📗

095. Lời vàng của Lư Thắng Ngạn

image

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn

Văn tập số: 095 Xuất bản năm: 1992 Tác giả: Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Biên dịch: Ban Biên dịch và Truyền thông Upala Việt Nam

Mục lục

🔎 Văn bản đang trong quá trình hiệu đính!!!

Lời mở đầu

Gần đây, tôi đã đọc mấy cuốn sách của các danh nhân như cuốn "Tĩnh tư lục", "Cách ngôn", "Pháp ngữ khai thị",v.v… cảm thấy khi đọc hết sách của những danh nhân này, sau đó chọn lựa ra những tinh túy trong đó, tóm tắt ra những đạo lí uyên thâm, phân tích cặn kẽ, cố nhiên là chắt lọc những tư tưởng rõ ràng, nhưng hàng nghìn mỏm núi thi nhau khoe sắc, hàng vạn thung lũng thi nhau tạo dòng chảy, vì thế khó mà tránh khỏi việc có những điều không vừa ý giữa các bên. Tôi điều chỉnh lại trật tự và dung hợp cũng có một chút tiếc nuối vì không được “bộc lộ một cách tự nhiên”. Vì thế, tôi cũng muốn viết một cuốn sách tương tự, phương thức sáng tác cuốn sách này hơi khác so với trước đây, tôi muốn “tùy hứng mà viết”, hoàn toàn tự nhiên bộc lộ. Tôi không muốn trong cuốn sách này thể hiện rằng mình là một Thánh hiền triết nhân, cũng không muốn tự phô trương là: “Lư Thắng Ngạn tôi vì một nhân duyên đại sự mà xuất hiện tại thế gian.”

Cuốn sách này không phải là thuyết pháp: Phật thuyết mọi pháp. Để trị mọi tâm. Nếu không có tâm. Đâu có thuyết pháp. Cuốn sách này không phải là sách thuyết pháp, không phải là tài liệu giáo dục cơ bản, không nói chuyện chính tâm thành ý tu thân, hay những đạo lí lớn về trị quốc bình thiên hạ. Mà là, tất cả những văn tự không mong cố ý lựa chọn một cách cẩn thận, tất cả mọi suy nghĩ không mong sinh ra lòng yêu ghét lẫn nhau, tôi chỉ từ tấm lòng chân chính của mình mà bộc lộ ra thôi. Tôi xem tất cả. Đều bình đẳng hết.

Tôi nghĩ đến một câu nói trong “Bảo Tạng Kinh”: “Lời dạy không oán hận là Phật dạy. Lời dạy không tranh tụng là Phật dạy. Lời dạy không phỉ báng là Phật dạy.” Tôi à! Sự rộng mở tuôn chảy từ trái tim này. Mới là những lời vàng chân chính.

Những “Lời vàng chân chính - Lời vàng của Lư Thắng Ngạn” này có phải là độc đoán không, có phải là chân lí không, có phải là luôn luôn không đổi không, có phải là khuôn vàng thước ngọc không? Tôi nói, vũ trụ đều là vô số sự biến đổi, vũ trụ là vô thường, trên thế giới này không có thứ gì vĩnh hằng bất biến, nước chảy mây trôi, điện quang thạch lửa đều chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên mà thôi, ở đây chỉ có nhân quả và nhân duyên. Vì thế, “Lời vàng của Lư Thắng Ngạn” là biến đổi, rất dễ hiểu, không phải là độc đoán.

Trên phương diện Phật pháp, Lư Thắng Ngạn tôi là một tu hành giả thực địa. Có thể nói là nhất nhất tuân theo giáo lí mà phụng hành. Tôi đã viết ra những thành quả mà mình đã chứng đắc, những tư tưởng huyền diệu mà tôi đã chứng ngộ trong mỗi quá trình, không chịu ảnh hưởng của thế tục hoặc Thánh triết, viết ra một cách hoàn toàn tự nhiên, không phải là lời vàng mà cũng xem như là lời vàng.

Giả như bạn đọc xong cuốn sách này, có được một chút giác ngộ, thì đó là chuyện của chính bạn, không phải là chuyện của tôi. Giả như từ trong cuốn sách này bạn chứng nghiệm được đời người là khổ, là không, là vô ngã, là vô thường, quyết tâm quy y Phật hoặc xuất gia, thì đó cũng là chuyện của bạn, không phải chuyện của tôi.

Cuốn sách này không có những đáp án chính xác. Cuốn sách này không có mục đích rõ ràng. Cuốn sách này không nói đến những đạo lí lớn của cuộc đời. Cuốn sách này không phải là thuyết pháp. Cuốn sách này là “Lời vàng của Lư Thắng Ngạn”.

Viết một bài thơ hiện đại, xem như là thay lời tựa:

Mây và gió Cũng xem như là không Tự nhiên và thoải mái

Lư Thắng Ngạn nói những lời lảm nhảm Vĩnh viễn bất kham Tư tưởng ngao du biến hóa

Có ai có thể biết được điều gì Lại có ai có thể hiểu được điều gì Cuốn sách này

Cuốn sách này là gì Dòng suối nhỏ lấp lánh Thuần khiết Hay là trầm mặc

Viết về cuộc đời Viết về tâm Viết về tự nhiên.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn Sheng-yen Lu

17102 NE 40th CT REDMOND WA 98052 U.S.A

01. Sinh mạng

Người đọc được bài viết nhỏ này của tôi, có thể sẽ càng đọc càng không hiểu rõ, hay cũng có thể sẽ không đồng ý với quan điểm của tôi. Tuy nhiên, tôi thật sự cho rằng: “Căn bản không có sinh mạng.” Trong quá khứ, sinh mạng của Lư Thắng Ngạn là không có. (Trước khi ra đời.) Trong tương lai, sinh mạng của Lư Thắng Ngạn là không có. (Sau khi chết đi.) Còn hiện tại, sinh mạng của Lư Thắng Ngạn sẽ đi về tương lai, cũng là không có. (Sẽ tiêu tan.)

Vì thế, tôi nói: “Căn bản là không có sinh mạng.” Bạn có quyền không tin tưởng những lời vàng của tôi, nhưng bất kể bạn tin hay không tin, bạn hãy thử nghĩ một chút mà xem, nó có đạo lí của nó. Có người nói: “Sinh mạng không tồn tại.” Có người nói: “Sinh mạng là có ý nghĩa.” Có người nói: “Sinh mạng là tình yêu đôi lứa.” Tôi nói: “Đều là nói nhảm.”

🌟

Duy Ma Cật Đại Sĩ chính là “Tôi”. “Tôi” chính là Duy Ma Cật Đại Sĩ. Duy Ma Cật Đại Sĩ nói: Vì thân như bong bóng, không thể tồn tại lâu; vì thân như huyễn, từ đảo điên mà thành; Vì thân như mộng, từ vọng kiến mà sinh ra; vì thân như ảnh, từ nghiệp duyên mà hóa hiện.

Tôi nói: Sinh mạng hiện tại của tôi giống như thổi bong bóng xà phòng, căn bản là không tồn tại. Sinh mạng hiện tại của tôi giống như một bộ phim, không có cái gì không phải là do máy chiếu phim phóng ra, đầy ắp huyễn ảnh. Sinh mạng hiện tại của tôi là một giấc mộng, tỉnh mộng rồi thì mộng chẳng còn. Sinh mạng hiện tại của tôi là bóng hình, tất cả hành vi chỉ là do nghiệp duyên quả báo mà sinh ra, nghiệp duyên không còn thì tất cả cũng không còn. Không có sinh mạng. Thật sự không có sinh mạng.

Phật Thích Ca Mâu Ni, Duy Ma Cật Đại Sĩ, đều lĩnh ngộ: “Căn bản không có sinh mạng.” Ở nước Mĩ, tôi nhai kẹo cao su trong miệng, thỉnh thoảng cũng thổi bong bóng cho vui, điều này giống như khai ngộ của Duy Ma Cật Đại Sĩ. Có người hỏi tôi: “Lư Thắng Ngạn nói căn bản không có sinh mạng, vậy Lư Thắng Ngạn ở nhân gian để làm cái gì?” “Tshit-thô.” (Đài ngữ) “Tshit-thô là gì?” “Chơi.” Tôi nói: “Nói theo Phật pháp thì là trò chơi thần thông.”

🌟

Khai ngộ của tôi hơi khác với khai ngộ của Thánh hiền triết nhân: Lư Thắng Ngạn từ lâu đã chết thẳng cẳng rồi, ông ta từ lâu đã là một người không có sinh mạng (cái xác không hồn), vừa khùng điên vừa kiêu ngạo, cuồng điên kiêu ngạo không nhất định đã là điều xấu. Tôi không đau buồn. Tôi không lo lắng. Tôi chẳng sợ hãi, cũng rất thờ ơ. Nói thật lòng, cái này chính là “thành tựu của Lư Thắng Ngạn”, từng phút từng giây của tôi đều đang “tshit-thô” (chơi), rất vui vẻ lại còn đầy thích thú.

Tôi không có sinh mạng. Tôi xem chúng sinh cũng không có sinh mạng. Chỉ có con người như vậy mới là người khai ngộ, mới là người siêu việt, mới là người vui vẻ, hoan hỉ, tung tăng. Từ lâu đã phá vỡ cái ngã tướng vi tế nhất về “thấp thoáng mập mờ, bên trong có vật” [Trích dẫn câu nói của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh: duy hoảng duy hốt, kì trung hữu vật.] Một chân đá qua một bên cái “ý nghĩa của đời người”. Chẳng nghĩ đến “sinh mạng” nữa, đá nó qua một bên.

Phật Thích Ca Mâu Ni dưới gốc cây bồ đề thành tựu Chính Đẳng Chính Giác, tôi ở Linh Tiên Các tại Seattle, bang Washington nước Mĩ thành tựu Chính Đẳng Chính Giác. (Chứng lượng ngang nhau.) Sinh mạng xuyên suốt từ vô thủy đến nay. Chân như tự hiển lộ, đại trí viên mãn, thực chứng vô tướng, đắc quả vị vô thượng, A nậu đa la tam miểu tam bồ đề. Cái mà tôi khai ngộ chính là: Vô ngã. (Sinh mạng của tôi không tồn tại.) Vô chúng sinh. (Sinh mạng của chúng sinh không tồn tại.)

🌟

Có một người gặp tai nạn giao thông nghiêm trọng đã thoát chết trong chân tơ kẽ tóc. Sau sự việc ấy, anh nói với tôi: “Ai có thể nói cho tôi biết bản thân thật sự của sinh mạng, ai là bản thân mình thật sự, bởi vì vào cái thời khắc chỉ trong một sát-na đó, vốn không thể mong cầu sinh mạng, có nghĩa là không thể tìm được nguồn gốc thật sự của sinh mạng.” Có một nữ sinh học cấp ba nói: “Vì sao tôi mắc bệnh ung thư xương, vì sao? Vì sao? Vì sao mạng sống của tôi vĩnh viễn ở trong sự sợ hãi?” Một người điên, sinh mạng của anh ta lại càng là một đáp án đầy hoang mang.

Tôi từng vào lúc nửa đêm đến bệnh viện Dương Minh ở Đài Bắc, đi thăm một “người thực vật”, tôi nhận ra anh ta đã hoàn toàn bất lực đối với sinh mạng của chính mình, sinh mạng ở đâu? Ai có thể nói cho anh ta biết? Xin hãy nói với những người này! Cái giá của sinh mạng, Đáng giá bao nhiêu?

“Chép thơ tâm linh” của Trần Bỉnh Hoành có một đoạn viết như sau: Đúng vậy, sinh mạng đầy ắp sự hoang mang Niên đại mà họ đang sống Họ tự gọi là cuối thời đại nạn Sinh mạng đang chờ đợi sự hủy diệt trong đại nạn Hoặc là Sinh mạng đang chờ đợi sự thức tỉnh trong đại nạn Con người đối với những nhớ nhung mong đợi của mình Xa xăm vô định

Đối với bản thân ta Và cả những sinh mạng cùng thời đại với ta Ta có thể nói gì đây Bản thân ta thuộc về sinh mạng của chính ta Tin rằng chẳng còn sinh mạng nữa Cái giá phải trả cho sự tỉnh táo, sáng suốt như vậy Đối với sự tồn tại của tất cả sinh mạng cùng thời đại Bất lực bó tay.

🌟

Bài thơ này của Trần Bỉnh Hoành khiến tôi xúc động sâu sắc - đầy ắp cảm giác bất lực đối với sinh mạng, đầy ắp đau thương về cái chết. Một câu quan trọng nhất là: “Tin rằng chẳng còn sinh mạng nữa.” Trong thơ của thi nhân thường ưa thích viết thế này: “Sinh mạng là một khúc hát lang thang.” Trước kia tôi cũng viết như vậy! Thời kì đầu tôi cũng là một thi nhân. Tuy nhiên, điều này là đành chịu, mà cũng là bất lực, là bất an, mà cũng là mất mát.

🌟

Có một bài kệ rất hay: Nếu chấp vào đời này, chẳng phải người tu hành. Nếu chấp vào thế gian, chẳng có tâm xuất li. Nếu chấp vào chính mình, không có tâm bồ đề. Còn chấp vào sinh khởi, đã mất đi chính kiến.

Bây giờ tôi bổ sung thêm một câu, lời vàng của Lư Thắng Ngạn: “Nếu chấp vào sinh mạng, vĩnh viễn không khai ngộ.”

Tôi thường nghĩ, ở trong vũ trụ này, có hàng nghìn hàng triệu hệ mặt trời, cũng có hàng nghìn hàng triệu ngôi sao, và trái đất chỉ là một hạt bụi nhỏ li ti trong số đó, và nhân loại sống trong hạt bụi nhỏ li ti này, thật sự là nhỏ bé không đáng kể gì. Hơn nữa, vào thời đại vũ trụ hỗn độn, vào lúc căn bản không có nhân loại, trong cái thời đại ấy, cái gì là sinh mạng? Không có cái gọi là thành, trụ, hoại, không.

Sinh mạng rốt cục ở chỗ nào? Tôi thường xuyên ở trong thiền định tam muội suy ngẫm về vấn đề này, sinh mạng rốt cục ở chỗ nào? Cuối cùng tôi đã hiểu ra, cảnh giới cao nhất của “thường lạc ngã tịnh” chân chính, cảnh giới hoàn toàn không có phiền não, không có Phật cũng không có ma, xin chú ý “không có Phật cũng không có ma”, cảnh giới này, “ta” không tồn tại, “chúng sinh” cũng không tồn tại.

Tôi nhận ra giá trị của tư duy thiền định của tôi là - không có công đức nào có thể nói, đó là giá trị chân chính. Tôi nhận ra, thế nhân đều bị lừa gạt. Trên thế giới này, người tỉnh ngộ thật sự chỉ có một người, những người khác đều đang giả vờ sống.

02. Sướng khổ

Phật Thích Ca Mâu Ni nói, sinh ra là đau khổ, già yếu là đau khổ, sinh bệnh là đau khổ, chết là đau khổ, cả một cuộc đời chẳng qua chỉ là một chuỗi những cái khổ (khổ, không, vô thường).

Tám cái khổ của Phật Thích Ca Mâu Ni như sau:

  1. Sinh khổ - ở trong bào thai giống như ở trong nhà tù, ra khỏi bào thai giống như chui qua khe hở, nên là khổ vì sinh ra.
  2. Lão khổ - mắt mờ tai điếc, thân thể hư nhược, là khổ vì tuổi già.
  3. Bệnh khổ - tứ đại không điều hòa, xanh xao vàng vọt, là khổ vì bệnh tật.
  4. Tử khổ - đau bệnh mà chết, mất mạng vì nước vì lửa, là khổ vì chết.
  5. Ái biệt li khổ - cốt nhục phân li, phải chia xa người mình rất yêu, nhớ thương mong ngóng, là khổ vì yêu mà phải xa cách.
  6. Oán tăng hội khổ - không ưa thích nhau, gặp mặt kẻ thù, là khổ vì oán ghét.
  7. Cầu bất đắc khổ - mưu cầu danh lợi ái lạc bất thành, là khổ vì cầu mà không được.
  8. Ngũ uẩn xí thịnh khổ - tác dụng của ngũ uẩn hừng hực mãnh liệt, che đậy chân tính, vì thế sau khi chết đi lại phải tái sinh, là khổ vì ngũ uẩn rực cháy.

Điều tôi muốn nói với mọi người là, ngay từ rất sớm, tôi đã cảm thấy điều Phật Đà nói là hoàn toàn chính xác, đời người chẳng qua chỉ là một chuỗi những cái khổ. Tuy nhiên, lời vàng của Lư Thắng Ngạn bây giờ là: “Đời người là một chuỗi sướng vui.” Sướng vui này đến từ sự khai ngộ siêu việt đó!

🌟

“Đời người là một chuỗi sướng vui” là như thế này — Sinh khổ (tôi chẳng có cảm giác gì cả), lão khổ (vẫn chưa đến lúc già), bệnh khổ (khi có bệnh thì càng vui vẻ), tử khổ (vẫn chưa đến lúc chết, nên không bận tâm), ái biệt li khổ (nhớ nhung thương nhớ, tương tư cũng là niềm vui), oán tăng hội khổ (tôi đã không còn tâm yêu ghét), cầu bất đắc khổ (tôi đã không còn mong cầu gì cả), ngũ uẩn xí thịnh khổ (tôi đã không còn ngũ uẩn, vượt qua tam giới rồi). Bây giờ, tám cái khổ này đều không thể nào ảnh hưởng đến tôi. Ở tôi đây chỉ có niềm vui sướng chí cao vô thượng. Tôi nhận ra “sướng và khổ” hoàn toàn là sự biến hóa của tự tâm, đó là sự tự do cảm nhận của tâm linh, tôi đã đạt đến mức độ chuyển hóa mọi cái khổ thành niềm vui sướng rồi.

Tôi nói: Khổ là nhân của sướng. Khổ là thử thách, là chúc phúc. Khổ là niềm vui sướng chí cao vô thượng. Tôi của hiện tại đã vượt lên trên mọi đau khổ, dòng chảy pháp vui sướng của tôi kéo dài liên tục, tôi là Phật Đà đương đại, Phật Đà đương đại chính là Lư Thắng Ngạn.

🌟

Có người trông thấy tôi ca hát. “Sao Lư Thắng Ngạn không có khổ hạnh, sao có thể ca hát như vậy chứ?” Có người thấy tôi khiêu vũ. “Sao Lư Thắng Ngạn không có khổ hạnh, sao có thể khiêu vũ như vậy chứ?” Họ nói: “Lư Thắng Ngạn là đồ điên.”

Đúng vậy, Lư Thắng Ngạn tôi là đồ điên, có đức hạnh điên khùng, tôi hoàn toàn biểu hiện sự tự do tự tại của tôi, bản tính nguyên thủy của tôi, tôi hoàn toàn vứt bỏ mọi sự giả dối của mình. Tôi thừa nhận tôi không tu khổ hạnh, cũng thừa nhận tôi là kẻ điên. Bởi vì sự tu hành của tôi từ lâu đã vượt qua mọi đau khổ, khổ hạnh có là cái gì chứ! Tôi đã biến thành một người điên cuồng, sự điên cuồng này là “thẳng thắn”, tràn đầy khoái lạc sướng vui, tôi là kẻ điên có chân đạo. Bởi vì là “kẻ điên có chân đạo”, cho nên tôi bị chế giễu, bị phỉ báng, bị sỉ nhục, bị đánh đổ. Tôi là kẻ điên, cho nên tất cả với tôi đều không hề gì.

“Lư Thắng Ngạn vì sao không ăn chay?” Ha ha! “Văn Thù Sư Lợi Vấn Kinh” nói thế này: “Phật bảo Văn Thù, với tâm không từ bi chúng sinh, ôm lòng giết hại, vì thế ngừng ăn thịt. Nếu không ôm lòng làm hại, có tâm từ bi, vì giáo hóa tất cả chúng sinh, thì không có tội.”

Tôi nói với mọi người một câu: Cái có ở giữa tâm và tâm, bản tính không tịch. Không thể thấy, không thể nghe, tâm như huyễn. Nhưng chúng sinh có độ thiên lệch, vì thế khởi lên tư tưởng mà phải chịu sướng khổ.

“Tâm Địa Quán Kinh”: Tôi (Lư Thắng Ngạn) vui vẻ chơi đùa, không làm gì cả, và có mặt ở khắp nơi, tôi có thể sống không gò bó vào hình thức, cũng có nghĩa là không có hình thức không gian lớn nhỏ sướng khổ, bản tính của tôi là vĩnh hằng bất biến, thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn! Con người trên đời này không thể nào khiến tôi đau khổ thảm thương, hàng nghìn hàng vạn con người đều nói Lư Thắng Ngạn điên rồi. Tôi nói: “Chỉ có người điên mới có một chuỗi sướng vui thôi!”

🌟

Tôi cho rằng Bồ Tát cũng có lúc đau khổ, trong kinh Lăng Nghiêm nói: Mười hoàn cảnh khơi dậy lòng từ bi vô hạn và sự đau khổ của Bồ Tát đối với chúng sinh hữu tình:

  1. Khi nhìn thấy chúng sinh hữu tình không nơi nương tự, lang thang không có nơi quay về tá túc, khổ luân không dừng, trong lòng sẽ buồn đau thương xót.
  2. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình theo đuổi ngoại đạo tà ác, không biết đi theo chính pháp, trong lòng buồn đau thương xót.
  3. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình đánh mất thiên tính lương thiện, thấy việc làm tốt nhưng trái lại lại cực lực chửi rủa, trong lòng buồn đau thương xót.
  4. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình cả ngày sống trong mơ mơ màng màng, mưu cầu danh lợi, trong lòng buồn đau thương xót.
  5. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình chuyên môn làm những nghề đen tối, trong lòng buồn đau thương xót.
  6. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình bị trói buộc trong những dục niệm, không đạt được giải thoát, trong lòng buồn đau thương xót.
  7. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình luân hồi trong biển sinh tử, không thoát ra được, trong lòng buồn đau thương xót.
  8. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình thường đau khổ vì bệnh tật, trằn trọc rên rỉ, trong lòng buồn đau thương xót.
  9. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình tiếp xúc với Phật pháp nhưng lại không trân trọng, trong lòng buồn đau thương xót.
  10. Nhìn thấy chúng sinh hữu tình đánh mất sự hộ trì của Phật pháp, trầm luân trong u tối, trong lòng buồn đau thương xót.

Kinh Lăng Nghiêm nói, Bồ Tát thường xuyên chịu khổ thay chúng sinh, không chỉ chịu khổ mà còn không chạy trốn, không sợ hãi, không thối lùi tâm từ bi, không chán ngán. Thì ra Bồ Tát cũng có đau khổ. Bồ Tát là ráng sức chuyên cần và không xả bỏ cái khổ.

🌟

Tuy nhiên, mọi người hãy ngẫm nghĩ kĩ lại mà xem. Những Bồ Tát ở địa rất sâu thì luôn luôn trong mọi niệm đều dùng tâm vô chấp để làm tất cả các hạnh Bồ Tát. Thế nào là tâm vô chấp? Tâm vô chấp chính là không vướng chút trở ngại nào. Thấy cảnh giới trang nghiêm đẹp đẽ cũng không nảy sinh ý nghĩ tham lam. Thấy không gian ô nhiễm bất tịnh cũng không có tâm ghét bỏ. Đó chính là như kinh Kim Cang nói: “Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm ấy.”

Vì thế, mọi hành vi của Bồ Tát là tâm vô chấp, tâm vô vi. Nếu Bồ Tát đối với sự vật có sự bám chấp ở một mức độ nào đó thì đã không còn là Bồ Tát nữa. Bồ Tát đã xuất li biển khổ, đạt đến cảnh giới giác ngộ. Mặc dù Bồ Tát đau buồn thương xót chúng sinh hữu tình, nhưng, trên thực tế, Bồ Tát thị hiện mọi tác nghiệp thế gian, giáo hóa chúng sinh không biết mệt mỏi, tâm của ngài “tùy lạc” mà hiện thân, tất cả hành vi việc làm đều không nhiễm chấp, hoặc hiện phàm phu, hoặc hiện Thánh nhân, hoặc hiện sinh tử, hoặc hiện niết bàn để mà độ chúng sinh.

🌟

Đối với đoạn văn ở trên, trong quá khứ tôi thường nói như thế này: Chúng ta nghiêm túc và nỗ lực đi hoàn thành những hành vi Bồ Tát, nhưng được hay mất đều không đặt trong tâm, công tác độ chúng sinh cũng như thế, tất cả nỗ lực siêng năng không lơ là, được cũng tốt, mất cũng tốt, thành hay không thành là ở Trời. Sống với thái độ như vậy thì không có đau khổ phiền não. Tùy lạc. Không khổ. Tâm vô chấp. Tâm vô vi. Khổ tuyệt đối không phải là linh tính. Sướng cũng tuyệt đối không phải là vật chất.

🌟

Tôi (Lư Thắng Ngạn) viết một bài thơ hiện đại:

Nếu như tôi đi rồi Tôi sẽ đi đến địa ngục Tôi nghĩ chắc chắn có Phật Thích Ca Mâu Ni ở đó Bởi vì nhất định Đức Phật phải xuống địa ngục Ở đó mới có chúng sinh hữu tình tụ tập

Ở trong địa ngục Chắc chắn có Quan Thế Âm Bồ Tát đại bi Chắc chắn có Địa Tạng Vương Bồ Tát đại nguyện Còn có tôi Lư Thắng Ngạn đi cùng

Mọi người cho rằng Tây phương Cực Lạc thế giới mới là cực sướng Mọi người cho rằng địa ngục chắc chắn là cực khổ Sai rồi! Đúng ra ngược lại Thánh nhân chân chính đều ở trong địa ngục.

03. Tình yêu

Rất nhiều thư gửi đến chỗ tôi. Mở thư ra đọc, tôi thấy họ đều có vấn đề về tình yêu, họ hỏi tôi, tôi cũng đã trở thành chuyên gia tình yêu rồi. Những lá thư này đều kể chuyện hợp hoặc tan, mỗi một lá thư đều thổ lộ ra những tiếng lòng đầy cảm động, mỗi một tờ thư, dù chỉ vài dòng chữ, cũng đều chứa đựng trong đó những tình cảm khó tả. Khắc cốt ghi tâm. Tình yêu vĩ đại. Vốn là chỗ dựa và niềm thương nhớ của thế nhân!

🌟

Có một kiểu tình yêu có thể khiến người ta an tâm mà ngủ, có thể khiến người ta sinh ra niềm hứng thú đối với mỗi sự vật, dường như bất kì một sự việc gì cũng đều có liên quan đến tình yêu, cái kiểu mọi thứ đều dễ chịu một cách đầy kinh ngạc, đều cảm thấy vô cùng tốt đẹp, như mùa xuân đã đến rồi. Cũng có một kiểu tình yêu có thể khiến người ta giống như mắc bệnh nặng, trái tim và ruột gan đều bị băng bó chồng chất, ban đêm thường xuyên không thể ngủ say, con người cũng trở nên lười biếng, sức sáng tạo, thể lực, sức khỏe đều suy giảm, làm việc và nghỉ ngơi đều lộn xộn, tất cả đều khó tả, có khi khóc, có khi cười, đó là tương tư.

🌟

Bản thân tình yêu không có định nghĩa nào cả, muốn tôi viết ra những câu châm ngôn về tình yêu, có thể nói là căn bản chẳng biết đặt bút viết ở đâu. Tóm lại, tình yêu hoàn toàn là ngôn ngữ chân thực của tâm hồn, cho dù cả nam cả nữ đều chưa trưởng thành chín chắn nhưng vẫn là tình yêu. Tình yêu có tăng trưởng và suy thoái. Tình yêu cũng có phai nhạt lụi tàn. Tôi nghĩ, tình yêu không có một quỹ đạo thường hằng nào để mà tìm kiếm. Nhưng, luôn luôn khiến người ta sáng sớm tỉnh dậy đã bắt đầu ngẩn ngơ. Tình yêu là sự du dương của âm nhạc nội tại, ở trong sự hài hòa tâm hồn rất sâu, rất sâu.

Có người nói: “Tình yêu giống như cây không thể rời xa đất, rời xa đất thì sẽ chết.” Có người nói: “Tình yêu giống như cá không thể rời xa nước, rời xa nước thì sẽ chết.” Có người nói: “Nếu con người không có tình yêu thì sẽ không thể sống nổi.”

Nhân loại có tình yêu đôi lứa. Một niềm vui sướng lúc ẩn lúc hiện khởi lên trong nội tâm của hai con người. Tình yêu đơn phương sẽ đau khổ, sẽ chết. Tình yêu giữa hai người sẽ trưởng thành, sẽ thỏa mãn, chăm sóc và bồi dưỡng lẫn nhau.

🌟

Tôi (Lư Thắng Ngạn) khi còn trẻ đầy ắp những tìm tòi và hiếu kì về tình yêu, tình cảm thì như tấm lòng son. Tôi rất ngây thơ, cảnh ngộ “khắc cốt ghi tâm” từng được tôi viết trong những bài thơ thuở thiếu niên. Xuân đến hóa thành từng áng văn thơ. Giống như rượu thơm lan đi khắp nơi, tình yêu khiến con người điên cuồng.

