nhưng mà giỏi thực tu càng quan trọng hơn, giỏi thực tu là đại thành tựu giả. Đại tu hành giả như thế sau khi thành tựu, lập tức tương ứng chân như, chân tâm, lập tức đã nhập chứng, không cần phải kinh qua thân trung ấm. Người thuộc đẳng cấp này thì tức thân thành tựu Phật quả, tiến nhập vào cõi vui thanh tịnh, cảnh tướng tốt lành liên miên không ngừng!

Bầu trời trong xanh không mây tỏa đại hào quang. Xuất hiện cầu vồng lớn. Thiên nhạc đầy ắp không trung. Hương thơm lạ sực nức. Ánh sáng cát tường tỏa ra bốn phía. Trăm hoa cùng rơi xuống. Sau khi hỏa táng thì có hạt xá lợi, xá lợi răng, xá lợi hoa, v.v…

20. Mười đại Minh Vương hiện thân

Khi tôi phiêu bạt ở Hàn Quốc, tôi đã đến các ngôi chùa, khi ấy mới biết các tín đồ Phật giáo ở Hàn Quốc vô cùng cung kính mười đại Minh Vương. Chùa của họ đều có điện Minh Vương, thờ cúng mười đại Minh Vương, đó là: Tần Hoàng Đại Vương. Sở Giang Đại Vương. Tống Đế Đại Vương. Ngũ Quan Đại Vương. Diêm La Đại Vương. Biện Thành Đại Vương. Thái Sơn Đại Vương. Bình Đẳng Đại Vương. Đô Thị Đại Vương. Chuyển Luân Đại Vương.

Nếu như mười đại Minh Vương này hiện thân, mọi người chưa chắc đã biết, bởi vì thật sự là họ có quá nhiều thân tướng. Có vị thì lấp đầy cả hư không, có vị to lớn như núi Tu Di, vị nhỏ nhất thì cũng to lớn gấp mười tám lần con người. Hình tượng đều cực kì hung dữ, lấp đầy cả thế giới, ví dụ răng nanh lộ ra ngoài, cau mày quắc mắt, miệng không ngừng kêu lên những tiếng hét "hây hây", túm đầu người ta quăng xuống, hoặc moi tim, lưỡi thì liếm dịch não, dùng miệng uống máu. Đến lúc này, người chết chắc chắn sẽ thất kinh.

Mọi người đừng cho rằng đây chỉ là nói để dọa người ta mà thôi. Xin mời đọc phẩm thứ tám "Các vị Diêm La Vương tán thán": "Khi ấy, trong dãy núi Thiết Vy có vô lượng Quỷ Vương cùng với Thiên Tử Diêm La đều đến cung trời Ðao Lợi, đến chỗ của Ðức Phật. Ðó là: Quỷ Vương Ác Ðộc, Quỷ Vương Ða Ác, Quỷ Vương Ðại Tranh, Quỷ Vương Bạch Hổ, Quỷ Vương Huyết Hổ, Quỷ Vương Xích Hổ, Quỷ Vương Tán Ương, Quỷ Vương Phi Thân, Quỷ Vương Ðiện Quang, Quỷ Vương Lang Nha, Quỷ Vương Thiên Nhãn, Quỷ Vương Ðạm Thú, Quỷ Vương Phụ Thạch, Quỷ Vương Chủ Hao, Quỷ Vương Chủ Họa, Quỷ Vương Chủ Thực, Quỷ Vương Chủ Tài, Quỷ Vương Chủ Súc, Quỷ Vương Chủ Cầm, Quỷ Vương Chủ Thú, Quỷ Vương Chủ Mị, Quỷ Vương Chủ Sản, Quỷ Vương Chủ Mạng, Quỷ Vương Chủ Tật, Quỷ Vương Chủ Hiểm, Quỷ Vương Tam Mục, Quỷ Vương Tứ Mục, Quỷ Vương Ngũ Mục, Kì Lợi Thất Vương, Ðại Kì Lợi Thất Vương, Kì Lợi Xoa Vương, Ðại Kì Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Ðại A Na Tra Vương, v.v… Những vị Ðại Quỷ Vương như thế, mỗi vị cùng với trăm nghìn tiểu Quỷ Vương..." Đó là vô lượng Quỷ Vương được ghi chép trong Kinh Địa Tạng.

Mọi người chớ cho rằng những ghi chép trong kinh điển này chẳng qua chỉ là khuyên răn người ta, không thật sự là những chuyện có thật, chuyện của địa ngục chỉ là Tử Hư Ô Hữu. [Tử Hư, Ô Hữu là hai nhân vật dân gian ở Trung Quốc chuyên nói khoác, không đáng tin cậy, nên tên của hai người này được dùng khi nói đến những chuyện hoang đường, không đáng tin.]

Thế còn tôi nói: "Kinh này là Phật thuyết, sao có thể là giả!" Cơ duyên của thân trung ấm là có khả năng gặp được mười đại Minh Vương và đại Quỷ Vương tiểu Quỷ Vương, vô lượng Quỷ Vương đó. Trong Tạng mật, chúng ta biết rằng: Có chư tôn của Hỷ Lạc Bộ xuất hiện. Có chư tôn của Phẫn Nộ Bộ xuất hiện. (Tương tự như mười đại Minh Vương và vô lượng Quỷ Vương được mô tả trong Địa Tạng Kinh.)

Nhưng trong Tạng mật mô tả dường như còn đáng sợ hơn. Ví dụ: ba đầu sáu tay, bốn chân, mặt bên phải trắng, mặt bên trái đỏ, mặt ở giữa nâu sẫm, toàn thân tỏa ánh sáng chói lọi, chín mắt mở to, trừng mắt nhìn chằm chằm, lông mày như tia chớp, răng nanh trắng ởn, trong miệng gầm gừ "ah la ha". Sáu tay đều cầm pháp khí: pháp luân, kiếm, rìu, chuông, bát xương, lưỡi cày.

Ngoài ra còn có chủ tôn uống máu của Kim Cang Bộ: thân màu xanh đậm, ba đầu sáu tay, bốn chân đứng sừng sững, sáu cánh tay đều cầm chày, bát sọ người, rìu, chuông, bát bằng não, lưỡi cày, uống máu. Còn có những vị uống máu như Khải Nhữ Mã, Đái Mạn Mã, Uông Thu Mã, Tu Lị Mã, Lạp Ma Ha, Bùi Đại Lệ, Bồ Tạp Ti, Cát Ti Mã, Hương Đa Lợi, Thí Mã Hạ, v.v…

13 vị tôn của Phẫn Nộ Bộ, 28 vị Đại Lực Nữ Thần, trong đó có các vị đầu sư tử, đầu hổ, đầu cáo, đầu sói, đầu diều hâu, đầu ngựa, đầu quạ, đầu chim cú. Những vị này không chỉ uống máu mà thậm chí còn: Ăn não, phát ra tiếng tợp tợp. Ăn dạ dày, tống vào trong miệng. Ăn tim, nhai nhồm nhoàm liên tục. Ngậm xác chết, nhai mãi nhai mãi. Nuốt con mắt, răng nanh nhe ra. Các Đại Lực Nữ Thần này trong tay cầm những hung khí như móc câu, thòng lọng, xích sắt, giáo nhọn… Người bình thường nhìn thấy các vị uống máu của Phẫn Nộ Bộ (đại Quỷ Vương) đều sẽ vô cùng kinh hãi, hoảng sợ quá mức mà ngất xỉu rồi chết, và như thế là hoàn toàn đi đời, người chết sẽ trở thành vật hy sinh bởi sự sợ hãi.

Vì sao lại xuất hiện các vị của Hỷ Lạc Bộ và Phẫn Nộ Bộ? Thật ra đây cũng là hình ảnh ý thức của mỗi cá nhân, bất kể là kinh điển Hiển giáo hay Mật giáo đều chứng minh rằng mỗi người đều có ý thức hỷ nộ ái ố, vì con người một ngày nào đó chết đi thì những hỷ nộ này cũng sẽ hiển hiện ra. Giống như các loài thú vật.

Bạn cũng đừng cho rằng không thể nào có, tôi đã từng nói với mọi người, nhân loại chỉ là bề ngoài giống như con người mà thôi. Thật ra có một số người từ lâu tâm đã biến thành hổ, báo, sư tử, voi, sói, chó, rắn, diều hâu, cáo, v.v…

Còn nữa, bạn cũng đừng cho rằng không thể nào có đại quỷ, có rất nhiều người lòng dạ đã không còn là con người, từ lâu đã là lòng dạ nham hiểm, sớm đã là quỷ rồi, không chỉ là quỷ mà còn là đại Quỷ Vương hung tợn.

Tất cả chư tôn của Hỷ Lạc Bộ, Phẫn Nộ Bộ, Uống Máu Bộ, Đầu Thú Bộ, Diêm La Đại Vương (mười đại Minh Vương), vô lượng Quỷ Vương hiển hiện đủ loại hình tượng đáng sợ đều là những gì tồn tại trong tâm thức chính mình biến hiện mà ra.

Tôi nói thẳng, đó là: Người chết tự chiêu cảm. Tâm thức người chết biến hiện. Là một với người chết.

(Pháp tương ứng của Mật giáo, mười pháp giới đều nằm trong sự tương ứng. Pháp tương ứng của Chân Phật Tông chúng ta là tương ứng Phật, tương ứng Bồ Tát, tương ứng Kim Cang, tương ứng Hộ Pháp, trình độ thấp nhất cũng là tương ứng với chư Thiên.) Thiên đạo cũng nằm trong luân hồi. Điều quan trọng nhất là không được tương ứng với tam ác đạo, tốt nhất là lục đạo luân hồi đều không tương ứng.

Lúc này, nên định tâm cầu nguyện: (đừng sợ hãi bất tỉnh nhân sự) Con nay phiêu bạt trong âm giới Khẩn cầu Thượng sư mau tiếp ứng Om guru liansheng siddhi hum! Om guru liansheng siddhi hum! Om guru liansheng siddhi hum! Khẩn cầu Bổn tôn đừng rời bỏ Khẩn cầu Hộ pháp cứu độ con Kính yêu Thượng sư cùng Bổn tôn Nhất tâm mong chờ được bảo hộ. (Thượng sư, Bổn tôn có thề nguyện, nhất định sẽ cứu bạn.)

21. Nơi thân trung ấm nên ở

Tôi dùng thiên nhãn quan sát, thân trung ấm (linh hồn) thông thường vì bị cơn gió nghiệp thổi tới nên phần nhiều là phiêu bạt bất định. Giống như lông vũ bị gió thổi bay, hoặc ngựa hoang chạy lồng lộn, như trẻ con lạc mẹ chạy nhốn nháo khắp nơi. Cũng có thân trung ấm, bởi tâm không thể tự chủ bèn giống như những kẻ lang thang cứ trôi nổi khắp nơi, tình hình vô cùng đáng thương!

Thân trung ấm tự lẩm bẩm: "Chuyện này là sao đây?" "Rốt cục mình đang ở đâu?" "Vì sao lại biến thành như vậy?" "Chẳng có ban ngày, chẳng có ban đêm, từ sáng đến tối trời đều bụi mờ mịt, đây rốt cục là nơi nào?" Đến khi thân trung ấm nhìn thấy thi hài của mình nằm trong bệnh viện mới kinh hãi: "Mình đã chết rồi ư?" Thân trung ấm khóc lóc nỉ non, buồn bã, âu sầu, đau khổ.

Người chết trước tiên là tìm đến: Nhà của mình. Người thân của mình. Công ty nơi mình làm việc khi còn sống. Những đồ ăn mà mình thích nhất. Nhưng rồi người chết sẽ phát hiện ra, tất cả mọi người đều không nhìn thấy mình, không nghe thấy mình. Nhà ở, công ty, thứ mình yêu thích đều không thuộc về mình, người chết trở thành không có nơi nào có thể nương thân. Tuy nhiên người chết cũng sẽ phát hiện ra rằng, thân trung ấm có một dạng năng lực, vì đã không còn vật chất thô của nhục thể nên có thể tùy ý mà đi không chút trở ngại nào, có thể thần hành, có thể xuyên qua bất kì nham thạch thổ nhưỡng, nhà ở, thậm chí là núi cao sông rộng mà không có một chút khó khăn. Ngoài những nơi Thánh địa ra thì cứ đi đi về về chẳng có gì ngăn trở. Nghĩ cái là tới. Nghĩ cái là đến. Có thể nhìn thấy những thân trung ấm khác. Đồng loại có thể nhìn thấy nhau.

Tôi thường nói: "Ngưu tầm ngưu mã tầm mã." Nếu thân trung ấm có thiên nhãn thanh tịnh thì cũng có thể nhìn thấy được thiên giới, thấy được thiên thần. Nhưng phần đông lại là những thân trung ấm tâm thần tán loạn, họ chỉ có thể tụ tập ở thế giới Ta Bà, hoặc ở những nơi tồi tệ hơn.

Có thân trung ấm lưu luyến nhục thể của mình, trở thành ma canh xác chết. Có thân trung ấm lưu luyến phần mộ của mình, trở thành ma giữ mộ. Có thân trung ấm lưu luyến nhà ở của mình, trở thành ma giữ nhà. Có thân trung ấm lưu luyến vợ mình, trở thành ma giữ vợ. Có thân trung ấm lưu luyến tài sản của mình, trở thành ma giữ tiền. Có thân trung ấm lưu luyến con cái của mình, trở thành ma giữ con. (Đây là cảnh giới trung ấm tái đọa lạc.)

Tôi thấy thân trung ấm cũng đeo bám lên thân người mà họ lưu luyến, đeo bám lên thân của kẻ thù, đeo bám lên thân của tượng gỗ, như thế này gọi là nhập thân, người thế tục thì nói là bị ma nhập. (Đó là bị ma ám vào thân.)

Thân trung ấm cũng có kiểu ham ngủ, từ đầu tới cuối chỉ có ngủ, thì sẽ trở thành ma ham ngủ. Rồi còn có như: ma nơi hoang vu, ma trong rừng, ma nước, ma uống máu, ma chạy nhanh, ma ăn hương thơm, ma sống trong biển, ma giữ sắc đẹp, ma ăn thịt, ma tạo giấc mơ, ma thần thông, ma bất tịnh, ma chiếm đoạt tinh khí, ma uống rượu, ma cờ bạc… (Những thân trung ấm này thực sự rất gay go.)

Tôi cho rằng nơi thích hợp nhất đối với thân trung ấm là:

1. Nơi có Căn bản Thượng sư. 2. Chùa miếu. 3. Nơi đồng tu và hội đồng tu. 4. Tháp.

Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết: lúc này, bạn nhớ về Căn bản Thượng sư thì sẽ thần hành đến nơi ở của Căn bản Thượng sư, Căn bản Thượng sư nhìn thấy bạn sẽ dạy cho bạn phương pháp của đạo giải thoát và đạo bồ đề. Vì khi bạn tại thế có tu hành nên vừa nghe là hiểu, chí ít bạn cũng có thể niệm Phật trì chú, lập tức được Phật Bồ Tát tiếp dẫn mà đi đến Phật quốc thanh tịnh.

