📗

300. Trở về tinh hà

Trở về tinh hà

🪷 Pháp tính đại viên mãn

Văn tập: 300 Xuất bản: 06/2024 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

Mục lục

00. Cuốn văn tập thứ 300. (Lời tựa 1)

Đây là tập văn thứ 300 của tôi (Lư Thắng Ngạn). Ôi! Thật sự là tập văn thứ 300. Hiện nay tôi đã 80 tuổi. Tôi là một vị tăng già tám mươi tuổi. Nhìn lại 80 năm trước, tôi sinh ra trong một trại gà bên bờ suối Ngưu Trù, tại Gia Nghĩa (Hậu Hồ). (năm 1945) Sau đó, Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đều học ở Cao Hùng. Đại học ở Đài Trung. Vào ngày 16 tháng 6 năm tôi 38 tuổi, tôi di cư đến Seattle, Hoa Kỳ. Bây giờ là năm 2024. (Theo cách tính tuổi của Đài Loan thì tôi 80 tuổi, thuộc tuổi Dậu.)

🌟

Có người hỏi tôi: "Ngài bắt đầu viết văn như thế nào?" Tôi đáp: "Bắt đầu từ tiểu học." Người ấy hỏi: "Học sinh tiểu học viết những gì?" Tôi đáp: "Lúc đó có một tạp chí tên là "Bạn Học", tôi viết những mẩu chuyện cười ngắn để đăng." Người ấy hỏi: "Còn ở trung học cơ sở thì viết gì?" Tôi đáp: "Mục Quang Cảnh Học Đường" trên báo."

Người ấy hỏi: "Còn ở trung học phổ thông thì sao?" Tôi đáp: "Trung học phổ thông thì khác hẳn rồi, ngoài mục "Quang Cảnh Học Đường" ra, thơ, văn xuôi, tạp văn, tiểu thuyết, tôi viết đủ thể loại. Tôi làm tổng biên tập của tờ "Thanh Niên Công Nghiệp Cao Hùng", tổng biên tập của tờ "Cao Thanh Văn Túy". Các bài viết của tôi được đăng trên khắp các báo chí tạp chí lớn." Tôi nói: "Ấn tượng sâu sắc nhất là khi tôi đến Đài Loan Tân Văn Báo để nhận nhuận bút, phó chủ bút Lâm Hải Cầu và Tiểu Ngư thấy tôi thì giật mình kinh ngạc! Họ kêu lên: "Cậu là Lư Thắng Ngạn đấy à, có nhầm không vậy, sao cậu nhỏ thế!"" (Nhỏ ở đây ý nói là học sinh cấp ba, vóc dáng thấp nhỏ.)

Tôi nói: "Khi lên đại học, tôi làm tổng biên tập tạp chí "Văn Nghệ Trắc Lượng". Tôi viết chuyên mục cho tờ "Đài Loan Nhật Báo" và "Dân Thanh Nhật Báo". Các bài viết của tôi được đăng trên tất cả các báo chí tạp chí trong nước, Tư Mã Trung Nguyên và Doãn Tuyết Man gặp tôi đều rất ngạc nhiên." Dĩ nhiên, Tôi đã đoạt vô số giải thưởng. Khi còn học đại học, tôi đã xuất bản bốn cuốn sách, bắt đầu từ cuốn đầu tiên là "Tập Thơ Khói Mỏng".

Việc viết văn của tôi, trong suốt cuộc đời này, chưa từng ngừng nghỉ, tôi viết đủ mọi thứ. Tôi nói: "Trong trời đất đều là văn chương, trong văn chương đều là trời đất." Mỗi ngày một bài. Không nghỉ ngơi.

Thật ra tôi cũng chẳng là gì cả, những lời khen ngợi như thông minh tài trí, đức hạnh xuất chúng, tôi đều không xứng đáng. Tôi chỉ có hai chữ: "Nghị lực!" Việc viết lách của tôi, chỉ là nghị lực mà thôi! Việc tu học Phật pháp của tôi, cũng chỉ là nghị lực mà thôi! 300 cuốn văn tập, có gì đâu! Chỉ mong bạn mở sách có ích!

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

Sheng-Yen Lu

17102 NE 40th Ct., REDMOND WA 98052 U.S.A.

Tháng 12 năm 2023

01. Cuốn văn tập thứ 300. (Lời tựa 2)

Cuốn văn tập thứ 300 này của tôi, với tựa đề "Trở Về Tinh Hà", có một câu chuyện đặc biệt. Thật lòng mà nói, vào năm tôi 79 tuổi, cơ thể vốn khỏe mạnh của tôi bỗng nhiên vì bác sĩ thay đổi thuốc. Thân thể bất ổn. (bật đèn đỏ) Xuất hiện nhiều loại bệnh tật, chưa hết cơn bệnh này đã đến cơn bệnh khác, kéo dài suốt một năm trời. Tôi tự cảm thấy thân tâm mệt mỏi. Thật sự là muốn khóc mà không còn nước mắt. Một ngày nọ, trong lúc thiền định. Trong khoảnh khắc một niệm, tôi đến được một "cõi ẩn" vừa xa lạ vừa dường như quen thuộc. "Cõi ẩn" chính là "tịnh thổ".

Cõi tịnh thổ ấy, toàn là thất bảo. Ánh sáng rực rỡ. Cung điện vàng. Âm nhạc thiên giới du dương. Tôi thấy một vị thiên nhân phát sáng, đang vẫy tay với tôi tại cổng một điện vàng nguy nga. Ngài nói: "Người đã trở về! Chính ta đã triệu người về đây." Ngài hỏi: "Người có nhận ra nơi này không? Người có nhận ra ta không?" Tôi bệnh đến mê muội, vừa quen thuộc, vừa xa lạ, nhất thời không nói nên lời, tôi câm lặng. Ngài vỗ nhẹ vào trán tôi.

Đột nhiên, tôi hoàn toàn hiểu ra. Nước mắt trào ra khỏi khóe mi, vị thiên nhân trước mặt tôi chính là Liễu Minh Hòa Thượng, thượng sư của tôi. Điện vàng này chính là nhà của tôi trước khi hạ sinh xuống trần gian. Đây là Thiên Hà Thắng Cảnh Xứ. Tôi quỳ xuống, đảnh lễ Liễu Minh Hòa Thượng. Liễu Minh Hòa Thượng nói: "Lư Sư Tôn, chúng ta chưa từng xa cách, ta luôn quan tâm và chăm sóc con!" Tôi nói: "Mỗi lần thuyết pháp, con đều đảnh lễ Thượng sư trước."

Thiên nhân Liễu Minh Hòa Thượng nói: "Hiện giờ con là Ma Ha A Phạm Đạt (Đại Thượng Sư), là Đại Trì Minh Kim Cang A Xà Lê." Tôi nói: "Con cảm ơn lời chỉ dạy của Thượng sư." Thiên nhân Liễu Minh Hòa Thượng nói: "Thấy con buồn bã, ta không đành lòng, độ sinh ở cõi Ta Bà thật không dễ dàng. Ta có cam lộ đây, con uống đi, về pháp tọa của con nghỉ một lát là sẽ khỏe thôi." Tôi đảnh lễ Thượng sư nhiều lần, nước mắt vẫn tuôn rơi. Thiên nhân Liễu Minh Hòa Thượng nói: "Nhìn con kìa, vẫn còn như một đứa trẻ!"

Tôi nói: "Liên Hoa Đồng Tử vốn dĩ là trẻ con mà!" Thiên nhân Liễu Minh Hòa Thượng nói: "Hãy nhớ lời ta, ta bảo con, "từ không đến có rồi từ có trở về không", con phải ở giữa có và không." Tôi nói: "Con hiểu rồi, thưa Thượng sư." Thượng sư nói: "Chốc nữa, con hãy trở về!" Tôi nói: "Con không muốn về nữa!" Thượng sư nói: "Chúng ta chưa từng xa cách, con chưa từng đến, cũng chưa từng đi." Tôi nói: "Con biết! Con biết! Con biết!" - Tôi lại đảnh lễ Thượng sư. Vì vậy, cuốn sách này có tên là "Trở Về Tinh Hà".

02. Cuốn văn tập thứ 300. (Lời tựa 3)

Tôi (Lư Sư Tôn) viết tập văn thứ 300, với tiêu đề phụ là "Pháp tính đại viên mãn". "Pháp tính đại viên mãn" là gì: Tôi nói: "Pháp tính đại viên mãn chính là pháp tính đại viên mãn." Ha! Đây chẳng phải là "nói suông". Đúng vậy, đây là điều không thể diễn tả bằng văn tự hay ngôn ngữ. Tôi chỉ có thể miễn cưỡng, nói sơ qua mà thôi!

🌟

Trước tiên chế tâm vào một chỗ. Kế đến quán tưởng Bổn tôn. Sau cùng hòa hợp thành một. Tôi chính là tối thượng, tối thượng chính là tôi. Tôi từ ánh sáng bước ra, thị hiện trang nghiêm là Lư Sư Tôn. (Báo thân, Ứng thân) Lư Sư Tôn thị hiện xong, lại ẩn vào trong ánh sáng rực rỡ của đại hư không. Tức là tôi từ hư không đến. Tôi trở về hư không. Thực ra cũng chẳng có đến đi!

🌟

Tại sao không có đến đi? Cái gọi là thập phương, đại diện cho không gian, phương trên, phương dưới, tám phương, gọi chung là mười phương. Mười phương đều có Lư Sư Tôn! Làm sao có đến đi? Cái gọi là tam tế, đại diện cho quá khứ, hiện tại, vị lai. Đời quá khứ có Lư Sư Tôn. Đời hiện tại có Lư Sư Tôn. Đời vị lai có Lư Sư Tôn. Vì vậy, làm sao có đến đi? Sự tu hành của tôi đã tu thành Pháp thân, Pháp thân là trăm nghìn triệu hóa thân. Trăm nghìn triệu hóa thân này, hợp lại chính là pháp tính. Có thể là một. Cũng có thể là trăm nghìn triệu. Muốn hóa thế nào thì hóa thế ấy. Đó chính là: Tự tại. Nhậm vận. Đó chính là "Pháp tính đại viên mãn". Chúng ta tụng: "Nam mô 36 vạn tỷ, 11 vạn, 9 nghìn, 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật." A Di Đà Phật trăm nghìn triệu hóa thân. Tôi (Lư Sư Tôn) thành tựu rồi, cũng như vậy, đó chính là "Pháp tính đại viên mãn".

🌟

Cuốn sách này dạy bạn cách giải thoát dù mang nghiệp tội nặng nề (ác nghiệp). Cuốn sách này dạy bạn cách khiến mọi người khi gặp bạn đều kính mến và ủng hộ bạn. (đại kính ái) Cuốn sách này dạy bạn có được đại thần thông, trở thành bậc "đại năng" hộ trì gia đình, dòng họ, quốc gia và thế giới. Cuốn sách này dạy bạn cách điều khiển thiên long bát bộ thần tướng, hô mưa gọi gió, cầu gì được nấy. (sắc lệnh quỷ thần chúng) Cuốn sách này dạy bạn trở thành bậc tối thắng trong chư thiên, thiên phúc trong tầm tay. (làm chủ của tam giới) Cuốn sách này dạy bạn cách tự tại du hành mười phương ba đời, trong một niệm có thể hiện khắp tam thiên đại thiên thế giới. (hóa thân bên ngoài thân) Cuốn sách này dạy bạn thành tựu Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, tất cả đều nằm trong lòng bàn tay. (tứ Thánh) Cuốn sách này dạy bạn thành tựu tối thượng. Tối thượng là bạn. Bạn là tối thượng. Vô lượng thọ, vô lượng quang. (Pháp tính đại viên mãn)

03. Trí huệ tối thượng

Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người: Phật Đà dạy chúng ta bốn pháp ấn: Chư hành vô thường. Chư pháp vô ngã. Niết bàn tịch tĩnh. Một thực tướng ấn. Bốn chân lý này chính là đại trí huệ, bốn câu này bao hàm tất cả.

Chúng ta hãy suy ngẫm về bốn niệm xứ: Thân bất tịnh. Thọ là khổ. Tâm vô thường. Pháp vô ngã.

Tôi xin nói với mọi người rằng bốn niệm xứ và bốn pháp ấn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, chúng tương thông với nhau. Tôi thường suy nghĩ về: khổ, không, vô thường, vô ngã. Vô thường chính là khổ. Niết bàn chính là không. Sinh tử chính là vô thường. Mộng huyễn chính là vô ngã.

Mọi người không cảm thấy sao? Trong cõi Ta Bà này, có một câu nói mà bạn cần phải thật sự thấm thía, đó là: "Vô sở đắc!" Tôi (Lư Sư Tôn) luôn ghi nhớ câu "vô sở đắc" này trong tâm khảm. Bạn có thể đến nghĩa trang mà xem, những người nằm dưới lòng đất, có ai được gì đâu? Bạn hiện giờ còn sống. Tương lai sẽ nằm dưới đất. Tất cả những gì có được, rồi sẽ trở thành không có gì. Một nấm mồ. Bạn có được gì?

🌟

Tôi đã từng nói với một người tranh cử tổng thống một câu: "Ông mà đắc cử thì cũng như không đắc cử vậy." Ông ấy ngạc nhiên nói: "Không hiểu! Sâu xa quá!" Tôi nói: "Hãy từ từ lĩnh hội đi!" Tại sao tôi lại nói như vậy? Bây giờ tôi sẽ giải thích!

Kinh Kim Cang có một câu như thế này: Tâm quá khứ bất khả đắc. Tâm hiện tại bất khả đắc. Tâm vị lai bất khả đắc. Thực ra: "Quá khứ đã qua rồi, hiện tại rồi cũng sẽ thành quá khứ, còn tương lai thì chưa đến!" Bạn có thể có được gì? Đó chính là: "Không được gì cả!" Vạn Lý Trường Thành vẫn còn đó. Tần Thủy Hoàng năm xưa nào thấy đâu. Tần Thủy Hoàng đã được gì?

Câu quan trọng nhất trong Tâm Kinh: "Dĩ vô sở đắc cố Bồ Đề Tát Đỏa." Cái "không được gì cả" này chính là trí huệ tối thượng.

Kinh Kim Cang nói: Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bọt ảnh. Như sương cũng như điện. Nên quán chiếu như vậy.

Tôi (Lư Sư Tôn) nói: "Khổ là không, vô thường là không, vô ngã là không, cho nên, thấu rõ tính Không là đại trí huệ, không, không, không."

04. Tất cả bắt đầu từ khổ

Phật Thích Ca Mâu Ni vì sao bước lên con đường tu hành? Bởi vì Ngài du hành qua bốn cửa thành, Ngài đã nhìn thấy sinh, lão, bệnh, tử - bốn khổ. Dù cuộc sống trong hoàng cung vô cùng thoải mái, nhưng tương lai cũng khó tránh khỏi các khổ. Vì vậy Ngài quyết tâm xuất gia để tìm kiếm chân đế.

Tôi đã đọc được vài câu, đặc biệt ghi lại: Nếu bạn muốn thành công trong thế tục, bạn phải nỗ lực vì lợi ích thế tục. Nếu bạn muốn thành tựu về tâm linh, bạn phải nỗ lực tu dưỡng tâm linh. Đây là hình nhi hạ và hình nhi thượng (thân và tâm). Cả hai không thể thiên lệch. Cuộc sống bên ngoài. Tu dưỡng bên trong. Cần cân bằng và hòa hợp.

[Hình nhi hạ - cái ở bên dưới hình, gọi là khí vật, đồ vật, tức vật hữu hình. Hình nhi thượng - cái ở bên trên hình, gọi là Đạo.]

Tôi xin nói với mọi người: "Tất cả bắt đầu từ khổ, nhưng tu hành cũng không phải là việc dễ dàng, bạn phải tinh tấn, tự nhiên, cân bằng mới có thể đạt được niềm vui của Tam ma địa."

Tôi lại suy nghĩ kĩ về ba chữ "vô sở đắc", thực ra "vô sở đắc" chính là "cầu mà không được thì khổ". "Vô sở đắc" là một trong những nỗi khổ.

Suy nghĩ rồi lại suy nghĩ: Trái đất trải qua "thành, trụ, hoại, không". (Những người nghiên cứu địa chất học đều biết rằng trong vũ trụ, Trái đất đã trải qua nhiều chu kỳ thành, trụ, hoại, không.) Con người trải qua "thành, trụ, hoại, không". Xe cộ trải qua "thành, trụ, hoại, không". Nhà cửa trải qua "thành, trụ, hoại, không". Tất cả những gì có hình tướng đều trải qua "thành, trụ, hoại, không".

Thì ra: "Vô sở đắc là chân lý." Cái "vô sở đắc" này là đại trí huệ. Thảo nào Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy: "Vô sở đắc".

Nói thêm một bước nữa: Vô sở đắc tức là không được. Vô sở đắc tức là được. Khi bạn nhận thức rõ, nhận thức rõ tất cả đều "không được gì cả", khi hiểu được điều này, đó chính là được. Tôi, Lư Sư Tôn đã giác ngộ, chính là: "Chứng đắc vô sở đắc!"

🌟

Phật Đà vì khổ mà tu hành. Khổ là sự bức bách thân tâm. Chúng ta biết có tám khổ: "Sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thịnh." Mười khổ là thêm vào "sầu oán, phiền não." Phật Thích Ca Mâu Ni thường nói: "Ta thấy chúng sinh, chìm đắm trong biển khổ." Lại nói: "Tham là gốc của khổ." Lại nói: "Trong biển khổ sinh tử, hãy làm vị thuyền trưởng đại nguyện độ chúng sinh."

Cá nhân tôi cảm nhận được: Khổ không chỉ có thế. Khổ vì chiến tranh. Khổ vì dịch bệnh. Khổ vì đói kém. (Ba nỗi khổ này còn đáng sợ hơn nữa.) Chính vì những nỗi khổ này liên tiếp ập đến, chúng ta để giải thoát khỏi chúng. Cho nên, bước lên con đường tu hành.

05. Chế tâm một chỗ

Phật dạy: "Chế ngự tâm vào một chỗ, không việc gì không thành!" Lão Tử cũng nói: "Người có thể chuyên nhất, vạn sự hoàn tất!" Kinh Yoga Ấn Độ nói: "Dừng suy nghĩ, dập tắt vọng niệm, ngưng nghĩ, an trụ mãi trong niềm hỷ lạc của Tam ma địa." (Kinh Yoga cũng dạy về chuyên nhất, chế tâm một chỗ.) Kinh Yoga sử dụng: Pháp thở. Pháp tư thế. Pháp trì chú. (quán tu) Để đạt được "chế tâm một chỗ". Tôi nói: "Chế tâm một chỗ là yếu tố hàng đầu để thành tựu tất cả."

🌟

Trong đời này, tôi thường khuyên mọi người cầu vãng sinh Tây phương Cực Lạc, cõi tịnh thổ của Phật A Di Đà. Tôi tu pháp siêu độ Nghìn chiếc thuyền pháp. Tôi lĩnh hội được ba khẩu quyết lớn: Một, không thể thiếu thiện căn để đến được Cực Lạc. Hai, nhất tâm bất loạn. Ba, niệm Phật. Đây là ba yếu tố chính để vãng sinh tịnh thổ của Phật A Di Đà.

Có người nói: "Tịnh thổ của Phật A Di Đà là con đường dễ tu. Nhưng cũng không dễ, người vãng sinh cũng không nhiều." Tại sao không dễ? Câu trả lời là: "Nhất tâm bất loạn." (Nhất tâm bất loạn chính là chế tâm một chỗ.)

Tuy nhiên, tôi Lư Sư Tôn cho rằng, về cõi tịnh thổ của Phật A Di Đà vẫn là cách thuận tiện nhất, chỉ cần được gặp Phật A Di Đà, lo gì không thể thành Phật. Tôi khuyên mọi người đừng sợ khó. Chỉ cần tâm luôn hướng về Phật A Di Đà. Một lòng niệm Phật. Nhất định sẽ đến được bờ giác ngộ! Tâm chân thành chính là nhất tâm, sẽ đạt được chế tâm một chỗ. Tâm chân thành lâu ngày sẽ thành tâm thâm sâu, tâm thâm sâu chính là nhất tâm bất loạn. Ngoài ra, Cần đoạn trừ mọi điều ác, thực hành mọi điều thiện.

🌟

Đức Phật dạy chúng ta: Bốn chính cần: Điều ác đã sinh khiến đoạn diệt. Điều ác chưa sinh khiến không sinh. Điều thiện chưa sinh khiến phát sinh. Điều thiện đã sinh khiến tăng trưởng. Đây là điều chúng ta cần tinh tấn thực hành, bởi vì muốn về Tây phương tịnh thổ, không thể thiếu thiện căn. Không thể xem thường bốn chính cần này, bởi vì nỗ lực thực hành, nỗ lực tu tập, chính là bốn vô lượng tâm:

Từ - mang lại niềm vui cho người khác. Bi - xóa bỏ nỗi khổ của người khác. Hỷ - tinh tấn không gián đoạn. Xả - đối xử bình đẳng với tất cả mọi người. Đây chính là "Phạm". (hành giả thanh tịnh) Tương ứng với cõi trời, chính là Phạm thiên.

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói: "Tương ứng với Phạm thiên mà không nhập vào Phạm thiên, đó chính là hạnh Bồ Tát." Chúa Jesus nói: "Đây là người chính nghĩa." Phật Đà dạy: "Không thể thiếu thiện căn, nhất tâm bất loạn, niệm Phật, Tây phương Tam Thánh hiện tiền tiếp dẫn."

06. Tiểu thừa và Đại thừa

Phật giáo sau này chia thành Tiểu thừa và Đại thừa. (Kim Cương thừa cũng nằm trong Đại thừa.)

Tiểu thừa - chuyên chú vào giới luật, thiền định. Đại thừa - chuyên chú vào thiền định, trí huệ. (Cũng không nhất định là như vậy.)

Tiểu thừa thiên về tự độ. Đại thừa thiên về độ tha. Thật ra tự độ, độ tha đều rất quan trọng.

Quả vị tu hành có thể chia thành: A La Hán (Thanh Văn). Duyên Giác. Bồ Tát. Phật. Đây là bốn Thánh giới.

Nhìn chung, tôi phân chia như sau: Tu bốn diệu đế - khổ, tập, diệt, đạo để chứng quả A La Hán. Tu mười hai nhân duyên để chứng quả Duyên Giác. Tu lục độ vạn hành để chứng quả Bồ Tát. Tu tám chính đạo viên mãn để chứng quả Phật. (Đây cũng chỉ là phân chia sơ lược.)

Tôi (Lư Sư Tôn) nói: Tiểu thừa, Đại thừa, Kim Cương thừa, bất kể là thừa nào, đều không thể bỏ qua, Tiểu thừa là nền tảng của Đại thừa. Học Tiểu thừa và Đại thừa đều quan trọng. Giới, định, huệ đều phải tu, đều phải học, và không được gián đoạn, không nên phê phán.

Phật giáo sau này chia thành: Thượng tọa bộ - Tiểu thừa. Đại chúng bộ - Đại thừa.

Chúng ta không cần phân biệt Đại thừa hay Tiểu thừa, điều quan trọng là giác ngộ, giác ngộ chính là từ mê đi đến ngộ. Mê - chúng sinh. Ngộ - Phật.

🌟

Có một vị giáo sư nổi tiếng của Đại học Oxford Anh quốc là Tiến sĩ Cương Bộ Lâm, ông đã thành lập Quán Phật Giáo. Ông nói với tôi: "Thanh Văn chính là Phật." Tôi nói: "Điều này cần phải bàn thêm!"

Tôi giải thích: Thanh Văn (A La Hán) trong tứ Thánh, đứng dưới Phật, Bồ Tát, Duyên Giác. Trong chín thứ bậc của Mật giáo Đại viên mãn: Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa, Sự bộ, Hành bộ, Du già bộ, Maha Du già, Anu Du già, Ati Du già, đều là sơ học. Tôi cho rằng: "Thanh Văn (A La Hán) không phải là Phật." (Trong Kinh Duy Ma Cật, Duy Ma Cật Đại sĩ nhiều lần quở trách hàng Tiểu thừa A La Hán, như vậy làm sao có thể là Phật được?)

Tuy nhiên, Xét trong "tâm, Phật, chúng sinh" không có sự khác biệt, Thanh Văn (Tiểu thừa) đương nhiên là Phật. Xét dưới quan điểm "tất cả chúng sinh đều có Phật tính", chúng sinh chính là Phật, Thanh Văn đương nhiên là Phật. Xét theo "tất cả chúng sinh, đoạn tận phiền não quả báo, gọi là Phật", thì Thanh Văn là Phật. (Kinh Nhân Vương) "Phật chính là bậc giác ngộ." Thanh Văn đương nhiên có tự giác. Vì vậy, khi tôi nói "Thanh Văn không thể gọi là Phật, điều này cũng chưa chắc đúng." Cho nên, Tiểu thừa. Đại thừa. Không thể thiên lệch. Đây là sự tôn trọng của tôi đối với Đại thừa và Tiểu thừa.

07. Tôi chuyên chú vào Tam ma địa

Trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo có bốn thần túc. Dục thần túc - niềm vui và hỷ lạc lớn. Cần thần túc - tinh tấn không gián đoạn. Tâm thần túc - đoạn trừ các phiền não. (chính niệm) Quán thần túc - phá trừ các tán loạn.

Tôi chuyên chú vào thiền định Tam ma địa, nói cho chính xác, tôi thực sự không gián đoạn tu trì pháp Tam ma địa. Đây hoàn toàn là công phu thiền định! Đây là: Nỗ lực an trụ thân tâm. Cần phải liên tục, ổn định, kiên cố, lâu dài.

Tôi thực sự đã tu đến được: Thân vô lậu. Minh điểm kiên cố. Hoàn toàn không lay động. Không bị ảnh hưởng bởi ngoại duyên. Không bị ô nhiễm. (Tôi tu theo pháp vô lậu của Sakya lục thế biến, tu theo pháp đại lạc tính Không của Hỷ Kim Cang, đã thành tựu được minh điểm kiên cố, thật đáng mừng.)

Thành thật mà nói, việc tôi có thể đạt được minh điểm vô lậu kiên cố là một điều may mắn hiếm có. Thời điểm tu chứng là trong thời gian nhập thất ba năm tại Ballard (Linh Tiên Các) ở Seattle, Hoa Kỳ.

Theo tôi được biết: Rất nhiều vị Hoạt Phật (Rinpoche) lớn nhỏ của Tây Tạng, họ đều có con cái. (cũng có ngoại lệ) (Điều này cho thấy họ chưa đạt được minh điểm vô lậu.)

Việc tôi đạt được minh điểm vô lậu thật sự là điều bất ngờ. Đây là điều mà trong vạn người chỉ có số ít đạt được. Cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu rõ làm sao mới có thể chứng đắc được?

Tôi đã thực hiện được: Tinh tấn không gián đoạn, nhất tâm bất loạn, quán chiếu không tán loạn. Và điều quan trọng nữa là, đại lạc đã phát sinh, đại lạc là: Minh điểm thượng trì. Minh điểm thông mạch. Minh điểm ma sát. Đây là một loại thiền định dục lạc nội tại.

🌟

Tôi nói với mọi người, bạn nói đã minh điểm kiên cố e là còn sớm lắm! Đó chỉ là "minh điểm nhơ". Theo Đạo gia thì cần phải: Luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần. Dùng cửu chuyển thần công. (pháp đan đỉnh)

Theo Mật giáo: Minh điểm nhơ. Minh điểm tịnh. Minh điểm quang. (Dùng chuyết hỏa để thiêu đốt tinh ô trọc, biến tinh ô trọc thành tinh thanh tịnh, rồi lại biến thành ánh sáng.)

Đây là chuyết hỏa trong mạch đốt cháy minh điểm. Gọi là: (Quang minh phong mạch). Đại lạc và quang minh cùng xuất hiện. Tôi chứng minh: Đại lạc - tương ứng Dục giới thiên. Quang minh - tương ứng Sắc giới thiên. Không - tương ứng Tứ không thiên.

Tại sao tôi có thể như vậy: Bởi vì tôi được Bản tôn Diêu Trì Kim Mẫu điểm hóa, tôi là hóa thân Liên Hoa Đồng Tử của A Di Đà Phật. Còn có sự chỉ dạy của linh sư vô hình. (vị thượng chủ không có thân tướng)

Còn có các vị thượng sư hữu thân giáo hóa: Hòa thượng Liễu Minh. Thượng sư Chứng Không. Đại Karmapa (Đại Bảo Pháp Vương thứ 16). Thubten Dhargye. (Đây là những vị Thượng sư đã giáo hóa tôi, là những bậc đạo sư nhân gian mà tôi tôn kính.)

Tôi là: Tín - Lòng tin kiên định. Tấn - Tinh tấn không gián đoạn. Niệm - Giữ vững một niệm. Định - Nhiếp tâm một chỗ. Huệ - Quán chiếu Phật huệ. (Dùng năm căn này, sinh ra thánh đạo, rồi nhập vào thánh đạo, đó chính là tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực.)

Tôi đối với: Linh sư vô thân. Thượng sư tạo hóa. Luôn tâm mang ơn, lòng biết ơn vô tận.

🌟

Tôi chuyên tâm tu tập Tam ma địa, điều này hoàn toàn không phải nói suông, không phải lý thuyết, càng không phải kiến văn giác tri. Không phải ước lượng. Không phải nói kinh điển.

Điểm quan trọng là: Tự thân chứng nghiệm. Điều tôi muốn nói với mọi người là: Nghi quỹ tu hành hiện đại, phần nhiều rất phức tạp, nghĩa là mỗi tông mỗi phái đều có rất nhiều quy tắc rườm rà phiền phức. Tôi thích cái đơn giản nhất. Đi thẳng vào trọng tâm. Tôi hiểu rằng: "Vô trí diệc vô đắc" trong Tâm Kinh nói, chính là pháp nhĩ bản nhiên! Hãy nhớ: tất cả các pháp đều không có tự tính.

08. Tôi dựa vào Bổn tôn để nhập Tam ma địa

Người hỏi: "Lư Sư Tôn dựa vào pháp nào để nhập Tam ma địa?" Tôi đáp: "Dựa vào Bổn tôn để nhập Tam ma địa." Người hỏi: "Là Bổn tôn nào?" Tôi đáp: "Bổn tôn của tôi, ai cũng biết. Một là Diêu Trì Kim Mẫu, là Bổn tôn khai ngộ cho tôi. Hai là A Di Đà Phật, là Bổn tôn bản địa của tôi. Ba là Địa Tạng Bồ Tát, là Bổn tôn nguyện lực của tôi." Người hỏi: "Tu như thế nào?" Tôi đáp: "Tu theo nghi quỹ pháp Bổn tôn của Mật giáo, trong sách của tôi đã viết về nghi quỹ tu pháp." Người hỏi: "Nghi quỹ đến chỗ nào thì nhập Tam ma địa?" Tôi đáp: "Khi nhập ngã hoặc ngã nhập. Nhập ngã nghĩa là Bổn tôn nhập vào thân ta, hoặc thân ta nhập vào thân Bổn tôn." Người hỏi: "Làm sao để nhập?" Tôi đáp: "Nghi quỹ Mật giáo đều có giải thích chi tiết, ở đây không nhắc lại nữa, xin hãy đọc sách của tôi." Người hỏi: "Con biết nhập Tam ma địa rất khó, nhiếp tâm một chỗ rất khó, làm sao để vượt qua những khó khăn này?" Tôi đáp: "Muốn nhập Tam ma địa phải dừng tâm dứt vọng, muốn vượt qua khó khăn, cần có lòng kiên trì, tức là tâm lâu dài, chỉ cần nghị lực mà thôi. Phương pháp sử dụng là quán tưởng Bổn tôn, trì chú Bổn tôn, kết ấn Bổn tôn."