Tôi yêu thích hai cuốn sách: “Người đàn bà trong tháp” “Bắc Cực phong tình họa” Hai cuốn sách này đều nhấn mạnh: “Tình yêu thật ra không có tuổi già, cái già đi chỉ là thời gian.”

🌟

Chính vì “hồng trần có tình yêu”, cho nên suối nguồn cảm hứng cho tôi sáng tác không bao giờ cạn, trong văn thơ của tôi thật ra cũng có quá nhiều tình yêu. Tình cảm của tôi hóa thành con bướm tung tăng, bay lượn rất nhẹ nhàng. Tôi thừa nhận, tình yêu từng khiến tôi say đắm, khiến cuộc đời của tôi hân hoan múa vui, khiến những đóa hoa trong trái tim tôi bung nở, trở thành những áng thơ, những khúc ca, một sự tung tăng vi diệu. Sung sướng hát ca. Cảm động rơi nước mắt. Tất cả đều nằm trong tình yêu.

Thật ra chỉ cần là con người, ở nơi rất sâu trong tim mỗi người đều nên gieo trồng một hạt thóc tình yêu. Hạt thóc màu vàng, tràn trề sinh khí. Có không khí tự do. Có kết quả. Có tiếng chim kêu. Thế giới này quả thực xinh đẹp biết bao!

🌟

Tình yêu khiến con người điên cuồng, nhưng tôi cảm thấy cũng cần có một chút lí trí để kiềm chế nó. Cái lí trí này là: tình yêu khiến đôi bên đều cảm thấy rất vui sướng, khiến cả hai đều cảm thấy vô cùng thỏa mãn, cùng đem đến cho cả hai những ân từ rất lớn. Thế nhưng, nếu không phải như vậy. Ví dụ như, ngược lại, tình yêu khiến cho cả hai đau khổ buồn bã, âu sầu không vui vẻ, khiến việc học hành bị xao nhãng, sự nghiệp hoàn toàn không đếm xỉa, hai người mãi mãi chẳng cảm thấy thỏa mãn, đã sa đọa đến mức dằn vặt lẫn nhau, tình yêu kiểu này thì đã biến chất rồi.

Tình yêu tốt nhất là: Tâm tình trở nên nhẹ nhõm. Niềm vui sướng là đôi cánh tung tăng. Vui mừng ca hát. Hân hoan làm việc. Có thể chạm đến thế giới nội tâm sâu xa nhất, cùng biết được những bí mật sinh ra trong nội tâm của người kia.

🌟

Tôi nghĩ tình yêu là một viên ngọc trai vô cùng quý giá mà dễ vỡ, nó cần phải được chăm sóc, lúc nào cũng phải lau sạch, lúc nào cũng phải nâng niu, cẩn thận từng li từng tí, chỉ có như vậy mới có thể gìn giữ được mãi mãi. “Nó.” “Tình yêu” thật sự rất bất lực. Tỉ lệ sống sót của tình yêu cũng không cao. Khi tình yêu đến, có một số người rất sợ hãi, bởi vì họ sợ mình mãi mãi là người chịu khổ, thà bỏ chạy vì sợ rằng phải chịu khổ một lần nữa. Cái khổ nhất trên đời là gì, khốn đốn vì tình là khổ nhất. Giả như đôi bên không còn yêu thương nhau nữa, và tất cả những độc tố của sự chiếm hữu, đố kị, hoài nghi đều ồ ạt tuôn ra, tình yêu sẽ bị hủy hoại.

🌟

Tình yêu chính đáng phải tránh xa tà dâm. Tà dâm là một trong năm giới trọng lớn của nhà Phật. Trừ người vợ mình ra, tất cả những hành vi đồi bại bất bình thường về tình dục, cũng như không đúng lúc, không đúng người, không đúng địa điểm, đều thuộc phạm vi của tà dâm.

Trong “Trí Độ Luận” có nhắc đến Phật Thích Ca Mâu Ni nói về tà dâm có mười tội: Thứ nhất, vợ hoặc chồng mình sẽ gặp điều nguy hại. Thứ hai, vợ chồng không hòa hợp, hay cãi cọ nhau. Thứ ba, các pháp bất thiện tăng lên từng ngày, pháp tốt giảm dần theo từng ngày. Thứ tư, không bảo vệ thân mình khiến vợ góa con côi. Thứ năm, tài sản hao mòn dần mỗi ngày. Thứ sáu, có nhiều chuyện xấu xa khiến người đời nghi ngờ. Thứ bảy, người thân họ hàng đều biết, vì thế không ưa. Thứ tám, bị oán giận, trồng thêm hạt giống nghiệp do nghiệp. Thứ chín, khi chết vào địa ngục. Thứ mười, kiếp sau làm người, nữ sẽ bị chồng và những người phụ nữ khác của anh ta lợi dụng, nam sẽ gặp phải người vợ không đoan chính.

Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Hỡi con người! Phải mau mau đoạn tuyệt cái tâm tà dâm ấy, vợ chồng là đạo luân thường, đối với những người phụ nữ khác không được phát sinh tình cảm riêng.”

“Nhật Minh Bồ Tát Kinh” nói: “Sắc dục là gông cùm của thế gian, phàm phu một khi đã yêu thì không thể tự thoát ra được. Sắc dục là cái họa lớn trên đời, phàm phu khốn khổ, mãi đến khi chết cũng không tránh được. Sắc dục là tại họa của thế gian, phàm phu gặp phải, tất cả đều chịu nguy khốn. Hành giả Phật pháp đã buông bỏ được rồi mà vẫn còn thương nhớ, giống như ra khỏi tù lại muốn vào ngục, cũng giống như đã ốm rồi vẫn còn muốn mắc bệnh. Do đó, những người khôn ngoan chỉ là những kẻ điên rồ.”

Tình yêu khác với tà dâm và sắc dục: Tình yêu - vui sướng, an tịnh, nội tâm ôn hòa. (nội tại) Sắc dục - ham muốn thể xác bên ngoài. (ngoại tại) Tà dâm - không hài hòa, hỗn độn, không sáng suốt.

🌟

Viết một bài thơ tình vậy!

Anh muốn ngắm em Ngắm em thật kĩ càng Ngắm em đầy thoải mái Và em cũng như thế. Em nói: “Em cũng vậy.”

Đi bên em trong công viên nhỏ Ngắm nhìn làng mạc và hồ nước Hồ nước trong lấp lánh Như đôi mắt của em Thế giới này quá đỗi thần kì Tất cả đều trở nên xinh đẹp vô cùng.

04. Vô thường

Tôi phát hiện ra, dường như mỗi con người đều chịu sự lừa gạt của “vô thường”. Đúng lúc đang vui mừng thì có tin tức tồi tệ nhất ập đến. Đang lúc bình yên nhất thì họa lớn long trời lở đất giáng xuống. Đang lúc êm đềm nhất thì bỗng dưng có điềm xấu. Đang ngây ngất sung sướng thì hóa thành nỗi bi ai...

Bởi hiểu rõ cái đạo lí “thế sự vô thường” này, có một số người bị mắc chứng bệnh ám ảnh sợ hãi một cách đáng kinh ngạc, ai mắc phải căn bệnh này đều lo lắng và sợ hãi. Cảm giác của họ là “không hề có cảm giác an toàn”, họ tự nhiên để lộ ra những biểu hiện tai họa có thể ập đến bất kì lúc nào, họ không có cách nào trấn áp được cái sự vô thường chết người ấy. Chúng ta đi bơi, họ sợ chết đuối. Chúng ta đi du lịch ở trong khách sạn, họ sợ gặp phải hỏa hoạn thiêu chết. Chúng ta đi máy bay, họ sợ máy bay rơi mà chết. Lái xe đi ra ngoài, họ sợ bị đâm chết.

Trên thế giới này, cái chết bất cứ lúc nào cũng có thể vẫy tay với bạn, một mình bạn đến với thế giới này, một mình tồn tại, lúc ra đi cũng một mình, sự cô độc này thật lạnh lẽo quạnh hiu. Cái cảm giác bất kì lúc nào này dựa trên kinh nghiệm và sự thấu hiểu về “vô thường đến rất nhanh”.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni nói với đệ tử, quá khứ Chư Phật chỉ nói nửa câu kệ, kệ rằng: Chư hành vô thường, là pháp sinh diệt. Sinh diệt đã diệt, tịch diệt là vui.

Trong kinh Niết Bàn có nói: Mọi thứ trên thế gian, có sinh đều có tử Thọ mạng dù thênh thang, tất sẽ có lúc hết. Hưng thịnh tất sẽ suy, gặp gỡ rồi li biệt. Tráng niên chẳng được lâu, bệnh tật sẽ xâm hại Khổ luân không bờ bến, lưu chuyển chẳng nghỉ ngơi Tam giới đều vô thường, tài sản có gì vui.

Đây là bài kệ vô thường, tôi từng ngẫm nghĩ về bài kệ này rất lâu, đây là chân lí đó! Đã từng... Người tôi yêu mến nhất, rời bỏ tôi mà đi. (gặp gỡ rồi li biệt) Vào lúc tôi khỏe mạnh nhất, thì mắc bệnh nặng. (bệnh tật sẽ xâm hại) Tôi lái chiếc xe tốt nhất, gặp phải tai nạn lớn. (tài sản có gì vui) Đây là cái gọi là “ưu buồn khổ não”. Đây chính là chân đế của vô thường.

🌟

Dần dần, dần dần nghĩ hiểu được vô thường lưu chuyển không ngơi nghỉ, vô thường đi cùng với nhân duyên quả báo. “Vô thường là chính mình chịu trách nhiệm với bản tính của chính mình.” Đây là điều mà tôi (Lư Thắng Ngạn) đã nghĩ rất lâu, nghĩ ra được lời vàng này. Mặc dù vô thường biến huyễn, nhưng kì thực là dựa vào vận mệnh của bạn mà đến. Người ta tôn kính bạn là vô thường. Người ta phỉ báng bạn cũng là vô thường. Bạn rất sáng suốt là vô thường. Bạn rất mê lú cũng là vô thường. Con người bình thường không có cách nào thoát khỏi sự trói buộc của vô thường, không cách nào thay đổi được vận mệnh lúc thì tươi sáng, lúc thì ảm đạm. Thật ra không cần phản đối vô thường, bởi vì cho dù phản đối thì cũng chẳng có tác dụng gì lớn. Tôi nghĩ, điều duy nhất chúng ta cần chú ý đến là, trong sự “chư hành vô thường”, phải chăng chúng ta hãy gìn giữ trái tim chân thành thuần khiết, “chân tâm” này sẽ là bản tính duy nhất còn sót lại. Thứ thật sự có giá trị chính là bảo vệ được “Phật tâm”, còn những cái khác thì cứ để cho chúng “chư hành vô thường” đi.

🌟

Tôi viết một bài “Thơ vô thường”:

Vô thường đưa đến sợ hãi Quá nhiều tư tưởng diệt vong Ngẫm nghĩ vận mệnh của mình Quả nhiên nổi trôi biến hóa

Không cần phải dự doán Ta sinh ra đã trù định chẳng lành Chẳng cần suy nghĩ tìm tòi Năm nào ta sẽ chết đi Rốt cục ta đang tìm kiếm chân lí gì Ôi chẳng cần tìm nữa Chân lí chính là “chư hành vô thường”.

🌟

Trong cuộc đời này của tôi (Liên Sinh Hoạt Phật), có nhiều lần “cái chết vô thường” ập đến, sự sống và cái chết treo trên một lằn ranh mỏng manh, và đây là những bằng chứng về sự vô thường một cách chóng vánh. Lần đầu tiên, xe đạp của tôi đã tông vào bánh trước của một chiếc xe jeep và người bị hất văng ra. Lần thứ hai, tôi đang thao tác một chiếc máy tiện trong một nhà máy máy cơ khí, vừa quay con dao, áo trong áo ngoài đều bị xé rách, và suýt chút nữa tôi cũng bị rạch vào bụng mà chết. Lần thứ ba, để rút ngắn quãng đường, tôi chui qua gầm tàu hỏa, tàu hỏa bất ngờ chuyển động, suýt chút nữa tôi bị xe lửa cán chết. Lần gần đây nhất, trong một vụ tai nạn ô tô lớn, xe của tôi nát bét, nhưng người không bị thương tí nào, trong vụ tai nạn ô tô nghiêm trọng này, tôi đã “phá tam quan” rồi! [Phá tam quan là danh từ chuyên môn của Thiền tông, cũng là một quá trình tu hành chứng ngộ, phân thành ba thứ tự: sơ quan, trùng quan, sinh tử lao quan.]

Trước tiên, chúng ta hãy đọc lá thư mà Liên Hoa Thục Nghi viết cho tôi:

Xin Sư Tôn từ bi soi xét. Chiều nay, hai đệ tử chúng con đã đến garage để xem xét tình trạng hư hỏng của chiếc xe Rolls-Royce của Sư Tôn, vừa trông thấy nó thì ai nấy đều giật mình sửng sốt, mượn lời Sư Tôn đã nói trong buổi khai thị tuần trước: “Thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước” để mà đùa vui một chút, chiếc xe đó quả thật là: “Thấy xe chẳng giống xe.” Buổi chiều cái hôm xảy ra tai nạn, Sư Tôn vẫn luôn biểu hiện cười nói thoải mái, khiến mọi người cho rằng chẳng qua chỉ là một vụ tai nạn nhỏ mà thôi, kết quả là, xét từ mức độ hư hỏng của chiếc xe thì vụ tai nạn thực sự rất nghiêm trọng. Nếu không nhờ kết cấu xe của Sư Tôn rất chắc chắn thì con tin rằng vụ tai nạn này nhất định sẽ có tổn thất “thương vong”, rồi từ vị trí bị đâm xe đó mà suy ra thì tính mạng của Sư Tôn như nghìn cân treo sợi tóc, nếu khi ấy chỉ lệch đi một chút thì chúng con từ nay sẽ không còn gặp được Sư Tôn nữa rồi. Còn may, Sư Tôn có Hộ Pháp Thần, Không Hành Mẫu bảo vệ, trong vụ tai nạn nghiêm trọng như thế mà không mảy may bị thương một chút nào. Chiều nay chụp ảnh chiếc xe ô tô ở trong garage, trên tấm ảnh chụp ra, chiếc xe cũng được bao bọc bởi một lớp ánh sáng bảo vệ màu xanh, thật không thể tin được. Thật ra, liên tiếp mấy buổi khai thị trong mấy tuần lễ gần đây, Sư Tôn đã phân biệt chỉ ra “sinh tử nhất như”, “chư hành vô thường”, “phá vỡ hư không”, v.v... còn đệ tử thì vẫn chưa lĩnh ngộ được về thiền cơ trong tâm mình, cho đến khi trông thấy chiếc xe của Sư Tôn, lúc ấy con mới chợt nhận ra rằng Sư Tôn đã giải thích rất rõ ràng về “phá tam quan”, vụ tai nạn xe hơi chẳng qua chỉ là phương tiện để phá cửa mà thôi, đệ tử nên vì “phá tam quan” mà Sư Tôn đã nói từ lâu mà vui mừng mới phải. Khoảng hai năm trước, trong buổi đồng tu, Sư Tôn từng khai thị rằng: “Hôm nay tôi làm siêu độ cho người ta, sau khi tôi chết, ai sẽ làm siêu độ cho tôi đây?” Khi Sư Tôn nói vậy thì vô cùng cảm khái. Sư Tôn từ bi chúng sinh, không bỏ rơi một người nào, tiếc rằng chúng sinh vô minh nên cứ mãi lăn lộn trong lục đạo luân hồi, mong rằng tất cả đệ tử Chân Phật Tông đều lấy việc “hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh” làm nhiệm vụ của chính mình. Đệ tử và gia đình đảnh lễ Sư Tôn. Kính chúc Sư Tôn Phật an. Đệ tử Liên Hoa Thục Nghi chắp tay. 16/5/1991.

Phụ lục: Hai bài thơ của Liên Hoa Thục Nghi.

Cớ sao sống chết trong gang tấc. Luôn có Hộ Pháp hộ Sư Tôn. Từ bi chúng sinh chịu thay nghiệp. Cam lòng gánh chịu qua kiếp này.

Sinh tử nhất như” sớm giác ngộ. ”Chư hành vô thường” đã khai thị. Phá vỡ hư không đạo thiền cơ. Chiếc xe đã hủy “tam quan phá”.

🌟

Ba cửa mà tôi phá là như sau: Cửa thứ nhất: một lần đại tử, sinh tử nhất như. (cửa sinh tử) Cửa thứ hai: chứng kiến bản lai, không chút vướng bận. (cửa danh lợi) Cửa thứ ba: phá vỡ hư không, thấu hiểu pháp tướng. (cửa tôn quý) Tôi đã phá được ba cái cửa này, càng chứng minh rằng: Thực tu Phật pháp. Ứng dụng Phật pháp. Thực dứt sinh tử. Trong vụ tai nạn xe, chiếc xe sang đã bị dập nát, biết rằng người như xe, xe như người, thanh lọc triệt để, tứ đại vốn không, không chút vướng bận. Thân ta chẳng phải thân ta, sắc không vô ngại, đắc đại tự tại. Vô minh bám chấp, tất cả đều phá nát hư không.

Lão hòa thượng Hư Vân, thấy một tách trà rơi xuống đất vỡ tan tành mà giác ngộ. Tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) nhờ chiếc xe sang bị vỡ nát mà phá được tam quan. “Xe sang tan nát” là phá được thiền cơ về tam quan, là một phương tiện (một phương tiện rất chân thực). Công phu ngày thường khi thực tu hoàn toàn dốc sức làm, đến gần cửa sinh tử mới có thể vượt qua, mới có thể hiểu rõ pháp tướng.

Nay tôi công bố tấm ảnh chụp bức thư và bài thơ của Liên Hoa Thục Nghi như sau:

image
image

Tôi nói: “Vô thường là chính mình chịu trách nhiệm với bản tính của chính mình.” Có khi vô thường rất nguy hiểm, có thể khiến chúng ta vui quá hóa buồn, sự ập đến của vô thường vô cùng gian giảo. Có người còn chưa thử nghiệm, chưa trải nghiệm, chưa ra đời đã bị vô thường định tội rồi. Tuy nhiên, vô thường có quan trọng hay không, đương nhiên vô thường rất quan trọng, nhưng vô thường cũng không quan trọng. Muốn biết chân tướng của vô thường, trên thực tế là vô cùng khó khăn, bởi vì chỉ có Tiên nhân túc mệnh thông mới có thể dùng túc mệnh thần thông để chứng thực, và vô thường cũng có thể chứng thực định mệnh. Nếu thử dùng khoa học hoặc logic để tìm ra các nhân duyên, các phương thức, luận điểm và tư liệu, chúng ta chỉ có thể nói rằng: “Sự việc xảy ra ngẫu nhiên.” Mà chuyện xảy ra ngẫu nhiên thì chính là vô thường.

Thái độ của tôi đối với vô thường, trên thực tế cũng là một cuộc sống không có bất kì thái độ nào. Đây cũng nên là thái độ của bất kì ai. Nguyên tắc cơ bản thứ nhất - không sợ hãi. Nguyên tắc cơ bản thứ hai - cầu nguyện Hộ pháp. (tu pháp) Nguyên tắc cơ bản thứ ba - Tái Ông mất ngựa, phúc họa khôn lường. (suy nghĩ lạc quan) “Chư hành vô thường là chân lí, cũng là bí mật ảo diệu của định mệnh.”

🌟

“Tội nghiệp báo ứng kinh” nói thế này: Dòng chảy thường không đầy. Lửa mạnh chẳng cháy lâu. Mặt trời mọc rồi lặn. Mặt trăng tròn lại khuyết. Dù giàu sang, quyền quý. Vô thường cũng qua mau.

Giải thích bài kệ này như sau: dòng nước lưu động, biến hóa vô thường, chẳng thể làm đầy được sông lớn; ngọn lửa cháy hừng hực, cháy hết chắc chắn sẽ lụi tàn; mặt trời ló rạng chỉ là một sát-na mà thôi, ngày qua thì cũng lặn sau núi; trăng sáng trên trời, có khi tròn, có khi khuyết; vương công quý nhân phú hào tôn quý thì cũng sẽ nếm trái đắng vô thường.

🌟

Vì vụ tai nạn xe hơi nghiêm trọng vào lúc 8 giờ sáng ngày 13 tháng 5 năm 1991, tôi viết một bài thơ hiện đại. Tiêu đề: Tế phẩm cho vô thường

Vừa ngoảnh đầu Nơi gần sát đồng tử Tiếng sấm vang lên Tôi tỉnh dậy trong một chuỗi mơ hồ Ôi! Chiếc xe đã co rúm

Tất cả vẫn tỉnh táo Chui ra từ không gian nhỏ hẹp trong xe Mặt tôi đỏ, tim đập dồn dập Mừng rỡ Vì chưa chết oan uổng

Khắp xung quanh hoàn toàn tĩnh lặng Chẳng ai nghĩ gì Cho dù xe cảnh sát hú còi inh ỏi Máy móc đã trở thành tế phẩm cho vô thường.

05. Vô ngã

“Chỉ Quán” viết: “Vì không có trí tuệ nên mới bảo là có cái ta. Dùng trí huệ mà quan sát thì thật sự không có cái ta. Ta ở nơi nào, đầu, chân, tứ chi, quan sát tỉ mỉ từng bộ phận thì cũng chẳng thấy cái ta, chẳng thấy ở đâu có người, chẳng thấy ở đâu có chúng sinh. Điều then chốt của nghiệp lực chúng sinh là sự tập hợp trống rỗng không thật, từ các duyên mà sinh ra, không có người nắm giữ, như ở trong nhà trống.”

“Nguyên Nhân Luận” viết: ”Cái sắc của hình hài, cái tâm của suy nghĩ, từ vô thủy đến nay, vì duyên lực, mà tư tưởng liên tiếp sinh diệt, nối tiếp vô cùng, như nước chảy nhỏ giọt, như lửa đèn le lói, thân tâm giả hợp như một thường thể, phàm ngu không biết, chấp vào đó là ta. Thật ra vì cái ta này mà sinh ra ba thứ độc tham sân si, ba thứ độc ấy tác động vào suy nghĩ, phát động thân và khẩu mà tạo ra mọi nghiệp.”

“Vô ngã ấn” là một trong ba pháp ấn. Để phá bỏ vọng nghiệp của mình, Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng giải về đạo lí vô ngã, đạo lí này quyết không được vi phạm, đồng thời cũng chứng minh ấn chứng này khác với lời dạy của ngoại đạo. Tôi từng học: ”Vô ngã tưởng” - Tất cả mọi pháp đều không tịch, từ đó dập tắt suy tưởng về cái tôi. “Vô ngã quán” - Quán tất cả mọi pháp là pháp quán vô ngã. “Chư pháp vô ngã” - Trong các pháp hữu vi, trong các pháp vô vi, nói tất cả mọi pháp hữu vi, vô vi không có thực thể của cái tôi.

🌟

Tôi phát hiện thấy: Con người thế gian đều sống với sự cố chấp của mình, sự cố chấp của mỗi người khác nhau rất nhiều, vì thế, cũng sinh ra phiền não của tự ngã và nỗi bi ai của tự ngã. Quan điểm cố chấp của mỗi cá nhân đều là hẹp hòi và bần cùng, có thể nói là chỉ nhìn được một phía. Còn chân lí của sự thật thì có nhiều mặt.

Muốn đạt đến bậc giác ngộ chân lí nhiều mặt, bậc đại giác ngộ này, trước tiên phải từ bỏ sự cố chấp của tự ngã, cũng tức là phải “vô ngã”, chỉ có người quán hành vô ngã mới có thể cởi bỏ được sự bám chấp, càng hòa tan vào sự vật, càng dung nhập vào hư không, vô ngã là một cảnh giới bí mật ảo diệu vô cùng “thật”, vô cùng “đẹp”. Nếu vô ngã là rượu nguyên chất. Thì từ lâu tôi đã uống quá nhiều rồi. Tôi là kẻ say trong biển “vô ngã”.

🌟

Khi tôi (Liên Sinh Hoạt Phật) hợp với Thánh đế, đạt được trí huệ vô ngã siêu việt, tôi tự cảm thấy thân tâm đã ở trong một cảnh địa phi phàm, cảnh địa này là như thế này: Tĩnh lặng. An khang. Không đau khổ. Không bức bách vì nóng lạnh. Không giả dối. Không mê hoặc. Ở trong một trạng thái ấm áp tốt lành, lại đẹp và trang nghiêm.

Cảnh địa ấy đúng là tự do, vô ngã vốn dĩ là thứ đẹp đẽ nhất, một niềm vui sướng chí cao vô thượng. Cho nên, thế nhân có biết bao đau khổ, là vì thế nhân rất ngu xuẩn, mọi đau khổ phiền não đều là do tự ngã sinh ra. Tự ngã đã bị chế định sẵn. Vô ngã là không bị chế định, là hoàn toàn tự do, là hoàn toàn giải thoát, là trí huệ chân lí thần thánh chí cao vô thượng.

Tôi cảm thấy những người học Phật ngày nay lẽ ra cần hiểu thấu đáo: Tôi đang ở đâu? Anh đang ở đâu? Chúng sinh đang ở đâu? Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: “Tôi đang ở đâu? Anh đang ở đâu? Chúng sinh đang ở đâu?” Cảnh địa của tôi nói như thế nào nhỉ? Có lẽ giống như mặt trăng mát rượi, rong chơi trong thắng cảnh “chung quy là trống rỗng” của vũ trụ. Ở trong mọi thứ đều thanh tịnh, Phật tính tự hiển hiện.

Trong cảnh giới của tôi: Chó không phải là chó. Người không phải là người. Hoa hồng cũng không phải là hoa hồng. Hoa sen cũng không phải là hoa sen. "Vô ngã" là vô tận, không có khuôn khổ, và không có kết luận, không có định nghĩa, không có quy chuẩn, đây chính là “không yêu không chấp”, “không thiện không ác”, vạn vật không tách rời nhau mà cùng tồn tại hài hòa. ”Vô ngã” to lớn nhưng không ở bên ngoài, nhỏ nhưng không ở bên trong, là một chân lí hoàn chỉnh nhất, chỉ cần phù hợp với nó là có thể hiểu được bí mật ảo diệu của nó.

🌟

Tôi cho rằng giới hiện tượng này có vô số hành tinh vũ trụ, hệ mặt trời rộng lớn, ngoài hệ mặt trời ra còn có đầy rẫy các thế giới khác, đó là tam thiên đại thiên thế giới bao la hùng vĩ mênh mông bất khả tư nghì. Tôi chỉ có thể nói thế này: Chúng sinh bất khả tư nghì. Nghiệp lực bất khả tư nghì. Duyên khởi bất khả tư nghì. Nhưng trong “vô ngã tưởng”, mọi sự tồn tại đều là hư huyễn tạm thời, không phải là vĩnh hằng chân thực, cảnh giới vô ngã vượt qua vô số những tinh cầu vũ trụ.

🌟

Người tu hành đều sợ “Ma”, ma có thể đoạt mạng, cản trở, quấy nhiễu, phá hoại, hại mạng người, gây chướng ngại cho những điều thiện của con người.

Bốn ma là:

  1. Phiền não ma - phiền não vì tham, khiến buồn bực hại đến thân tâm, vì thế gọi là ma.
  2. Uẩn ma - ma ngũ uẩn, ngũ sắc ngũ uẩn có thể sinh ra đủ mọi khổ não.
  3. Tử ma - cắt đứt mạng sống của con người, vì vậy gọi là ma.
  4. Tha hóa tự tại thiên tử ma - Tự Tại Thiên Ma, là Ma Vương của cõi trời thứ sáu của Dục giới.

Còn có mười ma là: 1. Uẩn ma. 2. Phiền não ma. 3. Nghiệp ma. 4. Tâm ma. 5. Tử ma. 6. Thiên ma. 7. Thiện căn ma. 8. Tam muội ma. 9. Thiện tri thức ma. 10. Bồ đề pháp trí ma.

Thế giới tự thân của người tu hành, do bản thân chưa giác ngộ chân đạo cho nên chẳng trách mà có những áp lực căng thẳng đến mất ăn mất ngủ. Tuy nhiên, tôi muốn nói với mọi người một khái niệm quan trọng: Tuyệt đại đa số mê muội đều khởi nguồn từ tự thân của con người, ví dụ uẩn ma, phiền não ma, nghiệp ma, tâm ma... Chỉ có Thánh hiền tu hành đạt năng lực cao siêu mới có thiên ma giáng xuống để cản trở và làm hại, thành tựu giả giống như Phật Thích Ca Mâu Ni thì thiên ma mới đích thân ra tay.

Có người nói: Diệu pháp phá ma là: Không có tà niệm. Chính khí. Tránh xa mộng tưởng điên đảo. Không tham, không sân, không si. Điều này vô cùng chính xác.

Tuy vậy, theo Duy thức học mà nói, học phái này mạnh mẽ chủ trương “tâm ngoại vô pháp”, cũng tức là “tâm ngoại vô ma”, trong thế giới duy thức vô cảnh hoàn toàn phủ nhận cách nói “ngoại ma” là họa.