Hoặc là bạn đến Lôi Tạng Tự, Lôi Tạng Tự là nơi có thần Già Lan, thần Vi Đà bảo vệ, Lôi Tạng Tự có Thượng sư và đồng môn, khi họ cùng tu pháp, bạn cũng cùng với họ tu pháp, tu pháp có triệu thỉnh, có hồi hướng, bạn nhất tâm triệu thỉnh theo, nhất tâm tu pháp, nhất tâm hồi hướng, tự nhiên ánh sáng của Phật Bồ Tát sẽ bao trùm lấy bạn, thế là bạn đã đến được Phật quốc tịnh thổ rồi. Đi đến Lôi Tạng Tự tu pháp thế là được giải thoát rồi.

Hoặc là đến các Phật đường đồng tu, các hội đồng tu, chỉ cần đồng tu thì cũng có nguyên tắc giống như ở chùa, chỉ cần nhất tâm tu pháp, nhất tâm niệm Phật trì chú, ánh sáng của Phật Bồ Tát sẽ chiếu trọn lấy bạn, thế là bạn đến được Phật quốc tịnh thổ.

Hoặc là, bạn có thể đi đến tháp Phật, cần biết rằng có tháp là có Phật, tháp là một công trình kiến trúc có hình dáng cao và nhọn. Đương nhiên có rất nhiều kiểu tháp, cũng có tháp năm tầng, bảy tầng, mười tầng, đương nhiên cũng có tháp xá lợi, cũng có tháp phi xá lợi, năm trăm năm lần thứ tư sau khi Phật diệt độ chính là thời kì xây dựng chùa tháp kiên cố. Trong tháp xá lợi hoặc tháp phi xá lợi đều có thần bảo hộ của Thánh giả ở đó, thần bảo hộ trông thấy thân trung ấm của hành giả Chân Phật Tông có thể tiếp dẫn cho người đó vãng sinh đến Phật quốc thanh tịnh.

Tôi nhận định là như vậy đó. Mọi người cho rằng đồng tu ở Lôi Tạng Tự không quan trọng, cho rằng đồng tu ở Phật đường không quan trọng, hội đồng tu không quan trọng, đợi đến khi thành thân trung ấm rồi thì bạn sẽ biết thôi. Khi đồng tu có cùng chung một tâm lực nhất niệm, tâm lực nhất niệm này có sức mạnh thu hút và hiệu triệu vô cùng lớn. Một đàn pháp viên mãn là dựa vào Mật pháp mà tu, không có bám chấp vào sự tình, như niệm Phật, như trì 108 biến chú, như niệm 36 vạn tỉ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, niệm một vị Phật tương đương niệm tất cả Phật, tu một pháp chính là tu vô lượng pháp môn. Vãng sinh Cực Lạc tịnh thổ tức là sinh về tịnh thổ của chư Phật. Thân trung ấm dựa vào sức mạnh cộng tu, sức mạnh của đồng môn cùng tu pháp, trong chốc lát có thể được hút về Phật quốc tịnh thổ, vì thế đồng tu ở chùa, đường, hội rất quan trọng.

Tôi thường nói: Các đệ tử, Tứ gia hành rất quan trọng, là đại pháp. Tứ gia hành là tu vững chắc Kim Cang Tâm, chính là đại tâm của Bồ Tát, đại tâm của Bồ Tát kiên cố thì không thể suy hoại, giống như kim cương vậy. (Không sợ phỉ báng.) Tứ gia hành cần tu pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát. Trong 52 bậc vị của Đại thừa, Bồ Tát là bậc vị thứ 51, gọi là Đẳng Giác. Bồ Tát này đã gần như tương đương với Phật rồi, vì thế mới gọi là Đẳng Giác. Nếu như lùi lại mười địa (Pháp Vân địa) thì cũng có thể gọi là Phật rồi. Kim Cang Trì, Kim Cang Tâm, Kim Cang Tát Đỏa, đã là Pháp Vương Tử của Ngũ Phương Phật, cũng là gốc rễ hoằng pháp của Mật giáo, là giáo chủ. Hội đồng tu chỉ tu Tứ gia hành thôi thì cũng đã cực kì tốt rồi! Kim Cang Tâm Bồ Tát một khi đã gọi về thì thân trung ấm sẽ đến được Phật quốc tịnh thổ, lập tức giải thoát. Đồng tu là quan trọng, cực kì quan trọng.

22. Các ty biện luận nghiệp quả

Từng có người hỏi tôi: "Ở cõi âm thật sự có thẩm vấn và phán quyết sao?" Tôi hỏi ngược lại: "Dương gian có quan tòa thẩm phán không?" "Có." "Thế thì âm gian cũng có thẩm phán, là lẽ đương nhiên." - Tôi đáp.

Kinh Địa Tạng đã nói rất rõ ràng: "Trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, sau khi thẩm định xong thì cứ y theo nghiệp mà thọ sinh." "Trong bốn mươi chín ngày luôn luôn trông ngóng người thân ruột thịt tu tạo phước lực để cứu vớt cho mình. Quá ngày ấy rồi thì cứ theo nghiệp mà thọ báo. Nếu là tội nhân thì phải trải qua trăm nghìn năm không có ngày được giải thoát, còn nếu là năm tội vô gián thì phải đọa vào đại địa ngục nghìn kiếp vạn kiếp, vĩnh viễn chịu đau khổ." "Tiếp nữa, ông Trưởng Giả, nếu là chúng sinh mang nghiệp tội, sau khi mạng chung, những người thân ruột thịt vì họ mà làm chay cúng dường để trợ giúp nghiệp đạo, thì khi thức ăn chưa làm xong hay trong lúc đang làm, chớ đem nước gạo, lá rau đổ vung vãi ra đất, thậm chí các thứ đồ ăn chưa dâng cúng cho Phật và chư tăng thì không được ăn trước. Nếu không tuân theo mà cứ ăn và không tinh sạch kỹ lưỡng, thì người chết đó hoàn toàn không được trợ lực nào cả. Nếu có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dâng cúng cho Phật cùng tăng, thì trong bảy phần công đức, người chết hưởng được một phần. Vì vậy Trưởng Giả, chúng sinh cõi Diêm Phù, nếu có thể vì cha mẹ hoặc người thân đã chết mà sửa soạn thiết trai cúng dường, chí nguyện và tấm lòng cần cù thật thà thì những người như thế, kẻ còn lẫn người mất đều được lợi ích cả.”

Trong Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, tôi nhắc nhở như sau:

1. Có thẩm phán. Các ty tranh biện về nghiệp quả. 2. Trong vòng 49 ngày, người thân ruột thịt nên tạo phúc để cứu vớt. 3. Trai tăng có công đức. 4. Cúng Phật có công đức. 5. Chăm chỉ cẩn thận niệm Phật trì chú có công đức. 6. Siêu độ có công đức. (Diễm khẩu, mông sơn, đọc kinh sám hối, tụng kinh, hệ niệm.) 7. Người sống người chết đều được lợi ích. (Người chết hưởng một trong bảy phần công đức.)

Tôi cảm thấy, một thân trung ấm đã đến nơi thẩm vấn và phán xét ở âm gian thì cũng đủ dở tệ rồi. Nói một cách thông thường thì đây cũng không giống một người tu hành. Các thần của ty thiện xuất hiện, dùng đá trắng để tính việc thiện. Các thần của ty ác xuất hiện, dùng đá đen để tính việc ác. So sánh thiện ác, sau đó xét xử.

Còn nữa, ở âm gian có một chiếc gương soi nghiệp, những gì cả cuộc đời người chết trải qua đều nằm trong gương soi nghiệp, phân minh tỏ tường, có nói dối cũng chẳng có tác dụng gì. Tôi đã tận mắt chứng kiến một Liên Hoa hành giả bị thẩm phán, do anh ta bị ác nghiệp liên lụy mà không có cách nào chứng nhập. Trong lúc mê man, anh ta bị Diêm La Vương ra lệnh cho quan cai ngục hung ác dùng dây thừng đen quấn chặt vào cổ rồi chém đầu, dịch não đều bị những con thú xung quanh hớp sạch sẽ. Sau đó, Liên Hoa hành giả lại sinh ra một thân rỗng do ý sinh ra. Và cứ sống dậy lại bị chém chết. Chín lần chết chín lần sống. Đau đớn vô vàn.

Diêm La Vương hỏi Liên Hoa hành giả:

1. Anh từng xé nát bức tướng của Căn bản Thượng sư, rồi ném ảnh xé nát vào thùng rác, có hay không? 2. Anh từng dùng lửa thiêu cháy cả đàn kiến, có hay không? 3. Anh phát nguyện muốn in Chân Phật Kinh để bù đắp cho sai lầm xưa kia, nhưng lời nguyện đã đưa ra lại không thực hiện, có hay không? 4. Anh gần gũi với bạn xấu gian ác, bạn xấu đưa anh vào quán rượu, anh uống say rồi phát sinh hành vi tà dâm với gái quán rượu, có hay không? 5. Anh so bì danh vị mà cố ý vu oan giá họa cho một vị trưởng phòng, kết quả là anh được thay thế làm trưởng phòng, có hay không? 6. Anh không những phát sinh tà dâm với gái quán rượu, mà còn dụ dỗ phụ nữ cấp dưới của mình, những phụ nữ này mặc dù cũng cam tâm tình nguyện, nhưng anh lại dâm lạc với phụ nữ đã có chồng tới tận nửa năm, có hay không? 7. Anh keo kiệt bủn xỉn, rõ ràng có tiền bạc thừa thãi để xây chùa, anh không chịu quyên góp, lại còn bảo vợ đừng đóng góp, có hay không? 8. Anh vong ân bội nghĩa, loại bỏ luôn cả người giám đốc từng đề bạt cất nhắc anh, chỉ vì anh cầu lợi từ người khác, có hay không? 9. Mặc dù anh chưa từng tự mình giết hại người, nhưng anh đã tàn nhẫn đuổi việc mấy người cấp dưới làm việc chăm chỉ, khiến họ thất nghiệp. Một người trong số đó chẳng ngờ vì không được thu nhận mà gia đình lâm vào cảnh bần cùng, vợ lại mắc bệnh, cuối cùng anh ta đã tự sát, có hay không? 10. Anh đố kỵ với đồng nghiệp lương thiện, có đức hạnh tài năng, nên chỉ toàn dùng người của mình, chèn ép người có đức hạnh tài năng, có hay không? 11. Anh quy y Căn bản Thượng sư, mượn danh nghĩa để đến phân đường đồng tu, nhưng chỉ muốn đạt được một danh vị, có hay không? 12. Ở tại phân đường, anh toàn bàn luận chuyện thị phi của người khác, chẳng hề chuyên tâm tu pháp, đã nói bao nhiêu điều dối trá, ỷ ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, có hay không? 13. Anh không giữ giới, không hành thiện, cũng không thanh tịnh tam nghiệp thân khẩu ý, có hay không? 14. Bạn xấu rủ anh đi săn, anh cũng đi, anh dùng súng săn đã bắn chết chim thú, có hay không? 15. Bức tường bao nhà anh đã chiếm lên đất của người khác, có hay không? ...

Liên Hoa hành giả này đáp: "Không có." Diêm La Vương lệnh cho quan cai ngục mở gương soi nghiệp ra, phát lại toàn bộ những hành vi xấu xa ghê tởm cả đời ngay trước mắt anh ta. Liên Hoa hành giả chết lặng không nói ra lời. Nói dối cũng chẳng ích gì.

Diêm La Vương hỏi anh ta: "Căn bản Thượng sư của anh là Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, thật ra mà nói, cá nhân anh đây có thể nói là cái gì cũng sai, nhưng anh từng niệm qua chú Tứ quy y phải không?" Liên Hoa hành giả này trong đầu đột nhiên hiểu ra: Namo guru bei. (Quy y Căn bản Thượng sư.) Namo buddha ye. (Quy y Phật.) Namo dharma ye. (Quy y pháp.) Namo sangha ye. (Quy y tăng.)

Lúc này, bầu trời đột nhiên mở ra, có một âm thanh nói: "Liên Hoa hành giả tôn quý, cần nhất tâm trì chú Tứ quy y, cần biết rằng tứ quy y mà bản thân mình niệm, từ một câu namo bất kì trong đó đều có thể đạt được giải thoát, đừng tán loạn, hãy nhất tâm niệm đi! Sám hối tội của mình, nhất tâm quy y, chờ đợi minh quang."

Liên Hoa hành giả rớt nước mắt, nhất tâm sám hối, nhất tâm trì chú. Quả nhiên, tịnh quang xuất hiện, Diêm La Vương và quỷ tốt đều tiêu biến.

Thế là: Một câu namo Phật. Vạch ranh giới trời đất. Chỉ ngay trong một niệm. Thoát khỏi tam ác nghiệp.

23. Pháp sư của pháp hội siêu độ

Trong cái gọi là siêu độ chân chính thật sự cũng có pháp nghĩa bí mật của nó, tuyệt đối không phải là nghi thức biểu hiện bề ngoài mà thôi. Ở đây có Sự mật, Hành mật, Du già mật, Vô thượng mật. Đầu tiên là: Triệu thỉnh Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, Chư Thiên. Tiếp theo là gọi các thân trung ấm được siêu độ đến. Cúng dường Phật và chư vị, và cả thân trung ấm. Du già diễm khẩu, mông sơn thí thực đều nằm trong đó.

Điểm quan trọng nhất, tốt nhất là cần có Thượng sư đã chứng ngộ khai thị đạo lý đúng đắn về giải thoát cho thân trung ấm được gọi đến và cả quỷ thần, đại chúng của pháp hội siêu độ. Quán thân bất tịnh. Quán thọ là khổ. Quán tâm vô thường. Quán pháp vô ngã. Khổ - Không - Vô thường - Vô ngã, khiến cho thân trung ấm và quỷ thần đại chúng nghe pháp đoạn tuyệt với ba nút thắt trói buộc. Thượng sư chứng ngộ cần giảng giải, khai thị bồ đề đạo mà Đức Phật đã truyền lại, đó là thực tướng của bát nhã đạt đến bỉ ngạn, đó là nhắm vào thân trung ấm, quỷ, thần, hộ pháp long thiên có thượng căn khí mà nói, nếu như có thể minh tâm kiến tính thì tiến nhập vào trong thực tướng bát nhã, như thế là đại phúc phận chân chính.