Tôi nói thêm: "Diệt trừ vọng tưởng, dứt niệm, lắng dịu tán loạn, ngưng vọng niệm, kiềm chế tạp tưởng, làm chủ tâm. An trụ trong tự tính của Bổn tôn." Người hỏi: "Nếu không làm được như vậy thì sao?" Tôi đáp: "Thì không thể tu thành được. Dù có tu cũng chỉ là chuyện không tưởng, điên đảo, tạp nhiễm, biến đổi, vọng tưởng, tưởng tượng..." Người hỏi: "Vậy phải làm sao?" Tôi đáp: "Chỉ có kiên trì tu quán chiếu lâu dài, cho đến khi tâm định vào một chỗ mà thôi. Thông qua quán chiếu để dứt trừ tâm niệm."

Người hỏi: "Ngoài cách nương vào Bổn tôn để nhập Tam ma địa, còn có phương pháp nào khác không?" Tôi đáp: "Có rất nhiều pháp môn, mỗi hành giả đều có phương pháp riêng của mình, mỗi người mỗi khác. Riêng tôi, tôi nương theo pháp Bổn tôn để nhập Tam ma địa." Người hỏi: "Xin cho ví dụ?" Tôi đáp: "Có người dùng pháp đếm hơi thở, pháp tư thế, pháp nằm như thây ma, pháp quán hương, pháp niệm Phật, pháp ban chu, pháp lắng nghe, pháp khổ hạnh, pháp lạc hạnh, pháp hơi thở..." Người hỏi: "Phật Thích Ca Mâu Ni dùng pháp quán sao? Ban đêm nhìn sao sáng?" Tôi đáp: "Anh hãy đi hỏi Ngài!" Tôi nói thêm: "Khi nhập Tam ma địa, sẽ có đại trí tuệ, đại lực hành, sẽ có đại hỷ, sẽ có đại lạc, trừ bỏ phiền não, trừ bỏ tán loạn, sẽ được tiến bộ, định huệ sẽ cân bằng. Đó chính là giác."

09. Lợi ích của Bổn tôn Tam ma địa

Tôi nói: Chỉ cần bạn tự hóa thành Bổn tôn, an trụ trong Bổn tôn Tam ma địa, chân thật và không lay động, sẽ có lợi ích lớn. Bởi vì: Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Vương. A Di Đà Phật là Phật Vương. Địa Tạng Bồ Tát là Địa Vương. Tam Vương này là đấng chủ tể điều khiển vạn hữu trong vũ trụ. Tam Vương không bị phiền não thế gian và quỷ thần phương khác xâm phạm, nên không cần bất kì sự che chở nào. Tam Vương ngược lại có thể che chở cho chính mình và hộ trì chúng sinh khác, tất cả tự nhiên an trụ.

Hơn nữa, An trụ trong Bổn tôn Tam ma địa, không bị bất kỳ phiền não nào, không bị quấy nhiễu, không chịu quả báo, không chịu nghiệp từ kiếp trước. An trụ trong Bổn tôn Tam ma địa, trong đó có trí tuệ vô song, căn bản trí, phân biệt trí, nhất thiết chủng trí, đều có thể đạt được. Lợi ích rất nhiều, nói mãi không hết. Bổn tôn Tam ma địa bao gồm: Tám chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Giới, định, huệ đều đầy đủ. Đặc biệt là trong Bổn tôn Tam ma địa, dần dần có thể thấu hiểu đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, thần thông túc mệnh đều có thể biết được.

Thậm chí, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mệnh thông, lậu tận thông đều có thể đạt được. Thực ra Bổn tôn Tam ma địa chính là: Tâm thức hòa nhập vào Bổn tôn. Tiểu ngã hòa nhập vào Bổn tôn. Ý thức hòa nhập vào Bổn tôn tối thượng. Bổn tôn và tính Không tan vào nhau.

🌟

Chúng ta biết pháp nhập Tam ma địa có các thứ bậc như sau: Du già chuyên nhất. Du già ly hý. Du già nhất vị. Du già vô tu. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể tu thành. Bởi vì con người được chia làm ba hạng: hạ phẩm, trung phẩm, thượng phẩm, mỗi hạng đều khác nhau. Thượng phẩm — mãnh liệt và tăng thượng. Trung phẩm — cường độ trung bình. Hạ phẩm — nhiều chướng ngại nghiệp từ đời trước.

Ví dụ: Bệnh tật tấn công, thân thể không chữa được, làm sao nhập Tam ma địa. Hôn trầm xâm nhập, thân thể yếu đuối mê muội, vào Tam ma địa liền ngủ thiếp đi. Do dự không định, thiếu lòng tin, thay đổi thất thường. Buông thả đùa giỡn, tâm thích phiêu đãng, lãng phí thời gian. Lười biếng trễ nải, tính tình biếng nhác, không làm gì cả. Buông thả chạy theo dục vọng, tâm thích phóng túng, không nghỉ không ngơi. Tâm niệm tán loạn, như thác đổ, vọng tưởng không ngừng. Quan niệm thiên lệch, hiểu sai chính pháp, đi vào tà đạo.

Còn có: Kiêu ngạo tự mãn, vui buồn thất thường, tâm thần bất định, tư tưởng rối loạn... Những chướng ngại này, chỉ có siêng năng tu tập pháp chuyên nhất mới có thể phá trừ. Tu khí là rất quan trọng. Bởi vì khí động thì niệm động" Dùng trụ khí và trì khí để kiểm soát niệm tưởng, dần dần ổn định tâm niệm, tập trung vào thánh tượng Bổn tôn, đây là một phương pháp rất tốt. Nếu có thể định vào một. Ánh sáng trí tuệ sẽ xuất hiện.

10. Vô niệm Tam ma địa

Khi chúng ta ở trong trạng thái ngủ sâu, hoàn toàn không mơ không tỉnh. Mắt vừa nhắm. Mở mắt ra. Trời đã sáng, một đêm đã trôi qua!

Nếu chúng ta thiền định: Không có bất kì cảm thọ nào, không có bất kì giác quan, quán chiếu, tìm kiếm nào, không hình không tướng, tinh vi trong cái tinh vi nhất. Lúc này, Phật tính quang minh hiển hiện.

Tôi (Lư Sư Tôn) có kinh nghiệm này: Tất cả đều diệt tận. Ngay cả diệu huệ cũng không. Không hình không tướng. Ngay cả vi tế cũng không. Tâm phân biệt hoàn toàn diệt tận. Không chứa bất kì chủng tử nào. Hoàn toàn trống rỗng.

Có khi chỉ năm phút, có khi một giờ, có khi mười giờ, thậm chí còn lâu hơn.

Tôi đã từng đọc một cuốn sách, ghi chép về một vị hành giả, ông nhập định từ thời nhà Đường, mãi đến thời nhà Minh mới xuất định. Trong khoảng thời gian đó đã trải qua hai triều đại nhà Tống và nhà Nguyên. Đến thời nhà Minh mới xuất định. Ông là một vị hành giả thiền định trong một hốc cây trên núi sâu. Cho đến khi những người thợ đốn củi tìm thấy ông. Lúc đó ông mới xuất định. (Câu chuyện này, không biết là hư cấu, hay là có thật.)

Nhưng, Tôi nghĩ như thế này: Vô niệm Tam ma địa là có thật. Đây chính là niết bàn.

Trong Chân Phật Kinh, tôi viết: "Lấy vô niệm làm chính giác Phật bảo." Vô niệm được giải thích là: Không vọng niệm tức là chính niệm.

Kinh Bốn Mươi Hai Chương nói: "Cúng dường nghìn ức chư Phật ba đời, không bằng cúng dường một người vô niệm." "Một niệm không khởi, tức mười tám giới đều không." (Truyền Tâm Pháp Yếu) "Nếu khởi một niệm tức là cảnh, không một niệm thì không còn gì để tìm kiếm."

Có lời rằng: Hỏi: Thế nào là chính niệm? Đáp: Chính niệm là chỉ niệm bồ đề. Hỏi: Bồ đề có thể đạt được không? Đáp: Bồ đề không thể đạt được. Hỏi: Đã không thể đạt được, tại sao phải niệm? Đáp: Bồ đề chỉ là tên giả. Điểm quan trọng là: "Vô niệm chính là chân niệm."

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói như sau: Lành thay! Lành thay! Đây là điều bất khả tư nghì không thể tưởng tượng, dùng văn tự ngôn ngữ để diễn đạt thật là khó khăn. Đó là điều vô tận. Một câu nói: "Pháp nhĩ bản nhiên." (vô trí diệc vô đắc) Pháp môn bất nhị, tối thượng. Đó là tuyệt đối, không có gì cao hơn vô niệm nữa.

Khi đạt đến vô niệm Tam ma địa, Văn Thù Bồ Tát đã im lặng, Duy Ma Cật đại sĩ cũng lặng thinh. Đệ nhất nghĩa không, vô tướng, vô tác. Tôi nói: Vì phương tiện trí huệ, vì chúng sinh, nên ứng hóa ra từ, bi, hỷ, xả, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Là thế! Là thế!

11. Tự tính quang minh Tam ma địa

Cái gọi là tự tính chính là chân ngã bên trong. Cái gọi là quang minh chính là thanh tịnh. Tôi nói: Đây là Phật tính hiển hiện! Tất cả các Tam ma địa đều lấy Phật tính hiển hiện làm đích đến, làm điểm tột cùng.

Kinh Tam Ma Địa nói rằng: "Độc diệu". [một mình tỏa sáng] Điều này cũng tượng trưng cho: trí huệ đại viên mãn. Bởi vì loại quang minh này sẽ chứng minh: Quá khứ, hiện tại, vị lai, chứng túc mệnh thông. Hiểu biết tâm mình và tâm người khác, chứng tha tâm thông. Có thể du hành vô tận khắp mười phương, thần túc thông. Tam thiên đại thiên thế giới đều trong tầm mắt, thiên nhãn thông. Có thể nghe được âm thanh của vô lượng thế giới, thiên nhĩ thông. Ngăn chặn tất cả nghiệp cũ, phiền não dứt sạch, không còn ngã chấp, pháp chấp, sở chấp, lậu tận thông. Đây chính là đầy đủ sáu thần thông.

Tôi gọi "tự tính quang minh Tam ma địa" giống như lưu ly trong suốt vậy. Tất cả đều thông suốt.

🌟

Chúng ta là phàm phu, vốn không thể chế ngự được tâm, nhưng nhờ tu tập, dần dần từ việc chế ngự tâm nhỏ, đến chế ngự tâm vô tận, khi đạt đến điểm tột cùng, Phật tính sẽ hiển hiện. Thanh tịnh. Trong suốt. Thuần khiết. Đây chính là thành tựu của việc tu pháp. Tôi nói: Chúng sinh vốn dĩ là "vô minh", trong sự che chướng, nếu có thể dọn sạch những che chướng, đạt được "quang minh", lúc đó mới chuyển mê thành ngộ, thành tựu cho chính mình, cũng lợi ích cho người khác.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) muốn kể cho mọi người một câu chuyện có thật: Một ngày nọ. Tôi ngồi trên pháp tọa tại Seattle Lôi Tạng Tự. Các đồng môn ngồi phía dưới tu pháp. Tôi nhắm mắt, nhập định. Trong khoảnh khắc một niệm. Thần quang của tôi đến được Long Cung. Tôi du ngoạn khắp nơi trong Long Cung, vô cùng hoan hỷ. Tôi nói với Long Vương: "Tôi muốn mượn cung điện của Ngài để làm một thí nghiệm được không?" Long Vương nói: "Lư Sư Tôn đã mở lời, đương nhiên phải tuân theo." Tôi nói: "Tôi muốn đem Long Cung giấu vào trong tay áo Lama của tôi, mang về Seattle Lôi Tạng Tự, sau khi thí nghiệm xong, sẽ lập tức hoàn trả Long Cung về vị trí cũ." Long Vương nói: "Lư Sư Tôn thần thông quảng đại, đây là vinh hạnh của chúng tôi!"

Thế là, Tôi giấu Long Cung vào trong tay áo. Chỉ trong khoảnh khắc, Tôi trở về pháp tọa tại Seattle Lôi Tạng Tự. Tôi nói với đại chúng: "Tôi vừa đi đến một nơi, và bây giờ tôi đã đem nơi đó giấu trong tay áo, mang về đây." Tôi nói: "Tôi sẽ viết tên địa điểm này lên giấy và che lại. Xin mời các đồng môn có thiên nhãn thông nhìn vào tay áo của tôi xem bên trong có gì? Nếu nói đúng, điều đó chứng tỏ quý vị có thiên nhãn thông, và sẽ có phần thưởng." Các đồng môn im lặng. Nhìn nhau bối rối. Tôi nhìn quanh, không ai lên tiếng.

Bỗng có một người đứng dậy, hô lên một tiếng: "Rồng!" Tôi nói: "Cô còn chưa nhìn vào tay áo của tôi mà!" - Tôi hỏi: "Còn ai nữa không?"

Ngay lúc đó, Phân Phân - người có thiên nhãn thông, đứng dậy, bước đến trước pháp tọa. Phân Phân nhìn vào tay áo của tôi, giật mình hoảng hốt! Ngồi phịch xuống đất. Phân Phân - người có thiên nhãn thông, nói với đại chúng: "Cung điện Long Vương." Mọi người đều sửng sốt.

Tôi đưa ra tờ giấy đã viết sẵn "Long Cung" cho mọi người xem. Tiếng vỗ tay vang dội như sấm. Tôi trao phần thưởng cho Phân Phân, và một nửa phần thưởng cho người đã hô "Rồng". (Tại sao Phân Phân có thể nói ra "Cung điện Long Vương", bởi vì cô ấy đã nhìn thấy rồng trước, rồi mới thấy cung điện.)

🌟

Câu chuyện này muốn nói với chúng ta điều gì? Và có ý nghĩa gì? Tôi có thể đặt Long Cung vào trong tay áo. Phân Phân có thể nhìn thấy Long Cung.

Tôi đã chứng minh được rằng tâm có thể làm chủ tất cả, và lý sự vô ngại. Vốn dĩ trong cõi người hư ảo này, con người bị giới hạn trong dục vọng vật chất, chỉ cần thoát khỏi dục vọng vật chất, sẽ được tự do tự tại, có thể làm chủ bản thân, và đạt được sự tự tại vô tận. Thần quang không gì là không thể. (Phật tính) Tự tính không gì là không thể.

Phân Phân cũng đã chứng minh: Sự tồn tại của thiên nhãn thông. Mắt thịt của phàm phu thế tục không thể nhìn thấy thiên long bát bộ. Thiên long bát bộ, chư thiên vô thân, chư thiên chư thánh không phải là không có, mà là vì phàm phu không có thiên nhãn.

12. Một vị Không hành mẫu đã nhìn thấy

Trong số đệ tử của tôi, có một vị Không hành mẫu tên là Vu Vu. Cô ấy gửi cho tôi một bức thư. Bức thư này của cô ấy đã chứng minh rất nhiều điều hiện hữu, và cũng chứng minh rất nhiều điều không hiện hữu. Rất thực tế, nhưng cũng siêu việt thực tế. Mọi người đọc xong "Những điều Không hành mẫu nhìn thấy" sẽ hiểu rõ.

Những điều nhìn thấy như sau:

Vào một ngày đầu tháng 10, trong lúc thiền định, tôi đột nhiên cảm thấy mình đang ở giữa đêm tối và tiếng súng đạn, trong lòng tràn ngập đau khổ và buồn thương. Khi đang tu pháp siêu độ, có một nhóm người với thân thể không toàn vẹn đến. Sau đó xem tin tức mới biết chuyện gì đã xảy ra. (chiến tranh)

Tối hôm sau, khi đang cầu nguyện cùng người bạn Thiên Chúa giáo, bỗng nhiên cảm nhận một bầu không khí hùng hậu rất khác lạ đang giáng xuống. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy thiên thần khắp trời, ở giữa có một vị thần mặc áo trắng với hào quang sau lưng, khi Ngài vừa giáng xuống, tôi bỗng nhiên nói được ngôn ngữ của trời. (trung mạch của tôi rung động)

Ngài nói rằng Ngài là Chúa Jesus. Ngài còn nói, chiến tranh sẽ còn kéo dài một thời gian, con hãy giúp tiếp dẫn các vong linh. Tôi hỏi: "Giúp bằng cách nào?" Ngài đáp: "Hãy dùng pháp siêu độ do Lư Sư Tôn truyền, ta sẽ giáng xuống giúp con."

Từ đó về sau, mỗi ngày tôi tu Nghìn chiếc thuyền pháp. Tôi triệu thỉnh các vong linh từ chiến trường về đàn thành của tôi. Trước tiên thỉnh Diệu Sắc Thân Như Lai tu bổ những khiếm khuyết của các vong linh. Kế đến thỉnh Dược Sư Như Lai chữa lành những đau đớn của họ. Thứ ba thỉnh Tư Duy Bồ Tát hóa giải nỗi sợ hãi và ký ức của họ. Cuối cùng phóng thuyền pháp, dùng thiên ngữ cầu nguyện: "Xin Chúa Jesus và các thiên thần đưa thuyền pháp đến thiên quốc."

Chúa Jesus dạy tôi một điều:

Khi tôi gặp nhiều chướng ngại, lòng nản chí. Ban đầu tôi nghĩ: "Có lẽ mình là Job chăng? Satan và Chúa đánh cược, thử thách Job, mình cũng xui xẻo như vậy, chắc cũng đang bị ma quỷ thử thách."

Vài ngày sau, Ngài chợt cho tôi hiểu ra, tôi không phải là Job, mà là Peter! Trong sách Job, vẫn còn sự phân biệt nhị nguyên giữa Satan và Chúa.

Nhưng trong Phúc Âm, Chúa Jesus cho Peter đi trên mặt nước. Điều đó không dựa vào việc đối trị nỗi sợ, mà là đức tin tuyệt đối phá bỏ mọi phân biệt, từ đó tôi không còn than phiền nữa.

(Câu chuyện trong Kinh Thánh)

Chúa Jesus nói với tôi một việc nữa. Khi Lư Sư Tôn bị bệnh lần này, tôi không ngừng cầu nguyện, hồi hướng. Kim Mẫu nói với tôi: "Đừng lo lắng, cứ xem như một vở kịch!" A Di Đà Phật nói: "Đừng sợ, cứ xem như một vở kịch!" Đại Uy Đức Kim Cang nói: "Chẳng có gì đâu, cứ xem như một vở kịch!" Rồi nói thêm: "Con không cần phải ra mặt đâu!" Tôi hỏi: "Xem vở kịch gì vậy?" Chúa Jesus cho tôi xem một đoạn kinh: "Trong Người, chúng ta được cứu chuộc nhờ máu Người, được tha thứ tội lỗi theo lượng ân sủng dồi dào của Người." (Ephesus 1:7)

Ngài nói: "Việc chịu đóng đinh trên thập giá là để độ chúng sinh, Lư Sư Tôn thị hiện bệnh, thân Phật chảy máu, cũng là để độ chúng sinh. Các đệ tử vì cầu Phật trụ thế mà tinh tấn tu pháp, từ đó được độ. Rồi đây con cũng sẽ như vậy, một ngày nào đó con sẽ hiểu."

Một ngày khác. Tôi gặp một số chướng ngại. Pháp thân Sư Tôn Lư nói: "Có ma quỷ bên ngoài muốn ăn thịt uống máu con, con sẽ làm sao?" Tôi nói: "Tất cả của con đều là của Lư Sư Tôn, vốn không tăng không giảm, ma quỷ muốn thì cứ cho." Chúa Jesus xuất hiện. Ngài biến con thành vô lượng món thánh, vô lượng rượu thánh. Con cảm nhận được ánh sáng và ngọn lửa, vô số thiên thần giáng xuống, trú ngụ trong từng lỗ chân lông của con. Chúa Jesus nói: "Hãy tiếp tục xả thân bố thí! Xả đến cuối cùng, chỉ còn lại tự tính trong sáng."

🌟

Phụ lục:

Cuộc đối thoại giữa tôi (Lư Sư Tôn) và Duy Ma Cật Đại Sĩ: Tôi nói: "Cả đời tôi giúp người chữa bệnh, nhiều bệnh nhân được lành bệnh nhờ linh liệu, có rất nhiều phép màu. Nhưng khi chính tôi bị bệnh, tại sao lại không thể tự chữa lành, không có phép màu?" Duy Ma Cật Đại Sĩ nói: "Lư Sư Tôn thị hiện bệnh là để hòa quang đồng trần [hòa ánh sáng với bụi, tức hòa hợp với trần tục, không tự tách biệt] với người đời. Đây chỉ là bệnh nhỏ thôi. Còn có bệnh lớn nữa đấy!" Tôi hỏi: "Bệnh lớn là gì?" Duy Ma Cật đáp: "Bệnh lớn chính là nhục thân của ngài. Ngài dùng bệnh nhỏ để chữa lành bệnh lớn của mình." Tôi suy nghĩ một chút, dường như có điều tỏ ngộ.

Nhục thân của con người chính là bệnh lớn, thân xác là một mối lo lớn, dùng bệnh nhỏ để chữa bệnh lớn! Không còn nhục thân nữa thì giải thoát thành tựu! (pháp nhĩ bản nhiên)

13. Tôi và Vu Vu cùng viết một bài thơ

Tôi ở đây là nói đến Pháp thân của tôi (Pháp thân Lư Sư Tôn). Đi vào tâm của Vu Vu. Viết ra một bài thơ. Bài thơ này rất có linh tính, tương ứng với "Trở về tinh hà", và còn có pháp vị Tam ma địa độc diệu.

Bài thơ như sau:

Tên bài thơ: Trở về tinh hà

Vì dòng suối trong veo đáy mắt Người Nàng bay qua núi Bay qua sông Khẽ khàng trong dòng thời gian Vuốt phẳng Con đường uốn lượn Xếp thành thiên y không chút bụi trần của Người Đây là trái tim nàng Dâng tặng Người

Nàng từ quê nhà Mang theo thư nhà đến Bao nhiêu quá khứ rực rỡ đều lướt qua Chỉ để thấy những tháng năm huy hoàng Người dệt thành gấm Vẻ đẹp diễm lệ Nàng không phải khách du lịch hay người qua đường Mà là người bước theo dấu chân Người Đếm từng bước giang hồ của Người Nàng nguyện trong lâu đài Người xây Đặt xuống hành trang Cùng Người đào kênh cày cấy Trồng cọ Bảo vệ tường thành trong ốc đảo của Người Chắn cát vàng trong gió Về sau mới hiểu Đáy mắt Người không phải nước mắt Mà là ngọn lửa xanh biếc Là ngọn lửa nóng bỏng nhất Cũng là ngọn đèn sáng mãi Ánh sáng vĩnh hằng mà nàng chưa từng nghĩ đến Người đã thắp sáng nàng Nàng trở về dải ngân hà của Người

Ngày đêm cầu nguyện Người Thắp ngọn đuốc trong tim nàng Lấy ánh sáng của Người soi đường cho nàng Để nàng cao giơ truyền thừa của Người Soi đường cho người khác Vì pháp duyên của Người Trở về nơi thiên hà

Nàng từ quê nhà đến Mang theo trái tim Viết nên khúc ca dâng lên Người Và Sẽ cúng dường Người thời gian vĩnh hằng.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) cũng viết một bài "Trở về tinh hà".

Ngày tháng vẫn mải miết trôi Không còn thấy khổ trên đời Thoáng chốc đã tám mươi rồi Trong lòng tự tại thảnh thơi.

Cảm ơn em đến nơi này Hẹn ước chưa muộn hôm nay Cùng tỏa ánh sáng ngất ngây Ngân hà chiếu rọi muôn ngày.

14. Tu hành là hành pháp thanh tịnh

Phật giáo chủ trương tu hành. Do đó gọi là hành giả. Chúng ta thường nói: Dùng giới, định, huệ để đối trị tham, sân, si. Làm sao để tu trì? Tôi chủ trương dùng pháp lục độ: Bố thí - độ tham. Trì giới - độ ác. Nhẫn nhục - độ sân. Tinh tấn - độ lười. Thiền định - độ loạn. Trí tuệ - độ si. Đây chính là sáu ba la mật, sáu ba la mật này là hành pháp, hoàn toàn liên kết với tam vô lậu học (giới, định, huệ). (Kinh Tăng Nhất A Hàm)

🌟

Bố thí có tài thí, pháp thí, vô úy thí. Trì giới có luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới. Nhẫn nhục có sinh nhẫn, pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn. Tinh tấn có đoạn tinh tấn, tu tinh tấn, cầu hóa tinh tấn. Thiền định có thân định, khẩu định, ý định. Trí tuệ có căn bản trí, phân biệt trí, nhất thiết chủng trí.

Tôi cho rằng: Sau khi chúng ta có những quan niệm này rồi, thì phải thực hiện, đó chính là hành pháp. Bản thân tôi hiểu rằng: Khi con người ở cõi người, chịu ảnh hưởng của vô minh, sẽ sinh ra rất nhiều phiền não. Phiền não là: Vì có cái tôi, nên mới có phiền não. Vì có ái luyến, nên mới có phiền não. Vì có oán ghét, nên mới có phiền não. Vì có sợ hãi, nên mới có phiền não. Vì có vô minh, nên mới có phiền não. Muốn tiêu trừ phiền não, cần phải có kiến giải đúng đắn mới có thể tiêu trừ được. (chính kiến)

Ái luyến là thọ lạc, tham. Oán ghét là thọ khổ, sân. Vô minh, sợ hãi là si. Tất cả những điều này đều đến từ có cái ta. Vì vậy Đức Phật dạy: Không có tướng ngã. Không có tướng nhân. Không có tướng chúng sinh. Không có tướng thọ giả.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) chủ trương vô niệm. Vô niệm thì vô ngã. Vô ngã thì là không. Không chính là thanh tịnh. Thanh tịnh thì là Phạm.

Tôi nói: Vô niệm là chính giác Phật bảo, là Phật tính, là pháp nhĩ bản nhiên. Đây là: Bát nhã vô thượng. Sức mạnh tối thượng. Hỷ lạc vô tận. Cảnh giới khinh an. Thượng niệm vô thượng. Nhất như tuyệt đối. Đại viên mãn giác.

Có người hỏi tôi: Đây là gì? Tôi đáp: Chính là giác ngộ của thất bồ đề.

15. Hành pháp tiêu trừ phiền não

Trong Mật giáo, chúng ta cần tu tập Tứ gia hành hoặc nhiều pháp gia hành hơn nữa. Những pháp gia hành này có thể làm phai bớt phiền não hoặc giảm thiểu phiền não, đây là pháp tu căn bản, cũng là nền tảng vững chắc cho sự tu hành. 1. Pháp đại lễ bái. 2. Pháp tứ quy y. 3. Pháp đại cúng dường. 4. Pháp đại sám hối (pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát). Hoặc: Tứ vô lượng tâm. Những pháp này đã được trình bày chi tiết trong sách của tôi, không cần phải lặp lại nữa.

Tuy nhiên, tôi khuyên mọi người phải trân trọng pháp gia hành, nếu không như vậy, nền tảng sẽ không vững chắc, rất khó thành tựu.

Công đức lợi ích như sau:

Pháp đại lễ bái - khi toàn thân phủ phục hành đại lễ bái, sẽ hàng phục được ngã mạn kiêu căng của bản thân. Vì khi thực hiện động tác toàn thân phủ phục, không còn vọng tưởng tán loạn, chuyên nhất vào động tác, có thể tránh được phiền não, làm phai nhạt phiền não.(Quán tưởng tứ Thánh ở phía trước hư không, hướng lên đảnh lễ.) (100.000 lần.)

Pháp tứ quy y - tụng miệng "Nam mô gu-ru pây. Nam mô pút-ta yê. Nam mô đa-mô yê. Nam mô sâng-kya yê." Quy y Thượng sư, Phật, pháp, tăng bảo. Đây là nghĩa nương tựa. Đây là sự thanh tịnh của miệng. Đây là sự thanh tịnh của thân. Đây là sự thanh tịnh của ý. Tăng trưởng tín lực, tăng trưởng thiện lực, làm phai nhạt phiền não. (100.000 lần.)

Pháp đại cúng dường - hành giả đem những vật mình yêu thích cúng dường lên Thượng sư, Tam Bảo (mười pháp giới). Đây là một loại bố thí, một trong lục độ ba la mật. Có ý nghĩa dứt tham. Thậm chí đem cả thân mạng gia đình cúng dường trọn vẹn, có thể tiêu trừ tham, sân, si. Tài thí, pháp thí, vô úy thí. Công đức rất lớn, không chỉ cúng dường tứ Thánh, mà còn cúng dường lục đạo, cúng dường tất cả pháp giới, đây là một loại xả, bình đẳng xả. Pháp cúng dường trong Mật giáo rất nhiều, nghi quỹ rất nhiều, thực ra công đức cúng dường là vô tận. (100.000 lần.)

Pháp đại sám hối - Thần chú trăm chữ Kim Cang Tâm là phương pháp tốt nhất để tiêu trừ vô minh nghiệp chướng. Bách tự minh chú là không. Phiền não không. Chấp trước không. Nghiệp chướng không. Tập khí không. Tự ngã không. Nghiệp chướng phiền não có phân chia thô và vi tế, nghiệp chướng phiền não thô dễ tiêu trừ, nghiệp chướng phiền não vi tế khó tiêu trừ. Theo tôi, nghiệp chướng phiền não thô dùng Bách tự minh chú để tiêu diệt. Nghiệp chướng vi tế cần dùng sức mạnh thiền định mới có thể thanh tịnh hoàn toàn. (Pháp Kim Cang Tâm Bồ Tát có pháp môn nhập thiền định sơ cấp, có thể tiêu trừ hoàn toàn cả thô lẫn vi tế.) (100.000 lần.)

Mọi người hãy suy nghĩ kĩ, bốn pháp hành này, mỗi pháp đều là giới, định, huệ, có thể phá trừ tham, sân, si. Cũng phá trừ nghi, mạn. Vô minh, chấp ngã, ái luyến, oán ghét, sợ hãi, đều có thể tiêu hóa, suy yếu và phá trừ.

16. Tứ gia hành cũng có thể nhập Tam ma địa phải không?

Có người hỏi: "Tứ gia hành cũng có thể nhập Tam ma địa phải không?" Tôi đáp: Tam ma địa chính là chỉ tức. [dừng hơi thở] Tam ma địa chính là du già. Tam ma địa chính là chỉ niệm. Tam ma địa là dừng tâm niệm lại. Khi dừng tâm niệm này, vô minh, chấp ngã, ái luyến, oán ghét, sợ hãi, sẽ được tiêu tan đoạn trừ. Tôi nói: Việc gì cũng có thể nhập Tam ma địa.