Tôi nói thế này: Ma xuất hiện như thế nào? Là do “tự tính kiến”, “ngã kiến”, “pháp kiến”. Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: “Nếu đạt đến vô ngã, ma tự biến mất.” Ma là phụ thuộc vào con người mà đến, nếu tu hành đến vô ngã, ma không thể nào phụ thuộc vào được, tự nhiên sẽ tiêu biến thôi.

🌟

Tôi muốn nói với mọi người: ”Vô ngã” là một chân lí, ngoài vô ngã ra, bạn không có cách nào tiến nhập vào cánh cửa của tam ma địa (định), nhất thiết phải vứt bỏ rất nhiều hình thức không cần thiết, không cần phải có rất nhiều những lí luận nói ngoài miệng, và cả những công thức phức tạp, đừng để bị chi phối. Bạn chỉ cần thả lỏng tâm bạn ra, tất cả đều không có gì quan trọng cả là được rồi, tất cả mọi việc đều buông bỏ hết, đừng căng thẳng, buông lỏng tất cả. Thả lỏng, tự tại. Không hề gì, không có gì quan trọng, tất cả mọi thứ đều không có gì đáng kể.

Tôi viết một bài thơ: Vô ngã thật tốt Bất kể người ta nói cái gì Mặc kệ Tất cả đều chẳng phải là việc của họ

Trong mộng cảnh một chút tâm sự cũng chẳng có Nằm trên chiếc giường dưới bầu trời đầy sao Lư Thắng Ngạn là ai Ai là Lư Thắng Ngạn Đập nát Lư Thắng Ngạn đi HIện ra áo cà sa Phật đó Chết đi ta sẽ gặp nhau

06. Tiền tài

Tiền bạc rốt cục có phải là rác rưởi không? Thông điệp của Lư Thắng Ngạn rất đơn giản: “Tiền là tiền, rác rưởi là rác rưởi, hai thứ chẳng liên quan.” Có người nói: “Tiền không tốt, sẽ hại người ta.” Điều đó sai rồi, bởi vì từ đầu tiền đã là một vật chất trung tính, nó không có sinh mạng, sao có thể đi hại người được chứ? Tiền chỉ được sử dụng và kiểm soát bởi con người. Chỉ là con người đã sử dụng sai rồi, kiểm soát sai rồi. Lư Thắng Ngạn nói: “Tiền không có lỗi, nghìn vạn sai lầm đều là lỗi của con người.”

Vì thế, thứ mà chúng ta gọi là tôn giáo vẫn luôn nhắc chúng ta rằng: “Không được tham tiền.” Câu nói này rất đáng thảo luận. Họ cũng nói, tiền là thô tục, tiền khiến người ta suy đồi, tiền là ngọn nguồn của mọi tội ác, họ phủ định công dụng của tiền. Sau đó thì vô số người tin vào câu chân ngôn của những người truyền đạo này, đem tiền ủng hộ cho những người truyền đạo. Béo những người truyền đạo. Khổ những tín đồ.

🌟

Lư Thắng Ngạn tôi không phủ nhận tiền tài, Lư Thắng Ngạn tôi khẳng định tiền tài. Tôi khẳng định tiền tài chính là khẳng định cuộc sống. Thật ra, tiền là một thứ rất thực tế. Biệt thự Cầu Vồng mà tôi xây dựng, tất cả mọi vật liệu của nó đều là do tiền mà có, mỗi một bức tượng kim thân Phật Bồ Tát có thể thấy được sự nhào nặn từ tiền. Những bức tường bao của Biệt thự Cầu Vồng chính là những nhịp đập của tiền, chỗ nào cũng là tiền, tiền tiêu vào những cột trụ tròn lớn, vào những vườn hoa, vào đại sảnh, vào Mật đàn... Tiền là vật chất. Nhưng, chúng ta nhờ vật chất mà nhào nặn ra Biệt thự Cầu Vồng của tinh thần. (Đây là trung tâm bế quan.)

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: ”Tiền nếu chỉ dùng vào việc mưu cầu tiền, nó vĩnh viễn là vật chất. Nhưng, nếu biến tiền vào những sử dụng cho tâm linh thì nó là giá trị chí cao vô thượng.” Giữa vật chất và tinh thần có thể biến hóa lẫn nhau. Trong cảnh giới của tôi: Vật chất và tinh thần không hề phân tách làm hai, trên thực tế là một chỉnh thể. Tiền bạc của tôi chính là sự nghiệp bồ đề của tôi. Sự nghiệp bồ đề của tôi chính là tiền bạc của tôi.

🌟

Cách tôi nói về tiền là, thật ra tiền có tính tạm thời. Bởi vì ai cũng biết: “Tiền là thứ khi sinh ra không đem tới được, khi chết rồi không đem đi được.” Đối với tiền, cần khẳng định rằng ở nhân gian tiền có tác dụng của nó. Nhưng tuyệt đối không phải là hoàn toàn sùng bái tiền. Tuyệt đối không phải mạnh mẽ chạy theo, cũng tuyệt đối không phải là tranh giành để cướp đoạt. Chúng ta có thể nhiệt tình sống trong tiền, sau đó nâng cao giá trị của tâm linh, dùng tiền để thay đổi đời sống tinh thần. Nếu như bạn biết cách chuyển hóa đồng tiền thì vật chất và tinh thần sẽ là hai dòng chảy hợp làm một, thì ở trong khoảnh khắc đó, nội tại và ngoại tại là một sự biến đổi hợp nhất.

Tôi vẫn luôn đặt tiền trong quan điểm thực tế. Tôi vận dụng đồng tiền. Biến tiền thành thứ có giá trị chân chính. Tiền biến thành tâm. Tâm và tâm tiếp cận. Tiền là Phật. Không thể tách rời. Không thể xa cách. Lúc này tại đây, dùng tiền để khiến Phật tính hiển lộ. 🌟

Có người nói: “Tôi không thích tiền, tôi chỉ thích tu hành.” Câu nói này rất chí lí, không sai. Thế nhưng điều này chỉ phù hợp với hành giả cô độc, người quá sáng suốt giống như cây khô tro tàn, họ sẽ chứng đắc quả A La Hán hoặc là Tiên nhân thanh tịnh quả dục.

Trên thực tế, tôi cũng không yêu tiền. Nhưng tôi vận dụng tư lương của tiền. Để đi qua cuộc đời của một người tu hành, đi trợ giúp chúng sinh, xây dựng đạo tràng cho chúng sinh, đi từ bi hỉ xả, đi làm mọi việc thiện. (Dùng toàn bộ tiền hoàn trả cho chúng sinh.)

Đối với chúng sinh, tiền có ích lợi biết bao! Lời vàng của Lư Thắng Ngạn tôi là: Có tiền, mau mau đi làm mọi việc thiện. Không tiền, mau mau đi thanh tịnh tâm ý.

🌟

Tôi thường nghĩ thế này: Vợ con mà bạn không thể rời bỏ được dù chỉ một chốc lát là của bạn sao? Tài sản mà bạn không nỡ từ bỏ một chút nào là của bạn sao? Bạn bè thân thích gần gũi với bạn, những tình bằng hữu ấy là của bạn sao? Sự nghiệp kinh doanh mà bạn không thể rời xa chỉ một giây lát là của bạn sao? Địa vị trong xã hội ấy là của bạn sao?

Nghĩ đến cùng, tôi nghĩ thế này: Một khi vô thường xảy đến, thân thể của bạn hoàn toàn tiêu diệt, thật sự ngay cả thân thể của chính mình cũng không phải là của mình, thì ra mình chỉ là hai bàn tay trắng thôi! Rốt cục ta lưu luyến cái gì đây? Trói buộc với danh lợi sao? Tôi có thể thoát khỏi danh lợi địa vị. Tôi muốn tiêu toàn bộ tiền bạc vào sự nghiệp bồ đề.

🌟

Đối với của cải, một số doanh nhân sẽ tính toán kỹ lưỡng, và sẽ có cảm giác hạnh phúc và phấn khích vì sự giàu có ngày càng tăng… Cuối cùng là say sưa mê mẩn trong trò chơi tiền bạc, trở thành một người say, tiền bạc trở thành tình yêu lớn nhất, chỉ có tiền bạc là mùa xuân, tiền bạc là ánh mặt trời, dùng tiền bạc để hô mưa gọi gió. Đó là phương hướng sai lầm, đồng tiền đã mất đi giá trị sử dụng của nó rồi.

Không phải tôi phủ định đồng tiền. Tôi khẳng định tiền bạc. Tôi khẳng định quan điểm giá trị sử dụng của đồng tiền. Tôi khiến tiền bạc sống dậy, vận dụng sức mạnh lớn nhất của nó để Phật Bồ Tát càng tiếp cận được với chúng sinh, tiền bạc có thể dùng vào rất nhiều sự nghiệp bồ đề, toàn bộ cái nhìn thấu đáo của tôi là như vậy.

Bài thơ của Hàn Sơn Tử:

Bà vợ lão chủ nhà Đã mấy năm giàu có Ngày xưa nghèo như tôi Nay giễu tôi không tiền Cười vang sau lưng tôi Tôi thì cười trước mặt Cười như chẳng thể dừng Bên đông lại bên tây.

🌟

“Lục Độ Tập Kinh” viết: Thà rằng giữ đạo, nghèo khổ mà chết, đừng vì vô đạo, giàu có mà sinh. ”Ni Càn Tử Kinh” viết: Kẻ tham tích lũy nhiều, có được cũng không thấy chán thấy đủ, tâm vô minh điên đảo, thường nghĩ chuyện làm tổn hại người khác. Giờ đây oán ghét nhiều, xả thân đọa ác đạo. Vì thế bậc trí giả, thường nghĩ biết thấy đủ.

“Bách Duyên Kinh” viết: Khi con người cầu tiền tài - thân tâm đều khổ. Khi con người có được tiền tài - bảo vệ tiền tài cũng khổ. Khi con người mất tiền tài - lòng nóng như lửa đốt càng khổ. Vào ba thời điểm này chẳng hề có tí gì niềm vui.

🌟

Tôi viết bài thơ “Tiền tài”:

Dù cho phong thái lớn cỡ nào Dù cho bận rộn và thịnh vượng Thanh sắc khuyển mã tôi đã hiểu Đều là tiền tài của cải thôi

Kiến trúc tráng lệ cũng thế thôi Cửa hàng một chuỗi cũng thế thôi Vui sướng khoan khoái sao đi nữa Đều bị tiền tài chuốc đến say

Bao nhiêu con người trên đời này Bị tiền bủa vây và quấy nhiễu Nhưng có ai tỉnh và sáng suốt Khám phá ra được cái nội tình Của mớ lộn xộn mà xử lí.

07. Quy y

Từ nhỏ, tôi đã có những thắc mắc đầy hoang mang về cuộc đời con người, tôi tràn đầy hi vọng và khao khát theo đuổi chân lí, nghiêm túc mà nói, những người như tôi có thể xem là hướng đến một đời sống tinh thần cao cả. Vì sao con người lại sống? Ý nghĩa của cuộc đời là gì? Thần ở đâu? Chân lí là cái gì?

Từ lúc là thiếu niên tôi đã nghĩ như thế, thế rồi tôi ôm ấp rất nhiều lí tưởng, bước vào điện đường của tôn giáo, đối với mục sư, cha xứ, tu đạo, hòa thượng không tránh khỏi cảm giác yêu thích ngưỡng mộ lạ thường, thậm chí tôi ước ao tu hành thành Tiên nhân, thành Phật, ước ao lĩnh ngộ được chân lí của ý thức vũ trụ. Trong quá trình trưởng thành, rất nhiều vấn đề hiện thực đã làm tiêu tan những thần tượng trong cõi đời thế tục, có một số thần tượng thật sự đã sụp đổ chỉ sau một cái thổi. Con người theo đuổi đời sống tâm linh, và đức tin của họ thường rất mong manh. Tôi chưa bao giờ ảo tưởng trong suy nghĩ của mình, dưới những mối nghi hoặc không thể thỏa mãn của tôi, những giấc mơ mà tôi đã xây dựng cũng sụp đổ tan rã, vỡ tan rồi.

Vì thế: Nhận lễ rửa tội của mục sư Tô Thiên Minh. Các công đức của Đạo giáo. Tôn sùng Thánh giáo Thiên Đức. Quy y Phật môn Hiển giáo. Nhận quán đảnh của Phật môn Mật giáo. Đó là một quá trình tôi tìm tòi khám phá, rất trang nghiêm, chứ không phải là đứng núi này trông núi nọ.

🌟

Tôi phát hiện ra có rất nhiều vị thầy tôn giáo có danh vọng, lợi dụng sự trông mong vào chân lí của con người, đã lập nên các tổ chức kinh doanh và địa vị cho bản thân, khiến cho càng nhiều người sùng bái và hoang mang. Bản ngã hài lòng với vương quốc tôn giáo của chính mình. Bản ngã hài lòng với đông đảo đệ tử của chính mình. Bản ngã hài lòng với thế giới với những tràng vỗ tay của chính mình.

Trên thực tế, những vị thầy tôn giáo này chỉ là khoe ra những sách cổ điển của giáo chủ để mê hoặc mọi tín chúng, dẫn người ta lạc đường. Xung quanh chúng ta đầy rẫy những nguy cơ như vậy. Bản thân các vị thầy tôn giáo không có sự giác ngộ, cho dù có đứng ở địa vị chủ đạo, họ lấy mê dẫn mê, thì cũng dẫn đến rất nhiều vấn đề. Cái kiểu thầy tôn giáo này thật sự rất ngu muội. Quần chúng đi theo họ cũng ngu muội y như vậy.

🌟

Tôi chú ý đến tầm quan trọng của những vị minh sư. Minh sư không nhất định là người dựng nên những tổ chức lớn, cũng không nhất định là người có địa vị rất cao, hoặc là người có danh vọng rất lớn. Tôi tin rằng, rất nhiều bậc chứng ngộ rất có năng lực tu hành sống trong những núi cao, sống bên bờ sông, sống ở vùng nông thôn vắng bóng con người. Từ một vài góc xó tôi thăm dò đạo của rất nhiều minh sư, những đạo pháp này dẫn đến cảnh giới vĩ đại thanh tịnh hơn. Con mắt của con người ta và con mắt của tôi không giống nhau. Con người ta tán dương những đạo tràng tráng lệ, chú ý đến những thứ chủ thể to lớn, ca ngợi sự vĩ đại của các tổ chức của những vị thầy ấy, mà lại lơ là rằng họ là một vị thầy tôn giáo, cái chức danh thầy tôn giáo của họ chỉ là vật làm nền cho tổ chức. Tôi đi quy y minh sư. Không đi quy y những nhà kinh doanh giả danh tôn giáo.

🌟

Tôi bắt đầu tu pháp, ngày ngày thực tu Mật pháp, Chân Phật Mật Pháp của tôi là “tinh túy ngắn gọn”, dùng thủ ấn, chân ngôn, ý quán, ba loại tu hành bí mật, để đi đến cảnh địa Phật hoàn toàn viên dung. Tam mật hợp nhất: khẩu thanh tịnh, thân thanh tịnh, ý thanh tịnh này thật ra là pháp bí mật độc lập và duy nhất của Đại Nhật Như Lai.

Tôi rất có tinh thần nghị lực, cũng giống như việc viết sách của tôi. Tôi nhấn mạnh kính sư, trọng pháp, thực tu. Tôi phát hiện ra dòng chảy pháp của vũ trụ rất sống động và trôi chảy, tôi có được đại quán đảnh của ý thức vũ trụ. Trong người tôi có dòng chảy ấm áp, nó rất trong sáng, tịnh quang xuất hiện.

Sự tu luyện nghiêm túc cẩn mật khiến toàn thân tôi đã thông khí, có thể nâng và hòa tan minh điểm, thông ba mạch bảy luân xa, sản sinh ra tịnh quang, tôi chăm chỉ tu pháp, không lơi lỏng một chút nào. Tôi đã trải qua các bài thử thách của lửa thử vàng, trải qua mọi sự tôi luyện. Bởi vậy, tôi đã khai ngộ rồi, Chân Phật Mật Pháp của tôi là một con đường, tôi tiến nhập vào định cảnh, phi thường xuất sắc, tôi là một hành giả chân đạo, đối với tôi mà nói thì tuyệt đối là như vậy.

🌟

“Thế hệ ngày nay, phải quy y ai? Ai là minh sư?” - Có người hỏi. Lời vàng của Lư Thắng Ngạn tôi trả lời rằng: ”Phải quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.” ”Vì sao?” ”Bởi vì Liên Sinh Hoạt Phật là người nói thật, là người nói đúng, không phải người nói dối.” ”Có bằng chứng gì?” ”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn có thể khiến người quy y vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, có thể khiến người quy y xuất hiện tướng đoan trang, có thể khiến người quy y sau khi hỏa táng có được xá lợi, đây là sự thật hoàn toàn chân thực. Tôi đặc biệt đưa ra đây một bức thư làm ví dụ.”

Nội dung bức thư này như sau:

Nam Mô Liên Sinh Hoạt Phật Sư Tôn từ bi soi xét. Đệ tử Liên Hoa Phụng Thiền chí thành đảnh lễ Sư Tôn, om mani padme hum. Đệ tử kính báo Sư Tôn một sự việc có liên quan đến việc qua đời của mẹ con là Liên Hoa Ngọc Trinh. Vào buổi sáng ngày 22/4/1991, mẹ con đã qua đời tại bệnh viện Mount Elizabeth Novena ở Singapore. Chỉ có mình đệ tử khi ấy vì đang mắc bệnh thủy đậu nên không thể ở bên cạnh mẹ được, nhưng chị gái của đệ tử có nói rằng vào thời khắc mẹ con từ trần thì tướng mạo rất bình thản. Khi ấy đệ tử cũng gửi điện báo cho sư huynh Liên Bào để hỏi, câu trả lời là mẹ đệ tử đã vãng sinh thế giới Cực Lạc. Tại đây, đệ tử chân thành cảm kích Sư Tôn và sư huynh Liên Bào đã từ bi chỉ dẫn cho mẹ đệ tử vãng sinh Phật quốc, không phải chịu đau khổ của luân hồi sinh tử. Đệ tử đã để quan tài của người mẹ đã khuất sau ba ngày mới hỏa thiêu, sau khi hỏa thiêu thì có được hai, ba viên xá lợi, hoa xá lợi màu xanh nhạt cũng có khoảng 30 viên. Hiện tượng tốt lành này càng dẫn dắt anh chị em của đệ tử tin tưởng sâu sắc vào sự chân thực không hư giả của Phật pháp (mọi người trong nhà bấy lâu vẫn luôn không mấy tin vào Phật pháp). Lành thay! Lành thay! Trong thư trả lời, Sư Tôn từng nói sẽ chỉ dẫn cho mẹ con vãng sinh, còn hướng dẫn đệ tử phải thành tâm cầu nguyện, đến ngày đó tất sẽ có hiện tượng kì lạ và điềm lành, giờ đây sự thật quả nhiên lần lượt chứng nghiệm rồi. Đệ tử sâu sắc cảm thấy cuộc đời này có thể quy y Liên Sinh Hoạt Phật, học tập tu trì Chân Phật Mật Pháp và chính là việc hạnh phúc nhất trong đời người, không có bất kì việc gì khác có thể sánh với sự vĩ đại của duyên phận này! Tại đây, đệ tử xin đem toàn bộ số tiền phúng điếu đã nhận được để làm công đức (500 Ringgit tiền Malaysia ủng hộ trường học, số tiền còn lại chuyển thành đô-la Mĩ cúng dường Sư Tôn vô cùng tôn kính), rồi đem công đức này ra sức hồi hướng cho người mẹ quá cố của đệ tử và tất cả những người có kết thiện duyên này chứng đạo bồ đề, chứng cửa giải thoát. Tại đây, đệ tử kính dâng lên 1745 USD, mong thầy vui lòng tiếp nhận, đệ tử chân thành thỉnh Sư Tôn gia trì cho đệ tử đạo tâm kiên cố, tu trì dũng mãnh tinh tấn. Kính chúc Sư Tôn Sư Mẫu Phật an. Đệ tử Liên Hoa Phụng Thiền chắp tay đảnh lễ. 26/4/1991.

Dưới đây là ảnh chụp bức thư để chứng minh:

image

Lư Thắng Ngạn nói: “Liên Hoa Ngọc Trinh nhất định vãng sinh.” Kết quả là bà đã vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới. Lư Thắng Ngạn nói: “Liên Hoa Ngọc Trinh nhất định có điềm kì lạ.” Kết quả là bà đã có hạt xá lợi và hoa xá lợi. Lư Thắng Ngạn nói: “Liên Hoa Ngọc Trinh nhất định có điềm lành.” Kết quả là bà ra đi tướng mạo bình thản.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn tôi thật lòng thật sự nói với mọi người rằng, tôi là người nói thật, tôi là người nói đúng, không phải người nói dối, không phải người nói khoác. Chân Phật Mật Pháp sẽ cứu vãn toàn nhân loại, Chân Phật Mật Pháp là một con đường cứu độ, và quy y chính là một sự khởi đầu. Vì tôi đã có định cảnh và ngộ cảnh, cho nên mọi thứ tôi đều thanh thản thoải mái, tôi biết việc cứu độ trong cả cuộc đời này của tôi chỉ có ba chữ: “Không hối tiếc.” Chân Phật Mật Pháp không chỉ là tín ngưỡng, mà còn là cái bè thực tu. Tôi truyền bá Mật pháp tu hành tối cao vô thượng, nỗ lực tu trì thức thứ tám, thức thứ chín của mình, rồi đem tâm pháp truyền cho mọi người. Tôi tin rằng, khai ngộ và chứng đắc tâm pháp là chính đẳng chính giác chí cao vô thượng, cuộc sống và tu hành cả đời này của tôi đều hòa tan vào với nhau.

🌟

Tôn giáo không phải là một nghề nghiệp, không phải là một tổ chức kinh doanh. Tôi là một người truy lùng, tìm kiếm, thực tu, nỗ lực thực hiện mà đắc được pháp vị chân chính. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc kinh doanh công ty, tôi chỉ muốn đem những tâm pháp của mình, trình bày rõ những điều tinh tế sâu sắc, vì thế mà tôi không ngừng viết sách rồi lại viết sách, thuật lại bằng ngòi bút. Tôi muốn: Tư tưởng nhậm vận. Ngôn từ đẹp đẽ. Quy y Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn là sự khởi đầu của trí huệ và thiền định, điều này hết sức trang nghiêm, là con đường để học Phật khai ngộ vãng sinh đó!

🌟

Tôi phát hiện ra con người đương thời đều muốn quy y, một số người không có cách nào chịu đựng được cuộc sống, một số người cơ bản là không hạnh phúc, một số người thì không hề có mục tiêu, một số người chưa từng bao giờ có sức sống, một số người thì cứ tìm tìm kiếm kiếm, nhưng đều tìm sai phương hướng... Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: “Quy y, đó cần phải là một sự phát hiện vĩ đại.” Ở đây có một vài hàm ý cần được giải thích. Quy y tức là quay trở về nương dựa và đi theo người chiến thắng. Cái gọi là quy y Phật tức là từ bỏ tà sư và phụng sự chính sư, quy y pháp là từ bỏ tà pháp và tu chính pháp, quy y tăng là từ bỏ tà hữu và bầu bạn với chính hữu. Ở đây có ba ý nghĩa:

1. Thân mệnh quy về Phật. 2. Quy thuận giáo mệnh của Phật. 3. Vận mệnh quy về nhất tâm bản nguyên.

Trong Mật giáo, cần phải quy y Kim cương Thượng sư trước, bởi vì Kim cương Thượng sư là Nhất Thể Tam Bảo, là tổng nhiếp của Phật, pháp, tăng.

🌟

“Tâm Địa Quán Kinh”: Nhập biển Phật pháp. Lấy tín làm gốc. Qua sông sinh tử. Lấy giới làm bè. Tôi cảm thấy trên phương diện “tín giải” [tin và hiểu], một câu trong “Niết Bàn Kinh” đã sâu sắc đạt đến cảnh giới ấy: “Người tin mà không hiểu, tăng trưởng vô minh; người hiểu mà không tin, tăng trưởng tà kiến; tin và hiểu viên thông thì trở thành cái gốc của hành động.” ”Vì sao quy y Liên Sinh Kim cương Thượng sư Lư Thắng Ngạn là thù thắng nhất?” ”Bởi vì Liên Sinh Kim cương Thượng sư là người tín giải, cũng tức là đã đạt được tín giải viên thông.” Vì thế, nếu có thể quy y Liên Sinh Kim cương Thượng sư thì sau đó có thể nghe hiểu được Phật pháp thâm sâu ảo diệu nhất, có được sự hộ trì của Phật Bồ Tát chư tôn và Không Hành Hộ Pháp, tu trì có thể đạt đến hư không giới đầy ắp trí huệ thù thắng của pháp thân bản tính. Liên Sinh Kim cương Thượng sư đã chứng Phật quả, là bậc chân trí thực học, chính tri chính kiến, chân thực không giả dối. Quy y Lư Thắng Ngạn là cơ duyên nghìn năm khó gặp.

🌟

Hai bài thơ quy y.

Bài thứ nhất:

Giả như quyết định đi tìm kiếm Giả như muốn hiểu đạo lí hiển nhiên Đừng ngại quy y Quy y một vị Thánh giả Bởi chúng ta có thể đi theo dấu chân của họ

Đó là một việc thiêng liêng Tâm linh có nơi nương dựa Ở trong ánh nắng ban mai Đẹp đẽ sáng trong không bụi

Thánh giả nói với chúng ta cái gì là mộng huyễn Thánh giả nói với chúng ta cái gì là yêu thương Thánh giả nói với chúng ta cái gì là vĩnh hằng Tan vào trong tĩnh lặng

Sau khi no nê pháp vị Thiên nữ múa trong hư không Chắc chắn sau khi rắc hoa Mừng vui kinh ngạc bất ngờ.

Bài thứ hai:

Bầu trời là khuôn mặt tôi Mặt trời mặt trăng sinh ra và lớn lên Ngôi sao là trái tim tôi Dựng lên đường đạo của hành giả Quy y xong Chuyên tâm tham thiền.

08. Chân lí

Tôi thích đi thăm viện bảo tàng. Bởi vì tôi thích những món vật phẩm kiểu cổ, tôi cố tình đưa tay vuốt ve những vết nứt trên đồng để ngẫm nghĩ về thời xa xưa. Tôi đi để cảm nhận thế giới của ngày xưa. Tôi tư duy nên tôi tồn tại. Tôi nghĩ “chân lí” là cái gì? Chân lí chính là thời gian. Không thể thay thế.

🌟

Ngồi trước cửa sổ bên hồ U Linh, chập choạng tối, gió núi rất mát, tiếng chim ríu rít trên cây trước mái hiên. Ngắm hồ U Linh, nước hồ trong lấp lánh, cảnh hồ sắc núi phô bày dung nhan diễm lệ của giới tự nhiên, nước hồ ấy tựa như nhẹ nhàng chảy qua mắt tôi. Tôi dường như tan vào hoàng hôn. Tan vào trong tiếng chim kêu. Tan vào trong hồ U Linh. Tôi nghĩ “chân lí” là gì? Chân lí chính là tự nhiên. Vẻ đẹp của tự nhiên là một bài thơ.

🌟

Tôi ngồi thiền ở vô lượng pháp giới cung bên hồ U Linh. Mặt quay ra cửa sổ, từ cửa sổ có thể nhìn thấy bầu trời đêm xa xăm, bầu trời đêm có những vì sao. Tôi nghĩ. Hơn 2500 năm trước Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc cây bồ đề. Nước sông Nairanjananadi chảy rầm rì. Trên tòa kim cương, ngài nhắm mắt minh tưởng, trải qua 21 ngày, rồi vào ngày mồng 8 tháng 2, đêm nhìn sao sáng, bỗng nhiên đại ngộ, trở thành Phật Đà vô thượng chính đẳng chính giác! Tôi cũng thường nhìn sao. Mấy ngôi sao ở chân trời bên ngoài cửa sổ chầm chậm tỏa ra ánh sáng lạnh.

Tôi nghĩ đến: Mặt trời là tịnh thổ của Quan Thế Âm Bồ Tát. Mặt trăng là tịnh thổ của Đại Thế Chí Bồ Tát. Ngôi sao là tịnh thổ của Hư Không Tạng Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn sao mà khai ngộ. Hoằng Pháp Đại Sư (Hòa thượng Không Hải) thì có ngôi sao bay vào trong miệng.

Còn tôi yêu thích sao, là vì cái ánh sáng lạnh lấp lánh chập chờn của nó. Đúng thế, vào thời khắc minh tưởng của thiền định, chính là lúc tịch tĩnh nhất, tất cả đều không, hư không vô tận, chính mình cũng tan biến mất rồi... Lúc này, những ngôi sao xuất hiện. Hành giả thiền định dường như không có cách nào chống lại bất kì sự trêu ghẹo nhỏ nào. Giờ này phút này. Ngôi sao chính là chân lí rồi!

🌟

Tôi cũng thích đọc sách. Ở trong thư phòng, tôi thường bật đèn bàn. Có khi, vào ban đêm sâu lắng, thỉnh thoảng có một cơn gió đêm rất mạnh thổi qua, hoặc có một cơn mưa vội gõ vào cửa sổ trên mái nhà, những âm thanh ấy vô cùng lạnh lẽo! Đối với mỗi khoảnh khắc của cuộc sống, tôi đều vô cùng trân trọng. Không hề nhạt nhẽo hay vặt vãnh, đối với mỗi sự việc nhỏ tôi đều cảm nhận được pháp vị.