Trong đó: Oan thân trái chủ của rất nhiều thân trung ấm lúc bản thân còn sống đã tạo ra, có thể nhân dịp pháp hội này mà đến đòi nợ, những oán hận cùng sự liên lụy rối rắm không thể làm cho rõ ràng được. Kim cương Thượng sư chứng ngộ cần khai thị đạo lý oan thân bình đẳng, lệnh cho đôi bên hòa giải, cùng phát nguyện oan gia nên giải không nên kết, đôi bên cùng vãng sinh đến thế giới Cực Lạc, ai nấy đều hoan hỷ. Còn có hệ niệm ba thời nữa. Triệu mời minh quang Bổn tôn của Phật Bồ Tát đến tiếp dẫn linh chúng và oan thân trái chủ của tổ tiên và thân trung ấm, cũng siêu độ cho quỷ thần tham gia pháp hội. Ngoài ra, đại chúng đệ tử Phật ở dương thế nghe hiểu khai thị của Kim cương Thượng sư, hiểu giáo hóa của Phật Đà, nắm lấy đạo bồ đề và đạo giải thoát mà phát triển trí huệ bát nhã, đạt được lợi ích pháp vô thượng. Âm dương đều lợi. Quỷ thần giải thoát. Đại chúng tín thọ. Đó mới là pháp hội siêu độ chân chính.

Tôi từng thấy một pháp sư giả mạo, căn bản chẳng hề có chút kiến địa nào, không quy y Tam Bảo, chưa từng thọ giới, cũng không phải tăng bảo, chưa từng tu một đàn Mật pháp nào. Thế nhưng, hắn đi theo người ta đọc kinh sám, học được mấy ngày các khóa nghi thức, thế rồi đi khắp nơi làm pháp sư. Hắn đội mũ Ngũ Phật. (Tự mua về đội.) Tay cầm phất trần. Để tóc dài. Mặc quần tây, bên ngoài khoác áo cà sa, giới y màu đỏ. Cổ đeo chuỗi tràng hạt. Chân đi dép xăng-đan. Hắn kết giao mối thân tình với những cửa hàng quan tài và tang lễ, hễ có đám tang thì đều gọi hắn đến làm, cũng triệu tập một vài thành viên cơ bản, rồi hắn đi khắp nơi siêu độ cho người ta, trở thành một pháp sư giả hành nghề vì lợi ích (kiếm tiền).

Hắn niệm chân ngôn thí thực không phải do thầy dạy, làm thủ ấn cũng không phải do thầy truyền, chỉ là tang lễ sinh nghi lễ, cử hành pháp hội siêu độ càng ngày càng lớn, pháp sư kiểu ấy có hay không? Đáp án là "có". Hơn nữa còn có rất nhiều.

Bởi vì chúng sinh trên đời không có pháp nhãn, về cơ bản là không nhìn ra, bản thân những pháp sư giả này cũng đều không thể tiêu trừ được nghiệp chướng của mình, làm sao có thể giải trừ được nghiệp chướng của người chết, cử hành nghi thức Phật giáo chỉ vì kiếm tiền mà thôi, không hề nhất tâm, đồ bố thí của người thân đều rơi hết vào trong túi của họ (pháp sư).

Pháp sư giả kia chính là: Không như pháp. Hôn trầm tán loạn. Giới hạnh bất tịnh. Làm xằng làm bậy. Chỉ thuần túy niệm "kinh buôn bán". Pháp sư giả cứ niệm tới niệm lui, niệm tới đâu tùy ý, lại còn hát lên những bài dân ca vùng núi, những khúc sơn ca mơ hồ, ai nghe cũng chẳng hiểu gì. "Em gái nhỏ trên núi hái chè í a! Ơi chàng trai dưới núi cắt cỏ hoang! Vui mừng chim chóc bay quanh í a! Em cùng anh mau thành một cặp đi mà!"

Pháp sư giả cũng niệm xằng bậy: "Đạo sinh ra một em bé Một em bé lại sinh ra hai em bé Hai em bé sinh ra ba em bé Ba em bé sinh ra cả một đám em bé. Cả đám sinh ra vạn vật hầy dô!"

Và niệm: "Cúng phẩm hôm nay rất dồi dào hầy! Kim châm, mộc nhĩ, miến đậu, đậu phụ, khoai tây. Chuối, táo, quýt, đu đủ, thạch lựu. Mọi người mau đến ăn đi nào!"

Thân trung ấm và tất cả vong linh tham dự pháp hội lúc này, do là ma nên có sức mạnh năm thần thông, nhìn thấy rất rõ ràng, biết rằng pháp sư chủ trì pháp hội siêu độ là pháp sư giả, điều này khiến cho các vong linh mất lòng tin vào pháp sư, thậm chí sinh lòng nghi hoặc đối với cái gọi là siêu độ, càng thêm bất mãn đối với Phật pháp. Nghi quỹ niệm tụng như vậy căn bản là không thích hợp, chẳng hề có pháp lực gì.

Trong lòng vong linh bất mãn, sinh ra tức giận. Pháp sư này đã lừa gạt thân trung ấm và chúng sinh. Lộ rõ bộ mặt pháp sư bịp bợm.

Do vong linh đã phát sinh lòng tức giận, điều này cũng là không tốt, không còn nghi ngờ gì nữa, sân niệm này sẽ liên lụy đến bản thân họ phải đọa vào cảnh địa bi thảm. Ở đây, tôi đặc biệt nói để mọi người biết, trong lúc ở trong thân trung ấm, hãy nhớ lời nhắc nhở của đại thiện tri thức:

  1. Đừng tham.
  2. Đừng sân.
  3. Đừng si.

Cho dù pháp sư giả lừa gạt, bạn cũng đừng tức giận; cho dù con cháu bất hiếu, bạn cũng đừng tức giận; cho dù mọi người tranh giành tài sản của bạn, cãi nhau tới nỗi không thể can ngăn, đưa lên tòa án, bạn cũng đừng tức giận. Hãy chỉ thành kính cầu nguyện Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, Phật Bồ Tát linh quang bao bọc, khi pháp sư giả không thể cứu vớt bạn, bạn chỉ có cách tự mình cứu mình, tự độ mình thôi! Các đệ tử ạ!

24. Tự kiềm chế tham ái sắc tướng

Tôi từng nói, thân trung ấm có khả năng thần hành. Nghĩ đến nơi nào là lập tức có thể thần hành đến nơi đó. Trạng thái này có một chút tính bất định, nghĩa là không có vật cố định nào có thể dựa vào, và vì không có trọng lượng nên cứ luôn ở trong trạng thái biến động không ngừng, đồng thời rất lờ mờ.

Tuy vậy, đại thiện tri thức khuyến cáo rằng: Đừng mượn khả năng thần hành mà đi du lịch bốn đại châu: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Nam Chiêm Bộ Châu, Bắc Câu Lư Châu. Bởi vì bất luận bạn gặp phong cảnh đẹp đẽ như thế nào, bạn đều không được say đắm, không được dao động tâm, không được hướng về đó, bởi vì khởi lòng tham hoặc quyến luyến là bạn sẽ chuyển thế đến nơi đó ngay.

Người nghiệp nặng sẽ gặp phải: Trâu tuyết, nước mưa, bóng tối, cuồng phong. Đại quỷ, ác quỷ, quái thú, dị tượng.

Người nghiệp nhẹ sẽ gặp thấy: Cảnh đẹp, hoa thơm, cỏ lạ, đồ ăn ngon. Vui vẻ, hạnh phúc, an nhàn, thư thái. Bất kể là xấu hay là lành, đại thiện tri thức nhắc nhở bạn, hãy vứt bỏ tất cả sự tham chấp và quyến luyến đi!

Vào lúc này, lời của Lục Tổ Huệ Năng rất có đạo lý: Không nghĩ thiện. Không nghĩ ác. Nhất tâm cầu nguyện Thượng sư và Tam Bảo che chở, bạn nên giữ cho bản thân duy trì thiền định đại thủ ấn với sự bất loạn, thỉnh cầu Thượng sư và Tam Bảo tiếp dẫn. Chính vào lúc này, trong tâm nghĩ đến cái gì thì cái đó sẽ lập tức hiện tiền, vì vậy, chỉ có thể liên tục có những suy nghĩ thanh tịnh, suy nghĩ về Thượng sư và Tam Bảo không ngắt quãng, hơn nữa còn phải kiên trì đến cùng. Đây là phương pháp tối ưu, tuyệt đối không được tán loạn, ranh giới giữa giải thoát và đọa lạc chính là như thế.

Nếu một hành giả trong lòng vẫn có thói quen và tà niệm tham ái, hơn nữa, nếu không có cách nào tự kiềm chế được, bạn sẽ rất nhanh chóng thấy cảnh tượng nam nữ giao hợp. Đây chính là lúc tham ái sắc tướng xuất hiện. (Xã hội hiện đại rất nhiều người ham xem tranh ảnh "nóng", đó là thói quen tham sắc, phàm phu bình thường đều như vậy, nhưng người tu hành thì không được, phải tự kiềm chế, Phật Đà đã dạy chúng ta rằng tham dục là gốc rễ của luân hồi.)

Nếu như bạn ở trong thân trung ấm, tâm nghĩ cái gì thì cái đó sẽ xuất hiện, một khi có suy nghĩ này, bạn sẽ đặt mình ở ranh giới nguy hiểm. Bởi vì bạn nhìn thấy nam nữ giao hợp, và bạn không có cách nào tự kiềm chế, bạn sẽ vì tham ái sắc tướng mà nhập thai.

Liên Hoa hành giả cao quý, lúc này, bạn cần nghĩ đến những cuốn sách mà Sư Tôn đã viết: "Sống từng phút giây trong sáng" "Sống từng phút giây rực rỡ" "Tâm sự của ông lão ấy"

Xin hãy suy ngẫm cẩn thận. ”Tướng đỏ trắng rõ ràng Thân thối nát xanh xao Xin anh mở to mắt Vẫn cùng là một người Da thịt đã thối nát Ngũ tạng đều hiện ra Anh hãy nhìn cho kĩ Còn gì đáng luyến lưu Nhan sắc chẳng phục hồi Chỉ còn máu tanh hôi Nếu muốn tìm xấu đẹp Hình dáng dần phai mờ Thối rữa nên khó thấy Tanh hôi không ngửi nổi Nào biết nơi máu mủ Trước đã từng thơm tho Dê chó ăn thịt người Người từng ăn dê chó Chẳng biết người và thú Ai thối còn ai thơm Hình hài khi tan rã Tứ chi vãi tràn lan Chăm chút vẻ yêu kiều Rốt cục quy về đâu Vốn chỉ là xương sọ Từng mê hoặc con người Ngày trước tưởng là giả Nay đã thấy thực tướng Lửa hừng hực bốc cháy Hài cốt bỗng hóa không Thử xem trong đám khói Có còn khởi tâm tham.” Trên đây là bài tụng "bất tịnh quán".

Vì tâm tham dục của chúng sinh mà Phật đã nói bài "bất tịnh quán", quán như vậy hồi lâu sẽ trừ bỏ được tâm tham dục, có thể vượt qua biển tình mà vượt qua biển khổ. Rồi tụng tiếp: ”Có yêu rồi cũng hết Thân này được bao lâu Vì ai uổng nước mắt Ai giải niềm nhớ nhung Còn nhớ lúc đẹp xinh Thoắt cái đã trương sình Người trẻ tuổi mới đây Dung mạo giờ thế này.”

"Hãy nhìn thấu chuyện nam nữ quan hệ!" "Hãy nhìn thấu chuyện nam nữ quan hệ!" "Hãy nhìn thấu chuyện nam nữ quan hệ!"

Nhìn thấu điều đó! Nếu như không nhìn thấu được, bạn tham người nữ thì sẽ sinh thành thai nam, bạn tham người nam sẽ sinh thành thai nữ. Ôi! Ôi! Ôi! Bạn nhập thai rồi, buồn thay! Thương thay! Lại phải luân hồi sinh tử rồi. Đôi khi nhập thai không chắc đã là thai người, đôi khi là thai ngựa, thai dê, thai gà, thai chó, thai trâu, tứ sinh đều là thai.

Nhìn không thấu sắc tướng tham ái thì thật là một đám phàm phu đông đảo, vì thế mà luân hồi sinh tử cho đến tận bây giờ, đó đều là vì tham ái sắc tướng mà ra. Tham ái sắc tướng thì sẽ luân hồi vô tận, chìm chìm nổi nổi trong biển sinh tử, chỉ vì tham dục này mà vĩnh viễn không có cách nào ra khỏi lục đạo luân hồi. Thân trung ấm vừa thấy cửa thai. Dương vật của nam. Âm hộ của nữ. Thì tâm liền hướng về đó. Chắc chắn đọa thai không còn gì nghi ngờ!

Lúc này, duy có một câu có thể cứu được bạn: "Om guru liansheng siddhi hum". Một tiếng "Om" này! Tướng nam nữ giao hợp liền biến mất, vì sao vậy? "Om" là bản tướng chân như của trời đất vũ trụ, tất cả yên lặng bất động. Một tiếng "guru" này! Bạn nhớ đến Căn bản Thượng sư, ánh sáng của Thượng sư sẽ bao trùm lấy bạn (thân trung ấm). Một tiếng "liansheng" này! Không phải là tứ sinh: noãn sinh, thai sinh, hóa sinh, thấp sinh nữa. Mà là hoa sen sẽ đến tiếp dẫn bạn vãng sinh, là vãng sinh thanh tịnh. Một tiếng "siddhi"! Phật quốc tịnh thổ hiện lên trước mặt bạn. Một tiếng "hum"! Thành tựu rồi! Thành tựu rồi! Giải thoát rồi! Giải thoát rồi!

Nên nhớ kĩ Thượng sư tâm chú trong tâm, đây chính là thời khắc quan trọng nhất, là thời khắc nên dùng câu chú này. Liên Hoa hành giả tôn quý, bạn nhất định gần ghi nhớ Thượng sư tâm chú, nhất tâm nắm chắc chủ ý cần vãng sinh về Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Tôi đã nhiều lần giải thích câu Thượng sư tâm chú rồi, bạn còn chưa hiểu sao? Còn phân vân điều gì nữa? Quyết tâm vãng sinh thôi! Đừng "dở chứng" nữa! Đừng nghe theo những lời gièm pha nữa! Tuyệt đối đừng thay đổi! "Om guru liansheng siddhi hum." Câu chú này không phải để niệm cho tôi, mà là niệm cho chính bạn. Liên Hoa hành giả tôn quý, hãy niệm chú đi! Đừng tham ái sắc tướng khoái lạc nhất thời, dương vật, âm hộ, ái dục chỉ như huyễn, như tiếng vọng, như ảnh trong gương, như trăng trong nước. Khoái lạc như bong bóng rất nhanh chóng tan vỡ, thế giới Cực Lạc mới là tốt đó!