Tôi xin nêu một ví dụ: Thời Phật Thích Ca Mâu Ni, có một người thợ cắt tóc là đệ tử, khi anh ta đang cắt tóc cho Phật Đà. Tâm chỉ chú ý vào một chỗ. Cứ thế cắt tóc, trong một khoảnh khắc, anh ta đã nhập vào Tam ma địa. Người thợ cắt tóc đã dừng lại tâm niệm. Từ đó có thể thấy, Tứ gia hành pháp có thể nhập vào Tam ma địa.

Chúng ta cũng có thể nói như vầy: "Làm bất cứ việc gì, đều có thể nhập Tam ma địa!" Làm đại lễ bái, đại cúng dường, tụng chú tứ quy y, đại sám hối pháp, đều phải nhiếp tâm vào một chỗ. Mơ hồ mơ hồ, liền nhập vào Tam ma địa.

Ví dụ: Mỗi ngày, tôi tập trung tâm vào một chỗ để viết, và đây là cảm nhận của tôi: Ý nghĩ chỉ tập trung vào chữ viết, không được sai một chữ nào, với sự chuyên nhất như vậy, tâm sẽ định vào một điểm, và trong một khoảnh khắc, không còn ý nghĩ nào khác. Đây chính là Tam ma địa. Thiền tông Trung Hoa gọi đó là vô tâm, vô tâm chính là điều kiện của thiền định. Vô tâm cũng chính là dừng lại tất cả ý nghĩ. Tại sao lại gọi là chỉ tức? Bởi vì: Hơi thở động thì tâm động. Hơi thở động thì khí động. Khí động thì tâm động. Vì vậy Tam ma địa chú trọng phép điều hòa hơi thở, hơi thở đều đặn, hơi thở vi tế, là cửa ngõ vào Tam ma địa.

Tôi biết rằng: Tam ma địa đại khái có thể phân chia thành: Tam ma địa hữu ngã - vẫn còn tồn tại một cái tôi, vẫn còn có cảm giác. Có tìm cầu. Có tư duy. Có trí tuệ. Có kiến giải. Đây được gọi là Tam ma địa còn chủng tử, hành giả thông thường tự cảm thấy có một cái tôi, có thấy nghe hay biết, ví dụ như: thấy Bổn tôn, thấy ánh sáng, thấy cảnh bên ngoài, thấy cảnh bên trong, v.v... Những điều này vẫn thuộc về Tam ma địa còn chứa chủng tử.

Một khi bước vào Tam ma địa vô ngã: Không hình không tướng. Không không gian. Không thời gian. Không niệm. Không tạo tác. Không. Đây chính là Phật tính minh quang. (tự nhiên hiển hiện) Đây là đại minh chú, đại thần chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Vi tế của vi tế nhất. (pháp nhĩ bản nhiên)

17. Phật tính của Tam ma địa vô ngã

Có người hỏi: "Xin Sư Tôn Lư giải thích về Phật tính?" Tôi nói: Thời đại Phật Đà. Phật nói: "Hư không có thể nghĩ lường được chăng?" Đáp: "Bạch Thế Tôn, không ạ, hư không không thể nghĩ lường được." Nghĩa là: Hư không không thể nghĩ, không thể bàn, không thể nói, không thể suy lường.

Trong Kinh Duy Ma Cật, tôi xem xét Kim Túc Như Lai giải thích như thế nào:

Phật tính, không phải sắc, không phải thọ, không phải tưởng, không phải hành, không phải thức, tức là không phải ngũ uẩn. Phật tính, không phải mười hai xứ, không phải mười tám cõi giới. Phật tính, không phải Dục giới thiên, không phải Sắc giới thiên, không phải Vô sắc giới thiên. Phật tính, không phải Phật tướng, cũng không phải pháp tướng, cũng không phải chúng sinh tướng, cũng không phải thọ giả tướng. Phật tính, không phải thế gian, cũng không phải xuất thế gian, không phải phiền não, không phải giải thoát. Phật tính, không phải tu đạo, cũng không phải cầu đạo, không phải hý luận, không phải ly khổ, không phải đoạn lạc, không khổ không lạc. Phật tính, vô sinh vô diệt, không phải sinh diệt tử tuyệt, hoàn toàn không phải. Phật tính, không cấu uế, cũng không bị ô nhiễm. Phật tính, không đến không đi. không phải nơi tâm hành, không phải có chỗ nương tựa, cũng không giữ, cũng không bỏ, không thể nương tựa, không thể dừng trụ. Phật tính, không hình không tướng, chẳng phải hình chẳng phải tướng, thấy nghe hay biết đều không phải. Phật tính, không chấp trước. Phật tính, không mong cầu. Phật tính, không tạo tác. ………………………

Tôi đã viết nhiều như vậy, mà vẫn không có cái nào đúng cả. Thực ra Phật tính như hư không, hư không chẳng là gì cả. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú, mây, mưa, sương mù, sấm sét, tuyết, đều không phải. Hư không không thể nghĩ bàn, không thể luận bàn. Phật tính không thể nghĩ bàn, không thể luận bàn. Đây chính là điều Lão Tử của Trung Quốc đã nói: Mơ hồ, phảng phất, trong đó có vật. Cũng chính là điều Đức Phật đã nói: Không thể nói. (Nói có, lại không có. Nói không có, lại có.)

Có người ví von, Phật tính như một tấm gương, có thể phản chiếu vạn sự vạn vật, đến gì hiện cái đó. Nhưng, nếu không có gì cả thì gương cũng trống rỗng không một vật. Có người ví von, Phật tính chính là niết bàn, Phật tính chính là tịch diệt. Dường như đúng, lại dường như không đúng. Có người nói: Không trí cũng không đắc, dường như đúng lại dường như không đúng. Cuối cùng chỉ có thể nói: "Pháp nhĩ bản nhiên." Phật Đà dạy: "Tất cả chúng sinh, đều có Phật tính." Mãi mãi tồn tại!

18. Tất cả đều khổ

Ở đây tôi muốn nhắc lại: tất cả đều là khổ. Tại sao tất cả đều là khổ? Bởi vì bậc trí giả như Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài đặt "khổ" ở vị trí đầu tiên. Như: khổ, tập, diệt, đạo (bốn diệu đế) Khi Phật thuyết pháp, thường nhắc nhở chúng sinh: "Tất cả đều là khổ, không có gì không khổ." Ngài còn dạy: "Con người sống trong cõi Ta Bà này, hai chữ: trả nghiệp. Đó là một loại nhân duyên quả báo."

Tôi nói: Con người sở dĩ là con người, là vì luân hồi. Nguyên nhân của luân hồi là hạt giống vô minh, là hạt giống ái luyến, là hạt giống oán hận, là hạt giống sợ hãi, là những hạt giống do chính ta gieo. Luân hồi chính là khổ. Lại nói: Ái luyến chẳng phải là sung sướng sao? Bậc trí giả nói: Ăn là một sự hưởng thụ, nhưng chỉ là tạm thời. Ăn xong lại đói, lại ăn, lại đói. Tóm lại, không bao giờ thỏa mãn, và sự không thỏa mãn đó chính là khổ.

Nam nữ hoan lạc, chẳng phải là sự hưởng lạc sao? Mọi người hãy nghĩ xem, nam nữ hoan lạc, tình dục là một cái hố không đáy, có rồi lại muốn có nữa, dục vọng càng ngày càng lớn, thỏa mãn thì là sung sướng, nhưng, phần không thỏa mãn nhiều hơn, há chẳng phải càng ngày càng khổ.

Khổng Tử nói: "Ăn uống và tình dục là bản tính con người!" Thỏa mãn được dục vọng là sướng. Không thể thỏa mãn là khổ. Nhưng, nghĩ kĩ xem - hưởng lạc sẽ biến thành chịu khổ, liên tục theo đuổi hưởng lạc, sự theo đuổi này là một nỗi đau khổ, được rồi lại mất, mất rồi lại được, không thể thỏa mãn chính là khổ.

Hãy suy nghĩ kĩ: Chủ nghĩa hưởng lạc cuối cùng sẽ dẫn đến đau khổ. Niềm vui nhất thời sẽ biến thành nỗi buồn vĩnh cửu. Hưởng lạc chỉ là tạm thời, khổ mới là vĩnh hằng.

Vì thế Đức Phật dạy: "Tất cả đều là khổ."

Nói một cách đơn giản, hưởng lạc ăn uống, sắc dục, buông thả vô độ, là điều không bao giờ có thể thỏa mãn, chỉ càng khiến sự theo đuổi thêm mãnh liệt, từ đó sinh ra khổ.

Phật dạy bốn Thánh đế: Một chữ "Diệt". Diệt chính là cần đoạn. Phương pháp để đoạn trừ chính là Đạo.

Tu hành của chúng ta chính là thanh tịnh, triệt để quét sạch vô minh, chấp ngã, ái luyến, oán hận, sợ hãi. Như vậy mới là giải thoát. Tôi (Lư Sư Tôn) về phương diện này, quan điểm cá nhân của tôi là: chuyển hóa. Dục vọng về tài - dùng pháp Tài Thần. Dục vọng về sắc - dùng pháp song thân. Dục vọng về danh - dùng pháp kính ái. Dục vọng về thực - dùng pháp cúng dường. (pháp siêu độ) Dục vọng về ngủ nghỉ - dùng pháp miên quang. (Tùy thuận dục vọng, biến dục vọng thành phương pháp tu hành, dần dần chuyển hóa.)

Ví dụ: Về phương diện sắc dục, chuyển hóa "lạc" ngắn ngủi thành "đại lạc quang minh của trung mạch". Nhưng, nói thì dễ mà làm thì khó, có người dành cả đời cũng không làm được. Bản thân tôi mất năm năm mới làm được, đó đã là quá may mắn rồi. Đây chính là lấy ngọc từ miệng rắn độc, dùng độc trị độc.

19. Vì sao tôi có phân thân (Pháp thân)

Tôi hỏi Duy Ma Cật Đại Sĩ: "Làm thế nào để có phân thân (Pháp thân)?" Duy Ma Cật đáp: "Hòa nhập vào hư không." Tôi hỏi: "Đó là năng lực gì?" Duy Ma Cật đáp: "Năng lực của Tam ma địa."

Phân thân (Pháp thân) của tôi tràn đầy khắp hư không, tương tác với các Không hành mẫu và Không hành dũng phụ ở nhân gian.

Một vị Không hành mẫu của tôi là Phàm Phàm gửi cho tôi một bức thư như sau:

Lư Sư Tôn kính yêu!

Trong pháp hội hôm qua, con thấy Sư Tôn và Liên Hoa Sinh Đại Sĩ không có gì khác biệt. Hợp nhất với Phật Mẫu Diệu Âm. Con thấy được Liên Hoa Sinh Đại Sĩ và Phật Mẫu Diệu Âm hóa hiện ra ánh hào quang cầu vồng, cùng với vẻ đẹp vô song của Phật Mẫu Diệu Âm. Phật Mẫu dạy: "Hãy nhớ con là ai, con đến từ đâu, hãy nhớ truyền thừa của con, và tấm lòng phụng sự Lư Sư Tôn đời đời kiếp kiếp." Tuy vốn đã biết nhân duyên này, nhưng con vẫn như được rưới cam lộ lên đỉnh đầu, như được đánh thức một lần nữa. Con cảm thấy Phật Mẫu và con là một, không phải hai.

Lư Sư Tôn, con sẽ ngoan ngoãn, biết vâng lời, để Thầy thương yêu con. Con sẽ cố gắng trưởng thành, vượt qua phiền não tập khí, để vừa có thể hầu cận Thầy, vừa tu trì, củng cố khí mạch điểm, còn phải học hành và làm việc nữa.

Con muốn có năng lực chăm sóc Sư Tôn, hộ trì Sư Tôn hoằng pháp lợi sinh, bản thân cũng chứng đắc đại thành tựu. Thầy nói: Thầy để lại một phân thân cho con, và con cũng tu được phân thân, dâng phân thân cho Thầy. Con biết rằng, chỉ cần con không phiền não, không sợ hãi, sẽ vĩnh viễn không xa cách. Con nguyện cùng tất cả chư Phật Mẫu, Bổn tôn yêu kính Thầy ở bên nhau. Con trở thành tâm của Thầy, con vốn đã đầy đủ. Kính yêu Thầy nhất! Phàm Phàm đảnh lễ.

Lời thề của Không hành mẫu Phàm Phàm:

Om Ah Hum Đảnh lễ Sư Tôn, bậc Đạo sư của con. Như mặt trời phương Đông chiếu khắp, như trăng tròn phương Tây không tỳ vết, Như lửa hừng phương Nam bùng cháy, như sương giá phương Bắc bất động, Cầu xin bậc truyền thừa bí mật, Bổn tôn Không hành gia trì con.

Giới luật là y phục bên ngoài, viên mãn chân như là thể tính, Vô niệm là ý chân thật của con, vô tâm là lời chân thật của con, Vô tướng là kim cang thân của con, như huyễn như hóa là bồ đề, Cầu xin bậc truyền thừa bí mật, Bổn tôn Không hành đồng gia trì.

Mọi lời nói là kim cang ca, mọi cử chỉ là kim cang vũ, Pháp giáo viên mãn như trò chơi, Bổn tôn trang nghiêm là tràng hoa, Trong lưới huyễn hóa nổi gió nghiệp, bầu trời mây trắng là tâm con, Cầu xin bậc truyền thừa bí mật, Bổn tôn Không hành đồng gia trì. Samaya.

(Bức thư này là minh chứng về sự phân thân (Pháp thân) phân bố khắp nơi của tôi, Lư Sư Tôn.)

20. Tôi là tâm của A Di Đà Phật

Tôi (Lư Sư Tôn) có truyền thừa từ hư không là: Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Nhãn Phật Mẫu - A Di Đà Phật - Liên Hoa Đồng Tử - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn. Vốn dĩ tôi chính là hóa thân đồng tử (Liên Hoa Đồng Tử) do A Di Đà Phật hóa hiện.

Vào thời nhà Đường có mười bài ca dao được trẻ em truyền tụng. Trong đó có bài:

Liên Hoa Đồng Tử gặp Kim Tiên. Khắp cả hư không hoa rơi xuống. Vượt mây nghe tiếng trời vi diệu. Lời nào tả xiết lạc cõi thiên.

Tôi (Liên Hoa Đồng Tử - Lư Thắng Ngạn), vốn dĩ là hóa thân của A Di Đà Phật. Nguồn gốc của tôi là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là bản địa của tôi. Tôi là tâm của A Di Đà Phật.

🌟

Tôi tu pháp Thượng sư, Thượng sư của tôi là A Di Đà Phật, tôi tu pháp Bổn tôn, Bổn tôn của tôi là A Di Đà Phật. Tôi kết ấn A Di Đà Phật. (Di Đà định ấn) Tôi quán tưởng A Di Đà Phật. A Di Đà Phật sắc vàng kim, tướng đẹp quang minh không ai sánh. Bạch hào uyển chuyển năm Tu Di, mắt biếc trong như bốn biển lớn. Trong hào quang hóa vô số Phật, hóa hiện vô biên các Bồ Tát Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh, chín phẩm đều được lên bờ giác.

Tôi trì chú tâm của Phật A Di Đà: "Nam mô 36 vạn tỷ 11 vạn 9 nghìn 5 trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Ôm a-mi-đê-wa sê." Cuối cùng: Tôi nhập Tam ma địa của Phật A Di Đà.

Tôi tụng bài hồi hướng: "Thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất, chín phẩm độ chúng sinh, uy đức không cùng tận. Con nay xin quy y, sám hối ba nghiệp tội, tất cả các phước lành, chí tâm xin hồi hướng. Nguyện cùng người niệm Phật, cảm ứng hiện tức thì, lâm chung cảnh Tây phương, hiện rõ ngay trước mắt. Thấy nghe đều tinh tấn, cùng sinh cõi Cực Lạc, thấy Phật thoát sinh tử, như Phật độ tất cả."

🌟

Đây là tôi tu pháp Bổn tôn. Tôi tu một pháp tương ứng. Bổn tôn khai sáng Diêu Trì Kim Mẫu cũng tương ứng. Bổn tôn nguyện lực Địa Tạng Bồ Tát cũng tương ứng. Còn có chư tôn: Từng vị đều tương ứng.

Tôi là Liên Hoa Đồng Tử này, vốn do chính Diêu Trì Kim Mẫu đích thân nói cho tôi biết. Sau này được chứng thực qua các bức bích họa ở hang Đôn Hoàng. Đại học Lan Châu thậm chí còn xuất bản cuốn "Nghiên cứu về Liên Hoa Đồng Tử". Cuối cùng chứng thực: Bảo Thượng Đồng Tử. Bảo Ý Đồng Tử. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Tất cả đều là hóa thân của Liên Hoa Đồng Tử, Liên Hoa Đồng Tử là một vị Đại Bồ Tát.

Tôi thông qua tu tập Mật giáo với pháp Tứ gia hành, pháp Bổn tôn...... Từ đó trong tâm khôi phục lại những điều đã biết từ tiền kiếp.

Tôi ở trong chuyên nhất mà biết được. Tôi ở trong xa lìa hý luận mà biết được. Tôi ở trong tương ứng mà biết được. Tôi ở trong nhất vị mà biết được. Tôi nương tựa vào Tam ma địa của Bổn tôn, trở thành Bổn tôn, không hai không khác. Biết quá khứ, hiện tại, vị lai. Tôi là tâm của A Di Đà Phật.

21. Bí mật về tu pháp Bổn tôn

Chúng ta biết nghi quỹ của pháp Bổn tôn, vậy bí mật của nó là gì? Chế tâm một chỗ kết thủ ấn - thân thanh tịnh. Chế tâm một chỗ quán tưởng - ý thanh tịnh. Chế tâm một chỗ trì chú - khẩu thanh tịnh. Chế tâm một chỗ nhập Tam ma địa - ta với Bổn tôn hợp nhất. Còn nữa: Không thể thiếu thiện căn. (Mọi ác không làm, hãy làm mọi thiện.)

Còn nữa: Nhất tâm bất loạn chính là chế tâm một chỗ. Niệm Phật. Riêng cá nhân tôi cảm thấy ngoài những bí mật này ra, còn có đại bí mật quan trọng hơn: Cần có trí tuệ quang minh. 1. Chúng ta hiểu rõ đời là khổ, muốn lìa khổ được vui, nên nhất định phải vãng sinh Tịnh thổ. 2. Chúng ta cần đoạn trừ nhân của khổ. 3. Chúng ta cần Tam ma địa của pháp Bổn tôn, chỉ có Tam ma địa mới có thể đoạn trừ khổ. 4. Pháp Bổn tôn chính là phương pháp đoạn trừ khổ. 5. Bí mật của Tam ma địa chính là vô tâm, tức là dừng niệm, chỉ có dừng niệm mới có thể thanh tịnh. 6. Tâm của tiểu ngã cá nhân cần hòa nhập vào tâm của A Di Đà Phật, trở thành tâm tâm tương ấn. 7. Từ đây an trụ trong trí tuệ quang minh. 8. Có được trí tuệ quang minh thì sẽ không thối chuyển nữa, đã đến cảnh giới bất động địa, đây chính là không đánh mất đạo tâm, là cảnh giới rất cao. 9. Có thể làm lợi tha. 10. A Di Đà Phật có 48 nguyện.

Hành giả cũng cần phát 48 nguyện: 01. Nguyện không có ba đường ác 02. Nguyện không còn đọa đường ác 03. Nguyện thân sắc vàng 04. Nguyện không phân biệt đẹp xấu 05. Nguyện có túc mệnh thông 06. Nguyện có thiên nhãn thông 07. Nguyện có thiên nhĩ thông 08. Nguyện có tha tâm thông 09. Nguyện có thần túc thông 10. Nguyện có lậu tận thông 11. Nguyện trụ trong chính định 12. Nguyện ánh sáng vô lượng 13. Nguyện thọ mạng vô lượng 14. Nguyện Thanh văn vô số 15. Nguyện quyến thuộc trường thọ 16. Nguyện không có điều bất thiện 17. Nguyện chư Phật khen ngợi 18. Nguyện niệm Phật vãng sinh 19. Nguyện được tiếp dẫn 20. Nguyện nhất tâm vãng sinh

Còn nữa: 21. Nguyện có ba mươi hai tướng tốt 22. Nguyện nhất định đến địa vị Bổ Xứ 23. Nguyện cúng dường chư Phật 24. Nguyện cúng dường như ý 25. Nguyện thuyết nhất thiết trí 26. Nguyện có thân Na La Diên 27. Nguyện mọi điều cần đều thanh tịnh 28. Nguyện thấy cây đạo tràng 29. Nguyện được trí tuệ biện tài 30. Nguyện trí biện vô cùng.

Còn nữa: 31. Nguyện cõi nước thanh tịnh 32. Nguyện cõi nước trang nghiêm 33. Nguyện ánh sáng xúc chạm đều mềm mại 34. Nguyện nghe danh được nhẫn 35. Nguyện nữ nhân vãng sinh 36. Nguyện thường tu phạm hạnh 37. Nguyện trời người cung kính 38. Nguyện y phục tùy niệm 39. Nguyện thọ lạc không nhiễm 40. Nguyện thấy các cõi Phật

Còn nữa: 41. Nguyện các căn đầy đủ 42. Nguyện trụ định cúng Phật 43. Nguyện sinh vào nhà tôn quý 44. Nguyện đức hạnh đầy đủ 45. Nguyện trụ định thấy Phật 46. Nguyện tùy ý nghe pháp 47. Nguyện được bất thoái chuyển 48. Nguyện được tam pháp nhẫn.

(Trên đây là 48 nguyện.)

Ngoài ra: Xin chú trọng đến phương pháp tư thế cơ thể. Xin chú trọng đến phương pháp hít thở. Làm thế nào để thu về các giác quan? Làm thế nào để chuyên chú nhất tâm? Làm thế nào để thiền định? Làm thế nào để chính định? Những điều này cần phải thỉnh giáo các vị Kim cương Thượng sư chân chính.

22. Vì sao phải giữ năm giới?

Tôi (Sư Tôn Lư) ở đây, đề cập đến việc giữ năm giới, vì sao phải giữ năm giới? Lý do rất đơn giản: Vì không giữ năm giới thì không thể chế tâm một chỗ. Hành vi của bạn tán loạn, không thanh tịnh, tham tiền, tham sắc, tham danh, đủ loại sân hận, đủ loại si mê, tâm niệm không chính, làm sao có thể nhập Tam ma địa?

Năm giới là: Không sát sinh — không dùng bạo lực, không hại sinh linh. Không trộm cắp — không lấy của phi nghĩa. Không tà dâm — không buông thả giác quan, phạm dâm. Không vọng ngữ — không tâm niệm bất chính, nói không thật, lừa dối chúng sinh. Không uống rượu — không gây rối loạn tâm tính.

Tôi nói: Nếu muốn chế tâm một chỗ, nhập Tam ma địa, không thể phạm năm giới này. Bởi vì hành vi không chính, tâm niệm không chính, làm sao tâm thanh tịnh được, tâm không thanh tịnh thì không thể chế tâm một chỗ.

Cá nhân tôi không tán thành chiến tranh. Nhưng khi quốc gia động viên, vẫn phải tuân theo. (Chiến tranh là sát sinh tập thể.) Giết một người, giết sinh linh, đều là bạo lực. Có hành vi bạo lực, tâm không thể tĩnh lặng, loại tâm này sẽ gây nhiễu loạn, không thể dừng nghỉ. Làm sao có thể tĩnh tọa? Làm sao có thể thiền định? Làm sao dừng niệm? Làm sao nhập Tam ma địa?

Nói thêm về không trộm cắp, nếu bạn thèm muốn tài vật của người khác, tâm sẽ không yên ổn. Trộm cắp tài vật chính là tâm tham. Tham lam tài vật của người đã là tâm niệm bất chính, nếu thực hiện thì tạo thành nghiệp. Dù thế nào đi nữa, với tâm thái này mà muốn chế tâm một chỗ thì chỉ là vọng tưởng. Đã mất chính niệm rồi!

Nói đến tà dâm. Đó là hành vi không kiểm soát được ý niệm dục vọng, đã đánh mất thanh tịnh hạnh (phạm hạnh). Đầu óc toàn là dâm trùng. Bản thân là dâm trùng của dục vọng. Thân là dâm trùng. Niệm là dâm trùng. Tà dâm tràn ngập trong tâm trí của bạn, khiến bạn không thể đạt được sự thanh tịnh của phạm hạnh. Bạn đã không thể kiểm soát được các giác quan của mình từ lâu, một người như vậy làm sao có thể kiểm soát được tâm niệm? Người phạm giới này rất nhiều. Do đó, không thể chế tâm một chỗ, nhập Tam ma địa. Dục vọng là hố sâu không đáy, không thể tự thoát ra được.

Nói về vọng ngữ. Thực ra lời nói và tâm niệm không hợp nhau chính là vọng ngữ. (tâm khẩu bất nhất)

Và: Những lời nói không chân thật. Lừa dối người khác. Phỉ báng người khác. Dùng lời nói để làm tổn thương người khác. Nói lời thô tục. Làm rối loạn phải trái. Nói chuyện vô bổ, bàn tán thị phi.

Và: Thế nào là lời nói chân thật? Câu trả lời là: những lời có lợi ích cho tất cả chúng sinh trong thiên hạ, là lời nói chân thật. Vì thế Phật Đà dạy: "Ta là người nói lời chân thật, không nói lời sai khác."

Về nguyên tắc, vọng ngữ bao gồm cả văn tự, văn tự cũng là một phương thức truyền đạt, hình vẽ cũng là một phương thức.

Ngoài ra, giới rượu là nguồn gốc của bốn giới trên, vì rượu có thể làm rối loạn tâm tính. Một khi say rượu, có thể làm ra đủ mọi chuyện.

Muốn tu tập chế tâm một chỗ, có ba phương pháp: Một, lên núi. Hai, nhập thất. Ba, khổ hạnh.

23. Bậc yogi tu khí

Tại đây, tôi xin kể một câu chuyện: Một ngày nọ. Khi tôi đang thuyết pháp trên pháp tọa, có người đặt câu hỏi: "Khí có thực sự chữa được bệnh không?" Vì vậy tôi biểu diễn một phương pháp chữa bệnh. (Đây là một trong những cách gia trì cho bệnh nhân.)

Trước tiên tôi kết ấn. Tôi tụng thần chú Lục Đinh Lục Giáp: "Thượng Thanh Thượng Đế Đông Hoa Đại Đế Quân, Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, lệnh cho Liên Sinh nhận Lục Giáp thiên thư, và sai khiến thần Lục Đinh Lục Giáp, Thiên Du Thập Nhị Khê Nữ, Na Diên Thiên Nữ ngũ nhân, thống lĩnh thần binh tam viên đại tướng, Hỏa Quang đại tướng, Phù Hải đại tướng, Hống Phong đại tướng, mỗi vị dẫn trăm vạn thần binh, phù hộ cho Liên Sinh, thần thông, biến hóa, pháp lực, với đạo hợp chân. Như luật lệnh. Seh!" Sau đó, vận khí phóng thẳng vào bệnh nhân. (phát công)

Sau đó, tôi vẽ ấn tứ tung ngũ hoành. Thủ ấn vẽ bốn đường dọc. Thủ ấn vẽ năm đường ngang. Tụng Cửu tự chân ngôn: "Lâm binh đấu giả giai trận liệt tại tiền". Mỗi nét một chữ. Tổng cộng chín chữ. Mạnh mẽ vẽ ra. (Đây là một trong những phương pháp chữa bệnh bằng khí, cũng có thể đuổi tà ma nhập thân, thậm chí giải trừ bùa ngải, và có thể dùng làm kết giới v.v.)

Tôi đang ở trên pháp tọa, thị hiện sức mạnh của khí. Công pháp của tôi có phát trực tiếp.

🌟

Tôi có một đệ tử, ở đất nước của anh ấy, sau khi xem đoạn phát trực tiếp này, đã ghi lại quá trình phát công này. Anh ấy chợt nảy ra một ý tưởng. Đem đoạn phát công này chiếu lên tivi, rồi ngồi trước tivi. Người đệ tử này bị đau viêm đầu gối nhiều năm, đã tìm khắp các bác sĩ để chữa trị nhưng vẫn không khỏi. Uống thuốc. Châm cứu. Tiêm thuốc. Đều không hiệu quả. Bác sĩ khuyên anh ấy phẫu thuật.

Anh ấy ngồi trước tivi, chắp tay, với tâm thành kính, cầu nguyện tôi giúp chữa bệnh. Tôi phát công ở Seattle Lôi Tạng Tự , còn anh ấy ở một quốc gia Đông Nam Á. Tôi chỉ đang biểu diễn khí. Anh ấy có tâm thành. Kết quả kỳ diệu xuất hiện, đầu gối anh ấy hết viêm, sưng đỏ biến mất, không còn đau nữa, có thể đi lại được, tất cả đều khỏi hẳn! Sau khi khỏi bệnh, anh ấy đợi đủ hai tháng, chắc chắn là hoàn toàn bình phục rồi mới báo cho tôi biết.

Trời ơi! Tôi chỉ biểu diễn phát công khí ở Seattle, Mỹ. Anh ấy ở Đông Nam Á, chỉ xem một đoạn phát trực tiếp về phát công. Vậy mà cũng chữa được bệnh! Thật là thần kỳ!

Tôi (Lư Sư Tôn) thành thật nói với mọi người: "Chỉ cần thành kính, thật sự sẽ sinh ra sức mạnh." Tu khí. Tu mạch. Tu minh điểm, chuyết hỏa. Là tu hành Nội pháp sau khi tu pháp Bổn tôn.

24. Tâm mềm mại

Trong bài văn này, tôi lại muốn kể một câu chuyện kỳ diệu: Có người hỏi tôi: "Tại sao Hòa thượng Hư Vân có thể độ cho cả những con hổ dữ quy y Tam Bảo?" Tôi trả lời: "Hòa thượng Hư Vân đã tu được tâm mềm mại!" Người ấy hỏi: "Làm sao có thể như vậy được?" Tôi trả lời: "Đó là cảnh giới tự tại, chỉ những người tu hành như vậy mới có thể đạt được."

Tôi xin giải thích như sau: Một hành giả phải giữ giới luật, điều đầu tiên là không sát sinh. Không được dùng bạo lực để làm tổn hại bất kì sinh linh nào. Hành giả phải từ bi với vạn vật, đồng thể đại bi, vô duyên đại từ. Hành giả không chỉ thực hành không sát sinh. Hành giả còn phóng sinh. Hành giả không có ác ý với bất kì sinh linh nào. Tâm mềm mại. Mắt dịu dàng.