Đèn, xua tan đi bóng tối mơ hồ. Dưới ngọn đèn nhỏ, tôi từng có những khoảng thời gian dài dịu dàng và ấm áp. Dưới ngọn đèn nhỏ, tôi từng có rất nhiều cảm xúc, càng nhiều những ưu tư thầm kín đã len lỏi vào trái tim tôi. Cho dù tôi đã trải qua bao nhiêu ngày khó khăn... Cho dù tôi đã phải chịu bao nhiêu lời phỉ báng và ấm ức...

Cái mà tôi quen thuộc nhất là chiếc đèn nhỏ. Tôi chỉ cần nhẹ nhàng tắt nó đi. Là có thể ôm ấp một giấc mơ trong sáng thanh thản mà đi ngủ. Ngọn đèn nhỏ! Tượng trưng cho chân lí!

🌟

Rốt cục tôi là ai? Đã đi qua quãng thời gian 47 năm, những mối quan hệ giữa người với người và đủ thứ tình yêu, đủ thứ tu hành và thiền định, đủ thứ tương tác lẫn lộn. Đủ thứ của đời trước, đủ thứ của tương lai. Tôi hiền như gỗ, hay là giỏi biểu đạt?

Cái “tôi” này, ở thế giới bên ngoài, thường có rất nhiều nỗi oán hận và hiểu lầm nan giải. Cái “tôi” này, ở thế giới bên ngoài, thường có rất nhiều tin đồn nhảm nhan nhản ở khắp nơi. Nghĩ đến sự ra đời của tôi. Nghĩ đến cái chết sau này của tôi.

Rõ ràng tôi có một "tình yêu sâu sắc" đối với thế giới này. Vì sao tôi phải có tình yêu sâu sắc với thế giới này? Vì sao phải chăm sóc kĩ lưỡng đối với chúng sinh? Rốt cục tôi là ai? Chúa Jesus nói: ”Ta chính là chân lí, ta chính là đường đạo....”

🌟

Đời người là giấc mộng, thế thì mộng chính là chân lí. Tỉnh mộng thì mộng cũng không, thế thì Không chính là chân lí. Con đường của giấc mộng bao la quá! Mới xa xăm làm sao! Cũng có cô đơn, cũng có sầm uất, có khi nhạt, có khi đậm. Mộng ở trong chăn, trong những đêm tối tĩnh mịch. Đúng rồi, đêm đã buông xuống thì mộng càng sâu.

Tôi thường nói: Mộng, như con phù du trong nháy mắt. Và trong năm ánh sáng của vũ trụ bao la thì đời người trăm năm cũng chỉ như con phù du trong nháy mắt mà thôi. Giấc mộng một đêm và giấc mộng trăm năm thì sớm muộn cũng đều uổng công, có cái nhìn chính xác như vậy thì còn có khai sáng gì? Những giấc mộng liên tục bị trì hoãn và chậm trễ, và những giấc mộng không ngừng trôi qua từng chút một, cho dù là lặng lẽ đến, và cũng âm thầm ra đi, không một chút tăm tích. A! Cuối cùng tôi đã hiểu ra chân lí: Sóng lặng hay sóng xô, tất cả đều không có dấu vết.

🌟

Đôi khi, tôi đầy hi vọng. Đôi khi, tôi rất tuyệt vọng. Chợt nhìn lại những tháng ngày đã qua, con đường quá dài, có quá nhiều nỗi buồn, có bao dấu chân nông sâu. Cần phải tiếp tục mạnh mẽ, hay là yếu đuối, suy nghĩ ấy không ngừng xâm chiếm tôi, hi vọng thường xuyên biến thành tuyệt vọng, đây là lúc phải lựa chọn! Phải hi vọng, hay là tuyệt vọng? Tôi đột nhiên cảm thấy hoàn toàn hoang vắng. Tâm hồn lang thang phiêu bạt, tìm kiếm kết quả, kết quả là chân lí sao? Hay chỉ là một chút thấp thỏm?

🌟

Có người nói: ”Lư Thắng Ngạn nhiều biến hóa.” Tôi nghĩ: ”Tôi thật sự là nhiều biến hóa.” Vì sao? Bởi vì tôi từng đọc một câu như thế này: “Một người cảm thấy buồn chán bởi vì anh ta sống trong một khuôn mẫu cứng nhắc mà người khác đã cho anh ta, bạn phải buông bỏ những khuôn mẫu đó, thoát ra khỏi những khuôn mẫu đó và bắt đầu sống cuộc sống của chính mình.”

Câu này làm tôi khá rung động, thật ra... Những thăng trầm của cuộc đời không có nhiều thay đổi! Bầu trời cũng hằng thường và cũng nhiều biến đổi mà! Biển lại càng trôi nổi không biết nơi nào! Chư hành vô thường mà! Tôi đã bị cảm động bởi sự lôi kéo dẫn dắt của “đa biến hóa”, sự đa biến hóa của tôi cũng thần thánh mà trang nghiêm, cũng có thể coi là một dạng chuyển biến của chí hướng, tâm cảnh và khát vọng.

Tôi luôn nghĩ: Tôi không thể tránh được những thứ dung tục, không thể xung đột với hàng rào của thế tục. Hoặc là tôi phải thoát tục, cưỡi gió mà đi. Tôi xây dựng Lôi Tạng Tự. Tôi thành lập Chân Phật Mật Uyển. Tôi sống tại “vô lượng thanh tịnh pháp giới cung”.

Bây giờ tôi lại xây dựng Biệt thự Cầu Vồng. Đây tuyệt đối không phải là mục tiêu thế tục hóa, mà là sợ hãi cuộc sống cứng nhắc như khuôn mẫu sẽ chôn vùi tôi, tôi phải nhảy ra ngoài, một sự nhảy thoát ra có giá trị, đánh giá lại cuộc sống của mình lại từ đầu, đổi lấy sự đổi thay của không gian thời gian. Đa biến hóa của tôi vì vậy mà xoa dịu được tự ngã.

🌟

Tôi đọc kinh Vô Lượng Thọ, cảm thấy trong đó có một câu là chân lí, tôi thường suy ngẫm về câu nói này, xin trích ra như sau: “Từ khi Như Lai đắc đạo đến nay, hơn 40 năm, ngài thường vì chúng sinh mà diễn thuyết ý nghĩa của tứ tướng các pháp; khổ nghĩa, không nghĩa, vô thường, vô ngã, không to không nhỏ, không sinh không diệt, nhất tướng vô tướng, pháp tính pháp tướng, bản lai không tịch, không đến không đi, không ẩn không hiện.”

Lời này nói rằng: Kể từ khi Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo khai ngộ dưới gốc cây bồ đề tới nay, thời gian ngài thuyết pháp là 49 năm, thường xuyên diễn thuyết về chân lí của bốn loại diễn biến, đó chính là khổ (oán tăng hội khổ, ái biệt li khổ, ngũ uẩn xí thịnh khổ), không (đời người là hoàn toàn hư huyễn không thật), vô thường (đời người là luôn luôn biến hóa lạ lùng), vô ngã (mọi pháp do nhân duyên mà sinh, vốn dĩ không có cái ta), không lớn không nhỏ (lớn nhỏ chỉ là nói một cách so sánh tương đối, về chân đế thì không lớn không nhỏ), không sinh không diệt (đạo lí bản tính vốn không sinh không diệt), nhất tướng vô tướng (nhân duyên thành nên có tướng, nhân duyên diệt nên không có tướng), pháp tính pháp tướng (vốn dĩ hư không), vì thế mới nói không đến không đi, không ẩn không hiện, không sinh diệt. Tôi thường suy ngẫm về lời nói này, nghĩ hoài, nghĩ hoài.

Từ chân lí này mà tôi đắc: Rời xa khổ não, có được niềm vui an ổn. Không tham chấp, không chướng ngại. Không có sự khác biệt một người hay nhiều người, đắc pháp bình đẳng. Đắc nhất âm, đắc nhất vị. Niết bàn giải thoát.

🌟

Tôi từng đọc một bài thơ, đại ý là như thế này:

Chân lí, Phải đi tìm kiếm, Đi tìm cho ra “ta là ai” Đi tìm cho ra bản tính. Mọi thứ trở nên phong phú hơn.

Tôi cảm thấy bài thơ này có liên quan đến Phật pháp, bởi vì mục đích quan trọng nhất của học Phật vẫn nằm ở tìm kiếm chân đạo, trong công án Thiền tông, phải ngẫm nghĩ “người niệm Phật là ai?”, “khi cha mẹ chưa sinh, là ai?” “khi thành cái xác chết, là ai?” Tìm ra ta là ai? Tìm ra bản tính? Tức là tìm ra được chân lí.

🌟

Kinh Hoa Nghiêm có một đoạn văn thế này: ”Tất cả chúng sinh nhờ có tứ đại mà thành, đã là vô ngã thì không có cái tôi thật sự. Thế là vì sao mà có sự chịu khổ, có sự hưởng tốt lành, có tốt, có xấu, có sự chịu hiện báo, có sự chịu hậu báo? Câu trả lời như sau: tùy theo sở hành mà sinh ra quả báo khác nhau, không có “người” gây nên điều đó. Giống như hạt giống trên mảnh ruộng, đủ loại mọc lên; như các vị thầy huyễn thuật, làm hiện lên đủ mọi sắc tướng, như cùng là cốt loài chim mà sinh ra đủ loại âm thanh.”

Đọc đoạn văn này càng hiểu thêm về mọi thứ của chốn hồng trần.

Bài thơ của Hàn Sơn Tử:

Dấu vết cổ nhân trên hóa thạch nghìn năm Trước núi cao vợi là một điểm trống rỗng Khi trăng sáng tỏ thường chiếu sáng trong Chẳng mất công tìm hỏi han này nọ.

Tôi cho rằng trong bài thơ này ẩn chứa hai chữ “chân lí”. Trong quá trình tôi lĩnh ngộ chân lí, tôi không nghĩ rằng chân lí là vĩnh viễn sáng bóng không tì vết, tôi thật sự đã chạm đến cánh cửa của chân lí, từ lâu đã run lên một cảm giác rất khác biệt. Tôi cảm thấy rất sâu sắc và rõ ràng, nhưng cũng bộc lộ một cách rất mơ hồ. Văn tự không cần phải sâu xa sắc bén, cũng không phải là câu nào câu nấy đầy cảm ngộ, chỉ có thể hiểu được bằng ý mà khó truyền đạt bằng lời. Cho dù là đại trí đại huệ đại giác đại ngộ, cũng chẳng qua là trong hư huyễn đạt được thăng hoa.

Dưới dòng chảy pháp của hiện thực nghiêm túc, tôi có một chút khùng. Dưới sự mộc mạc của chứng ngộ giải thoát, tôi có một chút điên. Có khi cười. Có khi khóc. Không thể nghĩ bàn. Không thể nói. Con người là động vật duy nhất có thể tìm kiếm chân lí, đó là một đặc quyền vĩ đại, đặc quyền này là một mặt tôn quý và đáng tự hào nhất của nhân loại, có bao nhiêu con người đã đi tìm kiếm chân lí, chân lí tuyệt đối không phải là một khuôn mẫu, có người thì chân lí là con lừa, có người thì chân lí là con ngựa, còn chân lí của người học Phật chính là Phật.

09. Thiện ác

Trong kinh Phật, phân biệt thiện ác như sau: 1. Thuận theo lí thì là thiện. 2. Trái với lí thì là ác. 3. Ý thức của tất cả chúng sinh khởi đầu là muốn trụ trong nhân duyên, thuận theo nghĩa đế thứ nhất thì gọi là thiện. 4. Trái với nghĩa đế thứ nhất thì gọi là ác. 5. Trên tới Phật Bồ Tát, dưới tới trời người, tất các các hạnh mà các vị tu, gọi là thiện. 6. Chiêu gọi nhân của tam đồ và biệt nghiệp báo của quả khổ trong trời người gọi là ác. 7. Thiện của trời người, những việc trong ngũ giới thập thiện cũng là thiện. Khi quả báo của trời người đã hết mà vẫn còn đọa vào tam đồ thì gọi là ác. 8. Thiện của nhị thừa, nhị thừa có thể xa lìa khổ của tam giới, do vậy gọi là thiện. Nhưng có thể tự độ, không thể độ người khác, thì cũng gọi là ác. 9. Thiện của Bồ Tát Tiểu thừa, từ bi kiêm cứu tế thì gọi là thiện. Còn như trong người chưa đoạn trừ phiền não, giống như giữ trong mình thức ăn có độc, người ăn vào sẽ chết, do vậy gọi là ác. (Bồ Tát Tiểu thừa trong ba đại kiếp liên tục tu tập không chút nghi ngờ, cuối cùng mới có thể thành Phật) 10. Thiện của hiểu thông giáo lí của Tam thừa, Tam thừa cùng đoạn trừ phiền não của cái kiến và tư duy cũng là thiện. Nhưng đọa vào hai biên không thấy cái lí lẽ biệt giáo trung đạo, chưa đoạn trừ được một phần vô minh, vì thế cũng gọi là ác. 11. Thiện của Bồ Tát biệt giáo, thấy cái lí của trung đạo là thiện. Nhưng vẫn còn xa cách trung đạo, không thể thấy được cái tuyệt diệu của viên giáo viên dung, những hành vi tiện lợi không xứng hợp với lí, thì cũng là ác. 12. Thiện của Bồ Tát viên giáo, lí của viên diệu, là cái thiện tột cùng. Nhưng ở đây có hai nghĩa, một là thuận theo lí lẽ viên dung của thực tướng gọi là thiện, trái lại gọi là ác. Hai là đạt được lí lẽ viên dung này thì gọi là thiện, chấp vào gọi là ác. Chấp vào viên dung vẫn gọi là ác, huống chi là những cái khác.

Từ đây có thể thấy, sự phân biệt thiện ác, theo cách nói của các vị thầy và kinh luận, thì có đủ thứ bất nhất. Từ đây có thể thấy, con người trên đời ngày nay đều là tà kiến, tà nhân, chẳng lẽ không phải đều là ác hết sao.

🌟

Chúng ta lại xem tiếp về “bốn loại thiện ác”, “năm loại thiện ác”, “mười loại thiện ác”. Bốn loại thiện ác: 1. Thắng nghĩa thiện - niết bàn là ổn định nhất, vĩnh viễn tắt hết mọi khổ, giống như con người thân thể không có bệnh. 2. Tự tính thiện - ba thiện căn không tham không sân không si, giống như thuốc tốt vậy. 3. Tương ứng thiện - các loại thiện khác như niềm tin tưởng, siêng năng, do sự xấu hổ và ba thiện căn mà khởi lên, khi ấy gọi là thiện. 4. Đẳng khởi thiện - thiện do hai nghiệp thân, ngữ từ tự tính thiện và tương ứng thiện mà khởi lên. Ngược lại với bốn điều này thì là ác.

Năm loại thiện ác: Năm ác tức là giết, cướp, dâm, nói dối, uống rượu. Ngược lại, không giết, không cướp, không dâm, không nói dối, không uống rượu, thì là thiện.

Mười loại thiện ác: Mười điều ác tức là: 1. Sát sinh. 2. Trộm cắp. 3. Tà dâm. 4. Nói dối. 5. Hai lưỡi. 6. Ác khẩu. 7. Nói lời dâm dục. 8. Tham dục. 9. Sân hận. 10. Tà kiến. Ngược lại thì là mười điều thiện.

🌟

Thiện ác trong kinh Phật giống như sét đánh bên tai. Tôi nhớ đến 40 năm trước khi còn nhỏ, tôi tuổi còn bé xíu cũng đã hiểu phải làm việc tốt, phương pháp duy nhất là thoắt ẩn thoắt hiện xông thẳng ra phố. Đi đến đâu cũng nhặt nhạnh những mảnh thủy tinh vỡ vì sợ sẽ làm bị thương chân của người đi bộ. Nhặt vỏ chuối, sợ người già dẫm phải sẽ trượt ngã. Nhặt đinh sắt, sợ chúng đâm vào lòng bàn chân. Tôi cúi khom lưng, đi khắp nơi tìm kiếm rác, cứ như thế nhặt tới nhặt lui, giống như một kẻ lang thang phiêu bạt trên đường phố.

Bỗng nhiên rộ lên những tiếng ồn ào: ”Hứ! Lư Thắng Ngạn lại đang làm hướng đạo sinh mỗi ngày một việc tốt kìa!” Một đám con cháu dòng dõi con nhà cao quý nho nhã cười giễu tôi, túm lấy tôi khiến tôi ngã lăn bò toài, trong lúc hoảng loạn, những vỏ chuối trong tay tôi rơi đầy trên mặt đất. Thật không thể tưởng tượng được rằng làm việc tốt cũng phải nhìn trái nhìn phải, lén la lén lút. Có người ăn mày đưa tay ra với tôi, tôi vờ như không nhìn thấy, rồi mặt tôi thì đỏ ửng và nóng bừng. Tuy nhiên, nếu tôi vội vã đưa cho người ăn xin hai đồng tiền, thì tôi cũng sẽ chú ý xem liệu có ánh mắt của người khác đang nhìn hay không, mặt tôi cũng sẽ đỏ ửng và nóng bừng.

Khi đi xe buýt, tôi luôn đắn đo giữa nhường hay không nhường, nhường chỗ thì là thiện, không nhường chỗ thì là ác sao? Học sinh cần phải hiểu lễ phép, ở đâu cũng phải khiêm nhường, thấp thoáng thấy có người già đang đi đến gần mình, tôi lại ngần ngừ và đấu tranh, cuối cùng tôi vẫn luôn đứng dậy, người kia khen ngợi và khước từ. Mặt tôi cũng đỏ lựng rất lâu.

🌟

Tôi từng viết một bài thơ “Thiện ác” như sau:

Kì thực, thiện không tách rời ác Giống như con dao Có thể thái rau, có thể giết người Con người cũng thế Có làm thế nào Cũng khó tránh khỏi có những sai lầm

Tu hành cũng được, thế tục cũng được Giới luật Pháp luật Dạy con người tuân thủ quy tắc

Có người nói Là thiện thì không thể là ác Có người nói Là ác thì không thể là thiện Thật ra tôi nói Thiện ác không tách rời Giống như tác dụng hóa học Sẽ biến ra càng nhiều thứ hơn.

(Bài thơ này là tác phẩm thời kì đầu của tôi, khi ấy bản thân tôi cảm thấy rất có lí tưởng và kiến địa. Gần đây giở ra đọc lại, bỗng nhiên tôi cảm thấy lí niệm trong bài thơ rất gần với Phật học, bài thơ cũ của tôi không ngờ chẳng hề quá trớn. Từ đầu tới cuối, tôi đều cảm thấy mỗi người đều có phạm sai lầm và làm điều xấu, đối với những người này, chúng ta vẫn cần quan tâm, vẫn cần kính trọng, trả lại cho họ sự tôn nghiêm. Chỉ cần con người có thể thật sự sám hối thì giống như vết thương được chữa lành, giống như cái lạnh được hơi ấm bao dung. Vì thế tôi cảm thấy tất cả pháp sám hối và pháp sám hối của Mật giáo đều vô cùng vô cùng quan trọng.) Thật sự sám hối việc ác, thì lập địa thành Phật. (Chú ý chữ thật sự.)

🌟

Tôi từng suy ngẫm rất lâu về câu nói “không nghĩ thiện không nghĩ ác”…. Câu nói này xuất phát từ: 23 nguyên tắc Vô Môn Quan: ”Lục Tổ vì bị thượng tọa Minh ghen tức, đã đuổi theo đến núi Đại Dữu Lĩnh. Tổ thấy Minh đến, liền quăng y bát lên tảng đá. Nói rằng áo này chỉ là biểu tượng của lòng tin, có gì đáng phải tranh giành, huynh muốn lấy thì cứ lấy. Minh lập tức cầm lên, nhưng nó nặng như núi bất động. Ngập ngừng run rẩy sợ hãi, Minh nói: Tôi đến cầu pháp, không phải vì áo này, mong hành giả khai thị. Tổ nói không nghĩ thiện, không nghĩ ác, nếu mà như thế, cái đó chính là bản lai diện mục của thượng tọa Minh. Ngay lập tức Minh đại ngộ, toàn thân đổ mồ hôi như tắm.” ”Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” này là sự suy xét tuyệt đối về thiện ác.

Chính Nguyên nói: ”Biển xanh bao lần biến thành ruộng dâu, duy có hư không một mình vẫn thế, người đã đến được bờ thì không còn lưu luyến cái bè nữa, người chưa từng đi thì mới cần thuyền.” Tây Thiên Thất Tổ Bà Tu Mật nói: Tâm như hư không giới. Thị như hư không pháp. (*Thị trong từ chỉ thị, nghĩa là chỉ ra.) Khi chứng đắc hư không. Không gì không phi pháp.

Lư Thắng Ngạn tôi thường nói thế này: Hư không không đúng sai. Không đúng sai thiện ác. Hiểu được hư không rồi. Tức thông đạt chân như.

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn như thế này: “Vào thời đại hỗn độn ban sơ nhất, hư không của hư không, không có nhân loại tồn tại, xin hỏi, cái gì là thiện? Cái gì là ác? Nghĩ xem, nghĩ xem, tỉnh ngộ, tỉnh ngộ.” Lời vàng của Lư Thắng Ngạn như thế này: “Hãy khiến cho mỗi sự việc đều xuất phát từ trong ngộ cảnh, không có một chút bám chấp nào.”

Tổ sư Đạt Ma chỉ ra cho Dương Huyễn Chi: “Cũng không thấy ác mà sinh ý ghét, cũng không thấy thiện mà đối đãi ân cần.” Thiền sư Bản Tịnh nói: “Vứt ác đi chỗ nào? Lấy thiện cho ai giữ? Than ôi! người thấy hai. Bám víu hai đầu chạy.” Huệ Trung nói: “Không nghĩ thiện ác, tự kiến Phật tính.” Pháp Thường nói: “Nhưng tâm không gắn với thiện ác mà sinh vạn pháp, bản tự như như.” Những cảnh giới này là “tâm vốn vô tác, đạo thường vô niệm”.

Cuối cùng tôi đã hiểu: Thường dùng vô tâm. Dùng mà thật ra không dùng.

🌟

Trong thế giới tình cảm thì có thiện ác gì? Tôi từng thương nhớ, tôi từng khao khát. Tôi từng nói rằng, thời gian vui vẻ nhất của đời người là kề cận gắn bó cùng với tri kỉ mà mình ngưỡng mộ trong lòng. Ngày xưa, tôi từng có những mối thâm tình, yêu thương trân trọng lẫn nhau. Nhớ thương họ. Che chở họ. Yêu thương họ. Cái này… cái này… cái này, là thiện hay là ác?

🌟

Khi còn trẻ, từ sớm tôi đã trải qua những cảnh sống độc lập, từ lâu đã quen không chịu trói buộc. Nhưng, tôi cũng vì thế giới tình cảm mà viết ra những cuốn: ”Thì thầm trong vườn mộng” ”Dưới cửa sổ trái tim” ”Giấc mộng xanh tan biến” ”Lá bay trong gió” Chẳng ngờ tôi lại có thể vì những sợi dây tình cảm nghìn tơ vạn mối mà viết ra những vấn vương và nhớ nhung trong lòng mình.

Tôi lên núi gặp sư phụ của mình. Không phải nói chuyện Phật. Mà là chuyện tình cảm. Tôi hỏi: “Tình cảm thì có thiện ác gì?” Sư phụ không nói gì, chỉ đáp: ”Duyên.”

🌟

Tôi sâu sắc cảm thấy, thế giới tình cảm cần sự che chở và yêu thương, nhưng trong đó càng cần có một chút thoải mái và độ lượng. Ở đây nói rằng, bám chấp quá thì không tốt. Nhưng, nếu quá buông lỏng thì dường như cũng không tốt. Cái tôi thích là trong sáng vô tư và quang minh lỗi lạc.

Tôi cũng như người thế tục, cũng có thề nguyện, viết lên mảnh giấy nhỏ trong tiệm cà phê, tôi thừa nhận tôi đã từng viết: Đời này không thay đổi. Cùng sống chết. Suốt đời không hối hận.

Tuy nhiên! Chúng ta biết: Tạo hóa luôn luôn trêu đùa con người, những điều vô thường không may trong số mệnh xuất hiện, ở đây có vô số cạm bẫy và lưới võng. Những lời hứa vẫn còn chưa thực hiện. Tôi có quá nhiều điều thất vọng và đau buồn. Tôi hỏi sư phụ: ”Đây là ác sao?” Sư phụ không nói gì, vẫn chỉ một câu: ”Duyên.”

🌟

Sau này tôi thật sự học Phật, sau này tôi thật sự đã xuất gia rồi. Ta nói với nàng, ta chưa bao giờ có cái tâm lừa gạt, cũng chưa bao giờ cố ý làm trái những lời thề nguyện, ta càng trân trọng những tình cảm chân thành đậm sâu. Nàng vốn là sự quyến luyến đẹp đẽ và hiếm thấy nhất trong cuộc đời ta, vĩnh viễn được nâng niu cất giữ trong trái tim ta, vĩnh viễn là người bạn tâm giao trong tâm hồn ta. Ta vẫn đối xử với nàng bằng trái tim quan tâm chân thành.

Khi ta nhìn chăm chú, Vào trong đôi mắt lương thiện tràn đầy tha thiết của nàng, ta đã cảm nhận rõ ràng thế giới tình cảm trong trái tim nàng. Ta phải cười hằn lên cái lúm đồng tiền. Những uất ức buồn lo trôi đi. Khổ đau và thương cảm hãy để chúng qua đi! Hãy vứt bỏ đi những nỗi lòng chua xót! Giữa chúng ta đã không còn những hi vọng mong cầu quá mức, cũng không còn sự bồng bột của tuổi thanh niên, chỉ mong nàng học Phật, ta học Phật, cùng chia sẻ những pháp vị đến từ Bồ Tát.

Cuối cùng, Vết thương có thể được chữa lành bằng hơi ấm, từ đó không còn võ đoán chẳng còn nghi kị. Thì ra trong hành trình dài của cuộc đời, có vô số tìm kiếm và theo đuổi, chỉ vì cái gì đây? Chỉ vì “nhân gian có tình yêu”. ”Bên trong sự chân thành không có thiện ác!” Ta sẽ mãi mãi nhớ đến nàng.

10. Tâm linh

Ngược lại với tâm linh chính là vật chất. Trong ấn tượng của thế nhân: Vật chất thuộc về trần thế, là ăn, uống, vui chơi. Tâm linh thuộc về thiên thượng, là lí tính, là tinh thần, là tĩnh lặng. Điều này dường như là tương đối.

Còn Lư Thắng Ngạn tôi thì nghĩ thế này: ”Tôi là một thứ hỗn hợp của vật chất và tinh thần, với tôi mà nói, đây không phải là mâu thuẫn, tôi đồng thời thành tựu trên cả hai phương diện đó.” Giống như rất nhiều tượng Phật trên thế giới này, tượng Phật là tượng trưng của tinh thần, nhưng mạ vàng, mặc thiên y váy xếp hoa lệ, đội mũ miện, khuyên tai, vòng tay, ngực đeo chuỗi ngọc, tượng Phật được trang sức đẹp đẽ, đeo vàng đội ngọc. Tôi cho rằng: ”Mục đích của tu hành là sự dung hợp cuối cùng của vật chất và tâm linh.”

🌟

Một người quá đam mê vật chất, trong cả cuộc đời họ, có thể chỉ có tài bảo của cải, hàng hóa xa xỉ, xe hơi, nhà đẹp hoặc phụ nữ. Mỗi ngày đều ăn, uống, vui chơi. Nếu thiếu đi sự tu dưỡng tinh thần, thì chẳng bao lâu sẽ cảm thấy chán ngấy. Ngược lại, một người theo chủ nghĩa trốn chạy vật chất, phê bình, phản đối tất cả mọi thứ của thế giới vật chất, thì rất dễ xa rời hiện thực. Trên thực tế, con người không thể thoát li khỏi mọi thứ, thoát li khỏi vật chất thì cũng không phải là người sáng suốt. Lẩn trốn mọi thứ vật chất cũng xem như là một kiểu tham lam, tham lam cái gì đây? Đó là họ tham lam thế giới tâm linh.

Lư Thắng Ngạn tôi nghĩ thế này: ”Một người theo chủ nghĩa tinh thần rất có khả năng là người giả tạo, họ muốn bắt chước bậc Thánh, rất có khả năng là người theo chủ nghĩa tinh thần giả.” Lư Thắng Ngạn tôi nói thế này: ”Vật chất và tinh thần phải dung hợp với nhau mới là đúng, thiên lệch về vật chất, hoặc thiên lệch về tâm linh, thì đều là sự chia rẽ nhân cách, giống như một người bị xé ra làm đôi, về cơ bản là một dạng của bệnh tâm thần phân liệt.”

🌟

Trên phương diện tâm linh thường bao hàm: Tâm - citta. Ý - manas. Thức - vijñapti.