25. Tôi và Phật Bồ Tát là một nhà

Bế quan ẩn cư tại hồ Diệp Tử, tôi nói: "Tôi và Phật Bồ Tát là một nhà." Tôi thường nói với Phật Bồ Tát: "Ăn cơm thôi!" "Tôi ra ngoài mua hoa quả!" "Tôi muốn đi ngủ rồi!" "Hôm nay trời nóng quá, tôi chỉ mặc áo may ô và quần đùi thôi!" "Phật ơi! Tôi dậy rồi!"

Tôi tuyệt đối không phải là tự cao ngạo mạn, tôi đích thực là đã bế quan ẩn cư như vậy đó, thậm chí khi tôi bị ốm, tôi nói với Phật Bồ Tát: "Tôi không muốn sống quá lâu, bệnh nghiệp khổ quá rồi, thật quá đáng sợ, để tôi không bị ốm có được không? Thôi để cho các vị tiếp dẫn tôi vãng sinh đi mà!" Đối với cuộc đời này, tôi cười lớn ha ha. Tôi chẳng trách cứ bất kì ai, thoải mái đến, thoải mái đi, chẳng có chuyện gì cả, căn bản tôi và Phật Bồ Tát là một nhà, ở cùng nhau.

Mọi người có biết "du già" là gì không? Du già tức là tương ứng, tức là kết hợp, cá nhân tôi và Phật Bồ Tát đã kết nối rồi, vì thế, tôi là đại thiện tri thức. Thật ra, mỗi một linh hồn thấp kém chỉ cần bắt đầu từ lúc quyết định tu hành, đừng để những tình thức sai lầm làm ô nhiễm, tâm không bị chướng ngại, chân tâm, chân như, Chân Phật, Như Lai Tạng tính vốn có, tất cả trí huệ, ánh sáng vốn có của pháp thân, làm sao mà không lộ rõ chứ? Tu hành du già, tôi và Phật Bồ Tát là một nhà. Mọi người đều là người một nhà!

Thân trung ấm (linh hồn) thật ra là thoát khỏi sự trói buộc của nhục thể, là khoảng thời gian lúc chưa lục đạo luân hồi hoặc chưa vãng sinh, là một dịp để trấn tĩnh và có thể phản ánh thực tướng quang minh, lúc này mà nhận thức được diện mục vốn có thì rất tốt. Tôi nhận định như thế này: Bệnh chướng đã hết rồi. Đau khổ đã hết rồi. Nhục thể đã hết rồi. Ô uế đã hết rồi. Thân trung ấm và Phật Bồ Tát tương ứng kết hợp, không phải là một nhà sao? Thân trung ấm có thể cứu độ, điều này cũng chẳng kém dương gian là mấy, âm gian cũng có cứu độ mà, ví dụ như tôi thuyết pháp ở Thái Âm Sơn, độ chúng sinh ở âm gian, nhưng điều này chắc chắn cần có chính trí mới có thể khiến thân trung ấm đạt được hiệu quả và lợi ích trên thực tế.

Từng có một lần, tôi nhìn thấy một Liên Hoa hành giả. Người chết này trông thấy một trai xinh gái đẹp đang giao hợp, trong lòng thấy rất thích thú, toàn thân kích thích đê mê, thế là bản thân cũng sắp sửa nhập vào thai môn rồi. Tôi hiện thân chặn anh ta lại. Anh ta kêu lên: "Sư Tôn, đừng ngăn con." Anh ta chạy về phía đông. Tôi chặn ở phía đông. Anh ta chạy về phía tây. Tôi chặn ở phía tây. Anh ta chạy về phía bắc. Tôi chặn ở phía bắc. Anh ta chạy về phía nam. Tôi chặn ở phía nam.

Liên Hoa hành giả này lúc còn tại thế thích xem ảnh "nóng". Sau khi chết, thói quen không thay đổi, nhìn nam nữ giao hợp, nguyên thần liền cảm thấy đê mê, hồn phách đều lâng lâng, cho dù Sư Tôn đã hiện thân cứu anh ta, anh ta vẫn bất chấp tất cả mà tìm cách trốn lung tung, muốn nhập thai môn. Cần biết rằng thứ mê hoặc con người nhập thai môn giống như một sự tiếp xúc sung sướng, một sự cọ xát khiến khoan khoái được vài phút vài giây, thế rồi đọa thai, rồi chuyển thế trong lục đạo luân hồi. Tôi quát: "Đừng nhập thai môn." Anh ta kêu lên: "Con muốn được chết thoải mái, thà rằng chết dưới hoa hồng còn hơn, làm ma cũng phải phong lưu!" "Hoa hồng có gai đó!" "Quản làm sao hết được!" Tôi khuyên anh ta: "Mục đích tu hành là vì cái gì?" Anh ta rất mông lung.

Tôi lại nói: "Chân Phật Mật Pháp chính là du già, du già có điểm rất vi diệu, nhất là nhấn mạnh vào việc chế tâm một chỗ, người có thể chế tâm thì cũng là Thánh hiền, còn người không thể chế tâm là phàm phu thôi. Anh cũng đã ở trong du già tương ứng pháp rồi, cũng có công phu được một khoảng thời gian, vì thế, mục đích của tất cả quy y, tu pháp, du già luôn luôn giống nhau, đó là thoát khỏi sự trói buộc của sinh tử luân hồi. Không phải anh muốn giải thoát sao?" Liên Hoa hành giả này lúc còn sống dù có quy y và tu pháp, nhưng không tương ứng, cho dù tôi đã nói rất rõ ràng, anh ta vẫn lắc đầu. Tôi hỏi: "Chính trí là gì?" "Không biết." "Chú Tứ quy y là gì?" "Không nhớ được." "Thượng sư tâm chú là gì?" "Quên rồi." "Chú Bổn tôn là gì?" Anh ta giống như đã uống rượu và say bí tỉ, hỏi ngược lại tôi: "Bổn tôn là cái gì?"

Chẳng cần phải nói nữa, tâm linh của thân trung ấm đã mang theo tập tính của kiếp trước đời này, chẳng mấy người có thể trở nên trong sáng. Cho dù anh ta đã quy y, cũng có tu một chút pháp, nhưng không tương ứng kết hợp được với sức mạnh du già. Ánh sáng của Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp và Tam Bảo chưa xuất hiện, ngược lại, thai môn vừa xuất hiện thì với tập tính vốn có, anh ta liền muốn chui vào rồi.

Đương nhiên, tu hành Chân Phật Mật Pháp cũng không phải là có kết quả chỉ sau một đêm. Một số người phải trải qua chính trí chính hành nhiều đời nhiều kiếp mới có thể hoàn toàn tịnh hành, nhưng cứu độ thân trung ấm là cần phải đánh thức chính trí, đánh thức Tam Bảo, đánh thức Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp, chỉ cần đánh thức thì sẽ được cứu. Trước lúc chết cần có chính trí, sau khi chết cũng cần chính trí, như thế mới có thể là người một nhà với Phật Bồ Tát.

Liên Hoa hành giả này đã rơi vào huyễn ảo rồi. Anh ta không thể thức tỉnh lại, tôi tiếc thay!

Lực sinh mệnh của anh ta chỉ muốn chui đến chỗ khoái lạc, anh ta không biết đó là miệng rắn độc, một khi đã chui vào thì chính là nhập thai môn. Tôi chỉ đánh thức thức tạng (chính trí) của anh ta, mà đánh thức không được Như Lai Tạng thức, thức thứ tám A lại da, ý thức Chân Phật kiến văn giác tri siêu việt của anh ấy.

26. Niệm Phật và trì chú

Khi tôi mới học Phật, tôi đọc được một mẩu chuyện, trong lòng rất cảm động, câu chuyện ấy như thế này: Một bà lão niệm Phật, đưa ra một đại nguyện, muốn niệm đủ năm mươi triệu biến A Di Đà Phật mới bằng lòng vãng sinh Phật quốc. Bà lão mỗi ngày đều niệm Phật bằng cách đếm hạt đậu. Bà lão thân mắc bệnh nặng, nhưng hạt đậu không đủ nhiều, còn cách rất xa mới đến năm mươi triệu biến! Phải làm sao đây? Bà lão trong lòng rất sốt ruột, càng vội càng không còn sức.

Lúc này bà đã làm cảm động hai vị đại Bồ Tát. Hai vị đại Bồ Tát này đã hóa thành hai tăng nhân đến nhà của bà lão. Sau khi hỏi rõ nguyên do, hai tăng nhân bảo bà lão: "Bà có thể niệm: Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật!" Chỉ một niệm này là đã đủ số lượng rồi, hơn nữa còn vượt con số ban đầu rất nhiều nữa, ha ha! Bà lão niệm theo: "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." Những hạt đậu đổ hết ra đất. Bà lão lập tức vãng sinh. Hai tăng nhân hóa thành Bồ Tát và cũng biến mất.

Tôi đọc được mẩu chuyện này thì lập tức ghi nhớ cẩn thận trong lòng, sau đó tôi cũng niệm theo: "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." Còn nhớ trước khi niệm Phật, tôi luôn niệm câu này, niệm Phật xong, trước khi hồi hướng, tôi cũng lại niệm thêm một lần nữa. Thuận miệng niệm ra cũng là câu này. Có cảm ứng, có chứng nghiệm. Tôi cũng dạy các đệ tử niệm câu này: "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." Bây giờ rất nhiều đồng môn đều niệm câu này.

Tuy nhiên, tôi nói để mọi người biết, đối với việc niệm Phật, mọi người không thể làm biếng, phải niệm Phật một cách trung thực mới được, không phải là chỉ niệm một câu này là xong chuyện rồi. Trung thực niệm A Di Đà Phật, niệm một câu lại một câu, câu "Nam mô 36 vạn tỉ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật" này là khi "cấp cứu" mới niệm thôi! Tuyệt đối không được làm biếng!

Niệm Phật có lợi ích gì? Một môn niệm Phật, bao quát tất cả, thượng trung hạ căn, ngũ nghịch thập ác, địa ngục tướng hiện, nhất niệm đầu thành, tức chứng bỉ ngạn. Ngẫu Ích đại sư nói: "Chư Phật thương xót chúng sinh mê lầm, tùy cơ hóa hiện giúp đỡ, dù quy về cái gốc chỉ là một nhưng có nhiều pháp môn thiện xảo, thuận tiện. Tuy nhiên, xét trong mọi phương tiện, để cầu pháp môn viên mãn, nhanh chóng và trực tiếp nhất thì không pháp nào bằng niệm Phật cầu vãng sinh tịnh thổ.”

Chúng ta cũng khuyên thân trung ấm như sau: Tây phương ở ngay trước mặt bạn. Bạn nhất tâm niệm Phật để làm niềm hy vọng vãng sinh Tây phương của bản thân. Đây chính là ý nghĩa quan trọng của việc chết.

Chúng ta hiểu rằng, "chú" chính là bí mật ngữ của Phật Bồ Tát, được gọi là "chân ngôn", chân ngôn đà-la-ni, từng lời chân ngôn đều là ngôn ngữ vi diệu đỉnh cao của Như Lai, tất cả bí mật ảo diệu của Như Lai, có thể tự giác Thánh trí.

Bởi thế, ngài Tsongkhapa nói như thế này: "Niệm Phật là danh hiệu của Phật." "Trì chú là tâm ngữ của Phật."

Trì chú có được tương ứng du già rồi thì tức là đã diệt chướng tăng huệ, chuyển phàm thành Thánh, uy đức thần lực, bất khả tư nghì, nên mới gọi là bí mật. Để luận về "niệm Phật" và "trì chú" thì cá nhân tôi chủ trương cả hai đều được, thật sự là không có phân biệt cao thấp.

Ngày xưa, Liên Trì đại sư chủ trương: Chuyên trì danh hiệu A Di Đà Phật thì cũng hơn tất cả công đức dư thừa. Trì danh thì chí tâm niệm Phật một tiếng, lập tức diệt trọng tội của tám tỉ kiếp sinh tử. Chuyên trì danh hiệu, tức đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Nhờ mười niệm mà được sinh, sinh tức bất thoái, uy linh bất trắc, là đại thần chú. Nhất tâm bất loạn, đoạn vô minh, kiến tự tính, là đại minh chú. Vãng sinh Cực Lạc, cuối cùng thành Phật, là vô thượng chú. Chứng vô sinh nhẫn, hồi nhập Ta Bà, phổ độ chúng sinh, là vô đẳng đẳng chú.

Liên Trì đại sư nói, niệm Phật tương đương với đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Niệm Phật cũng tức là trì chú. Tôi cũng ca ngợi như vậy!

Tôi tu chân ngôn bí mật, tôi nói về "chú" như sau:

1. Là tâm Như Lai. 2. Là mắt Như Lai. 3. Mọi pháp đều vô nhiễm. 4. Thần biến gia trì. 5. Bất sinh bất diệt. 6. Liên hoa tạng. 7. Kim cương nghĩa. 8. Chân trí. 9. Cực điểm tính tịch. 10. Tức thổ tức sinh. 11. Vô dị vô tướng. 12. Pháp nhĩ thường hằng. 13. Bản giác. 14. Vô nhiễm năng chặn. 15. Thành Phật.

Tôi nói "chú" là kho tàng vô tận, sơ sơ mười lăm điều mà tôi viết ra này thì đã là khó mà suy xét không thể nghĩ bàn rồi, là bao quát khắp mọi pháp giới, không trừ một nơi nào, ứng dụng vô tận. Là thường lạc ngã tịnh, là Không.

Các đại bi vạn hạnh ba la mật như hoa tạng, nhiều như vi trần của mười phương thế giới. Trong lục đạo tam thừa có vô lượng ứng thân, nhiều như rễ thân cành lá, phát sinh đan xen. Dùng các loại công đức ấy mà tạo thành những bánh xe vòng tròn bí mật, gọi là mandala, đà-la-ni, là giáo pháp bí mật.

Tôi nói thế này: Chỉ cần là chú ngữ bí mật của Thánh Tôn truyền thừa, bạn có được quán đảnh, thiết lập cảm ứng sóng âm của tâm linh với Thánh Tôn, tức là du già, như vậy trì chú đã có được quan hệ giao cảm. Vì âm thanh có sẵn sức mạnh vô thượng nên trì chú sẽ có được sức mạnh, sức mạnh này là tần số rung động.

Càng bởi vì sức mạnh vô thượng của mật chú, nên các Kim cương Thượng sư qua bao thế hệ đều xây dựng phép tắc truyền pháp, nhằm giữ gìn truyền thừa chân ngôn mật chú, để không bị những kẻ có trí tuệ non kém hoặc kẻ lưu manh có được mà sử dụng xằng bậy. Đây cũng là mật chú truyền thừa, không truyền bừa, vì thế mà trở thành một trong những nguyên nhân của sự bí mật.