Tôi nói: Không có ác ý là điều quan trọng nhất, dù là với nhện cũng phải yêu thương như vậy, với chuột cũng không làm hại, với muỗi mòng cũng không đập đánh............ Bởi vì hành giả và vạn linh là một thể. Hành giả chỉ có hai chữ từ bi. Nếu giữ mãi như vậy, sẽ tu được một loại siddhi, cũng có thể gọi là thần thông. (hay còn gọi là thành tựu) Nhìn hổ một cái, hổ biến thành mèo con. Nhìn rắn độc một cái, rắn độc trở nên hiền lành. Nhìn bọ cạp độc một cái, bọ cạp biến thành hộ pháp. Nhìn sói một cái, sói biến thành cừu non. Nhìn tê giác một cái, tê giác dừng bước. Nhìn gấu một cái, nó đi ngang qua bên cạnh hành giả. Hành giả không có ác ý với vạn linh, vạn linh cũng không có ác ý với hành giả, đây là sự tương hỗ.

Ví dụ: Trong rừng có nhiều cây cối, và trong rừng cũng có nhiều thú dữ. Cây cối không làm hại thú dữ. Thú dữ không làm hại cây cối. (Ví dụ này không được chính xác lắm, nhưng cũng chỉ có thể như vậy thôi.)

Tóm lại, Hòa thượng Hư Vân, với đôi mắt dịu dàng, chỉ nhìn hổ một cái, hổ liền ngoan ngoãn như mèo con, xin thọ tam quy y. Quy y Phật. Quy y pháp. Quy y tăng.

Những tín đồ khác sợ hãi hổ, chạy tán loạn khắp nơi, những người này tất nhiên là sợ. Bởi vì họ có ác ý với hổ. (Một hành giả tu được tâm mềm mại, tu được đôi mắt dịu dàng, đệ tử có duyên nhìn thấy hành giả, như đứa con nhìn thấy mẹ.) Bậc đại tu hành phải như vậy. Hổ là thị giả. Gấu là thị giả. Sói là thị giả. Rồng rắn là thị giả.

Nhưng nếu chưa tu đến thành tựu, chưa có thần thông, chưa đạt đến đích, xin đừng thử! Những bậc hành giả tối thượng như vậy rất hiếm gặp, cầu xin các ngài ban phúc, ban điều ước nguyện, phần lớn đều được thực hiện. Hòa thượng Hư Vân chính là một hành giả như vậy, bậc đại tu hành, được long thiên hộ trì. Lành thay!

25. Kiến chứng của một đệ tử phương Tây

Chuyến trị liệu Thời Luân Kim Cang của tôi

A Di Đà Phật!

Ngày 31 tháng 12 năm 2023, tôi đã được tận mắt gặp Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và tham dự pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang do Sư Tôn chủ trì, thật là một ngày hạnh phúc. Đối với tôi, để có thể đến được nơi đây (Cầu Vồng Lôi Tạng Tự), tôi đã trải qua rất nhiều chướng ngại. Chúng tôi vô cùng cảm tạ sự hỗ trợ của tất cả các huynh tỷ đồng môn, mới giúp tôi thực hiện được mục tiêu này. Đồng thời, tôi cũng cảm ơn có thể cùng mẹ - người đã mắc chứng trầm cảm và đau đớn dữ dội suốt 11 năm, hầu như chưa từng rời khỏi nhà - cùng đến diện kiến Sư Tôn và nhận được gia trì lớn lao của Ngài, cầu xin được giải thoát khỏi bệnh khổ.

Nhớ lại khoảnh khắc đáng nhớ năm ngoái, vào ngày 16 tháng 10 năm 2022, khi tôi tham dự pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang và nhận được vô lượng gia trì cùng phép màu chữa lành từ Liên Sinh Hoạt Phật. Lúc đó tôi được chẩn đoán mắc một căn bệnh hiếm gọi là "SPS" - Hội chứng cứng người. Nó được gọi là căn bệnh "một phần triệu", nghĩa là cuộc sống của tôi luôn chịu đựng nỗi đau của những cơn co giật có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhiều lần tôi mất khả năng nói vì dây thanh quản bị các cơ co thắt làm tê liệt. Hầu hết thời gian, tôi phải dùng gậy chống, và khi cơ thể quá mệt mỏi, tôi phải ngồi xe lăn.

Trong chuyến đi kéo dài 13 tiếng từ Sacramento, California đến Redmond, Washington, tôi đã trải qua nhiều cơn co giật. Dưới sự đồng hành của một vị sư phụ và nhiều pháp sư, họ đã phải chịu đựng những cơn đau đớn của tôi trên xe, và đã tận tình cõng tôi đi gặp Hoạt Phật và tham dự nghi lễ Hộ Ma.

Trước khi pháp hội bắt đầu, cuối cùng tôi cũng được đích thân gặp Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật. Tôi đã được nghe kể rằng Thánh Tôn chỉ cần nhìn tôi một cái là có thể chữa lành cho tôi, điều này khiến tôi tràn đầy niềm tin và hân hoan đón chờ sự xuất hiện của Sư Tôn. Khi tôi gặp được Sư Tôn, ánh sáng Phật quang chiếu rọi vào nghiệp chướng nặng nề của tôi, thật không ngờ tôi có thể hoàn toàn từ bỏ xe lăn và gậy chống, đứng dậy được, thật là một điều hạnh phúc biết bao. Khi về nhà, tôi đã chia sẻ phép màu và niềm vui này với con gái và mẹ tôi, họ đều kinh ngạc và vui mừng khi thấy tôi có thể đi lại và ngay lập tức đi làm ở văn phòng ngày hôm đó. Là một người mẹ đơn thân, cuộc sống của tôi luôn không dễ dàng, đặc biệt là chi phí y tế để được chữa trị, giờ đây được Liên Sinh Hoạt Phật ban cho sự hỗ trợ to lớn, khiến chúng tôi vô cùng cảm kích.

Tôi đã quy y Hoạt Phật Liên Sinh Thánh Tôn, hiện tại tôi là một đệ tử khao khát học hỏi thêm Phật pháp. Tôi vô cùng cảm tạ ân đức của Sư Tôn đã ban cho tôi sự chữa lành trong pháp hội Hộ Ma Thời Luân Kim Cang. Cảm ơn Ngài, không có lời nào có thể diễn tả hết lòng biết ơn của tôi. Om guru liansheng siddhi hum.

— Tina Mortini

26. Bí mật của tu khí

Chú âm rung động luân xa tim

Bí mật của chân ngôn nằm ở đâu? Thì ra bí mật của chân ngôn nằm ở hơi thở, khi người ta trì tụng chân ngôn lâu ngày, hơi thở sẽ tuần hoàn theo một trình tự nhất định, tần số của chân ngôn và hơi thở này sẽ dần dần tích tụ thành sức mạnh, sức mạnh này ẩn chứa trong một khớp nối nào đó trong cơ thể, sẽ dẫn dắt khí đi theo kinh mạch, khai thông tất cả các kinh mạch. (Đây là một nhận thức tổng thể của Liên Sinh Hoạt Phật sau khi chứng ngộ.) Phương pháp trì tụng chân ngôn có pháp tụng thanh âm, pháp tụng kim cang, pháp tụng chủng tử, pháp tụng thực tướng v.v.

Pháp điều hòa hơi thở: 1. Cửu tiết Phật phong. 2. Pháp đếm hơi thở kim cang, còn gọi là kim cang tụng. - Đếm hơi thở - Theo dõi hơi thở - Dừng hơi thở - Quan sát hơi thở - Thanh tịnh hơi thở - Phương pháp hít thở niệm tụng ba chữ kim cang.

3. Pháp quán tu năm luân xa chuyển động. 4. Bảo bình khí.

Về bí mật tu khí, tôi đã từng giảng dạy, có thể tham khảo một số sách trước đây của tôi.

Hòa thượng Liễu Minh dạy tôi: "Nạp khí, nuốt dịch." Liên Hoa Sinh Đại Sĩ dạy: "Tất cả công đức đều đến từ Bảo bình khí." Thầy Thubten Dhargye dạy tôi: "Tu minh điểm." Đại Bảo Pháp Vương thứ 16 dạy: "Thông trung mạch, khai luân mạch, bảo trì quang minh phong mạch." Thầy Sakya Chứng Không nói: "Khẩu quyết pháp vô lậu."

Tôi (Lư Sư Tôn) đã thuyết giảng về pháp hóa cầu vồng tại Đài Bắc Arena, Đài Loan. Đã một mạch giảng dạy toàn bộ thứ tự tu tập khí, mạch, minh điểm. (1) Trước tiên tu hơi thở. (2) Thông trung mạch. (3) Thăng chuyết hỏa. (Bảo bình khí) (4) Giáng minh điểm. (5) Khai ngũ luân, thất luân. (6) Thất luân phóng quang. (7) Cầu vồng.

Tôi nói: Khí - chính là chiếc xe. Mạch - chính là con đường. Minh điểm chuyết hỏa - chính là hàng hóa. Những pháp tu này hoàn toàn dựa vào tư thế ngồi bảy chi (thiền định), được hơi thở dẫn dắt mà tiến hành. (dùng ý niệm) Tất cả pháp tu và chi tiết có thể tham khảo sáu pháp thành tựu của Tổ sư Naropa. (6 pháp Naropa)

🌟

Phụ chú:

Liên Sinh Hoạt Phật trong tập 17 của mục "Trò hỏi Thầy đáp - Tương tác chính là sức mạnh" ngày 6 tháng 6 năm 2020 đã nhấn mạnh (trích như sau):

Tu trì Mật pháp có thứ tự, nội ngoại kiêm tu cũng tiện lợi

Q1: Đảnh lễ Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật, xin hỏi theo thứ tự tu hành, có phải nên tu cho tương ứng với Bổn tôn trước, rồi sau đó mới tu trì Nội pháp?

A1: Đây được gọi là "tiệm tu", nghĩa là tu tập theo từng bước. Theo thứ tự mà tu hành, sau khi tương ứng với Bổn tôn rồi mới tu Nội pháp, có được gia trì của Bổn tôn thì Nội pháp sẽ dễ thành tựu hơn. Theo lý thuyết mà nói thì đúng là như vậy. Nhưng có một số người là như thế này, trong Mật tông Tây Tạng hiện nay, có người vừa tu Bổn tôn vừa tu Nội pháp, tức là bên ngoài tu tương ứng Bổn tôn, bên trong tu chuyết hỏa thăng khởi; tu Nội pháp chuyết hỏa, có cách tu song song như vậy. Cũng có người trước tiên tu tương ứng Bổn tôn, sau đó mới tu Nội pháp. Một cái gọi là ngoại tu, một cái gọi là nội tu, còn có cái gọi là "mật tu", tương đương với Vô thượng mật. Còn có "mật mật tu", tương đương với hiển phát ánh sáng của đàn thành toàn thân, đó thuộc về mật mật tu.

Phải xem căn khí. Thông thường tốt nhất là nên tương ứng với Bổn tôn trước rồi mới tu Nội pháp, nhưng nếu bạn vừa tu pháp Bổn tôn vừa tu Nội pháp, theo Sư Tôn thì cũng được. Tuy nhiên, nếu bạn chưa tương ứng với Bổn tôn và chưa tương ứng với Nội pháp thì không thể tu Vô thượng mật. Bạn phải tương ứng với Bổn tôn và thành tựu Nội pháp rồi mới có thể tu Vô thượng mật. Sau khi hiển phát ánh sáng, tự nhiên ngũ luân sẽ hoàn toàn khai mở, huyễn hóa thành năm loại đàn thành, năm màu sắc, biến thành cầu vồng, đây chính là Mật mật pháp, là pháp Đại viên mãn cao nhất. Vì vậy, Vô thượng mật và Mật mật pháp không thể tu khi chưa tương ứng với Bổn tôn và chưa thành tựu Nội pháp. Nói với bạn như vậy, chắc bạn đã hiểu rõ. Do đó, tương ứng Bổn tôn và Nội pháp có thể tu song song, nhưng Vô thượng mật thì phải thành tựu cả hai mới được. Mật mật pháp đương nhiên là cao nhất.

27. Sự phụ trợ của thể công pháp kim cang quyền (khí, mạch, minh điểm, chuyết hỏa)

1. Bảy luân xa Điểm trọng yếu là rung động mở năm luân xa. Luân xa mi tâm: vỗ đập Luân xa họng: xoay chuyển Luân xa tim: chống đẩy Luân xa rốn: nằm ngửa gập bụng Luân xa bí mật: nâng hai chân lên đạp xe luân phiên

2. Pháp nuốt khí của Đại thủ ấn

Cách thực hành như sau: Bước 1: Hai chân rộng bằng vai, đứng thẳng, hai lòng bàn tay nhẹ nhàng áp vào ngực, lưỡi chạm vòm họng, đây là tư thế đứng Đại thủ ấn. Bước 2: Bắt đầu hít vào nhẹ nhàng và chậm rãi, đếm khoảng sáu nhịp, đan điền tự nhiên hơi nhô ra. Lúc này hai lòng bàn tay từ trên xuống dưới nhẹ nhàng ấn vào bụng dưới, đây là động tác phụ trợ để chỉ dẫn khí đi xuống đan điền. Bước 3: Khi hai tay ấn đến vùng bụng dưới, phối hợp nước bọt trong miệng với cổ họng, nuốt nước bọt xuống, giống như nuốt thức ăn vậy, ấn khí xuống vị trí.

3. Pháp đại than thi - Phương pháp thả lỏng cơ bắp.

4. Pháp hít khí tồn tưởng của Đại thủ ấn.

Hành giả Mật tông, dù ở nhà, đi ra ngoài, về sớm hay về muộn, đều dùng pháp hít khí tồn tưởng để thu nhiếp tất cả ánh sáng vào thiên tâm, tâm và đan điền. (ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng tinh tú, ánh sáng lửa, ánh sáng nến, ánh sáng điện). Pháp hít khí tồn tưởng của tôi chính là nhìn mặt trời, mặt trăng.

5. Pháp thể công sáu tư thế khai luân xa rốn.

6. Tám đại pháp Diêu Trì Kim Mẫu.

7. Pháp hét lớn lắc thân.

8. Pháp thể công Bảo bình khí.

9. Pháp thể công kéo trung mạch.

10. Kim cang quyền Kim Cang Hợi Mẫu.

11. Thân ấn của pháp vô lậu

Nam quán tưởng chữ Hum màu trắng ở luân xa bí mật, nữ quán tưởng chữ Hum màu đỏ ở luân xa bí mật. Khi thức dậy vào buổi sáng sớm, ngồi thiền tu pháp Bảo bình khí, sau khi tu xong pháp Bảo bình khí, quán tưởng (nam) chữ Hum màu trắng ở luân xa bí mật, (nữ) chữ Hum màu đỏ ở luân xa bí mật, kết thủ ấn nắm chặt tay (ngón cái đặt trong lòng bàn tay, bốn ngón còn lại nắm lại). Đặt ở vị trí luân xa rốn, dùng một hơi nâng chữ Hum lên, hét chữ Hum một tiếng về phía hư không, hai tay kết thủ ấn nắm chặt đưa lên hư không. Toàn thân có thể nhảy bật lên, dùng sức mạnh tối đa.

Khi hét chữ Hum, hãy quán tưởng minh điểm màu trắng, từ trung mạch phóng lên đỉnh đầu vào hư không, sau đó lại kéo nó trở về, tay phải vỗ nách trái ba cái, tay trái vỗ nách phải ba cái, thu hồi chữ Hum này, vỗ sau lưng ba cái, rồi thu hồi chữ Hum về luân xa bí mật. Lần thứ hai, lại tiếp tục, phóng lên trên, phải dùng sức thật mạnh! Hum! vào hư không, chữ Hum từ luân xa bí mật phóng vào hư không, bạn chỉ cần làm tư thế này là được. Sau đó lại thu hồi chữ Hum về luân xa bí mật.

Mỗi ngày sau khi thức dậy vào buổi sáng, hãy tu pháp Bảo bình khí, sau đó vận dụng minh điểm đỏ trắng, từ trung mạch phóng lên đỉnh đầu rồi thu về, phóng ra rồi thu về. Tôi nói cho bạn biết, không chỉ là vật đỏ không đến, vật trắng không đến, mà bạn còn khai đỉnh. Đây vẫn là pháp phowa, đều là những khẩu quyết rất quan trọng. Rất quan trọng, rất quan trọng.

  1. Thủ ấn chuyết hỏa định của Milarepa

Milarepa sinh ra chuyết hỏa chính là sử dụng mười tám ấn này: ngoại thân lục táo ấn, nội mạch lục táo ấn, mật bồ đề tâm lục táo ấn.

Ngoại thân lục táo ấn là sáu hình tam giác, hai chân bắt chéo tạo thành hai hình tam giác (đầu gối gần sát ngực), hai tay ôm lấy hai chân, hai tay tạo thành hai hình tam giác, hai tay và hai chân lại tạo thành hai hình tam giác, tổng cộng sáu hình tam giác, gọi là ngoại thân lục táo ấn.

Luân xa rốn cũng có "lục táo ấn", phía dưới có một hình tam giác lập thể gồm ba hình tam giác, phía trên có một hình tam giác lập thể ngược cũng gồm ba hình tam giác, tổng cộng sáu hình tam giác; ở giữa là Dorje Pamu đứng, đây là lục táo ấn của luân xa rốn.

Mật bồ đề tâm lục táo ấn là dùng ý niệm kết lục táo ấn, gồm sáu hình tam giác.

Phải dùng mười tám ấn mới có thể sinh ra chuyết hỏa. Nhưng lục táo ấn rất khó kết và không thể duy trì lâu, nên phải dùng dây thiền để buộc chân, buộc tay, ép vào luân xa rốn, rồi làm pháp Bảo bình khí vào trung mạch, chuyết hỏa mới có thể sinh khởi.

13. Pháp đúc kiếm của Vô thượng mật bộ.

14. Pháp Sakya lục thế biến, nâng minh điểm, vô lậu của Vô thượng mật bộ.

15. Ba loại thân ấn của pháp Đại viên mãn.

(Bài giảng thứ 27 về "Pháp 9 thứ tự Đại viên mãn" tại Pháp hội Hộ Ma Sư Diện Không Hành Mẫu, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, Hoa Kỳ, ngày 15 tháng 9 năm 2013.)

Pháp Đại viên mãn có ba tư thế:

1. Ấn sư tử tọa

Sư tử tọa - hai chân khép lại, lòng bàn tay đối nhau, hai bàn tay đặt ở giữa hai chân (hai tay đặt bên trong chân), ngồi với tư thế như sư tử, giống như sư tử vậy, đan hai tay vào chân, ấn vào luân xa rốn, đây là sư tử tọa. Bạn hãy nghĩ xem sư tử ngồi như thế nào? Ấn vào luân xa rốn.

Tư thế sư tử, hai lòng bàn chân áp vào nhau (đối nhau) tạo thành một hình tam giác, hai tay chống xuống đất, hoặc chống lên chỗ ngồi, giống như một con sư tử đang ngồi; tư thế ngồi của sư tử chính là hai tay đặt như vậy, hai chân khép lại, đó chính là sư tử tọa.

2. Ấn tượng tọa

Tư thế giống con voi - quỳ xuống, hai tay chống má, ấn vào dưới rốn, toàn thân quỳ xuống, hai đầu gối vừa khít chạm vào luân xa rốn. Tư thế của voi (tượng tọa) - ngồi xổm, tay đặt như thế này (Sư Tôn thị phạm khuỷu tay chống đất đỡ má), đó là tư thế voi.

3. Ấn tiên nhân tọa

Tiên nhân ngồi giống như ăn mày, tiên nhân cũng là ăn mày. Tại sao tiên nhân lại là ăn mày? Bởi vì, khi đã thành tiên rồi thì ngồi thế nào cũng được, có hơi giống như "lục táo ấn" của Milarepa, nhưng chỉ cần hai chân khép lại áp sát vào ngực là được rồi, hai tay ôm lấy hai đầu gối áp sát vào ngực, đây gọi là tiên nhân tọa.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) nói: Cái gọi là pháp tư thế cơ thể, kim cang quyền đều là để phụ trợ thông trung mạch, khai ngũ luân, thất luân. Tất nhiên đối với việc sinh chuyết hỏa, hạ minh điểm, đều có lợi ích. Có người nói đó là yoga, cũng có người nói là kim cang quyền. Tôi nói: Những phương pháp tu hành này, mục đích cuối cùng là nhập Tam ma địa, kiến chứng Phật tính.

Có người hỏi: "Thái cực quyền có được xem là kim cang quyền không?" Tôi đáp: "Dĩ nhiên là có. Bởi vì thái cực quyền dùng khí để khai thông kinh mạch, nên cũng được tính vào. Tôi nói thêm: Bất kỳ môn vận động nào có thể khai thông kinh mạch đều được tính là kim cang quyền." Mật tông Tây Tạng có kim cang quyền tĩnh và kim cang quyền động. Có người nghĩ đó là võ thuật quyền cước, nhưng không hoàn toàn đúng. (khác với võ thuật)

Kim cang quyền Tây Tạng không phải là quyền thuật dùng để đánh nhau, mà là phương pháp tư thế để nội tu khí, mạch, điểm. Chủ yếu là để điều hòa khí mạch. (hài hòa thân tâm) Giống như pháp thất chi tọa cũng vậy.

Tôi xin nói lại một lần nữa: "Tất cả các pháp đều là để kiến chứng Phật tính vốn có của ta".

28. Giảng nghĩa khẩu quyết bí mật của Nhị quán vô lậu pháp của Chân Phật Tông

Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đích thân truyền

Thứ tự tu hành của Mật giáo chia làm bốn quán đảnh, đó là:

Sơ quán (bình quán), phần lớn dùng nước.

Nhị quán, dùng hồng bạch bồ đề, hồng bồ đề là huyết của nữ, bạch bồ đề là tinh của nam, hiện nay dùng cánh hoa màu đỏ, trắng để tượng trưng.

Tam quán là quán đảnh xúc chạm, nói chung thì nam giới là với Kim Cang Hợi Mẫu hoặc Không hành mẫu, nữ giới là với Kim Cang Tát Đỏa.

Tứ quán chính là Đại viên mãn, không có một nghi thức chính thức nào, không câu nệ hình thức.

Trong Chân Phật Mật Pháp, Nhị quán chia thành: Chuyết hỏa, cần phải sinh khởi chuyết hỏa. Minh điểm, cần phải hòa tan minh điểm. Vô lậu, cần phải tu thành thân kim cang bất hoại.

Tu pháp Nhị quán chính là tu khí, mạch, minh điểm, để biến mình thành: Kim cang sĩ đại lực, dù hữu hình hay vô hình, bạn đều có sức mạnh phi thường. Kim cang sĩ kiên cố, dù thế nào, thân tâm bạn cũng rất vững chãi. Kim cang sĩ vô lậu, dù ra sao, thân khẩu ý của bạn cũng không rò rỉ.

Nói chung, nam nữ đều có sự rò rỉ. Về mặt ý niệm, cần dùng phương pháp Hiển giáo để tu vô lậu; về mặt thân thể, cần tu pháp vô lậu của Mật giáo để không bị rò rỉ. Đối với nam giới, cần tu đến mức tinh tử hoàn toàn không rò rỉ; đối với nữ giới, khi còn trẻ (trước khi mãn kinh) cần tu đến mức tinh huyết hoàn toàn không rò rỉ. Nếu nữ giới đã mãn kinh do tuổi tác, việc tu Nhị quán vô lậu vẫn có lợi ích, có thể giúp cơ thể kiên cố, máu có thể lưu thông khắp toàn thân.

Pháp vô lậu Nhị quán được tu vào lúc thức dậy vào buổi sáng sớm. Tôi sẽ giảng đơn giản về quán tưởng, thần chú và thủ ấn của nó:

Thủ ấn: thất chi tọa. Chú ngữ: Hum Quán tưởng: Trước tiên Bảo bình khí vài lần, sau đó quán tưởng tại luân xa rốn có một chữ Hum màu đỏ. Nam giới quán tưởng phần móc câu dưới chữ Hum kéo dài từ nam căn ra, móc vào hoa sen trắng (tượng trưng cho tinh tử nam). Nữ giới thì quán tưởng móc vào hoa sen đỏ (tượng trưng cho tinh huyết nữ)

Lúc này hít một hơi làm Bảo bình khí, dùng hơi thở này đẩy chữ Hum và hoa sen theo trung mạch đi lên, niệm chữ Hum dài, đẩy chữ Hum và hoa sen lên đến đỉnh đầu, chữ Hum ở trên, hoa sen ở dưới. Nam giới cần đặc biệt quán tưởng sau khi hoa sen trắng vào nam căn, thịt của nam căn cuộn ngược theo trung mạch đi lên đến đỉnh đầu, nằm dưới hoa sen trắng, biến thành nhục kế màu đỏ. Phép quán tưởng này cần làm lặp đi lặp lại nhiều lần, biểu thị bạch bồ đề và hồng bồ đề sắp rò rỉ của bạn đã được đưa lên đỉnh đầu. Đây là khẩu quyết ban đầu của pháp Nhị quán vô lậu, cũng là khẩu quyết rất quan trọng.

Pháp này không phải chỉ thực hành vài lần hay vài tháng là có thể thành công, mà phải tu tập và luyện tập mỗi ngày, trải qua nhiều năm mới có thể thành tựu. Nguyên lý của nó là dùng khí của Bảo bình khí để nâng tinh tử và tinh huyết lên. Vì vậy, Bảo bình khí là nền tảng của Nhị quán, việc tu luyện để có được sức mạnh của Bảo bình khí là vô cùng quan trọng.

Ý niệm lúc bình thường cũng rất quan trọng, cần thường xuyên quán tưởng chữ Hum ở luân xa rốn. Khi dục vọng mạnh mẽ, hãy quán tưởng chữ Hum biến thành lửa thiêu đốt toàn thân, khiến toàn thân cảm thấy mát mẻ, dục vọng sẽ tiêu tan. Khi không còn dục vọng, tâm bạn sẽ vô lậu. Sau một thời gian dài tu trì, thân tâm bạn đều vô lậu, tinh thần sẽ rất mạnh mẽ, thân thể sẽ rất tốt, luôn trẻ trung khỏe mạnh.

Khi bạn thức dậy vào buổi sáng để tu tập pháp này, có thể sẽ không tạo ra được sức mạnh vững chãi ngay lập tức, vì vậy bạn cần phải thực hành "Kim cang quyền tam thức" để củng cố nó. Kim cang quyền tam thức gồm ba thức: thức thứ nhất là tư thế ngồi, thức thứ hai là quỳ gối, thức thứ ba là đứng cúi người hai tay chống gối. Mỗi thức phải niệm bốn tiếng Hum dài (quay đầu sang trái một tiếng, sang phải một tiếng, lặp lại, tổng cộng bốn tiếng) và mười tiếng Hum ngắn (gật đầu lên xuống). Phải dùng sức mạnh của Bảo bình khí, không được yếu ớt, phải phát âm, phải quán tưởng chữ Hum đi lên, phải rung động toàn thân, phải đổ mồ hôi. Sau khi hoàn thành, tâm phải trở về trạng thái tự nhiên, lắng xuống và hóa thành không, không chính là vô lậu.

Ghi chú: Tam thức quyền pháp phải do Kim cương Thượng sư đích thân truyền.

🌟

Lư Sư Tôn nói: "Pháp vô lậu này là pháp bí mật của Nhị quán, trước đây, người chưa nhận quán đảnh không được xem. Nhưng trong xã hội hiện đại, mạng Internet phát triển, những điều bí mật không còn bí mật nữa. Tuy nhiên, vẫn mong những người có chí hướng, những người có tâm học hỏi, hãy nhận quán đảnh trước rồi mới tu pháp, tránh đui tu mù luyện. Điều này rất quan trọng! Rất quan trọng!"

Pháp vô lậu này không dễ tu thành, có người nói: trong vạn người không có được một người, tôi đã tu thành công, tính ra căn khí cũng tạm được.

Pháp vô lậu là một trong những điều kiện cơ bản của pháp song thân. Không có vô lậu mà tu pháp song thân thì chỉ là làm bừa, không đáng nhắc đến.

Tôi công khai điều này với thế gian mà không hề giữ lại, mong rằng những người có chí hướng hãy thận trọng! Thận trọng! Trung mạch chưa thông. Chưa khai đỉnh. Chuyết hỏa chưa sinh. Minh điểm chưa giáng. Kính xin đừng tu. Lành thay!

29. Giảng nghĩa một phần khẩu quyết bí mật của Tam quán Vô thượng mật của Chân Phật Tông

Chủ Kim Cương Chân Ngôn Giới Bí Mật Chủ Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn đích thân truyền

Phần Vô thượng mật của Mật giáo Tam quán có hai phương pháp tu tập là minh phi thực thể và minh phi huyễn thể. Các tăng ni của Chân Phật Tông chỉ được nhận quán đảnh tu minh phi huyễn thể (trí huệ thủ ấn), còn cư sĩ tại gia sau khi nhận quán đảnh có thể tu minh phi thực thể (sự nghiệp thủ ấn).

Trong kỹ thuật pháp Tam quán có Sakya lục thế biến, là phương pháp dành cho nam giới:

1. Nhật nguyệt triều thiên. Khi nam giới sắp xuất, hai mắt nhìn lên không trung, nhìn Bổn tôn trong hư không. 2. Lưỡi đẩy lên vòm họng. Chủ yếu là thông khí, để nâng minh điểm. 3. Ép yết hầu. Giống như ống hút nước, một khi ấn vào sẽ không rò rỉ nữa. 4. Thượng hành khí xuất ra hết. Khiến hạ hành khí tự nhiên thăng lên, nâng minh điểm lên. 5. Bụng dính lưng. Hóp bụng lại, quán tưởng bụng dính sát vào lưng, giữ minh điểm. 6. Nâng hậu môn. Cũng là để giữ minh điểm.

Ngoài ra còn có ấn nắm chặt. Quán tưởng minh điểm của mình là ngón tay cái, một khi nắm chặt là giữ được không rò rỉ.

Mật giáo Tam quán cần thực hiện nhiều kỹ thuật và quán tưởng, không phải đã thành tựu Nhị quán là có thể tu được. Ít nhất phải quán tưởng ở trên hoa sen, nam biến thành Phật, nữ biến thành thiên nữ, hai tay cầm chuông chày kim cang mới không tính là sai phạm. Đồng thời phải quán tưởng khí vào trung mạch, miệng trung mạch phải tiếp xúc được.

Mục đích của tu trì Tam quán là để giúp hòa tan minh điểm. Nếu trong quá trình tu trì Nhị quán, minh điểm có thể tan ra tạo ra tứ hỷ tứ không, thì có thể trực tiếp tiến vào Tứ quán mà không cần phải tu trì Tam quán riêng biệt. Từ quá trình tứ hỷ tứ không đi vào không lạc đại định, sinh ra tịnh quang, rồi ngược dòng sinh ra nghịch sinh tứ hỷ. Từ cảnh giới tịnh quang lại thăng hoa thành cảnh giới vô niệm, cảnh giới vô niệm lại sinh bồ đề tâm thì thành Phật. Đây là một điểm trọng yếu.

Về các khẩu quyết khác của Tam quán, xin hãy đọc cuốn sách thứ 122 của tôi "Mật Giáo Áo Nghĩa Thư", trong đó có nhiều giải thích chi tiết hơn.

Lưu ý quan trọng:

Kỹ thuật quán tưởng của Tam quán (pháp thực tu), phải do Kim cương Thượng sư đích thân truyền khẩu. Bản văn này chỉ là một phần, không phải toàn bộ.