Về Phật học, sáu tâm chung quy lại là: 1. Nhục đoàn tâm - Phạn ngữ là Hṛdaya. Nhục đoàn tâm là quả tim của con người chúng ta, tim hoa sen tám cánh của Mật tông. 2. Tập khởi tâm - là thức thứ tám A-lại-da (ālaya-vijñāna). Nhờ tập hợp các chủng tử mà có thể sinh ra các pháp hiện hành. Vì thế mới nói là vạn pháp duy thức. 3. Tư lượng tâm - ý nghĩa là suy nghĩ, tên riêng của thức thứ bảy. 4. Duyên lự tâm - cũng chính là thức. Gọi là tâm nghĩ biết, tâm nhận thức. 5. Kiên thực tâm - tức là tâm tự tính thanh tịnh, tâm Như Lai tạng, tâm vững chắc không sinh không diệt. Tên gọi khác là chân như. 6. Tích tụ tinh yếu tâm - tâm tập hợp mọi yếu nghĩa trong các kinh điển, là tâm thứ ba của chỉ quán.

Phật pháp nói rằng: ”Trong tất cả các pháp, tâm là người chỉ đạo tốt nhất. Nếu có thể biết được tâm thì đều biết các pháp, tất cả mọi pháp trên đời đều do tâm.” ”Mọi nơi trong các kinh đều nói tâm là vua.” ”Trong tam giới, lấy tâm làm chủ, người có thể quan sát tâm sẽ đạt giải thoát cuối cùng. Người không thể quan sát tâm thì cuối cùng vẫn trầm luân. Tâm của chúng sinh cũng giống như mặt đất. Ngũ cốc ngũ quả đều từ mặt đất sinh ra. Tập pháp quán tâm như thế, trụ thế xuất thế, thì năm thú thiện ác, có học vô học, cũng sẽ thành tựu như Độc Giác Bồ Tát cho tới Như Lai. Từ nhân duyên này, tam giới do tâm tạo.”

Tại đây, tôi đặc biệt muốn nhắc đến: Tâm, Phật và chúng sinh là ba thứ không khác biệt. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Dạ Ma Thiên Cung, đây chính là tam pháp diệu. Giới samaya của Mật giáo coi đây là thể, là tam bình đẳng. Bởi vì Phật và chúng sinh có mối liên hệ nhân quả lẫn nhau. Nhưng tâm thông với nhân quả, là cái thể có thể biến đổi giữa Phật và chúng sinh. Bởi vì nhân quả là nhất quán, năng biến sở biến nhất như, vì thế là ba thứ không khác biệt. Chúng sinh tu hành có thể thành Phật, Phật cũng có thể thành chúng sinh, đều là sự biến hóa của tâm mà thôi. Vì thế, tâm, Phật, chúng sinh là ba thứ không khác biệt, đây tức là “quy mệnh bản giác tâm pháp thân, thường trụ diệu pháp tâm liên đài”.

🌟

Đối với tâm linh, tôi cũng ôm ấp những tình cảm của mình. Tôi từng muốn sống những ngày tháng “cá gỗ đèn xanh” [cá gỗ là một nhạc khí của Phật giáo. Đèn xanh là đèn dùng dầu thực vật để đốt nên có ánh lửa màu xanh. Ở đây mô tả sự cô quạnh trống vắng của cuộc sống một hành giả tu hành kiền thành], thành kính niệm Phật, suy nghĩ thiện lành, chỉ có những ngọn gió ngọt mát như nước suối, mềm mại xinh đẹp không gì sánh bằng. Khi tôi còn trẻ, khi mới nhận Bồ Tát giới, tôi hướng về tiếng gọi trí huệ của bậc giác ngộ. Không như mộng cũng không như huyễn. Tâm linh tỏa ra ánh sáng trong veo, vô niệm vô cầu, dung hợp với trời.

Tôi thích con đường nhỏ quanh co dẫn vào đạo tràng ở sâu trong núi, hai hàng cây bạch quả đã vàng suộm, tôi từng nghĩ một khi đã vào đạo tràng rồi thì sẽ không ra khỏi núi nữa, nói không chừng lần tiếp theo nhìn thấy hàng cây bạch quả thì đã là cụ già loạng choạng rồi. Hành giả ở địa đạo bình thường chỉ trồng rau trồng dưa, mãi mãi ngồi yên thư giãn trong niềm vui sau những lúc lao động. Tôi thờ phụng A Di Đà Phật. Chỉ với một tấm chân tình. Ngày ngày tháng tháng năm năm. Sống, thở, và tâm linh. Tôi chỉ muốn hưởng thụ một cảm giác dễ chịu của một hương thơm thoang thoảng, của tâm linh thanh tịnh triệt để.

Nhưng, sư phụ bảo tôi: ”Phật có ở khắp mọi nơi.” Sư phụ nói: ”Liên Sinh, con sẽ có một cuộc đời vô cùng cao quý, vô cùng khó khăn và vô cùng rực rỡ. Con có pháp lực hàng ma của Phật gia, con phải hòa nhập thế tục tận hưởng triệt để, với trí huệ nhân hậu và sáng ngời của Phật để tỏa ra ánh sáng lan tỏa khắp đất trời.” Thế là, tôi từ xuất thế đi tới nhập thế. Rồi lại từ nhập thế mà đi đến xuất thế. Tôi đã có một cuộc đời cực kì thỏa thích, nhưng không để lại một dấu vết nào, đem những ngày tháng huy hoàng và đẹp đẽ đổi lấy nụ cười thánh thiện tĩnh lặng nhẹ nhàng.

Trên thực tế, tâm hồn tôi thường nhảy múa nhẹ nhàng và uyển chuyển trong một không gian đẹp và mát mẻ. Và cuộc đời huy hoàng chỉ là một cánh bướm, vân du trong thanh xuân rực rỡ. Tương lai của tôi là: Trong núi sâu. Đầy gió mát. Cửa không lay. Khí thông thoáng. Trăng sáng chiếu. Mây trắng che. Ngồi trơ trọi. Một cụ già.

🌟

Tôi dạy người ta đừng trốn tránh vật chất, không phải là dạy người ta phóng túng buông thả. Bởi vì phóng túng buông thả là nơi tập trung của tội ác, phóng túng buông thả là sai lầm nghiêm trọng của hành giả học Phật.

Tôi dạy người ta đừng trốn tránh vật chất, là phải vận dụng vật chất để làm những việc dưới đây: 1. Dùng tiền để làm việc thiện tại thế gian. 2. Dùng tiền để lưu thông sách thiện và kinh điển. 3. Xây dựng những đạo tràng tu hành tốt nhất. 4. Độ hóa những quan chức cao cấp. 5. Dùng tướng cao quý để làm độ hóa kiểu của một vị vua. 6. Giúp đỡ tư lương cho những hành giả tu hành nghèo khổ. 7. Làm trang nghiêm mọi thứ. 8. Làm sự nghiệp từ thiện với các công việc như chữa bệnh, giáo dục, văn hóa, tế bần, cứu nạn, v.v…

Tôi cho rằng, muốn có được thành tựu vật chất thì đều phải nỗ lực chăm chỉ thì mới là cơ sở của thành công. Còn thành tựu tâm linh, chặn đứt dòng thác lũ sinh tử, có thể đến được bờ bên kia của niết bàn, thì cũng phải nhờ nền tảng tinh tấn thì mới có thể thành công.

“Chính pháp niệm xứ kinh” viết: ”Kẻ ngu thích phóng dật, thường chịu mọi khổ não, người rời xa phóng dật, sẽ luôn được an lạc. Tất cả mọi khổ não, cái gốc là phóng dật, vì muốn thoát đau khổ, nên từ bỏ phóng dật.”

Vì thế: Kiến giải chính xác về vật chất không chỉ đơn thuần là ăn, uống, vui chơi mà thôi. Một người muốn đạt thành tựu vật chất, nếu không phóng túng buông thả, mỗi ngày chăm chỉ nỗ lực thì trên đời này không có việc gì khó. Ví dụ như dòng nước nhỏ thường xuyên chảy cũng có thể khiến cho ao đầm đầy nước. Người muốn có được thành tựu vật chất, phóng dật hoặc nay làm mai nghỉ thì đều không đúng. Vì vậy, thành tựu vật chất hay thành tựu tâm linh, cơ sở cho sự thành công của nó thật sự là giống nhau. Đây chính là cái gọi là: Tinh tấn kiền thành. Thiện báo mấy chốc.

🌟

Làm sao để dung hòa vật chất và tâm linh? Mây không che trăng. Trăng không che mây.

Vì sao Tây phương Cực Lạc thế giới cần có “vàng phủ mặt đất”, “hàng cây châu báu”, “bát công đức thủy”, lầu gác với đủ thứ vàng, bạc, lưu li, thủy tinh, v.v…? Vì sao có hoa sen rực rỡ và đẹp đẽ, trong hư không lấp lánh những ánh sáng quý giá đầy màu sắc. Có ánh sáng vàng rực rỡ, có ánh sáng đỏ chói lọi, có ánh sáng xanh ngọc bích, có ánh sáng trắng tĩnh lặng, những sóng ánh sáng đan xen chiếu rọi khắp trên dưới?

Vì sao có những loài chim nhiều màu sắc kì diệu, bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già? Vì sao A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát đều có thất bảo làm trang sức cho mình? Tây phương Cực Lạc thế giới này vốn là thế giới dung hợp giữa vật chất và tâm linh. Ở thế giới Phật quốc không hề có chuyện dạy chúng sinh đời này kiếp này phải từ bỏ vật chất, chỉ giữ lại mỗi tâm linh.

Người khai ngộ chân chính là: Thấy núi chẳng phải núi. Thấy sông chẳng phải sông. Cũng không có gương sáng. Làm sao mà có bụi.

Thật ra, Lư Thắng Ngạn tôi hiểu rằng: ”Cái gì là vật chất? Cái gì là tâm linh? Vật chất phân tích đến tận cùng thì cũng chính là tâm linh, tâm linh phân tích đến tận cùng thì chính là tính Không.” Kinh Kim Cang viết: ”Thực tướng không phải là tướng thì gọi là thực tướng.”

🌟

Có một hôm, quang cảnh lúc ấy là khoảng hai giờ chiều, có một người đàn ông khoảng 30 tuổi đến Lôi Tạng Tự, tiếng quốc ngữ của anh có mang một chút âm điệu Quảng Đông. ”Này! Liên Sinh Hoạt Phật có ở đây không?” Vừa đúng lúc tôi từ cửa chùa đi ra, tôi nói: ”Là tôi đây.” ”Này! Nghe nói ngài có tiếng tăm lừng lẫy, liệu có thể hỏi ngài vài vấn đề được không?” ”Tôi rất sẵn lòng.”

“Nghe nói ngài đeo đồng hồ xịn, lái xe sang Rolls-Royce, người tu hành mà như thế thì có được không?” - Người đó người hinh hích. Tôi nói: ”Anh đoán thử xem. Vì sao tay tôi đeo đồng hồ xịn, lái xe sang Rolls-Royce?” Người khách nói: ”Sự việc này chúng tôi nghĩ không thông, làm sao mà đoán chứ?” ”Đoán thử xem có gì hay ho không?” - Tôi chọc anh ta. ”Không đoán được.” - Anh nói. ”Tay tôi đeo đồng hồ Rolex, lái xe Rolls-Royce, chính là để thu hút sự chú ý của những người như anh, sau đó chạy đến hỏi tôi, rồi tôi lại độ hóa anh đi vào cửa Phật.” Người khách há hốc miệng, không biết nói sao cho thỏa đáng, rồi ngậm chặt miệng lại, lắc mạnh cái đầu, không dám tin.

Tôi đưa người khách vào trong Lôi Tạng Tự, chỉ vào A Di Đà Phật nói: ”Phật có màu sắc gì?” ”Vàng kim.” ”Vì sao Phật có màu vàng kim?” Người khách đột ngột mở to mắt ra, nói: ”Thì ra màu sắc của Phật cũng là để lôi kéo sự chú ý của người ta.”

Chúng tôi ôm bụng cười, thời gian của buổi chiều hôm ấy trôi qua rất nhanh, chúng tôi thảo luận rất nhiều đề tài kì quái, rất thú vị. Anh ta chú ý đến chiếc đồng hồ của tôi: ”Ấy! Không phải là đồng hồ xịn hiệu Rolex?” Tôi đáp: ”Có thể đeo, có thể không đeo.” (Khi ấy tôi đeo một chiếc đồng hồ Seiko.) ”Ấy! Ngài cũng không lái xe Rolls-Royce?” Tôi đáp: ”Có thể lái, có thể không lái.” (Ngày hôm ấy tôi lái xe Lincoln.) ”Vì sao có thể, và vì sao có thể không thể?” ”Không bám chấp. Ha ha!”

Tôi tự biết, tôi là một người chế tâm, bởi vì nhất tâm có thể chế phục được những suy nghĩ phóng dật, sự tu tâm của tôi đã đạt đến cảnh địa đại an lạc như như bất động rồi. Tuy nhiên, đối với hoàn cảnh đến từ bên ngoài, tôi chưa bao giờ chấp vào chúng, cũng sẽ không mê đắm. Người ta tặng tôi đồng hồ xịn thì tôi đeo đồng hồ xịn, người ta tặng tôi xe sang thì tôi lái xe sang, có và không đều không khiến tôi tâm vượn ý mã [tâm ý chạy lung tung, thất thường, đứng núi này trông núi nọ]. Tôi bán đồng hồ xịn rồi, cũng bán xe sang rồi. Có lại biến thành không.

11. Nghệ thuật

Thế nào là nghệ thuật? ”Đẹp” chính là nghệ thuật, vậy lẽ nào “xấu” không phải là nghệ thuật sao? ”Thư thái” là nghệ thuật, vậy “ác tâm” không phải là nghệ thuật sao? Tôi từng làm thơ, cũng từng đánh đàn, từng học vẽ tranh, từng yêu thích múa, tôi tự hỏi mình, tôi có được xem là một nhà nghệ thuật không?

Ở trước tấm gương, tôi nhìn gương mặt tròn trịa của mình, cái chất ngây thơ của một đứa trẻ nhỏ tuổi đã không còn, ngoài chính bản thân mình ra, còn có ai hiểu được cuộc bể dâu của chính mình? Thật ra, bất kể là ngây thơ, hay bất kể là lão luyện, tôi thật sự đang sống trong nghệ thuật! Những ngón tay tôi biến hóa thành thủ ấn, cũng tương đương nghệ thuật. Tôi niệm Mật chú cũng có lên xuống cao thấp, cũng tương đương nghệ thuật. Suy nghĩ của tôi quán tưởng, phác họa trong thế giới nội tâm, cũng tương đương nghệ thuật.

🌟

Nghệ thuật không nên chỉ là những cái bình cái lọ! Nghệ thuật cũng không phải là nhiều thay đổi tươi mới, bởi vì những thứ cũ như đồ cổ thì cũng là nghệ thuật. Lãng mạn có phải là nghệ thuật không? Thật ra những tổ hợp trang nghiêm là nghệ thuật táo bạo đó! Thường thì những nhà nghệ thuật thích khoe ra cái điệu bộ “tài trí hơn người”, cho rằng tự mình mới hiểu, người khác không hiểu, đó là muốn người khác phải đối đãi với mình bằng một con mắt khác! Tôi thuộc về cái kiểu nghệ thuật lãng mạn đó rồi! Tôi cũng chẳng hề để mắt đến những “nghệ thuật gia”.

Chỉ bởi vì: Tôi rong chơi trong giang hồ đã nhiều rồi, kiến thức nhiều rồi, đã gặp rất nhiều rất nhiều những nghệ thuật gia giả tạo rồi, năng lực của những người ấy được bao nhiêu, tôi đều biết rất rõ. Sở dĩ tôi nhận thức được rõ ràng như vậy là vì bản thân tôi cũng quan tâm đến nghệ thuật, tôi nâng niu nghệ thuật, tôi yêu mến nghệ thuật, tôi dựa vào nghệ thuật, tôi không tách rời được nghệ thuật, con người tôi đã hóa thành nghệ thuật rồi, là duy nhất, nên tôi rất có chừng mực, không nỡ làm tổn thương những người làm nghệ thuật. Tôi nghĩ rằng trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, tôi sẽ buông mình trở về với nghệ thuật và cống hiến hết mình cho nghệ thuật như một ngọn nến đang cháy. Họa của tôi bất thành. Nhạc của tôi bất thành. Thơ của tôi cũng tương đối có tâm đắc. Những bài múa của tôi cũng tương đối đáng xem. Tôi hát như một trò chơi.

🌟

Rốt cục, nghệ thuật là vạn vật, là vạn vật thì không thể chia nhỏ, bất kể là trên phương diện nhục thể hay phương diện tinh thần thì đều là nghệ thuật. Thậm chí, cười cũng là nghệ thuật, khóc cũng là nghệ thuật, tình cảm cũng là nghệ thuật, làm người cũng là nghệ thuật. Một nghệ sĩ đôi khi không chắc chắn về bản thân, học nghệ thuật nhưng lại bị nghệ thuật trêu ghẹo, ngay cả sự khác biệt cũng trở thành một loại nghệ thuật. Nghệ thuật có phải là thứ được nhìn thấy không? Hay nghệ thuật là thứ không thể bị nhìn thấy?

Một nghệ thuật gia vĩ đại nói với tôi: ”Nghệ thuật là một loại cảm giác.” Như có như không. Như huyễn như mộng.

🌟

Viết một bài thơ: Bài thơ nghe nhạc

Ai đã nói Nhìn thấy Trường Giang Hoàng Hà sóng lớn vỗ bờ Ai đã nói Những tình cảm dặn dò ân cần của dòng nước

Ai đã nói Khi hoa rụng bay theo ngọn gió Những nốt nhạc Như những ráng mây bay

Một buổi chiều không có ai bầu bạn Chỉ có chiếc băng nhạc mà thôi Tôi ngồi trên chiếc ghế Chăm chú vô cùng Vận dụng con mắt cảm giác Của toàn thân.

🌟

Tôi cảm thấy sự nhàm chán cũng là một dạng nghệ thuật. Bởi vì nghệ thuật sinh ra từ sự nhàm chán. Kuriyagawa Hakuson nói: [Nhà phê bình văn học người Nhật, tên thật là Kuriyagawa Tatsuo] ”Văn chương là biểu tượng của sự buồn khổ.” Tôi cũng có thể nói thế này: ”Nghệ thuật là biểu tượng của sự nhàm chán.”

Tôi phát hiện ra Phật Bồ Tát rất vĩ đại, năm xưa nếu tôi lưu lại tại Đài Loan, không đến nước Mĩ, tôi chỉ là một thầy xem bói thần toán số một mà thôi. Nhưng, Phật Bồ Tát tận lực muốn tôi di cư qua nước Mĩ, đó là một kế hoạch vĩ đại, một ý tưởng vĩ đại. Bởi vì Phật Bồ Tát rất vô vị, trên thực tế các vị rất nhàm chán, các vị đưa tôi đến nước Mĩ nhàm chán, ở một đất nước nhàm chán không có việc gì để làm, vì nhàm chán nên có thể chăm chỉ mà đi khám phá (đào sâu) thâm nhập vào thế giới nội tâm. Ở nước Mĩ nhàm chán, tôi chỉ còn biết định tâm lại, đóng cửa tu pháp, bởi vì nhàm chán nên phải nghĩ cách giải khuây, giờ đây chỉ có tinh tấn thiền định tu pháp, tôi nhảy ra khỏi cái lề lối nhàm chán, bắt đầu nghiêm túc tu pháp.

Người ta cho rằng tốc độ viết sách của tôi tương đối khiến người đời sửng sốt. 10 năm ở Mĩ, tôi đã viết 56 cuốn sách, cộng thêm số sách từng viết ở Đài Loan thì đến nay đã được 95 cuốn rồi. Họ cảm thấy hết sức kinh ngạc. Đây tuyệt đối không phải là vấn đề tiền bạc, cũng không phải là vấn đề danh vọng, càng không phải là vấn đề dồn hết tâm trí để sáng lập một tông phái. Nguyên nhân chân chính của nó là: “Nhàm chán.” Nếu tôi không tu pháp thì chẳng có việc gì để làm. Nếu tôi không viết sách thì chẳng có việc gì để làm. Nhàm chán, ấy thế mà lại là một sự bắt đầu vĩ đại. Nhàm chán khiến tôi trở thành một nhà tôn giáo và một tác giả. ”Nhàm chán là sự khởi đầu của nghệ thuật.” - Đây là lời vàng của Lư Thắng Ngạn.

🌟

Thượng sư Liên Nhuận ở Indonesia là một họa sĩ. Vào ngày sinh nhật của tôi, bà ấy đã tặng tôi bức tranh một trăm lẻ tám con chim én. Tôi thích đứng ở trong phòng khách nhìn ngắm một trăm lẻ tám con chim én. Tôi cảm nhận thấy, chim én bay rất cao rất xa, bầu trời xanh trong không mây, từng con chim đều có nét biểu cảm, tư thế dáng dấp riêng. Một trăm lẻ tám con chim hiện lên khá sống động, vừa bay vừa nhìn quanh. Có con thì há mỏ ra, dường như tôi có thể nghe thấy âm thanh dồn dập trong trẻo của chúng, rồi cả những tiếng hót líu lo uyển chuyển rất dài nữa, có con thì vểnh cái đuôi lên rất cao, có con thì tung bay lên rất cao, có con thì bay ngang, có con thì lao bổ xuống, có con thì đôi cánh không ngừng vỗ hai bên, có con thì lướt mình theo gió.

Tôi nghe nói, Thượng sư Liên Nhuận muốn vẽ chim thì bà ấy phải đi vào rừng để quan sát chim, nhìn chim bay tới bay lui, nhìn chim nhảy hai nhịp lại dừng một nhịp, nhìn chim không ngừng bay lên và kêu lên khe khẽ, chú ý đến sự hấp tấp hoặc ung dung của chúng. Quan sát tỉ mỉ sự phối hợp lông vũ của chúng, sự nhẹ nhàng và mộc mạc của ánh sáng màu sắc. Rồi cả những chiếc mỏ của chúng nữa, thỉnh thoảng lại: “Chiu - - chiu - - chiu, chiu - - chiu chiu.” Chim có phong thái của chim. Chim có sự hoạt bát của chim. Chim có sự tao nhã của chim. Chim có sự mộc mạc của chim.

Thượng sư Liên Nhuận nói: ”Khi vẽ con cua thì trên bàn đầy cua bò. Khi vẽ tôm thì trong cái bể cá cảnh toàn là tôm.” Thượng sư Liên Nhuận nói: ”Nắm bắt chính xác tinh thần của tất cả các bức tranh và bộc lộ cái chất đặc biệt của chúng chính là nghệ thuật.”

Tôi nhớ đến nhà hàng xóm lúc nhỏ của tôi. Ngôi nhà ở sát vách. Ngôi nhà ấy có tướng “tiểu phú quý”, một ngôi nhà nhỏ hai tầng, tường màu hồng và trắng, ngói thủy tinh màu vàng, có một công viên nhỏ trong sân, một đài phun nước nhỏ phun ra những tia nước nhỏ li ti, và còn có những con cá màu đỏ như son bơi lội, cá màu đen thì như bị nhuộm mực, có liễu rủ bên đài phun nước, đó cũng là nghệ thuật.

Còn nhà tôi thì: Sân nhỏ lạnh lẽo. Con người co quắp. Bố trí đơn sơ.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng cần nghệ thuật. Tôi hi vọng con người trên thế gian này đừng mù quáng, cũng đừng có suốt ngày bận bịu. Mỗi người đừng chìm nổi trong đám đông, bất kể là nghèo hay giàu, cũng không cần phải căng thẳng khẩn trương vội vàng gấp gáp, mỗi người đều có một phần nghệ thuật của họ. Khi tôi còn nhỏ, nhà tôi mặc dù nghèo khó, đồ đạc không có nhiều, nhưng bày biện đều có nghệ thuật, thường xuyên thay đổi để không phải ngày ngày đều lặp lại giống nhau.

🌟

Thế nào là sự phân biệt giữa nghệ thuật và dung tục? Không ai bị từ chối khi muốn bước chân vào nghệ thuật. Tuy nhiên, hầu hết mọi người trên thế giới đều thích con đường thô tục đến mức không thể thô tục hơn được nữa. Chẳng ai muốn làm một kẻ nhà quê, nhưng chẳng ai thoát ra được cái bộ dạng nhà quê. Xán lạn, lãng mạn, mĩ lệ là cuộc sống chỉ có trong truyền thuyết, còn trong cuộc sống hiện thực chỉ có những vết bẩn loang lổ, nội tâm thấp thỏm, danh lợi giả tạo.

Huyễn tưởng chung quy cũng là huyễn tưởng, cuối cùng cũng không thể nào trở thành một cái đẹp chân thực, cũng giống như cuộc sống của mỗi người, phần lớn đều có một trình tự cuộc sống. Bất luận là muốn nhảy thế nào cũng đều không nhảy thoát ra được, bất luận là nỗ lực thế nào cũng không có cách nào cải thiện được, ngược lại, đủ thứ phiền não vụn vặt rắc rối không ngừng, cái họ phải đối mặt là hết phiền não này đến phiền não khác, người này tới người nọ ngã bổ nhào, ngã đến mức đầu toang máu chảy. Hiện thực chính là như vậy. Hiện thực chính là thô tục như vậy.

Con người chỉ sống qua ngày trong một dạng chờ đợi, về cơ bản thì họ nói là họ hiểu lẽ phải, nhưng nói đơn giản thì là loay hoay ngày ba bữa cơm, bán mạng làm việc, để đổi lấy sự mệt mỏi toàn thân. Nhìn những khuôn mặt tội nghiệp, cái kiểu ngoan cường một cách ngu ngốc này, thật sự vì sao mà họ phải tự chuốc lấy cái khổ chứ? Cảm nhận cuộc sống ư? Chỉ là một con số không tròn trĩnh. Chẳng đẹp, chẳng thật, chẳng thiện, cuộc sống cứ thế trôi qua chẳng có gì đặc biệt, ngày này qua ngày khác.

Thế nhưng, Chúng ta cũng có thể kì vọng thật sự xuất hiện: Một cơn gió mát. Một chút xanh tươi. Một tách cà phê. Một chút âm nhạc. Có thể dần dần tiến vào cái tinh túy của tự nhiên.

🌟

Tôi có một cuộc sống kiểu nghệ thuật không? Tôi từng đi dạo bên bờ hồ vào buổi đêm mát rượi như nước dưới ánh trăng sáng mịn như gấm, cái cảm giác ấy như một bài thơ, có một sự khuây khỏa như kiểu “trà sữa cho tâm hồn”. Những gợn sóng hồ lăn tăn là bài hát rì rào, khó nắm bắt và phức tạp, thế nhưng, tôi lại nghĩ chúng thành tiếng niệm chú “cha…. cha… cha…”, có một cảm giác ba chiều và tính chân thực, không có dáng vẻ kệch cỡm, không có bất kì một chút giả tạo nào.

Nghe thật kĩ. Có phách nhịp. Có tiết tấu. Cảm động lòng người. Vào lúc này, tôi thường tiến vào thế giới nội tâm của mình, con người không tha thiết với nghệ thuật trong lòng mình, mà là tha thiết với mình trong nghệ thuật, sau đó thì quên mất bản thân, lúc này trời đất giao lưu, vũ trụ chính là một bức tranh đẹp đẽ nhất.

🌟

Sinh mạng vốn dĩ là trống rỗng, nghệ thuật chỉ là một sự trông đợi. Con người sống trong đó: Sắp điên rồi. Mất trí rồi.

Có một nghệ thuật gia nói với tôi: ”Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn, chỉ cần vận dụng tâm lực, vận dụng tâm lực mà không lưu dấu vết. Hãy chú ý bốn chữ “không lưu dấu vết”, ánh sáng của nghệ thuật tự nhiên sẽ tỏa ra xung quanh.” Tôi đánh giá cao câu nói này của ông ấy. Tôi thích “không lưu dấu vết”. Tôi coi thường sự phù phiếm cực kì.

Viết một bài thơ nhỏ vậy!

Không lưu dấu vết

Tôi muốn nghệ thuật Tôi muốn từ ngoài đi vào bên trong Tôi dùng cảm giác Không ai biết tôi là ai

Tôi đi qua Từ gần đi tới xa, từ xa đi tới gần Có một ngày đi thật xa bay thật cao Chẳng có ai theo kịp

Tôi mãi mãi chẳng có dấu vết Người đời chẳng hôn được đến môi tôi.

12. Luân hồi

Trong lúc đọc kinh, tôi nghiên cứu kĩ càng những ví dụ về hạt và mầm trong kinh Phật, bởi vì tôi hiểu, đó chính là luân hồi. Kinh Lăng Già viết: ”Vua Lăng Già hỏi Phật: Thế Tôn! Chúng sinh chết đi, vào lúc chưa sinh ra, cái thức ở chỗ nào? Phật nói: Hỡi vua! Hạt nảy mầm, là hạt chết trước rồi mới nảy mầm, hay là mầm sinh ra rồi thì hạt chết, khi hạt chết thì mầm mới sinh ra? Vua Lăng Già nói: Hạt chết thì mầm sinh ra. Phật nói: Sinh diệt cùng lúc, không có trước sau. Tức là khi cái tiền thức chết đi thì cái hậu thức mới sinh ra.” (Tôi cho rằng đoạn đối thoại này là triết lí “duy thức”. Kinh Lăng Già là một trong những điển tích trọng yếu của nghiên cứu Pháp tướng tông.) [Pháp tướng tông: Yogācāra]

Tôi nghĩ luân hồi cũng là: Sinh diệt đồng thời. Không có trước sau. Khi chết tức là sinh. Khi sinh tức là chết.