Chúng ta dạy cho thân trung ấm niệm Phật: Nhắc họ thường nhớ niệm danh hiệu Phật. Thức tỉnh họ.

Chúng ta dạy cho thân trung ấm trì chú: Trì chú mà họ thường trì. Là để đánh thức mật chú truyền thừa của họ. Tụng chú này trong chốc lát là có thể tương ứng, có thể nhờ chú này mà dần dần bay lên kết hợp với minh quang.

27. Hiểu biết đúng đắn của Liên Hoa hành giả về thân trung ấm

Với sự chứng ngộ của cá nhân mình, tôi muốn chia sẻ với các Liên Hoa hành giả như thế này: Sự tồn tại của con người trên thực tế là biến hóa liên tục. Người có thể mãi mãi bất biến là Phật Đà chứng ngộ. Khi còn là phàm phu trong luân hồi thì đều là hư huyễn không thực, người xưa là người nay, người nay cũng là người xưa.

Sống tức là khởi đầu của chết, chết cũng là khởi đầu của sống, sống chết có tính bất ổn định, muốn sống mãi và bất diệt thì chỉ có tu hành chứng quả. Từ khi nhân loại bắt đầu đến nay đều tồn tại trong huyễn vọng vô minh, sinh tử cũng là huyễn vọng vô minh, chịu sự sắp đặt của nó, người bình thường cho rằng là thực tướng, thật ra chỉ là huyễn vọng vô minh thôi, sinh tử là như nhau, ngay cả thân trung ấm cũng là như nhau, rồi ngay cả những huyễn ảnh trong khi nằm mơ cũng là như nhau. Con người căn bản chính là mê, mê đến mức không còn cách nào nhìn rõ sự thực được nữa.

Sau khi con người chết đi, thân trung ấm chỉ tồn tại tạm thời, mà thật ra sinh tử cũng là tạm thời. Cõi trời hay cõi địa ngục thì cũng chỉ là tạm thời, tất cả đều có thời hạn, giống như đời người vậy, có người trường thọ, có người đoản mệnh, đó đều là nhân quả, vô minh, nghiệp chướng.

Tôi nói để mọi người biết, muốn độ hóa chúng sinh, không chỉ là ở dương thế, không chỉ là ở thân trung ấm, không chỉ là ở âm gian, thậm chí Phật Đà cũng dùng phân thân của báo thân để thuyết pháp ở Sắc Cứu Cánh Thiên. Lô Giá Na Phật chính là Phật Thích Ca Mâu Ni.

Tu hành đều nằm ở chỗ thấu rõ các niệm tưởng sai lầm của phàm phu thông thường và kiến văn giác tri, loại bỏ những nghiệp chướng được tạo ra bởi sự hư vọng trên phương diện hành vi, khiến thực tướng chân chính hiển hiện ra. Thân khẩu ý của một người hoàn toàn thoát khỏi sự che mờ liên tục của nghiệp chướng. Khi nghiệp chướng tiêu trừ, ánh sáng của thực tướng chính trí mới hiển hiện ra. Thân thanh tịnh. Khẩu thanh tịnh. Ý thanh tịnh. Lúc đó mới có thể thật sự cắt đứt phiền não, tâm thức mới là chân ngã, chân tâm, chân như, chân Phật của Như Lai Tạng. Đó mới là pháp thân, là cảnh giới đại viên mãn.

Nhân loại từ khi luân hồi đến nay (không chỉ mỗi loài người, mà đúng ra là toàn bộ chúng sinh) thì đã có vô thủy vô minh rồi, nghĩa là có vô lượng vô biên sự vô minh. Sự vô minh của chúng sinh đương nhiên là có sự khác biệt, cũng mỗi người mỗi khác, nông sâu khác nhau, có người thông minh có người kém cỏi. Điều chướng ngại chính là: Ngã kiến. Tham, sân, si. Phiền não. Vân vân… Những thứ này đều là do vô minh mà có. Muốn vô minh bị diệt đi, cần phải thấu được nhân tâm vọng tưởng, cần phải tu pháp xuất ly, có nghĩa là đạo giải thoát. Dùng Tứ niệm xứ của Phật Đà: Quán thân bất tịnh. Quán thọ là khổ. Quán tâm vô thường. Quán pháp vô ngã.

Nhờ tu hành ngũ uẩn đều không, vô minh sẽ diệt, nhờ vô minh diệt mà tâm không khởi lên, nhờ không có sự khởi lên mà nhân duyên bị diệt, mới chứng giải thoát A La Hán.

Cần biết mọi pháp đều là tâm thức, ngoài tâm thức ra thì vô pháp, cái gọi là toàn bộ cảnh giới đều do tâm thức mà sinh ra. Bát thức tâm vương [8 loại tâm thức có trong mỗi con người hoạt động như một khối, vừa có sự độc lập nhưng vừa có sự chứa đựng nhau, bổ trợ cho nhau trong việc nhận thức về đối tượng, bao gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức và a lại da thức.], Như Lai Tạng thức, cất giữ tất cả trí tuệ, cất giữ Như Lai Chân Phật, nếu tâm rời xa những vọng động, tâm không còn kiến văn giác tri thì tất cả cảnh giới đều diệt, duy nhất chân tâm nguyên bản là còn, không có nơi nào là không chiếu đến.

Vì nguyên nhân này mà tam giới vốn dĩ là hư huyễn, Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới đều là hư huyễn, ngay cả lục đạo cũng là hư huyễn, đều là do tâm tạo ra. Rời khỏi tâm rồi thì không có cảnh giới lục trần nữa, tất cả cảnh giới đều từ tâm khởi vọng niệm mà sinh ra, tất cả mọi sự phân biệt là phân biệt bởi tâm. Tương tự như: Trăng trong nước. Ảnh trong gương. Ảo ảnh. Ảo vọng. Tâm sinh thì mọi pháp sinh. Tâm diệt thì mọi pháp diệt.

Bởi vậy chính trí của thân trung ấm là: không kinh, không sợ, không hoảng, không loạn. Giờ đây, sắc thể đã không còn, chỉ còn là trí thân. Dựa vào trí tính để có thể xuất hiện pháp thân, báo thân của thập phương tam thế vô lượng Phật Bồ Tát, vô lượng Phật thổ trang nghiêm, là thần dụng của chân như tự tại.

Có ba điểm quan trọng: Theo đệ nhất nghĩa đế, do chính nghĩa ô nhiễm nên mới xuất hiện sự phân biệt sinh diệt. Vượt qua biển khổ sinh tử, chỉ cần tâm không vọng hữu, tính tự bản vô. Cuối cùng, thân trung ấm rời xa sự bám víu vào vọng tưởng, cần biết chính trí là phi sắc phi tâm, phi trí phi thức, phi hữu phi vô, rốt cục không thể nói tướng. Ý nghĩa của nó là rời xa kiến văn giác tri, quy về chân như, sẽ kiến chứng Chân Phật.

Chân Phật là gì? Mã Minh Bồ Tát nói: "Chân ngã, chân như, chân Phật là tất cả phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chư Phật không có tăng giảm, không từng sinh ra trong quá khứ, không có sự diệt mất trong tương lai, là sự thường hằng rốt ráo. Từ vô thủy, tính ấy đã tự có đầy đủ tất cả công đức, vì thế mà gọi là tự tính có đại trí huệ quang minh nghĩa, biến chiếu pháp nghĩa, chân thực thức trí, tự tính thanh tịnh. Thường, lạc, ngã, tịnh nghĩa, thanh tịnh bất biến tự tại nghĩa." "Bản lai diện mục có đầy đủ tất cả trí, là bất ly, bất đoạn, bất dị, bất tư nghì, thậm chí đầy đủ tới mức không có gì thiếu hụt, gọi là Như Lai Tạng, cũng gọi là Như Lai pháp thân, cũng tức là Chân Phật."

Xin ghi nhớ: Ngũ âm pháp tự tính không sinh. Tức không có diệt. Bản lai niết bàn. Như Lai Tạng không có ranh giới trước. Như Lai Tạng không có ranh giới sau. Bạn cũng có thể đắc niết bàn giống như chư Phật. Trong bản văn này, tôi bàn đến "chính trí của thân trung ấm", tự cảm thấy viết cũng khá sâu, có lẽ có người đọc sẽ không hiểu.

Tuy nhiên, việc tôi dạy đi dạy lại nhằm giải thích rằng mỗi cá nhân đều có Phật tính (chân thực Như Lai Tạng), đều đầy đủ viên mãn. Chẳng phải Mật giáo nói với bạn rằng bạn chính là Phật sao? Trong chính trí của thân trung ấm cũng là như thế.

Thật ra, không cần sợ hãi mọi tướng bên ngoài. Nhất niệm bất sinh, nhất tâm bất loạn là quan trọng nhất. Rời xa tâm kiến văn giác tri.

Minh quang thanh tịnh ở đây đã xuất hiện rồi, chính xác như một ngọn đèn Phật được thắp lên, năng lực tự tính này, bản lai diện mục, là nhờ truyền thừa của Căn bản Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của tôi, đại viên mãn truyền cho các đệ tử Chân Phật Tông, đây chính là chính trí của Như Lai Tạng.

28. Sai khác của cảnh tướng

Có người từng hỏi tôi: "Thân trung ấm là tất cả các tướng, thật sự là giống với những gì mà Mật tông Hồng giáo đã nói, từ ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy là các Thánh tôn trong Hỷ Lạc Bộ hiện tiền. Từ ngày thứ tám đến ngày thứ mười bốn là các Thánh tôn trong Phẫn Nộ Bộ hiện tiền. Còn có minh giới thẩm lý và phán quyết, cảnh tướng của bảy bảy bốn chín ngày của thân trung ấm, những gì mà chúng sinh nhìn thấy đều giống nhau phải không?" Tôi đáp: "Pháp trung ấm nghe dạy mà được độ của Mật giáo là cảnh tướng trong tâm thức với tín chúng thông thường của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, có thể nói là cảnh tướng của Hồng giáo. Theo như tôi biết, cảnh tướng này mỗi người mỗi khác, không phải mọi chúng sinh đều giống nhau!"

"Vì sao lại như vậy?" - Anh ta nghi hoặc. Tôi đáp: "Anh có nằm mơ không?" "Có mơ." "Các giấc mơ đều giống nhau sao?" "Không giống." Tôi nói: "Chính thế, chính thế, cảnh tướng trung ấm so với giấc mơ của chúng sinh thì cảm nhận càng nhiều và càng ly kỳ hơn, có thể nói là không gì là không có." Người đó lại hỏi: "Đây là đạo lý gì?" Tôi đáp: "Tâm con người như thân trung ấm, liên tục biến hóa từng sát-na, hạt giống trồng xuống là cái gì thì sẽ sinh trưởng ra cái đó! Chính là đạo lý này. Tín đồ của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thì có chư Tôn của Hỷ Lạc Bộ và Phẫn Nộ Bộ hiện thân. Còn như thân trung ấm của tín đồ Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Đạo giáo thì đương nhiên sẽ sản sinh ra những sự sai biệt khác nhau."

Người đó hỏi: "Nếu là người theo thuyết duy vật thì sẽ nhìn thấy tướng gì?" Tôi đáp: "Hang trống." "Hang trống là cái gì chứ?" "Cảnh tượng gì cũng đều không có, nên tiêu cực mà rơi vào trong hang trống, nhưng cũng dựa theo nghiệp báo của anh ta, ví dụ như rơi vào dòng thác lũ mà lục đạo luân hồi, không có được một chút sự cứu độ nào, đây chính là nỗi bi ai của người theo thuyết duy vật!" "Thuyết duy vật có đúng không?" Tôi đáp: "Cảnh trong mơ lúc bình thường của anh ta sẽ chính là cảnh tướng trung ấm của anh ta. Thuyết duy vật chi phối tâm tạng của anh ta, căn bản chính là không có duyên phận được cứu độ."

"Người theo chủ nghĩa duy vật thì không hiện lên cảnh tướng thẩm phán và địa ngục sao?" Tôi cười lớn ha ha: "Lục đạo luân hồi thuần túy là nghiệp báo, bất kể là duy vật hay duy tâm." Anh ta lại hỏi: "Người duy vật không có suy nghĩ về nhân quả báo ứng, chẳng phải là sẽ không hiện nhân quả báo ứng sao?" Tôi đáp: "Vẫn là chủng tử, chủng tử Phật giáo, người hiện đại nói, trồng nhân gì thì được quả đó, và muốn thu hoạch cái gì thì hãy trồng cái đó!"

Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh nói: "Khi ấy, Địa Tạng Bồ Tát bạch Thánh Mẫu rằng, cõi Nam Diêm Phù Đề, tội báo phải trả như sau, nếu có chúng sinh bất hiếu với cha mẹ, hoặc thậm chí sát hại, thì sẽ đọa vào địa ngục vô gián, nghìn vạn ức kiếp không có hồi thoát ra.

Nếu có chúng sinh làm thân Phật chảy máu, phỉ báng Tam Bảo, bất kính với kinh sách tôn quý, cũng sẽ đọa vào địa ngục vô gián, nghìn vạn ức kiếp không có hồi thoát ra.

Nếu có chúng sinh giả làm sa môn, nhưng tâm không phải tâm của sa môn, phá hoại lợi ích thành thói, lừa bịp dân thường, làm trái giới luật, làm đủ trò xấu, những hạng người như thế sẽ đọa địa ngục vô gián, nghìn vạn ức kiếp không có hồi thoát ra.

Nếu có chúng sinh, trộm cắp thành thói, tiền tài lương thực, thức ăn quần áo, ngay cả những vật không phải của mình, sẽ đọa địa ngục vô gián, nghìn vạn ức kiếp không có hồi thoát ra." (Đây là gieo nhân gì thì gặt quả đó.) Không có liên quan gì đến việc tin hay không tin.

Tôi lấy ví dụ như sau: Có một người bán gà, giết gà đem bán tại các chợ lớn. Đã giết đến hàng nghìn nghìn vạn vạn tỉ tỉ con gà, không thể đếm xuể, không thể tính toán. Sau khi ông ta chết. Tất cả các lỗ hổng trên khắp người đều thâm tím, trước khi chết đã vô cùng đau đớn, đó là bị gà mổ. Sau khi chết, trông thấy lũ gà vây xung quanh, tới nghìn nghìn vạn vạn triệu triệu con. "Trả mạng cho ta!" "Trả mạng cho ta!" Đám linh hồn gà kêu gào. Người bán gà này trước lúc chết cũng hét to: "Lũ gà đến đòi mạng tôi!"