🌟

Tôi (Lư Sư Tôn) vẫn nói như sau: "Pháp Nhị quán và Tam quán chỉ dành cho đệ tử đã đủ căn khí mới được tu. Đệ tử chưa đủ căn khí, không được tu." Bởi vì nơi sư tử nhảy, thỏ không thể nhảy theo, nếu không sẽ chết, đọa vào địa ngục kim cang. Thận trọng! Thận trọng!

Pháp Tam quán song vận này có lợi cho hành giả nam nữ, xin tham khảo "Tính Không Trong Đại Lạc" (Giảng nghĩa Hỷ Kim Cang). Ví dụ: Có thể khiến khí nhập vào trung mạch. (mạch và mạch tiếp xúc) Có thể khiến chuyết hỏa dễ dàng bùng cháy. (do ma sát) Có thể khiến minh điểm hạ giáng. (chuyết hỏa đốt minh điểm) Có thể khiến tham nhiễm đoạn tận. (dùng tham để chấm dứt tham) Có thể khiến chứng đắc câu sinh hỷ. (vô thượng hỷ) Có thể khiến hành giả hiểu rõ tất cả mật nghĩa của Mật giáo, chứng thực tướng của nhân sinh. Có thể chứng tính Không. (tâm trụ pháp nhĩ bản nhiên)

Tôi (Lư Sư Tôn) nói: Tổ sư Liên Hoa Sinh Đại Sĩ (Hồng giáo) Tổ sư Virupa (Hoa giáo) Tổ sư Sukhasiddhi (Bạch giáo) Thượng sư Rwa Lotsawa (Hoàng giáo) .................

Những vị tổ sư này đều tu pháp song thân và chứng đắc đại thành tựu. Milarepa cũng vậy. Tôi nói: Chín thức Minh phi của Mật giáo và chín pháp trong "Tố Nữ Kinh" của Trung Quốc có những điểm tương đồng. Theo thứ tự là: rồng lật, hổ bước, vượn vồ, ve bám, rùa nhảy, phượng bay, thỏ mút lông, cá ghép vảy, hạc giáp gáy.

Tôi còn muốn nói với mọi người: Chỉ cần bạn tu tập đúng cách, thì có thể đi vào Tam ma địa. Miệng tụng chú. Thân kết ấn. Ý quán tưởng. Thân, khẩu, ý thanh tịnh, an trụ trong pháp nhĩ bản nhiên, Tam ma địa hiện tiền. Cả hai cùng tỏa ánh sáng, thiền định trong ánh sáng. Tôi không nói dối, đây là một sự siêu việt, là cảnh giới bản ngã thiêng liêng. Lành thay!

30. Ngã kiến của pháp tư thế cơ thể (kim cang quyền)

Tôi (Lư Sư Tôn) nói như sau: Pháp tư thế (kim cang quyền), tức là kỹ thuật yoga, chính là những tư thế của cơ thể. Điều này khác với thể dục thể thao. Nhiều người tập yoga có sự hiểu lầm, cho rằng đó là phương pháp rèn luyện sức khỏe. Do đó, họ dùng sức mạnh quá độ, tư thế quá khó, khiến một số người bị thương ở cơ và xương.

Còn theo tôi: Các tư thế yoga là pháp tu hành. Trọng điểm nằm ở sự bình ổn, vững chãi, thoải mái và thư giãn. Ví dụ: Tỳ Lô thất chi tọa là bình ổn và vững chãi. Chú trọng tư thế ngồi, đương nhiên lưng phải thẳng, giống như tư thế ngồi của Phật vậy.

Nhưng nhất định phải thoải mái, phải thư giãn, nếu không sẽ không thể ngồi lâu, không thể tĩnh tọa, không thể nhập Tam ma địa. Kiết già. Bán già. Ngồi như ý. Ngồi tự do. v.v............

Tất cả đều tùy thuộc vào khả năng thích nghi của mỗi hành giả, có ba yêu cầu chính: Một là cân bằng đối xứng. Hai là ổn định thoải mái. Ba là nhẹ nhàng thư thái. Có như vậy mới có lợi cho việc nhập định, chế ngự tâm vào một chỗ, nhập Tam ma địa.

Thêm nữa: Để trung mạch thông, để nâng chuyết hỏa, để hạ minh điểm, để mở luân xa. Nên sử dụng các tư thế mềm dẻo của cơ thể. Phần đầu. Phần cổ. Cột sống. Tất nhiên phải thẳng, nhưng không cần dùng sức, chỉ cần dùng ý niệm để vận khí, tự nhiên tùy ý thực hiện các động tác mềm dẻo.

Điểm trọng yếu vẫn là: "Thả lỏng". Giống như tập thái cực quyền vậy, động tác uyển chuyển, mềm mại nhẹ nhàng, tự nhiên cân bằng. Không cần mạnh mẽ. (Cho nên mới nói "bốn lạng đẩy ngàn cân".)

Trên đây là quan điểm của tôi, tôi tập thái cực quyền, có người nói đó là "múa thái cực". Đúng vậy, giống như múa. Không phải là bài quyền võ thuật. Không phải là bài tập thể dục. Về nguyên tắc, trước khi tập tư thế (kim cang quyền), trong khi tập và sau khi tập, đều phải thực hiện phương pháp thả lỏng.

Thả lỏng có những lợi ích: 1. Tiết kiệm năng lượng. 2. Tâm có thể nghỉ ngơi. 3. Không căng thẳng. 4. Không mệt mỏi. 5. Không bị cảm xúc chi phối.

Có một số người, khi thực hiện pháp tư thế (kim cang quyền), sẽ tự nhiên lắc lư, rung động. Đây là khí động. Nên tự mình kiểm soát, vì điều này cũng có thể liên quan đến cảm xúc.

Hãy ghi nhớ: Phải từng bước thả lỏng, đồng thời không để tâm chạy Đông chạy Tây, có thể thả lỏng thì mới có thể tĩnh, mới có thể nhập Tam ma địa. Tam ma địa mới chính là siddhi chân thật.

31. Lợi ích khi tương ứng với Bổn tôn

Tôi (Lư Sư Tôn) là người tín ngưỡng Bổn tôn, Bổn tôn này có duyên với tôi, và tôi tự mình kính yêu. Mật giáo chủ trương: Tu Pháp Bổn tôn là tu tập để thân khẩu ý của mình hợp nhất với thân khẩu ý của Bổn tôn. Chúng ta dùng trì chú, quán tưởng, kết ấn để xích lại gần với Bổn tôn.

Tôi xin nói với mọi người, tại sao phải tu Bổn tôn? Bởi vì: Đối với người có niềm tin sâu sắc, Bổn tôn và các bậc đại thành tựu trong lịch sử, các bậc Thánh hiền đã đạt quả vị thành tựu, những vị Phật Bồ Tát này, đều sẽ hiện thân để giúp đỡ hành giả. Người không có tín ngưỡng thì hoàn toàn phải dựa vào tự lực. Người có tín ngưỡng sẽ phát sinh cả tha lực và tự lực. Ví dụ: Tịnh Độ tông trong Phật giáo. Hoàn toàn nương nhờ vào nguyện lực của Phật A Di Đà (tha lực) mà có thể vãng sinh tịnh thổ. Đây là nhờ Phật A Di Đà thay ta làm. Hành giả chỉ cần: Có thiện căn. Nhất tâm bất loạn trì danh niệm Phật. Là có thể đến được Phật quốc tịnh thổ của Phật A Di Đà, điều này quả thật quá thuận tiện.

Tin tưởng và thờ phụng Bổn tôn có những lợi ích gì? 1. Ngài sẽ hiện thân giúp đỡ bạn. 2. Bạn sẽ vô hình trung tuân giữ giới luật của Ngài. 3. Bạn sẽ có từ bi hỷ xả. 4. Bạn sẽ học được tình thương lớn của Ngài. 5. Bạn có một lòng tin tưởng. (chuyên nhất) 6. Bạn sẽ dần dần buông bỏ tham, sân, si. 7. Vô minh, ái luyến, oán ghét, sợ hãi sẽ giảm bớt. 8. Buông bỏ chấp trước, buông bỏ phiền não. 9. Buông bỏ bản ngã. 10. Nhờ Bổn tôn mà nhập được Tam ma địa. Những điều khác.

Điều quan trọng nhất khi tu pháp Bổn tôn là hợp nhất với Bổn tôn, không phân biệt, hai thành một, nhập vào Tam ma địa. Tuy là Tam ma địa hữu tướng, nhưng vẫn có thể dần dần tu đến Tam ma địa vô tướng.(Tương ứng với Bổn tôn rồi tiến vào hư không vô tận.)

Tổ sư Tsongkhapa nói: Ba đại thành tựu của Mật giáo là: Thành tựu Trì minh. Thành tựu Hộ Ma. Thành tựu Tam ma địa.

Trì minh chính là trì chú, chú có năng lượng (thế năng), trì chú có thể sinh ra tâm quang minh. Hộ Ma chính là Hỏa Cúng, đây là một trong những pháp cúng dường, người có tín tâm, đem thân tâm mình hoàn toàn phụng hiến cho Bổn tôn, ngay cả sinh mạng cũng có thể cúng dường. Đến khi sinh mạng cũng có thể cúng dường, chính vì như vậy, mới có thể hợp nhất với Bổn tôn, hợp nhất với hư không, bạn sẽ nhận được ân điển của Bổn tôn.

Về thành tựu Tam ma địa, đó cũng là mục đích tối hậu của tín ngưỡng. Tu pháp Bổn tôn mà có thể nhập Tam ma địa, thành tựu của hành giả sẽ tương đồng với Bổn tôn, đây là thành tựu siddhi lớn nhất.

Tôi (Lư Sư Tôn) biết rằng: Người có tín ngưỡng thì có cả tự lực và tha lực. Người không có tín ngưỡng chỉ có thể nương vào tự lực. Tôi không ép buộc mọi người nhất định phải có tín ngưỡng. Nhưng, Giữ giới luật là điều bắt buộc!

32. Từ pháp đại than thi nhập Tam ma địa

Trước đây tôi đã từng dạy tín chúng tu pháp đại than thi. Kinh nghiệm của tôi là: Pháp này rất tuyệt. Tôi nằm trên tấm thảm yoga, thân hình tạo thành chữ "đại" 大. Thứ nhất, thả lỏng đầu, thả lỏng tay, thả lỏng thân, thả lỏng chân. (Nằm như người chết.) Thứ hai, tôi dùng phương pháp thở. Có ba kiểu thở: Hít khí. Thở khí. Trụ khí. Khi hít vào chú ý mảnh, chậm, dài, thở ra cũng mảnh, chậm, dài. Hãy dùng hơi thở sâu, còn gọi là hơi thở hoàn toàn hay hơi thở cơ hoành. Không phải là hơi thở dùng sức. (hơi thở nhịp điệu)

Cũng có thể dùng Cửu tiết Phật phong. Thực hành Cửu tiết Phật phong nhiều lần sẽ mang lại lợi ích lớn. 1. Chuyên chú. 2. Hít thở hoàn toàn. 3. Kiểm soát được vọng tưởng của hành giả. Bởi vì hơi thở mảnh, chậm, dài, hít vào đến hạ đan điền, thở ra từ hạ đan điền. Có thể thanh tịnh ý niệm của hành giả.

Tiếp theo, Khi các vọng niệm đã hoàn toàn biến mất, hành giả nam, khi hít khí đến hạ đan điền, hãy trụ khí một lúc, trong thời điểm trụ khí đó, ý niệm cũng dừng lại. Tôi nói: "Khí dừng thì tâm dừng."

Chú ý: Khi trụ khí, cần nâng hậu môn lên, đây chính là Bảo bình khí trong Mật giáo. Hành giả nam giữ khí ở hạ đan điền (dưới rốn bốn lóng tay). Hành giả nữ giữ khí ở trung đan điền (luân xa tim). (Để tránh rối loạn kinh nguyệt cho hành giả nữ.) Trụ khí chính là giữ khí.

Tôi cảm thấy thời gian trụ khí của mỗi người mỗi khác, có một số vị Thượng sư dạy phải giữ hai phút rưỡi. Có người chỉ có thể giữ được nửa phút. Nhưng tôi nghĩ điều đó không quan trọng, điểm chính là khi trụ khí thì tâm cũng dừng lại. Chỉ cần tâm niệm dừng lại, là có thể dễ dàng nhập vào Tam ma địa. Tâm niệm dừng lại chính là không. Tâm niệm dừng lại chính là vô tướng. Tâm niệm dừng lại chính là vô tác. (Đây là tam giải thoát.)

Có một số người căn cơ lớn, trong Tam ma địa này, chứng được bản ngã, bản ngã chính là Phật tính.

Hãy nhớ: Khi không thể giữ khí được nữa, lúc thở ra, cũng không nên quá nhanh, hãy tìm cách để khí tỏa ra khắp tứ chi, rồi mới thở ra qua mũi. (Giữ nguyên tắc mảnh, chậm, dài.)

Một số Thượng sư dạy dùng "xạ tức" để thông đỉnh đầu, đó là pháp khai đỉnh, nhưng không nên làm thường xuyên.

Pháp đại than thi này giống như một người đã chết. Đây là công phu kiểm soát hơi thở, cũng là phương pháp điều tâm. Nếu đạt đến mức thuần thục, việc chứng ngộ Phật tính sẽ dễ dàng.

Khẩu quyết là: Mảnh, chậm, dài. Trụ khí (Bảo bình khí) là điều quan trọng nhất. Sự tịnh hóa tâm hoàn toàn nằm ở trụ khí. Nếu nhập được vào không, ánh sáng của bản ngã sẽ hiển hiện.

33. Thanh tịnh tâm cảnh

Tôi (Lư Sư Tôn) nói: Để chứng được bản ngã, Phật tính, cần phải thanh tẩy một số cấu uế của thân tâm. Thân là cây bồ đề. Tâm là tấm gương sáng. Thường xuyên nhớ lau phủi. Chớ để vương bụi trần.

Bài kệ này, tuy ở cảnh giới "có", nhưng cũng có đạo lý. Đây là bài kệ của Đại sư Thần Tú.

Cấu uế là gì? Vô minh, ngã chấp, tham ái, oán hận, tình cảm, thù hằn. Thói quen xấu. Cảm xúc. Phiền não. Bám chấp. Tham, sân, si, nghi, mạn về tài, sắc, danh, ăn, ngủ. Ghen tuông. Đố kỵ. Ảnh hưởng từ ngoại cảnh. Ảnh hưởng từ nội cảnh. Sợ hãi. v.v…

Tất cả những điều này cần phải được thanh tẩy để có thể nhập vào Tam ma địa và hiển lộ Phật tính. Những cấu uế này cần phải được thanh tẩy hoàn toàn. Để thanh tẩy những điều này, trước hết phải hiểu rõ Phật lý. Nếu không có trí tuệ của Phật lý thì không thể đoạn trừ được. Muốn hiểu được đại trí tuệ cần có Thượng sư chỉ dạy. Thức tỉnh những việc thế tục, thực hành sự huân tập của Mật giáo. Vì vậy cần phải tu pháp. Thông qua Thượng sư truyền dạy các nghi quỹ để tiến hành thanh tẩy những chướng ngại của cấu uế.

🌟

Bài kệ của Đại sư Huệ Năng: Bồ đề chẳng phải cây. Gương sáng cũng đâu có. Vốn dĩ chẳng có gì. Lấy đâu mà bám bụi.

Đây là cảnh giới tất cả đều không, chỉ có hành giả thượng căn mới hiểu được.

Đây là: Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Giáo ngoại biệt truyền, nhất thời đốn ngộ.

(Tuy nhiên người căn cơ cao thì ít, người căn cơ trung và thấp thì nhiều. Cho nên phải tu dần dần, không thể ngay lập tức đốn ngộ.)

Tu tập dần dần cần phải: Khổ hạnh - không được hưởng lạc, buông thả dục vọng. Mà phải sống đơn giản. Tinh tấn - tinh tấn tu pháp, thường xuyên học kinh điển. Cúng dường - cúng dường Thượng sư, Bổn tôn, Hộ pháp. Phải làm như vậy mới có thể nhận được sự chỉ dạy của bậc đại thành tựu. Giữ giới - quy phạm của hành giả, phải làm được "phi bạo lực". Dùng tám vạn bốn nghìn pháp môn để đối trị tám vạn bốn nghìn loại bệnh. Khi bệnh hết rồi mới có tâm địa thanh tịnh.

Cần học: Pháp tư thế thân thể. Pháp hô hấp. Pháp thu vào bên trong. Pháp quán chỉ. Pháp chuyên chú.

Tu hành cần có tâm dài lâu, đầy đủ lòng kiên trì và nghị lực.

Một mây trôi nghìn vạn núi. Thân tâm ở giữa có không. Quan trọng là thoát luân hồi. Tìm cầu hết thảy vị thầy.

34. Quan điểm của Lư Sư Tôn

Tu hành đến nay, trong tâm tôi nghĩ rằng: 1. Tôi và chúng sinh là một thể. 2. Tôi xin dâng trọn cuộc đời này cúng dường Bổn tôn. 3. Tất cả đều nương tựa vào Bổn tôn. 4. Tôi không cần mong đợi tương lai. 5. Không có gì để đạt được. 6. Không có gì hiện hữu. 7. Không có gì để bận tâm. 8. Không có gì để mong cầu. 9. Không có gì để thuộc về. 10. Không có vật gì là của riêng tôi. 11. Bình đẳng bình đẳng bình đẳng. 12. Khổ và vui đều là hoàn hảo. 13. Tôi không làm tổn hại bất kì sinh linh nào. 14. Tôi của hiện tại chỉ là ảo ảnh tạm thời. (vô ngã) 15. Xả bỏ tất cả. 16. Bố thí tất cả. .............

Tôi nói như vầy: Tôi của hiện tại hiểu rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tôi cũng có Phật tính. Tất cả là một thể. Tôi không thể làm tổn hại bất kì sinh vật nào, bởi vì làm tổn hại sinh vật chính là làm tổn hại chính mình. Tôi phát nguyện không kiện tụng ai, nhưng nếu có người kiện tôi thì phải làm sao? Hãy tùy thuận họ! Tôi chỉ có thể im lặng không lời. Nghĩ kĩ lại, tất cả rồi sẽ qua đi, đừng để tâm nổi sóng. (không oán hận)

Tôi dâng hiến trọn cuộc đời mình để cúng dường Bổn tôn, Bổn tôn của tôi là tối thượng. Nương tựa vào Bổn tôn, tu tập tương ứng, tôi phải tu cho đến khi giống như Bổn tôn, tỏa ra ánh sáng trí tuệ tối thượng. Tôi không mong đợi tương lai, bởi vì tôi biết rằng: Hiện tại chính là quá khứ. Hiện tại cũng là tương lai. Tôi chỉ làm tốt từng việc nhỏ, theo thứ tự hoàn thành công việc mỗi ngày, chỉ đơn giản vậy thôi.

Tất nhiên tôi biết rằng: Vô sở đắc - Không thể đạt được bất cứ điều gì, và chính cái không đạt được ấy chính là đắc, là buông bỏ mọi bám chấp. Vô hà hữu - Buông bỏ bám trước tức là buông bỏ phiền não. Không tham tiền tài, sắc đẹp, danh vọng. Tại sao vậy? Rất đơn giản, vì ngay cả thân thể này cũng không phải là của mình. Nếu tôi không bám chấp, tất cả đều không quan trọng nữa. Vô sở nguyện - Sinh tử tất nhiên, còn mong cầu gì nữa? Vô sở thuộc - Tất cả đều không, thuộc về cái gì cũng chỉ là hư vọng mà thôi. Nhân duyên còn, tất cả còn. Nhân duyên không, tất cả không. Tôi chẳng là gì cả.

Tại sao bình đẳng? Như người thổi bong bóng, bong bóng có to có nhỏ, có nhiều màu, có ít màu, có bay Đông, có bay Tây, đến một lúc nào đó, bong bóng vỡ ra, tất cả đều trở về không. Đó chính là bình đẳng. Tất cả chúng sinh có khổ có vui, đó là do nhân duyên khác nhau, nên mới có sự khác biệt. Khổ là nhân của vui, vui là nhân của khổ, cũng là quả. Tuy có khác nhau, nhưng khi suy xét thấu đáo, trong chỗ tinh tế, chỉ một nụ cười mà thôi!

Đại thiên thế giới là huyễn ảo. Tiểu thiên thế giới là huyễn ảo. Thế giới Ta Bà là huyễn ảo. Tôi và bạn đều là người huyễn, đây là huệ kiến của bậc thành tựu. Bạn có thể thấu suốt tất cả. Tôi có thể xả bỏ tất cả, bởi vì không xả cũng phải xả. Tôi có thể bố thí tất cả, nếu không bố thí, tương lai cũng sẽ phải thí, thật thú vị! Tôi muốn nói với người đời, đây chính là trí huệ phân biệt rõ ràng.

35. Cuộc sống của Lư Sư Tôn

Tôi nay đã tám mươi tuổi rồi, tôi sống như thế nào? Tôi xin nói với mọi người:

Thứ nhất: Biết đủ. Tôi đã từng nói, tất cả đều là sự sắp đặt hoàn hảo nhất, không có gì đáng tiếc nuối, quá khứ đã qua, hiện tại rồi cũng sẽ qua, tương lai chưa đến, cũng sẽ qua đi. Đối với tất cả đều biết đủ! Ăn — chùa cúng dường. Mặc — đệ tử cúng dường. (đến cả quần áo lót) Ở — đệ tử chu cấp. (gián tiếp) Đi lại — đệ tử cúng dường. (xe cộ)

Ngoài lòng biết ơn, lời cầu nguyện hàng ngày của tôi là: Từ — mang lại niềm vui cho người khác. Bi — cứu khổ cho chúng sinh. Hỷ — ngày ngày bước đi trên con đường thiện lành. Xả — bố thí một cách bình đẳng. Mỗi ngày tôi làm pháp Nghìn chiếc thuyền pháp để siêu độ cho các chúng sinh cõi u minh.

🌟

Thứ hai: Tu hành. Tôi có tập yoga, tĩnh tại thì ngồi thiền, vận động thì tập kim cang quyền. Luyện Thiếu Lâm côn. Tập thái cực quyền. Tu pháp trì chú, thủ ấn, quán tưởng. Thời thời khắc khắc không rời Bổn tôn, Bổn tôn cũng không rời tôi, sống cuộc sống hợp nhất. Mỗi ngày vẽ một bức tranh.

Tu hành của tôi chú trọng đến sự thanh tịnh. Thân thanh tịnh. Khẩu thanh tịnh. Ý thanh tịnh. Môi trường thanh tịnh. Không thể không ăn, nhưng không ăn quá no. Mặc áo quần tùy thời tiết, trang phục Lama. Không thể không ngủ, nhưng không tham ngủ. Nơi ở phải luôn giữ sạch sẽ. Tu hành tinh tấn, nhưng giữ mức độ vừa phải. Phải hiểu rõ ràng việc gì có thể làm, việc gì không thể làm. Không được tạo nghiệp. Chỉ được tiêu nghiệp. (tụng kinh mỗi ngày) Mỗi ngày tôi viết một bài văn, không cần quá dài, nhưng cứ viết mỗi ngày, và cứ thế đã viết được ba trăm cuốn sách. Chú trọng đến sức khỏe thể chất. Không cần quá khổ hạnh, cũng không được quá buông thả.

Thứ ba: Nói chuyện. Tôi vốn ít nói, thường im lặng là chủ yếu, lời nói có chừng mực. Khi thuyết pháp thì nói Phật pháp. Có thể hài hước một chút, có thể kể chuyện vui, nhưng không được kể chuyện tục tĩu. Không tán gẫu. Thường ngày niệm Phật trì chú. Nói chuyện phải nói lời thật. Không nói những điều khiến người khác không vui. Không bàn chuyện thị phi. Không bàn về ưu khuyết điểm của người khác. Giọng nói cần làm cho người nghe dễ chịu, có thể hát vài bài, cái chính vẫn là mình thích và người khác thích. Cần nói những lời quan tâm đến người khác. Cần nói những lời có ý nghĩa. Cần nói những lời có trí tuệ. Cần nói những lời nuôi dưỡng thiện tâm. (Không được nói những lời hại người lợi mình.)

36. Phát lộ sám hối

Trong Phật pháp có rất nhiều nghi quỹ sám hối, với nghi thức rất hoàn chỉnh, nổi tiếng có: Lương Hoàng Bảo Sám. Thủy Sám. Pháp Hoa Sám. Chân Phật Bảo Sám. Và còn nhiều nữa. Các chùa Phật thường tổ chức pháp hội bái sám. (Cá nhân tôi rất coi trọng việc sám hối. Tôi rất vui mừng về các pháp hội bái sám, nhưng đừng để trở thành hình thức. Điều quan trọng nhất là mỗi người tham gia bái sám phải thực sự phát tâm sám hối.)

Phát lộ sám hối là phương pháp tiêu nghiệp tốt nhất, vì thế có câu: Lễ Phật diệt tội. Sám hối không chỉ có trong Phật giáo. Thiên Chúa giáo có xưng tội, chuộc tội. Hồi giáo có viện chuộc tội. (Islam) ..................

Tôi nghĩ về bản thân mình, những điều cần sám hối trong cuộc đời mình nhiều như mây đen che khuất mặt trời (trời âm u), như cát sông Hằng, như núi Tu Di cao vời vợi, như biển sâu thẳm, như bụi trần trên mặt đất, không thể đếm xuể!

Vì vậy, tôi tu tập pháp mười điều sám hối.

Một sám hối tội của con mắt. Thường nhìn sắc dục động đến tâm. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Thường dùng mắt Phật nhìn lương tâm.

Hai sám hối tội của đôi tai. Thích nghe âm thanh rồi tâm động. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Sắc thân không cản trở thân này.

Ba sám hối tội của cái mũi. Ngửi mùi ăn thịt động đến tâm. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Giữ giới cá nhân tự nhắc mình.

Bốn sám hối tội của cái lưỡi. Tham ăn vị ngon hại sinh linh. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Cơm nhạt tùy duyên sống đời này.

Năm sám hối tội của cái tâm. Thường tham sắc dục tổn tinh thần. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Đoạn dục dừng dâm bảo dưỡng thân.

Sáu sám hối tội của ý niệm. Thường nghĩ vọng tưởng làm loạn tâm. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Lìa trần hợp giác ngộ vô sinh.

Bảy sám hối tội của tam nghiệp. Kiếp trước đời này ác nghiệp duyên. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Theo Phật Như Lai chuyển pháp luân.

Tám sám hối tội của tam độc. Chỉ vì không nghe Thánh Phật kinh. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Pháp luân thường chuyển độ chúng sinh.

Chín sám các duyên do ham muốn. Lục tặc can dự làm hại tâm. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Sau này không phạm luật tuân theo.

Mười sám tất cả tội chê trách. Từ nay bước khỏi cửa thị phi. Nay ở trước Phật cầu sám hối. Nhất tâm niệm Phật đi tu hành.

Hồi hướng:

Thế nhân đa phần bị lục tặc. Quấy nhiễu đẩy xuống hố lửa sâu. Nay ở trước Phật kể hết tội. Cửu phẩm liên hoa định vãng sinh. Hôm nay chư Phật đều hoan hỷ. Thiên địa thần minh giáng cát tường. Tuyên dương mười sám viên mãn nhất. Phật Tổ chân cơ cầu hiển hiện. Hôm nay trở thành thiện nam nữ. Tại hội Long Hoa lại tương phùng. Chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Lành thay! Om. Ah. Hum.

🌟

Cá nhân tôi nhớ đến lời dạy trong Kinh Địa Tạng: "Chúng sinh cõi Diêm Phù Đề, mỗi cử chỉ ý niệm, không gì không là nghiệp." Lòng thật hổ thẹn. Không thể không quán chiếu thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp của chính mình. Thường xuyên quán chiếu, thường xuyên sửa đổi, thường xuyên sám hối. Nhất định phải đoạn trừ tam nghiệp của mình. Thanh tịnh bản thân là điều vô cùng quan trọng. Chúng sinh như thế. Thượng sư như thế. Huống chi bản thân càng phải như vậy.

Cầu nguyện: Xin Đấng Tối Cao tiếp nhận sám hối, chư Thánh hiền tiếp nhận sám hối, nguyện Đấng Tối Cao gia trì, Bổn tôn nhiếp thọ, chư Hộ pháp ủng hộ.

37. Tinh yếu của chín thứ tự Đại Viên Mãn

Tôi giảng về pháp Đại Viên Mãn, vì đây là giáo pháp do Liên Hoa Sinh Đại Sĩ truyền lại. Có một vị Yari Panchen (Tổ sư truyền thừa phái Nyingma) có pháp hiệu là Liên Hoa Tự Tại, đã viết một bài kệ về chín thứ tự Đại Viên Mãn: "Theo Đại Viên Mãn giáo pháp cổ, Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát thừa, là do nhân thừa mà khác biệt, Sự Hành Du già ba ngoại mật, Đại Du già mật là phụ tục, Vô Tỷ Du già là mẫu tục, Vô Thượng Du già vô nhị tục, chính là Mật thừa ba nội mật." Đây là chín thứ tự của pháp Đại Viên Mãn do Panchen Liên Hoa Tự Tại viết.

"Ba loại ngoại mật" chỉ Sự bộ, Hành bộ và Du già bộ, thuộc về ba loại ngoại mật; "Đại Du già mật là phụ tục", Đại Du già bộ thuộc về phụ tục, thuộc về phương tiện; "Vô Tỷ Du già là mẫu tục", Vô Tỷ Du già chính là A Nậu Du già (Anu Yoga), thuộc về trí huệ; tiếp theo, Vô Thượng Du già chính là A Để Du già (Ati Yoga), "Vô Thượng Du già vô nhị tục" có nghĩa là không có phụ tục và mẫu tục, là sự tổng hợp, cũng chính là pháp Đại Viên Mãn; "chính là Mật thừa ba nội mật", thuộc về nội mật, chính là Ma Ha Du già, A Nậu Du già và A Để Du già, thuộc về ba nội mật, còn ba loại ngoại mật chính là Sự bộ, Hành bộ và Du già bộ.

Thứ tự là như thế nào? Người xưa tu pháp Đại Viên Mãn cũng phải tu Hiển giáo, thuộc về Thanh Văn. Điểm chính yếu nhất của Thanh Văn chính là bốn diệu đế khổ - tập - diệt - đạo. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni truyền pháp ban đầu, Ngài đã truyền pháp tứ diệu đế trước tiên. Tiếp đến là Duyên Giác, pháp Duyên Giác là quán chiếu theo mười hai nhân duyên, người có thể giác ngộ được gọi là Duyên Giác. Thanh Văn là khổ - tập - diệt - đạo, Duyên Giác là tu theo mười hai nhân duyên. Đến Bồ Tát thừa thì dùng pháp lục độ để độ. Tiếp đến Sự bộ, có thể nói là pháp cúng dường, cúng dường Bổn tôn, đã thuộc về Mật giáo. Khi bắt đầu Mật giáo, việc cúng dường Bổn tôn là điều quan trọng nhất.