🌟

Trong kinh Đại Lăng Nghiêm nói: Thân phụ Bà La Môn nghe về thuyết vô ngã. Nói: “Nếu là vô ngã thì ai đến kiếp sau?” Kiêu Thi Già đáp: “Tùy theo các nghiệp phiền não của quá khứ mà có được thân hiện tại. Trong hiện tại tạo các nghiệp ra sao thì sẽ có được thân tương lai như thế. Ví như hạt, các nhân duyên hài hòa thì hạt sẽ nảy mầm. Sự nảy mầm của hạt cần có duyên, mầm lớn lên thì hạt sẽ chết. Hạt chết vì là vô thường, mầm sinh ra là vì sự liên tiếp. Phật nói thọ thân cũng như thế. Mặc dù là vô ngã nhưng nghiệp báo không mất.”

Tôi đọc kinh này mới hiểu: Mặc dù đã đạt đến vô ngã. Nhưng sức kéo của những hành vi nghiệp thì không thể mất đi.

Giống như ví dụ về hạt: Hạt chết đi. Mầm mới sinh ra. Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là thế này: “Thức là hạt giống của sự nảy sinh của tất cả sinh mệnh. Và tất cả hành vi mà cái thể sinh mệnh của chúng sinh hữu tình gây ra có thể tạo nên sinh mệnh đời sau của họ.”

🌟

Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, tôi ngẫm nghĩ kĩ nhiều nhất về phần “Pháp nhân duyên sinh tử”: ”Khi Phật ở vườn Kì Thụ Cấp Cô Độc tại nước Xá Vệ đã nói với các tì kheo rằng: Nay đang nói về pháp nhân duyên sinh tử, ai giỏi suy nghĩ hãy tu tập pháp này! Các tì kheo bạch Phật rằng: Vâng thưa Thế Tôn, xin nghe theo lời dạy! Phật nói: cái gọi là pháp nhân duyên, do vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão bệnh tử, ưu bi khổ não không kể xiết. Như thế mà thành thân ngũ uẩn.” Đây chính là chân đế của pháp nhân duyên sinh tử mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng. Mười hai nhân duyên, đó chính là một quá trình liên quan kết hợp cùng lúc của phiền não, nghiệp báo, sinh khổ.

Tôi ngẫm nghĩ về vòng luân hồi ở đây: Phiền não sản sinh nghiệp lực. Nghiệp lực sản sinh đau khổ. Đau khổ sản sinh phiền não. Luân hồi không ngừng.

🌟

Viết một bài thơ:

Luân hồi

Trong kinh điển Hạt và mầm luôn được nhắc đến rất nhiều Mấy nghìn năm sau Hạt và mầm vẫn cứ sinh rồi lại chết

Chúng sinh Những giấc mơ chồng chất Những giấc mơ vội vàng Những giấc mơ vụn vặt Còn cả những giấc mơ chẳng cần mơ Núi cũng thế Sông cũng thế Chúng sinh vẫn y nguyên Luân hồi vẫn y nguyên.

🌟

Tôi từng đứng trước thác nước lặng im suy ngẫm. Dòng thác như một sợi dây treo khổng lồ, giống như mái tóc của người phụ nữ, đang rũ xuống, lấp lánh sắc thái lộng lẫy nhất trong cái trắng bạc tưởng tượng. Sợi dây chuyền khổng lồ ấy từ không trung phủ xuống, quả nhiên khí thế phi phàm, từ trong đó một vài tia nước bắn ra, dường như đang run rẩy xoa lên đôi má, cảm giác giống như thiên nga, rất nhẹ nhàng, rất thân thiết, như thể không có chút tì vết, tiến vào tâm hồn của chính mình.

Thác nước là sự tích tụ của nước. Nước là sự tích tụ của không khí. Mây cũng là sự tích tụ của không khí. Mây tích tụ lại sinh ra nước. Bên tai dường như có âm thanh nói với tôi: “Vạn sự vạn vật trên đời, hiện tượng của chúng chính là hai chữ luân hồi.”

🌟

Thành, trụ, hoại, không của Phật giáo đúng là một quy luật tự nhiên. Sẽ có một ngày, tôi (Lư Thắng Ngạn) sẽ nói: “Tôi già rồi, trái tim tôi cũng sắp hỏng rồi, tôi đã không còn chút động lực nào đối với mọi sự vật nữa, trong suy nghĩ của tôi chỉ còn lại hoại và không.” Kì thực trên thế giới này đích thực chỉ có một lí luận, lí luận này mọi người đều hiểu, áp dụng vào mọi kiểu của sinh mệnh thì đều có một mùi vị giống nhau. Thành trụ hoại không được gọi là bốn kiếp.

Tôi nhận thấy đây là chân tướng của giới tự nhiên, tức là bốn chân tướng, bốn chân tướng đó là sinh - trụ - dị - diệt. Cái hữu danh ban đầu của pháp là “sinh”. Sinh thành tướng thì là “trụ”. Tướng thay đổi chính là “dị”. Cái vô danh sau khi thay đổi là “diệt”.

Ở đây, tôi nghĩ đến toàn bộ vũ trụ, tôi nghĩ đến toàn bộ trái đất, nghĩ đến đại dương, nghĩ đến nham thạch nóng chảy trong vỏ trái đất, nghĩ đến gió, nghĩ đến đủ loại sinh mệnh (động vật và thực vật), đủ mọi chi tiết rất nhỏ rất mịn. Trong đó có luân hồi, trong tâm linh an tịnh của tôi, luân hồi sinh tử cứ trượt ra từ trong tiếng lòng của tôi một cách tự nhiên.

Lư Thắng Ngạn tôi nghĩ như thế này: ”Thời gian chầm chậm đến, thời gian chầm chậm đi, không biết đã trôi qua bao lâu rồi. Những nơi mà ta giao tiếp mỗi ngày còn sót lại những vết loang lổ, kết quả của nó chính là sinh, trụ, dị, diệt.” Tôi từng nghĩ đến: Khi còn trẻ, tôi và một cô gái cùng nhau ngắm sao. Khi còn trẻ, tôi và một cô gái cùng nhau nghe biển hát. ………..

Kinh Viên Giác nói thế này: ”Tất cả chúng sinh, từ vô thủy đến nay, có đủ mọi điên đảo, nhận thức ngông cuồng rằng tứ đại làm nên thân tướng này, những duyên ảnh của lục trần làm nên cái tướng của tâm mình, giống như người bị bệnh mắt nhìn hoa trên không trung lại tưởng là mặt trăng thứ hai. Không trung thật ra đâu có hoa, là do người bệnh chấp bậy vào mà thôi. Vì thế mà luân hồi sinh tử, mà gọi là vô minh.” Cái gọi là “vô minh” chính là kiến giải không chính xác, nhận thức sai, hình tượng không có thật. Ví dụ tất cả chúng sinh hữu tình xem đất (xương thịt), nước (máu dịch), gió (hô hấp), lửa (nhiệt độ), là những thành phần cấu thành nên con người, sai lầm cho rằng chúng tạo nên bản thân mình thật sự chân thực. Rồi lại lấy lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp dựa theo lục thức mà sinh ra cảnh giới, cho rằng tất cả sự vật là thực thể tâm linh của chính mình. Vì thế mà sinh tử luân chuyển không ngừng, chính là vô minh.

Kinh Bát Nhã nói: ”Có ý niệm về thân ta, nên sinh ra thân nghiệp. Có ý niệm về ngữ ta, nên sinh ra khẩu nghiệp. Có ý niệm về ý ta, nên sinh ra ý nghiệp.”

Tam mật của Như Lai, tam nghiệp của thân ngữ ý, vốn dĩ bình đẳng, thân bình đẳng với ngữ, ngữ bình đẳng với ý, đều ở khắp pháp giới, là pháp Phật tam mật bình đẳng. Tu hành của Mật giáo chính là: Tam mật của thân ngữ ý của chúng sinh và tam mật của pháp thân Phật tương ứng, dung hợp và không có khoảng cách, nhập ngã ngã nhập, bình đẳng lẫn nhau, tức thân thành Phật, không hai không khác.

Ở đây: Đất nước lửa thuộc về thân mật. Gió không khí thuộc về ngữ mật. Thức thuộc về ý mật. Tu hành Mật giáo là dựa vào sự tương ứng của tam mật mà thành tựu tất cả các tịnh thổ.

13. Thiền định

Vì sao tôi cần tu hành học Phật? Vì sao cần thiền định mỗi ngày? Bởi vì: Tôi thấy con người thế gian đều có phiền não, khổ không sao nói hết, tôi học thiền định là để trừ bỏ phiền não. Tôi thấy con người thế gian, vì ngũ dục mà không thể xuất li, vì tôi muốn xuất li khỏi ngũ dục nên tôi học thiền định. Người đời luôn bị vợ con tài sản trói buộc, vì thế tôi cần học thiền định. Người đời coi những đam mê là niềm vui, tôi muốn lấy pháp vị là niềm vui, vì thế tôi học thiền định. Người đời đều lấy “hữu ngã” làm xuất phát điểm, còn tôi muốn học “vô ngã”, cho nên tôi học thiền định. Người đời sợ sống, sợ chết, sợ già, sợ bệnh, vì muốn vượt lên sinh lão bệnh tử nên tôi học thiền định. Người đời trí tuệ nông cạn, vì muốn trí huệ nên tôi học thiền định. Người đời lắm kẻ tham sân si, vì muốn dập tắt tham sân si nên tôi học thiền định. Người đời vì mưu sinh, sĩ, nông, công, thương, mà cả ngày thấp thỏm hoang mang, lòng không yên, cũng vì điều này nên tôi học thiền định. Tôi lại thấy, vua tôi, cha con, anh em, thê tử, nô tì, thân hữu, thầy trò, vai vế thế hệ đều hỗn loạn, cho nên trái tim tôi đau xót vô hạn, vì thế tôi học thiền định.

🌟

Thiền định của tôi chỉ có bốn chữ: ”Thâm sâu, bí mật, quảng đại, ảo diệu.” Tôi phát hiện ra thiền định chính là hư không. Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là thế này: ”Thiền định là thế giới trang nghiêm thanh tịnh, có trí huệ thế gian và xuất thế gian, làm chỗ dựa cho vạn vật vũ trụ, chỗ dựa cho pháp môn giải thoát sinh tử.”

Trong thế giới thanh tịnh trang nghiêm: Là thanh tịnh, trong sáng và không chướng ngại. Là bình đẳng viên dung không khác biệt. Là đại viên mãn. Trong thiền định của tôi, tôi học tập được vô hình, vô tướng, vô hành, vô chỉ, vô lượng, vô tế,… Trong một niệm, biết hết tất cả mọi pháp của thập phương tam thế. Trong một niệm, công đức viên mãn mà thành tựu Phật đạo vô thượng.

🌟

Lời vàng về thiền định là: Nhiều quy về một. Một quy về không. Không tức vô niệm.

“Đốn ngộ nhập đạo yếu môn luận” viết: ”Nói cái gì là thiền, nói cái gì là định, đáp rằng vọng niệm không sinh là thiền, tọa kiến bản tính là định. Cái bản tính là anh không sinh tâm, cái định là vô tâm đối với hoàn cảnh. Tám ngọn gió không thể lay động, tám ngọn gió: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc, gọi là tám ngọn gió. [lợi dưỡng - suy hao, phỉ báng - tán thán, tôn kính - chê bai, đau khổ - vui mừng] Người đắc được cái định như thế dù là phàm phu cũng tức là đã nhập Phật vị.”

Bài thơ thiền định của Hàn Sơn Tử: Nhà nông tránh nắng hè Rủ nhau cùng uống rượu Lặt vặt quả vài thứ Gom góp rượu mấy bình Vơ lau sậy làm chiếu Lá chuối làm đĩa bàn Say sưa nơi thôn nhỏ Khác chi núi Tu Di. Tôi khoái nhất là câu cuối cùng: “Khác chi núi Tu Di.”

🌟

Tôi cũng viết một bài thơ thiền định:

Bên ngoài cửa sổ hồ U Linh Bên trong cửa sổ chút suy tàn Y phục rộng rãi nay khoác tạm Ngồi xuống quên mất ai là ai Chỉ còn say sưa với pháp vị

Thâm sâu bí mật rộng lớn ảo diệu Vô hạn vô biên muôn vạn vì sao Đưa tay ra nắm lấy Sông núi kia của ai Không dễ cũng không khó Thiền môn nào có cửa Chỉ một mình ngao du.

🌟

Thiền định chính là “bất loạn”…… Tôi đã trải qua tám ngọn gió thế gian “lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc”, những thử thách hoàn toàn khác nhau này, giờ đây, tự tâm hiểu rõ, thấu triệt hoàn toàn. Những lúc tranh thủ từng giây từng phút, vẫn trấn tĩnh như thường. Tôi cũng từng trải qua những lúc sống mơ mơ màng màng như người say rượu, tôi ngấu nghiến tất cả mọi thứ của mình một cách tham lam, những điều ấy đều trở thành kí ức trong tim tôi. Đối với những điều này, trong mỗi tấc thời gian của cuộc đời tôi, cũng có thể coi là một tư liệu, giúp tôi có biện pháp đối chất với loại người này trong quá trình độ hóa họ.

Thật ra, những trải nghiệm cuộc đời của tôi: Đầy ắp. Căng tràn. Trong tâm trí tôi tất cả đều là những kinh nghiệm sống. Bất kể tôi có bộ dạng uể oải hay là đầy hứng thú, tôi vẫn là phong thái như xưa, phong thái như xưa này không phải là công lực của thiền định sao!

Đủ mọi nhân duyên của kiếp trước Đi qua cuồng phong Đi qua bão tố Đi qua bụi gai Đi qua dốc núi Kết quả, chẳng còn hoài nghi lo sợ Khoan thai điềm tĩnh thiền định bất loạn Không thể thay thế.

🌟

Thiền định chính là “bất động”….. Không mưa hoa vẫn rơi xuống, chẳng gió sợi bông vẫn tự bay… Tôi nhớ ra rồi, lời dặn dò của Phật Thích Ca Mâu Ni và A Di Đà Phật: ”Ta đều lệnh cho nhập vào vô dư niết bàn mà diệt độ…” Tôi từng lăn lộn trong những việc thế tục trần gian, tôi cũng đã từng tự đày ải mình như con thuyền lẻ loi bị cõi trần lãng quên, tôi có rất nhiều rất nhiều quá khứ, tâm hồn tôi cũng lộ ra những vằn vện, mười trượng hồng trần của thế giới Ta Bà đều có hình bóng dấu chân tôi. Nhưng, tôi đã đi vào “bất động địa”. Tôi liên tục lặp đi lặp lại học tập thiền tọa, liên tục lặp đi lặp lại luyện tập vi tế, thiền môn không có cửa, thời gian trôi vụt qua, thế là đã ba năm. Tôi vẫn duy trì tình trạng bế quan như vậy, tôi đã bắt đầu đốt cháy lên linh nhiệt nội hỏa. Tôi tự thấy mình như một phiến lá, cọ vào những ngọn gió mùa thu, không biết lúc nào mới có hi vọng, những ưu phiền bị không gian cách trở, những vọng tưởng cũng đã ném vào bầu trời vô tận. Trong khoảng thời gian này, tôi tồn tại trong không gian của thiền định, trên thực tế, tôi đã cố gắng hết sức rồi.

Tôi vẫn luôn đơn độc một mình chiến đấu, ngày tháng là nước đọng đứng yên bất động. Cuối cùng, tôi đã thắp lên ngọn lửa, một chút ánh sáng không ngờ có thể chiếu rọi cả một cảnh quan xán lạn đẹp đẽ. Một ngọn lửa tâm linh bé nhỏ cũng có thể khiến tôi du lịch đến mười phương Phật quốc, những điều kinh ngạc mừng rỡ ấy giống như một chuỗi ngọc trai, tao nhã đến nhường ấy. Nhờ thiền định, tôi đã mở ra một khung cửa sổ khác. Nhờ thiền định, tôi đã hiểu rõ và khai ngộ về cuộc đời. Đâu đâu cũng là.

🌟

Sự “bất động” của tôi tuyệt đối không phải là vì tuổi tác của bản thân, mà là vì sự thiền định của chính mình, tư tưởng và hành vi đã hòa hợp với trời đất. Sự trưởng thành này khiến người ta kinh ngạc, tu hành thiền cũng xem như là điều chỉnh bước chân của mình từ những sai lầm chệch hướng nhỉ! Đây tuyệt đối không phải là huyễn tưởng hoặc vọng tưởng, “những lời văn hoa về thiền định” là một công phu “chân đạp thực địa”, biểu hiện bề ngoài thì giống như là sự ngưng trệ, nhưng trên thực tế là đứng trên đỉnh cao của cuộc đời mình, hoàn toàn thoát khỏi những khuôn khổ của tục thế. Tôi quen với nề nếp viết sách, quen với việc trả lời thư, quen với việc tu pháp, những ngày tháng nằm trong quy luật hoàn toàn bất động. Không chỉ như vậy, tốc độ tiến lên về tâm linh của tôi khiến người ta kinh ngạc. Những giác ngộ và cảm nhận của tôi bao trùm lên toàn bộ cuộc sống của tôi. Tôi cảm thấy được Phật Bồ Tát Chư Tôn ôm chặt, đó là sự nhiệt tình đặc biệt đã nâng cao “thức” và “trí” của tôi.

Giờ đây — Không dễ gì vì một bông hoa mà cảm động. Không dễ gì vì một sự việc mà dao động tâm trí. Không dễ gì vì một những điều vặt vãnh mà lo âu. Không dễ gì vì vô số phỉ báng mà xúc động. Giờ đây, thiền định là thứ đẹp đẽ nhất.

🌟

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn nói rằng: “Thiền định chính là bất hoại.” Bởi vì trong đó có “Không định”, là thiền định của quán “tướng Không”, Không định tức là ba loại tam muội.

Kinh Đại Nhật nói: “Nếu thâm nhập sâu vào nơi sâu xa nhất, tự nhiên sẽ đẩy lùi được nhân nghiệp, chỉ còn tồn tại duy nhất ngã tính, cho tới khi không một pháp nào nhập tâm, từ đó chứng Không định, đây chính là cái lý của cứu cánh, nhờ việc đó mà thoát khỏi tam hữu, khỏi bị quay trở lại tam đồ.”

Ba loại tam muội là: 1. Không tam muội - là tam muội của sự tương ứng với hai hành tướng Không và Vô ngã của Khổ đế. 2. Vô tướng tam muội - là tam muội của sự tương ứng với bốn hành tướng Diệt, Tĩnh, Diệu, Li của Diệt dế. 3. Vô nguyện tam muội - tam muội của sự tương ứng với hai hành tướng Khổ và Vô thường của Khổ đế cùng với bốn hành tướng Nhân, Tập, Sinh, Duyên của Tập đế.

Trong khi tôi tu Không định, Không quán, các thể của chân như hiển lộ vô cùng rõ ràng, từ Không mà hiển lộ thực tính, và nhờ thực tính hiển lộ đó mà thoát rời được việc chấp ngã chấp pháp.

Tôi loại bỏ hết tà kiến. Đắc chứng Không pháp. Tôi hiểu, vũ trụ này mười phương trên dưới duy có hư không là bất hoại. Và thiền định có thể chứng minh, cho nên thiền định chính là bất hoại.

🌟

Có người hỏi tôi: ”Ngài có cao kiến gì đối với tính Không?” Tôi đáp: ”Phong thái như xưa.” Tôi thấy người đặt câu hỏi vẫn phân vân không quyết, nhưng lại không đưa ra được đạo lí nào để bẻ lại. Tôi ý thức được rằng, câu trả lời của tôi là một câu nói rất bình thường, rất thường, nếu nói nghiêm túc, nghĩ một cách có trách nhiệm thì câu trả lời ấy có phần quá đơn giản. Thế nhưng, bốn chữ đơn giản này có khả năng là toàn bộ về tu hành Không quán, câu nói này là người chân thật nói lời thẳng thắn, trả lời một cách dứt khoát là xong. ”Phong thái như xưa” cũng chính là bất hoại mà!

“Tính Không có phải là đã kết thúc rồi không?” ”Sao cơ? Tôi không đồng ý với quan điểm này.” - Tôi đáp. ”Vì sao không phải là kết thúc?” ”Bởi vì còn rực rỡ hơn.” - Tôi đáp. ”Ở đâu rực rỡ hơn?” ”Phật quốc rực rỡ hơn.”

Tôi cảm thấy con người học Phật tu hành, khi tu trì, có thể tiến nhập vào trong thiền định, ở trong cảnh giới lí tính không sinh không diệt, tâm niệm bất loạn, tâm niệm bất động, tâm niệm bất hoại, đã không thối chuyển, cũng không khởi phiền não, yên dạ yên lòng, đây chính là “Phật quốc rực rỡ hơn”.

🌟

Tôi từng viết một bài thơ:

Lúc đang nhập định

Tôi đang học tập Phật Thích Ca Mâu Ni Ở dưới cây bồ đề để đi siêu thoát Cố gắng hết sức chẳng nghĩ đến điều gì Và cũng chẳng có điều gì cần nói

Bản thân phải trở nên rộng lớn như vũ trụ Nhưng tay chân cứ tê buốt co vào Cho dù một chút cũng đều phải quên hết Không được cho phép bản thân mình run rẩy

Mắt nhắm lại không nhìn Tai bịt lại không nghe Hơi thở đạt đến sự đơn giản thuần khiết Ý niệm im bặt vắng tanh

Chẳng phải đang tự tình Chẳng phải tự mình độc thoại Từ bỏ đi những sắc màu vui vẻ Sắc cũng tức là Không

Con đường xa xăm cũng đều đi qua Tiếp tục thực tu vẫn là điều cốt yếu Chính là vào giây phút đó Phong thái như xưa.

14. Trí huệ

Thế nào là trí? Dựa vào lí lẽ sự tình mà quyết định, chính là trí. Kinh Hoa Nghiêm nói: Tất cả Như Lai cùng một pháp thân, một tâm, một trí huệ. Một Phật trí tức là tất cả các loại trí. Bốn trí trong Trí Độ Luận là: 1. Đạo huệ. 2. Đạo chủng huệ. 3. Nhất thiết trí. 4. Nhất thiết chủng trí.

Ngũ Phật ngũ trí là: 1. Đại viên kính trí - A Súc Như Lai. 2. Bình đẳng tính trí - Bảo Sinh Như Lai. 3. Diệu quan sát trí - Di Đà Như Lai. 4. Thành sở tác trí - Bất Không Thành Tựu Như Lai. 5. Pháp giới thể tính trí - Đại Nhật Như Lai.

La Hán tứ trí là: 1. Ngã sinh dĩ tận - Khổ đế. [Không còn phiền não vô minh] 2. Phạm hạnh dĩ lập - Diệt đế. [Hành vi thanh tịnh] 3. Sở tác dĩ biện - Đạo đế. [Đã thực tiễn mọi Phật pháp lợi mình lợi người] 4. Bất thụ hậu hữu - Tập đế. [Thân tâm đạt giải thoát tự tại]

Tất cả Như Lai đều có mười loại trí huệ là: 1. Tam thế trí - thông đạt viên minh các pháp của ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai. 2. Phật pháp trí - thông đạt trí huệ độ sinh của tất cả Phật pháp. 3. Pháp giới vô ngại trí - hoàn toàn viên dung thông hành tất cả mọi dạng lí lẽ của pháp giới. 4. Pháp giới vô biên trí - tràn trề mọi pháp, tất cả đều không có biên giới. 5. Sung mãn nhất thiết thế giới trí - trí huệ quảng đại diệu dụng, đầy ắp thế gian. 6. Phổ chiếu nhất thiết thế gian trí - Như Lai dùng đại trí huệ, ánh sáng phổ chiếu đến vô lượng thế giới. 7. Trụ trì nhất thiết thế giới trí - Như Lai dùng đại thần lực, trụ trì thế giới, thu hút và độ hóa chúng sinh. 8. Tri nhất thiết chúng sinh trí - Như Lai biết tất cả nhân duyên thiện ác của chúng sinh. 9. Tri nhất thiết pháp trí - Như Lai biết tất cả Phật pháp, cũng biết tất cả chúng sinh pháp. 10. Tri vô biên chư Phật trí - Như Lai xuất hiện tại vô biên chư Phật thế gian, giáo hóa tất cả chúng sinh.

🌟

Tôi (Lư Thắng Ngạn) rốt cục ở tại thế gian này để làm việc gì? Thứ nhất, tôi vận dụng trí huệ để quán đảnh trí huệ cho chúng sinh. Thứ hai, tôi từ một phàm phu bình phàm tầm thường, liên tục tu hành cho đến khi đạt đến trí huệ của Như Lai, là tướng đầy đủ trí huệ, đó chính là trí huệ giáo huấn bằng chính thân mình. Thứ ba, tôi dùng ánh sáng trí huệ để phá bỏ bóng tối vô minh của chúng sinh. Thứ tư, tu hành nội chứng của tôi lấy trí huệ viên minh làm thân, tự lợi và lợi tha. Thứ năm, tôi nhập định vào trí tướng tam muội, dùng trí huệ thiền định chân thực để giáo hóa người khác. Thứ sáu, tôi đã đắc mọi trí, là tất cả trí của Phật, từ đó phóng quang phổ chiếu thế gian. Thứ bảy, tôi dùng trí huệ để đoạn vọng thành chân, dùng trí để cắt đứt vọng tưởng ngông cuồng, dùng trí để chứng thực cái thật, vì thế mà sáng lập nên Chân Phật Tông. Thứ tám, tôi chiếu kiến danh trí, giải liễu xưng huệ [người biết chân lí của đời, gọi là trí, người chiếu theo đệ nhất nghĩa, gọi là huệ]. Vì thế, cửa huệ soi cái Không, cửa trí chiếu cái Có. Thứ chín, tôi dùng trí huệ để cắt đứt sự cản trở của phiền não sinh tử, tôi cũng giáo hóa thế nhân như vậy, dùng thanh kiếm trí huệ để phá tên giặc phiền não. Thứ mười, tôi sẽ đem toàn bộ công đức độ sinh chảy vào trong biển lớn của trí tạng Tì Lô Giá Na.

🌟

Lời vàng của tôi (Lư Thắng Ngạn) là: ”Con người sinh ra chỉ là để cầu trí huệ mà thôi.” ”Sự ngu si của con người là chướng ngại của trí huệ.”

Bài thơ của Hàn Sơn Tử:

Tôi nhìn nước Hoàng Hà Đã được mấy lần trong Nước chảy như tên bắn Thế nhân như mảnh bèo Ngu si là nghiệp gốc Hố phiền não vô minh Luân hồi bao nhiêu kiếp Chỉ vì tạo mê lầm.

Lư Thắng Ngạn tôi ý thức rằng trong cuộc đời này, tôi sẽ đem những ngộ cảnh của mình viết vào trong sách, đem ánh sáng trí huệ cùng với những tín niệm của bản thân mình tỏa ra khắp nơi, để phá vỡ bóng tối của thế gian, cho thế nhân hiểu tất cả thực tướng chân như.

🌟

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: “Trí huệ là để chống lại vô tri. Mỗi một đứa trẻ ngây thơ từ nhỏ đã cần bắt đầu học tập trí huệ.” Tôi có một phương trình: Ngây thơ + kiến thức = trí huệ Thông minh + kiến thức = sức mạnh Trí huệ + trí huệ = ngây thơ Nếu không giải thích phương trình này thì rất khó để cho người ta hiểu được. Đặc biệt là phương trình trí huệ + trí huệ, tôi cho rằng “ngây thơ là một kiểu trạng thái gần nhất với tự nhiên”.

Một người có trí huệ chân chính lại tiếp tục tìm kiếm trí huệ chân chính, người ấy sẽ biết: Vô tri tương đương dục vọng. Ngây thơ không phải là vô tri. Ngây thơ là không có dục vọng.

Vì thế, người có trí huệ nhất sẽ đạt đến trạng thái vô dục, sẽ tìm được sự ngây thơ ban đầu. Người học tập Phật pháp chúng ta nhất định phải hiểu, khi bạn học đến cảnh giới cao nhất, không ngờ lại phải vứt bỏ đi công cụ tri thức của Phật pháp, pháp còn phải bỏ, phải quên hết mọi kinh điển, phải tiến nhập vào trong cảnh giới tất cả đều không có, tất cả đều trống rỗng. Cái gọi là vô ngã, vô pháp, vô tướng, vô tu, vô chứng. Cái gọi là pháp không, lạc không, niệm không, thân không, không không. Đây là một sự tu hành từ không đến có, rồi lại từ có đến không.