Ví dụ thứ hai: Có một người phụ nữ phải nhập viện vì ung thư tử cung. Trong lúc mê man đã trông thấy rất nhiều người (thủy tử linh), là những đứa bé mà bản thân cô đã bỏ, những đứa bé đã bị bác sĩ phá từ trong thai. Chúng nắm tay nhau nhảy múa xung quanh giường bệnh. Chúng nhao nhao kêu lên: "Mẹ ơi! Trả mạng cho con!" "Mẹ ơi! Trả mạng cho con!" Người phụ nữ này mỗi lần mơ đều trông thấy cảnh tượng như vậy nên cực kì sợ hãi. Bản thân cô cho rằng bỏ đi mấy cái thai cũng chẳng đáng kể gì, rất nhiều người chẳng phải đều như thế sao, nên cô cũng chẳng hề bận tâm. Nhưng từ khi vào viện, trẻ con nhảy múa quanh giường bệnh và kêu gào, cuối cùng cô ấy không chịu đựng được nữa, đã tự sát mà chết.

Ví dụ thứ ba: Có một người căn bản là không tin Phật, không tin Thần, không tin nhân quả, anh ta giết người phóng hỏa, gian dâm phụ nữ vô số. Sau đó anh ta đã bị phán tội tử hình. Sau khi chết, anh ta nhìn thấy những người đã bị anh ta sát hại đều hiện thân đòi nợ, bản thân anh ta cũng rơi vào địa ngục chịu phán xét. Anh ta bị phán vào địa ngục vô gián.

Điều tôi muốn nói với mọi người bây giờ là, nói chung, Phật, thần, ma quỷ, thiên đường, địa ngục, v.v… đều xuất phát từ hình thái ý thức của chúng sinh, mỗi người mỗi khác, đây thuần túy là vấn đề về nghiệp của thân, khẩu, ý.

Người theo chủ nghĩa duy vật chẳng tin vào điều gì cả! Thế nhưng, anh ta trồng xuống hạt giống gì thì cũng vẫn là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Tùy theo ý thức bản thân mà sinh ra. Đây là sự sai khác về cảnh tướng của thân trung ấm.

29. Độ qua biển sinh tử

Theo như tôi biết, người tu hành cần minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử thì mới được xem là vượt qua biển lớn sinh tử. Những vong linh như vậy đã hoàn toàn đạt tới sự tịnh hóa, trong Mật giáo thì là do chuyển thức thành trí, trí này là trí căn bản, nên tức thân thành Phật.

Tu hành Hiển giáo thông thường muốn minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử cần tu đạo giải thoát và đạo Tam thừa Bồ Tát, từ A La Hán đến Bồ Tát thập địa, trải qua 52 bước, cuối cùng là đẳng giác, diệu giác mới chứng được Phật quả.

Thật ra, Mật giáo Hiển giáo đều có trung ấm cứu độ, không những Mật pháp coi trọng pháp này mà Hiển pháp cũng coi trọng tầm quan trọng của thời khắc lâm chung. Tôi cho rằng, quãng thời gian này, trong vòng bảy bảy bốn chín ngày là vô cùng quan trọng, nếu như tận dụng một cách cực kì thỏa đáng thì có thể dễ dàng vượt qua biển lớn sinh tử. Tận dụng không đúng thì sẽ sản sinh ra chướng ngại, nghiệp lực cản trở, và thế là đi lục đạo luân hồi. Tôi nghĩ rằng cảnh giới thân trung ấm thật sự là trọng điểm, không thể coi thường.

Trong thời gian này phải trải qua: Ngủ. Xuất thần. Thoát ra khỏi cái vỏ máu thịt. Sự thanh tịnh vốn có xuất hiện. Cảnh tướng thân trung ấm xuất hiện. (Huyễn tướng liên quan tới nghiệp chướng.) Cảnh tướng đầu thai chuyển thế trong lục đạo luân hồi xuất hiện. Chuyển thế. (Thân trung ấm kết thúc.)

Những trải nghiệm này giống như ở trong một giấc mơ vậy, người bình thường trừ phi đã giác ngộ có thể tự chủ, còn phần lớn thân trung ấm đều mơ mơ hồ hồ, vọng tưởng bám chấp. Có nhiều thân trung ấm thì cho dù đã chết nhưng bản thân vẫn còn không biết, mãi đến khi biết mình đã chết thật rồi thì lại sinh ra mong muốn mạnh mẽ, hết sức hy vọng rằng mình sẽ lại có thân người nữa, thế là lại đầu thai đến một đạo bất kì trong lục đạo.

Đối với người bình thường thì đây là trạng thái thường gặp. Muốn duy trì sự sáng rõ thì rất khó, rất khó. Bởi vì: Trồng đậu được đậu. Trồng dưa được dưa.

Muốn minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, vượt qua biển lớn sinh tử, Thiền tông có một công án như sau: Hối Am Di Quang có một hôm đến tham vấn Đại Huệ Ngụ Quảng thiền sư: "Đến nay tôi vẫn không thể có được kinh nghiệm giác ngộ thấu triệt, bệnh nằm ở đâu?" Đại Huệ đáp: "Bệnh này của anh là bệnh khó nhất, bác sĩ trên đời cũng bó tay, người khác chết rồi thì không sống được nữa, anh nay sống mà chưa từng chết, muốn đến vùng đất đại lạc thì phải chết một phen mới đắc được." "Chết một phen" ở đây thì tôi đã trải qua rồi.

Nhờ có Quan Thế Âm Bồ Tát cho tôi đôi giày thần hành mà tôi đã bị tứ đại phân rã, não phân tám phần, hiện ra Chân Phật. Tôi đã chết rồi. "Chết một phen" này cũng không phải là chết thật, mà là tất cả phiền não, tất cả ngã kiến, tất cả ngã chấp đều đã chết rồi. Phiền não, ngã kiến, ngã chấp này đều là do kiến văn và giác tri mà có, nếu không có những thứ này thì diện mạo thật sự vốn có, chân ngã, chân như, chân Phật mới hoàn toàn hiển lộ ra được. Đó chính là "chết một phen". Điều này rất đáng mừng. Dung nhập vào trong ánh sáng Phật tính vốn có, ánh sáng Phật tính này tự nhiên tuôn chảy ra, vì sao có thể như vậy? Bởi vì phiền não đã không còn, ngã kiến không còn, ngã chấp không còn, Phật tính chân như vốn vẫn luôn ở đó, chỉ là bạn không thấy mà thôi. Đây chính là: Mật nghĩa. Thiền cơ. Bát nhã. Duy thức. Trung quán.

Trong quá khứ tôi thường nói: "Loại bỏ ngã chấp, bỏ chấp! Bỏ chấp! Bỏ chấp! Khi kiến văn giác tri không còn, chân như thường trụ bất hoại sẽ xuất hiện, đó là thời cơ đẹp nhất của minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử." Thân trung ấm là thời cơ đẹp nhất.

Vì thế, cần phải thức tỉnh thân trung ấm như thế này: "Liên Hoa hành giả, từ vô thủy đến nay lang thang khắp lục đạo luân hồi, trong biển khổ sinh sinh tử tử, cho đến tận hôm nay là vì sự vô minh của anh, sự bám chấp của anh, sự phiền não của anh. Bây giờ anh đã thoát khỏi nhục thân rồi, cũng cần phải giải thoát khỏi vô minh, giải thoát khỏi phiền não, giải thoát khỏi ngã kiến, giải thoát khỏi ngã văn, giải thoát khỏi giác tri. Nếu anh buông bỏ mọi ngã chấp thì cũng là lúc thoát khỏi tất cả sự trói buộc. Liên Hoa hành giả, hãy làm theo pháp, cầu sinh đến Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì để được hóa sinh trong hoa sen.”

Ngã chấp của con người là thế nào? Chính là "cái tôi". Danh lợi địa vị. Tài sản. Vợ con. Cháu chắt. Sắc dục. v.v…

Thân trung ấm chỉ cần vứt bỏ đi ngã chấp thì sẽ loại bỏ được sự trói buộc, bởi vì chỉ cần bạn muốn cái gì là bạn sẽ bị trói buộc vào cái đó, vĩnh viễn không có cách nào vượt qua biển lớn sinh tử được. Liên Hoa hành giả cần phải thấy chán ghét lục đạo luân hồi, cần biết lục đạo luân hồi đều là khổ, không, vô thường, vô ngã.

Cứ thế, cứ thế, nhất tâm bất loạn hướng về bỉ ngạn mà đi, hướng về Tây phương Cực Lạc tịnh thổ, hướng về Ma Ha Song Liên Trì tịnh thổ, hướng về tịnh thổ hạnh phúc vui vẻ, hướng về Đông phương Lưu Ly Quang tịnh thổ... Tịnh thổ này là đất nước mà các Thánh nhân trú ngụ, tịnh thổ này không có sự ô nhiễm của ngũ trọc.

Đối với thân trung ấm, chúng ta làm pháp sự thức tỉnh là quan trọng nhất. Thân trung ấm lúc này có thể nhớ việc duy trì "không định" là rất quan trọng. Có thể "vô ngã chấp" là rất quan trọng. Có thể biết vạn pháp là huyễn rất quan trọng. Có thể như như bất động là rất quan trọng. Có thể nhất tâm bất loạn là rất quan trọng. Có thể quy y Thượng sư, quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng là rất quan trọng. Niệm Phật quan trọng. Trì chú quan trọng. Hãy chuyển thức đến Phật thổ thanh tịnh đi! Hãy giải thoát mà chứng Phật đạo đi! Hãy an trụ trong cảnh giới pháp thân bất sinh bất diệt đi! Hãy vô sinh mà viên giác quả vị đi! Anh chính là Thánh tôn đại bi!

30. Chăm sóc lúc lâm chung (phần 1)

Cá nhân tôi cảm thấy, địa điểm trợ niệm cho người lâm chung cực kì quan trọng. Nếu như nơi đó quá phức tạp thì không tốt. (tối kỵ ồn ào)

Bất kể là ở bệnh viện hay ở nhà riêng, trước tiên nên sắp đặt địa điểm thanh tịnh, nếu như có Thượng sư, pháp sư thì đầu tiên quan trọng là cần tẩy tịnh. Nếu có tượng Tây phương Tam Thánh là tốt nhất. Nếu không có thì cũng có thể dùng sách, nên đặt ở chỗ mà người chết có thể nhìn thấy. (Hoặc có thể dựa vào Bổn tôn của người chết.)

Nhóm trợ niệm cần biết Bổn tôn của người chết, hoặc tịnh thổ mà người chết muốn vãng sinh. Một số người chết thích niệm Quan Thế Âm Bồ Tát thì hãy niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, Bổn tôn của người chết là Liên Hoa Sinh Đại Sĩ thì hãy trì chú của Liên Sư. Có người chuyên trì A Di Đà Phật thì hãy niệm A Di Đà Phật, cũng có người có Bổn tôn là Địa Tạng Bồ Tát, thế thì niệm Địa Tạng Bồ Tát, tuyệt đối không được trợ niệm sai.

Băng ghi âm phát niệm Phật niệm chú có được không? Có thể được, nhưng cần nhân duyên tương hợp, ví dụ người này muốn vãng sinh Ma Ha Song Liên Trì thì đừng có phát chú Thần Tài, đương nhiên phải là Liên Hoa Đồng Tử tâm chú hoặc Chân Thực Phật Pháp Tiêu Tai Ban Phúc Kinh. Có một câu chú mà có thể phát được cho bất kì người chết nào chính là chú Vãng sinh.

Tôi cho rằng: Phát băng ghi âm. Người trợ niệm nhất tâm trợ niệm. Đó là sự bổ trợ lẫn nhau.

Đại thiện tri thức vào trước lúc thần thức người chết rời khỏi nhục thân, hoặc sau khi thần thức đã rời khỏi nhục thân, đều có thể ở bên tai mà khai thị cho người chết, thức tỉnh, thuyết pháp, khuyên nhủ, cảnh tỉnh, an ủi, mấy câu quan trọng nhất đương nhiên là: Nhất tâm bất loạn. Vô ngã chấp. Tất cả hiện tượng là huyễn. Niệm Phật. Trì chú. Dung nhập minh quang. Phải buông bỏ tất cả phiền não, yêu ghét, tiền, sắc, danh, v.v…

Đại thiện tri thức cần tiếp dẫn cho người chết vãng sinh đến quang minh đại đạo. Hãy nhớ kĩ! Đừng có khuyên họ quay lại nhân gian để đoàn tụ. Thời gian trợ niệm nên bắt đầu từ trước và sau khi tắt thở, thời gian càng lâu càng tốt, trước linh vị cũng có thể niệm.

Nhóm trợ niệm trợ niệm, người thân ở bên cạnh và các con các cháu đừng chỉ có đứng một bên nhìn, mà cần chắp tay lại cùng niệm Phật trì chú. Về Phật hiệu thì có người chủ trương đọc Nam Mô A Di Đà Phật, có người chủ trương đọc A Di Đà Phật, tôi cho rằng thế nào cũng được. Bởi vì có liên quan đến thời gian dài của việc trợ niệm, có khi kéo dài đến 10 tiếng, 20 tiếng, nên chia lượt ra để làm, mọi người luân phiên nhau niệm Phật trì chú, âm thanh niệm khoan thai đẹp đẽ, đúng mực vừa phải. Tóm lại, quan trọng là khiến người chết yên tĩnh thoải mái.

Chúng ta biết rằng với người chết, thân tâm họ chắc chắn đau khổ, nếu có thể khiến thân thể họ dễ chịu được một chút, tâm yên ổn được một chút, thì người thân không nên khóc lóc, kêu gào, xích mích, cãi nhau, khiến họ phiền muộn thêm. Hãy làm sao để bên tai họ thần thức chỉ nghe thấy Thánh hiệu Như Lai, trong tâm họ sẽ niệm theo, hoặc miệng hoặc thần thức sẽ niệm theo, như thế mới là thoải mái tự nhiên nhất.

Nhóm trợ niệm cần chuẩn bị những thứ sau: Liễu âm. [một loại pháp khí phát ra âm thanh tinh tinh tinh] Mõ nhỏ. Ba bức tượng Thánh. Bút, giấy. Băng ghi âm trợ niệm, một máy phát băng ghi âm. Các phần cúng phẩm cúng dường Thánh tôn tùy ý. Nếu niệm kinh thì đem theo kinh điển. Pháp y, chăn vãng sinh, cam lộ hoàn, cát kim cương. v.v…

Có một điều cũng rất quan trọng. Phần nhiều người chết ở thế giới Ta Bà này luôn có việc không thể buông bỏ, nên khi người đó còn có thể nói được rõ ràng, người thân cần hỏi cho rõ, đồng thời hứa với người chết nhất định sẽ hoàn thành, để họ yên tâm mà đi.