Những điều tôi giảng bây giờ đều là điểm chính yếu. Sự bộ hoàn toàn tập trung vào việc cúng dường Bổn tôn. Đến Hành bộ, Hành bộ chính là cầu nguyện Bổn tôn gia trì, sau khi cúng dường xong thì phải cầu nguyện Bổn tôn gia trì. Giống như chúng ta tu pháp Bổn tôn hiện nay, chính là cầu nguyện Bổn tôn gia trì, đây là trong phạm vi của Hành bộ, đây là điểm trọng yếu. Đến Du già bộ, hành giả và Bổn tôn đã bình đẳng. Như tôi nói, tôi quán tưởng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Ngài không chỉ trụ trong hư không, là Bổn tôn mà tôi phụng sự, thậm chí đi vào trong thân thể tôi, tôi tự biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Khi tự mình biến thành Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, hành giả và Bổn tôn là bình đẳng, phương diện tu hành này được gọi là Du già bộ, Du già chính là tương ưng.

Trong Đại Du già bộ, hành giả bước vào ba nội mật, Bổn tôn và hành giả hợp nhất, hòa làm một; khi hành giả và Bổn tôn hợp nhất tức là đã hòa làm một, đây là phương pháp tu hành chủ yếu nhất. Đến A Nậu Du già thì nói về khí, mạch, minh điểm. Trong phương diện khí, mạch, minh điểm, có cái gọi là "lạc" - đại lạc, khi khí lưu thông, khi chuyết hỏa vận hành, khi minh điểm hạ giáng, đều sẽ sinh ra hiện tượng đại lạc, đây là "lạc".

Tiếp theo nói về "minh", "minh" chính là quang minh, sẽ sinh ra ánh sáng, sau khi có lạc thì tiến vào quang minh. Đến điểm thứ ba, chuyển thành "không", chính là Không tính, Phật tính sẽ sinh ra. Khi đến A Để Du già, sẽ khai mở ngũ luân, "minh tâm kiến tính", khi thấy được Phật tính của chính mình thì gọi là minh tâm, kiến tính là thấy được Phật tính, hiểu rõ đạo lý của vũ trụ, lúc này tự tính chính là Phật, Phật tính của chính mình vốn là Phật. Đây chính là khẩu quyết quan trọng nhất của chín thứ tự. Tôi đã giảng xong toàn bộ chín thứ tự trong chốc lát, điểm trọng yếu chính là ở đây.

Điểm trọng yếu của Thanh Văn thừa là khổ tập diệt đạo, điểm trọng yếu của Duyên Giác thừa là mười hai nhân duyên, điểm trọng yếu của Bồ Tát thừa là lục độ, thực hiện lục độ của chính mình; điểm trọng yếu của Sự bộ chính là làm cúng dường, cúng dường Bổn tôn, điểm trọng yếu của Hành bộ chính là cầu nguyện Bổn tôn gia trì, gia trì thanh tịnh, điểm trọng yếu của Du già bộ là chính mình kết hợp với Bổn tôn làm một, bình đẳng là điểm trọng yếu của Du già bộ; điểm trọng yếu của Đại Du già bộ chính là hòa hợp làm một với Bổn tôn, tiến thêm một bước nữa, A Nậu Du già chính là tu đại lạc: quang minh và tính Không, đến A Để Du già, có thể thấy được ánh sáng của Phật tính, minh tâm rồi, thấy được Phật tính của chính mình, thực hành Phật tính của chính mình, tự tính chính là Phật.

Đây chính là phương pháp tu hành chín thứ tự Đại Viên Mãn. Có người nói rằng, nếu tu pháp Đại Viên Mãn từ Thanh Văn đầu tiên cho đến A Nậu Du già, cả đời cũng không tu xong được. Nhưng từ xưa đến nay, những người tu hành đều có hiện tượng như vậy, đó chính là sự viên dung giữa Hiển và Mật. Trong Thanh Văn thừa có giới luật, coi trọng giới luật, mỗi thừa đều coi trọng giới luật, giới luật vô cùng quan trọng, đây chính là chín thứ tự Đại Viên Mãn.

38. Chư tôn nói về tình yêu

Tôi (Lư Sư Tôn) thường nói với đại chúng: "Aishiteru" (tiếng Nhật). Câu này có nghĩa là: "Tôi yêu các bạn". Chữ "yêu" này không phải là tình yêu nam nữ, mà có ý nghĩa rộng lớn vô hạn.

Chúng ta hãy lắng nghe chư tôn nói về chân đế của tình yêu:

Đại Uy Đức Kim Cang nói: "Bạn là tâm tử của Bổn tôn, tâm tử nhiệt thành yêu Bổn tôn, cả hai hợp nhất, đó chính là yêu." Lại nói: "Yêu thích ở cùng nhau, chính là samaya!" Khi một đệ tử tâm niệm bất chính, đối với Thượng sư, Bổn tôn sinh lòng nghi hoặc. "Đó chính là đánh mất tình yêu lẫn nhau, cũng phá vỡ samaya, đây là giới luật rất nghiêm khắc."

Bát Nhã Phật Mẫu nói: "Bản chất của tình yêu là vô sinh." (Đây là cảnh giới cao nhất, người thường rất khó lĩnh hội.)

Trừ Cái Chướng Bồ Tát nói: "Phải trừ chướng ngại lớn nhất, chướng ngại đó chính là bản thân mình. Khi tình yêu của mình không trọn vẹn một trăm phần trăm, lúc đó samaya sẽ không chân thật, phiền não ma chướng sẽ đến." Trừ Cái Chướng Bồ Tát lại nói: "Yêu chính là gìn giữ giới thề, có như vậy mới sinh ra được sức mạnh và trí huệ."

Duy Ma Cật Đại Sĩ nói: "Tình yêu thế tục đều chỉ là từng màn kịch diễn đi diễn lại. Chỉ có tình yêu xuất thế gian mới là tâm ấn giữa hành giả với Thượng sư và Bổn tôn." "Tình yêu không ở ngoài, không ở trong, không ở khoảng giữa, tình yêu là vô hình, vô tướng, vô tác, hư không." "Bản lai diện mục của tình yêu là giải thoát, buông xả, tự tại."

A Di Đà Phật nói: "Tình yêu là thiện tướng." Lại nói: "Tình yêu là tịnh thổ." Lại nói: "Tình yêu là tự tính." (Phật tính) Cuối cùng nói: "Tình yêu chính là A Di Đà Phật."

A Đạt Nhĩ Mã Phật nói: "Yêu chính là yêu chính mình. Chính mình chính là Thượng sư, Bổn tôn. Không trái với chính mình, đó chính là yêu." "Tự quy y Phật." (Phật tính của chính mình) "Tự quy y pháp." (tự mình tu Phật pháp) "Tự quy y tăng." (chính mình là bậc thánh hiền tăng) "Ánh sáng tâm của chính mình hiển lộ chính là yêu." "Yêu là bản lai diện mục." Tâm. Phật. Chúng sinh. Ba thứ không khác biệt, đó chính là yêu.

Tình yêu vĩ đại hơn nữa là: "Phật ma như một." (pháp môn bất nhị) Tất cả chúng ma và các ngoại đạo, hành giả đều bình đẳng cúng dường và phụng sự. Tất cả đều bình đẳng bình đẳng. Không có chút sai biệt nào, đó chính là yêu.

Nếu có người hiểu được bài văn nhỏ này, và thực hành được, đó là vị Giải Thoát Bồ Tát không thể nghĩ bàn. Om. (tối thượng) Ah (Bổn tôn) Hum (tự tính) Seh (hợp nhất) Samaya.

39. Phỏng vấn của hai vị học giả Phật giáo

Sau khi hai học giả đến thăm Đài Loan Lôi Tạng Tự, tham dự thực tế toàn bộ pháp hội Hộ Ma và lắng nghe khai thị truyền pháp của Liên Sinh Pháp Vương, Giáo sư Phật học nổi tiếng người Anh Richard Gombrich và Giáo sư Diêu Ngọc Sương thuộc Viện Nghiên cứu Tôn giáo học Đại học Phật Quang Đài Loan, để có thể hiểu sâu hơn về Chân Phật Tông và Chân Phật Mật Pháp, đã mời Liên Sinh Pháp Vương - Căn bản Truyền thừa Thượng sư của Chân Phật Tông dùng cơm trưa tại Đài Trung vào ngày 21 tháng 4, và tiến hành phỏng vấn về Phật học với Pháp Vương sau bữa ăn.

Giáo sư Gombrich là Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Phật học Đại học Oxford của Anh, từng là Chủ tịch Hội Văn học Pali Anh quốc, có hiểu biết rất sâu sắc về Phật giáo nguyên thủy. Ông còn hai lần vinh dự nhận giải thưởng Thành tựu Trọn đời của Sri Lanka, là một học giả Phật giáo nổi tiếng và đáng kính trọng. Còn Giáo sư Diêu Ngọc Sương nghiên cứu về tôn giáo xã hội nhân loại tại Anh và đã lấy được bằng Tiến sĩ Thần học Tôn giáo tại Đại học London. Hiện nay, hai vị giáo sư đang nỗ lực biên soạn phiên bản tiếng Anh của "Bách khoa Toàn thư Tôn giáo Đài Loan", với hy vọng chuyến đi này có thể giới thiệu Chân Phật Tông đến với chúng sinh khắp thế giới.

Thông qua những câu hỏi của các Giáo sư, Pháp Vương đã giới thiệu với hai vị về hành trình tu học của mình. Khi còn trẻ, Pháp Vương theo đạo Cơ Đốc và là thành viên của Giáo hội Trưởng Lão. Vào năm 26 tuổi, Ngài gặp được một người thông linh thuộc Đạo giáo, và sau khi được Diêu Trì Kim Mẫu mở thiên nhãn, Ngài bắt đầu học Đạo, sau đó chuyển sang học Phật giáo Tịnh Độ tông và thọ giới Bồ Tát.

Vì Giáo sư Gombrich là một sử học gia Phật giáo, nên ông muốn tìm hiểu xem khi Pháp Vương học Tịnh Độ tông, có chịu ảnh hưởng của Đại sư Thái Hư - một vị cao tăng cận đại hay không? Pháp Vương chia sẻ rằng Đại sư Thái Hư là người đầu tiên cải cách Phật giáo Trung Quốc, và vị thầy Hiển giáo đầu tiên mà Pháp Vương quy y chính là Đạo sư Ấn Thuận - đệ tử của Đại sư Thái Hư. Đạo sư Ấn Thuận hoằng dương "Tam Luận" của Bồ Tát Long Thụ tại Đài Loan, nên thuộc về phái Trung Quán của Bồ Tát Long Thụ. Đạo sư Ấn Thuận cũng từng giảng giải cho Pháp Vương về đạo lý "duyên khởi tính Không", và dạy cho Pháp Vương một câu quan trọng nhất: "Tất cả mọi thứ trên thế gian này đều không có tự tính."

Sau đó, theo sự chỉ dẫn của chư Phật Bồ Tát, Pháp Vương đã tìm được bốn vị Thượng sư Mật giáo. Khi còn ở Đài Loan, Pháp Vương học pháp với Hòa thượng Liễu Minh (còn gọi là Thanh Chân Đạo Trưởng) thuộc phái Hồng giáo; sau khi di cư đến Mỹ, Pháp Vương học pháp với Thượng sư Chứng Không (còn gọi là Dezhung Rinpoche) thuộc phái Sakya ở Seattle, cầu pháp với Đại Bảo Pháp Vương Karmapa thứ 16 thuộc phái Bạch giáo ở New York Upstate, và học pháp với Thượng sư Thubten Dhargye thuộc phái Hoàng giáo ở Hồng Kông. Từ đó, Ngài bắt đầu tu trì Mật pháp.

Khi hai vị Giáo sư tham dự pháp hội ngày hôm trước, họ đã nghe Pháp Vương giảng dạy nhiều khẩu quyết tâm yếu của Mật pháp, nên muốn tìm hiểu xem những khẩu quyết tâm yếu này có phải là điều mà tất cả các tông phái đều có hay không? Pháp Vương cho biết một số khẩu quyết tâm yếu có thể là điều mà các phái Mật giáo đều có, nhưng một số khẩu quyết lại khá bí mật và không được công khai. Do đó, trong Mật giáo có cái gọi là "pháp chung" và "pháp không chung" [cộng pháp và bất cộng pháp]. Tuy nhiên, với lòng từ bi, Pháp Vương đã chọn công khai phần lớn những khẩu quyết bí mật, nhờ đó các đệ tử có thể tùy theo căn cơ của mình mà học tập Mật pháp ở các thứ bậc khác nhau.

Ngoài ra, hai vị Giáo sư cũng rất tò mò về cách Pháp Vương hướng dẫn đệ tử Chân Phật đi đến giác ngộ? Pháp Vương cho biết đệ tử trước tiên phải tu tập pháp Tứ gia hành cơ bản, sau đó mới tu pháp tương ứng. Khi giác ngộ gọi là kiến đạo, sau khi giác ngộ kiến đạo còn phải tu đạo, cuối cùng đạt đến cứu cánh đạo mới được coi là thành tựu.

Giáo sư tiếp tục hỏi Pháp Vương, trong quá trình tu tập có cần phải đọc kinh sách hoặc tác phẩm của Pháp Vương trước khi khai ngộ không? Pháp Vương chỉ rõ, đệ tử Phật có thể đọc "Quảng" là Kinh Đại Bát Nhã, tiếp đến là "Trung" tức Kinh Kim Cang, cuối cùng là "Lược" tức Tâm Kinh. Do Giáo sư Gombrich là chuyên gia về tiếng Pali, ông đặc biệt hỏi Pháp Vương là phải tụng kinh bằng tiếng Phạn hay có thể tụng bằng tiếng Trung? Pháp Vương giải thích rằng có thể tụng bằng tiếng Trung, bởi vì Tâm Kinh chính là tinh hoa của Kinh Đại Bát Nhã.

Pháp Vương tiếp tục giải thích cho các Giáo sư về tầm quan trọng của việc tu trì khí, mạch, minh điểm trong Mật giáo, cũng như những thành tựu thực tế của bản thân trong việc tu trì khí, mạch, minh điểm. Ví dụ, khi Pháp Vương muốn giao tiếp với chư Phật Bồ Tát, chỉ cần vận khí đến tai là có thể giao tiếp được với chư Phật Bồ Tát. Hơn nữa, trong tương lai nếu muốn nhanh chóng rời khỏi nhân gian, chỉ cần dùng phương pháp vận khí, đưa Phật tính trong tâm trực tiếp ra khỏi đỉnh khiếu là có thể trở về nơi ban đầu. Pháp Vương còn đặc biệt cho hai vị Giáo sư xem lỗ tròn lõm trên đỉnh đầu của mình, đây là bằng chứng của việc khai đỉnh, tức là đã đạt được thành tựu trong pháp phowa.

Cuối cùng, Giáo sư Gombrich đặc biệt hỏi Pháp Vương rằng theo quan điểm Mật giáo, khai ngộ và giải thoát có giống nhau không? Pháp Vương cho biết trước tiên phải khai ngộ, sau đó còn phải tu đạo, cuối cùng mới đạt được giải thoát, không phải là đồng thời. Pháp Vương giải thích thêm rằng đôi khi khai ngộ chỉ là trên lý thuyết, ví dụ như mọi người đều biết Tâm Kinh dạy chúng ta rằng tất cả đều là vô sở đắc, vì biết rằng tiền bạc, địa vị đều vô dụng (vô sở đắc), nên vô sở đắc có thể đoạn trừ phiền não của mỗi người.

Giáo sư Gombrich tiếp tục hỏi Pháp Vương một câu hỏi thú vị: nếu một người đã khai ngộ nhưng chưa đạt được giải thoát mà phải đối mặt với cái chết thì sẽ như thế nào? Pháp Vương cho biết người này vẫn chưa thể thành tựu. Mặc dù sau khi khai ngộ đã hiểu được vô sở đắc, biết rằng tâm quá khứ không thể đắc vì quá khứ đã qua; biết rằng tâm hiện tại không thể đắc vì hiện tại cũng sẽ nhanh chóng trở thành quá khứ; biết rằng tâm tương lai không thể đắc vì tương lai còn chưa đến; do đó, ba tâm đều không thể có được! Đây là sự giác ngộ về tâm vô sở đắc từ Kinh Kim Cang và Tâm Kinh. Đã là vô sở đắc thì sẽ không bám chấp vào bất cứ điều gì, từ bỏ mọi chấp trước, do đó có thể phá trừ ngã chấp và tất cả phiền não. Vì vậy, trong tâm không còn phiền não mà luôn ở trong trạng thái hỷ lạc.

Giáo sư Gombrich tiếp tục hỏi Pháp Vương, sự hiểu biết như trên có được gọi là khai ngộ không? Pháp Vương cho biết sự hiểu biết này đã rất gần với khai ngộ, bởi vì chứng được vô sở đắc thì có thể giải thoát khỏi mọi phiền não.

Giáo sư Gombrich giải thích rằng từ "Buddha" (Phật) trong tiếng Phạn hoặc tiếng Pali có nghĩa là giác ngộ, đồng thời cũng có nghĩa là giải thoát. Trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy thường đề cập rằng giác ngộ và giải thoát xảy ra đồng thời. Trong Phật giáo nguyên thủy, A La Hán là cảnh giới cao nhất, ngang bằng với Phật, không có gì cao hơn nữa. Tuy nhiên, Pháp Vương chỉ ra rằng trong Mật giáo có chút khác biệt, Mật giáo cho rằng sau khi hiểu được lý thuyết, vẫn cần phải thực hành. Mặc dù người thường có thể ngộ được vô sở đắc, nhưng trong đời thường vẫn còn tranh giành địa vị và tài sản, vẫn còn rất bám chấp vào sắc, nếu còn những hiện tượng này thì chưa đạt được giải thoát. Nếu sau khi giác ngộ, hoàn toàn thấu hiểu, dù ở trong đời thường vẫn có thể thực hành theo đó, thì đó mới thực sự là người giác ngộ và giải thoát.

Trong cuộc phỏng vấn này, chúng ta đã hiểu được những điểm tương đồng và khác biệt giữa Phật giáo nguyên thủy và Mật giáo về phương pháp tu tập và quan điểm. Hy vọng thông qua sự giao lưu tích cực giữa các tông phái, mọi người có thể hiểu biết và học hỏi lẫn nhau, đồng thời hy vọng có thể giới thiệu Chân Phật Tông đến với nhiều người hơn nữa.

Sau buổi phỏng vấn, Pháp Vương từ bi sờ đầu gia trì cho hai vị Giáo sư, ký tặng sách ban phúc và chụp ảnh lưu niệm. Tất cả đều viên mãn cát tường!

🌟

Tôi cần phải giải thích thêm về nhận thức của mình về Richard: Richard nói: Phật chính là khai ngộ, chính là giải thoát. Thêm nữa: A La Hán chính là Phật. Đó là cảnh giới cao nhất, không có gì cao hơn nữa.

Tôi nói: Tôi hiểu về bốn Thánh giới như sau: Phật - là khai ngộ, là giải thoát, là giác hành viên mãn. Bồ Tát - giác ngộ chúng sinh, tự giác và giác tha. Duyên Giác - giác ngộ dựa vào mười hai nhân duyên. A La Hán - dựa vào khổ tập diệt đạo, đắc tứ quả. (tự giác) Tôi nói như thế này cũng chỉ là đại khái mà thôi!

Nếu nói rằng A La Hán chính là Phật, đó là quan điểm của Phật giáo Tiểu thừa. Trong Phật giáo Đại thừa, điều này không thể chấp nhận được. Theo Kinh Duy Ma Cật và nhiều kinh điển Đại thừa, thành quả tu hành của các vị Bồ Tát giải thoát không thể nghĩ bàn đều vượt trên A La Hán. Tôn giả Đại Ca Diếp nói: "Bồ Tát Giải Thoát không thể nghĩ bàn, khi chúng tôi nghe đến, chúng tôi không thể sánh bằng."

40. Chân tướng của chúng sinh

Kinh Kim Cang dạy rằng: Vô ngã tướng. Vô nhân tướng. Vô chúng sinh tướng. Vô thọ giả tướng.

Có người hỏi: "Thế nào là tướng chúng sinh?" Duy Ma Cật đáp: Chúng sinh là người huyễn hóa, con người là hư ảo. Chúng sinh như trăng trong nước. Chúng sinh như hoa trong gương. Chúng sinh như ánh nắng hừng đông, như ảo ảnh sa mạc. Chúng sinh như tiếng vọng trong thung lũng. Chúng sinh như mây trôi trong không trung. Chúng sinh như gợn sóng trên mặt nước. Chúng sinh như bọt nước. Chúng sinh như tia chớp giữa bầu trời. ……………….

Tôi (Lư Sư Tôn) đọc Kinh Duy Ma Cật, nghĩ về những ví von này, thấy rất thích hợp, và vừa đọc đã ngộ ra. Chúng sinh là: Huyễn ảo. Không thật. Biến hiện tạm thời. Một lần sinh, một lần tử. Luân hồi.

Tôi nói: Con người chỉ là sự kết hợp tạm thời của tứ đại đất, nước, lửa, gió. Mỗi người đều là sự kết hợp tạm bợ như vậy, một đám đông những sự kết hợp tạm bợ tụ lại với nhau, làm những việc tạm bợ, sống cuộc đời ngắn ngủi này, từ sinh đến tử, từ tử đến sinh, cứ thế luân chuyển. Tôi nói: Con người không thể mang theo bất cứ thứ gì khi rời khỏi thế giới này. Huống chi người huyễn cầm vật huyễn, cả hai đều là hư ảo, không có bất cứ thứ gì không hoại diệt, ngay cả thế giới Ta Bà cũng trải qua thành, trụ, hoại, không. Do vậy, chúng ta đã hiểu được chân tướng của chúng sinh.

Và: Duy Ma Cật nói: Khi có người đến xin bố thí, những thứ bố thí là: Tay, chân, tai, mũi, đầu, mắt, tủy não, máu, thịt, da, xương. (thân thể của hành giả) Nhà cửa, ruộng vườn, lâu đài. (tài sản của hành giả) Vợ con, tôi tớ, người thân. (người thân của hành giả) Voi, ngựa, xe cộ. (phương tiện đi lại của hành giả) Vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, ngọc bội. (thất trân bát bảo) Y phục. (y phục quý báu của hành giả) Thức ăn. (thức ăn của hành giả) v.v…

Duy Ma Cật nói: "Người ăn xin này rất có thể là hóa thân của Bồ Tát Giải Thoát bất khả tư nghì. Với những yêu cầu bố thí như vậy, hành giả có đồng ý không?"

Khi tôi hỏi đại chúng. Thượng sư Liên Vượng đáp: "Không thể!"

Hãy nghĩ xem, người ta đòi bạn bố thí vợ, làm sao có thể? Đòi bạn bố thí nhà, làm sao có thể? Đòi bạn bố thí thân thể của chính mình, làm sao có thể?

Tôi lại ngẫm nghĩ thêm. Duy Ma Cật Đại Sĩ nói: Thân thể chỉ là sự kết hợp tạm thời của tứ đại (một bị thịt hôi thối). Vợ con là do nhân duyên, nếu không có nhân duyên, mỗi người một ngả. Nhà chỉ là chỗ ở tạm. Thất trân bát bảo cũng không phải sở hữu vĩnh viễn. Tương lai: Không, không, không. (vô sở đắc) Vậy thì, người tu hành có chịu bố thí không? Đạo lý thì thông. Nhưng, làm không được!

🌟

Đại Sĩ Duy Ma Cật (Như Lai Kim Túc) dạy chúng ta. Tu hành lấy thân làm gốc. Phải trừ bỏ phiền não của thân. Phải trừ bỏ chấp trước của thân. Phải trừ bỏ tham dục của thân. Phải trừ bỏ hư vọng của thân. Phải trừ bỏ điên đảo của thân.

Tôi (Lư Sư Tôn) nghĩ: "Nếu thân này không còn nữa, ăn uống, quần áo, nhà cửa, đi lại đều không còn nữa, thất trân bát bảo cũng không còn nữa, tất cả tài sản đều không còn nữa, vợ con gia đình đều không còn nữa." Chỉ còn: "Phật tính quang minh."

Tục ngữ thế gian: "Người thì ở thiên đường, tiền thì ở ngân hàng, vợ thì trong lòng người khác, anh em thì tranh giành tài sản." Tôi nói: "Chỉ cần người được về thiên đường là tốt rồi, những thứ khác tùy duyên mà đi!" Hãy nghĩ thoáng đi! Dù nghĩ không thoáng được, thì chắc chắn mọi việc cũng sẽ như thế thôi.

Om guru liansheng siddhi hum.

41. Trí huệ vô thượng tỏa hào quang

Khi đọc Kinh Duy Ma Cật, tôi rất thích đoạn đối thoại giữa thiên nữ Tán Hoa và Xá Lợi Phất. Những câu trả lời của thiên nữ Tán Hoa thể hiện trí huệ vô thượng. So với ngài, Xá Lợi Phất tỏ ra kém cỏi ở mọi phương diện.

Tôi xin tóm tắt như sau: Thiên nữ Tán Hoa rải hoa, hoa rơi trên thân Xá Lợi Phất, phủi mãi không rớt. Thiên nữ Tán Hoa hỏi: "Tại sao thầy phủi hoa?" Xá Lợi Phất đáp: "Theo nghi lễ của Phật, không được dính hoa, phải gỡ bỏ." Thiên nữ Tán Hoa nói: "Hoa không phân biệt, chính tâm thầy phân biệt. Thầy cần đoạn trừ vọng tưởng phân biệt." (Câu nói này thật là trí huệ vô thượng, Xá Lợi Phất im lặng.)

Xá Lợi Phất hỏi: "Thiên nữ ở đây bao lâu rồi?" Thiên nữ Tán Hoa đáp: "Cũng lâu bằng thời gian thầy tu hành." Xá Lợi Phất hỏi: "Ôi! Lâu vậy sao?" Thiên nữ Tán Hoa đáp: "Thời gian tu hành của thầy cũng đâu có ngắn." Xá Lợi Phất không nói được gì. (Cuộc đối đáp ngắn này đã chỉ ra rằng thời gian vốn không liên quan.)

Thiên nữ Tán Hoa hỏi: "Xá Lợi Phất sao không nói nữa? Phải chăng bậc đại trí huệ không còn gì để nói?" Xá Lợi Phất đáp: "Giải thoát không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả!" Thiên nữ Tán Hoa hỏi: "Tất cả các pháp đều có tướng giải thoát, ngôn ngữ cũng vậy, ngôn ngữ cũng có tướng giải thoát." Xá Lợi Phất hỏi lại: "Như vậy, tham sân si cũng được xem là giải thoát sao?" Thiên nữ Tán Hoa đáp: "Chỉ với những hành giả tự cao tự đại, Phật mới dạy đoạn trừ tham sân si. Nhưng, bản thân tham sân si cũng có tướng giải thoát." (Lư Sư Tôn cho rằng, tham sân si là nguyên liệu của giải thoát. Nếu không có tham sân si, cần gì phải giải thoát?)

Xá Lợi Phất hỏi: "Thiên nữ Tán Hoa, với biện tài như vậy, cô tu pháp môn gì? Chứng đạo gì?" Thiên nữ Tán Hoa đáp: "Tôi không tu không chứng." (Câu này thể hiện pháp tính tự nhiên, là trí huệ vô thượng.)

Xá Lợi Phất hỏi: "Tại sao cô không chuyển thân nữ thành thân nam?" Thiên nữ Tán Hoa đáp: "Đây chỉ là vật huyễn hóa! Tất cả các pháp đều là huyễn hóa." Thế rồi: Thiên nữ Tán Hoa dùng thần lực, biến mình thành Xá Lợi Phất. Còn Xá Lợi Phất biến thành thân nữ. Thiên nữ Tán Hoa nói: "Tất cả các pháp, không nam không nữ." (Các pháp bình đẳng, không có cao thấp nam nữ, không có phân biệt.) .............

Tôi (Lư Sư Tôn) qua cuộc đối đáp giữa thiên nữ Tán Hoa và Xá Lợi Phất. Dường như có chút tỏ ngộ. Thật ra tôi cũng biết rằng, tất cả hiện hữu tức là tất cả không hiện hữu. Chúng ta không thể chấp tướng. Vô thượng chính đẳng chính giác cũng chỉ là một danh tướng. Thật ra cũng là vô sở đắc. Lành thay! Hào quang trí huệ vĩ đại!

42. Nữ Thần Thanh Xuân nói như vầy

Khi pháp hội Hộ Ma Tôn Thắng Phật Mẫu kết thúc. Tôi thấy Nữ Thần Thanh Xuân. Tôi hỏi Ngài: "Vì sao Ngài đến? Có việc gì?" Ngài đáp: "Tôi muốn hợp nhất với Lư Sư Tôn." Tôi nói: "Thân khẩu ý là một, thời gian không gian cũng là một." Ngài nói: "Lư Sư Tôn đã có sự chứng ngộ phi thường, ngài với Diêu Trì Kim Mẫu là một, với A Di Đà Phật là một, với Địa Tạng Bồ Tát là một, tất cả đều không có sự phân biệt." Ngài lại nói: "Thảo nào mà hóa thân vô số."

Nữ Thần Thanh Xuân trong khoảnh khắc, biến hóa ra vô số lọng che khắp trời như mây, dưới những chiếc lọng có vô số Nữ Thần Thanh Xuân, mỗi vị đều là tuyệt sắc nghiêng nước nghiêng thành, ca hát múa nhảy, vui vẻ vô cùng. Thế rồi, Lư Sư Tôn hóa thân vô số, từng vị cùng Nữ Thần Thanh Xuân ca hát múa nhảy. Trong không trung vang lên thần chú cát tường. Có kệ tán thán. Có tiếng ca. Những khúc ca này không có ở nhân gian, đó là âm thanh hòa nhã của cõi trời.

Nữ Thần Thanh Xuân nói: "Chỉ cần tâm không vọng niệm, từng phút từng giây đều là vĩnh hằng, chúng ta mãi mãi yêu thương bên nhau." Thế rồi, Cam lộ từ trời rơi xuống. Ngọt ngào không gì sánh bằng. Đây là khoảnh khắc đáng ghi nhớ.

43. Chương cảm ứng

Con xin năm vóc sát đất đảnh lễ tri ân Liên Sinh Phật - bậc đại thành tựu giả, người cha đại từ bi.

Kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu bình an!

Qua một thời gian tự quan sát, đệ tử nhận thấy rằng khi hành giả tu hành đến một trình độ nào đó, muốn đột phá những chướng ngại để tiến lên cao hơn thì không thể thiếu sự gia trì trực tiếp từ bậc đại thành tựu. Đặc biệt là khi bước vào Nội mật như Maha Yoga, Anu Yoga, Ati Yoga, những cảnh giới này thâm sâu khó lường, không thể nào tự mình thành tựu được. Nhìn lại bao nhiêu năm qua, xét về những cảm ứng khi tham gia pháp hội Hộ Ma do Sư Phật chủ trì, đệ tử xin phân tích như sau:

Trong mấy chục năm qua khi tham gia pháp hội Hộ Ma của Sư Phật, dù luôn cảm nhận được năng lượng gia trì và sự thù thắng phi phàm từ Sư Phật, nhưng so với những lần tham dự trực tiếp từ đầu năm đến nay, ngoài pháp hỷ bên ngoài ra, còn có thêm những trải nghiệm kỳ diệu sâu sắc và chân thật hơn về tâm linh và trí huệ bên trong. Mỗi lần đều là một bước phát triển cao hơn về tâm linh và trí huệ nội tại, công lực rõ ràng tăng tiến mạnh mẽ.