🌟

Tôi muốn nói ra mấy lời sau đây: (trí huệ ở đây là chỉ trí huệ vô thượng, không phải là trí huệ bình thường) ”Trí huệ thâm sâu bí mật rộng lớn ảo diệu không phải là thứ mà người phàm có thể biết, giống như hư không là nơi mà toàn bộ vũ trụ dựa vào.” ”Trí huệ của Phật là thế gian và xuất thế gian, là nơi nương dựa của mọi trí huệ.” ”Trí huệ vô thượng là nơi nương dựa của các bậc thánh giả như Bồ Tát, La Hán.” ”Trí huệ vô thượng là thanh tịnh, trong sáng, vô ngại.” ”Trí huệ vô thượng là bình đẳng viên dung không khác.” Tôi thật lòng thật sự nói với mọi người, người đạt đến cảnh giới trí huệ vô thượng, đích thực là tâm cảnh sẽ không còn như trước nữa!

Tôi tự biết: 1. Trước mọi phỉ báng, vẫn như như bất động. 2. Nghe thấy điều thiện, nghe thấy điều ác, tâm không phân biệt. 3. Đối với người ngu, cần từ bi họ. Đối với người khôn, cần tiếp dẫn họ. 4. Đối với chúng sinh thuộc giai cấp khác nhau, phải bình đẳng đối đãi. 5. Cúng dường bao nhiêu, tất cả tùy ý, không hai lòng. 6. Không nhìn vào sai lầm của người. 7. Đối với người của những tông phái khác, đều xem như một. 8. Thấy chúng sinh tam ác đạo, cũng xem như Phật quốc. 9. Tất cả chúng sinh đều là Phật Bồ Tát. 10. Đã không còn phân biệt Phật quốc và trọc thế.

Mười điều trên là tâm cảnh của Lư Thắng Ngạn tôi, người ở vào tâm cảnh này, có thể nói đó là người đã có trí huệ vô thượng. Tôi tự biết, giữa Phật và Phật, những gì phát sinh từ nội tại của các vị là hoàn toàn nhất trí, hoàn toàn như nhau, không có gì riêng biệt.

Tôi từng gặp rất nhiều con người thế gian, có người giàu, người nghèo, người sang, người hèn, người tài, người ngu, những thứ bên ngoài của những người này đều không quan trọng, cái quan trọng nhất là nội tại. Chỉ cần nội tại giống như Phật, một tâm Phật vô thượng trí huệ, thì thân tâm đã đạt đến cảnh giới đặc biệt rồi!

🌟

Tôi yêu thích một bài kệ trong Luận Thập Trụ Tì Bà Sa:

Trí huệ sáng vô lượng Thân thực như kim sơn Sắc vàng sáng kì diệu Chiếu khắp mọi thế giới Tùy vật mà hiện sắc Vì thế cúi đầu chào.

Đó là dòng chảy pháp quang minh của trí huệ vô thượng, chảy đến vô số thế giới, tùy theo nhu cầu của sự vật và hoàn cảnh ở nơi ấy mà hiển thị, chúng ta nên hướng về Phật Đà vô thượng trí huệ mà cung kính đảnh lễ. Đó là trí huệ vô thượng chân chính. Bình đẳng phổ chiếu. Vô chướng vô ngại.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói: “Bất khả thuyết.” Chúa Jesus Christ luôn luôn không nói. Bởi vì “nói ra thì cũng không ăn thua”. Người có trí huệ viên mãn đôi khi không cần nói, lúc không nói gì là viên mãn nhất, một khi đã nói ra thì cũng là đã kém một bậc rồi. Trí huệ luôn luôn là bất khả thuyết.

🌟

“Lư Thắng Ngạn, tương lai Chân Phật Tông của ngài sẽ diễn biến thành cái gì?” Quá nhiều người hỏi tôi câu này rồi. Tôi cười. Mọi người lại truy hỏi. ”Tự nhiên.” - Tôi đáp. Tôi vẫn luôn trả lời một cách trẻ con như vậy. Đây không phải là một câu hỏi khó, chỉ là tôi chưa từng bao giờ nghĩ đến Chân Phật Tông tương lai sẽ diễn biến thành ra thế nào. Trở thành vương quốc tôn giáo chăng? Thành trụ cột của tôn giáo thế giới chăng? Như viên kim cương tỏa ra ánh sáng lộng lẫy, là chỗ dựa của toàn nhân loại thế giới, những thành lũy tôn giáo sáng chói được dựng lên trên khắp thế giới chăng?

Có người hình dung Chân Phật Tông của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn giống như trồng một cái cây, đầu tiên là một gốc nhỏ, giống như một chiếc cọc gỗ, dần dần thân cây trưởng thành rồi phân cành phân lá, 10 năm sau, 20 năm sau, 30 năm sau, cây xanh tươi rất lâu, sẽ trở thành một cây đại thụ nghìn tấn vạn tấn, cái cây này giống như cây quy y của Mật tông Tây Tạng. Rất nhiều người hỏi trẻ con: ”Sau này lớn lên con muốn làm gì?” Tương tự như thế, rất nhiều người hỏi tôi: ”Chân Phật Tông sau này muốn làm cái gì?” Tôi đã nghĩ rất lâu, tôi thật sự không muốn làm cái gì cả, tôi không phải là chủ doanh nghiệp, không phải là thương nhân, không phải là chính trị gia, tôi chẳng phải là cái gì cả, nói không chừng, cái cây này của tôi sẽ bị chặt đổ. Tương lai của tôi, tôi chỉ có thể trả lời như thế này: “Tự nhiên.”

🌟

Rốt cục, trí huệ ẩn nấp ở chỗ nào? Ở trong vũ trụ đầy ắp mười phương trên dưới, ở trong tâm của Phật Đà, ở bên cạnh bạn và tôi, hay giống như một con cừu non tìm thấy thảo nguyên của trí huệ.

Lúc còn nhỏ, tôi bán mạng học hành. Cho rằng sách chính là trí huệ, sách đã trở thành núm vú cao su của tôi. Cuối cùng rốt cục tôi đã hiểu, núm vú cao su căn bản không phải là trí huệ, tất cả cái việc mút ấy chỉ là một sự mê hoặc tạm thời mà thôi. Tôi bắt đầu không thích sách nữa, tôi đem tất cả sách khóa lại bên trong tủ sách, tôi bắt đầu trầm mặc, dùng suy nghĩ của tôi, dùng tinh thần tập trung của tôi, dùng cái gì của tôi cũng đều không nghĩ nữa, xem xem trí huệ có phải là ẩn giấu trong cảnh địa triệt ngộ không. Tôi cười. Tôi khóc. Những bài xích của đám người. Những tán thưởng của đám người. Vui và không vui. Sẽ là tự nhiên, không một chút gượng ép.

Có phải là trí huệ quá cao rồi không? Có phải là trí huệ sẽ chỉ là mộng tưởng? Có phải là trí huệ rất xa không thể nào theo kịp? Có phải là trí huệ là vô tận không bao giờ dừng lại? Có phải là trí huệ sẽ đều bị cướp hết sạch? Chỉ còn là một thành lũy trống không. Bây giờ, tôi nhận thấy mình dần dần già yếu rồi, còn trí huệ thì vĩnh viễn trẻ trung làm sao.

🌟

Tôi là một kẻ nực cười Tôi đang truy tìm trí huệ Vậy mà trí huệ lại trốn đi nơi khác Tôi vĩnh viễn không đuổi kịp được nó Bởi vì Trí huệ không già Còn tôi thì tuổi xuân đã tiêu tan Trí huệ Trạm tới của mi, là ở đâu?

🌟

Tôi từng đến đỉnh núi Tu Di, đi xem “không nhất hiển sắc” của bốn bề. [Không nhất hiển sắc: màu sắc hiển hiện trong hư không, thuần nhất không lẫn lộn.] Bầu trời phương bắc - màu vàng kim. Bầu trời phương đông - màu bạc. Bầu trời phương nam - màu ngọc bích. Bầu trời phương tây - màu đỏ.

Ở Đao Lợi Thiên, tức là Đế Thích Thiên ở trên đỉnh núi Tu Di, tôi quan sát bốn phương, mỗi phương có tám cõi trời, hợp lại thành 33 cõi trời, mỗi cõi trời ấy lại hiện lên màu sắc khác nhau. Màu sắc hiện lên của 33 cõi trời của bốn phương này hoàn toàn là các mức độ sáng tối khác nhau, còn đối với màu sắc có đúng hay không thì chỉ là sự khác biệt sáng tối mà thôi, nhưng cũng có tới 33 màu sắc.

Tôi hiểu: Vô hình gọi là không. Hữu hình gọi là sắc.

Còn Bát Nhã Tâm Kinh viết: “Sắc tức thị không. Không tức thị sắc.” Khi tôi tiến nhập vào “Không Như Lai Tạng”, tôi hiểu thể tính của chân như, rốt cục là không, rốt cục là trống vắng, kết thúc mọi pháp nhiễm hay tịnh, như bên trong gương sáng, không có một thực chất nào.

Khi tôi đạt đến trí huệ vô thượng, trong cuốn sách “Vua của Phật Vương”, tôi đã viết rằng: 1. Tất cả giới chúng sinh, căn bản là không có chúng sinh. 2. Tất cả mọi pháp, cũng căn bản không có, căn bản không tồn tại. 3. Tất cả mọi pháp, căn bản không có người nào đi dùng pháp, đi sử dụng pháp. 4. Tất cả mọi pháp, đối với cái thể của chân như, thật sự là không đúng tí nào. 5. Trong vũ trụ này, căn bản không có gì để mà tức giận chỉ trích. Là hiện tượng duyên khởi và duyên diệt mà thôi, căn bản là vô trụ. 6. Tất cả sự vật trong vũ trụ, căn bản là toàn bộ đều không thực, không có gì để nương dựa, không có vĩnh hằng. 7. Thời gian không tồn tại, tất cả cảnh giới đều vô sở trụ. 8. Tất cả Bồ Tát cũng thế, căn bản là vô sở trụ. 9. Cảnh giới của Tứ Thánh, đều vô sở trụ. 10. Hư không vô biên.

Tôi nói: “Khi đạt đến được sự khai ngộ này rồi thì đã là cảnh giới bất khả thuyết rồi, không phải là cảnh giới mà văn tự và ngôn ngữ có thể giải thích được rõ ràng, vì vậy mới nói là bất khả thuyết.” Chân lí rốt ráo nhất của thế gian này là: Chân không vô tướng. Duy thức pháp tướng. Như Lai tạng tướng.

🌟

Viết một bài thơ nói về trí huệ:

Chúng ta đến nơi đây Mọi người đều hỏi là vì sao Cái gì là ý nghĩa của cuộc đời Đơn giản là làm gì có cái lí đó

Đơn giản là làm gì có cái lí đó Nên hãy để cho chính chúng ta Đi tìm chân lí của trí huệ Giống như chơi một ván cờ

Tôi từng bị phỉ báng Bị nghiền đến vỡ tan Đã mấy lần suýt chết Nhưng tôi không muốn Vĩnh viễn trở thành nô lệ của truyền thống

Tôi đang tìm kiếm Lời vàng của Lư Thắng Ngạn Những lời vàng ấy Chẳng phải trò chơi

Chúng ta đến nơi đây Vốn dĩ là luyện tập Bất kể là bao nhiêu gió mưa gian khổ Chỉ có đơn độc Tận lực mà thôi.

15. Từ bi

Quan Thế Âm Bồ Tát chính là hóa thân của sự từ bi. Nhân loại chúng ta phải ở trong sự từ bi mới có thể tiếp tục trưởng thành, đồng thời tiếp tục lan truyền hạt giống từ bi đến những con người xung quanh, như vậy mới sản sinh ra sự hòa hợp của toàn bộ nhân loại.

Lời vàng của Lư Thắng Ngạn là: ”Trong tâm hồn của con người, có một thứ tiềm ẩn, nó sẽ đợi đến khi gặp thời cơ thích hợp để thể hiện ra, đó chính là từ bi.” Nhân chi sơ, tính bản thiện.

Tôi không nghĩ rằng người theo chủ nghĩa vật chất vĩnh viễn là một người theo chủ nghĩa vật chất. Tôi luôn luôn biết rằng, trong lòng của người theo chủ nghĩa vật chất luôn mang sự từ bi của linh tính, sẽ có một ngày, tâm linh của người theo chủ nghĩa vật chất sẽ được đánh thức. Tôi cho rằng từ bi là chất xúc tác. Tôi cho rằng từ bi là một dạng pháp lực. Tôi cho rằng từ bi làm cho mọi thứ gọn gàng ngăn nắp. Tôi cho rằng từ bi khiến nhân loại vui vẻ hạnh phúc.

🌟

Từ bi khiến tất cả con người biến thành một chỉnh thể hợp nhất, có thể khiến nhân loại thấu hiểu lẫn nhau, biến thành một thể, đó chính là nỗ lực của Phật Bồ Tát. Giả dụ không có từ bi: Nhân loại sẽ cô độc. Nhân loại sẽ chịu khổ. Nhân loại sẽ chết. Nếu có từ bi, thì sẽ trưởng thành, sẽ được tưới đẫm, sẽ có niềm vui, sẽ có hài lòng, sẽ có ý nghĩa.

Mỗi cá nhân không thể tự mình nhốt mình lại. Về điểm này, mỗi người đều cần biết, bởi vì kết quả của việc tự nhốt mình là sẽ càng khiến cho bản thân khô héo, cuối cùng sẽ đánh mất đi chính bản thân mình. Trên thực tế, kết quả của việc tự đóng bản thân mình chính là cô độc chịu khổ mà chết. Mỗi người chúng ta cần có tâm từ bi, phát dương từ bi, trải nghiệm từ bi, cần hiểu về từ bi và hòa nhập vào từ bi. Bởi vì: Từ bi chính là niềm vui. Từ bi chính là thỏa mãn. Từ bi chính là bồi dưỡng.

🌟

Kinh Niết Bàn nói: Đại từ đại bi, Gọi là Phật tính. Từ là Như Lai, Như Lai là từ.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: Người có tâm Phật cũng là người đại từ bi, bằng “vô duyên từ” [tình thương tự nhiên không điều kiện, không nguyên nhân] để mà thu nạp mọi chúng sinh. Vô duyên từ này, sự từ bi này, không giới hạn ở những đối tượng thân thiết, bất kể là có duyên hay không có duyên thì đều bình đẳng từ bi như nhau. Câu nói này hàm chứa lòng thương xót từ bi vô hạn, không phân biệt thân sơ nặng nhẹ, bao gồm cả thai sinh, thấp sinh, noãn sinh, hóa sinh.

Kinh Vô Lương Thọ viết: Ta trong vô lượng kiếp, làm đại thí chủ Cứu giúp mọi cảnh nghèo, thề thành chính giác.

🌟

Cho niềm vui gọi là từ. Loại bỏ khổ gọi là bi.

Ba loại từ bi là: 1. Chúng sinh duyên từ bi - bằng một lòng từ bi, xem lục đạo chúng sinh trong thập phương như người thân của mình, từ đó sinh tâm ban cho niềm vui và loại bỏ đau khổ, gọi là chúng sinh duyên từ bi. 2. Pháp duyên từ bi tâm - Thánh nhân tam thừa đã cắt đứt phiền não, nhưng thương xót chúng sinh chẳng biết tới pháp không, dựa vào nhân duyên của pháp mà ban cho niềm vui loại bỏ đau khổ, thì gọi là pháp duyên từ bi tâm. 3. Vô duyên từ bi - tâm từ bi này chỉ Phật mới có. Là Phật với sự phổ độ quảng đại nhất và bình đẳng không phân biệt, nên gọi là vô duyên từ bi tâm.

Từ bi có 12 điều lợi: 1. Phúc thường theo thân. 2. An tâm. 3. Ngủ yên. 4. Không gặp ác mộng. 5. Được trời phù hộ. 6. Người đời yêu quý. 7. Không gặp những thứ độc hại. 8. Không gặp nạn binh đao. 9. Không chết vì nước. 10. Không chết vì lửa. 11. Lúc sống luôn gặp lợi lạc. 12. Lúc chết sinh về Phạm Thiên.

Tôi sâu sắc cảm thấy, từ bi là một bậc thầy tuyệt vời khiến cho nhân gian nở đầy những đóa hoa xinh đẹp. Bản thân nó rất có giá trị. Lòng từ bi chân chính là lòng vị tha chứ không phải tư lợi, không có mục đích, không có ý đồ và không có giới hạn. Phạm vi của từ bi không đòi hỏi sự giới hạn, mà ở trong một không gian đẹp đẽ nhất. Từ bi là hoa thơm trong nội tâm. Từ bi là ân từ, là sức mạnh vĩ đại nhất của lí tính.

🌟

Tại mật đàn, tôi nhìn ngọn nến càng cháy càng ngắn, nghĩ về hai chữ từ bi: Đốt cháy chính mình. Chiếu sáng người khác. Ngọn lửa của cây nến dường như là nóng tới mức đốt cháy cánh cửa nhân tâm. Ánh lửa bập bùng giống như tâm Phật, là ánh sáng, là sức nóng, để nói với mọi người một điều, chính là từ bi.

Tôi thích nến, tôi nhớ đến cả một hàng dài nến ở trong chùa… Đêm khuya… Ánh nến phản chiếu ánh sáng mờ ảo của Phật Bồ Tát, khiến cho tôi lác đác có những liên tưởng, cảnh tượng trang nghiêm nhường ấy in dấu sâu sắc trong tâm trí tôi. Niềm vui là an tịnh. Hạnh phúc là trầm tư.

Thế là, biến mọi suy nghĩ thành ánh nến lung linh, gửi đi từng chút từng chút một, đi trên con thuyền nhỏ của ánh nến, cứ thế hướng về Phật quốc mà đi. Tôi. Ánh nến. Phật. Cả ba tương ứng.

🌟

Lần đầu tiên hiểu được hai chữ từ bi là khi tôi nhìn thấy một tấm phướn Phật màu đỏ rủ xuống, ở trên đó có viết “Nam mô đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát” treo ở hai bên của bức tượng Bồ Tát, tấm phướn ấy được treo rất cao, tấm màu đỏ thì rực rỡ, tấm màu lục thì rất bắt mắt.

Thế nào là từ bi? Nếu tôi là một cây đại thụ, tôi nguyện làm bóng râm che cho mặt đất. Nếu tôi là một ngọn cỏ nhỏ, tôi nguyện tô điểm một nét xanh cho mặt đất.

Kể từ đó, tôi mới hiểu, từ bi cũng không phải là miễn cưỡng, cũng là tự nhiên tuôn chảy, hoa chỉ cần có một chút hương thơm, người chỉ cần một chút tâm ý… Kể từ đó, tôi nhận ra, không lo mưa gió, không sợ nắng cháy, mặc cho người ta đến đi, ồn ào náo động, tâm ý trong lòng tôi chỉ lặng lẽ đứng yên. Không thể nào không từ bi. Chẳng có cách nào trốn tránh được từ bi.

🌟

Tôi muốn viết ra mấy câu ngắn ngủi về từ bi trong lòng mình: Ồ! Từ bi là cố hương thật sự của tôi, là tình yêu chân chính và vĩnh hằng của tôi, tôi nguyện bản thân hóa thành Bồ Tát từ bi. Phật trong lòng tôi không phải là một ngôi sao lẻ loi ở xa xăm. Phật trong lòng tôi là nghĩ về chúng sinh, ôm ấp che chở chúng sinh.

Từ bi giống như dòng sông lớn trong tim tôi, nước sông róc rách chảy êm đềm, chảy vào trong hồ lớn của chúng sinh. Hi vọng biết bao, tôi là mặt trời vĩnh hằng, có ánh mặt trời ấm áp. Hi vọng biết bao, tôi là ngọn gió mát êm dịu, hôn lên thật dài thật sâu. Mọi động tác của tôi đều vô cùng tinh tế tỉ mỉ. Mọi hành vi của tôi đều hoàn hảo vừa đẹp.

Vỗ về nhân thế gian này, những tâm hồn phiêu bạt không nơi nương tựa, để họ có được nơi an trú ấm áp dịu dàng, không còn khổ sở gian nan nhiều năm nữa. Ai khát thì cho nước. Ai đói thì cho ăn. Ai lạnh thì cho áo. Cho nơi an trú với phong cảnh điền viên. Cho tâm hồn nở ra những cây hoa tươi đẹp.

Tôi nói gì đây nhỉ? Tôi không cần nói điều gì, bởi vì không gì có thể diễn tả được dòng chảy của trái tim tôi. Tôi chỉ có dang rộng vòng tay, dòng sông trong lòng tôi lặng lẽ tuôn chảy, tôi hóa thân từ bi, bi tráng tung ra trọn vẹn con người tôi. Dù là điềm đạm cô quạnh, hay là rực rỡ sắc màu, biểu tượng của tôi chính là từ bi. Dù là bị chiếm đoạt, dù là bị hiểu lầm, dù là bị bài xích, dù là tiêu tan… ”Không hề hối hận.”

Từ lâu tôi đã không còn tìm kiếm Phật quốc, từ lâu đã không còn tìm kiếm trí huệ, từ lâu đã không còn lang thang, không còn đổi một con đường khác, Phật của tôi chẳng xa xôi, Phật của tôi chẳng phải là Phật nào khác, không ở nơi nào khác, Phật chính là cây cột trụ trong trái tim tôi.

Ồ! Từ bi là cố hương chân chính của tôi, là tình yêu chân chính và vĩnh hằng của tôi, tôi nguyện bản thân hóa thành Bồ Tát từ bi. Càng ngày càng nhiệt thành, không có diệu kế nào khác. Đến mức độ nóng sáng cả lên.

16. Tâm yếu

Tu hành phân ra làm hai mục: Sự và Lí. Lí thông, sự chưa chắc đã thông. Sự thông, lí chắc chắn sẽ thông. Lí là nói về phương diện lí thuyết. Sự là nói về phương diện hành trì.

🌟

Bất kì việc gì, tâm không can dự dính mắc, thì tất cả đều vô ngại.

Có thể hát, có thể múa, tất cả cũng đều vô ngại. Tất cả pháp tính không, vô tâm thì vô ma, không còn có ma nữa. Chính kiến là: Tâm vô quái ngại [tâm không còn vướng bất kì trở ngại nào] Vì vô quái ngại Không còn sợ hãi Rời xa mộng tưởng điên đảo.

🌟

Sự phân biệt “tiểu ngã” và “đại ngã” là: Tiểu ngã luôn bị trói buộc, mong cầu cái gì là bị trói buộc vào cái đó, ngay đến pháp cũng bị trói buộc vào pháp. Duy có đại ngã là giải thoát.

🌟

Tu hành chính là công phu đối trị. Quán không để đối trị cái ngã chưa không. Đàn thành để đối trị tâm tán loạn. Hạt giống để đối trị nhân địa bất chân. [nhân địa: địa vị của Bồ Tát trước khi thành Phật] Triệu thỉnh để đối trị sự không thân thiết giữa Phật và chúng sinh. Vì thứ tự sinh khởi nên mới yêu cầu vận dụng “đàn thành”, “hoa sen”, “mặt trời”, “mặt trăng”, “ánh sáng”, “chú”, “định”, “không” để đối trị.

🌟

Nói về thể và dụng thì có so sánh thế này: Dùng kim loại có thể làm ra cái chuông lớn. (Kim loại là thể, chuông lớn là dụng.) Dùng gỗ có thể làm ra đồ đạc trong nhà. Dùng da có thể làm ra trống. Dùng đất có thể làm ra xi-măng. ………………………

Vì thế, dùng tâm vô lượng có thể thành Phật. Bằng không, chính là đui tu mù luyện.

🌟

Tu tham, sân, si để trở thành không tham, không sân, không si, như thế nào mới xem là thành tựu? Tham - Biết đủ. Sân - Bất động. Si - Thanh tịnh. Tu đến tứ đức cao nhất là: thường - lạc - ngã - tịnh.

🌟

Không là cái gì? Trăng trong nước. Hoa trong không khí. Tiếng vọng trong hang núi. Ảnh trong gương. Việc trong mơ.

Vì sao cảnh giới cao nhất là: vô tu? Bởi vì: Đại đạo vô tu. Vô đạo mới tu. Tu đến cuối cùng thì mới biết: ta vốn là đại đạo, đại đạo vốn là ta.

🌟

Tính chất rốt ráo của mọi thứ là: thiện. Ví dụ: Núi chủ yếu là tĩnh, núi lửa phun trào là do động nên mới nứt vỡ. Nước chủ yếu là động, nếu là nước tù nước đọng thì tất sẽ thối rữa. Cá cần sống ở nước. Chim cần nơi có gió. Mọi vật đều dựa vào tính của chúng, mọi vật đều yên ổn với vị trí của chúng thì gọi là thiện. Ngược lại với lí lẽ tự nhiên thì là ác. Thiện ác chỉ là như vậy mà thôi.

🌟

Sự tu hành của tôi vượt lên khỏi những điều khoái lạc. Bởi vì tôi đắc được pháp thân tính Không, đó là Thắng Lạc Kim Cang, có đầy đủ ba đặc tính lớn: Quán tự tại. Du hí tam muội. Nhậm vận.

🌟

Tôi tu hành có thể đắc thành tựu, không gì khác ngoài ba điều này xin mọi người ghi nhớ: Thứ nhất, nghe pháp - truyền bá rộng rãi. Thứ hai, nghĩ pháp - thâm sâu ảo diệu. Thứ ba, trì pháp - tinh hoa số một.

🌟

Sau khi thành tựu được pháp thân tính Không, tôi thích nhất là hành trì sáu việc sau: Quang minh không rời. Trí huệ vô thượng. Giải thoát phiền não. Đại lạc vĩnh viễn. Hào quang trang nghiêm. Thế gian độ sinh. Không những lợi mình mà còn lợi người.

🌟

Phật Thích Ca Mâu Ni thọ kí cho Đề Bà Đạt Đa thành Phật, hơn nữa còn cảm ơn mưu đồ hãm hại của ông ấy. Tôi dựa theo thánh giáo của Phật Thích Ca Mâu Ni, cảm ơn: Kính lễ sự gia trì đối chọi của các đại pháp sư. Kính lễ sự gia trì đối chọi của các đại cư sĩ. Kính lễ sự gia trì đối chọi của các đại thiên ma. Kính lễ sự gia trì đối chọi của các đại nhân ma. Kính lễ sự gia trì của các ma không tuân theo ý chỉ ban đầu. Tôi chân thành cảm ơn mọi sự gia trì đối chọi, khiến tôi càng thêm tinh tấn, vì thế hôm nay tôi mới có được thành quả tu trì tinh hoa số một, nếu không có những sự gia trì đối chọi đó thì chắc chắn tôi cũng đã phóng túng buông thả rồi!

🌟

Tư lương của trời người, điều kiện để thăng thiên là: Mọi điều ác không làm. Cần làm mọi điều thiện.

Tư lương để vãng sinh tây phương, điều kiện để thành Phật là: Thanh tịnh tâm ý. Là điều Phật dạy.

Trong đó, thanh tịnh tâm ý là vô cùng vô cùng quan trọng. Thanh tịnh tâm ý chính là Mật tông.

Nghiêm túc mà nói: Thiên đạo - Ngũ giới thập thiện. Tây phương - Nhất tâm bất loạn.

🌟

Có một bộ kinh điển mà rất ít người chú ý, cung kính tụng đọc bộ kinh điển này có thể khiến cho “Thiên long bát bộ đại hoan hỉ”, bộ kinh điển này chính là kinh Hải Long Vương. Bởi vì bộ kinh này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã điều hòa được: Trời. Atula. Hải Long Vương. Kim Sí Điểu. Vì do sự tức giận của bốn đại bộ tộc này, cho nên đọc tụng thì bát bộ đều đại hoan hỉ.

🌟

Nhận cúng dường của nghìn vạn người, chỉ có phát tâm vô lượng bồ đề, làm sự nghiệp bồ đề thì mới luôn là của cải thanh tịnh và thọ nhận thanh tịnh. Những cúng dường mà hành giả này có thể nhận, cho dù là ghế cao, giường lớn, nhà rộng, thiên y, thất bảo, thì đều có thể nhận được. Nếu nhận cúng dường của một người mà không có tâm bồ đề, không có sự nghiệp bồ đề, thì tài sản tích lũy cả đời, đến lúc chết vẫn không đạt thành tựu, lúc ấy khoác lông đội sừng mà trả.

🌟

Hành giả tu trì phải thường xuyên tâm niệm: Luân hồi là khổ. Tất cả đều không. Chư hành vô thường. Phật pháp khó gặp. Có như vậy mới có thể khiến cho đạo tâm kiên cố rõ ràng.

🌟

Khẩu quyết về khí, mạch, minh điểm của Mật giáo: Nhập vào pháp lưu. Trụ trong thanh tịnh. Duy trì hòa hợp.

Cũng tức là: Mạch hợp với mạch. Khí nhập với khí. Minh điểm tan vào minh điểm.

🌟

Thế nào mới là chân Phật? Loại bỏ chấp pháp, mới là chân Phật. Hiểu được không - bi là một, không - lạc là một, không - minh là một.

🌟

Bí quyết học pháp: Thiếu niên nên nghe nhiều học nhiều. Trung niên nên tu chuyên nhất. Lão niên nên tu vãng sinh. Nếu phải hiểu rõ mọi thứ thì mới tu, như thế thì tất cả đều đã muộn rồi.