Người chết kỵ nhất là nhớ đến người nào, việc nào, ân gì, oán gì, ghét gì, yêu gì, điều này cần đại thiện tri thức lần lượt giải thích: "Liên Hoa hành giả, xin anh đừng lo lắng chuyện thế sự, thế sự ở đây chỉ một nét bút là gạch bỏ được. Anh hãy nghe Thánh hiệu cho rõ ràng. Phật nói, đời người chắc chắn có phiền não, đó cũng là hiện tượng tự nhiên, không ai có thể tránh khỏi, nếu như buông bỏ tất cả, không bám chấp vào điều gì, chỉ một lòng nhớ đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, đó là tịnh thổ an lạc, có thể vãng sinh, đó là hạnh phúc nhất. Bây giờ anh cần cầu sinh Phật quốc, hãy cùng xưng niệm Thánh hiệu, Bổn tôn chắc chắn hiện thân đến tiếp dẫn anh." Lúc này, A Di Đà Phật (Liên Hoa Đồng Tử) chắc chắn hiện thân tiếp dẫn.

31. Chăm sóc lúc lâm chung (phần 2)

Tôi sâu sắc cảm thấy rằng, lúc còn sống có nghe pháp, có tu pháp thì sẽ tương đối dễ độ thoát hơn một chút. Lúc còn sống hoàn toàn không nghe qua pháp, không tu qua pháp, thì sẽ tương đối khó khăn.

Trong cõi trung ấm, tôi đã gặp một sự việc: Tôi thấy một thân trung ấm bị tai nạn xe mà chết. Thần thức của anh ta cũng bị chia năm xẻ bảy, hoàn toàn không gom lại được, đầu đi đằng đầu, thân đi đằng thân, tay đi đằng tay, chân đi đằng chân. Tôi có ý tốt, định dùng "châm" ấn của Mật giáo, để lần lượt khâu từng bộ phận đầu, thân, tay, chân của anh ta lại, giống như bác sĩ ngoại khoa đang khâu vết mổ vậy, giúp anh ta trông giống một con người hoàn chỉnh.

Cần biết rằng người chết ở nhà mình hoặc bệnh viện vẫn được xem là hạnh phúc. Nếu là những cái chết bất ngờ như tai nạn xe, máy bay rơi, chìm tàu trên biển, tai nạn trên núi, hỏa hoạn thiêu chết, bị dã thú ăn thịt, v.v… thì thật sự là quá bất hạnh rồi! Tôi dùng "châm" ấn để giúp người bị tai nạn xe. Tôi hỏi anh ta: "Anh biết Phật pháp không?" Đáp: "Không biết." "Biết tịnh thổ không?" "Không biết." "Biết A Di Đà Phật không?" "Bà cố tôi có niệm." "Anh có tin không?" "Không tin!" "Bây giờ anh muốn cái gì?" "Tôi chỉ muốn tìm kẻ đã lái chiếc xe đâm chết tôi, sau đó tìm đến người chủ xe đã chạy trốn đó để báo thù, tôi muốn chuyển thế thành con trai của hắn để báo thù!" - Anh ta tức giận bất bình. Tôi nói: "Thôi bỏ đi! Vãng sinh Tây phương an lạc tịnh thổ đi!" "Không! Tôi hận!" - Anh ta chạy như bay đi mất.

Bởi vậy tôi nói, người khi còn sống đã nghe hiểu Phật pháp, khi còn sống đã từng tu Phật pháp, lúc còn sống đã tìm kiếm Như Lai Tạng tâm, chân Phật, chân như, thì những người này có thể tương đối dễ vãng sinh Phật quốc thanh tịnh hơn. Khi ánh sáng hiện tiền thì có thể nhận ra, bằng không, mơ hồ vẫn là mơ hồ, ngay một câu Phật hiệu cũng không chịu niệm!

Lại có một ví dụ (mặc dù đã quy y, cũng từng học qua Phật pháp, lại còn từng tu pháp, nhưng vẫn bám chấp, cũng khó độ): Thân trung ấm này biết "mọi điều ác đừng làm, nên làm mọi điều thiện, tự thanh tịnh ý niệm, là điều chư Phật dạy". Không chỉ như vậy, anh ta từng nhận quán đảnh pháp Thân đàn thành. Hai mắt hóa thành nhật nguyệt, tai hóa thành tấm màn che, đỉnh đầu hóa thành ô quý, răng hóa thành đá quý. Thân dưới là đất, nước, lửa, gió, núi Tu Di. Tự thân hóa thành đỉnh núi Tu Di để Bổn tôn an tọa. Anh ta từng tu Mật pháp. Có tâm từ bi, đã tu Tứ vô lượng tâm: Từ vô lượng tâm — cho tất cả chúng sinh niềm vui. Bi vô lượng tâm — loại bỏ đau khổ của tất cả chúng sinh. Hỷ vô lượng tâm — thấy người ta làm điều thiện hoặc thoát khổ được vui thì sinh lòng hoan hỷ sâu sắc. Xả vô lượng tâm — với ba tâm trên, buông xả chứ không bám chấp. Oan thân bình đẳng, không khởi tâm yêu ghét. Hành giả này khổ tu thiền định, chí ít cũng sinh về Sắc giới Phạm Thiên, bởi vì Tứ vô lượng tâm còn gọi là Tứ phạm hạnh.

Anh ta còn biết pháp Cho - Nhận: Khi hít khí vào thì gánh vác tất cả đau khổ của chúng sinh. Khi thở khí ra thì thì chữa trị bệnh tật của thế nhân. Khí đen đi vào, khí trắng đi ra. Đây là pháp thí thân từ bi nhất. Tiêu nghiệp chướng thông thường là hít khí trắng vào, thở khí đen ra.

Trên con đường trung ấm, tôi đã tình cờ gặp hành giả này đang lang thang một mình ở âm gian. Tôi nói: "Anh phải đến tịnh thổ rồi chứ nhỉ!" Anh ta đáp: "Không!" "Vì sao thế?" - Tôi rất kinh ngạc. Anh ta nói: "Người vợ yêu thương nhất của tôi và tôi đã có lời thề rằng kiếp sau chúng tôi lại tái thế làm vợ chồng. Tôi phải đầu thai làm người thì mới có thể cùng với vợ tôi làm phu thê kiếp sau. Nếu tôi đến Phật quốc tịnh thổ rồi, tịnh thổ không có phụ nữ, làm sao lại làm vợ chồng được?" Tôi lặng người. Anh ta thui thủi một mình đi lại ở âm gian, chờ đợi rồi lại chờ đợi… Tôi thở than! Bám chấp vào chuyện vợ chồng kiếp sau cũng là một chướng ngại lớn cho việc vãng sinh tịnh thổ. Lúc cần buông bỏ thì hãy buông bỏ đi thôi! Vợ chồng kiếp sau, ôi chao! Ôi chao!

32. Chăm sóc lúc lâm chung (phần 3)

Có người nào bình thường tu pháp rất tốt, kính sư, trọng pháp, thực tu nhưng lúc lâm chung hoặc khi ở trung ấm giới lại đột nhiên dở chứng không? Tôi bảo có. Tôi thật lòng thật sự nói để mọi người biết, đó là những oan gia đòi nợ kiếp trước hoặc đời này, nhìn thấy một người sắp chết hoặc ở trong cảnh giới thân trung ấm thì bổ nhào đến trước để nhập vào thân, lúc này thì cả con người đều thay đổi, đây gọi là nghiệp chướng hiện tiền.

Lúc còn sống, khi nhìn thấy pháp tướng của Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thì người này sẽ chắp tay cung kính niệm: "Om guru liansheng siddhi hum". Trong nhà anh ta treo pháp tướng của Sư Tôn, đàn thành cũng có pháp tướng của Căn bản Thượng sư Liên Hoa Đồng Tử, ngày ngày lễ bái, cung kính cúng dường.

Lúc sắp chết thì anh ta hoàn toàn đổi khác. Anh ta gỡ pháp tướng của Sư Tôn xuống. Kêu người ta phá bỏ pháp tướng Sư Tôn. Chư Phật Bồ Tát ở đàn thành cũng lần lượt gỡ xuống, vứt đi hoặc tặng người khác. Người thân cầm pháp tướng Sư Tôn nói với người sắp chết rằng: "Đây là Sư Tôn của anh đó!" Anh ta chửi lớn: "CMN." (3 tiếng chửi thề) Đôi mắt anh ta quắc lên: "Để tôi đốt đi!" Người thân ngớ ra, không biết phải làm sao mới phải. Người thân cầm pháp tướng A Di Đà Phật cho người sắp chết nhìn, anh ta cũng chửi thề. Lúc còn sống cung kính như bảo vật, khi sắp chết thì căm hận không ngớt. Không thích Phật, không thích pháp, không thích tăng, anh ta nhìn thấy người xuất gia, Thượng sư đi vào, là lập tức đuổi đi. Lớn tiếng chửi bới, căm ghét người niệm Phật trì chú, nghe thấy tiếng niệm Phật trì chú là hét lên bắt dừng lại, không cho niệm. Lúc này người thân cũng đành bó tay. Nhóm trợ niệm cũng bị mắng chửi xối xả.

Chuyện này là thế nào đây? Lúc còn sống thì kính sư, trọng pháp, thực tu, đúng vào lúc thời khắc quan trọng tới thì không ngờ niệm Phật lại thành "CMN". Con người hoàn toàn biến đổi, hoàn toàn không còn giống chút gì với trước đây nữa. Đó là vì oan hồn đã đến trước để đoạt mệnh rồi. Chủ nợ đã đến trước để đòi nợ. Nghiệp chướng hiện tiền, cản trở vãng sinh.

Lúc này, tôi lập tức hiểu ra, tức khắc bảo người nhà của anh ta mau chóng thay anh ta niệm kinh Địa Tạng, niệm ở một chỗ khác rồi hồi hướng cho anh ta. (Nếu không thể niệm kinh Địa Tạng thì niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát.) Đồng môn tu pháp sám hối để hồi hướng cho anh ta. Nhóm trợ niệm ở trước Phật hoặc ở nơi khác hãy cứ niệm Phật trì chú như thường. Tôi thì dùng pháp Thí quỷ thần để mời quỷ thần rời đi rồi tôi kết giới. Sau đó, người sắp chết đã chịu nhận pháp tướng của Thượng sư Tam Bảo, cũng chấp nhận niệm Phật trì chú, đã khởi tâm hoan hỷ, kết quả là đã có thể vãng sinh.

Tôi lại có một ví dụ: Khi ở trong trung ấm giới, tôi gặp một Liên Hoa hành giả trước kia, trông thấy tôi lại làm như không thấy, thờ ơ như với người lạ. Tôi gọi anh ta: "Này Liên Hoa hành giả!" Anh ta hỏi lại tôi: "Ông là ai?" "Tôi là Sư Tôn đây!" "Tôi không quen Sư Tôn nào cả, ông tránh qua một bên cho tôi!" (Đệ tử này lúc còn sống từng cúng dường tôi.)

Tôi lập tức nhìn thấy một người phụ nữ nhập vào người anh ta, muốn kéo anh ta vào địa ngục, người phụ nữ này khi còn sống đã vì anh ta mà tự sát chết. Tôi nói với người phụ nữ ám anh ta: "Đừng làm như thế." Người phụ nữ đáp: "Lúc còn sống anh ta bỏ rơi tôi, khiến tôi đau đớn không muốn sống nữa mà tự sát, vì thế bây giờ tôi cũng phải cản trở anh ta vãng sinh tịnh thổ." Tôi nói với người phụ nữ: "Tôi giúp hai người đều vãng sinh tịnh thổ nhé!" "Ông là ai? Sao có thể giúp tôi được chứ?"

Tôi hóa thành Địa Tạng Vương Bồ Tát. Người phụ nữ mừng rỡ. Cuối cùng, Liên Hoa hành giả và người phụ nữ tự sát cùng vãng sinh đến Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì. Liên Hoa hành giả là trung phẩm, phụ nữ tự sát là hạ phẩm hạ sinh. Tôi cho rằng: Người sắp chết hoặc người thân trung ấm đến thời điểm đó giở chứng cũng không phải là ít. Với loại người này, đại thiện tri thức khai thị, nhóm trợ niệm, người thân, Thượng sư, pháp sư cần giúp đỡ họ mau mau sám hối, đọc kinh Địa Tạng, làm pháp Thí quỷ thần, kết giới. Quan trọng! Quan trọng!

33. Chăm sóc lúc lâm chung (phần 4)

Trong Mật giáo, tôi đã từng dạy pháp: Liên Hoa Đồng Tử vãng sinh thần tốc. Quán chữ Ah, Hum. Quán nguyệt luân. Quán chữ Ah. Quán ngũ tướng thành thân. Quán đại viên mãn Không. Miên quang pháp. v.v…

Thật ra những pháp này đều có thể chuyển hóa thành pháp bí mật cho người sắp chết vãng sinh. Mật pháp là có tác dụng thực tiễn chứ không chỉ là lý thuyết, ngay cả Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, Kim cang pháp, Vô thượng mật… đều là pháp vãng sinh.

Trên phương diện duy thức: Cũng có thể dùng duy thức thần biến, dùng kiến văn tri tâm để tìm kiếm Như Lai Tạng thức, cũng có quán duy thức thần biến. Vô nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý. Vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vô ý thức giới. Như Lai Tạng thức, ngôi sao phương đông, tâm chân thực mà ai nấy ban đầu vốn có, chân như thu về và cất giữ tất cả công đức của quả địa thượng, cũng là pháp thân chứng quả.

Có rất nhiều pháp sư trong pháp môn tịnh độ của Hiển giáo đề xướng "dịch hành đạo", lúc còn sống trì tụng danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, niệm niệm không quên, cho dù vào lúc lâm chung, Phật hiệu vẫn sẽ từ tâm mà vọng lên, nhờ nhân duyên niệm Phật mà có thể vãng sinh tịnh thổ.

Kinh A Di Đà nói: "Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe thuyết A Di Đà Phật, rồi trì danh hiệu, nếu một ngày, nếu hai ngày, nếu ba ngày, nếu bốn ngày, nếu năm ngày, nếu sáu ngày, nếu bảy ngày nhất tâm bất loạn, thì người ấy lúc lâm chung, A Di Đà Phật và chư Thánh chúng hiện lên trước mặt người đó. Là người ấy vào lúc chết, tâm không đảo điên, thì sẽ được vãng sinh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc thổ."

Tôi thường dạy chúng sinh rằng khi đi máy bay, đi thuyền, đi xe, hãy thỉnh Phật trụ đỉnh đầu, luôn niệm Phật hiệu. Cho dù gặp phải điều bất trắc không thể lường trước, đời người vô thường mà, thì chúng ta cũng có thể trong sát-na vãng sinh Phật quốc tịnh thổ. Những tam học xuất thế khác như luật tông, tam luận, thiên thai, từ ân, thiền, mật, tịnh thổ, hoa nghiêm, học có nông có sâu. Nhưng vãng sinh là quan trọng!