Giống như trong tiểu thuyết võ hiệp, bậc cao nhân có công lực thâm sâu khó đo lường, dẫn đệ tử đến một nơi tàng phong tụ khí để bí mật truyền công, dùng công lực cả đời của sư phụ để giúp đệ tử khai thông Nhâm Đốc và kỳ kinh bát mạch, khiến đệ tử trong thời gian ngắn công lực tăng tiến vượt bậc. Đệ tử có cảm nhận đúng như vậy, những điều tưởng chỉ có trong thần thoại hay tiểu thuyết võ hiệp, dưới sự gia trì của Sư Phật, đệ tử lại được đích thân trải nghiệm những điều kỳ diệu tương tự trong thực tế, thật không thể nghĩ bàn!

Lấy ví dụ về đại pháp hội Hộ Ma do Sư Phật chủ trì trong hai tuần gần đây, vào ngày 10 tháng 9 năm 2023, trong đại pháp hội Hộ Ma Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang, trong suốt thời gian pháp hội, đệ tử cảm nhận được Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang và Phật Mẫu nhiều lần giáng xuống thân đệ tử, hình ảnh rất rõ ràng. Trong năm phút cuối cùng trước khi kết thúc, khi được gia trì chữa bệnh, toàn thân đệ tử càng trở nên sáng ngời trong suốt, năng lực quán tưởng tăng mạnh.

Mặc dù chỉ có hai bàn tay, chỉ có thể chạm vào hai chỗ, nhưng nơi nào đệ tử quán tưởng đến, quán cái gì hiện cái đó. Khi quán tưởng chỗ có sỏi mật, liền thấy một hạt đậu đen nhỏ, lập tức cầu xin tiêu trừ, vừa cầu xin thì hạt đậu đen liền hóa thành ánh sáng. Năm phút không dài không ngắn, đệ tử đã quán khắp hơn mười chỗ cơ quan già hóa trong cơ thể, ngay cả những đốm nám trên người cũng được cầu xin chủ tôn gia trì đến nỗi toàn thân nóng rực tỏa sáng, mồ hôi đầm đìa, thật là lợi hại!

Sau pháp hội, quả nhiên toàn thân cảm thấy nhẹ nhàng vô cùng, những cơn đau nhức khớp thường ngày đã biến mất không còn dấu vết. Hai ngày pháp hội từ Vancouver đến Cầu Vồng Lôi Tạng Tự đều lái xe đi về trong ngày, đối với người ở độ tuổi này quả thật khiến mọi người phải kinh ngạc. Ngày hôm sau soi gương, phát hiện những đốm nám tự nhiên nhạt đi rất nhiều, tâm trạng vui vẻ mỗi ngày, luôn nở nụ cười. Một hôm, bỗng nảy ra ý định lấy máy đo huyết áp đã lâu không dùng ra đo thử, vừa đo xong, không dám tin vào mắt mình, huyết áp cao 119, huyết áp thấp 66. Vốn tưởng rằng với việc đi lại liên tục những ngày qua, huyết áp vốn cao suốt mấy chục năm chắc chắn sẽ vượt ngưỡng, không ngờ nhiều ngày liền đều ở mức này, thậm chí còn thấp hơn, khiến đệ tử vui mừng đến phải nhảy cẫng lên. Sự gia trì của Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát quả thật là linh đơn diệu dược!

Tiếp theo từ ngày 14 đến 16 tháng 9, tinh xá Hạo Nhiên lần đầu tiên tổ chức khóa tu Mật Tam sau nhiều năm gián đoạn. Điều không thể nghĩ bàn là, đệ tử từ nhỏ đã bị "khí hư", nói năng yếu ớt, toàn thân không có sức lực, nên phải tiết kiệm hơi để nói. Vậy mà bây giờ từ sáng đến tối, miệng như thác đổ, nói liên tục không ngừng nghỉ, ngay cả giờ ăn trưa cũng không tha. Ba ngày liên tục thay thầy truyền pháp thiền mật, không biết mệt mỏi, tràn đầy năng lượng! Đồng môn từ Seattle đến tham dự đều cảm thấy chuyến đi rất đáng giá, còn hẹn nhau lần sau sẽ dẫn thêm nhiều người đến tham gia!

Sức gia trì của Sư Phật thật không thể nghĩ bàn, hai đại pháp hội mùa thu đã khiến đệ tử, một bà lão 70 tuổi, bùng nổ năng lượng chưa từng có. Vì khóa tu Mật pháp có nhiều nội dung như "Pháp tịnh hóa Kim Cang Tát Đỏa", "Lớp trì chú tinh tấn Thánh Quán Âm", giảng dạy và giải đáp về thiền định và Mật pháp, giảng dạy "Công pháp Kim Mẫu", "Hộ Ma mừng Thánh đản Hoàng Tài Thần", v.v… Đệ tử thậm chí có thể học đến đâu truyền đạt đến đó, thong dong tự tại, mọi người đều hoan hỷ. Tất cả đều nhờ vào phép màu được tạo ra dưới sự gia trì của Sư Phật, Thánh Quán Âm và Đại Huyễn Hóa Võng Kim Cang! (Kính gửi kèm Phụ lục A / Cảm ứng của học viên khóa Mật Tam.)

Ngày 17 tháng 9 năm 2023, Sư Phật chủ trì đại pháp hội Hộ Ma Diêu Trì Kim Mẫu Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự. Đây là một đại pháp hội trọng đại. Khi Thượng sư Liên Khiết vừa đến pháp hội, liền hỏi pháp sư: "Pháp hội Kim Mẫu, Thượng sư Liên Từ có đến không?!" "Có! Đến từ sớm rồi!" Quả nhiên, dưới sự gia trì của Sư Phật, từ trường dày đặc, khí thế hùng hồn, chỉ cảm thấy sức mạnh của chư Phật Bồ Tát trong vũ trụ tập trung và rót vào thân thể liên tục, bất chợt đệ tử nhìn thấy trong đan điền xuất hiện một vầng thái dương màu vàng kim to lớn, xung quanh mặt trời tỏa ra vạn tia hào quang như kim châm, kéo dài cho đến khi pháp hội kết thúc. Đệ tử trong lòng vô cùng xúc động, thực sự cảm nhận được trí huệ bình đẳng của vũ trụ. Hơn nữa, trong luồng khí tròn đầy hùng hậu như vậy, lần đầu tiên lĩnh ngộ được Đạo pháp "hỗn nguyên quy nhất", đối với tinh khí thần của Đạo giáo và khí mạch minh điểm của Mật giáo tuy khác đường nhưng cùng đích, có được sự lĩnh ngộ sâu sắc hơn.

Ngày hôm đó, sau pháp hội, bên Sư Phật đang giới thiệu về Hộ Ma Diệu Âm Thiên Nữ tuần sau, còn bên này đệ tử thì đang tính toán: thiên nữ trẻ trung xinh đẹp, ca hát nhảy múa chắc không liên quan gì đến bà già như mình nhỉ?! Hay là xin nghỉ, vắng mặt thì sao? Không ngờ, vừa mới nghĩ được vài ý, bỗng nhiên, một vị yogi nữ chân quấn dải lụa bảy màu hiện ra và thong dong ngồi lên đùi đệ tử! Ôi! Tôi đã trở thành pháp tọa của Ngài ư?! Bây giờ thì hiểu rồi! Được! Được! Được! Tôi sẽ đến hộ trì đây! Biết đâu tôi, một bà lão thường ngày nói như Hồng Vệ Binh, sẽ ca hát nhảy múa như hoàng oanh bay khỏi thung lũng, nhẹ nhàng vui vẻ như chim sẻ, lại có biện tài vô ngại, đa tài đa nghệ... có hy vọng rồi!

Ngày 20 tháng 9, đệ tử cuối cùng cũng có thời gian để tự mình thực hiện một buổi Hộ Ma Vạn Phật Thủ Vô Cực Nhãn Diêu Trì Kim Mẫu cúng dường Bổn tôn. Vừa thực hiện xong, đệ tử nhận ra rằng sự gia trì to lớn mà mình nhận được từ Sư Phật và Kim Mẫu những ngày trước, dù trải qua nhiều ngày bận rộn với việc đời, nhưng công đức gia trì vẫn không hề suy giảm. Năng lực quán tưởng, sức mạnh kiên cố và ánh sáng đều tăng gấp nhiều lần so với trước đây, ánh sáng tràn ngập khắp hư không, thực sự cảm nghiệm được sức mạnh siêu việt của tiểu vũ trụ hòa nhập vào đại vũ trụ, trong suốt thời gian đó đều cảm nhận được tâm đại bồ đề từ bi và bình đẳng khó diễn tả của Kim Mẫu. Ngay lúc đó, tất cả vô minh phiền não, tứ đại ngũ uẩn, bức bối trần tục đều tan biến, không kìm được việc đắm chìm trong cảnh giới diệu hỷ vong ngã, lâu lâu không muốn xuất định.

Mỗi tuần, dưới sự gia trì từ bi vĩ đại của Sư Phật và chư tôn, đệ tử liên tục nhận được những cảm ứng kỳ diệu, nhiều đến nỗi không kịp tiếp nhận, khiến đệ tử không còn phân biệt được mình đang ở đâu, thật sự là thiên thượng nhân gian chung một nhà! Ân đức gia trì và tái tạo của Sư Tôn và chư Phật Bồ Tát thực sự là điều không thể nghĩ bàn trong những điều không thể nghĩ bàn. Nếu đệ tử không ghi lại bằng bút mực này, năm vóc sát đất đảnh lễ, xin được tri ân rồi lại tri ân, tán thán rồi lại tán thán thì thật đáng bị phạt!

Kính dâng văn chương vụng về này lên Sư Phật, mong được Người mỉm cười!! Kính chúc Sư Phật, Sư Mẫu khỏe mạnh tự tại, trường thọ trụ thế chuyển pháp luân

Đệ tử Liên Từ đảnh lễ kính bái. Ngày 24 tháng 9 năm 2023.

44. Liên Hoa Hiểu Quang nhìn thấy

Đảnh lễ Sư Tôn kính yêu. Kính chúc Sư Tôn khỏe mạnh cát tường.

Đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang, trong buổi đại pháp hội Hộ Ma Hồng Tài Thần được tổ chức tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự ở Seattle, Hoa Kỳ vào chiều hôm qua, ngày 28 tháng 1 năm 2024 (chủ nhật), trong thiền định đã nhìn thấy nhiều cảnh tượng đặc biệt từ sự gia trì của Sư Tôn, nay xin được báo cáo và kính mong Sư Tôn ấn chứng.

Sau khi pháp hội bắt đầu, khi Sư Tôn biến hóa thủ ấn, đệ tử tập trung tinh thần vào huyệt ấn đường giữa hai chân mày trên trán, thả lỏng toàn thân, chế tâm một chỗ, chẳng bao lâu liền đi vào cảnh giới không minh, cảm thấy như người đã bước vào một không gian khác.

Sau đó, đệ tử nhìn thấy những cảnh tượng sau đây, xin trình bày cụ thể như sau:

1. Sự hiển hiện của thân biến hóa của Sư Tôn và Hồng Tài Thần:

Tại một nơi giống như nhà hát opera phương Tây, Sư Tôn đang diễn hóa đại thủ ấn, trước mặt Sư Tôn xuất hiện vô số Hồng Tài Thần, đứng hướng về phía Sư Tôn một cách cung kính. Bỗng nhiên, trong một sát-na, Sư Tôn hóa hiện thành một vị Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử để vai trần, đầu đội mũ Ngũ Phật, trang nghiêm vô cùng.

Sau đó, thân tướng của Sư Tôn xoay chuyển, trong chớp mắt trên thân sinh ra vô số cánh tay, mỗi bàn tay đều cầm một chày kim cang. Rồi mỗi cánh tay đều vươn về phía một vị Hồng Tài Thần và chạm vào đỉnh đầu của từng vị. Tất cả các vị Hồng Tài Thần sau khi được chày kim cang chạm đỉnh đều đồng loạt chắp tay đảnh lễ Sư Tôn. Sau khi lễ xong, các vị cùng nhau bước ra từ một cánh cổng vòm bằng thủy tinh trong suốt, bay đi khắp nơi trên thế giới để gia trì cho tất cả tín chúng đã ghi danh tham dự pháp hội. Có một vị Hồng Tài Thần Vương to lớn nhất không rời đi, vẫn luôn hộ trì bên cạnh Sư Tôn. Cánh cổng đó trông giống như cổng không gian trong các bộ phim khoa học viễn tưởng của Mỹ.

2. Mây cát tường và lời tiên tri trong không gian phía trên điện Hộ Ma của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự:

Phía trên điện Hộ Ma của Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, từ hư không chậm rãi bay đến một đám mây sắc màu tuyệt đẹp, phủ kín cả đại điện. Mây cát tường rực rỡ huy hoàng, kỳ diệu lấp lánh. Nó gần như hoàn toàn trong suốt, bề mặt có một lớp ánh sáng vàng nhạt, trong ánh sáng ấy lấp lánh những đốm sao bảy màu, trong những đốm sao lấp lánh lại tràn ngập ánh sáng châu báu (có lẽ đây chính là ánh sáng thất bảo). Khi mây phủ kín cả đại điện, từ trên trời lập tức rơi xuống vô số thỏi vàng nhiều như bông tuyết. Lúc này, đệ tử nghe thấy trong hư không có tiếng nói rằng: Sau đại pháp hội này sẽ có người trúng giải lớn.

3. Sự thị hiện vô duyên đại từ, đồng thể đại bi của Sư Tôn:

Đệ tử nhìn thấy Sư Tôn ngồi trên pháp tọa, trước mặt Sư Tôn có một mandala lớn bằng chum nước, bên trong chứa đầy thất bảo bát bảo, trong đó có những viên ngọc trai to bằng quả bóng bàn. Dưới sự gia trì của Sư Tôn, mandala bắt đầu xoay theo chiều kim đồng hồ, tốc độ từ chậm đến nhanh, dần dần biến thành núi Tu Di, giữa nhọn, trên dưới rộng, toàn bộ núi Tu Di được tạo thành từ thất bảo bát bảo. Núi Tu Di tiếp tục xoay, đột nhiên bùng nổ, bay tỏa khắp bốn phương tám hướng. Cùng lúc đó, đệ tử chân thực cảm nhận được tiếng nói từ tâm của Sư Tôn: Nguyện cho tất cả chúng sinh trên thế gian đều thoát khỏi nghèo khó, xa lìa khổ đau, hạnh phúc vui vẻ. Cầu xin gia hộ cho tất cả chúng sinh trên thế gian đều được tăng trưởng tài phú, không lo âu về cơm áo.

4. Sự hóa hiện của phân thân của Sư Tôn:

Đệ tử nhìn thấy Sư Tôn được Hồng Tài Thần Vương thỉnh mời vào một cung điện hoàng kim chứa đầy châu báu để tiếp đãi. Lại thấy Sư Tôn được Long Vương mời vào mật thất uống trà. Rồi lại thấy Sư Tôn và Ngọc Hoàng Đại Đế đang đàm đạo trong thiên cung. Đệ tử từ tận đáy lòng tán thán pháp lực cao cường của Sư Tôn, phân thân vô số, vừa có thể chủ trì pháp hội ở đây, vừa có thể đồng thời thần hành phương khác. Đủ thấy lời khai thị thường ngày của Sư Tôn về sự biến hóa phân thân là chân thật không hư.

Tất cả những điều được thấy ở trên, đệ tử cảm thấy vô cùng chân thực, thân tâm vô cùng xúc động, nay xin đặc biệt báo cáo, kính mong Sư Tôn ấn chứng.

Kính chúc Sư Tôn Phật an. Đệ tử Liên Hoa Hiểu Quang quỳ lạy đảnh lễ. Ngày 29 tháng 1 năm 2024.

45. Kiến chứng của Liên Hoa Thái Hồng

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng tôn quý và kính yêu nhất!

Trước khi viết thư đến Thầy, con xin thành tâm cầu chúc Thầy thân thể khỏe mạnh! Sớm bình phục! Khỏe mạnh trường thọ! Trường trụ thế gian! Pháp luân thường chuyển! Đồng thời cầu chúc Sư Mẫu thân thể khỏe mạnh! Sớm bình phục! Tinh thần sảng khoái!

Sư Tôn tôn quý, con và sư huynh của con không bao giờ bỏ lỡ các buổi đồng tu do Thầy chủ trì vào mỗi thứ bảy ở Seattle và pháp hội Hộ Ma trực tuyến tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự vào mỗi Chủ nhật.

Vào tối đồng tu pháp A Di Đà Phật ngày 25 tháng 11 năm 2023 vừa qua, con thấy Thầy hỏi mọi người tại hiện trường rằng: "Ai nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn, xin giơ tay! Có thể giơ tay hoặc đứng lên nói cũng được."

Sư Tôn tôn quý, nếu lúc đó con cũng có mặt tại hiện trường, con chắc chắn sẽ đứng lên để làm chứng, bởi vì con thực sự, chân thật nghìn lần vạn lần đã cảm ứng được Pháp thân của Thầy đang ở cùng con.

Trong những năm gần đây khi dịch bệnh lan rộng, Chân Phật Tông phát triển mạnh mẽ trên mạng, con may mắn được theo học với Thượng sư Liên Ha trên mạng, thực tu pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng, và vào ngày 30 tháng 4 năm 2022, con may mắn được tương ứng với Thầy. Từ đó trở đi, con thực sự cảm nhận được rằng Pháp thân của Sư Tôn hiện diện khắp nơi; chỉ cần con khởi một niệm về Sư Tôn, toàn thân con lập tức trở thành Sư Tôn; Sư Tôn là con, con là Sư Tôn. Thật sự, chân thật, sinh động!

Vào chủ nhật ngày 8 tháng 5 năm 2022, đúng vào tuần thứ hai sau khi con được tương ứng với Sư Tôn, hôm đó là Ngày Của Mẹ nên con không phải đi làm, con và sư huynh của con đã tham dự pháp hội Hộ Ma Lễ Tắm Phật trực tuyến do Thượng sư Liên Ha chủ trì và Thượng sư Liên Già hộ đàn tại Chân Đế Lôi Tạng Tự ở Brazil.

May mắn thay, trong suốt thời gian diễn ra pháp hội Hộ Ma Lễ Tắm Phật hôm đó, Pháp thân của Sư Tôn luôn đồng hành cùng con.

Con nhớ lúc đó, sau khi chuẩn bị xong cúng phẩm cho Lễ Tắm Phật, con đang hoan hỷ bày tỏ lòng biết ơn đến chư Phật Bồ Tát và Hộ Pháp Kim Cang trong đàn thành.

Thật không ngờ, ngay khi con vừa nói lời tri ân xong, đột nhiên hai tay con tự động kết ấn của Sư Tôn, và rất nhanh sau đó toàn thân con biến thành hình dáng của Sư Tôn, hoàn toàn giống như Sư Tôn thật vậy, thật sự không giả dối! Con lập tức kết ấn của Thầy và tự động gia trì cho chính mình. Điều này khiến con kinh ngạc đến sững sờ!

Sau đó, khi con và sư huynh của con đăng nhập vào "đám mây" và chuyên tâm theo dõi nghi thức pháp hội Lễ Tắm Phật, con không thể ngờ được rằng, khi đến lượt Thượng sư Liên Ha dẫn đầu mọi người xếp hàng tiến đến gần thân đồng tử của Phật Thích Ca Mâu Ni để lễ Phật và tắm Phật.

Kỳ lạ thay! Trong khi mắt con vẫn mở to, toàn thân tứ chi của con bỗng nhiên như bị trói chặt! Con ngồi bất động và lập tức tự nhiên nhập định! Thật là không thể nghĩ bàn!

Khi con mở mắt ra, con hoàn toàn quên mất bản thân, chú tâm hoàn toàn, tập trung tinh thần; như pho tượng đồng tượng sắt bất động, trong định con quan sát bên trong Chân Đế Lôi Tạng Tự, lúc đó người đông như nêm cối, xe cộ tấp nập trong không khí sôi động của Lễ Tắm Phật. Con còn phát hiện ra rằng, toàn bộ khuôn mặt, ánh mắt và thần thái của con đã hoàn toàn giống như Sư Tôn! Rõ ràng minh bạch, chân thật không giả. Con cũng biết rõ rằng, con đã hợp nhất với Pháp thân của Sư Tôn. Con chính là Sư Tôn, Sư Tôn chính là con. Thật không thể nghĩ bàn! Trong suốt khoảng hai giờ diễn ra Lễ Tắm Phật, con vẫn ngồi bất động, quan sát và lắng nghe. Thật đáng kinh ngạc!

Giống như Sư Tôn đang dùng Pháp thân của Thầy để quan sát Chân Đế Lôi Tạng Tự ở Brazil, nơi đang diễn ra Lễ Tắm Phật với người đông như trẩy hội, đồng thời lắng nghe đệ tử Kim cương Thượng sư của Thầy đang chủ trì pháp hội và giảng giải về Pháp thân của Thầy cho đồng môn như thế nào. Và hôm đó, Thượng sư Liên Ha và Thượng sư Liên Già, cả hai vị trong bài khai thị đều tán thán Pháp thân của Sư Tôn, về việc Pháp thân của Thầy biến khắp hư không, vũ trụ, không nơi nào không hiện diện. Sự trùng hợp kỳ diệu này thực sự khiến con phải thán phục vô cùng, rung động tận đáy lòng và không ngừng tán thán!

Sư Tôn, Thầy thật sự là bậc tiên tri tiên giác, là bậc đại Thánh nhân, đại Pháp Vương, Hoạt Phật có Pháp thân hiện diện khắp nơi! Và khi Pháp thân của Thầy hợp nhất với con, thật sinh động, sống động và chân thực đến nỗi sau khi đích thân chứng nghiệm, con không ngừng tán thán! Con sẽ không bao giờ quên được!

Vì vậy, ngày hôm đó con đã lập tức viết thư báo cho Thượng sư Liên Ha, tán thán sự thù thắng của Lễ Tắm Phật hôm đó, và đã viết thành bài về niềm pháp hỷ khi Pháp thân của Sư Tôn hợp nhất với con trong ngày Lễ Tắm Phật, rồi đăng lên nhóm học tập để khích lệ các đồng học và bạn đạo khác.

Kể từ đó, sau khi con được tương ứng với Sư Tôn, Pháp thân của Thầy luôn ở bên cạnh con, hiện diện khắp nơi, gắn bó không rời, như hình với bóng.

Năm ngoái vào tháng 11, khi Sư Tôn và Sư Mẫu trở về Đài Loan, khi các đệ tử khắp thế giới đồng lòng hướng về Đài Loan; khi các đệ tử Mỹ khao khát được sum họp cùng Sư Tôn; và khi các đệ tử Đài Loan lại được gặp Thầy trong niềm hân hoan, phấn khởi, lòng con không khỏi ngưỡng mộ. May mắn thay, Pháp thân của Sư Tôn lúc đó, như thấu hiểu tâm tư của con vậy, thường xuyên ở bên cạnh con, khích lệ con, sưởi ấm lòng con, khiến con thực sự nhận ra và cảm nghiệm được rằng: chỉ cần chúng con chuyên tâm thực tu Chân Phật Mật Pháp của Sư Tôn, chỉ cần chúng con tinh tấn thực hành thiền định và pháp môn thiền của Sư Tôn, chắc chắn sẽ được cùng Pháp thân của Sư Tôn đồng hành mọi lúc, và dù Sư Tôn đang ở nơi đâu, thân ở chốn nào; chúng con vẫn luôn có thể cùng Thầy sum họp. Bởi vì Sư Tôn có vô số, đích thực là vô lượng vô biên, không thể đếm xuể, những Pháp thân và Báo thân chân thật vĩnh hằng.

Mùa hè năm ngoái, khi sư huynh của con yêu cầu con đi xem giải bóng đá, trong lúc con đang xem giải đấu một cách chán nản, không hứng thú, và đang thực hành pháp Liên Hoa Đồng Tử Căn bản Thượng sư tương ứng trên sân vận động, Sư Tôn đã đáp ứng lời cầu nguyện của con, từ bi dùng Pháp thân của Thầy di chuyển đến sân vận động ở Vermont, vùng Đông Bắc Hoa Kỳ nơi chúng con sinh sống, hợp nhất với con, hòa làm một, và cùng nhau vui vẻ xem giải bóng đá. Khiến con sau khi xem xong giải đấu, bất ngờ tràn đầy pháp hỷ, vui mừng khôn xiết!

Sau đó, con còn hân hoan viết thư kể lại cho Sư Tôn. Sau khi đọc thư của con, Sư Tôn còn đính kèm bức thư vào tác phẩm thứ 292 của Thầy "Thần Thông Đại Sư Duy Ma Cật", chương 26 "Xem bóng đá". Điều này khiến con vô cùng hoan hỷ và không ngừng cảm thấy được cổ vũ!

Sư Tôn tôn quý, trong đời này con có thể quy y Thầy, tiếp nhận giáo lý chân thật của Thầy, và đích thân chứng nghiệm sự thù thắng của Chân Phật Mật Pháp, thật là hạnh phúc và may mắn biết bao! Con luôn khao khát thực tu Chân Phật Mật Pháp của Thầy; bởi con cảm thấy như cá uống nước! Con luôn khao khát thiền tu pháp môn thiền định của Thầy; bởi con cảm thấy như cá gặp nước! Thầy thật là vĩ đại!

Mỗi lần thông qua thực tu, thông qua nhập Tam ma địa thiền định, Thầy đều dùng Pháp thân của Thầy, và kết ấn của Thầy, sinh động sống động, chân thực hợp nhất, dung hòa với con. Bất kể lúc nào nơi đâu, chỉ cần con nhớ đến Thầy, chỉ cần con cầu nguyện trước Phật đàn, Pháp thân của Thầy lập tức tự động kết ấn của Thầy, hợp nhất dung hòa với con, gia trì cho con, khích lệ con.

Tình thầy trò và duyên thầy trò giữa con và Thầy chính là như vậy, trong lúc thực tu, trong lúc hợp nhất với Pháp thân của Thầy, càng ngày càng sâu đậm, kiên định không lay chuyển, vững chắc như sắt! Con thực sự đã chứng nghiệm được sự bất khả tư nghì về Pháp thân của Thầy hiện diện khắp hư không, vũ trụ, thậm chí ở mọi ngóc ngách! Thầy thực sự là bậc Hoạt Phật Pháp Vương nghìn năm có một trong thời đại ngày nay!

Con thực sự đã chứng nghiệm được những gì Thầy đã dạy trong buổi pháp hội đồng tu pháp Bổn tôn A Di Đà Phật vào tối ngày 25 tháng 11 năm 2023: "Mặc dù Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đã rời khỏi thế giới Ta Bà, nhưng Ngài đã từng dạy rằng, chỉ cần trì tụng thần chú của Ngài, kính sư, trọng pháp, thực tu, Ngài sẽ hiện thân, nghĩa là, Pháp thân của Ngài hiện diện khắp nơi. Rồi sẽ có một ngày, ở Seattle Lôi Tạng Tự, Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, và tất cả các chùa, đường, hội trên toàn thế giới, bạn sẽ không còn tìm thấy Lư Sư Tôn nữa, nhưng chỉ cần bạn thực tu Chân Phật Mật Pháp, Sư Tôn vẫn có thể hiện thân, hiện nay đã có rất nhiều người có thể nhìn thấy Pháp thân của Sư Tôn nói chuyện."

Quả thật đúng như vậy, không hề sai! Quả thật chính xác là như thế!

Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chí cao vô thượng tôn quý và kính yêu nhất! Con vô cùng biết ơn vì có Thầy! Con sẽ mãi mãi kính sư, trọng pháp, thực tu như từ trước đến nay.

Trong khi con và sư huynh của con đang tích cực trì tụng Kinh Cao Vương, tâm chú A Di Đà Phật, thành tâm hồi hướng cho Thầy và Sư Mẫu, cầu nguyện Thầy sớm bình phục khỏe mạnh, con cũng xin chân thành cầu chúc Thầy Phật thể an khang, không bệnh không đau, tinh thần sảng khoái, trường thọ khỏe mạnh! Và cầu chúc Sư Mẫu vạn sự như ý, mọi điều cát tường, sớm bình phục, thân thể khỏe mạnh!

Ngu đệ tử Liên Hoa Thái Hồng trợ giảng đảnh lễ cảm tạ. Viết tại Vermont, vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.

46. Tâm đắc về hóa cầu vồng

Đảnh lễ Liên Sinh Phật - bậc Đại thành tựu giả cầu vồng Kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu pháp an!

Đệ tử tiếp tục xin báo cáo với Sư Phật về tâm đắc và cảm nhận tu hành gần đây. Từ tháng 4 năm 2022, sau khi biên giới Mỹ-Canada chính thức mở cửa hoàn toàn cho xe cộ sau đại dịch, các đệ tử Canada lại có thể như thường lệ, hàng tuần lái xe đến Seattle, được Sư Phật đích thân giáo hóa gia trì. Đến nay đã gần một năm rưỡi trôi qua thật nhanh, đệ tử nhận thấy qua mỗi lần Hộ Ma của Sư Phật, sức gia trì và cảm ứng rõ ràng càng lúc càng vững chắc hơn, mạnh mẽ hơn, rõ nét hơn. Dù là ở hiện trường hay tự tu ở nhà, bản thân đều có thể cảm nhận được sự tiến bộ rõ rệt. Đại thành tựu của Sư Phật thật sự không thể dùng bất kì ngôn từ nào để miêu tả, nhưng đệ tử vẫn muốn mạnh dạn thử trình bày....

Thành tựu cầu vồng vĩ đại

Ngày 1 tháng 10 năm 2023, tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, trong pháp hội Hộ Ma Liên Hoa Sinh Đại Sĩ, Sư Phật lần đầu tiên truyền đại pháp hóa cầu vồng tại Bắc Mỹ. Đệ tử vô cùng coi trọng pháp hội này, vì pháp hội này, đệ tử đã âm thầm chuẩn bị trước bằng cách thực hiện nghi quỹ Hộ Ma cúng dường Liên Sư và Phật Mẫu Yeshe Tsogyal, để bày tỏ lòng thành kính sâu sắc, với hy vọng có thể đạt được thành tựu trong pháp hội của Sư Phật.

Trong pháp hội hôm đó, khi Sư Phật thắp lửa Hộ Ma và chậm rãi bước vào điện Hộ Ma, trong khoảnh khắc, con thấy phía sau lưng của Sư Phật được bao phủ bởi một vòng hào quang cầu vồng bảy sắc rực rỡ, giống như vầng hào quang tròn của chư Phật Bồ Tát, hợp nhất làm một với thân. Theo tiếng chú âm vang vọng xa xăm và nghi thức thỉnh pháp, dẫn dắt mọi người vào trong cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh. Trong tiếng chú âm liên tục không ngừng, tự nhiên thu nhiếp vạn niệm về một niệm, nhất tâm hòa nhập vào dòng pháp vi diệu thù thắng của Liên Sư, Phật Mẫu và Sư Phật ba vị hợp nhất.