🌟

Biết rồi thì phải làm, thì cái biết ấy mới không rỗng tuếch. Làm thì phải cầu hiểu biết, thì mới không nghiêng theo cái xấu. Không hiểu biết mà làm, thì là đui tu mù luyện. Biết mà không làm thì chẳng có ích lợi gì.

🌟

Tu hành giống như xây tháp, nền móng của tháp nhất định phải vững chắc, nếu nền móng của tháp không vững chắc thì chẳng có gì phải bàn nữa. Mật thừa coi trọng nhất là Tứ gia hành, Tứ gia hành chính là nền móng của tháp. Cái gọi là đỉnh tháp có thể tu, đáy tháp một khi hỏng thì chắc chắn sẽ sụp.

17. Phụ lục: Chuyến du lịch Bắc Ấn Độ

(Tường trình của Thượng sư Liên Trí.)

Xin bái kiến Dalai Lama và các vị trưởng lão của bốn đại giáo phái của Mật tông Tây Tạng. Phật đường Đồng Chân của Chân Phật Tông tại Hồng Kông vào ngày 28/12/1991 sẽ đứng ra tổ chức đại pháp hội Hộ Ma cầu phúc tiêu tai trị bệnh quy mô thế giới. Đại pháp hội Hộ Ma Chân Phật Tông mang tầm cỡ thế giới lần này đã trân trọng kính mời Căn bản Truyền thừa Thượng sư Liên Sinh Hoạt Phật đích thân chủ trì. Lãnh đạo đơn vị đứng ra tổ chức còn lên kế hoạch mời các vị trưởng lão của bốn đại giáo phái của Mật tông Tây Tạng tham dự đồng thời hộ trì cho buổi đại pháp hội Mật tông lập kỉ lục mới trong giới Phật giáo này.

Ủy ban tổ chức của pháp hội mời tôi tham gia công tác hỗ trợ chuẩn bị cho đại pháp hội, còn đặc biệt ủy nhiệm cho tôi chịu trách nhiệm liên hệ và mời các trưởng lão của bốn đại giáo phái Mật tông nói trên đến hộ trì sự kiện trọng đại này. Vì nhiệm vụ này mà tôi đặc biệt mời Sư Tôn, Sư Mẫu, và đã được Sư Tôn, Sư Mẫu từ bi dành cho sự hỗ trợ hết sức, và còn khích lệ tôi nhận lấy trách nhiệm này, để Chân Phật Mật Pháp có thể thuận lợi hoằng dương, và có thể cùng với bốn đại giáo phái của Mật tông Tây Tạng là Hồng giáo, Hoàng giáo, Bạch giáo, Hoa giáo cùng phát dương Mật pháp, phổ độ càng nhiều chúng sinh hơn nữa.

Vào lúc 8 giờ 30 phút tối ngày 13 tháng 5 năm 1991, tôi và Liên Phồn, với tâm trạng lo lắng và trách nhiệm nặng nề, đáp chuyến bay của Thai Airways từ Hồng Kông đến Ấn Độ, và nghỉ ngơi trong hai giờ tại sân bay ở Bangkok rồi tiếp tục đi Ấn Độ.

Vào lúc 2 giờ sáng ngày 14 tháng 5, chúng tôi đến New Delhi, thủ đô của Ấn Độ. Một người đàn ông Ấn Độ từ Vitek Metta đến đón chúng tôi và đưa chúng tôi về nhà anh ấy để nghỉ ngơi trong vài giờ, và sau đó chuẩn bị lên xe xuất phát, tận hưởng mười lăm giờ đồng hồ trên con đường núi gồ ghề đầy gió cát cuồn cuộn.

Lúc 7giờ 30 sáng, chúng tôi thuê một chiếc taxi và khởi hành đến điểm đến của chúng tôi là Dharamsala. Trên đường đi, chúng tôi đi qua nhiều thị trấn nhỏ và chợ, và cũng gặp nhiều gia đình nghèo người Ấn Độ. Xe đạp, xe ngựa, xe bò, cũng gặp rất nhiều bò một mình băng ngang qua đường. (Ở Ấn Độ có hai loại bò: một là trâu nước dùng để cày ruộng; hai là bò vàng, được coi là con vật linh thiêng ở Ấn Độ, vì vậy chúng có thể thả rông trên đường và không sợ đám đông và xe cộ).

Sau bảy tiếng đồng hồ trên nửa đoạn đường đầu tiên, chúng tôi bắt đầu leo lên khu vực núi cao, trên con đường hẹp và hiểm trở bên vách núi chỉ dành cho một chiếc ô tô đi qua, không có lan can quanh đường, và rất dễ rơi khỏi vách đá nếu bạn không cẩn thận.

Dharamshala là một thị trấn miền núi cao với độ cao hơn 7000 thước [1 thước Trung Quốc bằng 1/3 mét], vì vậy, từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn, trên cả quãng đường là chúng tôi đều đang leo dốc, đường đi lại không bằng phẳng, trên đường cát vàng bay cuồn cuộn, không khí vô cùng nóng nực, nhiệt độ lên tới 42 độ C. Bụng vừa đói, trời cũng đã tối mà lại không có đèn đường, ở cái nơi sơn dã hoang vu gọi trời trời không thưa ấy, chúng tôi bắt đầu lo lắng, không biết bao lâu nữa mới đến được vùng đất thần bí.

Người đánh xe Ấn Độ có thể thưởng thức những quán ăn không hợp vệ sinh ở những thị trấn nhỏ dọc đường, còn hai chúng tôi chỉ có thể gặm lương khô do đồng môn ở Hồng Kông chuẩn bị cho chúng tôi, và uống nước suối mà tự mình mang theo từ Hồng Kông. Vào lúc ấy, chúng tôi mới cảm nhận được mùi vị của những chiếc lương khô ngon như thế nào. Mãi đến 10 giờ 30 phút tối, sau chuyến đi mười lăm tiếng dài lê thê, chúng tôi cuối cùng cũng được nhìn thấy ánh sáng đèn của nhân gian, điểm đến cũng đã nằm trong tầm mắt.

Sau khi vào thị trấn Dharamsala, chúng tôi nghỉ tại khách sạn Kasmi của Ren-chenk Hondo, là anh trai của Đức Dalai Lama thứ 14. Khách sạn này được xây dựng trên một ngọn đồi, là một ngôi nhà rất sang trọng ở địa phương, có bốn người phục vụ làm nhiệm vụ tiếp đãi khách, những người phục vụ này rất tốt bụng và lịch sự với khách.

Khi mọi thứ đã ổn định, trước tiên chúng tôi bái kiến Om Chak Rinpoche, ngài rất vui mừng chào đón chúng tôi đến Dharamshala. Ngài giới thiệu với chúng tôi Dharamshala là một thị trấn nhỏ ở miền bắc Ấn Độ. Hầu hết những người sống ở đó là người Tây Tạng, mặc dù người Tây Tạng phân bố ở một số khu vực ở phía bắc và phía nam của Ấn Độ, nhưng tập trung chủ yếu vẫn là ở Dharamshala, khiến thị trấn này trở thành trung tâm văn hóa dân tộc của người Tây Tạng ở Ấn Độ. Có Bảo tàng Tây Tạng, thư viện, viện tôn giáo, trường y, v.v… cung điện của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, và cả các vị Hoạt Phật trưởng lão của bốn tông phái lớn của Phật giáo Mật tông Tây Tạng, hầu hết đều tập trung tại thị trấn miền núi nhỏ bé này, nơi nổi tiếng trong giới Phật giáo.

Vào lúc 1 giờ 30 phút chiều ngày 15 tháng 5, chúng tôi đã đến bái kiến Dalai Lama thứ 14, và sau khi lễ bái xong thì dâng khăn khata. Dalai Lama vô cùng hiền từ, gương mặt tươi cười tiếp đón chúng tôi, Ngài ấy là người rất hiền hòa. Chúng tôi đã giới thiệu với ngài ấy về Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và báo cáo đơn giản tình hình hiện tại của việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, đồng thời dâng lên ngài cúng dường và một chuỗi hạt niệm Phật của Chân Phật Tông. Chúng tôi cũng cầm pháp tướng của Thánh Tôn để chụp ảnh cùng với ngài.

Trong lúc nói chuyện, chúng tôi đề cập đến việc Chân Phật Tông sẽ tổ chức đại pháp hội Hộ Ma quy mô thế giới vào cuối tháng 12 năm nay, do Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chủ đàn và sẽ mời các vị trưởng lão đại Hoạt Phật của bốn tông phái lớn của Phật giáo Mật tông Tây Tạng đến tham dự cùng hoằng dương Mật pháp. Dalai Lama nghe xong thì gật đầu tán thành và liên tục nói “tốt”, “rất tốt”, trước khi ra về, Dalai Lama còn tặng lại chúng tôi khăn khata.

Vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày, chúng tôi đến thăm Gantu Rinpoche, Gantu Rinpoche năm nay 62 tuổi và hiện là trưởng lão của Hồng giáo Tây Tạng. Sau khi rời Tây Tạng vào năm 1959, ông tiếp tục phục vụ đồng bào của mình cho đến khi được Dalai Lama dùng làm trợ lí thân cận bên cạnh mình. Ông được bổ nhiệm làm thư kí chính của ủy ban tôn giáo và văn hóa của Dharamshala Ấn Độ, ông được công nhận là trụ trì thứ ba của ngôi chùa Ogyal Jangchub Choeling ở Khakikan, Mông Cổ, pháp hiệu là Hoạt Phật chuyển thế đời thứ tư của Gyur Eme Namgyal Rinpoche. Gantu Rinpoche hiện đã nghỉ hưu, nhưng Dalai Lama vẫn cần ông ở lại Dharamsala để lãnh đạo Hồng giáo và giảng dạy Mật pháp Hồng giáo, ông có rất nhiều đệ tử ở khắp nơi trên thế giới đến lễ bái cúng dường. Gantu Rinpoche rất hòa nhã và vô cùng từ bi, ông chân thành chào đón chúng tôi đến thăm nhà, chúng tôi đảnh lễ và dâng khăn Khata, rồi lại dâng cúng dường và chuỗi hạt của Chân Phật Tông. Ông lập tức đeo chuỗi hạt lên cổ và chụp ảnh cùng chúng tôi, con gái của ông ấy đã dịch các cuộc trò chuyện của chúng tôi sang tiếng Anh và tiếng Tây Tạng.

Chúng tôi đã giới thiệu với ông về Chân Phật Tông và Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, ông ấy rất tán thưởng những việc mà Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật đã làm là rất tốt. Tôi cũng đề cập đến việc Chân Phật Tông sẽ tổ chức đại pháp hội Hộ Ma vào cuối tháng 12 năm nay ở Hồng Kông, đồng thời hi vọng ông có thể bớt thì giờ đến để hộ trì. Ông trả lời rằng ông ấy đã nhận được thư mời của chúng tôi cách đây một tháng, và cũng đã hỏi thăm Dalai Lama thứ 14. Dalai Lama đã khuyến khích ông ấy dành thời gian tham dự, và bản thân ông ấy cũng rất vui khi được tham dự đại pháp hội thù thắng của Chân Phật Tông.

Ông ấy cũng đưa chúng tôi đi tham quan mật phòng của mình, trên đàn thành treo đầy những bức tướng Phật (thangka). Ông ấy đều lần lượt giải thích và giới thiệu tỉ mỉ cho chúng tôi về kim thân của mỗi vị Phật Bồ Tát. Ông cũng chiêu đãi chúng tôi một bữa cơm kiểu Ấn Độ, trên bàn ăn, chúng tôi cũng nói chuyện rất nhiều. Trước khi về, ông lại tặng chúng tôi khăn khata và quà lưu niệm.

Vào trưa ngày 16 tháng 5, chúng tôi gặp lại Om Chak Rinpoche, ngài đã giới thiệu chúng tôi với tám đại đệ tử xung quanh ngài và Sangsang Rinpoche. Chúng tôi trao cho ngài một lá thư từ Sư Tôn và chuyển lời hỏi thăm của Sư Tôn. Ngài rất kính cẩn nhận lấy lá thư của Sư Tôn và một lần nữa nói rất vui vì chúng tôi có thể đích thân đến thăm hỏi, chúng tôi dâng lên ngài cúng dường và một chuỗi hạt bằng thủy tinh của Chân Phật Tông. Chúng tôi cũng đã tài trợ cho quỹ xây dựng ngôi chùa của họ ở Nam Ấn Độ, Om Chak Rinpoche rất biết ơn chúng tôi, và cũng cung kính gửi lời hỏi thăm đến Thánh Tôn và các Thượng sư của Chân Phật Tông. Ngài đã nhận được thư mời tham dự đại pháp hội Hộ Ma Chân Phật Tông tổ chức tại Hồng Kông, và trả lời rằng nhất định sẽ có mặt tham gia đại pháp hội lần này.

Sau đó, ngài ấy đưa chúng tôi đến thăm trại trẻ mồ côi và trường học Tây Tạng ở địa phương, nơi chúng tôi thay mặt Chân Phật Tông quyên góp để tài trợ cho trại trẻ mồ côi và quỹ phát triển trường học của họ. Thay mặt trại trẻ mồ côi và nhà trường, thư kí của viện xin cảm ơn Chân Phật Tông và đích thân dẫn chúng tôi đến thăm trại trẻ mồ côi, các em trong viện đều là trẻ em Tây Tạng, từ năm đến mười tám tuổi. Trường học dạy ngôn ngữ Tây Tạng với tổng số 1.600 học sinh, là trường dạy tiếng Tây Tạng lớn nhất ở Ấn Độ. Họ duy trì và giảng dạy văn hóa Tây Tạng và tư tưởng tôn giáo, đồng thời sách giáo khoa của họ cũng bao gồm cả Phật giáo.

Trong khuôn viên trường, chúng tôi có thể thấy rất nhiều trẻ em Tây Tạng chăm chỉ học hành, và các em nhỏ trong trại trẻ mồ côi cũng được các giáo viên của trường này chăm sóc. Chúng tôi cũng đã đến thăm các ngôi chùa và tháp Phật trong khuôn viên trường, vào thứ bảy hàng tuần, học sinh đến chùa để đảnh lễ Phật.

Sau khi rời trại trẻ mồ côi và trường học, Om Chak Rinpoche đưa chúng tôi đến thăm Trường Cao đẳng Y tế Tây Tạng, nơi ngài cũng từng là trưởng khoa. Ở đó chúng tôi có thể thấy nhiều loại thực vật trở thành dược phẩm sau nhiều quá trình tinh chế và sản xuất khác nhau. Thư kí hiện tại của bệnh viện giải thích rằng họ đang nghiên cứu một loại thuốc có thể tiêu diệt hầu hết vi khuẩn, bao gồm cả bệnh AIDS, và nói rằng tất cả các loại thuốc trong các bệnh viện kiểu Tây Tạng ở Ấn Độ đều do Học viện Y Dược cung cấp. Chúng tôi cũng thay mặt Chân Phật Tông tài trợ cho Học viện Y Dược rồi rời đi.

Vào sáng ngày 17 tháng 5, Om Chak Poche đã từ bi đưa chúng tôi đi thăm lại thư viện địa phương Tây Tạng, và chúng tôi đã gặp lại Sangsang Rinpoche, người quản lí trưởng phận kinh điển của thư viện Tây Tạng. Ông giới thiệu với chúng tôi bộ kinh thư 400 năm tuổi, một số làm bằng gỗ vụn, một số được viết bằng vàng bạc, những bộ kinh quý này được bọc trong vải vàng và được bảo quản rất tốt. Chúng tôi cũng nhận ra rằng một phần nhỏ của kinh sách thuộc về Hắc giáo được bọc trong vải màu xanh lam. Sangsang Rinpoche đã đặc biệt mở một số kinh sách cho chúng tôi tham quan. Hai người họ cũng đọc một số kinh sách cho chúng tôi nghe, và tất cả chúng tôi đều rất vui khi có cơ hội được tận mắt xem những bộ kinh Tây Tạng cổ đại này.

Om Chak Rinpoche cũng đã sử dụng máy đánh chữ Tây Tạng để đánh máy dòng chữ "Liên Sinh Hoạt Phật tôn quý nhất" và "Chào mừng đến với Dharamsala, và chào tất cả các Thượng sư và đệ tử Chân Phật Tông" bằng tiếng Tây Tạng. Sau đó, chúng tôi đi thăm Bảo tàng Phật giáo Tây Tạng, nơi chúng tôi nhìn thấy rất nhiều tượng Phật và Bồ Tát bằng vàng rất uy nghiêm, tất cả đều có tuổi đời hàng thế kỉ. Chúng tôi cũng nhìn thấy rất nhiều pháp khí và những bức tranh tượng Phật treo tường rất lớn. Sau đó, An Trác Rinpoche đã giới thiệu với chúng tôi những kim thân theo phong cách Tây Tạng khác nhau của các vị Phật và Bồ Tát, một số được làm bằng vàng, bạc và đồng, và rất quý giá. Ngoài ra còn có một mandala rất lớn, được chạm khắc rất tinh xảo bằng gỗ, và có rất nhiều kim thân nhỏ của các vị Phật và Bồ Tát. Chúng tôi cung kính lễ bái đàn thành.

Chiều cùng ngày, chúng tôi đến thăm xưởng may, xưởng điêu khắc tượng gỗ, tranh treo tường tượng Phật, xem người Tây Tạng vẽ những bức tranh tượng Phật tinh xảo từ những thủ công tinh tế và điêu luyện. Vào buổi tối Om Chak Rinpoche và Sangsang Rinpoche mời chúng tôi đến nhà Om Chak Rinpoche để dùng bữa tối đậm chất Tây Tạng.

Tám đệ tử của Ngài đã tiếp đãi chúng tôi rất thân mật. Khi vừa ăn vừa trò chuyện, chúng tôi được biết rằng Sangsang Rinpoche là một vị Phật sống đã tái sinh lần thứ ba. Đời này ngài là đời thứ ba, đời thứ nhất ngài đã từng là một người chăn cừu, ngài từng chăn cừu ở vùng núi Tây Tạng và sống trong một hang động, tinh tấn tu trì, trì tụng tâm chú Quan Âm 3,5 tỉ biến, khiến hang động biến thành Thánh địa, người dân trong làng đều đi đào đất trong hang để dùng làm thuốc, cũng đã chữa được nhiều bệnh. Trong khi tu luyện trong hang, ngài không bao giờ bị thú dữ quấy rầy, bầy cừu của ngài cũng không bị thú tấn công.

Hiện tại (đời thứ ba) Sangsang Rinpoche cũng đã trì tụng thần chú Quán Thế Âm 100 triệu biến trong một khoảng thời gian rất ngắn, khiến một chiếc răng thánh nhỏ mọc ở hàm trên của miệng. (Theo người Tây Tạng, không thể mọc những chiếc răng thánh nhỏ, trừ khi người đó thực sự thành tâm niệm thần chú Quan Âm 100 triệu biến.) Chiếc răng thánh nhỏ này sẽ tự động rụng sau hai tuần. Năm 1970, Sangsang Rinpoche đã thờ chiếc răng nhỏ này trong một tượng Phật bằng vàng, nhưng không may nó lại bị đánh cắp. Om Chak Rinpoche cũng nhấn mạnh rằng ngài và Sangsang Rinpoche đã biết nhau ba mươi lăm năm và chưa bao giờ thấy ngài nổi giận một lần nào. Ngài là một vị Phật sống rất hiền từ, rất trầm tính, ít nói mà chỉ mỉm cười.

Vào sáng ngày 18 tháng 5, Om Chak Rinpoche đã đặc biệt chỉ định một đệ tử, pháp hiệu là Lama Ludo , đi cùng chúng tôi trở lại New Delhi. Om Chak Rinpoche và các đệ tử của ngài đều không nỡ tiễn chúng tôi, còn dặn dò chúng tôi trở về thay họ hỏi thăm Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật, và thay họ dâng khăn khata lên Thánh Tôn. Ngài nói rằng pháp tượng của Thánh Tôn sẽ được treo trong ngôi đền ở Nam Ấn Độ của ngài để các Lama chiêm bái, và cuối cùng Om Chak Rinpoche tặng cho chúng tôi khăn khata và cầu nguyện cho chuyến hành trình của chúng tôi được an toàn.

Vào ngày 19 tháng 5, chúng tôi lại lên đường từ New Delhi, và bắt taxi bảy giờ đến một thị trấn khác tên là Dalaton. Ở đó trước tiên chúng tôi đến bái kiến giáo chủ dòng Sakya Hoa giáo Tây Tạng (H.H Sakya Trizen). Giáo chủ phái Sakya thân hình hơi mập nhưng ông ấy rất khỏe, với khuôn mặt tròn, đeo khuyên hai bên tai và kiểu tóc buộc đuôi ngựa. Tại mật phòng của ngài, chúng tôi đã bái kiến và dâng khăn khata, rồi lại dâng lên cúng dường và chuỗi hạt thủy tinh của Chân Phật Tông. Giáo chủ Sakya rất thân thiện khi tiếp đãi chúng tôi bằng trà và bánh, và nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Anh. Trong cuộc trò chuyện, chúng tôi đã giới thiệu Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và tình hình phát triển chung của Chân Phật Tông. Chúng tôi mời ngài tham dự đại pháp hội Hộ Ma của Chân Phật Tông tổ chức tại Hồng Kông, nhưng thật không may, lúc đó vừa hay ngài đang hoằng pháp tại Bắc Mỹ. Tuy nhiên, ngài sẽ cố gắng hết sức để tham dự hoặc chỉ định một Rinpoche đại diện cho ngài tham dự Đại Pháp hội. Cuối cùng, ngài ấy đã tặng chúng tôi khăn khata và kết thúc cuộc trò chuyện kéo dài một tiếng rưỡi.

Sau khi chào tạm biệt giáo chủ phái Sakya, chúng tôi đi khoảng 15 phút bằng xe hơi, Ludo Lama đi cùng đã đưa chúng tôi đến một ngôi chùa Bạch giáo ở Tây Tạng. Ở đó, chúng tôi đã bái kiến Gar Rinpoche, trụ trì của ngôi chùa Bạch giáo này. Ngài là một vị Phật sống mập mạp với nụ cười trên môi, vui vẻ và dễ gần. Trong số các cấp bậc chùa của Bạch giáo, ngoài Tây Tạng, chùa do ngài trụ trì ở Ấn Độ là chùa lớn nhất, ở Đài Loan cũng có đạo tràng của ngài. Ngài thường đi đi về về ở khu vực Đông Nam Á để hoằng pháp. Chúng tôi dâng khăn khata, chuỗi hạt thủy tinh Chân Phật Tông và cúng dường ngài, và giới thiệu với ngài về Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và Chân Phật Tông, cũng hi vọng ngài có thể tham dự đại pháp hội Hộ Ma của Chân Phật Tông cử hành vào tháng 12 năm nay tại Hồng Kông. Ngài vui vẻ nhận lời, ngài và Om Chak Rinpoche là những người bạn rất tốt. Gar Rinpoche cũng đưa chúng tôi đến thăm mật phòng của ngài, giới thiệu với chúng tôi về mandala mà ngài cất giữ, và sau đó các đệ tử của ngài dẫn chúng tôi đi thăm toàn bộ ngôi chùa. Chúng tôi thấy nhiều Lama đang lễ lạy, một số đang tụng kinh, và họ cũng giới thiệu cho chúng tôi kim thân các vị Phật và Bồ Tát được thờ phụng trong chùa. Những bức tượng kim thân này cao hơn 10 thước và rất trang nghiêm, toàn bộ bên trong ngôi chùa đầy tượng Phật và Bồ Tát và những bức tranh Phật trên tường, trần nhà cũng có những chạm khắc nghệ thuật theo phong cách Tây Tạng. Chúng tôi đều lần lượt lễ bái các đàn thành lớn nhỏ ở trong chùa, và vô cùng cảm tạ các vị đã tiếp đãi. Tối hôm đó chúng tôi nghỉ qua đêm tại một khách sạn gần đó, ngoài ra còn được thưởng thức bữa tối kiểu Ấn Độ và thưởng thức chương trình ca hát dân tộc Ấn Độ.

Vào sáng ngày 20 tháng 5, chúng tôi lên đường trở lại New Delhi, đúng vào ngày bắt đầu cuộc bỏ phiếu của cuộc bầu cử lại ở Ấn Độ. Tin tức trong vài ngày qua đã đưa tin rằng các đảng phái chính trị khác nhau vì tuyên truyền chiến dịch mà đã phát sinh ra các cuộc đánh giết. Vì vậy, trên đường đi, chúng tôi cũng rất lo sẽ xảy ra xung đột giữa các đảng phái chính trị, dù thế nào thì chúng tôi vẫn phải đột phá vòng vây và đi về. Trên đường đi, chúng tôi phải chịu đựng thử thách vừa đói, vừa mệt, lại nóng, nhiệt độ cũng lên tới 42 độ C. Ludo Lama đi cùng và tài xế có thể ăn no nê ở những gánh hàng rong ven đường. Nhưng chúng tôi chỉ có thể ngồi trên xe, thưởng thức nước suối và lương khô mang từ Hồng Kông cho đỡ đói và làm dịu cơn khát chứ không dám thử món Ấn ven đường.

Đi được nửa đường, tôi chợt nhận ra con đường phía trước có gì đó không ổn, một đám đông chặn đường, nhiều ô tô vội lùi lại, người đi đường nói nhiều với người lái xe... (tiếng Ấn Độ). Đại khái là đám đông phía trước tranh nhau bỏ phiếu trước và chặn đường, bảo chúng tôi không được đi tiếp. Nếu xảy ra đánh nhau, chúng tôi sẽ gặp nguy hiểm, những người da đỏ ven đường chỉ cho chúng tôi đi đường quê hẹp để đi đường vòng trở lại. Trên đường đi, chúng tôi nhìn thấy nhiều cảnh sát và bộ đội, tình hình có vẻ hơi căng thẳng, đi một đoạn đường dài, chúng tôi đến một con đường nông thôn tương đối rộng. Trên đường đi, xe lại bị hỏng máy do quá nóng, tài xế cố hết sức rồi nhận thấy chân ga của xe không ổn, phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ mới lên đường trở lại. Bản thân người lái xe cũng không quen với những con đường nông thôn này nên vừa đi vừa phải hỏi đường, không biết mình đã đi sai bao nhiêu đường mới đến được ngã ba. Cảm ơn Phật và Bồ Tát, thì ra chúng tôi đã trở lại ngoại ô New Delhi, dọc đường đi, chúng tôi thấy nhiều người đang bận rộn bỏ phiếu ở điểm bỏ phiếu. Tất cả chúng tôi lần lượt tránh đám đông và đi đường vòng, mãi cho đến 4 giờ chiều mới đến được khách sạn ở New Delhi để nghỉ ngơi.

Chín giờ tối ngày 21 tháng 5, chúng tôi nhanh chóng lên máy bay rời New Delhi, vì nghe nói một sân bay tạm thời đóng cửa, mãi đến khi máy bay cất cánh rồi, chúng tôi mới cảm thấy toàn thân được thư giãn. Khi đến Bangkok, chúng tôi nghe nói rằng sân bay New Delhi cũng đã bị đóng cửa do tình hình bất ổn dân sự trong nước do các cuộc thăm dò bầu cử.

Nhìn lại chuyến đi Ấn Độ đầy căng thẳng và thú vị này, chúng tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu, và chúng tôi cũng rất vinh dự được bái kiến Dalai Lama thứ 14 và các vị Hoạt Phật, các vị trưởng lão của bốn tông phái lớn của Phật giáo Mật tông ở Tây Tạng, để chúng tôi có cơ hội giới thiệu Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật và Chân Phật Tông với họ, và chúng tôi rất vui vì họ đã vui vẻ chấp nhận lời mời của chúng tôi, mong muốn tham dự buổi đại pháp hội Hộ Ma được tổ chức tại Hồng Kông do đích thân Thánh Tôn Liên Sinh Hoạt Phật chủ trì. Vào thời điểm đó, mỗi vị Hoạt Phật Tây Tạng sẽ đội mũ thánh của họ và tham dự buổi lễ để hộ trì cho đại pháp hội thù thắng này. Đồng thời cũng thúc giục các hành giả Mật tông trên toàn cầu đến tham gia đại pháp hội lần này, để cầu phúc, tiêu tai, trị bệnh, v.v… tin rằng pháp hội sẽ thúc đẩy sự hoằng dương của Mật pháp toàn cầu.

Để có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này, trước hết phải cảm ơn Sư Tôn và Sư Mẫu đã động viên, ủng hộ về mặt tinh thần. Tôi cũng xin cảm ơn các sư huynh sư tỉ đã giúp đỡ về nhiều mặt, phụ trách liên lạc và sắp xếp để tôi có thể lên đường đúng như kì vọng.

Hoằng dương Chân Phật Mật Pháp có thể nhanh chóng triển khai, tại đây tôi xin cảm tạ sự hộ trì, giúp đỡ và hợp tác của các vị Liên Hoa: Khởi Quý, Nguyện Trì, Quốc Trung, Huệ Phụng, Đạt Kiến, Thái Sam, Thịnh Khôn, Tú Dung, Justine, Liên Quân, Liên Ngữ, Eddie, Loisa, để càng nhiều chúng sinh hữu duyên có thể bước lên con thuyền pháp do Sư Tôn dẫn dắt đến Ma Ha Song Liên Trì.

Om mani padme hum. Liên Trí chắp tay.

(Hết)

Mục lục