Nói tới nói lui, tôi muốn giải thích ba lực quan trọng nhất:

Tự lực vãng sinh — đây là công đức tu hành tự thân, đã minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử, Phật tính tự tâm vốn có đã hiện. Từ Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, bảo bình khí, chuyết hỏa, thông trung mạch, mở ngũ luân, ngũ kim cang, ngũ Phật, vô thượng mật, đại viên mãn. Theo thứ tự này mà tu, đạt được tất cả mọi trí, đắc được trí căn bản.

Lúc này: Thân Phật và thân ta đồng thể. Khẩu Phật và khẩu ta đồng thể. Ý Phật và ý ta đồng thể. Tức thân thành Phật rồi! Mật giáo dựa vào tự lực và lực gia trì của Như Lai, tam mật gia trì, khiến nhục thân phàm phu trong một đời tức thân thành Phật, với tác dụng của sức mạnh bất tư nghì ấy mà đời này chứng đắc Phật quả. Công đức ấy không thể dùng tâm mà suy nghĩ, công đức ấy không thể dùng ngôn ngữ, văn tự mà nói, toàn bộ đều bất khả tư nghì.

Bởi vậy nói, Mật giáo là pháp nội chứng pháp thân Như Lai, ngay cả bậc Đẳng Giác Bồ Tát cũng không thể đoán biết, duy chỉ có giữa Phật với Phật mới có thể biết. Chớ có phỉ báng!

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đã hiện chứng Hoa Quang Tự Tại Phật, chứng minh thức thứ tám Như Lai Tạng, thức thứ chín am ma la. Đó là chân ngã, chân như, chân Phật, là tự tâm vốn có, từ vô thủy đến nay.

Trong quá trình tu trì Mật pháp đã được: Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký. A Di Đà Phật ủy thác. Di Lặc Bồ Tát ban Hồng quán. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền dạy Mật pháp. Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn chứng minh truyền thừa chân chính: Đại Nhật Như Lai - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Sinh Hoạt Phật.

Truyền thừa nhân gian: Hồng giáo — Liễu Minh Hòa Thượng. Hoàng giáo — Thubten Dhargye Thượng sư. Bạch giáo — Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16. Hoa giáo — Sakya Chứng Không Thượng sư. Và những vị sư phụ khác.

Tha lực vãng sinh — người niệm Phật chính là nương dựa vào Phật lực (tha lực) mà vãng sinh tịnh thổ. Đây chính là 48 đại nguyện của A Di Đà Phật đại từ đại bi, thu nhận chúng sinh tín nguyện niệm Phật, sức mạnh vãng sinh Tây phương tịnh thổ cũng bất khả tư nghì như vậy.

Đây là: Nguyện lực uy đức của A Di Đà Phật. Tam muội lực của A Di Đà Phật. Nhiếp thọ lực của A Di Đà Phật. Tâm nhất niệm hiện tiền của mỗi một chúng sinh và tâm của A Di Đà Phật tương ứng, một niệm tương ứng với một niệm Phật thì niệm niệm tương ứng với niệm niệm Phật.

Đây là tâm Phật và tâm chúng sinh vốn không khác biệt, Thánh nhân và phàm phu cùng một Như Lai Tạng thức, chư Phật và chúng sinh cùng một tâm nguyện. Niệm Phật thành Phật. Tìm Phật thành Phật. Tất cả đủ đầy. Hành giả bản nguyện. (Đây là vãng sinh tịnh thổ nhờ tha lực.)

Pháp giới lực (pháp lực) vãng sinh: Pháp giới lực này có tổng hợp sức mạnh của chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Hộ Pháp, Không Hành, chư Thiên. Là pháp lực khi tín nguyện và cảm ứng giao nhau, cũng bất khả tư nghì. Bạn thực tin Liên Sinh Hoạt Phật có thể tiếp dẫn bạn, bạn sẵn lòng để Liên Sinh Hoạt Phật tiếp dẫn bạn, bạn thành tâm thành ý niệm Liên Hoa Đồng Tử tâm chú, lực pháp giới ấy (pháp lực) sẽ sinh ra.

Không Hành sẽ đưa thân trung ấm đến chỗ của Liên Sinh Hoạt Phật. Do đại thiện tri thức thay đổi và khuyên bảo bạn (thân trung ấm), cuối cùng, do lực pháp giới thu nhận bạn vãng sinh đến bất kì Phật quốc tịnh thổ nào.

Chỉ một cái búng tay — Tối Thắng tịnh thổ, Diệu Bảo tịnh thổ, Viên Châu tịnh thổ, Vô Ưu tịnh thổ, Tịnh Trú tịnh thổ, Pháp Ý tịnh thổ, Mãn Nguyệt tịnh thổ, Diệu Hỷ tịnh thổ, Diệu Viên tịnh thổ, Hoa Tạng tịnh thổ, Chân Như tịnh thổ, Viên Thông tịnh thổ, Chân Phật tịnh thổ, Cực Lạc tịnh thổ… Toàn bộ đều xuất hiện. Liên Hoa hành giả có thể đến tịnh thổ bất kì. Đây vẫn chính là pháp giới lực đại bi vô thượng bí mật của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn!

34. Phụ lục: Phật tính quang minh

Bài khai thị ngày 11 tháng 5 năm 1999.

Một pháp sư có pháp hiệu là Liên Thính? Nghe nói pháp sư này có thính giác của một bên tai hơi kém, và thính giác của tai kia khá hơn một chút.

Ban đầu lấy cái tên Thính này nghe cũng rất kỳ quái, bởi vì vừa mới viết ra để dùng thì "nghe" cũng hay. Thật ra, nghe cũng là không nghe, nói thế nào bạn cũng đều không cần nghe. Không nghe, thế thì lục tặc trên thân người chúng ta sẽ bớt đi được một tặc. Lục tặc chính là sáu tên trộm gian tặc, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đó là lục tặc, cái tai nằm trong số lục tặc này. Cái này thì rất hay. Liên Thính thì nghĩa là đừng nghe, cái gì cũng đều không nghe là tốt nhất. Cái gì cũng không nghe, thì có thể như như bất động. Còn cái gì cũng nghe thì tâm sẽ lộn xộn, tâm sẽ nhiễu động, tốt nhất là cái gì cũng không nghe.

Lấy cái tên Thính này rất hay, vừa hay tương ứng với pháp sư ấy. Thật ra, ví dụ như ông ấy cầu Sư Tôn gia trì, hy vọng cái tai này có thể nghe được, kì thực nghe không được thì cũng chẳng sao cả.

Bình thường tôi rất hiếm khi đeo kính, buổi tối khi lái xe thì cần đeo, bởi vì cần phải nhìn biển hiệu, khi lái xe thì hai bên đường quốc lộ có biển hiệu, nếu không đeo kính thì không nhìn thấy chữ trên biển hiệu.

Vì sao tôi không thích đeo kính? Vì không muốn nhìn quá rõ ràng. Không nhìn thấy thì phải làm sao đây? Thì không nhìn nữa, không cần nhìn, không nhìn được thì không cần nhìn nữa. Xem ra nhìn rất lờ mờ, cái nào cũng đẹp lờ mờ, rất tốt, bởi vì nhìn không rõ mà. Không nhìn được lại thành ra hay. Không nghe được lại cũng tốt, đều tốt cả.

Trước sau muốn cầu biết hết mọi việc, đây là sai lầm đó. Chuyện gì bạn cũng đều biết thì tâm sẽ đảo loạn, khuấy đảo chính bạn. Tốt nhất là cái gì cũng đều không biết, giảm bớt những duyên cớ bên ngoài, có thể giữ tâm quy về một, thì nhanh chóng tâm cảnh thông minh và trí huệ của bạn sẽ hiển hiện ra. Đó là ánh sáng nội tại, không phải những thứ đến từ bên ngoài.

Vì thế, chúng ta tu hành là tu ánh sáng nội tại, chứ không phải những thứ biểu hiện bề ngoài như công danh, lợi lộc, xấu, đẹp, ngon, ngọt, không nằm ở những thứ bên ngoài này, mà là nếu nội tại của bạn thật sự phát quang thì tất cả đều là tốt đẹp.

Vừa nãy pháp sư Liên Thính cũng nhắc đến vô minh, thế nào là vô minh? Cái này rất khó giải thích, vô thủy vô minh, cái vô minh từ quá khứ không có điểm khởi đầu này. Bởi vì mỗi người chúng ta đều có cái vô minh từ nhiều kiếp tích lũy lại, rất nhiều đời, không phải là đời này bạn mới có vô minh. Thật ra khi bạn sinh ra, bạn đã mang theo rất nhiều vô minh rồi, mang theo nghiệp chướng, tập tính này của bạn đã tích lũy rất dày giống như núi rồi.

Vì thế, tu hành không phải là việc dễ, chính là vì sự vô minh tích lũy nhiều kiếp của chính bạn, không có cách nào trong chốc lát có thể tháo gỡ ngay, mà không có cách nào tháo gỡ thì ánh sáng nội tại của bạn không thể hiện ra. Vì thế, sau khi con người chết đi thì tương đối có cơ hội có thể phá bỏ cái vô minh từ vô thủy này.

Trong Mật giáo có nhắc đến trung ấm thành Phật, thế nào là trung ấm thành Phật? Bạn xem ra vốn là một phàm phu mà! Một người rất vô minh, sau khi chết có thể thành Phật thì rất kỳ quái đó. Khi còn sống bạn lại còn tham, lại còn dễ nổi giận, vô minh trên người lại rất nhiều, tham sân si lấp đầy bản thân bạn, vì sao sau khi chết bạn lại có thể thành Phật chứ? Bởi vì bạn có cái cơ duyên gặp được Thượng sư của bạn cứu độ thân trung ấm cho bạn, cứu độ thân trung ấm rất lợi hại đó.

Bởi vì con người, khi tứ đại (đất nước lửa gió) đều tiêu tán thì Phật tính vốn có trong nội tại của bạn sẽ xuất hiện, trong sát-na mà thôi, sẽ hiển hiện ra ánh sáng của bạn. Lúc này, giả dụ có người hướng dẫn, nói rằng bạn cần nhận ra ánh sáng Phật tính vốn có của mình, và bạn nhanh chóng chứng thực được ánh sáng Phật tính ban sơ, trong chốc lát bạn thanh tẩy sạch sẽ toàn bộ đất nước lửa gió, lục tặc, lục căn, lục trần của bản thân, thì trí huệ nhanh nhạy và quang minh của bạn sẽ hiển hiện ra. Vì thế, kiểu này gọi là trung ấm thành Phật.

Trong Mật giáo đặc biệt có dạy về trung ấm thành Phật, nghĩa là khi bạn trở thành linh hồn, lập tức chứng thực ánh sáng Phật tính của bản thân, sau đó thành tựu, thì gọi là trung ấm thành Phật.

Đại bộ phận chúng ta vì sao có tham sân si? Là vì sao vậy? Là bởi vì thân thể này của bạn, khi nhục thể này còn tồn tại, tham, sân, si đặc biệt nặng, tập tính vô minh đều ở trên nhục thể này, nếu bạn không tu hành, bạn xem xem, mọi người theo đuổi cái gì? Khi nào người ta nghĩ tới Phật tính quang minh nội tại của chính mình, lúc nào có thể nghĩ đến chứ? Căn bản là chẳng bao giờ nghĩ đến.

Người ta sống mỗi ngày đều cứ ngu ngốc mơ hồ như thế. Bạn nói với người ta về tu hành, họ bảo đó là thần kinh. "Tu hành à? Có nhầm không đấy! Thời đại này còn tu hành ấy à?" Họ nói: "Anh có nhầm không vậy? Thời đại này là thời đại ăn chơi nhảy múa, anh lại đi tu hành!"

Họ nhiều kiếp vô minh, lúc này tại nhân gian trôi nổi bất định, trôi tới trôi lui, đôi khi thì chìm xuống, thỉnh thoảng tăng thêm ít tiền lương thì lại vui mừng muốn chết. Thỉnh thoảng cấp trên nói với bạn mấy câu hay hay, chà! Bạn lại vui mừng muốn chết. Thỉnh thoảng bạn được thăng chức một tí, bạn cũng lại vui mừng muốn chết.

Cấp trên không để ý đến bạn, giảm tiền lương, kêu bạn từ chức, bạn liền rơi vào vực sâu đau khổ. Đi làm, kiếm tiền, sau đó thì phạm vi cuộc sống của bạn chỉ còn là giữa đồng nghiệp với nhau, giữa bạn và cấp trên, giữa bạn và cấp dưới. Khi trở về nhà thì con cái, vợ chồng, chính là cuộc sống ngày ngày cứ như thế trôi qua.

Bận kiếm tiền, bận lo thăng chức, tăng lương. Người ta chưa bao giờ nghĩ đến Phật tính của mình, ánh sáng nội tại của mình, chẳng nghĩ đến cái này, đó là vì vô minh đã che kín họ rồi. Họ cần phải gặp được Thượng sư chân chính tháo gỡ cái vô minh của họ thì ánh sáng nội tại của họ mới có thể xuất hiện, vì thế, trung ấm nghe dạy mà được độ là rất quan trọng.

Nói về mẹ tôi đi, khi mẹ tôi qua đời, tôi nhiều lần nói bên tai mẹ dặn dò rằng: "Mẹ không được nghĩ về những thứ khác, không được nghĩ đến cái gì cả. Đất nước lửa gió tứ đại phân liệt, cái còn lại chính là ánh sáng vốn có của chính mẹ sẽ xuất hiện, mẹ phải nhanh chóng chứng thực Phật tính đó." Vừa chứng thực xong thì trí huệ của mẹ tôi liền tăng trưởng, Phật tính vốn có liền xuất hiện, ánh sáng nội tại đã tỏa ra rồi.

Nhục thể này của chúng ta một khi loại bỏ được là tốt rồi, bạn không bỏ qua một bên thì nó sẽ trói chặt bạn lại, chính là vô minh đã trói chặt bạn lại, tất cả đều bị vô minh trói chặt lại, nhục thể này một khi có thể loại bỏ là thành tựu.

Đáng sợ nhất chính là cái vô thủy vô minh của bạn quá nặng, nhục thể đã mất đi rồi nhưng bạn vẫn lưu luyến cái nhục thể này, không có cách nào nhận chứng được Phật tính quang minh của bản thân, cuối cùng là lục đạo luân hồi. Bạn lại vội vàng đi tìm kiếm nhục thể, vội vã đi luân hồi, là như thế đó.

Bởi thế, vì sao mà bạn có tham sân si? Vì sao bạn lại hoài nghi, đố kỵ, ghen tuông, kiêu căng ngạo mạn? Đều là vì có nhục thể, nay nếu không còn nhục thể nữa thì tốt rồi. Những chúng sinh vô minh kia sau khi chết đi, họ vẫn tìm kiếm nhục thể, cái đó chính là vô thủy vô minh. Om mani padme hum.

(Hết)

Mục lục