Từ đầu đến cuối, toàn bộ hư không mở ra, ngoài ánh sáng cầu vồng bảy sắc ra thì vẫn là ánh sáng cầu vồng, toàn bộ hư không tràn ngập ánh sáng cầu vồng, không hề ngừng nghỉ. Thậm chí có vài lần, đệ tử vô thức nhìn xuống, toàn bộ ánh sáng cầu vồng tự động xoay chuyển, thật là kỳ diệu. Trong tai vang lên âm thanh: "Đây là đại truyền thừa thành tựu cầu vồng của Liên Sinh Phật!" khiến đệ tử vô cùng xúc động, mãi mãi... Sau khi kết thúc, Sư Phật cho biết, trong pháp hội lần này, có nhiều đợt Liên Sư, Phật Mẫu, chư Phật Bồ Tát, chúng không hành đến tham dự, số lượng lên đến hàng vạn vạn, chưa từng có trước đây. Thầy còn nói: "Từ đầu đến cuối tôi đều đang chuyển động chú luân trong tâm." Nghe được lời này, đệ tử mới biết ánh sáng cầu vồng xoay chuyển mà mình thấy trước đó chính là hiện tượng do chú luân của Sư Phật chuyển động, thật là không thể nghĩ bàn không thể tưởng tượng, thật là thành tựu cầu vồng vĩ đại kỳ diệu biết bao!

Thần thông nhậm vận trong niệm vô niệm

Thứ Sáu ngày 6 tháng 10, đệ tử đã thực hiện một lễ Hộ Ma Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử để cúng dường Bổn tôn và cầu nguyện cho pháp hội phóng sinh Liên Hoa Đồng Tử vào ngày thứ bảy được thuận lợi viên mãn. Trong buổi Hộ Ma này, thân tâm đệ tử đạt đến trạng thái an tịnh thanh thản chưa từng có, không suy không nghĩ, không phiền không não, tĩnh lặng trong sáng... Thực sự lĩnh hội được ý nghĩa "tâm chẳng ở ngoài, tâm chẳng ở trong, tìm tâm bất khả đắc". Sự lĩnh ngộ của đệ tử là, theo cách giải thích về sáu thức của con người - sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tâm nương theo thức mà giác, vô tâm tức vô giác, vô tâm vô giác rốt ráo là không, giác mà không giác, không giác mà giác, chính là chân đế trong Tâm Kinh đã nói: "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị".

Trong buổi Hộ Ma này, nhờ có đại gia trì lớn lao của Sư Phật, đệ tử đã bước đầu nắm bắt được bí quyết "không hữu bất nhị" và thậm chí cả "niệm trong vô niệm". Đệ tử còn nhớ lại chuyện năm xưa khi Sư Phật hoằng pháp tại Indonesia, nơi đó đang gặp hạn hán kéo dài nhiều tháng, người dân vô cùng khổ sở. Sư Phật ngồi trên pháp tọa, thuận theo ý nguyện của đại chúng mà cầu mưa. Chỉ sau mười mấy phút kết thúc pháp hội, trời thực sự đổ mưa như trút nước, mưa liên tục mấy ngày, giải quyết được tình trạng hạn hán vô cùng nghiêm trọng của địa phương.

Gần đây, khi đọc tác phẩm mới của Sư Phật - quyển 296 "Tặng Bạn Một Đóa Hoa", trong sách có viết về hai lần cầu tuyết của Hòa thượng Hư Vân năm xưa. Khi đó vừa có hạn hán, vừa có dịch bệnh, Hòa thượng Hư Vân quỳ trên pháp đài, bất động không ăn không uống, ngày đêm không ngủ nghỉ, liên tục ba ngày. Thật kỳ diệu thay, giữa tháng năm trời lại đổ mưa, lại có tuyết rơi, trời hiện điềm lạ, hiển thần tích, hóa giải tai ương. Những thần tích vĩ đại được lưu truyền rộng rãi này, đệ tử tin sâu sắc rằng chính là do các bậc đại tu hành có công phu thiền định thâm sâu, dùng "niệm trong vô niệm" để diễn hóa thần thông nhậm vận.

Tâm tịnh Phật thổ tịnh

Đệ tử cũng hiểu sâu sắc hơn về điều Sư Phật thường nói gần đây: Lý tưởng "cả thế giới chỉ cần một quốc gia, cùng chia sẻ cùng thịnh vượng" đều bắt nguồn từ thánh nghĩa lý thú của Phật giáo "tâm tịnh thì Phật thổ tịnh". Đất nước lý tưởng của nhân gian, chỉ có thể thành tựu tịnh độ nhân gian khi được xây dựng dựa trên trí huệ truyền thừa một mạch từ Phật Đà, chư Phật Bồ Tát và Sư Phật.

Đệ tử tin sâu sắc rằng pháp môn Mật giáo quả thật vừa tinh tế vừa vi diệu, có thể chuyển hóa triệt để phàm phu thành Thánh nhân, chuyển uế thổ thành tịnh thổ, là Thánh giáo hiếm có trong thời đại ngày nay.

Cho nên dù là Đại Thủ Ấn của Bạch giáo: Chuyên nhất Du già, Ly hý Du già, Nhất vị Du già, Vô tu Du già, hay Thật tướng Đại Thủ Ấn thành tựu từ bốn Du già, hoặc Hằng Hà Đại Thủ Ấn tức thân thành Phật.

Chín thừa của Hồng giáo: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Sự bộ, Hành bộ, Du Già bộ, Ma Ha Du già, A Nỗ Du già, A Để Du già của giáo pháp Đại Viên Mãn.

Bất kể là một trong bốn giáo phái Mật giáo Hồng Hoàng Bạch Hoa, chỉ cần hành giả tùy duyên tu tập, kiên trì không bỏ cuộc, đều được thanh tịnh, đều có thể thành tựu.

Đệ tử may mắn được Sư Phật từ bi giáo hóa trong đời này, càng thêm thấu hiểu minh sư khó cầu, muốn được đại pháp, khẩu nhĩ tương truyền, tâm tâm tương ấn, quyết chí chứng đắc, cơ hội nghìn năm khó gặp, sao mà không trân quý rồi lại càng trân quý?!

Kính chúc Sư Phật Sư Mẫu cát tường an khang, độ chúng nhậm vận, trường thọ trụ thế chuyển pháp luân. Đệ tử Liên Từ đảnh lễ cung kính. Ngày 8 tháng 10 năm 2023

47. Báo cáo của Thượng sư Liên Ha

Sư Phật Sư Mẫu kính yêu nhất, Phật an!

Ngu đệ tử Liên Ha một lòng đảnh lễ và xin dâng cúng thân khẩu ý lên Sư Phật Sư Mẫu!

Chủ nhật tuần trước, khi đệ tử tham gia lễ Hộ Ma do Sư Phật chủ trì tại Cầu Vồng Lôi Tạng Tự, thấy Sư Phật vừa ho vừa cố gắng thuyết pháp, trong lòng vô cùng xúc động và đau xót! Đệ tử ngay lập tức quyết định sẽ bay đến Seattle thăm Sư Phật càng sớm càng tốt, và đã mua được vé máy bay vào thứ hai tuần sau, ngày 11 tháng 12, sẽ đến Seattle vào ngày 12. Khi Sư Phật nhận được bức thư này, thầy trò chúng ta đã gặp nhau rồi.

Nghe Sư Phật khai thị, đệ tử vô cùng xúc động trong lòng, Sư Phật dù đang đau bệnh vẫn truyền dạy cho đệ tử những bí quyết tu hành: tầm quan trọng của việc cầu nguyện. Thầy còn thị hiện cho đại chúng thấy thế nào là tinh tấn vĩnh hằng: sau khi lên giường lúc 2 giờ sáng, nhớ ra quên chưa cầu nguyện Diêu Trì Kim Mẫu, vẫn phải xuống giường đến trước đàn thành để cầu nguyện.

Đệ tử vô cùng xúc động, trong đời này về sau, bất cứ khi nào cảm thấy mệt mỏi chán nản, đều sẽ nhớ đến hình ảnh Sư Phật xuống giường cầu nguyện lúc 2 giờ sáng, đó là tấm gương tinh tấn tu trì vĩnh hằng cho các đệ tử.

Trong bài khai thị, Sư Phật nói rằng dù đã 80 tuổi vẫn đang không ngừng học hỏi. Sự khiêm nhường và tinh thần không ngừng tiến thủ của Thầy đã truyền cảm hứng cho tất cả đệ tử Chân Phật, để chúng con luôn giữ tâm khiêm cung, tiếp tục học hỏi và không ngừng tiến bộ trên con đường tu hành.

Về việc học hỏi, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 11 năm nay, đệ tử đã liên tục tham gia "Đại hội cúng tăng và Lớp nghiên cứu giáo dục ở Malaysia", "Khóa tu Mật giáo và Lớp nghiên cứu ở Indonesia", cũng như "Chuỗi khóa học ở Singapore". Đệ tử vô cùng hoan hỷ khi thấy sự phát triển và tiến bộ của nền giáo dục Chân Phật tại các quốc gia.

Tại Malaysia có khóa huấn luyện nhân viên hoằng pháp kéo dài 6 ngày (trong đó có 3 ngày là khóa học dành riêng cho chư tăng). Cảm ơn Thượng sư Liên Mãn, Trưởng lão Liên Truyền giảng dạy "Giới luật cho cư sĩ và xuất gia", Trưởng lão Liên Tài giảng dạy "Oai nghi của cư sĩ", Trưởng lão Liên Tăng giảng dạy "Nhập môn Duy Thức" và "Bách trượng thanh quy", Thượng sư Liên Phi hướng dẫn "Thực hành nghi thức làm chứng hôn lễ", Thượng sư Liên Duyệt hướng dẫn "Những điểm chính trong tụng kinh tang lễ", Thượng sư Liên Đông hướng dẫn "Quan niệm và phương pháp phóng sinh đúng đắn", Thượng sư Liên Phu hướng dẫn "Thất trùng luân, sáu tư thể công pháp và Bảo bình khí", và mỗi tối, đệ tử hướng dẫn đại chúng cùng nhau tu tập thiền định theo phương pháp "định trong định" của Sư Phật.

Đặc biệt nhất là "Khóa thực hành và tương tác" dành cho chư tăng. Chúng tôi đưa ra một chủ đề cho chư tăng và mời từng vị lên thuyết giảng. Sau đó đưa ra một đề tài "Xin hãy mô tả mô hình sinh hoạt tăng đoàn lý tưởng trong tâm quý vị", mời các giảng sư hướng dẫn chư tăng thảo luận theo nhóm, rồi cùng lên trình bày quan điểm. Cuối cùng toàn thể Thượng sư chấm điểm bằng bảng biểu, và các vị Trưởng lão nhận xét chỉ dẫn. Thật hoan hỷ khi thấy chư tăng từ căng thẳng đến thư giãn, từ rụt rè đến can đảm, tiến bộ thay đổi chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, tỏa sáng rực rỡ trước đại chúng và ống kính máy quay!

Tại khóa tu Mật giáo toàn quốc ở Indonesia, Thượng sư Liên Mãn và Trưởng lão Liên Truyền giảng dạy "Ba mươi bảy phẩm trợ đạo" gồm "Tứ niệm xứ", "Tứ thần túc", "Tứ chính cần", "Ngũ căn, Ngũ lực", đệ tử giảng giải về "Thất bồ đề phần", Trưởng lão Liên Tăng giảng dạy "Bát chính đạo", Thượng sư Huệ Quân giảng giải "Oai nghi đi đứng nằm ngồi của hành giả Chân Phật". Mỗi sáng 6 giờ, mọi người thức dậy kinh hành niệm Phật giữa khung cảnh núi xanh nước biếc, chim hót hoa thơm, tối đến tổ chức nghi lễ trang nghiêm cúng đèn và nhiễu Phật. Ai nấy đều lưu giữ ấn tượng vô cùng tốt đẹp, thậm chí đã quyết định năm sau sẽ tiếp tục tổ chức hoạt động như vậy!

Tại Singapore, chúng con cũng sắp xếp một tuần học tập, trong đó hai vị Trưởng lão giảng dạy "Nhập Bồ Tát Hạnh Luận", Thượng sư Liên Già giảng dạy "Quản lý cảm xúc và Tứ vô lượng tâm", đệ tử giảng giải về "Chuẩn bị và cốt lõi của thiền định" và "Xã hội học về hội cúng". Tại Singapore, chúng con đã thấy được sức mạnh và hiệu quả của giáo dục, những đạo tràng chú trọng giáo dục lâu năm có những nhân viên hoằng pháp và đồng môn với phẩm chất và trạng thái khác biệt, họ có nhiều trí tuệ hơn và tinh tấn hơn. Sau hơn một tháng trải nghiệm, đệ tử đã thấm thía sâu sắc lời Sư Phật đã viết: muốn phát triển tông phái Chân Phật, muốn truyền thừa vĩnh viễn, muốn nhân tài xuất hiện liên tục, nhất định phải có giáo dục.

Cũng đúng hôm nay, chúng con vừa long trọng tổ chức lễ tốt nghiệp trực tuyến cho "Khóa học Chân Phật Mật Pháp" của Đại học Trực tuyến Chân Phật. Sau một năm học tập, giảng dạy, tinh tấn, điểm danh và thi cử, cuối cùng chúng ta đã trao bằng tốt nghiệp cho các học viên, và dựa theo thành tích đã chọn ra ba vị đứng đầu năm nay là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Đồng thời, chúng con cũng tri ân tất cả những nhân tài trong đội ngũ giáo dục Chân Phật, tri ân giảng sư Thượng sư Liên Nhất, giáo thọ sư Liên Như - thư ký điều hành Ban Giáo dục, giảng sư Dực Tài - thư ký hành chính, trợ giảng Mỹ Nga, cùng toàn thể đội ngũ cố vấn và biên soạn giáo trình.

Thật ra điều mà đệ tử cảm thấy biết ơn nhất trong lòng chính là Căn bản Thượng sư: bởi vì tất cả giáo pháp đều xuất phát từ Sư Phật; tất cả nhân tài cũng đều là ân phước từ Sư Phật ban cho; tất cả nhân duyên đều là sự gia trì thầm lặng của Sư Phật.

Sư Phật kính yêu, trong chuyến đi Châu Á này, dù bận rộn đến mấy, đệ tử vẫn hành pháp không ngừng mỗi ngày, thậm chí còn học được cách luyện khí trong lúc làm việc, giảng dạy, luôn giữ được Bảo bình khí, và càng thêm thấm thía rằng "trung trụ khí" là nền tảng của mọi công đức, bởi vì nó liên quan trực tiếp đến chủng tự ở Tâm luân và ánh sáng Phật tính. Vô cùng cảm tạ khẩu quyết của Sư Phật! Cầu chúc Sư Phật sớm bình phục, cát tường an khang, trường thọ tại thế, vĩnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế. Xin kính chúc Sư Phật Sư Mẫu năm mới vui vẻ, ngày cát tường, đêm cát tường, một ngày sáu thời thường cát tường!

Ngu đệ tử Liên Ha kính lạy. Ngày 9 tháng 12 năm 2023 tại núi Brazil.

48. Hướng dẫn đọc văn tập "Mưa bụi bé nhỏ" - Giáo thọ sư Thích Liên Truy

I. Cuộc đời kỳ diệu của Sư Tôn

Sư Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, từ một chàng thanh niên yêu thích văn nghệ, trở thành một quân nhân chuyên nghiệp, rồi trở thành nhân vật nổi tiếng trong giới phong thủy, Ngài đã trải qua nhiều cuộc hành trình kỳ diệu, cuối cùng được Phật pháp cảm hóa sâu sắc, bước vào lĩnh vực tôn giáo, và trở thành bậc tông sư của một phái. Trong cuốn sách "Mưa bụi bé nhỏ", mỗi bài thơ đều chứa đựng câu chuyện của Ngài, có sự say mê văn chương thời niên thiếu, có khoảnh khắc rung động ngọt ngào đầu tiên, có sự rèn luyện trong quân ngũ, có sự tiếp xúc với khoa huyền học, có sự chứng nghiệm thành tựu tu hành của bản thân, tất cả đều là hành trình và xúc cảm trong cuộc đời của Sư Tôn. Trước hết, hãy để chúng ta từ bài viết "Ba bài thơ và vài câu nói" này, một cách ngắn gọn súc tích, nhìn lại cuộc đời kỳ diệu của Sư Tôn, tôi chia thành ba giai đoạn để trình bày:

1. Thời thơ ấu (thời kỳ bị bắt nạt); 2. Thời kỳ quân nhân (thời kỳ rèn luyện); 3. Thời kỳ tu hành (thời kỳ học Phật).

Trong thời thơ ấu, Ngài thường xuyên bị đánh đập vô cớ. Giai đoạn này là thời kỳ bị bắt nạt, Ngài sống trong cảnh ba ngày một trận đòn lớn, hai ngày một trận đòn nhỏ. Ngài đã từng làm một bài thơ rằng:

"Mùa xuân tuổi thơ, chưa từng thấy được. Da thịt sưng đỏ, vết thương chưa lành, lại thêm vết mới. Đánh đánh đánh, thời kỳ đó thật có chút oán hận, đành chấp nhận số phận, cố che giấu nỗi đau trước người khác."

Trong thời kỳ quân nhân, Ngài vào trường Trắc Lượng, chịu huấn luyện quân sự nghiêm khắc, nhưng lại đặc biệt say mê sáng tác thơ ca, văn xuôi và tiểu thuyết. Ngài đọc rất nhiều sách, viết rất nhiều bài, trở thành một quân nhân mang hơi thở văn nghệ, Sư Tôn có thơ rằng:

"Chịu đựng hết nước ngập trời xanh gió nổi sóng, như thể, thuyền trên sông trong, nỗ lực chèo mái chèo của cuộc đời. Một bên là quân nhân, một bên là văn nghệ. Cả hai cùng bay, hướng về nhau."

Trong thời kỳ tu hành, Sư Tôn từ quân nhân chuyển sang học Phật, một lòng học Phật, một lòng học pháp, một lòng hướng thiện. Phật pháp trở thành niềm tin và chỗ dựa vững chắc của Ngài, Sư Tôn có thơ rằng: "Ta ở bờ này, nhìn về bờ kia, học tập nhất tâm bất loạn. Tín, nguyện, trì danh, để định huệ sáng rực của ta, bay về tòa bồ đề."

Cuộc đời kỳ diệu nhiều tai ương của Sư Tôn không vì thế mà buông xuôi thất chí bị đánh bại, mà ngược lại kiên cường bất khuất, tinh tấn thực tu và viên mãn thành tựu, đây chính là bậc Căn bản Truyền thừa Thượng sư của chúng ta - Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật - một bậc thành tựu vĩ đại thừa nguyện lại đến.

Con cũng xin viết một bài thơ tán thán Sư Tôn:

"Than ôi! Ngài là đứa trẻ chịu hết mọi đau đớn bạo hành. Hùng tráng thay! Ngài là bậc anh dũng bảo vệ quê hương đất nước. Vĩ đại thay! Ngài là bậc Thánh giả trên tòa bồ đề. Kiếm cầm nơi tay, là trí huệ thâm sâu vô tận của bậc Thánh. Mũ đội trên đầu, là lòng từ bi thương xót chúng sinh của bậc Thánh. Áo giáp khoác trên mình, là nguyện lực kiên cố bất động của bậc Thánh. Nguyện cầu Sư Tôn Thánh Tôn, ánh sáng thanh tịnh của trí huệ từ bi và nguyện lực vô tận, mãi mãi chiếu soi chúng sinh, không bao giờ dứt!"

II. Luận về tu hành qua thơ thiền

Thơ của Sư Tôn chứa đựng thiền ý, chứa đựng sự tu hành, và cũng chứa đựng nhân văn. Sư Tôn là một bậc Thánh giả thành tựu, nhưng Sư Tôn cũng là một nhà văn, bởi vì từ thuở ban đầu Sư Tôn đã là một thanh niên văn nghệ, khí chất văn nghệ của Sư Tôn, ngoài văn xuôi ra, còn thể hiện trong thơ ca của Ngài. Trong thơ ca, nội dung không phải là những lời than vãn vô cớ, hay những tiếng thở than u sầu. Hướng đi cuối cùng đều là dạy chúng ta tu tập nghiêm túc, trở về chân như. Đặc điểm trong thơ của Sư Tôn, tôi tóm tắt có ba điểm: (1) Thấy sự vĩ đại trong khiêm nhường; (2) Hướng dẫn thực tu trong hiện thực; (3) Trong thơ có họa thể hiện thần thái.

III. Nỗi nhớ quê hương trong làn mưa bụi

Sư Tôn nói: "Tôi thường tự suy ngẫm, tôi không quen thuộc với các thành phố lớn, nơi tôi sống chỉ là thành phố vừa và nhỏ. Mỗi lần xem tin tức truyền hình, những bản tin đó luôn nói về New York hoặc Los Angeles, tin tức về Seattle hầu như không có." Sư Tôn thường nghĩ về hai chữ "vi vi" (bé nhỏ).

Trong phần "Lời tựa" của cuốn sách này, Ngài nói: "Tôi đã viết một bài thơ nhỏ: Khói bé nhỏ. Mưa bé nhỏ. Thành phố bé nhỏ. Người bé nhỏ. Bài thơ ngắn này rất đơn giản, nhưng nó đã thể hiện được những suy tư sâu sắc và cảm nhận trong cuộc đời của tôi."

Sư Tôn chưa từng sống ở Đài Bắc rộng lớn, cũng chưa từng ở thành phố lớn New York, chỉ sống ở những thành phố nhỏ, nên tự cảm thấy nhỏ bé, và viết nên "thành phố bé nhỏ, người bé nhỏ"; còn Seattle thì nhiều mưa, những cơn mưa phùn như sương khói, nên viết nên "khói bé nhỏ, mưa bé nhỏ".

Bài thơ này thể hiện sự gần gũi với cuộc sống và con người trong thơ của Sư Tôn, bởi vì sương mù, thành phố, con người là những thứ chúng ta có thể trực tiếp nhìn thấy, chạm vào được, nhưng lại biểu đạt cảm nhận cả đời của Sư Tôn, đó là tất cả đều nhỏ bé, nhỏ bé đến vô ngã, bởi vì vô ngã mới có thể chứng được Phật tính.

Đó chính là: Thấy sự vĩ đại trong khiêm nhường.

Cảm ngộ tâm cảnh của Sư Tôn, tôi cũng viết một bài thơ nhỏ:

Hoa bé nhỏ, cỏ bé nhỏ, cây to cũng bé nhỏ. Cát bé nhỏ, đất bé nhỏ, đại địa cũng bé nhỏ. Vũ trụ mênh mông không biên giới, trái đất như bụi cũng bé nhỏ. Người bé nhỏ, bạn bé nhỏ, tôi cũng bé nhỏ. Vì thế tôi nguyện sám hối tội, học từ bi, và khiêm nhường.

IV. Chỉ cầu hỏi việc mà quên tu hành

Sư Tôn trong bài "Vì sao không còn hỏi việc nữa?" có đề cập: "Có người hỏi: 'Lư Sư Tôn, thật sự không còn hỏi việc nữa sao?' Tôi đáp: 'Dù sao tôi cũng là một hành giả!'"

Và trong sách này, bài "Hỏi việc" viết rằng: "Bạn đến hỏi tôi, tôi cho đáp án, đáp án của tôi phải thật hay. Lòng người đời luôn quá rối ren, không dứt được niệm. Tôi sẽ dạy bạn, làm sao thật sự đến được bờ kia. Bệnh có thể chữa, tai ương có thể tan, duyên đến duyên đi không giống nhau, lợi ích, quyền vị, điều quan trọng nhất là tu hành, tôi là đạo bạn tốt nhất của bạn."

Đặc điểm của bài thơ này rất chân thực, phản ánh một mặt tán loạn và phụ thuộc của chúng sinh chúng ta.

Thật ra, Sư Tôn hiện nay vẫn hỏi việc mỗi ngày, suốt năm không nghỉ kể cả đêm Giao Thừa và Tết Nguyên Đán, Ngài làm vậy để thuận tiện độ hóa chúng sinh, chỉ e ngại chúng sinh chỉ phụ thuộc vào việc hỏi việc mà quên đi tu hành. Nhưng Sư Tôn vẫn kiên nhẫn khuyên bảo, để đưa chúng ta trở về con đường tu hành chân chính. Đây chính là: Hướng dẫn thực tu trong hiện thực.

Về việc hỏi việc, tôi cũng làm một bài thơ để tưởng nhớ tấm lòng của Sư Tôn:

"Hỏi việc tới, hỏi việc lui, không ngoài vợ con tài lộc. Pháp nhập thế, tiện lợi độ, Sư Phật từ bi bận rộn. Tâm nếu loạn, như thỏ chạy, sáu thần vô chủ không chỗ nương. Mật pháp thật, đừng phụ lòng, nhập ngã ngã nhập trụ chân như."

V. Cảnh thơ trong bức họa

Trong bài "Trong thơ có họa", Sư Tôn có một đoạn "Sự hé lộ của biển" viết rằng: "Sóng dâng trào cuồn cuộn, lời răn của nó là tiếng thì thầm vĩnh hằng, màu xanh trải dài đến chân trời góc biển. Tấm lòng của bậc vĩ nhân, dùng bọt sóng thay cho cơn giận, dùng tĩnh lặng thay cho dịu dàng. Màu xanh là tự do và bình đẳng, biển cả, tấm lòng của bậc vĩ nhân."

Từ bài thơ ngắn này, có thể dệt nên ấn tượng về biển, trong thơ có họa.

Ngài lại nói: "Tôi làm thơ, cũng vẽ tranh, đôi khi tôi còn đề thơ trong tranh, hai thứ bổ trợ cho nhau. Quán tưởng trong Mật giáo dạy chúng ta phác họa hình tượng Bổn tôn trong tâm trí, đó chính là bức tranh trong não. Sau khi vẽ xong, lại phổ thành giai điệu tâm chú."

Bài thơ này của Sư Tôn có đặc điểm như một bức tranh, trực tiếp vẽ nên biển xanh mênh mông, đó chính là: trong thơ có họa hiển lộ thần thái. Còn việc chúng ta quán tưởng Bổn tôn, chính là từng nét từng nét vẽ nên Bổn tôn trong tâm trí, rồi như ngâm thơ để trì chú. Đó chính là: trong họa có thơ như mây trôi.

Tôi cũng xin dâng lên Sư Tôn một bài thơ tán thán:

"Họa trong thơ, hình ảnh thơ khắc ghi tâm trí. Thơ trong họa, văn thơ tự do tuôn chảy. Quán Bổn tôn, cần vững vàng. Tụng tâm chú như thơ, vẽ Bổn tôn như họa. Bổn tôn nhập ngã, Phật mạn không e ngại. Ta nhập vào mẫu quang, tâm linh trống không chẳng còn ta người."

VI. Cảnh thơ của Sư Phật

Trước khi học Phật, tập văn đầu tiên mà Sư Tôn viết là một tập thơ, có tên là "Tập Khói Mỏng". Xin trích dẫn hai bài như sau:

"Bóng dáng của tình yêu":

"Dẫm trên thảm cỏ xanh mướt, bước dưới ráng chiều tươi đẹp, trong ráng chiều có bóng dáng kiều diễm của em, trong ráng chiều có câu chuyện tình yêu rực rỡ, đó là chuyện đã qua, chuyện xưa giờ đã nhạt nhòa."

Bài thơ kể về một câu chuyện tình đã qua, kèm theo nỗi buồn mơ hồ.

"Đón Mừng Năm Mới":

"Ánh sáng rực rỡ tuôn chảy, lá xanh mới mọc, vũ điệu của tuổi xuân, múa bên hồ sen mới nở, bước theo khúc nhạc cách mạng của thời đại mới, khúc nhạc của sự sống, cùng nhau đo lường non sông gấm vóc tuyệt đẹp trong ánh bình minh."

Điều này miêu tả cảnh giới trần thế vừa bình minh, cây cỏ lại bắt đầu một ngày sống mới.

Sau khi Sư Tôn học Phật, trong cuốn sách "Mưa bụi bé nhỏ", bài viết "Học Phật và làm thơ", Sư Tôn nói: "Sau khi học Phật, tôi phát hiện ra cư sĩ Nam Hoài Cẩn cũng làm thơ, ông có tác phẩm 'Thơ Ghi Năm Tháng của Kim Túc Hiên'. Kim Túc Như Lai chuyển thế thành Duy Ma Cật Đại Sĩ. Đại sư Nam Hoài Cẩn và đại sư Trần Kiến Dân đều tự ví mình như Duy Ma Cật Đại Sĩ."

"Thơ của tôi được tập hợp thành một tập lớn, tên sách là: 'Hài lòng tâm vui'. Tôi viết: Năm mươi năm qua làm khách thơ, tính ra trăng vẫn trắng, gió vẫn trong. Giờ đây chẳng biết lo âu nữa, chỉ biết nghe lại khúc nhạc xưa."

Trong đó, bài "Trăng trắng gió trong" là để miêu tả một đêm tĩnh lặng và tươi đẹp.

Bài thơ này đề cập đến: "Giờ đây chẳng biết lo âu". Điều này có nghĩa là Sư Tôn đã giải thoát khỏi mọi ưu phiền và tai ương, tức là đã giải thoát khỏi phiền não. Đây là cảnh giới của bậc Thánh xuất thế gian.

Vì vậy, từ bài thơ này tôi nhận thấy: Trước khi học Phật, cảnh giới thơ của Sư Tôn là cảnh giới của thi nhân thế gian thông thường. Sau khi học Phật cho đến nay, cảnh giới thơ của Sư Tôn đã là cảnh giới của bậc Thánh xuất thế gian.

Tôi xin dâng lên Sư Phật một bài thơ nữa:

"Ánh sáng rực rỡ lá xanh mới, Tình yêu mờ ảo cõi trần gian. Lo âu tiêu tán ngã phai tàn, Đôi cánh vô hình cõi Thánh nhân. Tình phàm trần, cảnh giới Thánh, Phàm Thánh như một chẳng phân chia."

VII. Thơ của Sư Phật giải bày tâm tôi

Sư Tôn không chỉ là bậc đại thành tựu đương đại, mà còn là một nhà văn học lớn của thời đại. Sư Tôn nói: Văn chương thể hiện tâm của tôi. Và thơ, tất nhiên cũng thể hiện tâm của Sư Tôn. Chỉ là, thơ dùng cách thức giản dị và đẹp đẽ để thể hiện nội hàm có nhịp điệu.

Thơ của Sư Tôn có hơi thở nhân văn đậm đà, có trí huệ bát nhã siêu việt, cũng có đôi chút cảm khái và bất đắc dĩ, tuy nhiên, dù Sư Tôn có cảm khái, Ngài vẫn luôn: "Như như bất động, tâm gắn với chúng sinh, không bỏ một chúng sinh nào". Vì vậy, từ thơ của Sư Tôn, tôi học được: "Hơi thở nhân văn, trí huệ bát nhã, và lòng từ bi cùng đại nguyện hướng về chúng sinh." Từ những gì học được, tôi nguyện tinh tấn thực hành, nỗ lực không ngừng.

(Hết.)

Mục lục